Hệ lụy cháy rừng

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 1st, 2020

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Cobargo, tên do thổ dân đặt, là một ngôi làng nhỏ, chỉ có 776 người dân, nằm trong thung lũng Bega, cách thủ phủ Sydney, tiểu bang New South Wales, Úc Châu, 386km về phía Nam, trên quốc lộ Princes, cách bờ Thái Bình Dương tại Wapagui 19.4km.

Nhờ một cây cầu mới cất bắc qua suối Narira, con đường đâm ra biển vào những năm 1880, Cobargo phát triển.

Tuy nhiên thị trấn nầy đã bị suy tàn trong phần lớn thế kỷ XX. Nhưng hơn 20 năm trở lại đây, Cobargo đã hồi sinh trong lụi tàn; từ một làng quê sơn dã buồn thiu, buồn hiu hắt, thành một điểm du lịch nổi tiếng.

Xui xẻo thay thảm họa cháy rừng lại ập đến, tràn vào thung lũng vào đêm Giao thừa năm 2019 đã làm nhiều nhà cháy rụi, 3 người chết. Thị trấn lại điêu tàn trong trong khói lửa.

Hôm Mùng Hai, tháng Giêng, năm 2020,  khi tới thăm Cobargo, ông Thủ tướng Úc Scott Morrison tới gần một phụ nữ 20 tuổi, đang mang thai, chìa tay ra rồi hỏi: “Cô có khỏe không?”

Cô này không mấy mặn mà và nói: “Tôi chỉ chịu bắt tay nếu ông cấp thêm tiền cho RFS (Dịch vụ chữa cháy miền quê) của chúng tôi. Quá nhiều người đã mất nhà cửa. Chúng tôi cần giúp đỡ nhiều hơn”.

Rồi có một bà, tay dắt theo một con dê, hét vào mặt ông Thủ tướng: “Thật là bất công! Chúng tôi hoàn toàn bị lãng quên. Lần nào xảy ra cháy rừng hay lũ lụt, chúng tôi cũng không nhận được gì cả! Nếu chúng tôi sống ở Sydney thì đồ cứu trợ đã ùa tới tràn ngập rồi!”

Và một ông, tay dắt theo một con chó, miệng xài giấy năm trăm, khi đài Truyền hình phát đi cái ‘video clip’ nầy, phải cắt đi tiếng chửi thề ỏm tỏi của ông nhắm vào Thủ tướng Úc

“Ông tới đây làm gì? Không ai bỏ phiếu cho ông cả! Ông đúng là một thằng ngốc!”

Ông Thủ tướng Morrison quê quá bỏ đi một nước, tới hỏi thăm một ông lính cứu hỏa tình nguyện đã già, đang ngồi nghỉ trên ghế. Ông nầy chẳng thèm đứng dậy, còn từ chối bắt tay và cũng không buồn tiếp chuyện ông Thủ tướng.

Ông Morrison lúng túng cầm lấy tay ông nầy vỗ vai rồi lại bước đi! Ra ngoài, Thủ tướng Úc hỏi giới chức địa phương tháp tùng: “Thằng cha đó làm sao vậy? Bộ thằng chả mệt hả?”

Thì ông Hội tề nầy trả lời: “Không phải tại mệt đâu! Nhà ổng bị cháy rụi trong khi ông ấy lo cứu nhà của người khác đó!”

Khi ông Morrison đi thị sát quanh thị trấn, người dân lại tiếp tục la ó phản đối ông. Trước làn sóng tẩy chay, xua đuổi của người dân địa phương, Thủ tướng Scott Morrison và Bộ trưởng phụ trách Thiên tai David Littleproud phải lên xe BMW vọt mất trong tiếng vỗ tay chọc quê  của người dân đuổi theo sau!”

Ông Littleproud ngay sau đó phải đưa ra các khoản cứu trợ khẩn cấp sẽ được gửi tới những người sống sót sau vụ cháy rừng tại thung lũng Bega. Người lớn sẽ nhận được 1,000 USD; trẻ em nhận được 400 USD. Những lính cứu hỏa tình nguyện, người đã bỏ công ăn việc làm đi chữa cháy, sẽ được cấp 300 đô mỗi ngày.

Hành động xuất ngân quỹ tức thời nầy nhằm xoa dịu cơn thịnh nộ của người dân đang đương đầu trong thảm họa!

Tại sao người dân Úc bùng lên cơn giận dữ? Chẳng qua là khi nạn cháy rừng năm nay bùng phát dữ dội hơn so với nhiều năm trước, sớm hơn cả tháng, giới truyền thông Úc, báo chí và truyền hình la bài hải, bố cáo thất tung: “Nhà đang cháy, lính cứu hỏa từ nơi rất xa như Canada, từ láng giềng New Zealand, xa nhà ngay cả trong mùa Lễ Giáng Sinh đoàn tụ gia đình để đến Úc giúp chữa cháy thì Thủ tướng của chúng ta đã biến đi đâu mất tiêu?”

Google photo

Sau qua trang mạng xã hội, dân Úc mới biết ông Thủ tướng nhà ta đang dắt vợ con đi Hawaii, Hoa Kỳ, tắm biển! Bị chỉ trích dữ dội, ông Thủ tướng phải xin lỗi dân Úc và vội vã bay về.

Cách đây chỉ mới vài tháng thôi, đêm Thứ Bảy, ngày 18, tháng Năm, 2019, Scott Morrison đã dẫn dắt Liên đảng Tự do và Quốc gia hạ đo ván đảng Lao động của Bill Shorten để thắng cuộc bầu cử Liên Bang mà giới truyền thông Úc bói trật lất rằng ông thua là cái chắc.

Ðêm đó, Morrison cười hí hí trước ống kính truyền hình, trước những cử tri ủng hộ là: “Tôi tin vào phép lạ!”

Nhưng phép lạ không đến hai lần mà họa thì tới tấp. Ðúng là phước bất trùng lai họa vô đơn chí.

Ông Morrison bị dân Úc cự nự tơi bời khi từ dinh Kirribilli, ngồi tréo ngoảy nhìn ra Cảng Sydney xem bắn pháo bông mừng năm mới trong khi lửa rừng đang khốc liệt tàn phá phía Ðông Nam, kéo dài từ tiểu bang Queensland, NSW, Victoria đến tiểu bang Nam Úc trong đêm Giao thừa vừa qua.

Diện tích vùng đang cháy và vùng bị ảnh hưởng lớn hơn bất cứ diện tích nước nào ở Tây Âu. Người dân buộc phải di tản, trong thời bình, lớn nhất trong lịch sử  nước Úc của chúng ta.

Họ mất niềm tin vào khả năng đánh giá và đáp ứng thỏa đáng với thảm họa nầy của chính phủ Morrison, khi mùa cháy rừng chỉ mới bắt đầu thôi mà mùa Hè nóng ác liệt còn kéo dài tới hai tháng nữa!

Chẳng ai ‘quởn’ để quan tâm đến Thủ tướng Úc đang gặp rắc rối riêng tư gì, khi ngôi nhà của họ đang bị đe dọa, cuộc sống của họ đang gặp nguy hiểm. Dân Úc chỉ muốn biết những gì mà chánh phủ đang được thực hiện để giúp họ?

Ngay cả một chính trị gia thuộc cùng đảng Tự do ở tiểu bang NSW, cũng chỉ trích ông Thủ tướng phe ta: “Nói thật, dân Cobargo đã đón ông ấy bằng thái độ như vậy cũng đáng đời cho ông ấy! ”

Cái khác nhau giữa chế độ dân chủ và độc tài ở cái chỗ: Dân chửi là chánh phủ (người đầy tớ của nhân dân đúng nghĩa) phải làm.

Bị dân Cobargo chửi tối tăm mặt mũi, Thủ tướng Scott Morrison đã ra lịnh cho Bộ Quốc Phòng, quân chủng Không quân điều phi cơ đến xịt nước vào những đám cháy đang đe dọa khu dân cư.

Quân chủng Hải quân Úc điều hải vận hạm di tản hơn 5,000 người bị bão lửa lùa ra bờ biển ở East Gippsland tiểu bang Victoria.

Quân chủng Lục quân điều 3,000 quân nhân Úc để tham gia vào việc cứu trợ đồng bào đang cơn hoạn nạn.

Sau thảm họa cháy rừng gây chết người năm nay, chắc chắn Quốc hội Liên bang Úc, sẽ theo yêu cầu của người dân, mà thành lập Ủy hội Hoàng gia độc lập để điều tra tận tường cái thảm họa cháy rừng nầy?

“Tại sao cháy? Cháy như thế nào? Chánh phủ đã đáp ứng ra sao? Cái nào làm đúng, cái nào làm sai? Ai chịu trách nhiệm để làm bài học cho tương lai. Chắc chắn sẽ có vài tai to mặt lớn phải về nhà đuổi gà cho vợ!

Năm 2018, tiểu bang California, Hoa Kỳ cháy 2 triệu mẫu Anh. Năm 2019, rừng Amazon nước Brazil, lá phổi của địa cầu, cháy 2.2 triệu mẫu Anh.  Năm 2019, vùng rừng thông vốn băng giá Siberia của Nga cũng cháy tới 6.7 triệu mẫu Anh.

Nước Úc năm nay rừng cháy nhiều nhứt lên tới 12 triệu mẫu Anh. “Nhà chúng ta đang cháy! Hãy hành động ngay bây giờ” là khẩu hiệu của những người dân Úc, cũng như nhân dân toàn thế giới, nhứt là những người tuổi trẻ, đang rầm rộ biểu tình chống biến đổi khí hậu.

Những chánh trị gia ích kỷ, chỉ bo bo nghĩ đến quyền lợi chánh trị của cá nhân mình, của đảng phái mình, của quyền lợi kinh tế nhứt thời mà phớt lờ cái thực trạng hành tinh xanh duy nhất của chúng ta đang bốc cháy; chắc chắn họ sẽ xét lại về chánh sách nếu không muốn cử tri cho về chăn trâu như ngày cũ.

Chống biến đổi khí hậu sẽ là động từ phải chia ở thì hiện tại để cho thế hệ tương lai!

Lại nhớ tới lời nhà hoạt động cho môi trường, một cô gái mới 16 tuổi, người Thụy Ðiển, Greta Thunberg thách thức các chánh trị gia thiển cận và ngoan cố! “How dare you?”

Hệ lụy cháy rừng ở nước Úc năm nay sẽ còn là cơn ác mộng dài dài đối với những kẻ vô tâm!

DXT

Melbourne

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 12 Tháng Tư, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Kỳ 13

Chương 37

Hồng nhìn người đàn ông cười tủm tỉm. Anh ta đội một cái mũ tai bèo đã cũ, quá cũ, tương phản hẳn với một bộ áo quần bộ đội còn khá mới. Chân mang một đôi dép râu. Chiếc xe đạp có dáng dấp rất “xe thồ”, bộ sườn chắc, khỏe, có giỏ xe phía trước, tấm ván to bản lót yên sau, dây nhợ cao su quấn đầy.  Hồng cười ngất, nói:

      –     Trời! Anh cố tình biến anh ra như thế này đây phải không?  Ðể làm gì vậy? Theo dõi ai hay sao? Trông anh chẳng khác gì một kịch sĩ  đang sắm vai trên sân khấu.

      –     Không phải là kịch sĩ đâu Hồng. Vì đây không phải là sân khấu. Anh… à tôi đang làm thật.

      –     Nghĩa là anh đi xe thồ?

      –     Chứ sao!

      Hồng nhìn anh trong một vẻ giễu cợt thích thú:

      –     Bỏ đi tám! Có đi xe thồ thiệt thì trông anh vẫn giống như một kịch sĩ. Một kịch sĩ ngoại hạng.

      –     Tôi mô có biết đóng kịch. Tôi chỉ làm cái gì thật. Cái gì giả khó chịu lắm.

      Hồng làm bộ nghiêm:

      –     Bữa này dùng “tôi” với “cô” nghe nhuyễn lắm rồi đó nha! Ai bày cho anh vậy? Sao ở trên đó, anh em nhuần nhuyễn vậy mà về “thành” thì khác?

      Lục im lặng, chống tay lên cằm, cùi tay dựa vào ghi đông xe.  Hồng rờ rẫm chiếc xe đạp thồ, trầm trồ:

      –     Chắc, khỏe thật. Xe này mà chở mấy bà đi buôn thì hết chỗ chê, anh nhỉ?

      –     Ðúng. Chỉ chở mấy bà buôn, còn cỡ Hồng thì không chở đâu. Xe thồ và đi buôn là anh em một nhà.

      Hồng hỏi qua chuyện khác:

      –     Khi nãy, anh nhận ra Hồng rồi, phải không?

      Lục đã hết ngượng nghịu:

      –     Ừ!

      Nàng lay vai Lục, nhìn xoáy vào mắt anh:

      –     Thích tránh người ta, tại sao lại không chịu đạp đi chỗ khác, mà cứ đứng một chỗ, làm bộ sửa xe chi vậy?

      Lục ngớ ra:

      –     Ừ, tại sao vậy nhỉ? Tại sao không đạp đi quách, có phải đỡ rắc rối không.

      Hồng cười lớn:

      –     Vậy, thì đã hai năm rõ mười rồi nhé. Thấy Hồng, vẫn muốn đợi, phải không? Nhưng vẫn cứ làm bộ tránh, phải không? Lòng anh có cái gì lươn lẹo, không thiệt tình.

      Nàng đổi giọng, nũng nịu:

      –     Nào, ông xe thồ, chở cho em về nhà đi.

      –     Về đâu?

      –     Về Bạch Ðằng chứ về đâu nữa.

      Lục im lặng. Nàng tiếp:

      –     Như thế thì Hồng nói anh là kịch sĩ không sai tí nào.  Ðã là dân xe thồ thì chở bất cứ khách nào có trả tiền, và đi bất cứ nơi nào khách muốn. Anh ngại gì?

      Lục nhìn. Ðôi mắt ngây ngô đến tức cười. Hai tròng mắt dịch nhẹ, thoáng vẻ bối rối, phân vân. Hồng tiếp:

      –     Thuận đã đi Hà Nội. Hai đứa nhỏ thì về bên nội. Yên tâm đi, đưa Hồng về.

      Lục lắc đầu. Nàng kể vắn tắt chuyện xe nàng hư, phải giao cho thợ sửa, rồi thêm:

      –    Về thăm Hồng luôn thể. Từ hôm đó đến giờ bao lâu rồi, anh biết không. Cứ phải mất biệt nhau hoài.

      Thấy bộ Lục vẫn lưỡng lự, Hồng giễu:

      –     Thấy chưa, đúng là xe thồ giả hiệu!

      Lục lẳng lặng nhảy phóc lên xe. Nàng lấy cuốn sách quạt bụi trên tấm gỗ sau xe, thận trọng ngồi lên. Anh kéo cái mũ tai bèo sụp xuống trước trán, gò lưng đạp.

Đến nhà, Hồng mời Lục vào.

Anh  nhấp nha nhấp nhỏm trên ghế ngồi, nhìn quanh nhìn quất căn phòng. Hồng nói:

      –     Ðâu có mối nào chờ ở ngoài mà trông anh cứ như ngồi trên lửa vậy? Hay có hẹn với bà buôn nào?

      Lục chối:

      –     Hồng đừng có giễu nữa. Tội!

      Hồng cười phá lên:

      – “Tội!”. Nghe thảm. Cái này không phải tội anh mà là tội trời. Trời hành anh. Hay là anh hành anh. Tự dưng cái đi xe thồ. Ai xui khiến anh vậy?  Hèn gì…hèn gì…

      –     Hèn gì sao?

      –     Hèn gì mấy tháng nay bặt vô âm tín. Chiều nay, nếu không nhờ chiếc xe hư, chắc còn lâu mới gặp lại anh, phải không? Bây giờ nghe Hồng hỏi đây.

Lục nhìn chăm Hồng, chờ đợi. Hồng nghiêm nét mặt, hỏi:

      –     Hà cớ gì mấy tháng nay, anh không lên thăm Hồng?

      –     Thì như Hồng đã thấy đó, tôi bận làm ăn.

      –     Làm ăn! Hồng không tin. Anh không có cách gì làm ăn khác hay sao? Hỏi thì hỏi cho vui, chứ Hồng biết, mỗi người có một hoàn cảnh. Vậy, hôm trước Hồng có ghé nhà anh, anh có biết không?

      Lục ngạc nhiên:

      –     Hồi nào? Anh đâu có hay.

      –     Vậy mấy đứa nhỏ không nói gì với anh hết sao?

      –     Không hề.

      –     Hồng có mấy cuốn sách mới kiếm được muốn mang xuống cho anh mượn.

      Hồng nheo mắt nhìn anh, tiếp:

      –     Nói thật, đó chỉ là cái cớ. Lâu không gặp anh, Hồng không biết anh ra như thế nào. Nói anh đừng cười, Hồng có đi ngang đi lại nhà anh mấy lần, cứ mong trông thấy anh đâu đó, để nhìn cho…cho đỡ nhớ. Nhưng chẳng thấy. Bữa đó, vào đại.  May mà có mấy cuốn sách. Mà cũng may là không có chị ở nhà.

      Hồng cúi xuống, cắn môi. Lại ngẩng nhìn lên, ngập ngừng:

      –     Vả lại, anh biết sao không, Thuận đang có một người khác. Một nhân vật… Hà Nội.

      Lục ngạc nhiên:

      –     Vậy là Thuận bỏ…

      Lục ngừng. Hồng tiếp:

      –     Nói cho chính xác ra thì Thuận sẽ, sẽ gì nhỉ. Ừ, thì dùng chữ “bỏ” đi cho nó tiện. Nhưng mà…thôi, cứ xem như Thuận bỏ Hồng. Chưa, nhưng sẽ.

      Anh thở ra:

      –     Cũng buồn nhỉ!

      Giọng Hồng chặt lại:

      –     Không! Không bao giờ!

      –     Cái gì mà không?

      –     Không buồn! Không gì hết!

      Lục hỏi:

      –     Cô ta làm gì?

      –     Phải nói là bà ta mới đúng. Học vị rất kêu: phó giáo sư hay phó…giáo viên gì gì đó. 

      Anh sửng sốt:

      –     Phó giáo sư? Loại người như Thuận mà…

      –     Hồng biết anh muốn nói gì rồi. Ấy, dzậy đó! Thời này là thời của đổi đời mà.

      Hồng chợt đổi giọng:

      –     Lục biết không, con mẹ cũng chỉ là thứ điếm cao cấp mà thôi. Con mẹ vào đây, rất cần thứ người như Thuận, một loại…loại gì nhỉ?

      Lục ngạc nhiên. Anh đợi Hồng giải thích tiếp, nhưng nàng nói qua chuyện khác:

      –     Chị Hạnh độ này đi đều quá nhỉ?

      Lục im lặng. Hồng tiếp:

      –     Bữa nay, chị ấy bỏ hẳn nghề buôn trầm rồi phải không anh?

      –     Có lẽ thế.

      –     Sao lại có lẽ?

      –     Bà ấy có việc của bà ấy, anh có việc của anh.

      Cả hai im lặng. Hồng lờ mờ cảm thấy Lục, cũng như nàng, đều đang trải qua những thời gian không mấy thuận lợi trong cuộc sống chung. Nàng thì đã đành. Nàng đã chọn lựa và chấp nhận mọi hậu quả.  Quyết định đẹp nhất trong đời nàng là lấy Thiết. Quyết định táo bạo nhất trong đời nàng là bỏ Thiết. Sau đó, mọi thứ khác đều trở nên bình thường. Nó có thể làm nàng vui hơn một chút hoặc buồn hơn một chút, nhưng không thay đổi nếp sống, nếp nghĩ của nàng. Có gì đâu, đời là một cuộc chơi. Những thị phi, trách móc, giận hờn, gắn bó, chia lìa đều dần dà trở thành vô nghĩa. Như những vết thương trên da thịt, chúng hành hạ ta lúc đầu, để cuối cùng chỉ còn là những vết sẹo rơi vào quên lãng.

      Hồng mỉm cười. Lục hỏi:

      –     Sao cười?

      –     Giờ thì anh rõ là một con chim lạc đàn thứ thiệt.

      Lục gật gù:

      –     Hồng trông như một con chim bị thương.

      Hai người buồn bã nhìn nhau. Không cần giữ gìn ý tứ, cả hai rơi vào nhau. Tham lam, hối hả.  

*  

Dựng xe trên thềm nhà xong, anh mới biết là Hạnh đã về. Anh ngạc nhiên. Chuyến này nàng về sớm hơn thường lệ. Anh mang máng nhớ là lần này nàng đi mới có ba tuần. Chẳng biết là từ Hà Nội vào hay Sài Gòn ra? Hạnh đang tiếp khách. Hai người ngồi nói chuyện ngay bàn nhà trên. Thấy anh, khách lạ, một người đàn ông trẻ hơn anh, nhìn chăm một lát rồi gật đầu chào. Anh ngượng nghịu chào trả. Hạnh ném vào anh một cái nhìn khó hiểu, quay lại tiếp tục câu chuyện với khách.

      Nghe tiếng xe nổ, chạy đi hẳn, anh mới trở vào nhà. Hạnh từ phòng mấy đứa con bước ra, nhìn anh, giọng nghiêm trọng:

      –     Em cần bàn với anh nhiều chuyện.

      Anh không nói gì, thay áo quần. Khi trở ra, Hạnh vẫn còn đứng đó, vẻ chờ đợi. Anh làm như không chú ý, lẵng lặng ngồi xuống ăn cơm. Hạnh tiến lại:

      –     Em vừa bán chiếc Honda.

      Anh xới cơm vào chén, đáp hờ hững:

      –     Thế à!

      Thấy Lục không nói gì thêm, nàng tiếp:

      –     Em cần thêm vốn để đi buôn. Mối Hà Nội và mối Sài Gòn đều phải gối đầu cả, tối thiểu là một chuyến. 

      Lục ngừng đũa, ngước nhìn nàng, giọng cố giữ thật nhẹ nhàng:

      –     Cám ơn em đã cho anh biết. Nhưng anh thiết nghĩ, xe của em thì em có quyền bán, đâu cần phải hỏi ý kiến anh làm gì.

      Mặt Hạnh đanh lại:

      –     Em không hỏi ý kiến. Em chỉ báo cho anh biết.

      Anh cắm cúi ăn, nghe đồ ăn có mùi đăng đắng:

      –     Cám ơn!

      –     Khỏi!

      Hạnh bỏ đi. Khi anh ăn cơm xong, nàng trở ra, nhìn thẳng vào anh:

      –     Còn một chuyện nữa, nhân thể nói luôn cho xong.

      Anh chống hai tay lên cằm, nhìn nàng:

      –     Gì nữa đây?

      Nàng gằn từng tiếng:

      –     Em…muốn… anh…chấm…dứt cái trò đi xe thồ.

      –     Em nói gì? 

      Hạnh nhắc lại, giọng nhẹ nhàng hơn:

      –     Anh chấm dứt cái trò đi xe thồ giùm em.

      Anh hỏi:

      –     Em cấm anh?

      Hạnh không trả lời thẳng câu hỏi của chồng:

      –     Anh đã làm nhục em, làm nhục cả mấy đứa con.

      Lục đứng bật dậy, mắt long lanh bất thường:

      –     Này, cô đừng có nói cái giọng đó với tôi nghe chưa.  Tôi cho cô hay: chính cô mới làm nhục tôi, nhục mấy đứa con.  Ði xe thồ, có gì mà cô gọi là nhục, là cái trò này trò nọ. Thời buổi này, khối người người ta đi xe thồ. Ðó là một nghề lương thiện, không ăn cắp ăn trộm của ai, sao lại gọi rằng nhục. Còn cô, cô lấy cớ đi buôn đi bán, quan hệ lăng nhăng đủ thứ…

      Hạnh chồm người lên:

      –     Anh lấy cớ này cớ nọ vu vạ tôi. Tôi lăng nhăng cái gì?  Tôi quan hệ với ai?

      Lục cười gằn:

      –     Tôi không biết. Không ai có thì giờ đi theo cô mà biết.  Nhưng cứ tưởng tượng một người đàn bà đi suốt tháng, chỉ tạt về nhà có một, hai ngày như một người khách trọ, rồi tiếp tục đi. Cô xem thứ có ai đi buôn đi bán kiểu lạ đời như cô không?

      Hạnh gào lên:

      –     Trời ơi, anh mà còn nói như thế thì huống chi những kẻ xấu miệng xấu mồm chẳng đặt đủ điều nói xấu tôi. Tôi ngủ đường đường ngủ sá, lên xe xuống tàu, cực khổ là vì ai. Không đi buôn đi bán như thế thì lấy tiền đâu nuôi con, tiền đâu mua áo quần, tiền đâu trả tiền học, ai lo cơm gạo để cho anh đi la cà với bạn bè, nhậu nhẹt và nói tầm phào. Ai? Anh có biết tôi ra thân thể như thế này, mang tiếng mang tăm là vì anh, vì mấy đứa con không. Ðã không làm nên tích sự gì thì im cái miệng đi.

      Lục cười mỉa:

      –     Ðúng, tôi không làm nên tích sự gì. Không được tích sự gì, thì tôi đi xe thồ, có gì đâu mà cô cấm đoán.

      –     Anh đừng có mà chống chế. Anh bảo không có gì mà sao khi gặp người ta ở đây, anh lại tránh. Tại sao anh tránh?  Có phải chính vì anh cũng cảm thấy không vinh dự gì trong bộ áo quần xe thồ không? Ðúng không? Trời ơi, anh có biết người ta nói gần nói xa tôi như thế nào không?

      –     Nói gần nói xa cái gì? Cùng lắm người ta bảo cô có thằng chồng đi xe thồ, Lục xe thồ. Thế thôi. Có gì mà cô phải la toáng lên. Cô không thích thì đừng nhìn tôi là chồng.

      –     Người ta bảo tôi tệ bạc với anh, không lo cho anh, cho con để anh phải đi xe thồ…

      Lục xuống giọng:

      –     Thì họ nói có gì là sai đâu.

      Hạnh khóc rống lên:

      –     Trời ơi là trời, chồng với con. Anh ăn nói như thế mà nghe được sao! Trời ơi là trời! Cái thân tôi sao mà khổ thế này trời.

      Hạnh đấm ngực mình thùm thụp, vừa đấm vừa khóc tức tưởi. Lục đứng dậy:

      –     Cô đừng có dùng tiếng khóc mà áp đảo tôi. Tôi đã không động cập gì đến cô, thì xin cô để cho tôi yên.

      Anh lẳng lặng quay vào phòng. Trong góc nhà, ba đứa con lặng lẽ quan sát cha mẹ chúng, đôi mắt đứa nào cũng đỏ ngầu, đẫm nước mắt.

Chương 38

Lục quyết định chọn “nghề” đi xe thồ vào lúc anh cảm thấy cuộc sống của mình hoàn toàn lâm vào bế tắc. Lựa lúc Hạnh bôn ba từ Nam ra Bắc dài ngày, anh ra quân. Lúc đầu, ngượng, anh ăn mặc tương đối tươm tất. Chiếc xe đạp thì nửa xe thồ, nửa không. Anh tìm một chỗ vắng, đứng một mình, đợi. Và dài cổ đợi hoài, chẳng có ai hỏi đến. Thỉnh thoảng, thấy có người đi ngang đảo mắt nhìn quanh, anh rụt rè mời.  Người ta lắc đầu, gọi chiếc xe thồ khác để đi. Sau vài ngày, anh mới hiểu ra, người ta không gọi anh vì anh không có cái nét phổ biến của một người đi xe thồ. Anh “ngộ” ra rằng, nghề nào nghiệp đó, cái gì phải ra cái đó, không thể hàng hai, ỡm ờ được. Thế là, anh thay lốt người, lốt xe. Thay đổi luôn ngôn ngữ và thái độ. Anh mặc áo quần lính cũ vá víu, đi dép râu, đội mũ bạc màu. Phần sau xe lót một tấm gỗ to bản trên bót-ba-ga với nhiều dây cao su cỡ lớn quấn quanh, sẵn sàng để cột hàng.  Phần trước xe đóng thêm một chỗ ngồi nằm giữa ghi đông và yên, phòng khi có trẻ em. Với thiết kế mới, anh có một nhân dáng rất “xe thồ”, phân biệt anh khỏi một người bình thường.

      Và anh lập tức có khách. Người khách đầu tiên trong đời xe thồ của anh là một người đàn bà trung niên, tuổi có vẻ lớn hơn anh đôi chút. Chị ta bước đến, để cái giỏ xách xuống đất, hất hàm hỏi:

      –     Chùa Thiên Hương, cả đi và về, mấy?

      Anh nhã nhặn hỏi:

      –     Chùa Thiên Hương là chùa nào chị?

      –     Cái anh này, chở khách mà không biết chùa Thiên Hương à? Không biết thì sao mà có khách. Gần cầu Lim chứ mô nữa.

      –     Cầu Lim? Có phải là đường lên Thiên An không?

      –     Ðấy, đấy. Ði ngả Ðàn Nam Giao. Mấy?

      Anh thực sự lúng túng:

      –     Dạ…dạ…chị cho mấy cũng được.

      –     Cái anh này, phải cho giá chứ ai biết mấy mà trả.

      –     Thôi, chị cho ba chục đi.

      –     Anh nói gì? Ba chục à? 

      Anh giật mình:

      –     Thì xem như chị đi đến hai chuyến mà, cả đi cả về.  Hay là để tôi bớt…

      –     Cái anh này lạ thật. Cả đi cả về, lại dốc lên dốc xuống nữa, mà sao lấy có ba chục, là sao?

      Anh bật cười, phóc lên yên xe, nói:

      –     Mời chị lên xe. Chị cho bao nhiêu cũng được. 

      –     Cái xách tôi bỏ đâu đây?

– Chị đưa cho tôi. 

      Anh lấy xách bỏ trước giỏ xe. Giỏ xe nặng, nên khi anh đạp đi, cái ghi-đông nghiêng qua nghiêng lại. Phải năm, bảy phút sau, anh mới kiểm soát được chiếc xe của mình. Dọc đường, người đàn bà hỏi:

      –     Tôi hỏi có khi không phải. Anh đi xe thồ bao lâu rồi?

      Anh thú thật:

      –     Mới có mấy hôm thôi, chị. Không nói giấu gì chị, chị là người khách đầu tiên.

      Xong chuyến, người đàn bà đưa anh năm chục. Anh chỉ lấy ba chục, nhưng bà ta nhất quyết không chịu. Anh đành phải nhận. Nghề dạy nghề, anh rành rọt dần. Anh trở thành một dân xe thồ thứ thiệt, rất chính danh. Và bạn bè cho anh một cái tên mới: Lục-xe-thồ. Quen nghề, con ngựa sắt của anh chạy khắp thành phố, mang lại cho anh một hãnh diện khác thường: được làm một nghề hạ tiện nhất trong thời buổi đảo điên nhất của xã hội. Anh còn có một nỗi vui ngấm ngầm khác: không còn lệ thuộc vào Hạnh nữa. Anh đề ra một thời khóa biểu khá chặt chẽ. Chuyến sớm: từ 4 giờ sáng đến 7 giờ sáng. Chuyến sáng: từ 9 giờ đến 12 giờ trưa. Chuyến chiều: từ 4 giờ chiều đến 7 giờ chiều. Chuyến khuya: từ 10 giờ đêm đến 12 giờ khuya. Hễ đến giờ nghỉ là anh về nghỉ. Giờ buổi trưa, có khách gọi, anh cũng từ chối, trừ trường hợp đặc biệt như như khi có khách đường xa, cần đi thăm lăng, thăm mộ. Tiền kiếm được, anh phân ra ba phần, mỗi phần bỏ vào một hộp riêng, chỉ sử dụng khi có việc liên quan đến phần đó: phần cho con, phần anh và phần tu bổ xe.

      Hầu hết khách xe thồ là phụ nữ. Ðiều lý thú (và lắm lúc phiền toái) là được nghe hàng bao câu chuyện khác nhau từ miệng mấy cô mấy bà lắm mồm, mau miệng. Chưa hỏi, các bà các cô đã kể. Kể huyên thiên, tuốt luột, say sưa. Có bà, đã đến nơi rồi, không chịu xuống xe, cứ ngồi trên bót-ba-ga kể cho xong câu chuyện. Có một bà, câu chuyện dài quá, ngắt giữa chừng vì đã đến nơi, bà hẹn lần sau kể tiếp. Y như phim bộ Hồng Kông. Tưởng chỉ nói cho qua chuyện, không ngờ, Lục gặp lại bà khách này thiệt. Nhưng bà ta không buồn kể tiếp chuyện cũ dang dở nữa mà kể một chuyện khác mới toanh, hấp dẫn hơn nhiều. Chưa xong, bà hẹn thêm một “lần sau nữa”. Chuyện mình chưa xong đã đến chuyện người. Chuyện nào cũng đầy kịch tính. Có bà, khi kể, còn vung ta múa ngón, diễn tả nỗi vui mừng hay giận hờn bằng cách bóp vào vai anh hay thậm chí đấm ngay vào lưng anh. Thì sao cũng được, chìu khách mà. Phải nhận rằng, nhiều câu chuyện nghe hay đáo để. Họ biết biến những chi tiết không ra gì thành những điều lý thú, đôi khi lý thú còn hơn cả chính câu chuyện. Anh tiếc rằng mình không có tài viết lách để ghi lại những câu chuyện tầm phào trên đường đi thành tiểu thuyết.

      Và anh cũng quen dần với sự vắng mặt thường xuyên của Hạnh. Từ ngày buôn tuyến đường Hà Nội – Sài Gòn, một tháng nàng chỉ ghé nhà một hoặc hai lần. Một lần như thế, nàng ở nhà một, hai ngày rồi lại đi. Dăm ba ngày hay một tuần, Ðồng đạp xe lên ga gặp mẹ để nhận tiền bạc và đồ ăn. Anh không cần thắc mắc nàng đi đâu, buôn bán những gì, lời lỗ thế nào. Ngược lại, dường như Hạnh cũng không buồn thắc mắc, cãi cọ với anh về chuyện anh đi xe thồ. Hai người hậm hực nhau, nhưng ai cũng bận lo lắng việc riêng của mình, nên làm lơ. Không khí gia đình tựa như một cuộc hưu chiến giả tạo, đầy bất trắc.

*

      Cuối tháng tám, Hạnh về nhà. Nàng định ở một ngày rồi đi Sài Gòn ngay. Nhưng một cơn bão đột ngột tràn tới khiến nàng phải ở nhà thêm mấy ngày nữa. Mấy đứa con phập phồng nhìn cha mẹ, chờ đợi một cuộc cãi cọ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng may mắn, không có gì. Có lẽ nhờ nỗi lo lắng về cơn bão chiếm hết tâm trí mỗi người. Mà cũng có lẽ nhờ thói quen. Mỗi người sống và suy nghĩ và làm theo cách của mình. Hai người chỉ nói với nhau những gì cần phải nói. Như hai cái máy. Và mong chờ cơn bão qua đi.

      Hết bão, chưa dọn dẹp xong, Hạnh vội vã lên đường.  Nàng nằm chầu chực ở ga, đợi nhảy tàu đi, chứ không về nhà.  Lục tự hỏi, không biết động lực gì lôi cuốn nàng mạnh mẽ đến như vậy? Nhưng chính anh rồi cũng thế. Anh quày quã đạp xe đi thồ. Sau những ngày nhốt kín trong nhà vì mưa bão, anh cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái khi thấy trời cao, nắng sáng và người đi qua đi lại. Anh đạp đi, ngẩng cao đầu huýt gió, tự hỏi không biết hôm nay anh sẽ có bao nhiêu khách và nghe được bao nhiêu câu chuyện đời?

      Vừa dừng chân, dựng xe đợi khách tại đầu con hẻm trên đường Nguyễn Huệ, thì Phi, một bạn đồng nghiệp nhỏ tuổi của anh, từ phía Bến Ngự đạp về. Cậu ta hỏi:

      –     Chú Lục, bão biếc bên nhà thế nào?

      –     Tóm lại là có thiệt hại, nhưng không đáng kể. Nhà cháu thế nào?

      –     Không đến nỗi. Chỉ tiếc là cây nhãn bên hông nhà bị trốc gốc.

      Phi dùng chân nhấn cái chống xe xuống đất, dựng bên vệ đường, rút túi lấy gói Hoa Mai ra mời Lục:

      –     Ðiếu đã chú!

      Lục không từ chối. Phi mồi lửa. Cậu ta rít một hơi, phù khói ra thành luồng, đến sát cạnh Lục, hỏi nhỏ:

      –     Chú đã nghe tin gì chưa?

      –     Chưa. Mấy ngày mưa bão ở nhà, mô có đi ra ngoài mà biết. Tin gì vậy? Giết người? Ngoại tình? Vượt biên? Hay phản động?

      Phi lấy ngón tay trỏ gõ gõ trên lưng điếu thuốc để cho tàn rơi xuống. Cậu ta nhìn quanh cảnh giác, nói:

      –     Nghe nói sắp đổi tiền.

      –     Lại đổi tiền? Cái gì mà phải đổi tiền?

      –     Ai mà biết chú, nhà nước họ thích thì họ làm. Mà chú đừng có nói cho ai biết nghe.

      –     Ừ. Chẳng dám nói bậy đâu.

      Ngẫm nghĩ một lát, anh nói:

      –     Ðổi tiền. Họ đổi tiền để làm gì nhỉ? Chắc người ta đồn vậy thôi, chứ không có đâu. Hồi trước, khi mới giải phóng, họ đổi tiền là có lý, vì không thể có hai thứ tiền cùng lưu hành trong một nước. Họ cần thống nhất tiền tệ. Còn bây giờ thì chỉ có một thứ tiền thôi, đổi làm gì.

      –     Cháu không rành, nhưng theo cháu nghe nói thì người ta đồn gì là có nấy, chú à. Ðồng tiền giờ mất giá quá!

      –     Cháu lo không?

      –     Hơi mô mà lo chú ơi. Nhà cháu nghèo rớt mồng tơi, có tiền của gì đâu mà sợ. Thôi, cháu đi. Kiếm ít mối kẻo trưa.  Mạ cháu đang hóng tiền mua gạo ở nhà. Chợ Bến Ngự bữa nay ế rề. Ðứng cả buổi chẳng có ma mô hỏi. Chú vẫn đứng ở đây?

      Lục gật đầu. Anh nhìn theo người bạn nhỏ tuổi đạp xe xa dần về phía An Cựu, lòng chợt nhói lên một niềm thương cảm mênh mông. Phi còn nhỏ, cỡ mười tám mười chín. Cậu ta đang học lớp mười, phải bỏ học đi xe thồ để phụ giúp mẹ và nuôi em. Ba dính vào vụ biến loạn Mậu Ngọ (1978), bị kết án năm năm tù, được thả trước thời hạn mấy tháng vì bị thần kinh tọa liệt cả hai chân. Phi chỉ lớn hơn Ðồng có mấy tuổi, nhưng trông già như người từng trải. Nếu mà Ðồng phải đi xe thồ như Phi thì thảm quá, anh hoang mang tự nhủ. Cuộc đời vốn đầy bất trắc. Hôm nay thế này, ai mà biết ngày mai sẽ ra sao?

      –     Có đi chợ Ðông Ba không?

      Lục giật mình, nhảy lên xe, chuẩn bị đón khách. Không cần mời, người đàn bà vừa bước đến đã nhanh nhẩu ngồi lên bót-ba-ga, hỏi ngay:

      –     Mấy?

      –     Mười đồng.

      –     Ðược. Ði.

      Lục nhấn pê-đan, vọt tới. Người đàn bà nhẹ cân, nên anh lấy đà mau, đạp ào qua đường Nguyễn Trường Tộ. Chị ta hỏi:

      –     Nghe gì chưa, chú?

      –     Chưa, chị. Gì vậy?

      –     Sắp đổi tiền đấy!

      Anh lơi đôi chân đạp, nghiêng đầu ra sau:

      –     Ai nói mà chị biết hay vậy?

      –     Thì nghe người ta đồn thế.

      –     Chị có nghe khi nào thì đổi không?

      –     Ai mà biết. Mà thế nào cũng có. Trước nay hễ đồn là có hà.

      Nghe giọng người đàn bà dấm dẳng khó chịu, anh không muốn hỏi tiếp, im lặng đạp cho đến nơi.

*

      Một tuần sau, tin đồn đổi tiền đã trở thành công khai. Ở đâu cũng nghe người ta bàn tán, dù không ngang nhiên, nhưng không còn thập thò giấu đút như trước. Lục không mấy lưu tâm, vì anh vẫn không tin là có chuyện đổi tiền. Hơn nữa, anh lại chẳng có bao nhiêu tiền để phải lo âu. Anh suy luận rằng nếu nhà nước định đổi tiền thì họ không đời nào để “xì” ra tùm lum như thế. Cứ xem những vụ như vụ Mậu Thân, hay vụ tấn công Bảy Lăm là rõ. Những trận đánh lớn lao và có tầm quan trọng như thế mà họ còn giấu được huống hồ gì đổi tiền là việc quá đơn giản, dễ giấu hơn bội phần. Khi chở khách, nghe ai nhắc đến chuyện đổi tiền là anh bác ngay với nhiều lý lẽ rất thuyết phục. Có lúc anh hăng hái bảo vệ lập trường của mình đến nỗi có người tưởng anh là cán bộ tuyên truyền của nhà nước. Giữa tháng chín, tin đồn bắt đầu có ảnh hưởng. Thị trường xáo trộn. Vàng cao từng ngày, không có dấu hiệu gì sẽ hạ. Giá sinh hoạt theo đó cũng tăng đều. Tất cả các mặt hàng đều tăng quá mức bình thường.

      Ðến tuần lễ thứ ba của tháng chín, thị trường lên cơn sốt.  Chợ tấp nập khác thường. Không khí nóng bỏng. Giá cả thay đổi từng giờ. Người ta thấy vợ con cán bộ bắt đầu ra chợ lùng hàng. Lúc đầu, lác đác ít người mua một cách dè dặt, trong lúc vẫn giấu giếm tung tích. Nhưng hôm sau, cán bộ cũng như dân thường công khai đổ xô ra chợ. Ðiều trái khoáy là trong lúc đó, các cơ quan nhà nước cực lực cải chính tin đồn đổi tiền và bắt đầu mở chiến dịch tố cáo những kẻ tung tin đồn nhảm. Nhiều vụ bắt bớ xảy ra. Một số trường hợp điển hình được đưa lên báo, đài để răn đe quần chúng. Ðồng thời các cơ quan truyền thông từ trung ương đến địa phương liên tục phát thanh, phát hình các thông báo và các bài bình luận tập trung vào việc bác bỏ tin đồn. Trong phạm vi thành phố, các loa phóng thanh lập đi lập lại thông báo của Uỷ ban nhân dân tỉnh kêu gọi nhân dân bình tĩnh, không được tiếp tay cho kẻ xấu. Sinh viên học sinh và công nhân được huy động ra chợ thành từng toán, đến từng sạp hàng, cửa hàng để giải thích chính sách của nhà nước.

      Sáng ngày thứ tư, một tin mới được tung ra: chủ nhật sẽ đổi tiền. Tin nhanh chóng được truyền đi khắp hang cùng ngõ hẻm.  Tất cả thành phố xao xác như đang chuẩn bị chạy loạn. Người người tất tả ngược xuôi, mặt mày hớt hải. Ngờ thì vẫn ngờ, nhưng tin thì cứ tin. Không tin vẫn cứ sốt ruột. Người ta vẫn mua mua bán bán, nhưng ai cũng có cảm giác bất định. Ðồng tiền trong túi bỗng nhẹ tênh tênh, vì không khéo sẽ trở thành một mớ giấy lộn bất cứ lúc nào. Không ai dám xác quyết điều gì là đúng: giữ tiền thật nhiều hay mua bất cứ thứ gì với bất cứ giá nào, miễn đẩy tất cả tiền đi. Một số chủ sạp, chủ tiệm, đóng hẳn cửa hoặc chỉ mua bán cầm chừng. Càng về cuối tuần, tình hình càng tồi tệ. Người ta bắt đầu đổ xô đi mua bất cứ thứ hàng gì, miễn là hàng, từ cây kim sợi chỉ, hòn bi đến cái ly, cái chén, áo quần, vải vóc. Nhiều thứ hàng hóa chất đống mốc meo dưới đáy sạp  cũng được khách hàng nài nỉ mua. Người ta vui mừng vì đẩy đi được những thứ đáng lẽ vứt đi, nhưng cũng không mấy vui khi cầm đồng tiền trên tay.

      Chiều thứ bảy, thành phố lắng đi, hoang mang và buồn bã.  Như có giới nghiêm. Lục đạp xe vòng khắp phố. Tất cả quán xá, tiệm ăn, sạp hàng, quán cà phê đều đóng cửa. Trên đường phố, lơ thơ một vài chiếc xích lô, xe thồ lơ ngơ, không biết để kiếm khách hay để làm gì. Tuy thế, tại bến xe lam, dọc theo con đường chạy ngay sau chợ cá, tại khu vực các hàng ăn và rải rác một vài chỗ trong chợ, vẫn còn những nhóm người tụ lại mua mua bán bán. Các mặt hàng khá đa dạng: con gà, cái muỗng, cuốn vở, cái quần đùi cũ, chiếc xe đạp hư, cái mũ, vân vân và vân vân.  Mặt hàng nào cũng trở thành vô giá. Một cái muỗng có thể được bán với giá vài ngàn đồng, tương đương với một cái máy hát. Một con gà có thể bán với giá vài chục ngàn.  Nghĩa là giá tăng gấp vài chục, vài trăm hay vài ngàn lần so với giá bình thường. Ấy thế mà người ta giành nhau mua. Có những đứa trẻ khố rách áo ôm bán được một món hàng lượm đâu đó với cái giá mà cả đời nó mơ ước cũng không thể có: vài ba ngàn. Chúng cầm cả xấp tiền đi lơ ngơ với vẻ mặt rạng rỡ khác thường: lần đầu tiên, chúng sở hữu được một số tiền lớn dường ấy. Ðiều khôi hài là, chúng không tiêu xài được số tiền theo ý chúng muốn. Muốn ăn, không tiệm nào mở cửa, muốn mua một thứ gì khác để dành, không ai

bán. Chúng sẽ làm gì với số tiền ấy ngày mai, Lục tự hỏi.

      Anh đạp quanh chợ, rồi tạt vào một đám đông tụ lại gần một tiệm sấy tóc sát bờ sông. Thấy anh vào, đám đông chuyển động. Nhiều người sà tới nắm chiếc xe đạp của anh, hỏi giá và trả giá. Tiếng mọi người nhao nhao:

      –     Nhiêu?  Mười ngàn? Mười hai ngàn?

      –     Hai chục ngàn đi, được không?

      –     Hai mươi bốn ngàn, chịu không? Tiền sẵn đưa ngay.

      –     Tôi không bán. Tôi đã nói tôi không bán mà. Cái gì?  Cái mũ phở này hả? Không. Mũ để tôi đi xe thồ sao bán được.

      Anh rút hộp quẹt ga, bật lên châm lửa. Vài người sà tới.  Những câu hỏi đổ dồn lên anh. Nhiêu? Mười ngàn? Hai chục ngàn? Bán đi cho rồi. Hay là ba chục ngàn? Vừa nói, người này xỉa ngay tiền ra, trong lúc người khác cũng chen vào, xỉa tiền ra.

      Lục bực mình đạp đi. Anh chán nản chẳng muốn đón khách nữa. Anh ghé mấy tiệm rượu để mua một xị rượu. Không ai chịu bán. Sau cùng, anh ghé một tiệm quen, rượu ở đây dở, không hợp khẩu vị, nhưng anh vẫn nài nỉ mua. Nể anh, người ta bán, nhưng chỉ bán chịu, chứ không nhận tiền.

      –     Anh thông cảm. Tiền bạc hãy cứ đợi đến chiều mai.

      Người chủ quán nói, kèm theo một nụ cười, buồn thì không buồn, nhưng rõ là chẳng mấy vui.

*

Cho đến tận khuya đêm hôm thứ bảy, loa phóng thanh khắp thành phố ra rả phát đi phát lại bản thông cáo mới nhất của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh và Thành Phố, trích dẫn thông báo của chính phủ trung ương, xác định một cách mạnh mẽ và dứt khoát: không có chuyện đổi tiền.

      Cả thành phố im lìm, thao thức.

      Cả nước im lìm, thao thức.

      Lục chợp mắt vào lúc ba giờ sáng. Nhưng anh không ngủ được bao lâu. Trời chưa sáng, tiếng loa phóng thanh đã đồng loạt vang lên trên toàn thành phố, đánh thức anh dậy. Xướng ngôn viên đọc sắc lệnh đặc biệt của nhà nước và thông báo đặc biệt của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, loan báo việc đổi tiền sẽ tiến hành trên toàn quốc vào lúc 7 giờ sáng. Ðồng tiền mới sẽ thay thế đồng tiền cũ với quy định:

      –     Tất cả mọi hộ phải kê khai số tiền mặt hiện còn giữ.

      –     Một đồng tiền mới ăn một chục đồng tiền cũ.

      –     Mỗi hộ sẽ được đổi tiền mới tùy theo số nhân khẩu thường trú trong hộ, nhưng không vượt quá con số 20.000 đồng tiền cũ mỗi hộ.

      –     Số tiền còn lại sẽ được nhà nước giữ giùm, có thể rút ra để tiêu dùng, nhưng với một số điều kiện quy định sẽ được thông báo sau.

      “Ðúng là đồn gì có đó,” Lục nhủ thầm khi choàng dậy.  Anh phóc ngay khỏi giường, nhanh chóng rửa ráy mặt mày, đi ra đường. Trên đường, nhiều người trong xóm đã ra tụ tập, bàn tán sôi nổi. Anh đi bộ đến quán tạp hóa ở góc đường. Một đám đông lớn đã hình thành nơi đây. Người thì ngồi xổm bên vệ đường, kẻ thì ngồi trên yên xe đạp, những người khác thì đứng dọc từ trong cửa quán ra ngay giữa lòng đường. Những kẻ qua đường cũng dừng lại nghe ngóng. Cứ thế, đám đông phình to lên mãi. Tiếng nói, tiếng cười, tiếng cãi vã vang cả khu xóm vốn bình thường vẫn vắng lặng. Thỉnh thoảng tiếng ồn ào chợt đồng loạt ngưng lại vì mọi người chăm chú lắng nghe một thông báo mới phát ra từ chiếc loa phóng thanh công cọng đặt trên đỉnh cột điện ở góc đường. Giọng xướng ngôn viên nữ xen kẻ với xướng ngôn viên nam vang lên từng hồi, gọn, sắc và nghiêm trang như đọc lệnh hành quân.

      Lục gặp hầu hết những khuôn mặt quen trong xóm. Những kẻ buôn thúng bán bưng, những anh phu xích lô, xe thồ góp ý, nói cười vui vẻ. Những người đi buôn đường dài hay có sạp hàng ở chợ thì mặt mày đăm chiêu hiện rõ trên nét mặt. Trong số người đứng lố nhố quanh quất, Lục thấy có cả ông trung tá bộ đội và một cán bộ hưu trí, là hai người vẫn thường chủ trì các buổi sinh hoạt chính trị trong xóm anh. Hai người này ít góp chuyện, chỉ đứng lắng nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu.  Nhìn thái độ của họ, Lục đoán họ cũng ngỡ ngàng, chẳng biết gì nhiều hơn mọi người về biến cố mới mẻ này.

      Anh Bảy xích lô hỏi:

      –     Chú Lục nghĩ thế nào?

      –     Thì “thế nào” gì nữa mà nghĩ. Tiếng đồn đã trở thành thiệt rồi.

      Chị Quỳ đứng gần đó, nói xen vào:

      –     Chuyện lạ thiệt! Hồi hôm nghe thông báo nhà nước mạnh mẽ quá, tui vẫn yên chí là không có gì. Ai ngờ!

      Người đàn bà đứng gần chị Quỳ nói lớn:

      –     Tui đã nói với bà rồi. Ðồn là có. Thế mà bà cứ không tin.

      –     Tin thì tin mà vẫn ngờ. Nhưng mà đổi hay không đổi, mình cũng thế thôi. Sợ là sợ cho đám nhà giàu.

      Chị Quỳ nhìn quanh rồi hạ giọng:

      –     Cho con mệ Ðông buôn thuốc tây biết mặt. Ỷ có năm đồng ba trự cứ vênh vênh cái mặt.

      –     Chị cứ nói! Ðám con buôn họ nhanh tay lắm. Họ mua hàng hay vàng cả rồi. Họ dại gì giữ tiền.

      Một người đàn ông phát biểu:

      –     Nhà nước họ ghê thật. Ðổi tiền xong, họ giữ được một số tiền phải nói là khổng lồ từ người dân.

      Một người khác nói:

      –     Thông báo nói nhà nước chỉ tạm giữ thôi mà! Sau này ai muốn rút thì cứ rút.

      –     Trời, ở đó mà rút. Phải làm đơn nêu rõ lý do, vì sao rút, rút để làm gì, rồi phải được phường, khóm xác nhận. Ðừng có tưởng bở. Còn khuya mới rút được.

      –     Sao mà anh biết rành quá vậy? Ðã nghe thông cáo thông kiết gì đâu.

      –     Cần gì nghe nói. Nếu mà dễ rút thì bây giờ họ chỉ cho đổi có hai chục ngàn để làm gì.

      Chị Quỳ hỏi trổng:

      –     Mười đồng ăn một đồng, vậy nếu mình muốn mua cây kim độ vài hào hay mua một cái gì độ một, hai đồng tiền cũ thì làm sao hè? Không biết họ có còn dùng tiền hào không?

      Một người đàn bà trả lời:

      –     Rồi cũng sẽ biết thôi. Ðợi đến 7 giờ thì biết ngay.

      Một người đàn ông trung niên, nãy giờ yên lặng đứng nghe, lên tiếng than thở:

      –     Không biết sau đổi tiền rồi ra sao? Làm ăn có được không? Thiệt khổ! Suốt cả tuần này chẳng kiếm được đồng nào.

      –     Thì có ai làm ăn gì được. Mua thì giá quá cao, mà bán thì sợ để tiền thành đồ giấy lộn.

      Lục lắng nghe, nhưng không thấy có ý kiến nào thuyết phục. Riêng anh, anh chẳng có gì phải lo. Kể cả tiền Hạnh gửi về và tiền anh cộng lại chưa tới năm ngàn. Anh chợt nghĩ tới Hạnh. Không biết giờ này nàng đang ở đâu? Sài Gòn, Hà Nội hay trên tàu? Nàng có còn giữ nhiều tiền mặt không? Nàng đã mua hàng chưa? Nhưng anh tự trấn an: nàng có mấy khi giữ tiền mặt nhiều. Có tiền là nàng đã vội vã mua hàng ngay hay nếu không cũng mua vàng.

      Ðám đông tản dần. Trên đường trở về nhà, gần đến cửa ngõ, anh bỗng nghe tiếng gọi giật đàng sau:

      –     Lục!

      Anh quay lại. Tân đạp xe lại gần:

      –     Có nhiều tiền mặt không?

      –     Không. Dại gì mà giữ cho nhiều vào.

      –     Tốt quá! Vậy thì ông cho tôi gửi vào phần còn lại đi.

      –     Ðược thôi.

      Nói xong, anh mới thấy mình quá vội vàng, nên nói lại:

      –     Nhưng đợi tôi hỏi xem trên nhà trước đã. Không thì mang tiếng.

      Tân cười:

      –     Không sao. Còn chỗ thì để dành tôi mà hết thì thôi.  Ðó chỉ là chuyện nhỏ. Tôi có chuyện lớn cần bàn với ông. Nhưng ta hãy về nhà đã.

      Vào nhà, Tân nói ngay:

      –     Tôi vừa bắt được một đường dây làm ăn về việc đổi tiền. Ông có chịu hợp tác không?

      –     Sao không? Nhưng bằng cách nào? Tôi kém mấy chuyện này lắm, sợ có khi ông kéo vào chỉ tổ thêm phiền ông.

      –     Rất đơn giản thôi, ai cũng có thể làm được. Ông chỉ cần liên lạc xem ai có tiền thừa cần đổi, bao nhiêu cũng được.  Ông gom hết mang về. Chúng ta sẽ đổi cho họ.

      –     Ăn chia thế nào?

      –     “Người ta” dứt khoát sẽ lấy đứt 20 phần trăm, nghĩa là mười ngàn sẽ chỉ còn tám ngàn. Còn phần của mình thì do mình “chịu” giá với người đổi. Mình dẻo miệng thì kiếm được tỉ lệ cao. Chẳng hạn khách chịu 50 phần trăm thì mình sẽ có 30 phần trăm, đại khái là vậy.

      Lục gật đầu, ngẫm nghĩ. Anh hỏi lại:

      –     Cũng hay. Nhưng mà…giữa ông với tôi thì thế nào?

      Tân cười:

      –     Dễ ợt! Mình có thể cùng nhau đi kiếm khách, cùng đi đổi tiền, phần lời chia hai. Hoặc ông lo kiếm phần ông, tôi lo phần tôi. Ông kiếm mối xong về giao cho tôi. Ông thỏa thuận với khách bao nhiêu tôi không biết, tôi lấy 5 phần trăm. Ðại khái là thế. Nhưng nếu ông muốn có một phương thức nào hay hơn, hãy cứ suy nghĩ. Bây giờ thì các địa điểm chưa mở cửa.  Tôi phải về lo cho phần gia đình mình. Ông cũng thế, lo cho xong phần gia đình đi. Sau 9 giờ mình gặp lại, nhé?

*

      Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ. Sau khi đổi tiền cho gia đình xong, Lục chạy quanh tìm gặp những người quen, toàn là mối lái làm ăn của Hạnh, để gom tiền. Rồi cùng Tân lui tới các trụ sở phường, các trung tâm đổi tiền cho khách vãng lai ở khách sạn Hương Giang, ở “xẹc”, nhà khách Thành Phố để giao tiền cũ và nhận tiền mới. Có thể nói là trong đời, đây là lần đầu tiên anh “trúng quả” đậm: gần bảy ngàn tiền mới.

      Khi các địa điểm đổi tiền đóng cửa vì hết giờ, đường dây của anh và Tân vẫn còn hoạt động. Mãi đến 7 giờ tối, anh và Tân mới nhận đủ số lượng tiền mới do những người trung gian giao lại. Tính toán với Tân xong, anh lấy số tiền của khách bỏ vào túi xách nhỏ cột chặt trong lưng, rồi đạp xe đi giao tiền.

      Trời tối hẳn. Ðường Nguyễn Chí Thanh nhập nhòe trong ánh đèn đường tù mù. Qua khỏi cổng trường Gia Hội, anh đạp dò dẫm, tìm đường Cao Bá Quát. Một chiếc xe Honda dame từ phía xa đàng sau chạy vọt lên, rồi đột ngột dừng lại ngay trước mặt anh. Trong lúc người lái đang dựng xe, thì người ngồi phía sau bật đèn pin dọi vào mặt anh, đồng thời đưa tay kia vẫy cho anh ngừng lại. Anh giật mình thắng gấp. Chiếc bánh xe trước quay ngang, suýt chút nữa hất anh té nhào xuống đất. Anh gượng đứng lại, nhảy khỏi yên xe, run giọng hỏi:

      –     Các anh là ai?

      Giọng một người đàn ông miền ngoài chắc và khô:

      –     Chúng tôi thuộc tổ đặc nhiệm tăng phái bảo vệ an ninh ngày đổi tiền. Yêu cầu anh cho kiểm tra giấy tờ.

      Nói xong, anh ta chìa cho Lục một tấm thẻ bọc nhựa, có đóng khuôn dấu đỏ choét. Anh đứng trân người, hồn vía chừng như bay mất. Người đàn ông lái xe dựng xe xong, bước vòng ra sau anh. Lục dựng xe đạp lại, rút chứng minh nhân dân đưa cho người đàn ông cầm đèn pin. Xem xong, anh ta hỏi:

      –     Anh ở trong Thành Nội?

      –     Vâng.

      –     Anh xuống vùng này có việc gì?

      –     Tôi đi thăm người bạn.

      –     Anh có mang theo gì trong người không?

      –     Dạ, không.

      Người đàn ông phía sau, ra lệnh:

      –     Anh đưa hai tay lên. Chúng tôi cần kiểm tra.

      Lục run rẩy làm theo lệnh. Người đàn ông vòng hai tay rờ rẫm quanh khoảng thắt lưng, hỏi:

      –     Anh mang theo cái gì trong người đây? Ðề nghị anh cho kiểm tra luôn.

      Lục chưa kịp phản ứng thì bằng một động tác nhà nghề nhanh gọn, anh ta kéo áo anh lên, giựt cái túi xách nhỏ ra khỏi thắt lưng.  Anh ta bước tới trước, đưa ra dưới ánh sáng đèn, mở túi xách. Vừa thấy một cọc tiền mới nằm gọn gàng ở bên trong, anh ta tỏ vẻ ngạc nhiên, hỏi:

      –     Tiền mới! Tiền đâu mà anh có nhiều thế này?

      –     Dạ… dạ… tiền gia đình tôi mới đổi.

      Anh ta cầm cọc tiền, đếm rồi la lên:

      –     Gần ba chục ngàn tiền mới. Tiền của ai mà nhiều thế này?

      –     Dạ, của… của… gia đình… mấy người bà con.

      –     Ðược thôi. Anh có mang theo giấy tờ gì chứng minh số tiền này không?

      Lục lúng túng, không biết trả lời sao cho suôn sẻ. Người đàn ông tiếp:

      –     Theo quy định, mỗi hộ chỉ được đổi tối đa hai ngàn đồng tiền mới. Ở đây đến những ba chục ngàn, là phải mười lăm hộ. Thế này là thế nào?

      –     Dạ… không… dạ, người ta nhờ tôi mang lại cho họ.

      –     Ðược, tôi tạm tin anh. Anh có còn giữ tiền ở đâu nữa không?

      –     Dạ, không.

      Anh ta bỏ hết tiền vào túi xách, đưa cho bạn giữ, rồi bảo Lục:

      –     Anh cho tôi kiểm tra tiếp.

      Anh ta vỗ vào túi sau, hai túi hai bên của Lục. Thấy có gì nổi lên lộm cộm, anh ta bảo Lục lấy hết đưa ra. Tiền! Anh ta kinh ngạc:

      –     Lại tiền mới nữa.

      Anh ta quay sang nói với đồng bạn:

      –     Trường hợp này phức tạp đấy. Hay là ta đưa anh Lục về gặp thủ trưởng đi nhỉ?

      Lục nghe một vật gì thúc vào sau lưng anh. Chắc là mũi súng, anh nghĩ, tóc gáy dựng ngược. Giọng người đàn ông bây giờ nghe lạnh tanh:

      –     Anh Lục, anh đã bị bắt. Tuyệt đối tuân lệnh tôi, không được kháng cự. 

      Lục đứng im, lòng dạ hoang mang, không còn biết gì nữa.  Một chiếc xe hơi từ đường Cao Bá Quát vụt chạy ra, dừng lại ngay chỗ anh. Người đàn ông đẩy Lục lên phía trước xe, rồi nhảy lên ngồi sát cạnh anh, kềm chặt. Người kia nâng xe đạp anh lên cao, dùng hai tay ném mạnh lên thùng xe phía sau.  Một tiếng kêu loảng xoảng vang lên nghe khô khốc, buồn nản.  Xe rồ máy chạy ngay, ngược trở về ngả Cầu Ðen, hướng về phố. Sau khi qua cầu Trường Tiền, xe đi thẳng, rẽ vào đường Bến Nghé, dừng ngay trước một ngôi nhà lớn. Một biệt thự thì đúng hơn. Nhà to, vườn rộng, cổng sắt, bồn hoa, lối đi rải đầy sỏi. Chênh chếch bên kia đường là cổng trường Nguyễn Tri Phương. Hồi còn đi học, anh phải đã từng đi ngang đi lại căn nhà này hàng bao nhiêu lần. Nhà ai nhỉ? Bao nhiêu năm rồi, làm sao nhớ nổi. Nhưng tại sao lại mang anh vào đây?

      Người đàn ông ra lệnh cho Lục xuống xe, dẫn anh đến căn phòng bên hông nhà, đẩy một cánh cửa mở sẵn, đứng tránh sang một bên để cho Lục bước vào. Anh ta chỉ chiếc ghế đặt ngay trước một chiếc bàn sắt kiểu Mỹ, nói:

      –     Anh ngồi đó. Ðồng chí thủ trưởng sẽ nói chuyện với anh sau.

      Lục khẽ khàng ngồi xuống ghế, lòng dạ tê tái. Phòng nhỏ, tường quét vôi màu hồng nhạt, không treo hình ảnh gì, ngoài một câu khẩu hiệu cỡ chữ vừa phải kẻ lên ngay phần tường trước mặt anh: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, bên dưới là ba chữ Hồ Chí Minh. Bàn trống trơn, mặt bàn sắt láng lấp lóa ánh sáng dội xuống từ ngọn đèn điện công suất khá mạnh treo lơ lửng trên trần. Người ta sẽ thẩm vấn anh, sẽ bắt anh khai đủ thứ chuyện trên đời. Ai sẽ “làm việc” với anh đây? Nghĩ đến những màn hỏi cung khủng khiếp, anh rùng mình, lạnh toát sống lưng. Anh đã là một tù nhân. Tù! Trời ơi, anh đã bị ở tù. Biết khai thế nào đây? Giấu thì không giấu được rồi, nhưng nói làm sao cho khỏi tội? Quả là anh không có cái số mánh mun, buôn bán. Cái xui vẫn cứ đeo đuổi theo anh. Tưởng là đã nắm chắc nụi trong tay, hóa ra bây giờ mất sạch. Không những thế còn phải nằm tù. Anh tưởng tượng đến những người quen anh đang sốt ruột chờ đợi ở nhà để lấy tiền. Những đứa con không biết bây giờ thế nào? Còn Tân ra sao? Có bị bắt như anh không? Anh nghĩ đến lúc Hạnh trở về, nàng sẽ khinh khỉnh nhìn anh, khuôn mặt đầy vẻ chế giễu, khinh bạc. Lại một lần nữa, Hạnh đã nói đúng: anh trước sau chỉ là một thằng đàn ông vô tích sự.

      Anh lơ láo nhìn quanh như kẻ mộng du. Một tiếng động khẽ vang lên ở góc phòng. Anh giật mình, quay lui. Một người đàn ông vừa đẩy cánh cửa bước vào vừa cười:

      –     Chào anh Lục. Cả ngày chạy ngược chạy xuôi vất vả quá nhỉ?  Nào, đã cơm nước gì chưa?

      Anh nhìn người đàn ông trong bộ áo quần bộ đội xuề xòa, dụi mắt. Ai mà trông quen quen? Anh đang cố nhớ thì người đàn ông lên tiếng:

      –     Nhận ra người quen chưa?

      Lục nhìn kỹ, sửng sốt, miệng lắp bắp:

      –     Anh…à… ông Thắng!

      –     Vâng, Thắng đây, anh Lục à! Trí nhớ của anh cũng tốt đấy chứ. Thế nào, việc tôi nhờ anh tìm giùm bản Cương Lĩnh Mặt Trận Giải Phóng hôm nọ đến đâu rồi?

T.D.N.

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

3. Giao Thừa Đêm Diễm Ảo

Tiệc tùng xong khách đã về. Nắng chiều chỉ còn phớt nhẹ trên hàng tre sau nhà. Tôi bảo Trung trải poncho bên gốc cây hoa phượng trước sân cho các vị thẩm quyền của Đại đội ngồi uống trà chơi và chờ đón giao thừa luôn thể.

Gặp lúc thong thả, đông đủ anh em, đặc biệt có Thiếu úy Đặng văn Thiều mới đáo nhậm, tôi không ngần ngại hòa mình vào tán gẫu, kể vài câu chuyện vui. Với tôi chẳng một ranh giới nào quá đáng, ngăn cách giữa cấp trên và dưới. Trái lại, tôi cần sự gần gũi, liên hệ mật thiết, để cùng nhau chiến đấu. Đó cũng là một yếu tố quan trọng làm tăng thêm sức mạnh, giúp Đại đội tránh được bao phen thảm khốc, mà nhiều đơn vị đã gặp phải kẻ bỏ xác đầu non, người vùi thây bên bờ suối. Vì kinh nghiệm máu đó mà mỗi khi rảnh rỗi tôi thường đùa giỡn, như ngang hàng với anh em lính trẻ, nên họ quý mến, không ai bất mãn, và con số đào ngũ giảm thiểu tối đa. Điểm này tôi cũng dẫn đầu 12 vị đại đội trưởng của Liên đoàn 1 Biệt Động Quân, được Trung tá Trần Kim Đại Liên đoàn trưởng trao tặng bằng ban khen hằng năm.

Ở cương vị cầm quân, dù mọi người không cùng một thuật chỉ huy, nhưng về mặt tâm lý đối với thuộc cấp là phải tương đồng nhiều điểm mới thắng địch. Tiểu đoàn này có hai vị sĩ quan cư xử với anh em lính khác xa tôi. Một tôi rất kính trọng, còn một tôi khinh ra mặt.

Trước hết, Trung úy Hồ Dơn, người Quảng Trị, cựu Đại đội trưởng Đại đội 2 BĐQ, lúc nào cũng cau có, mặt hênh hểnh, quan liêu, nhưng lại thượng đội hạ đạp. Ông ít khi trò chuyện thân mật với anh em dưới quyền, nếu có cũng chỉ để bàn mưu tham nhũng. Đánh giặc thì nhát gan như thỏ đế, đụng trận ông vội chạy lui ra sau, thúc thủ, điều động qua máy móc. Không nắm vững để lượng định được tình hình địch trước mắt khi đối đầu thì làm sao dàn quân bố trận. Do đó, lính ở phía trước mất phương hướng, bị tổn thất dài dài…

Một lần đơn vị đóng quân ở quận Tiên Phước Quảng Nam, vừa được cử làm Trưởng ban ba BCH Liên đoàn 1 BĐQ, Dơn liền giở thói lếu láo đâm thọc Trung tá Liên đoàn trưởng rằng tôi để lính phá phách ngoài phố, nổi xung tôi rút khẩu Colt 45 trở bá toan đập vào mặt ông, may có Đại úy Nguyễn văn Do, Tiểu đoàn phó 21, đứng kế bên ngăn cản kịp.

Tôi muốn quên nhưng Hồ Dơn là một tác nhân khiến Đại đội 2 đã bao lần từ chết tới bị thương, cần nhắc nhở để các thế hệ mai sau biết khi đặt để kẻ thất đức, bất tài chỉ huy một đơn vị tác chiến tức trực tiếp nắm giữ hàng trăm sinh mạng binh sĩ trong tay, thì chỉ rước lấy tai họa. Thật nhục nhã, đã một dạo dưới quyền ông tôi bị trù dập, chậm mất một năm hữu ích cho Tiểu đoàn 21 BĐQ. Dơn diệt giặc đâu không thấy chứ hại anh em thì quá nhiều.

Người thứ hai, Trung úy Quách Ẩn, Đại đội trưởng Đại đội 2, kế nhiệm Hồ Dơn. Ẩn lúc ấy còn độc thân, nghiêm nghị, xa cách lính, sống thanh bạch. Tôi làm Đại đội phó, anh lại ngăn cấm tôi giao du quá thân mật, ngang hàng với cấp dưới. Nghe Trung úy Quách Ẩn nói hoài và nghĩ mình khóa đàn anh nên có lần tự ái, tôi to tiếng:

– Không chơi với tụi nó, để chơi với rắn, hả?

Rồi, “thói nào tật đó”, tôi vẫn vậy. Một hôm, nhân lúc đơn vị dừng quân ở xã Cẩm Văn bên chân đồi Bồ Bồ Quảng Nam, tôi ham vui đánh bài thua liểng xiểng. Lúc về Bộ Chỉ Huy Đại đội ngủ, tôi bị Ẩn chất vấn:

– Ăn hay thua?

Tình ngay tôi đáp:

– Thua hai chục ngàn đồng.

Dường như Quách Ẩn cho lính theo dõi mới biết chính xác số tiền tôi thua, nên anh lấy trong ba lô ra một xấp bạc tương tự, và nói:

– Chắc hết tiền xài rồi chứ gì? Đây, tôi tặng đủ số vốn của Vân đó! Nhớ đừng chơi nữa, lính nó lờn mặt, khó chỉ huy!

Tôi ngỡ ngàng, phân vân chẳng biết tính sao. Nếu từ chối thì khó quá! Hai mươi tờ giấy bạc loại một ngàn đồng chính phủ vừa phát hành, là hơn tháng lương thiếu úy của tôi nhiều. Còn ngược lại, có khác nào tôi nhận một bản án tù treo của vị Đại đội trưởng suốt thời gian phục vụ Đại đội này, hay cả đời tôi không chừng. Rút cuộc tôi nhận, như một lời nguyền mãi mãi là người tốt, không bao giờ cờ bạc.

Anh thương tôi đến thế sao? Không coi tôi như một thuộc cấp mà là người bạn tri ngã.

Một điều nữa, không phải vì hai chục ngàn đồng, tôi nghe lời anh là chẳng thèm ăn bẩn quân trang quân dụng, ngay cả thực phẩm và hàng Quân Tiếp Vụ của đơn vị. Khi làm Đại đội trưởng, việc đầu tiên tôi ra tay hạch sách Thượng sĩ Nguyễn Điền, hạ sĩ quan tiếp liệu kỳ cựu, hai mươi năm trong ngành, về tài sản, nhu yếu phẩm, đã thất thoát từ lâu. Tôi bắt Nguyễn Điền phải bồi hoàn các khoản tiền gần hai trăm ngàn đồng. Xong, tôi cách chức, đề cử Trung sĩ nhất Nguyễn Đựng thay thế ông vô điều kiện, nghĩa là không đòi hỏi cái lệ “đầu tiên”, do các đại đội trưởng “tiền” nhiệm đặt ra. Thông thường bất cứ ai được cử làm hạ sĩ quan tiếp liệu, coi kho tàng của đơn vị, phải lo lót cho sếp sơ khởi vài trăm ngàn đồng. Do đó dù là cấp chỉ huy trực tiếp chơi hắn mạnh tay như kiểm tra sổ sách, tức đã đụng tới ổ quyền lực tham nhũng. Vì sao? Vì cái dù che cái cán. Người tố không đi tù thì cũng mất chức, hay bị thuyên chuyển nơi khác, gian khổ hơn. Điển hình, trường hợp Thiếu úy Châu, tôi không nhớ họ, thuộc một đơn vị pháo binh Quân đoàn I, thời tướng Hoàng Xuân Lãm Tư Lệnh. Thất bại việc tố giác cấp trên ăn chận, bán vỏ đạn đồng… Châu lại bị trù dập te tua và lâm nguy đến tánh mạng, phải chạy vào xin “tỵ nạn” Ty An Ninh Quân Đội Quảng Nam. Chuyện của Châu đã gây chấn động một dạo ở Vùng I.

Ổ tham nhũng cũng có hệ thống chỉ huy, từ trên xuống rất vững chắc, nhưng không có vấn đề câu nệ quân giai, nên một chú lính quèn vẫn được gặp thẳng ông tướng để nạp tiền nạp gái. Nếu ai không đủ Đô la, không đưa mối “lima”, chắc chắn sẽ bị tống ra tác chiến.

Nói cho đúng Nguyễn Điền chỉ là nạn nhân, buộc phải cấu kết với bọn thảo khấu của Trung tá Lê Phú Đào, một sĩ quan chưa hề trải qua sự chỉ huy cấp đại đội. Đào, tay gộc tham ô, dựa hơi Đại tá Khoái, Chỉ huy trưởng Quân khu I Biệt Động Quân, đàn em tướng Hoàng Xuân Lãm, đã ngang nhiên thay thế Trung tá Lê Bảo Toàn làm Liên đoàn trưởng Liên đoàn I BĐQ. Đơn vị đã một thời mạt rẹp, đánh đâu thua đó, lính chết liên miên, vì cách chỉ huy kém cỏi của Đào. Tôi nhớ lúc Liên đoàn I lên xe ra hành quân tái chiếm Quảng Trị đầu tháng 3-1972. Lê Phú Đào cũng bày đặt diện cái áo giáp mới toanh, tỏ vẻ hãnh diện như mặc chiến bào vua ban, đứng gác một chân trên khung cửa chiếc Jeep, tay cầm ống liên hợp máy PRC25, với bộ mặt kênh kiệu, nói với Đại tá Khoái bên Non Nước:

– Thái Dương (danh hiệu của Khoái) ơi, tôi quyết phen này mang chiến thắng về cho Thái Dương!

Đúng là trò cải lương. Sao không nói mang chiến thắng về cho quê hương đất nước, mà lại cho Khoái? Và may là Dương chứ “giường” thì Đào xuống giọng vọng cổ rồi. Thời thế thật! Thời thế đếch tạo anh hùng khí phách, chỉ nắn ra phường tiểu nhơn, ăn hại đái nát!

Quách Ẩn nhỏ tuổi hơn tôi nhưng tôi đã học nơi anh nhiều điều hay, không tự cao, luôn luôn khiêm tốn. Ngày nhận chức đại đội trưởng, sau lễ bàn giao, Ẩn tâm sự trước hàng quân:

– Thiếu úy Đại đội phó Trần Thy Vân là khóa đàn anh của tôi. Đôi khi… tôi nhường nhịn, anh em chớ lấy làm lạ…

Google photo edit by Sơn râu

Nghe nói mát ruột nên thời gian dưới quyền Ẩn, tôi đã tận tình, không nệ gian nguy, giúp anh nhiều vấn đề nan giải xảy ra bất ngờ. Năm 1970, trong cuộc tranh cử tổng thống VNCH, hai liên danh Nguyễn Cao Kỳ và Dương văn Minh thấy không thắng vội rút lui để cuộc đầu phiếu bất thành, nếu chỉ còn có tướng Nguyễn văn Thiệu “độc cử”, khiến Phật giáo chống đối ông dữ dội. Ở Đà Nẵng các Phật tử tập trung và xuất phát từ chùa Phổ Đà biểu tình, họ còn căng kẽm gai chắn ngang đầu đường Võ Tánh, gần trường Thọ Nhơn của người Hoa, làm xe cộ kẹt cứng. Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Quảng Đà yêu cầu Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân xuống dẹp chướng ngại vật. Trung úy Quách Ẩn Đại đội trưởng Đại đội 2/21 thi hành, đưa đơn vị từ xã Hòa Cường, Hòa Vang, tới. Trong lúc Đại đội trưởng Ẩn đang còn dè dặt, không nỡ mạnh tay với đồng bào Phật tử thì Đại tá Đáng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, rất uy nghi trong bộ kaki vàng, cổ đeo ba bông mai bạc láng bóng, xuất hiện. Trên chiếc xe Jeep ông vội bước xuống sấn tới rồi trợn mắt quát to, như muốn nuốt sống Ẩn:

– Dẹp đường lẹ đi!

Ẩn nói:

– Phật tử đang bám giữ hàng rào kẽm gai, tôi cần hỏi lệnh BCH Tiểu đoàn tôi cách đối phó…

Đại tá Đáng còn lấy tay chỉ thẳng mặt Ẩn:

– Hỏi ai, hả? Lệnh của tôi, nghe không?

Thấy khứa sĩ quan thuộc loại sáng vác ô đi tối vác về, đàn em của Hoàng Xuân Lãm, ỷ quyền, phách lối với người từng xông pha mặt trận, tôi nổi máu Hớn Minh, hét lớn:

– Lệnh Đại tá, phải không? Được, anh Ẩn để tôi dẹp!…

Thấy tôi đeo một bông mai thiếu úy trên nắp túi áo, tóc tai thì dài tới ót, vừa mới hành quân về chưa kịp hớt, lại nói hung hăng, Đáng đâm nhợn, nghi tôi toan giở trò gì đây giữa lúc có đám lính Biệt Động của tôi đang chĩa súng, ông vội phóc lên xe thúc tài xế nổ máy chạy vù. Cái đồ nhát ké, núp bóng từ bi cũng bày đặt vênh váo.

Giờ phút căng thẳng ấy, tôi lại gặp ông thầy pháp chuyên trị tà ma ở xã An Hải, quận 3 Đông Giang, đứng bên kia vòng kẽm gai chắn ngang con lộ. Tôi biết ông lúc nhỏ giữ trâu, lớn lên thiên tả, nay khoác áo đà giả tu, trà trộn giật dây Phật tử. Tuy nhiên, tôi vẫn cung kính:

– Thưa thầy, con là Phật tử, nhận nhiệm vụ giải tỏa chướng ngại vật, giữ an ninh nơi đây, con phải thi hành.

Tôi vừa dứt lời, thoạt đầu ông thầy pháp chắp hai tay trước ngực, tôi nghĩ chắc ông đã buông dao đồ tể, nay trở thành bậc chân hiền đạo mạo rồi, nhưng không ngờ “ngài” lại niệm to:

– Nam Mô A Di Đà Phật! Anh có nhiệm vụ anh, tôi cũng có nhiệm vụ tôi là chặn đường, không ai được qua…

Chưa đủ, vừa nói đến đó, đột nhiên gương mặt ông chuyển qua ngầu ngầu vừa lấy tay chỉ vào tôi rồi chửi thề:

– ĐM. anh mà Phật tử chi? Tôi đã nói không ai được bước qua chỗ ni, nghe chưa?…

Rõ ràng hắn là sư hổ mang Việt Cộng. Ngay lập tức, tôi ra lệnh Thiếu úy Phước (lai Ấn) cho Trung đội 3 sấn tới, kéo hết chướng ngại vật vô lề, đồng thời túm đầu tên thầy bùa trói lại ném lên chiếc Dodge Cảnh Sát đang đậu gần đó. Đám Phật tử chung quanh hoảng hốt, ùn ùn kéo nhau chạy thẳng tới đường Hoàng Diệu, ngược về chùa Phổ Đà…

Hiện Trung úy Quách Ẩn còn nằm bệnh viện Duy Tân Đà Nẵng vì đạp mìn, vết thương ngực quá nặng, chắc khó sống…

Nãy giờ anh em thao thao nói chuyện, tôi thì ngà ngà phăn theo dòng tửu Martel “ôn cố tri tân”. Nhớ buổi chiều ngày đầu tiên trực thăng vận đổ xuống Hạ Lào, địch chưa tấn công, tôi cùng Đỗ văn Nai Đại đội trưởng Đại đội 4/21 Biệt Động Quân chặt nửa chai Hennessy với thịt hộp ba lát. Nhậu xong trở về Đại đội 2/21 tôi phải bò từng chặng, qua những hố hầm, những gốc cây chằng chịt…

Nhị ra ngồi kế bên lúc nào không hay. Nàng rỉ tai:

– Anh, mời anh vô mẹ nói chuyện.

Để các chú cựa non “tửu nhập ngôn xuất”, cứ tiếp tục pháo nhau, tôi đứng dậy liểng xiểng bước theo Nhị.

Bà cụ nhìn tôi cười:

– Bác cám ơn Vân và anh em lính…

– Có gì đâu, thưa bác!

Nhị đặt trên bàn mấy tờ giấy bạc:

– Hôm qua đi chợ dư năm trăm đồng, anh à!

– Mua đồ nhiều vậy mà dư sao?…

Tôi bảo Trung đưa thêm một ngàn nữa:

– Em giữ ngàn rưỡi mai Tết lì xì con nít.

– Anh khéo nói, lì xì ai đâu dữ vậy?

– Dư thì cho em quýnh bầu-cua-cá-cọp.

Đang lúc Nhị sung sướng mỉm cười, dí xấp bạc vào túi mẹ, bỗng bên ngoài phát nổ đùng đùng, chớp lửa.

– Giao thừa! Giao thừa!…

Tôi nắm tay kéo Nhị chạy ra sân. Trung và Xá vẫn tỉnh bơ tiếp tục xịt hai ba trái signal xanh, trắng, đỏ vút lên cao:

– Chúc mừng năm mới Đại Bàng! Chúc mừng!

Bên gốc cây bông phượng trước ngôi nhà của Lý cũng vậy, một đám lính đồng loạt hô to những lời chúc mừng…

Tôi chưa kịp phản ứng, Nhị còn ngơ ngác ôm tôi, thì Hs Lê Tuấn đã thả đạn vào nòng súng cối phóng mấy quả 60ly, bung dù sáng trưng. Tiếp theo, ba trung đội, với các tiền đồn quanh khu vực như đã hẹn đâu trước, cũng chĩa M16 lẫn đại liên bắn chéo nhau không ngớt khiến vòm trời rực rỡ, tưởng chừng còn đẹp hơn những đêm hoa đăng trong truyện thần thoại.

Nhị có vẻ thích thú, vừa ngước lên nhìn không gian vừa hé môi cười, đôi mắt nàng long lanh ngập đầy hỏa châu, tôi định hôn nhưng lại sợ làm chao động cả một trời sao vô tận.

Một đêm tuyệt vời đáng nhớ nhưng đón giao thừa kiểu này chắc do tụi thằng Trung cao bồi xử đầu. Vì đầu năm kiêng cữ tôi không nỡ rầy chúng. Tôi nói Hiệp truyền tin:

– Thôi, bảo anh em đủ rồi!

Hiệp nắm ống liên hợp gọi các nơi:

– Mười, Hai Mươi, Ba Mươi!..Lệnh Đại Bàng chấm dứt bắn súng và canh gác cẩn thận!

Lính tráng giãn dần, tôi kéo Nhị ngồi bệt xuống thềm nhà. Con xóm trở lại yên tịnh. Sương khuya đã lành lạnh. Nhị bóp nhẹ vai tôi:

– Vô nhà.

Hai đứa đứng dậy. Bà cụ đã ngủ. Hai hôm nay bà làm việc nhiều. Nhị đóng cửa rồi vặn thấp ngọn đèn, ánh sáng quá yếu muốn tắt. Tôi chưa biết đến chỗ nào thì Nhị vén tấm màn cửa buồng đẩy tôi vô. Bên trong tối om như mực, Nhị quen đường, còn tôi thì dọ dẫm, vừa đụng cạnh giường tôi đã vội ngã người xuống, ôm bụng cười khúc khích.

Nhị nói nhỏ:

– Anh nằm xuôi lại…

– Đầu giường phía nào? Mà thôi, nằm ngang cũng được.

– Bộ thích “sà ngang” lắm hả?

Hai đứa thấm ý cười. Tôi muốn cười to cho đã nhưng sợ bà già nghe. Tôi vật ngửa Nhị ra hôn:

– À này, sao hồi nãy mình không nằm ngoài bộ phản?

– Để chú Trung ngủ.

– Đâu có, đêm nay anh đã cho tụi nó “di tản” qua nhà khác hết, để khỏi… đạp đất.

Nhị áp mặt vào ngực tôi:

– Mình yêu nhau lẹ quá… Ồ, có ai gõ cửa, anh à!…

– Đại Bàng ơi, Đại Bàng!

Tôi bật dậy phóng ra:

– Hiệp hả?

– Dạ! Trình Đại Bàng, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng cần gặp Đại Bàng ở đầu máy.

– Vào đây!…

Google photo

Nhị sau lưng chồm tới mở chốt cửa. Tôi vặn cao ngọn đèn rồi cầm ống liên hợp:

– Tôi nghe Trùng Dương (danh hiệu Quách Thưởng)!

Giọng ông khàn khàn:

– Anh có nghe gì không? Sơn Linh (Danh hiệu của Trung tá Trần Kim Đại, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 1 BĐQ) mới gọi xuống rầy tùm lum các đại đội bắn súng và bắn trái sáng rực trời. Bây giờ 4 giờ sáng, còn hai tiếng nữa, Đại đội 1 của Việt Quốc phải di chuyển, nghe rõ không?

– Năm trên năm! Phương giác mấy, Trùng Dương?

– Theo quốc lộ về Đức Phổ. Nhớ đúng 6 giờ move.

– Đáp nhận!

Thưởng nói thêm:

– Tin Việt Quốc rõ, Tiểu đoàn 39 BĐQ vừa trực thăng vận xuống Sa Huỳnh đã mất luôn hai đại đội, trong đó có Đại úy Hoàng Kim Sơn Tiểu đoàn phó. Thiếu tá Lại Thế Thiết, Tiểu đoàn trưởng, xin nhảy tiếp hai đại đội còn lại, nhưng Sơn Linh không cho. Giờ đến lượt mình, chắc chơi xả láng đó! Nhớ khi đi ngang Quán Hồng hãy cẩn thận!

– Đáp nhận, Trùng Dương!

Tôi chỉ biết trả lời “đáp nhận” thôi. Miệng nói mà tai tôi ù hết. Ngày vui đã qua mau. Tôi trả ống liên hợp lại Hiệp:

– Mày bảo Thanh mời các trung đội trưởng, thường vụ Đại đội và Huỳnh văn Trung, khỏi ngủ nữa, lên đây gấp. Nhắc các sĩ quan cầm theo bản đồ.

Hiệp quay lưng đi, Nhị rầu rầu hỏi:

– Đại đội di chuyển, hả anh?

– Ừ!

Giờ phút này đầu óc tôi rối bù, nghĩ lung tung, phần mường tượng tới mặt trận ác liệt, đẫm máu, đang chờ đón mình, phần nuối tiếc cuộc tình mới chớm nở. Đã vậy, tiếng “ừ” vừa rồi lại quá khô khan cộc lốc làm Nhị buồn thêm. Nhớ hôm nay mùng 1 Tết, tôi gượng cười và ôm Nhị:

– Mừng tuổi em cái hôn.

– Chúc anh đi bình an!

– Chớ không mừng tuổi anh sao?

Mặt nàng phụng phịu:

– Mừng cái gì đây?

– Thì… hôn anh…

Như cái máy được bấm nút sẵn, Nhị ghì chặt tôi, quên mất Thiếu úy Thiều có mặt, đang đứng sau lưng.

Thượng sĩ Thiệp cùng các vị trung đội trưởng tiếp nối bước vào với quân phục gọn gàng, đội mũ nâu, mang dây ba chạc, súng Colt. Họ dàn ngang, cười tươi. Thiều mở đầu:

– Thay mặt anh em chúng tôi kính chào Trung úy năm mới và chúc mạnh tiến trên đường võ nghiệp.

– Tôi cũng cầu mong tất cả quý vị gặp nhiều may mắn, mọi điều tốt lành…

Rồi tôi nghiêm sắc mặt:

– Bây giờ mình đã có việc làm. Tình hình trong Sa Huỳnh rất căng, như tôi đã nói Thiều hôm nọ. Tiểu đoàn 39 BĐQ vừa mất hai đại đội. Lệnh Thiếu tá Thưởng, lát nữa 6 giờ mình lên đường. Tất cả hãy gọn gàng, cơm nước sẵn sàng một ngày ăn. Đại đội tập họp trăm phần trăm trước sân 5 giờ rưỡi sáng. Có ai hỏi gì không?

– Rút các tiền đồn về chứ Đại Bàng?

– Tôi mới nói, Đại đội tập họp trăm phần trăm mà Hạnh! Các anh theo Thượng sĩ Nguyễn Thiệp lấy bản đồ, vùng phía nam Mộ Đức, tức quận Đức Phổ. Thi hành! Riêng anh Thiều nán lại chờ tôi.

Mấy người kia đi rồi, tôi nói:

– Tôi đề cử anh giữ chức vụ Đại đội phó từ hôm nay.

– Cảm ơn Đại Bàng.

– Chẳng có gì ơn với nghĩa. Lát tập họp anh kiểm soát Đại đội mọi thứ trước khi xuất quân, nhất là đạn dược, tụi lính hay để tùm lum, thiếu hụt thì chết. Bây giờ Thiều bảo Thượng sĩ Thiệp ghép cho tôi và anh luôn, mỗi người một tấm bản đồ từ Mộ Đức tới Tam Quan Bình Định. Việc nào chưa quen cứ hỏi. Còn vấn đề cơm nước có tụi thằng Xá lo, ăn chung với tôi.

Thiều đưa tay chào tôi rồi bước vội ra ngoài. Tôi vừa mang giày vừa hối mấy người lính đang lui cui ở nhà dưới:

– Xá, Hoàng pha gấp hai ly cà phê và nấu cơm lẹ!

Bất ngờ có lệnh xuất quân, đám cao bồi ngớ ngẩn hết, Nhị thì điếng hồn:

– Em đã thu nhặt áo quần và đồ lỉnh kỉnh của anh, chỉ chờ chú Trung bỏ vô ba lô là xong.

– Mấy đôi vớ, cái mũ rừng nữa, báo chí thì bỏ lại.

– Vớ rồi, ụa…mũ rừng anh để đâu em không thấy, hay còn nằm… bên nhà Lý?

Tôi bẹo má nàng:

– Giờ phút này còn nghĩ nó “nằm” bển.

Nhị nũng nịu:

– Thì bữa trước… ở bển một lần rồi chớ bộ!

Bà cụ trong buồng bước ra:

– Hành quân hả Vân?

– Dạ, Đại đội sắp đi. Năm mới con kính chúc bác luôn luôn khỏe mạnh. Con sẽ về thăm.

– Bác cầu mong các con gặp mọi sự như ý. Giặc giã gì ác thiệt, mùng Một Tết mà hành quân.

– Quân đội là vậy đó, bác ơi!

Xá bưng hai ly cà phê để trên bàn:

– Kính mời Trung úy!

– Xá chạy mời Thiếu úy Đại đội phó, còn các anh dọn cơm ăn đi, gần tới giờ tập họp, di chuyển rồi!

Bà cụ đem lên một đĩa bánh tét và thịt heo kho thơm phức. Tôi và Thiều chẳng ăn nổi, chỉ uống cà phê, để bàn sơ chuyện di chuyển trên một lộ trình hiu quạnh. Bên ngoài, trời đã hừng hừng sáng, cây hoa phượng trước sân lờ mờ hiện ra trong màn sương. Tiếng gà còn gáy vang quanh xóm, như giục giã những người đi một ngày đầu xuân chớm buồn…

Anh hùng bạt mạng

vietmessnenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Google photo

2. Tình Yêu Lãng Tử

Hôm nay, quận lỵ Mộ Đức, phía nam Quảng Ngãi, trở nên nhộn nhịp khác thường, nhất là nơi khu phố chính cặp hai bên Quốc lộ 1, và các thôn làng phụ cận. Sự nhộn nhịp không phải do dân chúng chuẩn bị các nghi lễ cổ truyền vào mấy ngày rơi rớt cuối năm, để tống cựu nghinh tân chào đón xuân về, mà vì toàn bộ Liên đoàn 1 Biệt Động Quân vừa mới đến. Lực lượng hùng hậu rực màu áo chiến hoa rừng này xuất hiện nhằm mục đích ngăn chặn bước tiến của Cộng quân từ Đức Phổ, và sẽ tái chiếm Sa Huỳnh nay mai.

Tất cả tạm rải ra nhiều vị trí trong quận. Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân đóng chung quanh chân đồi Chi Khu Mộ Đức, Đại đội 1/21, tôi Đại đội trưởng, trấn giữ một con xóm ở phía bắc, rất đông đúc dân cư.

Sau khi cử một toán đi tuần tiễu trong khu vực thì trời tối. Để mặc anh em thuộc Bộ Chỉ Huy Đại đội tự do nô đùa trước sân, tôi vô buồng thay quần áo. Vừa tới cửa, qua ánh đèn dầu lờ mờ, tôi thấy Lý nằm dài trên giường, hai tay khoanh ngực, đầu gối lên bộ đồ hoa của tôi. Điều ngạc nhiên là cô gái mới quen chưa đầy một buổi đã tỏ ra thân mật. Hay bà Luyến chủ nhà quên nói Lý biết căn buồng này dành riêng cho tôi mượn để nghỉ ngơi thời gian đơn vị dừng quân Mộ Đức. Không hiểu Lý vô đây lúc nào. Tôi định ra rầy chú lính cận vệ Huỳnh văn Trung quá sơ hở, chẳng xem xét gì hết, nhưng thôi, ba chuyện không đáng.

Tôi đứng nhìn và sau đôi phút ngần ngừ, ngại làm tan biến giấc mộng hồn nhiên của cô gái đang độ xuân thì, tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu, tôi khe khẽ bước đến ngồi xuống cạnh giường cởi giày. Lý vẫn ngủ say…

Nhớ hồi trưa nay, thấy Lý lăng xăng giúp các chú lính làm việc lặt vặt, miệng chúm chím cười luôn, tôi hỏi đùa:

– Này Lý, em có thích theo anh về Đà Lạt không?

Lý chớp chớp đôi mắt:

– Về Đà Lạt làm chi?

– Thì… ở chơi với bà già anh.

Lý vừa pha tôi ly nước vừa đáp:

– Thôi, em sợ vợ anh ghen lắm!

Câu nói như ẩn ý dọ dẫm, mà tôi thường nghe các cô tinh đời đối đáp mấy chàng dê xồm tán tỉnh. Tôi nghĩ Lý còn ngây thơ, nói cho có nói thôi, chứ chắc gì nàng đã chứng kiến cảnh lấy nhầm chồng của các bà sư tử Hà Đông. Lý cũng chẳng sợ chuyện nào khác, ngoài cái chết dễ dàng bởi bom đạn hằng ngày trút xuống Đức Lương, ngôi làng nhỏ bé của nàng, phía đông Mộ Đức. Lý nói các chú Biệt Động, Đức Lương mất an ninh trăm phần trăm lâu rồi. Đúng vậy, nơi đó tôi biết rõ vì đã hành quân qua nhiều lần. Mấy năm sau này, chiến tranh quá ác liệt, Đức Lương nối liền với Đức Quang, hai xã kề biển đều xơ xác giữa rừng cây dương liễu, và chằng chịt bom mìn gieo chết chóc tang thương khủng khiếp. Trong làng, trai trẻ không dám ở, nên có kẻ theo Việt Cộng, người thì tự nguyện đi lính Quốc Gia, hay đổ về các thành thị kiếm ăn, chỉ còn ông già bà cả và trẻ em sống đói rách, loi nhoi dưới những căn hầm bẩn thỉu, mà lòng đầy căm hờn cả đôi bên chiến tuyến.

Quê hương đau khổ của Lý như vậy làm sao có những đêm trăng tình tự với nam thanh nữ tú hẹn hò, mộng mơ?

Hoàn cảnh Lý thật đáng thương. Tôi vuốt nhẹ mái tóc túm đuôi ngựa của nàng:

– Lý giống em Huệ anh lắm! Giống y chang, cũng ôm ốm, da ngăm ngăm…

Chỉ vậy thôi, mà bây giờ Lý quá tự nhiên, còn hơn là tình nhà binh nữa. Lý nằm có vẻ thoải mái, chẳng biết gì đến cảnh thực u trầm này. Tôi nghe rất rõ từng nhịp tim, tiếng thở mạnh phảng phất mùi da thịt lẫn mùi hăng hắc từ mái tóc nắng cháy nơi người thôn nữ. Tất cả cho tôi một cảm giác là lạ mà thích thú hơn những mùi hương son phấn của các cô gái thị thành.

Lý cựa mình rồi bẽn lẽn ngồi dậy. Tôi hỏi nhỏ:

– Sao nằm đây?

Giọng Lý khàn khàn:

– Em bị cảm.

Tôi vặn cao ngọn đèn trên bàn bên đầu giường để nhìn Lý rõ hơn, căn buồng vừa vụt sáng thì bất ngờ một thiếu nữ mặc áo cụt trắng xồng xộc bước vô. Thấy tôi, người ấy ngỡ ngàng khựng lại, định quay lui. Tôi hỏi:

– Này, cô đi đâu vậy?

Người thiếu nữ vẫn còn sửng sốt, nhìn tôi với đôi mắt tròn to và long lanh dưới ánh đèn, dễ chết lòng người:

– Xin lỗi, nhà dì Luyến tôi thường qua đây. Vì trong buồng mờ tối tôi tưởng có mình Lý, không biết ông trong này…

Cô gái lạ nói một hơi dài móc méo, như tràng đại liên bắn từ trái sang phải, tôi cùng Lý đều trúng đạn.

Dứt lời nàng vội bước ra khỏi cửa buồng đứng vọng vào:

– À Lý, mai dậy sớm đi quơ củi chụm tết, nghen!

Lý uể oải:

– Mệt lắm! Em bệnh, chị Nhị à!

– Bệnh gì?… Bệnh ốm nghén, phải hôn?

Sau câu nói chanh chua chuối chát, người thiếu nữ tên Nhị còn bồi thêm một tiếng “hứ” cao vút rồi mới chịu bỏ đi. Ghê thiệt!

Tôi lấy một điếu Capstan đốt hút:

– Em và Nhị liên hệ thế nào, Lý?

Lý ngồi bó gối trả lời:

– Hai chị em bạn dì. Mẹ chỉ, mẹ em và dì Luyến là ba chị em ruột. Cha mẹ em đã chết lâu, em mới ra đây ở một tháng, chớ trong Đức Lương khổ lắm! Thôi, để em xuống nhà dưới ngủ võng, kẻo Nhị chạy mét bà dì Luyến đang chơi bài tứ sắc bên kia thì nguy. Chỉ ghen nữa.

Tôi ngạc nhiên:

– Làm gì có chuyện đó?

– Nhị biểu em mà!

– Biểu cái gì?

Lý liếc qua tôi:

– Chị biểu giới thiệu chị cho anh. Chị học đệ nhất trên tỉnh, thích lấy chồng sĩ quan Biệt Động.

Tôi cười:

– Sao hồi sáng giờ không nói? Được, để anh qua bển trấn an Nhị, nếu không, cổ mét dì Luyến thì chết!

– Mới nghe nói cái ham lắm!…

Không đợi tôi trả lời, tội nghiệp, cô em đã dùng dằng tụt xuống giường đi một mạch. Tôi cũng uể oải đứng dậy ra trước hiên nhà.

Mới 9 giờ tối trăng 24 tháng chạp chưa mọc nhưng bầu trời vẫn hừng hực, do ánh hỏa châu nơi Sa Huỳnh. Tiếng đại bác bắn quấy rối vọng về nghe dữ dội. Một đám lính cùng Thiếu úy Nguyễn Thuận Cát Đại đội phó còn ngồi chơi bên gốc cây hoa phượng ngoài sân. Hình như không ai hay biết câu chuyện tay ba vừa xảy ra. Chợt thấy tôi anh em nói nhỏ lại. Chú lính cận vệ Huỳnh văn Trung bước tới:

– Đại Bàng chưa ngủ? Em pha cà phê uống, nghen?

– Ừ, làm tao một ly đậm, bưng qua đó!

Tôi đưa tay chỉ căn nhà bên phải và dặn thêm:

Google photo

– Trung nhắc ông Thường vụ đôn đốc lính gác Bộ Chỉ Huy Đại đội cẩn thận và Hạ sĩ Hiệp luôn luôn trực máy, còn chú mày lưu ý cô gái nằm ở nhà dưới. Nếu cô ta có bệnh gì, bảo y tá cấp thuốc. Nhớ, đây là lệnh nghe mậy!

Trung gật đầu rồi lủi vào trong. Trước khi qua Nhị, tôi tới đám lính đang ngồi chơi. Thiếu úy Cát đứng dậy hỏi:

– Chưa ngủ, Trung úy?

– Ngủ gì nổi, Cát! Hồi chiều họp, Thiếu tá Quách Thưởng cho hay tình hình Sa Huỳnh căng lắm! Hai Trung đoàn 5 và 6 của Sư đoàn 2 Bộ Binh chẳng làm ăn gì được, lại thêm te tua, có mòi di tản. Chắc chiến trường chờ mình. Tiểu đoàn 39 Biệt Động sẽ nhảy xuống trước, nhưng chưa biết lúc nào xung trận thôi. Nhớ thường xuyên kiểm soát lính kẻo tụi nó vọt.

– Đề nghị Đại Bàng, sáng mai 5 giờ, cho toán Thám Báo Trung sĩ Nguyễn Nhật làm nút chặn ngoài đầu xóm.

– Ừ, còn 12 giờ khuya nay, trừ các tiền đồn ra, anh gọi tốp tuần tiễu về tập họp điểm danh cùng Đại đội. Giờ thì anh bảo canh gác cẩn thận và cấm bất cứ ai đi lang bang. Tôi ngồi chơi bên này.

Dứt lời tôi đi thẳng tới nhà Nhị, cô gái có giọng nói “chanh chua” và tiếng hứ cao vút. Thấy cửa còn hé, tôi đẩy nhẹ bước vào. Nghe tiếng động Nhị đang ngồi đọc sách ở bàn giữa, giật mình đứng dậy:

– Kính chào!…

Thấy tôi không đáp lễ, nàng vội gấp quyển truyện:

– Xin lỗi, Trung úy đến có chuyện chi không gõ cửa?

Điều tôi muốn đã đạt thành là tạo cơ hội cho nàng trả đũa. Tôi vẫn im lặng, chưa vội trả lời, và tự tiện kéo ghế ngồi đối diện với nàng như đã quen biết từ lâu. Ánh đèn dầu quá yếu, không soi sáng hết ngôi nhà ba gian tương đối rộng, mọi vật chung quanh đều vàng vọt, mờ dần, có chỗ chìm sâu vào bóng tối. Nhưng thân hình cô gái lại nổi bật, rực lên trong chiếc áo sơ mi trắng với suối tóc đen mượt chảy dài xuống bờ vai, vòng qua trước lồng ngực căng tròn. Bây giờ tôi mới thấy mái tóc nàng đẹp làm sao! Nó lung linh, che khuất nửa khuôn mặt mà các văn nhân mô tả là hình trái xoan. Nhị vẫn đứng, coi bộ sốt ruột, đôi môi bặm lại, có lúc mấp máy, dường như nàng muốn thốt thêm những lời cay đắng nào đó nữa. Tôi vờ không để ý, lấy cái mũ nâu trên đầu xuống gấp làm đôi…

– Sao Trung úy không nói?

– Hai bác đâu, thưa cô?

Người đẹp tỏ vẻ hờn dỗi, lùi ra sau dựa vào cây cột nhà:

– Trung úy chưa trả lời câu hỏi của tôi.

Tôi nói ngang ngang như gây:

– Không nghe à? Tôi lặp lại nhé! Hai bác đâu, thưa cô?

Nhị cúi xuống lấy tay vuốt vuốt lọn tóc:

– Ba đã chết, mẹ đi Quảng Ngãi chưa về. Mà anh…dễ ghét lắm, trả lời chẳng ăn khớp gì hết!…

– Thôi, mời chủ nhà ngồi, đứng hoài cũng trật rơ nữa.

Nàng mủm mỉm, ngoan ngoãn bước tới ngồi xuống ghế. Dễ thương thật! Tôi bật Zippo châm một điếu thuốc:

– Bây giờ tôi xin nói, nghe! Đời lính xa nhà buồn đã đành, thấy cô cũng buồn luôn.

– Sao anh biết tôi buồn?

– Vì cô có cười đâu và khuya rồi còn xem tiểu thuyết.

Nhị một tay vội lòn quyển sách cầm giấu dưới bàn, một tay che miệng:

– Tiểu thuyết đâu? Anh này kỳ, để ý người ta. Ai biểu hồi nãy… ngang ngang chọc tức…

Nói đến đó nàng ngưng lại, nheo mắt nhìn tôi, làm như vừa chợt nhớ ra một điều gì quan trọng:

– Khuya rồi à? Hèn chi thấy anh vô buồng… ngủ rồi!

Tôi cười:

– Cô nói còn thiếu, cứ bổ túc, chớ đặt thành vấn đề.

Đôi mắt Nhị tròn xoe:

– Như vậy mà chưa thành vấn đề?

Bị nghĩ oan tôi chưa biết biện bạch thế nào cho nàng hiểu thì Trung bưng cà phê, trà và hai trái cam đến.

– Đem cam mà không đem dao lấy gì cắt, Trung?

Nhị đứng dậy:

– Để em lấy.

Trung rút lui còn nhìn tôi nháy nháy giỡn mặt. Nhị cầm con dao nhỏ lên, bổ mỗi trái làm tư. Tôi thì sớt cà phê ra hai ly:

– Mời cô dùng cà phê, có cả trà ngon, hiệu Quốc Thái Bảo Lộc, của bà già gởi.

– Cảm ơn anh, em xin ăn cam thôi.

– Đâu được. Cô biết hôn, vợ Biệt Động Quân ai cũng uống cà phê hết.

– Họ là vợ, còn em khác chớ bộ!

Thấy Nhị chớp chớp đôi mắt, tôi giả vờ nghiêm nghị:

– Không uống thì tôi đi về…

– Dạ uống, nhưng anh phải trả lời câu em hỏi hồi nãy đã! Phải trả lời mới được!…

– Câu hỏi nào?

– Thôi, đừng làm bộ quên, muốn nhắc hôn?

Thích chí bởi câu vặn vẹo của mình, Nhị vừa đưa múi cam lên miệng vừa khúc khích cười, đôi mắt thì mở to, đen nhánh, sáng như sao băng. Tôi cũng cười:

– Lại đặt vấn đề nữa rồi, tôi về hà…

– Đòi về hoài. Ai biểu nói chuyện với em gái mà cứ xưng tôi tôi, cô cô… À, còn ở đây lâu không anh?

Câu chuyện muốn chuyển hướng, tôi dè dặt:

– Việc quân đội sao biết trước được… cô!

Đột nhiên Nhị đứng dậy, lặng lẽ đi thẳng xuống nhà dưới. Tôi bước theo:

– Em đi đâu vậy?

– Xin lỗi, em nấu nước chớ trà nguội rồi. Mau mà.

– Cần anh giúp không?

Không đợi Nhị trả lời, tôi đến ngồi sát sau lưng. Nàng tỉnh bơ quẹt diêm, ngọn lửa rơm bùng lên sáng rực.

Biết người đẹp hờn dỗi tôi nịnh đầm:

– Ấm áp quá!… Anh vén dùm tóc em ra sau kẻo lửa cháy, nghen!

– Cháy bỏ!

– Cháy mất đẹp sao? Trả lời “chẳng ăn khớp gì hết”.

Nhị day qua tôi định nói gì, vô tình hai khuôn mặt kề nhau, thừa cơ tôi nhích tới hôn vào má nàng thật mạnh.

– Thôi đủ rồi, anh về bển đi, người ta đang trông.

– Nhắc nữa…

Nàng thì thầm trong miệng:

– Sao không? Nguy hiểm mà không biết.

Tôi ngạc nhiên, không hiểu ý của Nhị muốn nói điều gì mà lại nhấn mạnh như vậy. Tôi hỏi:

– Gì nguy hiểm? Thì ra em nghĩ bậy…

– Nếu anh là chồng… em xé xác cái rẹt!

– Dữ ha! Em đã ảnh hưởng ba truyện chưởng nặng rồi.

Dứt lời, tôi áp hai bàn tay vào hai bên mang tai xoay mặt Nhị qua tôi. Nàng nhăn lại:

– Đau! Anh làm gì vậy?

– Để coi sức “chưởng” và “lệnh xé xác” của em tới đâu.

Vừa nói tôi vừa ghì chặt Nhị hôn lên môi nàng lần nữa.

– Anh ẩu lắm!

– Nước sôi kìa em!

Nhị áp mặt vào cổ tôi:

– Nước sôi đâu bằng gan sôi?

Hai đứa vội ôm nhau cười lăn ra giữa nhà, bất kể quần áo lấm đầy tro bụi, trong lúc ấm nước sôi sùng sục trên lửa hồng…

Còn hai hôm nữa là Tết Nguyên Đán năm Quý Sửu. Đáng lẽ mấy ngày này thiên hạ vui nhộn, pháo nổ vang, cúng rước ông bà theo tục lệ. Nhưng vì tình trạng chiến tranh có nhiều biến chuyển căng thẳng, xóm làng chung quanh đành im lìm, vắng vẻ. Dường như ai cũng nơm nớp lo sợ, cứ chờ chạy giặc. Suốt chặng quốc lộ từ phía nam khu phố Mộ Đức Quảng Ngãi đến Tam Quan Bình Định tiếp tục gián đoạn lưu thông, không một chiếc xe, bóng người qua lại, chỉ có đạn đại bác bay trên vòm trời.

Sáng nay, Liên đoàn 1 BĐQ bắt đầu chuyển động, vài đơn vị tiến dần về hướng Đức Phổ. Đại đội tôi cũng bận rộn không kém, quá nhiều công việc cần giải quyết. Chu kỳ tiếp tế đã đến, tôi ra lệnh tất cả mang tối đa đạn dược, trên số quy định, chủ yếu là lựu đạn M26, mìn Claymore, khói màu, khói cay, và các loại soi sáng; những thứ ấy thích nghi với địa thế đánh ở Sa Huỳnh.

Đợt tiếp tế này ngon lành vì một năm mới có một lần. Quà cáp lổn ngổn, nào bánh mứt, hột dưa, nào thiệp chúc Tết của vợ con, thân hữu gởi ra, ai cũng một gói thơm phức, ngoại trừ mấy chú lính trẻ con bà sơ, tội nghiệp, mặc dù sẽ được san sẻ nhau dùng. Lần lượt từng trung đội bao quanh các thùng hàng, kẻ chia người nhận nhộn nhịp. Tôi cũng có phần. Ngoài thức ăn, cà phê, sách báo thường lệ, do hậu cứ cung cấp, còn thêm chai Martel với cây thuốc Capstan của người bạn gái Đà Nẵng gởi tặng. Cô ấy chẳng bao giờ quên kèm theo mấy dòng chữ với luận điệu “củ cà rốt và cây gậy”. Vì đời lính gian khổ tôi nhận hết.

Điều hôm nay tôi lấy làm buồn là có lệnh thuyên chuyển Thiếu úy Nguyễn Thuận Cát sang giữ nhiệm vụ mới bên Tiểu đoàn 39 BĐQ. Cát, một sĩ quan ưu tú, xuất thân khóa 24 Võ Bị Đà Lạt, làm Đại đội phó Đại đội 1 này từ sau ngày Quảng Trị thất thủ. Tính tình hiền hậu mà can đảm, anh từng giúp tôi nhổ nhiều cái chốt cam go, đặc biệt trong trận chặn đánh một đơn vị Cộng quân viện binh từ Cửa Việt lên giải vây cổ thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị, đang lúc Thủy Quân Lục Chiến tấn công tái chiếm tháng 9/1972. Nay Cát đi, tuy có Thiếu úy Đặng văn Thiều khóa 6/69 Thủ Đức về thay thế, tôi vẫn cảm thấy mất một tay đắc lực. Còn Thiều thì người Nam, dân chơi lả lướt Sài Gòn, lần đầu tiên ra Vùng I, quê hương máu lửa, không thể một sớm một chiều mà quen ngay với chiến trường xa lạ và phức tạp này. Đã vậy, người sĩ quan ấy rất beau trai, mặt búng ra sữa, càng thêm mối lo cho tôi.

Tôi bảo Thượng sĩ Nguyễn Thiệp tập họp Đại đội kiểm tra mọi thứ sau khi nhận tiếp tế, đồng thời để anh em chào từ giã vị Đại đội phó khả kính và đón mừng người mới đến. Xong, tôi mời các sĩ quan vô nhà cụng vài ly Martel với đôi lời tâm tình chia tay, rồi bảo tài xế Phó Trọng lấy xe Jeep của tôi đưa Cát lên đồi Mộ Đức trình diện Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21.

Trời đã chiều, khu vực đóng quân trở nên yên tịnh, tôi định lấy báo ra xem thì nghe có tiếng nói bà cụ, mẹ của Nhị, đã về bên nhà, tôi vội qua thăm. Thấy tôi đường đột bước vô, người đàn bà có khuôn mặt khắc khổ ngồi ăn trầu nơi cái giường tre nhỏ, đứng dậy:

– Chào ông!

– Dạ, kính chào bác! Đi Quảng Ngãi vui không bác?

Bà cúi nhổ miếng nước trầu vào cái lon sữa bò dưới đất rồi vừa nói vừa than thở:

– Chi đâu Trung úy, tôi thăm cậu em mà tình hình lộn xộn quá, tôi về. Mời Trung úy ngồi chơi…

Bà quay mặt xuống nhà dưới:

– Nhị ơi, pha nước mời ông Trung úy uống, con!

– Thôi, cảm ơn bác! Thăm bác chút, cháu phải đi.

Nhị lật đật bước lên:

– Mẹ mới về, anh ngồi chơi đã.

Tôi ngần ngừ kéo ghế và thoáng nhìn trên bàn thờ đầu tủ mun kê sát vách gian giữa. Ngoài hộp đèn cầy với bó nhang, chẳng có món nào khác cho ba ngày xuân. Bộ tam gồm cái lư và cặp chân đèn bằng đồng vẫn màu xanh rêu bụi bặm. Chắc nhà đang gặp khó khăn túng quẫn. Tôi nhớ đêm hôm qua Nhị tỏ ý muốn thôi học, dù chỉ còn năm sáu tháng nữa nàng thi tú tài. Mấy bữa nay nàng hy vọng mẹ lên Quảng Ngãi xoay xở được chút ít tiền, kết quả lại bất thành.

Google photo

Trước hoàn cảnh y hệt ba mẹ tôi ngày xưa thường gặp, bao lần tết nhất mà nhà cửa đìu hiu. Nhìn nét mặt lo âu của bà, tôi không thể chịu nổi nếu làm ngơ, nên thành thật thưa:

– Bác à, cháu tên Việt Quốc, Đại đội trưởng Đại đội 1 này, xin bác cho phép cháu dời Bộ Chỉ Huy qua đây tạm trú ít hôm và tiện thể nhờ Nhị cùng đi với mấy chú lính mua sắm thức ăn lẫn đồ trang hoàng nhà cửa cho vui ba ngày Tết, nghe bác?

Trước khi trả lời, bà giở nắp quả trầu, rứt một miếng thuốc rê ra vo tròn như viên bi, đưa lên chà qua chà lại vào hai hàm răng vốn đã đen bóng:

– Tôi định mai 29, dẫn Nhị lên ăn Tết nhà ông cậu nó. Chừ Trung úy muốn thì… cứ tự tiện, coi như gia đình.

Tuy bà bằng lòng nhưng sao tôi nghe trong giọng nói trầm trầm, chậm rãi ấy có ý dọa dẫm bắt giữ Nhị của tôi làm “con tin”. Đúng là bà già trầu, mẹ vợ tương lai. Tôi ngỏ lời cám ơn rồi nhìn Nhị ngồi sát sau lưng bà, đôi mắt nàng chớp lia, sáng rực một cách tuyệt vời. Nhị không ngờ tôi đưa ý kiến đó. Hẳn nàng đang mừng thầm.

Xong, tôi quay ra ngoài sân hỏi lớn:

– Xe Jeep về chưa, Trung?

Người lính thân cận chạy vô:

– Dạ rồi, Đại Bàng!

– Trung lấy năm ngàn đồng và bảo tài xế Phó Trọng chuẩn bị xe xuống phố Mộ Đức. Kêu Xá mang súng theo luôn.

Tôi nói Nhị:

– Em nên ghi sẵn các món hàng cần, kẻo lát quên.

– Mua những thứ gì đây, Anh?

Nghe Nhị hỏi tôi ấm ớ, còn lẩm cẩm ba chuyện này. Đánh giặc thì tôi húc tới bến, vấn đề ăn uống lại không có tâm hồn. Tuy nhiên, tôi vẫn làm ra vẻ rành lắm, mắng yêu nàng:

– Thì… các món ăn Tết như thịt cá, hoa quả, đồ cúng, và… kẹo nữa. Sắp lấy chồng tới nơi còn hỏi!

Bà cụ cười:

– Con với Trung úy mua đại khái thôi, giặc giã mà!

– Rồi, em vô thay đồ đi, có mấy chú lính mình khỏi lo.

Nhị mặc quần đen với áo dài trắng như thường ngày đi học, vẫn mái tóc bồng bềnh dễ thương. Nhị cười tươi bước lên xe. Và, như một cuộc chạy trốn, tôi nhấn mạnh ga, chiếc Jeep vụt lao tới, tôi chỉ kịp nghe tiếng bà cụ đứng nơi ngưỡng cửa vọng theo: “Nhớ mua trầu cau cho mẹ!…”.

Nhờ các chú Biệt Động giúp, kẻ rửa đậu người vo nếp, mẹ của Nhị đã nấu xong đêm qua hai mươi đòn bánh tét nhưn đậu xanh. Sáng nay 29 Tết, anh em vẫn còn bận rộn phụ gia đình làm một mâm cơm thịnh soạn cúng rước ông bà. Tôi cùng Nhị kê bàn ghế lại gọn gàng rồi đặt chậu bông vạn thọ ngay trước tủ thờ là vị trí tốt nhất, từ ngoài cửa ai bước vô nhà cũng thấy. Trên các nhánh cây, Nhị gài các tấm thiệp “Cung Chúc Tân Xuân” quá màu mè. Chỉ có nàng hài lòng thôi chứ với lính tác chiến chẳng hạp nhãn chút nào. Năm nay hoa mai hiếm, các trận đánh chung quanh vùng còn tiếp diễn, không ai dám vô rừng chặt. May đâu nhờ tụi thằng Trung và Xá khéo lựa chậu vạn thọ, tuy đắt tiền nhưng nhiều bông to, vàng tươi rất đẹp.

Các sĩ quan trong Đại đội cũng ham vui, tham gia làm các việc lặt vặt. Thiếu úy Đặng văn Thiều loay hoay vặn Radio tìm nhạc hay, kích động, hết bản này qua bản khác. Chuẩn úy Hạnh thì cặm cụi sắp trái cây lẫn bia lon lên giữa bàn thờ. Vì sơ ý làm sao đó, Hạnh đánh rơi cả đĩa cam xuống đất lăn tùm lum ra tới cửa, khiến mọi người cười rần. Làm rể kiểu đó mất vợ là cái chắc.

Xong xuôi, tất cả bọn lính nháy mắt rủ nhau ra ngoài ngồi tán dóc, để bà cụ thắp nhang cúng vái. Nhị thì đi mời bà con láng giềng đến nâng ly. Dự trù đông khách Trung sang nhà kế bên mượn thêm bàn ghế.

Bữa tiệc kỳ ngộ rực màu nhà binh đến chiều mới mãn.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 26   Sau bảy năm vùng vẫy ngoài vòng.pháp luật, Turi Guiliano biết là đã đến lúc hắn phải rời bỏ “giang sơn” của mình để bay sang Mỹ, nơi hắn được thành hình trong bụng mẹ, nơi mà ông bà già nó thường nhắc tới như một vùng “đất hứa”, nơi mà “sữa và mật ong” chảy tràn trề ngoài đường lộ. Ôi, cái vùng đất hoang đường ấy! Nơi mà người nghèo cũng được hưởng công lý. Nơi mà nhà nước không phải là tôi tớ của bọn người có cửa. Nơi mà những tên Sicilian khố rách áo ôm, không một xu dính túi, tiếng Anh không đủ để làm một thằng ăn mày… mà vẫn cứ thành một anh nhà giàu, nếu biết chí thú làm ăn!
Để tỏ ra thuỷ chung với bạn bè, ông Trùm Croce đã cho Guiliano biết mình đã tiếp xúc với Bố Già Corleone bên Hoa Kỳ để giải cứu Guiliano khỏi vòng tay của đại tá Luca, và Bố Già – chiếu cố tình xưa cũ với ông già ruột của Guiliano – cũng đã hoan hỉ dành cho hắn một chốn dung thân bên đó. Guìliano có lạ đếch gì cái thâm ý của thằng cha già “lựu đạn” hiểm độc đó. Hắn biết mình cũng không có nhiều giải pháp để chọn lựa. Quyền lực đã bắt đầu tuột khỏi tay hắn rồi.
Đêm nay, hắn sẽ phải đi gặp Aspanu Pisciotta. Hắn sẽ phải phó thác sinh mệnh mình cho một thằng Mỹ nào đó tên là Michael Corleone. Phải rời bỏ vùng núi non Sicily, chốn dung thân hào phóng của hắn trong suốt bảy năm qua. Phải lìa bỏ “giang sơn” quyền lực, gia đình, bạn bè! “Quân lực” của hắn rã rời. Núi non của hắn đã bị lính của đại tá Luca quậy nát. Lực lượng bảo trợ của hắn – đám nông dân khố rách Sicilian nghèo mạt – đã bị lực lượng đặc biệt của Luca nghiền nát. Nếu còn ở lại, hắn cũng có thể chơi được vài keo nữa. Nhưng thất bại cuối cùng cũng vẫn về phần hắn. Chắc chắn. Bởi vậy, chỉ còn chước thứ ba mươi sáu. Đào vi thượng sách.
Turi khoác lên vai khẩu lupara, tay cầm súng lục, đi về hướng Palermo. Áo sơ-mi trắng. Áo ja-ket túi trên, túi dưới, túi trong, túi ngoài tùm lum. Túi nào cũng đầy ắp đạn. Hắn rảo bước. Kim đồng hồ chỉ chín giờ, tức là hai mốt giờ chiều. Trên trời vẫn còn vài tia nắng quái. Nhưng mặt trăng đã rụt rè ló lên. Những toán tuần tiễu của lực lượng đặc biệt tiễu phỉ giăng giăng ngang dọc như mắc cửi. Mỗi bước đi là mỗi hung hiểm. Nhưng Guiliano tỉnh bơ, chẳng sợ hãi gì. Mấy hôm qua, hắn đã khéo ngụy trang đến mức tưởng như có phép tàng hình. Dân trong vùng ai nấy đều sẵn lòng che giấu cho hắn. Có toán tuần tiễu, họ báo. Nếu hắn gặp nguy, họ lăn xả vào bảo vệ, giấu hắn trong nhà. Hắn bị tấn công thì đám nông dân và đám chăn cừu tụ lại tiếp cứu. Không bao giờ họ phản bội người đã bảo trợ họ.
Một tháng sau ngày cưới của Guiliano, có nhiều cuộc đụng độ lớn giữa bộ hạ của Guiliano và Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ của đại tá Luca. Ngài đại tá thừa ranh mãnh để thủ lợi và khai thác cái chết của Passatempo. Báo chí chạy tít lớn trên trang nhất “thành tích” của đại tá: “Đại tá Ugo Luca đã chặt đứt một cánh tay của Guiliano” – “Hung thần của Guiliano đã bị đại tá Luca quất sụm” – “Passatempo, tiểu tướng hung bạo nhất của Guiliano đã bị đại tá Luca bắn hạ”… Dưới những hàng tít giật gân ấy là những bài tường thuật trận đánh ác liệt giữa Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ và quân của Guiliano. Có báo còn tường thuật những giây phút cuối cùng của Passatempo khi bị quân đại tá vây hãm và bắn gục. Cứ như thể chính phóng viên đó đã có mặt tại trận. Chẳng những không dại gì tiết lộ mảnh giấy ghim trên ngực thằng cô hồn Passatempo, các sĩ quan báo chí của đại tá còn cung cấp thêm “mắm muối để mấy anh nhà
báo “xào nấu cho thêm phần hấp dẫn và làm cho hào quang của ngài đại tá chói sáng thêm. Nhưng, cớm chúa Velardi đã báo cho ông Trùm Croce biết. Thằng già “lựu đạn” này hiểu là sự thật của vụ Portella đã bị Guiliano phát hiện. Lão mỉm cười tự khen mình: Guiliano đã không còn khả năng và cơ hội để vạch trần sự thật đặng thanh minh, đồng thời lại tự chặt tay mình. Trong cuộc đấu trí này, Guiliano dưới “cơ” thấy rõ.
Với năm ngàn lính của Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ, ngài đại tá gây sức ép tối đa lên băng của Guiliano. Hắn hết dám lượn lờ khơi khơi ngay tại thủ phủ Palermo để mua sắm. Và, muốn lẻn về Montelepre thăm bà già, và nhất là Justina, mà cũng không dám. Nhiều thuộc hạ của hắn bị phản thùng và bị đốn ngã. Nhiều tên chạy vắt giò lên cổ sang Tunisie hoặc Algérie. Những tên khác lặn kỹ hết dám ngo ngoe. Lúc này, đám người anh em của Croce và các tay em của sáu sếp mafia bị Guiliano làm thịt độ nọ ra mặt chơi lại băng của Guiliano. Được “Người anh em” chỉ điểm, đại tá Luca như có kính chiếu yêu, đã lần lượt khui được những tay em bí mật của Guiliano “chui” vào đầu quân cho ngài.
Guiliano lãnh thêm một đòn bái xái nữa: Terranova gặp xui bị tiêu tùng. Điều trớ trêu là chỉ vì lòng tốt mà Terranova bị bẫy. Terranova không tàn bạo, dã thú như Passatempo, không khôn ranh quỷ quái như Pisciotta, không cô hồn hắc ám như Andolini. Phải cái tội “hảo ngọt”. Gã thông minh nhưng lại đa cảm. Bởi vậy, gã vẫn được Guiliano phân công cho làm “bạn” với các “khách mời” và đem tiền đến giúp đỡ những người nghèo. Chính gã và các thuộc hạ vẫn thường đêm đi dán áp – phích, rải truyền đơn của Guiliano tại thủ phủ Palermo. Ít khi gã phải tham gia các vụ chém giết. Gã, tướng cướp bất đắc dĩ, do đó không dằn được nỗi khát khao một tình yêu, một mái ấm gia đình. Mấy năm trước đó – theo lệnh của Guiliano – gã đem tiền đến giúp một mụ gần có ba con. Lòng trắc ẩn đã biến thành tình yêu. Gã vui vẻ “hốt ổ”. Mụ kia đâu biết gã là tướng cướp. Cứ tưởng đâu là một ông lớn nào ở Rome lâu lâu qua Sicily công cán. Gã chi “sộp” lắm. Mụ mê gã vì tiền. Bầy nhóc của mụ khoái gã vì những món quà, những đồ chơi đắt giá. Gã cũng nói rõ cho mụ biết là tuy không phải chuyện bậy bạ qua đường nhưng chỉ có thể vụng trộm, chứ cưới hỏi đàng hoàng thì khỏi, không thể. Mụ cũng “ô-kê”. Gã vung bạc quá mà. Được cái, mụ không chỉ biết moi tiền, mụ cũng khá “sòng phẳng” với gã. Mỗi khi tới, gã đã được mụ cung phụng đúng như vợ hiền cung phụng ông chồng. Nấu những món ăn thật ngon. Giặt quần, giặt áo. Và cái “khoản kia”, chẳng những mụ cung phụng đầy đủ, mà còn cung phụng với một sự tự nguyện rất chi là nhiệt tình và hào hứng. Với kinh nghiệm của một người đàn bà ba con, mụ đã cho gã hưởng những cảm giác khoái lạc nhục thể tới nơi tới chốn. Mối liên hệ tuy vụng trộm, nhưng làm sao qua mắt được đám “Người anh em”. Ông Trùm biết, nhưng vẫn để dành đó. Phòng khi hữu sự.
Có vài lần Justina lén lên núi thăm Guiliano. Chính Terranova đã hộ tống các chuyến đi, về. Sắc đẹp của Justina đã làm hắn động lòng nhớ nhung đến mụ nạ dòng. Gã quyết định liều đi thăm mụ. Trong tình hình dầu sôi lửa bỏng, cạm bẫy, gián điệp dăng dăng, cớm chìm, cớm nổi lúc nhúc ở Palermo mà quyết định như vậy – gã biết – là liều lĩnh, không khôn ngoan. Nhưng có lẽ sự thôi thúc của cái “khoản kia” cũng không kém mạnh mẽ. Vả lại, cũng do lòng nhân hậu, không biết mình sống chết lúc nào, nên gã muốn cho mụ và lũ nhỏ một món lớn, đặng lỡ gã có mệnh hệ nào bất ngờ, “mẹ con nó” cũng có phương tiện sinh nhai lâu dài.
Đêm đó, một mình gã lẻn về Palermo. Gã cho mụ một món tiền lớn và nói có thể còn lâu lắm, may ra gã mới có thể gặp lại. Mụ khóc và không nhận tiền. Cuối cùng, gã đã tiết lộ lai lịch của mình. Mụ kinh ngạc. Mà, kinh ngạc là phải. Cử chỉ điềm đạm, tính tình hiền hậu, nói năng lịch sự, vậy mà lại là một trong những tiểu tướng thân tín của Guiliano, tướng cướp lừng danh? Không hiểu có phải vì gã nói còn lâu mới gặp lại hay sao mà đêm nay mụ lại rất “tích cực” ân ái với gã. Buổi chiều trước khi đi ngủ, họ và mấy ông nhóc như một gia đình rất đầm ấm, hạnh phúc. Gã dạy mấy ông nhóc chơi bài. Và lần này, khi thua gã “thua” hoài – hắn trả bằng tiền thật, làm mấy ông nhóc khoái chí.
Sau khi mấy nhóc đi ngủ, gã và mụ tiếp tục ân ái dài dài cho đến lúc rạng đông. Terranova sửa soạn ra đi. Họ ôm nhau, hôn nhau mùi mẫn, lần chót. Terranova vội vã rảo bước trên phố và đi về hướng nhà thờ chánh toà ân ái suốt đêm qua, gã thấy “đã”, nhưng mệt mỏi, gã thấy tâm hồn an toàn, bình thản, không thấp thỏm, không dáo dác mắt trước mắt sau cảnh giác.
Bỗng tiếng động cơ xe hơi vang động trong không khí ban mai. Ba chiếc xe đen sì, đầy nhóc cớm, xả hết tốc lực dồn về phía gã. Cũng ngay lúc đó, từ khắp xó xỉnh, lũ cớm, tay lăm lăm súng đổ xô ra. Cớm từ trên xe nhảy xuống. Tiếng hô lớn: “Đứng lại, cấm nhúc nhích, giơ tay lên”.
Terranova đưa mắt nhìn lần chót ngôi nhà thờ, tượng chư thánh đứng dài dài trên các bệ thờ bên ngoài tường nhà thờ, những ban-công quét vôi vàng của những ngôi nhà nổi bật trên nền trời trong xanh, mặt trời chưa hé mà phương đông đã rực rỡ. Gã biết, đây là lần chót gã được nhìn thấy những cảnh vật tuyệt vời ấy. Chỉ còn một động tác chót phải làm: thình lình, gã nhảy một phát thật mạnh vào cửa nhà thờ, như thể muốn nhảy qua đầu thần chết để lao mình vào một thế giới an toàn. Khi chân vừa chạm đất, thì tay cũng vừa kịp rút khẩu súng lục ra. Nhưng cùng lúc đó thì hàng trăm viên đạn đã xé nát xương thịt gã thành một đống bầy nhầy.
Xét ở một khía cạnh, thế là may cho hắn: sự việc xảy ra quá bất ngờ và nhanh đến nỗi hắn không có thì giờ để kịp tự hỏi phải chăng con mụ nạ dòng đêm qua đã khóc lóc, đã tưng bừng ráo riết làm tình với hắn, thế mà đã phản bội hắn!
Cũng là đặc điểm của Sicilian!
Cái chết của tiểu tướng Terranova đã khiến cho Guiliano hiểu đời hắn đã đến hồi mạt vận. Sự thống ngự của hắn đã đến hồi kết thúc. Băng của hắn tan rã. Không thể phản công hữu hiệu đã đành, mà lẩn trốn trên núi cũng không được nữa. Nhưng, hắn vẫn nghĩ, bản thân hắn và các tiểu tướng của hắn vẫn còn cơ may thoát hiểm, mặc dù chúng đang bước nhanh ra nghĩa địa. Guiliano biết mình không còn nhiều thì giờ. Còn một điều nữa hắn vẫn muốn làm. Guiliano cho gọi thầy cai Canio Sylvestro:
– Anh em mình đến hồi mạt vận rồi. Đã có lần anh nói với tôi, anh có một thằng bạn bên nước Anh có thể che chở cho anh được. Bây giờ đã đến lúc anh phải đi tới đó. Tôi cho phép.
Thầy cai lắc đầu:
– Tôi chỉ rời khỏi nơi này, khi anh đã an toàn trên đất Mỹ. Hiện giờ, tôi vẫn còn có ích cho anh. Anh đã biết chắc là không bao giờ tôi phản bội anh.
– Tôi biết chứ. Và anh cũng đã rõ tình cảm tôi dành cho anh là như thế nào. Nói thiệt, không bao giờ anh có thể làm một thằng ăn cướp thứ thiệt, thứ chuyên nghiệp được. Trong thâm tâm, anh vẫn tôn trọng pháp luật. Anh chỉ là một thằng ăn cướp bất đắc dĩ, cực chẳng đã mà phải sống ngoài vòng pháp luật. Khi lối sống như hiện nay chấm dứt, khác với tụi tôi, anh vẫn có thể “làm lại cuộc đời”. Tụi tôi dường như không thể, không được phép. Có lẽ định mệnh đã dành cho tụi tôi cái số phận của những thằng lục lâm.
– Không bao giờ tôi nghĩ anh là một thằng lục lâm!

Google photo edit by Sơn râu

– Trong thâm tâm, tôi cũng nghĩ vậy. Bảy năm nay, tôi đã làm gì, để sống như thế nào. Tôi cho rằng tôi đã chiến đấu cho công lý. Tôi đã cố gắng giúp đỡ người nghèo khổ, kẻ bị áp bức, bóc lột. Tôi muốn đem lại tự do cho Sicily. Tôi muốn sống lương thiện. Nhưng, bây giờ tôi mới hiểu đã chiến đấu cho những cái đó, đã muốn những cái đó không phải lúc, và nhất là không phải cách. Sicily chưa sẵn sàng để đón nhận những cái đó. Bởi vậy, anh phải sang nước Anh. Tôi rất sung sướng nếu biết anh được bình yên ở đó. – Guiliano ôm hôn Canio: – Anh đã là người bạn chân thành của tôi. Anh phải đi. Đó là lệnh của tôi mà anh phải thi hành.
Lúc sẩm tối, Tua Guiliano rời khỏi sào huyệt và đi về phía tu viện của dòng khổ tu Phranxixcô, ở ngay bên ngoài vùng biên thủ phủ Palermo. Tại đó, hắn đợi tin tức của Aspanu Pisciotta. Một trong những thầy dòng của tu viện này là đồng đảng bí mật của Guiliano. Ông ta được phân công phụ trách khu hầm mộ (crypte) của tu viện. Trong hầm mộ này có hàng trăm xác ướp.
Từ một thế kỷ trở về trước, những gia đình quyền quí, giàu có của Sicily vẫn có tục lệ treo sẵn trên tường khu hầm mộ những kiểu quần áo mà họ muốn mặc sau khi chết. Sau khi ma chay xong, xác của họ được đưa vào hầm mộ của tu viện. Tại đây các thầy dòng ướp xác cho họ bằng cách sấy khô từ từ, liền trong sáu tháng, làm cho những phần mềm trong cơ thể lần lần teo quắt lại. Khi đó, da trở lên nhăn nheo, khuôn mặt nhăn nhúm. Có người nom như đang sợ hãi. Có người nom như đang cười. Nhưng dù là gì đi nữa thì xác ướp nào trông cũng phát khiếp. Sau đó, xác ấy được mặc những bộ quần áo họ đã chọn lúc còn sống và đặt vào hòm kính theo những thế đứng, ngồi, nằm khác nhau. Nom như những con búp-bê xấu xí.
Guiliano nằm trên sàn đá lát ẩm ướt trong hầm mộ và tựa đầu vào một hòm kính. Hắn chăm chú nhìn những nhà quyền quí, giàu có người Sicilian đã chết cách đó cả trăm năm. Có xác là một hiệp sĩ của triều đình, mặc bộ đồ bằng lụa xanh, đầu đội mũ sắt, tay cầm gươm. Có xác là một triều thần, ăn mặc theo kiểu người Pháp, đầu mang tóc giả màu trắng, chân mang giày đế cao. Cũng có vị Hồng y, mặc áo đỏ, đầu đội lễ miện. Có xác phụ nữ mặc áo dài nạm vàng phồng lên nom như con nhện bám trên cái xác khô teo nhăn nhúm. Nhìn vào bộ quần áo và cái xác ấy, người ta có cảm tưởng như nó đang bay. Có xác cô nương, tay mang găng trắng, áo dài xếp li.
Guiliano đã ở đấy hai ngày rồi. Và hai đêm rồi, nó cảm thấy khó ngủ, không phải vì sợ, mà vì những ý nghĩ mien man. Nhìn các xác ướp, Guiliano tư lự, trầm mặc như một triết nhân. “Ở đời, ai mà chẳng vậy. Các ông cả bà lớn cao sang quyền quí của Sicily sống cách đây cả bốn, năm thế kỷ đã nghĩ rằng xác ướp đã giúp cho thân thể họ khỏi làm mồi cho giòi bọ. A, cái ý nghĩ đỏm dáng và kiêu hãnh của bọn giàu sang quyền quí – những con cưng của số mệnh –
thật dễ ghét. Chẳng thà chết banh xác ngoài đường như thằng chồng của La Venera có khi lại hay”.
Cái làm cho Guiliano không ngủ được không phải là khung cảnh âm u chết chóc này mà là một thắc mắc nó không sao giải đoán được. Tại sao tuần vừa rồi thằng già dịch Croce kia lại thoát chết? Rõ ràng là cuộc mưu sát ấy đã được Guiliano hoạch định một cách rất chính xác và tỉ mỉ. Nó đã nghiền ngẫm hoạch định kế hoạch này kể từ lúc nó biết chắc được sự thật bí ẩn của vụ Portella del Ginestra. Thằng già “lựu đạn” ấy bố trí canh gác cho lão kỹ đến cái mức con muỗi chui cũng không lọt. Lão yên trí là phương án ấy đủ đảm bảo an ninh thân thể cho lão. Nhưng kế hoạch của Guiliano lại chọn chính chỗ đó làm điểm bất ngờ chết người để hoạch định kế hoạch. Guiliano quyết định thử thời vận của mình ngay ở chỗ lão tưởng mình được bảo vệ cẩn mật tối đa trong cái hang hùm của lão, tức là “khách sạn” Umberto. Gián điệp của Guiliano tại hang hùm này là một anh bồi. Y đã cung cấp rất chính xác, thời gian biểu làm việc của thằng cha già “lựu đạn” kia, cũng như cách thức thay đổi phiên gác của đám cận vệ. Từ thông minh, đầu óc chiến lược gia của Guiliano đã vạch ra được một kế hoạch rất táo bạo và chắc ăn.
Guiliano đã chọn ba chục tay em tin cẩn ở Palermo. Hắn cũng được cho biết việc Michael Corleone gặp và ăn trưa với lão. Hắn đã đợi cho Michael vừa ra khỏi là ra tay đột kích. Hai chục tay em tấn công trực diện và dụ đám vệ sĩ ra khỏi vườn. Vài phút sau, hắn và mười tay em khác đặt mìn phá tường, lọt vào. Trong vườn chỉ còn năm vệ sĩ của ông Trùm. Một tên bị bắn hạ, bốn tên khác hoảng quá, “vắt giò”, chạy. Guiliano và các tay em lục soát khắp trong phòng không thấy tăm hơi thằng già dịch đâu. Các phòng đều rỗng. Cái thân hình bồ tượng của lão đâu có dễ ẩn núp chỗ nào, đâu có dễ vọt nhanh như vậy. Vậy chỉ còn một giả thuyết: chỉ ít phút sau khi Michael rời khỏi thì lão cũng dông luôn. Kể từ ngày sống ngoài pháp luật, đây là lần đầu tiên hắn vồ hụt con mồi. Mà lại là con mồi quan trọng nhất, vào lúc quyết định nhất. Chỉ có thể là chính thằng già lựu đạn đã được báo trước cho biết cuộc đột kích. Kẻ đó là ai?
Guiliano ngẫm nghĩ: “Đáng tiếc? Ngoài việc loại được một kẻ thù hung hiểm nhất, đây lẽ ra là trận đánh chót, xuất sắc, vẻ vang. Không hiểu sau này các bài tụng ca dân gian sẽ nói thế nào nếu Guiliano vồ được ông Trùm tại vườn của lão. Có thể thua keo này bày keo khác được không? Kết có thể, vào một ngày nào đó… Miễn là thằng già dịch còn sống đến ngày đó. Ta đâu chịu ở lì bên Mỹ. Sẽ có ngày trở về. Ngày ấy, chắc sẽ không thể vồ hụt được nữa.
Ngày thứ ba, Guiliano ở tại hầm một ông thầy dòng, người của hắn – mặt mũi, da dẻ ông ta nhăn nheo chẳng khác mấy cái xác ướp – đã đưa tin của Pisciotta đến cho hắn. Chỉ vỏn vẹn có dòng chữ “Tại hoàng cung Charlemagne đại đế”. Guiliano hiểu liền.
Zu Peppino, sếp sòng các xà ích đánh xe lừa ở thị xã Castelvetrano, người đã giúp Guiliano chặn cướp xe lương thực của ông Trùm khi hắn mới “vào nghề” đã là thành viên bí mật của hắn từ hồi đó. Lão có ba cái xe và sáu con lừa. Cả ba xe của lão đều vẽ hình theo sự tích Charlemagne và các hiệp sĩ Roland và Olivier: Bởi vậy, lúc còn nhỏ, Guiliano và Aspanu thường gọi nhà của lão là “hoàng cung của Charlemagne đại đế”. Thời gian hẹn thì đã định sẵn rồi.
Đêm đó, đêm sau cùng của Guiliano trên đất Sicily. Hắn đi bộ từ hầm mộ của tu viện đến Castelvetrano. Nó chọn vài anh chăn cừu là thành viên bí mật để làm vệ sĩ trong cuộc hành trình. Cả bọn đi tới Castelvetrano – suốt dọc đường – dễ dàng, không gặp trở ngại gì, đến nỗi Guiliano phải nghi ngờ một hiện tượng bất thường. Thị trấn như bỏ ngỏ, không một bóng dáng của toán tuần tiễu mọi khi nườm nượp như mắc cửi. Guiliano cho các vệ sĩ nghỉ tại thị trấn. Một mình hắn lầm lũi lần tới một ngôi nhà nhỏ nằm bên ngoài thị trấn. Ngôi nhà có tường xây bằng đá.

Google photo edit by Sơn râu

Trước sân có ba chiếc xe lừa. Tranh vẽ trên xe bây giờ không phải là sự tích Charlemague nữa mà là dựa theo những huyền thoại về Guiliano. Đó là nhà của Zu Peppino.
Lão Zu không ngạc nhiên khi thấy Guiliano. Đặt cây bút đang sơn xe xuống, đóng cửa lại, lão nói với hắn:
– Em đến đây là gây tai hoạ lớn cho già rồi đấy. Xác con lừa chết thu hút ruồi nhặng thế nào, thì em cũng thu hút bọn cớm chìm cớm nổi y như vậy. Ấy, nói vậy chớ không phải là đuổi em đi khỏi đây đâu.
Guiliano cảm thấy nhói trong lồng ngực.
– Bộ có lính của thằng cha Lu ca hả, già?
– Ừa, nhưng tụi nó núp kỹ lắm. Khỏi có thấy được. Em có để ý không, trong thị trấn không có lấy bóng của một tháng cớm nào. Già cũng nom thấy một vài xe của chúng trên đường già đi làm về. Già nghĩ rằng nó đang dăng bẫy chụp người của mình. Nhưng già không dè đó lại là em. Lẽ ra em không nên đi quá xa về phía nam, quá xa sào huyệt của em như thế này.
Guiliano tự hỏi tại sao bọn cớm lại biết điểm hẹn này? Chúng đã theo Aspanu? Hay là Michael hoặc người của hắn đã không kín đáo? Hay là bọn cớm có chỉ điểm trong số người của mình? Trong tình hình này thì sao, nó cũng không nên gặp Aspanu tại Castelvetrano. Nếu vì một lý do nào đó, một trong hai đứa không đến điểm hẹn “chính thức” chúng sẽ cùng đến điểm hẹn “dự phòng”.
– Cám ơn già đã cho biết tin. Già để ý xem có thấy Aspanu thì già nói cho nó biết. Khi nào già có dịp đánh xe qua Montelepre, thì làm ơn nói lại với ông bà già là con đã sang Mỹ bình an rồi.
– Để già này được ôm hôn em một lần, – lão ôm và hôn lên má Guiliano, – già nói thật, em đừng buồn, không bao giờ già tin em có thể giúp ích gì cho cái xứ Sicily này đâu. Bởi lẽ giản dị là không bao giờ có ai có thể làm được điều đó. Kể cả Garibaldi. Kể cả thằng bẻm mép Mussolini. Nếu em muốn thì để già đánh xe chở em đến nơi em cần.
Giờ hẹn với Pisciotta là vào nửa đêm. Bây giờ mới là mười giờ đêm. Hắn có ý đến sớm để thăm dò đường đất trước. Hắn cũng biết giờ hẹn với Michael Corleone là vào lúc rạng đông. Điểm hẹn dự phòng – rất bí mật – ở cách Castelvetrano ít ra cũng hai giờ đi bộ. Guiliano nghĩ là nên đi bộ tới một mình hơn là dùng xe của Peppino. Hắn cảm ơn và lẩn vào đêm tối.
Điểm hẹn dự phòng là vệ thành của Selinus, một phế tích nổi tiếng của người Hy Lạp cổ tại Sicily. Nằm về hướng nam thị trấn Castelvetrano, gần Mazara del Vallo. Phế tích đứng trơ vơ trên rìa cánh đồng rộng, nơi vách đá của bờ biển bắt đầu nhô lên cao. Từ trước công nguyên, vệ thành đã bị sụp đổ sau một trận động đất. Nhưng hàng cột vẫn đứng vững. Nói đúng ra thì chính các nhà khảo cổ đã dựng lại hàng cột đó. Người ta vẫn có thể nhìn ra những giao thông hào, mặc dù ngày nay đã bị những mảnh đổ vỡ của phế tích lấp kín. Một đền thờ khác, mái bị dây nho dại phủ kín, dưới ánh trăng, nom như những cái đầu lâu khổng lồ. Những hàng cột đá vươn lên sừng sững, trơ gan cùng tuế nguyệt. Vệ thành là khu trung tâm của một đô thị Hy Lạp cổ và thường được xây trên một cao điểm. Từ cao điểm đó, người ta có thể bao quát, chế ngự đô thị phía dưới, đồng thời dễ phòng thủ.
Ngọn gió Siroco, ngọn gió nóng, khô rất khủng khiếp từ sa mạc suốt ngày thổi tới. Ban đêm, do ở gần biển nên toà vệ thành bị sương mù che khuất.
Mệt nhừ sau mấy giờ đi bộ. Guiliano vẫn cố leo lên mỏm đá cao để từ đó nhìn xuống xung quanh. Quang cảnh đẹp đến nỗi có lúc hắn quên hàng mối hiểm nguy đang rình rập. Ngôi đền thời thần Appolo đã sụp đổ. Rải rác quanh đó còn có những ngôi đền khác chập chờn trong sương mù và ánh trăng. Có ngôi chỉ còn là những hàng cột tua tủa vươn lên. Có ngôi, mái đã sụp, xiêu vẹo, chỉ còn bức tường lỗ chỗ cửa sổ đã mất hết chấn song. Trên phần đồng bằng phía dưới vệ thành, xưa kia là đô thị sầm uất, nay, ở giữa đồng đổ nát, chỉ còn một trụ đá lớn vượt lên cao. Sừng sững. Thách thức. Trụ đá ấy mang tên là “cây kim của mụ già”. Dân Sicilian đã quá quen thuộc với vô số những phế tích rải rác trên khắp đảo, nên, tuy không coi thường, nhưng cũng không trầm trồ ngưỡng mộ như những du khách ngoại quốc đến đây.
Guiliano ngồi xuống bậc thềm, tựa lưng vào chân cột đá, vũ khí để ở bậc thềm phía dưới, trong tầm tay. Tiếng côn trùng rù rì. Tiếng cóc nghiến răng trong đống đá hoang phế. Nhưng, nếu có tiếng bước chân lại gần hắn vẫn có thể phát hiện ra ngay. Nghĩa là hắn sẽ phát hiện ra kẻ thù – nếu có – trước khi kẻ thủ phát hiện ra hắn.
Tựa lưng vào chân cột đá, cơ thể mệt mỏi, rã rời Guiliano cảm thấy gân cốt giãn ra như được xả hơi. Trăng tháng Bảy rọi trên hàng cột trắng xám đứng đối diện với bờ vách đá và biển cả. Bên kia bờ đại dương là nước Mỹ, nơi Justina đang ở, nơi đứa con của hai người sẽ ra chào đời. Và bản thân Guiliano cũng sắp sống an toàn ở đó. Bảy năm trời vùng vẫy ngoài vòng pháp luật – bảy năm – trôi qua. Nhanh như một giấc mơ. Có lúc hắn đã nghĩ: ở ngay trên đất Sicily này mà hắn còn không được hưởng hạnh phúc, thì trên đất Mỹ, chắc gì đã được hưởng. Và, ở đó hắn sẽ ra sao? Guiliano mỉm cười, tưởng tượng ra ngày hắn thình lình quay về. Và hắn hình dung ra khuôn mặt kinh ngạc, hãi hùng của kẻ thù vì sự bất ngờ đó. Hắn thở dài, mệt mỏi, tháo giày và tất, chà hai chân không vào nhau. Hai bàn chân không đặt trên nền đó mát lạnh, hắn cảm thấy dễ chịu. Hắn thò tay vào túi lấy ra hai trái lê dại. Vị nước ngọt, mát của trái lê làm dịu cơn khát.
Một tay cầm trái lê, một tay đặt trên khẩu súng lục, Guiliano ngồi chờ Aspanu Pisciotta.


Hương rừng Cà Mau

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

18. Sông Gành Hào – Bài cuối

Hồi đó ông kiểm lâm “Rốp” được dân chúng thương mến lắm. Ông Rốp có vài đức tánh mà các tay thực dân khác không có. Từ hồi đáo nhậm tại vùng rừng sông Gành Hào đến giờ, chung qui là hai năm nhưng ông Rốp chỉ đi “rỏn” có bốn lần. Mổi chuyến đi, mục đích của ông không phải là rình bắt các ghe xuồng chở củi lậu thuế. Vào rừng ông ngắm nghía từng lá cây, lắng nghe từng tiếng chim kêu, đập muỗi rồi xem giò, xem cánh từng con. Ông lại còn hái các loại ráng, dây bòng bong, dây choại, tầm gởi… đem về đồn phơi khô để nghiên cứu. Cây súng đem theo xuồng cũng chỉ để bắn khỉ, bắn lọ nồi; bắn mà chơi chớ không cần trúng đích. Dân chúng trong vùng sông Gành Hào bàn tán qua lại để tìm hiểu ông Tây khác thường này: – Ông “Rốp” hiền hậu quá! Bà con có biết tại sao không? Ổng thỏ thẻ với thầy hương quản rằng nhà ổng ở bên Tây nghèo quá mức. Nhờ lập công đánh A Lơ Măn hồi Âu châu đại chiến nên ổng được phong chức kiểm lâm qua xứ Nam kỳ này. Mẹ của ổng trồng nho ở cù lao “Cọt” cù lao “Kiệt” gì đó. Phen nọ, bà mẹ đốt đống lá khô, rủi cháy qua mấy vườn nho lân cận. Thiên hạ đòi bắt thường, kiện tới toà. Bên này, ông Rốp vô cùng sầu thảm vì không tiền dư gởi vể để cứu nguy, báo hiếu. Người khác nói thêm: – Phải! Phải! Cha nội nghèo thiệt, hèn chi muốn ở xứ này luôn, đòi ăn mắm sống, tập nói chuyện “An Nam” rành như tụi mình. Bà con giữ kín giùm chuyện này: phen đó thầy hương quản làm thịt chó rồi nói gạt là thịt nai, mời ổng tới nhậu. Ổng khen nức nở: thịt nai Cà Mau ăn sao mềm quá. Một ông lão tỏ vẻ không bằng lòng: – Ông Rốp là người mộ đạo. Gạt như vậy, tội chết. Nghe anh “bồi” nói lại trên lầu đồn kiểm lâm, ổng có treo tượng Phật. Kế bên là tủ sách văn chương đạo đức, toàn chữ Tây và chữ nho… Ðêm nào ổng cũng thức đọc sách bằng đèn cầy, tới khuya. Rốt cuộc họ kết luận: Ông Rốp là người nhơn đức, ít làm khó dễ dân chúng, lãnh trách nhiệm cầm chừng, tuy đang hành sự nhưng cũng như đã về hưu trí, ẩn sĩ qui điền. Họ càng yên tâm mà tiếp tục phát triển việc phá rừng, đốn củi lậu thuế. *** Hôm đó, cha con của Tư Ðức chở xuồng củi ngang đồn kiểm lâm. Trời tối như mực, sắp chuyển mưa to, ngửa bàn tay cũng không thấy. Trên đồn yên lặng. Ánh đèn vàng vọt chiếu ra ngoài cửa sổ hé mở. Bên bờ sông, một giọng lơ lớ, sửng sốt: – Ghé lại! “Chéc” ghe hay là con “xấu”? Tư Ðức điếng hồn, nhận ra được giọng của ông kiểm lâm Rốp. Trời đất hỡi! Quá nửa đêm giờ Tí rồi mà ổng còn làm gì dưới bến này? Chú Tư Ðức nín tiếng, toan bơi lẹ cho qua khỏi ải. Ngặt ông Rốp trên bờ nói lần nữa: – Con “xáu” hay là “chéc” ghe. Ông lớn bắn đà! Ðốn củi lậu thuế nào phải tội nặng đáng xử tử, lỡ bề gì, chết cũng lảng quá! Cực chẳng đã, chú Tư đành lên tiếng: – Chiếc ghe, quan lớn ơi… Tôi đi rước mụ cho vợ đẻ. Xin quan lớn cho tôi đi. Ông Rốp càng trầm tĩnh: – “Chéc” ghe thì ghé lại! Thầy đội đâu rồi! Ðem đèn xuống coi thử… Bước lên bờ, chứ Tư Ðức năn nỉ ỉ ôi, xin tha tội một phen, thề nếu tái phạm thì ở tù rục xương cũng cam đành. Ông Rốp lắc đầu, ra lịnh quăng củi lên bờ, kéo xuồng vào tận “phú de” sát vách đồn. Ðêm đó, báo hại hai cha con chú Tư Ðức phải ngủ trần, tay đập muỗi lia lịa, trí óc buồn đã nhớ đến ngày mai đen tối thiếu gạo nấu. Và đứa con trai đang đau bịnh rét rừng. Sáng hôm sau, ông Rốp bảo chú Tư Ðức cứ về nhà, chờ ngày trát đòi đến đóng tiền phạt vì đây mới là lần phạm tội đầu tiên thôi. Chú Từ bèn làm núng: – Chết thì tôi chịu chớ tôi thề không đi về. Cha con tôi không có nhà cửa gì ráo. – Vậy chớ mọi khi chú ăn cơm tại đâu, ngủ tại đâu? – Dạ thưa ăn tại xuồng này, ngủ tại xuồng này. Nó là cái nhà của tôi. Như động lòng trắc ẩn, ông Rốp suy nghĩ rồi nói: – Xứ này thiếu gì cây để cất nhà, thiếu gì lá để lợp nhà. Chú làm biếng, không chịu tạo lập. Chú Tư Ðức cố nén cơn giận: – Bởi vì tôi không có đất, quan lớn thương dùm. Tôi đã cất nhà nhiều lần rồi mà ở không yên. Ban đêm hai cha con tôi phải thức quá khuya, quan lớn cũng thấy. Chịu đựng mưa gió muỗi mòng, đâu phải là làm biếng sợ cực! Có lẽ nhờ câu nói khảng khái ấy mà cha con Tư Ðức được ông Rốp cho ở đậu tại nhà dưới của đồn kiểm lâm, cơm ăn không tính tiền, bù lại hai cha con phải làm cỏ, quét nhà. Tội nghiệp thằng nhỏ con trai của chú Tư! Mấy viên “ky ninh” của ông Rốp không chặn được cử rét hằng ngày hoành hành nó. Nó khóc đòi trốn về rừng. Buổi trưa không ngủ, nó lấy than bếp vẽ lên vách tường nào là hình xe hơi, hình con chim, hình cọp, hình sấu… báo hại chú Tư phải lau chùi sạch sẽ, e ông Rốp thấy mà bị rầy to. Ðứa con trai khóc sụt sùi : – Mình phải về, ba à! Chú Tư chép miệng: – Ở đây có cơm ăn qua ngày. Con đừng lo. Ổng đuổi mình, mình cũng không thèm về. Thằng bé không hiểu cha nó đang suy nghĩ mưu kế gì. Lâu ngày rồi quen, hằng đêm chú Tư Ðức được phép lên phòng riêng của ông Rốp để châm nước pha trà. Ngạc nhiên làm sao, trong phòng nọ toàn là sách vở, tranh ảnh! Trên vách treo nào là sừng nai, da cọp, cây tằm gởi, hình Phật Thích Ca ngồi thiền dưới cội bồ đề. Ngay trước mặt ông Rốp là tấm bản đồ lớn, ghi nhiều mũi tên xẹt qua lại. Bên dưới bản đồ có tấm hình hai người mặc áo rộng màu vàng: họ quì gối đâu mặt lại, chắp tay xá lẫn nhau. Ðoán sự tò mò của chứ Tư Ðức, ông Rốp hỏi: – Biết hình gì đây không? Quí lắm đó. Chú Tư Ðức đáp: – Dạ, chưa biết vì hồi nào tới giờ tôi không được vô trường mà ăn học. – Chú theo tín ngưỡng nào? Chú Tư suy nghĩ hồi lâu: – Tôi chưa hiểu hai tiếng tín ngưỡng nghĩa là gì. Tôi tin Trời, tin Phật, thờ cha kính mẹ, quí mến ông già bà cả. Lại còn việc cúng vái mấy ông cọp, ông sấu. Ðất có Thổ Công, sông có Hà Bá. – Nhiều thứ quá vậy. Tôi hỏi cái đạo kia. Chú theo đạo gì? – Dạ, theo cha mẹ tôi nói lại thì người “An Nam” mộ đạo Phật. Tôi cũng như cha mẹ tôi. Ông Rốp cười đắc chí: – Nghĩa là chú Tư theo đạo Phật. Tốt lắm. Theo đạo Phật mà sao không biết hình này? Ðó là ông vua Hy Lạp tên Mi Lanh Ða hỏi kinh với pháp sư Ấn Ðộ tên Na Ga Sơ Na. Vua Hy Lạp phục tài của thầy tu Ấn Ðộ, thầy tu Ấn Ðộ phục tài của vua Hy Lạp. Hai người chắp tay xá lẫn nhau. Họ đối đáp hay lắm, ghi lại thành một bộ kinh đây này… Ông Rốp bèn rút trong tủ hai ba cuốn sách hơi dày mà nói tiếp: – Chữ Phạn gọi nó là “Mi lanh đa băng ha”. Chữ nho dịch lại… là Na Tiên Tỳ Kheo Kinh. Na Tiên là dịch âm lại tên thầy tư Ấn độ Na Ga Sơ Na. Mấy tiếng “Băng ha, xơ na” khiến chú Tư Ðức rối trí quá. Chú cố gắng nhớ lại trong chuyện Tàu những đoạn nói về Ấn Ðộ, tứ là nước Thiên Trúc. – Sao trong Tây Du không nghe nói vậy ông? – Trước Tây Du của thầy Huyền Trang cỡ tám chín trăm năm lận! Hồi 150 năm trước Thiên Chúa, phía bắc Ấn Ðộ có mấy ông vua Hy Lạp cai trị, giống như người Pháp cai trị An Nam bây giờ. Hồi đó, người cai trị với người dân bổn xứ thương nhau. – Tại sao vậy, quan lớn? – Tại người dân bổn xứ tài giỏi quá, đâu phải như người An Nam bây giờ. Bây giờ không còn cảnh đó nữa! Thí dụ tôi là vua Hy Lạp từ Âu Châu tới, chú là thầy tu Ấn Ðộ bị tôi cai trị. Chú có điều gì giỏi hơn tôi đâu mà hàng dạy lại tôi. Chú Tư Ðức buồn bực vô cùng khi thấy ông kiểm lâm Rốp khinh rẻ người Việt Nam ra mặt. Phận vậy, đành chịu vậy, biết sao bây giờ! Cãi lại thì rất nguy hiểm, ngoài tội ăn cắp cây rừng của nhà nước, chú có thể mang thêm tội làm “quốc sự”! *** Hằng đêm, ông Rốp thức đến canh ba để đọc sách. Ðưới này, chú Tư gác tay lên trán suy nghĩ liên miên. Ông Rốp có mòi mến chú hơn trước, bằng cớ là ổng bố thí cho cái mùng và chiếc áo bành tô cũ! Lúc đứa con trai ngủ say, chú Tư thường ra sân, nhìn trở lại ngọn đèn cầy mà ông Rốp đốt lên để đọc sách trên lầu. Chú lẩm bẩm, phì cười một mình: – Tại ổng thức đêm đọc sách Phật cho nên mình mới bị bắt giam như vầy. Ðêm đó, có lẽ ổng suy nghĩ một chuyện xưa tích cũ “ga xơ na, ma lanh đa” gì đó. Suy nghĩ không ra, ổng mới đi dạo như mình đang đi bây giờ. Rồi ma đưa lối, quỉ dẫn đường, ổng nhè gặp xuồng củi lậu của mình. Cái việc cầu đạo của ổng có hại cho bá tánh vì dục vọng của ổng còn quá nhiều. Gió thổi hiu hiu. Dừa nước bên bờ sông uốn éo, vang lên rào rạt. Ðằng xa, một vật gì từ từ nổi lên, đi ngược giòng nước đang chảy xiết. Chú Tư Ðức nghĩ: – Thằng cha nào ngu quá! Xe trước gãy bánh, xe sau phải tránh. Ðêm trước, cũng vào giờ này mình đi ngang qua đây bị rình bắt. Bộ họ chưa hay biết sao vậy kìa? Nhưng dường như vật nó không phải là chiếc xuồng; khi thì nó thối lui, cập vào bờ, khi thì tiến tới, day ngang qua, chậm chạp. Khúc cây chăng? Thây ma chăng? Vô lý! Nếu vậy thì nó theo nước xuôi, mất dạng rồi. Ðằng này, nó từ từ trôi ngược. Chú Tư Ðức cố nhướng mắt chấp chóa như muôn ngàn con đom đóm đậu khít nhau. Và trước mũi của chiếc xuồng quái dị nọ.

Google photo edit by Sơn râu

Hai tia sáng xanh ngời rọi tới như hai cái đèn “bin”. Nghi ngờ gì nữa! Nó là con sấu lửa mà chú Tư thường nghe mấy người đóng đáy nói lại. Hồi đó, chú Tư không tin. Bây giờ chú đã thấy tận mắt con sấu thần đó. Thiên hạ nói sấu ấy đi có cặp. Tu luyện hàng trăm năm rồi, nước mặn đóng trên da nó một lớp dày, sáng chiếu lên như nước biển, đêm có trăng. Người thì cãi lại, bảo rằng đó là ánh sáng của các cô hồn bị sấu ăn thịt. Chú Tư Ðức phập phồng trong dạ, vừa mừng vừa sợ. Có lẽ ông Rốp đã nghe nói đến cập sấu thần này nên quá bị ám ảnh, hôm nọ ông hỏi chú: “Chéc” ghe hay là con “xáu”! Chú vào đồn kiểm lâm, lập tức đốt đèn lên. Chú lục mấy cái hũ để tìm nếp. Không có nếp, chú hốt tạm vài nắm lúa, bắc chảo lên bếp nhúm lửa mà rang. Lúa nổ ra trắng phếu, nhảy tưng bừng trong chảo, văng tứ phía. Chú Tư Ðức bước ra sân, khấn vái lâm râm rồi thảy mấy hột nổ ấy khắp tám hướng đen ngòm: – Ngay cô hồn các đẳng. Sống thì khôn, thác thì thiêng. Những ai xa cây, xa cội, xa nhành, đầu bãi cuối gành, hùm tha sấu bắt… Tôi tên là Ðức, họ Trường, tuổi Dần. *** Thầy hương quản tất tả chạy vào đồn mà hỏi rối rít: – Ông kiểm đâu rồi? Có ở nhà không? Chú Tư nói: – Dạ có, ổng đọc sách trên lầu. Tức thời, thầy hương quản đến chào ông Rốp rồi trình bày: – Sấu cỡ này lộng quá rồi! Hôm kia nó đập đuôi nhận chiếc xuồng trên đó có hai mẹ con. Mẹ mất xác, đứa con gái bị táp cụt chưn. Ông Rốp hoảng hốt: – Dữ quá vậy! Con “xáu” là thú dữ. Bên Phi Châu, bên Ấn Ðộ cũng có nó. Người Ai Cập hồi xưa sợ con “xáu” ăn thịt nên tôn thờ nó. Thầy hương quản nóng ruột quá: – Nhưng mà bên nước mình, tại sông Gành Hào này, nó giết người. Ông Rốp cảm thấy áy náy: – Nó giết người dưới sông. Thầy hương quản nên ra lịnh khuyên dân chúng tạm ngưng việc lưu thông dưới sông. Như vậy tiện hơn. Thầy hương quản nói: – Dạ không được. Không lui tới dưới sông, dân chúng phải chết đói hết. Lại còn ghe xuồng từ xứ khác tới, làm sao họ biết mà đề phòng. Người ở trên bờ cũng bị sấu táp nữa kì. – Sấu chạy lên bờ à? – Hôm qua, sấu nổi lên lần nữa. Cô gái nọ ngồi rửa chén dưới bến, bị sấu táp, rinh luôn cái cầu thang. Hồi lâu, sấu nhả ra, cô nọ tỉnh trí lội vào bờ. – Làm sao bây giờ, thầy hương quản? – Khó lắm, ông kiểm ơi ! Dân chúng trông cậy sự bảo hộ của nhà nước Tây trong lúc này. Mình phải giúp họ. Ông Rốp nhìn mấy cuốn sách bìa da mạ chữ vàng trong tủ rồi lắc đầu, thở dài: – Trong sách không có nói tới. Mình cứ bắn nó thử. Cây súng của thầy đâu rồi? Bì đạn còn không? Tôi cho thầy mượn cây súng trận của tôi. Thầy hương quản tỏ vẻ thất vọng. Thầy dư hiểu rằng súng đạn khó mà bắng lũng da con thú nọ. Không khéo, nó bị thương rồi trở nên hung tợn hơn trước. Hơn nữa làm sao mà bắn nó? Phải đứng dưới ghe. Nghĩ tới đó, thầy sợ quá, muốn nhường vai tuồng anh hùng nọ cho ông Rốp: – Tôi bắn dở lắm, ông kiểm lâm à. Ông từng đánh giặc A Lơ Măn, cầm súng giỏi hơn tôi, ông phải trổ tài mới được. Hồi nào tới giờ tôi chỉ quen cây “cà líp xây”, nó yếu lắm. – Chiều nay, tôi sẽ tính. Ông Rốp tạm trả lời như vậy để tống khô thầy hương quản một cách khéo léo. Ông rất sợ sấu, đó là nhược điểm của trời phú cho. Ðó cũng là nguyên nhơn khiến cho ông ít dám đi “rỏn” bắt củi lậu thuế; do đó dân làng tưởng lầm rằng ông là kẻ nhơn từ. Ðứng trước tình trạng khó xử đó, ông chợt nghĩ đến Tư Ðức, hy vọng rằng “nuôi quân ba tháng, dụng quân một ngày”. Chú Tư Ðức nói với ông: – Việc đó không khó cho lắm. Từ mấy bữa rày, tôi có ý mong chờ để ra tay. Cô hồn đã hiện về báo tin cho tôi biết. Dè đâu, sấu này dữ tợn quá vậy! – Chú hay trước à? Chú có phép? Tôi không tin. Tư Ðức bèn dẫn ông Rốp ra sân, chỉ mấy hột nổ rải ra khắp hướng, đêm hôm trước. Ông Rốp gật đầu hỏi tiếp: – Bây giờ mình làm thế nào? Tư Ðức hỏi ngược lại: – Tôi là kẻ quê mùa. Ông cần dạy tôi trước chớ! – Tôi kiếm chiếc ghe thật lớn. Chú Tư chèo sau lái; tôi đứng trước mũi, rình bắn nó. Ðược không? Chú Tư Ðức mỉm cười: – Sấu lâu lâu mới nổi lên một lần. Biết nó nổi ngay khúc sông nào, đúng giờ phút nào mà rình. Chừng hay được thì nó lặn mất. Nếu nó không lặn mất thì… Chú Tư cố tình không nói dứt. Ông Rốp nhướng mắt: – Thì sao? – Thì nó quật đuôi, ghe phải chìm. Sấu này dài ít nhứt năm thước. Ðứa con nít có thể ngồi chàng hảng cưỡi trên đuôi của nó được. Lớn lắm! Nó nhai luôn cây súng của ông. Sấu đội đèn mà! Ông Rốp hoảng hồn, chú Tư Ðức nói tiếp: – Ðể đó cha con tôi trị nó. Miễn là hương chức làng giúp chừng vài trăm cây tre là bè. Mồi thì dùng heo, chó. Dân “An Nam” xưa nay bắt sấu không cần súng đạn, họ bắt sấu từ hồi Tây chưa qua lận kìa! Phải là thứ sấu nhỏ, tôi lặn xuống sông, bắt lên trong nhấp nháy cho ông coi chơi. – Cách nào? – Tôi móc con vịt cô lưỡi câu rồi tôi đứng dưới nước, cầm đầu sợi dây. Chừng sấu lại ăn mồi vịt, tôi lặn xuống đáy sông, đi vô bờ, ghịt đầu dây vào gốc cây mà kéo con sấu nọ lên. Cặp sấu dưới sông kỳ này lớn lắm. Ông cho phép tôi về rừng đem vài món đồ nghề lại. Ông nhắc thầy hương quản cho tôi xin chừng bảy trăm cây tre và bốn người dân phụ sức. Tre đốn về, Chú Tư Ðức nhờ bà con kết một cái bè thật to, trên dựng hai cái thang, cao chừng ba thước. Năm sáu lưỡi câu sắt đã buộc vào chung quanh ; trên sàn bè, chú Tư xây cái chuồng nhỏ trong có để hai con heo, một con chó. Nóc chuồng có rơm, lá dừa che lại kỹ. Hai hôm sau, chú nói: – Mời quan lớn, thầy hương quản và anh em quen biết xuống bè làm lễ. tới giờ rồi. Ông Rốp hỏi: – Lễ gì? – Dạ, lễ cúng cô hồn. Heo nọ thọc huyết ra để tế cô hồn. Chú Tư rảy hột nổ khắp sàn và trên mặt sông. Nhang đen tỏa nghi ngút. Chú bèn đánh lên ba hồi mõ. Xác con heo nọ bị móc vào lưỡi câu, thả xuống. – Bây giờ thì mời quan lớn lên bờ. Nếu quan lớn muốn đi theo cũng được. Ông Rốp nói: – Thôi… tôi ở trên bờ ghi chép. Bậy quá! Ở đây mình không có máy chụp hình, tôi muốn chụp làm kỷ niệm để gởi về bên Tây. Cái bè này sao giống chiếc tàu binh ở Âu Châu quá. Hai cái thang bắc cao lên coi như cây cột dây thép gió. Ông Rốp, thầy hương quản lần lượt vỗ vai, “bủa xua” hai cha con chú Tư. Chú hút thuốc rồi hỏi đứa con trai: – Thúng cơm khô con có đem theo không? Nó đáp: – Dạ có. – Nhiều hay ít vậy con? – Nhiều lắm. Ðủ ăn ba bốn người. Con có mua chịu cho cha một lít rượu. Ðứa bé trao chuyền qua Tư Ðức bốn cái ống tre đựng đầy ngọn mun (lao sắc). Phần nó thì cầm cái mỏ bằng tre. *** Ngày qua, ngày lại. Chiếc bè trôi lên trôi xuống theo nước lớn nước ròng. Hai cha con Tư Ðức ngồi cú rũ bên chuồng nọ. Thỉnh thoảng, chú nhắc chừng thằng bé, bảo nó chọc cho con heo, con chó kêu lên. Trên này, ông Rốp mãi theo dõi, nhưng lần lần thất vọng. Qua ba ngày sau, miếng mồi (con heo) đã sình nổi lên, diều quạ, kên kên bu lại kêu ỏm tỏi, chú bèn thọc huyết con heo còn lại mà thay vào. Con chó sủa ngày một thỏn mỏn, vì mệt, vì đói. Ðã đến ngày thứ tư. Mặt trời chưa mọc, ông Rốp bỗng giựt mình thức dậy vì tiếng mõ nổi lên inh ỏi. Ông lập tức xuống lầu, chạy lại mé sông nhưng nào thấy gì đâu! Sương mù chưa tan, chỉ nghe dưới sông tiếng ồ ồ như bầy trâu đang lôi. Ông thủ cây súng trận nạp đạn vào nòng, chờ bóp cò. Thầy hương quản đã đến: – Ông kiểm ơi! Nó mắc câu rồi! Ông có nghe tiếng mõ không? Rồi thầy quát to: – Hương ấp đâu? Hương tuần đầu? mấy người chạy khắp xóm mà truyền rao mỗi nhà phải đánh mõ, đánh trống lên… Không thì đập xuống ván ngựa, đánh vô mâm thau, nồi đồng gì cũng được. Mình phải tiếp sức với hai cha con Tư Ðức! Nắng lên cao. Tiếng mõ dưới sông càng thúc giục. Rõ ràng cha con Tư Ðức đang đứng chót vót trên hai cái thang, lú khỏi mặt nước. Chiếc bè đâu không thấy. Hai cái thang nọ chạy tới hàng trăm thước, đứng sựng lại rồi vụt chạy lui, nhanh hơn tàu đò. Tư Ðức cầm ngọn lao, hờm sẵn. Ðứa con đứng kế bên gõ vào mõ lia lịa. Hai cái thang lắc qua lắc lại như cột buồm ghe bị bão, vậy mà họ không té. Chập sau, cách chiếc bè chừng năm mươi thước, con sấu mắc câu bỗng nổi lên thoi thóp, dài như chiếc ghe độc mộc. Chiếc bè từ từ nổi lên. Dân chúng hai bên bờ la lớn: – Nó kìa! Trời ơi! Làm sao giết nó mau. – Mình phải tiếp sức với Tư Ðức. – Trời thần ơi! Thằng nhỏ con của Tư Ðức gan dạ quá. Thiệt cha nào con nấy! Ông kiểm lâm Rốp liền nói với thầy hương quản: – để tôi bắn con sấu! Thầy hương quản vô cùng e ngại: – Không nên! Quan lớn đừng làm vậy! Sấu hoảng hồn chạy mạnh quá đứt dây đỏi thì sao? Một người phía sau nói với tới: – Sợ bắn không trúng con sấu mà nhè bắn trúng sợi dây! Báo hại công trình của người ta chịu cực mấy ngày rày. Thầy hương quản day lại: – Ðứa nào đó? Ðừng nói bậy. Ông kiểm lâm ổng buồn. Hằng chục người, một tiếng thét to: – Giết chết nó đi! Mặc dầu bị nước văng lên, mình mẩy ướt loi ngoi lóp ngóp, chú Tư đức vẫn tỉnh táo phóng xuống lưng con sấu một ngọn lao. Sấu nó hụp xuống, ghì chiếc bè khuất dưới nước. Hai cha con Tư Ðức đứng cheo leo trên thang mà chờ, ngọn lao khác hờm sẵn nơi tay. Ông Rốp há miệng, nói với thầy hương quản: – Hay quá! cái bè này giống chiếc tàu lặn đó. Khuất hết chỉ còn hai cái thang. Chưa dứt lời, sấu nó nổi lên, uốn éo đập đuôi đùng đùng. Ngọn lao ghim trên lưng nó khi nãy đã văng đâu mất! Tư Ðức hươi tay lên phóng xuống ngọn lao khác. Rối không đợi nó lặn xuống, nhanh như chớp, chú phóng thêm ngọn nữa, cũng ngay lưng. Sấu ta lại chìm. Nhưng từ phía xa, một con sấu lạ hiện ra, lội nhanh tới sát hai cái thang của cha con Tư Ðức. Ai nấy rú lên: – Sấu đực chạy lại tiếp sấu cái. Coi chừng nó nghe chú Tư! Thầy hương quản la lớn: – Ðánh trống, đánh mâm thau cho nó sợ. Bà con mình cứ đứng coi hoài, quên hết phận sự. Tệ quá! Một mình mà đối phó với hai con sấu! Tình thế của chú Tư Ðức càng nguy nan! Lợi hại nhứt là con sấu mạo hiểm vừa xuất hiện đến cứu bạn. Nó còn sung sức, dám đánh bạo lại sát bè. Miệng nó đỏ hói, hàm răng dài như lưỡi cưa. Bình tĩnh, chú chờ nó lại gần. Hai cây lao phóng xuống. Sấu ta quay mình lại, đập đuôi thật mạnh vao hai cái thang. Hai cha con Tư Ðức đề phòng kịp thời nên không té nhào. Con sấu lạ nọ lại nổi lên đằng xa, quậy nước rồi lặn mất. Trong khi ấy, bè tre từ từ nổi lên. sợi đỏi dài rung rinh. Nơi đầu dây đằng kia, con sấu bị mắc câu đã quá mệt mỏi, nằm lé đé. Mấy cây lao còn lại trong ống tre đã lần lượt phóng xuống, sấu ta không còn đủ sức để hất mấy mũi sắt đó nữa. Hắn lắc lư cái đầu rồi khuất dạng như chiếc tàu chìm. Phen này, chiếc bè không bị ghì xuống như trước. Chú Tư vô cùng mừng rỡ, đoán chừng sấu nọ chịu chết. Ðứa con trai của chú ngưng tiếng mõ. Chú lấy khăn chùi mấy giọt nước trên mặt rồi quơ khăn lên, làm dấu hiệu: – Bà con đâm xuồng ra mau để kéo bè này vô bờ! Tôi mệt quá rồi! Hằng chục chiếc xuồng và ghe biển đâm ra. Ai nấy buộc đỏi vào bè rồi cố sức kéo. Họ vừa mừng vừa cảm động. Trên bè, không có một món gì ráo; chuồng heo, thúng cơm khô, chai rượu đều văng mất. Nhiều nuột mây bị đứt, chiếc bè dường như sắp rã ra từng cây tre nếu cuộc chiến đấu kéo thêm vài giờ nữa. Vừa bước lên bờ, chứ Tư Ðức liền gặp ông kiểm lâm Rốp. Ông ôm chú và thằng bé nọ vào lòng rồi nói tiu tít: – Giỏi quá! Chú Tư giỏi quá! Thằng nhỏ gan quá! Nó bị bịnh rét mà còn mạnh quá! Tôi mời hai cha con vô đồn. Chú Tư Ðức nhìn lại xác con sấu mà mỉm cười: – Ðể tôi ở lại coi nó. Ông Rốp nói: – Thầy hương quản ơi! Trước khi mổ bụng con sấu, thầy phải cho tôi hay nghe. Tôi dẫn chú Tư vô đồn uống rượu ấm, thay quần áo để chú Tư ngừa bịnh. Vào đồn, ông Rốp bắt buộc chú Tư phải nằm xuống nghỉ mệt, thay quần áo ka ki mới, đắp mền. – Rượu “cổ nhác” bên Tây nè! Uống đi chú Tư. Rượu này của mẹ tôi bên cù lao “Cọt” gởi riêng qua cho tôi. Chú Tư hớp một miếng: – Ðược rồi, quan lớn. Ông kiểm lâm nói: – Uống hết đi! Tôi rót nữa cho. Miệng nói, tay của ông thoa bóp lia lịa dùm chú Tư: – Hết sức giỏi! Người “An Nam” hết sức giỏi. Chú Tư câu được bao nhiêu sấu rồi? Học nghề với ai vậy? Chú Tư nói: – Dạ, nghiệp của ông bà truyền lại. Bây giờ con cháu noi theo. Ông Rốp gật đầu: – Phải! Bữa nào chú nói kỹ lại cách thức câu sấu để tôi viết thành cuốn sách, gởi về bên Tây cho mẹ tôi được biết. Rồi chú rán câu con sấu còn lại. Chừng đó tôi đi theo, đứng trên cái thang đánh mõ thử một lần. Chú Tư suy nghĩ: – Không được đâu! – Con sấu kia lợi hại lắm. Phải trừ cho hết. Tôi đọc trong sách thấy rằng loại sấu lớn thường ở nơi yên tịnh, luôn luôn đi hai con đực và cái. – Ông lớn nói đúng. Nhưng mình giết một con đủ rồi, giết hết mình có tội với Trời Ðất. – Tội gì vậy, chú Tư? – Tội sát sanh. Ðể con còn lại cho nó đi tu. Ðạo Phật của ông bà có nói lại như vậy đó. Ông Rốp mãi suy nghĩ, vuốt râu: – Dân “An Nam” giỏi quá, hiền từ quá. Chú Tư họ gì, mấy tuổi. Ðể tôi chạy tờ về quan Tham biện chủ tỉnh xuất số tiền về thưởng công lao cho chú. Chú muốn làm lính kiểm lâm không? Tôi cho chú làm chức “bếp”, ăn lương mỗi tháng mười lăm đồng bạc. Chú Tư Ðức cười : – Vì đất nước chớ đâu phải vì danh vì lợi. Sách có chữ: “Kiến nghĩa bất vì vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”. Công việc của tôi đã làm tròn. Tôi ao ước hương chức làng mình cất một cái miễu lá, thờ cái đầu con sấu nọ. Bất luận là sấu hay cọp, hễ nó hại mình thì mình giết. Hễ giết được rồi, mình nên thờ… – Chi vậy? – Ðể tỏ rằng mình sợ nó nhưng mà cũng… không sợ nó. Phải để cho nó tu tâm dưỡng tánh trong kiếp sau. Tôi không ưa sát sanh. Tôi muốn làm nghề khác. – Nghề gì? – Nghề đốn củi. Chừng hết củi thì đào kinh, làm ruộng. Phen này tôi mừng vì cứu được vong hồn mấy người đã bị sấu ăn thịt. Theo lời tục truyền: họ thành cô hồn, sống vất vưởng trên lưng sấu. Lần lần cô hồn nọ bị sấu mê hoặc nên dẫn đường dắt nẻo cho sấu đi sát hại kẻ đồng loại. Bây giờ sấu chết, bao nhiêu cô hồn đã thảnh thơi, có thể tự do đi đầu thai trở thành người lương thiện. Ông Rốp trầm ngâm suy nghĩ. Ông dè đâu người đốn củi lậu nọ có tài, có đức, biết thương người, thương cuộc đời đến mức ấy. Ông chắp tay lại mà nói: – Tôi khen chú nhiều lắm. Chú Tư Ðức bèn chắp tay xá ông Rốp mà trả lễ: – Ông xá tôi, tôi ngại quá. Giống như hình ông vưa Hy Lạp với thầy tu Ấn Ðộ trên vách, dưới tấm “bông đồ”. Hôm nọ, hồi tôi mới bị bắt, ông nói cái tích “xơ lanh đa” gì đó… Ông Rốp giựt mình, nhìn lại bức tranh, tấm bản đồ Châu Âu, Châu Á rồi sực nhớ tới mấy lời nói hôm trước. Tấm hình nọ diễn lại cảnh đẹp ngàn xưa: hai ngàn năm về trước, tại hoàng thành của tiểu quốc nọ ở phía bắc Ấn Ðộ, lần đầu tiên người phương Ðông và phương Tây thông cảm nhau, cư xử bình đẳng. Giờ đây, qua bao cuộc luân hồi, hưng vong đầy nước mắt mà máu trên giải đất tận cùng của nước Việt Nam lại có hai người cũng đồng cảnh ngộ, đồng niềm thông cảm. Ông Rốp buột miệng: – Chú Tư Ðức là thầy tư Na Ga Sơ Na. Chú Tư nói: – Trời ơi! Không dám, tội chết! tôi là người làm ăn. Tôi không xứng đáng lên Niết Bàn. Quan lớn có thương thì cho tôi xin lại chiếc xuồng bị tịch thâu bỏ “phú de” hổm rày. Nó là nồi cơm của tôi. Ðể trên khô, nó mau hư lắm. Chú Tư Ðức muốn nói thêm nữa. Chú muốn ví phận mình như một cô hồn bị sấu ăn thịt, hổm rày sống vất vưởng trong đồn này như sống trên lưng con sấu đội đèn nọ. Không khéo, thiếu khí phách ngang tàng, chú có thể bị ông Rốp quyến rũ làm “bếp” kiểm lâm. Chú không dám nói ra điều ấy e mất lòng ông Rốp. Chú lắng tai, chờ lịnh xá tội, trả lại chiếc xuồng. Nhưng ông Rốp dường như không chú ý. Có lẽ ổng đang suy nghĩ chuyện khác. Ổng chắp tay sau lưng, đi tới đi lui cứ nhìn bức tranh và tấm bản đồ, đôi mắt mơ mơ màng màng như sám hối trong giây phút những sự hiểu lầm chồng chất trong tâm ông từ mấy chục năm qua. Bỗng từ dưới lầu, thầy hương quản gọi vọng lên : – Quan lớn ơi! Chú Tư ơi! Xuống đây mà xem. Bà con đang mổ bụng con sấu, lớn lắm. Thằng con của chú Tư cưỡi trên cái đuôi sấu mà hai chân nó như hỏng mặt đất lận kia! ***

Hương rừng Cà Mau

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

17. Người mù giăng câu

Ðứa con trai độc nhứt của ông đã bị “A lơ măn” (người Ðức) giết lúc phải cầm súng giữ vùng An Sác Lo Ren cho Pháp. Ta có thể nói: ông mù vì khói lửa của trận Âu châu đại chiến kỳ nhứt. Còn lại một mình, ông cất căn chòi ở Rộc Lá, ấp Tây Sơn. Rộc là con rạch nhỏ ngoằn ngoèo, bắt nguồn từ môt gò đất cao giữa đồng, chảy thẳng vào một cái lung, phần đất thấp hơn, đầy những rau muống, cóc kèn, ô rô và cá.
Ở Rộc Lá này, cá tôm quá nhiều so với mấy nơi khác trong ấp. Từ tháng mười đến thắng giêng, cá lội từng bầy trở về sông Cái, suốt ngày suốt đêm không ngừng. Ban ngày, cá đi đớp bọt, trắng bờ rạch. Ban đêm thức giấc vào bất cứ lúc nào, ta cũng nghe cá lóc táp mồi, cá trê chép miệng kế bên nhà. Nguồn lợi to tát vô cùng!
Nhưng nào đâu cái cảnh “Một vùng trời đất vui thầm ai hay”.
Cá ăn câu về đêm. Muốn giăng câu phải thức trót canh gà, thức bốn năm tháng ròng rã, hao phi bao nhiêu sức lực! Ngày thì đi gặt lúa mướn, thời giờ đâu để ngủ bồi dưỡng lại. Ðêm thì muỗi mòng, gió bấc lạnh, lắm khi gặp mua. Nhiều em bé đuối sức ngủ gục, té xuống sông, leo trở lên xuống ướt loi nhoi như chuột…
Ông thường bảo:
– Phải có kinh nghiệm mới đỡ cực nhọc. “Con cá trương vi quạt đuôi ra biển Bắc thì còn mong gì cá ấy trở lại chốn cũ ao nhà”. Câu ca Vọng cổ đó nói sai. Cá có hang ở sông Cái. Mùa mưa, cá tìm đường lên ruộng, vào rừng mà đẻ. Bắt đầu mùa hạn, cá bỏ ruộng, bỏ rừng quay trở về hang cũ ở sông. Sự hôn ngoan của con người là chặn chuyến về của loài cá. Chặn cho đúng nơi, đứng lúc.
Vào đầu mùa, cá thường ăn mồi khi nước lớn. Giữa mùa, cá ăn lúc chạng vạng, lúc trăng sửa soạn mọc. Hừng sáng, chừng đâm mây ngang, cá trở lại ăn một lần chót.
Khó nhứt là chọn nơi để giăng câu. Cá sợ ngọn nước ngoài biển chảy tràn vào sông. Gặp nước mặn, cá hết nhớt ngoài da, con mắt xốn xang, nhưng nơi nước quá ngọt lại ít có cá vì cá chưa đi tới. Cá tập trung nơi lằn ranh nước lờ lợ và nước ngọt.
Tại lằn ranh đó, nên biết chọn từng điểm nhỏ. Rạch nào lắm ghe xuồng qua lại, cá ăn ở sát bờ. Rạch nào im lặng, cá lội ngay giữa dòng. Trước khi giăng cá trê, phải quậy cho nước đục. Mỗi chỗ cá chỉ ăn một lần. Vì nó đi lưu động, mình nên khéo dời chỗ…
Gió bấc thổi ròng rã, cá lần lần về sông Cái. Nếu bỗng nhiên trời trở nực, chuyển mưa, cá lui trở lại rừng và không ăn mồi. Những ngày ấy, đi giăng câu cũng hoài công.
Có người chất vấn: Ðã mù sao còn giăng câu được?
Ông đáp:
– Mù lòa là mắt không thấy, chớ nào phải vô tri vô giác? Con người có thể thấy bằng lỗ tai, bằng hai bàn tay, bằng mũi… Nghe hát máy, thiên hạ đâu dùng cặp mắt mà vẫn hiểu thấy được cảnh ly biệt, cảnh giặc giã… Trong vở tuồng! Ban đêm, nằm nhà đóng cửa lại, tắt đèn nhưng thiên hạ vẫn thấy hiển hiện cảnh ngoài trời: ếch nhái kêu, tàu chuối phất phơ, chó sủa ma hay sủa kẻ trộm. Người ta thường nói: xanh mát, đỏ hực. Mát, là màu xanh, màu đen. Nóng, là màu vàng, màu đỏ. Bần hàn, là nghèo lạnh. Vô nhà nào mà mình có cảm giác lạnh lẽo, đó là nhà nghèo. Gặp người bạn, rờ lên vai áo thấy rách, hcắc là người ấy đang suy sụp… nghèo rã bánh tô. Ði lâu, là đường dài. Ði mau là đường ngắn. Tôi thường bơi xuồng đến tiệm mua đồ một mình. Trong kinh nhỏ có bông súng của mái đầ, khó bơi. Tới ngã ba, khúc quẹo, là chỗ nghe tiếng con sáo, con cưỡng ăn trái trên cây gừa bên miễu ông Tà. Gần mương vàm, hơi xông nồng nực, hôi tanh vì nước ít lưu thông. Chưa tới tiệm, có cầu ván bắc ngang. Chân cầu lớn lắm, tôi thầy nhột nhột màng tang, vì sợ đụng. Người mù có thể vá quần áo. Lại còn nấu cơm, nghe tiếng củi nổ, nghe hơi nước nóng để biết cơm sôi, cơm khét… Tóm lại, thiếu cặp mắt vẫn còn sống được! Người ta có đủ cột kèo thì cất nhà lớn, đúng ni tấc. Mình đây đui mù, như thiếu cây cột cái, nhưng nếu khéo léo một chút cũng cất được mái nhà nhỏ che gió che mưa… hà huống là việc giăng câu! Giăng câu lúc ban đêm, cặp mắt không cần thiết. Người không mà, họ đốt lửa trước xuồng un muỗi cho vui mắt, ấm lòng, chớ nào phải soi đường đi. Ðó là chưa nói tới loài cá! Nó ở dưới nước, núp trong cỏ, người có mắt cũng như tôi, làm sao thấy cá được. Phải dùng óc xét đoán để hiểu tánh ý của nó, nhờ đó mình mới giăng được nhiều cá, ngày càng vui thú với nghề nghiệp của mình.

Dân trong xóm thường gọi ông là ông Vân Tiên lại có biệt danh là “Sư tổ giăng câu”. Dường như tạo hóa đã dành cho ông một số phận: sinh trong thời pháp thuộc, chết trong thời Pháp thuộc. Nhưng chúng ta hãy tưởng tượng rằng ông còn đó, đêm đêm hiện ra ngồi trước mũi thuyền, trên sông nước, không phải để làm ma nhát những người yếu bóng vía nhưng để giải nỗi lòng đối với con cháu đời sau.
Ðêm tạnh vắng. Trăng sao đều khuất trong sương mù.
Nước dưới kinh lạnh ngắt. Bếp un đỏ lên, xua đuổi đàn muỗi rừng. Khói bay lan tỏa, lẫn lộn vào mái tóc bạc, chòm râu bạc. Thỉnh thoảng, gà gáy lên eo óc.
Lền khên rong đuôi chồn,
Ðặc nước, bông súng bông,
Ô ro và ráng, sập,
Mọc đầy theo mé lung.
Mắm đen, chen dà diệp,
Che khuất mấy cánh đồng.
Nơi đây, nơi giáp giới,
Ba ngã, một đường lung.

Ðôi mắt ông vẫn còn trập trừng. Miệng ông vẫn còn nói lên mắp máy, buồn buồn, chậm rãi.

Anh Hùng Bạt Mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Thương tặng hiền thê HN Lê Hoa
đã giúp anh hoàn thành Anh Hùng Bạt Mạng

Lời Nói Đầu

Anh Hùng Bạt Mạng, không những ra mắt lần đầu tiên vào tháng 7/1996 tại Nam California, với 300 quan khách tham dự, còn được giới thiệu ở Edmonton, Canada. Nơi nào đồng hương Việt cũng đón nhận tác phẩm một cách trân quý.

Đa số độc giả bốn phương, ngay cả từ Anh, Pháp, Úc… đều cho đây là một thiên hồi ký. Dù dưới dạng nào, Anh Hùng Bạt Mạng trên hai trăm trang sách đã gói ghém một sự thực, một câu chuyện sống động, lạ lùng, dưới ngòi bút của người quen cầm súng bảo vệ quê hương đất nước hơn rành chữ nghĩa, viết lại khoảng đời chiến binh của mình.

Với lối hành văn giản dị, kiểu lính, cốt đưa những hình ảnh can trường, đẫm máu, như dàn trải trước mắt. Quái đản, dù đã gần 40 năm giã từ vũ khí, tác giả vẫn ngỡ mình còn đang tung hoành ngoài mặt trận, nên mỗi chữ như một viên đạn bốc lửa, uất hận. Theo đó độc giả sẽ xúc động, nín thở với đoàn quân kỳ lạ trong Anh Hùng Bạt Mạng.

Khi viết, tác giả hồi tưởng lại mọi sự việc xảy ra liên quan đến đơn vị mình chỉ huy, không hư cấu, không suy diễn những gì ngoài khả năng, quyền hạn của một cấp đại đội trưởng tại chiến trường. Như, sau khi Sa Huỳnh đã được tái chiếm, ngoài chuyện cướp công, tướng Trần văn Nhựt, Tư Lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh, còn đối xử tệ với Biệt Động Quân tăng phái mà tác giả không hề biết. Mãi 23 năm sau, ấn bản đầu AHBM vừa in xong, Đại tá Trần Kim Đại mới cho hay tác giả viết còn thiếu về hai điều trí trá của tướng Nhựt, tưởng nên đề cập ở đây hơn là bổ túc vá víu vào trong cốt truyện:

1. Lúc đột nhập Sa Huỳnh đơn vị tác giả vào chiếm cái đồn lính bỏ trống để vờ nghỉ đêm, rồi bí mật rút ra ngoài phục lại. Địch mắc mưu đến tấn công bị pháo binh bắn T.O.T, mấy chục tên giặc đều chết cháy (Ttr.137). Hôm sau tướng Nhựt bảo cho ông đưa một đơn vị Sư đoàn 2 BB vào trấn giữ cái đồn tan nát ấy. Biết ý Nhựt toan cướp công, Đại tá Đại, Liên đoàn 1 Biệt Động Quân, từ chối khéo, viện lẽ trận đánh còn tiếp diễn.

2. Sa Huỳnh vừa được tái chiếm, tướng Nhựt giở thủ đoạn tráo đổi khối vũ khí BĐQ tịch thu, trước giờ phút phái đoàn TT Nguyễn văn Thiệu tới xem triển lãm, rồi rêu rao trên đài phát thanh Quảng Ngãi chỉ SĐ2BB chiến thắng Sa Huỳnh (trg.203). Đọc tờ Diều Hâu thấy có bài vạch trần sự gian trá đó, Nhựt bảo Đ/tá Đại cải chính nhưng vị Liên đoàn trưởng BĐQ cương trực của tác giả đã trả lời: “Tôi có viết đâu mà cải chính”.

Còn nhiều điều thiếu minh bạch nữa, không thể nói hết.

Nhân đây, tác giả xin đa tạ các cơ quan truyền thông báo chí đã bình luận, giới thiệu tác phẩm AHBM: Đài phát thanh Little Saigon, VOV, VNCR, báo Người Việt, Thế Kỷ 21, Việt Báo Kinh Tế, Đông Phương Thời Báo, Saigon Today, Saigon Times, Lập Trường, Con Cò, Khỏe Đẹp, Sức Sống, Việt Nam Tự Do, Thời Báo, Công Luận, Thời Đại Mới, Việt Nam Post, Tình Thương, và tuần báo Dân Quyền (Oklahoma)…

Đặc biệt, tác giả mãi ghi lòng tạc dạ tri ân các chiến sĩ Đại đội 1 Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân hy sinh trong cuộc chiến tái chiếm Sa Huỳnh, những anh hùng trận mạc, mà vì quá yêu mến, tác giả đã hai lần khước từ rời xa, về làm việc an nhàn ở Sở I An Ninh Quân Đội và Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, để rồi hãnh diện bị thương lần thứ 2, đôi chân bỏ lại nơi chiến trường

Trần Thy Vân

Để Vào Truyện

Sau bốn tháng rưỡi cưỡng đoạt, không giữ nổi tỉnh địa đầu miền Nam bên bờ sông Bến Hải, Cộng Sản Bắc Việt đã chuốc lấy thảm bại, nhục nhã, trước sức phản công tái chiếm của các lực lượng thiện chiến: Dù, Biệt Động, Thủy Quân Lục Chiến. Điểm then chốt sau cùng địch quân phải gục ngã, thương vong không kể xiết, là cổ thành Đinh Công Tráng Quảng Trị, giữa tháng 9-1972. Vì hệ quả này, phái đoàn Bắc Việt và cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam mất ưu thế tại Hội Nghị Paris về chiến tranh Việt Nam sắp trải qua giai đoạn kết thúc.

Tuy nhiên, Cộng Sản vẫn tiếp tục gây hấn với thủ đoạn cố hữu vừa đánh vừa đàm, mở ra các mặt trận quân sự lẫn chính trị hầu áp đảo tinh thần quân dân miền Nam. Chúng liên miên pháo kích, tấn công lẻ tẻ khắp nơi để cầm chân các đại đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang trấn giữ các điểm chiến lược. Mặt khác, những tên nằm vùng cùng bọn đón gió trở cờ đội lốt “Thành phần thứ ba” tung tin thất thiệt mà cả nước đều xôn xao, như người dân phải chọn lựa một trong hai giải pháp, hoặc da beo, nơi nào quân MTDTGPMN chiếm được thì cai trị nơi đó, hoặc chia đất cho chúng từ Quảng Ngãi tới Quảng Trị, ngang vĩ tuyến 17. Vì bản chất phi nhân, lại quen thói xài luật rừng nên cả hai giải pháp dù ỡm ờ cũng đều phản ảnh cái ngu ngốc man rợ của chúng, muốn biến quê hương này thành vùng hoang địa để mạnh ai nấy cắm dùi. Các tin đồn vô lý như vậy lại khiến toàn dân lo âu, tình hình chung mỗi ngày một căng thẳng, tồi tệ.

Đầu năm 73 là thời điểm rối ren nhất và nhân lúc sự phòng thủ phía nam Vùng I của quân chính phủ quá lỏng lẻo, tướngChu Huy Mân liền tung Sư đoàn 3 Sao Vàng, được tăng cường thêm Trung đoàn 141/2 Cộng Sản Bắc Việt và một tiểu đoàn Phòng Không 12ly8 cùng hỏa tiễn AT3, tấn chiếm Sa Huỳnh quận Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi, phần đất giáp giới Tam Quan, Bình Định, thuộc Vùng 2. Các đồn bót tại địa phương đều thất thủ, thương vong rất nhiều.

Vừa thành công, địch quân cho treo đầy cờ MTDTGPMN, trên đỏ dưới xanh, giữa có ngôi sao vàng, rồi đặt ra đủ thứ cơ quan hành chánh và cho sử dụng ngay các loại bạc giấy đang lưu hành ngoài Bắc. Chúng còn dã man dựng một pháp trường cát ở chân núi, gần cầu xe lửa, xử bắn mấy sĩ quan, viên chức xã ấp mới bị bắt. Xong, để hợp thức hóa, địch yêu cầu Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên thừa nhận Sa Huỳnh là một phần lãnh thổ của chúng theo giải pháp da beo. Dĩ nhiên, phía Việt Nam Cộng Hòa bác bỏ. Lúc bấy giờ lệnh Ngưng Bắn sắp tới ngày có hiệu lực: 27 tháng Giêng 1973.

Sa Huỳnh có hình dạng giống Cam Ranh Khánh Hòa, đồng bằng không đáng kể, nơi đây một khúc Trường Sơn hiểm hóc áp sát nhất, nhô ra hai dãy đồi đá trọc như hai cánh tay khổng lồ ôm vòng tới biển, tạo thành một cái vịnh nhỏ với một cửa khẩu thông ra khơi, gọi là đầm Nước Mặn. Do đó, Quốc lộ 1 chạy ngang qua Sa Huỳnh, bên kề biển, bên sát núi cheo leo, nên toàn miền như cái cuống họng, giữa đầu Vùng I và thân mình Vùng II. Nay phần đất quan trọng này đã bị địch chiếm, khiến huyết lộ giao thông duy nhất tắc nghẽn, cả bộ đầu đang ngất ngư.

Sự kiện Sa Huỳnh Đức Phổ rơi vào tay giặc loan truyền rất nhanh, gây tác động tâm lý quần chúng tệ hại hơn là lúc mất Quảng Trị mùa hè 1972. Tình trạng bi đát có vẻ phù hợp với tin đồn năm tỉnh giới tuyến phải được chia cho MTDTGPMN. Vì vậy tất cả các cư dân Quảng Ngãi, Quảng Tín, Quảng Nam, chí đến Thừa Thiên, Quảng Trị thảy đều nhốn nháo, lo sợ sẽ sống dưới chế độ Cộng Sản như sắp bị một trận dịch hay cùi hủi ghê tởm. Điều chua xót về nạn khan hiếm nhu yếu phẩm, đặc biệt nhiên liệu, ngày nào cũng xảy ra cái thảm cảnh đồng bào chen lấn, giành giựt, đạp lên nhau để mua xăng dầu…

Vì thuộc vùng lãnh nhiệm, Chuẩn tướng Trần văn Nhựt, Tư Lệnh Sư đoàn 2 Bộ Binh, điều động Trung đoàn 5 từ Quảng Tín vào cùng Trung đoàn 6 giải tỏa Sa Huỳnh. Nhưng cả hai đã không tiến gần được phòng tuyến địch chắc nịch như bọc thép, rải dài trên các dãy đồi đá lởm chởm, chắn ngang mạn bắc đầm Nước Mặn. Đại đơn vị ấy đã bị địch quân khống chế dữ dội bằng các khẩu phòng không 12ly8 lẫn AT3, hai loại vũ khí độc đáo lần đầu tiên xuất hiện sâu trong nội địa của miền Nam. Đặc biệt AT3, địch gọi là D7, giống hỏa tiễn TOW Hoa Kỳ, có sức công phá thiết giáp rất hiệu quả, nó cũng thừa khả năng trừ khử các tàu chiến từ biển đổ bộ, hoặc trực thăng vận xuống. Trước sự đề kháng mãnh liệt hai Trung đoàn 5 và 6 Bộ Binh phải co cụm quanh khu phố Đức Phổ, chờ các lực lượng thiện chiến đến tiếp cứu.

Dĩ nhiên không thể để giặc tiếp tục tung hoành ở phía nam trong khi tại mạn bắc chưa yên, khiến người ta có cảm tưởng Quân đoàn I đang bị lưỡng đầu thọ địch, nên Trung tướng Ngô Quang Trưởng hạ lệnh cho Liên đoàn 1 Biệt Động Quân nhảy vào cứu nguy Sa Huỳnh. Vị Tư Lệnh tài hoa và thanh liêm ấy biết dụng nhân như dụng mộc, chọn mặt gởi vàng.

Liên đoàn 1 Biệt Động Quân gồm ba Tiểu đoàn 21, 37, 39 khét danh tốc chiến tốc thắng khắp chiến trường miền Trung. Là một đơn vị Mũ Nâu tương đương cấp trung đoàn, có truyền thống hào hùng, tiêu biểu tinh thần bất khuất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, từ thời Sơn Linh -Trung tá Nguyễn văn Hiệp- Liên đoàn trưởng. Vị sĩ quan trung cấp này đã từng dày công trui luyện các chiến sĩ thành những kẻ gan đồng dạ sắt, để trải qua bao trận đánh kinh hồn, ngập đầy biển máu quân thù ở Thạch Trụ, Khe sanh, Tết Mậu Thân Huế, Hạ Lào…

Liên đoàn hiện dưới sự chỉ huy của Trung tá Trần Kim Đại, người hùng cũng nổi tiếng thanh liêm, dũng lược, đã góp công không nhỏ khi tái chiếm cổ thành Đinh Cống Tráng Quảng Trị tháng 9/72 vừa qua.

Nay cuối mùa Đông năm Nhâm Tý, đầu tháng Giêng 1973 Dương lịch, ba tiểu đoàn Biệt Động Quân khắp tuyến đầu Trị Thiên lần lượt quay về Quảng Ngãi. Thêm một lần nữa những dũng sĩ ưu việt sẽ lập nên trang sử vàng son Quân Lực VNCH, dù ngàn năm sau vẫn còn vang động những thiên Anh Hùng Bạt Mạng đã một thời oanh liệt, đập nát thảm khốc giặc Hồ sinh Bắc tử Nam.

Tác giả

1. Hậu Cứ Thiên Thần Mũ Nâu

Trên ba mươi chiếc GMC xen kẽ Jeep chở đầy lính, súng đạn Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, từ cố đô Huế đã trở về tới phía bắc Đà Nẵng, một thành phố dễ thương với con sông Hàn thơ mộng của miền Trung.

Vừa đến Hòa Khánh, đoàn xe tách rời Quốc lộ 1, quẹo trái theo con đường đất đỏ gồ ghề mà quen thuộc, vào hậu cứ bên bờ biển Nam Ô. Trước khi tới cổng các tài xế giảm bớt ga để xuyên qua khu gia binh Liên đoàn 1 Biệt Động Quân Phú Lộc, nơi một rừng người, đa số phụ nữ, trẻ em, như ong vỡ tổ ùn ùn đổ xô ra hai bên lề muốn bít cả lối đi. Rồi từng chiếc chạy rất chậm chen giữa đám đông cơ hồ như cơn sóng dội âm ba vang động, hàng ngàn tiếng reo, cùng những cánh tay đưa lên vẫy gọi tên chồng tên con, đang trở về bằng xương bằng thịt. Trên đoàn xe nhà binh bám đầy bụi, từng khuôn mặt vốn dĩ lầm lì còn vương mùi khói đạn, sướng gió cũng rạng rỡ cười tươi, giơ cao khẩu súng chào đáp những người thương của mình.

Họ là ai? Là những anh hùng không tên không tuổi, đã âm thầm ra đi, có kẻ chẳng bao giờ trở lại, từ đầu xuân năm trước khi những cánh mai vàng vừa hé nụ, để lao vào cơn bão lửa chiến trường Trị Thiên cùng đất nước thăng trầm.

Hôm nay thiên hạ vui ghê, có pháo nổ đì đùng! Tiếng pháo vô tình nhắc nhở tôi ngày này 23 tháng chạp đưa ông Táo về trời, khiến lòng trai chinh chiến chợt thấy nao nao.

Ngày trở về, như bao lần trước, con xóm này rộn rã. Hình ảnh ấy tôi đã quen thuộc, hình ảnh mà bề ngoài trông rất sống động mỗi khi đoàn quân trở về, nhưng trong lòng những người vợ lại khác thường, luôn trăn trở lo sợ cho chồng, đời lính, rày đây mai đó, kiếp sống phiêu linh.

“Khu Gia Binh Liên Đoàn I Biệt Động Quân” là một doanh trại lớn, tọa lạc tại xã Phú Lộc bên bờ biển Nam Ô, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, phía bắc thành phố Đà Nẵng 15 cây số. Tôi không rõ trại này thiết lập từ hồi nào, chỉ biết nơi từng xuất phát các chuyến đi oai phong, bất khuất của đoàn hùng binh Thiên Thần Mũ Nâu diệt giặc khắp Vùng I Chiến Thuật. Địa danh Phú Lộc cũng được ghi vào quân sử, vì tên đặt cho căn cứ hỏa lực tiền phương của Bộ Chỉ Huy Liên đoàn 1 Biệt Động Quân tại Động A Hai, Tà Bạt, biên giới Lào Việt, trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào 1971.

Rồi chiếc GMC chở tốp lính sau cùng vừa lọt vào bên trong hậu cứ, hai cánh cửa cổng bằng sắt vội khép lại, và không đợi lính kịp xuống xe, các loa phóng thanh trên nóc trại đã phát ra một giọng khô khan, dồn dập:

– Tập họp! Lệnh tập họp gấp!… Nhắc lại, các Đại đội 1, 2, 3, 4 và Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn, theo thứ tự trái sang phải, tập họp trước sân cờ!

Mặc dầu ở cương vị đại đội trưởng, thừa biết lệnh lạc quân đội rất bất thường, và vì nhu cầu đòi hỏi khẩn cấp từ mặt trận Sa Huỳnh, Quảng Ngãi, tôi vẫn thấy nóng mặt, thương anh em lính vô cùng. Sau năm mười phút lê thê lếch thếch, ồn ào, các đơn vị lẫn Bộ Chỉ Huy đã nghiêm chỉnh đội hình và im phăng phắc không một tiếng động, dưới bầu trời u ám, lún phún mưa phùn gió bấc miền Trung.

Thiếu tá Quách Thưởng, Tiểu đoàn trưởng, dáng người nhoû con mà to gan, đầu đội chiếc mũ đã bạc màu huyết đọng lệch qua một bên và mặc bộ chiến phục hoa rừng còn lấm đầy bụi, nhưng lại rực lên hình ảnh uy nghi một người hùng. Ông đứng thẳng nhìn xuống các hàng quân đang lặng câm, như các pho tượng gỗ, rồi dõng dạc tuy âm thanh không ngân xa giọng ông cũng đủ lấn át cả tiếng sóng gầm sau trại:

– Tôi thông báo cùng toàn thể Tiểu đoàn, lệnh hành quân chưa chấm dứt. Tất cả nghe rõ không?

– R…õ!

Sau tiếng đáp vang dội, mọi người vẫn tư thế cũ. Thiếu tá Thưởng cố giữ khuôn mặt khắc khổ của mình đanh lại để thị uy, nhưng vị sĩ quan tài hoa, gương mẫu ấy không thể nào che giấu được những nét xúc động chân tình đối với thuộc cấp đã quá gian truân. Ông ráng hét lên:

– Chúng ta về đây chỉ nghỉ tạm một đêm. Sáng mai 5 giờ, Tiểu đoàn phải tiếp tục di chuyển. Từ giờ phút này lệnh cấm quân trăm phần trăm, ai xuất trại không có giấy phép, sự vụ lệnh, sẽ bị nghiêm phạt. Sau khi tan hàng, các đại đội nhận bổ sung quân số, đạn dược và lương thực bảy ngày. Bây giờ, mời bốn đại đội trưởng lên phòng họp nhận lệnh mới. Thi hành!

Dứt lời, ông chào tổng quát rồi quay vào văn phòng BCH Tiểu đoàn. Bốn vị đại đội trưởng gồm tôi, Trung úy Trần Thy Vân, Đại đội 1, Dương Xuân, Đại đội 2, Trần Quang Giảng, Đại đội 3, và Đại úy Đỗ văn Nai, Đại đội 4, đều lặng lẽ theo sau Thiếu tá Quách Thưởng.

Ngoài sân các sĩ quan đại đội phó cùng thường vụ hô gióng hàng inh ỏi với tiếng khua động của vũ khí thành một thứ âm thanh hỗn tạp, như giận dữ, một buổi chiều mùa đông sắp tàn.

Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân trước ở Pleiku, hậu cứ đặt tại Biển Hồ, lập được nhiều chiến công khắp vùng rừng núi cao nguyên. Năm 1966, đơn vị chuyển về Đà Nẵng, hoán đổi Tiểu đoàn 11 Biệt Động Quân phạm kỷ luật vì đã yểm trợ các cuộc biểu tình liên tục của Phật giáo chống lại các thành phần lãnh đạo chính phủ quân nhân Sài Gòn. Cho dù mục tiêu tranh đấu chánh đáng nhưng quá rối ren như các tín đồ đem bàn thờ Phật xuống đường cản trở lưu thông, tạo cơ hội để Cộng Sản giật dây quấy nhiễu, khiến chiến trường miền Trung càng trở nên sôi động, ác liệt đến ngày nay.

Mặc dù đã trải qua những tháng năm quê hương đổ lửa, bể dâu đổi dời, lớp chết lớp bị thương không thể nào kể xiết, đơn vị vẫn hùng mạnh, lần lượt dưới sự chỉ huy của các tiểu đoàn trưởng tài danh: Trung tá Võ Vàng và đương nhiệm Thiếu tá Quách Thưởng. Các đại đội trưởng cũng rất nổi bật: Nguyễn văn Khá, Hồ văn Phúc, Trần Quang Giảng, Trần Thy Vân, Đỗ văn Nai, Quách Ẩn và Dương Xuân… là những tên tuổi quen thuộc của dân chúng năm tỉnh địa đầu giới tuyến.

Tiểu đoàn 21, thuộc Liên đoàn 1 Biệt Động Quân, đã được tặng thưởng biểu chương màu Tam Hợp, hạng Bảo Quốc, của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với một huy chương của Tổng Thống Hoa Kỳ, thời Richard M. Nixon -The Presidential Unit Citation- Quyết Định số 23 ban hành ngày 16-4-1969. Là một đơn vị mũ nâu, sắc áo hoa rừng, lừng lẫy, với chiến thuật tấn công như vũ bão, thần tốc, đã gây bao kinh hồn bạt vía cho keû thù qua khắp các chiến trường vang danh Pleime, Đức Cơ, Tết Mậu Thân, Quảng Trị, Hạ Lào đều long trời lở đất. Họ xuống đông đông tĩnh, rồi mai đây lên đoài đoài sẽ yên…

Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu

tranvu.free.fr

Trần Vũ

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Tôi trở về ngôi nhà của gia đình sau hơn hai mươi năm xa cách. Ngôi nhà chừng như không thay đổi mấy ở mặt tiền. Vẫn ba gian tường quét vôi trắng, điểm một vài khung cửa khép hờ, một chái bếp ở hiên sau và mảnh sân con vuông vức nơi lối ra vào. Dấu tích của thời gian chỉ ẩn hiện lờ mờ từng đốm ố trên vách tường cũ, đã ngả màu cháo lòng và loang lổ đây đó như những vệt mụt nhọt thâm sâu. Ngôi nhà vẫn giữ được màu ngói đỏ mà Thầy tôi thuê người lợp trước ngày Nhật chiếm Ðông Dương. Vẫn còn nguyên một mảnh ngói mẻ nằm ở hàng ngói thứ mười từ máng xối đếm lên. Cả lớp rêu xanh rì bám vào bờ tường chạy viền theo bên hông nhà ra đến chân hàng giậu hoa dâm bụt nơi Thầy tôi đang đứng.

_ Kìa cái Nụ về đấy à? Ði đâu mãi thế? Ðến gần Thầy xem, mắt Thầy lòa rồi không nom rõ…

Lòng tôi vụt xốn xang, bồi hồi. Cái thời khắc hồi hộp chờ đợi gặp lại người thân sau bao năm chia cách. Tôi lóng cóng đặt xắc hành lý, hấp tấp bước như chạy vào trong sân. Tôi muốn ơm choàng lấy thân thể mảnh dẻ của Thầy, nói cho người hiểu rằng tôi luôn luôn thương kính người. Nhưng ở lúc tôi xúc động nhất, Thầy tôi bình thản tự nhiên ngồi xuống tấm phản gỗ kê ở gần bên. Hai cánh tay vốn yếu của người chậm chạp lần tìm mẩu vải nhung nâu, mà từ ngày khôn lớn tôi chưa bao giờ thấy người rời ra. Người cong cánh tay xanh mướt, khẽ đỡ cặp kính thuốc xuống lau chùi. Cặp mắt Thầy tôi bỗng dại hẳn  đi khi người tháo được đôi kính. Người ngồi yên như thế ở tấm phản trước mặt tôi, tia nhìn ngây thơ như đứa trẻ, ngây dại như là người không còn trông thấy gì, kể cả tôi. Như thể cái con người vừa vồn vã chào mừng tôi trở về nhà tức thời, không phải là thầy. Thầy tôi ngồi ngơ ngác trong sân, chìm đắm vào một thế giới mà chỉ mình người biết. Người không thấy cả hòn non bộ quý mà người đặt mua tận bên Tàu, bây giờ vẫn còn đây, đã cạn nước nằm trơ trẽn phơi xác nơi cuối vườn.

Thầy tôi im lặng, lâu lâu cúi xuống mải miết với mẩu vải nhung sờn cũ. những đường chỉ sợi viền vàng thêu tên họ chữ lót của người đã tả tơi, như mảnh di vật của một thời phú túc. Người mân mê lau chùi hai tròng kiếng dầy trầy trụa, không còn nghe thấy bất cứ một âm thanh hay thứ tiếng động nào khác.

Tôi không rõ Thầy tôi lòa và yếu thần kinh đến múc độ nào, song cái hình ảnh thực tế đầy đủ từng đường nét, chi tiết cảnh Thầy ngồi thẩn thờ hàng giờ tẩn mẩn sờ mó mày mò gọng kính thuốc cong queo, tỉ mỉ xếp gấp cái khăn nhung cáu bẩn và nâng niu cây gậy chống kiểu Tây thuở xưa, cái hình ảnh bệ rạc suy nhược đó rằng cái Nụ – như người thường gọi tôi bằng cái tên tấm bé – đã ra khỏi cuộc đời người từ lâu lắm rồi.

Lúc tôi theo Mợ tôi bước vào nhà, Cố đang nằm trên sập gụ. Vẫn tủ chè Tàu kê nơi góc, vẫn bàn thờ gia tiên với một nén hương sắp tàn, và mùi hương trầm phảng phất trong không khí tịch mịch yên lặng vây lấy sập gụ. Cố vẫn nằm đó, thiêm thiếp, khò khè, như chưa hề đòi đi đâu hai mươi năm nay. Mợ tôi mở hé một tấm phên liếp cho ánh sáng rọi chiếu thêm vào gian buồng. Nghe tiếng động, thân hình Cố bỗng lúc lắc, cái đầu hình sọ rung rung muốn xoay lại. Cố cũng bị yếu thần kinh, nhưng khác với Thầy là Cố không lòa. Bàn chân tôi đột ngột chôn xuống nền đất đã gỡ mất  phần gạch lát nơi ngạch cửa, vì trời ơi – đôi mắt Cố mới tóe lửa dữ dội làm sao khi Cố xoay được đầu đăm đăm nhìn trừng về hướng tôi. Cố giương cặp mắt lớn qua khổ trên khuôn mặt xọm khô nhão nhoẹt. Ðôi con ngươi muốn vỡ ra ở hai hố mắt đầy tròng trắng, lăn tăn lia tia nhiều gân máu. Ánh mắt nhìn trắng dã mà hai mươi năm nay tôi trốn tránh, lúc này hiển hiện phừng phừng lửa giận trong gian nhà. Cố bị bán thân bất toại nên hai chân và nửa người dưới bất động, song nửa người trên với mười lóng tay co giật cào cấu, chụp bắt liên hồi vào chiếu giường như muốn dựng dậy cái xác thân đã tàn phế. Một chuỗi âm thanh không rõ tiếng, líu ríu thoát ra từ lỗ miệng móm méo. Mợ tôi đè mạnh Cố nằm xuống. Ðắp thêm chăn cho người. Bà vuốt vầng trán nhăn nheo của cái thân xác còn đang co giật như bị động kinh, thì thầm à ơi như ru con. Ðứng ở bậc cửa, tôi thu tiếp trọn vẹn vùng ánh sáng của nắng vàng hoe, loe từ phên cửa, lờ mờ lớp bụi giăng giăng theo từng chập. Mợ tôi phe phẩy quạt mây. Bà dấp dấp khăn ướt đắp lên mặt Cố, chăm sóc cho cụ bằng những động tác nhẫn nại đến điên người. Không gian đặc quánh quanh cái sập gụ của Cố bằng gỗ cẩm lai. Thời gian ngừng hẳn ở bát nước vối Mợ tôi đút từng thìa nhỏ vào giữa cặp môi nhăn nhúm. Phải lâu lắm Cố mới húp hết bát nước vối. Chờ đến khi Cố nằm yên thiu thiu ngủ, bà mới đứng lên.

_ Chị đừng có chọc Cố, để yên cho cụ ngủ. Cụ bị liệt không đi đứng được nên thường hay lên cơn uất. Thôi chị vào buồng trong thay áo, để tôi làm việc. Tỵ nữa họ hàng có ghé, tôi sẽ bảo chị ra chào.

Mợ chỉ chuyện trò với tôi ngần ấy. Không có đến một lời thăm hỏi. Hai mươi năm mà bà không hề thay đổi. Vẫn ngần ấy dáng vẻ, từng ấy cử chỉ cứng rắn cùng lời nói không khi nào biểu lộ tình thương. Giống Thầy tôi, bà không mấy vồn vã khi hay tin tôi về thăm nhà. Tôi rỡ hành lý, lẳng lặng đem cất vào buồng trong, và cẩn thận tránh đi ngang giường cụ Cố. Buổi chiều, con đường Quan Thánh lặng lẽ như tờ. Một vài phiến lá bay rơi lao xao, xào xạc, vô hồn…

Ðêm đầu tiên ở trong ngôi nhà mình đã sống qua thời hoa niên cách đây hai mươi năm tôi không sao chợp mắt được. Tôi thao thức hết nhìn gian buồng nhỏ đơn sơ, một kệ tủ đóng bụi mờ, một cánh riềm cửa phập phồng tung bay lên xuống ở đầu nằm, rồi lại nhìn ngắm hàng cây trầu bà giồng ngoài ô cửa sổ trông ra phía Văn Miếu. Tâm thần tôi cũng phập phồng kỳ lạ, nửa tỉnh táo nghe tiếng ngáy khò khè của Cố ở buồng bên, nửa đuối vào vùng tâm thức của cảnh trí cũ. Tiếng gió đưa những chiếc lá bàng khua rời rạc trên mặt đường như tiếng cánh cửa tâm linh ở trong tôi chợt mở, chợt khép kẽo kẹt lần lữa dằng co với thực tại và quá khứ. Gian buồng tôi ở giữa, hai bên là buồng của Thầy Mợ tôi và cụ Cố. Tôi như bị vây lấy bởi tiếng thở đều đều của những người thân thuộc. Nửa đâêm có tiếng mớ của Thầy tôi mê sảng từng chập rồi tắt lịm vào bóng trăng đong đưa chơi vơi giữa hai tàu lá. Không gian lại chìm vào trong cái khuya khoắt của đêm Hà Nội u trầm tịch lặng. Không phải cái yên lặng thanh bình của Hà Nội thời tiền chiến, mà là cái không khí trừ tịch, cô quạnh vắng vẻ, đìu hiu của vũ trụ đã có từ ngàn năm trước. Có một thoáng tôi lờ mờ tuởng mình trông thấy những bóng người đi khuya về ngang Văn Miến, tuởng nghe được tiếng chuyện trò của họ lúc rõ lúc câm, tôi rùng mình đến mấy lần vì vẻ lạnh lẽo, toát ra từ ánh trăng tròn mọc cao vút. Ðúng lúc đó tôi nghe được rõ ràng những tiếng động sệt sệt sau gian bếp.

Tôi gặp Nhài lần đầu tiên buổi tối ấy. Lúc tôi xuống bếp, Nhài đang vần những bao than lớn mở trút vào bồ. Thứ tiếng động nặng sền sệt mà tôi nghe khi nãy, là tiếng động của mấy bao tải than mà Nhài kéo lê từ sân sau vào bếp. Nhài còn trẻ lắm, chỉ vào độ đôi tám. Trông thấy tôi, Nhài nở nụ cười cầu thân, tươi cười như thể tôi và Nhài đã quen biết nhau từ trước. Song, ở dáng vẻ tự nhiên không kiểu cọ, vừa rỡ than vừa mời tôi bát nước vối, vừa kể chuyện của Nhài làm tôi có cảm tình với Nhài ngay. Chái bếp khuya, tù mù khói bay tỏa bốc tự đám than hồng Nhài vừa nhóm để nấu xôi. Hai cánh tay Nhài thoăn thoắt, khều tro lửa, giở nắp nồi xem xôi, tước củi nhỏ, sàng gạo ăn cho vào lu, vừa sửa lại búi tóc mỗi khi trễ xuống gáy. Nhài không đẹp lắm, không có nét thanh lịch của thiếu nữ Hà Nội, đôi bàn tay hơi thô vì làm việc nặng, ngực vú đầy căng so với lứa tuổi dậy thì. Nhưng bù lại Nhài có khuôn mặt duyên dáng, nụ cười tươi hàm tiếu, ánh mắt sắc lẻm đưa tình và thân hình đầy đặn. Nhài còn có giọng nói truyền cảm, dù có hơi sắc ở những thanh cao.

_ Có chị làm bạn, em mừng quá. Cả ngày giời đụt mưa nắng, tối về quần quật sau chái bếp, em đến mà chết mất!

_ Nhài đi đâu cả ngày, mình về nhà từ buổi trưa mà không gặp?

_ Ra chợ Ðồng Xuân chứ đi đâu! Ðáng nhẽ đã về sớm kia, tại cái nhà anh Ðoàn dớ dẩn!

_ Chắc Nhài thích đi chơi lắm nhỉ? Có hay dạo phố ở hàng Ðào không?

_ Ấy, đi gánh than ấy chứ! Chơi gì!

Nhài bĩu môi trả lời, hai bắp tay vẫn thoăn thoắt xúc than cho vào bồ. Búi tóc con gái đong đưa từng chặp mỗi lúc Nhài xoay mình với cái này, lấy cái nọ. Nhìn những bao tải than trong lúc ở Hà Nội “gạo châu, củi quế”, tôi mừng cho Thầy Mợ tôi hãy còn phong lưu khá giả, chưa đến nỗi phải đun củi như nhiều gia đình khác.

_ Sao mua được than nhiều thế? Mình tưởng ngoài này hiếm lắm chứ?

Nghe tôi hỏi, Nhài quay lại ngó chăm chăm vào mặt tôi rất ngạc nhiên.

_ Than đá ấy à?

_ Ừ, chứ không phải mua theo phiếu ở cửa hàng cung cấp chất đốt à?

_ Tem phiếu gì, ngoài chợ ấy ra mua mà vác về! Tháng nào mà em chẳng đi gánh về cho Mợ.

Nói rồi Nhài vui vẻ đi ngâm nếp, bảo để thổi cơm rượu ngày mai cho Cố. Nhài về ở với Thầy Mợ tôi mười mấy năm rồi. Giọng kể của Nhài đều đều gần như độc thoại.

_ Bố đẻ em mất sớm. Bu em lấy chồng khác. Thầy Mợ nhận em về làm con nuôi vì khi ấy chị vào Nam rồi nhà cửa cô quạnh quá.

Ngồi sau lưng Nhài, tôi trông rõ những giọt mồ hôi ẩm lấm tấm bám vào ngấn cổ trắng ngần của Nhài, rồi chảy lăn xuống lưng áo. Hơi nóng tỏa ở ngọn lửa than làm cho chái bếp nóng rực. Làn vải nội hóa mỏng dán sát vào da thịt Nhài phô bày tấm lưng chắc khỏe. Lâu lâu Nhài lơi tay việc, quay nhìn tôi cười khoe hàm răng hột bắp nhỏ đều. Thỉnh thoảng Nhài vuốt lại lọn tóc kẹp không kỹ, buông lẳng lơ trước trán. Ðêm trong ngôi nhà sau lưng Văn Miếu khuya vắng, tịch mịch, chỉ có tiếng lửa than tịch tạch từng lúc, và tiếng kể chuyện của Nhài thì thầm đôi lúc lanh lảnh lên giọng. Nhài kể về ngôi nhà nhiều khí âm của Thầy Mợ tôi, về những cơn điên loạn bất chợt của cụ Cố, về bệnh đãng trí mất hồn của Thầy, và về tánh tình mỗi ngày một lãnh đạm của Mợ. Nhài cũng nhắc về Ðoàn, gã thanh niên theo đuổi Nhài, thường hay tìm cớ đụng chạm vào tay chân, ngực Nhài.

_ Mà lạ lắm chị Nụ, em cũng thích để cho cái nhà anh Ðoàn rờ rẫm…

Khi nói câu ấy Nhài tránh nhìn mắt tôi, mặt hơi nghiêng về bếp lửa. Những ngọn lửa than hồng cháy rạo rực trong mắt Nhài lúc đó. Mười ngón tay Nhài mân mê đôi đũa bếp, di di trên mặt đất phẳng phiu vẽ những hình vật vô hình. Hai chúng tôi chuyện trò khuya lắm, đến khi Nhài làm xong hết việc, cả hai mới trở lên nhà. Căn buồng của tôi cũng là căn buồng của Nhài. Lúc thổi tắt ngọn đèn dầu tờ mờ, Nhài cười khúc khích tỏ ý muốn ngủ chung với tôi. Gian buồng chỉ có một chiếc giường tre mỏng manh, tôi lại không nở để Nhài nằm đất, dầu sao đây cũng là buồng của Nhài từ sau khi tôi bỏ nhà đi. Trong giấc ngủ dầy đặc bóng mây đen của quá khứ, tôi mường tượng một bàn tay Nhài luồn vào trong áo mình, từng làn hơi thở của Nhài phà vào cổ tôi. Những cơn trăn trở khiến thân thể của Nhài chạm vào mặt, vào ngực, vào bụng tôi, và tiếng phên cửa kẽo kẹt cùng ánh bạch lạp thắp suốt đêm bên buồng cụ Cố.

Khi tôi tỉnh giấc, phên cửa đã thôi kẽo kẹt. Ánh bạch lạp cũng đã tắt. Chỉ có tiếng một vòng bánh xe đạp mệt nhọc, đang rướn mình trên con dốc trước nhà. Tiếng động phọc phạch của một túi đồ nào đó buộc không kỹ trên yên xe, len lỏi được vào nhà, không đủ phá tàn bầu không khí vây trùm yên lặng. Khung cửa sổ hâm hấp nắng trưa, rọi vào chỗ nằm làm tôi nặng đầu váng vất. Nhài đã ra khỏi buồng từ khi nào. Bộ áo cánh khi đêm Nhài mặc, treo ở cánh cửa tủ đong đưa, phất phơ… Tôi nằm bất động trên giường, thân thể nặng nề như vừa qua cơn bóng đè. Mãi tôi mới ngồi dậy được và bước xuống nhà dưới rửa mặt.

Lúc tôi chải đầu xong trở lên nhà trên, Cố vẫn còn nằm thiêm thiếp nơi sập gụ. Tiếng thở khò khè vang lên từng chập, gần như rên rỉ. Thầy tôi đã ra ngồi ngoài sân, nơi tấm phản kê gần dậu hoa dâm bụt. Hai cánh tay người yếu ớt lau chùi tròng kính, như cố gắng tuyệt vọng sau cùng muốn tìm lại sư tinh anh cho đôi mắt. Thầy không hề trông thấy tôi. Dưới màu nắng lấp lánh, cảnh tượng của ngày hôm qua hiện ra trở lại, với ngần ấy cử chỉ, động tác của người. Tia mắt người còn nguyên sự ngây dại, ở đôi môi run rẩy lâu lâu lắp bắp một câu nói tỉnh táo… của cách đây mấy mươi năm về trước.

_ Anh Phú đâu rồi? Ðánh xe đi rước cụ Phan sang chơi tổ tôm xem nào!

_ Không có nhà à? Thôi được rồi cất xe đi…

Cứ như thế, từng lúc bất chợt người to tiếng hầu chuyện một mình, rồi bỗng nhiên ngừng bặt rơi vào một vùng yên lặng sâu thẳm. Tôi đứng chôn chân trên bậc tam cấp, chứng kiến hình ảnh tiều tụy của người cho đến lúc Mợ tôi từ phiên chợ sớm về. Bà ném cho tôi cái nhìn không mấy yêu thương, lẳng lặng đến bên Thầy lùa mười ngón tay gầy guộc vào trong mái tóc đã bạc trắng của người, săm soi nhổ từng sợi tóc ngứa. Bà âu yếm vuốt vai Thầy, phủi dăm hạt bụi dính vu vơ trước khi rời ra để vào hẳn nhà trong chăm sóc cho cụ Cố. Tôi vẫn đứng đó, thấy mình thừa thãi, muốn phụ giúp bà nhưng không dám. Có một phiến chắn vô hình, kinh khủng giữa tôi và bà, khiến tôi không thể mở lời làm bất cứ điều gì trước khi bà lên tiếng. Cũng như hôm qua, tôi đứng nhìn bà bồng Cố xuống sập gụ, cho đi tiêu đi tiểu, lau mình mẫy Cố rồi cho ăn uống. Ngần ấy công việc làm xong thì trời đã quá trưa. Mợ tôi xuống bếp hâm thức ăn, những món mà Nhài đã làm sẵn hồi tối.

_ Thầy Mợ xơi cơm…

_ Không dám, mời chị.

Mợ tôi lạnh lùng cầm đôi đũa, gắp bỏ từng cọng rau muống vào bát của Thầy, chan thêm ít canh cua. Thầy lặng lẽ ăn, ngơ ngác vô hồn như một con đười ươi được tập luyện thuần thục.

Buổi chiều, tôi đi làm giấy cư trú tạm thời trở về thì gặp cô chú tôi đến thăm. Ði cùng với cô chú còn có một vài người quen của Thầy Mợ tôi, nghe tin tôi về Bắc, đến chào hỏi.

Tối ấy, tôi lại mất ngủ. Bao nhiêu tiếng động, hình ảnh của đêm qua trở về trên cái nếp màn cửa rung hờ, thả ánh trăng soi chập chờn lên trần nhà mờ đục. Tôi nằm im thao thức nghe tiếng mớ của Thầy tôi mê sảng, hòa điệu vào tiếng thở khò khè của cụ Cố chỉ còn là một thân xác gần kề miệng lỗ. Ðến khi nghe tiếng lục đục quen thuộc ở gian bếp, tôi trở dậy bước xuống nhà dưới thì gặp Nhài.

_ Ði đâu cả ngày nay không về?

_ Ra chợ, buôn cau cho Mộ, rồi lên ga hàng Cỏ đón người quen.

_ Ai thế?

_ Nhà anh Phú chứ ai vào! Gớm cái nhà anh này mới từ miền cao về đã táy máy…!

_ Này quen ai mà ở tận miền cao?

_ Không, trước anh Phú ở Hà Nội, phồ hàng Bưồm ấy chứ! Nhưng từ hồi anh ấy vào khu, họ bắt đi công tác ở miền cao.

_ Mấy chục năm rồi mà vẫn vậy cơ à?

Tôi ngạc nhiên hỏi Nhài, không ngờ từ ngày kháng chiến đánh Tây đến bây giờ ở ngoài này vẫn không thay đổi mấy. Nhưng điều lạ lùng là Nhài ngạc nhiên còn hơn cả tôi. Nhài tròn xoe mắt nhìn tôi không hiểu.

_ Làm gì mà mười mấy năm, chỉ mới gần đây thôi mà.

Nhài trả lời rồi không chú ý đến câu chuyện nữa, trút cau từ trong thúng ra đất, lựa năm trái một buộc túm vào nhau. Tôi phụ Nhài xếp những lá trầu và rỡ vôi tán mỏng gói lại từng túm nhỏ. Nhài bảo để mai gánh ra chợ bán.

_ Này gặp Phú nói chuyện gì mà lắm thế, mãi giờ này mới về. Kể mình nghe xem nào.

Vừa nghe tôi hỏi, Nhài đỏ mặt, cả hai đôi má ửng hồng và vụt lính quýnh. Nhài như muốn lảng chuyện bằng cách cho thêm than vào bếp lửa nước sôi. Tối nay Nhài thắt bím, hai bím tóc lẳng lo đùa giỡn trước ngọn lửa bếp. Nhài quỳ gối làm việc, nhưng rồi không giữ được tâm tình mình, Nhài tâm sự bằng giọng Bắc quê hơi đỏng đảnh pha tiếng cười khúc khích.

_ Chị Nụ! Chị đừng khai với Thầy Mợ nhé, em có người yêu rồi.   

Nhài ngừng một chút, dôi mắt long lanh rồi tiếp. Không phải cái anh nhà Ðoàn đâu, ấm ớ dớ dẩn lắm. Phú đấy! Hồi chiều chúng em gửi gánh rau ở nhà ga, đi dạo phố. Phú thuê xe kéo đưa em đi dạo hồ Tây thích quá chị Nụ ạ. Mà này chị Nụ, sao đàn ông con giai họ hay thích nắm tay, vuốt lưng mình thế chị Nụ nhỉ?

_ Chỉ nắm tay thôi mà mãi tối mịt mới về cơ à?

Tôi hỏi lại Nhài, chỉ để đùa chơi. Nào ngờ vẻ mặt Nhài thay đổi, nghiêm trọng hẳn. Ðôi má Nhài thêm đỏ hây hẩy ngọn lửa than.

_ Chị Nụ! Chị đã hôn ai chưa?

Nhài nhìn sững mặt tôi không chớp mắt. Lúc đó tôi mới biết cuộc tình đối với Nhài trầm trọng hơn tôi tưởng vì là mối tình đầu. Nhài ngó tôi bằng cặp mắt dễ sợ của một thiếu nữ sẵn sàng chết sống vì tình. Cái cõi sống cũng như chết mà Nhài dám tiến đến vì đã trao thân cho Phú.

Cánh cửa gian bếp bỗng xịch mở. Một bóng người đàn ông lao vào, giọng khản đục hét quá to trở thành chuỗi âm thanh võ rìn rịt.

_ Mày đi đâu cả ngày giời hôm nay, con khốn nạn?! Mày theo giai đấy phỏng?!

Thầy tôi bất ngờ xuất hiện, tát trái vào giữa mặt Nhài. Cây gậy chống kiểu Tây mà người nâng niu thường khi quất vùn vụt xuống người Nhài vừa ngã chúi xuống nền đất. Diễn biến nhanh đến nỗi tôi không kịp có phản ứng, và Nhài thì nằm co quắp giữa gian bếp chịu trận. Hai cánh tay, Thầy toi mới ban sáng còn yếu ớt, bây giờ mạnh mẽ khác thường, lên xuống vùn vụt quất tới tấp vào người Nhài.

_ Ối, con lạy Thầy!

_ Con khốn nạn, con đĩ rạc! Mày muốn làm nhục tao hay sao mà còn gọi tao bằng Thầy.

_ Ối, Thầy ơi! Con van Thầy, trăm lạy Thầy.

Thầy tôi như không nghe thấy tiếng kêu van của Nhài, người lồng lên vun vút cây gậy không ngừng tay vào người Nhài. Tôi thu rút người trong góc bếp, tê cứng rũ liệt vì sợ hãi. Tôi muốn lăn vào chịu đòn thay cho Nhài, muốn can Thầy tôi ra, nhưng chân tay dính chặt vào mặt đất. Trong đầu tôi có cái ý nghĩ kỳ lạ là Thầy tôi mạnh kinh khủng, khác thường ngày nhiều lắm và Thầy dường như không để ý nhận thấy sự có mặt của tôi nơi xó bếp. Phải, đêm đó Thầy tôi mạnh lắm, dẫu tôi có xông vào cũng không ngăn nổi người. Hai cánh tay người tiếp tục quất xối xả xuống tấm thân bầm dập tóe máu của Nhài, và tôi như một kẻ vô hình co rút trong góc bếp chứng kiến một cảnh tượng ghê gớm mà không thể can thiệp. Thầy tôi đêm ấy không đeo kính, nhưng đôi mắt người không có vẻ điên dại, chỉ đỏ ngầu vì tức giận. Ðến khi người bỏ lên nhà trên rồi thì Nhài hãy còn nằm co quắp, run lẩy bẩy. Tôi ôm cứng lấy Nhài và cùng khóc thút thít theo từng tiếng khóc uất nghẹn của Nhài.

Sau đó tôi đỡ Nhài dậy, dìu lên buồng, thay quần áo cho Nhài. Hai chúng tôi ôm nhau ngủ trên chiếc giường nan tre của Nhài, mà cũng là chiếc giường của tôi ngày xưa. Nhài khóc tấm tức suốt đêm, tiếng khóc ứa ra tù những vết thương bật máu. “Em chết mất chị Nụ ơi… đừng bỏ em, Phú ơi, anh ơi…”. Tiếng khóc tấm tức của Nhài nhỏ dần, nhưng thân thể lằn roi vẫn oằn oại, dẫy dụa. Tôi thiếp vào giấc ngủ rã rời, bải hoải cùng với tấm thân thương tích đó. Hình như tôi đã mê đi với những vệt roi lằn đỏ, bầm tím, ăn sâu vào lưng Nhài. Ti ôm cứng lấy thân thể Nhài để tưởng là thân mình biết đau đớn. Ðôi tay tôi hay đôi tay Nhài lần xoa nắn làm dịu vết đau của cả hai. Tôi chỉ nhớ trong trạng thái nửa thức nửa mê, đã ôm vòng lấy trọn vẹn và chạm vào từng vết roi trên da thịt Nhài hâm hấp nóng.

Tôi thức dậy, tấm chăn đay hất trễ duới đùi, phô bày một thân thể Nhài say ngủ mê man gần nhu chết rồi. Trong giây phút thức giấc đầu tiên, ý nghĩ đến với tôi trước tiên là Nhài chỉ là một hình ảnh bất động, được ghi nhận ăn sâu vào tiềm thức và còn ở lại trên mặt giuờng. Nhưng Nhài vẫn nằm ở đó, cạnh tôi, say ngủ bằn bặt. Ðôi mắt Nhài khép hờ, bộ ngực rướn lên theo làn hơi thở và đầu gói khẽ co về trước bụng. Phải mất nhiều phút tôi mới bình tâm và nhớ lại tất cả những gì đã xảy ra. Tôi bước ra gian buồng khách, đang chìm mờ trong thứ ánh sáng ngày xao xác. Ngôi nhà vẫn chìm trong cái không gian thênh vắng, tẻ lặng, không một tiếng động mạnh và không có lấy một chút sinh khí. Tôi muốn nói chuyện với Mợ tôi về Nhài, muốn nói với bàrằng Nhài đã lớn và tình trạng này không thể kéo dài. Tôi cũng muốn hỏi Mợ tôi về thái độ kỳ quặc khác thường của Thầy đêm qua, nhưng ngôi nhà hoàn toàn im vắng. Mợ tôi đã đi đau mất biệt từ sớm, chỉ còn Cố nằm chờ chết nơi sập gụ. Thầy tôi thì vẫn ngồi ở ngoài sân mân mê gọng kính thuốc, như thể cái người đàn ông hung dữ đánh đập Nhài đêm qua không phải là người. Cố vẫn thở khò khè và Thầy tôi chốc chốc lại ném vào nhà tia nhìn ngây dại vô hồ của người. Tôi tự hỏi làm sao Mợ tôi có thể sống trong ngôi nhà này với hai người đàn ông điên loạn bất bình thường. Một nặng một nhẹ, một tàn phế thể xác, một tàn phế trí tuệ. Tôi đến thắp nén nhang đầu tiên từ khi về Hà Nội, trên bàn thờ tổ. Những bức hình của Nội, của Cố bà, của tất cả những người đã chết trong gia tộc nhìn tôi chầm chầm. Tôi chỉ giật mình thoát ra khỏi những tia nhìn rờn rợn ấy khi nghe tiếng gọi của Nhài.

_ Chị Nụ ơi, em quyết định thoát ly thôi…

Nhài thập thò ở cửa gian buồng khách, cầm nơi tay một bọc gói nhỏ. Bước chân Nhài chần chừ chưa dám bước qua chỗ cụ Cố. Nhài nhìn tôi bằng ánh mắt van lơn sầu héo.

_ Em đi chị Nụ ạ, ở đây Thầy đánh em chết mất. Chị lạy Thầy Mợ hộ em, chị Nụ… Em đội ơn Nụ…

Nhài vùng vằng gỡ tay tôi, sau tiếng nấc xăm xăm tiến ra cửa. Ánh sáng ngày đón Nhài ở bàn thờ tổ, men dần trên nền lát đá hoa và dừng lại ở chỗ cụ Cố. Vì khi ấy… trời ơi khi ấy, Cố bật dậy từ sập gụ hai tay bấu vào người Nhài. Ðôi tròng mắt trắng dã trong hai hố mắt đỏ lăn tăn tia máu hôm nào tôi về nhà phóng thẳng giữ rịt lấy người Nhài. Chuỗi âm thanh líu ríu, gãy vụn từng mảnh the thé vây lấy Nhài. Cả nửa thân hình trên của Cố ngồi dựng dậy như muốn đứng thẳng người, trong lúc mười móng tay dài cào cấu vào mặt Nhài. Cái cảnh tượng khủng khiếp đó đóng dính tôi tại chỗ. Tôi cảm giác rõ ràng như đêm qua rằng mình ở ngoài cảnh tượng ấy, không thể can thiệp, không thể đến gần dằng lấy Nhài trong tay Cố. Rõ ràng là Nhài và Cố ở gần tôi nhưng rất xa, diễn biến trước mắt nhưng tôi bất lực không thể ngăn cản. Thầy tôi bước vào đúng lúc ấy. Tôi nghe mình gọi tên người, van xin người giúp đỡ. Nhưng như tối hôm qua Thầy tôi hoàn toàn không trông thấy tôi, hươi cây gậy chống quất tới tấp, xối xảvào mặt mũi lưng mình Nhài. Họ chỉ ngưng tay khi Nhài đã ngất lịm trên mặt đất. Vẫn tôi là người bồng ẳm Nhài vào buồng trong. Vẫn tôi là người lấy khăn ướt lau mặt cho Nhài và dỗ dành an ủi, khóc với Nhài.

Những ngày sau đó Nhài bị nhốt trong buồng không được phép ra ngoài. Giữa những cơn khóc lóc vật vã, Nhài tỉnh táo nói bằng cặp mắt đầy căm phẫn, oán hận.

_ Nụ ơi, em không thể sống xa Phú. Rồi em sẽ trả thù! Cướp chính quyền rồi chúng nó sẽ biết! Phú sẽ không tha đứa nào!

Những lúc ấy tôi cảm tưởng rằng Nhài đã điên loạn. Bị đánh nhiều quá, Nhài đã mất đi sự sáng suốt của một người bình thường.

_ Nhài ngủ đi, đừng nói nhả. Cá không ăn muối cá ươn. Thầy Cố thương mới đánh.

_ Thương gì! Chúng xem em như con ở nhà này. Ðể rồi Nụ xem, cướp chính quyền nay mai thôi!

_ Cướp gì? Chính quyền nào? Nhài lại lảm nhảm nữa rồi. Con gái lớn phải lo việc nhà, có ai xem Nhài là tôi tớ đâu.

_ Trời ơi! Cả nước sôi sục dành độc lập mà Nụ không hay! Trời ơi, sao em khổ thế này, cả Nụ cũng không hiểu. Ðể rồi Nụ xem, em thề với Nụ là em sẽ đấu tố bọn họ đến dở sống dở chết…!

Mắt Nhài long lên, nhìn tôi dễ sợ lúc ấy. Sự hận thù của đứa con gái mới biết đến yêu lần đầu bị tước đoạt tình yêu và nhục dục sinh lý. Nhưng Nhài cũng không gào la, phẫn nỗ được lâu. Thầy tôi thường xuất hiện ở ngưỡng cửa với cây gậy chống vụt xối xả vào người Nhài. Nhiều lúc Cố cũng bước vào phòng tiếp tay Thầy đánh phạt Nhài. Những khi đó, Cố không có vẻ gì là bán thân bất toại, lẩm bẩm chửi rủa bằng thứ ngôn ngữ của cách đây ba mươi năm về trước. Cả Thầy và Cố đều tảng lờ không công nhận sự hiện diện của tôi bên Nhài. Cả hai tỉnh táo và bình thường đến độ tôi có cảm tưởng là họ giả điên, giả liệt để lừa dối Mợ tôi. Vì mỗi khi bà có mặt ở nhà, cả hai lại trở về cái tình trạng mất trí, ngây dại va tàn phế thường nhật. Mợ tôi làm như không hay biết chuyện của Nhài, ra vào làm công chuyện nhà như không có gì xảy ra. Mỗi lần Mợ tôi có ở nhà là Thầy lại trở ra ngồi ở tấm phản con kê ngoài sân, im lìm mải mê lau chùi gọng kính. Người thẫn thờ với nụ cười trẻ thơ vô tội. Và Cố cũng trở thành tấm thân tàn phế, nhão nhoẹt đang tan vữa vì bị thời gian ăn nhấm đến tủy.

Khoảng thời gian trở về sống trong ngôi nhà của gia đình sau lưng Văn Miếu, tôi cũng trở thành gần như yếu thần kinh, mang bệnh tâm thần, vì phải chứng kiến cuộc đời ẩn ức của Nhài. Nhiều lần tôi muốn bảo Mợ tôi rằng bà đang bị Thầy và Cố lừa dối, song cái ý chí muốn nói lên sự thật của tôi luôn bị ánh mắt lạnh như băng của bà chặn lại. Tôi chạm mặt bà luôn với mặc cảm trốn tránh, không làm tròn bổn phận, chưa trả hết nợ cho Nhài. Tuy thế, tôi biết rõ chỉ có mỗi mình bà, người tỉnh duy nhất trong ngôi nhà này là có thể cứu vớt được Nhài. Một buổi sáng, thu hết can đảm, lợi dụng lúc Thầy và Cố chưa thức, tôi kể chuyện Nhài cho Mợ nghe. Bà ngó tôi đăm đăm khi tôi yêu cầu bà phải thương yêu Nhài, đừng lãnh đạm lạnh nhạt với Nhài nữa. Ðôi mắt Mợ tôi lạnh sắt, chằm bẳm đến lạ lùng.

_ Chị vào thăm gia đình này như thế là đủ rồi. Liệu thu xếp mà trở ra ngoài ấy, đừng về đây làm gì

Bà xua đuổi tôi bất ngờ, không đả động gì đến chuyện của Nhài. Tôi chợt thấy mình run rẩy bám víu vào sợi dây máu mủ tình mẫu tử đang muốn đứt lìa.

_ Con lạy Mợ, cho con về sống với Thầy Mợ. Anh ấy đã bỏ con rồi, con không biết đi đâu bây giờ. Mợ cho phép con ở nhà này hầu Thầy Cố. Trăm lạy Mợ thương con gái Mợ!

_ Tôi không có con gái, nên nhận lầm đứa con nuôi phản phúc! Bộ chị tưởng tôi quên những bất hạnh chị đem đến cho gia đình này à? Tôi làm sao quên chị đã tố khổ gia đình này, đã xui người tra tấn cụ Cố đến tê liệt nửa thân người, đã tra điện chồng tôi đến mất trí?!

Cũng như lần thoái ly đầu tiên, tôi rời Hà Nội có một thân một mình. Phải tôi chính là con Nhài bỏ nhà trốn theo trai rồi gia nhập Việt Minh trở về cướp chính quyền, đấu tố Thầy và Cố nuôi tôi đến dở sống dở chết, như lời thề độc sau lần phải đòn vì ngủ với Phú. Nhưng Phú cũng đã bỏ rơi tôi sau khi giải phóng miền Nam. Chỉ còn ngôi nhà nằm sau lưng Văn Miếu luôn ở đó, đời đời như một vết nhơ.

12-1987

© Copyright Trần Vũ

Nụ hôn xã nghĩa

baotreonline.com

Ian Bùi

December 28th, 2019

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Từ xa xưa nhiều dân tộc đã có tập tục hôn trên má như một hình thức chào hỏi, đặc biệt là các xứ vùng Đông Âu, Trung Âu, Trung Đông, Nam Phi… Ngoài việc biểu hiện tình thân, tình bạn hay tình gia đình, nó còn được dùng để tỏ sự kính trọng.

Biếm họa ở Hongkong vẽ cảnh Carrie Lam hôn Tập Cận Bình. nguồn: thestandard.com.hk    

Thường thì tục hôn má không phân biệt nam nữ hay tuổi tác, nhưng cũng có vài nơi đàn ông không hôn má nhau, chỉ có đàn ông với đàn bà hay đàn bà với nhau mà thôi. Cách hôn má cũng có nhiều kiểu. Nơi thì hai người áp má vào nhau hai lần (mỗi bên một lần), có khi ba lần; nơi thì dùng môi hôn lên má người đối diện, hai lần hoặc ba lần. Ðối với người Việt mình thì phong tục này hơi lạ. Không quen có thể bị ngượng, nhưng quen rồi sẽ thấy nó dễ tạo sự thân mật và đồng cảm giữa người với người.

Ở những nước Ðông Âu ít có chuyện đàn ông hôn má nhau. Nhưng khi phong trào cộng sản rộ lên vào đầu thế kỷ 20, hôn má được các tay lãnh đạo những nước cộng sản dùng mỗi khi thăm viếng. Thời đó việc đi lại khó khăn, mất nhiều thời gian, nên mỗi khi gặp được nhau họ thường có những cái ôm chí cốt, tiếp theo bằng ba cái hôn trên má. Và có lẽ để tỏ tình đồng chí, ai đó đã thay hôn má bằng hôn môi. Riết rồi nó trở thành một tục lệ cũng như một mật hiệu giữa người cộng sản khắp thế giới. Lãnh tụ các nước cộng sản đàn em, mỗi khi được gặp đàn anh Liên Xô đều được tặng cho một nụ hôn xã nghĩa là do vậy.

Brezhnev hôn Honecker trên bức tường Bá Linh, bên phía Tây Đức, nguồn: internet

Ngoài ra, độ “nồng nhiệt” của nụ hôn cũng quan trọng. Nó là chỉ dấu cho biết mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước đang ở mức nào. Vì vậy trong thời Chiến Tranh Lạnh giới quan sát chính trị phương Tây thường mổ xẻ những nụ hôn tại điện Kremlin để phỏng đoán tình hình giữa các nước cộng sản. Chẳng hạn như vào thời điểm Nga-Tàu bất đồng (1956-1966) lãnh đạo Trung Quốc khi sang Liên Xô đều nhất định không ôm hôn các đồng chí Mác-Lê. Nhưng nói chung thì nụ hôn xã nghĩa đã trở thành một thông lệ bất thành văn trong các cuộc viếng thăm chính thức cấp quốc gia tại các nước cộng sản hoặc thân cộng.

Riêng tại các nước Á Châu, việc đàn ông hôn môi nhau không … ô kê cho lắm, thành thử người Á Cộng ít khi dùng hình thức chào hỏi đó với nhau mà chỉ dành cho những dịp gặp gỡ các lãnh đạo phương Tây. Tuy vậy đôi khi ta cũng bắt gặp vài trường hợp ngoại lệ, như Hồ Chí Minh chẳng hạn. Không hiểu vì lý do gì cụ nhà ta rất khoái hôn môi, bất luận nam phụ lão ấu. Thậm chí trong loạt ảnh của một nữ phóng viên nổi tiếng của báo Life Magazine, Hồ Chí Minh còn được tặng cho danh hiệu “The Kissingest Communist” – người cộng sản hôn dữ nhất. Cũng thêm một cái “nhất” để nhân dân ta tự hào chứ đâu phải đùa!

Trang báo LIFE với tựa đề “Người Cộng Sản Hôn Dữ Nhất” hình của nhiếp ảnh gia Lisa Larsen. nguồn: internet

Hồi Bá Linh còn bị phân chia, mặt Tây Ðức của bức tường được dân chúng sơn graffiti lên đủ kiểu. Trong đó có một bức vẽ cảnh chủ tịch Ðông Ðức Honecker hôn môi chủ tịch Liên Xô Brezhnev. Có thể nói đây là một bức biếm hoạ cực kỳ xúc tích, bởi nó lột tả được hết sự quái gở của một chủ nghĩa quái thai, vẽ trên một vật thể vô cùng quái đản là một bức tường có rào gai và lính gác, sẵn sàng nã đạn vào bất cứ ai muốn trốn. Ba mươi năm sau khi bức tường ô nhục ấy được phá sập, hình ảnh đó lại tái xuất hiện trong một khung cảnh mới: Hongkong.

Nhưng lần này Brezhnev được thay thế bằng Tập Cận Bình – chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc; Honecker thay bằng bà Carrie Lam, người cầm đầu chính phủ bù nhìn ở Hongkong. Gọi là bù nhìn vì dàn lãnh đạo của Hongkong tuy được dân chúng bầu lên, nhưng thực chất họ đều phải được Bắc Kinh chấp thuận. Cái màn “đảng cử dân bầu” này chính là điều làm cho người Hongkong bất mãn, khởi động làn sóng Dù Vàng cách đây 5 năm và dẫn đến những cuộc xung đột mới nhất từ 6 tháng qua do sinh viên học sinh cầm đầu.

TBT Nguyễn Phú Trọng chống đỡ cú hôn nồng “nặc” của Phó Thủ Tướng TQ Trương Cao Ly, 2015. nguồn: twitter

Xét về mặt lịch sử, Hongkong và Kowloon là đất của Anh. Sau cuộc chiến tranh Á Phiện lần thứ nhất, nhà Thanh đã phải nhượng cho Anh Quốc hai phần đất này. Ngoài ra, Anh còn thuê 99 năm vùng đất New Territories (Tân Giới), từ 1898 đến 1997. Trước khi giao trả Tân Giới, chính phủ Anh dưới thời nữ thủ tướng Margaret Thatcher đã ký kết một thoả thuận với Trung Quốc, được Liên Hiệp Quốc chứng nhận, gọi là Sino-British Joint Declaration. Theo đó Hongkong được quyền giữ hệ thống chính trị dân chủ tam quyền phân lập của họ thêm 50 năm nữa. Trong thời gian đó Bắc Kinh không được áp đặt chế độ cộng sản lên Hongkong – một trung tâm giao thương lớn và quan trọng của thế giới tư bản. Sự xếp đặt này được gọi bằng mỹ từ “Một quốc gia, hai hệ thống” (One country, two systems).

Thế nhưng chưa đầy 20 năm sau khi ký kết hiệp ước Sino-British thì Trung Quốc đã trở mặt. Càng ngày Bắc Kinh càng xâm lấn vào đời sống chính trị của người dân bản địa, tước đoạt dần các quyền căn bản của họ, dẫn đến những cuộc phản kháng như đã nói ở trên. Nhân dịp kỷ niệm 30 năm bức tường Bá Linh sụp đổ, người dân Hongkong đã dựng lên một bức tường giả bằng thùng giấy và vẽ lên đó hình ảnh nụ hôn xã nghĩa tân thời giữa “Lam và Tập”. Thông điệp họ muốn gởi đến Bắc Kinh và thế giới không thể nào rõ hơn: Hongkong có nguy cơ biến thành một Berlin thứ hai.

Sinh viên VNCH ở Nhật biểu tình chống Trung Cộng năm 1974. nguồn: internet

Các cuộc xuống đường của sinh viên trong những tuần lễ qua cho thấy Bắc Kinh sẵn sàng dùng vũ lực để trấn áp người dân Hongkong mặc dù trên nguyên tắc Hongkong có quyền tự trị – ít ra là cho đến năm 2047. Nhưng đã từ lâu cộng đồng thế giới tự do, kể cả Liên Hiệp Quốc, đều ngấm ngầm hiểu rằng đối với Trung Quốc thì hiệp ước Sino-British đã bị vô hiệu hoá. Thật khó hiểu khi cả Anh và Mỹ đều im lặng một cách lạ lùng trong lúc sinh viên Hongkong đang cố thủ trong các trường đại học, phải cầu cứu khắp nơi trên mạng xã hội. Chỉ sau khi các nhóm sinh viên cuối cùng tại Ðại Học Bách Khoa ra đầu hàng ta mới thấy Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua hai dự luật trừng phạt TQ, và Anh tiếp theo ngay sau đó với một đạo luật tương tự. Các sàn chứng khoán thì đang bồn chồn lo lắng; ai cũng sợ việc này sẽ làm Trung Quốc “nổi giận” khiến cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Trung không thành, làm bể nồi cơm.

Không biết những đạo luật này có sẽ làm TQ chùn tay hay không, nhưng nếu dùng lịch sử Tân Cương để dự đoán tương lai Hongkong, thì rất có thể là không. Nhìn cảnh những nam nữ sinh viên Hongkong ôm nhau hôn trong mịt mù khói lửa của lựu đạn cay và thuốc súng mà ta không khỏi liên tưởng đến cuộc chiến tranh lạnh vẫn còn đang tiếp diễn giữa thế giới tự do và cộng sản. Không biết rồi đây, sau khi tóm trọn được Hongkong, Bắc Kinh sẽ nuốt Việt Nam bằng hình thức nào. Khó biết khi chuyện đó xảy ra giới trẻ Việt Nam có đủ dũng cảm để vùng lên chống lại hay chăng.

Thế giới rồi đây có sẽ nhìn thấy những nụ hôn trong tuyệt vọng (hay đầy hy vọng) của những thanh thiếu niên Việt Nam yêu tự do? Hay họ sẽ nhìn thấy một nụ hôn nồng thắm giữa đồng chí Tập và Trọng, chễm chệ trên bức tường Vạn Lý?

IB

Dallas