This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thưa hồi xưa, đường Hai Bà Trưng bắt đầu từ bến Bạch Ðằng, trên sông Sài Gòn, nơi có Công trường Mê Linh, đặt tượng của Hai Bà do Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, chạy dài khoảng 2967 mét, tới cầu Kiệu, Phú Nhuận! Theo địa phương chí, con đường nầy đã từng thay tên đổi họ tới mấy lần! Thời Pháp, tên Impériale, rồi năm 1870, đổi là Nationale. Và từ ngày 4 tháng Tư, năm 1902, đổi là đường Paul Blanchy, để tưởng nhớ một ông Tây mũi lõ, tai to, mặt bự vừa mới đi bán muối. Lúc ông Ngô Ðình Diệm còn làm Thủ tướng, ngày 22, Tháng Ba, năm 1955, con đường nầy được mang tên là Hai Bà Trưng cho tới mãi tận bây giờ.
Ôi nhớ xưa! Mỗi chiều tan học, từ trường Petrus Ký, trên đường Cộng Hòa được anh mình chở trên chiếc xe đạp cọc cạch, dọc theo đường Hồng Thập Tự, hồi xưa Tây nó gọi là đường Cao (Route Haute) vì nó ở trên cao. Tới đường Hai Bà Trưng thì chiếc xe đạp quẹo trái, bắt đầu đổ dốc “phẻ re” về Cầu Kiệu, bắc qua kênh Nhiêu Lộc. “Nhớ khi xưa anh chở em, Trên chiếc xe đạp cũ. Áo ướt đẫm mồ hôi những trưa hè…Quay đều quay đều quay đều, thương hoài những vòng xe.” Về tới Bưu Ðiện Tân Ðịnh là chuông nhà thờ đổ, giục bà con giáo dân đi lễ trong ráng chiều! Trời sắp tối và những ngọn đèn cao áp thủy ngân bắt đầu bật cháy cho một quãng đường Hai Bà Trưng thơ ấu của tôi trong Sài thành hoa lệ.
***
Thưa nhắc tới khúc đường Hai Bà Trưng Tân Ðịnh là tôi nhớ tới tiệm hòm Tobia. Hồi còn con nít, sợ chết lắm, mà bây giờ già tôi cũng sợ… sợ chết như xưa đó thôi! Nên cái gì có “liên can” tới người chết như: nhà xác của bịnh viện, tiệm bán hòm hay nghĩa trang là tui sợ hết ráo. Tiệm hòm Tobia nầy nếu từ phía Sài Gòn chạy vô, qua khỏi đường Hiền Vương một chút là nó nằm bên tay phải, trước khi đến Bưu điện Tân Ðịnh, và tiệm bán đèn trần Bùi Huy Mong. Tiệm hòm nầy chủ yếu phục vụ cho bà con người Công Giáo; nên nó ở gần nhà thờ Tân Ðịnh đấy thôi. Nhưng tại sao tiệm hòm mà lại đặt tên Tây cà? Thưa ông Tôbia, trong Kinh Thánh, một người chuyên đi nhặt xác chết về khâm liệm rồi chôn cất. Cho dù người chết là ai, một kẻ tha phương cầu thực hay kẻ bị án tử hình. Cho dù nhà vua đã ra chiếu chỉ cấm đoán gì cũng mặc. Chỉ vì việc làm nhân đạo này mà ông bị bắt bớ, bị kết án. Ngay chính vợ ông, người đầu ấp tay gối cũng chế giễu khi ông bị mù lòa, bị tán gia bại sản. Thiên hạ còn cho rằng ông là một kẻ khùng điên. Vậy mà ông Tobia vẫn vững lòng với trái tim tràn đầy nhân hậu đối với tha nhân, cho dù đó chỉ là những cái xác chết vô thừa nhận đã khô queo, cong quắt.
Tiệm hòm Tobia nầy đã ngẫu nhiên trở thành một chứng nhân lịch sử. Chứng kiến một tội ác thí Vua khủng khiếp của nước Việt Nam mình thời hiện đại. Thưa, chiều ngày 2, tháng Mười Một, năm 1963, ông Trần Trung Dung nguyên Bộ trưởng Quốc Phòng, (cháu rể, kêu Tổng thống Ngô Ðình Diệm bằng Cậu), đã gọi điện thoại đến ông chủ tiệm hòm Tobia. “Tổng thống, và ông Cố vấn Nhu đã bị giết trong chiếc thiết vận xa M113 mang số 80.989, theo lệnh của ông Dương Văn Minh.” Sau đó, ông Dung nhờ tiệm hòm Tobia mang hai chiếc quan tài đến bịnh viện Saint Paul, trên đường Phan Thanh Giản, để lo việc tẩn liệm cho tổng thống và bào đệ. Cảnh sát, quân cảnh đứng gác ở các chốt, trước cổng nhà xác của bịnh viện nằm trên đường Tú Xương. Rồi một chiếc xe Hồng thập tự, kiểu Dodge nhà binh, thắng lết bánh, đỗ xịch lại. Bà Soeur mở cánh cửa nhà xác ra. Hai chiếc băng ca được khiêng vào. Trong nhà xác chỉ có một ngọn đèn vàng lù mù leo lét treo lơ lửng trên trần. “Nằm trên băng ca là thi thể vị Tổng thống kính mến của nền Ðệ nhất Cộng Hòa! Cả bộ complet đẫm đầy những máu. Vì trên đầu của Tổng thống có một vết thương sâu từ dưới ót trổ lên đỉnh đầu. Những người lo việc tẩn liệm, khiêng xác Người lên, đặt trên một bệ đá bằng cẩm thạch có lót hai lớp vải trắng. Rồi lấy bông gòn và băng gạc nhúng đầy alcohol, nhẹ nhàng, cẩn thận lau sạch các vết máu, rồi sửa sang áo quần của Tổng thống lại cho chỉnh tề.
Bà chủ tiệm hòm nhét vào tay Tổng thống một xâu chuỗi hột mân côi, rồi lâm râm đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người quá cố. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm vừa mới chết, mình còn dịu nhĩu, nên hai bàn tay Người khép lại khá dễ dàng để giữ xâu chuỗi; như thể Người đang lim dim đọc kinh, lần hạt. Người nằm đó vẻ thản nhiên trong im lặng; dường như Tổng thống đang chìm trong giấc ngủ ngàn thu, bình an, không muộn phiền, mà cũng chẳng khổ đau…” Khâm liệm xong, cái Hội đồng Quân nhân Cách mạng nầy ra lịnh chuyển hai xác anh em Tổng thống vào bộ Tổng Tham mưu, âm thầm chôn trong khuôn viên trại Trần Hưng Ðạo, cạnh chùa An Quốc. Sau đó thấy êm êm, cái Hội đồng Quân nhân Cách mạng phản loạn nầy lại ra lệnh cho ông chủ tiệm hòm Tobia đem hai hài cốt của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố vấn Ngô Ðình Nhu về chôn ở nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, đường Hai Bà Trưng, Tân Ðịnh.
Rồi năm 75, Sài Gòn thất thủ. Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ. Nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi bị VC giải tỏa để lấy đất xây Công viên Lê Văn Tám, một nhân vật do Trần Huy Liệu bịa đặt ra, thời Chiến tranh Ðông Dương. Hài cốt của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố vấn Ngô Ðình Nhu lại bị buộc phải di tản ra tới nghĩa trang Lái Thiêu (Bình Hòa, Thuận An, Bình Dương!) Bia mộ cũng chỉ được đề là: “GIOAN BAOTIXITA HUYNH” và “GIACÔBÊ ÐỆ”. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã bị giết một cách dã man bởi trò đời bất trung, bội phản; nhưng không phải ai cũng muối mặt như thế đâu. Có bà Soeur, người từng theo sát di hài của Tổng thống, từ khi cải-táng cho đến khi xây cất phần mộ xong xuôi, đến lúc gần lâm chung, bà trăng trối xin được chôn gần mộ phần của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm để tiếp tục hầu hạ Người. Thiệt là một trung thần bất sự nhị quân.
Mộ cố tổng thống Ngô Đình Diệm
***
Ngày 26 Tháng Mười, năm 1963, ngày Quốc khánh cuối cùng của Chế độ Ðệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, học trò được nghỉ học. Mấy hôm sau đi học, vô cất xe đạp ở dãy nhà chứa xe, bên dãy hàng sao ngang hông trường, tôi đã thấy lính Nhảy dù đứng gác ở đó. Rồi ngày mùng Một, tháng Mười Một, năm 1963, cuộc đảo chánh phản loạn đã diễn ra. Tới 11 giờ trưa, ngày hôm sau, thì đài Phát thanh Sài Gòn, Hội đồng Quân nhân Cách mạng thông báo là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Cố vấn Ngô Ðình Nhu đã tự sát. Chuyện bịa đặt nầy, dân không ai tin cả. Vì Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, một người Công Giáo ngoan đạo; mà đạo Công Giáo cấm tín đồ tự sát. Lại nhớ kỷ niệm. Năm 1962, lúc còn học lớp Nhứt, trường Tiểu học Bàn Cờ trong Cư xá Ðô Thành. Cứ mỗi ngày Thứ Năm, đám học trò nhỏ xếp hàng để mỗi đứa được cho uống miễn phí một ly sữa bột của Viện trợ Mỹ, USAID. Rồi khi vào Ðệ thất Petrus Ký, đám học trò nhỏ tụi tui, được nhà trường cho lên một chiếc xe bus, chạy u qua cầu Tân Thuận để đi coi xưởng dệt. Một lãnh tụ lo cho dân từng li từng tí như thế thì làm gì có cái chuyện gia đình trị ác ôn gì đó chớ?! Một lãnh tụ không tư túi gì cho cá nhân mình hết. Sống thanh bạch. Chết thanh liêm. Rồi sau nầy lớn lên, nhớ lại những ngày thơ dại của tôi, hồi còn do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm lãnh đạo, là những ngày no đủ bên Ba, bên Má, bên anh, bên em, đẹp nhứt đời người… kể luôn cho tới bây giờ. Ai công hầu ai khanh tướng? Rồi cũng một nắm cỏ khâu xanh rì. Nhưng điều đó không có nghĩa là hết. Lịch sử sẽ cho biết ai làm đúng? Ai làm sai? Ai công? Ai tội với nhân dân? Những người đã nhúng tay vào máu trong cuộc đảo chánh, thí Vua ngày đó, leo lên sân khấu làm những trò nhăng nhố cho đến nỗi làm mất cả miền Nam thì làm sao còn mặt mũi nào mà ăn nói được gì với người đã khuất?! “Ôi! Người muôn năm cũ! Hồn ở đâu bây giờ?”
Bò cái tiếng Anh bò là ‘cow’. Cowboy là thằng trên lưng ngựa, chăn bò tại các trang trại Miền Viễn Tây, tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Bọn cowboy sống hoang dại khoái làm anh hùng nghĩa hiệp.
Thế nên có chuyện rằng: Hai tên cao bồi ngồi uống trong quán rượu. Một chủ trang trại bước vào! “Tao căm thù bọn da đỏ! Tuần trước những thằng khốn đó đã đốt cháy rụi chuồng trại của tao rồi! Nếu bất kỳ ai mang đến cho tao một con ngựa của tụi dân da đỏ; tao sẽ thưởng một ngàn đô!” Hai tên cao bồi bước ra khỏi quán và phóng lên ngựa. Chẳng lâu sau, họ đuổi kịp một tên da đỏ đẩy tên nầy văng khỏi yên ngựa, lăn tròn xuống khe núi. Nhưng con ngựa trung thành vẫn chạy theo chủ nó. Hai tên cao bồi vội đuổi theo. “Ê nhìn kìa! Nhìn kìa!” “Nhìn cái con khỉ? Hổng lo bắt con ngựa đem về mà lãnh thưởng!”
“Nhìn một cái đi!” “Đâu đâu?” Vòng quanh trên hẻm núi là khoảng 2000 tên da đỏ đang ngồi trên yên ngựa! “Chúa ơi! Hai đứa mình sẽ thành triệu phú!”
Rồi cũng có chuyện rằng: Một tay cao bồi già đi tiệm cạo râu vì mặt ông đầy những vết nhăn, ông không thể tự cạo râu cằm được. Ông thợ hớt tóc lấy trái bóng bàn kêu người khách ngậm vô miệng thì gò má căng lên. Râu được cạo xong, ông cao bồi già khen đúng là mày râu nhẵn nhụi nhưng lỡ tui nuốt phải trái bóng bàn nầy thì sao? Thì vài bữa ông đem nó trả lại cho tui cũng giống như nhiều người khác đã làm thôi!”
John Wayne
Cowboy nổi tiếng nhứt trên màn bạc là: John Wayne của miền Tây hoang dã. Henry Fonda trong vai Wyatt Earp trong ‘My Darling Clementine’ Nhưng con gái ông là tài tử Jane Fonda lại bị các cựu binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam nguyền rủa gọi ‘ả’ là ‘Jane Hanoi’ vì tiếp tay với kẻ thù đâm sau lưng chiến sĩ. Clint Eastwood lầm lì đáng sợ, trừ gian diệt bạo trong các bộ phim “spaghetti western” như “The Good, The Bad and The Ugly”
Nhưng nổi tiếng nhứt trong đám chuyên trị vai cao bồi là Ronald Reagan.
Là kép nhì, đóng vai cao bồi không xuất sắc bằng những tài tử khác nhưng nổi tiếng hơn vì Reagan là Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981- 1989). Reagan góp phần rất lớn vào việc làm chủ nghĩa CS sụp đổ ở Liên Xô và các nước CS Đông Âu.
Cao bồi thường đội nón và mang giày cao bồi, mặc áo khoác dày ngăn gió đồng cỏ, đội nón vành rộng che nắng cháy da miền hoang dã.
Cao bồi mặc quần jean, vải dày mặc lâu chỉ sờn thôi. “Bake” hai nút rất mê, chúng gọi là quần bò. Thằng nào cũng ráng để dành tiền ra chợ trời Huỳnh Thúc Kháng mua một cái quần bò trong hàng thùng về mặc để lấy le.
Clint Eastwood
Thiếu nữ Úc tân thời ở Melbourne, theo thời trang mặc quần jean giặt đá cho nó sờn, rách vài lỗ chỗ vì em muốn làm ‘Lolita bụi’.
Cowboy qua Việt Nam húp nước mắm thành cao bồi vườn là những đứa đua đòi, tánh tình ngang ngược không biết lễ phép là gì.
Ông bà mình thuộc cái văn hoá ‘Cánh đồng lúa nước’ nên cần trâu bò làm sức kéo. Trâu chậm hơn, nhưng mạnh hơn bò nên đi cày, bừa, trục làm đất trước khi sạ lúa.
Bò lẹ hơn trâu nên dùng để kéo xe chở nặng nên có xe bò. Chở nhẹ chạy vù vù đã có xe ngựa. Bài học thuộc lòng xưa: “Thời giờ: ngựa chạy, tên bay. Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm”
Miên có xe bò nhiều hơn Duồn (tức Việt). Năm nào Miên cũng đua bò chạy bụi tung mịt mù ở vùng Tịnh Biên Châu Đốc. Xe trâu cũng có nhưng có trong bài Xe Trâu của thi sĩ Kiên Giang. “Xe trâu cót két. Cót két xe trâu. Bánh xe nằng nặng in sâu lối mòn”.
Ronald Reagan
Úc không thấy nuôi trâu; chỉ thấy nuôi bò để vắt sữa và ăn thịt. Sữa tươi để làm ‘cappuccino’ cà phê kiểu Ý (Italy) hoặc đóng hộp làm sữa bò; làm cà phê phin (filter) kiểu Pháp.
Con nít dứt sữa mẹ, chưa mọc đủ răng để ăn cơm nhão thì chuyển qua bú sữa bò. Từ đó loài người ngu đi. Vì có chữ ‘ngu như bò’. Bú bò, bú của con ngu thì làm sao khôn cho được? Thế nên muốn chửi đứa nào ngu thì đừng chửi nó ngu như bò! Nó quánh cái mũi ăn trầu cái đầu xỉa thuốc về vợ nhìn không ra. Hãy hỏi: “Ông còn bú sữa bò không?
Úc khoái ăn bít tết (beefsteak) với nhiều loại sauce và khoai tây chiên, đôi khi với tomato và cải xà lách. Thịt bò nướng sơ sơ mặt ngoài gọi là ‘rare’ thịt hơi sống, còn máu. (Vì thực khách nầy là ác quỷ Dracula). Thịt bò vừa chín tới, vẫn còn màu hồng nhạt ở giữa là medium. Thịt bò chín hoàn toàn, thịt khô hơn là well done.
Qua tay Mít, thì ít xít ra nhiều, thịt bò tới 7 món như: Bò nhúng giấm. Chả đùm. Bò cuốn mỡ chài (mỡ bò). Bò lá lốt. Bò sa tế. Bò bít-tết. Cuối cùng là món cháo bò.
Nhà phát minh vĩ đại bò 7 món cho giới khoái ăn nhậu, trong đó có tui, là ông Adams Henry, Chà Và Ấn Độ, theo đạo Hồi, quốc tịch Pháp tên Việt là Nguyễn Thành có vợ Việt là bà Huỳnh Thị Quế.
Bò 7 món tại Au Pagolac ngày nay
Tháng 4 năm 1930, hai vợ chồng mở nhà hàng Au Pagolac ở quê nội tui là Tân Hiệp trên quốc lộ 4 cách tỉnh lỵ Mỹ Tho chừng 13 cây số.
‘Au’ rút gọn chữ ‘à le’ là ‘tại’. Pagolac? “Pagode” là chùa và “lac” là hồ. Pagolac gần chùa bà Thiên Hậu, phía sau là hồ sen lớn. Pagolac tên Tây gợi trí tò mò; bò chỉ luôn địa điểm cho khách biết đường mà tới.
Hồi xưa, nghèo chết mẹ, đi Au Pagolac ăn bò 7 món nằm mơ còn chưa có. Sau nầy quê người thịt bò là xoàng. Nhưng Footscray (một vùng ngoại ô ở Melbourne) chẳng có nhà hàng nào bán bò 7 món để tui dắt ‘ghệ’ đi ăn!
Lâu lâu em yêu của tui, tức bà chằn của tui, làm món bò lá lốt bỏ sẵn trong ngăn lạnh. Muốn nhậu, xả đá đút vô lò nướng là xong. Bò lá lốt chấm nước mắm nêm giằm khóm thêm ớt hiểm bằm uống beer VB (Victoria Bitter) ngon bá chấy bù chét.
Bài “Bò” xong rồi; hẹn em kiếp sau. Ý quên! Tui chưa chết mà! Xin hẹn em lần sau. Giờ tui đi nướng bò lá lốt nhậu một mình để quên nỗi buồn xa xứ đây!
Sức khỏe của Delon đã suy yếu nhiều trong những năm gần đây sau khi ông bị đột quỵ vào năm 2019. Bao quanh ông là 3 người con và gia đình, Alain Delon, tài tử điện ảnh người Pháp, vừa qua đời trong tịnh yên vào sáng sớm ngày 18 tháng 8 năm 2024 tại nhà riêng ở điền trang tại Douchy, vùng Val de Loire, Pháp, thọ 88 tuổi.
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã nói: “Trầm mặc, nổi tiếng, bí ẩn, Alain Delon không chỉ là một ngôi sao màn bạc mà còn là một biểu tượng của nước Pháp.”
Alain Delon đã được phong cấp bậc Sĩ quan trong Đoàn Quân Danh dự Pháp (Légion d’Honneur) vào năm 2005, cấp bậc này đứng thứ hai trong hệ thống xếp hạng của tổ chức, sau cấp bậc Chevalier (Kỵ sĩ) và trước cấp bậc Commandeur (Chỉ huy). Đoàn Quân Danh dự Pháp (Légion d’Honneur) được Napoléon Bonaparte thành lập vào năm 1802, là tổ chức vinh danh những cá nhân có đóng góp đặc biệt cho nước Pháp trong nhiều lĩnh vực, bao gồm quân sự, văn hóa, khoa học, và các hoạt động xã hội.
Sinh ngày 8 tháng 11 năm 1935 tại Sceaux, ngoại ô phía nam Paris, Pháp, tên thật dài xọc là Alain Fabien Maurice Marcel Delon, ông bị ảnh hưởng bởi cuộc ly hôn của cha mẹ nên trải qua một thời thơ ấu bất an, Alain Delon bỏ học và làm các công việc lặt vặt năm 14 tuổi. Năm 1952, khi mới 17 tuổi, ông gia nhập hải quân và tham chiến tại Đông Dương. Vì vô kỷ luật trong quân đội, ông bị bỏ tù một năm và bị đuổi khỏi quân ngũ vào năm 1956.
Alain Delon được nhà sản xuất phim Hollywood David O. Selznick phát hiện tại Cannes (Pháp). Vai diễn đầu tay của ông là trong bộ phim “Quand la femme s’en mêle” (1957), tên tiếng Anh là “Send a Woman When the Devil Fails”, với kịch bản của Jacques Sigurd dựa trên tiểu thuyết của Jean Amila, và do đạo diễn Yves Allégret chỉ đạo.
Alain Delon đã giành giải César của Pháp, tương đương với giải Oscar của Mỹ, cho nam tài tử xuất sắc nhất vào năm 1985 với vai diễn trong phim “Our Story” của Bertrand Blier. Ông cũng được đề cử giải Quả cầu vàng với vai diễn Tancredi trong phim “The Leopard” (1963).
Vai diễn đầu tiên của Alain Delon trong bộ phim “Quand la femme s’en mêle” (1957)
Delon còn xuất hiện trong nhiều bộ phim tiếng Anh như: “The Yellow Rolls-Royce” (1964) và các phim miền Tây như “Texas Across the River” (1966) và “Red Sun” (1971). Dù thành công ở Châu Âu, ông không thể lặp lại thành công đó ở Hollywood.
Sự nghiệp của ông mờ nhạt hơn trong những năm cuối đời, dù ông đã xuất hiện trở lại trên truyền hình vào đầu thế kỷ 21, vào vai các thám tử kỳ cựu trong phim truyền hình 2 tập: “Fabio Montale” (2002) và “Frank Riva” (2003-04).
Alain Delon kết hôn với Nathalie Delon từ năm 1964 đến 1969 và có một người con, Anthony Delon. Ông còn có 3 người con khác: một con trai, Christian Boulogne, với ca sĩ kiêm tài tử Nico, và 2 người con, Anouchka Delon và Alain-Fabien Delon, với nữ tài tử người Hòa Lan Rosalie van Breemen.
Dù là biểu tượng của điện ảnh Pháp và Châu Âu, Alain Delon có cuộc sống cá nhân đầy biến động, với nhiều xì-căng-đan (scandal), trở thành tâm điểm của sự tranh cãi. Ông bị chỉ trích vì quan điểm chính trị và thái độ đối với phụ nữ, đặc biệt là mối quan hệ gần gũi với Jean-Marie Le Pen, lãnh đạo đảng cực hữu Mặt trận Quốc gia của Pháp, người mà Delon cho biết có “mối quan hệ bạn bè 50 năm.”
Khi được trao giải Palme d’Or danh dự tại Liên hoan phim Cannes vào năm 2019, các nhóm bảo vệ quyền phụ nữ với bản kiến nghị thu thập được hơn 25,000 chữ ký yêu cầu không vinh danh ông bằng cách trích dẫn những phát biểu của ông khi thừa nhận đã tát tai một người phụ nữ.
Dẫu biết rằng sinh ký tử quy, sống gởi thác về, Alain Delon sống tới 88 tuổi cũng đã là thọ vì tuổi thọ trung bình của đàn ông Pháp chỉ khoảng 79 tuổi thôi. Nhưng khi nước Pháp mất Alain Delon, tui cũng bùi ngùi vì chính tui cũng mất đi một thời trẻ trai mới lớn.
Rạp Văn Hoa Đa Kao
Tui nhớ phim “Le Samouraï” (1967), do Jean-Pierre Melville viết kịch bản và làm đạo diễn. Nhân vật nữ chính là Jane Lagrange, do Nathalie Delon, vợ của Alain Delon vào thời điểm đó, thủ vai. Trong phim “Le Samouraï”, Alain Delon vào vai Jef Costello, một sát thủ chuyên nghiệp. Sau khi bị bắn trọng thương, Jef Costello phải đối mặt với nhiều khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ của mình và tìm cách sống sót, cố gắng trở về gặp lại con gái mình.
Vai Jef Costello đã giúp Delon khẳng định vẻ đẹp bí ẩn và phong thái lạnh lùng và chính trực như một ‘samurai’ trong văn hóa Nhật Bản. Những yếu tố đó đã biến ông thành biểu tượng quyến rũ và định hình sự nghiệp trong thể loại phim hình sự và tội phạm.
Tui nhớ tháng 3, hoa dầu nở, rồi kết trái. Tháng 5, trái dầu khô, gặp gió sẽ rơi xuống, xoay tít bay bay dọc đường Trần Quang Khải. Tui nhớ xem phim “Le Samouraï” ở rạp Văn Hoa trên đường Trần Quang Khải, Tân Định, gần Cầu Bông với người con gái đầu đời hò hẹn. Em ở xóm Vạn Chài, Tân Định, là nữ sinh trường Huỳnh Khương Ninh. Em bẽn lẽn theo tôi chui vào cái rạp Văn Hoa tối hù có gắn máy lạnh để hai đứa ngồi chung một ghế dù tui đã phải bỏ ra tới 30 đồng (đau lắm chớ) để mua 2 vé. Tui nhớ cạnh rạp Văn Hoa là một quán cà phê cũng tên Văn Hoa. Quán có dàn âm thanh nổi tối tân ‘chát bùm bum’ nhạc ngoại quốc. Tui nhớ em yêu uống sữa tươi, còn tui, tui uống chanh rum, môi phì phèo thuốc Captain, mặt đờ đẫn nghe nhạc Tây “La plus belle pours aller danser” với Sylvie Vartan; dù tui không hiểu gì vì tiếng Pháp tui học là sinh ngữ hai.
Xem “Le Samouraï”, nên tui cư xử như một ‘hiệp sĩ mù’. Dù thích gái, khoái em gần chết, tôi vẫn cố gắng giữ vẻ anh hùng mã thượng. Tui nhớ em yêu nói nhỏ vào tai tui: “Nếu vào rạp hai đứa ngồi chung một ghế chỉ để xem phim thì anh nên xuống lớp Nhứt trường tiểu học Tân Định mà học; chớ đừng học lớp Đệ Nhứt trường Petrus Ký.” Em mãi mãi xa tui từ độ đó. Ối ông Alain Delon ơi! Ông đi rồi, ông mang theo tình thơ một thuở của tui.
Khu vườn chìm đắm trong cảnh yên tĩnh và tiếng sóng vỗ đều đều và êm dịu của thác nước dập tắt tiếng vang của những bước đi ở bên ngoài. Mặc dù cảnh có vẻ tự nhiên ở trong những bức tường nhưng tất cả đều có dụng tâm, kể cả sự yên lặng nữa. Về phía đường phố, những ống ẩn giấu khéo léo trong các tảng đá, dẫn nước lên trên cao và nước chảy tựa tiếng thì thầm của dòng suối chảy ở dốc một ngọn đồi xuống. Một mô đất một phần có bao phủ, dựa vào bức tường đá rập theo hình dáng hùng vĩ của sườn một chóp núi ở miền phụ cận thành phố. Nước tuôn xuống như thác trên những tảng đá chồng lên nhau và chảy vào một thủy bàn, đáy trong suốt, đặt ở dưới bóng ba cây thông lớn, thân cây xoăn vặn lại vì lâu năm và nhìn từ xa người ta có cảm tưởng đây là một góc rừng nhỏ.
Phía Bắc khu vườn, ngôi nhà rộng, kiến trúc theo kiểu đặc biệt Nhật, biến dạng dưới một mái thấp, góc nhà như sa xuống, và được những bụi tre mà cành lá, như bức rèm phủ lên những bức tường cỏ ép lưới mắt cáo phủ dày làm dịu bớt đi. Sườn nhà bằng gỗ, còn nguyên vẹn sơn, và lâu ngày biến thành màu xám bạc. Những lùm cây Đỗ quyên hoa nở tưng bừng, lóng lánh trên nền xám êm dịu của gỗ.
Lúc này vào buổi trưa, bác sĩ Sotan Sakai ngẩng đầu lên và đắm đuối nhìn thửa vườn mà mùa xuân phô bày cảnh sắc tuyệt đẹp. Ông đặt bút máy xuống và rời chiếc chiếu, kiêu hãnh một chút ở trong thân tâm là cảm thấy chân mình không cứng nhắc tí nào. Khi ở Mỹ về, nơi mà ông đã trải qua tuổi niên thiếu ở đấy, ông phải mất nhiều năm mới thích ứng được với những phong tục của quê hương. Thoạt đầu ông không thể ngồi viết hàng giờ, chân gấp lại trước một chiếc trường kỷ thấp. Nhưng ông quyết định rời hẳn nước Mỹ. Lòng kiêu hãnh đã buộc ông lựa chọn điều này: bị thúc giục lựa chọn giữa trại tập trung và hồi hương. Ông thích về nước Nhật hơn.
Cũng vì lòng kiêu hãnh, ông cương quyết hướng về những phong tục tập quán của tổ tiên. Ông mua ở cửa thành Kyoto ngôi nhà cũ xưa của gia đình Nam tước Kazuko và ông ở đấy với vợ và cô con gái Josui, con trai Kensan của ông bà, lớn hơn Josui năm tuổi, không muốn rời bỏ Mỹ, sau khi bị giam nhốt ở trại tập trung, chàng bị giết ở Ý.
Cái chết của con trai càng làm bác sĩ Sakai cương quyết trở về Nhật.
Khi chiến tranh kết thúc, ông vẫn sống cách biệt quân đội chiếm đóng và các sĩ quan của họ. Được tiếng là một bác sĩ trứ danh, do Tây phương đào tạo, nên địa vị của ông được bảo đảm. Những đồng bang của ông không bỏ qua được.
Sau khi đi thăm bệnh nhân hàng ngày trong một bệnh viện lớn, tối tân, ông trở về nhà, thay quần áo và tiếp tục biên soạn cuốn sách của ông về các bệnh thiếu sinh tố mà ông đã sưu tầm được rất nhiều tài liệu từ ngày trở về xứ sở.
Bác sĩ Sakai lau chùi cẩn thận chiếc bút máy, sự nhượng bộ độc nhất mà ông chấp nhận từ nay về sau, đối với nền văn minh Mỹ. Và nữa, đó có phải là một sự nhượng bộ không, vì chính những đồng bang của ông cũng đã thay đổi chiếc bút lông cổ truyền để dùng bút máy hay bút chì.
Đứng trên ngưỡng cửa, ông ngắm khu vườn với niềm vui thanh khiết, đúng hơn gần như thanh khiết. Dễ xúc động, ông không thể không tìm những lá khô, rơi hôm qua, hoặc những tổ kiến đùn lên ban đêm, có thể làm mất vẻ đẹp hoàn toàn của khu vườn. Nhắm mắt lại, ông trầm ngâm một chút và lẩm nhẩm đọc những đoạn kinh điển Ấn Độ. Ông mở mắt ra và nhìn khu vườn với vẻ khác lạ, thửa vườn chan hòa ánh sáng, cảnh này ông vẫn ưa thích ngắm.
Suy tưởng đối với ông như là một nghệ thuật khó khăn. Ông lớn lên trong cảnh náo nhiệt của phố phường thành phố Los Angeles, ở đấy, ông bán rau và hoa quả của cha mẹ trông trong một khoảng đất nhỏ ở vùng ngoại ô. Ông kiếm ăn để qua mấy năm ở Đại học và được học bổng liên tiếp, nhờ vậy ông đã học xong Y khoa Đại học đường. Lúc trở về Nhật, ông phải tập suy tưởng, như người ta học một môn âm nhạc, chẳng hạn như tập ống tiêu năm lỗ, mà ông thường thổi buổi tối.
Chiến tranh kết thúc, ông còn một mối băn khoăn: cô con gái Josui của ông. Lúc ở Mỹ đi, nàng mới là cô gái mười lăm tuổi. Tính vâng lời vốn không phải là bản chất của nàng, chỉ có sự giao động và mối lo sợ đã buộc nàng phải theo cha mẹ. Nàng bối rối thấy các bạn gái Mỹ, thường ngày khả ái, thân mật, ngày trước ngày sau đã trở thành thù hận. Mối oán hận làm nét mặt của họ xấu xí và biến đổi nụ cười của các bạn nàng ra nét nhăn nhó. Kinh hoàng, nàng than phiền với người bạn thân nhất, Polly Andrews:
– Nhưng Polly, em có thay đổi đâu! Em vẫn như xưa!
– Không – Polly bẻ lại – chị là người Nhật và tôi khinh chị lắm.
Josui không nói gì. Nàng không trở lại trường. Một vài ngày sau, khi cha mẹ nàng xuống tàu, nàng đi theo, lòng chán nản, nàng chưa quen tiếp nhận nước Nhật được. Từ ngày đó, lòng nàng hoài nghi, nàng chỉ cảm thấy an toàn khi sống dưới mái nhà cha mẹ, nhưng tương lai đối với nàng hóa ra mập mờ.
Bác sĩ Sakai đoán ra tâm trạng con gái và cảm thấy băn khoăn nhiều. Ông bà biết định đoạt về nàng ra sao, nay nàng đã hai mươi tuổi. Tất nhiên, hôn lễ không thể để muộn màng hơn nữa, nhất là đối với một người thiếu nữ xinh đẹp như thế. Nhưng hôn lễ nào?
Ông nấn ná ở lại trên ngưỡng cửa, rồi bỏ dép dừa ra để xỏ vào guốc, ông đi theo con đường nhỏ dẫn đến bể nước và ngắm dòng thác. Không khí chứa chan hương xuân. Mùa xuân năm nay có ảnh hưởng thế nào đối với Josui. Năm trước, ông nhân thấy ở con gái mình sự nóng nảy, bồn chồn, ông thấy dễ dàng vì ông đã từng nghiên cứu Tâm lý học. Ông biết chắc, qua những cử chỉ dịu dàng, Josui ẩn giấu một tâm tình đam mê, vì vậy bác sĩ Sakai kết luận cần phải sớm gả chồng cho nàng.
Ông nhìn đồng hồ đeo tay giấu dưới cánh tay áo Kimono rộng, Josui về chậm. Nàng đi chơi đâu. Ông cau mày. Nếu trong mười lăm phút nữa, nàng không về, ông sẽ không đợi nữa; trong bữa ăn, sự hiện diện của Josui đối với ông là cần thiết, không phải ông có ý nuông chiều nàng vì ông không tha thứ để người ta xáo trộn thứ tự trong nhà được.
Josui trở về mười phút sau. Bước chân của nàng vang lên trên con đường nhỏ và chị hầu gái cất tiếng chào nàng. Bác sĩ Sakai vẫn chờ đợi, cặp mắt dán vào hồ nước, lưng quay về phía nhà. Bổn phận dạy Josui phải chào cha. Một lúc sau, ông nghe thấy tiếng nói dịu dàng của nàng:
– Thưa cha, con đã về.
Ông quay lại, cố ngăn không mỉm cười:
– Con về chậm thế!
– Không phải lỗi ở con, Josui nói.
Ở trong vườn, có quầng ánh sáng mặt trời bao bọc. Nàng có một vẻ đẹp mê hoặc: nàng đi bộ ở Đại học về khiến cho khách bộ hành nhìn thấy rõ mớ tóc đen bóng loáng, cặp mắt lớn lóng lánh đen, má hồng vì sức nóng, đôi môi đỏ. Về đến nhà, nàng trút bỏ ngay quần áo đi ra ngoài và mặc chiếc áo Kimono màu xanh dịu. Ông không muốn nàng mặc y phục Âu Mỹ.
– Tại sao không phải lỗi ở con? – ông hỏi giọng nghiêm nghị.
– Lính Mỹ đi trong phố – nàng giải thích. Mọi người đều đứng chờ.
– Con chờ ở đâu?
– Dưới cổng bệnh viện
Ông không căn vặn nữa.
– Thôi, ta đi ăn cơm. Ta chỉ còn ít thời giờ, ta không muốn đến bệnh viện muộn. Đó là làm gương xấu cho những bác sĩ trẻ.
Google photo edit by Sơn râu
Josui hiểu biết tôn chỉ của cha; nàng vội vàng xin lỗi:
– Thưa cha, con rất tiếc.
Nàng nói tiếng Nhật để ông vui lòng, mặc dầu nàng thích nói tiếng Mỹ hơn.
– Con đã chẳng nói với ta là không phải lỗi của con à?
Ông đi trước, tay chắp ra sau lưng, mắt liếc nhìn hai bên vườn.
– Con đã trông thấy hoa Đỗ Quyên chưa? Chưa bao giờ đẹp như vậy.
– Những bông hoa thật mê ly, nàng nói.
Ông dò xét giọng nói của nàng. Ông thường xét nét lời nói của nàng, để có thể xác định, nếu được, nhiệt độ của lòng nàng. Con gái là một gánh nặng, thật ra cũng quý giá lắm, nhưng lại càng nặng nề hơn.
Trong bữa ăn, Josui đoán biết cha mình dò xét mình. Ý thức được mối băn khoăn gây cho cha, nàng cố ý tránh cặp mắt dò xét của ông. Ở trong nhà, nàng sống hai cuộc đời, không phải nàng bất mãn với số phận của mình, nhưng một sinh lực thái quá dày vò nàng. Nàng nghĩ rằng cái sinh lực ấy, nếu nàng có, có lẽ vì nàng đã sinh sống ở California mãi đến tuổi mười lăm, uống sữa bò tươi và ăn hoa quả, rau và thịt. Thân thể nàng chứa đựng một sức lực và một tình cảm dồi dào. Tinh thần nàng sôi nổi đầy hiếu kỳ về đời sống. Tất cả những điểm này làm nàng hoàn toàn khác hẳn những thiếu nữ Nhật khác, xanh xao và yên lặng, vẫn nhìn nàng với vẻ khâm phục lẫn cả ganh ghét và thường gọi là “cô gái Mỹ”. Nay nàng không ăn uống như khi ở Mỹ nữa, nhưng tính háu ăn làm nàng ưa thích cả những món ăn cổ truyền của Nhật, gồm có gạo, cá và rau.
Mẹ nàng bật cười:
– Ai có thể bảo con là con gái một nhà Nho? Con ăn uống như môt cô gái quê!
Trước ba chủ nhân quỳ gối ở xung quanh chiếc bàn thấp, Yumi, người hầu gái, đặt ba chiếc bát con đựng một thứ canh trong có thả những miếng củ cải và vài lá rau diếp, và ba bát canh cá và rau. Trong những chiếc bát sơn vàng và đen khác, cô xới cơm trắng lấy ở một liễn gỗ ra. Cô khẽ cúi xuống mỗi lần đặt bát xuống trước mặt chủ. Lối xá, cúp rạp xuống không còn nữa kể từ ngày Mỹ chiếm đóng và khi có nền dân chủ. Dù sao, bác sĩ Sakai vẫn buộc phải có chút lễ nghi này và người hầu gái chỉ biết tuân theo, ít nhất nhà cũng phải có chủ, mặc dù ông đang ăn cơm với vợ và con gái.
Dò xét con gái một cách kín đáo, bác sĩ thấy má con gái mình đánh phấn hồng hơi đậm quá. Thường ngày chỉ hồng thôi thì hôm nay lại đỏ hẳn.
– Con có đứng ở ngoài nắng khi chờ cho quân Mỹ đi qua không? Ông hỏi nàng.
– Vâng. Sáng nay con để dù ở nhà; con tưởng mặt trời không đến nỗi gay gắt quá.
Bà Sakai nhìn con gái:
– Sau bữa ăn, con phải đánh phấn lại, bà bảo con. Má đỏ quá làm cho người con gái có vẻ tầm thường.
– Thật con chẳng muốn là con một chút nào! Josui kêu lên, vẻ phụng phịu, nhưng lại mỉm cười. Cha mẹ chỉ xét nét con thôi.
Ông bà Sakai quay mặt đi.
– Ngày mai phải thay hoa ở góc phòng, bà Sakai nói.
Góc phòng cắm hoa ở trước cửa vườn. Những cánh liễu đương nẩy mầm và những cành mận đang ra hoa bao quanh cái bình hương. Những bông mận rủ xuống một con nhái bằng đồng đen do Josui đặt ở đấy hôm qua. Người ta để được ba thứ đồ vật trong góc cắm hoa, ngoài ra không thể để một thứ gì thêm được nữa. Bác sĩ Sakai cho con gái theo học nghệ thuật này tại nhà một vị giáo sư danh tiếng trong thành phố.
– Ngày mai, con sẽ cắt những cành đào đang nở hoa. Josui nói.
– Vậy con hãy để cái ly bằng đá thạch anh vào, nó sẽ hòa hợp với hoa đào, ông bác sĩ khuyên con.
Không khí căng thẳng lúc nãy trở lại yên tĩnh. Josui ngồi yên lặng, chăm chú đưa các đĩa thức ăn cho bố mẹ, tránh không để sự yên lặng của mình làm phật ý hai người.
Nếu Kensan anh nàng còn sống, chắc sẽ giúp đỡ nàng chia sẻ gánh nặng tình thương yêu của bố mẹ. Nếu còn sống, chắc Kensan bây giờ đã lấy vợ. Josui còn nhớ rõ vị hôn thê của anh: nhỏ bé, vui tươi, nàng mặc y phục Mỹ, với màu sắc rực rỡ, giầy cao gót. Có năm nàng được bầu làm hoa hậu tháng Năm, ở Trường Trung học Los Angeles. Bố nàng là một mục sư Cơ đốc giáo. Gia đình Sakai theo Phật giáo từ nhiều thế hệ, điều đó không khỏi làm băn khoăn gia đình vị hôn thê Kennsai – những người theo đạo Phật có phải là những người theo tà giáo không? Nhưng tất cả nhưng điều ấy có ý nghĩa gì bây giờ, vì đến ngày dự định cử hành hôn lễ thì Kensan đã mất rồi, gia đình hôn thê chàng bị giam giữ sau hàng rào đầy kẽm gai ở Arizona, còn gia đình Sakai thì ở Kyoto. Ngày ảm đạm, không ai muốn nói một điều gì ở gia đình Sakai. Tuy vậy, Josui hiểu rằng cha mẹ mình vẫn nhớ. Chính nàng cũng ẩn lánh ở cuối vườn để khóc thương anh.
– Ông Takashi Matsui mời ta đến uống nước trà, bác sĩ Sakai nói. Ta đã nhận lời từ năm ngày nay, và hôm nay là ngày ta đến.
Ăn cơm xong, ông uống trà tươi, dễ tiêu như ông vẫn thích.
Takashi Matsui, khách hàng giàu có nhất của ông, đau đởm bào, nhưng từ chối không chịu để cho giải phẩu. Trong ba người con trai của ông, người con lớn bị bắt làm tù binh ở Nga, người thứ hai bị giết trong trận tấn công Nam King. Nay ông chỉ còn người con nhỏ nhất. Ông tự an ủi mình, rằng xứ sở ông sẽ không bao giờ tham dự chiến tranh nữa và đứa con này, ít nhất, sẽ còn lại cho ông. Bản Hiến pháp mới đã chẳng ghi rằng nước Nhật sẽ không được võ trang nữa là gì? Takashi Matsui hướng lòng yêu thương và dành cả của cải cho người con thứ ba này, nó là sinh viên ở Trường đại học Tokyo.
Trong dòng họ Matsui rất cổ xưa, chỉ ở Kyoto là chi bảo thủ nhất và cũng là quan trọng nhất. Takashi Matsui chắc chắn là người Nhật đầu tiên – và có lẽ sẽ là người độc nhất sau chiến tranh – lại đề cao giá trị của Trà đạo. Những thế hệ trẻ có khuynh hướng chế giễu cái phong tục của tổ tiên này, nhưng bác sĩ Sakai nhận thấy việc chấn hưng lại những nghi lễ cổ xưa này là điều rất quan trọng và càng sớm càng hay, cốt để phục sinh tâm hồn người Nhật. Ông cho làm một bữa cơm thanh đạm, vì ông biểu rằng đến giờ uống trà ngày hôm ấy, ta sẽ dùng súp thịt chỉ lấy chất ngọt của đậu, cá và thịt, rau, rồi lại súp và cuối cùng là ăn tráng miệng, tiếp theo là trà tươi hương vị nhẹ nhàng, nấu với những lá giã thành bột, lựa chọn những lá ngon nhất của những cây nhỏ lâu năm trồng dưới bóng mát râm.
Sau nghi lễ này kéo dài trong bốn giờ, ông còn có thời gian đàm đạo với chủ nhân không? Câu chuyện của hai người bao giờ cũng quay về người con trai út yêu quý của Takashi Matsui, và người ta cũng có thể, nếu có thời giờ, nhắc nhở về Josui, cô con gái yêu dấu độc nhất của bác sĩ Sakai.
Bữa ăn trôi qua một cách yên lặng, bố và con gái, người nào cũng giữ trong lòng ý nghĩ thầm kín của mình. Đến tuổi lấy vợ, Kobori, người con thứ ba của ông Matsui, lớn hơn Josui hai tuổi. Trong thời xưa, có lẽ hai gia đình đã dàn xếp công việc; nhưng hai trái bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki đã tàn phá ngoài ngói gạch, xi măng, còn cả thể xác người ta nữa. Bác sĩ Sakai đã nói với vợ rằng Kobori có ý muốn hỏi cưới Josui và nàng quả thật có suy nghĩ, nhưng nàng không quyết định được. Thật ra nàng không ghét bỏ gì Kobori. Còn người phụ nữ nào có thể khinh rẻ một thanh niên đẹp trai, trí thức, đứng đắn và cao thượng được? Nàng đã trông thấy chàng một vài lần trước đây trong lễ hội hoa anh đào. Nàng cảm thấy rất dễ chịu khi ở gần chàng, nhất là trông thấy nàng chàng lại đỏ mặt. Nàng cảm phục sự tương phản giữa màu hồng dưới làn da trắng mịn, và với lời lẽ thân mật theo kiểu Mỹ, nàng đã ca tụng sự lựa chọn bộ quần áo màu xám nhạt của chàng, có nhãn hiệu nhập cảng của Mỹ, nhưng nàng không ưa Kobori, điều làm chàng ngạc nhiên lắm, vì nàng chỉ muốn yêu một người đàn ông và lấy họ. Vậy mà khi gặp Kobori, lòng nàng chẳng có gì xao xuyến và vẫn bình thản.
Những ý nghĩ ngang ngược giao động trong tâm trí nàng, và nàng ăn xong bữa không nói năng gì. Nàng đứng dậy cuối chào mẹ. Nàng còn vội đến trường để khỏi chậm. Josui để cha mẹ ngồi lại thưởng thức chén trà và về phòng, nàng thay chiếc Kimono để mặc chiếc áo dài kiểu Âu Tây. Nàng cũng không quên như buổi sáng mang chiếc dù lụa xanh để che làn da mịn.
Đường phố yên tịnh. Quân Mỹ có lẽ đã tản mác đi thăm thành phố. Họ thường từ Tokyo hay Osaka đến từng đoàn, ầm ĩ, huyên náo, qua vài ngày nghỉ phép ở Kyoto, với cuốn sách hướng dẫn cầm ở tay, đi tìm kiếm những di tích của nền văn minh cổ của Nhật. Người ta nói rằng những phóng pháo cơ của Mỹ được lệnh tránh tàn phá thành phố Kyoto cũng như Nhật đã tránh cho Bắc Kinh. Bác sĩ Sakai không tin lời đồn đại này vì ông nghĩ rằng người Mỹ không hiểu biết gì nền văn hóa.
Đôi khi, ông vẫn than phiền:
– Chúng ta bắt buộc phải lựa chọn giữa cộng sản và tính cách tầm thường của Mỹ.Trong thâm tâm, Josui thường cho cha mình là cực đoan. Theo lối của ông, ông ghét Mỹ, vì Mỹ đã trục xuất ông, nàng nghĩ như vậy, và sự thù ghét này là biểu lộ một tình yêu tuyệt đối nước Nhật cùng những truyền thống cổ xưa của xứ sở. Trà đạo thật sự là một chuyện điên rồ! Nàng thấy kỳ cục, những người đàn ông ngồi trang trọng trong một túp lều ở cuối thửa vườn, cặp mắt chìm đắm trong cõi hư vô, chờ đợi uống một thứ nước xanh nấu bằng lá trà giã nhỏ! Mùa thu năm trước, nàng đã theo cha mẹ sang dự lễ trà đạo tại nhà ông Matsui và cha nàng vẫn cố chấp gọi là Chanoyu (1). Câu chuyện mà người ta cố gắng giữ trên phương diện tinh thần làm nàng phải buồn ngáp. Ông Sakai ngâm những bài thơ tứ tuyệt ngắn, tưởng như chính ông ứng khẩu đọc ra; thật ra, Josui biết lắm, ông đã để hàng giờ để biên soạn trước.
Josui đi ngoài đường, đầu ôn lại những ý nghĩ này, vì nàng hiểu rõ không bao giờ nàng dám tỏ bày những ý nghĩ thầm kín này. Nàng bình tĩnh đi, đầu ngẩng cao, mặc dầu nàng muốn chạy, tay giơ ra như hai cánh; nàng cùng bè bạn cười đùa thả cửa và cũng không hiểu tại sao. Ở Nhật, nàng không thấy một thiếu nữ nào chạy cả, ngay cả những cô gái nhỏ, họ đi những bước nặng nề, với đôi guốc hoặc đôi giầy da lớn; hoặc họ đi từ tốn với những đôi giầy tập thể dục, đế cao su, rất thích hợp cho các cuộc chạy đua.
Nàng đến cổng bệnh viện, sát liền Trường Đại học. Chính ở đó, buổi sáng, nàng không thấy quân lính Mỹ đi qua, và nàng chỉ thoáng nhìn họ vì hiếu kỳ. Trông họ giống nhau cả. Người Nhật ví người Mỹ như học sinh, lúc nào cũng sẵn sàng xô đẩy nhau, cười, đấm đá nhau bất thình lình, giả đò đánh nhau, và họ băn khoăn tự hỏi “Người Mỹ có phải chỉ là trẻ con không?”.
Xung quanh cổng bệnh viện, cây hoàng đậu tưng bừng nở hoa, ngả những cành lá xanh nhợt xuống, nặng nề nang những chùm hoa đỏ thẫm giống như trái nho. Đó là mùa hoa hoàng đậu, hoa khê tôn và mẫu đơn, và Josui yêu những thứ hoa này lắm. Cha nàng không để ý hoa. Vườn ở nhà nàng có một vẻ đẹp trang nghiêm, với những hòn non bộ, những cây thông, và suối nước; riêng chỉ có những cây tre điểm một vẻ dịu dàng. Để trang trí trong nhà, mẹ nàng trồng hoa ở vườn rau.
Mỗi lần nghỉ đến cha nàng, Josui cảm thấy vừa yêu mến, khâm phục và giận hờn lẫn lộn một cách kỳ dị. Nàng không ngớt tiếc nhờ việc nàng và gia đình phải rời Mỹ ra đi. Cha nàng không hiểu những nổi khó khăn mà một người đàn bà có thể gặp ở Nhật mà không từng biết ở Mỹ. Nhớ đến các bạn ở California, Josui ví họ như những nữ hoàng. Ở Nhật, đàn bà chẳng bao giờ là các bà hoàng cả, nhưng là những nữ công dân phục tòng, phải làm đầy đủ bổn phận.Nàng thở dài. Hương hoàng đậu ám ảnh nàng. Nàng vừa cụp dù thì trông thấy, bên cạnh cửa, một thanh niên mảnh khảnh: đó là một quân nhân Mỹ. Chàng đứng dựa lưng vào tường, chân bắt chéo, hai tay bỏ túi.
Nàng giật mình khi trông thấy chàng
– Tôi chờ cô, chàng nói và mỉm cười.
Nàng sửng sốt không biết nói sao, mắt chăm chăm nhìn chàng, mồm há hốc. Chàng đẹp trai với mớ tóc vàng phải thật đẹp. Cặp mắt xanh, xanh như ngọc lam. Da mịn và trắng.
Cặp mắt sáng ngời, tinh ranh, chàng nói:
– Tôi thành công có phải không?
Josui đỏ mặt. Nàng chòng chọc nhìn chàng vì chàng nhớ lại những kỷ niệm đã lu mờ: những chàng trai ở California, những bạn trai ở trường trung học, vừa lúc nàng lưu ý tới họ thì cha nàng bỗng quyết định trở về Nhật.
– Có lẽ cô không nói được tiếng Anh? Chàng nói lại
– Có chứ, nàng đáp không chút ngượng ngùng.
– Thật là lần đầu tôi cảm thấy lời cầu xin của tôi được toại nguyện. Thật đẹp quá!
– Cái gì đẹp quá?
– Phát giác được một thiếu nữ độc nhất mà tôi muốn gặp ở Nhật nói được ngôn ngữ nước tôi.
Nàng mỉm cười.
– Anh muốn gặp tôi sao? Tôi chưa bao giờ trông thấy anh.
– Cô có nhìn tôi mà không biết đó, sáng nay, nhưng tôi trông thấy cô ở dưới cây hoàng đậu. Tôi nhìn cây này vì nó gợi nhớ mẹ tôi: chúng tôi cũng có cây hoàng đậu ở nhà. Tôi thấy cô đứng dưới những chùm hoa và tôi thấy cô… đẹp quá. Tôi nghĩ rằng trở lại chỗ để đợi cô, chắc chắn tôi sẽ thấy cô.
– Tôi đi học
– Cô còn đi học ở trường à?
– Không, ở Đại học, nàng vội vàng nói. Tôi phải đi bây giờ. Tôi đến lớp chậm mất.
Chàng không cựa quậy, chàng có khuôn mặt mỏng, hàm vuông, lưỡng quyền cao.
– Tôi muốn làm quen với cô, chàng nói, giọng trầm và lớn, chàng cố dịu giọng.
– Không thể được. Xin để cho tôi đi.
– Tại sao?
Chàng đến gần nàng. Nàng lại mở dù ra. Để làm gì? Nếu có ai trông thấy nàng ở cạnh người Mỹ này và nói lại với cha nàng, chắc nàng sẽ thấy cha nàng giận hết sức.
– Xin anh đi cho, nàng nói và lảng xa, không nhìn chàng.
– Ở Nhật, chắc phải có một cách nào để làm quen với một thiếu nữ – chàng năn nỉ – Thí dụ, tôi có thể đến nhà thăm cô được?
– Ồ! Không. Josui kêu lên. Cha tôi sẽ giận dữ.
– Tại sao?
– Ồ! Bởi vì… nàng đáp hết sức bối rối.
Đến cửa Trường Đại học, nàng quyết định bằng bất cứ giá nào, xua đuổi người đàn ông này đi.
– Tôi van anh, để cho tôi đi, nàng nói giọng thất vọng. Quả thật tôi sẽ bị phiền phức nếu anh đến.
– Được, tôi đi. Nhưng ngày mai, tôi sẽ ở chỗ kia. Đây là tên tôi.
Chàng đưa chiếc thiếp. Nàng chỉ còn biết cầm và đọc Thiếu úy Allen Kennedy.
– Cô cho tôi biết quý danh? Chàng hỏi.
Nàng sắp từ chối, nhưng lúc nàng ngẩng mắt lên nhìn chàng, xem ra chàng đối với nàng thật dễ thương lễ phép lắm. Hơn nữa, trong thân tâm, nàng muốn làm quen với một người Mỹ.
– Tên tôi là Josui Sakai
– Josui Sakai – người thanh niên Mỹ nhắc lại. Và còn địa chỉ của cô, tôi có thể biết được không?
Josui lắc đầu hoảng sợ, nhưng sự chống chọi của nàng tan biến ngay trước cặp mặt đẹp, vẻ van lơn (2). Một sức nóng lan chảy khắp người nàng, nàng chỉ những muốn cười. Nàng gấp dù lại, vượt qua cổng trường và ẩn mình sau một bụi tre. Chàng hiện lên trên ngưỡng cửa, ngập ngừng, rồi cuối cùng đi. Chàng đứng lại dưới giàn hoàng đậu và bỗng nhận ra hương thơm dịu của hoa. Tại sao chàng không nhận ra hương thơm này sớm hơn? Chàng nấn ná lại ở đấy, lưỡng lự, chìm đắm trong một dự cảm mơ hồ. Chàng sẽ dấn thân vào chuyện gì? Vì lẽ gì, hương thơm kia lại làm chàng đắm say?
Josui trông thấy chàng ngẩng mắt lên, rồi bỗng rời đi. Nàng ở sau bụi tre đi ra, nghĩ rằng không bao giờ trông gặp chàng nữa. Nàng đến lớp học, tâm trí lơ đãng, vì nhớ lại khuôn mặt trẻ đẹp, mà những nét không làm nàng ngạc nhiên, vì chúng thuộc về những kỷ niệm không sao quên được của tuổi thơ nàng.
Hồi được khí lực vì trà đạo. Bác sĩ Sakai chia sẻ sự yên lặng trầm ngâm của người khách khác. Rất hiếm có những gia đình dành cho nghi thức này tất cả ý nghĩa tinh thần của nó. Thật ra, bác sĩ Sakai tự coi mình như một tài tử, vì khi ở California ở nhà bố mẹ, quán trà không có và ông không quen với tập tục này.
Còn ông Matsu, chưa bao giờ rời nước Nhật, ông tiếp đón một cách hiếu kỳ vị bác sĩ, vẻ mặt nghiêm nghị, thân hình cao lớn, và mặc dầu hết sức cố gắng để trở thành một người Nhật trăm phần trăm, vẫn có điệu bộ Mỹ mà không biết. Buổi chiều hôm ấy, sự khôn khéo đặc biệt mà bác sĩ Sakai đã cung kính thực hiện được đối với môn trà đạo không khỏi làm ông Matsui ngạc nhiên. Nhưng ông giả giữ ý không thể như một món hàng đặt ra là có được. Chuyển hướng câu chuyện về vấn đề vô thưởng vô phạt, ông rút ở một chiếc hộp đựng nữ trang bọc lụa vật quý giá nhất của ông: một bát uống trà. Ông nói:
– Một người bạn thân của tôi, nay đã mất, chủ nhân một Chanoyu, bao giờ cũng uống bằng bát này. Lúc ổng sắp mất, ổng tặng tôi, vì người con trai độc nhất của ổng không muốn tập theo trà đạo.
Bác sĩ Sakai cầm chiếc bát hết sức trân trọng, khuỷu tay tì xuống chiếu trải trên mặt đất. Người ta không thể cầm chiếc bát quí giá này mà không tựa tay vào đâu, khi ông Matsui uống trà với chiếc bát này, ông đặt bát vào lòng bàn tay trái và ông lấy tay phải nâng nó lên. Bác sĩ Sakai ngắm nghía chiếc bát màu xanh nhợt, trơn nhẵn, giản dị, một cách lạ lùng, với những vòng cong đều hòa và thanh nhã, thư thái như mặt nước phẳng lặng. Ông trao trả nó cho ông Matsui, thở dài và nhìn xung quanh mình. Chiếc Kakemono (3) treo ở tường, hộp trà, những đồ phụ tùng cần thiết cho trà đạo, tất cả đều quá đẹp trong sự giản dị! Năm người khách, toàn là đàn ông, quỳ gối, lưng thật phẳng, không gò bó một cách lộ liễu, thấm nhuần một sự bình thản từ tâm hồn, phát ra, nhờ ở khung cảnh tuyệt hảo của gian phòng.
Trong suốt buổi lễ lâu dài và trong khi nhấm nháp thức ăn, không một câu chuyện nào lãng trí khách được. Rồi đến lúc chiều tà, khách đứng dậy, nghiêng mình xá chủ để cảm ơn và rút lui vào tiền đình mà ở đấy họ có quyền nói chuyện. Mấy phút sau ông Matsui đến. Bác sĩ Sakai rất thích thú nghe câu chuyện của mấy người này, ai ai cũng muốn bảo tồn nền văn hóa của xứ sở, qua những năm ngoại bang chiếm đóng. Những câu chuyện, nói về nước Nhật cổ xưa, những tập tục ngàn xưa tốt hay xấu, đều như biến ông thành người mới.
Lúc này bác sĩ Sakai mới hiểu rõ hơn tại sao người Nhật lại bị lôi cuốn một cuộc đời không hòa hợp với tính tình họ.
Ông Tanaka giải thích:
– Dân tộc nào cũng có những xấu xa. Ở đâu cũng có những kẻ thô lỗ, ngoan cố, không tiếp nhận một nền giáo dục nào. Chúng tôi cuốn vào phe chúng những kẻ yếu hèn và bất mãn. Những kẻ ấy, đã hơn một thế kỷ nay, làm lợi cho tinh thần đồi bại, để ngang nhiên tuyên bố với dân tộc chúng ta rằng các cường quốc Tây phương đã bận trí để phân chia Á châu nên chiếm luôn cả nước Nhật. Có thể rằng họ có lý, nào ai biết được? Mặc dầu thế nào họ vẫn reo giắc sự hoang mang và lợi dụng tình trạng để hành động theo ý muốn của họ. Bằng cách chống đỡ mối sợ hãi – chính là nguồn gốc của tất cả các sự yếu hèn – có thể chúng ta sẽ không bị lầm lạc chăng?
Ông Tanaka, một ông già nhỏ bé, khô đét, bảy mươi tuổi, đã trải qua thời kỳ biến đổi này mà không hề chịu theo cách trang trí nhà cửa và ăn mặc theo Tây phương. Trận chiến tranh đầu tiên với Trung Hoa làm ông mất người cha và trận chiến sau cùng, ông mất hết con trai. Thù hận, chiến tranh và bài xích thần đạo về những lý thuyết ái quốc, ông trở thành Phật tử. Ông tuyên bố là ông theo học phái nhân văn và chủ trương tinh thần hữu nghị giữa các dân tojcom và như vậy kể cả người Mỹ.
Ông ngồi quay mặt ra vườn nơi mà ánh chiều tà như rải bụi vàng xuống, ông ngừng nói, vẻ suy tư, và không ai làm rối sự yên lặng của ông.
– Tôi đã chứng kiến biết bao cảnh bạo tàn trong đời, ông tiếp tục nói. Khi trái bom nguyên tử rơi xuống Nagasaki, tôi có đến nơi để quan sát những sự tàn phá. Từ đó, tôi không sao tha thứ được một hành động tàn bạo, dù nhỏ nhặt chăng nữa. Tôi không thể nào giết một con kiến hay một con ruồi. Tôi không thể để một đứa trẻ khóc. Thêm vào những tội ác người đời đã phạm không những ở xứ sở chúng ta mà còn khắp trên thế giới, thêm cả tội lỗi của tôi nữa, thì tôi chết đi cho rồi. Ôi! Đức Phật xin Người hãy làm ngưng lại những tai họa!
Ông ngẩng khuôn mặt hốc hác lên và nhắm mắt lại. Bác sĩ Sakai kính cẩn cúi đầu xuống. Ông cảm thấy trong đáy lòng một nỗi buồn thống thiết, lẫn lộn với sự khuây khỏa vô biên.
Cuối cùng, tất cả các khách đều đứng dậy và cáo lui. Không có dịp thuận tiện để bác sĩ Sakai nói với ông Matsui về con cái của hai người, vả lại ông cũng không muốn nữa. Buổi tối nay, ông được một sự an ủi lớn lao. Ông đã để tâm hồn mình chìm đắm trong quá khứ và hiểu biết hơn để càng thẩm định giá trị của xứ sở mình. Ông đi chậm chạp về nhà, tâm hồn bình thản.
Google photo edit by Sơn râu
Trong gian chính, bà Sakai đợi chồng. Biết kể cho ông nghe những biến cố buổi chiều làm sao được? Bà sợ hãi và khâm phục chồng hơn bất kỳ ai trên đời. Nếu không hoài nghi một chút bà đã yêu chồng hết sức! Nhưng người ta không thể yêu đâu một người mình quá khâm phục. Bà nhận thấy, với sự khiêm nhường của mình, là trí thông minh của chồng không để lộ một khuyết điểm nhỏ nhặt nào. Trong tận đáy lòng, bà Sakai giấu giếm một tội lỗi mà bà không hề thú nhận với ai, bà không yêu nước Nhật. Bà thích ở Mỹ hơn, dù ở trong một trại tập trung, vì thời tiết ấm áp và khô trong bãi sa mạc Arizona. Ở Kyoto, nước trong vườn, sương mù ngoài biển và trên núi làm cho nhà luôn luôn ẩm ướt.
Quỳ trong chiếc áo Kimono màu tím, cổ áo viền một mép lụa trắng muốt, bà Sakai kiên nhẫn chờ đợi. Bà đi đôi vớ bông sợi trắng có hai lớp gót do bà đan. Bà là người nội trợ hoàn toàn, sinh sống ở Nhật, trong một trang trại nhỏ trên dãy núi cao của Nagasaki. Cha bà nghèo quá nên khi ông bất ngờ xem một quảng cáo trên báo hiến cơ hội cho những thiếu nữ Nhật kết hôn với người đồng bang di trú ở Hoa Kỳ, ông đã gởi ngay tính danh và hình của con gái. Chuộng khuôn mặt dịu hiền của thiếu nữ, bà cụ thân sinh của bác sĩ Sakai đã lựa chọn cho con trai. Thiếu nữ cũng không ngờ rằng mình lấy một bác sĩ, một người không bao giờ ưa đôi chân vòng kiềng, bàn chân thô lớn và hai bàn tay dày của nàng.
Ở Nhật, tuy vậy có một điều làm vừa lòng bà Sakai: chiếc áo Kimono che giấu bàn chân thô bạo của bà. Ở Mỹ bà luôn luôn nghĩ ngợi về hai bàn chân phơi bày ra trước sự hiềm khích của chồng. Ông chỉ quay mặt đi, điều làm bà đau đớn hơn những lời tàn ác.
Khi con cái còn nhỏ tuổi, Sotan Sakai rất dễ giận hờn nếu vợ không nuôi nấng chúng đúng theo lời chỉ bảo của ông. Vì vậy, bà đã bắt buộc con trai, mặc nó khóc lóc, phải uống thứ sữa bò gớm ghiếc! Nay bà hối tiếc biết bao đôi khi làm trái ý con! Bà không thể đến thăm cả mộ con được nữa.
Những giọt nước mắt chảy chan hoà trên má bà mỗi khi bà nghĩ đến con trai. Bà cẩn thận lấy làn vải lót tay áo rộng lau mắt và sì mũi vào một chiếc khăn tay bằng giấy để giấu trong tay áo bên trái. Bà vo viên chiếc khăn giấy và vứt vào một chiếc bình lớn gần đấy. Bà theo những tục lệ Tây phương nhưng từ khước không dùng chiếc khăn tay vải.
Bước chân của bác sĩ vang động. Người hầu gái vội vã tháo giày cho chủ. Bà Sakai tiến ra cửa và cúi đầu chào chồng. Ông chỉ khẽ gật đầu đáp lại và lẩm bẩm tên bà trước mặt người hầu gái. Bà trở lại phòng khách đi đằng sau ông. Khi ông ngồi xuống, bà liền quỳ gối sờ xem hơi nóng của ấm trà để trong bao dạ len.
Ông giơ tay lên và nói:
– Thôi khỏi. Tôi vừa uống xong. Trà ngon quá!
Biết nói với chồng thế nào về việc xảy ra chiều nay? Bà lấy tay che miệng và ho.
Ông bổng ngẩng đầu lên
– Hariko, có gì thế?
– Tôi không biết nói với ông thế nào?
– Có ai đánh vỡ chiếc bình sung phải không? Ông hỏi, băn khoăn.
– Ồ! Không có đâu ghê gớm thế!
– Hay con cá chép lớn chết rồi?
– Không, ồ! Không. Không có vật gì chết cả.
– Vậy, bà nói đi! Tôi có giết bà đâu và cũng không có đánh bà.
Được sự vui vẻ của chồng khuyến khích, bà thú thật hết sức thận trọng:
– Một thanh niên chiều nay lại đây và hỏi thăm ông.
– Một bệnh nhân à?
– Không – bà ngập ngừng rồi nói tất cả sự thực. Một quân nhân Mỹ.
Khuôn mặt mỏng và đẹp của bác sĩ Sakai không còn sắc diện.
– Tôi không quen biết một người Mỹ nào, ông nói.
– Ông ta không có nói là biết ông. Ông ta muốn được quen biết ông.
– Tại sao y biết tên ta?
– Hình như do một người bạn.
– Y muốn trở lại. Tôi giải thích cho y biết rằng ông không tiếp người lạ ở đây, và tôi có khuyên y đến gặp ông ở phòng giấy bệnh viện.
– Bà nói rất hợp lý – ông mím môi lại. Một người Mỹ! Có ai ở bệnh viện đã cho y biết địa chỉ của ta.
– Có lẽ vậy – bà nói, nhẹ nhõm hẳn người.
– Bà xử sự rất phải, khi nói sự thực với chồng và ông không tức giận. Bà Sakai tự trách mình sợ chồng giận dữ, mà thật ra chưa bao giờ ông nói to với bà; nhưng bà dễ xúc cảm quá, nên dù có hơi chút bất mãn, bà cũng nhận thấy ngay. Bà đứng dậy, dáng yểu điệu mặc dầu cặp chân ngắn.
– Tôi xin rút lui, vì còn bận công việc.
Ông chỉ gật đầu, không muốn làm tiêu tan cái không khí những giờ qua với các bạn. Còn lại một mình, ông đứng im lặng, quay mặt ra vườn, và quả quyết xua đuổi ý nghĩ về người Mỹ khó chịu kia.
Bà Sakai luôn luôn vừa dò xét chồng, vừa nhẹ nhàng kéo đóng cánh cửa. Ông không hỏi bà về hình dáng người Mỹ kia và bà cũng giữ ý không nói với chồng, điều lầm lỗi, làm bà tự trách mình ngay, coi đó như một hình thức dối trá.
– Cậu từ California đến à? Bà hỏi người khách và khách vội kêu lên:
– Bác nói tiếng Anh!
– Chút ít.
Bà cố không cười, tránh để lộ hàm răng xấu. Người Mỹ vốn yêu chuộng hàm răng trắng đẹp. Bà Sakai nghĩ rằng chính vì bệnh thiếu sinh tố nên chân bà hoá ra vòng kiềng và răng hư hỏng. Trong tuổi thanh xuân, những tật này hình như không quan trọng, vì tục lệ muốn các thôn nữ nhuộm răng đen trước khi lấy chồng. Mẹ nàng có hai hàm răng đen như hạt huyền.
Bà nhắc lại câu hỏi:
– Cậu ở California đến à? Chúng tôi ở đấy khi trước.
– Không, cháu ở Virginia, một miền đẹp lắm.
– Tôi không biết.
Câu chuyện suýt thành thân mật, vì bà Sakai vốn vẫn rất thân thiện với người Mỹ. Mặc dù chàng khả ái, bà cũng sửa sai kịp. Chàng đưa cho bà tấm thiếp và cáo từ.
Bà đi những bước ngắn, vội vàng và yên lặng, dọc theo dãy hành lang hẹp, dẫn đến phòng ngủ của bà. Đầy những tấm bảng ra, dùng thay tường, người ta có thể hợp phòng này với phòng kế cận, nhưng bà Sakai để đóng nguyên những tấm bảng này và như vậy dành được cho mình một nơi tịnh dưỡng. Bà cầm chiếc tráp nhỏ hình chiếc tủ nhiều ngăn, đặt xuống một cái bàn thấp và quỳ xuống những thứ để trong các ô kéo: những đồ nữ trang không có giá trị, những mẩu băng, những hình ảnh của Kensan, hình một ngôi nhà của gia đình trước ở Los Angeles. Một tấm bảng kéo ra vài phân. Bà trông thấy Josui mỉm cười với bà.
– Mama, ở đấy à!
Josui đi vào. Mẹ nàng trông thấy trên khuôn mặt nàng hiện ra vẻ hân hoan. Josui chưa biết cách giấu tình cảm của mình dưới một vẻ bình thản.
Bà hỏi nàng:
– Con có vẻ hài lòng. Có điều gì sung sướng thế?
Josui lắc đầu:
– Thưa mẹ, không. Riêng chỉ có xuân về.
Mùa xuân có đủ in dấu yêu thương lên những nét của khuôn mặt xinh đẹp và dịu dàng kia không? Bà Sakai trầm ngâm nhìn con gái, cố gắng nhớ lại ảnh hưởng của tiết xuân về chính tuổi thanh xuân của mình. Vào tuổi hai mươi, ở trang trại của cha, bà làm việc như một người đàn ông; đối với bà, mùa xuân chỉ là cày bừa khó nhọc và gieo lúa, không, mùa xuân chẳng nhắc nhở bà điều gì khác nữa.
Bà không hỏi Josui câu nào khác nữa, mà bà coi nó như là “con gái của bố”, Kensan là con trai của bà. Nếu chàng còn sống, nay bà đã có cháu, và tình yêu của bà đối với các cháu có vẻ giống như những trẻ Mỹ, điều đó bà có sá kể gì. Ở Mỹ, đàn bà có máy giặt và bếp điện, bà buồn rầu nhủ thầm.
Josui cần một bức hình của Kensan, anh nàng đứng cạnh vị hôn thê, Satsu, một thiếu nữ tóc cắt ngắn và xoăn.
– Con chỉ muốn cha cho phép con cắt tóc, Josui thở dài, vẻ bất mãn.
– Chắc cha con không cho phép đâu, bà nói, mặt cúi xuống hình của Satsu và nói thêm: mẹ nghĩ bây giờ nó đã có con.
– Sinh đẻ ở trong trại tập trung, không đến nỗi ghê gớm như thế.
– Ồ! Con có biết đâu. Josui thở dài cau mày lại.
Josui thở dài làm bà băn khoăn. Bà có nên nói cho con gái biết về người Mỹ đến không? Không nói là hơn. Bà lại cầm những vật mọn vô giá trị và những hình ảnh để cẩn thận xếp gói vào tấm giấy lụa.
– Con đi thay quần áo. Josui nói.
Nàng đi và bà Sakai tự khen mình kín tiếng, im lặng bao giờ cũng là cách giải quyết tốt đẹp.
Trong góc nhà là nơi riêng biệt của nàng, nàng quỳ gối, quay ra vườn và soi gương. Nàng mặc một chiếc Kimono màu hồng nhạt, có in một cành đào đang trổ bông, mô phỏng ở chiếc váy, màu hồng đậm hơn.
“Quan niệm của người Mỹ về sắc đẹp người đàn bà như thế nào?” – nàng tự hỏi. Nàng có làn da trắng, trắng như trái hạnh đào tươi. Môi dưới… có lẽ dầy quá chăng? Khuôn mặt của nàng có gọi cho người ta cảm giác một sức khoẻ dồi dào không? Má nàng hồng như hoa đào. Mũi nàng? Phải, khi hơi xuống dưới quá, một người Mỹ nhận thấy ngay. Nếu nàng còn ở California, nàng có thêm bạn trai không? Người ta nói rằng Mỹ không còn thù hằn người Nhật nữa. Nhiều nhất báo đã đăng những bài về sự dũng cảm của tiểu đoàn của Kensan ở Ý; một vài tờ kể cả anh nàng. Chàng tử trận khi chỉ huy tấn công ngọn đồi.
Tốt hơn là nó đừng tỏ ra quá dùng cảm, bà Sakai vừa khóc vừa nói.
Josui rút trong áo ra tấm thiếp nhỏ của chàng sĩ quan và đọc khẽ tên Allen Kennedy. Tên họ này có ý nghĩa gì? Nàng không biết. Nàng lại bỏ tấm thiếp vào trong áo và lại liếc nhìn gương. Nàng đặt lên má ấm nóng hai bàn tay mát. Nếu người quân nhân kia muốn bắt tay nàng theo kiểu Tây phương, nàng sẽ từ chối. Không thể cho phép một thiếu nữ để người lạ cầm tay được. Cái quyền đó để dành cho người chồng tương lai
Trong khi Josui mơ mộng như vậy thì chị hầu đẩy tấm ngăn và vào. Mặc chiếc Kimono bằng vải bóng, Yumi nhìn nàng và nói:
– Ông gọi cô, ông ở dãy thông.
– Nói với ông ta lại ngay bây giờ.
Bác sĩ Sakai đi dạo chơi với hàng thông trong vườn. Mùi nhựa tươi, hun đốt dưới sức nóng của mặt trời, tỏa ra một mùi gắt và dễ chịu.
– Cô con sẽ tới bây giờ. Yumi báo với chủ và khẽ cúi đầu.
– Cô làm gì thế?
– Cô đang soi gương.
Josui rút lui và bác sĩ Sakai dừng bước ngay. Josui soi gương? Như thế có nghĩa gì? Nàng có trông thấy người khách Mỹ không? Bác sĩ muốn biết sự thực. Người ta không thể tin người Mỹ về vấn đề đàn bà được. Josui con gái của ông… ông không muốn người ta lầm tưởng là một đào nương hoặc gái điếm.
Đi từ từ lại cha, Josui trông thấy ngay cặp mắt đen và sắc, đôi lông mày nhíu lại thành một cục ở giữa.
Không kiềm chế được, ông hỏi nàng một cách thô bạo:
– Con giấu ta điều gì phải không? Ta cảm thấy thế.
Google photo
Ít quen với những lời báng bổ đột ngột, Josui giật mình. Xưa kia, cha nàng hay có những cơn giận dữ, nhưng từ khi trở về Nhật, ông cố tìm cách kiềm chế mình bằng cách suy tư. Ông trở nên yên lặng và dễ dãi!
Josui ngẩng đầu lên:
– Con không có giấu giếm điều gì.
– Con thây đổi từ ngày hôm qua. Có điều gì xảy ra, ông mắng nàng.
Chỉ có trực giác hướng dẫn ông, nhưng Josui kinh hoảng trước sự minh mẫn hiển nhiên này. Tại sao ông có thể xét đoán nàng một cách dễ dàng như vậy?
Nàng nói:
– Không có xảy ra điều gì rõ rệt cả. Tuy vậy, có lẽ cha có lý. Trông thấy những người Mỹ sáng nay thưa cha, việc đó đã gợi cho con biết bao kỷ niệm.
Đột nhiên, ông hất đầu ra lệnh cho nàng đi bên cạnh ông. Những tia nắng cuối cùng bám vào rêu tạo nên những ánh sáng màu xanh như có lân tinh(4) .
– Con phải tin cậy ở cha, bác sĩ Sakai nói quả quyết. Về mọi phương diện, con tiêu biểu tất cả những gì cha có. Mẹ con là một người vợ hiền, một người mẹ gương mẫu. Một người đàn ông còn cần gì hơn nữa? Nhưng, về tinh thần, con và cha giống nhau, con biết rõ điều đó!
Nàng phản đối, phẫn uất ngay:
– Con khác cha lắm.
– Bây giờ con khác, nhưng về sau đây, sẽ không thế, ông khứng chịu. Khi cuộc đời con được xếp đặt và khi con không cần phải phản đối cha nữa để chứng tỏ tính cách độc lập của con, lúc đó con sẽ phát giác rằng con giống cha đến mức độ nào.
Josui cảm thấy mình bị giam hãm trong cái tình yêu phụ tử, như bao vây chặt chẽ nàng. Kìa, ở trong lòng nàng, nàng có cầm giữ một con dao găm nhỏ để cắt những mắt lưới. Nàng lấy tấm thiếp ở trong áo ra và đưa cho bố không nói câu nào. Ông cúi xuống để đọc những dòng chữ in, rồi ông cũng làm một cử chỉ như con gái, đưa cho nàng một tấm thiếp giống như thế.
– Cha lấy tấm thiếp này ở đâu thế? Nàng sửng sốt kêu.
– Cha có thể cũng hỏi con như thế, ông đáp vẻ nghiêm nghị.
– Có người… cho con.
– Y đến lúc ta vắng nhà, và để lại tấm thiếp này cho mẹ con.
Hai người chòng chọc nhìn nhau, nàng quyết định không để cho vẻ mặt dữ dằn của bố uy hiếp mình.
– À! Josui. Ông nói giọng thật trầm.
Nàng cúi người xuống và không nói câu nào, đặt tấm thiếp nhỏ vào trong lòng bàn tay bố. Ông cầm lấy và bỏ hai tấm thiếp vào trong đó.
– Con xem, cha có lý, ông nói vẻ thân yêu và buồn rầu. Bây giờ, con gái ta, hãy nói cho ta biết có việc gì xảy ra thế?
Nàng không thể nói. Nước mắt trào ra và nàng chùi nước mắt bằng tay áo Kimono.
– Ta van con không nên giấu giếm bố mẹ điều gì, bác sĩ Sakai nói tiếp, sau một lúc lâu yên lặng. Ta nghĩ rằng nếu con bỏ chúng ta đi, lòng ta sẽ tan nát, ta tin rằng con không làm. Xưa ta đã đau khổ biết bao!
Josui ngẩng đầu lên:
– Vì anh Kensan đã mất?
– Không, trước khi Kensan và con ra đời. Trong buổi thiếu thời của ta, ta… Ồ! Chẳng nên nói làm gì, điều đó chẳng có gì quan hệ lúc này. Hãy nói cho cha biết tại sao con giữ tấm thiếp này? Ông nói giọng âu yếm.
Sự hiền từ đột ngột của ông lại làm cho Josui sướt mướt khóc. Nàng cố nói qua giọt lệ và chăn chặn những tiếng thổn thức trong cánh tay áo.
– Con không biết, con chẳng có gì nói cả. Chàng ngăn con lại ở dưới cây hoàng đậu và hỏi tên con. Con có nói tên. Chỉ có thế, con xin hứa với cha.
Biết sự thực, bác sĩ Sakai tỏ ra khoan hồng:
– Cha không bắt con chịu trách nhiệm về hành động của người đàn ông ấy. Nhưng con có thể từ chối không nói tên con. Như chính con đã nhận thấy, con sống quá lâu năm ở Mỹ.
– Con không nói điều này.
– Được, ta sẽ nói: sống nhiều năm, ông nhượng bộ. Nhưng không bao giờ chúng ta trở lại đấy nữa. Chúng ta sống ở đây, ở trên đất Nhật, con gái của ta ạ. Con sẽ lấy chồng ở đây. Cha không ép buộc con về hôn nhân. Con có thể chờ đợi đến bao giờ là tùy ý con. Về phương diện tâm lý, nên kết hôn sớm là hơn, nhất là đối với một người thiếu nữ. Nếu không, cái nguyện vọng bình thường của người ta sẽ lụi tàn và những hoài bão khác sẽ thay thế. Ta đã thấy ở Mỹ, nhiều phụ nữ đã mất cái nguyện vọng ấy, chú ý vào công việc nghề nghiệp mình, điều đó đáng tôn kính, nhưng trái ngược với nữ tính. Vậy, chúng ta thử xem có thể xử sự như thế nào. Nếu con không ưng Kobori Matsui, hãy tìm một người khác, con sẽ lựa chọn.
Cảm động về thái độ hòa giải của bố và vì tình yêu thương vô bờ bến đối với cha, Josui không có lòng nào trách móc ông.
– Con còn học một năm nữa. Con muốn học xong.
– Cố nhiên rồi, và cha rất tán thưởng. Ồ! Vậy ta quyết định không nhắc tới việc này nữa. Cha con ta hiểu nhau, có phải không?
– Vâng, nàng nói nhỏ – trái ý mình.
– Trong trường hợp này…
Ông ngừng nói, nàng quay mắt nhìn cha. Ông lấy hai tấm thiếp ở trong áo ra và xé vụn từng mảnh nhỏ. Sau đấy, ông cúi xuống, bứt một cụm rêu và đặt lên trên các mảnh thiếp vụn, như một nấm mộ nhỏ. Ông đặt lại cụm rêu.
– Con lại đây – ông nói: ta về đi.
– Bản tiếng Việt của dịch giả là Tokyo nhưng bản gốc tiếng Anh ghi là Kyoto, còn nhà quý tộc tên Kazuko. Nên mạn phép chỉnh lý cho đúng theo nguyên tác Anh ngữ.
– Josui là tiếng Nhật phát âm nhẹ và dứt khoát Dô`-Sư-I
Allen Kennedy trở mình mãi trên các tấm mềm dày. Những chiếc giường Nhật lừa dối người nằm. Khi mới nằm xuống, người ta tưởng giường êm ấm lắm vì những mền lụa có nhồi bông và các chiếu thun giãn. Nhưng chỉ trong một lúc, người ta cảm thấy hẳn trong xương tủy, qua chiếu và mền, cái ván rắn đánh xi của giường. Allen Kennedy không mệt mỏi lắm để ngủ được ngay. Sự ham muốn ngây ngất hun đốt máu huyết chàng. Thiếu nữ xinh đẹp kia đã phá hủy cái thế thăng bằng mà chàng đã thận trọng giữ gìn mãi mới được. Chàng vẫn ghê tởm cách xử sự thô bỉ và khinh khoái của một số nhiều người trong thời chiến tranh, nhưng chính nay, chàng cũng thấy trào lên lòng dục vọng. Chàng không thể tập trung ý nghĩ về sắc đẹp của thiếu nữ, mà chàng chỉ tơ tưởng đến thân hình nàng, sinh ra làm vật sở hữu của người khác.
Bỗng chàng ngồi dậy vòng cánh tay dài qua đầu gối gấp lại và đặt lên trên. Chàng hối tiếc đã không phân chia được cảm tính của mình, đến nỗi pha trộn tình yêu với dục vọng. Nhưng một sự tế nhị khác, có lẽ di hưởng của mẹ, đã dạy chàng rằng tình yêu không thể xa rời dục vọng được.
Chàng đứng dậy, qua xao xuyến, không sao nhắm mắt ngủ được và khoác chiếc áo choàng rộng mà các khách sạn Nhật vẫn cung cấp cho khách hàng. Một kiểu sẽ thật đẹp, màu vanh và màu trắng tô điểm thứ vải bông rẻ tiền. Người Nhật có lỗi về thẩm mỹ trong những sự bắc chước người phương Tây thôi.
Được bà Sakai tiếp trên thềm nhà, Allen trông thấy một chuỗi những mảnh lóng lánh như xà cừ, do ánh mặt trời chiếu lọt qua tấm ngăn. Chàng chưa có dịp quen biết người Nhật trong thượng lưu xã hội. Luật lệ nghiêm cấm người Mỹ không được dẫn người Nhật vào trại của mình. Trên các chuyến tàu, có những toa dành riêng cho họ. Về phần Allen chàng cũng không có ý kết thân với ai.
Ngôi nhà trong lúc buổi sáng thật hòa hợp hoàn toàn với thiếu nữ xinh đẹp chàng gặp dưới cây hoa hoàng đậu. Allen không thể quên được khuôn mặt thanh nhã, thật đẹp với cặp mắt lớn, môi dưới hơi dầy. Chàng đã thấy mến Josui là người có giáo dục, điều khá hiếm. Ở Nhật, con gái các gia đình tử tế đều tránh người Mỹ.
Allen đứng chôn chân ở ngưỡng cửa, trông ra một thửa vườn nhỏ.
Chà, chàng nhủ thầm, thật ra ta biết chờ đợi gì ở nàng Josui ấy? Nếu ta để lòng ham muốn lớn mạnh lên hoặc ta không kiềm chế ngay được – việc gì sẽ xảy ra? Thật là một cuộc phiêu lưu khó khăn, phiền toái, có thể thương tâm nữa. Chẳng có gì khác nữa. Josui không thể là một “Hồ điệp”(5) để người ta yêu rồi lại bỏ.
Đêm tối và yên tĩnh. Ở quá xa bức tường thấp, chàng trông thấy hiện ra xa xa, khối sẫm đen của dãy núi. Đến Kyoto để tìm kiếm những di tích cổ xưa, chàng chưa đi thăm được nơi nào. Tại sao chàng thay đổi những dự tính của mình. Quyết định một điều gì giữa đêm khuya khoắ này thật uổng công. Ngày mai, chàng sẽ duyệt lại với người hướng đạo và vạch ra một lộ trình. Gắng sức, chàng sẽ quên được Josui.
Chương trình đã định, Allen cảm thấy dễ chịu hơn. Đầu óc bớt căng thẳng, chàng không cảm thấy sàn đất rắn chắc nữa.
Buổi mai, mặt trời mọc trên một nền trời trong sáng. Thời tiết đẹp khiến Josui lựa chọn một chiếc áo màu vàng nhợt. Cổ hẹp, điểm những đường thêu trắng, làm nổi bật mớ tóc đen và khô của nàng. Ở thái dương, một vài sợi tóc nhỏ ương ngạnh ngập ngừng không xoắn lại.
Khi nàng đi xuống ăn điểm tâm, cha nàng nhìn nàng với mặt cặp sắc.
– Sáng nay, con đi sớm hơn thường lệ, nàng nói. Con phải học hình học trước khi vào lớp.
Bác sĩ Sakai hiểu rằng như vậy nàng muốn tránh không gặp người Mỹ kia.
– Con đi sớm được mát mẻ hơn, ông bảo nàng, giọng dịu dàng.
Bữa điểm tâm xong không một lời nói. Vẫn yên lặng, hai người đứng dậy. Josui ra vườn gom góp hoa, cành và lá để cắm bình, phỏng theo mùa. Về mùa xuân, phải tỏ ra thận trọng trong sự lựa chọn một bó hoa. Josui xua đuổi ý nghĩ hái những hoa mọc dưới nước, mà người ta không bao giờ xen lẫn với những hoa khác và lựa chọn sự giản dị. Nàng phát giác hoa sim xanh nhợt, nở ở trên những cành như sơn, nửa cây che giấu dưới một cây phong lá đỏ sẫm. Nàng cắt một cành phong, cố giữ không tạo một chỗ trống trong cành lá và bẻ làm hai cành sim. Bó hoa này đủ cho nàng rồi. Nàng để nửa giờ sắp xếp lại trên một chiếc bàn ngoài hiên. Như đã học hỏi được, nàng hết sức thận trọng cắm bó hoa vào một chiếc bình bằng xứ xanh, để những cành lá hướng ra phía mặt trời.
Bó hoa của nàng gồm ba kiểu: cành phong vượt cao hơn hai cành sim cap thấp khác nhau và xòe ra phía sau hai cành này. Sau cùng, hài lòng về công việc của mình, Josui nâng cẩn thận chiếc bình lên và đặt vào góc phòng hơi về một bến. Nàng định giữ lại bức họa buổi qua, vẽ mấy cây liễu trong sương mù và thay thế đồ mỹ thuật bằng viên ngọc thạch, cạnh không đều nhau, đặt trên một chiếc đế bằng gỗ hồng. Nàng lùi lại để ngắm xem toàn thể ra sao
– Được lắm, có tiếng cha nàng nói.
Josui quay lại để mỉm cười với ông và thấy ông mặt y phục Âu Tây, sắp sửa ra đi. Nàng thấy cha có vẻ uy nghiêm trong bộ y phục trang trọng và nhủ thầm ông đã vô tình bảo tồn trong lòng nàng cái kỷ niệm về Mỹ quốc. Nhưng nàng giữ riêng ý nghĩ này và không chia sẽ với ai.
– Thành công lắm, bác sĩ Sakai nói. Cha không ngờ rằng màu xanh của hoa sim và màu đỏ của lá phong lại hòa hợp với nhau được… vậy mà lại hóa ra đẹp. Đặc biệt lắm. Và viên ngọc thạch lại kết hợp hoa lá này với những cây liễu trong sương mù kia.
Gật đầu và khẽ mỉm cười, ông đi ra.
Google photo
Cứ như vậy ngày bắt đầu. Josui từ chối không muốn nhận rằng mình tìm kiếm trên đường phố. Ít nhất, nàng cũng vẫn theo con đường thường lệ để đến trường Đại học trước giờ và bắt tay vào việc học. Đến cuối ngày, nàng trở về sớm hơn thường ngày. Đường phố vắng vẻ nàng nhủ thầm “Hôm nay phải đi thăm Nara với bạn bè. Sẽ không bao giờ gặp chàng nữa”
Ngày hôm sau, lại đẹp hơn hôm trước nữa, nhưng Josui trở dậy buồn bã và lạnh lùng. Không thấy nàng, mẹ nàng sai Yumi đi xem sao.
– Ta thấy buồn – Josui thú thật – Thấy như ốm.
Yumi về báo tin buồn này cho cha cha mẹ nàng. Hai người nhìn nhau.
Bà Sakai đứng lên và hấp tấp đi, yên lặng trên những chiếc chiếu. Bà vào phòng con gái và nhìn nàng. Josui để hai bàn tay nắm lại trên chiếc mền.
– Con hãy nói cho mẹ biết có điều gì làm con bối rối, bà hỏi nàng, giọng âu yếm.
– Không có gì, nàng thở dài. Đó là điều làm con ngạc nhiên. Con không cảm thấy gì. Tất cả con thấy đều dửng dưng.
– Đó là điềm chẳng lành. Vào tuổi con, phải cảm thấy điều gì, dù đó là sự bất mãn.
Josui không đáp và bà Sakai đi ra, bối rối tỏ bày với chồng:
– Ông đến xem con thế nào. Con nó không chịu nói gì, không biết đau ở đâu.
– Như vậy thì không sao – bác sĩ Sakai nói, giọng vui vẻ.
Ông cầm hộp đựng dụng cụ, khẽ gõ cửa phòng Josui và vào.
– Vậy con không thấy đau ở đâu cả à – ông hỏi.
– Không đau ở đâu cả – nàng đáp, không nhìn cha.
– Con có giấu ta điều gì lần nữa không?
– Không.
Ông để vào miệng nàng chiếc hàn thử biểu(6) và quỳ ở đầu giường con gái, vẻ băn khoăn.
– Khi nào thì con thấy cảm giác trống rỗng như vậy? Con không sốt.
– Lúc con thức tỉnh sáng nay. Con không muốn dậy nữa.
Vì thận trọng, ông giữ không muốn thổ lộ những ý nghĩ của mình.
– Thôi! Con cứ nằm, nếu con muốn. Ăn ít, cố ngủ nếu được. Cha sẽ lại ngay, nếu con cần.
– Cảm ơn cha.
Ông cầm hộp đồ và đi ra. Ông bình tĩnh bảo vợ đợi ở ngoài cửa:
– Con nó không đau; đó là mệt mỏi, có lẽ vì mùa xuân. Thời tiết thay đổi bất ngờ, khó chịu lắm, nhất là đối với một thiếu nữ dễ xúc cảm như Josui. Tôi khuyên con nằm nghỉ.
– Cảm ơn, tôi yên tâm rồi – bà Sakai nói.
Sau khi bác sĩ đi, ngôi nhà lại càng yên lặng. Bà Sakai nấn ná lại một lúc, ngắm nghía bình hoa. Yumi đi vào.
– Chúng ta không có cá – Yumi nói giọng tẻ ngắt.
– Mày nói gì? – bà Sakai vội kêu. Ngày hôm qua ta vừa thả một con cá vào cái hồ nhỏ.
Đó chỉ là một cái vại, chôn ở trước cửa bếp, để nuôi cá sống mua ở chợ về.
– Nó chết rồi.
– Chôn nó đi – bà Sakai buồn rầu nói. Để ta ra chợ trách anh hàng cá. Chắc y phải cho cá ăn nhiều lắm cho nặng cân.
Chợ không xa và Yumi coi nhà. Nhưng dù sao bà Sakai cũng muốn báo cho Jusui biết. Bà kéo tấm ngăn trong phòng bà; thiếu nữ ngủ, nằm ngửa, thở bình thường. Bà không muốn đánh thức con.
– Cô mày ngủ – bà bảo Yumi. Ta về ngay.
– Vâng, thưa được – Yumi nói.
Người hầu gái bắt đầu giặt ít quần áo ngay. Khi bà Sakai về, cô sẽ làm cá và nhặt rau.
Trời đẹp. Ánh nắng hun nóng thửa sân sau nhà và Yumi vẫn dậy sớm như thường lệ. Giặt quần áo xong, cô cảm thấy buồn ngủ. Ngôi nhà yên lặng. Nếu cô có ngủ một vài phút sau bếp lò, chắc cũng không ai biết. Nằm ngay xuống đất, cô gối đầu lên một thanh củi và ngủ liền. Đó là một thiếu nữ thôn quê, lúc nào cũng sẵn sàng ăn, sẵn sàng ngủ say sưa, không có tiếng động nào làm thức tỉnh cô được. Cô không nghe tiếng gõ cửa.
Josui tỉnh giấc, nàng lắng nghe, gọi mẹ, gọi chị hầu. Không có tiếng đáp. Tiếng gõ cửa dồn dập thêm. Buộc lòng nàng phải dậy, nàng khoác chiếc áo Kimono màu hồng, vuốt tóc và đi ra ngoài hiên nhỏ để coi xem ai, ở đây, bên ngoài không trông thấy nàng được. Ẩn mình sau một góc nhà, nàng lén thò đầu ra.
Chính chàng!… Chàng gõ cửa và không ai trả lời. Josui lùi lại và tựa vào tường. Chàng không thể trông thấy nàng. Nếu nàng không động đậy, chàng không thể ngờ rằng nàng có ở đó và có lẽ chàng sẽ đi. Nàng muốn biết chàng đi chưa. Nàng lại thò đầu ra, rất khẽ khàng. Chàng vẫn ở kia. Ngồi trên thềm, chàng nhìn tứ phía.
Nàng rút lui, nhưng không vội vàng. Với giọng trầm, vui vẻ, chàng reo lên:
– Tôi trông thấy cô rồi… Josui!
Yên lặng như nghẹn thở, nàng tự hỏi, vậy mẹ nàng đâu? Và Yumi nữa?
Giọng nói trầm lại vang lên, vui vẻ, hơi kéo dài:
– Cô lại đây với tôi hay tôi phải lại với cô?
Nàng trấn tĩnh, thắt chặt dây lưng chiếc áo Kimono, cài cổ áo và nói đĩnh đạc:
– Mẹ tôi đi vắng, tôi sẽ cho chị hầu ra.
Josui đi tìm Yumi, gọi cô, cả ở trong bếp trống không. Yumi vẫn không thấy đâu. Josui còn biết làm thế nào, nếu không phải chính nàng ra mở cửa?
– Mẹ tôi về ngay bây giờ – nàng ấp úng nói, mặt đỏ ửng.
– Tôi không phải đến thăm bà – chàng nói.
Chàng đứng dậy, bỏ chiếc mũ chào mào (7) xuống và bóp trong tay.
Nàng không biết đối xử thế nào với chàng. Mời chàng vào hay sao? Nàng xoắn vặn tay mà không biết.
– Tôi thấy mình thật khả ố, chàng nói khi thấy nàng có cử chỉ này.
– Không – Josui phản đối. Nhưng tôi chỉ có một mình lúc này và…
– Và cô không biết đối xử với tôi thế sao, vì cô là con nhà Nho giáo.
Nàng hối tiếc là đã thổ lộ nàng có một mình ở nhà và cắn môi.
– Xin ông đi cho, nàng nói nhỏ.
Nàng không biết rằng mắt nàng lóng lánh, cặp môi xinh đẹp của nàng thắm đỏ, mặt nàng tươi sáng như một bông hoa chào đón hừng đông. Allen tiến một bước đến gần nàng và sự ham muốn xua đẩy đã lâu bỗng tràn ngập người chàng với sức mạnh vô biên. Chàng bị mù quáng, không thể kìm hãm được sự bồng bột của mình. Chàng sẽ chỉ hôn cặp môi xinh xắn và thanh khiết kia, trong khung cảnh thửa vườn đẹp này. Với một cử chỉ mau lẹ, chàng ôm nàng trong cánh tay với sự âm yếm hung bạo và từ từ ghì chặt vào người mình, trong khi nàng cố quay đầu đi. Rồi bỗng nàng không chống chọi nữa.
Chàng mơ tưởng suốt đêm cái giờ phút này và ngây thơ Josui không hề nghĩ tới. Cuối cùng nàng hầu như ngất trong cánh tay chàng và chàng khẽ rời rời ra, không buông thả hẳn nàng.
Josui cũng không thoát ra, nang chỉ quay mắt đi và tì má lên vai Allen.
– Việc này phải tới – chàng thì thầm.
Nàng không thể nói được. Chàng nâng cằm nàng và quay khuôn mặt dịu dàng lại mặt mình.
– Cô biết rằng việc này phải tới sao? – chàng hỏi.
– Tôi không biết – nàng nói khẽ, đó là lần đầu mà tôi…
Lời thú nhận chất phác này làm chàng vui sướng.
– Ồ! Em yêu của anh! Chàng nói và cúi đầu xuống.
– Không, đừng làm nữa – nàng van nài. Lần thứ nhất đủ rồi. Tôi phải suy nghĩ xem việc gì xảy ra cho tôi.
– Điều xảy ra là anh yêu em.
– Nhưng anh không biết tôi.
– Người đàn ông không cần phải biết người phụ nữ để yêu thương. Họ tìm biết và yêu dấu.
Nàng canh chừng hàng rào thửa vườn:
– Tôi không thể đứng ở đây được, mẹ tôi sắp về.
– Em để anh nói với bà.
– Không, không, đâu có đơn giản thế, anh hãy tin tôi. Cha tôi không ưa người Mỹ và ông yêu mến tôi quá…
Nói đến cha, nàng đứng cách rời chàng ra. Allen nhận thấy nàng muốn tránh và chàng cũng không tìm cách giữ nàng.
– Josui, chàng nói, em có muốn ban cho anh một sự may mắn nào không?
– Một sự may mắn à?
– Đúng rồi, là được quen biết em.
– Làm thế nào được? – Nàng thở dài.
– Anh sẽ tìm cách, em thân yêu.
Em thân yêu! Danh từ này đã bị quên lãng đi, bỗng chàng lại nhớ tới. Đó là một từ thắm thiết yêu đương. Nàng rùng mình. Nàng tìm thấy ở đây một mối tình tương tự? Chỉ có ở nước Mỹ mà ở đấy người ta không sợ ái tình.
Bỗng, nàng nhìn chăm chăm vào mắt chàng.
– Em tin ở anh, Allen… Em đọc như vậy có đúng tên anh không?
– Đúng như anh ưa thích được nghe em đọc đến. Chúng ta sẽ gặp gỡ nhau ở đâu? Ở đây à?
– Không, không, anh để em nghĩ.
– Dưới cây hoàng đậu, ngày mai được không?
– Được.
Chàng cúi đầu xuống và cặp môi dịu dàng, như đòi hỏi biết bao của chàng trai đặt lên môi Josui. Bây giờ, nàng hiểu: nàng yêu chàng thanh niên này.
Hai người hoảng hồn vì tiếng lá xào xạc. Môi họ rời ra. Hai người cùng nhìn phía bụi tre rũ bóng mát xuống cửa ra vào. Một làn gió nhẹ, một cơn gió lốc nhỏ rung động các lá xanh, non và bỗng:
– Thật lạ lùng! – Josui kêu lên.
– Có ai không? – Allen ngạc nhiên hỏi.
Trong một thoáng, họ quên không nghĩ đến nhau và cùng nhìn những chiếc lá múa nhảy. Bỗng nàng nhận thấy chàng vẫn ôm nàng trong vòng tay. Nàng giựt ra và chạy trốn vào nhà.
Josui nhận thấy hành động của mình quá tệ. Tại sao nàng có thể chấp nhận việc này? Ngày hôm sau, bình phục một cách kỳ dị, nàng trở lại trường. Nàng cầm một chiếc dù trắng viền hoa vàng và cầm tay cuốn sách cùng một hộp bút chì gọt tử tế. Nàng có ý định làm việc nhiều để tự nhắc nhỏ rằng mình là một thiếu nữ đứng đắn.
Chàng giữ nàng lại cách hàng rào không xa mấy. Cặp mắt chàng xanh biếc như nước biển dưới ánh mặt trời.
– Anh ở đây để quyến rũ em, chàng bắt đầu nói dạn dĩ.
Josui e sợ. Biết chống trả thế nào với ngày tươi đẹp như thế này? Nàng cố tạo một vẻ trang nghiêm.
– Anh sung sướng được thấy em đẹp quá. Như thế càng làm lòng ham muốn dễ dàng hơn nữa.
– Em phải vào lớp học – nàng nói, giọng van lơn.
Mặt chàng nghiêm nghị:
– Josui, anh chỉ còn năm ngày phép. Anh chẳng xem gì được ở Kyoto, một trong những thành phố đẹp nhất trên thế giới. Em có muốn, hôm nay, lại với anh và dẫn đường cho anh đi… vì bổn phân yêu nước.
Nhìn cặp mắt sáng ngời của Allen, Josui cảm thấy có một điều gì vui vẻ tràn ngập người nàng. Nàng cười:
– Anh cám dỗ em quá, nhưng em không thể theo được. Em biết nói với vị giáo sư của em thế nào? Và nếu có ai trông thấy hai chúng ta? Cha em chắc sẽ giận lắm.
Chàng nhún vai:
– Xin lỗi em, anh van em. Hãy quên sự cám dỗ. Em đi học đi.
Nụ cười tắt trong cặp mắt chàng. Hai người đi sát cạnh nhau bên bờ rào. Allen cầm sách cho nàng, Josui nhớ lại khi ở Mỹ, con trai vẫn thỉnh thoảng mang sạch cho con gái. Nàng nhìn nghiên chàng và nhận thấy chàng đang ngắm mình. Mắt chàng trở nên trong sáng và miệng như cố dập tắt nụ cười.
– Em có thể dấu những quyển sách này ở gốc cây hoàng đậu, rễ cây khá lớn và xoắn xuýt có thể che kín cả em nữa.
– Em sẽ làm thế – nàng kêu lên.
Những lời nói mới đáng kinh ngặc làm sao!
Vào giờ buổi sáng này, không ai trông thấy nàng giấu sách và trở lại với chàng. Hai người đi vào một con đường hẹp.
– Em hãy nói về thành phố Kyoto cho anh biết – chàng hỏi, giả đò lưu tâm lắm.
Để trấn tĩnh sự bối rối của chính lương tâm, nàng trả lời với giọng nghiêm trang.
– Trong một ngàn năm, Kyoto là thủ phủ của nước Nhật. Thành phố cổ xưa này với trên trên một triệu dân có một ngàn bốn trăm đền Phật giáo, nhiều lâu đài, cung điện cổ xưa của nhà vua và những công viên cổ, đẹp nhất thế giới.
– Cô em hướng đạo thân yêu của anh, hãy dẫn anh đi thăm các công viên.
Ở trong các công viên, chàng nghĩ sẽ có những nơi ẩn náu, những động, tảng đá, các hồ phẳng lặng, các hàng rào, bụi cây. Chàng phải mất hứng và nghi ngờ nàng có mánh khóe tinh ranh gì.
Nàng chỉ một khoảng hình chữ nhật, đất khô khan, một bãi sa mạc, cuối cùng có một bức tường thấp. Những tảng đá bám bụi rải rác trên cát trắng, gợi nhớ những đảo lởm chởm trong một biển nước đọng, mà chiếc đã vạch những làn song bất động và đều đặn.
– Đây là một khu vườn à?
Trong một thoáng, chàng không thấy ý nghĩa chàng gán ghép cho ngày hôm nay nữa. Chàng linh cảm thấy một cách mơ hồ một sự hùng vĩ và trang nghiêm, vượt tầm hiểu biết của chàng.
– Anh sẽ hiểu – Jossui giải thích, vẻ trang trọng. Anh hãy đếm những tảng đá đi.
Chàng đếm được mười lăm chòm, xếp những đảo hàng năm và hai, năm và ba, ba và ba.
– Không phải chỉ riêng là những đảo. Một vài cái giống như những loài chim nước đang nghỉ ngơi…
Josui lấy ngón tay chỉ những đảo đó cho chàng
– Kìa, những con vịt trời.
Những tảng đá mòn giũa bởi gió và mưa, nhắc nhở thật sự những con vịt nằm ngủ.
– Em có hiểu vườn này tiêu biểu gì không? – Allen hỏi.
– Không được hiểu lắm, nhưng em có thể nói để anh biết rằng, công viên này rất nổi đanh và rất cổ kính, biểu lộ tâm hồn thanh khiết của người sáng tạo. Nếu chúng ta đứng hàng giờ lâu, yên lặng trông ngắm, lúc ấy chúng ta sẽ hiểu
Chàng lắc đầu:
– Không, cảm ơn – chàng nói. Anh muốn một cảnh gì linh động hơn.
Josui lại nhẫn nại dẫn Allen vào hoa viên một lâu đài cổ, ở đấy những đồi thấp là những dấu nối liền vườn với trời. Nhưng, nơi này cũng không phải là một cảnh thân mà không có một góc nào có thể ẩn náu được. Allen không dám cầm cả tay Josui.
Trưa đến, chàng chẳng còn muốn nghe nói về đền đài, lăng miếu, công viên và thần thánh nữa.
– Anh đói – bỗng chàng nói. Chúng ta đi ăn, thuê một chiếc xe và ra miền quê. Anh muốn xem môt phong cảnh thường.
Nàng nhận lời như trong một giấc mơ. Đã phạm lỗi lớn lao là dành cho chàng cả ngày hôm nay, nàng như sẵn sàng tất cả. Thấy thế, chàng thấy ngực đập mạnh.
Buổi chiều, ở miền quê, Allen lại thấy Josui có vẻ xa cách. Hai người trèo lên một ngọn đồi, theo một con đường nhỏ quanh co, có lát gạch và trồng tre hai bên. Chàng đứng dừng lại trước một khoảng có rêu mọc.
– Chà! Chỗ này tốt quá. Một chiếc đệm thật êm, có phải không? Josui, em ngồi xuống đây.
Nàng vâng lời và quỳ xuống, cách một khoảng thích đáng với người bạn trai. Mấy sợi tóc nhỏ lóng lánh mồ hôi bám vào trán đẫm ướt của nàng. Môi nàng thắm tươi, chàng có dám đến gần nàng không? Chàng bỗng quyết định và cầm lấy tay nàng.
– Josui.
Nàng quay lại nhìn chàng với cặp mắt trong sáng:
– Anh hãy nói cho em biết về nước Mỹ. Nói cho em biết về nhà, cha mẹ anh. Em tọc mạch quá.
– À! – chàng bắt đầu nói. Anh ở một thành phố nhỏ, cách Richmond không xa, thuộc về miền Virginia.
– Anh mô tả nhà anh đi.
Chàng nhìn bàn tay Josui và khẽ lấy những ngón tay mình mân mê.
– Một ngôi nhà lớn, sơn trắng, sáu cột lớn trắng. Một ngôi nhà cổ dô tằng tổ anh xây cất. Ở cửa vào có một cầu thang lớn dẫn đến các phòng.
– Thế gia đình anh, có bác trai bác gái (9)?
– Phải và anh. Có thế.
– Con một?
– Phải
Nàng có vẻ nghiêm nghị:
– Vậy anh đối với hai bác chắc rất được quý.
Chàng cười:
– Đôi khi anh cũng nghỉ như thế.
– Thân mẫu anh… bà thế nào?
– Khá, anh nghĩ như vậy.
– Em muốn nói về dáng người.
– Ồ! Anh hiểu. Khá bé nhỏ, mảnh khảnh, xinh xắn đúng hơn. Nhưng bà có một ý chí sắt đá.
– Còn thân phụ anh?
– Cao lớn, điềm tĩnh… biếng nhác, anh thấy thế. Ông là luật sư, nhưng nay không hành nghề. Ông thấy không cần thiết, anh nghĩ như vậy, từ ngày ông anh mất.
Nàng hiểu rằng chàng muốn thổ lộ là chàng có gia sản nhưng vì tế nhị, chàng không muốn đề cập đến vấn đề này. Nàng nhìn qua các khóm tre. Thành phố Kyoto trải dài ở dưới chân hai người.
– Cần phải về – Josui nói.
Thời giờ đi mau quá. Chàng nằm xuống thảm rêu và gối đầu lên cánh tay gấp lại.
– Lúc này chưa, Josui.
Nàng nhìn chàng với một vẻ không sao tả được. Nàng có sợ hãi không?
– Josui, em hãy nằm gần đây.
Nàng lắc đầu. Cái cổ trắng muốt của nàng bừng đỏ.
– Tại sao không, em yêu của anh?
Nàng không trả lời, nhưng chàng trông thấy môi dưới của nàng run và nàng cắn lại ngay.
– Em có sợ anh không? – Chàng hỏi một cách âu yếm.
– Một chút.
– Anh không làm hại em điều gì, em yêu của anh.
Nàng chỉ biết lắc đầu.
Chàng dịu dàng hỏi:
– Em quên rằng anh yêu em sao?
Allen lắng nghe kỹ mới nhận thấy có trả lời.
– Em có nhớ, nhưng tại sao anh yêu em?
Josui quay nhìn chàng với cặp mắt lớn nghiêm nghị. Chàng đứng dậy, cử chỉ hấp tấp. Thật ra, tại sao chàng yêu nàng? Thái độ của thiếu nữ làm cho những cử chỉ của chàng hóa ra kỳ quặc.
– Anh không hiểu – chàng nhận thế. Chính anh cũng tự hỏi mình. Anh như là… người đói khát. Anh chẳng có ai ở đây để yêu thương. Chỉ có mình em.
– Còn mấy ngày nữa anh đi à?
– Anh sẽ trở lại.
Nàng mỉm cười
– Như vậy chúng ta có thể chờ đợi. Chẳng cần phải quyết định bây giờ tại sao anh yêu em. Nàng nhảy lên và trông ngắm vẻ mặt nồng nàn, hướng về phía nàng. Bỗng nàng quay đi, xuống dốc và chạy, nhẹ nhàng và mau lẹ. Chàng chỉ còn biết chạy theo nàng đến tận xe.
– Như vậy có phải là hết một ngày không? – Allen hỏi.
– Chỉ ngày hôm nay thôi, một ngày qua với anh, Allen Kennedy.
Nàng nói cả tên họ chàng lần thứ nhất, dằn từng chữ một cách điệu bộ.
Ngày khởi đầu với biết bao sự băn khoăn thì lại kết thúc trong một giấc mơ vui vẻ. Nàng lấy sách giấu ở một nơi. Sinh viên đã trở về cả. Người gác cổng già ngủ ở trong chòi canh.
Josui chỉ ngừng lại một lúc để từ giã Allen. Chàng phản đối:
– Nhưng anh có được đi xem gì đâu. Anh chưa được thăm Nara. Tất cả mọi người đều phải tới Nara. Tất cả mọi người đều phải tới Nara.
– Anh phải đi với các bạn của anh – nàng nói và mỉm môi. Em không có ý gì về việc này.
– Có chứ. Đó là lỗi ở em. Anh đã gặp em, thì anh lại cần phải gặp nữa.
Với thái độ trẻ con, nửa đùa nghịch, chàng tìm cách bào chữa cho mình. Sự xúc động làm chàng hãi sợ. Chàng không muốn chỉ định những nguyên nhân.
Nàng hết sức sửng sốt và hỏi:
– Anh có muốn ngày mai em đi Nara cùng với anh không?
– Anh kính cẩn ước mong như vậy.
– Em cần phải suy nghĩ.
– Josui, làm thế nào, anh biết được quyết định của em?
– Nếu em đi, em sẽ ở đây, sáng mai, không mang sách vở?
– Anh đợi em
Hai người từ giã nhau, cũng chẳng bắt tay nhau, tưởng như người nào cũng đoán ở kẻ kia lòng ham muốn ngập ngừng và e sợ.
Josui kinh ngạc về sự nhu nhược không ngờ được của mình. Nàng trở về nhà như thường lệ. Cha nàng được mời tới nhà một bệnh nhân, phải trở về muộn. Josui ăn buổi tối riêng với mẹ. Thỉnh thoảng nàng mới trả lời những câu hỏi âu yếm của mẹ; trước kia nàng là người rất ghét nói dối hay bắt buộc phải nói dối. Trong khi nàng đang bận rộn sửa soạn khay cơm cho mẹ, thì bà nói giọng dịu dàng:
– Thôi con, khỏi bận tâm, mẹ không muốn ăn. Ta không dám nói cho con…
– Bảo con gì, hở mẹ?
– Chính cha con được mời gấp đến gia đình Matsu. Kobori… cha con sợ bị ruột dư.
– Kobori! Ồ! Con mong rằng bệnh không đến nỗi nặng. Người con độc nhất của gia đình Matsui!
– Và một người con hiếu đễ biết bao! Cha con rất có thiện cảm và đặt nhiều hy vọng ở chàng…
Josui biết những ước vọng của cha, nhưng nàng không thể trả lời được. Nàng ẩn mình trong một giấc mơ tình ái lôi cuốn nàng đi xa nhà, xa cha mẹ. Khi ăn xong, nàng nhận thấy bà Sakai nhìn nàng với vẻ băn khoăn.
– Con có điều gì bận tâm thế? – bà hỏi.
– Ồ! Con nghĩ đến việc học hành – Josui đáp, ngạc nhiên thấy mình nói dễ dàng quá!
Nàng đi ngủ rất sớm, viện cớ mệt. Đêm trong sáng. Nàng ở giường sát liền mặt đất, nàng trông thấy qua cửa mở, những ngôi sao tỏa ánh sáng vàng, tựa những đèn lồng bằng lụa ở đằng xa. Nàng nhớ lời những chuyện tình đọc trong các tạp chí ở California. Tình yêu đưa đến hôn nhân. Thoạt đầu là cái hôn, rồi tỏ tình và sau cùng là ấn định ngày hôn lễ. Nàng đã nhận được cái hôn, chàng đã tỏ tình. Bây giờ đến lúc chàng ấn định lễ cưới.
Nàng thở dài, hình dung khuôn mặt của Allen và ước mong ngày mai sẽ tới.
Ngày mở đầu tươi đẹp. Ánh mặt trời làm nàng thức tỉnh, Josui dậy. Nàng được mẹ cho biết là tối quá, cha nàng về muộn, vì phải giải phẫu Kobori về bệnh ruột dư và tình trạng của chàng làm ông lo ngại. Josui lẫm bẫm một vài câu xã giao và ra đến ngoài là nàng quên ngay hết cả. Đường phố hơi ẩm ướt sau một cơn bão nhỏ ban đêm, trời tuyệt đẹp. Allen đợi thiếu nữ, nhưng lão gác kiểm soát đường phố khắp cả mọi mặt. Chàng đến gặp nàng ở một đường hẹp dọc theo một bức tường Trường Đại học.
– Lão không trông thấy em? – chàng nói.
– Thôi, ta đi ra ga qua những đường vắng vẻ – Josui đề nghị. Nara cách đây không đến một giờ xe lửa.
Hai người bắt tay nhau và đi yên lặng trong đường phố ẩm ướt. Trên cây những hạt mưa nhỏ rơi xuống khuôn mặt và tóc Josui.
– Hạt mưa rơi trên mấy bông hoa – Allen nói.
Nàng mỉm cười:
Vào giờ sớm sủa này, họ có chỗ ngồi trên toa tàu. Josui giả tạo vẻ lãnh đạm trước con mắt hiếu kỳ của hành khách ngạc nhiên thấy một thiếu nữ Nhật tử tế đi cùng một người Mỹ.
– Nara là kinh đô cố định đầu tiên của Nhật – nàng nói, giọng trong trẻo, hơi lớn một chút. Trước kia, các vị vua chúa chỉ định kinh đô ở thành phố nào họ ưa thích. Từ thế kỷ thứ nhất, Nara được lựa chọn và trở thành kinh đô trong bảy triều đại liên tiếp Sau đó là Nagaoka cũng ở gần Kyoto.
– Ở Nara ta xem gì?
– Tất cả những gì anh thích. Cửa hàng, lâu đài, đền miếu, rương cất thánh tích, tượng Phật lớn, vườn Thượng Uyển.
– Vườn Thượng Uyển – chàng quyết định không do dự. Có lớn lắm không?
– Hơn sáu trăm mẫu (10).
Đến Nara, Josui gọi một xe kéo, đưa hai người đến công viên, trong khi nàng cố gắng quên những cặp mắt soi mói của hành khách trên tàu.
Hai người dạo chơi một giờ trong công viên. Nhận thấy có một góc vắng vẻ, Allen không sao kìm hãm được lòng ham muốn. Chàng bỗng quay lại trên con đường nhỏ hẹp mà chàng đi trước và nắm lấy tay nàng.
Bây giờ không còn vấn đề giằng co gì nữa. Cái hôn không còn làm Josui sợ hãi. Nàng chỉ những muốn tiếp tục nữa. Nàng cảm thấy một nỗi hân hoan cực độ, êm ái không sao chịu nổi.
Đối với Allen, cái hôn chỉ là bước đầu một sự mời mọc. Hai người yêu đương nhau, mỗi lúc một say sưa, thắm thiết hơn. Thúc đẩy tới cái kết luận không sao tránh được. Allen bỗng nâng Josui lên trên cánh tay chàng, đặt nàng nằm lên thảm rêu, dưới hàng thông và nằm ngả xuống gần nàng.
Nàng hiểu ngay nguyên nhân cử chỉ hấp tấp này. Lấy hai tay, nàng đẩy mạnh chàng ra.
– Thôi, nàng nói như hắt ra. Không, Allen Kennedy không thể làm cách này được.
Giọng nói của nàng run run và mắt nàng nhìn vẻ dữ tợn.
Sống tuổi thơ ấu sung sướng trong ngôi nhà lớn sơn trắng ở Virginia, lương tâm thanh khiết của Allen bỗng bừng dậy. Sự phẫn nộ của Josui làm chàng nguội lạnh và chàng giấu mặt vào lồng ngực thiếu nữ.
Thoạt đầu bất động, sau nàng quyết định phá tan sự im lặng.
– Em không hiểu điều gì chi phối em, một thiếu nữ Nhật hay Mỹ. Em chỉ biết trước tiên em là con gái của cha em, một người họ Sakai. Gia đình em không phải là những người tầm thường, vốn thuộc một giới khác. Anh và em, chúng ta phải cùng xem xét, chúng ta yêu nhau bằng cách nào. Hãy cùng quyết định hoặc là vĩnh biệt ngay ngày hôm nay, hoặc…
– Có cần phải có một quyết định ngay hôm nay không?
– Phải
– Tại sao?
Nàng ngập ngừng rồi quả quyết:
– Vì anh làm dữ ngay khi chỉ có hai người.
Chàng tức giận vì sự thực trắng trợn.
– Này, Josui. Có phải thế là làm dữ không?
Nàng nhìn chàng với cặp mắt lớn, trong suốt.
– Hãy cho là thế, nếu cần phải nói thật. Em không có lẩn tránh – nàng nói tiếp ngay. Nếu em nhận lời đi một mình với anh, em cũng phải nhận phần trách nhiệm của em.
– Em đã học được những tiếng kheo léo ấy ở California?
– Không phải ở California, mà ở đây, ở Nhật, chính ở miệng cha em.
– Một người cha nghiêm nghị phải không?
– Có lẽ thế.
Trong khi chàng im lặng, nàng nói thêm:
– Có lẽ rất ích lợi… cho một người con gái.
Nàng quàng tay qua đầu gối và cúi đầu.
Gáy nàng trắng xanh như màu sữa, cánh tay trắng và tròn, ở cánh tay áo cụt hở ra và hai bàn tay xinh đẹp. Chân và tay đẹp, thật hiếm ở đàn bà Nhật. Chàng không trông thấy được chân Josui che trong đôi vớ ngắn.
– Em hãy bỏ vớ và dép ra – bỗng chàng hỏi. Em thò chân cho anh xem. Chân em có đẹp như tay em không?
Allen ngạc nhiên thấy mặt Josui bừng đỏ. Nàng đứng phắt dậy và đi:
– Bây giờ thì em không thể ngồi với anh được nữa – nàng nói vẻ dữ dằn. Không thể được nữa. Anh chửi em một cách dễ dàng quá. Allen Kenndy! Bây giờ em mới hiểu lòng dạ anh. Ái tình thế à! Hãy nói đi! Với tình yêu như vậy, em không muốn chút nào.
Nàng đi và chàng chạy đuổi theo:
– Josui, em nói gì thế? Em thân yêu, tại sao những lời này lại làm phật ý em? Anh không hiểu chút gì.
Chàng nắm vai thiếu nữ:
– Josui hãy trả lời anh!
Nàng quay lại, nắm nẩy lửa, má hồng đỏ.
– Anh không trả lời em, Allen Kennedy! Em hỏi anh “Chúng ta quyết định thế nào?” Và anh bảo em: chìa cho anh xem…
Nàng ngừng nói, quay đầu đi và mắt đẫm lệ.
Buộc lòng phải thổ lộ sự thực, chàng nói:
– Em thân yêu, nếu anh không trả lời, vì anh không biết trả lời làm sao.
– Nếu anh không biết, anh không thể… đụng đến người em.
Tay Allen rơi xuống
– Em nói có lý.
– Nếu anh không biết vậy em xin anh ngay ngày hôm nay, anh đi Kyoto, rồi trở về Mỹ. Hãy quên em đi.
Chàng không rời mắt thân hình mảnh khảnh của nàng. Thấy chàng yên lặng, nàng nói giọng chán nản:
– Em muốn về.
Hai người đi chuyến tàu sau về Kyoto và chia tay nhau ở ga, vì nàng muốn như vậy.
– Anh không bao giờ quên em, Josui.
– Ồ! Rồi anh sẽ quên.
– Nếu anh không quên, anh có thể viết thư được không?
– Anh sẽ không viết thư.
Nàng rời đi, không lời từ biệt. Chàng đứng nhìn mãi cho đến lúc nàng lẫn vào đám đông, nhưng nàng không quay lại. Chàng về khách sạn, xếp dọn hành lý và đi Tokyo chuyến tàu nhất. Chàng không muốn đá động đến ngày nghỉ phép nữa. Điều cần thiết là tiếp tục làm việc ngay.
– Kobori đã khá hơn, bác sĩ Sakai nói. Chàng chống lại được các thuốc trụ sinh mới.
– Con rất hài lòng – Josui nói vẻ lãnh đạm.
Bác sĩ Sakai cảm thấy có điều gì bất thường ở con gái. Ông nhủ thầm chắc nàng có sự bất thường về sinh lý. Nàng đến tuổi phải lấy chồng mà nàng không rõ.
– Kobori thật là mẫu người thanh niên Nhật. Vậy mà chàng lại tân tiến. Chàng kính nể cha, song chàng sẽ vượt ông. Một ngày kia, chắc chàng sẽ là một nhân vật quan trọng.
Josui muốn xua đuổi hình ảnh Kobori khỏi tâm trí nàng, nhưng bị thúc đẩy bởi một sự cần thiết mơ hồ tự trừng phạt mình và dồn dập các biến cố, nàng nói thành thật.
– Thưa cha, tại sao cha không nói sự thực? Cha muốn con lấy Kobori. Vậy tại sao lại có những sự quanh co như thế?
Bác sĩ Sakai tức giận:
– Con hiểu rõ lắm tại sao ta không dám thành thật với con – ông kêu lên. Con giống những thiếu nữ Mỹ. Nếu con rõ những ước mong của cha, con sẽ phá hết.
Kinh hoàng vì sự tức giận của mình, ông sẵn sàng chịu đựng những hậu quả. Nhưng ông lại ngạc nhiên thấy Josui tỏ ra dễ bảo:
– Cha biết, con suy nghĩ nhiều lắm. Bây giờ, con thấy đối với con lấy một người Nhật là hơn. Đôi khi, con ước mong được trở về Mỹ, nhưng bây giò con nhận thấy phải sinh sống ở đây. Như vậy, tại sao lại không ưng thuận Kobori?
Nàng nói, vẻ trầm ngâm, buồn rầu nữa, bác sĩ Sakai khó nhận ra con gái mình. Sự tức giận tiêu tan, ông ấp úng.
– Josui, con gái của cha, thật con hiểu biết lẽ phải lắm. Ta sửng sốt quá. Con có muốn rằng cha… Ta có phải nói với ông thân Kobori không?
Nàng quay lại ông, cặp mắt lớn buồn rầu:
– Tùy ý cha.
Rất băn khoăn, ông hỏi con:
– Con có ốm đau gì không, con gái bé bỏng của cha?
– Không, thưa cha, trái lại, con thấy dễ chịu lắm.
Thấy cha lo âu, nàng cố mỉm cười.
– Con thấy con trưởng thành rồi.
Vui vẻ nhưng khó chịu một chút, ông nói thêm vẻ trang trọng:
– Con tin chắc rằng cha không thúc đẩy con đâu.
– Xin cảm ơn cha.
Nàng khẽ nghiêng mình và rời cha để ra xếp đặt lại những viên sỏi trong hồ nước. Nàng nhặt những viên tròn và bóng, do nước mài giũa, ném bỏ dần dần những viên khác và xếp vào hồ. Màu sắc những viên sỏi lóng lánh dưới làn nước trong. Một viên đá mờ đù, đôi khi để dưới nước lại có một màu sắc bất ngờ. Nàng đặt những viên đá hết sức nhẹ nhàng, đến nỗi hình của nàng phản chiếu xuống mặt nước bằng phẳng chỉ hơi rung động khẽ.
Không có một bức thư nào của Allen. Một tháng trôi qua từ ngày hai người chia tay nhau và chàng chưa viết gì. Trong những tuần lễ chờ đợi, những đêm thao thức, Josui trông thấy hiện ra rõ rệt tương lai của mình, đời sống giản dị, theo định mệnh của người phụ nữ Nhật, hôn nhân, con cái, gia đình. Tất cả những bài diễn từ của những phụ nữ tân tiến chẳng thay đổi gì đời sống ấy, nàng dần dần quen với ý tưởng sẽ kết hôn với Kobori. Nàng vẫn nhớ khuôn mặt chàng xanh xao, khá lớn, những nét hơi nặng nề, vẽ hiền từ và khoan hồng. Giọng chàng nói từ tốn, êm ái. Chàng nói được rất ít tiếng Anh: “Tôi không có khiếu về sinh ngữ”– chàng nói, không có vẻ hối tiếc gì. Chàng không có vẻ gì khiêu khích và buộc người khác phải nhận mình là đúng.
Có thể một ngày kia, nàng sẽ yêu chàng. Trước hết là nàng ưa thích lòng nhân từ và nàng đoán chắc rằng ở Kobori có nhiều sự nhân từ hơn là bất cứ người nào quen thuộc nàng.
Josui cầm một viên đá sỏi tròn, màu xanh nhợt trong lòng bàn tay và để rơi xuống nước. Màu xanh ở dưới nước trở nên sáng và dịu.
Mùa hạ oi ả đè nén lên thành phố Tokyo. Nhựa đường bóc lên một hơi nóng không sao chịu được và điện tắt luôn, làm tê liệt các quạt máy, lại thường vào lúc trong ngày trời nóng bức nhất. Cách độc đáo để chịu đựng sức nóng này là lăn xả vào công việc đến u mê.
– Thưa trung úy…
Một người lính mang thư từ đến.
– Cứ để bên bàn. Ta còn phải làm xong biên bản này.
– Vâng, thưa trung úy.
Người lính chào, đặt trên bàn một tập mười hay mười hai lá thư và đi ra.
Cả gia đình, cha mẹ, cô chú, anh chị em họ… người nào cũng coi là bổn phận phải viết thư cho Allen và coi như là một sự thống khổ trong thời gian chàng phải lưu trú ở xứ xa lạ của những kẻ man di. Những bức thư của mẹ chàng bao giờ cũng bắt đầu câu “Con bé bỏng của mẹ, bao giờ chúng ta để cho con về?”
Chàng tiếp tục đánh máy bản tường trình. Một trung úy, thật cũng tiện đủ điều, người ta bắt chàng làm đủ điều, mọi việc. Xuất thân ở Đại học ra, Allen bị chìm đắm trong trận mưa viết lách vô tận. Chàng coi như một thú vui biến một bản tường trình nhạt nhẽo – như bản đang viết về một vài tổ chức dân sự của Nhật trong thời chiếm đóng – thành một tác phẩm nhỏ để trau dồi văn chương. Không phải bản tường trình này dành cho những người có thể thưởng thức được. Nhưng Allen, chàng bắt đầu lưu ý đến người Nhật. Chính vì Josui.
Josui hiện ra trong đầu chàng hai mươi lần một ngày. Allen lại nghĩ đến vấn đề. Nếu chàng xin cưới… chàng chìm đắm trong những ức đoán và những ngón tay chàng hóa ra bất động trên chiếc máy chữ. Hai người có thể sống ở Nhật. Nhưng chàng có ưng thuận sống suốt đời ở đây không? Hay ở Mỹ. Thật không thiếu gì nơi hai người có thể sống sung sướng với… con cái… hừ! Con cái của hai người… có cần phải có con cái không? Chàng vẫn thường nghĩ một ngày kia lấy vợ và có con. Nếu chiến tranh không bùng nổ có lẽ chàng đã kết hôn với Cynthia Levering mà mẹ chàng rất yêu quý.
– Ta coi nàng như con đẻ của ta – bà nhắc đi nhắc lại.
– Xin mẹ đừng ném Cynthia lên đầu con – chàng phản đối, có ý giễu cợt. Một ngày kia, có lẽ một mình, con sẽ có ý nghĩ lấy vợ.
– Ồ! Im đi con – bà kêu lên, giọng dịu dàng và vui vẻ. Con lớn lên càng trở nên khó chịu.
Tập thư người lính để trên bàn chàng có lẽ có những tin tức về Cynthia. Chàng giơ tay, cầm tập thư và lần lượt xem các bì thư. Một bức thư của mẹ chàng, một bức của vị mục sư Tân giáo hội, hai bức chữ viết xa lạ và, phải, một bì lớn của Cynthia. Ngoài thân hình mảnh dẻ và mềm mại, ở Cynthia chẳng có nhỏ bé cả, vì nàng dong dỏng và rất cân đối, nhân từ và quảng đại.
“Anh Allen rất thân mến…” Bao giờ nàng cũng bắt đầu trong các thư như thế. “Anh Allen rất thân mến, chưa bao giờ em thấy một mùa xuân như thế này…”
Chẳng đọc từ tốn những trang giấy gợi nhớ thành phố quê hương của chàng, những người bà com xóm giềng và họ hàng. Đối với chàng, một mình ở Tokyo, họ ở xa thăm thẳm, tưởng như ở một hành tinh khác. Họ không thể bao giờ hiểu được thế giói riêng biệt của chàng ở Nhật Bản.
Chàng đọc cẩn thận những bức thư khác và lần lượt bỏ vào bao bì, rồi chàng chòng chọc nhìn những chữ không có hoạt khí chiếc máy đánh chữ của chàng.
Không có gì của cha chàng, mà thư từ, cũng như lời nói rất thưa thớt… trong những bữa ăn, câu chuyện của ông chỉ giới hạn vào sự cần thiết tối thiểu “Đưa bánh bơ cho ta, con trai” Hoặc để xen một chút cảm tình “Những bánh này ngon hơn thường lệ, cưng ạ” Ông ưa thích gọi bà nhà là cưng, vì ông không muốn gọi tiểu tự Joséphine.
– Quả vậy, ông Kennedy – bà trả lời lưu loát. Tưởng như không bao giờ chúng ta có những bánh ngon như thế.
Từ trước, không bao giờ Allen tìm hiểu bố, nay bỗng hối tiếc là đã không hiểu biết để có thể nói về chuyện Josui và hỏi ông…
Chàng chỉ có một điều thắc mắc và điều đó chàng chỉ có thể tự vấn mình được thôi, chàng có yêu nàng để kết hôn với nàng được không?
Trước kia, chàng chưa yêu ai.
Bây giờ, chàng có yêu không?
Chàng bỏ thư từ vào ngăn bàn giấy và đi tắm trước khi thay quần áo. Chàng phải ăn cơm tối ở nhà ông đại tá.
Google photo
Bà vợ ông đại tá không biết đối xử thế nào với những chàng trai vui tính, những kẻ bạt mạng và cuồng nhiệt làm dưới quyền ông.
– Họ chẳng coi cái gì là đúng đắn cả – bà than vãn. Họ tưởng còn như ở thời bà Butterfly.
Allen hiểu bà muốn nói gì. Trong công viên ở Nara, suýt nữa chàng cũng đã xử sự như họ. Đôi khi, khó nhận rõ được người Nhật trong thời kỳ chiếm đóng với những người Nhật đã tàn sát dã man người Mỹ trước đó ít lâu, những người thấp nhỏ, gan dạ, đánh úp những quân lính Mỹ trong rừng rậm ở các đảo, tưởng như không có chút liên hệ nào với các đồi núi có những bậc thang đất cây cối xanh um, những người thôn quê y phục bằng vải bông màu xanh, các thiếu nữ xinh đẹp trong chiếc Kimono và đi guốc và tất nhiên là chẳng có gì liên hệ với Josui.
Khi chàng nghĩ đến nàng, ngực chàng lại đập. Chàng tự hỏi, có nên nói chuyện này với ông đại tá sau bữa ăn không. Nhưng chàng không dám. Chàng chỉ hỏi có bao nhiêu người Mỹ lấy con gái Nhật, trong thời kỳ chiếm đóng. Ông đại tá, khó chịu, trả lời:
– Anh muốn nói là kết hôn, hay chỉ đơn giản…
– Tôi muốn nói là kết hôn.
– Có lẽ không nhiều – ông đại tá thở dài, vẻ hài lòng. Và nữa, còn ai biết được? Hàng mấy mươi ngàn đứa trẻ máu pha trộn đã chẳng cho ta một ý niệm xác thực về tình hình là gì. Tôi tự hỏi tại sao quân lính của mình lại ham muốn nhiều như vậy. Tôi rất ngạc nhiên, mặc dầu có kinh nghiệm lâu năm trong quân đội.
– Những đứa trẻ lai này sẽ ra sao? – Allen hỏi, vẻ chăm chú trông thấy.
– Tôi không biết. Viên phụ tá của tôi có kể cho tôi nghe rằng vợ ổng có tìm thấy một đứa con hoang ở nhà một người láng giềng tử tế. Barclay và vợ không sao ngủ được vì đứa trẻ kêu khóc quá. Khi bà Barclay tới than vãn, bà thấy bà cụ già vì xấu hổ đã giấu đứa bé vào trong một tủ nằm trong tường.
– Thế Barclay làm thế nào?
– Anh ta báo tin cho cô nhi viện công giáo đến đón đứa trẻ, làm cho cả gia đình được khuây khỏa, kể cả người mẹ. Barclay thấy ở đứa trẻ có một vẻ khác lạ: kết quả sự tạp chủng thật ghê tởm. Tôi chống đối những cuộc hôn nhân tạp chủng nhưng chúng ta biết làm thế nào?
Không thể nói về Josui được! Allen cáo lui rất sớm.
Chàng từ chối không muốn nghỉ phép đi thăm viếng Karuizawa (Khinh tỉnh Trạch) và cũng không đi xem chiếu bóng nữa. Về mùa hạ, hiếm lắm chàng mới dự khiêu vũ, nhưng không một chút nào vui vẻ và chàng cố tìm hình ảnh một thiếu nữ khác ở quê hương mà chàng muốn được gặp lại, chính Cynthia cũng không gợi được cho chàng tình yêu. Đời mất hết cả hương sắc.
Khi ý thức được sự chán nản của mình, chàng nhủ thầm: “Ta biết tìm hứng thú cuộc đời ở đâu”. Chàng biết hứng thú đó chỉ bừng sáng trong lòng khi chàng đi sánh đôi với Josui.
Chàng nghĩ đến nàng, gợi nhớ hình ảnh nàng, mặc dầu cảm thấy khuấy động những kỷ niệm đó là đều nguy hiểm. Trong cảnh cô đơn của tiết hè, sau khi các bạn đồng ngũ và ông đại tá nghỉ phép, chàng luôn luôn nghĩ đến Josui. Đến trung tuần tháng Tám, chàng quyết định gặp nàng lần nữa, hầu để đo lường cái cường độ cảm tình của mình và để xem chàng có thể một ngày kia quên được nàng để kết hôn với một người phụ nữ khác được không.
OKyoto cũng vậy, trời nóng, bác sĩ Sakai không có thời giờ nghĩ đến, không để lộ sự vội vã, ông xếp đặt ngày lễ đính hôn của Josui; khi công việc xong, ông cho phép nàng được gặp Kobori ở nhà, không cần nghi lễ gì cả. Trước cuộc hôn lễ ấn định vào trung tuần tháng Chín, Kobori đến thăm vị hôn thê và bao giờ chàng cũng báo trước, nói rõ ngày giờ để xin phép gia đình Sakai.
Ông bà bác sĩ Sakai tiếp chàng. Lần thứ nhất, ông bà không rời phòng khách, nhưng hai người nhận thấy Josui cứ im lặng, chỉ khẽ nghiêng mình mỗi khi chàng hỏi và chỉ đáp bằng phải hay không. Tối hôm ấy bác sĩ Sakai hỏi vợ:
– Có lẽ ta nên để cho hai trẻ tự nhiên hơn?
– Dù thế nào, chúng ta cũng đã qua sống nhiều năm ở Mỹ… – bà Sakai đưa ý kiến này.
Đến lần hội kiến sau, nói qua loa vài phút về thời tiết, về các bông cúc mới nở thật đẹp, bác sĩ Sakai ra hiệu cho hai người rút lui. Kobori mỉm cười im lặng và quay lại Josui.
– Ông nhà thật đặc biệt! – Chàng nói giọng trầm và dịu, không bao giờ nói lớn hơn.
– Tại sao?
– Ông đặc biệt là người Nhật hơn tất cả chúng ta nhưng ông không ngờ rằng ở ông còn đôi chút ngoại quốc, mặc dầu tất cả sự cố gắng của ông. Mỹ quốc đã để dấu vết lại ông.
– Mỹ quốc cũng có ảnh hưởng đối với em.
– Đúng vậy. Dù sao, anh cũng yêu mến người Mỹ.
– Ngay cả những người chiếm đóng xứ sở chúng ta à? – Josui ngạc nhiên.
– Phải, cả họ nữa. Anh không bao giờ tán thành hành động của họ và thường thường anh thương họ. Nhiệm vụ của họ lớn lao quá!
– Nhiệm vụ nào!
Kobori lại cười:
– Họ muốn biến chúng ta thành người Mỹ – chàng nói. Không thể được.
– Theo anh, sau khi họ đi, tất cả sẽ trở lại như cũ hay sao?
– Thoạt đầu, sự phản ứng hơi quá đáng – Kobori xác nhận. Chúng ta sẽ là người Nhật trăm phần trăm và trước tiên chúng ta sẽ phục sinh cái tâm hồn đặc biệt của chúng ta. Chúng ta sẽ so sánh lẽ hơn thiệt và thu hồi lại những gì chúng ta đã vứt bỏ đi.
Kobori nói thật hay và không biểu lộ sự kiêu hãnh như bác sĩ Sakai.
– Anh không e sợ gì à? – Josui hỏi.
– Anh còn e sợ gì? Anh sinh trưởng ở một gia đình cổ, bảo thủ, như em đã biết. Gia đình anh thích hợp dễ dàng với thời bảo thủ hiện nay. Những người mình đáng thương nhất là hàng mấy mươi ngàn trẻ nhỏ sống trong cô nhi viện, cha người Mỹ, mẹ người Nhật.
Josui không bao giờ nghĩ đến điều này! Nếu Allen Kennedy lấy nàng…
– Những đứa trẻ đáng thương – Kobori nói giọng êm ái và mạnh. Tốt hơn hết là chúng đừng ra đời.
Josui bỗng cảm thấy cần thiết thổ lộ tâm tình với Kobori. Chàng hiền từ quá. Nàng ngẫng mắt nhìn chàng, như muốn hỏi bao điều gì mà nàng không nhận biết.
– À! Có gì! Em muốn hỏi anh điều gì?
– Tại sao anh biết?
Nàng sửng sốt.
– Vẻ mặt em, anh hầu như đọc được cả nhưng ý nghĩ của em.
– Có thật em đang suy nghĩ không?
Nàng nén lại, không hiểu lúc này có thích hợp không.
– Anh muốn hỏi em sẽ hứa hôn với người đàn ông nào?
Josui lẩn tránh câu đáp.
– Đó chẳng phải là câu hỏi của tất cả các phụ nữ hay sao?
– Vâng, cố nhiên.
Hai người quỳ theo kiểu Nhật, cách xa nhau. Trước hôn lễ, Kobori không bao giờ được đụng vào người nàng.
– Anh không phức tạp gì, anh tưởng thế – Kobori nói. Những năm anh ở trong quân ngũ, đã biến anh thành một người hiếu hòa đích thực. Trong biết bao ngày, anh đã nghe giọng quát tháo và thô bạo của các viên sĩ quan, nên không bao giờ anh còn muốn nói to hơn tiếng nói thì thầm. Anh thấy người ta đánh và giết nhau chỉ vì một chuyện nhỏ nhặt, em thử tưởng tượng làm thế nào anh đánh được dù chỉ một đứa trẻ con. Anh mục kích biết bao sự tàn bạo, nên cách độc nhất đối với anh để chịu đựng cuộc đời là trau dồi lòng nhân đạo. Người ta có thể cho đó là một sự yếu hèn. Anh biết rằng, nếu anh chống được cái nọc độc của sự tàn ác, anh sẽ có hy vọng không phải là người duy nhất và được trông thấy một ngày kia sự tàn bạo của con người sẽ biến mất đi.
Nàng không bao giờ nghe thấy chàng nói nhiều như vậy, với vẻ trang nghiêm mà nàng cảm thấy rất biết ơn chàng. Không muốn mà chàng đã đáp câu hỏi của Josui. Nếu nàng thút thật với chàng mối tình của nàng san sẻ cho người đàn ông khác, có thể vì lòng nhân từ, chàng sẽ khuyến khích nàng chọn con đường ấy hoặc chàng rút lui cho đến khi nàng quên hẳn chàng, chàng quyết định không chờ đợi nữa.
– Em rất cảm ơn anh nói như vậy – nàng nói. Kobori, em kính nể anh.
Nàng cho phép được nhìn chàng và cảm thấy lòng bắt đầu yêu mến chàng. Đã biết bao thế kỷ, những cuộc hôn nhân thành tựu mà không có tình yêu. Đối với tổ tiên họ, sự kính trọng và yêu mến là đủ.
Tháng Tám nóng bức lắm, bác sĩ Sakai làm việc nhiều quá. Bệnh nhân đến bệnh viện đông đảo. Họ đau đớn vì những vết thương cũ, dai dẳng từ ngày quả bom nguyên tử nổ. Bác sĩ Sakai tận lực chữa chạy cho họ và ông càng thấy giận hờn người Mỹ.
Sức nóng cuối cùng làm ông ngả bệnh. Ông phải ở nhà nhiều ngày. Ở trong vườn, một ngày kia mà đặc biệt ông không thấy dễ chịu, ông nghe tiếng chuông ở hàng rào kêu có vẻ hống hách. Mặc dù rất mệt mỏi, bác sĩ Sakai tự ra mở cửa, ông chạm trán với một sĩ quan Mỹ.
– Ông muốn gì? – bác sĩ hỏi, nhìn chòng chọc vào mặt người lạ.
– Bác sĩ Sakai?
– Chính tôi.
Ông cau mày, vẻ dữ tợn để làm nản lòng khách. Những người Mỹ này vào cả nhà riêng người ta nữa sao?
– Cháu là Allen Kennedy.
Bác sĩ Sakai nhớ rõ ràng tên này, mặc dù ông muốn quên.
– Tôi không biết ông, ông nói xẵng.
– Không, nhưng cháu quen con gái bác.
– Con gái tôi không có ở nhà.
– Thưa bác sĩ, cháu có thể nói chuyện với bác được không?
– Tôi bị đau và tôi không thể đến bệnh viện được. Tôi không muốn bị quấy rầy.
Hai người lườm nguýt nhau.
– Tôi sẽ trở lại – Allen nói.
– Không cần – bác sĩ Sakai đáp giọng kiêu kỳ.
– Có, và tôi quyết lại.
Allen cảm thấy một sự tức giận dữ dội trào lên, khi chàng nhìn khuôn mặt đẹp và lạnh lùng của người đàn ông Nhật này.
– Tôi quyết gặp con gái bác.
Để giận dữ. Bác sĩ Sakai không thể nhịn lâu hơn được nữa. Ông không thể kìm hãm sự giận dữ đối với người Mỹ kia, mà cả đối với chính mình nữa, vì chưa rập theo được tính tình thật sự của người Nhật.
– Tôi không cho phép người Mỹ vào nhà tôi – ông kêu lên, cố đẩy hàng rào.
Allen có những cảm tình trái ngược. Mặc dầu chàng thấy rất bực vì mình thuộc về một dòng giống đi chinh phục, nhưng chàng cũng không ngăn được cái tinh thần của nòi giống này xâm lấn chàng. Chàng tì vai vào bức rào và thật là điều ô nhục cho cả hai người họ đánh nhau.
Ở trong bếp, Yumi ngủ yên tĩnh, bát đĩa đã rửa và sàn nhà đã lau. Những tiếng ồn làm cô thức dậy. Cô chạy ra cửa. Cô thất kinh thấy chủ mình đánh nhau với một sĩ quan Mỹ trẻ, khỏe mạnh, đang cố đẩy hàng rào. Cô kêu lên một tiếng, rồi hấp tấp chạy tìm nữ chủ nhân, miệng la lớn.
Bà Sakai và Josui đang bận khâu quần áo. Yumi chạy xổ vào căn phòng yên lặng.
– Ồ! Thưa bà, ông nhà đang đánh nhau với một sĩ quan Mỹ.
Bà Sakai vội vàng đứng dậy và cùng Yumi vội vàng đi ra.
Josui hiểu ngay: Allen trở lại, nàng không thể thụ động được. Hoặc nàng phải tham gia cuộc đấu hoặc dàn hòa.
Allen liền trông thấy người yêu của mình, mảnh dẻ trong chiếc áo Kimono hoa xanh và trắng. Nhợt nhạt vẻ van lơn, nàng lại đẹp hơn trong trí nhớ của chàng. Đã vào được vườn, chàng liền tiến đến phía nàng.
Bác sĩ Sakai kiệt lực, mím môi. Bà Sakai và Yumi lấy người làm bức tường cho ông. Ông trông thấy con gái mình tiến lên, bước đi rụt rè. Bỗng người Mỹ ôm nàng trong cánh tay. Nàng vùng vẫy, quả thế, nhưng cha nàng hiểu rằng, nếu chỉ riêng có một mình, chắc chắn nàng không chống đối.
Đối với ông Josui coi như là mất.
Ông ra lệnh cho vợ:
– Bảo con gái đến bàn giấy ta.
Lấy lại được nhân cách, ông quay lưng lại họ và đi vào.
Ông cần cảnh tĩnh mịch. Ông quyết định bằng đủ mọi cách, phải thắng người Mỹ này. Điều đó rất dễ: ông chỉ cần hỏi chàng về ý định chân chính của chàng. Những ý định này không thể nào đáng kể được; người Mỹ không ưa kết hôn với phụ nữ Nhật. Ông biết lắm, ông có chứng cớ hẳn nhiên. Nhưng làm cách nào để đưa chứng cớ đó ra trước mặt vợ mình? Ông than thở và quỳ xuống một chiếc đệm.
Mọi người vào và trông thấy ông quỳ như thế. Đồng thời, viên sĩ quan trẻ tuổi cũng tự chủ được.
– Thưa bác sĩ, tôi thật ngượng ngùng quá! Tôi không hiểu điều gì ám ảnh cháu như vậy.
Bác sĩ Sakai không trả lời. Ông chỉ cho chàng một chiếc đệm và hài lòng thấy người khách của ông khó khăn mới quỳ xuống được theo tục lệ. Ông mặc Josui đứng và với con mắt tức giận, ông đuổi Yumi ra ngoài. Bao giờ cũng muốn sống ẩn khuất, bà Sakai quỳ sau lưng ông.
Người thanh niên đứng dậy. Có lẽ chân chàng đã lôi kéo chàng… Nhưng không, đó là để bắc một chiếc ghế mời Josui ngồi.
– Em muốn ngồi ở chỗ nào? – chàng hỏi nhỏ.
– Xin đừng để ý đến tôi – Josui cuống quýt nói.
– Nhưng tôi chỉ lưu ý đến có em!
– Quỳ xuống! – bác sĩ Sakai quát.
Josui quỳ xuống gần mẹ. Allen lại quỳ xuống, hay dở sao cũng đành, trên chiếc đệm.
Bác sĩ Sakai chờ đợi, để cho Allen nói trước. Ông tự coi mình như người bị xúc phạm.
– Thưa cha… – Josui khởi đầu giọng hơi rụt rè.
– Cô không phải nói, Josui, nhưng để tôi, Allen quyết định bào chữa cho mình.
Chàng bắt buộc phải nói. Lúc chàng đến Kyoto, một vài giờ trước đây, ý nghĩ độc nhất của chàng là gặp Josui và nếu được đo lường xem chàng yêu nàng đến mức độ nào và xem chàng có chịu đựng được sự xa cách không. Bây giờ, chàng hiểu rằng chàng không sao sống xa nàng được. Không ngượng ngùng chút nào, chàng kể lại cho bác sĩ Sakai nghe trường hợp chàng gặp gỡ và quyết định của hai người chia tay nhau.
– Đã như vậy, sao ông còn quay trở lại? – bác sĩ Sakai hỏi.
– Bởi vì nay cháu hiểu rằng cháu yêu nàng quá.
Bác sĩ Sakai trả lời một cách tàn bạo:
– Ông không thể yêu con gái tôi được. Con gái tôi đã đính hôn với con trai bạn tôi.! Kobori Matsui. Hôn lễ sẽ cử hành trong vòng mười lăm ngày nữa.
Allen Kennedy yên lặng một lúc. Rồi chàng quay lại phía Josui.
– Có đúng thế không?
Nàng gật đầu và khóc.
– Đáng lẽ em phải nói cho tôi biết! – chàng thở dài.
Chàng lại yên lặng và suy nghĩ một lúc lâu, cuối cùng chàng nói:
– Josui, tôi cảm thấy không thể gặp em mà lại không có người khác chứng kiến, vì vậy tôi cứ hỏi em điều này như chỉ có hai chúng ta. Tôi hỏi em: em có yêu người chồng chưa cưới của em không?
– Không – nàng nói khẽ, nhưng chàng rất tốt.
– Josui, em hãy trả lời tôi hết sức thành thật. Em có yêu tôi không?
Nàng ngẩng mặt đẫm lệ và nhìn Allen.
– Ồ! Có, Allen Kennedy!
– Vậy em có muốn kết hôn với tôi không?
“Lại cái kiểu cách Mỹ – bác sĩ Sakai nghĩ, tức giận. Bây giờ cũng vẫn tấn công, công kích!”
– Ở Nhật, không thể từ hôn được – ông nói giọng xẵng.
– Thưa bác, cháu thiết tưởng nếu chính hai người trai gái quyết định từ hôn, chắc phải được… ở nước Nhật tân tiến? – Allen nói xen vào.
Bị thúc đẩy đến chân tường, bác sĩ Sakai hắng giọng, đặt hai bàn tay lên đầu gối và cúi mặt xuống.
– Tôi muốn nói với ông điều này. Điều này tôi chưa nói với ai, chưa nói cả với vợ tôi.
Dưới cặp lông mày rậm, ông liếc nhìn người vợ hiền hậu của ông:
– Hariko, hãy thứ lỗi cho tôi, đã không nói cho bà biết trước… Và nữa, tôi đã quên bẵng chuyện này trong nhiều năm nay, nhưng con gái chúng ta đã nhắc nhở tôi.
– Ông hãy cho là không có tôi ở dây – bà Sakai khẽ nói.
– Josui, con của ta – bác sĩ Sakai tiếp tục nói giọng thất thanh, con không thể lấy người Mỹ được. Có thể người thanh niên này thành thật yêu con và con cũng yêu chàng. Nhưng ái tình đó thiếu sự khôn ngoan, đó chỉ là một mối xúc động; tình yêu đó sẽ qua đi và đời sống vẫn tiếp tục. Khi ta còn trẻ, ở Mỹ – bác sĩ Sakai nói gắng gượng. Ta đã yêu một thiếu nữ Mỹ. Ta có thể nói rằng nàng cũng yêu ta. Chúng ta đã bày tỏ cảm tình với nhau. Cha mẹ ta phản đối, nhưng hấp thụ một nền giáo dục Mỹ, ta không công nhận quyền từ chối của cha mẹ điều ta mong ước hết sức.
Bà Sakai cứng nhắc người. Bà chăm chú nhìn vào bàn tay xếp chồng lên nhau. Ông không nhìn vợ.
Josui cố gắng kêu:
– Ồ! Mẹ!
Bác sĩ tiếp tục nói, giọng cứng rắn, lạnh lùng:
– Ta sẵn sàng hy sinh hết tất cả, ngay cả cha mẹ ta nữa. Nhưng có việc khác xảy ra. Một tối kia, ở Đại học về, anh thiếu nữ đe dọa giết ta. Đây, anh ta nói như thế này và chĩa khẩu súng lục vào ngực ta: “Chúng tôi không muốn có những tên Nhật bẩn thỉu trong gia đình!” Đó là lời y nói. Từ đó, không bao giờ ta gặp lại thiếu nữ đó nữa.
– Tất cả chỉ có thế? – Allen hỏi.
– Tại sao, ông dám hỏi như thế là hết? – bác sĩ Sakai giận dữ trả lời. Vào thời ấy, quả vậy, đối với tôi như vậy là hết. Bây giờ đối với tôi cũng là hết! – ông chỉ ngón tay trỏ run lẩy bẩy vào Allen. Điều đó sẽ xảy ra cho con tôi.
– Trong gia đình tôi, không có ai đe dọa người khác bằng súng – Allen quả quyết giọng kiêu kỳ.
– Cũng sẽ xảy ra việc như thế – bác sĩ Sakai quả quyết. Có lẽ sẽ không phải khẩu súng lục lần này, nhưng một sự đe dọa khác. Người ta sẽ không muốn để một thiếu nữ Nhật bẩn thỉu vào gia đình ông. Tôi nói để ông biết thế.
– Cháu hiểu ý kiến của bác – Allen nhún nhường vui vẻ. Nhưng điều đó xảy ra đã lâu lắm, thưa bác sĩ. Nay đã thay đổi cả.
– Ồ! Cậu tin thế à? Tôi đọc các báo. Có gì khác lạ đâu.
Josui đỏ mặt và kêu lên:
– Con muốn nói riêng với Allen Kennedy!
Nàng đứng dậy vẻ quả quyết đến nỗi ông không muốn ngăng nàng lại nữa. Hãy để cho họ ra vườn nói chuyện. Thanh niên bao giờ cũng cần phải thổ lộ tâm tình. Còn về phần ông, ông đã bày tỏ điều bí mật, cay đắng của đời ông. Họ không thể quên được điều này.
Ông ngồi lại với bà. Bà không cựa quậy. Ông liếc nhìn, thấy tay bà nắm chặt và run. Ông nắm hai tay bà vào bàn tay ông.
– Tôi cảm ơn trời đã ban cho cái ngày tôi trông thấy bà – ông nói. Bà chỉ hiến cho tôi hạnh phúc. Tôi rất biết ơn quân vô lại kia đe dọa tôi với khẩu súng lục.
Bà Sakai cố ngăn chặn tiếng thổn thức:
– Tôi tin chắc rằng ông không có sợ hắn – bà nói quả quyết, mù quáng đặt cả niềm tin vào ông.
– Có, tôi sợ hãi và lập tức rút lui ngay.
– Ông hãy quên tôi đi, tôi xin ông – bà Sakai thì thầm.
Nhẹ nhàng bà rút tay và lau mắt.
– Chúng ta ở xứ sở mình; cần gì phải nhắc lại những việc ấy.
– Nếu tôi không quên, tôi đã kể cho bà nghe đã lâu – bác sĩ trả lời.
Không thể chịu đựng hơn được nữa, bà đứng dậy và cúi đầu trước mặt chồng và nói:
– Xin ông thứ lõi, tôi có công việc phải làm.
Ở vườn, hai người ngồi sát nhau, sau một bụi tre râm.
– Em phải biết rằng em chỉ có thể kết hôn với anh – Allen thì thầm, môi chàng đặt lên môi Josui.
– Em biết điều ấy bây giờ – nàng nói giọng thất vọng.
– Anh sẽ cướp em mang đi!
– Không cái đó không được.
Nàng vòng tay qua người Allen và ngẩng mắt nhìn chàng.
– Em sẽ thưa với cha mẹ em. Điều cốt yếu, chúng ta không thể nghe lời cha mẹ được, chúng ta không thể xa rời nhau. Nhưng bổn phân chúng ta là phải nhượng bộ ông.
Chàng cam chịu hết thảy, nay chàng định lấy nàng.
– Tùy ý em, em yêu dấu, nhưng xin làm gấp ngay.
– Sẽ làm ngay! – nàng hứa, đặt đầu vào ngực chàng.
Nhưng, bỗng chàng nổi ghen:
– Em có chắc rằng em không muốn lấy người Nhật kia không? Thật là điều dễ dàng quá.
Nàng đặt ngón tay lên môi Allen.
– Suỵt! Em muốn lấy một người Mỹ – nàng liếc nhìn chàng rụt rè yêu đương. Chính anh là người em muốn lấy.
Họ ôm ghì nhau, Allen lòng ham muốn hơn bao giờ hết. Tim chàng đập mạnh, chàng như nghẹt thở.
– Em đừng để anh chờ đợi lâu quá Josui. Về phần mình, anh phải gặp ông đại tá của anh. Có thể, ông sẽ giúp anh tránh được những nghi thức. Anh cần phải đi; anh đi chuyến tàu năm giờ…
– Hãy viết thư cho em, Allen.
– Em cũng vậy, viết thư cho anh, em yêu của anh.
– Em viết không hay gì, thật tiếc. Nhưng em sẽ cố gắng.
Hai người chia tay nhau và nàng vào nhà.
Không thấy ông đâu. Một lúc sau, bà Sakai ở trong phòng làm việc, vừa là phòng ngủ của ông đi ra.
– Cha con khó ở – bà nói. Ngày hôm nay cha con buồn rầu, khó nhọc quá.
Hai mẹ con đối diện nhau, ngập ngừng. Mắt đẫm lệ, không thể nói được. Josui nhìn mẹ. Bà Sakai nói hộ nàng:
– Con muốn lấy người Mỹ đó phải không?
– Vâng, thưa mẹ. Nhưng con thiết tưởn cũng chẳng có chuyện gì đâu. Con có thể lấy Kobori. Con có thể rồi yêu chàng như mẹ đối với cha con.
Bà Sakai không mỉm cười và khuôn mặt bà không chút hương sắc, lại đượm vẻ nhẫn nại:
– Thời buổi này không như trước nữa.
– Nhưng mẹ cũng đã sung sướng! – Josui kêu lên.
– Phải, một hạnh phúc thâu được dễ dàng. Mẹ không ngờ có sự may mắn như thế.
– Thưa mẹ, con yêu chàng quá, đến nỗi con không biết làm thế nào nữa. Mẹ có hiểu cho con không?
Mẹ nàng nhìn nàng vẻ buồn rầu vô kể.
– Ngày hôm qua, mẹ không hiểu. Nhưng ngày hôm nay mẹ có thể hiểu được.
Bà quay đầu đi. Cặp mội nhợt nhạt của bà run lập cập.
– Ồ! Mẹ ơi – Josui kêu lên. Đó là một chuyện cũ quá. Cha con đã quên rồi.
– Cha con không quên đâu – bà nói giọng chán nản. Do thế cha con muốn rời Mỹ vì mối tình ngang trái ấy. Mỹ là Tổ quốc của cha con.
– Ồ! Mẹ ơi! Mẹ ơi – Josui nói nhỏ.
Nàng không biết làm cách nào an ủi mẹ.
– Con sẽ làm một việc mà cha con không bao giờ có thể làm được! Con sẽ trở lại Mỹ. Chỉ có riêng mẹ thuộc hẳn về nước Nhật, mẹ sẽ giúp con?
Lần đầu tiên trong đời hai người, hai mẹ con ôm ghì nhau và khóc.
Ngày hôm sau, bác sĩ Sakai trở dậy, mệt mỏi và vẻ quạu quọ. Bà Sakai – mà theo bề ngoài, ông vẫn tưởng là giản dị và phục tùng – lại tỏ ra, đêm hôm ấy hoàn toàn khác hẳn. Hai ông bà thảo luận hàng giờ.
– Hariko, tôi quả quyết rằng tôi rất đội ơn trời đã tránh cho tôi được cuộc hôn nhân kia. Tôi muốn cố gắng tránh cả cho con gái chúng ta một cuộc mạo hiểm tương tự này.
Bà Sakai liền có một phản ứng không sao giải thích được.
– À! Về phần tôi, tôi tránh cho Kobori Matsui. Tôi tránh cho một thanh niên Nhật chân thật kết hôn với một thiếu nữ đã say mê một người Mỹ. Tôi sẽ đến báo tin này cho Kobori biết, nếu ông không làm được việc này!
Bác sĩ không bao giờ nghĩ rằng người đàn bà dịu dàng kia lại giấu diếm một sự chống đối và có quyết định mãnh liệt như vậy. Ông e sợ những kết quả có thể xảy ra về sự thất bại của ông. Ông hiểu biết những khuynh hướng hầu như là bệnh tật của giống nòi ông, từ thất vọng dễ dàng đi đến tự vẫn. Bà có thể gặp Kobori; và nếu ông ngăn cấm bà, bà sẽ tự vẫn để phản đối.
Ông than thở và đứng dậy, trong thâm tâm, chỉ còn hy vọng vào con gái mình.
Đã gần trưa, ông Sakai thấy người dễ chịu hơn, nên trở dậy, Josui không có nhà. Yumi nói cho ông biết là nàng đi từ mười giờ sáng.
– Cô có nói đi đâu không?
– Cô con ra trường tìm sách.
Đó chỉ là sự dối trá. Josui đến thăm Kobori.
Kobori đi ở phòng giấy ra tiếp đón nàng, nhã nhặn và vui vẻ, trong bộ y phục dạ màu xám.
– Xin mời cô vào – chàng nói. Tôi có cần phải gọi người nữ thư ký của tôi không?
Với câu hỏi tế nhị này, chàng muốn hỏi xem Josui có muốn ngồi nói chuyện riêng với chàng không.
– Không, không cần – Josui đáp.
Kobori để cửa hé mở.
– Xin mời cô ngồi.
Nhìn gương mặt tươi cười hiền hậu, cặp mắt nâu âu yếm. Josui cảm thấy buồn nếu làm chàng đau lòng. Nàng đoán trong dáng điệu của chàng, lòng chàng tin tưởng ở nàng và cả sự may mắn của mình nữa. Thật ra nàng sẵn sàng vui vẻ đón tình yêu của chàng, nếu Allen không xuất hiện trong đời nàng!
Nàng ngã người về phía chàng:
– Kobori, em đến thăm anh có một mục đích khác lạ và em sẽ làm anh đau lòng. Thật khó quá…
Yên lặng, chàng khuyến khích nàng:
– Em không có gì đáng e ngại cả, Josui. Em cứ nói đi.
Nàng đi ngay vào vấn đề.
– Em không thể lấy anh được, Kobori.
Vẫn yên lặng, chàng nhìn nàng và chờ đợi. “Ồ – nàng nhủ thầm, chàng sẽ đau khổ”.
– Chỉ có em là có lỗi, nàng nói tiếp mau lẹ. Đáng lẽ em không hứa hẹn. Em giấu anh một điều bí mật, em tưởng đã tiêu tan rồi.
Chàng lựa lời thận trọng:
– Em hãy nói một cách rõ ràng hơn? – chàng sững sờ hỏi.
Nàng cúi mặt xuống.
– Mùa xuân trước, em có gặp một người Mỹ. Chúng em đã yêu nhau ngay, nhưng cả hai người đều tưởng mối tình này không thể thực hiện được và chàng ra đi. Ngày hôm qua, chàng trở lại đây. Nay chúng em hiểu rằng không thể quên nhau được. Thật là bất công giấu anh sự thật này.
Chàng liếm cặp môi tái đi.
– Anh xin cảm ơn sự thành thật của em.
Nàng chờ đợi những lời khác nữa và không dám nhìn chàng.
– Em yêu mến nước Mỹ – chàng nói vẻ trầm ngâm. Bao giờ anh cũng rõ điều này. Anh có ý định đi du lịch với em sang Mỹ vào dịp nghỉ hè. Anh có công việc với hãng Mỹ và anh có ý định ở nhiều tháng ở California.
Bỗng chàng ngã người ra phía trước và lấy hai tay che mặt.
– Em rất phiền muộn, thật phiền muộn – nàng nói thì thầm.
– Vâng, hẳn nhiên – chàng nói, vẫn để tay che mặt. À! Nếu vậy, không còn cách nào nữa. Em đến báo cho anh như thế là hay lắm. Quyết nhiên, anh cần phải ít lâu mới suy nghĩ như thường lệ được.
Chàng ngẩng đầu lên. Nàng nhẹ nhõm hẳn người vì thấy chàng không khóc.
– Anh tưởng rằng từ nay không bao giờ chúng ta gặp riêng nhau nữa, có phải không Josui?
– Có lẽ không bao giờ nên gặp nhau nữa – nàng trả lời.
– Như vậy, anh cần phải nói với em một vài điều, nếu em cho phép.
Khuỷu tay tì xuống đầu gối, chàng ngả người về phía nàng để nhìn nàng rõ hơn.
– Có thế này thôi, Josui. Giản dị có mấy lời nếu vì một lẽ nào đó, em cần gì đến anh, xin cứ gọi anh. Ước mong rằng lòng kiêu hãnh của em đừng ngăn em điều này.
– Ồ! Kobori, em sẽ rất sung sướng làm điều ấy, nhưng chắc không cần. Thật anh tốt quá.
Chàng cố mỉm cười.
– Em hãy để cửa ngõ, đó là tất cả anh cầu xin em, Josui ạ.
Nàng đứng dậy, nóng lòng muốn cho xong chuyện.
– Em xin hứa với anh như vậy, Kobori.
Một sự hứa hẹn! Nàng hối tiếc ngay câu nói bực mình này. Nàng đã không giữ lời hứa trước. Nàng giơ tay ra. Lần đầu nàng cảm thấy sự va chạm của bàn tay lớn, nóng và mềm dịu nằm kín cả bàn tay nàng.
Bối rối, mắt đẫm lệ, Kobori mỉm cười và lễ phép nghiêng mình. Nàng cũng cúi đầu xuống và thế là hết.
Josui đi rồi, Kobori ngồi lâu mãi trong chiếc ghế bành. Chàng chìm đắm trong tai biến này. Khi chàng còn bé, cha chàng có dạy chàng cách bơi không mệt nhọc:
– Người ta không thể đọ sức với biển cả được, ông nói. Đừng có phấn đấu với biển rộng. Đừng có chống đỡ với làn sóng. Hãy nhượng bộ và bơi theo sức mạnh của sóng. Sóng sẽ nâng đỡ con và cả biển cả cũng giúp đỡ con nữa.
Kobori gợi những lời của bố. Chàng đã dành mối tình chân thật cho Josui. Vậy mà không bao giờ nàng còn là vợ chàng nữa. Ý nghĩ này kỳ quái quá, đến nỗi chàng thấy hoa mày chóng mặt, tưởng như một đợt sóng vỗ mạnh vào đầu chàng. Chàng nhắm mắt lại, đặt gáy lên tấm da ghế và thụ động chịu mối đau đớn. Chàng đành như vậy và không biết làm gì hơn.
Khoảng một giờ sau, chàng mở mắt, đứng dậy, cầm ấm nước trà nóng trong chiếc giỏ bọc da và rót nước trà. Chàng uống chậm chạp. Tay chân chàng mệt mỏi và giá lạnh, tưởng như mới ở dưới nước lên.
Ngay tối nay, chàng phải báo tin cho cha chàng biết. Cần phải xóa bỏ những sự mời mọc và tất cả những sự sửa soạn về hôn lễ. Tới báo tin cho tiệm kim hoàn về sính lễ tặng Josui, một chuỗi hạt ngọc màu hồng những viên ngọc, mò ở duyên hải Ấn Độ thì muộn quá rồi.
– Con đã thú thật với Kobori tất cả – Josui nói lúc trở về nhà.
Nàng đợi ông đến tận nửa đêm để nói với ông.
– Con nói tất cả rồi sao? – ông kêu lên và không tin. Táo bạo quá! Con trông đây, con đã thay đổi biết bao!
– Kobori hiền từ lắm, nên con nói được với chàng.
– Như vậy chẳng có gì thay đổi được sự mất thể diện của chúng ta – ông tuyên bố.
Josui nhận thấy sự mệt mỏi cực độ trên khuôn mặt đẹp và xanh xao của bố.
– Người thanh niên Mỹ kia, không bao giờ lấy con đâu. Chàng làm thế nào được? Ở Mỹ, phải qua nhà thờ, một cuộc hôn lễ thường không được. Và biết tiếp rước khách khứa thế nào? Biết mời ai?
– Con không muốn tiếp đón mời mọc ai. Còn về tôn giáo của chúng ta, là thế nào, thưa cha? Chúng ta không thuộc về một giáo phái nào.
– Ta theo Phật giáo. Lễ nghi phải cử hành ở Phật tự, trước thần thánh và các vị sư.
– Chàng sẵn sàng làm theo tất cả những gì cha muốn.
– Chỉ trừ việc để lại con cho cha – cha nàng trả lời một cách chua cay. Y đã ăn trộm nhà ta, lấy của cải của ta và từ chối không chịu trả lại ta.
Josui cúi đầu. Trên khuôn mặt nàng, ông không thấy có dấu hiệu phục tòng nào; căp môi mọng của nàng không run. Bác sĩ Sakai bỗng nhượng bộ. Ông nhảy lên một bước, xô đẩy nàng, trông như đánh nàng.
– Mi muốn làm gì thì làm – ông nói vẻ gay gắt. Hãy sang Mỹ đi. Nhưng khi người ta tống cổ mi đi, như người ta đã xử sự với tất cả chúng ta, lúc ấy đừng có trở về nhà ta nữa.
Nàng ngẩng đầu lên, như ông, cũng bị lòng tự phụ và sự tức giận thúc đẩy.
– Con sẽ không trở về nhà, con xin hứa với cha như vậy.
Ở Tokyo, Allen nói chuyện với viên đại tá. Ở trong bàn giấy chỉ có hai người. Hàng chồng giấy tờ chất trên các bàn, tủ và ông đại tá thỉnh thoảng lại liếc nhìn những chồng giấy này. Trong trí tưởng tượng của ông, những chồng giấy này sẽ tăng gia mãi và hợp thành một chồng thật lớn, trong khi Allen nói chuyện.
– Đó là công việc của anh – ông đại tá nói vẻ bất mãn. Nhưng anh am hiểu hơn một người quân nhân có trí thông minh tầm thường; nếu anh muốn, theo ý tôi, một ngày kia, anh có thể đoạt được năm sao. Nhưng đương nhiên điều đó không thể được đối với chồng một người phụ nữ Nhật.
– Tôi công nhận lời đại tá nói là đúng – Allen nói.
Cynthia có thể là người vợ lý tưởng chẳng hạn. Phải, nhưng chàng lại không say mê Cynthia!
– Anh lại không thể thu xếp với nhau được à? – viên đại tá hỏi. Người Nhật không xem xét những việc này như chúng ta. Họ có những cách riêng của họ.
– Tôi giả định rằng – Allen nói miễn cưỡng. Nếu tôi là hạng người biết thu xếp công việc như thế thật lại hơn cả. Nhưng khốn thay, tôi … tôi không thể được…
Viên đại tá gật đầu:
– Không ai giống ai cả. Hãy để ta suy nghĩ một vài ngày.
Đoán biết viên đại tá không muốn tiếp chàng nữa, chàng đứng dậy.
– Tôi có phải…
– Tôi sẽ cho gọi anh khi tôi đã quyết định.
Viên đại tá lại cắm cúi vào giấy tờ.
– Thưa đại tá, xin tuân lệnh – Allen nói.
Và chàng đi ra.
Thật ra, đại tá muốn hỏi ý kiến vợ, Allen vừa đi ra thì ông bỏ ngay công việc.
Ông hút nhiều điếu thuốc lá và suy nghĩ, rồi ông gọi điện thoại nói chuyện với vợ.
– Đây! – bà trả lời khi đã nghe ông nói hết. Tôi khuyên ông nên cho chàng nghỉ phép. Ông hãy tìm cách cho chàng trở về quê nhà. Chắc ông còn nhớ bức hình ngôi nhà lớn sơn trắng ở Virginia. Ở xứ sở, chúng sẽ gặp một thiếu nữ khác làm cho chàng quên cô ả này.
– Thật là diệu kế! – ông kêu lên, tin tưởng hết sức.
Mặc đầu chán nản hết sức, Kobori cũng không trở về nhà ngay. Vốn có sức khỏe, không bao giờ chàng thấy thân thể mệt mỏi. Đối với chàng sự mệt nhọc là do tinh thần, nhưng chàng cố giữ với bất cứ giá nào trên khuôn mặt vẻ thỏa mãn, đầy đủ hạnh phúc.
Đi về nhà, chàng nghĩ đến cha chàng đầu tiên và nghĩ cách nào chàng trình bày với ông nỗi thất vọng này để cho ông đừng tin rằng việc quá quan trọng.
Đêm trong sáng và mát; trên các đường phố có những giỏ cúc xếp thành hàng của những người bán hoa. Kobori vừa đi vừa ngắm hoa và tìm những loại cúc nào mà cha chàng chưa có. Cuối cùng chàng tìm một loại hoa hình như ống, cánh hoa màu hồng nhạt và nhụy vàng thẫm. Chàng mua chậu này và mang về, lấy một tờ nhật trình cũ bọc nó. Trước cuộc chiếm đóng, chưa bao giờ một người trong giai cấp của chàng lại mang bọc như vậy; nhưng nay ở Nhật, người ta xử sự một cách dân chủ.
Như tất cả buổi tối vào giờ này, cha chàng đi tản bộ giữa các cây hoa. Giống như những người ưa thích vườn tược, thật tình ông không thể thỏa mãn về cảnh đẹp của vườn mình, vì con mắt đầy kinh nghiệm của ông vẫn tìm thấy một vài khuyết điểm quá nhỏ nhặt, mắt người thường không nhận thấy được.
Kobori thấy ông ở luống cúc gần mép vườn hoa, môi bĩu ra, ngẫm nghía một cây cúc tuyệt đẹp màu đỏ và vàng.
– Kobori! – ông kêu lên. Ta tưởng hoa năm nay không đẹp bằng năm ngoái.
– Để con xem. Nhưng thưa cha, xin cha hãy cho con biết chúng ta có loại hoa ống nào không? Hình như con không thấy có loại hoa này ở đây.
Ông Matsui vội giơ tay ra và Kobori trông thấy những ngón tay cha chàng gầy yếu và xanh xoa, chàng giật mình. Chàng nhìn khuôn mặt thân yêu và hốc hác.
– Ta không nhớ có loại này – ông nói.
Hai bố con cùng cúi xuống cây hoa, hấp dẫn vì sắc đẹp mong manh của bông cúc.
– A! Thế chúng ta để chậu hoa này ở đâu bây giờ? – ông Matsui băn khoăn hỏi. Cố nhiên là không để với những cây hoa vàng và đỏ. Mẹ con chắc sẽ yêu loại cúc mới này lắm. Bông cúc này giống mẹ con. Ta để ở đây để mẹ con có thể ở trong cửa sổ buồng ngắm được.
Ông thận trọng đặt chậu cây mới giữa một chòm cúc. Trong không khí thơm ngát và yên lặng lúc nãy, Kobori nhận thấy thời cơ thuận tiện.
– Thưa cha, con rất hài lòng tìm được loại cúc này cho cha. Điều ấy giúp con về báo cho cha biết một tin không vui gì! Cuộc hôn nhân của con không thành.
Ông Matsui sửng sốt quay lại.
– Tại sao?
– Cô Sakai quyết định từ hôn – Kobori điềm nhiên nói thêm
Ông Matsui chớp mắt, không sao nói được một lời, Kobori lợi dụng sự sửng sốt của cha.
– Cha khỏi phải quan tâm, chàng nói dịu dàng. Trước con đã hoài nghi cuộc hôn nhân khó thành tựu. Con thấy bác sĩ Sakai vì thân tình với cha quá, đã ép uổng con gái nhiều. Cha xem bác sĩ kính phục cha đến mức nào. Ông sẽ đau đớn lắm. Chúng ta cần phải tránh cho ông điều đó.
– Nhưng… và con, con trai của ta?
Kobori mỉm cười:
– Cha xem, con hoàn toàn sung sướng.
Cặp mắt nâu và sáng, giọng nói dịu, trầm của chàng cũng đủ trấn tĩnh và làm ông Matsui tin tưởng.
– Vậy anh có thể trở về Mỹ ngay ngày thứ năm tới – ông đại tá nói.
Allen mỉm cười với viên sĩ quan chỉ huy.
– Thưa đại tá, xin người đừng tưởng rằng tôi bị mắc lừa.
Ông đại tá không ngẩng đầu lên. Ông ký giấy tờ vẻ bận rộn và tin chắc ở mình.
– Ai nói là lừa dối anh hở? Ông trả lời, anh bị lừa dối hay không, tôi đâu cần biết việc ấy. Tôi chỉ muốn anh về nhà suy nghĩ. Anh hãy sống lại trong không khí gia đình, hãy trông ngắm các thiếu nữ ở quê hương.
– Thưa đại tá, không có gì làm thay đổi ý kiến của tôi được.
– Người ta không bao giờ biết cả.
Allen đi ra. Ba ngày để thu xếp tất cả! Biết làm gì trong ba ngày này? Chưa bao giờ người ta làm trái ý một cách bất lịch sự như thế. Ba ngày! Được chàng sẽ đi chuyến tàu nhất đi Kyoto!
Đầu óc chàng suy nghĩ lung tung khi chàng đi về nhà. Chàng sẽ xin thuyên chuyển, chàng sẽ xin một công việc bàn giấy ở Washington. Như vậy Josui có thể theo chàng. Vốn là một công dân Mỹ bởi quyền thế tập, nàng không có gì khó khăn khi trở về Mỹ.
Chàng đi vào bàn giấy bưu điện và thảo điện tín gửi Josui: “Chiều mai đến. Nhận được lệnh về Mỹ…” Chàng ngừng viết; cần phải tránh cho Josui một tin ghê gớm. Chàng cắn bút chì, rồi thêm: “Với em, đến chết. Allen”
Bức điện tín đến ngay chiều hôm ấy. Bác sĩ Sakai đọc trước khi đưa Josui. Rồi ông chìa tờ giấy cho nàng không bình phẩm gì, nhưng với vẻ thảnh thơi.
Nàng đọc từ tốn, liền hai lần và hiểu rõ rằng ý của Allen muốn nói cho nàng biết.
– Chúng con không cử hành hôn lễ được, cong cũng cứ theo chàng.
– Ta sẽ nhốt mi trong phòng của mi.
Josui càu nhàu làm ông sửng sốt. Sự trớ trêu làm khuôn mặt xinh đẹp của nàng trở nên cứng rắn. Nàng liếc nhìn bác sĩ Sakai, bĩu môi khinh khỉnh.
– Cha nghĩ rằng chàng sẽ để cha làm như vậy à? Chàng sẽ xô cửa vào! Vậy cha không thấy người Mỹ họ xử sự ra sao à? Ta có thể ngăn cản họ được không? Cha đừng quên rằng họ là kẻ chiến thắng chúng ta.
– Nếu mi theo nó, ta sẽ không nhận mi nữa.
– Con cũng vẫn theo chàng.
Bà Sakai nghe thấy những tiếng nói lớn này, vội vã chạy lại.
– Josui, Josui! -– bà kêu. Cha con… Ồ! Con không thể tàn ác như thế được!
Bà ngăn chặn hai người và giơ cánh tay ra. Nhưng hai người không để ý đến bà.
– Đó là một cơ hội không ngờ tới để thử thách ngoại nhân kia! Nhưng đứa con gái vô liêm sỉ này lại muốn kết hôn với nó trước khi nó đi để khỏi mất nó! Ta xấu hổ vì đứa con gái này!
Ông giơ tay lên và nhìn trời.
Bà Sakai quay lại phía Josui.
– Người ta không thể kết hôn mau lẹ như thế được. Phải có thời giờ. Cậu ta phải được phép.
Nàng nhìn cha mẹ, người này rồi người nọ và trông thấy cha mẹ liên kết chống lại nàng.
Nàng kêu lên:
– Con sẽ làm tùy theo ý con.
Nàng quay lưng lại cha mẹ và lẫn vào buồng.
Cha mẹ nàng nhìn nhau sững sốt.
– Tôi đi ra đền. Nhà sư sẽ chỉ dẫn cho ta việc phải làm. Cần phải cho chúng lấy nhau – bác sĩ Sakai buồn rầu thở dài.
Allen Kennedy bấm chuông. Cửa mở ra và Yumi mời chàng đi theo cô. Chàng đi theo không khỏi ngạc nhiên. Không một tiếng chân, tiếng nói nào trong ngôi nhà yên lặng. Yumi dẫn chàng vào một căn phòng đẹp và rộng. Yumi dẫn chàng vào một căn phòng đẹp và rộng, mà những bức ngăn dán giấy trông ra một thửa vườn, màu sắc điều hòa tuyệt đẹp. Ở trong góc một chiếc Kakemono treo ở phía trên chiếc bình có cắm xòe ra những hoa lá mùa thu. Ở một góc tường này bác sĩ Sakai và vợ đang quỳ. Thấy khách vào, ông bà đứng dậy. Cả hai người đều mặc lễ phục. Bà Sakai mặc chiếc áo Kimono bằng lụa dầy, màu đỏ sẫm, có thêu những chùm hoa hoàng đậu. Bác sĩ Sakai mặc chiếc áo thụng phủ trên một chiếc áo Kimono sẫm.
– Xin mời cậu ngồi xuống đây – bác sĩ Sakai bắt đầu nói, dùng tiếng Anh thật hay.
Allen nghiêng mình, gấp chân dài lại quỳ xuống chiếu. Chàng rất ngạc nhiên thấy bác sĩ Sakai nói với chàng không ngượng ngịu giận hờn.
– Cậu Kennedy, tôi đã qua sống nhiều năm ở Mỹ và tôi biết rằng người Mỹ rất ưa sự thành thật. Vậy, chúng ta hãy đối xử thật thà với nhau. Ý định của cậu là thế nào?
Bác sĩ Sakai đặt câu hỏi vẻ kiêu hãnh. Allen trả lời không chút quanh co:
– Cháu muốn được kết hôn với con gái bác trước khi cháu khởi hành, thưa bác, nghĩa là hôm nay hoặc ngày mai.
– Làm thế nào được như vậy? Cậu chưa có thời giờ xin giấy phép cần thiết.
– Thưa ông, tôi biết điều này, nhưng tôi nhớ có một anh bạn đã kết hôn với một thiếu nữ Nhật ở Đài Loan, theo luật lệ Nhật. Anh ta chỉ hợp pháp hóa cuộc hôn nhân này một năm sau ở Pháp; vậy mà nghi lễ đầu tiên được công nhận vẫn có giá trị.
– Tuy vậy, vẫn không hợp pháp – bác sĩ Sakai phản đối vẻ cảm động.
Allen ngã người ra phía trước để cố thuyết phục bác sĩ.
– Thưa ông, tôi yêu mến Josui và tôi muốn lấy nàng. Tôi muốn đưa nàng về nhà tôi và giới thiệu nàng với bố mẹ tôi. Nhưng tôi bắt buộc phải để nàng ở đây và đưa nàng về sau. Tôi cố gắng để được thu nhận làm việc ở Washington. Tôi ước mong ông bà sẽ đến nhà tôi và về phần chúng tôi cũng sẽ đến thăm ông bà, nhưng trước khi tôi khởi hành, điều cần thiết là Josui phải được kết hôn với tôi. Nàng sẽ về với tôi dễ dàng, nếu việc kết hôn thành tựu.
Bác sĩ Sakai chưa kịp trả lời thì giữa lúc này một tấm ngăn rớt xuống đất và Josui ào vào phòng. Nàng đứng đối diện bố mẹ.
– Thưa cha mẹ, con sẽ làm như Allen nói.
Mặc một chiếc áo Kimono lụa trắng, hai cánh tay giơ ra, mắt sáng ngời, má hồng đỏ, đầu ngẫng lên, nàng hiện ra như một con chim kỳ dị. Allen chưa bao giờ thấy một người phụ nữ nào đẹp như thế. Chàng đứng dậy và trông ngắm nàng, vẻ kính phục. Chàng nhìn thấy trong cặp mắt nàng vẻ yêu dấu chàng hết sức, chàng đưa tay ôm lấy nàng. Bác sĩ Sakai chăm chăm nhìn hai người, bà Sakai, mắt cúi xuống và cả hai người đều đứng yên.
Josui xoay trở trong tay Allen và nói với bố mẹ:
– Thưa cha mẹ, chúng con sẵn sàng.
Cha mẹ nàng đứng dậy, bác sĩ Sakai nói:
– Cậu Kennedy, chúng tôi đã dự liệu để công việc có thể xếp đặt được. Chúng tôi là Phật tử. Tôi đã vận động để nghi lễ có thể cử hành ở đền. Còn về các thể thức phải làm ở nước cậu, chúng tôi để cậu lo liệu.
Ông cúi đầu xuống và không đợi Allen trả lời, ông đi ra, bà Sakai đi tiếp theo ông và qua trước mặt Allen, bà không nhìn chàng.
Josui nhìn cha mẹ đi ra, rồi nàng quay lại Allen, mắt đẫm lệ:
– Anh không nên hờn giận cha mẹ em -–nàng nói giọng van lơn. Thật là đau khổ cho hai người! Anh không thể tưởng tượng được cha mẹ em không có một người con nào khác nữa. Cha mẹ em vẫn thường ước mong rằng chồng em sẽ như là con đẻ của ông bà.
– Vậy ông bà không thể coi anh là con trai được sao?
– Cha mẹ em chưa thể nhận anh thế được… Chưa được – nàng giản dị nói.
Còn ai cảm thấy được giữa hai người cái rung động đầu tiên của linh hồn đứa trẻ do họ sinh ra? Linh hồn đó máy động trong làn gió nhẹ, nâng đỡ những bông hoàng đậu lên và tỏa ra hương thơm của hoa. Linh hồn đó lóe sáng trong chiếc hôn đầu tiên trao đổi ở ngoài vườn và trở nên vững chắc trong chiếc hôn cuối. Linh hồn đợi sự quyết định của thần thánh.
Đám cưới vỏn vẹn có mấy người tụ họp trong ngôi đền lớn, lợp mái tranh đã có cả ngàn năm. Yumi và người làm vườn đứng ra làm nhân chứng. Sững sốt và bối rối, hai người đứng nấp sau ông bà chủ. Vị trụ trì, có các vị sư phò tá đi kèm, đứng đối diện đôi trai gái. Vị sư không tán thành cuộc hôn lễ này và lương tâm giày vò ông. Bác sĩ Sakai đã ép uổng ông nhận lời cho, ông khẩn khoản nói mãi về cảnh hỗn loạn trong thời buổi này.
– Sư trưởng không thể hiểu nỗi đau đớn của tôi – bác sĩ Sakai nghiêm nghị nói. Sự lựa chọn cuối cùng của tôi là mất con gái hoặc ưng thuận cuộc hôn nhân này.
– Ông dạy dỗ nàng một cách quá tự do.
– Tất cả những sự lầm lẫn đã qua của tôi chẳng thay đổi được hiện tại.
Một tặng vật hậu hĩ cúng vào đền cùng những lời hứa hẹn trung thành với đạo cuối cùng đã thuyết phục được vị trụ trì. Ông bằng lòng cử hành hôn lễ.
Vị trụ trì đi vào đền vẻ trang nghiêm, ông cho đánh chiêng và đợi cho tiếng vang tắt hẳn dưới cái khung vòng cao. Rồi ông quay lại phía bàn thờ và ra hiệu cho mọi người tiến lên. Ông đứng chờ đợi, người rất cao lớn trong bộ đồ lễ. Trái với tục lệ, Allen Kennedy không mặc y phục màu đen, nhưng cô dâu mặc chiếc Kimono trắng.
Vị trụ trì nhìn người thanh niên Mỹ đứng trước ông rất lâu rồi quay mặt đi. Ông bắt đầu buổi lễ bằng tiếng Nhật.
Chúng ta đều sum họp ở đây dưới chân Đức Phật nhân từ, để dẫn dắt cặp thanh niên nam nữ này kết thành vợ chồng, đoàn tụ đời đời. Thánh lễ của hôn nhân là nguồn gốc thiêng liêng của tất cả đời sống ở đây rút tỉa ra những quy tắc đạo đức. Không có kết quả nào lại không có nguyên nhân. Như vậy phải hiểu biết rằng một sự liên kết thiêng liêng như thế này của hai người, liên kết suốt đời, không phải là một sự ngẫu nhiên. Nó tiêu biểu sự thành tựu của nhiều đời sống trọn vẹn và kết quả của sự ân cần và nhân từ của Đức Phật.
Ông bỗng cúi đầu xuống và giọng của ông trở nên ấm và giọng của kinh kệ.
– Cầu mong rằng đôi lứa mới này trung thành với lời cầu nguyện của họ, sẽ tương thân tương kính giúp đỡ nhau trong hoạn nạn và khổ sở, giữ được thân thể với tinh thần thanh khiết và khuyến khích nhau nhận tất cả những đức tính tốt. Đó là những yếu tố cần thiết cho mọi đời sống lứa đôi để được sung sướng, hợp với những lời răn dạy của Đức Phật.
Ông ngẩng đầu lên nhìn, cái nhìn bao trùm cả hai người và ông tuyên bố vẻ hách dịch:
– Bởi vậy, trước khi tỏ bày những lời cầu nguyện, hai con phải nhớ rằng nhiệm vụ của người chồng là bảo đảm sự sinh sống cho vợ mình, thương yêu nàng, trung thành với nàng cả trong ý nghĩ và hành động, giúp đỡ nàng cả trong sự buồn rầu, bệnh tật và trợ lực nàng trong việc giáo dục con cái.
Ông quay lại phía Josui và tiếp tục nói:
– Bổn phận của người vợ là mến yêu chồng, là giúp đỡ chồng, luôn dịu hiền và trung thành với chồng trong tất cả mọi việc.
Rồi cứ lần lượt ông nói nữa với cô dâu chú rể.
Ông nói:
– Hai con hãy long trọng tuyên thệ, theo sự hiểu biết của mình, không có một trở ngại về sự kết hôn hợp pháp của hai người.
Josui nhìn Allen và thì thầm dịch lời nói của vị trụ trì.
– Tôi không thấy có một trở ngại nào – chàng nói bằng tiếng Anh.
– Con tuyên bố long trọng rằng không có một trở ngại nào – Josui nói, giọng quả quyết.
Thật ra, hai người đã vượt qua hết các trở ngại chưa?
– Allen Kennedy, con có nhận thiếu nữ này, Josui Sakai, hiện diện ở đây, là vợ chính thức của con không?
Josui nhìn chàng. Allen nói tiếng “Vâng” quyết định, giọng run run.
– Josui Sakai, con có nhận thanh niên này, Allen Kennedy, hiện diện ở đây, là chồng chính thức của con không?
– Vâng – Josui trả lời bằng tiếng Nhật.
Được chỉ dẫn trước về các nghi lễ. Allen liền tháo ở ngón tay út của chàng chiếc nhẫn có nạm kim cương và đưa cho vị trụ trì để ông đeo vào ngón tay vô danh của Josui. Ông đặt bàn tay hai người lên nhau và lấy chuỗi hạt thiêng liêng phủ lên.
– Vì các con đã nhận kết hôn với nhau theo nghi lễ Nhà Phật – ông tuyên bố trang trọng. Ta tuyên cáo rằng hai con là vợ chồng từ đây. Cầu mong cho các con luôn luôn sống trong tình yêu đương và lòng nhân ái!
Một lúc sau, ông quay lại phía bàn thờ. Được hướng dẫn, Allen cắm mấy nén hương vào bát hương trên bàn thờ.
Ở dưới chân tượng Đức Phật vĩ đại sơn son thiếp vàng, vượt lớn hơn tất cả những vị thần thánh khác, vị trụ trì tuyên bố:
– Đây là những lời dẫn dắt của Đức Phật thiêng liêng.
“Hãy giúp cha mẹ con, yêu mến vợ và con cái, hãy noi theo con đường hòa hình. Đó là phước lành lớn nhất”.
Những lời này, ông nói với Allen. Buổi lễ kết thúc. Vị trụ trì quay lại phía các tượng thần linh và bốn vị sư phò tá đứng xếp hàng đằng sau ông, như một bức tường thành.
Vị trụ trì lên bàn thờ trình với Đức Phật, giọng nói thật nhỏ, không ai nghe thấy cả. Ông giải bày những sự ngần ngại của ông, cầu xin Đức Phật dung xá và ban ơn cho cặp vợ chồng trẻ: nếu việc chẳng lành, ông cầu xin ít nhất Người cũng cho thiếu phụ được trở về quê hương.
Bức tượng phủ một lớp dầy vàng sơn đỏ ối, tay chìa ra như ban cho khắp mọi người. Và trong khuôn khổ bất động, cặp mắt xa xăm như cúi xuống nhìn tất cả các Phật tử.
Allen không cúi đầu, một cảm giác hư ảo xâm nhập chàng. Chàng nhìn vị trụ trì và các môn đệ, cúi người xuống trong bộ lễ phục dài và ở phía trên họ là pho tượng. Cuối cùng chàng từ từ cúi xuống. Đã từ nhiều năm nay, chàng không cầu nguyện, không tin tưởng. Nhưng ngày hôn lễ hôm nay, trong lòng quá bối rối, lời cầu nguyện bật ra, với một sức mạnh làm chàng run lẩy bẩy.
Trong phòng riêng của nàng, Josui nằm gần Allen. Sau nghi lễ ở đền và khi trở về nhà, bác sĩ Sakai đã nói ít lời chúc tụng và rút lui ngay, trước khi Allen kịp cảm ơn ông.
Bà Sakai không ra. Yumi dọn cơm cho hai vợ chồng mới cưới, riêng hai người ăn trong phòng họ. Rồi, trong sự yên lặng hoàn toàn và không nụ cười, nàng trải xuống đất những mền lụa kết thành giường cho hai người.
Sau khi cúi rạp chào, Yumi đóng các ngăn lại và tắt đèn hành lang. Cuối cùng chỉ còn riêng có hai người và không ai có thể chia rời họ được nữa.
Hai người qua tuần trăng mật trong cảnh bề ngoài thật quạnh hiu. Trong ngôi nhà lớn, cha mẹ rút lui ra một nơi. Allen chỉ gặp cô hầu gái yên lặng.
Không một ai trong nhà có thể tưởng tượng được rằng Josui ở lại một mình. Không nên có con trong trường hợp này.
– Không lâu la gì em ạ. Allen cam đoan như vậy. Có thể một vài tuần thôi.
Nhưng một vài tuần lễ là mấy mươi năm, khi người ta chỉ có một hai ngày để yêu thương nhau. Đêm thứ hai – đêm cuối cùng của họ – Josui khóc, chàng phải yêu thương an ủi nàng biết bao.
Chàng ôm nàng trong cánh tay, nàng nhỏ bé, khóc sướt mướt, thu mình lại trên ngực chàng. Chàng không sao thuyết phục được nàng. Nàng băn khoăn sợ hãi: họ bỗng nhiên bị xa rời nhau và chẳng có gì sum họp lại được. Nàng tin chắc như thế. Để nàng hiểu lẽ phải chàng bắt buộc phải gây tai họa cho nàng.
– Josui, em tưởng rằng việc dễ dàng đối với anh như thế à? Nếu anh không yêu em có đâu anh ở đây lúc này?
Đối với những mối băn khoăn, những câu hỏi này, chỉ có một câu trả lời. Tình yêu, tình yêu nữa, luôn luôn tình yêu. Da thịt chạm vào da thịt. Tim sát với tim. Đứa con chờ đợi.
Ngày hôm sau, cuộc biệt ly thật ảo não. Cha mẹ hiện ra cùng một lúc. Hai người đàn ông bắt tay nhau. Rồi cha mẹ rút lui và hai vợ chồng trẻ còn ở lại một mình. Allen có thể nguyền rằng da thịt chàng rớm máu khi chàng rút ra khỏi tay, Josui ôm ghì chàng.
– Anh sẽ viết thư cho em hàng ngày – chàng hứa hẹn.
– Em cũng thế – nàng thì thầm vẻ mặt tiều tụy và đẫm lệ.
Chàng chạy trốn, quay đầu lại, trông thấy nàng ngất xỉu trên thềm cửa và chàng liền đến bên nàng. Chàng ôm ghì nàng trong cánh tay.
– Đáng lẽ anh không nên quay lại – chàng rên rĩ.
Cố gắng cương quyết, cuối cùng chàng đi không quay trở lại nữa và đến ga, nhảy lên tàu vừa lúc chạy.
——————————–
1 Chanoyu: hoặc trà đạo, là thú tiêu khiển tao nhã đặc biệt của Nhật, bầy tỏ nghệ thuật pha và uống matcha hay trà xanh xay thành bột.
2 Từ đồng nghĩa với van nài, van vỉ, van xin.
3 Kakemono là bức tranh cuốn treo vách.
4 Chất lân và là tên gọi khác của phốt pho.
5 Trong nguyên tác là Madame Butterfly là tên một vở kịch nổi tiếng cùng tên có thể ám chỉ dựa theo nội dung vở kịch này. Dịch sang “Hồ điệp” trong Liêu trai chí dị để độc giả tiện theo dõi.
6 Tên gọi cũ của nhiệt kể.
7 Loại mũ dành cho sĩ quan hải quân Hoa Kỳ (navy officer hat), có chóp như đầu chim chào mào.
8 Từ cũ chỉ đáng ghét hoặc thô lỗ.
9 Theo lễ nghi phong kiến (Nho giáo) khi chưa kết hôn, tránh gọi các từ thân mật chỉ cha,mẹ của người khác mà phải nói trại ra.
10 Theo nguyên tác là “More than twelve hundred acres.” Nghĩa là hơn 200 mẫu đất Anh nên có thể là xấp xỉ 800,000 m2Còn ở đây không biết mẫu tính theo đơn vị nào.
Nữ sĩ Pearl S. Buck đứng vào văn đàn các đại văn hào. Cuốn tiểu thuyết đầu của bà “Đất lành”, xuất bản năm 1931 được dịch ra nhiều thứ tiếng, đưa lên màn ảnh và được cả thế giới hoan nghênh. Nếu quyển sách này đem lại cho tác giả giải Pulitzer, thì cũng vì tác phẩm này, Pearl Buck là nhà văn Mỹ đầu tiên được giải Nobel văn chương năm 1938.
Phần lớn các tiểu thuyết của bà, viết tiếp sau Gió đông Gió tây, Người mẹ, Người yêu nước, Lá thư Bắc Kinh, Cánh hoa e ấp, đều bắt nguồn từ cảm hứng ở kinh nghiệm sâu rộng của bà về Á châu.
Vốn là con gái một vị mục sư Cơ đốc giáo, nữ sĩ Pearl Buck khôn lớn ở Tchen Kiang trên bờ Dương Tử Giang và học tiếng Trung Hoa, trước khi biết tiếng Anh. Sau bốn năm học ở Virginia, quê hương của nữ sĩ, bà trở lại Trung Hoa và lấy chồng. Ở đây bà dạy tiếng Anh trong nhiều trường, và dạy dỗ các con. Trong cuộc đời đầy biến động của bà, có khi bà là người đàn bà da trắng độc nhất trong những thành phố bị giặc cướp tấn công hoặc tàn phá vì đói kém.
Pearl Buck đi bước sau, lấy nhà xuất bản R. Walsh, người xuất bản những tác phẩm của bà. Bà đã từng sống trong một trang trại, trại ở Pennsylvania, mà bà vẫn tiếp tục viết. Bà có hai con gái và bốn người con nuôi.
Trong những tác phẩm của bà về sau đây phải kể:
Nữ hoàng Trung Hoa, Một mối tình bền lâu, Cuộc phiêu lưu vĩ đại, Bạn có phải là chủ nhân của bình minh, Những tiếng nói trong nhà, Người vợ tức giận, Tôi không bao giờ quên, Một ngôi sao nào đó, Đất Cao Ly.
Google photo
Mấy Lời Phê Bình Của Tạp Chí “Revue Des Deux Mondes” Về Cánh Hoa E Ấp
“Ai giống nhau thường hợp nhau” ngạn ngữ Tây phương có nói thế. Nhưng người ta có thể quên được câu này để kết hôn ngoài giới của mình, ngoài xứ sở về nòi giống của mình không? Hoặc không hề đến một mối tình đằm thắm, phải lưu ý đến nói của tri năng? Hoặc cuối cùng, tình yêu khác mạnh để vượt tất cả những trở ngại ngăn cách hai người khác nhau?
Đó là đề tài khó khăn và đau thương của cuốn tiểu thuyết này của Pearl Buck. Ở Kyoto, dưới thời bị chiếm đóng, một thiếu nữ Nhật xinh đẹp gặp một sĩ quan Mỹ và nhận lời kết hôn với chàng. Từ đó, hai gia đình ra sức chống lại cuộc hôn nhân này. Tôn giáo, màu da, những truyền thống ngàn xưa và biết bao yếu tố đã xen lẫn trong cuộc tranh luận đau thương này mà tình yêu cố bám víu vào để khỏi bị chìm ngập.
Với sự hiểu biết sâu xa về Đông phương và tâm linh người Nhật, về tâm lý của dân tộc Mỹ và tình cảm đặc biệt của người Mẹ, Pearl Buck đã viết tác phẩm Cánh hoa e ấp, một trong những tác phẩm nổi trội nhất của bà. Giá trị của tác phẩm là trình bày cho độc giả biết một vấn đề điên đảo mà sự tiến triển của thế giới nẩy sinh ra hàng ngày.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 21 Sep 2024
Thiết giáp PT-76 Bắc-Việt
TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30
Bây giờ, sau khi căn cứ Hỏa lực 31 thất thủ, căn cứ Hỏa lực 30 xem như là tiền đồn về mặt Bắc quốc lộ 9 sâu trong nội địa Lào. Chúng tôi chỉ còn nhiệm vụ yểm trợ cho căn cứ A Lưới và hôm nay phải lai rai tác xạ cho thiết kỵ tiến chiếm lại căn cứ Hỏa lực 31. Kỳ dư, mọi nổ lực dồn vào tác xạ yểm trợ cho hai tiền đồn ở hướng Đông và Đông-Nam vị trí chúng tôi, cùng trực xạ bảo vệ Pháo Đội mà thôi.
…Cũng như đêm qua, khuất eo trên “xa lộ” Hồ Chí Minh, một đoàn convoi vẫn nối đuôi nhau rọi đèn pha di chuyển… Sự kiện này không còn làm cho ai ngạc nhiên nữa, vì mặt Đông-Bắc, Bắc và Tây-Bắc chúng tôi không còn một đơn vị bạn nào hoạt động, tất nhiên đã trả lại cho Cộng quân một vùng tự do khá rộng, tuy rằng hầu hết các kho tàng của chúng đã bị Tiểu Đoàn 39 và 21 BĐQ phá sạch từ tuần lễ trước.
Sĩ quan Pháo Đội giờ chỉ còn tôi, Lân và Ngân với 68 nhân viên. Kim thì tá túc tạm thời. Tất cả 4 anh em tôi đều trú chung trong một hầm.
Khoảng 23g00, 24g00 một sự im lặng gần như tuyệt đối bao trùm cả căn cứ. Chung quanh vị trí không có một tiếng động nhỏ.
Tại hầm, tôi vẫn xử dụng 2 máy PRC-25, một của tôi dùng liên lạc với các đơn vị pháo binh, một của Kim dùng liên lạc với BCH/TĐ 2 Dù và theo dõi tình hình không yểm.
…0g30 ngày 27-2-1971, tiền đồn phía Đông khẩn cấp báo cáo trực tiếp cho Trung Tá Thạch với giọng nói rất khẽ:
– Địch đang tiến dần đến chúng tôi, chúng có cả chiến xa pha đèn di chuyển. Sau chiến xa, bộ binh cũng lúc thúc chạy theo…
Trung Tá Thạch ra lệnh:
– Các em cứ bình tĩnh, phải giữ vững tuyến của mình, chờ chúng đến vừa tầm khoảng 50 thước dùng M72 nhắm ngay vào nó mà bắn… Hãy bình tĩnh thi hành lệnh tôi.
– Dạ, tôi thi hành, Đích thân.
Theo dõi được tình hình như thế, tôi khẩn cấp gọi các khẩu trưởng vào hầm, chỉ thị Khẩu 4 quay hướng súng về phía cổng — từ tuyến thứ nhì đi ra bãi đáp — nơi mà địch muốn vào căn cứ chúng tôi, bắt buộc phải theo đường duy nhất đó. Khẩu 2, khẩu 3 cố gắng quay về các hướng 5800, 6400 ly để sẵn sàng trực xạ xuống ngay chân đồi. Khẩu 1 chuẩn bị đạn chiếu sáng, bắn khi hỏa châu không thả liên tục. Khẩu 6 hướng về hướng Đông-Nam, trực xạ xuống ven đồi… Tất cả chỉ trực xạ khi có lệnh tôi hoặc Trung Úy Lân.
Tôi giao Lân và Ngân ra chỉ huy trực tiếp các khẩu 4, 2, 3, đồng thời tôi phân phối tất cả các thức ăn, thuốc Ruby Quân Tiếp Vụ của tôi cho các Khẩu trưởng mang về chia cho nhân viên dùng. Tôi chỉ thị cho nhân viên truyền tin, tác xạ, tiêu hủy các hồ sơ mật, đặc lệnh truyền tin, lệnh hành quân, nhật ký hành quân và sổ sách giấy tờ liên quan đến tác xạ. Chỉ giữ lại xạ bảng, bản đồ cùng dụng cụ tác xạ… Tôi không quên chỉ thị cho anh em chuẩn bị vũ khí cá nhân, lương khô 4 ngày và hành trang nhẹ sẵn sàng trong sắc mang lưng, đề phòng trường hợp bất trắc xảy ra… Riêng các Khẩu trưởng, tôi lưu ý bằng mọi giá, phải giữ các máy nhắm còn lại thật cẩn thận… mỗi khẩu phải sẵn sàng một quả lựu đạn cháy phá súng.
Tôi lặp đi lặp lại:
– Tất cả anh em phải chuẩn bị đầy đủ như thế, nhưng tất cả chỉ được phép thi hành khi có lệnh trực tiếp của tôi. Bắt đầu từ phút này, bất cứ hành động gì của các anh em cũng phải tuân theo lệnh tôi, không được tự chuyên…
Giọng nói của tôi trở nên đanh thép lại. Tôi không muốn cho binh sĩ tôi đọc được nỗi lo âu của tôi đối với họ… Hình ảnh chiến xa địch — dù tôi không thấy rõ lúc chúng tiến đánh căn cứ Hỏa Lực 31, vẫn cứ lởn vỡn trong trí óc tôi… Đời binh nghiệp của tôi, quả thật đây là lần đầu tiên tôi chỉ huy một Pháo Đội 155 ly trực diện với cuộc tấn công của địch có chiến xa yểm trợ… nhưng phút lo âu ấy chỉ thoáng nhanh rồi biến mất với ý nghĩ hào hùng đến với tôi. Tôi phải tỏ ra xứng đáng là cấp chỉ huy của từng ấy pháo thủ. Cụ thể, tôi nghĩ, chỉ còn một giải pháp duy nhất để giải quyết sinh mạng cho cả Pháo đội tôi — là, chúng tôi phải chiến đấu, cương quyết chiến đấu.
Những việc trên, tôi giải quyết thật nhanh chóng, xong tôi liên lạc ngay với sĩ quan liên lạc 320 và Trung Tá Trần Kim Thạch, nhận phần xin Pháo đội B/ Tiểu đoàn 44 Pháo binh của Đại Úy Vẹn ở A Lưới tác xạ ven rào hướng Tây và Nam. Pháo Đội A/ 64 Tiểu đoàn Pháo binh của Đại Úy Sản qua trung gian của Thiếu Tá Hằng ở Phú Lộc, cùng Pháo Đội A/ 44 PB của Đại Úy Vượng ở Lao Bảo tác xạ hướng Bắc, Đông-Bắc hầu chận đứng hoặc ít ra, làm tê liệt sức tiến quân của địch để đợi phi yểm can thiệp. Còn sĩ quan liên lạc 320 và và Đại Úy Hạnh liên lạc xin Pháo Binh Cơ giới của Hoa Kỳ ở Lao Bảo – Khe Sanh tăng cường, cùng hướng dẫn phi yểm oanh kích khi các oanh tạc cơ vào vùng.
Tôi chỉ thị Lân trách nhiệm trực xạ chống thiết giáp, trong lúc Ngân đã rời khỏi hầm ra đốc thúc nhân viên chuẩn bị đạn dược tác xạ, phần tôi và Kim lúc đó không rời hai máy vô tuyến, liên lạc chặt chẽ với pháo binh bạn, với BCH/TĐ 2 Dù điều chỉnh tác xạ song phương với 320 và theo dõi phi cơ soi sáng. Vì trên phi cơ có nhân viên phi hành Việt Nam, bọn tôi có thể nhờ quan sát hướng Bắc và hướng Đông-Bắc.
Minh họa chiến tranh VN trên trang weapons and warfare
Chẳng mấy chốc, tiền đồn hướng Đông báo cáo tiếp với giọng đứt quãng rất nhỏ:
– Thân sinh! … Thân sinh! … bây giờ chúng chỉ còn cách tôi 500 thước!…
Vẫn giọng đanh thép và cương quyết, Trung Tá Thạch đáp:
– Tôi ra lệnh các anh em bình tĩnh… bình tĩnh… có tôi chiến đấu ngay bên cạnh các anh em đây… Cứ nhắm thật kỹ vào giữa chiến xa, đợi nó đến thật gần rồi mới được bắn… hiểu chưa?
Hai ngọn đèn pha bắt đầu nhô lên rồi thụp xuống trên chóp ngọn đồi ở hướng Bắc — Đông-Bắc và cách vị trí Pháo Đội vào khoảng 1000 thước… Có lẽ dốc đứng, chiến xa địch khó di chuyển…(?)…
Trườn người lên khỏi hầm nhìn thấy cảnh ấy, tôi thầm nghĩ đến trách nhiệm nặng nề mà Pháo Đội tôi sắp phải đối phó — đối phó trực tiếp, vì lẽ chỉ có đại bác của tôi mới có thể trực xạ không vướng bức chắn.
Bỗng có tiếng nói từ phi cơ dội xuống, qua máy PRC-25, tôi nghe phi hành đoàn liên lạc với BCH/TĐ 2 Dù:
– Địch xuất hiện hai chiến xa ở hướng Bắc — Đông-Bắc các anh, có bộ binh của chúng theo sau hai bên chiến xa đông lắm.
…Hình ảnh căn cứ Hỏa Lực 31 chiến đấu trong đơn độc, chống chiến xa và biển người, một lần nữa thoáng nhanh qua óc tôi. Tôi gọi Lân và Ngân vào và bảo thủ tiêu tất cả giấy tờ quan trọng cùng thư từ của gia đình còn sót trong túi áo tức khắc.
Tôi gọi Hạ sĩ Đinh mang đến cho tôi một cặp đồ trận – với ý nghĩ xử dụng lâu ngày – Tôi lập tức thay áo quần thẳng nếp, cài cấp hiệu vào hai ve áo, trang bị đầy đủ nón sắt, áo giáp và những vật dụng thật cần thiết như đèn pile, địa bàn, bản đồ… cắt đặt nhân viên truyền tin mang máy khi cần…
Lân cẩn thận và lo lắng cho tôi hơn bao giờ hết, Lân bảo tôi:
– Đại Úy bỏ cặp lon trên ve áo… lỡ có bề nào, ngay phút đầu lọt vào tay địch, may ra không bị chúng giết, rồi sau sẽ hay…
– Không nên, tôi nghĩ mình cần mang lon chiến đấu đến viên đạn cuối cùng rồi phá đại bác bằng lựu đạn cháy, các Khẩu đã chuẩn bị sẵn sàng rồi… Nó mà vào được đây thì mình khó sống! Hầm mình rồi cũng bị chiến xa chúng đè sập, không thoát nỗi đâu. Vả lại, vạn nhất chúng tràn vào đây, hoặc nó giết ngay, hoặc vì mình có cấp bậc biết đâu chúng lại bắt mình làm tù binh nếu không tự sát kịp.
Nhìn vào cổ áo Lân, tôi tiếp:
– Còn lon Trung Úy trên ve áo anh?
– Tôi lo cho Đại Úy thôi, bọn tôi nhằm gì!
Thật tình, tôi không thể tưởng tượng được lòng yêu thương của các sĩ quan cộng sự của tôi đã hết tình mến tôi đến thế.
Sau đấy, tôi thuật lại cho Lân và Ngân về việc tôi vừa bắt được liên lạc với phi cơ soi sáng.
Bây giờ, cái gì tôi cũng giải quyết khẩn cấp cả. Lân và Ngân rời hầm ra vị trí súng. Tôi chồm người gọi vói theo:
– Lân cố gắng trực xạ về hướng 200, quan sát kỹ thiết giáp địch và nhắm giữa hai ngọn đèn pha của nó mà trực xạ.
Kế đó, tôi bốc máy liên lạc với Thiếu Tá Hằng, tôi báo trực tiếp cho Thiếu Tá:
– Bây giờ Việt cộng tiến gần vào tiền đồn, cách 500 thước và cách Pháo Đội dưới 1000 thước, thiết giáp chúng đang cố gắng vượt qua đồi ở hướng 200 của tôi. Phi cơ soi sáng đã xác nhận… Nhờ Thiếu Tá cứu bọn tôi với, tác xạ thật nhiều cho tôi… Hiện tôi đang trực xạ ra mục tiêu đây, nhưng ngặt nỗi, tôi không có loại Heat (1), tôi cho vặn Delay (2) trực xạ…
[(1) HEAT (Amor-Piercing Shell): Loại đạn đặc biệt của Pháo Binh dùng chống chiến xa địch.]
[(2) DELAY: Trên đầu nổ của loại đạn nổ mạnh pháo binh thường dùng, có 2 vị thế mà lúc dùng pháo thủ có thể để Delay (Time Fuze) chậm nổ hoặc SQ (Contact Fuze) nổ nhanh. (Chậm nổ để có thể xuyên phá, nổ nhanh thì nổ ngay khi chạm vào bất cứ vật gì trước nó.]
– Anh yên trí, tôi bắt các Pháo Đội của tôi bắn hết mình cho anh… Tôi đã được chỉ thị của Trung Tá chỉ huy trưởng Pháo binh Quân đoàn I lo cho anh tối đa.
– Cám ơn Thiếu Tá, sự giúp đỡ của Thiếu Tá trong giờ phút quyết liệt này, tôi sẽ không bao giờ quên ơn!… Về Đà Nẵng tôi sẽ tìm đến Thiếu Tá và thay mặt Pháo Đội lạy Thiếu Tá 3 lạy đấy…
– Tôi không dám nhận đâu! Anh đừng nói quá lời! Bổn phận của tôi lo cho anh thì tôi phải lo…
Cùng lúc này, một phi cơ quan sát vần vũ trên không phận căn cứ Hỏa Lực 30. Tôi không biết vị sĩ quan trên đó là ai, bỗng dưng cướp lời đối thoại giữa tôi và Thiếu Tá Hằng, lại dõng dạc ra lệnh cho tôi:
– 93! … 93! … Anh không có đạn Heat, tôi ra lệnh cho anh bắn SQ!
Tôi không biết ai lại gọi đúng danh hiệu của tôi, lại ra lệnh cho tôi xử dụng đạn nổ với vị thế SQ. Tôi bèn hỏi lại:
– Đây 93! … Xin lỗi… Đài nào vừa gọi chúng tôi đấy?
– 93! … 93! … Đây 11! Tôi ra lệnh anh bắn SQ!
– 11… 11… Đây 93, tôi nghĩ bắn Delay chậm nổ, nó sẽ xuyên ngang thiết giáp và nổ bên trong vỏ sắt, sát hại được tài xế và xạ thủ, chứ bắn SQ tôi e nó không hiệu quả bằng!
Tôi trả lời như thế, nhưng thật tâm, tôi cũng không biết danh hiệu 11 là của ai. Tôi linh cảm rằng, có lẽ, cũng là một cấp sĩ quan pháo binh cao hơn tôi.
– Tôi ra lệnh cho anh bắn SQ với nạp 7, anh cứ thi hành đi. Vì Delay nó sẽ “ricrochet” khi chạm vào thiết giáp. Đạn anh cở 155 ly, anh bắn SQ, đạn vừa chạm tới thiết giáp sẽ nổ ngay. Sức công phá và sức ép của nó như một quả bom nhỏ, sẽ phá được thiết giáp, đó là kinh nghiệm. Tôi ra lệnh, anh cứ thi hành cho tôi…
Mặc dầu không biết ất giáp gì về Ông 11 và cũng không còn thì giờ để hỏi. Tuy nhiên, trong lời chỉ vẽ ngắn ngủi như sợ mất thời gian đã thoáng nhanh qua trí tôi một ý tưởng kính nể vì Ông 11 đã nói có lý.
Tôi vội leo lên miệng hầm hét to về phía Khẩu 4:
– Khẩu 4 trực xạ, đạn nổ, đầu nổ SQ. Cấm bắn Delay, nhắm ngay vào giữa đèn pha thiết giáp mà trực xạ.
Trung Úy Lân đứng tại Khẩu 4 lấy tay che miệng quay về hướng tôi lặp lại:
– Khẩu 4 – Đạn nổ – Đầu nổ SQ – Trực xạ…
Tức khắc sau đó, HSI Dương-Cũ cùng nhân viên Khẩu 4 đã trực xạ theo sự chỉ huy trực tiếp của Trung Úy Lân. Các Khẩu 2, 3, 6 trực xạ quanh rào kẽm gai từ Bắc vòng sang Tây xuống phía Nam.
Thiếu Úy Ngân bình tĩnh chạy lui chạy tới kiểm soát hết Khẩu này đến Khẩu khác.
Tôi gọi HSI Bách tìm mọi cách dựng lại ăng-ten 292 để liên lạc với Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn. Chiếc Cargo 2,5 tấn làm máy và cây ăng-ten 292 (1) đã bị địch pháo kích khi chiều hư nát, chưa kịp thay thế, nên chỉ dùng PRC-25 với ăng-ten đoạn mà thôi, do đó không thể liên lạc xa được.
[(1) Ăng-ten 292: RC-292 vertical antenna with ground plane, VHF Low Band 1/4 wave, Range 36 miles: một loại ăng-ten dùng với các máy truyền tin, có tác dụng phát luồng sóng điện đi xa hơn loại ăng-ten đoạn.]
Bách trình tôi:
– Thưa Đại Úy, dựng ăng-ten 292 nguy hiểm quá, nó lộ mục tiêu… Đại Úy không thấy khi chiều Việt cộng cứ nhằm vào ăng-ten mà pháo kích mãi hoài đó sao?
Đến phút này, tôi không còn muốn nghe ý kiến nào của nhân viên nữa. Tôi chỉ muốn tất cả phải thi hành theo lệnh tôi. Tôi độc đoán – và vì thế, tôi phát cáu ngay khi Bách trình chưa hết câu, tôi dằn mạnh:
– Tôi bảo, anh cứ thi hành đã. Bây giờ tối nó thấy mẹ gì mà sợ lộ mục tiêu! Nếu không dựng cao được thì dựng thấp… Đồi mình ở cao đến 727 thước chứ phải hố thẳm đâu!
Sau khi bị gay gắt với lệnh trên, Bách cùng nhân viên truyền tin ra sức dựng lại ăng-ten. Nhờ vậy, tôi liên lạc được với Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh. Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng vào máy đàm thoại với tôi:
– Trình với thẩm quyền, tình hình của tôi bây giờ trầm trọng lắm. Thiết giáp chúng đang di chuyển vào vị trí, tôi đang trực xạ xin các nơi yểm trợ khẩn cấp đây.
– Tôi đã theo dõi và biết rõ tình hình rồi. Anh bình tĩnh chiến đấu. Tôi và ông hai mai bạc lo cho anh hết mình.
– Trình với thẩm quyến, có “lima” (1) gì mới cho tôi không?
[(1) Lima: tiếng ngụy hóa giữa tôi và Thiếu Tá Tự, ý tôi muốn hỏi có lệnh gì mới cho chúng tôi không].
Thiếu Tá Tự không đáp thẳng vào câu hỏi này mà chỉ trả lời “đang lo”… “đang lo”…, thế thôi, mặc dầu tôi hỏi đi hỏi lại hai ba lần nữa nhưng vẫn không biết gì hơn.
– Anh cứ yên trí đi. Thượng cấp đã có kế hoạch cho các anh rồi. Cứ yên trí đi… mai sẽ có Cọp Biển (2) đạp chân xuống hướng Đông của anh đấy! … Yên trí đi! …
[(2) Cọp Biển: Thủy Quân Lục Chiến]
Trước tình hình nghiêm trọng, trong thâm tâm, tôi chỉ muốn được biết có lệnh rút hay không — vì Căn cứ Hỏa Lực 30 giờ đây biến thành một tiền đồn không hơn không kém. Nguy hiểm ở chỗ không còn quân bạn hoạt động ở phía Bắc và Tây-Bắc, Cộng quân dễ dàng di chuyển đến tấn công. Trong căn cứ, ngoài đại bác 155 ly và M72, không có loại vũ khí hoặc mìn bẫy nào có thể chống chiến xa hữu hiệu hơn. Cùng lúc chiến xa địch cứ rọi đèn pha di chuyển, bất chấp những phản ứng của lực lượng ta đang hờm sẵn.
Không biết lúc bấy giờ ở Khe Sanh có ai tin được thực trạng tình hình Căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi căng thẳng đến thế không!?!… (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30 (Tiếp theo)
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 12-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Trương Duy Hy
Trần Vũ post
December 1st, 2020
Post by Sơn râu 21 Sep 2024
PHÚT CHÓT CỦA CĂN CỨ HỎA LỰC 31
Khoảng 16g00 đợt tấn công thứ nhì tái phát mạnh hơn trước, hàng chục chiến xa địch nối tiếp nhau bao vây căn cứ Hỏa Lực 31 mang cả biển người theo sau và hai bên hông xe.
Ngồi tại Đài Tác Xạ, tôi chú tâm theo dõi từng giây phút với sự hồi hộp cực độ. Những tràng AK, những tiếng nổ chát chúa của M79 cùng lựu đạn hòa lẫn, vang dội trong ống nói mỗi lần Bạch Phú và Huyền Phú liên lạc với nhau. Không khí tại Đài Tác Xạ chúng tôi thật là nặng nề khó thở!
Súng nổ vài phút, Đại Úy Đương báo cáo khẩn cấp:
– Bạch Phú!… Bạch Phú!… đây Huyền Phú… Việt cộng tràn lên bãi trực thăng đông quá! 5 con gà của tôi bị hỏng hoàn toàn! Còn 1 con thôi! Tôi ra trực xạ đây!
Không ngờ, đó là lời nói cuối cùng của Đại Úy Nguyễn-Văn-Đương người bạn Tiền Sát Viên khả ái của tôi — và cũng là người hùng của căn cứ Hỏa Lực 31 — mà từ nay không bao giờ, sẽ không bao giờ tôi được hân hạnh bắt tay anh nữa!
Từ căn cứ Hỏa Lực 30, dùng ống nhòm nhìn về căn cứ Hỏa Lực 31, tôi thấy rõ những cột lửa, khói bốc cao, hậu quả của cuộc chiến đấu đẫm máu, quyết liệt làm cho lòng tôi se lại, âu lo!…
Chắc chắn bây giờ các bạn tôi đang bối rối trong chiến đấu đơn độc một mất một còn với Cộng quân.
Đến 16g15 tôi bắt được tiếng nói cuối cùng, nghẹn ngào và ngắt quãng của Đại Úy Hà-Minh-Phương, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù:
– Thành thật cho chúng tôi cám ơn các bạn… đã tác xạ… hết mình cho chúng tôi… Nhưng bây giờ… không còn cách nào… cứu vãn được nữa… Vĩnh biệt các bạn!… Vĩnh biệt các bạn!…
Bỗng dưng một cái gì ớn lạnh chạy dài xuống dọc tủy sống, xông lên ót tôi, hai bên thái dương ê như kim châm, chẳng khác một tia điện thoáng nhanh trong phút chốc lan khắp cơ thể tôi. Tôi sững sờ buông tiếng:
– Trời ơi!… thôi hết rồi!… Hết rồi căn cứ 31!…
Không khí im lặng vô cùng nặng nề, phút chốc tràn ngập nhanh đè nặng tâm tư của mọi nhân viên hiện diện tại Đài Tác Xạ. Không ai bảo ai, mỗi người đều đồng một thái độ: kéo dài phút im lặng… hồi tưởng lại những tiếng nói quen thuộc xin tác xạ của Bạch Phú trước đây… Hầu như tâm tư mỗi người đang theo đuổi một suy tư riêng trước tình hình đen tối của căn cứ Hỏa Lực 31!
Một lần nữa, tôi như người mất hồn, như sống trong mộng!… thực hay mơ đây! Căn cứ Hỏa Lực 31 với toàn Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù và BCH/TĐ 3 PB Dù lại có thể bị địch tràn ngập ư?
…Mặt trời hôm nay lặn chậm thế? Màn đêm ngập ngừng buông xuống đó đây… nặng trĩu… nặng trĩu… chẳng khác nỗi ưu tư đang đè lên tâm hồn tôi!…
Bên ngoài, địch pháo kích đều đều!
Bữa cơm tối, mãi đến 21g00 tôi vẫn không buồn nhìn! Miệng tôi trở nên đắng khó chịu. Ngồi trong hầm các sĩ quan mỗi người theo đuổi một ý tưởng riêng… Tiếng rên rỉ xin nước uống của Thiện ở hầm bên cạnh vọng lại làm cho lòng tôi thêm se thắt.
– Đại Bàng ơi! Đại Bàng… có thương thằng em thì cho thằng em một hớp nước! Khát quá! Khát quá… Trời ơi!… Ôi! nhức quá trời ơi!…
Tiếng « trời ơi » thống thiết của Thiện cứ nối nhau thoát ra miệng hầm dội vào tai tôi! Tôi không dám ra mặt, tôi không đủ can đảm bước sang hầm Thiện nữa! Bác sĩ bắt buộc tôi phải cấm ngặt không cho Thiện và các pháo thủ bị thương uống nước, ông dặn đi dặn lại khi chiều:
– Đại Úy phải cấm, đừng cho anh em bị thương uống nước, nhất là Thiện, Trợ, Đề. Hễ Đại Úy cho uống nước thì không cách gì cầm máu được mà máu ra nhiều thì chết đấy!
Nơi Thiện nằm lại sát với Đài Tác Xạ. Những lời bàn tán về tình hình căn cứ Hỏa Lực 31 của các nhân viên tác xạ hẳn đã lọt vào tai Thiện, điều mà tôi lo ngại nhất! Vì e rằng Thiện sợ hãi sẽ nguy hiểm đến tính mạng, bởi vết thương khá nặng đang hành hạ nó!
Tôi ra lệnh cho HS Cang, y tá Pháo đội túc trực bên ghế bố Thiện đang nằm để săn sóc. Trong hầm không có một tí ánh sáng, chỉ có tiếng rên rỉ của Thiện nổi bật trong đêm tối!
Cầm lòng chẳng được, tôi gọi Cang đi lấy cho Thiện một cốc nước. Cang «dạ» thật to, nhưng lại bước vội qua hầm tôi, kề tai tôi nói nhỏ:
– Thưa Đại Úy, chứ Đại Úy không nhớ lời dặn của Bác Sĩ Quân Y khi chiều sao? Hễ cho Thiếu Úy uống nhiều nước thì máu ra không cầm nổi đâu!… Tôi lo quá! Thiếu Úy ổng nằm sắp máu bên hông cứ trồi lên chảy thấm cả ghế bố!…
– Tôi hiểu! Nhưng nó rên quá, tôi xót ruột lắm! Thôi anh đem một miếng bông qua đây nhúng vào ly nước của tôi, đưa cho Thiện nó ngậm đỡ!
Lân ngồi trước tôi với vẻ mặt buồn bã, lo âu không thốt một lời!… Bình thường Lân ít nói, lúc bấy giờ Lân lại ít nói hơn nữa. Có lẽ Lân sống bằng nội tâm nhiều hơn tôi. Giữa hai đứa tôi thật có khác nhau, khá xa về lối giao tế. Lân điềm đạm hay cân nhắc từng ý kiến khi trình bày bất cứ một vấn đề gì. Tôi thì trái lại, mọi việc tôi giải quyết bô bô. Tính tôi thường bộc lộ như chính tôi muốn moi cả tim ruột cho mọi người thấy lòng chân thật của mình — dù điều ấy có là tốt hay xấu! Giận ai tôi không bao giờ để bụng, thương ai tôi cũng không biểu lộ tình thương bằng lời nói hoặc cụ thể bằng hành động cử chỉ.
Tôi bảo Lân:
– Khổ quá! Bây giờ tính làm sao đây? Khi chiều tôi đã xin và được Đại Úy Hạnh can thiệp ngay với Bộ Tư Lệnh Dù cấp trực thăng tải thương, để đưa mấy anh em bị thương về Quân Y Viện cho nhẹ gánh. Nhưng chưa có kết quả nào! Rủi đêm nay bọn chúng tấn công vào đây và trường hợp bắt buộc phải rút bằng đường bộ thì làm sao cứu Thiện với các binh sĩ của mình?
Im lặng một chút, Lân tiếp:
– Vạn nhất có trường hợp không may như thế xảy đến, lúc đó phải cõng đi chứ biết làm sao! Đại Úy cứ bình tĩnh để anh em khỏi xao động. Tôi sẽ họp các Khẩu Trưởng rồi phân công cho từng Khẩu lo.
Nhìn qua Ngân, anh ta ngồi im không góp ý.
Cang cho Thiện ngậm miếng bông tẩm nước xong, bước trở lại hầm tôi, kề tai tôi nói nhỏ:
– Thưa Đại Úy, Thiếu Úy Thiện dỗ tôi tìm đưa cho ổng khẩu Colt… Tôi sợ ổng muốn tự sát quá!
Cùng lúc đó, có lẽ Thiện không hy vọng gì Cang nghe lời đi tìm súng, nên Thiện hét lớn với giọng Huế giận dữ, uất ức:
– Nhức quá!… Trời ơi!… Nhức quá!… Đại Bàng có thương tôi thì bắn cho tôi một phát… một phát thôi!… Ôi! Nhức quá trời ơi!… Tôi chịu không nổi nữa Đại Bàng ơi!…
Hơn bao giờ hết, ruột tôi như ai đem chặt ra từng khúc. Tôi đau xót như chính Thiện đau xót. Tôi khóc! Lần đầu tiên chỉ huy tại trận chiến, tôi đã khóc vì Thiện! Một sĩ quan đa năng, bất chấp mọi khó khăn vất vả, góp phần đắc lực trong việc tổ chức Pháo Đội, là đứa em tôi thương mến đặc biệt, là một sĩ quan cộng sự trung thành của tôi trong 6 tháng qua, giờ đây lại khẩn cầu tôi ban ân huệ: Một phát súng!
Lời nói ấy tạo cho tôi một ý niệm quá rõ rệt về cảm giác đau đớn tột độ của Thiện cơ hồ xác thịt không còn chịu đựng nổi!
Lân khuyên tôi:
– Đại Úy đừng khóc, vẫn biết Đại Úy thương Thiện đấy, nhưng còn bao nhiêu binh sĩ nữa! Đại Úy cần giữ bình tĩnh để chỉ huy anh em, nhất là trong lúc này.
Nghe lời Lân, nhưng tiếng rên rỉ của Thiện tôi không thể xua đuổi ra ngoài tai tôi! Tôi khổ sở hơn bao giờ hết!
Cùng lúc, máy PRC-25 có tiếng gọi của Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Tự, Tiểu Đoàn Trưởng của tôi, tôi mừng như bắt được vàng. Tôi cố gắng liên lạc qua giọng nói nghẹn ngào:
– Tôi xin Phượng Hoàng, với bất cứ giá nào, phải can thiệp cho được một phi vụ tải thương để đưa các anh em bị thương về cứu chữa. Phần tôi, tôi chấp nhận mọi nguy hiểm dù có hy sinh, tôi không tiếc. Nhưng tôi không thể nghe tiếng rên xiết đau đớn của Thiếu Úy Thiện. Tội nó quá, Phượng Hoàng cố gắng lo cho nó gấp đi.
Giọng khàn khàn ở đầu máy bên kia, kết quả của những đêm Thiếu Tá Tự không ngủ vì lo lắng và la hét đôn đốc nhân viên thực hiện công tác tiếp tế kịp thời cho Pháo Đội tôi cùng Pháo Đội Đại Úy Vẹn.
– Anh yên trí! Tôi biết tình cảnh của anh rõ lắm. Tôi đang lo đây, sáng mai, thế nào cũng có phi vụ tải thương lên cho anh…
Một cuộc họp khẩn cấp Thường Vụ và Khẩu Trưởng được triệu tập tại hầm tôi. Tôi thuật qua tình hình trầm trọng đã xảy ra cho căn cứ Hỏa Lực 31, xong, tôi chỉ thị kế hoạch đối phó khi địch tấn công vị trí, phân công trực xạ cho các Khẩu, mỗi Khẩu phụ trách khiêng hoặc dìu một thương binh, nhân viên truyền tin, tác xạ cũng thế.
Trung Sĩ Thìn báo cáo:
– Khẩu tôi mất Hạ sĩ I Đới! Không biết ảnh đi đâu từ trưa tới giờ không thấy về ăn cơm!
Thế rồi người bàn ý này, kẻ góp ý nọ, nghi ngờ anh ta bu theo trục thăng trở về Khe Sanh trước bữa cơm trưa. Nhưng sự thật, không ai biết anh ta ở đâu cả!
Tôi bảo HSI Bách khẩn liên lạc với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, nhờ xác nhận có HSI Đới ở đấy không. Lát sau, được nhân viên Tiểu Đoàn 44 PB trả lời: Suốt ngày hôm nay không có một binh sĩ nào của Pháo Đội C chúng tôi về Khe Sanh!
Tôi đâm nghi ngờ và nghĩ đến những chuyện rủi ro có thể xảy ra cho HSI Đới trong những đợt pháo kích khủng khiếp vào vị trí từ sau 12g00 trưa đến chạng vạng tối. Nhưng tôi không dám bày tỏ ý nghĩ ấy cho anh em biết — chẳng qua đó chỉ là một nghi vấn.
Sau đấy, mọi người rời khỏi hầm. Trong hầm chỉ còn tôi, Lân và Ngân. Tôi cho nhân viên đi mời Trung Úy Kim (D.L.O của BĐQ).
…Gặp tôi, Kim vội hỏi:
– Thầy gọi tôi có việc gì cần không?
– Không có gì cần cả. Tại sao khi trưa em không theo Tiểu Đoàn 21 BĐQ về cho rảnh. Bây giờ BĐQ rút hết, em còn nhiệm vụ gì nữa mà ở lại đây cho nguy hiểm?
– Tôi chưa được lệnh gì cả. Tôi có hỏi Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn tôi, nhưng chưa có lệnh lạc gì mới. Thiếu Tá Hàng bảo tôi cứ chờ!… chờ!… thành ra tôi không dám về.
Kim tiếp:
– Thôi thì ở lại với thầy cho vui vậy.
– Trong lúc đợi lệnh mới, em qua đây ngủ với tôi cho bảo đảm.
– Hầm tôi đằng kia cũng chắc chắn lắm. Mấy tấm PSP của thầy cho, tôi cho gác lên trên và sắp bao cát dày lắm. Ở đó, tôi còn có hai thằng “tà lọt” nữa.
– Nhưng qua đây cho tiện, dầu sao với hai máy PRC-25, mình có thể liên lạc và nghe ngóng tình hình được nhiều nơi, thuận lợi hơn.
Nghe tôi nói có lý, Kim về gọi “tà lọt” mang các sắc và máy qua tá túc với tôi. Kim ngã lưng chung với Lân — vì là bạn đồng khóa của Lân — còn Ngân thì trải bản đồ, nằm ngay dưới đất.
Khoảng 22g00, Kim ra khỏi hầm nhìn vớ vẩn, bỗng thấy một đoàn Molotova địch pha đèn di chuyển, cách căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi non 4 cây số ở hướng Bắc-Tây Bắc. Kim gọi bọn tôi ra xem.
Trên “xa lộ” Hồ Chí Minh từng chiếc vượt qua một cái eo thẳng hướng vào căn cứ chúng tôi để lộ đôi đèn pha chọc thủng màn đêm — Đó là những đoàn xe vận tải nặng, di chuyển tiếp liệu phẩm chiến tranh của Cộng quân. Đoàn xe khá dài. Bọn chúng tôi có thể đếm được từng chiếc…
Tôi gọi máy xin Trung Tá Thạch và được chấp thuận cho chúng tôi tác xạ vào đấy. Đồng thời tôi cũng gọi điện thoại báo cho Trung Úy Nguyễn-Bá-Trí ra quan sát.
Lúc bấy giờ, cả Trí và tôi nhận sự chỉ huy của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh Dù. Pháo Đội tôi cải danh hiệu là 93.
Khẩu 3 và khẩu 4 thi hành tác xạ ngay. Khi đạn nổ, tại mục tiêu những ánh đèn pha tắt rụi… nhưng sau đó, ánh sáng lại vẫn tiếp tục soi đường di chuyển.
Ban ngày địch pháo kích khủng khiếp bao nhiêu thì ban đêm, trái lại, yên tĩnh bấy nhiêu. Địch sợ lộ mục tiêu chăng? Hay đang thi hành kế hoạch tiến quân bám sát vòng đai phòng thủ căn cứ? Thật khó hiểu!
Trở lại hầm, chúng tôi ngồi bàn luận đủ chuyện. Ngân táy máy rà tần số làm việc của Bạch Phú, bỗng nghe tiếng nói rất khẽ của Trung Tá Bùi-Văn-Châu Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù từ căn cứ Hỏa Lực 31 gọi cho Tiền Sát Viên của các Đại Đội Tiền Đồn kế cận (những Đại Đội này chưa bị địch tràn ngập):
– Tôi đang bịt kẹt… trong góc… hầm chỉ huy… làm thế nào… cứu tôi với… Việt cộng trên đầu tôi nhiều lắm…
Giọng nói thật nhỏ như hơi gió! Có lẽ Trung Tá Châu rõ hơn ai hết những nguy hiểm của một tiếng động do Trung Tá tạo ra sẽ tai hại cho sinh mệnh Trung Tá tức khắc.
Lúc sẩm tối, tôi được Trí báo cho tôi về việc sống sót hi hữu của Trung Tá Châu… nhưng liên tiếp tôi phải giải quyết nhiều vấn đề của Pháo Đội nên không thể theo dõi được.
Bây giờ, chính tai tôi và các Sĩ quan có mặt tại hầm nghe lời kêu cứu của Trung Tá, bỗng dưng chúng tôi im lặng nhìn nhau ngơ ngác, lại sợ cả tiếng động phá tan lời kêu cứu của Trung Tá! Cuộc đối thoại của Tiền Sát Viên, của các thẩm quyền thuộc các Đại Đội tiền đồn và Trung Tá Châu cho chúng tôi nhiều tưởng tượng về khung cảnh nguy hiểm mà Trung Tá đang sống.
Khoảng giữa khuya, có tiếng liên lạc… có lẽ từ phi cơ gọi xuống, đại khái, trên phi cơ ban hành một lệnh khẩn cấp…!
– Lệnh của Bạch Long (1)… Đại Đội… phải tìm cách đột kích vào cứu Trung Tá Châu ngay trong đêm nay…
[(1) Bạch Long: Danh hiệu của Trung Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn Dù, xử dụng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719]
Bạch Long là danh hiệu của Trung Tướng Dư-Quốc-Đống, người anh cả khả kính của Binh Chủng Dù đã luôn luôn theo sát bước chân của đàn em trong những giờ phút quyết liệt tại trận chiến với những lo âu chân thật của một vị tướng giàu tình thương binh sĩ thuộc hạ. Sau lệnh ấy, Đại Đội Tiền đồn liên lạc thường xuyên với Trung Tá Châu, đồng thời tìm cách tiến dần về căn cứ Hỏa Lực 31… Đến 2g00 ngày 26-2-1971, tiếng nói của Trung Tá Châu tắt hẳn! Tôi nghe rõ câu hỏi qua giọng nói nghẹn ngào đứt quãng của Đại Đội này:
– Đích thân!… Đích thân!… Đích thân còn ở đầu máy không?… Nếu còn xin Đích thân thổi vào máy một hơi! Hãy thổi vào máy một hơi để chúng tôi biết chừng!… Chúng tôi đang cố vào với Đích thân đây.
Im lặng một chút, vẫn không có tiếng trả lời, dù chỉ là một hơi thổi vào ống nói! – Đích thân!… Đích thân!… (giọng nói run rẩy ở đầu máy)… chết tôi mất!… Làm sao thi hành lệnh của Bạch Long… làm sao báo cáo cho Bạch Long đây!… (giọng run rẩy đến lúc này đã trở thành tiếng thổn thức)… Đích thân!… Đích thân!… nếu chưa lọt vào tay địch, xin đích thân ráng thổi vào ống nói cho chúng tôi một hơi! Trời ơi!… chết tôi mất!… Tình đồng đội từ một vị tướng lãnh cho đến một binh nhì của binh chủng thể hiện tha thiết trong mưu đồ giải cứu Trung Tá Châu hơn bất cứ lúc nào!Tất cả chúng tôi lặng người! Trân tráo nhìn nhau thở dài, thương xót cho số phận mong manh của Trung Tá Châu!
Trung Tá Châu đã đền nợ nước hay bị địch quân khám phá, bắt được tại góc hầm chỉ huy đưa đi làm tù binh? Tôi chắc chắn không ai dám quả quyết, nếu không phải cùng cảnh ngộ với Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù.…Lác đác, tiếng súng AK quanh căn cứ Hỏa Lực 30 bắt đầu khuấy rối vòng đai phòng thủ. Một trận mưa B52 cách vị trí chúng tôi khoảng hơn 1 cây số ở hướng Bắc, trải dài từ Đông sang Tây, làm thành một bức màn lửa, nối tiếp với những tràng tiếng nổ kinh khủng, chớp nhanh, sáng rực cả một vùng. Tiếng động làm lay chuyển tất cả hầm hố tại vị trí…Phi cơ soi sáng tiếp tục thi hành nhiệm vụ trên không phận chúng tôi mãi đến 6g30 sáng.
7g00 ngày 26-2-1971, anh em Dù đi kiểm soát lại hệ thống mìn ven bãi trực thăng, bỗng phát giác thi hài của HSI Đới nhờ cái huy hiệu mang ở cánh tay trái.TSI Bình cùng một số nhân viên ra lượm chân và gói xác Đới vào một cái poncho. Đới chết vì địch pháo kích trong lúc anh đang đi tiêu. Đạn rơi ngay vào chỗ ngồi của anh, phía dưới hầm đạn chính của Pháo Đội. Anh bị đứt lìa cả nửa người. Có lẽ anh đã chết ngay sau tiếng nổ.Tổng kết lại, đến bây giờ tôi đã thiệt một binh sĩ và bị thương 7, hoàn toàn vì đạn pháo kích của địch.
Suốt buổi sáng, nhân viên các Khẩu lẩn quẩn trong hầm hoặc cộng sự — vì bây giờ địch pháo kích đủ loại kể cả súng bắn thẳng. Đến 10g00 trực thăng tải thương sà thấp để đáp xuống bãi… cùng lúc, đạn pháo kích rơi ngay bãi đáp! Bắt buộc trực thăng phải bốc lên, không kịp nhận thương binh nữa.Gần 1 giờ sau, bãi đáp số 2 được thiết lập khẩn cấp ở phía Nam, ngay bên ngoài vòng rào phòng thủ vị trí Pháo Đội, khuất sau một đám cây dày và thấp ở hướng Đông. Nhờ vậy, chúng tôi chuyển được tất cả anh em bị thương về hậu cứ — kể cả xác của HSI Đới. Khổ sở nhất là việc tải thương cho Thiện! Mảnh đạn lớn ăn sâu vào hai mông, chân, làm Thiện không thể nằm ngửa được để khiêng bằng băng ca. Cửa hầm ngủ lại quá hẹp, bên ngoài địch pháo không dứt…Cuối cùng, TS Đức tình nguyện cõng Thiện chạy xuống bãi đáp mới.
Lúc trở về, mặt Đức tái xanh vì mệt ngất, mồ hôi nhể nhại khắp cả đầu, cổ, mình mẩy. Nhìn Đức, tôi cảm động quá, tôi ôm đầu nó vào ngực vừa mừng, vừa tủi. Đức tuy nhỏ người, trẻ, nhưng can đảm và dạn dĩ như kẻ đã từng trải chiến trận.Bình thường, lúc Pháo Đội còn đồn trú tại Quảng Nam, Đức có tiếng là lười và hay “dù” đi chơi lắm. Thế nhưng, từ lúc qua Lào, có lẽ bí đường “du hí” hắn ta lại hăng say làm việc hơn bất cứ một Hạ sĩ quan tác xạ nào, lại nêu cao tình đồng đội trong việc giúp đỡ bạn bè làm công tác, không nề hà vất vả.
Hoàn tất việc tải thương, tôi thở phào nhẹ nhõm vì đỡ được một nỗi lo. Giờ đây, tất cả chúng tôi rảnh tay để đối phó với tình hình mới.
Khoảng 12g00, một quả đạn pháo kích rơi vào bên trong miệng hầm khẩu 2. Tất cả pháo thủ nhào ra bằng một ngách nhỏ, nhảy vội sang hầm khẩu 4. Hai nhân viên chạy sau cùng bị cháy áo giáp, vừa lủi vừa cởi bỏ, nhưng may mắn chưa bị thương.
Cứ thế, các pháo thủ xử dụng hầm này đến hầm khác, nếu hầm trước bị sụp hoặc bị cháy.
Bên vị trí Pháo Đội C3 Dù, càng lúc đạn pháo kích địch rơi càng chính xác vào các ụ súng. Sự thiệt hại về sinh mạng lúc bấy giờ chưa đáng kể, nhưng các hầm làm bằng dư liệu tác xạ như thùng gỗ, ống giấy… đã bắt đầu tác hại vì dễ bắt lửa.
Về chiều, mực độ pháo kích gia tăng, chúng vẫn xử dụng súng cối 82 ly, các loại đại bác 57 ly và 75 ly bắn thẳng vào vị trí. Các vị trí súng cối bộ binh của chúng mỗi lúc một di chuyển đến gần căn cứ hơn.
Tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Dù, Đại Úy Trần-Công-Hạnh khẩn đánh công điện xin các phi vụ B52 giải tỏa áp lực.
Trong những lúc ngớt pháo kích, khoảng vài ba phút, pháo đội lại ra sức tác xạ yểm trợ cho các cánh quân tái chiếm căn cứ Hỏa Lực 31. Tuy nhiên, công tác yểm trợ này gặp quá khó khăn nên Pháo Đội dẫu cố gắng tối đa vẫn không thể thi hành liên tục. Vì, sau vài quả đạn bắn đi, địch nghe tiếng “départ” của Pháo Đội, lại tiếp tục pháo kích, bắt buộc nhân viên phân tán vào hầm nấp.
Dây dưa như vậy cho đến tối chúng mới ngưng pháo kích. Phi cơ soi sáng trở lại với căn cứ chúng tôi từ 19g30 liên tục thả hỏa châu, soi sáng chiến trường. (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 11-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Là đại úy Nguyễn Văn Đương mà Nhật Trường viết trong phim kịch Trên Đỉnh Mùa Đông, các ca khúc Anh Không Chết Đâu Em, Người Chết Trở Về.
Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Bữa trưa nào xuống trạm ô-tô-buýt ở xóm Máy Đá, tôi 1 cũng thấy anh Hùng đứng sẵn bên bờ cỏ mà đợi tôi. Trời nắng chang chang, vậy mà hễ thấy dạng tôi, là mặt anh sung sướng và tươi như nhìn thấy trăng lên. Nếu tôi không kể rõ những điều sau đây, thì khó hiểu sự si mê tôi của anh Hùng lắm. Chúng tôi cùng học trường thuốc, và thường ngày vào xóm Máy Đá là nơi có viện cơ thể học, để mổ thây ma, những xác người vô chủ. Tôi học năm thứ nhì, còn Hùng thì mới qua khỏi năm chuẩn bị và kể như là đi vào học năm đầu. Trong kỳ đệ nhất tam cá nguyệt của năm đầu ấy, sinh viên, tuy chưa được mổ xẻ gì cả, nhưng được đưa vào buồng xác để xem mấy anh lớn làm nghề “đồ tể”, xin lỗi, danh từ nầy tôi dịch ngay ở một tiểu thuyết Pháp ra. Đây là giai đoạn thử thách sinh viên. Đoàn cá mới, sẽ vượt Vũ Môn được hay không là do ở đây. Nhiều anh mới qua khỏi cửa buồng, nhìn thấy xác một bà cụ móm xọm, bỗng đâm hoảng, nhảy nai, chạy mất và không bao giờ dám trở lại nữa. Có anh lấy giấy bọc tay lại, trước khi rờ thây ma, anh khác lại nôn ọe ầm lên khi bụng một xác người mở bung ra dưới một nhát dao mổ, và một thứ nước xanh xanh, vàng vàng từ trong đó chảy linh láng ra, trên bàn đá trắng. Hùng thuộc vào hạng chỉ dám đứng lấp ló nơi cửa cho đến giờ về. Tôi là bạn cũ của anh, nên hôm đó trông thấy mặt anh tái lét đứng dòm vô, tôi chạy ra kéo xển anh ta vào. Mấy anh lớn ác lắm. Muốn tập cho em út dạn thây ma, họ có những lối đùa nghịch đáng giận. Năm ngoái, chúng tôi cũng sợ sệt như vậy, lúc mới vào. Họ lấy kẹo cho chúng tôi ăn, lấy thuốc cho chúng tôi hút, cho khỏi buồn nôn. Chúng tôi vô tình, mắt nhìn họ làm việc, tay mở kẹo đút vào miệng, thì trời ơi đứa nào cũng mút phải một lóng tay người lạnh ngắt, mà mấy ảnh đã gói lại bằng giấy bóng nhiều màu. Được cái là bị một vố như thế, là hết sợ ngay, hết nhờm ngay. Năm nay, chúng tôi tới phiên làm anh hai (tức là người anh học năm thứ hai), nên cũng tái bản những trò đùa nghịch ấy. Hùng giận họ lắm, chỉ mến một mình tôi thôi, vì tôi không nỡ làm anh hoảng. Trong tiểu thuyết “Những Người áo Trắng” của Pháp, thấy nói sinh viên trường thuốc ở Ba Lê đánh giặc với nhau bằng quả tim, buồng phổi, bàn tay, trái tai của thây ma. Sinh viên Việt Nam tôi đứng đắn hơn, trọng xác chết hơn, nhưng không khỏi đùa chút ít, bỏ vào túi quần mấy anh mới vào một bàn tay cùi ngón, để cho họ nhảy lăng ba xem chơi. Hùng chỉ quanh quẩn theo tôi để được che chở, và chỉ yên lòng, khi vào viện một lượt với tôi, mặc dầu không phải vào đó là mổ liền. Còn phải nghe giảng nữa chớ. Nhưng biết đâu, những anh rắn mắt lại không đón anh ta ngay ngoài sân để dí vào mũi anh một cái đầu lâu? Cái anh chàng tên Hùng ấy, xem tướng thì cũng hùng dũng lắm đó, nhưng lại sợ ma số dách, và sợ vi trùng còn hơn nữa. Anh thú thật với tôi, đêm nào anh cũng chiêm bao thấy toàn đầu lâu và những xác người thiếu tay chân nhảy múa quanh anh. Anh không thể tin được rằng, chất fót-môn dùng ướp xác có đủ khả năng sát hết vi trùng trên các xác trong viện cơ thể học. Anh phải dùng mu-soa riêng để cầm lấy những khúc xương đã mòn lẳn trong tay sinh viên từ năm này qua năm khác. Khăn ấy, sau buổi học, được bỏ vào một chiếc túi có quai xách, và về nhà là anh nấu tất cả các thứ ấy. Để cắt nghĩa có một việc đón bạn, mà tôi kể lể dài dòng thế là vì…, thôi, rồi các bạn sẽ hiểu.
Tôi lại phải nói vòng vo tam quốc về vụ này nữa. Hùng và tôi là bạn đồng lớp hồi Trung Học. Bây giờ anh thua tôi một năm, vì anh đã rớt Tú Tài toàn phần một niên khóa. Anh rớt vì anh bận yêu. Anh đã yêu một cô gái con nhà giàu, con của một nhà doanh nghiệp ở Sài gòn. Anh thi rớt xong, là cô gái bị gả cho con một ông nhà giàu khác. Ấy, cha mẹ cô không hay cuộc tình duyên thầm lén của cô, chớ không phải phụ chú rể hỏng thi đâu. Mà cô nọ cũng tệ, ngoan ngoãn đi lấy chồng như không có chuyện gì xảy ra cả. Hùng tức lắm, nhưng không làm gì được cô ta, anh trả thù bằng cách cho tôi biết, cô ấy, trên lưng có ba nốt ruồi, mà anh hay nói đùa với cô rằng đó là “ba sao giờ giời”. Tiếng “giời”, Hùng nói theo giọng Bắc, cho có vẻ Kiều. Hình như cuộc phát giác bí mật thầm kín của cô gái ấy, hơn một người được nghe. Tôi phải mắng Hùng, anh ta mới chịu nín. Nhưng sau đó, không rõ vì một lẽ bí mật gì, mà Hùng đau tương tư thật sự. Anh không thích nghề Y, nhưng vào đó học, cốt để quên. Sinh viên trường thuốc khổ nhọc hơn ai cả, có ngày vừa học, vừa hành đến mười tiếng đồng hồ, đó là nói sinh viên thường thôi. Nói gì đến bọn nội trú, ngoại trú thì họ làm việc đến cháy nhà bên cạnh cũng không hay. Làm việc như thế, còn trí óc đâu nữa để sầu tình. Hùng quả đã khôn ngoan lắm. Hôm ấy, hai đứa tôi cầm tay nhau vào viện cơ thể học. Tôi nói: – Lão giảng viên cao giò bên anh hôm nay có việc nên nghỉ giảng. Chắc các anh qua bên buồng xác ngay. Nghe nói thế, Hùng muốn trở ra về, nhưng không được nữa: tôi đã nắm chặt tay anh. Hôm ấy, mười mấy chiếc bàn đá trắng đều có người choán. Đó là những kẻ chết đường, không người thừa nhận, nên được đưa vào để…”giúp sự hiểu biết cho nhơn loại”, tôi nói lớn lối theo kiểu anh Toàn, nhà đạo đức năm thứ nhì. Mười mấy cái xác bị chất fót-môn làm tím đen ra và khô đét lại. Họ nằm đó như hình gỗ, người thì mặt mày bình thản như ngủ, kẻ nhăn ra một cách xấu xí quá chừng. Anh Toàn bước vào một lượt với chúng tôi, rồi hét to: – Nhơn danh thuần phong mỹ tục, xin bà con lật úp mấy xác phụ nữ lại. Anh Tố cũng hét: – Nhơn danh thuần phong mỹ tục và thay mặt nữ sinh viên, xin bà con lật úp mấy xác đờn ông lại. Đó là họ đùa chơi cho đỡ buồn – nhìn thây ma mãi lại không buồn à? – chớ vào đó là không ai còn nghĩ gì quấy quá nữa cả. Trong khi các bạn khác xúm nhau mổ sọ, để học bộ óc, thì Toàn chạy lại bàn chúng tôi, lật sấp cái xác dành cho chúng tôi lại. Lật xong, anh nhìn Hùng mà rằng: – Anh phải làm được như vậy mới đủ bản lãnh của một sinh viên trường thuốc, bằng không, về nhà chích dạo cho xong. Hùng còn hôi mùi trường trung học, nên rất bất bình trước cử chỉ đó. Thấy vậy, Toàn làm tới, để trêu tức anh. Hắn đấm lên lưng cái xác và nói: – Cụ ạ, để cháu tẩm quất cho cụ nhé! Xác người phụ nữ ấy, cũng như các xác khác, không mang tuổi tác nào cả, không rõ được đó là xác người già hay người trẻ. Chất fót-môn biến gương mặt họ giống nhau về năm, tháng. Nhưng người nầy tóc quăn, thì chắc cũng ở vào thế hệ sau nầy, mà đờn bà bắt đầu phi-dê. Bỗng Hùng kêu rú lên một tiếng. Toàn day lại hỏi: – Đã hoảng rồi à? Lạ kỳ thay, anh chàng sợ ma và sợ vi trùng nầy, không lùi mà tiến lại gần thây ma, cúi nhìn xuống lưng người chết.
Tôi bỗng chợt hiểu, nên cũng bước sấn tới, nhìn xuống với anh. Tôi không thấy gì cả. Lớp da người chết đen sạm, khó phân biệt được những dấu vết ngày xưa kia có lẽ là rõ rệt. Hùng lấy ngón tay trỏ đè lên miếng da dưới xương bả vai, không phải chỉ để cho tôi thấy gì, mà như để chắc ý. Quả thế, bây giờ tôi thấy dạng ba nốt ruồi, đậm hơn màu da một chút xíu. Hùng lật ngửa xác chết, nhìn sát vào mặt nó. Không, đó là một cái mặt khô, móm và hóp, không thể nhận ra là ai được cả, dầu người đó là kẻ thân yêu. Anh Toàn không hiểu, ngước lên hét, vừa hét, vừa bỏ đi: – Bồ của tao đã giác ngộ rồi, tụi bây ơi! Sắp đắc đạo rồi đó! Hùng đứng đó rờ rẫm mặt người chết rất lâu, xỏ tay vào tóc rối của thây ma, như không bao giờ biết nhờm cả. Tôi nghĩ bụng: “Thôi, thế nầy, thì anh sinh viên trường Thuốc hóa thành thi sĩ mất. Làm sao khỏi ngậm ngùi khi bắt gặp xác người yêu trong một trường hợp như vậy”. Nhưng lạ lắm. Mặt Hùng không buồn, mà chỉ suy nghĩ triền miên, rồi anh bỏ đó, bước mau qua bàn khác, vác lên vai một cái đùi người, tìm Toàn mà hỏi: – Cái lị mô giò chó quảy hôn? Toàn cười ha hả và hét, ấy, anh ta không nói, chỉ hét thôi: – Hoan hô tinh thần tranh đấu bản thân sợ ma. Riêng tôi, tôi lại đâm lo: “À, nó không hóa thi sĩ, mà hành động như vậy, thì đích là hóa điên rồi. Nhảy đột ngột từ cái hoảng sợ qua cái lì, phải chăng là phát điên thình lình?” Bán giò chó quảy không ai mua, Hùng ra về. Tôi không ngăn nữa. Hùng “cúp cua” đến bốn hôm, mặc dầu có lịnh rất nghiêm là anh nào bỏ thực hành, sẽ bị phạt nặng. Chúa nhựt, tôi tìm anh ta. Thấy va bình tĩnh như thường, tôi an lòng, hỏi: – Quên rồi chớ ? – Không, anh lầm. Tôi có buồn đâu mà cho là tôi quên. Hay nói đúng ra, tôi chỉ buồn có một phút thôi. Tôi đã rờ rẫm cái xác cho thật nhờm ra, để mà ghê tởm, đặng quên. Nhưng rờ được nó, tôi hết ghê tởm nó nữa. Không ghê tởm được thì vẫn đau khổ, vẫn nhớ. Nhưng qua giây phút kia, tôi không còn đau khổ vì cái chết vất vả của người tôi yêu nữa, mà đau một niềm đau khác, anh à. Tôi đau cho cái nghĩa của đời con người, liền sau khi chết. Cái xác ấy, rồi sẽ biến thành trăm, ngàn mảnh dưới các lưỡi dao, không còn dấu vết gì trên đời nầy. Mà cả những xác được chôn cất rất rình rang cũng thế. Sao lại có sự rỗng không như vậy được? Phút trước đây, mạng anh quí biết bao nhiêu, mà phút sau nầy, xác anh lại là đồ bỏ. Ra cái quí chính là sự sống, chớ không phải thân thể nữa. Có đau hay không cho thân thể của con người! Đang tha thiết yêu đương, giận ghét, mừng vui rồi suỵt một cái, là u u, minh minh, là không có gì nữa. Tôi sẽ làm cho sự sống còn hoài, không những đánh bại bịnh tật, mà cả sự già mòn nữa. Lúc bấy giờ, nhìn Hùng, tôi thấy anh ngây thơ lạ. Hùng là hiện thân của tất cả phấn khởi của tuổi trẻ, cả quyết sẽ làm những việc tày trời và tin chắc sẽ làm được. Nhưng tôi không cười, cố lập nghiêm mà nói: – Đó là mộng của y sĩ muôn đời. – Mộng suông không được. Phải biến nó thành sự thật kìa. – Hay lắm. Chúc anh thành công trong việc phản lão hoàn đồng, việc trường sanh bất tử. Có một điều tôi không hiểu, là tại sao cô ấy lại chết đường? – Ấy, hai họ đều là tay chợ đen. Giàu lẹ mà sụp cũng lẹ. Có lẽ cả hai họ đều mạt lụn hết rồi, nên không còn ai tìm xác cô ta nữa. – Tại sao không xin xác về chôn? – Vô ích, tôi đã nói cái quí chính là sự sống kia mà. Hôm mới vào đây học, tôi công phẫn hết sức, về việc dùng xác người như các Y Khoa Đại Học trên thế giới đã làm. Nhưng… Hùng nhìn thẳng vào mắt tôi, hỏi: – Học Thuốc, anh có lý tưởng gì không? – Làm giảm bớt những đau đớn của loài người, chỉ có thế thôi. Còn những mộng to, tôi chưa có, vì ít lắm phải ba sao giữa giời mới gây nổi những mộng như vậy. Tôi nói giọng giễu cợt, nhưng Hùng không thèm đếm xỉa. Anh trề môi rất dài: – Xoàng, anh xoàng lắm! Hùng không nói nhiều nữa, để thuyết giáo như hồi nãy. Anh tỏ ra khinh bỉ tôi, một ông lang vườn tương lai. Tôi không giận, mà lại trái lại thương cái mộng tuổi trẻ kia, và ngậm ngùi nhớ lại bao nhiêu mộng khác của mình thuở nhỏ không bao giờ thực hành được. Tôi siết tay bạn: – Chúc anh thành công và yêu cầu anh giao mộng ấy lại cho các thế hệ sau, nếu chính anh không toại nguyện.
Truyện Ba Con Cáo đã được dịch ra Anh văn do nhà văn Lê Văn Hoàn ở San Francisco dịch để dự thi Truyện Ngắn Quốc Tế ở Manila và đã được giải nhất.
Mặc dầu là tay “bán trời không mời thiên lôi”, Sáu Sửu vẫn nghe rờn rợn khi nhìn ra ngoài. Thánh giá trắng đứng mơ hồ trong ánh sáng lờ mờ của nghĩa địa, sắp thành hàng ngũ đông đúc, nhánh ngang của thánh giá trông mường tượng như những cánh tay người giăng ra để đón bắt ai. Xa xa, một trụ vôi có dáng một người đàn bà đội khăn tang trắng, đứng nhìn đám mồ trước mặt bà ta. Gió đêm, cùng với dế, trùn, họp nhau mà than vãn bên hàng nghìn mồ hoang mả lạnh, và thỉnh thoảng, anh Sáu vẳng nghe như có tiếng người rên rỉ đâu đây. Từ một ngôi mả cũ đằng xa, một ánh lửa lóe lên, nhỏ bằng ngón tay, từ từ bay lên cao rồi đi bơ vơ qua các hàng thánh giá. Lửa ma trơi hay là đèn của một người đi soi ếch nào đó? Mưa dầm tháng tám rơi trên nước ao tù khiến anh Sáu có cảm giác rằng mình đang ngủ trên một chiếc thuyền, giữa dòng nước. Lạnh quá, lạnh ngoài da, mà lạnh cả đến trong lòng. Người sống, một khi xâm nhập vào địa hạt của người chết, mới nhận được rằng cuộc đời bên ngoài dầu đau khổ bao nhiêu cũng còn ấm chán.
Tại phố Phát Diệm, khúc phía trên này, họ Cầu Kho có một đất thánh mà từ vài năm nay nhà thờ không cho chôn trong đó nữa. Dân số nghĩa địa cứ mỗi ngày một tăng lên, mà không có một ai chết lần thứ nhì cả để cho số sanh và số tử bù trừ nhau hầu đất đai trống bớt chỗ. Ngoài thành phố, người ta đẻ con, nhưng người ta lại chôn ông, nhà cửa thành thử không chật thêm được. Ở đây mồ mả sanh ra rồi già cỗi dưới rêu xanh của sương gió, nhưng vẫn nằm lì đó đến muôn thu. Vì vậy nghĩa địa phải chịu nạn nhơn mãn. Nhà thờ không cho chôn xác thêm vào đó, rồi cũng chểnh mảng việc trông nom đất thánh nên người sống đang thiếu đất, bèn ùa đến mà lấn người chết. Nghĩa địa không có vách thành. Ban đầu vài người mạo hiểm cất nhà ngay trên ranh đất thánh. Thấy không ai nói gì, một số người khác lách qua khỏi mấy cái nhà vừa cất lên, để vô trong mà xây cất. Họ cất vây tứ phía ngôi đất thánh và vòng vây cứ càng ngày càng siết chặt lại, người chết không còn lối nào để thoát ra được nữa cả. Khi vòng vây siết đến lằn mức chót, nghĩa là những ngôi mộ ở bìa, thì cuộc xô lấn bắt đầu diễn ra một cách đau thương. Người sống cũng biết đau lòng khi phải dẫm lên những gò mả còn mới rành rành (nhiều mô. bia, thánh giá, đề năm chôn là 1951) nhưng họ, ác thay, lại cũng biết lạnh. Cho nên họ cứ cất nhà trên những nấm đất ấy, xin người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ núp mưa thì thôi. Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh nhau đến thế. Ông đã chết rồi, ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi không có lấy một vuông nhỏ để mà cắm cây cột gỗ; vậy ông thứ lỗi nhé! Rồi ngày sau tôi cũng hoàn lại đất như ông vậy mà; trần gian nầy chỉ là cõi tạm thôi, tranh nhau làm gì! Cuộc xâm lăng lặng lẽ để tranh sống với người chết, gây ra một tai hại lạ kỳ. Vùng đất ấy ngày xưa tuy cũng thấp mà vẫn khô ráo, nhờ con rạch Bần tháo nước ra sông Ông Lãnh. Nhưng từ khi đô thành cho đắp đại lộ Trần Hưng Đạo, cách đây mấy mươi năm, thì ngọn rạch Bần bị lấp, và nước mưa trên nầy bị bỏ tù lại đến chung thân khổ sai, vì khu ấy đất trũng mà! Đất thánh không phải ở giữa rún đất nên không đọng nước. Nhưng vòng vây tai hại kia lại biến thành con đê ngăn nước đất thánh đô? xuống chỗ trũng hơn. Thành thử phần nhiều ngôi mộ đã biến thành cù lao, có cù lao rời rạc, có mớ họp thành quần đảo, không còn làm sao ra đó được nữa. Nước tù mang một màu khó tả và một mùi cũng khôn tả. Đáy ao biến thành bùn non, đi thì lún đến ống quyển. Lau, sậy, đế tha hồ mà mọc như ở bưng miền xa. Giữa đất thánh còn sót lại một ngôi mộ cổ kiến trúc theo bên lương mà có lẽ nhà thờ không nỡ phá đi lúc lập ra đất thánh cho giáo dân nầy. Ngôi mộ ấy đồ sộ nhứt nghĩa địa, xây bằng vôi và ô đước, xanh đặc những rêu phủ. Lối kiến trúc rất rắc rối như một lâu đài, đầy rẫy ngăn nắp với nào là đường vào lối ra quanh co và hóc hiểm. Hôm ấy những người của vòng vây đều ngạc nhiên mà thấy một mái nhà lá dựng ngay trên ngôi mộ cổ ấy. Nhà dựng đâu từ sớm mai đến trưa là xong cả. Họ cứ tự hỏi, và hỏi nhau làm thế nào mà chủ nếp nhà ấy lội sình để ra ngoài đó được. Đi tay không đã không được rồi, mà làm sao hắn ta lại mang cả gỗ, tre và lá ra đó để cất nhà? Hỏi nhau không ai đáp được, mà cũng chẳng mong phỏng vấn thằng cha dị hợm kia, họ đành thôi. Thét rồi mắt họ quen đi, nếp nhà ăn vào chân trời quen thuộc của họ, họ nhận cho nó ơ? đó mà không bàn tới bàn lui gì nữa cả.
Sáu Sửu ngày trước có ở xóm Phát Diệm. Năm ấy có người treo cổ trong nhà mồ ở bìa đất thánh. Anh đã vào đó với nhiều kẻ hiếu kỳ khác để xem kẻ chết treo, nên được dịp biết rõ nghĩa địa. Hôm tháng rồi anh bị truy nã ráo riết nên cố tìm một chỗ ẩn nấp thật kín. Nhớ lại xóm cũ với cái nghĩa địa kia, anh về qua đó và rất hài lòng mà gặp hòn đảo nầy. Không một viên cảnh sát nào đủ can đảm lội sình nhứt là dầm chơn trong một thứ nước nhơn nhớt để ra ngoài đảo Lỗ Bình Sơn của anh. Nếu có cuộc bố ráp đại qui mô như hồi còn Tây thì bất quá họ cũng đứng ngoài mà nhìn vào, hú bậy vài tiếng như hú đò bên kia sông, rồi đò không qua thì thôi. Họ nghĩ sót một con cá cũng chưa chết ai, mà biết đâu cá đó lại không phải cá hiền, một tên ăn mày nào đó chớ gì.
Từ vòng vây ở ngoài, leo lét vài ngọn đèn dầu của những kẻ lấn đất người chết. Xa thật xa ngoài kia, ánh sáng đô thành làm nổi bật lên, đen thui, những ngôi nhà lầu, những ngọn cây cao. Các thứ nầy giống hệt những hình bằng giấy đen, người ta cắt rồi dán lên nền trời. Bỗng anh Sáu nghe rục rịch dưới sàn ván. Hôm cất nhà xong, anh lót ván lên mộ, vừa để làm nền nhà, vừa để làm giường ngủ. Dưới ván rầm ấy, lau sậy bị đè đầu xuống, và sẽ chết lần mòn vì thiếu ánh sáng. Anh Sáu quên, một thứ khác, cũng giống như lau sậy, mà biết cục cựa nữa kia. Vì thế đêm nay trời có trăng, anh ngồi ngó một ra đám rừng thánh giá trắng thì anh phải một phen hết hồn trước sự hiện ra của một chú chồn to bằng con chó ta. Chồn khua lau sậy sột soạt, rồi chui ra khỏi mộ, ngoái cổ lại dòm cái nhà mà đêm hôm qua đây chưa có. Suốt ngày hôm ấy nó nằm trong hang, không dám ló ra nên không biết ngoài này loài người làm gì mà lục đục mãi. Đôi mắt nó lóng lánh dưới ánh trăng, ngạc nhiên giây lát rồi bỏ đi. Nó đã quen với con người rồi nên không có vẻ gì sợ sệt cả. Nhưng anh Sáu lại sợ. Anh có đọc truyện Phong Thần nói chuyện mả Huỳnh Đế có một bầy hồ ly mà một con đã nổi danh trong lịch sử, là cái con đã biến thành nàng Tô Đắc Kỷ; đến nay thấy chồn trong mộ chui ra, anh liên tưởng ngay đến tích cũ rồi rợn người lên. Nhưng anh trấn tĩnh lại được. Trong dân chúng người ta tin chắc như đinh đóng cột rằng tóc người chết hóa thành con lươn, rồi con lươn hóa thành con chồn. Con chồn mà anh thấy, có lẽ chỉ là thối thân của tóc người nằm dưới nhà mồ, chớ không phải yêu quái gì đâu. Độ nửa tiếng đồng hồ sau, anh Sáu thấy chồn về, mõm ngậm một con vịt. – A ha, đồng đạo đây mà! Anh Sáu cười mà nói thầm như vậy rồi cảm tình ngày với con thú nầy. Cái đạo mà anh nói đó là đạo … chích; trước kia, trước khi lường gạt và cướp giựt, anh cũng đã đi ăn cắp gà như chú chồn nầy vậy. Ngày nay anh thôi ăn cắp, nhưng lại biến thành con cáo già chuyên môn gạt gẫm thiên hạ. – Mầy cáo thì tao đây cũng cáo, vậy thì là bồ rồi. Từ đó, hai con cáo chung đụng với nhau mà không xích mích bao giờ cả.
Nghe động dưới sàn, anh Sáu mỉm cười lẩm bẩm: – Đồng nghiệp xuất quân đó đa! Anh Sáu nhờ cậy con chồn nầy lắm. Có nó ở dưới ấy thì không còn lo rắn rít nữa. Anh mong có dịp trả ơn nó, nhưng nó có đói bao giờ đâu để anh ra tay hào phóng mua cho nó một con gà. Xóm lao động vây quanh nghĩa địa, người ta nuôi gà vịt cả bầy, nó ăn đến già cũng chưa hết. Bỗng anh Sáu nghe có tiếng chó sủa vang dậy lên. Tiếng sủa to lắm và oai vệ lắm, có lẽ đó là tiếng chó bẹc-giê. Rồi lại nghe nước khua lũm chũm, với tiếng chó càng lúc càng đến gần anh. Anh Sáu bước ra dòm thì thấy bạn của anh đang chạy bán sống bán chết trước một con chó to thấy mà bắt ớn. Anh Sáu thò tay vào trong rút cây chĩa ba ra, cây chĩa anh sắm để chĩa ếch dưới nước, rồi lẹ như chớp, anh chìa mũi chĩa đón đầu chó cho chồn đủ ngày giờ chui vào mả. Chó bẹc-giê chạy quá đà, bị mũi chĩa đâm vào mõm đau điếng, rống lên vài tiếng rồi trở bước, vừa đi vừa day lại, sủa om như chửi thề. Anh Sáu cười ha hả rồi cúi xuống sàn mà nói: – Đêm nay tổ trác rồi đó phải không em! Anh đây cũng bị rượt thường lắm, nhưng đều thoát khỏi cả. Bây giờ thì đố ai mà dám theo anh vào chốn nầy. Chỗ ở tụi mình kín số dách.
Sáng hôm ấy, anh Sáu đi uống cà-phê, về tới nhà thì ngạc nhiên hết sức. Trên một ngôi mô. cận mộ anh, một chòi lá đã dựng lên rồi. Ngộ quá, nhà cửa sao mà mọc mau lẹ như nấm mối. Uống xong tách cà-phê, đọc xong trang nhứt một tờ nhựt báo là một túp lều cũng vừa dựng xong. Phải mà, chỉ có bốn cây cột thôi thì chậm sao được! Anh Sáu ngạc nhiên mà thấy có một người thứ nhì lại biết con đường bí mật đưa vào đó! Anh lại tức vì túp lều ấy chặn ngay đầu đường bí mật của anh. Số là anh Sáu biết lợi dụng mấy ngôi mộ chung quanh nên mới vào đây được. Anh phải đi quanh co nhiều nơi, nhảy từ ngôi mộ nầy qua ngôi mộ khác, ra cửa nhà thì đi hướng đông, nhưng ra khỏi nghĩa địa lại ra hướng tây, nghĩa là anh phải đánh một cái vòng rất lớn và rất cong quẹo. Túp lều tranh ấy cất ngay trên ngôi mộ anh dùng làm đầu cầu cuối cùng để nhảy vào nhà anh, thì anh còn làm sao mà về nhà được, nếu hắn không cho anh nhảy ngang qua nhà hắn? Anh tức giận lắm toan vào lều mần thằng cha nầy một mách cho nó phải giải tỏa hiểm đạo của anh, anh mới nghe cho. Anh Sáu vỗ đùi nhảy một cái như bay đi và rơi xuống phiến mộ bia đặt nằm theo lối Châu Âu, trên có khắc mấy giòng chữ như sau:
Ci-git: Alphonse Thomas Nguyễn-Văn-Nở décédé en sa 78è année Priez pour lui1
Phiến đá lớn bằng bộ ván hai, và thằng cha chủ nhà nầy dùng phiến đá ấy để làm bộ ván luôn, nên không thấy nó lót gì trên ấy cả mà lại để lên đó nào là va-ly, dép … à … mà sao lại dép đàn bà? Túp lều che có phân nửa tấm bia thôi; cửa lều là một bức màn bằng vải bông cũ. Anh Sáu bước tới vén màn lên thì ô nầy lạ, chủ nhơn bà (chớ không phải chủ nhơn ông) là một thiếu phụ tóc quăn. Chủ nhơn bà bình tĩnh chào anh Sáu bằng một mỉm cười yên lặng. Có lẽ chồng chị ta đi làm rồi chăng? Nhưng vẫn lạ là chị không có vẻ lao động chút xíu nào hết. Móng tay chị đỏ choét và nhọn hoắt, nước da mặt của chị bị phấn ăn, chỗ thì mét chằng, chỗ thì thâm đen sì, mắt chị mệt đừ và sâu hóm như mắt cô đào hát bội. Y phục của chị cũng không phải y phục của những kẻ đầu tắt mặt tối: lai quần gắn ren, áo cổ bà lai thêu rằn rịt xanh đỏ, tóc thì kẹp thành đuôi ngựa, cột bằng ruy-băng màu. Chị ngồi trên chiếc rương thiếc nhỏ, món đồ từ khí độc nhứt trong chòi, mỉm cười rồi giây lát hất hàm hỏi anh: – Có tiền mãi lộ không? Nếu không, mỗ không cho đi ngang qua đây. Mỗ đóng đồn ở đây rồi, ai bước qua phải đóng thuế. Anh Sáu thọc tay vào túi quần tây cũ của anh đứng thẳng lên coi oai vệ như một tướng cướp trong xi-nê-ma, cười gằn rồi ngạo nghễ đáp: – Hỡi cô nữ tướng mã thượng giang hồ, nữ tướng không có lâu la thì đòi tiền mã lộ ai được. Nữ tướng có giỏi thì bước ra ngoài đánh với ta vài mươi hiệp cho rõ tài cao thấp. Nữ tướng cười xòa vì nghe giọng điệu thì biết đã gặp tay đồng điệu. Tuy bắt nạt hắn không được nhưng bắt bồ với hắn có thể có lợi. Anh Sáu xem qua thì biết nữ tướng thuộc vào hạng người nào trong xã hội rồi. Đây cũng là một kẻ trốn chui như anh, như con cáo dưới giường anh. Cả ba đều là chồn, nhưng con chồn cái này đã tu luyện nhiều năm nên mang được hình người. Đây là một thứ hồ ly không hớp hồn nho sĩ mà chỉ hốt bạc cắc của mấy anh lao động thôi. Đầu anh Sáu đụng nóc chòi, anh khó chịu quá nên ngồi xuống: – Ở đây không sợ mang tội à? Anh hỏi đùa. – Chớ còn anh? – Tôi thì khác. Ngôi mả của tôi cũ lắm rồi. Đó là một cái nhà của một người chết đã đi đầu thai kiếp khác rồi. Con chồn cái bỗng bỏ cái cười, buồn nét mặt lại rồi chỉ ra ngôi giáo đường trước nghĩa địa. Tiểu giáo đường tuy chỉ để làm lễ mỗi khi đám xác nào tới đây thôi, nhưng cũng đồ sộ bằng một nhà thờ ở thôn quê. Tuy ngói đã bị tốc nhiều nơi, gạch, đá trên tường nhiều viên đã rã và rớt xuống, cửa sổ gỗ đã bung hết, cửa kính màu đã bể nát, nhưng toàn thể công trình kiến trúc gô-tích ấy vẫn còn mang cái phong độ vĩ đại của thời Trung Cổ Châu Âu. – Anh thấy không? Chị ta nói. Nếu mình dám vào trong đó mà ở thì đâu có phạm tội như vầy. Anh Sáu thở dài rồi không thèm chào hỏi gì cả vỗ đùi nhảy bay qua nhà anh. Từ đó bộ ba chịu đựng nhau để sống chung nhau. Họ khác nhau ý tứ, phong tục, thói quen, lối sống, nhưng cả ba con cáo đều có một nỗi băn khoăn chung là cả ba đều sợ: Con cáo chánh hiệu con … cáo thì sợ chó bẹc-giê, con cáo già sợ Công An, còn con hồ ly cáo cái thì sợ lính kiểm tục. Trong cảnh khổ giống nhau, tuy họ không tương đắc với nhau được và vẫn phải tương thân để bảo vệ nhau, khi cần. Mà nhứt là để an ủi lẫn nhau. Anh Sáu không thích đờn bà lắm. Hay nói cho đúng ra, anh đã chán chê đờn bà, nhứt là chán những hạng đờn bà như con hồ ly không bao giờ chịu xưng tên nầy. Nhưng mà những đêm mưa dầm buồn quá, nằm giữa cánh đồng ma mà được có người để trò chuyện với nó thì ấm biết bao! Những đêm mưa như vậy, con hồ ly không đi kiếm ăn được, mà cũng không đủ sức mạnh để nhảy qua nhà anh Sáu vì hòn đảo của anh ở xa mãi ngoài giữa dòng nước, nên hồ ly ta thắp lên một ngọn nến rồi ngồi bó gối mà ca trật lất bản nhạc “Đêm đông”. “Đêm đông, ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng”. Gió đâm sầm vào tiểu giáo đường đằng trước kia, tung hoàng giữa gian phòng trống mênh mông rồi vừa hú vừa chui ra khỏi các cửa sổ nghe bắt lạnh mình. Mấy cây thùy liễu hiếm hoi đã kháng cự được với lau sậy để sống sót, đứng cúi đầu khóc sướt mướt dưới trận mưa dầm, trong ánh trăng mờ. Mộ hàng hàng như bầy cừu nằm nghỉ, gặm cỏ héo hon và vô vị, hút đắng cay trên miếng đất mồ côi 2. Đây là chốn mà mộng đời bị cắt đứt nửa chừng, kẻ chết yên nghỉ thiên thu, mà người sống cũng khó mong trở về với xã hội loài người. Anh Sáu nhảy bay qua nhà hồ ly, như một tay kiếm khách phi dạ hành, rồi hai kẻ ở ngoài vòng pháp luật ấy mới cùng nhau tâm sự. Không phải kể chuyện cho khách nghe, hồ ly khỏi phải thi vị hóa buổi thiếu thời của mình, không cần lòe ai, con cáo già cũng khỏi anh hùng hóa bước giang hồ của hắn. Họ đánh bài, mà hạ bài cho nhau thấy. Bao nhiêu thúi tha nhơ nhớp trong đời họ, họ phơi cả ra như sau đêm mưa, họ phơi gối trên mồ cho nó bớt âm ẩm khó chịu. Trời mưa cuối mùa cứ dai dẳng từ ngày nầy qua ngày khác. Con hồ ly ban đầu ăn xôi, ăn bánh mì chả lụa trừ cơm. Mãi rồi nó cũng không còn tiền để mua xôi nữa. Đất Sài Gòn, những ngày cuối tháng mà mưa dầm, thì tiền bạc nó cũng sợ lạnh, không hề dám ló ra ngoài. Nó có ló ra, con hồ ly mới ăn nem nướng được, còn nó mà trùm chăn thì chồn cái cũng đành trùm mền mà nhịn đói. Anh Sáu cũng chẳng thấy đi uống cà-phê sáng cho ấm bụng. Cũng chẳng thấy khói thuốc bay ra khỏi mái lều của anh như mọi ngày, và lâu lâu cũng không còn nghe mẩu thuốc vứt xuống ao, tắt kêu xèo một cái. Cả hai, vì tự ái hão, đều giả đau để nằm nhà. Anh Sáu yên thân hơn, còn dám ngồi dậy lết ra lết vô. Còn con hồ ly thì sợ anh Sáu đi ngang qua đó biết mình giả đò chăng, nên cứ trùm chiếu mãi từ sáng đến chiều. Khó chịu quá, ngộp quá, mà anh Sáu không đi ngang qua lần nào để thấy là nàng ta đang đau ốm thì có tức hay không chớ? Hết mưa rồi nắng. Anh Sáu ra đi. Ngang qua nhà hồ ly, anh lấy chơn lật chiếu ra thì thấy hồ ly nằm xụi lơ. Nàng đau ốm thật đó, đau một chứng bịnh cổ điển của loài người, là bịnh … đói. Anh Sáu mau bước nhảy như con khỉ từ ngôi mộ nầy đến ngôi mộ khác và rốt cuộc ra tới đầu ngõ hẻm trổ ra phố. Thiên hạ cứ mỗi ngày một khôn ra, cho nên, mặc dầu là cáo già, anh Sáu không còn gạt gẫm ai được nữa. Anh buồn hiu trở lại đào viên mà ba người bạn đã mặc lặng kết nghĩa với nhau hôm mấy tháng trước. – Chị đỡ bớt hay chưa? Anh hỏi bậy cho có chuyện. – Có uống mẹ gì đâu mà đỡ bớt. – Chị nghe trong mình làm sao? – Không biết. Nhưng nếu ăn được một chén cháo thì khỏe. Anh Sáu hiểu ngay. Anh lại thở ra, ngồi bó gối bên cạnh một người mà anh sẽ chịu đồng cảnh vài ngày nữa đây. Sở dĩ anh còn đi đứng được là nhờ anh mạnh sức, lây lất nổi thêm vài ngày. Chiều xuống sớm và mây kéo đen nghịt trời. Ngoài kia vịt vào chuồng kêu cạp cạp. Nghe tiếng vịt kêu, anh Sáu nhớ lại người bạn thứ ba. – Hừ, nó coi vậy mà nó đó. Bỗng một ý nghĩ nảy ra. Anh vừa mừng thì lại nghe như ai xát ớt trong ruột anh. Nhưng biết làm sao: Đi ăn trộm vịt, không đáng gì cả, mà rủi ro thì khổ. Trong lúc mình đang trốn mà dại gì làm những chuyện xằng nho nhỏ. Anh Sáu đứng lên nhảy bay qua nhà anh, rồi ngồi nhìn mưa bắt đầu rơi lũm chũm trên mặt ao tù. Một con nhái hay con gì không rõ, nhảy xuống nước lội róc rách đi về đâu không biết. Gió hú trong tiểu giáo đường, gió than vãn ở các nhà mồ. Xa xa tiếng động cơ xe nổ lên, nhắc nhở rằng cuộc sống ở bãi tha ma nầy thầm lặng quá! Anh Sáu rút cây chĩa ba, lết ra tới trước mả mà ngồi. Anh cúi mặt xuống miếng đất đọng nước, mắt lom lom rình. Bỗng có tiếng sột soạt do con chồn khua lau sậy, nay đã chết khô rồi. Anh Sáu hồi hộp nghe tim anh đập thình thình trong lồng ngực anh. Lạ! Anh đã giết người, mà nhớ ra là anh đã không nghe mảy may sợ hãi. Cớ sao đêm nay … Kìa một cục đen đen thò ra khỏi sàn ván. Anh Sáu cầm chĩa ba mà nhắm rồi sực một cái, mũi chĩa đâm chúi xuống trúng ngay cổ con chồn. Chồn thét lên một tiếng kêu đau, kinh sợ, rồi thôi. Trong bãi tha ma hoang vắng, không một tiếng vang lặp lại tiếng kêu thương của con vật vừa bị bạn phản bội nầy.
Dân lưu manh vẫn thế. Họ cũng biết xúc cảm, nhưng chỉ xúc cảm vậy vậy thôi. Họ nhỏ trên máu con chồn vài giọt nước mắt rồi thịt nó liền mà không nghe nhờm răng. Thế là đêm đó hai con chồn đói xơi một con chồn no. Họ chỉ ân hận một vài giây thôi, vì dầu sao, người bạn xấu số ấy cũng chỉ là một con chồn. Ai dư nước mắt mà khóc thú vật cho lâu! Trời cứ mưa, mưa như cầm chĩnh mà đổ, mưa như một oanh tạc cơ định về căn cứ, đổ rốc hết bao nhiêu bom còn sót lại trên tàu, mưa cho hết ráo nước để rồi khô hạn được trong sáu tháng dài, mưa đêm chưa phỉ lại mưa ngày, mưa cho đến xương kẻ dưới mồ chắc cũng lạnh thấu tủy khô. Ăn được bữa cháo chồn, hồ ly nghe khỏe như chị đã đoán. Sáng hôm ấy chị ra đi, căn dặn anh Sáu ở nhà, chị sẽ có tiền, một món tiền khá to, đâu như năm trăm, do một anh tình nhơn hứa biếu và hẹn hôm ấy trao cho vì hôm trước là ngày lương. Anh Sáu thích quá, muốn ôm lấy hồ ly mà hôn một cái. Nhưng hồ ly dơ thấy mà bắt nôn, nên anh thôi. Độ lối chín giờ sáng, anh Sáu đang nằm ca sáu câu mùi mẫn: Cảnh vị nhân sầu, xơ xác ngọn vi lau, nước triều mênh mông chảy … thì bỗng nghe tiếng tu hít thổi hoen hoét ở cùng tứ phía, quanh nghĩa địa rồi giây lát sau hồ ly nhảy như khỉ qua các nấm mồ, theo sau chị là hai người đàn ông còn trẻ. – Trời ơi, anh Sáu kêu, mình đã dại, kể cho nó nghe duyên cớ trốn tránh của mình; nó bán mình mà ăn đây! Chồn ơi, hồn mi có thiêng chăng, về mà xem kẻ phản bội mi sắp bị trừng phạt đây. Anh Sáu bó tay không chống cự. Anh nhìn hồ ly, không oán giận mà chỉ tội nghiệp thôi. Hồ ly trốn cái nhìn của anh, ngồi day mặt vô vách lá mà đếm tiền.
Đêm nay, gió sao mà hú ghê rợn hơn đêm nào cả. Hồ ly giật nẩy mình, dáo dác nghe ngóng. Gì mà như anh Sáu ho bên ấy! Chị đánh diêm lên để thắp nến. Trời ơi, mới hôm qua đây, anh Sáu còn nằm bên đèn kể lại những bước phiêu lưu của anh! Hơi thở của anh, chị còn nghe như văng vẳng. Cái mặt xương của anh đậm nét lên dưới ánh đèn, như là còn ẩn hiện mơ hồ trên tấm mộ bia! Trời ơi! Kéo cuộc đời nhơ nhớp nầy biết đến bao giờ mới thôi? Đã nhơ nhớp lại đê hèn, bước từ phản bội này qua phản bội khác cho đến một khi kia thì mình chỉ còn phản bội được chính mình. Hồ ly rùn mình một cái, không phải vì lạnh, cũng không phải vì sợ ma, mà vì chị bỗng sợ hãi chính mình, sợ hãi con người đã vơi cạn hết chất người. Chị ôm mặt khóc òa, rồi lẩm bẩm van vái lầm thầm: – Trời Phật ơi, Chúa ơi, tha tội cho tôi, ngày mai tôi sẽ ra khỏi chốn nầy và ra khỏi vực đen của đời tôi nữa! ——————————–
Trân Nguyen là tác giả đã nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2006. Cô sinh năm 1970, cư dân Monterey Park, Nam California, nghề nghiệp: y tá, siêu âm. Bài mới lần này là chuyện ma tại một bệnh viện Mỹ ở Los Angeles.
Bước vào thế kỷ 21 rồi, khi mà thế giới khoa học kỹ thuật tân tiến đến độ hầu như giải thích được tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên vũ trụ này… mà còn ngồi kể chuyện ma quỉ thì thật là khôi hài! Nhưng nói gì thì nói, trên đời vẫn có những chuyện không ai cắt nghĩa được.
Đó là một tòa building 4 tầng cũ kỹ nằm ngạo nghễ giữa đất trời East Los Angeles tính đến nay đã hơn 100 năm. Vùng đất đó ban đầu đa phần là người Mễ đến lập nghiệp, họ lam lũ và sống bằng nghề tay chân. Một ngày kia có một bác sĩ người Đức đã đến đây, lập ra bệnh viện này, cứu biết bao nhiêu là người và cùng họ vượt qua bao phen nhọc nhằn, khốn khó.
Trải qua bao nhiêu vật đổi sao dời…bệnh viện STMT vẫn ngất ngưởng hiên ngang giữa trời cao đất rộng. Tuy bề ngoài trông rất là cũ kỹ, nhưng đó chính là một di sản văn hóa vô cùng quí, ngày nay bên trong hoàn toàn đã được trùng tu với tất cả những thiết bị y khoa tân tiến nhất để đáp ứng nhu cầu mới của con người thời đại…Thế nhưng những câu chuyện hoang đường cổ xưa vẫn mỗi ngày khơi dậy óc tò mò của cư dân vùng này, nhất là với người Việt Nam vốn thích nghe chuyện ma.
Năm đó ra trường tôi về làm việc ở đây, nửa hoang mang nửa hiếu kỳ khi nghe người ta rĩ tai nhau: Bệnh viện này…ma dzữ lắm!! Tôi làm ca từ 3h chiều đến 11 rưỡi khuya, cái thời khắc mà tòa nhà cứ như lạnh hơn, rợn hơn khi người bệnh đắp chăn đi vào giấc ngủ và cất tiếng thở đều. Chiếc đồng hồ trên tường cứ nghe rõ mồn một tích tắc, tắc tính và vạn vật cứ âm u dưới cái thứ ánh sáng lờ mờ của nhà thương, ai nấy đều gượng nhẹ, lặng lẽ đến đáng sợ…..
Nhà thương này đã cũ kỹ rồi, lại còn lọt tỏm giữa bốn bề nghĩa địa. Ai đi qua East Los Angeles khoảng giao điểm của freeway 60 và710, từ trên freeway nhìn xuống là thấy ngay những mộ phần của người trung cổ được dựng cao sừng sững. Đó là nơi an nghỉ của những đại gia tộc giàu có ngày xưa, người ta đã cất giữ tro cốt trong một tòa “lâu đài” nho nhỏ, công phu và đầy bí tích. Còn thường dân thì nằm đều đặn, cao thấp, lớn nhỏ rải rác khắp nơi với những tấm bia chống đứng thẳng tắp, khác với lối chôn cất của đa phần người ở đây là tấm bia được đặt dọc trên lối đi,…nên nhìn vào người ta chỉ thấy những quả đồi thơ mộng, rực rỡ hoa hồng dưới ánh nắng mặt trời không hề thấy âm khí của một nghĩa trang. Tôi vốn tính nhát gan, lại làm chung với một bà “thỏ đế” là cô Anh người Việt Nam bên khoa hô hấp. Mới vô làm đã nghe bả bỏ nhỏ:
– Ma dữ lắm Gigi ơi, mà ngay giữa ban ngày ban mặt luôn kìa, con mới vào nên không biết đó thôi, cô làm ở đây hơn 10 năm nên rành quá rồi.
Tui tò mò:
– Mà cô có thấy chưa”
Cổ trợn mắt:
– Thấy chớ sao không thấy. Biết Dr Bansal Ấn Độ không” Buổi trưa “taking a nap” trên giường đàng hoàng, nửa tiếng sau thức dậy “hạ thổ” hồi nào không biết.
Tôi cắt ngang:
– Chắc ổng trực gác dữ quá, tâm thần suy nhược nên lẫn lộn đó thôi cô ơi. Bên Mỹ này làm gì có ma.
Cổ chưa chịu thua:
– Không tin hở” Ông Dr Marshak dê sồm kìa, cũng đang ngủ gà ngủ gật nửa đêm trong phòng cấp cứu, bị con Mễ tóc vàng ngồi lên đùi…rồi…sao đó…bị nó hất lăn kềnh xuống đất, mắt kiếng văng ra mấy thước. Ổng la ú ớ “girl, girl lượm giùm cái mắt kiếng,” mà người ta chẳng nhìn thấy ai xung quanh hết cả.
Hai cô cháu đang xầm xì, thì thằng Henry người Phi từ đằng sau “bò” tới…. Hù một phát thất kinh, biết hai người đang nói chuyện gì. Nó tinh nghịch hỏi:
– Annie (cô Anh) chừng nào tới phiên bà”
Cô Anh chửi:
– Tới phiên mày trước thì có…
Nó phùng mang, trợn má:
– Bộ tui chưa kể với you guys hả” Mới tuần rồi trực đêm nè, gần sáng không có người bệnh, tui tri mền leo lên bàn ngũ. Hai tiếng sau phòng cấp cứu gọi, tui mở mắt thấy mình đang nằm dưới đất, chăn vẫn được đắp cẩn thận, còn cái phone thì cũng được đem xuống đặt cạnh một bên, công nhận con ma này….chu đáo thiệt…nó biết mình đang trực mà, chuyện lạ là tui rờ “lại mình mẩy” chẳng thấy chỗ nào bầm đau hay trầy trụa gì ráo trọi, mới biết mình được “ẳm” xuống nhẹ nhàng lắm, con ma này chắc…con gái!
Nó cười ranh mãnh, thằng Henry này nổi tiếng quỷ quái mà, nó mà nói thì không biết có mấy phần là thiệt đây (“) chỉ biết là bọn con trai ở nhà thương này biết con gái nhát gan, nên cứ dọa ma suốt ngày, tụi nó còn nói:
– Ma ” Mỹ” có gì đâu mà sợ…đâu có mặc đồ đen xõa tóc, cũng đâu có khóc lóc tỉ tê… chỉ mặc T-shirt, nhe răng cười, rung đùi ngồi ăn hambuger, tụi này gặp hoài …ở trên lầu 2. (“)
Tụi này quái quỉ thiệt, nhưng cũng nhờ tụi nó mà… những đêm trực phòng cấp cứu không còn dật dờ khó qua nữa, nhờ những câu chuyện ma 1001 đêm, kể hoài không chán. Đêm càng thanh vắng, câu chuyện càng ly kỳ, hấp dẫn… Đêm đó, phòng cấp cứu tiếp nhận một ca trợt chân bể đầu vào lúc 3h sáng, bà cụ 80, có lẽ vào phòng vệ sinh lúc nửa đêm. Bà Mỹ đen tay chân, nhỏ thó, co quắp đau đớn, thiệt là tội nghiệp… bác sĩ đề nghị chụp hình chụp hình cast. Scan sọ não. Anh chàng Danilo người Đại Hàn một cây “lí lắc” đứng làm ca đó, tụi tui đứng quanh trợ giúp. Nó nâng đầu bà cụ lên gượng nhẹ, tháo khăn quàng cổ….đưa vào máy scan, luôn miệng xuýt xoa:
– Chịu khó một chút honey, God bless you, God bless me.
Liệu trình hoàn tất, bác sĩ Bansal nhíu mày:
– Không ổn rồi, chấn thương sọ não phải đưa ngay về USC chuẩn bị “đại” giải phẫu (nơi tôi làm không có phương tiện phẫu thuật phức tạp này).
Ambulance hụ còi…Thủ tuc chuyển viện hoàn tất thì đã gần 4h sáng, mọi người mệt lả, Danilo nằm gục trên bàn lơ mơ, thì…..bà cụ quay lại đòi chiếc khăn quàng cổ, mà Danilo đã cởi ra cho bà lúc làm cast scan, vì “ngoài trời lạnh quá!” Anh chàng lật đật ngồi dậy liền…nhưng bà già đã bỏ đi đâu mất.. nó chụp vội cái khăn chạy ào ra cửa tìm nhưng hành lang vắng tanh không một bóng người qua lại. Mệt mỏi, nó lững thững quay vào ngủ tiếp. Tới chừng sáng thức dậy mới hay được, người bệnh đã từ trần trên đường đi….lúc đó…4h thiếu 10 sáng, ngay đúng giờ khắc bà cụ trở về đòi lại chiếc khăn (!”).
Danilo mặt mày tái mét không còn giọt máu, nhưng ai mà biết nó sợ quá hay đêm rồi nó thiếu ngủ. Tên này cũng là tổ sư nói phéc và hay kể chuyện tiếu lâm. Nên ai cũng bán tính bán nghi câu chuyện nó kê.
Trong khoa chỉ có ông xếp người Phi tên Ademin là nghiêm nghị nhất. Ít bao giờ thấy ông bông đùa, nói giỡn nhưng ông rất tốt bụng, hiền hòa và hay làm từ thiện. Một hôm, ông giúp đỡ nhà thờ phát động chương trình “vì tương lai của những cô nhi hiếu học” ở bên Philipine, tài liệu hình ảnh, chương trình được soạn thảo rất công phu, nhưng kết quả hoàn toàn ngược lại…. cả ngày trời gặp gỡ, chào hỏi, rao giảng đến phờ cả người, cũng không mấy ai quan tâm, thậm chí họ còn xua đuổi ông. Mệt mỏi ông ngồi phệch xuống ghế đá, băn khoăn suy tính làm sao để đạt được kết quả khả quan nhất… thì có một người bệnh đi đến ngồi xuống bên ông, gương mặt đầy vẻ nhân từ: ông Sarmiento, Steven. Hai người cười với nhau chào hỏi, họ trao đổi với nhau bằng tiếng tagalog và cùng nhau thảo luận về đề tài học vấn của trẻ em Phi ra chiều tâm đắc lắm. Cuối giờ, ông Sarmiento từ giã trở về phòng, không quên căn dặn ông xếp “Chủ Nhật nhớ đến đúng địa chỉ này ở thành phố San Dimas, sẽ có nhiều người Phi tụ họp ở đó, họ sẽ giúp ông hoàn thành ý nguyện.”
Trời đã tối, ông sếp cũng hấp tấp đi về mà quên hỏi số phòng của người bạn già khả ái kia.
Chủ Nhật, sau khi hát lễ nhà thờ xong, ông hăng hái chở vợ tìm đến địa chỉ kia, quả thật có nhiều người Phi đang tụ họp ở đó, gương mặt ai cũng đầy vẻ thánh thiện và trang nghiêm… Ông đậu xe bên đường chạy lại thăm hỏi đồng hương và trình bày về chương trình cứu trợ cô nhi ở đất nước ông. Kết quả bất ngờ, họ ủng hộ nhiệt liệt ông, họ xiết chặt tay thân ái cám ơn việc làm tốt của ông, làm ông rất khích lệ đến không cầm được nước mắt.
Trước khi ra về, mọi người tha thiết mời ông sếp và vợ ở lại dùng bữa. Hôm nay người ta “cúng thất” cho một người thầy kính mến vừa mới qua đời tên… Sarmiento. Đứng trước di ảnh của người quá cố ông sững cả người đến không nói được thành lời, đó chính là người ông vừa gặp tuần trước ở sân bệnh viện và đã mách bảo với ông về địa chỉ này. Và ngày giờ ông gặp cũng đúng vào lúc ông cụ từ giã cõi đời.
*
Chao ôi, người đã đi rồi vẫn còn quyến luyến và lo nghĩ cho nỗi khổ thế gian, cố nấn ná lại làm thêm chút việc cho người, cho đời… thân thể đã buốt lạnh nhưng con tim vẫn con ấm nóng. Vậy thì sao người còn lại ở đời có thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những cảnh thương tâm, những con người khốn khó, những cô nhi tội nghiệp”
Ông Sarmiento ra đi chẳng để lại tài sản gì và mai này chúng ta ra đi cũng chẳng mang theo được những gì. Tất cả sẽ trở về với cát bụi cả thôi. Chỉ có linh hồn cao quí là trường tồn mãi mãi.
Giờ này chắc ông Sarmiento đang khẳng khái, mạnh dạn bước vào nước thiên đàng, bởi những việc làm khi còn sinh thời đã khiến ông thanh thản, không còn vướng mắc gì. Đừng sợ người chết và hãy yêu hơn những người còn sống quanh ta. Vì họ cho ta được những khám phá về thực tại và về chân lý, cho ta mỗi ngày vun trồng đức nhẫn nại, lòng bao dung và niềm hy vọng….
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.