Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 27 

Michael, Peter Clemenza và Domenic dùng cơm tối sớm hơn thường lệ. Nếu cuộc gặp mặt Guiliano diễn ra vào lúc sáng tinh mơ thì mọi sự phải được sắp đặt ngay từ lúc chập tối. Kế hoạch được họ xem đi xét lại rất tỉ mỉ. Và được Domenic đồng ý sau khi bổ sung một chi tiết: Michael không được mang vũ khí. Sự trở về Mỹ một cách an toàn của Michael quan trọng đến nỗi họ phải nghĩ tôi ngay cả trường hợp tệ nhất, Michael vẫn về được Bởi vậy, Michael không được mang vũ khí, để, trong trường hợp có trục trặc bất ngờ, bị cớm vồ, cớm cũng không thể vin vào chỗ Michael có vũ khí để bắt giữ hắn. Do đó, cớm phải thả hắn ra. Nhờ đó hắn vẫn có thể rời khỏi Sicily như không có gì xảy ra.
Họ ngồi bên một gốc chanh trong vườn của toà biệt thự, quây quần bên vò rượu cho tới lúc đến giờ khởi hành. Sếp Domenic hôn giã từ ông em và quay qua ôm hôn phớt nhẹ Michael.
– Cho qua gửi tới ông bà già em những lời chúc tốt đẹp nhất, – lão nói nhỏ với Michael. – Và cầu nguyện cho tương lai của em. Chúc em may mắn. Những năm sắp tới nếu em cần qua giúp đỡ gì thì cứ nói, qua sẽ hết lòng.
Ba người đi xuống cầu tàu, Peter Clemenza và Michael bước lên chiếc khinh tốc đỉnh đã nổ máy chờ. Trên tàu đã có sẵn một số người, vũ khí đàng hoàng. Chiếc tàu lướt đi. Domenic đưa tay vẫy chào giã từ. Michael và Peter Clemenza đi vào ca-bin. Clemenza cần phải ngủ. Suốt ngày hôm đó, lão bận bù đầu. Chiếc khinh tốc đỉnh sẽ chạy lòng vòng trong vùng biển cho đến lúc mờ sáng.
Họ đã thay đổi kế hoạch. Chiếc máy bay hạng nhẹ sẽ bí mật hạ cánh ở Mazara dệt Vallo. Trước đó, theo dự kiến, máy bay này sẽ được dùng để đưa Michael và Guiliano ra khỏi Sicily. Nay, máy bay này chỉ được dùng để nghi trang đặng đánh lạc hướng theo dõi. Thay vì đáp máy bay, họ sẽ đáp chiếc khinh tốc đỉnh đi Châu Phi. Chính Clemenza đã phải tốn nhiều công lắm mới thuyết phục được họ theo giải pháp này. Theo lão, kiểm soát và bảo vệ được con đường từ chỗ Guiliano đến chỗ con tàu và bảo vệ được con tàu thì dễ hơn là kiểm soát “phi trường” – thực chất chỉ là bãi đất trống – dù chỉ là “phi trường” nhỏ. Vả lại, quanh vùng gần đó có nhiều đồi, máy bay hạng nhẹ lại mong manh. Hơn nữa, nó có thể là cái bẫy chết người lúc đậu ở phi trường. Tốc độ trong trường hợp này không quan trọng bằng mưu mẹo.
Ngoài ra, trên biển thì dù sao cũng dễ lẩn tránh hơn là trên trời. Giả sử như nếu cần thời gian dài, người ta có thể chuyển thực phẩm từ tàu khác qua. Chớ máy bay thì… thua!
Suốt ngày hôm đó, lão Clemmenza đã bận phái người và xe đến các điểm chót trên đường đi Castelvetrano. Đồng thời, phái người đi bảo vệ và tiếp cứu – nếu cần – thị trấn Mazara dệt Vallo, nơi có “phi trường”. Lão đã cho mỗi toán đi cách nhau một giờ chứ không xuất phát cùng một lúc. Một đoàn xe rần rần chạy qua cổng biệt thự thì dù có đui đi nữa, gián điệp nó cũng biết. Và các xe tuy cùng đến địa điểm đã định nhưng theo những hướng khác nhau, cốt đánh lạc hướng sự chú ý và theo dõi của bọn chỉ điểm. Trong khi đó, xuồng máy đánh một vòng xuống phía nam Sicily, thả neo đâu đó cho đến giờ hẹn thì chạy một mạch vào cảng Mazara del Vallo. Từ đó Michael sẽ lên xe. Chỉ cần nửa giờ xe là hắn có thể tới Castelvetrano mặc dù phải vòng lên phía bắc để rẽ vào con đường đi từ Trapani đến Castelvetrano. Pisciotta có thể chặn đón ở chỗ nào đó trên khoảng đường này.
Michael nằm trên chiếc giường hẹp dưới tàu. Nghe thấy lão Clemenza đã ngủ, ngáy khò khò, Michael rất phục vì trong tình thế như thế này mà lão vẫn có thể ngủ dễ dàng. Hắn nghĩ vẩn vơ, miên man. Chỉ vài tiếng đồng hồ nhà hắn sẽ có mặt ở Tunis. Và mười hai tiếng đồng hồ sau đó là có mặt tại nhà hắn ở bên Mỹ. Sau hai năm sống lưu vong, cho đến lúc đó hắn mới được sống thong dong. Không còn phải hễ thấy bóng mấy anh cớm là né. Không còn phải tuỳ thuộc vào người bảo trợ. Lúc đó mới được quyền muốn gì thì làm. Nhưng, tất cả những cái đó chỉ thực hiện được với điều kiện hắn còn sống sót sau mấy chục tiếng đồng hồ này. Trong khi mơ màng tưởng tượng đến những ngày sắp tới được vung vít ở đất Mỹ, tiếng máy tàu nổ đều đều, trầm trầm đã ru hắn vào giấc ngủ không mộng mị.
Thầy dòng quỉ sứ ngủ một đêm thật ngon lành!
Buổi sáng hôm đó, trước khi đến đón giáo sư Hector Adonis, Stefan Andolini đã ghé Palermo. Gã có hẹn với cớm chúa của đảo Sicily, tức là thanh tra Velardi. Buổi gặp gỡ thường lệ thôi. Qua các buổi gặp này, ngài thanh tra sẽ cung cấp cho gã những tin tức về hoạt động trong ngày hoặc sắp tới của đại tá Luca. Andolini sẽ chuyển lại tin đó cho Pisciotta và sau đó đến Guiliano.
Sáng hôm sau, trời đẹp. Cánh đồng dọc theo con lộ hoa đại nở rực rỡ. Gã khởi hành sớm trước giờ hẹn, nên dọc đường ghé lại một miếu thờ, kẻo vài hơi khói, rồi đến quì trước tượng thánh Rosalie. Lời cầu nguyện của gã đơn giản và thực tế: gã cầu xin đáng thánh che chở gã khỏi tay kẻ thù. Gã dự tính, chủ nhật kế đó, gã sẽ đến gặp cha Benjamino đặng xin xưng tội và rước Thánh Thể. Mặt trời chói lọi làm cho cái đầu trần của gã cảm thấy nóng. Mùi hương ngào ngạt của hoa đồng nội đã làm át cả mùi khói thuốc. Gã cảm thấy bụng đói như cào. Gã tự hứa sau khi gặp ngài thanh tra xong, sẽ đến nhà hàng thật sang ở Palermo làm một bữa đích đáng.
Ngài thanh tra Frederico Velardi, cớm chúa ngành “lính kín” Ở Sicily, cảm thấy khấp khởi mừng vì một chiến thắng “lương thiện”. Niềm vui của một người kiên nhẫn chờ đợi và hằng tin rằng, sau cùng. Chúa sẽ lập lại trật tự trên thế gian này, rằng Chúa sẽ ban phần thưởng cho. Từ gần một năm nay theo lệnh trực tiếp và bí mật của ngài bộ trưởng Trezza, ngài thanh tra đã giúp Guiliano tránh được các cuộc hành quân tiễu phạt của ngài đại tá và các cuộc săn lùng của ngay đám cớm đàn em của ngài. Trên thực tế, từ gần một năm nay, ngài thanh tra “bị đặt dưới quyền sử dụng” của ông Trùm. Thế mới đau cho ngài.
Velardi sinh quán ở miền Bắc nước ý, nơi mà nhờ học thức người ta có thể làm được một cái gì đó, kiếm được một địa vị nào đó trong xã hội chẳng hạn. Và, ở đó, người ta còn tin vào luật pháp và chính quyền. Trong những năm phục vụ tại Sicily, ngài thanh tra nhiễm nặng cái thói khinh bỉ và ghê tởm bọn Sicilian, bất cứ thằng Sicilian nào, dù là thượng lưu hay hạ tiện. Thằng có của thì không hề có lấy một ly ý thức xã hội. Chúng thông đồng, âm mưu với bọn Mafia để kìm giữ dân lành trong vòng đói khổ. Bọn Mafia, miệng cứ huênh hoang là bảo vệ dân nghèo, thực ra chỉ là tôi tớ bọn có của. Còn bọn khố rách thì cũng chẳng đáng thương. Đã nghèo kiết xác ra mà vẫn cứ kiêu hãnh, coi cái thói giết người, hung bạo, như một thứ hào quang, mặc dù có phải tù chung thân cũng cứ “ôkê”.
Nhưng, bây giờ mọi sự thay đổi. Ngài thanh tra đã được cởi trói và các toán cớm tay em của ngài đã được rảnh tay hành động. Để rồi coi xem đám cớm chìm của ngài làm ăn có khác với lũ hề cảnh vệ không thì biết.
Ngài thanh tra ngạc nhiên khi thấy đích thân bộ trưởng ra lệnh bắt giữ và biệt giam tất cả những người đã được chính ông ta phát cho tấm thông hành đặc biệt có sọc đỏ. Với tấm thông hành quyền uy đó, kẻ mang nó được quyền có võ khí, đi qua bất cứ nơi nào, giờ nào. Đặc biệt phải thu hồi cho được cái thông hành đã cấp cho Stefan Andolini và Aspanu Pisciotta.

Google photo edit by Sơn râu

Ngài thanh tra sửa soạn và bắt tay vào việc. Andolini đang ở phòng chờ để được ngài chuyển thư như thường lệ. Hôm nay thì thằng chó đẻ này biết tay. Ngài thanh tra nhấc ống điện thoại lên gọi một đại uý và bốn thầy đội cớm – thứ “gồ ghề” nhất của ngài – và nói họ chuẩn bị có thể có những bất trắc sắp xảy ra. Bản thân ngài cũng lận một khẩu súng lục vào thắt lưng, một điều rất ít khi ngài làm, khi ngồi ở văn phòng. Rồi, Andolini được mời vào.
Mái tóc màu râu bắp của Andolini được chải chuốt cẩn thận. Gã bận quần sọc đậm, áo sơ-mi trắng và cà vạt màu đậm. Dù chỉ là cuộc gặp gỡ “thường lệ”, nhưng là gặp một vị thanh tra, nên ăn vận cũng cần đàng hoàng, chứ đâu có thể xập xệ như đi gặp đồng đảng được. Gã không mang vũ khí. Theo kinh nghiệm, gã biết bất cứ ai trước khi vào Bộ tư lệnh cũng đều bị kiểm soát vũ khí. Gã đứng ở trước bàn giấy của Velardi để đợi được mời ngồi xuống như thường lệ. Nhưng, lần này ngài thanh tra đã không mời gã ngồi. Do đó, gã vẫn cứ đứng, gã bỗng cảm tưởng phải cảnh giác.
– Đưa tôi coi giấy thông hành đặc biệt của anh.
Andolini không nhúc nhích. Gã cố đoán xem sao lại có cái sự đòi hỏi bất thường này. Trên nguyên tắc, gã chối. – Tôi không mang theo, – gã nói, – vả lại, tôi đến gặp một người bạn, chớ có phải là… – Gã nhấn mạnh vào chữ “bạn”.
Chính cái chữ “bạn” đó đã làm cho Velardi điên tiết. Ngài thanh tra bèn đứng lên đi vòng ra khỏi bàn giấy, đứng trước mặt Andolini, nhìn trừng trừng vào gã.
– Ai là bạn với thứ hạng mày. Nếu đã có lần tao ngồi ăn nhậu với mày thì chẳng qua đó là làm theo lệnh. Chớ cái đồ chó đẻ như mày mà đòi. Bây giờ thì nghe đây: mày bị bắt. Mày bị tống vào xà lim cho đến khi có lệnh mới. Và cho mày hay tao đã sắm sẵn cho mày cái “thùng tắm nắng” rồi. Nhưng thôi, ngày mai, nếu mày tỏ ra biết điều, tao sẽ nói chuyện đàng hoàng tử tế với mày. Bây giờ hãy chịu khó nằm xà lim đã.
Sáng hôm sau, ngài thanh tra nhận được điện thoại của ngài bộ trưởng và những “chỉ thị” rõ ràng hơn của ông Trùm. Một lát sau, Andolini được đưa từ xà lim đến bàn giấy ngài thanh tra.
Một đêm nằm trong xà lim suy nghĩ về sự bắt giữ khác thường này, Andolini hiểu rằng gã đang gặp nguy hiểm chết người. Velardi sải bước, đi đi, lại lại trong phòng, mắt long lên sòng sọc, có vẻ tức giận. Stefan Andolini mặt lạnh như tiền. Gã đã cẩn thận quan sát: ông quan ba và bốn anh đội cớm đã sẵn sàng. Khẩu súng lục lận ở thắt lưng ngài thanh tra. Gã biết là gã bị ngài thanh tra ghét cay ghét đắng và thù đến tận xương. Và gã cũng ghét ngài thanh tra không kém. Nếu đừng có mấy con khỉ đột kia gã sẽ thịt được thằng cớm chúa dễ như trở bàn tay. “Đằng nào cũng chết, nhưng phải cho thằng cớm chúa này chết theo, nếu không chẳng hoá ra mạng mình rẻ lắm sao”. Bởi vậy, gã nói:
– Bảo mấy thằng cớm chìm khỉ đột kia ra đi, rồi mày muốn biết gì, tao sẽ nói cho nghe, nếu tao biết.
Velardi ra lệnh cho bơn đội cớm ra ngoài, nhưng nháy anh quan ba cớm ở lại. Ngài cũng làm bộ lấy súng ra khỏi người và đặt lên bàn. Rồi ngài nhìn trừng trừng vào Andolini:
– Tao muốn biết tất cả những tin tức giúp bắt được thằng Guiliano. Lần chót mày gặp nó và thằng Pisciotta ở đâu?
Stefan Andolini cười thành tiếng. Khuôn mặt cô hồn hắc ám của gã nhăn lại coi hiểm ác lạ thường. Làn da nổi hột với bộ rau màu râu bắp đỏ rực như đám lửa. Thảo nào, người ta gọi gã là thầy dòng quỉ sứ là phải. Velardi ngẫm nghĩ: “Gã đúng là một tay nguy hiểm. Phải làm thế nào để gã không ngờ được những gì sắp xảy ra”.
Velardi điềm tĩnh nói với gã:
– Trả lời đi, hay là để đợi tao phải cho đi tắm nắng?
– Mày chỉ là cái đồ chó đẻ phản bội mạt hạng. Tao được ngài bộ trưởng Trezza và ông Trùm Croce che chở. Khi họ thả tao ra, tao sẽ cho mày thấy con đĩ mẹ mày.
Velardi bước tới, giáng cho Andolini hai cái tát nảy lửa Andolini hộc máu mồm ra. Đôi mắt gã toé lửa tức giận. Ngài thanh tra bình thản quay vào ghế bàn giấy.
Trong lúc đó, cơn giận làm cho Andolini hết còn nghĩ đến chuyện sống chết. Gã chộp ngay lấy khẩu súng trong bao trên thắt lưng ngài thanh tra lấy cò. Và cũng ngay lúc đó, anh đại úy cớm hờn sẵn đã nổ liền bốn phát vào Andolini. Thân thể gã bị hất mạnh vào tường ở cách đó khá xa, rồi nằm vật xuống sàn. Cái áo sơ-mi trắng của gã bây giờ máu nhuộm đỏ lòm. Velardi nhìn vào cái áo đẫm máu ấy và nghĩ thật nó chẳng khác gì mái tóc của gã. Ngài thanh tra bước tới và nhặt khẩu súng lục trong tay Andolini, khi mấy anh cớm khỉ đột kia nghe tiếng nổ, chạy ùa vào phòng. Ngài thanh tra khen ngợi anh đại uý cớm kia về sự nhanh nhẹn đúng lúc và chính xác. Và, trước sự ngạc nhiên của anh đại uý, ngài đã nạp đạn vào khẩu súng lục mà trước khi gặp Andolini ngài đã tháo đạn ra. Ngài cớm chúa này không chịu để cho anh đại uý có ảo tưởng về cái công ơn vĩ đại đã cứu cớm chúa thoát chết.
Ngài ra lệnh cho mấy anh cớm lục soát xác Andolini. Vì ngài nghĩ rằng tấm thông hành đầy quyền uy kia chắc chắn nằm chung trong ví của Andolini với tấm thẻ căn cướp mà người Sicilian lúc nào cũng bắt buộc phải mang theo trong người. Ngài thanh tra chớp lấy tấm thông hành ấy và cất kỹ. Đích thân ngài sẽ giao nó tận tay ngài bộ trưởng. Và biết đâu ngài lại chẳng gặp may để vớ nốt tấm thông hành đã cấp cho Pisciotta.
Michael và Clemeza ngồi tựa lưng trên thành song chắn trên boong tàu, nhâm nhi ly cà-phê. Mũi tàu chĩa thẳng vào đất liền, con tàu từ từ tiến. Tiếng máy khua nhẹ. Họ đã nhìn thấy ánh đèn trên cầu tàu. Đèn hiệu nhấp nháy.
Clemeza đi lòng vòng trên boong ra lệnh cho các tay súng và hoa tiêu. Michael chăm chú nhìn đèn hiệu nhấp nháy dường như đang tiến về phía hắn. Con tàu tăng tốc độ. Mặt biển bị rẽ ra, tuy bọt trắng xoá như muốn xua đuổi bóng đêm. Chân trời phía đông hé rạng. Michael nhìn thấy cầu tàu Mazara del Valllo, những cây dù màu sắc sặc sỡ lốm đốn nổi bật trên nền bãi biển.
Khi tàu cập bến thì đã có ba chiếc xe và sáu người chờ sẵn. Già Clemeza đưa Michael lên một chiếc xe mui trần dẫn đầu. Trên xe đã có sẵn tài xế. Clemeza ngồi băng trước với tài xế, Michael ngồi băng sau. Lão nói với Michael:
– Nếu xe mình bị toán tuần tiễu ách lại thì em cứ núp sát xuống sàn xe. Ai ngu mà lại đi lằng nhằng mất thì giờ. Cứ phơ tới đi, rồi dông cho lẹ.
Ba chiếc xe kiểu du lịch, nhưng cũng dềnh dàng, chạy lao vút đi trong ánh sáng ban mai còn mờ nhạt. Vẫn là buổi rạng đông như ngàn vạn buổi rạng đông khác trên đất Sicily từ trước đến nay, hầu như chẳng thay đổi gì mấy kể từ ngày Chúa Jesus Christ giáng trần. Vẫn những con kênh xây từ thời La Mã cổ dẫn nước tưới trên những cánh đồng. Không khí nóng ẩm và đượm mùi hăng hắc nồng nồng toả ra từ các bông hoa dại đang thối rữa dưới sức nóng thiêu đốt của mặt trời mùa hè xứ Sicily. Họ đi ngang phế tích Selimunte, một phế tích của đô thị Hy Lạp cổ khác. Michael đã từng thấy rải rải khắp Sicily nhưng hàng cột cẩm thạch tua tủa từ các đền đài cổ của các đô thị Hy Lạp xây dựng từ hơn hai ngàn năm trước. Đất đen màu mỡ leo bám lên tận vách đá trên núi. Suốt dọc đường không thấy một ngôi nhà, một con vật hay một bóng người.
Họ rẽ về hướng Bắc để đi về phía con đường dẫn tới Trapani – Castelvetrano. Trên quãng đường này, Michael và Clemeza lại càng cảnh giác hơn. Bởi vì, rất có thể ở một chỗ nào đó trên quãng đường này, Pisciotta sẽ chặn họ lại để đưa Guiliano lên xe. Michael cảm thấy rất hồi hộp. Ba chiếc xe du lịch chạy chầm chậm. Clemeza tay lăm lăm khẩu súng và trong tư thế sẵn sàng lao ra khỏi xe. Mặt trời đã lên cao, toả ánh sáng rực rỡ, chiếc xe chạy chậm hơn nữa. Họ đã đi gần tới thị trấn Castelvetrano.
Clemeza ra lệnh cho tài xế đi chậm hơn nữa. Lão và Michael chăm chú nhìn xem có dấu hiệu nào của Pisciotta không. Họ đã đi tới sát ngoại vi thị trấn Castelvetrano và bắt đầu đi xuống dốc. Xe ngừng lại để từ đó họ quan sát thị trấn nằm phía dưới. Từ trên cao điểm nhìn xuống, con đường đi từ Palermo tới lổm ngầm đầy những xe nhà binh. Dưới thị trấn lúc nhúc đám lính cảnh vệ mặc đồng phục đen viền trắng. Những tiếng còi hú của xe cảnh sát, nhưng dường như không phải để giải tán đám đông đang tụ tập trên phố chính của thị trấn. Trên trời có hai máy bay nhỏ đang lượn lờ.
Người tài xế chửi thề, đạp thắng và cho xe ép vào lề đường. Gã quay sang hỏi Clemeza:
– Ông muốn đi tới nữa không?
Michael cảm thấy buồn nôn. Hắn hỏi Clemeza:
– Trong thị trấn, chú có bao nhiêu người của mình?
– Không đủ, – Clemeza đáp, giọng hơi có vẻ gắt. – Mặt lão thoáng nét sợ hãi, hốt hoảng. – Mike, mình phải rút khỏi đây liền. Phải quay về tàu gấp thôi.
– Chờ chút đã.
Michael nhìn thấy chiếc xe lừa đang ì ạch lên dốc đi về phía họ. Người đánh xe là một ông già. Chiếc mũ rơm chụp xuống sát gần mí mắt. Vẫn chiếc mũ rơm màu loè loẹt sặc sỡ với tranh tích kiểu độc đáo Sicilian. Chiếc xe lừa dừng lại bên xe của Michael. Khuôn mặt lão đánh xe nhăn nheo và không lộ một chút cảm xúc gì. Khác với khuôn mặt, cánh tay phơi trần đến tận nách để lộ bắp thịt cuồn cuộn. Lão dừng lại trước mũi xe của Michael:
– Phải xe của ông Clemeza không đấy?
Trong giọng nói của Clemeza thấy có vẻ mừng khấp khởi:
– Zu Peppino, có cái quỉ gì dưới kia vậy. Tại sao mấy người của tôi lại không đến báo cho tôi vậy?
Khuôn mặt nhăn nheo vô cảm nói, lạnh tanh:
– Mấy ông về Mỹ đi được rồi đấy. Tụi nó làm thịt Turi Guiliano rồi.
Michael cảm thấy choáng váng và thấy như trời sập. Hắn nghĩ tới ông bà già của Guiliano, tới Justina hiện đang chờ đợi Guiliano ở bên Mỹ, tới Pisciotta, tới Stefan Andolini và tới Hector Adonis. Guiliano là ánh sáng soi đường cho họ. Họ sẽ ra sao nếu giờ đây ánh sáng ấy tắt đi?
– Lão có chắc chắn đúng là không? – Clemeza gằn giọng hỏi.
Lão già kia nhún vai.
– Thì vẫn là một trong những mẹo cũ của Guiliano, phơi một cái xác nào đó chình ình ra, rồi phao tin là Guiliano bị ám sát để dụ mấy anh cớm, mấy anh xăng đá đến là quất. Nhưng, đã hai giờ đồng hồ rồi, mà vẫn chưa thấy xảy ra gì ráo. Cái xác vẫn nằm phơi trên sân chỗ nó bị giết ấy. Có cả mấy ông nhà báo từ Palermo tới, máy ảnh bấm lia lịa, chụp loạn cả lên, chụp luôn cả con lừa của tôi nữa. Vậy đó, ông muốn tin sao thì tin.
Michael thấy muốn phát ốm, nhưng ráng nói:
– Mình cứ đi vô trong thị trấn coi. Tôi muốn biết chắc thực hư ra sao?
Lão Clemeza nổi cáu:
– Sống hay chết thì bây giờ mình cũng chẳng giúp gì được nó nữa rồi. Mike, qua có bổn phận phải đưa em về bên ấy an toàn.
– Không, – Michael dịu dàng đáp. – Mình phải vào trong kia. Rất có thể Pisciotta đang chờ mình. Hoặc có thể Andolini không chừng. Để cho mình biết phải làm sao chớ. Rất có thể cái xác ấy không phải của Guiliano. Tôi không tin như vậy. Hắn không thể chết, nhất là khi hắn sắp sửa đi như thế này, nhất là khi bản chúc thư đã nằm an toàn bên Mỹ.
Lão Clemeza thở dài. Lão nhìn vẻ đau khổ trên khuôn mặt Michael. Có lẽ không phải là Guiliano. Có lẽ Pisciotta đang chờ để cho một điểm hẹn khác. Có lẽ đây chỉ là một phần trong âm mưu nhằm đánh lạc hướng vì bọn cớm bám sát quá.
Lúc này mặt trời đã lên cao. Clemeza ra lệnh cho bộ hạ của lão đậu xe lại, rồi lội bộ theo lão. Cả bọn đi tới đường phố có người xúm đen xúm đỏ, tò mò, dáo dác. Họ rẽ đám đông đi vào một đường phố đậu đầy xe nhà binh và cớm làm hàng rào chặn. Phía bên kia đường là những căn nhà, phía dưới có sân. Clemeza và Michael cũng đứng xớ rớ bên đám đông, nhìn. Một sĩ quan cảnh sát đang tiếp các nhà báo và các quan chức được cho đi qua hàng rào cảnh sát sau khi đã xem xét cẩn thận. Michael nói với Clemeza:
– Làm thế nào để đến chỗ thằng cha sĩ quan kia, được không?
Clemeza nắm cánh tay Michael và ra khỏi đám đông.
Họ đi vào một căn nhà nhỏ phía bên kia dường. Căn nhà này cũng có một sân nhỏ và chỉ cách chỗ đám đông khoảng hai chục căn. Clemeza để Michael ở đó cùng với bốn người của lão. Còn lão và hai người nữa quay ra đi đâu đó. Cả tiếng đồng hồ sau, lão quay trở lại, mặt buồn thiu.
– Hỏng rồi, Mike. Bà già của Guihano được đem từ Montelepre đến để nhận diện cái xác. Đại tá tư lệnh lực lượng đặc biệt tiễu phỉ cũng đang ở đấy. Báo chí quốc tế kể cả báo bên Mỹ nhà mình – cũng đang ùn ùn kẻo đến đây. Cả thị trấn sắp thành cái nhà thương điên đến nơi. Mẹ kiếp, mình phải vọt gấp khỏi đây mau.
– Mai, – Michael nói. – Mai mình mới đi. Bây giờ phải tìm cách vượt qua hàng rào cảnh vệ kia đã. Bộ chú mà cũng không xoay xở được cách nào để qua sao?
– Chẳng có cách nào hết.
– Thì bây giờ mình cứ đi ra, đến nơi rồi xem xem, biết đâu lại chẳng có cách. Cứ ngồi đây thì làm sao có cách được.
Phản đối, nhưng Clemeza cũng đành phải đi theo Michael ra đường. Thị trấn chỗ nào cũng lúc nhúc cớm chìm, cớm nổi, cảnh vệ, “xăng-đá”. Có đến trên ngàn người. Súng ống lăm lăm. Và cả một đạo quân nhà báo, phóng viên chụp hình. Đường phố san sát xe nhà binh, xe cớm, xe báo chí. Và đúng là không thể nào lại đằng chỗ sân có cái xác kia. Họ thấy một nhóm sĩ quan cao cấp đang đi vô một nhà hàng. Người ta thì thào bàn tán với nhau: “Ngài đại tá và bộ tham mưu đi ăn mừng chiến thắng đấy”. Michael liếc nhìn thoáng thấy ngài đại tá. Ông ta nhỏ con, nhưng coi bộ rắn rỏi, chớ không có loắt choắt. Nét mặt nom buồn. Có lẽ do trời nóng nên quan ngài cũng lột mũ ra. Và lấy khăn che cái đầu hói trụi của ngài. Đám phóng viên chụp hình bấm lia lịa. Và đám phóng viên khác hỏi tới tấp. Ngài đại tá xua tay, không trả lời và đi vào nhà hàng.
Cả thị xã đông nghẹt người. Đến nỗi Michael và Clemeza muốn tới, lui cũng khó. Clemeza quyết định quay về căn nhà lúc nãy và ngồi đó chờ tin. Mãi đến xế trưa mới có tin về nói là bà Maria Lombardo đã nhận diện đúng là con của mình.
Họ ăn trưa tại một nhà hàng. Tiếng ra-đi-ô om sòm loan tin về cái chết của Guiliano. Theo tường thuật của đài phát thanh thì Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ và cảnh sát bao vây căn nhà mà họ tin rằng Guiliano đang lẩn trốn trong đó. Khi hắn chạy ra, cảnh sát và Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ của đại tá ra lệnh đầu hàng. Hắn liền đáp lại lệnh đầu hàng bằng cách nổ súng lung tung. Đại uý Perenze, sĩ quan tham mưu trưởng của đại tá Luca trả lời các phóng viên của đài phát thanh. Ông ta cho biết, Guiliano đâm đầu chạy. Nhưng ông ta – đại uý Perenze – đã dồn hắn vào trong sân. Guiliano lồng lộn như một con sư tử trong chuồng. Và ông đại uý đành phải bắn hạ hắn. Mọi người trong nhà hàng ăn đều ngừng để lắng nghe ra-đi-ô. Bồi cũng ngưng chạy bàn để nghe.
Clemeza quay lại nói với Michael:
– Đ.m., chuyện bá láp, cóc tin được. Thôi, tối nay bọn mình dông.
Nhưng, ngay lúc đó, đường phố có nhà hàng trong đó Clemeza và Michael đăng ăn đều nghẹt cớm và xăng- đá. Một chiếc xe – thứ xe của các cớm gộc – dừng lại trước cửa nhà hàng. Từ trên xe, cớm chúa Velardi bước ra. Ngài thanh tra đi thẳng đến bàn Michael và Clemeza đang ngồi. Ngài đặt tay lên vai Michael nói:
– Anh bị bắt. – Quay sang Clemeza, đôi mắt xanh, lạnh như băng của ngài chĩa thẳng vào lão: – Và cũng tiện quá, ông cũng bị bắt cùng với hắn. Cảnh cáo trước: tôi có một trăm người bao vây nhà hàng này rồi. Chớ có dại dột, làm hoảng, kẻo lại theo thằng Guiliano xuống địa ngục sớm.
Chiếc xe bít bùng trờ tới. Michael và Clemeza bị lính kín nắm kỹ và đẩy lên xe. Vài phóng viên nhiếp ảnh đang ăn trong nhà hàng cũng nhảy vội ra bấm lia liền bị lính kín và cớm chìm lập tức chặn lại. Ngài thanh tra đứng mủm mỉm cười nhìn quang cảnh ấy. Trong bụng thoả mãn vì suốt một năm qua phải ngậm đắng nuốt cay giả lả với bọn người như tụi này.
Sáng hôm sau, ông già của Turi Guiliano đứng trên ban-công nhà mình nói xuống với những người đang đứng dưới phố. Theo đúng tục lệ truyền thống Sicìly, ông ta lên tiếng đòi nợ máu những kẻ đã phản bội con ông. Đặc biệt, ông ta tuyên bố mối huyết thù với kẻ đã hạ sát con ông. Kẻ đó – theo lời ông – không phải là thằng cha đại uý Perenza hay một thằng cớm, thằng xăng-đá nào. Mà chính là… Aspanu Pisciotta.


Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

3. Phát cỏ thay cho cày bừa

Chúng tôi không so sánh cái cày, cái bừa hoặc bao nhiêu dụng cụ linh tinh khác của nhà nông, nói chung là đại đồng tiểu dị so với miền Bắc, miền Trung. Hoặc là dụng cụ bắt cá, những kiểu ghe xuống cùng kỹ thuật làm ruộng sạ (khỏi phải cấy). Nét độc đáo đáng kể trong cách làm ruộng ở vài nơi trong miền Nam có lẽ là phát cỏ rồi cấy, khỏi cày bừa. Trong Phủ Biên Tạp Lục do Lê Quý Đôn biên sọan, ghi lại chi tiết như sau hồi cuối thế kỷ XVIII. 
Nguyễn Khoan Thuyên nói: có những khỏanh ruộng tại các xứ thuộc huyện Tân Bình, huyện Phước Long, huyện Qui Nhân, người ta phải cày rồi mới trồng cấy lúa. Trông một hộc lúa giống thì người ta thu hoặc được một trăm hộc lúa màu. Còn như tại Trường Bả Canh, thuộc Tam Lịch và châu Định viễn có những khỏanh ruộng không cày, người ta chỉ cần bứt cỏ đi rồi trồng lúa. Trồng một hộc lúa giống thì người ta thu họach được 300 hộc lúa mùa. Như vậy chúng ta đủ biết ruộng ở đây thật là phì nhiêu. Sách Gia Định thành Thông Chí của Trịnh Hòai Đức sọan trễ hơn, gọi lọai ruộng khỏi cày bừa này là “trạch điền” và dùng chữ nho là “trảm phạt” trong khi Phú Biên Tạp Lục ghi là “trảm thảo” để nói đến kỹ thuật làm ruộng bứt cỏ, chém cỏ ấy. 
Người địa phương gọi là phát cỏ (phát, do chữ nho là phạt, nói trại ra, đọan kim phạt mộc). Theo tài liệu trên, ở Gia Định, Biên Hòa phải cày; ở vài nơi thuộc Mỹ Tho, Cao Lãnh hoặc phía Vĩnh Long ngày nay thuộc hữu ngạn sông Tiền, nhờ phì nhiêu nên khỏi cày, cứ phát cỏ xong rồi cấy mạ xuống. 
Kỹ thuật ấy xuất hiện vào khỏang hai trăm năm nay, từ hồi Chúa Nguyễn. Mãi đến năm 1945 thì phát cỏ khỏi cày bừa để làm ruộng hãy còn, khá tinh vi. 
Dọn đất theo kiểu cày bừa, trục . . chỉ có hiệu năng đối với vùng đã khai khẩn từ lâu, đất đã thuần thục (gọi nôm na là đất thuộc). 
Ở đất phù sa cù lao sông cái hoặc ven biển, ven rừng tràm mới khai thác chừng đôi mươi năm, việc cày bừa nhất định gây hậu quả xấu: 
– Lòng đất chứa nhiều phèn, cày xới thì chất phèn hiện trên mặt đất, làm hại cho rễ lúa. 
– Nếu trên mặt đất đã dư pâhn để nuôi cây lúa (cỏ mục, lá cây khô từ lâu đời) thì xới lên là đem thêm phân. Phân quá nhiều, cây lúa nẩy nở nhanh chóng, gốc to, lá rậm nhưng gié ít hột. 
Cày bừa thì cần tới trâu bò. Bò giá rẻ, nhưng chịu đựng mưa dầm hoặc sình lầy rất dở. Trâu dai sức hơn, nhưng mua từ bên Cao Miên, giá trung bình một con đúng lứa là 80 hoặc 100 giạ: “Lúa tới đâu trâu tới đó”; lúa lên giá, trâu cũng lên giá theo. Người chủ đất nhỏ (tiểu điền chủ, gọi là chủ điền manh) ít khi dám vay nợ mua trâu, gặp năm bị dịch trâu chết, hai ba năm sau chưa chắc trả xong nợ. 
Không cày bừa thì con một cách là dọn cỏ cho sạch rồi cấy. Vì không cày bừa cho đất mềm nát nên phải dùng cây nọc khá to để xoi đất, sau đó mới cấy mạ xuống. 
Cầm cây dao mà chém cỏ thì không ổn, mỗi lát dao chỉ sát phạt được vài chục ngọn cỏ là nhiều. Nơi độc canh mỗi năm gặt một mùa, muốn nuôi gia đình thì cần canh tác tối thiểu là ba mẫu rưỡi, bốn mẫu. Như vậy làm sao dọn đất sạch để cấy cho kịp thời tiết. Dùng cuốc cũng bất lợi và chậm chạp. Nơi đất hoang, nhiều đám cỏ nằm ngã la liệt theo chiều gió, vun lên, cao ngang ngực của người lớn, rắn và chuột tha hồ nẩy nở. 
Người làm ruộng nghĩ đến một kiểu dao để chém cỏ nhiều hơn. Ngồi mà chặt thì thất sách, vì mỏi lưng. Đứng mà chặt thì không sát gốc, cỏ mọc trở lại. Muốn cho cỏ chết, phải chặt ngay gốc, dưới mí nước để gốc cỏ bị thối luôn. Do đó cần đến một lọai dao dài; muốn chém cỏ trong tư thế đứng mà chém thì cán dao phải bẻ cong lại. Đó là cây phảng. Phảng là một loại dao. Trong ngôn ngữ của dân phát cỏ ói là cần cây phảng, nhưng lại nói dùng phảng ấy mà “chém một dao”; chém nhanh, gọi là chém cho mau dao. 
Tùy công dung, tùy địa phương mà cán của cây dao dài ấy bẻ cong lại nhiều hay ít. Nói cho cụ thể, cán dáo và lưỡi vốn là nằm theo đường thẳng (180o) , nếu uốn lại lần hồi ta có loại phảng náp, phảng mõ cộ lôi, phảng mõ cộ vấp, đến mức cán và lưỡi phẳng tạo ra một góc đứng 90o thì gọi là phảng cổ cò (như hình dáng cổ con cò). 
Loại phảng mà cổ cong lại không đúng 90o chỉ xài vào công việc thứ yếu như phát cỏ ở bờ mương, phát cỏ vườn, chế đất (phát những cọng cỏ còn sống sót sau khi cày, trục, trước khi cấy), hoặc phát nơi nước sâu. Muốn làm ruộng trên diện tích to thì nhứt định là dùng loại phảng cổ cò. 
Đơn vị để đo diện tích làm ruộng là một công, mười công là một mẫu ta. Công là diện tích của khoảng đất hình uvông, mỗi cạnh dài 12 tầm, mỗi dài 2m60 đến 2m80, tính cho gọn để được htống nhất với mẫu tây (hectare) thì mỗi tầm dài đúng 2m63 để công là hình vuông, mỗi cạnh hơn 33m. 
Cầm cây phảng trên tay (trong tay mặt thôi), nghiêng mình uxống phát rồi đưa phảng lên, bước tới mà chém thêm nữa là việc nặng nhọc còn hơn là lực sĩ cầm cây mã tấu. Nếu lấy trung bình một lát chém là 36 tấc vuông (hình vuông mỗi cạnh 6 tấc) thì muốn dọn cho sạch cỏ trong một công đất, cần đến non 2.000 lát chém. Cây phảng trung bình nặng hơn 3 kí lô, dài 85 phân. Tính theo vật lý, muốn dở cây phảng nặng 3 kí lô ấy lên khỏi đầu, phải tung ra một sứcl ực ba lần nhiều hơn. Phát một công đất, mệt như một lực sĩ cầm quả 10 kí lô trong một tay, cử động 2.000 lần. 
Vì nặng nhọc như thế nên phát cỏ trên diện tích lớn là độc quyền của bọn đàn ông trai tráng. Tay mặt quơ cây phảng, tay trại cầm cây cù nèo (còn gọi là kèo nèo) để kèo (vạch cỏ) cũng 2.000 lần cho trống chân cỏ, không thể chém bừa vãi trên ngọn vì như thế thì cỏ sẽ mọc lại. Người phát phải khom lưng cho lưỡi phảng nằm ngang song song mặt nước và dưới mặt nước. 
Việc phát cỏ không thể kéo dài ngày này qua ngày kia suốt năm. Mùa phát bắt đầu từ tháng năm âm lịch đến khoảng rằm tháng sáu âm lịch là chấm dứt. Phát quá sớm khi đất ruộng còn khô thì cỏ sẽ mọc trở lại như cũ. Phát quá trễ khi nước mưa lên cao trong ruộng thì khó chém sát gốc cỏ. Trong 45 ngày do yếu tố thời tiết qui định chặt chẽ, thật ra chỉ phát được có 40 ngày; khi đang mưa mà bỗng dưng trở nắng đôi ba ngày, phát cỏ là vô ích; đôi ngày sua, gốc cỏ sẽ nhô lên vì nước cạn, cỏ mọc lại như cũ. 
Buổi phát tính từ khoảng 6 giờ sáng đến 11 giờ trưa, người giỏi thì rồi một công, trước khi ra ruộng thường là ăn cơm rang cho no dai. Buổi trưa và buổi chiều, cần dưỡng sức cho ngày mai, phát xong thì người mạnh khỏe cũng “bể nghể” trong mình, lờ 9dờ vì thấm mệt. Một số trai tráng thiếu sức khoẻ hoặc vì chưa nắm được kỹ thuật nên phát không rồi một công, đành để ngày sau mà phát tiếp. Đã ra ruộng, muốn rồi công thì tuyệt nhiên không được nghỉ để nói chuyện khoào hoặc hoảng chạy vô nhà khi trời đô mưa quá to, có sấm chớp sáng lòe, nổ ầm ầm trước mặt. 
Phát song, chờ năm bảy ngày cho thúi gốc rồi dùng loại bừa cào to (gọi là bừa cào rẽ) mà kéo cỏ gom lại thành vồng (mỗi công đất thường có năm sáu vồng), sau đó dọn cỏ qua loa (để phòng trường hợp hôm trước phát không sạch) rồi cấy ở khoảng trống giữa hai vồng cỏ (gọi là láng cấy). 
Ở nơi đất rộng người thưa, tìm đâu cho đủ nhân công phát cỏ? Chỉ còn một cáhc là trau dồi kỹ thuật để mỗi người đàn ông phát trung bình một ngày được một công, hoặc hơn càng tốt; ai phát không rồi một công thường bị chê là quá dở, lười biếng, chẳng ai dám mướn tốn cơm. 
Kỹ thuật lần hồi trau dồi đến mức tinh vi, kinh ngiệm được tổng kết kỹ lưỡng, gọi là phát thể hoặc phát thiếp. Theo lời truyền khẩu thì tổ sư của bộ môn này là ông Cai Thoại, làm chức cai đồn điền hồi đời Tự Đức. Vào cuối thế kỷ thứ XIX, khi Nam Kỳ Lục Tỉnh lọt vào tay thực dân Pháp, ông rảo chân khắp miền Rạch Giá, Cà Mau; gặp ông thì cọp chạy cong đuôi hoặc tới chầu chực bên cạnh khi ông ngủ giữa rừng! Ai đang làm chuyện nặng nhọc thì ông sẳn sàng tiếp tay. Sức ông bằng năm bảy người, trên vai luôn luôn có cây phảng to tướng nặng gấp đôi cây phảng thường dùng, cở 6 kí lô, dài trên một mét. Muốn phát cỏ nhanh, kịp thời tiết thì cứ mời. Ông phát suốt ngày đêm, nhịn đói ròng rã đôi ba ngày để rồi sau đó ăn lại một nồi cơm to, ngủ suốt một ngày. 
Nhiều người đi phát cỏ dạo, làng này qua làng kia, xưng là đệ tử hai đời của ông Cai Thoại. Quả thật, họ phát nhanh gấp đôi người thường, từ hai đến năm công mỗi ngày. Họ tự nhận là được tổ sư truyền đạo, nhờ thần thánh phù hộ nên sức lực mạnh khỏe, lúc ra ruộng phát cỏthì cứ quơ tay như người lên đồng bóng, như người đi thiếp, thông cảm trực tiếp với thần linh khuất mặt. ai muốn thọ giáo, họ đòi số tiền tổ khá cao, lúc dạy thì lựa ban đêm, không cho ai lại gần. Vài thầy giựt tiền của học trò trước khi dạy, và đa số đều là nói láo, mượn tiền để xài, sau đó phát vài công rồi trốn hoặc nằm ngủ, viện lý do là chưa đi thiếp được, thoần thánh chưa nhập vào xác. Lẽ dĩ nhiên ,các thầy phải nắm được vài bí quyết nào đó thì mới lường gạt được người trong xóm vốn chuộng thực tế. Các thầy có thể biểu diễn trong mộtvài giờ hoặc một buổi, nhưng phát từ sáng đến chiều thì không tài nào đủ sức. 
Muốn phát cỏ cho nhanh, phải kỹ lưỡng từ cách chọn thợ rèn phảng rồi chọn thứ thép thích hợp, và nên chọn loại cây làm cán phảng để khi phát da bàn tay được mát, không phồng. Và học kỹ thuật mài phảng như thế nào cho bén lâu, khỏi tốn thời giờ mài tới mài lui. Khi quá lụt, lưỡi phảng không chạy nhanh dưới nước. Lại còn tư thế đứng và bước của người phát, đúng chữ bộ chữ đinh như võ sĩ: 
– Chân trái phía trước, chân mặt phía sau, chém dao thứ nhứt. 
– Bỏ chân sau qua bên trái đồng thời vung cây phảng lên cao để chuẩn bị. 
– Bỏ chân trước qua bên trái, chém lát dao thứ nhì ngay khi ngón chân cái vừa đặt xuống đất. 
Việc hợp lý hóa từng động tác này, nếu thực hiện đúng thì với hai dao chém xuống liền ranh nhau, có thể thanh toán một vùng cỏ rộng 9 tấc (bề dài của cây phảng) và dài đến 4m20, tức 3 mét vuông 78; khi chém, cây phảng chạy theo hình vòng tròn, được nửa vòng trước mặt người phát. 
Nhiều người phát cỏ giỏi giữ mức trung dung, tập luyện kỹ thuật “dao vuông” , tức là mỗi lát chém phải thanh toán một vùng cỏ vuông bề ngang 9 tấc bề dài 9 tấc. Như vậy, thay vì dùng 2.000 lần chém như các tay thông thường, người nhà nghề chỉ dùng 1.400 dao để giải quyết một công đất. 
Cây phảng góp phần quan trọng vào việc khẩn hoang; ở một xóm nhỏ với vài mươi nóc gia, số ruộng canh tác có thể lên hơn trăm mẫu, trong hoàn cảnh thiếu hoặc không cần trâu bò. 
Mãi đến năm 1945, phát cỏ vẫn còn là công việc cần thiết và nặng nhọc nhứt của nông phu trong nhiều vùng ở Hậu Giang. Để khích lệ, vài người bày ra sáng kiến thi đua phát cỏ (gọi là phát kình, theo nghĩa kình địch, ăn thua, có kẻ thắng người bại), mỗi thầy chọn một đệ tử giỏi nhứt của mình và một ông kỳ lão đứng làm trọng tài. Trên hai công đất giáp ranh nhau, khi lịnh ban hành, hia người cứ hươi phảng, nhịp nhàng, không dám bỏ một giây, trong khi thầy khom lưng đi bên cạnh “con gà” nhà của mình mà khoác nước lên đầu, lên vai cho người lao lực kia được mát, ít mệt. Lẽ dĩ nhiên là ăn thua bằng tiền. 
Chi tiết “đất phì nhiêu”, bứt cỏ” để trồng lúa, không cần cày bừa mà Lê Quí Đôn và Trình Hoài Đức chép lại là như thế. Người phát giỏi thường ỷ tài nên lắm khi cờ bạc quá mức, thua thiếu rồi lãnh tiền trứơc, tới mùa mưa chỉ làm để trả nợ hồi Tết. Và đời sống của họ không hơn gì những nông phu khác: tình trạng thất nghiệp, khiếm dụng của xứ mỗi năm làm một mùa ruộng. 
Kinh nghiệm của người già cả đã tổng kết là cứ hai năm làm ăn khá giả được mùa thì bất cứ 9dịa phương nào cũng phải gặp một năm thất mùa. Trong sáu tháng ở không, chờ lúa chín hoặc sau Tết chờ khi trời đổ mừa, người dân sống bằng nợ, vay với tiền lời quá cao. Gặp khi trong gia đình có tang chế, thân nhân đau ốm thì số nơ gác lại năm sau. Những năm thu hoạch ở mức trung bình; người làm ruộng chỉ đủ ăn cho tới tháng ba; tháng tư âm lịch là vay lúa, vay tiền. 
Mấy tháng rãnh rỗi ấy, người dân ở thôn quê vì thiếu tiểu công nghệ nên chỉ còn một con đường là sống lê thê, trước sau gì cũng nghèo, không chơi thì chẳng làm gì sanh lợi cả. Vào mùa mưa, nhiều gia đình không có đủ mắm mà ăn, vì hồi mùa cá họ không rảnh rang mà bắt, nếu làm mắm được chút ít là đã bán rồi.Vào tháng bảy tháng tám, nhiều người lâm vào cảnh thiếu gạo, chủ điền chỉ cho vay ở mức vừa phải, ruộng canh tác tới đâu thì được vay tới đó. Nhiều người đã bán bớt số lúa vay ấy, lấy tiền mặt mà chi dụng trong gia đình, đó là chưa nói tới trường hợp người gia trưởng bịnh hoạn, ai dám cho vay khi chắc chắn là không bao giờ trả nổi? 
Thói ăn chơi lan tràn, từ hcợ làng chợ tổng đến xóm nhỏ. Xin trích vài nhận xét, viết từ năm 1908. Một cậu nọ ở Vĩnh Kim (Định Tường, xứ cóvườn) “tánh rất ham chơi, người đã không dư ấm, nhà lại chẳng nghiệp làm, xách ba-ton dạo cùng làng, hút Bastos đi giáp xứ” Tình trạng người tá điền lại thảm thương hơn: “Một năm 12 tháng, làm ruộng thiệt sự có bốn năm tháng, còn bảy tám tháng dư linh làm nghề chi? Vì không có nghề trong tay nên mới rủ nhau đánh cờ chó, hoặc đi coi đánh cờ bạc, chà lết mòn quần rách áo”. Và đây cũng là sự nhàn rỗi, trong thôn xóm vào thời ấy: “Vả lại tôi thấy người lối xóm tôi, hoặc có người sớm mai thì dậy, thay quần đổi áo. Hễ có ai hỏi đi đâu thì đáp rằng: đi xóm. Té ra không phải đi đâu hết, cứ tới trà đình tửu điếm, dụm năm dụm bảy mà ăn uống say sưa, bàn chuyện đề cổ nhơn, hết sức rồi bàn tới chuyện đàn bà con gái, đứa này xinh đẹp, đứa khác xấu xa. Nói cho tới giờ ăn cơm thì trở về mà ăn, hoặc có đứa ra đánh đáo tường ăn công cho tiêu cơm, có đứa kiếm năm bá cắc bạc ra mướn xe máy mà chạy một hai vòng, đến nỗi đổ mồ hôi mồ hám mà cũng chưa chịu về, người ta có hỏi thì lại nói chạy cho tiêu ơcm” Vì tin rằng trước sau gì cũng cực khổ mang nợ mà không bao giờ trả nổi, nên nhiều người dám ăn xài to trong dịp Tết, mua nào là rượu cô-nhắc, thuốc xì gà và rất nhiều pháp để vui ba ngày, sau đó đi làm mướn suốt năm tháng cho mấy chủ tiệm Huê kiều, khiêng vác đồ đạc, hoặc chèo ghe lúa. 
Lập luận khôi hài của người lâm vào cảnh khiếm dụng, bán thất nghiệp ở miền Nam là “trời sanh thì trời dưỡng”, “thiên sanh nhơn hà nhơn vô lộc, địa sanh thảo hà thảo vô căn”. 
Trách nhiệm ấy về ai? Ngoài trách nhiệm của thực dân Pháp, ta nên nhớ là giới thương gia Hoa liều bấy giờ vốn lợn, việc làm ăn của họ dính dấp tới những tay mua bán lúa gạo thuuộc vào hàng quốc tế ở Tân Gia Ba, ở Hương Cảng. Ai làm ăn vốn nhỏ là thất bại. Giới đại điền chủ ở Nam Kỳ lúc bấy giờ chọn lực con đường chắc ăn hơn: dư tiền thì mua thêm đất ruộng, thâu thêm địa tô, đất không bị mất mát. Hơn nữa, nếp sống điền chủ được sung sướng, thảnh htơi như ông hoàng nhỏ nhỏ. Nếu coi sóc một công ty thương mãi, một hãng xưởng họ phải bận rộn hàng ngày quá nhiều thời giờ, lại thêm mệt óc tính toán.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

2. Đào mương lên liếp

Trên khỏang đất khá rộng, muốn cho gốc cây không ngập nước và rễ được thám nhuần mãn năm, muốn đón nhận và dự trữ phù sa để làm thứ phân bón thiên nhiên khỏi tốn tiền thì cách hay nhứt là đào mương, lên liếp. 
Liếp còn gọi là bờ. đất trên liếp phải cho cao để khỏi ngập lụt vào mùa mưa hoặc mùa nước nổi hàng năm. Nhiều bờ nằm song song, giữa hai bờ là mương. Theo kỹ thuật lập vườn đến nay hãy còn áp dụng, bề ngang mỗi bờ (thí dụ như để trồng quít) thường lã 4 mét, bề dài tối đa là 40 mét, hình chữ nhựt. 
Mương ở bên cạnh (giữa hai bờ) rộng từ 1 mét rưỡi đến 2 mét, sâu chừng 1 mét rưởi. Mấy mương này ăn thông nhau ở đầu bờ và cuối bờ. Nhờ vậy mà khi nước ngòai sông ngòai rạch dâng lên, nước trong mương cũng lên cao. Nước trong mương vì chảy quanh co nên để lại đất phù sa rồi đứng lại, trở ra sông rạch khi nước ròng. Chuyến vào mang phù sa, chuyến ra chỉ là nước trong, phần lớn phù sa lắng xuống mương. 
Để quá lâu thì mương cạn, vì phù sa đóng một lớp dày ở dưới đáy. Theo nguyên tắc, cứ một năm móc mương, một năm nghỉ, đất bùn dưới mương được quăng lên cho bờ cao thêm (vì mưa làm cho bờ bị lở và mòn). Thường là quăng ngay gốc cây cho rể cây khỏi lòi ra mặt đất, bùn dưới mương là thứ phân tốt. 
Muốn cho trong mương luôn luôn có nước, phải đắp đê để ngăn chận không cho nước trong mương tràn lên ruộng phía sau vườn. và từ mương ra rạch hoặc sông cái, mạch nước phải lưu thông: đặt ống bọng. Ống bọng thường là cây dừa lão khóet bọng phía trong ruột. 
Giữa mấy bờ liếp có cầu để khi săn sóc cây trái chủ vườn qua lại dễ dàng. Mương vườn lại là nơi cá tôm bị lùa vào theo con nước lớn, nếu lấy đăng chặn lại, chủ nhà có thức ăn đầy đủ khi nước ròng. 
Thông thường, tháng 9 tháng 10 âm lịch là có nước son, nước đỏ chở đầy phù sa. Dưới mương nhiều người thích bỏ vài giề lục bình, nhờ đó mà đất phù sa dễ bám vào, nhưng lục bình sanh sản quá nhanh, rốt cuộc lại trở thành tai họa. Ném lục bình lên gốc cây thì dương như là không ích lợi cho lắm để làm phân bón. 
Nơi thuận lợi để làm vườn, thường là có người đến lập nghiệp từ quá lâu, đất vươn bị chia manh mún. Người chủ vườn nhỏ thường khai htác phần đất chừng nửa mẫu mà thôi, chủ vườn lớn năm mẫu, trung bình là ba mẫu. Ở Cái mơn, nhiều liếp vườn đã xưa hơn trăm năm. Trở lại đời Tự Đức, ta biết vùng này qui tụ nhiều tín đồ Thiên Chúa Giáo, mấy ông cố đạo tùy tình hình an ninh mà ở Cái Mơn, lên Nam ang hoặc rút về Mã Lai (Pénang) để rồi khi trở lại không quên mang theo nhiều giống cây ăn trái từ Miền Dưới: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, bòn bon. Cái Mơn là vùng gần biển nhưng nước mặn không lên tới. Từ thế kỷ trước, dân Cái Mơn giỏi về trồng cây ăn trái, nhứt là về kỹ thuật chiết và tháp cây, cung cấp cho tòan Nam Kỳ lục Tỉnh. 
Vét mương vườn, “làm đất”, đào mương lên liếp là công việc khó nhọc đòi hỏi niều kiên nhẫn và sức người. Dụng cụ là cây xuổng, hoặc cây len (còn gọi là cây vá) để xắn đất có cán khá dài. Từ trên nhìn xuống lưỡi xuổng là một đường thẳng, trong khí lưỡi vá là đường cong. 
Xuổng dùng nơi đất cứng: một người xắn đất, một người khom lưng móc cục đất ấy mà ném để đắp bờ. Cây vá thì dùng nơi đất mềm: xắn từng cục đất nhỏ (giống như người bán tàu hủ nấu đường dùng muỗng mà múc từng lát nhỏ) rồi quăng lên, cục đất dính theo lưỡi và phải tách rời ra. Khởi đầu, người đào đứng trên mặt đất, quăng đất không đòi hỏi sức lực quá nhiều nhưng mươn càng sâu, đứng dươi mương mà quăng lên cao và hơi xa để đắp bờ thì quá tốn sức. Ta thử tưởng tượng một lực sĩ ném từng cục đất nặng non hai ký, không ngừng tay, mỗi buổi hàng ngàn động tác như vậy. Và sức dùng để ném mỗi lúc một gia tăng. Khi đào khá sâu, thường là gặp mạch nước, xúc từng cục đất nhỏ khi nước ngập đến ngang bụng không phải dễ. 
Hai năm một lần, lại vét bùn đem lên liếp (bờ) cho mương được sâu, cho bờ thêm cao. Dùng lọai thùng hình tròn có cán dài tra theo bề dọc mà xúc, gọi là cái gàu vét mương (hoặc là cái len thùng). 
Những năm gần đây, nghề trồng cây ăn trái đem lợi tức đáng kể, dân ở thành thị mỗi lúc thêm đông, việc chở chuyên dễ dàng hơn trước nhờ xe hàng, nhờ xe gắn máy. Ở những nơi mà đất phù sa có điều kiện lưu lại như bờ sông, bãi bùn hoặc chung quanh cù lao sông cái, nhiều người đã mạnh dạn làm kế họach lấn đất ra sông. Thay vì chờ đợi năm bảy năm sau cho đất phù sa bồi lan ra năm bảy chục thước thì dùng sức người mà đắp bờ bao ngạn (gọi tắt là bờ bao) ở một góc cồn (cù lao nhỏ trên sông) nào thích hợp. bờ bao đắp lấn ngòai sông, cao chừng 3 mét, trên mặt rộng chừng 2 mét, chân bờ khá rộng để có thể đứng vững khỏi bị nước sông hoặc sòng gió làm bể hoặc phá lủng. Bên phía trong bờ, cứ trồng tỉa, đổ đất bùn. Công trình này thực hiện theo qui mô nhỏ bé do sáng kiến cá nhân, có thể so sánh với việc đắp để lấn ra biển để tăng diện tích đất ở Hòa Lan, ở Nhựt. 
Trên vùng đất tântạo lấn ra bãi ra sông này, người và đất đều can đảm đóng vai người lính tiên phong. Lúc giông tố hoặc khi nước lớn, rõ ràng là nước bên ngòai bờ bao ngạn dâng cao, chảy cuồn cuộn khỏi đầu người đang làm rẩy làm vườn. Và cây tơ mới trồng vì chịu đựng triền miên những trận gió nơi sông rộng, thường bị “cháy lá”; lá không nảy nở nhanh chóng như trường hợp những cây trồng trên liếp ơ nơi thông thường. 
Không phải ở nơi đất tốt, nhiều phù sa này mà mỗi người đều làm chủ một khu vườn nhỏ. Đất đã có chủ. Đất lại bán vớii giá cao. Có đất lại còn phải ra công đào mương oặc mượn vốn mà mướn đào lên liếp, chờ vai năm mới thâu huê lợi đất vườn chia lần hồi cho số con cháu quá đông. Bởi vậy, mmột số khá đông người địa phường phải sống bằng nghề làm mướn cho chủ vườn. Dầu muốn hay không, người của thế hệ sau cùng đành rời quê quán, tìm nơi đất rộng người thưa. Không nên đánh giá quá cáo sản lương tổng quát về cây ăn trái. Trước năm 1945, họ là họ có cam Cái Bè, dâu và măng cụt Cái Mơn những ở miền Nam mấy ai thưởng thức được. Mức sản xuất không đủ cung ứng cho nhu cầu nội địa, nhiều người trung lưu ở miền quê Long Xuyên, Rạch Giá không biết trái vú sữa, sầu riêng hoặc măng cụt như thế nào, nó chỉ dành riêng cho người khá giả ở thành thị. 
Ở miệt Vườn, tức là vùng trồng cây ăn trái nói trên, huê lợi quan trọng nhứt vẫn là ruộng. Đời Tự Đức, ruộng làm mỗi năm chỉ một mùa, khi người Pháp đến, vài địa phương làm hai mùa với phân bón. Tuy là vào tháng hạn người dân có thêm chút ít công ăn việc làm (làm đất vét mương, lêin tiếp cho chủ vườn) những làm sao xem đó như một ngành tiểu công nghệ hoặc công nghệ? Việc đào đất xúc đất khá nặng nhọc chỉ dành co một số ít người chịu cực, số nhơn công thâu dụng chỉ có giới hạn. Người làm đất đến mùa mưa lại làm ruộng như bao nhiều người khác, từ khi cấy xong đén khi chờ gặt, họ lại ở không, sống thiếu kém, vay nợ mà chờ thời trời.

Cá tính của miền Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 17 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

1. Đồng bằng sông Cửu Long và miền Hậu Giang với nếp sống cực khổ nhưng nhàn rỗi

Tập sách này viết ra từ trước 1975 không lâu,riêng về nhan đề “Cá tính miền Nam” tôi và vài bạn thấy như chưa ổn, đáng lý ra phải gọi Phong cách, Nét đặc trưng hoặc gì gì đó, nhưng rồi đành chọn hai tiếng Cá tính. Điều quan trọng là quyển sách nói được những điều gì. 
Đến nay, xem lại, thấy những nét lớn vẫn đúng, mặc dầu sự việc đã thay đổi , thí dụ như ngày nay người làm vười đã thay đổi giống cây ăn trái, dùng xáng cỡ nhỏ để đào đất phù sa đưa lên bờ cù lao. Cây phảng ít thấy, đã cày máy, lúa xạ, không phải lom khón cấy vất vả như trước. Đáng lưu y chăng là nét tồn tại về tín ngưởng dân giang của người vùng biên giới an giang. Và nét đặc trưng của kẻ sĩ thời xưa, sống sát với quần chúng, có tính quần chúng thì hợp với vơi đã mặc nhiên theo “kinh tế thị trường” từ khi mở nước. Vả lại, ta nhờ miền Nam là đồng bằng, với sông rạch và biển, “văn minh sông nước” là chủ yếu. Lại còn tiếp cận sớm và trực tiếp với các nước mà nay ta gọi là EASEAN. Tác động của tư bản Tây phương đã có, ngay từ buổi đầu. 
Lòng yêu nước, yêu quê hương được thể hiện rõ nét, mẫu số chung của cả nước vẫn là vậy. Các tín ngưởng, thậm chí các tổ chức Hội kín vẫn là nhằm đánh đổ thực dân. Miền Nam bị thực dân xâm chiếm 25 năm, xem như một thế hệ trước miền Bắc, miền Trung, sông Cửu Long, sông Đồng Nai khác với sông Hương, sông Hồng về địa lý, cách khai thác mặc nhiên là khác. Ở đâu dân ta cũng sảng xuất, xây dựng gia đình, cần cù, chịu sự áp bức của thực dân, phong kiến nhưng mức độ khác nhau. 
Riêng tôi, nay thấy ngậm ngùi khi đọc lại những trang viết công phu về đạo tứ Ân ở Bảy Núi (An giang). Hồi chiến tranh biên giới Tây Nam vừa bùng nổ, gần như 70 phần trăm đồng bào ở đây bị thảm sát. Xã Ba chúc anh hùng, nay còn đài tưởng niệm, còn nơi trưng bày tội ác của Khơ – me đỏ là nơi mà đồng bào nên cố gắng đến tham quan , tuy xa xôi. 
Tư liệu trích dẫn ở đây phần lớn chưa ai đọc và phát hiện, tạm dẫn chứng để làm cơ sở, ngõ hầu các bạn trẻ nghiên cứu kỹ hơn. Tái bản “Cá tính miền Nam” đợt kỷ niệm 300 năm lịch sử mở đất của Sài Gòn – Nam Bộ cũng nhằm khẳng định cái riêng, sự đa dạng phong phú được bắt nguồn từ cái chung cội nguồn của tính cách con người Việt Nam cao quí được thử thách trong tiến trình lịch sử 4.000 năm dựng và giữ nước của dân tộc 
Tháng 11 – 1997. 
Sơn Nam

So với Bắc và Trung phần thì Nam phần là nơi dễ sinh sống, đất rộng người thưa. Người dân thảnh thơi : vừa làm vừa chơi cũng đủ ăn”. Chúng ta thử nhìn kỹ hơn để tìm hiểu nhờ đâu có sự thảnh thơi ấy. Sông Cửu Long chảy dài từ Tây Tạng uxống Nam Hải (nay ta gọi là Biển Đông – BTV), mỗi năm một mùa lụt (gọi làm ùa nước lên, mùa nước nổi), hai bên bờ sông tuyệt nhiên không có bờ đê, từ hồi Vương quốc phù Nam đến vương quốc Chân Lạp vẫn thế. Đất rộng người thưa, không đủ nhân công, vả lại vào mùa nước lụt hãy còn nhiều giồng đất cao ráo không bị ngập, đủ chỗ cho dân cư ngụ. Phù sa tràn vào ruộng, làm cho đất thêm màu mở. Cá tôm cũng theo nước mà vào rạch, xuống địa, hoặc vào mấy khu rừng cầm thủy, thường là rừng tràm, tha hồ sanh sôi nẩy nở. 
Không có để thì cứ canh tác theo thời tiết và phỏng đóan mực nước tối đa vào mùa nước nổi, có xê dịch vài tất cũng không đủ gây tai hại đói kém; ngày đêm khỏi phải làm công tác dắp đê hoặc gìn giữ để hco khỏi vở, như trường hợp ở Bắc phần. 
Mực nước lụt đôi khi thay đổi, gây thiệt hại những chỉ là từng địa phương nỏ. rủi như mùa màng bị tiêu hủy thì dân ở địa phương này có thể tìm lúa ăn do các vùng phụ cận cung cấp. Nạn lụt gây cảnh cết chóc hàng trăm người dương như mỗi thế kỷ chỉ xảy ra một đôi lần mà thôi. Bão tố ở Nam phần tuy có những quá nhẹ, so với miền Trung. Đại khái, khi cân nhắc lại những thiên tai hạn hán, đồng bào ở Nam phần chỉ biết dẫn chứng trận bão lụt năm Giáp thìn (1904) gây thiệt hại cho tỉnh Gò Công. Hoặc nạn cào cào chỉ xảy ra một lần ở Gò Công vào năm Ất tỵ (1905). Năm sau, cũng ở Gò công xảy ra nạn “bạch đồng”, trời cứ nắng suốt mùa mưa, lúa không cấy được, nước dưới sông không lớn không ròng. 
Đã khỏi gìn giữ tu bổ bờ đê, người dân lại được nhẹ công việc canh tuần. Làng ở Nam phần không có lũy tre bao bọc. Hình thế của làng thường là chạy dài theo hai bờ sông bờ rạch, với một lớp nhà: mé rạch, đường mòn rồi đến nhà, phía sau là vườn rồi ruộng. chỉ ở nơi ngã ba sông hoặc ngã tư thì nhà cửa mới đông đúc hơn, trở thành những cợ nhỏ. Ranh giới của làng thường thay đổi, trồng tre chỉ là để tạo bóng mát chung quanh nhà, có thêm vật liệu dùng vào việc lặt vặt, thế thôi. Vả lại, không tài nào canh phòng nổi một làng dài bảy tám cây số ngàn hoặc dài hơn nữa, với số dân ít ỏi. Bọn cướp trộm cứ chạy ra ngòai ruộng hoặc bơi xuồng qua làng khác bên kia bờ rạch, bên kia cánh đồng. 
Nói chung thì khí hậu ở miền Nam không được tốt cho lắm. Ở Bắc phần, nếu miền Thượng du nhiều sơm lam chướng khí thì vùng hạ lưu lại trong lành, với hoa bướm của bốn mùa khá rõ rệt. 
“Miền Nam với mưa nắng hai mùa đã người bức, ẩm thấp lại còn là nơi mà muỗi mòng, kiến ,mọt mối, rắn rít, đỉa vắt tha hồ sanh sôi nẩy nở. Khi mùa nắng sắp chấm dứt, bịnh dịch thường xảy ra, lại còn bịnh kiết, bịnh rét rừng với những biến chứng như đau ruột, đau gan. Ngày qua ngày, với sự khia thác đất đai, bụi rậm và nước đọng bớt dần. Ta không nên phỏng định quá thẩy về tỷ lệ người chết vì bịnh, hàng năm, trước khi có chích thuốc ngừa, trồng trái. Khi mới chiếm Nam Kỳ, người Pháp rất bi quan và nhận định rằng không thể nào định cư được, chỉ là ở tạm rồi về. Họ sơ muỗi mòng, sợ nắng chói, sợ rắn, sợ những buổi chiều vào đầu mùa mưa, nắng người bức rồi mưa rơi và sấm sét liên hồi. 
Về đất phù sa, chúng ta nên nhìn kỹ và tránh những ảo tưởng cho rằng đồng bằng sông Cửu Long quá phì nhiêu. Ở vùng đất rộng này có nhiều “tiểu hình thể” khác nhau: nơi nước mặn, nước phèn, nơi nước ngọt; nơi ngập lụt gần như sình lầy mãn năm, nơi cao ráo; nơi làm ruộng làm vườn được, nơi thì hoang vu, cỏ lác, dưng, cỏ năn mọc lưa thưa. 
Phù sa được gọi nôm na là đất mở gà, bãi sinh. Nước có phù sa gọi nôm na là nước đỏ, nước son. Nhiều vùng đất ở sát bờ Tiền Giang hoặc Hậu Giang tuy quanh năm nước ngọt nhưng đất quá xấu, lần hồi trở nên cằn cổi vì nước son, nước đỏ chở đầy phù sa cư trôi đi tuốt, không tích tụ lại được. không cứ ở bờ sông cái là sống thong dong, tha hồ trồng cam trồng quít. Chúng ta thử xem khung cảnh vài nơi ở Long Xuyên – Châu Đốc hoặc Đồng Tháp Mười buồn bả. Tuy là ở gần sông Tiền và sông Hậu những cánh đồng giữa Sa Đéc, Long Xuyên quá nhàm, thua xa vùng Tân An, Cần Giuộc là nơi có con sông kém quan trọng hơn chảy qua. 
Muốn cho phù sa kết tụ (trầm tích) lại, cần rất nhiều điều kiện. 
– Nước ngọt và nước mặn gặp nhau. 
– Trên đất giồng ở bờ sông có lùm bụi nhiều, như lác, sậy, cỏ tim bấc, lục bình. 
– Sông già, không chảy thẳng, cón hiều nơi uốn khúc, có doi có vịnh. 
“tiền Giang sông già, nên trầm tích, trái lại Hậu Giang còn sức vận chuyển mạnh nên không trầm tích nhiều. 
“Mặt khác, các giồng ven sông Tiền Giang quan trọng ở Mỹ Tho, có lẽ là do sự xâm thực triền lỏm của các nếp uốn, và vì sức vận chuyển của sông yếu nên có sự bồi đắp của khối vật liệu liền theo đó” 
Tiền giang đón nhận nhiều phù sa hơn Hậu giang, và trên Tiền Giang, vùng mỹ Tho là nơi được ưu đãi nhứt, với những con rạch đón nhận phù sa và cù lao phì nhiêu giữa sông cái. 
Suốt hai bên bờ Hậu giang thuộc Việt Nam, chỉ riêng con rạch Bình Thủy, rạch Cần Thơ là trù phú, có thể so sánh với Miệt Vườn bên tiền Giang. 
Vùng Mỹ tho quả thật là địa đàng với những con rạch nhiều nhánh nhóc như Cái thia, Cái Bè, Rạch Gầm, cù lao Năm Thôn. 
Đáng chú ý là phía bên kia Cái Bè, còn vùng Chợ Lách, Cái mơn lừng danh. Rạch Sa Đéc ở hữu ngạn Tiền Giang cũng được ưu đãi. Phù sa trôi vào rạch, vào mương vườn, vào ao; khi nước ròng, trên cầu ao hệin ra một lớp bùn non, gọi là đất mỡ gà (màu giống như mỡ gà) dày đến mức hễ vô ý bước xuống là có thể trượt té. Người làm vườn móc đất dưới mương, hai năm một lần, bằng không thì mương cạn. 
Ruộng vườn tốt, rau cải cũng tôt, cá tôm dư ăn trong gia đình, quanh năm nước ngọt, mùa nước nổi nhà không bị ngập, muốn đi xóm hoặc chở chuyên hàng hóa thì dùng đường htủy, ngòai huê lợi ruộng còn huê lợi vườn. 
Quãng đường từ Sầm Giang, Mỹ Đức Tây, Cái Cối , Trà Lọt, An Hữu đến bến đò Mỹ Thuận: xòai xum xuê hai bên bờ rạch, vườn tược xanh um, với một mẫu đất là dư sống. Bến đò Mỹ Thuận phô bày tất cả tặng phẩm của sông Cửu Long: nào trái ngon, cơm trắng, tôm, ổi, mứt chuối. 
Nhờ khả năng thích ứng với hòan cảnh và biết tổng kết kinh nghiệm về trồng tỉa ngay ở những vùng hẻo lánh bất lợi, nên nếp sống con người lần hồi trở nên thuần thục. Nhà cửa chú trọng vào cách bố trí những bộ cán để nghỉ ngơi trong mùa nực. Về trồng tỉa, tuyển chọn lọai cây thích hợp với chất đất ở địa phương để rồi trở thành sản phẩm độc đáo: cam Cái Bè, chôm chôm Cái mơn, vú sữa Lò rèn Vĩnh Kim, quít Sa Đéc, quít và cam ở Bình Thủy, Phong điền (Cần Thơ). Về thức ăn: chọn những món” cây nhà lá vườn” tuy là tầm thường nhưng nếu ăn đúng lúc thì quả làp hong lưu. Trồng bầu vào tháng 9 âm lịch để rồi khi trái vừa lớn là tới lúc có cá trê, nấu cá trê canh bầu. vùng ruộng sạ, gạo không ngon nhưng gạo lúa sạ vừa mới gặt nấu cháo trắng ăn với khô cá lóc thì hương vị khó quên được. Nắng hạn, rủ vài người bạn ra giữa đồng đem theo cái hộp quệt, một gói muối hộ, vài trái ớt rồi đền vũng nước khô cạn nào đó mà bắt cá lóc thứ to con, đốt gốc rạ và rơm mà nướng trui, chấm muối ớt, nhai thêm vài ngọn lá nghễ bên ao. Lươn, rùa, ếch, rắn được chế biến thành ra nhiều thức ăn ngon. 
Mùa nắng, ăn chanh chua vừa khỏe vừa đỡ khát, hoặc là khổ qua hầm thịt. Bí rợ hầm nước dừa, ăn với mắm chưng vào buổi trưa, dưới cơn mưa lất phất khi cấy lúa gần rồi công. Mắm sống ăn với gừng non. Măng trẻ Mạnh Tông hầm thịt là cao lương mỹ vị. 
Ngòai cây từng trồng làm cảnh hoặc cây trẻ để nhắc nhở tiết tháo của bực trượng phu, ngày tết có mai vàng, đất xấu tốt đều trồng được. Cây mai chiếu thủy (còn gọi là mai hoằng), cây cần thăng, cây kim quít, thậm chí tới cây gừa được chọn lực vì lá đẹp, vóc dáng xinh. 
Rước thợ Bắc về để chạm trổ nhà cửa làp hong lưu tột bực, thợ ở luôn tại nhà, làm lai rai hết công chuyện này qua công chuyện kia, chủ nhà nuôi cơm đôi ba năm. Lại còn thói ganh đua mua sắm đồ sành đồ sứ, “chơi đồ xưa” hoặc thi tài tuyển chọn giống gà nòi, cá thia thia.


Bão và Mất Điện

vvnm.vietbao.com

26/07/2024

Chính Vũ

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Hình do tác giả cung cấp

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ tháng 9, 2018. Ông tên thật Trần Vĩnh, thầy giáo hưu trí, định cư tại Hoa Kỳ từ năm 2015, hiện là cư dân Springfield, MA. Sau đây là bài viết mới nhất của ông kể về những ngày mất điện vừa qua ở tiểu bang Texas.

Chuyện bão tố hay cúp điện, mất điện đối với người Việt, hay nói chính xác hơn là “người Mỹ gốc Việt” khi còn ở quê nhà thì chỉ là điều… bình thường, quen thuộc, “nói hoài, nói mãi”, xưa rồi Diễm, ít quan tâm. Hay có quan tâm, thì chỉ là những cơn giông bão lớn, với số người phải chịu cảnh thiên tai này là quá lớn, cần sự quan tâm và cứu trợ của cả nước, hay thậm chí là những nước khác giúp đỡ! Riêng việc bị mất điện, cúp điện thì chẳng chết “thằng Tây” nào, và cũng có nhiều nơi, nhiều địa phương là chuyện như “cơm bữa”, là chuyện “thường ngày ở huyện”. Bởi cũng đã từng có nhiều người, nhiều gia đình, cả đời chưa hề… biết “xài điện” là gì, cho nên, có người vui miệng, từng xổ “tiếng Tây, tiếng u” là… “No table” hay “No star where”, dịch diễn nôm na là “miễn bàn”, “không sao đâu” đó thôi! 

Nhưng ở xứ sở Huê Kỳ, nơi được mệnh danh là nước Mỹ hùng mạnh, “number one” của thế giới, mà thiên tai, bão tố cuồng phong, làm người dân phải mất mạng, điêu đứng, sống trong cảnh “màn trời chiếu đất” thì quả là điều… hiếm và ít xảy ra, đặc biệt là vụ mất điện hay cúp điện đem lại sự thống khổ cho nhiều người, chắc cũng là điều… khó tưởng tượng? Song sơ sơ qua vài cơn bão và lốc xoáy gần đây ở tiểu bang Texas, như vụ năm 2021, một cơn bão tuyết ( trăm năm có một), đã khiến đường xá đóng băng, hơn 4,5 triệu ngôi nhà không có điện gây ra tình trạng thiếu nguồn cung cấp nước, lương thực, thực phẩm và nhiều nguồn cung cấp khác…Năm 2023, một trận lốc xoáy… nhẹ ghé vào, cũng gây ra cảnh, cây cối gãy đổ, nhà sập và mất điện vài ngày.

Mới đây nhất, là cơn bão Beryl đã đổ bộ vào khu vực phía đông nam Texas vào khuya ngày 7 tháng 7 năm 2024 mà theo USA Today miêu tả là: “Bão Beryl đã mạnh lên từ cơn bão nhiệt đới, trở lại thành một cơn bão cuồng phong với cường độ bão cấp I, đổ bộ vào bờ biển Texas…” gây cảnh bão lũ trên nhiều khu vực, nhà cửa, cây cối gãy đổ, hư hại và cuốn trôi nhiểu xe cộ, tài sản của người dân. Ít nhất đã có 3 người dân thiệt mạng. Bão tố, cuồng phong là hiện tượng khắc nghiệt của thiên nhiên, là thiên tai mà con người chỉ mới có thể dự đoán để phòng chống, nhưng không thể xóa bỏ hay dẹp tắt được. 

Trong phạm vi bài viết, người viết xin được đề cập đến chuyện “mất điện”, “cúp điện”, liên quan đến hoạt động của hầu hết mọi người trong xã hội “hiện đại” ngày nay, và gây nên những chuyện “dở khóc, dở cười” khi việc cúp điện bị kéo dài đến vài ba ngày, hoặc lên đến cả tuần lễ như trong cơn bão Beryl ở Texas vừa qua. 

Mất điện, cúp điện ở Mỹ, không như ở quê nhà của người Việt, bình thường chỉ mươi, mười lăm phút là nguồn điện được giải quyết, lại có ngay, vì tất tần tật, mọi thứ liên quan đến cuộc sống và sinh hoạt của người dân Mỹ đều liên quan đến nguồn năng lượng của điện, từ nguồn gas, nguồn nước, ăn uống, sinh hoạt, tắm giặt đều gắn liền với điện. Điện là phương tiện duy nhất trong cuộc sống sinh hoạt của từng gia đình. Mất điện, có thể kéo theo cúp nước, mà ở Mỹ, 100 phần trăm người dân đều xài nước máy, mà người Việt trước đây hay gọi là nước “phông-tên”, không có chuyện dùng nước ao, nước giếng hay nước sông hoặc dùng giếng khoan như ở quê nhà, vậy nên, thiếu nước một vài giờ, thậm chí một ngày, còn khả dĩ chịu đựng được, chứ vài ba ngày là coi như chỉ có… kêu trời, do đó, rút kinh nghiệm, hai nguồn điện nước, phần lớn, nhiều nơi đã tách riêng ra để dễ xử lý, phòng khi mất “một mà thành hai” như đã kể. 

Hầu hết bếp núc ở Hoa Kỳ, phần lớn sử dụng bếp điện, bếp điện từ. Một số nơi còn sử dụng bếp gas, bằng khí đốt, do đó cúp điện, kéo theo là… treo nồi, niêu. Không có ai xài bếp đun củi xưa như trái đất, hay bếp dùng than như còn thấy ở Việt Nam. Kể cả bếp bắng hơi gas, thì khi bật bếp, hay cụ thể là “khởi động bếp” cũng cần có điện… giúp sức, tạo thành tia lửa, để bếp bật cháy. (Riêng chuyện này, quý ông có sáng kiến dùng hộp quẹt để mồi, còn hầu hết quý bà thì không dám, thà là… treo niêu, nhịn đói, lỡ khóc, lỡ cười là vậy!). Bếp núc lạnh ngắt, vì anh điên… nặng, thì cái tủ lạnh kế bên cũng đã bắt đầu mè nheo, khóc… ròng. Nước chảy lênh láng, vì không có điện, ngăn lạnh, ngăn đá rỉ nước. Đồ ăn, tích trữ cho cả tuần, thậm chí cả tháng không đi chợ, bắt đầu lên nấm mốc, ôi thiu. Báo hiệu cái đói đã bắt đầu trầm trọng. Các bà vợ, nội trợ, lôi hết đồ ăn, thức uống dự trữ trong tủ lạnh ra mà than vắn thở dài, hỏi thăm anh điện chừng nào mới có và… trở về? 

Qua ba ngày, với cái bụng lưng lững, óc ách vì mì gói, lương khô. Muốn oder thức ăn, cơm cháo. Thậm chí cái bánh Pizza, cũng gian nan, khó khăn, vì chợ búa, quán tiệm, cũng hạ màn, đóng cửa vì không có điện… Đúng là tức điên… nặng, trong khi “nhà đèn”, các công ty điện thì cũng án binh bất động, im lặng là vàng. Dân tình bắt đầu xôn xao, ngóng tìm những nơi có ánh sáng đèn điện để di tản, lánh nạn. 

Thời tiết lúc này đang là hè, hanh khô, nên nhiệt độ sau mấy ngày mưa rả rích, cũng bắt đầu tăng lên, 8, 9 mươi độ F. Ngoài trời, trong nhà, nhất là ở Texas, cái nóng hầm hập, kinh hồn, lại cần đến quạt máy, máy lạnh, mà ông điện thì vẫn còn thọ thương, loay hoay, cứu chữa, cũng đành mà cầu… kinh, niệm Chúa, Phật cho con trẻ, người già nhanh chóng bước qua kiếp nạn này, bằng những cái quạt nan, quạt giấy tự chế, luôn tay quạt suốt ngày. 

Mất điện, cúp điện tất nhiên cái món Wifi, Internet cũng cúp mất tiêu trong bộ nhớ của cellphone, laptop. Kể cả điện thoại bình thường cũng chập chờn lúc có, lúc không. Thói quen chơi game của trẻ em, cũng bị cúp. Quý ông, quý bà thích lướt Web xem chuyện ta bà thế giới hay tám chuyện trên Facebook, Ticktok cũng phải ngậm ngùi mà cho qua. Ở không, hưỡn lúc này, thì chỉ có việc… đọc sách báo giấy, món ăn tinh thần, từ lâu lắm bị bỏ quên, hay đọc truyện chưởng, truyện ngôn tình mới có dịp được ghé mắt, nhâm nhi cho quên… bụng đói, thậm chí mùi hôi thân thể vì đã gần một tuần thiếu… tắm! 

Cúp điện, mất điện, lẽ dĩ nhiên là nhiều hãng, xưởng cũng nhốn nháo đóng cửa. Các cơ quan hành chính của chính phủ cũng khó khăn trong việc làm việc, giải quyết bức xúc của người dân bởi điều quan trọng nhất là nguồn năng lượng để hàng loạt máy tính và mạng lưới internet hoạt động, nơi chứa hàng triệu dữ liệu cần thiết cho hoạt động của các cơ quan chính phủ. Tất nhiên, những cơ quan chính phủ, hay các tổ chức, bệnh viện đều có trang bị hệ thống máy phát điện riêng, nhưng vẫn không thể sử dụng lâu dài, với hoạt động và sự cần thiết của hàng ngàn, hàng triệu người dân đang nóng lòng, chờ giải quyết những việc liên quan đến an sinh xã hội. 

Nhắc đến máy phát điện, trong cuộc sống hiện nay, nhiều nhà riêng của dân, khá giả, có điều kiện, đều có thể sắm và trang bị cho gia đình mình một máy phát điện riêng, chí ít là một máy phát điện mi-ni, cỡ nhỏ. Song máy phát điện cũng chỉ sử dụng cho một thời gian ngắn, hay những dụng cụ có công suất điện năng nhỏ. Điều tệ hại, là khí thải do máy phát điện thải ra ngoài không khí rất nguy hiểm và độc hại. Bởi thế, mà trong suốt thời gian mất điện, thỉnh thoảng điện thoại lại reo lên inh ỏi, báo tin nhắn “khẩn cấp” của Sở cảnh sát, cảnh báo người dân không sử dụng máy phát điện để trong nhà! Phải đặt xa cửa ra vào, cửa sổ, và đặt xa nhà ít nhất là 20 feet! Người già, trẻ em, phải tránh xa, luồng khí thải của máy phát điện, vì đó là loại khí rất độc hại, có thể làm chết người như chơi. Và nếu thực tế, trong một khu dân cư, giả sử có vài chục căn nhà, nhà nào cũng “chơi” cái máy phát điện, thì chắc… nguyên “xóm” không chóng thì chày cũng “ngõm củ tỏi” vì ô nhiễm và…điện hại! 

Ai đã từng mong ngóng, chờ đợi, khi nhà bị cúp điện, mất điện mới hiểu và thông cảm cho những “nạn nhân” bất đắc dĩ của điện. Trông ngóng, mong chờ còn hơn thuở “mong mẹ đi chợ về”, ra, vô, bật công tắc… đèn, rồi ngồi đặt ra hàng lô, hàng lốc câu hỏi, tại sao thế này, tại sao thế nọ. Một nước Mỹ hùng cường, giàu mạnh mà… “dở ẹt” vì cúp điện, mất điện. Tại sao còn “cổ lổ sĩ” đi dây điện trên mặt đất, trên đường, để gió giật, cây gãy đổ làm ảnh hưởng? Tại sao không đi âm dưới lòng đất cho đỡ bị… thiên tai? Kiểu than thân, trách phận rồi oán… giận luôn mấy công ty điện lực của Huê Kỳ. Bụng dạ lầu bầu: “Qua cái đận này, dứt khoát sẽ bái bai, công ty…a, b, c này để nhảy qua công ty a, b, c… phẩy cho sướng”. Rồi bấm điện thoại, hỏi thăm chỗ này, chỗ nọ, xem người thân, bạn bè đã có điện chưa mà… thèm và ao ước! 

Trong khi hàng triệu người dân bị mất điện mà như ngồi trên đống… bùng nhùng của dây điện, trách cứ ông nhà đèn, thì một anh bạn làm nhân viên ở một công ty điện lực lớn của tiểu bang cũng như ngồi trên… lò lửa. Anh bạn than vãn, điện thoại anh liên tục bị… khủng bố bởi hằng hà lô lốc người quen, thân nhân, bạn bè, gọi đến “hỏi thăm” chừng nào có điện, đến nỗi anh phải tắt luôn điện thoại để khỏi bị quấy rầy! Anh còn cho biết, cả chục cái điện thoại của công ty, ngày nào cũng bị “cháy máy” vì hàng ngàn cuộc gọi của người dân gọi đến chất vấn, than vãn thậm chí… chửi rủa một cách thậm tệ, trong khi công ty đã điều hết lực lượng công nhân, xe cộ trực tiếp xuống từng khu vực mất điện để kiểm tra và sửa chữa. Chưa kể còn liên kết với các tiểu bang lân cận nhờ đưa người đến giúp sửa chữa các lưới điện.

Trên đường đi, người viết đã tận mắt chứng kiến hàng ngày, từng đoàn xe cẩu, xe nâng, xe chuyên dụng của ngành điện lực, sơn màu trắng, nối đuôi nhau chạy đến các khu vực bị mất điện, hay bị cúp điện vì giông bão. Họ tất bật từ sáng sớm đến chiều tối, sửa chữa các trạm biến thế, hệ thống dây trên cao, kể cả hệ thống dây ngầm dưới mặt đất. Vừa sửa chữa hệ thống điện, vừa dọn dẹp, cưa, chặt những hàng cây gãy đổ, cuốn theo hệ thống lưới điện, vô cùng vất vả. Mới hiểu và thông cảm với ngành điện. Họ mới chính là những người ngồi trên… chảo lửa. “Tứ bề thọ… dây điện và cả những trách móc, giận dữ” của người dân. Quả thực, càng lắm “hiện đại” càng dễ bị… “ điện hại” là những lúc như thế này đây.

Có người muốn chuyển sang xài điện năng lượng mặt trời, đỡ bớt dây nhợ. Nghe đồn, tiểu bang cũng khuyến khích và hổ trợ người dân lắp đặt hệ thống điện năng lượng mặt trời. Nhưng, bão giông, lốc xoáy, cuồng phong hay băng tuyết cũng đâu có tha những tấm pin năng lượng, hay đè sập, thổi bay mái nhà, cuốn luôn cả hệ thống kính lắp đặt? Thiên tai thì chỉ biết… “Trời kêu ai nấy dạ” thôi.

Bỗng toàn bộ căn nhà… sáng rực lên, quạt trần, máy lạnh cùng đồng loạt lên tiếng. Đám trẻ hò reo: “There’s electricity!” (Có điện rồi), như khi còn ở quê nhà. Hạnh phúc bỗng vỡ òa, choáng ngợp…

Chính Vũ

Canh bạc của Tập Cận Bình!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 7th, 2020

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc với 11 triệu dân nằm ở ngã ba sông Dương Tử và sông Hán.

Xưa giờ bà con mình, đôi khi chỉ biết địa danh Vũ Hán qua bài thơ thất ngôn bát cú ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu (704–754) thời nhà Ðường.

Nếu là dân lưu lạc tha hương như chúng ta, ai cũng biết hai câu kết là:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu!’

Nhà thơ Tản Ðà đã dịch lại, một cách trác tuyệt, bằng hai câu lục bát là:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”

Tuy nhiên từ cuối tháng Chạp, năm 2019 tới nay, Vũ Hán, (tiếng Anh là Wuhan) được dân toàn thế giới biết đến không phải do bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ của nhà thơ Thôi Hiệu, mà do con ‘2019 novel coronavirus’ (2019-nCoV), thường gọi là ‘Coronavirus Wuhan’; mà Hoàng đế Tàu muôn đời Tập Cận Bình gọi nó là con ác quỷ.

Vài loại virus được đặt tên theo chỗ hay nơi đầu tiên phát hiện ra nó

Như MERS, viết tắt của Middle East Respiratory Syndrome (Hội chứng bệnh hô hấp Trung Ðông hay).  Hoặc ‘Virus Ebola’, tên một con sông ở nước Cộng hòa Dân chủ Congo bên Phi Châu.

Còn “Coronavirus Wuhan”, hình dạng giống như vương miện (corona), vẫn chưa được chánh thức có tên.

Con ‘Coronavirus Wuhan’ nầy đã làm 6,000 người mắc bệnh và 132 người đã chết. Người dân Trung Quốc đang hoảng loạn; vì một người nhiễm bệnh có thể lây cho tới 2.6 người khác; số ca nhiễm bệnh mỗi ngày tăng lên tới 30%.

Vũ Hán là đầu mối giao thông về đường sắt cao tốc Bắc Kinh-Quảng Châu (Bắc xuống Nam) và Thượng Hải-Thành Ðô (từ Ðông sang Tây). Rồi phi trường quốc tế Vũ Hán có tới 29 triệu lượt hành khách bay đi tới 109 điểm thuộc 20 nước khắp năm châu như London, Moscow, Paris, Rome, New York, San Francisco, Bangkok, Tokyo and Seoul.

Thời điểm xảy ra cơn đại dịch nầy lại trúng vào ngày Tết Âm lịch. Cả trăm triệu người dân Tàu về quê ăn Tết hay ra nước ngoài du lịch mang theo ‘Coronavirus’ nầy đi gieo rắc khắp nơi.

Tòa Lãnh sự Mỹ ở thành phố Vũ Hán đã đóng cửa. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cảnh báo cấp 4 với công dân của nước mình là: “Ðừng đi tới tỉnh Hồ Bắc!”

Còn ai lỡ tới Vũ Hán rồi thì Mỹ cho máy bay Boeing 767 với 240 chỗ qua chở dân mình về California, USA.

Ðàn anh Mỹ làm vậy; đàn em Úc bắt chước làm theo, chuẩn bị cho máy bay qua rước công dân Úc về trong đó có ít nhứt khoảng 100 trẻ em.

Tranh Bảo Huân

Hiện tại không có loại thuốc nào hiệu nghiệm để tiêu diệt được loại virus này. Còn thuốc chủng ngừa, theo các chuyên gia về Y tế của trường Ðại học Queensland Úc Châu, phải mất ít nhứt 4 tháng nữa mới có. Trong khi đó các chuyên gia Y tế của nước Mỹ tiên liệu cần phải tới một năm.

Thế nên trẻ con, người già, những người bị bạo bệnh trong quá trình hồi phục, có hệ miễn dịch yếu phải tự bảo vệ mình bằng cách tránh tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh; tránh đến những chỗ đông người.

Rồi vệ sinh thường thức như: rửa tay, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, và khử trùng các bề mặt khi bạn chạm vào. Nếu cần thiết thì phải đeo khẩu trang. (Chính vì vậy mà các nhà thuốc Tây ở Footscray nầy đây khẩu trang đã bán sạch bách rồi; phải đặt hàng tới tuần sau mới có).

Bộ Y tế Úc muốn người dân tỉnh táo nhận thức được vấn đề, nhưng họ cũng muốn ngăn chặn sự hoảng loạn không cần thiết.

Tuy vậy có một số trường tư ở Sydney và Melbourne buộc học sinh đứa nào mới về Trung Quốc ăn Tết trở qua, trước khi nhập học vào đầu niên khóa thì đừng đến trường trong 14 ngày; rồi phải có giấy chứng nhận của bác sĩ mới được vào lớp học.

Hành động nầy bị các chuyên gia về Y tế Úc cho rằng làm hơi quá!

Nhưng trường tư thường dành cho con em nhà giàu nên thủ cẳng và thủ kỹ như vậy cho chắc ăn!

Trong khi đó thì Tàu Cộng cố che giấu dịch viêm phổi Vũ Hán. Nhân Dân nhựt báo cố tình đăng ‘video’ bệnh nhân khỏi bệnh vui mừng ra dấu hiệu chiến thắng giữa 4 nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ.

Chuyện trớ trêu là Vương Nghiễm Phát, người đứng đầu nhóm các nhà nghiên cứu được Bắc Kinh cử đi điều tra tình hình, ngày 11, tháng Giêng, năm 2020 nói rằng: “Dịch bệnh đã được kiểm soát!” Nhưng chính ông ta sau đó bị chẩn đoán là đã nhiễm virus.

Rồi ngay giữa khủng hoảng, một cuộc họp đảng lớn của tỉnh Hồ Bắc vẫn được tổ chức ở Vũ Hán và hơn 40,000 gia đình được mời tham dự một bữa tiệc trong nỗ lực lập kỷ lục thế giới.

Thiệt là quái đản!

Các quan chức CS luôn nói dóc, che giấu nhằm hạ thấp mức nghiêm trọng của vấn đề vì không muốn gây tổn hại đến kinh tế và ổn định xã hội để họ được thăng quan tiến chức. Ðể khi nghe về nó, và khi vấn đề đã đến chính quyền trung ương, thì nó đã là một vấn đề lớn rồi.

Chủ tịch thành phố Vũ Hán, Chu Tiên Vượng, lên truyền hình mếu máo, biện minh là: “Luật pháp Trung Quốc về các bệnh truyền nhiễm, trước tiên chính quyền địa phương cần báo cáo ổ dịch cho Bộ Y tế, sau đó được sự chấp thuận của Trung Ương trước khi có thể đưa ra thông báo.

Tên tuổi của chúng tôi sẽ bị gắn liền với vết nhơ, nhưng miễn là việc kiểm soát dịch và bảo đảm an toàn cho người dân có hiệu quả hơn, tôi và đồng chí Mã Quốc Cường (Bí thư Thành ủy Vũ Hán) sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.

Nghĩa là hai tên đầu têu ở Vũ Hán nầy xin nằm cúi xuống cho Tập Cận Bình đét đít, rồi đuổi về chăn gà cho vợ.

Ðiều tức cười là hai đứa ra lịnh cho dân khi ra chỗ công cộng là phải mang khẩu trang; nhưng tay Bí thư cứ để mặt trần, trụi lủi; còn tay Chủ tịch mang khẩu trang ngược.

Chú, Thiếm Ba chửi um sùm. Ngu dốt như vậy mà Ðảng lãnh đạo cái giống gì hè?

Dân không tin quan nói; khi thấy trên các trang mạng xã hội người bệnh tay gắn ống truyền dịch, ngồi cạnh những bình oxy gần ba thi thể phủ vải trắng. Các bệnh nhân đeo khẩu trang gục ngã ngoài đường.

Nên hàng trăm người dân rồng rắn chen chúc trong các hành lang bệnh viện để chờ tới lượt điều trị làm nguy cơ lây nhiễm lẫn nhau lại cao hơn.

Nghiêm trọng tới chừng đó, quan chức CS mới quắn ‘đít’ lên, cấm tất cả các chuyến bay và xe lửa ra khỏi thành phố Vũ Hán.

Trung Quốc đã đặt gần 60 triệu người, nhiều hơn cả dân số Hàn quốc vào tình trạng cách ly một phần hay toàn phần. Công nhân về quê ăn Tết bị cấm trở lại thành phố làm việc.

Các thành phố trực thuộc tỉnh Hồ Bắc, và hơn 15 thành phố lớn thuộc tỉnh khác đã trở  nên thành phố ma. Ðường phố vắng tanh, thưa thớt bóng người qua lại.

Thị trường chứng khoán Mỹ, Âu Châu, Tokyo Hong Kong giảm mạnh

gần 2%, mức lao dốc tồi tệ nhất trong năm.

Chưa có bằng chứng nào cho thấy con virus nầy truyền qua hàng Trung quốc xuất cảng; nhưng nền kinh tế nước Tàu đã bị thiệt hại rất nặng nề!

Mùa Cúm bên Trung quốc năm nay tệ hại rất nhiều vì con Coronavirus Wuhan lây lan với tốc độ chóng mặt, gây ra rất nhiều hậu quả xấu về văn hóa, kinh tế, chính trị cho Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo rất lôm côm và lu bu của đảng CS.

Phải thân chinh nắm quyền chỉ huy các hoạt động chống dịch bệnh là Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang đánh một canh bạc rất lớn, ít may nhiều rủi cho sanh mạng chánh trị của mình. Ðược ăn cả, ngã về không!

Nếu thắng, dập tắt được dịch bệnh ‘Coronavirus Wuhan’, thì ghế Chủ tịch của Tập vững như bàn thạch… cho tới cơn dịch tới.

Bằng thua, thì Tập Cận Bình ắt phải về đuổi gà cho vợ thế thôi!

Ðuổi gà chớ không phải chăn heo. Vì heo Trung Quốc năm nay đã bị Dịch tả Lợn Châu Phi làm chết hết ráo rồi thì còn đâu nữa mà chăn?

ĐXT

Melbourne

Sumaco!

baotreonline.com
Đoàn Xuân Thu

August 3rd, 2024

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Nằm ở Bắc Phi (North Africa), giáp với Đại Tây Dương (Atlantic Ocean) và Địa Trung Hải (Mediterranean Sea), tiếng Anh: The Kingdom of Morocco. Tiếng Pháp: Maroc. Tiếng Việt là Ma Rốc.

Ma Rốc từng là một thuộc địa của Pháp suốt 44 năm dài, từ năm 1912 đến năm 1956. Nhưng Lục tỉnh Nam Kỳ chìm trong vòng nô lệ tới hơn cả trăm năm.

Cùng thân phận nhược tiểu, thuộc địa của thực dân Pháp, cùng thời gian; nên Lục tỉnh Nam Kỳ cũng không xa lạ gì với Ma Rốc.

Bằng cớ: nói không ai hiểu là nói tiếng Ma Rốc. Ma Rốc nói lái là ‘móc ra’. Cữ nhậu nầy tới phiên mình trả. Nhậu chực hoài ai chơi với mình?

Người Việt, trong đó có tui, nhớ tới Ma Rốc vì Ma Rốc sản xuất hộp cá mòi Sumaco tui ăn hồi còn chút éc.

Cá mòi, tiếng Anh ‘sardine’, loài cá dầu nhỏ thuộc họ cá trích. Tên Sardine được đặt theo một hòn đảo Sardina trong Địa Trung Hải (Mediterranean Sea), vùng biển có rất nhiều cá sardine, cá mòi.

Là nước xuất cảng cá mòi đóng hộp nhiều nhứt thế giới, 600,000 tấn/năm, hơn 62% sản lượng đủ loại cá, Ma Rốc đánh bắt được.

Cá mòi Sumaco được sản xuất tại tỉnh Agadir, ven Địa Trung Hải. Agadir cách thủ đô Rabat của Morocco khoảng 466 km về phía tây nam.

Trong một hộp cá mòi (sardine in tomato sauce) của Ma Rốc, có cá mòi (Sardines) loại cá nhỏ, thịt trắng và sốt cà chua (tomato sauce) làm từ cà chua tươi, bóc vỏ, bỏ hạt, nghiền nhỏ được nấu chung với tỏi, dầu ô liu, húng quế, ngò và gia vị Maroc như tiêu và ớt paprika.

Bản đồ Ma Rốc 

Vào thế kỷ 19, Pháp xua quân chiếm nhiều nước trên thế giới làm thuộc địa để bóc lột tài nguyên, trong đó có Việt Nam và Ma Rốc. Pháp đã xây dựng các công ty sản xuất cá mòi tại Ma Rốc. Rồi cá mòi của Maroc được vận chuyển đi phát cho lính Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, ăn hoài cũng ngán, lính Lê Dương Legionnaire (Légion étrangère) đem bán cho dân địa phương. Thế là, người Việt mua Sumaco một món xa xỉ mà ai cũng muốn được ăn thử một lần.

(Rồi sau tháng Tư, 1975, thuyền nhân Việt Nam tị nạn CS vượt biển đến được Đảo Galang, trong quần đảo Batam, Indonesia. Hay Pulau Bidong ở Kuala Terengganu, Malaysia.

Trong khẩu phần lương thực được Cao Ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc phát mỗi ngày: có cả cá mòi đóng hộp. Ăn hoài tất ngán, bà con mình đem hộp cá mòi đi đổi lấy cá tươi của ngư phủ địa phương.)

Lâu lâu, bữa nào siêng siêng, tui đẩy ‘trolley’ cho em yêu đi Coles supermarket Footscray. Tui hay thấy mấy bà Úc đen, ú nu như con hà mã, mua Tuna trong dầu Olive hộp 185g giá $2.20. Còn em yêu mua về một hộp cá mòi Sumaco của Morocco nặng 125 gr giá $1.75 với hai ổ bánh mì. Tui nịnh em: “Đi chợ giỏi ghê; biết lựa mua cá mòi của Ma Rốc vừa ngon, vừa rẻ!”

Bấy lâu nay, tui nghe mấy nhà tâm lý dạy tui là đàn bà, con gái, nhứt là người Việt mình, khoái nịnh lắm. Nghe nịnh là mấy em sướng tỉ tê, nhắm mắt để mật rót vào tai đến nỗi không thấy đường đi. Chính vì vậy trong kho ngữ vựng tiếng Việt mới có chữ ‘nịnh đầm’. Tụi Tây có chữ ‘galant’.

Nhưng anh giáo dạy trường Việt ngữ thứ bảy chê tui ngu. Ảnh giảng: nịnh là khen dóc; đầm là phụ nữ. Nịnh đầm, tiếng động từ, khen, ca ngợi, tâng bốc phụ nữ một cách quá mức, không chân thành để lấy lòng em đem về xào khóm nhậu chơi. Nịnh đầm là nói dóc, không chân thật mà là chân giả (dối).

Còn ga lăng (galant), mượn từ tiếng Pháp, có nghĩa là lịch duyệt, là vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa. Anh nào biết ga lăng tất sẽ đào hoa. Lúc đó được mấy em mê tít thò lò thì mặc tình mà đào mỏ, làm Casanova cho ấm cái tấm thân ‘ròm’.

Giacomo Casanova người Ý, sinh ra tại Venice đào hoa, tưng bừng gái gú bu như ruồi nhưng em nào cũng tin như bắp nướng là ảnh yêu chỉ một mình em. Còn mấy con ngựa bà khác ảnh chỉ qua đường ghé lại mà thôi.

Bánh mì cá sumaco

Tui hỏi email của Casanova để xin làm đệ tử. Anh giáo bĩu môi nói: Chừa chỗ cho người ta dốt với. Trình độ lèng èng cỡ anh thì sức mấy? Dẻo miệng cỡ tui thì may ra. Nhưng ổng chết mấy mươi đời vương rồi. (1725-1798).

Em yêu của tui dĩ nhiên rất khoái nịnh. Ngày nào không nghe nịnh là em ăn cơm nuốt không trôi. Em nói và biểu tui không được cãi: “Sumaco của mấy thằng hải tặc Thái Lan mắc gấp đôi của người ta. Cho em, em đem đi vụt thùng rác.

Vậy là em mua một hộp cá mòi Sumaco của Ma Rốc về làm điểm tâm. Lửa vừa, em yêu đổ dầu ăn, tỏi vào chảo. Thêm hành tây, chút muối xào trong vài phút cho thơm. Thêm cá mòi với nước sốt cà chua, đường, nửa muỗng cà phê tiêu và 3 muỗng canh nước. Đun sôi và để nhỏ lửa trong 2 phút rồi tắt bếp. Em phết bơ bánh mì, trút cá mòi vào với ngò rí và một nhúm tiêu đen.

Món cá mòi bánh mì của em yêu ngon hết xẩy. Bữa điểm tâm, sáng, nhưng về hưu rồi, đâu có đi cày, cuốc gì, bịnh gì mà cữ? Tui uống beer, ăn cá mòi, hành tây ngâm giấm. Ngà ngà say, tui chui vô phòng để ngáy pho pho mơ về quê cũ.

Nước Úc với nền văn hoá đồ hộp dành cho dân “low income”, dân thu nhập thấp, dân nghèo như tui. Trái lại, quê mình hồi xưa, dân có tiền mới được ăn đồ hộp nhập cảng từ bên Tây.

Tui thời thơ ấu, ba tui làm Bưu Điện, hôm nào phải trực về trễ ba hay mua đồ ăn về cho vợ, cho con. Bữa ba mua bánh gan, bánh da lợn của em Thuý bán trên lề đường Trưng Trắc Mỹ Tho. Bữa ba mua một hộp cá mòi Sumaco với mấy ổ bánh mì về cho con. Má vẫn chờ ba về để ba má ăn cơm chung.

Hộp cá mòi Sumaco của Ma Rốc đối với người xa xứ, già như tui, gợi lại những hồi ức sâu đậm về thời thơ ấu. Tui nhớ cá mòi Sumaco rắc tiêu ăn với củ hành xắt lát mỏng ngâm giấm và bánh mì mới nướng.

Thương thằng em, chia cho mầy một miếng. Để ba mất, anh em mình đều khóc. CS vào thôi đã hết những ngày vui.

ĐXT

Hệ lụy cháy rừng

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 1st, 2020

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Cobargo, tên do thổ dân đặt, là một ngôi làng nhỏ, chỉ có 776 người dân, nằm trong thung lũng Bega, cách thủ phủ Sydney, tiểu bang New South Wales, Úc Châu, 386km về phía Nam, trên quốc lộ Princes, cách bờ Thái Bình Dương tại Wapagui 19.4km.

Nhờ một cây cầu mới cất bắc qua suối Narira, con đường đâm ra biển vào những năm 1880, Cobargo phát triển.

Tuy nhiên thị trấn nầy đã bị suy tàn trong phần lớn thế kỷ XX. Nhưng hơn 20 năm trở lại đây, Cobargo đã hồi sinh trong lụi tàn; từ một làng quê sơn dã buồn thiu, buồn hiu hắt, thành một điểm du lịch nổi tiếng.

Xui xẻo thay thảm họa cháy rừng lại ập đến, tràn vào thung lũng vào đêm Giao thừa năm 2019 đã làm nhiều nhà cháy rụi, 3 người chết. Thị trấn lại điêu tàn trong trong khói lửa.

Hôm Mùng Hai, tháng Giêng, năm 2020,  khi tới thăm Cobargo, ông Thủ tướng Úc Scott Morrison tới gần một phụ nữ 20 tuổi, đang mang thai, chìa tay ra rồi hỏi: “Cô có khỏe không?”

Cô này không mấy mặn mà và nói: “Tôi chỉ chịu bắt tay nếu ông cấp thêm tiền cho RFS (Dịch vụ chữa cháy miền quê) của chúng tôi. Quá nhiều người đã mất nhà cửa. Chúng tôi cần giúp đỡ nhiều hơn”.

Rồi có một bà, tay dắt theo một con dê, hét vào mặt ông Thủ tướng: “Thật là bất công! Chúng tôi hoàn toàn bị lãng quên. Lần nào xảy ra cháy rừng hay lũ lụt, chúng tôi cũng không nhận được gì cả! Nếu chúng tôi sống ở Sydney thì đồ cứu trợ đã ùa tới tràn ngập rồi!”

Và một ông, tay dắt theo một con chó, miệng xài giấy năm trăm, khi đài Truyền hình phát đi cái ‘video clip’ nầy, phải cắt đi tiếng chửi thề ỏm tỏi của ông nhắm vào Thủ tướng Úc

“Ông tới đây làm gì? Không ai bỏ phiếu cho ông cả! Ông đúng là một thằng ngốc!”

Ông Thủ tướng Morrison quê quá bỏ đi một nước, tới hỏi thăm một ông lính cứu hỏa tình nguyện đã già, đang ngồi nghỉ trên ghế. Ông nầy chẳng thèm đứng dậy, còn từ chối bắt tay và cũng không buồn tiếp chuyện ông Thủ tướng.

Ông Morrison lúng túng cầm lấy tay ông nầy vỗ vai rồi lại bước đi! Ra ngoài, Thủ tướng Úc hỏi giới chức địa phương tháp tùng: “Thằng cha đó làm sao vậy? Bộ thằng chả mệt hả?”

Thì ông Hội tề nầy trả lời: “Không phải tại mệt đâu! Nhà ổng bị cháy rụi trong khi ông ấy lo cứu nhà của người khác đó!”

Khi ông Morrison đi thị sát quanh thị trấn, người dân lại tiếp tục la ó phản đối ông. Trước làn sóng tẩy chay, xua đuổi của người dân địa phương, Thủ tướng Scott Morrison và Bộ trưởng phụ trách Thiên tai David Littleproud phải lên xe BMW vọt mất trong tiếng vỗ tay chọc quê  của người dân đuổi theo sau!”

Ông Littleproud ngay sau đó phải đưa ra các khoản cứu trợ khẩn cấp sẽ được gửi tới những người sống sót sau vụ cháy rừng tại thung lũng Bega. Người lớn sẽ nhận được 1,000 USD; trẻ em nhận được 400 USD. Những lính cứu hỏa tình nguyện, người đã bỏ công ăn việc làm đi chữa cháy, sẽ được cấp 300 đô mỗi ngày.

Hành động xuất ngân quỹ tức thời nầy nhằm xoa dịu cơn thịnh nộ của người dân đang đương đầu trong thảm họa!

Tại sao người dân Úc bùng lên cơn giận dữ? Chẳng qua là khi nạn cháy rừng năm nay bùng phát dữ dội hơn so với nhiều năm trước, sớm hơn cả tháng, giới truyền thông Úc, báo chí và truyền hình la bài hải, bố cáo thất tung: “Nhà đang cháy, lính cứu hỏa từ nơi rất xa như Canada, từ láng giềng New Zealand, xa nhà ngay cả trong mùa Lễ Giáng Sinh đoàn tụ gia đình để đến Úc giúp chữa cháy thì Thủ tướng của chúng ta đã biến đi đâu mất tiêu?”

Google photo

Sau qua trang mạng xã hội, dân Úc mới biết ông Thủ tướng nhà ta đang dắt vợ con đi Hawaii, Hoa Kỳ, tắm biển! Bị chỉ trích dữ dội, ông Thủ tướng phải xin lỗi dân Úc và vội vã bay về.

Cách đây chỉ mới vài tháng thôi, đêm Thứ Bảy, ngày 18, tháng Năm, 2019, Scott Morrison đã dẫn dắt Liên đảng Tự do và Quốc gia hạ đo ván đảng Lao động của Bill Shorten để thắng cuộc bầu cử Liên Bang mà giới truyền thông Úc bói trật lất rằng ông thua là cái chắc.

Ðêm đó, Morrison cười hí hí trước ống kính truyền hình, trước những cử tri ủng hộ là: “Tôi tin vào phép lạ!”

Nhưng phép lạ không đến hai lần mà họa thì tới tấp. Ðúng là phước bất trùng lai họa vô đơn chí.

Ông Morrison bị dân Úc cự nự tơi bời khi từ dinh Kirribilli, ngồi tréo ngoảy nhìn ra Cảng Sydney xem bắn pháo bông mừng năm mới trong khi lửa rừng đang khốc liệt tàn phá phía Ðông Nam, kéo dài từ tiểu bang Queensland, NSW, Victoria đến tiểu bang Nam Úc trong đêm Giao thừa vừa qua.

Diện tích vùng đang cháy và vùng bị ảnh hưởng lớn hơn bất cứ diện tích nước nào ở Tây Âu. Người dân buộc phải di tản, trong thời bình, lớn nhất trong lịch sử  nước Úc của chúng ta.

Họ mất niềm tin vào khả năng đánh giá và đáp ứng thỏa đáng với thảm họa nầy của chính phủ Morrison, khi mùa cháy rừng chỉ mới bắt đầu thôi mà mùa Hè nóng ác liệt còn kéo dài tới hai tháng nữa!

Chẳng ai ‘quởn’ để quan tâm đến Thủ tướng Úc đang gặp rắc rối riêng tư gì, khi ngôi nhà của họ đang bị đe dọa, cuộc sống của họ đang gặp nguy hiểm. Dân Úc chỉ muốn biết những gì mà chánh phủ đang được thực hiện để giúp họ?

Ngay cả một chính trị gia thuộc cùng đảng Tự do ở tiểu bang NSW, cũng chỉ trích ông Thủ tướng phe ta: “Nói thật, dân Cobargo đã đón ông ấy bằng thái độ như vậy cũng đáng đời cho ông ấy! ”

Cái khác nhau giữa chế độ dân chủ và độc tài ở cái chỗ: Dân chửi là chánh phủ (người đầy tớ của nhân dân đúng nghĩa) phải làm.

Bị dân Cobargo chửi tối tăm mặt mũi, Thủ tướng Scott Morrison đã ra lịnh cho Bộ Quốc Phòng, quân chủng Không quân điều phi cơ đến xịt nước vào những đám cháy đang đe dọa khu dân cư.

Quân chủng Hải quân Úc điều hải vận hạm di tản hơn 5,000 người bị bão lửa lùa ra bờ biển ở East Gippsland tiểu bang Victoria.

Quân chủng Lục quân điều 3,000 quân nhân Úc để tham gia vào việc cứu trợ đồng bào đang cơn hoạn nạn.

Sau thảm họa cháy rừng gây chết người năm nay, chắc chắn Quốc hội Liên bang Úc, sẽ theo yêu cầu của người dân, mà thành lập Ủy hội Hoàng gia độc lập để điều tra tận tường cái thảm họa cháy rừng nầy?

“Tại sao cháy? Cháy như thế nào? Chánh phủ đã đáp ứng ra sao? Cái nào làm đúng, cái nào làm sai? Ai chịu trách nhiệm để làm bài học cho tương lai. Chắc chắn sẽ có vài tai to mặt lớn phải về nhà đuổi gà cho vợ!

Năm 2018, tiểu bang California, Hoa Kỳ cháy 2 triệu mẫu Anh. Năm 2019, rừng Amazon nước Brazil, lá phổi của địa cầu, cháy 2.2 triệu mẫu Anh.  Năm 2019, vùng rừng thông vốn băng giá Siberia của Nga cũng cháy tới 6.7 triệu mẫu Anh.

Nước Úc năm nay rừng cháy nhiều nhứt lên tới 12 triệu mẫu Anh. “Nhà chúng ta đang cháy! Hãy hành động ngay bây giờ” là khẩu hiệu của những người dân Úc, cũng như nhân dân toàn thế giới, nhứt là những người tuổi trẻ, đang rầm rộ biểu tình chống biến đổi khí hậu.

Những chánh trị gia ích kỷ, chỉ bo bo nghĩ đến quyền lợi chánh trị của cá nhân mình, của đảng phái mình, của quyền lợi kinh tế nhứt thời mà phớt lờ cái thực trạng hành tinh xanh duy nhất của chúng ta đang bốc cháy; chắc chắn họ sẽ xét lại về chánh sách nếu không muốn cử tri cho về chăn trâu như ngày cũ.

Chống biến đổi khí hậu sẽ là động từ phải chia ở thì hiện tại để cho thế hệ tương lai!

Lại nhớ tới lời nhà hoạt động cho môi trường, một cô gái mới 16 tuổi, người Thụy Ðiển, Greta Thunberg thách thức các chánh trị gia thiển cận và ngoan cố! “How dare you?”

Hệ lụy cháy rừng ở nước Úc năm nay sẽ còn là cơn ác mộng dài dài đối với những kẻ vô tâm!

DXT

Melbourne

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 12 Tháng Tư, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Kỳ 13

Chương 37

Hồng nhìn người đàn ông cười tủm tỉm. Anh ta đội một cái mũ tai bèo đã cũ, quá cũ, tương phản hẳn với một bộ áo quần bộ đội còn khá mới. Chân mang một đôi dép râu. Chiếc xe đạp có dáng dấp rất “xe thồ”, bộ sườn chắc, khỏe, có giỏ xe phía trước, tấm ván to bản lót yên sau, dây nhợ cao su quấn đầy.  Hồng cười ngất, nói:

      –     Trời! Anh cố tình biến anh ra như thế này đây phải không?  Ðể làm gì vậy? Theo dõi ai hay sao? Trông anh chẳng khác gì một kịch sĩ  đang sắm vai trên sân khấu.

      –     Không phải là kịch sĩ đâu Hồng. Vì đây không phải là sân khấu. Anh… à tôi đang làm thật.

      –     Nghĩa là anh đi xe thồ?

      –     Chứ sao!

      Hồng nhìn anh trong một vẻ giễu cợt thích thú:

      –     Bỏ đi tám! Có đi xe thồ thiệt thì trông anh vẫn giống như một kịch sĩ. Một kịch sĩ ngoại hạng.

      –     Tôi mô có biết đóng kịch. Tôi chỉ làm cái gì thật. Cái gì giả khó chịu lắm.

      Hồng làm bộ nghiêm:

      –     Bữa này dùng “tôi” với “cô” nghe nhuyễn lắm rồi đó nha! Ai bày cho anh vậy? Sao ở trên đó, anh em nhuần nhuyễn vậy mà về “thành” thì khác?

      Lục im lặng, chống tay lên cằm, cùi tay dựa vào ghi đông xe.  Hồng rờ rẫm chiếc xe đạp thồ, trầm trồ:

      –     Chắc, khỏe thật. Xe này mà chở mấy bà đi buôn thì hết chỗ chê, anh nhỉ?

      –     Ðúng. Chỉ chở mấy bà buôn, còn cỡ Hồng thì không chở đâu. Xe thồ và đi buôn là anh em một nhà.

      Hồng hỏi qua chuyện khác:

      –     Khi nãy, anh nhận ra Hồng rồi, phải không?

      Lục đã hết ngượng nghịu:

      –     Ừ!

      Nàng lay vai Lục, nhìn xoáy vào mắt anh:

      –     Thích tránh người ta, tại sao lại không chịu đạp đi chỗ khác, mà cứ đứng một chỗ, làm bộ sửa xe chi vậy?

      Lục ngớ ra:

      –     Ừ, tại sao vậy nhỉ? Tại sao không đạp đi quách, có phải đỡ rắc rối không.

      Hồng cười lớn:

      –     Vậy, thì đã hai năm rõ mười rồi nhé. Thấy Hồng, vẫn muốn đợi, phải không? Nhưng vẫn cứ làm bộ tránh, phải không? Lòng anh có cái gì lươn lẹo, không thiệt tình.

      Nàng đổi giọng, nũng nịu:

      –     Nào, ông xe thồ, chở cho em về nhà đi.

      –     Về đâu?

      –     Về Bạch Ðằng chứ về đâu nữa.

      Lục im lặng. Nàng tiếp:

      –     Như thế thì Hồng nói anh là kịch sĩ không sai tí nào.  Ðã là dân xe thồ thì chở bất cứ khách nào có trả tiền, và đi bất cứ nơi nào khách muốn. Anh ngại gì?

      Lục nhìn. Ðôi mắt ngây ngô đến tức cười. Hai tròng mắt dịch nhẹ, thoáng vẻ bối rối, phân vân. Hồng tiếp:

      –     Thuận đã đi Hà Nội. Hai đứa nhỏ thì về bên nội. Yên tâm đi, đưa Hồng về.

      Lục lắc đầu. Nàng kể vắn tắt chuyện xe nàng hư, phải giao cho thợ sửa, rồi thêm:

      –    Về thăm Hồng luôn thể. Từ hôm đó đến giờ bao lâu rồi, anh biết không. Cứ phải mất biệt nhau hoài.

      Thấy bộ Lục vẫn lưỡng lự, Hồng giễu:

      –     Thấy chưa, đúng là xe thồ giả hiệu!

      Lục lẳng lặng nhảy phóc lên xe. Nàng lấy cuốn sách quạt bụi trên tấm gỗ sau xe, thận trọng ngồi lên. Anh kéo cái mũ tai bèo sụp xuống trước trán, gò lưng đạp.

Đến nhà, Hồng mời Lục vào.

Anh  nhấp nha nhấp nhỏm trên ghế ngồi, nhìn quanh nhìn quất căn phòng. Hồng nói:

      –     Ðâu có mối nào chờ ở ngoài mà trông anh cứ như ngồi trên lửa vậy? Hay có hẹn với bà buôn nào?

      Lục chối:

      –     Hồng đừng có giễu nữa. Tội!

      Hồng cười phá lên:

      – “Tội!”. Nghe thảm. Cái này không phải tội anh mà là tội trời. Trời hành anh. Hay là anh hành anh. Tự dưng cái đi xe thồ. Ai xui khiến anh vậy?  Hèn gì…hèn gì…

      –     Hèn gì sao?

      –     Hèn gì mấy tháng nay bặt vô âm tín. Chiều nay, nếu không nhờ chiếc xe hư, chắc còn lâu mới gặp lại anh, phải không? Bây giờ nghe Hồng hỏi đây.

Lục nhìn chăm Hồng, chờ đợi. Hồng nghiêm nét mặt, hỏi:

      –     Hà cớ gì mấy tháng nay, anh không lên thăm Hồng?

      –     Thì như Hồng đã thấy đó, tôi bận làm ăn.

      –     Làm ăn! Hồng không tin. Anh không có cách gì làm ăn khác hay sao? Hỏi thì hỏi cho vui, chứ Hồng biết, mỗi người có một hoàn cảnh. Vậy, hôm trước Hồng có ghé nhà anh, anh có biết không?

      Lục ngạc nhiên:

      –     Hồi nào? Anh đâu có hay.

      –     Vậy mấy đứa nhỏ không nói gì với anh hết sao?

      –     Không hề.

      –     Hồng có mấy cuốn sách mới kiếm được muốn mang xuống cho anh mượn.

      Hồng nheo mắt nhìn anh, tiếp:

      –     Nói thật, đó chỉ là cái cớ. Lâu không gặp anh, Hồng không biết anh ra như thế nào. Nói anh đừng cười, Hồng có đi ngang đi lại nhà anh mấy lần, cứ mong trông thấy anh đâu đó, để nhìn cho…cho đỡ nhớ. Nhưng chẳng thấy. Bữa đó, vào đại.  May mà có mấy cuốn sách. Mà cũng may là không có chị ở nhà.

      Hồng cúi xuống, cắn môi. Lại ngẩng nhìn lên, ngập ngừng:

      –     Vả lại, anh biết sao không, Thuận đang có một người khác. Một nhân vật… Hà Nội.

      Lục ngạc nhiên:

      –     Vậy là Thuận bỏ…

      Lục ngừng. Hồng tiếp:

      –     Nói cho chính xác ra thì Thuận sẽ, sẽ gì nhỉ. Ừ, thì dùng chữ “bỏ” đi cho nó tiện. Nhưng mà…thôi, cứ xem như Thuận bỏ Hồng. Chưa, nhưng sẽ.

      Anh thở ra:

      –     Cũng buồn nhỉ!

      Giọng Hồng chặt lại:

      –     Không! Không bao giờ!

      –     Cái gì mà không?

      –     Không buồn! Không gì hết!

      Lục hỏi:

      –     Cô ta làm gì?

      –     Phải nói là bà ta mới đúng. Học vị rất kêu: phó giáo sư hay phó…giáo viên gì gì đó. 

      Anh sửng sốt:

      –     Phó giáo sư? Loại người như Thuận mà…

      –     Hồng biết anh muốn nói gì rồi. Ấy, dzậy đó! Thời này là thời của đổi đời mà.

      Hồng chợt đổi giọng:

      –     Lục biết không, con mẹ cũng chỉ là thứ điếm cao cấp mà thôi. Con mẹ vào đây, rất cần thứ người như Thuận, một loại…loại gì nhỉ?

      Lục ngạc nhiên. Anh đợi Hồng giải thích tiếp, nhưng nàng nói qua chuyện khác:

      –     Chị Hạnh độ này đi đều quá nhỉ?

      Lục im lặng. Hồng tiếp:

      –     Bữa nay, chị ấy bỏ hẳn nghề buôn trầm rồi phải không anh?

      –     Có lẽ thế.

      –     Sao lại có lẽ?

      –     Bà ấy có việc của bà ấy, anh có việc của anh.

      Cả hai im lặng. Hồng lờ mờ cảm thấy Lục, cũng như nàng, đều đang trải qua những thời gian không mấy thuận lợi trong cuộc sống chung. Nàng thì đã đành. Nàng đã chọn lựa và chấp nhận mọi hậu quả.  Quyết định đẹp nhất trong đời nàng là lấy Thiết. Quyết định táo bạo nhất trong đời nàng là bỏ Thiết. Sau đó, mọi thứ khác đều trở nên bình thường. Nó có thể làm nàng vui hơn một chút hoặc buồn hơn một chút, nhưng không thay đổi nếp sống, nếp nghĩ của nàng. Có gì đâu, đời là một cuộc chơi. Những thị phi, trách móc, giận hờn, gắn bó, chia lìa đều dần dà trở thành vô nghĩa. Như những vết thương trên da thịt, chúng hành hạ ta lúc đầu, để cuối cùng chỉ còn là những vết sẹo rơi vào quên lãng.

      Hồng mỉm cười. Lục hỏi:

      –     Sao cười?

      –     Giờ thì anh rõ là một con chim lạc đàn thứ thiệt.

      Lục gật gù:

      –     Hồng trông như một con chim bị thương.

      Hai người buồn bã nhìn nhau. Không cần giữ gìn ý tứ, cả hai rơi vào nhau. Tham lam, hối hả.  

*  

Dựng xe trên thềm nhà xong, anh mới biết là Hạnh đã về. Anh ngạc nhiên. Chuyến này nàng về sớm hơn thường lệ. Anh mang máng nhớ là lần này nàng đi mới có ba tuần. Chẳng biết là từ Hà Nội vào hay Sài Gòn ra? Hạnh đang tiếp khách. Hai người ngồi nói chuyện ngay bàn nhà trên. Thấy anh, khách lạ, một người đàn ông trẻ hơn anh, nhìn chăm một lát rồi gật đầu chào. Anh ngượng nghịu chào trả. Hạnh ném vào anh một cái nhìn khó hiểu, quay lại tiếp tục câu chuyện với khách.

      Nghe tiếng xe nổ, chạy đi hẳn, anh mới trở vào nhà. Hạnh từ phòng mấy đứa con bước ra, nhìn anh, giọng nghiêm trọng:

      –     Em cần bàn với anh nhiều chuyện.

      Anh không nói gì, thay áo quần. Khi trở ra, Hạnh vẫn còn đứng đó, vẻ chờ đợi. Anh làm như không chú ý, lẵng lặng ngồi xuống ăn cơm. Hạnh tiến lại:

      –     Em vừa bán chiếc Honda.

      Anh xới cơm vào chén, đáp hờ hững:

      –     Thế à!

      Thấy Lục không nói gì thêm, nàng tiếp:

      –     Em cần thêm vốn để đi buôn. Mối Hà Nội và mối Sài Gòn đều phải gối đầu cả, tối thiểu là một chuyến. 

      Lục ngừng đũa, ngước nhìn nàng, giọng cố giữ thật nhẹ nhàng:

      –     Cám ơn em đã cho anh biết. Nhưng anh thiết nghĩ, xe của em thì em có quyền bán, đâu cần phải hỏi ý kiến anh làm gì.

      Mặt Hạnh đanh lại:

      –     Em không hỏi ý kiến. Em chỉ báo cho anh biết.

      Anh cắm cúi ăn, nghe đồ ăn có mùi đăng đắng:

      –     Cám ơn!

      –     Khỏi!

      Hạnh bỏ đi. Khi anh ăn cơm xong, nàng trở ra, nhìn thẳng vào anh:

      –     Còn một chuyện nữa, nhân thể nói luôn cho xong.

      Anh chống hai tay lên cằm, nhìn nàng:

      –     Gì nữa đây?

      Nàng gằn từng tiếng:

      –     Em…muốn… anh…chấm…dứt cái trò đi xe thồ.

      –     Em nói gì? 

      Hạnh nhắc lại, giọng nhẹ nhàng hơn:

      –     Anh chấm dứt cái trò đi xe thồ giùm em.

      Anh hỏi:

      –     Em cấm anh?

      Hạnh không trả lời thẳng câu hỏi của chồng:

      –     Anh đã làm nhục em, làm nhục cả mấy đứa con.

      Lục đứng bật dậy, mắt long lanh bất thường:

      –     Này, cô đừng có nói cái giọng đó với tôi nghe chưa.  Tôi cho cô hay: chính cô mới làm nhục tôi, nhục mấy đứa con.  Ði xe thồ, có gì mà cô gọi là nhục, là cái trò này trò nọ. Thời buổi này, khối người người ta đi xe thồ. Ðó là một nghề lương thiện, không ăn cắp ăn trộm của ai, sao lại gọi rằng nhục. Còn cô, cô lấy cớ đi buôn đi bán, quan hệ lăng nhăng đủ thứ…

      Hạnh chồm người lên:

      –     Anh lấy cớ này cớ nọ vu vạ tôi. Tôi lăng nhăng cái gì?  Tôi quan hệ với ai?

      Lục cười gằn:

      –     Tôi không biết. Không ai có thì giờ đi theo cô mà biết.  Nhưng cứ tưởng tượng một người đàn bà đi suốt tháng, chỉ tạt về nhà có một, hai ngày như một người khách trọ, rồi tiếp tục đi. Cô xem thứ có ai đi buôn đi bán kiểu lạ đời như cô không?

      Hạnh gào lên:

      –     Trời ơi, anh mà còn nói như thế thì huống chi những kẻ xấu miệng xấu mồm chẳng đặt đủ điều nói xấu tôi. Tôi ngủ đường đường ngủ sá, lên xe xuống tàu, cực khổ là vì ai. Không đi buôn đi bán như thế thì lấy tiền đâu nuôi con, tiền đâu mua áo quần, tiền đâu trả tiền học, ai lo cơm gạo để cho anh đi la cà với bạn bè, nhậu nhẹt và nói tầm phào. Ai? Anh có biết tôi ra thân thể như thế này, mang tiếng mang tăm là vì anh, vì mấy đứa con không. Ðã không làm nên tích sự gì thì im cái miệng đi.

      Lục cười mỉa:

      –     Ðúng, tôi không làm nên tích sự gì. Không được tích sự gì, thì tôi đi xe thồ, có gì đâu mà cô cấm đoán.

      –     Anh đừng có mà chống chế. Anh bảo không có gì mà sao khi gặp người ta ở đây, anh lại tránh. Tại sao anh tránh?  Có phải chính vì anh cũng cảm thấy không vinh dự gì trong bộ áo quần xe thồ không? Ðúng không? Trời ơi, anh có biết người ta nói gần nói xa tôi như thế nào không?

      –     Nói gần nói xa cái gì? Cùng lắm người ta bảo cô có thằng chồng đi xe thồ, Lục xe thồ. Thế thôi. Có gì mà cô phải la toáng lên. Cô không thích thì đừng nhìn tôi là chồng.

      –     Người ta bảo tôi tệ bạc với anh, không lo cho anh, cho con để anh phải đi xe thồ…

      Lục xuống giọng:

      –     Thì họ nói có gì là sai đâu.

      Hạnh khóc rống lên:

      –     Trời ơi là trời, chồng với con. Anh ăn nói như thế mà nghe được sao! Trời ơi là trời! Cái thân tôi sao mà khổ thế này trời.

      Hạnh đấm ngực mình thùm thụp, vừa đấm vừa khóc tức tưởi. Lục đứng dậy:

      –     Cô đừng có dùng tiếng khóc mà áp đảo tôi. Tôi đã không động cập gì đến cô, thì xin cô để cho tôi yên.

      Anh lẳng lặng quay vào phòng. Trong góc nhà, ba đứa con lặng lẽ quan sát cha mẹ chúng, đôi mắt đứa nào cũng đỏ ngầu, đẫm nước mắt.

Chương 38

Lục quyết định chọn “nghề” đi xe thồ vào lúc anh cảm thấy cuộc sống của mình hoàn toàn lâm vào bế tắc. Lựa lúc Hạnh bôn ba từ Nam ra Bắc dài ngày, anh ra quân. Lúc đầu, ngượng, anh ăn mặc tương đối tươm tất. Chiếc xe đạp thì nửa xe thồ, nửa không. Anh tìm một chỗ vắng, đứng một mình, đợi. Và dài cổ đợi hoài, chẳng có ai hỏi đến. Thỉnh thoảng, thấy có người đi ngang đảo mắt nhìn quanh, anh rụt rè mời.  Người ta lắc đầu, gọi chiếc xe thồ khác để đi. Sau vài ngày, anh mới hiểu ra, người ta không gọi anh vì anh không có cái nét phổ biến của một người đi xe thồ. Anh “ngộ” ra rằng, nghề nào nghiệp đó, cái gì phải ra cái đó, không thể hàng hai, ỡm ờ được. Thế là, anh thay lốt người, lốt xe. Thay đổi luôn ngôn ngữ và thái độ. Anh mặc áo quần lính cũ vá víu, đi dép râu, đội mũ bạc màu. Phần sau xe lót một tấm gỗ to bản trên bót-ba-ga với nhiều dây cao su cỡ lớn quấn quanh, sẵn sàng để cột hàng.  Phần trước xe đóng thêm một chỗ ngồi nằm giữa ghi đông và yên, phòng khi có trẻ em. Với thiết kế mới, anh có một nhân dáng rất “xe thồ”, phân biệt anh khỏi một người bình thường.

      Và anh lập tức có khách. Người khách đầu tiên trong đời xe thồ của anh là một người đàn bà trung niên, tuổi có vẻ lớn hơn anh đôi chút. Chị ta bước đến, để cái giỏ xách xuống đất, hất hàm hỏi:

      –     Chùa Thiên Hương, cả đi và về, mấy?

      Anh nhã nhặn hỏi:

      –     Chùa Thiên Hương là chùa nào chị?

      –     Cái anh này, chở khách mà không biết chùa Thiên Hương à? Không biết thì sao mà có khách. Gần cầu Lim chứ mô nữa.

      –     Cầu Lim? Có phải là đường lên Thiên An không?

      –     Ðấy, đấy. Ði ngả Ðàn Nam Giao. Mấy?

      Anh thực sự lúng túng:

      –     Dạ…dạ…chị cho mấy cũng được.

      –     Cái anh này, phải cho giá chứ ai biết mấy mà trả.

      –     Thôi, chị cho ba chục đi.

      –     Anh nói gì? Ba chục à? 

      Anh giật mình:

      –     Thì xem như chị đi đến hai chuyến mà, cả đi cả về.  Hay là để tôi bớt…

      –     Cái anh này lạ thật. Cả đi cả về, lại dốc lên dốc xuống nữa, mà sao lấy có ba chục, là sao?

      Anh bật cười, phóc lên yên xe, nói:

      –     Mời chị lên xe. Chị cho bao nhiêu cũng được. 

      –     Cái xách tôi bỏ đâu đây?

– Chị đưa cho tôi. 

      Anh lấy xách bỏ trước giỏ xe. Giỏ xe nặng, nên khi anh đạp đi, cái ghi-đông nghiêng qua nghiêng lại. Phải năm, bảy phút sau, anh mới kiểm soát được chiếc xe của mình. Dọc đường, người đàn bà hỏi:

      –     Tôi hỏi có khi không phải. Anh đi xe thồ bao lâu rồi?

      Anh thú thật:

      –     Mới có mấy hôm thôi, chị. Không nói giấu gì chị, chị là người khách đầu tiên.

      Xong chuyến, người đàn bà đưa anh năm chục. Anh chỉ lấy ba chục, nhưng bà ta nhất quyết không chịu. Anh đành phải nhận. Nghề dạy nghề, anh rành rọt dần. Anh trở thành một dân xe thồ thứ thiệt, rất chính danh. Và bạn bè cho anh một cái tên mới: Lục-xe-thồ. Quen nghề, con ngựa sắt của anh chạy khắp thành phố, mang lại cho anh một hãnh diện khác thường: được làm một nghề hạ tiện nhất trong thời buổi đảo điên nhất của xã hội. Anh còn có một nỗi vui ngấm ngầm khác: không còn lệ thuộc vào Hạnh nữa. Anh đề ra một thời khóa biểu khá chặt chẽ. Chuyến sớm: từ 4 giờ sáng đến 7 giờ sáng. Chuyến sáng: từ 9 giờ đến 12 giờ trưa. Chuyến chiều: từ 4 giờ chiều đến 7 giờ chiều. Chuyến khuya: từ 10 giờ đêm đến 12 giờ khuya. Hễ đến giờ nghỉ là anh về nghỉ. Giờ buổi trưa, có khách gọi, anh cũng từ chối, trừ trường hợp đặc biệt như như khi có khách đường xa, cần đi thăm lăng, thăm mộ. Tiền kiếm được, anh phân ra ba phần, mỗi phần bỏ vào một hộp riêng, chỉ sử dụng khi có việc liên quan đến phần đó: phần cho con, phần anh và phần tu bổ xe.

      Hầu hết khách xe thồ là phụ nữ. Ðiều lý thú (và lắm lúc phiền toái) là được nghe hàng bao câu chuyện khác nhau từ miệng mấy cô mấy bà lắm mồm, mau miệng. Chưa hỏi, các bà các cô đã kể. Kể huyên thiên, tuốt luột, say sưa. Có bà, đã đến nơi rồi, không chịu xuống xe, cứ ngồi trên bót-ba-ga kể cho xong câu chuyện. Có một bà, câu chuyện dài quá, ngắt giữa chừng vì đã đến nơi, bà hẹn lần sau kể tiếp. Y như phim bộ Hồng Kông. Tưởng chỉ nói cho qua chuyện, không ngờ, Lục gặp lại bà khách này thiệt. Nhưng bà ta không buồn kể tiếp chuyện cũ dang dở nữa mà kể một chuyện khác mới toanh, hấp dẫn hơn nhiều. Chưa xong, bà hẹn thêm một “lần sau nữa”. Chuyện mình chưa xong đã đến chuyện người. Chuyện nào cũng đầy kịch tính. Có bà, khi kể, còn vung ta múa ngón, diễn tả nỗi vui mừng hay giận hờn bằng cách bóp vào vai anh hay thậm chí đấm ngay vào lưng anh. Thì sao cũng được, chìu khách mà. Phải nhận rằng, nhiều câu chuyện nghe hay đáo để. Họ biết biến những chi tiết không ra gì thành những điều lý thú, đôi khi lý thú còn hơn cả chính câu chuyện. Anh tiếc rằng mình không có tài viết lách để ghi lại những câu chuyện tầm phào trên đường đi thành tiểu thuyết.

      Và anh cũng quen dần với sự vắng mặt thường xuyên của Hạnh. Từ ngày buôn tuyến đường Hà Nội – Sài Gòn, một tháng nàng chỉ ghé nhà một hoặc hai lần. Một lần như thế, nàng ở nhà một, hai ngày rồi lại đi. Dăm ba ngày hay một tuần, Ðồng đạp xe lên ga gặp mẹ để nhận tiền bạc và đồ ăn. Anh không cần thắc mắc nàng đi đâu, buôn bán những gì, lời lỗ thế nào. Ngược lại, dường như Hạnh cũng không buồn thắc mắc, cãi cọ với anh về chuyện anh đi xe thồ. Hai người hậm hực nhau, nhưng ai cũng bận lo lắng việc riêng của mình, nên làm lơ. Không khí gia đình tựa như một cuộc hưu chiến giả tạo, đầy bất trắc.

*

      Cuối tháng tám, Hạnh về nhà. Nàng định ở một ngày rồi đi Sài Gòn ngay. Nhưng một cơn bão đột ngột tràn tới khiến nàng phải ở nhà thêm mấy ngày nữa. Mấy đứa con phập phồng nhìn cha mẹ, chờ đợi một cuộc cãi cọ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng may mắn, không có gì. Có lẽ nhờ nỗi lo lắng về cơn bão chiếm hết tâm trí mỗi người. Mà cũng có lẽ nhờ thói quen. Mỗi người sống và suy nghĩ và làm theo cách của mình. Hai người chỉ nói với nhau những gì cần phải nói. Như hai cái máy. Và mong chờ cơn bão qua đi.

      Hết bão, chưa dọn dẹp xong, Hạnh vội vã lên đường.  Nàng nằm chầu chực ở ga, đợi nhảy tàu đi, chứ không về nhà.  Lục tự hỏi, không biết động lực gì lôi cuốn nàng mạnh mẽ đến như vậy? Nhưng chính anh rồi cũng thế. Anh quày quã đạp xe đi thồ. Sau những ngày nhốt kín trong nhà vì mưa bão, anh cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái khi thấy trời cao, nắng sáng và người đi qua đi lại. Anh đạp đi, ngẩng cao đầu huýt gió, tự hỏi không biết hôm nay anh sẽ có bao nhiêu khách và nghe được bao nhiêu câu chuyện đời?

      Vừa dừng chân, dựng xe đợi khách tại đầu con hẻm trên đường Nguyễn Huệ, thì Phi, một bạn đồng nghiệp nhỏ tuổi của anh, từ phía Bến Ngự đạp về. Cậu ta hỏi:

      –     Chú Lục, bão biếc bên nhà thế nào?

      –     Tóm lại là có thiệt hại, nhưng không đáng kể. Nhà cháu thế nào?

      –     Không đến nỗi. Chỉ tiếc là cây nhãn bên hông nhà bị trốc gốc.

      Phi dùng chân nhấn cái chống xe xuống đất, dựng bên vệ đường, rút túi lấy gói Hoa Mai ra mời Lục:

      –     Ðiếu đã chú!

      Lục không từ chối. Phi mồi lửa. Cậu ta rít một hơi, phù khói ra thành luồng, đến sát cạnh Lục, hỏi nhỏ:

      –     Chú đã nghe tin gì chưa?

      –     Chưa. Mấy ngày mưa bão ở nhà, mô có đi ra ngoài mà biết. Tin gì vậy? Giết người? Ngoại tình? Vượt biên? Hay phản động?

      Phi lấy ngón tay trỏ gõ gõ trên lưng điếu thuốc để cho tàn rơi xuống. Cậu ta nhìn quanh cảnh giác, nói:

      –     Nghe nói sắp đổi tiền.

      –     Lại đổi tiền? Cái gì mà phải đổi tiền?

      –     Ai mà biết chú, nhà nước họ thích thì họ làm. Mà chú đừng có nói cho ai biết nghe.

      –     Ừ. Chẳng dám nói bậy đâu.

      Ngẫm nghĩ một lát, anh nói:

      –     Ðổi tiền. Họ đổi tiền để làm gì nhỉ? Chắc người ta đồn vậy thôi, chứ không có đâu. Hồi trước, khi mới giải phóng, họ đổi tiền là có lý, vì không thể có hai thứ tiền cùng lưu hành trong một nước. Họ cần thống nhất tiền tệ. Còn bây giờ thì chỉ có một thứ tiền thôi, đổi làm gì.

      –     Cháu không rành, nhưng theo cháu nghe nói thì người ta đồn gì là có nấy, chú à. Ðồng tiền giờ mất giá quá!

      –     Cháu lo không?

      –     Hơi mô mà lo chú ơi. Nhà cháu nghèo rớt mồng tơi, có tiền của gì đâu mà sợ. Thôi, cháu đi. Kiếm ít mối kẻo trưa.  Mạ cháu đang hóng tiền mua gạo ở nhà. Chợ Bến Ngự bữa nay ế rề. Ðứng cả buổi chẳng có ma mô hỏi. Chú vẫn đứng ở đây?

      Lục gật đầu. Anh nhìn theo người bạn nhỏ tuổi đạp xe xa dần về phía An Cựu, lòng chợt nhói lên một niềm thương cảm mênh mông. Phi còn nhỏ, cỡ mười tám mười chín. Cậu ta đang học lớp mười, phải bỏ học đi xe thồ để phụ giúp mẹ và nuôi em. Ba dính vào vụ biến loạn Mậu Ngọ (1978), bị kết án năm năm tù, được thả trước thời hạn mấy tháng vì bị thần kinh tọa liệt cả hai chân. Phi chỉ lớn hơn Ðồng có mấy tuổi, nhưng trông già như người từng trải. Nếu mà Ðồng phải đi xe thồ như Phi thì thảm quá, anh hoang mang tự nhủ. Cuộc đời vốn đầy bất trắc. Hôm nay thế này, ai mà biết ngày mai sẽ ra sao?

      –     Có đi chợ Ðông Ba không?

      Lục giật mình, nhảy lên xe, chuẩn bị đón khách. Không cần mời, người đàn bà vừa bước đến đã nhanh nhẩu ngồi lên bót-ba-ga, hỏi ngay:

      –     Mấy?

      –     Mười đồng.

      –     Ðược. Ði.

      Lục nhấn pê-đan, vọt tới. Người đàn bà nhẹ cân, nên anh lấy đà mau, đạp ào qua đường Nguyễn Trường Tộ. Chị ta hỏi:

      –     Nghe gì chưa, chú?

      –     Chưa, chị. Gì vậy?

      –     Sắp đổi tiền đấy!

      Anh lơi đôi chân đạp, nghiêng đầu ra sau:

      –     Ai nói mà chị biết hay vậy?

      –     Thì nghe người ta đồn thế.

      –     Chị có nghe khi nào thì đổi không?

      –     Ai mà biết. Mà thế nào cũng có. Trước nay hễ đồn là có hà.

      Nghe giọng người đàn bà dấm dẳng khó chịu, anh không muốn hỏi tiếp, im lặng đạp cho đến nơi.

*

      Một tuần sau, tin đồn đổi tiền đã trở thành công khai. Ở đâu cũng nghe người ta bàn tán, dù không ngang nhiên, nhưng không còn thập thò giấu đút như trước. Lục không mấy lưu tâm, vì anh vẫn không tin là có chuyện đổi tiền. Hơn nữa, anh lại chẳng có bao nhiêu tiền để phải lo âu. Anh suy luận rằng nếu nhà nước định đổi tiền thì họ không đời nào để “xì” ra tùm lum như thế. Cứ xem những vụ như vụ Mậu Thân, hay vụ tấn công Bảy Lăm là rõ. Những trận đánh lớn lao và có tầm quan trọng như thế mà họ còn giấu được huống hồ gì đổi tiền là việc quá đơn giản, dễ giấu hơn bội phần. Khi chở khách, nghe ai nhắc đến chuyện đổi tiền là anh bác ngay với nhiều lý lẽ rất thuyết phục. Có lúc anh hăng hái bảo vệ lập trường của mình đến nỗi có người tưởng anh là cán bộ tuyên truyền của nhà nước. Giữa tháng chín, tin đồn bắt đầu có ảnh hưởng. Thị trường xáo trộn. Vàng cao từng ngày, không có dấu hiệu gì sẽ hạ. Giá sinh hoạt theo đó cũng tăng đều. Tất cả các mặt hàng đều tăng quá mức bình thường.

      Ðến tuần lễ thứ ba của tháng chín, thị trường lên cơn sốt.  Chợ tấp nập khác thường. Không khí nóng bỏng. Giá cả thay đổi từng giờ. Người ta thấy vợ con cán bộ bắt đầu ra chợ lùng hàng. Lúc đầu, lác đác ít người mua một cách dè dặt, trong lúc vẫn giấu giếm tung tích. Nhưng hôm sau, cán bộ cũng như dân thường công khai đổ xô ra chợ. Ðiều trái khoáy là trong lúc đó, các cơ quan nhà nước cực lực cải chính tin đồn đổi tiền và bắt đầu mở chiến dịch tố cáo những kẻ tung tin đồn nhảm. Nhiều vụ bắt bớ xảy ra. Một số trường hợp điển hình được đưa lên báo, đài để răn đe quần chúng. Ðồng thời các cơ quan truyền thông từ trung ương đến địa phương liên tục phát thanh, phát hình các thông báo và các bài bình luận tập trung vào việc bác bỏ tin đồn. Trong phạm vi thành phố, các loa phóng thanh lập đi lập lại thông báo của Uỷ ban nhân dân tỉnh kêu gọi nhân dân bình tĩnh, không được tiếp tay cho kẻ xấu. Sinh viên học sinh và công nhân được huy động ra chợ thành từng toán, đến từng sạp hàng, cửa hàng để giải thích chính sách của nhà nước.

      Sáng ngày thứ tư, một tin mới được tung ra: chủ nhật sẽ đổi tiền. Tin nhanh chóng được truyền đi khắp hang cùng ngõ hẻm.  Tất cả thành phố xao xác như đang chuẩn bị chạy loạn. Người người tất tả ngược xuôi, mặt mày hớt hải. Ngờ thì vẫn ngờ, nhưng tin thì cứ tin. Không tin vẫn cứ sốt ruột. Người ta vẫn mua mua bán bán, nhưng ai cũng có cảm giác bất định. Ðồng tiền trong túi bỗng nhẹ tênh tênh, vì không khéo sẽ trở thành một mớ giấy lộn bất cứ lúc nào. Không ai dám xác quyết điều gì là đúng: giữ tiền thật nhiều hay mua bất cứ thứ gì với bất cứ giá nào, miễn đẩy tất cả tiền đi. Một số chủ sạp, chủ tiệm, đóng hẳn cửa hoặc chỉ mua bán cầm chừng. Càng về cuối tuần, tình hình càng tồi tệ. Người ta bắt đầu đổ xô đi mua bất cứ thứ hàng gì, miễn là hàng, từ cây kim sợi chỉ, hòn bi đến cái ly, cái chén, áo quần, vải vóc. Nhiều thứ hàng hóa chất đống mốc meo dưới đáy sạp  cũng được khách hàng nài nỉ mua. Người ta vui mừng vì đẩy đi được những thứ đáng lẽ vứt đi, nhưng cũng không mấy vui khi cầm đồng tiền trên tay.

      Chiều thứ bảy, thành phố lắng đi, hoang mang và buồn bã.  Như có giới nghiêm. Lục đạp xe vòng khắp phố. Tất cả quán xá, tiệm ăn, sạp hàng, quán cà phê đều đóng cửa. Trên đường phố, lơ thơ một vài chiếc xích lô, xe thồ lơ ngơ, không biết để kiếm khách hay để làm gì. Tuy thế, tại bến xe lam, dọc theo con đường chạy ngay sau chợ cá, tại khu vực các hàng ăn và rải rác một vài chỗ trong chợ, vẫn còn những nhóm người tụ lại mua mua bán bán. Các mặt hàng khá đa dạng: con gà, cái muỗng, cuốn vở, cái quần đùi cũ, chiếc xe đạp hư, cái mũ, vân vân và vân vân.  Mặt hàng nào cũng trở thành vô giá. Một cái muỗng có thể được bán với giá vài ngàn đồng, tương đương với một cái máy hát. Một con gà có thể bán với giá vài chục ngàn.  Nghĩa là giá tăng gấp vài chục, vài trăm hay vài ngàn lần so với giá bình thường. Ấy thế mà người ta giành nhau mua. Có những đứa trẻ khố rách áo ôm bán được một món hàng lượm đâu đó với cái giá mà cả đời nó mơ ước cũng không thể có: vài ba ngàn. Chúng cầm cả xấp tiền đi lơ ngơ với vẻ mặt rạng rỡ khác thường: lần đầu tiên, chúng sở hữu được một số tiền lớn dường ấy. Ðiều khôi hài là, chúng không tiêu xài được số tiền theo ý chúng muốn. Muốn ăn, không tiệm nào mở cửa, muốn mua một thứ gì khác để dành, không ai

bán. Chúng sẽ làm gì với số tiền ấy ngày mai, Lục tự hỏi.

      Anh đạp quanh chợ, rồi tạt vào một đám đông tụ lại gần một tiệm sấy tóc sát bờ sông. Thấy anh vào, đám đông chuyển động. Nhiều người sà tới nắm chiếc xe đạp của anh, hỏi giá và trả giá. Tiếng mọi người nhao nhao:

      –     Nhiêu?  Mười ngàn? Mười hai ngàn?

      –     Hai chục ngàn đi, được không?

      –     Hai mươi bốn ngàn, chịu không? Tiền sẵn đưa ngay.

      –     Tôi không bán. Tôi đã nói tôi không bán mà. Cái gì?  Cái mũ phở này hả? Không. Mũ để tôi đi xe thồ sao bán được.

      Anh rút hộp quẹt ga, bật lên châm lửa. Vài người sà tới.  Những câu hỏi đổ dồn lên anh. Nhiêu? Mười ngàn? Hai chục ngàn? Bán đi cho rồi. Hay là ba chục ngàn? Vừa nói, người này xỉa ngay tiền ra, trong lúc người khác cũng chen vào, xỉa tiền ra.

      Lục bực mình đạp đi. Anh chán nản chẳng muốn đón khách nữa. Anh ghé mấy tiệm rượu để mua một xị rượu. Không ai chịu bán. Sau cùng, anh ghé một tiệm quen, rượu ở đây dở, không hợp khẩu vị, nhưng anh vẫn nài nỉ mua. Nể anh, người ta bán, nhưng chỉ bán chịu, chứ không nhận tiền.

      –     Anh thông cảm. Tiền bạc hãy cứ đợi đến chiều mai.

      Người chủ quán nói, kèm theo một nụ cười, buồn thì không buồn, nhưng rõ là chẳng mấy vui.

*

Cho đến tận khuya đêm hôm thứ bảy, loa phóng thanh khắp thành phố ra rả phát đi phát lại bản thông cáo mới nhất của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh và Thành Phố, trích dẫn thông báo của chính phủ trung ương, xác định một cách mạnh mẽ và dứt khoát: không có chuyện đổi tiền.

      Cả thành phố im lìm, thao thức.

      Cả nước im lìm, thao thức.

      Lục chợp mắt vào lúc ba giờ sáng. Nhưng anh không ngủ được bao lâu. Trời chưa sáng, tiếng loa phóng thanh đã đồng loạt vang lên trên toàn thành phố, đánh thức anh dậy. Xướng ngôn viên đọc sắc lệnh đặc biệt của nhà nước và thông báo đặc biệt của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, loan báo việc đổi tiền sẽ tiến hành trên toàn quốc vào lúc 7 giờ sáng. Ðồng tiền mới sẽ thay thế đồng tiền cũ với quy định:

      –     Tất cả mọi hộ phải kê khai số tiền mặt hiện còn giữ.

      –     Một đồng tiền mới ăn một chục đồng tiền cũ.

      –     Mỗi hộ sẽ được đổi tiền mới tùy theo số nhân khẩu thường trú trong hộ, nhưng không vượt quá con số 20.000 đồng tiền cũ mỗi hộ.

      –     Số tiền còn lại sẽ được nhà nước giữ giùm, có thể rút ra để tiêu dùng, nhưng với một số điều kiện quy định sẽ được thông báo sau.

      “Ðúng là đồn gì có đó,” Lục nhủ thầm khi choàng dậy.  Anh phóc ngay khỏi giường, nhanh chóng rửa ráy mặt mày, đi ra đường. Trên đường, nhiều người trong xóm đã ra tụ tập, bàn tán sôi nổi. Anh đi bộ đến quán tạp hóa ở góc đường. Một đám đông lớn đã hình thành nơi đây. Người thì ngồi xổm bên vệ đường, kẻ thì ngồi trên yên xe đạp, những người khác thì đứng dọc từ trong cửa quán ra ngay giữa lòng đường. Những kẻ qua đường cũng dừng lại nghe ngóng. Cứ thế, đám đông phình to lên mãi. Tiếng nói, tiếng cười, tiếng cãi vã vang cả khu xóm vốn bình thường vẫn vắng lặng. Thỉnh thoảng tiếng ồn ào chợt đồng loạt ngưng lại vì mọi người chăm chú lắng nghe một thông báo mới phát ra từ chiếc loa phóng thanh công cọng đặt trên đỉnh cột điện ở góc đường. Giọng xướng ngôn viên nữ xen kẻ với xướng ngôn viên nam vang lên từng hồi, gọn, sắc và nghiêm trang như đọc lệnh hành quân.

      Lục gặp hầu hết những khuôn mặt quen trong xóm. Những kẻ buôn thúng bán bưng, những anh phu xích lô, xe thồ góp ý, nói cười vui vẻ. Những người đi buôn đường dài hay có sạp hàng ở chợ thì mặt mày đăm chiêu hiện rõ trên nét mặt. Trong số người đứng lố nhố quanh quất, Lục thấy có cả ông trung tá bộ đội và một cán bộ hưu trí, là hai người vẫn thường chủ trì các buổi sinh hoạt chính trị trong xóm anh. Hai người này ít góp chuyện, chỉ đứng lắng nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu.  Nhìn thái độ của họ, Lục đoán họ cũng ngỡ ngàng, chẳng biết gì nhiều hơn mọi người về biến cố mới mẻ này.

      Anh Bảy xích lô hỏi:

      –     Chú Lục nghĩ thế nào?

      –     Thì “thế nào” gì nữa mà nghĩ. Tiếng đồn đã trở thành thiệt rồi.

      Chị Quỳ đứng gần đó, nói xen vào:

      –     Chuyện lạ thiệt! Hồi hôm nghe thông báo nhà nước mạnh mẽ quá, tui vẫn yên chí là không có gì. Ai ngờ!

      Người đàn bà đứng gần chị Quỳ nói lớn:

      –     Tui đã nói với bà rồi. Ðồn là có. Thế mà bà cứ không tin.

      –     Tin thì tin mà vẫn ngờ. Nhưng mà đổi hay không đổi, mình cũng thế thôi. Sợ là sợ cho đám nhà giàu.

      Chị Quỳ nhìn quanh rồi hạ giọng:

      –     Cho con mệ Ðông buôn thuốc tây biết mặt. Ỷ có năm đồng ba trự cứ vênh vênh cái mặt.

      –     Chị cứ nói! Ðám con buôn họ nhanh tay lắm. Họ mua hàng hay vàng cả rồi. Họ dại gì giữ tiền.

      Một người đàn ông phát biểu:

      –     Nhà nước họ ghê thật. Ðổi tiền xong, họ giữ được một số tiền phải nói là khổng lồ từ người dân.

      Một người khác nói:

      –     Thông báo nói nhà nước chỉ tạm giữ thôi mà! Sau này ai muốn rút thì cứ rút.

      –     Trời, ở đó mà rút. Phải làm đơn nêu rõ lý do, vì sao rút, rút để làm gì, rồi phải được phường, khóm xác nhận. Ðừng có tưởng bở. Còn khuya mới rút được.

      –     Sao mà anh biết rành quá vậy? Ðã nghe thông cáo thông kiết gì đâu.

      –     Cần gì nghe nói. Nếu mà dễ rút thì bây giờ họ chỉ cho đổi có hai chục ngàn để làm gì.

      Chị Quỳ hỏi trổng:

      –     Mười đồng ăn một đồng, vậy nếu mình muốn mua cây kim độ vài hào hay mua một cái gì độ một, hai đồng tiền cũ thì làm sao hè? Không biết họ có còn dùng tiền hào không?

      Một người đàn bà trả lời:

      –     Rồi cũng sẽ biết thôi. Ðợi đến 7 giờ thì biết ngay.

      Một người đàn ông trung niên, nãy giờ yên lặng đứng nghe, lên tiếng than thở:

      –     Không biết sau đổi tiền rồi ra sao? Làm ăn có được không? Thiệt khổ! Suốt cả tuần này chẳng kiếm được đồng nào.

      –     Thì có ai làm ăn gì được. Mua thì giá quá cao, mà bán thì sợ để tiền thành đồ giấy lộn.

      Lục lắng nghe, nhưng không thấy có ý kiến nào thuyết phục. Riêng anh, anh chẳng có gì phải lo. Kể cả tiền Hạnh gửi về và tiền anh cộng lại chưa tới năm ngàn. Anh chợt nghĩ tới Hạnh. Không biết giờ này nàng đang ở đâu? Sài Gòn, Hà Nội hay trên tàu? Nàng có còn giữ nhiều tiền mặt không? Nàng đã mua hàng chưa? Nhưng anh tự trấn an: nàng có mấy khi giữ tiền mặt nhiều. Có tiền là nàng đã vội vã mua hàng ngay hay nếu không cũng mua vàng.

      Ðám đông tản dần. Trên đường trở về nhà, gần đến cửa ngõ, anh bỗng nghe tiếng gọi giật đàng sau:

      –     Lục!

      Anh quay lại. Tân đạp xe lại gần:

      –     Có nhiều tiền mặt không?

      –     Không. Dại gì mà giữ cho nhiều vào.

      –     Tốt quá! Vậy thì ông cho tôi gửi vào phần còn lại đi.

      –     Ðược thôi.

      Nói xong, anh mới thấy mình quá vội vàng, nên nói lại:

      –     Nhưng đợi tôi hỏi xem trên nhà trước đã. Không thì mang tiếng.

      Tân cười:

      –     Không sao. Còn chỗ thì để dành tôi mà hết thì thôi.  Ðó chỉ là chuyện nhỏ. Tôi có chuyện lớn cần bàn với ông. Nhưng ta hãy về nhà đã.

      Vào nhà, Tân nói ngay:

      –     Tôi vừa bắt được một đường dây làm ăn về việc đổi tiền. Ông có chịu hợp tác không?

      –     Sao không? Nhưng bằng cách nào? Tôi kém mấy chuyện này lắm, sợ có khi ông kéo vào chỉ tổ thêm phiền ông.

      –     Rất đơn giản thôi, ai cũng có thể làm được. Ông chỉ cần liên lạc xem ai có tiền thừa cần đổi, bao nhiêu cũng được.  Ông gom hết mang về. Chúng ta sẽ đổi cho họ.

      –     Ăn chia thế nào?

      –     “Người ta” dứt khoát sẽ lấy đứt 20 phần trăm, nghĩa là mười ngàn sẽ chỉ còn tám ngàn. Còn phần của mình thì do mình “chịu” giá với người đổi. Mình dẻo miệng thì kiếm được tỉ lệ cao. Chẳng hạn khách chịu 50 phần trăm thì mình sẽ có 30 phần trăm, đại khái là vậy.

      Lục gật đầu, ngẫm nghĩ. Anh hỏi lại:

      –     Cũng hay. Nhưng mà…giữa ông với tôi thì thế nào?

      Tân cười:

      –     Dễ ợt! Mình có thể cùng nhau đi kiếm khách, cùng đi đổi tiền, phần lời chia hai. Hoặc ông lo kiếm phần ông, tôi lo phần tôi. Ông kiếm mối xong về giao cho tôi. Ông thỏa thuận với khách bao nhiêu tôi không biết, tôi lấy 5 phần trăm. Ðại khái là thế. Nhưng nếu ông muốn có một phương thức nào hay hơn, hãy cứ suy nghĩ. Bây giờ thì các địa điểm chưa mở cửa.  Tôi phải về lo cho phần gia đình mình. Ông cũng thế, lo cho xong phần gia đình đi. Sau 9 giờ mình gặp lại, nhé?

*

      Mọi chuyện diễn ra suôn sẻ. Sau khi đổi tiền cho gia đình xong, Lục chạy quanh tìm gặp những người quen, toàn là mối lái làm ăn của Hạnh, để gom tiền. Rồi cùng Tân lui tới các trụ sở phường, các trung tâm đổi tiền cho khách vãng lai ở khách sạn Hương Giang, ở “xẹc”, nhà khách Thành Phố để giao tiền cũ và nhận tiền mới. Có thể nói là trong đời, đây là lần đầu tiên anh “trúng quả” đậm: gần bảy ngàn tiền mới.

      Khi các địa điểm đổi tiền đóng cửa vì hết giờ, đường dây của anh và Tân vẫn còn hoạt động. Mãi đến 7 giờ tối, anh và Tân mới nhận đủ số lượng tiền mới do những người trung gian giao lại. Tính toán với Tân xong, anh lấy số tiền của khách bỏ vào túi xách nhỏ cột chặt trong lưng, rồi đạp xe đi giao tiền.

      Trời tối hẳn. Ðường Nguyễn Chí Thanh nhập nhòe trong ánh đèn đường tù mù. Qua khỏi cổng trường Gia Hội, anh đạp dò dẫm, tìm đường Cao Bá Quát. Một chiếc xe Honda dame từ phía xa đàng sau chạy vọt lên, rồi đột ngột dừng lại ngay trước mặt anh. Trong lúc người lái đang dựng xe, thì người ngồi phía sau bật đèn pin dọi vào mặt anh, đồng thời đưa tay kia vẫy cho anh ngừng lại. Anh giật mình thắng gấp. Chiếc bánh xe trước quay ngang, suýt chút nữa hất anh té nhào xuống đất. Anh gượng đứng lại, nhảy khỏi yên xe, run giọng hỏi:

      –     Các anh là ai?

      Giọng một người đàn ông miền ngoài chắc và khô:

      –     Chúng tôi thuộc tổ đặc nhiệm tăng phái bảo vệ an ninh ngày đổi tiền. Yêu cầu anh cho kiểm tra giấy tờ.

      Nói xong, anh ta chìa cho Lục một tấm thẻ bọc nhựa, có đóng khuôn dấu đỏ choét. Anh đứng trân người, hồn vía chừng như bay mất. Người đàn ông lái xe dựng xe xong, bước vòng ra sau anh. Lục dựng xe đạp lại, rút chứng minh nhân dân đưa cho người đàn ông cầm đèn pin. Xem xong, anh ta hỏi:

      –     Anh ở trong Thành Nội?

      –     Vâng.

      –     Anh xuống vùng này có việc gì?

      –     Tôi đi thăm người bạn.

      –     Anh có mang theo gì trong người không?

      –     Dạ, không.

      Người đàn ông phía sau, ra lệnh:

      –     Anh đưa hai tay lên. Chúng tôi cần kiểm tra.

      Lục run rẩy làm theo lệnh. Người đàn ông vòng hai tay rờ rẫm quanh khoảng thắt lưng, hỏi:

      –     Anh mang theo cái gì trong người đây? Ðề nghị anh cho kiểm tra luôn.

      Lục chưa kịp phản ứng thì bằng một động tác nhà nghề nhanh gọn, anh ta kéo áo anh lên, giựt cái túi xách nhỏ ra khỏi thắt lưng.  Anh ta bước tới trước, đưa ra dưới ánh sáng đèn, mở túi xách. Vừa thấy một cọc tiền mới nằm gọn gàng ở bên trong, anh ta tỏ vẻ ngạc nhiên, hỏi:

      –     Tiền mới! Tiền đâu mà anh có nhiều thế này?

      –     Dạ… dạ… tiền gia đình tôi mới đổi.

      Anh ta cầm cọc tiền, đếm rồi la lên:

      –     Gần ba chục ngàn tiền mới. Tiền của ai mà nhiều thế này?

      –     Dạ, của… của… gia đình… mấy người bà con.

      –     Ðược thôi. Anh có mang theo giấy tờ gì chứng minh số tiền này không?

      Lục lúng túng, không biết trả lời sao cho suôn sẻ. Người đàn ông tiếp:

      –     Theo quy định, mỗi hộ chỉ được đổi tối đa hai ngàn đồng tiền mới. Ở đây đến những ba chục ngàn, là phải mười lăm hộ. Thế này là thế nào?

      –     Dạ… không… dạ, người ta nhờ tôi mang lại cho họ.

      –     Ðược, tôi tạm tin anh. Anh có còn giữ tiền ở đâu nữa không?

      –     Dạ, không.

      Anh ta bỏ hết tiền vào túi xách, đưa cho bạn giữ, rồi bảo Lục:

      –     Anh cho tôi kiểm tra tiếp.

      Anh ta vỗ vào túi sau, hai túi hai bên của Lục. Thấy có gì nổi lên lộm cộm, anh ta bảo Lục lấy hết đưa ra. Tiền! Anh ta kinh ngạc:

      –     Lại tiền mới nữa.

      Anh ta quay sang nói với đồng bạn:

      –     Trường hợp này phức tạp đấy. Hay là ta đưa anh Lục về gặp thủ trưởng đi nhỉ?

      Lục nghe một vật gì thúc vào sau lưng anh. Chắc là mũi súng, anh nghĩ, tóc gáy dựng ngược. Giọng người đàn ông bây giờ nghe lạnh tanh:

      –     Anh Lục, anh đã bị bắt. Tuyệt đối tuân lệnh tôi, không được kháng cự. 

      Lục đứng im, lòng dạ hoang mang, không còn biết gì nữa.  Một chiếc xe hơi từ đường Cao Bá Quát vụt chạy ra, dừng lại ngay chỗ anh. Người đàn ông đẩy Lục lên phía trước xe, rồi nhảy lên ngồi sát cạnh anh, kềm chặt. Người kia nâng xe đạp anh lên cao, dùng hai tay ném mạnh lên thùng xe phía sau.  Một tiếng kêu loảng xoảng vang lên nghe khô khốc, buồn nản.  Xe rồ máy chạy ngay, ngược trở về ngả Cầu Ðen, hướng về phố. Sau khi qua cầu Trường Tiền, xe đi thẳng, rẽ vào đường Bến Nghé, dừng ngay trước một ngôi nhà lớn. Một biệt thự thì đúng hơn. Nhà to, vườn rộng, cổng sắt, bồn hoa, lối đi rải đầy sỏi. Chênh chếch bên kia đường là cổng trường Nguyễn Tri Phương. Hồi còn đi học, anh phải đã từng đi ngang đi lại căn nhà này hàng bao nhiêu lần. Nhà ai nhỉ? Bao nhiêu năm rồi, làm sao nhớ nổi. Nhưng tại sao lại mang anh vào đây?

      Người đàn ông ra lệnh cho Lục xuống xe, dẫn anh đến căn phòng bên hông nhà, đẩy một cánh cửa mở sẵn, đứng tránh sang một bên để cho Lục bước vào. Anh ta chỉ chiếc ghế đặt ngay trước một chiếc bàn sắt kiểu Mỹ, nói:

      –     Anh ngồi đó. Ðồng chí thủ trưởng sẽ nói chuyện với anh sau.

      Lục khẽ khàng ngồi xuống ghế, lòng dạ tê tái. Phòng nhỏ, tường quét vôi màu hồng nhạt, không treo hình ảnh gì, ngoài một câu khẩu hiệu cỡ chữ vừa phải kẻ lên ngay phần tường trước mặt anh: “Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, bên dưới là ba chữ Hồ Chí Minh. Bàn trống trơn, mặt bàn sắt láng lấp lóa ánh sáng dội xuống từ ngọn đèn điện công suất khá mạnh treo lơ lửng trên trần. Người ta sẽ thẩm vấn anh, sẽ bắt anh khai đủ thứ chuyện trên đời. Ai sẽ “làm việc” với anh đây? Nghĩ đến những màn hỏi cung khủng khiếp, anh rùng mình, lạnh toát sống lưng. Anh đã là một tù nhân. Tù! Trời ơi, anh đã bị ở tù. Biết khai thế nào đây? Giấu thì không giấu được rồi, nhưng nói làm sao cho khỏi tội? Quả là anh không có cái số mánh mun, buôn bán. Cái xui vẫn cứ đeo đuổi theo anh. Tưởng là đã nắm chắc nụi trong tay, hóa ra bây giờ mất sạch. Không những thế còn phải nằm tù. Anh tưởng tượng đến những người quen anh đang sốt ruột chờ đợi ở nhà để lấy tiền. Những đứa con không biết bây giờ thế nào? Còn Tân ra sao? Có bị bắt như anh không? Anh nghĩ đến lúc Hạnh trở về, nàng sẽ khinh khỉnh nhìn anh, khuôn mặt đầy vẻ chế giễu, khinh bạc. Lại một lần nữa, Hạnh đã nói đúng: anh trước sau chỉ là một thằng đàn ông vô tích sự.

      Anh lơ láo nhìn quanh như kẻ mộng du. Một tiếng động khẽ vang lên ở góc phòng. Anh giật mình, quay lui. Một người đàn ông vừa đẩy cánh cửa bước vào vừa cười:

      –     Chào anh Lục. Cả ngày chạy ngược chạy xuôi vất vả quá nhỉ?  Nào, đã cơm nước gì chưa?

      Anh nhìn người đàn ông trong bộ áo quần bộ đội xuề xòa, dụi mắt. Ai mà trông quen quen? Anh đang cố nhớ thì người đàn ông lên tiếng:

      –     Nhận ra người quen chưa?

      Lục nhìn kỹ, sửng sốt, miệng lắp bắp:

      –     Anh…à… ông Thắng!

      –     Vâng, Thắng đây, anh Lục à! Trí nhớ của anh cũng tốt đấy chứ. Thế nào, việc tôi nhờ anh tìm giùm bản Cương Lĩnh Mặt Trận Giải Phóng hôm nọ đến đâu rồi?

T.D.N.

Anh hùng bạt mạng

vietmessenger.com

Trần Thy Vân

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

3. Giao Thừa Đêm Diễm Ảo

Tiệc tùng xong khách đã về. Nắng chiều chỉ còn phớt nhẹ trên hàng tre sau nhà. Tôi bảo Trung trải poncho bên gốc cây hoa phượng trước sân cho các vị thẩm quyền của Đại đội ngồi uống trà chơi và chờ đón giao thừa luôn thể.

Gặp lúc thong thả, đông đủ anh em, đặc biệt có Thiếu úy Đặng văn Thiều mới đáo nhậm, tôi không ngần ngại hòa mình vào tán gẫu, kể vài câu chuyện vui. Với tôi chẳng một ranh giới nào quá đáng, ngăn cách giữa cấp trên và dưới. Trái lại, tôi cần sự gần gũi, liên hệ mật thiết, để cùng nhau chiến đấu. Đó cũng là một yếu tố quan trọng làm tăng thêm sức mạnh, giúp Đại đội tránh được bao phen thảm khốc, mà nhiều đơn vị đã gặp phải kẻ bỏ xác đầu non, người vùi thây bên bờ suối. Vì kinh nghiệm máu đó mà mỗi khi rảnh rỗi tôi thường đùa giỡn, như ngang hàng với anh em lính trẻ, nên họ quý mến, không ai bất mãn, và con số đào ngũ giảm thiểu tối đa. Điểm này tôi cũng dẫn đầu 12 vị đại đội trưởng của Liên đoàn 1 Biệt Động Quân, được Trung tá Trần Kim Đại Liên đoàn trưởng trao tặng bằng ban khen hằng năm.

Ở cương vị cầm quân, dù mọi người không cùng một thuật chỉ huy, nhưng về mặt tâm lý đối với thuộc cấp là phải tương đồng nhiều điểm mới thắng địch. Tiểu đoàn này có hai vị sĩ quan cư xử với anh em lính khác xa tôi. Một tôi rất kính trọng, còn một tôi khinh ra mặt.

Trước hết, Trung úy Hồ Dơn, người Quảng Trị, cựu Đại đội trưởng Đại đội 2 BĐQ, lúc nào cũng cau có, mặt hênh hểnh, quan liêu, nhưng lại thượng đội hạ đạp. Ông ít khi trò chuyện thân mật với anh em dưới quyền, nếu có cũng chỉ để bàn mưu tham nhũng. Đánh giặc thì nhát gan như thỏ đế, đụng trận ông vội chạy lui ra sau, thúc thủ, điều động qua máy móc. Không nắm vững để lượng định được tình hình địch trước mắt khi đối đầu thì làm sao dàn quân bố trận. Do đó, lính ở phía trước mất phương hướng, bị tổn thất dài dài…

Một lần đơn vị đóng quân ở quận Tiên Phước Quảng Nam, vừa được cử làm Trưởng ban ba BCH Liên đoàn 1 BĐQ, Dơn liền giở thói lếu láo đâm thọc Trung tá Liên đoàn trưởng rằng tôi để lính phá phách ngoài phố, nổi xung tôi rút khẩu Colt 45 trở bá toan đập vào mặt ông, may có Đại úy Nguyễn văn Do, Tiểu đoàn phó 21, đứng kế bên ngăn cản kịp.

Tôi muốn quên nhưng Hồ Dơn là một tác nhân khiến Đại đội 2 đã bao lần từ chết tới bị thương, cần nhắc nhở để các thế hệ mai sau biết khi đặt để kẻ thất đức, bất tài chỉ huy một đơn vị tác chiến tức trực tiếp nắm giữ hàng trăm sinh mạng binh sĩ trong tay, thì chỉ rước lấy tai họa. Thật nhục nhã, đã một dạo dưới quyền ông tôi bị trù dập, chậm mất một năm hữu ích cho Tiểu đoàn 21 BĐQ. Dơn diệt giặc đâu không thấy chứ hại anh em thì quá nhiều.

Người thứ hai, Trung úy Quách Ẩn, Đại đội trưởng Đại đội 2, kế nhiệm Hồ Dơn. Ẩn lúc ấy còn độc thân, nghiêm nghị, xa cách lính, sống thanh bạch. Tôi làm Đại đội phó, anh lại ngăn cấm tôi giao du quá thân mật, ngang hàng với cấp dưới. Nghe Trung úy Quách Ẩn nói hoài và nghĩ mình khóa đàn anh nên có lần tự ái, tôi to tiếng:

– Không chơi với tụi nó, để chơi với rắn, hả?

Rồi, “thói nào tật đó”, tôi vẫn vậy. Một hôm, nhân lúc đơn vị dừng quân ở xã Cẩm Văn bên chân đồi Bồ Bồ Quảng Nam, tôi ham vui đánh bài thua liểng xiểng. Lúc về Bộ Chỉ Huy Đại đội ngủ, tôi bị Ẩn chất vấn:

– Ăn hay thua?

Tình ngay tôi đáp:

– Thua hai chục ngàn đồng.

Dường như Quách Ẩn cho lính theo dõi mới biết chính xác số tiền tôi thua, nên anh lấy trong ba lô ra một xấp bạc tương tự, và nói:

– Chắc hết tiền xài rồi chứ gì? Đây, tôi tặng đủ số vốn của Vân đó! Nhớ đừng chơi nữa, lính nó lờn mặt, khó chỉ huy!

Tôi ngỡ ngàng, phân vân chẳng biết tính sao. Nếu từ chối thì khó quá! Hai mươi tờ giấy bạc loại một ngàn đồng chính phủ vừa phát hành, là hơn tháng lương thiếu úy của tôi nhiều. Còn ngược lại, có khác nào tôi nhận một bản án tù treo của vị Đại đội trưởng suốt thời gian phục vụ Đại đội này, hay cả đời tôi không chừng. Rút cuộc tôi nhận, như một lời nguyền mãi mãi là người tốt, không bao giờ cờ bạc.

Anh thương tôi đến thế sao? Không coi tôi như một thuộc cấp mà là người bạn tri ngã.

Một điều nữa, không phải vì hai chục ngàn đồng, tôi nghe lời anh là chẳng thèm ăn bẩn quân trang quân dụng, ngay cả thực phẩm và hàng Quân Tiếp Vụ của đơn vị. Khi làm Đại đội trưởng, việc đầu tiên tôi ra tay hạch sách Thượng sĩ Nguyễn Điền, hạ sĩ quan tiếp liệu kỳ cựu, hai mươi năm trong ngành, về tài sản, nhu yếu phẩm, đã thất thoát từ lâu. Tôi bắt Nguyễn Điền phải bồi hoàn các khoản tiền gần hai trăm ngàn đồng. Xong, tôi cách chức, đề cử Trung sĩ nhất Nguyễn Đựng thay thế ông vô điều kiện, nghĩa là không đòi hỏi cái lệ “đầu tiên”, do các đại đội trưởng “tiền” nhiệm đặt ra. Thông thường bất cứ ai được cử làm hạ sĩ quan tiếp liệu, coi kho tàng của đơn vị, phải lo lót cho sếp sơ khởi vài trăm ngàn đồng. Do đó dù là cấp chỉ huy trực tiếp chơi hắn mạnh tay như kiểm tra sổ sách, tức đã đụng tới ổ quyền lực tham nhũng. Vì sao? Vì cái dù che cái cán. Người tố không đi tù thì cũng mất chức, hay bị thuyên chuyển nơi khác, gian khổ hơn. Điển hình, trường hợp Thiếu úy Châu, tôi không nhớ họ, thuộc một đơn vị pháo binh Quân đoàn I, thời tướng Hoàng Xuân Lãm Tư Lệnh. Thất bại việc tố giác cấp trên ăn chận, bán vỏ đạn đồng… Châu lại bị trù dập te tua và lâm nguy đến tánh mạng, phải chạy vào xin “tỵ nạn” Ty An Ninh Quân Đội Quảng Nam. Chuyện của Châu đã gây chấn động một dạo ở Vùng I.

Ổ tham nhũng cũng có hệ thống chỉ huy, từ trên xuống rất vững chắc, nhưng không có vấn đề câu nệ quân giai, nên một chú lính quèn vẫn được gặp thẳng ông tướng để nạp tiền nạp gái. Nếu ai không đủ Đô la, không đưa mối “lima”, chắc chắn sẽ bị tống ra tác chiến.

Nói cho đúng Nguyễn Điền chỉ là nạn nhân, buộc phải cấu kết với bọn thảo khấu của Trung tá Lê Phú Đào, một sĩ quan chưa hề trải qua sự chỉ huy cấp đại đội. Đào, tay gộc tham ô, dựa hơi Đại tá Khoái, Chỉ huy trưởng Quân khu I Biệt Động Quân, đàn em tướng Hoàng Xuân Lãm, đã ngang nhiên thay thế Trung tá Lê Bảo Toàn làm Liên đoàn trưởng Liên đoàn I BĐQ. Đơn vị đã một thời mạt rẹp, đánh đâu thua đó, lính chết liên miên, vì cách chỉ huy kém cỏi của Đào. Tôi nhớ lúc Liên đoàn I lên xe ra hành quân tái chiếm Quảng Trị đầu tháng 3-1972. Lê Phú Đào cũng bày đặt diện cái áo giáp mới toanh, tỏ vẻ hãnh diện như mặc chiến bào vua ban, đứng gác một chân trên khung cửa chiếc Jeep, tay cầm ống liên hợp máy PRC25, với bộ mặt kênh kiệu, nói với Đại tá Khoái bên Non Nước:

– Thái Dương (danh hiệu của Khoái) ơi, tôi quyết phen này mang chiến thắng về cho Thái Dương!

Đúng là trò cải lương. Sao không nói mang chiến thắng về cho quê hương đất nước, mà lại cho Khoái? Và may là Dương chứ “giường” thì Đào xuống giọng vọng cổ rồi. Thời thế thật! Thời thế đếch tạo anh hùng khí phách, chỉ nắn ra phường tiểu nhơn, ăn hại đái nát!

Quách Ẩn nhỏ tuổi hơn tôi nhưng tôi đã học nơi anh nhiều điều hay, không tự cao, luôn luôn khiêm tốn. Ngày nhận chức đại đội trưởng, sau lễ bàn giao, Ẩn tâm sự trước hàng quân:

– Thiếu úy Đại đội phó Trần Thy Vân là khóa đàn anh của tôi. Đôi khi… tôi nhường nhịn, anh em chớ lấy làm lạ…

Google photo edit by Sơn râu

Nghe nói mát ruột nên thời gian dưới quyền Ẩn, tôi đã tận tình, không nệ gian nguy, giúp anh nhiều vấn đề nan giải xảy ra bất ngờ. Năm 1970, trong cuộc tranh cử tổng thống VNCH, hai liên danh Nguyễn Cao Kỳ và Dương văn Minh thấy không thắng vội rút lui để cuộc đầu phiếu bất thành, nếu chỉ còn có tướng Nguyễn văn Thiệu “độc cử”, khiến Phật giáo chống đối ông dữ dội. Ở Đà Nẵng các Phật tử tập trung và xuất phát từ chùa Phổ Đà biểu tình, họ còn căng kẽm gai chắn ngang đầu đường Võ Tánh, gần trường Thọ Nhơn của người Hoa, làm xe cộ kẹt cứng. Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Quảng Đà yêu cầu Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân xuống dẹp chướng ngại vật. Trung úy Quách Ẩn Đại đội trưởng Đại đội 2/21 thi hành, đưa đơn vị từ xã Hòa Cường, Hòa Vang, tới. Trong lúc Đại đội trưởng Ẩn đang còn dè dặt, không nỡ mạnh tay với đồng bào Phật tử thì Đại tá Đáng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I, rất uy nghi trong bộ kaki vàng, cổ đeo ba bông mai bạc láng bóng, xuất hiện. Trên chiếc xe Jeep ông vội bước xuống sấn tới rồi trợn mắt quát to, như muốn nuốt sống Ẩn:

– Dẹp đường lẹ đi!

Ẩn nói:

– Phật tử đang bám giữ hàng rào kẽm gai, tôi cần hỏi lệnh BCH Tiểu đoàn tôi cách đối phó…

Đại tá Đáng còn lấy tay chỉ thẳng mặt Ẩn:

– Hỏi ai, hả? Lệnh của tôi, nghe không?

Thấy khứa sĩ quan thuộc loại sáng vác ô đi tối vác về, đàn em của Hoàng Xuân Lãm, ỷ quyền, phách lối với người từng xông pha mặt trận, tôi nổi máu Hớn Minh, hét lớn:

– Lệnh Đại tá, phải không? Được, anh Ẩn để tôi dẹp!…

Thấy tôi đeo một bông mai thiếu úy trên nắp túi áo, tóc tai thì dài tới ót, vừa mới hành quân về chưa kịp hớt, lại nói hung hăng, Đáng đâm nhợn, nghi tôi toan giở trò gì đây giữa lúc có đám lính Biệt Động của tôi đang chĩa súng, ông vội phóc lên xe thúc tài xế nổ máy chạy vù. Cái đồ nhát ké, núp bóng từ bi cũng bày đặt vênh váo.

Giờ phút căng thẳng ấy, tôi lại gặp ông thầy pháp chuyên trị tà ma ở xã An Hải, quận 3 Đông Giang, đứng bên kia vòng kẽm gai chắn ngang con lộ. Tôi biết ông lúc nhỏ giữ trâu, lớn lên thiên tả, nay khoác áo đà giả tu, trà trộn giật dây Phật tử. Tuy nhiên, tôi vẫn cung kính:

– Thưa thầy, con là Phật tử, nhận nhiệm vụ giải tỏa chướng ngại vật, giữ an ninh nơi đây, con phải thi hành.

Tôi vừa dứt lời, thoạt đầu ông thầy pháp chắp hai tay trước ngực, tôi nghĩ chắc ông đã buông dao đồ tể, nay trở thành bậc chân hiền đạo mạo rồi, nhưng không ngờ “ngài” lại niệm to:

– Nam Mô A Di Đà Phật! Anh có nhiệm vụ anh, tôi cũng có nhiệm vụ tôi là chặn đường, không ai được qua…

Chưa đủ, vừa nói đến đó, đột nhiên gương mặt ông chuyển qua ngầu ngầu vừa lấy tay chỉ vào tôi rồi chửi thề:

– ĐM. anh mà Phật tử chi? Tôi đã nói không ai được bước qua chỗ ni, nghe chưa?…

Rõ ràng hắn là sư hổ mang Việt Cộng. Ngay lập tức, tôi ra lệnh Thiếu úy Phước (lai Ấn) cho Trung đội 3 sấn tới, kéo hết chướng ngại vật vô lề, đồng thời túm đầu tên thầy bùa trói lại ném lên chiếc Dodge Cảnh Sát đang đậu gần đó. Đám Phật tử chung quanh hoảng hốt, ùn ùn kéo nhau chạy thẳng tới đường Hoàng Diệu, ngược về chùa Phổ Đà…

Hiện Trung úy Quách Ẩn còn nằm bệnh viện Duy Tân Đà Nẵng vì đạp mìn, vết thương ngực quá nặng, chắc khó sống…

Nãy giờ anh em thao thao nói chuyện, tôi thì ngà ngà phăn theo dòng tửu Martel “ôn cố tri tân”. Nhớ buổi chiều ngày đầu tiên trực thăng vận đổ xuống Hạ Lào, địch chưa tấn công, tôi cùng Đỗ văn Nai Đại đội trưởng Đại đội 4/21 Biệt Động Quân chặt nửa chai Hennessy với thịt hộp ba lát. Nhậu xong trở về Đại đội 2/21 tôi phải bò từng chặng, qua những hố hầm, những gốc cây chằng chịt…

Nhị ra ngồi kế bên lúc nào không hay. Nàng rỉ tai:

– Anh, mời anh vô mẹ nói chuyện.

Để các chú cựa non “tửu nhập ngôn xuất”, cứ tiếp tục pháo nhau, tôi đứng dậy liểng xiểng bước theo Nhị.

Bà cụ nhìn tôi cười:

– Bác cám ơn Vân và anh em lính…

– Có gì đâu, thưa bác!

Nhị đặt trên bàn mấy tờ giấy bạc:

– Hôm qua đi chợ dư năm trăm đồng, anh à!

– Mua đồ nhiều vậy mà dư sao?…

Tôi bảo Trung đưa thêm một ngàn nữa:

– Em giữ ngàn rưỡi mai Tết lì xì con nít.

– Anh khéo nói, lì xì ai đâu dữ vậy?

– Dư thì cho em quýnh bầu-cua-cá-cọp.

Đang lúc Nhị sung sướng mỉm cười, dí xấp bạc vào túi mẹ, bỗng bên ngoài phát nổ đùng đùng, chớp lửa.

– Giao thừa! Giao thừa!…

Tôi nắm tay kéo Nhị chạy ra sân. Trung và Xá vẫn tỉnh bơ tiếp tục xịt hai ba trái signal xanh, trắng, đỏ vút lên cao:

– Chúc mừng năm mới Đại Bàng! Chúc mừng!

Bên gốc cây bông phượng trước ngôi nhà của Lý cũng vậy, một đám lính đồng loạt hô to những lời chúc mừng…

Tôi chưa kịp phản ứng, Nhị còn ngơ ngác ôm tôi, thì Hs Lê Tuấn đã thả đạn vào nòng súng cối phóng mấy quả 60ly, bung dù sáng trưng. Tiếp theo, ba trung đội, với các tiền đồn quanh khu vực như đã hẹn đâu trước, cũng chĩa M16 lẫn đại liên bắn chéo nhau không ngớt khiến vòm trời rực rỡ, tưởng chừng còn đẹp hơn những đêm hoa đăng trong truyện thần thoại.

Nhị có vẻ thích thú, vừa ngước lên nhìn không gian vừa hé môi cười, đôi mắt nàng long lanh ngập đầy hỏa châu, tôi định hôn nhưng lại sợ làm chao động cả một trời sao vô tận.

Một đêm tuyệt vời đáng nhớ nhưng đón giao thừa kiểu này chắc do tụi thằng Trung cao bồi xử đầu. Vì đầu năm kiêng cữ tôi không nỡ rầy chúng. Tôi nói Hiệp truyền tin:

– Thôi, bảo anh em đủ rồi!

Hiệp nắm ống liên hợp gọi các nơi:

– Mười, Hai Mươi, Ba Mươi!..Lệnh Đại Bàng chấm dứt bắn súng và canh gác cẩn thận!

Lính tráng giãn dần, tôi kéo Nhị ngồi bệt xuống thềm nhà. Con xóm trở lại yên tịnh. Sương khuya đã lành lạnh. Nhị bóp nhẹ vai tôi:

– Vô nhà.

Hai đứa đứng dậy. Bà cụ đã ngủ. Hai hôm nay bà làm việc nhiều. Nhị đóng cửa rồi vặn thấp ngọn đèn, ánh sáng quá yếu muốn tắt. Tôi chưa biết đến chỗ nào thì Nhị vén tấm màn cửa buồng đẩy tôi vô. Bên trong tối om như mực, Nhị quen đường, còn tôi thì dọ dẫm, vừa đụng cạnh giường tôi đã vội ngã người xuống, ôm bụng cười khúc khích.

Nhị nói nhỏ:

– Anh nằm xuôi lại…

– Đầu giường phía nào? Mà thôi, nằm ngang cũng được.

– Bộ thích “sà ngang” lắm hả?

Hai đứa thấm ý cười. Tôi muốn cười to cho đã nhưng sợ bà già nghe. Tôi vật ngửa Nhị ra hôn:

– À này, sao hồi nãy mình không nằm ngoài bộ phản?

– Để chú Trung ngủ.

– Đâu có, đêm nay anh đã cho tụi nó “di tản” qua nhà khác hết, để khỏi… đạp đất.

Nhị áp mặt vào ngực tôi:

– Mình yêu nhau lẹ quá… Ồ, có ai gõ cửa, anh à!…

– Đại Bàng ơi, Đại Bàng!

Tôi bật dậy phóng ra:

– Hiệp hả?

– Dạ! Trình Đại Bàng, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng cần gặp Đại Bàng ở đầu máy.

– Vào đây!…

Google photo

Nhị sau lưng chồm tới mở chốt cửa. Tôi vặn cao ngọn đèn rồi cầm ống liên hợp:

– Tôi nghe Trùng Dương (danh hiệu Quách Thưởng)!

Giọng ông khàn khàn:

– Anh có nghe gì không? Sơn Linh (Danh hiệu của Trung tá Trần Kim Đại, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 1 BĐQ) mới gọi xuống rầy tùm lum các đại đội bắn súng và bắn trái sáng rực trời. Bây giờ 4 giờ sáng, còn hai tiếng nữa, Đại đội 1 của Việt Quốc phải di chuyển, nghe rõ không?

– Năm trên năm! Phương giác mấy, Trùng Dương?

– Theo quốc lộ về Đức Phổ. Nhớ đúng 6 giờ move.

– Đáp nhận!

Thưởng nói thêm:

– Tin Việt Quốc rõ, Tiểu đoàn 39 BĐQ vừa trực thăng vận xuống Sa Huỳnh đã mất luôn hai đại đội, trong đó có Đại úy Hoàng Kim Sơn Tiểu đoàn phó. Thiếu tá Lại Thế Thiết, Tiểu đoàn trưởng, xin nhảy tiếp hai đại đội còn lại, nhưng Sơn Linh không cho. Giờ đến lượt mình, chắc chơi xả láng đó! Nhớ khi đi ngang Quán Hồng hãy cẩn thận!

– Đáp nhận, Trùng Dương!

Tôi chỉ biết trả lời “đáp nhận” thôi. Miệng nói mà tai tôi ù hết. Ngày vui đã qua mau. Tôi trả ống liên hợp lại Hiệp:

– Mày bảo Thanh mời các trung đội trưởng, thường vụ Đại đội và Huỳnh văn Trung, khỏi ngủ nữa, lên đây gấp. Nhắc các sĩ quan cầm theo bản đồ.

Hiệp quay lưng đi, Nhị rầu rầu hỏi:

– Đại đội di chuyển, hả anh?

– Ừ!

Giờ phút này đầu óc tôi rối bù, nghĩ lung tung, phần mường tượng tới mặt trận ác liệt, đẫm máu, đang chờ đón mình, phần nuối tiếc cuộc tình mới chớm nở. Đã vậy, tiếng “ừ” vừa rồi lại quá khô khan cộc lốc làm Nhị buồn thêm. Nhớ hôm nay mùng 1 Tết, tôi gượng cười và ôm Nhị:

– Mừng tuổi em cái hôn.

– Chúc anh đi bình an!

– Chớ không mừng tuổi anh sao?

Mặt nàng phụng phịu:

– Mừng cái gì đây?

– Thì… hôn anh…

Như cái máy được bấm nút sẵn, Nhị ghì chặt tôi, quên mất Thiếu úy Thiều có mặt, đang đứng sau lưng.

Thượng sĩ Thiệp cùng các vị trung đội trưởng tiếp nối bước vào với quân phục gọn gàng, đội mũ nâu, mang dây ba chạc, súng Colt. Họ dàn ngang, cười tươi. Thiều mở đầu:

– Thay mặt anh em chúng tôi kính chào Trung úy năm mới và chúc mạnh tiến trên đường võ nghiệp.

– Tôi cũng cầu mong tất cả quý vị gặp nhiều may mắn, mọi điều tốt lành…

Rồi tôi nghiêm sắc mặt:

– Bây giờ mình đã có việc làm. Tình hình trong Sa Huỳnh rất căng, như tôi đã nói Thiều hôm nọ. Tiểu đoàn 39 BĐQ vừa mất hai đại đội. Lệnh Thiếu tá Thưởng, lát nữa 6 giờ mình lên đường. Tất cả hãy gọn gàng, cơm nước sẵn sàng một ngày ăn. Đại đội tập họp trăm phần trăm trước sân 5 giờ rưỡi sáng. Có ai hỏi gì không?

– Rút các tiền đồn về chứ Đại Bàng?

– Tôi mới nói, Đại đội tập họp trăm phần trăm mà Hạnh! Các anh theo Thượng sĩ Nguyễn Thiệp lấy bản đồ, vùng phía nam Mộ Đức, tức quận Đức Phổ. Thi hành! Riêng anh Thiều nán lại chờ tôi.

Mấy người kia đi rồi, tôi nói:

– Tôi đề cử anh giữ chức vụ Đại đội phó từ hôm nay.

– Cảm ơn Đại Bàng.

– Chẳng có gì ơn với nghĩa. Lát tập họp anh kiểm soát Đại đội mọi thứ trước khi xuất quân, nhất là đạn dược, tụi lính hay để tùm lum, thiếu hụt thì chết. Bây giờ Thiều bảo Thượng sĩ Thiệp ghép cho tôi và anh luôn, mỗi người một tấm bản đồ từ Mộ Đức tới Tam Quan Bình Định. Việc nào chưa quen cứ hỏi. Còn vấn đề cơm nước có tụi thằng Xá lo, ăn chung với tôi.

Thiều đưa tay chào tôi rồi bước vội ra ngoài. Tôi vừa mang giày vừa hối mấy người lính đang lui cui ở nhà dưới:

– Xá, Hoàng pha gấp hai ly cà phê và nấu cơm lẹ!

Bất ngờ có lệnh xuất quân, đám cao bồi ngớ ngẩn hết, Nhị thì điếng hồn:

– Em đã thu nhặt áo quần và đồ lỉnh kỉnh của anh, chỉ chờ chú Trung bỏ vô ba lô là xong.

– Mấy đôi vớ, cái mũ rừng nữa, báo chí thì bỏ lại.

– Vớ rồi, ụa…mũ rừng anh để đâu em không thấy, hay còn nằm… bên nhà Lý?

Tôi bẹo má nàng:

– Giờ phút này còn nghĩ nó “nằm” bển.

Nhị nũng nịu:

– Thì bữa trước… ở bển một lần rồi chớ bộ!

Bà cụ trong buồng bước ra:

– Hành quân hả Vân?

– Dạ, Đại đội sắp đi. Năm mới con kính chúc bác luôn luôn khỏe mạnh. Con sẽ về thăm.

– Bác cầu mong các con gặp mọi sự như ý. Giặc giã gì ác thiệt, mùng Một Tết mà hành quân.

– Quân đội là vậy đó, bác ơi!

Xá bưng hai ly cà phê để trên bàn:

– Kính mời Trung úy!

– Xá chạy mời Thiếu úy Đại đội phó, còn các anh dọn cơm ăn đi, gần tới giờ tập họp, di chuyển rồi!

Bà cụ đem lên một đĩa bánh tét và thịt heo kho thơm phức. Tôi và Thiều chẳng ăn nổi, chỉ uống cà phê, để bàn sơ chuyện di chuyển trên một lộ trình hiu quạnh. Bên ngoài, trời đã hừng hừng sáng, cây hoa phượng trước sân lờ mờ hiện ra trong màn sương. Tiếng gà còn gáy vang quanh xóm, như giục giã những người đi một ngày đầu xuân chớm buồn…