Đèn Cần Giờ

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Xới Đất xuất bản 1968

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

Google photo

Phần 7 – Những khối tình con của học sanh

Đạt gầm đầu trên tờ giấy có vẽ những hình vuông, hình tròn về những bài toán hình học anh đang làm.

Bỗng sau lưng anh, anh nghe ai ngâm “

Trăm năm tính cuộc vuông tròn…

Đạt giựt mình, ngước lên nhưng không ngó lại.

Người ngâm Kiều cười ha hả rồi nói:

– Anh giựt mình mà vẫn ngồi trơ, nghĩa là anh hết hồn về chuyện khác, chớ không phải vì có tiếng thình lình.

Giọng nói là giọng của người lớn tuổi. Mặc dầu thế, Đạt cũng đùa:

– Trinh thám lắm, nhưng tôi hết hồn vì chuyện gì?

– Vì câu Kiều tôi ngâm. Câu ấy để trêu những anh học sanh như anh, ngày nầy qua tháng khác cứ học mãi những hình vuông hình tròn. Có gì đâu anh phải sợ. Nhưng anh sợ vì nó nói đúng tim đen anh trong giờ phút nầy. Tôi đoán chắc là anh đang lo ra. Anh ngó hình mà chỉ thấy con Chi.

Đạt tái mặt, rồi bẽn lẽn cắn móng tay, không nói gì nữa, cũng chẳng dám day lại dòm người đối thoại với anh.

Người nầy sợ anh mắc cỡ tội nghiệp, cười một xâu dài rất dòn rồi kể:

– Hôm qua tôi lại đằng chị tôi. Thằng cháu nó mượn thầy về dạy thêm toán. Thấy hai thầy trò đang làm bài toán số học viết lên bảng đen đầy những chữ A chữ B chữ C. Chị tôi hỏi ông thầy : “Ông à, con tôi nó mười tám tuổi, học trên mười năm rồi, sao cứ còn phải học A, B, C hoài vậy ?”.

Đạt và người nọ đồng cười xòa.

Bấy giờ người ngâm Kiều mới bước hẳn vào buồng nhỏ của Đạt. Đó là thầy bảy Tân, chủ nhà nơi Đạt ăn cơm tháng đi học.

Thầy bảy Tân đặt nhẹ tay lên vai Đạt mà rằng:

– Anh đừng sợ gì hết. Con Chi là cháu tôi, phải. Nhưng anh có tội gì đâu. Tôi chỉ khuyên anh yêu nó vừa vừa thôi. Yêu chơi chơi vậy thôi, chớ đừng yêu thiệt tình…

Đạt ngạc nhiên đến cực điểm và tự hỏi: “Sao thầy ta lại xúi dại thế, bảo đừng yêu thiệt”. Như hiểu ý người bạn trẻ, Tân nói:

– Anh ngạc nhiên vì anh không hiểu rõ hai tiếng “chơi chơi” của tôi. Nầy, để tôi kể anh nghe một câu chuyện tình của học sinh, một cậu học sinh mười chín như anh vậy.

Tân kéo ghế ngồi sát Đạt, vói lấy một quyển sách đậy những hình vuông, hình tròn lại, rồi bắt đầu:

“Một buổi chiều xuân êm đềm ấm áp. Trên phố hàng Bồ, cậu ấm Nguyễn Khắc Hiếu vừa đi vừa ngước mặt lên nhìn trời trong, miệng ngâm nga nho nhỏ: “Hoa cù hồng phấn nữ, tranh kháng lục y lang”.

Đó là hai câu thơ trong quyển Ấu học ngụ ngôn thi mà cậu ấm đã học thuộc lòng cách đây mười bốn năm, năm cậu lên năm tuổi.

Người thanh niên ấy với bản chất đa cảm đa tình lại bị giáo dục hơi lơi (ai đời con nít lên năm lại bắt học thơ tình) nên trước cái xuân tạo vật, bất giác đọc lên bài thơ năm cũ, vì lòng đang rạo rực yêu đương.

Đời đẹp lắm, chiều hôm ấy. Trời, mây, chim chóc, cây cỏ, con người, phố xá, xe cộ, cái gì cũng dễ yêu hết.

Từ phố Gia Ngư nơi mà cậu ấm theo học trường qui thức, về nhà trọ ở phố hàng Nón, mỗi ngày cậu ấm qua đây bốn lượt, thế mà mãi đến chiều hôm nay cậu ta mới thấy vẻ đẹp con đường.

Đây, Hà-Nội Đinh-Mùi 1, một Hà-Nội mà gương mặt còn nặng vẻ Thăng-Long cũ với những ngôi nhà mái cong cong, cất không ngay hàng thẳng lối. Đây đó vài tấm biển hàng treo đứng như bên Tàu.

Hà- Nội ấy nhắc nhở đến rất nhiều cái “Thành Tây” năm cũ với những Bích Câu Thôn, những cầu con trên sông Tô-Lịch có người bán tranh tiên.

Đi trên con đường hàng Bồ, nhìn những song sa trên gác con con, cậu ấm mơ đến những cuộc thả lá của tiên để mời tao nhơn mặc khách đi uống rượu làm thơ.

Lá có rơi thật đó, nhưng xem xét kỹ mãi mà không thấy đề thơ. Mà ồ kia, có phải là tiên nữ chăng, một người con gái yếm trắng ngồi trước một căn nhà bên dãy phố lẻ.

Cô gái ngồi trước hiệu tạp hóa, bên cạnh một cái quả sơn son đựng đầy dẫy miếng song thần 2. Sau lưng cô là những bó hương xanh đỏ, những gói chè giấy vàng vàng.

Bấy giờ một chiếc ô-tô cao cẳng, ốm tong teo hổn hển chạy đến trong một vầng bụi hồng, còi bóp te te liên hồi. Cậu ấm hoảng hốt nhảy trái lên vỉa hè trước hàng tạp hóa, đánh rơi xuống đường hết một chiếc giày Gia Định.

Cô hàng tạp hóa trông thấy vẻ sợ sệt của người con trai, bèn nở một nụ cười rực rỡ bằng cả một mùa xuân năm đó.

Cậu ấm quên lượm giày, đứng trân trân mà nhìn những chiếc răng huyền bóng như hạt mãng cầu.

Trời đôi mắt bồ câu sao mà sáng hực trên gương mặt trái soan mà da hồng hồng như cô gái làng Lim thế?

Bỗng có người đi đến đông đảo, cậu ấm bẽn lẽn quay mặt ra đường. Cậu ta không nhát gái, nhưng cả một nền luân lý Khổng Mạnh mà cậu ta thuộc làu làu kêu lên rằng cử chỉ ấy xấu lắm, nên cậu ta hổ thẹn thật tình.

Cậu ấm do dự vài giây rồi cúi xuống lượm giày, sau lưng cậu, cậu nghe tiếng cười khúc khích.

Suốt buổi chiều hôm đó, cậu ấm như kẻ mất hồn. Cầm chén cơm thì y như gương mặt giai nhân hiện lên trên đó. Tiếng đũa chạm chén, cậu ấm nghe sao mà giống tiếng cười khúc khích phát ra từ hiệu tạp hóa, tiếng cười đáng giận nhưng dễ yêu biết bao?

Đầu hôm, hễ:

Giở sách ra, lụy sa ướt sách,

Quên câu chữ đầu bài, vì nhớ em.

Giấc mộng hồ ly của pho truyện Liêu Trai mà cậu ấm nằm lòng, lẽo đẽo theo hoài cậu ta suốt đêm đó. “Người con gái ấy có phải là hồ ly không, và nếu phải đi nữa cũng chẳng sợ gì cả, ta lại thiết tha mong nàng là hồ ly, ta sẽ chết vì nàng cũng không ân hận”.

Ngày đến với ánh sáng ràng ràng; mộng nên thơ bao nhiêu cũng phải thấp lại, là là mặt đất.

Trên mặt đất, chỉ có trai thật và gái thật. Hễ yêu thì phải đi đến chỗ yêu nhau.

Kể từ ngày đó cậu ấm Hiếu sống giữa Hà – Nội mà chỉ biết có phố hàng Bồ, và đi trên phố hàng Bồ mà chỉ thấy có mỗi ngôi hàng tạp hóa ấy mà thôi.

Cậu ấm ghé hiệu mua hương, mua hương và mua hương mãi. Mỗi lần như thế là cô bé cắn chặt một cọng miến để ngậm cười người con trai mà cô đã thấu rõ nỗi lòng, mua hương mãi không biết để làm gì.

Cả một truyền thống Á Đông còn chảy trong huyết mạch cậu ấm Hiếu nên cậu ta không thể quan niệm một cuộc yêu đương ngoài hôn nhơn được.

Nhưng cái nghiệp đa-tình, dầu sao cũng phải nói một lời gì với người mơ ước, chỉ một lời thôi, chỉ một cái nhìn xa thôi cũng đủ như là một giai đoạn ái ân thầm lén, thú vị biết bao trước khi cậy mai dong đến dạm hỏi.

Cho nên một hôm vào hỏi mua hương, cậu ấm nghẹn ngào nuốt nước bọt đến mấy mươi lần mới hỏi được một câu rất vô duyên:

– Nầy cô em, cô em nghĩ sao nếu tôi cậy mai đến hỏi cô em?

Cô bé cắn đứt ngon lành cọng miến, lần nầy không phải cắn để ngậm cười, mà cắn vì hoảng hốt trước câu hỏi bất ngờ ấy.

Giây lâu cô đáp:

– Cậu cứ vậy đi rồi hẵng hay!

Ồ thì ra đó là một lời xúi biểu, thì ra, từ lâu cô bé chắc cũng đã cảm tình với mình!

Cậu ấm lòng mở rộng thênh thang để đón cả cuộc đời như đang ùn chạy vào đó.

– Cám ơn em nhé!

Cậu ấm nói thế cố ý quên tiếng cô, rồi vội vã ra về.

Nhưng về nhà, khi thưa với người anh thế phụ việc hôn nhơn đó, người anh suy nghĩ giây lâu rồi thở ra nói:

– Nhà mình nghèo như thế, lấy đâu được song mã mà cưới!

Thật là trời long đất lở. Cái khó chiếm là lòng người. Mà lòng người thì đã về tay cậu ấm chắc chắn rồi. Vậy mà một món khó hơn đây!

Cậu ấm rúc vào buồng, ngã vật lên giường, lòng nát ngướu như tương.

Thấy em bỏ ăn suốt hai ba hôm, ông anh kêu cậu lại, ôn tồn bảo:

– Tiền đồ khoa cử có quan hệ với tình duyên. Chú cứ lo học đi, thi đỗ là việc gì cũng xong cả. Cứ theo lời chú thì cô ấy vốn cũng có cảm tình với chú, thì cố nhiên là cô ta đợi chú, đến mấy năm cũng chả nản lòng.

Không hiểu vận động thế nào mà ông anh đang tu thư ở Hà – Nội lại được bổ về làm giáo thụ ở phủ Vĩnh – Tường. Ý hẳn để cho người em trai xa cô hàng tạp hóa rồi quên cô ta chăng?

Quên thì không bao giờ cậu ấm quên cả. Sở dĩ cậu vùi đầu học, chỉ để nên danh phận hầu “Võng anh đi trước, võng nàng theo sau” mà thôi.

Ngày chia tay cô bé không nói gì, chỉ cắn cọng miến, cắn để nuốt những tiếng nấc chực vang lên.

Không bao giờ cậu Hiếu quên được đôi mắt huyền long lanh lệ ứa đó cả.

Năm ngoái đây người ta đã đày đức Thành – Thái đi hải ngoại. Nỗi đau đớn của cậu ấm bấy giờ tuy to, nhưng ngẫm không bằng cuộc tự đày cậu lên phủ Vĩnh Tường bây giờ.

Thi hương năm Nhâm Tý 3. Cậu ấm thi hỏng và sáu tháng sau về Hà – Nội.

Công việc đầu tiên của cậu là đến phố hàng Bồ. Phố bây giờ nhà cửa đông đúc hơn xưa, cuộc buôn bán cũng tấp nập thập bội.

Ngôi hàng tạp hóa vẫn y nguyên như cũ với những quả miến, những đống bấc, những bao chè. Nhưng sau mớ hàng tạp nhạp ấy là một bà cụ đầu đã nhuốm sương.

Hỏi ra mới hay là cô nàng tạp hóa năm xưa đã đi lấy chồng.

Trời ơi,

Đời đáng chán hay không đáng chán?

Cất chén quỳnh riêng hỏi bạn tri âm.

Cậu ấm ngậm ngùi lủi thủi ra đi, lang thang trên các vỉa hè Hà – Nội, nghe như cả vũ trụ đều sụp đổ quanh mình.

Cậu giận cho thói đời đen bạc, phi công danh bất luận vợ chồng. Trong cơn căm tức, thốt ra mấy vần thơ khinh bạc mà trong đó người đàn bà bị mai mĩa nặng lời:

Thối om sọt phẩn nhiều cô gánh,

Tanh ngắt hơi đồng lắm cậu yêu.

Quần tía đùi non anh chiệc vỗ,

Rừng xuân cây quế chú mường leo.

Cậu ấm lùi về một cái ấp ở thôn quê rồi quyết định tịch cốc để từ trần.

Nhưng nhịn ăn mà không chết, lại sầu thêm, vì tinh thần suy quá, cậu ấm lại uống rượu thật say cốt “mượn tửu bôi giải phá thành sầu”.

Rượu thấm vào một cơ thể đang đói, gây nhiều phản động hóa học trong đó. Cậu ấm nghe thân mình nhẹ lâng lâng, không biết vui, không biết buồn, tai như thoáng nghe nhạc tiên giữa cảnh bồng lai.

Cậu đâm ra làm thơ, thơ đầy cốt cách thần tiên.

Cửa động,

Đầu non,

Đường lối cũ.

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi

Một hôm có người bạn Hà – Nội lên chơi cho biết rằng cô bé hàng tạp hóa lấy chồng trước năm cậu hỏng thi.

Người khách ấy thêm:

– Bác không nhớ ta đang sống vào thời buổi Tây – Tà. Cái gì cũng nhanh như cắt. Nếu ở cảnh tiên của bác một ngày dài bằng mười năm thì ở Hà – Nôi sáu năm cũng dài được như một thế kỷ. Vào thời xưa thơ mộng của bác, cô gái nào đợi đến một thế kỷ chăng ? Bác quên cái nhịp sống hiện tại rồi trách người ta tội nghiệp, chớ cô ấy quả thật yêu bác lắm đó. Cô đi lấy chồng như Chiêu – Quân bị đưa đi cống hồ.

Sự thật ấy bóp thắt lòng thi sĩ lại (vâng, bây giờ người ta đã gọi cậu là thi sĩ Tản Đà rồi đó).

Thi – sĩ biết buồn trở lại như bất kỳ kẻ phàm tục nào. Đó là một nỗi ngậm ngùi tê tái như nỗi nhớ nhà, nhớ cây da cũ, bến đò xưa, mà con đò đã đâu rồi, con đò nên thương vì nó cũng có công đợi khách cũ nhiều năm, xuất giá vì nhịp sống quay cuồng của thời đại chớ không vì phụ kẻ hỏng thi.

Ôi,

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay,

Tuyệt mù bể nước non mây,

Bụi hồng trông thẳm như ngày chưa xa.

– Anh nghĩ thế nào sau câu chuyện nầy? Thầy bảy nhìn ngay vào mắt người học sinh ở trọ mà hỏi như vậy.

– Tôi thấy cho dẫu thất vọng vì tình, cũng có lợi, như cậu ấm Hiếu được biến thành thi hào Tản – Đà, và bên kia trời Đức – quốc xa xôi, ngày xưa cậu Henri Heine được biến thành thi hào Henri Heine.

– Anh lầm, chỉ có hai người ấy là thành thi hào, mà chắc đâu đã vì tình. Còn ra thì hàng vạn cậu học sinh khác hỏng cả cuộc đời, có cậu còn xằng bậy như cậu Tân-Trụ nữa là khác.

– Vậy thầy bảo bạn trẻ chúng tôi phải khô khan không được yêu đương gì hết hay sao?

– Không, tới đây anh mới hiểu hai chữ “chơi chơi” của tôi. Các anh nên yêu chơi chơi vậy thôi, đùa nhè nhẹ với tình yêu mà không yêu say ngây như anh vậy. Anh chưa đủ điều kiện cưới vợ, anh yêu thiệt con Chi, tội nghiệp nó. Còn như yêu không được, có phải anh phá hoại tương lai của anh không?

“Nhịp sống ngày nay còn quay cuồng bằng vạn cái thuở cậu ấm Hiếu thi hỏng. Trên đời nầy không có con Chi nào bền gan đợi cậu được cho đến ngày cậu thôi học, kiếm tiền được để nuôi thân và cưới vợ. À, con Chi nào cũng thề là đợi các anh được đó. Mà những con Chi ấy quả đã thành thật thề như vậy. Nhưng rồi chúng nó sẽ thấy một năm là lâu lắm mà sắc đẹp của chúng thì mong manh quá, dễ phai màu quá, nên chúng nó vội vàng lấy chồng. Cũng chánh đáng chớ ! Nhưng bọn các anh lại dại dột, không hiểu sự chánh đáng đó, rồi đâm ra làm thơ, mà làm thơ dở, chớ không phải hay như Tản – Đà, các anh làm thơ khóc trăng, khóc hoa, rồi hỏng thi, rồi lu bù, chuyện ba-lang-nhang khác, khổ lắm.

– Nhưng yêu chơi chơi làm sao yêu được?

– Dễ lắm. Tối tối anh đi một vòng với tôi, yêu tất cả cô bé nào gặp anh, yêu một phút thôi, rồi quên ngay đi. Lát sau, anh về, học bài thì mau thuộc như vọng cổ vậy mà.

– Tôi sẽ thí nghiệm. Nhưng…

– Mặc con Chi. Nó không tự tử đâu mà anh lo. Rồi nó sẽ đi lấy chồng đó chớ.

Bông Lúa, 1957

(Tài liệu dựa theo GIẤC MỘNG LỚN

thơ trích KHỐI TÌNH CON của TẢN-ĐÀ)

——————————–

1          1907

2          Bún tàu

3          1912

Đèn Cần Giờ

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Xới Đất xuất bản 1968

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

Google photo

Phần 6 – Ma rừng

Phong Ngạn 1

Lão phù thủy Phya Latek đang nhìn mặt trời vừa lên khỏi đầu giải Hoàng Sơn, để luyện phép, thì bỗng nghe tiếng sột soạt khua lá cây khô trên sân, trước chiếc thảo lư của ông ta.

Ông tức giận lắm vì sự lo ra đã làm hỏng một buổi tập trung thần lực mà trong đó ông phải dồn hết tâm linh và tư tưởng vào một định ý mới mong có kết quả đôi chút. Ông day lại, mặt hầm hầm. Nhưng ông bỗng đổi sắc khi nhìn thấy người khách đến không hợp lúc ấy. Nộ khí của ông biến thành vẻ kinh ngạc, ông chỉ biết há hốc nhìn.

– Em đây anh à! Người khách nói.

Giây lâu lão phù thủy mới hỏi được:

– Mầy lên đây làm gì, nhà có việc gì biến không?

– Không, nhưng em có việc cần gặp anh lắm.

– Thôi, vào đây

Hai anh em leo thang tre mà lên một chiếc nhà sàng cao vọi. Nhà lão phù thủy Phya Latek, cũng như nhà của những người Lào khác, cất cao cẳng. Lối kiến trúc nầy được lão ta làm quá lố thêm vì lão ở biệt tịch dưới chơi giãi Hoành Sơn, phía sườn núi hướng Tây, ngó ra lãnh thổ Lào trung.

Khi Kha Nhay, người em dưới làng mới đến, đã ngồi xong trên chiếc chiếu tre, lão phù thủy Phya Latek hối thằng tiểu đồng dọn cơm nếp nấu với sầu riêng để cả hai cùng ăn sáng.

Phya Lakek, từ mấy năm nay, bỏ làng vào núi để hái thuốc và luyện phép, sống gần như cô độc với một đứa học trò nhỏ trạc mười hai tuổi.

Cầm một cục xôi thoa múi vừng bỏ vào miệng, Phya Latek hỏi Kha Nhay:

– Chú mấy nói có việc cần là việc gì đó?

– Cần lắm, vì vậy tôi bất kể đêm ngày, lặn lội tìm anh. Tôi tới đây hồi khuya, nhưng sợ anh có bủa giăng bùa phép nên không dám vào, ngủ đỡ ngoài rừng đợi sáng.

– Thì việc gì mầy cứ nói ngay đi coi.

– Số là hai năm liền vì một lẽ rất kỳ bí, tôi làm ăn cứ thua lỗ mãi…

– À, mầy vẫn còn là tù trưởng ở Khum Keng Phao chớ

– Còn.

– Và cũng cứ cầm đầu đoàn người đi bán bò dưới nước Nam Kỳ 2 chớ?

– Cũng còn.

– Mà vẫn lỗ mãi?

– Phải.

– Lẽ gì mà kỳ bí dữ vậy?

– Lạ quá anh à. Trước kia thì không có, nhưng từ hai năm nay thật là khó hiểu. Bò của chúng tôi băng rừng, lướt bụi xuống tới xứ Nam Kỳ thì bò tơ hóa bò già, bò mập hóa bò ốm hết thảy, bán chẳng ma nào thèm mua hết.

– Thì tại bây đi không nghỉ, bò nó đuối sức nên mới hư chớ có gì lạ đâu.

– Không phải vậy. Tụi tôi đêm đi, ngày nghỉ, mà đi thiệt chậm, vả lại dọc đường còn phải chờ bò của các làng khác kia mà. Và xuống tới núi Bà Rá, bò còn mập tốt như thường kia mà! Nhưng hôm sau, tới Phú Riềng là nó hư ngay.

Phya Latek trầm tư mặc tưởng rất lâu, rồi mới hỏi em:

– Bây giờ mầy muốn gì?

– Tụi tôi bàn với nhau, chắc tại ma rừng của người An Nam hại bò, nên mới ra nông nỗi ấy. Người An Nam họ không biết gì hết, không thèm cúng quải nên ma rừng nó giận, nó lộng hành. Tụi tôi muốn rước anh đi theo đoàn để làm phép ếm cho ma nó sợ.

– Tao đi làm sao được. Tao đã nguyện không dính dáng đến việc đời rồi mà!

– Anh tu dưỡng luyện phép làm gì mà em của anh có việc một chút anh lại không cứu!

– Hay là tao về làng làm phép cho bò mầy và bò miệt trên thôi.

– Không được, như vậy bò miệt dưới vẫn bị hại. Năm ngoái lỗ quá họ không tính đi nữa, tôi phải cam đoan với họ là tôi đối phó được. Nếu năm nay để họ bị hại nữa, thì còn gì danh tiếng của tôi và của anh?

Phya Latek thở ra, không buồn ăn nữa.

Kha Nhay chép môi vừa khen vừa hỏi:

– Sầu riêng nầy ngon. Ở đâu anh có đây?

– Ở dưới làng họ đem lên biếu.

– Năm ngoái, sau mùa bò, cha mẹ và tôi, cả nhà đều ăn khoai, chớ tiền còn đâu mà mua nếp với sầu riêng. Tội nghiệp mẹ đã già yếu mà ăn cực khổ mãi…

Phya Latek rưng rưng nước mắt, gạt ngang:

– Thôi mầy đừng nói nữa, để tao đi.

Điểm khởi hành là chợ Sang Phóc, cách Thạt Khẹt năm mươi cây số về hướng tây.

Từ mươi hôm rồi, bò miệt trên và các làng lân cận lũ lượt tụ về đó, ở rải rác khắp khu rừng quanh chợ. Và sau đêm ngã trâu ăn khao là đàn bò lên đường trong cát bụi mịt trời.

Đàn bò to ước độ ba ngàn con, và bọn người buôn bò sắp đặt làm sao cho loài bò nó chọn lựa tướng soái tự nhiên lấy, và luôn luôn con đầu đàn là con bò xứng địa vị nhứt. Chừng ấy, con người mới ra mặt để dẫn đầu lại con bò đầu đàn kia. Như thế họ chỉ tốn công điều khiển có mỗi một con mà cả ba ngàn con đều ép mình vào trật tự. Người Lào thật thà thế, mà khiếu dẫn đạo của họ không kém các tay xâm lược danh tiếng của thế giới bao nhiêu.

Ba ngàn con bò ấy chà mòn thêm những đường mòn có sẵn trong rừng, đùa gãy những nhánh cây thấp ngang lưng chúng và quậy nát những bãi cỏ, những trãng tranh mỗi lần chúng đồn dinh hạ trại.

Gió cuốn bụi mù, nhánh cây gãy răn rắc và lá khô bị vò nát tạo nên tiếng rầm rì không ngớt như mưa rừng. Và mỗi lần đàn bò dài hằng ba bốn cây số ấy vượt qua một man khê, một suối dại, thì bờ suối nát nhừ và lòng suối nơi đó bỗng rộng ra như lòng một con sông.

Những nơi có quan lộ thì họ đi ban đêm, ban ngày vào rừng nghỉ mát và thả bò ăn lá cây. Những nơi chỉ toàn đường mòn thì họ đi ban ngày, lợi dụng bóng mát của cây giao nhành trên lối nhỏ ấy cho bò đỡ mệt, và ban đêm thì lại nghỉ, để dễ bảo vệ bò tránh thú dữ.

Thường thường họ dồn bò vào những đồng cỏ lớn, đốt lửa quanh đám bò và thức đêm nhìn vào ven rừng mà gõ mõ tre để nhát cọp.

Tuy thế, cũng không tránh khỏi sự hao hớt dọc đường. Làm thế nào cọp cũng rình xơi được vài con, nhứt là vào giữa ban ngày khi chúng len lỏi trong rừng để ăn lá. Cũng có một số bò yếu đuối nên chết, hoặc què rồi bị họ ăn thịt.

Bù vào đó, những con bê đẻ dọc đường đứng lên trám những chỗ trống cho đạo binh viễn chinh bò ấy, trám cho đủ số thôi, chớ bò con thì bán có bao nhiêu tiền đâu.

Đàn bò giống hệt như một con sông lớn chảy xuôi dòng. Thỉnh thoảng nhiều con rạch con đổ vào để tăng đại con sông đó. Đó là những đàn bò địa phương, nhập đoàn dọc đường để cùng đi một chuyến.

Mỗi lân có bò mới nhập bọn là đoàn người dừng bước để thầy phù thủy Phya Latek làm phép ếm ma và vẽ bùa trên đầu bò.

Chủ bò thì ngoài gạo, nếp lại mang theo nào là ngà voi, trầm, sà-rông nhiều màu sắc sặc sở để bán cho “An Nam”.

Đi một tháng ròng rã họ mới vào địa phận Cao Miên, và phải một tháng nữa mới đến biên giới phía bắc của “nước Nam Kỳ”.

Tuy đường xa vạn dặm thế mà bò vẫn béo tốt, vì chúng như vẫn ở trong địa hạt của chúng, vẫn tiếp tục sống giữa thiên nhiên như hồi ở nhà.

Qua khỏi Snoul, tiến về biên giới Nam Kỳ thì bò nghe như lạc hướng và rất khó chịu.

Từ nơi đó, rừng đã biến thành những sở cao-su mênh mông bát ngát, không được phép vào đó nữa, nên phải đi trên quan lộ. Mà quan lộ ở đây thì ối chào, nắng như thiêu đốt, và hơi nóng từ đường nhựa bốc lên nghe hừng hực như lửa lò. Xe hơi thì dập dìu, bò trông thấy xe tưởng xe là những con quái vật kỳ khôi từ đàng xa âm sầm đâm đầu lại; quái vật nầy vừa hét vang rền, vừa hầm hừ, vừa xịt hơi ra mũi mà mũi lại ở phía đằng sau đít mới lạ cho chớ!

Đàn bò khó chịu nhứt là vì con đường nhựa. Đường trải đá thì thỉnh thoảng còn để lòi đất, chúng rất sung sướng mà đạp được cái chất quen thuộc ấy. Ở đây chất hắc ín đã đậy kín đất mẹ, cái đất mà chúng ưa mùi và rút sinh khí từ trong đó ra.

Bò lại sợ nhứt những tiếng rồn rột như mưa rào trên ngói tạo nên bởi móng của chúng nện trên chất nhựa hắc ín cứng ngắt trong sương đêm.

Cũng may là chỉ phải chịu khổ vài ngày thôi. Khi chúng qua khỏi Phú Riềng, Phước Hòa tới Mỹ Đức là có rừng rậm nghỉ ngơi, lại khỏi phải đi nữa vì đó là chợ bò của “nước Nam Kỳ” đó.

Tháng giêng năm ấy, cũng như các năm khác, chợ Tân Uyên rất vui. Sau khi “ăn Tết ở nhà” và “cờ bạc”, họ được dịp tốt làm ăn, vì chợ bò Mỹ Đức chính là chợ bò Tân Uyên vậy.

Tân Uyên là chợ quận ven rừng, ngã ba của sự thương mãi với hậu phương rừng sâu, còn Mỹ Đức chỉ là một làng tiền tuyến dùng làm trại bò vĩ đại thôi.

Lái bò các nơi đều tề tựu về đó. Người bản xứ thì ai đồ tể, lo chuẩn bị mua thịt; ai đầu cơ, lo mang muối, hộp diêm, gương con, hột cườm ngũ sắc lên đó bán cho người Lào với một giá cắt cổ, ai muốn làm giàu to thì mang vốn lên mua ngà voi rẻ mạt đem về rồi mặc sức mà phát tài.

Vì thế tin bò Lèo 3 về là một tin vui như người ven bể nghe thuyền đánh cá vào bờ.

Chánh phủ “Nam Kỳ” chỉ tiếp đón bò Lèo để bảo vệ họ khỏi bị gạt gẫm, cướp bóc thôi, còn thương mãi các thứ vẫn để tự do.

Đàn bò đến rừng Mỹ Đức là hạ trại. Mỗi con bò đều có đeo lục lạc bằng gỗ nên chủ bò vững tâm thả chúng vào rừng cho sống tự do để đợi khách. Muốn tìm bò, họ cứ lắng tai nghe tiếng lục lạc lốc cốc mà theo dấu. Còn ma rừng thì năm nay đừng hòng mò đến bò. Đã có thầy Phya Latek ếm rồi, mó vào có mà chết.

Người Lào ngay thẳng lắm. Bò họ để chung, chẳng thèm là con nào của ai cả. Bán được bao nhiêu (con nào cũng bán một giá) họ chia nhau tùy số mỗi người có. Mà số này thì ai có bao nhiêu, khai bấy nhiêu chẳng ai ăn gian ai cả. Vì vậy đàn bò giống đàn bò chung của một chủ.

Bò nghỉ được hai ngày đêm thì khách hàng được phép đến nơi.

Ai bán cứ ở ngoài lộ mà bán, ai mua, theo người dìu dắt vào rừng. Mua xong, họ sẽ gom bò ra đường lộ cho ta.

Mà trời ơi, các tay dìu dắt đều rụng rời khi họ dẫn khách hàng vào đến chỗ mà đàn bò đi ăn rải rác bên trong. Trời ơi, sự tình cũng y như hai năm rồi: bao nhiêu bò tơ mập mạp, sởn sơ đều hóa thành bò già ủ rũ, ốm bày sườn.

Thế nầy thì có chết hay không! Ma gì mà dữ quá, bất kể bùa phép của thầy Phya Latek là một tay phù thủy khét tiếng từ thuở đến giờ.

Các tay dìu dắt ôm đầu chạy thoát ra trong khi những khách hàng “An Nam” ngơ ngác không hiểu làm cách nào mà người Lào đưa được những con bò ho lao ấy từ xứ xa tít đến đây, liên liếp trong ba mùa bò liền.

Thầy Phya Latek đang ngồi lựa cườm màu bỗng thấy các tay dìu dắt khách hàng hơ hải vừa chạy đến vừa la:

– Chết rồi thầy ơi, chúng nó lại bắt bò nữa, y như các năm trước.

Tất cả những người Lào có mặt tại chợ ngà voi, chợ muối hột, đều đứng lên một lượt như có lò xo bật, rồi ba chân bốn cẳng chạy riết vô rừng.

Quả thật thế, trước mắt họ bày ra một cảnh tượng vô cùng tuyệt vọng : bò con nào con nấy bụng cũng móm xom, còn xương nó thì như đang cố xoi thủng da để lòi ra ngoài.

Họ hỡi ơi, tiếc công một năm dài chăn nuôi và mấy tháng trường băng rừng vượt suối để đến đây.

Thầy Phía Latek nói:

– Bọn ma nầy có giỏi lắm là mà con mắt ta để ta thấy bò tệ như vậy, chớ làm gì mà chúng rút bớt thịt bò được. Để tôi giải phép xem thử.

Nói xong, ông nắm tay lại, trăm gì lia lịa một hơi dài, rồi búng những ngón tay ốm nhom vào hướng những con bò không muốn cựa quậy ấy. Nhưng ông đã mỏi mồm đọc thần chú ; đã hụt hơi phà khí trừ tà vào hướng bò, những con vật nầy vẫn nhất định gầy khô và run rẩy vì già liệt.

Dưới đây là bức điện văn của ông tỉnh trưởng Biên Hoà gửi cho Thống Đốc Nam Kỳ:

“Chợ bò Tân Uyên hoàn toàn thất bại như hai năm trước. Stop

Người Lào thề quyết bớt chăn nuôi và không đến chợ nầy nữa Stop.

Họ bảo rừng có ma hại bò. Stop.

Theo tôi, có lẽ một bệnh mới mà mầm bệnh ở rừng Mỹ Đức. Stop.Yêu cầu phái gấp nhiều thú y lỗi lạc đón bò mua rẻ dang đổ về các tỉnh khác để khám. Stop.

Cần hành dộng gắp để tránh sự nguy ngập kinh tế cho hai xứ lào và Nam Kỳ. Stop”

Ông Thống đốc Nam Kỳ đọc xong bức điện văn này, trầm ngâm giây lâu rồi trao mảnh giấy cho viên đổng lý văn phòng xem.

– Người Lào nghĩ cũng tội nghiệp, ông thống đốc nói, mà viên tỉnh trưởng này mới thật là thiếu tưởng tượng chớ. Được, tôi sẽ hành động, nhưng chậm chạp thôi, để bắt ma của người Lào, và bắt vi trùng của ông tỉnh trưởng. Ông nhớ nhé, năm tới một tháng trước khi họp chợ bò Lào, ông nhớ nhắc tôi hành động.

– Vâng.

Và dưới đây là bức điện văn của thống đốc Nam Kỳ gửi cho khâm sứ Ai Lao sau Tết tây kế đó.

”Đã thi hành dủ biện pháp để bảo vệ bò Lào. Stop.

Yêu cầu khuyến khích ngườì chăn nuôi đem bò xuống như mọi năm. Stop.

Bảo đảm an ninh về ma quỉ”.

Đồng thời Thống đốc Nam Kỳ lại gởi lên Biên Hòa đại đội vệ binh địa phương hầu vây bắt…ma quỉ hay vi trùng gì đó.

Giữa hai tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một, tại ngay ranh giới tỉnh, có một lâm thôn tên là A.M. Làng ấy thuộc về tỉnh Thủ, nhưng dân trong làng lại liên lạc mật thiết với tỉnh Biên Hòa, nên thét rồi họ không còn biết họ là dân tỉnh nào nữa.

Dân làng sống về nghề buôn “hàng đen”. Hai tiếng “hàng đen” ấy đã có rất lâu đời và người miền đông ai cũng hiểu nghĩa của nó là những con trâu con bò trộm được, đem đi bán.

(Về sau ta có danh từ chợ đen để chỉ một thứ thị trường kia, nhưng thử nghĩ danh từ hàng đen mà ám chỉ vào thứ hàng hóa trong chợ đen ấy cũng vẫn là đúng).

Trong làng từ ông hương cả đến anh dân trắng (bạch đinh), ai cũng buôn hàng đen cả, nên nghề ấy thành công khai vì chính người có quyền cũng làm kia mà. Và họ coi công việc đó rất thường, không còn nghe lương tâm nói ra nói vào gì cả.

Địa thế hàng rất lợi. Đó là một làng rừng như đã nói, nghĩa là biệt tịch trong thâm sơn cùng cốc. Và vì ở biên giới nên đang đứng ở đây, bước qua một bước là đến tỉnh khác. Bên nây mà có cuộc hành binh cảnh sát là họ ùn ùn dắt trâu bò đi vài thước thì qua tới bên kia, đang êm rơ.

Trong các tỉnh miền đông, trâu bò trộm được đều tập trung về chợ đó để rồi phân phát trở ra cũng trong các tỉnh miền Đông.

Tất cả các tay trộm trong vùng đều coi làng đó là thánh địa của nghề và luôn luôn đi, về không ngớt. Đó là những cuộc hành hương ban đêm mà cả thảy tín đồ đều có một lương tâm nặng trĩu tội ác và những hành lý bốn chơn.

Làng lại tổ chức châu đáo để đánh thối lui những bọn người “theo bò” hầu giúp các tên trộm nó là kẻ tiếp tế đắc lực cho cái chợ kỳ dị ấy.

Phải nói rõ các bạn mới biết “theo bò” thế nào. Các tay trộm bò, trâu thật là tài tình. Trâu bò ngủ trong chuồng mà cổng làm bằng những khúc gỗ to hơn bắp vế. Thế mà chúng dắt trâu bò ra dễ dàng như…Trương Dực Đức lấy đầu viên thượng tướng địch.

Mãi đến mấy giờ sau khổ chủ mới hay. Thế là họ động viên cả làng, đang đêm đốt đuốc, vác dao, mác, men theo dấu trâu bò mà rượt theo trộm.

Người theo dấu cũng giỏi. Bọn trộm có “long” bò trâu ngang qua sông, qua rạch họ cũng tìm được. Nhiều khi chúng bó cẳng bò bằng rơm, họ cũng không mất dấu.

Họ theo như thế nhiều khi tới ổ, nghĩa là tới làng A. M. Là chuyên nghiệp thì phải tổ chức châu đáo. Vì thế mà làng A. M. có cả một đạo binh dáo, mác để phản công đánh lui bọn “theo bò”.

Bọn nầy luôn luôn thua trận vì binh xa mới đến, mệt môi, vì ít người hơn lại không được huấn luyện hẳn hòi.

Thế mà họ không thưa kiện gì cả, mặc dầu biết sào huyệt kẻ gian, vì bọn nầy lại có nơi bí mật riêng trong rừng để nhốt trâu bò, nhà chuyên trách có đến làng khám cũng chẳng tìm thấy gì.

Trong làng có ông hương cả Nghiệm là tay hàng đen chúa tể. Vốn ông rất lớn nên hàng năm ông mua ra bán vô hàng vạn trâu bò. Ông ta có đến sáu vợ, mà bà nào cũng nhà cột gỗ gõ, nền đúc hẳn hoi. Sống giữa rừng mà ông luôn luôn trong nhà có nước đá, la-ve, bánh hộp, nho tươi, bom, xá-lị vân…vân…Người trong vùng gọi ông ta là vua hàng đen.

Nhưng ông ta vua không phải ở chỗ lớn vốn và ăn tiêu sang trọng. Phàm hễ vua là được người đầu lụy, ngự trị trên tất cả. Ông hương cả Nghiệm ngự trị trên hết thảy các tay hàng đen khác.

Vì sao? Hàng đen, trữ xong, phải bán. Muốn bán phải có giấy tờ, vì con bò con trâu nào trong nước đều phải có thẻ căn cước như người ta cả.

Chỉ có một mình hương cả Nghiệm là có đủ giấy tờ cho hàng vạn con vật ấy. Những tay lái khác, dầu nhỏ, dầu to đều phải đến cầu khẩn ông để lấy thẻ cho bò.

– Bác muốn lấy bài chỉ cho một con bò mốc, tám xoáy, độ bốn tuổi à? Được, hai đồng một thẻ, đây nầy thẻ cũ, có lằn xếp hẳn hoi, có mang dấu vết mắc mưa, té ruộng, lội sình đây, chớ không phải giấy giả mới làm đâu. Con dấu tỉnh trưởng, chữ ký của phó tỉnh trưởng, chữ ký thật đấy.

Ông cả phát thẻ bò như vậy gần hai mươi năm, người tò mò tìm mãi mới khám phá ra mánh lới của ông ta. Ông ta thông đồng với các lò thịt cắc chú, đặt tiền trước khắp các lò để lấy độc quyền mua lại thẻ căn cước của những con vật bị thịt mỗi ngày.

Nhà ông cả Nghiệm tấp nập khách khứa tứ phương đến đó mua bò và chuộc bò.

Ông ở cách đó năm mươi cây số và tuần rồi ông có mất trộm một cặp bò phèn ư? Cứ tìm đến ông cả Nghiệm, ông sẽ cho người nhà đưa ôngvào rừng nhìn bò. Ôi, bò vô số kể, lển nghển trong ấy như rệp ở các tiệm hút. Ông nhìn được bò ông là may mắn lắm và cứ mặc cả mà chuộc bò lại, đừng mong thưa gởi gì hết. Ông Cả có đủ trăm phương ngàn kế để phi tang hoặc ám hại ông nếu ông giở ngón.

Vả lại người ta “làm ăn” mà, cũng như bao nhiêu cuộc làm ăn khác, ai nỡ lật lọng với người ta. Cho đến cái anh trộm kia, cũng là “làm ăn”. Câu chuyện lỗ vốn sau đây, mới nghe thì buồn cười nhưng khi biết rõ cuộc thương mãi nầy mới thật là chánh đáng.

Một nông già kia ở Tây Ninh có mất trộm đôi bò thật tốt. Ông ta biết thủ phạm là ai, nên tìm đến nhà hắn xin chuộc.

Tên trộm ra giá tám mươi đồng.

– Thôi mà, năm chục là vừa phải mà?

– Không được đâu, năm chục thì lỗ tôi quá.

Ai đời của người ta, mình lấy không, người ta nạp tiền để xin lại, mà mình còn than lỗ vốn cái nỗi gì chớ.

Nhưng lỗ vốn thật đó. Hắn đã mang bò tận A. M. bán rẻ cho ông Cả. Bây giờ lội rừng mang về, phải tốn bao nhiêu là công khó, không lỗ vốn, lỗ công sao được.

Vả lại bọn trộm rất trung thành với ông Cả, nên cứ muốn nạn nhơn đi ngay lại ông mà chuộc. Sở dĩ có sự trung thành nầy là vì ông Cả rất hào hiệp, rủi em út đứa nào bị tù, ông nuôi vợ con họ tử tế và gửi quà bánh vào khám không ngớt.

Phàm hễ vua là có kẻ muốn soán ngôi tiếm vị. Ông Cả giàu sang quá nên gây nhiều đố kỵ và một hôm ông bị đồng nghiệp phản bội dắt lính đến vây tóm trọn ổ bò trong rừng trên hai ngàn con.

Kỳ ấy ông lỗ quá sá, nhưng may không rơi vào vòng pháp luật vì không có bằng cớ ổ bò ấy là của ông.

Ông ngán ngẩm thế sự, mở đại yến khoản đãi tất cả khách hàng, em út gần xa và đồng nghiệp cùng làng, trong đó có cả người ám hại ông, và khi tiệc tàn, ông long trọng tuyên bố giải nghệ.

Ông cả là tay mưu thần chước quỉ, nên không ai tin lời tuyên bố ấy hết, và tiếp tục theo dõi hành động của ông coi ông còn lôi cái trò gì ra từ cái túi trăm ngàn kế của ông.

Nhưng ông Cả quả giải nghệ thật, ông đọc truyện Tàu, chơi cây cảnh, non bộ, hoặc ngao du các tỉnh thành, phú mặc cho bạn bè tranh đua lợi quyền mối men.

Ông dưỡng già như vậy đúng một năm thì lại mở đại yến khoản đãi tất cả các người quen biết và rồi cũng tuyên bố. Ông tuyên bố trở về vào nghề. Tin sét đánh nầy khiến cho những đồng nghiệp của ông rụng rời khủng khiếp như một quốc gia thình lình hay tin một cường quốc lân cận chuẩn bị xâm lăng để cướp nền thạnh vượng của nó.

Đọc suốt được trong thâm tâm bạn, ông Cả nói rõ để ho yên lòng:

– Không, tôi sẽ làm lái bò như xưa, nhưng không buôn hàng đen nữa, mà chỉ buôn hàng trắng thôi.

– Thế nào là hàng trắng?

– Là những con bò nuôi lương thiện buôn bán trong vòng hợp pháp.

Người người đều mỉm cười trước lời giải thích của con cáo già nầy.

Mấy hôm sau đó, ông Cả rao ai có bò già, bò ốm, bò què đem bán rẻ cho ông đặng ông nuôi. Tuy nói là bán rẻ, nhưng họ bán cũng rất là “được tiền”, cao giá hơn cho bọn đồ tể cắc chú nhiều. Nên chi bò lại đi về A. M. đông đảo. Cùng với những bò tốt do của trộm, năm ấy bò về “hưu” đổ vào vùng A. M. tấp nập. A.M. như thu hút tất cả những phần tử bạc nhược trong nước, vì nhà nông nào cũng có một hay vài con bò hết xài, để mất công chăn, bán thì rẻ quá, và cũng không nỡ bán cho lò thịt một người bạn cày sâu cuốc bẫm với họ trong nhiều năm.

Chỉ trong vòng hai tháng là ông Cả mua được già hai nghìn con bò ốm, và cho tất cả vào sào huyệt riêng của ông trong rừng như các tay hàng đen khác. Bò hàng trắng không cần giấu ai, ừ, nhưng đem vào rừng có cỏ, có lá nhiều, có lắm bóng mát, suối trong, chúng mới mập chớ.

Ông Cả khoe chắc là đến ra giêng bò ấy sẽ cải lão hoàn đồng. Tết năm ấy ông ăn Tết to hơn bao giờ cả.

Ăn rằm tháng giêng xong, ông Cả ra đi với vài tên người nhà thân tín. Vì cái lần bị bắt ấy, ông đã đổi sào huyệt và dấu kín không cho bạn đồng nghiệp nào biết nơi chốn hết. Họ hết sức dò la cũng không tìm được ổ bò của ông.

Và mười hôm sau vào đầu tháng hai, ông lùa bò về làng. Hàng trắng bán công khai mà, tội gì còn phải giấu trong rừng.

Ồ, những con bò tốt đẹp làm sao. Con nào con nấy ú nu, ú núc, sởn sơ như thanh niên mười tám hai mươi, thơm mùi rừng, thơm hoa dại, thơm cỏ non, chớ không hôi mùi phân chuồng như những con bò khác.

Làng xóm rộn rịp lên. Khắp hang cùng ngõ hẻm, ruộng khô, đồng vắng, đâu đâu cũng lúc nhúc bò của ông Cả.

Trông những con bò mới thèm làm sao! Người đồ tể đoán thấy những bắp thịt mềm dưới làn da non của chúng. Nông gia cứ trầm trồ những cẳng bò gân guốc, thịt săn mà gân lại dẻo, móng lại kiên cố như có đóng đế sắt rồi.

Bò về làng vài ngày là bọn lái tứ phương mang đi sạch hết.

Ông Cả lại giàu hơn bao giờ. Bò già nua vẫn rẻ hơn bò của trộm mà bò hoàn đồng, bán lại được tiền hơn bò gian.

Đồng nghiệp của ông Cả đều le lưỡi. Nếu họ biết cách nuội thần thánh của ông thì tội gì họ còn phải đeo đuổi theo cái nghề bất lương và rất có thể vào tù nầy làm chi nữa.

Nhưng cách nuôi thần tình và tốc hành ấy, dân làng rình mò mãi mà không khám phá ra được. Họ mua chuộc người nhà của ông, nhưng mấy thằng nầy đã được trả công phủ phê nên vẫn ngậm câm như hến!

Một năm hai kỳ,vào cuối mùa mưa trước vào giữa mùa nắng sau, ông Cả mua bò, chăn nuôi và bán bò. Ông cưới thêm ba cô vợ nữa và hăm sắm xe hơi, mua sở cao-su.

Dân trong vùng đồn trong ông Cả đã chuộc bùa trên Cao Miên về bỏ cho bò ham ăn, và mau khỏe lại.

Có người lại quả quyết ông Cả vốn giao du rộng nên biết một món thuốc tây rất hiệu nghiệm do một ông thú y cho.

Nhưng sự thật là sao, họ vẫn hoang mang không chắc.

Bấy giờ ông Cả thật là hương cả, vị tiên chỉ trong làng.

Trước kia, làm nghề xấu, những người tai mắt ở xa không ai thèm giao thiệp với ông. Bây giờ quan chức trong tỉnh tới lui nườm nợp, ai cũng khen ông biết cải tà qui chánh và nhứt là thành công trong nghề khó khăn, nghề chăn nuôi. Có lần vị tỉnh trưởng tỉnh nầy hứa xin cho ông một khuê bài “xứng đáng về nông nghiệp” (Mérite agricole).

Ông thành công như vậy trong hai năm liền, và một hôm, đùng một cái có tin sét đánh là ông Cả Nghiệm bị bắt, khiến cho dân cả miền Đông đều kinh ngạc.

Tin rõ ràng ông Nghiệm bị bắt giữa rừng Mỹ Đức cùng với mấ’y tên người nhà, tất cả đang lùa bò tơ của người Lào, lùa vào rừng sâu để tìm đường đi vòng về A.M.

Thế là hồi ông Cả mua hàng đen, bị cảnh sát địa phương bố. Nhưng lân nầy cải tà qui chánh, buôn hàng trắng lại bị cả thống đốc Nam Kỳ “đặc biệt chú ý”.

Dầu sao ai cũng khen ông Cả là người thâm.

– Phải, trộm bò của người Lào thì dại. Chúng sẽ buồn mà không mang bò đến nữa. Và vụ trộm to ấy thế nào cũng kêu gọi một phản động lực cấp tốc của nhà nước và phương tiện thanh trừng sẽ lớn lao, khó mà thoát được.

Còn đánh tráo bò thì êm rơ. Người Lào vốn lười biếng, một khi thả bò vào rừng là không thèm dòm đến chúng nữa. Họ lại mê tín, thấy bò ốm, bò già, ngỡ bò tốt của họ bị ma làm, nên chỉ run sợ mà không rình rập để khám phá ra quỉ kế.

——————————–

1          Bình-nguyên Lộc

2          Chuyện nầy xảy ra cách đây 30 năm

3          Biến thể của tiếng Lào

Tiếng Hờn Chân Mây

baovecovang2012.wordpress.com

Trần Thy Vân

Posted on February 10, 2013 by Lê Thy

Post by Sơn râu 19 Sep 2024

Google photo

15. Ghi Chú

(1) Chương 4, trang 35- Khi qua định cư tại Califomia, Hoa Kỳ, Tác giả đã gặp lại Giáo sư Nguyễn Vũ Khương, người bạn cùng khóa 22 Sĩ Quan Thủ Đức 1966. Ông cho biết Linh mục Nguyễn văn Vàng, ngay sau tháng 4/1975, là Chủ tịch Hội Đồng Liên Tôn, do Gs Khuơng làm Tổng thư ký kiêm Giám đốc Sở chính trị của Mặt Trận Kháng Cộng Thống Nhất Việt Nam”. Tổ chức này mượn nhà thờ Vinh Sơn, Sài Gòn, làm nơi in bạc giả trước khi chuyển máy móc về Đồng Nai, và mới in được 20.000 đồng tiền nhà nước CSVN thì cơ sở bị bại lộ xảy ra cuộc tử chiến. Bên phục quốc hy sinh 2 tại chỗ, những người khác bị bắt, một số bị xử bắn. Riêng Linh mục Nguyễn văn Vàng, bạo quyền Cộng Sản bỏ đói chết trong lao tù Z20 Phú Khánh. Tuy không lớn, nhưng tiếng súng Vinh Sơn đã rực lên ngọn đuốc quyết tâm phục quốc những tháng năm đầu đất nước rơi vào tay giặc Bắc. Tác giả gọi biến cố ấy là “Vinh Sơn Chiến Sử” để tỏ lòng ngưỡng mộ Mặt Trận Kháng Cộng.

(2) Chương 4, trang 40 – Huỳnh Bá Thành con của Huỳnh Bá Giỏi, người Hòa Long, một trong năm xã kế Ngũ Hành Sơn, thuộc quận Hòa Vang, Quảng Nam, theo Cộng Sản lúc còn nhỏ. Từ khi vào Đệ thất Phan Chu Trinh Đà Nẵng rồi lên đại học ở Sài Gòn, Huỳnh Bá Thành, cũng là họa sĩ, bút hiệu Ớt, hoạt động trong giới sinh viên học sinh và báo chí. Tháng 4/1975, Thành xuất đầu lộ diện, mang quân hàm trung tá công an T/p Hồ Chí Minh. Những năm giữa thập niên 80, lạm dụng quyền hành, Thành tổ chức đường dây US tours, để cùng người cháu tên là Huỳnh Bá Tâm ở Bắc Califomia, móc nối đồng hương về thăm quê nhà. Chằng bao lâu, vì tranh giành quyền lợi, nội bộ đã đập chết Huỳnh Bá Thành. Lúc ấy Huỳnh Bá Tâm đang còn ở Việt Nam cũng bị thanh toán. Chúng cho chó cắn ngay sau ót HB Tâm, được thân nhân đưa trở lại Mỹ.

Trong tộc Huỳnh Bá này chỉ có Thành phản nghịch, theo Cộng Sản. Mấy ông chú, bác của Thành đều là đảng viên VNQDĐ, làm việc cho Quốc Gia, như HBĐ, HBT, HBL… Trước năm 1975, chung quanh khu núi Non Nước (Ngũ Hành Sơn) gồm có 5 xã: Hòa Long, Hòa Lân, Hòa Qui (sau đổi là Hòa Quí), Hòa Phụng và Hòa Hải đều do 4 anh em ruột cùng một người cháu của tộc Huỳnh Bá này làm chủ tịch. Cả 5 ông đã bao phen chết hụt, là do thằng cháu bất nhân Huỳnh Bá Thành chỉ thị cho K-20 ném lựu đạn vào nhà. K-20, bí số của một cơ sở Việt Cộng nằm vùng, tầm hoạt động cặp mé biển, từ bán đảo Tiên Sa (Sơn Chà) trải dài vô khỏi Non Nước đến Cửa Đợi (cửa con sông dẫn lên phố cổ Hội An, Quảng Nam). Nhiệm vụ chính của K-20: chuyên ám sát, thủ tiêu như chôn sống nạn nhân dưới các nổng cát, hay dùng xẻng, cuốc bổ vào đầu, ném xuống sông Hàn. Sở trường giết người Quốc Gia không gớm tay đó là do chỉ thị của Huỳnh Bá Thành, nên nghiệp báo, chính hắn cũng bị đồng bọn công an đập chết bằng ma trắc, bá súng giữa thập niên 1980, vì tranh giành quyền lợi từ các dịch vụ cho vay, chuyển tiền, đưa người ở hải ngoại về thăm quê hương.

(3) Chưong 4, trang 40- Lê Độ: Vào thời gian năm năm cuối của thập niên 1950, từ khi lên đệ thất, tức lớp 6 ngày nay, tôi chẳng được học yên một ngôi trường nào cả. Cứ mỗi năm có sự thay đổi, khi ở Đà Nẵng, lúc Qui Nhơn, rồi lại ra Huế… Vì gia đình công chức, dưỡng phụ tôi là một tài công ngành quan thuế, thường hay bị điều động đến các ty sở vừa được phát triển, để lái những chiếc tàu nhỏ, loại cận duyên. Mỗi lần thuyên chuyển qua tỉnh khác, cha phải đem tôi theo, mục đích kèm hãm tôi chăm chỉ học hành, khỏi lêu lổng. Do đó mà thời tuổi ngọc tung tăng đến trường, tôi càng có nhiều bạn bè với giọng nói tứ xứ.

Tôi cũng như mọi người, rất quý, trung thành với bạn, ngay cả mấy đứa quen từ nhỏ còn mặc quần sọt dây treo, chia nhau từng cây kẹo, cái bánh, lắm khi cùng bị chung một ngọn roi, cái bạt tai bẹo má, vì cù rũ trốn học đi bắn chim đá dế. Nhưng tôi lại thiếu may mắn, có hai người chí cốt thuở đầu đời đều chết trẻ, đứa thì vừa tròn 20 đạp mìn, thằng thì bị xử bắn tuổi mới 15, còn tôi, thọ lâu hơn tụi nó một chút, cụt hai chân năm 30 tuổi trong cơn bão lửa chiến trường miền Trung sắp tàn.

Cho dù khoảng đời còn lại quen biết nhiều, tôi vẫn thương nhớ tụi nó, nhất là Lê Độ. Năm 1955, vừa xong tiểu học, cùng xóm có ba đứa được tiếp tục đến trường: Nguyễn văn Đi, Lê Độ và tôi. Chẳng bao lâu chỉ còn tôi với Độ, hằng ngày cặp kè bên nhau, qua lại sông Hàn trên một chuyến đò, nên càng thân thiết. Một hôm, theo thường lệ, tôi ghé nhà thì bà ngoại Độ cho hay Độ đã về thăm quê nội. Nghe nói, tôi vừa buồn vừa giận, chuyện quan trọng như vậy mà Độ giấu tôi. Rồi một tháng, hai tháng… Độ vẫn biệt tăm biệt tích. Nhiều lần tôi gặng hỏi, bà ngoại, sống trơ trọi một mình, cứ lắc đầu, và rươm rướm nước mắt: “Cháu đi đi, đừng chờ nó!”. Vẫn con đường cũ, nay thiếu bạn, sao nó dài lê thê, ngút ngàn dưới mưa phùn gió bấc của một mùa đông.

Bỗng một ngày nọ có tin đồn chính phủ sắp đem xử tử một ông Việt Cộng tại sân vận động Chi Lăng giữa thành phố Đà Nẵng. Cái tin kinh hồn ấy làm chấn động cả giới học trò. Hồi nhỏ, tôi chưa biết Việt Cộng là cái giống gì, nhưng lại sợ, vì tôi nghe người lớn kể ngày xưa Việt Minh có cái đuôi rất dài, sau vào rừng sinh con đặt tên là Việt Cộng, nhờ đuôi nó ngắn bớt, mặc quần không cộm lắm. Chắc thân hình khác lạ thế nào đó, mà dân làm nghề chài lưới trong xóm tôi tôn lên hàng “ông”.

Tôi nằng nặc đòi anh Ba Chua, con bà cô, dẫn đi coi “ông” sắp bị tử hình. Đến nơi hai anh em chẳng dám chun vô giữa, chỉ thoáng thấy ông bị bịt mắt bằng vải đen, hai tay trói quặp vào cây trụ, kế chồng bao cát như vách tường dày. Đồng bào xem rất đông, ai cũng chen lấn lên phía trước, đẩy lùi dần tôi ra sau làm tôi không nghe rõ tiếng đọc bản án, tiếng khóc của tội nhân. Đang lúc tôi lăng xăng tìm một chỗ trống để chui tới thì nghe mấy phát súng liên tục, tiếp theo là những lời xì xào:

– Ông chết hẳn rồi, cái đầu đã gục xuống.

Có người cãi lại:

– Ông gì? Tên Lê Độ này tuổi còn nhỏ, học trò!

– Học trò mà đi làm Việt Cộng à?…

Tôi giật mình và xây xẩm mặt mày, tướng chừng như bị ai đập vào đầu, tôi vừa bật khóc vừa luồn ra khỏi đám đông, kêu to: “Anh Ba ơi! Anh Ba Chua ơi Thằng Độ, bạn em, lính bắn chết rồi, anh Ba ơi!”. Tôi khóc la inh ỏi. Không thấy anh đâu, tôi quýnh quáng lủi thẳng xuống bến đò về An Hải báo gấp cái tin khiếp đởm này cho ngoại của Độ biết. Vừa hay chuyện bà nằm lăn giữa nhà giãy giụa khóc sướt mướt.

Sau, mỗi lần tôi ghé qua thăm, bà cứ tướng tôi là Độ, bảo:

– Xuống lấy cơm ăn đi, ngoại để phần ở nhà dưới kìa!…

Tôi không còn nhớ rõ sau ngày Lê Độ chết là bao lâu, cuối năm 1958 dưỡng phụ tôi thuyên chuyển ra lái chiếc tàu TG-5 của Quan Thuế Huế. Ông cụ cũng đem tôi theo, để ăn ở ngay trong Ty, cạnh bờ sông Hương, và học lại đệ tứ trường Bồ Đề, chi nhánh bên hữu ngạn, gần sân vận động Tự Do. Năm đó, gặp dịp chiếc TG-5 chở Tổng Thống Ngô Đình Diệm với mấy viên chức cao cấp Việt lẫn Mỹ chạy vòng vòng ngoài cửa biển Thuận An chơi, tôi cùng thằng bạn học tên Lê văn Hoàng, con Thuyền trưởng Lê văn Qui, được hân hạnh “tháp tùng”. Nhưng, suốt cuộc hải trình đi và về, hai đứa bị nhốt cứng dưới khoang máy, chẳng cho lên boong. Bác Lê văn Qui, thuyền trướng sợ tụi tôi lấc xấc, chạy tới chạy lui, vô lễ trước mặt Tổng Thống, coi như vua của miền Nam. Để bù lại, tôi và Hoàng, mỗi đứa có một phần ăn trưa, đĩa cơm chiên với miếng thịt gà rất ngon, giống người lớn.

Bị nhất, tuy nói là khoang máy chứ chiếc TG-5 cũng có đủ tiện nghi, nào bếp núc, nơi ăn chốn ngủ, nào các vật dụng tân kỳ hấp dẫn tay chân phải rờ mó. Mỗi bên hông căn hầm có ba khung cửa kiếng tròn, đường kính bằng trái banh, ngoài kia là màu xanh của biển, sóng nước nhấp nhô bọt trắng.

Được đâu một lát tôi thấy quá tù túng, nóng nực, bực bội. Trong lúc Hoàng còn trầm ngâm bất động, tôi ngả lưng xuống giường và đột nhiên tôi nhớ lại cái chết thằng Độ ngày nào. Hình ảnh đôi mắt nó bị bịt cứng, tiếng súng nổ, lẫn tiếng người xì xào…Tôi hình dung những viên đạn đồng vút tới đâm vào đầu, bể óc ra, vào ngực nát bấy trái tim thằng bạn 15 tuổi, tôi vụt gầm gừ lên thành tiếng như con thú dữ trúng thương, rồi tôi vỗ vai Hoàng:

– Mày ở đó, tao lên boong.

Hoàng nheo mắt:

– Hả, mày muốn chết? Coi chừng, ông Tổng Thống bỏ tù!

Tôi chần chừ, suy nghĩ, cuối cùng vẫn giữ ý định đến trước ca-bin “yết kiến” Tổng Thống. Lúc sáng tôi thấy ông ngồi bên tay lái, kế dưỡng phụ tôi. Tôi sẽ đặt vấn đề, van xin thì đúng hơn, vụ xử tử oan ức một thằng bạn tuổi còn ham chơi đá dế, bắn chim với tôi.

Tôi lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong đầu cho nhuần từng lời nói để thưa là Độ bị Việt Cộng dụ dỗ đặt chất nổ mà chưa nổ, chứ Độ cũng như con, có biết gì mấy ông “đuôi ngắn đuôi dài”. Xin ông tha. Biết đâu chừng Ngô Tổng Thống cảm động, lỡ giết rồi thì cho tiền bà ngoại già sống qua ngày.

Xong, tôi bèn thực hiện ý định. Thừa cơ cha tôi đang bận cầm volant điều khiển con tàu lướt sóng, lúc đó đã ra khơi, tôi lẻn chun lên, nhưng vừa khỏi đầu bậc thang thì chẳng may gặp bác Thuyền trướng Lê văn Qui, như đã rình sẵn sau lái, liền trợn mắt, đưa tay nắm cứng dái tai của tôi kéo ngược vô hầm tàu, xô ngã ngửa trên giường, kèm theo lời hăm dọa:

– Dám cả gan! Ngồi tại chỗ, còn lộn xộn tao ném đầu tụi bay xuống nước hết, nghe chưa?

Dứt lời, bác Qui trở lên đứng thẳng người nơi vị trí cũ. Hoàng thấy tôi bị ba nó túm cổ, bụm miệng cười, tôi thì nổi quạu.

Khi tàu về cặp bến, các nhân viên TG-5 bận đứng nghiêm, để các ông lớn lên bờ, tôi cùng Lê văn Hoàng thoải mái chun ra khỏi khoang. Tổng Thống Diệm lên trước, chân vừa chấm đầu cầu bằng gỗ ông quay lui, vừa mỉm cười vừa nhìn mấy người bước theo, thì bắt gặp hai thằng nhóc con đang nằm mọp trên boong đưa tay vẫy vẫy chào lén tiễn biệt ông về dinh cậu Cẩn.

* Sau 75, CSVN truy tặng Lê Độ là “Anh Hùng, Liệt Sĩ’ và đổi tên một trường trung học tại quận 3 Đà Nẵng thành trường Trung Học Lê Độ.

(4) Chương 6, trang 80- “Giặc Ngoài Loạn Trong”. Cuối năm 2000, tôi gởi biếu quyển Tiếng Hờn Chân Mây đến hai vị cựu Thượng nghị sĩ VNCH, Luật sư Nguyễn văn Chức và Bác sĩ Tôn Thất Niệm. Bất ngờ được đọc, như nghe lại những lời phát biểu của chính mình cách đây 26 năm về trước, trong một phiên họp khoáng đại thượng viện 1974.

Bs Niệm, có phòng mạch trên đường Bolsa, Nam Califomia, nói với Tác giả: “Lâu quá tôi quên, không nhớ những lời phát biểu của tôi”. Còn Luật sư Nguyễn văn Chức, từ Texas điện thoại qua, thì tỏ nỗi ngạc nhiên và xúc động: “Đúng là bài tham luận của tôi đã thất lạc. Ở đâu mà Vân có vậy?” Bỗng giọng ông như muốn khóc: “Tôi bị oan, Vân ơi? Tôi bị oan?”. Lời kêu oan ấy cũng làm tôi nao núng dù tôi không hiểu “bị oan” chuyện gì. Tôi nghĩ, ngày xưa ông là một vị thẩm phán nổi tiếng cương trực, sao lại bị buộc vào một tội nào đó. Hay ông cựu nghị sĩ buồn vì đọc thấy câu nói của ông Sáu: “Đấy, NS Tâm còn nương tay, đến lượt NS Nguyễn văn Chức thì ông đem hết những lời lẽ rất nặng ký, như những cú đấm thôi sơn nhắm thẳng vào Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, làm lung lay luôn cả chế độ. Do đó, bọn Cộng Sản chỉ đạp nhẹ thôi, miền Nam đã nhào trái. Đây, Vân xem tài hùng biện của một luật sư ‘Tr. 73).

Tôi nhớ năm ấy ông gọi tôi vào một chiều mùa đông, khác với quê nhà, nơi xứ lưu vong này trời lạnh căm căm, tôi càng thêm bùi ngùi sau khi ông vừa dứt lời.

(5) Chương 10, trang 140– Đỗ Đức Chiến, cựu thiếu tá, xuất thân khóa 20 VBQG Đà Lạt. Sau 2 năm Đại đội trưởng Đại đội 2/21 Biệt Động Quân, Đại úy Đỗ Đức Chiến chuyển qua làm Tiểu đoàn phó 39 BĐQ, thời Thiếu tá Vũ Đình Khang Tiểu đoàn trưởng. Đầu tháng 2/71, toàn bộ Liên đoàn I BĐQ dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 Hạ Lào.

Như đã diễn ra, ngày 8-2-1971, Tiểu đoàn 21 BĐQ khởi đầu cho trận đánh lớn nhất chiến trường Việt Nam, tiên phong từ biên giới nhảy vào Lào khoảng 10 cây số, tiến chiếm một ngọn đồi cao 300 thước, dưới chân là con đường mòn Hồ Chí Minh tại mốc số DC 1 6. Căn cứ này được gọi là Ranger South.

Kế tiếp, 11-2-71, trực thăng đổ Tiểu đoàn 39 BĐQ xuống một đỉnh núi phía đông bắc, cách TĐ21BĐQ hai cây số, Ranger North. Địch liền đẩy một trung đoàn tới tấn công liên tục. Sau mấy ngày kháng cự, thương vong quá cao, đạn dược sắp hết, địch quân càng vây hãm mà hỏa lực không yểm lại yếu, Tiểu đoàn 39 tuyệt vọng, thì có một trực thăng Hoa Kỳ đáp để tải thương, rồi cũng như mấy chiếc trước, bị bắn cháy, còn sống sót một người lủi ra giữa căn cứ. Gặp cơ hội Đại úy Đỗ Đức Chiến vội tới kéo anh ta xuống hầm Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn, và được biết đó là viên y tá Lữ đoàn 44 Quân Y Hoa Kỳ, tên Dennis Fujii. Tuy vậy, Đại úy Chiến vẫn sử dụng vào việc cứu nguy tình huống thập tử nhất sinh cho đơn vị là bảo Dennis Fujii gọi thẳng các giới chức Hoa Kỳ ở Khe Sanh khẩn cấp cho máy bay đến ném bom chặn địch sắp tràn ngập Ranger North.

Quả thật, vừa nghe tiếng người Mỹ (Fujii) gọi cứu, lập tức không những phản lực Phantom kịp vào yểm trợ, bắn quanh phòng tuyến Tiểu đoàn 39, mà còn có các Cobra hộ tống một trực thăng UH-IB đáp bốc Fujii của họ, và tiện thể tải luôn Đại úy Đỗ Đức Chiến lại vừa trúng đạn ngã trước mắt Dennis Fujii.

Như có đề cập trong Anh Hùng Bạt Mạng và nhắc lại nơi quyển THCM này, Đại úy Chiến đã được tôi cứu sống hai lần: chiếc trực thăng vừa nói trên, bị phòng không bắn gãy đuôi, sà đầu trên căn cứ 21 BĐQ rồi bốc cháy, Chiến được viên xạ thủ Mỹ lôi ra nằm ở sườn đồi giữa cơn pháo, tôi và hai người lính vội xông tới kéo ông xuống hầm BCH của Đại đội 2/21. Ngay đêm đó, tôi rút súng ngăn chặn kịp lúc Đại đội trưởng Trần Quang Giảng dí khẩu Colt45 vào đầu toan bắn Chiến, chỉ vì máu me từ các vết thương thấm ướt bầy nhầy và tiếng rên la của Đại úy Chiến làm Giảng mất ngủ.

Ba ngày nằm dưới hầm BCH/ĐĐ2/21 chờ trực thăng vào tải về Việt Nam, Chiến kể tôi nghe việc ông sử dụng Dennis Fujii. Sau này ở Mỹ liên lạc được nhau, Chiến có yêu cầu tôi không nên viết lại chuyện ông nhờ Fujii. Hiểu ý Chiến ngại rằng nhờ mà như là cưỡng bách Fujii. Tôi nói: Cuộc hành quân Lam Sơn 719 đã bể nát rồi trơ ra cái khốn nạn “đem con bỏ chợ”. Lúc đó, tháng 2 năm 71, các tướng lãnh Việt Mỹ đã chê trách nhau như mổ bò ở Khe Sanh. Chính Đ/u Chiến đã biến Fujii thành anh hùng, dù đó là anh hùng bất đắc dĩ trên chiến trường Hạ Lào năm xưa.

(6) Chương 11, trang 148-Tiền CSVN phát hành. Đợt đổi tiền đầu tiên vào mùa Thu 1975, sau mấy tháng quân Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam. Một đồng bằng 500 đồng cũ VNCH trước đó. Sự đổi bạc vội vã như vậy là mục đích của Hà Nội nhằm làm dân miền Nam vừa nghèo đói, giới tư sản phải trắng tay, vừa để cướp của và dễ cai trị.

(7) Chương 13, trang 171- Thi sĩ Xuân Diệu, tên thật Ngô Xuân Diệu, sinh năm 1917 tại Vạn Gò Bồi, quận Tuy Phước, Bình Định (quê mẹ), mẹ là bà Nguyễn thị Hiệp, vợ thứ hai của cụ Ngô Xuân Hiếu, làm thầy thuốc Bắc một dạo ở Qui Nhơn. Cuối năm 1937, xong ban thành chung, Xuân Diệu theo cha về quê nội Thanh Hóa, rồi ra Hà Nội học thi tú tài. Theo ông Hồ Cũ, người đồng tính luyến ái với Xuân Diệu, thì Xuân Diệu sớm nổi tiếng qua những bài thơ trữ tình, lãng mạn, trước khi in thành tập, như Thơ Thơ và Gởi Hương Cho Gió… mà thuở niên thiếu chúng ta hay đọc.

Khi Cộng Sản lên nắm quyền miền Bắc, người Thi sĩ ấy đã phải miễn cưỡng theo giáo điều thần thánh hóa “Bác và Đảng” quá lố lăng, nên các tác phẩm mới của ông không sáng giá mấy, cả quyển sách in sau 1976, chỉ có tính cách tạp ghi, kể lại chuyến vào Nam thăm gia đình dượng mẹ tôi ở xã Phú Hội, Đức Trọng, Lâm Đồng, nêu dẫn một số ít bài thơ như bài “Bắp”, “Thác Gu-ga”… và nói về một bà chị của ông ở Buôn Mê Thuột…

Dù không được Cộng Sản trọng dụng, thơ Xuân Diệu vẫn được dịch sang nhiều thứ tiếng. Ông có đi thăm các nước Nga, Hungary, Bulgaria… Vì tâm bệnh, ông thiếu may mắn trên trường tình, sống độc thân và háo hức “đồng tính luyến ái” cho đến ngày từ giã cuộc đời 1985, thọ 69 tuổi.

Lúc đó tôi đã ở Mỹ, nhận tin từ các chú em báo Xuân Diệu chết, tôi bàng hoàng và thư về hỏi dượng mẹ tôi nguyên nhân ông chết. Nhưng thư hồi âm không nói rõ. Tướng nên nhắc, trước lúc Xuân Diệu qua đời, tôi có đăng trên tuần báo “Tay Phải”, của Du Tử Lê, số 119, phát hành 7-2-1985 tại Nam Califomia, bài: “Xuân Diệu, Nhà Thơ Tâm Bệnh Hay Đồng Tính Luyến ái, Homosexual” mà nội dung như ở trang 171 Tiếng Hờn Chân Mây này, kèm theo bản gốc thủ bút bài thơ “Biển” với lời đề tặng tôi của Xuân Diệu. Bản thủ bút đó Du Tử Lê vẫn còn giữ, không trả lui lại tôi.

Việc tiết lộ “mối tình tay ba chồng chéo” đồng tính luyến ái, đã được sự chấp thuận của những người trong cuộc: Xuân Diệu, ông Hồ Cũ và thân mẫu tôi. Điều lạ, cả ba đều để lòng mình tuôn trào thành lời, lúc tôi ngồi đối diện Xuân Diệu, còn dượng mẹ tôi thay nhau kể lại câu chuyện cho tôi ghi chép. Chỗ nào không rõ, tôi xin được bổ túc, như hỏi tên bài thơ dượng Hồ Cũ đọc: “Có lúc tưởng chi để rơi tàn lửa, Tay vô tình gieo một đám cháy to…” thì chính tác giả Xuân Diệu cũng quên, ông gật gù đáp: “Cứ thế, không thi đề”.

Nhờ cuộc gặp gỡ này, tôi đã khai quật được bài thơ “Không Thi Đề”, tuyệt vời ngót 40 năm bị chôn chặt dưới nấm mồ quá khứ, với mối tình lạ đời của Xuân Diệu, một thi sĩ tài hoa và lãng mạn nhất trong nền văn học Việt Nam giữa thế kỷ 20.

Made in Vietnam

sangtao.org

Posted: 09/05/2013

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 18 Sep 2024

Blogger Nguyễn Hoàng Vi

Chắc bạn không thể nhận biết người trong ảnh này là ai? Nếu bạn từng thấy qua hình chụp cô mặc áo thun đen có in hàng chữ: “Free Đieu Cay Ta Phong Tan AnhBaSaiGon” trước ngực, vào năm ngoái, hẳn bạn sẽ ngờ vực như mình đã ngờ vực: Phải Nguyễn Hoàng Vi đó không? Nhân vật mà mình từng ví có nụ cười đẹp hơn cả tranh Mona Lisa.

Nhà nước Việt Nam đã mạnh tay tàn phá mọi thứ, kể cả việc chẳng ngần ngại khi muốn hủy diệt nhan sắc một người con gái. Mình không thể nhẫn tâm chưng lên cho bạn xem những tấm ảnh “xấu xa” khác, bởi mình tôn trọng Nguyễn Hoàng Vi. Em gái cô, Nguyễn Thảo Chi, bị công an đánh gãy mất nhiều răng, môi sưng, máu chảy đẫm ngực áo. Mẹ cô thì bị chúng dụi điếu thuốc đang hút vào mặt, cháy bỏng…

Mình đã ngờ vực, và mình đang buồn đau. Một nhà làm phim chắc sẽ loại bỏ kịch bản có những màn tra tấn tương tự. Chỉ trùm khăn vào đầu rồi đổ nước cho ngạt thở khi muốn lấy khẩu cung bọn khủng bố, họ cũng phải trả một giá đắt cho hành động ấy. Bạn là người hay thú vật? Câu hỏi đó được gióng lên trên những vùng đất còn biết đến tình người, họ e dè, đắn đo, run tay, dằn vặt, tự vấn lương tâm… nghĩa là những thứ tủn mủn vụn vặt đó không hề có trên đất nước mang tên Việt Nam. Khi công an nói lớn trước pháp đình: “Tự do cái con cặt!” thì điều ấy đồng nghĩa với sinh mạng mong manh của người dân sẽ bị chúng chà đạp không hôm nay thì ngày mai. Lo âu, thấp thỏm trên từng cây số một kiếp nhân sinh vốn ngắn ngủi.

Câu chuyện bắt đầu ra sao? Chắc có bạn không theo dõi, để biết. Thì chúng bắt Nguyễn Hoàng Vi về đồn, như đã từng trói ké cô ấy trước đây (phường Phú Thạnh, quận Tân Phú là chốn rừng thiêng nước độc khỉ ho cò gáy nào? Ở ngay trung tâm Sài Gòn sao?) Bắt, lục soát và tịch thu tất cả những gì cô mang trên người. Cô được thả về lúc hai ba giờ sáng, đợi hoảng loạn tạm lắng dịu, đợi mặt trời mọc, đợi ánh dương quang chan hòa, cô cùng gia đình (mẹ và em gái) trở lại đồn bót để đòi lại những thứ bị thu giữ. Và hậu quả là phía chân yếu tay mềm bị đổ máu, bị đánh hội đồng không khoan nhượng (ôi xương tan máu rơi lòng hận thù ngất trời- lời bài hát khát máu Giải phóng miền Nam dạo nào).

Bạn mình có lắm người viết văn làm thơ, họ sẽ nói gì nếu giả thử bị đón nghe câu hỏi: Em gái của anh bị bắt bớ đánh đập bầm dập như vậy thì anh sẽ có phản ứng nào, trong nhất thời? Mình tin những vị “kỹ sư tâm hồn” kia chắc cúi mặt xuống, thở dài; hoặc họ sẽ cầm lòng không đậu: Đéo mẹ, nói làm đếch gì cái bọn khốn nạn ấy!

Trong lúc này đây, bạn hiểu cho, người ta chẳng thể dối lòng để làm khác đi. Sự thơ mộng, cái ướt át lãng mạn thường hằng của thơ văn dường như buộc phải trốn vào góc tối. Người ta thổn thức trước những tin buồn vọng ra từ quê cũ và người ta ý thức sự bất lực của chữ viết, đôi lúc không chửi thề e không xong. Tiếc chẳng được như người xưa: Ngửa mặt vào cao xanh cười lên ba tiếng, gầm đầu xuống đất mà khóc rơi ba giọt lệ.

Bạn mình có thằng sắp đi Việt Nam. Hỏi: “Ông có gửi quà không? Tôi mang hộ”. Mình mua ít áo quần, hàng hiệu, khá đắt, xong giao cho nó cả túi lớn nylon. Nó cười như người lên cơn suyển: “Xời, mất mặt thế, sao toàn cả đồ Made in Vietnam? Mang về thì chúng cười cho thúi đầu”. Mình làm thinh, chửi thề trong bụng. Một cái bao tử luôn nhức nhối bởi cả triệu điều chẳng tài nào tiêu hóa nổi.

Rồi nó hồ hởi ra phi trường. Một ngàn rưỡi vé khứ hồi, bay suốt Montréal-Paris-Saigon. Mình chúc nó đừng gặp cảnh bị không tặc, an lành để đáp xuống Tân-sơn-nhất. Mình chúc nó sẽ bị chặt chém ở hải quan, chúc nó ra đường bị xe đụng, chúc nó bị dân anh chị có số má trấn lột, chúc nó bị công an sờ gáy, kết tội là đảng phục quốc và cầu trời cho nó bị đánh toe tua trong ngục tù. Đù má, mày tưởng Việt kiều là ngon hả? Việt kiều thì ông uýnh theo kiểu Việt kiều.

Nguyễn Hoàng Vi ạ, bọn chúng đánh người bạn của mình, cho tha hồ tẩm quất mình chẳng xót. Sao nghe Vi bị chúng hành hung mình lại xốn ruột lộn gan? Dù đôi ta chưa hề một lần gặp gỡ, trò chuyện hoặc có với nhau chút giây mơ rễ má nào cả. Mình có viết lách và đôi khi bình tâm để nhìn nhận điều này: Số phận của Vi bị dồn tới cái mà người ta gọi là bi kịch. Và bi kịch ấy, bọn cầm bút khó mà chia sẻ, với tới, đặt để vào trong tiểu thuyết.

Người ta thường có khuynh hướng khi dễ những thứ made in Vietnam, nhưng một thiếu nữ Việt Nam (đương đại) như Nguyễn Hoàng Vi thì mình cực lòng chẳng biết dụng chữ nào khác, ngoài hai chữ ngưỡng mộ, hai chữ đáng quý, hai chữ nhớ thương. Đã đủ 6 chữ vàng chưa, hở Vi cách biệt?

Hồ Đình Nghiêm

Làm sao có thể

sangtao.org

Posted: 12/01/2013

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 18 Sep 2024

Blogger Nguyễn Hoàng Vi

Ít nhất một lần, bạn từng nghe qua: Mona Lisa

bức tranh nổi tiếng của Leonardo Da Vinci.

Với mình, nụ cười xa lạ kia không thể sánh được

đóa an nhiên nở trên môi Nguyễn Hoàng Vi.

Thời gian gần đây, ít nhất một lần

bạn từng nghe qua, tên người blogger trẻ đẹp ấy

nghe hoang đường ngày cô bị trói vào đồn

bạo quyền trấn lột bắt cởi hết xiêm y.

Ít nhất một lần, mình đơm mộng tưởng

được ngồi đối diện Vi

bày khung bố để vẽ chân dung Mona Lisa Việt-nam

bất khuất là điều anh không thể lột tả

oan khiên là chuyện chẳng thể diễn đạt bằng ngôn ngữ cọ màu

mình ngắm không chán hậu duệ Hai Bà

cô mặc áo t-shirt đen

in hàng chữ Free Dieucay TaPhongTan AnhBaSaiGon

những danh xưng suốt đời mãi trăn trở

tìm đâu ra dân chủ tự do?

Ít nhất một lần, mình ao ước, làm sao có được chiếc áo kia

từng thấm rút mồ hôi Vi trong nắng gió bỏng rát quê nhà

đồ hàng hiệu Canada này vô số

gom chung lại, giá trị không bằng áo Vi mang

vẽ không đặng mình xin đề nghị

được viết tên Vi trên áo màu xanh

mình sẽ mặc ở bên ngoài đất nước

quê hương này bốn mùa lặng tiếng

yên bình tới độ chẳng còn đất

cho hoan hô đả đảo khuấy bụi mù

Nguyễn Hoàng Vi ơi

đất thì cứng chân thì mềm, nhất là chân con gái

chả biết chúc cô điều gì năm Rắn tới

những tốt đẹp thường đột tử ở quê ta

do vô vàn nọc độc loài người phun ra

hy vọng vô cùng cô mãi đứng “bên thắng cuộc”

là đóa sen thơm ngát trên hồ bùn tanh

chiếc áo đen và tinh anh nụ cười nở

cám ơn Hoàng Vi cấy cho mình những ước mơ.

Chiến Tranh, Người Lính, Và PTSD.

vvnm.vietbao.com

13/12/2019

Nguyễn Văn Tới

Post by Sơn râu 18 Sep 2024

Hình minh họa: Tưởng niệm.

Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây.
Những người lính Mỹ, trong đó có con em người Việt chúng ta, thế hệ thứ hai, đã và đang còn chiến đấu cho chúng ta được sống và làm việc an bình trên vùng đất lành này. Không ít những người lính đó đã để lại một phần thân thể nơi những vùng đất xa lạ, có người trở về với những vết thương trên thân mình, lại có người trở về với những vết sẹo khó lành ở trong tâm hồn, với những đêm mất ngủ khi ác mộng kéo về.
Trong chiến tranh Việt Nam, vào thập niên 70, người Mỹ mới nghe nói nhiều về căn bệnh “hậu chấn thương tâm lý” hay còn được gọi là Post Traumatic Stress Disorder (PTSD), mà nhiều cựu chiến binh mắc phải khi trở về từ chiến trường. Căn bệnh này ảnh hưởng đến hệ thần kinh làm người bệnh khủng hoảng tinh thần, cảm giác bất an, tội lỗi, tự dằn vặt, hoặc bị khó thở, đau đầu kinh niên, ứng xử cộc cằn, và bị ác mộng về đêm vì họ đã phải trải qua, chứng kiến những thảm cảnh chết chóc, hãi hùng vượt quá bản chất của con người trong chiến tranh.
Những cựu binh Mỹ khi trở về, đã không được chào đón, mà còn bị kỳ thị với ánh mắt khinh bỉ của dân chúng vì những phong trào phản chiến, những thành phần khuynh tả cực đoan. Khi những người cựu quân nhân này đi xin việc, đa số bị từ chối vì ác cảm. Điều này cũng làm trầm trọng thêm căn bệnh PTSD và khiến nhiều người phải tìm quên trong men rượu hoặc chất kích thích như cần sa hay bạch phiến mong quên đi quá khứ kinh hoàng và hiện tại đau thương. Nếu gia đình và cộng đồng hiểu và nâng đỡ, họ sẽ vượt qua được chấn thương tâm lý này, còn không, một số trong bọn họ sẽ trở thành kẻ không nhà, tội phạm, nghiện ngập, lang thang khắp các đường phố mà không còn thiết đến ngày mai.
Giờ đây những cuộc chiến ác liệt ở vùng Trung Đông vẫn còn dai dẳng đến ngày nay như Iraq, Syria, và Lybia v…v…. Riêng mặt trận Afghanistan đã kéo dài hơn 18 năm nay, tốn biết bao nhiêu tiền bạc và xương máu của người Mỹ. Những cuộc chiến này mục đích là cố gắng quét sạch tận gốc những tổ chức khủng bố từ trong trứng nước, ngay từ những quốc gia nuôi dưỡng khủng bố và cực đoan. Tôi có dịp làm việc và đi công tác ra nước ngoài nhiều lần cùng với anh JF, một đồng nghiệp cùng sở, trạc hơn 40 tuổi, ít nói, hay trầm tư. Anh là chuyên viên về avionics (điện máy bay) và software (phần mềm), trực tiếp hỗ trợ chúng tôi khi cần thiết. Vì tính khí anh bất thường nên không mấy ai thân mật với anh ta, ngoài những lúc công việc đòi hỏi mà thôi. Phải mất một thời gian dài tôi mới để ý anh ta hay có những cử chỉ đôi khi rất kích động pha lẫn lo âu, chán chường, hay rơi vào trạng thái cô độc, trầm tư một mình và xử sự rất khác người. Có những ngày anh ta không muốn ăn uống gì cả, chỉ qua loa cho xong bữa mà thôi.
Trong 1 chuyến công tác xa nhà bên Châu Phi, chúng tôi 5 người, ngủ chung trong 1 căn phòng nhỏ, một đêm bị thức giấc giữa đêm vì tiếng ú ớ, la hét hoảng sợ của JF. Anh bật dậy, ngơ ngác, rồi ngồi thu lu một mình trong bóng đêm với hai tay ôm chặt hai bên thái dương, rồi nằm xuống trăn qua trở lại chờ trời sáng. Hôm sau, anh xin ván ép và tự đóng cho mình 1 cái hộp vừa đủ bao quanh giường mình, không muốn làm phiền những người kế bên. Một phòng thật nhỏ bên trong một phòng ngủ cũng nhỏ.

Sau này khi thân nhau hơn một chút, anh thường hay hỏi tôi kể về chiến tranh Việt Nam và thái độ của người Việt Nam đối với lính Mỹ ra sao. Tôi thật thà kể anh nghe về những điều tuổi thơ tôi trải qua trong chiến tranh, những chết chóc, tang thương trong tết Mậu Thân 1968 và những xác người la liệt trong rừng, trên con đường tử lộ 7B, mà tôi là 1 cậu thiếu niên trên trong đoàn người di tản đó, con đường dẫn về Tuy Hòa khi quân đoàn II rút khỏi Pleiku tháng 3, năm 1975. Tôi cũng không quên trận pháo kích vào trường tiểu học học Cai Lậy giết chết các em học sinh vô tội. Những lúc đó, anh ngồi thừ người ra, im lặng, vẻ suy tư mông lung lắm. Mấy ngày sau đó, anh cũng không muốn nói chuyện với ai, kể cả tôi.

Hình minh họa căn bệnh PTSD (Post Traumatic Stress Disorder).


Một ngày, khi đang lan man chuyện trò, anh chợt hỏi món ăn Việt Nam nào ông thích nhất? Tôi trả lời, phát âm kiểu Mỹ: – Pho. Anh nói không phải “pho” mà là “phở”. Lối phát âm hệt như người Việt chính cống làm tôi ngạc nhiên. Anh giải thích vợ cũ của anh gốc Việt, mẹ vợ là người Việt Nam. Bà theo chồng là lính Mỹ gốc Phi về nước sau khi quân đội rút khỏi Việt Nam. Anh và vợ có một con trai khoảng 10 tuổi, khi ly dị, đứa con ở với vợ.
Rồi dần dần chúng tôi thân nhau hơn, hay ngồi ăn cùng bàn, càng ngày tôi càng hiểu anh ta nhiều hơn. Sau 20 năm trong quân đội, anh giải ngũ vì nhiều triệu chứng trầm cảm và thần kinh. Bác sĩ cho hay anh bị hội chứng PTSD, đến 70%. Trở về đời sống dân sự, anh có thể không cần đi làm mà vẫn sống đủ với tiền lương hưu và thương tật từ quân đội, nhưng anh đi làm để khuây khỏa và quên đi quá khứ vẫn còn đeo bám anh. Hiện anh đang có cô bạn gái gốc Mễ, đã một đời chồng và có 1 đứa con gái riêng. Cô là y tá trong bệnh viện cựu chiến binh, cả hai hứa hẹn sẽ nên duyên vợ chồng trong một vài năm nữa. Anh hay khoe nàng có làn da nâu, một mái tóc huyền rất dài, và đôi má lúm đồng tiền thật sâu hai bên má mỗi khi nàng cười. Những lúc này, khuôn mặt anh rạng rỡ và hạnh phúc.
Sau đây là lời tâm sự của JF, xen lẫn với lời kể của tôi:

JF:
Tôi đăng vào lục quân khi vừa xong bậc trung học để thoát khỏi kiếp không nhà, ăn nhờ ở đậu trong một nhà kho chứa nhạc cụ của trường. Cha tôi bỏ bê gia đình đi theo một mối tình mới. Mẹ tôi, một nách 3 đứa con, không nghề nghiệp gì, cũng đi theo một người đàn ông khác. Ba anh em mỗi đứa một nơi. Người chị lớn bỏ đi sống chung với bạn trai năm 17 tuổi, người anh kế kết bè đảng đi ăn cướp, rồi bị tống vào tù.
Riêng tôi còn hai năm nữa mới xong trung học. Nhờ chăm chỉ và sáng dạ nên một ông thày thương tình đem tôi về ở trong nhà kho chứa nhạc cụ của trường để ăn ngủ tạm ở đó cho đến khi xong trung học. Ngày tốt nghiệp cũng là ngày tôi từ giã bạn bè và người thày tốt bụng lên đường vào quân ngũ.
Lễ tốt nghiệp trung học cũng là ngày trọng đại nhất trong cuộc đời tôi vì vừa đủ tuổi đi lính, đủ khôn ngoan để có thể đứng vững trên đôi chân mình không phải nhờ vả ai, và nhất là để có thể tự quyết định lấy cuộc đời mình. Tôi mơ ước khi vào lính, tôi sẽ gia nhập lực lượng đặc biệt, lính thứ dữ để trở thành một “door-kicker”, một người hùng luôn đi đầu trong mọi chiến dịch.
Sau khi trải qua mấy tháng quân trường như mọi người lính khác, tôi tình nguyện gia nhập lực lượng đặc biệt ARSOF (Army Special Operation Forces) làm người lính chiến trực tiếp cho National Security Agency thuộc bộ quốc phòng. NSA chuyên về công tác tình báo tuyệt mật, đột nhập, do thám, đánh chiếm cứu con tin, hay vào tận sào huyệt bắt sống những kẻ thù còn được gọi là HTV (High Target Value) để đem về điều tra. Tôi bắt đầu khóa huấn luyện đặc biệt kéo dài 1 năm, chuyên về kỹ thuật cao cấp để bẻ khóa (hacking), mã hóa (cryptology) về điện toán, kiến thức khoa học, khả năng chuyên môn biết xử dụng trang thiết bị lấy dấu vết và phân tích vân tay cho đến khuôn mặt con người.
Sau cùng là khóa huấn luyện kỹ năng sống còn, mưu sinh thoát hiểm, cấp độ C (C-level) có tên là: S.E.R.E. (phát âm là “XIA”), viết tắt (acronym) của 4 chữ: tạm dịch như sau: Survival: Sống sót. Evasion: Tránh né. Resistance: Chống cự. Escape: Thoát hiểm.

Tôi:
Mỗi lần đi công tác nước ngoài (oversea deployment), trước khi được gởi đến những vùng chiến sự, tôi cũng phải qua khóa này trong một thời gian 7 ngày, nhưng ở mức độ A (A-level), cấp độ vỡ lòng, không khó khăn lắm cho nhân viên dân sự. Phần lý thuyết bao gồm cách sống còn khi lạc trong rừng, làm cách nào không bị đói, khát, cách giữ ấm, cách đánh dấu, liên lạc với phe ta, và kiếm đồ ăn cho tới khi được cứu. Nếu bị bắt thì ứng xử ra sao, tránh để bị mua chuộc làm hại bạn đồng tù. Cách hành xử và tránh né khi bị điều tra ép cung. Cuối cùng là nếu bị bắt, phải cố gắng để lại dấu vết cho biết nơi mình bị bắt. Trong tù, phải biết cách gõ trên tường, liên lạc với nhau bằng Morse code. Nếu có cơ hội, dù với nhiều bạn tù hay một mình, thì vượt ngục cách nào. Dù không phải chiến binh, chúng tôi vẫn có quyền yêu cầu được đối xử theo diện tù nhân chiến tranh chiếu theo luật quốc tế Geneva Convention.
Quan trọng nhất là phải giữ niềm tin tuyệt đối rằng nước Mỹ, tổ quốc sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn. Nếu ai đã coi phim “Saving private Ryan”, cứu binh nhì James Ryan thì biết. Phim này dựa trên cốt truyện có thật của một gia đình có 4 con trai đều đi lính trong thế chiến thứ II. Ba người anh lớn đều hy sinh ở chiến trường. Cấp chỉ huy quyết định sai đại úy John Miller (Tom Hanks thủ vai) dẫn một tiểu đội đi ra tiền tuyến trên đất Pháp, bằng mọi giá phải đem người con út trở về cho người mẹ góa đang cạn nước mắt vì mất con. Nhiệm vụ thành công, nhưng giá phải trả là nhiều chiến sĩ trong nhóm hy sinh tính mạng chỉ để cứu chỉ một anh binh nhì (1).
Trong cuộc chiến Việt Nam, tháng 11, 1970, một nhóm 56 biệt kích Mỹ nhảy toán vào đất địch bằng trực thăng để cứu 61 tù binh Mỹ trong một trại tù Sơn Tây miền Bắc (2). Sứ mệnh này thất bại vì tin tình báo sai. Quân cộng sản NVA (North Vietnam Army) đã kịp dời tù binh về Hỏa Lò, Hà Nội. Tuy nhiên, hành động này có tác dụng rất tốt khích lệ tinh thần binh sĩ. Mới đây, trong trận chiến dịch Desert Storm ở Iraq năm 2003, lực lượng đặc biệt Mỹ đã bất ngờ đột kích vào tận trong một bệnh viện địch, chỉ để cứu 1 người nữ chiến binh quân nhu tên Jessica Lynch (3). Còn nhiều nhiệm vụ giải cứu khác nữa được ghi trong quân sử, đủ nói lên tinh thần không bỏ đồng đội lại phía sau của quân đội Mỹ.
Sau phần khám sức khỏe rất gắt gao (physical test), nhiều người rớt, phải về nhà. Ai mang bệnh “3 cao” khó mà vượt qua nếu không có giấy chứng nhận (waiver) của bác sĩ. Phải có hình X-ray của răng để lỡ có “sa cơ trên chiến trường thọ tiễn”, hình hài không nguyên vẹn thì còn có thể nhận ra nhờ hàm răng. Mắt nếu đeo kiếng thì phải đem theo ít nhất 2 cặp. Tai phải nghe thật rõ và trình ra giấy khám hearing test mới nhất. Giấy chích ngừa phải đầy đủ theo sự yêu cầu của nước mà chúng tôi sắp đến.
Đến phần lý thuyết, phải qua kỳ thi online bằng computer, nếu đủ điểm, sẽ đến phần thực tập như bắn bia, tự thoát hiểm. Nói về bắn bia, tôi không biết tôi thuộc loại khác thường hay bất thường: Vào cuối tuần, bạn bè hay rủ nhau vào rừng bắn bia. Tôi luôn là chủ đề cười của cả nhóm vì nếu để 2 cái chai, tôi nhắm cái bên phải thì thế nào cũng trúng cái bên trái và ngược lại. Nói nôm na là tôi nhắm người này thì sẽ trúng người kia. Vậy mà khi huấn luyện, tôi bắn trúng 24/25 phát, trật có 1 viên. Chắc tôi thuộc loại bất thường.
Tôi được trang bị đầy đủ “gear” như quần áo, giầy, mặt nạ chống hơi độc, chống phóng xạ; kể cả áo giáp, nón bảo vệ đầu loại LWH làm bằng vật liệu nhẹ kevlar chống đạn. Tất cả cân nặng khoảng gần 50 pounds trong 1 túi dết lớn có quai đeo vai (xắc Marin). Riêng áo giáp, chúng tôi được phát loại cũ dùng trong chiến tranh Việt Nam, cân nặng khoảng 30 pounds, cái nón nặng 3 pounds, trong khi những người lính được trang bị áo giáp loại 16 pounds, nhẹ hơn vì họ còn phải mang súng ống, đạn dược.

Tôi và 3 người nữa bước lên xe Humvee và cài dây an toàn (seatbelt). Phần này được tập luyện trong nhà (indoor facility) trang bị với hệ thống thủy lực (hydraulic system) để nâng xe và các xe cơ giới to lớn khác. Chiếc xe được cho lật úp, 4 bánh đưa lên trời, tất cả bị treo ngược đầu xuống đất. Mọi người trên xe phải tuân theo người trưởng toán, lần lượt từng người một, tự tháo dây an toàn và thoát hiểm sao cho không bị thương tích trong một thời gian nhanh nhất có thể.
Nghe giải thích tưởng dễ, nhưng khi “đụng trận” mới biết đá biết vàng. Tôi không còn trẻ như các đồng nghiệp khác, khi khoác lên mình cái áo giáp nặng chịch, thêm cái nón bảo vệ. Khi xe lật úp, đầu tôi dộng xuống trần xe bằng thép tưởng có thể quẹo cổ. Thêm dây an toàn xiết chặt vào bụng và ngực làm tôi nghẹt thở và máu dồn xuống mặt. Cái khó là làm sao, trong khi ở tư thế đầu lộn ngược, mà vẫn có thể bình tĩnh ấn nút nhả khóa dây an toàn và cả thân hình rớt xuống với hai tay chống để không bị gãy cổ.
Nếu tôi không điều chỉnh nón an toàn vừa khít và chặt chẽ đủ, khi lộn ngược, nón sẽ văng ra và cái đầu sẽ đụng trần xe. Một là gãy cổ, hai là bị thương nơi đỉnh đầu vì cú va chạm. Cái nón lúc này thực là cứu tinh cho cái đầu trọc của tôi. Đọc và hiểu cặn kẽ những bài học lý thuyết là rất cần thiết cho phần thực hành. Nhiều người đồng nghiệp “thi rớt”, bị mời về, không được đóng dấu “passed” cho đi công tác. Hầu hết những người nặng ký, mập, hoặc vì huyết áp cao, hay chóng mặt đều không qua nổi giai đoạn này.

JF:
Những người lính đặc nhiệm như tôi thì bắt buộc phải được huấn luyện khóa S.E.R.E (4) ở cấp độ khó khăn hơn nhiều so với những người lính bình thường. Khóa học này kéo dài 19 ngày. Nhiều lần tôi tưởng phải bỏ cuộc vì phải trải qua những đau đớn về thể xác và căng thẳng về tinh thần của khóa huấn luyện kinh hoàng này. Chúng tôi học cách sống còn trong rừng rậm, trên sa mạc, cách làm bếp (Dakota hole) nấu nướng không có khói, cách tìm và làm chỗ ẩn nấp an toàn. Tất cả đều được huấn luyện trên thực địa của sa mạc nóng bỏng, bị rượt đuổi ngày đêm; nhiều lúc kiệt sức tưởng chừng có thể chết được. Một vài đồng đội té xỉu và nôn mửa đến mật xanh.
Một đêm cuối tuần được xả trại đi chơi ở Las Vegas, đêm khuya lắm, chúng tôi trở về căn cứ huấn luyện ở Indian Springs, Nevada. Đoạn đường này vắng vẻ, chiếc xe van chở cả nhóm bất ngờ bị chặn đường bởi hai chiếc xe không biển số. Một toán người bịt mặt, võ trang với súng ống lăm lăm bao vây chúng tôi. Mọi người bị dí súng và trùm đầu bằng bao tải, bị đánh, bị quăng xuống đất, tay bị trói bằng dây nhựa (zip-locks) quặt ra sau lưng, và bị đưa đến một nơi không ai biết là đâu, và cũng không biết bọn bắt cóc này thuộc nhóm khủng bố nào.
Chúng tôi được dẫn xuống một nơi ẩm ướt, lội nước bì bõm đến gần đầu gối mà tôi đoán là một đường hầm. Sau đó chúng tội bị lột trần truồng, bị chế nhạo, bị chửi rủa bằng thứ tiếng Mỹ nặng âm sắc của người Ả Rập, bị làm nhục, bị dội nước lạnh, răng va vào nhau nghe lộp cộp, xen lẫn với những tiếng la hét, cười cợt bằng những ngôn ngữ rất lạ tai. Hành hạ chán chê, chúng tách riêng từng người, nhốt chúng tôi vào những xà lim tối tăm mà khẩu phần ăn chỉ vừa đủ để không phải chết đói. Có người bị đem đi trấn nước (water boarding), người thì bị mua chuộc, hứa hẹn khai ra bạn mình thì sẽ được chấm dứt cực hình ngay lập tức. Tôi nghĩ phen này chắc mình sẽ chết vì bọn khủng bố này.
Qua hai ngày bị thẩm vấn, ép cung, lẫn mua chuộc, thỉnh thoảng còn bị đấm đá, phải chịu đựng đói khát trong đêm đen, không biết ngày hay đêm. Một mình tôi một xà lim, thân thể suy nhược vì lạnh, thiếu ngủ, và bị khủng bố tinh thần, tôi không còn tỉnh táo, chỉ muốn khai hết cho được yên thân, thậm chí muốn chết đi cho khỏi phải chịu đựng cực hình. Nhưng nghĩ đến những bài học mới đây không bao lâu, tôi lại tự động viên và tự nhủ phải ráng lên, rồi sẽ được cứu vì mình đang còn ở trên đất Mỹ mà.
Trong sự tuyệt vọng ghê gớm đó, tiếng loảng xoảng của xích sắt xen lẫn tiếng bản lề rỉ sét của cánh cửa phòng giam mở ra, tôi bị bịt mắt và dẫn đi để tiếp tục bị tra khảo và lấy cung. Một bàn tay to lớn đè vai tôi ngồi xuống ghế, hai tay lại bị trói quặt sau lưng. Giọng nói quen thuộc nhưng dữ dằn cho tôi hay nếu không chịu khai, họ sẽ đem tôi đi bắn. Tôi hoảng sợ cực độ, trong một thoáng thật nhanh tôi tự nhủ không lẽ đời mình đến đây là hết? Tôi nghĩ đến người mẹ bạc lòng của tôi, người chị, và người anh mà bao năm nay tôi không hề thương nhớ, mấy thằng bạn vừa quen trong quân trường.
Nhiều hình ảnh đến và đi trong lòng tôi như ánh chớp, lòng tôi chợt trống rỗng và nhẹ tênh. Tôi tự an ủi chết là cùng, mình chẳng còn ai thân thiết để yêu thương, chết đi tôi sẽ không còn biết khổ đau nữa. Đột nhiên một cảm giác rất bình an xâm chiếm tâm hồn tôi, tôi không thiết sống hay sợ hãi nữa. Tôi nhất định giữ im lặng. Tiếng lên đạn của một khẩu súng nghe sắc và lạnh, đồng thời giọng nói cất lên “đem nó đi”. Sắp đến lúc mình được giải thoát rồi, tôi thầm nghĩ, tuy trong lòng lẫn lộn một cảm xúc khó tả. Bàn tay thô bạo lại kéo lê tôi đi ngoằn ngoèo một lúc lâu rồi dừng lại.
Cũng bàn tay thô nhám đó đưa lên cởi khăn bịt mắt cho tôi. Trong bóng tối mờ ảo, tôi chưa kịp định thần mình đang ở đâu, thì một giọng nói vang lên bằng tiếng Mỹ rất chuẩn: “Congratulations, you’ve made it”, chúc mừng bạn vừa thành công. Đèn trong phòng bật sáng, viên trung sĩ huấn luyện ngồi ở bàn giấy, tiến tới vừa bắt tay tôi thật chặt vừa nói: “You’re one of us. Welcome aboard”, bạn là người của chúng tôi, chào mừng gia nhập nhóm. Rồi nhiều tiếng vỗ tay vang lên, nhìn quanh, tôi thấy vài huấn luyên viên khác và vài người bạn cùng nhóm bị bắt với tôi, họ đã ngồi ở đó tự bao giờ và đang tủm tỉm cười nhìn tôi với ly cà phê còn bốc khói trên tay.
Tôi như không tin vào mắt mình vì quá đột ngột, xúc động lẫn vui mừng. Giờ đây tôi đương nhiên vinh dự đứng vào hàng ngũ của những chiến sỹ hào hùng của lực lượng đặc biệt. Thì ra cuộc bắt cóc này được dàn dựng như thật, không ai trong chúng tôi được báo trước, ai cũng tưởng mình bị bắt cóc bởi một nhóm khủng bố thật sự. Họ theo dõi chúng tôi qua những máy quay phim dấu kín trên tường phòng giam. Mọi cử động của chúng tôi đều được họ ghi hình và phân tích, đề phòng trường hợp ai đó quá tuyệt vọng đưa đến tự sát. Lần lượt mọi người đều gặp nhau trong căn phòng giờ này đang đầy ắp tiếng cười, khói thuốc lá, và bánh trái ê hề.
Ngay hôm đó, một chuyên viên tâm lý đặc biệt phỏng vấn tất cả những người được chọn và cho chúng tôi một cơ hội chót là vẫn chưa muộn để có thể xin rút ra khỏi đơn vị và trở lại làm một người lính bình thường. Đương nhiên, không một ai trong chúng tôi xin rút lui vì đoạn đường chúng tôi đã đi quá xa để trở lại điểm đầu tiên. Kể lại chuyện này, tôi vẫn nghĩ, nếu phải làm lại từ đầu, tôi sẽ không bao giờ muốn điều này lập lại lần thứ hai.

Tôi:
Sau 1 tuần lễ huấn luyện khá dễ dàng, chúng tôi được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện để vào “vùng lửa khói”. Chứng chỉ này chỉ hiệu lực trong vòng 1 năm. Năm sau, nếu đi nữa thì lại phải học và thi lại như học sinh mới. Tuy nhiên ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm khi cầm được tờ giấy “ra trường”. Ngày mai chúng tôi sẽ đáp chuyến bay Mil-Air (Military Airlines) qua Châu Âu, dừng ở Đức lấy nhiên liệu xong, tiếp tục bay qua một căn cứ quân sự ở Trung Đông. Từ đó đổi qua các chuyến bay ngắn đến nơi làm việc bằng máy bay vận tải cơ C-17 hay C-5 Galaxy.
Chúng tôi, những nhân viên dân sự, ăn và ở cùng với những người lính để chia xẻ gian khổ với họ. Chúng tôi ở trong lều, nằm ngủ trên những ghế bố, ăn chung mâm với họ, đôi khi lương thực chưa đến kip, phải nhai lương khô là những bịch MRE (Meals-Ready-to-Eat). Nói chung, chúng tôi đồng cam cộng khổ với người lính để có thể hiểu được những ưu tư, cảm thông nỗi buồn xa vắng gia đình của họ. Đôi khi may mắn hơn, chúng tôi được ở trong những căn nhà tiền chế (pre-manufactured houses), hoặc ngủ trong những containers, thùng chứa hàng có gắn máy lạnh, nhưng không phải là “thùng nhân”.
Chuyến công tác đầu tiên, tôi suy nghĩ đơn giản lắm, tôi tự nhủ hồi ở Việt Nam, ngủ rừng, ngủ bụi, ngủ trên ghe, thuyền đâu có sao, mấy cái này nhằm nhòi chi. Những đêm đầu tiên, tôi không thể nào ngủ được vì cái nệm cứng quá, đau lưng không chịu nổi. Tôi quên rằng bao năm quen giường êm, nệm ấm ở Mỹ, tôi đã trở thành người Mỹ lúc nào không hay.
Còn nhớ những ngày chặt củi Đước vùng duyên hải rừng Sác, tôi mới 18 tuổi. Ngày ăn cơm nguội với cá khô, mắm ruốc, làm việc như trâu bò; đêm ngủ trên chiếc ghe tròng chành, lắc lư. Một đêm, khi con nước lớn, tôi buộc mũi ghe vào một gốc cây Bần to lớn với cành lá xum xuê, và cắm cây sào tre vào phần lái để ghe khỏi bị xoay chiều, đoạn mắc giây mùng trên những cành cây. Xong việc giăng mùng, tôi “bắn” một bi thuốc lào thật say, chui vô mùng, ngả mình xuống sàn ghe ngủ như chết, không còn biết trời trăng mây nước gì cả. Trong giấc ngủ say, tôi vẫn biết tay tôi cứ đập muỗi và gãi liên tục; tôi mặc kệ, cố ngủ lấy sức mai còn vác củi. Gãi riết rồi chịu không nổi, phải bò dậy coi tại sao. Khốn khổ, cái mùng biến đâu mất. Nhìn lên trời, sao đêm lấp lánh, cái mùng treo lơ lửng tuốt trên cành cao. Hotel ngàn sao, trời ạ!
Thì ra, khi nước ròng (nước xuống), chiếc ghe cũng hạ thấp theo chiều nước xuống. Đàn muỗi đói rừng Sác nổi tiếng không thua muỗi Cà Mau, tha hồ sơi tái mấy cái thân xác gầy gò của chúng tôi. Sáng hôm sau, mình mẩy đầy vết muỗi cắn, vậy mà đâu có bệnh hoạn gì, vẫn mạnh trùi trụi. Chỉ sau này, khi bị sốt rét rừng hành hạ thừa sống thiếu chết, tôi mới hay thiên đường xã hội chủ nghĩa là đây. Chưa hết, thuở đó lòng sông Soài Rạp, có những sáng thức giấc, nước ròng sát, tôi giật mình thấy những con cá sấu nằm hai bên bờ đang lim dim đôi mắt và ung dung tắm nắng mà nổi da gà. Chúng không muốn ai làm phiền và cũng không muốn làm phiền chúng tôi. Thế mới biết “lâu rồi, đời mình cũng quen”, không còn sợ hãi nữa.
Trong những nhân viên dân sự, có một nghề tôi không thấy các sắc dân khác làm, ngoại trừ những người gốc Ả Rập nói được tiếng Farsi, nghề thông dịch viên. Đa số họ đến từ Anh (Britain), vài người từ Phi Châu, nhưng tôi chưa gặp một người Mỹ gốc Ả Rập nào làm nghề này. Tôi quen vài người trong bọn họ. Những người này hầu hết là thày giáo, hoặc kỹ sư tốt nghiệp các đại học ở Anh quốc.
Người tôi quen thân là một kiến trúc sư gốc Afghanistan, đến Anh tỵ nạn khi còn trẻ. Anh cho biết anh xung phong làm thông dịch viên chiến trường vì nghề này được trả rất nhiều tiền. Sau khi đi vài năm, vợ con ở nhà, có thể mua nhà một cách dễ dàng. Nếu đi cỡ 10 năm, anh có thể về hưu non và không cần làm gì cả mà vẫn sống khỏe re vì nhà cửa trả xong, bảo hiểm sức khỏe ở Anh không tốn tiền. Vợ chồng, 4 đứa con có thể sống với welfare một cách thoải mái.
Nghề thông dịch rất nguy hiểm, không như chúng tôi luôn ở trong trại, họ phải đi sát theo quân đội ra trận, đi tuần tiễu, hoặc theo các toán biệt kích trong những chiến dịch gian khổ và nguy hiểm. Họ không mang súng, nhưng được trang bị tận răng như lính chiến thực thụ với áo giáp loại đặc biệt nhẹ. Họ khổ hơn chúng tôi nhiều. Một số trong bọn họ bị bắn tỉa và không bao giờ trở về nhà. Thỉnh thoảng tôi lại gặp họ ở những căn cứ khác nhau, hỏi thăm về người bạn cũ, họ cho biết nó chết rồi, ở mặt trận…Nghe sao mà buồn quá!

JF:
Đời lính chiến vào sinh ra tử, tôi được gởi đi đến nhiều vùng đất xa lạ, đi đến bất cứ nơi nào khi có lệnh trên, với những nhiệm vụ mà không ai có thể biết trước mình sẽ đi đâu và làm gì trước giờ hành động chỉ một thời gian ngắn. Những chiến dịch đã đi qua, như COIN (Counter Insurgency), tôi rất thích thú và hào hứng với những cuộc phiêu lưu cảm giác mạnh khi được xông pha, đột nhập vào những hang ổ bí mật (safe houses) để giải cứu con tin, bắt những tên thủ lãnh trói gô lại, vất lên máy bay. Càng tham gia nhiều chiến dịch, tôi càng say mê với những pha vào sinh ra tử nhưng vui vì chiến công ngày càng nhiều.
Rồi biến cố tháp đôi World Trade Center, ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra khi tôi đang còn mãi bôn ba khắp mọi miền đất xa xôi ở Trung Đông. Lòng yêu nước lẫn căm thù những tên khủng bố hèn hạ đã thắp lên trong lòng tôi một ngọn lửa mới, thúc dục tôi chiến đấu thêm hăng say. Chúng tôi được triệu tập khẩn cấp và nhận nhiều nhiệm vụ hơn. Với một nhóm khoảng 10-12 người và chó quân khuyển, chúng tôi được không vận đến gần địa điểm bằng trực thăng đặc biệt bay rất sát mặt đất để tránh radar. Nhảy khỏi trực thăng, rồi di hành im lặng trong đêm đen, bao vây sào huyệt của bọn giặc, bất ngờ phá cửa vào để bắt trọn những tên có trong danh sách đen (HTV) trong ngôi nhà đó, nếu có chống trả, thì tiêu diệt.
Tấn công bất ngờ, hành động gọn gàng, rút lui nhanh chóng. Đó là châm ngôn của chúng tôi. Trước khi rút lui ra địa điểm tập hợp an toàn để trực thăng bốc ra khỏi vùng nguy hiểm, chúng tôi cài lại những con bọ điện tử và những cameras nhỏ xíu trong nhà mà mắt thường không thể nhận ra, trước khi kẻ thù trở lại với nhiều đồng bọn và vũ khí. Nhiệm vụ ngày càng nhiều hơn khiến tôi như trôi đi với những ngày đêm hành quân miệt mài. Mỗi lần xong một nhiệm vụ, tôi thấy hài lòng hơn với những gì mình đang đóng góp cho tổ quốc; đồng thời tôi cũng bắt đầu cảm thấy những thay đổi, suy tư trái ngược trong tôi. Nhiều chuyện làm tôi hoang mang, chùn tay, và nó bắt đầu ám ảnh tôi thời gian sau này.
Nhiều năm trôi qua, nhiều chiến dịch nguy hiểm với cái chết cận kề, tôi chưa bao giờ biết sợ. Lòng yêu nước và những hình ảnh nạn nhân tòa tháp đôi vẫn còn đậm nét trong tôi, là động lực giúp tôi thêm can đảm. Nhưng đôi lần, sau những trận đột kích chớp nhoáng, chứng kiến những cảnh tượng đau lòng, tôi bắt đầu tự hỏi tôi đang làm gì? Và tại sao cần thiết phải làm như vậy? Có chính nghĩa hay không khi phải giết tất cả những người có mặt trong những sào huyệt đó?
Một hôm, trong một chuyến công tác, chúng tôi cố hoàn thành công việc thật nhanh rồi rút lui, nhưng không kịp nữa rồi. Trên con đường rút lui độc đạo, một bên là vách núi, một bên là giòng suối. Chúng tôi rơi vào bẫy phục kích của địch. Cả ngôi làng bên kia bờ nước, chúng tấn công chúng tôi bằng hàng loạt đạn nổ vang rền. Một đồng đội ngã xuống vì bị bắn tỉa. Chúng tôi nằm rạp xuống sau những tảng đá ven bờ suối chống trả kịch liệt trong khi xin tiếp viện. Chúng tôi nằm chịu trận, không ngóc đầu lên nổi, và chờ vòng vây ngày càng xiết chặt.
Thêm vài đồng đội bị thương nặng khi cố gắng mở đường máu. Bất chợt, chúng tôi nghe rõ tiếng nhiều chiếc trực thăng Apache và Black Hawks bay đến cứu viện. Những tiếng nổ và cột lửa bốc lên cao. Cả ngôi làng chìm trong biển lửa. Chúng tôi mở đường chạy đến địa điểm an toàn, mang theo những đồng đội tử thương. Cuối cùng chúng tôi cũng về đến căn cứ trong bộ đồ chiến dơ bẩn dính đầy bụi và máu của bạn bè và của chính chúng tôi.

Tôi:
Tôi im lặng nghe JF kể chi tiết về những vụ đột kích, lùng kiếm và tiêu diệt địch trong những sào huyệt (strongholds), đôi khi phải phá hủy toàn bộ ngôi nhà mà không cần biết những ai đang ở trong đó, vì không giết thì mình sẽ bị giết khi chúng bắn trả; về những việc phải làm để xác nhận ID (identity) của tên khủng bố cần bắt sống, nhưng không thể đem xác chết của hắn theo khi rút lui. Tôi không dám kể hết ra đây vì nó quá sức tưởng tượng của tôi và của bạn, và vì nó tàn nhẫn quá.
Ai cũng nghĩ là lính thì hiếu chiến, khi ra trận bắn giết không đắn đo, không suy nghĩ; thực ra người lính là những người luôn mong muốn hòa bình. Họ là những người hay cầu nguyện nhiều hơn ai hết. Họ cầu nguyện vì họ biết họ sắp sửa đi vào chỗ chết. Họ là những người đi vào cuộc chiến, cả tinh thần lẫn thể xác. Bản thân tôi, trước khi đi, tôi cũng thường cầu nguyện cho được trở về an toàn. Bọn chúng vẫn hay bắn và pháo kích vào nơi chúng tôi ở, có khi vài lần trong 1 tuần. Có những đêm nằm dưới gầm giường tránh đạn, tôi nhớ đến Khánh Ly với bài hát “đại bác đêm đêm dội về thành phố…” của những năm xa xưa lắm trên quê hương tôi.
Tôi hay nói với JF chúng ta có thể thắng cuộc chiến, nhưng thua mất sự bình an trong tâm hồn, (we may have won the war, but lost the peace); nếu mình muốn hòa bình, thì phải chuẩn bị chiến tranh thôi (Si vis pacem, para bellum= If you want peace, prepare for war). Chiến thắng nào cũng có cái giá phải trả của nó. Tôi hy vọng điều này giúp anh ta đỡ ray rức, bớt tự dằn vặt và cũng là tự an ủi chính tôi.

JK:

Một buổi lễ truy điệu những đồng đội hy sinh trong sứ mệnh vừa qua trong căn cứ chúng tôi đóng quân. Giữa sân trại, một lá cờ tổ quốc được giăng tạm phía sau chiếc Humvee. Hai bên là những bao cát nhỏ với đôi giày trận, cây súng chống ngược xuống, trên đó là cái nón sắt (helmet) và 1 giây thẻ bài (dog tag) với số quân và nhóm máu. Viên chỉ huy nói vài lời vinh danh và vĩnh biệt những đứa con yêu của tổ quốc. Người tuyên úy quân đội cầu nguyện và cử hành nghi lễ. Chúng tôi, từng người, tiến lên thì thầm lời chia tay với bạn mình. Không khí nghiêm trang, thinh lặng, buồn thảm mà uy nghi.
Thằng bạn tôi, mới hôm qua còn vui đùa với tôi mà nay đã không còn nữa. Chúng tôi khiêng nó lên được trực thăng medivac (cứu thương) để trở lại căn cứ. Trong hơi thở thều thào, nó hỏi tôi sao ngón tay tao lạnh quá. Một hồi sau, nó lại nói ngón chân và bàn chân tao sao lạnh quá, rồi nó chìm trong hôn mê chỉ trong vòng 20 phút sau đó và không bao giờ thức dậy nữa vì vết thương TBI (traumatic brain injury) quá nặng ở đầu. Nước mắt tôi thầm lặng rơi. Cái chết của nó để lại một dấu ấn không quên trong lòng tôi.

Tôi:
Tôi cũng hay tự hỏi rằng những người chiến đấu ngoài mặt trận phải trực diện với cái sống và cái chết; còn những người chiến đấu không trực tiếp như người lính điều khiển máy bay không người lái, mang hỏa tiễn đi tiêu diệt những mục tiêu đã được quan sát và theo dõi kỹ lưỡng thì sao? Ngoài mặt trận, người lính trực tiếp lẩy cò súng; người điều khiển UAV, sau khi ấn nút, qua màn hình chỉ thấy những bóng người mờ mờ bị tung lên cao, lương tâm của ai đỡ cắn rứt hơn ai?
Vẫn biết chiến tranh lúc nào cũng đi đôi với chết chóc và tàn phá, nhưng trong tôi, trong tận cùng trái tim của JF, vẫn còn những thổn thức của một con người. Trong những sào huyệt, những căn nhà mà trong đó có cả gia đình của những tên khủng bố nguy hiểm, còn có đàn bà và trẻ em. Tôi kể JF nghe về trận thảm sát ở Mỹ Lai (6) trong cuộc chiến Việt Nam để anh ta có thể so sánh với những gì xảy ra trong cuộc chiến hiện nay. Mỗi lần đọc lại biến cố này, tôi vẫn còn khóc cho quê hương tôi. Cả hai, cộng sản và khủng bố giống nhau, họ nghiên cứu kỹ càng và xử dụng thường dân vô tội làm bia đỡ đạn cho chúng. Tôi luôn tự hỏi tất cả chúng ta, những con người không phân biệt chính kiến, đôi khi làm điều tệ hại vì những lý do cao cả hơn? (we are sometimes doing bad things for good reasons).
Trong phi trường chúng tôi ở và đóng quân, vẫn còn một chiếc vận tải cơ Antonov của Nga Sô còn bay được, những tòa nhà của bọn Taliban đóng quân, vẫn còn y nguyên những dấu tích, những chữ viết trên tường của bọn chúng. Tôi bước vào một ngôi nhà thờ Coptic Orthodox Church bị tàn phá bởi bọn cuồng tín này. Chúng bắn vỡ những tượng thánh, đào mả những linh mục, thậm chí dùng đục để phá đi những giòng chữ tạc vào cây thập tự giá được viết bằng ngôn ngữ Aramaic (7) là thứ ngôn ngữ mà Chúa Giê Su từng dùng để giảng dạy ngày xưa.
Bọn này ẩn nấp trong những nhà thờ, nhà thường dân vì chúng biết khi quân đồng minh tấn công, họ sẽ không dám bắn vào những nơi thờ tự cho đến khi chắn chắn là không có thường dân hoặc tu sĩ trong đó (luật chiến đấu “rules of engagement”). Nhưng trong chiến tranh, vẫn có sự nhầm lẫn dẫn đến chết chóc cho thường dân. Vì thế, trực tiếp hay không trực tiếp cầm súng bắn vào mục tiêu vẫn là câu hỏi của lương tâm và câu trả lời rất là gây tranh cãi tùy theo tâm trạng và hoàn cảnh của người lính.
JF:
Ngày tôi trở về nhà, tâm thần tôi bất ổn. Cuộc sống không còn được như ngày trước khi tôi lên đường. Vợ con xa lánh tôi. Vợ tôi không chịu nổi tánh khí bất thường của tôi, nàng không hiểu tôi và bỏ đi lấy chồng khác. Tôi không buồn nhưng cũng không trách gì cô ấy. Tôi bị xâu xé ra từng mảnh bởi những cảm giác tương phản nhau, khi thì cảm thấy tội lỗi, khi thì tự hào, rồi tôi buông xuôi. Tôi uống rượu nhiều, hút cần sa, và không muốn giao tiếp với bất kỳ ai. Tôi đóng cửa tâm hồn tôi thật chặt.
Họ bắt buộc tôi phải tham gia những lớp học cố vấn tâm lý, làm cách nào hội nhập với đời sống dân sự. Họ luôn hỏi tôi những câu làm tôi bực mình như: “Anh có ý định tự hành hạ bản thân anh không?”. “Anh có ý làm thương tổn người khác không?”. “Tại sao anh không thể sống bình thường như trước?” v…v… Quá nhiều câu hỏi làm tôi mệt nhoài và bực tức. Tôi muốn hét lên tại tụi bay không từng đi qua những đoạn đường tao đã qua, nên tụi bay không thể hiểu nổi đâu. Tôi phải uống cả một nắm thuốc mỗi ngày, thân xác tôi bồng bềnh, linh hồn tôi phiêu du, tôi chẳng màng đến bất cứ một điều gì, tôi càng tự cô lập tôi ra khỏi xã hội. Tuy nhiên, tôi chỉ chọn thái độ im lặng, nhẫn nhục cho đến khi tôi gặp nàng.
Nàng là nữ y tá trong bệnh viện VA của cựu chiến binh (Veteran Affairs) và làm việc trong khu counseling (cố vấn tâm lý). Nàng đến với tôi dịu dàng như một thiên thần với mái tóc huyền dài chấm lưng và một nụ cười tươi mát với đôi má lúm đồng tiền thật sâu. Nàng kiên nhẫn nghe tôi kể chuyện và trút nỗi lòng. Nàng không bao giờ hỏi tôi những câu hỏi bài bản nghề nghiệp vẫn thường làm tôi nổi nóng. Nàng khéo léo, nhẹ nhàng, và dần dần đưa tôi trở lại với chính tôi của những ngày trước. Tôi bớt uống rượu và bỏ hẳn hút sách. Tôi dần lấy lại niềm tin, và bước ra khỏi vỏ bọc của sự trầm cảm. Nàng là tất cả đối với tôi, tôi đã yêu nàng từ những phút đầu khi vừa thấy nàng với chiếc áo blouson trắng.

Tôi:
Sau chuyến công tác, JF và tôi về lại Mỹ cùng ngày trên chuyến bay Philippine Airlines đáp xuống phi trường Narita, Nhật Bản. Sau khi qua hải quan và lấy hành lý xong, chúng tôi còn đang ngó quanh, thì một phụ nữ trẻ người Nam Mỹ, với làn da nâu và mái tóc dài đen nhánh bước vội về hướng chúng tôi, vẻ mặt rạng ngời hạnh phúc. Tôi chợt thấy trên khuôn mặt không quen đó, một nụ cười tươi với đôi má lúm đồng tiền thật sâu mà anh bạn đồng hành đã kể trước đây. Họ lao vào nhau, quấn quýt với nụ hôn tưởng như không muốn dứt.
Anh bạn tôi đã mua vé cho nàng bay từ Mỹ đến Narita để gặp nhau. Hai người sẽ cùng bay qua Bali, Indonesia để cùng nhau tận hưởng những giây phút bên nhau sau một thời gian dài xa vắng. Sau đó, đôi uyên ương sẽ bay về Mỹ, nơi căn nhà nhỏ xinh đẹp đang chờ đợi họ. Chúng tôi cùng đón taxi về khách sạn. Ngày hôm sau tôi bay về Mỹ, họ còn ở lại Narita vài hôm, rồi sẽ bay qua Jakarta, Indonesia.
Người lính chiến đấu không phải vì tiền tuyến phía trước mà vì hậu phương phía sau anh ta, vì sự thanh bình yên vui cho những người thân yêu và cho tổ quốc của mình. Chỉ có tình yêu thương, sự thông cảm sâu sắc từ người mình yêu, gia đình, bạn bè, hàng xóm, đất nước, và con người mà người lính đã chiến đấu cho họ và vì họ, mới có thể dìu dắt một tâm hồn tan nát, đầy vết thương của người lính trở lại cuộc sống bình thường.
“There is no greater love than this – That a man should lay down his life for his friends” (John 15:13) Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người chết cho những người mình yêu. Xin mọi người đừng nhìn người lính với những tia nhìn nghi ngại và kỳ thị, mà hãy giang rộng vòng tay đón họ trở về trong yêu thương và an ủi, vì trên thân thể anh là những vết thương có thể lành được, nhưng hơn hết là những vết thương trong lòng cần có thời gian để khép miệng lại trong vòng tay của mọi người.

Nguyễn Văn Tới. 2019.

REFERENCES:

1. https://en.wikipedia.org/wiki/Saving_Private_Ryan

2. https://en.wikipedia.org/wiki/U.S._prisoners_of_war_during_the_Vietnam_War

3. https://en.m.wikipedia.org/wiki/Jessica_Lynch

4. https://en.wikipedia.org/wiki/Survival,_Evasion,_Resistance_and_Escape

5. https://en.wikipedia.org/wiki/Si_vis_pacem,_para_bellum

6. https://www.history.com/topics/vietnam-war/my-lai-massacre-1

7. https://www.britannica.com/topic/Aramaic-language

Bèo giạt hoa trôi

vvnm.vietbao.com

25/10/2019

Chu Kim Long

Post by Sơn râu 18 Sep 2024

Google photo

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ từ 2018. Ông tên thật là Chu Văn Huy, cựu tù, vượt biển, hiện là cư dân San Jose, đã nghỉ hưu sau 37 năm làm việc cho các hãng điện tử tại Silicon Valley – Thung lũng Hoa Vàng, California. Đây là bài mới nhất của Ông.                                                            

  Những ngày nắng Hạ oi ả đã qua, mùa Thu Cali đến với những làn gió se se lạnh mỗi buổi chiều. Nhà tôi đang làm ca chiều, con trai đi dạy học chưa về và khu vực Evergreen vừa bị cúp điện bất thường khi tôi đang đọc những bản tin liên quan đến thời sự thế giới và nước Mỹ trên trang mạng – những tin tức đã làm tôi nghĩ đến những nổi trôi của đời người.

Tiếng điện thoại reo, kéo tôi ra khỏi những giây phút hồi tưởng về những ngày tháng trong đời.

  – Về hưu mà cứ loanh quanh tối ngày ở nhà vậy, mấy tháng hè gia đình ông có đi chơi đâu không? Sửa soạn cơm tối hay đang làm gì vậy? Sáng mai qua tôi uống cà phê, ăn sáng nhé, có ông bạn cùng đơn vị ngày xưa mới từ Nam Cali lên chơi – tiếng người bạn học cũ gọi tôi.

  – Tôi vừa ăn cơm chiều xong, đang ngồi chơi thôi. Có gì lạ không… ờ, ờ…sáng mai tôi sẽ qua ông, cám ơn nhiều.

Tôi nói chuyện vắn tắt người bạn học cùng lớp ở San Jose City College năm xưa, rồi để cái điện thoại lại chỗ cũ, bên phải cái bàn phím. Lời người bạn nhắc khéo tôi về hưu đã lâu mà không chịu đi chơi đây đó khiến tôi có ý nghĩ là thời gian hình như trôi qua qúa nhanh. Tôi nhớ đến mới ngày nào đây, vừa bước qua tuổi hai mươi bốn thì nhập ngũ theo luật tổng động viên năm Mậu Thân 68, rồi sau sáu năm qua năm trại tù, và ba lần xuống Rạch Giá vượt biên, trôi dạt đến Thái Lan và định cư tại Hoa Kỳ, vừa đi học vừa đi làm, rồi miệt mài trong các hãng điện tử ở miền Bắc California cho tới tuổi về hưu. Những năm tháng sống ở Hoa Kỳ nhiều hơn ở Việt Nam. Tôi nhủ thầm, đã ba mươi tám năm trôi giạt, tha hương…….

  Tôi đứng dậy, đi đến bàn ăn lấy bình nước nóng pha ly trà green tea, rồi trở lại máy điện toán đọc tiếp những tin mà tôi đang đọc nửa chừng thì khu vực nhà tôi bị cúp điện. Bản tin viết về những ý kiến khác nhau, có liên hệ đến các sắc dân thiểu số của chương trình Thống kê dân số, và nhắc lại những tin tức về đoàn người dân các nước Nam Mỹ bồng bế tay sách nách mang, băng rừng, lội sông, lội suối vượt biên hàng ngày, đã và đang tiến đến biên giới Mexico và Hoa Kỳ – những tin tức mà tôi cũng lưu tâm lâu nay. Hình ảnh những người bị tạm giam, hình ảnh một em bé chết đuối trôi giạt vào bờ, hình ảnh người thiếu phụ Nam Mỹ bế con thơ bị chồng bỏ rơi, đứng cạnh người con trai năm sáu tuổi đang khóc lóc van xin người lính Mexico mở cổng cho đi. Và bản tin cũng đối chiếu với thảm cảnh những người châu Phi đã và đang vượt biển, đi chui vào các nước châu Âu cùng những tin tức về việc xây dựng các bức tường biên giới, những phong trào chống và bênh vực chính sách di dân đã và đang làm xôn xao dư luận.

  Khi nhìn những hình ảnh và đọc các bản tin kể lại những câu chuyện thương tâm. Tôi cảm thấy những hạnh phúc và đau khổ của con người như thấm nhập, như đan kẽ vào nhau. Những ước mơ đi tìm hạnh phúc giữa những khó khăn, đau khổ chập chùng của những người di dân hôm nay, phần nào có những tương đồng với những đau khổ và ước mơ của tôi cũng như đồng bào của tôi trong các tháng năm chạy loạn trước đây ở quê nhà, và các chuyến vượt biên bằng đường bộ hay đường biển năm xưa. Dù chạy loạn, tỵ nạn hay di dân có những nguyên nhân và ý nghĩa khác nhau.

  Những hình ảnh và những bản tin về những đoàn di dân lam lũ, khốn khổ, chạy trốn khỏi làng thôn, bỏ lại quê hương, làm sống lại trong tâm trí tôi hình ảnh những ngày chạy loạn khắp ba miền Bắc Trung Nam của gia đình và đồng bào tôi, cùng làn sóng vượt biên, vượt biển chạy trốn Việt Cộng bất chấp đường rừng, hay biển cả với chiếc thuyền gỗ mỏng manh. Người tỵ nạn từ châu Á như Việt Nam hay là di dân từ các nước chậm tiến châu Phi hay Nam Mỹ – tất cả đều là những nạn nhân đã gặp rất nhiều khó khăn về mặt chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội của những giai cấp thống trị, độc tài, tham nhũng, tạo lên một xã hội nghèo đói, đe dọa, tước đoạt phẩm giá và đời sống con người. Bình thường, không một ai đành đoạn bỏ quê hương, mồ mả tổ tiên để đánh đổi cuộc đời mình giữa một cái sống chín cái chết. Hiển nhiên, những người tỵ nạn hay di dân là những kẻ gặp khốn cùng ngay trên quê hương họ, những người không còn gì để mất.

  Tôi chào đời sau khi cả nước vừa trải qua trận đói năm Ất Dậu, phát xít Nhật và thực dân Pháp đang tranh giành quyền hành thống trị. Những năm tháng thanh bình xa xưa của dân làng tôi đã đi vào dĩ vãng từ ngày mặt trận Việt Minh nổi lên, tìm cách tiêu diệt các đảng phái quốc gia có đường lối và lý tưởng khác biệt. Kế thừa ruộng đất từ tổ tiên qua nhiều thế hệ và cho đến thập niên bốn mươi, năm mươi, gia đình thày mẹ tôi và dân làng Phượng Giáo là những nông dân chất phác thuộc vùng châu thổ sông Hồng Hà. Tôi sinh ra trong thời loạn ly và lớn lên trong chiến tranh ngày một khốc liệt. Huyện Lương Tài, huyện Gia Lương nằm trong địa hạt tỉnh Bắc Ninh, nơi đó có quê nội, quê ngoại của tôi đã trở thành vùng xôi đậu, một cổ hai tròng – ngày Quốc gia, đêm Việt Minh. Chính quyền Quốc gia thì yếu kém, bị thực dân Pháp kiềm chế, thao túng, bọn lính Lê dương (Legion) là đoàn quân viễn chinh nhiều sắc dân và màu da khác nhau, thường cướp bóc, hãm hiếp phụ nữ trong những ngày đi càn. Chính quyền quốc gia thì bất lực trước các thảm họa do thực dân Pháp gây ra. Còn Việt Minh thì sinh họat như bọn thảo khấu, thổ phỉ – với dã tâm giết lầm hơn bỏ sót, khi xuống tay giết một người nào thì Việt Minh dán cho bản án Việt Gian. Mạng sống con người như chỉ treo mành, dân làng cũng như gia đình thày mẹ tôi chạy loạn bất thường, bất cứ lúc nào – không kể ngày đêm. Mỗi khi nghe tin lính Lê dương Pháp (Legeon) đang càn gần tới làng Kim Đào cách làng tôi một cách đồng rộng lớn, hay nghe tin Việt Minh sẽ đánh đồn Thứa hoặc Việt Minh sẽ về làng tổ chức đêm văn công, thu thuế là mọi người lại bỏ làng, chỉ còn các người già ở lại giữ nhà, mọi người hối hả băng qua những cánh đồng đến những làng kế cận, tương đối xa vùng giao tranh để được an toàn hơn. Nơi trú thân gần nhất của gia đình tôi khi phải chạy loạn ban đêm là làng Thọ Ninh – sinh quán của bà nội tôi. Hối hả đi rảo bước chân như người chạy bộ qua cánh đồng nhỏ, băng ngang làng Bích Khê, Lạng Dương tan hoang vì chiến tranh, không thấy bóng người, rồi qua một cánh đồng nữa là chúng tôi tới làng Thọ Ninh. Còn những ngày tháng cha mẹ tôi được tin Việt Minh đang tìm cơ hội thuận lợi bắt cha tôi, thì mẹ và các anh em tôi lại chạy xuống tá túc lâu dài ở làng Lai Tê – quê ngoại, xa hơn quê bà nội tôi. Là Lý trưởng, đại diện dân làng từ thời trai trẻ, là Chánh tổng đương thời khi huyện đã rơi vào vùng xôi đậu, cha tôi ít khi ngủ đêm ở nhà, ẩn trốn nay đây mai đó, đôi khi về rồi lại đi, cha tôi nhất quyết không hợp tác với Việt minh, dù ông đã bị Việt Minh bắt, bị thương nặng khi xuống quê ngoại chúc tết. Theo lời cha tôi kể lại, trong đêm đầu năm mới Mậu Tý 1948, đồn Lai Tê nằm trong khuôn viên thánh đường xứ Lai Tê thuộc huyện Gia Lương bị tấn công và tràn ngập, cha tôi bị bắt. Nhưng khi thấy tên Việt Minh vai đeo súng, tay cầm cây mã tấu thì cha tôi đã vụt chạy trốn, bị tên cán binh dùng dao mã tấu chém với theo, vết chém sâu, dài từ dái tai xuống cuối cần cổ, may mà vết chém không cắt ngang cần cổ. Nhờ đêm tối, cha tôi đã cố chạy trốn xuống kênh đào bao quanh làng như một nhánh sông nhỏ, nấp dưới những mảng bèo tây được che khuất bởi những rặng tre già, và thoát được trên đường Việt Minh dẫn các tù binh đi giải giao.

  Vì dân làng chạy loạn thường xuyên, nên quần áo của mỗi người trong gia đình luôn luôn được xếp trong các tay nải riêng, để khi chạy loạn, những đứa trẻ như tôi tự khoác tay nải của mình trên vai mà chạy theo, còn người lớn thì vai khoác tay nải, đầu đội thúng gạo hay gánh những thực phẩm cần cho gia đình sinh sống trong những ngày đi tản cư. Do đó, tôi không có tuổi thơ, tuổi thơ của tôi chìm ngập trong những ngày đêm chạy loạn với những câu chuyện tai nghe mắt thấy những người chết trên đường, chuyện những người bị lính Pháp hãm hiếp, bị bắt vào đồn tra tấn đến chết, chuyện những người bị Việt Minh thủ tiêu. Trên đường chạy tắt, băng qua các làng xóm đã bỏ hoang, tôi đã nhìn thấy những căn nhà tan hoang vì bom đạn, những cây cột nhà và những bụi tre cháy đen loang lổ, những thân cây bị mảnh đạn chém gãy gục, sơ sác. Đa số thanh nữ, thanh niên trong các làng xã đã chạy xuống huyện Cẩm Giàng hoặc tỉnh Hải Dương, Hải phòng kiếm việc sống qua ngày, hoặc đi lính để trả thù cho cha mẹ đã bị Việt Minh sát hại, trong làng còn lại, thưa thớt là những người già yếu, đàn bà đã luống tuổi và trẻ em. Có những đêm cả nhà tôi chạy vội xuống hầm “Tăng xê” vài ba lần để tránh đạn Pháo binh Pháp bắn yểm trợ cho đồn hay bắn quấy rối, nhưng đôi khi lại lạc vào nhà dân. Sống trong vùng bom đạn, mọi người như đã qúa quen thuộc với tiếng súng nổ đạn rơi. Nên người dân quê thường đoán được tiếng kích hỏa (depart) và tầm đạn đi, để gọi nhau chạy xuống “tăng xê”, hoặc bảo nhau nằm sát xuống mặt đất, chờ trái đạn nổ rồi chạy nhanh xuống hầm “tăng xê”. Những đợt bắn phá hoặc yểm trợ thường xảy ra nhiều hơn sau ngày thực dân Pháp chiếm làng, đuổi dân làng tôi ra phố Thứa – đây là tên khu phố rộng lớn của thị trấn Thứa thuộc tỉnh Bắc Ninh, khu vực này bị bắt buộc bỏ hoang từ ngày Việt Minh phát động chiến dịch “Tiêu thổ kháng chiến”, không có người sinh sống, chỉ có một cái đồn của quân Pháp do viên Thiếu Úy chỉ huy, đóng cạnh giao lộ. Cái đồn cũ nằm cạnh phố Thứa đã bỏ hoang sau đêm bị Việt Minh công đồn đả viện năm 1951. Và thực dân Pháp đã lấy nhà thờ và làng tôi làm đồn bót thay cho cái đồn cũ.

  Tất cả hệ lụy của chiến tranh theo năm tháng thành những vết hằn in sâu vào tâm trí một đứa trẻ 9 tuổi, làm cho tôi dày dạn như một người thanh thiếu niên từng trải thế sự, cho dù trải qua bao năm tháng trong đời, tôi vẫn không quên.

  Làn sóng người từ quê chạy ra tỉnh để di cư từ Bắc vào Nam như một trận cuồng phong nổi lên khắp nơi tại miền Bắc kể từ trung tuần tháng 5 năm 1954, nhất là sau ngày thực dân Pháp và đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới danh nghĩa Việt Minh ký hiệp định Genever ngày 20 tháng 7 năm 1954 chia đôi đất nước. Hàng triệu người trốn chạy Việt Minh Cộng Sản để di cư vào miền Nam với hai bàn tay trắng, đã gây dựng lại đời sống bất hạnh của họ từ con số không, trong số đó có gia đình thày mẹ tôi.

  Sau những năm tháng định cư ở vùng ngoại ô Sài Gòn, khi tôi chập chững bước vào giảng đường đại học lại phải bước ra vì chiến trận ngày thêm khốc liệt, lệnh tổng động viên được ban hành, và cũng là những năm tháng các thế lực siêu cường đang thăm dò, bớt một thêm hai trên sinh mạng của một dân tộc nhược tiểu. Kết cục, không một gia đình nào không có người đi tù, và khi thoát được tù đày lại bị quản chế đêm ngày bởi hệ thống công an, phường đội dầy đặc. Với một hệ thống luật rừng cùng với đời sống bất định đã tạo lên những làn sóng tỵ nạn khắp nơi – một sinh lộ cận kề với cái chết và những đắng cay ê chề trên thân phận con người.

Chiều thứ bảy vừa qua, khi tôi vừa mở cửa bước ra định mở nước tưới mấy chậu bông thì người đàn ông trung niên, gốc Nam Mỹ – ông hàng xóm mới dọn tới thuê căn nhà kế cạnh nhà tôi đang đứng cạnh chiếc truck cũ trên garage lane, ông giơ cánh tay quyệt lớp mồ hôi trên trán, rồi vẫy tay chào tôi. Tuy mới dọn đến cách đây mấy tháng, nhưng Garcia rất dễ mến, trên môi ông luôn nở nụ cười thân thiện, vồn vã chào hỏi khi gặp mặt, ngay cả khi ông vừa bước ra khỏi cái xe truck cũ, áo quần còn lấm lem bụi đất của một con đường nào đó – ông là công nhân thuộc lãnh vực Công chánh của một hãng chuyên về cầu đường.

  – Hi, how are you? Garcia chào tôi.

  –  Thank you. I am fine. What are you doing? Tôi cám ơn và hỏi Garcia.

  – I was tuning up my friend, my car is too old but it is still good. I just finished. Now, it is time relax for Monday working – Garcia nói vừa tu bổ xong cái xe cũ, đang nghỉ xả hơi, mỉm cười, rồi quay qua hỏi thăm tôi về những tin tức liên quan đến những người thiểu số và di dân.

– You retired. You read news, watching TV and you had acknowledged about refugee, about immigrant. How about the problems are going now? Garcia hỏi tôi về vấn đề tỵ nạn và di dân vì nghĩ rằng tôi đã nghỉ hưu, có thời giờ theo dõi và hiểu biết hơn ông.

Rồi như chỗ thân tình hàng xóm láng giềng, Garcia kể cho tôi biết hoàn cảnh của ông và ông nói rất thương cảm hoàn cảnh những người di dân. Ông qua Mỹ đã hơn mười hai mười ba năm để đoàn tụ với cha mẹ, và cha mẹ ông đã qua đời vài năm nay. Khi qua Mỹ, ông biết ông không có nghề chuyên môn và biết mình cần hội nhập vào xã hội Mỹ, nên ngay những năm tháng đầu tiên đến Mỹ, ông đã đi làm bồi bàn cho một nhà hàng Mexico ban ngày, đi học ESL và học việc về ngành cầu đường ở Training Jobs Center do một hội đoàn Mexico giới thiệu. Rồi vài năm sau ông có liên hệ tình cảm với một người con gái xứ Honduras, em họ anh bạn cùng hãng và do anh ta giới thiệu. Garcia bảo lãnh vợ qua Mỹ, dẫn vào làm phụ việc cho nhà hàng, và đi học tiếng Mỹ buổi tối. Hiện nay vợ ông đang làm nửa buổi cho một nhà hàng ban ngày để có thời giờ đưa đón hai con đi học và làm phụ bếp cho khách sạn, ca đêm.

  Thấy tôi lắng nghe, Garcia tiếp tục kể lại chuyện ông phải dọn đến đây vì chủ cũ bán nhà, nếu không thì ông vẫn ở khu Senter Road – ở đó ông bà quen nhiều hàng xóm Việt Nam. Ông thấy những gia đình Việt Nam chăm lo cho con cái đi học và làm việc không ngưng nghỉ, dù là ngày cuối tuần, đời sống họ rất sung túc và hạnh phúc. Ông cho biết ông đã đi hội chợ Tết và đi ăn phở với bạn Việt Nam của ông nhiều lần. Các bạn ông đã cho ông xem những bản báo cáo về kết qủa học tập của con họ, đa số các môn học trong năm đều đạt được điểm A+, B+. Nên vợ chồng ông cũng ráng bắt chước chăm lo và hướng dẫn con cái, hy vọng tương lai con cái ông sẽ tốt hơn, chứ bây giờ vất vả mấy ông bà cũng chịu được. Ông cũng nói lúc này sinh hoạt hơi mắc mỏ, nhưng ông vẫn cảm thấy rất hạnh phúc, vì sau một ngày đi làm, gia đình ông được sống bình yên, không bị ai đe dọa, bắt bớ bất thường, nhất là về ban đêm.

Nghe Garcia kể chuyện liên quan đến người Việt, tôi đã chia sẻ niềm tự hào với ông hàng xóm người gốc Nam Mỹ – tôi nói với garcia, người Việt Nam chúng tôi có truyền thống hiếu học cũng như làm việc cần cù, không quản ngại gian khổ, cầu tiến nhưng luôn luôn duy trì bản sắc, Hoa kỳ lại là đất nước tạo ra những cơ hội bình đẳng để mọi người có thể thăng tiến. Do đó, đa số các gia đình tỵ nạn Việt Nam đến Mỹ với hai bàn tay trắng, nhưng theo năm tháng đã có một đời sống sung túc và các con cháu đều thành đạt trên đường học vấn. Và tôi hỏi ông có đến Little Sài Gòn ở miền Nam California chưa – nơi có những sinh hoạt văn hóa, xã hội, chính trị tiêu biểu của một Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa thu nhỏ. Ngoài ra, nhiều tiểu bang khác cũng có những sinh hoạt tương tự như Little Sài Gòn ở miền Nam California.

  – Yes, I did, my cousin is living close there. I agree with you – Garcia nói ông có em họ ở gần khu Little Sài Gòn, nên ông có đến thăm và mua sắm nhiều lần. Lâu nay vợ ông muốn bảo lãnh bố mẹ qua Mỹ để được vui sống như thế. Nhưng bây giờ chương trình đoàn tụ cũng như di dân đang bị xiết chặt, lại có chống đối nữa nên bị kẹt rồi, vợ ông lo lắng và buồn lắm. Garcia cũng nhắc tới những đóng góp và thành công của các sắc dân thiểu số trong đó có sự cố gắng của gia đình ông mà sao vấn đề di dân vẫn gặp khó khăn. Thấy ông bạn hàng xóm hiền hòa có tâm tư giống như nhiều người. Tôi nói như để thông cảm với Garcia: Vì nạn khủng bố xảy ra lâu nay tại một số quốc gia có ít nhiều liên quan đến một vài sắc dân, nên vấn đề di dân trở thành một vấn nạn cho nhiều quốc gia, và kinh tế thế giới lại thăng trầm đã đưa đến những quan điểm chính trị khác biệt giữa các đảng phái cũng như cử tri về vấn đề di dân. Trong một xã hội tự do, dân chủ, thì những ý kiến khác biệt, những tư tưởng mang chủ nghĩa dân tộc, bảo thủ hay cấp tiến của một số người nào đó cũng là chuyện tự nhiên. Hy vọng, trong tương lai sẽ có một dự luật di dân hợp lý hợp tình được cả hành pháp và lập pháp Hoa Kỳ thông qua, để không xảy ra tình trạng như hiện nay. Vì đất nước Hoa Kỳ được thành lập và trở thành một cường quốc bởi những thế hệ di dân đầu tiên mà. Ngay cả những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ thời cận đại như ông Donald Trump, Obama, Bill Clinton cũng đều là con cháu di dân cả. Có thể những khác biệt về vấn đề nhập cư hiện nay chỉ là vấn đề thời sự nhất thời mà thôi.

  Thấy Garcia gật gù, lắng nghe. Hy vọng giúp gia đình Garcia an tâm – tôi nói: Ai cũng công nhận Hoa Kỳ ngoài những tiến bộ, đứng đầu thế giới về mọi lãnh vực, xưa nay vẫn nổi tiếng là một quốc gia tự do và tôn trọng nhân quyền nhất. Lòng bao dung của dân chúng Hoa Kỳ đã được thể hiện qua biết bao nhiêu các cơ quan thiện nguyện, cũng như lòng bác ái của các cá nhân người Hoa Kỳ cũng luôn luôn được đề cao khi đã bảo trợ cho nhiều gia đình tỵ nạn, giúp những người di dân, mặc dù khác biệt chủng tộc và màu da. Lòng hào hiệp của người dân Hoa Kỳ thường thấy hàng ngày khi tình nguyện đóng góp, giúp đỡ những người kém may mắn, gặp hoạn nạn bất thường như thiên tai, động đất, hỏa hoạn nơi này nơi kia – lòng trắc ẩn không phân biệt sắc dân đối của người dân Hoa Kỳ thật cao qúy xưa nay. Không có quốc gia nào có nhiều sắc dân thiểu số, và đôi khi có những cách biệt về trình độ văn hóa, giáo dục qúa xa, lại được nhập cư nhiều như ở Hoa kỳ. Giống như những cánh bèo, những đóa hoa trôi giạt trong những cơn phong ba bão táp đã cập đến bến bờ một vùng đất trù phù, an bình với sông dài biển rộng – Garcia, ông hãy hy vọng, nơi có những tâm hồn cao thượng.

  Tôi ngưng nói khi nghĩ rằng Garcia chắc đã hiểu và đồng ý với những sự hiểu biết khái quát của tôi về câu chuyện liên quan tới tỵ nạn và di dân, khi thấy cái đầu Garcia gật gù, lắng nghe.

  – Thank you for your good opinions, you are right – Garcia cám ơn về nhận xét của tôi.

  Bầu trời chiều cuối tuần mùa Thu đã nhá nhem tối. Garcia vừa thu dọn đồ nghề sửa xe vừa trao đổi với tôi về những ý kiến đã được các cộng đồng thiểu số lưu tâm lâu nay, và theo năm tháng có thể làm thay đổi quan điểm của những người bất đồng ý về chuyện nhập cư, khi những sắc dân chứng tỏ cho người bản xứ thấy nếp sống văn minh, cầu tiến và những đóng góp tích cực về mọi phương diện, làm cho xã hội thăng tiến trong các lãnh vực kinh tế, xã hội, chính trị. Tham gia các sinh hoạt địa phương, tôn trọng luật pháp cũng như các phong tục tập quán lành mạnh. Bỏ đi những tập quán xấu có thể có trong mỗi sắc dân, để không quốc gia nào cảm thấy các sắc dân thiểu số là gánh nặng của xã hội, là những nguyên tố của tội phạm và làm gia tăng nạn thất nghiệp, làm cho đời sống ngày một thêm khó khăn. Mỉm cười như hài lòng với câu chuyện, ông nói good night, God bless you, rồi thay vì bắt tay, Garcia đưa cổ tay của ông cho tôi bắt, vì bàn tay ông còn dính dầu nhớt và lấm lem khi ông thay nhớt chiếc xe truck cũ mà ông thường gọi là người bạn tốt.

Chu Kim Long

Garage xe đạp “miễn phí”

baotreonline.com

Soi

Post on November 16th, 2019

Post by Sơn râu 18 Sep 2024

Second Life Bikes được ví như là một cái “garage cộng đồng” trong thị trấn ven biển Asbury Park hơn là một cửa tiệm xe đạp. Ở đây có thể tìm thấy hàng nghìn những chiếc xe đạp cũ, xe đạp tân trang với giá vừa phải từ $75. Chủ nhân của cái shop này là bà Kerri Martin có niềm đam mê với những chiếc xe đạp cũ đầy lịch sử mà mỗi chiếc xe đạp đều có câu chuyện riêng. Cái thú sưu tập xe đạp cũ này bắt đầu khi Kerri làm việc ở New York, nơi mà phương tiện xe đạp khá phổ biến.

Second Life Bikes bắt đầu từ một cái garage nhà thờ, một hoạt động ngoại khóa hàng tuần của lũ trẻ trong vùng. Học ngành xã hội học, Kerri còn ấp ủ một ý tưởng khác biệt hơn thế nữa. Kerri đã phát động chương trình “Youth earn-a-bike”, Second Life Bikes sẽ cho mỗi bạn nhỏ một chiếc xe đạp hoàn toàn miễn phí.

Ðiểm độc đáo của Second Life Bikes, không giống như GoodWill hay Salvation Army, là đó không phải là sự từ thiện cho đi không đòi hỏi. Tụi nhóc tới đây bắt buộc phải làm việc 15 tiếng thì sẽ được lựa chọn bất kỳ chiếc xe đạp hư hỏng mà chúng muốn. Với những kỹ năng học được, chúng sẽ tự sửa và phục hồi chiếc xe đạp của chính mình.

Bằng sự trải nghiệm trực tiếp với những chiếc xe đạp cũ, chúng học được cách sử dụng dụng cụ từ cờ lê tới mỏ lết, từ biết cách ráp nan hoa cho tới việc thay lốp. Không chỉ là thực hành những kỹ năng lắp ráp, sửa chữa, chúng còn học cách nhìn ra vấn đề của chiếc xe đạp hư khách mang đến hay còn biết cách giao tiếp với khách hàng, và hiểu tốt hơn về môi trường làm việc.

Kerri không ngờ hiệu ứng lan truyền nhanh chóng từ tụi trẻ mà vài trăm chiếc xe đạp được cho đi mỗi năm. Ðiều đáng quan trọng là các em đã chứng tỏ tinh thần trách nhiệm dù mới ở lứa tuổi 12, 13; em nào cũng cảm thấy tự hào với thành quả của mình. Ðáng ngạc nhiên hơn nữa là nhiều em tham gia không chỉ vì muốn được sở hữu chiếc xe đạp cho riêng mình, một số tiếp tục tình nguyện làm việc miễn phí cho garage để giúp những bạn trẻ khó khăn khác có được chiếc xe đạp yêu thích.

Hoạt động thiện nguyện của Kerri Martin rất khác biệt, bởi việc thông qua nỗ lực, tự hào nhìn thấy thành quả của chính bản thân đã khích lệ tinh thần trách nhiệm của lũ nhỏ ngay từ lúc bé – điều rất hiếm thấy ở xã hội Việt Nam. Cô bé 11 tuổi, America Rice, đã từng là phát ngôn viên của Second Life Bikes trên kênh truyền hình NBC, ABC và tạp chí Family Circle; cậu nhỏ Sylvester hào hứng nói về cảm giác đã là một thợ sửa xe thuần thục ở tuổi 13…

Giờ thì bất kỳ ai ghé qua Asbury Park, New Jersey, cũng check-in ở Second Life Bikes, nó trở thành một điểm nhấn có ý nghĩa của thị trấn nhỏ này. Từ khi Second Life Bikes ra đời, thì cư dân thị trấn biển Asbury Park dù là đi café, ra biển hay picnic cũng tà tà đạp xe nhiều hơn.

S

Chán vợ, thèm bia

baotreonline.com

Soi

Post on August 30th, 2019

Post by Sơn râu 18 Sep 2024

Ít ai ngờ các tập tục bán vợ lại có thể tồn tại ở xứ sở sương mù, quốc đảo của các quý ông lịch thiệp xứ Ăng-lê. Tài liệu sớm nhất ghi nhận việc này ở Anh là vào năm 1302, nhưng thực sự phổ biến vào thế kỷ 17 khi mà ly dị là bất khả thi, do nhà thờ và chi phí pháp lý đắt đỏ khiến việc ly dị chỉ dành cho những ai giàu có nhất. Người chồng muốn rao bán vợ chỉ cần buộc dây vào cổ, tay, hay bụng của cô vợ đem ra những khu chợ tấp nập như Smithfield hay Cranbrook để đấu giá và gả cho tay chồng mới nào ra giá cao nhất. Tục lệ này như một thủ tục ly dị và tái hôn, sắp xếp này có lợi cho cả đôi bên. Một phần vì phụ nữ thời đó được học hành ít ỏi, nếu mà gã chồng tệ bạc bỏ rơi thì họ sẽ dễ dàng rơi vào cảnh túng bấn, cùng khổ.

Ðến thế kỷ 19, các vụ mua bán vợ được giải quyết một cách văn minh hơn, với cái giá thường chỉ mang tính ước lệ và cam kết trong quán rượu. Tại quán rượu ở Tonbridge, một người đàn ông John Savage đã trả một đồng shilling và một vại bia để mua bà vợ tên Mary. Còn bà Wells đã được ông chồng bán cho ông Clayton với giá 4 cốc bia, khi mà ban đầu ông Wells còn sẵn sàng biếu không bà vợ hay ngoại tình này. Dẫu vậy ông Clayton đã nài nỉ phải có một mức giá chứ không thể quá “bèo bọt”. Thời điểm này các vụ bán vợ được các “quý ông” cam kết thông qua cách nâng ly nốc cạn, và giá cả dĩ nhiên tính bằng rượu bia cũng khá tiện. Người vợ có thể thoát khỏi cuộc hôn nhân khốn khổ, ông chồng mới có bạn đời, còn ông chồng cũ thì phấn khích ăn mừng khi thoát khỏi “ngục tù.”

Thực tế khi mà chi phí ly hôn hợp pháp vào thế kỷ 19 có giá cắt cổ từ 40 đến 60 bảng (một người điều dưỡng chỉ kiếm được 17 bảng/năm) thì giai cấp lao động chẳng có nhiều lựa chọn. Họ có thể là những nông dân, tá điền, công nhân… khi tiền của không kiếm được bao nhiêu mà có thể chán ngấy một bà vợ đanh đá hay cằn nhằn. Một anh phu vận chuyển cát bán vợ mình ở chợ Cranbrook khu Kent chỉ với giá một ly rượu gin, một vại bia, kèm thêm là nuôi nốt thằng nhỏ 8 tuổi. Giá “bán vợ” thực không cao, mà chỉ là hình thức tống khứ các bà vợ chứ không phải kinh doanh kiếm lời. Bia là tiền tệ giao dịch chủ yếu, nhưng cũng có thể là rượu gin, cognac, whiskey, rượu táo, một bữa ăn hay là một con chó giống Newfoundland.

Tập tục này ở Anh đã bị chính anh hàng xóm xứ Gaulois hay chọc ghẹo và tuồng như trọng nam khinh nữ. Nhưng trên thực tế, thường chính các bà vợ cũng tham gia vào việc này. Một thẩm phán ở Anh đầu thế kỷ 19 đã thừa nhận trên văn bản rằng ông cũng không thể ngăn cản các vụ mua bán vợ khi có sự đồng thuận của đôi bên. Nhiều ghi nhận đã chỉ ra rằng các giao dịch bán vợ đã đem lại lợi ích tốt hơn cho các bà, khi mà ông chồng mới thường có vị trí xã hội và tiền của nhiều hơn kẻ bán.

Nghe xứ Ăng-lê làm vậy, hẳn không ít các bà tức sôi máu cũng muốn tống khứ lão chồng vô tích sự ra khỏi nhà. “Ai mua chồng đaaây!”

S

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 6)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post Nevember 30th, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972 

Post by Sơn râu 18 Sep 2024

15 tháng 2-1971, đúng một tuần sau khi vượt biên giới, các đơn vị VNCH bắt đầu hứng pháo. Tuy chưa dồn dập nhưng xác nhận pháo binh Bắc-Việt đã vào vị trí và bắt đầu điều chỉnh yếu tố tác xạ. Qua hồi ký của Đại Úy Hy người đọc nhìn thấy việc thay thế các cơ phận hỏng của đại bác 155 ly là cả một thủ tục hành chánh. Trung tướng Hoàng Xuân Lãm, trách nhiệm Lam Sơn 719, cũng phạm phải sai lầm là đã sử dụng Sư đoàn Dù cho việc thiết lập các căn cứ rồi đóng quân bảo vệ, thay vì đánh chiếm Tchépone, là mục tiêu chính. Liên quân Anh, Pháp, Mỹ và Lục quân Đức không khi nào dùng Nhảy dù để giữ pháo vì binh chủng này được cấu tạo cho những cuộc tấn công chớp nhoáng. Các Raids của quân đội Pháp tái chiếm Lạng Sơn, Phú Thọ, Phủ Đoan, Đoan Hùng đều thần tốc với quân Dù rồi rút về tức khắc. Hồi ký của Đại Úy Hy cho thấy tiến quân rất chậm và các cấp chỉ huy, ngay ngoài mặt trận vẫn nhiều nghi thức. [Trần Vũ]

Trung tướng Dư Quốc Đống tại Hạ Lào, 2-1971   

—oOo—

Trương Duy Hy

NHỮNG LỜI NGỢI KHEN CỦA THƯỢNG CẤP VIẾNG PHÁO ĐỘI

Ngày 15-2-71, cũng như thường lệ, từ 7g00 chúng tôi đã bắt đầu khai hỏa. Hết yểm trợ cho căn cứ Hỏa Lực 31 lại tác xạ cho Tiểu Đoàn 2 Dù.

10g30, Trung Tá Vũ-Đình-Chung Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn 1, Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Tự Tiểu Đoàn Trưởng của tôi, Thiếu Tá Hằng Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh cùng Đại Úy Hoàng đến căn cứ Hỏa Lực 30 thăm chúng tôi.

Rước từ bãi đáp, hướng dẫn quý vị vào Đài Tác Xạ thuyết trình.

Trung Tá Chỉ Huy Trưởng không muốn tôi trình bày dông dài, do đó tôi được phép trả lời câu hỏi của Trung Tá về sức khỏe của binh sĩ, tinh thần chiến đấu, tình trạng đại bác, đạn dược và về vấn đề ẩm thực của Pháo Đội. Cuối cùng tôi trình bày khả năng hữu hiệu của Pháo Binh 155 ly đối với các đơn vị bạn, lòng cảm mến sâu xa của các Tiền Sát Viên Dù và thành tích đã thu hoạch được từ lúc đặt chân lên đất Lào đến bây giờ.

Trung Tá Chung tỏ vẻ hài lòng lắm. Bỗng có một Sĩ quan của BCH Tiểu Đoàn 2 Dù chạy vào Đài Tác Xạ yêu cầu tôi ra trình diện Trung Tướng Dư-Quốc-Đống tại BCH/TĐ 2 Dù.

Tôi xin lỗi quý vị có mặt tại Đài Tác Xạ chạy vội về BCH/TĐ 2 Dù. Nhưng Trung Tướng cùng Thiếu Tá tùy viên và Trung Tá Thạch đã bước qua vị trí Pháo Đội tôi rồi. Tôi đứng nghiêm chào. Không đợi tôi trình diện hết câu, Trung Tướng Đống đưa tay bắt tay tôi. Nhìn thẳng vào mặt tôi, Trung Tướng bảo:

– Tôi rất hài lòng về việc làm của anh. Anh yểm trợ rất tốt. Anh em đã thu nhiều kết quả. Tôi khen anh và Pháo Đội anh. Anh chuyển lời đến các binh sĩ… Hãy cố gắng mãi như thế này thì sớm về…

– Cám ơn Trung Tướng, Pháo Đội tôi xin thi hành.

Có lẽ lúc bấy giờ ở Đài Tác Xạ quá chật chội, quý vị chỉ huy của tôi di chuyển ra ngoài — đúng vào lúc Trung Tướng đang nói chuyện với tôi. Tôi trịnh trọng giới thiệu Trung Tướng về việc thăm viếng của Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân đoàn 1 (CHT/PB/QĐ1), Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT)… Trung Tướng lần lượt bắt tay từng người… Một lần nữa, Trung Tướng vỗ vai tôi, vừa cười vừa nói với Trung Tá Chung:

– Ông ơi, anh này làm việc giỏi lắm đó, tôi thành thật khen ngợi anh ta.

– Dạ, cám ơn Trung Tướng. Trung Tá Chung đã đỡ lời cám ơn ấy trước mặt mọi người. Bỗng tôi cảm thấy hãnh diện trong niềm hãnh diện chung của toàn thể PĐC/44 PB chúng tôi. Tôi liếc nhìn Thiếu Tá TĐT, bắt gặp ông ta đang gật đầu cười mỉm chi! Chắc hẳn Thiếu Tá tôi cũng vui niềm vui ấy.

Trung tướng Dư Quốc Đống, khóa 5 Võ Bị, Tư lệnh sư đoàn Dù, hình chụp 1967.

Thế rồi Trung Tướng cùng mọi người tiến ra bãi đáp trực thăng. Trong lúc chờ đợi, Trung Tướng, Trung Tá CHT/PB/QĐ1, Thiếu Tá TĐT tôi đàm đạo một số vấn đề quanh việc yểm trợ pháo binh cho các đơn vị Dù, thành quả đã gặt hái được.

Sau khi Trung Tướng rời khỏi bãi đáp bằng trực thăng riêng, tôi hướng dẫn Trung Tá CHT/PB/QĐ1 quan sát phía Bắc bãi đáp trực thăng. Ý Trung Tá muốn chuyển đến căn cứ này thêm một Pháo Đội 105 ly của Tiểu Đoàn 64 PB hầu đáp ứng nhu cầu yểm trợ kịp thời cho Tiểu Đoàn 39 và Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân. Trung Tá cũng muốn thiết lập một I.O.D (Integrated Observation Device) giao cho Pháo Đội C chúng tôi phụ trách. Tôi trình bày rằng: chúng tôi có thể đảm nhận vì Thiếu Úy Thiện xử dụng được, nếu có thêm một số vật liệu để thiết lập đài quan sát cao và bảo đảm.

Trong thâm tâm, tôi nghe Trung Tá nói đến hệ thống quan sát I.O.D, tôi quá mừng! Vì với hệ thống quan sát tân kỳ này, chúng tôi có được một cặp mắt thần nhìn rõ mọi vật chung quanh cách xa chúng tôi hàng chục cây số ngàn. Hơn thế nữa, đây là loại máy quý giá mà người Hoa Kỳ chưa giao cho bất cứ một đơn vị nào của chúng ta xử dụng…

Chờ đến 12g00 trực thăng vẫn chưa trở lại đón Trung Tá, tôi mời quý vị vào dùng cơm trưa tại hầm riêng của tôi. Thiếu Tá Hằng và Đại Úy Hoàng đi qua Pháo Đội C3 Dù dùng cơm với Trung Úy Trí, người anh em bà con của Thiếu Tá.

Trong lúc dùng cơm, Trung Tá và Thiếu Tá đàm đạo với tôi nhiều vấn đề cần thiết.

Trung Tá bảo:

– Trường hợp Biệt Động Quân bị chạm nặng, anh nên cố gắng giúp đỡ cho nó, dù sao nó cũng là người nhà.

– Thưa Trung Tá, lúc nào tôi cũng sẵn sàng tác xạ, muốn tác xạ ngay để giúp đỡ cho anh em. Song ngặt một điều là tôi ở trong trường hợp tăng phái cho Dù, vì thế nhất cử nhất động phải tùy thuộc Dù… Như hôm qua, Biệt Động Quân (BĐQ) xin tác xạ, tôi hỏi lại Bạch Phú và biết được ý của Bạch Phú không bằng lòng.

– Nhưng anh có tác xạ mà?

– Vâng, thì nói quá Bạch Phú cũng thuận. Song sau khi tác xạ chấm dứt (Bạch Phú có theo dõi và ngay cả PĐC3 Dù sát tôi cũng lưu ý không kém) bắt buộc tôi phải quay trả lại hướng súng tác xạ cũ… Vì vậy, tôi xin Trung Tá can thiệp cách nào để tôi có thể dùng riêng 2 khẩu đặt theo hướng BĐQ, có lẽ như vậy thuận tiện hơn cả.

Im lặng một tí, Trung Tá bảo:

– Thôi được, để tôi cho một sĩ quan liên lạc đến đây với anh và tôi sẽ dàn xếp. Theo ý anh, nếu có một pháo đội 105 ly lên vị trí này có trở ngại gì không?

– Thưa Trung Tá, trở ngại thì không, song địa thế quá hẹp, mặt bãi đáp trực thăng khi nãy Trung Tá quan sát đấy, được xem là ngoài vòng đai an ninh, nếu có một Pháo đội nữa, tất phải có quân bảo vệ bên ngoài, không biết BĐQ có người không?

Trung Tá gật đầu suy nghĩ. Không hiểu lúc đó Trung Tá đang chọn một giải pháp nào thích nghi.

Thiếu Tá Tự, Tiểu Đoàn Trưởng tôi tiếp lời:

– Phần anh, ngay bây giờ anh chuẩn bị sẵn sàng Pháo Đội để có thể tách đôi, mỗi Trung đội 3 khẩu… Có lẽ 2, 3 hôm nữa phải di chuyển một nửa đến căn cứ mới (tức Căn cứ 32, phía Tây Bắc căn cứ Hỏa lực 31).

Tôi liếc mắt nhìn Lân và đáp ngay:

– Thưa Thiếu Tá, tôi đã chuẩn bị sẵn sàng từ lúc ở Cam Lộ. Nay tách đôi cũng không có gì trở ngại, lúng túng – Xin Thiếu Tá cứ yên trí. Lúc nào có chỉ thị của Thiếu Tá, chúng tôi thi hành ngay.

Nhân dịp này, tôi có thuật lại cho Thiếu Tá hiểu nỗi khổ sở, vất vả của Pháo Đội liên tiếp trong những ngày vừa chiếm đóng xong vị trí, vừa tác xạ, vừa nhận lãnh đạn dược do Chinook mang đến và vụ bị la rầy vì mấy dây câu súng triệt thoái không kịp… như là một thanh minh thành thật, để có dịp Thiếu Tá trình bày cho Trung Tá Huỳnh Long Phi ở Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Sư Đoàn Dù… Dĩ nhiên tôi cởi bỏ được một ấm ách trong lòng trước mặt vị Chỉ Huy trực tiếp tôi, đồng thời cũng là cơ hội tốt để tôi nêu lên một kinh nghiệm thực tiễn cho những lần trực thăng vận kế tiếp.

Trung tá Huỳnh Long Phi tốt nghiệp Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị.

18/06/54 – Mãn Khóa Nhảy Dù tại B.A.P.S. (Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù tại Bà Quẹo).

-Thuyên chuyển về Đệ Tam Đại Đội Súng Cối/Nhảy Dù tại Trường Bưởi (Hà Nội).

30/08/54 – Toàn bộ Đại Đội Súng Cối/Nhảy Dù được Hải Quân Pháp hải vận vào Nam trú đóng tại Đồng Đế (Nha Trang).

1956  Đại Đội Trưởng Đại Đội Súng Cối Nhẩy Dù.

1958  Tu nghiệp Hoa Kỳ khóa BOC-Survey tại Fort Sill.

12/1965 Thành lập Tiểu Đoàn Pháo Binh Nhẩy Dù và giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng.

6/1968 Chỉ Huy Trưởng Pháo binh Sư Đoàn Nhẩy Dù.

4/1971  Tham dự khóa Chỉ Huy Tham Mưu tại Ft Leavenworth Kansas City Hoa Kỳ.

14/7/1972 Tử nạn trực thăng tại Mặt trận Hải Lăng và Quảng Trị. Truy thăng Đại tá.


Thiếu Tá Tự tiếp:

– Còn một việc nữa, tin anh biết, theo tin tức khí tượng từ 17 đến 22-2-71 trời rất xấu, sẽ không có trực thăng tiếp tế đâu. Anh hãy cho binh sĩ tồn trữ nước mà dùng. Nghe anh kêu nước quá đâm xót ruột cả BCH/TĐ.

– Thưa Thiếu Tá, như Thiếu Tá thấy đó, nước đối với chúng tôi còn cần hơn là thực phẩm. Chắc Thiếu Tá và Đại Úy Thông…

Ông vội ngắt lời:

– Ông Thông nay đã mang lon Thiếu Tá rồi.

– Ô hay, sao ông không gởi bia rửa lon cho bọn tôi với, Thiếu Tá?

Rồi tôi tiếp:

– Chắc Thiếu Tá và Thiếu Tá Thông cùng các sĩ quan không khỏi cười về cái công điện ngớ ngẩn xin nước của chúng tôi, thưa Thiếu Tá?

Thiếu Tá Tự ngừng nhai, vừa cười vừa đáp:

– Ông Thông đọc trước rồi trình tôi. Ông cười anh khéo khôi hài đến thế là cùng! Sự thật, dù cho anh không làm công điện xin nước, tôi và Thiếu Tá Thông, Đại Úy Diệm cũng lo ngay cho anh. Nhìn lên bản đồ, với cao độ 727 thước mà đồi trọc, tôi đã đoán biết các anh cần nước lắm.

Bỗng Trung Tá Chung quay lại vấn đề vừa xảy ra:

– Anh Hy, tôi mừng cho anh đó. Nói thật với các anh, Tướng Đống ít khen sĩ quan lắm. Vậy mà với anh, Trung Tướng đã khen như thế thì thật là vinh dự cho anh.

– Cám ơn Trung Tá, đối với tôi, tôi không bao giờ chểnh mảng nhiệm vụ, tôi hy vọng sẽ giữ được cảm tình lâu bền với đơn vị Dù ở đây…

Ăn cơm xong, khoảng nửa giờ sau trực thăng đến, tôi tiễn Trung Tá và quý vị ra bãi đáp sau khi chụp vài tấm hình kỷ niệm.

NHỮNG QUẢ ĐẠN PHÁO KÍCH ĐẦU TIÊN CỦA ĐỊCH

Bấy giờ gần như là thói quen, cứ khoảng 14g00 hoặc 15g00 thế nào Chinook cũng ùn ùn tiếp tế đạn cho Pháo Đội. Đồng thời 6 khẩu đại bác 155 ly bắt đầu “đòi” quân cụ! Hết hỏng cơ phận này lại hỏng cơ phận khác, mặc dù chúng tôi đã bảo trì tối đa. Kể ra nó hỏng cũng phải, vì chúng tôi tác xạ quá nhiều. Hai ngày sau này, chúng tôi xử dụng toàn nạp 7! Hầu hết các cần bịt nòng tân trang đều bị rộng lỗ dẫn hỏa, kim hỏa bị gãy.

Lúc ra đi, tôi cẩn thận mang theo dự phòng 2 cần bịt nòng mới và 3 khối kích hỏa ngoài bản cấp số do tôi xin được của đơn vị Pháo Binh Hoa Kỳ đóng ở đồi 65 Đại Lộc để dự trữ thay thế. Nhưng không kịp mà thay. Tôi khẩn cấp đánh điện về BCH/TĐ xin can thiệp toán chuyên viên đến giám định để thay thế cho khẩu 5, khẩu 2 là hai khẩu bị chảy dầu hệ đàn hồi và thay thế 3 cần bịt nòng, 3 khối kích hỏa cùng vài kim hỏa… trong chuyến tiếp tế gần nhất.

Kế đó, tôi được BCH/TĐ trả lời:

– Phải tập trung cơ phận hư gởi về trước để làm phiếu một đổi một rồi sẽ gởi cơ phận mới lên. Còn nhân viên giám định sẽ có một phi vụ trực thăng đặc biệt đưa đến vào ngày mai.

Tôi bực mình và nghĩ rằng: chúng tôi đang quần quật suốt ngày lo tác xạ yểm trợ các cánh quân không kịp thở, tuy súng không còn bắn được với nạp 7 chớ dùng tạm cũng có thể xử dụng với nạp 5 trở lại. Nếu tháo ra gởi về trước để đổi thì tỷ số đại bác bất khiển dụng quá cao, không đủ súng yểm trợ… tai đâu mà nghe các đơn vị bạn trách móc!

Tôi trả lời ngay:

– Yêu cầu BCH/TĐ xin Bộ Tư Lệnh hành quân can thiệp cho tôi được nhận cơ phận mới trước, rồi sẽ trả cơ phận cũ để cố gắng và có thể tác xạ được chừng nào hay chừng ấy, chứ không thể gởi cơ phận cũ về trước.

Phát cáu và không thiết gì nữa, tôi rời Đài Tác Xạ, tiến ra bãi đáp xem anh em làm việc… bỗng… vèo… vèo… hai quả đạn 105 ly bay từ hướng Bắc xuống hướng Nam, nổ cách chân vị trí chúng tôi khoảng 100 thước!

– Việt cộng pháo kích… Việt cộng pháo kích… — Tiếng la của một binh sĩ ở bãi đáp vọng vào.

Tôi vội tụt xuống một hầm tròn bên cạnh quan sát.

Đó là những quả pháo kích đầu tiên của Việt cộng bắn vào căn cứ Hỏa Lực 30 — Lúc ấy đúng 16g10. Sau 8 ngày chiếm đóng, căn cứ 30 hoàn toàn yên tĩnh, giờ đây, Việt cộng mới bắt đầu điều chỉnh tác xạ vào căn cứ tôi.

Tuy nhiên, đạn pháo kích của Việt cộng còn rời rạc, quả dài, quả ngắn, không quả nào trúng vị trí. Sau 6 quả công kích, bỗng dưng chúng im bặt.

Pháo thủ lại tiếp tục chuyển đạn vào hầm chính, hầm khẩu…

Đồng thời, tôi và Trung Úy Trí liên lạc với cánh Biệt Động Quân hướng Bắc căn cứ để xét một tọa độ phản pháo. Xong cả hai pháo đội chúng tôi tập trung hỏa lực tác xạ vào mục tiêu có đến 15 phút.

Trong lúc phản pháo, một trực thăng bị nạn, cố gắng lao đến bãi đáp… Thật may, nếu đáp sớm một, hai giây, trực thăng sẽ rơi vào hầm đạn — và nếu trực thăng bốc cháy, hậu quả sẽ kinh khủng không lường nổi.

Bốn nhân viên phi hành Hoa Kỳ vội vàng nhảy xuống, chạy tản mát trên bãi đáp. Sau đó, một trực thăng từ Khe Sanh đến đưa phi hành đoàn rời căn cứ. Xác trực thăng vẫn để tại chỗ.

Ngày 16-2-71, Cộng quân bắt đầu dùng chiến xa tấn công các đại đội bảo vệ căn cứ Hỏa Lực 31. Được điện văn xin tác xạ khẩn cấp của Sĩ quan liên lạc 330, chúng tôi hướng tất cả 4 đại bác vào mục tiêu (2 khẩu còn lại hoàn toàn bị tê liệt, phải chờ thay thế cơ phận mới xử dụng được).

Thế rồi hàng trăm quả đạn liên tục rơi vào một vùng rộng khoảng 600 thước mỗi cạnh ô vuông…

Tiếng nói của Sĩ quan Tiền Sát Viên 331, 332 báo cáo rõ ràng từng chi tiết di chuyển của chiến xa địch để xin chuyển xạ oang oang trong máy.

Kết quả, địch phải rút lui, bỏ lại chiến trường hàng trăm xác với đủ loại súng, trong đó có 1 thiết giáp, 2 molotova cháy tại chỗ.

Thanh toán mục tiêu này xong, 330 yêu cầu chúng tôi tiếp tục tác xạ vào mục tiêu mới theo lời xin của Tiền Sát Viên 331.

Sau 4 quả đạn đầu, một tiếng nổ dữ dội từ mục tiêu vọng lại. Một cột khói đen cao vút bốc lên, tiếp theo là hàng tràng tiếng nổ nối tiếp… Tiền Sát Viên 331 báo cáo ngay:

– Các bạn bắn trúng kho đạn Việt cộng rồi! Trúng rồi!

– …Tiếp tục cho 10 tràng nữa rồi chấm dứt.

Chúng tôi hân hoan không tả xiết. Nhìn lên xạ bảng, khoảng cách kho đạn của địch đến căn cứ Hỏa Lực 31 không quá 3 cây số và đến căn cứ Hỏa Lực 30 của chúng tôi không quá 9 cây số!

Tiếng nổ vọng lại từ mục tiêu bắt đầu lúc 8g30 đến 13g00 mới dứt. Thỉnh thoảng, những cột khói đen phụt lên cao, đứng xa hàng chục cây số vẫn thấy rõ bằng mắt trần.

Có điều đặc biệt suốt ngày nay chúng lại không pháo kích vào vị trí chúng tôi.

Tối đến, tôi qua Đài Tác Xạ PĐC3 Dù mừng Trí vinh thăng Đại Úy. Đại Úy Trí mời tôi nhậu rượu trắng và ít đồ nhấm do hậu cứ của Trí ở Khe Sanh vừa gởi lên.

Qua ngày 17-2-71, tôi lại được tin từ BCH/TĐ chỉ thị cho tôi vẫn phải chuẩn bị tách đôi Pháo Đội và có thể ngày 18-2 hoặc 19-2-71 thi hành.

Tôi và Lân bàn định công việc tại hầm ngủ. Hai chúng tôi không muốn rời nhau tí nào. Lân mến và kính trọng tôi lắm. Tôi biết điều đó nên tôi thương Lân như người em cùng một núm ruột. Lân lo ngại sức khỏe không quá ’40 ký’ của tôi với bệnh ghẻ đang kỳ bột phát. Lân tình nguyện xin tôi – nếu tách đôi Pháo Đội để di chuyển đến vị trí mới – Lân sẽ lãnh trách nhiệm đưa 3 khẩu đi. Lân chọn các khẩu  1, 5, 3 do TS Nhơn, TS Ngân, TS Quá làm Khẩu trưởng. Phần sĩ quan, Lân xin Thiếu Úy Thiện và Thường Vụ TSI Lục.

Suốt ngày, tôi và Lân bỗng dưng ít nói, trong óc mỗi đứa dường như theo đuổi và suy tư về một biến cố sắp xảy ra…

Tôi gọi Thiện vào nói ý định đó. Thiện vui vẻ và không có ý kiến.

Đối với Thiện, tôi cũng có rất nhiều tình cảm. Trước kia tôi nghe Thiện ương ngạnh, hay cãi lý. Vậy mà từ khi tôi nhận chức Pháo Đội Trưởng của Pháo Đội C đến nay, đã 5 tháng qua, tôi nhận xét Thiện xứng đáng là một Sĩ quan gương mẫu, tinh thần phục vụ rất cao, chưa bao giờ Thiện nề hà hay cãi lại tôi bất cứ một công tác nào tôi giao phó cho Thiện — Và chưa bao giờ kết quả của Thiện làm bị trì trễ. Thiện lại thích khoa học, hay tằn mằn sửa những vật liệu về điện, máy móc như radio, xe hơi… Nên lúc còn ở đồi 37 Đại Lộc, Thiện ít khi rỗi rảnh, hết sửa máy này đến sửa máy khác cho anh em binh sĩ, cho Pháo Đội. Được dịp may hiếm có, anh em lại thường đi xin mấy chiếc radio hư của lính Mỹ mang về nhờ Thiện sửa hộ. Những lúc ấy Thiện rất vui vẻ, trên mặt như hiện rõ niềm hân hoan giúp được cho lính một công việc…

Với tính tình ấy, Thiện đã hợp với tôi khá nhiều quan điểm. Tôi xem Thiện là một người em đáng mến nhất trong Pháo Đội.

Khoảng 8g00 hôm sau, Việt cộng bắt đầu pháo kích lại, cũng bằng loại đạn pháo binh 105 ly. Chúng lồng khung căn cứ Hỏa Lực 30 với một số đạn quả dài quả ngắn. Có quả rơi gần và lọt hẳn vào phía trong rào hướng Nam hướng Bắc. Mảnh văng tung tóe vào khẩu 5 của TS Ngân, khẩu của TS Thìn. Nhưng may mắn, anh em chúng tôi đều vô sự.

Lập tức 4 khẩu phản pháo ngay. Trong chốc lát chúng im pháo kích. Pháo đội lại tiếp tục tác xạ yểm trợ cho các Tiền Sát Viên quanh vùng.

Khoảng 11g00 trưa, sau khi toán Quân Cụ giám định súng và thuận cho Pháo Đội tôi triệt thoái khẩu 5, khẩu 2 về Đông Hà thay hệ đàn hồi, thì 12g00, thêm một toán Quân Cụ khác mang đến 5 cần bịt nòng và 5 khối kích hỏa mới cùng một vài kim châm hỏa, thay thế cho những cơ phận bị hỏng.

Nhân tiện tôi có viết một lá thư tỏ lòng biết ơn Trung Tá Tiềm, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Quân Cụ trong việc giúp đỡ Pháo Đội tu bổ và thay thế những hư hỏng đại bác. Tôi cũng đề cập đến kết quả thu đoạt được từ ngày đầu hành quân cho đến hôm nay — với mục đích chứng minh cho Trung Tá thấy hiệu quả tác xạ, đương nhiên tùy thuộc vào đại bác xấu hay tốt…

…Theo kế hoạch của Trung Tá Chung, tôi tiếp nhận Trung Úy Kim, Sĩ quan liên lạc của Biệt Động Quân. Kim thuộc Tiểu Đoàn 64 PB, trước kia là học trò lớp Đệ Ngũ và Đệ Tứ của tôi tại Hội An.

Kim đến với tôi không ngoài mục đích xin tác xạ tăng cường cho 64 PB yểm trợ hai Tiểu Đoàn Biệt Động Quân đang hoạt động phía Bắc. Đi theo Kim, có hai “đệ tử” mang máy và thức ăn.

15g00 Chinook mang đạn tiếp tế cho căn cứ. Tôi phải đích thân ra chỉ huy và cùng anh em khẩn cấp dọn sạch sẽ bãi đáp tức khắc. Vì sợ Việt cộng pháo kích lại, nhở có quả nào rơi vào bãi đáp, chắc chắn sẽ không tài nào tránh được nguy hiểm.

Cũng trong cuộc tái tiếp tế này, Lân nhận thêm đồ ăn của vợ từ Đà Nẵng gởi đến. Cả một thùng lớn, cơ hồ có thể nuôi 5 sĩ quan chúng tôi trong một tuần lễ.

Móc hậu nước mới gởi đến, tôi ra lệnh tất cả các khẩu đội phải tiết kiệm tối đa, dự trù cho mỗi binh sĩ 3 ống. Khẩu đội chỉ xử dụng 2 ống dùng để thông nòng đại bác và rửa buồng đạn.

Trên mặt mọi người đều tỏ vẻ bất bình cách tiết giảm nước như thế. Nhưng tôi cương quyết, bắt buộc phải thi hành. Vì trong vài ngày nữa, số nước dự trữ mới hy vọng đủ cung ứng cho công tác và ẩm thực nếu việc tiếp tế bị đình chỉ như đã dự liệu.

Từ đây, trời bắt đầu không còn trăng về đêm. Việc canh gác của Tiểu Đoàn 2 Dù và Pháo Đội được tăng cường tối đa… (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: KỶ LUẬT CỦA TIỂU ĐOÀN 2 DÙ

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 10-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.  

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.