This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tác giả Trần Đông Thành hiện sống ở Bắc California. Trước làm nghề Income Tax nay về hưu. Ông đã nhận giải Danh dự Viết Về Nước Mỹ năm 2017. Bài viết dưới đây phác họa vài nét cảnh chợ trời ở Mỹ.
*
Tôi có thói quen thích đi chợ trời. Mỗi cuối tuần ấn định hai ngày thứ Bảy và Chúa Nhật, chưa kể ngày lễ, tôi rất háo hức mong trời mau sáng để đi chợ trời.
Một người bạn ở Mỹ lâu năm chê:
– Tao không biết chợ trời có gì hấp dẫn mà lôi cuốn mày đến đó u mê như một tên nghiện?
– Ậy, điều sung sướng mày sao biết được, “Flea market-Chợ trời” mua được nhiều đồ vật lạ, các đồ cổ mày không thể nào mày thấy trong cửa hàng. Không đi mày làm sao cảm hứng thú vị được như tao.
*
Bạn có thể coi bản đồ hoặc học lịch sử biết được màu sắc, màu cờ các dân tộc nhưng có nhiều sắc dân bạn chưa hề gặp mặt. Thì đây, khu vực Chợ Trời sẽ giúp mình quen biết nhận diện hình dáng, khuôn mặt và bạn có thể trực diện trò chuyện với dân tộc năm châu. Tứ hải giai huynh đệ.
Sáng sớm bãi đậu xe thứ tự xe đậu đầy, miễn phí. Người ở khắp nơi đến đó sắp hàng dài mua vé vô cửa. Có nơi 95 cent, nơi 1$ tùy địa phương. Khu sầm uất nơi vài mẫu, nơi vài sào đất.
Xã hội Chợ Trời đặc thù là khu thương mãi tự do. Ai đến đó bán buôn cũng được. Giá cả trên trời dưới đất. Hàng hóa tự do. Trả giá thoải mái. Vì vậy, người mua có thể mua được hàng rẻ nhưng cũng có thể mua lầm giá cao tới nóc.
Nơi đây quy tụ nhiều dân tộc thế giới như Mexico, France, India, Cambochia… Khách hàng chen chúc, người bán chỉ một cái bàn nhỏ phủ tờ nilon hay giấy báo sơ sài họ bày biện hổn độn, đủ thứ vật dụng nào bông tai, thuốc men, kềm búa, radio, bông hoa, hộp sơn, máy sưởi ấm, computer…
Chỗ này một chị quần áo tây phương gọn ghẻ, môi phấn đỏ tươi mặt sáng như trăng rằm, cầm tay một món hàng hỏi giá theo ngôn ngữ chợ trời, nói sao hiểu thì được. Dân tứ xứ mà!
– How much is this? Man! (Giá bao nhiêu vậy ông?)
Chủ sạp, vo môi, ca tụng hàng của mình:
– My flowers all are beautiful! Fresh! You can pay 10 dollars. Really. You cannot find them anywhere! You are lucky! (Bông hoa của tôi đẹp lắm. Rất tươi. Bà có thể trả 10 đồng. Đúng vậy. Bà không thể tìm mua chúng ở nơi khác. Bà rất may đó.)
Rồi bắt tay khách hàng lấy lòng khách.
– Cheap! Cheap! Hi… hi. (Rẻ! Rẻ lắm!)
Khách hàng hàng mặc cả:
– Two dollars. OK? (Hai đồng được không?)
Hắn quéo môi chử O méo xẹo:
– Tomorrow! (Ngày mai)
Đó là cách từ chối khéo như câu chuyện ngụ ngôn “Mai ăn khỏi trả tiền” của người Việt mình vậy.
Trải tấm nhựa láng giản dị quảng cáo hàng bán rẻ “Everything must go! Cheap! Cheap! Tomorow don’t have it. Guarantee!” (Mọi thứ phải bán hết! Rẻ! Rẻ! Ngày mai không còn nữa. Bảo đảm!)
Nơi đây bố trí như một thành phố thương mại. Kiến trúc đường xá bằng những hàng dọc. Ngôn ngữ Việt, Tàu, Miên, Lào… kêu loa ầm ĩ!
Ngập người qua lại, ở xa trông như các tầng lớp sóng biển ùa tới, khi động, lúc thì vơi. Thật là một đô thị ồn ào và náo nhiệt. Thanh thiên bạch nhật. Nắng không mái che. Mưa không chỗ đục.
Cười nói rao hàng nghe điếc tai. Ông già bà cả đi xe đẩy, trẻ con cười toe toét, cô cậu lựa hàng trả giá ỏm tỏi để mua được hàng rẻ hoặc chủ buôn nói giá cao để được lợi. Đầy đủ ngôn ngữ Tàu, Phi, Miên, Anh, Pháp…Người mặc ríp (váy), kẻ quần áo Tây, áo thun quần đùi; người mình trần trùi trụi.
Các gian hàng san sát nhau. Hàng bán khác nhau, mới cũ lẫn lộn. Khu quần áo triển lãm đủ kiểu, đủ hạng, đủ giá.
Từ khi có mặt người tỵ nạn, họ ra bán trên các sạp rau cải, bày hoa quả như cà pháo, dấp cá, ổi, táo, nho, thơm, xoài, dưa hấu, mít..
Đặc biệt hàng bán nón treo lủng lẳng các dây nón thòng xuống đất, từng xâu Beret đủ màu, mũ lưởi trai, nón phi công, nón cao bồi và đặc trưng nón lá Việt Nam từng xấp một.
Quầy sang trọng bán nữ trang trưng bày “cả rổ” toàn đồ giả, rẻ sìn. Son phấn lòe loẹt. Viết chì vẽ chân mày bay bướm. Người bày ra bàn ghế, xe máy, dao kéo, giường ván, nệm cũ có cái lốm đốm tì dấu đen đúa rất là dơ bẩn, vậy mà cũng có người mua.
Tại đây bạn có thể mua được hàng mà không thể mua trong tiệm. Cũng có món hàng bạn mua 5 hay 10 đồng mà giá ở tiệm lên đến 100, 200. May rủi!
Có hạng người buôn bán vì sinh kế. Có người rất sang trọng, giàu có, ra bán là để mua vui, giết thì giờ. Kẻ đi chợ trời như đi du lịch. Giải trí chớ không mục đich sắm đồ. Cần gì thì cứ tới đây “lục lạo” bạn sẽ được như ý muốn.
Đang đi thì có tiếng còi tu-huýt của security rượt theo một thanh niên chạy bán sống bán chết.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Trương Duy Hy
Trần Vũ post December 1st, 2020
Post by Sơn râu 19 Sep 2024
PHÚT CHÓT CỦA CĂN CỨ HỎA LỰC 31
Tại Khẩu Đội, nhân viên vừa bắn vừa vác đạn không kịp thở. Nhưng không một Pháo Thủ nào lộ vẻ uể oải.
Với ý thức trách nhiệm cao độ và tình đồng đội ràng buộc chặt chẽ, Pháo Đội chúng tôi liên kết mật thiết với Pháo Đội C3 Dù của Trí, hết mình yểm trợ với cố gắng đẩy lui các đợt tấn công quyết liệt đang đe dọa sinh mạng Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù cùng Pháo Đội của Đại Úy Đương ở mặt Bắc và Đông căn cứ.
…Về phía Tây Nam căn cứ Hỏa Lực 31 Pháo Đội 155 ly và Pháo Đội 105 ly Dù ở căn cứ A Lưới cũng dốc hết hỏa lực tác xạ vào mặt Tây và mặt Nam, kề cận vòng đai phòng thủ của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù.
Hỏa lực yểm trợ của chúng tôi càng lúc càng thu gần đến ngay trên rào phòng thủ theo sự điều chỉnh của đích thân Đại Úy Phương Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3 PB Dù. Mặc dù vậy vẫn không hề xảy ra một tai nạn nào đáng tiếc. Nhờ sự điều chỉnh hiệu quả đầy kinh nghiệm này, nhiều lần kim ghi điểm dường như cắm sát bên trong đường chỉ kẽ giới hạn căn cứ Hỏa Lực 31. Tôi lo lắng và hồi hộp… lắng nghe kết quả từng tràng đạn sau khi thoát ra khỏi nòng.
Tôi điện đàm với Trí qua điện thoại:
– Nguy hiểm quá anh! Sao Bạch Phú xin bắn sát thế! Có lúc kim ghi tọa độ của tôi lọt hẳn vào trong vị trí?!
– Đại Úy không nghe đó sao, tình hình ở trển nặng lắm! Ông Phó của tôi phải đích thân vào máy đấy. Đại Úy cố gắng giúp cho kẻo bị xài xể!
– Vâng, tôi biết bổn phận của tôi lắm. Anh yên trí, tôi đích thân đốc thúc từ Đài Tác Xạ đến Khẩu Đội. Với tôi, việc tác xạ như thế này là nhanh nhất đấy. Mỗi viên đạn của tôi ra khỏi nòng phải tốn 4, 5 động tác, làm không kịp thở!
…Ầm…ầm…! cùng lúc 2 quả đạn cối 82 ly từ hướng Đông nhẻo ngay vào bên ngoài bia súng khẩu 4. Tôi vội đặt điện thoại xuống giá, nhảy lên khỏi Đài Tác Xạ. Khói và bụi đất còn vẩn vơ trôi theo gió là là trên mặt đất. May, nhân viên không ai bị thương.
Bây giờ đúng 11g15.
Tiếp theo, Cộng quân liên tục điều chỉnh vào vị trí tôi, cứ vài phút 1 quả. Thỉnh thoảng tiếng hú rợn người của đại bác địch bay vèo qua đầu từ Bắc xuống Nam, nổ ầm ầm sát rào căn cứ.
Tôi gọi Bạch Phú:
– Bạch Phú…! Bạch Phú! đây 83… Hiện chỗ tôi có mưa rơi lác đác (ý tôi báo động cùng Bạch Phú rằng chúng tôi đang bị địch pháo kích).
– 83!… đây Bạch Phú, hãy cố gắng giúp tôi. Các bạn bắn đẹp lắm, hiệu quả lắm. Nhưng chúng đông quá, có cả chiến xa trợ chiến. Xin các bạn làm liên tục cho chúng tôi…
– Tôi sẽ cố gắng hết mình. Thẩm quyền hãy yên trí. Lúc nào còn tác xạ được, chúng tôi không nề hà gì cả. Tôi lo cho thẩm quyền nhiều lắm!
Trong lúc bối rối giải quyết áp lực địch tại căn cứ Hỏa Lực 31, tiền đồn hướng Đông Nam chúng tôi khám phá được mục tiêu địch đặt súng cối và yêu cầu chúng tôi khẩn cấp tác xạ tiêu hủy.
Tôi vội vàng ra lệnh khẩu 6 trực xạ. Bốn khẩu còn lại vẫn tiếp tục yểm trợ căn cứ Hỏa Lực 31.
…Ầm!… một tiếng nổ kinh khủng với hàng trăm mảnh vụn của một quả đạn pháo binh địch tung tóe ngay giữa lòng khẩu 5 — là khẩu mà tôi đã gởi về Đông Hà sửa chữa, đặt sát khẩu 6 — làm 2 pháo thủ khẩu 6 của TS Đợi bị thương, 1 nặng và 1 nhẹ. Thật là may cho nhân viên khẩu 5, vì nếu quân cụ sửa chữa xong gởi trả lại cho Pháo Đội thì lúc bấy giờ chắc chắn toàn thể nhân viên khẩu 5 hứng hết từng ấy mảnh đạn.
Tôi đến quan sát điểm nổ, mặt đất bị lõm xuống khoảng 3 tấc và đường kính cỡ 8 tấc. Sỏi sạn nám đen, hàng ống nạp bằng sắt chứa đất làm ụ súng bị xô ngã và hơn 5, 6 ống bị cắt vụn tung tóe!
15 phút sau, mực độ pháo kích của địch gia tăng dần. Đến 12g00 đạn địch rơi ngay vào giữa các càng súng.
Cùng lúc đó, căn cứ Hỏa Lực 31 ơi ới gọi về:
– Chúng đông quá, đang tấn công quyết liệt: chiến xa chúng tràn gần đến vị trí rồi… Thanh Phu (là danh hiệu của Pháo Đội C 3 Dù)! Thanh Phu!… 83! 83!.. hãy bắn đầu nổ cao, C.V.T cho chúng tôi.
Tôi điện đàm với Trí ngay:
– Coi bộ nguy hiểm lắm rồi! Anh có C.V.T không? Tôi chỉ còn đầu nổ cao thôi! Anh nghĩ sao? Có nên bắn các loại hỏa pháo đó không?
– Khổ quá, tôi chẳng biết tính sao đây!
Tiếng hối thúc vọng từ chiếc máy PRC-25 càng lúc càng cấp bách:
– Bắn ngay CVT, VT và đầu nổ cao cho chúng tôi (1). Chúng sắp tràn vào vị trí. Cứ bắn ngay trên đầu chúng đi! Nhanh lên! Nhanh lên!
[(1) Đầu nổ cao, VT, CVT là những loại đầu nổ có thể điều chỉnh để quả đạn nổ trên mục tiêu khoảng 18, 20 thước. Với sự điều chỉnh chính xác, cao độ điểm nổ này sẽ sát hại địch tối đa ngoài trời. CVT: Controlled Variable Time. Viết đến đây, tuy đã xa chiến trận đến hai tháng mà tôi còn cảm thấy ớn lạnh cả người. Hình ảnh khủng khiếp ấy hiện rõ, quá rõ trong trí tôi!.]
Cùng một tần số làm việc, tôi nghĩ rằng các đơn vị phải yểm trợ cho căn cứ Hỏa Lực 31, lúc bấy giờ hẳn cũng quýnh lên chẳng khác gì tôi. Bắn ư? Với hiệu quả đầu nổ cao, VT, CVT hẳn là tiêu diệt được nhiều địch đang vây quanh và sắp tràn vào vị trí, bãi đáp trực thăng trống trải của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù, nhưng binh sĩ của ta thì sao? Tôi lo quá!
– Đ…m… tôi bảo các anh bắn — Các anh có bắn không? Bắn gấp! Bắn gấp cho tôi! Nhanh lên!… Nhanh lên!…
Tiếng Đại Úy Phương Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù như là một nghiêm lệnh khẩn cấp!
Biết nguy hiểm, lo cho hậu quả của chính lực lượng mình tại căn cứ Hỏa Lực 31, nhưng tôi không thể làm gì hơn, phải ra khẩu thi hành tức khắc.
Bên Pháo Đội tôi hàng chục hỏa pháo nổ cao đã ghi sẵn thời nổ 38.5 giây, liên tục nạp vào nòng giật cò. Bên Pháo Đội Trí, CVT cũng được khẩn cấp chuyển đến mục tiêu.
Tôi khựng cả người vì nghĩ đến hậu quả của từng quả đạn! Im lặng nghe kết quả với lòng hồi hộp cực độ!…
– Tốt đấy, các anh tiếp tục nhiều cho tôi. Bọn chúng chết như rạ.
– Vâng, tôi tiếp tục.
Tôi có cảm tưởng kẻ vô hình nào đó đã nới tay ra, không bóp lấy khí quản của tôi nữa! Tôi thở phào nhẹ nhỏm, như chính mình vừa vượt qua một bãi cát nóng bỏng, trên vai quảy một gánh nặng ngàn cân, may gặp bóng râm mát của cây đa đầu làng!
Tôi ra lệnh cho các khẩu giữ yếu tố về hướng, về tầm, cùng thời nổ tác xạ nhanh hơn nữa.
10 phút sau, khoảng 12g10, bỗng khẩu bìa của Trí có một quả đạn nổ bất thường trong nòng súng. Kết quả gây cho 1 Khẩu Trưởng thiệt mạng và vài pháo thủ khác bị thương!
Tai nạn này xảy ra ngay trước khẩu 3 và khẩu 2 của Pháo Đội chúng tôi.
Đồng thời địch gây áp lực pháo kích bằng cả 57 ly bắn thẳng vào vị trí… Kế tiếp, có cả 75 ly không giựt cùng súng cối, pháo binh… uy hiếp nặng nề vị trí chúng tôi và vị trí PĐC 3 Dù.
12g20, khẩu 2 bị địch trực xạ trúng các cung răng chiều cao về hướng, nhưng may mắn cho các pháo thủ không bị thương — nhưng khóa chặt khẩu này không còn cách gì quay nòng súng được nữa.
Tôi bảo Bạch Phú:
– Bạch Phú!…Bạch Phú!… đây 83! Tôi trình với thẩm quyền hiện mưa rơi quá nhiều vào chúng tôi! Hầu hết mấy con gà của tôi bị ướt cánh!
– 83! 83!… Đây Bạch Phú! Chúng tôi thông cảm các anh lắm. Hễ ngớt mưa, xin anh cho anh em ra yểm trợ cho chúng tôi. Nhờ các anh cố gắng giúp đỡ chúng tôi với! Bây giờ chỉ còn nhờ vào sự hổ tương của các anh thôi… Phi yểm chưa có…
Thế rồi các pháo thủ của tôi và Trí đành phải tạm thời nấp vào các hầm. Lừa lúc Cộng quân ngớt pháo kích, các pháo thủ nhào ra « thụt » vài quả — xong, vội vàng nhào vào hầm… cứ thế, vừa bắn… vừa nghe ngóng… vừa bắn…
Tin tai nạn tác xạ, cùng những khó khăn vì « mưa rơi » tại căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi được Bạch Phú ghi nhận.
Sau đó không lâu, qua máy truyền tin PRC-25, tôi nghe Đại Úy Vẹn Pháo Đội Trưởng Pháo Đội B/TĐ44 PB tại A Lưới cũng báo cáo địch làm mưa khắp vị trí bằng hỏa tiễn 122 ly và cối 82 ly để khóa súng!
Đang loay hoay ở Đài Tác Xạ B1, Huân và HS Bình đã dọn sẵn bữa ăn tại hầm cho tôi. Tôi gọi các Sĩ quan vào ăn. Trong lúc vừa ăn, tôi bảo Thiếu Úy Toại:
– Anh chuẩn bị sẵn sàng để về Khe Sanh lo tiếp tế đạn cho Pháo Đội. Đó là lệnh của Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng mới điện cho tôi. Đồ đoàn của anh có nhiều không?
– Tôi chỉ có một ghế bố, sac marin và một cái ba lô.
– Tình hình bây giờ mỗi lúc một khẩn cấp, bãi đáp cứ bị pháo kích hoài. Tiện nhất, khi xin được trực thăng, anh nên đi về với cái ba lô thôi… còn đồ đoàn tôi cho bỏ vào móc hậu nước gởi về sau cũng được. Các anh thấy trực thăng di tản Tiểu Đoàn 21 BĐQ sáng nay thì biết! Nó chỉ sà gần mặt đất rồi cất bổng lên ngay.
Lân, Thiện đều có gởi thư nhờ Toại mang về.
Ăn xong, tôi đứng ở ngạch thông với Đài Tác Xạ uống nước. Vừa lúc đó, một Đại Úy Hoa Kỳ đi nhanh từ Bộ Chỉ Huy TĐ2 Dù ra bãi đáp. Tôi chào và xin cho Toại tháp tùng. Vị sĩ quan đẹp trai và khả ái này vui vẻ nhận lời ngay. Sau khi bắt tay từ giã, ông ta vội vả đi ra hướng bãi đáp. Đồng thời, tôi quay vào hầm bảo Toại:
– Toại ra mau, tôi xin được trực thăng rồi. Ra gấp đi kẻo trực thăng không thể đợi lâu được.
Từ bàn ăn, Toại tuôn chạy về hầm của anh ta cách chỗ ngồi ăn một vách đất. Thiện chạy theo cùng Binh nhì Trợ. Cả hai, mỗi người xách một món đồ cho Toại. Tôi bực mình hết sức khi thấy Thiện chạy với đầu trần không đội nón sắt, không mặc áo giáp… vác cái sac thật nặng cho Toại. Còn Trợ thì vác cái ghế bố trong lúc Toại đang loay hoay mặc áo giáp, vừa vác cái ba lô… Tôi gọi giật ngược Thiện:
– Thiện!… Thiện!… đừng ra ngoài ấy! Nón sắt, áo giáp đâu mà chạy thí mạng thế?
Nhưng Thiện không nghe!
Chiếc trực thăng vẫn quay đều chong chóng… cố gắng đợi…
Bỗng… ầm… một tiếng nổ chát tại ngay chân trực thăng do 1 quả pháo kích của Cộng quân phát nổ. Đúng ngay lúc Thiện, Toại, Trợ đến bên hông trực thăng. Khói bốc lên và cánh quạt quay chậm… chậm… dần rồi đứng nguyên bất động. Đồng thời, tất cả mọi người tại chỗ nhào vội trên đất bò lê bò càng vào tuyến thứ hai, cố tránh xa trực thăng.
Vị Đại Úy khả ái cùng viên phi công chết ngay tại chỗ! Thiện, Toại, Trợ bị thương nặng.
Tất cả những cảnh tượng trên hiện ra trước mắt tôi không quá 75 thước làm cho tôi bàng hoàng như sống trong mơ. Thiện nằm sóng sượt trên bãi đáp rên rỉ.
Tôi giận quá! Phải chi tôi không dặn trước cách đó 3 phút thì những việc kể trên không đáng làm cho tôi bực tức, hoặc giả tôi không gọi Thiện để Thiện vô tình bị nạn oan, tôi đâu có ân hận! Tất cả… tất cả chỉ vì anh em không nghe lời tôi mà hậu quả mang lại trong phút chốc 2 sĩ quan và 1 pháo thủ của tôi bị loại ra khỏi vòng chiến.
Tiếp đó 4 pháo thủ khác tiến ra bãi đáp cõng anh em vào. Lại… ầm… thêm một quả đạn pháo kích của địch! Quả này cách điểm nổ quả trước non 10 thước, sâu vào hướng Thiện, Toại, Trợ đang nằm, làm cho 4 pháo thủ đi tải thương nằm liệt ngay tại chỗ!
Từ đó, tôi phải cho anh em bò sát đất ra tải thương nhưng lần này phải tải đến 6 nhân viên bị thương! Kết quả chỉ có Thiện bị thương nặng ở mông, chân và tay. Toại bị thương ở gót chân, Trợ bị thương khắp mình. Riêng 4 pháo thủ bị thương đợt sau nhẹ hơn, có thể đi lại được.
Khi chuyển tất cả anh em bị thương qua hầm bệnh xá của BCH/TĐ 2 Dù, tôi đích thân đến tận nơi khẩn thiết xin bác sĩ cố gắng cứu chữa cho Thiện, Trợ. Đồng thời nhờ Đại Úy Trần-Công-Hạnh can thiệp xin trực thăng tải thương. Đại Úy Hạnh nhận lời, gọi thẳng về Bộ Tư Lệnh Dù xin phương tiện.
Hầm cứu thương quá chật, ngoài binh sĩ Tiểu Đoàn 2 Dù, pháo thủ PĐC 3 Dù bị pháo kích, còn có các pháo thủ của tôi và vài binh sĩ BĐQ. Tất cả đều được khiêng vào đây nên buộc lòng tôi phải đưa thương binh của Pháo Đội trở lại vị trí, sau khi băng bó xong.
Tôi quay lại Đài Tác Xạ, được biết tình hình căn cứ Hỏa Lực 31 quá nguy ngập, Cộng quân tràn lên bãi đáp — là con đường duy nhất tiến vào Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù và BCH/TĐ 3 Pháo Binh Dù.
Tôi điện đàm với Trí:
– Tình hình sao nguy hiểm đến thế mà chẳng nghe có kế hoạch gì mới cho Bạch Phú hả anh?
– Như tơ vò ở trển rồi Đại Úy! Tôi ráng cho binh sĩ ra tác xạ mà ra không nổi, nó pháo ngay chốc. Tôi bị 7 con bất khiển dụng rồi…
– Từ sáng tới giờ, chưa gì mà tôi đã bị 9 con rồi. Nhưng chỉ một nặng. Bên tôi có lẽ chúng dễ quan sát nên chúng bắn 57 ly dính ngay vào đại bác. Khẩu 2 của tôi xem như tê liệt hoàn toàn, các cung răng bị cắt, làm kẹt cứng tay quay chiều cao và hướng. Khẩu 3 và khẩu 6 xẹp cả 2 lớp. Nhưng 2 khẩu này không ảnh hưởng gì đến tác xạ vì súng tôi xử dụng kít. Tôi còn bị vỡ 2 máy nhắm nữa! Tai hại quá!
Bây giờ là 14g15.
Tiếng « check fire », « check fire » vang trong máy từ căn cứ Hỏa Lực 31 gởi đi các nơi, sau đó 2 phản lực cơ bay đến oanh kích dữ dội.
Quanh căn cứ, địch tiến như vũ bão, cố xé một khoảng trống cho bộ binh ùa vào vị trí… Rủi ro, một trong hai phản lực cơ bị lâm nạn, phi công thoát ra khỏi phi cơ với 2 cây dù đỏ treo lơ lửng trên không, chiếc jet phản lực còn lại bỏ nhiệm vụ yểm trợ, vần vũ bảo vệ mạng viên phi công ngộ nạn. Sau đó có 2 Cobra và 1 trực thăng tải thương tiếp đến, nhưng lại cũng với nhiệm vụ cố gắng cứu phi công mà thôi.
Cùng lúc, hầu hết các căn cứ Hỏa Lực Pháo Binh có nhiệm vụ tác xạ giải tỏa áp lực địch tại căn cứ Hỏa Lực 31, đều bị pháo kích khủng khiếp, địch cố tình làm giảm khả năng yểm trợ hổ tương của chúng tôi, Dù vậy, Trí và tôi vẫn cố gắng, cùng với PĐB/ TĐ44 PB, PĐAI/Dù ở A Lưới cho nhân viên ra khẩu tác xạ… Sau mỗi lần giật cò, lại vội nhảy xuống hố cá nhân nấp, nghe ngóng động tĩnh xem có tiếng « départ » pháo kích địch không, xong lại lao lên nạp đạn… giật cò… Cứ thế, các pháo thủ tác xạ lai rai cho Bạch Phú.
Cuối cùng, căn cứ Hỏa Lực 31 đành phải xử dụng hỏa lực cơ hữu chống trả.
Lúc bấy giờ, Pháo Đội Đại Úy Nguyễn Văn Đương vẫn còn xử dụng danh hiệu Huyền Phú — và chỉ có hỏa lực của Huyền Phú trực xạ chống chiến xa hữu hiệu hơn cả.
Đại Úy Đương xử dụng PRC-25 liên lạc với Bạch Phú:
– Bạch Phú!… Bạch Phú!… đây Huyền Phú!… tôi đã bắn hạ 3 chiến xa địch tại bãi đáp rồi. Bọn chúng không dám tiến vào nữa!
– Phải cẩn thận kẻo tốp sau chúng nhào lên đấy.
– Chúng tôi đang bắt sống mấy tên Việt cộng còn sót trên bãi trực thăng. Chúng chết nhiều lắm!
Im lặng một chốc, Đại Úy Đương báo cáo:
– Một trong ba chiến xa địch đứt xích nằm tại chỗ. Bọn tôi leo lên nhưng mở bửng không ra. Chúng khóa kỹ và bên trong chỉ còn một vài tên thôi.
– Nếu bắt sống không được, cho anh em dang ra, nấp dưới hầm cá nhân « thụt » M72 cho chúng chết đi chứ.
– Vâng, tôi sẽ thi hành.
Chiến trường bỗng nhiên lắng dịu, nhưng là cái lắng dịu trong sự hãi hùng nghiêm trọng! (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: PHÚT CHÓT CỦA CĂN CỨ HỎA LỰC 31 (Tiếp theo)
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Là đại úy Nguyễn Văn Đương mà Trần Thiện Thanh viết trong ca khúc Anh Không Chết Đâu Em.
Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 19 Sep 2024
Biệt Động Quân trong Hành quân Lam Sơn 719
Cánh quân án ngữ mặt Bắc do Liên Đoàn 1 BĐQ và Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh thuộc Quân Đoàn 1 đảm trách. Liên Đoàn 1 BĐQ gồm 3 Tiểu Đoàn 21, 37 và 39. Toán quân này có nhiệm vụ thiết lập những vị trí tiền đồn ở vùng cực Bắc của khu vực hành quân để phát hiện và ngăn chận lực lượng tăng viện của Cộng quân từ vùng phi quân sự kéo xuống.
Liên Đoàn 1 BĐQ do Đại Tá Nguyễn Văn Hiệp xuất thân Khóa 8 Võ Bị Đà Lạt chỉ huy. Liên Đoàn Phó là Trung Tá Lê Bảo Toàn. Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 1 BĐQ đóng tại căn cứ Phú Lộc gần Tà Bạt, trong phần đất VNCH cùng với Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh.
Các Tiểu Đoàn BĐQ tham chiến gồm:
– Tiểu Đoàn 21 BĐQ đóng tại căn cứ Ranger South do Thiếu tá Nguyễn Hiệp chỉ huy, Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Quách Thưởng.
– Tiểu Đoàn 39 BĐQ đóng tại căn cứ Ranger North do Thiếu Tá Vũ Đình Khang chỉ huy với Đại Úy Đỗ Đức Chiến làm Tiểu Đoàn Phó.
– Tiểu Đoàn 37 BĐQ đóng tại căn cứ Phú Lộc để làm trừ bị và bảo vệ bộ chỉ huy Liên đoàn, do Thiếu Tá Trần Văn Nghênh chỉ huy với Tiểu Đoàn Phó là Đại Úy Lại Thế Thiết.
[Hải quân Thiếu tá Trần Đỗ Cẩm, Những Trận Đánh Của Biệt Động Quân tại Hạ Lào]
TRONG NHỮNG NGÀY TỬ THỦ
Ngày 23-2-1971, tin từ căn cứ Hỏa Lực 31, nơi Đại Tá Thọ cùng Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù và Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù cùng Pháo Đội B (105 ly) của Đại Úy Nguyễn-Văn-Đương trú đóng bị Cộng quân pháo kích dữ dội, chiến xa địch xuất hiện… và uy hiếp các Đại Đội Tiền đồn.
Trung Tá Bùi-Văn-Châu, Đại Úy Hà-Minh-Phương, Đại Úy Đào-Văn-Thương gọi máy xin tác xạ yểm trợ tối đa, đặt hết tin tưởng vào sự giải cứu của các đơn vị pháo binh đặt tại căn cứ Hỏa Lực 30, căn cứ A Lưới.
5 khẩu đại bác 155 ly của tôi cùng 6 khẩu 105 ly của PĐC 3 Dù thi nhau phun hàng loạt, hàng loạt đạn ngay trên các chuyến tiếp liệu… nơi Việt cộng đang rải quân tấn công vào vị trí. Mãi đến 14g30, nhờ không yểm tăng cường mới đẩy lui được chúng.
Chỉ riêng yểm trợ cho căn cứ Hỏa Lực 31 từ 9g00 đến 14g00, Pháo Đội tôi đã tiêu thụ 625 quả đạn 155 ly.
Sau khi ngưng tác xạ cho căn cứ này, một đoàn Chinook tái tiếp tế đạn và lương khô, thả trên bãi đáp hàng chục lưới hàng.
Tức khắc, chúng tôi huy động toàn lực nhân viên Pháo Đội, chỉ trừ một nhân viên trực máy và Thiếu Úy Ngân trực Đài Tác Xạ ở lại vị trí, còn bao nhiêu đều ra bãi trực thăng chuyển vận đạn, nạp vào khẩu, vào hầm.
Nhờ động viên toàn lực và kịp thời, chúng tôi hoàn tất công tác lúc 16g30. Nhưng ngay khi đó, Sĩ quan liên lạc Tiểu Đoàn 2 Dù xin tác xạ yểm trợ cho Đại Đội 321. Chúng tôi thêm một lần vất vả nữa. Ì à, ì ạch quay 3 khẩu về hướng Đông Nam, mệt ngất đến không còn buồn nhìn bữa cơm gạo sấy khô khan với mấy miếng thịt ba lát « đáng ghét » vì quá ngấy.
Đạn đại bác chúng tôi giòn giã thúc vào sườn núi, tiếng vang vọng lại rầm rầm. Tôi ao ước tiêu diệt hẳn các khẩu súng cối của chúng để Đại Đội tiền đồn yên ổn và chúng tôi đở nhọc hơn… Điều ước muốn đó được đáp ứng ngay!… Sau vài loạt đạn đầu, Tiền Sát Viên Đại Đội này cho biết đã hủy diệt được một khẩu 82 ly của chúng.
Tôi thở phào nhẹ nhõm, nhìn Lân, Thiện bảo:
– Thế mới không bỏ công bọn mình chứ!
Bọn chúng tôi lập tức loan tin chiến thắng đó cho các khẩu. Niềm hân hoan hiện rõ trên nét mặt mọi người. Chính súng cối ác ôn kia đã nhiều lần góp phần vào việc pháo kích vị trí chúng tôi.
Đến 22g00, Cộng quân tái tấn công căn cứ Hỏa Lực 31. Cũng với giọng Đại Úy Thương, Trưởng Ban 3 TĐ3/PB Dù gọi trực tiếp xin gặp tôi ở đầu máy. Thương thuật cho tôi rõ tình hình nặng nề của căn cứ Hỏa Lực 31 và khẩn thiết xin tôi hãy cố gắng tác xạ càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Giờ thì địch bám sát lắm rồi.
Tôi trả lời cho Thương biết, cứ yên trí, tôi sẽ thỏa mãn 100%… Thế rồi, 3 khẩu khẩn cấp quay càng lần nữa. Chẳng mấy chốc, chúng tôi có tất cả 5 khẩu 155 ly và 6 khẩu 105 ly của Dù thi nhau khạc đạn, đồng loạt phá tan mục tiêu do Thương chỉ định.
Từ căn cứ Hỏa Lực 31, Thương trực tiếp điều chỉnh tác xạ. Có những lúc trên xạ bảng của tôi, nhân viên tác xạ ghi điểm nổ sát vòng rào căn cứ 31 không quá vài chục thước. Tôi lo lắng quá, nhưng Đại Úy Thương vẫn bình tỉnh. Ở đâu bên kia, Thương cho biết binh sĩ ta đều ở trong các công sự chiến đấu có nắp che vững chắc.
Theo dõi qua PRC-25, ngoài 6 khẩu 105 ly của Trí, 5 khẩu 155 ly của tôi, còn có Pháo Đội B/TĐ44 Pháo Binh với 6 khẩu 155 ly, Pháo Đội A1 với 6 khẩu 105 ly ở A Lưới cùng tác xạ với chúng tôi, đồng nỗ lực tạo nên một vòng rào lửa bảo vệ hữu hiệu cho căn cứ này.
Việc điều chỉnh cùng lúc cho tất cả 11 đại bác 155 ly và 12 đại bác 105 ly ở hai nơi khác nhau để tiêu diệt và giải tỏa áp lực nặng nề của địch đang lúc giao tranh mãnh liệt sát vòng đai phòng thủ căn cứ Hỏa Lực 31, đã chứng tỏ được khả năng « chuyên nghiệp » của Đại Úy Thương là đáng kể.
Trên xạ bảng trong Đài Tác Xạ, các tuyến cận phòng cho căn cứ Hỏa Lực 31 cơ hồ nhân viên ghim kim ghi điểm nối tiếp đến rách từng đoạn 2cm, 3cm.
Chúng tôi bắn thục mạng, bắn mãi đến khoảng 23g15 mới tạm ngưng, nhường cho không yểm xạ kích.
Trên không, hỏa châu soi sáng cả một vùng rộng lớn — và mặc dầu ở căn cứ Hỏa Lực 30 với khoảng cách 8 cây số đường chim bay, chúng tôi cũng có thể nhìn thấy lờ mờ cảnh vật chung quanh.
Quá 1g00 sáng ngày 24-2-1971, Cộng quân cảm thấy không thắng nổi đành phải rút, để lại vô số xác chết quanh căn cứ.
Tôi chợp mắt được vài giờ thì trời sáng. Từ căn cứ Hỏa Lực 31, Đại Úy Phương Tiểu Đoàn Phó TĐ3/PB Dù lại vào máy gặp tôi xin tác xạ khẩn cấp! Tình hình tại đấy bỗng dưng sôi động từng phút. Các cuộc ác chiến nảy lửa xảy ra khắp các tiền đồn quanh căn cứ.
Cộng quân dùng cả đến thiết giáp trợ chiến!
Với danh hiệu Bạch Phú, liên tiếp các sĩ quan tham mưu Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù vào máy điều chỉnh tác xạ. 5 đại bác của tôi bắn không kịp vác đạn. Bọn chúng tôi chỉ « check fire » trong lúc có không yểm xạ kích, ngớt không yểm chúng tôi lại tiếp tục tác xạ. Lợi dụng những lúc ngưng tác xạ ấy, pháo thủ hè nhau đi vác đạn và nạp bổ sung cho đầy hầm khẩu, thông nòng, lau buồng đạn… mỗi người một việc làm như cái máy không suy tính.
Tôi bàn với Lân, có lẽ tình hình biến chuyển khác thường nên lệnh tách đôi Pháo Đội chúng tôi không thi hành nữa. Nhất là từ sau ngày 18-2, những đụng độ nảy lửa của Biệt Động Quân, những áp lực nặng nề đổ vào căn cứ Hỏa Lực 31 — chắc chắn đã phần nào ảnh hưởng đến kế hoạch đưa chúng tôi đến thiết lập căn cứ Hỏa Lực 32, làm đầu cầu yểm trợ cho các đơn vị tiến chiếm Tchépone. Lân cũng có những suy nghĩ như tôi. Thế rồi chúng tôi không còn nhắc gì đến việc phân công kẻ ở vị trí cũ, người đi vị trí mới…
Quá 12g00 trưa, theo dõi vô tuyến, tôi được biết một Đại Đội tiền đồn phải dời về một tiền đồn kế cận cố thủ, gần căn cứ Hỏa Lực 31, vì không thể đương cự với áp lực quá nặng nề của Cộng quân.
Mặc dầu vậy, sĩ quan liên lạc Pháo Binh Đại Đội 330 vẫn gọi máy về cám ơn Pháo Đội chúng tôi đã thực hiện vòng đai lửa chính xác, hữu hiệu. Nhất là chúng tôi bắn cháy và làm tê liệt 2 chiến xa địch ngay tại các tuyến phòng thủ tiền đồn.
…Đạn vừa xuống dưới mức an toàn, chúng tôi nhận được tiếp tế ngay.
Khoảng 15g00, Chinook mang đến cho chúng tôi 14 « sorties » trên 1000 quả đầy đủ cả nạp, hỏa pháo và hỏa tiêu tương ứng.
Đây cũng là chuyến tiếp tế hiệu quả cuối cùng gắn liền nhiệm vụ tác xạ của Pháo Đội C 44 Pháo Binh chúng tôi với căn cứ Hỏa Lực 30, cho đến ngày chúng tôi rút khỏi căn cứ!
Tôi cho lệnh nhân viên khẩu 2, 4, 5 lo đạn, khẩu 1, 3, 6 trực tác xạ.
Thấy chúng tôi nhận tiếp tế, Cộng quân ở ven các đồi thấp chung quanh phụ họa với đại bác của chúng thi nhau pháo kích vào bãi đáp! Dầu vậy, Thiếu Úy Thiện, Toại và nhân viên của Pháo Đội vẫn trân người dọn sạch bãi đáp trong một thời gian kỷ lục. Các « sorties » 105 ly của Trí được khẩn cấp chuyển vận bằng một xe dodge đưa vào vị trí.
Cứ nhìn vào tinh thần phục vụ của các sĩ quan và nhân viên Pháo Đội trước cảnh vô cùng nguy hiểm dưới cơn mưa pháo, lại không nề vất vả, tôi tin tưởng rằng chúng tôi có thể khắc phục được bất cứ trở ngại nào khác sẽ đến với chúng tôi.
Tôi gọi Lân ra xem anh em làm việc, những phản ứng nhanh nhẹn của binh sĩ nhảy xuống hố cá nhân ven bãi đáp khi nghe tiếng « depart » và những tràn cười ròn rả sau tiếng nổ quanh triền núi của các pháo thủ dội lại tiếp đấy — xong, anh em chạy nhanh tới các lưới đạn, nạp, chặt các niềng thép, xô cho đạn, nạp rời ra từng quả, từng ống, vác vội mỗi người 1 quả lao về hầm đạn vứt xuống. Nhiều khi thóp cả ruột và lo đến toát mồ hôi. Tôi lo, vì nghĩ dại rằng, lỡ có một binh sĩ nào chết hoặc bị thương, việc xin tải thương là cả một vấn đề.
Song song với việc tiếp nhận đạn, khẩu 1, 3, 6 tiếp tục tác xạ khi nhiệm vụ không yểm tạm ngưng. Thiếu Úy Ngân cùng các Hạ Sĩ Quan tác xạ tính yếu tố, kiểm soát yếu tố và đọc yếu tố cho các khẩu không dứt.
Hai toán đều cộng tác một cách tích cực, nên nhiệm vụ tác xạ của chúng tôi không hề bị gián đoạn, chắc chắn đã làm đẹp lòng Bạch Phú qua những lời cám ơn nồng nhiệt từ căn cứ Hỏa Lực 31 gởi đến.
Đêm nay, hướng Bắc hỏa châu soi sáng liên tục do các phi vụ C-47 biến cải thi hành. Ánh sáng tỏa rộng khắp nơi để yểm trợ cho Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Hiệp đang cầm cự với địch.
Tại căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi cách Tiểu Đoàn 21 BĐQ không quá 4 cây số, các pháo thủ ra ngồi hóng mát trên các nắp hầm, nhìn hỏa châu tán chuyện gẫu. Họ cũng lắm chuyện để tâm sự, nào chuyện nhà cửa, vợ con, chuyện tình nhân, bạn bè… chuyện hành quân của những năm trước khi đóng đồn tại căn cứ Carol, khi trực thăng vận xuống Fuller… và mỗi người đều có những viễn tượng đẹp đẽ kiêu hùng nghĩ đến ngày trở về Việt Nam với vòng hoa chiến thắng do em gái hậu phương quàng vào cổ, với những tấm huy chương vàng đỏ trên ngực, với những ngày phép dài bù đắp cho những lúc vất vả gian nan trên đất Lào.
Ngày 25-2-1971, trời chưa sáng hẳn, Bạch Phú đã yêu cầu tác xạ.
Đến 9g00, kế hoạch « Du-Lu 1 » được áp dụng cho Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân. Tôi chia 3 khẩu tác xạ cho Bạch Phú và 2 khẩu tác xạ liên tục với nhịp bắn tối đa cho Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân, dưới sự điều chỉnh trung gian của Trung Úy Kim.
Đài Tác Xạ Pháo Đội bận rộn hơn bao giờ hết — vì hai nơi đều đòi hỏi tác xạ yểm trợ thật nhanh và thật nhiều. Tuy nhiên, nhờ ở sự điều hành có thứ tự và nhân viên Đài Tác Xạ đầy đủ khả năng, thiện chí, nhân viên khẩu đội cẩn thận, bình tĩnh, không e ngại cực nhọc, tôi đã chu toàn một cách viên mãn nhiệm vụ tác xạ cùng lúc cho 2 nơi ấy.
Một vài loạt đạn pháo kích rời rạc lọt vào ven vị trí, không làm nao núng tinh thần của các Pháo Thủ.
Bây giờ Pháo Đội hoàn tất thêm một cái hầm riêng kề cận Đài Tác Xạ, thông nhau bằng một ngách nhỏ, trên hầm có 6, 7 lớp bao cát, trong hầm có cây chống đường kính cỡ 3 tấc. Hầm vừa đủ kê 2 ghế bố để tôi và Lân nghỉ ngơi, rất vững chắc. Từ phút này về sau, chính nơi đây đã tạo cho tôi một sự bình tĩnh đáng kể chỉ huy phản pháo, trực xạ, làm nhiệm vụ một Sĩ quan Tiền Sát Viên điều chỉnh các tác xạ hổ tương với các Pháo Đội A1/Dù, B/TĐ44 PB và Pháo Đội A/TĐ64 PB.
…Khoảng 10g00 một đoàn trực thăng khẩn cấp sà đến bốc Tiểu Đoàn 21 BĐQ thả xuống căn cứ Hỏa Lực 30. Số trực thăng này được hộ tống bởi 4 chiếc Cobra (trực thăng võ trang).
Đứng trên nóc Đài Tác Xạ, chúng tôi nhìn rõ những « hoa đạn » nổ trên không trung, tạo nên những đóm bông trắng đục quanh trực thăng. Đó là hệ thống phòng không của địch đang hoạt động ráo riết, cố tạo cho đoàn phi cơ có nhiệm vụ triệt thoái này chùn bước. Nhưng không, điều đó chẳng những đã không chặn đứng được kế hoạch của ta, mà còn tạo nên những pha đẹp mắt trước mọi người, gương can đảm của Phi hành đoàn… Hầu hết các cao xạ địch nhắm vào Cobra hộ tống, do đó, dần dần chỉ có những trực thăng này đương cự với các ổ phòng không địch. Lúc thì rà sát trên ngọn cây xối rocket, lúc thì vụt cao để quan sát. Có những đốm nổ không xa trực thăng mấy, nhưng may mắn trong cuộc triệt thoái này không một trực thăng nào bị hạ.
Chốc chốc… khuất lấp sau những chòm cây rậm dưới tầm mắt chúng tôi… một trực thăng vượt lên mang theo một số chiến sĩ can trường của Tiểu Đoàn 21 BĐQ, sau cả tuần cầm cự với địch quân tại thung lũng phía Bắc căn cứ chúng tôi… Rồi lần lượt hết chiếc này đến chiếc khác nối nhau khoảng vài phút… mang đến căn cứ chúng tôi trọn vẹn Tiểu Đoàn 21 BĐQ cùng một số quân nhân thuộc Tiểu Đoàn 39 BĐQ. Có vài binh sĩ ngồi hoặc bu trên chân trực thăng, làm tôi nghĩ rằng cuộc triệt thoái hẳn là cấp bách.
Từ bãi đáp, Thiếu Tá Nguyễn-Hiệp Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 21 BĐQ cùng vài sĩ quan phụ tá hối hả nhảy xuống chạy vội vào Đài Tác Xạ. Lân ra tiếp và hỏi Thiếu Tá:
– Tình hình ra sao mà triệt thoái gấp thế?
Tôi nghe rõ từng hơi thở nhanh, gấp của Thiếu Tá Hiệp qua giọng nói ngắt quảng:
– Nặng lắm, nặng lắm, chúng tôi rút kịp thật là may.
Thiếu Tá Hiệp đưa bản đồ ra và thuật lại sơ lược tình hình tại vị trí của Thiếu Tá, trước và trong lúc triệt thoái cho Lân nghe.
Lân tiếp:
– Thiếu Tá cần liên lạc về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn thì có máy sẵn ở Đài Tác Xạ… Mời Thiếu Tá xuống nói chuyện.
Cùng lúc, một nhân viên truyền tin của Thiếu Tá Hiệp kịp thời mang PRC-25 đến để Thiếu Tá liên lạc.
Vài Sĩ quan cùng khóa với Thiện nghỉ mệt trên nóc hầm, thuật lại những vụ chạm súng nẩy lửa giữa Tiểu Đoàn 21 BĐQ và Cộng quân từ mấy ngày qua.
Trên nét mặt mọi người đều tỏ vẻ hân hoan được rút kịp thời khỏi vùng tử địa.
Nhưng dù sao, cuộc triệt thoái này đã một phần nào làm cho binh sĩ tại căn cứ Hỏa Lực 30 thêm hoang mang lo âu, nhứt là sự kiện đang xảy ra nối tiếp với tin Tiểu Đoàn 39 BĐQ tan hàng không quá một tuần lễ!
Sau khi toàn bộ Tiểu Đoàn 21 BĐQ tạm thời đưa về vị trí chúng tôi và kiểm điểm lại quân số, lúc 10g30 một số trực thăng khác đến di chuyển đơn vị này về Phú Lộc.
Không biết có phải vì trực thăng bị giới hạn phi xuất chăng (?), sau đấy còn Đại Đội 1 của Tiểu Đoàn này không có trực thăng triệt thoái, phải tạm thời ở lại căn cứ Hỏa Lực 30. Trong số anh em đó, có Thiếu Úy Đẩu, người Huế — cũng là một chứng nhân nhìn được cảnh chiến đấu tử thủ căn cứ Hỏa Lực 30 của chiến binh Dù và Pháo Thủ.
Hoàn tất kế hoạch « Du-Lu 1 », tôi cho lệnh quay súng về căn cứ Hỏa Lực 31.
Pháo Đội tiếp tục tác xạ yểm trợ bằng 5 khẩu với nhịp bắn gấp rút. 6 khẩu 105 ly của Trí cũng gầm gừ liên tục. Tình hình căn cứ Hỏa Lực 31 khẩn trương hơn bao giờ hết. Địch bám sát… bám sát… càng lúc càng đông. (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: PHÚT CHÓT CỦA CĂN CỨ HỎA LỰC 31
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Ông Ích Thành đang thắt cà-vạt thì thấy Hùng, người con trai độc nhứt của ông cũng sửa soạn để đi đâu đó. – Con cũng đi nữa sao? Ông Ích Thành hỏi con mà mắt nhìn mãi vào cái nơ trong gương. – Con đi học tối ba à… – Vậy à, đêm nay có buổi học tối à? – Dạ thưa có. Ông Ích Thành hơi bực mình, nhưng ông chỉ nhăn mặt một cái rồi bình tĩnh lại mà nói: – Thôi được. Nhưng sau buổi học, đừng đi chơi đâu hết, phải về cho sớm đặng coi chừng nhà. Má mầy, hôm về dưới bà ngoại, có dặn kỹ lắm đó, nói hai đứa ở mới nầy không tin cậy được đâu. Tao thì đến khuya, tao mới về được. – Dạ. Cậu Hùng, một thiếu niên mười bảy, nhìn cha ăn mặc, đôi mắt cậu như nói lên tất cả thán phục của cậu. Ông Ích Thành, mặc dầu con buôn, nhưng học rộng, cái gì cũng biết rành mạch. Ông lại sành ăn mặc lắm, đó là một chi tiết dễ tăng uy tín của ông nơi con mắt bọn thiếu niên. Hai cha con ra ngoài cùng một lượt với nhau. ông cha vừa lái xe ra khỏi cửa ngõ thì cậu con cũng vừa thót lên một chiếc tắc xi. Nhưng cậu Hùng không đi học đêm, mà đi đến hai ba nơi để rủ thêm bạn, rồi mới bảo xe chạy lại một nhà khiêu vũ to kia. Bọn trẻ vào vũ trường giữa lúc đèn mờ, và bận chọn bàn nên chưa thấy gì hết. Họ ngồi sát bìa sân gỗ. Đó là những người con trai sơ-mi bỏ ngoài, áo hở cổ, khác hẳn với những ông đứng tuổi ăn mặc đàng hoàng và có vẻ đi dự tiệc trong bộ lể phục hơn là đi phiếm du tiêu khiển như họ. Ngoài sân, khách khiêu vũ giống như những bóng hình trên mặt đèn kéo quân, lũ lượt lướt qua trước mặt họ không biết bao nhiêu lần. Hùng chỉ ngó chăm chỉ xuống sân, nhưng chập chập cậu lại điểm tên: Hồng, Liên, Yến, Vui, Cúc… Ấy cậu ta đã thuộc lòng những bàn chân của vũ nữ, thấy là biết của ai ngay, không cần nhìn cao hơn nữa. Cùng một lúc với cuộc điểm bàn chân, cậu thưởng thức bước đi của khách cũng ở nơi đó: có những bước chân bông gòn, và trái lại có những bước chân treo chì, cả hai thứ bước đều hay, bước nhẹ làm chàng sảng khoái, bước nặng giúp chàng vui cười. Hùng quả nhiên bật cười lên, làm cho một hột đậu rang trong miệng cậu bi bắn vọt ra ngoài. – Gì mà vui dữ vậy? Quí hỏi. Tao vừa nghĩ ra một điều thật ngộ nghĩnh, là những cô có tên xấu, như tên Vui chẳng hạn, là những cô mang tên thật, còn những cô có tên thơ mộng, toàn mang tên giả cả. – Ấy thế mà tên Hà Đình của em là tên thật đó, cô vũ nữ quen, người miền Bắc, đang ngồi cùng bàn với họ đính chánh như vậy. – Tôi không nói cô, cô là trường hợp đặc biệt mà… Bỗng Hùng nín lặng. Cả bọn đều ngạc nhiên nhìn anh chàng lắm lời này. Vẻ mặt kinh hãi của anh ta khiến họ đoán thấy anh ta đang tái mặt trong bóng mờ. Họ nhìn theo hướng ngó của anh ta thì tầm mắt họ chạm phải một đôi giầy không có gì đặc sắc nhưng phủ trên giày ấy, một miệng ống quần màu hơi quen. Mắt họ leo ống quần, thấy nó to lần lần và ở phía trên nó to quá cho họ biết rằng người mặc quần ấy là một ông bụng bự. Họ chợt hiểu và ngước nhìn lên thì thấy quả đó là ông Ích Thành. Ông Ích Thành cũng vừa thấy bọn trẻ, cũng ngạc nhiên và kinh sợ, và vội đưa mắt đi nơi khác. Xuân, Quí và Nhạc vụt cười lên. – Gì thế các anh? Cô Hà Đình hỏi. – Bố con đụng đầu nhau kêu cái cộp. – Thế à? ông cụ là ông nào? – Cái ông cà vạt con trai và giày chó vá kìa. Hùng nhìn sững cha cậu bấy giờ đã đi xa qua đầu sân bên kia với vũ nữ. Ông cụ nghẽo đầu, làm mùi một cách vô duyên trông buồn cười muốn chết. Hùng thấy cha cậu già quá, già hơn ngày thường nhiều, giữa đám vũ nữ trẻ trung ấy, và cậu có cảm giác đang đọc một bài thất ngôn bát cú in xen vào một tập thơ tự do. Mà đó là một bài đường luật rất xoàng. Đó không phải là một người cao niên vốn sành ăn chơi, cố vui vớt vát, mà là một ông cụ thật thà, lập tành son trẻ. Nhưng dầu thuộc hạng già nào, ông cụ cũng chẳng coi được, khi vào đây. Khi ông Ích Thành và vũ nữ trôi trở lại, Hùng thấy ông thở hổn hển mà quay, cậu trông chừng như nghe hơi thở ồ ồ của cha, một ông cha lỗi lạc mà trước kia cậu thấy làm cái gì cũng trôi chảy, dễ như chơi. Hồi nãy cậu ta hoảng sợ khi bị cha bắt chợt giữa chốn ăn chơi. Nhưng bây giờ, chẳng những cậu không còn sợ hãi nữa, mà còn có bụng khinh thường ông cụ là khác. Con người đứng đắn nghiêm trang thế kia, lại cũng chui đầu vào đây à! Nào đâu những lời gia huấn khắt khe, nào đâu những lời khen ngợi của bạn hữu ông cụ và chính của bà cụ nữa, bà cụ luôn luôn tự hào với bạn hữu rằng bà có một ông chồng đứng đắn số một trên đời. Và từ thuở giờ, cậu quen thấy ông cụ ngồi trên một cái bệ cao nghêu, oai phong lẫm liệt, làm gì cũng thật tài, từ việc lớn cho chí việc thắt cà-vạt. Hôm nay cái vụng về của ông cụ khiến cậu cảm tưởng như ông cụ bỗng dưng ngã xuống khỏi bệ một cai rầm. Năm ngoái vào đây lần đầu, cậu cũng đã vụng về. Nhưng con trai vụng thì xem vẫn được. Đến như cuộc lập sự trái mùa của một bậc cao niên thì nghe nó tủi tủi làm sao! Một ý nghĩ bỗng làm Hùng đau xót vô cùng. Cậu nhớ đến những chú chết già, cả đời cần cù tiện tặn, ăn hàm-yũu và ngủ trên một cái thùng gỗ, đến lúc sáu mươi chợt thấy mình gom được nhiều tiền lắm rồi, nên nghĩ đến hưởng thụ. Nhưng nào có biết đời có gì để hưởng, thôi thì cưới vợ bé vậy, mà cưới một cô thật trẻ. Làm như cái trẻ thơ ấy bù được tất ả nhưng cái mà chú ta không được hưởng. Hùng đau xót vì nhớ lại cha cậu cũng đã cần cù, tiện cặn để tổng sự nghiệp. Ông cụ không dám hưởng gì cả và bây giờ chừng như giật mình tiếc rẻ nên vội vàng chạy lượm mót của trời chăng? Thương lắm ôi! Hùng lại đau xót mà thấy mình đâm ra xem thường cha, muốn không, cũng không được nữa. Cậu có muốn hạ bệ ông cụ đâu? Tự dưng, ông cụ ngã, có muốn đỡ, đỡ cũng chẳng kịp, có muốn lờ đi cũng đã trót chứng kiến rồi. Đèn sáng lên. Người nữ ca sĩ Trung Hoa họ Mạc bắt đầu trổi giọng và sân gỗ giống như hồ tắm sắp đóng cửa, khách tắm vội len hết trên bờ. Hùng liếc nhìn cha thì thấy ông cụ từ giã bạn rồi đi vòng để ra cửa, tránh xóm cậu đang ngồi.
* *
Bữa cơm trưa hôm đó, đáng lý thì vui vẻ lắm. Bà cụ đi xa mới về ông cụ lại vừa trúng một vụ có lời to. Nhưng bà cụ ngạc nhiên lắm mà thấy chồng con như là bỡ ngỡ với nhau. Thằng Hùng hôm nay sao mà có vẻ tự tôn thế? Đó là một thứ mặc cảm mà nó luôn luôn có và không dấu ai được, mỗi lần nó đắc thắng về học hành hay về thể thao. Tự tôn nhưng lại trốn mắt cha, trong khi ông Ích Thành cứ rình xem cử chỉ của nó, mà lo lắng thì lộ rõ trên mặt ông. Bà Ích Thành đoán biết có chuyện gì xảy ra ở nhà nầy lúc bà về quê, và chuyện đó rất là khó nói ra. Ông Ích Thành rình con rồi nghĩ bụng: “Nó đã bắt chợt mình sống vội, vớt vát mật mỡ ở đời, chắc nó không khỏi triết lý rằng con trẻ phải chơi cho chán chê ra, kẻo già phải hối hận. Như thế thì nguy to, nó mà lấy cái triết lý rẻ tiền ấy làm phương châm thì hỏng. Vậy mình phải cố cứu vãn tình thế mới được.” Để đánh tan không khí lạnh lẽo, bà Ích Thành hỏi chồng: – Ông biết bên Vĩnh Xương không? – Phía bên chồng sắp cưới của con ông Hao hử? – Ừ, bên đó làm sao, theo ý ông? – Nghe nói thằng ấy ăn chơi bạt mạng, không ra gì đâu. Hùng mỉm cười ngạo nghễ, bụng cậu nói thầm câu sau đây, nhưng ông Ích Thành lại nghe rõ mồm một: “Thôi đi ông, ông cũng đi nhảy như ai, thì ông, thằng đó, và tôi đều chung một xuồng với nhau chớ lạ gì mà chê bai người ta, ông lại còn tệ hơn bọn tôi là ông trễ xuồng, cố nhảy nai theo người ta, trông lố bịch quá đi mất!” Ăn cơm xong, ông Ích Thành nói với con bằng tiếng ngoại quốc: – Qua bên bàn giấy, ba có chuyện cần nói riêng với con. Hùng đoán ông cụ định hối lộ cậu một số tiền, để cậu khỏi mét thót với mẹ sự chùng lén của ông. Cậu suy nghĩ để lập thái độ. Cậu có thể khai thác bí mật ấy mãi mãi để tống tiền ông cụ, và ông cụ sẽ là mỏ vàng không bao giờ cạn. Làm thế cậu lại có lợi về tinh thần: cậu được bạn, được ngời tùng đảng trong cuộc truy hoan, khỏi lo bị quở mắng nếu thi hỏng. Nhưng cậu không phải là một thiếu niên tệ đến thế, nên cậu định sẽ long trọng hứa bưng kín miệng bình cho cha an lòng, và quyết đinh từ chối tiền hối lộ. Ông Ích Thành mời con ngồi trước bàn giấy như là tiếp khách làm ăn. Ông cúi đầu nhìn tờ giấy chậm lót bàn màu hường lợt rất lâu đoạn đột ngột hỏi: – Năm nay con bao lớn? Hùng ngạc nhiên hết sức. Sao ông cụ lại to gan thế? Ông cụ hỏi tuổi cậu để cậu phải khai ra rằng cậu chỉ mới muời bảy thôi, để rồi ông cụ chụp lời thú nhận còn trẻ măng ấy mà mắng cậu là còn trẻ mà đã hư thân à? Hùng quyết chí đương đầu với cha và đáp hơi thách đố: – Con mười bảy, thưa ba. – Vậy hà! Thì ra con đã gần thành nhơn rồi. Ông cụ hỏi thật tình và thật tình ngạc nhiên trước lời khai tuổi tác của con. Ông cứ ngỡ con ông còn bé bỏng như ngày nào và không thấy được rằng nó dùng dao bào của ông mà cạo râu mép từ mấy tháng nay rồi. – Nè con, ông Ích Thành nói sau mấy lần do dự. Con đã lớn, nên ba kêu con vô đây để cho con biết một việc quan trọng. Ba xem con như một người bạn. Hùng cụt hứng. Cậu giống như một con dê mới mọc sừng đang dang hai chân trước, gầm đầu xuống, sừng chĩa tới trong một giáng điệu sẵn sàng chờ đợi địch thủ. Nhưng địch thủ lại không tấn công, khiến cậu ta tiu nghỉu. Câu hỏi mỉa mai của cậu làm cho ông Ích Thành phải bối rối thêm một lần nữa: – Thưa ba, ba mới nhận ra là con đã lớn từ lúc con vào đây. Vậy sao ba lại quyết nói chuyện quan trọng với con từ hồi ăn cơm vừa xong? Ông Ích Thành bậm môi vì tức giận, nhưng buồn cười cho mình và cho cái cứng đầu của cậu con trai, nó là hình ảnh trung thành của tánh bướng bỉnh của ông thuở ông còn niên thiếu. Không đáp lời con, giây lát sau ông nói: – Ba cho con hay rằng lúc này ba viết báo. – Vậy hả? Ba viết báo làm chi. Công việc làm ăn không đủ choán hết thì giờ của ba sao? – Ba bận lắm. Nhưng bây giờ ba có tiền, ba lại đâm ra háo danh. Hùng cười mà nói thay cha: – Nên không có dịp tranh cử hội đồng thì ba viết báo vậy. Ông Ích Thành cũng cười rồi tiếp: – Quan trọng không phải là ở chỗ viết báo mà ở chỗ viết báo thì dễ bị nguy. Ba viết phóng sự, hay phanh phủi chuyện người ta, có thể bị hạ lắm. Ba cần báo cho con biết để… – Ba sợ lắm thì viết làm chi cho mất công lo. – Không, ba không sợ lắm, ba chỉ báo cho con biết vậy thôi. Nếu rủi ba có bề gì thì ít ra gia đình cũng rõ ai ám hại ba… Hai cha con làm thinh giây lâu rồi ông Ích Thành tiếp: – Độ này ba viết về các tiệm nhảy, nên ba hay la cà ở các nơi đó để thu thập tài liệu. Nghe câu đó, Hùng bỗng chợt hiểu; cậu buồn cười quá, không cầm được, nên bật cười to lên. – Sao con lại cười? Ông Ích Thành ngạc nhiên hỏi. – Thưa ba, Hùng đáp sau cơn cười. Ba không cần gì cố cắt nghĩa sự có mặt của ba trong “Móng Trời” đêm đó. Con đã lớn thì con phải hiểu biết rằng ai cũng có quyền sống riêng cả! Không, con không dám khinh ba đâu, con không đạo đức lắm đâu. Nhưng con thú thật với ba rằng con bớt kính phục ba hơn khi trước. Hết kính phục nhưng thương hơn vì thấy ba trễ đò và yêu hơn vì thấy ba là bạn của con. Sao con lại bớt kính phục ba thì ba đã biết. Và ba không làm gì được để gây uy tín lại cả. Nếu ai xô ba xuống khỏi bệ, thì ba có thể leo trở lên và người thân của ba sẽ giúp ba trong công việc ấy! Nhưng khi mà chính ba tự hạ bệ, và con đã trót thấy thì không làm sao… Ông Ích Thành giận tím mặt, đấm xuống bàn một cái rầm rồi hét: – À, mầy lại dạy đời tao hả? – Thưa ba, con đâu dám. Nhưng ba đã xem con là bạn thì… Thôi con xin phép ba. Hùng đứng lên, đi ra cửa một nước. Ông Ích Thành cắn môi dưới, lòng đau cái niềm đau ê chề khi ta bị người thân yêu hất hủi. Thế là hỏng cả! Ông than thầm giây lát sau đó. Nó sẽ đi chơi bạt mạng, không sợ ai nữa mà cũng không sợ lương tâm nó vì lương tâm nó sẽ im đi khi nó đưa cái triết lý tai hại “hái lấy ngày qua” ra. Ông Ích Thành chống tay trên bàn viết, ôm đầu mà tuyệt vọng. Thế là hỏng cả! Mình đã tự hạ bệ! Hột kim cương giả, khi đến lúc tự mờ nước chiếu, không trời đất gì làm cho nó chói sáng lại được hết. Bỗng ông cha vừa mất uy tín, hạ tay xuống, ngước mắt lên. Mặt ông bấy giờ sao lại hớn hở như tình thế thình lình biến chuyển có lợi cho ông. Ông mỉm cười rồi lẩm bẩm một mình: “Hỏng, nhưng chưa hoàn toàn xụp đổ. Nó đã biết nói sự thật ấy thì chắc không bao giờ nó tự hạ bệ trong đời nó. Hà… hà… Ít ra cuộc gặp gỡ không may cũng cho nó được một bài học hay: tự hạ bệ là chết”.
Truyện RỪNG MẮM đã được dịch ra Pháp văn do Nghiêm Xuân Việt, đăng ở tập san Pen Club. Bản dịch ra Anh văn do nhà văn J. Banerian ở San Diego, đã xuất bản trong tập Vietnamese Short Stories.
Chim đang bay lượn bỗng đứng khựng lại, khiến thằng Cộc thích chí hết sức. Nó theo dõi con chim thầy bói ấy từ nãy đến giờ, chờ đợi cái phút nầy đây. Thật là huyền diệu, sự đứng yên được một chỗ trên không trung, trông như là chim ai treo phơi khô ngoài sân nhà. Chim thầy bói nghiêng đầu dòm xuống mặt rạch giây lát rồi như bị đứt dây treo, nó rơi xuống nước mau lẹ như một hòn đá nặng. Vừa đụng nước, nó lại bị bắn tung trở lên như một cục cao su bị tưng, mỏ ngậm một con cá nhỏ. Cộc ngửa mặt lên trời để theo dõi ông câu kỳ dị và tài tình ấy nữa, nhưng mắt nó bị ngọn dừa nước bên kia bờ rạch níu lại. Trên một tàu dừa nước, một con chim thằng chài xanh như da trời trưa tháng giêng, đang yên lặng và bền chí rình cá. Trong thế giới bùn lầy mà thằng Cộc đang sống, ai cũng là ông câu cả, từ ông nội nó cho đến những con sinh vật nhỏ mọn qui tụ quanh các ngọn nước. Màu xanh của chim thằng chài đẹp không có màu xanh nào sánh kịp. Sự bền chí của nó cũng chỉ có sự bền chí của các lão cò sầu não là ngang vai thôi, cái bền chí nhìn rất dễ mê, nhưng mê nhứt là mũi tên xanh bắn xuống nước nhanh như chớp, mỗi khi thằng chài trông thấy con mồi. Thằng Cộc là một đứa bé bạc tình. Một đàn cò lông bông bay qua đó, đủ làm cho nó quên thằng chài ngay. Là vì đầu cò chởm chởm những cọng lông bông, nhắc nhở nó những kép võ hát bội gắn lông trĩ trên mão kim khôi mà nó đã mê, cách đây mấy năm, hồi gia quyến nó còn ở trên làng. Hồi ấy nó sướng lắm. Quanh nhà nó, có hàng trăm nhà khác, có vườn cây trái, có nước ngọt quanh năm, có trẻ con để nó làm bạn, để nó đùa giỡn với. Nhưng không hiểu sao một hôm tía nó bán chiếc chòi lá đi, rồi ông nội nó, tía nó, má nó và nó, một đứa bé mười tuổi, kéo nhau xuống một chiếc xuồng cui, một thứ xuồng to mà người ta gọi là xuồng mẹ, ghe con. Rồi họ đi lang thang từ rạch hoang vắng nầy đến kinh hiu quạnh nọ, và rốt cuộc dừng bước nơi cái xó không người nầy mà ông nội nó đặt tên là xóm Ô-Heo. Nghĩ đến những năm cũ, thằng Cộc bỗng nghe thèm người vô cùng, thèm còn hơn là thèm một trái xoài ngọt, một trái khế chua mà từ năm năm nay nó không được nếm. Những người di cư năm nọ trên chiếc xuồng cui vẫn còn sống đủ cả. Những chiều nghi ngút sương mù từ đất lầy bốc lên, và những đêm mưa gào gió hú, những người ấy kể chuyện cho Cộc nghe, những chuyện ma rởn óc như ăn phải trái bần chua. Nhưng dầu sao, Cộc cũng thích người khác hơn, cũng như nó thích vườn tược sầm uất hơn cảnh rừng tràm tối mịt hoặc cảnh đồng không bát ngát ở đây. Ở đây, cho đến tiếng chó sủa, tiếng gà gáy nó cũng không nghe từ lâu. Con chó săn và mấy con gà giống mang theo, đã ngã lăn đùng ra mà chết ngay trong tháng mới tới. Thằng Cộc ngạc nhiên mà thấy sao người vẫn không chết trong khí hậu tàn ác nầy: nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy. Chưa bao giờ mong mỏi của Cộc được thỏa mãn mau lẹ như hôm nay. Nó vừa thèm người thì tiếng hò của ai bỗng vẳng lên trong rừng tràm, rồi tiếp theo đó là tiếng chèo khua nước: Hò ơ… tháng ba cơm gói ra hòn, Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang mai. Mũi xuồng cui ló ra khỏi khúc quanh của con rạch, và trên xuồng, chồng chèo lái, vợ ngồi không trước mũi mà hò. Cặp vợ chồng nầy, Cộc quen mặt mấy năm nay, nhưng không biết họ từ đâu đến. Nó chỉ biết họ ra biển để bắt cua và bắt ba khía, một năm mấy kỳ. Nghe tiếng người lạ nói, nhứt là tiếng hát, Cộc sướng như có lần tía nó cho nó ăn một cục đường từ nơi xa mang về. Thà là không được ăn, chớ còn ăn một chút xíu thì cái vị của món ăn còn chọc thèm hơn bao giờ cả. Nên chi Cộc nhìn xuồng chèo khuất dạng rồi thì xây lưng tức khắc để chạy lên Ô-Heo. Trọn vùng nầy, ông nội nó đặt tên là Ô-Heo. Nhưng riêng trong trong riêng gia quyến nó thì Ô-Heo chánh hiệu là một cái gò xa ở trên kia, cách mé rạch đến hai dặm hú. Số là hồi trước, ngày đầu tới đây, ông nội nó với tía nó đi kiếm đồ ăn trong rừng, đã gặp nơi đó một ổ heo rừng. Cả ổ heo đều bị sát hại hôm đó và việc canh tác của gia quyến nó về sau nầy đã đuổi thú dữ đi xa. Tuy nhiên, đề phòng chúng trở lại, ông nội nó đã cấm nó lên Ô-Heo một mình. Thằng Cộc lại thích lên đó, ban đầu chỉ vì Ô-Heo có sức quyến rũ của một trái cấm, nhưng về sau, nó gặp người nơi đó. Ðó là vài người đàn ông và đàn bà, nói là ở xa lắm, cách đó một ngày đường sông. Ðàn ông thì đến để gác quốc, gác nhan sen, còn đàn bà thì để nhổ bồn-bồn về làm dưa bán. Ðó là những người bạn bí mật của nó, nó giữ kín không cho nhà nó biết. Họ hay kể chuyện xóm làng, chuyện đám cưới, đám ma, đám hát, đám cúng đình, tóm lại tất cả sanh hoạt của làng mạc mà từ lâu Cộc không thấy và ngậm ngùi tưởng đến như nhớ những kỷ niệm xa xôi. Cộc chạy qua khỏi ruộng nhà và đứng lại nghỉ mệt. Nó mệt lắm vì nó chạy dưới nước và dưới bùn, mặc dầu lúa đã đến mùa gặt. Năm xưa, gia quyến nó đến đây vào cuối tháng giêng, sau khi cúng ông vải xong ở quê cũ. Ông nội nó với tía nó đốt rừng tràm từ ngoài bờ rạch. Gió thổi vô rừng, và lửa, như con vật khổng lồ, đã táp một cái vào khối thịt xanh um của biển rừng tràm nầy. Thành ra ruộng nhà nó mang một hình tròn kì dị, không tròn đều đặn vì không ai chỉ huy được sự cháy rất là rắn mắt của ngọn lửa. Cộc nhìn ruộng mình một hồi rồi cười khan lên. Ðám rừng bị khoét một lỗ để làm ruộng, trông như đầu tóc trẻ con được mẹ cạo, nhưng mới cạo có một mảng thì có chuyện gấp, bỏ dở công việc; đứa bé bị chúng bạn chế nhạo là đầu chó táp. Lúc ruộng chín, cây lúa cao quá, ngã rạp xuống, để lòi trăm ngàn gốc tràm lên, trông như ai đóng cọc để cất nhà sàn; năm xưa đốt rừng nhưng không đủ sức đánh những gốc tràm tươi rói không cháy được nầy, tía thằng cộc đành cấy lúa giữa những gốc ấy, mãi cho đến ngày nay mà gốc vẫn chưa mục. Tía nó nói mười năm nữa, tràm chết cũng vẫn còn đưa cẳng lên như vầy. Sau lưng Cộc là những rặng tràm bị cháy sém dưới trận lửa khai hoang, không chết ngay, nhưng “chết nhát”, cứ mỗi năm chết lần mòn thêm vài mươi cây. Mấy hàng tràm đầu nám đen và trụi nhánh như cột nhà cháy, câm hận nhìn chiếc chòi lá xa tít mù dưới mé rạch đang chứa chấp kẻ thù đã lấn đất của chúng, đã sát hại chúng. Sau đó, rừng dày mịt, chằn chịt những dây bòng bong, dây choại, bò từ thân cây nầy qua thân cây khác. Thằng Cộc lắng tai nhưng không nghe tiếng động nào cả. Nó đánh bạo chen qua những cây bình-bát, cây ráng, mọc xen với tràm, để đi tới đích. Một ổ chồn cộc bỗng chạy qua trước mặt nó, khua lên một cái roạch, làm nó giựt mình, nhưng tiếng người trên Ô-Heo cách đó chững hai hàng cây, giúp cho nó vững dạ. Tiếng đàn bà hỏi: – Anh hổng sợ thằng Mùi hay sao? Tiếng đàn ông đáp: – Thằng Mùi thì qua cho một loi là nhào hớt. Cộc vẹt cỏ lá, đi mau đến đó và khi nó chun ra khỏi khối xanh thì hai người có mặt trên gò Ô-Heo sợ hãi ngồi dang ra. Người đàn ông gác quốc là người quen, người đàn bà nhổ bồn-bồn thì lạ hoắc. Chị nầy trẻ đẹp hơn tất cả những chị mà nó quen biết từ lâu. Người đàn ông tự trấn tỉnh lại ngay, ngoắt nó lại mà hỏi: – Muốn về trển hay không Cộc? Muốn thì đi theo chị hai mầy đây, chỉ có một đứa em gái ngộ lắm. Trong khi thằng Cộc mắc cở tía tai thì chị đàn bà hỏi anh kia: – Ở miệt nầy có người sao anh? – Chỉ có một nhà thôi. Mới tới đây chừng năm năm. – Quen hay lạ? – Lạ. Họ ở trên Sa-Ðéc lận. Chị đàn bà an lòng, vui lại được và nói với Cộc để mua lòng kẻ đã bắt chợt việc thầm lén của chị: – Em của chị không bao giờ chịu về làm dâu ở một chổ như vầy. Em có muốn thì phải ở rể thôi. Rồi hai người lớn cười ngặt nghẹo với nhau. Thằng Cộc mới mười lăm, nhưng cao lớn gần bằng người đàn ông kia. Mình trần của nó nổi u, nổi nần những bắp thịt rắn như nắn bằng đất sét gắn vào đó rồi nung cho đen và cứng. Sự nẩy nở của thân thể nó đi song đôi với sự trưởng thành của đời sống sinh lý bên trong của nó. Năm nay nó đã bắt đầu bâng khuâng mỗi khi chiều xuống, mặt trời đốt cháy đỏ đầu rừng tràm trầm thủy trước nhà. Nhưng sống cô đơn ở đây, nó không biết chuyện trai gái như vầy là xấu đến mức nào và nó phải có thái độ làm sao nên bối rối lắm. Chị đàn bà nắm tay nó, rị nó ngồi xuống bên cạnh chị, vỗ lên đầu nó rồi dỗ ngọt: – Chị không ăn thịt em rể chị đâu mà sợ. Mầy mà về trển làm ruộng thì ai cũng ưa. Làm rể có công, ba năm thì má chị gả con Thôi cho mầy liền. Nói thiệt đó mà. – Nó muốn trốn theo qua dữ lắm, người đàn ông nói, nhưng nó còn ngại. – Ngại gì? – Thì lo sợ cái việc xa xôi đất lạ đó mà. – Em nè, chị đàn bà lại hỏi, nhà có mấy người? – Bốn người? – Ai với ai? – Ông nội tui, tía tui, má tui với tui. – Làm mấy công đất? – Hồi đó bốn công, bây giờ mười công. – Gặt được bao nhiêu giạ mỗi mùa? – Tám giạ. Chị đàn bà cười ngất một hồi rồi day lại hỏi nhơn tình: – Trời ơi, ruộng gì mà mười công đất, chỉ gặt được có tám giạ thôi? Người đàn ông không cười, đáp: – Ðất nước mặn nào mới khai hoang cũng như vậy hết. – Rồi lấy gì mà ăn em nhỏ? – Tía tôi đi đổi lúa thêm, ở đâu không biết, xa lắm. – Ðổi bằng gì? – Bằng cá khô. Với lại cũng chẳng cần ăn cơm. Nhiều khi ăn rùa, ăn rắn trừ cơm. Ở đây, rùa nhiều như kiến. Ðốt rừng rồi đón trên đầu gió một lát là chúng nó lạch cạch chạy trốn lửa, bắt không kịp lận. Chị đàn bà tỏ vẻ ái ngại một hồi rồi nói: – Nãy giờ chị nói chơi đó. Nhưng biết được tình cảnh của em, chị thật bụng thấy là em cần đi theo chị hoặc là anh đây cũng được. Chị ta vói tay sau lưng, lấy bầu nước ngọt, mở nút ra rồi ngước mặt lên trời, rót nước vào miệng. Chị uống ừng ực vài cái rồi lại nói: – Em có được ăn chè lần nào không? – Không, từ năm năm nay rồi. Cách đây một ngày đường nước, không có nhà cửa ai cả, không có quán tiệm gì hết. Với lại cũng không có tiền. – Ở Sa-Ðéc sao lại không vô Tháp Mười mà nhè xuống U-Minh nầy? – Tui cũng không biết tại sao. Nhưng ở Tháp Mười dễ chịu hơn hả? – Chị cũng không biết. Chỉ biết đất hoang ở Tháp Mười gần quê cũ của em hơn. Quê em ở gần Cao Lãnh phải không? – Gần. – Em có nhớ xoài Cao Lãnh hôn? – Tui lạy chị, đừng có nhắc chè, nhắc xoài nữa, tui thèm muốn chết đi. Năm năm nay, tui không có biết món ngọt là gì. Mấy cây chuối trồng sau nhà cũng chết queo vì đất còn mặn quá. Năm nay một cây trổ buồng, chắc tôi được ăn ngọt đây. Úi chà! Trưa rồi, chắc tới bữa cơm, thôi tui về nha, anh, chị? – Ừ về, mai mốt lại lên đây nữa nha? – Xuồng anh chị ở đâu? – Dưới kia. Nhổ bồn-bồn ở dưới ấy, nhưng lên đây cho khô ráo để ăn cơm trưa é mà. Em Cộc nè, em của chị ngộ lắm, trắng lắm nghe không? Chuỗi cười của hai người nhơn tình ấy đuổi theo sau lưng Cộc khiến cho nó, trong giây phút, không muốn về nhà nữa. Ra khỏi rừng tràm râm mát, mắt Cộc bỗng dưng như đổ hào quang trước ánh nắng tháng mười. Không khí bị đốt cháy, đang rung rinh như nước xao, và nó tưởng chừng như mái lá nhà nó, đen thui dưới kia, sắp cháy đến nơi. Thằng Cộc về tới nhà thì cơm trưa đã dọn xong. – Mầy đi đâu mà tới đứng bóng mới về? – Tui đi lượm lông chim Long ô. – Lông đâu? – Mà kiếm hoài hổng có. – Mồ tổ cha mầy, nhiều chuyện. Chim Long ô đời xưa mới có chớ đời nay đâu còn nữa. Mai gặt nghe không? Ăn cơm khuya rồi xuống đồng cho sớm, đừng đi đâu hết. Cả nhà lặng lẽ ngồi quanh mâm cơm, Không ai nói với ai lời nào. Những người nầy, sống biệt tịch ở đây lâu ngày rồi, đã biến thành á khẩu vì thói quen. Riêng thằng Cộc, sự cần nói của tuổi thơ đang lên mạnh lắm như cần chạy nhảy, cần ăn uống vậy. Câu chuyện hồi nãy trên gò Ô-Heo khiến nó càng bắt mùi nói thêm, nên nín không được, nó hỏi ông nội nó: – Nội nè, hồi mới tới, giữa mùa nắng, mình uống nước gì, tui quên rồi? Nó hỏi như vậy vì nó vừa nhìn ra cái giếng bên hè và nhớ ra là giếng đã ngọt nước hôm mùa nắng trước, mặc dầu đã được đào từ năm năm rồi. – Uống nước đọng trên lung, trên rừng, chớ uống nước gì. – Sao mình tới đây ông nội? – Ðã nói cho mầy biết rồi. Trên xứ, mình không có ruộng, làm công khổ cả đời. – Ở đây, mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. Ông nội thằng Cộc lặng thinh. Nó nhìn ông nội nó rồi chợt nhận ra rằng năm nay ông cụ già quá. Tóc râu của ông cụ đã trắng bông. Nhớ ra ông cụ thường than mình nhớ mồ, nhớ mả ông bà quá, nó bùi ngùi thương ông nên dòm ra sân để quên. Bấy giờ bóng của bốn cái nồi rau đã tròn vành, chỉ rằng thật đúng ngọ. Bốn cái nồi bể ấy, hèn là thế mà rất là công dụng đối với nhà nó. Ðể tránh nước mặn tràn bờ ngập sân, tía nó đã đóng mười hai cây cọc, làm thành bốn cái giá ba chơn tréo như giá trống của bọn đờn thổi đám ma. Trên mỗi giá, đặt một cái nồi lủng đít, và trong nồi để đầy đất mà tía nó mang từ xa về. Ðất ở đây mặn chát dùng không được. Hành, ớt, rau răm, rau mồ om, được trồng trong mấy cái vườn cao cẳng đó. Ðó là bốn thứ tối cần, đất mặn bao nhiêu cũng phải lập thế mà trồng cho được, không thôi không có món gia vị nào để ăn cá nữa. Bốn miếng vườn cao cẳng và tí hon lại là chiếc đồng hồ của nhà nầy vào mùa khô. Cứ bằng vào bề dài của bóng giá là tính giờ được ngay, và khi bóng nồi tròn vụm che mất bóng giá là đúng ngọ ngay bon. Nhìn ra sân một hơi, nhai nuốt hết cơm, nó day vô và hỏi tía nó: – Năm nay mình gặt cỡ được bao nhiêu tía? – Nhờ ông bà, đất nước, ít lắm cũng được hăm lăm giạ. – Cũng chưa đủ ăn. – Ðủ gì mà đủ, má nó nói, nhà mình phải ăn trăm rưỡi là số chót. – Với lại, tía thằng Cộc trở vào câu chuyện, tại lúa nàng Cụm thất gạo lắm. Năm tới ta gieo giống Tầm Vuột chắc được gạo hơn nhiều. Năm nay hễ chuối trổ buồng thì năm tới tao trồng sả, trồng ổi được rồi đó. Cả nhà đều hớn hở trước dự định tương lai tốt đẹp kia. Nhưng thằng Cộc chưa thấy gì là xán lạn cả. Trồng ổi thì cũng phải khá lâu mới có trái, trong khi đó nó tiếp tục thèm chè, thèm xưng xa, nhớ đám cúng đình, nhớ hát bội và bị một hình ảnh mới quyến rũ, hình ảnh của con Thôi, chắc là giống hệt chị nhổ bồn-bồn, tức là có duyên lắm. Con trai làng thấy con gái rất thường, thế mà họ còn thầm lén rủ nhau đi một ngày đường nước để ra đây gặp nhau, huống hồ gì nó chưa được nói chuyện với con gái lớn lần nào hết. Những đứa con gái bạn của nó cách đây năm năm, nó nhớ lại thì không có gì quyến rũ cả. Ðứa nào cũng cạo trọc chừa bánh bèo phía sau và giữa chiếc bánh bèo, mọc ra một chòm đuôi dài trông đến buồn cười. Nhưng mà con gái lớn phải khác. Cộc chưa thấy con gái lớn, nhưng tin chắc như vậy. Có một linh cảm gì, ở đâu từ kiếp tiền thân của nó bay lại và giúp cho nó biết như vậy. Những cô con gái lớn chưa thấy hình ấy, mà đã có tiếng kêu được, chúng âm thầm gọi Cộc, tiếng gọi như văng vẳng đâu trong không trung. Thẩn thờ, thằng Cộc nói lại câu hồi nãy, và giận giỗi, thêm một đoạn khiến ông nội nó giựt mình, chống đũa mà nhìn nó trừng trừng: – Ở đây mình có ruộng nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn ở đó có làng xóm, có người ta.
Thằng Cộc thích mấy cây nọc nạng lắm. Bó lúa nào gác lên đó cũng nằm yên cả chớ không chực rớt xuống nước ruộng như những bó lúa gác trên đầu nọc thường. Ðó là những gốc tràm mà cháng hai chẻ ra rất thấp. Khi đốn tràm cháy, tía thằng Cộc đã trù xa, đốn ở trên cháng hai ấy độ một gang rưỡi nên bây giờ họ mới có nọc nạng rất tiện mà dùng gác lúa. Ông nội thằng Cộc chống xuồng trên ruộng, len lỏi qua mấy gốc tràm. Ông ghé từng gốc để cho lúa xuống xuồng. Ðủ thứ là cò, cò ma, cò lông bông, cò quắm, cò hương, thân mật nhìn gia đình bốn người gặt lúa nhà. Ðây là bốn người độc nhứt mà chúng thấy mỗi ngày ở vùng hoang vắng nầy; ban đầu chúng sợ hãi họ, nhưng về sau, thấy họ hiền từ quá, chúng làm quen với họ đã được bốn thế hệ cò rồi. Má thằng Cộc lội sình tới đầu gối, và lội nước gần tới háng nhưng vui vẻ hơn ngày nào hết. Bà ta tằng hắng rồi cất tiếng hò: Hò… ơ… tiếng anh ăn học làu thông, Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường. Hò xong câu đố ấy, bà lắng đợi chồng bà hò đáp. Nhưng tía thằng Cộc cứ làm thinh mà gặt, khiến bà đâm ngượng nên cười rồi cự chồng cho đỡ mắc cỡ: – Tía nó sao câm cái miệng lại, không bắt vậy? – Hứ, nhiều chuyện nà ! Già rồi mà còn hò với hát, bắt với ghẹo. Bộ còn trai gái gì đó sao? Vì vui kết quả của cần cù nên má thằng Cộc quên rằng bà ta đã quá mùa hò rồi. Tía nó nhắc lại bà ta mới chợt nhận ra. Tuy nhiên bà vẫn ngậm ngùi nhớ cái thú vui ấy thuở bà còn con gái và ngay bây giờ đây, tóc đã nhuốm hoa râm rồi, bà cũng hưởng được nếu còn ở làng, hưởng bằng cách khuyến khích bọn trai trẻ hò đối đáp với nhau. Thằng Cộc thì xôn xao trong lòng, nhớ lại lời chị nhổ bồn-bồn bảo rằng nó mà về làng làm ruộng thì ai cũng ưa. Ừ, nó sẽ hò đối đáp với con Thôi. Chậc! Mà nó phải nhờ má nó dạy hò mới được. Nó có nghe hò lần nào đâu để mà thuộc giọng và biết câu. Ðến chiều thì xong xuôi cả. Ông nội thằng Cộc chống xuồng lúa để ra bờ rạch, còn tía nó, má nó và nó thì lội nước sình mà về bộ. Ðập lúa và phơi phong mất hết mười ngày. Trong những ngày buồn tẻ, phẳng lì giữa cảnh bùn lầy nước đọng ấy, thằng Cộc càng nao nức muốn về làng. Lại đây em hỏi khăn lông mấy đường? Câu hò của má nó ám ảnh nó từ hôm gặt đến nay. Nếu con Thôi mà hỏi đố nó câu ấy chắc nó phải ngậm câm, cho dẫu được phép trả lời bằng văn xuôi. Khăn lông là vật dụng mà nó đã quên rồi thì còn biết là mấy đường để còn đáp cho thông. Từ lâu, nó chỉ có một chiếc quần xà lỏn trên người, mùa nắng cháy như mùa mưa lạnh. Ðêm nó nhờ nóp che thân cho đỡ bị muỗi đốt và gió cắt da. Những món đồ cần dùng của thế giới văn minh ấy cũng thuộc vào những thứ gợi thèm như bánh trôi nước, bánh ít trần và mái tóc của con Thôi. Hôm ấy, dùng bồ cho con cháu đổ lúa vào, ông nội thằng Cộc long trọng nói: – Ngày mai ra biển. Không ai hỏi ra biển để làm gì hết. Thằng Cộc cũng làm thinh, trái với mọi ngày mà nó hỏi không kịp đáp. Con rạch Ô-Heo trước nhà, nếu có đi trên ấy thì phải về ngọn, nó nghĩ như vậy, đi về ngọn để rẽ qua những kinh rạch khác mà tìm làng mạc sầm uất, chớ xuôi dòng ra biển thì còn nghĩa lý gì nữa chớ? Nó chưa được ra biển lần nào cả và mấy năm trước đây nó muốn theo ghe của bọn bắt cua để đi một chuyến lắm, mà không được phép đi. Chuyến đi đầu đến một chơn trời xa lạ mà ông nội nó vừa cho biết, không làm cho nó phấn khởi chút nào cả. Ông nội nó tiếp, dặn mẹ nó: – Con mẹ Trùm, ngày mai phải dậy khuya nấu cơm. Tao đi với thằng Trùm và thằng Cộc, đi thật sớm để gặp con nước lớn ngay tại cửa mà về cho tiện.
Rạch Ô Heo nhỏ xíu cho nên tràm mọc ở hai bên bờ giao nhành với nhau được và phủ kín cả mặt nước. Rạch tối om, đi như đi trong hang. Bây giờ thằng Cộc mới thấu nghĩa hai tiếng “hang mai” trong câu hát của bọn đi bắt ba-khía. Những nơi ánh nắng lọt vào được thì hai bên bờ, ô-rô và cóc kèn mọc đầy. Nước ròng chảy xiết, xuồng trôi bon bon. Tuy vậy, ông nội và tía cũng chèo cẩn thận để mau tới nơi, hầu về kịp nội buổi chiều ngày đó. Gần tới trưa, xuồng không đi mau nữa. – Nước đứng rồi, ông nội nói, tức ta gần tới cửa rồi. Họ thôi chèo, để cho xuồng trôi linh đinh, không tiến cũng không lùi, rồi lấy cơm dỡ trong mo nang ra mà ăn. Không đi thì thôi, đã trót đi, và lúc gần tới đích, thằng Cộc nghe thích thấy biển coi ra sao. Nó và cơm hối hả rồi hỏi: – Ra đó làm gì ông nội? – Rồi mầy sẽ biết. Họ ăn cơm xong thì nước bắt đầu lớn. Họ chèo ngược nước cho đến quá đứng bóng thì đến một nơi kia mà ông nội tuyên bố rằng đó là biển. Thằng Cộc ngạc nhiên lắm mà chẳng thấy biển đâu cả. Con rạch tiếp tục đi xa ra ngoài kia, hai hàng rào cây như đứt khúc, đâm vào một vách tường xanh như da trời. – Biển ở đâu, ông nội? Cộc hỏi. – Ðàng xa kia, xanh xanh đó. – Sao không ra ngoài, ông nội? – Không cần. Tía thằng Cộc chèo mũi, rút sào cặm xuống bùn, theo lịnh của ông nội nó. Ông nội gọi Cộc hỏi: – Con có thấy gì khác lạ không? – Không, ông nội à. – Không thấy ? Cây ở đây không khác cây sau lưng mình à? – À… phải rồi. Cộc nhìn lại thì quả như lời ông nội nó nói. Nơi đây, đất đã hết, mà chỉ còn bùn. Tràm mọc tới mé đất cuối cùng thì dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi bìa lảnh thổ mình. Hết tràm thì có một khoảng trống, nửa bùn, nửa đất, trên ấy cỏ ống rậm ri và chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ. Tràm đứng trước bãi cỏ mà nhìn dân láng giềng mọc trên bùn đen. Ðó là những cây ốm nhom chen nhau mà vượt cao lên, cây nầy cách cây kia không đầy bốn gang tay. Bờ biển thoai thoải dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh xuống núi, tuôn hãm thành hầu lập công. – Nhìn xuống gốc cây, ông nội bảo. Nước chưa lớn hẳn, để lộ bùn đen dưới gốc cây ra. Bùn đen từng nơi lại trắng xóa những đóa hoa năm cánh, hai màu đen trắng đối chọi nhau trông rất đẹp. – Cây gì mà lạ vậy ông nội? Trổ bông ngay dưới gốc? – Bông trổ trên đầu những cái rễ ăn lên mà người ta gọi là rễ gió. Cây nầy là cây mắm. Ðây là rừng mắm đây. – Cây mắm? Sao tui không nghe nói đến cây mắm bao giờ? – Con không nghe nói vì cây mắm không dùng được để làm gì hết, cho đến làm củi chụm cũng không được. – Vậy chớ trời sanh nó ra làm chi mà vô ích dữ vậy ông nội, lại sanh hằng hà sa số như là cỏ ấy? – Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được. Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp: – Ông với lại tía của con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xoài, mít, dừa, cau. Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng. Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi? Vả lại con không thích hi-sinh chút ít cho con cháu của con hưởng hay sao? Thằng Cộc nhìn lại ông nội nó và nghe thương không biết bao nhiêu ông già đã bỏ mồ bỏ mả ông cha để hì-hục năm năm trong đồng chua, nước mặn ở Ô-Heo. Phải, cứ theo dự đoán của gia đình thì nó sắp được hưởng, tuy không nhiều, mà rồi sẽ nhiều. Nó nắm chặt tay ông nội nó và nó thấy ông nội nó giỏi quá. Ông có biết chữ nho kia mà. – Ông ơi, nó than, nhưng tràm buồn quá. – Tràm sẽ khỏi buồn nữa. Năm tới, đất thuần rồi thì ta làm ba mươi công và sẽ gọi dân cấy gặt ở xa tới phụ lực. Rồi tía con sẽ cưới vợ cho con, rồi thiên hạ sẽ bắt chước ta, tràn tới đây mà phá rừng, vùng Ô-Heo sẽ sầm uất, vui biết bao nhiêu. Tràm hết buồn vì sẽ đẻ ra cau, dừa, xoài, quít, đầy nhà, nước sẽ ngọt một khi đất thuần… – Và sẽ có chè ăn? Ông nội cười ha hả mà rằng: – Gì chứ chè thì sẽ có lu bù. – Mà ông nội nè, cưới vợ làm sao được, ai thèm tới Ô-Heo? – Hai năm nữa người ta sẽ đồn rằng đất Ô-Heo thuần. Những kẻ nghèo khó như ta chỉ mong được tới đây. Ông nói điều nầy, không biết con hiểu được hay không. Là tổ tiên ta ngày xưa từ Bắc, Trung tràn vào đây đều chịu số phận của cây mắm hết, từ xứ Ðồng Nai nước ngọt cho tới đây, ở đâu cũng hoang vu cả. Họ đã ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc nầy để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong, tốp đầu liều chết đuối, lội qua tô nước rọng hủ đường để làm cầu cho bọn đi sau vào đến nơi có chất ngọt. Nhiều lớp tiên phuông đã ngã gục như rừng mắm. Rồi thì ông sơ, ông cố con, ông nội đây là tràm mới kiếm được miếng ăn… – Tía. Thằng Cộc lo lắng không biết tía nó sẽ làm tràm như nó được hay không nên kêu tía nó bằng một giọng thương yêu trìu mến hết sức. – Thôi, nhổ sào để đi về cho kịp con nước, ông nội ra lịnh. Ông nội vui vẻ quá, vì ông bỗng sực nhớ lại những câu hò của thế hệ người tiên phuông đi khai thác đất hoang ở miền Nam, mà ngày nay thế hệ tràm không hát nữa. Ông cất giọng khàn khàn lên: Hò… ơ… Rồng chầu ngoài Huế, Ngựa tế Ðồng Nai. Nước sông trong sao cứ chảy hoài, Thương người xa xứ lạc loài đến đây.
Tôi mang chiếc ghế nhựa ra ngồi ngoài cửa. Không một ai. Tôi hài lòng bởi nỗi vắng lặng đang chiếm ngự khoảng trống. Bình thường nó chẳng được vậy. Nhặng xị, ồn ào. Những thứ tiếng khiến người ta điên đầu đã trốn đi. Hôm nay mồng Một, mọi cánh cửa đều đóng kín nơi hành lang dãy nhà trọ, những đứa thuê ngụ trong đó đã về quê ăn Tết; chúng sẽ làm ồn, khuấy động khi gặp lại gia đình, sẽ tận hưởng sự ấm cúng, no đủ cho bỏ những ngày cơ cực.
Tôi đốt thắp một điếu thuốc và ngó thấy cái thau nhôm móp méo đặt ở giữa sân. Hôm qua bà chủ nhà trọ đứng cúng vái ở đó, có thể bà đã đốt vàng bạc áo xống điện thoại di động tư trang vật dụng cho ai kia khuất mặt và cái thau nhôm giờ này hứng đầy tro. Tôi bước lại gần, ném điếu thuốc xuống chiếc gạt tàn vĩ đại. Tôi moi ví da đựng giấy tờ tùy thân sau túi quần ra. Mỏng manh, nó ít khi được chứa nhiều tiền. Một tờ giấy xanh gấp làm tám được mở rộng, tôi đọc chậm rãi, bình tĩnh, từ đầu tới cuối nội dung của bức thư không ghi ngày tháng. Tôi đặt để mắt nhìn có hơi lâu vào hai chữ cuối: Sương Sa. Cô ấy thực sự đã ở một chỗ quá xa, khuất lấp. Có thể do linh tính, cô đã gửi thêm cho tôi một tấm ảnh. Tôi xem lá thư cả ngàn lần, điều này cũng đồng nghĩa là tôi ngắm tấm ảnh này 1001 lần. Ảnh trầy trụa, ngắm hư hao. Tôi thuộc nằm lòng mọi hàng chữ mà Sương Sa đã viết xuống trang thư. Không cần nhìn bề trái tấm ảnh tôi cũng đọc ra hàng chữ: “Chụp hôm sinh nhật tuổi 17”. Màu mực xanh bị nhòe khi vẽ hình một trái tim bé xíu bên dưới. Một trái tim biến dạng, hoen mờ.
Tôi moi bọc áo ra chiếc bật quẹt, đốt cháy lá thư trước, bỏng tay mới đốt tấm ảnh sau. Chúng co quắp nhăn nhíu lại trước khi biến mất. Rồi gió sẽ thổi ngang, tàn tro bay có làm cho mắt ai cay? Tôi đứng cúi đầu, y như khi bà chủ nhà trọ hoàn tất mọi nghi thức cúng kiếng. Bà ấy có vẻ thành tâm, đứng trầm ngâm tựa đang mặc niệm, hoặc hồi tưởng vụn vặt những kỉ niệm từng có với kẻ vắn số.
Tôi bước vào phòng, rửa mặt, lựa bộ đồ màu đen để thay. Tôi tránh nhìn mặt mình trong gương soi, dắt xe gắn máy 125 phân khối ra sân, khởi động. Vặn tay ga, tiếng máy nổ như biết đập cùng nhịp với trái tim. Rầm rộ gào lên từng hồi, và chính nó, đã trấn an tôi. Đội mũ bảo vệ vào đầu bù xù rồi phóng xe ra khỏi lối đi hẹp, nhiểu rác rưởi. Tôi chạy qua, lần lượt những con đường quen thuộc. Chỗ này tôi từng có thời theo toán thợ lắp ráp dây điện, đặt để camera thu hình ở mỗi góc. Chỗ nọ tôi từng mặc đồng phục cứng ngắt, ưỡn ngực làm nhân viên bảo vệ, ca đêm… Nói chung tôi là một công nhân viên siêng năng và giỏi chịu đựng. Tôi thích hợp nhanh cho từng công việc, ngành nghề khác nhau. Và quan trọng nhất, tôi chưa hề lãng phí của công. Nói theo phương ngữ xa xưa, tôi là thằng người biết làm chủ tập thể. Do đó, lạ lùng thay, tôi chẳng bao giờ có được cơ hội thăng tiến. Tôi chậm lụt. Tôi không biết “văn hóa phong bì” là thứ gì. Đồng nghiệp có đứa từng chửi thẳng vào mặt tôi: “Đù má mày, muốn máy chạy đều an toàn xa lộ thì phải biết châm nhớt chớ. Có ngày mày sẽ phải chết khô đó con!” Những nhà tiên tri tóc xanh mái đầu ấy đã phán đúng. Tôi chết. Tôi chết. Và tôi chết. Tôi nói tôi giỏi chịu đựng và tôi cứ luôn thay đổi công việc là vì vậy.
Như một giã từ thầm lặng, sau rốt tôi đổi hướng, chạy về bãi trống của bến xe đò liên tỉnh. Một vòng, hai vòng, cuối cùng tôi lựa chọn được một cửa tiệm vắng khách. Tắt máy, dựng chống xe bên bờ lề loang màu ngũ sắc của dầu mỡ. Cởi nón kẹp bên hông, tôi nói với người đàn ông đen đúa đứng án trước cửa: Ông muốn mua chiếc xe này không?
Sau lưng ông thắp sáng ngọn néon xanh lét. Ông ta to lớn dềnh dàng một cách chẳng được bình thường. Áo quần ông mặc vào người không phải là thứ mà người ta ưa chưng diện trong ba ngày tết. Đó là hạng người lao động cần cù và lễ lạc là thứ xa xỉ ông chẳng màng quan tâm. Nhưng nghe câu hỏi của tôi ông tỏ ra có hứng thú. Từ bỏ thái độ lơ là, ông bước lại gần tôi, dáng vẻ linh hoạt. Cần tiền tiêu tết hả chú em? Cây tăm tre cắn giữa hai hàm răng không vì thế mà rơi rụng đi. Hai mươi bốn giờ qua tôi chưa ăn gì cả, ông ta thì tuồng như vừa điểm tâm xong. Cuộc mua bán diễn ra khá nhanh, bởi tôi chẳng phải kẹt tiền tiêu tết. Có lâu lắc chăng là tôi phải để cho ông ta chạy thử một vòng thăm dò tình trạng chiếc xe như lời ông nói. Xong, phải trình thẻ chứng minh nhân dân cho ông xem. Những ngón tay to, u nần ấy soạn viết tươm tất một tờ giấy sang nhượng chủ quyền “cho đúng thủ tục”- chữ ông dùng. Sau cùng, ông bảo, như phát mệnh lệnh: Chú em ký tên ở đây là xong. Ông mời tôi một điếu thuốc Craven A, tự ông bật lửa, đưa tới với hai tay khum. Khuôn mặt giãn nở khi ông thở khói thuốc, như nghệ sĩ vừa hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật đầy ưng ý. Rồi niềm nở bắt tay tôi, ân cần, ấm áp. Chưa bao giờ tôi đón nhận được từ kẻ lạ sự thân thiện gần mức thâm tình đến vậy. Nếu đôi tay không lấm lem dầu mỡ hẳn ông sẽ ôm lấy tôi. Hệt như tôi về làng ăn tết và tôi đang mặc áo gấm. Ông quay đầu, hét vào cái hình khối xanh mét ánh điện để lát sau có người đàn bà xuất hiện ở ngạch cửa. Một bó tiền, tôi ngó ông đếm những tờ bạc mà chẳng nghi ngờ cái số thành khi ông hô to: Đủ. Chú em kiểm lại cho khỏi lôi thôi. Lôi thôi, tôi nhét bó tiền vào lưng quần mà không buồn kiểm. Tôi quay lưng sau khi nói, một cách khó nhọc: Năm mới phát tài. Ông cười toe, cả người đàn bà cũng thế: Ừ, năm mới thắng lợi mới. Được ba bước, giọng người đàn bà đuổi theo: Thế còn cái mũ bảo hiểm thì tính sao? Tôi dừng chân, biểu diễn thứ động tác của cầu thủ bóng rỗ, ném chuẩn xác chiếc nón giá gần nửa triệu vào đôi tay ông ta. Cám ơn chú em lì xì quà tết. Chúc sức khỏe và tai qua nạn khỏi nhé.
Tôi lẳng lặng cắm đầu đi tới quầy bán vé xe. Người ngợm sắp hàng rồng rắn nhộn nhạo. Tôi mua cái vé chợ đen, giá đắt gấp bốn lần mức quy định và tôi dỗ giấc ngủ khi đã yên chỗ trên chiếc xe cồng kềnh hôi chua có ai nôn mữa trước đó. Tôi nhẫm đọc bức thư của Sương Sa đã khắc ghi vào ký ức. Tôi mường tượng lại khuôn mặt ngây thơ nơi tấm ảnh co rúm biến dạng khi bị đốt cháy. Và rồi thì xe chạy, hục hặc về miền Trung.
Tôi ăn một bữa cơm thịnh soạn nhất đời. Làm buổi giỗ, cúng kỵ ông bà cha mẹ sơn hào hải vị bày sắp trước bàn thờ cũng không thể xôm tụ hơn. Cùng chung mâm với tôi là cô tiếp viên nhà hàng ăn vận rất thông thoáng. Cô luôn cười, cơ bắp từ khóe miệng ảnh hưởng xuống tới đôi vú. Áo rung động và hàng vải mỏng tuyệt chẳng có nội y. Cô rót bia, đưa tận miệng. Cô dùng thìa, tom góp thức ăn rồi đút vào mồm tôi, chật cứng. Cô muốn thế và nếu thực khách chẳng phải là kẻ tàn phế, đôi tay thừa thải của hắn sẽ dùng vào việc gì? Tôi không muốn bóp vú cô, tôi chẳng thích lùa sâu bàn tay vào cái váy ngắn cô đang ngồi với tư thế gợi mở bày hàng.
– Này anh giai, có thích chơi em không, hở?
– Không.
– Sao anh lại nỡ lòng nào nói thế? Em có gì không tốt chứ?
– Trời đánh còn phải tránh bữa ăn.
– Thế thì ăn xong anh tính sao? Nhà nghỉ chỉ nằm bên kia đường.
– Chúng ta tìm một trò chơi khác, được không?
Tôi gạt chén bát sang, đặt xuống khoảng trống mặt bàn một xấp tiền.
– Tìm hộ tôi một người, số tiền đó tôi dành trả công.
– Khó khăn nhỉ? Anh giai cần phải dài lời hơn. Ma cô, móc túi, gái bán dâm… Đại loại thế.
– Không, thuộc diện cán bộ. Ông ta tên X. làm ở ngân hàng…
– Hú hồn. Cứ ngỡ là ngăn sông cách núi, sóng lớn bể rộng. Ông ấy thi thoảng vẫn lui tới đây, nhẵn mặt.
– Tìm đúng nhà có dễ không?
– Em có thể biết lý do?
– Tết nhất, có người cậy việc nhờ chuyển giao một phong bì lì xì.
– Số một linh tám ở phố Sơn La. Tiền này dành riêng cho em đấy hở?
Tôi nốc hết chai bia cuối cùng vào lúc ba giờ sáng. Khi chạng vạng, tôi đã vẽ được một lối vào căn biệt thự ấy. Trèo cột điện, phóng mình qua một cành cây, nhảy xuống cỏ, đập vỡ cửa kính, thò tay vào xoay nắm cửa, ngồi yên cho mắt quen bóng tối. Bước lên lầu, tôi tìm ra nơi lão X. ngủ chẳng mấy khó. Tôi bật sáng ngọn đèn bắt trên đầu nằm. Lão ngủ cùng người đàn bà, có lẽ là vợ. Cả hai đều béo tốt, mập mạp. Và cả hai cùng tỉnh thức, giã biệt mộng lành. Tôi ngó vẻ mặt hốt hoảng của họ, nỗi sợ hãi làm người họ co quắp. Tôi đã nhập tâm khuôn mặt lão X, có biến dạng tôi vẫn nhận diện được. Tôi vung dao lên, chất xúc tác của bia đã không làm tay tôi run. Máu bắt đầu loang đỏ trên chăn nệm, vấy cả lên mặt người đàn bà. Thủy chung bà ta chẳng la lên được một tiếng cầu cứu. Bà chỉ ú ớ, răng cắn siết vào một góc chăn.
– Bà có đọc báo không? Một tháng trước ông này dùng uy lực cưỡng hiếp cô gái vị thành niên, phá trinh xong lại còn man khai nạn nhân chủ động bán dâm. Luật pháp đã để ông này thong dong tại ngoại trong lúc cô gái xấu số kia bị nhốt vào tù. Cô ta là một nửa của tôi.
Tôi gói con dao vào tờ nhật báo. Tôi bước ra đường nhựa rút thuốc châm lửa thở khói. Bình minh nhú lên vài cọng sáng mỏng manh cuối tầm nhìn. Sương sớm mai ẩm lạnh phả xuống nguời. Tôi đi bộ hết hai dãy phố đang cựa mình thức giấc, điếu thuốc cháy cụt thì gặp phải đồn công an. Tôi bước vào đầu thú với một cánh tay đầy máu đang khô. Có tiếng người la lên: Coi chừng, nó có hung khí. Tôi bị đạp từ sau lưng, hai gã công an vật tôi xuống, bẻ gập đôi tay nhừ mỏi. Mặt tôi va vào nền xi măng ẩm lạnh, mắt hoa lên. Hình ảnh cuối, tôi thấy con kiến tha hột cơm trên lưng, bò nhọc mệt vào sau những chấn song.
Viết tặng vua săn bàn Luân Hoán, thủ quân đội Cầu Vồng- Đà Nẵng.
Canada đứng ra đăng cai tổ chức cuộc tranh tài “FIFA Women’s World Cup 2015”, diễn ra từ ngày 6 tháng 6 đến ngày 5 tháng 7 luân lưu trên các sân cỏ của 6 thành phố xứ lá phong – Commonwealth Stadium ở Edmonton, Lansdowne Stadium ở Ottawa, Investors Group Field ở Winnipeg, Moncton Stadium ở Moncton, Olympic Stadium ở Montreal và BC Place Stadium ở Vancouver.
Ngoài chủ nhà, thế giới tinh tuyển ra 23 đội bóng tròn nữ đến dự từ những lục địa khác nhau. Ở phương đông lộ mặt những bông hoa cũ mới: Nhật Bản, Nam Hàn, Trung Quốc và Thái Lan. Trên ngực áo của các nàng Phù tang, ngoài logo đội tuyển có thêu một ngôi sao, điều ấy chuyển ngầm một thông điệp: Chúng tôi đã có lần vô địch thế giới. 24 đội được chia đều cho 6 bảng và Canada may mắn xếp vào bảng A, mà theo những chuyên gia bình luận, bảng ấy tương đối dễ thở so với bảng B với hai đối thủ nặng ký: Norway và Germany.
Khai mạc trận đấu đầu tiên diễn ra trên sân ở Edmonton, đội chủ nhà thăm hỏi giò cẳng (không ngâm tẩm hoá chất) tuyển China. Cầu trường với sức chứa 56.000 chỗ gần như nêm chặt, điều này nhằm nói tới một chuyện hệ trọng: Ngày nay người ta đã thay đổi cách nhìn về bộ môn túc cầu, không như những năm trước thênh thang bao hàng ghế ghẻ lạnh bỏ trống, nhất là ở Canada, xứ sở đã lỡ điên cuồng xem Hockey là một thứ gần như tôn giáo.
Chủ nhà như muốn thu cất ngón nghề, đấu pháp đưa ra tuồng chưa đạt hoả hầu khi trực diện với 11 cao thủ của phái Nga My, Côn Luân. Lãnh Nguyệt bảo đao cũng như Ỷ Thiên kiếm tha hồ thi triển nhưng chưa đánh đúng yếu huyệt. Người theo dõi ngờ vực, lẽ nào tư bản dẫy chết, lẽ nào cộng sản trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi sẽ về ta? Gần cuối giờ, may thay số phận mỉm cười với Canada. Thủ quân Christine Sinclair áo số 12 trực tiếp đá quả phạt đền, và ơn Chúa, banh xém đi ra ngoài cột dọc của khung thành. Bao nhiêu tấc lòng được cởi, bao nhiêu gánh nặng được trút bỏ và bấy giờ cầu trường mới rộ lên bao tiếng rộn của lòng vui. Trận ra quân của chủ nhà nếu để China, một đội chẳng có tiếng tăm cầm hoà hoặc chiến thắng, điều đó rõ là bất lợi nếu chẳng muốn nói tới sự sỉ nhục. Thắng kẻ nuôi mộng bành trướng kể cả lãnh vực bóng đá là nhiệm vụ mà 11 bóng hồng Canada buộc phải dứt điểm. Những môi cười hân hoan, những bồng bế nhau vui hưởng thành quả, những cầu thủ ngồi ghế dự bị chạy túa ra sân cỏ khản tiếng gọi nhau chia sẻ hạnh phúc sau tiếng còi viên mãn của 90 phút đầm đìa mồ hôi thấm đẫm màu cờ sắc áo. Nhưng thú thật, niềm vui kia đánh đổi với lắm gian nan. Canada đã không chứng minh cho giới thưởng ngoạn thấy được điều gì ấn tượng cả. Họ đá mờ nhạt như thể trận đấu này chỉ khoanh vùng trong một cuộc chơi hữu nghị, chơi với tính cách xã giao. Đường tới chung cuộc còn dài, nhưng ngay phút giây này bạn chẳng thể ra sân mà trong lòng không thắp sáng ngọn lửa quyết thắng.
Fair game là tiên chỉ mà FIFA khẳng định. Công bình ở chỗ, bạn thắng tôi do bởi bạn có thực tài hơn tôi. Bạn thể lực hơn, bạn biết thay đổi đấu pháp, bạn hiểu đâu là lúc mang quân về phòng ngự và thời điểm nào dâng lên tấn công. Và quan trọng hơn hết, lệ thuộc vào yếu tố tâm lý, thứ sức mạnh tinh thần. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Tuyển Canada có đủ ba món “vũ khí” ấy. Thử nhìn lại chặng đường gian nan Canada vừa vượt qua: Thắng China 1-0. Huề New Zealand 0-0. Huề Netherlands 1-1. Thắng Switzerland 1-0. Bốn trận: 2 thắng 2 hoà, đứng đầu bảng A với 8 điểm và đương nhiên đi lọt vào tứ kết.
Bên kia, đường ra trận của Lionesse tuyển England lẫy lừng hơn: Thua 1 thắng 3, đứng đầu bảng F (thua France 0-1. Thắng Mexico 2-1. Thắng Colombia 2-1. Thắng Norway 2-1). Đây là trận đấu sinh tử mà Canada buộc phải dốc toàn bộ thực lực của mình ra phô diễn. England có tiền đạo Jodie Taylor áo số 19, nhanh lẹ, thông minh quyết đoán và là một chân sút cực tốt. Có hậu vệ Lucy Bronze áo số 12, có thủ quân Steph Houghton áo số 5, người từng được đề cử là khuôn mặt sáng sau mỗi trận. Và phải nên nhắc đến tên thủ môn Bardsley, bắt giữ hoặc phá hỏng bao lần bóng vào góc chết của khung thành. 11 đoá huệ trắng ra sân không dấu được vẻ mặt căng thẳng, bởi họ bị áp lực nặng nề: Chìa khoá dẫn tới thành công là, ngoài cách kiểm soát bóng tốt họ phải kềm lòng không bị phân tâm bởi tiếng reo hò cỗ vũ của đám cảm tình viên chủ nhà luôn ngồi kín khán đài. 11 đoá hồng đỏ thắm ra sân tự tin hơn, bằng mọi giá họ phải buộc thế giới nhớ tới chữ Canada khi nhắc tới football mà không là Hockey như đã từng.
BC Place Stadium ở Vancouver chật chội 54.000 khán giả. Hôm ấy nắng ráo, gió nhẹ. 25 độ C với độ ẩm là 57 %. Và rồi bóng lăn, England ra quân với đội hình 4-3-3, thường phát bóng dài ở khu trung tuyến. Phút thứ 11 do hậu vệ Canada không chận giữ được bóng trong chân, tiền đạo Jodie Taylor băng xuống, dẫn banh đi qua hai hậu vệ khác, để ngoài vùng cấm địa, số 19 với tài nghệ làm bàn đã đá bóng căng vào khung thành. Khách làm chủ trận đấu ngay ở những giờ quá sớm sủa. Chủ chưa lại hồn, bốn phút sau, khách hưởng quả phạt gián tiếp từ giữa sân. Bóng đi cầu vồng như đạn pháo rót xuống để rồi lưới nhà phải rung lên nhờ vào cú đánh đầu đẹp mắt của Lucy Bronze áo số 12. Cô ấy là hậu vệ, đã bỏ vị trí của mình để tham gia tấn công và đạt hiệu quả.
Cầu trường gần như câm lặng. Họ hiểu, chỉ có điều nhiệm mầu xẩy ra mới giúp 11 niềm hy vọng đang mệt nhoài kia gây nên đột biến. Canada thay đổi đấu pháp, họ chiếm ngự kiểm soát thế trận tới 58% trong khi England chỉ đạt 42%. Trung phong 27 tuổi Sophie Schmidt áo số 13 rất cật lực châm banh từ cánh trái vào trước cầu môn nhưng Canada thiếu vắng một chân làm bàn hiệu quả.
Thủ quân Christine Sinclair áo số 12, với số tuổi là 32 đã bắt đầu biểu lộ sự sa sút, người ta kỳ vọng vào cô nhiều quá, người ta lăng-xê cô dữ quá, hoá hỏng. Cô đã có ít nhất ba bốn cơ hội nhưng cô đã không chu toàn khi xử lý. Đáp trả sự mong mỏi, Sinclair đã ghi được vỏn vẹn một bàn thắng cho Canada, gọi là bàn danh dự. Thủ môn ôm không chặt, bóng vuột ra và Sinclair đã ùa tới lập công trong cận kề cặp găng của người thủ thành muốn với lấy.
Những gì muốn thể hiện, muốn thi thố đã tới cuối đường với áo đẫm mồ hôi. Vở kịch chấm dứt luôn để lại hai hình ảnh: Kẻ hân hoan và người gạt lệ. Những bóng áo trắng chạy nhảy và những màu áo đỏ lần lượt buông đổ thân mình xuống cỏ. Lệ chảy ra, chẳng kềm hãm. Họ che mặt lại, họ gục đầu và họ thổn thức. Ở trên cao, lá cờ Canada vẫn reo vui cùng gió. Hãy gượng đứng dậy, hãy lau khô nước mắt, hãy xem đây chỉ duy là bài học mà đã khoác áo đội tuyển, bạn còn lắm bài học khác buộc phải hoàn thiện trong tương lai.
Ở Canada nên tôi, có lẽ do tinh thần địa phương, đã buồn lòng không ít khi đội tuyển nhà buộc phải dừng chân. Tôi coi báo và nhặt ra một phân tích của người nào đó phù hợp với cảm nhận của tôi. Tiền đạo của Canada cần phải có một người tương tự như chân sút Carli Lloyd, áo số 10 của tuyển USA. Đó là người có khả năng ghi bàn trong những trường hợp nan giải nhất, khó khăn nhất. Và sau hết, thủ môn chính của Canada là một cô gái hơi nóng nảy. Trám được hai lỗ hổng đó, Canada sẽ khiến những đối thủ phải chùn chân. Kiếm chưa ra, đành gạt lệ thua buồn.
Về phần England, kỳ lạ thay, bốn trận thắng cùng chung một tỉ số giống nhau: 2-1. Huấn luyện viên Mark Sampson chẳng dấu mừng vui, ông thổ lộ: Tên của các cầu thủ đáng yêu này sẽ viết xuống cho lịch sử football nước nhà một trang mới, có điều tôi luôn nhắc nhở họ, hạn chế những lầm lẫn khi mà mùa giải vẫn chưa thực sự kết thúc.
Sáu sân cỏ trên toàn cõi Canada lần lượt ngấm rút nước mắt. Những giọt lệ long lanh yêu kiều của tuyển New Zealand, tấm tức rơi của Netherlands, sụt sùi của Switzeland và đau đớn của Canada. Họ khóc lặng lẽ, dẫu vô tâm ta cũng dễ chạnh lòng hiểu thấu niềm đau họ đang mang. Tôi ở Canada nhưng gốc là người Việt, và thú thật tôi đã phát cười khi nhìn thấy “cổ động viên và cầu thủ U-23 Việt-nam khóc như mưa sau thất bại”. Thua Myanmar 1-2. Khóc, sao dễ dãi thế? Khóc khi đưa đón “siêu sao” Hàn quốc. Khóc vì chẳng được tạo dáng kề cận diễn viên xứ người. Họ hoàn toàn không hiểu nước mắt là thứ vô giá. Phải biết tiết kiệm và đổ nó ra khỏi hố mắt khi ở tình huống chẳng đặng đừng. Người Việt sao có lắm kẻ trẻ con hơn những gì tôi tưởng tượng? Nói không cùng bao sự cố nằm trên địa hình chữ S kia!
Yêu FIFA Women’s World Cup Canada 2015 là yêu những giọt lệ của những cầu thủ tranh thắng hết sức mình nhưng lỡ gây thất vọng cho hậu phương, không đem niềm hãnh diện của xứ sở mình phô bày cho thế giới thấy. Họ lần lượt lên máy bay về lại chốn xuất phát, không biết rằng họ đã vô tình để lại chuỗi hình ảnh, gây thiện cảm cho công dân Canada, một kẻ yêu chuộng môn đá banh là tôi. Hoan hô những cầu thủ điện nước đầy đủ!
Hẹn tái ngộ dẫu nhan sắc về chiều. Cám ơn Canada.
Khi viết xong đoạn trên, cuộc phong ba còn sót lại 4 đội. Mỹ sẽ đối đầu Đức. Nhật sẽ đương cự Anh. Tôi chẳng dám hàm hồ nhưng mạo muội đưa ra lời phỏng đoán: Đức vô địch, Mỹ đứng nhì, Nhật đứng ba và hồng nhan England bay về cố quận gậm nhắm nỗi buồn. Nếu sai sót, tôi sẽ bưng mặt khóc cho tật làm tài khôn. Khóc vì ăn năn. Rẻ hay đắt?
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 19 Sep 2024
Photo edit by Sơn râu
Trương Duy Hy
ĐỐI THOẠI VỚI CỘNG QUÂN VÀ KHẢ NĂNG PHÁO BINH ĐỊCH
Vào Đài Tác Xạ với Lân và Kim, bỗng tôi nghe tiếng Việt cộng hỗn láo đối đáp với Trung Tá Thạch qua tần số Bộ Binh của PRC-25 đang trực… Tò mò, tôi đưa máy vào hầm riêng để theo dõi, còn máy trực tác xạ với các Tiền Sát Viên vẫn liên tục làm việc tại Đài.
Giọng nói bên kia máy là giọng nói của người miền Bắc, có lẽ hắn ta là người Hà Nội.
– Bọn Ngụy chúng mày không sớm rút về, chúng ông sẽ tiêu diệt bằng Trận Địa Pháo chết hết. Hãy cút đi các con!… Không thì nát thây tan xác các con ạ!!…
Trung Tá Thạch đáp lại một thôi dài với lời lẽ ôn hòa hơn:
– Chúng tôi mà có đến đây, thì là cũng vì các anh. Các anh lấy đất đai Hạ Lào này làm mật khu. Cái Mặt Trận Giải Phóng của các anh đã sát hại hàng ngàn, hàng vạn đồng bào vô tội tại miền Nam, đến bà già con nít cũng không chừa. Vĩ tuyến 17 đã chia đôi, các anh không lo kiến thiết ngoài đó lại xâm lăng miền Nam, gây tang tóc cho đồng bào miền Nam rồi lại rêu rao là giải phóng! Nói thật cho các anh biết, tôi đã từng tham dự hầu hết các cuộc hành quân trên miền Bắc. Chỗ nào tôi cũng đã bước chân đến, từ Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn… đến Điện Biên Phủ tôi đều có mặt. Tôi nhận thấy giới lãnh đạo miền Bắc đã lừa bịp các anh rất nhiều, đem nướng các anh trong chiến thuật biển người của chúng mà chính các anh không biết.
Còn dọa rằng các anh dùng Trận Địa Pháo để tiêu diệt chúng tôi? Khó lắm! Chúng tôi thách các anh! Hầm chúng tôi rất kiên cố với hàng chục lớp bao cát… Tôi xin mách các anh một kinh nghiệm làm hầm là: khi nào có đốn cây thì nhớ lấy đất trét lên gốc cây kẻo phi cơ quan sát khám phá được, gọi B52 đến dội bom… B52 mà dội thì chắc chắn các anh không thể toàn mạng để mong có ngày về với gia đình nhìn vợ con đâu!
Đối với chúng tôi, dầu có chết ở chiến trường cũng không sao vì vợ con chúng tôi được hưởng 12 tháng lương, con chúng tôi được chính phủ chu cấp cho đi học đến tuổi trưởng thành. Chúng tôi, mọi cấp trong Quân Đội đều có chính phủ lo chứ không phải như các anh, chết xong bất quá được chính quyền miền Bắc dùng vài lời rao tuyên truyền rồi thôi.
Vì vậy, các anh nên đi về miền Bắc gấp là hơn, để khỏi chết một cách điên rồ, vô lý!
– Các con ơi, đừng tuyên truyền với chúng ông nữa! Cái chết của các con đã gần kề rồi. Hãy nghe lời ông mà cút đi, đừng bợ đít thằng Mỹ mà không có ngày về với vợ con!!…
– Hãy ăn nói đàng hoàng! Các anh cứ suy nghĩ lại, chúng tôi đã bắt được Thượng Sĩ Thanh và một số binh sĩ thuộc hạ của các anh, mỗi người mang AK chỉ có 3 băng đạn! Với số lượng đạn được hạn định tối thiểu như thế làm sao các anh đương đầu nổi với hỏa lực hùng hậu của chúng tôi! Mỗi binh sĩ chúng tôi có hàng ngàn viên đạn, bắn các anh suốt ngày không hết. Thiếu đâu nhận tiếp tế đấy. Còn các anh thì chỉ có một dúm hỏa lực không đủ tự vệ, còn đâu mà đánh với đá. Chỉ nội việc cấp phát đạn dược cho các anh chiến đấu đủ thấy dã tâm của cấp chỉ huy các anh như thế nào rồi! Thôi, chi bằng các anh vứt mẹ súng rồi chuồng về miền Bắc để giữ mạng sống. Đó là hành động sáng suốt nhất… Hãy thực hiện đi…
Photo edit by Sơn râu
Lải nhải với giọng vô giáo dục, có lẽ do giới lãnh đạo miền Bắc nhồi sọ từ lâu, chúng không tranh luận mà chỉ nói hỗn với lời lẽ hạ cấp, bỗng dưng tôi có cảm tưởng: hắn quả là kẻ vai u thịt bắp, đã bị khích động bởi những lời tuyên truyền bịp bợm yêu nước thương nòi của guồng máy tuyên truyền miền Bắc! Có điều chắc chắn, lời nói của Trung Tá Thạch bấy giờ đã cho bọn chúng tối thiểu 5, 7 đứa ngồi quanh máy nghe và biết được tinh thần binh sĩ ta và ít ra, đó cũng là dịp Trung Tá Thạch phản tuyên truyền vậy.
Chiều lại, khoảng 17g00 mặt trời hướng Tây còn ở trên cao, ánh nắng vẫn còn gay gắt. Từ bên kia tiền đồn hướng Đông, vài binh sĩ Dù đang dẫn một quân nhân tiến qua bãi đáp, đưa về BCH/TĐ 2 Dù. Lúc đến gần, chúng tôi mới nhận ra đó là một binh sĩ Biệt Động Quân.
Sau khi trình diện BCH/TĐ 2 Dù, anh ta tìm nước tắm. Tôi gọi lại hỏi và được biết: anh ta là Hạ Sĩ Phạm-Văn-Đăng thuộc Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân do Thiếu Tá Vũ Đình Khang làm Tiểu Đoàn Trưởng. Đăng nhỏ người, khoảng 20, 21 tuổi, nói tiếng Huế, đầu đội nón sắt, chiếc áo giáp còn khoát trên mình. Áo quần, mặt mày, tay chân đều phủ tro than và bụi đất đen kịt như người Phi Châu.
Photo edit by Sơn râu
Đăng thuật lại:
– Sau ngày toàn thắng 19-2-71, Tiểu Đoàn 39 BĐQ của anh thu trên 500 súng đủ loại, phá nát các kho chứa hàng ven đường mòn Hồ Chí Minh, giết trọn 1 Tiểu Đoàn Việt cộng, xác nằm la liệt tại trận chiến.
Sau đó, bọn chúng phản công mãnh liệt. Đại Đội anh đã chiến đấu đến hết viên đạn cuối cùng mới rút đi. Khi rút, anh cùng chạy với 3 người bạn. Lạc đường, lạc hướng, anh có nghe tiếng « départ » của đại bác, anh định bụng: có lẽ vị trí pháo binh của ta đây rồi! Anh cùng bạn bè bò dần đến nơi xuất phát tiếng « départ ». Anh ngạc nhiên thấy súng ngụy trang, nhìn kỹ, tất cả pháo thủ đều đội nón cối và không một ai có áo giáp.
Anh hoảng hốt thốt lên: Việt cộng rồi bây ơi!
Anh khẽ bảo các bạn như thế. Rồi mỗi người một hướng tìm cách bò ra khỏi vị trí pháo địch. Anh và các bạn lạc nhau từ đấy.
Đêm xuống, anh tìm cây cao leo lên dựa lưng ngồi chờ sáng, không một hột cơm, không một giọt nước. Sáng hôm sau, anh nhắm hướng Nam bò lên sườn núi để cố gắng đi trên đỉnh hầu dễ quan sát.
Ngày đi và bò, đêm thì thức chờ sáng. Đói khát đe dọa triền miên, nhưng anh nhứt quyết thà chết chứ không để lọt vào tay địch.
Mãi đến nay, sau 3 ngày gian khổ cùng cực, anh lên được đỉnh núi cao ở hướng Đông Bắc căn cứ Hỏa Lực 30 và cách căn cứ khoảng 2 cây số. Đỉnh núi này trống trãi vì bị Pháo Đội tôi phát quang bằng đạn khói làm cháy rụi tất cả lau lách, cây cối. Tại đấy, anh nhìn rõ vị trí chúng tôi, có đồn lũy, đại bác… Anh mừng thầm, không đến nỗi bỏ xác ngoài rừng nữa.
Men theo triền núi, anh tiến dần xuống tiền đồn chúng tôi. Lúc đầu, binh sĩ Dù ngỡ anh là quân do thám của Việt cộng, bố trí sẵn sàng nổ súng. Nhưng khi anh càng tiến gần lại, binh sĩ Dù nhìn rõ được quân phục anh đang mang trên người, nhất là không thấy anh có súng, nên lên tiếng hỏi. Nhờ đó, một lần nữa anh thoát chết vì ngộ nhận!
Là Pháo binh, thật tâm tôi chỉ ước muốn Đăng cho tôi biết rõ về pháo binh địch hơn là các chi tiết khác. Những bực dọc vì phản pháo không có hiệu quả cứ ám ảnh tôi mãi… Tôi hỏi Đăng:
– Anh thấy đại bác Việt cộng có nhiều không? Nó để ở đâu bắn? Anh có nhớ hướng đặt súng của chúng không?
– Bọn chúng có 3 khẩu. Sau mỗi lần bắn chúng đẩy vào hầm. Hầm làm ở sườn bên kia núi, đục sâu vào núi và vì tôi ở xéo vị trí chúng nên không biết đường hầm vào bên trong có lối rẽ ngang dọc hay không? Nhưng khi nào bắn thì tôi thấy chúng đẩy ra. May cho tôi, khi thấy và biết chắc bọn chúng là Việt cộng, tôi liền nghĩ phải tìm chỗ nấp trước đã — và tôi lủi ngay vào bụi rậm gần đấy tức khắc. Nhờ đó mà tôi quan sát được hoạt động của chúng, và cũng nhờ đó mà tôi không bị bắt… Mấy thằng bạn tôi, có đứa bị nó bắt được sau đó nhưng anh em không khai gì cả nên chúng hoàn toàn không biết chỗ nấp của tôi.
– Bây giờ anh có thể định hướng chỗ bọn chúng đặt súng không?
– Dạ được! Hướng súng chúng đặt ở chỗ này… (vừa nói, Đăng vừa trỏ tay chỉ đúng vào hướng mà chúng tôi đã từng phản pháo, nhưng khoảng cách thì Đăng cũng chỉ ước lượng thôi).
Đăng tiếp:
– Nếu Đại Úy có Quan Sát Viên ở trên đỉnh núi kia (hướng Đông Bắc) thì có thể rõ chỗ đặt súng của chúng.
Tôi bảo nhân viên đưa bản đồ và hỏi Đăng. Đăng biết xử dụng, nhưng vị trí pháo địch do Đăng chỉ cũng không khác với tọa độ chúng tôi đã chấm trên xạ bảng để phản pháo.
Photo edit by Sơn râu
Sau khi nghỉ mệt, tôi cho Đăng một cặp đồ trận, 2 ống nước và xà phòng để « tẩy uế », và 1 phần lương khô. Trông Đăng ăn mà đâm ra thương hại. Những thèm khát vì thiếu ăn, giờ được thỏa mãn, Đăng hết lời cảm ơn tôi dù tôi không nhận và cho đó là bổn phận, là ràng buộc của tình đồng đội mà bất cứ quân nhân nào cũng phải có.
Trong lúc chờ trực thăng đưa Đăng về trình diện Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân tại Phú Lộc, Đăng đã tá túc tại vị trí chúng tôi cùng với các pháo thủ. Nhân cơ hội này, anh em chúng tôi được Đăng tường thuật lại những phút oai hùng nhất của Tiểu Đoàn 30 BĐQ, và cũng kinh khủng nhất trong những pha giằng co quyết tử để bảo vệ màu cờ binh chủng. Chính Đăng đã đạp trên xác địch thoát thân trong lúc đơn vị anh phân tán mỏng để khỏi bị tiêu diệt tập thể bằng hàng loạt, hàng loạt đợt tấn công biển người của Cộng quân. Dưới mắt anh, quả thật Cộng quân hy sinh nhân mạng một cách điên cuồng, khủng khiếp nhất — mà, chính anh, theo lời anh nói — chưa hề thấy trên hàng chục trận anh đã đụng độ tại quốc nội.
Với nụ cười kiêu hùng, anh trọ trẹ tiếng Huế với tôi:
– Thưa Đại Úy, em tiếc quá! Phải chi có trực thăng triệt thoái hết số vũ khí mà bọn em tịch thu hôm 17, 18 tháng 2 đem về Khe Sanh thì tốt biết mấy, đằng này vì trời mù — em nghe Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn em có xin trực thăng triệt thoái súng, nhưng mấy bay không đến được… Uổng quá!…
Rồi Đăng lập luận:
– Đành rằng vì không có máy bay bốc chiến lợi phẩm, bọn em cũng nhờ súng đạn của chúng đánh lại chúng. Nhưng dầu sao cũng tiếc một điều là, nếu có trực thăng đến đưa chiến lợi phẩm về hậu cứ, thì bọn em đương nhiên nhận thêm đạn dược trong những chuyến trực thăng đến với chúng em — và như thế, hẳn chúng em không đến nổi khan đạn… Nhưng dầu sao em vẫn thấy Tiểu Đoàn em thắng hẳn bọn chúng, nếu đếm thật kỹ số xác để tại trận của chúng… (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: TRONG NHỮNG NGÀY TỬ THỦ
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 19 Sep 2024
Google photo edit by Sơn râu
Trương Duy Hy
KỶ LUẬT CỦA TIỂU ĐOÀN 2 DÙ
Ngày 18-2-71, từ 9g00 chúng tôi đã xếp hàng khẩu 2 và móc dây vào súng. 9g30 Sky-Crane đến bốc về Đông Hà.
Ngay sau đó, Cộng quân pháo kích lai rai bằng đại bác, tuy vậy cũng chưa có quả nào rơi vào giữa căn cứ.
Thiếu Úy Thiện kiểm kê xong số đạn còn tồn kho, vào báo cáo:
– Trình Đại Bàng, tôi để ý từ hai hôm nay có mất một số đạn chiếu sáng, hôm qua 4 quả, hôm nay 7 quả nữa! Mới có hai ngày mà mất 11 quả! Tôi trình với Đại Bàng để Đại Bàng quyết định biện pháp canh gác… chứ nếu không thì e rằng với cái đà này đạn chiếu sáng thất thoát nữa.
– Lính nào ăn cắp anh có biết không?
– Tôi không biết, vừa rồi tôi có dò hỏi nhưng chịu!
– Có lẽ pháo thủ của mình ăn cắp (?) vì chỉ có pháo binh mới biết cách tháo đạn lấy dù chứ lính thường làm gì biết tháo?
– Chưa chắc đâu Đại Bàng ơi! Tiểu Đoàn 2 Dù cũng có một số binh sĩ trước kia ở Pháo Binh. Đại Bàng cho điều tra thử.
Tôi gọi TSI Bình, Thường Vụ Pháo Đội vào và chỉ thị điều tra vụ mất đạn.
Sau một hồi dò hỏi, TSI Bình vào cho tôi biết:
– Thưa Đại Úy, có 11 quả đạn chiếu sáng vứt ở mé Nam bãi đáp trực thăng, bên trong quả đạn đã rỗng ruột. Có dấu ai đã gỡ lấy dù ra rồi. Tôi có điều tra và lính mình thì không ai lấy cả vì biết Đại Úy cấm ngặt từ hồi ở Đồi 37 Đai Lộc nên không đứa nào dám liều mạng để bị đập.
Photo edit by Sơn râu
Tôi bực mình hết sức và đi ngay qua BCH/TĐ2 Dù trình với Trung Tá Thạch:
– Thưa Trung Tá, đáng lẽ tôi không muốn trình với Trung Tá, nhưng tôi sợ có thể xảy ra tai nạn, nên xin Trung Tá lưu ý các binh sĩ đừng tháo dù ở đạn chiếu sáng 155 ly.
– Sao anh biết lính tôi tháo dù?
– Thưa Trung Tá, hôm qua chúng tôi mất 4 quả, hôm nay mất 7 quả, chỉ có 2 ngày mà mất 11 quả! Bây giờ 11 cái vỏ còn vất ở mé đồi. Sự thật tôi chỉ sợ nguy hiểm thôi. Lỡ lúc tháo dù bị thương, bị chết… xin máy bay triệt thoái không phải là dễ.
– Cái này chắc lính pháo binh các anh gỡ chứ chẳng ai vào đó. Bọn lính tôi làm gì biết mà tháo dù.
– Tôi cũng nghĩ như Trung Tá, nhưng xin Trung Tá thử cho điều tra xem, có thể vài tên trước kia ở Pháo Binh chăng?
Trung Tá có vẻ bực mình lắm. Ông cho gọi Trung Úy Ban 2 đến và chỉ thị điều tra ngay.
Tôi trở về Đài Tác Xạ mà thật tâm chẳng yên lòng tí nào.
30 phút sau, một binh sĩ Dù đến gọi tôi qua gặp Trung Tá.
Đến nơi, tôi thấy một binh sĩ Dù (anh ta vẫn thường giữ nhiệm vụ đánh dấu bãi đáp và ra thủ hiệu cho các loại trực thăng lên xuống căn cứ) ngồi trên ghế — cạnh anh một binh sĩ khác đang dùng tondeuse ủi trọc cả đầu và ủi sạch luôn hai hàng lông mày của anh!…
Vừa gặp tôi, Trung Tá Thạch phì cười — vừa trỏ về phía anh trọc đầu bảo tôi:
– Thủ phạm! Đích thị hắn là thủ phạm đã tháo đạn chiếu sáng của anh để lấy dù! Tôi mới đập một trận nên thân và cho cạo trụi lũi hết! Dại quá là dại… Tháo một cây dù có lợi gì đâu… nhở nó nổ một phát thấy mẹ…! Nhưng nó khai ông TSI Thường Vụ của anh cho?
Tôi giận run cả người! TSI Bình của tôi lại cả gan đến thế ư? Tôi liền cho gọi TSI Bình qua đối chứng. TSI Bình quả quyết không cho, vì sợ tôi phạt, nhưng thấy anh ta hay giúp đỡ Pháo Đội trong những lần tiếp nhận tiếp tế nên có bảo rằng anh muốn lấy dù thì hãy vào xin Đại Úy tôi.
Một đằng vì tình cảm, một đằng vì nghĩ đến công giúp đỡ của chính mình nên đã tự hiểu ngầm với nhau… đưa đến kết quả tự tiện phá đạn lấy dù. Tuy nhiên, anh ta chỉ chịu lỗi tháo hai quả đạn thôi, số còn lại do người khác tháo chứ không phải anh.
Chỉ trong phút chốc, 6 cây dù được mang trả lại Pháo Đội! Với sự điều tra nhanh chóng của Ban 2 TĐ 2 Dù như thế, đã làm cho anh em chúng tôi khâm phục vô cùng.
Thấy các binh sĩ Dù bị Trung Tá phạt nặng quá, tôi đâm thương hại, ngỏ lời xin:
– Thưa Trung Tá, dầu sao việc đã dĩ lỡ, xin Trung Tá tha cho các anh ấy để hòa khí giữa các pháo thủ và binh sĩ của Trung Tá vui vẻ hơn. Các anh ấy đã nhận lỗi, Trung Tá la là đủ cho các anh ấy sợ rồi.
– Ồ! Nói như anh hỏng mất, kỷ luật là kỷ luật. Tiểu Đoàn tôi phạt như thế này là nhẹ nhất đấy, ở trỏng (ý Trung Tá muốn nói lúc ở trại Phi Long trong Sài Gòn) tôi còn đập bằng cây sắt chứ thế này thấm gì!
Sau đấy tôi vào hầm Đại Úy Hạnh… Lúc nào gặp Đại Úy cũng thấy Đại Úy bận rộn, hết bóc máy này liên lạc với các Đại Đội tiền đồn đến bóc máy kia liên lạc về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù. Dường như Đại Úy là tượng trưng cho một điều hợp hoạt động của toàn bộ Tiểu Đoàn 2 Dù.
Thấy tôi bước vào hầm, Đại Úy Hạnh trở vào chiếc ghế bên cạnh mời tôi ngồi và đưa thuốc cho tôi hút…
Lát sau gài ống liên hợp vào máy xong, Đại Úy quay sang tiếp tôi. Nhân tiện tôi ngỏ ý e ngại những việc không hay vừa xảy ra giữa các binh sĩ Dù và Pháo Đội tôi… từ việc không cho nước uống đến việc tháo gỡ đạn chiếu sáng…
– Anh đừng ngại gì cả. Tiểu Đoàn chúng tôi có truyền thống kỷ luật từ khuya rồi. Chúng nó biết lỗi khi phạm lỗi thì chịu kỷ luật, không kêu ca than oán gì cả. Cái hay là ở chỗ đó. Tôi sống với binh chủng này đã lâu, tôi biết, nó không dám hỗn với các anh đâu mà ngại.
– Thật ra, tôi chỉ e hòa khí giữa pháo thủ tôi và binh sĩ Dù bên này không còn đẹp nữa — Vì thấy Trung Tá làm dữ quá!
– Ông Già bên này nghiêm lắm… không có sao đâu.
Kế đó, Đại Úy hỏi thăm tin tức gia đình tôi, thuật lại việc làm bận rộn của Ban 3 Tiểu Đoàn 2 Dù từ lúc đặt chân đến căn cứ này… kể lại vài mẫu chuyện chiến đấu với những kinh nghiệm rút tỉa được tại đất Chùa Tháp. Thôi thì đủ chuyện hàn huyên… nhờ đó mà tôi hiểu được Đại Úy Hạnh nhiều hơn và tôi thầm cảm mến, khâm phục bởi các chiến tích mà Đại Úy đã gặt hái…
Rời Đại Úy Hạnh, tôi trở về Đài Tác Xạ vừa lúc Trung Úy Kim túc trực bên máy vô tuyến, xin bắn tối đa cho Tiểu Đoàn 39 Biệt Động Quân.
YỂM TRỢ CỨU NGUY TIỂU ĐOÀN 39 BIỆT ĐỘNG QUÂN
Photo edit by Sơn râu
Bấy giờ, tại mặt Đông Bắc, Tiểu Đoàn 39 BĐQ càng lúc càng chạm súng mạnh với địch. Pháo Đội tôi xử dụng hai khẩu 4 và 3 liên tục yểm trợ.
Song song với tác xạ này, 3 khẩu đại bác còn lại hướng thẳng về căn cứ Hỏa Lực 31 bắn suốt ngày. Pháo Đội C 3 Dù, vài khẩu hướng về tiền đồn Đông Nam yểm trợ cho các Đại Đội của Tiểu Đoàn 2 Dù, số còn lại cũng dốc hẳn cho căn cứ Hỏa Lực 31. Có thể nói, hôm nay số đạn tiêu thụ cao nhất — mặc dầu với 5 khẩu, chúng tôi đã bắn từ 6g30 đến 19g00. 1000 quả đạn kịp thời gởi đến bổ sung với một móc hậu nước.
Chưa bao giờ Pháo Đội chúng tôi vất vả bằng ngày hôm nay! Trời lại không trăng, chúng tôi vừa tác xạ, vừa dọn bãi đáp, vác đạn và xếp nạp vào hầm đến 21g00 mới xong.
Ngày 19-2-71, vòm trời Hạ Lào vẫn trong sáng, nhưng tại Khe Sanh thì sa mù xuống thấp, dày đặc, đứng cách nhau 5 thước không nhìn thấy nhau. Các phi vụ tiếp tế đều bị hủy bỏ. Chỉ có vài trực thăng và phản lực jet hoạt động rời rạc yểm trợ cho các cánh quân bạn xa căn cứ chúng tôi. Lúc bấy giờ Pháo Đội chúng tôi mới thấy giá trị lời tiên đoán thời tiết do Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng báo động hôm trước.
Nhờ đã tích trữ sẵn nước, chúng tôi không phải vất vả xuôi ngược tìm nước! Đồng thời, mức độ tác xạ không thể vì thiếu tiếp tế mà đình chỉ.
Tờ mờ sáng, chúng tôi đã tác xạ yểm trợ cho Tiểu Đoàn 39 BĐQ mãi đến ngày 20-2-71, không còn nhận điện văn xin yểm trợ của Tiền Sát Viên của Tiểu Đoàn này nữa, chúng tôi mới chấm dứt nhiệm vụ.
Tin tức Tiểu Đoàn 39 BĐQ anh dũng chiến đấu với địch đến viên đạn cuối cùng rồi phân tán mỏng chứ không một ai đầu hàng địch, phút chốc đã bay khắp nơi.
Vì không có nhiệm vụ trực tiếp yểm trợ cho Tiểu Đoàn này nên chúng tôi không rõ tình hình chi tiết — ngoài hai hôm nay, đặc biệt Pháo Đội tôi có tác xạ tăng cường cho Tiểu Đoàn 64 PB nên qua máy PCR-25 của Trung Úy Kim, chúng tôi được biết: về sau, một số binh sĩ Tiểu Đoàn 39 BĐQ nhập chung với Tiểu Đoàn 21 BĐQ do Thiếu Tá Hiệp chỉ huy cách đó không xa.
Sáng ngày 20-2-71, một trực thăng bị phòng không địch bắn trúng máy, sà thấp… lướt đến bãi đáp. Nhân viên phi hành thoát vội ra ngoài, không ai bị thương tích.
Chiều lại, thêm một trực thăng khác ngộ nạn, cố gắng đáp xuống căn cứ chúng tôi. Một nhân viên phi hành bị thương nhẹ.
Hầu hết các nhân viên phi hành đều là quân nhân Hoa Kỳ, họ được di tản về Khe Sanh không quá 10 phút sau khi đáp xuống căn cứ chúng tôi.
Hôm nay chúng tôi tiếp nhận trên 1000 quả đạn, ngay lúc mực độ đạn còn lại của Pháo Đội xuống dưới mức an toàn tối thiểu. Chúng tôi còn được nhận thêm nhiều đầu nổ cao cần thiết dùng yểm trợ cho những đơn vị bạn bị tràn ngập — nếu có lời xin, cũng như xử dụng cho những mục tiêu đòi hỏi đạn nổ cao.
Đêm đến, bắt đầu từ 19g00 hỏa châu được thắp sáng cả bầu trời. Bốn hỏa châu liên tục… liên tục… soi rõ chiến trường hướng Bắc, nơi Tiểu Đoàn 21 BĐQ đang cầm cự với địch.
Rạng ngày 21-1-71, các tiền đồn căn cứ Hỏa Lực 31 đều bị địch quấy phá. Sĩ quan liên lạc của Đại Đội 330 liên tiếp gởi điện văn xin tác xạ nới rộng vòng đai an ninh cho các tiền đồn này. Sau đó, 330 báo về cho chúng tôi biết nhờ vào các tác xạ của chúng tôi, lại thêm một kho đạn địch phát nổ ở Tây Bắc căn cứ.
Suốt ngày, Đài Tác Xạ làm việc không nghỉ. Hết bắn cho căn cứ Hỏa Lực 31 đến tác xạ cho Tiểu Đoàn 21 BĐQ và tiền đồn của Tiểu Đoàn 2 Dù. Tại khẩu, nhân viên vất vả không kém. Nhiều khi phải quay càng súng để hỏa lực không tập trung, nâng cao hiệu quả.
Cùng lúc, tại căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi, Cộng quân bắt đầu gia tăng pháo kích bằng súng cối 82 ly, tăng cường thêm cho các khẩu đại bác của chúng — Có lẽ vì hiệu quả đại bác của chúng hầu như vô hiệu đối với vị trí “thuận lợi” của chúng tôi.
Ở bãi đáp, mấy chiếc trực thăng ngộ nạn được triệt thoái về Khe Sanh để lại một khoảng đất rộng rãi, sẵn sàng đón nhận tất cả tiếp liệu phẩm tái tiếp tế trong kỳ tới.
Photo edit by Sơn râu
Khi trời nhá nhem tối, đang lúc nhân viên Khẩu Đội tháo gỡ các kiện đạn, nạp, mang di chuyển vào kho, một trực thăng từ xa lảo đảo lao đến và may mắn, vừa tới bãi đáp thì cánh quạt ngưng quay… trên cao khoảng hơn 1 thước, trực thăng rơi xuống, lắc lư trên đất qua hai càng mỏng manh dọc theo thân trực thăng, rồi nằm yên bất động! Phi hành đoàn thoát vội ra hai bên hông, khom người chạy nhanh tìm chỗ nấp, làm cho nhân viên Pháo Đội một phen hoảng hốt nhảy xuống các hầm ven bãi đáp.
Ngày 22-2-71, khoảng 9g00 hơn, chúng tôi bó gọn khẩu 5 triệt thoái về Đông Hà và tiếp nhận khẩu 2 đã sửa chữa xong đặt vào vị trí cũ.
Hôm nay, Cộng quân lai rai pháo kích suốt buổi sáng, nhưng vẫn chưa có quả đạn nào lọt vào giữa vị trí.
Tiếng « départ » đại bác 105 ly của địch nghe rõ mồn một ở hướng Bắc căn cứ, khoảng cách ước lượng từ 3500 đến 4000 thước, khuất sau hai ngọn núi thấp — mà từ căn cứ Hỏa Lực 30 chỉ nhìn thấy đỉnh thôi. Có lẽ chúng đặt súng bên kia triền núi thứ hai (?). Pháo Đội chúng tôi và PĐC 3 Dù liên tục phản pháo, song chẳng có hiệu quả gì.
Tôi bảo Kim liên lạc với Tiền Sát Viên Tiểu Đoàn 21 BĐQ hỏi xem bên đó có quan sát được hướng « départ » của đại bác địch không?
Kim dùng vô tuyến gọi và được bên kia đáp:
– Chúng tôi cũng nghe tiếng « départ » gần nhưng không thấy dấu hiệu mục tiêu, vì ở đây bị cây rừng che lấp…
Việc xác nhận vị trí của địch thật là khó khăn. Vả lại Tiền Sát Viên của Tiểu Đoàn 21 BĐQ lại ở dưới hố, tiếng vang của núi rừng không thể cho anh ta một suy đoán chắn chắn về hướng và tầm xa chính xác. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn nhận được mục tiêu với sự cố gắng ước lượng của Tiền Sát Viên này gởi về. Phối hợp với nhận xét của tôi và Trí, chúng tôi tính yếu tố phản pháo ngay.
Kết quả, chúng tôi vẫn không làm câm họng được đại bác địch. Tôi có cảm tưởng như thằng mù quờ cây gậy đập lưng kẻ thù. Nhưng nghĩ cho cùng có đập như vậy còn hơn không, và ít ra, cũng có tiếng gọi là đáp lễ. (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: ĐỐI THOẠI VỚI CỘNG QUÂN VÀ KHẢ NĂNG PHÁO BINH ĐỊCH
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Hai tay chắp sau mông, bác sĩ Hai đếm bước trên gạch, giữa hai hàng sập trong một “phòng chung” của dưỡng đường Chợ Rẫy.
Bác sĩ lớn người, mập và trắng. Hai cánh tay to, nặng những thịt bệu, thò ra khỏi chiếc “bờ lu” ngắn tay, chừng như mỏi vì đặt mãi sau lưng, được đem ra phía trước, khoanh lại trên ngực.
Người bịnh ở phòng thì cứ ăn cơm, coi như là không có bác sĩ nơi đó, vì họ đã quen với sự đi dạo của bác sĩ giờ nầy trong phòng, y như là ngày hôm qua, hôm kia, những hôm trước nữa. Có một người bịnh mới vô, ái ngại, lén nhìn bác sĩ, rồi không thấy ông ta rầy la gì ai, lại an lòng cúi xuống ăn tiếp.
Bác sĩ không có phận sự xem xét bữa ăn của bịnh nhơn, cũng không có tánh tò mò muốn quan sát cảnh thân mật của người nghèo. Trong dưỡng đường Chợ Rẫy có tục lệ thăm bịnh sớm lắm – sớm đến nỗi muốn cho “đâu đó xong xuôi đàng hoàng” những người quét dọn, mới năm giờ sáng đã lôi tốc người bịnh dậy để vén mùng, lau gạch, đổ ống phóng và những “thầy khán hộ học trò” mới năm giờ rưỡi sáng đã lo đi lấy nhiệt độ, gây nên sự chộn rộn, phá giấc ngủ đang ngon của người bịnh mới lành hay của người bịnh nặng trằn trọc suốt đêm, mới chợp mắt được một đôi giờ – Vì vậy bác sĩ được rảnh rất lâu trước giờ tan buổi làm, và không biết làm gì trong lòng giấy, nên vào phòng bịnh giữa những bữa ăn – cũng lại rất sớm, dầu người bịnh chưa nghe đói – để cho người giúp việc “xong mọi việc” trước khi hết giờ làm.
Bác sĩ không thích đọc sách, cũng không có một đời sống bên trong phong phú. Ông tìm đến chỗ đông người đặng trốn sự trống rỗng và, không cần nói chuyện với họ, hay nhìn họ, nghe tiếng chén đũa khua, nghe họ râm ri là đủ cho bác sĩ thấy đỡ chán hơn là ở nơi văn phòng tịch mịch của ông.
Người bịnh thì ăn cơm ngay trên sập của mình. Phần đông ăn riêng. Có vài người chung đậu đồ ăn lại. Đó là những người thảo ăn cứ mời mọc nhau mãi như là đãi khách. Có người đem phần ăn lại ngồi chung một sập với người khác, mà vẫn ăn riêng. Đó là những người “thống nhất mà phân trị” vậy.
Không hiểu sao hôm đó bác sĩ lại dừng bước trước sạp của hai người “phân trị”. Có phải chăng vì hai chiếc áo màu dà của hai anh “cu li cao su” nầy đã buông một tiếng đàn lạc điệu vào bản nhạc y phục đen tối của phòng thi nầy? Không biết. Nhưng một cảnh tượng khiến bác sĩ không tiến bước được nữa.
Một anh “cu li” thừa lúc bạn đồng sàn ngó lơ, gắp bớt giá xào tóp mỡ của bạn bỏ vào dĩa mình. Nửa phút sau đó, nạn nhơn thấy bạn nhìn bác sĩ, cũng lại gắp giá xào tóp mỡ của bạn, rồi chôn dưới cơm. Người sau nầy có lẽ cũng tham ăn, chớ không phải trả miếng – nói cho đúng là lấy lại miếng – vì anh ta thật không hay hành vi của bạn hồi nãy.
Bác sĩ bật cười. Bịnh nhơn ngơ ngác buông đũa nhìn. Bác sĩ nhớ lại một chuyện đời xưa nói anh em nhà kia đêm đến lén lén ra đồng vác lúa cho nhau. Bác sĩ ngạc nhiên không hiểu sao người mình tham ăn đến thế và tham ăn cả những món không ngon đến thế. Ông nhớ lại ở làng, hễ nhà ai có động dao, động thớt là tức thì có người bu đến, cà rà, tìm công việc để làm, nói là giúp, nhưng thâm tâm họ quyết chờ những miếng thịt của con heo người ta đang thọc huyết bên hè.
Bác sĩ trề môi, khinh bỉ hai người bịnh, hay bọn nhà quê mà bác sĩ nhớ đến? Rồi không suy nghĩ thêm nữa cho niệt trí, bác sĩ lại đếm bước trên gạch.
Câu chuyện trên đây đã xảy ra mười lăm năm nay rồi. Nhưng cũng cần nhắc lại.
Bác sĩ đương ở nơi đâu, tại nhà ai, nhà ra sao, ông không rõ. Ông chỉ biết mình đang đứng trước chảo cơn chiên. Ông vừa với tay lấy chén để xúc cơm thì một thằng nào đâu không biết, xờn xợt chạy đến đá đổ chảo cơm. Sự tức giậu toan bùng ra bằng ít lắm là một cái bạt tai thì bác sĩ giựt mình thức dậy.
Bác sĩ còn đang tiếc bữa ăn hụt, mặc dầu biết rằng đó chỉ là bữa ăn trong mơ, thì bỗng nghe vang dậy tiếng chào cờ đằng trụ sở bên cạnh nhà ông ở đậu:
… Non sông ơi, cờ theo gió bay càng cao…
Cùng với nắng sớm, tiếng hát reo tươi trên lá xanh, khiến bác sĩ nghe thèn thẹn, nhận thấy tật ngủ trễ của mình có cái gì chọi với đám người trẻ không yên kia, đã dậy cùng với mặt trời. Nhưng đó chỉ là một ý nghĩ lẩn lút thôi. Vụ hụt ăn lại trở về ám ảnh bác sĩ. Ông nhớ thuở nhỏ thường chiêm bao thấy ăn kẹo, bánh trái. Nhưng không lần nào được ăn thiệt. Luôn luôn có một thằng, một con gì, hay lột tiếng động đến rất đúng cái giây phút sắp đưa đồ ăn vào miệng như là có ai quyết tâm cản trở ông ăn trong mơ.
Mấy bà cụ quả quyết rằng “ai” đó là ông thần hộ mạng của mỗi người. Quỷ sứ nó dụ mình ăn. Ăn là chịu theo nó. Bác sĩ bực tức cằn nhằn thầm:
– Mà ai cần hộ mạng chớ. Chết bỏ, miễn là được ăn thôi. Ăn giả, phải. Nhưng cần gì giả hay thiệt. Mình có đói đâu mà cần no. Mình chỉ thèm và cần thỏa cái thèm.
Phải bác sĩ thèm, thèm thịt, hay ít ra cũng món gì chiên xào bằng mỡ, hay tệ lắm là mỡ nước chan cơm ăn, chắc cũng ngon trong lúc thèm nầy.
Một tháng nay, bác sĩ nghe lời “mấy đứa nhỏ” con ông, tản cư vào vùng quê. Trong buổi hỗn độn ban đầu, việc tiếp tế lương thực cho dân chúng thật là bết lết. Ai có cái gì cũng muốn giấu để ăn, vì không biết thời cuộc kéo dài đến bao giờ. Và không ai dám đi đâu để mua cái gì về bán hết.
Sau một bữa ăn kia, trong tuần lễ đầu đi tản cư, bác sĩ nghe thiêu thiếu cái gì. À, một món tráng miệng. Ban đầu ông tính dẹp cái thói quen phiền phức ở thành ấy lại (vì ông cũng biết tự thích nghi với tình thế chớ không quá câu nệ lắm). Nhưng nỗi nhớ mọi người “la sét” lần lần biến thành sự thèm cái gì ngọt, cục đường thẻ cũng được, thứ đường đỏ sẫm lộn rác và bụi mà trước kia không bao giờ ông mó đến. Cái thèm gào hăng quá, bác sĩ thấy nó là sự đòi hỏi về sanh lý hơn là sự nhắc nhở của thói quen. Bác sĩ lẩn thẩn tưởng tượng những biến thể, những trao đổi, những điều hòa bí mật của sanh lý trong các bộ máy của thân ông; ông cử động, máy phải quay; ông muốn quay, nó cần phải có chất đốt; chất đốt đó là đường. Rồi ông đâm hoảng. Sau những suy tính của một nhà khoa học, sự thèm ngọt đã biến thành nỗi lo âu về thiếu chất cần cho cơ thể. Và con người rất thương thân thể của mình nầy bươn bả đi kiếm đường.
Lạ, sao cái món ăn rất thường ấy ở nhà, giờ nào cũng có, tiệm nào cũng bán. Thường quá rồi, có khi người ta quên rằng có nó trong đời nầy. Và không ai gọi nó là món ăn bao giờ. Còn bây giờ ở đây sao lục lạo mãi không ra. Giá nào ông cũng dám mua kia mà. Bác sĩ Hai tính lầm thầm:
– Nếu mua được thứ bánh ít (ích) bột khoai báng, lền xơ khoai, mình cũng sướng chán.
Rồi ông đâm tiếc những trái chuối nẫu (thúi, nát) ruột mà trước kia ông chê. “Chuối? ờ, cái gì cũng được. Miễn ngọt thì thôi chớ. Người ta đồn bên xóm Bà Miệng, mía nhiều, mình qua đó thử coi”.
Bác sĩ Hai đạp rạp rạ khô, đi dưới nắng tháng chạp. Gió đồng dán vào lưng ông vạt sau của chiếc áo bà ba vải đen mà ông phải mặc như những người khác. Vải gặp mồ hôi dính sát vào da. Trong ánh nắng rung rinh, hơi trên lớp vải bốc lên nghi ngút. Bác sĩ bây giờ tóc đã hoa râm, bụng lớn lên và phệ ra. Ông rất phiền phải lặn lội cực khổ vì một món không ra gì. Rồi ông oán “sấp nhỏ” đã xui dại ông. Nào ông có tính tản cư làm chi cho khổ thân. Nhưng “sấp nhỏ” nó cứ nhát: “Tụi con, ba đứa đều làm việc hết. Ba không đi nó sẽ bắn Ba, bỏ tù Ba”. Thế là ông hoảng, gởi bà và đứa con nhỏ về Sàigòn, còn mình thì chạy đến làng nầy, và bây giờ phải khổ đủ thứ!
Khi bác sĩ đi ngang qua nhà kia, ông nghe tiếng một người trai trẻ hỏi lớn:
– Mầy làm gì mà hè lụi trong buồng vậy a Lịch?
– Tao làm “công tác đào đường”.
– Thằng nói lạ, đào đường gì mà đào trong buồng?
Lạ thật, bác sĩ đứng lại chờ nghe tiếp. Một phút sau nghe tiếng người trai trẻ hồi nãy rùm lên:
– Tụi bây ơi, vô mà coi. Nó đào đường thiệt chớ. Mà đều thứ đường khạp làm ở Biên Hòa.
Bác sĩ quên lễ độ, cười lớn lên với những người trai trẻ trong nhà. Nhờ trận cười ấy mà bác sĩ làm quen được với họ và khỏi phải đi xa. Và từ đó biết chỗ mua đường.
“Ai mà cần ai hộ mạng chớ”, bác sĩ tức tối cằn nhằn với mình; bác sĩ đã bị thịt, bị mỡ ám ảnh. Từ ngày bị cướp ở làng bên cạnh, bác sĩ hết tiền, trôi dạt qua đây, nhờ một người bà con cho mượn chút ít, bác sĩ phải ăn hà tiện cho đỡ tốn. Không đến đỗi chết đói, nhưng cũng không no lắm. Nhứt là mấy ngày sau đây số tiền đã cạn mà người bà con lại bị Tây bắt mất. Không biết ai đó ở đâu, và hồi nào vì sự tình cờ hay nhờ tìm tòi, mà đã phát minh ra rằng ăn cơn với mắm ruốc cùng đường ngon tuyệt. Rồi như một dây thuốc pháo bị cháy lan, nghệ thuật ăn của phái “mắm ruốc đương” được phổ cập khắp các làng. Vả không hoan nghinh mắm ruốc cũng không có gì khác mà ăn, vì người nào cũng hết tiền, còn thịt heo thì mắc như vàng.
Một và cơm, một quệt mắm, một miếng đường tán nhỏ, cái thành phần kỳ dị của những miếng ăn ấy đối với bác sĩ chỉ “ngon tuyệt” bữa đầu thôi. Mấy bữa sau ông nghe xót ruột như đã uống át-pi-rin không ngâm tan trong nước. Ông thề nguyền khi trở về, không bao giờ dám chê ngán những đĩa ra-gu, những miếng sườn ram nữa.
Bác sĩ triết lý:
– Thèm ngọt không nằm chiêm bao. Thèm thịt thì nằm. Vậy cơ thể đòi thịt hơn là đòi đường.
Ông nhớ lại cái chết tội nghiệp trong nhà thương của những người bịnh thương hàn mới khỏi. Nhiều người rất biết nỗi nguy nếu ăn khi mới vừa khỏi, nhưng vẫn ăn bừa chỉ vì thèm, đói quá. Ăn rồi lăn đùng ra khóc không phải vì đau đớn, mà vì hối hận, hoảng sợ cái chết đến nơi trong vài giờ.
“Thịt kho tàu, khổ qua hầm, cũng ngon chớ – không hiểu vì một ý bắc cầu nào mà bác sĩ nhảy từ người bịnh thương hàn chết oan đến vụ thịt kho – mà sao cho bằng “cay xôi cấy”, “hà khàu”, “phù dùn hại”. Cá hấp tương với đồ Tàu cũng ngon. Nữa mình về, mình sẽ đi ăn hai ngày đồ Tây, hai ngày đồ Tàu, ba bốn ngày mì chả giò, hủ tiếu xào, xíu mại, bánh bao”.
Bác sĩ thở dài, rầu lòng nhớ lại ý muốn trốn về thành mà không được của ông. Chung quanh ông toàn là thanh niên vác tầm vông canh gác. Một con chó cũng không lọt qua. Còn cái làng gì ở biên giới thành ấy, nghe họ nói gác dày mịch như màn sắt mà ghê. “Nghĩ mà tiếc của cải mấy mươi năm gây dựng, không biết nữa còn chút ít gì không. Còn ba đứa lớn, thằng Minh, thằng Công, con Hà, chúng nó sẽ học dở dang, thua sút đám con ông huyện Cần”.
Bỗng bác sĩ Hai ngồi tốc dậy sần sượng với ai:
– Mà ai cầu ai hộ mạng chớ?
Bác sĩ lững thững lại tiệm cà phê. Tiệm cà phê đây là một chòi tranh mà chủ nhà, một dân quê có óc con buôn nhìn thấy bao nhiêu người lạ mặt tựu về, người nào cũng ghiền cà phê, bèn chụp ngay cơ hội tốt, mở tiệm. Mặc dầu vợt làm bằng vải áo cũ, và cà phê có mùi cơm cháy, khách vẫn đông, nhứt là những ông đằng đình, cái đình làng dùng làm trụ sở.
– Bà chiên gì mà thơm dữ vậy? Bác sĩ hỏi chủ quán.
– Tôi ram thịt để bán.
– Thịt ram ăn với gì?
– Cuốn bánh tráng.
– Trời! sớm mai, ai mà ăn bánh tráng cuốn thịt ram.
Nói vậy nhưng bác sĩ vẫn hỉnh mũi hít mùi thịt chiên. Ông cố hít nhẹ cho bà chủ quán không nghe thấy và hít dài để tận hưởng.
Bác sĩ mò tay vào túi, rồi nét mặt ông xịu xuống, không phải vì thất vọng, mà vì rầu. Ông men lại chảo thịt chiên. Đây là một mớ thịt phay, mỡ chiếm tám phần mười trong mỗi lát thịt. Thịt đã ram vàng, mỡ thịt thắng ra lênh láng.
– Tôi nghe như là thịt hôi, phải không bà?
– Hôi gì mà hôi. Thịt chiều hôm qua đó.
– Tức quá! Tôi thử coi.
Nói đoạn bác sĩ lấy đũa gắp một miếng, đưa lên mũi. Ông làm bộ như chưa đánh hơi ra mùi thật của nó, thổi sơ vào miếng thịt rồi cắn một miếng.
Mùi thịt ram mơn trớn mũi ông Hai, chọc những hạch nước miếng hai bên hàm dưới ông. Và ông lắng nghe nơi bao tử, một thứ nước gì tiết ra.
– Hay là mình ăn chịu? Không được. Họ không tín đám người lạ mặt cứ lưu động mãi nầy. Không lẽ ăn bừa rồi tới đâu sẽ hay. Chậc! Cũng không còn cái đồng hồ để cầm đỡ. Bây giờ làm thế nào ăn được món thịt ram cuốn bánh tráng? Thật là cả một bài toán đố khó giải lý.
Chợt có người bước vào, bác sĩ Hai rất mừng khi nhận thấy người còn trẻ ấy là người quen cũ ở thành.
– Anh giúp ban tuyên truyền?
– Thưa phải. Hổm nay hai anh Minh, Công và chị Hà có về thăm bác không?
– Sấp nhỏ nó đi đâu mất, tôi lo quá.
Dạ thưa còn bác có giúp đâu chưa?
– Ôi tôi già rồi…
Người con trai tên là Tương nầy kêu bánh tráng cuốn thịt ram.
– Dạ thưa bác, món nầy, hồi ở nhà có mấy thuở mình ăn, nhứt là sớm mai. Mà sao giờ ăn ngon lạ.
Bác sĩ Hai mỉm cười một cách cố thản nhiên. Ông theo dõi từng cử chỉ của Tương. Hai hàm răng bén của người trẻ cắn đứt ngon cuốn thịt, đôi môi khép lại, che giấu cái bã đồ ăn đang nhai.
– Cháu vô phép quá. Xin lỗi, bác đã điểm tâm rồi?
Bác sĩ còn một chỗ nước miếng trong họng, vội nuốt để trả lời. Nhưng bác sĩ giựt mình e thẹn nghe tiếng nuốt nước miếng của mình lớn quá. Lại mớ nước miếng nữa dồn đến. Nuốt đánh ực nữa thì sợ Tương nó nghe biết, nó cười thầm. Còn để vậy thì nghẹt họng, đừng nói chi trả lời, nội cái việc thở mà còn không thông, bác sĩ bưng tách cà phê lên, làm bộ uống nốt những giọt đã cạn tử hồi nào, nuốt trôi được mớ nước miếng và rất bằng lòng thấy sao mình lanh trí được như vậy.
Thấy rằng nếu làm bộ chê món thịt cuốn thì thất sách, bác sĩ ấp úng:
– Tôi vừa ăn xong cũng món độc nhứt đó.
Nhưng bác sĩ hối bận ngay. Ờ, mình đã ăn rồi thì còn ma nào nó mời nữa.
Tương không mắc cỡ miệng, mặc dầu bác sĩ nhìn anh trừng trừng. Sau những cái nuốt, anh thè lưỡi biếm môi mỡ và đánh lưỡi một cái “chách” lên đốc giọng. Bỗng một miếng mỡ rơi xuống đất. Bác sĩ nhìn theo vừa tiếc hùi hụi thì một con chó vện chực sẵn đâu dưới ấy hồi nào không biết, táp phập ngay lấy.
Nhìn sự chụp giựt của con chó đói nhà quê, nhìn lại mình, một niềm tủi nhục mênh mông bỗng dâng trào lên, vặn thắt trái tim không bao giờ biết thổn thức của bác sĩ lại.
Bác sĩ cúi gầm mặt xuống chiếc bàn cũ. Trong giây phút những hình ảnh xưa ở đâu hiện về, chớp nhoáng; hai người bịnh nghèo ăn cắp giá xào lẫn nhau, mười lăm năm về trước, những người nhà quê bu quanh một cái hòm, ăn nhậu; những miếng thịt heo đút lò cả chồng mỡ, trong đình làng…
Bị kích thích mạnh, óc bác sĩ Hai làm việc chóng và nhiều hơn bao giờ hết.
– Tại sao họ tham ăn, tại sao mình thèm ăn quá như vậy?
Câu trả lời đến ngay trong trí bác sĩ.
Sự thật nảy ra như tia lửa trong một buổi sáng thèm thịt làm ông ta lảo đảo. Ông nghe cả một sự sụp đổ trong người ông. Sự sụp đổ của nhơn sinh quan sẵn có của ông.
Sự thật đầu tiên, đến tóc bạc hoa râm ông mới tìm thấy.
Rồi ba chơn, bốn cẳng, ông chạy ù về nhà, miệng lẩm bẩm:
– Thôi không thèm trốn về nữa. Mình phải đi xin một việc làm mới được. Phải mà, người mình không tham ăn sao được!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.