Thượng du, niềm thương nhớ

vanngheboston.wordpress.com

Lâm Chương

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Ngược dòng Thác Bà, lên tận thượng nguồn dựng trại. Trại nằm trong thung lũng, sát chân núi. Núi không có tên. Núi chập chùng trùng điệp, đếm không hết. Cả một vùng bao la núi non hiểm trở trải dài lên tận biên giới, mang chung một tên Hoàng Liên Sơn.

Một thời kỳ nô lệ xa xôi, người da đen Phi Châu bị lùa xuống tàu đi biệt xứ. Tôi cũng bị lùa xuống tàu, nhưng chưa ra khỏi lằn ranh xứ sở. Thời gian không lâu mà tưởng chừng qua một kiếp. Bỏ đời cũ. Quên những buộc ràng quá khứ. Trong nghiệt ngã, suy tư nhiều sẽ không sống nổi. Dằn vặt với thương đau, sẽ không còn mạng trở về. Tinh thần đi xuống, thân xác không thể đi lên. Hãy xem mọi sự hành xác là bình thường. Tôi nghĩ thế, và thản nhiên “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”, dựng trại.

Lán trại lợp bằng nứa, chung quanh có rào. Hàng rào cũng làm bằng nứa bắt chéo vào nhau, đầu chông nhọn hoắt. Trưởng trại nói rào để cản thú dữ, nhưng ai cũng biết rào để ngăn người từ trong thoát ra ngoài. Cổng trại là lối ra vào độc nhất, có chòi canh kiểm soát. Bên hông trại, còn một chòi canh nữa, cao bằng ngọn cây để quan sát toàn trại. Trên đó, đặt một họng súng đại liên chỉa mũi vào trại. Nơi miền cao thôn bản, súng đạn là thứ duy nhất tượng trưng văn minh của người miền xuôi.

Ở đây, không đo thời gian bằng kim đồng hồ. Trưa nghe chim bắt-cô-trói-cột kêu trên đầu núi, biết đang mùa hạ. Đêm nằm nghe cú rúc ngoài đầu hồi, biết đang mùa đông. Thung lũng ít chịu mặt trời. Âm khí núi rừng pha trong sương đục, nhòa nhòa lán trại. Cái lạnh rờn rợn nhiễm vào người, lâu dần thành quen. Thiên nhiên tập cho con người biết chịu đựng. Về với thiên nhiên, thở cùng cỏ cây. Đi trên đất ẩm, nghe mùi rong rêu lá mục. Làm quen với muỗi đói vắt rừng. Coi thường độc trùng rắn rít. Ngồi lặng hàng giờ, ngắm những bông hoa dại âm thầm ngoi lên từ kẽ đá. Thưởng thức tinh hoa của đất trời, cũng là một cách dưỡng sinh. Dựa lưng gốc đại thụ, thấu lẽ câm nín ngàn đời. Quên chuyện ngày trước. Bỏ chuyện ngày sau. Sống đời hoang dã. Thú rừng vô tâm không biết buồn. Ai nặng thất tình lục dục dễ bỏ mình giữa chốn thâm sơn.

Gió lớn bốn phương về ngang thung lũng, bỗng trở mình cuộn thành cơn lốc. Lá khô bị hốt lên cao, rồi tung ra như bướm tan đàn bay tứ tán. Cái nóng mùa khô gió Lào không đủ ấm lòng thung lũng. Gió rừng không sát đất. Gió rì rào trên đọt cây. Dường xa xôi vọng lại. Dường gần gũi bên mình. Đời đang khốn khó mà nghe như có tiếng thì thầm của một quê nhà cách trở.

Ở đây, thường nghe gió hú. Các cụ già người Dao ngồi hơ tay bên bếp lửa chiều đông, kể bao nhiêu là chuyện âm hồn nương theo gió, về đậu trên ngọn rừng tru thảm khốc. Thầy Mo thương những hồn cô quạnh, không nỡ đuổi đi. Tôi, người mạt khách phương xa. Nghe chuyện thần linh ma quỷ. Nghe truyền thuyết bao đời cha ông của người Tày người Dao. Nghe bài ca gắn bó núi rừng. Thấm thía muốn trở thành người của thượng du để đêm đêm nằm dưới mái nhà sàn, thấy cây cỏ mọc đầy trong giấc chiêm bao. Tôi, kẻ trí cùn, không thuộc hết bài trường ca thôn bản, viết lại bằng mường tượng nhớ nhớ quên quên:

Bản ta có bếp lửa bằng tuổi ngôi nhà

Có người già bằng cây cổ thụ

Sống trăm năm bóng đè ngọn núi

Sinh con đẻ cái

Ở cùng cây rừng

Ở cùng đá núi

Đất cho cái ăn lấy từ nương rẫy

Nước cho cái uống lấy từ khe xanh

Thịt da thấm sương mù

Bàn tay rắn rỏi

Vỡ đất cho hạt lên mầm

Buổi sáng giắt con dao quắm

Vác cái xà gạc trên vai

Đội lá rẻ gai vào rừng

Bắt con mang con mển

Bắt con nhím con trăn

Chặt cây giang cây nứa cây vầu

Đốn cây trắc cây lim cây gụ

Đẽo gỗ làm nhà sàn

Nuôi bếp lửa trừ tà xâm nhập

Bản ta có thầy Mo

Quen với Thần Rừng Thần Núi

Biết vẽ bùa làm phép

Gọi âm binh che chở bản làng

Không sợ con cú mèo trù rủa

Không sợ con beo con báo

Về rình trong đêm tối

Thầy Mo gọi ông Trời

Cho cái mưa cái nắng

Nuôi cây lớn lên nuôi người lớn lên

Giống dòng đời đời nối tiếp …

Tôi không hiểu ngôn ngữ người sắc tộc. Nhưng khi cụ già người Dao cất giọng, nghe như tiếng kêu trầm thống và một nỗi gì như nỗi tàn phai đang đổ xuống núi rừng lồng lộng hoàng hôn. Không như ngâm thơ. Không như hát tân cổ nhạc. Không như tụng kinh. Cái âm lên không bổng, xuống không trầm. Ê a lê lết kéo dài áo nảo. Từa tựa như pháp sư đọc thần chú. Một sắc thái hoàn toàn riêng biệt. Lẩn khuất trong lời ca, có niềm bi tráng. Cụ già chuyển ngữ bằng lời Việt. Tôi rắp tâm ghi nhớ trong lòng, mà lòng tôi thì nhòa dần theo ngày tháng nắng mưa.

Những chiều thu yên ả, ngồi trên lưng chừng núi nhìn xuống rừng. Khói nghi ngút bốc lên từ những mái nhà sàn, núp sau vòm cây. Nhớ cái bếp người thượng du. Đóm lửa đầu tiên thỉnh từ thầy Mo đem về gầy nên bếp lửa. Và đóm lửa ấy, âm ỉ ngún hoài theo thời gian, tồn tại cùng với ngôi nhà. Người Dao tin rằng lửa xua đi bóng tối ma quỷ. Muốn cho nhà cửa bình yên, phải giữ lửa hoài trong bếp. Tôi cũng muốn tin như thế, tin bất cứ điều gì huyền bí để trong tuyệt vọng, tinh thần còn có thiêng liêng làm chỗ dựa.

Những người khách bất đắc dĩ từ phương Nam xa xôi đến đây, đều ghê mùa đông Việt Bắc. Mùa đông. Ngày chưa chiều, trời đã chạng vạng từ lúc mới ra đi.

Mùa đông đến mưa phùn gió bấc

Suốt mùa đông không thấy mặt trời

Ngày xám âm u. Mưa phùn nhẹ như sương muối, thấm ẩm áo quần. Gió bấc hiu hiu, thổi cái buốt luồn vào tận xương. Vác bó nứa dài lê thê xuống núi. Đất nhão. Dốc trơn. Trượt té. Vấp ngã. Tay chân xây xước, chảy máu mà không đau. Da thịt lạnh tê, mất cảm giác.

Đường đi khó

Không khó vì ngăn sông cách núi

Mà khó vì lòng người ngại núi e sông

Có thật vậy không? Câu nói của Nguyễn Bá Học một thời lấy làm kim chỉ nam, dù hàm chỉ nghĩa bóng, giờ đây, bỗng thấy sáo rỗng. Những ai đang trên dốc đời khổ sở mới biết được cây thập tự giá trên vai Chúa Giê-Su nặng dường nào. Có vào địa ngục mới cảm thông kẻ chịu cảnh A Tỳ. Ngồi một chỗ lý thuyết suông, nói những câu triết lý để đời dễ hơn là đối mặt với thực tại gian truân. Những hình nhân tiều tụy rách rưới, vượt qua được một mùa đông là đi thêm một chặng đường vô vọng. Sự vô vọng giết người. Càng lấn sâu vào con đường vô vọng, càng gần sự chết. Chết đủ mọi cách. Đói làm suy dinh dưỡng, thân xác không còn sức đề kháng với bệnh tật. Thậm chí, cảm xoàng cũng chết. Chung quy, cũng vì không thấy được ánh sáng phía cuối con đường vô vọng. Tôi có người bạn cùng cảnh ngộ, khi đi tiêu thấy phân có lẩn chút đàm, ứa nước mắt. Tao tới số rồi. Nếu mày còn có ngày về, cho vợ con tao biết ngày cúng giỗ. Anh bị kiết lỵ. Bị kiết lỵ coi như Ngọc Hoàng giũ sổ. Tất cả thuốc men đã bị tịch thu từ lúc mới đặt chân ra đất Bắc. Ở đây, rau sam đâm dập, vắt lấy nước uống được coi là thuốc trị bệnh kiết lỵ. Ban đầu, anh còn đi ra nhà cầu. Ngày thứ hai, tôi đào cái hố nhỏ ngoài vách lán cho anh ngồi đó. Tôi phải đi rừng. Không ai săn sóc, anh bò ra hố giữa cái lạnh mùa đông dao cắt. Sau, anh nằm luôn trong lán sạp. Ỉa ra máu. Không cần mặc quần nữa. Một kẻ có quyền từ trên khung xuống, đứng nhìn anh. Mặt lạnh. Không biểu hiện căm thù hay thương xót. Không ai có thể đoán được trong cái đầu ấy đang nghĩ gì. Hỏi có cần gì không? Bạn tôi thều thào, xin một cục đường và gói mì ăn liền. Câu trả lời dứt khoát. Đường, có ngay. Mì, xứ này không đào đâu ra được. Yêu cầu đã thỏa mãn một nửa như ân huệ cuối cùng. Tôi đưa bạn về đất, an nghỉ dưới chân đồi. Nước mắt tôi chảy ngược, không có giọt nào nhỏ xuống cho anh.

Thời mạt vận quỷ thần quay mặt

Nghiến chặc răng kình với tai ương

Người bỏ cuộc đi về với đất

Chiếu bó thây nằm lại rẫy nương

Bốn mùa đều có người đi không trở lại. Nhưng mùa đông khắc nghiệt là thời điểm dễ nhất để vĩnh biệt thế gian. Tử Thần lãng vãng đâu đây, làm sao lánh mặt? Tôi nhớ loáng thoáng trong Thiền Luận: “Tất cả đều là phương tiện tu hành”. Trước nghịch cảnh, tôi áp dụng ngay câu này để hóa giải mọi thương đau, biến nhọc nhằn thành phương tiện. Bàng Uẩn xem bửa củi gánh nước là thần thông diệu dụng. Sao tôi không xem đốn cây cuốc đất là một cách tập dưỡng sinh? Và, tôi đã đi qua mùa đông, đi qua nhiều mùa đông rét mướt bằng sự thư thái riêng tôi. Một kẻ có quyền sau nhiều ngày nhận xét, đã phê bình cách làm việc của tôi: “Giơ cuốc lên, cò ỉa. Hạ cuốc xuống, mối xông”. Câu nói làm tôi sửng sốt. Diễn tả động tác chậm, không có cái chậm nào bằng. Từ từ giơ cuốc lên, chậm như ngừng lại. Thời gian lâu đủ để con cò đậu trên cái cuốc và ỉa. Hạ xuống cũng chậm, đến nỗi trước khi nhấc cuốc lên thì mối đã xông thành tổ. Một lối diễn tả độc đáo. Rất bình dân mà cũng rất tuyệt vời. Tôi mãi lấy làm lý thú vì câu nói ngộ nghĩnh, quên cái hậu quả tai hại sau khi bị phê bình. Cứ thế, thân bị kềm chế mà ý thì phất phơ như chuyện đùa. Tưởng như hồn và xác chẳng dính dấp gì nhau.

Nhiều đêm. Tôi nghe tiếng chắc lưỡi của những người chung quanh. Những con Thạch Sùng không ngủ, nằm trằn trọc nuối tiếc hoài một thời quyền uy son vàng đã mất. Cánh cửa quá khứ đã khép lại. Nhưng cái dư âm vi vu còn đủ sức ném bao người qua cửa tử. Nuối tiếc và thống hận là chất cường toan bào mòn tâm phế. Người xưa uất khí mà trào máu họng. Đời nay, không thấy có ai. Lác đác có dăm anh hùng sĩ khí thì đã cầm súng tự bắn vào đầu, chết hết rồi. Kể chi những kẻ bợ đít mà nên danh phận. Ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Nằm trên bụng đàn bà mà xua quân vào trận mạc. Gặp thế biến, phóng nước đại tháo thân nhanh hơn ngựa chạy trường đua. Bao giờ thấy những phường cẩu trệ bất nhân chiếm giữ những ngôi vị trọng yếu quốc gia là điềm báo trước một chế độ suy tàn. Đó là quy luật của mỗi lần lịch sử sắp sang trang. Và cái hậu quả tất yếu của nó, một số người sẽ bị xô xuống hầm tai họa. Trách ai thì chuyện cũng đã rồi. Chắc lưỡi là buông thêm một dấu chấm than (!), tượng hình cho giọt nước mắt rớt xuống đời mình. Đời mình vốn đã ướt đẫm từ khi lầm lỡ đem thân giao cho kẻ ác. Thôi thì lo “bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần”, giữ cái bổn mạng được ngày nào hay ngày ấy. Sầu bi là tự nghiến đứt sợi dây đang treo mình trên vực thẳm.

Nếu không mặc cảm lưu đày thì sống với núi rừng là một kỳ thú. Người Tày người Dao sinh ra, lớn lên ở đây. Một nơi mà ánh sáng văn minh chưa hề chiếu rọi. Trong nhà họ, ngoài những cái cuốc con dao cái rìu làm bằng kim khí, tất cả những vật dụng còn lại đều bằng gỗ hoặc đất nung: ống bương đựng nước, nồi đất nấu cơm…

Những ngôi nhà sàn thường được dựng gần nguồn nước. Trên thế núi cao, mây ngấm hơi nước vào đất, chảy ra từ trong khe đá. Người ta dùng cây bương, đục bỏ những cái mắc làm máng dẫn nước. Nhiều cây bương nối nhau thành cái máng dài, đưa nước về tận chân nhà sàn. Nguồn nước vô tận ấy, chảy hoài không dứt. Người thượng du lợi dụng nguồn nước thiên nhiên để làm cối nước giã gạo theo nguyên tắc đánh đu, đòn bẫy. Buổi sáng, trước khi “giắt con dao quắm, vác cái xà gạc”  lên rừng, họ cho một lượng thóc vừa đủ ăn trong ngày vào cối. Cứ vài phút, cái chày giã xuống một lần đều đặn. Chiều về, họ trút thóc ra nia, sàng sãy lấy gạo nấu cơm. Và, trên nóc nhà sàn, khói chiều nghi ngút bốc lên. Đời sống đơn giản, êm đềm biết bao. Tôi mơ ước một đời sống như thế, không xuống tóc đi tu mà lòng cũng tịnh yên thoát tục.

Những năm tháng làm người khách bất đắc dĩ của miền thượng du, có một dạo tôi được chỉ định chăn bò. Hai người chăn đàn bò bốn mươi con. Một trong hai người ấy, chết vì bệnh sốt rừng. Tôi là người được điền vào khoảng trống. Không phải ngẫu nhiên. Tôi vốn có bệnh bao tử, lại không được điều trị bằng thuốc men. Ở đây, bất cứ bệnh gì cũng được điều trị bằng một phương pháp rất ư là quái đản. Lao động trị liệu, như chặt cây, đốn củi, vác nứa, cuốc đất, trồng khoai v.v… Trong tình huống ấy, tôi luôn luôn tạo cho mình bộ mặt nhăn nhó trường kỳ để mỗi lần, kẻ có quyền nhìn thấy tôi như thấy một hiện tượng khó chịu. Họ chỉ muốn đẩy tôi đi cho khuất mắt. Nhưng tôi cứ hiện diện, cứ èo uột sống hoài. Cuối cùng, họ cũng tìm được cách để ít phải nhìn mặt tôi. Đó là lý do tôi được chỉ định chăn bò. Sáng ra trại, mãi đến chiều mới vác mặt trở về. Yên thân.

Buổi sáng, mở cửa chuồng. Con bò bô đầu đàn sẽ ra đầu tiên, tự động đi theo người dẫn đường. Đàn bò còn lại, lần lượt kéo theo sau. Và, một người đi sau cùng, cầm roi đét vào đít những con đi chậm, hoặc đưa mỏ ngấm nghé cỏ lá dọc đường. Đến một khoảng đất trống nào đó, người dẫn đường dừng lại. Đàn bò sẽ phân tán đi ăn chung quanh, trên những núi đồi bát ngát màu xanh. Trưa trời đứng bóng, tôi che tay lên miệng làm loa, gọi: “Bò…ơi… Bò… ơi…”. Âm thanh vang vọng núi rừng. Đàn bò lục tục về điểm tập trung, nằm nhơi cỏ. Lúc trời xế bóng, tôi đá đít con bò đầu đàn đứng dậy, nói lớn: “Bò… đi… ăn…” Đàn bò lại phân tán. Buổi chiều, tôi che tay làm loa lần nữa, gọi: “Bò… về… Bò… về…” Tại điểm tập trung, sau khi đếm đủ số bò, con bò đầu đàn lại theo người dẫn đường về chuồng trại.

Bò rất hiền và khôn, có thể hiểu được một số tiếng người thường dùng với nó. Những con bò chửa, nếu sinh con ngoài rừng, bò con đi chưa vững, khi nghe tiếng gọi: “Bò… về…”, bò mẹ sẽ giấu con trong lùm bụi để trở lại điểm tập trung. Nhưng nó sẽ lẩn quẩn không chịu về. Người chăn không biết nó mới sinh con nên đánh đuổi, bắt phải về. Bò con ở lại, im lặng một mình suốt đêm trong rừng. Sáng ra, vừa mở cửa chuồng, bò mẹ chạy trước, qua mặt người dẫn đường, đến chỗ cũ đón con. Gần tới nơi, bò mẹ liên tiếp kêu ọ… ọ… ọ… Và, bò con đang trốn trong lùm, lảo đảo đi ra. Nó mừng rỡ, quyến luyến, làm nũng cọ dựa vào mẹ. Bò mẹ âu yếm bằng cách liếm khắp mình bò con. Nghĩ đến sự vô tình làm chia cách mẹ con suốt đêm qua, tôi vỗ nhẹ lên đầu bò mẹ, vuốt ve bò con như một cách tỏ lòng cảm thông, ân hận.

Tôi nhớ trước đây, cũng đã có lần chứng kiến một cảnh não lòng. Ngoài bốn mươi con bò, trại có nuôi ba con trâu: hai con trâu già và một con nghé. Một ngày gần Tết, người ta lùa trâu cha và con nghé đi ăn. Riêng trâu mẹ bị lùa vào trại, giao cho nhà bếp làm thịt. Chiều về không thấy mẹ, con nghé đứng rống thảm thiết. Sáng hôm sau, vừa được mở cửa chuồng, hai con trâu chạy xăm xăm vào trại, đến trước nhà bếp. Trâu cha đứng ngóc mỏ lên trời, hả họng như kêu một tiếng vô thanh dài xé ruột. Con nghé cúi gầm xuống, đi chung quanh nhà bếp, kêu é… ọ… é… ọ… gọi mẹ và ngửi đất. Cái hơi hướm của mẹ nó còn phảng phất đâu đây, sau khi bị phanh thây xẻ thịt. Cuối cùng, một điều hết sức đau lòng, trâu cha và con nghé đứng ngơ ngẩn nhìn nhau chảy nước mắt. Trời ơi, loài vật mà biết chảy nước mắt thì loài người cầm lòng sao đang! Liên tiếp cả mười ngày sau đó, buổi sáng nào trước khi đi ăn, trâu cha cũng dẫn con nghé đến trước nhà bếp đứng khóc. Cảnh tượng ấy, không bao giờ tôi quên. Không bao giờ quên.

Có lẽ, những ngày đi chăn bò là thời gian nhàn du thoải mái nhất của đời tôi. Lang thang giữa núi rừng. Đứng trên cao, ngắm mây đùn lên từ những lũng sâu, lướt thướt kéo qua chân núi. Trong phút chốc, tôi bỗng thấy mình như kẻ tu tiên lánh đời, tìm thuốc trường sinh trong hoa ngàn cỏ nội. Tôi cũng thường ngang qua nương rẫy. Ghé lại ngồi chơi với cụ già người Dao. Cụ dạy tôi hút thuốc lào mà không cần cái điếu cày. Bằng cách miệng ngậm nước, quấn thuốc trong chiếc lá, châm lửa, rít một hơi dài, ém khói và nhổ nước ra. Tôi tập nhiều lần, nhưng không làm được. Cụ kể tôi nghe về phong tục tập quán người dân thôn bản. Kể tôi nghe về đời cụ. Một điều làm tôi ngạc nhiên, cụ chưa bao giờ đi đâu xa quá một ngày đường. Tôi ước lượng khoảng cách ấy, không hơn năm mươi cây số. Cụ hỏi tôi từ đâu đến đây, và tại sao tôi nói được tiếng Việt? Qua câu hỏi, tôi biết trong thâm tâm cụ, miền Nam là một nước khác. Cụ có vẻ buồn khi nhắc đến những người con trai của núi rừng, bỏ thôn bản đi làm giải phóng miền Nam. Phần đông đi biệt không về. Một số rất ít trở về, kể chuyện Sài Gòn có cái nhà lầu cao bảy tầng và thành vua rất tráng lệ. Cụ không tin con người có thể cất được cái nhà bảy tầng. Nhưng tin rằng, nếu vua Sài Gòn không chịu đầu hàng thì quân Cách Mạng sẽ bắn nát thành vua. Nhân chuyện cụ già, tôi nhớ trên chuyến xe lửa chở tù lên Yên Bái. Một người bộ đội hỏi tôi, thằng Pho có đi học tập chuyến này không? Tôi hỏi lại, thằng Pho nào? Thằng Pho (Ford), tổng thống Mỹ đấy. Tôi đáp gọn, nó đang ở bên Mỹ. Anh ta tiếc rẻ, thế à? Nó cũng chạy thoát? Uổng thật! Dân trí như thế, mà người ta tuyên truyền rằng ánh sáng văn minh đèn điện đã soi rọi khắp các vùng nông thôn, rừng núi.

Tâm hồn người thượng du mộc mạc như đời sống của họ. Sáng sớm, rời mái nhà sàn, họ lên rẫy hoặc đi săn bẫy thú rừng. Bước chân không có tiếng động. Âm thầm hoang dã. Thỉnh thoảng, nghe tiếng đốn cây vọng lại. Cái âm thanh khô khốc lẻ loi như từ thinh không rớt xuống núi rừng u tịch. Buổi tối, những người trẻ đi ngủ rất sớm. Người già ngồi trầm ngâm trong ánh sáng chập chờn của ngọn đèn dầu chai. Đời họ, không có gì vui, cũng chẳng có gì buồn. Thời gian lặng lẽ trôi qua, họ tưởng như thiên nhiên muôn đời vẫn thế. Làm sao họ nhìn thấy được sự biến đổi chậm chạp của núi rừng, khi cuộc đời quá ngắn.

Mấy mươi năm về trước, có một số người miền xuôi, đi lính Tây, bị đày lên đây. Bây giờ, họ đã già lắm. Và con cháu họ cũng đã trở thành người của thượng du, nhưng họ không ở nhà sàn. Cái sân trước nhà không mọc cỏ. Chung quanh có trồng vài loại cây ăn trái. Ở mãi một nơi nào rồi cũng nhận nơi đó làm quê hương. Nếu đời cha không nhận, đời con cũng nhận. Thiên địa vô nhân. Núi rừng không vì một ai hết. Trời đất lặng thinh. Bốn mùa vẫn luân chuyển nắng mưa. Hoa lá trên ngàn vẫn xanh thắm. Không vì mặc cảm đọa đày mà con người ghét cả thiên nhiên.

Một ngày mưa dầm, tôi được lệnh chuyển trại. Thời thế đã đến hồi gay cấn. Quân của hai bên đã dàn ra, đối mặt trên biên giới. Rồi đây, núi rừng lại ầm vang tiếng súng. Người dân hiền hoà vô tội của thôn bản là nạn nhân trực tiếp hứng chịu những sấm sét do chính con người gây ra.

Con đường phía trước tôi, không biết sẽ về đâu. Trí tôi bỗng hiện ra những dốc đèo uốn khúc sơn khê. Những con suối mùa chảy xiết ngày mưa. Những thôn bản im vắng trưa hè. Tôi như nghe tiếng chim bắt-cô-trói-cột gọi buồn thê thiết. Nghe con áo-dà, con nai đêm đêm “béc” ngoài đồi tranh hiu quạnh. Nhìn lại, lán trại đìu hiu. Cái sạp, nơi tôi nằm trống hoang lạnh lẽo. Mới đây mà cơ hồ đóng bụi. Cái ống bương đựng nước rửa mặt mỗi sáng, nghiêng đổ dưới sàn. Cái giò phong lan, tôi đem về từ ngoài rừng treo trên vách nứa, như cũng có hồn biết rầu rĩ chia xa. Hàng rào trại không còn cần thiết nữa, bị phá một khoảng để lấy lối đi tắt, cũng làm tôi nao lòng. Chẳng phải tôi đã từng khó chịu vì cái hàng rào này, và mong được ở ngoài vòng kiềm toả của nó hay sao? Rời khỏi nơi đây, một chốn đã trở thành thân quen, tất cả những gì bỏ lại đều làm tôi thương nhớ. Ra đi, tôi ngó lại trong mưa, những dãy núi Hoàng Liên Sơn mù mù, đẹp như tranh và hùng vĩ  biết bao.

Xin chào từ biệt những người cùng chung cảnh ngộ, đã đến đây và vĩnh viễn nằm lại núi rừng thượng du.

Lâm Chương

Người chết hiện về bằng xương bằng thịt

www.dutule.com

Lâm Chương

11 Tháng Hai 2022

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Tôi thường nghĩ về thế giới siêu hình, và luôn đặt câu hỏi: có hay không? Câu hỏi ấy lớn dần lên theo số tuổi đời. Con người càng ngày càng đi gần về phía hố huyệt bi thảm sau cùng, cho nên vấn đề “có” hay “không” thế giới bên kia là mối bận tâm của nhiều người. Và vấn đề này, không sao giải quyết dứt khoát giữa khoa học và tâm linh. Các tôn giáo đều cho rằng ngoài thân xác, con người còn có linh hồn. Chỉ có tin, hay không tin mà thôi. Đem khoa học thực nghiêm ra chứng minh, cũng khó.

Bản thân tôi đã chứng kiến nhiều sự việc không thể giải thích. Xin kể lại một cách bình thường, không có ý biện luận hay bài bác. Giữa thời đại khoa học cực thịnh, nói về cõi giới siêu hình thần linh ma quỷ, dễ làm nhiều người dè bỉu chê cười. Nhưng thâm tâm tôi, ngờ rằng còn có một điều gì đó không ổn khi ta hoàn toàn phủ nhận một cõi giới mơ hồ, với những hiện tượng mà khoa học cố tình làm ngơ.

Sao Nhót là người bà con bên họ ngoại của tôi. Năm mười bảy tuổi, nó bỏ nhà theo du kích, hoạt động lén lút ở địa phương và các vùng lân cận Tây Ninh. Thỉnh thoảng, có người gặp nó ở những nơi hẻo lánh. Vài năm sau, không còn ai thấy nó nữa. Một số người quen, tiết lộ rằng nó đã rời khỏi nơi đây, gia nhập vào Quân Chủ Lực Miền Việt Cộng. Thời gian trôi qua, chiến cuộc càng khốc liệt hơn, gia đình cũng bặt tin nó luôn. Má nó bí mật liên lạc với người trong mật khu, người ta nói nó đã chết trong một trận bom B52. Và tin này, cũng chẳng lấy gì làm xác tín. Có người bày vẽ, nên nhờ thầy “bắt hồn”. Nếu nó còn sống, thần linh sẽ cho biết. Nếu nó chết, thần sẽ dẫn hồn về nhập cốt để nói chuyện với thân nhân.

Má Sao Nhót nghe lời, tìm đến một bà cốt, nói rõ mục đích của mình. Bà cốt này tu trong một cái am, chuyên nghề đồng cốt, được sự tin tưởng của nhiều người. Không khí trong am có vẻ u trầm nhang khói. Ánh sáng bên ngoài chiếu rọi một cách yếu ớt qua những cửa sổ luôn luôn có màn che. Chính giữa có một bàn thờ lớn. Hai bên có hai bàn thờ nhỏ hơn. Tất cả đều che lại bằng những tấm màn màu đỏ. Khi bà cốt vén tấm màn lên, trên bàn thờ hiện ra những bức tượng sơn đỏ. Có tượng mặt mày dữ tợn. Có tượng mặt mày hiền lành. Khách đến am, tự nhiên cảm thấy có một vẻ gì linh thiêng huyền bí, và tỏ lòng kính ngưỡng bằng những cử chỉ hết sực nhẹ nhàng, tránh gây tiếng động. Nói chuyện với nhau cũng bằng những lời thầm thì. Không ai dám nói lớn tiếng trong am. Khi nhang đèn được thắp lên, ánh sáng từ những ngọn đèn cầy, và những cây đèn dầu nhỏ hắt ra, làm bớt đi vẻ âm u lúc đầu, nhưng cũng làm tăng thêm lòng tin vào sự linh thiêng của thần thánh.
Bà cốt đứng chắp tay khấn vái lầm thầm trước bàn thờ. Thỉnh thoảng bà đưa tay cầm dùi gõ ba tiếng vào cái chuông nhỏ trên bàn thờ. Rồi bà bảo má Sao Nhót cũng khấn và xin với thần linh giúp đỡ. Sau đó, bà cốt ngồi xếp bằng giữa tấm chiếu trải trước bàn thờ, đầu và mặt che phủ bằng miếng vải đỏ. Những người thân của má Sao Nhót, ngồi chung quanh. Khoảng mười lăm phút sau, đầu bà cốt lắc lư, đồng thời hơi thở cũng dồn dập khác thường. Mọi người im lặng hồi hộp chờ đợi.

Bỗng, bà cốt nói: “Má ơi, con là Sao. Con về đây thăm má.” Giọng nữ của bà cốt bỗng chuyển thành giọng nam. Rõ ràng đây là giọng nói của Sao Nhót.
Mọi người nửa tin nửa ngờ. Má Sao Nhót trong lúc bất chợt, không biết phản ứng ra sao, chỉ ngồi im.
Có người giục: “Hỏi đi.”
“Con có khoẻ không?” Má Sao Nhót luýnh quýnh hỏi.
Mọi người bật cười vì câu hỏi ngớ ngẩn.
Sao Nhót, qua xác của bà cốt, nói: “Con đâu còn xác người nữa, mà má hỏi khoẻ hay không.”
Dì của Sao Nhót tiếp lời: “Con có phải là Sao thật không?”
“Con không biết nói thế nào để dì tin. Má con có thể đặt câu hỏi để kiểm chứng.”
“Hồi trước con biết tuổi của ba má, bây giờ con nói đi?”

“Ba tuổi Sửu 61. Má nhỏ hơn bốn tuổi, má tuổi Tỵ 57.”
“Con hãy nói chuyện về con ngày trước và chuyện gia đình, để má tin chắc là hồn của con.”
“Lúc nhỏ con bị tai nạn suýt chết. Một lần con bị té giếng, may nhờ có người hàng xóm trông thấy, vớt lên, cứu tỉnh bằng cách trút ngược đầu xuống đất cho nước tháo ra. Một lần con đi coi diễn kịch ngoài trời, bị người ta đặt mìn phá hoại, có nhiều người chết, nhưng con chỉ bị thương ở chân. Vết thương này làm con thành tật, đi cà nhắc.” Nói đến đây, bà cốt đứng dậy, đi qua đi lại trong am bằng những bước khập khểnh, chân thấp chân cao, kiểu đi của Sao Nhót.
Má Sao Nhót kêu lên: “Trời ơi, đúng là con tôi.” Và bà khóc, muốn chồm lên ôm bà cốt. Những người chung quanh kéo bà lại.
Bà cốt ngồi xuống chỗ cũ, nói tiếp: “Những năm trộm cướp nhiều, ba má thường giấu tiền trong áo gối, vàng thì chôn dưới giường ngủ của má…”
Má Sao Nhót vừa khóc vừa đưa tay chặn lời bà cốt: “Thôi, con ơi, bấy nhiêu đủ rồi.” Hình như bà sợ hồn của đứa con còn tiết lộ thêm những điều bí mật khác của gia đình. “Má tin chắc đây là hồn của con. Con hãy cho má biết tại sao con chết?”
Hồn Sao Nhót nghẹn ngào bi thiết: “Những năm trong mật khu, con khổ lắm, thiếu thốn mọi thứ. Phải di chuyển luôn để tránh bom đạn và Mỹ Nguỵ càn quét, không thể liên lạc với gia đình.”

Dì Sao Nhót nói: “Làm cách mạng phải hi sinh gian khổ. Chuyện ấy, gia đình hiểu rồi. Con hãy cho má của con biết tại sao con chết?”
“Con bị sốt rét. Thuốc men không đủ điều trị, lại không được nằm yên nghỉ ngơi. Người ta khiêng con trong chiếc võng, chạy từ nơi này đến nơi khác. Sau cùng người ta bỏ con lại giữa rừng, trong một cuộc chạy tránh càn quét. Người ta nói sẽ trở lại đón con, nhưng không có ai trở lại cả.”
“Rồi con thế nào?”
“Rồi con chết một mình trên chiếc võng treo giữa rừng.”
Má Sao Nhót khóc than vật vã: “Trời đất quỷ thần ơi, người ta nở lòng nào bỏ con tôi chết thảm. Bao nhiêu năm nay má thương nhớ đau khổ vì con…”
Mọi người chung quanh vỗ về an ủi: “Thôi, dù sao nó cũng chết rồi. Chị nên bình tĩnh, dành thì giờ nói chuyện với con.”
“Trước đây, má được tin con chết vì bom B52. Bây giờ, con nói con chết vì bệnh sốt rét. Tại sao lại có chuyện khác nhau?”
“Người cho tin không biết rõ trường hợp của con. Người ta chỉ trả lời cho qua chuyện, để gia đình đừng tới lui tìm hiểu, làm lộ tung tích bí mật của những người khác.”
“Má tin là con đã mất vì sốt rét. Bây giờ, con có muốn nhắn lại với ai điều gì, hoặc yêu cầu má làm điều gì cho con hay không?”
Hồn Sao Nhót nói giọng sầu thảm: “Thôi, má ơi, chết là hết. Con không muốn gửi gấm cho ai lời gì làm bận lòng người còn sống. Con chỉ yêu cầu má một điều. Hồn con lang thang vất vưỡng đói khát, má lập cho con một cái bàn thờ, và hằng bữa, xin má cúng cho con một chén cơm.”
“Má sẽ làm theo lời con. Và con cũng nên phù hộ cho gia đình mình được bình yên.”
“Âm dương cách biệt. Con nhìn thấy mọi chuyện xảy ra trong gia đình, nhưng không có cách nào con làm thay đổi được những việc trên thế gian. Tất cả những tốt xấu, may rủi đều do âm đức của con người, xin má hiểu như thế. Con mượn xác để nói chuyện với má cũng lâu rồi. Xác đã mệt, con phải trả xác lại. Xin từ giả má và mọi người. Con đi!”

Bà cốt lắc lư cái đầu, thở hắt ra, rũ người mệt mỏi.

Má Sao Nhót đưa tay lên, chới với: “Hãy khoan! Má còn muốn hỏi thêm. Con chết ngày tháng nào, xác bỏ tại đâu? Con cho má biết, để má lấy về chôn cất, và hàng năm làm giỗ kỵ cho con”

Bà cốt không còn trả lời. Hồn Sao Nhót đã thăng.

Trước khi ra về, ngoài mâm hoa qua cúng trên bàn thờ, má Sao Nhót gởi lại một số tiền công cho bà cốt, nhưng bà không nhận tiền. Bà nói bà chỉ làm phước, và giúp đỡ mọi người theo ý của đấng thiêng liêng.

Cuối tháng Tư, năm 1975. Những kẻ từ rừng núi tràn về làng mạc, thành phố. Họ hân hoan rộn rã. Cờ đỏ bay phất phới khắp nơi. Bao người ra đi ngày nào, bây giờ trở lại đoàn tụ với gia đình. Tiệc lớn tiệc nhỏ bày ra, đón mừng thân nhân. Trong khi người ta say sưa kể lại những thành tích anh hùng và những thắng lợi thần kỳ của kháng chiến, má của Sao Nhót ngồi rầu rĩ trước cửa nhà. Bà nhớ con, nếu nó còn sống, thì gia đình bà cũng vang rộn tiếng cười trên bàn tiệc. Và nhất là những người láng giềng sẽ tới lui tấp nập chúc mừng, bà cũng hưởng lây được chút hãnh diện của con sau cuộc đổi đời. Mất con, bà đã buồn, nỗi buồn ấy tưởng đã nguôi ngoai theo ngày tháng. Giờ đây, nhìn thấy những đứa bạn cùng ra đi với con bà ngày trước, trở về trong vinh quang, bà càng tủi thân, càng buồn nhiều hơn nữa…

Hai tháng sau. Một người bộ đội, mang quân hàm thượng úy, bước khập khểnh chân thấp chân cao, đi về đứng trước hiên nhà má Sao Nhót. Anh ta cởi bỏ chiếc ba lô xuống thềm, tay che lửa, bật quẹt, khum đầu đốt điếu thuốc.

Má Sao Nhót ra trước nhà, thấy người bộ đội. Bà đứng ngó sửng. Khi anh ta vừa ngẩng đầu lên, bà dội ngược lại, hoảng hốt: “Trời đất! Nam Mô A Di Đà Phật. Sao ơi, con sống khôn thác thiêng, đừng hiện hồn về nhát má tội nghiệp.”

Người bộ đội cười: “Má không nhận ra con sao?”

Nghe thế, bà lấy lại bình tĩnh: “Má nhận ra con, nhưng con đã chết rồi. Má đã lập bàn thờ.”

“Ai nói với má là con chết?”

“Người trong mật khu nói con đã chết. Má tới am nhờ đồng cốt gọi hồn, và hồn con đã về nói chuyện với má.”

Người bộ đội ấy chính là Sao Nhót, anh ta cười lớn: “Ối, cái loại đồng bóng bày trò mê tín dị đoan, lừa gạt người ta. Má tin làm gì!”

Sao Nhót vừa nói dứt lời, bà nhào đến ôm người con bằng xương bằng thịt. Và bà khóc còn nhiều hơn ngày nghe tin con chết.

Tôi kể lại chuyện này cho thầy tôi nghe, đồng thời cũng nêu lên những thắc mắc:

– Tại sao bà cốt từ giọng nói của người đàn bà, có thể chuyển thành giọng của đàn ông, mà lại giả đúng giọng của Sao Nhót?

– Bà cốt xa lạ với gia đình của Sao Nhót. Tại sao bà biết được những tai nạn lúc ấu thời của Sao Nhót?

– Có những bí mật của gia đình, chỉ người trong nhà mới biết. Tại sao bà cốt biết được chỗ giấu tiền và vàng của má Sao Nhót?

Thầy tôi nói, thầy tin rằng có hai thế giới hữu hình và vô hình, sống đồng thời trong một không gian mà không hề ngăn ngại lẫn nhau. Trong thế giới vô hình có những chúng sinh, người đời thường gọi là thần linh, ma quỷ.

Sách nhà Phật có nói, chúng sinh ở cõi giới này, đương nhiên có được:

– Thần túc thông (nghĩ đến nơi nào, thì đến được nơi ấy ngay, không cần phải di chuyển để vượt qua không gian và thời gian).

– Tha tâm thông (biết được ý nghĩ của người khác).

Đồng cốt, cũng có người lợi dụng sự mê tín để lừa mị người khác, kiếm ăn. Cũng có người là đồng cốt thật. Trường hợp của Sao Nhót, bà cốt “lên” thật, nhưng không phải hồn của Sao Nhót. Theo lời thầy tôi giải thích, tại địa phương của gia đình Sao Nhót, có con ma, nó biết ý định của má Sao Nhót. Nó đi theo đến am của bà cốt, và giả hồn của Sao Nhót, nhập cốt để đánh lừa hưởng chút hương hoa dâng cúng, hoặc dối gạt người đời, lấy sự đùa giỡn làm vui. Nó giả đúng giọng của Sao Nhót và kể những tai nạn, vì nó biết rõ Sao Nhót từ lúc ấu thơ cho đến lúc trưởng thành. Nó biết những bí mật gia đình Sao Nhót, vì nó nhìn thấy được những hành vi, đọc được ý nghĩ của người đời. Có lẽ, ngoài cách lý giải của thầy tôi, không có câu trả lời nào đáp ứng thoả đáng được những câu hỏi nêu trên.

Jaguar và tôi

http://www.dutule.com

8 Tháng Mười Một 2022

Lâm Chương

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Từ nhà tôi, ngó qua bên kia đường là nhà bà Jaguar. Thật ra, bà có một cái tên na ná như thế, nhưng do tôi phát âm sai thành Jaguar, và bà tự nhận luôn.

Tôi mới sang Mỹ, còn ăn tiền trợ cấp của chính phủ. Ngoài vài giờ học Anh văn ở trường, thì giờ còn lại tôi chẳng biết làm gì cho hết một ngày trống trải. Đi dạo phất phơ qua mấy khu phố gần nhà mãi cũng chán. Tôi thường ngồi trước thềm hiên, trông sang nhà một bà già đầu tóc bạc phơ. Không biết bà vốn đã có màu tóc bạch kim trắng xoá như thế, hay vì tuổi già mà bạc tóc? Ngôi nhà của bà kiến trúc rườm rà theo kiểu xưa như một lâu đài cổ nho nhỏ. Chung quanh có nhiều cây cối rậm rạp âm u. Bà đi ra đi vào âm thầm như chiếc bóng, làm tôi liên tưởng đến những nhân vật kỳ bí trong các truyện cổ tích dành cho nhi đồng. Ngoài cô y tá đến chăm sóc bà mỗi sáng, tôi ít thấy bà giao tiếp với ai. Những buổi chiều oi bức, bà cũng thường ngồi trên chiếc ghế dựa, trông sang nhà tôi. Nhiều khi bà giơ tay vẫy vẫy chào tôi. Tôi cũng vẫy vẫy chào lại. Mấy tháng trời vẫy chào nhau mà chưa hề nói chuyện.

Một hôm, tôi thấy bà chống gậy băng qua đường, đi về phía tôi. Với sức khỏe còn khá tốt như bà, đâu cần phải chống gậy? Hay bà cầm gậy phòng thân như một loại “đả cẩu bổng” của những người già?

Tôi vội chạy ra, xổ ngay một câu tiếng Anh đã học trong những ngày đầu ở trường: “Hi! How are you?”

Bà nói: “Fine. And you?”

Và tôi đáp lại: “Fine.”

Sau cái thủ tục tục chào hỏi thông thường của người Mỹ, tôi hỏi bà có cần tôi giúp gì không? Bà trả lời líu lo cả tràng dài. Tôi lắc đầu, bảo bà nói chậm hơn. Bà lập lại rõ ràng từng tiếng một. Có tiếng tôi hiểu nghĩa, có tiếng không. Nhưng tôi cũng đoán mò ra rằng, bà hỏi tôi có thấy hai đứa con nhỏ của bà chạy sang đây không? Già như bà cũng có con nhỏ sao? Tôi nói không thấy, và cũng chưa từng biết mặt người con nào của bà. Sau một hồi nói qua nói lại, tôi hiểu được vấn đề.

Bà sống một mình trong ngôi nhà cổ. Để bớt cô đơn, bà nuôi năm con mèo làm bạn, và coi chúng như con. Trong giờ ăn trưa nay, bà phát giác hai con vắng mặt. Tôi nói, nó đi tìm tình nhân quanh quẩn đâu đó. Khi nào đói, nó sẽ tự động quay về. Sẵn dịp, tôi mời bà vào nhà chơi. Bà đồng ý, nhưng chỉ đi đến thềm hiên và ngồi xuống chỗ tôi thường ngồi mỗi buổi chiều. Tôi cũng ngồi cạnh bà. Hai bên bắt đầu nói chuyện bằng một thứ ngôn ngữ trật vuột của tôi.
Tôi nói: “Mèo ở xứ tôi, người ta chỉ cho ăn những cơm thừa canh cặn, và xương xẩu vất đi. Nhà nào nghèo, không còn cơm thừa canh cặn thì mèo phải tự mưu sinh bằng cách bắt chuột. Bất tài không bắt được chuột thì ráng nhịn đói.”

Bà hỏi: “Người ta không thương mèo?”

Tôi nói: “Con người thương nhau còn chưa đủ, nói chi tới chó mèo.”

“Thế, nuôi mèo làm gì?”

“Để bắt chuột.”

“Chỉ với mục đích bắt chuột thôi sao?”

“Còn nữa. Để ăn thịt.”

Bà trợn mắt: “Ồ! Ăn thịt mèo? Tàn nhẫn!”

Tôi vận dụng tất cả vốn liếng sinh ngữ kém cỏi của mình, phụ họa thêm đôi tay làm dấu hiệu để nói với bà rằng thịt mèo cũng giống như thịt thỏ. Tại sao không thể ăn? Mỗi ngày, ở Mỹ có hàng triệu bò heo gà được đưa vào lò sát sinh. Như thế có tàn nhẫn hay không? Bà nói: “Ông có những thắc mắc kỳ cục. Người Mỹ không ai thắc mắc như thế cả. Dù tôi có giải thích, thì qua một thứ ngôn ngữ còn quá mới mẽ đối với ông, ông cũng không thể nào hiểu hết ý nghĩa.”

Bà còn khuyên tôi, đừng nên nghi ngờ về tình thương của người Mỹ. Tôi được đến xứ này là một bằng chứng về lòng tốt đó.

Tôi cám ơn, và nói: “Người Mỹ thường rêu rao về lòng nhân đạo. Bất cứ nơi nào trên thế giới gặp thiên tai, đều được người Mỹ cứu trợ. Nhưng bất cứ nơi nào trên thế giới xảy ra chiến tranh chết chóc, cũng đều có bàn tay của người Mỹ nhúng vào.”

“Để làm cho vấn đề trở nên tốt đẹp hơn.”

Tôi tiếp theo: “Vâng. Tốt đẹp hơn cho quyền lợi của Mỹ.”

Bà già cười lớn cởi mở, cho rằng trong quá khứ có những vấn đề làm tôi hiểu lầm người Mỹ nên mất niềm tin. Nhưng dù sao, những ý nghĩ của tôi cũng làm bà thú vị. Bà tỏ ý muốn làm bạn với tôi để nói chuyện cho đỡ buồn. Bà gọi tôi là bạn, rồi tự giới thiệu tên là Jackwar, Jacquewar, hay gì gì đó. Và bảo tôi lập lại.

Tôi phát âm: “Jaguar.”

Bà cười lớn: “Jaguar là cái hiệu xe hơi, và cũng là tên của một con vật có sức chạy rất nhanh. Năm nay tôi tám mươi ba tuổi, nhận thêm cái tên mới do bạn đặt như một kỷ niệm. Tôi rất thích tên này. Và, bạn tên gì?

Tôi nói: “Tôi tên Lâm.”

Bà phát âm tên tôi thành Lamb: “Lamb cũng là con vật. Như thế, bạn và tôi đều là hai con vật. Tôi là con Jaguar. Bạn là con Lamb.”

Không ngờ một bà già cô đơn, âm thầm trong ngôi nhà buồn hiu phía bên kia đường, lại vui tính đến thế. Bà đặt ra nhiều câu hỏi.

Tôi trả lời: “Tôi từ Việt Nam sang đây, được tám tháng.”

Bà kêu lên: “Việt Nam hả? Thế mà tôi cứ tưởng bạn là người Tàu.” Bà còn cho biết, người chồng đầu tiên của bà bỏ mạng ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh vừa qua.

Tôi chia buồn với bà. Và tiếp rằng: “Bà thấy chưa? Ở đâu có chiến tranh là có mặt người Mỹ.”

Bà nói: “Nếu ở Mỹ một thời gian lâu hơn, bạn sẽ biết tại sao người Mỹ làm như thế.”

Trước khi ra về, bà hẹn gặp lại tôi trong một lần khác, và đưa tay vỗ vai tôi, nói “Good boy.”

Tôi ngạc nhiên về lời nói, và cử chỉ này. Năm nay, tôi đã ngoài bốn mươi, sao bà nói good boy và coi tôi như đứa trẻ nít? Không biết đó là cách biểu lộ thân tình theo kiểu Mỹ, hay dưới con mắt của bà, tôi chỉ là thằng bé con?

Mấy ngày sau.

Bà Jaguar đứng bên nhà, ngoắc tôi sang. Bà đón tôi ở cửa, sắc diện tươi vui rạng rỡ, nói líu lo. Tôi đứng nhìn bà, chỉ mỉm cười và lắc đầu. Bà chợt hiểu tôi không bắt kịp lời nói nên nắm tay tôi, dẫn vào phòng khách. Sao lại nắm tay? Sự thân mật nào cũng phải có giới hạn chứ? Bà Jaguar đã già quá rồi, còn muốn gì nữa đây? Tôi còn đang e dè, bà chỉ chiếc sofa, bảo ngồi đó.

Bà lại vỗ vai tôi, nói: “Thằng con đầu của tôi năm mươi tuổi, nhưng trông nó to xác hơn bạn nhiều.”

Thì ra bà nắm tay, vỗ vai vì coi tôi ngang hàng đứa con của bà. Mỗi dân tộc có những đặc tính riêng, tôi chưa quen thân mật kiểu Mỹ nên thấy ngượng. Rồi bà đi lại phía cửa sổ, nơi có chiếc dương cầm đóng bụi, đem đến một cái gói bọc giấy hoa sặc sỡ trông như chiếc hộp.

Bà nói: “Đây là quà tặng cho bạn, hãy mở ra coi.”

Gói quà khá nặng. Khi tôi mở, bà ngồi quan sát một cách thích thú. Tôi mở thật chậm, ra vẻ trịnh trọng. Thật ra là để để suy nghĩ một thái độ sao cho vừa phải. Nếu tỏ vẻ vui mừng quá lố, bà sẽ tưởng tôi là người ham của. Nếu không vồn vã mà chỉ cám ơn suông, bà sẽ nghĩ tôi thờ ơ với quà tặng. Quà của bà là hai quyển tự điển, Anh Việt – Việt Anh.

Tôi cầm giơ lên: “Cám ơn. Đây là hai thứ mà tôi rất cần, dự định đi mua thì được tặng.”

Nói thế cho bà vui, chứ tôi cũng đã có hai quyển tự điển loại này rồi.

Và bà đã vui thật: “Tôi đã đoán đúng những gì bạn đang cần thiết.” Bà nói thêm, “Nếu bạn muốn, mỗi ngày tôi sẽ luyện giọng cho bạn vài giờ.”

“Tôi ngại chuyện này sẽ làm bà bận rộn.”

Bà khoát tay: “Không đâu, thì giờ của tôi quá dư thừa, không biết làm gì cho hết. Luyện giọng cho bạn cũng là một cách để tôi cảm thấy thời gian bớt trống trải.”

Từ đó, tôi trở thành học trò của bà Jaguar. Mỗi buổi chiều, tôi ôm hai quyển tự điển sang ngôi nhà cổ. Bà và tôi nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Tiếng nào bà nói mà tôi không hiểu thì mở tự điển Anh Việt. Tiếng nào tôi muốn nói mà không tìm ra chữ tương đồng thì mở tự điển Việt Anh. Lớp học cứ thế, diễn ra với người học trò duy nhất, và cô giáo cũng chẳng cần soạn trước đề tài.

Vài tháng sau, bà Jaguar khen tôi có tiến bộ. Bây giờ, tôi nghe khá hơn, và thuộc nhiều từ ngữ hơn.

Một hôm, bà Jaguar nhìn chiếc đàn, nói: “Lâu rồi tôi không lái xe, cũng như không sử dụng ngón đàn. Bạn biết đàn dương cầm không?”

Tôi lắc đầu: “Tôi chẳng biết chi về âm nhạc. Đặc biệt ở xứ tôi, chỉ có giới thượng lưu, hoặc những kẻ nhà giàu muốn làm ra vẻ thượng lưu mới sử dụng dương cầm. Còn tôi là dân nghèo, chỉ lo làm sao sống mà khỏi bị đói.

“Thế ở Việt Nam bạn làm nghề gì?” Bà hỏi.

“Đi lính.” Tôi trả lời.

“Chỉ đi lính mà không làm nghề gì khác?”

“Sau khi đi lính, tôi đi tù. Ra khỏi tù là gần hết cuộc đời. Có thể coi lính và tù là cái nghề không?”

“Không. Trong tù, bạn làm những gì?”

Tôi kể cho bà nghe một lô những việc phải làm: “Cuốc đất, trồng khoai, cày bừa, cấy gặt, nhổ cỏ, đốn cây, vác gỗ, làm nhà, đắp đê, đào giếng, nung đá vôi… Tóm lại, tất cả những việc làm trong tù, không đòi hỏi điều kiện phải biết chữ. Vì vậy, ở xứ tôi, ai cũng có đủ điều kiện để vào tù.”

Bà Jaguar bảo: “Đừng đem sự bất hạnh ra làm điều khôi hài.”

Tôi nói tiếp: “Trong tù người ta còn tập cho chúng tôi cái khả năng chịu đói trường kỳ, cũng có cho ăn cầm hơi qua ngày, nhưng chỉ là những thứ rất ít dinh dưỡng như sắn khô và nước muối. Ai chịu đựng giỏi thì tiếp tục sống. Ai không chịu thì chết. Chúng tôi gầy rạc như những thầy Fakia Ấn Độ. Thầy Fakia chỉ nhịn đói tối đa trong thời hạn bốn mươi ngày. Chúng tôi đói từ năm này sang năm nọ, trong điều kiện phải làm việc hàng ngày.”

“Khắc nghiệt như thế mà vẫn sống được.” Bà Jaguar lắc đầu ngao ngán.

“Hiện tại phần lớn những người tù chúng tôi đã sang Mỹ hoặc các nước Tây Phương. Tôi thấy ở đây có một hiện tượng lạ là nhiều người quá mập. Người ta gọi mập là béo phì, là bệnh và loay hoay tìm cách để làm giảm cân, nhưng kết quả không mấy khả quan. Xứ tôi có một phương pháp chữa bệnh béo phì rất có kết quả.”

“Thật thế sao?” Bà hỏi, có vẻ quan tâm.

Tôi gật đầu:”Chỉ cần vào tù. Nhà cầm quyền xứ tôi gọi tù là cải tạo. Muốn đi cải tạo, chỉ cần truyên bố một câu gì khác với chính sách của chế độ, hoặc phê bình chỉ trích các nhà lãnh đạo là được đi cải tạo ngay. Khi đã vào trại cải tạo, người mập sẽ mỗi ngày một sụt cân nhanh chóng. Bảo đảm trong vòng vài tháng, người ấy sẽ chỉ còn da bọc xương.”

Bà Jaguar bảo: “Ở Mỹ, người ta nghiêm cẩn trước sự đau khổ của mình và của người khác. Còn bạn hay đem sự đau khổ ra làm chuyện khôi hài. Có phải đó là đặc tính của dân tộc Việt Nam?”

“Dân tộc tôi thường xuyên sống trên đau khổ, và lấy đó làm đề tài tạo nên nụ cười như một cách hóa giải bớt thương đau. Do đó, dù đi trong gian nan khổ ải, nhưng miệng vẫn mỉm cười. Người ngoại quốc làm sao thấy được phía sau nụ cười ấy là một nỗi niềm cay đắng?”

“Những người lãnh đạo bất tài chỉ làm cho dân đau khổ. Tại sao họ cứ tiếp tục nắm giữ chức vụ quyền hành chi cho mang tiếng xấu?”

“Ở Mỹ, kẻ giàu sang thích làm lãnh đạo vì muốn có danh. Người Cộng Sản Việt Nam thích làm lãnh đạo vì muốn có quyền lực và có tiền. Nếu rời bỏ quyền lực, họ hiện nguyên hình là tên dốt nát, và chỉ có thể làm đồ tể, hoặc đi chăn bò.”

Bà Jaguar ra vẻ suy nghĩ một lúc, rồi nói: “Vận mệnh đất nước mà đặt trong tay của những tên chăn bò thì nó sẽ nhốt người dân vào chuồng. Giao sinh mạng cho đồ tể thì trước sau gì cũng bị nó đưa vào lò thịt!

Một hôm khác.

Tôi hỏi: “Mấy con mèo của bà dạo này ra sao?”

Bà nói: “Có một con đã sinh tư, và một con sắp đẻ. Với cái đà sinh đẻ theo kiểu nhân giống này, chẳng mấy chốc nhà tôi sẽ đầy những mèo. Tôi ngại trong tương lai, nuôi mèo không còn là một thú vui nữa, mà là một gánh nặng.”

Nói xong, bà dẫn tôi xuống basemaent. Vừa mở cửa, tôi nghe mùi hôi xông lên tận óc. Mùi của nước đái và cứt mèo. Tôi dội ngược trở lên. Bà Jaguar kéo tôi lại, bảo hãy vào coi cho biết sự thể.

Khi chúng tôi vào, đàn mèo tưởng bà Jaguar mang đồ ăn nên bu lại ngóc mỏ kêu meo meo. Rải rác dưới nền, và trong các góc kẹt basement là những cứt mèo khô bẩn thỉu.

“Hiện tại, tôi có đến chín con mèo. Nay mai, một con đang chửa sẽ đẻ nữa.”

“Rồi đây nhà bà sẽ biến thành cái trại nuôi mèo hôi không chịu nổi.”

“Có cách nào giải quyết?”

“Bán chúng cho Pet Shop.”

“Đã có gạ bán nhưng người ta không mua. Tặng người ta cũng không lấy. Họ nói khách hàng vùng này không chuộng mèo, chỉ thích nuôi chó.”

Tôi đề nghị bà chọn con nào thích nhất, giữ lại một con. Còn bao nhiêu tống hết ra rừng. Rồi một ngày cuối tuần, tôi sẽ giúp bà tẩy uế basement.

Bà ái ngại: “Không ai cho ăn, chúng sẽ bị đói. Trời mưa gió, chúng sẽ trú ẩn nơi đâu? Đó là chưa kể chúng sẽ bị làm mồi cho những loài thú dữ khác.”

Tôi nói: “Chính sự nuông chìu và cung cấp thức ăn hàng ngày của bà, nên đàn mèo ỷ lại vào sự đùm bọc nuôi nấng của chủ. Và điều này, đã làm chúng mất hết bản năng tự mưu sinh. Nếu đem bỏ giữa rừng, chúng phải tự tranh đấu để giành sự sống. Lần hồi chúng sẽ phục hồi bản năng thiên nhiên của loài vật. Đói, chúng biết tự tìm mồi. Mưa gió, chúng biết tìm chỗ ẩn núp. Gặp thú dữ, chúng biết nhanh chân chạy trốn. Loài nào yếu đuối chậm chạp thì làm mồi cho loài mạnh hơn. Đó là luật rừng xanh. Thiên nhiên dù khắc nghiệt, nhưng muôn loài vẫn có cách riêng để tồn tại. Bà lo chi những con mèo của bà sẽ không sống được.”

Thế là hai hôm sau, bà Jaguar cho đàn mèo ăn một bữa thật no. Rồi nhờ một người láng giềng cùng tôi đưa chúng lên xe, chở đến một khu rừng cách nhà vài dặm, đẩy chúng xuống. Khi đàn mèo còn đang bỡ ngỡ kêu meo meo và đưa mũi ngửi những cây lá chung quanh, chúng tôi quay xe trở về.

Bà Jaguar đón chúng tôi trước cửa. Bà đang ôm con mèo còn lại, có vẻ buồn. Đôi mắt già đỏ hoe, ngấn lệ.

Bà hỏi: “Khi những con mèo xuống xe, chúng có buồn không?”

Tôi nói để bà yên tâm: “Được sống giữa rừng xanh, chẳng những chúng không buồn, mà còn vui nữa là khác.”

Sau đó, tôi bỏ ra một ngày để dọn dẹp, tẩy uế basement cho bà Jaguar. Bà cứ lẩn quẩn bên tôi, săm soi thương tiếc những dấu tích của đàn mèo. Khi tôi ném những chiếc nôi nhỏ vào thùng rác, những chiếc nôi mà bà đã mua để làm nôi cho mèo ngủ thì bà bật khóc thật sự. Nước mắt của bà không làm tôi xúc động. Cả đời bà Jaguar chưa từng gặp cảnh đau thương. Tâm hồn chưa bị ai dày xéo. Cái túi nước mắt đầy ứ lâu ngày, chực chờ một chút gì xao động là rò rỉ tuôn ra. Để bà khóc cho đã nư. Tôi lo làm sạch sẽ. Đã nhiều năm không ai quét dọn, basement đầy những bụi bặm, đồ đạc chất chứa ngổn ngang. Tôi quét dọn sạch sẽ, sắp xếp đồ đạc lại gọn gàng ngăn nắp. Vất đi một số lớn những thứ cũ kỹ dư thừa không cần thiết.

Lúc mọi việc đã hoàn tất, tôi lên ngồi trước thềm hiên, hóng gió. Bà Jaguar đem cho tôi ly nước lạnh, cùng ngồi đó với tôi. Bà lại nhắc đến những con mèo, không biết chúng lấy gì để ăn?

Tôi nói: “Trong rừng có chuột, cóc, nhái, thằn lắn, rắn mối… Đó là thức ăn của mèo.”

“Nhưng làm sao chúng bắt được, vì như bạn đã nói mỗi loài đều có bản năng chạy trốn khi gặp nguy hiểm?

“Dù có chạy trốn, nhưng không lẽ lần nào cũng thoát? Thiên nhiên đã bày sẵn thức ăn ra đó. Không nhanh nhẹn chụp bắt để đưa vào mồm, trách chi tạo hóa bất công?” Nói tới đây, tôi bỗng nhớ lại một chuyện cũ, và kể cho bà Jaguar nghe.

Có một ông luật sư người Việt Nam, đi du học và hành nghề lâu năm ở Pháp. Không biết tại sao ông lại léng phéng về xứ vào giai đoạn chót của chiến tranh. Dĩ nhiên ông trở thành đối tượng nghi ngờ của chế độ mới, bị đưa ra miền Bắc cải tạo. Một hôm, cán bộ trại tập họp anh em lại để nghe chuyện Bác Hồ. Nghe xong, ông luật sư cũng nổi hứng kể chuyện Bác Hồ. Tiêm nhiễm cái tinh thần tự do dân chủ kiểu Tây Phương quen rồi, ông nói năng không kiêng dè ai cả. Tiếng Việt của ông vụng về như tôi đang nói tiếng Anh.

“Ngày Bác Hồ còn lang thang ở Pháp. Bác có đến xin được gặp tôi, rủ tôi theo Bác về xứ tham gia cách mạng. Nhưng tôi từ chối.”

Cán bộ lấy làm tiếc: “Nếu hồi đó, anh chịu theo Bác thì bây giờ đã được quyền cao chức trọng rồi.”

Ông nói: “Hồi đó, tôi đâu biết Bác là ai mà theo? Tôi là một luật sư của luật sư đoàn Pháp Quốc. Bác không theo tôi thì thôi. Sao tôi lại theo Bác, một kẻ vô danh, không nghề nghiệp?”

Nghe xong, cán bộ sửng người. Chúng tôi không ai dám cười.

Ra Bắc, chúng tôi phải làm việc khổ sai cật lực. Ông luật sư già yếu quá rồi, lại không rành ngôn ngữ Việt Nam. Cán bộ chỉ định ông luật sư đi chăn trâu.
Buổi sáng. Trước khi dẫn hai con trâu ra đồng, ông ta hỏi: “Tôi phải đem món gì theo cho lủy ăn?”

Cán bộ không biết “lủy” là gì. Một anh tù giải thích: “Lủy tiếng Tây có nghĩa là nó, chỉ ngôi thứ ba.”

Cán bộ hỏi: “Ngôi thứ ba là ngôi gì?”

“Ngôi thứ ba là con trâu.”

Cán bộ mỉa mai: “Con trâu thì bảo là con trâu. Ngôi thứ chỉ đặt ra cho con người. Các anh lắm chuyện rắc rối!”

Từ đó, cán bộ đinh ninh “lủy” là con trâu. Và nói: “Dẫn lủy ra đồng, cho lủy tự ăn cỏ. Không cần đem theo gì cả.”

Buổi trưa. Ông luật sư chạy về trại, báo cáo: “Lủy không ăn cỏ nữa, lủy lội ra nằm giữa hồ nước. Tôi gọi mãi, lủy không vào. Bây giờ, làm sao gọi lủy vào?”

Trước sự ngờ nghệch của ông luật sư, cán bộ nổi nóng: “Lủy nằm đó, kệ lủy!. Mắc mớ gì anh mà gọi vào?”

Ông luật sư quay qua hỏi người bạn tù: “Mắc mớ nghĩa là gì vậy?”

Lần này, chúng tôi cười thoải mái.

Sau khi nghe chuyện, bà Jaguar thắc mắc: “Tại sao ông luật sư không biết rằng con trâu phải tự gặm cỏ ngoài đồng mà ăn?”

Tôi nói: “Cũng như bà đấy. Tại sao bà không biết rằng con mèo phải tự bắt chuột trong rừng mà ăn?”

Bà cười lớn: “Không ngờ bạn kể một câu chuyện dông dài, mục đích gài bẫy cho tôi đặt câu hỏi để bạn trả lời con mèo phải tự mưu sinh.”
Vào một ngày mùa hè. Bà Jaguar nói với tôi về một bà bạn tên Julie vẫn hay đến đây làm việc thiện nguyện như giúp bà đi chợ, nấu ăn, hoặc dọn dẹp lau chùi nhà cửa. Chung quanh nhà bà Julie là một khu vườn rộng, đang cần một người cắt xén, chăm sóc hoa cỏ.

Bà Jaguar hỏi: “Bạn thích làm công việc ấy không?”

Tôi nói: “Chỉ ngại người ta không chịu mướn tôi.”

“Tôi sẽ giới thiệu, và chắc chắn bà Julie bằng lòng.” Bà cười với vẻ khôi hài, “Bởi vì đây là công việc không cần điều kiện biết chữ, như bạn đã từng làm ở trong tù.”

Hôm sau. Tôi thấy một người đàn ông đến nhà bà Jaguar, lôi chiếc xe hơi bỏ phế lâu ngày từ trong garage, đem đi. Và hôm sau nữa. Chiếc xe được lái về đậu ngay trước cửa, sau khi đã lau chùi sạch sẽ.

Bà Jaguar gọi tôi sang, bảo: “Chiếc xe này đã được tu bổ sửa chữa hoàn hảo rồi. Tôi tặng bạn, để có phương tiện đi làm vườn nhà bà Julie.”

Tôi từ chối: “Tôi không muốn nhận một cái ơn quá lớn, khi tôi chẳng làm được điều gì đáp lại.”

Bà nài ép mãi, nói cái tuổi của bà không còn có thể tự lái xe. Nếu tôi không nhận thì bà cũng để đấy vô ích thôi. Cuối cùng, chúng tôi thỏa thuận bằng cách tôi mua lại với điều kiện trả góp. Bà dặn, khi nào chiếc xe bị hư hao trục trặc, hãy báo cho bà biết vì thời gian guarantee là… một năm.
Tôi cũng ậm ờ cho qua chuyện, nhưng không bao giờ muốn làm phiền một kẻ có lòng.

Khi bà trao cái title để tôi đi sang tên, tôi thấy bà ghi giá bán một trăm đô la.

Tôi la lên: “Thế này thì thiệt thòi cho bà quá. Phải ghi thêm một con số không.”

Bà lắc đầu: “Đã quyết định rồi, không thay đổi. Trên đời sao lại có chuyện người mua đòi trả cao hơn giá bán.”

Từ khi làm vườn cho bà Julie, tôi ít sang nhà bà Jaguar. Những cuối tuần, thỉnh thoảng thấy bà đứng trước sân, tôi sang thăm hỏi bà có cần tôi giúp gì không? Bà bảo, mọi sự bình thường. Khi nào cần, bà sẽ gọi. Bà cũng nói thêm rằng mùa đông sắp tới rồi, bà Julie dự định sẽ đưa tôi vào làm cleaner trong cái hãng do chồng bà làm chủ. Bà Julie đánh giá quả không lầm. Tôi chẳng biết chi về máy móc kỹ thuật, nhưng nếu giao công việc lau chùi dọn dẹp, chắc chắn tôi sẽ tỏ ra vô cùng xuất sắc.

Hàng ngày, tôi vẫn đi làm bình thường nơi khu vườn của bà Julie. Một buổi sáng, khi tôi đang mở cửa nhà kho để lấy dụng cụ, bà Julie xuất hiện.

Bà hỏi: “Hôm nay ông không đi đưa tiễn người bạn già của ông hay sao?”

Tôi hỏi lại: “Bà muốn nói bạn già của tôi là ai?”

“Jaguar.” Bà Julie nói.

“Sao bà cũng biết người ấy có cái tên Jaguar?”

“Chính bà kể cho tôi nghe lai lịch về cái tên này.”

“Nhưng bà Jaguar đi đâu mà cần đưa tiễn?”

“Ông không biết gì sao? Bà ấy chết rồi!”

Tôi tưởng như nghe lầm: “Cái gì?”

“Jaguar chết rồi.” Bà Julie lập lại

Tôi thảng thốt: “Tại sao?”

“Tai biến mạch máu não. Chết trên bàn giải phẩu vì tuổi già không đủ sức chịu đựng. Tôi cũng đang chuẩn bị đưa tang đây.”
Tôi sửng sờ trong giây lát. Nghe có một nỗi gì nghèn nghẹn dâng lên trong cổ. Rồi quên cả chào bà Julie, tôi lên xe phóng về cho kịp tiễn đưa người bạn già kính mến của tôi. Trên đường về, tôi tiếc đã quên hỏi địa chỉ nhà quàng để nhìn mặt bà Jaguar lần cuối. Không khéo, khi tìm được đến nơi thì người ta đã đưa bà ra nghĩa trang rồi.

Lâm Chương

Gạch Đã Ra Lò

Lâm Chương

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

(Nhà văn Lâm Chương)

Hắn ở nhà thuê. Đặc tính của người thuê nhà là không ở một chỗ nào quá lâu. Hơn 20 năm sống trên đất Mỹ, hắn dời chỗ 7 lần. Và lần nào cũng thuê đúng tầng 3, trên cao chót vót. Cái số hắn là vậy.

Lúc còn ở Việt Nam, có lần hắn đi coi bói. Lão thầy bói hỏi hắn về ngày tháng năm sinh. Hắn mù tịt. Bởi hắn được sinh ra trong thời giặc giã, má hắn hoảng hốt bồng con chạy loạn trối chết. Bà ngoại hắn nói nửa đùa nửa thật, rằng má hắn đẻ rớt ra hắn trên đường chạy loạn. Sao lạ vậy? Có ai vừa chạy vừa đẻ không? Người ta đau bụng quằn quại rên la gần chết mới đẻ được. Nhiều đứa bé bướng bĩnh nằm ì không chịu ra, bắt buộc phải dùng biện pháp mạnh, giải phẩu nắm đầu lôi ra. Còn hắn tạo điều kiện dễ dàng cho người đã cưu mang hắn. Ngay từ lúc sơ sinh, hắn đã thể hiện tính nhân bản, chẳng làm khó ai bao giờ. Có điều lầm lẫn là hắn đã ra đời không đúng lúc. Rồi khi ổn định nhà cửa, mãi lo tất bật với miếng ăn hàng ngày, chẳng ai nghĩ đến chuyện làm cái giấy khai sinh cho thằng nhỏ. Coi như sự có mặt của nó trên cõi đời này là một chứng minh hùng hồn rằng nó là một đơn vị hợp pháp trong xã hội loài người. Má hắn đâu biết con bò, con trâu hay chiếc xe gắn máy cũng cần phải có giấy chủ quyền. Hắn không có giấy tờ gì cả. Mãi đến năm 7 hay 8 tuổi gì đó, hắn mới bắt đầu đi học. Cho đi học là một cách giữ chân hắn trong trường để đừng chạy nhảy rong chơi phá làng phá xóm. Chữ nghĩa không cần thiết. Má hắn người đồng quê, sống bằng vào ruộng rẫy, mọi sự suy nghĩ hết sức đơn giản. Chữ nghĩa mà làm ông làm cha gì ai? Lúc đói cũng phải xăn quần lội xuống ruộng cày cấy mới có miếng ăn. Hắn chưa đủ lớn để có thể xăn quần lội xuống ruộng. Phải cho hắn đi học để hắn đừng đi chơi. Đơn giản chỉ có thế. Nhưng nhà trường lại rắc rối, đòi phải có giấy khai sinh. Má hắn dẫn hắn ra hội đồng xã. Ông hộ tịch trợn trừng nạt nộ lớn tiếng, gạn hỏi đủ điều làm như má hắn lượm một thằng nhỏ ở đâu, hoặc ăn cắp con ai rồi mạo nhận là con mình. Trước thái độ dữ dằn của ông hộ tịch, má hắn khiếp vía, không sao nhớ được hắn sinh ra vào ngày tháng năm nào. Cuối cùng rồi cũng làm được cái giấy khai sinh, căn cứ vào thời điểm đất nước có những sự kiện như thế, và lấy đó làm dấu mốc năm sinh của hắn. Còn ngày tháng sinh không xác định được nên để trống. Đó là một thiệt thòi lớn cho hắn sau này. Hắn không lấy được lá số tử vi về vận mệnh của mình. Tương lai cuộc đời coi như mù mịt.

Hắn không biết ngày sinh tháng đẻ, lão thầy bói nhìn mặt xem tướng và xem chỉ tay cho hắn.

Lão nói: “Con người thọ khí âm dương của Trời Đất và khí huyết của cha mẹ mà sinh ra. Từ bậc vua quan cho đến hàng dân dã cũng đều như nhau cả. Nhưng trong đó, máy tạo hoá có phân biệt khác nhau là cái tướng. Bởi vậy, người tuy đông mà không ai giống ai hết. Tướng ấy thể hiện người sang hèn, giàu nghèo, yểu thọ, ngay gian, kể ra không cùng. Hễ hình hài mang lốt tướng nào thì vận mệnh cũng theo hình tướng ấy, không khi nào sai.”

Nếu theo lý luận của lão thầy bói thì hình tướng của hắn coi như hỏng bét. Hắn không đẹp trai. Phụ nữ không yêu hắn. Họ chỉ thương hại. Nhiều người nhận xét mặt hắn có vẻ cù lần, lương thiện một cách đần độn. Cũng vì lương thiện một cách đần độn nên ở đời hắn thường chịu nhiều thua thiệt. Nhìn mặt xem tướng, mặt hắn toàn thể hiện những nét phá tướng. Còn chỉ tay hắn, những chỉ ngang lằn dọc xiên qua xẹo lại nát bấy, chẳng ra làm sao cả. Điều này chứng tỏ hắn gặp nhiều khó khăn, trắc trở trên đường đời. Nhưng hãy để thầy bói đoán xem sao. May ra lão tìm được đường chỉ nào khả dĩ hoá giải bớt những hắc ám trong đời hắn. Quả thật, lão nói rất nhiều. Toàn những điều bất hạnh. Hắn tự an ủi, rằng lão chỉ đoán mò và nói bá láp. Coi như trật lất hết. Duy chỉ một điều làm hắn nhớ mãi, bây giờ nghiệm lại thấy đúng.

Lão bảo: “Cậu cao số lắm.”
Hắn hỏi: “Cao số là nghĩa làm sao?”
Lão giải thích: “Đời cậu ba chìm bảy nổi, lắm lúc gian nan nguy hiểm, nhưng cậu yên tâm đi. Tất cả đều tai qua nạn khỏi.”

Hắn thở phào, thầm khen lão thầy bói nói đúng như thần. Nhà hắn nghèo, lại không có thân thế nhờ cậy ai nên khi đi lính, hắn được ưu tiên đưa ra chiến trường. Đời nào cái bọn con ông cháu cha mà ra trận mạc? Hắn khơi khơi xách súng ra chiến trường như đi bắn chim vậy. Không anh hùng mà cũng lắm phen vào sinh ra tử. Chẳng biết hắn có bắn chết thằng nào hay không. Khi lâm trận, đạn bắn như mưa, nhiều người ngã xuống. Chưa chắc đó là do viên đạn của hắn. Ngược lại, đồng đội hắn cũng nhiều người ngã xuống. Nhưng hắn thì 10 năm trận địa chưa mất một sợi lông chân, dù vất vả gian nan có thừa. Có người hỏi, sao hắn đi chinh chiến lâu thế mà không trầy trụa sứt mẻ gì? Hắn bảo vì hắn chạy giỏi và có biệt tài né đạn. Nói chơi cho vui vậy thôi. Thật ra, có lẽ vì cao số nên đạn tránh hắn.

Hắn hỏi thêm: “Ngoài cái chuyện tai qua nạn khỏi, cao số còn có nghĩa gì khác nữa không?”

Lão thầy bói nhíu mày: “Tương lai vận mệnh con người đâu thể nói rõ ràng như 2 với 2 là 4. Tuỳ cậu suy nghiệm từng sự việc xảy ra.”

Hắn cố gạn hỏi về cái chuyện cao số, mong lão thầy bói bật mí thêm về tương lai của hắn: “Thầy đã coi cho tôi thì xin nói hết những gì thầy biết.”

Lão có vẻ nổi cáu, xẵng giọng: “Cao số là cái số sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Thôi, đủ rồi. Tiền quẻ bao nhiêu thì nói bấy nhiêu. Xin đừng hỏi nữa.”

Sống trên đầu trên cổ thiên hạ ư? Hắn nào dám mơ như thế. Hắn vốn người chậm lụt, trí năng thấp kém. Chỉ mong thiên hạ đừng bắt nạt đè đầu bóp cổ là may lắm rồi.

Sau những năm dài chinh chiến, tình thế bắt đầu đổi khác. Lúc những người mang dép râu, đội nón cối từ trong hang ổ rừng xanh xuất hiện trên các phố thị miền Nam, cũng là lúc hắn sa chân xuống hầm tai hoạ. Nói trắng ra là đi tù. Đi tù, nhân phẩm bị chà đạp, khổ nạn như con trâu bị bỏ đói mà bắt phải kéo cày. Vậy mà lão thầy bói bảo hắn sống trên đầu trên cổ thiên hạ. Ngược lại thì có.

Khi qua Mỹ, nhiều lần dời chỗ ở, và lần nào hắn cũng thuê đúng tầng 3. Thật tâm hắn không muốn thế, nhưng hai tầng dưới đã có người thuê rồi. Thôi, đành chịu vậy. Ở tầng 3, mỗi lần di chuyển đồ đạc vất vả vô cùng. Nhưng rồi hắn cũng tìm được lý do an ủi, lên xuống lầu cao là một cách tập thể dục. Người ta tốn tiền mua dụng cụ tập luyện thân thể. Hắn khỏi tốn khoản tiền ấy. Bạn hắn, phần đông đều cao tuổi, chân tay cò vạc yếu đuối. Có lần ông bạn già lẩy bẩy leo đến tầng 3 của hắn, há mồm thở dốc.

Ông nói như hụt hơi: “Ở trên đầu trên cổ thiên hạ càng mệt, chứ sướng ức chi?”

Câu nói vô tình làm hắn chợt nhớ lời lão thầy bói. “Cao số là cái số sống trên đầu trên cổ thiên hạ.” Trời! Chuyện tương lai xa hàng mấy chục năm mà lão nói trúng phóc. Hiện tại hắn đang sinh hoạt ăn uống, tắm rửa, ngủ nghê gì cũng trên đầu của 2 tầng nhà dưới. Trước kia, hắn lầm tưởng lão thầy bói muốn nói hắn ác ôn, chuyên môn đè đầu cưỡi cổ người khác. Hoá ra không phải thế. Lão ám chỉ cái số hắn ở trên cao. Ở Mỹ như vậy là số nghèo. Số mạt rệp! Số vất vả! Người giàu không xây nhà cao. Họ sợ đi lên đi xuống mỏi chân, lại dễ trượt té u đầu sứt trán như chơi. Họ chủ trương trải rộng mặt bằng, cơ ngơi chiếm nhiều diện tích khang trang mát mẻ. Khác với Việt Nam. Nhà nào lên lầu cao là giàu, dân có máu mặt. Người nghèo, nhà cửa chật chội, thấp lè tè. Ngước nhìn lên lầu cao, đôi khi mặc cảm thân phận mình nhỏ bé, thấp kém hơn thiên hạ.

20 năm hắn vẫn ở nhà thuê, chứng tỏ hắn nghèo thật. Khi mới qua Mỹ, hắn không có tiền sắm đồ đạc trong nhà. Hắn thường lang thang đi lượm những món đồ người ta vất đi, đem về dùng lại. Hắn nghĩ, nếu ở Việt Nam đem những món này ra chợ trời cũng bán được khối tiền. Thế thì ở đây người ta vất, tội gì mình phải mua? Mình chỉ lượm, chứ trộm cắp của ai mà xấu hổ? Nghĩ vậy, nhưng nhiều lúc thấy người ta dòm ngó, hắn cũng ngượng. Dù hắn đã tạo cái dáng như người nhàn rỗi dạo chơi để đừng ai chú ý.

Trong khi săn nhặt đồ cũ, hắn gặp một đồng nghiệp người Mễ. Anh này qua Mỹ trước hắn vài tháng, tiếng Anh cũng ấm ớ như hắn. Cả hai vừa nói chuyện vừa dùng đôi tay diễn tả. Tuy nhiên, anh ta có đầy kinh nghiệm trong nghề. Anh bảo phải có một chiếc xe đẩy khi đi lượm đồ cũ. Hắn nói không thể kiếm được. Tuần sau, anh ta cho hắn một chiếc shopping cart giống như chiếc của anh đang đẩy, và truyền đạt cho hắn những kinh nghiệm vô cùng quý giá: “Điều gì người Mỹ tính rồi thì khỏi tính lại, vì họ đã tính rất chính xác. Nơi nào người Tàu đã bỏ đi thì đừng đến ở, vì họ rất giỏi mưu sinh mà còn thất bại thì mình không thể thành công. Đồ đạc gì của người Việt Nam vất thì đừng lượm, vì người Việt vốn tính cần kiệm nên đồ họ bỏ ra thì không ai còn dùng được nữa.”

Sau một thời gian quen biết, anh bạn Mễ sắm được chiếc xe hơi cũ. Chiếc xe trông thảm, trầy trụa móp méo tùm lum, nhưng tiếng máy nghe êm. Mới đầu hắn tưởng anh ta lượm được ở đâu đó. Nhưng không, anh bảo mua rẻ của một thằng bạn Mễ. Từ khi có chiếc xe, anh giải nghệ đi lượm đồ cũ, chuyển hướng đi yard sale. Đây cũng là một cách săn lùng đồ cũ dưới hình thức khác. Mỗi cuối tuần, anh chở hắn đi. Đồ yard sale bán rẻ như cho. Đối với hắn, đi yard sale cũng là một cái thú. Đi hoài, đâm ra ghiền yard sale. Và hắn khám phá ra có nhiều người cũng ghiền như hắn. Những bộ mặt quen thuộc ấy, hắn gặp hoài ở các địa điểm yard sale. Cuối tuần, thay vì đi chơi, họ đi ngắm đồ yard sale may ra vớ được món bở với giá rất bèo. Hắn đọc báo, thấy nói có người mua khung hình cũ về tháo ra, bắt gặp những đồng tiền xưa hoặc giấy tờ tuỳ thân cũ từ cả trăm năm trước. Những thứ lâu đời đó bỗng trở thành vô giá đối với dân chơi đồ cổ. Dân chơi đồ cổ là dân nhiều tiền lắm của. Khi đã đam mê, họ có thể chơi ngông dám bỏ ra số tiền rất lớn để đổi lấy một món đồ cũ mèm, xem ra không còn chút giá trị thực dụng nào cả. Hắn mong một ngày mình cũng có được món đồ gì lọt vào mắt xanh của dân sưu tầm đồ cổ. Không mua vé số mà cũng trúng độc đắc. Nhưng dịp may ấy chẳng bao giờ đến với hắn. Bởi lão thầy bói đã nói rồi, số hắn ở trên cao, nghĩa la số nghèo.

Nói đến đồ cổ, không thể không nói đến những món không cần phải cổ, cũng có thể đem bán đấu giá. Đó là đồ dùng của các nhân vật nổi tiếng đã chết rồi. Cái đồng hồ, cây bút của cố tổng thống John F. Kennedy, hoặc cái quần lót của nữ tài tử Marilyn Monroe. Hắn thật không hiểu người ta tranh nhau đấu giá để mua cho được cái quần lót của Marilyn Monroe làm gì? Ngắm chăng? Nó cũng như trăm nghìn cái quần lót người khác, có gì lạ mà ngắm? Ngửi chăng? Trước khi mang ra đấu giá, người ta đã tẩy giặt sạch rồi. Còn hơi huớm gì mà ngửi? Từ cái quần lót của Marilyn Monroe, hắn nhớ lại chuyện ông vua Tự Đức cũng “xếp tàn y lại để dành hơi” sau khi nàng cung nữ yêu lìa đời. Hắn tưởng tượng, mỗi khi nhớ cái mùi của người đã từng chung chăn gối, nhà vua lấy cái quần lót của nàng đưa lên mũi ngửi một cách say mê với đôi mắt lờ đờ ngây dại. Hắn bật tiếng cười khan. Trăm họ thần dân mà biết nhà vua ngửi quần lót đàn bà thì còn ra cái thể thống gì?

Trở lại chuyện của hắn. Hiện tại, nhà hắn đầy đủ tiện nghi với những đồ đạc săn nhặt từ thùng rác và yard sale. Vợ hắn lắc đầu, cho rằng những thứ hắn tha về toàn là của người chết mà thân nhân của họ muốn tống khứ đi. Con hắn gớm ghiếc, bảo đấy là đồ dùng của người mắc bệnh Aids, cần phải vất bỏ tẩy uế. Hắn không đồng quan niệm với vợ con. Nhưng nhiều đêm nằm ngẫm nghĩ, săn nhặt đồ cũ cũng vì nghèo. Hơn thế nữa, nó thành thói quen. Tương tự như khi hắn ra khỏi tù, đi đường thấy cái bao nhựa nylon cũng lượm bỏ túi. Một thói quen bệnh hoạn đã thâm nhập vào tận xương tuỷ, do đời sống quá khó khăn thiếu thốn trong tù tạo nên. Cũng như khi mới qua Mỹ, liệng bỏ những cái bình đựng sữa, đựng nước bằng nhựa nylon thì tiếc, mà giữ lại thì không biết để làm gì. Không phải một mình hắn có triệu chứng bất thường như thế. Một trung tá Mỹ lái máy bay dội bom miền Bắc Việt Nam bị bắn rơi, rồi bị bắt làm tù binh 7 năm ở trại tù Hoả Lò, Hà Nội. Sau ngày trao trả tù binh giữa Mỹ và Cộng Sản Bắc Việt, ông được báo chí phỏng vấn. Ông nói về những nỗi đắng cay trong tù. Và điều đó đã ngấm sâu vào ông, trở thành thói quen vô thức trong sinh hoạt hàng ngày. Chẳng hạn, khi đi cầu ông dùng rất ít giấy vệ sinh để lau chùi, dù cuộn giấy vệ sinh chẳng đáng gì để ông phải bận tâm suy nghĩ về sự tiết kiệm. Hắn cũng nhớ lại thời gian hắn bị lưu đày ra đất Bắc, không có đến mảnh giấy vụn làm vệ sinh. Hắn phải dùng miếng giẻ rách xé ra từ quần áo cũ để lau chùi. Mỗi khi đi tiêu ngoài rừng, nếu dùng lá cây thi bất tiện lắm. Lá cây trơn láng, chùi không sạch. Lá cây nhám, có nhiều lông làm xót ngứa hậu môn. Dùng miếng giẻ là tiện nhất. Chùi xong, xếp miếng giẻ cho vào túi nhựa nylon, rồi cất vào túi quần. Buổi chiều về ngang con suối, vệ binh cho dừng lại tắm rửa, luôn tiện giặt miếng giẻ để lần sau dùng nữa. Hắn dùng hoài, cho đến khi nào có được miếng giẻ khác thay thế tốt hơn. Khi còn ở tù, lúc nào hắn cũng thủ sẵn miếng giẻ trong túi. Chỉ cần hai miếng giẻ là đủ dùng cho cả năm.

Khi nghĩ về số phận, hắn tự hỏi, hắn đâu làm nên tội gì, sao ông Trời bất công với hắn? Hắn không tự chọn sinh ra trong một gia đình nghèo nàn thiếu trước hụt sau. Hắn lại sở hữu một cái đầu kém thông minh, không có một năng khiếu đặc biệt gì để bon chen cùng thiên hạ. Vào quân đội thì làm con chốt thí trên chiến trường. May mà con quái vật chiến tranh chưa kịp nhai xương hắn thì cuộc chiến chấm dứt, nên còn được cái mạng trở về. Rồi hắn bị đẩy vô tù. Người ta trút lên đầu hắn bao nhiêu là tội lỗi tày trời, rằng phản bội tổ quốc, bán nước cầu vinh. Tự vệ chống lại thằng ăn cướp mà gọi là phản bội sao? Và cái thân cùng đinh của hắn thì quyền hành gì mà có thể bán cả giang sơn tổ quốc? Ra khỏi nhà tù, hắn tìm cách vượt biên ngay. Bởi quá tin người, hắn bị lừa đảo hết tiền và suýt bỏ mạng. Phải đến chuyến thứ 13, hắn mới đi trót lọt. Người ta kỵ con số 13, nhưng vận mệnh của hắn lại hợp với con số xui xẻo này.

Bây giờ, hắn đang ở Mỹ. Phần đông người Việt ở đây đều có đời sống thoải mái. Tiền bạc, xe hơi, nhà cửa đàng hoàng. Sao hắn vẫn ở nhà thuê? Có phải tại hắn lười biếng? Hay mệnh Trời đã định? Hắn phản đối ông Trời, và quyết tâm cải lại số Trời. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết, “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”. Hắn sẽ thắng thiên. Hắn sẽ làm giàu. Hắn sẽ thí mạng cùi làm việc để có nhiều tiền. Đang làm tà tà ngày 8 tiếng trong nhà in, hắn xin làm thêm giờ phụ trội. Đầu tắt mặt tối, mệt nhoài thở chẳng ra hơi. Muốn có nhiều tiền, thật khổ lắm thay! Một ông bạn thấy hắn quá vất vả để trở mình làm giàu, bèn nói một câu chí lý: “Ở Mỹ, người ta cho con ngựa ăn no, nhưng bắt phải chạy đua.” Hắn đang làm con ngựa chạy đua. Máu hắn đã bị vắt cạn trong các trại tù Việt Nam, khi sang đây thì đã sức cùng lực tận, còn đua với ai được nữa?

Một năm trời làm con ngựa chạy đua, hắn bã người. Hắn ra tiệm thuốc Bắc, mua sữa mật ong chúa về uống mỗi ngày. Theo quảng cáo, đây là loại thần dược làm tráng dương cho người già, tăng sức cho người trẻ. Càng uống, hắn càng kiệt sức. Khốn nạn! Lúc nào tay chân hắn cũng rã rời, mệt mỏi và buồn ngủ. Hắn nổi giận, ném mấy lọ thuốc còn lại vào sọt rác. Hắn nghi mình có bệnh tiềm ẩn gì đó đang rúc rỉa dần xương thịt. Hắn đi bác sĩ. Sau khi thử nghiệm, bác sĩ cho toa mua multi vitamin, khuyên hắn cần nghỉ ngơi và ăn uống điều độ. Bệnh tiềm ẩn mà cách điều trị đơn giản vậy sao? Thôi thì hãy tin nơi bác sĩ. Dù sao ông ta cũng đã khổ công mài mòn bao nhiêu cái đít quần trong các giảng đường y khoa. Chứ không phải như mấy cha nội mới biết đọc i tờ, theo Việt Cộng vào rừng khiêng xác chết và rửa ghẻ một thời gian, khi ra thành phố bỗng trở thành bác sĩ ngang xương. Do kiến thức y khoa giới hạn, thay gì cứu người, họ trở thành kẻ sát nhân. Đã có nhiều người bỏ mạng vì loại bác sĩ xuất thân từ rừng xanh rồi. Thằng con trai của hắn là một trong những nạn nhân ấy. Hắn căm hận gọi loại bác sĩ này là bác sĩ tử thần. Căm hận thì nói thế thôi, chứ hắn làm gì được ai?

Bắc sĩ dặn mỗi ngày uống 1 viên multi vitamin, hắn chơi luôn 2 viên một ngày cho chắc ăn. Đồng thời, hắn nghỉ làm thêm giờ phụ trội. Không còn đầu tắt mặt tối nữa. Sức khoẻ hắn phục hồi nhanh chóng.

Những lúc rỗi việc, hắn hay lôi Truyện Kiều ra đọc mua vui như lời cụ Nguyễn Du nói. Gần cuối truyện, hắn chú ý đến đoạn thơ: Ngẫm hay muôn sự tại trời/ Trời kia đã bắt làm người có thân/ Bắt phong trần phải phong trần/ Cho thanh cao mới được phần thanh cao. Thì ra qua thân phận nàng Kiều, cụ Nguyễn Du muốn nhắn lại người đời sau rằng cụ đã từng muốn cải mệnh trời, nhưng cuối cùng đành chịu thua. Một thi nhân bậc nhất của Việt Nam còn phải chấp nhận ngậm đắng nuốt cay, hắn là cái thá gì mà cưỡng được số trời đã định? Nói theo kiểu Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc, kiếp này hắn như gạch đã ra lò, định hình rồi không thay đổi được nữa.

Lâm Chương

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

Chương 8

Thâm sơn cùng cốc

Không còn sự lựa chọn nào khác, tôi đành chấp nhận nơi này dựng một căn nhà nhỏ giữa ba sào đất gồ ghề, lởm chởm đá ong, nằm đìu hiu một mình ở cuối xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng. Đúng theo dự tính của tôi và Thành phác hoạ trước đây.

Chung quanh, phía nam bốn trăm thước, hai làng Thượng R’Chai và Jirong Tambor, dân tình không mấy thiện cảm với người kinh. Đi đâu họ cũng mang sau lưng cái gùi, đàn ông thì cầm xà gạc sắc bén, loại dao cán dài. Hướng bắc, gần nhà là một khu nghĩa trang khá rộng, được dùng làm pháp trường để “toà án nhân dân” đem vào xử bắn dài dài những kẻ đối kháng. Trước mặt, bên kia Quốc lộ 20 cũ, con sông Đa Nhim, khởi nguồn từ quận Đơn Dương, chảy xiết về tỉnh Đồng Nai, khi ngang đây thì đổ xuống một trũng sâu tạo thành thác Gu-ga, quanh năm ầm ĩ, bụi nước tung cao như sương mù bao phủ một góc núi.

Tháng đầu tôi đến ở, ông Đắc có ghé thăm đôi lần mà lần nào ôgn cũng nhắc câu nói của lũ gian tà theo chủ nghĩa rách bươm miền Bắc: “Lao động là vinh quang, lao động làm nên của cải”. Ông Đắc chưa mở mắt thấy sự thâm độc của quân cướp nước, đẩy dân chúng miền Nam vào rừng khai sơn phá thạch, dĩ nhiên phải ráng sức lao động, đầu tắt mặt tối, mới có ăn, trong khi bỏ hết nhà cửa, đất đai ở thành phố, cho bọn đói rách từ sào huyệt đảng của chúng đến chiếm cứ.

Miền Nam vốn giàu có, bản chất con người không đố kỵ, không ganh ghét những ai khá hơn, nên dễ mắc mưu bọn thủ đoạn, phản phúc, khi yếu thì cúi mình tự xưng “em, em”, lúc mạnh, trở mặt ngay: “chúng tao, chúng mày”.

Ông Đắc chưa mở mắt nên chưa thấy cái nham hiểm của Cộng Sản Bắc Việt, đưa nhiều đoàn thanh niên nam nữ vào Nam “trồng cây gây rừng”, là hình thức dò tìm những vùng đất mầu mở cho thân nhân chúng vào cắm dùi. Không riêng miền quê mà các phố phường cũng vậy, đều có sự hiện diện của lũ xâm lược ngự trị chỗ tốt.

Thừa biết ý đồ bất nhân ấy tôi không nản chí với đời sống gian khổ nơi thâm sơn cùng cốc này.

Rồi hằng ngày, sau khi đã mướn người cuốc, tôi lết quanh nhà xới đất trồng khoai tỉa bắp, những công việc từ thuở cha sinh mẹ đẻ tôi chưa bao giờ đụng tới. Đôi khi, nhờ dầm mưa dãi nắng, qua bao tiến trình rừng rú do cái đảng của “Thây Ma Ba Đình” chủ trương “biến sỏi đá thành cơm”, tôi được đền bù. Các bác nông dân hàng xóm thương tình giúp đỡ, mà cũng ngao ngán cho tôi, hoa màu le te không lớn nổi, cỏ dại chằng chịt, và hạn hán kéo dài, ruộng vườn nứt nẻ.

Trong lúc nạn đói đe dọa thì đêm Noël đầu tiên năm mất nước, một bọn Thượng, thuộc nhóm K’Tin ở R’Chai, vào chĩa súng lấy hết tiền bạc, quần áo, khiến gia đình tôi khốn đốn.

Vụ cướp, tuy không đáng kể, nhưng nạn nhân là người tàn tật nên làng trên xóm dưới bàn tán xôn xao, có cả tiếng bấc tiếng chì, cho rằng tôi đem của cải tiếp tế Fulro, “tàn quân” chế độ cũ đang hoạt động trong rừng, phía đông thác Gu-ga. Đã mất của còn rắc rối. Công an huyện Đức Trọng, nhân lúc tới lập biên bản, gặng hỏi lung tung lai lịch tôi ngày xưa, làm như chính tôi là thủ phạm. Cứ đôi ba hôm họ tới. Lần này tôi biết tên và cấp bậc của tên công an là Trung úy Cẩn.

Hắn khai thác:

– Anh có thật mất đồ không?

Tôi tỏ vẻ thân thiện và xen lẫn thái độ ngang ngạnh, hầu đánh tan sự nghi ngờ tôi ở nơi vắng vẻ này có mục đích liên lạc, cung cấp tin tức cho thành phần đối kháng, tôi đáp:

– Tự nhiên tôi dựng chuyện à?

Cẩn nói:

– Chúng tôi đang tiến hành việc tìm thủ phạm, anh chớ đi đâu xa. Anh vừa vô sở cà phê Phi Vàng Finom chi vậy?

– Vì có người nói thằng thượng K’Tin làm mướn trong đó. Mất của, tôi nóng lòng đi kiếm phụ với quý anh chứ?

Công An Cẩn bỗng gác ngang chuyện mất cướp qua một bên, không chất vấn điều tra gì nữa, anh nhét vội tập giấy vô túi xách da bò, rồi ngước lên nhìn tôi:

– Anh quen ông Út xay lúa trên R’chai, phải không?

Cẩn đề cập tới Út làm tôi giật mình và nhớ vụ Út cũng bị Thượng đột nhập nhà sau tháo lấy cặp bánh xe Honda. Chắc công an huyện nghi Út cung cấp phương tiện di chuyển cho tàn quân hay Fulro.

Tôi nói:

– Quen, vì thường xay lúa và mua cám ở đó.

– Nhờ anh chút. Anh xin Út giúp tôi ít ký gạo. Gặp Út tôi ngại quá !

Tôi thở phào nhưng lấy làm lạ khi nghe anh đang hành sự quay qua xin gạo ăn. Hay anh giở chiêu chước gì đây, chứ lẽ nào bi đát dữ vậy? Mới “giải phóng”, vơ vét biết bao của cải ở miền Nam đây mà. Trung úy Cẩn người Trung, bị mất nỡm mấy thằng Cộng Sản đầu xỏ Bắc kỳ rồi.

Tôi hỏi nhỏ:

– Bộ thiếu gạo thật hả?

– Vâng!

Tiếng “vâng” nghe rất nhỏ, khuôn mặt Cẩn thì như dài ra, vằn vện những đường gân xanh hai bên vầng trán, động lòng thương hại, tôi vội phóng lên chiếc Honda và nổ máy. Trước khi rời khỏi nhà tôi bảo Cẩn:

– Mấy thằng nhóc đi học về, anh nói giúp tôi đến chú Út.

Gặp Út tôi thuật chuyện, Út liền đong luôn mười lon gạo, khoảng ba ký, vào bao cát. Xong, tôi chạy u về đưa Cẩn, anh mừng hết lớn, tôi cũng vui lây. Nhân tiện tôi hỏi:

– Tháng này nhà nước không phát gạo à?

– Có, nhưng hết rồi?

– Ăn lẹ vậy?

– Anh biết cấp bao nhiêu ký mỗi tháng không, bảo ăn lẹ? Ăn “từ từ ‘ vậy mà mới mươi hôm đã hết. Anh Vân quê Quảng Nam hả ?

– Sao anh xoay đề tài hay dữ vậy? Đang nói chuyện gạo cơm, tự nhiên chuyển qua hỏi quê quán?

Thấy tôi nói tàng tàng kiểu Tôn Tẩn, bọn con cháu Bàng Quyên muốn phát khùng:

– Tại giọng răng ri mô rứa của anh.

– Ừ, quận Hòa Vang. Còn anh, dân củ mì Quảng Ngãi?

– Tôi huyện Sơn Tịnh.

Tôi giả vờ lấy làm vui, reo lên:

– Chà, anh bà con với tướng Trần văn Trà!

Cẩn nheo mắt:

– Bà con cái con khỉ!

– Nếu không, sao anh lại được theo “Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam” ngon vậy?

– Anh nói ngược rồi, “Mặt trận dân tộc…”. Còn vụ đi theo thì… hồi nhỏ có biết giải phóng giải lao con mẹ gì! Tôi đang giữ trâu mấy ông lôi đi.

Nghe Cẩn nói, tôi không dám cười to, chỉ ực ực ở cổ họng mà muốn văng trái khế ra ngoài. Thấy lôi thôi anh đứng dậy kiếu từ:

– Cám ơn anh Vân xin dùm mấy ký gạo.

Tiễn Cẩn ra cửa, tôi vừa cười vừa lè nhè:

– Có gì đâu, kẻ sa cơ giúp người thất thế…

Không biết Cẩn có hiểu câu nói không, anh lặng lẽ ra xe.

Hết công an tới bộ đội. Chắc vì vụ tôi bị cướp có võ trang nên một đơn vị nhỏ của Sư đoàn 304 từ Đại Ninh, cách đây 5 cây số phía nam, chuyển đến đóng tại xóm Thượng R’Chai.

Đêm đêm một trung đội đi tuần, hay phục kích vài địa điểm trong vùng. Nhiều lần họ nằm sau nhà, theo dõi gia đình tôi, chứ chẳng nhằm mục đích bắt cướp.

Đêm nào nghe tiếng chó sủa nhoi, dai dẳng là có vấn đề. Tôi vẫn tỉnh bơ, chong đèn làm việc lặt vặt, hay dạy con cái học hành tới khuya. Đôi khi tụi nhỏ tưởng ma, vội phóng lên giường trùm kín mền. Chúng nó đâu biết trong đêm đen trên quê hương ngày nay, ma quỉ chẳng nhằm nhò gì hết, có một thứ còn hung tợn, ác độc hơn nhiều. Nếu không có tiếng chó thì mấy đưa con rất hồn nhiên, cao hứng hát chơi. Hai thằng lớn, Phương và Trang, chín mười tuổi, cứ tụng hoài bài: “Quê em miền trung châu giặc về thôn xóm…”, buồn não nuột. Bé gái Thảo sáu tuổi, cũng lúc trầm lúc bổng với bản ruột: “Cô gái lái xe trên cạn, xe em nhanh tóc em bay nhanh… bên sóng biển…”, tôi muốn điên luôn.

Rình mãi chán, có lẽ nghe tiếng hát của tụi nhỏ gợi lòng trắc ẩn, nhớ cố hương và nhằm trời tháng chạp lạnh lẽo, họ gõ cửa xin vào nhà, để trò chuyện làm quen, hoặc tìm hiểu đời sống của người chiến sĩ Biệt Động chế độ cũ không chừng. Làm sao hiểu được?

Sáng hôm sau, tôi đang di chuyển trên hai cái đòn ngồi, để giẫy cỏ, vun gốc bắp, thì toán bộ đội đêm qua ghé vào:

– Anh thương binh làm gì đấy?

Tôi vừa xắn cái lưỡi xà bách xuống một bụi gai vừa đáp:

– Không thấy sao? Cỏ dại um tùm, xâm lấn cả hoa màu.

Nghe câu trả lời nhát gừng, còn ẩn dụ châm biếm, họ im lặng, đứng nhìn quanh một lát rồi hầm hầm bỏ đi. Tôi đâm lo ngại, vì lời nói ấy có thể khiến họ rắp tâm trả đũa, như một giai thoại lịch sử cuối đời nhà Lý, 1226.

Vì ngao ngán việc triều chính, Lý Huệ Tôn nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, để vào chùa Chân Giáo tu. Trần Thủ Độ, một đại gian thần, lập mưu đưa người cháu tên Trần Cảnh vào hầu hạ, sau thành chồng Lý Chiêu Hoàng, rồi soán đoạt ngôi vua dựng lên nhà Trần. Một hôm, gặp Lý Huệ Tôn ngồi nhổ cỏ nơi sân chùa, Độ bèn nói: “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”. Biết thế nào cũng bị giết, Huệ Tôn liền tự vận…

Đến chiều có ba người khác tới, vào thẳng trong nhà. Tốp này trông vui vẻ, không bặm trợn. Sau vài câu xã giao họ lần lượt giới thiệu tên, đơn vị phục vụ. Phần tôi, rút kinh nghiệm, sẽ dè dặt hơn, tránh đụng chạm.

Một người tên Tuất, nói nhiều nhất, chắc là cấp chỉ huy, nhỏ nhẹ:

– Địa phương cho hay, anh là sĩ quan của chế độ cũ trước 75, chúng tôi cần cảnh giác, nhưng nhận thấy anh thương tật, lo làm ăn, không phải người xấu. Có điều không hiểu sao gia đình ở chỗ vắng vẻ thế này, xa cách xóm làng, nhỡ đêm hôm bệnh hoạn ai giúp?

Những khuôn mặt đối diện còn trẻ, mà phong trần, thuộc đại đơn vị 304, mệnh danh Sư Đoàn Thép, từng tốc chiến tốc thắng trên các mặt trận nội địa cũng như ngoại biên, đã bao phen chạm súng với Liên đoàn Biệt Động Quân chúng tôi ở vùng I. Nay trước mặt tôi người chiến bại, họ nói năng từ tốn, dùng cụm từ “chế độ cũ’, không gọi “ngụy”. Tự nhiên, tôi có sự khoan dung. Bên hàng ngũ đối phương đâu phải thảy đều một phường gian ác.

Tôi nói:

– Cám ơn các anh. Ở đây tuy buồn thật, vẫn còn khá hơn trong các vùng kinh tế. Sự nhận xét của các anh, những người từng vào sanh ra tử, khác hẳn công an, họ hay thiên kiến về chính trị với những ai làm việc dưới chính thể miền Nam. Vụ tôi mất cướp đêm Giáng Sinh vừa qua, trên huyện nghi ngờ tôi đem tiền bạc tiếp tế cho tàn quân.

– Chúng tôi có nghe thế…

– Họ căn cứ vào đâu và “tàn quân” gì nữa?

Sau một giây ngần ngừ Tuất buột miệng:

– Còn bọn thằng Phong! Chúng vẫn ẩn trốn hoạt động, ra vào các khu rừng chung quanh đây. Phong nguyên Tiểu đoàn trưởng 304 Địa Phương Quân Tuyên Đức. Con vợ bé nó xinh lắm, giữ khâu cung cấp thực phẩm, thuốc men, đặc biệt móc nối người Nùng ở Tùng Nghĩa và nhiều nơi khác theo Phong, nhưng bà đã bị Đại đội C7 bắt giải ra huyện rồi. C7 cũng bắn chết nhiều tên phản động đấy.

Tuất cho biết tin này vì bốc đồng hay có chủ ý xem phản ứng của dân? Tôi im lặng. Những câu chuyện về Phong 304, và các nhóm “tàn quân, phục quốc”, tôi nghe nói nhiều. Tôi đã một lần tình cờ thấy tờ giấy “Sự Vụ Lệnh” viết bằng tiếng Pháp, dưới mỗi câu được dịch qua Việt ngữ, giấu trong đường viền vạt áo của một người Nùng làm công cho tôi, có bí danh là “Đa Đa”, do Fulro cấp hoạt động vùng Đức Trọng.

Riêng nhân vật thứ hai anh ta đề cập, liên hệ tình cảm với ông Phong, quý danh là gì thì tôi không rõ, chỉ thấy cô gái ấy có mái tóc ngắn, tuổi dưới 30, còn hiên ngang chống lại bạo quyền Cộng Sản vào những tháng đầu đất nước đen tối nhất, khi cả triệu quân miền Nam vừa rã ngũ. Cao quý là vậy. Tuy vô danh nhưng có nhân dáng uy hùng của cô trong lịch sử. Cô bị bắt tại R’Chai, một xóm Thượng phía nam thác Gu-ga nửa cây số. Quân thù trói chặt hai tay người nữ chiến sĩ bằng dây điện thoại, với các nòng súng dí sau lưng, khi giải giao ngang trước nhà tôi. Buổi mai hôm ấy sao trời buồn ảm đạm, may mà có vừng hào quang của nữ kiệt rực lên.

Sáng nay tôi cảm thấy mình quá hèn nhát, nỗi ưu tư cũng không để lộ trên khuôn mặt. Họ đi rồi tôi thờ người suy nghĩ về “cô gái tóc ngắn”. Ngày bị bắt, cô mặc áo xanh màu nước biển, quần dài đen. Chắc cô phải chịu đựng bao cực hình dã man, từ lao tù này đến ngục thất khác, hay cô đã chết đâu rồi không chừng.

Còn Phong, người lãnh đạo một tổ chức kháng Cộng, tôi chưa một lần gặp, chỉ nghe danh từ trước 75, khi anh làm Đại đội trưởng Đại đội 302, rồi Tiểu đoàn trưởng 304 Địa Phương Quân tỉnh Tuyên Đức. Phong nổi tiếng đánh giặc giỏi và bài trừ du đãng tận gốc.

Người dân khó quên tấm lòng trung dũng của anh, điều đó không những anh đã biểu lộ nơi trận mạc thời binh lửa, mà còn thể hiện khi đất nước bị cưỡng bách rơi vào một nền hòa bình bất chính, bạo ngược của giặc Bắc.

Theo Thành kể, Tiểu đoàn 304 ĐPQ đang hành quân phía nam thị xã Đà Lạt, bỗng mất liên lạc với cấp trên. Tìm hiểu Phong mới biết toàn bộ Quân đoàn II đã triệt thoái về Khánh Hòa. Họ âm thầm rút, không lệnh lạc gì cho anh. Đó là một cuộc lui quân thảm hại nhất, dẫn đến sự sụp đổ miền Nam.

Phong đưa đơn vị vào đồn điền cà phê Phi Vàng ở ngã ba Finom, quận Đức Trọng, rồi rưng rưng nước mắt nói với các binh sĩ thuộc quyền:

– Báo các anh biết, toàn thể cấp trên và quân binh chủng thuộc Quân Đoàn II đã rút khỏi cao nguyên, bỏ đồng bào, bỏ tất cả những gì từ lâu ta tốn biết bao xương máu để bảo vệ…

Phong vừa nói vừa nghẹn ngào, dưới hàng quân cũng bật lên nhiều tiếng khóc tức tưởi. Anh cố nén xúc động:

– Nay, trước giờ phút lâm nguy, các anh có bỏ tôi thì bỏ, tôi không bỏ các anh, tôi vẫn tiếp tục chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. Ai còn cha mẹ già, vợ con, cần chăm sóc, hãy để súng đạn lại, về lo gia đình…

Một ngày thật đau thương. Một số các chiến sĩ can trường Địa Phương Quân quyết không quay mặt, trút bỏ danh dự lẫn trách nhiệm đối với tổ quốc. Họ vội vã rời khỏi đồn điền cà phê Phi Vàng giữa đêm đen, biệt dạng vào khu rùng cũng mờ mịt phía đông, mà không hề biết mai này đoàn quân cô độc của mình sẽ ra sao, chiến thắng hay chết ở đầu non góc suối, không bao giờ trở lại…

Mấy ngày cuối tháng Chạp lẽ ra nhộn nhịp như năm trước chuẩn bị ăn Tết, nay im vắng đến rợn người. Chỉ có bọn cầm quyền, “cách mạng 30”, hớn hở vui đón cái xuân đầu 1976, dưới gót giày xâm chiếm của Bắc quân. Hầu hết các cư dân ở đây nghèo xơ xác sau vụ đổi tiền, dè dặt trước tin đồn các lực tượng phục quốc sẽ về phản công tập đoàn cướp nước và để trừng trị những kẻ tiếp tay giặc hại đồng bào.

Sau ba ngày xuân buồn tẻ, mặc dù còn bận rộn việc canh phòng khu vực, đám bộ đội Tuất cũng đến thăm và biếu tôi mấy cái bánh chưng, vài gói thuốc Tam Đảo. Tôi không nghĩ đây là đòn chính trị hạ cấp nơi những người lính cấp nhỏ, chỉ chuyên về trận mạc. Lần này họ tự nhiên hơn, nói năng cởi mở, cũng chửi thề luôn miệng. Tuất không ngần ngại kể tôi nghe chuyện “tàn quân” đã đột kích đánh nát một số cơ quan hành chánh trong khu vực Liên Khương-Tùng Nghĩa đêm 30 tết vừa qua, mà tôi có nghe đồn vậy. Sự thiệt hại nhân mạng đôi bên thì không ai nói.

Tôi vờ thắc mắc:

– Đã gọi là “tàn quân” còn đấm đá gì nữa?

Ý tôi muốn nhắc đến một danh xưng nào khác, như kháng chiến hay phục quốc chẳng hạn, có tính cách lâu dài. Nhưng anh ta im lặng, hoặc giấu không cho dân biết hoặc chưa nắm vững tình hình vì còn mới. Riêng bộ đội Nguyễn Bình thì hay thày lay cái miệng, thường bị chê trách “phát ngôn bừa bãi” nhất trong đơn vị C7. Hôm nọ anh có thú nhận anh đã một lần đào ngũ, chuồn về Bắc, nửa đường bị bắt lại, nhốt tại Vinh, nên vắng mặt những ngày Sư đoàn 304 Cộng Sản tiến chiếm thủ đô Sài Gòn.

Bình trề môi:

– Úi giời, nói tàn quân chứ chúng vẫn còn khả năng đánh dữ lắm. Nhưng đánh được một lát rồi bỏ chạy thôi.

Một anh khác xen vô:

– Fulro cũng thế, thường lẻn về các buôn Thượng thu thực phẩm. Vừa rồi có một người giả dạng mục sư, ông cha gì đấy, trong núi ra nói chuyện phản động ở nhà thờ tin lành R’Chai. Công an huyện xuống không kịp, nó vọt mất.

Anh vừa nói vừa chỉ về hướng xóm Thượng, tôi nhìn thấy trên cánh tay anh có xăm một cái hình trái tim màu xanh lục, nhưng thiếu mũi tên đâm xuyên qua để biểu tượng tình tuyệt vọng, của kẻ yêu mà không được yêu. Tò mò tôi phát giác ra mọi người đều vậy. Đặc biệt hơn nữa, là giữa trái tim có một hàng số ai cũng giống nhau: 13- 12-1972. Lấy làm lạ tôi hỏi:

– Này, tay các anh đều mang cái hình trái tim và đề cùng ngà y 13 -12- 1972 là sao?

Bộ đội Tuất vội đưa cánh tay lên nhìn:

– Kỷ niệm ngày bị Biệt Động miền Nam pháo!

– Vùng nào?

– Tây bắc Huế.

Tôi giật mình:

– Vậy sao? Choảng nhau ác liệt không?

Nguyễn Bình hít một hơi thuốc, rồi vừa nheo mắt vừa xen ngang vô trả lời thay Tuất:

– Ác liệt lắm! Lúc ấy C7 nằm trên đồi, nửa đêm bọn lính Biệt Động mon men đến toan đột kích bị phát hiện, trung đội chúng tôi xuống diệt tiêu luôn, nhưng chưa kịp kéo lên thì bị đạn chùm cối 811y…

Hồng, người Nùng Lạng Sơn, tướng vạm vỡ da trắng trẻo, nãy giờ mải ngồi đùa giỡn với tụi con tôi bên cái giường lớn, chợt quay qua nói:

– Cũng tại các bố, cứ lo tìm hộp quẹt máy Zippo trong túi xác chết của ngụy, làm rút lui trễ nên lãnh xẹo ăn pháo…

Không còn nghi ngờ gì nữa, những kẻ thù nay gặp nhau.

Tôi phân vân nên hay không tiết lộ tông tích mình từ lâu đã giấu kín. Rốt cục ham vui, thấy không đến nỗi nguy hiểm, tôi nói toạc:

– Có phải đêm đó giữa mùa mưa, các anh áp đảo họ bên bờ suối, kết quả thu hai khẩu M16 và một Colt 45?…

Cả đám bộ đội trố mắt nhìn tôi:

– Đúng rồi? Thế anh có tham dự à?

Tôi cười:

– Không những vậy… tôi còn là kẻ chỉ huy trận đánh…

Tuất, người được giới thiệu như một dũng sĩ diệt Mỹ của Sư đoàn 304 Bắc Việt, tuy ngạc nhiên, anh cũng tỏ ra cởi mở thích thú :

– Anh Vân cấp gì?

– Đại đội trưởng Đại đội 1/21 Biệt Động, đơn vị trực tiếp tấn công. Nay tôi mới biết Sư 304 từng chạm súng với chúng tôi Khu đồi mà C7 các anh chiếm đóng, có độ cao 100 mét, phía tây bắc Huế, gần căn cứ Bastogne. Trước đó, nó do một đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ Binh miền Nam trấn giữ, bị C7 hốt gọn, còn nguyên lều võng, hầm hố…

Tôi ngưng, móc gói thuốc quấn hút. Tuất tướng tôi không nói nữa nên thúc:

– Hay lắm, kể tiếp chứ!

– Sau ngày dự cuộc tái chiếm cổ thành Đinh Công Tráng Quảng Trị thành công, 15/9/1972, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân của chúng tôi trở lui nằm cặp theo Quốc lộ 1, ở mạn nam sông Mỹ Chánh. Được mấy hôm thì trực thăng bốc đơn vị vô núi, Đại đội 1/21 do tôi chỉ huy nhận lệnh nhảy xuống phía bắc ngọn đồi C7 các anh đang chiếm khoảng một cây số đường chim bay. Nhìn bản đồ, trục tiến sát rất cam go, vì mục tiêu C7 trên thế cao, tôi nhắm không thể cho Đại đội tấn công ngay buổi chiều đó kịp, chỉ mon men tới gần 500 thước. Đã vậy, giữa các anh và Biệt Động Quân chúng tôi là thế đất trũng sâu, với con suối ngăn đôi, nước dâng cao chảy xiết vì mùa mưa. Tối, tôi đặt một trung đội phục sát dưới chân đồi, chuẩn bị đột kích đêm C7 thì bất ngờ các anh đổ xuống đánh trước. Thật ra, thâm tâm tôi cố tình trì hoãn, chờ sáng hôm sau để vừa thấy rõ mục tiêu vừa dễ xoay trở, mới tấn công bằng cấp đại đội, với sự yểm trợ của Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21 chúng tôi đang ở sau lưng.

Khi thay đổi dự tính, bỏ cuộc đột kích đêm, tôi đã nhận ra sai lầm là tôi vẫn để trung đội ấy nằm dưới thấp, không giựt lên cao, nơi mỏm đồi phía Biệt Động.

Lúc các anh vây đánh, trung đội gọi máy báo có 2 người lính chết, còn vị Thiếu úy Trung đội trưởng thì gãy một tay, tôi vội ra lệnh tất cả anh em đùm túm các thứ rút lui ngay, chạy lên mỏm đồi, khi rời xa vị trí khoảng 200 mét, gọi báo. Quả đúng. Tôi cho rót dồn dập đạn cối 60 ly cơ hữu của Đại đội 1 lẫn 81ly từ Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21 BĐQ xuống ngay địa điểm các anh đang tràn ngập…

Bộ đội Bình há hốc mồm:

– Thế, bọn này ăn mảnh cả ? May, không bố nào chết, còn có ngày về lại Bắc…

Tuất cười:

– Chúng tôi vội nhảy tòm xuống suối. Mẹ, nửa đêm lạnh bỏ xừ.

Tôi cũng cười theo:

– Chưa yên. Đơn vị lớn của các anh lại nã đại bác 130 ly từ Bastogne tới tấp vào chúng tôi, gây thiệt hại thêm hàng chục người. Chính tôi cũng suýt tí nữa toi mạng, may nhờ anh lính kéo ra khỏi một thân cây gãy ngã đè cứng bên hầm đạn cối, lửa cháy chung quanh.

Tuất nhếch miệng cười:

– Vì pháo chùm chúng tôi rút.

– Các anh ở thế cao, quân số đông, nhắm mình đại đội tôi khó dứt điểm, vị tiểu đoàn trưởng điều thêm một đại đội nữa và đích thân ông chỉ huy, C7 mới chịu rời khỏi ngọn đồi cao 100 mét ấy mà chúng tôi, qua các cuộc điện đàm, thường gọi nó là “Đồi Trần Hưng Đạo”. Ở miền Nam có tờ giấy bạc 100 đồng in hình Đức Trần Hưng Đạo…

Tôi vừa nói tới đây, Tuất đứng dậy vỗ vai:

– Nghe chuyện anh kể rất trung thực, chúng tôi không tự ái còn lấy làm vui. Đó là kỷ niệm của chúng mình thời binh lửa gian nguy, không bao giờ thấy lại nữa. Nay đã chấm dứt chiến tranh, mọi hận thù phải thuộc về quá khứ. Nhưng mỗi bên đều có những lý do chính đáng để không hài lòng. Riêng tôi cũng có điều khó quên. Chắc anh biết, chúng ta có chung kẻ thù là bọn đưa đẩy đất nước đến tan nát, đổ vỡ tận gốc, từ cá nhân đến xã hội cả hai miền Nam Bắc…

Trước khi cáo biệt, xin kể một trường hợp về bản thân tôi:

Trong một trận đánh không mấy ác liệt, C7 này bắt sống được một thiếu tá. Ngày giải giao lên trên, vì ông bệnh phải khiêng bằng võng, đi khoảng nửa đường, chúng tôi dừng để ông tiểu, thì bất ngờ ông giật súng, đánh vào đầu hai anh bộ đội, rồi tẩu thoát. Tôi bị kỷ luật, giáng cấp, chuẩn úy xuống thượng sĩ đến hôm nay.

Chúng tôi thấy quân đội các anh chiến đấu rất giỏi, chỉ vì chủ trương đường lối thế nào ấy, mà các ông lãnh đạo ngoài Bắc bảo không đáp ứng được ý nguyện của nhân dân. Nhưng khi vào đây tôi mới biết nhiều điều… Đúng như lời bố tôi nói ngày tôi lên đường đi B.

Dứt lời, Tuất và các đồng đội lần lượt bắt tay tôi rồi bước ra ngoài. Tôi nhìn theo bóng dáng những kẻ đã hơn một lần can trường chạm súng chúng tôi, những anh hùng trận mạc, bỗng nhòa nhạt trước đôi mắt cay cay của người chiến bại.

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy
Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

Chương 7

Đạn lòng

Sau mấy hôm tá túc, tôi rời khỏi khu số 4 Đà Lạt. Thành được phép bác Sáu, tháp tùng theo giúp tôi xuống lập nghiệp tại Phú Hội như dự định, và gởi tôi ở tạm nhà một người bạn tốt bụng của anh.

Những ngày đầu, cứ mỗi buổi chiều, khi mặt trời sắp lặn, tôi đến làm vài công việc cho ông bà Đắc, một gia đình khá thân quen, do chị Nhung giới thiệu từ năm 1971, trước lúc tôi lên đường hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào, nên đỡ khổ cho thân phận lạc loài còn chân ướt chân ráo nơi xứ lạ này.

Ngôi nhà ông bà Đắc khá rộng, hai ba căn, cái ngang tường gạch lợp ngói, cái dọc vách ván che tôn, nằm âm u giữa vườn cây đủ loại hoa màu. Phần hành tôi rất nhẹ, thích hợp với cơ thể tàn tật, lại được hậu đãi, là chỉ lo đóng kín các cánh cửa chung quanh khi màn đêm buông xuống, và chờ bầy gà về chuồng để đếm từng con, thiếu thì đi tìm.

Hồi xưa từng là cấp chỉ huy, nhờ cái uy tôi điểm danh đơn vị dễ dàng. Bây giờ hết lửa, gặp đàn gà hàng trăm con trống lẫn mái, ghét nhất đám vừa nở liu chiu lít chít, vô “kỷ luật”, chạy tán loạn và ỉa vãi tùm lum. Vất vả lắm tôi mới trấn áp được chúng.

Xong, bà Đắc cho tôi một lon gạo với mớ khoai khô.

Vì sa cơ thất thế tôi làm kiếm gạo nuôi gia đình, chứ ngao ngán thật. Ngao ngán không đâu, tôi còn chịu nhiều tủi nhục, hằng ngày thấy đủ hạng người. Bọn cán bộ thì thường xuyên lui tới, buông những lời bóng gió, mỉa mai. Lắm lúc họ nói thẳng tôi là tàn dư Mỹ Ngụy, có quá khứ tội ác, đầy nợ máu nhân dân. Mấy cụm từ này tuy nghe quen thuộc, tôi vẫn thấy nhức nhối, cay đắng cổ họng.

Phần đông lũ ngốc nghếch đó mới tập kết về, đã từng là đồng chí thân cận với ông Đắc và Hồ Nghênh, hiện Chủ tịch ủy Ban Quân Quản Đà Nẵng, hồi còn hoạt động kháng chiến chống Pháp ở Hội An Quảng Nam. Mặt mũi ai cũng bặm trợn, đầy sát khí. Lối ăn nói thì rập khuôn theo một thứ ngôn ngữ ngược ngạo, man trá, hay khoe khoang khoác lác, như lục súc tranh công “đánh Mỹ cứu nước”.

Trước sự khinh bạc ấy ông bà Đắc vẫn làm lơ, không một lời biện bạch. Ngay mấy người con trai trong nhà, HL, HP và HT mới ngày nào còn gọi tôi bằng anh rất thâm tình ngọt lịm nay cũng trở mặt lạnh nhạt. Ngoảnh mặt vì họ đã thoát ly gia đình theo “cách mạng”. Tội nghiệp, dù chỉ là một thứ “cách mạng 30”, đợt chạy theo sau ngày 30-04-1975, nhưng họ học thói gian xảo rất lẹ không kém bọn Cộng Sản chánh thống.

HL làm tới chức thanh tra của bộ phận giáo dục tỉnh Lâm Đồng, HP Chủ Nhiệm Hợp Tác Xã Phân Bón Đà Lạt, HT thì cầm đầu đoàn thanh niên Hồ Chí Minh ở huyện Đơn Dương. Chưa kể bà Đắc là Tổ Trưởng cái Tổ Mẹ Chiến Sĩ Giải Phóng Quân xã Phú Hội. Độc nhất đám cách mạng 30 này chỉ có cô em HTT không thoát ly, còn kịp thoát thân chạy theo chồng, cựu Trung tá Ph., một viên chức Phủ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu qua Canada tỵ nạn. Tất cả đều hăng hái tham dự mọi sinh hoạt, hội họp liên miên những tháng năm đầu dưới gót giày quân Bắc Việt.

Đời sống hằng ngày của tôi quá bất ổn bởi khác biệt chính kiến. Rồi gia đình nhỏ bé ấy tự nó chia ra hai khuynh hướng rõ rệt, để kèn cựa nhau, từ khi miền Nam sụp đổ.

Trong cuộc “đấu tranh” mới, hai bên lâm trận không phải dùng tới các loại vũ khí hiện đại tấn kích đối thủ cho thịt nát xương tan, mà họ chỉ tiến công bằng một thứ “đạn lòng”, nó vô hình mà độc, đốt cháy cả tâm can con người. Họ cũng áp dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung, cài chốt phỉnh dụ. Lực lượng đôi bên lại chênh lệch, mình tôi chống năm, những kẻ a tòng với lũ vô nhân, biến gia đình thân yêu thành bãi chiến trường tàn bạo hơn bao giờ hết.

Tội nghiệp ông Đắc, không phải do bản chất, chỉ vì trào lưu lôi cuốn, đành tiếp tay kẻ thù. Để được tin dùng, lý lịch cá nhân trong sạch chưa đủ, còn có quá trình hoạt động là nhúng tay vào phá rối sự trị an của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, nên ông viết đi sửa lại từng chi tiết các chiến công ma “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”. Hằng ngày, ông sốt sắng tham gia các công tác, mà công tác nào cũng nhằm mục đích là bần cùng hóa nhân dân, tận diệt tư sản, tịch thu nhà cửa, máy móc, xe cộ, rồi đày đọa họ vào rừng sâu nước độc khai sơn phá thạch làm vùng “kinh tế mới”, để biến sỏi đá thành cơm. Chúng còn thường xuyên phát động các chiến dịch bươi móc, tố khổ gắt gao, làm tan gia bại sản những ai đã phục vụ chế độ cũ, hầu đoạt vợ lấy con của nạn nhân.

Đó là công tác “cách mạng” của mấy cha con ông Đắc.

Cộng Sản miền Bắc áp dụng chính sách trá thù bỉ ổi đồng bào miền Nam, tàn bạo hơn Thái Thú Tô Định giặc Tàu ngày xưa, bắt dân Việt mò châu đáy biển.

Tôi đã chứng kiến nhiều buổi họp cấp xã, từ dựng chuyện phê bình kiểm thảo, lôi đời tư những người không tuân theo chủ trương đường lối nhà cầm quyền ra hạ nhục, chí đến các tòa án áp chế nhân dân được tổ chức lưu động tại huyện Đức Trọng.

Luật lệ tùy hứng của “cách mạng” cũng có một điều khoản rất tình người, hơn cầm thú nhiều, là “hậu đãi” tử tội bữa ăn cuối cùng ngay bên miệng huyệt trước khi nổ súng kết liễu đời họ. Tôi đã thấy bao lần ở pháp trường được thiết lập nơi nghĩa địa, đối diện thác Gu-ga, kế nhà tôi. Nước mắt kẻ sắp bị hành quyết rơi lã chã như mưa, bên cạnh một dĩa cơm với miếng thịt gà nuốt không nổi, đang lúc đó những người đứng chung quanh bị xúi giục đồng thanh la hét có nhịp điệu cho tới khi những tia máu phọt ra từ các lỗ đạn trên ngực, trên đầu nạn nhân.

Thời buổi thượng cám hạ vàng, HL mới lên chức thanh tra ngành giáo dục tỉnh Lâm Đồng, sau một khóa tu nghiệp chính trị tại Tùng Nghĩa. Mỗi cuối tuần HL về một lần, trước thanh tra, sau “thanh toán” bất cứ ai trong nhà ăn nói phản động, và giở giọng ca ngợi chủ nghĩa xã hội như những con người văn minh, sáng tạo…

Một hôm, gặp dịp có chị Dương Thùy Nhung từ Sài Gòn lên chơi, HL bốc hứng kể một câu chuyện đọc trong sách xuất bản ngoài Bắc: “… Sau trận đánh, một anh bộ đội bị lạc trong rừng. Khi tới một ngã ba đường mòn, anh phân vân chưa biết rẽ hướng nào khỏi lọt tay địch. Chợt nhớ bài học Đảng dạy, anh liền cúi xuống ngửi dưới đất, từng cọng cây chiếc lá, thì nghe mùi dép râu lẫn mồ hôi của các đồng chí trên lối phải, còn bên trái, hoa lá cành xơ xác gãy đổ, chứng tỏ do bọn lính ngụy đi càn. Anh quyết định quẹo phải, quả thật, anh gặp lại đơn vị an toàn”.

Kể xong, HL đắc ý khen: “Anh bộ đội thông minh ghê !”. Chị Nhung buột miệng: “ứ, thông minh quá đi chứ! Chú bộ đội ngoan của Bác Hồ đánh hơi tài thật! Nếu có ở đây, chắc chú ngửi cái ghế này là biết ngay mùi đàn ông hay mùi đàn bà vừa mới ngồi”.

Nghe vậy ai cũng cười rầm lên, riêng ông thanh tra ngành giáo dục thì muốn độn thổ.

Nhung, con bà dì Hai của tôi, có sáu anh chị em ruột, hai trai bốn gái. Ông anh cả chết từ lâu, anh kế chị là Dương văn Phi tập kết ra Bắc, được qua Nga học, tốt nghiệp phó tiến sĩ, về dạy tại Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Số còn lại, các em rể chị: Trần Ngọc Xuân, Phan Quang Ân… đều là sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Thời con gái, nhờ cha mẹ giàu sang, Dương Thùy Nhung, Dương Thùy Hương, Dương Thùy Nguyệt và Dương thị Tuấn như các tiểu thư thành phố Đà Nẵng. Các chị quen sống trên nhung lụa, chưa biết gian khổ là gì cho tới ngày lấy chồng rồi mất nước. Khi giặc về, quê hương tan tác, nhà cửa bị tịch thu, chồng tù đày, mấy chị bắt đầu tơi tả, lạc lõng, kẻ địu con lên núi, người trôi dạt biển đông cùng con cái chết mất tích trên đường tìm tự do, như Dương Thùy Nguyệt, vợ Trung tá Phan Quang Ân, Tiểu đoàn trường TĐ Tiếp Vận, Sư Đoàn 2 BB.

Trong ba người, tôi mến nhất chị Dương Thùy Nhung.

Năm 1971 , tôi tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào. Chiến trường rất ác liệt, ngày nào cũng có người chết, bị thương, đưa về nằm đầy các bệnh viện Duy Tân Đà Nẵng và Nguyễn Tri Phương Huế. Vì lo sợ cho tôi, Nhung mong tôi thà sớm gãy chân hay gãy tay để còn được sống. Đọc thư, tôi không buồn trách, bởi lẽ hai miền, như đã nói, đều có người thân cật ruột của chị. Cuộc chiến Việt Nam, đối với chị Thùy Nhung, là một cuộc chiến phi lý, cốt nhục tương tàn, nồi da xáo thít. Chị cứ khư khư bảo thủ cái quan niệm yếm thế ấy, như muốn chủ bại. Một lần, cũng năm 1971, TT Nguyễn văn Thiệu tái ứng cử, nhưng vì độc cử, nên Phật giáo Đà Nẵng tổ chức biểu tình phản đối. Bắt gặp một tên Việt Cộng giả thầy chùa, mặc áo nâu trà trộn, sẵn có lệnh, tôi dẫn hai trung đội Biệt Động Quân chặn bắt. Thấy tôi ngang qua trước cửa cây xăng Trinh, chị vội bước ra chỉ tay vào tôi, hét to: “Cậu Vân? Đừng có đụng chạm Phật giáo của mình?”.

Thế mà ngay mấy tháng đầu chiếm miền Nam, Cộng Sản Bắc Việt cũng chẳng buông tha gia đình chị, chúng liền cướp cây xăng Trinh, cả ngôi nhà lầu ở Chợ Mới và đuổi hết chồng con chị ra đường. Đến lúc đó không riêng chị, biết bao người khi hiểu bản chất gian manh, thủ đoạn của những kẻ Marxist thì đã muộn.

Nay lại trôi dạt lên xứ núi này, gian khổ đang chờ đón gia đình chị. Gian khổ không những thiếu ăn, thiếu mặc, mà còn thiếu cả tình thương gia tộc, bởi lập trường nghiêng ngả theo chủ nghĩa vô thần của ông Đắc, gây nên cảnh hiềm khích, đố kỵ, đánh mất tình ruột cật.

Vừa dừng bước, chị Nhung đã nghe những lời quàng xiên, ngạo mạn. Bữa cơm dọn lên bàn, thấy HT quơ tay đuổi ruồi, ông Đắc đang ngồi, vụt đứng dậy bước tới vừa mở toang hai cánh cửa sổ vừa nói lớn để mọi người nghe: “Đuổi, đuổi cho bọn Biệt Động Quân rớt phăng xuống biển”. Xong, hai cha con khoái chí cười ha hả. Hành động ấy gián tiếp xỉa xói tôi. Biệt Động Quân là một binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã phục vụ một thời trai trẻ.

Chị Dương Thùy Nhung chỉ biết nhìn tôi, mà “ngậm một mối căm hờn trong cũi sắt”.

(4) Chương 6, trang 80- “Giặc Ngoài Loạn Trong”. Cuối năm 2000, tôi gởi biếu quyển Tiếng Hờn Chân Mây đến hai vị cựu Thượng nghị sĩ VNCH, Luật sư Nguyễn văn Chức và Bác sĩ Tôn Thất Niệm. Bất ngờ được đọc, như nghe lại những lời phát biểu của chính mình cách đây 26 năm về trước, trong một phiên họp khoáng đại thượng viện 1974.

Bs Niệm, có phòng mạch trên đường Bolsa, Nam Califomia, nói với Tác giả: “Lâu quá tôi quên, không nhớ những lời phát biểu của tôi”. Còn Luật sư Nguyễn văn Chức, từ Texas điện thoại qua, thì tỏ nỗi ngạc nhiên và xúc động: “Đúng là bài tham luận của tôi đã thất lạc. Ở đâu mà Vân có vậy?” Bỗng giọng ông như muốn khóc: “Tôi bị oan, Vân ơi? Tôi bị oan?”. Lời kêu oan ấy cũng làm tôi nao núng dù tôi không hiểu “bị oan” chuyện gì. Tôi nghĩ, ngày xưa ông là một vị thẩm phán nổi tiếng cương trực, sao lại bị buộc vào một tội nào đó. Hay ông cựu nghị sĩ buồn vì đọc thấy câu nói của ông Sáu: “Đấy, NS Tâm còn nương tay, đến lượt NS Nguyễn văn Chức thì ông đem hết những lời lẽ rất nặng ký, như những cú đấm thôi sơn nhắm thẳng vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, làm lung lay luôn cả chế độ. Do đó, bọn Cộng Sản chỉ đạp nhẹ thôi, miền Nam đã nhào trái. Đây, Vân xem tài hùng biện của một luật sư’ (Tr. 73).

Tôi nhớ năm ấy ông gọi tôi vào một chiều mùa đông, khác với quê nhà, nơi xứ lưu vong này trời lạnh căm căm, tôi càng thêm bùi ngùi sau khi ông vừa dứt lời.

Tiểu Đoàn Trừng Giới

Heinz G. Konsalik

Nguyên tác: Straf-battalion 999

Tâm Vũ dịch

Nhà xuất bản: Thùy Dương 1973

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 4.

Julia Deutschmann viết cho chồng:

“Anh Ernst yêu dấu,

“Em biết rằng chẳng bao giờ anh nhận được thư này. Tuy vậy, em vẫn viết cho anh vì em cần được nói chuyện với anh, được kể cho anh nghe em đang sống ra sao, em đang nghĩ gì và cảm thấy gì. Thế nhưng đó chỉ là một phương pháp, trước mặt em chỉ có tờ giấy trắng, em không nhìn thấy anh thực sự muốn được thấy anh, em phải nhắm mắt lại. Lúc đó thì anh hiện ra: cao lớn, dong dỏng, với hai tay dài bỏ thõng, một chiếc trán đẹp rất cao, và cặp mắt xám như mắt đứa trẻ ngơ ngác. Nhưng ngay khi mà em tưởng giữ được anh thì anh lại biến đi, anh tự xóa mờ dần dần, bất tuyệt…

“Đã từ mấy ngày nay, em bắt đầu lại công việc của chúng ta. Em muốn làm lại càng sớm càng hay tất cả những gì mà chúng ta đã thực hiện được trong suốt hai năm qua, trước khi người ta đến bắt anh của em đi. Thường thường có lúc em chuyên chú hết cả vào công việc đó, như vậy em quên được nỗi lo sợ dầy vò sự bất lực của em đã không giúp đỡ gì được anh, do sự tin chắc một cách thất vọng mọi rằng cái từ nay trở thành vô ích – và rồi đột nhiên, em nhìn thấy công trình của chúng ta dựng đứng trước mặt em như một tòa lâu đài tư tưởng mới của chúng ta, gần hoàn tất.

“Chúng ta đã được sung sướng biết mấy trong hai năm đó, mặc dầu là trong thời chiến tranh! Nhưng mà, anh thấy không, chúng ta không hiểu được điều đó! Hay nói đúng hơn, chúng ta không nhận ra được điều đó, chúng ta bị chìm ngập trong cuộc sống đều đặn hàng ngày, trong sự lo lắng về thẻ tiếp tế này, về vé tiếp tế khác, trong khí sắc buồn rầu vì những mối chán nản, thất bại, lầm lẫn của chúng ta. Em đã tỏ ra nóng nảy, em biết thế, có lẽ còn cáu kỉnh nữa ; luôn luôn em vấp váp phải những chuyện vặt vãnh. Nhưng khi ấy em đâu có biết rằng, tất cả những cái đó chẳng có gì là quan trọng. Ngày nay, em không biết đổi thứ gì để còn được đi tìm chiếc áo của anh khắp nhà khi anh bất ngờ nổi hứng thay áo, để được lại nhìn thấy anh nuốt vội bữa cơm như muốn chạy đua với đồng hồ! Em sẽ sung sướng biết bao để lại được cùng anh ở trong phòng chúng mình dù nếu anh chỉ trả lời em bằng tiếng ừ ào lơ đãng. Thế mà tất cả những chuyện nhỏ nhặt đó trước đây đã làm em tức tối. Em đã trách anh quên kỷ niệm ngày cưới…mà truyện đó đối với anh rất thường! Và em đã giận dỗi làm sao khi nghĩ rằng anh đánh giá không đúng mức công việc của em mà em vẫn suy luận là không kém tầm quan trọng so với công việc của anh.

“Ernst yêu của em! Tất cả những cái đó thật trẻ con và lố bịch. Từ nay thì em đã hiểu. Một vấn đề duy nhất đáng kể: anh là người như thế nào? Anh đã làm được gì? Một chuyện quan trọng duy nhấ : tình chúng ta. Điều cần thiết là tự tìm hiểu em là người thế nào, em đã làm được gì, địa vị em và công việc mà em phải hoàn tất.

“Chắc chắn em không phải là một Marie Curie thứ hai. Nhưng em quyết làm tròn phận sự của em. Ngày nay em mới hiểu rằng không phải em lao vào công việc như một cuộc đua tranh với anh mà chính là để giúp đỡ anh. Và bây giờ, việc của em trước hết không phải là giữ riêng anh cho em, mà còn phải dành cho người khác, cho công việc của anh, cho ước mộng của anh, cho những gì anh đã làm, cho tất cả những gì anh sẽ còn làm được nữa.

“Em đã nhận ra được con đường của em đi. Công việc của em làm là nguy hiểm, không phải em không biết, nhưng em phải làm. Miễn sao em có đủ thời gian! Miễn sao em biết được rằng anh còn sống và anh hiện ở đâu!

“Khi nghĩ tới anh, Ernst yêu dấu, em lại trở thành một thiếu nữ si tình nhìn trời sao và mơ mộng tới người muốn trao thân gửi phận. Em đã thuộc về anh hoàn toàn. Anh hiện sống trong em. Chúng mình đã gần nhau một thời gian khá dài thế mà lại ngắn ngủi ghê gớm…, tuy nhiên, em vẫn muốn chọn một ngôi sao thực bé nhỏ dành riêng cho hai đứa mình, để ít ra chúng ta có thể ngắm chung ngôi sao đó, ngôi sao phải thật nhỏ, nhỏ đến gần như không thể nhìn thấy để nó chỉ thuộc về riêng cho chúng ta, để chỉ có ánh mắt chúng ta gặp nhau nơi đó.

Nhưng đã khuya rồi. Ngủ cho yên, Ernst thương mến. Em cũng nhắm mắt lại đây, em nghĩ thật nhiều đến anh và có lẽ…, có lẽ… biết đâu em không cảm thấy nụ hôn buổi tối của anh trên miệng, trên mặt… và rồi trên đầu mũi…”

Julia đặt cây viết xưống bàn, ngã người vào chiếc ghế dựa, khép mắt và mỉm cười.

Những giọt nước mắt âm thầm lăn trên má nàng

Hôm mới tới là thứ tư, Schwaneeke đã làm Thượng sĩ Krult kinh ngạc nhưng đến thứ bảy, hắn lại làm thượng sĩ sững sờ không nói nên lời. Đó là điều mà chưa một thuộc cấp nào làm nổi kể từ khi Thượng sĩ gia nhập vào hàng ngũ hạ sĩ quan. Thực là một kiệt tác.

Đằng sau dãy nhà số 2 của doanh trại, nơi trú ngụ của Trung-đội l và Trung đội 2 của Đại đội 2; có một cái thùng và trong thùng có một con thỏ.

Đầu tiên Thượng sĩ nhất đi qua và không để ý chút nào, mặc dầu cái thùng để ở chỗ này thực vô tích sự. Thượng sĩ đang bận tâm về vụ Trung-úy Bevern và toa thuốc chữa bệnh mập mà Trung Uý đã cho ông. Tuy vậy, ông cũng dừng lại, đột nhiên nhận thức ra cái thùng khác thường và vội vã quay trở lại.

Không còn ngờ gì nũa: đứng là một cái thùng, bên trong có con thỏ còn sống và được nuôi béo tốt hẳn hoi. Ông phát khùng, la lên:

– “Con vật này của ai đây?”

Ông đưa mắt giận dữ về phía các binh sĩ vừa lau chùi xong bệnh xá và còn nấn ná hưởng chút tia nắng cuối của mặt trời mùa thu.

– “Deutschmann, con vật này của ai?”.

Deutschmann rán sức la thật lớn:

– “Thưa Thượng sĩ, tôi không biết.”

Anh đã học được trong lề lối nhà binh càng nói lớn càng tốt, anh nào nói càng lớn càng được đánh giá cao.

Thượng sĩ Krull hít một hơi dài đầy lồng ngực đến nỗi như muốn nổ tung, rồi thét lớn:

– “Chạy vòng sân! Chạy nhanh! Nhanh hơn nữa.”

Schwanecke vừa chạy vừa cười.

– “Một vòng sân nữa.”

Schwanecke chạy thêm một vòng rồi ngừng, thở hổn hển một chút và đứng lại trước mặt Thượng sĩ nhất.

– “Đúng mày đã ăn cắp con thỏ?”

– “Dạ thưa Thượng sĩ. Thượng sĩ coi tôi như thế nào? Nó chạy tới mà !”

Vào lúc đó, Thượng sĩ Krull cảm thấy có một cái gì rạn nứt trong thâm tâm. Ông quay gót bỏ đi không nói năng gì và suýt nữa xô vào Trung-úy Bevern. Ông này đã lén tới từ trước và đã quan sát sự việc xảy ra, Krull toan báo cáo nhưng Bevern ra dấu ngăn lại. Tay cầm chiếc que nhỏ đập đập vào bốt, ông đến gần chỗ Sehwanecke và hỏi hắn bằng giọng thân thiện:

-“Anh còn là chuyên viên về thỏ sao?”

– “Dạ, chỉ chuyên về thỏ đực thôi”.

Deutschmann tránh xa ra, không nghe rõ câu đối thoại.

Anh nghĩ : “Thằng cha đáng thương dám bị xử bắn quá.”

Bevern nhíu lông mày, hỏi:

– “Tại sao thế? Tại sao lại chỉ những con thỏ đực?”

– “Dạ thưa Trung úy, tôi dùng thỏ đực để nghiên cứu. Một hôm có con nhỏ bảo tôi là tôi có nhiều cái giống con thỏ đực. Từ đó, tôi ngắm kỹ những con vật này, nhưng tôi vẫn chưa hiểu con nhỏ muốn nói gì.”

– “À… thế còn con thỏ này đến đây sao? Anh thấy nó ngay trước mắt sao?”

– “Dạ đúng như thế, Nó còn ngồi xổm để ngắm vuốt nữa. Nhờ thế mà tôi nhận ra được là con thỏ đực.”

– “Ủa! Tại sao vậy?”

Schwanecke tiến lên hai bước, nói:

– “Của tôi…”

– “À!”.

– “Dạ, tôi quý súc vật lắm, thưa Thượng sĩ. Tôi không thể nào thiếu một con vật để thương yêu.”

Thượng-sĩ Krull cúi xuống cái thùng và ngắm con thỏ. Con vật nhỏ sợ hãi, bỏ củ cà-rốt đang gậm nhấm, chạy trốn vào một góc. Ba câu hỏi đang làm bận tâm viên Thượng-sĩ nhất : Con thỏ ở đâu ra ? Cái thùng ở đâu ra? Củ cà-rốt ở đâu ra?

Sehwanecke nói :

– “Con thỏ này không biết ở đâu chạy tới đây.”

Thượng-sĩ nhất bỏ đi không nói gì. Đến trước cửa văn phòng, ông gặp Trung-úy Obermeier đang sắp sửa đi ra và ông báo cáo chuyện lạ lùng vừa qua. Nhưng Trung-úy không rảnh rang để động lòng trước những nỗi đau khổ của Thượng-sĩ.

Ông vỗ vai Thượng-sĩ và nói:

– “Anh hãy lợi dụng sống cho thoải mái cuộc đời trong doanh trại. Khi nào mình sang đất Nga rồi thi không còn được, như thế nữa đâu.”

Krull đứng lại một mình, suy ngẫm về câu nói chót đó. Tiếng “đất Nga” gợi cho ông tất cả nỗi sợ hãi. Nhưng ông vốn có tài gạt ngay những ý nghĩ khó chịu và ông lại không có một chút khả năng nào giải quyết những chuyện khó hiểu, nên ông bỏ rơi lập tức sự suy nghĩ đó để trở lại vấn đề trước mắt, xác thực: đó là truyện anh lính Schwanecke và con thỏ.

Ông bước nhanh trở lại chỗ cũ, nói một cách khẳng định để giải quyết vấn đề:

– “Mày ăn cắp con thỏ này”

– “Không, nó ở đâu chạy đến.”

– “Thế còn cái thùng, cũng ở đâu chạy đến chăng? Và còn củ cà-rốt ? Tất cả những thứ đó từ trên trời rơi xuống…xẹt…một cái như thế phải không?”

– “Dạ rất đúng, thưa Thượng-sĩ.”

– “Dạ thưa Trung-úy, nếu là con thỏ cái, thì nó đã phải trang điểm chứ.”

Thế là lập tức trong sân diễn ra một việc mà cả đến Đại-úy Barth cũng ngán. Schwanecke phải nằm sấp và bò như con giun, mặt dán xuống đất, băng qua đám bụi bẩn, băng qua đống rác rưởi của nhà bếp, băng qua những vũng nước, những cầu tiêu bị tắc nghẽn và tràn ứa của Đại-đội 1.

Bevern ra nhịp bằng hiệu còi. Schnwnecke đã bò tới 3 vòng sân thì Đại-úy Barth từ trong cửa sổ hô lớn: “Ngưng lại.”

Bevern bỏ mặc người lính bị phạt trong tình trạng bẩn thỉu và lững thững đi về phía phòng sĩ quan.

Đại-úy Barth hỏi với giọng nghiêm khắc:

– “Thế là nghĩa lý gì, hả Trung-úy?”

– “Tôi muốn chứng minh cho tên Schwanecke thấy rằng người ta là giòng dõi của loài cóc”.

– “Ngu xuẩn!”

Bevern đứng cứng ngắc. Barth vừa nói vừa phác một cử chỉ:

– “Và anh tin rằng thắng trận được bằng cách đó sao?”

Cử chỉ của Barth như muốn bảo. “Anh cút đi, anh cút đi, đồ khốn nạn!”

Bevern hiểu và đi ra, nhưng chưa đến cửa anh còn nghe thấy Đại- úy nói:

– “Vào địa vị anh, tôi sẽ không gây thù oán làm gì với một thằng cha như vậy. Chúng ta sắp phải sang đất Nga… Thôi bây giờ anh ra đi.”

Về phần Schwanecke, hắn loạng choạng đứng dậy, mặt mũi nhớp nhúa kinh tởm, ghê gớm, không còn ra hồn người. Thở không ra hơi, hắn dựa lưng vào bức tường của doanh trại.

Deutschmann chạy đi lấy một gà men nước, rồi cởi cúc áo sơ-mi của Scbwanecke. Hắn nhìn anh với cặp mắt lờ đờ, không tinh thần. Hắn nốc một hơi nửa gà men nước và dội phân nửa còn lại lên đầu.

Hắn lẩm bẩm bằng một giọng hằn học và khó nghe rõ:

– “Trung-úy Bevern.”

Deutschmann rùng mình, tự nghĩ:

“Điệu này, mình chẳng muốn là anh chàng Bevern chút nào.”

Anh hỏi:

– “Mày muốn uống nước nữa không?”

– “Thôi, Cám ơn bồ. Đủ rồi. Còn mày, hút thuốc không?”

Chính vào giây phút đó, Bác sĩ nổi danh Deutschmann đã im lặng thán phục tên tội phạm bất lương Karl Schwanecke. Và cả hai, tuy rằng quá khác biệt, từ đó cùng nhận thấy thương mến lẫn nhau. Tình cảm đó càng thêm mãnh liệt vì họ hiểu rằng, cũng như tất cả những người khác ở đây, họ chỉ có một kẻ thù.

Câu chuyện con thỏ lan truyền khắp quân trại nhanh như một mồi thuốc súng Khi đến tai Trung úy Obermeier thì ông lập tức mời ngay Trung-úy Bevern tới và nói:

– “Liệu tôi có cần phải lưu ý ông rằng chính tôi là Đại-đội-trưởng Đại-đội 2 chứ không phải ông. Với cương vị Tiểu-đoàn-phó, ông không có quyền lực gì đối với binh sĩ, ông chỉ nên hạn định trong việc trung gian liên lạc mà thôi.”

Bevern bắt đầu trình bày:

– “Cái thằng cha không ra người đó”

Obermeier cắt ngang :

– “Chưa kể tới việc hắn thuộc Đại đội của tôi, trong câu chuyện đó, ông đã quá lố khi chơi hắn một trò hết sức là tồi tệ.”

– “Ông muốn dạy tôi về bổn phận của tôi và cách thi hành bổn phận đó hay

sao ? Đại đội của ông là một cải chuồng heo, ông bạn thân ạ!”

Obermeier đáp bằng giọng lạnh lùng:

– “Ông sẽ phải phúc trình trước mặt Chỉ-huy- trưởng về những lời lẽ ông vừa nói. Hơn nữa, tôi yên cầu ông miễn việc gán cho tôi danh nghĩa “bạn” đó. Nếu chúng ta không phải đang thời chiến, có lẽ ông đã nhận được bàn tay tôi in trên mặt!”

Bevern, xanh rờn, nói: “Trung-úy!”. Rồi giơ tay gạt nhanh Obermeier sang một bên, ông đi vội ra ngoài.

Trở về phòng, ông rút trong ngăn kéo ra một bản danh sách và đánh dấu chữ thập vào chỗ ghi tên Obermeier. Ông nghĩ: “Tao sẽ cho mày biết tay. Tao sẽ cho mày biết tay. Dám nói như vậy với tao, hả ?”

Trung-úy Bevern được bổ nhiệm về tiểu- đoàn Trừng giới 999 không phải là không có mục đích. Ông ta được ủy nhiệm báo cáo tất cả sự việc xảy ra ở đơn vị này, và đặc biệt là thái độ chính trị của sĩ quan và hạ sĩ quan.

Ngày hôm sau, trong giờ điểm danh, binh sĩ được biết rằng trong hai ngày nữa Tiểu đoàn sẽ lên đường. Thượng sĩ nhất Krull thì đã biết từ tối hôm trước và vì thế mà ông ta say lúy túy. Muốn uống, dù uống nhanh mấy đi nữa, một người bình thường cũng phải uống từng hớp lớn hay nhỏ. Krull thì khác hẳn, bất cứ là la-de, rượu mạnh hay rượu chát, ông ta chỉ đặt miệng chai vào môi và để mặc cho chảy xuống mà cuống họng không hề có động đậy chút nào.

Trung sĩ Hete vừa nguỡng mộ, vừa ước ao được như vậv, một hôm đã phải tuyên bố : Đúng như một cái ống. Thằng cha biết cách đổ vào thùng chứ không uống. Điều lạ là làm sao nó không chảy tuột ngay vào đầu kia!

Dĩ nhiên là trong quân đội Đức cũng có điều quân kỷ cấm uống rượu quá độ. Nhưng nếu Thượng sĩ Krull áp dụng chặt chẽ luật lệ đối với người khác thì riêng đối với mình; ông lại chẳng lưu tâm chút nào về điều đó. Khi đã giận dữ lên, ông ta sẵn sàng quên điều cấm kỵ, uống thả giàn theo lối uống như súc vật của ông, để rồi nhức đầu suốt cả ngày.

Và, tối hôm đó, ông đang giận dữ… và lo sợ nữa, ông giận dữ với Schwanecke, với Trung-úy Bevern, với Trung úy Obermeier, với tất cả binh sĩ trong Đại đội, với tất cả mọi người trên trái đất, với luôn cả trái đất, với cuộc đời chó má! Ông lo sợ vì Nước Nga, vì cái tên giản dị đó, vì tất cả những gì có thể xảy ra nơi đó. Không những chỉ riêng một việc là tụi Nga nó bắn và dám trúng ông quá, mà còn truyện Tiểu-đoàn khi tới đó có thể sẽ được lãnh võ khí, và lúc bây giờ, ai cấm được những thằng cha như Schwanecke nhắm súng vào thượng sĩ nhất Krull thay vì nhắm vào một tên Nga? Cứ nghĩ thế mà ngao ngán thay !

Một lũ khốn nạn! Đáng lý ra phải xếp hàng chúng trước một bức tường và Pan…. Pan.s… Pan… Chỉ có cách duy nhất đó thì mới được yên thân…

Bởi thế nên ông mới uống rượu và nhìn qua cửa sổ bằng cặp mắt lờ đờ, rồi nói lớn :

– “Cục cứt! Đất Nga! Thế là phèo!”

Ông không có bạn, chẳng có bồ, chỉ riêng mình với giận dữ, nỗi lo sợ, với tiếng nói của mình, với quyền hành của mình… và một đám binh sĩ thù ghét ông. Krull cảm thấy quá thiếu thốn cho một người. Và ông uống, uống mãi cho tới khi lăn kềnh ra đất.

Cũng khi đó, trong phòng ngủ của đại đội 2, Schwanecke bảo:

– “Này, tụi bây. Trong vài ngày nữa, bọn mình sẽ chuồn khỏi nơi này.”

Deutschmann hỏi. “Sao vậy?”

Tên mặt chuột nhận xét: “Truyện đó ngửi thấy rõ mà.”

– “Mà đi về đâu?”

– “Về nhà với má!”

Schwanecke mắng tên mặt chuột: “Câm mõm mày lại!” làm tên này im ngay. Hắn nói tiếp: “Chuyện này quan trọng đây. Tao cũng cảm thấy chuyện mình sắp chuồn đi nơi khác, Chắc chắn là sang Nga.”

Wiedeck nằm trên giường hỏi vọng lại : “Sang đó làm cái cóc khô gì?”

Schwaneeke cười đảp: “Đếch có đoán được”.

Deutschmann khẽ nói: “Nước Nga…”

Tên mặt chuột tiếp theo: “Một xứ sở khốn kiếp.”

Schwanecke nghiêng người khẽ đấm đấm vào mạng sườn của Deutschmann và nói: “Đừng có lo, giáo sư. Sẽ chẳng có gì ghê gớm đâu. Và tao sẽ cho mày biết một chuyện hay (hắn thấp giọng tới nơi đó, sẽ có trăm ngàn phương cách. Chính tao đây nói cho mày biết vậy đó.”

Viên cựu Đại-tá hỏi: “Anh nói vậy là nghĩa sao?”.

Schwanecke làm như không nghe thấy. Hắn nhắm mắt, tiếp tục nói với Deutschmann:

-“Rồi mày sẽ thấy, giáo sư ạ. Tao là cáo già ngoài mặt trận mà. Tao đây này, tao biết rõ. Tao đã bảo là có vô số cách thức mà. Mày sẽ phải kinh ngạc, nếu không tao đếch phải là Karl Schwanecke nữa. Mày tưởng tao còn khoái chết vinh quang ngoài chiến địa, chết vì lãnh tụ, vì dân tộc, vì tổ-quốc lắm hay sao?”

Người bạn triệu phú

vietmessenger.com

Sơn Nam
Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Phần 8

Những viên thuốc bổ

Chợ Tết bắt đầu rộn rịp. Tân mang theo ba trăm đồng, gọi là để tiêu xài trong buổi du Xuân thường lệ. Hôm nay là 27 tháng chạp. Anh ngỡ mình đang ăn Tết. Tết ở trong lòng chớ ở đâu xa. Hễ ngày nào mình vui, đắc ý, ăn no ngủ kỹ, gặp chuyện may mắn, công việc làm ăn phát đạt nhảy vọt và gặp người đẹp là ngày ấy vui như Tết.

Sáu bảy ngày qua, Tân hãnh diện, cho rằng mình hiểu “nghệ thuật sống” hơn ai hết. Anh thức đêm, uống trà, ra sân đón hơi gió lạnh, lúc nửa khuya. Như vậy là anh đã vui Tết trước thiên hạ trong sáu bảy đêm, anh thưởng thức sáu bảy đêm giao thừa. Nhưng khi sáng ra, anh thức dậy, cảm thấy chưa thỏa mãn. Niềm kiêu hãnh ấy quả tang là giả tạo.

Tết chỉ vui khi mọi người cùng vui. Chẳng ai có thể ăn Tết một mình, vào ngày giờ đó họ qui định riêng, trong thế giới riêng. Tết là niềm vui chung của dân tộc. Hễ toàn dân ăn Tết thì mình mới vui Tết.

Tân cười khì: Khi soi gương chải tóc. Hổm rày, mình là con cá lội trong chậu mà ngỡ rằng lội giữa biển khơi. Niềm vui ấy tuy có nhưng giả tạo. Niềm vui chung của đồng bào thành thị vẫn là thứ tình cảm lâng lâng, e dè. Ai nấy mua sắm hoặc chuẩn bị mua sắm. Tết là đóa hoa hàm tiếu, chưa nở. Tân vui vẻ ra đường với thứ tình cảm chân thành: sẵn sàng hòa mình vào đám đông, như hột muối tan trong biển người.

Ba trăm đồng, nghĩ cũng hơi ít nếu anh muốn mua sắm vài món linh tinh. Nhưng dùng để “dằn túi”, thì số tiền ấy khá nặng. Tân bồi hồi, thương xót vu vơ cho vài cô nữ tư chức nào đó, khá xinh đẹp, dạo phố với mười lăm, hai chục đồng (hoặc không có đồng nào). Các cô ăn mặc sạch sẽ, bước trầm tĩnh… như kẻ có nhiều tiền “dằn túi”… Tân nhớ rõ và biết tên vài ông bạn lái vespa, lái ô tô với hai chục đồng trong túi. Anh gật gù:

– Mình thuộc vào hạng người khá giả rồi. Ba trăm đồng là bao nhiêu hơi ấm triền miên. Tiểu thuyết gia S. Maugham đã từ trần nhưng để lại câu nói bất hủ: “Đồng tiền là giác quan thứ sáu”. Nghĩa là có nó thì mắt, tai, mũi, lưỡi và da tay của con người mới hoạt động, hửi xem, sờ mó đúng mức. Huống hồ mình đem theo để lấy hơi ấm chớ không xài. Năm nay dường như ông chủ không thưởng tiền Tết và không cho mượn trước số tiền nào cả. Về lý do, mình không nên biết, biết cũng vô ích.

Tranh chấp với ông chủ, theo luật lao động, là chuyện chung của mọi nhân viên. Anh em dám kêu nài tới mức nào thì mình cũng gật đầu “ba phải” tới mức đó. Không đứng đầu, không đứng giữa trong cuộc tranh chấp: Nếu đứng sau chót thì xấu hổ. Nên tìm chỗ êm ấm, trước người chót một bực để tự an ủi rằng mình còn một tí hào khí. Ta cứ đi ra phố.

Người trẻ tuổi nhìn chợ Tết với tâm hồn cởi mở. Món gì cũng lạ, cũng hay. Mỗi lần Tết là mỗi lần cảnh vật hiện ra đầy màu sắc sống động trong hiện tại, trước mắt trong khoảnh khắc mà họ ngắm nghía. Họ say mê, há miệng để rồi mau chán. Người lớn tuổi thường suy tư, so sánh hiện tại với quá khứ. Mấy gian hàng sát chợ Bến Thành chưa làm cho Tân chú ý. Cũng bánh mứt, rượu Tây rượu Tàu, kem đánh răng, trái cây.

Tân chép miệng:

– Hơi nhàm. Nghe nói cho đốt pháo nhưng tại sao chưa có gian hàng bán pháo? Bao nhiêu thứ bánh mứt ấy mình đã xem, đã ăn hàng chục năm rồi.

Anh chắp tay sau mông, đề phòng trường hợp bị móc túi. Trông oai vệ, nhàn rỗi và phách lối. Anh tự ví mình như một chậu kiểng xấu xí, một thứ hoa dại, mọc xen vào chợ đời cho rậm đám. Một người không sản xuất mà cũng không tiêu thụ hàng hóa, nói đúng hơn là sản xuất những loại thơ văn không cần thiết để lấy tiền mua vài thứ xa xí phẩm rẻ tiền.

Có tiếng đàn ghi-ta vang lên ầm ầm. Một nhạc công rách rưới đang trình diễn bản gì đó – theo điệu nhảy “túyt”.

Khách qua đường bu lại để nghe. Họ xem chớ không phải nghe. Họ bàn tán:

– Đời bây giờ thiên hạ nhiều sáng kiến quá.

Lại có tiếng phản đối:

– Sáng kiến ác ôn, đáng bỏ tù, đáng truy tố. Chán ơi là chán. Tôi đứng đây nãy giờ, giận run nhưng biết ăn làm sao, nói làm sao con nhỏ này hết lớn rồi.

Tân đến nơi, ngóng cổ. Một cháu bé chừng 8 tuổi đang nhún chân, tại chỗ, hai tay bơi trong không khí, tóc uốn quăn queo, môi thoa son đỏ bầm, bên má điểm đốm son tròn lớn cỡ đồng bạc. Có lẽ hồi mới bắt đầu trình diễn, nó được đánh phấn. Giờ đây, phấn đã trôi, để lộ làn da đen đúa. Làn môi và đôi má như trầy trụa, rớm máu – những vết thương gây bầu không khí tang thương. Hai chân em bé cứ nhún, gọi là nhảy “túyt” để thu hút khán giả, xin tiền. Nó để chân trần, đầy bụi đất. Lỗ mũi nó phồng lên, miệng há hốc. Mệt nhưng chẳng dám thở than.

Một cô nọ ăn mặc sạch sẽ nghiêng đầu gần sát vai Tân, mái tóc thơm mùi trầm hương:

– Cho tiền tại đâu?

– Dạ, tại đây!

Người lên giọng trả lời đang ngồi kế bên nhạc công. Anh ta mặc khá lành lặn, nâng cái dĩa mica đỏ lên cao. Hai đồng bạc chì rơi xuống cành cạch.

– Cám ơn, cô bác. Em cháu nó nghèo, nó phục vụ nghệ thuật thuần túy.

Cô nọ như chẳng buồn đứng nghe và chẳng muốn nhận lời cám ơn. Đầu cô rút lui khỏi vai Tân. Mùi trầm hương thoang thoảng rồi tan biến.

Tân phân vân, chẳng hiểu nên đứng xem hay nên rời chân. Đứng để làm gì và đi đâu bây giờ? Liệu nơi khác còn cảnh nào lạ mắt vui tai hơn không? Mấy người đứng xem cứ cằn nhằn:

– Chán quá. Hai người lớn mà bóc lột đứa con nít. Như vậy thì là khoa học. Mỏi chân mà không dám than van, nếu lười biếng chắc về nhà ăn roi mây.

– Tôi mà làm cảnh sát thì bắt mấy cái vụ xin tiền này.

Nhạc công vẫn đàn, nhướng mắt. Anh ta có lẽ đã nghe lời trách móc ấy hàng trăm, hàng ngàn lần. Lời nói là bạc, sự im lặng là vàng. Nhịp đàn khi khoan khi nhặt, lai rai vài đồng bạc bay xuống như bươm bướm xanh, rơi ngoài vành dĩa. Anh thâu tiền cứ ung dung lượm, bỏ thành đống.

– Kỳ quá. Coi thật là ngứa mắt.

Anh chàng mặt áo trắng cứ cằn nhằn một mình. Anh ta như hứng khí khi nghe lời phản đối:

– Chỗ người ta làm ăn. Anh chán thì đi chỗ khác. Tôi chẳng bà con cật ruột gì với đám này. Nếu không thích thì mình đừng cho tiền. Ai móc túi mình đâu mà mình cằn nhằn.

– Nhưng tại sao anh đứng coi!

– Tôi đứng coi vì lý do khác. Tôi phản đối nhưng tôi im lặng, tôi không cho tiền.

Chàng nọ tiếp tục đả kích:

– Như vậy là anh đồng lõa với vụ bán buôn nghệ thuật này?

– Tôi đâu có đồng lõa. Tôi không cho tiền. Tại sao ta thắc mắc chuyện nhỏ bé này khi nước nhà loạn ly?

Chàng áo trắng trợn mắt:

– Chuyện quốc sự hả?

– Thời bình cũng vậy. Tôi nhớ hồi xưa, mấy người hát Tiều, hát Quảng nuôi con nít từ thuở lọt lòng đặng cho tụi nó đóng vai chánh, hò hát suốt đêm đến tối ba bốn giờ khuya để được ăn một tô cháo. Bây giờ, con nhỏ này sướng hơn.

Chàng áo trắng đáp:

– Nhưng vi phạm luật lao động… Bắt buộc trẻ em đứng nhảy nhót cả buổi như hình phạt đối với tù nhân.

– Ở đây chẳng ai làm mướn cho ai cả. Có thể em bé là con của người gảy đờn. Đem luật lao động nói nơi đây là sai.

– Có sự gì… bóc lột kỳ cục, vô nhân đạo…

– Bóc lột à? Những người đứng xem mà không trả tiền mới thật là kẻ bóc lột…

Tân giật mình. Cãi vã với họ chăng? Họ chửi xéo anh rồi. Thôi thì đi nơi khác. Anh… tự móc túi, đem ra mớ giấy năm đồng, hai chục đồng. Rất tiếc là không có bạc lẻ, đưa cho họ thối lại bốn đồng thì… vô duyên, thôi thì cho phứt năm đồng.

Anh quay mặt, thở phào. Một người nói lẩm bẩm bên tai anh:

– Xài vô lý quá. Tụi nó là… chim mồi.

Tân nhìn người nọ:

– Thiệt vậy sao?

– Ông chưa tin lời tôi thì thôi. Hai thằng cãi nhau là chim mồi, nhử ông, khiêu khích ông để ông cho tiền.

Tân gật gù:

– Hơi vô lý. Đâu phải thảy bài ba lá mà chim mồi? Nếu chim mồi… thì họ vô tình làm chim mồi. Họ cãi vã vì tự ái, rốt cuộc bọn kia thủ lợi. Thôi! Vấn đề nghệ thuật là vô giá. Họ biết trình bày khéo léo. Tôi khen ngợi sự trình bày đó chớ tôi có bố thí, mắc mưu họ đâu…

Người nọ lẩn khuất trong đám đông tự bao giờ. Tân bẽn lẽn vì đoạn chót của câu nói chỉ có một mình Tân nghe thôi.

Anh bước tới, đứng lóng ngóng một chập vì lề đường quá chật hẹp.

– Thầy Hai!

Cô gái bán kẹo, thuốc đang chào Tân. Quen thân lắm. Hai năm qua, Thỉnh thoảng Tân mua chịu thuốc hút của cô ta. Và lâu, Tân cho cô ta thiếu chịu vài chục đồng, khi thiếu tiền lẻ thối lại.

Tân mượn cái ghế, ngồi dựa lưng vào gốc me. Vài tiếng pháo nổ. Nhân viên cảnh sát cằn nhằn. Những cây pháo được đốt trộm nhưng nó công khai. Chẳng lẽ truy nã thủ phạm? Hai em bé nhăn nhỏ, xòe tay, chìa ra mấy cây pháo.

Tân hỏi cô bán thuốc:

– Khá không?

– Bán được được. Thầy mua thuốc xì gà không? Còn hai hộp.

Tân đứng dậy. Một hộp thuốc bán…, theo giá vốn là 450 đồng. Chẳng lẽ anh mua chịu đợi năm sau mới trả tiền. Ngồi đây làm gì? Anh đáp:

– Mai chiều tôi mua.

Hai bên lề đường, vẫn chưng bày những món hàng quen mắt: ly chen, đồ chơi con trẻ con, khăn tay, nút áo man-sết… Tân lắng nghe… Giữa tiếng ồn ào, giọng đàn giựt gân vẫn còn phía sau lưng. Chắc rằng cháu bé nó đang nhảy và hai tên kia vẫn cãi vã lai rai. Anh đào sâu cái triết lý vừa thâu thập lúc nãy.

– Chỉ cần cách trình bày cho khéo léo là thành công trên đường đời. Nhưng đó là sự thành công rẻ tiền. Âu cung là một kinh nghiệm sống. Mấy tên chim mồi đánh mạnh vào tâm lý những kẻ nông nổi, nghèo tiền nhưng giàu tự ái.

Phải chi mình cho tụi nó một đồng bạc như cô thơm mùi trầm hương, rồi đi tuốt thì khỏe trí biết bao. Cô nọ xử sự tỉnh táo vô cùng. Không cho thì tỏ ra kém đứng đắn. Thà rằng cho chút ít rồi đừng suy nghĩ. Thái độ của mình tuy đứng đắn nhưng dại dột, đã tốn tiền nhiều gấp đôi, lại còn nghe thêm tiếng chửi của bọn chim mồi.

Tân dạo hết quãng đường, quẹo về bên trái, theo đường Công Lý rồi đổ qua Lê Thánh Tôn. Ở đây, yên tĩnh hơn. Anh hút thuốc phì phà. Nhiều cô gái đẹp đi ngược chiều.  Họ mặc áo lạnh tuy trời chưa lạnh cho lắm. Màu áo lạnh làm ấm áp những người chung quanh: Tân thấy yêu đời. Lề phố thưa thớt, kém vẻ xô bồ xô bộn, chẳng cần chen lấn. Dường như đường này dành riêng cho những du khách loại chọn lọc. Khỏi sợ bị móc túi.

Tân dí mũi vào tủ kiếng xem mấy đôi giày da sấu. Non ngàn bạc, làm sao mua nổi? Anh thấy thấp thoáng vài bóng hồng từ trong tiệm lú ra. Mấy cô bán hàng đẹp quá. Mấy cô không mời khách hàng, không châm chọc vào lòng tự ái của thân chủ. Những cửa hiệu ấm áp lâu đời, nói tóm lại là… thuần. Chủ nhân mặc đơn giản, không khoe của cải và dường như họ mỏi mệt vì sống lâu năm cuộc đời đầy tiện nghi.

Mấy cô bán hàng đi đứng dịu dàng, ít nói ra vẻ ta đây là thân nhân của chủ nhân chớ không phải là người làm công. Thích quá! Tân rảo bước chợt có bàn tay chìa ra:

– Thưa ông!

Tân trố mắt. Ba bốn người đàn ông đang bán thuốc cao đơn hoàn tán bên lề đường. Họ trao cho anh một tấm quảng cáo:

– Mời ông xem.

Tân gật đầu:

– Cám ơn.

Rồi dợm chân bước tới.

Anh nọ thân ái nắm tay anh.

– Xin lỗi ông, chúng tôi hiểu rằng bấy lâu nay ông sống ở Sài-gòn, ông chán cái lối quảng cáo rồi. Lối quảng cáo thường lố lăng, phải vậy không ông?

Rồi anh ta cướp câu trả lời của Tân để tung ra mớ lý luận ngọt ngào như những dòng nước mưa từ trên máng xối chảy xuống rơi lõm bõm vào lu:

– Tấm giấy quảng cáo này thô sơ, chẳng có gì bảo đảm. Chúng tôi bán chiêu hàng cho nhà thuốc ra mắt! Chúng tôi xin hân hạnh…

Tôi rất chán loại cao đơn hoàn tán. Nói chung, anh sợ những loại… sâm nhung bổ thận bào chế bằng cơm nguội quết với nước đường, vò viên tròn “Trước mặt mấy cô gái đẹp mà mình mua thuốc bổ thận tráng dương, thì mất duyên hết”. Anh từ chối:

– Xin hẹn dịp khác.

Anh nọ như chẳng nghe lời từ chối của Tân:

– Đây là hộp thuốc. Mời ông xem.

Tân dè dặt, chẳng muốn sờ tay vào.

Anh nọ đặt hộp thuốc vào lòng bàn tay Tân:

– Ông cứ lấy. Chúng tôi kính biếu, không lấy bất cứ một đồng xu nào. Chúng tôi mong ông dùng thử. Như vậy cũng đủ hân hạnh cho… bổn hiệu.

– Chà, tôi sợ thuốc lắm, vả lại tôi mạnh khỏe.

Vừa nói, Tân vừa liếc về phía mấy cô bán hàng. Mấy cô nghiêm mặt, nhìn nhau. Tân lúng túng. Anh nọ thúc hối:

– Chúng tôi khổ tâm lắm nếu biết rằng ông từ chối. Chúng tôi kính biếu. Nếu ông mạnh khỏe thì đem về tặng cho các bạn thân.

Tân mân mê hộp thuốc. Dưới lớp kiếng, hiện sáu hoàn thuốc màu vàng, bao sáp.

Anh nọ day lại đồng bạn:

– Đưa thêm cho ông hai hộp nữa…

– Cám ơn. Đủ rồi. Để mấy anh tặng cho người khác.

– Xin lỗi ông, ông là người đứng đắn, có nhiều bạn thân ở Sài-gòn. Chẳng lẽ ông tặng thuốc cho người này mà quên người kia. Đây, tất cả ba hộp. Và xin lỗi ông, ông trao cho tôi… để tôi gói lại kỹ lưỡng. Chẳng lẽ ông mang bao hộp thuốc này di ngoài đường, coi mất vẻ đẹp.

Người đồng bọn của anh kia gói ba hộp thuốc, gói chậm rãi. Tân đang thắc mắc, chẳng hiểu đem ba hộp thuốc nọ về đâu? Nếu là cơm nguội quết với nước đường thì ba hộp kia trị giá ít lắm 30 đồng. Tại sao họ dám biếu với thái độ hoàn toàn cởi mở? Phải chăng đây là kiểu quảng cáo mới, giống như vài nhà báo dám tặng không số ra mắt để câu độc giả hòng bán số thứ hai, họ đã nghiên cứu tâm lý giới tiêu thụ, tin rằng thế nào Tân cũng đồn đãi việc tặng thuốc ấy cho các bạn, hoặc ít ra anh cũng nói lại với vợ con.

Anh bán thuốc nói:

– Xin ông vui lòng thông cảm giúp anh em chúng tôi một số tiền mọn. Chúng tôi trong ban quảng cáo, gồm 3 nhân viên, đi trên chiếc xe… mô bi lết này và hai chiếc xe đạp kia. Thưa ông, nếu chúng tôi ngửa tay xin ông mười đồng, chẳng lẽ ông không cho. Hoặc giờ phút này, đáp lại món quà mọn của chúng tôi… có lẽ ông sẵn sàng cho chúng tôi giải khát một chai “la ve”.

Tân bắt đầu hiểu rằng đã sụp bẫy. Mấy cô bán hàng che miệng, ló đầu ra cười tủm tỉm. Một nhân viên cảnh sát đứng nhìn Tân rồi cười khì. Biết sao bây giờ? Tân hỏi khẽ:

– Tôi không lấy thuốc. Nhưng mấy anh muốn chừng bao nhiêu?

– Dạ, tùy ý ông. Ông cho một đồng bạc, chúng tôi cũng không dám từ chối. Đây là buổi khai trương…

Tân đưa ra tấm giấy 10 đồng. Anh nọ nói với đồng bạn:

– Gói hộp thuốc đưa cho ông. Ông còn bận nhiều việc khác, cám ơn ông.

Anh ta trao gói thuốc. Tân sửng sốt, chẳng biết nói sao. Hồi nãy, anh ta tặng ba hộp, giờ đây, bớt lại còn một hộp. Tân cầm lấy, cười bẽn lẽn, nhủ thầm:

– Nếu không lấy, hóa ra dại vì mình đã tốn 10 đồng. Tụi này khôn quá. Nó bắt buộc mình mua một hộp thuốc “Cơm nguội nước đường” này với giá 10 đồng! Ôi thôi! Xui xẻo quá.

Tân gọi xích lô đạp, ngồi lên chẳng cần trả giá trước. Anh muốn ra khỏi con đường này cho nhanh để khỏi hổ thẹn. Vì tự ái, vì thể diện lặt vặt, vì muốn tỏ ra khoan thai, trầm tĩnh đối với mấy cô gái bán hàng mà anh lãnh một vố hơi cay. Cầm hộp thuốc trong tay, anh tự an ủi:

– Hồi nãy, mình xem nhảy “túyt” tốn hết 5 đồng, còn nghe thêm tiếng chửi xéo. Hộp thuốc này 10 đồng, gẫm đi gẫm lại rẻ hơn.

Nhưng Tân vẫn chưa yên tâm. Anh sợ mấy người bán thuốc cười khì, chế giễu anh là ngu dại:

– Chưa ắt nó dám ngạo mạn. Nó cần giữ thái độ… phục vụ thân chủ để tiếp tục lừa bịp những thân chủ đến sau. Ban đêm, về nhà, khi ăn cơm với vợ con hay khi nhậu la ve, nó mới dám cười.

Quăng hộp thuốc ư? Uổng quá. Đó là hộp giấy bồi khá cứng trên mặt có kiếng dầy, thứ thiệt, chung quanh in nhãn hiệu bốn màu sặc sỡ. Dùng nó để làm gì đây? Xế chiều, Tân buồn bã hơn bao giờ hết. Không xài phí mà vẫn tốn kém, không dám mở miệng ra mà vẫn bị mắng ngược, không lường gạt ai mà sao lại chua chát đắng cay? Nói ra, thiên hạ thêm cười chê. Chiếc xích lô đạp chạy bon bon. Chưa tới nhà, Tân nghĩ ra một biện pháp để tạm giải quyết cái hiện tại ê chề:

– Đêm nay mình nấu nước trà, ăn thử một hoàn thuốc, ăn chơi như trẻ con ăn kẹo. Nếu thuốc mất vệ sinh thì bị sình bụng, chết chóc gì. Muốn cho vui, mình mời thằng bạn thân nào đó, mỗi đứa ăn chơi ba hoàn cho hết hộp thuốc, ăn được mười phút, tức là một đồng bạc giết được một phút của… cuộc đời!

Người bạn triệu phú

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Photo by Sơn râu

Phần 7

Nhớ năm Thìn

Gió lạnh, mưa lê thê. Tôi hay tin nạn bão lụt miền Trung quá trễ. Những con số 7000 người chết, hàng triệu người không nhà cửa đã vượt ngoài sự tưởng tượng của tôi. Từ hồi lớn khôn đến giờ, tôi chưa từng thấy hàng trăm người chết – thấy tản mát, lần nào cả. Trong nghĩa địa, có hàng ngàn ngôi mộ nhưng là những ngôi mộ sạch sẽ, xác chết nằm yên ấm trong quan tài và trước khi hạ huyệt, người thiện có được an ủi bằng nước mắt của thân nhân bạn hữu, vài cục đất, vài cánh hoa ném xuống… Đi viếng một nghĩa đĩa có 7000 ngôi mộ, có lẽ tôi chỉ buồn buồn cho kiếp sống, thế thôi. Tôi nghĩ đến bảy ngàn – và hơn bảy ngàn xác chết của đồng bào miền Trung, ở một vùng mà từ thuở bé đến giờ tôi chưa từng đặt chân tới. Cớ sao dãy núi Trường Sơn lại giận dữ, trở thành một hung thần? Và biển Thái Bình lại trở chứng đột ngột? Nhưng trách chi núi, trách chi biển! Nếu suy luận miền Nam như thế, tôi sẽ trở thành một người lẩm cẩm, đóng cửa rút cầu, xa thực tế. Ngày xưa, đã nhiều người làm văn tế suông với những câu rất sáo lập đi lập lại. Lại còn những nhà hiền triết ngồi yên ấm bên chén trà nhìn qua cửa sổ để cảm thông với băng giá bên ngoài. Và những thi sĩ đốt lò hương trầm, uống rượu nồng, thả hồn đến tận chốn sa trường than khóc giùm các chiến sĩ đang chinh Đông chinh Tây. Rồi thương tiếc cho những nàng chinh phụ ở nhà đang ôm gối mộng nhìn trăng.

Không có bài văn tế nào nói hết nỗi đau khổ của kẻ chết, người sống trong trường hợp đặc biệt này. Bảy ngàn xác chết, nếu chất thành đống, ắt vun lên như quả núi. Oan ức biết là bao. Suốt 20 năm chiến tranh, họ đã sống, đã đau khổ, đã yêu nước, đã cày ruộng cuốc đất, để rồi chết vì một lý do tức tưởi như vậy, trong khoảnh khắc. Lại còn hàng triệu người không nhà. Một triệu tức là phân nửa dân số Sài-gòn, Chợ-lớn. Tôi chưa hình dung nổi một rừng người đông đảo như thế. Mấy năm nay, tôi chỉ thấy vài chục người ngủ ngoài lề phố, chung quanh nhà chú Hỏa Sài-gòn. Vài chục người không nhà, cảnh tượng ấy cũng đủ làm cho tôi chạnh lòng rồi. Một triệu là bao nhiêu! Nếu họ ngồi đâu lưng với nhau hoặc nằm gần nhau thì sẽ chiếm bao nhiêu cây số bề dài? Lố bịch quá! Giờ phút này những con người có lương tâm không được quyền “giải trí” hoặc tò mò “tìm hiểu” theo lối đó, lối tìm hiểu, giải trí của những kẻ sống ngoại cuộc, thủ lợi, ích kỷ tột độ và thông minh lặt vặt.

Tôi cúi đầu, cầm viết. Viết hiệu triệu chăng? Tôi chưa đủ thẩm quyền để hiệu triệu: “Hỡi đồng bào, chúng ta nên…”. Bấy lâu nay, tôi mang chứng bệnh “suy cổ nghiệm kim”. Tôi sực nhớ đến bài vè về Bão lụt năm Thìn, đăng trong Revue Indochinoise năm 1904, một loại tạp chí ít ai còn giữ được và xưa kia chỉ lưu hành trong một số người được thực dân ưu đãi. Sáu mươi năm về trước. Hơn nửa thế kỷ. Vào thư viện để lục lạo mớ giấy đầy bụi bặm ấy chăng? Để giải trí, để hoài cổ theo lối quí tộc, sang trọng! Tôi thiếu can đảm để làm chuyện ấy. Ra ngoài Trung để chứng kiến thảm họa, tìm đề tài chăng? Tốn tiền, vô ích. Tình thế cấp bách lắm rồi. Sự thật đang diễn biến thiên hình vạn trạng. Nhiều người chết, không được người sống đếm số – vì xác họ đã mất, mất trước khi người làm “công việc đếm” chú ý tìm họ. Nhiều người không nhà đang sắp sửa xuống ngủ dưới lòng đất vì bệnh, vì đói. Nhiều người mạnh khỏe đang trở thành phế nhân. Nhiều gia đình không còn là gia đình và người gia trưởng đang chết hoặc đã chết. Vợ con của họ sắp tung ra tám hướng trời; từ buổi này phải xa nhau, tan tác để mạnh ai nấy tìm sanh kế.

Tôi ra đường thở dài. Sở trường của tôi là cầm bút. Cái sở trường ấy nên sử dụng như thế nào cho có hiệu quả? Viết một bài để cho người còn sống đọc lên. Những người sống ở xa trung tâm bão lụt, đủ tiền mua báo hoặc đủ thời giờ mượn báo của người láng giềng mà đọc qua loa. Trời lạnh lắm. Chưa chắc thiên hạ đọc báo. Tôi tìm một đề tài về bão lụt. Thứ lụt thường niên ở Hậu Giang, vùng làm lúa xạ, tôi đã thấy rồi. Nó khác hẳn với nạn lụt ở miền Trung. Đài khí tượng cho biết: Bão có thể thổi qua Sài-gòn nhưng vào giờ chót, bão lại di chuyển ra miền Trung một lần nữa. Sài-gòn không bao giờ gặp bão to.

Tôi bước lầm lũi, lần hồi đến một ngõ hẻm ở đường T. B. T. để gặp lão Tư Nê. Lão ở một quê xứ với tôi. Tôi nhớ rõ: vào những năm “thái bình thịnh vượng” hễ đến đâu lão cũng bàn tới bàn lui chuyện bão lụt năm Thìn, tại Gò Công. Lão khoe khoang:

– Tôi sống trong cảnh đó mà.

Có người chất vấn:

– Năm Giáp Thìn, đời vua Thành Thái, lão mấy tuổi?

Lão đáp:

– Mười lăm tuổi.

– Bốn năm chục năm trôi qua, làm sao lão nhớ được chuyện hồi thuở mười lăm?

– Sao không nhớ! Chuyện thiên tai, người ta nhớ đến già, đến chết, truyền tụng cho con cháu, đâu phải để quên hoặc nhớ lai rai như chuyện trai gái, chuyện thua cờ bạc. Thảm thiết lắm.

Hồi mấy năm xưa đó, lão phổ biến hai câu hát về bão lụt năm Thìn:

– Gặp mặt em đây, mới biết em còn,  

Hồi năm Thìn bão lụt, anh khóc mòn con ngươi.

và:

 – Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc,

Gió nào độc bằng gió Gò Công…  

Lão nói tiếp:

– Hồi trước, người ta hát: “… Đèn Châu Đốc, Đất nào dốc bằng dốc cho Nam Vang. Một tiếng em than, hai hàng lụy nhỏ. Có một mẹ già, biết bỏ cho ai.” Sau trận lụt Gò Công hồi năm Thìn, câu hát sửa lại rằng:  “… Gió nào độc bằng gió Gò Công. Một trận Đông Phong, xiêu vợ lạc chồng. Em ngồi đây mà nhớ lại, nước mắt hồng tuôn rơi.”

Từ hồi tạm biệt với lão Tư Nê, tôi lên Sài-gòn, thỉnh thoảng lúc túng đề tài “Chuyện xưa tích cũ”, tôi gợi lại hình ảnh bão lụt Gò Công gọi là để mua vui một vài trống canh cho thiên hạ. Tư Nê lên Sài-gòn, trễ hơn tôi; hơn bảy mươi tuổi rồi còn làm ăn gì được nữa. Lão sống nhờ sự “hiểu biết” của đứa con trai út chạy xich lô máy. Thời buổi loạn lạc, còn hy sinh nuôi cha, còn sống gần cha là điều hiếm có. Nhà lão khá đông, thêm năm bảy đứa cháu nội; đứa con trai út có sức xoay trở, giành giựt từng thanh củi quế, từng nắm gạo châu. Mưa gió bấc năm ngoái, lão Tư Nê trở bệnh ho lao ho tốn gì, tưởng đâu sẽ nằm yên giấc trên nghĩa địa Chí Hòa. Ai dè trời còn bắt lão sống, sống để mà thông cảm với nạn bão lụt Giáp Thìn, sáu mươi năm đáo lại. Lần Giáp Thìn này, chắc chắn là lần Giáp Thìn cuối cùng của đời lão. Tuy ở xa trận bão, lão hãy tin rất sớm nhờ cái ra-dô Transistor, nhờ hình ảnh trên báo hàng ngày, hàng chục thứ báo. Thanh niên bây giờ mê “xi-nê-ma” như hồi thuở nọ, lứa thanh niên mười lăm tuổi của lão mê hát bội. Máy bay bay rền trời, ngày như đêm, nhiều hơn tiếng sáo diều. Và chung quanh lão, xe hơi nhiều hơn trâu bò ở xóm nhỏ, thuộc tỉnh Gò Công thời xa lơ xa lắc.°

– Cháu muốn hỏi thêm về bão lụt Gò Công để đăng báo hả? Xưa lắm rồi. Đúng sáu mươi cuốn lịch trên nóc nhà.

Tôi hỏi:

– Thưa bác có phải là mấy cuốn lịch Tàu mỗi quyển xem trọn năm, trong đó nào là tử vi, ngày tốt tháng xấu…

– Âm lịch… nói bậy bạ vậy mà đúng. Bây giờ, thứ lịch đó còn bán lai rai ở Chợ-lớn, ghi rõ thời tiết từng ngày, phương hướng xuất hành… Mỗi năm, mình mua một cuốn, xem xong thì treo nó lên nóc nhà. Đúng sáu mươi năm, tức là sáu mươi cuốn, nếu mình treo đúng thứ tự. Giáp Thìn và Ất Tỵ, Bính Ngọ… thì cứ sao y bổn cũ mà xài, khỏi cần mua thêm cuốn nào khác. Hồi đó, bác để dành đâu được bốn chục cuốn rồi chạy giặc liên miên.

– Bây giờ, người ta xài thứ lịch khác…

Tôi nói lẩm bẩm như vậy. Trên nóc nhà lão Tư Nê, có đến hai tấm lịch gỡ từng ngày nhưng dường như mấy ngày rày con cháu của lão quên gỡ. Tấm lịch này, ba mươi tháng mười. Tấm kia, ba mươi tháng mười một, có lẽ vì con nít xé quá nhiều. Lại còn tấm lịch xài mãn năm, dán trên vách, sắp tróc vì keo rã hồ tan khi mưa bay gió tạt. Tặng phẩm bất ngờ của nhật báo nào đó, phục vụ bạn đọc. Thanh Nga, Thanh Thúy gì đó cười mơ hồ bên cạnh núi Phú Sĩ Sơn và đảo Hạ Uy Di. Suốt năm cười mãi.

Lão Tư Nê vụt đứng dậy, chạy ra cửa, quát to:

– Hai, Ba, Hùng… vô đây. Kiếm cái áo khác bận vô. Sổ mũi đó.

Rồi lão day lại phía tôi:

– Mấy đứa cháu nội. Nó liến khỉ, chịu không nổi.

Tôi tìm cách gợi lại chuyện bão lụt Năm Thìn.

– Thưa bác…

– À! Để tôi nói tiếp. Bây giờ khác rồi.

– Thưa bác, nhưng người ta chết ngộp, mất xác như hồi xưa. Nhờ bác nói lại vài chi tiết… để viết lên báo. Chẳng lẽ cháu ra tận ngoài miền Trung.

– Thì năm đó, cuối tháng Tư chớ không phải tháng Mười. Đầu mùa mưa, ai cũng tưởng là không có sao. Dè đâu, gió trở ngọn thổi mạnh, từ 10 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Nước dâng lên. Người ta hơi lo nhưng an ủi: “Bất quá thì nó ngập tới bộ ván. Mình lên bộ ván mà ngồi”. Lát sau, người ta nói: “Bất quá thì nước ngập… tới mái nhà”. Trễ quá rồi. Trời tối đen như mực, vào giờ ngọ, ngửa bàn tay cung không thấy. Sóng đánh ầm ầm, bể vách nhà, vách bằng lá. Thôi thì chỉ còn cách lên xuồng ghe mà tản cư, kiếm mấy chỗ có giồng đất cao. Ghe chìm thì chết. Nếu ghe không chìm thì mình tới một chòm tre ở xa xa. Nhà nơi đó bắt đầu ngập. Thiên hạ chạy loi ngoi ra ngoài. Gió thổi mạnh, mưa quá lạnh. Họ kiếm gốc cây to hoặc vách nhà ngói nào đó mà núp. Cây ngã, vách sập. Chỉ còn một cách trốn tránh sau cùng là nhảy xuống mương, theo kiểu xuống “tăng xê”. Nằm dưới mương, ít gió, không bị cây đè. Nhiều người mang theo cái nồi, cái chảo bằng gang mà đội cho chắc chắn. Nhưng nước ngập ao, ngập mương… Con nít, đàn bà, ông già thì chết tự hồi nào rồi. Mấy người đau ốm thì khỏi cần nhắc tới. Nãy giờ, tôi nói tới bọn đàn ông trai tráng, vai u thịt bắp…

– Thưa bác, họ lội hoặc tìm khúc cây, miếng ván mà nương tựa…

Lão Tư Nê lắc đầu:

– Tay chân họ tê cóng rồi. Nãy giờ ngồi đây, xa trận bão hàng ngàn cây số, cháu thấy không? Bão đã tan, bão đã đi xa mà mình hãy còn lạnh huống gì ở tại chỗ. Thí dụ như bây giờ, cháu nhảy vô lu nước mà ngâm mình, chừng vài phút đồng hồ thôi. Bụng đói, người ta chịu lạnh dở lắm. Người ta van vái Trời Phật, ông bà đất nước. Nhưng giữa ban ngày, trời tối mù mịt. Người ta đâu phải là vật vô tri vô giác, kẻ tán tận lương tâm nhứt cũng nhớ tới vợ, tôi con, tới cha mẹ. Cha mẹ chết từ nãy giờ rồi. Họ mất tinh thần. Ngoài ra, đồng ruộng ngập nước. Trâu bò là giống vật mạnh mẽ, lội giỏi nhưng không thấy con nào nổi trên mặt nước. Tụi nó chìm hết rồi. Chỉ còn vài người cuối cùng, trên biển, thứ biển đầy sóng gió, lạnh như nước đá, thứ nước đá màu đen. Họ chưa lội, chưa quơ tay quơ chân là đã chết chìm rơi xuống đáy nước như cái thây ma. Chẳng một ai nghe tiếng than khóc của ai. Lạnh tê môi, làm sao khóc ra tiếng? Vài người còn sống sót, nhờ họ cỡi trâu lúc trận bão vừa mới tới. Trâu chạy rồi trâu lội qua phía Mỹ Tho. Còn những người sống sót khác… họ có phước vì hôm đó không có mặt tại vùng biển Gò Công. Họ đi thăm bà con từ hôm trước. Lại có nhiều người từ xứ khác tới Gò Công để… lãnh đủ, một thuyền một hội.. Giáp Thìn mà! Tôi tin rằng lịch của ông bà để lại ít khi sai chạy…

Tôi im lặng, chẳng biết hỏi lão Tư Nê điều gì nữa. Gió lại thổi, mưa rơi lắc rắc, không thêm không bớt. Mưa còn dai dẳng tới bao giờ? Lão nói to giọng, như muốn bước qua giai đoạn xã giao khác, đuổi khách:

– Hết rồi.

– Thưa bác, sau trận lụt đó, thiên hạ làm sao mà sống?

– Thì tạm vui mà sống. Năm đó, nhà nước Tây cai trị. Tây nghèo lắm. Từ Mỹ Tho, dường như chỉ có một chiếc tàu đò chạy qua Gò Công. Ở Mỹ Tho, thiên hạ cũng đói rách. Xuồng ghe đều bị quăng lên bờ. Nước rút lần hồi. Mùa màng sạch bách. Thôi thì móc củ co, câu cá, nấu canh bông súng mà ăn trừ cơm. Cá nhiều lắm. Nhiều thứ cá lạ, lội từng bầy. Nghe đâu mấy bầy cá đó từ Biển Hồ lội xuống. Đất bỏ hoang. Nhiều làng không còn một người, không còn một căn nhà. Ruộng đất vườn tược đều vắng chủ. Nhà nước Tây ra lịnh: “Ai muốn khẩn thì khẩn, ghi tên vô bộ mới, làm chủ, miễn là đóng thuế cho nhà nước”. Nhưng ai thèm. Đau xót nhứt là mấy người còn sống. Họ phải sống để thấy cảnh bọn… bất lương. Họ vớt thây ma để lột vòng vàng bán ăn, khỏe thân hơn làm ruộng. Thời xưa, mấy người khá giả luôn luôn đeo vàng trong mình. Hết vòng vàng thì họ vác búa mà bủa mấy cái tủ kính, tủ cẩn trôi lều bều. Trong tủ đó, có thể còn quần áo thứ mắc tiền và tiền bạc. Nhưng trách ai bây giờ? Nhiều người lương thiện bỗng trở nên bất lương. Và nhiều người bất lương nhưng trở thành lương thiện, đâm ra tay cứu vớt… mấy xác chết đem chôn cất, suốt ngày đêm. Chôn người rồi lại chôn trâu bò. Trâu bò chết, sình hôi thúi nực nồng, quạ ăn không hết vì quạ chết trong cơn bão. Thôi! Chuyện xưa nói bao nhiêu đó cho cháu nghe, nhiều rồi. Thời nay, khác hơn. Xứ mình có giặc.°

Tôi ra về cứ ngậm ngùi nghĩ mãi về lời nói của lão Tư Nê. Bão lụt ngày xưa và ngày nay có khác gì nhau không? Có khác chăng thì chỉ khác về chi tiết, chứ cảnh chết chóc thì cũng giống như nhau. Trời cứ mưa và cứ lạnh. Xe cộ qua lại ầm ầm. Những người ấm áp. Những người lạnh lẽo. Mỗi người một số phận. Thời nay, khác hơn. Hoài cổ là vô ích và lắm khi đưa chúng ta đến một nhận định sai sự thật. Thân xác con người cũng mới, với những đòi hỏi mới, những đau khổ mới – những đòi hỏi những đau khổ thật sự hoặc giả tạo “khôn sống bống chết, mạng ai nấy lo, hồn ai nấy giữ”. Cái phương châm xử thế ấy lại hiện ra trong tâm trí tôi. Nó dã man, vô nhân đạo nhưng lắm khi nó được… đề cao, trở thành một nguyên tắc của kẻ muốn thành công trên đường đời! Tôi tin rằng giờ phút này người Việt Nam đã “xét lại” phương châm “sang trọng, khôn ngoan ấy”. Nhưng chẳng lẽ mọi người đều… treo cờ tang, ngồi nhà mà mặc niệm. Lại một hình thức dối lòng, dối mà không biết rằng mình dối. Khóc lóc, rên rỉ là vô ích. Làm sao khóc được khi tình cờ trong những ngày này, có người gặp chuyện may mắn lặt vặt. Cuộc sống là cuộc sống. Tân nhạc, cổ nhạc… cứ hát lên đi! Báo hàng tuần, báo hàng ngày, cứ cạnh tranh sanh tử với nhau đi! Ai thèm rượu thì cứ uống. Ai có mền ấm thì cứ đắp! Vấn đề không phải là khóc lóc mà là một sự tổ chức khoa học. Người đang uống rượu, người đang hát, người đang đắp mền, người đang thất nghiệp đều muốn giúp đồng bào. Chỉ cần tổ chức đừng câu nệ hình thức. Kẻ hoang phí đang muốn mua giấy số.

Gió cứ thổi. Tôi về đến nhà. Viết xong chuyện bão lụt rồi. Viết qua chuyện ma, không bao giờ có. Viết qua chuyện tâm tình gỡ rối. Tâm tư bị xé ra muôn mảnh. Và bài này có đủ năng lực hấp dẫn ai không? Tôi hy vọng nó chỉ là nén hương ngắn ngủi, đốt quá muộn, không an ủi được kẻ chết nhưng họa chăng nó nhắc nhở cho một đời người còn sống lưỡng lự khô khan… chờ đợi. Một đôi người không phải ở miền Trung, nhưng đương sống ích kỷ tại Sài-gòn. Như tôi chẳng hạn.

Ông Sáu Lèo Và Sài Gòn 68

hungviet.org

8 Tháng Mười Hai 2017

Tô Văn Cấp

Post by Sơn râu 25 Aug 2024

Google photo

Với lối sống hòa đồng và thân thiện, phong cách chỉ huy rất sát với thuộc cấp nên Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, “bị” đặt cho một tục danh “Ông Sáu Lèo”, cái tục danh quá ư là bình dân, nhưng lại được thuộc cấp gọi với tất cả tấm lòng thương mến và kính phục. Tôi xin theo các thuộc cấp của Ông để được dùng danh xưng “Ông Sáu Lèo” trong bài viết này.

Khoảng trung tuần Tháng 6/2017, cựu Đại Úy Nguyễn Quang… chánh văn phòng Thiếu Tướng Tư Lệnh Binh Chủng TQLC/VN gọi điện thoại cho tôi báo cho biết có toán truyền hình người Mỹ muốn tìm hiểu thêm về việc Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn tên đặc công VC Bảy Lốp vào dịp Tết Mậu Thân 1968 tại Chợ Lớn, anh nói:

-Trường đạị học Mỹ ở Texas (Briscoe Historical – University of Texas) tài trợ cho Mr Douglas Sloan cùng một toán chuyên viên truyền hình để quay cuốn phim Saigòn.68, họ đang tìm những TQLCVN đã tham dự trận đánh ở Chợ Lớn trong Tết Mậu Thân 1968, để hỏi về vụ Tướng Loan bắn tên VC Bảy Lốp, vậy anh có muốn “đóng phim” không?

-Lại truyền thông Mỹ! Khi còn sống Ông Tướng đã bị truyền thông và phản chiến Mỹ phê bình và phản ứng gay gắt về bức hình này rồi, nay ông đã mất, họ cần gì nữa, hay lại muốn đóng thêm cái đinh vào quan tài của ông chăng?

-Không phải đâu, họ muốn tìm hiểu thêm sự thật để trả lại công bằng cho Ông. Tôi nghĩ anh nên tham gia, ít nhất cũng cần một vài tiếng nói của chúng ta, những TQLCVN đã chứng kiến hoặc biết ít nhiều về vụ này. Tôi sẽ giới thiệu anh với cô Thúy Lan, một người trong toán quay phim và cũng là thông dịch viên, nếu anh muốn.

Chuyện Ông Sáu Lèo bắn tên đặc công VC Nguyễn Văn Lém (tự Bảy Lốp) bị phóng viên Adams chụp hình đã qua nửa thế kỷ rồi (1968-2017), truyền thông và phản chiến Mỹ đã làm Ông Sáu Lèo “lao đao” khi còn sống, lúc Ông Sáu qua đời, ông Adams gởi vòng hoa phúng điếu đến cho gia đình Thiếu Tướng Loan, với lời xin lỗi chân tình:

–“Tôi xin lỗi ông. Nước mắt đang dâng tràn trong mắt tôi”.

Khi còn sống Ông Sáu giữ im lặng trước làn sóng phê bình chỉ trích, ngày nay Ông đang ở trên chốn bình yên, một lời xin lỗi hay trăm lời khen chê, “một nửa sự thật”, chẳng ý nghĩa gì đối với Ông, nhưng “một nửa sự thật” còn lại rất cần thiết để làm sáng tỏ thêm chính nghĩa, tính nhân bản trong công cuộc chống cộng của đồng đội ông, của thuộc cấp ông nói riêng và Quân Đội VNCH nói chung. Vì vậy tôi đồng ý với đề nghị của Quang để nói với toán quay phim Saigon.68 những gì chúng tôi nhìn tận mắt, nghe tận tai, tay sờ vào sự thật. Tôi nói với Quang:

-Nếu thế thì được, bạn nói cô Thúy Lan liên lạc với tôi và cho biết qua sự việc… Vài ngày sau tôi nhận được email của cô Thúy Lan:

Google photo

ThuyLan Phan <phanthuylanXXX@gmail.com>

To:CAP TO

Jul 20 at 9:24 PM

Kinh goi bac To Van Cap,

Ten cua phan dau cuon phim la Saigon-68. Co the de ten nay, hay co the thay doi.

website: www.Saigon68.com

This is the first part of the film:https://vimeo.xxx

Password: xxx

-Đây la ve ong Douglas Sloan: https://xxx

-Funding, tai tro cho cuon phim tu:

1. Sundance

2. Briscoe Historical – University of Texas.

Cuon phim nay de noi len su that ve Tuong Nguyen Ngoc Loan…

Xin hen gap bac tai…

Cam ơn bac

Thuy Lan

***.

Sau vài lần trao đổi thêm tin tức, tôi và anh KCC đồng ý gặp Cô Thúy Lan, ông Douglas Sloan và toán chuyên viên quay phim tại văn phòng của người “nổi tiếng” Võ Đức Văn. Trong buổi tiếp xúc sơ khởi này ông Douglas và cô Thúy Lan xác định mục đích… và trao đổi với chúng tôi những công việc làm cho buổi quay phim chính thức. Ông Douglas cũng yêu cầu chúng tôi giới thiệu cho gặp thêm những Thủy Quân Lục Chiến có liên quan… nhất là “người trong hình” (tức là Tr/Tá TĐT/TĐ2/TQLC có mặt trong tấm hình khi Tướng Loan bắn Bảy Lốp)

Sau khi được biết mục đích của cuốn phim là tìm hiểu sự thật để trả lại công bằng cho Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan thì chúng tôi nhận lời sẽ tham dự buổi phỏng vấn quay phim. Còn việc Thúy Lan và Douglas muốn gặp “người trong hình”, tức Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC thì hơi khó, bởi vì ông đang tu tại gia.

Những TQLC có thể cung cấp thêm sự thật về bức hình và Tướng Loan gồm có:

-Tr/Tá NVĐ…Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/TQLC, (người trong hình bên phải, đội nón sắt). Hiện nay ông ở San Jose’, nhưng sau khi hiền thê qua đời, ông đã tu tại gia, không tiếp xúc với ai cả.

-Th/Úy KCC…Đại Đội 4/TĐ2, người bắt được Bảy Lốp từ trong chùa Ấn Quang chạy ra.

-Tôi, ĐĐT/ĐĐ1/TĐ2, được biệt phái đi theo Tướng Loan.

-Th/Úy HVQ…ĐĐ1/TĐ2. Nhưng Q. đang bị bệnh, nói năng khó khăn không tham dự được.

(Xin mở ngoặc ở đây: Khi biết HVQ… bị bệnh, ông Douglas, cô Thúy Lan củng đi với cựu Đại Tá Trần Minh Công đã đến thăm Q… tại nhà. Một nghĩa cử đẹp của phái đoàn khiến tôi thấy cần nói thay cho Q…, vì Q… là trung đội trưởng của tôi).

Trong ngày quay phim tại chùa BQ, tôi được bỉết có thêm Ông B.. một phi công đã từng bay ra Bắc… với Tướng Loan, và Anh Sáu Trần Minh Công (cựu Đại Tá Cảnh Sát, một cộng sự viên đắc lực và luôn đi sát với Tướng Loan).

Mặc dầu buổi quay phim chỉ có 3 “diễn viên” nhưng chuyên viên thì gần 10 người, máy quay quá nhiều, họ làm việc hết sức cẩn thận, điều chính từng chi tiết về âm thanh, ánh sáng, cho đến cả thế ngồi và động tác của “diễn viên”. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được người đẹp (Cô Thúy Lan) đánh phấn tô son gương mặt sao coi cho được trước ống kính khiến tôi ngượng chín người.

Buổi quay phim kéo dài trong nhiều giờ, từng người riêng biệt nên tôi không rõ Ông B, Anh Sáu Công nói những gì và bằng ngôn ngữ nào, nhưng với tôi, vốn liếng tiếng Mỹ đong không đầy bàn tay, chỉ đủ giao tiếp hằng ngày, còn trình bày vấn đề quan trọng này thì tôi xin nói bằng tiếng Việt và cô Thúy Lan dịch lại cho Mr Douglas nghe.

Đã từ lâu tôi muốn kể chuyện “Mậu Thân và Ông Sáu Lèo” cho độc giả nghe, kể từ đầu tới đuôi, nhưng chưa có cơ hội, nay nhân dịp truyền thông Mỹ, Ông Douglas muốn biết thì bao nhiêu chất chứa bấy lâu nay như tự động tuôn ra, không cần suy nghĩ không cần đắn đo. Tôi nói như đang nhìn thấy khói lửa mịt mù Mậu Thân 68 ở khu vực chùa Ấn Quang Chợ Lớn, như nhìn thấy Ông Sáu Lèo và Bảy Lốp, tai như đang nghe đạn nổ đì dùng. Nhiều lúc cao hứng, tôi vừa nói vừa vung tay như ra lệnh cho binh sĩ tấn công vào mục tiêu khiến Ông Douglas Sloan ngơ ngác vì cô Thúy Lan phiên dịch không kịp, nên Ông Douglas thường ra dấu cho tôi “Stop talking” để ông đặt câu hỏi.

Vì quay phim nên mọi động tác phải phù hợp với chuyên môn và thời gian nên họ stop tôi là đúng, nhưng đối với tôi thì đây lại là một trở ngại lớn khiến tôi không nói được, chưa nói hết những điều cần phải nói, thôi thì tôi đành phải viết ra giấy kể đầu đuôi để tường trình cùng độc giả và may ra góp thêm được chi tiết nào có thể trả lại sự công bằng cho Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan.

***

Trước tiên là xin nhắc qua về Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến (TĐ2/TQLC) tham dự trận chiến Mậu Thân tại Saigòn:

Vào giờ phút thiêng nhất của đân tộc Viêt Nam, đêm giao thừa Tết Nguyên Đán Mậu Thân 1968, VC vi phạm lệnh hưu chiến, đem quân đánh chiếm nhiều thành phố miền Nam VN, trong đó có Sài Gòn! Sáng Mồng Một Tết, TĐ2/TQLC được trực thăng Chinook bốc từ Cai Lậy rồi đổ quân xuống ngay sân cờ của Bộ Tổng Tham Mưu. Sau một ngày, một đêm giải tỏa xong các toán đặc công VC đã xâm nhập vào BTTM thì TĐ2/TQLC được tăng cường cho Tổng Nha Cảnh Sát, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan để thanh toán VC đang chiếm khu vực chùa Ấn Quang.

Khi chúng tôi đến nơi thì thấy súng nổ giữa Cảnh Sát Dã Chiến và VC, khói lửa ngút trời, đồng bào đang tìm cách thoát ra khỏi vùng lửa đạn. Trong tình trạng hoảng loạn, họ mang theo bất cứ thứ gì có thể cầm tay như manh chiếu, cái chổi, cái nồi mà quên tài sàn quý giá. Tài sản quý giá nhất của đồng bào là con người đã bị VC cướp mất, đó đây, những xác người nằm bên vũng máu!

Đại Đội 1 của tôi và Đại Đội 4 của Đại Úy Vũ Đoàn Dzoan được lệnh bao quanh khu vực các con đường Bà Hạt, Vĩnh Viễn, Trần Nhân Tôn, Minh Mạng, Nguyễn Tri Phương v.v.. để xiết chặt vòng vây quanh chùa Ấn Quang, nơi VC cố thủ.

Vì khu vực có dân nên chúng tôi không được phép dùng pháo binh hay không quân mà chỉ có vũ khí cá nhân để tiến vào nơi địch đang cố thủ trong những căn nhà kiên cố nên đành “châp nhận thương đau”, vài đồng đội đã nằm xuống! Sau nhiều giờ kiên trì kêu gọi địch đầu hàng và dùng lựu đạn cay, lựu đạn khói (không sát thương, nhưng cay mắt, khó thở) khiến toán VC trong chùa Ấn Quang buộc phải nhảy qua tường bỏ trốn.

Trung Đội 41/ĐĐ4 của Th/Úy KCC đã bắt được vài tên, trong đó có một tên mang súng lục K54 (loại súng của cấp chỉ huy), trong người hắn còn dấu bản đồ có vẽ những vị trí quan trọng trong thành phố Saigon cần phải đánh. Biết đây là tên chỉ huy nguy hiểm, tên gây chết chóc khu vực chùa Ấn Quang và sẽ còn những nơi khác nữa nên Th/Úy KCC vội giải giao hắn lên Ban 2 Tiểu Đoàn và Tr/Tá TĐT/TĐ2 giao tên này cho Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan, đang chỉ huy cuộc hành quân tại đây, để kịp thời điều tra ngăn chặn âm mưu đánh chiếm của chúng ở những nơi khác. Tên chỉ huy này chính là đặc công, là khủng bố Nguyễn Văn Lém, tự Bẩy Lốp. Hắn đã bị Tướng Loan bắn.

Khi nhìn tấm hình Tướng Loan và Bảy Lốp, trước đây nhiều người cũng có câu hỏi tương tự như Ông Douglas hỏi tôi trong những lần tiếp xúc này:

-Vì sao Ông Loan lại bắn Bảy Lốp khi hắn đã bị bắt, ông có thấy không?

Tôi hiểu ý Ông Douglas muốn tìm một sự thật rõ ràng trong vụ này để trả lại “công bằng” cho Tướng Loan nên tôi cũng phải nói thật, không vì bênh vực cho ai mà nói sai tình hình tại chỗ lúc đó:

Việc dí súng dọa bắn một tù binh để khai thác tin tức là chuyện bình thường nơi chiến trường, nên khi nghe tiếng súng nổ ai nấy đều ngạc nhiên giật mình. Tr/Tá TĐT/TĐ2 NVĐ là người giải giao Bảy Lốp cho ông Tướng, nhưng không biết tại sao Bảy Lốp lại bị bắn, vì sự việc xẩy ra nhanh quá. Tôi đứng trong đám đông xung quanh Bảy Lốp, đang nói chuyện với anh Trương Tấn Bảo, nhiếp ảnh gia phòng Giảo Nghiệm của Tổng Nha Cảnh Sát, (Anh Bảo luôn đi theo Ông Tướng để chụp hình thời sự), thì bất ngờ nghe tiếng nổ, cả hai quay lại thấy… nhưng không biết vì sao Ông Sáu Lèo lại bắn, sự việc xảy ra quá nhanh, nhanh như một tai nạn. Chẳng bao giờ có cái vụ: “Ông Loan mời báo chí đến chứng kiến phiên tòa xử tội…” như một số cây viết tưởng tượng ra cho có vẻ lâm ly bi đát, tàn ác dã man kiểu “tòa án nhân dân”. Sự thật chỉ là một tiếng nổ bất ngờ và một người ngã xuống như hằng chục anh em TQLC của tôi ngã xuống, như hằng trăm người dân ngã xuống giữa hai làn đạn giao tranh trong đó có nhiếp ảnh gia Trương Tấn Bảo.

(Hình Bảo ngồi vespa với máy hình. Khi VC tấn công Saigòn đợt hai, sáng 28/5/68, chúng xâm nhập vào cư xá Phú Lâm A, nơi anh chị Bảo cùng “Ngũ Long Công Chúa” cư ngụ, anh vội bảo chị và các con lánh nạn vào nhà thờ trên đường Lục Tỉnh, còn anh ở lại… Khi im tiếng súng, chị và các con trở về nhà thì thấy Anh Bảo nằm trên vũng máu, hai tay bị trói, vết đạn ở cổ họng, ở bụng, máy hình bể nát bên cạnh xác anh!!!)

Nhiếp anh gia Adams được giải thưởng Pulitzer, được nổi tiếng vì chụp hình Ông Loan bắn đặc công, khủng bố (IS) Bảy Lốp, còn nhiếp anh gia Trương Tấn Bảo chưa chụp được hình các đồng chí của Bảy Lốp, đoàn quân “Giải Phóng” thì anh bị phỏng… và “được” giải thưởng 2 viên kẹo đồng và sợi giây thừng kèm theo nước mắt cùng những tiếng nấc nghẹn của vợ con! Nỗi kinh hoàng đó nào ai hay ai biết, nhưng niềm đau kéo dài mãi, bám theo những người thân yêu của Anh Bảo cho tới ngày nay!

Hai nhiếp ảnh gia, một nằm xuống, một vinh quang vì tấm hình!

Nếu chỉ nhìn phía trước tấm hình của ông Adams rồi trả lời câu hỏi trên thì chưa đủ, mà phải nhìn kỹ “phía sau” thì mới có cái nhìn chính xác và công bằng hơn.

Mỗi tấm huy chương “đều có hai mặt”, mặt trước màu vàng óng ánh chiến thắng vinh quang, “mặt sau” màu đỏ là do máu chảy ra từ thân xác của đồng đội và thuộc cấp đọng lại. Người mang huy chương hưởng tiếng khen: “Giỏi” của đám đông rồi cười sung sướng. “Kẻ” tạo huy chương thì nằm lại đâu đó trong xó rừng góc núi, không còn nghe được tiếng nấc nghẹn của người thân yêu!

Nếu nhìn phía trước tấm hình rồi hỏi: “Vì sao Ông Loan bắn Bảy Lốp” thì cũng nên lật “phía sau” tấm hình rồi hỏi:

-Vì sao Bảy Lốp có mặt tại Saigòn, mang K54 vào chùa ngày Tết Nguyên Đán?

-Vì hắn là một tên khủng bố, một tên “Isis”, không phải là một tù binh chiến tranh.

-Vì sao trong giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt đang đốt pháo, dâng hương, cúng tế tổ tiên ông bà thì súng VC nổ thay pháo, VC đốt nhà thay đốt nhang, thay vì con cháu mời tổ tiên về thì con cháu lại xách quần áo chạy giặc?

-Vì sao 10 người trong gia đình ông Tuấn gồm ông bà cha mẹ con cháu đang quây quân bên mâm cơm ngày Tết thì bị đồng chí của Bẩy Lốp cắt cổ, chỉ một bé trai thoát chết? Bé trai, con ông Tuấn ngày ấy, nay đang là một quân nhân trong quân đội Hoa Kỳ, đó là một nhân chứng sống cho sự thật mà Ông Douglas có thể tiếp xúc dễ dàng.

-Vì sao có “vành khăn tang cho Huế”? Hằng mấy chục ngàn người dân bị đồng chí của Bẩy Lốp tàn sát trong ngày Tết Mậu Thân 1968?

Xin mang lên bàn cân, một bên xác hàng ngàn dân vô tội và một bên Bảy Lốp rồi trả lời những câu hỏi “vì sao” ở trên thì mới chính xác và công bằng.

Ngoài những sự thật kể trên mà ai cũng thấy để có thể trả lời, thì cũng cần biết thêm Ông Sáu Lèo có phải là một người hiếu sát như truyền thông phản chiến kết tội không? Tôi là TQLC nhưng lại “bị” đặt dưới quyền Ông hai lần nên tôi thấy cần nêu ra một vài điểm khác lạ của Ông Sáu Lèo.

Lần thứ nhất: Tháng 5/1966 tại Huế.
Hẳn quý độc giả còn nhớ vào khoảng Tháng 5/1966 xẩy ra vụ “Bàn Thờ Phật Xuống Đường” ở Đà Nẵng và Huế khiến tình hình an ninh miền Trung bi đát. Sau khi Trung Ương đã thay vài vị Tư Lệnh Vùng I mà vẫn chưa ổn định được tình hình mà nguy cơ Miền Trung biến thành “trái độn” hay “vùng tự trị” thì Trung Ương mới đưa Ông Sáu Lèo giải quyết. Kết quả thế nào không cần nhắc lại mà tôi xin kể việc ít người biết:

Hai Tiểu Đoàn 1 vả 2 TQLC được đặt dưới quyền điều động của Ông Sáu Lèo. Khi các con đường trong thành phố bị bàn thờ Phật “xuống đường” khiến lưu thông tê liệt, Ông Sáu ra lệnh cho TQLC giải tỏa với mệnh lệnh phải triệt để thi hành là:

-Mọi quân nhân trước khi thi hành nhiệm vụ phải vái lạy bàn thờ 3 lần rồi mới được phép khiêng bàn thờ vào hai bên lề đường, tuyệt đối tránh mọi hư hại.

Lệnh từ Tr/Tá Chiến Đoàn Trưởng Nguyễn Thành Yên xuống cho Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2 là Th/Tá Lê Hằng Minh rồi xuống đến Đại Đội Trưởng ĐĐ4 là Đ/Úy Nguyễn Xuân Phúc nên tôi là Th/Úy Trung Đôi Trưởng TrĐ43/ĐĐ4 cứ thế mà thi hành.

Khi chúng tôi đang lui cui vái lạy và khiêng từng chậu hoa, thùng nước (dưới mỗi bàn thờ đều có 1 thùng nước, không biết để làm gì) và tượng Phật vào lề đường thì Ông Sáu Lèo lại xuất hiện và nhắc nhở:

-“Các chú phải cẩn thận, phải thật cẩn thận, nhớ vái 3 lạy…”.

Từ một vị chỉ huy cao cấp, Ông Sáu đã xuống đến tận nơi đơn vị thì hành cấp thấp nhất để trực tiếp nhắc nhở và kiểm soát, điều này chứng tỏ Ông Sáu lo lắng đến tài sản của dân, đặc biệt là tôn trọng tín ngưỡng, dù tôi không biết Ông theo tôn giáo nào.

Chiều tối đã tới giờ lên đèn mà Huế như một thành phố chết, không ánh sáng điện đường, không người và xe cộ qua lại, chỉ có những đèn “hột vịt”, đèn cầy (nến) lập-lòe giữa lòng đường như những bóng ma, thấy mà rợn người.

Trung Đội 43 của tôi cứ theo y lệnh mà giải tỏa từ đầu đường Trần Hưng Đạo tới cuối đường, dọn đến giữa, nhìn lại phía sau thì thấy đèn nến lại xuất hiện, bàn thờ Phật lại “xuống” đường! Dọn đến cuối thì đèn nến đuổi đến giữa, đến sát sau lưng, phải dọn lại, làm lại từ đầu! Quân và dân cứ như chơi trò “núp-tìm”, buồn mà phải cười. Giữa khuya, “đêm không ngủ”, bao tử hành! Giá như dưới bàn thờ có xôi chuối thì cũng đỡ. Trời đã sáng rồi mà vẫn chưa xong khiến ĐĐT (Đ/Úy Phúc) thúc dục trong máy truyền tin:

-C.. Sao lâu thế? Nhanh lên, xong rồi thì di chuyển về khu chợ Đông Ba.

-Trình Thẩm Quyền chưa xong, dọn rồi họ lại bày ra, giống như bắt cóc bỏ đĩa.

-Không cần biết, ông làm sao thì làm để còn giải tỏa khu vực khác.

Đây là cái lệnh mà các cấp dưới ở chiến trường thường gặp. Mỗi khi trình lên cấp trên tình thế khó khăn, thay vì tìm hiểu tình hình và giải pháp thì thượng cấp ở tít mù xa, ở trên mây thường ra lệnh ngắn gọn: “Không cần biết, phải chiếm cho được mục tiêu bằng mọi giá”! Cái “mọi giá” ấy thường là những máu và nước mắt.

Lệnh trên bảo: “Làm sao thì làm” nên tôi làm theo ý tôi, cho gom bàn ghế, tủ thờ lại, làm vòng rào kẽm gai, thêm vài trái mãng cầu…Không phải mãng cầu gai (xay sinh tố) mà là mãng cầu “gài”, tức gài vài trái lựu đạn M26 xung quanh kèm theo miếng giấy vẽ cái sọ và hai cái xương bắt chéo rồi ghi: “Nguy Hiểm Chết Người, Không Đến Gần”.

Chả hiểu “thầy” bà hay ma quỷ (vc) xúi mà chỉ trong chốc lát đám đông kéo đến biểu tình la hét:

-“Đả đảo lính Thiệu Kỳ giết dân, đả đảo, đả đảo…”

TQLC chúng tôi đã quá quen cảnh đả đảo này trong mấy ngày trước ở trong Đà Nẵng rồi nên cứ “mackeho”, nhưng thật bất ngờ thấy xe jeep Cảnh Sát Dã Chiến chạy đến và Ông Sáu Lèo bước xuống, (thấy Ông đồng bào càng la hét mạnh hơn), Ông nhìn mấy trái lựu đạn gài rồi cau mặt mắng, đủ cho một mình tôi nghe:

-Ai bảo chú mày làm vậy? Nguy hiểm quá, lỡ bọn ly khai vin vào cớ này làm lựu đạn nổ, chết dân là chú “chết” theo, gỡ mấy trái lựu đạn kia ngay đi.

Sau khi trình bày cho Ông biết tình trạng “bắt cóc bỏ dĩa” rồi tôi dẫn Ông đến sát hàng rào, ngay bên trái lựu đạn rồi nói nhỏ:

-Tôi hù thôi, lựu đạn đã rút ngòi nổ rồi, chỉ còn là cục đá.

Sau đó tôi móc trong túi áo ra cho ông thấy mấy cái ngòi nổ, cỡ cái đũa, dài hơn nửa ngón tay, Ông nháy mắt hiểu ý…, nhưng vẫn bảo tôi gỡ lựu đạn cất đi, xong ông dùng loa kêu gọi:

– Đồng bào đừng mang bàn thờ ra đường nữa, làm như vậy là đồng bào cản trở lưu thông, tự hại mình, nếu tái diễn chúng tôi sẽ tịch thu…

Những bàn thờ, tủ, kệ thuộc loại gỗ quý, chẳng ai dám phí của nhưng vì lệnh của “thầy”, loại thầy dùi, không nghe thì thầy dùng dùi đục lỗ tai nên đồng bào buộc phải làm theo, nay Ông Sáu ra lệnh: “dẹp”, thế là đẹp rồi, mau mau khiêng bàn, tủ vào nhà.

Ông Sáu là Tư Lệnh Cảnh Sát, vị chỉ huy cao cấp nhất có nhiệm vụ ổn định tình hình Miền Trung đang bị rối loạn, Ông có nhiều việc quan trọng phải đối phó, việc Ông đích thân xuống đến cấp thấp nhất để ra lệnh chi tiết, kiểm soát là một chuyên khó tin nhưng có thật, và cũng rất…“khó chịu” đối với cấp thừa hành. Đó là vì ông muốn các cấp phải triệt để thi hành đúng lệnh tôn trọng tín ngưỡng, tính mạng và tài sản của dân.

Lần thứ nhất 1966 tại Huế là vậy, còn lần thứ hai năm 1968 tại Saigon thì sao?

Sau khi giải tỏa xong khu vực chùa Ấn Quang và vụ Bảy Lốp, TĐ2/TQLC được lệnh biệt phái một đại đội cho Tổng Nha Cảnh Sát. Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng chỉ định tôi dẫn ĐĐ1 đi theo Ông Sáu.

Thú thật là tôi không thích nhiệm vụ này chút nào, thà đi hành quân với tiểu đoàn còn hơn bị biệt phái. Kinh nghiệm cho biết mỗi khi bị biệt phái đến nơi nào thì nơi đó họ “hành” quân (biệt phái) chết bỏ, vắt chanh vứt vỏ, nay lại phải dẫn quân chạy theo Ông Tướng Cảnh Sát, Ông chạy đi đâu là TQLC phải “chầu” theo đó khiến tôi chán vô cùng! Ông chạy như con thoi, “nơi nào cần thì Ông có, nơi nào khó có Ông”. Ông mặc áo giáp phanh ngực, đầu không nón sắt, vác cây súng đúng tác phong của một chú lính “ba gai”.

Ông nhẩy lên xe jeep cùng CSDC chạy trước, 4 xe GMC chở anh em TQLC chúng tôi theo sau, chạy lung tung khắp nơi, khi Ông đến điểm nóng nào đó thì tôi phải cho quân xuống xe ngay để bố trí chuẩn bị.. thế rồi Ông lên xe jeep chạy đi, nhiều khi chúng tôi theo không kịp, lại phải liên lạc tới lui khiến tôi bực mình.

Một buổi xế trưa đầu Tháng 5/1968, Ông dừng xe tại ngã ba đương Nguyễn Du và Công Chúa Huyền Trân (đường phía sau Dinh Đôc Lập), Ông gọi tôi đến đưa tay chỉ cái “biu-đinh” cao khoảng 8 tầng, đang xây dở dang, nằm ngay bên hông Dinh Độc Lập, tại góc đường Nguyễn Du và Nguyễn Trung Trực, Ông nói:

-Trong cái biu-đinh kia còn một toán VC mà CSDC của “moi” chưa thanh toán được, liệu “toi” có thể giúp “moi” giải quyết được không? Điều quan trọng nhất là làm sao bắt sống được tụi nó.

Ông là cấp Tướng chỉ huy, tôi là cấp Úy biệt phái, lệnh Ông ra là tôi phải thi hành, nhưng kết quả đạt được như thế nào còn tùy thuộc vào tình hình “địch, bạn”. Địch chưa biết, nhưng “bạn” thì có CSDC… Ông Tướng Cảnh Sát lại thân mật “toi-moi”, thay vì chỉ tay 5 ngón ra lệnh, Ông hỏi ý kiến thân tình: “Liệu toi có thể giúp moi…” nên tôi cảm thấy vui vui, cần phải nghĩ cách “giúp” Ông.

VC cố thủ trên biu-đinh cao tầng ngó vào ngay Dinh Độc Lập thì nhức nhối và nguy hiểm quá. Các anh CSDC đã cố gắng hết mình mà chưa chiếm được lại còn bị tổn thất nên Ông Tướng mới dùng TQLC giúp. Tiêu diệt thì dễ nhưng cái khó là Ông yêu cầu phải bắt sống. Bắt sống VC mà lính tôi chết thì sao đây? Nhưng vì danh dự của “Trâu Điên”, của Binh Chủng, tôi phải cố gắng. Để giảm thiểu thiệt hại tối đa, tôi trình Ông:

-Thưa Thiếu Tướng: Chúng tôi sẽ cố gắng bắt sống, nếu họ muốn sống, còn nếu họ muốn chết khiến lính tôi chết theo thì đó ngoài ý muốn. Chúng tôi đã có mặt nạ, áo giáp và khói màu rồi, xin CSDC cung cấp thêm lựu đạn cay và bao vây xung quanh..

Ông Tướng cam kết sẽ có lựu đạn cay ngay, còn bao vây thì CSDC đã xiết chặt rồi. Hơi cay và khói màu không phải vũ khí sát thương nhưng sẽ làm cay mắt, ngộp thở, vì bản năng sinh tồn, địch phải tìm cách thoát thân trừ khi chân bị xích…

Một yếu tố tâm lý hết sức quan trọng khi chúng tôi đi vào chỗ chết để bắt sống VC trước con mắt chăm chú theo dõi của Ông Tướng Cảnh Sát, của anh em CSDC và của đồng bào khiến Th/Úy HVQ… điều động trung đội tiến vào mục tiêu như đóng phim, anh em Trung Đội 14/ĐĐ1 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ: bắt sống 6 tên VC trong tình trạng ngơ ngác, lảo đảo say khói màu như say thuốc lào 888(**).

(**Ngày N/7/2017 khi gặp cựu Đại Tá Cảnh Sát Trần Minh Công tại chùa B.Q.. để Mr Douglas Sloan phỏng vấn và quay phim về Thiếu Tướng Loan, tôi có nhắc lại vụ bắt sống VC này với Đại Tá Công thì Ông ngạc nhiên và thích thú nói: “Không ngờ nửa thế kỷ sau, chúng ta gặp nhau ở đây, ở Saigon Nhỏ tôi mới biết người giúp chúng tôi bắt sống toán VC ngày ấy tại Saigon Lớn lại là anh”).

“Giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh”, VC vào thành, nhiệm vụ của CSDC và các quân binh chủng là phải hành quân giải tỏa, điều đáng chú ý ở đây là lệnh của Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan: “Bắt sống tụi nó”. Điều này chứng tỏ Ông quý mạng sống của con người, dù người đó là thủ phạm gây ra bạo loạn, chiến tranh chết chóc, những người đó sẽ bắn Ông và họ đã bắn Ông!

Ông dẫn đầu mấy xe jeeps CSDC, 4 xe GMC chở TQLC chúng tôi theo sau, đoàn xe dừng lại trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đoạn nằm giữa hai con đường Phan Đình Phùng (có đài phát thanh) và Phan Thanh Giản (có cây cầu xi măng bắt đầu của xa lộ Saigòn-Biên Hòa), trong khi anh em TQLC chúng tôi đang xuống xe thì Ông và mấy anh CSDC đi vào con hẻm dẫn xuống xóm nhà sàn nằm dọc bên bờ kinh, vài phút sau tôi nghe mấy tiếng “cắc-bù, cắc-bù”.

Nghe “cắc-bù” là tôi biết tiếng súng của VC nên tôi vội ra lệnh cho anh em TQLC nhanh chóng dàn quân tiến vào khu nhà sàn thì cũng là lúc gặp mấy anh em CSDC khiêng Ông ra. Tôi nhìn Ông Sáu sững sờ, không thể ngờ chuyện lại xảy ra nhanh như thế đối với Ông, một vị chỉ huy cao cấp, một cấp tướng, mà ngoài chiến trường chỉ những anh em khinh binh, anh em tiền sát mới thường gặp phải.

Ông ngồi trên bốn cánh tay của hai anh CSDC đan vào nhau, máu thấm ra từ một trong hai chân thõng xuống đong đưa. Tôi biết ông bị thương vào chân, nhưng chắc không sao, bị nhẹ thôi, vì Ông không có vẻ gì là đau đớn cả.

Chúng tôi cẩn thận tiến vào và lục soát hết những căn nhà sàn dọc bờ kinh, không súng nổ, có lẽ vài tên du kích lợi dụng lúc nước con kinh dâng cao nên chúng đã lặn mất tiêu rồi, chỉ tìm thấy một tên bị thương nặng đang thoi thóp chờ chết trong một góc nhà sàn, tên này đã bị thương ở đâu đó được đồng bọn mang về đây cất giấu trước khi Ông Sáu và CSDC tiến vào lục soát.

Quân Đội VNCH đã có những vị tướng bị tử thương ngoài chiến trường khi các vị này điều động quân sĩ từ trên trực thăng, nhưng một vị tướng mà bị thương trong nhiệm vụ của một “tiền sát viên” như trường hợp của Ông Sáu Lèo thì chưa bao giờ xảy ra, một chuyện khó tin nhưng có thật. Chính vì khó tin nên một vài bản tin của những ông ký “giả” không tận mắt chứng kiến đã tưởng tượng ra những tình khúc lâm ly bi đát, nào là một tên VC núp dưới chân cầu Saigòn dùng súng có ống nhắm bắn ông, nào là một giới chức cao cấp Mỹ (CIA) từ trên trực thăng, muốn giết Ông v.v..toàn là những chuyện tưởng tượng không một chút hợp tình hợp lý, nhưng họ đã viết như thế.
Ngoài chiến trường, thành phần bị thương, tử thương nhanh nhất và nhiều nhất chính là các anh em trong tổ tiền sát, trong các tiểu đội trung đội đại đội đi đầu. Ông Sáu Lèo là Tư Lệnh Cảnh Sát cứ phoong-phong dẫn đầu toán CSDC đến những điểm nóng có VC ẩn núp trong thành phố thì lại là chuyện khác, vì Ông Sáu không những là cấp chỉ huy mà còn là người lãnh đạo. Người lãnh đạo luôn sát cánh với thuộc cấp trong mọi hoàn cảnh, đồng lao cộng khổ làm gương khiến cho thuộc cấp tâm phục khẩu phục.

Ông Sáu Lèo là người như thế, không ai hiểu rõ tài chỉ huy và lãnh đạo của Ông Sáu bằng chính thuộc cấp của Ông. Cựu Đ/Tá Cảnh Sát Trần Minh Công nói:

-Chúng tôi biết rõ tài năng của cấp chỉ huy của chúng tôi, vì sao Ông chỉ huy như thế… chúng tôi hiểu tấm lòng của Ông nên kính nể Ông.

Ông Sáu Lèo gốc Không Quân, là Tư Lệnh Cảnh Sát, còn người viết là một TQLC đã đôi ba lần bị biệt phái làm việc dưới quyền Ông và đã hoàn thành nhiệm vụ, dù không được Ông thưởng công một lời khen hay huy chương, nhưng tôi kính phục Ông vì lối sống bình dân, thân thiện và làm gương cho thuộc cấp trong chiến đấu, nhất là luôn luôn tôn trọng tín ngưỡng, tài sản, tính mạng của người dân, kể cả mạng sống của địch quân, đó là tính nhân bản của Ông, của Quân Đội VNCH trong chiến tranh. Chúng tôi kính phục “Ông Sáu Lèo”./.

Phila Tô