“Loạn taxi” ở Tân Sơn Nhất

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

July 6th, 2024

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Tân Sơn Nhất từng mệnh danh là phi trường lớn thứ 2 khu vực Đông Nam Á, với thiết kế ban đầu 25 triệu hành khách/năm nhưng hiện đang đón khoảng 42 triệu hành khách/năm. Những dịp lễ, Tết, lúc đỉnh điểm có hơn 150,000 hành khách/ngày qua lại phi trường này. Hành khách đến/đi Tân Sơn Nhất bằng các phương tiện như xe cá nhân, xe công nghệ, taxi và xe buýt. Riêng taxi là phương tiện di chuyển nhanh và tiện lợi được nhiều người lựa chọn.

Tân Sơn Nhất luôn quá tải số lượt hành khách những ngày Lễ Tết   

Cũng tại Tân Sơn Nhất, ngay cửa ra của sảnh lớn phi trường có thể tìm thấy taxi của các hãng Mai Linh, Airport Taxi, Sài Gòn Taxi, Be, VinaSun… Hầu hết xe taxi này đều có đồng hồ hiển thị số km và số tiền. Tuy nhiên chúng chỉ hoạt động đến 22 giờ hàng ngày và cũng không bảo đảm luôn có xe và đây là kẽ hở để các loại taxi tự phát, tự gắn logo, không giấy phép kinh doanh, đồng hồ tính tiền thường bị tháo kẹp chì kể cả xe taxi “thật” nhưng cố tình chạy “dù”… mặc sức chen chân.

Giá cả tính theo … mặt khách hàng

Theo Cục Hàng Không Việt Nam, tình trạng xe taxi hoạt động loạn xạ đang diễn ra khá phức tạp tại Tân Sơn Nhất, gây mất an ninh trật tự, ảnh hưởng đến phẩm chất phục vụ tại phi trường cũng như quyền lợi hành khách nhưng nhiều năm qua vẫn tồn tại. Ông Nhân (ngụ Bình Tân) cho biết ông đáp chuyến bay từ Hà Nội vào Sài Gòn mất gần 2 giờ, nhưng để đón được taxi từ phi trường về nhà ông buộc phải chờ đợi với khoảng thời gian tương đương. Ông kể: “Ban đầu tôi đặt taxi Mai Linh, chờ lâu quá, tôi bèn chuyển qua đặt trên Be và VinaSun nhưng cũng không tài xế nào chịu nhận cuốc xe hoặc họ chủ động hủy bỏ với lý do kẹt xe. Thường, từ phi trường về nhà tôi khoảng 220 nghìn VNĐ tiền taxi, vậy mà hàng chục tài xế taxi đứng sẵn trong sảnh chờ của phi trường cứ hét giá 500 nghìn VNĐ sẽ có xe đi liền. Tôi không chịu, đành mang vác hành lý ra ngoài đường Trường Sơn đón taxi công cộng thì kết quả phải đợi thêm hơn tiếng đồng hồ mới có xe về nhà!”.

Một ngày giữa tháng 6/2024, trong vai một hành khách vừa xuống chuyến bay tại làn C đón taxi ở ga quốc nội Tân Sơn Nhất, tôi gặp một người tự xưng là nhân viên điều phối của hãng Cheap Taxi mời đi xe. Tôi giả vờ là người mới đến Sài Gòn lần đầu, không rành đường và nhìn thấy anh tài xế đã tắt đồng hồ tính tiền. Căn cứ theo Google Maps, quãng đường từ điểm đón taxi ga quốc nội về đến nhà một người quen ở Bình Thạnh là 13.2 Km. Theo bảng giá niêm yết của Cheap Taxi, giá mở cửa xe là 11 nghìn VNĐ, từ kilomet tiếp theo đến kilomet thứ 25 là 16.5 nghìn VNĐ. Như vậy với quãng đường di chuyển liên tục 13.2 km số tiền phải trả khoảng 220 nghìn VNĐ. Trong khi tài xế taxi đòi lấy theo giá cao hơn giá niêm yết 130 nghìn VNĐ

Hôm khác, vẫn trong vai một hành khách, tôi đặt xe taxi mang nhãn hiệu hãng SaigonTourist từ phi trường Tân Sơn Nhất về đường Hoàng Diệu, Thủ Đức. Trên đường đi đồng hồ tính tiền nhảy số loạn xạ, không nhìn rõ số kilomet và số tiền. Với quãng đường khoảng 23 kilomet, tài xế yêu cầu trả 490 nghìn VNĐ dù đồng hồ không nhìn rõ chữ số. Theo giá niêm yết dán trên xe là 16.5 nghìn VNĐ/km thì số tiền tôi phải trả khoảng 380 nghìn VNĐ nhưng tài xế nhất định đòi tính giá theo…đồng hồ. Tôi bèn dọa gọi điện thoại cho công an phường ở gần đó anh ta mới đồng ý nhận 390 nghìn VNĐ.

Hành khách luôn trong tình trạng căng thẳng khi có nhu cầu chờ đón taxi

Đủ chiêu trò… thổi giá!

Cũng ở Tân Sơn Nhất, không khó để mọi người nhìn thấy hình ảnh mỗi lần hành khách vừa “hạ cánh” và di chuyển ra sảnh đến cửa phi trường lại có rất nhiều tài xế taxi cứ xúm lại chèo kéo. Tiếp đó sẽ khá đen đủi cho những ai mang vác quá nhiều vali, hành lý bởi các tài xế taxi luôn hét giá gấp đôi với dạng khách này. Tìm hiểu cách thức chung để các tài xế bắt khách với giá đắt là họ thường lợi dụng việc nhiều người chưa cài App taxi công nghệ vào điện thoại cá nhân hoặc không rành đường Sài Gòn… Rồi hàng loạt lý do khác như lệ phí phi trường, lệ phí bãi đậu, lệ phí ra vào cổng, lệ phí cầu đường, lệ phí chiết khấu, quãng đường nhiều ổ gà, ổ trâu, thường xuyên ngập lụt là cách để họ bao biện khi khách hàng thắc mắc giá cả. Không chỉ vậy, một số tài xế taxi còn cố ý lắp thêm công tắc phụ ở phía dưới cần số để “can thiệp” đồng hồ tính tiền, làm tăng giá cước đi xe của khách hoặc không chịu bật App lái xe trong suốt cuộc hành trình. Lý giải việc này, một tài xế taxi tôi có quen của hãng Xanh SM cho biết sau khi khách đồng ý lên xe, một số tài xế tự tắt App để đỡ tốn chi phí chiết khấu cho hãng rồi lấy số tiền ấy bù vào tiền xăng (?).

Trong khi đó, theo thông tin báo chí, nhằm đáp ứng nhu cầu lưu thông của người dân và góp phần bảo đảm trật tự an toàn giao thông, Sở Giao thông Vận tải (Sài Gòn) có nhiều lần đề nghị Cảng vụ Hàng không miền Nam, cảng Hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất kịp thời sắp xếp linh hoạt các loại chuyên chở hành khách, yêu cầu các hãng phải cung cấp đầy đủ số lượng taxi để tránh tình trạng khách phải chờ đợi quá lâu. Tuy “chỉ đạo” là vậy nhưng suốt nhiều năm qua tình trạng hành khách mòn mỏi chờ xe, taxi hoạt động bát nháo ở Tân Sơn Nhất vẫn diễn ra. Thật khó tưởng tượng tại cửa ngõ Sài Gòn vẫn còn cảnh nhiều hành khách khệ nệ kéo, mang vác hành lý vì không thể đón xe bên trong phi trường mà phải cuốc bộ một quãng đường khá xa đến đường Trường Sơn cách đó 700-800 mét với hy vọng tìm xe taxi khác với mức giá phù hợp. Tuy vậy ở bên ngoài hành khách cũng chưa chắc dễ dàng tìm được một xe taxi nào có giá cả minh bạch!

Nhiều hành khách phải cuốc bộ ra khỏi phi trường mong đón được taxi “giá mềm”

Bài và hình NS

Đồi 30 Hạ Lào

baotreonline.com

Trương Duy Hy

Trần Vũ post 30th November, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Photo edit by Sơn râu

Kỳ 4

Tác Xạ — Thiết Lập Căn Cứ Hỏa Lực 31 Và A–Lưới.

Trong lúc vừa làm vị trí, Pháo Đội lại phải thi hành tác xạ ngay. Ngoài việc yểm trợ cho Tiểu Đoàn 2 Dù đưa hai Đại Đội tiến chiếm ngọn đồi hướng Đông Nam cách căn cứ Hỏa Lực 30 khoảng 1500 thước, chúng tôi còn tác xạ 100 quả đạn nổ vào tọa độ XD 526-470 để dọn sạch cho BCH Lữ Đoàn 3 Dù thiết lập căn cứ Hỏa Lực 31.

…Bấy giờ vào khoảng 19g00, Đại Đội 321 trên đường tiến lên hướng Đông Nam, gặp ngay một toán nhỏ Việt Cộng án ngữ. Bọn chúng đánh rời rạc rồi bỏ chạy. Trời tối dần, vị Đại Đội trưởng của Đại Đội này gọi máy về xin BCH/TĐ2 Dù cho tạm dừng nghỉ mệt để sáng hôm sau sẽ tiến lên đồi. Nhưng Trung Tá Thạch hạ lệnh phải chiếm cho bằng được đỉnh đồi ngay trong đêm ấy. Thế là cả Đại Đội hì hà hì hục tiến lên.

Bị đột kích bất ngờ, Cộng quân trên đồi bỏ chạy. Đại Đội 321 lượm được một ít vũ khí không đáng kể. Nhưng khi lục soát hết ngọn đồi mới cảm thấy ê người! Ngay giữa cây cao cành lá rậm rạp, Cộng quân đang thiết lập một đài quan sát vững chắc, chằng bằng những dây cáp sắt to như ngón tay cái! Địa thế ở đây rất thuận lợi cho việc quan sát cả một vùng rộng lớn, nhứt là đỉnh đồi cao hơn căn cứ Hỏa Lực 30. Với viễn vọng kính tốt, chúng có thể đếm được từng người tại căn cứ Hỏa Lực 30, quan sát được cả căn cứ Hỏa Lực 31 và A Lưới!

Sự kiện này làm cho tôi thán phục Trung Tá Thạch về việc ước lượng địch tình nhanh chóng, giàu kinh nghiệm, thể hiện bằng quyết định khẩn cấp tối hậu khi ra lệnh cho Đại Đội thi hành lúc sẩm tối…

Suốt ngày 9-2-1971, 6 khẩu đại bác đều thi hành tác xạ. Các Tiền sát viên gọi máy xin bắn ơi ới! Nhất là Tiền sát viên 331, 332 của Tiểu Đoàn 3 Dù. Đôi khi mục tiêu chỉ cách vị trí chúng tôi không quá 5, 6 cây số, nhưng các Tiền sát viên cứ đòi cho bằng được chúng tôi bắn. Tôi phải đích thân vào máy liên lạc và giải thích: Tôi không tiếc đạn, cũng không tiếc công, nhưng với những mục tiêu ấy có tầm bắn gần, các bạn hãy xin PĐC3 Dù 105 ly bắn. Vì lẽ đạn của chúng tôi khá nặng, mỗi quả cỡ đến 45 ký. Nay phải bắn quá nhiều những mục tiêu gần như thế, thì mai đây, khi các bạn đi xa hơn, các Pháo thủ thấm mệt làm sao thỏa mãn hoàn toàn cho các bạn được. Tôi yêu cầu các bạn nghĩ cho điều đó mà xử dụng khả năng 105 ly.

Mặc dù tôi giải thích trên máy PCR-25 – hẳn nhiều nơi sẽ nghe – nhưng các Sĩ quan Tiền sát vẫn khư khư đòi hỏi:

– Chúng tôi biết các anh vất vả, nhưng tiếng nổ 155 ly cùng sức tàn phá của nó mới làm cho Việt Cộng khiếp sợ. Các anh bắn chính xác 100%, bọn tôi đở điều chỉnh. Các anh hãy giúp chúng tôi đi…

Thật là vinh dự cho Pháo Đội tôi! Tin rằng những lời đối đáp giữa chúng tôi qua máy vô tuyến chắc là không giấu được ai!

Khoảng 10g00 hơn, một toán nhỏ thuộc Tiểu Đòan 2 Dù lục soát ven căn cứ, tịch thu được một ba lô tài liệu, báo hiệu cho chúng tôi biết rằng địch đang theo dõi sát chúng tôi, dầu chúng tôi mới đến chưa quá 30 tiếng đồng hồ. Hoặc cũng có thể chúng tôi đã đóng vị trí ngay vùng địch đang tập trung.

Tôi ra lệnh cho binh sĩ phải cố gắng làm hầm vững chắc khi rỗi rảnh và bắt buộc phải mặc áo giáp, đội nón sắt suốt cả ngày.

Đến 17g00, Tiền sát viên 331 báo về, kết quả yểm trợ của chúng tôi lúc 16g45, anh em đã tiến vào mục tiêu ở Tây Bắc căn cứ 31 lục soát và thu được:

Photo edit by Sơn râu

– 12 súng cối 82 ly

– 3 mặt nạ chống hơi độc

– 2 bản đồ

– 5 tên chết tại chỗ.

Cả hai ngày qua, nước chưa được tiếp tế, số nước dự trữ ở mấy ống nạp buộc theo càng súng, giờ đây đã cạn ráo! Một số binh sĩ xuống đồi tìm nước, nhưng nước quá hiếm, vài vũng nhỏ cạn như lòng nón sắt phủ đầy lá mục, múc hết ca nước phải ngồi chờ cho nước rỉ ra. Mùi nước hôi hám khó chịu, lại đục ngầu! Chỉ trông qua đủ ngán! Suối thì quá xa, nếu muốn đến ít ra phải tốn 1 buổi.

Tôi khẩn cấp đánh điện về BCH/TĐ xin ưu tiên tiếp tế nước. Riêng lương khô 4 ngày mọi người đã nhận rồi, kèm theo đấy lúc ra đi, chúng tôi có mang theo 6 ngày thực phẩm tươi. Do đó việc ăn được điều hòa không có gì trở ngại. Duy có vấn đề nước uống – phải nói là một vấn đề đã làm cho tôi lo lắng nhất.

Với quân số 75 người kể cả tôi, mỗi ngày tiêu thụ tối thiểu một móc hậu nước! Chưa hết, còn phải tu bổ đại bác hàng buổi sáng và sau mỗi lần tác xạ, đòi hỏi một lượng nước không phải là ít, làm tôi điên cả đầu.

Tối lại, tôi đi quanh ven rào xem cách bố phòng của binh sĩ Tiểu Đoàn 2 Dù. Một lần nữa, tôi thầm thán phục cách tổ chức chiến đấu vô cùng chu đáo của binh chủng này. Hầu hết các hầm cá nhân, các công sự đều có mái che, dùng cây rừng có đường kính từ 20 phân tây hoặc lớn hơn làm đòn tay, bên trên phủ vài lớp bao đất và đổ đất dày hơn 50 phân.

Hỏi ra tôi mới biết, Tiểu Đoàn 2 Dù cũng như bất cứ Tiểu Đoàn Dù nào, họ đều có mang theo máy cưa, ít ra là 2 cái. Riêng cá nhân có người đem theo lưỡi cưa, đến nơi họ dùng cây căng ra, biến chế thành một cái cưa thật tốt để xử dụng hạ cây.

Bên ngoài công sự, hàng rào kẽm gai và concertina được trải dày. Mìn claymore tự động đặt xa bên ngoài concertina và sát nhau. Mìn định hướng claymore điều khiển đặt cách các công sự không quá 20 thước, ngụy trang rất khéo.

Với cách bố phòng như thế, tôi chắc mẫm Việt Cộng có là mình đồng da sắt tưởng cũng không thể nào đột kích được.

…Theo yêu cầu của Sĩ quan liên lạc Lữ Đoàn 3 Dù với danh hiệu 330, chúng tôi chia thời gian bắn quấy rối suốt đêm, tạo một vòng đai an ninh, an toàn cho hai Đại Đội 331 và 332 hoạt động bên ngoài căn cứ Hỏa Lực 31.

6g00 sáng ngày 10-2-71, tôi thức dậy xét lại việc làm của Đài Tác xạ. Một vài điều bất như ý đến với tôi, trong cơn nóng giận tôi đã đánh TS C… một tát tai, TS mà tôi thương yêu nhất Pháo Đội, đã có lần tôi phê điểm: “Hạ Sĩ quan có khả năng ngoại hạng rất tốt…”. Với tôi, dầu có giỏi mấy đi nữa, nhưng thiếu thiện chí làm việc trong lúc cần thiết cấp bách, hoặc làm chưa xong đã nghỉ, để dành giờ sau mới làm tiếp thì tôi không bao giờ tha thứ. Mọi nỗ lực của Pháo Đội lúc bấy giờ, tôi thường nhắc đi nhắc lại là chỉ dành cho tác xạ và tu bổ công sự chiến đấu cũng như hầm ngủ khẩu đội, nhân viên. Tôi chỉ đòi hỏi ở quân nhân thuộc quyền tôi có từng ấy điều, nếu ai vô tình hoặc hữu ý không thi hành đứng đắn, tôi trừng phạt tức khắc.

Với tôi, đời sống tinh thần binh sĩ cũng như vật chất, tôi lo liệu từng ly từng tí. Tôi đã hai lần thề trước Pháo Đội: một lần tại đồi 37 Đại Lộc, một lần tại vị trí chiếm đóng tạm thời gần Cam Lộ rằng: Nếu tôi có tham nhũng của lính một tơ hào, một hột gạo, tôi sẽ bị chết vì quả đạn pháo kích đầu tiên của địch bắn vào vị trí. Bởi vậy, tôi cương quyết không tha thứ cho bất cứ nhân viên nào trong Pháo Đội làm việc lơ là tắc trách. Nhất là đối với vấn đề gia đình binh sĩ, tôi đã luôn luôn đặt tâm lưu ý giúp đỡ, lúc thì tiền bạc, lúc thì phép tắc, lúc thì bàn ghế… đó là chưa kể đến tổ chức tại Pháo Đội mà chén bát, đũa dĩa, ly tách của tôi và sĩ quan dùng thế nào thì binh sĩ dùng thế ấy.

Tôi tự tin, rất tự tin vào việc làm trong sạch của tôi để đổi lấy hiệu năng đáng kể của binh sĩ trong công tác do Pháo Đội giao phó. Đôi lúc tôi tự hãnh diện về việc làm của tôi, cho dù một số sĩ quan Tiểu Đoàn chế diễu tôi là “quân tử Tàu”…

Chỉ nội cái việc nóng tính của tôi sáng nay mà sau đó tôi hối hận cả buổi, tính tôi lại lắm mâu thuẩn đến thế!

Photo edit by Sơn râu

Để tránh bực bội, tôi bước ra khỏi Đài Tác Xạ đi quanh các khẩu, nhắc nhủ anh em tu bổ và thực hiện gấp nắp các hầm đạn, hầm nạp ven bìa súng.

Nhìn về phía BCH/TĐ2 Dù, chiếc xe ủi đất đã đào xong các hầm chỉ huy, hầm thuyết trình, bệnh xá… Tôi đến gặp Trung Tá Thạch xin xử dụng xe ủi đất làm ụ súng đào vài cái hầm đựng nạp và đạn cho Pháo Đội. Trung Tá Thạch thuận cho mượn, nhưng phải chờ sau khi công binh làm xong hầm cho Pháo Đội C/3 Dù của Trung Úy Trí. Tôi ra về với ý nghĩ “con nuôi” đành chịu vậy.

14g30, hơn 10 chiếc Chinook tiếp tế cho Pháo Đội 1000 quả đạn 155 ly, một móc hậu nước. Cùng lúc một mặt nhân viên phải tác xạ yểm trợ, một mặt lo tiếp đạn và nước, vất vã không thể tưởng tượng được.

Tại hậu cứ Khe Sanh, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng vào máy bắt tôi phải thu xếp với bất cứ giá nào để tất cả lưới và móc hậu nước cùng 6 dây câu súng gởi trả lại Khe Sanh trong chuyến tiếp tế cuối cùng trước 17g00. Nếu không, Trung Tá Phi (ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù) sẽ đề nghị cho tôi ở lại Lào 6 tháng chiến đấu, không phép tắc gì ráo! Tôi bực mình hết sức! Tôi thầm nghĩ: Hóa ra ở BCH hành quân chẳng có ai hiểu nỗi khó khăn, vất vã của kẻ đang chiến đấu ngoài tiền tuyến. Đối với Pháo Đội 105 ly Dù, nếu họ có tiếp nhận 20 kiện hàng, chỉ trong vòng 1, 2 tiếng đồng hồ sau, họ có thể dọn sạch bãi đáp. Chứ với Pháo Đội 155 ly của tôi, mỗi quả đạn nặng không dưới 43 ký, lại được kết 8 quả trên cùng một palette, niền bằng thép! Không có xe Wrecker bốc hàng thì làm sao có thể rở hết với một thời gian ngắn thế được.

Tôi ngao ngán nhìn đống đạn, nạp, lắc đầu! Thiếu Úy Thiện, Toại cùng TSI Lục được đặc trách về vấn đề này hì hục đốc thúc anh em công tác.

Lại thêm một khó khăn nữa là đạn, nạp, đầu nổ, hỏa tiêu chẳng bao giờ được tương ứng. Phải mất một thời gian kiểm kê mới có được con số chính xác để báo cáo. Ấy vậy mà Chinook chưa kịp thả đạn xuống bãi đáp đã nghe BCH/TĐ3 PB Dù đóng tại căn cứ Hỏa Lực 31 và BCH/TĐ gọi tôi đi báo cáo số lượng tiếp nhận ngay.

Nhờ nỗ lực tối đa, từ 14g30 đến 17g00, nhân viên Pháo Đội lặn ngụp trong bụi mù do Chinook khuấy lên, chúng tôi hoàn tất thu góp từng đống lưới, buộc chặt lại để nhờ chuyến Chinook cuối cùng câu về. Nhưng phi công trên chuyến Chinook thích thì làm, không thích thì thôi. Họ chỉ câu móc hậu nước còn lưới đạn lại lơ đi! — Dù lúc bấy giờ Thiếu Úy Thiện dang tay ra thủ hiệu cho chúng móc lên, song không được chúng đáp lại, vù vù bay về hướng Đông Nam!

Photo edit by Sơn râu

Trở lại BCH/TĐ2 Dù than phiền với Trung Tá Thạch, Trung Tá cũng tỏ ý bất bình vì hậu cứ không có “Quan sát viên” tại chỗ để thông cảm nỗi khó khăn của chúng tôi!

…Nghe chúng tôi vừa nhận thêm đạn, thôi thì các Tiền sát viên xin tác xạ! Đã mệt vì công việc vừa làm, bây giờ lại phải bắn, chẳng rảnh được tí nào. Tôi khích lệ anh em bằng những lời giải thích chân thành và phân phối thêm trái cây, lương khô cho anh em ăn “khuya”. Thật tình tất cả chúng tôi, mọi người như một đều chấp nhận những nỗi gian khổ đó, tích cực tác xạ trong niềm vui hãnh diện vì những lời khen ngợi của Tiền sát viên về hiệu quả chính xác của đại bác, đạn Pháo Binh.

Rạng ngày 11-02-1971, từ 6g00 chúng tôi đã nhận được điện văn của Sĩ quan liên lạc 330 gởi về, trong đó yêu cầu chúng tôi sẵn sàng yếu tố tác xạ T.O.T. (1) vào tọa độ XD 510-500 khi có lệnh. [(1) T.O.T. viết tắt chữ “Time On Target” – Tác xạ này được các Pháo đội, các Trung đội Pháo binh tính kỹ về thời đạo, thời cổ (nếu có) để đưa quả đạn đến nổ tại mục tiêu cùng một lúc].

Thiếu Úy Ngân đặc trách yếu tố, khẩn cấp bắt tay vào việc cùng TS Toại, Lương, Chất, HSI Bách, Vinh. Sở dĩ tôi chỉ thị Thiếu Úy Ngân chuyên trách về các điểm tập trung đã bắn, vì hàng trăm điểm tiên liệu thay đổi hàng buổi rất khó khăn dễ nhầm lẫn.

Đúng 8g30 Pháo Đội bắt đầu khai hỏa. Hàng loạt đạn bay vào mục tiêu, tiếng nổ rền cả một vùng, bụi đất tung lên quyện theo các cột khói cao, lan rộng ra dần… Từ vị trí Pháo Đội có thể nhìn thấy bằng mắt trần, vì khoảng cách không quá 9 cây số. Sau khi bắn hết 50 quả đạn nổ, chúng tôi được lệnh ngưng tác xạ; tức khắc 2 Đại Đội Dù cùng với Tiền sát viên 331-332 nhào vào mục tiêu lục soát, và thu được một số quân dụng đáng kể: 1 B40, 1 dàn hỏa tiễn 122 ly, 14 súng cối 82 ly, 6 xe Molotova đầy nhóc tiếp liệu phẩm, 30 bao gạo.

10g30 chúng tôi quay 2 khẩu về hướng Đông Nam, yểm trợ cho Đại Đội 321 của Tiểu Đoàn 2 Dù nhích dần… nhích dần… sâu về hướng Nam lục soát. Kết quả thu được 2 súng phòng không của Cộng quân tại đây.

Chiều lại, chúng tôi tiếp tục nhận thêm 600 quả đạn, nạp và móc hậu nước. Số lưới, dây câu súng gởi trả về Khe Sanh ngay khi tiếp nhận móc hậu nước đầu tiên. Thật nhẹ cả người! Dầu vậy, cả 10 lưới đạn còn tại bãi đáp đã đặt chúng tôi trước một “vấn đề” mới!

May là hôm nay BCH/TĐ2 Dù chọn làm bãi đáp trực thăng về hướng Đông, cách vị trí Pháo Đội tôi khoảng 50-100 thước, chúng tôi tránh được nạn gió lốc do chong chóng của Chinook tạo ra.

Bãi đáp có chiều rộng 50 thước đó thật lý tưởng, chúng tôi không còn bị uy hiếp bởi bụi mù, đất, sỏi tràn ngập khắp vị trí nữa.

Sau bữa cơm tối, tôi đích thân thảo một công điện “lịch sử” — Tôi dùng chữ “lịch sử” với sự đồng ý của các Sĩ quan hiện diện tại hầm — gởi về BCH/TĐ44 PB với nội dung:

Trân trọng kính trình Quý BCH:

Thứ I: Việc yểm trợ cho các đơn vị bạn thu đạt nhiều kết quả tốt. Có nhiều uy tín với các đơn vị Dù. Sự chính xác đạt 100%. Tiền sát viên Dù không cần điều chỉnh tác xạ.

Thứ II: Vì kết quả đó nhiều mục tiêu không quá 5 cây số đối với Pháo Đội Tiền sát viên Dù không chịu xin 105 ly tác xạ mà đòi Pháo Đội (155 ly) tác xạ cho bằng được, Pháo Đội rất vất vả.

Thứ III: Pháo Đội thành thật cám ơn Thiếu Tá TĐT và các Sĩ quan Tham Mưu  đã lo cung cấp đầy đủ nhu cầu thiết yếu.

Thứ IV: Khẩn xin BCH đặc biệt lưu ý cung cấp thường xuyên mỗi ngày một móc hậu nước như đã thực hiện trong mấy ngày qua.

Hết.

 Theo nội dung công điện này, anh em Sĩ quan chúng tôi ngồi đấu láo mỗi người một ý:

Lân: Chắc Thiếu Tá và các Sĩ quan tham mưu không khỏi cười lời văn trong công điện!

Thiện: Đúng là công điện “lịch sử” tự “ca” mình rồi cuối cùng chỉ xin có mỗi một đặc ân “nước uống”! Khôi hài là ở chỗ đó.

Ngân: Đại bàng có làm thế ở nhà mới biết mình cần nước như thế nào!

Toại cười mỉm chi, ít nói nên cũng không buồn phát biểu ý kiến.

Ngày 12-2-71 nhân xe ủi đất “thất nghiệp”, tôi xin dùng công tác cho Pháo Đội. Sự thật, với một vị trí Pháo Binh, ngay từ lúc chưa đặt súng, nếu đã không dùng xe ủi đất làm ụ súng thì sau khi đặt súng, việc làm ụ súng bị cấn cái, khó khăn, nhất là vị trí quá hẹp như vị trí căn cứ Hỏa Lực 30 này. Lại nữa, thời gian 4 ngày qua vì sinh mạng của pháo thủ, tôi không thể chờ xe ủi đất để thực hiện các hầm ngủ cho anh em. Do đó, dầu cho bận rộn, mệt nhọc mà pháo thủ phải quần quật làm việc suốt ngày đêm, tôi đã bắt thực hiện bằng tay hầu hết các hầm ngủ, hầm đạn, hầm nạp, hầm chỉ huy, đài tác xạ, truyền tin…

Bây giờ có xe ủi đất, tôi chỉ xử dụng ủi quanh những chỗ nào có thể ủi được để bảo vệ súng. Khẩu 6 và khẩu 1 chung một ụ! Trường hợp hy hữu có một không hai trong “nghề pháo thủ” mà chính tôi chứng kiến, thực hiện! Sau đấy, tôi đào thêm được 4 hầm chứa nạp và đạn ven bãi đáp trực thăng. Nhờ đó mà sau này Pháo Đội tránh được tai nạn khủng khiếp, cơ hồ có thể hủy diệt trọn vẹn Pháo Đội tôi.

Thật ra, Cộng quân chưa hề pháo kích vào Căn cứ 30 – kể đến phút này – nhưng tiên liệu đến những nguy hiểm có thể xảy ra đối với một vị trí quá chật hẹp nên tôi quyết định cho đào hầm đạn và hầm nạp đạn xa như thế. Hẳn nhiên, trong tương lai pháo thủ phải vác đạn dài đường, vất vả, nhưng tôi không thể nào có một quyết định khác. Nhờ có 4 hầm này, chúng tôi có thể tồn trữ tại mỗi hầm ít nhất 600 quả đạn hoặc 800 ống nạp.

Hoàn tất công tác, Trung Tá Thạch tỏ ý hài lòng lắm. Ông gọi tôi qua cho bao cát, PSP để tu bổ thêm các hầm ngủ.

Khoảng 10g00, Trung Tướng Dư-Quốc-Đống Tư Lệnh Nhảy Dù, đến viếng thăm Tiểu Đoàn 2 Dù. Tướng Đống không vào hầm chỉ huy, ngồi xổm ở bãi đáp trực thăng, trải bản đồ trên đất, nghe Trung Tá Thạch trình bày diễn tiến về chiến đấu của các Đại Đội tiền đồn.

Tình cờ tôi đi ngang chỗ ngồi của Trung Tướng. Tôi đứng nghiêm chào. Trung Tướng nhìn tôi:

– Anh làm gì ở đây?

Có lẽ vì tôi mặc bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến. Tôi trả lời:

– Thưa Trung Tướng, tôi làm Pháo Đội Trưởng Pháo Đội C thuộc Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh.

Nhân tiện, tôi chụp được một “pose” khi Trung Tướng nhìn vào ống kính. Xong, tôi đến đứng cạnh Trung Tá Thạch nhìn xuống tấm bản đồ có nhiều sắc xanh đỏ ghi chú bằng bút chì mỡ do Sĩ quan Ban 3 Tiểu Đoàn 2 Dù thực hiện.

Trung Tá Thạch tường trình diễn tiến các hoạt động thường nhật một cách tỉ mỉ. Bỗng tôi thấy Trung Tướng hơi cau mặt hỏi:

– Việt Cộng đâu mà nhiều thế? Tại sao anh không cho con cái lục soát rộng ra? Cứ dậm chân một chỗ thì còn làm ăn gì được? …đã 4 hôm rồi mà!…

– Trình Trung Tướng, chiều hôm qua tôi có cho một thằng con nhích xuống phía Nam (Vừa nói, Trung Tá Thạch vừa đưa tay trỏ về hướng tiền đồn)… nhưng mới xuống lưng chừng triền núi, bị chúng ám ngữ thụt B40 và 57 ngay. Còn phía Tây tiền đồn Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn địch đóng. Nếu dốc hết con cái xuống đồi, tôi e bọn chúng bọc lên chiếm tiền đồn, mình khó đẩy lui. Vả lại tiền đồn bên kia cao, có lợi thế… Chính chúng tôi đã khám phá ở đó một đài quan sát kiên cố, hôm đặt chân xuống căn cứ này…

Những điều trình bày của Trung Tá Thạch tuy đúng sự thật, song xem ý Trung Tướng Đống vẫn không bằng lòng. Tôi thưa tiếp:

– Trình Trung Tướng, không biết lực lượng chúng bao nhiêu, nhưng lúc tôi cho trực xạ qua bên triền núi kia thì thấy xác Việt Cộng tung lên, đứng phía BCH/TĐ quan sát rõ lắm…

Lời giải thích của tôi, không biết có đáp ứng sự cần thiết để biết rõ địch tình quanh căn cứ Hỏa Lực 30 cho Trung Tướng hay không, nhưng sau đó, Trung Tướng không đề cập đến nữa.

Trước khi ra về, Trung Tướng bắt tay tôi và khích lệ:

– Ông pháo binh cố gắng mà bắn nghe! Kết quả tốt lắm đó…

Chiều, chúng tôi tiếp nhận cả 1000 quả đạn nữa. Thấy đạn thả xuống bãi đáp mà hết muốn ăn uống gì cả, vì quá mệt trong các cuộc tác xạ liên tục. Đạn nhận nhiều bao nhiêu bắt buộc chúng tôi phải tác xạ nhiều bấy nhiêu. Trong lúc đó, nước tiếp tế cho chúng tôi lại có hạn: mỗi ngày một móc hậu!

Việc phân phối nước cũng khó khăn không kém. Hễ mỗi lần móc hậu nước được thả xuống bãi đáp, lập tức Thiếu Úy Thiện và Thiếu Úy Toại phải túc trực tại chỗ với “lon lá” đầy đủ để giữ nó. Nếu chậm chân anh em Dù sẽ đến xin ngay! Mặc dù Pháo Đội C3 của Tiểu Đoàn 2 Dù cũng được tiếp tế nước bằng móc hậu như Pháo Đội tôi. Nhưng việc tiếp tế không đều đặn, bữa có bữa không. Riêng Pháo Đội tôi nhờ có sự tận tâm giúp đỡ trực tiếp của Thiếu Tá Nguyễn Văn Tự Tiểu Đoàn Trưởng, Đại Úy Phan Quang Thông Trưởng Ban 3, Đại Úy Phạm Ngọc Diệm và toàn thể Sĩ quan Tham mưu đóng ở Khe Sanh lo cho hàng ngày, nên có chuyến tiếp tế là Pháo Đội tôi có nước.

Trong lúc khan hiếm nước như thế, BCH/TĐ 2 Dù còn phải lo cho Đại Đội đóng tiền đồn hướng Đông Nam! Mỗi ngày, tôi phải cung cấp 40 ống nạp không để Trung Tá Thạch chứa nước tiếp tế. Do số lượng nước của Tiểu Đoàn 2 Dù không còn đủ dùng cho BCH, đa số binh sĩ Nhảy Dù phải tự túc đi tìm nước, tìm rất xa và nước rất bẩn, độc, phải nhờ vào thuốc lọc mới dám dùng.

Bắt đầu từ đây, cá nhân tôi mang theo tất cả những hình ảnh vị tha đẹp đẽ nhất của anh em binh sĩ Dù…

Đúng là chiều nay, khi móc hậu nước được kéo ra từ bãi đáp vào vị trí, tôi mặc áo giáp, đội nón sắt ra “giữ” nước! Tuyệt đối không cho bất cứ một ai xin, dù là pháo thủ của tôi. Tôi ra lệnh tất cả các khẩu đội, nhân viên Truyền tin, Tác xạ, linh tinh… vác đến bên tôi mỗi toán 5 ống nạp. Lần lượt tôi phân phối với lời “rao”:

– Mỗi toán xử dụng 5 ống nước trong một ngày. Riêng mỗi khẩu thì 3 ống dùng để thong nòng đại bác, lau buồng đạn, 2 ống để nấu nước uống và nấu nước đổ vào gạo sấy làm cơm. Khẩu nào, toán nào dùng nước để tắm rửa, giặt giũ, tôi sẽ phạt nặng và cúp phần nước vào ngày mai…

Tôi chua xót nhìn Pháo thủ tôi với đôi mắt sáng rực lên vì thấy nước! Sự thèm thuồng hiện rõ trên nét mặt! Nhưng làm sao bây giờ? Tôi không thể cấp phát cho mỗi người một ống nước!

Loay hoay phân phối nước, một binh sĩ của Tiểu Đoàn 2 Dù khệ nệ vác một ống nạp đến, nhẹ nhàng đẩy vào vòi nước. Tôi khóa vòi lại và hỏi:

– Sao bên anh có tiếp tế mà anh lại không xin?

– Xin không được, nước còn để dành tiếp tế tiền đồn.

– Thì xin Pháo Binh Dù?

– Sức mấy họ cho! Ở đây mà Đại Úy quý nước hơn người!…

Tôi lại phải giải thích dài dòng:

– Đấy, các anh thấy, mỗi buổi sáng, mỗi khẩu đại bác phải có 6 người mới thông nòng nổi. Và mỗi lần thông sạch một cái nòng, tốn ít nhất 2, 3 ống nước. Đó là chưa kể sau mỗi lần bắn phải đổ nước lau buồng đạn. Súng bắn có tốt cho các anh hay không còn do sự tu bổ. Hiện tại thì nước rất cần thiết để tu bổ. Anh phải thông cảm thế…

Cuối cùng, tôi vẫn nhất quyết không cho, mặc dầu anh ta lãi nhãi trách oán tôi. Tôi nghĩ, nếu cho anh ta được, tất tôi phải cho hết 3 Đại Đội Dù thì còn nước đâu mà tu bổ đại bác. Anh ấy hằn học lắm, song tôi đành cắn răng nhận những lời hờn trách đó. Không phải tôi so sánh, cùng binh chủng với anh ta còn không cho nước thay huống hồ là tôi! Nhưng sự thật vì tác xạ quá nhiều, bụi đất do tác xạ, do phi cơ tiếp tế đáp xuống bãi đáp hàng ngày đã làm cho các Khẩu Đội tốn rất nhiều nước. Điều đó hiển nhiên xảy ra trước mắt mọi người. Vả lại, việc tu bổ súng cũng chỉ có mục đích để giữ gìn súng tốt hầu tác xạ yểm trợ cho chính các đơn vị Dù của anh ấy…

Khoảng xế chiều, Đại Đội 321, 322 chạm địch tại tiền đồn, chúng tôi ra sức bắn yểm trợ tối đa với nạp 3. Chỉ trong chốc lát, chúng tôi được báo kết quả:

– Tịch thu: 9 trung liên, 2 CKC, 7 B40, 33 AK, 1 bản đồ, 30 Cộng quân chết tại chỗ.

Tối lại, Đại Tác xạ nhận nhiều điểm bắn quấy rối, các khẩu chia nhau thay phiên tác xạ, từng đầu giờ một… (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: CÁNH THƯ NHÀ.

Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(*) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

(**) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf. 

Photo edit by Sơn râu

Đồi 30 Hạ Lào

baotreonline.com

Trương Duy Hy

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Kỳ 3

Khái niệm Căn Cứ Hỏa Lực, Fire Suppport Base do Lục quân Đức phát minh trên chiến trường Nga, được quân đội Pháp áp dụng lần đầu tiên tại Hòa Bình, sau đó ở Nà Sản. Nhiều căn cứ gộp lại thì thành một Tập đoàn Cứ điểm, như ở Điện Biên Phủ. Hoa Kỳ vẫn áp dụng tại A-Phú-Hãn.

Tuy nhiên, cách thực thi có khác: Quân Đức yểm trợ Căn Cứ Hỏa Lực bằng các Xa đoàn Thiết giáp. Quân Pháp trông cậy vào chính hỏa lực pháo binh của căn cứ giúp phòng thủ. Riêng Hoa Kỳ chủ yếu oanh kích. Nhưng nếu Khe Sanh là một chiến thắng, thì ngược lại, Hạ Lào là một thất bại.

Nhiều nguyên nhân. Với mục đích tiêu hủy kho tàng Bắc-Việt trên đất Lào, Lam Sơn 719 được thiết kế như một Raid. Nhưng là một Raid cấp quân đoàn, khác với mô thức thông thường của Raid là small format. Raid, trên mặt hành quân phải là một Operational Warfare Mission, tức phải bất ngờ, ngắn hạn và thần tốc. Cả 3 yếu tố trên không hội tụ ở Hạ Lào. 

  • Phía Bắc-Việt biết trước kế hoạch.
  • Việc thiết lập nhiều Căn cứ Hỏa lực dọc trục tiến quân khiến cuộc hành binh kéo dài quá lâu trên một tháng (từ 8 tháng 2 đến 23-3-1971), khiến Lê Trọng Tấn đủ thời gian tập trung 5 sư đoàn chính quy 2, 304, 308, 320, 324 phản công.
  • VNCH dùng duy nhất 1 Liên đoàn Biệt Động Quân với vỏn vẹn 2 tiểu đoàn để bảo vệ cạnh sườn phía Bắc. Một lá chắn quá mỏng. Ngay cả nếu Lam Sơn 719 đã diễn ra thật nhanh, tấn công vũ bão rồi rút về tức khắc bằng trực thăng, lá chắn này vẫn mong manh. Trong thực tế tiến quân khá chậm đã khiến mạn Bắc trở nên vùng nguy hiểm, nơi phát xuất các đợt tấn công biển người của Lê Trọng Tấn nhắm vào sư đoàn Dù.

Sau hết, chính áp lực Hoa Kỳ muốn mua thời gian rút quân khỏi Nam-Việt đã khiến Quân lực VNCH, thay vì phòng ngự với tất cả ưu thế, phải phiêu lưu sang đất Lào, trên một trận địa rừng rậm bất lợi, phụ thuộc hoàn toàn vào không trợ của Hoa Kỳ. Lam Sơn 719, ngay từ đầu, đã mang mầm của thất bại.

Hồi ký “Tôi Tham Chiến Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30” của Đại úy Trương Duy Hy ghi lại những ngày này, với ưu điểm: Giúp nhìn thấy hoạt động hàng ngày, thậm chí từng giờ của một đơn vị VNCH vào sâu trong đất Lào, trên một cao điểm 727 thước, với tất cả hiểm nguy của nhiệm vụ. Tuy không đề cập đến khía cạnh chiến lược như đã tự xác định trong Thay Lời Tựa, Đại úy Hy vẫn cho cái nhìn toàn cảnh chung quanh Đồi 30. Với chương thứ nhì Vượt Biên Giới, người đọc bắt gặp những ưu tư của Đại úy Hy buổi sáng đầu tiên nhận vị trí và tuy vô cùng khó khăn, Pháo đội C của Tiểu đoàn 44 Pháo binh chỉ mất 2 tiếng rưỡi từ lúc trực thăng Skycrane thả đại bác cho đến khi sẵn sàng khai hỏa. Nói lên khả năng, kỷ luật, cùng nhiệt tâm của binh sĩ.

Trận chiến sẽ diễn ra trong các chương sau, những tuần lễ kế tiếp.

[Trần Vũ]

—oOo—

Trương Duy Hy

VƯỢT BIÊN GIỚI

Rạng ngày 8-2-1971, ngày Lịch sử của cuộc vượt biên Lào-Việt.

6g00 sáng, tôi ra lệnh thu xếp hành trang gọn gàng, 6 khẩu đại bác xếp hàng cẩn thận và phân phát mỗi quân nhân 4 ngày lương khô. Giao Trung Úy Lân cùng các Sĩ quan Trung Đội Trưởng ở lại cắt đặt việc móc súng, móc hàng.

Đúng 8g00, tôi nghe đài phát thanh Sài Gòn lên tiếng về cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu hạ lệnh tấn công sang Hạ Lào. Đồng thời Tổng Thống long trọng xác nhận: “…đây là cuộc hành quân có giới hạn trong thời gian lẫn không gian với mục tiêu duy nhất và rõ rệt là phá vỡ hệ thống tiếp liệu và xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt trên phần đất Ai-Lao mà chúng đã chiếm đóng và xử dụng từ nhiều năm nay để tấn công vào VNCH chúng ta. Ngoài ra, VNCH không có một tham vọng đất đai nào tại Ai-Lao và không khi nào xen vào nội bộ chính trị của vương quốc Ai-Lao vì VNCH luôn luôn tôn trọng nền Độc Lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của Vương quốc Ai-Lao…”

Một tiếng đồng hồ sau đấy, tôi và 4 nhân viên gồm có Trung sĩ (TS) Lương, Hạ sĩ Nhất (HSI) Bách, TS Ngân, TS Quá ra phi trường trực thăng cùng với Toán Tiền Thám của Pháo đội C của Tiểu đoàn 3 Pháo binh Dù (PĐC/3 Dù) và Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn 2 Nhảy dù (BCH/TĐ2 Dù).

9g00, trực thăng bốc chúng tôi vượt biên giới.

Ngồi trên trực thăng nhìn xuống, Quốc lộ số 9 thu nhỏ dần, nhỏ dần… thành một đường ngoằn ngoèo khuất lấp, ẩn hiện kéo dài về hướng Tchépone, mất hút ở cuối tầm mắt… Núi rừng trùng điệp, không một thôn xóm, làng mạc… Sau 25 phút bay, chúng tôi được thả xuống một ngọn đồi toàn lau lách, chứ không có cây cao rậm rạp. Nhìn vào bản đồ, đối chiếu địa thế chung quanh và phối hợp với sự quan sát của phi công, chúng tôi xác định được điểm đứng trên tọa độ XD 599-465 với cao độ 727 thước, cách biên giới Lào-Việt cũng như cách Quốc lộ 9 khoảng hơn 8 cây số đường chim bay. Nơi này được đặt tên là: “CĂN CỨ HỎA LỰC 30”.

Trong lúc vạch cỏ lau quan sát địa thế, về mé Nam, có một cái hầm ai đã đào sẵn, vết đất từ hầm vứt lên trên có vẻ mới khoảng không quá 1 tháng trở lại. Hầm vuông, mỗi bề 5 tấc, sâu vừa đứng đến ngực. Tôi thầm nghĩ có lẽ là Tổ báo động phi cơ của Cộng quân đặt tại đây.

Loay hoay trên đồi, tôi, Trung Úy Trí và Trung Úy Thạch phân chia vị trí. Trí chiếm từ đỉnh đồi thẳng xuống triền phía Tây. Pháo Đội chúng tôi từ đỉnh đồi dọc xuống hướng Đông. Giữa vị trí của tôi và Trí, theo mé triền hướng Nam, Trung Tá Thạch chọn đặt BCH/TĐ2 Dù.

10g30, Sky-Crane lần lượt câu súng lên. Tôi đốc thúc và cố gắng hết mình, mong đốt giai đoạn thực hiện khẩn cấp việc gióng hướng cho khẩu đại bác 155 ly đầu tiên đặt xuống đồi. Nhưng vô hiệu! Lần đầu tiên trong đời binh nghiệp, đây quả là một lần cho tôi kinh nghiệm.

Thật vậy, trước lúc di chuyển, tôi ra lệnh nhân viên đài Tác xạ phải thiết lập trước xạ bản, cụ bị đầy đủ vật dụng dùng trong việc thuyết trình, đến nơi đặt giác bàn gióng hướng ngay… Nghĩa là tôi cẩn thận xếp đặt công việc không để xảy ra một sơ sót mảy may nào cho công tác chiếm đóng vị trí mới, hầu có thể tác xạ khẩn cấp – ấy vậy mà rồi ra, công sắp đặt trước hóa thành công cóc! Máy bay Sky-Crane với sức quạt quá mạnh của chong chóng, hết chiếc này đổ vật dụng đến chiếc khác đổ đại bác… kèm theo, các trực thăng tải quân hạ cánh liên tục chuyển đến đồi toàn bộ Tiểu Đoàn 2 Dù (xem hình phần cuối sách)… Đất, sỏi tung lên mù mịt. Một vài đám lau cháy dở do pháo binh, phi cơ oanh kích dọn bãi đáp, nay được Sky-Crane quạt cho, thôi thì tha hồ bốc thành ngọn lửa cháy lan cả đồi. Phần lo tiếp nhận súng, phần lo chữa lửa, chẳng còn ai rảnh tay để thu xếp vật dụng. Nhờ quân nhân trong Pháo Đội trực thăng vận tiếp theo sau tới khoảng 30 phút, nhào đến kịp thời dập tắt lửa. Nếu không, không biết làm sao chu toàn công việc.

Cho dù lúc bấy giờ không có lửa cháy lan, chúng tôi cũng không thể thực hiện việc gióng hướng súng trước sức mạnh của gió do Sky-Crane tạo ra. Đất núi tại chỗ đáp mà còn bị gió cào, bốc lên, thì làm sao ngồi ở càng súng để nhìn vào máy gióng hướng! Tôi lo ngại! Riêng Trung Úy Lân vẫn bình tĩnh góp ý rằng: Hãy đợi đến lúc tiếp nhận đủ súng rồi gióng hướng luôn một lần.

Mãi đến 13g00, 6 đại bác 155 ly của tôi mới “an tọa” tại vị trí quá hẹp, tôi phải sắp xếp vất vả lắm mới có chỗ mở càng.

Tôi hết sức bực mình ngay từ phút đầu. Vì trên nguyên tắc, toán tiền thám của tôi có nhiệm vụ chọn vị trí thuận lợi cho việc thiết lập vị trí Pháo Binh. Nhưng chúng tôi lại được thả ngay trên một ngọn đồi do Thượng Cấp định sẵn – dù muốn, dù không tôi cũng không thể xin đổi dời chỗ khác được. Phương chi, lúc thả toán tiền thám của tôi, lại thả luôn BCH/TĐ2 Dù… Chỉ một việc lo cắt đặt các Đại Đội này, đã làm cho Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Dù không còn thì giờ hội ý kỹ với chúng tôi về vị trí đại bác nữa.

Trung Úy Trí thích cao địa, nhất là mặt phía Tây dốc rất đứng, địch khó đột kích. Tôi an phận của kẻ tăng phái vậy.

Hướng bán chính thức của Pháo Đội, sẽ theo sự phối trí hỏa lực pháo của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù và PĐC/3 Dù khi có lời yêu cầu. Song trên thực tế, Trung Úy Trí bàn với tôi, dành cho tôi tác xạ hướng Tây và Nam, còn Trí tác xạ hướng Tây và Bắc. (Hướng Bắc là hướng hai căn cứ Ranger North và Ranger South của Biệt Động Quân, hướng Tây về Tchépone và Nam là hướng A-Lưới).

6 khẩu đại bác 155 ly của tôi đặt thành hình cung nửa vòng tròn từ Nam lên Bắc theo thứ tự khẩu 5 do TS Ngân Khẩu Trưởng, Khẩu 6 TS Đợi, Khẩu 1 TS Nhơn, Khẩu 3 TS Hóa, Khẩu 2 TS Thìn và Khẩu 4 HSI Cũ.

Riêng Khẩu 6 và Khẩu 1 hai móng càng chỉ cách nhau 50 phân! Tóm lại, vị trí pháo tại căn cứ hỏa lực 30 thật là bất lợi vì quá chật hẹp. Hầm ngủ của nhân viên khẩu và các hầm đạn khẩu không thể nào làm xa nhau được.

Về phần cán bộ, tôi cắt đặt nhiệm vụ rõ ràng cho từng người:

– Trung Úy Lân phụ tá tôi và kiểm soát tác xạ.

– Thiếu Úy Ngân đặc trách đài tác xạ, theo dõi và làm yếu tố tác xạ cho từng mục tiêu, ghi chú điểm đứng Tiền sát viên từng phút một.

– Thiếu Úy Thiện phụ trách về đại bác, Sĩ quan an ninh tác xạ kiêm đạn dược.

– Thiếu Úy Toại đặc trách thu dọn tiếp liệu phẩm của các loại 1 đến 4.

– TSI Bình nuôi ăn và chu toàn nhiệm vụ của một Thường Vụ Pháo Đội.

(Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: TÁC XẠ, THIẾT LẬP CĂN CỨ HỎA LỰC 31 VÀ A LƯỚI.

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.  

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf. 

Đèn Cần Giờ

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc
Xới Đất xuất bản 1968

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Black Orchid photo edit by Sơn râu

Phần 3.

Lan rừng

Ông Xương Ký không bớt tốc lực, quanh gấp để chạy vào sân nhà và nơi đó, ông thắng xe một cái két rít dài lên.
Nhưng ông thất vọng lắm. Nơi thềm nhà, chỉ có vợ chồng ông Trần đứng đợi ông thôi. Ông chạy xe một cách thể thao như vậy cốt để cho một người kia thấy, nhưng người đó lại vắng mặt.
Ông hơi lo trong bụng và tự hỏi: “Hay là nàng bịnh thình lình?”. Ấy, vào phút chót, con người hay bị hụt giò như thế. Ông lại bàn thầm: “Hay nàng giả đau để có cớ thối thác? Nhưng không, xem ra, nàng đã nhẫn nại chịu số phận rồi kia mà!”.
Người khách đi xe hơi, tươi nét mặt ra và chào chủ nhà rất lễ phép. Vợ chồng ông Trần cũng đủ lễ trả lại, nhưng nét vui tươi của hai ông bà rất là gượng gạo.
Ông Trần hỏi cho có chuyện mà nói, để khách đỡ bỡ ngỡ:
– Xe không có mui à?
– Thưa có chớ. Nhưng chiếc xe nầy kiểu tối tân, mui xe bí mật và ngộ nghĩnh lắm. Xe mới qua tới là tôi lấy ra liền.
Đó là một chiếc xe hình dáng vừa vạm vỡ lại vừa nhanh nhẹn, sơn màu lam lợt. Đuôi xe hơi dài quá. Xe lại giống hệt xe trần, không thấy dấu vết sườn mui đâu cả.
Ông Xương Ký chỉ giải thích mập mờ như thế mà không chỉ coi mui ấy giấu ở đâu. Ông lại hỏi một câu cốt dang ra xa đầu đề:
– Thưa bà, cô Thu sửa soạn chưa xong, hở bà?
– Xong rồi, nó sắp ra đây. Cả nhà tôi ai cũng đúng hẹn cả.
Bây giờ khách đã xuống xe, đã đến gần chủ nhà. Hai người đàn ông bắt tay nhau. Khách có vẻ sốt ruột. Bà chủ nhà kêu với vào trong:
– Thu à! Ông Xương Ký đợi con đây!
Không nghe đáp, nhưng tiếng giày báo có người đi ra, rồi quả nhiên cô Thu đã hiện nơi khung cửa, tay xách va ly.
Người con gái ấy mặc toàn đen và gương mặt u buồn cùng với màu sắc tang tóc kia gợi ra một tuyệt vọng vô biên. Nhưng quả cô ta đẹp tuyệt trần. Không kể chi tiết nhỏ mọn là nước da trắng mịn nổi bật lên bên cạnh y phục và màu tóc, màu mắt đen huyền, toàn thân cô là một bài thơ ca ngợi đường nét huyền hoặc của những pho tượng cẩm thạch cổ điển Âu Châu.
Ông Xương Ký mỉm cười rất vô duyên, nghiêng mình rất vụng về để thi lễ. Cô Thu chỉ hơi ngả đầu. Bà mẹ giục:
– Thôi con đi kẻo trưa, nắng lên rồi mệt đa!
Nói xong bà đưa tay giành valy với con. Bà biết con sẽ không buông, nhưng như thế bà sẽ có dịp kéo valy và cả nó ra xe.
Ông Trần chỉ đứng lặng nhìn, vẻ mặt bất nhẫn.
Người khách chạy vội trở ra xe và làm một việc mà hồi nãy ông cố ý quên. Ông bấm vào một cải nút tức thì mui xe từ từ mọc lên. Mui xe là những tấm kim khí sáng trắng, tấm nầy đè lên tấm kia, xếp lại, kéo ra được, tất cả chôn giấu giữa lưng nệm sau và đuôi xe. Mui vừa mọc vừa bò ra, tới phía trước rồi cúi xuống níu lấy tấm kính cản gió. Ông Xương Ký lại quay kính cửa, kính nầy lại mọc lên đến đụng mui xe, hai thứ ấy ôm lấy nhau, khít rịt, một hột bụi vào cũng không lọt.
– Kiểu tối tân, ông Xương Ký mỉm cười mà nói thế, mắt nhìn giai nhân để rình một vẻ thán phục nơi gương mặt nàng. Nhưng cô Thu vẫn thản nhiên như tượng đá.
Ông Xương Ký không mở cửa xe cho người đẹp lên, lại mở đuôi xe. Một bồn rửa tay bằng sứ tráng men trắng nằm sẵn trong ấy. Chủ xe vặn một cái nút, tức thì có nước chảy ra.
– Kiểu tối tân, ông ta lại khen.
Nhưng thấy không ai xúc động cả, ông ta đành thôi và mời cô Thu lên băng trước.
Bà Trần giọng van lơn nói:
– Em nó còn dại lắm, xin ông thật tình sửa dắt nó. Bề gì rồi ông cũng cưới nó nay mai, ông hãy nương nó, chớ nên có gì đáng tiếc.
– Thưa bà, tôi hiểu.
Hai người trên xe chào hai người dưới đất, rồi chiếc xe tháo lộn ra đường một cách kiếm hiệp như khi vào.
Phụ nữ đẹp ngồi trên chiếc xe đẹp bên cạnh một thanh niên đẹp thì đó là cảnh đẹp. Phụ nữ đẹp ngồi trên chiếc xe đẹp bên cạnh một người đàn ông đứng tuổi, tóc nhuốm hoa râm, cũng vẫn là cảnh đẹp.
Nhưng trong trường hợp trước, người ta nghĩ nay đến sự xứng đôi vừa lứa. Trong trường hợp sau, người ta đoán đó là một ông cha góa vợ đưa con đi đâu đó. Cũng chẳng hề gì. Ngặt ông Xương Ký lại muốn người ta nghĩ khác, nghĩ theo trường hợp trước, và biết chắc là muốn thế không được, nên ông ngượng nghịu lắm. Cô Thu cũng một tâm trạng với ông. Cả hai cùng khó chịu.
Ông Xương Ký muốn nói cái gì để bớt ngượng, nhưng vừa tìm ra được một câu hỏi xoàng là ông lại phải do dự ngay từ tiếng đầu. Ông muốn kêu cô Thu bằng em nhưng không đủ can đảm. Mà kêu bằng cô thì cũng tức. Ông là vị hôn phu của Thu kia mà!
Ông Xương Ký góa vợ đã lâu. Ông Trần là bạn ông, lớn hơn ông bốn tuổi. Ông Trần là giáo viên về hưu. Không cam với hưu bổng, ông ta mở trường tư. Lỗ lã, nợ nần. Ông Xương Ký giúp cho để ông ta chịu đựng. Nhưng giúp mãi mà ông Trần cứ lụn bại, thành ra số nợ, sau khi đổi chủ, cứ to lần lên. Năm nay thì ông Trần kiệt quệ. Chỉ là bạn thường thôi chớ không thân thiết ơn nghĩa lắm, ông Xương Ký rất sốt ruột vì số tiền kẹt chết của minh. Tịch thâu bất động sản của nhà trường, chỉ vớt vát được mớ nào mà thôi, mà lại tội nghiệp ông Trần nữa. Nhưng một hôm ông Xương Ký lại nảy ra ý muốn tục huyền. Ông soát lại những phụ nữ mà ông quen biết và rốt cuộc chấm cô Thu.
Quyết định đó là sự dở chứng của cái tuổi quá thì của người đàn ông. Ông năm nay bốn mươi hai, tuổi khó khăn mà người đàn ông lắm khi ngỡ trẻ như hai mươi. Nhưng ông xét kỹ, không thấy phạm luân lý. Cô Thu trẻ hơn ông những hai mươi tuổi. Phải. Nhưng ông không vợ, và cưới xin thật sự kia mà!
Cái ngày mà ông tỏ ý muốn cho vợ chồng ông Trần nghe, ông bà nầy bỗng như lảo đảo say rượu. Một tuần lễ sau, sau khi nghiền ngẫm điều kiện của ông Xương Ký đưa ra là hủy hết số nợ, lại viện trợ thêm hai mươi vạn để tiêm thuốc khỏe cho trường, ông bà Trần thấy rằng hôn nhơn nầy, nghĩ kỹ ra cũng không có gì xấu hổ cho lắm.
Còn một điểm khó khăn nhứt là cô Thu. Thu là nữ giáo viên nơi trường của cha. Nàng trẻ đẹp, rất trẻ, rất đẹp, không lẽ lại ưng ông già tóc bắt đầu điểm trắng.
Bà Trần thạo tiếng ngoại quốc, có đọc truyện cổ tích Tích Tân và Ỷ Sơ của Pháp. Bà cứ mơ hão có được thứ tiên được yêu đương mà bà Hoàng hậu ấy đã trao cho con gái là công chúa tóc vàng Ỷ Sơ để nàng nầy uống lúc đi về nhà chồng, hầu yêu được người chồng già là ông vua hiếu sắc kia.
Không có thuốc tiên, bà đành sử dụng những phương tiện thiết thực hơn: thuyết lý cho con thấy rõ nỗi nguy của nhà và hôn nhơn ấy là cơ hội may để cứu vớt những ngày cùng của ông bà: khi Thu đã nuốt nghẹn nhận lời, ông bà lại cho hai “trẻ” gặp gỡ nhau thường để Thu bớt xúc tâm lần lần.
Ông Xương Ký thì tham lam hơn, mong Thu yêu mình. Ông đã nịnh đầm, đã biếu quà, đã lịch sự, đã thơ mộng, đã ăn tiệc, nhưng vô hiệu quả.
Nay ông xin đưa vị hôn thê đi Ban Mê Thuật cốt để khoe những mặt khác của ông: ông còn khỏe và rất thể thao; lái xe hơi chạy đường xa như không không, leo đồi, trèo cây, lội rừng, băng suối tắm nước hồ lạnh, thảy thảy không thua ai. Và biết đâu, trong một phút kia, giữa cảnh hùng vĩ của cao nguyên, trên bờ các suối mơ khảm toàn rêu nõn, nàng lại không cảm bài thơ man rợ của rừng sâu, và khi cảm xúc, lại không yêu được người dìu dắt ở bên cạnh nàng?
Ông bà Trần, vốn biết ông Xương Ký đứng đắn và thành thật nên ưng thuận. Cô Thu thì một liều, ba bảy cũng liều. Và cuộc quảng cáo rầm rộ xui cô cũng muốn biết đất mới Ban mê thật ra sao, biết những Sơn nữ hồn nhiên mà cô rất thích qua các tiểu thuyết đường rừng lãng mạn. Với lại chính cô cũng cố gắng để yêu cho được người chồng già, cho đỡ khổ tảnh lấy chồng so le của cô.
– E… m… cô có đem theo đủ các thứ cần dùng chớ?
– Có.
Một câu hỏi hơi dài, một câu đáp quá ngắn. Rồi thôi. Những cặp vợ chồng son trẻ trên những chiếc xe mà họ gặp dọc các phố lại càng khiến họ khó chịu hơn. Có những đôi trai gái rất xấu xí trên những chiếc xe khổ, có những đôi trai gái chênh chông với nhau về sắc đẹp trên những chiếc xe tầm thường. Nhưng họ lại ước nếu được như vậy còn đỡ hơn.
Khi qua khỏi cầu Băng Ky, ông Xương Ký cho phóng xe mau để qua mặt những chiếc xe trên đó có người cứ ngó ngoái lại mà dòm. Ông ghét nhứt là vếtpa có đèo phụ nữ,vì luôn luôn đó là những cặp rất xứng lứa, và người ham mặc sơ mi ngắn tay để khoe bắp thịt của mình.
Khỏi ngã ba Bình Triệu, họ qua một cánh đồng minh mông mà người địa phương gọi là đồng Chó Ngáp. Gió thổi vù vù lại thêm năm nay, cái lạnh của tháng chạp còn chần chờ ở nán lại lâu quá, nên Thu rùng mình rồi khoanh tay lại trước ngực.
Ông Xương Ký vuốt lại tóc mình. Tóc nầy ông nhuộm đen mấy tháng nay: Nước thuốc nhuộm cho tóc một màu đen kỳ dị và giả tạo, lại làm tóc cứng ra, không thể chải bằng gôm, bằng gì được nữa. Nó rối bởi trước gió ngược chiều nên ông thấy cần phải sửa sang lại cho nó có trật tự một chút và nhứt là để lấy cánh tay đưa lên đó mà che, hầu liếc nhìn người bạn đang làm một cử chỉ khả ái.
Bỗng ông Xương Ký ngây người, suýt lạc tay lái. Không, đừng ai nghĩ quấy gì hết. Đành là ông đang nhìn hai cánh tay khoanh lại trên ngực của Thu, và đành là ông đang nhìn cái ngực ấy. Nhưng quả không phải hình ảnh tuyệt mỹ kia làm ông say sưa.
Chính hai bàn tay trắng như bông của nàng nằm trên nền áo đen đã gây xúc cảm dữ dội ấy vì nó nhắc ông đột ngột nhớ đến một điều mà ông xao lãng mấy hôm nay, vì bận chuẩn bị đi với người vợ chưa cưới.
Một năm nay, ở Sài gòn có phong trào chơi lan rừng. Từ Đà lạt, Gia linh, Blao, Ban Mê Thuật người ta gỡ trăm ngàn loại lan đem về bán tràn ngập đô thành. Ông Xương Ký không thua ai hết về mặt ăn chơi, hưởng thụ. Quanh nhà ông, toàn những lan là lan. Một hôm ông thấy một người đàn bà Âu cầm một khóm lan kỳ lạ: lan cành trắng như tuyết, không có lấy một chiếc lá, dáng khô khan như nhánh chết, mà hoa lại đen huyền. Màu đen của bông lan ấy láng mướt như nhung, lại lóng lánh sáng như bạc, nếu nhìn cánh hoa ngang mắt, ngỡ lan nầy cũng nhiều như các thứ khác, ông không hỏi thăm người cầm, chỉ đi tìm mua, nhưng tìm mãi không ra.
Suốt mấy tháng, ông Xương Ký mơ thứ lan đen kia. Ông chiêm bao thấy mình lên rừng và gặp cả một khu toàn lan đó. Ông săm soi huyền lan, vuốt ve nó và lạ sao, trong hoa hiện ra mọt sơn nữ da trắng, y phục đen, chạy trốn trong khói lá xanh rậm của rừng già. Người sơn nữ ấy mặt hao hao giồng Thu và như Thu, cũng mơ buồn không dứt.
Đêm nào ông cũng thấy sơn nữ, khi nhập vào hoa, khi từ trong hoa mà ra. Vốn thuở nhỏ thích xem truyện Tàu và truyện đường rừng của ta, ông Xương Ký tin có hồn hoa, có yêu tinh lan rừng và sự tích huyền lan của ông, như thế, càng tăng thêm.
Đã bảo, tuổi quá thì rất khó khăn. Ông Xương Ký mơ mộng như một thiếu niên. Trong trí ông, các thứ đó bị xáo trộn lại: ông chạy tìm lan đen; hồn lan đen từ trên rừng sâu, cảm động trước tâm thành của ông, nên hiện ra để kêu gọi ông lên đó rước nàng về. Hay hồn ấy lại nhập vào xác của Thu cũng nên?
Ông Xương Ký định bụng thế nào cũng đi tìm hoa, tìm hồn hoa. Nhưng tứ hôm mời Thu đi Ban Mê Thuật với ông được rồi, ông mừng quá, quên mất người sơn nữ trong mộng.
Hai bàn tay no và non và tráng mịn ló ra khỏi hai tay áo đen mướt, nằm trên gò ngực huyền bổng xua mơ cũ tới. Người yêu ngồi bên cạnh đây rồi, gần gũi quá, nên không còn sức quyến rũ mạnh của người trong mơ nó hão huyền như bọt xà bông mà trẻ nhỏ thổi lên không trung, lóng lánh nhiều màu. Phải chăng là như vậy? Nếu không, sao ông vẫn mơ sơn nữ, mặc dầu ngồi gần Thu? Không, thật ra, gần Thu mà vẫn xa Thu như từ thuở giờ. Sự gần gũi về thể chất không thỏa mãn được tâm hồn ông Xương Ký, nó lãng mạn, nó mộng hão như một chàng trai trẻ. Thành ra gần Thu, ông không say sưa được mà vẫn ước mong chưa toại, và cứ mộng đến Thu qua hình ảnh hão huyền của hồn lan trong giấc chiêm bao.
Xe lướt gió vùn vụt. Sợ Thu lạnh, Xương Ký vói tay mặt quay kính lên, rồi càng phóng mau thêm nữa. Qua những cầu gỗ hẹp, ông không thèm bớt tốc lực, chiếc xe nhảy lồng lên trên những đầu cầu bên kia. Ông Xương Ký mỉm cười, biết rằng Thu đương thót ruột. Chắc Thu sợ hãi và giận ông lắm. Nhưng qua những cơn giận áy, thấy không việc gì, chắc chắn Thu sẽ nghĩ đến hai cánh tay của ông mà nàng sẽ đoán là còn rắn chắc, bắp thịt còn đủ sức dẻo dai, tinh thần còn đủ lanh lẹn, mắt còn đủ sáng tỏ. Rồi sau nhiều trận như thế, nàng sẽ quen đi, say tốc lực như say rượu bia nhẹ, trí nàng sẽ triền miên với cái động, lòng nàng sẽ mê man bối rối vì hai thứ tình trái ngược: kinh sợ và ham nhanh. Một khi tâm trạng ấy xâm chiếm lòng nàng thì nàng sẽ có cảm giác nhỏ bé, cảm thấy cần được bảo vệ và cố nhiên nghĩ đến người bên cạnh và sức khỏe của y.
Đành rằng tình yêu không đến sớm được liền sau cuộc say sưa đó. Nhưng quả những giây phút nầy là những hột cát phù sa bồi đắp xây dựng lần lần mối tình mong ước.
“Còn nhiều dịp nữa mà! Ông Xương Ký tự bảo thầm. Rồi nàng sẽ thấy mình trèo cây, mình tắm suối lạnh”.

Ông Xương Ký gởi Thu nơi nhà một người chị, chủ hiệu uốn tóc độc nhứt tại thành phố Ban Mê Thuộc, còn ông thì tạm nghỉ nơi trại của một người bạn, chủ đồn điền.
Cả hai người, không ai có ý xem hội chợ, nhưng ông Xương Ký cũng đưa Thu đến đó. Ông nghĩ trong một hội chợ nhà quê người đi xem chắc là cục mịch và sẽ không có những cặp vợ chồng xứng đẹp nó làm cho ông và Thu bị tự ti mặc cảm. Nhờ thế ông sẽ dạn ra, bảnh thêm được với vị hôn thê quá trẻ, và riêng Thu nàng cũng sẽ bớt ngờ ngợ vì ông chồng quá già. Ông Xương Ký nhớ rõ là hôm qua, khi ra khỏi thành phố Sàigòn là ông nghe dễ chịu ngay và lén dòm Thu thì nhận thấy mặt nàng cũng giãn ra như trút được một gánh nặng. Vì ra khỏi đô thành là thôi gặp những chàng và nàng tốt đôi, là khỏi bị ám ảnh vì sự so sánh thường xuyên giữa họ và mình.
Nhưng ông ta đã lầm. Người Sàigòn ở đâu cũng có mặt cả, giữa cao nguyên họ vẫn lên để mà trẻ đẹp.
Người đàn ông đứng tuổi nào khác có thể hãnh diện được khi đi với một cô gái trẻ. Nhưng vị hôn phu nầy khác hơn họ. Ông không cần dư luận bên ngoài trầm trồ ông tốt phước, mà chỉ cần sự cảm thông giữa người yêu và ông thôi. Sự cảm thông nầy không có là ông tủi thân, là ông xấu hổ như nghe rõ chính Thu đang nói lớn lên để chê ông là già.
Ông Xương Ký đành phải trốn bằng cách chúi mũi vào các gian hàng. May quá, Thu bỗng vui lên và nói:
– Đẹp quá, đẹp quá!
Đẹp thật, ông Ký cũng nhận thế. Những tấm vải do người cao nguyên dệt, mới xem ngỡ hàng ngoại quốc. Chỉ có ba màu thôi: đen, trắng, và đỏ mà họ kết hợp lại thành những kiểu mẫu trang hoàng rất là mỹ thuật, màu sắc dùng rất tiết độ. Chỉ tiếc là sợi quá thô và mặt vải quá thưa.
Vải dệt thành những tấm dài từ hai thước đến trên ba thước. Ông Ký cầm lên một tấm rồi nhìn Thu hỏi trống:
– Cỡ may mặc được không?
– Thưa quá! Thu cũng đáp trổng lại nhưng ông Ký nghe êm ái như ai vuốt lên tim mình. Đây là lần thứ nhì mà giai nhân thốt lời, và lần thứ nhứt mà người đẹp trao lời với ông.
Đâm bạo, ông xổ tấm vải, hai tay cầm vải dang ra rồi phủ vải ấy lên mình Thu và nói:
– Đẹp lắm. Nhưng có vẻ cổ sơ. Nếu… em mặc đầm thì may cũng được.
Nói được tiếng em, ông Ký thấy là dễ dàng quá. Chỉ khó lúc tiếng đó còn nơi cổ họng, chực vọt ra mấy mươi lần mà vẫn lấp ló như con dế hang. Bây giờ nó ra xong mà nghe sao mà không có gì khó khăn hết. Vậy mà từ lâu ông không dám nói, nghĩ cũng lạ.
Thu cúi xuống dòm vải nằm trên mình nàng, chống đầu gối ra để xem nó có dịu, có nặng mình hay không và hai ngón tay mân mó sớ vải.
Vụt có sáng kiến mới, ông Ký nói, giọng reo vui:
– Hay là em may một bộ y phục trá hình mặc chơi. Phải, em choàng vải nầy lên mình, xem giống như một cô sơn nữ.
Nói tới đây, bỗng ông nhớ lại cô gái trong chiêm bao. Nhưng lần nầy sao người con gái ấy bớt quyến rũ nữa. Có lẽ nhờ gần được với người đẹp trước mặt. Dầu sao, ông cũng nghĩ đến lan đen mà ông tha thiết muốn có một kiểu mẫu trong vườn.
Thu ngước lên mỉm cười:
– May áo ghế bành thì được.
Ông Xương Ký mua năm tấm vải nền đen, và năm tấm nền mỡ gà, cả thảy đều để tặng Thu: Ông lại mua nào gạc nai, gùi, mác để biếu bạn hữu, ôm vác kè kè như hai vợ chồng mới, đi mua sắm để dọn nhà lần đầu.

Cuộc đua voi, và đua ngựa không yên cương là một trận hửi bụi không tiền khoáng hậu. Nhưng đó là trò mà Thu thích nhứt.
Ông Xương Ký nghe mình hứng dử lắm trước nỗi vui của ngươi yêu. Ông còn chưa biết làm cái gì hơi động, hơi ồn cho nó có vẻ trẻ ra để xứng với vẻ hân hoan của bạn thì may quá, đoàn ngựa đua giải tán, lướt chậm tới chỗ hai người đứng.
– Anh ơi, cho tôi cỡi thử một chút chơi.
Ông xin liều như vậy mà một người kỵ mã trai trẻ kia nghe hiểu, xuống ngựa liền và mời ông.
Ngựa tuy nhỏ thó nhưng không có yên cương gì cả. Nó lại có vẻ hăng lắm khiến ông Xương Ký đâm sợ. Biểu diễn trước người yêu mà thành công được thì tuyệt nhưng nếu rủi bị ngựa quăng xuống đất thì đi đời kết quả ít ỏi của cuộc chinh phục trong mấy ngày nay.
Nhưng không thể lùi được nữa, ông Xương Ký bậm môi, vói tay níu gáy ngược rồi thót lên lưng nó. Không việc gì đáng tiếc xảy ra cả.
Con ngựa vưng theo cái thúc chơn của ông, bắt đầu nhảy. Nhưng mới chạy được một quãng, nó lồng lên, nhảy dựng lên như con chó đi hai chơn trong rạp xiếc. Muốn còn ngồi ngay được, nghĩa là thân mình khỏi nằm ngã nằm, vì lưng ngựa đã đứng sững lên như tấm vách, ông Ký níu chặt gáy ngựa và áp sát mình vào lưng con thú. Ngựa khó chịu, thôi lồng nữa, nhưng lại vục vặc đầu lia lịa để thoát gáy ra khỏi người cỡi. Tuy nó đã đứng lại bốn chơn như thường, nhưng người kỵ mã không dám rời lông cổ nó ra. Thoát không được, ngựa sải tán loạn, làm đủ trò chứng để quăng gánh nặng trên lưng.
May quá, nhờ ngựa nhỏ thó, nhờ ông Ký cố bám níu như đó là vấn đề sống chết, nên sau một hồi nổi loạn, con vật chịu thua. Nhưng ông Ký không dám trổ tài lâu nữa. Bấy nhiêu đó hơi vữa đủ rồi, tiếp thêm, rủi không xong, sẽ khổ thân lại mang nhục trước giai nữ.
Bấy giờ áo ông Xương Ký ướt mồ hôi như vừa mắc mưa: Ông thở không kịp và ở hai bên màng tang, ông nghe mạch máu nhảy như muốn bứt ra.
Ông trở về chỗ Thu đứng đợi ông, cố đi thật chậm để khi đến nơi, bớt thở cho dễ coi một chút. Khi đang đi, trong một giây, ông nghe choáng váng muốn té xỉu. Qua cơn đó, ông cảm thấy thân già mà cố làm trẻ thì thật là khổ. Tủi thân quá, ông bỗng nảy ra cái ý bỏ vãi tất cả. Hạnh phúc đâu chưa thấy mà đã khổ thân như tội đồ bị bắt buộc làm những công việc quá sức mình.
Nhưng dòm lại người ngọc đàng xa, ông nghe được kích thích như người leo cột mỡ vào những ngày hội, mệt nhoài ra, trèo lên tuột xuống hoài, mà vẫn cố gắng vì bị giải thương treo ở đầu cột lôi hút mãi.
Đêm ấy ông Xương Ký trằn trọc đến khuya không chợp mắt được, Ông bận trí về sự dùng thì giờ ngày sau đó. Đưa Thu đi đâu cho nàng vui, mà ông lại trổ tài được?
Người chủ nhà có mời đi săn. Đi săn bằng khí giới cổ sơ do người Thượng tổ chức. Nhưng ông sẽ làm gì được trong cuộc săn ấy.
Có lúc ông Ký nghe chán lạ. Ông cảm thấy mệt mỏi vì sự chinh phục thường xuyên nầy. Không phải chỉ mệt mỏi về thân thể mà về cả tâm thần. Cái gì mà không giờ phút nào khỏi nghĩ đến việc làm vui lòng người vợ chưa cưới?
Chẳng những thế, cuộc chinh phục sẽ bị tiếp tục một khi cưới xong người đẹp. Chồng già, vợ trẻ, không thể buông trôi như những cặp mà anh chồng không so le với vợ. Mệt ôi là mệt!
Ông Ký nhớ lại thuở trai trẻ, ông đã o mèo như bất kỳ ai. Ông đã chịu khó, đã bền chí một cách gian khổ, nhưng sao không thấy chán nản như bây giờ. Phải chăng vì thuở ấy, tình yêu, đối với ông thiêng liêng lắm. Ngày nay thì ái tình đã mất vẻ huyền ảo của nó, bao nhiêu ý đẹp đã tan, đã lắng xuống, chỉ còn nổi lều bều lên như bọt dơ, những cái gì chỉ dính líu đến vật chất mà thôi. Mà về vật chất, cố công như xưa là uổng công.
Tuy suy luận như thế, ông Ký vẫn không bỏ cuộc được vì ông đang ở vào tuổi quá thì như đã thấy trên kia. Không say đậm với tình yêu như hồi trẻ nữa, nhưng vẫn hơi điên dại như trai tơ. Rốt cuộc ông nhắm mắt với quyết định ngày mai đưa Thu theo đoàn săn bắn của chủ đồn điền.

Cuộc đất dợn sóng như mặt đại dương. Mà đây toàn là sóng thần cả. Không phải thần về sự cao, mà chỉ về sự rộng lớn thôi. Mỗi trái đồi to độ bảy tám mẫu, liên tiếp nhau trùng trùng điệp điệp như một bầy thú lưng gù đang ăn cỏ giũa trời.
Ở những khu đất không có rừng, bầy thú nầy hiện ra đông đúc như kiến.
Đoàn săn gần hai mươi người Thượng, toàn là phu ở đồn điền của bạn ông Xương Ký, người chủ đồn điền ấy, Thu và ông Ký.
Để cho gọn, dễ day trở, người Thượng hôm đó không thèm mặc y phục, chỉ đóng khố. Mười tám người không võ trang mà chỉ mang tù và. Còn hai người kia thì cầm mỗi người hai cây ná và mang mỗi người hai gùi tên thuốc.
Khi qua khỏi một cánh rừng, cả đoàn đổ ra một khoảng trống rộng bảy quả đồi.
Sau một lịnh của hai người Thượng đứng tuổi có võ trang ná, mười tám người kia túa ra, chạy lùi vào rừng trước mặt và hai bên.
Bọn người ở lại ngồi trên chóp trái đồi cao hơn hết ở giữa khu đất.
Đồi trọc lóc, cỏ đế cũng không cao. Họ như đang tắm lội giũa một hồ tắm mà bờ hồ là rừng xanh bao quanh đó.
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, tù và khắp bốn phương tám hướng túa tên một lượt.
Hai người Thượng đứng lên giương ná, đặt tên vào, rồi trao cho chủ đồn điền và ông Xương Ký mỗi người một cây.
Giây lâu, nhím, trút, chồn, thỏ từ trong rừng rậm chạy tán loạn ra ngoài. Đây là một cuộc săn nhỏ, tổ chức mua vui, người đuổi thú đã ít oi lại không đi xa, nên không có thú lớn chạy ra.
Hai người Thượng bắn trước. Dây ná kêu lên một cái xạch, tên bay véo một cái là hai con vật ngã quay ra.
Ông chủ đồn điền bắn một phát, trật lất, rồi cười ha hả mà hỏi Thu:
– Chị xem tôi bắn có tài không. Nhứt phát là nhứt trúng…đất.
Thu thở không khí lành từ sớm đến giờ nên cũng trở nên vui tánh cười theo rồi vừa chỉ vừa khen:
– Mấy ông Thượng kia bắn sao mà y như là con vật bị cột gần sát họ.
Ông Xương Ký cũng bắn một phát. Trúng ngay đích, thật là may kỳ lạ. Nhưng con mồi lại là một con trút vảy dày và cứng nên mũi tên trợt lớt rơi xuống đất. Con vật tiếp tục chạy như không có gì xảy ra, khiến Thu nheo mắt cười giòn rụm mà chế nhạo:
– Coi con trút kìa, nó lêu lêu mắc cỡ kia!
Ông Xương Ký sung sướng đến muốn rơi cây ná. Ông sung sướng vì bắn trúng mồi thì ít mà vi được Thu chế giễu thì nhiều. Sự chế giễu ấy không ác ý, trái lại chứng tỏ cảm tình, muốn thân mật và hàm kín đáo sự khâm phục tài bắn của ông.
Lần cỡi ngựa tuy không suông sẻ, và lần bắn nầy tuy cũng trục trặc nhưng quả đã khiến Thu. có cảm tình đôi chút với vị hôn phu già. Chắc cô ta đã bảo thầm trong bụng: “Tuy không xong xại gì chớ cũng đỡ hơn các thanh niên ôm măng- đô- lin, ôm ghi- ta nhiều lắm!”
Bắn được một phát, ông Xương Ký rất toại chí vì đã gần đạt mục đích. Chỉ gần đạt thôi mà toại nguyện được là ông biết không thể nào đạt hẳn. Tệ hơn hết, bắn lần sau, sẽ trật lất như ông chủ đồn điền kia.
Nhưng cái tánh muốn làm tàng, tới già con người bỏ cũng chẳng được. Nên ông ta lại toan bắn nữa.
Nãy giò ông ta đã quan sát cách lên ná của người Thượng. Họ làm công việc ấy như chơi chơi: đuôi ná chống vào bụng, tay trái giữ ná, tay mặt vói lên vai để rút tên ở chiếc gùi mang sau lưng. Tay rút tên ấy lại hạ xuống và cùi chỏ của tay đó kéo dây ná. Cùi chỏ kéo dây vào bụng và cùng một lượt bàn tay đặt tên lên mình ná.
Cứ nhìn họ làm, ông Ký nghe dây ná rất mềm, cung ná rất dẻo và trò lên ná là trò trẻ con. Nên chi ông cũng lập y lại những cử chỉ đã quan sát được. Nhưng khi ông hạ tay rút tên xuống thì cùi chỏ của ông chỉ kéo dây ná vào bụng ông được vài phân thôi. Cung ná xem ra cứng rắn nhường sắt, không chịu cong thêm một chút xíu nào cho dây dễ kéo. Cùi chỏ đè lên dây bây giờ lại đau như bị thanh sắt quất vào và càng cố sức kéo, đuôi ná càng chống mạnh vào bụng đau như bị ai thọc gậy mạnh.
Rõ cuộc săn bắn nầy là một buổi chơi thể thao của những ông bụng bự, chỉ ngồi trên dàn mà xem người ta đá banh. Ông Ký và bạn ông cũng thế, đợi người ta lên ná sẵn mà bắn thì được, còn chính mình thì không cử động bao nhiêu. Cho đến con mồi cũng phải có người đuổi ra trước mặt chớ họ không chịu cực được mà lội rừng để tìm mồi.
Ông Ký nói gượng:
– Trời, đau nơi bụng chết đi thôi, làm sao mà tiếp tục chống để lên dây!
– Đâu anh chống dưới đất rồi lên thử coi.
Bạn ông Ký biết ông cố che lấp sức yếu của ông, nên đùa như thế.
– Không, như vậy lại càng không được. Khi mà nắm trái tay ai có sức trời kéo cũng chẳng nổi.
Tuy lỡ một dịp biểu diễn thể thao, ông Xương Ký cũng rất bằng lòng mà chưa mang nhục. “Ná mọi” kia mà! Nó nổi danh là cứng như thép, thì giương không nổi cũng chẳng xấu hổ bao nhiêu. Vả lại, ông chỉ vì chịu đuôi ná vào bụng không quen thôi, chớ ná thì ông bảo kéo được kia mà. Thích một cái là Thu đi bộ thì thở hổn hển, còn ông thì không. Ông đã già đâu, bằng cớ là lội rừng, ông tỏ ra khỏe hơn cô gái hai mươi nhiều.
Người Sàigòn lần lượt về và ngày hội chợ bế mạc, cảnh có vẻ như một đám hát đình nhà quê ngày đưa sắc thần.
Tỉnh ly nhỏ ấy thâu hồi lại sự sống bình thường của nó với toàn là những gia đình tận lực làm ăn để gây sự nghiệp. Đi rong phố, rất ít người, mà họ cũng đi đâu đó có việc gì chớ cũng chẳng phải đi khoe áo như ở Sàigòn. Những cặp vợ chồng công chức đi dạo mát cũng rất là khiêm tốn, đến những người vợ tây sở cũng tỏ ra con nhà.
Cặp Thu – Ký nghe dễ thở bội phần. Lần nầy đôi bạn so le được người ta nhìn để trầm trồ vì ông Ký dầu sao cũng “đẹp già”, và nhờ biết ăn diện nên xem cũng khá trẻ ra, nhứt là khi xen lẫn với toàn những người bận làm ăn, ai cũng không tươi lắm. Họ hết bị nhìn bằng những vẻ mặt kinh ngạc như khi ở Sàigòn hoặc khi đang giữa hội chợ.
Ông Ký nghĩ nếu ở đây luôn, sống với đồn điền, có lẽ hạnh phúc được nhưng ông biết chắc không thể chôn vùi tuổi hai mươi của người vợ trẻ nơi chốn thâm sơn nầy mà không bị phản đối. Tuổi hai mươi ham sống biết bao nhiêu! Nhưng họ ham sống với xã hội loài người, cái xã hội phù hoa, chớ dễ gì ham sống gần thiên nhiên hoặc gần xã hội cần cù ở đây.
Cô Thu cũng thấy là không khổ lắm nếu theo chồng sống trên các đồn điền nầy. Nhưng rồi nỗi nhớ ánh sáng và tuổi trẻ ở đô thành luôn luôn ngùi ngùi như là nỗi sầu xứ của một kẻ lìa quê.
Tạm trong vài ngày nầy, cô thấy cũng dễ chịu và gần vị hôn phu già, cô lần lần tìm được thêm nhiều đức tánh của người nầy và cả nhiều chi tiết về sự trẻ đẹp muộn màng của hắn.
Thu có đọc một quyển sách ngoại quốc, trong đó có tác giả đề cao người chồng già. Người nầy giàu kinh nghiệm về mọi mặt, biết đoán ý muốn của vợ, biết xử thế với những bạn bè của vợ, sành đời hơn người tình nhân trẻ tuổi nhiều. Thu nhận là sách nói đúng khi gần gũi ông Ký, nên cảm tình đối với vị hôn phu cũng bắt đầu nứt mộng đâm chồi.
Người con gái đang thì nào cũng đói yêu đương. Nếu gặp người lý tưởng được thì tuyệt. Bằng không, lắm khi tình yêu đi lạc nên cũng đến lắm cô lầm lỡ với người già. Trong trường hợp Thu – Ký, lòng cô gái đang muốn phiêu lưu. Nề nếp nhà chắc chắn sẽ giúp cô khỏi ngả với ai hết. Nhưng người bạn già nầy, cô đang đói lại cối và cố sức yêu, nên cố nhiên tình yêu của cô bắt đầu lấp ló.
Ông Xương Ký đoán hiểu tâm trạng của Thu. Ông rất sành về lòng người nên mới có cuộc đưa Thu đi chơi nầy, thì sao bây giờ lại không hiểu được.
Nhưng quả là chán phèo, cái trái cấm ấy một khi đã gần hái được. Chán vì mệt mỏi quá rồi. Trên sân khấu, người Ký trẻ chỉ dán râu vào mép, bôi mặt sơ sịa và thêm vào đó một chút tài nghệ là làm lão già được, mà chỉ trong vài giờ thôi. Anh kép già nầy, trái lại, không thể hóa trang được mà phải trổ tài nghệ tuyệt luân ròng rã ngày nầy qua ngày khác để làm kép nhứt trẻ trung thì còn khổ nào bằng. Cái khổ nghĩ chắc sẽ không bù lại được với cái hạnh phúc mong muốn, nên chán là phải.
Hồn lan rừng thế mà ít đòi hỏi hơn. Nó lại quyến rũ như một mội nước xa đối với người bộ hành trên sa mạc. Sức nóng của nắng trưa đủ làm sai lạc thị giác của người nầy, nên mội nước càng được trang trí bằng muôn ngàn màu sắc rực rỡ ma quái khác.
Ừ, lan rừng! Từ hôm lên rừng đến nay, ông Ký quên mất nó. Phải tìm nó mới được. Ông đã đưa Thu vào những thôn xa, đã thấy hằng vạn nhánh cây có lan bám vào, nhưng chưa hề gặp lan đen lần nào cả.
Có một buổi vào thăm một cái nhà dài của người Thượng, ông nhìn dưới bộ ván dài thấy một cành lan đó, mà đã héo khô. Người Thượng ở trong những ngôi nhà dài hai mươi thước. Ván cũng dài gần bằng nhà. Hôm đó, trên ván có mấy mươi người đang lên cơn sốt rét ngã nước nằm la liệt nên ông không hỏi gì được. Từ đó, không hề thấy dáng lan đen nữa.
Hôm nay ông Ký đưa Thu đến một con suối ít người biết đến. Ông thích những nơi hẻo lánh, ông lại cố ý đi xa để tìm hoa lạ.
Riêng Cao Nguyên không dày mịt như rừng dưới ta. Giữa những thân cổ thụ mọc rất hiếm những dây leo, những kè gai, những mật cật lá rè, nên ông Ký dắt bạn xâm nhập đại vào khối cây xanh, không theo những lối mòn mà ai cũng biết. Ông biết hướng con suối đâu, và đi liều lĩnh như thế mới đổ ra được những bến lạ chưa hề thấy dấu chơn người.
Suối báo hiệu bằng một vùng đất hơi ẩm, phủ rêu nõn. Nó lại lên tiếng trước bằng lời chim như tụ về đó để uống nước. Đến gần sát bờ mới nghe thủ thỉ dưới lá.
Nếu một chiếc xuồng thả trôi theo dòng xuôi thì người ngồi xuồng có cảm giác là đi xe lửa và đang chun vào hang núi. Cây giao nhánh giấu mất dòng nước dưới mắt kẻ tò mò; suối sống âm thầm trong rừng sâu nên được một người ham sống âm thầm như thế tìm đến. Đây đó vài giọt ánh sáng nhểu xuống từ trên vòm lá. Có giọt to như giọt nước máng xối lúc trời mưa lớn, soi sáng nếp sống thân mật bên trong. Hai người dòm xuống thì thấy dưới đáy một màu lục sậm, có nơi đen ngòm khiến Thu rùng mình tưởng tượng đến những con thủy quái hung dữ ẩn nấp đâu dưới đó trong một hang hiểm hóc nào. Nàng thò tay xuống nước rồi toàn thân mọc ốc. Nước lạnh như nước trong một ly nước đá bào. Cái lạnh lại theo đi mà chạy mau như điện đến lưng người. Đây là một thứ lạnh, khó chịu như cái lạnh dún mình lúc sắp đến cơn sốt rét rừng.
– Tắm em nhé, ông Ký nói.
Thu lắc đầu. Nàng có đem y phục tắm theo, nhưng vì ớn màu lục đen dưới đáy nước, ngại sức lạnh của suối và nhứt là e dè trước ông Ký nên nàng bỏ dự định tắm đó.
– Công trình đi đến đây mà không tắm cũng uổng. Ông Ký vừa nói vừa cởi ra y phục một cách tự nhiên. Cũng không nài nỉ thêm gì người yêu cả. Khi chỉ còn đồ tắm trên thân mình, ông ngó quanh quất và mừng rỡ mà thấy một cây quỳ. Cây như mọc lên được một thước thì bị ai nuốn ngã nằm. Nó tiếp tục lớn lên bằng cách bò dài ra, và vô tình bây giờ dùng làm ghế được.
Ông Ký cầm tay Thu mà dắt đi, nàng không chống cự. Ông đưa nàng đến gốc cây quỳ ấy rồi bước lên trước mà nói.
– Thôi, em ngồi đây, đợi anh tắm mát vài phút rồi ta đi tìm lan.
Cây quỳ bò ra mặt nước nên ông Ký khỏi phải xuống, đợi Thu ngồi xong ông theo cây mà ra giữa suối như đi cầu khỉ.
Sách khoa học quả quyết rằng con người không già nơi tuổi tác mà già nơi sự suy mòn của thớ thịt. Có người sáu mươi mà thớ thịt còn tươi, trái lại có người ba mươi mà thịt đã bắt đầu lão.
Nếu sách nói đúng thì ông Ký còn trẻ. Thân mình ông quả còn đều đặn, các bắp thịt quả còn sơn sở.
Không biết suối sâu hay cạn, ông cũng chắp tay phóng xuống vì thân cây mà ông đứng, không cao cho lắm.
Nước suối văng tóe lên rồi mặt suối khép lại sau gót chân người nhảy. Vài giây sau, ông Ký trồi đầu lên cách đó gần mười thước. Vì ông phóng xuôi dòng nên bây giờ phải lội ngược về chỗ cũ. Nước chảy thấy thì rất mạnh, thế nên ông Ký lội cũng vượt tới mau lẹ như lội rạch đất bưng. Khi về ngay cây quỳ ông nhắm nhía rồi lướt qua khỏi đó vài thước. Đoạn thả trôi xuôi trở lại. Trôi tới thân cây, ông từ dưới nước phóng lên, níu lấy cây quỳ, đánh đu lộn ngược nơi đó.
Ông đang say với sự khoe bắp thịt như một nhà điền kinh mê tập luyện vào buổi sáng, bỗng một tiếng kêu thất thanh của Thu trên bờ làm ông rụng rời. Ông Ký rơi xuống nước rồi không kịp nhìn, bơi sải vào bờ sau vài ba cử động mạnh của tay chơn.
Khi ông trườn lên bờ thì thấy Thu đang té ngửa xuống và cũng lẹ như chớp, ông nhảy lại đống quần áo, chụp lấy cây mác cán dài rồi day lại chặt chụp xuống một cái, sát đầu Thu.
Máu phun có vòi…
Đó là một con trăn con, vụng về tập sự quất mồi, hay giỡn chơi cũng nên, hệt như con chó con lạ gì cũng cắn rồi tha đi cho đỡ ngứa răng. Thấy cô Thu ngon quá, nó quấn chơi, chớ con mồi to như vậy, làm gì nó ăn được. Đuôi trăn đang quấn cổ vội tháo lẹ ra trong lúc đầu lăn lóc muốn bò thoát đi. Nó sẽ không bò được xa nhưng ông Ký cũng chẳng thèm biết tương lai đích xác của nó. Ông bận đỡ Thu lên, Thu mà giờ đây đang nằm trên tay ông, Thu ấy mặt cắt không còn một hột máu và nhăn lại như nhờn gớm cái gì.
– Em có làm sao không?
Thu mở mắt ra, rồi rùng mình:
– Chỉ nghẹt thở trong một giây. Nhưng nhờn quá, nó lang láng, nhơn nhớt ghê muốn chết.
– Chết là nó, chớ không phải em. Em xem kìa…
– Thôi, ai dám ngó nó… Anh…
Giọng Thu nhõng nhẽo như trẻ con sợ ma, và tiếng “Anh” thốt ra để toan nói một câu còn ngập ngừng nơi cổ họng, tiếng ấy hàm trách móc rất đáng yêu, có lẽ trách ông bỏ nàng một mình nên mới gặp nạn.
Người đẹp ở trong tay đây rồi! Người yêu lại không phải ở đó vì bị bắt buộc mà vì muốn ở để được bảo vệ. Người ấy đang nĩu nịu, đang trách móc… Ôi, thần tiên là sự đụng chạm lần đầu trong đời niên thiếu với một người bạn lòng. Ông Ký quả nghe ngây ngất gần được y như thế, nên như một chàng niên thiếu, ông bỗng đâm bối rối, vụng về, không biết phải làm sao nữa.
Ông hồi hộp nhìn Thu, tiếc sao nàng không bất tỉnh như người cung nữ trong phim Địa ngục môn, và xấu hổ thấy mình như chàng tướng trẻ trong phim đó, hớp nước suối để làm bộ cho nước, mà lại sợ sệt nhìn quanh dáo dác rất buồn cười.
Không, ông không hèn như chàng tướng trẻ ấy. Ông phải yêu đường hoàng chớ không được lợi dụng sự bất tỉnh của người đẹp để cho nước. Nhưng ông phải yêu lễ độ chớ không hỗn hào như một chàng trai hai mươi được.
Quyết định được thái độ, ông Ký tay nưng vị hôn thê lên, mặt cúi lần xuống rồi chỉ đặt môi lên tóc nàng, hun thật nhẹ một cái ngắn rồi thôi. Trong khi Thu rùng mình rồi ngây ngất dưới hơi thở ấm của người chồng chưa cưới thì ông Ký bỗng nghe một cảm giác thật kỳ lạ. Đó là một sự nhờm gớm, không phải nhờm gớm hương trời trong tay, mà giựt mình đánh thót lên và vẳng nghe đâu đây lời trách móc, hơn nữa, lời hăm dọa tội tù.
Tám tháng trời đeo đuổi, nửa tháng chinh phục không ngừng, hai phút lồi hộp đến tim như muốn nhảy thoát ra khỏi lồng ngực, bao nhiêu ngày tháng công lao ấy dầm trong một giấc mơ hạnh phúc vô biên. Nhưng giờ đây, ê chề hối hận như lỡ tay đánh phải một đứa bé dại, săn phải một con khỉ non và lòng quặn thắt, đau trước tuyệt vọng, căm hờn, khi ẩn trách của khỉ mẹ.
Ông Ký đặt Thu nằm xuống cỏ, nhưng nàng không chịu nữa.Người con gái họ giữ gìn nết hạnh rất chín chắn. Nhưng khi đến lúc thấy không cần giữ gìn nữa, với một người nào, là họ suông sẻ một cách rất lương thiện. Đường họ đi, không đi thì thôi nhưng hễ đi thì suông như đi trên một đại lộ, không quanh co, không ngập ngừng một cách ích kỷ như ta. Hơn thế, nàng vừa mới yêu trong một phút, lần đầu tiên trong đời nàng. Tình yêu chỉ có thế thôi a? Không, nàng không chịu bị thất vọng. Ông Ký đành phải tiếp tục nâng đỡ người vợ chưa cưới, mà lòng khổ như phải nâng một người vợ già, ốm đau liên miên mấy tháng trời.
Thu nằm đó, lòng băn khoăn chờ đợi cái gì nàng không rõ, nhưng tin chắc không phải như thế rồi thôi.
Bỗng một tiếng soạt trong lá khiến cả hai giựt mình ngó lại.
Lá xanh như một tấm màn giấy bỗng bị xé rách một lỗ và nơi lỗ rách ấy một mặt người ló ra. Đó là một Sơn nữ không giống người trong mộng chút xíu nào cả. Nàng không trắng, không đẹp, mắt nàng không mơ huyền mảy may nào; nàng cũng chẳng ngây thơ nhìn người đàn ông đất Kinh như ông Ký đã mộng thấy. Ông đang vừa ra khỏi một thất vọng lại đâm đầu vào thất vọng khác nữa! Người sơn nữ vạch lá bước tới, không ngại ngùng như ta, trước cảnh thân mật của người khác.Hồn hoa ơi, không lẫn trốn nữa à? Ảo mộng ơi! Bây hùa nhau mà ra mặt một lượt, bổ tới như những đợt sóng mạnh xô ngã người đang đứng nơi bãi cát nhìn xa ra khơi mà mơ hão những chân trời lạ, những nước non huyền diệu ở đâu đâu!
Để đỡ khó chịu, ông Ký hỏi bậy một câu, không mong người kia hiểu:
– Ở đây có lan đen không chị ? Sơn nữ nhìn ông giây lát rồi đáp:
– Có, thầy hỏi làm chi?
Tiếng Việt đúng giọng của người nầy khiến đôi bạn ngạc nhiên. Ông Ký nói:
– Tôi muốn tìm lan đen, chị làm ơn chỉ giùm.
– Đi theo tôi.
Đôi bạn uể oải đứng lên sau lời mời xẵng lè nầy. Lá rừng khép lại sau lưng họ như muổn lấp nẻo vào quê hương của lan lạ.
Đến một khu rừng kia, thiếu nữ dừng lại và làm thinh, lấy tay chỉ lên cây:
– Ôi! Lan đen sao mà nhiều như dế sau trận mưa đầu mùa. Ông Ký choa mắt không biết chọn chùm nào. Ông lại nghe hết thích hoa đó nữa. Không có thì ham, có rồi thấy cũng chẳng thích mấy. Có nhiều quá lại phát ngấy lên.
Ông Ký hỏi:
– Làm sao mà mang về cho chắc sống chị? Về rồi trồng đâu?
– Không, không trồng ở đâu được cả. Không đem về mà sống được.
– Tôi thấy họ chặt luôn nhánh cây mà nơi đó nó bám, nhưng rồi nhánh cây khô, hết nhựa, nó chết đi.
Cô sơn nữ cười ngất:
– Nó có ăn nhựa cây như chùm gởi bao giờ đâu. Nó chết không phải vì nhánh hết nhựa, trái lại nữa.
– Chớ nó ăn gì?
– Nó ăn vỏ cây chết nên… Ông Ký bỗng nhớ lại một câu của nhà văn Michelet: “Giống lan uống sự chết, sự chết ấy tạo sự sống cho nó”. Ông chận sơn nữ mà nói:- Nếu nó ăn cây chết thì chặt nhành cây về là đúng lắm rồi.
Sơn nữ mỉm cười:
– Chùm gởi ăn nhựa cây sống nên sống bám vào cây đó là phải. Nhưng lan ăn vỏ cây chết rồi còn phải tạo lấy sự sống cho mình, nên không phải chỉ sống gởi là đủ. Còn phải có khí hậu nào, hơi gió nào và một vạn thứ bí mật khác nữa mà ta không biết. Ông Ký bỗng giựt nảy mình, nhìn lại Thu đang trố mắt soi mói người thiếu nữ Thượng.
Một cô gái ăn chơi son trẻ, sẽ vui lòng thỏa chí bám vào ông như chùm gởi bám vào cây sống. Ông sẽ chết trước chùm gởi và khỏi đau khổ mà thấy người đẹp héo sầu. Nhưng Thu, một khi bám vào vỏ cây già cỗi của ông, chưa chắc đã đủ điều kiện để tạo sự sống cho Thu. Ông lặp lại trong trí lời sơn nữ: “Còn phải có khí hậu nào, hơi gió nào và một vạn thứ bí mật khác nữa mà ta không biết”. Không, vô ích, cuộc hôn nhơn kỳ lạ của ông và Thu! Ông vừa thất vọng sau cái hun trên tóc, ông không nên mò đến một thất vọng lớn lao nữa.
– Thôi, cám ơn chị nhé, tôi thôi không mang lan về nữa. Nói rồi ông ra hiệu cho Thu theo, không nắm lấy tay nàng mà dắt đi như ông đã sung sướng làm mấy bữa rày.
Khí hậu Khí hậu! Ông lặp lại mãi hai tiếng ấy trên đường về. Khí hậu nhà ta là những cuộc chạy áp phe quay cuồng. Rồi vài năm nữa đây, nó sẽ là khí hậu tu viện của một ông già lùi về quê. Cả hai lối sống đều không hợp với Thu, nàng cần không khí vui tươi hơn là những con số, những kiện hàng, và cần không khí trẻ trung hơn là một khu vườn ở nhà quê trong đó chủ nhà dưỡng lão. Ra đến lối mòn, ông nhìn Thu rồi ngập ngừng giây lát, ông đánh bạo nói:
_Thu, cháu ơi, chú thấy chú đi sai đường lạc nẻo sâu lắm rồi. Nhưng trở lại còn hơn liều tiến đến miệng hố. Cháu nghĩ sao? Thu kinh ngạc đến tột độ. Sau một phút nhìn ông Ký nàng bỗng chợt hiểu. Nàng ngồi phệt xuống cỏ ôm đầu khóc mùi mẫn. Người con gái đi đường suông. Và nếu phải trở bước thì khó khăn thay.

Đèn Cần Giờ

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc
Xới Đất xuất bản 1968

Post by Sơn râu 17 Sep 2024

Photo edit by Sơn râu

2. Bao bố nhìn mặt

Hạnh tuy còn ít tuổi mà lo xa như một ông cụ. Anh sửa soạn nào bông gòn, dây hăng tanh-ti-dót đủ cả rồi cho mọi thứ vào cái hộp cứu cấp bằng da của anh.
Từ Sài-gòn lên đó mười ba cây sô. Biết đâu dọc đường lại không té trầy chơn hoặc tới nơi leo cây, lội rạch lại không bị gai quào, nọc đâm.
Hộp cứu cấp ấy anh dùng mang thuốc, mang ống tiêm để đi chích dạo trong xóm Hòa-Hưng.
Để thuốc, gòn vào đó xong, anh mới nhận ra rằng anh đã chuẩn bị như là đi làm nghề, chỉ trừ thuốc và ống tiêm không có bỏ vào đó mà thôi
– Hay là bỏ đủ vào đó? Biết đâu…
Thế rồi anh thêm vào hộp một ống chích, ba cây kim, vài mũi thuốc khỏe, vài mũi thuốc cầm máu.
Vừa lúc ấy thì Thế tới ngoài ngõ, bóp chuông xe máy leng keng và kêu với vô:
– Rồi chưa ta? Đi nè, kẻo trưa, nắng lắm!
Họ lên Vĩnh-Phú để uống nước chè tại lò đường của dì của Thế.
Vĩnh-Phú là một làng vườn, đất ẩm nên hợp với sự trồng mía.
Từ quốc lộ Sài-gòn-Bình-dương ra đến sông Sài-gòn, địa phận của làng, mía trương cờ lên, trùng trùng điệp điệp trắng xóa như một biển lau sậy.
Đây đó những hòn đảo xanh rì: đó là nhà dân, với vườn tược bao bọc chung quanh.
Xa, thật xa ngoài bờ sông, những trại ngói dài với ống khói cao, nhả khói lên đen ngòm cả bầu trời trong trẻo của thôn dã. Đó là những lò đường trong làng.
Nhờ có công nghệ nên làng trù mật lắm. Nhưng tuy dân có của thế mà không ai ở không cả. Cả làng làm việc như cái ổ ong.
Đây, vài mươi phu cuốc đất. Đất đen như than, mà mềm như bùn. Lưỡi cuốc rất to, xắn xuống rồi lấy lên từng cục trông ngon như nhưn bánh trung-thu chai bằng đậu đen.
Kia, một nhóm phụ nữ phát mía, những đám mía đã tới tuổi nấu đường.
Trong lò lửa cháy rần rần, trông vui và ấm lạ.
Tiếng ông che nghiến răng kèn kẹt như câm giận sao dân làng bắt các ổng làm việc nhiều thế để hưởng lợi.
Ông che là những khúc gỗ tròn, đứng kề sát nhau, lăn quay như con vụ. Mía đút vào đó, ổng nghiến dẹp lép, nước chảy ra không sót một giọt. Bàn ép của các xe mía là những ông che tí hon nằm ngang.
Dì của Thế là một chủ lò đường, nhà làm ăn rần rần nhưng không con.
Bà thấy Thế lên thì mừng rối rít, hối trẻ ví gà để đãi cháu một bữa gà luộc nước chè.
Hai anh em hỏi thăm sức khỏe bà dì xong là thoát ra ngoài. Uống nước chè là chuyện phụ. Họ lên đây chỉ để hưởng thú quê một ngày chúa nhựt, sau cả tuần lễ ngộp thở ở Đô-thành.
Cặp Mạnh, Thế đi xuống bến, mở xuồng của dì cột nơi đó, rồi bơi ra giữa dòng.
Nước sông Sài-gòn ở nơi đây xanh lơ như nước sông trong tranh, nên hai anh em muốn ở mãi dưới ấy cho đến bữa cơm trưa.
Nhưng mới bơi được một đỗi là bà dì đã cho người gọi giựt ngược lên. Bà ta nhận được lịnh khai thuế gì đó mà đọc không hiểu mấy bữa rày, nên nóng được đứa cháu thông thái cắt nghĩa cho nghe.
Không được chơi nước thì chơi lửa vậy, đôi bạn tự an ủi thế. Và giải thích xong giấy tờ cho chủ lò nghe là họ ra liền, không ngồi nóng ghế chút nào.
– Nước chè là nước làm sao vậy? Mạnh hỏi.
– Là nước mía nấu sôi để làm đường, mà chỉ mới sôi đến độ nào đó thôi.
– Vậy hả? Thành ra thịt gà luộc trong đó ăn ngọt?
– Ừ.
Người thợ nấu đường đứng xem chảo nước mía sôi một hồi, dường như thăm hỏi từ bong bóng mật đang sùng sục trồi lên hụp xuống, đánh hơi cái mùi ngon ngọt thơm thơm từ chảo bốc ra, rồi nói: “được rồi”.
Đoạn anh ta thọc gáo vào chảo múc đầy một gáo nước chè, đổ ra hai cái tô đặt cạnh đó, trong tô có sẵn vài lát gừng.
– Mời hai cậu uống nước!
– Nước chè đây à? Mạnh hỏi bạn.
– Ừ, uống cho biết kẻo chết thành ma nhà quê.
– Ma chợ chớ. Nếu ma nhà quê thì đã sành uống nước chè.
Mạnh thổi vào tô nước nóng, rồi uống từng hớp kêu soạt soạt cái thứ nước ngọt một vị ngọt tươi và cay cay hơi gừng ấy.
Người thợ nấu đường khác đi lại, tay cầm hai cùi thơm phủ một thứ nước sơn vàng láng mà trong.
– Hai cậu mút cái nầy rồi uống nước mới ngon.
– Gì đây?
– Đường gần tới. Nhúng cái gì vào đó, rồi mút cũng ngon cả, cùi thơm, cùi bắp, vỏ bưởi, đu đủ sống, v. v…
– Như con nít mút kẹo vậy. Thế ơi, ngộ quá!
Mạnh mút một cái, hớp một hớp nước chè nóng, vừa lắng nghe mùi nước mía ngập ngừng muốn biến ra mùi đường mà chưa thành hẳn, vừa nhìn người ngồi che cho che ăn.
Anh ta ngồi ngay dưới đất, rút mía nơi đống mía sau lưng rồi đút vào hai con che trước mặt.
Che nuốt lần lần những cây mía cứng ấy như một con quái vật đang đói một cơn đói khổng lồ, ăn mãi, không bao giờ no cả.
Hai con trâu kéo một cây trục đóng dính vào đầu một con che, đi vòng quanh bất tận. Đó là động cơ sống hai… ngưu lực, dùng để quay cái bàn ép to tướng kia.
Con che kêu rít lên, nghe rợn cả người, khiến Mạnh có cảm giác đó là một vật sống có linh hồn, mà đây là một linh hồn hiểm ác.
Như đang cùng một ý nghĩ với bạn, Thế nói:
– Họ sợ hãi kêu con che bằng ông che nghĩ cũng phải. Họ hay cúng kiến nó lắm, và con che nào cũng có “cô hồn” cả.
Cho che ăn về đêm là một công việc cảm tử. Hễ ngủ quên trong nháy mắt, đút luôn tay mình vào đó là chỉ có trời cứu. Ở đấy vài năm lại xảy ra thảm kịch ấy một lần.
Bỗng ai nấy đều giựt mình kêu thét lên một tiếng khủng khiếp. Họ dòm lại thì, trùng phùng kỳ lạ thay, tay người thợ ngồi che vừa bị “ông” che ngoạm phải.
Tiếng kêu la của nạn nhơn nghe kinh sợ lạ kỳ như tiếng một người thoạt thấy ma, rồi lại tuyệt vọng quá sức như người vừa rơi xuống miệng hố sâu, không mong ai cứu được cả.
Trong khi ấy thì cặp trâu cứ bình thản kéo cây trục, cho con che lăn quay đi.
Lẹ như chớp, anh thợ nấu đường nhảy tới nắm mũi trâu mà chận nó lại.
Nhưng tay anh thợ ngồi che đã bị nuốt đến cườm.
Cả xóm bu lại tháo che ra. Bàn tay anh nầy dẹp lại như con khô hố. Huyết quản và hồi huyết quản bị bể máu ra có vọt, còn nạn nhân thì đã bất tỉnh nhơn sự vì mất máu và vì sự đau đớn.
Mạnh lật đật chạy vào nhà lấy đồ nghề ra băng bó cho nạn nhơn, tiêm cho hắn một mũi thuốc khoẻ và một mũi thuốc cầm máu, rồi hối thúc:
– Mau mau đưa anh đó đi nhà thương, không thôi anh ta chết mất.
– Liệu cứu đuợc không cậu? Bà chủ hỏi.
– Chắc chắn được, nếu đi kịp. Xuống nhà thương, ngưòi ta biết cách và đủ phương tiện thì hy vọng lắm.
Khi người ta đưa kẻ rủi ro đi rồi thì vừa tới bữa ăn.
Bà chủ lo âu cần mời khách, và cố nhiên nhấn mạnh về công của anh bạn trẻ nầy.
– Thuở giờ, bà nói, chúng tôi chỉ để vậy mà chịu chết. Nay nghe theo lời cậu thử một chuyến xem sao. Nhưng dầu sao cũng cám ơn cậu lắm. Trong làng mà có một người biết thuốc như cậu thì đỡ biết bao!
– Hay là mầy ở luôn đây mà tàm thầy lụi vườn, Thế nói cà rỡn. Bà chủ cũng cười mà rằng:
– Thiệt chớ! Ở đây không thiếu mối đâu. Giàu thì không giàu, nhưng cậu kìếm tiền sống dư dả. Muốn tìm đôi bạn, cũng chẳng thiếu gì nơi.
Thế thúc cùi chõ vào hông Thịnh một cái rồi nói:
– Mê chưa? Cái vụ tìm đôi bạn đó mới là hấp dẫn đa!
Mạnh làm thinh, nhưng không và cơm nữa. Anh ta đang bi lời đề nghị chơi chơi nầy quyến rủ.
Thầy chích dạo ở Sài-gòn đã nhiều lắm rồi. Lóng nầy anh ta phải đạp xe máy rả cả giò để đi từ mối nầy tới mối khác, họ càng ngày càng hiếm hoi ra.
Giây lâu, anh ngước lên hỏi bà chủ:
– Nhưng ở đây tìm nhà ở, khó hay dễ thưa dì?
– Cũng khó lắm. Mà tôi có một cái trại ngoài kia, cậu ở đó vài tháng, chừng có tiền, tôi sẽ cho đất mà cất nhà.

Dân ở đây chỉ mắc phải có ba bịnh thôi: rét rừng, kiết lị, và bón uất. Bịnh sau đó, giây ra muôn ngàn biến chứng, nào là nhức đầu chóng mặt, tức ngực, vân vân…
Mạnh biết rõ thế nên anh ta “làm thuốc” rất mát tay, chữa đâu lành đó. Dân làng phục lăn anh ta và kêu anh là thầy thuốc. Có người lại tôn Mạnh là đốc-tơ.
Ở Sài-gòn, sao anh ta lèn xèn, thế mà lên đây cũng bộ y phục ấy, nhưng trông anh ta lại sang trọng ra.
Mạnh thấy là mình đã tìm được đất dụng võ, và quyết yên phận sống nơi xó nầy đến già với cái mộng mua vườn mua đất và có vợ.
Vì ảnh hưởng kinh tế, ở những làng trù phú lâu đời, con gái thường dễ coi và nhiều khi đẹp.
Mới ở có một tuần mà Mạnh đã chú ý đến năm cô, cả năm đều cùng xóm với anh, đó là chưa nói đến nhiều xóm khác mà anh đi chưa tới.
Thật ra năm cô gái ấy không đẹp đẽ gì bao nhiêu. Một cô được nước đa trắng trẻo như gái chợ. Hai cô đen mà đen duyên, trông rất đễ yêu. Cô thứ tư hơi to lớn, nhưng thân thể nở nang đều đặn tuyệt mỹ. Cô chót nói chuyện nghe mê lắm, thông minh và khôn ngoan như một cô gái có học nhiều.
Yêu họ mà qua đường thì thú lắm. Mà cỡ cưới họ làm vợ cũng chẳng hại. Nhưng Mạnh còn tham lam. Biết đâu xóm khác lại không có người lý tưởng. Hấp tấp rủi còn nữa thì có phải là tiếc lắm hay không?
Anh ta nghiễm nhiên là nhà tai mắt ở đây rồi, uy tín có thừa, bóng sắc như bóng sắc của anh, đối với gái quê cũng là có đường lắm, thì tội gì không chọn hoa khôi trong vùng để mà yêu hoặc để mà lập tổ ấm.
Hôm ấy anh đi chữa bịnh cho một ông lão ở xóm Lò mứt chuối.
Anh đạp xe đạp trên bờ các con đê, qua hết đám mía nầy đến đám mía khác, thì bỗng trước mặt anh một chiếc cầu ván đón đường.
Cầu ván làm bằng ba tấm ván nối dài lại, thành hình thang trong khoa hình học; bề ngang cầu chỉ vỏn vẹn rộng có bốn tấc thôi.
Anh Mạnh xuống xe, rồi người và ngựa (ngựa hai chân) cặp song song nhau mà qua cầu.
Cầu ván đóng đinh lắc lẻo, gập ghình, rung rinh thấy mà bắt ngán. Thỉnh thoảng cái bàn đạp bất nhơn đập vào ống qnyển anh ta một cái đau điếng người.
Tấm ván giữa cầu cao hơn tấm ở đầu cầu. Đẩy xe tới đó, ông thầy lụi bị đập một cái nữa, đau quá, ông ta toan cúi xống mà xoa chân thì bánh xe trước đã trật ván 1ọt xuống mương.
Cố níu xe lại, thầy lụi ta lại bị xe trì rồi cả hai rơi xuống nước một cái tùm.
Trong khoảng thời gian ngắn ngủi mà anh ta mới ngã mình ra khỏi cầu ván, Mạnh thoáng thấy một cô gái đứng ở bờ mương đối diện, cách đó độ hai mươi thước.
Cô gái xinh đẹp lắm. Trong lúc hốt hoảng mà Mạnh nhận được điều đó, chứng tỏ sắc đẹp của cô ta quả sáng rực lên.
Hình như cô ta đang cười rũ rượi, tuy không ra tiếng.
Mương sâu cỡ hai thước; gặp lúc nước ròng, các mương trong đều đánh tháo ra ngoài sông nên nước chảy siết. Mạnh lại không biết lội.
Hồi té, anh không sợ bao nhiêu, đoán nước dưới ấy giỏi lắm tới ngực là cùng. Anh không bông xe nên vì nặng, rơi tới đáy rất lẹ. Bấy giờ anh mới thả tay ra để đứng dậy.
Lần đầu tiên trong đời anh, Mạnh mới hay rằng hoạt hoạt động dưới nước khó vô cùng. mà lại lại dưới dòng nưóc đang chảy mạnh.
Anh đứng lên, nghe nằng nặng ở trên đè xuống, và gì mà như ai xô anh tới trước. Đã nghe ngộp, anh ráng hết sức bình sanh chống lại áp lực ở tứ hướng và đứng dậy thật mạnh. Anh đã đứng được, nhưng mặt anh vẫn còn ở dưới nước.
Tất cả những sự việc trên đây xảy ra mau hơn là thì giờ dùng để kể nó lại nơi đây, sự việc chỉ xảy ra trong nháy mắt thôi.
Mạnh hoảng hốt đến cực độ, chợt biết rằng mương sâu hơn thân người cao. Trên anh, khối nước còn đè nặng lên đầu anh.
Mạnh vừa quýnh lên thì thấy một bóng đen lù lù tiến đến làm anh khủng khiếp vô cùng, nghĩ tới những con thủy quái ghê gớm đọc thấy trong tiểu thuyết.
Nhưng một cánh tay thò tới, thoạt tiên làm anh khiếp vía, ngỡ vòi con mực trong phim chiếu bóng kia. Nhưng anh chợt hiểu.
Người cứu cấp nhảy lên bờ mương trước rồi nắm tay anh mà kéo. Manh níu cỏ thoát lên cho đỡ nặng người kia.
Anh mắc cở đến muốn nhảy xuống mương vì người đó là một cô gái, cái cô gái gặp mình mà cười hồi nãy.
Cô ta nhảy trở xuống nước để lôi xe máy lên, lần nầy khó khăn hơn nhiều, vì tuy xe nhẹ hơn người mà nó lắc lẻo khó kéo lắm.
Mạnh, tuy thế, vẫn cố dẹp tự ái lại, đứng lên để cám ơn người nghĩa. Người nầy chỉ mỉm cười, có lẽ quê mùa, ngây thơ, không tìm được lời khiêm nhượng nào để xóa lấp câu cám ơn của nạn nhân chăng?
Mạnh lại hỏi thêm:
– Thưa cô, nhà cô ở đâu?
Cô gái chỉ mỉm cười như trước, rồi không hiểu sao đâm đầu chạỵ đi một nước, trước sự kinh ngạc của Mạnh.
Anh ta ngó theo cho đến lúc cô ấy khuất dạng, sau một đám mía, ngó theo để biết hướng nhà cô ta, mà cũng là ngó theo cái thân hình tròn trịa lộ rõ ra vì y phục ướt dán sát vào da thịt cô.
Thầy lụi chích xong, hỏi người nhà ông lão:
– Ở xóm nầy, cái cô gái có nút ruồi trên môi trên là gì và nhà gần hay xa?
Bà lão ngơ ngác, còn dâu bà thì mỉm cười nói:- Chắc thầy hỏi con Bánh?
– Con Bánh? Tên ngộ quá! Nhưng tôi không biết tên cô ấy, cô ta đẹp lắm, nhờ nút ruồi trên môi.
– Chắc chắc là con Bánh rồi. Nhà nó ở trong kia, nhà ngói cũ nhỏ, có hòn non bộ ngoài sân.
Rồi chị ta cười bí mật, hỏi gì cũng không chịu nói thêm nửa lời.
Bận về, Mạnh ra đường cái mà đi, không dám theo bờ đê nữa. Anh thay y phục, ăn cơm mà một chị hàng xóm làm giùm cho rồi đi nghỉ.
Ngủ trưa thức dậy, Mạnh diện bộ đồ bảnh nhứt của anh như chiều thứ bảy đi xem chiếu bóng ở Sài-gòn, rồi đẩy xe ra lộ lớn để xuống xóm cô Bánh.
“Cô Bánh, tên xấu quá, mà người lại đẹp. Mạnh vừa đi vừa nghĩ vừa buồn cười. Nhưng bánh nầy là bánh bò bông, nên trắng nõn, lại là bánh đám cưới, làm hoa hòe ra, trông ngon lắm. Nhưng biết có phải là cô Bánh hay không?”
Anh ta đạp xe như đua nước rút, không mấy chốc là đã đến nơi. Đẩy xe đi dài theo bờ mương, anh nhớ lại tai nạn hôm qua mà tức cười.
– Cô ta cười là phải. Bộ mình qua cầu không quen, trông thấy lọm khọm ai mà nín cười cho được. Lại té xuống nước nữa! Mà chết hụt trong một cái mương hẹp mới ác chớ!
Mạnh đi riết vô trong thì quả gặp cái nhà mà chị nọ đã tả. Trước sân có hòn non bộ hẳn hòi.
Chó sủa vang mà không thấy dạng người ta. Mạnh bẻ một cành tre ngoài hàng rào cầm quất chó rồi bước vào sân.
Không thấy bóng người, mặc dầu cửa mở. Có lẽ cả nhà đều ở ngoài đồng. Đứa bé coi nhà đã trốn đi chơi chăng?
Mạnh đứng ngoài sân tằng hắng hai ba tiếng. Cũng không nghe động tịnh. Đánh bạo, anh đi vòng ra sau bếp thì mừng thay, cô gái nút ruồi, cô Bánh, đang nấu nướng gì đó.
Cô gái đưa lưng ra ngoài, chắc là điếc hay sao mà Mạnh lên tiếng cô ra vẫn chẳng day ra. Tức quá anh thầy lụi bước đại vào nhà bếp.
Bấy giờ cô Bánh mới day lại, thoạt tiên chưng hửng rồi vui mừng lộ rõ ra trên mặt cô. Cô cúi đầu chào khách rồì đứng đó làm thinh.
Thấy cô ta quá ngây thơ quê mùa, Mạnh thích lắm. Chàng nói:
– Thưa cô, ơn cô tôi không sao qnên được, nên nay quyết đến để…
Cô gái mở miệng ra, ú ớ cái gì không biết nữa và Mạnh bỗng chợt hiểu tất cả: đó là một cô gái câm.
Chàng buồn cười hết sức, không cầm giữ được, nên bật tiếng cười dài.
Cô gái mắc cỡ, bỏ chạy ra đám mía trước nhà rồi lủi vào đó mất dạng.
Mạnh biết đợi thế nào cô ta cũng chẳng vô, nên ra về, tự hẹn sẽ đến.
Ngày mai chàng trở lại nơi đó, vì dầu sao cô gái ấy cũng đẹp mà chàng còn trẻ với tình yêu chan chứa, với dục tình muốn thoát cương.
Cô Bánh thấy khách toan chạy đi, nhưng nghĩ sao không rõ, lại thôi.
Mặt cô vừa bẽn lẽn vừa có vẻ giận dỗi. Mạnh hiểu ngay những phản động trong lòng cô ta, nên anh vào chào cô rất lễ phép và nghiêm mặt lại như trọng nể cô lắm.
Quả nhiên cô Bánh hết giận ngay.
Quên bịnh tật của cô, Mạnh hỏi Bánh một câu. Bánh u ớ lu bù những giọng líu lo gì đó, khiến thầy lụi sực nhớ lại thực trạng về cô.
Mạnh cố suy tính coi phải ra dấu thế nào cho cô ấy hiểu câu hỏi của chàng. Câu ấy là như vầy:
– Còn ba má cô đâu?
Rốt cuộc chàng vuốt cằm như vuốt râu, muốn nói người có râu, tức ông già, tức cha cô gái. Rồi chỉ vào nhà, lại chỉ ra đồng.
May quá, cô gái hiểu và chỉ về đằng xa dưới kia, rồi lấy cây chổi giả bộ như cuốc đất.
– Ba tôi cuốc đất dưới kia.
Chàng muốn hỏi nữa, nhưng không biết ra dấu làm sao nên đành cụt hứng. Đôi bạn đứng đó mà làm thinh, miệng tuy ngậm câm, mà lòng nói với nhau nhiều lắm.
Đối diện đàm tâm mãi cũng chán, Mạnh lấy ra một gói nhỏ trao tặng Bánh. Đó là ve dầu thơm thứ lô-canh rẻ tiền mà chàng đã mua chiều hôm trước trên chợ Lái-Thiêu.
Cô gái không nhận, xua tay lia lịa. Mạnh làm ra vẻ khẩn khoản lắm, ra dấu nói nếu cô ta không nhận thì chàng sẽ đập lọ vào gốc cây rồi về và không trở lại thăm cô ta nữa.
Cô Bánh rốt cộc nhận quà, rồi ra dấu bảo Mạnh đứng đó. Cô chạy vô nhà một lát thì trở ra với một chiếc khăn mu-xoa thêu rìa xanh đỏ trông rất quê.
Nhưng Mạnh tỏ vẻ vui mừng như được bảo vật. Rồi họ chia tay nhau, cả hai đều bằng lòng.
Sáng hôm sau, Mạnh vừa tiêm xong thuốc cho bốn năm người khách không bịnh nhiều, lại ngay nhà chàng được, thì cô Bánh đã đến.
Cô Bánh vừa bước tới sân là Mạnh nghe nực nồng mùi dầu thơm rẻ tiền. Cô ta làm dáng ghê lắm: nón bài thơ bọc áo ni-lông; áo bà ba bô-bơ-lin thêu trôn; đồ trong màu hường dạ ra ngoài rõ bông, quần lãnh tây thêu lai; guốc quai tréo.
Chiều hôm qua, Mạnh đã điều tra kỹ và biết cô Bánh là con một của một gia đình trung nông, ông cha là hương chức trong làng, chủ ba bốn mẫu mía.
Cô có học trường câm ở Lái-Thiêu mấy năm nên biết viết, biết đọc sách thầm, biết thêu thùa, làm hoa giấy, v. v…
Mạnh tiễn khách tới sân rồi luôn tiện mừng bạn vừa đến. Chàng mời Bánh vào nhà, trà nước đàng hoàng, rồi ra dấu để đàm đạo.
– Cô đi chợ phải không?
– Không, em lại đây.
– Cô có xức nước hoa, tôi tặng hay không?
– Có, không nghe mùi đó sao.
Lại làm thinh, vì những câu muốn hỏi khó ra dấu quá.
Cô Bánh làm bộ như viết chữ. Mạnh chợt hiểu, chạy vào lấy giấy và một cây viết chì ra trao cho bạn.
Cô Bánh viết ngay mấy câu sau đây. Chữ rất xấu, chánh tả lại sai be bét:
“Anh Thầy Chít ơi”
Đọc xong lời kêu gọi, Mạnh cố nén cười đến tức muốn bể ngực. Thì ra cô gái đã điều tra, và có lẽ ai đã viết cho cô đọc để biết anh ta là thầy chích. Nhưng cô ta lại lầm tưởng thầy chích là tên của anh, nên mới viết hoa hai chữ T và C.
“Anh Thầy Chít ơi!
“Em tới thăm anh. Hỏi xao (sao) anh hổng tập lội, kẻo té nữa rồi ai dớt (vớt) cho. Anh có vợ con chưa ? Ai nấu cơm anh ăn?”
Lần nầy Mạnh dám cười, cười thẳng thắn, anh đáp:
“Cô Bánh ơi!
“Tôi có té thì kêu cô vớt liền. Tôi chưa vợ. Tôi ăn cơm tháng với chị gần bên.
“Phải chi tôi ở gần cô, tôi mượn cô nấu tôi ăn. Cái khăn cô tặng tôi đẹp quá. Tôi cất kỹ để dành, lâu lâu, tôi lấy ra nhìn, cũng như là thấy mặt cô.”
Đôi bạn bút đàm với nhau tốn đến năm tờ giấy mà nói toàn những chuyện vớ vẩn không mà thôi.
Rồi Bánh ra về, hẹn sẽ đến nữa. Họ thỏa thuận với nhau là lặp nhau nơi đây tiện hơn ở đâu cả, và Mạnh sẽ không đến nhà Bánh cho cha mẹ Bánh khỏi nghi nan.
Cưới Bánh làm vợ thì Mạnh không tính tới, cố nhiên rồi, mặc dầu nàng là con nhà khá giả trong làng.
Nhưng con trai thì tánh hay tham, nên Mạnh thấy bỏ đi cũngr uổng. Vả lại làm bạn với một con câm cũng vui trong cảnh buồn tẻ ở xó quê nầy. Tỏ tình với nó cũng thú lắm.
Đôi bạn qua lại với nhau đâu được mười lăm hôm thì bữa đó Mạnh viết:
“Cô Bánh ơi,
“Tôi thương cô lắm mà không biết cô có thương tôi hay không ?”
Cô Bánh đáp:
“Anh Thầy Chít ơi,
“Sao lại không thương, em thương anh từ lúc vớt anh lên bờ. Không thương còn lại đây làm chi.”
Mạnh lại viết:
“Cô Bánh ơi,
“Từ đây tôi kêu cô bằng em. Tôi mừng quá, tôi sung sướng quá. Tôi muốn nói chuyện với cô thật nhiều, thật lâu mà bây giờ sắp có khách khứa lu bu. Vậy tối cô lại có được hay không?
Bánh lại đáp:
“Thầy Chít ơi.
“Ngày thường thì không được. Mà tối nay được. Ba em đi dọn đám ma nhà bà con dưới Bình-Phước. Má em thì quáng gà. Tối nay em lên lối tám giờ.”
Mạnh bôn chôn trông cho mau tối. Tối đến, anh lại hồi hộp đợi bạn.
Bánh lên, anh nhắc chõng tre ra sân, ngồi cho mát. Cả hai đều biết cuộc gặp mặt đêm nay có mục đích gì, chớ nói chuyện bằng chữ sao cho tiện bằng ban ngày.
Sự gần gũi lần đầu trong đời người giữa đôi bạn trai gái, quá thần tiên và đẹp như mộng, đẹp hơn cả mộng nữa, bởi vì sự ấy đã là mộng rồi trong đó đôi bạn không còn ý thức rõ ràng về thực tế chung quanh.
Mạnh cầm lấy tay bạn thì nghe Bánh thở như ống bễ lò rèn. Chàng chợt nhận ra mình cũng thở như…

Cuộc sống ở thôn quê cứ lặng lẽ trôi qua như mây bạc trên trời, hay như nước dưới dòng sông.
Thỉnh thoảng có một con cá, trồi lên mặt nước vùng vẫy một cái mạnh làm xao xuyến sông lặng rồi đâu trở lại đó như cũ.
Con cá trong làng là vụ cô Bánh. Cô Bánh có thaì. Với ai, nào ai biết đâu.
Tới chừng bụng cô ta lớn bà con mới tóa hỏa ra.
Hai ông bà bắt con mà đánh một trận như trời giáng. Đoạn ông hương bà hương mới tra gạn Bánh để biết nó đã tư tình với ai.
Bánh cứ một mực lằc đầu.
Cùng thế ông hương phải viết giấy.
“Đứa nào ở với mầy cho mầy có thai, mầy nói ra đặng tao bắt nó cưới mầy. Nếu không thì xấu hổ tao, tao giết mầy chết.”
Cô Bánh viết đáp cụt ngủn:
“Con không biết.”
Nổi giận, ông hương đạp con một cái lăn cù rồi đánh bồi thêm túi bụi, đánh đấm, đánh đá như người đập nệm phơi ngoài nắng.
Bà hương nóng ruột con, nhưng không dám nói gì. Bà suy nghĩ dữ lắm trong trận đòn đó và bỗng tìm được kế để cứu đứa con gái thân yêu.
– Ông à! Hay là nó không biết thật. Nó câm lại điếc, làm sao biết hết trai trong làng được.
Đánh con đã mỏi tay, nên ông hương mới chú ý đến lời bà.
Ông hơi nao núng, nhưng chỉ làm thinh. Bà đề nghị:
– Tôi nghĩ nên giao vụ nầy cho cậu hương quản của nó tra xét. Là hương chức đương quyền, cậu nó được phép tra hỏi cả làng. Mình cũng chẳng còn sợ tiếng tăm gì nữa, vì vụ nầy đã tùm lum ra rồi, ai lại không thấy cái bụng của con Bánh.
– Bà làm sao xong thì làm. Con của bà, dạy dỗ nó là phần của bà, tôi giao cho bà hết đó.
Hương qnản Nhãn là một hương chức không bận trí về pháp luật cho lắm. Ông thấy phương tiện nào mà ông ngỡ hay thì cứ dùng. Và ông cũng sốt ruột cho con cháu nên không ngần ngạì mà thi hành đến một biện pháp mà thôn quê đã bỏ hẳn ba bốn mươi năm nay rồi là tựu dân phái nam lại cho cô Bánh nhìn mặt.
Có lẽ thấy quân đội Pháp cho bao bố nhìn mặt nên ông phát hứng làm theo, chớ chắc không phải nhớ tục xưa đâu.
Sáng hôm ấy tất cả trai tráng trong làng đều bị lùa vô xóm trong. Đàn ông còn trẻ cũng không thoát được khổ dịch đó, vì biết đâu cô ta lại không bị một anh có vợ nào dụ dỗ.
Nhưng vì hương quản không đủ phương tiện bố ráp, nên các cậu trai chuồn đi rất nhiều. Đó là những cậu có chọc ghẹo cô Bánh (có tịt hay nhúc nhích ấy mà!) và những cậu đã bị bao bố của Tây nhìn mặt một lần, biết rõ những cái gặt đầu ẩu xị của lao bố, nên quyết dĩ đào vi thượng.
Đàn ông con trai đứng giàn hầu hai hàng như lính giàn mặt trong một cuộc duyệt binh. Hương quản Nhãn dắt cháu đi giữa hai hàng rào người đó
Đằng kia, dưới gốc sao, trên gò đất, nhiều vị hương chức, cha mẹ Bánh, vài bậc kỳ lão, và con trẻ cả làng đều tựu để chứng kiến cuộc truy tầm thủ phạm bí mật, vô hình này.
Cô Bánh hơi bối rối, như là cô đang đứng trước một vấn đề nan giải. Bước vào giữa hai hàng rào người, mặt cô ra vẻ miễn cưỡng nhẫn nại chịu đựng sự phanh phui nầy.
Qua mặt ai là người đó tái xanh đi, và chừng cô bước khỏi đó, họ mới thở ra, nghe nhẹ hẳn cả người.
Người câm là một kẻ lòng dạ khó lường, nên ai nấy đều sợ hãi, nghĩ cũng phải lắm.
Lạ quá, cô Bánh ngập ngừng, do dự trước bốn người con trai, nhưng mỗi lần như thế, cô lại đi qua luôn.
Mạnh đứng cuối hàng. Cô Báuh dường như không dè có mặt chàng ta nơi đó. Đến chừng đi trờ tới, thấy ông thầy chích, cô ta như sực tỉnh, áp tới mà níu áo thầy.
– À…
Cả làng đều à lên một tiếng dài, trong khi Mạnh ngạc nhiên thật tình và phản đối bắng tiếng “ủa” to.
Hương quản Nhãn cười ha hả:
– Ngỡ ai, té ra thầy ba. Thôi cũng được. Thầy chưa vợ, dễ tính lắm mà.
Mạnh hất tay Bánh rồi nói lớn lên, giọng giận dữ:
– Các ông làm như vậy oan tôi lắm. Phải có bằng cớ gì đích xác kia, chớ còn một lời quả qnyết cảm của một người á khẩu đứng làm sao cho vững!
Hương quản Nhãn ra lịnh giải tán dân làng, họ mừng quýnh, đổ túa vô trong các đám mía.
Còn lại vài ông hội tề và cha mẹ cô Bánh. Hương quản Nhãn dịu giọng dỗ ngọt Mạnh:
– Thầy ba à, nếu ra tòa, tôi chắc là tòa cũng sẽ phải tin cháu tôi. Vả lại khi không nó vu oan cho thầy làm chi? Thôi, ta thỏa thuận với nhau là hơn, cháu tôi nó xinh đẹp lại giỏi dắn; anh chị tôi cũng nhân từ, anh chị tôi sẽ gánh hết tổn phí đám cưới đám hỏi cho thầy, thầy đừng lo. Con một của nguời ta đó mà.
Mạnh sầu đến muốn cắn lưỡi mà chết. Thật là một nỗi oan Thị-Kính!
Đêm ấy anh quả có gặp Bánh tại nhà, quả có cầm tay nó, vuốt lên tóc nó và quả đã có nhiều tà ý.
Nhưng kỳ lạ quá, và mãi đến ngày nay Mạnh vẫn không hiểu sao mà đêm đó chàng có thái độ như vậy. Không phải chàng ân hận đã dại dột bỏ qua dịp may, mà chàng ngạc nhiên sao mình đã đứng đắn được như vậy.
Cầm lấy tay Bánh, Mạnh bỗng nghe ghê tởm mình quá. Dụ dỗ gái thường tuy không tốt gì, nhưng còn nghe ít tội một chút. Đàng nầy cô gái câm thật là một con mồi thật thà quá. Lòng chàng nghe khó chịu vô cùng như kẻ anh hùng ái ngại khi xuống tay hạ sát một người không được bảo vệ.
Bị cầm tay, cô Bánh giựt nẩy mình, rồi trong giây phút đê mê, cô ta ngã vào lòng Mạnh. Mạnh xô cô ta ra mấy lần mới được.
Bánh ngạc nhiên hết sức và chưa kịp hỏi nguyên do của sự thay đổi thái độ của bạn nàng thì Mạnh đã đưa tay biểu cô ta đi.
Bánh vẫn không chịu hiểu, ngồi lì đó mãi. Mạnh phải kéo cô ta dậy và đẩy đi như đuổi tà, cô ta mới chịu cúi trở xuống giường lấy khăn.
Cô gái ban đầu khóc vài tiếng rồi như nén sầu và đâm giận, vùng bỏ đi một nước.
Ngày hôm sau, Bánh lại đến, mặt hầm hầm. Mạnh xua tay bảo cô ta đi ngay cho.Câm tức cực độ, cô ta viết:
“Em có làm gì mà anh ở ác dữ vậy. Em giận anh lắm đó! Em buồn muốn chết đi. Bộ anh thương người nào khác phải không? Coi chừng.”
Mạnh có ác đâu, anh tốt lắm đó chớ. Anh chỉ vụng về thôi, không biết cách khước từ làm sao cho cô gái hiểu là không nên lén lút như vậy.
Từ đêm đó đến nay, anh không hề hội kiến với Bánh lần nào nữa cả. Thì làm sao mà nó có nghén được vói anh!
Trời hỡi nè, oan nầy ai thấu cho mình? Mà tại sao con Bánh nó vu oan giá họa một cách thất đức như vậy không rõ. Nó trả thù vì đã căm giận mình à?
Không sành pháp luật lắm, Mạnh nghe những lý lẽ của hương quản mà đâm lo. Ừ, ra tòa, tòa nào lại không nghe lời con Bánh? Sao cả trăm đàn ông con trai, nó không chỉ ai, lại nhè mình mà níu. Nó oán mình, ai biết cho? Vả nếu nó khai ra vụ đêm đó, càng chết thêm, vì có ma nào tin được rằng một cậu trai gặp bạn gái ban đêm, cô bạn sắp hiến thân cho mình, mình lại khước từ?
Thôi thì đành chịu số phận, rồi hãy hay. Anh định bụng, sau tiệc cưới anh sẽ trốn đi. Bỏ vợ không ai làm gì đuợc, còn bây giờ mà họ đưa ra tòa là dính ngay cái tội dụ dỗ gái thơ.
Đám hỏi.
Người trong làng thấy đám nầy cũng xứng đôi vừa lứa, nên họ quên chuyện tồi tệ mà chỉ khen hai trẻ tốt đôi.
Bánh là cô gái câm đấy. Nhưng tật nguyền của cô được của cải bù lại. Cô là con một của một gia đình khá giả kia mà!
Nhưng Mạnh không nghĩ thế. Anh kiếm tiền để sống, kiếm dư tiền nữa để làm cho một cô gái lý tưởng được hạnh phúc.
Cô Bánh quả có xinh đẹp thật, nhưng mà cưới một người câm thì hạnh phúc anh sẽ giảm đi bao nhiêu ? Tệ hơn thế, người câm ấy bây giờ đã bị hoen ố rồi!
Anh định trốn, nhưng tính lại thì cũng không phải là chuyện dễ. Ra đi là muôn mắt dòm mình, trốn đâu cho thoát. Không lẽ giả đò dạo mát rồi lủi đại vào rừng. Vào đó, đi lạc đường sẽ khổ đến đâu.
Còn cái chỗ làm ăn nữa! Không phải mỗi lúc mà tìm ra được một chén cơm trắng, cơm thơm như thế nầy, trốn về Sài-gòn, biết còn kiếm được khách hàng như trước nữa hay không?
Khổ ơi là khổ! Mạnh lẩn thẩn đâm ra ăn năn. Phải dè lúc đó mình cứ việc… thì ngày nay dầu bị cảnh nào cũng mát bụng đi.
Đạo đức làm chi, thương người làm chi mà phải quà quạ nuôi tu hú như bây giờ ? Ai ăn mắm ở đâu, mình lại chịu khát nước!
Trong thời gian ấy, Thế có lên hai lần. Nó hay tự sự, đã không tìm được mưu kế gì cứu bạn, lại cười ngã nghiêng ngã ngửa cho tình cảnh oái oăm của thằng bạn rủi ro nầy.

Chú rể Mạnh không thèm đi làm rể làm con gì cả. Trái lại, cha mẹ vợ anh mỗi ngày mỗi đến thăm anh. Mạnh biết họ đi thăm bẫy thử xem con vật vào cạm có sảy hay không, hoặc có thử vùng vẫy, để thoát hay không.
Nói cái nào cho ngay, ông hương rất quí rể. Không ngày nào là ông bà không mang quà đến: không một con gà quay thì cũng mươi con tôm luộc, hoặc vài cặp dừa xiêm.
Người trong làng ai cũng buồn cười cho cảnh làm rể ngược đời nầy. Ông già vợ gì mà đi làm cỏ trước sân chú rể?
Hôm ấy bà Hương đem biếu một rổ bòn-bon và đưa cho Mạnh một bức thơ. Thơ rằng:
“Anh Thầy Chít ơi!
“Em thương anh Thầy Chít lắm, mà cũng giận anh Thầy Chít lắm, nên mới làm như vậy. Mà nghĩ cũng không hại gì cho anh. Em sẽ nhỏ nhoi hết sức, anh Thầy Chít muốn sai em làm gì cũng được, muốn đánh em, em cũng chịu. Tiền của em nhiều, em cho hết anh Thầy Chít đó. Tội nghiệp em lắm mà!”
Đọc xong Mạnh giận tím mặt, xé nát thơ mà vụt xuống đất. Bà già vợ anh kinh hãi vội rút lui ngay.
Trong cơn điên tiết, Mạnh muốn chạy đi tìm Bánh mà bẻ cổ cho lợi gan anh. Nhưng rồi anh dằn được.
Nghĩ cũng tôi nghiệp, Mạnh tự nhủ. Nếu mình không bày chuyện yêu đương, không rờ rẫm nó, chắc nó sẽ không bị động tình và giữ mình được. Xác thịt giống như thùng thuốc pháo. Không ai rớ đến thì thôi, mà hễ khơi ngòi nó, nó nổ lung tung, ông trời mà dập tắt được.
Bên đàng gái coi ngày gấp đặng làm đám cưới trước ngày Bánh khai hoa.
Còn hai tháng nữa!
Còn một tháng nữa!
Còn mười lăm ngày nữa!
Mạnh ra vào thơ thẩn như kẻ mất hồn.
Thấy con Ngọ bán đậu phọng rang đi ngang qua nhà, anh kêu mua một gói ăn cho đỡ buồn miệng.
Mạnh ngạc nhiên hết sức mà thấy trên giấy gói đậu có tuồng chữ viết của Bánh. Nhưng khi nhớ ra con Ngọ là chị em bạn dì với Bánh, anh không còn lấy làm lạ nữa.
Nhưng tánh tò mò, anh banh tấm giấy ra mà đọc.
“Anh Thìn ơi,
Thìn là anh ruột của Ngọ, người con trai sáng sủa nhứt trong đám nông dân ở đây.
“Anh Thìn ơi,
“Tôi vu oan cho anh Thầy Chít là để cứu anh đó. Bà con mà anh bậy quá, dụ dỗ tôi cho đến nỗi nầy.
“Từ rày tôi cấm anh léo hánh đến nhà tôi. Tôi quyết làm vợ anh Thầy Chít. Còn con anh, tôi đẻ ra, tôi sẽ lén cho nhà phước thiện. Liệu hồn, anh mà còn bén mảng đến, tôi khai tạch hoạch ra cho mà mang xấu cả lũ.”
Hai tay Mạnh run bây bẩy. Mồ hôi trán anh nhỏ giọt. Anh mừng, mừng như dò giấy số thấy mình trúng độc đắc, mừng như kẻ tử tù hay tin được ân xá.
– Thôi, sướng rồi, bắt đước bằng cớ rồi! Bằng cớ nầy, mình dùng để thoát thân, rồi sẽ hủy. Nếu mình mà ác, mình sẽ làm tiền cả họ nhà nó. Chúng nó sợ xấu, mình đòi bao nhiêu họ cũng phải lòi ra.
May cho cả họ nhà nó lắm đa!

Chữ co quắp

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 5/06/2014 

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

16 chữ vàng trung quốc trao:
sơn thuỷ tương liên
lý tưởng tương thông
văn hoá tương đồng
vận mệnh tương quan

15 chữ trong diễn văn:
xưa mang tội:
phản bội tổ quốc
nay thành khúc ruột
ngàn dặm thân thương

14 chữ đoạn trường tân thanh:
trải qua một cuộc bể dâu
những điều trông thấy mà đau đớn lòng

10 chữ của thuyền nhân:
một là chết nuôi cá
hai là sống nuôi má

9 chữ trên miệng dân gian:
khi đã máu
đừng hỏi bố cháu
là ai?

8 chữ học sinh đương đại ưa triết lý:
quay đầu là bờ
ngờ đâu là biển

7 chữ trong thơ bác:
không gì khổ bằng mất tự do

5 chữ của an ninh toà án:
tự do cái con C…

4 chữ bùa chú:
phong bì bôi trơn

3 chữ của dân ngu:
biết chết liền

2 chữ bình dân (khu) đen:
đù mẹ

1 chữ ám số:
tử.

Hồ Đình Nghiêm

Mạ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 10/05/2015 

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Mình không hiểu hết ý câu nói của hoạ sĩ Đinh Cường: “Với tôi, ai yêu mẹ cũng đều là anh hùng”. Không thẩm thấu toàn vẹn nhưng có được sự liên tưởng: Mình là chiến binh được đời gắn cho hai huân chương cao quý trên ngực áo phai màu, phía trái tim. Lủng lẳng hai nụ hoa bạc rung lên theo mỗi một cất bước. Nó cúi đầu thổn thức hay nó hãnh tiến hất mặt lên? Hai nụ hoa bạc thay cho một thứ “Chiến thương bội tinh”?

Vì sao bạc mà chẳng là vàng? Vì nhớ hoa trắng cài áo của Nhất Hạnh ngày cũ. Hình ảnh cầu chứng những ai mất mẹ. Trắng, màu ấy muôn đời tượng trưng cho trinh bạch, cho lạnh lẽo, cho hư không, cho sạch sành sanh. Nó trong ngần tựa thuỷ tinh có trong giọt lệ rơi xuống khi bạn khóc. Có nên gán thêm chữ tủi hổ, chữ cô đơn sắp hàng bên dưới TRẮNG?

Có người góp ý: Trắng là thứ vô sắc. Bạn chẳng thể gọi nó là màu trắng. Ừ, mình không nên tranh cãi. Một bảng màu, cứ thế mà gọi chết tên: Trắng, vàng, cam, đỏ, nâu, xanh lục, xanh da trời, xanh nước biển, xám, đen. Đừng đụng tới chữ màu có khi lại giống như họ tên một người con gái bị cướp đi chữ “thị” nằm giữa. Trần trụi cô đọng lắm lúc khiến lạnh lòng. Hàn Mặc Tử nói: “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Có ai trông chẳng rõ màu bông trắng rung động trước ngực đứa vừa mất mẹ?

Ngực cài tới hai hoa trắng? Ừ, chưa đủ sao? Chẳng lẽ ham hố đeo nhiều huy chương để phải còng lưng bởi cái nặng nề. Ai năm thê bảy thiếp không nói, chứ mình chỉ duy một vợ. Má vợ mất cọng thêm mạ ruột, vị chi là hai. Hai thôi đã khiến quặn ruột, ngần ấy đa đoan cũng xúi đoạn trường.

“Một hôm đếm một ra hai… đếm là diệu tưởng đo là nghi tâm”. Bùi Giáng khuyên nhủ.

Nhiều người cho rằng, cái cột mốc 1975 đã là bảng đường chia lìa ra muôn hướng. Cũng phải, sông trôi lặng lờ tới bể dâu nọ đành phải bày ra một phụ lưu xao xác. Người ta hãi sợ khi sực nhớ tới một ngạn ngữ Trung hoa: “Nếu bạn ngồi lâu bên bờ sông, thế nào cũng trông thấy xác kẻ thù trôi ngang”. Tâm bất an để sanh lòng nghi hoặc, người ta sống, tự động co rúm xác thân, váng vất câu danh ngôn của bọn đế quốc phản động hiện về: “Niềm tin giống như một cục tẩy, nó sẽ nhỏ dần nhỏ dần sau mỗi một nhầm lẫn”.

Trong tiều tuỵ cùn mằn, giữa bải hoải chân tay mình leo lên được một bến bờ mới. Hoàng Xuân Sơn nói: “Em lên côi bợt em ngồi, tới bờ em đứng khóc mùi mẩn em”. Khóc, nước mắt hoan lạc đổ ra vì bến bờ kia dường như chực sẵn ở đó dáng dấp một người đàn bà mang trong lòng thứ tâm lượng hải hà để sau này tự nguyện đóng vai Mạ. Dù không mang hoa trắng trên ngực áo, bà biết mình mồ côi giữa trần gian ghẻ lạnh thiếu mặt đấng sinh thành. Bà nói, tựa tia chớp xẻ rách bầu trời nặng trĩu mây đen: “Mạ cho không đứa con gái duy nhất của mạ mà chẳng đòi hỏi điều gì cả”. Cho người năm trước, năm sau cho 10 lượng vàng để hai đứa vượt biên. Cho, nhận. Cho, nhận mà không biết cách đền đáp. Ngậm hột thị cho tới lúc nghe hung tin từ cố quận tải sang: Mạ chết rồi!

Một cái chết mà phận làm con chẳng tài nào tìm cách quy cố hương. Xa mặt cách lòng và cách triệu dặm nhiêu khê. Không như cách ra đi của Mạ mình trước đó, mình còn được sờ nắm đôi bàn tay buốt lạnh của người trước khi tẩm liệm, khuôn mặt hiền hậu của người còn hứng đọng giọt nước mắt của đứa con út vụng dại rơi để thấm rút vào da nhăn. Khi ấy, mình đã ngồi câm tiếng ba hôm bên quan tài sơn màu đỏ của Mạ, mình cắt giấy bạc thành những cánh hoa sen dán quanh “căn nhà” sẽ trở thành cát bụi nay mai. Một đứa con mất mẹ, nỗi đau của nó nói sao cho cùng tận?

Cả ngàn trang giấy thấm mực của bá tánh luôn tuôn đổ xuống để tụng ca về mẹ. Cả thế giới với đủ mọi ngôn ngữ ta bà đã không ngớt xiển dương tới hình ảnh cao quý kia. Và ai kia đã viết: Mẹ là người tình đầu, người bạn đầu, kể cả người thù đầu tiên mà bạn có. Nhưng trên trái đất này sẽ chẳng có thứ gì để chia lìa được sự liên hệ kia. Không thời gian, không gian… và ngay cả cái chết!

Mẹ, vĩnh hằng là hình bóng duy nhất nằm lắng đọng thật sâu trong hồn bạn. Trái tim mình vẫn cất giữ hai đoá hoa sen thơm mùi từ bi. Hoa sẽ tàn lụi chừng nào trái tim ấy thôi đập. Người ta có đáng sống thở không khi họ chưa từng một lần đề cao mẹ hiền?

Mình luôn mơ tưởng viết được một cuốn truyện với chủ đề MẠ. Đã hai thứ tóc trên đầu, sự mơ tưởng đi liền với niềm ăn năn. Ừ, hãy bảo vệ giấc mơ kia cho tới kỳ cùng. Nói như nhà văn Haruki Murakami: “Tôi mơ mộng. Đôi khi tôi nghĩ, duy đó là việc làm chính đáng”.

Mẹ ơi chớ đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ.

Ôi, đã muộn mất rồi. Tìm đâu ra cơ hội để van nài? Mạ ơi xin đánh con đau, để con hiểu thấu vết thương dại khờ.

Hồ Đình Nghiêm

Cỏ may

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted: 24/07/2014

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Thái Phiên photo

Buổi ban sơ, tôi có lời bàn ra tán vào. Nghĩ không thuyết phục tôi mang cả mấy câu thơ cũ của Nguyễn Đức Sơn ngâm nga ca kệ cho May nghe: “…làm chi ở thế gian ni, triệu năm đừng có lo đi lấy chồng, rủi ro tay bế tay bồng, sao bằng ôm cả trời hồng đi chơi”.

Nước đổ đầu vịt, ngày đi tháng lại, sông trôi chân cầu, bèo giạt mây xa, tôi về phố cũ, dụi mắt ngó May, bụng không dưng lớn. Lúng ta lúng túng, con vịt bầu xác xơ giao hẹn, chú tuyệt đối chớ hoài nghi đặt dấu hỏi tra vấn, đợi lòng bớt giao động May sẽ nói rõ sự tình. May gọi tôi bằng chú bởi bố May là bạn tù chung nơi cải tạo. Bạn vắn số ra đi trước ngày tại ngoại, tôi dài số xuất dương ôm cả trời rách nát cù bơ cù bất chẳng biết đi đâu. Lời cuối bạn thì thào như gió nhẹ thổi lạnh lưng: Quan tâm giùm đứa con gái tao trơ trọi dại khờ.

Một đời làm lụng đầu tắt mặt tối của cha mẹ để gia tài lại cho tôi chiếc xe gắn máy chính chủ. Tôi căn dặn May rán sức ôm chặt lấy chú, trước để dằn cơn đau sau để khỏi té. Tôi rú ga chạy u tới nhà thương xớn xác chỉ thiếu còi ụ dẫn đường. Hai giờ trưa nhập viện, tới năm giờ May chuyển bụng vỡ nước ối. Khu hộ sản lắm bà mẹ non tuổi nhấp nha thấp thỏm nhăn nhó chờ vượt cạn. Tôi ngồi ở phòng cách ly đợi nghe một vuông tròn. Tiếng khóc của con người mang đầy những hệ luỵ, nhưng một vài trường hợp đôi tai kẻ liên hệ lại nuôi dưỡng một mong cầu lắng nghe. Khóc thì hẳn phải thảm sầu bàng hoàng cho cái chết, nhưng khi hài nhi mở mắt chào đời, tiếng khóc nọ hẳn sẽ khiến ai kia dấu vụng một nụ cười, một thở phào chẳng phấn khởi chút nao.

May vừa đủ tuổi trưởng thành, có quyền trưởng thành đúng theo luật pháp quy định nên không bị hoạnh hoẹ khi cán bộ y tế ngó tới cô gái nhỏ thó ngỡ chừng mười sáu nằm lã người chẳng hay biết trời cao đất dày. Ông là bố của hài nhi đấy nhỉ? Không, nó chỉ là cháu tôi. Ai là cháu? Ồ, người vừa đẻ đái xong. Vậy chồng cô ta đâu? Tôi nào biết, tôi không có quyền được biết. Hay nhỉ! Vậy ông là kẻ đứng ra lo mọi thủ tục? Sao cơ ạ? Tiền viện phí là hai triệu tám, ông chi trả cho cô ấy hay một người khác sẽ đến thanh toán? Thời hạn là bao lâu ạ? Hai mươi bốn giờ, càng sớm càng tốt để người ta liệu sắp xếp cho cô ấy một chỗ nằm dưỡng nghỉ. Hai ngày thì xuất viện, đấy là theo lẽ thường tình của quy định, cơ bản là thế.

Trán tôi tươm mồ hôi. Tôi không có thời gian để vào tóm tém đầu tóc rối bung cũng như cầm tay May vỗ về lời an ủi chia vui. Tôi phải chạy nước rút toan tính xoay trở đâu ra số tiền to đùng cỡ đấy? Vừa dợm quay bước thì có cô y tá mở cửa phòng gọi giật giọng. Đi đâu thế, bà nhà vừa đề đạt yêu cầu mong gặp ông đấy. Cô y tá mang ngộ nhận với hảo tâm dẫn tôi vào đứng sát bên giường May nằm. Chiếc giường sắt hoen rỉ chất sơn đôi ba chỗ in vệt máu khô và chiếc chiếu lát vừa kích trải cong queo với tất cả sự tàn phai úa nhàu. Một khuôn mặt tuyệt không còn hồng huyết cầu nhô lên đôi môi khô nức nẻ. Giọng nói nhỏ hụt hơi, muốn lắng nghe tôi phải cúi mặt xuống áp tai kề cận. Dưới giường tre của May, chú lật ngửa nó ra, thu dấu trong chân giường phía đầu nằm là gói ny-lông cuộn tròn. Mang tiền đó mà trang trải, đổ xăng hoặc chú bồi dưỡng chút thức ăn. Nếu mệt quá, ngủ một giấc hẳn vào với cháu sau, nhé. Tôi tính hỏi là con trai hay con gái, ai tha nó đi đâu mà không thấy nhưng May khoát tay kiểu xua đuổi. Sau tấm màn xanh bẩn có người đàn bà mãi rên la, lôi tên một vài nhân vật nam ra chửi. Lời lẽ thô tục, khó nghe và tôi chợt phát hiện chỉ mình tôi là giống đực duy nhất lạc vào cái thế giới lầy lội này.

Tôi về căn hộ tồi tàn May ngụ, đun xe vào và đóng cửa nẻo. Bóng tối chứa đọng khiến bần thần, buộc tôi phải mở sáng bóng điện nhỏ treo lơ lửng như đoạn dây thòng lọng được chế biến. Tôi ngó những đồ vật được bày biện, nhìn tấm ảnh người bạn lùi vào chỗ đứng trên cái bàn thờ chỏng chơ một đoá sen nở bung trong bình cắm khô nước. Tôi đi quanh, tẳn mẳn rờ soạn vật vạ mà không nhìn ra một đầu mối hoài nghi thủ phạm, kẻ khiến May chịu nuôi trong thân một hòn máu xa lạ. Hòn máu đã tượng hình, mai này lớn khôn nó sẽ bù trất về căn nguyên cớ sự. Van mẹ chớ đánh con mà, để con dọ hỏi ai là bố con!

Tôi lật úp chiếc giường èo uột nhẹ hẫng, moi ra được toàn bộ tài sản mà May dấu thu. Tôi run tay đếm số bạc hơn năm triệu. Hôm trước cả khu phố bên quận hai xôn xao hiếu kỳ người dân bu nhộn nhạo tin choáng, thằng con đầu tuổi mười chín với sự trợ giúp của đứa em mười bảy tuổi đã đầu độc người cha làm thợ hồ để chiếm đoạt một triệu mốt. Đồng tiền như có tẩm bùa chú vào, làm mê muội kẻ nhìn trông, xúi dục hiện tới, không cưỡng được, biến đổi thành thú tánh, giết người chẳng gớm tay. Nghĩ sao, tôi lại tìm nhang đốt thắp một cây cho bạn đỡ lạnh lẽo. Tôi nói với tấm ảnh trầy trụa đen trắng được lộng kiếng. Đừng nghi ngờ tôi điều gì. May nó đáng thương. Chẳng quen biết sâu đậm mà nó an tâm, tin vào một kẻ cùng bần như tôi. Tấm lòng nhân hậu như thế, tôi tin mai này May sẽ đón nhận những tốt lành. Tôi lận gói ny-lông đựng tiền vào trong thắt lưng, nhắm hướng bệnh viện chạy vụt dưới trời chiều nhá nhem.

Hai chú cháu đã đi tới nhà từ thiện chăm sóc trẻ mồ côi và tật nguyền. Theo lời chỉ bày đã chạy tới hướng núi, băng qua một cánh đồng lúa bỏ hoang, thôi khai khẩn và độc đạo quanh co dẫn vào một ngôi chùa quạnh quẽ vây bọc bằng những loài cây thâm niên sum suê bóng mát. Sau chùa có cất một căn nhà hình chữ nhật còn mới màu vôi, đó là nơi đón nhận, nuôi dưỡng những sơ sinh xấu số bị cha mẹ dứt tình lén lút mang đặt trước cổng chùa nhờ nương thân cửa Phật. Một sư nữ vận áo lam dắt May đi khuất sau cây đa to một cách khó hiểu. Tôi ngồi trông xe sát bên cái giếng nước bé một cách chẳng thể bé hơn. Một chú tiểu đang lấy nước để rửa rau và cái gàu nhôm luôn va vào thành giếng khi chú ấy kéo dây lên. Nếu lòng giếng rộng hơn hẳn nó không than van khi bị cọ quẹt kiểu đó. Không gian trầm lắng, buồn lặng. Có thể nhạt mồm, chú tiểu nhìn tôi, khơi chuyện. Chú ấy muốn biết, có phải là thăm con cháu đang nương náu trong chùa. Tôi nói không, một bà mẹ sinh con trong bệnh viện, ngày một ngày hai mở mắt ra thì con mình chẳng còn hiện diện nữa, một bà mẹ mìn nào đó đã bắt cóc đứa bé hai ngày tuổi thoát khỏi cổng nhà thương một cách êm thắm. Đã dọ tìm hai ba địa chỉ, chùa là niềm trông mong cuối cùng của cô gái xấu số ấy. Chú tiểu mặt không đổi sắc, chú chẳng lầm bầm A di đà Phật, chú thọc cả hai bàn tay vào thau nước khi rửa rau và chú loan tin động trời. Nếu tìm không thấy thì có nghĩa là đứa nhỏ kia đã rơi vào tay tổ chức chuyên môi giới mua bán trẻ nít. Địa bàn bọn đó rất rộng, có giao dịch làm ăn với phía Trung quốc nữa cơ. Tôi ngắm cái giếng kỳ lạ, vòng kính của nó nhỏ tới độ muốn quẳng xuống một hài nhi chưa chắc đã trót lọt êm xuôi. Hình như khi xây dựng người ta cố công làm ra vậy để ngăn ngừa nhũng vụ gieo mình tự tử hoặc muốn phi tang một chứng cớ, huỷ diệt nó chôn lấp nó. Khó khai quật đào bới.

Tôi chở May về. Cả hai không nói năng. Tôi biết kết quả kiếm tìm đã cuối đường tuyệt vọng. Xe ngang cánh đồng hoang phế, May biểu tôi dừng lại, ngồi nghỉ chân. Thấy làm phiền người ta cũng chướng nên May có mua ít thức ăn chay do chùa nấu, tiền cúng dường bỏ vào thùng phước sương tuỳ hỉ thiện tâm. Ngồi bệt xuống bờ cỏ, May bày thức ăn chứa trong hộp nhựa ra. Chú có hiểu tên May là gì không? Cái đám cỏ rậm hoang dại ngứa ngáy này có tên gọi cỏ may. Mẹ của May là một con buôn bị bọn thuế vụ truy đuổi, khi tàu Thống Nhất dừng, nhảy xuống từ một toa tàu, băng qua quốc lộ, thất thểu đi trên cánh đồng cỏ thì May từ bụng mẹ đổ nhào ra, đẻ rớt. Người con khi đó có nhiều vết xước do bị cỏ cứa đường ngang nét dọc. Mẹ đặt tên cho con để nhớ về thương tật đầu đời của mẹ lẫn con. Chú không nghĩ vậy, tôi nói. Chú vẫn tin là nghĩa ngữ kia sẽ mang lại cho May chút an lành của sự may mắn. May trao cho tôi phần ăn đã được sẻ chia. Chú thấy đời May có đáng để hưởng cái hồng phước ấy không? Cục cơm chận ngang trong cần cổ, khó nuốt xuống. Bụi xoắn theo sau một hai chiếc ô tô chạy bên kia con đê xẻ rách nỗi bình yên đọng vũng giữa cánh đồng. Và rồi tất cả sự chộn rộn kia bị dồn cục lại sát chỗ chúng tôi ngồi.

Họ bắt giữ May lôi lên một chiếc xe. Họ kéo tôi vào một chiếc xe bít bùng khác. Tôi bảo hãy để cho tôi đi trên xe máy của tôi, tới bất cứ chốn nào tôi cũng sẽ có mặt. Một người mặc sắc phục có đeo súng ngắn nói. Hãy an tâm, chúng tôi cho người xử lý bảo quản chiếc xe ấy. Hãy sáng suốt thành khẩn hợp tác cùng chúng tôi để chóng phá án.

Tôi ngồi, nằm vật vờ hoang mang trong đồn công an hai hôm, viết đúng ba bản tự khai và khoảng triệu con muỗi tha hồ dự tiệc đình đám trên da thịt tôi bất kể đêm ngày. Họ thả tôi ra, bảo ba hôm sau hãy tới mang chiếc xe về. Tại sao? Tại địa phương kia chưa có ai rỗi việc để chuyển lên đây, đừng nghi ngại, bổn phận của chúng tôi là bảo vệ tài sản của nhân dân. Tôi bước ra ngoài bức tường luôn kín cổng mà không biết được số phận của May. Tôi vào một quán nước gần đó gọi ly cà phê đá tay bưng lấy đầu trì nặng. Người thiếu nữ làm tiếp viên mang thức uống ra, cô đặt xuống bàn và tựa một bạn tâm giao, cô kéo ghế ngồi đối diện tôi, ngó tôi thương hại. Anh vừa trở ra từ chốn đó, phải không? Thấy tôi chẳng cục cựa tựa phỗng đá vô tri cô không nản lòng. Cô quen rồi, làm như khách khứa tới đây thảy đều có bộ dạng dở điên dở tỉnh kiểu ấy. Ba hồn bảy vía chưa kịp lộn lui.

Sau cùng, mức chịu đựng có giới hạn, cô xuống giọng. Đây là một thương vụ mà tôi sẽ là kẻ đối tác uy tín. Anh nghe tôi nói không? Tôi tu một hơi gần cạn dung dịch cà phê chứa trong ly. Có lẽ tôi sẽ phải gọi thêm ly nước mía, thứ ly cối. Cô nói nữa đi, tôi cần nghe thêm những lời đề nghị của cô. Người tiếp viên đứng dậy, cô lại quầy vớ lấy bao thuốc lá và đưa tay mở chiếc quạt máy. Gió làm tóc cô rối lên. Tôi nhìn dáng vẻ cô và tám phần đoan quyết cô hành nghề cà phê ôm hoặc một thứ gì tựa thế, nhận tiền rồi ỏng ẹo cởi áo xống che thân. Cô mời tôi một điếu thuốc ba số năm. Những ngón cắt cụt móng và chẳng bôi sơn màu mè. Cô sở hữu hai bàn tay của một người thư ký văn phòng giỏi việc đánh máy chữ. Bàn tay ấy có thể thích hợp với nhân viên làm ở ngân hàng đếm tiền cực nhanh, cực chính xác mà không cần lè lưỡi ra thấm ướt nước bọt trên đầu ngón tay.

Năm trăm ngàn anh phải trả sau khi mua một thông tin. Anh bằng lòng không? Tôi nhai cục nước đá rồi hít sâu hơi khói. Thuốc này có thể sản xuất ở Thái lan hoặc Singapore, từ lâu tôi chẳng rớ tới hàng xịn nên khói thuốc thơm làm chóng mệt. Thêm thay, hai ngày qua bụng tôi chưa có một hột cơm. Năm trăm? Số tiền đó đâu phải nhỏ. Tin gì mà cắt cổ thế? Cô làm nghề phục vụ viên thổi khói vào mặt tôi. Vì sao cô con gái đó bị bắt? Cô mang tội gì vào thân?

Tôi dụi điếu thuốc trong cái gạt tàn móp méo. Tôi trả tiền cho cô sau, đồng ý nhé. Được thôi. Anh uống gì thêm? Khỏi, người tôi chỉ khát khô lượng thông tin. Cần nghe mà không cần uống. Trước khi sinh, cô ta đi khám bác sĩ và làm siêu âm. Lúc đó thai đã lớn và đó là đứa bé trai. Cô sao lại kết quả siêu âm rồi ký vào bảng hợp đồng thoả thuận mua bán với đôi vợ chồng nhiều tiền của nào đấy. Giá năm triệu với điều kiện đứa bé chẳng bị dị tật ngoại hình. Cô hết nhiệm vụ sau đó, đôi vợ chồng kia sẽ có cách vào ẳm đứa bé đi. Nếu xem là nhiệm vụ thì việc cô cần làm là tri hô lên rồi khóc than vật vã các thứ. Sao nữa? Hết. Những thứ cắc cớ khác là phần việc của công an, ban chuyên án phụ trách chống tội phạm. Cha đứa bé? Cô biết chuyện đó không? Đồn công an quận một còn giữ đơn khai một cô gái tên May, 18 tuổi bị cướp đoạt tài sản và cưỡng hiếp vào năm ngoái. Cô có mô tả nhân dạng ngoại hình khuôn mặt tên cướp, công an nhập cuộc nhưng chẳng có kết quả.

Năm trăm ngàn, tôi sẽ mang lại cho cô vào chiều mai, ngay chỗ ngồi này. Người bán tin tức nhoẻn miệng cười. Không gấp, thực ra thì số tiền anh cần phải đóng lên tới một triệu. Và để anh có thời gian, tôi hẹn gặp anh vào ba hôm sau. Cái gì? Anh không tính lấy lại chiếc xe gắn máy ấy sao? Nhà cửa bé tẻo teo mà hy sinh chăm giữ hộ anh khối tài sản ấy bộ chẳng đáng công sao?

Tôi trôi tuột chân đi chẳng cưỡng chống về lại chỗ May ngụ. Tôi lật chiếc giường tre chỏng chơ lên lần nữa, tôi thử kiểm kê tài sản của May tới đổ mồ hôi sôi nước mắt mà chả thu hoạch được gì. Tôi đốt lò nấu nước trụng gói mì tôm, trước khi ăn tôi thắp cho người bạn cây nhang chẳng có mùi thơm. Và tâm sự. May hoàn toàn không là may mắn. May chỉ là giống cỏ hèn mọn mọc hoang thôi ông ạ. May đã chống đối cuộc sống này bằng những phương cách tôi thực sự không hiểu. Dẫu sao thì tôi cũng cố sức xoay xở để dọ hỏi chỗ người ta nhốt May, nhìn mặt May cầm tay May hỏi han May cốt để chứng minh, vào hoàn cảnh nào thì tôi cũng sẽ là người đứng ngay sau lưng May. Thầm lặng, kín tiếng. Giúp được gì không? Tôi chẳng rõ, bởi tôi cũng tựa một loài cỏ không tên lỡ mọc trên cánh đồng hoang dại bát ngát này.

Hồ Đình Nghiêm

Cánh đại bàng đã qua bờ sinh tử…

http://www.sbs.com.au/language/vietnamese

By Mai Hoa

Source: SBS

Published 4 October 2019 7:35pm

Updated 28 November 2019 3:10pm

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Engineering Duty Officer, EDO, Qualification, Pin, Pinning, Ceremony, NAVSEA, Naval Sea Systems Command, Vice Admiral Tom Moore, COMNAVSEA Source: COMNAVSEA

Vào ngày 1/10/2019 tại Washongton DC ông Nguyễn Từ Huấn chính thức được phong chức Phó Đề Đốc (Rear Admiral) lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ, và là sĩ quan hải quân gốc Việt đầu tiên nhận chức vụ này. Ông Nguyễn Từ Huấn chính là đứa con trai duy nhât sống sót trong vụ cả gia đình bảy người của Đại Tá Nguyễn Tuấn bị chiến binh Cộng Sản Bảy Lốp sát hại vào Tết Mậu Thân năm 1968 dẫn đến Tướng Nguyễn Ngọc Loan tử hình Bảy Lốp trên đường phố Sài Gòn. Từ sự kiện này đã kéo theo một chuỗi những đau thương bi hùng nhiều năm sau đó. Nguyễn Từ Huấn – chú chim nhỏ bị thương năm nào đã bay qua bờ sinh tử sãi cánh đại bàng. Và đây là câu chuyện của ông…

Câu chuyện bi thương của ông bắt đầu vào một ngày bình yên đầu năm 1968. Ngày Tết Mậu thân trong cuộc chiến tranh Việt nam mà hai bên giao tranh đã thỏa thuận ngưng bắn để nhân dân ăn tết.

Truyền đơn ngưng bắn được phía Việt Cộng cho rải ra càng khiến nhiều người tin tưởng.

Thế nhưng thỏa thuận này chỉ là một chiêu trò của Cộng sản trong một chuỗi những sự bội tín và man trá của họ, và họ đã phát lệnh tổng tấn công.

Vào ngày thứ hai của cuộc chiến Tết Mậu Thân. Lực lượng Bắc Việt và quân du kích Việt Cộng đã tấn công các thị trấn và thành phố của miền Nam, bao gồm cả thủ đô, Sài Gòn, Gia Định.

Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Văn Lém tự Bảy Lốp chỉ huy tấn công trại Phù Ðổng của binh chủng Thiết Giáp VNCH nơi có gia đình của cố Đại tá Nguyễn Tuấn vào lúc đó ông chỉ mang hàm Trung Tá hàm đại tá là ông được truy thăng sau đó.

Trung tá Nguyễn Tuấn giữ chức vụ là Chỉ Huy Trưởng Trường Thiết Giáp từ 4/1965 – 2/1968.

Trong bài viết của Vũ Văn Lộc đăng một chia sẻ của ông Nguyễn Từ Huấn cho biết gia đình ông đã di chuyển từ Quảng Trị về đến Sài gòn vào thời gian cuối năm 67 đầu năm 68.

Bảy Lốp bắt giữ gia đình Trung Tá Nguyễn Tuấn, dùng vợ con của Trung Tá Tuấn để áp lực bắt Ông chỉ dẫn cách sử dụng xe tăng còn lại trong trại.

Trung Tá Tuấn từ chối, Bảy Lốp đã giết chết toàn thể gia đình Ông, gồm cả bà mẹ già của Ông đã 80 tuổi.

Chỉ có một bé trai bị thương nặng và sau đó đã được cứu sống. Và đó chính là Phó Đề Đốc Hải Quân Mỹ (Rear Admiral) Nguyễn Từ Huấn một chức vụ tương đương với Chuẩn Tướng.

“Bố tôi đã vì không chịu đầu hàng cộng sản và đã bị tụi nó giết ông và cả gia đình vào biến cố Mậu Thân 1968. Tôi là người duy nhất sống sót.

Bảy Lốp sau đó bị bắt và bị Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan tử hình ngay trên đường phố Lý Thái Tổ ở Quận 10.

Phóng viên Eddie Adams của hãng AP đã ghi lại cảnh này và bức ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan đang kề súng vào đầu của một tù binh cộng sản và bóp cò đã gây phẫn nộ dư luận toàn thế giới mở màng cho sự bùng nổ về phản chiến tại Mỹ và khắp nơi.

Lúc đó là ngày đầu tháng Hai, năm 1968.

Trước đó chưa bao giờ người Mỹ nhìn thấy sự tàn khốc của chiến tranh gần đến mức như vậy.

South Vietnamese National Police Chief General Nguyễn Ngọc Loan executing Viet Cong officer Nguyễn Văn Lém in Saigon. Source: Eddie Adams.

Bức ảnh đã làm nên tên tuổi của Eddie Adams bằng giải Pulitzer danh giá, nhưng đồng thời nó cũng là điều ám ảnh ông ta suốt về sau. Chúng ta sẽ nói về Eddie Adams đằng sau bức ảnh định mệnh này.

Quay lại với cậu bé Nguyễn Tử Huấn lúc đó 9 tuổi nạn nhân sống sót của vụ thảm sát kinh hoàng gia đình Đại tá Nguyễn Tuấn lúc bị giết ông mang hàm Trung Tá.

Chia sẻ của ông Nguyễn Từ Huấn được đăng tải trong bài viết của Vũ Văn Lộc đăng tên trang blog của Hoàng Sa Paracel cũng có nói:

“Vụ Tướng Loan bắn giết Bảy Lém, không ít thì nhiều cũng liên quan đến vụ thảm sát của gia đình tôi. Gia đình tôi có quen với gia đình ông Loan. Sau vụ thảm sát, tôi có đến ở nhà gia đình vợ của Tướng Loan để tránh pháo kích trong lúc chiến trường Mậu Thân vẫn đang tiếp diễn. Ông Loan cũng là bạn đồng khóa với bố tôi ở Thủ Đức Khóa 1 theo tôi được biết.”

Ông Nguyễn Từ Huấn sau đó được gia đình người chú thím nuôi dưỡng và họ rời Việt nam tới đảo Guam năm 1975.

Nhà báo Mạnh Kim, người có cơ hội gặp gỡ trực tiếp ông Nguyễn Từ Huấn mới đây nhân dịp ông được thăng cấp Phó Đề đốc có bài viết chia sẻ những thông tin rất thú vị về ông Nguyễn Từ Huấn.

Ông Nguyễn Từ Huấn tốt nghiệp Đại học Oklahoma State với bằng cử nhân điện cơ Năm 1981, sáu năm sau khi đến Mỹ.

Ông lấy tiếp các bằng thạc sĩ tại ba đại học: Đại học Southern Methodist, Đại học Purdue và Đại học Carnegie Mellon (hạng tối ưu) chuyên ngành kỹ thuật thông tin.

Sau đó, ông làm việc cho một cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng, thuộc bộ phận thiết kế các hệ thống điều khiển điện tử trên chiến đấu cơ.

Năm 1991, cuộc chiến Vùng Vịnh nổ ra. Ông Huấn đăng ký vào quân ngũ. Năm 1993, ông trở thành sĩ quan Hải quân trừ bị mà như ông nói là “Tôi nhập ngũ năm 1993 như một cách trả ơn nước Mỹ và nối bước Bố tôi.

Trong bài viết của mình nhà báo Mạnh Kim cho biết:

“Trong thời gian từ năm 199 1-1993, ông làm việc thêm ở Bộ Năng lượng. Với vị trí kỹ sư phụ trách dự án đặc biệt chuyên nghiên cứu kỹ thuật dẫn hai tia proton phóng với vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng sao cho chúng có thể chạm nhau (superconducting super collider), từ đó cung cấp các dữ liệu nhằm giúp hiểu thêm về hiện tượng Big Bang cũng như các hiện tượng khác trong vũ trụ, ông Huấn là một trong số rất ít người Việt có mặt trong nhóm nghiên cứu này. Từ Bộ Năng lượng, ông chuyển sang làm việc cho General Motors (GM), phụ trách thiết kế các hệ thống điện tử cho xe hơi. Tại đây, ông phát minh một số sáng chế mà hiện GM vẫn sử dụng. Năm 1993, internet chưa phát triển, cả nước Mỹ chỉ có khoảng 20 website,ông Huấn đã nghĩ đến việc làm thế nào có thể sử dụng network để phục vụ quân đội và hỗ trợ tác chiến. Ý tưởng của ông được một đề đốc ủng hộ và ông được mời vào Ngũ Giác Đài tường trình cho giới lãnh đạo Hải quân. Tiếng nói của anh thiếu úy Huấn trở nên lạc lõng giữa những hoài nghi. Cho đến thời điểm đó, rất ít người có thể hình dung cái gọi là “network warfare”. 

Vào năm 2003, nước Mỹ bước vào cuộc chiến Vùng Vịnh lần hai và cuộc chiến Vùng Vịnh lần hai cũng là thời điểm để ông Nguyễn Từ Huấn lúc đó là thiếu tá với vai trò sĩ quan chỉ huy đơn vị kỹ thuật ông được cử sang Afghanistan và Iraq để giúp phá hủy các thiết bị kích nổ bom từ xa của khủng bố.

Ông Nguyễn Từ Huấn (thứ nhì từ phải qua) trong cuộc chiến tranh Vùng Vịnh Source: Image of Courtesy

Thượng cấp cũ của ông cựu Đại Tá David Harrison, trong lần trả lời phỏng vấn vào hồi tháng 7 năm nay với Vietface TV Hoa Kỳ nói “ông là người thông minh nhât mà tôi từng gặp”, và ông Đại tá Hirrison gọi ông Nguyễn Từ Huấn là “renaissance guy” để nói về ông như là một người có nhiều tài năng và hiểu biết sâu rộng trong nhiều lãnh vực.

Nguyễn Từ Huấn nói “Một trong những thử thách khó nhất đối với tôi là phải đi một bước trước kẻ thù”.

Như ông Huấn trả lời phóng viên Eric Schmitt trên New York Times số ra ngày 6-2-2006.

Đại tá David Harrison cũng có nói không bao lâu sau khi họ làm việc cùng nhau thì ông Nguyễn Từ Huấn cùng ông Harrison cùng phác thảo một đề án qua đó lên kế hoạch làm cách nào để lực lượng Hải quân có thể vào các căn cứ quân sự để hỗ trợ cho các lực lượng bộ binh và Thuỷ quân lục chiến.

Trong lúc đó thì ông Huấn và ông Harrison cùng nhóm của mình cũng hỗ trợ công việc của các binh chủng khác tại chiến trường Iraq và Afganistan.

Và Iraq là chiến trường cần nhiều sự hỗ trợ dụng cụ dò bom mìn lề đường IED nhất do bởi số người thiệt mạng vì bom mìn gài trên đường tại Iraq cao hơn tại Afrganistan.

“Ông Huấn là kỹ sư trưởng của tôi. Là người thông minh xuất chúng, ông ấy đóng một vai trò vô giá trong việc tập hợp các ý tưởng lại với nhau tạo thành một kế hoạch để vô hiệu hoá sự tác hại của bom tự chế IED gài bên vệ đường. Ông ấy đã làm việc tuyệt vời,” Đại tá Harrison nói.

Ông Harrison chia sẻ, mỗi khi tôi nghĩ về ông Huấn thì đó là một người sáng suốt, là người thông minh nhât mà tôi từng gặp. Ông ấy là người khiêm nhường nhất mà bạn từng gặp. Nếu bạn hỏi ông ấy đã làm được gì thì ông ấy nói thì chắc chắn ông ấy sẽ nói để giảm nhẹ sự quan trọng của công việc đó cũng như đóng góp của ông, bởi lẽ ông ấy là một người rât là khiêm nhường.

Về phần mình trong những lần trả lời phỏng vấn của báo đài về việc ông được phong hàm cấp tướng Phó Đề Đốc Hải Quân, ông Nguyễn Từ Huấn nói ông là người may mắn được chọn.

Cựu đại tá Harrison cũng nói xác suât để sỹ quan Hải quân được phong cấp tướng rât mong manh ít ỏi chưa tới 1% sỹ quan Hải quân đạt được cấp Phó Đề Đốc.

“Trong nhiều năm phục vụ tôi biết nhiều sỹ quan được đồng đội cho rằng đủ điều kiện và xứng đáng được phong cấp tướng nhưng con số các tướng lãnh Hải quân chiếm một tỷ lệ rât nhỏ, như tôi có lần đọc được câu nói so sánh việc trở thành tướng Hải quân cũng hiếm hoi như việc một cục than có ngày trở thành một viên kim cương vậy.”

Bản thân ông Nguyễn Từ Huấn cũng nói vậy, sự chọn lựa đề bạt càng lên cao càng khó, và khi đi vào quân ngũ ông không dám nghĩ tới có ngày sẽ lên chức đại tá chứ đừng nói chi đến chức tướng.

Ông Nguyễn Từ Huấn cũng là người vận động để xây dựng bức tượng Lone Sailor- Tượng Lính Thủy Cô đơn tại đảo Guam trong chuỗi tượng kỷ niệm của Hải quân Hoa Kỳ – US Navy Memorial là nơi đã đón nhận hơn 100 ngàn người Việt tị nạn vào năm 1975 trong đó có ông.

Ông Nguyễn Từ Huấn nói ông không quên tấm lòng và sự tử tế của những người lính thủy trên đảo đối với những người tị nạn Việt nam.

“Những hình ảnh tôi còn nhớ rõ mồn một khi đặt chân đến Trại Asan ở đảo Guam này, giờ là công viên Asan Beach, là những thủy thủ và thủy quân lục chiến Mỹ phơi mình dưới cái nắng cháy da, dựng lều và lán thức ăn, phát nước uống và đồ ăn nóng, giúp đỡ và chăm sóc mọi người với thái độ tử tế và kính trọng… Những người lính đó đã mang lại cảm hứng cho tôi cống hiến cho Hải quân Mỹ đến tận hôm nay”.

Câu chuyện gia đình ông được đăng tải được kể đi kể lại rât nhiều lần.

Chuyện gia đình đã ông trở thành một phần của cuộc chiến tranh Việt Nam một phần của lịch sử.

Trong bài viết về ông Nguyễn Từ Huấn của mình nhà báo Manh Kim ghi lại những chia sẻ từ chính ông Nguyễn Từ Huấn về cái ngày định mệnh đó.
“Hơn 50 năm trôi qua, ông Huấn chưa bao giờ quên những gì ông chứng kiến. Ông không thể quên tràng súng liên thanh điên cuồng nã vào bảy người trong gia đình mình – vào bố, vào mẹ, vào các người anh và cả đứa em út mà mẹ bế trên tay, khi họ đang bị bắt làm con tin, ngay trong những ngày mà hai bên đã thỏa thuận ngưng chiến. Ông không thể quên cảnh người anh thở hắt ra làn hơi cuối cùng và cảnh người em bị bắn thủng bụng ruột đổ ra ngoài. Ông không bao giờ có thể quên được cảnh mẹ ông, bị bỏ nằm đó đau đớn, chảy máu và rên xiết nhiều giờ cho đến chết. Ông cũng không thể quên cảnh toán đặc công cầm lưỡi lê đâm vào lon bia để uống, dọn đồ ra ăn, giữa những nạn nhân bị thương đang rên xiết và giữa những thi thể mà chúng vừa thảm sát man rợ.

Có một đặc công chĩa súng vào đầu Huấn khi phát hiện đứa trẻ 9 tuổi duy nhất còn sót lại. Dưới ánh sáng hỏa châu từ bên ngoài, tay đặc công cộng sản đối diện ánh mắt không hề lộ chút sợ hãi của cậu bé Huấn. Một vết đạn, từ vụ thảm sát trước đó, trúng vào đầu khiến mặt mày Huấn bê bết máu. Có lẽ đó là lý do khiến toán đặc công không buồn bận tâm ban cho Huấn “một phát đạn ân huệ”, bởi nghĩ rằng ông sẽ không thể nào sống nổi. Tuy nhiên, ông đã không chết.”
Câu chuyện gia đình ông vào thời điểm năm 1968 đã không được ghi lại.

Gia đình Đại tá Nguyễn Tuấn, cậu bé Huấn hàng đầu ở giữa anh trai và em trai mình Source: Image of Courtesy

Cả thế giới chỉ thấy tấm ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan tử hình Bảy Lém trên đường phố Sài Gòn mà đã không nhìn thấy gia đình bảy người từ lớn chí nhỏ bị Bảy Lém sát hại.

Bức ảnh ngay sau đó, đã được tờ Times bình chọn bức ảnh của Eddie Adams là một trong 100 bức ảnh gây ảnh hưởng nhất của thời đại.

Tác giả của nó Eddie Adams được tặng giải báo chí Pulitzer danh giá.

Bức ảnh được tung ra và hoàn toàn là một cú sốc trên mọi mặt báo, truyền hình. Cuộc chiến Mậu Thân mặc dù chứng minh sự thất bại hoàn toàn của phe cộng sản nhưng lại là mồi lửa cho phía những người bi quan và thiên tả, và là lợi thế của miền Bắc cho đến khi họ thắng cuộc năm 1975.

Vào năm 2018, đánh dấu 50 năm trận Tết Mậu Thân, trang nbcnews.com đăng tải lại tấm ảnh này với những lời trần tình của Eddie Adams nói rằng ông đã không có cơ hội để giải thích tại sao tướng Loan phải làm như vậy.

“Bức ảnh đã không nói hết câu chuyện, nó không giải thích là tại sao lại có chuyện đó. Tôi không nói những gì ông ấy làm là đúng, nhưng ông ấy đã chiến đấu trong một cuộc chiến, và ông phải chống kẻ xấu. Đã có 2 con người bị hủy diệt ngày hôm đó – Lốp và Loan – tôi thì không muốn hủy hoại cuộc đời của ai. Đó không phải là việc của tôi”.

Sau này, Eddie Adams nhớ lại hình ảnh của tướng Loan, nói xong và bỏ đi “Họ đã giết nhiều người của tôi và cả người của anh”, như ông kể trong một cuộc phỏng vấn được thực hiện vào năm 1998 cho chương trình phỏng vấn về lịch sử của hãng AP.

Đó cũng là lúc mà Eddie Adams cảm thấy rằng tướng Loan đã bị làm nhục một cách không công bằng bởi đám đông công chúng – những người không được nhìn thấy sự thật đằng sau bức ảnh: Bảy Lốp, nhân vật bị hành quyết, đã tham gia sát hại cả gia đình người giúp việc của tướng Loan trước đó.

Tướng Loan qua đời năm 1998 tại Virginia, còn Eddie Adams mất năm 2004. Trước khi mât, Adams đã kịp tìm gặp tướng Loan để nói một lời tạ lỗi.

Niềm tự hào nghề nghiệp mà ông có thể giới thiệu với mọi người là những bức ảnh năm 1977, về những người Việt đào thoát khỏi đất nước sau khi chiến tranh kết thúc. Những bức ảnh này của ông đã giúp thuyết phục Hoa Kỳ nhận hơn 200.000 người Việt đến tị nạn. Một trong những bức ảnh về đề tài đó cũng nằm trong danh sách 100 bức ảnh gây ảnh hưởng nhất, do Time bình chọn.
Có một chi tiết ít thú vị về NguyễnTừ Huấn được nhà báo mạnh Kim chia sẻ trong bài viết rằng vào những ngày đầu bước chân tới Mỹ, hình ảnh cậu thiếu niên Huấn đã được đăng lên trên trang nhất của tờ The Daily Oklahoman của tác giả Tom McCarthy như một người có khả năng trở thành nghệ sĩ violin tương lai.

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết ông đã trở thành người Việt đầu tiên được thăng chức Phó Đề đốc Hải quân Hoa Kỳ.

Vào ngày 1/10/2019 lễ thăng chức Phó Đề đốc cho ông Nguyễn Từ Huấn được tổ chức tại Washington DC.

Ông là sĩ quan hải quân gốc Việt đầu tiên mang cấp Phó đề đốc hải quân Hoa Kỳ, và là người Việt thứ tư mang cấp tướng trong quân lực Hoa Kỳ. Trước ông có Thiếu tướng Lương Xuân Việt ( Lục quân ), Chuẩn tướng Lapthe C. Flora, vệ binh quốc gia ( lục quân ) và Chuẩn tướng William H. Seely III ( Thủy quân lục chiến ).

Tân Phó Đề đốc Huấn còn sẽ đảm nhận một chức vụ mới: Tham mưu phó Bộ tư lệnh hải dương hệ thống Hải quân (Naval Sea Systems Command-NAVSEA), đặc trách an ninh mạng.

Rear Amiral US Navy Nguyen Tu Huan Source: Images of courtesy

Vào ngày 21 tháng 09 năm 2019 tại buổi lễ Huý Kỵ Đức Thánh Trần Hưng Đạo tại San Jose do Hội Hải Quân Bạch Đằng tổ chức trong bài phát biểu của mình ông Nguyễn Từ Huấn trích dẫn lời của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn người mà ông gọi là vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam cách nay 700 năm

“Ta cùng các ngươi sinh ra thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Trông thấy tàu chiến Trung Cộng thản nhiên xâm phạm ranh giới Việt Nam, chính phủ Tàu không tôn trọng chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, ngang nhiên coi Việt Nam như nước của nó, thương gia Tàu đầu độc môi trường của nước VN, đầu độc thực phẩm đem vào Việt Nam. Nếu không chống lại thì chẳng khác nào như cõng rắn cắn gà nhà, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau.

Nay thấy nước nhục không biết thẹn; phải hầu kẻ thù mà không biết tức. Vì lợi ích cá nhân mà quên bổn phận giữ gìn đất nước. Đến khi phải học tiếng nước người, sẽ đau xót biết chừng nào.”

Ông nói:

“Ngày nay, cái hoạ của Trung Cộng đối với VN thì ai cũng rõ. Lời nhắn nhủ của Hưng Đạo Đại Vương 700 năm trước là tiếng trống hùng hồn, ngài như muốn thúc giục, muốn đánh thức con cháu Việt Nam ngày nay phải sẵn sàng đứng lên giữ gìn sông núi. Cuộc chiến này sẽ kéo rất dài. Có thể sẽ 10 năm, có thể sẽ là 100 năm. Con đường đi sẽ nhiều chông gai trắc trở. Bởi vậy chúng ta phải cần kiên trì, giữ vững lòng tin, giữ vững chủ nghĩa dân tộc và văn hoá Việt Nam.

Chúng ta, nhất là người Việt hải ngoại, phải tìm một mẫu số chung để chúng ta có thể làm việc với nhau, và nhất là không nên quan tâm đến ai sẽ là người được vinh danh. Mỗi một chúng ta phải có sự khiêm nhường và trung thành với đất nước như Đức Thánh Trần với vua Trần. Vì nếu mục tiêu cuối cùng là giữ được lãnh thổ VN thì ai cũng sẽ là kẻ thắng trận.

Chúng ta phải biết dùng đến sở trường của mình để chống lại. Chúng ta không thể nào đánh bại Trung Cộng ngày hôm nay ngoài chiến trường. Mỗi một chúng ta sẽ là một dũng sĩ, với sở trường riêng biệt khác nhau và sẽ dùng nó để đánh lại quân xâm lăng. Nếu là luật sư, quý vị phải dùng lý lẽ luật pháp để vạch mặt chúng ra ngoải với Toà Án Quốc Tế. Nếu là Đạo diễn, quý vị sẽ làm phim nói đến các chiến thắng của dân Việt chống giặc Tàu, nếu là nhạc sĩ, những bài hát nói đến lòng yêu nước, đến tự ái dân tộc.

Mỗi email của chúng ta sẽ là một mũi tên bắn đến quân thù, mỗi một tweet là một lời hô hào chống Tàu cộng. Facebook sẽ là giòng sông Bạch Đằng của chúng ta, ngòi bút của chúng ta là cọc nhọn để đâm thủng mộng bá chủ của chúng nó. Mỗi một chúng ta phải có nhiệm vụ nhắc nhở con cháu chúng ta truyền thống Việt Nam. Mỗi một chúng ta tại đây phải có cái tự trọng và tự hào chúng ta là người gốc Việt. Chúng ta phải giữ vững chủ nghĩa dân tộc Việt và văn hoá Việt.

Tất cả chúng ta phải đồng lòng, không thể đi một mình trên con đường này. Giữ gìn quê hương, đất nước là bổn phận và trách nhiệm của tất cả người Việt chúng ta. Chúng ta phải bảo tồn dân tộc Việt và văn hoá Việt, vì nếu không, chúng ta sẽ để lại cho con cháu chúng ta một cái bản án nô lệ Tàu thêm nhiều ngàn năm đen tối.”

Không một lời thù hận trong bài phát biểu này và trong tất cả những lần trả lời truyền thông trước đó.

Hơn ai hêt ông là phải người mang mối thù hận với những kẻ đã gây nên thảm cảnh cho gia đình ông.

Thế nhưng không.

Việc ông sống sót sau cuộc thảm sát đã là một điều kỳ diệu. Việc ông vượt đau thương chấn động tâm lý để học hành trở thành một người tài giỏi và thăng tiến thành một Phó Đề Đốc Hải Quân Hoa kỳ đã là một điều hết sức đáng khâm phcụ và tự hào cho người Việt.

Thế nhưng việc ông vượt qua được sự thù hận thoát ra được tấm lưới tâm tối của ghét bỏ thù hằn để nhìn Việt Nam như là một quốc gia của tât cả mọi người Việt cùng nhau chống giặc Tàu mới là điều khiến ông trở nên lớn lao đáng kính trọng.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 2)

baotreonline.com

Trương Duy Hy

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 16 Sep 2024

Photo edit by Sơn râu

Nhận lệnh lên đường

 Đang chỉ huy một pháo đội (–), Pháo đội C thuộc Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh, đồn trú tại Đồi 37, ngay sau Quận đường Đại Lộc. Pháo đội tôi có nhiệm vụ yểm trợ trực tiếp cho Liên Đoàn Biệt Động Quân do Đại Tá Hiệp, Liên Đoàn Trưởng chỉ huy, quần thảo với Cộng quân suốt dọc sông Thu Bồn, bên phần đất Duy Xuyên. Tôi được lệnh chuyển nhiệm vụ sang yểm trợ trực tiếp cho Trung Đoàn 51 Bộ Binh do Đại tá Thục làm Trung Đoàn Trưởng vào khoảng thượng tuần tháng 1-1971.

Rạng ngày 25-1-1971, Bộ Chỉ huy Tiểu Đoàn gởi công điện gọi tôi về dự buổi họp quan trọng.

10g30, bước vào phòng họp, tôi thấy hầu hết các Sĩ quan tham mưu, các vị Pháo Đội Trưởng chỉ huy, Pháo Đội Trưởng Tác Xạ A, B đã tề tựu đông đủ chung quanh chiếc bàn hình “Oval” phủ khăn đỏ.

Bắt đầu buổi họp, Thiếu tá Nguyễn-Văn-Tự Tiểu đoàn trưởng với vẻ mặt tươi tỉnh hơn mọi ngày, trịnh trọng tuyên bố: Tiểu Đoàn sắp tham dự một cuộc hành quân đại quy mô, điều động toàn bộ Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh tham chiến. Mục tiêu cuộc hành quân là phá hủy hậu cần địch tại Hạ Lào…

Sau cuộc họp, trở về đồi 37, tôi cùng Trung Úy Lê-Văn-Lân Sĩ quan tác xạ pháo đội đặt kế hoạch di chuyển. Tôi không quên đặc ân cho một số quân nhân tốt trong Pháo đội được đi phép ít hôm về ăn Tết với gia đình. Số còn lại, tiếp tục vui Xuân trọn vẹn từ mồng 1 đến cuối ngày 2 Tân Hợi.

Chúng tôi đã ngã 1 bò và 2 heo nhân dịp Tất niên và mừng Xuân mới. Riêng đồng bào, các vị thân-hào nhân-sĩ, các viên chức xã Lộc Hưng, các sĩ quan Hoa-Kỳ mang quà cáp đến chúc “thọ” chúng tôi. Quý vị Hiệu Trưởng, Nam Nữ Giáo Sư, Nam Nữ Sinh trường Trung Học Đệ Nhất, Đệ Nhị cấp Đại Lộc đến tận pháo đội trao cho mỗi pháo thủ một chiếc khăn tay có thêu tên trường, tên lớp, thân tặng, để kỷ niệm những ngày pháo đội công tác tại địa phương này.Sáng mồng 3 Tết, nhằm ngày 29-1-1971, cả Pháo đội thức dậy thật sớm, dọn dẹp những gì còn sót, chất đầy trên 4 xe cargo 2,5 tấn, 4 xe 5 tấn, 2 xe dodge, 3 xe Jeep và 3 móc hậu 1 tấn, đầy nhóc đạn 155 ly.

11g30 chúng tôi di chuyển xuống hướng Phong Thử, rẻ về đồi 55 Đất Sơn đón Trung Đội 1 rồi cùng về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn.

Tại Tiểu đoàn, tất cả 6 đại bác 155 ly của Pháo Đội được xếp hàng sắp ngay trong sân cờ đối diện với văn phòng.

Hôm sau, đúng 17g00 chúng tôi tháp tùng Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đi đoạn hậu, nối tiếp Pháo Đội A di chuyển ra Đông Hà. Đoàn xe chúng tôi vượt qua đèo Hải Vân khoảng 21g00 đêm. Theo chúng tôi, có 1 Chi Đoàn xe bọc sắt giữ nhiệm vụ hộ tống.

Trên lộ trình, tất cả quân xa đều xử dụng đèn pha, vẽ thành những vệt sáng quét ngang dọc sườn núi, chọc thủng màn đêm, tạt ánh sáng xuống các vực thẳm sâu hun hút. Vài trục trặc nhỏ xảy ra do mấy chiếc cargo cũ kỹ khập khà khập khựng rên siết trườn mình trên đường nhựa, làm giảm tốc độ cho cả đoàn xe.

Sau khi đổ đèo cách tỉnh Hải Vân vài cây số, một cargo 5 tấn của Pháo Đội A làm lật khẩu đại bác 155 ly ngay giữa đường, vì qua khúc quẹo quá ngặt. Tấm lá chắn xẻ mặt đường một đoạn ngắn làm bong cả nhựa đá. Bắt buộc tôi phải dừng lại xin toán hộ tống đợi chúng tôi bẫy súng lên để cùng đi – song không được vị Toán Trưởng chấp thuận – tôi đành gọi vô tuyến báo cho Ban 3 Tiểu Đoàn, lúc bấy giờ cách tôi trên 4 cây số. Lật đật, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng quay xe lại giải quyết vấn đề hộ tống. Đồng thời, Thiếu Úy Bá Sĩ quan Quân Xa Tiểu Đoàn cùng với Ban Đệ II cấp cho wrecker tiến lên câu súng trả về vị thế cũ.

Khoảng quá khuya, trời bắt đầu mưa lâm râm. Dưới ánh đèn pha, mặt đường trở nên láng bóng như có ai thoa mỡ. Các tài xế dốc hết tâm trí vào tay lái, cố trấn tỉnh cơn mê ngủ đang rình rập tấn công vào đôi mắt… Càng đi, chúng ta càng vào sâu trong khí hậu lành lạnh, khác hẳn với khí hậu tại Đà Nẳng. Đến 6g00 sáng 31-1-71, đoàn xe dừng lại cách thị trấn Đông Hà 2 cây số.

Tại đây, chúng tôi được tạm trú trên một quảng đồi rộng ở hướng Tây Tiểu Đoàn 48 Pháo Binh.

Trưa ngày 1-2-1971, toàn Tiểu Đoàn di chuyển từ Đông Hà đến Cam Lộ. Khi cách Cam Lộ 4 cây số, lại được lệnh tạm dừng quân ở bên trái đường, trên ngọn đồi thấp. Cùng đồn trú với chúng tôi có một đơn vị thiết giáp thuộc Thiết Đoàn 17. Trong suốt thời gian từ 1-2 đến 6-2-1971, sáng và chiều, Thiếu Tá Tự, Đại Úy Thông luân phiên đi họp để nhận lệnh mới. Nhờ những buổi họp này, chúng tôi được biết: Công binh làm đường, sửa cầu cống trên Quốc lộ 9 nối liền Đông Hà – Khe Sanh chưa xong, nên phải đồn quân mà đợi.

Lợi dụng thời gian nghỉ “xả hơi”, Pháo Đội kiểm kê vật dụng, nhận thêm băng cá nhân phát đầy đủ cho mỗi binh sĩ một cái. Đồng thời tôi cho lệnh Trung Sĩ I Bình mua sắm thêm chén kiểu, đũa, ly phát bổ sung cho tất cả binh sĩ mỗi người một bộ, thay thế những chén bể hoặc do anh em làm mất mát trong lúc di chuyển.

Hạ Sĩ quan Hỏa Thực vẫn hàng ngày đi chợ Đông Hà mua thức ăn cho Pháo Đội. Thỉnh thoảng chúng tôi trẩy về Quảng Trị ngồi cạnh cốc cà phê nóng hổi suy tư một chuyến đi với hy vọng chiến thắng rực rở.

Ngày 4-2-1971, tôi và Trung Úy Lân vào Huế mua thêm những vật dụng cần thiết mang theo.

Chiều 5-2-1971, Đại Úy Công và Đại Úy Thương tìm đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn gặp tôi. Đại Úy Công làm việc tại Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn Dù, còn Thương làm Trưởng Ban 3 Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù. Mục đích cuộc gặp gỡ này không ngoài việc liên lạc với chúng tôi về nhiệm vụ tăng phái Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh cho Sư Đoàn Dù, và Pháo Đội C tôi được tăng phái chính thức cho Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù. Đại Úy Thương có tầm vóc mảnh mai, thấp, ăn nói hoạt bát, hiền hậu, rất xứng đáng với cái tên của Đại Úy đã mang. Thương trẻ hơn tôi về tuổi tác và cũng trẻ hơn tôi về khóa học tại trường Võ Khoa Thủ Đức.

Thương trình bày tất cả những gì Pháo Đội tôi phải làm trong những ngày sắp tới, đồng thời Thương giải thích mọi thắc mắc về phương diện tiếp liệu, hành chánh mà Pháo Đội tăng phái thường vấp phải. Thương nói rành rẻ với giọng nhỏ nhẹ dễ mến.

Sau khi Thương ra về, tối đến, một cuộc họp cuối cùng tại BCH/TĐ với mục đích để Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng chỉ thị những điều cần thiết hầu các Pháo Đội căn cứ vào đó thi hành trong suốt cuộc hành quân. Cũng do cuộc họp này, tôi được biết Pháo Đội chúng tôi tăng phái cho Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù do Trung Tá Bùi-Văn-Châu làm Tiểu Đoàn Trưởng.

Sáng ngày 6-2-1971. Từ 1g00 sáng mọi người đều thức dậy, móc súng sắp thành hàng dài, nối đuôi Pháo Đội A…

6g30 đoàn xe bắt đầu lăn bánh.

Chúng tôi di chuyển rất chậm. Trời lại lất phất mưa, đường trơn như láng mỡ. Tài xế vất vả và khó nhọc lắm mới đưa được mấy khẩu đại bác 155 ly qua các dốc, các co nguy hiểm. Ngồi trên xe Jeep, tôi cứ phập phồng lo sợ lật xe, lật súng, rơi nhân viên xuống hố! Có nhiều đoạn phải xử dụng cần phụ, cài số 1, đi như đưa đám tang, vậy mà xe vẫn chạy theo “ý” xe, chứ không chạy theo chiều lái của tài xế.

16g30 chúng tôi đến Khe Sanh. Kẹt xe, Pháo Đội của chúng tôi phải đợi mất 1 giờ chờ Quân Cảnh Dù dẹp đường. Sau đó, chúng tôi rẽ vào vị trí trú đóng của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù, còn Pháo Đội A, Pháo Đội B cùng BHC/TĐ tiếp tục di chuyển đến Lao Bảo cách Khe Sanh 15 cây số.

Bắt đầu từ đây, Pháo Đội C tôi hoàn toàn tùy thuộc vào sự điều động và xử dụng của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù.

21g00 Trung Tá Châu mời tôi sang họp tại BCH/TĐ3 Dù. Cuộc họp do Đại Úy Thương thuyết trình.

Trên bản đồ hành quân đã được thiết kế bằng đủ màu sắc, ghi chú đầy đủ các vị trí quân bạn sẽ chiếm đóng, các trục tiến quân sẽ thực hiện kể từ ngày N+8, N+9, N+10…

Tôi rất hoan hỉ và vô cùng phấn khởi khi Đại Úy Thương trình bày về tầm quan trọng của các CĂN CỨ HỎA LỰC. Những nơi này chắc chắn sẽ được dành mọi phương tiện, mọi ưu tiên của không yểm cùng pháo yểm bảo vệ khi gặp nguy hiểm. Thương nhấn mạnh: “Đại Úy đi với chúng tôi – là lực lượng Dù, lực lượng thiện chiến, có quy cũ lắm. Đại Úy yên trí lớn! Tất cả đều có chúng tôi lo cho Đại Úy…”. Thương thao thao bất tuyệt dẫn chứng những sự kiện thật đã xảy ra tại mặt trận Kompong-Cham về phương diện tiếp vận và không yểm quy mô, tối đa, bất chấp mọi thời tiết dành cho đoàn quân viễn chinh của ta.

Cuối cùng, Thương kết luận: “Chúng tôi sẽ giúp đỡ Đại Úy và Pháo Đội của Đại Úy tất cả những gì giúp đỡ được…”.

Niềm tin và lòng phấn khởi ấy được tôi mang về công bố cho các sĩ quan thuộc quyền biết. Trên nét mặt, mọi người đều vui vẻ tin tưởng.

Tôi đưa lệnh hành quân cho Thiếu Úy Huỳnh Công Thiện kẹp vào bản đồ. Giao cho Trung Úy Lân thu xếp mọi vật dụng cần thiết để có thể tách đôi Pháo Đội khi tình hình chiến thuật đòi hỏi. Thiếu Úy Toại kiểm kê đạn dược, Thiếu Úy Ngân cụ bị đầy đủ vật liệu cho Đài Tác Xạ và Trung sĩ nhất (TSI) Bình Thường Vụ Pháo Đội lo liệu vấn đề ẩm thực.

Tại hậu cứ Khe Sanh, TSI Đa lo đạn dược, Trung sĩ (TS) Thế lo tiếp tế, hành chánh và thực phẩm tiếp tế. TS Ngô lo quân xa cùng một số các tài xế. TS Kế, Hạ sĩ (HS) Thiện, Lượt, Sở, Xuân, Cẩn, Ngọ, Bảy, Hứa, Mười, Đạt, Cho, Thục ở lại Khe Sanh giữ nhiệm vụ tu bổ quân xa, tạp dịch trong mọi công tác cần thiết để yểm trợ cho Pháo Đội.

Trong lúc chờ lệnh mới, tôi có dịp đi quan sát quanh vùng trong khoảng không quá vài cây số. TS Thế cho biết trước đây, chính những chỗ này đồng bào sinh sống khá đông, nguồn lợi chính của họ là cà phê, trà. Hồi còn Cậu Cẩn, Khe Sanh là yết hầu của những tay buôn lậu thuốc phiện và vàng từ Lào sang, nên lúc bấy giờ con đường nối dài từ Đông Hà đến Khe Sanh tấp nập người lên xuống. Một vài ngôi vườn hoang có tường, rào vững chắc, bên trong nhà được xây bằng gạch hoặc aglo bị sụp đổ vì bom đạn cày xới, rải rác trong vườn còn một vài xác xe hơi lủng nát của các tay tài phiệt Pháp, chứng tỏ Khe Sanh quả đã có một thời vàng son! Bây giờ, trước mắt tôi khắp đó đây dẫy đầy hố bom. Có nhiều hố nối tiếp, sát nhau, chứng tích của những trận oanh tạc khủng khiếp của Pháo đài bay B52.

Khoảng 16g00 chiều ngày 7-2-71, buổi họp kế tiếp được tổ chức tại BCH/TĐ3 Dù với sự tham dự của tất cả Pháo Đội Trưởng Dù và tôi.

Trong phần trình bày kế hoạch yểm trợ, Thương xác định Pháo Đội C/3 Dù do Trung Úy Trí làm Pháo Đội Trưởng. Nhiệm vụ chúng tôi yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 2 Dù của Trung Tá Thạch (Tiểu Đoàn này bảo vệ vị trí chúng tôi) và tăng cường hỏa lực cho Pháo Đội C/3 Dù.

Ở điểm này, Trung Tá Châu rất tế nhị. Ông ta tỏ vẻ khó xử trí, vì ngày mai đây, sau khi chiếm đóng tại cùng một vị trí, tôi có cấp bậc cao và thâm niên, trong lúc Trí đang là Trung Úy. Dĩ nhiên về phương diện chỉ huy ở đấy phải là tôi. Nhưng Pháo Đội tôi là một Pháo Đội tăng phái, nếu tôi chỉ huy thì e rằng không quen sự phối hợp hỏa lực, còn nếu để Trí chỉ huy thì kẹt tôi.

Tôi hiểu ý và thâm tâm tôi, tôi thiển nghĩ, cứu cánh của cuộc hành quân phải là sát hại tối đa địch, phá hủy tối đa các kho tàng trử quân trang dụng, bảo vệ hổ tương hiệu quả… còn vấn đề chỉ huy, tưởng cũng không nên đặt nặng làm gì trong lúc này. Nghĩ sao tôi trình bày vậy. Trung Tá Châu hài lòng lối xử sự của tôi. Ấy thế là tôi và Trí bắt tay nhau trong niềm cảm thông chân thành khơi lên bởi tình đồng đội khả ái.

Trong buổi họp, tôi gặp Đại Úy Nguyễn Văn Đương, Pháo Đội Trưởng Pháo Đội B/3 Dù. Dạo này Đương béo phệ, chững chạc như một nhà thầu khoán khác hẳn với thân hình gầy gầy của những năm trước. Đương đi Thủ Đức khóa trước tôi và quen nhau tại Plateau Gi khi Đương còn là một Sĩ quan Délo tại đấy năm 1964.

Lúc bấy giờ tôi được biết, vì Đương cương trực nên vất vả với nghiệp Délo năm canh! Đương chơi cờ tướng khá cao, nhưng tôi chưa được hân hạnh đấu cờ với Đương.

Sau 7, 8 năm xa cách, giờ gặp lại Đương, cả hai chúng tôi bở ngỡ nhìn nhau. Tuy không hề thư từ cho nhau, nhưng chúng tôi không quên nhau, vì mỗi đứa có một nét đặc biệt dễ nhận ra, nhất là những kỷ niệm sau 14 ngày hành quân, đoàn tụ về tại một địa điểm cách xa Konbrai 8 cây số ở hướng Tây Nam, cả hai chúng tôi vất vả xác định điểm đứng giữa rừng le để tìm đường ra lộ lớn về Konbrai!

Đương rất dạn, đã có lần anh gọi pháo binh 155 ly từ Konbrai tác xạ cận phòng cho Đại Đội của anh và Đại Đội tôi quy tụ trên đồi le, với khoảng cách không quá 100 thước và hướng bắn qua đầu. Sau đấy, bọn tôi đi lạc về hướng Nam Konbrai hằng 4, 5 cây số.

Vào phòng họp, Đương ngồi cạnh tôi hàn huyên đủ chuyện.

Anh bóp đầu gối trái tôi và hỏi:

– Sao? Dạo này anh còn bị Rhumatisme hành nữa không?

– Tôi chạy chữa tốn không biết bao nhiêu tiền nhưng bệnh vẫn không hết. Có điều bây giờ đã cởi bỏ được nghiệp Délo, không còn lội bộ nữa nên cũng đở hơn trước nhiều.

…Rời phòng họp, tôi siết chặt tay Đương, tiếc rẻ không được đóng chung một vị trí. Chúng tôi hứa sẽ yểm trợ hổ tương tối đa khi cần.

TDH, 1971

Kỳ sau: VƯỢT BIÊN GIỚI

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Phóng đồ hành quân in trong hồi ký của Đại úy Trương Duy Hy.

(***) Là Đại úy Nguyễn Văn Đương mà Trần Thiện Thanh viết trong ca khúc Anh Không Chết Đâu Em.