This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Em hẹn tôi về thăm quê cũ Sau mấy năm lây lất xứ người Tôi cũng muốn (một lần thôi cũng đủ) Về gặp em nhắc lại chuyện lâu rồi.
Chuyện lâu rồi mà như mới hôm qua Tôi còn nhớ bàn tay em run nhẹ Trong tay tôi lạnh buốt. Không ngờ Em lí nhí nói câu gì rất nhỏ Như nói thầm với cái rét se da Của một chiều cuối đông năm ấy.
Rồi tôi đi. Sáu năm trời chưa trở lại Dòng sông xưa vẫn chảy trong hồn Bông mía trắng cả một vùng thương nhớ Gió nồm Nam thổi suốt dọc quê mình Nhà em ở cheo leo cuối xóm Hàng rào thưa cây trái rợp sau vườn Che bóng mát cho em ngày nắng.
Tôi ở đây những mùa đông trắng Lấy gì che đời vắng em xa Em đâu biết bao lần tôi muốn hỏi Ngày chia tay em nói nhỏ câu gì Trong cái rét một chiều đông năm ấy?
Để Trung úy Nguyễn văn Đường còn thấm ý ngồi cười, tôi lăn xe xuống bếp và đang loay hoay nhen lửa nấu nước châm trà, thì nhà trên có tiếng xì xầm, một giọng hỏi quen quen:
– Anh Vân làm gì dưới đấy?
Tôi quay lên thấy đám bộ đội, cũng gồm Tuất, Bình, Hồng và hai người nữa tôi chưa biết tên, đứng xớ rớ bên tấm phản. Tôi gật đầu và mỉm cười thay lời chào tổng quát.
Đường nói:
– Các anh đến sớm một tí là đã nghe được câu chuyện vui ông Vân kể.
Nguyễn Bình hỏi:
– Về vấn đề gì, Thủ trưởng?
– Chuyện Quảng Trị năm 72, lúc ta đánh căn cứ có tăng Mỹ, và vụ cây cầu sập ở huyện Mai Lĩnh?
– Có anh Vân kịch chiến nữa à?
– Thế!
– Rất tiếc chúng tôi bận giải quyết mấy ông Thượng xóm R’chai say sưa, chửi lộn suốt ngày.
Tôi xen vô:
– Này, Đại đội tôi đã đụng đại đội C7 nhiều lần lận. Lạ!
Chẳng ai lưu ý câu tôi nói. Tuất thì nhìn quanh căn nhà:
– Mấy thằng nhóc đi đâu cả, còn con bé nằm queo ngủ, trông tội nghiệp. Tôi có đem ít quà cho chúng.
Tuất vừa nói vừa mở bao cát lấy gói kẹo và hai thẻ bánh làm bằng nếp với đậu xanh, loại lương khô bộ đội Bắc Việt ăn thay cơm lúc hành quân không nấu nướng được. Món này tụi nhỏ thích lắm.
– Cám ơn Tuất. Hai đứa lớn đi mua hàng hợp tác xã dưới xóm từ chiều. Chắc các cháu ghé bà nội ăn cơm tối luôn rồi.
– Hợp tác xã ở đây bán các thứ gì?
– Thường thì gạo, khoai, bo bo, cá khô, mắm muối và dầu lửa… Đôi khi hàng tới tay người dân đã mục nát hết.
Trung úy Đường nói:
– Ngoài Bắc cũng thế. Các loại thịt tươi như thịt lợn mỗi tháng họ bán một ký. Vấn đề thực phẩm căng lắm!
Để mấy gói quà Tuất cho trên cái kệ ván xong, tôi nói:
– Trước kia thực phẩm thừa mứa. Ngày nay vải mặc cũng hiếm, loại thô thôi, năm sáu tháng mới thấy hàng về, và chỉ mua được vài thước, được áo thiếu quần, thiên hạ ngày càng rách bươm, thậm chí cái xà lỏn cũng chắp trước vá sau. Cơm ăn độn, hơn phân nửa là khoai sắn, bo bo. Ông nhà nước tính kiểu gì để nhân dân “điêu tàn” dữ vậy, anh Đường?
Anh sửa lại thế ngồi rồi nhếch môi:
– Chúng tôi quân đội không làm kinh tế!
Hồng xen vô:
– Chiến tranh mới chấm dứt, sao “no” kịp nhỉ?
– Hồng nói no tức no nê hay lo lắng?
– Thôi, bây giờ nói chuyện khác.
Gương mặt Thượng sĩ Tuất hớn hở:
– Hoan nghênh ý kiến Thủ trướng! Anh Vân có dự cuộc hành quân Nam Lào 1971 chứ?
Bình reo lên:
– Vụ Nam Lào, tớ chưa đi bộ đội, nhưng có xem phim tài liệu, hay lắm! Ngụy chết như sung rụng…
Tuất liếc mắt gườm Bình:
– Nói bừa? “Ngụy” thế nào?
– Hỏi anh Vân có dự hay không đã chứ!
– Cứ cãi bướng.
Nghe họ chỉnh nhau tôi cười:
– Không sao? Từ sau ngày giải phóng thiên hạ hay dùng, tiếng ấy gán cho những ai phục vụ chế độ cũ. Thoạt đầu nghe gọi vậy, tôi lấy làm khó chịu nhưng riết rồi quen. Vả lại, nếu “ngụy” thì 17 triệu dân miền Nam đều “ngụy”.
Chuyện hành quân Lào, lâu quá tôi quên chi tiết, chỉ nhớ đại khái. Hồi chiều anh Đường nói lính thích kể chuyện lính hơn chính trị. Đúng vậy ! Nó hạp với chúng ta khi đề cập đến bao gian khổ, bao hy sinh của người chiến sĩ ngoài mặt trận dù cùng chiến tuyến hay đối nghịch. Tôi lại không rành chính trị, lãnh vực mà Pascal, một nhà hiền triết Pháp, đã ví như cái nồi hai quai, xách quai nào cũng được.
Làm chính trị phải tráo trở, tráo trở cả với chính mình, chứ quân đội thì không. Nhiệm vụ của người lính, lúc chiến tranh xông pha mặt trận bảo vệ đất nước, hòa bình, nếu còn sống, họ lui về đời thường.
Tôi nói không ngoài mục đích tỏ bày sự thán phục những ai vì lý tướng mà vào sinh ra tử, cái lý tưởng dù đã một thời chúng ta không chung cùng. Sự khác biệt chắc hắn do nhiều nguyên nhân, chủ yếu từ thế giới bên ngoài. Gần đây, một vị lãnh đạo chính phủ cho rằng cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc vừa qua chẳng bên nào thắng hay thua, chỉ có nhân dân Việt Nam thắng. Tôi nghĩ khác, nhân dân mới ra khỏi sức ép giữa hai thế lực ngoại bang, một bên tiêu biểu Mỹ, một bên Nga Tàu. Họ đã khôn khéo khai thác lòng yêu nước, đức hy sinh của chúng ta để lôi kéo chúng ta vào vòng tranh chấp quốc tế và đất nước Việt Nam là một chiến trường họ đọ sức, thử nghiệm vũ khí, nhất cử lưỡng tiện. Không hiểu sự nhận định này có mâu thuẫn?
Khi nhắc đến mấy cuộc hành quân tôi tham dự trước đây, các anh miễn chấp một số từ tôi lặp lại nguyên văn đã diễn ra cùng sự kiện lúc đó. Vậy mới trung thực và lý thú…
Nói tới đó tôi ngưng, lấy cớ hớp miếng nước để xem phản ứng. Các anh bộ đội cấp nhỏ nghe tôi yêu cầu, họ như tê liệt, nghẹt thở. Tuất và Bình đưa mắt nhìn nhau. Trung úy Đường Sư đoàn thép, thủ phạm phá sập cầu Bến Đá, tạo ra “Đại Lộ Kinh Hoàng” Quảng Trị 1972, thì cầm điếu Tam Đảo thổ nhẹ trên mặt bàn cho thuốc chặt rồi bật lửa đất hút. Anh hít mạnh một hơi làm hai gò má lõm vào, khiến khuôn mặt vốn xương xẩu càng nổi thêm u cục. Anh nheo mắt nhả một luồng khói xong anh nói:
– Ý kiến tôi thế này. ông Vân bảo ông không rành chính trị nhưng nghe cách nói rất bài bản hơn các nhà chính trị nữa. Việc dùng từ không sao miễn đừng bôi bác. Chúng ta chỉ nói chuyện chơi, trao đổi kinh nghiệm. ông Vân cứ tự nhiên.
– Quý anh dễ dãi là vui rồi, còn lời khen của anh Đường tôi không dám nhận. Hôm nay tôi hân hạnh được nói chuyện với bộ đội Sư đoàn 304, đại đơn vị mà ngày xưa tôi đánh giá rất cao về kỹ thuật tác chiến, như các binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, Dù, Biệt Động miền Nam vậy. Tôi thích bàn qua lãnh vực này hơn.
– Đồng ý. Tôi chỉ thắc mắc một điều, trước đây nhiều anh chế độ cũ bị bất ở mặt trận, khi hỏi thì họ ngang tàng trả lời: “Thích đánh giặc nên đi lính, không quan tâm đến chính trị”. Tai sao thích đánh giặc nhỉ? Mà lại chiến đấu kiên trì nữa.
– Dễ hiểu thôi. Để tôi nói có đúng không. Nhân dân cũng như quân đội miền Bắc mỗi lần học tập một vấn đề nào đều được nhấn mạnh miền Nam bị Mỹ xâm lược và chúng tôi là lính đánh thuê, để hun đúc lòng căm thù. Do đó, chúng tôi buộc phải lâm vào cuộc chiến tự vệ, chống sự thôn tính của quân đội miền Bắc. Tôi dùng hai tiếng “thôn tính” chắc các anh không hài lòng, vì ngày 30-4-1975 vừa qua đã đánh dấu sự thành công là “giải phóng” miền Nam thống nhất đất nước. Ngày ấy có đủ ý nghĩa hơn, dân tộc tính, nếu các anh không mang sứ mạng của những người Marxist, đừng bắt nhân dân sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa vô sản xa lạ thế này…
Vì hiểu được lý lẽ nên người tỉnh miền Nam chúng tôi đã chiến đấu, thi hành bổn phận công dân làm chính sự, không chính trị, và kiên trì là vậy.
Đường bị đưa vào thế kẹt, không thể nghĩ tôi có tư tưởng phản động, bài bác, phủ nhận cái kết quả mà Cộng Sản Việt Nam cho là vinh quang nhất. Anh tỏ vẻ bực bội:
– Riêng anh thì chúng tôi vào đây dưới danh nghĩa nào?
Để làm dịu bớt tôi đáp:
– Tôi chỉ nói theo dư luận lúc bấy giờ.
Tuất với nét mặt thản nhiên xen vào:
– Thôi đủ rồi, chúng ta xoay qua vấn đề khác.
– Okay!
Bộ đội Bình xọt ngang sửa lưng tôi:
– Úi giời, tiếng Mỹ nữa.
– Xin lỗi, tôi quen miệng thôi. Cũng vì tiếng “OK” đó, mà ông Trung tá Mai, Trung đoàn trưởng của các anh, chỉnh nhẹ tôi một lần.
Đường hỏi:
– Anh quen ông Mai à?
– Sức mấy được quen ổng. Cách đây vài tuần, nhân dịp từ Tùng Nghĩa về Đại Ninh, khi chạy ngang qua đây, chợt thấy con bé Thảo tôi dễ thương, ngồi vọc đất chơi một mình bên lề đường trước sân, ông dừng xe Jeep, xuống bế nó vào nhà, tiện thể hỏi thăm gia đình tôi. Do đó, tôi mới biết tên ông, và tự nhiên tôi nhớ đến một tin đồn vào những ngày cuối tháng 3/1975, chiến cuộc miền trung sắp kết thúc, là có một trung đoàn trưởng Việt Cộng tên Mai, đem quân về giải phóng nơi chôn nhau cắt rốn của ông để cứu mẹ già ở Nam Ô, một ngôi làng sống nghề chài lưới ven biển, kế Liên Chiểu dưới chân đèo Hải Vân. Cái tin thoạt nghe như một cốt truyện bi hùng được tóm lược từ một cuốn tiểu thuyết chiến tranh. Nghe tôi nói vậy, ông Mai có vẻ cảm động.
Câu chuyện thực hư ra sao tôi không rõ vì thời gian đó tôi còn nằm bệnh viện. Sau buổi gặp gỡ đầu tiên giữa hai người cùng quê hương lại khác nhau hai chiến tuyến, ông hay ghé đây thăm bé Thảo mỗi lần đi công tác ngang qua. Một hôm, biết tôi hết xăng chạy chiếc Honda ba bánh, ông rút cho hai lít, và dặn cẩn thận kẻo bắt lửa cháy nhà. Tôi vô tình trả lời: “Okay”. Ông Mai gườm tôi: “Cậu quên à, Mỹ đã cút về nước rồi nhé”. Tôi chỉ biết cười trừ.
Hôm rày bố Mai của Thảo không tới. Hình như con bé có ý mong đợi… những phong bánh “lương khô”. Chắc ông bận, chuẩn bị ra Bắc tranh cử dân biểu quốc hội. Và…
– Và… đừng quên kể tiếp chuyện hành quân Nam Lào cho chúng tôi nghe.
Tuất nhắc khéo làm cả bọn phá lên cười.
– Hạ Lào, bên các anh hay gọi là Nam Lào, một vùng đất bao la, núi non trùng điệp hiểm trở, thuộc quận Tchépone, Savannakhet, giáp quận Hương Hóa, với đèo Lao Bảo, phía tây Quảng Trị. Con đường mòn Hồ Chí Minh từ bắc vô nam, uốn khúc khi ẩn khi hiện giữa rừng già âm u ma quái, xuyên qua Vương Quốc Ai Lao.
Nơi đó đã diễn ra một trận chiến thế kỷ, không những đã làm kinh hoàng những ai tham dự, mà ngay cả kẻ bàng quan ngoại cuộc cũng phải rúng động. Mức độ giết hại con người quá khủng khiếp. Với số bom đạn khổng lồ rải dưới đất lẫn trên không thì sự chết như thúc lại một khoảng thời gian thực tế ngắn ngủi 30 ngày, từ lúc đổ quân ngày 8/2 tới khi rút về 7/3/1971, mặc dù Tổng Thống Richard M. Nixon Hoa Kỳ ký lệnh hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào ngày 23/12/1970, trước một tháng rưỡi.
Những người sống sót từ trận chiến, sau về hành quân nội địa, trở thành những tay súng thiện nghệ và can trường hơn…
Bộ đội Bình trề môi:
– Tại sao Nít-xơn ký lệnh, miền Nam thi hành? Chúng tôi chiến đấu vì lý tưởng dân tộc, khỏi cần sau lần chết hụt ở Lào mới thiện nghệ trong nước.
Thượng sĩ Tuất cằn nhằn Bình:
– Để nghe đã!
– Anh Vân nhận xét sai tớ bổ khuyết chứ!
– Đồng ý nhưng sai chỗ nào? Đánh nhau kinh hồn như thế ai không rút kinh nghiệm?
Dù biết anh chàng đã một lần đào ngũ chuồn về Bắc, tính ưa vặn vẹo, tôi vẫn rào đón:
– Chúng ta đã đồng ý không để chính trị xen vào. Tôi chỉ đề cập tới bản năng sinh tồn lúc lâm nguy, nên kể một cách trung thực vậy.
– Ừ, kể chuyện vui thôi!
Ý của Trung úy Nguyễn văn Đường nhắc nhở chung mọi người tránh va chạm. Tôi gật đầu:
– Hồi đó, trước vụ Hạ Lào, tôi còn mang lon thiếu úy. Sau sáu tháng làm trung đội trưởng trung đội Biệt Động biệt phái nhảy viễn thám cho Sư đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, Bộ Tư Lệnh đồn trú trên khu đồi Phước Tường Đà Nẵng, tôi được gọi về làm phụ tá ban 3 Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân. Một buổi sáng, khoảng cuối tháng 1/1971, hình như ngày 30 Tết ta, tôi có lệnh đi du học một khóa “Rừng Núi Sình Lầy” ở Mã Lai, nhưng vì tôi vắng mặt, vọt ra phố chơi, Tiểu đoàn trưởng tức giận, cử sĩ quan khác thay thế. Chiều trở vô thì tôi thấy toàn bộ Liên đoàn 1 Biệt Động Quân bị cấm trại trăm phần trăm rất ngặt. Tất cả lính tráng trong khu gia binh, hoặc đang rong chơi khắp hang cùng ngỏ hẻm, nghe tin, đã vội vã kéo nhau vào hậu cứ tập họp với ba lô súng đạn đầy đủ.
Thoạt đầu, anh em tưởng việc cấm trại là chuyện thường mỗi dịp Tết đến, chỉ đề phòng Việt Cộng tấn công bất ngờ, như vụ Mậu Thân 1968. Có lẽ năm nay cũng vậy, quân đội sẽ làm như đầu xuân Kỷ Dậu 1969, các đơn vị tác chiến cẩn thận hơn, lớp tung ra hoạt động quanh khu vực, lớp túc trực tại chỗ, sẵn sàng ứng phó. Do đó mà Biệt Động Quân đã kịp đánh bật mấy “ổng” khi vừa chiếm một số vị trí trong quận Hòa Vang, Quảng Nam. Anh em suy luận lung tung như vậy.
Nhưng lần này, sinh khí lại khác thường, các phố phường Đà Nẵng rất xôn xao, ngay Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, cấp cao nhất vùng I, cũng nhộn nhịp. Nhiều người hồi nào giờ mang tiếng đi lính chứ mặt mũi trắng phau, áo quần thẳng nếp, đôi giày đen bóng, chưa từng bắn một viên đạn, bỗng đeo súng, đội nón sắt, giắt lựu đạn đầy mình, có kẻ khoác thêm cái áo giáp dày cộm, trông giống lính La Mã cổ xưa, làm như giặc đã tới sát nách rồi.
Dĩ nhiên, cỡ sĩ quan nhỏ tụi tôi thì mù tịt, chỉ cấp lớn biết trước chuyện gì xảy ra, nếu hành quân thì ở đâu, nhưng mấy ổng quá kín đáo. Rồi nửa đêm đó mọi người bỗng thấm buồn, không kịp từ giã vợ con, bạn bè, lệnh tức tốc lên xe, trực chỉ hướng đèo Hải Vân, trong lúc tiếng pháo giao thừa đón xuân Tân Hợi vang rền sau lưng.
Thấy hướng đi Huế, lòng tôi càng nôn nao. Lâu lắm, nay mới có dịp trở lại kinh thành thơ mộng thuở còn học trò, với những buổi chiều đa tình đứng ngắm các suối tóc buông thề, những tà áo thiên thanh trên con đò Bến Ngự… Nhưng không, đoàn xe xuyên qua cố đô giữa màn đêm trừ tịch, đến Quảng Trị, Đông Hà, rồi theo quốc lộ 9 vòng lên Cam Lộ, Khe Sanh còn nực mùi lửa đạn…
Ngại mấy anh bộ đội này tự ái, tôi không nói rõ lửa đạn ở đây là của các chiến sĩ Tiểu đoàn 37, thuộc Liên đoàn 1 Biệt Động Việt Nam, với Trung đoàn 26 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, trong trận đẫm máu tử thủ bảo vệ căn cứ Khe Sanh, từ cuối tháng Giêng đến đầu tháng Tư 1968. Đơn vị Thiên Thần Mũ Nâu 37 cùng 6.000 lính Mỹ đã dũng cảm đánh trả cuộc tấn công quy mô của quân Bắc Việt từng giờ từng phút. Qua báo chí thì lúc bấy giờ tại Hoa Thịnh Đốn, vị tổng thống thứ 36 của nước Cờ Huê, Lyndon B. Johnson, đã mất ăn mất ngủ, vì số thương vong khá cao và nhiều lý do khác.
Khe Sanh, thuộc quận Hương Hóa, hướng tây Quảng Trị, gần biên giới Lào Việt, là cửa ngõ rất trọng yếu địch thường xâm nhập các tỉnh địa đầu miền Nam. Nếu chúng đã không bị giết tại chỗ ngót mười ngàn tên khi đem bốn sư đoàn gồm 304, 320, 324, 325 cùng thiết giáp vây hãm Khe Sanh thì thế giới bên ngoài chưa biết rõ địa danh lịch sử ấy với sức chiến đấu kỳ lạ của Biệt Động Quân Việt Nam như thế nào…
Tôi kể tiếp:
– Kế đó các đơn vị xuống xe tại Cà Lu, chờ các quân binh chủng tề tựu. Tôi nhớ lúc sắp xếp chia toán, cứ 8 người sẵn sàng để lên một chiếc trực thăng, Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Quân đoàn I, xuất hiện. Ông đứng trước hàng quân chúng tôi, sau đôi phút diễn giải về tầm mức quan trọng của các điểm hậu cần bên Lào cung ứng phương tiện chiến tranh cho Cộng Sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam, ông cầm cây can chỉ qua hướng tây Tchépone, Savannakhet, rồi hạ lệnh:
– Bây giờ Biệt Động Quân tiên phong nhảy vào sào huyệt tiêu diệt chúng. Khoan cho báo chí biết. Chúc các anh thành công, hoàn tất nhiệm vụ!…
Dứt lời, ông cùng đám tùy tùng lên chiếc UH-IB đậu sau lưng, cất cánh bay lui.
Giữa giờ phút, đơn vị đang lêu bêu trong rừng, núi bọc tứ bề, làm gì có phóng viên cơ quan truyền thông nào, mà ông bảo khoan cho biết. Chính lúc đó chúng tôi mới rõ cuộc hành quân này đánh qua Lào, gọi là “Lam Sơn 719”.
Một cố vấn Mỹ của Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân, trước khi về Bộ Tư Lệnh Tiền Phương đặt ở Khe Sanh, nói với Đại úy Nguyễn văn Gio, Trưởng ban 3, chuyến hành quân ngoại biên này, người Mỹ không tham dự dưới đất, chỉ làm nhiệm vụ không yểm, vận tải và hỏa lực. Nghe nói ai cũng rầu vì sẽ gặp nhiều khó khăn gian nguy, cũng có thể lấm anh em ra đi không ngày về…
Trung úy Đường thắc mắc:
– Anh thử giải thích tại sao khó khăn khi Mỹ không tham dự trực tiếp dưới đất?
– Xưa nay, các đơn vị tác chiến, từ tiểu đoàn trở lên luôn luôn có ban cố vấn Mỹ bên cạnh bộ chỉ huy, để khi cần tới, họ đáp ứng ngay các nhu cầu khẩn cấp như phi pháo, tiếp tế, tải thương… Cuộc hành quân xứ người chắc sẽ ác liệt, thiếu họ thì chúng tôi phải gọi máy qua nhiều giới chức trung gian, đi vòng vòng, mọi việc trễ nải.
Quan trọng chứ, có mặt người Mỹ, khi lâm trận, việc cứu nguy rất nhanh chóng. Vì cái nguy nó cũng tới với họ. Tôi sẽ nói tại sao một trung đoàn các anh, nếu tôi nhớ không lầm là Trung đoàn 18 Biệt Khu Thủ Đô Hà Nội, vây đánh suốt mấy ngày đêm vẫn không tràn ngập nổi Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân chúng tôi tại căn cứ Ranger Nanh, cực bắc Tchépone, trên một chặng đường mòn Hồ Chí Minh.
– Ừ, chúng tôi cần biết chứ!
– Trước hết, trực thăng từ Cam Lộ vào bốc Tiểu đoàn 21 Biệt Động đổ xuống dãy đồi ngay trên biên giới Lào Việt, có tên Động A Hai, kế Tà Bạt, phía bắc đèo Lao Bảo, nơi đây ngày hôm sau Bộ Chỉ Huy Liên đoàn 1 và Tiểu đoàn 37 Biệt Động thiết lập căn cứ, đặt tên “Phú Lộc”, là để chỉ huy cánh quân Mũ Nâu.
“Phú Lộc”, địa danh một xã thuộc quận Hòa Vang Quảng Nam, cách Đà Nẵng 15 cây số, cũng là tên hậu cứ BCH Liên đoàn 1 Biệt Động Quân với hai Tiểu đoàn 21 và 37, riêng 39 ở Miếu Bông, gần Cẩm Lệ, xã Hòa Phước.
Mặc dù Động A Hai, Tiểu đoàn tạm dừng quân qua đêm, còn êm ả, chưa có sự phản ứng nào của đối phương, chỉ thỉnh thoảng vài loạt đại bác do quân bạn dưới Khe Sanh bắn quấy rối quanh vị trí, nhưng cái lạnh cắt da từ xứ Lào lùa sang làm chúng tôi không ngủ được. Anh em phải đốt lửa thâu đêm và ngồi nhìn rừng núi đầy sương mù.
Rồi, sáng sớm hôm sau, ngày 8-2-1971, bắt đầu sấm sét, bom đạn đã nổ tung khấp vòm trời phía đông nước Lào, mục đích để làm sạch các bãi đáp cho đoàn quân viễn chinh. Tiểu đoàn 21 Biệt Động lên trực thăng tiên phong nhảy vào từng đợt xuống một khu đồi thấp, kế đầu con sông Sésamou, phía bắc Tchépone Savannakhet, cách biên giới Việt Nam gần 10 cây số.
Lập tức các cây phòng không 12ly8, 37ly của đối phương, như đã mai phục sẵn trên các triền núi quanh vùng, đồng loạt bắn rạt xuống. Rất may, đợt đầu đổ quân không một UH-IB nào thiệt hại. Tiếp theo, đại bác 57 với 75ly không giật cũng tới tấp trực xạ ngay giữa đội hình Biệt Động Quân đang dốc toàn lực tiến chiếm ngọn đồi cao 300 mét hướng tây. Cấp chỉ huy kêu phản pháo không xuể, vì ngày đầu tiên bên đất Lào, chưa thiết lập hai căn cứ hỏa lực 30, 31 của binh chủng Dù ở phía đông nam và tây nam, chỉ một Tiểu đoàn 64 Pháo Binh 105ly từ “Phú Lộc” biên giới và các máy bay chiến đấu của Hoa Kỳ yểm trợ, nên Cọp Rừng 21 chết và bị thương khoảng 20 người.
Sự thiệt hại nặng nề ấy, một phần do âm thanh các phản lực cơ Phantom, Cobra cùng với bom đạn nổ chát chúa, lấn át khiến mũi tiên phong không nhận biết được tiếng départ của các loại vũ khí Cộng quân nã tới từ đâu. Tụi tôi cứ tưởng máy bay Mỹ bắn lầm, nên chửi thề các tướng “đem con bỏ chợ”. Các xác chết và thương binh được mang theo, trèo đèo vượt suối đôi bên chưa chạm mặt.
Rồi cũng dập tắt bớt các họng súng đối phương, đơn vị tôi lên chiếm một ngọn đồi cao 300 thước làm căn cứ chiến đấu đầu tiên của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trên đất Lào…
Trung úy Đường nhìn tôi:
– Anh có biết bao nhiêu quân miền Nam dự trận ấy?
– Anh đoán thử, chứ tôi không rõ con số chính xác.
Đường gật gật cái đầu:
– Khoảng 20.000 người.
– Nếu vậy, thì mới bằng hai phần ba con số bên phía anh tham chiến, gồm các Sư đoàn 304, 308, 320, 324B… Chưa kể tăng thiết giáp, pháo binh, lực lượng hậu cần…
– Kể gì đám hậu cần, tu bổ đường sá… đấy!
Tôi cười:
– Lính tôi đụng rồi, họ đánh như điên!
– Thế Dù và lính thủy đánh bộ ở mặt nào?
– Mấy ngày đầu, vì phụ tá ban ba, tức ban hành quân, tôi thấy đại khái trên bản đồ của Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn 21, các binh chủng chủ lực khác cũng do máy bay Hoa Kỳ đổ hướng nam Biệt Động Quân. Lấy quốc lộ 9 làm chuẩn cho dễ hiểu. Con đường này từ Đông Hà đâm ngang Cà Lu xuyên qua đèo Lao Bảo nơi biên giới, rồi thẳng vào tây, đến trung tâm quận Tchépone, tỉnh Savannakhet.
Như tôi nói lúc nãy, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân chúng tôi bị tống sang Lào trước hết, nhằm mục đích thử nghiệm để xem lực lượng các anh ở mức nào. Hồi đó có tin đồn rằng kế hoạch cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã lộ. Chắc do vậy mà mãi đến hai ngày sau các binh chủng bạn mới được tung vào mặt trận. Một cách tổng quát thì:
Cặp theo con lộ 9, phần đất Lào, nhiệm vụ của Sư đoàn 1 Bộ Binh, có Lữ đoàn 1 Thiết Kỵ yểm trợ, nỗ lực chính tiến đánh Tchépone. Bên hông phải, tức hướng bắc của Bộ Binh là Lữ đoàn 3 Dù, gồm pháo binh cơ hữu, thêm một pháo đội 155ly của Tiểu đoàn 44 Pháo Binh tăng cường, lập hai căn cứ hỏa lực 30, 31. Phía cực bắc do hai Tiểu đoàn 21 và 39 Biệt Động án ngữ, chặn Cộng quân tiếp viện theo đường mòn Hồ Chí Minh tiến vào. Ngoài ra, có một Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến là thành phần trừ bị, nằm đói meo râu ở mạn nam đèo Lao Bảo.
Tất cả dưới sự chỉ huy của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân đoàn I đặt tại Khe Sanh…
Bộ đội Hồng nãy giờ ngồi im lặng bỗng nổi lên cười:
– Anh Vân vừa nói bọn lính thủy đánh bộ “đói meo râu”. Hết thức ăn à?
Nghe thằng ngáo hỏi, tôi bật cười:
– Ừ tụi Cọp Biển ghê lắm, Hồng! Thường thường tụi nó đi tìm mồi để vồ. Cuộc hành quân Lào bị bắt nằm yên một chỗ, chờ xong chuyện rồi mới vọt qua biên giới nên chả đớp được các anh một mống nào, không đói meo sao được?
Cả bọn trố mắt nhìn tôi. Tuất xen vô:
– Tôi thắc mắc một điều, việc gì cũng do Mỹ quyết định, còn ông Thiệu?…
Gặp dịp Bình lại xen vô nói móc:
– Chúng ta thừa hiểu Mỹ điều khiển toàn bộ cuộc chiến tranh xâm lược, lấy Việt Nam làm lò sát sinh. Thiệu bù nhìn, tay sai thôi!
Nói xong, anh chàng ngả lưng lên đống gối mền trên đầu tấm phản, miệng phì phà điếu thuốc. Tính hắn thích câu mâu mà tốt, tuy nhiên tôi vẫn không ngại quạt nhẹ:
– Còn ngoài Bắc, nào Liên Sô, Trung Quốc thì sao? Nước chậm tiến nào không bị ảnh hưởng ngoại bang?
Bình bật ngồi dậy, nêu dẫn một vấn đề:
– Anh Vân không biết đấy, Hà Nội đã xảy ra chuyện một cán bộ Trung Quốc bị bắn chết toi, chỉ vì nó ném cái nón cối có gắn quốc huy Quân Đội Nhân Dân Việt Nam của một anh bộ đội xuống đất lúc cãi nhau. Phải biết tự ái dân tộc, không để ai xúc phạm đến danh dự tổ quốc…
Dứt lời, Bình lại nằm xuống với thái độ bực tức. Trung úy Đường tỏ ra không hài lòng người lính của ông:
– Bình chuyển sang vấn đề khác rồi! Hãy tập trung nghe chuyện Lào.
Tôi thản nhiên tiếp tục:
– Ngày đầu tiên, tuy cô quạnh, vị trí đóng quân của chúng tôi vẫn còn yên tĩnh, chẳng có gì để gọi là chiến trường đẫm máu. Như thường lệ, lính tráng chỉ lo đào hầm hố cá nhân rất kỹ và một giao thông hào sâu ngang bụng, chạy vòng quanh bờ tuyến. Bên ngoài, gài chằng chịt các loại mìn Claymore, soi sáng, tựu đạn… và đặt nhiều tiền đồn, cũng như chấm sẵn các điểm quấy rối lẫn tiên liệu để khi cần yểm trợ, pháo binh bắn chính xác, nhanh chóng. Xong, Tiểu đoàn tung ra xa vài trung đội đi lục soát dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh ngoằn ngoèo sát dưới chân đồi căn cứ, từ bên hướng đông bắc vòng qua phía tây nam.
Ngày thứ nhì, 9-2-1971, hệ thống phòng thủ tiếp tục được tu bổ, chỉ bồi đắp thêm những chỗ còn mong manh, nên anh em thư thả, kẻ đứng hút thuốc, người ngồi nhìn rừng núi âm u nơi xứ lạ, thì bỗng có hai trực thăng xuất hiện ở hướng đông biên giới, sắp ngang qua trên đầu căn cứ Ranger South Biệt Động chúng tôi. Cả hai nối đuôi nhau có khuynh hướng như muốn bay thẳng vào tỉnh Savannakhet. Thấy lạ, tôi nói các sĩ quan bên cạnh: “Kìa, sao hai con chuồn chuồn bay khơi khơi vậy không sợ phòng không bắn à?”. Quả thật, đâu mấy phút chiếc trước nổ tung như xác pháo. Chúng tôi lại hồi hộp cho chiếc kế, mong nó vòng lui, nhưng không, nó cứ ung dung… rồi cùng chung số phận. Hai chiếc đều rơi xuống một triền núi cách căn cứ Tiểu đoàn 21 Biệt Động hai cây số, hướng tây (phương giác 5200). Sau nghe tin, trên một trong hai trực thăng có một thiếu úy Biệt Động. Vì có một sĩ quan mũ nâu trong tai nạn, nên tôi nghĩ họ cất cánh từ dưới Đông Hà hay Khe Sánh vào căn cứ Phú Lộc ở biên giới, rồi bay quá lố qua Lào. Hoặc Phú Lộc về hướng 3 giờ, phương đông, nhưng bay nhầm ngược chiều 180 độ hướng 9 giờ, sang tây. Lạ thật! Lẽ nào thằng trước đui, thằng sau cũng mù luôn?
Tôi không rõ bao nhiêu người chết trong hai “đóm lửa ma trơi” đó, chỉ một điều tôi biết chắc họ là những kẻ bị loại khỏi vòng chiến đầu tiên trên không phận Lào của Lam Sơn 719.
Mấy cái chết bí ẩn ấy không làm chúng tôi nao núng, chỉ một thoáng buồn man mác. Rồi anh em lại reo lên khi thấy phía đông nam bốn cây số đường chim bay, căn cứ hỏa lực 30 của Lữ đoàn 3 Dù xuất hiện trên một đồi trọc. Vị trí mỗi lúc một trơ màu đất đỏ dưới ánh mặt trời. Và từ đó, những phát súng đại bác 155ly khởi bắn vào hướng tây, yểm trợ thiết lập tiếp căn cứ 31, gần A Lưới. Biệt Động Quân bớt cô đơn giữa núi rừng ngoại biên.
Tôi đang nhìn khoảng không gian có vẻ yên tịnh thì Trung úy Đỗ văn Nai, Đại đội trưởng Đại đội 4, mời tôi qua căn lều Bộ Chỉ Huy anh nhậu. Nói đến món lưu linh tôi chẳng mấy thích, nhưng vì cả nể, tôi đã “dzô” thẳng thừng một lon, loại đựng trái cây thập cẩm ration Mỹ bằng hộp sữa bò, đầy nhóc Hennessy. Rượu vào tôi say mềm đã đành, trời đất Lào hôm ấy cũng chếnh choáng luôn. Người lẫn vật như đá núi cỏ cây bắt đầu thi nhau lộn tùng phèo trong cơn… pháo? Cộng quân rót, rót rất đầy…không phải Hennessy, Cognac Pháp, mà 75ly không giật với 130 ly như mưa, làm bật tung hết hầm hố. Ai chết nằm tại chỗ, khổ nhất những anh bị thương, kêu la chí chóe, y tá băng bó không kịp, lớp thì lo đào xới kéo lên hết người này tới kẻ khác dưới các căn hầm sập.
Trong lúc rối ren, sĩ quan truyền tin Tiểu đoàn lại nhận tin từ chiếc phi cơ quan sát L19 Hoa Kỳ gọi cho hay Việt Cộng đang di chuyển đến gần chúng tôi. Lính tráng vội ùa ra giao thông hào sẵn sàng chiến đấu. Riêng tôi thì được lệnh xuống giữ chức vụ Đại đội phó Đại đội 2/21, đơn vị cũ của tôi trước ngày tôi biệt phái nhảy viễn thám cho Sư đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ 1969-1970. Trái với nhiều người cầu an, ở một nơi mà quân đội gọi là “núp bóng từ bi”, tôi lại mừng ra đại đội, dĩ nhiên gian nguy, trực tiếp cầm quân đấm đá, hơn làm cái công việc phụ tá ban 3 tù túng, và bên cạnh một ông tiểu đoàn trưởng Bắc kỳ khó tính, quan liêu Nguyễn Hiệp.
Đại đội 2 Biệt Động đang bao quanh mỏm đồi đông nam của căn cứ, thiếu sĩ quan trầm trọng, ngay cả đại đội trưởng, Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn cũng cử Trần Quang Giảng còn mang lon thiếu úy từ bên Đại đội 3 qua nắm quyền xử lý, chứ cấp số quy định phải là trung úy.
Tuy tốt nghiệp sĩ quan trước một khóa và dù bạn bè đồng lứa, thường chơi ngang nhau hằng ngày, nhưng vì bị đặt dưới sự chỉ huy, tôi phải đứng nghiêm trong tích tắc giữa lửa đạn mịt mù, đưa tay chào trình diện Thiếu úy Trần Quang Giảng, Đại đội trưởng. Ngày ấy, tâm trạng mọi người lính đều phập phồng lo sợ cảnh “đem con bỏ chợ” và khiếm khuyết đủ thứ, nên khi thấy tôi đến đáo nhậm đúng lúc rất cần thiết tại mặt trận, Giảng mừng reo lên:
-Trung đội 3 mới báo cáo bắn chết ba tên thu 3 khẩu AK và đốt cháy một kho đạn phòng không 37ly tại cộc số DC16, đường mòn Hồ Chí Minh. Tao bảo tụi nó tiếp tục lục soát.
Đám nhỏ lốc chốc mà bạo gan của Tiểu đoàn 21 mũ nâu, cùng cấp bậc một bông mai vàng, tụi tôi vẫn hay xưng hô tao mày, trừ phi trước hàng quân, có lính tráng.
Thấy trời đã gần tối, Giảng vẫn chưa cho lệnh Trung đội 3 rút vô, tôi đề nghị:
– Soát gì nữa, bảo tụi nó về Giảng ơi? Mình nằm tít ngoài này, nguy hiểm lắm?
Tôi vừa dứt lời thì súng nổ vang dưới trũng ở hướng đông trước mặt. Người truyền tin kế bên mở lớn volume, speaker của máy PRC-25 phát ra các tiếng gọi dồn dập.
Giảng đứng dậy hét:
– Thiếu úy Vân điều động Trung đội 3 vào, để tôi xin Bộ Chỉ Huy kêu pháo binh.
Tôi bắt ống liên hợp, bên kia đầu máy người chỉ huy vừa nói vừa thở hổn hển:
– Gio Linh, Gio Linh đây Ba Mươi! (Gio Linh là danh hiệu của Trần Quang Giảng).
Tôi đáp:
– Nghe rồi, Ba Mươi kéo hết về ngay, nghe rõ không!
Máy bỗng im lặng. Chắc người đối thoại ở Trung đội 3 đã quên giọng nói của tôi, nên nghi ngờ tôi là địch lọt vô tần số. Ngoài chiến trường hay xảy ra vậy. Tôi nói nhỏ nhưng nhanh hơn đủ để hiểu:
– Thẩm quyền Vẻ Vang (Thiếu úy Vân) của 3/2 ngày xưa đây nhớ chưa? Hiện là Đại Bàng phó. Lệnh Gio Linh bảo Ba Mươi rút về gấp!
Buộc lòng tôi phải nhắc nhở để họ nhớ tôi người chỉ huy cũ của Ba Mươi, tức Trung đội 3, hai năm trước. Bỗng Trung sĩ I Lê văn Châu, cựu học sinh Nguyễn Công Trứ Đà Nẵng thi rớt tú tài I, buồn đời tình nguyện đi lính, vào quân trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế Nha Trang, vừa nhận ra tiếng tôi, anh rống lên:
– Trình thẩm quyền Vẻ Vang! Ba Mươi đang chạm súng, hai “dài hạn”, và địch đang chặn đường…
Tôi giật mình:
– Anh em xuống ngay!
Tôi quay qua vị Đại đội trưởng:
– Trung đội 3 bị đánh, đã chết hai, cần tiếp cứu.
Thiếu úy Giảng vội trao ống liên hợp máy liên lạc Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn lại cho Huỳnh Sỹ truyền tin, rồi nói lớn:
– Thượng sĩ Nhơn cho “gia đình” vọt lẹ!
Th/sĩ Nguyễn Nhơn vội khoát tay, Trung đội 1 đang đứng dọc dưới giao thông hào phóng ra mỏm. Nhưng chưa gì súng đã nổ dữ dội, đạn từ đường mòn Hồ Chí Minh bắn thẳng lên. Qua cuộc điện đàm của Giảng, tôi nghe Nhơn báo cáo Trung đội của Th/sĩ Nhơn cũng bị một thành phần địch bám sát căn cứ chặn đánh. Như vậy Cộng quân đang ở giữa Trung đội 3 ngoài xa và sát bên bờ tuyến Đại đội 2. Chưa hiểu lực lượng đối phương có đông không, nhưng biết chắc họ dựa chúng tôi để tránh bom đạn, chờ dịp tấn công. Đại đội 3 mặt bắc cho hay có tiếng sột soạt địch đào hầm. Trời sắp tối, mìn bẫy lại gài chằng chịt, không thể ra lục soát được. Tôi đề nghị trình Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn gấp Việt Cộng đang nằm sát bờ tuyến nhưng Giảng chẳng nói năng gì hết, cứ mãi lo điều động hai thằng con 1 và 3 tháo lui.
Rồi hai trung đội tả tơi về được căn cứ và chưa kịp nghỉ, cơn pháo lại tới nữa. Lần này khiếp hơn, vẫn là đại bác 130ly, nhất là 75ly đều trúng ngay giữa căn cứ, nướng đỏ khu đồi. Nhiều căn hầm thêm một phen sập bẹp. Dứt pháo, anh em phải đào lôi đồng đội lên, cứ thế, việc làm giống như người ta hốt cốt cải táng.
Nhưng địch chẳng để yên, bắt đầu tấn công. Dĩ nhiên Biệt Động Quân chống trả mãnh liệt, dưới vòm trời sáng rực hỏa châu do máy bay C47 của Mỹ thả liên tục, và hàng ngàn đạn, cối 60ly, 81ly cơ hữu cùng đại bác l05ly Phú Lộc biên giới bắn qua, rải quanh sát phòng tuyến. Kẻ chết người bị thương đôi bên nằm ngổn ngang từ trong ra ngoài chiến hào. Đó là đêm ác liệt đầu tiên của Tiểu đoàn 21 Biệt Động…
Thấy tôi ngưng và thở dài, bộ đội Nguyễn văn Đường, Sư đoàn 304 BV, mỉm cười, nụ cười như chia sẻ nỗi gian nguy đời lính, cả những người xuất thân bên kia Bến Hải.
– Lần đầu ấy đơn vị anh chết và bị thương bao nhiêu?
– Tôi không nhớ chính xác, chung tiểu đoàn thì xấp xỉ 30 người. Sáng hôm sau, trực thăng Mỹ vào tiếp tế đạn dược, tải thương vẫn bị phòng không bắn xối xả, nổ như pháo bông, có chiếc bốc cháy ngay trên bầu trời, hay rơi tan tành ở bãi đáp. Việc cấp cứu ngày thêm khó khăn và chậm, mặc dù mỗi lần các trực thăng Huey vào vùng luôn luôn có các chiếc Cobra bay kèm theo bảo vệ.
Tôi phải nói trong trận chiến Hạ Lào các phi công Mỹ lẫn Việt rất can đảm. Nhiều chuyến bay không bao giờ đáp, thật hào hùng. Chỉ tiếc sự liên lạc phối hợp giữa dưới đất với trên không, tức giữa đơn vị lâm chiến và máy bay, ít khi được trực tiếp điều khiển không yểm, mà phải nhờ giới chức thứ ba tại nội địa Việt Nam. Vì gọi xin yểm trợ qua trung gian nên quá trễ, tổn thất nhân mạng cao là vậy.
Lợi dụng lúc các phi vụ đang oanh kích, đại bác bắn quấy rối chung quanh, Biệt Động Quân tu bổ hệ thống phòng thủ. Họ hạ các cây lớn, gần bằng thân người, cưa từng khúc, dài một thước rưỡi để làm hầm chữ “A”, phỏng theo kiểu của các anh du kích, rất vững chắc, chỉ chịu thua đầu đạn điều chỉnh “Delay”, hay hỏa tiễn 122ly thôi.
Mặt khác, vì địch quân bám dưới chân đồi căn cứ, Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn có lần yêu cầu ném bom Napalm sát chung quanh, lửa liếm bờ tuyến làm mìn bẫy gài nổ hết. Xong, cho lính ra lục soát thấy nhiều xác chết và bắt được một cán binh bị phỏng nhẹ mình mẩy. Điều lạ, trong bình đông anh ta có dầm một loại thuốc, nước màu nâu. Gặng hỏi thì anh nói để uống khỏe. Ai cũng nghĩ đó là thứ kích thích, làm con người hăng máu, “thà chết chứ không hề lui”. Phải không?…
Đám bộ đội ngồi cười. Trung úy Đường gục gặc cái đầu:
– Anh tếu lấm! Còn tiểu đoàn gì khi rút lui có người bám vào cái càng “máy bay lên thẳng” đấy?
Đường hỏi móc vụ một chú lính Tiểu đoàn 39 Biệt Động ôm dưới càng trực thăng. Chuyện có thật. Báo chí ngoại quốc khai thác bôi bẩn, còn đài phát thanh Hà Nội thì gọi là “biệt động bò”. Cứ mỗi lần loan tin về chiến sự “Nam Lào” họ đều lặp lại cụm từ đó để mỉa mai người lính miền Nam.
Tôi trả lời:
– Đó là Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân. Lát nữa tôi sẽ nói vì sao. Bây giờ tôi kể sơ qua đơn vị mũ nâu này. Trong binh chủng, 39 là một tiểu đoàn luôn luôn gặp xui xẻo, đến nỗi cả Liên đoàn 1 đều biết. Xui nhiều cái không ngờ được. Riêng cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào, đúng ra nhiệm vụ của Tiểu đoàn 39 là bảo vệ Bộ Chỉ Huy Liên đoàn 1 Biệt Động Quân tại căn cứ Phú Lộc biên giới, không phải vào đất Lào. Nhưng khi lệnh xuống bảo đẩy Tiểu đoàn 37 Biệt Động tiếp sau 21 bọn tôi thì người chuyển lệnh lại lẩm cẩm tống nhầm Tiểu đoàn 39 lên trực thăng. Chuyện bốc lộn đó các giới chức giấu kín, để rồi ba ngày sau, đơn vị ấy chết lẫn bị thương và mất tích hết mấy trăm quân. Trước khi rút lui, Tiểu đoàn 39 Biệt Động đã dũng cảm chặn đứng bên ngoài nhiều đợt xung phong bằng biển người của một trung đoàn các anh suốt bốn ngày thư hùng, đẫm máu như sau:
Ngày 11/2/71, Tiểu đoàn 39 được đổ xuống một ngọn đồi cách Tiểu đoàn 21 BĐQ hai cây số đường chim bay, về phía đông bắc, trên một đoạn đường Hồ Chí Minh. Cũng chiếm cứ một vị thế hiểm độc, chặn nghẹt cái sinh lộ duy nhất địch từ Bắc vào cứu nguy vùng hậu cần quanh Tchépone sắp bị tiêu hủy, rõ ràng Biệt Động Quân 39 đứng mũi chịu sào” nơi cứ điểm Ranger North. Chắc chắn đối phương không để yên.
Lấy kinh nghiệm mấy ngày qua Ranger South chúng tôi bị pháo tả tơi, Ranger North thiết lập ngay hệ thống phòng thủ kiên cố hơn. Chưa đầy một buổi ngọn đồi thơ mộng, cây cao bóng mát, đã trụi lủi, lô nhô hầm hố quanh chiến hào.
Chúng tôi cảm thấy vui, nam bắc có bạn. Nhưng chỉ được vài hôm, ngày 14/2, một chiếc phi cơ quan sát L19 của Hoa Kỳ gọi xuống báo có một đoàn xe Molotova chở khoảng một trung đoàn Cộng quân từ hướng bắc đã gần tới các vị trí Biệt Động, lính cả hai căn cứ đều ra hết phòng tuyến chờ đợi.
Điều tôi lấy làm lạ, mục tiêu di động lộ liễu và khẩn cấp, mà chẳng ai gọi máy bay oanh kích. Rồi họ xuống xe và như cao bồi, tấn công ngay Tiểu đoàn 39, cùng lúc, mở một trận pháo cỡ lớn vào 21 đến nghẹt thở. Suốt đêm đó, hai nơi khác là căn cứ hỏa lực 30, 31 của Lữ đoàn 3 Dù ở hướng nam cũng rền vang tiếng súng. Địch đồng loạt đánh mạnh hết các vị trí quân miền Nam trên đất Lào, nặng và dai dẳng nhất là Tiểu đoàn 39, như đã nói, đó là mục tiêu ưu tiên hàng đầu, Cộng quân cần phải thanh toán trước. Máy bay C-47 thả hỏa châu liên tục nhưng không thắp sáng vòm trời hơn lửa đạn của đôi bên. Pháo binh l05ly Tiểu đoàn 64 biên giới cùng 155ly của Pháo đội C/44 từ căn cứ 30 dành ưu tiên hỏa lực để cứu nguy Ranger North, cực bắc Tchépone, từng giây từng phút.
Vị trí của Ranger North gồm hai ngọn đồi, cái lớn, cao do Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn cùng ba đại đội trấn thủ, cái nhỏ hơn ở phía tây bắc thì chỉ một đại đội nằm giữ. Giữa hai điểm là thế đất yên ngựa, cách nhau khoảng trên một trăm thước.
Từ lúc mở màn tấn công, địch dồn nỗ lực cố đánh chiếm khu đồi nhỏ làm bàn đạp và có cái lợi cho họ nữa là đại bác của Tiểu đoàn 44 và 64 bị giới hạn, đạn đạo đi từ hướng đông nam phải vòng qua sát đầu Bộ Chỉ Huy 39 mới rơi xuống. Sự điều chỉnh tác xạ xa hay kéo gần đều rất nguy hiểm cho Biệt Động Quân.
Vì sự yểm trợ chặn địch tràn ngập không hữu hiệu và tổn thất nhân mạng đã nhiều, Trung úy Nguyễn văn Hòe Đại đội trưởng 4/39 BĐQ ngoài mỏm, được lệnh rút Đại đội nhập vào đồi lớn.
Hai bên giằng co nhau trên từng tấc đất. Qua máy PRC25, tôi nghe tiếng nói của Tiểu đoàn phó 39 gọi báo dồn dập lên Bộ Chỉ Huy Liên đoàn 1 Biệt Động Quân ở Phú Lộc con số thương vong ta và địch không thể kể xiết. Việt Cộng mỗi lúc một áp sát bờ tuyến, ông xin cứu nguy. Tôi không nghe rõ vị thẩm quyền bên kia đầu máy trả lời sao, chỉ thấy giữa đêm, ngoài hai căn cứ Phú Lộc và hỏa lực 30, không còn tiếng súng nơi nào yểm trợ nữa…
Kể tới đây tôi cảm thấy mệt, tâm trạng như đang sống lại trong bối cảnh trận Hạ Lào năm xưa. Trung úy Đường hỏi:
– Sao không gọi máy bay?
– Máy bay thì có các loại phản lực, trực thăng chiến đấu, chỉ dùng ban ngày mới hữu hiệu, ban đêm chúng còn tệ hơn thằng mù. Vả lại, lúc ấy đôi bên quá kề cận, muốn xáp lá cà, ôm vật nhau. Tôi có nghe sau cuộc hành quân Lào các tướng lãnh Việt Mỹ trách nhau sự thiếu yểm trợ Ranger North và kế đó là các căn cứ 30, 31 của Dù, và Ranger South Biệt Động, thảy đều điêu tàn…
– Đúng như anh đã nhận xét, họ “đem con bỏ chợ”, và tôi nghĩ, ngay từ lúc đó Mỹ đã muốn bỏ rơi miền Nam.
Tôi nuốt nước bọt:
– Có thể. Mãi đến 1973 cấp nhỏ chúng tôi mới hiểu không những mặt trận Hạ Lào, các cuộc chiến khác được diễn song song với chính trị theo ý xấu của tên Kissinger, Ngoại trưởng Mỹ, làm tiêu hao lực lượng chúng tôi chỉ vì cụm từ ngoa ngữ là “Việt Nam hóa chiến tranh” để Mỹ rút quân về nước trong danh dự. Tháng 4/1975 thì thế giới đã thấy rõ “danh dự” của Mỹ là không kịp cuốn cờ, đạp lên nhau mà chạy…
Trở lại vấn đề căn cứ 39 Biệt Động Quân. Qua hôm sau, cả đôi bên đều uể oải, toàn vùng Hạ Lào lại êm dịu, mức độ tấn công vào Ranger North có vẻ cầm hơi.
Tiểu đoàn 21 thấm thoát đã tới kỳ tiếp tế, trực thăng liên tục đổ lương thực, gồm ration C, đạn dược các loại. Đợt tiếp tế này, không những khá nhiều để dự trữ, còn có các gói quà cho ba ngày tết Tân Hợi dù muộn, vì mấy ngày đầu xuân ấy rực lên xương trắng máu đào. Những bức thư lẫn thiệp chúc mừng năm mới đầy màu sắc, với thức ăn, do thân nhân, bằng hữu gởi qua chưa kịp phân phát, đã tung bay như bươm bướm bởi trúng đạn pháo. Trước mắt tôi, trên bãi đáp Tiểu đoàn 21, những người chết, và các anh thương binh, đâu biết trong cái xơ xác rơi lả tả đó lại có những dòng chữ thâm tình thăm hỏi, tỏ nỗi lo âu của vợ con gởi mình.
Mặc dù vị trí bị pháo kích te tua, thực phẩm vẫn dư thừa, chỉ thiếu nước uống. Sát dưới chân đồi, mạn bắc, có một con suối duy nhất mà mỗi ngày mỗi khô dần vì bom đạn cày xới. Đã vậy, mấy ngày sau này sáng nào Việt Cộng các anh cũng tới “cắm dùi” giành uống một mình. Mỗi lần lính Biệt Động xuống lấy nước lại giống như đi uýnh giặc, phải cử một trung đội đầy đủ vũ khí mở đường và gặp địch hay không cũng bắn rạt hết. Có hôm chạm súng thật, phe tôi thua liểng xiểng, vội xách bình đông, ống đạn 106, rùa nhựa xẹp lép chạy lên, làm đơn vị khốn đốn. Tức mình, Tiểu đoàn trưởng cho cả một đại đội hạ sơn đánh thẳng thừng, đổi máu lấy nước…
Chuyện đi lấy nước tôi còn nhớ một vụ rất rùng rợn, như lần Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân lạc vào vùng phi quân sự, DMZ (Demilitanzed Zone). Nơi đó gồm nhiều dải núi đá, có tên gọi là Khu Đinh. Các bình đông nước đều khô cạn. Tiểu đoàn cho dừng quân, tung lính đi lục lạo các thung lũng khe đồi, và khi vừa tìm được “nguồn sống” thì xảy ra “cuộc chiến nước uống”. Trước lúc nổ súng hai bên còn hỏi han, đùa giỡn đã rồi mới bắn nhau, máu nhuộm đỏ một khúc suối.
Ai cũng biết đây là vùng phi quân sự, Hiệp Định Genève 1954 quy định hai miền Nam Bắc không được đưa quân vào. Nhưng vì trời quá nóng, như lửa hắt từ các vách đá trọc đen thui, nên khi gặp một con suối, bọn lính liền nhảy xuống tắm luôn. Bất ngờ, chẳng rõ từ đâu, một chú Cộng nhí lại sớn sác đến lặn hụp kế bên. Biệt Động Quân thấy lạ, liền thộp cổ:
– Mày là Việt Cộng, phải không?
Nghe ông Cọp Rừng hỏi một câu hết sức ngớ ngẩn, nó trả lời tỉnh bơ:
– Em ở Vĩnh Linh, bên kia Bến Hải, qua đây bẻ măng le, nóng quá em tắm!…
Giữa lúc ấy, Trung sĩ Ba, vừa tốt nghiệp Hạ sĩ quan Đồng Đế, về đơn vị này chưa đầy tháng, làm tài khôn quát to:
– Ở đây toàn là núi đá, măng đâu mà bẻ? Dìa nhà tắm!
Chú nhóc mặc cái quần xà lỏn ướt dầm, vội cắm đầu chạy mất dạng. Chắc Trung sĩ Ba tưởng là con sông ranh giới được dễ dàng qua lại mới bảo về nhà tắm. Nghe chuyện lạ, Thiếu úy Phước, Ấn Độ lai, kêu hết cả đám lính lên giũa:
– Đồ ngu, để sẩy mất tên Việt Cộng? Nếu nó không phải bộ đội Sư đoàn 324B thì là hà bá của con suối này thôi ! Cái nữa, Bến Hải đâu đây, còn tuốt xa ngoài kia, cả chục cây số! Vậy mà cả đám tin lời thằng ma đó nói đi bẻ măng le. Nó bẻ họng tụi bay cho le lưỡi ếch thì có !…
Th/u Phước đang nói đến đó thì một tràng AK lẫn B40 từ mé đồi đối diện bắn xối xả xuống, làm đám Biệt Động Quân dưới suối bị thương mấy người…
Nghe tôi kể chuyện Biệt Động Quân “dư ăn thiếu uống”, gian nan đi tìm nước, Việt Cộng lại “dư uống thiếu ăn”, mấy chú bộ đội cười khật khật. Tôi chợt nghĩ, có thể vì “dư uống thiếu ăn” là một nguyên nhân tạo nên cuộc chiến hai miền. Một bên, người dân sống dưới mực nước sông Hồng, hồn treo trên đê; bên thì hả hê, những đồng ruộng lúa vàng bát ngát, cò bay thẳng cánh.
Nhưng trong câu chuyện “tìm nước” còn một vần đề khác cứ lẩn quẩn trong đầu, tôi không tiện bộc lộ.
Nhờ chuyến đi lạc đó, Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân mới phát hiện một nghĩa địa “Sinh Bắc Tử Nam” vĩ đại giữa vùng phi quân sự, vùi chôn cả chục vạn bộ đội Cộng Sản Bắc Việt chết trên chiến trường miền Nam. Khu nghĩa địa chiếm một thung lũng rộng thênh thang, tràn lên tới các triền núi tứ bề. Dưới chân mỗi nấm mộ cắm một trụ cây cao một thước, trên đính một miếng tôn nhỏ có khắc tên, số quân, đơn vị, ngày tử trận của kẻ bạc mệnh bằng lỗ đinh. Khi Tiểu đoàn 21 Biệt Động băng qua, tôi tưởng như lạc xuống địa ngục. Dù ai chai đá cách mấy cũng cảm thấy bùi ngùi trước một rừng mồ mả nằm lặng yên, thiên thu nơi chốn thâm sơn cùng cốc.
Hàng trăm ngàn hài cốt chôn ở DMZ bao gồm số tử vong từ các trận đánh kinh hoàng Vùng 1, nào Khe Sanh, Tết Mậu Thân Huế 1968, Hạ Lào 1971, nào Quảng Trị 72… từng làm chấn động thế giới. Đặc biệt Cồn Thiên, 1967, tên Mỹ: “Hill of Angels”, phía tây Gio Linh, nơi mà Tiểu đoàn 319 Sư đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ đã tử thủ trước sự tấn công của Cộng quân từ 11/9 đến 31/10/1967 . Mặc dù đơn vị đồng minh này tơi tả , địch cũng bỏ lại trên 2000 xác tại chỗ. Với mức độ đẫm máu chung quanh ngọn đồi đã khiến tướng Westmoreland ví Cồn Thiên như một trận Điện Biên Phủ cỡ trung bình và hậu quả của nó đã làm chính trường Mỹ bắt đầu rối ren, chia rẽ, bên ủng hộ, bên chống đối, cả hai xuống đường biểu tình cấu xé lẫn nhau một thời. Các thương phế binh GI thì bị những phần tử phản chiến hèn nhát, lợi dụng xuyên tạc rằng thanh niên Mỹ không thể chết cho một đất nước Việt Nam xa lạ. Họ cố khai thác các bức thư gởi về từ mặt trận, các cuộn băng thu lời ta thán thống khổ của những người lính viễn chinh, trong đó có con rể Tổng Thống Lyndon B. Johnson, làm ông xúc động, gục đầu xuống bàn, đưa ông đến quyết định không tái tranh cử tổng thống nhiệm kỳ kế, 1968, vì chiến tranh Việt Nam đã thật sự sa lầy.
Khi khám phá ra cái nghĩa trang mờ ám ấy, chúng tôi đã hiểu được ý đồ “bác và đảng” không cho mang thân xác của kẻ chết trận về Bắc, mà phải chôn tại vùng phi quân sự, hay vùi dập đâu đó trên tuyến đường xâm nhập, để khỏi lộ chân tướng dối trá. Biết bao cán binh chết rục đâu rồi, họ vẫn nói còn sống để lừa bịp các thế hệ thanh niên tiếp tục vào Nam.
Chuyện khuất lấp của Cộng Sản có tính trước là làm tiền thân nhân những kẻ bạc mệnh khi chiến tranh chấm dứt. Sau tháng 4/1975 nghĩa địa “Sinh Bắc Tử Nam” trở thành một kho tàng béo bở, để Đảng hái ra tiền từ những gia đình, họ hàng muốn tìm hài cốt thân nhân về cải táng.
Thật vậy, việc đi tìm hài cốt sau 15 năm chinh chiến khác nào cá tìm chim. Nay Đảng đã tập trung sẵn hàng trăm ngàn nấm mộ ở vùng phi quân sự, như một vựa chứa “vĩ đại”, do sở quốc doanh Cựu Chiến Binh CSVN đầu cơ tích trữ…
Tôi im lặng, suy nghĩ lung tung, hai tay cứ loay hoay quấn mãi điếu thuốc rê chưa xong, vì miếng giấy lịch rách toạc…
Thấy tôi ngưng nói, bộ đội Bình nhắc khéo:
– Anh Vân thích thuốc nặng nên khổ.
– Ai mà thích! à xin lỗi, lúc nãy anh Đường hỏi vụ người lính bám càng trực thăng khi triệt thoái. Chuyện như thế này: qua hai ngày 17 và 18/2, toàn vùng trở nên căng thẳng. Các trực thăng UH-IB Mỹ vào tải thương, bị bắn rớt khá nhiều. Các thương binh và người chết của Tiểu đoàn 21 chúng tôi, đa số bên căn cứ Ranger North còn kẹt lại, nằm ngổn ngang. Như tôi đã nói, Tiểu đoàn 39 Biệt Động Quân đứng mũi chịu sào, địch bất cứ giá nào cũng bứng cho được, họ dồn hỏa lực đánh mỗi lúc một ác liệt hơn, cả khu đồi muốn bốc cháy.
Tôi nghe Đại úy Đỗ Đức Chiến Tiểu đoàn phó 39 báo cáo về biên giới là ông đã bị thương. Mặt khác, trước nguy cơ bị đối phương tràn ngập biển người, Chiến cũng cấp tốc gọi qua cầu cứu Tiểu đoàn 21 tìm cách giải vây, nhưng 21 đành chịu. Thiếu tá Hồng Hà 21 (Tôi giấu, không nói tên thật là Nguyễn Hiệp) chỉ điều động bốn khẩu l06ly bắn trục xạ tối đa sát bờ tuyến phía tây nam TĐ 39, mặt đối diện 21, khoảng cách hai cây số đường chim bay, nhìn bằng mắt trần thấy nhau rất rõ. Mức sát hại của đầu đạn l06ly chẳng khác nào l05ly, thế mà địch vẫn tiến, kẻ sống đẩy xác người chết lăn theo phía trước chắn đạn, hết lớp này tới lớp khác. Phút chốc khu đồi trụi lủi như cái đầu trọc quấn vành khăn đen xác người.
Rồi cả bốn cây 106ly Tiểu đoàn 21 bị đại bác 130ly Cộng quân trả đũa, phủ dập sứt gọng gãy càng, hầm đạn bốc cháy nổ tung khắp chiến hào, Ranger South te tua. Việc ăn miếng trả miếng rất ngoạn mục giữa trận mạc tranh hùng.
Pháo đội C/44 ở căn cứ hỏa lực 30 Dù, cũng hết mình nã 155ly tới tấp cứu nguy 39, và bóp họng dùm 21 mấy “con gà cồ” đang gáy đinh tai nhức óc trên các sườn đồi phía tây.
Người mà lâu nay tôi khâm phục, để bụng không nói ra, là Trung tá Nguyễn văn Hiệp. Lúc ấy danh hiệu: Sơn Linh, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 1 Biệt Động Quân đang ở Bộ Chỉ Huy Phú Lộc biên giới. Vì nóng lòng và để giữ vững tinh thán các binh sĩ dưới quyền giữa những giờ phút thập tử nhất sinh, Nguyễn văn Hiệp, người hùng đã từng điều quân bách chiến bách thắng ở nội địa, đã không nệ gian nguy, lên trực thăng bay vào. Thật mong manh, đơn độc, chiếc UH-IB của ông đảo quanh trên vùng trời lửa đạn, giữa mạng lưới phòng không địch. Sự xuất hiện của vị anh cả Liên đoàn 1 Biệt Động như thiên thần. Nghe tin, Đại úy Đỗ Đức Chiến, dù đã bị thương, mừng reo lên, nắm máy liên lạc, ông kêu to bằng bạch văn:
– Sơn Linh! Sơn Linh? Con cái chết nhiều rồi!…
Nghe Chiến gọi, giọng nói như từ cõi âm vọng lên, các sĩ quan chỉ huy 21 rúng động, tôi cũng chảy nước mắt. Trung tá Hiệp thúc các gunship tiếp tục xạ kích dọc theo bờ tuyến 39, chặn đứng từng đợt xung phong cơ hồ như sóng vỗ, cùng lúc xin trục thăng chở đạn tiếp tế và tải thương. Mỗi lần ra khỏi vùng về Khe Sánh đổ xăng ông đều báo: “Tôi đi lấy Whisky, sẽ trở lại ngay”. Một lối ngụy thoại thông thường mà rất mới, tình nghĩa trên chiến trường Lào. Rồi chấm đen vụt chao đảo, lượn giữa tầng mây bạc đầy những tia đạn phòng không như hoa nở tiễn đưa. Hình ảnh Sơn Linh thật tuyệt vời!…
Trung úy Đường Sư đoàn 304 CSBV khẽ cười:
– Nó không thể đẹp hơn cách anh bộc trực mô tả đâu!
– Bộc trực?
– Thì trong câu chuyện anh kể.
– Thời đó anh ở đâu, không dự cuộc hành quân Lào à?
– Tôi chưa vào bộ đội, còn đi lao động. Xin anh tiếp tục.
– Đang lúc cận chiến thì một trực thăng cứu thương liều mình đáp xuống khu đồi 39 nhưng tôi không thấy nó bay lên, đến chiếc kế cũng vậy, cả hai đã bốc cháy.
Sau đó tôi mới biết, các nhân viên phi hành bị thương gần hết, chỉ viên y tá tên Fujii, Dennis Fujii, được Đại úy Đỗ Đức Chiến dìu vào hầm Bộ Chỉ Huy Ranger North.
Tôi xin nói thêm về nhân vật tên Fujii. Ngay lập tức anh được sử dụng, có thể nói vào việc quyết định sự sống còn của 39, đứng vững vài ngày trước khi thất thủ. Mặc dù nhiệm vụ là nhân viên cấp cứu, của Lữ đoàn 44 Quân Y Hoa Kỳ, nhưng Dennis Fujii là một chứng nhân cho thế giới biết sự chiến đấu hào hùng của Tiểu đoàn 39, nói chung là Biệt Động Quân ở cực bắc Tchépone. Nhắc đến Fujii để giải thích tại sao cuộc hành quân Lam Sơn 719 không có Mỹ tham dự trực tiếp dưới đất mặc dù sợ xâm phạm đất Lào, chúng tôi bị gài vào cái thế gặp nhiều khó khăn, tổn thất nặng, và mang tiếng xấu có người lính bám càng trực thăng. Thiệt hư ra sao?
Đại úy Chiến (5) sĩ quan hiện dịch, tốt nghiệp khóa 20 VB Đà Lạt, thừa hiểu trong tình huống đó, nếu không một người Mỹ nào lâm nguy dưới đất, thì việc không yểm của Hoa Kỳ thiếu tận tình, nên Chiến kéo Fujii vô hầm, để nhờ anh ta gọi trực tiếp các chiến đấu cơ đến oanh kích mau hơn qua trung gian người Việt Nam. Quả thật, khi nghe Fujii cầu cứu trong máy, các giới chức Mỹ ở Khe Sanh, như định lệ, lập tức cho hai F-4 Plantom với Cobra vào vùng chặn địch, mặt khác, hai chiếc trực thăng đáp xuống căn cứ 39 tiếp tế đạn và chưa kịp tải thương về, lại bốc cháy. Địch quá đông, cứ vây hãm, Biệt Động Quân diệt không xuể, mà thiệt hại mỗi lúc càng nặng, gần hết khả năng chống cự. Để cứu nguy giữa lúc thoi thóp, Dennis Fujii run sợ, anh quyết theo sự hướng dẫn của Đại úy Chiến là bảo máy bay đánh bom ngay trên nửa phần đồi tây bắc mà Cộng quân đã tràn vào bên trong tuyến. Hành động đó để rồi sau này viên Y tá trở thành một anh hùng của nước Mỹ. Nhưng tôi khoái nhất thuật “dụng nhân như dụng mộc” của Đại úy Đỗ Đức Chiến Tiểu đoàn phó, mà ông đã kể cho tôi nghe dưới căn hầm, bên khúc sông đầu Sésamou Lào, vào mấy ngày ông bị thương chờ tải về Việt Nam.
Chưa hết, từ 21 nhìn qua 39, âm thanh hỗn loạn, khói lửa mịt mù, tôi thấy lòng mình như thiêu đốt. Nơi speaker PRC- 25 phát ra giọng Fujii run rẩy, có lúc dồn dập kêu gọi, dù các Cobra đang phóng rocket, đại liên quạt ngay trên chiến hào. Màn đêm lẫn sương mù Savannakhet bắt đầu bao phủ, khiến sự yểm trợ bị giới hạn.
Sáng hôm sau, trong khi đôi bên đang nhừ tử, không đánh nổi nữa, thì đột nhiên một chiếc trực thăng bay lướt sát ngọn cây rồi nhủi xuống giữa đồi 39 để bốc Fujii, nhằm lúc Đại úy Đỗ Đức Chiến bị trúng đạn lần thứ hai, gãy một tay ngã chúi, Fujii vội chạy tới bồng ông bỏ lên trực thăng. Thấy vậy, một người lính Biệt Động Quân, vốn là cận vệ của Đại úy Chiến, liền phóng theo với ý định là để săn sóc vị chỉ huy của mình dù ở đâu, khi lâm nguy hay lúc yên bình. Nhưng Dennis Fujii không hiểu, lấy tay xô anh ra, viên xạ thủ đại liên (the door gunner) cũng tống bồi một đạp khiến người lính mũ nâu văng xuống nằm trên cái càng giữa lúc chiếc trực thăng đã cất lên cao lướt ra khỏi ngọn đồi. Vì dưới chân là thung lũng sâu anh phải nắm cứng cái càng, và chỉ mấy phút, hẳn đuối sức, anh buông tay rơi xuống khe đá. Như các anh biết, sau có một số sách báo mỉa mai chuyện “bám càng”, chết hèn. Theo tôi đó là cái chết chỉ vì lòng trung nghĩa của người lính trận.
Nhưng, chiếc trực thăng tải thương đợt cuối cùng ấy lại bị Cộng quân bắn gãy đuôi, quay chuồn chuồn, và may mắn sà đầu xuống được căn cứ 21 Biệt Động Quân rồi cháy rụi, sau khi viên xạ thủ kịp lôi Chiến ra ngoài trước mất cách tôi 30m.
Thượng sĩ Tuất nãy giờ im lặng, anh chợt thở dài:
– Thời ấy, đài phát thanh Hà Nội loan tin trận đánh Nam Lào hỗn loạn lắm? Các anh rút quân vì pháo. Nói chung hai bên đều thiệt hại nặng. Chúng tôi phần nhiều bị B-52…
– Đúng vậy. Một cuộc chiến hỗn loạn. Nhưng không vì lẽ một thời đối nghịch nhau chúng ta lại để ngoại bang vin vào hình ảnh người lính bám càng máy bay, có nhận xét sai lệch cái tinh thần chiến đấu chung của dân tộc Việt.
Như tôi vừa kể, chiếc UH-IB chỉ để bốc Dennis Fujii, Đại úy Đỗ Đức Chiến giờ phút chót mới bị thương, khi bay lên thì bị phòng không bắn. Pilot cho sà xuống căn cứ 21, trước khi máy bay nổ cháy, viên xạ thủ đã lôi kịp Chiến ra ngoài, nằm bất tỉnh bên sườn đồi. Dù đang trong cơn pháo, tôi cùng hai anh lính vội tuôn ra kẻo vị sĩ quan Tiểu đoàn phó 39 vào Bộ Chỉ Huy Đại đội 2/21 của tôi. Toàn thân Chiến đẫm máu, mắt trợn dộc. Còn Fujii lủi thắng tới căn hầm của Tiểu đoàn trưởng. Thế là anh Y tá thêm một phen bất đắc dĩ phải chiến đấu hai ngày nữa trước khi trực thăng bốc về Khe Sanh.
Trải qua mấy ngày đầy ấn tượng đã làm Dennis Fujii kinh ngạc. Sau, trở về quê hương Fujii được gắn một huy chương cao quý và tường thuật lại cho giới truyền thông báo chí biết sự chiến đấu dũng cảm của những người lính Biệt Động miền Nam. Anh kể khi trục thăng hạ thấp xuống để đáp, chính mắt anh thấy hàng trăm xác chết với vũ khí của địch quân nằm la liệt quanh bờ tuyến Ranger North. Nhưng viên Y tá Mỹ, gốc Ái Nhĩ Lan lai Nhật hải đảo Hawaii, 21 tuổi, ấy cũng không quên tả oán tả sầu anh lính Mũ Nâu ôm càng trực thăng, mà không nói rõ vì sao.
Tuất thắc mắc:
– Căn cứ 39 chết và bị thương nhiều chứ, sao máy bay chỉ tải có hai người, Fujii với ông Chiến?
– Chính số lượng chết lẫn bị thương quá cao, lại đang cận chiến, không ai dám đáp xuống. Chiếc trực thăng lủi vào đó là phi vụ đặc biệt, coi như cảm tử, để bốc Fujii là người Mỹ, Chiến bị thương trước mặt Fujii nên được may mắn tải luôn.
Đó là chuyến tải thương cuối cùng đối với căn cứ 39 phía đông bắc Tchépone. Mặc dù các Cobra, Plantom tiếp tục xạ kích, dội bom quanh vị trí 39, nhưng Thiếu tá Vũ Đình Khang Tiểu đoàn trưởng thấy lính đã kiệt sức, thiếu khả năng chống trả, vội lợi dụng màn đêm, cho lệnh đơn vị mở đường máu di tản qua Tiểu đoàn 21 cách đó hai cây số đường rừng. Cuộc lui quân cũng bi thảm của những người chưa quen chiến bại, đành bỏ lại sau lưng ngót 150 xác bạn nằm xen lẫn với xác thù, luôn cả mấy chục thương binh đã phải chết ngay sau đó bởi một trận bom B-52 hủy diệt toàn bộ.
Thoạt đầu chưa biết, tôi lấy làm lạ, là bỗng nhiên không còn nghe tiếng súng đại bác yểm trợ từ Phú Lộc biên giới và Hỏa Lực 30 bắn nữa. Khi hiểu ra, Biệt Động Quân 21 ai nấy buồn xo, nhất là Đại úy Đỗ Đức Chiến nằm rên rỉ dưới hầm, nghe nói Tiểu đoàn 39 đã thất thủ, ông rưng rưng nước mắt.
Sáng hôm sau, 21/2/1971, một ngày bận rộn. Tiểu đoàn 21 cử một trung đội xuống chân đồi phía bắc đón “tàn quân” 39 di chuyển qua, một số đã lạc vào vùng đất địch, còn lại chưa đầy 200 tay súng, mà hết phân nửa bị thương nhẹ. Mặt khác, vẫn trong cơn mưa pháo, trực thăng xuống bốc Đại úy Chiến, Dennis Fujii, nhân viên phi hành, và lần lượt các quân nhân bất khả dụng của Tiểu đoàn 39 Biệt Động về Việt Nam.
Xong, còn trơ trọi chúng tôi. Ai cũng hiểu địch quân phải tiếp tục nhổ cái chốt 21 này, sẽ ồ ạt hơn. Chung quanh ngọn đồi trừ cái mỏm hướng đông, giáp đường mòn Hồ Chí Minh, và mé con suối nước bên mặt bắc, hai nơi lính thường xuyên lên xuống lục soát, địch đều bám sát như đỉa đói. Đã mất một đơn vị dũng cảm đứng đầu gió, hẳn nhiên 21 nhận đủ sức ép, Sư đoàn 308 Bắc Việt vây hãm. Nhưng là một tiểu đoàn Mũ Nâu thuộc Liên đoàn 1 Biệt Động Quân, đã từng bách chiến bách thắng và tiên phong nhảy vào đây, dễ gì nao núng, cho dù đối phương có cuồng bạo tấn công những ngày cuối cùng trên đất Lào: 22, 23, 24 tháng 2, 1971. Quả y như vậy.
Sáng ngày 25/2/1971, đoàn trục thăng vào bốc Tiểu đoàn 21 Biệt Động giữa những đầu đạn phòng không địch nở hoa đưa tiễn để chuyển qua căn cứ hỏa lực 30 Dù, trước khi về lại Động A Hai-tà Bạt, biên giới, nơi ngày đầu xuất phát cuộc hành quân. Hôm ấy đồi 31 Dù lại bị thất thủ, người hùng mũ đỏ Đại úy Nguyễn văn Đương tự sát, Đại tá Nguyễn văn Thọ, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù, bị bắt, rồi căn cứ Hỏa Lực 30, Sư đoàn 1 Bộ Binh, Thiết giáp và các đơn vị công binh chiến đấu đều di tản, rút lui vô trật tự về biên giới Việt Nam. Sự triệt thoái ngoài kế hoạch ấy, dĩ nhiên có phần tang thương, nhưng chưa kinh khiếp bằng hàng trăm xác chết đã đành, mà cả một số lớn thương binh bị bỏ lại, là cứ điểm Ranger North Tiểu đoàn 39 Biệt Động, phải vùi thây trên chiến hào cùng các cán binh Cộng Sản Bắc Việt bởi trận mưa bom B52 Hoa Kỳ bình địa.
Trung úy Đường gục gặc cái đầu:
– Nghe nói bên anh sau về lại Huế ăn mừng chiến thắng Nam Lào. Anh nghĩ đúng không?
– Nói thắng thì không đúng, thua cũng chẳng phải. Chúng tôi chỉ làm xong một nhiệm vụ: phá vỡ phần lớn một đại hậu cần tích trữ và chuyển tiếp phương tiện chiến tranh xâm nhập miền Nam. Rất tiếc, chúng tôi đã đổi cái giá quá đắt. Thông thường, sau một trận đánh lởn thì có cuộc khao quân để khen thưởng những chiến sĩ có công…
Đêm đã khuya, câu chuyện Lam Sơn 719 được kết thúc, mấy anh bộ đội uể oải đứng dậy, dáng điệu như người về từ Hạ Lào. Trước khi ra cửa, Trung, úy Nguyễn văn Đường, Đại đội trưởng C7, Sư đoàn 304 Cộng Sản Bắc Việt, siết tay tôi:
– Chúng tôi thành thật khâm phục các anh. Mặt trận Nam Lào 304 có tham dự, riêng tôi thì không. Chẳng bao lâu nữa tôi được cải nhiệm, sang ngành vận chuyển dưới miền Tây. Trước khi đi, tôi sẽ ghé thăm anh cùng các cháu.
Nghe lời từ giã của kẻ cựu thù, tự nhiên tôi thấy buồn, cô quạnh. Ngoài trời không gian vắng lặng, tối om như mực.
Sau bữa cơm chiều, tôi đang ngồi dạy sắp nhỏ làm toán thì tiếng động chiếc xe đạp dựng trước hiên nhà. Tưởng các ông nông dân trong xóm đến rủ đi họp tôi mở cửa, nhưng chỉ một anh bộ đội lạ mặt. Thấy tôi còn ngỡ ngàng, chưa kịp hỏi han, vị khách đã cất tiếng:
– Chào ông Vân? Ông khỏe không?
– Dạ, cám ơn… Mời anh vào…
– Ông Vân đừng ngại nhé, tôi là Nguyễn văn Đường, Đại đội trưởng C7, đóng ở R’Chai. Nghe bọn Tuất về kể ông trước phục vụ trong binh chủng Biệt Động, đã chạm súng với đơn vị tôi đâu đấy ngoài Quảng Trị, Thừa Thiên. Nhân đi công tác, tôi ghé thăm ông cùng gia đình.
Thì ra, ông là thủ trưởng của Tuất và Bình C7. Tuy không mang quân hàm, chỉ đeo khẩu K-54 bên hông, và khác hẳn nhiều tên kiêu căng, ngốc nghếch, viên sĩ quan này rất khiêm tốn, muốn giao hảo. Trông dễ mến, tôi gác bỏ chính kiến qua một bên để tiếp xúc kẻ đã đôi lần đối đầu với tôi ở một vùng rừng núi tây bắc Huế và Quảng Trị mùa đông 1972.
Tôi nhã nhặn nói:
– Hân hạnh được biết anh Đường. Nhân lúc mấy chú bộ đội đến trò chuyện, nhắc lại kỷ niệm xưa cũ ở chiến trường nóng bỏng miền Trung, tôi cũng góp ý kiến chơi, chứ không hề đặt thành vấn đề gì hết.
Đường ngồi xuống tấm phản, dựa lưng vào cửa sổ:
– Không sao! Chúng mình là gốc lính, dĩ nhiên thích bàn chuyện lính. Tôi rất muốn mà chưa có dịp tâm tình cùng các anh sĩ quan tác chiến chế độ cũ. Tiếc rằng họ đã tập trung cải tạo cả. Ông Vân bị thương năm nào thế
– Tôi bị mìn khi giải tỏa Quốc lộ 1, ở Quảng Ngãi, do bên anh đắp mô chặn xe đò, tháng 3/1974.
– Trước đây ông có hành quân Quảng Trị?
– Có “mùa hè đỏ lửa” 1972.
– Sao gọi “mùa hè đỏ lửa” nhỉ?
– Vì sự khốc liệt trận chiến Quảng Trị lên cao điểm nhất vào mùa hè. Cụm từ ấy cũng phù hợp với tựa đề quyển sách của một phóng viên thuật lại các trận đánh nảy lửa, từ Bình Long, An Lộc, đến tỉnh địa đầu miền Nam thời gian đó. Tôi dự nhiều nơi, đáng kể hai giai đoạn: Quảng Trị thất thủ, khi quân Bắc Việt công khai vượt vĩ tuyến 17, ngày 29-3-1972, tấn công ồ ạt. Và, lúc các lực lượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm được cổ thành Đinh Công Tráng, giữa tháng 9 cùng năm.
Hai giai đoạn, Liên đoàn 1 Biệt Động Quân chúng tôi phải có mặt tại vùng đất đau thương ấy hết sáu tháng. Lịch sử 15 năm chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc, biến cố Quảng Trị là dây dưa, lâu dài nhất. Đôi bên đã đọ sức, thí mạng giành nhau từng tấc đất, nên mức độ tàn phá rất khủng khiếp, chấn động thế giới. Tôi chỉ hiểu chút ít về mặt quân sự như vậy.
Viên sĩ quan bộ đội vừa rút một điếu Tam Đảo trong bao ra đốt hút vừa gật gật cái đầu:
– Ừ, khiếp đấy? Giai đoạn đầu ông Vân đề cập, chúng tôi tiến rất nhanh, chỉ mấy ngày đã sát nách Quảng Trị.
Câu nói đó, tôi không nghĩ anh muốn khoe khoang thành tích đại đơn vị anh nhưng tôi vẫn thấy khó chịu, tôi buộc lòng dông dài, như vẽ rõ cái trục “tiến rất nhanh” của Sư đoàn 304 Cộng Sản Bắc Việt tới đâu:
– Đầu tháng 4/72, sau khi đè bẹp thêm hai căn cứ hỏa lực quan trọng của miền Nam, phía tây Quảng Trị: Carroll thất thủ, Mai Lộc thì rút bỏ, Sư đoàn 304 các anh có xe tăng yểm trợ thừa thắng tiến thẳng tấn công cứ điểm Phượng Hoàng (Pedro) do Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến trấn giữ.
Trước nguy cơ đó, bộ chỉ huy tiền phương bảo vệ Quảng Trị hẳn đã nhận định, nếu để Phượng Hoàng mất thì Ái Tử, căn cứ cuối cùng nằm sát phía tây thị xã, dù nơi đây hỏa lực mạnh cách mấy cũng sẽ bị bứng kế tiếp, nên họ điều động một chi đoàn chiến xa M-48 tới giải vây. Kết quả, đơn vị mũ đen đã cứu vãn được tình thế, đánh bật các anh khỏi Phượng Hoàng, bắn cháy nhiều tăng T-54, bắt sống một chiếc, sau đem về Sài Gòn triển lãm.
Đó là lần đầu tiên hai loại chiến xa tối tân, T-54 của Liên Xô và M-48 của Mỹ, đọ nhau trên quê hương Việt Nam.
Tôi chỉ nhắc đại khái vài sự kiện đã qua cho viên sĩ quan Sư đoàn “Thép” Bắc Việt, từng dự các trận đánh Quảng Trị, nay ngồi đối diện với tôi nghe thôi, không đề cập chi tiết.
Tôi nói thẳng, anh có vẻ tự ái, mặt kém vui và hút thuốc liên miên, hết điếu này sang điếu khác, khói bay mù mịt.
Đột nhiên Đường nghiêm giọng:
– Bọn tăng M-48 ở đâu đến?
Chắc anh muốn tìm hiểu cả hai, điểm xuất phát và người chỉ huy chi đoàn. Câu hỏi chứng tỏ anh có sự bực tức khi đề cập đến trận xa chiến khốc liệt ấy, mà bên anh đã thảm bại tại Quảng Trị ngày 9-4-1972.
Tôi lập lờ đáp:
– Tôi chỉ biết họ ở ngoài Đông Hà.
Đường vờ lơ đễnh, không để ý câu trả lời. Anh bắt chước tôi hít một hơi thuốc thật dài rồi vừa ngước mặt vừa chu miệng phà ra từng lọn khói tròn, vòng nhỏ tỏa xuyên qua giữa vòng lớn. Anh reo lên như trẻ con:
– Này, tôi làm được đấy! Nó cuồn cuộn, trông đẹp mắt…
Tôi cười:
-Ừ, nhỏ chun vào lớn dễ thôi! Thử ngược lại xem?
Dứt lời, tôi lăn xe xuống bếp, lấy cớ hâm nước, để tránh cái nhìn xoi bói từ đôi mắt cú vọ của tên trung úy bộ đội Bắc Việt. Nếu không, có thể tôi sơ hở, thiếu dè dặt, bị hắn gặng hỏi, bắt bí, thì khó bề giữ được thể diện của người bại trận.
Nguyễn văn Đường làm sao biết được, trận đánh như một huyền thoại, chỉ thượng cấp anh mới rõ chiếc T-54 triển lãm tại Tòa Đô Chính Sài Gòn, là do Chi đoàn 2 Chiến Xa M-48, Thiết Đoàn 20 Kỵ Binh, bắt sống tại căn cứ Phượng Hoàng ngày 9-4-1972. Đơn vị dũng cảm này dưới sự chỉ huy của Đại úy Hà Mai Khuê, vị sĩ quan đã du học tại Trường Thiết Giáp Lục Quân (The United States Army Armor School) Fort Knox, Kentucky, 1969.
Lúc bấy giờ đang nằm án ngữ phía nam Đông Hà khoảng vài cây số có lệnh đi tiếp cứu, Chi đoàn 2 tức tốc cặp Quốc lộ 1 chạy một đoạn rồi vòng vào Pedro hướng tây. Lộ trình thật bi đát, Đại úy Hà Mai Khuê gặp một tốp lính Cọp Biển đang rút về căn cứ Ái Tử, trong đó có Thiếu tá Đỗ Hứa Tùng,Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 TQLC và Bác sĩ Huỳnh văn Chỉnh, tức ca sĩ Trung Chỉnh. Người hùng Mũ Đen Hà Mai Khuê vội mời tất cả lên xe, không phải để tiếp tục quay lui, mà hãy cùng nhau trở vào con đường lịch sử.
Rồi trận đánh thư hùng giành lại căn cứ Phượng Hoàng, tưởng chừng chỉ có trong phim ảnh, đã diễn ra trên đất nước từng làm thế giới kinh ngạc, ngưỡng mộ một cuộc chiến thần thánh của dân tộc Việt vào hậu bán thế kỷ 20.
Vừa tới gần Phượng Hoàng, Thiết Giáp cùng Thủy Quân Lục Chiến mở ngay cuộc phản công. Trước hết, họ bắn cháy mấy chiếc T-54 đã lọt bên trong, đang gầm gừ giữa căn cứ. Còn một núp sau thùng conex, để ló khẩu đại liên trên đỉnh pháo tháp. Trung sĩ nhất Phan Ngọc Tuấn, viên Hạ sĩ quan cũng được thụ huấn ở Fort Knox Hoa Kỳ, phát hiện qua viễn vọng kính của chiến xa M-48, anh liền quay nòng súng 90 ly bắn văng cây đại liên xuống đất. Xa đội địch hoảng hốt chui ra khỏi xe toan chạy, nhưng thảy đều gục ngã với hàng trăm tên khác nằm la liệt khi Thủy Quân Lục Chiến tràn vào.
Trung sĩ nhất Phan Ngọc Tuấn cùng Kỵ Binh Nguyễn văn On nhận lệnh Đại úy Hà Mai Khuê nhảy xuống đến bắt sống chiếc T-59 vừa bị bắn văng khẩu đại liên, máy còn nổ, lái về Ái Tử. Hành động chớp nhoáng của hai chiến sĩ Mũ Đen làm địch quân khiếp sợ.
Lúc đó, còn ba chiếc, thuộc bộ chỉ huy chiến xa địch, lấp ló ngoài tuyến phía tây, vội bỏ chạy vào hướng thung lũng Ba Lòng, nhưng trời cũng chẳng dung tha. Đột nhiên từ trên mây một trong hai chiếc Skyraider lướt xuống đốc mấy loạt bom diệt nết ba xe tăng cuối cùng của Cộng quân trên đường bôn tẩu.
Sau trận đánh tái chiếm căn cứ Phượng Hoàng, người ta mới biết viên hoa tiêu anh dũng đó chính là Đại úy Trần Thế Vinh, thuộc Phi đoàn 5 18, Sư đoàn 3 Không Quân, miền Nam. Sự xuất hiện bất ngờ của Trần Thế Vinh thắp sáng niềm tin giữa vùng trời lửa đạn đang đen tối nhất nơi tuyến đầu quê mẹ. Nhưng thương thay, vừa lập chiến công, Trần Thế Vinh bị gãy cánh bởi phòng không kẻ thù. Anh chết, cái chết tuyệt vời làm đẹp Tổ Quốc Không Gian, thêm một vì sao lấp lánh.
Năm đó, dân chúng thủ đô lũ lượt đi xem triển lãm chiến lợi phẩm, đủ loại vũ khí tối tân do Nga Tàu cung cấp cho Bắc Việt Đặc biệt chiếc T-59, chẳng ai giải thích vì sao nó thiếu cây đại liên đã từng tàn sát biết bao mạng người. Chiếc tăng, vẫn dáng kiêu ngạo của một thời tung hoành, với khẩu đại bác 100 ly còn nguyên vẹn, có thể bắn tan Tòa Đô Chánh Sài Gòn hay Dinh Độc Lập ngay tức khắc. Thế mà ít có ai hiểu vì sao nó nằm đây để:
“Làm trò lạ mắt thử đồ chơi” (TL)
Dù sao khối sắt vô tri đem trưng bày ấy, đánh dấu sự thảm bại của địch quân trong trận xa chiến đầu tiên trên đất nước, còn vinh dự được Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, các tướng lãnh ghé mắt nhìn qua, chứ những kẻ đã lập nên kỳ công rực rỡ đó lại bị lãng quên, tiếp tục đổ máu, rồi tủi hờn mất nước.
Ngày nay dân tộc đau thương, xin đừng bảo vì định mệnh, cũng đừng nói để lịch sử phán xét ai công ai tội.
Lịch sử là ai? Là những chứng nhân, như anh và tôi, trực diện với kẻ thù trong cuộc chiến, đã là lịch sử rồi…
Tôi không thể diễn giải hết các lý lẽ, dù viên trung úy bộ đội Cộng Sản đang ngồi đối diện với tôi, cũng thừa hiểu tại sao anh chiến thắng. Người xưa nói: “Lấy nhân nghĩa thắng hung tàn”. Quá đau khổ trước cảnh đổi đời, mất nước oan ức, một người bạn tức giận nói càn, mà tôi nghĩ cũng chẳng sai: “Nhân nghĩa giả phải thua hung tàn thật”.
Tôi rót ly nước mời Đường và gợi chuyện để đánh tan bầu không khí nặng nề:
– Mấy ngày cuối cùng, trước lúc Quảng Trị thất thủ, đơn vị chúng tôi rất rối ren, lo chống trả đến mất ăn mất ngủ.
– Lúc ấy ông Vân ở hướng nào?
Tôi rút một điếu Tam Đảo của bộ đội Tuất cho khi sáng, đốt hút. Hương vị thơm ngon như Capstan, làm đầu óc sảng khoái tôi hít một hơi dài:
– Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân nằm ở mặt tây La Vang, phía nam căn cứ Phượng Hoàng không xa lắm. Trước kia, cá nhân tôi chẳng làm nên tích sự gì. Một thời, với cương vị đại đội phó, tôi “ngồi chơi xơi nước” nhiều hơn, không có sáng kiến nào cả. Quân đội ngầm cấm kỵ cấp dưới cổ ý kiến.
– Về sau anh mới “tích sự”?
Đường đổi cách xưng hô, vừa nói vừa cười. Tôi cười theo:
– Bổn phận quân đội miền Nam là bảo vệ lãnh thổ này. Cuộc chiến vừa qua, nhiệm vụ chúng tôi thủ hơn công. Vả lại, không có nhu cầu đại thắng như chủ trương miền Bắc. Dù cấp nhỏ, khi lên chỉ huy cấp đại đội, tôi phải làm sao giảm thiểu sự thụ động, càng tạo nhiều “tích sự” càng hay để sống còn.
– Ngày lính các anh chạy thục mạng vào hướng Huế, đơn vị tôi đang chiếm một cây cầu ở Quốc lộ 1, quận Mai Lĩnh…
Chợt nghe Trung úy Đường nói tới cây cầu quận Mai Lĩnh tôi giật mình. Nếu quả vậy thì hai đại đội, tôi và anh ta, đã đụng nhau nhiều lần, chứ không phải chỉ một trong vùng rùng núi tây bắc Huế.
Để rõ ràng tôi liền hỏi:
– Phải cây cầu kế căn cứ Bộ Chỉ Huy Chi khu Mai Lĩnh?
Đường nhìn tôi chăm chăm:
– Đúng đấy! Nhớ rồi, có lính rằn ri và xe tăng…
Đoạn anh ngửa mặt cười khà khà :
– Lại có ông Vân nữa, gan nhỉ?
– Tôi gan còn anh nhát sao? Quân “Giải Phóng” tấn công dữ dội nhiều mặt: Cửa Việt, Đông Hà, nhất là phía tây thị xã Quảng Trị, chỉ còn duy nhất quốc lộ số 1 về hướng nam là con đường sống, không để đồng bào di tản vào Huế, các anh cũng chận đánh luôn, mà chận rất độc, tại cây cầu anh vừa đề cập, tên Bến Đá, khi Quảng Trị thất thủ. Toàn quân toàn dân nhôn nhao hỗn độn, xe cộ cùng người dồn lại giữa cơn pháo tứ bề. Hãy tưởng tượng, mà anh đã chứng kiến, lúc Đại đội C7 anh chận bít như vậy, cả rừng người, đa số đồng bào, ăn đạn ra sao.
Một đơn vị Biệt Động Quân Biên Phòng đang tùng thiết một chi đội thiết vận xa dẫn đầu, đụng hỏa lực các anh nằm phục dọc bờ sông, bên kia cầu Bến Đá, quá mạnh. Họ bị B40 cháy mấy chiếc, số còn lại vội dạt qua phía đông quốc lộ, rồi sa lầy hết giữa cánh đồng ruộng sình.
Khi ấy Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân chúng tôi La Vang kéo về phòng thủ căn cứ Chi khu Mai Lĩnh, thì tôi nhận lệnh dẫn đại đội buộc phải đánh bứt các anh ra khỏi cầu Bến Đá, mở đường máu cho quân dân Quảng Trị chạy vào Huế…
Nghe tôi kể lung tung, ẩn ý nêu dẫn tội ác của họ, Trung úy Đường phờ người hỏi một câu khỏa lấp vấn đề:
– Sao nơi nào anh cũng có mặt thế?
Tôi trả lời nửa thật nửa đùa:
-Ở đâu có anh là có tôi. Khi giải tỏa cây cầu tôi dàn đại đội hai bên quốc lộ, bọn mình đã choảng nhau khoảng một tiếng đồng hồ thì thấy mìn nổ, cầu sập…
– Lúc bị anh công mạnh tôi rút lui. Vả lại, C7 đã tổn thất rất nặng, chết dần còn chín mống.
Sự thiệt hại, mà Đường thú nhận, đã được đơn vị tôi khai thác tại chỗ các cán binh của anh bị thương nằm la liệt lúc ấy. Vì cầu gãy, tôi nghĩ dân chúng và xe cộ không thể vượt qua khúc sông sâu, nên vội xin lệnh để dẫn đoàn người dài lê thê đâm bổ ra hướng đông, rồi cặp bờ biển rẽ về nam, Hải Lăng, qua cầu Mỹ Chánh.
Tuy nhiên, nghe nói bị tấn công quá mạnh, loại khỏi vòng khiến Đại đội C7, lính anh chết như rạ, chỉ còn “chín mống”, tôi áy náy vô cùng, nên hạ giọng hỏi cho có hỏi, hầu làm dịu bớt căng thẳng, chứ không mong câu trả lời chính xác:
– Khi rút lui, phá gãy cầu làm gì?
– Do lệnh trên.
Vin vào câu đáp, tôi nói:
– Ừ bọn mình cứ bị nhiều cái lệnh trời ơi đất hỡi, và như nhiên lôi chỉ biết đánh thôi. Chắc anh còn nhớ nơi đó, chặng đường từ bìa phố Quảng Trị tới cầu Bến Đá anh chặn, ngang qua căn cứ Chi khu Mai Lĩnh, đầy xác chết đồng bào lẫn lính và bệnh nhân được chuyển từ các bệnh viện ở Quảng Trị vào Huế, thây người nằm chồng chất lên nhau, xương thịt bị băm vung vãi. Hầu hết chết vì đạn pháo 61ly đến 130ly của quân “giải phóng” rót vào như cát rải. Đến nỗi người ta gọi đoạn đường này là “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Gãy gọn bốn tiếng, mà lnghe đau thương cả một dân tộc. Không phải chỉ đau thương trong những ngày tháng ấy đâu, nó còn là vết thù muôn kiếp. Trôi có cảm tưởng vì Đại đội Biệt Động tôi tiến đánh C7 anh để mở đường máu cho hàng trăm ngàn lương dân vô tội đang bám víu sau lưng để mong thoát khỏi vùng tử địa. Con đường máu thật! Anh nghĩ sao về biến cố tôi vừa kể?
Hẳn Đường hiểu ý tôi muốn vạch tội Cộng Sản miền Bắc một cách khéo léo, anh nói:
– Làm việc gì cũng dựa vào chủ trương đường lối, chả thể thiên lôi được. Vụ Quảng Trị, tôi đồng ý là một biến cố đau thương, nhưng là sự kiện lịch sử đưa đến thống nhất đất nước hôm nay.
Tôi chuyển qua một ý tưởng khác:
– Có bao giờ các anh không thi hành lệnh trên?
– Quân đội phải kỷ luật chứ!…
– Vâng, chúng tôi cũng vậy, vì kỷ luật mà quân đội miền Nam buông súng đầu hàng theo lệnh tướng Dương văn Minh. Vì thế mà ông Minh được chế độ mới này ưu đãi…
Đường bĩu môi:
– Làm gì có chuyện ưu đãi ông Minh?
Tôi trố mắt nhìn anh:
– Nghe nói ông ta không những khỏi đi “học tập cải tạo tư tưởng”, còn được sống ung dung tự tại.
– Vấn đề chính trị có cái lắt léo, khó nói lắm! Nôm na thì đấy cũng là một hình thức trừng phạt. Cấp lãnh đạo chúng tôi chủ trương cứ để ông hóa thân làm…kiểng, chờ ngày lột xác…
– Lột xác ra nhậu?
– Úi giời, nó đâu có ngon bằng cầy!
– Vậy sao, nó thua luôn cả chó à?!
Nói xong, tôi cùng Trung úy Nguyễn văn Đường, hai kẻ cựu thù một thời binh lửa, nổi lên cười ngất.
Hắn vào nghề này hoàn toàn bởi sự tình cờ. Hồi ấy hắn mất việc thậm chí xuýt nữa phải” nhập kho” (1) vì bị gã đồng sự phản thùng sau lần tổ hắn biển thủ cả một xe điện thoại di động bắt được của bọn buôn lậu ở dốc Đá Trắng. Hắn thoát khỏi bộ quần áo sòng sọc không phải do thế mạnh của dây rợ hay ô dù gì, mà đơn giản chỉ vì, ông giám đốc vốn là thường vụ tỉnh uỷ, đang ngấp nghé ghế phó chủ tịch, nên đã ỉm chuyện đi. Hắn chỉ bị xử lý nội bộ rồi lặng lẽ cuốn gói không kèn không trống.
Trên đường về, qua thị trấn Đông Ký, một phố huyện mới phất lên từ thời mở cửa, hắn bước vào quán thịt chó. Trước khi hoàn dân, hắn muốn đập phá lần cuối cùng để đưa ma cho sự nghiệp mười sáu năm tận tụy với nghề bây giờ bỗng chốc trắng tay. Tại đây, hắn nhận lời chạy hàng cho bà chủ quán tên là Trần Thị Vinh nhưng khách vẫn quen gọi là “mụ Béo”. Bà chủ quán, bốn mươi hai tuổi, mặt rỗ hoa, giống như một cây thịt với bộ ngực đồ sộ và cặp mông núng nính tuy nhiên dáng đi lại khá nhẹ nhàng uyển chuyển. “Hàng” đây là các chú cầy tơ với đủ các thứ gam màu đen, vàng, vằn, vện… để ngày ngày các tay đầu bếp chuyên nghiệp chế tạo ra thứ “mộc tồn” (2) bảy món nổi tiếng phục vụ các “thượng đế” có nguồn thu nhập mờ ám nhưng khá ổn định từ các dự án xoá đói giảm nghèo.
Lúc hắn đang ăn có một người đàn ông béo tốt bước vào. Nhìn thấy chủ quán, ông ta nói ngay:
– Chị làm gấp cho hai mâm. Nhớ là loại cầy tơ…-
Bà chủ đang thái bánh phở, quẳng dao, nhìn khách nhăn nhó:
– Gay lắm, từ sáng đến giờ chẳng mua được con nào cả ông ạ.
– Chị nói thật hay đùa đấy? – Người đàn ông chợt nghiêm giọng – Hôm nay lãnh đạo uỷ ban làm việc với các sếp tài chính và ngân hàng tỉnh xin kinh phí. Quan trọng lắm. chị cố thu xếp cho.
– Tôi không đùa đâu. Chú có biết các quán khác đã đóng cửa từ cả tháng nay chỉ vì cái lệnh “cấm” của ông chủ tịch nhà chú không? Chung quanh đây hết chó rồi, mà đi xa thì không có người. Thà dẹp tiệm cho khoẻ.
Nghe câu chuyện nhấm nhẳng giữa hai người, hắn chợt nảy ra một ý. Chờ ông khách ra khỏi quán, hắn bước lại gần bà chủ khẽ bảo:
– Tôi có thể cung cấp …chó cho bà.
– Chú ở đâu ta?
– Bên Nam Thành, cũng gần đây thôi. Huyện tôi chưa thấy có lệnh cấm.
Bà chủ bưng ra một đĩa dồi hấp, một bát nhựa mận, một chai 65 (3) rượu ngang đặt trước mặt hắn:
– Coi như tôi đãi chú. Buổi sơ giao, tuy chưa biết rõ lai lịch nhưng tôi quý chú ở tính hào hiệp.
Hắn rót rượu, và nhấm nháp các món đặc sản vừa hỏi nhỏ:
– Cái ông béo vừa rồi là ai thế?
– Ông chánh văn phòng uỷ ban vừa đi nghỉ mát Đà Lạt bằng tiền “chùa” (4) về. – Bà chủ quán hất hàm – Mới về nên ông ta chưa biết cái lệnh cấm nuôi chó. Với lại văn phòng đã ghi nợ ở quán tôi hơn chục triệu rồi, bây giờ cho ký nữa thì hết vốn.
– Ra thế…
– Vậy cứ hai ngày một lần chú mang đến cho tôi.
– Mấy con thì vừa?
– Được ba bốn thì càng tốt nhưng ít nhất cũng phải có hai. – Bà chủ hướng cặp mắt lá răm lúng liếng dưới hai hàng lông mày rậm xoăn tít, nặng sùm sụp, nói chẳng biết thật hay bỡn – Dù sao đây cũng là một hợp đồng làm ăn, tôi sẽ sửa cái lễ vào cửa “Cô” để “Cô” phù hộ cho.
Hắn nheo mắt cười, giọng chớt nhả:
– Thế nhỡ tôi phá hợp đồng thì sao?
– Chú cứ đùa. – Bà chủ lấy ngón tay vuốt quết trầu hai khoé miệng, thản nhiên bảo- Đã làm ăn với nhau thì phải lấy chữ tín làm đầu. Trên đời, hay gì những quân lừa lọc, tráo trở…
Hắn gật đầu cảm ơn rồi bước ra với bộ mặt tái nhợt, thong thả dắt xe đạp. Bà chủ quán như chợt nhớ ra điều gì, gọi khẽ:
– Này, chú gì ơi!
Hắn quay lại:
– Chết, quên, tôi chưa thanh toán…
– Không, đã bảo tôi đãi chú kia mà. Chú tên là gì?
Hắn nói, tất nhiên là một cái tên giả.
– Cầm trước lấy trăm nghìn làm vốn.
– Chị không sợ tôi cầm tiền rồi “phắn” (5) à?
– Đã bảo làm ăn bây giờ phải lấy chữ tín làm đầu. Tôi tin chú vì trông chú có vẻ lương thiện.
Trên đường về hắn phác ra một kế hoạch. Dù sao thì cũng rất ít người biết hắn là viên cảnh sát bị “tuột xích” trong một vụ án mập mờ do ăn chia không đều. Hắn chỉ là gã tốt đen, thấp cổ bé họng làm vật hy sinh cho các sếp sòng, sau đó những “đại ca” đểu giả và tham ăn như chó này trở mặt làm cho hắn thân bại danh liệt.
Quê hắn là xứ đồng chiêm trũng, xa tỉnh, xa huyện, lại chậm phát triển, ít thông tin. Trừ mấy thằng bạn khác ngành ở các xã loanh quanh đã được dặn trước, còn nói chung bà con dân làng vẫn yên trí hắn là cán bộ nhà nước. Hắn lại có mối quan hệ khá tốt với ông chủ tịch nên mọi bí mật về đời tư đều được giữ kín.
Việc làm đầu tiên là hắn thuê đan lồng sắt và tự tay làm chiếc thòng lọng bằng dây dù, cán tre. Với bộ đồ nghề đó, hắn dọc ngang khắp các làng gần làng xa (tất nhiên trừ làng hắn) trong bộ quần áo bò tàng tàng, cái mũ lá rộng vành và cặp kính đen gọng to bằng ngón tay, tìm cái thứ đặc sản mà bà chủ quán phố huyện Đông Ký hợp đồng. Xong việc, hắn gửi bộ đồ nghề trong nhà một thằng bạn mới quen làm nghề lái công nông, lên thị trấn tá túc ở cái nhà bẹp của thằng bạn độc thân vừa đi trại Vân Lĩnh về. Vài tuần một lần, hắn đảo qua nhà đưa tiền cho vợ nuôi con. Phần còn lại, hắn không tiêu pha phung phí mà tích cóp lại, cho vay lãi qua bà chủ quán làm trung gian. Công việc của hắn khá thuận lợi, có những hôm gom được cả chục con. Hắn nhốt lại ở nhà thằng bạn, bán dần từng cặp hoặc ba con một. Bà chủ là người rộng rãi và sòng phẳng. Có lần, hàng mang đến không phải cầy tơ, bà ta vẫn trả đến hai mươi nghìn một ký, và lần nào cũng vậy, đều đãi hắn một bát phở bốc khói. Còn rượu thì tuỳ thích, uống bao nhiêu cũng được.
Điều làm hắn suy nghĩ đôi chút có lẽ là ở hai việc đáng buồn sau đây. Vào một hôm trời mưa, hắn đến làng Bía ở phía nam đường 183 tìm hàng. Người ta mách ông Vấn có con chó hay ăn gà muốn bán. Hắn dựa xe ở cổng rồi vào nhà. Ông Vấn là phó chính uỷ trung đoàn hồi hưu hơn chục năm, trình độ học vấn chưa hết lớp ba nhưng thuộc nằm lòng tất cả các nghị quyết từ trung ương đến địa phương của Đảng, thấy một thanh niên sức dài vai rộng, tướng mạo xem ra cũng khá mà lại làm nghề buôn chó, ngứa mắt bảo:
– Anh không kiếm đựoc nghề nào đỡ nhếch nhác hơn à?
Hắn điên tiết quát vào mặt lão già kiêu binh:
– Ông về hưu, ngồi mát ăn bát vàng, cứ ngồi đấy có Đảng nuôi, cần đếch gì đến ai. Còn tôi, bị mất việc, nhục như con chó nên mới phải buôn chó nuôi vợ con. Đề nghị ông đậy cái miệng lại cho.
Chuyện thứ hai. Hôm hắn sang sông vào làng Giành. Gần trưa, hắn đã mua được hai con, định kiếm thên con nữa, chiều đi luôn, sáng mai về. Đến cổng ngôi nhà có giàn thiên lý trước cửa, hắn đánh tiếng. Nhà chủ đang ăn cơm. Chẳng ngờ, người ra mở cửa lại là cô trung uý phụ trách hộ khẩu phòng Quản lý hồ sơ đang kỳ nghỉ phép. Thế là chẳng kịp nói câu nào, hắn nhảy phốc lên xe co cẳng đạp như bị ma đuổi.
Được hơn một năm, thị trường “mộc tồn” bắt đầu biến động. Mặt hàng đặc sản này vốn hấp dẫn khách nên số lượng quán nhậu đột nhiên nở rộ như nấm mùa xuân. Đội ngũ “di vu cho” (6) phát triển theo cấp số nhân, đông đảo đến mức đi đâu cũng chạm nhau. Hơn nữa, lệnh cấm đã bắt đầu được ban bố ở một số vùng trong huyện của hắn. Chó hiếm dần mà yêu cầu của bà chủ ngày cang cao, hắn đâm lo. Sau tết âm lịch, nghĩa là vào đúng thời kỳ các quán nhậu bắt đầu mở cửa cho một năm mới thì “cầy” (7) các loại ở địa bàn hắn gần như cạn kiệt. Đây là thứ dịch vụ tạm thời kiếm ra tiền. Vợ con trông cậy vào chiếc thòng lọng, hắn không thể giải nghệ. Làm cách nào đây?
Sau một đêm vắt óc suy nghĩ, hắn bỗng nhớ ra đàn “cầy” đông đúc ở làng, vốn là vùng hẻo lánh nên chưa bị lệnh cấm đe doạ. Tuy nhiên phải hợp lý hoá bằng cách nào để không lộ tẩy? Mấy con đầu có thể nói phứa mua cho cơ quan liên hoan tổng kết chiến dịch truy quét tội phạm hoặc hội nghị an ninh khu vực, nhưng còn những con tiếp theo? Bài toán dù hóc búa dến đâu cũng có lời giải. Hồi trước, một thằng bạn làm quản giáo bên trại Ba Lăng có truyền cho hắn chút ít về nghiệp vụ chó, hơn bao giờ hết, đây chính là lúc hoạ vô đơn chí, hắn quyết định tận dụng nó như một thứ cẩm nang trời cho.
Làng Chòi rộng, nhà tranh vách đất tuềnh toàng, nhiều đường ngang ngõ dọc. Cả một cộng đồng đông đúc từ chó đen, chó vàng, chó vá đến chó vện, chó lai cứ theo nhau biến mất không để lại dấu vết làm dân chúng nháo nhào. Ông trưởng công an, sau hôm mất con chó vàng “tứ túc mai hoa” (8) nói với bố vợ hắn:
– Bọn này chủ trương diệt hết chó làng ta rồi mới chuyển sang bước thứ hai là gây án có tổ chức đây. Đểu nhất là nó lại nhè đúng nhà mình…
Ông bố vợ hắn, tuy chưa bị mất nhưng xem ra đã nổi cơn điên, giọng hậm hực:
– Các ông làm ăn chán bỏ mẹ, chưa tối đã rúc váy vợ, nó xỏ mũi là phải. Tôi đã thuê phó Viện rèn một ngọn mác, thằng nào lớ ngớ mò vào là xiên luôn cho hết giống trộm cắp. Mà cũng lạ, nếu bảo bị đánh bả thì cũng có những con không mang đi được, đằng này hầu như con nào cũng mất tăm, tựa như có phép tàng hình.
Hắn cười thầm. Trừ những trường hợp nhốt cũi để trong nhà, còn nói chung, không mấy con thoát khỏi bàn tay như có phép màu của hắn. Hắn có thứ thuốc khá hiệu nghiệm giống như chất ma tuý đặc biệt hấp dẫn đối với chó. Ngửi thấy mùi “ma dược” ấy, bất cứ con nào, dù khôn ngoan đến mấy cũng bị thôi miên. Nó sẽ tự động bỏ vị trí canh gác, chúi mũi tìm đến nơi có mồi. Hắn chỉ việc dùng thòng lọng chẹt cổ, xoa thuốc vào mõm rồi mang đến căn hầm bí mật cho vào lồng sắt. Chừng vài giờ sau, thuốc mê hết tác dụng, lũ chó tỉnh lại, khoẻ mạnh như thường. Đến lúc ấy thì hắn đã ung dung đạp xe trên quốc lộ 183, đàng hoang, lương thiện như bất cứ “di vu cho” nào khác.
Hết chó bên ngoài, hắn bắt đầu “tỉa” chó của của họ hàng. Đầu tiên là ông chú ruột, một con xám tro nặng mười bảy ký rưỡi, được ba trăm năm mươi ngàn. Bà thím tiếc đứt ruột, đắp mả hờ, trồng cây chuối ngược, thắp hương chửi đúng bốn mươi chín ngày đêm. Nhưng rồi chó của các ông chú, bà thím, ông cậu, bà cô cũng dần dần biến sạch. Bà chủ quán thấy ngày càng hiếm, tăng lên hai mươi mốt ngàn một ký và yêu cầu hắn vẫn duy trì hợp đồng. Hắn, sau khi làm xong chén rượu với bát phở nhựa mận, mặt nóng bừng, nhưng giọng vẫn tỉnh, bảo:
– Bà cảm phiền cho. Dạo này họ cấm ngặt. Hết chó rồi. Hôm qua tôi phải lạy van mãi bà dì mới được con này…
Bà chủ tỏ ra thông cảm, giọng năn nỉ:
– Bây giờ tôi chỉ còn trông cậy vào mánh của chú. Hôm rằm vừa rồi, tôi đã đến điện Trầm bốc hai bát hương và xin với “cô” phù hộ cho chị em mình ăn nên làm ra, không phản lại nhau.
Sau vụ chết hụt do bị ông chủ nhà xóm Giữa lao mũi mác vào chân, hắn đâm tin vào trò đồng cốt, bói toán. Nghe bà chủ nói, hắn thoáng thấy sợ. Trên đường về, hắn tự nhủ, cũng chỉ còn hơn chục ngày nữa, thôi đành cố vậy, rồi sau sẽ liệu.
Con thứ nhất và con thứ hai của ông chủ tịch. “Ông thông cảm. Chẳng còn cách nào khác. Xong việc. tôi sẽ mang toàn bộ số tiền bán hai con chó đặt vào khe cửa nhà ông”. Con thứ ba của chính ông bố vợ hắn. Đối với hắn, xích sắt, khoá và lưỡi mác sáng loáng của phó Viện không là gì. Hắn mang đi con chó đen “huyền đề” (9) và để lại cửa buồng một bọc tiền. Ông trưởng công an biết chuyện, sang chia buồn. Cả hai nhìn nhau lắc đầu, không biết nói thế nào về vụ trộm lạ đời.
Nhà hắn có một con chó trắng. Hắn tự bào chữa, mang chó nhà đi không phải là ăn trộm. Hắn sẽ cầm tiền về cho vợ. Tuy nhiên, quyết định rồi nhưng trong thâm tâm vẫn có điều lấn cấn. Hắn bán chó, chẳng may trộm mò vào nẫng sạch đồ đạc trong nhà thì biết tính sao? Mà hắn lại thường xuyên đi vắng. Nghĩ thế nhưng rồi hắn lại tặc lưỡi: “Cứ biết thế đã, ở đây lệnh cấm chỉ có tính tượng trưng, nay mai mua con khác”. Vậy là đêm ấy chính nhà hắn mất chó.
Còn hai ngày nữa mới hết hội. Hắn phải kiếm bằng được con cuối cùng cho đủ số lượng giao kèo. Làng hắn gần như đã hết, trừ vài con chó ghẻ, trụi sạch lông, gầy giơ xương chẳng bõ động tay. Hắn chợt nghĩ đến làng Trụ bên kia sông. Tình cờ, chiều ấy từ xóm Trại về, hắn nghe ngoài đê có tiếng chó sủa. Đó là nhà bà Tảo goá chồng, ngôi nhà duy nhất ngoài bãi mà hắn chưa mò đến. Bà Tảo gần bảy mươi, mắt kém, có con chó vện mới đẻ chừng già nửa tháng. Chó mẹ tuy nuôi con nhưng khá béo và cái chính là rất khôn.
Chung quanh nhà có vườn chuối tây tốt như rừng. Đêm ấy, hắn huýt sáo nhẹ rồi vứt miếng mồi có tẩm “ma dược” vào góc vườn. Con chó khịt mũi đánh hơi nhưng nhất định không ra. Hắn chờ đến nửa tiếng, con Vện vẫn đứng nép dưới gốc chuối cảnh giác, thỉnh thoảng lại rít lên khe khẽ. Nóng ruột, hắn xoa thuốc làm mất hơi người vào mặt và chân tay, sau đó lách cổng chui vào ném miếng bả thứ hai. Con vật hình như chưa hoàn toàn tê liệt mọi giác quan. Cặp mắt nó mở trừng trừng, lóng lánh như mắt ma. Biết rõ trong nhà chỉ có một người đàn bà hoàn toàn không còn khả năng tự vệ, cùng với máu liều của một gã lưu manh từng được đào luyện trong bộ máy công quyền, hắn càng thêm vững tâm trong phi vụ cuối cùng. Lúc này con chó vừa nhìn xoáy vào hắn vừa lấy hai chân cào cào xuống đất rồi quay đầu chạy vào vườn chuối. Hắn cảm thấy lạnh và thất vọng. Bỗng nhiên có tiếng chó con gọi mẹ khe khẽ. Hắn áp tai vào đầu nhà và bất ngờ phát hiện ra đàn chó ở trong gian bếp nhỏ, cửa không khoá, nằm đối đầu với ngôi nhà chính. Lặng lẽ như một tên kẻ trộm chính cống, hẳn lẻn vào bếp lần đến ổ chó bắt hai con. Quả nhiên, hắn vừa ra đến cổng, con chó mẹ lại xuất hiện. Nó rên ư ử, nhe răng lao vào hắn. Hắn nhanh tay vứt miếng mồi thứ ba. Con Vện vội lùi lại nhưng “ma dược” đã làm nó mất mọi phản ứng. Hắn quẳng lũ chó con vào vườn chuối, rút thòng lọng tròng vào cổ con chó mẹ…
Sáng hôm sau, đúng vào ngày cuối cùng của mùa hội, hắn đạp xe vượt chặng đường mười bảy cây số đến thị trấn Đông Ký. Bà chủ quán đang sốt ruột, thấy hắn, mắt sáng lên:
– Hôm nay chú không đến thì tôi sập tiệm. Và mới có một đoàn khách của huyện uỷ đặt ba mươi tám suất mà chưa biết trông vào đâu.
Hắn đỡ chén nước nóng uống một ngụm rồi bắt đầu mở cửa lồng. Con chó bị trói hai chân trước quặt ra đằng sau, nằm bẹp một góc. Bị quăng xuống đất, nó giãy giụa, quằn quại, nhớt dãi chảy lòng thòng, một bên mõm dĩnh đấy cát. Như có luồng điện khá mạnh xuyên qua người, hắn không dám nhìn vào mắt nó nhưng linh tính báo cho hắn biết có chuyện chẳng lành. Con chó thở hồng hộc và bỗng nhiên tru lên một hồi dài thê thảm như tiếng loài sói bị thương hú gọi đàn. Tiếng hú âm âm, ghê rợn làm bà Béo phát hoảng, chắp hai tay vái lấy vái để lên bàn thờ Thổ công. Hắn cười gằn, vớ cây gậy ở gầm giường vụt vô tội vạ. Nhưng có lẽ do tâm thần bắt đầu hoảng loạn nên hắn toàn đập trượt. Con chó cố sức vùng vẫy, và, chẳng biết trong lúc hiểm nguy, nó làm cách nào giựt tung được dây trói, nép vào góc tường tránh đòn. Hắn quyết định trừng phạt đến cùng con chó láo lếu liền cầm gậy bằng cả hai tay vung lên quá đầu. Trong khoảnh khắc, con chó ngẩng lên, hai cánh múi phập phồng, run run. Từ cặp mắt thất thần của nó lăn ra những giọt nước trong suốt như thủy tinh pha lê. Lần đầu trong đời nhìn thấy sự lạ, hắn tái mặt, quẳng gậy, lùi dần về phía sau. Được tự do, con chó lưỡng lự vài giây rồi mới cúp đuôi rông thẳng ra đường.
Hắn ngồi xệp xuống, mắt trợn ngược, toàn lòng trắng. Mọi phản xạ lúc này có vẻ không theo quy luật tự nhiên nữa. Hắn tựa như kẻ mất hết khả năng suy nghĩ mà lần mò trong thế giới vô thức. Và rồi, chẳng biết thứ ma quỷ nào ốp vào, thốt nhiên, hắn bỏ quán bà Béo, bỏ cả xe đạp với chiếc lồng sắt chạy bổ ra đường đuổi theo con chó khốn khổ. Đầu hắn lao về phía trước, hai tay chới với, miệng sùi bọt, sủa váng lên :
– Gâu! Gâu!
Đặng Văn Sinh
(1) Đi tù
(2) Là chó theo cách giải câu đố của Trạng Quỳnh
(3) Chai thủy tinh dung tích 65cc
(4) Tiền do nhà nước cấp
(5) Chạy (tiếng lóng)
(6) Di vu cho: Dịch vụ chó (tên gọi tắt theo kiểu Tây)
Sau khi Mỹ đơn phương ký kết Hiệp Định Paris với CSVN, đầu năm 1973 rút quân bỏ rơi chúng ta, báo chí truyền thông Mỹ mở chiến dịch rầm rộ bôi nhọ quân lực chúng ta. Quân CSBV nắm lấy thời cơ không ngừng vi phạm Hiệp Định Paris, tấn công chúng ta liên tục ở MNVN. Đồng thời Quốc Hội Hoa Kỳ cắt đứt viện trợ quân sư. Quân Lực VNCH buộc phải chiến đấu tự vệ trong thiếu thốn kinh khủng về trang bị quân dụng, đạn dược, xăng dầu.
Lúc bấy giờ ở Vùng 1 Chiến Thuật trên tuyến đầu của Tổ Quốc ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, các đơn vị tổng trừ bị thiện chiến Dù, TQLC, BĐQ cùng với SĐ1, SĐ2, SD3BB và các đơn vị NQ-ĐPQ của quân lực chúng ta phải chiến đấu ngày đêm vô cùng gian khổ giành nhau từng thước đất với quân thù CSBV.
Dân chúng MNVN bị tuyên truyền xảo quyệt của báo chí truyền thông Mỹ và CSBV, nên đa số hiểu sai khả năng thật sự của quân lực chúng ta. Có biết bao anh hùng tử sĩ đã hi sinh để bảo vệ MNVN thân yêu của chúng ta.
Những năm tháng cuối của cuộc chiến, mặc dù gặp muôn ngàn khó khăn về yểm trợ và tiếp vận, quân lực chúng ta vẫnn chiến đấu bền bĩ kiên cường làm cho Bộ trưởng Ngoại giao Kissinger có lúc mất bình tĩnh phải thốt ra: “Sao bọn chúng chưa chết phứt đi cho rồi”. Chẳng những quân lực chúng ta không chết đi, mà còn đánh trả quân xâm lược những đòn chí tử cho đến phút chót.
Nhân Xuân Tha Hương nhớ người chiến sĩ VNCH, nhớ anh thương phế binh sống tủi nhục đau đớn ở quê nhà, tôi xin đăng lại một chiến tích xuất sắc đáng được hãnh diện về quân lực của chúng ta.
Ảnh minh hoạ
Trần Quang Khôi
TB: Bài CHÂN DUNG NGƯỜI CHIẾN SĨ cũng đã được dịch ra Anh ngữ sẽ đăng trên trang nhà của TGB và sẽ được phổ biến rộng rãi trong dân chúng Mỹ. Đã gởi các copy đi:
– TS Sorley
– Nhà văn Jay Veith
– Giáo sư TS Louis Leresche
– Đại tá Raymond Battreall
– Một số người Mỹ bạn của VNCH
1. Tình hình chung ở Vùng 3 Chiến Thuật
Sau khi ký kết Hiệp Định Paris, đầu năm 1973, Quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam (MNVN) bắt đầu rút quân về nước. Các đơn vị chủ lực của CSVN ở Vùng 3 Chiến Thuật gồm có 3 Sư Đoàn Bộ binh: 5, 7, 9 và các đơn vị đặc công ém quân bên kia biên giới Việt Miên thường xuyên xâm nhập vào lãnh thổ nước ta quấy nhiễu hoặc bao vây tấn công các đồn biên phòng của chúng ta dọc theo biên giới ở các tỉnh Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Long và Phước Long. Chủ lực của Quân Đoàn III gồm có 3 Sư Đoàn Bộ Binh 5, 18, 25 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh được sự yểm trợ trực tiếp của Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh 155 ly, Tiểu Đoàn 61 PB 105 ly và Liên Đoàn 30 Công Binh dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, một mặt phải lo dàn mỏng quân ra thay thế Lực lượng II Dã chiến Hoa Kỳ để bảo vệ lãnh thổ chống lại chủ trương “dành dân lấn đất” của Cộng Sản sau khi Hiệp Định Paris ra đời; mặt khác, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân Đoàn III phạm sai lầm rất lớn về tổ chức và sử dụng lực lượng là giải tán Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III và phân tán nát Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ra từng mảnh nhỏ sau khi tôi rời Lữ Đoàn đi du học ở Hoa Kỳ năm 1972. Hai sự kiện đó làm cho Quân Đoàn III bị suy yếu trầm trọng và hoàn toàn bị mất đi tính di động. Vì thế mà Lộc Ninh bị địch chiếm và các đồn biên phòng ở Tây Ninh lần lượt bị lọt vào tay địch. Tháng 7 năm 1973 tôi từ Mỹ trở về nước. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần cũng vừa thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Minh đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân Đoàn III. Ông nghe tiếng tôi đã từng chỉ huy Chiến Đoàn 318 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh đánh thắng nhiều trận lớn trên chiến trường Campuchia từ thời Đại Tướng Đỗ Cao Trí trong 2 năm 1970-1971, nên vận động xin tôi về trở lại Quân Đoàn III với ông. Ngày 7 tháng 11 năm 1973, tôi nhận quyền chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ở Biên Hòa.
Ảnh minh hoạ
Việc đầu tiên là tôi gom các đơn vị Thiết Giáp bị phân tán về lại Lữ Đoàn và trình Trung Tướng Thuần gấp rút tổ chức lại Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III (LLXKQĐIII) theo mô hình tổ chức của Đại Tướng Đỗ Cao Trí. Ông cho tôi toàn quyền hành động.
Tình hình quân sự ngày càng nặng sau khi quân Mỹ rút đi. Trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972, nhiều chiến xa T-54 địch xuất hiện lần đầu tiên ở miền Nam trên chiến trường ở An Lộc, nên tôi tiên đoán chiến trường tương lai chiến xa địch có thể xuất hiện ở Biên Hòa; tôi xin Quân Đoàn trang bị cho tất cả các đơn vị Địa Phương Quân ở Biên Hòa súng phóng hỏa tiễn M72 chống chiến xa, được phép huấn luyện họ sử dụng loại vũ khí này và huấn luyện họ phối hợp tác chiến với Thiết Giáp, đồng thời tích cực tổ chức địa thế chống chiến xa địch chung quanh thành phố Biên Hòa. Các đường xâm nhập vào thành phố đều được thiết kế đặt mìn chống chiến xa và hầm hào chống chiến xa địch. Chính nhờ nỗ lực này của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh mà sau này trong “Chiến Dịch Hồ Chí Minh” năm 1975 của Cộng Sản Bắc Việt, Quân Đoàn 4 CS đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa và Sư Đoàn 341 CS bị quân ta đánh bại ở Biên Hòa trong ngày 30-4-1975.
Tôi ra sức cải tổ lại Lữ Đoàn 3 KB cho phù hợp với địa thế Việt Nam. Mỗi chi đội chiến xa có 3 chiến xa M48 thay vì 5 chiếc. Tôi cơ động hóa Pháo Binh bằng cách dùng xe xích M548 biến cải chở pháo 105 ly. Tôi tổ chức LLXKQĐIII thành một đại đơn vị liên binh Thiết Giáp – Biệt Động Quân – Pháo Binh – Công Binh hoàn toàn cơ động gồm 3 Chiến Đoàn : 315, 318 và 322. Tôi gấp rút huấn luyện tác chiến liên binh thuần thục và thường xuyên làm công tác tư tưởng để mọi quân nhân hiểu rõ địch, hiểu rõ nhiệm vụ và mục tiêu chiến đấu của chúng ta, nhất là để mọi chiến sĩ dưới quyền có niềm tin ở sự chỉ huy của tôi. Đến hạ tuần tháng ba, 1974, LLXKQĐIII đã trở thành một đại đơn vị cơ động tinh nhuệ sẵn sàng lên đường chiến đấu.
2. Tình hình đặc biệt :
Cuộc chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân Căn Cứ Đức Huệ nằm khoảng 56 km hướng Tây Bắc Sài Gòn gần biên giới Việt Miên thuộc quận Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa do Tiểu Đoàn 83 BĐQ Biên phòng trấn giữ với quân số trên dưới 420 người cùng với gia đình vợ con binh sĩ vào khoảng 80 người sống trong căn cứ nguyên là một trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ để lại (xem hình 1) . Tiểu Đoàn trưởng là Thiếu Tá Hoa Văn Hạnh. Khi xảy ra trận chiến thì Thiếu Tá Hạnh đi nghỉ phép vắng mặt. Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo, Tiểu Đoàn phó thay thế chỉ huy.
Tiểu Đoàn 83 BĐQ có 4 Đại Đội tác chiến và 1 Đại Đội Chỉ huy và Công vụ:
– Trung Úy Thạch Thông chỉ huy Đại Đội 1,
– Trung Úy Hiền chỉ huy Đại Đội 2,
– Trung Úy Thất chỉ huy Đại Đội 3,
– Trung Úy Tuội chỉ huy Đại Đội 4 và
– Thiếu Úy Vạng chỉ huy Đại Đội Chỉ huy và Công vụ.
Được tin tình báo VC sẽ đến đánh căn cứ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo cho 3 Đại Đội tác chiến ra ngoài căn cứ: 1 Đại Đội bố trí các tiền đồn an ninh xa và 2 Đại Đội hành quân tìm và diệt địch ngoài xa căn cứ. Còn lại một Đại Đội tác chiến trừ bị bố phòng trong căn cứ.
(1) Đêm 27- 3 -1974, một đaị đội Đặc Công CS xâm nhập được vào bên trong Căn Cứ Đức Huệ; vào lúc 02:00 giờ sáng ngày 28-3-1974, chúng chiếm được một góc trong căn cứ. Ngay từ những phát súng nổ đầu tiên, Thiếu Tá Bảo bị thương ở chân, gọi được 3 Đại Đội tác chiến bên ngoài gấp rút trở về. Tiểu Đoàn tập trung lại phản công quyết liệt. Bên ngoài căn cứ, Sư Đoàn 5 CS (Công Trường 5) bao vây chặt; pháo binh địch tập trung hỏa lực pháo kích vào căn cứ rất dữ dội. Bên trong căn cứ Biệt Động Quân và Đặc Công CS cận chiến giành nhau từng vị trí một, đánh nhau bằng lưỡi lê và lựu đạn. Đến sáng thì đại đội Đặc công CS bị quân ta tiêu diệt hết.
Tiểu Đoàn 83 BĐQ làm chủ tình hình bên trong căn cứ, tổ chức lại phòng thủ chặt chẽ và sử dụng Pháo Binh của Tiểu Khu Hậu Nghĩa bắn yểm trợ hỏa lực chung quanh căn cứ. Trong khi đó, các Đại Đội tác chiến BĐQ bố phòng bên trong chặn đứng các đợt xung phong bên ngoài của các đơn vị bộ bnh Sư Đoàn 5 CS. Hai bên giao chiến ác liệt ngày đêm không ngừng nghỉ. Tiểu Đoàn 36 BĐQ do Thiếu Tá Lê Quang Giai chỉ huy, tăng phái cho Tiểu Khu Hậu Nghĩa, vượt sông Vàm Cỏ Đông ở Đức Hòa tiến về hướng Căn Cứ Đức Huệ bị phục binh của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 CS ở Giồng Thổ Địa thuộc xã Đức Huệ tấn công buộc Tiểu Đoàn phải thối lui lại gần bờ sông Vàm Cỏ.
(2) Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III liền điều động Bộ Chỉ huy Liên Đoàn 33 BĐQ do Trung Tá Lê Tất Biên phụ trách sang Đức Hòa cùng với Tiểu Đoàn 64 BĐQ do Thiếu Tá Nguyễn Chiêu Minh chỉ huy. Ngày 31-3-1974, Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ (khoảng 50 người) do Trung Úy Anh chỉ huy được trực thăng vận xuống Căn Cứ Đức Huệ tăng cường cho Tiểu Đoàn 83 BĐQ, đồng thời Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) vượt sông Vàm Cỏ Đông ở gần nhà máy đường Hiệp Hòa, nhập với Tiểu Đoàn 36 BĐQ làm 2 cánh quân tiến song song về hướng Căn Cứ Đức Huệ ở cách đó chừng 10 cây số đường chim bay về hướng Tây. Tiến được chừng 2 cây số, khoảng hơn 1 trung đoàn Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 5 CS từ những vị trí hầm hào đào sẵn, xông lên tấn công mạnh, đồng thời pháo binh địch tập trung hỏa lực bắn xối xả vào đội hình của hai cánh quân này gây tổn thất nặng. Cuối cùng Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) và Tiểu Đoàn 36 BĐQ buộc phải gom quân rút lui về lại bên này bờ sông Vàm Cỏ (xem hình 1).
Ảnh minh hoạ
(3) Sư Đoàn 25 BB hành quân giải tỏa. Tiếp theo, Bộ Tư lệnh QĐIII giao nhiệm vụ cho Sư Đoàn 25 BB do Đại Tá Nguyễn Hữu Toán chỉ huy, tổ chức hành quân giải tỏa Căn Cứ Đức Huệ. Đại Tá Toán liền điều động các đơn vị thuộc Sư Đoàn đang hành quân trong vùng lân cận biên giới từ phía Bắc đến giải tỏa (xem hình 1). Một căn cứ hỏa lực được thành lập tại làng Phước Chỉ thuộc tỉnh Tây Ninh. Căn cứ này nằm cách biên giới khoảng 2 Km về phía Nam đồn biên giới An Hòa và cách Căn Cứ Đức Huệ khoảng 13 Km về phía Bắc. Ngoài Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly cơ hữu Sư Đoàn phối trí trong căn cứ Phước Chỉ, còn có Trung đoàn 46/SĐ25 BB được tăng cường Chi đoàn 3/10 Thiết kỵ. Chi đoàn trưởng Chi đoàn này là Đại Úy Trần Văn Hiền. Tất cả lực lượng liên binh này được đặt dưới quyền điều động của Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 BB và được giám sát chỉ huy bởi Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25 BB ở Củ Chi.
Để đối phó với đoàn quân giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB, quân địch đã chủ động tổ chức địa thế, bố trí quân kín đáo chờ đánh quân tiếp viện. Chúng đặt các chốt chặn trên trục tiến quân của ta không vượt qua được, đồng thời Pháo Binh tầm xa của chúng nằm sâu bên kia biên giới mở những trận địa pháo chính xác, liên tục và ác liệt gây nhiều thương vong cho Trung đoàn 46 BB, làm tê liệt các cánh quân không điều động được, nên kế hoạch giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB thất bại. Một phi cơ quan sát L19 bị phòng không địch bắn rơi gần đó, Trung đoàn cũng không tiếp cứu nổi phi hành đoàn. Sau đó quân địch pháo kích tập trung hỏa lực thẳng vào căn cứ Phước Chỉ bằng hỏa tiễn 107 ly và 122 ly khiến Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46/SĐ25 BB bị tử thương. Trong suốt thời gian gần một tháng trời, quân bạn không đem lại một kết quả khả quan nào, hàng ngày vẫn bị pháo kích dồn dập, trực thăng tản thương và tiếp tế bị bắn rớt ngay trong căn cứ, 1 khu trục cơ Skyraider yểm trợ hành quân và 1 phi cơ DC3 thả dù tiếp tế bị hỏa tiễn SA 7 bắn rớt; những cánh dù mang lương thực và đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ thường bay ra ngoài vòng rào và lọt vào tay quân địch. Như vậy là cả hai nỗ lực từ phía sông Vàm Cỏ Đông của BĐQ qua và từ phía Bắc của Sư Đoàn 25 BB xuống đều bị thất bại trong việc tiếp cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ (xem hình 1).
(4) Những “Anh hùng Alamo Việt Nam”. Bên trong căn cứ, trong lúc đó, các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 của Trung Úy Anh thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo chiến đấu vô cùng dũng mãnh, càng đánh càng hăng từ lúc đầu cận chiến với đặc công địch bằng lưỡi lê và lựu đạn bên trong căn cứ cho đến về sau này phải chiến đấu đẩy lui các đợt xung phong của địch ngày đêm không ngừng nghỉ. Cuối cùng lương thực và đạn dược bắt đầu cạn, căn cứ bị cô lập không được tiếp tế, không tản thương được, nhưng không vì thế mà tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ BĐQ bị suy giảm. Họ thề quyết tử chiến với quân thù. Gia đình vợ con của các chiến sĩ BĐQ trong căn cứ cũng tích cực tham gia chiến đấu bên cạnh chồng cha họ. Họ cổ võ, họ giúp tản thương, cứu thương, tiếp tế đạn dược và lo cơm nước. Có người còn cầm súng chiến đấu vô cùng dũng cảm. Mặc dù tỷ lệ quân số giữa ta và địch quá chênh lệch, quân địch không sao dứt điểm được. Xác địch chồng chất ngổn ngang bên trong và bên ngoài Căn Cứ Đức Huệ.
So sánh sự tử thủ nổi tiếng của quân đội Mỹ ở đồn binh “Alamo” năm 1836 do Trung Tá William Barret Travis chỉ huy với quân số 189 người chống lại sự bao vây và tấn công của hơn 2,000 quân Mễ với tỷ lệ quân số hai bên là 1/11. Sau 13 ngày đêm tử chiến, đồn binh bị quân địch tràn ngập ngày 6-3-1836. Tất cả 189 chiến sĩ trong đồn binh đều tử trận, chỉ còn sống sót 14 người là đàn bà và trẻ con. Khoảng 1,600 quân Mễ bị giết.
Hoặc so sánh sự tử thủ nổi tiếng của quân Lê-Dương Pháp ở làng “Camerone” ngày 30-4-1863 với 65 chiến sĩ do Đại Úy Danjou chỉ huy chống lại sự bao vây và tấn công của 2,000 quân Mễ với tỷ lệ quân số hai bên là 1/34. Sau 11 giờ tử chiến, quân Lê-Dương Pháp giết hơn 300 quân Mễ, vị trí phòng thủ bị tràn ngập, 62 quân Lê-Dương Pháp bị giết, chỉ còn sống sót 3 người bị trọng thương.
Tiểu Đoàn 83 BĐQ phòng thủ trong Căn Cứ Đức Huệ với quân số khoảng 420 người được tăng cường 50 người của Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ. Tổng cộng quân số là 470 người chống lại sự bao vây và tấn công của hơn 6,500 quân của Sư Đoàn 5 CS với tỷ lệ quân số đôi bên là 1/13. Sau hơn 1 tháng chiến đấu quyết liệt từ ngày 27-3-1974 đến ngày 28-4-1974, giữ vững vị trí phòng thủ, giết hơn 200 quân địch và gây thương tích cho khoảng 500 tên khác. Tổn thất bên BĐQ là 24 chết và hơn 100 người bị thương.
Mặc dù thời đại có khác nhau, mẫu số chung của những anh hùng ở Alamo, Camerone và Đức Huệ là sự quyết tâm tử thủ bằng mọi giá. Với tỷ lệ quân số đôi bên chênh lệch như thế, họ vẫn hiên ngang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến hơi thở cuối cùng. Có thể nói không quá đáng là những chiến sĩ Biệt Động Quân chiến đấu ở Căn Cứ Đức Huệ đích thật là những “Anh hùng Alamo Việt Nam”.
Sự chiến đấu kiên cường và dũng cảm của BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ còn chứng minh hùng hồn cho thế giới thấy rằng tinh thần và khả năng chiến đấu của quân lực chúng ta không thua bất cứ quân đội tân tiến nào trên thế giới. Một số người thiển cận và một số dư luận báo chí kỳ thị của Mỹ cho rằng khi Quân đội Mỹ rút đi khỏi Miền Nam Việt Nam thì Quân Lực VNCH thiếu tinh thần chiến đấu đưa đến việc mất Miền Nam Việt Nam. Nhận định này là vô lý và hoàn toàn sai sự thật. Mất Miền Nam Việt Nam rõ ràng là vì quân ta thiếu phương tiện chiến đấu chứ không phải thiếu tinh thần chiến đấu.
3. Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh – Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III Xuất Trận:
Vấn đề vô cùng khẩn trương lúc đó là việc tản thương, cứu thương và tiếp tế lương thực, nước uống, đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ trong lúc mọi đường giao thông liên lạc vào căn cứ đều bị Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn cắt đứt nhiều ngày. Căn cứ bị cô lập và bị bao vây chặt. Tình hình bên trong căn cứ rất căng thẳng.
(1) Ngày 17-4-1974, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III, cho gọi tôi. Lúc bấy giờ tôi đang chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh hành quân thám sát “Khu Tam Giác Sắt” và “Vùng Hố Bò”, sau khi Chiến Đoàn 315 của Trung Tá Dư Ngọc Thanh đập tan Tiểu Đoàn Tây Sơn thuộc Trung đoàn 101 Địa phương Việt Cộng giải tỏa áp lực địch chung quanh đồn Bò Cạp và đồn Chà Rày thuộc Chi Khu Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh.
Tôi lên trực thăng chỉ huy bay về Biên Hòa trình diện Trung Tướng Tư lệnh Quân Đoàn. Ông tiếp tôi và cho tôi biết qua tình hình địch và bạn và tình trạng hiện nay bên trong Căn Cứ Đức Huệ. Sau đó Trung Tướng ra lệnh cho tôi lấy trực thăng bay qua Đức Hòa xem xét tình hình chiến sự bên đó rồi về trình cho ông biết ý kiến.
Tôi liền lên trực thăng bay qua Đức Hòa. Trên đường bay, tôi mải mê lo nghĩ phải làm gì để đối phó với Sư Đoàn 5 CS đây? Linh tính cho tôi biết có thể tôi sẽ được Bộ Tư lệnh Quân Đoàn chỉ định giải quyết tình trạng nguy kịch ở Căn Cứ Đức Huệ. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn. Cách đánh của quân địch từ trước tới nay vẫn là “Công Đồn Đả Viện”. Địch chủ động tổ chức chiến trường nhiều ngày chờ ta đến. Pháo binh tầm xa của chúng bố trí an toàn bên kia biên giới và sẵn sàng mở những trận địa pháo chính xác và ác liệt khó lọt qua được. Địch lại nắm ưu thế về quân số và địa thế. Ta có lực lượng Thiết Giáp hùng hậu, ta làm chủ không phận và có không lực yểm trợ mạnh mẽ. Nhưng gần đây, quân địch được trang bị nhiều vũ khí tối tân của Liên Sô như hỏa tiễn phòng không tầm nhiệt SA7 đã gây cho Không Lực ta nhiều tổn thất đáng kể, và hỏa tiễn chống chiến xa AT3, một loại hỏa tiễn lợi hại có bộ phận điều khiển giống hỏa tiễn TOW chống xe tăng của Mỹ. Tôi đã từng gặp hỏa tiễn AT3 này một lần trên chiến trường Campuchia. Mải mê suy nghĩ, trực thăng đáp xuống sân bay Đức Hòa lúc nào không biết khi một loạt đạn pháo kích của địch nổ chát chúa chung quanh trực thăng làm tôi giật mình bừng tỉnh. Tôi cầm bản đồ phóng nhanh xuống đất và ra dấu cho trực thăng bay đi. Tôi vội lên xe Jeep đang chờ và cho tài xế chạy nhanh đến nhà máy đường Hiệp Hòa là nơi Bộ Chỉ huy Liên Đoàn 33 BĐQ đang tạm đóng. Tôi leo lên tầng cao nhất của nhà máy. Ở đây nhìn ra ngoài, ta thấy con sông Vàm Cỏ Đông uốn khúc bên dưới. Bên kia sông là một dãy đất trải dài xa tắp đến tận biên giới Việt Miên. Trung Tá Lê Tất Biên, Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 33 BĐQ, tiếp tôi và thuyết trình cho tôi rõ tình hình của cánh quân BĐQ ở phía Đông Căn Cứ Đức Huệ. Sau khi vượt sông Vàm Cỏ Đông thất bại, Tiểu Đoàn 36 BĐQ và Tiểu Đoàn 64 BĐQ đang tổ chức lại hàng ngũ, bổ sung quân số và chờ lệnh mới của Bộ Tư lệnh Quân Đoàn (xem hình 1).
(2) Kế hoạch hành quân của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh.
Rời Bộ Chỉ huy của Liên Đoàn 33 BĐQ, tôi lên trực thăng bay về hướng biên giới. Tôi cho trực thăng bay thật cao để có cái nhìn tổng quát bên dưới và cũng để đề phòng phòng không của địch bố trí dày đặc ở bên dưới. Bay qua khỏi sông Vàm Cỏ Đông là đến vùng biên giới Việt Miên. Bên này biên giới là một dãy đất bằng phẳng sình lầy, chi chít những kinh lạch gần giống như vùng Đồng Tháp Mười ở Miền Tây. Xa xa trên đất Miên là những làng mạc rải rác vắng vẻ. Nằm xa tít về hướng Nam là Căn Cứ Đức Huệ lẻ loi, cô độc. Tôi cho trực thăng bay sâu vào đất Miên. Thị trấn ChiPu của Campuchia xuất hiện ở phía trước. Về phía Nam một chút, có một khu rừng chừng 10 mẫu Tây gây sự chú ý của tôi. Tôi chợt nhớ lại cách đó 4 năm, trong cuộc hành quân “Toàn Thắng 42” cuối tháng 4-1970, tôi có đi qua khu rừng này và tôi có biết rất rõ địa thế phía Nam của Thị trấn ChiPu.
Trong chớp mắt, tôi thấy ngay là phải hành động như thế nào để đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ. Quả thật giản dị đúng như Napoléon nói: “La guerre est un art simple et tout d’exécution” (Chiến tranh là một nghệ thuật giản dị và tất cả là cách thực hiện trên chiến trường). Trong đầu tôi hiện ra cách thực hiện một kế hoạch hành quân giản dị trong đó hành động táo bạo, nhanh chóng và hoàn toàn bất ngờ là chìa khóa của thắng lợi. Lòng tôi cảm thấy nhẹ nhỏm.
Trở về hậu cứ của Lữ Đoàn ở Biên Hòa, tôi liền tự tay phác họa ra kế hoạch phản công trong vòng 20 phút. Đặc điểm của kế hoạch này là sự giản dị tối đa và bất ngờ hoàn toàn: Toàn bộ LLXKQĐIII sẽ cùng tôi vượt biên đêm và bí mật tiến sâu vô lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Nỗ lực chính là đột kích đêm vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS từ hướng Nam ChiPu. Phải hết sức giữ bí mật và hành động thật nhanh, tập trung toàn bộ sức mạnh của Thiết Giáp, khai thác tối đa tốc độ và “Shock Action” trên trận địa, không cho địch trở tay kịp (xem hình 2).
Tôi cầm kế hoạch trong tay đi lên Bộ Tư lệnh Quân Đoàn gặp Trung Tướng Phạm Quốc Thuần. Ông tiếp tôi và tôi xin được trình bày. Tôi trải tấm bản đồ 1/50,000 ra bàn. Ông chăm chú lắng nghe tôi nói: “Sáng nay, theo lệnh Trung Tướng, tôi đã bay đi thám sát mặt trận ở Đức Hòa Đức Huệ. Tình hình rất xấu, chúng ta phải hành động ngay, sợ không kịp vì Căn Cứ Đức Huệ bị vây hãm từ 27-3 đến nay hơn 20 ngày. Tiếp tế và tản thương cho Căn Cứ Đức Huệ bị địch cắt đứt hoàn toàn. Tôi xin đề nghị lên Trung Tướng: Sử dụng LLXKQĐIII phản công ở Căn Cứ Đức Huệ. Kế hoạch phản công của tôi có 2 giai đoạn.
– Giai đoạn 1: Hành quân lừa địch: Từ ngày N-6 đến ngày N: Rút LLXKQĐIII đang hành quân thám sát trong tỉnh Tây Ninh về khu Comi ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một). Tôi sẽ tung tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển lên Xuân Lộc (Long Khánh). Mục đích của cuộc điều quân này là làm cho quân địch tưởng là lực lượng Thiết Giáp sẽ rút đi đến một nơi khác.
– Giai đoạn 2: Hành quân phản công: Từ ngày N: Xuất quân đêm, trở lên Gò Dầu Hạ, vượt biên giới tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Sau đó chuyển sang hướng Nam ChiPu, dựa vào đêm tối tấn công toàn lực vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS bố trí ở phía Tây Căn Cứ Đức Huệ ” (xem hình 2).
Sau khi tôi trình bày xong, Trung Tướng có vẻ băn khoăn lo lắng. Ông suy nghĩ một lúc rồi nói:
– Tôi lo kế hoạch này của anh sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng về chính trị. Vì như thế là chúng ta xâm phạm vào lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền. Chính phủ Campuchia sẽ có phản ứng và Liên Hiệp Quốc chắc chắn sẽ lên tiếng phản đối. Tôi sẽ gặp khó khăn.
– Nhưng thưa Trung Tướng, CSBV đâu có tôn trọng chủ quyền của Campuchia. Chúng đang sử dụng lãnh thổ của Campuchia để tấn công chúng ta. Tôi đáp lại.
– Đúng vậy, nhưng đây là một vấn đề rất tế nhị. Anh có thể làm một kế hoạch khác được không? Ông hỏi tôi.
Tôi liền đáp:
– Thưa Trung Tướng, tôi đã xem xét kỹ tình hình và địa thế, tôi nghĩ chỉ có kế hoạch này chúng ta mới đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ.
– Ông trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói:
– Thôi được, tôi sẽ trình kế hoạch này của anh lên Tổng Thống để ông quyết định .Nếu được chấp thuận, anh sẽ chỉ huy cuộc hành quân này. Hãy về chuẩn bị lực lượng.
Tôi nhận lệnh, đứng nghiêm chào rồi lui ra. Trên đường về Lữ Đoàn, tôi nghĩ chắc rồi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ chấp thuận vì chúng ta không thể vì lo ngại Liên Hiệp Quốc mà hy sinh sinh mạng của hơn 500 chiến sĩ BĐQ và gia đình họ ở Căn Cứ Đức Huệ.
Trong lòng tôi rất vui mừng và biết ơn được vị tư lệnh Quân Đoàn tín nhiệm. Đây là lần đầu tiên tôi có trong tay sự tập trung một lực lượng Thiết Giáp lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lần đầu tiên tôi được cho toàn quyền hành động để đương đầu trực diện với một Sư Đoàn CS kể từ khi Hiệp Định Paris ra đời.
Tôi vừa được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăng cấp tướng một sao cùng với các anh Nguyễn Văn Điềm Sư Đoàn 1 BB, Phạm Ngọc Sang Không quân, Hoàng Cơ Minh Hải quân. . . Đây là dịp tôi muốn chứng tỏ khả năng chỉ huy của mình và muốn chứng tỏ một đại đơn vị Thiết Giáp biết sử dụng tập trung là một vũ khí lợi hại có thể đánh bại các đại đơn vị CS trong thế công cũng như trong thế thủ.
Ngày 20-4-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận Kế hoạch Hành quân của tôi, đồng thời ra lệnh cho Không lực VNCH trực tiếp yểm trợ tác chiến cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh 120 phi xuất (Tactical Air Support) từ ngày N đến ngày N+3 theo yêu cầu của tôi.
Tôi chọn ngày N là ngày 28-4-1974.
(3) Công tác chuẩn bị
Ngày 21-4-1974, Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III triệu tập buổi họp hành quân ở Biên Hòa do Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III chủ tọa. Có mặt Bộ Tham Mưu Quân Đoàn, Bộ Chỉ huy 3 Tiếp Vận và 3 tư lệnh Sư Đoàn 5, 18, 25: Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá Nguyễn Hữu Toán. Sau khi Bộ Tham Mưu trình bày tình hình chung ở Vùng 3 Chiến thuật và tình hình đặc biệt ở Căn Cứ Đức Huệ, Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn tuyên bố chỉ định tôi thay thế tư lệnh Sư Đoàn 25 Bộ binh chỉ huy mặt trận Đức Hòa – Đức Huệ và sử dụng LLXKQĐIII phản công, giải vây Căn Cứ Đức Huệ. Tôi đứng lên trình bày ngắn gọn trước hội nghị Kế hoạch Hành quân vượt biên đêm của LLXKQĐIII ở Gò Dầu Hạ và Hành quân Phản công của LLXKQĐIII trên lãnh thổ Campuchia (Hình 2).
Ảnh minh hoạ
Theo nhu cầu hành quân của tôi, các đơn vị sau đây được Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn III chỉ định tăng phái cho Lữ Đoàn 3 KB đễ nằm trong tổ chức của LLXKQĐIII:
– Tiểu Đoàn 64 BĐQ đi với Thiết Đoàn 15 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Dư Ngọc Thanh chỉ huy; – Tiểu Đoàn 36 BĐQ đi với Thiết Đoàn 18 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Phan Văn Sĩ chỉ huy;
– 1 Đại Đội Bộ binh thuộc Tiểu Đoàn 1/43 (Sư Đoàn 18 BB) đi với Thiết Đoàn 22 Chiến xa, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên chỉ huy; – Thiết Đoàn 10 KB (Sư Đoàn 25 BB) + Tiểu Đoàn 1/43 BB (-) (Sư Đoàn 18 BB) + 1 Chi đội Chiến xa M48 thuộc Thiết Đoàn 22 Chiến xa do Trung Tá Trần Văn Nhuận chỉ huy;
– Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh 105 ly + 1 Pháo đội 155 ly thuộc Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh do Thiếu Tá Hoa Vạn Thọ chỉ huy;
– Tiểu Đoàn 302 thuộc Liên Đoàn 30 Công binh do Thiếu Tá L?m Hồng Sơn chỉ huy; một Trung đội Điện tử (Quân Đoàn) do Thiếu Tá Hiển, Trưởng phòng 2 Lữ Đoàn kiểm soát;
– 1 Trung đội Truyền Tin Siêu tần số (Quân Đoàn) do Trung Úy Bùi Đình Lộ Trưởng phòng Truyền tin Lữ Đoàn giám sát;
– 1 Đại Đội yểm trợ Tiếp Vận thuộc Bộ chỉ huy 3 Tiếp vận do thượng sĩ Nhất Phan Thanh Nhàn (Quân cụ) chỉ huy.
Ngoài ra Trung Tướng còn ra lệnh cho 3 tư lệnh Sư Đoàn Bộ Bbinh cho tôi mượn 6 giàn hỏa tiễn chống xe tăng TOW để phân phối cho mỗi Chiến Đoàn Thiết Giáp vượt biên 2 giàn hỏa tiễn TOW gắn trên xe Thiết vận xa M113 đề phòng trường hợp có chiến xa T 54 của địch xuất hiện trên chiến trường Campuchia.
Trước khi kết thúc buổi họp, Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn chúc tôi thành công trong nhiệm vụ giao phó. Tôi đứng lên đáp lời cám ơn Trung Tướng. Lúc đó trong lòng tôi có một sự tin tưởng mãnh liệt vào chiến thắng của cuộc hành quân này, nên tự nhiên tôi buột miệng thốt ra:
– Thưa Trung Tướng, chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản!
Trên đường về Lữ Đoàn, tôi giật mình khi nghĩ lại những lời mình vừa nói. Tại sao tôi dám liều lĩnh khẳng định trước hội nghị là sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản? Mặc dù tôi có trong tay LLXKQĐIII là một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ chưa từng bị thất trận và mặc dù tôi đã nắm chặt trong tay những yếu tố có tính cách quyết định thắng lợi, nhưng vẫn còn 2 yếu tố khác ngoài tầm tay của tôi có thể làm tôi bị thất bại trong cuộc hành quân này. Đó là thời tiết và kế hoạch hành quân bị bại lộ. Thật vậy, nếu đến ngày N là ngày xuất quân trời đổ mưa trong vùng hành quân, địa thế trở nên lầy lội, tôi sẽ không thể điều động lực lượng Thiết Giáp như ý muốn được, hoặc kế hoạch hành quân của tôi được trình lên phủ Tổng Thống để xin quyết định, nếu bị tiết lộ ra ngoài, chắc chắn sẽ đưa tôi đến thảm bại. Cứ nghĩ đến 2 yếu tố này là tôi không ăn ngủ được. Tôi thấy hối tiếc đã thốt ra những lời khẳng định trước là sẽ đánh thắng quân địch. Lời khẳng định này cứ ám ảnh tôi ngày đêm. Cuối cùng tôi tự nhủ: phải giữ đúng lời hứa; bằng mọi cách, mọi giá, phải đánh thắng Sư Đoàn 5 Cộng Sản.
Ảnh minh hoạ
Ngày 22-4-1974, tôi ra lệnh cho toàn bộ LLXKQĐIII đang hành quân thám sát trong Chi Khu Khiêm Hanh thuộc tỉnh Tây Ninh rút quân về đóng ở Khu Còmi thuộc quận Lái Thiêu tỉnh Bình Dương (Thủ Đầu Một). Tôi cho phao tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển qua Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh. Mục đích của cuộc rút quân này là để đánh lừa địch, làm cho chúng tưởng là quân Thiết Giáp sẽ rút đi luôn không trở lại. Tôi cho trung đội điện tử thường xuyên nghe lén và theo dõi địch trao đổi tin tức với nhau. Khi LLXKQĐIII vừa rút đi khỏi Gò Dầu Hạ về Lái Thiêu thì đài tình báo của địch ở An Hòa Gò Dầu lên tiếng báo cáo:
“Quân Thiết Giáp đã rút đi”. Tôi biết chắc là chúng đã bị mắc lừa.
Từ ngày 22-4-74 đến ngày 28-4-74, trong 6 ngày này đóng quân ở Khu Còmi quận Lái Thiêu, các Chiến Đoàn 315, 318 và 322 theo lệnh tôi ra sức ôn tập hợp đồng tác chiến giữa Thiết Giáp – Biệt Động Quân – Pháo Binh từ cấp Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Chiến Đoàn thật nhuần nhuyễn. Riêng tôi trong 6 ngày đó, tôi tích cực không ngừng làm công tác tư tưởng. Karl Max nói: “Nếu tư tưởng được đả thông, mọi người đều giác ngộ thì sức mạnh vật chất sẽ tăng lên gấp đôi.” Kinh nghiệm chiến trường cho tôi thấy tinh thần hăng say làm tăng sức mạnh của đơn vị lên gấp bội. Khơi dậy được sự chiến đấu của toàn quân là yếu tố số một của thắng lợi. Tôi lần lượt đi xuống họp với các cấp chỉ huy Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn của các binh chủng và với các Chiến Đoàn trưởng, nói rõ tình hình của ta và địch, nói rõ nhiệm vụ và cách đánh của LLXKQĐIII để mọi người đều thông suốt và tin tưởng sự tất thắng của chúng ta. Tôi thuyết phục họ tin ở sự chỉ huy của tôi và nói rõ sự quyết tâm của tôi là phải chiến thắng bằng mọi giá. Tôi thúc đẩy họ, tôi nói đến tình đồng đội: Chúng ta không thể bỏ rơi đồng đội của mình đang bị địch bao vây và mong chờ chúng ta đến cứu họ. Tôi nhắc đến những chiến thắng vẻ vang năm xưa thời Đại Tướng Đỗ Cao Trí:
– Chúng ta đã từng gặp nhiều trận khó khăn gây cấn hơn trận này, chúng ta đều chiến thắng, đều vượt qua.
Mỗi lần nói chuyện với các sĩ quan thuộc cấp tôi đều kết luận:
– Kỳ này nhất định phải chiến thắng, tôi sẽ cùng đi với các anh, kỳ này nếu thất bại thì tất cả chúng ta kể cả tôi, sẽ không một ai trở về Việt Nam.
Ý của tôi, quyết tâm của tôi đã rõ ràng: một là chiến thắng trở về, hai là chết trên đất Miên. Không có con đường nào khác.
4. Veni, Vidi, Vici
(1) Ngày N đã đến. Đó là ngày 28-4-1974. Chiều ngày 28-4-1974, Công Binh đã sẵn sàng; Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 302 CB, theo lệnh tôi đã kín đáo cho bố trí từ chiều tối ngày hôm trước ở hai bên bờ sông Gò Dầu Hạ, gần cầu, các phà cao su để đưa chiến xa M48 qua sông. Lúc 20:00 giờ, tôi cải trang đích thân đến tận 2 bờ sông Gò Dầu Hạ kiểm tra Công Bbinh làm công tác chuẩn bị cho chiến xa vượt sông.
Đúng 22:00 giờ đêm, toàn bộ LLXKQĐIII gồm 3 Chiến Đoàn 315, 318 và 322 cùng Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng tập trung ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một) di chuyển bằng đèn mắt mèo và im lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ.
(2) Ngày 29-4-1974, lúc 00:00 giờ, các chiến xa M48 bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ theo Quốc lộ 1 trực chỉ ra hướng biên giới Việt Miên.
Từ 01:00 giờ sáng đếnn 03:00 giờ sáng, các Chiến Đoàn, Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn lần lượt vượt biên sang lãnh thổ Campuchia và vào vùng tập trung nằm sâu trong đất Miên về hướng Đông Nam thị trấn Chipu (Xem hình 2 và 3).
Đến 03:15 giờ, tất cả các đơn vị đã bố trí xong, trong vùng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất phát. Trung đội điện tử theo dõi nghe địch, không thấy chỉ dấu gì chúng nghi ngờ.
Đúng 03:30 giờ, tôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318 vượt tuyến xuất phát, tấn công song song tiến xuống phía Nam, Chiến Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 318 bên trái, Bộ Chỉ huy của tôi theo sau Chiến Đoàn 315; Chiến Đoàn 322 trừ bị, bố trí phía Nam Quốc lộ 1 chờ lệnh (Xem hình 3).
Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa, tác xạ đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây Căn Cứ Đức Huệ, đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB(-) vượt tuyến xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống Căn Cứ Đức Huệ. (Xem hình 3).
Đến 05:00 giờ sáng ngày 29-4-74, các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo cáo chạm địch. Quân ta liền điều động bao vây, chia cắt, tấn công liên tục. Quân địch bị đánh bất ngờ tháo chạy, quân ta truy đuổi chặn bắt. Các Bộ Chỉ huy Trung đoàn, Sư Đoàn, Bộ Chỉ huy Hậu cần và các căn cứ Pháo Binh của quân địch bị quân ta tràn ngập và lần lượt bị quyét sạch. Nhiều dàn pháo các loại 4 ống, 8 ống và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn 107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ . Đặc biệt hơn cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT 3 của Liên Xô nằm trên giàn phóng, chưa kịp khai hỏa bị quân ta chiếm đoạt.
Đến 08:00 giờ sáng, Không Quân Chiến Thuật lên vùng; Đại Tá Trần Văn Thoàn, tư lệnh phó Lữ Đoàn bay trực thăng chỉ huy, điều khiển Không Lực liên tục oanh kích và oanh tạc địch từ sáng đến chiều tối. Đến 19:00 giờ ngày 29 4 74, đại quân của Sư Đoàn 5 CS bị đánh tan rã rút chạy về hướng Mộc Hóa thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi liền tung cả ba Chiến Đoàn đồng loạt truy đuổi địch và cho Không Quân Chiến Thuật tập trung truy kích chúng sâu trong lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật. Hàng ngàn quân địch bị giết và bị thương và hàng trăm tên bị quân ta bắt sống.
(3) Sáng ngày 30-4-74, các đơn vị địch còn kẹt lại chung quanh Căn Cứ Đức Huệ chống trả yếu ớt, lần lượt bị quân ta tiêu diệt gần hết. Đến trưa, một cánh quân của Thiết Đoàn 10 đã bắt tay được với Biệt Động Quân trong Căn Cứ Đức Huệ và đến chiều toàn bộ Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn bị quân ta quét sạch.
Bộ Chỉ huy của tôi nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia về phía Đông Nam Chipu trong một làng nhỏ hoang vắng. Tin chiến thắng làm nức lòng mọi người. Màn đêm xuống, tiếng súng im bặt. Đêm hôm đó thật êm ả, trời trong vắt, đầy sao, lòng tôi tràn ngập một niềm sung sướng khó tả. Có lẽ đây là một đêm đẹp nhất trong đời tôi. Tôi đã khẳng định trước với Quân Đoàn là chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 CS và bây giờ chúng tôi đã đánh bại chúng. Tôi đã nói trước khi xuất quân với thuộc cấp là nếu thất bại thì sẽ không một ai được trở về Việt Nam và bây giờ chúng tôi đã chiến thắng có thể trở về. Đối với tôi cũng giống như một canh bạc mà tôi đã lấy mạng sống của tôi ra đánh và bây giờ tôi đã thắng. Cho tới ngày hôm đó trong đời tôi, thật không có một niềm hạnh phúc nào lớn hơn được.
Chưa bao giờ trong lịch sử của hai cuộc chiến tranh Việt Nam có một trận vận động chiến nào mà quân ta hoặc quân Đồng Minh đã chiến thắng một đại đơn vị CS nhanh chóng như thế, triệt để như thế. Tôi chợt nhớ đến cung cách và những lời của Julius Ceasar trong chiến dịch thần tốc ở Zela vùng Tiểu Á báo cáo chiến thắng về La Mã “Veni, Vidi, Vici : “Tôi đến, Tôi thấy, Tôi chiến thắng”, tôi liền lấy một mẫu giấy nhỏ, tự tay thảo ngay bức công điện ngắn báo cáo chiến thắng về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III.
Trân trọng báo cáo:
– Ngày 28-4-74: Xuất quân
– Ngày 29-4-74: Phản công
– Ngày 30-4-74: Tiêu diệt địch
– Ngày 1-5-74: Hoàn thành nhiệm vụ.
(4) Ngày 2-5-1974, tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Lữ Đoàn ở Gò Dầu Hạ, phóng viên đài VOA phỏng vấn hỏi tôi:
– Có phải Thiếu Tướng đã đưa quân sang lãnh thổ Campuchia không?
Tôi liền đáp ngay:
– Không, tôi hành quân dọc theo biên giới trong lãnh thổ của Việt Nam. Chính Cộng Sản Việt Nam mới có quân trên lãnh thổ Campuchia.
Tối đến, đài VOA và đài BBC loan tin chiến thắng của Quân Lc ta ở Căn Cứ Đức Huệ. Riêng đài BBC nói thêm:
– Tướng Trần Quang Khôi nói không có đưa quân sang lãnh thổ Campuchia, nhưng theo tin tức của chúng tôi nhận được thì Quân lực VNCH có truy đuổi quân Cộng Sản Bắc Việt trên lãnh thổ Campuchia.
(5) Ngày 3-5-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi trực thăng đến Gò Dầu Hạ thị sát chiến trường. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và tôi tiếp đón Tổng Thống. Ông vui vẻ bắt tay chúng tôi rồi đi đến xem chiến lợi phẩm tịch thu của quân địch: Rất nhiều vũ khí cộng đồng các loại. Nổi bật là các giàn phóng hỏa tiễn 4 ống, 8 ống và 12 ống cùng hàng trăm hỏa tiễn 107 và 122 ly. Đặc biệt hơn cả là hơn 30 hỏa tiễn AT-3, loại mới nhất của Liên Sô có hệ thống điều khiển chống tăng, lần đầu tiên bị quân ta tịch thu trên chiến trường miền Nam. Các tùy viên quân sự Tây phương mỗi người xin một quả nói để đem về nước nghiên cứu. Nhìn số vũ khí khổng lồ của địch bị quân ta tịch thu mới hiểu được sự tàn phá khủng khiếp trong Căn Cứ Đức Huệ và sự chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 BĐQ. Tiếp đến, Tổng Thống đi thăm Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và các đơn vị trưởng của các binh chủng trong tổ chức LLXKQĐIII, ông bắt tay khen ngợi từng người và gắn cấp bậc Đại Tá cho Trung Tá Thiết Giáp Dư Ngọc Thanh, Chiến Đoàn trưởng Chiến Đoàn 315. Sau đó Tổng Thống lên trực thăng chỉ huy của tôi cùng tôi bay đến Đức Huệ. Các trực thăng của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và phái đoàn Phủ Tổng Thống bay theo sau.
Trên đường bay, Tổng Thống bắt chuyện với tôi:
– Tôi rất thích tính táo bạo liều lĩnh trong kế hoạch hành quân của anh.
– Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán. Tôi đáp lại.
Thấy Tổng Thống vui vẻ, sự hân hoan hiện trên nét mặt, tôi nói đùa một câu tiếng Pháp với Tổng Thống: La chance sourit toujours aux audacieux. (Sự may mắn luôn luôn “cười” với những kẻ liều lĩnh).
Ông gật gù cười có vẻ đắc ý lắm.
Trực thăng đáp xuống Căn Cứ Đức Huệ. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ hân hoan tiếp đón Tổng Thống. Ông đi bộ một vòng viếng thăm, ủy lạo và ban thưởng. Doanh trại trong căn cứ bị Pháo Binh địch tàn phá đổ sập gần hết, nhưng sự hãnh diện giữ vững được đồn hiện ra trong đôi mắt của mỗi chiến sĩ BĐQ.
Một chuẩn úy BĐQ còn rất trẻ đi đến tôi, đứng nghiêm chào, rồi thình lình anh bước tới gần tôi, hai tay nắm chặt lấy tay tôi bật khóc và nói:
– Cám ơn Thiếu tướng đã cứu mạng chúng em.
Tôi cảm động ôn tồn đáp lại: – Chính anh phải cám ơn các em mới đúng. Sự chiến đấu vô cùng dũng cảm của các em là một tấm gương sáng chói, là niềm hãnh diện chung của Quân lực chúng ta. Chúng em mới thật sự là những anh hùng của Quân đội mà mọi người Việt Nam Tự do phải mang ơn các em.
(6) Một tuần sau tôi nhận được một thư của DAO (Defense Attaché Office) trong đó tướng Homer Smith chuyển lời khen ngợi của đại sứ Graham Martin đến tôi: Đây là lần đầu tiên kể từ khi ký kết Hòa Đàm Paris, một kế hoạch hành quân được thiết kế tuyệt hảo và được thực hiện tuyệt hảo(1).
Hai tuần sau, tôi nhận được một thư của Đại Tá Raymond Battreall nguyên Cố Vấn Trưởng của Bộ Chỉ huy Thiết Giáp Binh QLVNCH. Battreall cho rằng đây là một chiến thắng ngoạn mục và xuất sắc nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Cuối thư ông viết bằng chữ Việt Nam: Kỵ Binh Việt Nam Muôn Năm.
5. Kết luận : Đúng một năm sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Đoàn 4 CSBV do Thượng tướng Hoàng Cầm chỉ huy đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa, và Sư Đoàn 341 CSBV bị LLXKQĐIII đánh bại ở Biên Hòa buộc phải rút đi sau khi chịu nhiều tổn thất to lớn (2).
Ngay sau đó, LLXKQĐIII kéo quân về tiếp cứu Thủ Đô Sài Gòn thì được lệnh buông vũ khí đầu hàng lúc 10:25 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Ai là người chịu trách nhiệm làm mất MNVN? Ai là thủ phạm đưa QLVNCH đến chỗ thua trận?
Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh kể từ ngày thành lập 7-11-1970 đến ngày 30-4-1975 do tôi chỉ huy, luôn luôn chiến thắng hết trận này đến trận khác cho đến phút chót. Không một ai trong chúng tôi lùi bước trước quân thù. Không một ai trong chúng tôi bỏ trốn ra nước ngoài. Tất cả ở tại hàng và chấp nhận định mệnh không than van kêu khóc.
Trong tác phẩm Servitude et Grandeur Militaires, thi sĩ Pháp Alfred De Vigny (1810 1857) nói “Danh Dự và Trách Nhiệm đôi khi kết thúc một cách bi thảm. Cho nên, đứng trước một định mệnh tàn khốc, con người phải biết thân phận của mình mà chấp nhận nó một cách can đảm”.
Tháng Giêng 2009
Trần Quang Khôi
Ghi chú
(1) GEN Homer Smith wrote: “On behalf of the Honorable Graham Martin, the Ambassador of the United States and myself, I wish to express our felicitations upon the brilliant success of your recent operation. This was the first time since the Paris Peace Agreement, a plan of operation has been so well planned and so well executed…”
(2) Xin đọc:
– “Danh Dự và Tổ Quốc”, 1995, CT Trần Quang Khôi “Fighting to the Finish”, BG Tran Quang Khoi, p.19 25, ARMOR, March April 1996.
Câu chuyện về tình yêu đẹp như mơ của cặp vợ chồng này với bao biến cố thăng trầm, bao gian truân bão táp mà họ đã trải qua đã minh chứng cho tình yêu đẹp tựa như một huyền thoại mà người đời phải ngưỡng mộ. Cuộc đời thật là một diễm phúc như một món quà vô giá mà ông trời đã ban tặng cho đôi lứa.” Nàng Tiên” trong câu chuyện này không chỉ sống mãi trong trái tim yêu thương của người bạn đời mà còn sống mãi với những giá trị trường tồn theo thời gian. “Ba tôi qua đời bất ngờ năm 1964, nhỏ em út còn trong bụng Má. Tôi phải nghỉ học, tìm việc làm ngày đêm để phụ giúp Má tôi nuôi sáu đứa em còn nhỏ dại. Đầu năm 1965, tôi được mời đến dạy kèm Toán cho cô con gái lớn một gia đình người Việt ở Nam Vang. Mỗi ngày 2 tiếng, từ 7 đến 9 giờ tối, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Em học trường Providence, còn gọi là trường Bà Phước, lúc đó chỉ dành cho nữ sinh. Em nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng mới ở lại Cinquième, trong khi tôi đã đậu Brevet d’Études du Premier Cycle hai năm trước. Có lẽ vì là con gái nhà khá giả nên em hơi… làm biếng học, nhất là toán, géometrie và algèbre. Lúc đầu, tôi hơi nản lòng vì… em nhìn bài vở như thấy ma, tôi thường phải làm bài giùm em, nhưng từ từ em nghe lời tôi khuyên, chịu làm bài, chịu học bài, và được lên lớp mỗi năm. Đầu năm 1968, em học Troisième, chuẩn bị thi Brevet. Tôi kèm em từng môn, giúp em làm những bài vở mà đúng ra tôi không cần giúp. Em trả ơn bằng cách mời tôi ở lại ăn cơm tối. Tôi cho em mượn những quyển sách mà tôi đã học qua, trong một lần trả sách, em kèm theo tấm giấy chỉ viết một câu “cho moi làm amie intime của toi nha”. Tôi gật đầu vì sợ em giận, em không thèm học nữa. Từ đó, em hẹn tôi đi chơi cuối tuần, tôi cũng gật đầu với điều kiện là em phải xin phép Ba Má đàng hoàng và phải ráng học. Tôi biết em thương tôi, tôi cũng thương em. Tôi gọi em là “cô Tiên” vì em có dáng dấp qua cầu gió bay, có bước đi lả lướt nhẹ nhàng như các nàng tiên nữ trong vũ khúc nghê thường, vì em đã mang đến cho tôi những cảm xúc mà người trần gian chưa từng cho tôi trước đó. Những ngày mưa, không đi chơi được thì tôi ngồi hát em nghe bên mái hiên nhà: Một chiều cuối tuần mưa bay lất phất và mây trắng giăng giăng Em đến thăm anh vì trời mưa mãi nên không kịp về Bên anh, em lặng nhìn bầu trời và ánh mắt mộng mơ Sợ người yêu khóc, khe khẽ bên tai anh kể chuyện ngày xưa.
Chuyện xưa kể rằng trên thiên giới ấy ngày vui kết hoa đăng Thiên Quốc đang vui một nàng tiên nữ làm rơi ly ngọc ngà Đang say nên trời bèn đọa đày nàng tiên xuống trần gian Làm người dương thế không biết bao lâu mới được quay về trời. Em ơi nàng tiên ấy xuống dương trần một chiều mưa bay nhiều Và vì thương trần thế, thương kiếp sống phong sương Nên dù rằng một hôm Thiên Quốc trời sai Gom mây hồng làm xe đưa tiên về
Tiên nói dối tiên còn đang giận trời nên tiên chẳng về đâu. Nàng tiên giáng trần không đôi cánh trắng giờ đang ngắm mưa bay Đang đứng bên anh thầm cầu mưa mãi cho tiên đừng về Anh ơi lỡ mà trời gọi về thì tiên chẳng về đâu (Bài hát “Huyền Thoại Một Chiều Mưa”)
Nhưng tôi luôn nhớ mình là con trai nhà nghèo, chỉ có chiếc Mobylette cà tàng làm chân đi kiếm cơm mỗi ngày. Em là con gái nhà khá giả, đi học có xe đưa rước, về nhà không làm động móng tay vì đã có chị bếp, chị bồi, chị vú lo toan mọi việc. Nếu hai đứa thành vợ thành chồng, em cực thân là cái chắc. Trong một lần kề vai nhau đi quanh công viên Chùa Tháp, trời bỗng dưng mưa. Tôi bật dù che hai đứa nhưng mưa càng lúc càng nặng hột, em bỗng xoay người lại ôm hôn tôi dưới mưa. Tôi than thầm trong bụng “gặp oan gia truyền kiếp rồi”. Năm đó, em thi đậu Brevet và tôi nghỉ dạy vì vừa xin được cái job thư ký kế toán ở hãng L’UCIA, Nam Vang. Lúc trước gặp nhau 5 ngày mỗi tuần, có nhiều thì giờ để nói với nhau những gì muốn nói. Giờ phải chờ đến cuối tuần mới được gặp nhau vài tiếng, nhớ ơi là nhớ. Tôi bắt đầu làm thơ “nhớ em”…
Nhớ lúc xưa kia mới biết nhau Rồi thương rồi nhớ suốt đêm thâu Ðêm nào cũng vái cho mau sáng Nhớ quá trời ơi! Nhớ phát rầu. Nhớ những chiều em qua phố vắng Dáng hồng xen lẫn bóng hàng cau Mân mê vạt áo, em e lệ Những lúc anh nhìn, má đỏ au. Nhớ lúc mình đan tay đếm bước Em run run hỏi: – Sẽ ra sao? Anh cười, anh nói như đinh đóng: – Anh sẽ yêu em đến bạc đầu!
Đưa bài thơ cho em, em bỏ túi nói sẽ về nhà đọc. Tuần sau gặp nhau, em không nhắc gì về bài thơ của tôi mà hỏi tôi nghĩ gì về cuộc sống hai đứa sau này. Tôi nói là nhà tôi nghèo, em nói em biết rồi, tôi phải đi làm giúp Má nuôi các em còn nhỏ, em nói em cũng biết rồi, nếu mình cưới nhau thì em sẽ cực thân hơn là sống với Ba Má em… Em trả lời làm tôi chưng hửng “hiện nay, cái khổ nhất mà “moi” phải chịu đựng hàng ngày là nhớ “toi”, cái cực nhất mà moi phải chịu đựng hàng ngày là làm sao để gặp toi sớm hơn, nên moi không sợ gì cả. Trời sanh voi sanh cỏ”. Tôi khuyên em nên kiên nhẫn, nói cho em hiểu lúc này là thời gian đẹp nhất trong cuộc tình hai đứa, cái nhớ cái thương bây giờ sẽ làm mình gắn bó nhau hơn sau này… Em nghe lời tôi và chuyện hẹn hò của chúng tôi kéo dài cho tới đầu năm 1970. Tướng Lon Nol lật đổ vua Sihanouk, tự phong là tổng thống xứ Kampuchea (Cao Miên). Một số người Miên quá khích thừa nước đục thả câu, “cáp duồn” (nghĩa là chặt người Việt) lẻ tẻ. Đang đêm, họ đến gõ cửa nhà người Việt ở những vùng thôn quê hẻo lánh. Một số người Việt không may đã bị họ chặt đầu, xác thả trôi sông về tới Tân Châu, Hồng Ngự… Nhiều người Việt có chút của ăn của để ở Cao Miên bán tháo tài sản để về Miền Nam Việt Nam lánh nạn. Ba Má em cũng không ngoại lệ. Em gặp tôi bàn chuyện này. Tôi đem việc này hỏi ý kiến ông giám đốc hãng L’UCIA. Ông giám đốc đưa hai đứa tôi về biệt thự do hãng mướn cho ổng ở trên đại lộ Norodom, ngay trung tâm thủ đô Nam Vang. Ổng nói: “nhà tao có 2 người bồi bếp, có 2 con chó berger giữ nhà. Nhà có 5 phòng, tao ở chỉ một phòng. Nếu hai đứa thấy ở nhà mầy không an toàn thì đến đây ở với tao. Tao tin tưởng và cần thằng B. giúp tao giữ gìn sổ sách của hãng nên hai đứa mầy muốn ở phòng nào, muốn ở bao lâu cũng được”. Nghe vậy, chúng tôi yên tâm và quyết định ở Nam Vang dù Ba Má em có về Sàigòn. Em về xin Ba Má cho hai đứa làm đám cưới. Má em có cảm tình với tôi nên gật đầu. Ba em im lặng vì biết tôi nghèo, sợ con gái cưng của ông sẽ cực khổ khi về làm vợ tôi. Em nói với Ba Má em “nếu Ba Má không tổ chức đám cưới cho hai đứa con, tụi con sẽ tự lo. Con muốn làm vợ anh B. danh chánh ngôn thuận”. Và hai đứa tôi tự tổ chức lễ cưới của mình. Sáng ngày 24/02/1970, Má tôi và tôi mang trầu cau và phẩm vật đến xin cưới em. Chúng tôi lạy bàn thờ tổ tiên nhà em, xin quý ngài chứng giám cho chúng tôi thành vợ thành chồng. Tôi mướn xe Mercedes để rước “cô Tiên” xuống trần. Tối đến là tiệc cưới tại nhà hàng La Lune, đối diện State Olympic, với 200 quan khách, họ hàng và bạn bè nhà trai, nhà gái. Dĩ nhiên là có nhạc sống do mấy tên bạn tôi tự mang đồ nghề đến giúp vui. Đêm đó, hai đứa tôi khiêu vũ và cụng ly với bạn bè gần tới sáng. Sau ngày chúng tôi thành hôn thì tình hình chính trị giữa hai nước Kampuchea và Miền Nam Việt Nam biến chuyển dồn dập. Ông bà nhạc tôi và gia đình bay về Sàigòn vài ngày sau đó. Vợ chồng tôi vẫn ở Nam Vang. Tôi vẫn đi làm ở L’UCIA. Khi xác nhiều người Việt trôi về tới Hồng Ngự, Tân Châu, ông Nguyễn Cao Kỳ – lúc đó là Phó Tổng Thống VNCH – ra lệnh cho Quân-đoàn 3 tràn qua biên giới, lấy cớ là để “bảo vệ kiều bào VN”. Trung tướng Đỗ Cao Trí nhận lệnh với lời tuyên bố làm chấn động chính phủ Cao Miên: “Cho tôi 24 tiếng, tôi sẽ chiếm Nam Vang”. Ông Lon Nol nghe muốn té đái. Mới làm tổng thống có mấy ngày, nếu để QLVNCH chiếm Nam Vang thì mất mặt bầu cua. Ông gọi điện năn nỉ chính phủ VNCH đừng chiếm Nam vang nên Quân-đoàn 3 dừng lại ở Neak Luong (người Việt mình gọi là Hố Lương), một bến phà chỉ cách Nam vang 60 cây số. Nghe tin QLVNCH tràn qua biên giới, cả trăm ngàn kiều bào VN ở Cao Miên, trong đó có vợ chồng tôi, bỏ tất cả tài sản, dắt díu nhau vào các trại tị nạn. Các sân trường trung học, chùa, nhà thờ bỗng trở thành những trại tị nạn khổng lồ. Vợ chồng tôi vào trường Seminaire, nơi tôi đã học năm cuối chương trình Tú tài Pháp hai năm trước. Trong trại Seminaire, người ta chia ra nhiều nhóm, mỗi nhóm 10 gia đình, trước hết là để lãnh nước uống, sau là thức ăn, lúc đó chỉ có khô cá lóc do Red Cross cung cấp. Tôi làm trưởng nhóm 31. Đầu tháng 5/1970, ông Nguyễn Cao Kỳ bay lên Nam Vang, nói là thăm xã giao tướng Lon Nol nhưng thật sự là đi thanh tra các trại tị nạn. Tối đêm trước, tôi và các trưởng nhóm được lệnh phải thu tất cả những những gì có thể coi như là vũ khí gồm dao, gậy,… và cùng nhiều người thức gần sáng đêm để dựng cái sân khấu dã chiến. Khi ông Kỳ vào trại Seminaire, ông đến từng lều, bắt tay và hỏi thăm từng người. Điều làm mọi người chú ý là 2 anh đại-úy cận vệ. Họ cao hơn ông Kỳ 1 cái đầu, mặc đồ bay, mang súng ngắn dưới nách, nhưng không cản trở khi kiều bào đến bắt tay, thậm chí ôm hôn ông Kỳ. Ông Kỳ lên sấn khấu, nói vài lời thăm hỏi xã giao rồi hứa: “Tôi sẽ đưa tất cả đồng bào về quê hương!” Ông nhận được những tràng pháo tay như sấm động của mấy ngàn người trong trại Seminaire. Nhiều bà lão bò ra khoảng trống trước sân khấu lạy ông Kỳ như tế sao. Vài ngày sau, chúng tôi được phát thịt heo lần đầu, dù không ai biết ai cho nhưng mọi người nghĩ là từ chính phủ VNCH. Tuần sau, một đoàn “tàu há mồm” của Hải quân VNCH cặp bến sông Mekong. Danh sách từng nhóm được gọi để rời trại xuống tàu về nước. Vợ chồng tôi thuộc danh sách thứ 31 nên gần cuối tháng 5/1970 mới được rời trại. Sau 1 ngày lênh đênh trên sông Tiền (hay sông Hậu?) thì về tới trại Đồng Tâm, Mỹ Tho, lúc đó là hậu cứ của Sư-đoàn 7 BB. Vợ chồng tôi chỉ ở trại Đồng Tâm 5 ngày. Làm giấy tờ nhập cảnh xong thì Ba em lái xe xuống rước về Sàigòn. Cuộc sống chúng tôi từ ngày về Sàigòn không còn… tà tà như lúc ở Nam Vang. Cũng như tất cả Việt kiều hồi hương lúc đó, tôi được hoãn dịch 18 tháng. Thời gian không nhiều nên tôi làm ngày làm đêm. Em cũng đi làm. Cuối tuần hai đứa đưa nhau đi ăn mì xào dòn, hay ăn nghiêu luộc. Mỗi tối đi đàn về, tôi chạy thẳng vô Chợ Lớn mua cho em cái bánh bao Ông Cả Cần của Bà Năm Sa-Đéc. Lúc này em không còn thơ thẩn, mà ngược lại… em ăn rất bạo. Dù không nói ra, tôi biết em đang chuẩn bị cái bụng cho đứa con đầu lòng của chúng tôi, dù không biết lúc nào nó sẽ tượng hình.
Nhiều người trong gia tộc hai bên thường trề môi nói “thằng B. con nhà lính tính nhà quan, mới ở Nam Vang về tay trắng mà vợ nó muốn gì được nấy”…. Mấy người này không biết là lúc còn độc thân, tôi đã đọc một câu định nghĩa “người phụ nữ lý tưởng” của một người đàn ông như sau: “Người phụ nữ lý tưởng của một người đàn ông là người bạn, người tình và là người vợ của người đàn ông đó”. Hồi đọc câu đó, tôi chưa gặp cô Tiên nên tôi đã tự hỏi ngược lại là “tôi có thể vừa là người bạn, vừa là người tình, và là chồng của vợ tôi không”. Ông nào muốn biết cái vụ này nó khó cỡ nào cứ thử cua một cô bạn gái rồi cưới cổ về làm vợ thì sẽ hiểu câu… “chưa thấy quan tài chưa đổ lệ”. Nhưng khi gặp rồi thương yêu cô Tiên, cái định nghĩa xưa tự nó cho tôi lời giải đáp. Lúc mới thương nhau, tôi thường kể em nghe chuyện bồ bịch của tôi lúc trước. Em chẳng những không ghen hờn, mà còn góp ý đôi khi rất tiếu lâm, rồi hai đứa cười hí hí. Lúc hai đứa đi chơi, gặp cô nào có “ngực tấn công, mông phòng thủ” là tôi hay quay lại nhìn, em im lặng nắm tay tôi, đợi cô đó đi khỏi tầm mắt mới hỏi “bộ toi hổng thấy cổ đi hai hàng hả?”. Khi vào tiệm bán sách, tôi có cái tật (hổng biết xấu hay tốt) là đứng hơi lâu trước mấy cái đặc san người lớn như PlayBoy. Em im lặng đứng bên tôi, đến khi rời tiệm sách em mới phê bình… “nhỏ này vú đẹp, cô kia mông teo…”. Chỉ khi đến kệ bày mấy cuốn Salut les Copains, em mới thò tay lựa cuốn mới nhất và tự ra quầy trả tiền. Em chưa bao giờ bắt tôi trả tiền những gì em mua cho riêng em. Em chưa bao giờ lớn tiếng hay dùng lời lẽ không lịch sự với bất cứ ai, dù đôi khi tôi hay ai đó vô tình hoặc cố ý làm em giận. Ba em nói với em “Ba thấy nó đi nhảy đầm, tay trái một con, tay mặt một con”. Em trả lời “những gì ảnh làm lúc còn độc thân là quyền của ảnh, con không cần biết (thật ra tôi đã kể em nghe hết rồi). Chỉ cần biết hiện giờ hai đứa con thương nhau thật lòng là được rồi”. Em có cách hôn, chỉ phớt nhẹ, làm tôi hồn phi phách tán. Khi thấy tôi buồn, em cầm tay tôi, xoa nhè nhẹ lên mu bàn tay, khiến tôi quên hết mọi phiền não. Sau này thành vợ thành chồng, em vẫn là người tình tuyệt vời. Em biết cách làm tôi quên những nghiệt ngã mà tôi đã trải qua trong ngày hôm đó. Em biết tiết kiệm, vén khéo với số tiền mà chúng tôi kiếm được. Em không se sua, dù luôn ăn mặc thanh lịch. Mỗi lần hai đứa ra đường là tôi phải ngó trước nhìn sau, coi có tên nào nhìn lén em không. Khi đứa con đầu lòng của chúng tôi chào đời năm 1972, em tự nguyện bỏ bớt chuyện mua sắm cho riêng mình, để có đủ tiền cho con chúng tôi bú sữa Guigoz 3 năm liên tục. Cô Tiên đã là một người bạn, một người tình và là người vợ tuyệt vời của tôi. Được một người vợ như cô Tiên, em muốn gì được nấy không có gì quá đáng. Bán nhà cho em cũng được, huống chi là ba cái lẻ tẻ. Tháng 4/1972, tôi hết hạn hoãn dịch, phải đi lính cho tới ngày tan hàng. Sau 75, có ngày hai đứa phải ăn sáng bằng… cơm nguội, nhưng em luôn dành 1 hoặc 2 đồng cho con chúng tôi có gói xôi nóng hay tô cháo huyết. Cực nhất là lúc chúng tôi về quê tôi sống từ năm 1976 đến năm 1979. Má tôi cho hai công ruộng và nửa công vườn, đủ cho gia đình chúng tôi sinh sống, không cần phải đi làm mướn, làm thuê. Nhưng không may là hai năm 77-78, lũ lụt tràn vào ngập ruộng trước khi lúa chín. Nông dân vùng Tân châu đói thể thảm. May mà tôi cất nhà sàn, cao khoảng 1.5m, nên nước ngập lé đé sàn nhà. Nhiều nông gia ở nhà đất, phải kê tủ giường lên cao, có người kê giường tới gần đụng nóc nhà. Mỗi ngày, cô Tiên ngồi trên sàn nước, miệt mài câu từng con cá chốt, cá sặc, cá lòng tong. Tôi không dám nhìn lâu. Đến bữa ăn chỉ có món cá kho thập cẩm vậy mà thằng con khen “má kho cá ăn ngon”. Tôi mắc nghẹn từng hồi. Rồi cũng qua. Ở quê, em không cho con đi học, nói mấy ổng dốt mà dạy cái gì! Vợ chồng tôi thay nhau dạy con nói và viết tiếng Việt, tiếng Pháp. Bài học tiếng Việt đầu tiên là bốn câu thơ của ngài Lý Thường Kiệt: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên phận định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Tiếng Pháp thì chúng tôi dạy con nói và viết những câu chào hỏi thông thường, không ngờ khi qua Úc nó học tiếng Anh nhanh hơn những bạn tị nạn khác nhờ tiếng Pháp và tiếng Anh có nhiều chữ giống nhau. Qua năm 79, tôi trúng mùa. Bán mấy chục giạ lúa, thêm chút tiền dành dụm, mua được cái ghe nhỏ, tính chuyện lớn. Khoang ghe chỉ vừa đủ cho hai người lớn và một đứa nhỏ chen vai nhau ngủ. Tôi không biết chèo, tập cả tháng sau mới chèo được hai chèo. Em không biết lội nhưng nhất quyết đòi đi đến những nơi có thể cho chúng tôi thấy được tương lai. Em nói “mình đã sống mấy năm ‘có miệng không nói lại câm, hai hàng nước mắt chan dầm như mưa’. Đủ rồi, phải đi tìm tương lai cho mình và cho con”. Vậy là đi. Chèo từ Tân châu tới Long xuyên mất hai ngày. Nghỉ xả hơi một ngày rồi chèo tiếp tới Ô Môn, Cần Thơ, Ngã 7, Sóc Trăng, Hộ Phòng, Gành Hào, và sau cùng là ngã 3 cây Tàn. Ở ngã 3 cây Tàn hơn một tháng vì có người mướn tôi đào ao nuôi cá. Đào ao một tháng được hai giạ gạo và một mớ tiền. Chúng tôi trở ra Gành hào vì thấy nơi này là nơi lý tưởng để ra đi. Tôi giấu dưới khoang ghe cái máy đuôi tôm, thường ngày không dám sử dụng, sợ người ta dòm ngó, định khi nào đi mới xài. Ở Gành Hào đêm trước, thì đêm sau bị bão. Mưa như trút nước, sấm chớp đầy trời. Chiếc ghe tôi lắc lư như người say rượu, nửa đêm đứt dây buộc sào trôi ra giữa sông. May là lúc đó nước lớn, nước từ ngoài biển đổ vô sông, nếu ngược lại thì có thể bão đã đưa chúng tôi qua Thái Lan hay hổng chừng… vô bụng cá. Tôi cột sợi dây quanh bụng, cố gắng lội vô bờ. Hình như… lúc không còn cái gì để sợ nữa thì mình mạnh hơn bình thường nên tôi đã kéo chiếc ghe tới dưới dạ cầu chợ Gành hào. Buộc dây ghe lại đàng hoàng là tôi ngã lăn ra thở dốc, lạnh run cầm cập. Em lau mình cho tôi và đưa tôi cái bánh bía, hổng biết em mua lúc nào, đúng là cô Tiên. Ăn cái bánh bía đêm đó, hương vị thơm ngon còn phảng phất tới bây giờ. Bye bye Gành hào, tôi gắn máy đuôi tôm chạy về Long Xuyên. Chúng tôi ở Long Xuyên gần ba năm. Tôi làm bất cứ chuyện gì, miễn là lương thiện, để có tiền nuôi vợ con. Có lúc đạp xe lôi, có lúc vác lúa gạo ở các nhà máy xay lúa, có lúc làm tạp nhạp. Đến tháng 2/1982, em tìm được đường dây ra nước ngoài vừa với khả năng của vợ chồng tôi lúc đó. Cái may là chúng tôi chỉ đi một lần là tới Mã Lai. Ở Bidong một tháng rưỡi là được phái đoàn Úc nhận. Qua trại chuyển tiếp Sungei Besi2, ngoại ô Kuala Lumpur để khám bệnh, bổ túc hồ sơ. Ba tháng rưỡi sau là chúng tôi có list đi Úc. Vài ngày sau khi đặt chân lên đất Úc, lúc đó chúng tôi chỉ biết tiếng Pháp chưa biết tiếng Anh. Em nói với tôi “moi không thích nhờ thông dịch, nhà mình phải có một người giỏi tiếng Anh, toi phải đi học. Moi sẽ đi làm nuôi toi và con”! Nghe ghê chưa? Mà em cũng không biết tiếng Anh thì đi làm cái gì? Em quên mình từng là một tiểu thơ được cơm bưng nước rót, em quên mình từng đi học có xe đưa rước, em quên mình là… cô tiên của tôi. nên ai mướn gì làm nấy. Quét dọn nhà cửa cho người Úc, chăm sóc con em của đồng hương, làm chả giò bán sĩ (không biết em học ở đâu mà làm chả giò và đổ bánh xèo ngon nhất Darwin). Tôi cũng đi làm ban ngày, đi học ban đêm. Bảy năm ròng rã, tôi lấy được 2 cái Certificates về kế toán và quản trị địa ốc và xin được cái job “Security Administrator” tại trường đại học Charles Darwin University ở Darwin đầu năm 1985. Tôi làm việc tại CDU liên tục hơn 27 năm, đến khi nghỉ hưu cuối năm 2012. Em không đi học tiếng Anh một ngày nào nhưng sau này… lại làm thông dịch cho bạn bè, nhiều nhất là mấy cô lấy chồng Úc, mới qua Úc chân ướt chân ráo, tìm đến em nhờ giúp đỡ. Em chở họ đi làm hồ sơ nhập cư, điền đơn xin tiền an sinh xã hội… Bà xã tôi thương đồng hương nên ai nhờ thì giúp, cứ ăn cơm nhà vác ngà voi, không đòi hỏi ai phải trả đồng bạc nào dù biết làm thông dịch cũng được trả tiền. Mấy cô vợ Úc thương em lắm, cuối tuần là ghé nhà tôi xào xào nấu nấu … thật vui. Hỏi em mới biết, em học tiếng Anh bằng cách theo dõi các chương trình Play School trên TV. Chương trình này dạy con nít Úc nói/viết tiếng Anh để chuẩn bị vô mẫu giáo. Em đọc báo tôi mang về mỗi ngày. Không hiểu chữ nào, đoạn nào thì em hỏi tôi hay tra tự điển. Tiếu lâm nhất là khi bà hàng xóm nhờ em làm thông dịch. Bà này gốc Ý (Italy), có chồng gốc Tây Ban Nha (Spain). Bà ta đến Úc theo diện vợ chồng năm 1978 và không đi học ngày nào. Khi rảnh rỗi bà ta qua nói chuyện với bà xã tôi. Bà ta nói “broken english” với giọng Ý nên tôi và mọi người không ai hiểu cả. Vậy mà bà xã tôi hiểu nên mỗi lần bà hàng xóm cần đi bác sĩ, hay bất cứ cơ quan công quyền nào ở Darwin là qua năn nỉ nhà tôi theo làm thông dịch. Một năm sau ngày đến Úc, tôi được bầu làm tổng thư ký Hội Người Việt Tự Do tại Darwin, sau đổi tên thành CĐNVTD Bắc Úc cho tới bây giờ. Tôi dính với các sinh hoạt của CĐ mình cho tới năm 2017 mới rút chân ra được. Suốt thời gian này, bất cứ tôi làm cái gì đều có sự giúp đỡ, yểm trợ khi công khai khi âm thầm của cô Tiên. Đứa con thứ hai của chúng tôi chào đời năm 1984 tại Darwin. Nhìn em cho con bú, tắm rửa cho con, nâng niu thằng nhỏ như vàng như ngọc, tôi nhớ lại những ngày hai đứa mới thương nhau, mỗi lần bên nhau là bàn chuyện mai này… tôi viết bài thơ tặng em. Một chiều lãng đãng ánh tà dương Em kể anh nghe chuyện mộng thường Đôi mắt em nhìn xao xuyến quá Như sao lấp lánh một trời thương.
Từ đó đời mình hết lẻ loi Đan tay qua phố bước chung đôi Em cười rạng rỡ như tiên nữ Tiên nữ của anh – cũng được rồi.
Từ đó đời mình ươm ước mơ Từng đêm anh cắn bút làm thơ Mỗi dòng ôm ấp ngàn thương nhớ Thương nhớ lớn theo nổi đợi chờ.
Từ đó mình bàn chuyện lứa đôi Mai này, mình có hai con thôi Trưởng nam, phần nó lo hương hỏa Em nó, cô Ba – có rượu mời.
Từ đó mình bàn chuyện cưới nhau Anh giành chọn áo cưới cô dâu Màu vàng, hoàng hậu lòng anh đó Em nói : – Màu hồng, áo cô dâu!
Từ lúc về làm vợ của anh Âm thầm mình kết mộng ngày xanh Trưởng nam bật khóc, cưng như ngọc Đứa kế trai luôn, quý tựa vàng.
Nhiều đêm nằm gác tay lên trán Anh cám ơn Trời, cám ơn em Bảy nổi ba chìm mình chẳng ngán Vì em có anh, anh có em.
Từ năm 2005 đến năm 2015, chúng tôi tổ chức những bữa ăn cứu trợ Thương Phế Binh còn sống khổ sở nơi quê mình bằng cách… tổ chức BBQ tại nhà tôi. Thức ăn do bà xã tôi và vài người bạn thân cùng chung sức nấu nướng, tôi bỏ tiền túi mua bia và nước giải khát. Ăn uống free. Tôi để 1 cái “Thùng Cứu trợ” trên bàn, ai cho bao nhiêu, tôi gởi về VN giúp anh em thương phế binh bấy nhiêu, theo tiêu chuẩn mỗi người 100 Úc kim. Vì số người Việt ở Darwin rất khiêm nhường, chỉ có vài trăm người, nên lúc đầu chỉ được vài ngàn. Từ từ, bà con tin tưởng nên khi có dịp đi ngang nhà tôi là họ bỏ tiền vô thùng thơ, không đợi đến Bữa ăn Cứu trợ. Gõ máy tới đây, bỗng nhiên làm biếng… không muốn gõ máy nữa, vì đang nhớ cô Tiên, nhớ quá xá nhớ. Cô Tiên của tôi đã về trời sau khi đã cùng sống chung với cha con tôi 43 năm, 3 tháng, 27 ngày hạnh phúc. Em quy tiên sau một cơn bạo bệnh. Từ một người mạnh khỏe bình thường, đúng 5 tuần sau thành người thiên cổ. Trong những ngày cuối của cuộc sống nơi dương thế, khi thấy hai con đứng nhìn em, nước mắt lưng tròng, em cầm tay con lắc lắc, mỉm cười nói: “Chúa cũng chết, Phật cũng chết, thì Má cũng chết. Má đã trả xong món nợ ân tình với Ba con và các con thì Má đi. Con trai khóc… xấu lắm”. Con tôi quẹt nước mắt… miệng cười méo xẹo. Trong Hospice Hospital, nơi dành cho những bệnh nhân… “terminally ill”, mỗi ngày có y tá đến đánh răng và lau mình cho em. Có một lần em cám ơn họ “Thanks so much for keeping my body clean. I know it’s shutting down”. Cô y tá người Úc trợn mắt nhìn em, rưng rưng nước mắt. Sau này, cô nói với tôi “Tao chưa thấy ai sắp chết mà còn lịch sự và tỉnh táo như vợ mầy”. Khi biết mình sắp trả xong cái nghiệp ở dương gian, em nắm tay tôi dặn dò phải tổ chức tang lễ em như thế nào. Thỉnh vị tăng ni nào chủ trì tang lễ, xong phải hỏa thiêu và chỉ giữ tro cốt 100 ngày. Sau đó mang tro cốt em rải trên sông Parramatta, đoạn gần Opéra House ở Sydney, là nơi em thích đi dạo mỗi lần đi thăm con. Em nói nhỏ nhẹ như đang lo tang lễ của ai khác. Tôi chỉ biết im lặng gật đầu, ráng kềm cho nước mắt đừng chảy ra. Tôi đã làm đúng theo lời em dặn. Từ ngày cô Tiên về trời, cha con tôi đứt ruột đứt gan, tan nát trong lòng. Tôi đã sống những ngày như người chết chưa chôn.”
Câu chuyện kể có thật của Buu Nguyen @levanquy(st) Nguồn từ facebook Nguyen Hoai
Vào giữa niên học 1962-63, tôi được đổi từ Vĩnh Long về Mỹ Tho. Vì đổi vào giữa năm như vậy, nhà trường không thể xếp đủ giờ cho tôi… hành nghề. Ông giám học phải cắt xén bớt một số giờ của các giáo sư khác để tôi không phải “ngồi chơi xơi nước” mà cuối tháng vẫn cứ được nhà nước trả lương. Vì tôi là một giáo sư mới, nhà trường chưa biết khả năng của tôi nên không thể cho tôi phụ trách những lớp đi thi. Tôi ăn lương giáo sư đệ nhị cấp, không thể cho tôi dạy những lớp nhỏ. Sau khi tính toán, đắn đo, ông giám học cho tôi vào mấy lớp đệ Tam. Cách giải quyết đó vừa là một biện pháp ưu đãi (vì ông là bạn đồng môn của tôi ở sư phạm) vừa là một cách thử tay nghề. Ai cũng biết học sinh lớp đệ Tam quậy nhất trong bảy lớp trung học. Các em mới ra khỏi bậc đệ nhất cấp nên vẫn thuộc loại “ăn chưa no, lo chưa tới”, lại chưa phải lo thi. Nhiều em nghịch ngầm và thường che chở lẫn nhau nên giáo sư khó tìm ra thủ phạm. Năm ấy, trong những lớp đệ Tam do tôi phụ trách, có một lớp văn chương. Học văn chương thì cũng quậy theo văn chương. Nói cho ngay, dùng chữ “quậy” không đúng với các em trong lớp này. Các em có những câu hỏi về văn chương làm giáo sư cũng khó trả lời.
Một hôm, tôi giảng Kiều, đoạn Kim Trọng lấy được chiếc thoa cài tóc của Thúy Kiều, một học sinh có ý kiến: – Thưa thầy, theo em, Kim Trọng là một tên ăn cắp, đã với tay sang nhà hàng xóm lấy đồ. Cả lớp, kể cả tôi, đều ngạc nhiên về ý kiến mới lạ này. Tôi hỏi tại sao em lại nói như vậy, em bình tĩnh đáp: – Thưa thầy, em xin đọc lại đoạn văn này để cả lớp cùng nhận định. Nhẫn từ quán khách lân la, Tuần trăng thấm thoắt nay đà thêm hai. Cách tường phải buổi êm trời, Dưới đào dường có bóng người thướt tha. Buông cầm, xốc áo, vội ra, Hương còn thơm nức, người đà vắng tanh. Lần theo tường gấm dạo quanh, Trên đào nhác thấy một cành kim thoa. Giơ tay, với lấy về nhà: “Này trong khuê các đâu mà đến đây?…” Như vậy, rõ ràng là Kim Trọng thò tay sang nhà hàng xóm lấy trộm kim thoa. Cả lớp im lặng như tờ, chính tôi cũng chưa biết nói sao. Ngưng một chút, em tiếp: – Thưa thầy, phải giơ tay, với mới tới thì chắc chắn chiếc thoa phải ở sâu trong vườn nhà Kiều, chớ không ở sát bờ rào. Hàng xóm nhà em có một cây mận gần bờ rào. Nếu cành mận xòa hẳn sang vườn nhà em, em mới có quyền hái trái mà không bị tiếng là ăn trộm. Em mà bắt chước Kim Trọng với tay sang nhà hàng xóm lấy đồ, chắc chắn sẽ bị đánh què tay. Ngay lúc đó, tôi không biết nói sao, vì lý lẽ của em học sinh đúng quá. Ðưa tay sâu vào vườn nhà người khác để lấy đồ vật không phải của mình chắc chắn là một kẻ ăn trộm. Nếu, vì một lý do nào đó, đồ của mình rớt vào vườn nhà người ta, muốn lấy lại, mình cũng phải xin phép chủ nhà đàng hoàng, không thể tự tiện thò tay vào lấy. Học sinh trong lớp bắt đầu xôn xao bàn tán. Ai cũng khen ý kiến của bạn là đúng, là độc đáo. Một em học sinh khác bỗng nói lớn: – Vậy mà cứ khen là “vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa”. Hào hoa mà đi ăn trộm đồ nhà hàng xóm. Thế là cả lớp cười ồ lên. Tôi cũng đành cười theo. Em học sinh vừa có ý kiến độc đáo lại nói thêm: – Thưa thầy, đã không biết mắc cở, sáng hôm sau Kim Trọng còn bắt bí Thúy Kiều phải thề thốt nữa. Như vậy là tống tình chớ không phải tỏ tình.
Cả lớp lại cười. Tối hôm đó, tôi tìm trong bản Kiều dịch sang tiếng Pháp xem những chữ “giơ tay với lấy” đã được dịch như thế nào. Theo bản dịch của giáo sư Nguyễn Cửu Chấn thì bốn chữ đó được dịch như sau: “Etendant le bras, il prit l’objet et le ramenant chez lui.” Ðã hơn bốn chục năm qua, tôi không dám chắc câu dịch vừa kể hoàn toàn đúng 100%, nhưng nếu sai cũng không sai bao nhiêu. Như vậy là rõ ràng Kim Trọng đã đưa tay sâu vào vườn nhà người khác, không phải như chàng nói với Kiều vào sáng hôm sau: “Thoa này bắt được hư không, Biết đâu Hợp phố mà mong châu về.” (Bắt được hư không nghĩa là vô tình mà nhặt được). Sau này, khi đã sang Mỹ, nhớ lại chuyện cũ, tôi xem bản tiếng Anh của giáo sư Huỳnh Sanh Thông: “He reached for it and took it home.”. Em học sinh có ý kiến độc đáo này sau khi đậu tú tài, lên Saigon học Triết ở đại học Văn khoa. Vì bận học, em ít liên lạc với tôi, rồi dần dần biến luôn. Nhưng tôi tin em đã trở thành một giáo sư Triết xuất sắc.
Cơn đằng tây Trong một lớp học, thầy giảng về ca dao, tục ngữ, nói tới kinh nghiệm của người nông dân trong việc theo dõi thời tiết để canh tác… Nào là “Mống đông, vồng tây, chẳng mưa dây cũng gió giật”, nào là “cơn đằng Ðông vừa trông vừa chạy, cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi”… Một nữ sinh ngồi bàn đầu hỏi: “Thế còn cơn đằng Bắc và đằng Tây thì sao ?” Thầy chưa kịp trả lời vì trong ca dao, tục ngữ không nói tới cơn mưa ở hai phương đó, một nam sinh ngồi ở cuối lớp, tục gọi là “xóm nhà lá” vì nơi đây quy tụ phần lớn các học sinh nghịch ngợm, phá phách, bỗng nói lớn: “Thì vác chầy mà lộn chớ còn sao nữa.” Thoạt mới nghe, cả lớp không có phản ứng gì, thầy giáo cũng ngơ ngác không hiểu sao phải vác chày mà lộn. Nhưng chỉ nửa phút sau, một nữ sinh khác mắng nho nhỏ: “Ðồ quỷ! Chỉ ăn nói bậy bạ.” Thế là cả lớp hiểu ra, liền cười phá lên như một cái chợ vỡ. Thầy giáo cũng cười theo dù đã cố nhịn. Thầy cũng thầm phục cậu học sinh “nhỏ tuổi mà tài cao”. Thầy cho rằng sự nghiệp văn chương trào phúng của cậu chắc phải chói lọi lắm, nếu cậu lao vào “trường văn trận bút”. Chỉ tiếc rằng sau đó thầy hỏi “quý danh phương tánh” của cậu mà không ai chịu tiết lộ.
Cây trúc xinh Cũng trong giờ giảng về ca dao, tục ngữ, thầy đề cập tới những lời tình tứ của con trai dành cho con gái, như: Trúc xinh, trúc mọc đầu đình, Em xinh, em đứng một mình cũng xinh hoặc: Trúc xinh trúc mọc bờ ao, Em xinh, em đứng chỗ nào cũng xinh. Một vài nam sinh xì xào bàn tán: “Các cụ nhà ta nịnh đầm cũng một cây xanh rờn. Ngày nay đố có ai theo kịp.” Sau tiếng xì xào liền có những tiếng cười khúc khích. Thầy không phản ứng gì vì cho là câu nói đùa vô hại. Thầy định đọc thêm mấy câu ca dao tình tứ nữa, bỗng ở cuối lớp, một nam sinh gọi tên một nữ sinh thật lớn: – Ngọc Hoa ơi! Trúc xinh trúc mọc trong vườn, Hoa xinh Hoa có cởi truồng cũng xinh. Tức thì cả lớp cười phá lên. Trò Ngọc Hoa ngồi ngay bàn đầu mặt đỏ ửng, nhưng cũng cười theo cả lớp. Thấy cũng không nhịn được cười và thầm phục tên học trò nhanh trí đã “phóng tác” cấp thời để cả lớp cùng vui..
Tình không đợi tuổi
Tôi đang tìm cách đổi giờ cho một giáo sư vì ông mới được một trường tư mời dạy mà thời khóa biểu của trường tư lại trùng với trường công mấy giờ thì cửa phòng bật mở. Một nữ giáo sư hầm hầm bước vào phòng mà không báo trước. Tôi vội ngửng lên, nhận ngay ra vẻ tức tôi của bà. Mặt đỏ ửng và hai mắt rưng rưng. Bà là một nữ giáo sư trẻ mới đổi về trường đầu niên khóa này. Bà thuộc loại xinh xắn, duyên dáng, lại mới có con đầu lòng. Nhiều nam giáo sư trong trường còn độc thân cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ vì đã không được gặp bà khi bà chưa có chồng. Một ông dạy quốc văn mỗi khi được gặp cô trong phòng giáo sư lại ông ổng ngâm bài ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa…” Bà bước thẳng đến bàn giấy của tôi, ném lên mặt bàn một tờ giấy gấp tư, rồi nói:
“Ông giám học xem thế này có láo không?” Tôi thong thả mở ra đọc. Ðó là một bức thư tình ngắn ngủi. “Lệ Hương yêu mến, “Anh yêu em tha thiết. Hãy bỏ chồng để lấy anh.” Nguyễn Văn Thưởng.”
Lệ Hương là tên cô giáo, còn Nguyễn Văn Thưởng thì tôi không biết là ai. Chỉ đoán lờ mờ là một tên học trò nào đó vì tuồng chữ còn non nớt. Tôi hỏi bà Hương ai đã gửi cho bà thư tỏ tình này? Bà cho biết đó một học sinh lớp Tám (trước kia là đệ ngũ). Tôi ngạc nhiên vì học sinh lớp Tám chỉ mới 13, 14 tuổi. Tuổi này còn ham chơi, đâu đã biết yêu với thương. Không những thế, nó còn dám viết thư tỏ tình với cô giáo của mình. Tôi vội mở tủ tìm học bạ của nó để tìm hiểu. Nó thuộc loại học trò trung bình. Tôi ghi tên cha mẹ và địa chỉ của nó và quyết định phải giải quyết chuyện này nhanh chóng vì nếu còn tên học trò mất dạy này thì bà Lệ Hương không thể vào lớp đó được. Tôi tạm cho bà nghỉ dạy lớp này một tuần. Giờ của bà sẽ có giám thị vào giữ trật tự. Tôi viết thư mời bố mẹ nó đến gặp tôi gấp. Khi bố nó tới, tôi đưa lá thư của con ông ta viết cho bà Lệ Hương để ông hiểu rõ vấn đề mà không cần nói lôi thôi dài dòng. Đọc xong, ong tỏ vẻ ngượng ngùng, rồi ấp úng hỏi: “Thầy tính sao?” Tôi đáp: “Đó là lý do tôi mời ông đến đây.” Suy nghĩ một lúc, ông khẽ thở dài nói: “Tôi đành xin chuyển trường cho nó.” Tôi đồng ý ngay: “Đó là một biện pháp tốt đẹp.”
***
Cuộc đời dạy học của tôi nhiều vui hơn buồn dù tôi đã từng bị học sinh thân cộng sách động biểu tình, bãi khóa trên sân trường để phản đối tôi. Ngoài những tên học trò than cộng ấy, tôi được nhiều học sinh quý mến mà cho đến nay, sau 40 năm rời khỏi trường vẫn liên lạc thường xuyên với tôi qua điện thư hoặc thư gửi bưu điện. Tạ Quang Khôi
60 năm trước, ở Sài Gòn đã có một cuộc thi trẻ em ngộ nghĩnh rất đáng chú ý. Lúc đó, truyền hình chưa có, may mà có tờ báo Gia Đình đưa bài và ảnh khá rõ nét nên thể hiện được sự hấp dẫn của cuộc thi.
Cuộc thi này mang tên “Trẻ em lành mạnh và khéo nuôi”, được Bộ Y tế – Xã hội thời đó tổ chức tại Nhà bảo sanh Từ Dũ vào ngày 5/3/1957 nhân dịp lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, và ngày Hội Phụ nữ VN khi đó.
Cuộc thi đã thu hút hơn 300 các bà, các cô bồng con em mình tới Nhà bảo sanh Từ Dũ để dự thi.
Tạp chí Gia Đình số 3 năm 1957 mô tả: Trong suốt 2 giờ rưỡi, cuộc thi được chia ra làm ba nhóm: Nhóm A gồm những trẻ em từ 6 đến 12 tháng. Nhóm B từ 13 đến 18 tháng và nhóm C từ 19 đến 24 tháng. Ban giám khảo cả ba nhóm đều là các bác sĩ, hầu hết là bác sĩ nữ. Tất cả hơn 300 em bé dự thi, bé nào cũng bụ bẫm, kháu khỉnh, dễ thương.
Các bé trong phòng thi thản nhiên cười toe toét, khóc vang trời và ngáp, trong tiếng cười của các bà mẹ, các bác sĩ và y tá.
Google photo
Hai căn phòng rộng ở Nhà bảo sanh Từ Dũ được dùng làm nơi diễn ra cuộc thi. Các em bé lần lượt được các nữ y tá đem lên bàn cân, và được đem ra trước mặt ban giám khảo để chấm điểm. Mỗi bác sĩ giám khảo chấm về một mặt khác nhau, bao gồm cân nặng, bụ bẫm, khéo nuôi (nuôi bằng sữa bò hay sữa mẹ). Tổng số các điểm cộng lại chia ba lấy số trung bình để định đoạt thứ hạng.
Sau vòng loại, còn 170 bé vào chung kết. Bé nào cũng mập mạp, dễ thương, nên ban giám khảo lại càng cân nhắc trong việc quyết định các giải thưởng. Trong số các em dự thi có hai, ba cặp trẻ sinh đôi được cử tọa nhiệt liệt hoan hô.
Cuộc tuyển lựa kéo dài cho đến 6 giờ 30 chiều. Cuối cùng, bé Nguyễn Văn Bách chiếm giải nhất. Bé Nguyễn Thị Thu Hiền giải nhì và các giải ba. Giải nhất được một huy chương vàng y năm chỉ và một lắc vàng y ba chỉ. Giải nhì, ba đều được tặng lắc vàng. Những bé khác đều được giải an ủi gồm có một hộp Ovaltine và hai hộp sữa.
Những giải chính thức đều được phát tại Tòa Đô sảnh Sài Gòn, còn những giải khuyến khích được phát ngay tại chỗ.
Cuộc thi xa xưa này lúc đó nhằm khuyến khích các bà mẹ quan tâm đến việc nuôi con khỏe mạnh theo đúng cách thức của khoa học dưỡng nhi. Có nhiều bà mẹ mang con đến tham gia, chứng tỏ phụ nữ Sài Gòn – Gia Định thời đó đã biết quan tâm đến việc chăm sóc con trẻ.
Những bé khỏe, bé ngoan thời đó, giờ đã bước qua tuổi 60, không biết có người Sài Gòn nào còn nhận ra mình khi xưa ta bé ấy không?
Những ngày cuối năm Tuấn rảnh rang hơn ai hết, ở xóm này. Anh ở gác trọ và không có quê để mà ăn Tết. Hai mươi năm chinh chiến đã biến thành Sài-gòn thành ra một thứ quê hương cho khá đông người. Họ cưới vợ, sanh con, trồng cây, xây mộ, mướn nhà, dầu bị đuổi cũng không thèm dời. Họ nhìn người miền quê mới tản cư lên sau, nhìn với cặp mắt từ tốn của đám thổ công am hiểu thời thế. Tuy nhiên, làm ông Thổ công bị mang tiếng oan.
Như chàng Tuấn là một.
Đất Sài-gòn với muôn màu hồng ngàn tía được so sánh với một cuộc tiệc lớn. Rủi thay, trong cuộc tiệc ấy, thì hơn mười năm qua, tuy ham phần “xôi thịt” nhưng Tuấn chưa chiếm được chỗ ngồi nào yên ổn cả. Nếu có thì trên manh chiếu chật hẹp ấy chàng chỉ đóng vai người chồm hỗm ăn hụt để rồi vừa đứng vừa đi mà ăn – Kiểu ăn lua láo, không no dai, gây bịnh đau bao tử. Thế là chàng Tuấn đành đóng vai bất đắc dĩ của một kiểu Thổ công dạo kiểng xem hoa, hưởng thụ bằng cách ngắm nghía quan sát trong phạm vi có thể. Chàng muốn so sánh Sài-gòn với vườn hoa. Khổ thay, sự so sánh ấy không hợp pháp, đôi khi gây rắc rối. Lần lần chàng hiểu rằng mỗi vườn hoa, mỗi bãi cỏ đều có chủ, có ranh giới và có cổng khóa.
Tết năm ngoái, ngày mùng bảy, chàng không chịu rời bước khi tình cờ gặp một cội mai to lớn, cánh vàng rộp đất, đầy cành. Mai nở và tiếp tục nở giữa tiếng nhạc du dương và đôi nàng kiều nữ. Đột nhiên, cánh cửa sắt rít lên, mở rộng thêm. Ông chủ nhà ló đầu ra, đuổi chàng bằng nụ cười khô khan:
– Xin lỗi, ông có chuyện chi?
Chàng đang phân vân, chưa hiểu trả lời sao cho gọn. Ông chủ nhà liền ban cho chàng phát súng ân huệ:
– Ông kiếm nhà số mấy? Nhà này số 307.
Chàng vội nêu ra một con số vu vơ, xin lỗi và chào lễ phép ông chủ nhà, tạm biệt sau khi liếc vào phòng khách, thưởng thức lần cuối cùng vẻ tươi đẹp của cội mai trong cái độc bình Khang Hi, kiểu độc bình vĩ đại, cao hơn một thước tây… Lề phố vắng tanh đối với chàng. Vài tháng sau, đến mùa mưa, chàng tình cờ được dịp ghé lại chỗ cũ. Nhà số 307 ấy đã đổi chủ và ông chủ chỉ còn là… linh hồn phảng phất bên bàn thờ. Chàng nhận ra mấy cô kiều nữ hồi Tết khi cội mai nở. Các cô lơ đãng, thả hồn theo bản tân nhạc du dương, không biết rằng ngoài lề đường này, chàng đang dừng bước và sẵn sàng thành thật chia buồn.
°
Còn 5 ngày nữa là Tết.
Trước lề đường, gia đình họ xúm xít tháo chân đèn, các bộ phận linh tinh của cái lư đồng. Họ lau chùi. Mấy trái đào nằm kề con kỳ lân vàng. Con kỳ lân hươi miệng, vênh hai cọng râu khá to.
– Tường đó hả? Xin lỗi.
Tường giựt mình, dừng lại. Tuấn đúng bên kia đường. Hai người quen nhau từ đôi ba năm nay nhưng không chơi thân. Thỉnh thoảng gặp nhau tại nhà hàng Thanh Thế, bắt tay, cúi đầu chào vậy thôi. Rồi thì mỗi người ăn riêng một bàn. Tại sao Tuấn lại sốt sắng chào hỏi trước? Cơn gió Tết vừa lạnh, vừa khô càng làm cho da mặt Tuấn thêm nhăn và mái tóc thêm cứng, dựng ngược. Tường sực nhớ: Tuấn làm việc ở nhà báo. Nếu gán cho Tuấn cái tin sốt dẻo xe lật ở Tân An thì Tuấn chắc vui lên, Tường nhớ rõ tai nạn xảy ra vào lúc 6 giờ sáng, chẳng ai đến săn tin hoặc chụp ảnh cả.
Tường bắt tay Tuấn. Tuấn hỏi:
– Rảnh chưa? Vào dịp gần Tết mình dạo chơi.
“Lạ thật. Tại sao Tuấn chưa nhận ra cái bắt tay ngượng ngập hơi run của mình. Cánh tay ấy suýt gãy, tróc da, màu thuốc đỏ loang ra, lốm đốm dính tay áo.
Tường từ Cần-Thơ về Sài-gòn để thăm vợ con và ở luôn cho đến ngày mùng 7 tháng giêng. May thay, dọc đường khi chạy ngang Trung Tâm Giáo Dục Căn Bản ở Long An, xe ủi vào trụ lề đường, xe lăn ba vòng xuống ruộng. Người trên xe, ai nấy đều sống nhăn. Tường xuống bến Sài-gòn báo tin cho vợ con biết rồi lang thang dạo phố. Trong thời chiến, Tường cho rằng mình có diễm phúc lớn hơn ai hết. Chàng muốn khoe khoang với tất cả mọi người đã quen hay chưa quen. Mấy người hàng xóm hỏi chàng, hỏi sơ qua. Chàng chưa vừa ý. Chàng ra sạp báo. Mục “tin tức đó đây” của ba bốn tờ báo đều đăng toàn chuyện của Đô Thành và các tỉnh khác. Vô duyên quá. Rõ chuyện quan trọng, liên can đến sinh mạng ba bốn chục người lại trở thành bé bỏng, không đáng kể.
Tường xăn áo lên, sờ vào cái băng keo, nhuộm màu thuốc đỏ. Miếng da cùi chỏ đã rách nát và tróc mất. Mấy chiếc xích lô máy lướt qua. Chẳng ai chú ý đến chàng hơn, cả những người đi bộ. Chàng tự an ủi:
– Họ lo sắm Tết, chuyện mình mình biết, chuyện người người hay. Thí dụ như ngày hôm qua tại Sài-gòn mấy người đó gặp xui xẻo, mình đâu hay biết. Hòa cả làng.
Bắt đầu Tường dạo phố với một lập trường mới. Kéo cái tay áo xuống, dạo khoan thai, hai tay đung đưa ra rất hồn nhiên như người khỏe mạnh, kẻo thiên hạ họ nghỉ rằng anh mang tật từ khi lọt lòng.
Quả thật Tuấn là người… làm báo mà vẫn vô tình đối với thế sự.
Tường chưa muốn thất vọng!
– Cỡ này có tin tức gì lạ không?
– Họ in báo Tết rồi. Nghỉ vài ngày.
– Hồi tối, có xe đò lật.
– Xui xẻo quá vậy. Có ai chết không? Nếu chết một đôi người thì… chẳng bao giờ đăng báo.
Câu nói ấy như gáo nước lạnh xối lên đầu Tường. Chàng thở dài. Tuấn hỏi thêm:
– Sao?
– Xe lật nhưng chẳng ai chết cả.
– Vậy thì hơi đầu mình thắc mắc. Ngày Tết chẳng ai muốn nhắc tới chuyện xui xẻo. Thôi, anh muốn rảnh rang thì đi với tôi. Vui lắm. Xem nhạc sĩ… cổ điển đang tập dượt các mầm non văn nghệ.
– Tốn tiền không?
– Đâu có tốn… Sự có mặt của chúng ta sẽ làm hân hạnh cho chủ nhà. Dạy ca nhạc tại nhà. Các mầm non tốn tiền và tốn chút ít rượu trà để Tết thầy. Anh có xem lần nào chưa? Anh nhạc sĩ này là bạn thân của tôi.
Sáu bảy em bé – toàn là con gái – ngồi dựa lưng vào vách đối diện với nhạc sĩ Văn Ky. Đứa mặc áo rằn ri, đứa mặc áo đầm, đứa mặc áo sơ mi ngắn tay quần túm ống. Nhạc sĩ mặc bi-gia-ma, mang dép Nhật Bổn.
Buổi dạy nhạc diễn ra, trong gian phòng ấm áp, thân mật, chật chội, trên lầu. Cách nhạc sĩ chừng bốn bước là cái giường nệm khá to. Trên ấy, một bà lão nằm mỏi mệt – Dì ruột của nhạc sĩ từ Bến Tre tản cư lên Sài-gòn từ vài ngày rày.
Nhạc sĩ Văn Ky nâng cây lục huyền cầm, so dây rồi nói to:
– Đâu, tụi bây dượt lại cho tao nghe. Tệ qua, tao khổ vì tụi bây.
Các mầm non dở quyển sách mỏng ra, chăm chú; lối xưng hô “tụi bây, tao” chẳng có gì là thô lỗ. Người trong gia đình với nhau cả, mấy mầm non còn quá trẻ, trẻ tuổi hơn đứa con gái đầu lòng của nhạc sĩ.
– Lệ Hoa đâu! Mầy nói lối trở lại cho tao nghe!
Cô bé Lệ Hoa, trạc mười hai tuổi đứng dậy, bước tới hai bước. Đột nhiên, nó day mặt, liếc phía thang lầu.
Nhạc sĩ Văn Ky lắc đầu:
– Không được… Lúc tao đang dạy, lúc mà bắt đầu lắng giọng thì bất cứ tiếng động gì cũng không đáng kể. Tao biết có khách tới, họ bước lên thang lầu. Nhưng đó là những bạn quí của tao. Họ tới đây vì… điệu nghệ. Đừng sợ sệt, đừng lãng trí. Nay mai mầy vô dĩa, mầy lên sân khấu thì làm sao?
Cô bé Lệ Hoa lè lưỡi. Mấy đứa bạn cúi đầu lật quyển bài ca. Giọng Lệ Hoa cất lên:
Lần thứ hai, về thăm quê ngoại,
Ngắm vườn cau năm cũ xác xơ.
Hai tay ôm lấy nấm mồ,
Khói hương nghi ngút quyện mờ vườn cau…
Lần thứ hai trở lại…
Nhạc sĩ Văn Ky ngưng tay buông phím:
– Khổ lắm. Tại sao “trở lại” mà mầy nói lối ra “trớ lại”. Chưa rõ tiếng. Nói lối cho tao nghe kỹ, năm ba lần. Trở lại… Trợ ở… ở… lại.
Cô bé Lệ Hoa lấy hơi:
– Trở… ở… lại… ớ.
– Tại sao có tiếng “ớ” vô duyên đó! Mầy chặt bỏ tiếng “ớ” dùm tao… Ủa chào anh Ký giả, chào anh bạn.
Tuấn dõng dạc xuất hiện, theo sau là Tường. Cô bé Lệ Hoa vẫn đứng im. Nó hơi thắc mắc. Tại sao thầy có hơi… lãng trí. Nhưng nhờ được vào hậu trường sân khấu vài lần, nó chợt hiểu. Thầy nó giống như người đạo diễn đào kép diễn ngoài sâu khấu, người đạo diễn ở hậu trường được trọn quyền đi tới đi lui hoặc ra ngoài ngã tư đường cái mà uống cà phê. Để khỏi bị rầy, nó vẫn đứng im, như trên sân khấu thật, không cần cúi đầu chào hai vị thượng khách của thầy nó.
Tuấn giới thiệu:
– Đây là nhạc sĩ Văn Ky, đây là bạn Tường.
– Cám ơn. – Vừa nói, Văn Ky vừa chỉ hai cái ghế.
Tuấn nói:
– Anh cứ dạy học. Tụi tôi đi phiêu lưu ngày Tất niên. Lâu quá mới tới đây.
Văn Ky ngồi xuống ghế, so dây đàn.
– Hai anh có thể ra trước bao lơn, ngắm cảnh. Chừng hai chục phút nữa, mình đi Chợ-Lớn kiếm cái gì nhậu.
Rồi nói với đứa học trò lớn tuổi nhất:
– Bé! Xuống nói với cô, lấy tiền mua năm đồng bạc cà phê đen, pha trà thật đậm.
Nhạc trổi lên. Tường hơi buồn đến bao lơn, nhìn qua nhà kế cận. Chủ nhân mua hàng chục chậu bông vạn thọ, hường, cúc. Tuấn đứng chống nạnh, nói với Tường:
– Thay đổi không khí như vầy, được chưa?
Tường mơ màng hút thuốc, chống hai tay lên thành bao lơn. Vài chiếc xe vận tải khá to, khá năng chạy qua. Anh sờ ngay cùi chỏ. Vết thương còn đó, hơi rêm nhức. Anh nhớ rõ, gió đâu thổi lạnh lẽo, xe chạy trăm cây số một giờ. Vì ngồi ở phía ngoài nên gió tạt vào lỗ tai, lùng bùng. Đột nhiên, thiên hạ kêu rú, chiếc xe lao đầu trong bóng tối quay tròn, đầu anh dộng xuống mui rồi mông anh quay trở lên. Anh ôm mặt, ngất xỉu, mất thở vì người hành khách kế bên đè lên anh.
– Nghe kìa!
Tuấn vỗ mạnh vào vai Tường, nói tiếp:
– Ngộ quá, nhiều người ao ước thấy tận mắt khung cảnh đào tạo mầm non ca nhạc cổ điển. Anh không ưa vọng cổ sao?
Tường lưỡng lự. Thật ra, anh rất thích vọng cổ. Mười năm về trước, anh thử học đàn và ca, nhưng việc tập dượt phải dở dang vì anh thiếu hơi ca trung bình, vì anh thuận tay trái.
– Anh Tuấn. Tôi muốn về, thăm người bà con.
– Bậy nè! Chỗ anh em với nhau. Chờ lát nữa, tụi mình cùng đi. Hổm rày, tôi tới đây vài lần nhưng chưa bao giờ theo dõi phương pháp đào tạo của anh nhạc sĩ Văn Ky. Anh này thuộc vào hàng xuất sắc. Cô đào Vân Tuyết, huy chương vàng 62 là học trò của anh. Giới kịch trường gọi đây là “lò Văn Ky”.
Tiếng đàn của Văn Ky trổi lên. Nãy giờ, anh rao chậm chậm, cố ý tranh thủ thời giờ để chờ cô bé – đứa học trò lớn tuổi nhứt, đi mua cà phê về đãi khách. Cô bé đã về, kính cẩn đặt hai ly cà phê đen trên bàn, cúi đầu mời Tuấn và Tường.
Tuấn nói một câu khiến Tường hơi hối hận, trở lại thực tế:
– Anh thấy nhạc sĩ Văn Ky nhã nhặn và khiêm tốn chưa? Phục vụ bạn bè hết mình. Vừa mưu cầu sanh kế, vừa hành nghề vừa giữ phép xã giao. Và cô bé này hy sinh thời giờ, xem bọn mình như thượng khách. Tại sao anh từ chối tấm thạnh tình của người chung quanh?
Cô bé Lệ Hoa lên giọng nói thơ Vân Tiên rồi qua nói lối thăm:
Lần thứ hai, về thăm quê ngoại,
Ngắm vườn cau năm cũ xác xơ.
Hai tay ôm lấy nấm mồ,
Khói hương nghi ngút quyện mờ vườn cau…
Lần thứ hai trở lại…
Nghe tiếng trẻ ngọt ngào, phát âm thật rõ, nhạc sĩ Văn Ky gật đầu, đắc ý. Cô bé Lệ Hoa liếc nhìn thấy, sung sướng. Tuấn cười tủm tỉm như tán thưởng cô bé. Tường vẫn ngơ ngác:
– Giọng cô bé này tốt hả? Nó còn nhỏ tuổi quá.
Tuấn gắt giọng nhưng nói cặn kẽ:
– Im đi. Anh không rành nghệ thuật gì ráo. Phải thông cảm cố gắng thông cảm. Anh Văn Ky và cô bé này đang vui mừng…
Nhạc sĩ Văn Ky nhắc lại:
– Một lần nữa. Mấy đứa kia chuẩn bị, nhớ đo nhịp trong cuốn bài ca để vô một lượt với người ta. Có đứa nào ngủ gục không?
– Lần thứ hai trở lại mẹ khóc quê ngoại đìu hiu như vườn cau xơ xác tiêu… ơ… ơ… điều!
Bé Lệ Hoa vừa dứt tiếng “điều” là Tường nhảy dựng. Sáu bảy đứa học trò cổ nhạc hát rộ lên một lượt, mỗi đứa một lời ca khác nhau, tuy cùng một bản vọng cổ, một nhịp điệu. Tuấn gật đầu, đắc ý. Nghe như bầy ong vỡ ổ:
– Nếu vắng – thấy mẹ ngồi khóc – đôi mắt – Điệp ơi – quê ngoại thăm lại vườn cau – rồi duyên hương lửa, Lan có tiếc – tỳ bà long phím vẫn u hoài – để cùng ôn kỷ niệm – thân bọt bèo vạn kiếp mông mênh – xạc xào lá vàng – riêng mình mái tóc thề để bạn tình chung – mẹ quá khổ đau – chiếc lá vàng bay…
Thật là một bản hòa tấu hỗn loạn. Tường quên hẳn vết thương nơi cùi chỏ, quên hình bóng chiếc xe nặng 5 tấn chạy trăm cây số một giờ đang lao mình, lật ngược, lăn ba vòng trước khi nằm im… Ba bốn thứ lời ca vọng cổ trộn lộn, như mớ miểng chén để trong thúng xóc mạnh, như hàng trăm cánh hoa rơi rụng. Tuấn khều Tường.
– Vui chưa? Trăm hoa đua nở là vậy đó. “Khúc đâu Hán Sở chiến trường, nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau” là vậy đó.
Tường cười gượng:
– Như vậy, hơi tủi cho vong hồn cụ Nguyễn Du!
– Anh hơi bi quan.
– Không nhịp điệu gì hết.
Tuấn nheo mắt, đưa bàn tay mặt lên rồi chờ đợi, nhịp chân, búng nhẹ ngón tay cái vào ngón tay trỏ, nghe một tiếng “chóc”. Tất cả mầm non đều lên giọng để chấm câu thứ nhứt.
Lấy chồng trừ nợ cũ, hoa tàn trong chuông sớm trên đường về biên ải. Ba tiếng chốt: cũ, sớm, ải đều lên cao vút một lượt hòa hợp với tiếng đàn của nhạc sĩ Văn Ky.
Nhạc sĩ đắc ý:
– Được lắm. Tụi bây tiến bộ.
Tuấn day qua Tường:
– Kỹ thuật khá lắm rồi đó. Hồi nãy tôi búng ngón tay trúng ngay nhịp. Bốn tiếng chót rơi vào nhịp thứ 32 của câu đầu, theo hơi trắc, bay vút lên. Thời xưa, con hạc ở chốn Thiên Thai cũng vậy thôi. Tản Đà bảo: “Cái hạc bay lên vút tận trời“.
Tường chán nản luận điệu ngông nghênh, xa thực tế của Tuấn. Tường muốn ra khỏi gian phòng. Nhưng làm vậy, anh sợ nhạc sĩ Văn Ky và các mầm non phật ý. Anh ra bao lơn. Gió Tết thổi lành lạnh. Anh nghĩ đến vết thương nơi cùi chỏ. Đêm nay, nó sưng lên, làm độc. Có lẽ sáng mai, anh phải đi bác sĩ, rọi kiếng cho biết có sứt mẻ khớp xương không? Buồn quá. Cây cỏ, gỗ đá là giống vô tình, đã đành. Chớ như chàng Tuấn, một ký giả có tâm hồn, được liệt vào phái “lành mạnh”, thế mà vẫn xa thực tế đau khổ của cuộc đời, tại thành phố, nói chi đến tình trạng chiến tranh ở đồng quê không xa xôi.
Tuấn đến bao lơn:
– Coi cái gì vậy? Chán cái vụ mầm non này rồi hả?
Tường nói:
– Coi người ta tưới kiểng, tưới bông ở căn nhà bên kia cho đỡ buồn.
– Tại sao anh không biết mê… buổi tập hót của bầy chim con, lúc chờ đón gió xuân? Mấy em bé đó là bầy chim non của đất nước.
– Anh đừng đại ngôn.
– Tôi nói đúng sự thật. Giờ phút này, ít ai được gần gũi cuộc đời như chúng mình.
– Mấy em đó ca hát nghe lộn xộn quá.
– Làm sao lộn xộn? Khổ lắm. Nhạc sĩ Văn Ky vừa trả lời mấy câu phỏng vấn của tôi. Anh cho biết mấy em tập tành đã sáu tháng rồi, nay tiến lên đến trình độ đáng khích lệ đó. Vọng cổ là cuộc sống, có kỷ luật nghiêm khắc, như con người giàu nghèo sang hèn sanh lão bệnh tử, chẳng ai thoát khỏi luật của tạo hóa.
– Thôi đi anh! Giỡn hoài.
Tường nói xong, quay mặt.
Tuấn trả thuộc lòng mớ lý luận mà anh vừa học lóm được của nhạc sĩ Văn Ky ban nãy:
– Mỗi câu 32 nhịp, mỗi nhịp đúng hai giây đồng hồ, nếu ca vô dĩa thì mỗi câu đúng 64 giây, không xê xích. Coi như giỡn chớ khó lắm. Mấy cô ca như ong vỡ ổ nhưng tuân theo kỷ luật nghiêm khắc ấy.
Tường lắc đầu:
– Lời ra hỗn độn, toàn là chữ sáo, theo kiểu văn chương 3 xu không ý nghĩa.
– Người ta cần hơi mùi. Và cần ý nghĩa, cần luân thường đạo lý. Anh lầm rồi…
Bầu không khí trở nên khó thở. Nhạc sĩ Văn Ky buông đàn sau khi tập dượt đến lần thứ ba cho các mầm non. Nhạc sĩ mở tủ kiếng, đem ra sáu tập sách bài ca vọng cổ:
– Các bạn thông cảm giùm. Nãy giờ nghe lộn xộn bởi vì mỗi em ca vọng cổ theo nhịp chung nhưng lời riêng. Bài ca thứ nhứt là “Hương Cau Quê Ngoại” của thi sĩ Kiên Sơn, bài thứ nhì là “Thoại Khanh Châu Tuấn” của soạn giả Viễn Châu, bài thứ ba là “Tình Lan và Điệp”, cũng do Viễn Châu soạn. Ba bài đó hợp đạo lý… Tôi chú ý chọn lựa để các em sau này đừng nhiễm thói xấu… ngoại lai. Mấy anh coi thử. Đây là bổn thứ nhứt, ở mỗi nhịp tôi có ghi dấu viết chì. Đây là bổn thứ hai, không có ghi nhịp. Các em “mầm non” đã tới trình độ không có ghi nhịp nhưng vẫn ca đúng nhịp, 32 nhịp vô một câu, đúng 64 giây đồng hồ. Khổ lắm. Bây giờ mình đi nhậu, được chưa.
Nghe đến tiếng đi nhậu, Tường giựt mình. Vết thương chưa lành mà nhậu rượu thêm thì e nó làm độc, rủi ro bề gì thì cưa cánh tay. Bỗng dưng mà cùi chỏ Tường cử động khe khẽ.
Nhạc sĩ Văn Ky trố mắt:
– Ủa! Sao vậy? Như có máu.
Tường nói rõ từng tiếng để trút bao nhiêu cơn uất hận từ khi gặp Tuấn:
– Tôi đi xe từ Long An về, lật xe 3 vòng, trầy sơ sơ… Chắc nhậu không được, xin kiếu, hẹn dịp khác.
Tuấn nói giọng đàn anh kể cả:
– Không nhậu thì cũng đi chơi, ngồi chung một bàn cho vui. Cữ rượu thì uống nước ngọt. Cha này khó tánh quá. Hay là anh muốn tôi đăng… cáo phó vào dịp Tết? Dịp Tết, chẳng báo nào đăng cáo phó cả…
– Thôi. Tôi buồn, để tôi về.
– Buồn nỗi gì, ngày Tết?
– Tôi buồn, tôi nghĩ đến bao nhiêu người khác, họ bị lật xe một lượt với tôi, không ai chết…
Tuấn nắm tay Tường:
– Thôi, xuống đất, cha nội ơi. Vậy là vui rồi. Thương người vu vơ chỉ là tật ích kỷ. Vì ích kỷ nên nãy giờ anh có thưởng thức gì đâu? Tết đến, chim non đua hót…
Tường sờ vào cùi chỏ rồi buông tay xuống khi cô bé, đứa mầm non lớn tuổi nhứt, đâu cũng 17, 18 tuổi đến gần chàng, mái tóc thoảng mùi trầm hương, đôi mắt đen nên sáng lạnh. Trong đáy biển đen huyền ấy, ngời lên hai vì sao nhỏ.
Cô bé nói:
– Thưa chú, cháu về… Thỉnh thoảng mời chú trở lại khuyến khích mấy cháu đây. Cùi chỏ của chú… dường như…
Thời thực dân, làng Sóc Sơn dài trên ba mươi cây số. Hương chức hội tề ở rải rác khắp xóm, xa nhau, ít khi tụ họp. Mỗi ông nắm trọn quyền hành chánh, kinh tế, an ninh trong xóm như một vị tiểu vương. Vì vậy hễ có chân trong ban hội tề tức là làm giàu. Sóc Xoài là xóm quan trọng nhất của làng Sóc Sơn. Xoài đâu chẳng thấy chỉ thấy rặng tre xanh rì và hai nóc nhà đỏ chói nhô lên. Một là nóc chùa Miên. Hai là nhà của ông Xã trưởng Thạch Ngọc Tư.
Vốn là một người Miên giàu có, ông xã cố gắng vận động với ông Cai Tổng, với chủ quận để làm xã trưởng. Đâu đó xong xuôi, ông đâm đơn vô tòa án, xin phép làm lại khai sanh đổi tên họ cho có vẻ văn minh. Tên Kha văn Mau trong khai sanh cũ được sửa lại là Thạch Ngọc Tư.
Xã trưởng Thạch Ngọc Tư tìm cách gây uy tín đối với dân trong xóm, toàn là người Miên. Việc làm đầu tiên của ông sau khi nhậm chức là rước một thầy địa lý người Tàu về để xem các mạch đất “tiểu quốc” Sóc Xoài. Năm mươi ngày liên tiếp, dân trong Sóc vô cũng sợ sệt, ngơ ngác khi thấy ông thầy Tàu tóc bạc râu dài nọ đi tới đi lui dạo khắp hang cùng ngõ hẻm, gốc tre, bờ giếng. Thỉnh thoảng ông hái một nhánh tre cắm xuống đất. Đôi ba ngày sau ông nhổ lên hoặc cắm nhánh mới theo hình tam giác, lục giác.
Ngày chót, ông ta nhổ tất cả nhánh tre đem về nhà ông xã trưởng để báo cáo việc điều tra, sưu tầm, nghiên cứu dưới mặt đất.
Hôm sau, Xã trưởng Thạch Ngọc Tư đội nón cối, tay xách ba ton đi “kinh lý” trong sóc. Theo sau, có ba bốn ông Hương ấp mặc áo bành tô vàng, cũng người Miên.
Đến xóm thứ nhất, Thạch Ngọc Tư cười uống rượu rồi nói huyên thiên:
– Bà con mình ở đây có phước. Giống đất này thuộc về đất con Rồng, ai nấy đều dư dả, sức khỏe đầy đủ. Nhà tôi ở ngay đầu Rồng nên khá hơn. Anh em nhờ cất nhà ngay trên lưng Rồng nên chẳng lo nghèo! Ông thầy Tàu dặn tôi coi chừng… Đừng cho nhà nước Tây đào kinh ngay xóm mà con Rồng phải đứt làm hai…
Đến xóm phía Nam, ông xã trưởng nói trầm tĩnh lại:
– Ở đây nhằm mạch đất con Chó. Chó có khi cực khổ, thiếu ăn thiếu sống nhưng gặp thời thì được chủ nhà cưng, sung sướng, Bà con nên tự an ủi…
Đến xóm phía Tây, xã trưởng họ Thạch ra vẻ ưu tư, buồn bã. Đây là một xóm nhỏ gần rừng, giáp mé biển. Dân làng nghèo đến đổi mặc quần bao áo bố. Ông bảo:
– Ở đây, thầy Tàu nói là mạch đất con Mèo. Xứ mình ít chuột nên mèo thiếu ăn, ốm o gầy mòn. Mèo có thể sung sướng nếu gặp ông chủ giàu có. Ngặt xóm này là con mèo có xác mà thiếu hồn. Ông thầy cắm nhánh tre sâu xuống đất mà nhánh tre cứ héo hoài.
Có người hỏi:
– Chừng nào hồn mèo về nhập xác cho chúng tôi được nhờ?
Ông xã trưởng đáp:
– Thầy Tàu nói không đoán được. Có khi sớm có khi muộn. Hồn con mèo sẽ về theo đường biển. Bởi vậy khi nào có dông gió, anh em nên coi chừng.
Sau cuộc tiếp xúc ấy, dân xóm Mèo vô cùng thất vọng. Có người đâm ra lo sợ. Phải chăng ông xã muốn cảnh cáo họ về vụ đốn củi lậu thuế. Vì mèo đói nên thường sanh tật ăn vụng.
Thế rồi ngày tháng trôi qua đều đều, theo điệu nhịp thanh bình giả hiệu của thời thực dân… Câu chuyện thầy địa lý không ai còn nhớ. Người Miên đủ hiểu rằng: Ông thầy nọ nhắm chừng mà đoán.
Xóm con Rồng thì đất cao ráo, trồng dâu nuôi tằm được nên dân sống dễ dàng.
Xóm con Chó sống về nghề nhổ bàng đương đệm, đương bao cà ròn (bao bàng), nên khi thăng khi trầm tùy theo giá thị trường. Xóm con Mèo sống về nghề rừng nghề biển không có tương lai. Người Miên cực chẳng đã, cùng phương sanh kế, phải ra đây mà ở. Họ không dám ra ngoài khơi đánh lưới làm nò như người Việt Nam. Họ ở trong bờ, bắt ba khía, câu cua về đủ nhậu bữa nào hay bữa nấy.
Thỉnh thoảng họ vớt được một vài thùng dầu lửa tấp lên mé bãi. Có khi được một vài cái phao lưới của người Nhật đánh cá ngoài biển bỏ rơi. Lần nọ con cá ông nhỏ “luy” trôi lên bãi. Họ cấp tốc qua làng kế bên cho người Việt Nam hay để chôn giùm họ.
Bỗng một buổi sáng mưa gió Nam, cả xóm gọi nhau ơi ới kinh hoảng, khiến già trẻ đều thức dậy. Có người về báo:
– Ngoài biển không biết bao nhiêu là thùng cây vuông, lớn bằng thùng đựng sữa bò trôi vô hoài hoài…
Phép tiên chăng? Ai đem những thùng ấy đến? Đem tự hồi nào. Biết đâu trong những thùng ấy chẳng có súng đạn mà mang họa cả xóm? Hay cường quốc nào toan đổ bộ đánh chiếm nước này lần thứ hai? Bãi biển tuyệt nhiên không có một bóng người nào. Chỉ có dân trong xóm. Họ ra bãi lập tức chở vài thùng về nhà khui ra cẩn thận: Toàn là hộp thiếc màu đỏ có nhãn hiệu là con mèo đen.
Hò mừng quýnh la lên:
– Mèo về kìa! Hồn con mèo! Bởi vì hồn ma cho nên có hình con mèo màu đen.
Người khác bàn tán:
– Về theo đường biển, đúng như lời thầy Tàu. Chắc xóm này làm ăn khá. Mua một lít rượu về ăn mừng, anh em ơi!
Lúc khui ra, họ thấy rõ ràng là thuốc vấn sẵn. Hút thử thì lạt hơn thuốc rê, lại có mùi “cà-ốp cà-ốp” (tiếng Miên) nghĩa là… thơm thơm.
Phải là thuốc rê, thuốc gò thì họ hái đem hết những chiến lợi phẩm về, cất giấu để sử dụng cho qua cơn nghèo. Ngặt là thứ thuốc lạt, họ không thích mấy nên một mặt họ chở về nhà một mặt cho người đến nhà xã trưởng Thạch Ngọc Tư để khai báo. Rủi thay đó là lúc xã trưởng bận việc. Ông ta đi Nam Vang mua dĩa hát “dù kê”, thỉnh tượng Phật và dọ giá mua con voi sống đem về cúng chùa. Ở nhà còn lại chú Biện Xủng, người Tàu lai, trọn quyền… xử lý thuờng vụ trong phạm vi có thể.
Biện Xủng biết: Nếu báo cáo việc này về thầy cai tổng thì chỉ có lợi cho Tây. Động lòng tham, y bỏ túi vài hộp thuốc suy nghĩ cách thu lợi riêng, chú đi quan sát từng nhà, hỏi kỹ:
– Mấy người thấy trong thùng còn món gì lạ nữa không?
– Dạ thưa chỉ có thuốc hút.
Đằng xóm, một ông lão chạy đến cầm một tấm hình:
– Dạ thùng đằng nhà tôi khui ra có hình con đầm này.
Biện Xủng nhìn tấm hình: đúng là một mỹ nhân nhạn sa… cá lặn. Lật phía sau có một hàng chữ Tây, hay chữ Ăng Lê. Vì không rành, y đọc không nổi.
Biện Xủng đoán chừng đó là thuốc lậu thuế, chiếc tàu chở thuốc chìm, chưa kịp vào bờ đóng thuế. Hoặc là chủ tàu gặp tàu của sở thương chánh sợ bị phạt nặng nên quăng bỏ xuống biển.
Duy chỉ có tấm hình mỹ nữ làm chú Biện thắc mắc, liên tưởng đến một vụ xổ số. Biết đâu tấm hình này sẽ là số độc đắc, nhờ đó mà y làm giàu.
Nghĩ vậy y muốn hốt của một mình nên nói riêng với dân trong xóm:
– Chuyện đổ bể rồi. Bà con phải giữ kín. Tây hay được bắt bỏ tù cả đám. Tôi sẵn sàng che chở bà con. Cứ tháo điếu thuốc ra, như thuốc rời. Lon hộp phải quăng bỏ… Chỉ cần một điều là ai gặp bất cứ tấm hình đầm nào thì phải đem nạp cho tôi.
Thế là bao nhiêu thuốc Craven “A” phải tháo hộp ra, xé vấn hút, vấn điếu nào điếu nấy bằng ngón tay cái hút mãi mà không đã cơn ghiền! Các bà ăn trầu thì rút một cục lớn mà xỉa rồi chê là lạt nhách. Tuy vậy, có còn hơn không! Ngày mưa tháng gió, thuốc này cũng an ủi cơn nghèo túng.
Họ khôi hài lẫn nhau:
– Hồn con mèo ở biển về! Thầy Tàu nói vậy mà đúng… Hồn về rồi mà sao mình còn khổ quá… Chắc là tại con mèo đen đứt đầu, như trong hình vẽ ngoài gói thuốc.
Phần Biện Xủng thì muốn trốn tránh trách nhiệm. Y thảo hai bản công văn giống nhau, một bản gởi lên Cai Tổng để tường trình, một bản dán tại nhà xã trưởng cho có lệ (không cần dán trong xóm vì xóm người Miên nào ai biết chữ Tây chữ quốc ngữ đâu mà đọc). Đại khái như sau:
Province de Rach Giá, Délégation du chef lieu, Canton de Kiên Hảo: Village de Sóc Sơn.
Trát cho hương ấp tuân cứ.
Hương chức làng nghe nói ở ấp Biến có lượm được thuốc hút. Nay truyền rao cho Hương ấp phải đến mỗi nhà lập thông qui để làng chạy tờ phúc bẩm về quan chánh Cai Tổng.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.