Đồi 30 Hạ Lào kỳ 1

baotreonline.com

Trần Vũ

November 30th, 2020

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Ngay sau Tết Tân Hợi 1971 Quân đội Quốc gia hành quân ngoại biên sang Lào. Lam Sơn 719 sẽ là một thất trận ngay cả khi phía Bắc-Việt phải trả giá đắt. Một tháng sau trận đánh, Đại úy Trương Duy Hy, Pháo đội trưởng của Tiểu đoàn 44 Pháo binh ghi lại những gì tận mắt chứng kiến, từ 8 tháng 2 đến 3 tháng 3-1971.

Những trang viết tay của Đại úy Hy cực sống động. Người đọc nhìn thấy các căn cứ Ranger North, Ranger South của Biệt Động Quân lần lượt thất thủ, rồi đến phiên Đồi 31 bị tràn ngập khiến Đại úy Nguyễn Văn Đương phải tự sát. Tiếp đến là những tấn công biển người với thiết giáp PT76 của Bắc quân mà Đại úy Hy đã phải dùng đại bác 155 ly bắn trực xạ để ngăn chận; xen kẽ các pha cận chiến của Nhảy dù.

Tập hồi ký cho người đọc nhìn thấy thêm sự vận hành bên trong của một đơn vị pháo binh VNCH. Cách tổ chức, thiết lập vị trí, cách gọi pháo, check fire và phối hợp giữa nhiều pháo đội cùng một lúc, song song với không yểm Hoa Kỳ. Đặc biệt Đại úy Hy đã không tránh né mà ghi lại sự kiện đã từng bị thổi phồng: vài binh sĩ ôm càng trực thăng rời khỏi Đồi 30 và việc Trung tá Trần Kim Thạch, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Nhảy dù, bỏ đơn vị về Khe Sanh. Tính trung thực không bao gộp duy nhất những điều tồi tệ. Đã có những tấm gương can trường: như Thiếu tá Lê Văn Mạnh, Tiểu đoàn phó, chống trả cho đến phút cuối cùng rồi cùng binh sĩ mở đường máu về được Lao Bảo bằng đường bộ. Chính bản thân Đại úy Hy cũng đã đứng thẳng trên bãi đáp trực thăng, đang hỗn loạn, đễ giữ đội hình và quyết định tháo vải ngụy trang để lộ ba mai vàng giúp phi công nhìn thấy có sĩ quan chỉ huy bên dưới mà đáp xuống. Chỉ là một chi tiết nhỏ, nhưng nói lên phẩm cách của Đại úy Hy. Một giáo chức bị động viên.

Ít tập hồi ký nào sôi động với những khắc khoải lo âu từng giờ như Đồi 30 Hạ Lào. Tôi đọc hồi ký này năm 1973 khi vừa lên trung học mà nhớ mãi những bực tức cùng lo lắng của Đại úy Hy, cả những phản công bằng phóng lựu M79 của binh sĩ quốc gia đẩy bật Cộng quân xuống rào kẽm gai và Đại úy Nguyễn Văn Đương là người bạn thiết mà Đại úy Hy nhắc đến những phút cuối cùng. Khi ấy, phim kịch Người Chết Trở Về của Nhật Trường với ca khúc Anh Không Chết Đâu Em đang phát hằng ngày trên Radio và Tivi. Tôi cố gắng tìm chân dung Đại úy Hy trên Net, nhưng không một tấm hình nào hay văn bản nào cho biết ông còn sống hay mất. Xin phép đại úy Hy cho đánh máy lại, vì giá trị lịch sử của hồi ký và cũng vì sách đã tuyệt bản, không còn tìm thấy ở các nhà sách, cũng không thấy trên mạng.    

 “Tôi Tham Chiến Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 Tại Hạ Lào” nhận Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Phủ Tổng Thống VNCH năm 1972, các chương sẽ được tuần tự đánh máy lại trên tuần san Trẻ từ tuần này. [Trần Vũ] 

—oOo—

Trương Duy Hy

THAY LỜI TỰA

Đà-Nẳng, ngày 10 tháng 06 năm 1971

Thân gởi,

Đại Úy Trương Duy Hy, Pháo đội trưởng Pháo đội C/44 PB, tham dự cuộc hành quân Lam-Sơn 719 tại căn cứ hỏa lực 30, Hạ Lào.

Anh Hy thân mến,

Tôi vừa nhận được bản thảo Hồi Ký Chiến Tranh của Anh, nhan đề “Tôi Tham Chiến Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 tại Hạ Lào”. Anh có nhờ tôi đề tựa. Đáng lẽ Anh phải nhờ một nhà văn nổi tiếng hay một sĩ quan cao cấp làm việc đó, nhưng anh đã nghĩ đến tôi, chắc vì mối tình tri-ngộ giữa chúng ta kể từ hơn 20 năm nay. Do đó tôi viết bức thư không niêm này, thay vì đề tựa chính thức để giải bày cùng anh những cảm nghĩ của riêng tôi sau khi đọc tác phẩm này. Năm, tháng trôi qua thật nhanh, bao nhiêu biến cố dồn dập đến trên dải đất thân yêu của chúng ta, kể từ một phần tư thế kỷ này đã đảo lộn nhiều chế-độ chánh trị, xáo trộn cả bộ mặt xã-hội và nếp sống hàng ngày, cơ hồ có lúc làm đảo lộn tất cả những tình cảm tốt đẹp nhất trong lòng người giữa cơn lốc vật chất quay cuồng dữ dội. Nhưng kỳ diệu thay, mối dây giao hảo giữa chúng ta vẫn không hề bị gián đoạn vì thời cuộc nghiêng ngửa, cũng không hề bị hoen ố vì ảnh hưởng của cuộc nhân-sinh. Giữa Anh và tôi vẫn còn trọn vẹn tình thầy trò thiêng liêng, tình anh em thắm thiết, tình bằng hữu đậm đà. Tôi biết Anh, từ khi Anh hãy còn là một cậu bé 15 tuổi, sớm mồ côi cha, nhưng nhờ ý chí cương quyết, nghị lực vững vàng, anh đã can đảm vượt qua hết mọi trở ngại lớn lao, để tiếp tục việc học đến ngày thành công. Anh đã thi đậu vào lớp Đệ-Thất trường Trung học Phan-Châu-Trinh Đà-Nẳng, năm 1952. Tôi còn nhớ rõ hình ảnh một cậu học sinh nhỏ bé, ngơ ngác giữa đám bạn bè tinh nghịch. Nhưng Anh đã làm chúng bạn cảm phục ngay vì học lực và tính tình của Anh. Việc học nửa chừng bị gián đoạn vì Anh phải tham dự cuộc Hành quân Atlante vào khoảng 1-1954. Chiến tranh chấm dứt, Anh phải học băng vào lớp Đệ Ngũ, thế mà tháng nào Anh cũng đứng đầu lớp, năm nào Anh cũng nhận phần thưởng danh dự, suốt trong mấy năm Trung học Đệ I và Đệ II cấp, cuối cùng Anh thi đậu Tú Tài Toàn Phần. Hồi đó, các giáo sư ai cũng đều ngợi khen Anh. Nếu Anh được cái may mắn sinh trưởng trong một gia đình giàu có thì chắc sự học còn tiến xa hơn nữa. Trong khoảng từ năm 1958 đến năm 1962, Anh phải đi dạy các trường Trung-Học Công Tư ở Quảng Nam để giúp đỡ gia đình, rồi sau đó phải nhập ngũ. Trong thời gian này, thỉnh thoảng tôi mới gặp Anh, nhưng tôi có nghe đồng bào quận Đại Lộc rất ca tụng Anh trong vụ cứu trợ nạn lụt mùa Đông 1970. Con người Anh thật là tiêu biểu cho dân Quảng Nam: trực tính, ưa tranh luận (Quảng Nam hay cãi…) thích chỉ huy, rất hăng say trong mọi công tác và sẵn sàng phẫn nộ trước cảnh bất công. Xứ Ngũ Phụng Tề Phi với núi sông hùng vĩ, kỳ tú là một vùng đất tượng trưng cho tinh thần quật khởi của một người dân xứ Quảng. Sở dĩ tôi phải nhận xét về con người Anh dông dài – chẳng biết có phạm đến lòng khiêm tốn của Anh không? – thật không phải là để ca tụng Anh đâu, mà chính là để tìm hiểu những cảm nghĩ và hành động của Anh trong những ngày Anh hành quân tại mặt trận Hạ Lào. Bản chất của Anh đã được phô bày khá đầy đủ trong tác phẩm này. Ở đây, tôi không muốn làm công việc phê bình, cũng không dám lạm bàn đến chiến lược, chiến thuật vì điều đó vượt khả năng và sự hiểu biết của tôi. Tôi chỉ muốn trình bày sau đây một vài khía cạnh mang ít nhiều tính chất chính trị và xã hội trong tác phẩm này:

– Anh đừng e ngại Cái Tôi đáng ghét. Cái Tôi trong tập hồi ký này chỉ là Cái Tôi điển hình cho tất cả những chiến sĩ dũng cảm tại Hạ Lào. Cái Tôi của Lân, của Thiện, của những chiến sĩ pháo binh, của Tiểu Đoàn Dù, của Biệt Động Quân… đã chạm mặt Tử-Thần tại mặt trận Hạ Lào nhưng không hề run sợ.

– Trước sự đe dọa của Tử Thần, tình đồng đội thật là thắm thiết hơn bao giờ hết. Bao nhiêu hiềm khích nhỏ nhen trong cuộc sống bình thản thường nhật đã bị tiêu tan trong chiến trận. Trước mặt, chỉ còn có địch quân cần phải tiêu diệt để bảo vệ sự sống của chính mình và của đồng đội.

– Lòng nhân đạo đã được thể hiện, khi chiến trận chấm dứt, trông thấy xác chết ngổn ngang, các thương binh, dù là địch quân, rên xiết trong nỗi đau đớn, khổ sở đều cần được chăm sóc, được an ủi như nhau. Vì nghĩa vụ, con người phải chém giết nhau, thì cũng vì nghĩa vụ, con người phải cứu giúp nhau để xoa dịu những nỗi khổ trong kiếp sống bi thảm này. Anh đã áp dụng đúng đắn lời dạy của triết gia Bersot, mà ngày xưa tôi đã bắt anh dịch ra Việt-văn. Thật ra, những người lính Cộng-Sản Bắc-Việt chỉ là những con tốt thí cho một chủ nghĩa, một mưu đồ. Họ phải chịu chết, chịu khổ sở từ 25 năm nay để phục vụ cho quyền lợi của tầng lớp cán bộ lãnh đạo ở Bắc-Việt, mà họ cứ vẫn tưởng là phục-vụ cho dân-tộc Việt-Nam.

– Đối với quảng đại quần chúng, ai cũng nghe nói đến chiến trận Hạ Lào vô cùng ác liệt, hơn cả những trận Pleime, Benhet, Dakto… hơn cả trận Điện-Biên-Phủ năm xưa. Nhưng không mấy ai ở ngoài cuộc có thể hình dung nổi trận chiến ác liệt như thế nào, nỗi gian-khổ của binh sĩ ta lớn lao đến chừng nào. Tác phẩm này đã vẽ ra một phần không nhỏ cả khung cảnh dữ dội, kinh hoàng của chiến tranh, nhờ đó quần chúng mới hiểu thấu hết tinh thần chiến đấu can trường, sức chịu đựng gian khổ của binh sĩ ta tại Hạ Lào, để biết cảm phục và thương yêu binh sĩ nhiều hơn.

– Tôi không đặt vấn đề thắng hay bại của cuộc hành quân Lam Sơn 719, nhưng quả thật nhờ có cuộc hành quân này mà sự tiếp liệu khổng lồ của Bắc-Việt vào Kampuchia và Nam Việt-Nam đã bị ngưng trệ trong một thời gian, các kho tàng trử vũ khí, thực phẩm, thuốc men, vật liệu của địch quân đã bị hủy diệt một phần lớn, điều này không một ai có thể chối cãi được, và sự hy sinh của binh sĩ ta thật không phải là vô ích. Về mặt chính trị, nhờ có cuộc hành quân này mà cả thế giới đều thấy rõ Bắc Việt đã xâm lăng không chính thức Miền Nam Việt-Nam, bằng đường mòn Hồ-Chí-Minh, một điều mà Bắc-Việt luôn luôn cải chính, đó là một thắng lợi về chính trị thật rõ ràng.

– Tác phẩm này còn được xem như một lằn roi quất mạnh vào mặt những hạng chính khách salon, bơ sữa, những hạng người thối nát trong guồng máy Quốc-gia, những hạng tham nhũng, đầu cơ trục lợi, những dân biểu buôn lậu phản nước, hại dân, những tên tài phiệt đã nhờ chiến tranh mà làm giàu trên xương máu của binh sĩ và đám cùng dân khố rách áo ôm. Các anh em binh sĩ có hô hào phải hy sinh, phải làm cách mạng, phải yêu nước bao giờ đâu? Binh sĩ chỉ biết chiến đấu trong im lặng và chết trong im lặng, không một lời than thở, tiếc nuối. Các binh sĩ chiến đấu tại Hạ Lào là những thiên thần sẽ giẫm nát lũ sâu bọ lên làm người đầy rẫy nơi đây.

– Tác phẩm còn được xem như một liều thuốc hồi sinh đối với bọn thanh niên sống cuộc đời vô lý tưởng, luôn luôn sợ gian khổ, sợ chiến đấu, cố tìm quên lãng và xóa bỏ thực tại bằng một nếp sống sa đọa, trụy lạc. Cố nhiên là nếu họ chịu uống liều thuốc đắng mà bổ ích này.

Anh đã làm tròn nhiệm vụ đối với Tổ-Quốc. Đó là niềm hãnh diện nhất trong đời.

Thân ái chào Anh,

TRẦN-NGỌC-QUẾ.

XÁC ĐỊNH MỘT TỌA ĐỘ

 “CÁI TÔI” bao giờ cũng là “CÁI ĐÁNG GHÉT”. Từ xưa đến nay, vì nghĩ đến “CÁI TÔI”, nói đến “CÁI TÔI” mà có nhiều người mang họa – nếu không, cũng là đầu đề cho bạn bè đem ra chế giễu.

Lại nữa, “CÁI TÔI” lúc nào cũng chủ quan. Đã chủ quan thì khó trung thực. BÙI GIÁNG hơn một lần nhận xét “…mắt ta thấy, chưa chắc đã là không lầm, tai ta nghe chưa chắc đã là không lộn…!”. Nhưng khổ nỗi, ở một vài trường hợp “CÁI TÔI” vì điều kiện và ngoại cảnh nào đó an bài cho nó có “MỘT TỌA ĐỘ” – Từ “TỌA ĐỘ” này, nó có một thị trường thích nghi, tuy không nói lên những nhận xét trung thực bởi “chủ quan tính” gắn liền với nó – nhưng ít ra, nó có thể nói lên những gì nó thấy tận mắt, nghe tận tai, ngửi tận mũi.

Vả lại, “CÁI TÔI” trong Hồi ký này còn là điểm tựa, bằng vào đó để có thể trung thực trình bày các điều đã thấy, nghe và ngửi – hẳn độc giả sẽ không hẹp hòi gì mà không tha thứ.

Với ý thức khơi nguồn bởi lòng độ lượng của độc giả “CÁI TÔI” trong Hồi ký tự nhận có bổn phận chân thành thể hiện cảm quan đã thâu thập trong suốt 23 ngày đối diện với Tử-thần ở Hạ Lào. Ngoài ra, CĂN CỨ HỎA LỰC 30, tiền đồn cuối cùng ở phía Bắc Quốc lộ 6, nằm sâu trong nội địa Lào Quốc -kể từ sau ngày 25-2-1971- không phải chỉ có vài người trách nhiệm tử thủ, thì đương nhiên những gì “CÁI TÔI” đã ghi chép tại đây, chắc chắn không thể lọt ra ngoài những cặp mắt phán xét nghiêm khắc của hàng trăm chứng nhân – nếu không là sự thật 100%.

Hơn thế nữa, tôi nghĩ – bây giờ tôi bắt đầu xin dùng chữ “TÔI” – đã là Hồi ký chiến tranh, kẻ cầm bút nếu không trung thực với chính mình, lại cố ý ru cho mọi người chung quanh vào “MÊ HỒN TRẬN NGỤY TẠO”, thiết tưởng đáng hổ thẹn biết bao!

Vì lẽ đó, hôm nay “CÁI TÔI” của tôi chỉ có mỗi một ước vọng, và tất cả cố gắng dồn vào ước vọng này : thật rõ những gì đã xảy ra mà chính mình chứng kiến, chính mình am hiểu từ lúc nhận lệnh tham chiến đến ngày Đại lễ “KHAO QUÂN MỪNG CHIẾN THẮNG LAM SƠN 719” cử hành trọng thể tại cố đô Huế dưới sự chủ tọa của Tổng Thống VNCH NGUYỄN-VĂN-THIỆU.

Phần nhận xét liên hệ đến chiến thuật, chiến lược, tôi xin được miễn phổ cập.

Khe-Sanh, ngày 16 tháng 3 năm 1971.

TRƯƠNG-DUY-HY

Đèn Cần Giờ

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc
Xới Đất xuất bản 1968

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Photo edit by Sơn râu

  1. Những hòn đạn bi-da

Thái đọc

Cầu Ô
Thanh niên hoạt động và chịu khó, đang học lóp đệ tam chuyên khoa, muốn dạy học thêm ở các tư gia. Hỏi cậu Hồng, 233/20 đường Phát Diệm.
Chàng mỉm cười. Cái cậu Hồng nầy sao mà giống chàng quá cũng hoạt động, cũng chịu khó, cũng học đệ tam chuyên khoa, mà nhứt là cũng muốn dạy học ở các tư gia. Chỉ có khác là chàng không đăng báo để tìm việc thôi.
Có hằng trăm thanh niên võ trang bằng những đức tính, giống hệt cậu Hồng nầy, và cùng một mong mỏi với cậu. Thái biết rõ thế. Như vậy, chàng thấy đăng báo không hiệu quả bao nhiêu:
mình đăng báo này, họ đăng báo khác, khó hy vọng được người ta mời.
Thái lại đọc tiếp:
Thanh niên đẹp trai, học lực trung học đệ nhứt cấp giỏi âm nhạc, thể thao, biết lái mọi thứ xe có động cơ, sành chụp ảnh, cỡi ngựa giỏi, rất tháo vát, sẵn lòng làm bất cứ công việc gì, với bất kỳ lương bổng nào, đi xa bao nhiêu cũng được. Hỏi cậu Tân 469/ 178F Phan Đình Phùng.
Thái để từ báo xuống rồi thở dài. Một thanh niên giỏi chừng ấy công việc, lại phải thất nghiệp đến cam kết nhận bất kỳ đồng lương nào và nhận đi bất kỳ nơi nào, thì xã hội Việt Nam quả đang ở vào giai đoạn tranh sống quyết liệt rồi đây.Nhưng sau một lúc nghiệm kỹ, chàng giựt mình. Có bao nhiêu tài giỏi như anh bạn trên đây, cũng bằng không. Đó là những tài ba ăn trợt, khó lòng sử dụng được. Người ta cần một bác thợ hồ giỏi để đưa đi Ban mê thuột, người ta cần một anh thợ điện giỏi để coi điện cho một xưởng nào đó ở Sàigòn, nhưng chắc chắn không ai biết dùng vào công việc nào một thanh niên cỡi ngựa tài, hoặc sành âm nhạc.
Xét bản thân mình, chàng thấy chàng còn nghèo tài vặt hơn anh bạn ấy nhiều lắm. Mà tài lớn, chàng cũng chưa có, hoặc có, cũng không thể bán hoặc cho thuê được.
Như bất kỳ cậu học sinh nào, Thái đã viết văn và làm thơ. Chàng hơn bạn hữu một tí là thơ chàng được đăng lên vài tờ báo. Chàng lại hơn những mầm non văn nghệ được đăng báo là giới phê bình đã bắt đầu nói sơ đến chàng.
Một người bà con của chàng, vốn là ký giả, một hôm xui dại chàng gởi thơ cho những báo nào đăng thơ chàng để đòi tiền nhuận bút.
Đợi mãi không thấy báo nào trả lời cả, mà lạ lùng hơn nữa là thơ chàng bỗng dưng vắng bóng trên mấy báo ấy, mặc dầu chàng cứ tiếp tục gởi đến họ.
Và cũng như bất kỳ mầm non nào, Thái nghĩ ngay là họ muốn dìm một tài ba chớm nở: trong các tòa soạn ấy có những biên tập viên cũng là thi sĩ, sợ chàng lên quá rồi lấn mất họ, nên họ dìm chàng chăng ? Chớ làm gì bỗng dưng tài của chàng lại thình lình triệt thối ở khắp các mặt trận như vậy được.
Chàng băn khoăn cậy người bà con nói trên điều tra giùm, và kết quả của cuộc điều tra ấy đã đánh tan mất trong trí chàng cái ảo mộng đổi ra sách vở và xi-nê những vần thơ của chàng.
Người bà con ấy nói: “Chỉ có một ông chủ báo là chịu cho biết vì sao không có tiền nhuận bút cho thơ của anh, còn mấy tòa soạn khác, nhứt định không trả lời tôi. Ông ấy bảo rằng lệ của nhà báo, bất kỳ báo nào, hay phần lớn các báo ở đây, không có tiền nhuận bút chữ thơ. Một bài thơ chỉ choán có một phần tư cột báo thôi, thì không lẽ đưa mười đồng hay hai mươi đồng. Mà đưa nhiều hơn, một trăm chẳng hạn, để xem cho được con mắt, thì hóa ra mỗi cột báo chi phí biên tập phải lên đến bốn năm trăm, và một trang tám cột phải mất đi bốn ngàn bạc à? Ông ấy nói làm thơ là làm cái gì cao quý, là phục vụ nghệ thuật, thì không nên làm hoen ố công việc đẹp đẽ ấy bằng cách đòi tiền công.
Thế là rõ ! Và đã lâu rồi, Thái chỉ trông cậy vào tiền mà gia quyến anh gởi lên cho mỗi tháng một ít thôi.
Chàng đọc tiếp quảng cáo, và lầm thầm nghĩ rằng chỉ có bọn người thất nghiệp và bọn người túng thiếu như chàng mới đọc quảng cáo thôi.


Cần Dùng
Một học sinh bục trung học đệ nhứt cấp để kèm hai trẻ lớp nhứt tại nhà. Hỏi ông phạm Văn Mìn, thầu khoán 758 đường Cao Thắng.
À, đây rồi? Thái reo thầm lên. Nhưng chàng thấy cái mỉa mai trong hai bài quảng cáo trên và dưới, nên buồn cười lắm: trên thì tìm việc, dưới lại tìm người, đúng là cái người tìm việc trên: mà 2 quảng cáo cứ đăng mãi mấy ngày rồi. Hai người chưa gặp nhau à? Hay đã gặp nhau mà không thích nhau?
Thái nhứt quyết đi đến nơi cần dùng thầy giáo nầy, và không để trễ, chàng đứng dậy đi thay đồ.° Thái có cảm giác rằng ông Mìn không phải là một ông nhà giàu mới, mặc dầu biệt thự ông đang ở, chưa sơn đến lần thứ nhì từ lúc dựng lên đến bây giờ.
Ông Mìn có lễ độ. Vâng, nhưng những ông nhà giàu mới cũng có thể có lễ độ như ông. Không, không thể cắt nghĩa được cảm giác của chàng bằng một hay hai chi tiết. Nơi ông nhà giàu mới, tất cả cái gì cũng kêu ầm lên rằng ta đây vừa có tiền đây nè! Nơi ông Mìn, thì tuyệt nhiên không.
Nhờ cảm giác đó mà Thái có ngay cảm tình đối với gia đình nầy. Cảm tình của chàng quả đặt không lầm chỗ.
Hai đứa bé, mười và mười một tuổi, ngoan ngoãn lắm. Chúng ham chơi, hay lo ra, nhưng có người kềm là chúng chăm chỉ được ngay.
Ngày đầu, Thái được ông Mìn tiếp rồi đưa qua buồng học để giới thiệu cho thầy trò tiếp xúc với nhau.
Mới đi dạy lần đầu, Thái chưa biết phải làm sao cho ra vẻ. Chàng suy nghĩ kỹ thì thấy cứ cư xử tự nhiên như một người anh lớn đối với em nhỏ, không cần làm oai, mà trái lại nên gây cảm tình.
Cuộc tiếp xúc được thân mật, và tín nhiệm phát sanh ngay nơi lòng hai đứa bé. Ông Mìn coi bộ mừng lắm.
Những ngày sau đó, chàng đi ngay vào buồng học, và luôn luôn học trò có mặt sẵn nơi đó để đợi chàng.
Buồng lọc là một buồng trông ra đường và ở giữa nhà. Buồng bìa bên trái là buồng tiếp khách, còn buồng bên mặt có lẽ là buồng chơi của trẻ con, vì chàng thường nghe tiếng bóng bàn bên ấy.
Thái dạy vào buổi xế trưa. Trời nóng bức lạ, mặc dầu có quạt máy, thầy trò vẫn nghe khó chịu. Thỉnh thoảng một chị người nhà bưng ra ba ly nước cam vắt cho ba thầy trò giải khát và buổi dạy nào chàng cũng uống ít lắm là hai bận nước cam như vậy.
Thái giảng thêm bài trường và nói chuyện nhiều hơn là dạy, vì chàng tin rằng phương pháp đó hay hơn. Học trò xem ra cũng rất thích lối học như vậy.
Hai tuần lễ sau, không xảy ra chuyện đáng tiếc nào cả. Thái có gởi thơ xin phép ông Mìn dẫn Long và Hưng đi xem “Nàng tiên khác thường!” và đưa hai cậu bé về tận nhà, rồi thôi, sự thân mật giữa thầy trò không vượt ra ngoài những câu chuyện bên lề sự học và những câu chuyện cổ tích ta và ngoại quốc.
Nói rõ là chàng gởi thơ xin phép, vì chàng không gặp mặt được ông Mìn lần nào cả từ lần mới đến xin việc và lần giới thiệu thầy trò.
Hai đứa bé không tò mò hỏi về đời tư chàng, còn chàng thì tuy hơi tò mò thật đó, nhưng ngại thất lễ với gia đình ấy nên cũng không tìm biết gì.
Thái chỉ mong học trò tiến bộ để được tín nhiệm của gia đình, và mong cho tới tháng để lãnh tiền, hầu mua sắm thêm những vật cần thiết.
Bốn giờ chiều ngày thứ mười sáu, ông Mìn qua buồng học chào thầy giáo rồi khen ngợi:- Tôi bằng lòng ối dạy của thầy lắm. Tôi có xem tập cháu, không thấy thầy cho bài nhiều, nhưng cứ nghe chúng nói chuyện thì nhận thấy chúng nó mở trí thêm nhiều lắm: suy luận đúng, tò mò hữu lý và biết sự tìm hiểu nhiều bài, nhiều việc xảy ra chung quanh chúng nó.
Tôi mong thầy cứ tiếp tục phương pháp ấy mãi. À, thầy có giỏi Việt văn hay không?
– Thưa ông, đó là sở đoản của tôi.
– May lắm. Nhưng có thể làm cho học sanh khá Việt văn được hay không thầy? Tôi cứ nghe họ nói phải có khiếu mới giỏi được.
– Thưa ông, họ nói đúng phần nào. Nhưng đó là khi nào muốn xuất sắc muốn thành văn sĩ kia. Chớ còn muốn giỏi để đủ làm một bài luận văn cho sáng sủa, muốn hiểu và cắt nghĩa một bài văn cho thông thì chỉ nhờ được chỉ dẫn đúng cách và tự mình cố gắng là được rồi.
– Vậy hả! Tôi có một đứa con gái, con thứ ba. Năm nay nó học đệ tứ mà Việt văn nó kém lắm. Chính nó cũng tự biết thế và rất lo sợ hỏng thi vì môn ấy. Thầy có thế nào giúp thêm giờ để dẫn cháu đến ngày thi cho đủ sức với người ta không?
– Thưa ông, hiện giờ tôi dạy từ ba đến năm giờ. Nếu chỉ thêm cho cô Ba, thì tôi ở lại đến sáu giờ, không gì trỡ ngại cả.
– Tốt lắm. Tôi sẽ có chỗ tạ công thầy riêng về giờ thêm đó.
Ông Mín vừa nói vừa xây lưng đi. Ra tới cửa, ông nói vói vào:
– Đúng năm giờ, tôi sẽ đưa cháu đến đây để giới thiệu thầy trò với nhau, rồi chiều mai khởi sự học.
Thích chưa! Sẽ có tiền thêm đây, mà một tiếng đồng hồ dạy thêm nầy, lương bổng ít ra cũng tương đương với hai tiếng đồng hồ dạy trẻ. Trung học mà, chớ nào phải tiểu học đâu.
Nhưng Thái hơi ngạc nhiên không hiểu vì sao ông thầu khoán này lại không mướn giáo sư Việt ngữ thật thụ để dạy con gái, lại nhờ mình. Trung học mà dạy Trung học thì thầy với trò có khác hơn bao nhiêu đâu? Đệ tứ là lớp chàng vừa bước khỏi chỉ mới mấy tháng nay thôi kia mà, ông cụ lẽ nào lại quên điều đó?
Hay là ông ta hà tiện, định lợi dụng mình? Ừ mướn giáo sư tốn tiền lắm. Còn nhờ mình thì bất quá đưa thêm vài trăm mỗi tháng là cùng?
Nghĩ tới đó Thái hơi lo. Nếu bị lợi dụng mà tranh đấu để tự vệ e mất chỗ làm. Còn nín thinh mà chịu thì tức biết bao!
Nhưng dầu sao cũng được chỗ an ủi này là người học trò mới là một cô gái mười tám, như ông Mìn đã nói.
Là thanh niên, Thái hay mơ mộng hão như bất kỳ học sanh nào. Thanh niên Thái lại là thi sĩ thì giấc mơ tình ái của cậu còn to biết bao nhiêu.
Đây là một cuộc phiêu lưu ngộ nghĩnh, tốn tiền cũng còn dám tốn nữa kia chớ nói chi là được trả công rẻ.
Vậy đêm nay phải uống thuốc ngủ mới được, kẻu mơ quá rồi không nhắm mắt được đa nhé, vì ông Mìn đã quên đưa con lại, chàng nóng biết cô ấy ra sao.
Ngày giờ trôi sao mà chậm chạp đến phát giận lên.
Nhưng mà sợ lắm thay! Có ai chận cho nó đi chậm thêm nữa thì Thái đây cám ơn lắm lắm.
Mà giờ long trọng đã đến, không làm sao bước lui được nữa.
Suốt hai tiếng đồng hồ dạy Long và Hưng, Thái chỉ giảng được mỗi một bài cách trí thôi, còn thì kể những chuyện đầu Ngô mình Sở cả.
Chiếc đồng hồ Carillon bên buồng bên đổ nhạc rồi thong thả buông từng tiếng như kẻ sát nhơn đếm một, rồi hai, rồi…
Cánh cứa buồng mở, và nơi khung cứa nàng tiên áo trắng hiện ra, không biết có đẹp hay không, vì Thái bối rối không dám ngước lên, làm bộ như câu chuyện đang nói với trẻ còn dài lắm mà chàng thì đang kể chuyện mê mệt, quên cả bên ngoài.
Nàng tiên bước lại trước bàn, nghiêng mình chào thầy giáo rồi nói với hai em:
– Tới phiên chị học đây!

Google photo

Hai đứa bé cười rồi đứng lên nói:
– Xin phép thầy.
Chúng không đợi thầy cho phép, chạy ùa ra ngoài, vừa chạy vừa la.
– Đổi phiên gác rồi, sướng quá, đi chơi né.
Thái nghe mình bình tĩnh hẳn lại. Cô bé xinh quá nhưng chàng thấy cô ấy còn trẻ con lắm. Cô ta không gây được tiếng sét nơi lòng chàng.
Thế là hơn, chàng nghĩ. Mình sẽ làm tròn phận sự một cách dễ dàng.
Cô bé ngồi xuống ghế rồi thưa:
– Thưa… thầy – cô ta do dự giây lát không biết kêu Thái là gì – em là Huệ. Em học đệ tứ trường “Cô Bắc”. Chiều hôm qua, ba em định đưa em lại đây để trình diện với thầy, nhưng lại có khách thình lình, rồi cuộc thăm viếng của khách kéo dài hơn tiếng đồng hồ. Khách đi rồi, thầy cũng đã về mất, Nên ba em biểu em xin lỗi thầy…
– Không cần gì. Thái chận nói. Ông cụ có nói qua là đủ lắm rồi.
Thái nhận thấy cô học trò ăn nói dễ dàng quá, lưu loát quá, và có bộ tịch dạn dĩ lắm. Thái thấy cần thành thật ngay với cô học trò để cô khỏi thất vọng, hoặc khỏi bị cô ta “côn” để phá chàng chơi.
– Tôi chỉ mới rời khỏi đệ tứ chưa đầy một năm, không hiểu sao ông cụ lại nhờ tôi dạy cô. Tôi cần cho cô biết điều ấy để…
– Thưa thầy, thầy khỏi ngại. Huệ chận nói. Chính em đã năn nỉ ba em mướn thầy đó. Em biết thầy sành Việt ngữ lắm, có lẽ còn rành hơn cả ông giáo sư của em nữa kia. Em biết về thầy nhiều lắm…
Thái hốt hoảng hỏi:
– Cô biết gì về tôi?
– Em biết thầy là thi sĩ Phong Điền…
– Làm sao cô biết được?
– Em có thấy ảnh của thầy đăng báo một lần.
– Vậy à! Nhưng tôi lại không sành nghề dạy học. Biết là một đàng, dạy được là một đàng.
– Mà thầy đà thành công với hai em Long và Hưng, lẽ nào lại không thành công với em.
Thái làm thinh giây lâu rồi nói:
– Té ra cô cũng đã để tâm đến bọn thi sĩ chúng tôi. Vậy chắc là cô thích văn thơ?
– Thưa, thích lắm.
– Thì sao cô kém Việt văn?
– Thưa thầy, bởi vì đi thi, người ta cho luận văn: Làm bài luận rắc rối hơn đọc một bài sáng tác nhiều.
– À!
Lời cô bé nhắc Thái thớ đến chính một quan sát của chàng: là bên trung học Pháp người ta ra đề tả cảnh, còn bên Việt lại ra đề luận. Thiếu niên mười lăm mười sáu tuổi, chưa vững trí thì luận là một việc quá khó khăn đối với họ. Nhưng đó chỉ là mối hại nhỏ thôi. Cái nguy to là bao nhiêu cố gắng đều đưa vào luận nên nhiều học sinh chểnh mảng mọi khía cạnh khác đến đỗi tới đệ tứ mà còn viết sai văn phạm.
Cuộc tiếp xúc tới đó là chấm dứt. Thái lấy sách ra giảng cho Huệ nghe một đoạn “Thu dạ” không có ghi trong chương trình.
Thật ra thì Huệ có khiếu về văn chương. Nàng hiểu rất mau, viết văn sáng rỡ, nhưng vì thiếu chỉ dẫn nên hóa lu mờ đó thôi.
Ngày nào hai thầy trò cũng nói chuyện độ hai mươi phút rồi mới học. Chuyện bên lề học vấn, nhưng không xa học vấn bao nhiêu.
Huệ vô trách nhiệm nên không cần giữ gìn, nói đến cả chuyện nhà chuyện cửa. Nhờ vậy mà Thái biết cô Lan, cô gái lớn của ông Mìn là một góa phụ trẻ. Cô ấy lấy chồng năm hăm hai. Được một năm thì chồng chết, và cô còn ở vậy cho đến năm nay cô đã hăm tám tuổi rồi.
Huệ rất mến thầy, hay biếu quà thầy lắm. Mà nàng khéo làm sao. Trong câu chuyện, nàng hỏi bâng quơ vài chi tiết về lối sống của ông thầy, thế mà bằng vào đó, nàng đoán đúng được những gì thầy cần mà sắm không nổi, những món thật là bất ngờ như cái tourne- disque chẳng hạn.
Thú thật là thầy, từ khi gặp trò, không có ý quấy nào cả, không phải vì thầy là một nhà đạo đức, trái lại nữa. Nhưng mà cô bé thật là bé, bé người mà bé cả tâm hồn nữa.
Huệ chỉ mới bắt đầu trổ mã. Tuy thân thể nàng hứa hẹn một sắc đẹp có hạng, nó vẫn còn cao lỏng khỏng, cổ nàng còn ốm nhom, mắt nàng nhìn mọi vật còn ngạc nhiên một cách đáng thương hại.
Huệ ăn điện như một cô gái lớn, nhưng sự ăn diện ấy không hòa hợp được với cái trẻ con nơi người nàng nên trông càng buồn cười thêm.
Thái rất thương em bé Huệ vì những câu suy nghĩ ngộ nghĩnh và hồn nhiên của em bé ấy, vì những mộng mười lăm của em về cuộc đời.
Chỉ có thế thôi.
Huệ là con nhà có giáo dục, nên lời lẽ cử chỉ của nàng không có gì quá đáng cả. Nhưng không hiểu sao, Thái tế nhận thấy rằng lòng mến thầy của nàng không phải vô tội đâu. Riêng trong bụng Thái, chàng cũng không dám nói đến tình yêu. Em bé còn thơ dại quá, bảo rằng nàng yêu mình, hóa ra vu cáo cho nàng sao. Nhưng mặc dầu không dám nghĩ như vậy, Thái cứ thấy sự trìu mến thầy của cô Huệ không chỉ là sự mến suông.
Không có bằng cớ nào đích xác cả để cho là như thế. Nhưng chính sự thiếu bằng cớ ấy khiến chàng len lén nghĩ đến ái tình. Khi người ta yêu, người ta chỉ làm thinh thôi. Nhưng cái gì miệng không nói ra được, thì mắt nói lên hết cả, và tay chân, thân thể cũng đều bập bẹ được để phụ lời.
Huệ có hỏi nhà chàng lần nào đâu, và chàng cũng chưa bao giừ tự khai chỗ ở trọ ra, thế mà hôm ấy, sáng chúa nhựt, chàng ngạc nhiên hết sức mà thấy Huệ đi ngang qua trước cửa, vừa đi vừa ngó vào nhà.
Căn nhà chàng ở trọ, trông ngay ra một ngõ hẻm dùng làm địa dịch qua lại cho cả xóm. Nhà không sân, không hàng hiên thành ra ai đi ngoài ngõ là y như là đã bước vào nhà nửa chừng.
Sáng hôm ấy, Thái đang ngồi ở bàn ngoài, đọc một chương trình chiếu bóng. Nghe tiếng giày, chàng ngẩng mặt lên thì hai người như là gặp nhau trong một căn phòng: họ cách nhau chỉ có hai thước thôi.
Huệ reo lên:
– Chào thầy. Thầy ở đây à?
Thái bối rối, không phải vì gặp con gái, mà vì sự chạm mặt đột ngột quá nơi một căn nhà tồi tàn mà chàng thấy cô ta không biết là hơn.
– Ừ, tôi ở đây. Cô ba đi đâu đó?
– Thưa, em đi tìm người bạn, nhưng chắc địa chỉ sai nên tìm mãi không ra.
– Người bạn cô tên chi? Xóm nầy tôi biết tên cả mọi người, từ già đến trẻ.
Huệ ấp úng, rồi không đáp, khiến Thái thấy là nàng quyết đến thăm anh, sau khi đã biết địa chỉ anh nhờ cách nào không rõ, có lẽ nhờ lục lạo trong quyển sổ tay của ông Mìn chăng?
Huệ đứng đó mà làm thinh, chắc khó chịu lắm, nên Thái mời:
– Mời cô vào chơi.
Huệ mỉm cười, bước vào nhà liền.
– Anh ở trọ, hay là nhà của anh.
Nàng xưng hô như vậy một cách rất tự nhiên, như là đã xưng hô từ lâu rồi.
– Thưa tôi ở trọ. Nhưng nhà bà con, không nhận ai khác cả, ngoài tôi ra.
– Thì cũng như nhà anh. Sáng chúa nhựt anh không đi chơi sao?
– Tôi ít đi lắm.
– Cả chúa nhựt nữa? Trời ơi buồn chết! À, mà chắc anh không buồn. Anh ở nhà để làm thơ. Làm thơ vui lắm không anh?
– Nhọc lắm thì có. Nhưng mình thích nhọc, thành ra cũng hơi vui được.
– Người ta ra đề sẵn, anh gieo vần có được không?
– Tôi chưa thử lần nào: Nhưng chắc phải có hứng mới làm hay được.
– Đâu anh làm thử bài thơ nầy xem. “Sáng chúa nhựt gặp khách bất ngờ”.
Thái mỉm cười:
– Nếu cô bắt tôi làm ngay, không cho tôi đợi hứng thì thơ có dở cô ráng chịu nghe không?
– Đợi hứng? Thành ra hiện giờ anh chưa có hứng.
Thái nghe cả sự thất vọng chua cay trong giọng nói của Huệ.
Mặc dầu lòng chàng dửng dưng, chàng cũng không muốn làm phiền cô bé dễ thương nầy, nên vội cứu vãn:
– Có nhưng mà hứng chưa chín muồi.
Nhưng Huệ đã hiểu. Nàng thông minh lắm, việc gì tỉ mỉ nữa kia mà nàng còn tế nhận được thay, huống hồ chi cái hớ hênh to tát nầy của Thái.
Huệ nói vài câu chuyện không đâu rồi xin phép ra về.
Thái tiễn học trò ra đến đầu ngõ, nàng lên xe rồi anh mới trở vô nhà. Cuộc tiễn đưa “đến tận thuyền” ấy không phải chỉ vì lịch sự không mà thôi, mà là để an ủi một đứa bé vừa bị bể vở một bong bóng xà bông, đang buồn cho những màu sắc xanh đỏ bỗng nhiên tan biến mất.
“Tình trẻ con chưa rõ rệt bao nhiêu, rồi nàng sẽ quên mất và về sau còn thấy đó là buồn cười”. Thái lẩm bẩm như vậy, rồi an lòng được, sau trót một tiếng đồng hồ băn khoăn.
Hôm sau, người học trò vẫn ngoan ngoãn, nhưng ít nói, bảo là không nói gì hết thì đúng hơn. Nhưng tuyệt nhiên không thấy nàng lộ vẻ giận hờn, oán trách gì cả.
Năm hôm sau là trở lại bình thường. Huệ vui vẻ y như lúc trước, nói líu lo như chim.
“Đúng như mình đã đoán, Thái nghĩ thầm. Nàng sẽ quên đi chớ gái thơ thì lòng dại hay đi phiêu lưu, nhưng khi thấy các nẻo đương phiêu lưu ấy không có gì huyền diệu lắm, thì họ trở bước được ngay.
Hôm ấy đúng vào ngày cuối tháng – tháng dạy học – nghĩa là mười hai tháng chạp. Huệ trao cho Thái một phong thơ của ông Mìn và yêu cầu Thái đọc ngay.
Thơ cám ơn công khó của ông thầy, kèm theo một số tiền. Tiền xúp dạy cô ba, tính phải chăng chớ không lường công. Và mời chiều hôm đó thầy giáo ở lại ăn cơm.
Đoán chừng ông thầy đọc vừa xong, Huệ nói:
– Sáng kiến của em đó. Ba, má em cũng mến anh lắm, nhưng bận quá nên quên mất. Em nhắc, ổng bả mới nhớ ra và biểu em nài nỉ cho anh nhận lời.
Thái hơi ngại, vì hôm đó chàng ăn mặc không được sạch lắm. Về nhà thay y phục thì không kịp nữa, bởi ông Mìn mời chàng hễ hết dạy là qua ngay để trò chuyện chơi trước khi dùng bửa.
Nhưng không thể không nhận lời.
Nhà có sân trong mà Thái không dè. Trông từ đằng xa, Thái thấy cả gia đình đều có mặt.
– Người mặc áo vàng nghệ, có phải là cô hai đó hay không cô ba? Thái hỏi Huệ đang dắt nẻo cho chàng.
– Dạ, chị hai em đó a.
Sân trồng hoa kiểng rất xinh, nhứt là rất ấm cúng và kín đáo, mắt người đi đường không dòm vào được.
Thái đã đến nơi. Chàng bận nhìn bà Mìn cao lớn đẫy đà nên chưa thấy ai cho rõ. Chàng nghiêng mình chào từng người, bắt đầu chào ông Mìn trước. Khi mắt chàng dừng lại trước người thiếu phụ góa chồng thì chàng ngây người ra.
Thiếu phụ đẹp, đẹp quá sức tưởng tượng của chàng. Chàng đã hình dung thử người đờn bà ấy thấy trong trí là cô ta hiện hơi đẹp hơn Huệ một chút, nhưng rồi sẽ thua Huệ khi Huệ được trổ mã đều.
Nhưng quả thật chàng đoán sai rất xa. Sắc của Huệ mà đi mút con đường tiến triển, cũng còn kém hơn Lan vào độ Lan vừa trổ mã xong. Huống chi Lan đã là đờn bà rồi.
Người đờn bà trẻ, đẹp hơn con gái đương thì nhiều lắm, vì cái chớm nở không sâu sắc bằng cái bừng nở, vì buổi mai tuy tươi mát dễ ưa mà không say sưa bằng buổi trưa uy vệ hơn.
Trong tình sử của loài người, thật không nghe nói bực vĩ nhơn nào mà mê con gái đến đổ vỡ cơ nghiệp, mà chỉ thấy toàn đờn bà làm tan nhà nát cửa người ta thôi.
Thái bối rối như cậu học sanh mười bảy mới giao thiệp với bạn gái lần đâu, mặc dầu chàng đã hăm hai rồi.
Để che lấp sự lúng túng của mình, chàng đưa tay bắt lấy hai tay đứa bé trai, lồi nắm lấy tay chúng mãi, hỏi lăng xăng như là hồi nãy chưa gặp nhau.
Ông Mìn mời chàng ngồi, rồi nói bằng tiếng Pháp:
– Mettez- vous à l’aise, jeune homme 1.
Bà Mìn thạo đời lắm, đưa đầu đề ra ngay:
– Tôi biết thầy ăn cơm tháng, bỏ bữa mà không báo trước cũng chẳng sao, nên mới đám mời thình lình như vầy. Số là vợ chồng tôi bận việc nên quên mất. Con Huệ nó nhắc mới sực nhớ ra. Để lại ngày hôm sau, e có điều gì trở ngại chăng, nên mới mời thầy ngay hôm nay.
Bà ta tỏ ra là một bà chủ có bản lĩnh. Chỉ có một mình bà là nuôi nấng buổi chuyện trò cho nó khỏi tắt ngọn. Nhờ thế mà Thái dễ chịu được và lần lần tỉnh lại.
– Ông giáo uống gì? Cô Lan vừa hỏi vừa day ra sau lưng lấy hai chai rượu để trên chiếc bàn con có bánh xe.
Thái ấp úng:
– Thưa cô, tôi uống gì… mà… không có chất rượu ấy.
Lan cười giòn lên:
– Như đờn bà ấy à? Như vậy làm sao được? Ít lắm cũng phải uống bia chớ.
– Thôi, cho ông giáo uống nước cam vắt, chị hai à, Huệ can thiệp để cứu ông thầy.
Lan đứng lên, thay cho mẹ mà đãi thức ăn uống cho cả bàn.
Đây là nàng tiên đã gợi hứng cho chàng làm thơ từ bao lâu nay, một người đờn bà có cái lưng ong như lưng gái nước Sở ấy, có những ngón tay riêng tự nó có linh hồn như những con vật sống, có đôi mắt mơ buồn một nỗi buồn khôn nguôi.
Suốt bữa ăn, Thái tế nhận được vẻ ngạc nhiên trên gương mặt cô Huệ.
Ái tình luôn luôn im lặng. Nhưng người ngoài lại nghe ồn ào lên rõ bông bông. Huệ có nói lòng mình ra bao giờ đâu, thế mà Thái đã biết rõ tâm tính nàng.
Thì nay cũng vậy, Thái chỉ hầu chuyện ông Mìn bà Mìn, thỉnh thoảng mới day qua đáp một câu hỏi thường của Lan, mà đáp một cách thờ ơ, lạnh lạt. Thế mà Huệ như trông thấy suốt tim. chàng đang máy động vì việc gì.
Huệ nó ngạc nhiên lắm. Mà chính chàng, chàng cũng ngạc nhiên. Lẽ nào chàng từ chối tình yêu của một cô gái trong trắng để bâng khuâng trước một người đờn bà đã hăm tám tuổi rồi?
Trước khi kiếu từ ra về, chàng nghe bà Mìn nói:
– Ông giáo sư tự nhiên qua lại nhà chơi. Chúng tôi xem ông giáo như người nhà, nếu ông không cho thế là mích lòng.
– Dạ, tôi đâu dám…
– Con Huệ nó nói đến ông luôn thành ra ông không qua đây mà chúng tôi đã quen nhiều với ông rồi.
Bà cười đến rung rinh cả thân thể.
Vâng, Thái sang nhà thường lắm. Chàng chỉ lo không có lý do để sang. Nhưng mà người ta cho phép, dại gì không nhận.
Nhưng càng qua lại nhiều, càng tủi thêm. Cô Lan chỉ xem chàng là một ông giáo đến dạy ở tư gia, không hơn, không kém. Hôm nào vui tánh, nàng bước thêm một bước, đối xử với chàng như một người chị đối với một người em trai họ.
Thật là trời trả báo cho chàng. Chàng đã xem Huệ như em thì bị Lan xem lại như em, quả đáng kiếp. Nhưng nghĩ oái oăm thay, ái tình. Nó giống như là trò chơi bi-da của người Nga: viên đạn này chạy đi tìm viên đạn kia, nhưng viên đạn kia không đứng lại với bạn, mà chạy tìm viên nọ.
Thái đau một niềm đau khó chịu. Thà là bị tình phụ rẫy cho cái đau nó rõ rệt ra, kêu khóc lên được cho hả hơi, và tự an ủi được khi nghĩ rằng người ngoại cuộc cũng sẽ tội nghiệp cho mình.
Đằng nầy niềm đau âm thầm của mình chính mình cũng không than trách được, thì cái đau ấy mới lắng xuống tới đâu để mà biết mà rứt để mà mài cho mòn lần mòn hồi cả tâm hồn chàng.
Lan có khinh rẻ, hất hủi chàng lần nào đâu? Nàng có yêu chàng rồi phụ rẫy chàng lần nào đâu? Nàng chỉ thờ ơ thôi, xem như là chàng không có.
Hỡi vì sao trên trời, lấp lánh về nửa đêm! Có biết chăng một con dế kia mỗi tối mỗi nằm ở miệng hang mà dòm lên trời, bị thôi miên vì vẻ rực rỡ của nàng, mà vẻ rực rỡ ấykhông bao giờ soi thấu miệng hang cả.
May thay là Thái có nơi lùi về ẩn náu. Đó là thế giới thơ của chàng. Thế giới ấy lần nầy được thủy triều đưa phù sa tình ái đến, nên nó bỗng trở nên phì nhiêu kỳ lạ.
Người ta nói chỉ có đau khổ và ái tình mới làm nảy tài thi nhơn được. Thái đã yêu mà yêu đau đớn, thành ra chàng đủ cả hai điều kiện để thành công.
Thơ chàng bỗng nhiên già giặn và sâu sắc ra. Người ta đoán được rằng chàng đã rút bao nhiêu tình cảm ấy nơi trường đau khổ, đã đi sâu trong thất vọng, trong chua cay mới tìm thấy được những giọng thơ nó làm bối rối người đọc.

Lần nầy, Thái nổi danh thật sự. Người ta phổ nhạc thơ chàng, người ta ngâm thơ chàng trên các đài phát thanh, người ta in thơ chàng dưới đủ hình thức, hình thức phổ thông cho mọi túi tiền, hình thức xa xí để đưa thơ chàng vào các gia đình vốn không thưởng thức văn nghệ bao giờ cả.
Tập thơ đầu in xong, Thái ân hận không đề kịp tất cả vào đó. Tiếng kêu đau thấm thía hơn hết chỉ mới phát ra đây, ngày chàng được tin Lan sắp đi lấy chồng do Huệ thỏ thẻ kể.
Chàng làm xong bài “Mừng cuới” ngay chiều hôm đó, giữa lúc cô học trò Huệ đang làm bài theo lời chỉ dẫn của chàng.
Bép xép tin ấy, Huệ rình phản ứng trên mặt Thái để đọc tình cảm của chàng. Nét đau câm lặng mà nàng bắt chợt được trên đó như biến thành tiếng động rồi vang dội vào lãnh vực sâu thẳm của lòng nàng.
“Trời ơi! Anh ấy đau đớn như thế à? Nghĩa là anh ấy quả yêu chị mình quá lắm, và nghĩa là mình vẫn là một kẻ ngoài vòng tình cảm của anh thôi”.
Một tháng sau, Thái được thiệp mời dự tiệc cưới. Nhà giàu thì đờn bà năm con bảy cháu vẫn còn làm đám cưới rình rang như con gái được.
Cầm tấm thiệp, Thái không nghĩ đến mối tình của chàng nữa mà chỉ lật qua lật lại vấn đề nên đi hay không nên đi.
Không nên đi, không phải vì xấu hổ với ai, hay vì hờn ai. Không, nếu mà Lan biết, chàng cũng không có gì để mắc cỡ với nàng. Chàng đã yêu mà không nói ra, không phải vì chàng nhút nhát mà chỉ vì chàng thấy có nói cũng vô ích. Người mà chàng yêu trộm không bị xúc động lần nào cả mỗi khi tiếp chàng. Người thờ ơ như vậy thì còn hy vọng gì.
Chàng cũng không hờn mát Lan được, vì lan đã có dịp khước từ sự tỏ tình của chàng lần nào đâu?
Không nên đi vì công phẫn tình đời. Gia đình nầy chỉ xem chàng là một ông giáo vào dạy tư gia, trừ Huệ thì khác thôi.
Một ông giáo vào hạng đó không thế nào có ghế ngồi trong những cuộc tiếp tân sang trọng của họ được.
Họ mời chàng chỉ vì chàng vừa nổi danh. Giới nào, họ cũng muốn có vài đại diện lỗi lạc, cả giới văn nghệ sĩ là giới thật ít dính líu đến xã hội của họ.
Họ mời chàng ngồi đó để làm cây cảnh cho rôm bữa tiệc thôi.
“Các ngài thấy hay không, sự phong phú của các mối giao thiệp của tôi: bác học có, nhạc sĩ có, thi sĩ có, chớ không phải chỉ mời được nhà giàu không mà thôi như các ngài đâu”.
Thái đã bị người ta dùng làm món đồ trang trí như vậy vài lần rồi. Lần đầu chàng thích lắm, nhưng sau nhận được ẩn ý của họ, chàng vỡ mộng ngay.
Đáng buồn hơn nữa là cái thứ cây cảnh lạ là chàng, lại lắm khi không được ai buồn ngó đến.
Văn nghệ sĩ à? Là cái quái gì ấy, nhiều người tự hỏi thế rồi tò mò dòm một cái. Đoạn thấy những con người không oai vệ chút nào, không sang trọng tí nào, họ lơ đi ngay.
Tủi thân lắm! Thái có một người bà con nhà giàu. Lâu lắm chàng mới đến thăm người ấy một lần. Một hôm, thấy trên bàn hắn có một quyển truyện kiếm hiệp, Thái hỏi:
– Anh thích đọc sách lắm không?
– Buồn ngủ lắm. Tôi mua cuốn truyện này chỉ cốt đọc mỗi bữa độ nửa trang cho dễ ngủ đó thôi.
Tủi ôi là tủi cho sản phẩm của tinh thần khi chúng lạc vào thế giới tiền bạc.
Thái đắn đo rất lâu. Rốt cuộc chàng quyết định phải đi. Gia đình nầy vẫn lịch sự đối với chàng, chàng không thể vô lễ là nằm nhà được.
Vả lại, biết đâu họ mời chàng không vì lẽ khác hơn là lẽ chàng nghi ngờ. Biết đâu đây lại không là sáng kiến của Huệ. Nàng luôn luôn can thiệp để cho Thái được tham dự vào mọi hoạt động xã giao của gia đình: Dạ yến tại nhà, rong chơi cuối tuần nơ các bờ biển v.v…

°

Chồng của Lan quả xứng đáng một ông chồng mà Lan mong ước: một người giao thiệp rộng (bằng vào số tân khách đàng trai trong bữa tiệc), có dáng điệu oai vệ của một chủ nhơn ông, đủ bản lĩnh sống đời sống mà người Pháp gọi là “Mông đen”. Hai vợ chồng đi hết bàn nầy qua bàn khác. Ở mỗi bàn họ đều bị thưởng mỗi người một ly rượu mạnh. Ông ấy không hề trốn ân huệ của tân khách, lại còn bao sân giùm cho vợ. Năm căn phố lầu của tửu lâu “Hà Đình” hôm đó được gỡ tất cả vách gỗ ngăn. Mỗi căn chứa năm bàn, vị chi là hai mươi lăm bàn tất cả. Tính ra ông ta uống đến năm mươi ly rượu mạnh mà không hề thấy sắc mặt ông ta thay đổi màu chút nào.
Hai vợ chồng mới xứng đôi làm sao! Ông chồng hơi đen da nhưng vẫn đẹp trai một cách kim thời, nghĩa là đẹp như một lực sĩ điền kinh.
Còn bà vợ thì khỏi nói. Bà ta ăn đứt tất cả gái tân đang có mặt, ăn đứt luôn những thiếu phụ mà nếu không có bà, họ sẽ là những nàng tiên trong dạ hội nầy.
Nghe đâu như là Lan đã từ chối lời xin cưới của một vị bác sĩ để tái giá với ông Công, nhà xuất nhập cảng nầy.
Xã hội Việt Nam bắt đầu thay đổi để biến lần giông giống như xã hội Âu Châu về giá của con người. Ngày nay, người ta thấy những ông giáo sư, những ông bác sĩ đi xe đạp. Giá trị họ vẫn y nguyên như ngày xưa, nhưng giá của họ sụt đi trước cái bước vươn lên của những nhà tư bản. Một nhà trí thức, một kỹ thuật gia tốt nghiệp như một kỹ sư chẳng hạn, thật phải lép vế trước một con nhà thầu.
Lan đã chọn chồng theo lý tưởng của giới nàng. Nàng có tội gì đâu?
Hai suôi gia chiếm một bàn riêng đặt trong một phòng vắng. Cặp vợ chồng mới bận đưa nhau đi trình diện với từng tân khách, nên chưa ăn được, chỉ có cha mẹ em út đôi bên là đã ăn một lướt với khách.
Ăn xong, họ ra ngoài, thay thế cho hai vợ chồng vào mà dùng bữa. Trong phòng bấy giờ chỉ có ông Công, Lan và Huệ.
Lan sai Huệ chạy mời Thái vào.
Thái ngạc nhiên, không hiểu Lan mời mình vào làm gì. Khi chàng đến nơi, Lan tươi cười đon đả mời chàng ngồi để dùng thêm rượu bánh.
– Anh nè, nàng giới thiệu Thái với chồng. Đây là ông Thái, một thi sĩ hữu danh, bạn của gia đình em. Hình như là thơ của ông ấy hay lắm.
– Hân hạnh. Công đứng lên bắt tay Thái. Đoạn ông day qua nói với vợ:
– Ừ anh cũng nghe danh ông Thái. Hình như là thơ của ông hay lắm.
– Hân hạnh về phần tôi. Thái đáp mà lòng đau xót cho hai tiếng “hình như” mà hai vợ chồng mới ấy vừa dùng.
Họ cóc cần nghệ thuật, cóc cần thơ, chỉ cho thi nhân lọt vào vòng giao thiệp của họ để tỏ ra họ cũng thân được với trí thức thôi.
Đôi tân hôn bấy giờ cũng đã dùng xong bữa ăn. Phổ ky bưng đến một thố tàu hủ đặc biệt làm bằng hạnh nhơn.
Lan chính tay múc tàu hủ ra chén rồi mời Thái:
– Trong thực đơn, tráng miệng bằng cam, đu đủ, bánh sữa. Nhưng anh Công ảnh thích tàu hủ nầy nên chúng tôi kêu riêng. Mời ông dùng thêm với vợ chồng tôi một chén chơi. Tàu hủ hạnh nhơn của Hà Đình thì ngon đặc biệt.
Cả ba cùng thưởng thức biệt phẩm của tửu lầu, xong họ uống trà, cũng chính của tửu lầu ướp lấy.
Lan châm trà cho Thái rồi nói:
– Ông Thái nè, tôi có câu chuyện riêng, cần nói với ông hôm nay.
Thái giựt mình, nhưng cố bình tĩnh đáp:
– Thưa bà, tôi sẵn sàng nghe bà chỉ dạy.
Nàng lại cười, lịch sự hơn bao giờ cả rồi tiếp.
– Số là ở ngoài họ nói nhiều về bài thơ Mừng cưới gì đó của ông. Họ nói đến nó nhiều quá, và dám xuyên tạc nầy kia nữa là khác. Tôi chỉ mới nghe đây thôi, và tôi lo chồng tôi cũng nghe như vậy rồi ngộ nhận gì hay chăng? Nên tôi cần cả ba đều gặp mặt hôm nay để phá hết mọi hiểu lầm.
Nàng lại cười, mời thuốc người khách đang run sợ và tiếp:
– Nếu ông đã thầm yêu tôi, thì đó là quyền của ông, không ai nói vào đâu được cả. Ông bắt tôi mà làm đề thơ, cũng chẳng can gì, còn danh dự cho tôi nữa là khác. Nhưng quả tôi không phải là nhơn vật là ông đã tả trong bài thơ đó. Tôi không phải con người ham giàu rồi lơ là với một người bạn xưa.
Tôi chỉ là một người đờn bà tầm thường thôi. Tôi mộng lấy một người chồng thích hoạt động, rồi tôi sẽ an phận mà nuôi con. Văn nghệ sĩ là một bực mà tôi không hiểu, nên không hề yêu được. Chỉ có thế thôi. Có phải như vậy hay không, thưa ông?
Rồi nàng lại cười giòn, như là nói một câu chuyện rất tầm thường mà hơi ngộ nghĩnh một chút.
Thái lúng túng đáp:
– Thưa bà, họ chỉ bịa ra đó thôi, chớ…
– Không có gì mà ông phải thắc mắc như vậy: Văn thơ chỉ là chuyện bịa thôi. Ông đây có quyền bịa bất kỳ thứ gì. Không, ông khỏi ngại, chúng tôi hiểu biết lắm. Mời ông dùng thêm trà. Trà ngon quá.
Bỗng có người gọi hai vợ chồng ra.
– Anh đi một mình, Lan nói, em ở đây với ông Thái.
Nhưng ngoài ấy người ta đòi hỏi cô dâu ráo riết lên. Thái phải nói:
– Xin bà cứ ra, kẻo người ta đợi. Đã có cô Huệ ở đây với tôi.
– Thôi, như vậy thì xin phép ông.
Nãy giờ Huệ lùi lại, giấu mình trên một chiếc trường kỷ kiểu Tàu, đặt trong góc phòng.
Bấy giờ nàng mới đứng lên để đi lại bàn, nhưng Thái mau chân hơn, đã tới gần bên nàng rồi. Hai người đứng nhìn ra cửa sổ. Những nóc nhà bẩn thỉu làm cho khung cảnh bỗng khác hẳn khiến người xem cảnh bở ngỡ vô cùng: trong là một căn phòng lịch sự tuy trang hoàng theo kiểu Tàu xưa; rồi đột ngột là những mái ngói đen buồn vì nắng mưa của năm tháng.
– Anh đã nghe rõ, Huệ nói sau một hồi im lặng, chị em sẽ an phận nuôi con, và không bao giờ hiểu văn nghệ sĩ cả.
Em nói câu nầy không phải vì ganh mà làm hoen ố mối tình của anh: là em ngạc nhiên lắm. Làm sao mà nhà thơ cao đẹp nầy lại yêu đến dại một người đờn bà tự thú là tầm thường, không mơ một mộng đẹp nào cả, không rung động vì một tình cảm nào cả.
Chị của em đẹp thật đó. Nhưng không lẽ ra thi sĩ mà chỉ yêu vì sắc đẹp của thân thể mà không kể đến cái đẹp của tâm hồn?
Thái đã ngà ngà say. Chàng nhìn Huệ giây lâu rồi mỉm cười. Chàng đưa tay xoa đầu cô gái bé rồi nói.
– Không, em không thể hiểu được đâu.
Cử chỉ và lối xưng hô mới của Thái chỉ do lòng thương mà có thôi. Chàng thương cô bé như một em nhỏ dại, mà hôm nay, nhờ thân mật, nhờ rượu nên chàng mới dám bộc lộ tình thương ấy ra.
Nhưng Huệ nghe tê tái cả người, bước đến một bước nữa, đứng gần sát Thái rồi hỏi:
– Sao anh biết em không hiểu được lòng anh?
Lần nầy Thái cười to lên, cười như một anh chàng mới say, men rượu còn kích thích dữ.
– Em không hiểu, vì như thế nầy. Em sẽ lớn lên bằng chị của em. Em sẽ đẹp lắm, có thể đẹp hơn chị của em nữa. Nhưng ngày ấy, nếu anh còn sống, anh cũng sẽ không yêu em được, mà chỉ thương em như bây giờ thôi em à!
Em nên biết rằng một văn nghệ sĩ bao giờ cũng sống trước người trang lứa đến năm bảy năm là ít. Tâm hồn anh già hơn tuổi anh nhiều. Như vậy anh chỉ có thể tìm một tâm hồn bầu bạn nơi một người lớn tuổi hơn anh thôi. Chị em không hiểu thơ anh, đành vậy nhưng bà ấy lại hiểu những cảm nghĩ thường của anh, vì bà ấy già hơn anh nên mới có được tâm hồn ngang mức với tâm hồn anh. Còn em, em chỉ hiểu thơ, mà không hiểu anh được, em nghe chưa. Khổ lắm là em càng già, anh cũng già luôn, tâm hồn anh không thể đợi tâm hồn em được để cho đôi ta cảm thông nhau.
Giữa đôi trai gái, nếu một bên là văn nghệ sĩ, thì không thể nào tránh được sự so le để có thể yêu nhau được. Muốn xứng tuổi phải so le tâm hồn. Muốn xứng tâm hồn, phải một bên già một bên trẻ.
Anh cũng muốn yêu em lắm đó, mà tạo hóa có cho phép tâm hồn anh ngưng lại để đợi tâm hồn em đâu.
Huệ rưng rưng nước mắt:
– Hay là em cố cho già lòng thêm để theo kịp anh.
Thái cười ha hả:
– Cũng không được nốt. Em ơi, thôi vậy nhá! Số kiếp của anh là phải chịu đau khổ, còn số kiếp cua em là phải chịu vạ lây. Thế mà còn hơn là gượng yêu nhau để rồi thất vọng.
Huệ nức nở mà rằng:
– Em chỉ thương anh thôi, còn cái đau của em, em cần gì.
– Vậy à? Thái ngạc nhiên hỏi. Có lẽ em già hơn tuổi em đó. Thôi em thôi đi, để anh xét lại coi có quả em già hay không mà có được lòng vị tha ấy.
Mắt Huệ reo cười lên, nhưng vẫn còn long lanh ngấn lệ.

——————————–

1Anh chàng trai trẻ ơi, anh hãy cứ xoay cho hết ngượng ngập đi


Đời ta rất tầm thường

Lâm Chương

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Google photo

Ta ở nhà thuê. Nghèo. Thất nghiệp
ít bạn bè lui tới làm thân
lấy trà rượu một mình khuây khoả
dù không vui cũng tiếng cười khan.

Ta ốm yếu. Thường hay bệnh vặt
mưa nắng nhiều, sổ mũi ho hen
trời trở gió, đau xương thấp khớp
sức trói gà nên ngại bon chen.

Đêm ngủ muộn. Nhà un khói thuốc
mắt nhập nhoè chữ nghĩa. Đèn soi
bài thơ viết nửa chừng, cạn ý
vợ buồng trong ngái ngủ. Khuya rồi.

Mai thức dậy thấy mình vẫn thế
vẫn rong rêu, râu tóc bờm xờm
thân cũ quá dường như đóng bụi
trong cái vòng lẩn quẩn áo cơm.

Ta biết ta bất tài vô tướng
lại chây lười, lêu lổng rong chơi
tri thiên mệnh đâu cần năm chục
thuở đầu xanh ta đã biết rồi.

Cũng có lúc buồn tình ngẫm nghĩ
muốn vô chùa, cạo trọc, đi tu
nhưng còn tiếc cái mùi tục lụy
dứt không đành nên khó làm sư.

Người xưa lánh đời lên núi ẩn
ta lánh đời chẳng biết đi đâu
thôi, đóng cửa ngồi nhà uống rượu
túy ngoạ trên giường… quắc cần câu.

Chẳng lý chuyện yêu đời hay chán
sống tàng tàng nhưng cứ sống chơi
có kẻ chê rằng vô tích sự
lời thị phi ta bỏ ngoài tai.

Người quân tử ăn chẳng cầu no
ta phàm phu quen thói hàm hồ
lấy dĩ thực vi tiên làm trọng
và giữ lòng thanh thản nhàn cư.

Ai chí lớn bao đồng thiên hạ
ta trí cùn lo việc tu thân
không làm thiện cũng không làm ác
chỉ làm người đi đứng hai chân

Câu gì em nói nhỏ


Thơ Lâm Chương

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Google photo

Em hẹn tôi về thăm quê cũ
Sau mấy năm lây lất xứ người
Tôi cũng muốn (một lần thôi cũng đủ)
Về gặp em nhắc lại chuyện lâu rồi.

Chuyện lâu rồi mà như mới hôm qua
Tôi còn nhớ bàn tay em run nhẹ
Trong tay tôi lạnh buốt. Không ngờ
Em lí nhí nói câu gì rất nhỏ
Như nói thầm với cái rét se da
Của một chiều cuối đông năm ấy.

Rồi tôi đi. Sáu năm trời chưa trở lại
Dòng sông xưa vẫn chảy trong hồn
Bông mía trắng cả một vùng thương nhớ
Gió nồm Nam thổi suốt dọc quê mình
Nhà em ở cheo leo cuối xóm
Hàng rào thưa cây trái rợp sau vườn
Che bóng mát cho em ngày nắng.

Tôi ở đây những mùa đông trắng
Lấy gì che đời vắng em xa
Em đâu biết bao lần tôi muốn hỏi
Ngày chia tay em nói nhỏ câu gì
Trong cái rét một chiều đông năm ấy?

Tôi là vô sản

Lâm Chương

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Google photo


Khi về đây, tôi dự định sẽ tìm một việc gì kiếm sống qua ngày. Nhưng mọi chuyện không dễ. Cái xã nghèo đến thê lương, thế mà lại mang tên Phú Thạnh. Nghèo đến mức con chó đói nằm dài mõm ngoài hiên cũng biếng sủa khi có người đi quạ Đàn ông trai tráng không có việc, lêu bêu đầu thôn cuối xóm. Thì giờ thừa mứa, tụ năm tụ ba tán gẫu. Cuối cùng vét túi chung tiền mua vài xị rượu, nhâm nhi cho quên đời là bể khổ. 
Tôi lận lưng một số tiền nhỏ làm kế sinh nhai. Số tiền sứt mẻ dần qua những cuộc rượu, mà việc làm chẳng thấy đâu. Bù lại, tôi có thêm nhiều người bạn mới. 
Nhà Tám Nưa có giỗ. Trước mấy ngày, ông đã mời những người có mặt trên chiếu rượu. Tôi cũng được mời. Anh em bảo, Tám Nưa khỏi lo phần rượu. Mọi người sẽ đóng góp, bảo đảm uống mệt nghỉ. Về phần thức ăn, Tám Nưa cho vật con heo còi làm thịt, cắt cổ thêm vài con vịt đẹt. Xã nghèo, có người dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo vẹ Tôi là một trong những con ruồi bay lượn trên những dĩa thức ăn. 
Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà. Cánh đàn ông ngồi ngoài sân. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an, và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Quy tụ đông người, phải có thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ, thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không bằng lòng. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá. Con người sống với nhau mà như chơi trò cút bắt. Ở đâu cũng có tiếng reo hò mừng rỡ, lẫn tiếng kêu la thảng thốt. Xã hội vừa là phường tuồng, vừa là địa ngục. 
Đang ăn, bí thư xã nói: “Nghe báo cáo có người lạ mới vào xã ta, tôi chưa biết mặt.” 
Mọi người ngó vào tôi. 
Tám Nưa kéo tôi qua bàn bí thư, giới thiệu: “Chú em đây tên là Lâm, đã trình diện bên phòng công an khi mới về xã.” 
Bí thư nói: “Mời ngồi.” 
Tôi nói: “Tôi đang ngồi bàn bên kiạ” 
“Thì ngồi xuống đây nói chuyện đã. Anh vẫn khỏe chứ?” 
“Vâng, tôi vẫn khỏe.” 
“Nhiều người cải tạo về gầy rộc đi. Anh thế là còn khá.” 
“Vâng, tôi còn khá.” 
“Anh đang làm gì?” 
“Tôi chưa kiếm được việc.” 
“Nghề nghiệp chuyên môn là gì?” 
“Thợ đụng.” 
“Thợ đụng là thợ gì?” 
“Đụng đâu làm đó. Việc gì cũng làm được.” 
“Tốt!” Bí thư bưng cốc rượu cười khà khà dễ dãi. 
Công an bàn kế bên, nói vói qua: “Ngụy các ông nhiều ma mãnh. Gớm bỏ mẹ. Sang không ra sang, hèn không ra hèn.” 
Tôi nói: “Vô sản dứt khoát là hèn.” 
“Anh nói gì thế?” 
“Tôi nói tôi hèn.” 
“Vô sản ám chỉ vào ai?” 
“Vào tôi. Tôi trắng taỵ Tôi là vô sản.” 
“Lý luận quàng xiên hay nhỉ? Khi có đủ vây cánh thì làm con ngáo ộp. Bị chặt hết tay chân thì biến thành con lươn.” 
Lời công an như một dằn mặt cảnh cáo. Tôi ngồi im. 
Tám Nưa cứu nguy: “Thôi, chào hỏi thế đủ rồi. Vị trí của chú ở đâu thì về đó.” 

TƯ BẢN BÓC LỘT 
Bữa giỗ nhà Tám Nưa cũng có cái hay cho tôi. Có người lầm tưởng tôi là kẻ sĩ. Mới đầu, người ấy nói kẻ sĩ thời nay lắm nhục nhằn hơn người xưa. Tôi quay nhìn người vừa nói câu đó, và uống cốc rượu làm quen. Người ấy nói tiếp, lấy cái thước vô hình mà đo cái nhẫn. Nhẫn càng giỏi, giá trị càng cao. Một người nhừa nhựa hơi men, hỏi sao thế? Người ấy nói, gặp sài lang hổ báo, chạy là thượng sách. Đem cái lý của con người mà tranh biện với thú dữ là rước họa vào thân. Thực khách ồn ào như giữa chợ. Những người ngồi nơi hai cái bàn ngoài cùng, không nghe những gì người ấy nói. Thế là trước khi ra về, tôi quen với người ấy. 
Người ấy tên Trần Xuân Hạnh. Trước kia, ông làm thầy giáo. Sau cuộc đổi đời, ông xoay qua nghề đào giếng. Những đứa học trò dốt nát của ông thời cũ, nhiều thằng bỏ học vô bưng làm cách mạng. Bây giờ, chúng trở về, ngồi trên đầu thiên hạ mà chăn dân. Cũng may, chúng còn nhớ bài đức dục mà ông đă dạy, nên đối với ông, chúng còn chút e dè lễ độ. Chúng cho ông làm công tác dạy văn hóa bổ túc cho cán bộ, để có tiêu chuẩn gạo. Đời sống ông, vì thế, cũng dễ thở hơn nhiều người khác. 
Tôi phụ việc với ông Hạnh, năm ngày thì thạo việc. Qúa nửa trưa, ông Hạnh bảo tôi xuống giếng thay ông. Đáy giếng sâu tối u ụ Tôi nghe tiếng rền trong lòng đất như tiếng gầm núi lửa. Ngó lên thấy một khoảng trời tròn lồng khuôn mặt ông Hạnh ngó xuống. 
Tôi sợ hãi: “Cho tôi lên.” 
“Chưa làm được gì, sao đi lên?” Tiếng ông Hạnh như từ trời cao vọng xuống hang sâu. 
“Tôi ngộp thở.” 
Ông Hạnh nhằn: “Thế mà bảo việc gì cũng làm được.” 
Tôi choàng dây buộc ngang nách, hai chân chỏi vào thành giếng theo thế bích hổ du tường. Ông Hạnh nắm đầu dây kéo lên. Khi lên mặt đất, mới biết trời vần vũ chuyển mưa, rền vang sấm sét. 
Tôi nói: “Tim tôi yếu . Xuống sâu sợ gần địa ngục. Lên cao sợ đụng trời.” 
Ông Hạnh hỏi: “Chỗ nào thích hợp với mày?” 
“Lưng chừng ở cõi người.” 
“Cõi người là địa ngục trần gian đấy.” 
Nói xong, ông Hạnh chuẩn bị xuống giếng. 
Tôi nói: “Thôi đi ông ơi, trời sắp mưa. Về nghỉ.” 
Ông Hạnh nói: “Làm như mày, cám heo cũng không có mà ăn.” 
Nói thế, nhưng ông Hạnh cũng thu dọn đồ nghề. 
Trên đường về ngang qua những rẫy mía. Mía mới đặt hom, chưa kịp lên mầm. Đất cày chưa ải mặt, cỏ đă lún phún ngoi lên. Ông Hạnh chỉ những cái giếng ông đă đào lúc trước. 
Ông nói: “Vùng đất thấp, đào năm bảy thước là có nước. Vùng cao, phải đào đến mươi thước. Giếng sâu hun hút thấy mà ghệ Người chết dưới giếng, linh hồn không thoát lên được.” 
Tôi nói: “Tôi nhạy cảm lắm. Xuống giếng cứ rờn rợn sợ mình bị chết luôn ở dưới.” 
“Nếu chết, tao mời thầy pháp trục vớt linh hồn mày lên.” 
“Ông tin thế à?” 
“Tao không tin, nhưng nhiều người tin. Cũng như người ta tin rằng kẻ chết trong tù, linh hồn không ra khỏi cổng. Vì thế phải làm giấy phóng thích để giải thoát linh hồn. Tao còn nghe một chuyện động trời. Có người đi tham quan nước ngoài về kể, tư bản nó bóc lột đến cả người đă chết .” 
“Chết rồi, còn bị bóc lột gì nữa?” 
“Ấy vậy mà vẫn nói được. Người ấy bảo, tư bản Mỹ bóc lột khiếp hơn hết. Nó bắt linh hồn người chết đứng giữ cửa. Linh hồn thì vô hình nên không ai nhìn thấy, cứ thấy cánh cửa tự động mở khép khi có người ra vô” 
“Chuyện khôi hài. Ai ngu muội gì mà tin là chuyện thật.” 
“Nói mãi, cũng có người tin. Như chuyện Tăng Sâm đời xưa ở bên Tàu đấy. Lần đầu có người đến nói với mẹ Tăng Sâm rằng, Tăng Sâm giết người. Bà không tin. Lần thứ hai, cũng có người nói Tăng Sâm giết người. Bà hồ nghị Lần thứ ba, lại cũng có người nói, Tăng Sâm giết người. Bà sợ hãi, và bỏ chạy.” 
Tôi chép miệng: “Khổ thật! không biết bao giờ mới thoát được cái họa tuyên truyền ngu dân.” Ông Hạnh hỏi: “Mày nói cái gì?” 
Tôi lắc đầu: “Không. Chẳng nói gì.” 
Ông Hạnh nói: “Từ này về sau, mày ở trên kéo đất. Tao xuống giếng. Hồi mới gặp mày, tao tưởng mày là kẻ sĩ. Gần gũi nhau, thấy mày là thằng lừng khừng.” 

CẢI TẠO XONG RỒI 

Ngày nào cũng phải ăn, nhưng đào giếng không phải lúc nào cũng có việc. Đời sống đi dần vào thế bí. 
Ông Hạnh dẫn tôi đến ban giám hiệu phụ trách chương trình lớp đêm, nơi ông dạy bổ túc văn hóa cho cán bộ. Ông giới thiệu tôi là thi sĩ, và xin dạy học để có tiêu chuẩn gạo. 
Những khi rỗi việc, tôi hay nói chuyện thơ văn với ông Hạnh. Ông cho tôi là người có kiến thức văn chương. Nhưng, thật bất ngờ khi tôi được giới thiệu là thi sĩ. Tâng bốc lắm, chỉ tổ làm hư việc. 
Người đàn ông ngồi sau chiếc bàn, môi thâm, mặt sắt, tóc hớt cua, trông không có vẻ ggì là mô phạm. Ông Hạnh cho biết trước, đây là cán bộ chỉ đạo. Ông ta kéo trễ gọng kính, giương mắt nhìn tôi như quan sát một hiện tượng lạ. 
“Thi sĩ à?” 
Tôi nói: “Ông Hạnh nói quá lời. Tôi chỉ có chút chữ nghĩa đọc sách thánh hiền.” 
Ông Hạnh nói: “Không nên khiêm tốn quá. Thành thật với nhau là hơn.” 
Cán bộ nói chậm rãi rõ ràng, nhấn mạnh từng tiếng: “Cán bộ học bổ túc văn hóa, không cần học làm thợ Chỉ cần biết bốn phép tính cộng trừ nhân chia, đọc thông công văn chỉ thị, và biết ký tên là đủ làm việc. Trong quá trình làm việc sẽ bật ra thợ Anh đồng ý không nào?” 
“Vâng, tôi đồng ý. Nhưng tôi không xin dạy làm thợ” 
“Chứ dạy về gì?” 
“Về gì cũng được, ngoài chuyện dạy làm thợ” 
Cán bộ chìa bao thuốc mời ông Hạnh và tôi. 
Trầm ngâm một lúc, ông nói: “Chúng tôi đang cần giáo viên, nhưng muốn nhận anh vào phải xét qua lý lịch. Anh về làm bản tự khai kèm theo hai người chứng, rồi mang tới đây. Chúng tôi sẽ họp ủy ban cứu xét. Một mình tôi không quyết định được.” 
“Vâng, tôi sẽ viết bản tự khai.” 
Tiêu chuẩn mười ba ký gạo hàng tháng, lấp ló ở một tương lai gần. Tình hình có vẻ lạc quan. Tôi mỉm cười ngó ông Hạnh, lòng đầy phấn khởi. 
Cán bộ hỏi, sau khi phà một hơi thuốc: “Trước kia, anh làm gì nhỉ?” 
Tôi nói: “Làm lính.” 
“Bộ đội hả? Đơn vị nào? Tôi cũng là bộ đội phục viên đây.” 
“Tôi lính Việt Nam Cộng Hòa.” 
Cán bộ chồm tới, sửng sốt: “Thế à? Sao không đi cải tạo?” 
“Tôi cải tạo xong rồi.” 
Cán bộ thật vọng ngửa người ra lưng ghế: “Anh khỏi cần đến đây nạp bản tự khai. Chúng tôi không nhận đâu.” 
Tôi cố vớt vát: “Tôi nghĩ cải tạo xong là tẩy não xong, có thể góp phần xây dựng xã hội mới.” 
Cán bộ lắc đầu: “Cải tạo là hình thức trừng phạt thôi. Đầu các anh đóng băng, tẩy não thế nào được!” 

QUỐC TẶC 
Thấy tôi cũng là thằng ăn tục nói phét, ông Hạnh không còn cho tôi là kẻ sĩ nữa. Ông nói tôi là người có tài, nhưng tài năng lớn quá, không có chỗ dùng. Ông nói với mọi người như thế. Nói tới nói lui măi, tôi cũng tin mình có tài thật, dù lúc nhỏ thầy giáo xếp tôi vào loại học trò đần. 
Một lần trên chiếu rượu, ông Hạnh thắc mắc: “Chưa bao giờ xã hội ta có nhiều người uống rượu như bây giờ . Không biết tại sao?” 
Anh em ngó vào người có tài năng lớn không có chỗ dùng. 
Tôi lên gân giải thích: “Xã hội rối rắm lung tung xèng. Tương lai mờ mịt. Con người hoang mang mất hướng đi tới, nên lấy rượu trấn an tinh thần. Các ông ngày ngày cuốc đất, ngó tới ngó lui cũng không ra khỏi mấy cái bờ ruộng. Đời như thế thì bao giờ ngóc đầu lên được? Đó là nói người có ruộng. Người không ruộng, đất đâu mà cuốc? Như ông Hạnh với tôi chuyên nghề đào giếng, năm thì mười họa mới có việc. Xuống đáy giếng mà tìm tương lai, có ngày cũng gặp Hà Bá. Mặt đất đã đầy những giếng sâu hố thẳm, đi loạng quạng dễ bị sa chân xuống âm phủ. Chi bằng cứ ẩn nhẫn chờ thời. Thời cơ chưa tới, lấy rượu giải khuây.” 
Một người nói: “Tôi chịu lối giải thích này. Nhưng, bao giờ thời cơ tới??” 
Tôi lại lên gân: “Khương Thượng ngồi câu sông Vị, là chờ thời. Hàn Tín lòn trôn giữa chợ, cũng là chờ thời. C̣n chúng ta ư? Có khi phải chờ hết đời. Con cháu lại tiếp tục chờ nữa. Lịch sử biến thiên lúc nhanh lúc chậm. Nhanh thì năm trước năm sau đã thấy khác. Chậm thì đời này qua đời kia vẫn còn khốn khổ.” 
“Thời này cũng có nhiều người phất cờ giàu to đấy chứ?” 
“Vâng. Phất cờ giàu to thời này là tư bản đỏ. Nhưng cách dùng từ sai. Tư bản là bỏ vốn kinh doanh, để từ đó sinh ra lợi nhuận. Mấy ông kẹ nhà mình có kinh doanh gì đâu? Họ ăn tiền đút lót hối lộ, và dùng quyền lực chiếm đoạt tài sản thiên hạ thì không thể gọi là tư bản, dù xanh hay đỏ.” 
“Như thế phải gọi là gì cho đúng nghĩa?” 
“Gọi nôm na là ăn cướp. Cướp giựt lẻ tẻ đầu đường xó chợ, là cướp vặt. Cướp có hệ thống đường lối chính sách, là quốc tặc. Người dân biết mình bị cướp, mà không cưỡng vào đâu được. Thế mới kinh!” 
Cuộc rượu đêm đó, xoay quanh đề tài quốc tặc. Tôi hừng chí nói năng tự do, mất sự đề cao cảnh giác. Tàn cuộc, tôi say bí tỉ. 

ĐÈN NHÀ AI NẤY RẠNG 
Cưới vợ ba năm. Vợ chồng không rõ lòng nhau. Tôi đến tuổi cần có vợ, vợ cũng đến tuổi cần có chồng. Thế là lấy nhau. Chẳng tình yêu quái gì. 
Tôi là lính hành quân. Ba năm, những lần về phép đếm trên đầu ngón taỵ Gặp nhau là quấn lấy nhau. Vội vã vài ngày, để rồi còn chia taỵ Thì giờ đâu mà để ý những điều vớ vẩn? 
Năm đầu, vợ gọi tôi bằng anh, xưng em. Tôi gọi vợ bằng em, xưng anh. Qua năm sau, vợ gọi tôi bằng anh, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng em, xưng tôi. Năm sau nữa, vợ gọi tôi bằng ông, xưng tôi. Tôi gọi vợ bằng bà, xưng tôi. Theo thời gian, cách gọi vợ chồng cứ thay đổi dần như thế. Và giữ nguyên hai tiếng xưng hô “ông bà” cho đến bây giờ. Ba năm. 
Một hôm, tình cờ vợ khám phá ra tôi làm thơ. 
Vợ nói: “Có tờ báo đăng bài thơ của thằng cha nào trùng tên với ông.” 
Vợ mở trang báo, chỉ vào bài Tình Cho Em. Lời thơ sướt mướt nhớ thương. Đó là bài thơ tôi làm cho một con nhỏ người yêu, nhưng không chịu lấy tôi làm chồng. 
Tôi nói: “Bài thơ này của tôi làm cho bà, nói lên nỗi nhớ thương trong những ngày đi xạ” 
Mới đầu, vợ sung sướng ra mặt. Nhưng sau đó, vợ phá ra cười. 
“Mạo nhận. Tôi không tin!” 
“Không tin hả?” Tôi không nhìn trang báo, đọc thuộc lòng vanh vách bài thơ, “Bà tin tôi là tác giả chưa?” 
Vợ ngẩn ra một lúc: “Người lỗ mãng như ông cũng làm được thợ Lạ thật!” 
“Có gì lạ đâu. Tài làm thơ của tôi giống như chiếc mũi nhọn giấu trong túi áo. Lâu ngày, nó ló ra cho bà thấy.” 
“Chẳng bao giờ nghe ông nói tiếng yêu tôi. Vậy mà làm thơ thì nước mắt chứa chan tình cảm. Thơ là giả dối!” 
Vợ không hãnh diện về người chồng biết làm thơ, dù đã có lúc gần đạt được danh hiệu thi sĩ. 
Cuộc thế bể dâu. Đời tôi cũng bầm giập đau thương khốn nạn. Mũi nhọn thụt vào trong túi áo. Thơ tịt ngòi. 
Ra hải ngoại, muốn học hành cho đỡ nhọc tấm thân, nhưng cái đầu không chịu. Nhồi nhét thứ gì vô, vài ngày sau nó đẩy ra khỏi trí nhớ. Thế là đi làm cu lị Cực tay chân, khỏe đầu óc. 
Việc làm bấp bênh. Nay có, mai không. Thất nghiệp ở nhà. Còng lưng viết chuyện cà kê dê ngỗng, viết chuyện đời mình. 
Vợ đi chợ, đem về tờ báo quảng cáo địa phương, có đăng bài văn của tôi. 
Vợ nói: “Ông bỏ làm thơ, tôi đă mừng. Bây giờ, lại thấy hí hoáy cả ngày. Không ngờ ông viết văn. Làm thơ, chắp tay sau đít, đi qua đi lại. Còn đỡ. Viết văn, bò càng ra mà viết. Khổ ôi là khổ.” 
Tôi nói: “Trong cái khổ, có cái sướng.” 
“Thất nghiệp. Đói tới nơi, không biết lọ Ở đó mà viết chuyện bá láp. Kiếp nào mới được thành danh?” 
“Từ từ, sẽ có tiếng vang.” 
“Người ta viết chuyện ma quỷ. Rùng rợn, hấp dẫn. Viết về hoàn cảnh xă hội gay cấn, tâm lý tình cảm éo lẹ Đọc mê luôn. Sách in ra, bán chạy ào ào. Lại còn thu băng đọc truyện, tiền vô như nước. Truyện của ông, tôi vừa đọc vừa ngáp. Cố gắng lắm, cũng chỉ theo dõi được vài trang thì ngủ. Bữa trước, nghe ông nói điện thoại với người bạn nào đó, rằng ông đang gom tiền in sách. Đừng làm chuyện phá sản nghen. Sách ông bán cho ma!” 
Tôi rên: “Bà ơi, tôi bất hạnh đớn đau nhiều rồi. Hãy để tôi làm theo ý thích.” 
Vợ nói: “Ý thích trong trách nhiệm gia đình. Tự do trong khuôn khổ luật pháp.” 
Tôi giơ hai tay lên trời: “Than ôi! Trên mặt đất, ai người tri kỷ?” 
Đoản văn này, dành trả lời câu hỏi của một bạn đọc: “Theo kinh nghiệm bản thân anh, đời có tí văn nghệ văn gừng làm cho gia đ́nh dễ lục đục, hay hưng phấn hơn?” 

Tiếng Sóng

Lâm Chương

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Google photo

Sau tháng 4/1975, cả miền Nam lâm vào hoàn cảnh hết sức nghiệt ngã. Nhiều gia đình phân ly tan vỡ. Tôi, sau 10 năm tù rạc, trở về gặp người bạn cũ và kể lại chuyện này. Phần cuối của chuyện, tôi mượn triết lý “Câu Chuyện Dòng Sông” – Hermann Hesse – Phùng Thăng dịch, để nói lên cái quan niệm sống của bạn tôi.

Lâm Chương

1.

Phạm Văn Gầm nhìn đời bằng một con mắt. Từ ngày anh nhìn theo cái kiểu này thì đời cũng liên tiếp quất cho anh những đòn chí tử. Đau nhất là đòn của vợ anh. Ngón đòn ê ẩm thấu tim gan. Có lúc uất quá, anh muốn giết người. Cũng may, anh kịp dằn lòng. Nếu không, chắc đời đã nghiền nát anh rồi.

Muốn rõ ngọn ngành, phải kể dông dài đầu đuôi câu chuyện.

Gầm là tay có học, nhưng trong thời bát nháo, kẻ không dựa vào thế lực người khác ắt khó được đời trọng dụng. Chán mớ đời, lại đang tuổi động viên không chạy đàng trời nào cho khỏi. Anh vào lính Nghĩa Quân lẩn quẩn ở quê nhà. Những ngày gần cuối tháng Tư, năm 1975, tình hình quân sự rất bi đát. Những đơn vị bạn đã thoái binh từ hai ngày trước. Đồn Nghĩa Quân không còn ai yểm trợ. Bị cô thế, thằng cha trung đội trưởng Nghĩa Quân dẫn anh em chạy bỏ đồn, tìm nơi kháng cự. Trên mặt đất có nhiều đường chạy. Trời xui đất khiến thế nào lại chạy vào ngõ cụt, phía bờ sông Vàm Cỏ Đông. Chui vô khu rừng tràm. Cố thủ trong một nơi sình lầy nước đọng. Địa thế tác chiến bất lợi trăm bề. Trước mặt là đồng ruộng, sau lưng là con sông lớn. Nếu bị tấn công, rút lui ngả nào?

Nói cố thủ cho oai, chứ thật ra chả đánh đấm mẹ gì. Quân chính quy Bắc Việt đang dồn nỗ lực về thủ đô. Ở đây, chỉ còn le hoe một số du kích địa phương. Du kích đứng từ bìa làng, phóng loa kêu gọi Nghĩa Quân đầu hàng.

Trung đội trưởng nói với anh em: “Cố thủ, chờ quân mình phản công. Tên dép râu nào xông vô, bắn bể đầu cho tao.”

Kêu gọi không được, du kích dùng súng cối 60 bắn vào khu rừng tràm. Súng mới lấy được của một đơn vị thoái binh nào đó bỏ lại. Du kích chưa quen sử dụng nên trái rớt bên đông, trái rớt bên tây. Cũng có trái lọt vào rừng tràm. Chính trái đạn quái ác này văng miểng làm bị thương con mắt trái của Gầm. Vết thương không trầm trọng, nhưng do điều kiện thiếu vệ sinh nên nhiễm trùng, gây đau nhức khó chịu.

Sau mấy ngày cố thủ, hết lương thực mà viện binh không thấy, cũng không liên lạc vô tuyến được với đơn vị bạn. Túng thế, anh em Nghĩa Quân cho Gầm đi một mình ra đầu hàng, mục đích để được chữa thương. Lúc đó, anh mới biết lệnh đầu hàng đã tuyên bố từ ba hôm trước. Du kích bảo anh quay trở lại rừng tràm, báo tin này cho anh em Nghĩa Quân. Khi tất cả Nghĩa Quân chịu buông súng trở ra thì con mắt của Gầm đã vô phương cứu chữa. Một y tá địa phương giúp anh múc tròng mắt hư bỏ đi. Từ đó, Gầm nhìn đời bằng một con mắt.

Cuộc đời chung, vốn nhiều xấu xa bỉ ổi. Nhìn rõ mặt đời quá, nhiều khi lại đâm ra chán đời. Thà nhìn bằng một con mắt, may ra còn thấy đời mờ mờ hư ảo dễ thương. Gầm tự an ủi như thế, và quyết tâm làm lại cuộc đời riêng của mình. Xây dựng một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Chẳng phải Gầm vẫn mong một ngày đất nước bình yên, vất cây súng, nắm lấy tay cày bừa sinh sống hay sao? Đêm đêm, không còn nghe tiếng súng, ngủ khỏi giật mình là sướng rồi.

Việt Cộng vào, tự xưng cách mạng. Gầm là lính trơn, chỉ phải học tập chính sách mới một tuần, được cách mạng cho về làm ăn. Xóa bỏ hận thù, xóa bỏ những tàn tích cũ, cùng nhau xây dựng lại một xã hội yên bình tốt đẹp hơn. Tổ chức ngăn nắp, quy củ rõ ràng. Có nhóm, có tổ, có khóm, có phường. Người ta bảo tổ chức như thế để giúp đỡ nhau khi tối lửa tắt đèn. Cách giải thích nghe có lý có tình, nhưng thật ra là để dòm ngó kiểm soát lẫn nhau. Vợ Gầm cũng tích cực tham gia hoạt động xã hội mới. Bây giờ, chị là hội viên Hội Phụ Nữ của xã. Cứ vài hôm, lại đi họp một lần. Chẳng biết khi họp, họ nói với nhau những gì. Về nhà, trông chị phấn khởi yêu đời thấy rõ. Gầm mừng. Vợ vui là anh vui. Người đàn ông nào cũng muốn đem lại hạnh phúc cho vợ. Gầm cũng thế. Càng thương hơn nữa, chị không hề chê anh khuyết tật. Mọi người bình đẳng, theo cách nói “con người vốn quý” của cách mạng.

Niềm vui trong gia đình kéo dài không lâu. Sau này, vợ Gầm đi họp thường xuyên hơn. Lắm khi, chị đi đến khuya lắc mới về. Và chị về không phải với gương mặt tươi tắn yêu đời như anh hằng mong đợi. Chị hay kiếm cớ gây sự, mắng mỏ anh nhiều câu hỗn láo, cho rằng kết duyên với anh là một lầm lỗi lớn trong đời chị. Chuyện gối chăn, cũng không còn đậm tình chồng vợ. Chị tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt, khước từ lảng tránh ái ân.

Sau chiến tranh, đất nước lâm vào nỗi nghèo nàn cơ cực. Muốn nâng cao phúc lợi toàn dân, phải có kế hoạch lâu dài. Cách mạng phát động phong trào thi đua lao động. Làm thủy lợi, đắp đập đào mương, dẫn thủy nhập điền. Là lính Nghĩa Quân của chế độ cũ, dĩ nhiên Gầm được chọn làm đối tượng “lao động là vinh quang” của chế độ mới. Cái khẩu hiệu mới nghe có vẻ sáng ngời, nhưng đủ sức vắt cạn tinh lực con người đến chết. Ngoài việc thủy lợi như bao nhiêu người dân khác, những kẻ được liệt vào thành phần ngụy quân ngụy quyền còn được cách mạng tận tình chiếu cố, làm thêm công tác tháo gỡ mìn bẫy nơi các đồn bót cũ. Mìn chôn dưới mặt đất, ló lên cái ngòi kích hỏa như sợi râu con dế lẫn trong cỏ, khó nhìn thấy. Phương tiện dò mìn là chiếc gậy nhọn đầu, chọt chĩa khều móc theo những hàng rào kẽm gai. Trái mìn nào nổ, coi như xong. Trái nào chưa nổ, phải tìm cách moi lên và vô hiệu hóa. Đã có nhiều người bỏ mạng, hoặc sút tay gãy gọng vì công tác này rồi. Gầm may mắn, không bị hề hấn gì. Trước sự việc này, cách mạng lý luận, các anh gài mìn thì các anh phải tháo gỡ thôi. Hết chiến tranh, còn duy trì những thứ chết người đó làm chi? Cũng đúng thôi! Lý của cách mạng, bao giờ mà chả đúng? Mỗi chuyến công tác chừng mươi bữa nửa tháng. Về nhà chưa nóng đít, Gầm lại có lệnh đi công tác nữa.

Thời gian này, Gầm nghe lời đồn đãi bóng gió về chuyện lén lút lăng nhăng của vợ anh với viên xã ủy. Anh hỏi vợ. Chị lồng lên, xỉa xói vào mặt anh bằng đủ thứ ngôn từ chanh chua của mấy mụ chuyên môn ăn cắp vặt ở những khu chợ đông người. Mồm miệng nào mà đấu khẩu cho lại con vợ điêu ngoa? Gầm nhịn. Càng về sau, chị càng lộng hành công khai đi lại với viên xã ủy, coi chồng chẳng ra chi. Gầm tức, toan giết kẻ gian dâm với vợ anh, nhưng con gà thất thế, muốn vói lên mổ con chó sói là điều không dễ. Kiện thưa ư? Luật lệ địa phương nằm trong tay của viên xã ủy. Nó chưa triệt tiêu Gầm, đã là điều may. Đòi hỏi công lý là điều không tưởng. Chẳng làm gì được kẻ có quyền, Gầm quay ra chửi vợ. Chị cũng không vừa, rủa lại anh là thứ “voi một ngà, người ta một mắt”, ám chỉ tính hung dữ thể hiện qua sự dị hình. Bị chạm vào khuyết tật, Gầm đau như ngực bị đâm dao nhọn. Manh nha trong đầu Gầm ý tưởng tùng xẻo con vợ, rồi thắt cổ tự vận luôn. Cái lưỡi lê từ thời còn đi lính, chưa bén máu người. Lần này, nó sẽ được dùng để trừng trị một con đàn bà trắc nết. Gầm tưởng tượng vợ anh sẽ đau đớn rên la và quằn quại trên vũng máu. Một hình ảnh ghê khiếp quá, chưa thi hành mà anh đã rợn. Ngay vào thời chiến tranh, anh cũng không nhẫn tâm làm điều đó với đối phương, huống chi bây giờ hành sử với người đã từng cùng chung chăn gối? Nhiều đêm trăn trở, Gầm tự hỏi, con đàn bà lăng loàn hư đốn này có đáng để anh đánh đổi luôn mạng sống của mình? Câu hỏi, làm anh tỉnh thức. Lòng anh chùng lại. Sau cùng, anh quyết định bỏ đi. Có kẻ chê anh hèn nhát. Cũng có người thấu lẽ đời, cho thế là khôn. Anh ở lại, chẳng những không làm sứt mẻ được ai, nhiều khi còn nguy đến tính mạng. Viên xã ủy đâu muốn thấy một cái gai trước mắt? Gầm tự hiểu, và lánh mặt trước khi trở thành con sâu cái kiến bị chà đạp.


2.

Tôi trở lại quê nhà sau 10 năm tù rạc, nghe tin bằng hữu mỗi ngày một thêm tan tác. Người lẩn vào rừng sâu, sống đời hoang dã. Người uất khí hộc máu tươi, vì cường quyền áp bức. Người xiêu tán phương xa, biệt tăm không biết sống chết lẽ nào. Và người ở lại như Phạm Văn Gầm, nghe nói cũng thay đổi lạ lùng. Anh nhìn đời bằng một con mắt, và lui về nơi khuất lánh bên dòng sông, rũ hết sự đời, sống theo con nước.

Tôi mua bịch thuốc rê, chai rượu đế, lần dò đi thăm bạn. Tôi đến vào buổi xế chiều. Chòi trống. Tôi đứng ngóng ra sông, chờ Gầm. Gió thổi hiu hiu. Ánh tà dương đỏ rực mặt sông. Những cụm lục bình lờ lững trôi xuôi. Vài cánh cò chấp chới xa xa. Bên kia sông, rừng tràm bát ngát. Gầm về theo nước thủy triều lên. Trong cái lốt ngư ông áo vải nón mê, anh hoàn toàn lột xác khỏi con người ngày cũ. Dáng anh gầy gò, phong thái thong dong.

Thấy tôi, anh cười rộ theo kiểu ẩn sĩ đời xưa: “Gió lớn bốn phương, còn quay về quê cũ được sao?”

Tôi cũng cười vang trên bờ sông, như một giang hồ hiệp khách: “Thiên hạ đại loạn, còn an nhiên tự tại được sao?”

Chúng tôi dắt tay nhau vào trong chòi lá. Sau những thăm hỏi thông thường, tôi nói với Gầm về những ngày tù rạc của tôi. Anh bảo, còn sống trở về là may, thời thế không là dầu sôi lửa bỏng, nhưng hiểm nguy lúc nào cũng đang rình rập bên mình.

Buổi tối, chúng tôi bày rượu nhâm nhi chờ trăng lên. Tôi nghe Gầm kể chuyện đời, chuyện mình.

Tôi nói: “Để chữa lành một vết thương, mà chịu hãm mình cô quạnh bên một dòng sông là điều uổng phí.

Gầm bảo: ”Ở vào cái thế thúc thủ, còn vọng động tranh chấp hơn thua là chuốc họa vào thân.”

Anh cho rằng, ý nghĩa của đời sống tùy quan niệm mỗi người. Có kẻ tìm sự vui thú trong tiền tài. Có người tìm sự thỏa mãn trong quyền lực. Nhưng những thứ đó không đem lại sự bình yên trong tâm hồn. Còn anh, anh theo cái triết lý sống Ông Chài, một bài học thuộc lòng thuở nhỏ, và đọc:

Nước trong rửa ruột sạch trơn

Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.

Sớm doi tối vịnh vui vầy

Ngày dài đón gió, đêm chầy chơi trăng.

Tháng ngày thong thả làm ăn

Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm

Nghêu ngao nay trích mai đầm

Một bầu trời rộng, vui thầm ai hay!*

Đọc xong, Gầm cười sảng khoái, nói “Phúc tại tâm không lý đến đời”.**.

Tôi hỏi điều gì đã làm anh thay đổi quan niệm sống đến tận ngọn nguồn gốc rễ?

Anh nói, hoàn cảnh và dòng sông. Hoàn cảnh đã xô anh vào đường cùng, để từ đó, anh thấy đời là bể khổ. Dòng sông đã dạy cho anh biết thế nào là sự im lặng.

Tôi hỏi: “Im lặng mà cũng phải dạy nữa sao?”

Gầm ngó ra sông nói: “Trong im lặng mình nhìn lại được chính mình”.

Trăng đã lên cao. Ngồi trong chòi, nghe tiếng sóng vỗ ngoài bờ sông.

Tôi nói: “Dòng sông đâu chỉ im lặng, còn có tiếng sóng nữa”.

“Vâng”. Gầm nói: “Tiếng sóng như tiếng vỗ về của mẹ thiên nhiên. Đi tìm an ủi ở đâu cho xa? Ngay ở đây, bên bờ sông này đã cho ta điều đó”.

Chai rượu đế chắt đến giọt cuối cùng. Đêm đã khuya lắm. Con trăng đã xế về bên kia rừng tràm. Mọi vật chìm trong tịch mịch lặng im. Chỉ còn nghe tiếng sóng triền miên như niềm an ủi bất tận của bạn tôi trong nỗi đời hiu quạnh.


Lâm Chương

* thơ Nguyễn Đình Chiểu

**thơ Tô Thùy Yên

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Google photo

Chương 12

Damer Tiếng Súng Tàn Quân

Út, chủ nhân nhà máy xay lúa ở R’chai, với dáng điệu bơ phờ, thấp thoáng ngoài sân. Sự xuất hiện của ông bạn người tỉnh Long An, dù thân thiết, coi nhau như anh em vẫn làm tôi hồi hộp, vì năm khi mười họa anh mới tới. Vừa ngồi xuống tấm phản, Út đưa hai tay ôm mặt:

– Đi có một chút đã xây xẩm, muốn ngã .

Út nhỏ tuổi hơn tôi, mà trông anh quá yếu ớt, mang chứng sốt rét kinh niên, da dẻ bủng xì, tai tái thiếu máu.

Tôi hỏi:

– Thuốc Thượng cho uống không bớt sao? Nghe lời tôi đi, bắt trùn mổ ruột bào sạch, xào nửa chén ăn hết ngay. Thằng em nuôi tôi hồi trước đi lính cũng bị vậy, ăn có nửa chén hết.

– Tôi còn bệnh gan nữa, để tôi về dùng thử coi, nhưng mà trùn nó dơ quá anh ơi ! À này, bọn Sư đoàn 304 biến đâu mất, chắc di chuyển sang tỉnh khác.

– Cách đây mấy hôm, Thượng sĩ Nguyễn Tuất, người đen đen nhớ không, từ trong phòng giam anh có viết thư tạm biệt tôi, nói rằng đơn vị anh sẽ trở về Bắc. Thôi, kệ cha chúng, đi đâu đi.

– Lý do gì Tuất bị nhốt?

– Tụi bộ đội cũng giống lính miền Nam ngày xưa, chuồn búa như điên. Thượng sĩ Nguyễn Tuất vọt xuống Phan Rang chơi, chẳng may gặp tuần cảnh túm cổ trả về đơn vị thi hành kỷ luật. Nghe anh em kể, nhốt đâu ba hôm được thả, Tuất lại nổi điên chụp khẩu B40 kê lên vai nhắm hướng Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn, đóng ngoài xã Phú Hội, miệng thì hô to: “Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn, một quả bắn!”. Tuất chỉ làm dởm cho đỡ tức thôi, chứ không bóp cò, nhưng an ninh nó còng thật. Tuất có nhiều chuyện bất mãn, uất ức nhất là vụ bị lột lon chuẩn úy xuống thượng sĩ, vì sơ hở khi giải giao để một tù binh, thiếu tá của Quân Lực VNCH, vọt được, còn lấy theo cây súng.

Lạ, tôi lại cảm tình bọn thằng Tuất, nói chung C7 của Đại đội trưởng Nguyễn văn Đường. Họ cũng mến tôi. Tình cảm đó thay thế cho hận thù, vì ngày xưa C7 và Đại đội 1/21 Biệt Động Quân do tôi chỉ huy, đã đụng trận nhau hai lần nảy lửa. Một: giữa vùng rừng núi tây bắc Huế, tôi thua. Nhưng ở quận Mai Lĩnh, Quảng Trị, tôi đánh nát C7 của Đường chết la liệt hai bên đầu cầu Bến Đá, “Đại Lộ Kinh Hoàng”, chỉ còn chín mống (theo Đường tự thú).

Nhớ tụi nó chớ ! Trong lá thư Tuất có viết:. “Khi anh nhận được mấy dòng này, Tuất đã rời khỏi Lâm Đồng”.

Út rầu rầu nét mặt:

– Nghe phong phanh một tiểu đoàn công an biên phòng sẽ về R’chai. Nếu quả vậy mình khó thở. Tại Thượng không chịu vô hợp tác xã lao động. Bao lần cán bộ trên huyện Đức Trọng xuống họp lập danh sách chia tổ, phân đội, Thượng cứ nằng nặc đòi ở ngoài tự do làm ăn. Ai nói gì nói, tờ mờ sáng họ mang gùi vác xà gạc bung hết ra rẫy bắt chuột đồng hoặc hái lá sắn hầm nhuyễn với gạo thành cháo ăn, kiểu du mục. Công an biên phòng sẽ làm khó dân hơn, bộ đội vậy mà dễ.

Tôi rót Út một ly nước trà nguội:

– Lá sắn đăng đắng, chỉ hợp khẩu bọn Thượng, còn chuột đồng ướp gia vị ram hay nướng, nhậu hết sẩy. Út đến có việc gì không?

Út R’chai uể oải, giọng rề rề:

– Anh vô Damer trả nợ chị Hai dùm tôi…

Tôi cau mày:

– Nãy giờ không nói? Tôi định lát nữa lên Tùng Nghĩa…

Út đằng hắng:

– Tại mình mãi nói chuyện đấm đá với chiến trường xưa. Thì, như anh rõ, cái máy xay lúa tôi mua lại của chị Hai tám trăm ngàn, đã đưa trước phân nửa, còn bốn trăm mà ông bà cứ đòi chèo chẹo. Tôi bệnh đi không được, anh chạy Honda vô trả dứt, chứ tôi gặp mặt là dễ gây lộn với ông anh rể…

– Chà, 400.000$ tức bao nhiêu tiền mới?

– 800$, tôi đem theo đây.

Út trao bọc nylon gói kỹ, tôi nhét vào cái túi may sẵn bên trong lớp áo võ Nhu Đạo màu lam đang mặc. Tôi lằm bằm:

– Đi Damer, phải tới ngã ba Liên Khương, vòng vô hướng tây qua một cánh đồng trống, xa lắc! Được, đi sớm về sớm. Coi như lệnh hành quân !

Út kéo giúp chiếc Honda ba bánh lui ra sân và đóng cửa. Tôi chở bỏ Út trước nhà anh rồi quay đầu chạy vù trên QL 20.

Tới Liên Khương tôi rẽ trái theo tỉnh lộ 9, và chưa ra khỏi trung tâm sầm uất huyện Đức Trọng, tôi thấy trước mặt thấp thoáng hai tên bộ đội cầm AK đứng giữa đường. Xe còn xa, họ đã quơ tay bảo dừng. Nhớ xấp bạc dày cộm trong túi, tôi hồi hộp, sợ tịch thu, còn bị đục te tua và ngồi tù oan nữa, như một “chiến sĩ phục quốc” mang năm ngàn đồng tiền mới từ nhà thờ Vinh Sơn, Sài Gòn, lên chốn gió tanh mưa máu này năm ngoái.

Tôi thắng lại giữa hai họng súng. Họ hất hàm:

– Đi đâu?

Tôi định hỏi ngược tại sao hôm nay cấm lưu thông đường này, nhưng kịp nghĩ cả đất nước miền Nam chúng còn cướp, lọ là một con lộ nơi thâm sơn cùng cốc này, và thật may, tôi nghe có tiếng gọi lớn từ trong một căn nhà:

– Anh Thy Vân!

Tôi quay vô, thấy Hồng, người Nùng Lạng Sơn, bộ đội C7 của Trung úy Đường, Sư đoàn 304 Cộng Sản Bắc Việt, từng đóng quân ở R’chai, đang bước vội ra. Mừng quá, không đợi Hồng hỏi, tôi nói:

– Tôi đi Damer!

Ông bạn nón cối to béo, đã hơn một lần kẹp nách 10 tấm tôn cuộn tròn, tháo trộm trong doanh trại, đem bán rẻ cho tôi lợp nhà, tỉnh bơ đẩy chiếc Honda của tôi vô ban chỉ huy trung đội anh đặt dưới một mái hiên bên lề làm hai tên dép râu kia ngơ ngác.

Hồng kê cái bàn cùng mấy cái ghế nhỏ sát hông xe:

– Anh ngồi chờ chút, Hồng kêu cà phê uống, và mời ông Tuất về. Các cậu đang chơi phía sau.

Hồng vụt lủi vô con hẻm. Một lát, có tiếng nói tiếng cười, những khuôn mặt quen thuộc xuất hiện.

Tuất vỗ vai tôi:

– Anh đi đâu thế?

– Damer. Sao bộ đội chặn đường vậy, Tuất?

Tuất đưa mắt nhìn quanh một vòng rồi nói:

– Tí nữa sẽ rõ, giờ anh uống cà phê với bọn này xong về, đừng vào đấy. Này Bình, chạy bảo thằng Hồng lấy thêm bình trà ngon.

Tôi vẫn còn hồi hộp:

– Nhà ai ở sau?

– Quán cà phê!

– Vậy à? Tuất giống dân chơi miền Nam ghê!

Viên chuẩn úy đã bị lột lon mỉm cười:

– Tuất đã được đồng hóa kể từ ngày theo quân “giải lao” vào đây

Người bộ đội ngồi đối diện vội đưa ngón tay lên miệng:

– Nói lớn thế, Thủ trưởng nghe đấy?

Hai tiếng “Thủ trướng” gợi tôi nhớ Đường:

– Quên, Trung úy Đường đâu?

– Ông đổi sang ngành vận chuyển dưới miền Tây rồi!

Tôi chau mày, cảm thấy hơi buồn:

– Tôi nhớ anh Đường nói trước khi thuyên chuyển sẽ ghé thăm tôi. Vậy mà âm thầm đi mất…

– Sẵn chán ngấy đời quân ngũ nhận được lệnh là ông vọt. Chúng tôi cũng nhớ ông. Bố mới về này gay lắm!

Tôi nhìn những kẻ cựu thù:

– Đường đã thật sự giã từ vũ khí, hả Tuất?

Bốn tiếng “giã từ vũ khí”, hình như vô tình làm động lòng trắc ẩn của người lính Bắc Việt bất đắc dĩ này. Tuất im lặng, mắt nhìn ra xa nghĩ ngợi. Chắc anh đang nhớ lại những tháng năm cùng đơn vị gieo chết chóc cơ man vạn kể cho dân miền Nam, nơi mà hôm nay đã cho anh thấy sự lừa dối, chính nó ở ngay trên quê hương miền Bắc, đảng Cộng Sản, của anh. Kìa, nào mùa hè đỏ lửa, phá sập cầu Bến Đá quận Mai Lĩnh tạo ra “Đại Lộ Kinh Hoàng” Quảng Trị 1972… đẫm máu và đầy xác người…

Bình và Hồng khệ nệ bưng khay cà phê, nước trà, một gói thuốc Lạng Sơn sản xuất tại Tùng Nghĩa, đến đặt trên bàn.

Bình hỏi:

– Anh Vân quen ai trong Damer?

– Chị Hai của chú Út xay lúa ở thôn R’chai. Chị nhắn tôi vô chị cho gạo nấu mấy đứa nhỏ ăn…

– Gì mà thảm thế?

– Đường xa, chắc chị cho cả chục ký!

Tuất đưa tách cà phê lên ngang miệng:

– Hoãn lại, hôm nào hãy đi, giờ nguy hiểm, tàn quân mới đột kích ủy Ban Nhân Dân Xã Damer đêm qua.

Tôi giật mình:

– Vậy sao? Có ai hề hấn gì không?

Tuất ghé tai:

– Chủ tịch xã và khoảng mười cậu du kích chết. May mắn ông bí thư nghỉ phép Hà Nội về, còn nằm ngoài phố này, nên thoát nạn.

Bình xen vô:

– Cô y tá Thảo, người ấp 7 Phú Hội anh đấy, cũng bị bắn.

Tôi gật gật cái đầu. Tiếc cho cô gái, ngày nào còn đi học, lại ngu xuẩn thoát ly gia đình theo giặc làm “cách mạng 30”.

– Tôi biết Thảo, cô ta hiền lắm! Giết y tá làm gì nhỉ? Bọn tàn quân ẩu thật. Còn họ sao, thiệt hại không?

Bình lắc đầu:

– Chả thấy bố nào bỏ xác lại. Đêm qua tụi này ngồi uống cà phê, nghe súng nổ rất lâu là biết có chuyện. Sáng nay C7 vào giữ an ninh để cán bộ huyện xem xét, mới hay tàn quân đánh Damer một cách chớp nhoáng! Đám du kích ngủ trường học xách súng chạy ra bị bắn gục ngay ở cổng. Trước khi rút, bọn tàn quân phá thùng conex thả hết số tù công an bắt chưa kịp giải giao, thu hết vũ khí, rồi phóng hỏa đốt trụ sở xã.

Tuất thêm vào:

– Lúc súng bắt đầu nổ ông Chủ tịch ủy Ban Nhân Dân lủi vào bụi chuối phía sau, chúng rượt theo bắn nốt. Chắc chúng đã lưu ý ông.

Tôi hỏi:

– Chủ tịch là người Nam, phải không?

– Chức vụ này cũng như các công an xã, thường dân miền Nam nắm giữ, vì họ biết rõ địa phương hơn.

Hỏi chơi chứ tôi thừa hiểu đồng bào rất căm thù những kẻ tiếp tay giặc. Điều đó tôi có nói Tuất nghe lúc C7 đóng quân ở R’chai. Giai đoạn đầu, các phần tử sẵn máu gian ác, và vì nhiều lý do bất mãn chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, xuất hiện chạy theo khiến quân cướp nước tưởng đồng bào ở đây yêu thích cái chủ nghĩa xã hội bệnh hoạn của chúng.

Thấy Sư đoàn 304 còn lảng vảng Đức Trọng, tôi hỏi:

– Đơn vị chưa đi à?

– Các ông còn bắt học tập.

Tôi nheo mắt:

– Học gì nữa?

Tuất ngoảnh mặt lên trời, miệng mủm mỉm:

– Học cách nói láo. Khi về Bắc không được kể rõ cho dân nghe miền Nam giàu có, nào thừa mứa vật chất, nhà cao cửa rộng, Ô tô chạy đầy đường… Ra ngoài ấy tả thật là bỏ xừ.

Tôi cười:

– Chứ mấy ổng dạy sao?

Bình trả lời thay Tuất:

– Nói nghèo! Chuyến này về chắc tớ xin phục viên đấy.

Tuất liếc Bình:

– Đừng hòng! Sư 304 thành lập là để đi, không qua Miên cũng sang Lào thôi. Các bố cảo miệng thế…

Vừa nói tới đó, đột nhiên Tuất ghé miệng vào tai tôi:

– Tháng Giêng 1979 này Sư đoàn 304 của chúng tôi sang Miên diệt bọn Pol Pot, Khmer Đỏ, đấy!

Thì ra là vậy. Tôi kiếu từ đám bộ đội của Tuất:

– Thôi, trời đã trưa, xin phép anh em…

– Vâng! Gởi lời thăm các cháu anh Vân nhé!

– Chúc tất cả bình an, may mắn!

Đến nhà, tôi tường thuật cho Út biết chuyến đi bất thành, chuyện tàn quân giết chết hàng chục người, có ông chủ tịch xã Damer, nhưng chưa rõ tình trạng gia đình chị Hai thế nào, Út hoảng hồn.

Các giới chức địa phương khó mà bưng bít vụ Damer. Tuy vậy cũng đôi tuần tin tức mới lan truyền xa trong dân chúng. Như Trà In, một vùng kinh tế khắc nghiệt nhất Lâm Đồng, nằm giữa rừng sâu, tứ bề núi bọc, phía đông Đại Ninh, cách quốc lộ 20 trên mười cây số. Cư dân Trà In hầu hết từ thành phố Đà Lạt bị cưỡng bách, lưu đày xuống khai quang lập ấp, dưới sự cai trị ác ôn của Cộng Sản, chẳng khác lao tù. Giữa năm 1976, một tổ chức kháng Cộng bất thần đột kích Trà In. Tiếng súng đủ loại vọng ra tới xóm nhà tôi ở Phú Hội, nghe như một trận đánh trước 1975. Rồi thôi, ai cũng ngán công an chìm nổi theo dõi, không dám bàn tán. Chỉ riêng vụ Jirong Tambor, một buôn Thượng lâu đời, kế R’ Chai, thì xôn xao cả huyện. Vì cấp thôn không có cơ quan của nhà cầm quyền, du kích xã Phú Hội lại lui tới ban ngày. Bất ngờ một buổi tối nọ, một nhân vật người Huế, cầm đầu một nhóm phục quốc lặng lẽ về họp dân tuyên truyền rồi đi. Họ nói rõ không cấm cản đời sống phải chung đụng với quân cướp nước trong các hợp tác xã lao động, nhưng nếu ai ác ôn sẽ bị trừng phạt. Tin tức vụ Jirong Tambor khắp huyện Đức Trọng đều biết, làm lòng người phấn khởi vì đêm đó có sự hiện diện mấy giáo viên ăn ở tại trường sơ cấp R’chai và Jirong Tambor, báo cáo lại.

Hai hôm sau, Út nhờ tôi đi Damer lần nữa để trả món nợ. Vẫn đường cũ, khi xe ra khỏi khu phố bị chặn hôm trước, tôi chạy băng qua một khoảng đồng không mông quạnh, lô nhô những gốc cây cháy nám to bằng thân người như những bóng ma ngồi ủ rũ. Nơi đây, tôi nhớ tám năm trước đã diễn ra một trận xáp lá cà đẫm máu giữa Tiểu đoàn 22 Biệt Động Quân và Việt Cộng. Cứ mỗi gốc cây đen xì, một tên địch đào hố ẩn núp, phục kích một đại đội Mũ Nâu dẫn đầu. Họ choảng nhau bằng lưỡi lê, bá súng… Hai bên tổn thất nhân mạng khá cao. Bây giờ quân cướp nước đang xí phần sẵn vùng đất bao la màu mỡ này cho thân nhân chúng từ Bắc vào chiếm ở, gọi là khu “Kinh Tế Mới Hà Nội” với con đường chính xuyên qua mang tên Nguyễn Thị Minh Khai.

Tới Damer, tôi thấy trước mặt ủy ban xã, các vách tường loang lổ đầy dấu đạn do Phục Quốc tiến công. Đồng bào vẫn còn tu sửa các phòng ốc, bàn ghế và dọn dẹp chung quanh… Thấy tôi dừng xe ngoài hiên, anh Đẩu chồng chị Hai của Út trong nhà bước ra, vừa kê lưng cõng tôi vào vừa hỏi nhỏ:

– Chuyện gì mà Vân bất thần xuất hiện lúc này ghê vậy?

– Có ai lạ mặt ở trong không mà giọng anh hỏi nghe cũng “ghê vậy”?

– Có cha bí thư xã đang biên viết gì đó trên phòng khách.

Đẩu đặt tôi ngồi xuống cái đi-văng nơi căn nhà ngang.

Để anh khỏi hồi hộp, tôi rỉ tai ngay:

– Chú Út trả món nợ 400.000$ nè, tiền mới là 800$.

Mắt Đẩu sáng lên:

– Hay quá, vợ chồng anh đang cần.

Tôi giả bộ gườm anh:

– Hèn gì cả vợ lẫn chồng đòi con người ta chèo chẹo.

Đẩu im lặng, vội nhét gói bạc dưới cái gối dài đầu giường kế bên. Chị Hai sau vườn bước vô nhoẻn miệng cười:

– Khỏe không, Vân?

– Dạ khỏe!

Chị tới chỗ cửa hông, đứng nói lên nhà trên:

– Anh Ninh, có chú em từ Phú Hội đến chơi.

Một giọng Bắc khàn khàn của tên cán bộ vọng xuống:

– Ờ, bà con à? Tôi đang cố lập cho xong bản phúc trình.

Đoạn, ông ôm cặp đi ra ngoài. Đẩu ngồi xuống kế tôi:

– Ngoài đó nghe gì chưa?

Tôi vờ ngạc nhiên:

– Nghe gì?

– Trời ơi, suýt tí nữa anh chết mẹ nó rồi. Bất ngờ mấy ông “tàn canh” nhà ta về đục tử thương tùm lum…

– Đùa anh chơi chớ qua hôm sau tôi nghe liền cú đột kích ngoạn mục đó!

– Nói nho nhỏ, mày rống cái họng? Sao hay vậy?

– Thì trên đường đi trả tiền, tôi bị một tốp bộ đội chặn lại ở Liên Khương, cho biết tình hình Damer, tôi phải trở lui.

Anh Đẩu trố mắt:

– May thiệt! Nếu Vân vô thì mất cha nó gói bạc rồi.

– Sao mất?

Anh Đẩu thở phào:

– Con người từng chỉ huy đánh giặc lại hỏi nghe thất cười. Tao nói sáng bữa đó, công an bộ đội đầy hết, mặt thằng nào cũng đằng đằng sát khí. Nếu sớn sác Vân đút đầu vào với bị tiền thì…, anh cười hì hì, người lẫn của chắc đã khoán trắng cho Bác Hồ rồi. Trời ơi, may quá! Họ đi đường đem có mười ký gạo mà chúng còn tịch thu, huống hồ 800 đồng, mua trên một tấn rưỡi gạo.

Đẩu cũng gốc lính, dân miền Tây. Sau 30/4/75, anh ngược đời dắt vợ lên Damer, một bản Thượng hóc hiểm này, để ẩn dật. Giống như tôi, vì thời thế đành lang bạt tới Phú Hội, gần R’chai, sinh sống. Tính anh vui vẻ, xề xòa, nhưng lại không hạp ý với thằng em vợ là Út.

Tôi cười:

– Nói giỡn chớ tôi ngu sao? Mạng tôi to thật, gặp đám bộ đội quen đón đường, mời vào uống cà phê, còn được bọn nó kể về tình hình “chiến sự” nóng hổi Damer, ngon không?

– Đêm đó anh run quá! Nghe tiếng lựu đạn nổ ình ình đầu tiên, anh và chị vội chun xuống gầm giường. Tiếp theo là các loại súng bắn liên tục. Run mà đã…

– Tưởng anh vội ra tiếp tay, làm nội ứng, trong lúc ngoại kích như vậy, anh lại nằm im re dưới gầm giường….

– Thôi mày, nói bậy tù cả đám bây giờ. À, thằng cha chủ tịch xã chết trước sân anh mới đau chớ. Chắc chả đang bò vô nhà, Phục Quốc rượt theo phơ nốt. Mẹ nó, hết chỗ gục, nhè ngay cửa ngõ gục, làm tụi nhỏ sợ ma tối không dám ra ngoài.

– Nghe nói có 12 người tử thương.

Đẩu lắc đầu:

– 12 là riêng mấy ông “cách mạng”, còn dân bốn nữa…

– Bị lạc đạn?

Anh Đẩu vừa thò tay vô túi lấy gói thuốc rê vừa nói:

– Đáng lẽ chỉ giết mình chủ nhà, vì ông hay báo cáo bậy, làm khó dễ bà con trong đội hợp tác xã nông nghiệp, nhưng đám cô hồn “tàn canh” quá mạnh tay, dùng nguyên một quả M72 chết ráo cả gia đình.

Tôi chọc anh Đẩu:

– Vì mạnh tay mới dừng nguyên quả, còn nhẹ thì theo anh nên bẻ đôi trái đạn bắn một nửa phải không?

– Vân sửa lưng anh nhiều rồi, giờ đem xì đế ra nhậu.

Dứt lời, anh đứng dậy lấy chai rượu nếp than đen thui trên kệ ván xuống. Thấy chai rượu tôi phát ớn và nghĩ bụng, đối ẩm với tay hũ chìm này, thì chỉ có chết tới bị thương thôi.

Tôi hỏi:

– Nhậu với món gì, anh Đẩu?

Anh đáp bằng giọng nhựa nhựa như đã say:

– Khỏi lo anh đãi ăn chim áo đà ram mặn, mới mua sáng nay 200 con, béo lắm? Mình lai rai rồi dùng cơm trưa luôn.

Nhắc đến món chim ram, tôi náo nức:

– Chà, 200 con, nhổ lông móc ruột bao giờ xong?

Đẩu không trả lời thẳng, quay hỏi xuống bếp:

– Xong chưa má sắp nhỏ?

– Anh mời chú Vân vào bàn lần đi!

Đẩu đắc ý cười khà khà rồi xề lưng cõng tôi:

– Nghe chưa bạn? Cho dù cả một “tiểu đoàn” chim đi nữa, chị Hai Đẩu nhà ta cũng bóp họng cái rét trong tích tắc.

Chị Hai háy anh:

– Thôi mà, chim thì nói là đàn, bày đặt tiểu đoàn, sư đoàn có ngày rắc rối.

Quả thật, chị đem tới một đĩa thịt thơm phức. Thịt con nào con nấy úc núc như hột mít, tươm mỡ vàng, rất bắt mồi. Anh Đẩu lấy chén đũa, rồi rót rượu ra hai ly.

– Mời Thy Vân!

– Mời ai nữa cho vui chứ? Nhậu mà thiếu tay cũng buồn.

Đẩu vừa lắc đầu vừa nâng ly rượu lên, tỏ ý mời tôi cụng:

– Ai đâu. Chỉ có một thằng Thượng hợp gu. Thằng rất tốt, chuyện gì nặng nhọc anh kêu nó. Còn nhậu, nó thuộc loại hũ chìm, uống chết bỏ. Nhưng bậy một cái gắp mồi không dùng đũa, nó cứ lấy tay bươi bốc. Thôi, để dịp khác.

Tôi nhìn vợ anh Đẩu loay hoay nơi bếp:

– Ngon quá, chị Hai? Chị bày tôi cách nhổ lông chim cho mau, chứ mấy trăm con nhỏ xíu vậy, ngồi vặt từng sợi lông, móc từng đùm ruột, bao giờ xong?

Chị cười, nụ cười hiền thục của người thiếu phụ Long An:

– Chú Vân không biết thiệt sao?

– Thiệt! Đến mùa gặt lúa mới có dịp ăn nó. Ăn thì nhiều lần, nhưng chưa thấy cách làm…

– Dễ! Khi mua, dĩ nhiên chim sống còn bay được, họ nhốt hàng trăm con vào bao cát. Để nguyên vậy nhúng nước lạnh ướt sơ rồi tưới nước sôi lên chung quanh phía ngoài vài lần. Hơi nóng làm lông bị tuột gốc, sẵn sàng rụng. Xong, lấy tay vò cái bao, động tác giống như mình giặt khăn, không những lông trụi lủi, phân cũng xịt ra hết, khỏi moi ruột. Chim áo đà chỉ ăn lúa, ruột ngắn, ít phân, như cá cơm hay tôm. Sau cùng, rửa sạch.

Khi bẫy loại chim này, mấy người thợ đem theo nhiều bao cát hay giỏ dày để chứa. Nếu đánh trúng thì cả ngàn con.

– Chắc họ đánh bằng lưới?

– Ừ, giăng lưới, họ dùng mấy cây sào tre chống lưới căng lên ngay vạt ruộng vừa thu hoạch. Nếu cần, rải thêm lúa chỗ bẫy để nhử, chim mau tụ lại.

Nghe kể thích thú, tôi hỏi đùa:

– Họ đánh chim như vậy, còn chị bẫy anh Đẩu cách nào?

-Ảnh bẫy tôi thì có?

Quay sang Đẩu, tôi cười khật khật:

– Anh chỉ tôi vài chiêu đi.

Miệng Đẩu nhóp nhép:

– Cứ lo hỏi, mày không nhậu gì hết. Nghe lời bả có ngày bán lúa giống. Lần đầu tiên tao đến nhà, bả liếc tao trước…

Chị Hai mủm mỉm:

– Ảnh tán gái giỏi lắm, chú Vân! Nhớ lúc mới quen nhau, ảnh dụ tôi: “Với hai bàn tay trắng anh sẽ tạo nên sự nghiệp”. Câu nói ảnh mượn ý của thi sĩ Quách Tấn hay Huỳnh Tấn gì đó Gs trường TH Võ Tánh Nha Trang đầu thập niên 60. Chú Vân biết không, sự nghiệp đâu chưa thấy, tôi chỉ thấy được vợ rồi là ảnh đi nhậu hoài.

Tôi có thêm một trận cười nữa. Chị vừa nói vừa dọn cơm lên bàn. Tôi ăn cầm hơi chứ bụng no cứng một đĩa thịt chim.

Xong bữa trưa, mặt trời đã ngả về hướng tây, và vì đường xa, tôi ngỏ ý kiếu từ.

Đẩu nói:

– Vân đem về chục ký gạo cho sắp nhỏ.

– Có lý ạ? Nó phù hợp lời tôi nói tụi bộ đội hôm nọ. Dưới 10 ký thôi, để các trạm kiểm soát khỏi tịch thu.

Anh Đẩu rút cái bao cát trên bồ lúa:

– Anh biết. Cái bao này cột túm miệng là đúng y chín ký, không thể tịch thu. Chúng ác lắm, phải bóp họng mới được. À, em gói lá chuối ít thịt chim đã ướp để Vân đem về chiên cho mấy đứa nhỏ ăn chiều…

Chị Hai mở tủ :

– Em đã soạn sẵn đây rồi. Chuối khô nữa.

Tôi cảm động:

– Anh chị chu đáo quá, cám ơn nhiều!

Đẩu mỉm cười:

– Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ mày, anh chị còn mang ơn Vân, không bao giờ trả nổi…

– Chuyện gì mà anh nâng tôi lên hàng ân nhân dữ vậy?

– Vụ máy xay lúa. Năm ngoái, nếu Vân không “biến hóa” tài tình thì công an huyện Đức Trọng đã xơi tái cái giàn máy anh bán cho cậu Út.

Anh nhắc tôi mới nhớ sự việc. Đầu năm 1976, đột nhiên công an tới xét nhà, và niêm phong cái máy xay lúa của Út, vì không có giấy chủ quyền, do Đẩu bán lại. Hôm đó, tình cờ tôi ghé Út R’chai chơi, thấy tên Cẩn, trung úy, đang ngồi lập biên bản, Út thì khúm núm đứng bên cạnh. Sẵn mang chứng sốt kinh niên, Út phát run lập cập, trông tội nghiệp.

Trung úy Cẩn nói:

– Các thứ máy móc lớn, loại sản xuất, không có giấy chủ quyền đăng ký, nhà nước phải quản lý.

Lợi dụng quen biết từ lúc nhà tôi bị mất cướp và xin Út cả chục ký gạo cho Cẩn, tôi xen vào, nói như thật, cốt để hắn ta nghe:

– Có giấy tờ đàng hoàng sao không? Út quên à? Hôm bán máy, anh Đẩu nói là chừng nào Út trả hết tiền ảnh mới giao giấy chủ quyền. Nếu Út bệnh không đi được để mai tôi vào Damer lấy giấy cho, chứ giờ tháo gỡ cái máy chở lên huyện, phải đập phá nền xi măng, rồi họ lại trả về, nó nặng cả tấn, chắc hư hết. Khách hàng Thượng sẽ làm reo nữa, vì hai thôn R’chai và Jirong Tambor chỉ nhờ có cái máy xay lúa này.

Biết tôi bạo phổi nói bừa để cứu vãn tình thế, Út há mồm nhìn tôi, còn Cẩn công an thì tin rôm tốp:

– Vâng, anh Vân giúp Út chút, nếu không, kẹt lắm!

Chợt nhớ tới một câu tuyên truyền của chúng vẽ trên các vách tường ngoài phố, tôi khai thác:

– Cách mạng có nói rằng “Bắt cũng được, không bắt cũng được, thì nên tha”. Anh Cẩn thấy rõ vấn đề, sao không tha?

Cẩn đứng dậy:

– Biên bản sẽ sửa đúng, nếu mai anh đem giấy chủ quyền lên huyện đưa tôi xem.

Tôi phân bua:

– Đường vào Damer quá xa, xin anh cho trễ đôi ngày, và đích thân Út gặp anh.

– Ừ, anh Út!

Dứt lời, Cẩn cùng đồng bọn kéo nhau ra xe. Út vẫn chưa hoàn hồn, mặt bị xị:

– Anh hứa vậy, giờ sao? Anh Đẩu làm gì có biên lai?

– Sáng mai tụi mình đi Đà Lạt gấp, tới một người chuyên làm giấy giả. Khai sanh, hôn thú còn được, nhằm nhò gì cái biên lai, chủ quyền, chỉ trả đôi ba đồng tiền công là xong.

– Ông Cẩn có biết giấy dởm không?

– Mấy thằng mọi rú trong rừng ra, biết mốc gì? Còn Cẩn, chữ nghĩa lem nhem. Hắn đã thành thật kể hồi nhỏ hắn đang chăn trâu bị Việt Cộng bắt đi theo, nên dốt đến bây giờ. Vả lại, Cẩn cảm tình mình, nhờ Út cho gạo, không nhớ à? Hồi nãy ông Cẩn do dự, tỏ vẻ dễ dãi. Tôi biết tẩy quân này lắm! Chúng luôn hù dọa để ăn hối lộ, ông Cẩn cũng vậy thôi. Đôi khi mình cương lên thì nó sợ. Tôi có nói Út nghe vụ cơ quan kiều lộ Đức Trọng đòi tịch thu chiếc Honda ba bánh của tôi ngày tái đăng ký, vì xe chỉ có số sườn, không có số máy. Tôi giải thích loại 72 phân khối, hồi xưa Mỹ du nhập, tôi mua lại để biến cải thêm một bánh nữa cho người cụt chân sử dụng. Họ không chịu. Tức quá, tôi nói thẳng với tên trưởng phòng, nguyên là kỹ sư công chánh Đà Lạt trước năm 1975 được lưu dụng: “Anh ở miền Nam phải rõ tình trạng các xe gắn máy hai bánh như loại 72 thế này không bán trên thị trường chứ! Muốn tịch thu cứ tịch thu, tôi lết về!”. Nghe tôi hét, bọn cách mạng 30, trở cờ tiếp tay giặc, vội gật đầu chịu làm. Sau một tháng tôi đến công an huyện nhận thẻ chủ quyền xe, họ trao một mảnh giấy bằng bàn tay, có in thêm một hàng chữ đỏ to chính giữa rất mọi rợ: “Cấm bán và cho tặng”. Út yên trí…

Quả thật, Út thoát nạn. Tờ giấy biên lai giả cũng cũ rích ra phết, thích hợp với thời gian, xuất xứ từ mẫu in của một cửa tiệm chuyên bán nông cụ tại Sài Gòn, mà chủ đã cao xa bay chạy đâu những ngày giặc vào tháng 4/1975.

Chuyện nhỏ, “ba cái lẻ tẻ”, anh Đẩu cũng nhập tâm, nhớ ơn. Anh đưa tôi ra xe và cột chặt giỏ đồ ăn gồm bao gạo với gói thịt chim áo đà phía sau khung sắt. Tôi nổ máy dưới nắng chiều vàng hực. Trước mắt, tôi sẽ băng qua một đoạn đường dài quanh co, lốc chốc những gốc cây đen thui sau nhiều năm mà vẫn còn nguyên, như những bóng ma luôn luôn chập chờn rình rập…

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 11

Vinh Sơn Chiến Sử

Mấy đứa con vừa đi học, tôi định ra sau cắt mớ ngọn lang cho heo thì nghe có tiếng động ở cửa trước. Một bà trong hội phụ nữ, tuổi khoảng 50, xăm xăm bước vào, đứng ngó quanh trong nhà một vòng dò xét, nghe ngóng động tĩnh, rồi khuôn mặt bà đanh lại, hất hàm:

– Này, tôi hỏi ông, cớ sao ông mắng cả hội trường người ta đang họp là đồ chó? Có ai la chó mà kêu bằng “đồ”, hả?

Mới sáng sớm tôi bị bà giũa một hơi. Tôi kịp nhớ chuyện xảy ra hôm qua khi tôi đến ủy ban xã Phú Hội xin xác nhận chiếc Honda tôi đang chạy đã được biến cải thành ba bánh để người cụt hai chân như tôi sử dụng từ trước 1975, nay cơ quan kiều lộ huyện nói sửa đổi như vậy sái luật, không cho đăng ký cấp thẻ chủ quyền mới. Khi vào ủy ban nhằm lúc có buổi đại hội phụ nữ, treo rợp cờ xí, biểu ngữ đỏ lòm, tôi quay ra, thì con chó vện của tên bí thư Bắc kỳ từ trong hốc xó nào đó rượt theo sủa ỏm tỏi. Nó thật dữ, vừa nhe răng vừa sấn cái mõm tới muốn táp bắp đùi tôi. Tôi vờ hoảng hốt la to:

– Chó? Đồ chó! Tao đập chết cha mày bây giờ!

Xong, tôi tống ga chạy, vì máy cũ bạc lỏng, chiếc Honda nổ chát chúa, ống bô phun khói đen xì vào tuốt phòng hội.

Nay bà Hội trưởng Phụ Nữ đến gây sự. Tôi nói:

– À tôi la chó, mà bà bảo tôi chửi họ? Sao lại nhân cách hóa chó lên hàng người vậy?

– Tức quá! Thấy ông đơn chiếc tôi nói cho nghe để dè dặt, phòng thân, ông cứ ngang ngạnh, vặn vẹo, thì khổ thôi! Hôm qua có các cán bộ tỉnh huyện về dự, ai cũng nhăn mặt. Liệu hồn la chó kiểu xách mé đó!

– Được, tôi xin chừa, từ rày không dám mắng chó nữa. Cái giống ngu, phản chủ, thây kệ nó…

Tôi chưa dứt lời, bà đã khoát tay, lắc đầu:

– Thôi, thôi, tôi xin kiếu! ông mắng luôn tôi rồi?

Nói xong, người phụ nữ “cách mạng 30″ quây quẩy bước ra khỏi cửa. Tôi cười thầm:” Dốt đặc cán mai, bày đặt giắt cây viết Bic nơi túi áo bà ba, tới hù “. Vừa lúc một anh bộ đội quen mặt, mang bên hông khẩu AK, ghé chơi. Anh chào tôi, rồi hỏi:

– Chuyện gì mà trông bà ấy hầm hầm thế?

– Bà tới dạy khôn tôi đủ điều. Xin lỗi, anh tên gì tôi chưa được biết?

– Cháu tên Thành. Tối hôm nọ cháu có đến nghe chú kể về cuộc hành quân Lào đấy! Bà ấy làm chức gì nhỉ?

Tôi vừa ngả lưng xuống đầu giường vừa đáp:

– Hội trưởng phụ nữ Phú Hội. Ai cũng ngán, bà hay kiếm cớ làm khó dễ những người chân lấm tay bùn, nhất là vợ con các sĩ quan chế độ cũ đang bị tù. Ngày xưa bà cũng là nông dân, nay đổi đời đâm lối.

Bộ đội Thành ngồi xuống tấm phản:

– Ngoài Bắc cũng thế, chú ơi! Bố cháu kể, họ tố những ai có nhà to cửa rộng, ruộng vườn. Nội cháu chết vì tội địa chủ là do thứ xoi mói ấy. Bố thù lắm!..

Sự việc xảy ra lâu rồi, thuở còn tấm bé, nay nhắc lại, mặt Thành vẫn tái mét căm phẫn. Tôi khai thác ý nghĩ của người bộ đội trẻ đang cầm súng bên hàng ngũ đối phương:

– Thành bực mình nói vậy, chứ phong trào cách mạng nào mới nổi lên không dẹp cường hào ác bá?

– Cách mạng mẹ gì ? Chúng muốn cướp của ai cứ việc gán cho họ cường hào ác bá. Bố cháu chửi mãi thôi. Ngày cháu không chịu đi B, bố bảo: “Chuyện ông nội để đó bố lo, phận làm trai con nên chấp hành”. Thú thật chú Vân, nếu quân đội xưa của chú trở lại thì 70 phần trăm bọn cháu theo ngay.

Nghe Thành nói tôi sững sốt. Tôi không biết anh dựa vào đâu đưa tỉ lệ 70 phần trăm bộ đội Cộng Sản Bắc Việt có tư tưởng “phản động”, gặp cơ hội là sẵn sàng quay súng bắn lại. Cái chế độ điên khùng này có lắm kẻ thù truyền kiếp, không những bên ngoài, ngay trong nội bộ của chúng. Chắc Bắc Bộ Phủ đã phóng lao theo lao, lỡ độc tài thì độc tài luôn, không thể thay đổi, thay đổi ắt phải chết. Tính gian manh của người Cộng Sản đã trở thành bản chất, một thứ độc hại sẽ di truyền đến đời con đời cháu, một loại siêu vi trùng nguy hiểm nhất đối với nhân loại.

Tuy tin lời Thành, tôi vẫn lái sang chuyện khác:

– Hôm tối tôi nói chơi về cuộc hành quân Lào, các anh ấy có phật ý không?

– Các ông thích. Chú thuật lại rất hay. Thủ trường Đường bảo chú thẳng thắn. Sau về anh em còn trò chuyện suốt đêm.

– Tôi cứ ngại là đã dùng các từ như “kẻ thù”, “địch quân” và “anh hùng Biệt Động”…

– Chú Vân có nói trước mà ! Ngay trong C7 nhiều anh mỗi lần phẫn nộ cũng chửi thẳng mặt nhau như tát nước…

– Bộ đội Bình hay bắt bẻ tôi.

Thành quơ tay:

– Đừng ngại cái ông ưa bắt bẻ ấy, lúc nào ông cũng muốn chuồn về Bắc thôi…

Đột nhiên Thành hạ giọng hỏi:

– À chú Vân nghe gì chưa?

Thấy tôi lắc đầu, anh nói:

– Sài Gòn vừa có chuyện lộn xộn. Một số lính thuộc chế độ cũ còn tại đào, cả Cha đạo tham gia nữa, mưu toan lật đổ chính phủ cách mạng bằng vũ lực, bị phát giác bắn chết ngay tại nhà thờ.

Tôi ngạc nhiên:

– Vậy sao? Tại nhà thờ nào?

– Vinh Sơn, Sài Gòn!

Tôi không giấu được nỗi xúc động. Nguồn tin có thể chính xác, tôi dè dặt nói với Thành:

– Bây giờ mà đề cập tới sự đấu tranh, chết chóc, tôi ngán lắm! Công an phát giác hay nhỉ?

Ông bạn trẻ nghiêm nghị:

– Chú không biết đấy, từ năm ngoái đến nay có nhiều tổ chức phản động thành lập, cái này vỡ cái khác ra đời. Chung quanh chúng mình đây tàn quân vẫn còn lẩn quất trong rừng. Họ rải truyền đơn báo trước sẽ quấy phá lung tung, nên bọn cháu có lệnh luôn luôn đề cao cảnh giác. Hôm trước tết, đại đội C7 bắt được một anh mang 5.000 đồng (6) lên nuôi quân trên này.

– Bắt ở đâu?

– R’chai.

Tôi trố mắt nhìn Thành:

– R’chai kế đây à? Chắc người đó buôn bán với Thượng chứ gì?

– Không, bắt anh ta lúc ngồi trên chiếc xe đò Sài Gòn-Đà Lạt. Trước đấy công an huyện Đức Trọng cho điềm chỉ viên giả dạng bộ đội cùng C7 chặn hết các xe chạy lên từ hướng Bảo Lộc. Rồi một anh lộ mặt bị mời xuống. Lúc đầu anh ta chống cự, bảo đi đường có giấy thông hành tại sao bắt nhưng anh vẫn bị giải giao về huyện. Chắc công an khai thác đánh dữ lắm, chú Vân!

Tôi lắc đầu:

– Cách mạng đâu có tàn nhẫn.

Thành chu miệng:

-Úi giời, chú thật thà thế? Hôm nọ cháu vào chơi ở thôn Lam Sơn, phía sau nhà chú, gặp một thanh niên Nùng da đầu bị phỏng, tóc cháy cả. Hỏi mới biết công an tưới xăng đốt tra khảo về trái lựu đạn nằm dưới ao nước sau hè. Họ cho rằng anh cất giấu vũ khí để đánh phá cách mạng…

Thành đang nói thì có chiếc xe Lam chở khách đỗ ngoài đường và tiếng chân người đi vào:

– Vân?

Tôi nhìn ra thấy Thành Đà Lạt, lưng đeo ba lô, bên hông kẹp một bao cát cột túm miệng, chắc là gạo, đứng tần ngần giữa cửa.

Mừng quá tôi kêu to:

– Anh Thành!

Thành để ba lô trên góc phản:

– Tụi nhỏ đâu hết?

– Đi học rồi. Làm gì mà sáu tháng nay mới xuống? À, xin giới thiệu chú Thành bộ đội đây là bạn tôi, cũng tên Thành, nhà Đà Lạt.

Đang lúc nhị Thành bắt tay nhau, tôi vỗ vai ông Đà Lạt:

– Tự nhiên nghe? Thành thuộc Đại đội C7, Sư đoàn 304, đóng quân trên xóm R’chai. Sao, bác Sáu khỏe không? Lâu ghê, tôi chưa lên thăm…

Thành có vẻ bực bội. Chắc vì sự hiện diện của người lính Bắc Việt anh không thích. Anh ngước nhìn vu vơ lên tấm lịch treo trên vách:

– Khỏe. Tối qua ông già nằng nặc bảo hôm nay tôi phải đi thăm, coi thử Vân còn sống hay đã chết.

Tôi cười:

– Tôi cứ ngóng ngóng Thành hoài.

Biết bạn bè lâu ngày gặp lại, cần chút riêng tư, Thành C7 đứng dậy:

– Cháu xin phép về, chú Vân!

– Ở chơi chút đã .

– Còn đi công tác nữa, chú !

Tôi tiễn Thành bộ đội đến cửa. Thành Đà Lạt bước theo, đứng đưa mắt lên hướng R’chai:

– Vân chơi với “thứ” đó, hả?

Tôi đáp:

– Đừng ngại, tụi C7 của 304 tốt lắm, riêng thằng Thành là cháu nội của một địa chủ bị giết thời Cải Cách Ruộng Đất…

– Chắc hai hàm răng đã mòn hết, không nghiến nữa? Kẻ thù, mà nói chúng tốt?

– Tùy người. Có một số công khai tỏ thái độ bất mãn cấp lãnh đạo tụi nó, Trung úy Đại đội trưởng Nguyễn văn Đường cũng vậy, tuy không quá lộ liễu. Điều lạ là ngày xưa Đại đội 1 Biệt Động Quân của tôi từng chạm súng kịch liệt với Đại đội C7 này tại Quảng Trị, chỗ đoạn đường mà về sau người ta gọi: “Đại Lộ Kinh Hoàng”. Lần khác, trong rừng núi phía tây bắc Huế, 1972. Hai lần tôi đều tấn công trước. Khi nghe kể lại các trận đánh, họ đã không tự ái, còn vui vẻ, nể phục minh. Bọn chịu chơi thiệt!

– Nguy hiểm! Quên giai thoại giữa Đặng Trần Thường và Ngô Thời Nhiệm à?…

Thành cằn nhằn xong, móc trong ba lô ra để trên bàn nào thịt heo muối, cá khô, nào cặp đường bát, hộp bánh ngọt và bịch thuốc rê, giấy quyến…

– Ba bảo mua thêm nhưng tôi sợ các trạm kiểm soát công an thuế vụ, nhất là ngã ba Finom, tịch thu nên đem chừng đó. Còn 10 ký gạo thì mua tại Tùng Nghĩa đây… Chết cha, quên xách năm lít dầu lửa theo. Ba ổng hối quá làm quên hết trọi. Với lại, mãi nói chuyện về Vân suốt đêm, ý ông khuyên nên dè dặt lời ăn tiếng nói, trong tay giặc mà Vân cứ như là còn thuở tung hoành. À, ba cho Vân 10 đồng, để trên kệ ván kìa, nhớ mua bánh cho tụi nhỏ.

– Cám ơn bác Sáu và Thành. Kỳ “tiếp tế” này đúng lúc…

– Chuyện nhỏ. Bây giờ hai đứa xuống nấu cơm. Ăn xong mình vọt lên Tùng Nghĩa uống cà phê, tiện thể ghé qua thăm thằng bạn Nùng ở Lam Sơn. Vân soạn nồi niêu xoong chảo… Ồ, có ai gõ cửa, Vân ơi!…

Tôi lăn xe tới trước:

– Chào bác Mai?

– Ông Vân khỏe không? Bé Thảo đâu?

Thiếu tá Mai, Trung đoàn trướng của Sư 304, vừa hỏi vừa bước vào ngồi xuống phản.

– Dạ, các cháu đi học chưa về.

Thành nhà dưới lên khẽ gật đầu chào người khách. Thiếu tá Mai nhếch môi cười:

– Anh bà con với ông Vân?

– Tôi là bạn học.

– Có đi lính chế độ cũ không nhỉ?

Thành không một chút ấp úng đáp:

– Dạ không. Tôi giáo viên dạy tiểu học, trường Tây Hồ, ở Đà Nẵng, được miễn nhập ngũ.

Chỉ vài câu đối đáp xã giao, Thành quá điêu luyện, trả lời xạo mà rất ăn khớp, chứ Thành có bao giờ dạy học dạy hành gì ở quê tôi đâu, nên tôi sợ ông Mai chánh gốc người Nam Ô Liên Chiểu, chỉ cách Đà Nẵng 20 cây số, quay riết một hồi Thành bể mánh hết. Tôi xen ngang nói phả lả:

– Bác Mai quê Quảng Nam đó Thành. À bác Mai, vừa rồi C7 bắt được một anh phản động Sài Gòn lên…

Mai buột miệng:

– Nó vọt rồi!

– Sao vọt?

– Các ông công an huyện Đức Trọng làm ăn thế nào đấy, để nó sổng mất.

Che đậy một niềm vui, tôi lại đánh trống lảng:

– Chiếc Jeep bác đậu ngoài đường, phải không?

– Quên nhỉ. Thôi, ra lấy quà cho bé Thảo, rồi tôi về luôn.

Tôi lăn xe theo. Thấy anh bộ đội tài xế ngồi trước tay lái, tôi vờ hối tiếc:

– Ồ, nãy giờ bác Mai không nói để mời chú vô nhà chơi.

Ông Mai lên xe, chồm lui phía sau lấy bọc giấy:

– Bánh in của bọn nhỏ này.

Tôi vừa đưa tay cầm gói quà vừa cười:

– Cảm ơn? Còn bố chúng nó món nào đâu?

– Bố chúng nó thì có cái roi! Thôi đi nhé!

Tôi gật đầu, quay vô nhà. Thành đứng nơi cửa:

– Tụi này coi vậy mà dễ thở.

– Tôi đã nói mà! Không rõ các sư đoàn khác sao chứ “ba linh tư” được lắm! Nói chung bọn chính quy CSBV có nhiều điểm giống các binh chủng lớn của mình, ngoài chiến trường đánh nhau chết bỏ rồi thôi, không sinh sự hay bắt bẻ chính trị nhỏ mọn. Thành biết không, nhà tôi thì ở cuối thôn, đơn độc, buồn, nhưng có cái lợi ngoài tầm kiểm soát của công an, du kích về đêm. Chính C7 cho biết từ cây cầu đúc dưới dốc, bên trái mặt nhà, trở vào R’chai đến Đại Ninh thuộc lãnh nhiệm của bộ đội đi tuần tiểu. Mấy thằng nhóc xã bén mảng tới, C7 nó bắn bỏ mẹ.

Nghe người ta nói, năm kia lúc tôi chưa về ở đây, trời mới sẩm tối một sĩ quan Sư đoàn 304 chạy Honda ngang thác Gu-ga bị “tàn quân” núp bắn sẻ một phát chết toi. Thì ra, phe ta bắt chước chơi ngón “cắc cừ’ của các anh ba Việt Cộng ngày xưa. Từ đó vùng thác Gu-ga tăng thêm vẻ rùng rợn, ai đi qua cũng ngán. Hèn gì, khi thấy tôi đến cất nhà ở, làng trên xóm dưới bàn tán ông Vân lì đòn, dám cả gan chơi với ma, liên hệ “tàn quân”. Họ đâu biết mình đã cùng đường thì như “thằng điếc không sợ súng”.

Có lần tôi vào Tân Hội, một xã kinh tế mới, phía tây cách thôn R’chai một cây số, để mua rau lang về trồng nuôi heo. Thấy tôi, người chủ vườn tên Tám niềm nở đón tiếp. Ông sai con cắt cho một mớ không lấy tiền. Thoạt đầu, tôi tướng ông có lòng tốt với người thương phế binh chế độ cũ như tôi. Bất ngờ, bằng giọng tức tưởi ông nói:

– Nhà tôi nghèo, bổn mạng chỉ còn một cái máy cưa cây hiệu Mi-cô-lốc, cũng bị Nguyễn Núi bí thư xã tịch thu. Hắn bảo các loại máy dùng sản xuất phải quốc hữu hóa, tư nhân không được làm chủ. Tôi bỏ tiền ra mua cái cưa mà hắn bảo phải để nhà nước làm chủ. Lạ đời không? Chú Vân hãy cho tôi giết hắn, chú chỉ gật đầu thôi, khỏi cần văn thư án lệnh, tốn giấy tốn mực của Phục Quốc…

Ông nói như thiệt, càng nghe tôi càng run. Tôi nghĩ trong bụng người bị giết sẽ là tôi, chứ chẳng thằng Núi thằng non nào hết. Núi Bắc kỳ, bí thư xã Tân Hội, Đức Trọng, ai không biết hắn là hung thần vùng kinh tế này. Đã một lần bắt được một tàn quân, Núi trói cứng con người ta vào trụ cờ cho muỗi đốt suốt đêm đến xỉu luôn trước khi đưa tòa án nhân dân xử bắn Tôi hả họng nhìn ông già lẩm cẩm:

– Chết, ông Tám ơi, ông nói chuyện với ai vậy? Tai vách mạch rừng, tù cả đám bây giờ. Tôi là cái thứ gì, gật đầu một cái ông thần Núi đi đoong? Tôi xin phép về.

Tôi lết ra xe, ông còn theo hầm hừ:

– Thằng bí thư ác ôn thường xuống đây họp khuya lắm, tôi xán cho hắn một nhát cuốc là xong ngay…

Tôi lật đật leo lên Honda nổ máy tống ga chạy một mạch.

Thành Đà Lạt ôm bụng cười nhạo tôi:

– Oai! Vân bỗng nhiên có quyền “Tiền trảm hậu tấu”. À, hồi nãy Vân có đề cập tới người “phản động” Sài Gòn lên bị bắt và ông Mai nói anh ta đã “sổng” rồi, ai vậy?

– Ừ, tôi cố ý gợi lại sự việc để Thành nghe ông Mai nói về một tổ chức phục quốc Sài Gòn, mới bể hôm nào đó Thành. C7 cho biết có người chết và bị thương tại nhà thờ Vinh Sơn.

Thành đổi sắc mặt. Hai thằng xuống bếp tiếp tục nấu cơm trưa, kho một xoong cá khô cùng thịt heo muối . Đang lúc anh vo gạo, tôi vừa thổi lửa vừa kể vụ cô gái “tóc ngắn” liên hệ nhóm kháng Cộng của ông Phong, nguyên Tiểu đoàn trưởng 304 Địa Phương Quân, đơn vị cũ của Thành phục vụ trước 75 và chuyện người mang 5,000 đồng bị C7 bắt tại R’Chai, tin cũng do Thành bộ đội rỉ tai.

Giọng Thành Đà Lạt cay đắng:

– Mấy tháng vừa qua không xuống Vân được vì tôi đi làm thủy lợi. Khi về mới hay tin vụ nhà thờ Vinh Sơn, chỉ nghe đại khái. Như vậy Vinh Sơn bại lộ là do người bị bắt khi đem tiền lên nuôi quân tạo thêm cơ sở trên này. Chắc ảnh hưởng tới Linh Mục Nguyễn Văn Vàng. Nguy to! Cha đại diện “Hội Đồng Liên Minh Các Tôn Giáo” của các tổ chức phục quốc.

Cơm xong, Thành vội đón xe về Đà Lạt trong ngày.

Tạm biệt

Post by Sơn râu 27 Aug 2024

Photo by Sơn râu

Cùng tất cả bạn đọc, xin được thứ lỗi vì râu tôi có việc riêng phải tạm ngưng bài vỡ trong một thời gian ngắn, có lẽ sau tháng 10 sẽ trở lại trang blog này cùng các bạn. Xin cứ tiếp tục đọc các bài đã có trên trang blog, có thắc mắc hoặc yêu cấu chi cứ ghi vào phần comment của trang blog. Thân mến.

Sơn râu

Đời ta rất tầm thường

Lâm Chương

Post by Sơn râu 26 Aug 2024

Ta ở nhà thuê. Nghèo. Thất nghiệp
ít bạn bè lui tới làm thân
lấy trà rượu một mình khuây khoả
dù không vui cũng tiếng cười khan.

Ta ốm yếu. Thường hay bệnh vặt
mưa nắng nhiều, sổ mũi ho hen
trời trở gió, đau xương thấp khớp
sức trói gà nên ngại bon chen.

Đêm ngủ muộn. Nhà un khói thuốc
mắt nhập nhoè chữ nghĩa. Đèn soi
bài thơ viết nửa chừng, cạn ý
vợ buồng trong ngái ngủ. Khuya rồi.

Mai thức dậy thấy mình vẫn thế
vẫn rong rêu, râu tóc bờm xờm
thân cũ quá dường như đóng bụi
trong cái vòng lẩn quẩn áo cơm.

Ta biết ta bất tài vô tướng
lại chây lười, lêu lổng rong chơi
tri thiên mệnh đâu cần năm chục
thuở đầu xanh ta đã biết rồi.

Cũng có lúc buồn tình ngẫm nghĩ
muốn vô chùa, cạo trọc, đi tu
nhưng còn tiếc cái mùi tục lụy
dứt không đành nên khó làm sư.

Người xưa lánh đời lên núi ẩn
ta lánh đời chẳng biết đi đâu
thôi, đóng cửa ngồi nhà uống rượu
túy ngoạ trên giường… quắc cần câu.

Chẳng lý chuyện yêu đời hay chán
sống tàng tàng nhưng cứ sống chơi
có kẻ chê rằng vô tích sự
lời thị phi ta bỏ ngoài tai.

Người quân tử ăn chẳng cầu no
ta phàm phu quen thói hàm hồ
lấy dĩ thực vi tiên làm trọng
và giữ lòng thanh thản nhàn cư.

Ai chí lớn bao đồng thiên hạ
ta trí cùn lo việc tu thân
không làm thiện cũng không làm ác
chỉ làm người đi đứng hai chân