Cành Hoa E Ấp

vietmessenger.com

Pearl S. Buck                                                      

GIÓ BỐN PHƯƠNG xuất bản 1974

Nguyên tác: The hidden flower

Dịch giả: Vũ Minh Thiều

Post by Sơn râu 23 Sep 2024

3. Phần Thứ Hai

Bà Kennedy sửa soạn đón con trai. Vợ ông đại tá viết thư cho bà, báo chuyện Allen có cuộc phiêu lưu với một thiếu nữ Nhật và ông đại tá cho chàng về nhà để tránh cuộc hôn nhân này và để cứu vãn một trong số những sĩ quan ưu tú của ông.

Bà Kennedy đưa bức thư cho chồng, rồi kín đáo đưa cả cho Cynthia, vì ông có dặn dò bà đừng nói chuyện này với ai.

Cynthia không bình phẩm gì. Nàng đọc kỹ trước khi trả lời bà Kennedy.

– Những bà vợ các ông đại tá chẳng đã có tiếng là…

– Là làm sao vậy?

– Ngồi lê đôi mách – cuối cùng Cynthia nói.

– Có lẽ thế – bà Kennedy công nhận. Nhưng Allen là một thanh niên. Và nó sống đã mấy năm ở xa cách xã hội chúng ta. Ta cần sự giúp đỡ của con, Cynthia.

Cynthia giương to đôi mắt xanh.

– Vâng dĩ nhiên rồi, bác Kennedy. Con sẽ làm bất cứ chuyện gì cho Allen.

Bà Kennedy đi nhón gót đến hôn Cynthia. Thiếu nữ đi rồi, bà xét lại xem phòng của Allen đã xếp đặt đầy đủ chưa, bà đặt hai bình hoa cúc lên bàn và lò sưởi. Đến phút cuối cùng, bà hái một bông hồng cắm vào một chiếc bình bạc và đặt lên mặt tủ. Cần phải tái tạo cái không khí gia đình, thấm nhuần những truyền thống hòa dịu với một tình yêu nồng nhiệt người con trai độc nhất, người thừa kế. Bà đã hiểu từ lâu rằng nếu làm trái ý Allen hoặc làm chàng tức giận thì chẳng được việc gì. Bà không hề nhắc nhở với chồng về thiếu nữ Nhật và quyết định quên chuyện này. Đối với bà, thiếu nữ này coi như không có.

Khi Allen về, bà đang ở cửa vào, mặc một chiếc áo buổi chiều bằng voan màu xám bạc. Chàng ngả vào cánh tay mẹ dang ra và ôm lấy bà, đặt má chàng áp vào má bà.

– Mẹ lúc nào cũng thơm tho – Allen nói.

Hai mẹ con thường hay nói đùa với nhau. Đối với những lời giỡn cợt nhẹ nhàng của chàng, bà lướt đi như cánh một con chim sâu.

– Ồ! Bà Kennedy phản đối và xoa má. Con không cạo râu từ ngày con rời nước Nhật?

Một vết hồng hiện lên da mặt mịn màng của chàng.

– Việc ấy con sẽ làm xong năm phút – Allen nói và đi trèo lên thang gác.

Ông Kennedy đi xuống.

Hai bố con ôm lấy nhau.

– Mẹ bảo con đi cạo râu – chàng nói. Bây giờ con lại ở trong không khí gia đình.

– A! Được lắm, vậy ta không chặn giữ con nữa.

Khi Allen về nhà, sau khi đi vắng ít hay nhiều ngày, ngay tức thời chàng cũng quen thuộc ngay với cảnh nhà, tưởng như chàng chưa bao giờ bước chân ra đi. Chàng vội vã về giang sơn của mình và ngắm nghía khung cảnh thân yêu: phòng khách và phòng ngủ rộng lớn của chàng, với chiếc cửa sổ có khung kính hướng về phía Tây. Trong một thế giới thống khổ, đối với chàng, nhà chàng bao giờ cũng hơn tất cả, như gợi lên hình ảnh thiên đường. Tại sao chàng không về đây sống với Josui?

Chàng ăn cơm tối với cha mẹ và Cynthia. Sắc đẹp muộn màng của thiếu nữ làm chàng ngạc nhiên. Lúc còn nhỏ, nàng xanh xao vụng về, tóc hung vang và cứng, vẻ rụt rè, khiêm nhường của một cô gái quá mau lớn. Tính rụt rè đã biến mất trong vòng tuổi thiếu thời và sự khiêm nhường biến thành sự nhũn nhặn đáng yêu. Chàng ngắm nàng với mớ tóc xoắn cắt ngắn, da mịn màng, cặp môi tô son một cách kín đáo. Mảnh dẻ và kiều diễm, nàng cân đ ối với thân hình và có vẻ tự cao.

Allen rất hài lòng thấy nàng tỏ ra vui vẻ thấy chàng về. Chàng có ý muốn nói với nàng về Josui, nhưng chàng thấy thế là bất nhã vì chưa trinh bày với cha mẹ.

– Ổng thấy con chúng ta thế nào? Bà Kennedy day hỏi chồng.

– Trông nó khá, khá lắm!

Bà đứng ờ ngưỡng cửa thông sang hai căn phòng của ông bà, một chiếc áo lót dentelle vắt lên chiếc áo ngủ bằng lụa. Ông Kennedy đang thắt vải áo ngủ quanh mình.

– Tôi không có ý định nói cho nó biết việc này – bà Kennedy nói. Nó sẽ đơn giàn nghĩ rẳng tôi không biết.

– Khôn ngoan lắm, ông khen ngợi bà, bao giờ tôi cũng hoài nghi lời những người khác.

Hai người trao chiếc hôn lên trán và người nào về phòng người ấy. Cửa thông sang hai phòng để ngỏ. Ban đêm, bao giờ bà cũng đóng cửa này tại, đóng nhẹ nhàng quá, ông không nghe thấy tiếng nữa. Ông không hỏi lý do, ông vốn hoài nghi những lời nói.

Buổi sáng hôm sau, Cynthia gặp Allen bất ngờ trong khi nàng đang đi mua mấy thứ cho mẹ. Hai người đi sát gần nhau và luôn luôn gặp bạn bè hãm lại.

Alien thổ lộ với nàng chuyện bí mật của chàng. Chàng cần phải giải bày với người khác.

Sớm muộn rồi chàng cũng phải báo tin cho cha mẹ nhưng chàng còn đợi cơ hội thuận tiện. Chàng khinh miệt những người đàn ông lúc nào cũng tưởng tượng như được tất cả phái nữ yêu đương, vậy mà chàng đoán với sự tinh tế của mình rằng, nếu chàng không quen biết Josui thì lúc trở về chắc chàng gặp một Cynthia ưng thuận chàng. Thái độ thân thiện của thiếu nữ biểu lộ bằng nhiều cách. Không bao giờ chàng tìm hiểu và phân tách tính chất.

– Cha mẹ anh biết à? – Allen nhắc, không tin, đứng nhìn chôn chân một chỗ.

– Bà đại tá có viết thư cho mẹ anh.

Cynthia nói giọng điềm tĩnh, với âm hơi kéo dài của miền Nam.

– Ngay ông đại tá cũng không biết – Allen kêu lên.

– Allen, anh đừng đứng trơ ra như thế, người ta nhìn mình đấy!

Chàng cất bước đi, mau lẹ quá, nàng phải đuổi theo.

– Anh hãy nghe em, đừng chạy nữa. Ông đại tá không biết cái gì.

Chàng bước chậm lại.

– Chúng tôi đã làm lễ kết hôn. Ngoài em không ai ở đây biết nữa. Anh nói với em, vì anh cần em giúp đỡ.

Cynthia liếc nhìn chàng giận hờn, làm nàng tủi thẹn. Chàng lấy quyền gì ở ngoại quốc kết hôn với một người màu da khác. Như vậy, những người phụ nữ như nàng sẽ ra sao, không lẽ lại sống già lẻ loi trong các thành phố và làng mạc ở Mỹ à? Những người phụ nữ ngoại quốc hãy lấy đàn ông nước họ! Allen là của riêng nàng! Nàng buông trôi theo bản năng như một người thiếu nữ thuở trước và quyết định liên kết với mẹ Allen, chống đối người phụ nữ xa lạ kia.

– Em tưởng rất khó khăn khi cưới lấy một người phụ nữ Nhật – nàng nói.

Chàng trông thấy nàng, dưới vành chiếc mũ dạ, mĩm cười với bạn bè qua đường.

Bỗng có một người chặn hai người lại, một thiếu nữ xinh tươi đi đánh bài tây chiều thứ sáu.

– Anh, Allen Kennedy!… Chị Cynthia, thật vô ích hỏi xem anh chị sáng nay có đến câu lạc bộ.

Giọng nói trong trẻo của họ vang lên trong không khí buổi sáng thu. Ý chí rửa hận thắng thế bản tính dịu hiền của Cynthia. Nàng mỉm cười với các bạn gái và báo tin với họ giọng thật đáng yêu:

– Allen vừa báo cho tôi một tin mừng: anh vừa kết hôn với một thiếu nữ Nhật xinh đẹp trước khi về nghỉ phép.

– Ồ! Allen, thật lý thú!

– Anh hãy nói về nàng cho chúng em nghe!

– Anh cho bọn em xem ảnh nàng.

Allen nhìn Cynthia vẻ tức giận.

– Anh không có…có…ý báo tin như vậy.

Chàng có giữ trong mình một tấm hình thường của Josui mặc Âu phục. Trông nàng nghiêm chỉnh, ăn mặc vụng về, đầu bới tóc không được đẹp. Mấy thiếu nữ chuyền tay nhau tấm hình và cùng kêu lên:

– Allen, nàng thật kiều diễm.

Họ đưa tấm hình cho Cynthia, tất cả đều mỉm cười cúi chào rồi đi. Cynthia đăm đăm nhìn tấm hình.

– Đó là tấm hình xấu – Allen nói. Josui thật đẹp, nhất là khi nàng mặc Kimono.

– Nàng khó có thể mặc như vậy ở Mỹ.

– Cũng có thể. Tại sao em lại kể chuyện của anh cho các cô nhiều chuyện ấy? Rồi cả thành phố này đều biết!

– Chính vì thế mà em nói – nàng quả quyết một cách điềm tĩnh. Người ta biết sớm, như vậy lại hơn.

Bức thư thứ nhất của Allen đến khi Josui đi vắng. Bác sĩ Sakai bỏ vào ngăn bàn giấy của ông. Ông đi lại, săn sóc các bện nhân và suy nghĩ về bức thư mà ông không bóc ra. Bệnh tình ông Matsui cần phải có sự săn sóc hàng ngày. Ông bị sưng túi mật nguyên nhân vì không tiêu hóa được cua biển. Mặc dù ông thường ăn thanh đạm, hàng năm vào mùa thu, ông Matsui không sao cưỡng được món cua biển nhấm nháp với rượu vang trắng. Đôi khi ăn cua, không xảy ra chuyện gì, khi khác bị trúng thực, lúc nặng lúc nhẹ. Năm nay cua biển suýt giết ông Matsui.

Một ngày kia, cảm thấy trong người khá dễ chịu, ông mời bác sĩ Sakai lại trò chuyện với ông. Sau những ngày ở bệnh viện, bác sĩ Sakai mệt nhọc nhưng ông không biết làm thế nào để chuộc lỗi của con gái, nên đến khi bác sĩ định nói điều này, ông Matsui chỉ lấy tay ra hiệu:

– Những chuyện đó có gì quan trọng – ông nói.

Ngày hôm ấy, ngồi ở đầu giường thân hữu, bác sĩ Sakai cảm thấy cần phải thổ lộ với ông Matsui. Ông Matsui, đầu và vai trùm một chiếc áo lụa màu xám thắt chéo ở ngực đã bình phục như thường ngày và mặt không còn thấy nhăn nhó đau đớn nữa.

Ông Matsui nói:

– Tôi sống được là nhờ ông.

– Đó là bổn phận của tôi – bác sĩ Sakai khiêm tốn trả lời.

– Quả hơn nữa. Thế là chúng ta hết nợ nhau.

Bác sĩ Sakai hiểu lời ám chỉ này. Một cảm giác nồng ấm làm ngực ông nở ra. Ông ngả người ra phía trước và nói khẽ:

– Tôi muốn hỏi ý kiến ông. Ở trong ngăn bàn giấy tôi có một bức thư gửi cho con gái. Không đưa cho nó, có phải là một lỗi không? Vì hạnh phúc của nó, tôi vẫn ước mong nó rời người Mỹ kia. Chỉ vì riêng hạnh phúc của nó thôi.

Ông Matsui suy nghĩ một lúc về vấn đề này. Ông không còn muốn để cho thiếu phụ này vào nhà ông. Chỉ một người trong trắng mới xứng đáng với con trai ông thôi.

– Tôi nghĩ ông phải trả bức thư cho cô ấy. Tôi tán thành những ý kiến của ông, nhưng ở trong gia đình, cần phải giữ những mối liên lạc tương kính.

Bác sĩ Sakai khẽ nghiêng mình.

Ông Matsui thay đổi ngay để tài câu chuyện.

– Tôi có định mở rộng thêm tiền đình trà thất.

Ngay tối hôm ấy, khi Josui đến chúc cha mẹ ngủ ngon giấc, bác sĩ Sakai đưa cho nàng bức thư.

– Thư đến lúc con vắng nhà – ông không nói rõ ngày nào.

Và nàng cũng không hỏi ông. Josui cúi rạp xuống trước mặt cha, mặt mẹ và chạy biểu vào phòng riêng. Ồ! Bức thư! Không sao bóc ra được, nàng ghì bức thư vào má, vào ngực, vào môi. Rồi nàng chăm chú đọc, thưởng thức từng chữ.

Photo edit by Sơn râu

Nàng cố gắng tưởng tượng để hình dung những ngọn đồi dập dờn của miền Virginia, những khu vườn, ngôi nhà của Allen, một cách yêu thương, nàng hình dung căn phòng mà một ngày kia nàng sẽ sống gần chàng.

Nàng đọc đi đọc lại mãi đoạn chàng mô tả ngôi nhà, vì nàng sẽ qua sống ở đấy và nàng muốn quen thuộc với nơi này khi nàng bước chân vào. Allen chưa nói chuyện với cha mẹ chàng, nhưng chàng cam kết rằng nàng không có gì phải e ngại: cha mẹ chàng đầu tiên đón nàng vì chàng và sau này, cũng vì nàng nữa.

Cuối cùng Josui tắt đèn, thu mình dưới những mền đệm và bức thư ghì chặt vào lòng, nàng khóc vì sung sướng và vì cô quạnh.

Allen phải nói với cha mẹ chàng, không đợi lâu được nữa. Có cần phải thổ lộ với cha chàng trước không và hy vọng ông giúp đỡ? Nhưng than ôi! Chàng biết rằng sự can thiệp của cha chàng chỉ gây thêm sự căm ghét của mẹ chàng. Chàng quyết định nói với mẹ ngay, sợ rằng máy điện thoại sẽ đi nhanh trước chàng. Chàng vừa chạy vừa leo lên những bậc đá hoa trắng và gọi:

– Mẹ ơi, mẹ ở đâu đấy?

Bà vốn ưa thích được gọi như thế.

– Ở đây, ở Vườn mùa Đông – có tiếng ở xa đáp.

Bà Kennedy tay đeo bao tay, sửa những cây xanh tốt. Ánh mặt trời đùa giỡn trên những cây dương sĩ và những chậu cúc…

– Những bông cúc đẹp quá! – Allen kêu. Lớn ngang với những bông cúc ở Nhật!

Bà Kennedy không lưu ý đến nước Nhật.

– Mẹ đang nghĩ rằng có lẽ chúng ta phải tiếp đãi nhiều khách khứa. Tất cả mọi người đều muốn gặp con. Điện thoại kêu suốt ngày.

Chàng nắm ngay lấy cơ hội:

– Con muốn nói với mẹ một việc trước cái máy điện thoại khả ố đấy. Cynthia quả quyết rằng bà đại ta có viết thư cho mẹ.

– Về việc thiếu nữ Nhật ấy phải không? – bà hỏi.

– Vâng.

– Ồ! Việc ấy mẹ coi không phải chuyện đáng lưu ý – bà nói vẻ thản nhiên hết sức. Mẹ hiểu biết: con ở nơi xa xôi quá.

– Thưa mẹ, xin mẹ hãy khoan.

Bà ngẩng mắt lên, trông thấy mặt chàng tái đi, môi mím lại.

– Có gì thế, Allen?

– Thưa mẹ, Josui là vợ con.

– Allen Kennedy.

Đó là tiếng bà kêu, trước kia, mỗi khi thấy Allen làm điều gì dại dột.

– Chúng con đã kết hôn với nhau, thưa mẹ và con muốn dẫn nàng về nhà.

– Không có gì đáng kể. Được rồi.

Chàng theo mẹ. Mỗi người ngồi một bên lò sưởi.

– Kể cho mẹ nghe.

Giọng bà có vẻ khẩn khoản. Hai tay chấp lại, khẽ mỉm cười, dù vậy, bà không hề giấu được nỗi băn khoăn hiện ra trong cặp mắt.

Chàng vâng lời, tức giận mẹ và tức giận cả mình, tức giận vì đến tuổi trưởng thành rồi mà còn bị ám ảnh bởi những hình bóng tội lỗi thuở thiếu thời, bà thường mắng chàng cũng trong gian phòng này. Khi bà mắng chàng hồi ấy, chàng phải xin lỗi, hứa hẹn không tái phạm và đoan chắc rằng chàng vẫn yêu mẹ.

Nay chàng không thể ép mình theo lệ xưa được. Chàng kể cho mẹ nghe hết và nếu mẹ không muốn chàng ở nhà nữa, thì mẹ chàng cứ nói hẳn ra. Phản ứng của bà thật bất ngờ. Bà nghe, không biểu lộ một sự giận dữ nào. Vậy mà Allen đoán rằng mẹ chàng bối rối.

– Nàng là người Nhật chính tông à? – bà Kennedy hỏi.

– Vâng, nhưng nàng sinh tại California. Con đã chẳng nói với mẹ là gì?

Chàng đã nói điều này với mẹ và nay chàng nhắc lại.

– Như vậy nàng là người Nhật đặc biệt phải không?

– Người Nhật da không sẫm. Họ không giống một chút nào những người da đen ở miền chúng ta.

– Dầu sao, họ cũng không phải da trắng – bà ngắt lời một cách tàn bạo.

Trước lý lẽ không thể bác bỏ được, chàng không van nài và để mặc sự yên lặng bao trùm hai người. Rồi bà lại nói, vẫn cái giọng sắc bén:

– Bảo rằng người Nhật là kẻ thù của chúng ta, mới không bao lâu nay và con chiến đấu chống họ. Nay con lại bảo mẹ tiếp nhận một người phụ nữ Nhật vào gia đình chúng ta.

– Thưa mẹ, con hiểu những ý nghĩ của mẹ hơn bao giờ hết, vì con cũng có những ý nghĩ này trước khi biết rõ Josui.

Một ý nghĩ bất ngờ làm cho bà mỉm cười.

– Mẹ có biết là cha nàng cũng có một phản ứng y hệt mẹ không? Ông không muốn con làm rể vì con là người da trắng.

Bà Kennedy bỏ qua lời nhận xét này. Bà không lưu tâm đến bác sĩ Sakai.

Allen ngả người ra phía trước, khuỷu tay tì lên đầu gối và cố mỉm cười, đón chờ một tia hy vọng trên khuôn mặt mẹ chàng.

– À! Mẹ…

Bà nhìn nàng:

– Allen, hãy để cho mẹ ngồi riêng một mình một lúc. Mẹ phải nói chuyện này với cha con. Thật là một đòn nặng cho cha con. Chúng ta hy vọng là con kén chọn một người vợ ở đây… Chúng ta có nghĩ đến Cynthia… Và chúng ta ước mong được trông thấy các cháu nhỏ chạy trong nhà này, một ngôi nhà quá rộng lớn! Ta ước mong có thêm con nữa, nhưng không được.

– Chúng con có thể sẽ có con, mẹ ạ.

Chàng tưởng an ủi được mẹ thì chàng lại phạm một lỗi lầm lớn. Phản ứng của bà bộc phát ngay:

– Ồ! Không Allen! – bà kêu và bỗng đứng dậy.

– Mẹ ơi – chàng áo não kêu, tay chìa ra.

Bà ngả vào lòng con trai, người run lên và thổn thức khóc. Chàng chưa bao giờ trông thấy mẹ khóc. Cố làm nguôi lòng mẹ, chàng cầm tay bà và thì thầm:

– Đừng khóc nữa, mẹ… mẹ sẽ thấy…

Nhưng bà bứt ra khỏi tay chàng và chạy đi.

Đi dạo chơi về, ông Kennedy cảm thấy có sự khác lạ trong nhà mình, ông là một người khả ái, rất khôn ngoan. Vừa vào đến gian phòng lớn, với sự nhận xét tinh tế ông thấy ngay có sự hỗn loạn nào đó, ông treo mũ, áo khoác da màu xám và cắm chiếc can vào trong một chiếc bình lớn của Trung Hoa bằng xứ xanh. Không mấy lúc, ông nghe tiếng chân con trai đi xuống cầu thang.

– Cha về con vui mừng quá! Con không biết tìm cha ở đâu. Con e sợ đã làm mẹ con bối rối nhiều. Mẹ con vào phòng khép chặt cửa lại rồi.

Đó là một điều tai họa. Cả hai cha con đều biết như vậy. Hai người nhìn nhau.

– Con không biết nói thế nào với cha… – Allen bắt đầu nói.

– Ta cũng đoán ra.

Ông Kennedy vào gian phòng rộng khác, không có ai và ngồi xuống.

– Ta ngờ rằng việc sẽ xảy ra. Chúng ta biết khi sống ở Nhật, con có một người do ông đại tá…

Allen ngắt lời cha, nóng lòng sốt ruột quá.

– Thưa cha điều làm cho mẹ con bối rối là mẹ biết rằng con lấy Josui Sakai.

Chàng ngồi trên tay ghế bành lớn bọc nhung và vi phạm một sự cấm đoán từ thuở chàng còn nhỏ.

Khuôn mặt lớn và hai má phị của ông Kennedy đều nhuốm một màu hồng.

– Con của cha, đáng lẽ con có thể báo cho chúng ta biết trước – ông bảo chàng, giọng hờn giận.

– Con không ngờ việc diễn ra mau chóng như vậy – Allen thú thật. Tuy vậy, đó là giải pháp duy nhất có thể làm được và con tưởng con xử sự như vậy là có lý. Josui là con nhà gia giáo. Vả nữa, con không phải là người thuận theo làm điều gì khác ý mình.

– Nàng là người thế nào? – ông Kennedy hỏi. Hai bàn tay to lớn, xanh xao của ông, xòe ra trên hai ghế, biểu lộ một cảm giác suy nhược và nhàn rỗi – Con biết nàng bao giờ?

– Không lâu gì, nhưng cũng đã đủ để hiểu nàng còn có nhiều đức tính tốt nữa.

Allen đứng dậy và đi lại trong phòng, không nhìn cha nàng.

– Con không biết nói với cha thế nào, việc xảy ra sao. Nàng không những đẹp, nhưng còn điểm khác ở nàng nữa. Có phải là do ở nguồn gốc Á Đông của nàng không? Con không hiểu. Con ở đấy đã ba năm và có lẽ đã chịu ảnh hưởng của xứ sở đó. Khi việc đã xảy ra như thế, hình như người chỉ có thể lấy người phụ nữ phương Đông được thôi.

Ông Kennedy như có vẻ rã rời, nhưng đó chỉ là bề ngoài. Ông lắng nghe và suy nghĩ.

– Mẹ con không bao giờ chấp nhận điều này… – ông nói giọng thất thanh – Có lẽ mẹ con không phản đối một việc sắp xếp khác, như có trong gia đình một nàng dâu khác màu da…

Ông đứng dậy, lấy đôi tay chắc khỏe chống lên, bước nặng nề và trèo lên thang gác, chân đạp chắc nịch xuống mỗi bậc cầu thang. Đến trước cửa phòng vợ, ông khẽ động vào tay nắm cửa:

– Bà mở cửa cho tôi.

Một lúc sau, ông nghe thấy tiếng chân đi. Cửa mở ra. Ông vào và ôm vợ vào cánh tay. Bà đặt đầu lên vai chồng và khẽ vuốt tóc ông.

– Con nó nói với ông chưa? – bà thì thầm.

– Nói rồi, bà ạ.

– Chúng ta biết làm thế nào?

– Nguyên tắc của tôi là không làm gì cả và để tự nhiên cho mọi việc tự xếp đặt lấy.

– Nhưng nó sẽ dẫn con bé kia về đây! – bà kêu lên.

– Phải tiếp nhận vậy!

– Không bao giờ!

Bà đẩy ông ra. Ông thở dài, đứng yên, trong khi bà đi lại trong phòng.

– Tôi bị đau đầu.

– Tôi cũng ngờ thế.

Ông thận trọng ngồi xuống một chiếc ghế bành thấp, bọc vải hồng, trong khi bà bóp thái dương. Ông yêu mến vợ và hiểu rằng ngoài mấy điểm nhỏ nhặt trong tính tình độc đoán và chuyên chế của bà, bà là một người có phẩm cách, một người vợ hiền và tiêu biểu cho sức mạnh của xứ sở.

– Này bà – ông bắt đầu nói vẻ dịu dàng – Bà là một người độ lượng, sao lại tính như vậy. Tôi hiểu bà lắm, thôi được, chính tôi cũng muốn Cynthia là mẹ của cháu chúng mình. Nhưng con trai muốn điều khác và nó quyết định như thế. Chúng ta hãy gắng làm sao cho cuộc nhân này có được kết quả tốt đẹp.

– Làm thế nào cho có kết quả tốt đẹp được? – bà hỏi – Hôn nhân không phải chỉ liên hệ đến hai cuộc đời. Điều chính yếu là lập một gia đình. Chúng nó không nên có con cái. Ông có rõ không? Không nên có.

Ông Kennedy cũng chẳng vui thích gì khi tưởng tượng rằng nhà mình lúc nhúc những đứa trẻ nhỏ lai Nhật.

– Có thể chúng sẽ có con cái – ông nói không chút tin tưởng.

– Ông biết rằng sẽ có! Những người Á Đông sinh con như thỏ! Không, cần phải thuyết phục Allen.

– Nhưng nó đã cử hành hôn lễ rồi!

– Nó sẽ ly dị.

– Đó! Tôi sẽ nói với bà ý kiến của tôi. Một lời khuyên nhỏ cuối cùng nữa, bà hãy tự hỏi, nếu bà biết rõ con trai bà.

Cuối cùng ông đi ra, ông cần phải có ngay một ly Whisky nguyên chất. Ông ra ngồi ngoài hiên.

Allen thấy ông thiu thiu ngủ, một chiếc ly không ở dưới chân. Nghe thấy tiếng chân đi, ông Kennedy tỉnh dậy và trông thấy con trai sắp sửa ra đi, chiếc valise ở tay.

– Con đi một vài ngày.

– Con đi đâu?

– Đến Washington.

– Tại sao con tới cái nơi bẩn thỉu ấy?

– Kiếm một thằng ngốc và nhất là hỏi cách thức cho Josui tới đây được.

– Con có báo cho mẹ con biết không?

– Không. Xin cha hôn mẹ giúp con. Cha nói hộ con không? Con không đi lâu ngày đâu.

– Được, con trai của cha.

Ông nhìn con lên chiếc xe mà ông bà đã nâng niu giữ gìn nhiều năm nay. Rồi ông ngủ trong yên tĩnh.

Đời sống tiếp tục không có sự thay đổi đáng kể nào trong khi Allen vắng nhà. Ông Kennedy dần dần quen nghe câu trả lời của vợ ở điện thoại, giọng như ca hát.

– Ồ, chị ạ, chúng tôi coi việc ấy không có gì đứng đắn cả! Các bà mẹ chúng tôi đều quen thấy con trai chúng tôi trong các cuộc phiêu lưu như vậy, nếu như không tránh được, đó là một hậu quả đáng buồn của chiến tranh… Không, cháu nó chưa có cử hành hôn lễ. Hai người chỉ mới đính hôn, trong một ngôi đền Phật giáo mà tôi tưởng rằng nghi lễ rằng chẳng có chút giá trị nào đối với chúng ta. Dù thế nào, trong lúc này, chúng tôi không nói đến việc này.

Những ngày tươi đẹp nối tiếp nhau. Những bông hồng lại tưng bừng nở: hồng mùa thu, kém đẹp, không thắm sắc như hồng mùa xuân, nhưng thơm ngát hơn. Allen gửi về nhà một vài tấm bưu phiếu, trong mỗi tấm đều báo tin chàng sắp về. Nhưng chàng vẫn không về.

Trong các bữa ăn, bà Kennedy đọc các bưu phiếu cho chồng nghe và giả đò vẻ lơ đãng. Bà có viết thư gửi máy bay cảm ơn bà đại tá và cầu bà giúp đỡ thêm nữa:

“Có thể biệt phái Allen sang Âu châu được không? Bà hỏi bà đại tá. Được như vậy là giải pháp hay nhất. Nếu không có thời giờ đưa thiếu nữ Nhật kia về đây thì tất cả mọi người đều cất được gánh nặng.”

Ở Washington, những sự chậm trễ không sao hiểu nổi dáng lo ngại nữa vẫn dồn dập đối với Allen. Trái lại chàng được phép khỏi phải trở lại Nhật. Hơn nữa, chàng sửng sốt thấy người ta cho chàng một công việc ở Âu châu, tương tự như ở Viễn Đông.

Nhưng Allen quyết định từ chối nhiệm sở ở Âu châu nếu không được Josui đi theo chàng. Đối với chàng cũng là một thế giới khác: chàng đã nhìn thấy Âu châu quá nhiều nơi rồi.

Lưỡng lự không biết phải làm thế nào thì chàng lại được phép nghỉ vô hạn định không lương, để có thời giờ suy nghĩ. Nhưng trên đường về, giữa lúc xe chạy giữa các cánh đông trù phú miền Virginia, chàng quyết định đưa Josui về Mỹ ngay. Đối với pháp luật, nàng là công dân Mỹ. Chàng chỉ cần cương quyết bám lấy điểm thực tế này.

Chàng về nhà lúc trời tối. Ở phòng khách cha mẹ chàng đang đánh cờ. Cả hai người đều đánh giỏi nhưng bà Kennedy thường được luôn vì sự ham muốn được thắng, trong khi đó ông Kennedy không quan tâm đến được thua.

– Kính chào các nhà quán quân! – Allen kêu lúc đi vào phòng khách.

Hai ông bà ngẩng đầu lên, ngạc nhiên và hài lòng. Allen tưởng như thấy mẹ chàng có có phần dè dặt, tuy vậy bà cố gắng đón chàng niềm nở. Bà đứng dậy, ôm lấy con, hai tay giữ chặt lấy một cánh tay chàng:

– Ồ! Thấy con về mẹ hoan hỉ quá! Mẹ ước mong rằng con không tìm được công việc gì, con yêu của mẹ, ít nhất trong lúc này. Nhà ta trống rỗng khi con đi vắng!

– Con ngồi xuống đây – ông Kennedy nói – Và mách ta một nước. Quân hậu đẩy ta vào ngách cuối cùng, như thường lệ.

– Ồ! Ông tấn đi! – bà Kennedy nói tiếp – Allen, con đã ăn bữa tối chưa, bé con của mẹ?

– Thưa mẹ chưa. Allen cảm thấy niềm vui bất ngờ có một cảm giác là cha mẹ chàng không gây khó khăn cho cuộc sống của chàng. Chàng giãn chân tay và sự mệt nhọc xâm lấn chàng ngay. Tất cả mọi việc ở đời thật phức tạp quá.

Photo edit by Sơn râu

Nhưng ở đây, cuộc đời vẫn tiếp tục luôn luôn không thay đổi. Nàng Josui nhỏ bé có thể lướt vào cánh cửa hé mở, cuộc đời cũng chẳng có gì đảo lộn. Với ý chí cương quyết, chàng sẽ giữ ngôi nhà này nguyên vẹn như xưa, qua đời này đời khác, xin được như nguyện.

Josui đọc lại bức thư cuối của Allen, nhiều lần, như thường lệ để cảm thấy được gần gũi chàng hơn và cũng để hiểu biết thêm về tâm trí chàng nữa. Chàng dâu có cương quyết nhiều như thoạt đầu nàng tưởng, chàng cũng phụ thuộc một phần nào vào cha mẹ chàng. Nàng ngạc nhiên về điều này, vì nàng tưởng tất cả những thanh niên Mỹ đều được hoàn toàn tự do. Nàng nhìn thấy sự lầm lẫn của mình. Đối với nàng, sự khó khăn do ở cha nàng, về phần Allen, sự khó khăn lại ở mẹ chàng. Josui suy nghĩ về sự phát giác này và quyết định trước tiên là lấy lòng mẹ chàng. Tình trạng cũng hơi giống như ở Nhật, hạnh phúc hay tai họa của một người con dâu đều phụ thuộc vào người mẹ chồng.

Bức thư này còn đem lại cho nàng một vé máy bay. Nàng chăm chú ngắm nghía vật báu này và thưởng thức từng chi tiết nhỏ. Một vật giản dị và quý giá biết bao, nó là chìa khóa mở cửa thiên đàng cho nàng. Allen sẽ chỉ dẫn rất cho nàng. Nàng sẽ đi máy bay ở Tokyo, chàng sẽ tới đón nàng ở San Francisco, đi xe vượt qua các tiểu bang, sẽ thay thế cho cuộc du lịch tuần trăng mật.

Sau khi đọc lại thư một lần nữa, Josui đi tìm mẹ để nói chuyện này. Nàng thấy bà ở gần hồ nước nơi bà nuôi cá vàng. Bà Sakai khua nước nhẹ nhàng với chiếc que tre để thức tỉnh cá gần tê cóng vì giá lạnh, nhưng chúng vẫn chưa chịu rời nơi ẩn náu dưới bùn, nơi chúng sẽ trải qua một mùa Đông ở đây.

Trong vườn, ánh mặt trời tràn ngập qua làn sương sớm. Hình dáng nhỏ bé của mẹ nàng mặc chiếc Kimono màu xanh đập vào mắt Josui như một bức tranh bỗng hiện ra. Nàng sẽ thiếu mẹ, Josui quỳ xuống gần mẹ trên thảm cỏ vàng bệch và chờ đợi một lúc trước khi đưa cho bà bức thư.

Cá vàng ở dưới các hồ đá bơi ra, lắc lư những chiếc vẩy trong suốt, nhưng chúng chê thức ăn.

– Chúng muốn ngủ – Josui nói khẽ.

– Chúng thấy mùa Đông sắp đến.

Chăm chú vào công việc, bà Sakai không nhìn con gái. Rồi như đoán được ý nàng, bà bổng ngẩng đầu lên:

– Có có điều gì muốn nói với mẹ?

– Vâng – Josui trả lời và chìa bức thư – Allen muốn con sang Mỹ và gửi cho con vé máy bay – nàng đưa cho mẹ xem vé máy bay – Cha con sẽ nói thế nào? Thật ra cha con không bao giờ nghĩ rằng Allen lại gọi con về Mỹ.

– Bây giờ thì cha con phải tin như thế.

Bà Sakai đứng dậy và đóng lại lọ bột.

Hai người đứng im, mắt chăm chăm nhìn xuống nước. Cá vàng vẫy mỗi khi chúng nhấm nháp bột.

– Có lẽ không bao giờ mẹ gặp con nữa – bà Sakai nói.

– Con sẽ về thăm mẹ – Josui hứa.

Nàng làm lại một cử chỉ như khi còn bé, nàng nắm tay ấn vào lòng bàn tay mẹ.

– Nếu con có con… – bà Sakai bắt đầu nói.

Josui thấy mẹ có vẻ băn khoăn.

– Người đàn bà Mỹ… Họ không bao giờ biết trước màu mắt của con cái họ. Có phải là khó chịu không?

– Như vậy có nghĩa gì với con?

– Điều đó quan trọng lắm. Nếu khi xưa, con không có cặp mắt đen, ta sẽ bối rối lắm. Có thể nào mẹ dám tự coi mình là bà một đứa cháu có cặp mắt xanh.

– Ồ, mẹ.

Josui muốn cười, nhưng những lời nói của mẹ làm nàng băng khoăn. Nếu đứa trẻ có cặp mắt xanh, nàng có thấy dễ chịu không? Vậy mà nếu đứa trẻ giống nàng về tất cả mọi phương diện, chính Allen sẽ không được thư thái cõi lòng. Còn ai biết được? Đúng như mẹ nói, vấn đề thật đáng quan tâm.

– Có thể con sẽ không có con – Josui nói.

Bà Sakai lắc đầu:

– Người ta không thể nói như thế được. Đến lúc, đứa trẻ sẽ được thai nghén và không có gì ngăn cản được. Thần linh đợi nó ở ngưỡng cửa. Khi đến thời điểm sinh ra, chúng ta bước vào cuộc đời và cũng kết thúc vào khoảnh khắc khi chúng mất. Chúng có một cuộc đời ngắn ngủi hoặc sống lâu hơn, nhưng tất cả đều theo số phận đã định trước.

Bác sĩ Sakai không lên tiếng phản đối một lời nào, khi Josui đến báo tin mừng sắp khởi hành. Nàng ngạc nhiên thấy sự bất ngờ này, nhưng cảm thấy việc không sao tránh được. Ông bảo nàng rằng ông còn ít tiền dành dụm để ở một ngân hàng San Francisco, trước để cho Kensan và nay ông muốn sang tên cho nàng. Điều khó khăn duy nhất lại chính do Josui gây ra: nàng muốn có một giấy thông hành với tên mới của nàng: bà Allen Kennedy.

Về điểm này không thể lay chuyển ông được.

– Ta không cho phép con điều này. Con hãy dùng tên họ của chúng ta. Một ngày khác con sẽ cần dùng đến.

– Thưa cha, sao cha có thể nói thế được? Cha không tin tưởng con sao? – nàng tức giận phản đối.

– Ta không tin tưởng ở đời!

Nàng nhượng bộ. Cuộc đời sẽ có chứng thực cho cha nàng biết là ông lầm lẫn. Ông sẽ thấy. Các bậc cha mẹ hay hoài nghi quá!

Một vài ngày trước khi khởi hành, nàng nhận được của Kobori Matsui một bức thư ngắn, thân mật. Chàng chúc nàng được hạnh phúc và báo tin cho nàng biết là chàng sẽ gửi sang Mỹ một món quà nhỏ mọn tặng nàng. Chàng còn báo tin là có thể chàng sẽ đến thăm nàng năm tới và xin Josui cho phép chàng được đến thăm. Không muốn giữ và để lại bức thư, nàng đốt trong bình hương.

Lúc khởi hành. Josui từ giã ngôi nhà, khu vườn, mẹ nàng, Yumi. Khi đi cùng với cha ra phi trường, nàng cảm thấy sung sướng. Nàng không sao nghĩ về cha mẹ được, cũng như những vật nàng rời bỏ đi.

Khi máy bay cất cánh, Josui cảm thấy trong chớp nhoáng ý nghĩ hành động của nàng. Nàng nhìn qua khung cửa nhỏ máy bay và nhìn thấy một lần cuối cha nàng. Gió thổi hất tà áo choàng của ông, ông chắp tay chống cây gậy của mình, ngước nhìn. Cao lớn, thẳng ngực, đầu ngẩng cao, chân hơi xoạc ra và vững chắc, đứng trên mặt đất. Josui không chắc rằng cha nàng trông thấy nàng, nhưng trong giờ phút ngắn ngủi này, hình bóng của ông hiện ra rõ ràng. Mặt trời chói lọi, sau những ngày mưa bão, soi tỏ khuôn mặt xinh đẹp đã in sâu vết răn. Josui nhìn thấy qua vẻ bề ngoài điềm tĩnh của ông là một nỗi buồn cao quý, một mối đau thương nghiêm trọng, một sự tiếc nhớ khôn nguôi. Lòng nàng se lại.

Giờ phút phân ly đó không thể kéo dài được. Đôi cánh lớn sáng ngời đưa nàng bay bỗng lên trời và mặt đất xa rời mắt nàng. Những ý nghĩ, những ước mơ của nàng đã tiến xa hơn nàng nhiều.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 14)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 23 Sep 2024

Trương Duy Hy

TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30 (Tiếp theo)

Theo dõi những lời báo cáo trên qua vô tuyến, thật tâm chúng tôi — những lính Pháo thủ chuyên nghiệp — cảm thấy hãnh diện hơn bao giờ hết, nhất là trong trường hợp dầu sôi lửa bỏng này.

Tiếp đó, tôi xin Trung Tá Thạch chấp thuận cho tôi ủi luôn những gì còn có thể làm chướng ngại vật trên hướng súng. Trung Tá chấp thuận ngay.

Vì quá say mê với hiệu quả Pháo binh ngay trước mắt, nên tất cả anh em chúng tôi tìm mọi cách cố làm bình địa bãi đáp. Nhưng trên thực tế, với một vị trí kém thuận lợi như vị trí chúng tôi đang cố thủ, quả thật chúng tôi gặp phải khá nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nó lại cho chúng tôi không thiếu gì kinh nghiệm chiến trường.

Với tầm xa giữa địch và đại bác không quá 75 thước, hiệu quả của hỏa pháo nổ cao, cho dù vặn thời nổ tối thiểu 1,8 giây và bắn với thước nạp 3, chỉ 1 trong gói nạp 5 gói nạp bao trắng — quả đạn cũng sẽ nổ cách súng ít nhất 500 thước! Như vậy, địch quân sẽ bình chân như vại, hoạt động tự do ở khoảng cách vô hại mà chúng đang thực hiện…

Bỗng tôi nảy ra một ý kiến, cho bắn bừa vào tất cả những gì có thể là bức chắn tốt của địch trên bãi đáp… Sau đó, khẩu 4 hoạt động ngay. Những đống dây lưới thật chắc chắn, hai móc hậu nước, xẻng ủi đất, xác xe ủi đất, xác phi cơ trực thăng Hoa Kỳ… lần lượt bị đạn 155 ly của chúng tôi làm tan nát thành mảnh vụn… Có lúc — nhất là càng về sau, cơ hồ nửa bãi trực thăng, về bên trái không còn một vật gì cao hơn mặt đất nửa. Tôi ra lệnh bắn ngay trên mặt đất, phía trước tuyến thứ nhì từ 10 hay xa hơn 10 thước. Quả đạn “ricrochet”, vì đất đồi cứng và phát nổ ở khoảng giữa hoặc đầu bãi đáp trực thăng… Hiệu quả của cuộc trực xạ này cùng với hỏa lực M79, lựu đạn của các chiến sĩ Dù đã làm cho địch nao núng, bấn loạn hàng ngũ, không cách gì chọc thủng phòng tuyến thứ nhì!…

Bây giờ là 4g30 sáng ngày 27-2-1971.

Cộng quân ngưng tấn công! Không khí yên lặng trở lại đè nặng khắp Căn cứ Hỏa Lực 30… Tất cả chúng tôi giờ mới biết đói bụng. Đói, nhưng lại đắng miệng, không tài nào nuốt trôi gạo sấy, thịt hộp và cá hộp. Lân đi khuấy sữa, mỗi đứa hớp vài hớp rồi ngả lưng trên ghế bố, im lặng nhìn trần Đài Tác Xạ theo đuổi những suy nghĩ riêng rẽ.

Chẳng bao lâu trời sáng tỏ.

Tôi ngạc nhiên, đã gần 8 giờ rồi mà địch quân chưa pháo kích như hôm qua? Phải chăng chúng đang âm mưu gì đây?! Hay chúng đang trong những công sự ở tuyến thứ nhất mà chúng đã chiếm được đêm qua?!…

8g30, Trung Tá Thạch ra lệnh bằng vô tuyến cho 1 Đại Đội giải tỏa bãi trực thăng… và với bất cứ giá nào phải chiếm lại cho bằng được các công sự trên tuyến thứ nhất.

Lệnh của Trung Tá vừa nghiêm trọng vừa đanh thép.

Bên kia ống nói, vị Đại Đội Trưởng trả lời:

– Tôi xin thi hành ngay, Đích thân!…

Tiếng thi hành được xác nhận một cách cương quyết bằng một hành động ngay sau đó.

Lần đầu tiên tôi chứng kiến trọn vẹn cảnh tiến chiếm vòng đai phòng thủ với những chiến sĩ kiêu hùng gan dạ nhất của QLVNCH: Thiên Thần Mũ Đỏ!

Ở một vị trí chiến đấu hay một căn cứ Hỏa Lực nào đó của quân bạn — nếu có sự thất bại chua cay hoặc chiến thắng vinh quang, nhưng lại không xảy ra trước mắt tôi — tôi không thể hồ đồ tường thuật hay tự tạo cho mình một cảm nghĩ trung thực về chiến trận cùng những hành động chớp nhoáng, gan dạ phi thường mà người lính Dù đã, đang và mãi mãi nêu cao cái trí và cái dũng đối với hầu hết các binh chủng các đơn vị bạn… Riêng tại căn cứ Hỏa Lực 30, nơi tôi đã cùng các pháo thủ, các chiến sĩ Dù chen vai thích cánh đem xương máu ra tử thủ từ hai hôm nay và biết đâu ngày kết thúc còn xa — dĩ nhiên, tôi có đủ yếu tố khâm phục tinh thần chiến đấu dũng cảm của đơn vị “Danh bất hư truyền” này từ anh binh nhì cho đến vị sĩ quan chỉ huy cấp Trung Đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn…

Thật vậy, gần 9g00, ba binh sĩ Dù lặng lẽ bò từ phòng tuyến ra hướng trực thăng ngộ nạn, đối diện với chiếc trực thăng đã bốc cháy khi hôm, nằm về hướng Nam bãi đáp, cạnh hầm đạn chính của Pháo đội. Tại vị trí của chúng tôi nhìn ra, trực thăng nằm bên phải cổng chính của tuyến thứ nhì.

Địch nổ súng ngay. Một vài quả lựu đạn được tung ra đằng trước. Nhưng sau đó, có lẽ vì không thuận tiện và chưa phải lúc cần hy sinh, anh em lại rút vào phòng tuyến… Nhìn kỹ… chúng tôi thấy một số Cộng quân đang nấp sau trực thăng…

Tôi thi hành trực xạ tiêu hủy luôn trực thăng. Nguyên chiếc trực thăng này do Thiếu Úy Kiến trong phi đoàn của Thiếu Tá Trần-Duy-Kỳ làm Trưởng phi cơ ngộ nạn từ vài hôm nay, nhưng chưa kịp triệt thoái về. Riêng phi hành đoàn đã được Thiếu Tá Kỳ cấp thời cho trực thăng di tản về Khe Sanh ngay sau đó.

Khẩu 4 quay nòng khẩn cấp, nhắm ngay trực thăng giật cò… Trực thăng bốc cháy và kết quả Cộng quân tại chỗ đã hứng nhận hàng trăm, hàng ngàn mảnh vụn của đại bác 155 ly banh xác chết tức khắc…

Xăng phi cơ đổ ra cháy bùng dữ dội.

Lợi dụng lửa đang cháy, Cộng quân bắn AK từ tuyến thứ nhất vào vị trí và cố gắng tràn lên bãi đáp (Hình 8). Không một chút do dự, tôi với tay chụp lấy một khẩu AR15 thoát nhanh ra khỏi hầm chỉ huy, nhảy vội xuống cửa hầm của Hạ sĩ Cang, y tá — Nơi đây cũng là một công sự tốt, gần như là một phòng tuyến nối dài xuống hướng Nam, do các hầm nhân viên truyền tin, tác xạ làm kế tiếp, liên tục — Tôi đưa hai tay ôm mồm làm “loa”, quay vào các khẩu hét to:

– Tất cả nhân viên không có nhiệm vụ trực xạ, ra ngay công sự chiến đấu vơi tôi… Nhanh lên!… Nhanh lên!…

Thi hành lệnh tôi, tất cả pháo thủ còn lại đều vội vả ôm súng cá nhân ra công sự chiến đấu. Tất cả đều hướng súng về bãi đáp… Đồng thời, địch ra sức yểm trợ cho toán xung kích bằng loạt súng AK, B40, 57 ly… tới tấp phà vào vị trí chúng tôi. Chẳng mấy chốc, Khẩu 4 cũng không còn hoạt động được nữa! Đạn địch chằng chịt đan một lưới dày bao trùm vị trí. Lân cùng anh em Khẩu 4 lui nhanh về các công sự chiến đấu, dàn thành một tuyến vững chắc phía sau tuyến thứ nhì của Dù.

Tôi có cảm tưởng tiếng nổ ầm ầm chát chúa vây quanh chúng tôi và tiếng lắc-cắc của tiểu liên, trung liên địch nối nhau như không bao giờ dứt!…

Trời vẫn nắng gắt, không một áng mây, những đỉnh núi xa gần không còn mờ phủ một làn sương mỏng nào nữa. Trên ngọn đồi 727 thước — Căn cứ Hỏa Lực 30 — giờ chỉ còn có địch và chúng tôi quần thảo, giằng co để giành cho bằng được bãi đáp trực thăng. Với địch, bãi đáp trực thăng là điểm tựa cần thiết phải chiếm cho bằng được hầu làm đầu cầu tấn công chúng tôi. Với chúng tôi, bãi đáp trực thăng là điểm tựa duy nhất, cần thiết để làm đầu cầu thu hồi lại các công sự kiên cố ở tuyến thứ nhất, mới có thể bảo vệ hữu hiệu cho căn cứ.

Với tính cách quan trọng như trên, tất cả kinh nghiệm của Thiên Thần Mũ Đỏ được đem ra xử dụng tại chỗ, bằng những “chiêu” tuyệt kỹ hơn bao giờ hết.

…Bỗng vượt lên khỏi công sự ở tuyến đầu, 3 Cộng quân trườn nhanh về phía lưỡi xẻng, bên cạnh xe ủi đất đã cháy rụi — một chướng ngại vật đặc biệt mà đạn pháo binh của tôi “chào thua” không tài nào bắn vỡ được.

Lập tức Hạ sĩ nhất Bách nhắm ngay vào một tên bóp cò: Đoành!… Sau tiếng nổ đơn độc, viên đạn AR15 xuyên ngay đỉnh đầu tên địch hướng dẫn… HSI Bách ghi công cho pháo đội trong thế “Lính Pháo Đánh Bộ”! Tên Việt cộng vỡ sọ lăn quay ra chết! Cái chết của nó được các pháo thủ chứng kiến làm cho mọi người buộc miệng hoan hô HSI Bách nồng nhiệt. Đồng thời, một binh sĩ Dù ở tuyến thứ nhì gởi cho hai tên Việt cộng còn lại một quả M79, làm cho cả hai tên đều bị tử thương tại chỗ.

Trước những phản ứng vô cùng nhanh nhẹn và kín đáo, nhờ các công sự được ngụy trang khéo léo, binh sĩ Dù lần lượt hạ từng tên tràn lên bãi đáp, bẻ gãy âm mưu tràn ngập vị trí của chúng.

Mặc dầu tôi chỉ đứng cách Bách không quá 15 thước, nhìn rõ thành tích đầu tay của anh cùng hợp xướng tiếng hoan hô cổ võ với TS Toại, HSI Vinh… nhưng anh ta vẫn khom người chạy vội đến bên tôi “ghi công”:

– Thưa Đại Úy… tôi vừa bắn chết một thằng, tiếp theo Dù bồi quả M79 lật thêm 2… Súng tôi xuya thật!

– Tốt lắm! Tôi biết… trong nhiệm kỳ đầu giờ tới, tôi sẽ báo cho hậu cứ để dành phần thưởng cho anh… nhưng anh phải cẩn thận đấy, đừng có dại đứng khơi khơi trên công sự, chúng pháo kích dính thì kẹt lắm… bây giờ xin trực thăng tản thương gay lắm. Có đứng thì lựa chỗ miệng hầm nào có bức chắn sau lưng đến ngực mà đứng, như vậy che được cái lưng, lỡ có bị pháo kích cũng đỡ nguy hiểm.

– Sợ chi Đại Úy! Bọn hắn bò ngờ ngờ… bắn đã lắm!

Xong anh ta chào tôi rồi quày trở lại vị trí chiến đấu.

Năm phút sau, đúng như điều tôi tiên liệu… Ầm!… Một quả súng cối 82 ly của địch rớt ngay phía sau chỗ Bách đứng, xô anh ngã lọt vào hầm. Kết quả, trừ phần áo giáp và nón sắt, khắp mông anh ta bị ghim đầy mảnh đạn! Các pháo thủ xúm lại khiêng anh đưa về Đài Tác Xạ cho HS Cang băng bó.

Tôi rời phòng tuyến lủi nhanh đến Đài Tác Xạ. Trước tiên, tôi thấy Bách nằm trên đất, nghiêng người về một bên và cố gượng nhô đầu lên khỏi đất. Mặt anh ta nhăn nhó, miệng rên rỉ, hơi thở dồn dập… Trông quá thương hại, tôi hỏi:

– Nặng hay nhẹ? Nặng hay nhẹ?…

Tôi cũng đâm líu lưỡi và thoáng nhanh qua óc tôi một cuộc tải thương vô cùng cam go sẽ xảy ra cho Pháo Đội. Bách thều thào thuật lại cho tôi nghe tai nạn vừa xảy ra. Tôi giận quá:

– Mấy đứa bây chỉ gây cái khổ cho tao thôi. Tao đã bảo tức thì cứ phải không đâu!… Cứ ỷ y với súng đạn… Bây giờ làm sao có trực thăng…

Tôi quát ầm trong hầm. Các pháo thủ vây quanh tôi đều im phắc… Nhìn một lượt trên mặt mọi người, tôi tiếp:

– Đấy bọn bây sáng mắt chưa? Ông Thiện, ông Toại không nghe lời tao bị thương, giờ đến thằng Bách… Tao có nói lắm bọn bây cũng đếch thèm nghe… ngờ ngờ ra đó mà lãnh 82!…

Tôi cho gọi tất cả nhân viên về Đài Tác Xạ. Trỏ Bách nhắc đi nhắc lại bài học kinh nghiệm — mà chỉ cần chúng ta trải qua một lần, chỉ một lần thôi là đủ!… Tôi đưa cái áo giáp của Bách cho anh em xem… có đến hàng chục mảnh vụn 82 ly lốm đốm xé lớp vải nylon bên ngoài. Sau đó tôi hối hả qua BCH/TĐ 2 Dù nhờ Đại Úy Hạnh xin tải thương vào ngày mai.

Cùng lúc này, Cộng quân vẫn cố gắng gây áp lực tại bãi đáp. Nhưng chúng không làm gì hơn ngoài việc xử dụng tối đa hỏa lực bắn bừa vào vị trí.

Sau khi can thiệp cùng BCH/TĐ 2 Dù, tôi vội vàng quay về giữ tuyến cũ. Cùng tất cả các pháo thủ, chúng tôi chong súng ra hướng bãi đáp, mắt đăm đăm quan sát, sẵn sàng nổ súng vào những chỗ nghi ngờ có địch, nhất là ven đồi phía Nam bãi đáp.

Khi ngọn lửa “trực thăng” hạ thấp dần và sắp tắt, 3 binh sĩ Dù khi nãy khom người vụt chạy nhanh ra bãi đáp, nhảy xuống hầm đạn pháo binh ở mé Nam tìm kế dụ địch.

Một quả lựu đạn khói tím được tung ra cùng một lúc với vài loạt đạn AR15 tiếp theo… Đồng thời, một tốp khác 5 binh sĩ Dù bỏ vòng cung từ tuyến thứ nhì, mé theo vòng rào phía Bắc, vượt qua bên trái xẻng ủi đất, lần đến tuyến thứ nhất… (Hình 9)

Đúng như ý muốn của anh em Dù… thấy khói tím bốc lên và nghe AR15 nổ ròn, Cộng quân trong các công sự ở phòng tuyến nhướng mắt nhìn về hướng khói phản ứng ngay.

Nhanh như chớp, 2 binh sĩ Dù trong toán 5 người kể trên, lao mình gấp rút ra sát tuyến thứ nhất… liên tiếp vứt 4 quả lựu đạn xuống công sự… Ầm!… Ấm!… khói đen quyện với đất đỏ phủ hết cả một khoảng dài ngay tại phòng tuyến… Cộng quân một số chết, số khác bị thương gọi nhau ơi ới!… Không để chúng kịp trở tay, ba binh sĩ Dù còn lại tiến lên bồi thêm lựu đạn làm cho bọn chúng không tài nào ngóc đầu lên quan sát, đối phó.

Cùng lúc, nhờ các binh sĩ Dù gan dạ phi thường trên lập được một đầu cầu — tuy không vững chắc tí nào, vì thế đất quá trống trãi, nhưng có lợi thế: lựu đạn mang theo khá nhiều, đủ thời gian cho một Tiểu Đội Dù khác bình tĩnh khiêng thêm nhiều thùng lựu đạn chuyển khẩn cấp, tiếp tế kịp thời, rất kịp thời cho anh em liên tục làm câm hẳn hỏa lực mà trước đây mấy phút chúng đã xử dụng để áp đảo tinh thần chúng tôi.

Bị mắc mưu của Dù một cách tai hại, Cộng quân chỉ còn tin tưởng ở công sự kiên cố mà chúng đang tử thủ trên tuyến thứ nhất, để may ra sống sót được chừng nào hay chừng ấy và cũng chắc chắn, chúng hy vọng binh sĩ Dù không dám tiến hẳn ra để chiến đấu với chúng, hầu chúng lấy điểm tựa nơi đây cho các cuộc tấn công kế tiếp.

Chúng đã lầm: Thiên Thần Mũ Đỏ đã quyết tận diệt chúng thì chỉ có Thượng Đế mới cứu nổi!

Nối tiếp hoạt cảnh trên, một binh sĩ trong nhiệm vụ “cu mồi” dụ địch ở hướng Nam bãi đáp, bị đạn AK xuyên vào chân phải, anh em khẩn cấp bò ra cõng vào bệnh xá…

Tôi say sưa quan sát, tinh thần bỗng dưng phấn chấn lạ lùng, quả thật như tôi đang sống trong mộng hay ít ra, đang ngồi trong rạp chiếu bóng xem các chiến binh Dù trình diễn trên màn bạc! Trong lúc đó, chính tôi cùng các pháo thủ và số anh em Biệt Động Quân chưa triệt thoái kịp, đang là những khán giả! Hình ảnh cùng màu sắc trung thực của trận chiến hết cảnh này tiếp diễn cảnh khác được thu gọn vào ống kính của tôi. Tôi thầm nhủ: với số film màu này, tài liệu lịch sử Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30 tại Hạ Lào sẽ là chứng tích một trong muôn ngàn cảnh dị biệt khác mà Thiên Thần Mũ Đỏ đã, đang và sẽ thực hiện trong các trận đánh cam go, quyết liệt để bảo vệ cho đồng bào miền Nam chúng ta thoát họa Cộng sản.

Cùng một ý nghĩ như tôi, hầu hết các pháo thủ bảo nhau:

– Dù chiến đấu như tập trận giả trước máy quay phim!

Thật sự, tôi không tin rằng tôi có diễm phúc chứng kiến một lần thứ nhì cái phút nghẹt thở, đùa giởn với tử thần mà các chiến binh Dù đang biểu diễn trước mặt các chiến hữu!

Hiên ngang trong bộ quân phục rằn ri, gan dạ trong hành động và mưu lược, bình tĩnh trong việc tạo ra một khung cảnh chiến đấu có lợi thế về phía ta… Thiên Thần Mũ Đỏ quả đã xứng đáng với lòng ngưỡng mộ của toàn quân toàn dân vậy.

…Từ đây, lựu đạn nổ liên tiếp không dứt! Các công sự ở tuyến đầu lần lượt không còn giọng rên siết, đau đớn của Cộng quân nữa! Chúng đã chết sạch! Không một lối thoát, không một tên nào may mắn tránh khỏi lưỡi hái của tử thần!…

10g00, địch bùi ngùi trao trả tuyến thứ nhất cho ta!

Im lặng trở về với Căn cứ Hỏa Lực 30.

Sau đó, một Đại Đội Dù tràn ra giữ tuyến này và đếm được 118 xác địch, tịch thu một số lớn vũ khí. Đổi lại, chỉ có một binh sĩ Dù bị thương trong khi thi hành kế hoạch dụ địch!

Thôi thì chỗ này vài thượng liên, chỗ kia hàng chục AK, B40, 57 ly, súng cối… Cứ thế, anh em vác mỗi người 4, 5 khẩu mang về nộp tại Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn.

Tôi cùng Lân, Ngân tiến ra bãi đáp, đếm được 7 xác Cộng quân cháy đen sau xẻng ủi đất do Pháo Đội đã trực xạ khi hôm, và rải rác khoảng 22 tên nằm la liệt đó đây cạnh các hầm đạn.

(Còn tiếp)

TDH, 1971

(Hình chụp trên đồi 30 in trong bản gốc trước 75 không có trong lần tái bản ở Cali.)

 Kỳ sau: TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30 (Tiếp theo)

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 12-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.  

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 13)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Minh họa trực thăng võ trang Cobra trang Weapons and warfare 

Trương Duy Hy

TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30 (Tiếp theo)

Tại hướng Tây, ven vị trí, Đại Úy Vẹn tác xạ ngay trên vòng rào kẽm gai ngoài cùng, đã có lúc tung xác Việt cộng. Các binh sĩ Dù án ngữ mặt đó khẩn báo cáo cho BCH/TĐ 2 Dù… tôi theo dõi kịp và chuyển ngay cho Đại Úy Vẹn giữ yếu tố sửa chữa, bắn rải đạn dọc hàng rào.

Từ đây, tôi nhờ Thiếu Úy Kim liên lạc với Thiếu Tá Hằng và thỉnh thoảng đổi tần số để theo dõi hoạt động của phi cơ soi sáng.

Mặt Nam vị trí, Đại Đội 1 của Tiểu Đoàn 21 BĐQ bị kẹt, tá túc xen kẻ với anh em Dù rải dài từ bên ngoài BCH/TĐ 2 Dù đến tuyến thứ nhì với một quân số còn lại gần 100 người. Nhờ thế, lực lượng phòng thủ được trải khắp giao thông hào, không còn một khoảng trống nào…

Kết quả, tôi đã giữ vững được nhiệm vụ điều chỉnh chính xác. Không một quả đại bác nào lọt vào đồn.

Tiếng nổ đinh tai nhức óc của đại bác trực xạ phút chốc xé tan bầu không khí yên lặng bao trùm căn cứ.

…Tiền đồn báo cáo tiếp, tiếng nói thật nhỏ, như e sợ Cộng quân có thể nghe được:

– Địch đã cố gắng… leo lên… đồi rồi!…

Vẫn giọng đanh thép của Trung Tá Thạch dằn từng tiếng:

– Các anh em bình tĩnh, bình tĩnh và nhắm ngay vào nó… cứ thi hành theo đúng kế hoạch tôi đã dặn.

Ấm!… Ấm!… Khẩu 4 trực xạ trúng ngay một chiếc.

Tôi nghe rõ tiếng nói của phi hành đoàn phi cơ soi sáng qua vô tuyến:

– Pháo binh bắn cháy được một chiến xa địch rồi! Bắn cháy rồi! Chiếc kế tiếp đang cố gắng vượt lên.

Mừng quá, tôi gác máy cùng Kim nhảy lên miệng hầm hét to về phía Khẩu 4:

– Mình trực xạ cháy một chiến xa địch rồi! …Chiếc thứ hai đang tìm đường tiến lên… Phi cơ soi sáng vừa báo đấy… Anh em tiếp tục trực xạ thật kỹ… Cẩn thận mà bắn…

Cùng lúc, Lân hét lớn đáp lại tôi:

– Cháy thiết giáp! Cháy thiết giáp địch!

Vừa hồi hộp, tôi lại mừng thầm với ý tưởng: nếu chận được chiến xa địch bên ngoài tiền đồn, hy vọng phi yểm can thiệp kịp, có thể cứu vãn được tình thế lắm!

Kim nhìn tôi mĩm cười để lộ hai cái răng khểnh “duyên dáng” bên mép:

– Có thời rồi đó thầy!! May ra chận đứng được chiến xa bên ngoài tiền đồn thì mình mới chắc ăn…

– Tôi hy vọng thành công. Tôi nghĩ, bây giờ anh em lên tinh thần quá xá rồi. Nhất là anh em bên tiền đồn.

Nỗi vui mừng biểu lộ hẳn ra lời nói và cử chỉ của tôi. Tôi không thể giấu được. Tôi bảo Kim:

– Tôi cầm Pháo Đội chỉ huy và bây giờ Pháo Đội tác xạ — tính ra đã hai năm, chưa hề bị rủi ro chết lính bao giờ. Vừa rồi thiệt một mạng là mạng đầu tiên đấy! Có lẽ mình mát tay chăng?

Sau vài lời tâm sự với Kim, phi cơ soi sáng báo tiếp:

– Thêm một chiến xa địch bị cháy!… Thêm một chiến xa địch bị cháy!… Bọn chúng đang tìm cách lôi hai chiến xa xuống đồi. Có lẽ chúng tiến chưa được vì không có đường. Hai chiến xa bị cháy không nhúc nhích được nữa! Tôi thấy rõ lắm!… Pháo binh bắn tiếp đi.

– Xin anh theo dõi cẩn thận cho, chúng tôi ở dưới này vẫn nỗ lực trực xạ liên tục. Thành thật cám ơn anh nhiều lắm.

– OK!… Số chiến xa còn lại, nếu có rục rịch, tôi sẽ báo ngay…

Chắn chắn những lời đối thoại giữa tôi và nhân viên phi hành trên phi cơ soi sáng đêm nay hẳn có nhiều đài bạn bắt được. Tôi vội chạy ra Khẩu 4 báo tin mừng, trao đổi vài lời với Lân và khích lệ anh em tiếp tục trực xạ…

Bây giờ đúng 01g00 ngày 27-2-1971.

Tất cả những diễn tiến trên xảy ra cùng lúc, nối tiếp và liên tục.

Khoảng 15 phút sau, Đại Úy Trần Công Hạnh Trưởng Ban 3 TĐ 2 Dù liên lạc trực tiếp với tôi và Đại Úy Nguyễn Bá Trí (Pháo đội trưởng Pháo Đội C/TĐ 3 PB Dù):

– Check fire! Check fire! Phi cơ oanh kích vào vùng rồi… Check fire! Check fire!

Tôi và Trí lặp lại:

– Check fire! Check fire!…

Kế đó, tôi liên lạc với căn cứ A Lưới, Phú Lộc, Lao Bảo xin ngưng tác xạ để không yểm hoạt động.

Niềm hân hoan phút chốc tràn ngập trong tâm tư mọi người. Ý nghĩ chận đứng cuộc tiến công của địch tiến chiếm căn cứ chúng tôi bằng không yểm, giờ đây bắt đầu thực hiện và chắc chắn — Tôi tin thế, chúng tôi sẽ thành công.

Tôi mĩm cười thầm nghĩ: Thượng cấp hẳn không thể chấp nhận số phận căn cứ Hỏa Lực 30 như căn cứ Hỏa Lực 31 trước đây 34 tiếng đồng hồ! Do đó, tôi hy vọng tràn trề, tin tưởng tuyệt đối những chiến thắng sẽ đến với chúng tôi bằng những trận mưa bom và rocket của đoàn Cobra và Jet (1)…

[(1) Cobra: Trực thăng võ trang. Jet: Khu trục phản lực.]

Lân, Ngân rời vị trí Khẩu vào lại hầm, cùng tôi và Kim thuật lại việc trực xạ vừa qua để rút kinh nghiệm. Chúng tôi không quên nhắc đến lệnh của “Ông 11” với lòng biết ơn sâu xa mà chúng tôi chắc rằng ông ta quả đã có nhiều kinh nghiệm. Chính nhờ thi hành theo lệnh ông ta, bắn với đầu nổ SQ, nạp 7, chúng tôi thành công hạ được 2 chiến xa địch trong tầm dưới 1000 thước và cách tiền đồn của Tiểu Đoàn 2 Dù không quá 500 thước.

Tôi ngỏ lời với Lân trước mặt Ngân và Kim:

– Với sự chịu đựng gian khổ, nguy hiểm và chiến tích như thế này, lúc về lại Việt Nam, tôi hứa với anh – nếu may mắn Pháo Đội được tưởng thưởng một cấp bậc mới cho một sĩ quan – chắc chắn tôi đề nghị cho anh lên Đại Úy ngay.

Lân đáp:

– Cám ơn Đại Úy. Đại Úy nói thế tôi đủ mang ơn lắm rồi.

…Đại Úy Hạnh dùng danh hiệu Hotel để liên lạc trực tiếp với phi công Hoa Kỳ chỉ định mục tiêu oanh kích…

Bấy giờ có lẽ không thể thực hiện được ý định dùng chiến xa tấn công vào căn cứ Hỏa Lực 30 vì địa thế khó khăn và thiệt hại do ta trực xạ… Cộng quân quay ra dùng chiến thuật biển người cố tràn vào vị trí.

Dưới sự điều khiển vô cùng khéo léo của Đại Úy Hạnh, Jet oanh kích các mục tiêu cách căn cứ từ 500 thước đến 1000 thước, Cobra phóng rocket gần hơn, trong khoảng từ chân rào phòng thủ ra xa vài trăm thước.

Tiếng bom hòa lẫn với rocket đổ xuống mục tiêu tạo nên những tiếng nổ kinh hoàng, nối tiếp những vũng lửa tung lên quanh căn cứ…

Minh họa Phantom F4 trang Weapons and warfare

Lần đầu tiên trong đời binh nghiệp, tôi được nhìn tận mắt một cuộc oanh kích khủng khiếp của Cobra, Jet quá gần. Phi hành đoàn thật dạn dĩ — mặc cho đủ loại súng phòng không, thượng liên, AK đan một lưới đạn dày dặc trên không phận chúng tôi — cuộc oanh kích vẫn được thi hành liên tục với tầm bay thật thấp để hiệu quả đạt được mức chính xác tối đa. Lòng gan dạ phi thường của phi hành đoàn Jet, Cobra đã lưu lại cho chúng tôi lòng khâm phục không tả xiết.

Không thể trân người hứng chịu những thiệt hại quá nặng nề, địch xử dụng đủ loại súng ồ ạt lao mình qua hàng rào kẽm gai, concertina tấn công lên bãi đáp… Đồng thời chúng rót 92 ly vào giữa vị trí chúng tôi để cố tình khóa chặt các khẩu đại bác đang trực xạ lai rai ven đồi.

Bãi mìn đặt ngay tại bãi đáp, một phần đã bị nổ vì pháo kích nhất là mìn claymore tự động, một phần vì binh sĩ Dù liên tục bắn… tiếng nổ và xác Việt cộng gục ngã hòa lẫn với tiếng xung phong khát máu của chúng, phút chốc làm dậy cả vị trí.

Tại hầm chỉ huy của BCH/TĐ 2 Dù, Đại Úy Hạnh điều chỉnh oanh kích gần vào vị trí hơn. Thành thật, chúng tôi khâm phục tài điều chỉnh qua giọng nói Anh ngữ thông thạo của Đại Úy Hạnh chẳng khác nào chúng tôi đang có một cố vấn Hoa Kỳ bên cạnh, để sửa chữa hướng oanh kích của Jet và Cobra đang thi hành công tác sát địch quanh vị trí.

Chúng tôi ghi nhận sự khó khăn về việc nhận định nhanh chóng các yếu tố để các Đại Đội bảo vệ Căn cứ Hỏa Lực 30 của các vị Đại Đội Trưởng, Trung Đội Trưởng báo cáo, hầu cấp thời suy đoán những sửa chữa chính xác hơn, điều chỉnh tức khắc với phi hành đoàn Jet, Cobra,… nhưng những việc đó, Đại Úy Hạnh đã chu toàn một cách viên mãn. Nhiều lúc, tôi không phân biệt được giọng nói trong vô tuyến là của Đại Úy Hạnh hay của phi công Hoa Kỳ! Nếu chúng tôi không biết chút ít Anh ngữ.

Hiệu quả nhất là cuộc oanh kích ven rào ở hướng Bắc, trải dài từ Tây sang Đông. Chính các binh sĩ Dù ở tuyến này đã xác nhận và báo cáo cho Đại Úy Hạnh là anh em đã nhìn thấy xác địch tung lên tại vòng rào phòng thủ sau những lần Cobra bắn rocket.

…Nhìn ra hướng bãi đáp trực thăng, dưới ánh sáng hỏa châu, chúng tôi thấy địch lom khom tràn lên nấp sau đống lưới câu đạn và móc hậu nước..! Tôi nghĩ nhanh: Thế là lủng tuyến thứ nhất rồi còn gì? Tuyến thứ 1? — Nơi đó, chính mắt tôi thấy anh em Dù đã ra công làm 4 công sự liên tiếp nhau, bên trên lắp PSP dày và phủ đất có đến 4, 5 tấc. Chỉ thủng tuyến thứ 1 Cộng quân mới có thể tràn vào bãi đáp được như thế. Tôi hoảng hốt nhảy xuống hầm bốc máy liên lạc với Trung Tá Thạch:

– Kính Trung Tá, Trung Tá có rải quân giữ tuyến thứ 1 ở ven bãi đáp phía ngoài không?

– Anh yên trí, tôi lo khi chiều rồi, một Đại Đội… giữ ở đó.

– Sao Việt cộng lại tràn được lên bãi đáp mà tôi không nghe phản ứng ở tuyến đó?

– Thật không?… Anh xem kỹ chưa?… Vô lý!… Vô lý!

– Thôi được, để tôi hỏi lại xem “con cái” tôi ở đó ra sao.

Thế là tôi sang máy PRC-25 theo dõi. Kết quả đúng như tôi lo, tuyến ấy đã bị bỏ trống — vì khi chiều, lúc triệt thoái tiền đồn về trấn giữ thì toán đó đã tự ý dời vào đóng ở tuyến thứ nhì — Có lẽ anh em đã nhầm lẫn khi nhận lệnh chẳng? Giữa tuyến thứ nhất và tuyến thứ nhì cách nhau chỉ khoảng 50 thước. Nơi đó là bãi trực thăng. Từ tuyến thứ nhì tới Đài Tác xạ của Pháo Đội và hầm ngủ của tôi không quá 50 thước!

Trung Tá giận vô cùng, ông quát ầm trong máy… Tôi đoán Trung Tá cũng có nỗi âu lo như tôi.

Bây giờ binh sĩ Dù ở tuyến thứ nhì xử dụng toàn mìn claymore bấm, lựu đạn và M79…

Trên không phận Căn cứ Hỏa Lực 30, các phi vụ không yểm chấm dứt, chỉ còn phi cơ soi sáng tiếp tục thả hỏa châu. Thỉnh thoảng một vài tràng đại liên do phi cơ này bắn xối xả xuống phía Bắc và các vị trí cách khoảng 400 thước, vẽ nên những đường lửa xiêu vẹo…

Tiếp theo, chúng tôi được nhân viên phi hành báo:

– Súng cối địch đặt cách các anh 400 thước ở phía Bắc… Hãy trực xạ ra đó mà hủy đi. Tôi thấy rõ ánh lửa rồi, tôi sẽ tăng cường cho các anh…

Chờ phi cơ đánh một vòng rồi trở lại hướng Bắc, chúng tôi nhìn rõ làn lửa thoát khỏi phi cơ lao xuống mục tiêu…

Kết quả, nhân viên phi hành cho biết loạt đạn đại liên của anh em lần này đã tiêu diệt được chúng rồi. Sau đấy, quả thật chúng tôi không còn nghe tiếng “départ” của súng cối ở hướng ấy nữa.

Đại bác của chúng tôi cũng không có loại đạn tổ ong chống biển người, trong lúc đại bác 105 ly của Trí thì thừa loại đạn này! Nhưng ngặt nỗi, vị trí súng của Trí đóng về hướng Tây, muốn tác xạ ra hướng Đông, phải bắn qua đầu chúng tôi. Đã vậy, đại bác của tôi cao to dềnh dàng, án ngữ thành một vòng cung từ Bắc xuống Nam, các khẩu đại bác của Trí vừa nhỏ lại vừa thấp, cho dầu có muốn trực xạ ra bãi đáp cũng không cách nào thực hiện được.

Cuối cùng, Pháo Đội C/3 Dù chỉ trực xạ nửa vòng tròn từ Bắc sang Tây xuống Nam mà thôi. Riêng vị trí của tôi rất thuận tiện cho việc trực xạ, nhưng kẹt không có đạn, làm cho anh em chúng tôi ấm ức, tức tối!

…Nhờ hỏa châu soi sáng liên tục, chúng tôi quan sát chiến trường rất rõ.

Tại bãi đáp, nhìn từ vị trí Pháo Đội, từ bên trái, bên ngoài tuyến thứ nhì, chiếc xe ủi đất với chiếc xẻng bằng thép vừa to vừa dài nằm ngang theo thế “ủi đất” xoay vào căn cứ, đối diện và cách tuyến thứ nhì không quá 25 thước, phía sau xẻng là xe ủi đất, lù lù làm thành một chướng ngại vật ẩn nấp lý tưởng cho Cộng quân. Bên cạnh xe, một trực thăng ngộ nạn của Hoa Kỳ chưa kịp triệt thoái về Khe Sanh.

Trước tiên, khi Cộng quân chiếm được công sự ở tuyến thứ nhất chúng tràn nhanh lên bãi đáp, dùng thủ pháo ném vào trực thăng… Một tiếng nổ dữ dội đốt cháy trực thăng, tức khắc, hai tên cảm tử này gục ngã giữa bãi đáp, do M79 của các chiến sĩ Dù trong công sự tuyến thứ nhì phản ứng.

“Cây đuốc” trực thăng soi sáng khắp bãi đáp… phừng phừng tỏa hơi nóng vào tận phòng tuyến… Cộng quân được dịp lao mình ào lên bãi đáp, bất chấp cả mìn claymore, nhào đến nấp sau xẻng ủi đất.

Chúng tôi nom rõ, có tên hì hục đào hầm ngay. Nhờ khoảng cách giữa chúng và tôi không quá 75 thước, tất cả hành động của chúng không còn che giấu nữa. Tôi có cảm tưởng — bọn chúng quả thật là những con thiêu thân “điếc không sợ súng”!

…Từ tuyến thứ nhì, binh sĩ Dù xử dụng tối đa lựu đạn và M79 thổi ra hướng xe ủi đất. Tiếng nổ của đạn ta hòa lẫn với tiếng AK của Cộng quân dường như không dứt… nhưng chiếc xẻng ủi đất, trước sau là một “khắc tinh” đối với chúng tôi! Nó trở thành một bình phong bảo vệ cho địch một cách vững chắc nhất. Ngặt nỗi, nó lại chỉ cách tuyến thứ nhì không quá 20 đến 25 thước! Bao nhiêu lựu đạn, M79, M72 vẫn không sao tiêu diệt được những tên đang ẩn nấp phía sau xẻng.

Tôi lo ngại hết sức! Không còn cách nào hơn, tôi nhảy xuống hầm, bốc máy liên lạc với Trung Tá Thạch:

– Bây giờ Việt cộng chúng nấp sau cái xẻng xe ủi đất khá đông, tôi quan sát thấy anh em bắn M79, M72 và ném cả lựu đạn nhưng vẫn không ăn nhằm gì. Nếu Trung Tá chấp thuận, tôi sẽ bắn bay luôn xe ủi đất thì may ra mới sát hại được chúng…

Một tí im lặng, Trung Tá Thạch quyết định:

– OK, anh bắn đi…

– Thưa Trung Tá, nhưng nó gần tuyến thứ nhì, tôi e nguy hiểm đến tính mạng của anh em binh sĩ ta. Còn nếu đề nghị với Trung Tá di chuyển anh em dang ra hai bên, tôi ngại Việt cộng nó tràn vào… thì đến ngay tôi… cũng chết!…

– Anh đừng ngại gì cả, tôi sẽ bảo con cái tôi đội nón sắt ngồi hẳn xuống hầm… Dù có rủi ro cũng không sao… miễn anh cố gắng bắn tan xe ủi đất đi.

– Cám ơn Trung Tá, khi nào bắn tôi sẽ báo ngay.

– Ừ! Nhanh lên!

Thoáng một ý nghĩ qua nhanh trong trí tôi, hẳn là “con cái” của Trung Tá đã báo cáo tường tận những nguy hiểm tạo ra bởi chiếc xẻng của xe ủi đất — mà chính anh em không thể nào hủy diệt được.

Tôi lại rời hầm tiến đến Khẩu 4 bàn với Lân và Ngân. Kết quả tôi quyết định quay Khẩu 4 nhắm ngay nòng vào giữa xẻng, nhưng hơi cao hơn xẻng một tí thôi để đạn vừa lướt qua khỏi xẻng, húc vào máy xe ủi đất nổ ngay — và tôi nghĩ — bắn như vậy mới sát hại được những tên nấp sau xẻng. Tôi giao Lân và Ngân thi hành tác xạ. Xong, tôi khom người chạy nhanh về hầm ngồi đợi, đồng thời báo cáo những diễn tiến vừa xảy ra cho Thiếu Tá Hằng.

Tại Khẩu 4, nhân viên vô cùng vất vả xeo nạy móng càng để quay súng, nòng thì hạ thấp, thật thấp, hết cả vòng tay quay. Lân báo cáo tôi:

– Khẩu 4 sẵn sàng tác xạ…

Tôi ló đầu ra khỏi hầm, tay vẫn giữ ống nói vô tuyến:

– Khẩu 4 – Nạp 3 – Đầu nổ SQ… trực xạ theo lệnh tôi…

Lân lặp lại:

– Khẩu 4 – Nạp 3 – Đầu nổ SQ – Sẵn sàng trực xạ…

(Thật ra, đó là một khẩu lệnh không có dạy trong sách vở! Vì đương nhiên dùng đầu nổ để theo vị thế SQ thì không bao giờ hô trong khẩu lệnh. Nhưng tình thế quá nguy ngập, ý tôi muốn chắc chắn việc thi hành tác xạ này phải hoàn toàn đúng lệnh tôi — và, thật tình tôi e ngại còn sót quả đạn nào — mà lúc nảy, anh em đã lỡ đặt hỏa pháo ở vị thế Delay chăng!)

Liền khi đó, tôi bóp ống nói, liên lạc với Trung Tá Thạch:

– Xin Trung Tá cho anh em chuẩn bị, tôi sắp bắn.

– Tốt lắm, bắn đi!

Tuy nghe Trung Tá chỉ thị cho toàn thể binh sĩ Dù như vậy, song tôi vẫn chờ ở đầu máy PRC-25 theo dõi việc thi hành chỉ thị trên của anh em ở tuyến thứ nhì, xong mới hô cho Khẩu 4:

– Bắn!

Lập tức nhân viên giật cò. Sau tiếng nổ, quả đạn rời khỏi nòng súng, xé không khí gây nên một tràng tiếng động kỳ quái “…X..èo…x..è..o…” như muốn rơi đánh bịch xuống đất trước khi đến mục tiêu! Tôi nín lặng cả người, tim đập mạnh trong sự lo âu tột độ! Nhưng cái lo của tôi qua nhanh… vì quả đạn đã vượt qua khỏi tuyến thứ nhì, tống ngay vào xe ủi đất, đúng vào chỗ tôi đã chỉ thị cho Lân…

Ầm!… Như một quả bom phát nổ, xe ủi đất nẩy bật lên rồi rơi xuống cháy tức khắc. Tiêu diệt sạch Cộng quân tại chỗ.

Tiếng hoan hô vang dậy từ tuyến thứ nhì dội vào vị trí:

– Hoan hô Pháo Binh! Hoan hô Pháo Binh!… Bắn nữa đi! Bắn đi!…

Tiếng hoan hô bỗng dưng biến thành liều thuốc an thần hiệu quả cho tất cả chiến hữu và pháo thủ…

Cùng lúc, tiếng báo cáo chuyển đến Trung Tá Thạch rang rảng trong máy:

– Đích thân! Đích thân! Pháo binh bắn hay lắm!… Hay lắm!… Xe ủi đất bị tiêu hủy và đã giết sạch bọn Việt cộng sau xẻng rồi!… (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30 (Tiếp theo)

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 12-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Phóng đồ Căn cứ Hỏa lực 30 do chính tay đại úy Trương Duy Hy vẽ theo không ảnh và quan sát tại chỗ cuộc tấn công của Bắc-Việt lúc 0 giờ 30 ngày 27-2-1971, in trong hồi ký.

Ký Thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 23 Sep 2024

6. PÌ-PẾ-HÁN

Đêm ấy, vào một đêm cuối năm, thi sĩ Tôn và vài người bạn văn nghệ được chủ nhơn một ban kịch Trung Hoa mời đi ăn cơm Tàu ở tửu lâu Soái Kinh Lầm. 
Tiệc tàn đã lâu, nhưng bên ngoài trời mưa, mưa tháng chạp, mấy năm mới rơi xuống một đám, không to, nhưng lạnh quá nên ai cũng ngại ra về. 
Tiếng nhạc Tàu, đại tấu ở một phòng tiệc bên cạnh, nghe ấm lây cả đến buồng của họ, đã bắt đầu lạnh như bên ngoài, lạnh vì câu chuyện về khuya rời rạc bởi ai cũng cạn đề. 
Người đãi tiệc lo lắng, sợ khách của ông ta buồn, nhưng mặc dầu bặt thiệp bao nhiêu, ông ta cũng không làm cho không khí ở đây linh động trở lại được. 
Không có một người tân khách nào có mang theo áo mưa cả, vì đang giữa mùa nắng; chủ nhà biết họ ngại dầm mưa ra xe, quyết ngồi lì ở đây, nên cố nặn óc tìm cách giải trí cho họ, nhưng tính mãi mà không tìm được mẹo gì. 
Bỗng, họ nghe văng vẳng một hơi nhạc khác hẳn, chơi bằng nhạc khí Âu Châu. Chủ tiệc mừng rỡ trông thấy. 
Hơi nhạc ấy lưu động, và cứ to dần lên. 
Họ đoán biết những người chơi đờn đang đi trong hành lang dài, ở giữa những gian phòng của tửu lâu. 
Giàn nhạc gồm có những cây vi-ô-lông, một cây ghi-ta Tây Ban Nha và một phong cầm gì chưa biết rõ. 
Bây giờ giàn nhạc đã đi ngang qua cửa phòng của họ. 
Các nhạc công dừng lại, nhìn vô, và dạo vài câu nhạc buồn. 
Đó là hai người Trung Hoa và một cô xẩm. 
Chủ tiệc ngoắc một cái, thì họ bước vào phòng, đứng khép nép mà đợi. 
Thật là đau lòng! Một nhạc sĩ Việt Nam đờn đệm ở nhà hàng, thường than số phận tủi nhục của nghệ sĩ đêm đêm phải đánh đĩ ngón đờn để giúp vui cho một mớ người hành lạc say mê trước ly rượu hay trước một người đàn bà, thờ ơ không biết có tiếng đờn, không biết có một nghệ sĩ, nhiều khi thanh cao hơn họ, đang phụng sự họ, để được sống những ngày cam khổ. 
Nhưng giàn nhạc nhà hàng của nhạc sĩ kia, dầu sao cũng giữ trọn nhân phẩm của nhạc sĩ. 
Đàng nầy…, họ như van xin, cầu khẩn một buổi nghe đờn. 
Trông họ, Tôn bắt nhớ ngay đến những giàn nhạc lưu động ở Trung Âu và Đông Âu, rất đáng thương trong vở kịch “Anh Em Karamazov” của Dostoievski, do ban kịch Cl. Bourrin, đã diễn ở Sài gòn độ nào. 
Tất cả tân khách trong phòng đều lắc đầu từ chối. Chỉ có Tôn là ái ngại nhìn trân á xẩm cầm cây vi-ô-lông. 
Đây là một bông hoa đã về lúc phấn lợt, hương phai, không còn được ai nài nỉ cho nghe tiếng tơ huyền ảo nữa, nên đến phải ăn mày một cuộc nghe đờn. 
Ngỡ Tôn thích nghe nhạc lắm, hay thích riêng gì cô xẩm, ông chủ gánh hát nói gì vài tiếng với cô ta. 
Tức thì cô trao cho Tôn một quyển sổ con ghi tên các bản nhạc, để chàng lựa chọn. Việt có, Tây có, Tàu phần nhiều. 
Tôn lắc đầu trả cuốn sổ lại, sau khi lật sơ vài trang. 
Thất vọng, cô xẩm cứ kéo liều một bản. Đó là một điệu nhạc Âu Châu mà Tôn đã được nghe, điệu Granada. À, thật là mỉa mai: một ngươi đàn bà tàu, đờn một bản Tây cho một người Việt nghe. 
Tôn khoác tay lẹ lẹ bảo thôi. Rồi hối hận và để khỏi mích lòng á xẩm tội nghiệp này, chàng mỉm cười, hỏi: 
– Có biết bản Tàu xưa chăng? 
Á xẩm dứt tiếng đờn, làm thinh suy nghĩ giây lát, rồi dạo nhạc. 
Bỗng chút, Tôn nhớ lại những câu Tỳ Bà Hành: 
Vặn đàn vài tiếng dạo qua, 
Tuy chưa nên khúc, tình đà thoảng hay. 
Nghe não nuột mấy dây bứt rứt… 
Một điệu nhạc Tàu xưa trổi lên, tuy không được: 
Dây to dường đổ mưa rào 
Nỉ non dây nhỏ như chiều chuyện riêng. 
Nhưng cũng thấm thía buồn lắm rồi. 
Á xẩm đờn xong bản nhạc Tàu, lãnh tiền ra khỏi phòng, thì trời cũng vừa dứt hột. 
Vài câu hẹn hò tái ngộ xã giao, vài lời cám ơn, rồi chủ đưa khách xuống lầu. 
Họ vừa ra khỏi cửa Soái Kinh Lầm, thì trời bắt đầu mưa lại. Mưa tro rỉ rả thôi, nhưng cũng đủ làm cho họ khổ lắm, vì trong bao nhiêu khách hàng của cái tửu lâu sang trọng ấy đều lên xe nhà, họ lại phải dầm mưa mà đi cầu bơ, cầu bất như một đám tàn binh. Thi sĩ xông pha mưa gió chỉ nên thơ ở đâu, nhưng ở đây thật là tủi thân. 
Họ đi về phía góc đường Tổng Đốc Phương và Đồng Khánh, để đón xe tạp xế ra Sài gòn. 
Khi băng qua đại lộ Tổng Đốc Phương, họ chợt thấy á xẩm hồi nãy co ro mau bước, hộp đờn giấu dưới ngực của cô. 
Qua mặt á xẩm, Tôn không dừng được, day lại nhìn. 
Chợt thấy Tôn, á xẩm ngạc nhiên như tự hỏi: “Khách đi ăn cao lâu mà cũng dầm mưa về bộ như nhạc sĩ nghèo à?” 
Bấy giờ mưa nặng hột. Tự nhiên, không bảo nhau, mà á xẩm và họ đều chạy vội vào núp dưới hàng hiên của một hiệu thuốc Bắc, đường Đồng Khánh. 
Gió từng cơn thổi tạt vào hiên những hạt bụi nước mưa nhuyễn bân, nó chích vào da mặt họ như những mũi kim đâm nhẹ vào thịt. 
Á xẩm lạnh, run cầm cập, và bối rối lo cho cây đờn phải bị ẩm, mà mãi không biết giấu nó ở đâu. 
Thấy khuôn cửa hiệu thuốc Bắc hủng sâu vô trong, Tôn đưa tay cho á xẩm bước vào đó, rồi bỏ hàng hiên và các bạn, chàng cũng vào theo. 
Ngoài kia, những chiếc xe Hoa Kỳ bóng lộn, êm ái lướt qua. Đèn trong xe ấm hiểm, soi sáng nhiều gương mặt thịt đang cóc cần nghệ thuật một cách đế vương. 
Không bao giờ Tôn tủi thân nghệ sĩ hơn đêm đó hết. Trong giây phút, chàng nhớ lại nhiều việc rất là không vui. Một người bạn văn, ao ước một cây viết máy EV đã ba năm rồi, mà vẫn chưa mua được. Tệ hơn nữa, một thi nhơn muốn có giấy tốt để làm thơ, mà cũng không làm sao mua nổi một ram. 
Một luồng gió lạnh lại thổi qua. Tôn sực nhớ lại á xẩm bên cạnh, vì chàng vừa nghe hai hàm răng cô đánh nhau dòn như người ta nhảy thiết hài. 
Day qua nhìn á xẩm, miệng đánh bồ cạp, nách kẹp hộp đờn để sang cho nó đôi chút ấm thừa, một lần nữa, Tôn lại nhớ đến cuộc gặp gỡ trên bến Tầm Dương ngày xa xưa kia: 
Cùng một lứa bên trời lận đận… 
Câu thơ của Bạch Cư Dị trong bài hát Tỳ Bà Hành đêm nay sao mà vang dội như tiếng kêu thương của ngàn thu cũ. 
Cơn lạnh của ả ca nhi kia, có phải chăng là cơn lạnh của chính chàng, của bao nhiêu nghệ sĩ khác? 
Tôn là một thi sĩ, mà tài thơ đang vào độ nảy nở tột cùng. Thế mà chàng đã trải qua những ngày cơ cực, thì còn nói gì vài năm nữa đây, khi thơ sẽ cạn nguồn, lời sẽ hủ lậu, thì thật là “không kẻ đoái người hoài”. 
Ngậm ngùi, chàng nhớ lại cảnh đời buồn tẻ của những bạn văn đã về chiều; những ngày chớm nở của họ vui rộn bao nhiêu, thì những ngày tàn tạ lại lẻ loi bấy nhiêu, buồn như cảnh một vị quan xưa về hưu, ô hô xe ngựa, khách khứa, lễ trình. 
Còn nhớ đến chăng mấy ông bạn văn già, chỉ có những cậu học trò biết người qua tác phẩm, không vồn vã lúc đương thời, cũng không thờ ơ khi tàn nghiệp. 
Người ta mời chàng đi ăn đêm hôm nay, chỉ cốt để khoe với thế gian rằng, người ta quen với nghệ sĩ, một nghệ sĩ đang lên. Vài năm sau, một nghệ sĩ khác sẽ thay cho chàng, để đi làm món trang sức cho đám tiệc của những phú ông sính văn nghệ khác. 
Tôn tiếc rằng, đã không ngông được như thi sĩ Đức Henri Heine, thi sĩ Pháp La Fontaine, để từ chối mọi cuộc đưa đón, mời mọc của những ông nhà giàu thích ké cái thơm lây của văn nghệ sĩ. 
Nhưng chàng hối hận ngay. Dầu sao, các ông nhà giàu nầy cũng còn biết đến văn nghệ sĩ. Còn khối ông nhà giàu khác, chẳng coi văn nghệ sĩ ra cái cóc rác gì hết, thì sao! 
Cùng một lứa bên trời lận đận… 
Không bao giờ, Tôn thấy chàng thân hơn nữa với một người, chỉ quen nhau với chàng, vì một chuyến đò nầy. 
– Tỳ Bà Hành? 
Tôn đột ngột hỏi á xẩm như vậy. Ý chàng muốn nói: “Cô có biết bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị chăng ?”, nhưng dốt tiếng Tàu, và không chắc á xẩm hiểu câu tiếng Việt rắc rối nầy nên mong ba tiếng chữ Nho ấy giúp cô ta hiểu. 
Á xẩm ngơ ngác nhìn chàng, Tôn lại đổi giọng của ba tiếng kia, hỏi nữa: 
– Ty Bá Hanh? 
Cô xẩm lại càng ngơ ngác. 
– Xý Bá Hang? Tôn lại hỏi bằng giọng mới. 
– Xý Bá Hang à? 
Cô xẩm hỏi gặng lại, nhưng vẫn lắc đầu. 
– Pì Pế Hán? 
Nhận thấy á xẩm để tóc rìa phủ lên trán, chàng biết ả ta là người Triều Châu, và nhơn biết giọng đọc của Triều Châu cú trắc của chữ Nho, họ đọc ra bằng và ngược lại, nên Tôn mới đổi giọng cuối cùng, thử một lối đọc, mà chàng mong người Triều Châu hiểu. 
Thật là may mắn hết sức. Á xẩm hiểu thật, lặp lại câu ngắn của chàng đến hai lần, vừa nói, vừa cười, vừa gật đầu lia lịa: 
– Pì-Pế-Hán! Pì-Pế-Hán! Pì-Pế-Hán! 
Ả ta mừng rỡ hết sức, đã đoán hiểu được câu hỏi của Tôn, vì chàng đã nói đúng tên bài thơ Tàu ấy bằng thổ ngữ của cô. 
Nhưng nỗi mừng chưa trọn, á xẩm bỗng chợt hiểu những ý nghĩ thầm kín của chàng, chợt liên tưởng, như chàng, đến người ca nhi già gảy đờn Tỳ Bà trên vàm sông Bôn, cho một thi sĩ lưu lạc nghe. Mặt cô bỗng đượm buồn hơn cái đám mưa nằng nặng ngoài kia. 
Á xẩm nhìn Tôn, nhìn chiếc sơ-mi đã nhàu nát, chiếc cà vạt đã ngã màu, và chắc cô cũng đã liên tưởng đến một vạt áo lam hoen bụi viễn tái. 
Cô ngâm nho nhỏ những gì mà Tôn đoán hiểu như là: 
Kim niên hoan tái phục lai niên, 
Mộ khứ triêu lai, nhan sắc cố. 
… 
Môn tiền lãnh lạc, xa mã hy… 
Bỗng Tôn nghe cô ta nấc lên mấy tiếng. 
Dưới ánh đèn lờ mờ, vài giọt nước chảy lăn trên má cô. Lệ hay nước mưa? 
“Pì-Pế-Hán! Pì-Pế-Hán!” 
Á xẩm thổn thức, lập đi, lập lại tên của bài thơ Bạch Cư Dị đến mấy lần.

Đêm hôm đó, viên Tư Mã tưởng tượng của đất Giang Châu không cho lệ thấm lam y, vì trong giây phút trấn tĩnh, hắn thấy mình chưa chịu chiến bại như ả ca nhi kia.

Ăn cơm chưa

vietmessnger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 23 Sep 2024

Bà sơ rút nhiệt kế ra khỏi nách tôi, chăm chú đọc nhiệt độ, mặt lộ vẻ ngạc nhiên như không tin ở điều mà bà đọc thấy. Bà dòm mặt tôi, đoạn đọc lại một lần nữa. 
Tôi đang hồi hộp vì đoán rằng có chuyện không hay thì bà đã nhảy ra khỏi phòng, làm cho tôi hốt hoảng đến cực điểm.
Tôi mắc chứng thương hàn, sốt mê man mấy tuần nay, vừa tỉnh lại chứng kiến sự bối rối của con người áo đen bé loắt choắt ấy, làm tôi ngỡ, tôi chết đến nơi. 
Nhưng gương mặt tươi của bác sĩ Chaput hiện ra nơi khung cửa, giúp tôi an lòng lại ngay. Giờ ấy còn sớm quá, bác sĩ, chắc mới đến nhà thương, chưa kịp mặc áo choàng, còn vận thường phục. 
Bà sơ theo sau nói: 
– Hắn không còn nhiệt độ nữa, chắc hắn phải lạnh lắm, vì sự thay đổi đột ngột nầy, tôi cho hắn uống Potion de Todd, bác sĩ nhé! 
– Phải đấy. 
Đoạn bác sĩ hỏi tôi: 
– Ông nghe thế nào? 
– Như vừa tái sanh, thưa bác sĩ. 
– Tốt! Mới nghe, tôi hoảng lắm, vì nhiệt độ xuống thình lình, có thể là triệu chứng của sự chảy máu ruột… nếu ông lén ăn gì. 
Tôi cười, một cái cười héo hon của con người sốt liên miên hăm tám ngày, mà không ăn uống gì cả trong thời gian đó. Bác sĩ dặn thêm, trước khi rời buồng tôi: 
– Vài hôm nữa là thèm ăn, nhưng phải nhịn, ăn là lủng ruột ngay. Ngoan lên nhé! 
Quên nói rõ, là tôi mắc bịnh nầy trước chiến tranh, vào thuở mà loài người chưa tìm ra thuốc trị thương hàn. Nhà thương cứ để vậy, tiêm thuốc nâng đỡ cho trái tim khỏi lụy, rồi ai kháng chết được, thì sống, ai yếu lắm, là đi. 
Như vừa được tái sanh! Tôi nói không quá lố lắm đâu. Vi trùng thương hàn phá rối sinh lý con người một cách kỳ lạ lắm. Tôi nghe yêu đời ghê hồn và dòm ra sân nhà thương tỉnh Bình Dương (bấy giờ là Thủ Dầu Một), tôi thấy khóm bông gừa, thứ bông hèn ấy, sao mà hôm nay lại đẹp lạ lùng. 
Trưa hôm đó, bác sĩ Chaput khoe với tôi rằng, ở trại bố thí III, một con đồng bịnh với tôi cũng vừa khỏi. Ông ta sung sướng về chuyện ấy lắm, vì con bịnh các trại bố thí chết nhiều quá, khiến dân chúng hiểu lầm, nhà thương bỏ bê người nghèo khó. Sự thật, thì sở dĩ, số tử ở đó lên cao theo tỷ lệ, vì các con bịnh nghèo, thường để thật nguy kịch mới vào nhà thương và khi vào điều trị, không có người nhà theo để săn sóc, nhà thương chỉ vừa đủ người lo thuốc men thôi. Còn những sự săn sóc (rất cần) phải được người nhà lo lấy mới mong lành bịnh. 
Tôi yêu đời, và cố nhiên, yêu kẻ đồng bịnh vừa khỏi cùng một lượt với tôi. Ba hôm sau, được nuôi dưỡng bằng nước xúp và bột Ý, tôi đã chống gậy đi được, và mục tiêu phiếm du đầu tiên của tôi là trại III. 
Kẻ đồng bịnh với tôi là một cô gái Trung Hoa, hai mươi tuổi, con gái đang thì, cái ngực tất phải to, thế mà tôi trông cô ta xẹp lép như con khô hố. Cái mền cô ta đắp, như dán sát vào chiếu nhà thương. 
Người bạn đồng bịnh với tôi, đi không được như tôi. Trong cơn nóng sốt không ăn, người nhà tôi có mua Sérum Glucosé cho bác sĩ bơm vào tôi, nhờ thế mà tôi không suy lắm. Con bịnh nghèo nầy, thì khỏi hưởng món xa xí phẩm ấy, mà nhà thương không sắm được, vì kém tài chánh. 
Tuy nhiên, nhìn sơ cô gái, tôi cũng thấy là cô ta đẹp lắm. Hoa tàn kia mà còn mang dấu vết thời tươi thắm thay, huống chi đây chỉ là một đóa hoa thiếu nước lọ trong chốc lát thôi… Cứ theo người cùng trại với Á Lìl, thì cô ta là một đứa bé “mua”. Chú Xừng Hinh, chủ tiệm chạp phô ngoài chợ, năm xưa về thăm quê quán bên Tàu, gặp mùa lụt lội, đói kém, đã mua đứa bé ấy ba mươi đồng bạc. Bạc Trung Hoa với bạc Đông Dương thuở ấy tương đương giá với nhau, thì các bạn biết, con bé ấy rẻ là dường nào. 

Chú Xứng Hinh cũng khá, xem Á Lìl như con chú, chớ nhiều thằng khác, nó nuôi những con bé “nước lụt” ấy cho đến thời trổ mã, bắt làm lụng cho bù với số tiền mua, rồi lại hưởng luôn chúng là khác. 
Như chủ nó, Á Lìl là người Triều Châu. Phụ nữ Triều Châu để rìa tóc phủ lên trán, xem rất ngây thơ và có duyên. Họ lại đẹp người hơn tất cả các thứ người Trung Hoa khác. Á Lìl lại là gái dung nhan có hạng trong thứ người đẹp nầy, nên tình thương kẻ đồng bịnh của tôi, bỗng nhiên, tăng lên gấp bội, vì tôi mới có hăm ba tuổi. 
Nếu như ở ngoài, chắc không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện yêu một ả nô tỳ, cho dẫu là nó đang đẹp lộng lẫy. Nhưng ở đây, nó là con bịnh, đồng hạng với tất cả con bịnh khác. 
Một ngày, tôi chống gậy xuống trại III đến hai lần, lần nào tới nơi, tôi cũng đứng lại nơi cửa trại, để thở dốc một hơi, rồi mới vào được. 
Á Lìl đoán biết tình cảm của tôi đối với nó, nên lần nào, mắt nó cũng sáng lên, khi nghe tiếng gậy của tôi nện cồm cộp trên gạch. 
Từ năm lên chín, mãi đến bây giờ, nghĩa là từ năm bị bán và đưa sang nước “An Nam”, con nô tỳ nầy chưa được ai nói ngọt với nó lời nào cả. Bây giờ, bỗng nhiên có một dân mặc bi-da-ma riêng, lân la thăm hỏi nó, thì làm sao nó không rưng rưng lệ sung sướng được. 
Mặc dầu chỉ được uống nước cháo với đường hạ, con ở Á Lìl cứ càng ngày càng hồng hào ra. Con gái, dường như, có dự trữ trong người những sức mạnh gì như cứ chực vùng lên, không cần ăn gì cho bổ lắm, họ cũng cứ béo tốt ra. 
Má Á Lìl cạn dần lên, trông ngon như hai trái đào ở bảy phủ Triều Châu mà Á Lìl thường ca tụng với tôi. 
Trông Á Lìl, tôi nghĩ ngay đến những phi tần bên Tàu ngày xưa, cũng tuyển lựa trong đám dân “nước lụt” như vầy. Thì ra, con gái Trung Hoa, ngàn đời, vẫn đẹp và vẫn để mà tiếp tế cho các cung tần. Á Lìl sẽ làm bé chú chệt già đại phú nào đây, một ngày kia. 
Hôm ấy, Á Lìl ngồi dậy được, nhưng còn phải ăn cháo hoa với hàm-yũu. Cháo với vị mặn giúp Á Lìl tươi tỉnh hẳn ra. Nó tiếp tôi bằng một bài hát gì đó, tôi không hiểu, nhưng rất thích nghe. Cái giọng mũi của người Triều Châu, khi hát lên, nghe líu lo rất dễ yêu, nhứt là dễ thương, nghe như là họ khóc cảnh sống lầm than của họ. 
Á Lìl cắt nghĩa cho tôi biết rằng, bài hát ấy nói đến cái mặt trăng nho nhỏ và tròn tròn. Nó mới giải thích tới đó, thì người nhà chú Xừng Hinh mang cho nó một gàu-mên cơm. Mắt con Lìl sáng hơn là khi tôi mới vào thăm nó nữa. Tôi hỏi: 
– Nhà đem cơm từ bao lâu rồi? 
– Ngóa thèm quá, chỉ mới nhắn đem vô lần đầu thôi. 
– Lìl không nên ăn cơm vội. Bác sĩ không có dặn gì sao? 
– Bác sĩ nói tiếng Tây, ngóa đâu có hiểu. Bà Sơ biết chút ít tiếng Annam, dặn đừng cho ăn đồ cứng, ăn thì lủng ruột chết liền. 
Á Lìl nói xong cười ngặt nghẹo, một hơi, rồi tiếp: 
– Đời thuở nào, ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi. 
– Lìl không hiểu, chớ ruột Lìl đã bị vi trùng làm cho mỏng lắm rồi đó. 
Á Lìl lại cười một giây nữa, mà rằng: 
– Bị thuốc của thằng Tây làm cho mỏng thì có. Thầy biết sao không? Hổm nay ông Tây chích cho ngóa chết mà ngóa không chết, nên ổng bỏ đói cho ngóa chết đó. 
Á Lìl nói rồi vừa kéo gàu-mên cơm lại, vừa nói: 
– Ăn cơn với ngừng (gừng) nấu dấm thì tốt lắm, như người Annam ăn với muối tiêu vậy mà, chết sao được. 
Tôi bối rối quá. Hôm ấy có Má Mẹ, người cai quản các bà Sơ, từ Sàigòn lên Bình Dương thanh tra, nên bà Louise bận tiếp đón bà Mẹ Bề Trên ấy, không còn ai cho tôi cầu cứu để thuyết lý Á Lìl. Các thầy khán hộ thì đã dặn con bịnh cữ kiêng xong là nghe tròn bổn phận, không theo dõi họ để ngăn cản gì nữa. Còn tôi, tôi ngại một điều, mà cũng chẳng khỏi. 
Khi tôi giựt lấy gàu-mêm cơm, thì Á Lìl giận dỗi trách: 
– Cố lứ nói thương ngóa, sao không cho ngóa ăn cơm? 
– Vì thương mới không cho ăn. 
Thật thế. Nếu Á Lìl chỉ là một cô gái xấu xí, tôi cũng không nỡ để cho nó tự tử một cách gián tiếp như vậy. Huống chi trong mấy ngày vui mừng tái sanh ấy, tôi lại điên dại mà yêu đứa nô tỳ nầy. 
Lìl cười gằn hỏi: 
– Thương gì lại bỏ đói? 
– Vì ăn thì chết ngay. 
– Đời thuở nào, ăn cơm lại chết. Chỉ có không ăn cơm mới chết thôi. 
Á Lìl lập lại câu hồi nãy, rồi khóc mùi mẫn. 
Thật là em nhỏ, mất miếng ăn một cái là khóc bù lu, bù loa. Nhưng không sao, tôi sẽ dỗ em nhỏ, thì em nhỏ nín chớ gì.
Tôi định bụng như thế, nhưng tôi lầm. 
Lần đầu tiên, tôi rờ đến Á Lìl. Tôi vuốt tóc trán nó và nói rằng: 
– Lìl nín đi, rán nhịn, rồi vài bữa khỏi hẳn, tôi sẽ đưa Lìl đi ăn tửu lâu Triều Châu Đại La Thiên ở Chợ Lớn, có nhiều món ngon bằng một vạn thứ cơm gừng dấm nầy. Ở Đại La Thiên có chè thịt heo nè, có cù lao nè. 
Nhưng Á Lìl cứ khóc, khóc như mẹ chết không bằng, lâu lắm nó mới nói được trong tấm tức, tấm tưởi: 
– Ngóa nhớ tía má của ngóa quá. Tía má ngóa vì không có cơm ăn nên chết. Tía ngóa chết đi được một tháng, thì má ngóa bán ngóa cho Xừng Hinh lấy tiền mua gạo cho mấy em của ngóa ăn. Nhưng cả nhà ăn giỏi lắm được mười ngày, chắc rồi cũng chết hết. Cơm sao lại giết người? Không cơm mới nguy chớ! 
Nghe Á Lìl nhắc tới nguồn gốc nó, tôi đau xót vô cùng. Cơm là giấc ác mộng của người Trung Hoa từ mấy ngàn thế hệ nay, cho đến đỗi họ gặp nhau, chào nhau bằng câu: “Ăn cơm chưa?” 
Nhưng làm thế nào cho con bé dại dột nầy hiểu rằng, không cơm thì chết đã đành, mà có cơm, lắm khi cũng chết. 
Vả, Á Lìl không cả quyết ăn vì thèm nữa, mà ăn để trả thù sự chết đói của cả nhà nó, thì làm sao mà thuyết phục nó được. Có lẽ nó đang nhìn cơm, mà nói thầm: “Ừ, ngày xưa, cha mẹ tao không có mầy nên chết, bây giờ gặp mầy đây, tao có dung tha đâu! Tao ăn cho sống dai, mặc kệ lũ nó bày điều, đặt chuyện”. 
Biết nói làm sao cũng không xong, tôi xách gàu-mên mà đi; sau lưng tôi, Á Lìl chửi rủa om sòm bằng tiếng Tàu. Nếu nó mà rượt theo được, chắc nó một mất, một còn với tôi, để cướp cơm lại. 
Chiều hôm ấy, tôi trốn luôn, đến sáng ngày hôm sau mới dám chống gậy qua trại III. 
Á Lìl vắng mặt trên giường. Thấy tôi ngơ ngác tìm quanh, một bà lão vừa ho sù sụ, vừa nói: 
– Nó chết đêm rồi thầy à, hồi năm giờ sáng, người ta đã khiêng nó xuống nhà xác. 
– Trời ơi! Sao lại chết? Tôi giậm chân mà hỏi câu ngớ ngẩn ấy. 
Người khán hộ ở đâu sau lưng tôi đáp hộ bà lão: 
– Chảy máu ruột! 
– Sao lại chảy máu ruột? 
– Vì ăn! 
– Trời ơi! 
Bà lão ho, rồi lại nói: 
– Thầy giựt cơm của nó mà trốn đi, thì chiều lại, người nhà nó đem cơm vô nữa. Nó ăn xong, tối lại kêu đau bụng, vằn vật tới khuya mới chết. 
– Sao bà không mời bác sĩ dùm nó? 
– Có, tôi có cho bà Sơ hay, bả có kêu thầy đây. 
Bà chỉ vào thầy khán hộ, thầy ta lắc đầu thở ra và giải thích: 
– Tôi có tiêm thuốc cho nó, nhưng không gọi bác sĩ… 
– Sao vậy? 
– Vô ích. Chỉ có sang máu mới có một chút xíu hy vọng cứu nó. Nhưng ai sẽ cho máu nó? Còn thuê người để lấy máu 1 thì tiền đâu? 
Là con trai, tôi không khóc được. Nhưng lòng tôi đã tơi bời như áo mục phơi dưới gió to. Đứng tần ngần giây lâu, tôi hỏi bà lão: 
– Nó có nói gì hay không bà, lúc nó hấp hối? 
– Có. Nó có kêu thầy… 
– Kêu tôi? Có nhắn gì hay không? 
Nó kêu khóc rằng: “Thầy hai ơi, té ra, quả thật không cơm cũng chết, mà ăn cơm cũng chết. Ngóa nghèo dốt, biết đâu. Trước kia tía má của ngóa nghèo nên không ăn cơm, ngày nay ngóa nghèo nên không biết, hai lần đều chết. Thầy hai ơi, ở lại mạnh giỏi nhá!” 
Tôi không còn là con trai nữa, nhưng tôi không khóc tiếc thương một cô gái đẹp. Tôi chỉ khóc vì một gia đình sống không tên, không tuổi bị thảm kịch cơm làm tuyệt nòi, chỉ còn một mống thôi. Mống ấy trôi dạt đi xa ngàn dặm, qua cái xứ có cơm nhiều nầy, mà lại cũng không thoát khỏi thảm kịch cơm. 
Ngày nay, mỗi khi nghe một người Trung Hoa chào ai: “Ăn cơn chưa?”, tôi bâng khuâng nhớ lại mối tình yêu đầu và nao nao buồn mối tình thương đầu của tôi.

——————————–

1Thuở đó chưa có ngân hàng máu.

Achtung! Hund!

vanviet.info

Văn 17 Tháng Chín, 2018

Achtung! Schukow! (kỳ 3)

Truyện Trần Vũ

Post by Sơn râu 22 Sep 2024

Chuyện đêm cho Mây, Jung và Đạm Tiên

*Phần 3

(Tiếp theo và hết)

“Achtung! Schukow!”

“Coi chừng Joukov!”, là lời cảnh giác thường vang lên trong các bộ tham mưu Đức từ 1941 đến 1945 giữa các sĩ quan quân báo và phòng hành quân, chính vì Joukov xuất hiện trên mặt trận nào là mặt trận ấy đột biến. Nhưng Joukov không chỉ là vị tướng của tấn công mà còn là vị tướng của tàn khốc.

Gueorgui Konstantinovitch Joukov mà ký âm tiếng Đức là Schukow, tiếng Anh là Zhukov và tiếng Việt xã hội chủ nghĩa phiên âm thành Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp, là vị tướng nhiều huân chương nhất trong lịch sử Hồng quân. Sinh ra tại xã Ougodski Zavod, cách Mạc Tư Khoa 110 cây số, trong một gia đình bần hàn, cha làm thợ đóng giày và mẹ làm phu khuân vác đồng áng, thiên mệnh của Joukov được ấn định qua tên cúng cơm Gueorgui, tức George The Victorious, vị thánh của chiến thắng.

Chiến thắng quan trọng đầu tiên là trận Khalkhin-Gol tháng 8-1939 tại Mãn Châu. Trong vòng hai tuần lễ Joukov đánh tan hai sư đoàn 7 và 23 Bộ binh của đạo quân Quan Đông Nhật Bản (Kwantung Army), loại khỏi vòng chiến 17.700 lính Nhật. Phía Nga 9.703 chết, 15.952 bị thương. Nếu tổn thất đôi bên xấp xỉ thì đứng về phương diện chiến lược là một quả đấm đập vỡ tham vọng Bắc-Á của Thiên hoàng. Hơn một chiến thắng, một bất ngờ quân sự làm nên danh tiếng Joukov. Staline phong cho Joukov chức Tổng Tham mưu trưởng Lục quân ngay sau đó.

Ở chức vụ này, Joukov mang trách nhiệm của những thảm bại liên tiếp từ tháng 6 đến tháng 12-1941, khi quân Đức tấn công. Trong 6 tháng, Hồng quân thiệt hại gần 5 triệu quân, gấp đôi số thương vong của quân Nga hoàng trong Thế chiến thứ nhất. Bên cạnh những sai lầm vì đã tập trung binh lực quá sát biên giới khiến các xa đoàn Đức dễ dàng bao vây sau đột phá, còn có chiến thuật biển người là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao. Chính trong giai đoạn này và kéo dài sang hết 1943, các sử gia tìm thấy chữ ký của Joukov bên dưới những Sát lệnh.

Quân lệnh ngày 16 tháng 8-1941, còn gọi chỉ thị No 270, xem các binh sĩ Hồng quân bị Đức bắt là phản quốc. Thân nhân các quân nhân này bị tập trung quản chế. Đối với các sĩ quan và binh lính không đầu hàng nhưng tháo lui trước kẻ thù, là án tử hình, gia đình bị cúp tem phiếu thực phẩm.

Chất sắt máu tăng dần với những thất trận. Tại mặt trận Léningrad, đích thân Joukov soạn thảo ba quân lệnh “bổ túc”: Các bí thư xã phải xử lý những gia đình cộng tác với Đức, bắn vào những ai chạy theo Đức bất kể giới tính và tuổi tác (Quân lệnh 19 tháng 9-1941). Những hộ chứa chấp đào binh sẽ ra Tòa án Mặt trận. Các địa phương hành quyết tức khắc những gia đình có bộ đội đầu hàng (Quân lệnh 28 tháng 9-1941). Các chính ủy phải bắn chết ngay lập tức những binh sĩ nào cất giữ truyền đơn của Đức trong mình (Quân lệnh 5 tháng 10-1941).

Chính trong những ngày này mà đại tướng Dmitri Pavlov, tư lệnh Phương diện quân phía Tây (Army Group West) bị xử giảo, chỉ vì đã thảm bại tại Minsk. Trường hợp trung tướng Katchalov, tư lệnh Tập Đoàn quân 28 Sô-Viết (28th Army), là một bi thảm. Toàn thể gia đình, thân nhân của Katchalov, từ vợ con đến cha mẹ, anh chị em và cháu đều bị hành quyết mặc dầu trung tướng Katchalov đã tử trận khi cố gắng phá vây. Quả phụ Nina Tukhachevsky, vợ của nguyên soái Mikhail Tukhachevsky bị thanh trừng 1937, cũng bị lôi ra thắt cổ để làm gương. Joukov từng là thuộc cấp thân cận của Tukhachevsky và được đích thân Tukhachevsky hướng dẫn, đào tạo về chiến lược. Trong sáu tháng, nửa triệu lính Nga bị tình nghi “phản bội” bị đày đi Tây-Bá-Lợi-Á và trên 15.000 binh lính cùng sĩ quan bị xử tử. Phải đến 1956 những người này mới được phục hồi. Bàn tay Joukov thấm máu của chính đồng đội mình.

Trên mặt quân sự nếu tổng phản công mùa đông của Joukov cứu thoát Mạc Tư Khoa, đẩy lui quân Đức, thì tổn thất phía Nga gấp ba phía Đức. Sang 1942, với năm Tập đoàn quân nhưng Joukov thất bại không tái chiếm được Rjev do 1 Lộ quân Đức trấn giữ (9th Army của tướng Walter Model). Tháng 5-1942, Joukov không thể ngăn thống chế Erich von Manstein với Lộ quân 11 Đức (11th Army) hạ pháo đài Sébastopol trên bán đảo Crimée và bắt sống 90.000 tù binh Nga. Tháng 7-1942, Joukov thảm bại trong trận sông Volkhov không thể giải vây Léningrad, tệ hơn nữa trung tướng Andrei Vlassov chỉ huy Tập đoàn quân Xung kích số 2 (2nd Shock Army) ra hàng rồi hợp tác với Đức thành lập Quân đội Quốc gia Nga chống Cộng sản. Ngôi sao của Joukov chỉ tỏa sáng từ trận Koursk tháng 7-1943 (chiến thắng Stalingrad tuy từ ý niệm phản công cạnh sườn của Joukov nhưng do Eremenko và Koniev thực hiện). Kể từ đây, thiên mệnh của Gueorgui Joukov, George The Victorious, hoàn thành. Cao điểm là cuộc hành binh Bagration vào tháng 6-1944 hủy diệt Liên Lộ quân Chính tâm (Army Group Centre) của thống chế Đức Ernst Busch rồi kết thúc với chiến thắng Bá Linh.

Joulov là một thiên tài quân sự? Có thể trả lời tuy bền bỉ, quả quyết, năng động và nhạy bén, Joukov không tinh vi bằng Von Manstein, không táo bạo bằng Rommel và chưa thần tốc bằng Guderian. Lý do chiến thắng nằm trong nhiều yếu tố: Nhân lực vô giới hạn của Hồng quân. Từ 1943, một quân nhân Đức đương đầu với năm rồi bảy chiến sĩ Sô-viết, sang đến 1944 là một lính Đức chống 10 lính Nga. Tương quan pháo binh là 1/11. Tương quan chiến xa là 1/8. Tương quan máy bay là 1/3. Tất cả các sử gia Tây phương đều chuẩn thuận phải 130 lính Mỹ mới có thể đối đầu 100 lính Đức, năm xe tăng Sherman bị phá hủy mới hạ được một xe tăng Đức, phía Nga là 300 lính Nga để đương đầu 100 lính Đức, bảy xe tăng T-34 bị hủy mới bắn cháy một chiến xa Panzer. Vậy, vì sao Joukov chiến thắng? Tháng 6-1944 Liên quân Anh-Mỹ đổ bộ Normandie, 10 sư đoàn thiết giáp Đức chuyển sang phía Tây, thống chế Ernst Busch không còn quân cơ động và Bộ Tổng Tham mưu Đức không còn trừ bị. Thêm vào yếu tố ngoại vi: Franklin Roosevelt từng tuyên bố “Hoa Kỳ là kho đạn của các nền Dân chủ!”. Trong thực tế, Hoa Kỳ là kho đạn khổng lồ của Staline. Trong suốt thế chiến, qua hai ngả Bắc Băng Dương và Ba Tư, Roosevelt cung cấp cho Staline 12.000 chiến xa, 22.000 máy bay, 376.000 quân xa, 35.000 mô tô, 51.500 xe jeep, 5.000 súng chống chiến xa, 473 triệu viên đạn, 350.000 tấn thuốc nổ (B. Schofield, Les Convois de Russie, Nxb Presses de la Cité 1965). Chính khối lượng vũ khí này đã giúp Joukov phản công mùa đông, cứu vãn Liên-Xô đã nguy ngập, cũng chính 376.000 quân xa sản xuất từ cơ xưởng xe vận tải Studebaker ở tiểu bang Indiana đã giúp cơ động hóa Hồng quân. Roosevelt không ngây thơ mà tính toán. Bên cạnh lời hứa của Staline giúp đánh Nhật, Roosevelt muốn triệt hạ hai đế quốc Anh-Pháp giành vị trị thống trị cho Hoa Kỳ. Trong một thế giới lưỡng cực Nga-Mỹ, các quốc gia phi cộng sản sẽ lệ thuộc Hoa Kỳ. Roosevelt đã cấm giao vũ khí cho Pháp khi Đức tấn công, dù Pháp đã thanh toán bằng vàng, cấm bán vũ khí cho chính quyền Decoux khi Nhật vào Đông Dương. Thỏa thuận “Lend-Lease” cho phép Anh mua vũ khí trả góp, sẽ khiến đế chế Anh phá sản không còn ngân quỹ duy trì thuộc địa sau thế chiến. Thế giới chuyển từ tay Anh-Pháp sang tay Mỹ, là một thành công ngay cả khi phải chia đôi với Staline.

Trở lại với thiên mệnh của Joukov, một thiên mệnh lên đến tột đỉnh vinh quang khi Joukov nhận đầu hàng của thống chế Wilhelm Keitel ngày 8 tháng 5-1945. Những thước phim truyền hình còn lưu trữ giây khắc lịch sử. Những thước phim đem Joukov, vị anh hùng Xô-viết, đến toàn nhân loại. Các sử gia cùng đồng thuận: 600 sư đoàn Đức trên tổng số 700 tiêu hao trên đất Nga. Chính Hồng quân thu hút chủ lực Đức. Công trạng của Joukov là có thật. Cũng không tướng lĩnh Đồng Minh nào chỉ huy nhiều quân, ở vị trí tối cao và trong thời gian lâu bằng Joukov. Eisenhower khi đổ bộ lên đất Pháp chỉ huy duy nhất hai Liên Lộ quân, 21th Army Group của thống chế Bernard Montgomery và 12th Army Group của đại tướng Omar Bradley. Danh tướng Patton chỉ chỉ huy một Lộ quân (3rd Army), trong lúc Joukov từng chỉ huy cùng lúc từ bốn đến sáu Phương diện quân (Army Group). Khi ký kết văn kiện đầu hàng, Joukov ngồi chính giữa Eisenhower và Montgomery, cho thấy vị trí cùng vinh hiển của Joukov.

Bảy thập niên sau, các báo chính thống trong nước tiếp tục ca ngợi và xưng tụng Joukov, nhưng tránh nhắc đến hậu chiến.

Gueorgui Joukov, bốn huân chương Sao vàng Anh hùng Liên-Xô, sáu huân chương Lénine, hai huân chương Chiến thắng, một huân chương Cách mạng Tháng Mười, ba huân chương Quân kỳ Đỏ, hai huân chương Suvorov hạng nhất và 16 huy chương anh hùng khác…. chưa đầy một năm từ lúc Đức đầu hàng, bị cách chức. Đang là Đại Nguyên soái, Phó Ủy viên Nhân dân Quốc phòng, Phó Tổng Quân ủy Trung ương, Đại diện Đại Bản doanh Bộ Tổng Tư lệnh Tối cao Stavka Sô-viết, Chủ tịch Ủy ban Quân chính Vùng Giải phóng, Phó chủ tịch Hội đồng Quốc phòng, Khu ủy Đông Âu, giữ ngôi vị thứ hai sau Staline về quân sự, Joukov 49 tuổi đột ngột bị cho về làm quân trấn trưởng Odessa mà quân số địa phương chưa đến một trung đoàn. Nhiệm vụ mới của Joukov: chặn bắt buôn lậu cập cảng Odessa!

Lý do? Joukov phạm tội khi quân. Sau chiến thắng, Joukov sai họa sĩ Yakovlev vẽ nhiều bức chân dung mình cưỡi ngựa, tương tự như các bức tranh vẽ Nã Phá Luân khải hoàn. “Khinh mạn và sàm báng!” Staline đã đập tay lên mặt bàn trong datcha, tư dinh tại Kuntsevo. Khi quân: Ngày chiến thắng, duyệt binh trên Hồng trường, Joukov đã oai vệ diễu binh trên ngựa trắng làm Staline khó chịu. Hắn không biết trên đất Nga chỉ có một Sa hoàng là Staline? Khinh mạn: Vì sao Joukov dám kết bạn tâm giao với Eisenhower và Eisenhower không tiếc lời ca ngợi Joukov? Vì sao Joukov chấp nhận cho báo Pravda xem Joukov là “Người học trò xuất sắc nhất của Lénine” mà không đính chính Staline mới là “học trò xuất sắc nhất”? Sàm báng: Joukov giành hết chiến công cho bản thân mà quên Staline là vị thầy tư duy đánh bại Hitler. Những tấm tranh như trêu ngươi, vực lên trong lòng Staline ý nghĩ Joukov có khả năng thống lĩnh quân đội đảo chánh. Triệt đi để không di họa.

Thiên mệnh của Joukov chậm rãi an bài. Các nguyên soái Koniev, Eremenko và đại tướng Golikov đồng loạt tố cáo Joukov tham nhũng, lạm quyền và tư lợi, cướp bóc sản vật cho chính bản thân trong những vùng “giải phóng”. Phải nhìn ở đây lòng ghen tỵ, hay chỉ thị của Staline hoặc sự trả thù cho những đồng đội đã bị Joukov hành quyết? Có thể cả ba. Joukov nín thở, vì mỗi một làn hơi thở bất cẩn là một làn hơi thở của thần chết. Mỗi tháng Joukov đều viết thư cho Staline xin minh oan, thề thốt trung thành và tự nguyện “hoàn trả cho nhân dân” tranh cổ, tượng quý, cổ vật mà Joukov đã “mua sắm” quá tay… Staline không hồi âm cho đến khi Joukov bị xử kín.

Thoát chết nhưng Joukov mất hết tất cả phẩm hàm, quân tịch, chức vụ và bị đồ sang Tây-Bá-Lợi-Á trông coi một phân khu khiêm nhường. Gia sản Joukov bị tịch biên. Bộ Công An trưng thu 320 áo lông gấu, 50 áo da khỉ, 60 áo da rái cá, 70 viên kim cương, 740 bộ dao nĩa bằng bạc, 60 bức tranh lấy từ các bảo tàng viện Áo-Hung-Đức, 3.700 thước lụa quý, 194 món đồ cổ, nhiều chục đồng hồ vàng, một trâm nạm ngọc và một vương miện của nữ hoàng Augusta-Victoria mà Joukov tặng cho con gái. (Jean Lopez & Lasha Otkhmezuri, Joukov, chương La Disgrace [Thất sủng], Nxb Perrin 2013)

Cho đến khi Staline chết, tên Joukov bị gạch đi trong quân sử Hồng quân. Mãi cho đến khi Nikita Khrouchtchev lên cầm quyền, Joukov mới được phục hồi vì Khrouchtchev cần Joukov giết đối thủ Béria, cần quân đội trấn áp công an để giành lấy guồng máy khủng bố. Khrouchtchev tấn phong cho Joukov làm Bộ trưởng Quốc phòng và Joukov sẽ gửi chiến xa sang Hung Gia Lợi đàn áp cuộc nổi dậy của dân Hung muốn thoát khỏi quỹ đạo cộng sản. Đến 1957, Joukov bị cho về hưu vĩnh viễn rồi chết trong âm thầm lặng lẽ. Vị nguyên soái vĩ đại nhất của Hồng quân không hề hay biết ở một phương trời xa, bên Viễn Đông có một vị đại tướng họ Võ, đã học chữ “nhẫn” của mình.

TV, 5 tháng 6-2017

Trần Vũ

Achtung! Hund!

vanviet.info

Văn 15 Tháng Chín, 2018

Truyện Trần Vũ

Post by Sơn râu 22 Sep 2024

Chuyện đêm cho Mây, Jung và Đạm Tiên

*Phần 2

Binh sĩ Lục quân Đức

Ngày 16 tháng 11-1941, Quân đoàn 56 Thiết kỵ (LVI Panzerkorps) của thiếu tướng Ferdinand Schaal chiếm Klin. Ngày 17 tiến xuống phía nam hồ Volokolamsk, áp sát Moussino, một vị trí chiến lược cắt giao lộ nối Kalinine. Điện Cẩm Linh chỉ còn cách 100 cây số. Nhật ký hành quân của sư đoàn 6 Kỵ binh (6thPanzer Division) của chuẩn tướng Erhard Rausghi lại một trận đánh thảm khốc.

Nhiệt độ xuống 5 độ F (-15 độ C). Ngày 17 là một buổi sáng ảm đạm mù sương. Mặt trời chỉ xuất hiện lúc 9 giờ sáng. Các tiền sát viên pháo binh đặt đài quan sát trên một cao điểm trông xuống Moussino. Chung quanh, trong chu vi 3 cây số là những cánh rừng đông đặc. Các tàng thông đông cứng thành những mũi nhọn thủy tinh. Khoảng cách giữa Tiểu đoàn Viễn thám (Aufklärungs-Abteilung) của sư đoàn với quân Nga là một cánh đồng ngập tuyết không tiếng động.

Binh sĩ đợi lệnh tấn công. Tất cả cùng hiểu tầm quan trọng của Moussino, án ngữ trục đường giữa Chelkova và Dorokovo. Chiếm Moussino là uy hiếp Mạc Tư Khoa từ phía bắc, tức vây 2 Tập đoàn quân Nga vào chiếc rọ Istra – Krasnaia Poliana. Tất cả binh sĩ đều nghe nhật lệnh của đại tướng Erich Hoepner: Sứ mệnh của Xa đoàn là làm ngừng nhịp đập của trái tim Sô-Viết!

“Cầu cho thời tiết ấm!”. Binh lính thầm nghĩ. Duy nhất mùa đông băng giá có thể hãm bước tiến của quân Đức. Một tiểu đoàn viễn thám, gần như một chiến đoàn liên binh chủng, kết hợp hỏa lực của phòng không, pháo binh nhẹ, chiến xa, xe bọc sắt, với súng cối trên halftrack và bộ binh cơ động tùng thiết trên bán xích xa sdkfz251, đủ sức chiếm Moussino.

10 giờ sáng. Cùng một lúc tất cả ống nhòm đều quay về phía bìa rừng. Kỵ mã Nga phi nước đại vụt qua và biến mất sau doi đất.

“Panzer Alarm!”. “Báo động chiến xa!”.

3 chiếc T-34 sơn Sao đỏ trên pháo tháp gầm rú trên mặt băng. Kỳ quặc là không có bộ binh yểm hộ. Từ phía sau, phân đội Sát Thiết (Panzerjager) đã khai hỏa. Đại bác chống tăng 37 ly dội ngược trên vỏ thép. Phân đội Phòng không nặng FLAK 88 ly nhập cuộc. Trực xạ! Đạn xuyên phá Tungsten!

3 chiếc T-34 bật tung pháo tháp. Sắt thép chưa kịp rơi xuống đã vang lên báo động thứ nhì:

“Achtung! Kavallerie!”. “Báo động! Kỵ mã!”.

Sư đoàn 44 Sô-Viết

Kỵ mã thật sự. Từ phía bìa rừng bên phải cuồn cuộn như sóng. Ban đầu là từng đoàn kỵ sĩ phi nước kiệu, phân chia thành từng đội, khinh kỵ, giáp kỵ rồi kỵ binh nặng với kỳ mã cầm cờ và an ninh cạnh sườn, mỗi đội trên 200 quân kỵ, khoảng cách từng đội 100 thước. Tiếng kèn vút lên thinh không. Lập tức đoàn kỵ mã chuyển sang phi nước đại, tuyết tung lên dưới vó ngựa. Tức khắc một đoàn kỵ mã thứ nhì xuất phát khỏi bìa rừng, tiếp nối ngay phía sau, rùng rùng chuyển động. Các binh sĩ Đức im bặt, tê liệt trước cảnh tượng, gần như viễn mơ, làm sao có thể xảy ra ở vào thời đại của bom mìn, liên thanh, lựu đạn, một cảnh tượng của thế kỷ 19. Nhưng trung đoàn kỵ mã Nga có thật, hiện diện thật sự, đang lao đến. Các sĩ quan phóng ngựa đi đầu đã tuốt trần kiếm. Trong một khắc, cả cánh đồng sáng lừng lên sắc kim loại vì tất cả các kỵ mã cùng tuốt gươm. Ánh thép rạng trên băng giá của nền tuyết phản chiếu như một tấm gương. Mỗi thanh kiếm vút lên không trung một lấp loáng sáng rực kết thành một chuỗi thủy tinh chuyển động. Tiểu đoàn Đức bất động. Hình ảnh như trong một bức tranh. Một khúc phim. Lớp sóng thứ ba, rồi thứ tư, thứ năm, liên tục tiếp nối, cuộn cuồn như một đại dương lởm chởm đá ngầm mà thủy triều cuốn theo những tảng băng. Cả một trung đoàn kỵ mã Cossacks!

“Elemente auf den ersten 2500 Meter!”.

“Xa 2500 thước!”. “2000!”. “1500!”.

Tiếng hô của tiền sát viên pháo binh và tiếng chuyển lệnh xạ điểm trên xạ bảng là chuỗi âm thanh cao duy nhất trên nền trầm đục của vó ngựa lún tuyết. Các xạ thủ đại liên đã tháo găng, tì bán súng. Thời gian ngưng lại cho đến lúc thêm một làn hơi thở, rồi thêm một làn hơi thở, vụt đứt quảng, vì là lệnh khai hỏa.

“Đạn nổ chụp! Xa 800!”.

Bên kia ống liên hợp, sĩ quan tác xạ của Pháo đội 3, Tiểu đoàn 107 Pháo binh của Sư đoàn 106 Bộ binh tăng phái, lập lại các yếu tố hỏa tập: “Cao 8! Xa 800! Đạn Shrapnel!”.

Cao 8, có nghĩa là trái đạn sẽ nổ cách mặt đất 8 thước, xa 800 là khoảng cách 800 thước từ vị trí tiền tiêu của bộ binh, và Shrapnel là đạn miểng.

Mặt đất hực lên một tia chớp. Như bị sét đánh. Sáng lòa với trần mây bị xé rách và cùng một lúc hàng kỵ mã đổ rạp. Súng cối 81 ly đệm vào như trống. Hàng kỵ mã thứ nhì chúi xuống. Đại bác phòng không 20 ly bốn nòng tự động bắt đầu trực xạ. Những vạch lửa xối xả. Hàng kỵ mã thứ ba ngã rạp. Hàng thứ tư, rồi thứ năm như bị một lưỡi hái vô hình cắt ngang. Thây người và đầu ngựa đứt đôi.

Tất cả diễn ra không quá 10 phút. Nguyên một trung đoàn Kuban Cossacks phủ ngập đồng. Lính Đức vội vã thay nòng đại liên, vì đã vang dậy tiếng báo động: “Achtung! Kavallerie! Linkes Holz!”.

“Báo động! Kỵ mã! Hướng 11 giờ!”.

Lần này là một trung đoàn kỵ mã Mông cổ, với cờ hiệu Tartar của vùng biển hồ Balkhash xứ Kazakhstan, phát xuất từ phía trái bìa rừng. Vẫn như trung đoàn trước, phi nước kiệu, dàn đội hình, rồi tiếng kèn xung phong. Vẫn như lần trước, lớp lớp sóng ngựa phi nước đại với ánh lam rực sáng.

Vẫn như lần trước, phía Đức vẫn cùng những mệnh lệnh: “Đạn nổ chụp! Xa 800! Cao 8!”. Khác biệt duy nhất là đại bác bộ binh tham gia với đạn nổ chống biển người. Các pháo đội Đức hủy diệt đợt tấn công thứ nhì còn nhanh hơn lần đầu. Cả một trung đoàn kỳ mã Mông cổ lềnh máu, chỉ có 30 kỳ binh thoát chết tiếp tục lao đến như tên nhưng bị kết thúc bằng trung liên. 30 trên 1000.

Khoảng đồng trống lúc này ngổn ngang xác nhưng kinh dị nhất trong nhật ký hành quân của Sư đoàn 6 Panzer của tướng Schaal, là cảnh tượng của một trung đoàn thứ 3 rồi thứ 4 của Sư đoàn 44 Kỵ Mã Sô-Viết tiếp tục tiến công trên lưng ngựa, mặc dù từ bìa rừng đã trông thấy cái chết của đồng đội, vẫn tiếp tục phi nước đại, giẫm lên xác người-ngựa của những đồng chí mà ít giờ trước còn hàn huyên, như giẫm lên xác chết của chính họ, không một chút do dự.

Hết lớp sóng này đến lớp sóng khác, các xác ngựa ngã rạp kéo theo kỵ mã như những lượn sóng của một trận triều điên cuồng dập tới tấp vào một ghềnh đá, vỡ tung rồi lại dâng tràn cho đến khi mặt biển lặng. Phía Đức không một người lính bị thương, nhưng trong tiếng rống chói tai của bầy ngựa bị đứt ruột nằm la liệt trên mặt tuyết sẫm huyết, tất cả các binh sĩ Đức đều run rẩy, hai đầu gối đánh vào nhau lập cập. Tất cả đều tướp ướt mồ hôi trong khí quyển lạnh băng. Tiếng động va chạm của đầu gối của họ vang lên như âm thanh của trí não thừa nhận sẽ thất trận trên đất Nga, vì không thể nào chiến thắng một đạo quân mà cấp chỉ huy khinh thường sự sống và xem sinh mạng của binh sĩ là vô nghĩa.

Joukov, là một trong những cấp chỉ huy này.

TV, Buena Park, 30 tháng 5-2017

(Còn tiếp)

Quân nhân Đức của sư đoàn 6 Panzer

Bán xích xa sdkfz251

Phòng không FLAK 20 ly 4 nòng tự động có thể trực xạ chống biển người

Kỵ mã Nga

Achtung! Hund!

vanviet.info

Văn 11 Tháng Chín, 2018

Truyện Trần Vũ

Post by Sơn râu 22 Sep 2024

Kỳ 1

Với Achtung! Hund! Trần Vũ đã sử dụng tài liệu để tạo dựng một không gian truyện, trong đó phần đầu có nhân vật là không khí chiến trận kỳ lạ, vừa rất thật mà cũng hoàn toàn phi thực, bởi nó vượt xa hình dung của chính những người tham chiến. Tất cả không khí ấy nhằm chuẩn bị cho sự xuất hiện của một nhân-vật-người ở phần sau. Nhân vật người ấy, có lẽ người đọc sẽ nhờ lịch sử lục lạo lại những tài liệu khác, để có thêm chút triết lý nhân sinh, sau khi tác giả vừa gợi mở đã vội vã chấm dứt ngay ở câu cuối cùng….

Văn Việt

Truyện Trần Vũ

Chuyện đêm cho Mây, Jung và Đạm Tiên

*Phần 1

Sư đoàn 2 Panzer SS Das Reich tháng 7-1941

Trung đoàn Đại Đức Grossdeutschland trên mặt trận Nga

Ngày 2 tháng 10-1941 Liên lộ quân Chính tâm (Heeresgruppe Mitte) của thống chế Fedor von Bock tiến hành chiến dịch Bão Tố (Opération Typhoon). Mục tiêu: Tiến chiếm Mạc Tư Khoa. Mũi xung kích là Xa đoàn 2 Thiết kỵ (Panzergruppe II) của đại tướng Heinz Guderian, lý thuyết gia của chiến tranh thần tốc Blitzkrieg và là người khai sáng binh chủng thiết giáp Đức. Xa đoàn 2 bao gộp 14 sư đoàn kỵ binh và bộ binh cơ động đã hành quân sấm sét từ miền đông Ba Lan đến Smolenks, tiêu diệt hàng loạt các Tập đoàn quân Sô-Viết tại Bialystok, Vitebsk, Kiev… Mùa Hè 1941, chiến xa Đức bách chiến bách thắng.

Trong cùng ngày, bộ chỉ huy Quân đoàn 47 Thiết giáp (XLVII Panzerkorps) ra tiêu lệnh bắn hạ tất cả những con chó trên đất Nga. Một mệnh lệnh lạ lùng.

Hai ngày trước, nhật ký hành quân của Sư đoàn 267 Bộ binh của chuẩn tướng Friedrich-Karl von Wachter ghi nhận: Các bãi mìn phòng thủ của Trung đoàn 497 liên tục phát nổ trước khi quân Nga tấn công. Sau đẩy lui, binh sĩ phát hiện nhiều đầu chó, đuôi chó vung vãi trên mặt đất. Một ngày sau, thành phần tiền phương của Sư đoàn 3 Kỵ binh (3e Panzer Division) của thiếu tướng Walter Model chạm trán vũ khí mới của Hồng quân. Thiếu úy Lohse dẫn đầu chi đoàn chiến xa chạy qua một rừng hướng dương, những cánh hoa mặt trời lấp lánh. Phía xa là những ngôi làng với nóc nhà thờ trắng. Hạ sĩ Eikmeier đột ngột la lớn: “Achtung! Hund!”.“Coi chừng chó!”. Lohse từ trên pháo tháp nhìn thấy rõ hai con dobermann lao tới, trên lưng chúng quấn một sợi dây to bản với một hộp chữ nhật và cần ăng-ten bên trên. Lohse rút súng lục Luger nhắm bắn. Hụt! Lohse bắn phát thứ nhì. Hụt nữa! Con chó đã chui xuống gầm xe. Một nháng lửa và tiếng nổ ầm cùng lúc. Trên chiến xa phía sau, đại úy Peschke trông thấy rõ cảnh tượng, chiến xa 611 của thiếu úy Lohse vừa như bị hất tung lên với cột khói đen. Con chó thứ nhì đã chồm đến. Peschke nhắm bắn, con chó gục ngay tức khắc, nhưng nhiều con khác từ trong ruộng hướng dương lao ra. Hạ sĩ Müller nhô đầu lên khỏi vị trí hiệu thính viên, bắn bằng tiểu liên. Con chó trúng đạn vẫn phóng tới, lồng lên trước khi ngã dụi. Các con chó đều bị bịt mõm để không gây tiếng sủa.

“Achtung! Hund!”. “Chó mìn!”.

Lúc này thì không còn có thể bắn từng viên được nữa. Hàng loạt chó lao tới. Peschke quát: “Đại liên! Khai hỏa!”. “Maschinengewehre! Feuer!”. Đại liên MG-34 nhịp bắn 900 viên/phút tưới đạn chung quanh đoàn xe, bắn nát cánh rừng hướng dương. Binh sĩ tùng thiết quăng lựu đạn rồi khai quang bằng súng phun lửa. Súng phun lửa! Vũ khí hiệu nghiệm chống chó. Trước các vòi lửa, đàn chó thối lui làm mồi cho súng liên thanh. Lính của đại úy Peschke đếm được 108 xác chó của Đại đội Quân khuyển Nông trường Tuổi trẻ Lénine.

Là tài liệu phía Đức mà Paul Carell trích dẫn một phần trong Hitler và Mặt Trận Miền Đông, và trên những tập san quân sử Pháp, cũng như trong nhiều hồi ký của cựu binh. Phía Nga, Hồng quân Sô-Viết tránh nhắc đến Mìn-Chó, vì không mấy vẻ vang hay vì thấy thiếu nhân bản? Duy nhất một tập nhật ký ngắn của một cậu bé mang tên Ivanovich Korablev.

Một buổi sáng Viktor Korablev, cha của Ivanovich bị quy kết “phản động” và bị “tập trung cải tạo” tại Tây-Bá-Lợi-Á. Lý do: Viktor làm cần vụ cho thượng úy Todorsky từng là tùy viên của nguyên soái Toukhatchevski bị thanh trừng 1937. Đợt thanh trừng vĩ đại: 3 trên 5 nguyên soái, 14 đại tướng trên 16, 8 đô đốc trên 9, 60 trung tướng trên 67, 137 thiếu tướng trên 199, 99 chính ủy cấp Tập đoàn quân trên 108, 11 phó chính ủy trên 11, 98 thành viên Tổng Quân ủy Trung ương trên 108, 43.000 sĩ quan trung cấp trên 107.000 bị hành quyết. [Jean Lopez & Lasha Otkhmezuri, Joukov: L’homme qui a vaincu Hitler, Nxb Perrin, 2013, Chương La Grande Terreur]. Thượng úy Todorsky nằm trong số 40% sĩ quan Hồng quân bị xử bắn. Cha của Ivanovich, Viktor Korablev bị vạ lây.

Một buổi sáng khác, gia đình Ivanovich nghe tin chiến tranh bộc phát. Một tháng sau, công an xã đến tìm bà Korablev đọc lệnh trưng thu chú chó Alexe và yêu cầu bà Korablev ký giấy cho phép Ivanovich “tình nguyện” vào Quân khuyển. Ngược lại, xã sẽ phải báo cáo với Trên, là tại địa phương gia đình của phản động Viktor Korablev không phấn đấu. Misha, em gái của Ivanovich đã khóc chạy theo khi Ivanovich và chú chó Alexe bị dắt đi: “Moya lyubimaya sobaka!”. “Chó yêu thương của em!”.

Ivanovich lên mười lăm. Cậu bé được giải thích nếu cậu hoàn thành công tác Đảng giao phó, cha của cậu sẽ thôi nợ máu với nhân dân. Mỗi ngày Ivanovich phải tập cho chú chó Alexe ăn dưới gầm xe máy cày. Nếu chú chó Alexe tha cục xương ra ngoài, Ivanovich sẽ bị phạt. Rồi một hôm Ivanovich phải quàng lên lưng chó sợi dây nịt với một bao bì bên trong là một viên gạch. Chính trị viên đại đội bắt đầu cho nổ máy xe và huấn luyện cách bắt chó chạy từ tuyến xuất phát cho đến khi chui tụt xuống gầm xe. Phương pháp chính là bỏ đói con chó, cho đến khi con vật đánh mất mọi giác quan an nguy, chỉ còn biết đến thức ăn. Ban đầu tiếng động cơ và khói xăng làm chú sợ hãi. Chú co rúm thân và cụp tai, bấu cứng vào mặt đất. Ivanovich phải vỗ về, khuyên nhủ thì thầm vào tai: “Hãy cố lên, rồi cha chúng mình sẽ được về… Cố lên Alexe, chỉ vào ăn dưới gầm xe thôi mà… có gì đáng sợ. Hãy giúp cha được tha…”. Ivanovich nuốt nước mắt, vì Alexe bị bỏ đói gầy nhom. Đêm khuya, tiếng Alexe cùng với những chú chó khác tru văng vẳng, Ivanovich nhận ra ngay tiếng tru nào là của Alexe, và hiểu chú đói lắm. Nhiều buổi tập Alexe nhất quyết không chịu phóng xuống gầm xe, nhất là khi sang giai đoạn cho xe máy cày chạy, xích sắt nghiến xuống mặt ruộng. Chiếc xe hùng hổ như khủng long làm Alexe run bần bật. Ivanovich bị gọi lên Khung kiểm điểm. Cậu chưa hoàn thành chỉ tiêu tập huấn, chưa thành khẩn đấu tranh sai trái, còn mang nặng tâm lý tiểu tư sản thương xót gia súc. Chưa triệt để đứng về phía nhân dân chống Phát-xít. Khung sẽ phải tư về địa phương cúp phiếu thực phẩm vì gia đình chưa biết động viên con em thi hành nghĩa vụ. Mỗi lần như vậy, Ivanovich đều phải viết cam kết phấn đấu và rồi Alexe, vì đói, cũng chịu lao vào gầm xe nổ máy đang chạy, để giành giựt khúc xương treo lơ lửng. Ivanovich nhận tờ khen Tiên tiến. Cậu sung sướng nghĩ cha sắp được khoan hồng.

Một hôm chính trị viên thay bao bì với viên gạch bên trong bằng một hộp sắt có cần ăng-ten. Ivanovich thắc mắc thì được trả lời: “Bí mật quốc phòng”. Ivanovich chỉ biết đến sự thật ngày cậu và chú chó Alexe chuyển sang công tác ở Đại đội Quân khuyển Mạc Tư Khoa.

Ngày 14 tháng 10-1941 kết thúc song trận Viazma-Briansk. 2 Xa đoàn 3 (Panzergruppe III) và 4 (Panzergruppe IV) của 2 đại tướng Erich Hoepner và Hermann Hoth vây Phương Diện quân Timochenko (Army Group) với 6 Tập đoàn quân (Army) phía bắc, trong lúc Xa đoàn 2 (Panzergruppe II) của Heinz Guderian phối hợp Đệ Tứ Lộ quân của thống chế Hans von Kluge vây Phương Diện quân Eremenko với 3 Tập đoàn quân phía nam. 663.000 anh hùng quân đội nhân dân Sô-Viết bị bắt làm tù binh. 1.242 chiến xa và 5.142 đại bác Nga bị phá hủy hoặc tịch thâu. [Paul Carell, Opération Barbarossa, Nxb Robert Lafont, 1964].

241 cây số từ Viazma đến Mạc Tư Khoa. Cánh cửa điện Cẩm Linh bị mở toang. Trong hai tuần lễ thống chế Von Bock chỉ huy Liên Lộ quân Chính tâm Đức đã tiến 168 km. Tuyến phòng ngự Mạc Tư Khoa từ xa đã bị chọc thủng. Joseph Staline lập tức ra lệnh: “Chết tại chỗ! Không một bước lùi! Xử bắn tất cả đào binh và thân nhân”. Mệnh lệnh sẽ do nguyên soái Gueorgui Konstantinovitch Joukov ký. Tung hết lực lượng, bằng mọi giá phải làm chậm bước tiến của quân Đức để mùa đông kịp phủ trùm chiếc áo choàng buốt giá. Mùa đông trên lục địa Nga nhiệt độ giảm xuống -50 độ F (-45 độ C) là bình thường. Ở nhiệt độ này xăng dầu đông đặc, họng súng phải đút than hồng và lính gác trên 45 phút trong hố cá nhân thành thịt đông. Tiêu thổ kháng chiến. Đốt nhà cửa dân để giữa đồng trống quân Đức không chỗ trú. 32 sư đoàn Tây-Bá-Lợi-Á từ phía đông rặng Oural được đưa về Mạc Tư Khoa ngay khi Staline biết tin Nhật Bản không tấn công Nga. Chưa đủ. Tung chó vào trận địa! Tất cả cho Vệ quốc!

Ivanovich vuốt ve chú chó Alexe, nước mắt trên má cậu đông nhanh thành một lớp thủy tinh rạn. Cậu đã biết sự thật, hộp kim loại chữ nhật là một quả mìn chống chiến xa nối với cần câu. Khi Alexe chui dưới bụng xe, cần ăng-ten gẫy gập, sẽ kích nổ. Ivanovich muốn nhường phần ăn của mình cho Alexe đừng đói, để mất tập quán chạy đến xe máy cày nhưng khẩu phần bị kiểm soát chặt chẽ. Cậu chỉ có thể ra khỏi lều với hai tay trắng và nhận chó dưới canh chừng của Đội Trực quản. Ivanovich bắt đầu thấy nhiều máy bay sơn chữ Thập bay qua đầu và nghe thấy tiếng đại bác mỗi lúc một gần. Tin tức từ chiến trường đầy những anh hùng nhưng mỗi ngày Phát-xít càng đến sát và pháo kích mỗi lúc một mạnh làm rung chuyển khu rừng. Ivanovich được phát tiểu liên Chpagina Ppsh-41 với băng đạn tròn 71 viên. Tuyết đổ chiều hôm trước, hãy còn là trận tuyết đầu mùa với một lớp bông nhuyễn và mịn nhưng chỉ ít hôm nữa sẽ thành một bức tường đá và mọi thứ sẽ nhọn sắc. Ivanovich nhớ những cánh hoa hướng dương đầu Hè, cậu biết chúng đã thối rữa trong bùn mùa Thu nhưng cậu vẫn ráng nhớ những ánh vàng lấp lánh, tựa tia mặt trời, cậu chưa bao giờ thấy gì đẹp như vậy. Chú chó Alexe bồn chồn. Chú đã nhịn đói bốn hôm, miệng chú sùi bọp mép và mắt long lên dữ tợn, cậu phải cố gắng lắm mới có thể kềm Alexe vào giữa hai đùi mình và thắt dây chung quanh mõm. Tiêu lệnh rất rõ ràng: Tuyệt đối không để lính Đức nghe tiếng chó sủa. Chỉ tiêu Một đổi Một. Những ai mang chó còn sống trở về sẽ bị thanh trừng.

Những lần tập, đôi khi Ivanovich cũng phải thắt mõm chó, nhưng đến khi Alexe chui dưới gầm là cậu huýt sáo rồi nhanh chóng tháo ra cho chú chó gặm xương. Còn những khi xe nổ máy và chạy, Alexe phải chui luồn qua đáy xe rồi mới được tháo mõm và phát khẩu phần. Chú chó hực lên liên tục, mỗi lúc một khó kềm. Chú đã nghe thấy tiếng động cơ xa xa, như tiếng chuông giờ ăn. Tiếng máy mỗi lúc một lớn. Ivanovich cũng bồn chồn, các thớ thịt trên mình cậu co giật. Lần đầu tiên cậu ra trận. Thung lũng thoai thoải trước mắt, trĩu những tàng thông phất phơ trên mặt tuyết len những lớp bùn loang lổ như một tấm da báo. Ivanovich nuốt nước bọt, cậu cảm thấy run trong bụng, vừa ý thức cậu đang đẩy Alexe vào chỗ chết. Cậu nhớ em Misha, làm sao giải thích cho em gái hiểu là chính tay cậu đã giết chú chó mà Misha thương mến? Ivanovich nghe các thớ gân trên hai tay mình co giật, cậu muốn bỏ chạy nhưng chính trị viên đại đội ở cách ba gốc cây vẫn không ngừng canh chừng. Đêm hôm trước, lệnh cho phép các chính ủy bắn những ai tháo lui được đọc to giữa đại đội. Ivanovich còn biết phía sau đơn vị lúc nào công an NKVD cũng chờ sẵn để chặn bắt chiến sĩ tháo lui không hoàn thành nghĩa vụ.

Tiếng động cơ chiến xa bây giờ ầm ĩ. Thiết đoàn 2(Panzer-Abteilung II) của Sư đoàn 18 Kỵ binh của chuẩn tướng Walther Nehring, với tùng thiết là Trung đoàn Đại Đức Grossdeutschland. Ivanovich đã học tập kỹ nhưng hai bàn tay cậu vẫn run lên không làm sao giữ vững cương chó. Chú chó Alexe đang cào móng xuống mặt đất, lấy thế chuẩn bị tung chạy đến bữa ăn. Ivanovich bặm môi vì cậu đột ngột đổi ý: chỉ cần nói với Khung là chó đã bị Đức bắn chết, không ai có thể kiểm tra vì đại đội quân khuyển được lệnh rút khỏi trận địa ngay sau tấn công, trả vùng trách nhiệm cho Vệ binh của tướng Pétrov. Chỉ cần thoát khỏi đôi mắt của chính trị viên, sẽ có lúc lơ là. Chỉ cần cậu giữ Alexe trong tay cho đến lúc tình thế thuận lợi, thả Alexe chạy vào rừng… Ivanovich hụp xuống vì phía Đức bắt đầu khai hỏa. Từng chùm đạn phạt xéo trên đầu cậu và cày tung mặt đất phía trước. Ivanovich nằm dụi sát đất, hai tay bấu chặt vòng đeo cổ của chú Alexe. Những cành cây bị đạn phát ngang rụng xuống mình cậu liên tục, kêu lộp bộp. Ivanovich nhìn sang bên, chính trị viên đã biến mất lúc nào. Cậu nghe tiếng khuyến khích chó của đồng đội, tiếng thằng Boris hô “Triệt Phát-xít! Triệt Phát-xít” và tiếng chân chó huỳnh huỵch cùng tiếng liên thanh ròn rã, nhưng chưa nghe tiếng nổ mìn nào. Chú chó Alexe kích động tột bực, những buổi tập bằng đạn thật đã giúp chú quen với tiếng súng và nghĩ là âm thanh phát thức ăn. Miệng chú chảy nước dãi trong mõm khóa, đuôi chú vung vẩy. Ivanovich căng mắt, chiếc tăng chỉ còn cách hai trăm thước. Nỗi sợ hãi bị đôi mắt Misha phủ lấp. Cậu hét lớn vào tai Alexe: “Chạy trốn vào rừng nghe không! Chạy vào rừng đừng chạy về phía xe..Tao sẽ tìm mày…” . Ivanovich chưa nói hết câu, cậu chỉ vừa kịp tháo khóa mõm, chưa kịp tháo mìn, Alexe đã lồng lên, thu hai chân sau đạp mạnh vào bụng cậu, giật bứt sợi cương phóng ra xa. Ivanovich hốt hoảng gào: “Trở lại! Trở lại!”. Cậu hét: “Alexe! Alexe!”. Nhưng Alexe chạy xăm xăm nhắm thẳng đến chiến xa đầu. Con chó phóng vun vút bất chấp đạn vạch từng đường.

Ivanovich vội vã rời chỗ nấp, chạy theo Alexe, sợi giây cương hãy còn lòng thòng kéo lê trên đất, tung lên từng chập ở mỗi cú nhảy của con chó. Cậu hy vọng rượt kịp, chụp được đầu dây ghìm Alexe lại. Ivanovich nghe tiếng quát tháo của chính trị viên sau lưng và tiếng đạn vút qua đầu, tiếng đạn xoáy vào thinh không nhưng cậu không còn biết gì nữa, cả cánh rừng xáo động như bị ai giật, bị bật gốc đổ nghiêng xuống đất. Cả một khoảng trời xoay tròn với cành lá um tùm lật nhào với ánh lửa cam nháng bùng lên trong mùi xăng nồng nặc.

“Achtung! Hund!”.

Ivanovich thấy mình nằm trên đất, đau dưới chân và ở lồng ngực. Cậu muốn ngồi dậy nhưng miệng cậu ộc máu và hai bả vai từ chối nhúc nhích. Đột nhiên hai mắt cậu phủ mờ bởi một làn nước đông lại như những mảnh kính vỡ trên má. Ivanovich bị bắt làm tù binh.

Nhật ký của Ivanovich Korablev không có kết cuộc, nhưng tài liệu phía Đức ghi rõ: Chiến thuật Chó-Mìn không hiệu quả, vì phía Đức canh chừng cẩn mật và đã giăng thêm thép gai trước đầu xe tăng. Súng phun lửa trên chiến xa Panzer Mark III cũng khiến bầy chó hoảng sợ. Còn các đàn chó bị lùa qua bãi mìn thì không chạy tập trung tạo ra một hành lang trống sau khi tan xác, mà chạy tứ tung khắp nơi, để sót từng bãi đất chằng chịt mìn chưa nổ. Chó-Mìn và Chó-Gây-Nổ-Mìn, là một thất bại.

Nguyên soái Joukov không chấp nhận thất bại. Ngày 27 tháng 12 khi Sư đoàn 2 Panzer SS Das Reich của đại đoàn trưởng (Gruppenführer) Paul Hausser chỉ còn cách Mạc Tư Khoa 28 cây số, toán viễn thám đã nhìn thấy mái điện Cẩm Linh và chiếm trạm Métro của tuyến đường Komsomolskaia, Joukov tổng phản công mùa đông. Với 4 Phương Diện quân (Army Group), Joukov còn phát minh ra chiến thuật mới: Thay chó bằng các gia đình phản động bảo hoàng vẫn còn tiếc nuối Nga hoàng, hoặc cấu kết với Bạch Vệ Mensheviks, hoặc chống phá Nhà Nước Xã hội Chủ nghĩa. Thân nhân của những cá nhân phản động bị tập trung và bị các chính ủy, với súng lục Nagant cầm tay, cùng Hồng Vệ binh lùa qua những bãi mìn phòng thủ của Đức. Chiến xa T-34 của Hồng quân theo sau, chờ mìn nổ. Phần thưởng: Ai sống sót sẽ được Phục hồi nhân phẩm.

Có những chi tiết kinh dị, các phần tử phản động quá ốm yếu không đủ nặng để gây nổ mìn chống chiến xa, khiến nhiều tốp đàn ông phải kéo xe thổ mộ chất đầy gạch đá cho đủ nặng để kích nổ mìn đĩa. Khoảng cách tối đa hai thước từ tay cầm đến bánh xe không đủ giúp an toàn. Phụ nữ phản động phải giẫm lên mìn chống cá nhân để mở đường cho các anh hùng Sô-Viết tiến lên.

Các quân nhân Đức của quân đội Wehrmacht nghĩ gì?

TV, Buena Park, 19 tháng 5-2017

(Còn tiếp)

Sư đoàn 18 Kỵ binh tiến về Mạc Tư Khoa với chiến xa Panzer Mark III

Sư đoàn 267 Bộ binh phía nam Mạc Tư Khoa, với đại liên MG-34

Đại đội Quân khuyển Mạc Tư Khoa

Mô hình Chó-Mìn, Anti-tank dog.

Xác chó mìn bị quân đội Đức bắn chết, chích formol và trưng bày tại Bá Linh.

Chó-Mìn tập huấn

Lưỡi cá Cod Na Uy

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

March 4th, 2023

Post by Sơn râu 22 Sep 2024

Hê! Chiều qua làm vài lon.

Jim, bạn già hàng xóm gọi.

– Tui có nem chua Huế, mang qua luôn.

– Không! Món đó là của riêng, tui lấy, cất, nhậu sau.

Khanh đem tới Chả ốc conch Texas, Jim mời món độc của Scott mang về từ New York.

– Lưỡi cá Cod, Na Uy!

Hồi hộp! Vì tôi đã ăn nhậu nhiều món lạ, như cháo tinh trùng Cóc núi vàng ở Hồ Nam, gỏi san hô tươi ở Singtao, ăn sống cá vảy vàng tại Shandong…

Lưỡi cá Cod nguồn.cbc.ca/ Alister Doyle/Reuters

– … Nhưng tao chưa hề thấy món này!

Jim, Scott:

– 10 phút nữa! Sẽ thấy và ăn liền.

Khanh khui chai Hibiki…

Ở Na Uy, con nít đi cắt lưỡi cá Cod, kiếm tiền ngon lành.

Tại vùng quần đảo Lofoten xa xôi, con nít khoái làm công việc thu thập và bán ra những món đặc biệt của địa phương.

Cá Cod tại Na Uy. Nguồn. Mark Katzman

Nè! Hãy tới đây, quần đảo Lofoten của Na Uy, nằm phía Bắc Cực. Tại đó bạn sẽ thấy cả ngàn cá không đầu treo tòng teng phơi khô trên những hàng giá gỗ. Lái xe theo con đường 2 chiều, chạy vòng vèo như con rắn từ làng này qua làng kia bạn sẽ tới bến tàu của nhà máy làm cá H Sverdrup AS trong thị trấn gọi là Reine. Khi tôi tới thăm, cả một nhóm trẻ nhỏ tay cầm dao bén, áo choàng ngoài dính đầy máu đang tụm nhau cho ấm, trường học vừa đóng cửa và tụi nhỏ đang đợi những thùng đầu cá giao tới. Nhóm trẻ con này gọi là tungeskjaererne, các người cắt lưỡi cá. Ðầu tháng 3, giữa mùa đánh cá, khi cá cod Bắc Cực, loại skrei di cư tới bờ biển Na Uy để đẻ trứng là khu này bận rộn đánh bắt cá.

Lưỡi cá cod mềm và giòn như sụn non, là món ăn khoái khẩu của địa phương. Jacob Arctander, một người xuất cảng cá ở địa phương nói, đây là “Miếng ngon nhất của cá cod” “Nó ngon như thịt bò filet mignon.”

Ai cũng biết rằng những đứa con nít tungeskjaererne đã biết mua bán lưỡi cá cod ở địa phương vì các nhà máy làm cá đã luôn tặng đầu cá (còn lưỡi) cho đám con nít, để đám nhỏ cắt lưỡi, bán lấy tiền. Truyền thống này đã giới thiệu công nghiệp đánh cá với những người trẻ, dạy cho họ giá trị của kinh doanh và làm việc siêng năng hơn là kiếm thêm món tiền tiêu xài. “Ðánh cá là điều quan trọng nhất của chúng tôi tại đây,” Arctander cho biết, anh đôi khi để đứa con trai 6 tuổi của mình thức trắng tới nửa khuya khi anh bận cắt lưỡi cá. “Thủy sản luôn là công việc chính của chúng tôi”.

Một xâu lưỡi cá Cod đã được cắt. Nguồn. Mark Katzman

Việc bán bánh kẹo, sô cô la hoặc bán nước đá sô đa chanh của hướng đạo sinh gây quỹ giống như là trò chơi con nít. Arctander cho biết rằng nhóm tungeskjaererne, một đứa trẻ con cắt lưỡi cá cod, đã kiếm được $11,000 trong 1 mùa. “Tôi không nghĩ rằng có việc nào khác trên thế giới mà trẻ con kiếm được nhiều tiền trong thời gian ngắn như vậy!”

Bầy hải âu bay lượn trên đầu khi một tàu đánh cá nhỏ đang cập vô cầu tàu, xe chở cá chạy thẳng vô nhà máy, tiếng kim loại lanh canh, cho biết băng chuyền đã chạy và công nhân đang cho cá vô các dàn máy để cắt đầu. Mình cá được ướp muối ngay, đông lạnh hoặc làm khô để dự trữ, cá không ướp muối thì treo lên giàn, phơi khô ngoài trời cả vài tháng rồi xuất cảng. Những đầu cá được bỏ vô các thùng lớn, đem ra ngoài cho đám con nít.

Chúng chừng 6 tuổi, tan học là đi thẳng tới bến tàu, ở đó làm việc cả mấy tiếng đồng hồ trong cái lạnh tê tái với đống ruột cá, dao bén trên tay coi có vẻ không giống ai so với sự phát triển về kinh tế và công nghiệp cá hiện nay. Nhưng sự hiếm có của công việc này, được tụi con nít làm một cách hãnh diện theo cung cách truyền thống.

Một thùng lưỡi cá đã được cắt. Nguồn. Mark Katzman

Công việc đầu tiên là đâm vào đầu cá chỗ cái lưỡi bằng một mũi nhọn kim loại to, đoạn dùng dao cắt cái lưỡi; xong đầu cá được ném vô thùng, sau đó  được treo lên, phơi khô và xuất qua Nigeria. Những cái lưỡi cắt rồi, xâu với nhau trên đầu nhọn thanh kim loại, chừng nào đầy xâu họ lấy ra bỏ vô thùng. Công việc của mấy đứa nhỏ nhanh và giống nhau một cách đều đặn: Lấy đầu cá, cắm vô mũi nhọn, cắt lưỡi, ném đầu, cho đến khi hết đầu cá và thùng khác đưa vô.

Bất chấp những cơn gió lạnh dưới độ đông đá, mấy đứa trẻ lớn hơn, làm rất nhanh và mồ hôi đầm đìa trên mặt.

Alice Bendiksen, 14 tuổi cho biết “Ba má không muốn cháu nói với ai là làm được bao nhiêu tiền, nhưng nhiều lắm!” Hai người bà con của cô làm nghề này, cả ba má và ông bà nội của họ cũng vậy. Alice cắt lưỡi cá mỗi ngày, đôi lúc tới 2 giờ sáng. Tiền kiếm được cô chi cho cái Apple AirPods và iPhone mới để nghe nhạc khi cắt cá, chơi games, nhưng cô cũng tiết kiệm. Alice và mấy đứa khác dùng chương trình MarineTraffic để canh chừng khi tàu đánh cá trở về bến. Ðến cuối đêm, mỗi em mang số lưỡi cá cắt được về nhà, rửa sạch, cân và đóng gói chân không hoặc đông lạnh. Khách hàng của họ thường là dân địa phương, trong gia đình hoặc bạn bè hoặc chủ nhà hàng. Ngày xưa các em đi bán lưỡi cá cho từng nhà. Bây giờ nhiều em dùng Facebook Marketplace.

Một ngư phủ ở Ballstad. Lofoten, cho các trẻ em đầu cá Cod để cắt lưỡi. Nguồn. Mark Katzman.

Cách ngon nhất để làm lưỡi cá cod là luộc hay chiên và ăn với khoai tây nướng, cà rốt tươi bào. Nhưng bây giờ khác, ăn với trứng cá cod và rễ cần tây, hoặc chiên giòn với hạt capers và tarragon.

Mẹ của em Anniken Marie Geirsdatter, làm được $32,000 trong 6 năm khi còn trẻ, bà mua xe, trả tiền học lái và đặt cọc mua căn nhà, bà muốn con bà cũng làm được như vậy và biết rằng kiếm tiền cực khổ chứ không sướng gì, ngay cả việc cắt lưỡi cá cod.

… Scott mang ra chiếc đĩa bầu dục lớn.

– Ðây! Món ngon hiếm có từ New York về.

Ðặt xuống bàn.

Những miếng lưỡi cá chiên giòn màu vàng, dài bằng ngón cái, nằm trên lớp cà rốt tươi bào từng sợi lớn, chung quanh là khoai tây chiên kiểu McDonald.

Alida Sofie Wahl Hansen, làm nghề cắt lưỡi cá. Nguồn. Mark Katzman

Tôi gắp một miếng.

Mùi cá Cod thơm lựng, sớ thịt giòn rụm, vị ngọt và sừn sựt.

– Ngon!

– Cha phải ăn với mọi thứ.

Jim chỉ tôi.

– Phải ăn một miếng thôi, để lấy hương vị nguyên gốc.

Tôi gắp miếng thứ 2.

– Bây giờ thì kèm đồ nghề, với rượu.

August Johansen, 10 tuổi, một thợ cắt lưỡi cá. Nguồn. Christopher Wilson

Tôi cụng ly.

Tôi theo Scott vô bếp, lấy trong bao giấy bịch khô bò, đu đủ bào sợi, túi nước giấm, chai tương ớt nhỏ.

– Ủa? Có món này nữa sao?

– Dĩ nhiên!

Ðể hết vô cái khay nhôm, tôi đem ra bàn.

Jim lao xao.

– Tao ăn món này, khỏi ăn lưỡi cá.

Benedicte Trones, thợ cắt lưỡi cá lúc vừa 12 tuổi. Nguồn. Christopher Wilson

Tôi gắp lưỡi cá, Khanh làm 3 cái một lúc.

Jim, Scott chơi một đĩa lớn gỏi khô bò đu đủ, chan nước giấm, xịt xịt chai tương ớt con gà một cách nhà nghề.

Và chuyện phải tới, tới.

Scott la.

– F…@%u&8..k!

Mặt đỏ ké, chụp lon bia lạnh uống ực ực, ngồi xuống, lắp bắp.

Magnus Bendiksen mong muốn thành ngư phủ. Nguồn. Maggie Katzman

– Cay chết người.

Xoay qua Jim.

– Thấy cha xịt xịt, tui tưởng ketchup, xịt theo…Mẹ!

– Cay lắm, nhưng hồi đóng quân ở Huế tao ăn quen rồi! Thôi ăn lưỡi cá đi!

Scott hít hà, làm thêm lon bia.

– Khỏi! Tao ăn mẹ cái lưỡi của tao rồi!

Cá đã cắt đầu phơi ngoài trời ở quần đảo Lofoten của Na Uy. Nguồn. Mark Katzman

HĐV

http://www.smithsonianmag.com. Hình của Mark Katzman và Christopher Wilson, bài của Rebecca Katzman , http://www.tasteaway.pl

Đêm buồn tỉnh lẻ

baotreonline.com

Ian Bùi

February 12th, 2020
Post by Sơn râu 22 Sep 2024

“The Band’s Visit” là một câu chuyện bình dị về tình yêu và tình người, về nỗi cô đơn và niềm hy vọng, về sự cảm thông giữa hai dân tộc, hai nền văn hoá tưởng chừng đối nghịch.

Sảnh đường nhà hát Winspear Opera House. ảnh: ianbui/trẻ     

Vở nhạc kịch của David Yazbek dựa theo một bộ phim cùng tên ra đời năm 2007 do Eran Kolirin đạo diễn. Khai trương năm 2016 tại một nhà hát nhỏ “off Broadway”, chỉ một năm sau “The Band’s Visit” đã được mang lên Broadway. Ngay trong mùa đầu tiên nhạc kịch này đã được đề cử 11 giải Tony – và thắng 10. Rồi chỉ sau hai mùa diễn nó lại đóng cửa và bắt đầu đi tour.

Một lần nữa, Dallas Summer Musicals đã hợp tác với nhà hát Winspear Opera House tuyệt đẹp để mang “The Band” đến với công chúng. Không khí ấm cúng và gần gũi của Winspear thật thích hợp với câu chuyện “gánh hát về làng” lạ lùng này. Bối cảnh là ngôi làng Bet Havitka của người Do Thái ở vùng Negev; thời điểm là năm 1997. Làng nằm trơ thân giữa cát bụi, hoàn toàn không có gì để thu hút du khách. Trong làng có một quán ăn nhỏ, gần bến xe. Chủ quán tên Dina đã qua một đời chồng, chưa già nhưng cũng không còn trẻ. Dân làng là những con người hết mực bình thường, với một cuộc sống tẻ nhạt không kém.

Cô chủ quán Dina (giữa) và hai nhân viên Itzik (trái) và Papi (phải) giải thích câu chuyện “bé cái lầm”. nguồn: dallas summer musicals

Một hôm một ban nhạc bỗng dưng xuất hiện. Họ gồm tám người, đồng phục chỉnh tề, dẫn đầu bởi một vị nhạc trưởng nghiêm nghị và lớn tuổi tên Tewfiq. Họ là dàn nhạc Lễ Tân của Bộ Cảnh Sát Alexandria, Ai Cập, được chính phủ Do Thái mời sang trình diễn trong dịp khánh thành một trung tâm văn hoá Arabic tại thành phố Petha Tikva. Không hiểu sao khi họ xuống phi trường Tel Aviv chẳng có ai ra đón; họ phải kiếm xe đò đi tự túc. Nhưng, có thể do “lỗi của thằng đánh máy” đã ghi sai tên thành phố hoặc do ngôn ngữ bất đồng, họ mua nhầm vé đi Bet Havitka!

Ra khỏi bến xe, Tewfiq và đoàn nhạc chưng hửng khi nghe cô chủ quán và hai cậu thanh niên chạy bàn giải thích (bằng tiếng Anh bồi) sự khác biệt giữa Petah Tikva và Bet Havitka trong âm ngữ Hebrew. Sau một hồi dài khoa tay múa chân, đôi bên bắt đầu tạm hiểu ra rằng “tình hình rất đỗi tình hình”, bởi đến sáng mai mới có chuyến xe khác. Nhạc trưởng Tewfiq bèn nhờ cô chủ chỉ đường đến khách sạn gần nhất. Nhưng Bet Havitka chỉ là một thị trấn nhỏ giữa sa mạc thì lấy đâu ra khách sạn!

Dina bèn đề nghị ban nhạc tạm trú tại nhà mình và nhà hai cậu nhân viên là Papi và Itzik (cả hai đều lắc đầu nguầy nguậy, nhưng lệnh bà chủ nên phải tuân). Nhạc trưởng Tewfiq mới đầu cũng ngại, nhưng thấy không còn cách nào khác nên ông nhận lời. Ông kéo Haled, tay trumpet nổi tiếng đào hoa của ban nhạc, theo mình về nhà Dina. Số còn lại chia làm hai nhóm về nhà Papi và Itzik…

Bữa cơm tối tại nhà vợ chồng Itzik. Sau vài ly rượu, ông già vợ bỗng nổi hứng hát hò nhảy múa khiến thằng bé trong nôi phải khóc ré! nguồn: Dallas summer musicals

Ðến đây thì câu chuyện bắt đầu rẽ ra nhiều nhánh, mỗi nhánh là một cảnh đời của những người dân làng. Hầu như không có ai là nhân vật chính, và cũng chẳng có nhân vật nào thực sự đặc biệt hay độc đáo. Tất cả đều bình thường đến độ ta không còn nghĩ họ là người Do Thái hay Ả Rập mặc dù đa số diễn viên là người gốc Trung Ðông, nói tiếng Anh không chuẩn. Ta chỉ thấy họ cũng chẳng khác gì mình. Cũng có những lo âu về việc làm, con cái. Cũng có những mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng. Cũng có những hy vọng về một cuộc sống tươi đẹp, vui vẻ hơn. Cũng có ước mơ tìm được người trong mộng, thoát cảnh cô đơn buồn tẻ…

Nối kết những mảng đời rời rạc này lại với nhau để tạo một bức tranh sống động là phần âm nhạc. Trong nhạc kịch bình thường, dàn nhạc công ngồi dưới hầm và được nhạc trưởng điều khiển để ăn khớp với những gì đang xảy ra. Nhưng vì vở này còn có cả một ban nhạc trên sân khấu nữa nên nó đòi hỏi một sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa đạo diễn và nhạc trưởng. Ðây là một vở nhạc kịch có nhiều nhạc sĩ vừa đóng kịch vừa chơi nhạc sống ngay trên sàn diễn. Mà nhạc cụ của họ cũng không phải thứ ta thường thấy – chẳng hạn như chiếc trống Darbuka hay cây đàn Oud tiêu biểu của cổ nhạc Arabic.

Phải nói nhà soạn nhạc David Yazbek – một người Mỹ gốc Lebanon và Do Thái, nắm rất vững nhạc ngữ vùng Trung Ðông. Ngoài ra ông còn áp dụng rất tài tình jazz, pop, ballad… để làm nên một sản phẩm hiện đại đầy sáng tạo và mang nhiều cảm xúc. Mỗi cảnh đời được ông thể hiện bằng một thứ âm nhạc khác nhau. Nhưng xuyên qua tất cả vẫn là những giai điệu mang đậm hương vị của một vùng đất đầy mâu thuẫn và tranh chấp, được xoa dịu bởi một thứ ngôn ngữ chung là âm nhạc và nghệ thuật.

Nhạc trưởng Tewfiq (Sasson Gabay) và người đẹp Dina (Chilina Kennedy) trong bài “Omar Sharif”. nguồn: DSM

Ấn tượng nhất có lẽ là bài “Omar Sharif” của nhân vật Dina. Ðêm hôm ấy, sau bữa ăn tối Dina mời Tewfiq đi “dạo phố” với mình. Nói thế cho oai chứ Bet Havitka nào có phố xá chi – “đi loanh quanh lại về chốn cũ…” Cuối cùng họ ngồi xuống trên một băng ghế công viên. Dina kể (hát) cho Tewfiq nghe hồi còn bé cô được mẹ dẫn đi coi phim Ả Rập ra sao, và cô đã thần tượng tài tử Omar Sharif với nữ ca sĩ Oum Kalthoum của Ai Cập như thế nào. Tất nhiên nghe xong Tewfiq cũng “xiêu xiêu”, ta có thể nhận ra một thứ tình cảm hồn nhiên nảy nở giữa hai người. Nhưng như bao nhiêu câu chuyện yêu thương đời thường, ai đoán trước được kết cuộc sẽ ra sao…

“The Band’s Visit” hay ở chỗ nó không hề bước vào lối mòn của những chuyện tình sến súa, các phương trình cũ kỹ hay những đáp án sáo mòn. Soạn giả Itamar Moses nói ông cố tình không cho bất cứ nhân vật nào trong truyện một cái kết “có hậu”. Ðiều ông muốn là đưa họ đến gần chỗ đó nhất rồi bỏ lửng, để người xem tự suy diễn cho riêng mình một cái kết nào hợp tình hợp lý nhất. Có lẽ vì vậy mà một số khán giả khi xem xong đã không hài lòng. Có người còn nói rằng nhạc kịch chi mà chẳng có vũ múa vui nhộn gì ráo.

Nhưng đó là những lời phê bình dựa theo thói quen mà quên rằng đây không phải là một vở nhạc kịch tiêu biểu. Việc thành phần diễn viên đa số không phải là Mỹ (trắng) đã là một sự kiện hiếm có, nói chi đến phần âm nhạc cũng như kịch bản “ngoài luồng”. Không phải vô cớ mà “The Band’s Visit” đoạt 10 giải Tony – “Best Musical”, “Best Direction”, “Best Actor”, “Best Actress”, “Best Lighting”, “Best Musical Score”, “Best Book” (kịch bản hay nhất) v.v. cùng một loạt những giải thưởng khác của giới kịch nghệ New York. Ðã vậy còn thêm giải Grammy Album nhạc kịch hay nhất 2019 nữa!

Đêm buồn tỉnh lẻ chẳng gì vui, mấy chàng nhạc công tự tiêu khiển giết thì giờ. Nhạc cụ của họ, từ trái: Violon, đàn Oud, kèn Clarinet, trống Darbuka, Cello. nguồn: dallas summer musicals

Ðặc biệt trong chuyến tour này diễn viên gạo cội Sasson Gabay, người thủ vai Tewfiq đầu tiên trong cuốn phim năm 2007, trở lại trong vai Tewfiq trên sân khấu. Ngoài ra còn có con ông là Adam Gabay thủ vai Papi. Làm nhớ trước 75, sân khấu cải lương ở miền Nam cũng có hai cha con Hữu Phước – Hương Lan.

Nhìn trên tổng thể thì “The Band’s Visit” là một vở hài ý nhị dành cho người lớn (theo nghĩa có chút kinh nghiệm trường đời) hơn là cho trẻ con. Tuy nhiên cũng có một vài nhân vật lứa tuổi mới lớn với nhiều tình huống khá hài hước. Ðể khuyến khích lớp trẻ đi xem, Dallas Summer Musicals có vé đặc biệt cho sinh viên học sinh ($25 với student ID) vào những đêm Thứ Hai đến Thứ Sáu, bán tại Box Office một giờ trước khi mở màn (7:30).

Tuồng đêm buồn tỉnh lẻ này chỉ diễn đến ngày 23/2 là hết.

Nhân mùa Valentine, thay vì tặng hoa hay sô cô la, tại sao bạn không “đổi tông”, dẫn “người thương” của mình đi coi hát, biết đâu lại được “hâm nóng tình già”!?

Haled (Joe Joseph) thổi bài “My Funny Valentine” giúp vui cho Tewfiq và Dina sau một đêm hai người “lang thang trên phố vắng”. nguồn: dallas summer musicals

IB Dallas