This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 24 Sep 2024
Trương Duy Hy
HAI LẦN TRIỆT THOÁI – HAI LẦN ĐÌNH HOÃN (Tiếp theo)
Trong tư thế cận chiến, một lần nữa các chiến binh Dù đã biểu diễn vô cùng ngoạn mục lòng gan dạ phi thường… tiêu diệt địch không quá 3 đến 7 thước, sát công sự chiến đấu. Chưa bao giờ tôi thấy binh sĩ Dù xử dụng AR15 trong những đợt xung phong của Cộng quân và chưa bao giờ tôi nghe thấy tiếng động ra lệnh hoặc cãi cọ tại phòng tuyến trong những phút giao tranh… Họ âm thầm hành động với tất cả những kinh nghiệm chiến trường sẵn có… Lệnh đối với họ mà họ nhận được ở cấp chỉ huy trực tiếp của họ trong những trường hợp này là những cái lắc mắt, những cái gật đầu… Mỗi cá nhân lính Nhảy Dù quả thật là mỗi đơn vị chiến đấu tinh nhuệ nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau, dũng cảm như nhau. Họ biết rõ nhiệm vụ cùng bổn phận của họ khi đương đầu với địch. Bởi vậy, nhìn cảnh chiến đấu của Dù mà tinh thần của chính mình bỗng dưng phấn khởi lạ kỳ.
Trong lúc cố gắng thanh toán Căn cứ Hỏa Lực 30, địch còn tung một số quân áp đảo tiền đồn phía Đông, nơi mà buổi sáng trực thăng chưa triệt thoái hết… Những viên đạn từ chân đồi vút cao lên rồi tắt hẳn, hòa lẫn với màn đêm… Thỉnh thoảng một vài đóm sáng bùng lên rồi tắt lịm, sau đấy tiếng nổ ầm ầm tiếp theo vang vọng lại căn cứ. Tình hình trông có vẻ khẩn trương, nhưng tại đấy, dù với một quân số ít ỏi, nhưng nhờ ở bãi mìn tự động tinh vi, tiền đồn vẫn cố thủ một cách vững chắc.
…Sáng hôm sau, mồng 2 tháng 3-1971, tổng kết chiến quả vừa đạt được trong đêm qua — Cũng với lối đếm xác bên trong, sát bên ngoài và ngay trên rào kẽm gai — nghĩa là binh sĩ Dù không vượt ra khỏi hàng rào để thu dọn chiến trường — vì ở đấy, địch quân đã đào rất nhiều hầm ếch cố thủ. Kiểm kê như thế mà cũng đã đếm được 93 xác địch với hàng chục súng đủ loại!
Điều đặc biệt — chỉ có những kẻ đã tử thủ Căn cứ Hỏa Lực 30 mới tin, đó là con số thương vong quá thấp của chúng tôi. Tuy nhiên, không phải thương vong vì chiến đấu, mà đa số thương vong vì địch pháo kích. Tôi tự làm một bài tính nhẫm với kết quả từ sau ngày 26 tháng 2-1971 đến nay, kể cả 2 pháo đội 105, 155 ly và Tiểu Đoàn 2 Dù cùng sự thiệt hại cả địch và ta, quả thật tỷ lệ thiệt hại của ta chỉ bằng 1/100 đối với địch.
Song song với ý niệm thiệt hại trên, theo cung từ của tù binh địch do BCH/TĐ2 Dù bắt được, lực lượng địch đã tập trung vây quanh căn cứ chúng tôi, vì rảnh tay ở mặt Bắc (vùng hoạt động của Biệt Động Quân nay đã rút), mặt Tây (vùng hoạt động của Căn cứ Hỏa Lực 31 không còn nữa), chúng dồn nỗ lực của cả 2 Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 304, bằng mọi giá, phải hủy diệt sạch Căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi! Do đó, sự thiệt hại trong cuộc tấn công biển người khuya 26-2 rạng 27-2 vừa qua, cùng những ngày kế tiếp… dù chúng thảm bại chua cay, chúng vẫn không từ bỏ kế hoạch tấn công.
Đối diện với địch, căn cứ chúng tôi chỉ có TĐ2 Dù, Pháo Đội C/TĐ44 PB của tôi, Pháo Đội C3 Dù của Trí. Khả năng tham chiến là thế, nhưng thật sự, Tiểu Đoàn 2 Dù chỉ còn 3 Đại Đội bảo vệ căn cứ (kể cả Đại Đội Chỉ huy), còn 2 Đại Đội mắc trấn đóng ở hai tiền đồn. Rốt cuộc, chúng tôi đã đương đầu với hai Trung Đoàn Cộng quân bằng một quân số không quá 120 pháo thủ của cả 2 Pháo Đội và 3 Đại Đội thuộc Tiểu Đoàn 2 Dù!
Ấy vậy, đến nay là ngày thứ tư rồi, địch vẫn chưa đẩy được chúng tôi ra khỏi căn cứ! Lại còn thất bại cả ngàn chiến sĩ cùng thiết giáp, mà thây chúng nằm la liệt quanh rào phòng thủ không thu lượm được. Hẳn các cấp chỉ huy của chúng điên đầu, nhất là khi chúng nghĩ đến và không ngờ rằng những cơn mưa pháo kích, trận địa pháo của chúng không hề làm nao núng tinh thần chiến đấu của binh sĩ ta.
Khoảng 8g30, BCH/TĐ2 Dù lại gọi tôi sang họp. Nội dung cuộc họp hôm nay cũng giống như hôm qua. Thiếu Tá Mạnh ngồi kế bên Trung Tá Thạch chỉ thị:
– Hôm nay rút. Chắc chắn có trực thăng liên tục đưa anh em về Khe Sanh. Tôi dành cho 2 Pháo Đội các anh mỗi lần 4 chiếc, còn 4 chiếc chúng tôi xử dụng. Khi nào anh em Pháo Binh đi hết chúng tôi mới xử dụng cả 8 chiếc. Vậy các anh về chia từng toán cho trật tự. Anh Trí 2 chiếc, anh 2 chiếc. Cứ mỗi chuyến đi 16 người cho mỗi Pháo Đội. Riêng quân số của anh Trí ít hơn, thì sau đấy anh sẽ dùng tiếp trực thăng phần của anh Trí cho anh em Pháo Đội anh xử dụng.
Đại Úy Hạnh là Sĩ quan Ban 3 (Hành quân) của TĐ2 Dù, tiếp lời Thiếu Tá:
– Đưa các anh về được bọn tôi khỏe. Bọn tôi lo cho các anh hơn là lo cho bọn tôi! Tôi chỉ trông tất cả mọi người đi trước, còn mình tôi với thằng ‘tà lọt”, tôi sẽ kiếm một khoảng đất trống liên lạc với trực thăng đến xúc tôi là yên nhất…
Nhận lệnh rành rẽ như thế, tôi không còn gì thắc mắc. Tôi trả lời Đại Úy Hạnh:
– Cám ơn Đại Úy. Tôi biết Trung Tá, Thiếu Tá và Đại Úy lo cho anh em chúng tôi nhiều nhất. Vả lại bọn tôi chiến đấu như Dù chưa quen… từ lâu làm pháo thủ, chỉ quen vác đạn, nạp đạn, giật cò… Cái đó thì bọn tôi rành lắm. Còn tham chiến theo cách đánh cận chiến của Nhảy Dù, chắc chắn bọn tôi chậm chạp hơn…
Sau đó, tôi và Trí trở về Pháo Đội.
Tất cả Khẩu Trưởng và Trưởng Ban cùng Thường Vụ được triệu tập hết vào hầm tôi. Lân lập 4 danh sách cho 4 chuyến đi, mỗi chuyến 18 người — nếu trở ngại, sẽ gợt mỗi toán vài người cho vào toán thứ 5. Tôi cắt đặt Trưởng Toán và chỉ thị Lân đi sau cùng như hôm qua. Còn tôi hướng dẫn toán đầu di chuyển qua BCH/TĐ2 Dù liên lạc.
10g30 chúng tôi xuống ngồi quanh ở bãi đáp, nấp dưới đám lau sậy… Toán binh sĩ Biệt Động Quân khoảng 10 người còn sót lại cũng có mặt tại bãi đáp. Số anh em này không còn ai chỉ huy nữa, do đó anh em đã tháp tùng theo các toán của Pháo Binh, ngồi xúm xít bên nhau. Tất cả Pháo thủ cũng như anh em Biệt Động Quân ngồi dọc thành từng toán. Đối diện với chúng tôi là các toán của Dù.
Vừa sắp xếp xong thì trực thăng đến! Sau khi vứt những kiện đạn tiếp tế cho Bộ binh (?), phi công cho hạ thấp máy bay, nhưng không đậu hẳn xuống bãi đáp… Một số binh sĩ nôn nao leo lên, cảnh hỗn loạn vô trật tự tái diễn…
Kết quả, Trung Tá Thạch, Đại Úy Trí, Trung Úy Bác sĩ và Đại Đội nặng của Tiểu Đoàn 2 Dù đi trước cùng một số pháo thủ của tôi và Trí…
Sau khi Trung Tá Thạch rời bãi đáp, cảnh hỗn loạn trầm trọng hơn. TSI Bang, Thường Vụ của Dù, dẫu có hò hét cho lắm cũng không tài nào trấn an số binh sĩ hiện diện tại bãi đáp. Ai cũng muốn níu lấy trực thăng về trước. Quả thật là một mâu thuẫn với lúc đang chiến đấu cạnh lưỡi hái tử thần. Có lẽ hình ảnh những cuộc vui ở hậu phương kích thích sự trở về khi có lệnh của Thượng cấp ban hành chăng?
Ngay cả tôi cũng không thể giữ cho các pháo thủ ngồi yên, ngoại trừ những pháo thủ đã ngồi trước mặt tôi thì không dám phá hàng phân tán, chen giành với các chiến hữu khác…
Bây giờ phi hành đoàn trực thăng không cần “xài” đến thủ hiệu của TSI Bang. Hầu hết họ là người Hoa Kỳ, họ thấy nơi nào rộng rãi thuận tiện quanh chỗ tôi ngồi thì sà thấp xuống… xô vội các kiện đạn qua hai cửa bên hông… Tức thì, các binh sĩ nhào đến đợi… Vừa dứt kiện đạn cuối cùng, anh em níu lấy sàn, lấy càng trực thăng rồi nhờ xạ thủ đại liên kéo lên.
Vài binh sĩ quá nóng lòng đi trước đã đu lấy trực thăng bằng hai tay bám chặt chân ngang, buông cả thân thể với sac mang lưng tòn ten giữa không trung! Binh nhất Thái của Pháo Đội tôi theo toán sau xuống bãi đáp, tưởng rằng với đôi cánh tay gân guốc và thân hình vạm vỡ, anh sẽ thừa sức chịu đựng cái thế đu nguy hiểm ấy, nên anh đã cùng 2 chiến hữu Dù, dùng hai bàn tay ôm chặt chân trực thăng…
Tôi không còn kịp chạy lên cản lại, tôi quát to… anh ta cũng chẳng nghe, vì tiếng động cơ át mọi tiếng động chung quanh. Tôi cố bước… nhưng bước được vài bước thì dừng lại ngay. Sức gió tạo bởi cánh quạt quá mạnh, thiếu điều xô tôi ngã nhiều lần dù tôi trân người trụ trên đôi chân! Tôi biết tôi yếu lắm, nhất là sau mấy ngày bị bệnh kiết hoành hành và rhumatisme tái phát!… Ấy thế là tôi chỉ còn biết đứng một chỗ nhìn theo ba chiến hữu treo lủng lẳng dưới bụng trực thăng!… Cánh quạt quay tít!… Trực thăng mỗi lúc mỗi lên cao và xa dần bãi đáp về hướng Tây Nam… Lúc cách chúng tôi khoảng 500, 700 thước với độ cao khoảng 100 thước, lần lượt tất cả đều rơi xuống vực thẳm!… Dẫu cố gắng, chúng tôi cũng không nghe được tiếng kêu cứu… Tôi tin rằng các đồng đội ấy đã chết! Tôi cùng các pháo thủ ngồi quanh tôi chỉ kịp thốt lên: “Chết!… Trời ơi!… Chết!…” rồi im lặng nhìn nhau chẳng thốt thêm được lời nào nữa!
Sau phút xúc động, tôi bảo các pháo thủ của tôi:
– Anh em đã thấy chưa? Hậu quả của vô trật tự là như thế đấy! Các anh đã chứng kiến với tôi chứ không phải tôi dọa dẫm gì anh em… Với tôi, tôi có thể bắt anh em bồng vứt tôi vào lòng trực thăng một cách dễ dàng, nhưng tôi không làm thế! Tôi hứa với anh em: Tôi sẽ sống bên cạnh các anh em, cùng chịu khổ cực với anh em… anh em đừng có sợ mẹ gì cả. Không đi được chuyến này thì đi chuyến sau. Giờ tôi bắt buộc anh em phải tuân lệnh tôi, đừng để chết một cách oan ức như Binh nhất Thái đó…
Nghe lời giải thích của tôi và nhất là anh em đã thấy trước mắt cái chết thê thảm của Binh nhất Thái, hầu hết đều im lặng và không còn một ai lộ vẻ nôn nao nữa.
Bây giờ Lân và Ngân hoàn tất việc chôn giấu các cơ phận đại bác, dẫn toán cuối cùng xuống bãi đáp.
Gặp tôi, Lân báo cáo mọi việc mà Lân và các pháo thủ đã thi hành.
Tôi cho lệnh nhập toán sau vào ngồi chung với toán trước… Đang nói chuyện với Lân về chuyện Trung Tá Thạch đã rời căn cứ, tai nạn của Binh nhất Thái… bỗng một trực thăng đáp nhẹ cách chúng tôi khoảng 10 thước. Dịp may hiếm có, Ngân đứng rất gần trực thăng… tức thì anh lao vào trong lòng trực thăng… Tôi trỏ tay về phía Ngân, bảo Lân:
– Lân xem kìa! Thiếu Úy Lùn nhà mình trúng số độc đắc! Anh chàng phi công nào mà điệu thế! Ý giả anh ta biết Lân nhà mình ngắn giò nên đáp hẳn trực thăng xuống đất chăng?
Lân mĩm cười:
– Có lẽ…
Lân tiếp:
– Thấy Đại Úy gầy quá, bây giờ Đại Úy nên về trước. Tôi ở lại đi sau với anh em cũng được, kẻo như hôm qua lỡ tàu nữa thì kẹt. Bác sĩ đã về rồi còn ai cấp cứu cho Đại Úy chữa bệnh?… Để tôi bảo anh em đưa Đại Úy lên trực thăng cho kịp…
– Không được, ý định về trước về sau, bây giờ không thành vấn đề nữa. Tôi chỉ lo cho số pháo thủ về trước có đến được Khe Sanh không? Hay lại bị vứt mẹ ở Phú Lộc như Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân vừa rồi… Ở Phú Lộc nghe Thiếu Tá Hằng báo cũng bị pháo kích rát lắm! Tôi còn sợ cái nỗi trực thăng bỏ một dúm ở Phú Lộc, một dúm ở Khe Sanh… Không biết ai điều khiển chúng nó! Mạnh đứa nào chuồng đứa đó thì kẹt cho Pháo Đội lắm. Tôi quyết định anh về trước Khe Sanh, gom anh em lại một chỗ đợi tôi. Như vậy thuận tiện hơn. Dầu sao Thiếu Tá Mạnh và Đại Úy Hạnh cũng mến tôi, tôi có thể nhờ quý vị ấy giúp đỡ… cùng lắm, tôi xin Thiếu Tá Hằng ở Phú Lộc, Đại Úy Vẹn ở A Lưới tác xạ bảo vệ căn cứ cũng dễ dàng hơn anh… Thôi anh đi gấp đi!
Lân không chịu rời tôi, lắc đầu từ chối:
– Tôi còn mạnh, lại đi trước Đại Úy! Tôi không thể làm được. Thôi tôi ở lại đi với Đại Úy chuyến cuối cùng. Vả lại, bọn em út về trước, thế nào Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn cũng giữ lại đợi Đại Úy về giải quyết…
– Lát nữa chắc Pháo Đội sẽ được triệt thoái hết. Chính tôi cũng nhận lệnh của Thiếu Tá Mạnh khi nãy. Anh cứ nghe tôi về trước lo hộ cho tôi.
…Rủi ro, chuyến của Ngân đi là chuyến chót! Sau đó, trực thăng không đến nữa!
Đại Úy Hạnh liên lạc bằng vô tuyến ra bãi đáp bảo tôi:
– Lệnh triệt thoái đã đình lại! …nhân viên truyền tin mở khóa ngụy bị nhầm nữa! Thôi, anh đưa anh em về vị trí chiến đấu như cũ.
Tôi bực mình hết sức, mặc cho Việt cộng pháo kích rơi cạnh bãi đáp thứ nhì, cách tôi và Lân không quá 100 thước, chúng tôi ngồi bệt trên sườn đồi, lấy bi-đông uống nước.
Lại một dịp mồ hôi toát ra áo giáp, chảy giọt trên mặt khó chịu…
Hai trực thăng võ trang đang bay từ hướng Tây lại — Tôi không để ý nên không biết chúng có nhiệm vụ hộ tống phi hành đoàn vào triệt thoái binh sĩ tại bãi đáp chăng?… Cùng lúc đó, một luồng khói xanh bốc từ hố thẳm lên — nơi ba chiến hữu của chúng tôi đã rơi lúc nãy — tức khắc trực thăng võ trang nhào xuống xạ kích.
Hai chúng tôi cùng một cảm nghĩ như nhau: chắc chắn phi hành đoàn đã ngộ nhận, vì không có liên lạc gì trước, và biết đâu mà liên lạc cho kịp. Chúng tôi tin rằng các đồng đội ấy giờ đã chết! Dầu cho đã may mắn sống sót sau khi rơi “không dù” với độ cao cả 100 thước.
Lúc lên đến phòng tuyến, tôi bảo Lân:
– Anh về vị trí cho anh em lắp lại cần vận dụng và khối kích hỏa như hôm qua để chiến đấu. Tốt nhất anh cho vài khẩu trực xạ cho có tiếng nổ… Tôi vào gặp Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó xong, tôi về ngay.
Bấy giờ, quân số còn lại chính thức của Pháo Đội tôi là 34 người, và tôi!
Vào hầm Bộ Chỉ Huy TĐ2 Dù, tôi thuật lại cho Thiếu Tá Mạnh và Đại Úy Hạnh những gì tôi đã thấy tại bãi đáp. Thiếu Tá lắc đầu, tôi tiếp:
– Thưa Thiếu Tá, cá nhân tôi, tôi đã thi hành đúng đắn chỉ thị của Thiếu Tá…
(Vừa lúc đó, hai tiếng “départ” do Trung Úy Lân trực xạ chung quanh đồi vọng lại).
Tôi tiếp:
– …Đấy, tiếng đại bác của Trung Úy Lân thi hành lệnh tôi… Về lắp lại các cơ phận vào trực xạ… cho Cộng quân biết rằng đại bác mình còn xài được… Như vậy tôi đâu có tắc trách?
– Tôi biết anh… bây giờ không có lệnh gì triệt thoái, tôi cũng không biết làm sao hơn. Truyền tin mở lầm bản ngụy hóa, thật bực hết sức!
– Tôi thấy trực thăng vẫn tiếp tế đạn trong lúc triệt thoái, không biết ý của Thượng cấp thế nào?
– Vô lý là chỗ đó. Nếu có lệnh triệt thoái thì tiếp tế thêm làm gì? Tôi cũng chịu, không biết lệnh lạc ra sao!
– Thưa Thiếu Tá hay đó là hành động đánh lạc hướng nhận định của địch?
– Ai biết được…
(Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG TRƯỚC KHI RỜI CĂN CỨ HỎA LỰC 30
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 1-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Ục…ục…ục…uột… Quỳnh vội bịt lỗ tai lại. Chàng rất sợ tiếng nước ở bồn rửa mặt của phòng bên cạnh. Nó kêu như ai ăn phải của khó tiêu, bị ruột kêu sôi ồn ột. Đáng ghê nhứt là cái tiếng “uột” sau cùng, kéo dài bất tận. Ở đây có những tiếng động khiếm nhã khác nữa. Đó là tiếng giày nện lên gạch, tiếng nước cầu xí, tiếng đàn vĩ cầm ai mới học, kéo ọ ẹ suốt ngày. Trên đầu chàng, ở cái buồng từng trên, người chiếm ngụ làm gì mà cứ kéo ghế, kéo bàn mãi cả ngày lẫn đêm, như ma dậy nhà hoang. Người ta hay tỏ ý chê bai đồng bào Thượng trên cao nguyên, ở trong những ngôi nhà công cộng dài nhằng, hai, ba mươi gia đình chồng chất lên nhau rất là mất vệ sinh. Nhưng cái bọn văn minh nầy, bày ra buyn-đin để chen chúc nhau trong đó, thì cũng thế thôi. Quỳnh thuê căn buồng số 7 để làm chỗ ẩn thân. Ở nhà, khách khứa đông đảo, người nhà rộn rịp, chàng không thế nào làm việc được. Với lại, con người có đời sống bên trong, luôn luôn mỗi ngày thích dành ra một lúc để quay về với chính mình. Những lúc ấy, hắn cần được yên thân. Ở đây yên thân nhứt: gia đình, bạn hữu, nào có biết để mà theo quấy rầy chàng. Ngoài ra, chàng được hưởng thêm nhiều thú khác. Chàng nghe như mình đang du lịch ở những nơi xa, sống cô đơn nơi một buồng khách sạn, cái buồng nặc danh với những bức tường trắng không tranh ảnh, không mang một bản sắc nào. Cái mộng viễn du chưa bao giờ thỏa, thế là được ảo tưởng nầy bù cho. Chàng lại nghe hay hay, nhớ lại thuở thanh xuân, trốn nhà đi chơi lêu lổng, nay ngủ chỗ nầy, mai ngủ nơi khác… Ục..ục…ục…uột… Lần nầy, Quỳnh không bịt tai nữa, vì chàng thấy, chàng rất bất công. Chính chàng cũng đã gây tiếng động khiếm nhã. Mỗi lần đến là chàng đánh máy ầm trời. Những người ở chung quanh buyn-đin với chàng tò mò tìm biết anh chàng nầy làm nghề gì, mà mỗi ngày chỉ đến có mấy tiếng đồng hồ thôi, mà hễ đến, là đánh máy liên tu bất tận. Lắm đêm, hắn bốc đồng, lên đó vào lúc mười giờ, mở đèn sáng choang, rồi đập sành sạch không cho ai ngủ cả. Ở đây có những công chức cao cấp, những sĩ quan, những thương gia chưa sắm nổi biệt thự. Bề ngoài thì như là không ai thèm chú ý tới ai, nhưng chàng tinh mắt, biết họ cố tìm căn cước chàng, một gã khả nghi. Hắn đánh truyền đơn chăng? Chỉ có người quản lý buyn-đin là hơi biết hắn làm gì thôi, vì hắn phải khai sự thật ở đó. Họ ngạc nhiên là không bao giờ có bạn đến thăm hắn. Lại càng khả nghi hơn nữa. Nhưng mà rốt cuộc, hắn cũng có bạn. Đó là một người bạn gái, xinh như các thiếu nữ trong cổ tích. Lần đầu tiên, cô bạn ấy lên đây, một viên…gặp cô ta ở chân thang, đã kinh ngạc vì sắc đẹp của cô. Cô bạn leo thang chớ không dùng thang máy. Người ấy không ngại trễ giờ làm việc, leo cả sáu chiếc thang lầu để theo cô ta, cho biết cô ta đi đâu. Thế rồi, người ta đồn ầm lên rằng, hắn thuê buồng để tiếp nhân tình. Quỳnh chỉ mong được thế. Nhưng cô ta chỉ là bạn thôi. Đó là một văn hữu mới quen. Nói văn hữu, thì ra suy tôn cô bạn quá. Thật ra, chỉ là một bạn đọc yêu văn chàng và vốn cũng thích viết văn. Họ gặp nhau trong một trường hợp kỳ dị hết sức và chính cô gái đã làm quen trước với chàng. Cô gái thông thạo các vấn đề văn nghệ, biết tất cả văn nghệ phẩm Việt và ít nhiều tác phẩm ngoại quốc, nên chi trong buổi đầu gặp gỡ, chàng nói chuyện giỏi một cách dễ dàng, vì khỏi phải ra ngoài địa hạt của chàng. Cô gái ngỏ ý muốn nhờ chàng chỉ dẫn cho công việc sáng tác. À, còn gì sung sướng bằng. Chàng chỉ mong có bấy nhiêu đó, mà không dám đề nghị trước. Chán vạn thằng khác nó dâng công cho gái như vậy và được gái yêu. Chàng khỏi phải lập công với ai, mà kết quả cũng có thể đi đến đó. Công việc đầu tiên của chàng là đặt cho bạn một biệt hiệu văn nghệ. Không biết ai đó đã đặt dùm nàng một bút danh rất là sáo: cô Song Thu. Sao lại nói đến hai mùa thu trong con người nô nức thanh xuân ấy, nơi con người nồng cháy cả một mùa hè sinh lực ấy! Quỳnh đã dâng bạn một bút hiệu hơi bí hiểm: cô Long Hoa. Nhưng, mặc dầu là văn hữu, họ vẫn gọi nhau bằng tên cúng cơm, tên mà người ngoài không ai biết cả. Nàng nói: – Biệt hiệu của anh là của muôn người; em chỉ thích kêu anh là anh Quỳnh thôi, vì Quỳnh mới là của riêng em. Công việc đầu tiên của Lệ, tên nàng, là sắm một tấm vải màu phủ mặt bàn, chiếc bàn độc nhứt dùng làm bàn ăn, đánh máy và ngồi lên đó chơi, mà chàng để trơ trẽn ra đó, không phấn son gì cả. Cô bạn lại mua tranh, bắt Quỳnh phải treo lên vách. Cái buồng bây giờ đã có cá tính của nó, chớ không còn là buồng nặc danh của khách sạn hay phòng thuê nữa. Người ta thấy là đờn bà đã vào phòng đó, hơn thế, một người đờn bà có học, có óc thẩm mỹ và khéo léo tay chơn. Nhưng Quỳnh lấy làm thất vọng. Họ gặp nhau đã sáu lần rồi, mà cô bạn, xem chừng, không vội học sáng tác cho lắm. Cô bạn nói rất nhiều chuyện mưa, chuyện nắng, mà nói rất có duyên. Quỳnh, tuy không phải chỉ biết nói về văn nghệ không mà thôi, nghĩa là, tuy chàng, cũng vui được với chuyện chó chẹt, ô-tô và chuyện đờn bà giựt hụi, nhưng chàng không khỏi bất mãn vì người văn hữu chưa đến. Thân thể y có mặt, nhưng người bạn văn của lúc gặp gỡ, thì vẫn chưa thấy bóng hình. Quỳnh cũng biết thích bạn gái như ai, phương chi đây là một người bạn gái đẹp và thông minh, lại có rất nhiều cảm tình đối với chàng, thì chàng còn mong gì hơn.? Nhưng chàng cứ mong hơn. Vì chàng đã dọn lòng để đón một văn hữu chớ không phải để rước giai nhân. Sao người văn hữu lại không đến? Mỏi mòn nhìn con đường xa, gió cuốn bụi hồng, mỏi mòn trông đợi một bóng ngựa viễn phương mang đến người bạn văn trễ hẹn, Quỳnh nhẫn nại tiếp đón mỹ nhơn, dầu sao, cũng đang có mặt. Nếu không đợi người kia, thì chàng đã yêu người nầy từ lúc ban đầu. Người đờn bà đẹp, chỉ để cho người ta yêu thôi, chớ không dùng được vào việc gì cả. Cô bạn nầy, trời sanh ra làm gì và đến đây để làm gì, thật là không có lý do, y như là trời đã sanh ra hoa hồng và hoa hồng lại bị cắm vào miệng lọ, chỉ có một lý do nhỏ thôi, là làm cho vui mắt chủ nhà. Chủ nhà không thuê buồng để tiếp gái đẹp, thuê buồng xong, không thèm sắm lọ, thì hoa hồng vào đây, có phải là không biết điều lắm chăng? Nhưng nó đã vào và nó đẹp, chủ nhân đang buồn, bạn không đến, thì không lẽ lại không nhìn nó. Nó xinh đẹp ghê hồn khiến chủ nhân cũng đến thấy mình ngốc quá, mà đã xem thường nó. Trời sanh người đờn bà đẹp làm gì, nếu không để cho người ta yêu. Quỳnh yêu nàng vậy. Nhưng không dễ dàng lắm đâu. Phụ nữ Việt Nam đã bắt đầu bị Âu hóa thật sự. Họ đến buồng đờn ông, nhưng vẫn tự vệ, nếu bên nam giới không khéo xử thế, thì cũng chẳng đi đến đâu được. Quỳnh đã khéo xử thế. Cuộc đùa giỡn với ái tình gay cấn và cam go quá, khiến chàng say mê, say cái say chiến đấu của văn nghệ sĩ, cái gì dễ dàng quá thì không ham, mà chỉ mê mệt đối với những sáng tạo đau đớn thôi. Chàng đã thắng. Nhưng trong giây phút ôm thiếu nữ trong tay, chàng bỗng nghe rỗng không trong lòng và quanh mình. Trời ơi, thật là không có gì cả, cái phút giây mà người ta gọi là thần tiên! Chàng đã vật lộn với tình cảm, với tư tưởng, đã lao khổ sáng tác, và rốt cuộc, đẻ ra được những cái gì bền vững, mà chàng thích nâng niu lâu ngày. Ở đây, chàng cũng đã lao khổ chiếm trái tim một giai nữ nhưng khi thành công xong, chàng không thấy được gì cả. Chắc thiếu nữ đang nằm trong tay chàng, thầm nói: – Sướng đấy nhé! Anh đã được em rồi đó, có thích hay không? Không, chàng không thích, hay có thích cũng chỉ như đứa bé được quà, thích như vậy thôi, chớ làm sao mà có được những xúc cảm mê ly của cái phút chấm dứt một văn nghệ phẩm? Nhưng mà cũng an ủi phần nào. Người văn hữu không đến, nhưng người tình nầy có thể là người văn hữu kia. Văn hữu chậm bước, vì nàng cần phải sống cái đã, sống dưới cái võ ngoài của người phụ nữ thường, sống đầy đủ về tình cảm và xác thịt. Sống thỏa mãn xong, người bạn văn sẽ cởi áo người nhân tình mà thoát ra, và chừng đó, chàng sẽ được cả hai. Quả thế. Trận giặc ái tình chấm dứt bằng một hiệp ước yêu đương. Lệ bắt đầu học tập. Ông thầy dạy văn làm phận sự rất dễ dàng, vì nàng đã khá thạo kỹ thuật viết. Quỳnh thấy mình phải dắt bạn bước qua giai đoạn thứ nhì ngay. Chàng nói: – Viết văn chỉ là một thứ kỹ thuật, tương đối dễ học. Nhưng muốn sáng tác, em cần phải có cái gì trong lòng, để mà nói ra, bằng không, thì giã từ văn chương vậy. Lắm khi, đã có cái ấy trong lòng rồi mà nó không cắn rứt mình, không kêu gào đòi chun ra lắm, thì cũng không thể sáng tác được. Em có cái gì trong bụng không? Lệ vả vào má chàng một cái đau điếng, cười, rồi đáp: – Sẽ có thằng con của anh chớ gì. Nhưng mà chưa có, đừng có nghi bậy. Cả hai cười xòa, rồi Quỳnh lập nghiêm, tiếp tục bài giảng: – Đứng đắn mà. Em có nỗi niềm gì muốn nói ra chăng? Băn khoăn gì? Thắc mắc vì sao, bứt rứt chuyện chi? – Không, em không băn khoăn về gì cả. Em chỉ mơ yêu… – Thế à? Mơ yêu cũng là một chuyện có thể nói ra được, miễn là nói hay. – Nhưng giờ đã yêu rồi, em hết mơ. – Cũng vẫn cứ được, sự thỏa mãn trong tình yêu cũng là một đề tài hay. – Nhưng em không cần nói ra. Quỳnh kinh ngạc, trừng trừng nhìn người bạn, giây lâu mới hỏi được: – Tại sao em lại thích viết văn? Lệ làm thinh rất lâu, rồi cười đáp: – Khó nói lắm. – Nhưng mà một văn sĩ tập sự phải nói được, ít lắm, là điều đó. – Như thế nầy: Viết văn danh vọng lắm. Như anh, ai cũng biết đến cả. Em cũng muốn được như vậy. Nhưng mà, nay học thêm với anh, em thấy là phải khổ thân lắm mới bước tới đài danh vọng được. Quỳnh bỗng nghe một trận địa chấn quanh chàng. Chàng buông người bạn tình ra, lòng đau xót không tả được. Người văn hữu đã chánh thức nhắn lời là không đến, không bao giờ đến nữa cả. Hắn chỉ là một ảo tưởng và hắn đã tan trong sương mờ. Quỳnh nắm lấy cằm bạn, nhìn thẳng vào mắt nàng, nhưng chỉ nói thầm một mình: – Em bé ơi! Em bé không thích mang nặng, đẻ đau, không chịu hoài thai cực khổ và không chịu chuyển bụng rên la, mà em bé lại đòi có những đứa con nó đưa em bé lên đài danh vọng… Thôi, em bé đi lấy chồng đi, lấy những người đang ở trên cao, hoặc đang có tương lai nhiều. Một sớm, một chiều, các báo sẽ nói đến phu nhân X…nào đó. Viết văn, nào phải để leo lên đài đâu? Viết để làm gì, lắm khi, chính anh cũng không biết. Nhưng đó là cái thai đã đến ngày, những thằng bé cứ vặn mình đòi lọt ra. Đau như xé cả ruột gan, không muốn làm cho nó ra, cũng không thể được. Quỳnh muốn trả ngay căn buồng nầy. Hồn người văn hữu sai hẹn cứ như còn quanh quất đâu đây. Phải trốn không khí nầy, mà bao lâu nay phảng phất tiền hương, tiền vị của người khách mong đợi. Bỗng có người bước lên thang gác. Đó là tiếng giày đờn bà, nó làm cho chàng giật nẩy mình, dáo dác nghe ngóng. Không, không trả căn buồng nầy đâu. Mỗi tiếng động khiếm nhã ở đây đều gợi nhớ những giây phút hồi hộp đợi chờ. Mỗi lần nghe tiếng động, chàng sẽ có dịp đi hành hương trong không gian, đi về phía bàn thờ thần “Tình Bạn Văn’. Cây vĩ cầm của cô hay cậu nào ở buồng số 5 cứ kéo ọ ẹ mãi bản nhạc “Bên Sông vắng” của Tạ Tấn. Nhưng lần nầy, chàng không nghe bực mình nữa. Chàng lẩn thẩn đặt lời cho những nốt nhạc ấy, lời thật của tác giả, chàng đã quên từ lâu, vì đó là một bản nhạc tiền chiến. Đêm nay tới bến, năm nào đây, Tiếng gió vi vu bên sông vắng tanh, Ngậm ngùi nhớ đến con đò xưa, năm ấy, Quen nhau bởi một chuyến đò chiều.
Hoàng Hậu Ái Mỹ lấy ngón tay uốn nhánh dâu để xem nó đủ sức cứng rắn chưa, đặng chặt về biếu con trai yêu quí của bà, vì cậu Thái Tử tương lai mơ ước một cây cung vừa dẻo dai, vừa bền chắc. Hoàng Hậu chợt thấy một con bướm rất xấu xí, thân hình toàn một màu trắng mông mốc và yếu đuối như vừa mới nở. Nhưng nó không là mới nở đâu, vì nó đang quằn quại trên một lá dâu, rồi giây lâu, đẻ lên đó một mớ trứng vàng. Đẻ xong, bướm ta dò dẫm bò chầm chậm ra bìa lá, chớp lia lịa hai cánh yếu mềm, không đủ sức nâng cái thân hình của nó lên không trung. Bướm nhìn vực thẩm dưới kia, lảo đảo như say rượu, rồi vô tình hay cố ý không rõ, rơi mình xuống vực. Bướm rơi xuôi xị như một lá chết, hai cánh mong manh không thèm cựa quậy nữa. Bướm chết thật rồi. Hoàng Hậu ngạc nhiên quá, nhưng bận chặt nhánh dâu, nên không để tâm thêm về cái chết nầy. Những ngày sau, Hoàng Hậu quên mất con bướm vắn số, nhưng một hôm, ra thăm lại cây dâu, để tìm một nhánh làm cung nữa, thì Hoàng Hậu thấy những trứng vàng đã nở ra những con sâu lông dài màu đen như những con sâu rọm. Cha nào con nấy, con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, sâu nầy yếu đuối không thua gì mẹ nó là con bướm mốc hôm trước. Hoàng Hậu đoán những vật èo uột nầy, rồi cũng chết mất thôi. Quả thật thế, hai hôm sau, ra thăm lại thì chúng đã chết sạch, chỉ trừ một con. Hoàng Hậu than: – Trời sanh làm chi những kẻ yếu sức như vầy, ích gì cho ai và chính nó cũng khổ. Bỗng, kỳ lạ thay, có tiếng nói nhỏ nhỏ phát ra từ con sâu: – Thưa Hoàng Hậu, ban đầu, trời sanh chúng tôi cũng mạnh khỏe như bất kỳ ai. Nhưng chúng tôi phung phí sức nhiều quá để làm việc, thành ra càng kiếp, càng phải ươn yếu như vầy. Không lỗi ở trời đâu. Hoàng Hậu hơi sờ sợ con sâu sống sót đó, nhưng tánh tò mò mạnh quá, nên bà đánh bạo hỏi: – Nhưng tại sao giống của mi lại phung phí nhiều sức lực quá như vậy? Trên đời, ai cũng làm việc cả, mà có ai khổ đến thế đâu? – Thưa Hoàng Hậu, là tại công việc chúng tôi khó khăn quá sức – À, ra thế! Nhưng cái kiếp của mi đây, chắc không còn làm gì được nữa. Bị mi yếu quá rồi. – Không, Hoàng Hậu. Kiếp nầy làm giỏi hơn kiếp nào hết, vì kinh nghiệm của bao đời đã kết tinh nơi đây, miễn là… – Miễn là gì? – Miễn là chúng tôi được nuôi dưỡng châu đáo. – Nhưng mi làm được cái gì? – Tôi là nghệ sĩ đây. – Nghệ sĩ là cái quái gì, ta chưa nghe nói đến lần nào. – Nghệ sĩ là những kẻ làm ra cái đẹp, đẹp lắm. – Nhưng đẹp để làm gì? Cái đẹp ấy có lợi ích gì chăng mà phải nuôi mi cho uổng công. – Cái đẹp, riêng lấy nó, cũng đã có ích lắm rồi. Hoàng Hậu nấu bếp mệt, Hoàng Hậu ngồi nhìn giây lát một cái lọ sứ nước men trong, vẻ tranh đẹp, tức Hoàng Hậu hết mệt ngay, chóng hết hơn là chỉ ngồi nghỉ ngơi thường. Nhưng ngoài vẻ đẹp suông thường ấy, nghệ phẩm cũng còn lợi ích khác, thí dụ, ngôi nhà Hoàng Hậu núp mưa, nắng, đôi giày Hoàng Hậu mang để đỡ đạp gai, đều do nghệ sĩ nghĩ ra kiểu mẫu. – Nếu quả thế, thì ta nuôi mi đó, mà ta phải làm sao cho mi khỏi chết? – Thưa Hoàng Hậu, tuy nói thế đó, chớ tôi cũng dễ nuôi. Mỗi ngày Hoàng Hậu cứ chịu khó hái lá dâu này, xắt nhỏ ra cho tôi ăn là được. Chỉ phải cái, tôi ăn nhiều quá. Nhỏ người mà bụng to. Tôi ăn cái khối đồ ăn to bằng mười tôi lận. Thịt nghệ sĩ chúng tôi mềm lắm, nên con gì cũng thích xơi chúng tôi cả. Hoàng Hậu có nuôi tôi thì nên bảo vệ tôi. Kẻ thù ghê gớm nhứt của tôi là thằn lăn, rắn mối và các loại ruồi. Tôi lại èo uột như Hoàng Hậu đã thấy. Những khi trở trời, thời tiết đổi là tôi mang bịnh ngay. Tôi sợ lạnh, lại sợ nóng. Lạnh, Hoàng Hậu nhúm lửa sưởi tôi. Nóng, Hoàng Hậu nên mở cửa cho gió quạt tôi. Tôi lại không chịu nổi mùi gay gắt. Hoàng Hậu có hút thuốc, thì nên xa lánh tôi, không tôi lại say mà chết mất. – Úy cha chả là con cưng: nuôi mi còn khó nhọc hơn là nuôi Thái Tử. Nhưng ta cũng chịu khó một chút, thử xem mi sẽ làm nên trò trống gì cho biết. – Hoàng Hậu sẽ khỏi tiếc công. – Vậy, ta đặt tên là Tằm cho dễ kêu nhé! – Vâng, đa tạ Hoàng Hậu. Hoàng Hậu đem Tằm vô cung vào hôm thứ ba, sau khi Tằm nở. Cả hoàng cung đều bu lại xem con vật kỳ lạ biết nói tiếng người. Các bà Thứ Phi và cung nữ thấy nó dị hợm quá, sợ hãi không dám lại gần. Tằm cười, mà rằng: – Nghệ sĩ chúng tôi xấu xí như thế, mà hiền lắm, tốt bụng lắm đó, thưa quí bà. – Mầy như con sâu rọm ấy, gớm chết. Bà Tây Phi nói. – Vâng, bề ngoài thì như vậy. Nhưng lông tôi chạm phải không ngứa đâu mà sợ. Hoàng Đế vào xem và cười ngất: – Nghệ sĩ là cái quái gì, mà tên lạ thế, mà thân thể xấu không thể nói. Hoàng Hậu chỉ mỉm cười, không đáp, rồi cắt đặt công việc cho đoàn phi tần: nàng Trúc Liên hái dâu, nàng Trúc Đào xắt dâu, nàng Ngọc Khánh canh gác thằn lằn và ong, ruồi, còn nàng Cẩm Nhung thì giữ vai liên lạc báo tin cho Hoàng Hậu biết ý muốn và bịnh tật của Tằm. Thật là cả một tổ chức phục vụ như đối với một vị vương. Các cung nữ phàn nàn nho nhỏ: – Cưng gì mà cưng quá trứng mỏng như vầy. Bà Đông Phi còn không được săn sóc châu đáo bằng con sâu quỉ nầy. Tằm thỏ thẻ: – Các chị ơi, các chị đừng phiền. Hãy chịu khó với tôi một lúc, các chị sẽ được hưởng công xứng đáng. – Mi, thì còn có quà gì để thưởng chị em chúng ta? – Rồi các chị sẽ rõ. Cái thân thể kiều mị của chị đó, tôi mà tô điểm thêm vào thì nó đẹp như hoa. Hoàng Đế sẽ yêu các chị, rồi cất nhắc các chị lên hàng Thứ Phi cho mà coi. – Mi tô điểm làm sao? Chị em ta không muốn mọc lông sâu rọm như mi đâu. – Không mà, các chị sẽ đẹp như tiên nữ ấy! Rồi các chị sẽ thấy mà. Thúy Liễu trề môi dài ba tấc, rồi uể oải nói: – Thôi, ta đi hái dâu cho con nợ nầy. – Hãy khoan – Tằm kêu Thúy Liễu lại – Còn sớm lắm. Lá dâu còn ướt sương, mà tôi thì sợ nước. Để trưa một chút cho nắng sưởi ráo lá, rồi chị hãy hái, nếu hái chiều được càng hay. – Ý ạ! Khó tánh dữ vậy à? Con cưng dữ vậy à? Trúc Đào ác tâm lắm. Cho bõ ghét, nàng xắt dâu rồi đổ bừa lên nong, phủ bít Tằm lại cho Tằm ngộp thở mà chết cho rồi. Nhưng lạ quá! Tằm không chết ngộp, mà trái lại, ăn rất hăng. Nó nhai lá cứ nghe rào rào như mưa rơi trên mái ngói hay nghe gió trộn lá trên cây. Nó nằm dưới đáy nong, rồi bắt từ đó mà ăn lên. Nó ăn tợn quá và ăn cả ngày lẫn đêm không nghỉ. Tằm ăn không, ngồi rồi như vậy được ba hôm, kể cả những ngày nó ở ngoài trời, thì Tằm đã lớn được sáu ngày. Hôm thứ sáu ấy, mấy nàng cung nữ có phận sự phục dịch nó, bỗng không nghe tiếng lá cựa lào rào nữa. Họ cuối xuống sát nong, lặng nghe lâu lắm, thì quả nơi đó vắng lặng, không có lấy một tiếng động nhỏ nào. Ngọc Khánh lật đật bươi lá dâu lên, thì thấy tằm nằm ngay đơ, không cựa quậy. Thôi Tằm đã chết rồi! Đỡ khổ nhé! Chết phức đi để người ta rảnh tay lo việc khác thú vị hơn. Nhưng cả bọn bỗng sực nhớ lại một điều, rồi kinh sợ hết sức. Ừ, Hoàng Hậu đã giao cho họ săn sóc Tằm. Bây giờ tằm chết thình lình như thế nầy, thì biết ăn nói làm sao cho trôi. Chưa chi mà họ đã đổ lỗi cho nhau, lộ tất cả hèn nhát của họ trong cơn nguy biến: – Tại mầy lơ đĩnh để ong nó bay vô, nó đốt Tằm, Trúc Đào đổ thừa không căn cứ. – Nếu ong vô thì nó đã thịt Tằm rồi. – Ngọc Khánh cãi – Tao chắc tại con Thúy Liễu nó hái dâu ướt. Còn con Cẩm Nhung nữa, Tằm không lẽ vô cớ mà chết. Chắc nó bịnh. Sao mầy không báo tin cho Hoàng Hậu hay. Trúc Đào bứt tóc, bứt tai kêu: – Khổ ơi là khổ. Cái đồ mắc dịch ở đâu é! Sống đã làm tội người ta, bây giờ chết lại gieo họa cho chị em mình. Thôi, ta hãy vào phòng Hoàng Hậu, mà tâu rõ mọi việc. Hoàng Hậu mắng, khi họ báo tin dữ nầy: – Chúng bây ăn no, rồi lo có mỗi một việc nhỏ mọn ấy mà cũng không xong. Nào, nó đâu rồi? Hỏi xong, bà bước qua phòng Tằm, bươi lá lên, xem cho tận mắt. – Tằm nằm dưới đáy nong, đen thui giữa mớ lá xanh, không cục cựa, nhưng vẫn còn tươi. Hoàng Hậu nói: – Nó biết nói tiếng người, chắc cũng là một vì tiên mắc đọa chi đây. Thôi để nó đó, ta chôn cất, kẻo tội nghiệp. Thế rồi ai cũng quên Tằm cả. Qua hôm thứ tám, Hoàng Hậu đương ngồi uống trà sớm, bỗng con Cẩm Nhung hớt hơ, hớt hãi chạy vào phi báo: – Tâu Hoảng Hậu, Tằm đã sống dậy, mà lạ quá… – Nó sống dậy à! Tao đã bảo, nó là tiên mà, có chết được đâu! Đâu mầy kể lại đầu đuôi, ta nghe thử coi. – Bẩm, hồi nãy con sực nhớ lại, xác Tằm chưa chôn. Con đinh ninh nó đã thúi rồi, hoặc đã bị thằn lằn xơi mất. Con vào buồng nó xem lại cho rõ, thì con kinh khủng hết sức mà nghe nó kêu: “Chị Cẩm Nhung ơi! cho miếng dâu!”. Con chạy lại nong dòm kỹ, thì nó cựa quậy và lạ quá… – Lạ làm sao? – Nó rụng hết lông đen, và bây giờ nó vàng mướt, đẹp lắm. – Tao đã bảo mà. Nó là tiên, nó lộn kiếp. Biết đâu nó lại sẽ không hóa ra một Hoàng Tử. Hoàng Hậu đi theo Cẩm Nhung để qua buồng Tằm. Bấy giờ cả bốn cung nữ kia cũng vừa đến nơi. – Đâu các chị ơi, cho tôi miếng dâu, tôi đói lắm. Tằm kêu lên, khi nghe tiếng mở cửa. Hoàng Hậu bước tới, thì thấy Tằm vàng óng, đẹp quá. Tằm kính cẩn chào: – Lạy Hoàng Hậu! – Mi không chết thật à? – Bẩm, con có chết đâu. Con ngủ mà. Con ngủ một ngày, một đêm đúng, gọi là ngủ “ăn một” để cổi lốt, rụng bỏ lông đen đi, Hoàng Hậu à. – Vậy à? Bây ơi, cho Tằm ăn coi nào! Bây giờ Ngọc Khánh mới dám rớ đến Tằm. Nong cũ đầy dẫy lá dâu xắt héo queo và lông Tằm cũ, trông dơ dáy quá. Nàng nhẹ tay nâng Tằm lên, sang Tằm qua nong khác. Dâu đã hái về, Trúc Đào xắt nhỏ rải lên nong mới. Tằm ăn còn dữ hơn hôm chưa ngủ và lớn như thổi. Nó thức mà ăn như vậy đến bốn ngày và qua chiều ngày thứ tư, nó kêu mấy nàng cung nữ mà rằng: – Các chị yêu mến. Bữa trước, tôi quên báo tin các chị biết, làm các chị phải một phen hoảng hốt. Lần nầy, tôi sắp ngủ nữa đây. Tôi ngủ giấc nầy gọi là giấc “ăn hai”, cũng một ngày, một đêm, đúng y như bận trước vậy. – Mầy ăn, ngủ gì mà lạ đời thế? Thức suốt bốn, năm ngày liền, rồi lại ngủ cả ngày, cả đêm. – Ấy, nghệ sĩ mà, có khi no rồi vẫn thấy cần ăn nữa. Nhiều hành động khác còn bất chấp thiên hạ nữa. Qua sáng thứ sáu, tức là ngày thứ mười hai, Tằm thức dậy và đòi ăn như séo. Mấy cung nữ mắng: – Chỉ được ăn rồi ngủ, chẳng ra cái tích sự gì hết. Mi thật là đồ báo cơm. – Ấy, nghệ sĩ mà! – Hễ động là xưng nghệ sĩ. Nghệ sĩ hay gừng sĩ gì cũng phải làm việc chớ có đâu mà ăn no lại nằm. – Các chị không hiểu. Tôi nằm, tức là tôi làm việc đó. – Ừ, phải chớ, làm việc nằm…nằm… – Tôi nằm để tiêu hóa bao nhiêu là tinh anh của trời đất, cũng như nhà luyện thuốc họ nấu thuốc cao vậy mà! Những tinh anh ấy sẽ kết đọng lại, nhờ sự làm việc âm thầm đó. Rồi một ngày kia, tôi sẽ sản xuất ra một viên ngọc, nó là kết tinh của bao nhiêu cái đẹp bên ngoài. – Mi già mồm, nói nghe như nhà phù thủy, ai mà tin mi được. Tằm vẫn nóng bức: – Các chị à, làm ơn mở cửa ra, không tôi chết mất bây giờ. – Trời chuyển mưa đầu mùa nên nó vậy. Cửa sổ mở ra, ruồi đánh hơi bay vào. – Bớ thiên hạ, bớ người ta cứu tôi với! Tằm kinh sợ hét lên và mấy cung nữ phải lấy quạt mà quạt ruồi. Thật là bực mình. Bốn ngày sau đó, Tằm lại báo tin rằng, nó sắp ngủ cái giấc gọi là “ngủ ăn ba”. Cũng lại một ngày, một đêm nữa. – Ứ hự! Mấy cung nữ thở dài, rồi ngâm mỉa mai: Ai ơi chớ lấy thằng tằm, Ăn rồi nằm lại ngủ hai, ba… Ngủ “ăn ba” rồi lại thức bốn ngày. Bốn ngày cũng chỉ ăn rồi nằm. Hoàng Hậu tới thăm, sốt ruột hỏi: – Chàng nghệ sĩ ơi, chàng ăn rồi nằm vạ đến bao giờ mới thôi? – Bẩm Hoàng Hậu, nghệ thuật không hối thúc mà làm được. Nó phải hưởng một thời gian cần thiết, để mà chín mùi. Tôi dám đâu quên ơn Hoàng Hậu và mấy chị cung nữ đã khổ nhọc với tôi. Nếu bây giờ, tôi sản xuất ngay cho vừa lòng Hoàng Hậu, thì e tác phẩm sẽ non nớt, không đẹp như Hoàng Hậu trông mong. – Thôi được, cứ thong thả, ta bền lòng đợi mi. Lần thức nầy, trời mưa như cầm chĩnh mà đổ. Tằm kêu lạnh và đòi sưởi nữa. – Ứ hự, – mấy chị cung nữ lại thở dài – y như lão già bảy mươi. Nghệ sĩ gì mà giống như mèo ướt quá. Chị Trúc Đào nói mỉa: – Đòi nằm lửa sao mà giống đàn bà đẻ quá vậy? – Chị nói đúng đấy, – Tằm đáp – tôi sắp đẻ đây. – Đàn ông lại đẻ à? – Vâng, giống nghệ sĩ chúng tôi, nam, nữ gì cũng đẻ cả. Hổm nay, tôi hoài thai một tác phẩm, cố gắng đến yếu người đi, nên mới lạnh. Và sắp đẻ đây. Các chị ơi, sao mà tôi nghe bần thần trong mình, khó chịu quá. – Hay là mi sợ trời gầm? – Ấy, sai bét. Người đời ai cũng ngỡ giống Tằm chúng tôi sợ trời gầm. Nhưng mà như thế nầy. Đầu mùa mưa, thời tiết thay đổi bất thường, nên tôi sanh bịnh. Nhơn có trời gầm, người ta lầm nguyên nhơn. Ngỡ tôi sợ ông thiên lôi đó thôi. Cuối ngày thứ tư, Tằm báo tin sắp ngủ, giấc ngủ cuối cùng trong đời nó. Nó bảo đó là “ngủ giấc lớn”. Mấy chị cung nữ xôn xao lên. À, lần ngủ đầu, nó bỗng dưng đẹp ra phết, Hoàng Hậu đoán nó là tiên. Biết đâu lần ngủ chót nầy nó sẽ biến ra một Hoàng Tử xinh trai! Ấy, rồi nó sẽ yêu chị cung nữ nào có công nhiều với nó. Chị Trúc Đào cười duyên, hỏi xem nó có vừa ý những mảnh dâu xắt nhuyễn thơm phức, và quạt ruồi cho chàng Hoàng Tử tương lai. Nhưng Tằm không để ý đến ai cả, cứ thiếp đi lần lần, lại một đêm, một ngày nữa! Trong suốt thời gian ấy, cả hoàng cung bứt rứt, nóng muốn biết cái gì sẽ xảy ra. Hoàng Hậu thì tin rằng, vị tiên phải đọa ấy sắp hoàn hạn và lần nầy chắc hiện nguyên hình để về Bồng Lai Thượng Giới. Các cung phi lại đinh ninh, nó là một Hoàng Tử có tiên phong đạo cốt, giả ra con sâu để thử lòng họ. Kìa, chàng tiên đã thức và mọi người thất vọng hết sức. Chàng tiên ấy vẫn cứ là con Tằm, và cho dẫu là đẹp rồi, cũng chỉ là một loại sâu thôi. Mà thiển cận làm sao, chú ta vừa thức là đòi ăn như cưỡng đói. Lần nầy chú ăn tợn quá. Bao nhiêu cây dâu trong hoàng thành đều trụi lá, mà chú ta vẫn kêu đói. Chú nói với các cung nữ. – Tôi sắp đi xa, nên thức chơi với các chị cho lâu. Ngủ giấc lớn mà. Tôi thức đến bảy ngày rồi mới đi. – Đi đâu? Tằm, giọng buồn thảm không tả được, nói: – Đi xa lắm, và không bao giờ trở lại nữa. – Mi còn thiếu chị em ta món quà, mi hứa hôm nọ, đi sao được! – Vâng, tôi nhớ món nợ ấy. Và sắp đẻ nó ra đây. Tằm ăn no lại nằm, khiến các cung nữ đâm nghi hắn ta là một thằng xỏ lá gạt người để kiếm bữa. Ăn không lo, của kho cũng phải hết. Dâu chỉ còn ăn độ vài ngày nữa, nếu hắn không bày trò gì hay, thì kệ xác hắn, hắn sẽ đói rã ruột. Lần thức nầy, Tằm lớn mau lắm. Nhưng lại ít nói năng, cựa quậy gì. – Hắn tìm mưu để trốn chăng? – Các chị cung nữ hỏi thầm – Quịt hai mươi ngày cơm rồi chuồn! Được, nó mà bò ra khỏi nong, ta bắt vào đánh một trận nên thân! Qua ngày thứ sáu, lạ quá, đầu Tằm đỏ ửng lên. – Hỉ tín, hỉ tín! – chị Thúy Liễu reo – Tằm sắp hóa ra Hoàng Tử đẹp trai đây! Hoàng Hậu nghe tin, đến thăm, và ái ngại hết sức, mà thấy Tằm có vẻ đau đớn lắm. Cái màu đỏ ở đầu Tằm, xem như màu máu, và phía dưới đầu, mình Tằm cũng hơi ửng đỏ. Dường như là Tằm dồn máu lên. – Tằm ơi, sao thế này? – Bẩm Hoàng Hậu, con sắp “chộ” đấy! – Chộ là làm sao? – Nghĩa là con dồn tất cả tinh hoa đã thâu lượm được hổm nay, dồn lại để sản xuất ra tác phẩm nghệ thuật đấy.
Tằm quằn quại như một bà mẹ chuyển bụng, đau đớn cái nỗi đau của con vật sắp lột da hóa kiếp, khiến Hoàng Hậu thương khôn siết kể. Qua ngày thứ bảy, Tằm chộ, phân nửa thân mình đỏ ối và càng quằn quại đau đớn hơn bao giờ cả. Qua ngày thứ tám, toàn thân Tằm đỏ như trái ớt chín cây. Bây giờ Tằm như yên thân và an lòng, vì phần khó nhọc của công việc đã xong. Hoàng Hậu, Hoàng Đế, các bà Phi, và các đạo binh cung nữ đều tựu đến xem Tằm chín đỏ. Thật là lạ lùng, từ thuở giờ, không ai thấy con sâu nào mà biến dạng mau như thế bao giờ cả. Tằm mệt nhọc, cố nói: – Các chị bẻ cho tôi một chà cây. Không ai nỡ hỏi vặn Tằm nữa, vì Tằm, coi bộ, đuối sức lắm rồi. Khi chà cây được đặt vào trong nong, Tằm thỏ thẻ: – Tâu Hoàng Thượng, Hoàng Hậu và quí bà Phi, thần xin mời tất cả ra ngoài để thần làm một việc không đẹp mắt bao nhiêu. – Mi cứ làm đi chớ. – Hoàng Đế nói – ai mà chấp nhứt mà mi lo. Tằm ráng sức leo lên chà, rồi nói: – Tôi tẩy trần đây. Tôi phóng tất cả những thứ ô uế trong người tôi ra, cho người tôi thanh khiết. Khi chỉ còn tinh hoa trong ấy, tôi mới trình bày tác phẩm nghệ thuật được. Suốt một tiếng đồng hồ, Tằm phóng uế đầy nong. Xong đâu đó nó nói: – Bẩm Hoàng Hậu, nhớ ơn loài người nuôi nấng tôi, nhớ ơn tri ngộ với Hoàng Hậu, tôi sản xuất tác phẩm đầu tiên và cuối cùng của tôi đây. Tôi cố gắng cho nó hết sức mỹ lệ để đáp ơn mọi người, rồi tôi…, rồi tôi… Tằm nghẹn ngào khóc nức nở, không nói ra lời nữa. Cả phòng đều ái ngại, hỏi dồn: – Rồi làm sao, hỡi Tằm ơi! Khóc cạn nước mắt, Tằm nói: – Rồi tôi từ giã cõi đời… – Ồ! – Trời!… – Ai lại giết mi? Nhà vua có cả một đạo hùng binh để bảo vệ mi. Không, không ai làm gì mi được đâu! Tằm tấm tức, tấm tưởi: – Không ai giết thần, nhưng thần phải chết. Tất cả tâm lực của thần đã đổ vào tác phẩm nầy rồi, thần hóa kiếp chớ không giữ thân thể xưa nữa được. Thần hóa kiếp và tiếp tục sống. Nhưng Hoàng Hậu phải giết thần mới… – Không, ta không khi nào giết mi. – Hoàng Hậu phải giết thần, không thời không hưởng được tác phẩm đó. Bây giờ, thần xin trối trăn đôi lời. – Mi có gì cứ nói ngay ra. – Bẩm, nơi chà cây nầy, thần sẽ nhả ra một thứ sợi, mường tượng như sợi chỉ bố, mà Hoàng Hậu dệt mặc bây giờ. Sợi của thần bền chắc hơn thập bội, và đẹp hơn muôn phần. Đó là tác phẩm nghệ thuật của thần đó. Thần đã góp khí thiêng của trời đất, un đúc lại trong ruột thần, để có sợi dây nầy. Hôm nay thần nhả sợi ra lần lần phủ lấy mình thần. Thần tự nhốt trong đó để che cái thân tàn nầy, hầu hóa kiếp khác. Bó tơ ấy, trong hai ngày, Hoàng Hậu phải bỏ nó vào nồi nước sôi cho thần nóng mà chết đi… Hoàng Hậu, các bà Phi và cung nữ đêu kêu rú lên khủng khiếp, nói: – Ai lại nỡ…. – Nếu không làm thế, cái kiếp khác của thần, cái thân thể tàn dại biến ra hình thức khác, sẽ cắn rách nó mà chui ra. Thế là tác phẩm của thần sẽ hỏng. Uổng công thần khó nhọc mà không ai hưởng được cả. Bỏ vào nước sôi luộc xong, Hoàng Hậu kéo sợi ấy ra, rồi dệt như dệt bố. Nó sẽ đẹp cho Hoàng Hậu xem. Nói rồi, Tằm bắt đầu nhả tơ ra. Đó là một sợi nước dãi vàng, nước nhả ra thì ướt và mềm, một lát là khô cứng lại. Đầu mối tơ móc trên một cành chà, khiến cả bó tơ như được treo trên đó. Tằm cứ nhả lần, nhả lần và cả phòng bùi ngùi rưng rưng lệ nhìn Tằm trả nợ dâu. Bó tơ nhỏ hơn cái trứng gà, vàng óng ánh như con ngỗng con mới nở, ngửi nghe thì thơm phức một mùi mới lạ chưa từng nghe. Hoàng Hậu hỉ mũi, lau lệ, rồi nói: – Kệ, hỏng thì hỏng, đừng ai rờ tới bó tơ nầy hết. Tằm nó kén ăn, kén ở lắm, nên ta đặt bó tơ nầy là cái “kén” và quyết để dành làm kỷ niệm. Nhưng hôm sau đó, chị Cẩm Nhung, tánh tò mò bất trị, lại hay tin nhảm, bèn lượm kén bỏ vào nồi nước sôi. Chị ta đinh ninh rằng, Hoàng Tử đẹp trai muốn nhờ Hoàng Hậu giúp tay để hiện nguyên hình. Hoàng Hậu không làm y theo lời trối, mà nếu không thi hành, e tội nghiệp Hoàng Tử chăng? Vả lại cũng nên phỗng tay trên thiên hạ, để mua lòng Hoàng Tử. Vậy chị ta làm theo lời Tằm căn dặn. Xong đâu đấy, chị ta nắm mối tơ mà kéo và quấn quanh một cây que…Khi đường tơ đã dứt, Hoàng Tử đâu không thấy, cho thấy một con bọ dị hợm lắm, chết queo vì phỏng nước sôi. Hoảng hốt, chị ta tri hô lên, Hoàng Hậu chạy đến cầm con vật lên mà khóc ròng. Nhưng chuyện đã lỡ rồi Hoàng Hậu nghĩ, nên y theo lời Tằm dặn. Tơ ấy ít quá, nên Hoàng Hậu nuôi thêm vài lứa tằm nữa, để đủ chỉ dệt. Tấm lụa đầu chỉ có Hoàng Đế, Hoàng hậu và chị thợ dệt xem mà thôi. Hoàng Hậu vuốt mãi sớ tơ mịn, nghe mát tay như là sờ vào một lọ sứ cổ. Hoàng Hậu kê sát mũi để ngửi mùi tơ thơm ngọt như mùi tàng ong, nghe bắt thèm ăn. Màu vàng óng ánh của sắp lụa đẹp hơn ngũ sắc của tường vân, đẹp hơn mống trời, đẹp hơn ráng trời, đẹp hơn cả màu sắc của trăm hoa nơi vườn Thượng Uyển. Hoàng Hậu sai thợ khéo nhứt nước may cho mình một chiếc áo. Và lần mặc áo ấy vào nội cung, Hoàng Hậu làm cho Hoàng Đế chưng hửng: – Trời ơi, trông khanh trẻ như một cung phi mới tuyển. Và từ đó, bà Hoàng Hậu, bốn mươi lăm tuổi, được Hoàng Đế sủng ái và xao lãng các bà Phi. Hoàng Đế ra lịnh cho thần dân, ai cũng phải trồng dâu để nuôi tằm cả. Và tơ của lứa tằm đầu của toàn quốc được tập trung về trào, dệt lụa, may áo cho toàn thể cung phi, mỹ nữ. Đêm ấy có dạ hội, các vũ nữ đều mặc xiêm y bằng lụa màu. Hoàng Đế xem họ múa mà mê, không mê vì vũ khúc hay sắc gái, mà mê những tà lụa óng ánh, dịu như cánh bướm. Hoàng Hậu cũng có mặt nơi đó, nhưng bà cứ đăm đăm, ngậm ngùi, thương ai không biết. Hoàng Đế trông thấy hỏi: – Sao hậu không vui với trẫm? – Tâu bệ hạ, thiếp nhớ chàng nghệ sĩ mà tội nghiệp hắn hoài. Hoàng Đế cười ha hả: – Ối, khéo dư nước mắt. Nghệ sĩ đó chết, là còn nghệ sĩ khác. Cái kiếp của chúng nó là đau khổ rồi chết đi, để lại đồ đẹp cho ta hưởng mà. Hoàng Hậu không cãi lại, chỉ rưng rưng nước mắt thầm.
Dãy 22 chia làm hai cánh, mỗi cánh đặt dưới sự điều hành của hai trưởng phòng. Khu thứ hai của cánh thứ nhì là nơi chen chúc của nhóm Lão Làng. Đây là khu vực chật hẹp nhất và ẩm thấp nhất nhưng điều này chẳng làm họ quan tâm. Vấn đề quan trọng đối với họ là được ở bên nhau. Có thế họ mới tăng cường được sức đề kháng. Chết chóc là một thứ bệnh truyền nhiễm, càng sống riêng rẽ càng dễ gục ngã trong sự xôn xao chung, dầu muốn hay không. Do đó, liên kết với nhau là hình thức chống chỏi hữu hiệu hơn. Khi một người cảm thấy sắp bỏ cuộc, bạn đồng lao của hắn sẽ giúp hắn vượt qua. Nhóm Lão Làng không phải sống dai vì được ăn uống đầy đủ, họ sống được là nhờ biết tiết kiệm đôi chút sức tàn của ý thức đề kháng. Tại khu vực nhỏ hẹp của nhóm Lão Làng lúc bấy giờ, nằm ngồi bên nhau gồm có một trăm ba mươi bốn hộ xương người trong khi chỗ ở chỉ vừa đủ cho bốn mươi người. Giường ngủ của họ là những mảnh ván chồng lên nhau thành bốn từng. Những mảnh ván này hoặc trần trụi, hoặc được phủ lên một lớp rơm mục. Toàn khu vực chỉ có vài ba chiếc mền mà tù nhân đã phải xâu xé tranh nhau mỗi khi có người vừa chết. Mỗi mảnh ván là chỗ sống của ba hoặc bốn người, quá chật hẹp, dầu họ chỉ còn là những bộ xương, bởi vì xương vai và xương hông không thể co rút lại. Mỗi người chỉ có được một khoảnh nhỏ đủ nằm nghiêng, sấp lớp như cá mòi, và thỉnh thoảng giữa đêm người ta lại nghe những tiếng lịch bịch của những người bị rơi khỏi giường trong giấc ngủ. Nhiều người phải ngủ co rúm lại và có phước là kẻ nào mà người chung giường chết đi vào lúc tối. Những người chết được mang ra ngoài, thế là họ có quyền co duỗi thoải mái trong một đêm cho tới khi có kẻ khác tới. Nhóm Lão Làng dành riêng cho họ phía góc trái cửa ra vào. Họ gồm có mười hai người. Hai tháng trước, nhóm của họ lên đến con số bốn mươi bốn. Mùa Đông đã lấy bớt của họ số người kia. Toán còn lại thừa hiểu là họ đang ở vào giai đoạn cuối cùng, khẩu phần càng ngày càng bị sụt giảm, đôi khi chẳng có gì để ăn trong một hoặc hai ngày, thế là xác chết lại nằm chồng lên nhau ngay trước lao xá. Trong nhóm còn lại có một người đã điên loạn và cứ tường mình là chó chăn cừu. Hai vành tai của hắn đều mất cả vì có lần hắn đã bị bọn SS đem ra làm đối tượng để luyện tập cho đám quân khuyển. Tù nhân trẻ nhất trong nhóm là một đứa bé trai tên Karel, người Tiệp Khắc. Cha mẹ nó đã chết và biến thành phân bón cho một rẫy khoai trong làng Westage, bởi vì tro than của lò thiêu người luôn luôn được cho vào bao và đem bán đi như phân hóa học. Loại phân này rất giàu chất lân tinh và calcium. Thằng bé Karel mang dấu hiệu đỏ của tù chánh trị dầu chỉ mới có 11 tuổi. Người cao niên nhất trong đám Lão Làng đã bảy mươi hai tuổi. Ông ta là hạng người Do Thái luôn luôn chiến đấu để giữ vẹn bộ râu vì đó là một phần trong tôn giáo của ông. Bọn SS quên lưu tâm điều này và người tù già nua cứ để cho râu dài thêm ra. Lúc còn ở trại lao công, ông thường bị đánh đập vì bộ râu. Tại Tiểu trại, ông không cần che giấu. Ở đây bọn SS không lưu tâm may về nội quy và rất ít khi kiểm soát, bọn chúng rất sợ chí rận và các chứng bệnh khác như kiết lỵ, thương hàn và lao phổi. Người tù Ba Lan tên Julius Silber gọi ông lão là Ahasver vì ông đã sống sót được sau khi đã trải qua gần một chục trại tập trung ở Hòa Lan, Ba Lan, Áo và Đức quốc. Silber đã chết vì bệnh thương hàn và cái chết của hắn đã giúp cho cây ngọc trâm trong khu vườn của viên Chỉ huy trưởng Neubauer trổ đầy hoa. Viên sĩ quan SS này được quyền lấy không số tro của lò thiêu người. Tuy vậy, cái tên Ahasver mà hắn đã đặt cho ông lão vẫn còn lưu lại. Khuôn mặt của người tù già đã hóp sát nhưng râu thì cứ dài ra biến thành khu vực mầu mỡ cho các thế hệ chí rận. Trưởng phòng của khu vực này là bác sĩ Ephraim Berger. Ông là nhân vật quan trọng trong công cuộc chiến đấu chống tử thần mà bóng dáng luôn luôn xuất hiện quanh lao xá. Vào mùa Đông khi các bộ xương ngã té vì mặt tuyết trơn trợt và bị gãy xương, chính ông đã giúp họ bó xương với những mảnh gỗ và đã cứu được một số người. Bệnh viện của trại giam không bao giờ tiếp nhận các tù nhân của Tiểu trại. Sự có mặt của bệnh viện chỉ dành cho những người còn đủ khả năng lao tác và cho một số người đáng lưu tâm. Tại Đại trại, tuyết mùa Đông không nguy hiểm bao nhiêu vì vào những ngày quá trơn trợt, mặt đường được rải lên một lớp tro của lò thiêu người, không phải vì thương tiếc tù nhân mà là nhằm bảo vệ phần nhân lực còn hữu dụng. Kể từ khi các trại tập trung đoàn ngũ hóa tù nhân thành các lực lượng lao tác, giới hữu trách bắt đầu đặt thành vấn đề quan tâm. Để đền bù lại, dĩ nhiên là tù nhân phải làm việc chí chết. Những sự mất mát không đáng kể, mỗi ngày đều có một số người mới bị bắt giữ. Berger là một trong số ít các tù nhân được phép rời khỏi trại. Từ nhiều tuần qua ông làm việc tại nhà xác của lò thiêu. Nói chung thì các trưởng phòng không phải làm việc, nhưng vì số tù nhân bác sĩ chẳng có bao nhiêu nên ông được gọi tới. Đó là một điều lợi cho lao xá 22. Nhờ người cai lao công ở nhà xác đã từng quen biết trước kia, bác sĩ Berger lượm lặt được một ít thuốc sát trùng, bông gòn, aspirine và một vài thứ khác mang về giúp các bạn đồng lao. Ông cũng cất giấu được một chai iodine dưới lớp rơm trên giường ngủ. Tuy thế, nhân vật quan trọng nhất của nhóm Lão Làng chính là Leo Lebenthal. Hắn ngầm dính líu với đám chợ đen ở trại lao công, và có người đồn rằng hắn còn giao thiệp được với cả bên ngoài. Làm thế nào Lebenthal có được sự liên lạc đó, chẳng ai hiểu chính xác cả. Người ta chỉ biết lờ mờ là có hai cô gái điếm của thanh lâu The Bat tại ngoại ô thành phố có liên can đến vụ này. Dường như có cả một tên lính SS cũng có chân trong tổ chức chợ đen, nhưng chẳng ai dám cả quyết. Trong khi đó, Lebenthal không hề hé răng. Hắn buôn mọi thứ. Người ta có thể mua ở hắn những mẩu thuốc tàn, một củ cải, đôi khi một vài củ khoai tây, những món ăn thừa của nhà bếp, một khúc xương và thỉnh thoảng một miếng bánh mì. Hắn không lường đảo ai, hắn chỉ lưu hành các món hàng. 509 bò qua cửa. Mặt trời ngã về Tây phía sau, chiếu xuyên qua tai hắn. Trong một lúc, vành tai hắn trông như sáp và vàng ngời lên hai bên đầu hắn. Vừa thở hổn hển, hắn vừa nói: – Họ đã ném bom thành phố. Không một ai trả lời, 509 vẫn chưa thấy rõ bên trong, ánh sáng bên ngoài lúc nãy vẫn còn làm hắn chóa mắt. Hắn nhắm mắt lại, rồi mở mắt ra. Hắn nhắc lại: – Họ vừa ném hom thành phố. Có ai nghe thấy không? Lại cũng chẳng ai nói gì. Bây giờ 509 nhìn thấy Ahasver gần bên cửa. Ông ta đang ngồi trên mặt đất, vuốt ve con chó chăn cừu. Con chó tru lên, kinh sợ. Mái tóc mờ đục phủ lòa xòa trên khuôn mặt đầy thẹo của hắn. Xuyên qua mảng tóc, một đôi mắt lấp lánh tia sợ hãi. Ahasver thì thầm: – Một trận bão có sấm sét, chỉ có vậy thôi. Đừng sợ, con sói của ta! 509 bò vào trong chút nữa. Hắn không hiểu được thái độ hờ hững của những kẻ kia. Hắn hỏi: – Berger đâu? – Còn ở lò thiêu. Hắn đặt chiếc áo ngoài và áo cánh trên nền đất: – Có bạn nào muốn ra ngoài không? Hắn nhìn về phía Westhof và Bucher. Họ không trả lời. Cuối cùng Ahasver lên tiếng: – Báo động quá lâu. – Hết báo động rồi. – Chưa. – Rồi. Máy hay đã đi hết. Họ ném bom thành phố. – Bạn nói thế nhiều lần rồi. Đó là tiếng nói của một người trong bóng tối. Ahasver nhìn lên: – Có thể họ sẽ bắn vài chục người chúng ta để trả thù. Westhof ho khan: – Bắn? Ở đây bắn hồi nào? Con chó chăn cừu sủa lên. Ahasver giữ chặt lấy hắn: – Ở Hòa Lan, mỗi lần bị oanh kích, họ bắn từ mười đến hai mươi tù nhân chánh trị. Họ bảo như thế là để khỏi lầm. – Chúng ta đâu có ở Hòa Lan. – Biết rồi. Tôi chỉ nói là họ bắn ở Hòa Lan. Westhof xì một tiếng ngạo mạn: – Bắn! Ông có phải là binh sĩ đâu mà đòi hỏi thế. Ở đây người ta treo và đánh cho tới chết. – Họ có thể đổi lại bằng cách bắn. Người trong bóng tối hét lên: – Câm miệng lại! 509 ngồi chồm hổm gần Bucher và nhắm mắt lại. Hắn vẫn còn thấy khói lửa ngập tràn thành phố bốc cháy và cảm nhận được những tiếng nổ như sấm động. Ahasver hỏi: – Chẳng biết đêm nay họ có phát phần ăn không? Lại tiếng nói từ trong bóng tối: – Đồ ngu! Ông còn muốn gì nữa? Hồi nãy muốn bị bắn và bây giờ lại đòi ăn. – Người Do Thái luôn luôn hy vọng. Westhof cười mỉa: – Hy vọng! – Chớ sao bây giờ? – Ahasver bình tĩnh đối đáp. Thình lình Westhof bước lên rồi bắt đầu khóc nức nở. Từ nhiều ngày qua, hắn đã mất hết bình tĩnh. 509 mở mắt ra: – Có thể đêm nay họ bỏ đói mình để trả đũa vụ oanh tạc. Người trong bóng tối thét lên: – Cất vụ ném bom khả ố của bạn đi! Câm miệng cho người ta nhờ. Ahasver hỏi: – Có ai còn gì ăn không? Người bên trong kêu lên ngột ngạt vì câu nói dại dột ấy: – Trời! Ahasver chẳng buồn lưu tâm: – Ở Thereienstadt, có người còn một miếng sô-cô-la mà không biết. Hắn giấu vào một chỗ rồi quên lửng. Đó là loại sô-cô-la sữa, ngoài bao có in hình Hindenburg. – Còn gì nữa? Một tấm giấy thông hành? Tiếng nói trong bóng tối lại vang lên: – Không phải thế. Chúng tôi đã nhờ miếng, sô-cô-la ấy sống được hai ngày. 509 hỏi Bucher: – Ai la ó vậy? – Một trong sổ người mới tới hôm qua. Hắn chưa quen, nhưng rồi cũng sẽ quen. Thình lình Ahasver lắng nghe: – Xong rồi. – Ngoài kia kìa, còi chấm dứt báo động. Bỗng nhiên tất cả đều yên lặng như tờ. Rồi có tiếng bước chân. Bucher thì thào: – Đem giấu con chó chăn cừu mau. Ahasver vội vàng đẩy người tù điên vào giữa các dãy giường. – Nằm xuống! Hãy nằm yên! Ông ta đã luyện tập cho hắn biết vâng lời. Nếu bọn SS bắt gặp hắn chắc chắn chúng sẽ tức khắc chích cho hắn một mũi thuốc độc đúng như trường hợp đối xử với người điên. Bucher từ cửa quay vào: – Berger về tới. Bác sĩ Berger là một người nhỏ thó, vai xuôi, đầu giống hình quả trứng, hoàn toàn sói. Mắt ông ta lúc nào cũng đỏ và ướt. Vừa bước vào, ông vừa nói: – Thành phố đang bốc cháy. 509 ngồi bật dậy: – Họ nói gì đằng ấy? – Không biết. – Sao lại không? Bạn phải nghe thấy một ít chớ. Berger mệt nhọc đáp: – Không. Khi còi báo động vừa rú, họ ra lính ngưng đốt lò. – Sao vậy? – Làm sao biết được? Lệnh từ trên. Chỉ có vậy thôi. Berger đi lần ra phía sau, giữa các dãy giường. 509 theo dõi ông ta bằng mắt. Hắn đã đợi Berger về để nói chuyện không ngờ ông ta cũng lạnh nhạt như các người kia. Hắn không hiểu nổi. Hắn hỏi Bucher: – Có cần ra ngoài không? – Không. Bucher đã 25 tuổi và đã sống tại trại mất bảy năm. Ông thân hắn từng là biên tập viên của một tờ báo Dân chủ Xã hội, chỉ bao nhiêu đó cũng đủ để cho đứa con bị bắt giam. Nếu hắn ra khỏi đây, – 509 nghĩ thế – hắn còn có thể sống thêm bốn mươi năm nữa. Bốn mươi hay năm mươi. Trong khi đó mình đã năm mươi rồi. Mình chỉ còn nhiều lắm là mười hoặc hai mươi năm nữa. Hắn lôi một mảnh gỗ trong túi áo ra và bắt đầu gặm nhấm. Tại sao mình bỗng nghĩ tới chuyện đó? Hắn tự hỏi. Berger đi trở lại: – Lohmann cần gặp bạn, 509. Lohmann nằm ở sau cùng của lao xá trên chiếc giường dưới tháp không có trải rơm. Hắn muốn như thế. Hắn bị kiết lỵ nặng và không thể ngồi dậy nổi nữa. Hắn nghĩ đó là cách sạch sẽ nhất. Nhưng sạch sẽ làm sao được. Dầu vậy, mọi người đều quen với những thứ ấy rồi. Hầu hết mọi người đều hơn một lần mắc bệnh tiêu chảy. Với Lohmann đó là một cực hình. Sinh mạng của hắn như đang treo trên sợi chỉ mành nhưng hắn vẫn xin lỗi mỗi lần ruột hắn trở chứng. Mặt hắn xám ngắt như da mặt của một người da đen mất máu. Hắn cử động một bàn tay và 509 khom xuống. Mí mắt Lohmann vàng nhợt nhạt. Hắn thều thào trước khi há miệng ra: – Có thấy gì không? 509 nhìn vào dãy nước xanh tái: – Cái gì? – Phía trong, bên phải, một miếng vàng. Lohmann xoay đầu về phía chiếc cửa sỗ nhỏ hẹp. Mặt trời lúc bấy giờ chỉ còn lại chút ánh sáng hồng yếu ớt. – Thấy rồi – 509 đáp nhưng chẳng thấy gì cả. – Lấy nó ra. – Cái gì? – Lấy nó ra – Lohmann thều thào vớí vẻ sốt ruột. 509 nhìn Berger. Berger lắc đầu. 509 nói: – Nhưng nó gắn chặt lắm. – Thì cạy luôn cái răng ra. Không chặt lắm đâu. Berger có thể lấy được. Ông ta đã quen làm như thế tại lò thiêu, cả hai người hợp tác thì dễ quá. – Tại sao bạn muốn lấy nó ra? Lohmann chớp chớp mắt giống như mí mắt một con rùa, chẳng còn một lông mi. – Các bạn dư biết mà. Vàng đấy. Đổi lấy thực phẩm. Lebenthal lo được. 509 không trả lời. Đổi chác vàng là một chuyện nguy hiểm. Theo quy lệ, mọi vật khảm vàng đều phải khai báo khi nhập trại và sau đó sẽ bị cạy ra và thâu giữ tại lò thiêu. Mỗi khi bọn SS phát giác một vật khảm vàng đã khai báo mà bị mất đi thì toàn thể dãy lao xá liên hệ đều chịu chung trách nhiệm. Tù nhân sẽ bị bỏ đói cho tới khi hoàn trả được vật kia. Kẻ nào bị khám phá đang cất giữ sẽ bị xử treo. Lohmann hổn hển: – Nạy nó ra. Dễ lắm. Cứ dùng kìm! Hay một sợi dây cũng được. – Mình đâu có kìm? – Thì lấy dây. Cho dây vào kẽ hở. – Cũng không có dây. Lohmann nhắm mắt lại, mệt lả. Môi hắn mấp máy nhưng không có thanh âm nào phát ra. Thân xác hắn hoàn toàn bất động và dẹp lép chỉ có vành môi khô đen của hắn còn tạo được một tâm điểm nhỏ của sự sống. Xuyên qua đó, sự yên lặng xâm nhập như một suối chì lỏng. 509 đứng lên và nhìn Berger. Lohmann không thể nhìn thấy mặt họ vì các mảnh ván giường từng trên đã che khuất. – Hắn làm sao vậy? – Muộn hết rồi. 509 gật đầu. Chuyện đó xảy ra quá nhiều khiến hắn không còn cảm nhận được đúng mức. Ánh nắng chênh chếch của mặt trời rọi vào năm tù nhân đang ngồi co rúm trên từng giường cao nhất khiến họ trông giống những con khỉ. Một trong những người này vừa gãi nách vừa ngáp và vừa hỏi: – Chắc hắn sẽ bị ném ra ngoài sớm? – Chi vây? – Tụi này sẽ chiếm chỗ hắn, Kaiser và tôi. – Các bạn sẽ toại nguyện. 509 nhìn một lúc vào mảng ánh sáng chập chờn tưởng như nó không dính líu gì đến gian phòng hôi thúi này cả… Trong ánh sáng đó, màu da của người tù vừa đối thoại trông như da một con báo, da hắn lốm đốm những chấm đen. Người tù này bắt đầu nhai một cọng rơm mục. Cách đó vài dãy giường hai tù nhân khác đang cãi nhau chí chóe. Âm thanh của một vài cái tát yếu ớt nghe thấy rõ. Có người khẽ kéo dưới chân, Lohmann đang nắm lấy gấu quần của 509. Hắn lại khom xuống. Lohmann thều thào: – Lấy nó ra. 509 ngồi xuống cạnh giường: – Chúng ta không thể đổi chác được gì đâu. Nguy hiểm lắm. Không ai chịu mạo hiểm cả. Môi Lohmann run run: – Chúng nó không có quyền lấy cục vàng đó. Đừng để chúng nó lấy. Tôi đã phải trả 45 đồng Mark hồi năm 1929. Lấy ra đi. Hắn bỗng kiệt sức và rên rỉ; da mặt của hắn chỉ còn nhăn lại quanh đôi mắt và môi – ngoài ra chẳng còn bắp thịt nào có thể chứng tỏ được sự đau đớn. Một lúc sau, hắn duỗi người ra. Một âm thanh áo não xì xụp từ ngực hắn. Berger lên tiếng: – Không sao đâu, mình còn một ít nước. Có thể vượt qua. Sau một lúc bất động khá lâu, Lohmann lại mệt nhọc thì thầm: – Hãy hứa là các bạn sẽ lấy nó ra trước khi bọn chúng tới chỗ này đem xác tôi đi. Sau khi tôi chết, lấy ra rất dễ. 509 đành phải hứa: – Được rồi, lúc mới tới trại bạn có khai báo không? – Không. Hứa chắc đi! – Chắc chắn! Mắt Lohmann như mờ đi rồi trở lại bình thường: – Chuyện gì xảy ra bên ngoài hồi nãy? Berger đáp: – Oanh tạc. Thị trấn bị ném bom. Lần đầu tiên phi cơ Mỹ… – Ồ… Berger thấp giọng và nghiêm nghị: – Chuyện đã xảy ra gần hơn! Lohmann, bạn sẽ được báo thù. 509 nhìn lên thật mau. Berger vẫn còn đứng, hắn không nhìn thấy mặt, chỉ thấy có hai bàn tay. Chúng mở ra và nắm lại như đang siết một cuống họng vô hình, buông ra rồi siết lại. Lohmann nằm im lìm. Hắn lại nhắm mắt và thở nặng nhọc. 509 vẫn chưa tin ở tai mình về câu nói của Berger. Hắn đứng lên. Người tù ở giường từng trên cùng hỏi: – Hắn chết chưa? Bốn người kia ngồi chồm hổm như hình nộm. Mắt họ trống vắng. – Chưa. 509 quay sang Berger: – Tại sao bạn nói thế với hắn? Berger nhăn mặt: – Tại sao? Bởi vì… Bạn không hiểu à? Ánh sáng chiều mờ đục bao lấy chiếc đầu hình quả trứng của người tù bác sĩ như một đám mây hồng. Trong không khí nặc mùi bệnh dịch, cái đầu ông ta trông như đang bốc hơi. Mắt ông ta ngời chiếu, ướt sũng như hầu hết lúc nào cũng thế, đôi mắt vẫn đỏ kinh niên. 509 có thể hiểu tại sao Berger nói vậy, nhưng làm thế nào để an ủi được một kẻ biết mình sắp chết? Đã thế, điều đó còn có thể làm cho chính ông ta gặp khó khăn. 509 nhìn một con ruồi đậu trên mi mắt xám đen của một con người nộm. Người tù này không nháy mắt. 509 nghĩ có thể đó là một an ủi. Có thể đó là lời an ủi duy nhất đối với người sắp từ giã cõi đời. Berger quay người lại và len lỏi đi về phía hành lang nhỏ hẹp. Ông ta phải bước ngang qua những người nằm dài dưới đất. Cảnh tượng trông giống như một con cò đang khốn khổ vượt qua một đầm lầy. 509 bước theo. Lúc rời khỏi hành lang, 509 gọi nhỏ: – Berger! Berger dừng lại. 509 chợt thấy khó thở: – Bạn có thật sự tin như thế không? – Tin gì? 509 không thể đủ can đảm nhắc lại. Dường như lời nói ấy đột ngột bay đi mất: – Về điều bạn nói với Lohmann. Berger nhìn 509: – Không. – Không? – Không. Tôi không tin. 509 tựa người vào nơi gần nhất: – Nhưng… Tại sao bạn lại nói vậy? – Vì sự lợi ích đối với Lohmann. Nhưng tôi không tin. Không một ai sẽ được báo thù, không một ai… không một ai. – Nhưng còn thành phố? Dầu sao, dầu sao nó cũng đang bốc cháy. – Thành phố bốc cháy. Nhiều thành phố đã cháy rồi nhưng không có nghĩa gì cả… – Có chớ! Nó phải.. Berger thì thầm say sưa với nỗi thất vọng của một kẻ nuôi hy vọng huyền dịu rồi thình lình vùi lấp cả đi. Cái đầu xanh nhợt của ông ta lắc lư và nước chảy ra từ khóe mắt: – Một thị trấn nhỏ bé đang bốc cháy. Có gì liên quan đến chúng ta. Sẽ chẳng có gì thay đổi cả. Chẳng có gì cả. Từ sàn đất, Ahasver lên tiếng: – Họ sẽ bắn một vài người. Người trong bóng tối thét to: – Câm miệng! Câm cái miệng trời đánh lại! 509 co rút vào chỗ của hắn sát bức tường. Phía trên đầu hắn là một trong các cửa sổ của lao xá. Khung cửa hẹp nhưng nhờ ở trên cao nên giờ này hãy còn hứng chút nắng chiều. Ánh sáng chiếu dãy giường từng thứ ba; ngoài nơi đó ra, gian phòng chìm trong bóng tối. Dãy lao xá này chỉ mới cất lên một năm trước. 509 có góp phần trong vụ xây cất này; vào lúc đó, hắn còn ở trại lao tác. Trước kia nó là một lao xá cũ kỹ bằng gỗ của một trại tập trung ở Ba Lan. Một hôm, bốn dãy lao xá bị tháo rời được chở tới nhà ga thị trấn này và được các xe vận tải đưa vào trại để dựng lên. Chúng vẫn còn phảng phất mùi khó ngửi của rệp, sự dơ bẩn và chết chóc. Từ đó, Tiểu trại thành hình. Chuyến phát lưu kế tiếp gồm toàn những tù nhân tàn phế, sắp chết, từ Đông bộ tới. Tất cả được đổ vào đó và bị bỏ mặc. Rồi thêm một số tù nhân khác tàn phế, bệnh hoạn bị ném vào đầy nghẹt khiến nó trở thành một cơ quan thường trực. Ánh nắng dán lên tường bên phải cửa sổ một hình vuông biến dạng. Ở đó những chữ khắc và danh tánh phai mờ chợt hiện rõ ra. Đó là những chữ khắc tên họ của những cựu tù nhân thuộc lao xá cũ ở Ba Lan và Đông Đức. Họ đã khắc vào gỗ bằng viết chì, bằng dây kẽm hoặc bằng móng tay. 509 đã làm quen một số lớn những chữ khắc ấy. Hắn biết là hiện thời ở một góc của hình vuông làm bằng ánh nắng chiều có một danh tánh được đóng khung bởi nhiều lằn gạch khá sâu, – Chaim Wolf, 1941. Rất có thể là Chaim Wolf đã khắc vào đó khi biết mình sắp chết và cố đóng khung tên họ mình lại để không còn một thân nhân nào có thể bị thêm vào. Ông ta mong mỏi đó là lần cuối cùng để chỉ một mình ông ta nhận lấy số phận và chỉ một mình ông ta lưu niệm ở đó thôi. Đó là lời cầu khẩn với số mạng của một người cha hy vọng các con mình sẽ được cứu rỗi. Nhưng ngay dưới những lằn gạch đóng khung, có hai danh tánh khác được khắc sát vào dường như muốn bấu víu lấy tên họ bên trên: Ruben Wolf và Moische Wolf. Tên Ruben Wolf chữ viết đứng, vụng về như nét chữ một cậu học trò, tên Moische Wolf viết nghiêng, mềm dịu và cam phận… Bên cạnh ba danh tánh đó có một bàn tay khác ghi vào: TẤT CẢ ĐỀU CHẾT VÌ HƠI NGẠT. Xéo về phía dưới, ngay trên lỗ hỗng của tường gỗ có hàng chữ khắc bằng móng tay: Jos. Meyer, Trung úy trừ bị, huy chương Sắt, Đệ nhất và Đệ nhị đẳng. Người mang tên Meyer có vẻ không muốn quên cấp bực và công trạng. Ngay cả những ngày cuối cùng của cuộc đời, người này vẫn bị ám ảnh. Ông ta đã ở tiền tuyến hồi Đệ Nhất Thế Chiến, được làm sĩ quan, được ban khen. Và bởi vì là người Do Thái nên Meyer phải tự chứng tỏ bằng cách tận tụy gấp đôi người khác. Về sau lại cũng bởi vì là Do Thái nên ông ta bị bắt giữ và bị diệt trừ như một con giun. Có lẽ ông ta cả quyết rằng thái độ bất cống đối với riêng ông đã to lớn hơn đối với bao kẻ khác dựa vào công trạng trong thời chiến. Meyer đã lầm. Ông đã phải chết thảm khốc hơn. Sự bất công không nhìn thấy được trong dòng chữ thêm vào tên họ. Dòng chữ đó chỉ là một thứ mỉa mai tồi tệ. Hình vuông làm bằng ánh sáng từ từ xê dịch lên cao. Chaim, Ruben, Moische Wolf lúc nãy còn nằm trong một góc sáng bây giờ đã biển mất vào bóng tối. Thay vào đó hai hàng chữ khắc khác hiện ra. Hàng trên chỉ có hai chữ: F.M. khắc vào gỗ bằng móng tay với hai chữ gọn lỏn như thế chứng tỏ người này đã không nghĩ nhiều về mình như viên Trung úy Meyer. Mặc dầu ghi khắc như thế là tự lạnh nhạt nhưng dầu sao ông ta cũng cho thấy được thái độ không chấp nhận sự gục ngã vô danh. Bên dưới tên F M. có người ghi đầy đủ tên họ của mình bằng viết chì: Tevje Liebesch và gia đình. Kế đó là một vài chữ viết vội vã những lời mở đầu của bài kinh cầu nguyện Do Thái: Kaddish Yis gadal… 509 biết là trong vài phút nữa ánh sáng sẽ vượt tới một hàng chữ lu mờ khác: Hãy báo tin cho Leah Sand – Nữu Ước… Tên đường không còn thấy rõ nữa, kế đến là: Fath… và sau một vài chỗ gỗ mục: Chết. Hãy tìm Leo. Dường như người mang lên Leo đã đào thoát. Tuy nhiên, dòng nhắn tin này chẳng giúp ích được gì. Tất cả những bạn tù trong lao xá ấy đầu không thể báo tin được cho Leah Sanders ở Nữu Ước vì chẳng một ai sống sốt. 509 hững hờ nhìn bức tường. Người tù Ba Lan tên Silber trong khi còn sống ở lao xá với bệnh chảy máu ruột đã gọi đó là Bức Tường Rên Siết. Hắn cũng thuộc lòng gần như hầu hết các tên họ khắc ghi trên đó, lúc đầu hắn thường tự đố để xem ánh mặt trời sẽ rọi vào tên nào trước. Ít lâu sau Silber chết, nhưng vào những ngày tốt trời, các danh tánh trên tường vẫn tiếp tục gợi lên một cuộc sống ma quái rồi biến mất trong bóng tối. Mùa Hè, mặt trời thường ở trên cao, những hàng chữ khắc ở dưới thấp hơn hiện ra, và mùa Đông, hình vuông ánh sáng bò lên cao hơn. Tuy thế hãy còn nhiều tên họ khác – Nga, Ba Lan… – muôn đời không thấy được vì ánh sáng không hề rọi tới. Dãy lao xá này được dựng lên hết sức vội vàng nên bọn SS chẳng màng tới việc làm bằng phẳng mặt tường. Tù nhân hiển nhiên là chẳng bận tâm, nhất là đối với tất cả những chữ khắc nằm trong vũng tối của bức tường. Chẳng một ai tìm hiểu chúng. Chẳng một ai dại dột dấn thân vào một cuộc đấu chỉ làm tăng thêm buồn nản. 509 quay mặt đi, hắn không muốn nhìn những thứ ấy nữa. Đột nhiên hắn cảm thấy cô đơn… dường như do một tình trạng đặc biệt nào đó mà những người đồng lao kia trở nên xa lạ với hắn để rồi hai bên chẳng ai hiểu được ai. Hắn chờ thêm một lúc, rồi hắn không chịu đựng được nữa. Hắn len lỏi về phía cửa và bò ra ngoài. Bây giờ trên mình chỉ còn mặc một bộ đồ rách mướp của hắn thôi nên hắn cảm thấy lạnh ngay. Tới bên ngoài hắn đứng lên, dựa vào tường và nhìn xuống thị trấn. Hắn không hiểu rõ tại sao, có điều là hắn không muốn bò nữa, hắn muốn giữ tư thế đứng. Lính canh tại các trạm gác vẫn chưa trở về chỗ. Phần kiểm soát bên Tiểu trại không bao giờ quá nghiêm mật, những kẻ bước không vững không thể vượt trại nổi. 509 đứng bên phải của lao xá. Toàn trại nằm theo hình cánh cung theo vị trí của dãy đồi. Tại đây chẳng những hắn nhìn thấy được thành phố mà còn thấy được cả bản doanh của đội quân SS nằm bên ngoài hàng rào kẽm gai phía sau một hàng cây gần như vẫn còn trơ trụi. Một số binh sĩ SS chạy tới chạy lui trước bản doanh. Một số khác chia thành lừng nhóm có vẻ đang nóng nảy nhìn xuống thị trấn. Một chiếc xe hơi to lớn màu xám đang chạy băng lên núi. Xe ngừng lại trước phòng của viên Chỉ huy trưởng chỉ cách bản doanh SS một quãng ngắn. Neubauer đã đứng sẵn đó, hắn bước lên và xe phóng vút đi. Những ngày còn ở tại trại lao tác, 509 được biết viên Chỉ huy trưởng này có một ngôi nhà riêng trong thị trấn và hắn để gia đình sống ở đó. Hắn mãi theo dõi chiếc xe nên không thấy có người đang lặng lẽ đi tới trên con đường giữa hai dãy lao xá. Người này là Handke, đại diện lao xá 22, một gã thấp lùn. Hắn mang dấu hiệu tam giác xanh lá cây của hạng tù hình phạm đã bị kết án về tội giết người. Thông thường thì hắn tỏ ra vô hại nhưng tới lúc nổi cơn, đôi khi hắn đánh người cho tới khi tàn tật. Hắn rảo bước tới. 509 còn đủ thì giờ để lẩn trốn – tỏ dấu sợ sệt làm cho Handke hài lòng vì cảm thấy mình là thượng cấp – nhưng hắn không làm thế. Hắn vẫn đứng yên. – Làm gì ở đây? – Không làm gì cả. Handke nhổ nước bọt xuống trước bàn chân 509: – Hừm! Đồ chí rận! Mơ mộng hả? Hắn nhướng cặp chân mày to lên và quát to: – Bộ muốn sưng đầu lên sao! Bọn mày không bao giờ được thả ra đâu. Họ sẽ đưa tất cả bọn chính trị chó chúng mày vào lò thiêu trước tiên. Hắn lại nhổ nước bọt lần nữa rồi bỏ đi. 509 nín thở. Một bức màn đen che phủ trong giây lát bên trong đầu hắn. Hắn biết Handke không ưa hắn nên hắn thường tránh mặt. Lần này hắn vẫn đứng một chỗ. Hắn nhìn theo tên tù đại diện cho đến khi gã khuất dạng sau dãy nhà cầu. Dọa nạt không đủ làm cho 509 sợ, những lời đe dọa là món ăn hằng ngày của trại giam. Hắn chỉ nghĩ tới những ẩn ý của lời đe dọa đó. Có lẽ Handke đã biết được chút ít nào đó. Bằng không, hắn chẳng nói thế. Có lẽ hắn đã nghe được điều đó qua bọn SS. 509 quay người lại. Hắn không phải là kẻ điên. Một lần nữa hắn nhìn xuống thành phố. Biển khói đang phủ sát các mái nhà. Tiếng còi xe cửu hỏa vang tới mong manh. Từ hướng nhà ga xe lửa vẫn còn những tiếng nổ lác đác dường như kho đạn đã trúng bom. Chiếc xe của viên Chỉ huy trưởng quanh một vòng thật nhanh xuống núi và trợt chúi. 509 chứng kiến cảnh đó và đột nhiên mặt hắn nhăn lại. Cái nhăn làm thành một nụ cười. Hắn cười, cười không ra tiếng, cười vặn cả người, hắn không nhớ là lần cười trước cách nay bao lâu, hắn không thể nào nín cười được mặc dầu chẳng có gì vui trong cái cười này, hắn vừa cười vừa cẩn thận nhìn quanh và đưa nắm tay yếu đuối lên cao, hắn tiếp tục cười cho đến lúc một cơn ho dữ dội làm hắn ngã té.
Bộ xương 509 từ từ ngoi đầu dậy và mở mắt ra. Hắn không hiểu mình đã ngất đi hay chỉ là một cơn ngủ thiếp thôi. Cho tới bây giờ, chẳng còn gì để phân biệt nổi giữa điều này với điều kia, đói và mệt lả từ lâu đã khiến cho sự lầm lẫn ấy thành thói quen, cả hai đều đang chìm sâu tận đáy lầy, nơi mà chẳng một vật gì có thể trồi lên được cả. 509 nằm bất động một lúc để nghe ngóng. Đó cũng là một quy lệ của trại, không một ai biết được nguy cơ sẽ đến từ hướng nào, cho nên càng cố bất động càng có lợi vì không gợi đến sự chú ý của lính canh hoặc bị coi như là đã chết – một thứ quy luật đơn giản của thiên nhiên đối với loài súc vật. Hắn không thấy có gì khả ngại. Các tay xạ thủ đại liên ở tháp canh phía trước đang ngủ gà ngủ gật, phía sau hắn cũng thế, mọi vật đều yên tĩnh. Cẩn thận, hắn xoay đầu nhìn ra phía sau. Trại tập trung Mellern đang bình thản phơi mình trong nắng. Sân điểm danh to rộng mà bọn lính Đức SS thường gọi đùa là “khiêu vũ trường” hoàn toàn trống vắng. Sự hiện diện gần như duy nhất lúc bấy giờ là bốn xác người đang đong đưa trên các trại gác ở phía phải cổng vào, tay bị trói quặt ra sau. Những người này bị treo lên ở một chiều cao vừa đủ để chân không chạm đất. Hai tên canh lửa của lò hỏa thiêu người, đang đùa nghịch với mấy mảnh than vụn ném vào những kẻ bị treo. Chẳng một ai động đậy. Họ đã bị treo trên giá gỗ bắt tréo từ hơn nửa giờ qua và bây giờ đều bất tỉnh. Các dãy nhà tù của trại lao công đều vắng lặng, hầu hết vẫn còn ở bên ngoài. Trên các con đường nhỏ hẹp thỉnh thoảng qua lại một vài bóng tù nhân làm tạp dịch. Bên trái cổng vào, ngay phía trước chuồng cực hình, Đội trưởng SS Breuer đang ngồi đó. Trước mặt hắn là một cái bàn tròn nằm dưới nắng, hắn đang uống cà-phê. Mùa Xuân năm 1945, loại cà-phê nguyên chất thật khan hiếm, tuy vậy tên Đội trưởng Đức này vừa mới siết cổ xong hai người Do Thái bị giam rục trong xà-lim đến sáu tuần và hắn coi đó là một cử chỉ nhân đạo cần được tưởng thưởng. Ngoài cà-phê, nhà bếp còn dọn cho hắn một dĩa bánh. Breuer ăn chầm chậm với vẻ khoải trá, hắn thích nhất là loại nho không hột trộn với bột mì đẫm mỡ. Người Do Thái già không còn đủ sức vùng vẫy nhưng người nhỏ tuổi hơn đã làm cho hắn phải chật vật, hắn phải đấm đá một lúc lâu. Breuer nhăn mặt trong dáng điệu buồn ngủ và lơ đãng nghe những âm thanh rời rạc của ban nhạc riêng trong trại đang tập dượt phía sau vườn. Dàn nhạc đang hòa tấu điệu luân vũ “Bông hồng từ phương Nam” – một bản nhạc mà viên Chỉ huy trưởng của trại tập trung là Neubauer ưa chuộng.
509 nằm đối diện với ngôi trại, sát dãy lao xá làm bằng gỗ được ngăn cách với trại lao công bởi một hàng rào kẽm gai. Các dãy lao xá bên này hợp thành Tiểu trại. Đây là nơi giam giữ các tù nhân kiệt sức, không thể làm việc nổi. Họ ở đó để chờ chết. Hầu hết đều chết rất mau, nhưng lại có những kẻ chưa chịu chết hẳn trong khi các tù nhân kiệt sức khác được đưa tới, do đó các dãy lao xá lúc nào cũng đông nghẹt. Thường thường kẻ hấp hối nằm chồng lên nhau ở hành lang hoặc gục ngã bên ngoài. Trại Mellern không có phòng hơi ngạt. Viên Chỉ huy trưởng thường kiêu hãnh về việc đó. Ông ta giải thích, tại Meilern người chết được chết tự nhiên. Tiểu trại còn có tên là “Trại Xót Thương” – dầu rằng chỉ có một đôi người đủ sức để nhận lãnh sự thương xót không quá một hoặc hai tuần. Tuy vậy, ở lao xá 22 vẫn có một nhóm tù chai đá. Với một chút ý thức khôi hài bi thảm còn sót lại, nhóm tù nhân này tự gọi là nhóm Lão Làng. 509 là người của nhóm. Hắn được đưa tới Tiểu trại bốn tháng trước và chẳng hiểu nổi tại sao mình vẫn còn sống. Khói bốc lên từ lò thiêu người làm thành những đám mây. Gió mang các đám mây ấy rà rà trên trại và hơi nước như đượm thắm vào lao xá. Khói và hơi nước chở theo mùi khét lẹt của mỡ người bị hỏa thiêu khiến buồn nôn. 509 tự biết không thể nào làm quen được với mùi vị đó, dầu có phải ở lại đây đến 10 năm nữa. Hôm nay, hai người trong nhóm Lão Làng đã chết và được mang tới lò hỏa thiêu vào lúc trưa, đó là anh thợ sửa đồng hồ Jan Sibelski và giáo sư Đại học Bachsbaum. Trên thực tế, Buchsbaum không còn nguyên vẹn: 3 ngón tay, 17 chiếc răng, tất cả móng chân và bộ phận sinh dục đều bị mất mát. Những thứ này bị mất mát trong khi ông ta được bọn Đức Quốc Xã chỉ dạy cách trở thành con người hữu dụng. Riêng câu chuyện bộ phận sinh dục của Buchsbaum đã trở thành một trò cười thích thú tại các buổi “dạ hội văn hóa” hàng tuần của bọn SS. Đó là sáng kiến của tên Đội trưởng Guenther Steibrenner, vừa mới thuyên chuyển tới. Thật là giản dị cũng như những phát minh lớn – chỉ cần chích một mũi thuốc chứa thật nhiều ắc-xit hydrocloric, thế là xong. Nhờ đó mà tên Đội trưởng này được các đồng chí hắn trọng nể. Buổi chiều tháng Ba thật êm ả, mặt trời đem tới một chút ấm áp. Dầu vậy, 509 vẫn cảm thấy lạnh tuy đã mặc thêm ba lớp áo khác ngoài bộ y phục của chính hắn: chiếc áo cánh của Joseph Bucher, áo ngoài của Lebenthal – một gã buôn đồ cũ – và chiếc áo lạnh rách tươm của giáo sư Buchsbaum mà nhóm Lão Làng đã giữ lại trước khi đưa xác tới lò thiêu. Nhưng đối với một người cao gần một thước tám mà cân nặng không đầy bốn mươi kí, thì loại áo ấm bằng lông cũng không đủ làm cho bớt lạnh. 509 có quyền được nằm phơi nắng nửa giờ. Sau đó, hắn sẽ trở về trại, trao lại những chiếc áo đã mượn và cả cái áo của hắn cho một người khác tới phiên ra tắm ánh mặt trời. Đó là cách xếp đặt của nhóm Lão Làng kể từ khi mùa rét mướt đi qua. Một vài người trong nhóm đã không phải cần tới biện pháp này. Họ đã quá kiệt sức và sau khi chịu đựng những cơn lạnh tàn phá của mùa Đông, họ chỉ muốn được chết yên lặng trong lao xá, nhưng trưởng phòng
Berger cố nài nỉ rằng bất cứ ai còn đủ sức bò đều nên ra ngoài trời để hít thở đôi chút không khí trong lành. Người sẽ ra kế tiếp là Westhof rồi tới Bucher. Riêng Lebenthal thì từ chối, hắn còn có việc làm đáng kể hơn. 509 quay người lại. Trại nằm trên một ngọn đồi và giờ đây hắn có thể nhìn thấy thị trấn qua hàng kẽm gai. Thị trấn nằm trong thung lũng, phía dưới xa, tắm ánh sáng mùa Xuân. Vượt trên các mái nhà là gác chuông của những giáo đường. Đây là một thị trấn xưa cũ với nhiều giáo đường và thành lũy, với những con lộ xanh mướt, những cây chanh và những ngõ hẹp ngoằn ngoèo. Phía Bắc thị trấn là khu phố tân thời với những con đường khang trang, nhà ga trung ương, các cao ốc cho thuê, các xí nghiệp và những lò đúc đồng, sắt, nơi mà các toán tù nhân lao tác tới làm việc hằng ngày. Con sông chảy qua thành phố theo một đường vòng cung rộng phản chiếu mơ màng hình ảnh những chiếc cầu lẫn lộn trong bóng mây. 509 hạ đầu xuống vì không thể ngẩng thẳng quá lâu. Khi những bắp thịt cổ chỉ còn là những sợi dây co rút thì cái đầu trở nên một gánh nặng – vả lại khi nhìn khói bốc lên từ các ống thoát trên các mái nhà, người đang đói lại càng thấy đói cào hơn. Dạ dày đã nhiều năm quen chịu đựng thì đói chỉ còn là một cảm giác buồn nản thường xuyên. Chính cơn đói trong đầu mới thật là thảm hại. Cơn đói này đánh thức nhiều ảo giác và chẳng bao giờ buông tha. Ngay cả trong giấc ngủ, nó cũng tiếp tục gậm nhắm. Trong mùa Đông, 509 đã phải mất trọn ba tháng để xóa mất hình ảnh của những miếng khoai chiên. Hắn đã từng bị mùi thơm lừng của khoai chiên đuổi bắt ngay cả những lúc sống giữa mùi hôi thúi của nhà cầu. Bây giờ tới phiên thịt mỡ. Thịt mỡ và trứng. Hắn nhìn vào chiếc đồng hồ mạ kền nằm dưới đất bên cạnh hắn. Lebenthal đã cho hắn mượn chiếc đồng hồ này. Đây là vật trân quý nhất của trại. Một tù nhân người Ba Lan tên Julius Silber, chết từ lâu, đã lén đem chiếc đồng hồ này vào trại từ nhiều năm qua. 509 thấy còn 10 phút nữa, tuy vậy hắn cũng quyết định bò trở về trại. Hắn không muốn lại ngủ thiếp đi. Một lần nữa, hắn cẩn thận ném một cái nhìn dò xét xuống con đường cái của trại. Chẳng có gì đáng gọi là nguy hiểm cả. Hắn không muốn điều đó xảy tới. Thái độ dè dặt là một thông lệ của những kẻ không muốn khinh xuất hơn là một sự sợ sệt thật sự. Tiểu trại gần như đang ở trong tình trạng của hàng rào y tế vì chứng kiết lỵ, do đó bọn lính SS rất ít khi tới đây. Ngoài ra, suốt thời gian chiến tranh, sự kiểm soát toàn trại đã có phần lỏng lẻo. Chiến tranh tự nó đã là một điều đáng lưu tâm hơn, và phần lớn các đơn vị canh phòng SS – từ trước tới nay chẳng biết làm gì hơn là dũng cảm hành hạ và sát hại các tù nhân không phương tiện tự vệ – đã bị gởi ra mặt trận. Hiện thời, vào mùa Xuân 1945, trại chỉ còn lại một phần ba quân số lính SS của lúc trước. Khá lâu rồi, công việc điều hành nội trại dường như do chính các tù nhân đảm trách. Mỗi dãy nhà tù đều có một đại diện lao xá và nhiều trưởng phòng, các toán tù lao tác đặt dưới quyền của cai thợ và đốc công, và toàn trại thì do các đại diện trại điều khiển. Tất cả đều là tù nhân. Kiểm soát những tù nhân có chức vị này là các trại trưởng, lao xá trưỏng và toán trưởng. Bọn này là hạ sĩ quan và sĩ quan SS. Trong thời kỳ đầu, trại Mellern chỉ giữ toàn tù nhân chánh trị, nhưng những năm kế tiếp, người ta lại cho tống vào khá đông bọn tù thường phạm mà các khám đường quanh vùng không còn đủ chỗ chứa. Các loại tù được phân biệt bởi màu sắc của dấu hiệu hình tam giác may liền vào áo của tù nhân bên trên các số đính bài. Tù chánh trị mang dấu hiệu đỏ, tù thường phạm thì dấu hiệu xanh lá cây. Riêng người Do Thái thì mang dấu hiệu màu vàng của hai bình tam giác hợp lại thành ngôi sao David. 509 vắt chiếc áo ngoài của Lebenthal và cái áo cánh của Bucher lên vai và bắt đầu bò về phía lao xá. Hắn thấy mỏi mệt hơn thường lệ. Ngay cả bò đi hắn cũng cảm thấy khó khăn. Mặt đất dưới hắn đã bắt đầu xoay chuyển. Hắn dừng lại, nhắm mắt và hít hơi thật sâu. Ngay lúc đó, hắn chợt nghe tiếng còi rú lên từ phía thị trấn. Thoạt tiên chỉ có hai tiếng còi. Vài giây sau, nhiều còi khác rú theo và chẳng bao lâu dường như toàn thể thành phố đều thét vang lên. Tiếng rú thoát lên từ mái nhà, vọt ra từ đường phố, vút đi từ lầu cao và cơ xưởng, trải dài trong nắng, không có gì chuyển động trong âm thanh đó nhưng nó đã rú lên bất thần như tiếng rú của một con vật tê liệt nhìn thấy cái chết trước mắt mà không thể nào trốn tránh – đó là những tiếng còi điện hòa hợp với còi hơi nước vút cao lên nền trời yên lặng.
Tự động, 509 mọp xuống. Không ai được phép ra khỏi lao xá giữa lúc có còi báo động về một cuộc không tập. Hắn muốn thử đứng lên để chạy nhưng tự biết không đủ sức để chạy nhanh, vả lại trại hãy còn cách xa, trong khi ấy một tên lính canh nào đó rất có thể bắn vào hắn. Với tất cả sự nhanh nhẹn của một người kiệt sức, hắn bò lùi về phía sau, nép mình trong một lỗ trũng, nằm rạp xuống, dùng các chiếc áo phủ lên khắp mình. Trông hắn như một người đột nhiên ngã chết. Điều này xảy ra quá thường nên chẳng làm ai nghi ngờ cả. Thời gian báo động có lẽ chẳng kéo dài. Trong những tháng sau này, cứ vài ngày là có một lần báo động nhưng chẳng có gì xảy ra. Phi cơ luôn luôn bay về hướng Hanover và Bá Linh. Đến lượt còi báo động trong trại rú theo. Rồi, một lúc sau, còi báo động rộ lên lần thử hai. Tiếng rú vút lên rồi hạ xuống như một dĩa nhạc đã mòn đang quay trong một máy hát khổng lồ. Phi cơ đang tới gần thị trấn, 509 cũng biết rõ như thế nhưng hắn chẳng bận tâm. Kẻ thù của hắn không phải là kẻ mà cả thị trấn dưới kia đang thét lên chống đối. Kẻ thù của hắn là một xạ thủ đại liên nào đó chợt nhận ra thì hắn không khỏi chết. Những gì xảy ra bên ngoài hàng rào kẽm gai không liên quan gì tới hắn. Hắn thở khó khăn. Khoảnh không khí ngột ngạt dưới lớp áo phủ kín biến thành một màn bông xốp màu đen chồng chất lên nhau càng lúc càng dầy. Hắn nằm trong lõm đất như nằm trong mộ – và lần lần đối với hắn dường như đó là một mộ huyệt thật sự – tưởng chừng không còn bao giờ ngồi dậy được nữa và đây là giây phút cuối cùng bắt hắn phải nằm lại rồi chết vì không thể vượt qua được cơn mệt
lả cuối cùng mà hắn đã chiến đấu từ lâu. Hắn cố gắng chống chỏi nhưng chỉ được đôi phần, hắn chỉ cảm thấy một sự đợi chờ cam phận kỳ lạ đang dàn trải bên trong hắn, bên trong hắn và bên ngoài hắn dường như đột nhiên mọi vật đang chờ đợi – dường như cả thành phố cũng đang chờ đợi. Tình trạng đó cũng giống như thời gian khởi đầu của một cảnh nhật thực khi tất cả màu sắc biến thành màu chì và thế giới mờ ảo đi vì mặt trời đã chết – một khoảng trống không, một sự đợi chờ không hơi thở để khám phá xem một lần nữa tử thần đã đi qua chưa… Sức chấn động không mãnh liệt nhưng bất ngờ. Nơi xảy ra dường như là khu vực được bảo vệ nhiều hơn hết. 509 cảm thấy như có một sự xô đẩy mạnh từ dưới đất lên, chạm trúng dạ dầy. Ngay lúc đó, tiếng còi lanh lảnh bị cắt ngang bởi một âm thanh cao vút như thép ngân. Âm thanh này vang rền thịnh nộ, tương tự như tiếng còi nhưng hoàn toàn không phải thế. 509 không hiểu âm thanh ghê rợn đó hay sự xô đẩy của mặt đất đồng lúc với tiếng khua đổ vỡ đến với hắn trước tiên – nhưng hắn biết rằng đã có chuyện xảy ra và việc đó đang tái diễn gần hơn và dữ dội hơn, phía trên và bên dưới hắn. Hắn hiểu là chuyện gì đã xảy ra… lần đầu tiên những phi cơ ấy không tiếp tục bay ngang qua. Thị trấn đang bị ném bom. Mặt đất lại rung chuyển. 509 cảm thấy như có nhiều khúc cao su từ dưới đất quật vào người hắn. Thình lình hắn tỉnh ra. Sự mệt lả của Tử thần đã biến mất như làn khói trước cơn giông. Mỗi cú đánh từ dưới đất biến thành một đòn bổ vào đầu. Hắn tiếp tục nằm im một lúc – rồi, gần như không biết đang làm gì, hắn cẩn thận thò một bàn tay ra và dở chiếc áo ngoài lên cao vừa đủ để nhìn xuống phía thị trấn. Chầm chậm và khoái hoạt, nhà ga xe lửa sụm xuống rồi tự bốc lên không. Với dáng vẻ dường như phong nhã, vòm nhà vàng ánh của trụ sở bay vượt khỏi các tàng cây trong công viên và biến mất. Những tiếng nổ dữ dội dường như không phải từ đó phát ra – mọi việc đều diễn ra hết sức chậm chạp. Ngay cả tiếng súng phòng không cũng chìm lấp trong những tiếng nổ ấy giống như những tiếng kêu ăng ẳng của loài chó săn lẩn khuất trong tiếng sủa vang của chó Đan Mạch. Cùng lúc với một âm thanh vang động mãnh liệt kế tiếp, một trong những gác chuông của giáo đường St. Catherine bắt đầu sụp đổ. Gác chuông này cũng rơi từ từ và tan vỡ trong im lặng thành nhiều mảnh vụn – trông như cảnh phim quay chậm chớ không phải là sự thật. Hằng trăm suối hơi bốc lên như hình cái nấm giữa những ngôi nhà. 509 vẫn chưa cảm nhận đó là sự tàn phá, các hung thần vô hình đang đùa giỡn ở dưới kia, chỉ có thế thôi. Tại các khu vực còn nguyên vẹn, khói bếp vẫn tiếp tục bình thản vươn cao từ các ống thoát, mặt sông vẫn phản chiếu bóng mây như lúc nãy, và các cụm khói cao xạ đang viền kín một khoảng trời trông như một chiếc gối vô hại sút sổ hết đường may làm túa ra những lọn bông gòn trắng xám. Một quả bom rơi lạc bên ngoài thị trấn chúi xuống cánh đồng nằm trên đường đi tới trại. Dầu vậy, 509 vẫn không cảm thấy sợ hãi chút nào, tất cả đều hãy còn quá xa đối với cái thế giới nhỏ hẹp mà hắn đang sống. Ở cái thế giới của hắn, người ta
chỉ sợ những điếu thuốc đỏ rực châm vào mắt và ngọc hành, những tuần lễ bị bỏ đói trong chuồng – một loại quan tài bằng đá không đủ chỗ để đứng hay nằm – ở đó người ta chỉ sợ thứ hình cụ làm dập thận, căn phòng tra tấn nằm bên cánh trái gần cửa vào trại, các Đội trưởng Steinbrenner, Breuer, Chỉ huy trưởng Weber – tuy nhiên, tất cả những thứ sợ hãi cũng đã phai nhòa phần nào kể từ khi 509 được dời tới Tiểu trại. Người ta cần phải tập quên thật nhanh để có thể tìm ra sức mạnh hầu tiếp tục sống. Vả lại, sau khoảng mười năm, trại Tập Trung Mellern đã bắt đầu nản với trò hành hạ, ngay đến một tên lính mới SS nặng mùi chủ nghĩa cũng cảm thấy chẳng hứng thú khi đày ải những bộ xương người. Những bộ xương này chẳng chịu được bao lâu lại không thể phản ứng ra hồn. Chỉ khi nào gặp được một tù nhân mới còn khỏe mạnh để đủ sức chịu đau đớn thì lòng yêu nước của bọn lính Đức mới có dịp bừng lên. Vào dịp đó, người ta lại nghe tiếng gào thét kinh hoàng trong đêm và các tên lính SS mới có vẻ linh hoạt hơn như vừa được ăn một bữa thịnh soạn có sườn heo chiên với khoai tây, cải đỏ. Nếu không gặp những cơ hội ấy thì các trại giam ở Đức có vẻ nhân đạo, nhất là trong những năm có chiến tranh. Người ta chẳng làm gì khác hơn là tống vào phòng hơi ngạt, đánh đập và bắn bỏ, hoặc bắt những cái xác vô hồn làm việc cho đến kiệt sức rồi bỏ đói. Sự kiện là đã có người còn sống đôi khi bị đưa vào lò thiêu để đốt chung với xác chết chỉ vì đã bất tỉnh bởi làm việc quá sức, cũng như trên thực tế đã có người không thể cử động được trong một thời gian khá lâu vì kiệt sức chớ không phải vì chủ trương hành xác. Thỉnh thoảng, chuyện tàn nhẫn chỉ xảy ra khi cần phải dọn chỗ thật nhanh cho những đoàn tù đông đảo khác được gởi tới. Ngay cả những người đói sắp chết trong số các tù nhân mất khả năng làm việc cũng không bị đối xử quá tàn bạo tại trại Mellern. Ở Tiểu trại, người ta vẫn có chút ít để ăn và với số thực phẩm nhỏ nhoi này, nhóm Lão Làng trong đó có 509 đã khéo thu xếp nên tạo được kỷ lục sống dai. Cuộc không tập kết thúc bất ngờ. Chỉ còn lại tiếng nổ dòn của các khẩu cao xạ. 509 nhấc chiếc áo phủ đầu cao hơn lên để có thể nhìn thấy tháp canh có bố trí súng đại liên gần nhất. Tháp canh bỏ trống. Hắn nhìn sang bên phải rồi bên trái. Các trạm gác khác tại những nơi này cũng trống không. Tất cả các lính canh SS đã leo xuống để tìm chỗ an toàn, bọn chúng đã có sẵn những hầm trú ẩn kiên cố sát bên cạnh các dãy lao xá. 509 ném chiếc áo sang bên và bò tới bên hàng rào kẽm gai. Hắn chống người lên khuỷu tay và nhìn xuống thung lũng. Bây giờ, thành phố bốc cháy khắp nơi. Những gì trước đây trông phong nhã đã biểến thành một thực tế: lửa khói và tàn phá, vàng vọt và đen đủi như một loài nhuyễn thể động vật khổng lồ. Biển khói tràn ra đường phố và nuốt chửng những ngôi nhà. Lửa sáng rực mọi nơi. Từ trụ sở Hỏa xa, một vầng tia lửa bắn vọt lên. Tháp chuông sụp đổ của giáo đường St. Catherine bắt đầu cháy rực, chung quanh là những lưỡi lửa giống như những tia chớp. Nhưng trên không, mặt trời vẫn lạnh lùng chiếu rọi ánh vàng hực như chẳng có gì xảy ra, và vòm trời vẫn trong xanh, tươi tỉnh trong khi các khu rừng và những dãy núi chung quanh bình thản phơi mình – dường như chỉ riêng thành phố đang bị xét xử bởi một quyền lực vô hình âm độc.
509 nhìn sững. Hắn quên mất hết mọi dè dặt và nhìn sững xuống. Hắn chỉ biết thị trấn này qua hàng rào kẽm gai và chưa bao giờ bước chân tới đó, nhưng suốt mười năm bị giam tại trại, thị trấn đối với hắn còn là một cái gì khác hơn một thị trấn. Thoạt tiên, đó là hình ảnh không thể chấp nhận của sự mất tự do. Ngày này qua ngày khác, hắn đã nhìn sững xuống đó – hắn đã nhìn thấy thị trấn với cuộc sống phóng túng của nó ngay sau khi bị viên trại trưởng Weber hành hạ đến nỗi không còn bò được nữa – hắn đã nhìn thấy nó với các lâu đài và nhà cửa san sát trong khi hắn bị treo trên gác gỗ bắt tréo với hai tay lọi xương, hắn đã nhìn thấy nó với những chiếc thuyền trên sông và những chiếc xe hơi chạy giữa mùa Xuân trong khi hắn tiểu tiện ra máu vì đôi thận dập nát, mắt hắn nóng ran lên mỗi lần nhìn thấy nó và nó là hiện thân của tra tấn, một cuộc tra tấn cộng thêm với những vụ tra tấn khác của trại giam. Từ đó, hắn bắt đầu oán hận thành phố này. Thời gian trôi qua và chẳng có gì thay đổi ở đó cả, mặc dầu có quá nhiều biến đổi ở trên này. Khói bếp ở đó vẫn tiếp tục bốc lên hằng ngày không hề bị truyền nhiễm bởi hơi khói của lò thiêu người, các vận động trường và công viên ở đó vẫn đông nghẹt người vui đùa trong khi hàng trăm người ngã gục trên sân điểm danh trong trại. Hằng đoàn người sung sướng nghỉ lễ và cứ mỗi mùa Hè lại đưa nhau vào rừng du ngoạn giữa lúc hàng đoàn tù nhân kéo lê những kẻ bị sát hại trong bọn họ. Hắn oán hận thị trấn bởi vì hắn nghĩ rằng hắn và bao nhiêu tù nhân đã bị bỏ quên. Nhưng sau cùng, lòng oán hận ấy cũng tắt ngấm. Cuộc chiến đấu vì một mẩu bánh đã trở thành quan trọng hơn bất cứ gì khác, và cũng tương đồng với nhau như thế, hắn biết rằng lòng oán hận và kỷ niệm có thể đưa tới sự tự hủy diệt cũng dễ dàng như sự đau khổ. 509 đã học được cách tự đóng kín bản ngã, cách quên khuấy và chẳng còn buồn lưu tâm đến bất cứ gì ngoài sự thật trần truồng từ giờ này sang giờ khác. Hắn đã quen lạnh lùng đối với thị trấn, và cảnh sắc không thay đổi kể từ đó chỉ là một biểu tượng buồn thảm của sự kiện cho thấy là định mạng của hắn cũng không còn có thể thay đổi nữa. Bây giờ nó đang bốc cháy. Hắn cảm thấy đôi tay run rẩy. Hắn cố gắng giữ yên nhưng không được, đã thế lại còn run hơn. Mọi bộ phận trong cơ thể hắn đột nhiên rã rời, chẳng liên hệ gì nhau. Đầu hắn đau nhức, trống rỗng dường như có ai đang gõ bên trong. Hắn nhắm mắt lại. Hắn không muốn thế. Hắn không muốn sự việc tái diễn bên trong hắn. Hắn đã đập nát và chôn vùi mọi hy vọng và hắn đã phải trả thật nhiều đau đớn cho sự chôn vùi ấy. Hắn khoanh tay lên mặt đất và úp mặt xuống. Thành phố kia không liên can gì tới hắn. Hắn không muốn nó dây dưa với hắn. Hắn không muốn dính líu gì như trước đó để cho mặt trời chiếu vào mảnh da bẩn thỉu đang bao quanh sọ hắn, hắn muốn thở, muốn giết chí rận chớ không cần suy nghĩ – như hắn đã làm từ lâu. Hắn không thể làm vậy. Sự run rẩy bên trong hắn không ngừng lại. Hắn nằm ngửa ra, buông xuôi cả tay chân. Phía trên hắn là vòm trời với những cụm mây nho nhỏ do khói đạn cao xạ làm ra. Những cụm khói tan mau trước gió. Hắn nằm như thế một lúc, rồi hắn cảm thấy không thể đứng lên được nữa. Vòm trời biến thành một vực thẳm trắng xanh, trong đó hắn dường như đang bay lượn. Hắn xoay người và ngồi dậy. Hắn không nhìn xuống thành phố nữa. Hắn nhìn vào trại giam, cái nhìn của hắn dường như lần đầu tiên muốn tìm sự che chở từ nơi đó. Các dãy trại vẫn phơi mình dưới nắng. Trên sân “khiêu vũ” bốn tù nhân bị treo vẫn còn lủng lẳng trên giá gỗ bắt tréo. Viên Đội trưởng Breuer đã biến dạng, nhưng khói từ trong lò thiêu người vẫn tiếp tục bốc lên cao, chỉ có điều là mong manh hơn. Có lẽ trong lò chỉ còn xác trẻ con hoặc lệnh tạm ngưng đốt đã được ban ra. 509 cố bắt mình chú ý tới mọi vật một cách cẩn thận. Đây là thế giới của hắn. Nó không bị trúng bom. Nó nằm đó, độc hại như bao giờ. Chính nó đã ngự trị hắn, và tất cả những gì ngoài kia, vượt khỏi rào kẽm gai, đều không liên quan gì tới hắn. Ngay lúc đó, tiếng súng cao xạ chợt im. Hắn có cảm giác như bị đánh thốc bởi vì vòng đai tiếng động đang siết quanh hắn đã bị vỡ tan. Trong một giây, hắn nghĩ là mình đang nằm mộng và chợt tỉnh giấc. Dưới kia thành phố còn đang bốc cháy. Khói lửa và tàn phá, và dầu sao thì nó cũng cố chút gì liên can với hắn. Hắn không nhận ra được những gì đã trúng bom. Hắn chỉ thấy khói và lửa, kỳ dư đều mập mờ, nhưng điều này không đáng kể. Thành phố đã bị cháy, cái thành phố mà hắn cứ tưởng là không bao giờ đổi khác như trại giam của hắn. Hắn bò đi. Thình lình hắn quỵ xuống dường như tất cả những khẩu súng máy của mọi tháp canh đang chĩa cả vào hắn. Hắn nhìn quanh thật mau. Chẳng có gì xảy ra. Ngay cả các con đường đều vắng bóng người. Các tháp canh đều trống rỗng. Nhưng điều đó chẳng giúp ích gì cả, một cơn sợ dữ dội phút chốc chụp lấy hắn như một bàn tay nắm cổ hắn và lay mạnh. Hắn không muốn chết. Không thể chết lúc này! Cũng không thể chết nữa! Hắn gấp rút vơ lấy đống áo và bò ngược lại. Chiếc áo của Lebenthal làm vướng víu, hắn rên rỉ, mắng chửi, kéo nó ra khỏi gối và tiếp tục bò về phía lao xá một cách vội vã, khích động mạnh và hoang mang, dường như hắn đang chạy trốn một thứ gì khác hơn là tử thần không thôi..
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 23 Sep 2024
Trương Duy Hy
HAI LẦN TRIỆT THOÁI – HAI LẦN ĐÌNH HOÃN
Sáng 1 tháng 3-1971, Trung Tá Thạch mời tôi và Trí qua họp tại BCH/TĐ2 Dù.
Với đoạn đường không quá 50 thước từ hầm tôi đến chỗ họp, song tôi có cảm tưởng đó là đoạn đường tử thần! Muốn vượt qua phải chạy thật nhanh, chuyền từ hầm này đến hầm kế tiếp mới mong tránh được pháo kích. Tôi thường lấy Đài Tác Xạ của Trí làm trạm dừng chân, rồi cùng Trí chạy sang BCH/TĐ2 Dù.
Tại đấy, có cả Thiếu Tá Lê Văn Mạnh, Tiểu Đoàn Phó TĐ2 Dù mới ở tiền đồn về, cùng Đại Úy Trần Công Hạnh và Thiếu úy sĩ quan liên lạc Pháo binh 320 đang ngồi đợi chúng tôi.
Trung Tá Thạch chỉ thị:
– Bây giờ các anh về lo thu xếp đồ đạc gọn gàng, các vật liệu cần thiết thì mang theo, cái gì không cần cho phá hủy tại chỗ. Chốc nữa, trực thăng sẽ đến triệt thoái… Ngay bây giờ các anh phải chuẩn bị sẵn sàng… Giờ trực thăng đến tôi báo sau…
Đại Úy Hạnh tiếp:
– Để giữ trật tự, các anh phải sắp hàng tại bãi đáp thứ 3 (1), phân ra từng toán nhỏ trước khi lên phi cơ, chứ đừng tranh nhau, bọn phi công sẽ bỏ lại hết.
[(1) Bãi trực thăng số 3: Mới thiết lập tầm tối hôm trước, nằm về phía Nam BCH/TĐ2 Dù – Vì bãi trực thăng số 2 đã bị Cộng quân điều chỉnh súng cối 82 ly bắn vào rất chính xác.]
Tôi và Trí nêu thắc mắc:
– Thưa Trung Tá, vậy chúng tôi có phá đại bác không? Bây giờ thì Trung Tá là Chỉ Huy Trưởng trực tiếp của chúng tôi, chúng tôi chỉ còn biết thi hành theo lệnh của Trung Tá thôi chứ chẳng còn liên lạc được với ai. Tất cả ăng-ten của chúng tôi đều bị gãy nát vì pháo kích. Nếu có lệnh của Trung Tá, bọn tôi sẽ phá súng trước khi rút… Tôi có đủ lựu đạn cháy…
Suy nghĩ một chút, Thiếu Tá Mạnh hỏi tôi:
– Ngoài việc phá súng bằng lựu đạn cháy, anh còn có cách gì làm cho súng bất khiển dụng mà khỏi phá hủy không?
– Thưa Thiếu Tá, cái đó là nghề của bọn tôi. Chúng tôi có thể tháo chốt một vài cơ phận cần thiết hoặc siết chặt một con ốc cũng đủ biến khẩu đại bác thành khối sắt vô dụng… nhưng không biết Thiếu Tá có cho lệnh không?
Thiếu Tá Mạnh thoáng nhìn qua Trung Tá Thạch hội ý.
Trung Tá bảo:
– Lệnh phá súng chúng tôi không được Thượng cấp đề cập đến. Nhưng thôi, nếu các anh tháo cơ phận chôn giấu thì càng hay. Như vậy chúng ta dự phòng được vào phút chót, lỡ có lệnh gì thay đổi mình có thể xử dụng lại được.
– Thưa Trung Tá, vậy chúng tôi sẽ chôn giấu khối kích hỏa và cần vận dụng… thiếu một trong hai món này, súng bọn tôi chỉ là khối sắt không hơn không kém.
– Thôi các anh về chuẩn bị…
Theo Đại Úy Trí, tôi vào Đài Tác Xạ Pháo Đội C3 Dù trao đổi vài ý kiến với Trí. Sau đó, tôi phóng vội về vị trí, họp tất cả Khẩu Trưởng và Trưởng Ban bàn việc triệt thoái.
Tôi chỉ thị cho các Khẩu Trưởng tháo gỡ cần vận dụng và bắt buộc phải đem về nộp cho BCH/TĐ44 PB khi đến Khe Sanh, để chứng minh súng đã thật sự bất khiển dụng, khối kích hỏa thì đem chôn giấu. Riêng một máy nhắm còn tốt, tôi giao TS Thìn cất giữ.
Lân ngồi cạnh tôi ghi danh sách từng toán, đồng thời tôi lưu ý đặc biệt các Khẩu Trưởng về bổn phận giữ trật tự nhân viên trong Khẩu đội, khi lên phi cơ trực thăng. Tôi chỉ thị rành rẽ cho từng Ban phải mang những máy móc truyền tin, dụng cụ tác xạ cần thiết đem về hết. Những vật dụng khác, tôi ra lệnh tập trung ngay tại Đài Tác Xạ — để toán cuối cùng của Trung Úy Lân tiêu hủy khi rời vị trí.
Bên ngoài, đạn pháo kích vẫn đều đều rơi hết chỗ này đến chỗ khác. Có lúc rơi sát mặt hầm, tung bụi đất tràn vào bên trong.
10g00 đoàn trực thăng khoảng 10 chiếc từ Khe Sanh đến bốc Đại Đội tiền đồn Đông Nam căn cứ đưa về Khe Sanh. Cộng quân tức khắc xử dụng súng cối bắn lên tiền đồn. Những đóm khói tung ra sau tiếng nổ hiện rõ trước mắt chúng tôi. Từ căn cứ nhìn sang, chúng tôi quan sát rõ nỗi khó khăn, nguy hiểm của phi hành, đâm lo ngại cho trường hợp của mình sắp đến. Có những quả 82 ly rơi ngay bên dưới chân trực thăng, làm cho trực thăng chòng chành đến mất thăng bằng!
…Tôi hướng dẫn một nửa quân số Pháo đội, di chuyển qua BCH/TĐ2 Dù. Số nhân viên còn lại tôi giao cho Lân và Ngân chỉ huy, tiếp tục đi sau, sau khi kiểm soát xong việc tháo gỡ đại bác và đợi lệnh tôi ngay tại vị trí — nếu việc triệt thoái toán đầu tiên do tôi chỉ huy không trở ngại, toán của Lân và Ngân mới tiếp tục rời bãi đáp.
Gặp Đại Úy Hạnh ngay cửa hầm của BCH/TĐ2 Dù, Đại Úy chỉ thị cho tôi đưa anh em xuống bãi trực thăng số 3. Trông Đại Úy có vẻ lo lắng cho chúng tôi lắm — có lẽ vì Đại Úy hiểu rõ khả năng chiến đấu của chúng tôi trong tình thế bây giờ.
Từ ven rào phòng thủ căn cứ, tôi đi sâu xuống phía Nam, lần đến một khoảng đất bằng nhưng đầy lau lách. Tôi suýt ngã mấy lần vì dốc quá đứng. Cỏ lau tuy cao đến cổ, nhưng tại chỗ này nhìn quanh thấy trống trải quá! Nơi đây chưa có hầm hố gì cả! Giá như địch pháo kích thì lãnh đủ!
Bên tiền đồn, việc triệt thoái đành phải bỏ dở vì địch pháo kích mỗi lúc một gắt gao. Một số binh sĩ còn lại phải gồng mình tự vệ để đợi lệnh mới…
Chúng tôi đứng ngóng đợi cả giờ đồng hồ vẫn không thấy máy bay đến…
Đại Úy Hạnh gọi vô tuyến cho tôi:
– Lệnh triệt thoái đã hủy bỏ rồi, anh đưa anh em trở về vị trí chiến đấu như cũ!
Trời nắng gắt, hai chân tôi như sụm lại, tôi mệt lả muốn ngất. Cố gắng hết mình, tôi leo dần lên khỏi dốc và nằm ngửa trên đất thở hào hển, mặc cho đạn pháo kích phủ cả vị trí và bãi đáp số 2, tôi không còn biết tránh trớ gì nữa. Sau đó, tôi bảo anh em về lắp lại các cơ phận vào súng và trực xạ xuống ven đồi ngay, khẩu nào bắn cũng được, miễn có tiếng nổ… Xong, tôi bước vào hầm Đại Úy Hạnh.
Vừa nhìn thấy tôi, Đại Úy Hạnh trách:
– Tôi bảo các ông trật tự cho mà cũng không làm được! Xuống bãi đáp ào ào như thế, bọn nó thấy, nó pháo kích chết cả đám!
Thật oan cho tôi. Tôi lấy khăn thấm những giọt mồ hôi nhầy nhụa trên mặt, trên cổ… tôi đáp lại:
– Không biết ai đã vô kỷ luật, chứ Pháo Đội tôi rất kỷ luật. Chính tôi đích thân dẫn nửa Pháo Đội xuống bãi đáp. Số còn lại do Trung Úy Lân hướng dẫn đi sau. Nhưng đến phút này, Lân vẫn chưa rời vị trí. Như vậy quân số tôi không quá 35 người, làm sao có thể tạo ra cảnh hỗn loạn, nhất là có mặt tôi tại chỗ? Vả lại, ngoài chúng tôi còn có binh sĩ Dù của Đại Úy, Pháo thủ Dù của Đại Úy Trí, một số binh sĩ Biệt Động Quân (1) nữa…
[(1) Một số binh sĩ BĐQ: Mặc dầu đã có 2 lần triệt thoái Tiểu Đoàn 21 BĐQ về Căn cứ Phú Lộc, nhưng vẫn còn sót lại khoảng chục quân nhân nữa gồm có Thượng Sĩ Ra, TSI Chiếu, TS Hóa, HSI Châu, HSI Thư, HSI Tây, BI Hoàng… của Đại Đội 1/TĐ21 BĐQ]
Trí đứng cạnh tôi im lặng.
Thiếu Tá Mạnh tiếp:
– Thôi, bây giờ không có trực thăng thì khỏi có đi đâu nữa. Trật chìa cả đám! Truyền tin dịch công điện cũng sai mẹ đi… Nó nhận một lần 4 chữ “T” (TT/TT) là “tiếp tục tiếp tế” thành “túc trực triệt thoái”… Làm ăn thế có chết người không?… Thôi các anh về lo lắp lại các đại bác mà chiến đấu!
Trở lại vị trí, tôi ngả mình trên ghế bố thở dốc. Tôi đâm chán ngán “lệnh” với “lạc”! Hai chân tôi bỗng dưng nặng như hai cái cùm. Bệnh rhumatisme tái phát. Tôi uống vội vài viên Anacine để dịu cơn nhức, giao cho Trung Úy Lân điều hành mọi việc.
Nằm trong hầm, tôi đếm đúng ba tiếng nổ của ba quả đạn 155 ly bắn báo hiệu cho Cộng quân hiểu rằng: Chúng tôi còn sức chiến đấu tử thủ Căn cứ Hỏa Lực 30 này… Nhưng sau đó, tất cả lại vào hầm, vì địch nghe Pháo Binh của ta hoạt động lại, chúng tập trung pháo kích dữ dội vào căn cứ.
Hình ảnh triệt thoái Đại Đội tiền đồn quá khó khăn lại hiện đến với tôi. Tôi lo ngại số phận của số anh em Dù ở trên đồn ấy còn quá ít, không biết có đủ sức chống trả các cuộc tấn công, đột kích của địch trong đêm nay chăng? Cảnh tượng chiến đấu thiếu hụt quân số — (vì trực thăng đã hốt được một phần Đại Đội này di chuyển về Khe Sanh rồi) — làm cho tôi thầm lo lắng. Hẳn anh em bên ấy phải gồng mình lắm mới cố thủ nổi, nhất là trận chiến ác liệt tại đây, không ai có thể tiên đoán những gì sẽ xảy ra trong phút tới!
Chiều lại, Cộng quân tái tấn công căn cứ chúng tôi. Súng nổ ran quanh vị trí hòa lẫn với tiếng hô “xung phong”.. “xung phong”.. ven đồi, cố áp đảo lực lượng phòng thủ… Phản lực cơ được gởi đến ngay. Đại Úy Hạnh hướng dẫn trực thăng OV2 đánh dấu mục tiêu bằng đạn khói cho Jet dội bom và xạ kích ngay hướng Đông căn cứ, trông rất ngoạn mục.
Điểm đặc biệt mà chúng tôi ghi nhận là Jet thường đi oanh kích 2 chiếc, trong lúc B-52 luôn luôn có 3 chiếc. Khi đến mục tiêu, phi công trưởng đánh một vòng rộng thật cao để chờ cho phi cơ quan sát OV2 ghi dấu bằng lựu đạn khói màu… Sau đó, lập tức OV2 vượt ra khỏi không phận mục tiêu, nhường chỗ cho Jet hoạt động.
Hầu như các cuộc oanh kích của Jet cũng theo thứ tự: bom nổ, bom bi, bom xăng đặc, cuối cùng xạ kích bằng đại liên. Loại bom bi được thả cao hơn hai loại bom kia, khi rơi xuống lưng chừng, bom nổ tại điểm vài đóm khói trắng trên không, rồi tung ra hàng trăm quả lựu đạn… Khi lựu đạn chạm mặt đất, nổ thêm một lần nữa, gây nên tràng tiếng nổ, nối tiếp ầm ầm như giông, đồng thời bụi đất tung lên mù mịt cả một vùng! Loại bom này vô cùng lợi hại, có khả năng tiêu diệt được Cộng quân nấp trong các hầm “ếch” hoặc các giao thông hào chữ “chi”.
Lúc Jet thi hành xạ kích với cao độ vừa phải, Cộng quân dùng mọi cỡ súng bắn lên xối xả. Nhưng nhờ tốc độ nhanh, chúng không gây một thiệt hại nào cho phi cơ.
Thi hành xong nhiệm vụ, cả Jet và OV2 trực chỉ bay về hướng Đông, trả lại chiến trường cho chúng tôi quần thảo với địch.
Khoảng 16g30, bỗng có 2 chiếc Jet bay từ hướng Tây lại, không biết phi hành đoàn thực hiện công tác tại đâu, nhưng khi bay ngang qua căn cứ, phi công lại liên lạc với Đại Úy Hạnh và hỏi Đại Úy có cần oanh tạc không? Vì trên Jet còn bom!…
Cùng lúc ấy Cộng quân đang pháo kích vào vị trí bằng đại bác. Đại Úy Hạnh lập tức nhờ phi công quan sát hướng Bắc căn cứ để tiêu diệt. May mắn phi công trả lời:
– Chúng tôi nhìn thấy khói ở vị trí súng địch pháo kích các anh… đúng hướng Bắc… Ok! Chúng tôi oanh tạc bây giờ…
Thế rồi, sau khi mở một vòng rộng trên không phận mục tiêu, hai chiếc Jet nhào xuống trút bom, mỗi chiếc 2 quả. Xong bay thẳng… không liên lạc gì với Đại Úy Hạnh nữa.
Tiếp theo tiếng nổ của bom, một cột khói lớn vụt lên không, kèm theo những tiếng nổ kinh khủng… thỉnh thoảng điểm một cột lửa bùng cao trong đám khói đen… Cứ thế, khói lửa và tiếng nổ ầm vang đến 19g00 mới dứt.
Chúng tôi chắc mẫm bom đã phá hủy trọn kho đạn Pháo binh địch và ít ra cũng làm cho địch im hơi lặng tiếng một thời gian! Nhưng không, sau đó, chúng cũng pháo kích tôi từ hướng ấy.
Tôi gọi vô tuyến hỏi Đại Úy Hạnh:
– Sao Đại Úy không báo cho phi công biết kết quả để họ giúp nữa. Bom thả trúng đích, tôi chắc kho đạn của chúng bị hủy diệt… tại đây, tôi nhìn rõ khói lửa bốc ở mục tiêu và tiếng nổ dữ lắm!…
– Tôi liên lạc rồi. Nhưng mấy ông phi công tắt mẹ máy, làm sao báo kết quả và xin họ giúp được!
Nghĩ lại tôi quá tiếc dịp may hiếm có và ngắn ngủi ấy!
Tại căn cứ, không vì kết quả của trận dội “bom thừa” này mà Cộng quân ngừng uy hiếp. Chúng vẫn tiếp tục kéo dài quấy phá chúng tôi đến tối. Dù vậy, chúng vẫn không thể nào chọc thủng một lổ nhỏ nào quanh tuyến phòng thủ. Bấy giờ, lực lượng vị trí không còn e sợ chiến xa địch nữa. Với bãi mìn đã gài sẵn, mọi người đều tin tưởng có thể đẩy lui các cuộc tấn công bằng chiến xa địch, nhất là với Căn cứ Hỏa Lực 30 còn có một lợi điểm: cao độ 727 thước chung quanh toàn là dốc đứng.
Đêm nay, có phi cơ soi sáng đến thả hỏa châu dọc theo tuyến phòng thủ ven căn cứ, tiếng nổ ì ầm của lựu đạn, M79 nối nhau không dứt từ sau 22g00. Tiếng nổ tạo bởi vũ khí của ta và địch hòa lẫn với tiếng “xung phong” ở chân đồi vọng lên phá tan bầu không khí yên tĩnh của núi rừng… Chúng tôi chia nhau ôm súng cá nhân ra các công sự chiến đấu. (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: HAI LẦN TRIỆT THOÁI – HAI LẦN ĐÌNH HOÃN (Tiếp theo)
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 1-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Post by Sơn râu 23 Sep 2024
Trương Duy Hy
TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30 (Tiếp theo)
Mãi nhìn những thắng lợi vẻ vang ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi, bỗng tôi sực nhớ: đạn 155 ly ở các Khẩu đã cạn, mỗi Khẩu còn không quá 10 quả. Tôi vội bảo Lân động viên toàn lực, bất luận nhiệm vụ gì, phải ra bãi đáp vác mỗi người 2 quả, kể cả tôi, tại hầm đạn cạnh xe ủi đất. Tôi e rằng nếu không lợi dụng lúc này vác đạn, chốc nữa tình hình chuyển biến, địch pháo kích như ngày qua làm sao có đạn mà bắn.
Chỉ 5 phút sau, chúng tôi đã có trên 140 quả đưa vào các hầm khẩu…
Nạp ở các hầm chính đã bị cháy sạch từ chiều hôm qua và khi hôm, nhưng may cho chúng tôi là nạp tại các khẩu chưa bị thiệt hại gì, nhờ có nắp dày và đạn pháo kích chưa rơi vào miệng hầm. Do đó, chúng tôi còn một số nạp tương ứng với đạn.
Tôi qua thăm Trung Tá Thạch để nghe ngóng tin tức… Nhân tiện, Trung Tá cho biết đã kiểm kê được thêm 98 xác Việt cộng quanh ven rào bãi đáp trực thăng. Tịch thu thêm hơn 50 súng đủ loại. Riêng anh em Dù, kể cả trận đánh đêm vừa qua, chỉ bị thương nhẹ 8 người.
Tôi thuật lại cảnh tái chiếm tuyến phòng thủ thứ nhất cho Trung Tá Thạch nghe. Trung Tá hãnh diện lắm. Ông không quên khen Pháo Đội tôi đã trực xạ cháy xe ủi đất, chận được cuộc tiến công biển người của địch trước khi trời sáng.
…Đúng với dự đoán của tôi, khoảng 10g30, Cộng sản pháo kích vào căn cứ dữ dội. Hầm chứa lương khô và gạo bị cháy sạch. Tuy nhiên, không làm cho tôi e ngại bằng lo cho anh em bị thương. Mỗi pháo thủ của tôi đã được nhận lãnh 7 ngày lương khô dự trữ trong sac từ chiều hôm qua chưa dùng đến. Do đó, việc ăn uống của anh em không làm cho tôi bận tâm.
Lần này, cùng với các đợt pháo kích, địch cố gắng xung phong nhưng vô hiệu. Tuyến thứ nhất càng lúc càng được củng cố vững chắc, địch không làm sao lọt vào căn cứ nữa. Từ đó, địch chỉ men theo chân rào hướng Bắc và Đông-Nam, thụt 57 ly hoặc súng không giật 75 ly, súng cối 82 ly vào vị trí.
Thỉnh thoảng cũng có những tràng AK bắn vào các công sự và đại bác địch điều chỉnh vào vị trí.
Pháo Đội tôi lại bị thêm 2 khẩu xì lốp, một khẩu khác bị vỡ máy nhắm.
Ngay lúc ấy, tôi bắt được liên lạc với Thiếu Tá Hằng.
– …Chuẩn Tướng Soạn, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh QLVNCH muốn gặp anh ở đầu máy, anh cố gắng liên lạc về Quân Đoàn… Chuẩn Tướng chỉ thị cho tôi liên lạc với anh, nhưng từ sáng đến giờ không liên lạc được.
– Tôi chỉ còn máy PRC-25 với ăng-ten 7 đoạn, các loại kia bị hỏng hết rồi. Ăng-ten 292 cũng không còn, tôi không thể liên lạc xa được.
– Anh qua bên Trí mượn…
– Tình trạng của Trí cũng không hơn gì tôi. Nhưng trình với Thiếu Tá chứ Chuẩn Tướng gặp tôi có điều gì quan trọng không? Thiếu Tá có biết tin tức gì không?
– Chuẩn Tướng có vẻ sốt ruột lo cho anh, vì Chuẩn Tướng biết tình hình chỗ anh nặng lắm rồi. Tôi không hiểu Chuẩn Tướng gặp anh để ban chỉ thị gì, nhưng chắc là để Chuẩn Tướng được nghe anh trực tiếp báo cáo và thăm hỏi khích lệ anh…
– Tôi kính nhờ Thiếu Tá chuyển lời lên Chuẩn Tướng lòng biết ơn sâu xa của tôi. Chúng tôi sẽ cố gắng chiến đấu hơn nữa để đền đáp. Về tình hình chiến trận thì vẫn lai rai đánh hoài cả ngày đêm. Tuy nhiên, không thấy thiết giáp địch xuất hiện nữa, kể từ sau khi chúng tôi tiêu diệt được 2 xe của chúng trong đêm 26 rạng ngày 27-2-1971 này…
11g00 Cobra được điều động đến oanh kích. Khoảng 6 chiếc luân phiên nhả rocket xuống đầu địch, hai chiếc Jet thả bom sát vị trí súng. Một quả napalm rơi ven rào hướng Bắc, sát ụ súng Khẩu 4 tạo thành một suối lửa cháy nhanh xuống đồi.
Có phi yểm, bọn tôi rảnh được đôi chút, lo nấu nước đổ gạo sấy làm cơm.
Mặc dầu Cộng quân đã thất bại nặng nề cay cú, nhưng không còn một lối nào để thoát thân nên chúng bám riết, gây áp lực! Mỗi lần Cobra xà xuống tưới rocket, bọn chúng dùng đủ loại súng ngang nhiên bắn lên xối xả, không còn kể đến việc tiết lộ mục tiêu, làm mồi cho chiếc Cobra kế tiếp…
14g00 một phi vụ B52 dội bom vào khoảng giữa Căn cứ và tiền đồn Đông-Nam, cách hàng rào vị trí không quá 500 thước. Trước tiên, chúng tôi không nghe tiếng động cơ mà chỉ nghe tiếng hú rùng rợn của hàng trăm chong chóng ở đuôi bom xé không khí hướng xuống mục tiêu, kế tiếp, lửa chớp lan nhanh thành một tuyến dài tung bụi đất mù mịt, cây cối ngã nghiêng… liền đó là tiếng nổ đinh tai nhức óc, hầm hố rung rinh… sau cùng mới nghe tiếng động cơ… và dò theo tiếng động cơ, chúng tôi thấy 3 chiếc B52 không dài hơn 3cm, trắng toát, ẩn hiện trong bầu trời chói nắng Hạ Lào.
Với các cuộc oanh tạc khủng khiếp ấy, địch quân vẫn điên cuồng, bất chấp thiệt hại, xử dụng đám tàn quân sát rào kéo dài cuộc tấn công đến mãi 21g00 mới chấm dứt!
Chiến trường trở nên yên tỉnh như không có gì xảy ra. Trên không, phi cơ soi sáng thả hỏa châu như thường lệ…
Rạng ngày 28-2-1971, tôi được tin hậu cứ báo chuẩn bị nhận lương tươi với một số nạp bổ sung.
…Hôm nay, Cộng quân có vẻ siêng hơn, vừa mờ sáng chúng đã bắt đầu pháo kích đủ loại đạn vào căn cứ. Bên vị trí Pháo Đội C3 Dù chẳng hơn gì Pháo Đội tôi. Khắp nơi đều có dấu vết đạn địch cày xới. Súng của Trí lại mong manh hơn Đại Bác 155 ly của tôi. Mảnh đạn địch làm thủng cả càng súng và một số cơ phận khác.
Dây điện thoại nối liền giữa hầm tôi và hầm Trí đứt hoài. Có khi phải đi nối hàng 5, 6 lần trong một buổi. Mỗi lần nối dây thật là nguy hiểm! Do đó, tôi cho phép HSI Vinh tháo trước dây trong trục, cầm một đầu chạy nhanh qua vị trí Pháo Đội C3 Dù, móc vào máy, xong trở về cắt dây nối qua máy của Pháo Đội.
Nói cho đúng, bọn tôi xem thường hiệu quả Pháo Binh địch. Vì Pháo Binh đòi hỏi chính xác —Muốn chính xác súng phải được đặt ở vị trí cố định và khi tác xạ phải loại trừ khí tượng… Ngoài ra, hỏa lực phải được tập trung mới đạt được hiệu quả tối đa… Nhưng đó là những điều kiện mà chắc chắn địch không thể thực hiện được. Cụ thể như mỗi lần tác xạ, chúng phải lôi đại bác ra khỏi hầm, bắn xong lại đẩy vào hầm, mỗi vị trí pháo không thể đặt quá 3 khẩu, vì sợ phi cơ ta khám phá oanh kích. Trái lại, căn cứ Hỏa Lực 30 bấy giờ có 6 đại bác 105 ly, 5 đại bác 155 ly đặt cố định. Chỉ nội việc tải đạn khi tác xạ vào một mục tiêu, sức công phá có thể tác hại một vùng rộng lớn gấp 5, 6 lần của địch. Sự kiện này có thể chứng minh qua 4 ngày pháo kích bằng đại bác của địch: chỉ có một quả rơi vào vị trí Khẩu 5 của chúng tôi mà thôi. Tôi thường giải thích với các quân nhân trong Pháo Đội, đừng nhầm lẫn pháo kích chỉ toàn là đạn Pháo binh — mà phải hiểu, đối với Cộng quân, việc pháo kích còn phối hợp đủ các loại súng cộng đồng bắn thẳng của Bộ binh. Chính các loại súng này kết quả hơn là pháo binh của chúng. Vì lẽ đạn đạo thẳng, xạ thủ khai hỏa gần mục tiêu nên dễ trúng đích, nhưng trái lại hiệu quả của nó đối với các công sự kiên cố của chúng ta chẳng ăn thua gì.
10g00 một số trực thăng đến triệt thoái tiếp Đại Đội 1 Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân đang kẹt tại căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi. Nhân tiện, tôi bàn với Kim, sẵn dịp này nên về Khe Sanh là hơn. Vì ở lại chẳng những Kim không còn nhiệm vụ gì, mà lỡ ra bị rủi ro thì hận lắm.
Kim tỏ vẻ bịn rịn, không muốn xa tôi. Chính Kim đã sống với chúng tôi trong những giờ phút nghẹt thở nhất, có lúc kéo dài 16 tiếng đồng hồ trong 24 giờ của một ngày như ngày 27-2 vừa qua.
– Bây giờ tôi hết nhiệm vụ, nhưng vẫn chưa được lệnh của Tiểu Đoàn, Quân Đoàn. Tôi nghĩ, về cũng không có lỗi gì. Chỉ tội một điều, tôi thấy thầy ở lại một mình tôi ái ngại quá!
– Một mình sao được, còn Lân và Ngân là gì? Em nên về đi. Nếu còn nghĩ đến tình thầy cũ hãy nghe lời thầy… Em về nhớ thuật lại cho các bạn ở nhà biết tình hình trước mắt mà em đã chứng kiến. Nhất là nhờ em báo cáo tỉ mỉ cho Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn 1 và Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng của thầy biết khả năng cũng như tinh thần chiến đấu của anh em trong Pháo Đội C.
Không đợi Kim dài dòng nữa, tôi đứng dậy cầm cái sac của Kim trao cho nó và bảo:
– Thôi đi cho rồi kẻo trễ. Trực thăng nó không đợi đâu.
Kim định đem về chiếc PRC-25, nhưng lên trực thăng khó khăn đành để lại cho tôi giữ hộ.
Kế đó, Kim rời tôi, nhảy từ hầm này sang hầm khác, di chuyển lần ra bãi đáp trực thăng số 2 (1) cùng với hai nhân viên trong toán sĩ quan liên lạc, và một pháo thủ của tôi, có nhiệm vụ triệt thoái súng cá nhân của anh em bị thương trước đây, chưa mang về kịp. HSI Bách may mắn được di chuyển trong chuyến này làm cho chúng tôi đỡ được một gánh nặng.
[(1) Bãi đáp số 2: Đến phút này, bãi đáp số 1 (bãi đáp thiết lập đầu tiên) không thể xử dụng được, vì địch điều chỉnh rất chính xác. BCH/TĐ 2 Dù bèn thiết lập bãi đáp số 2 ở phía Nam vị trí chúng tôi.]
Phút tạm biệt buồn thật! Buồn lây qua Lân và Ngân.
Cùng với các phi vụ này, BCH/TĐ 2 Dù nhận được 40 quả mìn chống chiến xa. Trung Tá Thạch ra lệnh gài ngay từ đầu bãi đáp trực thăng ra tiền đồn, và đặt hẳn một bãi mìn tại triền thoai thoải phía Đông-Bắc vị trí — Nơi mà chiến xa chỉ có thể qua đấy mới vào được căn cứ Hỏa Lực 30 (Hình 13).
Ba anh em tôi trở vào hầm, ngồi đếm tiếng đại bác địch reo qua đầu, nổ ầm ầm quanh căn cứ, hòa lẫn với tiếng nổ của súng cối 82 ly, cùng SKZ 57, 75 ly suốt cả buổi.
Khoảng 14g00, một phi vụ Chinook câu một lưới nạp kèm theo một bọc lớn thực phẩm tươi từ hướng Nam bay thẳng lên bãi đáp số 2, vội vàng bấm nút thả cách mặt đất 10 thước. Tất cả thực phẩm rơi xuống sườn núi… đồng thời địch ráo riết pháo kích vào bãi đáp ấy. Chúng tôi đành bỏ, không mang vào được. Sau đấy, cả kiện nạp bị cháy làm nổ lây một số đạn bộ binh tại chỗ.
Cũng trong ngày hôm ấy, tôi tiếp nhận 7 quân nhân bổ xung cho số bị thương. Tổng cộng tôi có 74 người. Tôi tỏ ý không được vui khi nhận 7 quân nhân này với Lân và Ngân. Vì tình cảnh ngày càng nghiêm trọng, đại bác ngày càng bất khiển dụng, mức độ pháo kích của địch mỗi lúc mỗi gia tăng khủng khiếp, tối thiểu không dưới 1000 quả đạn đủ loại Cộng quân đem xử dụng trong 24 giờ để rót vào Căn cứ Hỏa Lực 30. Thực trạng là thế vậy mà tăng cường nhân viên thì chỉ làm khổ cho tôi, vì thêm một mối lo… chứ chẳng ích gì.
…Đêm nay không có phi cơ hỏa châu, những vì sao rời rạc không đủ soi sáng cảnh vật, lấm tấm dính trên nền trời. Vũ trụ như thu hẹp trong tầm mắt của người chiến binh không quá vài chục thước, đang ghìm súng sống qua từng giây phút hãi hùng tại chiến địa…
Trong im lặng, không có tiếng hò reo tở mở của hàng hàng lớp lớp người cuồng tín, đã mấy phen xông vào cõi chết, người ta chỉ còn nghe tiếng côn trùng rên rỉ suốt canh thâu, như ai oán, như hờn trách cảnh tương tàn đau thương!
Gió lên!… Gió lên!… nhưng không ào ạt tạo nên sức mạnh gãy cành bứng gốc, cũng không mang lại một sinh khí mới bởi cái lạnh về đêm của Hạ Lào… Gió lên!… Gió lên!… Gió thoảng nhẹ phả vào vị trí mùi tử khí hôi thối nồng nặc thoát ra từ những tử thi Cộng quân ven đồi!… Hồn oan khiên của biển người không toàn thây vật vờ đâu đây, tưởng chừng như nương theo gió cuộn vào không khí, khích động tâm tư kẻ sống nổi lên những suy tư man mác!…
Quá khuya, giữa cảnh tịch mịch bao la của núi rừng bỗng vang lên tiếng sấm động: ba mặt Bắc, Tây và Đông căn cứ lần lượt được pháo đài bay B52 đến dội bom, khoảng cách không xa hơn từ 500 đến 1000 thước quanh rào vị trí. Đã hơn một lần lạc vào căn cứ một quả và một quả đạn 175 ly của Pháo Binh Cơ Giới Hoa Kỳ tại Lao Bảo yểm trợ sang. Tuy nhiên tai nạn không xảy ra. Có điều làm cho chúng tôi chứng kiến chấn động rung rung cả hầm hố, tưởng đến kết quả sát hại khủng khiếp nếu địch tập trung ngay tại mục tiêu mà nghĩ đến cảnh uổng tử của Cộng quân trong cuộc chiến vô vọng này! (Còn tiếp)
TDH, 1971
(Hình chụp trên đồi 30 in trong bản gốc trước 75 không có trong lần tái bản ở Cali.)
Kỳ sau: HAI LẦN TRIỆT THOÁI – HAI LẦN ĐÌNH HOÃN
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 12-2018 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Đâu đây đồng vọng cõi xa xưa Thổ ngơi thơm phức; hồn ma cũ… B.N.L. Kỳ đẩy xe đạp qua các bờ đất, ra tới ngả ba Cầu Kinh, thì mặt nhựt mới tô lợt son Tàu lên tấm nền trời dựng sau những ngọn dừa nước ở hướng Đông. Từ đó mà ra Sàigòn, vào giờ đường vắng, chỉ mất mười lăm phút là cùng; Kỳ cũng chẳng có công chuyện gì cần phải làm sớm. Thế mà chàng cũng cứ dậy khuya mà đi như mọi ngày. Qua đường Hàng Sanh, qua đường Hàng Bàng, qua đại lộ Hai Bà Trưng, xuống “Một Hình”, rồi đổ ra Chợ Cũ. Kỳ đi thật là lòng vòng, do các nẻo xa nhứt để đi tới đích. Chợ Cũ còn dụi mắt, trừ các tiệm cà-phê. Kỳ sung sướng như về quê nhà và vào ngay tiệm nước ở góc hai phố X.Y. Chàng ngồi trước chiếc bàn con đặt sát vách, không nhìn ai hết, cốt tránh thấy. Chàng muốn nghe nhiều và ngửi sâu. Ở đây có những tiếng động, những âm thanh, những mùi vị quen thuộc và rất thân yêu mà chàng mến thích. Ngoài sau bếp, người thợ xíu-mại bằm thịt bằng hai con dao Tàu, mà hắn hạ lưỡi dao xuống thớt theo một nhịp điệu kỳ lạ, nghe như một khúc nhạc man rợ nhưng vẫn êm tai. Những anh phổ ky hô món ăn hoặc hô số tiền, mà khách phải trả, không phải bằng văn xuôi, mà bằng lời hát có ca, có kệ đàng hoàng. Khi một người khách đứng lên, hắn hát to cho anh thủ quỹ nghe: “Ạ…a… người đội nón nỉ đen á…à…à…sáu đồng lẻ bảy cắc ạ…a…”. Lẽ cố nhiên, hắn hát bằng tiếng Tàu, thổ ngữ Quảng Đông, nên câu hát thành dài lê thê, vì những á…a, á…à, nghe rất thú vị. Có một câu ngắn: bạc tẩy tảl tống mùl mà hắn làm được một bài hát nhỏ, nghê nga đến lúc tách sữa trứng gà bưng ra tới bàn khách, bài hát mới dứt. Mùi bánh bao hấp từ các xửng dưới lò bốc lên, mùi cà-phê rịn ra từ những chiếc vợt đầu tiên trong ngày, tất cả những tiếng và hơi ấy tạo thành một không khí, mà Kỳ rất thích. Ngày nay, các tiệm cà-phê các-chú, phần đông đã đổi mới, không ca hát lăng nhăng nữa, không bằm dao trên thớt theo một nhịp điệu riêng nữa, nên Kỳ chỉ vào tiệm nầy thôi. Chàng đã ghiền không khí ở đây, ghiền cả thời gian nữa; phải ngồi tiệm vào lúc thật sớm, như bây giờ, mới hưởng đầy đủ không khí một tiệm cà-phê cắc-chú ngày xưa. Cho đến cái dơ bẩn trong tiệm nầy, chàng cũng yêu, vì đặc tính ấy là yếu tố không khí kia, thiếu nó không xong. Những anh phổ ky lén cảnh sát, cởi trần ra, chàng thấy là ngồ ngộ, hợp với toàn thể của tiệm nước bình dân nầy. Ăn mặc đàng hoàng và sạch sẽ, họ sẽ giống những lọ sứ cổ bày trong nhà tranh. Kỳ còn ghiền một yếu tố nữa, mà không phải lúc nào cũng đòi hỏi dược. Đó là những buổi sáng sớm mưa dầm. Bên ngoài, mưa gió lạnh, mà ngồi được trước một tách cà-phê lên hơi, bên cạnh cái lò chụm trấu, thì thú tuyệt vời. Càng thú hơn, khi nghe một anh phổ ky đối đáp với khách hàng: – Nị không lạnh sao, mà ở trần? – Hà cái lầy pên Tàu lặng lắn (lạnh lắm) qua pên lây lực lắn (nực lắm), khoong pết (không biết) lặng mà… Nghe câu nói ấy, không khỏi nghĩ đến một xứ rét run, và mình càng cảm thấy ấm hơn trong tiệm nầy. Kỳ ngồi làm thinh, không kêu món uống. Thế mà anh phổ ky lại hát lên: “Vách bên trái, cà phê không thật đậm, nhớ lược bằng vợt mới, nghe không”. Rồi người thủ quỹ kiêm nhơn viên rót cà-phê, nhìn chàng một cái, đoạn thi hành y theo lời phổ ky dặn dò. Đó là yếu tố quan trọng nhứt của không khí tiệm nầy. Đây là một tiệm cà-phê lâu đời và nhứt là một tiệm cà-phê giữ truyền thống của họ, nên họ có những người khách lâu năm, rất lâu năm. Họ thuộc lòng từ ý muốn nhỏ của mỗi người khách: người nầy ba muỗng đường; người kia một muỗng rưỡi thôi. Còn khách thì không thốt ra lời nào cũng có kẻ dưng tới tay món uống vừa ý. Kỳ lấy muỗng nhỏ dò đáy ly cà-phê đen như thuốc Bắc: chỉ có độ một muỗng đường cát ở dưới ấy thôi, thật là đúng sở thích của chàng. Chàng gá muỗng lên miệng dĩa, cúi xuống hớp một hớp cà-phê, chấp chấp lưỡi để lặng nghe mùi thơm của nó, đoạn ngước lên, tay giỡn với mấy cái dĩa giò-cháo-quẩy và bánh bao. Chàng ngồi đây tới chín giờ mới gặp bạn được, thì mặc sức tiêu phí thời giờ. Gặp bạn? Ừ, hôm nay Kỳ bị mấy thằng bạn văn ép phải gặp mặt chúng nó tại nhà một đứa. Để làm gì? Để quyết định thái độ về hai chữ ph và f. Nghĩ tới đây, chàng bật cười. Quanh chàng, không ai thèm chú ý tới cử chỉ đó. Khách hàng thức giấc thật sớm, đều kỳ dị như thế cả. Đó là những anh hàng phở, uống vội vàng để còn phải về lo hàng mình; những anh Ấn Độ gác đêm cho các hãng Tây bận ả ra, ả ra với nhau; những anh soát vé ô-tô-buýt vừa uống, vừa xem chừng đồng hồ tay. Người nào cũng sống riêng với nội tâm của mình, vui riêng, cười lẻ, khóc thầm. Kỳ bật cười, vì thấy vấn đề chữ f không làm chết ai, không bỏ đói ai bao giờ, thế mà bọn nhà văn ấy ăn ngủ không được, vì nó. Lý lẽ của lũ ấy đưa ra là như thế nầy: phải viết ph thì đúng với giọng đọc của người Việt xưa. Nhưng người Việt ngày nay phát âm sai, đọc ph y hệt như f, vậy nên viết f cho đúng theo giọng đọc thời bây giờ và cho gọn. Cần phải họp cho đông đủ, thảo luận rồi biểu quyết, rồi thực hành để thiên hạ bắt chước theo. Kỳ không thể từ chối gặp bạn. Nhưng chàng đã nhứt quyết chống lại chữ f. Nghĩ tới quyết định nầy, chàng lại bật cười lần nữa. Thật là quan trọng hóa con tép. Tưởng chống lại lý thuyết nào, ai ngờ chống lại…chữ f tí hon. Tại sao chàng chống lại chữ f, chàng cũng không hiểu cho rõ lắm. Nhưng trực giác của chàng nói thầm cho chàng biết rằng, viết như thế không ổn. Soát lại công việc hôm đó, chàng nghe yên lòng. Chỉ có bấy nhiêu rắc rối đó thôi, rồi an tâm được tới chiều để viết lách. Kỳ nâng ly lên uống một ngụm cà-phê còn quá nóng, chưa nốc được một hơi dài. Vả, chàng lại mong cho nó nóng mãi như thế nầy, uống chấm chút mới ngon. Cà phê uống ở nhà thật vô vị, uống nơi tiệm khác lại nhạt phèo. Ngồi đây mà tận hưởng cà-phê và các thứ khác dính líu chặt chẽ vào cà-phê nầy, hay biết bao! Ngày nào cũng thế, chàng ngồi đó như một vị tiên bất tử. Khách hàng, hết lớp nầy đến lớp kia ra vào, y như các thế hệ người kế tiếp nhau mà tàn mọc trên dương thế, còn chàng thì ở ngoại càn khôn mà nhìn những kiếp sống phù du nầy. Ngộ quá, mỗi giờ khắc, một hạng người khác nhau. Sau chàng là những người làm công các tiệm chung quanh; hết họ, đến những kẻ đi làm; hạng sau cùng là những người không nghề nghiệp, hoặc không thời dụng biểu nhứt định. Khi mà không khí ưa thích lần tan cùng một lượt với đèn tắt, ngày lên. Kỳ mới chú ý nhìn người và vật chung quanh. Những gương mặt của thầy thợ quen mọi ngày, nhìn mãi không thấy gì lạ, mà không có thì không xong. Cây cối quanh làng ta, có khi vướng mắt ta lắm. Nhưng nếu có một hỏa hoạn xảy ra trong làng, mọi vật đều bị thiêu hủy, thì ta tiếc những gốc cây quen thuộc biết bao nhiêu! Nó là những nét của cảnh trí, những vật ở chân trời cũ, thiếu đi, nghe buồn làm sao. Hôm nay, một thầy lại đem theo một thằng con nhỏ. Thằng bé độ mười tuổi, tay cắp cặp da, chừng như đi học đâu đó mà hôm ấy không người nhà đưa, nên người cha mới phải bận bịu như thế, lúc đi làm.
Hai cha con ngồi lại bàn. Người cha kêu cà-phê cho mình và sữa cho con, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Đông, nên thằng bé không hay biết. Chừng phổ ky đem món uống lại, nó mới nói: – Ba ơi, con muốn uống cà-phê như ba! – Ê, trẻ con không nên uống cà-phê. Người cha vừa nói, vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con. Kỳ, bỗng nhiên giựt mình, ngó dáo dác như nghe ngóng cái gì. Không, không có gì cả! Nhưng chàng không an lòng, có cảm giác là tiếng động gì, hình ảnh gì vừa thoáng hiện, lại trốn đi và đang lẩn lút đâu đây. Tiếng động ấy, hình ảnh ấy ra sao, chàng không rõ, nhưng cứ tin là nó dễ yêu lắm. Liền đó, một cuộc săn đuổi ráo riết. Kỳ rượt theo một ấn tượng, một cái gì vô hình, lấp ló đâu đây. Có lúc chàng suýt chụp được nó, nhưng nó lại vuột đi. Những gì xảy ra quanh chàng, bỗng giờ phút nầy, sao mà nghe thấy rất xa xôi, như đã nghe thấy đâu từ kiếp tiền thân. Thình lình Kỳ ngây người ra: chàng vừa thấy người cha đứa bé rót cà-phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống. Cảnh nầy, chàng đã thấy rồi…trời ơi…lâu lắm…những hai mươi năm về trước. Đó là lối uống trong dĩa của ông ngoại chàng, một ông cụ nhà quê, thỉnh thoảng dắt cháu ra chợ để hưởng thú thị thành. Hình ảnh uống cà-phê bằng dĩa nầy, như bấm vào nút điện, và cả một bộ máy được huy động. Những người của dĩ vãng như hồn ma, lũ lượt kéo qua trước mặt chàng. Hồn ma cũ ấy chỉ hiện về trong cảnh náo nhiệt nầy, là vì có cuộc trùng phùng cơ hội như hôm nay: thời gian, nơi chốn, màu sắc, hình ảnh, mùi vị, tiếng động, âm thanh; tất cả những thứ ấy, khi dủ mặt, họp nhau để huy động ký ức của chàng. Bấy giờ, Kỳ mới hiểu, tại sao chàng lại ưa thích tiệm cà phê nầy. Hồn ma cũ ngủ yên nơi tiềm thức của chàng. Đó là những hồn ma thương mến. Tiệm cà-phê nầy có gần đủ điều kiện để kêu gọi hồn ma. Gần đủ nhưng chưa bao giờ đầy đủ, nên tiềm thức chàng ngủ quên luôn. Ngủ quên, nhưng vẫn giục chàng đến đó, mà chàng không biết tại sao, chỉ hôm nay mới hiểu rõ. Thì ra, tiềm thức đã chủ động nhiều việc trong đời người, trong đời chàng; những việc ta làm, mà cũng không hiểu vì sao mà làm. Kỳ lẩn thẩn tìm xem coi do đâu mà chàng ghét chữ f, một tình cảm chàng đang có, mà không biết nguyên nhân. Ngộ! Khi nãy không tìm mà hồn ma tìm đến. Bây giờ đọc thần chú, nó cũng chẳng về. Phương trình còn thiếu rất nhiều yếu tố Ký ức = thời gian + nơi chốn + màu sắc + tiếng động + âm thanh + mùi vị + hình ảnh. Chữ f đã dính líu với những hình ảnh nào, chàng thật mù tịt. Nên chi Kỳ thôi không thèm tìm biết nữa. Ngày kia, có một cuộc qui tụ yếu tố, tự nhiên chàng sẽ nhớ về chữ f ấy. Bây giờ theo dõi những hồn ma yêu dấu thú hơn. Chàng thường theo ông ngoại ra chợ uống cà-phê…Chàng ra tỉnh học… Chàng lên Sàigòn…Ma nhiều lắm! Ôi! Mến yêu là những con ma tóc còn đường rẽ, áo quần còn hôi mùi ruộng bùn, cùng nhau ngơ ngác giữa đô thành! Ôi! Bùi ngùi là những con ma giáo sư tóc muối tiêu mà bây giờ, hẳn, đã đi đầu thai kiếp khác rồi. Ôi! Bối rối là những con ma…Kỳ nghe tê tái nơi lòng, mắt ứa lệ. Bối rối là nhưng con ma thiếu nữ gặp nơi nhà quen, khi ra chơi chúa nhựt, những con ma, nó làm cậu học sinh lưu trú ngơ ngẩn suốt tuần. Ôi! dịu dàng là những con ma áo tím…, mà trời ơi!… Kỳ nhớ lại, ngày chàng được bức thư tay cuối cùng của người bạn tình đầu tiên ấy, Thiếu niên, bao giờ, cũng dại về tình. Chàng đã toan tự tử, nghĩ thật buồn cười. Hình như là chàng thuộc lòng bức thư ấy. Đâu nào…à. “Anh không fải là người lý tưởng của em, vậy ta dứt nơi đây là hơn. Dầu sao, em cũng đã thành thật yêu anh trong một thời gian, thì anh không thể nói là em thờ ơ hay fụ bạc được…”. Kỳ ngước lên, cười khà. Chàng đã bắt được kẻ trốn tránh, khi đọc lại đoạn thư ấy. Chàng nắm lấy chóp nó và la thầm trong bụng: – Nó đây rồi! Phải, nó đấy; nó viết ph bằng chữ f. Chàng ghét, giận nó, và giận luôn cả chữ của nó tự bao lâu rồi. Kỳ lại cười lớn lên một giây nữa và lẩm bẩm: – Tụi nó mà biết sự thật về chữ f, chắc tụi nó cười mình dữ lắm.
Bịnh viện Bình Dân[1], một buổi sáng. Giáo Sư H. đi đến giường số 17, thì dừng lại. Sau lưng ông, người ta dồn đống như tại một ngả tư phố Sài gòn, xe dồn cục lúc đèn đỏ cháy lên. Họ đứng sau lưng ông, đông, trên hai mươi mạng: bốn anh nội trú, tám anh ngoại trú, mười sinh viên thường và hai nữ y tá. Bác Sĩ H. là một Giáo Sư Y Khoa lỗi lạc, mà thủ thuật đã được nhiều tạp chí Pháp và Mỹ nói đến, nên, hễ ông đi thăm bịnh, là bao nhiêu người thích tìm tòi, học hỏi đi theo đông đủ sau lưng. Khi họ dồn lại một nơi, thì con bịnh không còn biết ai là “bác sĩ thầy” nữa cả. Giáo Sư, người thấp bé, ăn mặc rất khiêm tốn, cái đầu trọc lóc, thật kém đẹp, kém oai hơn sinh viên nhiều. Ông lại pha trò suốt ngày, khiến người ta tưởng, đó là một thanh niên vui tánh, mới vào học. Giáo Sư quay lại hỏi nội trú Thành, người gác nhà thương đêm rồi: – 17 mới vào à? Đâu, quan sát đâu? Nội trú Thành lướt tới, tay cầm xấp tài liệu, rồi nói như giảng bài, cho tất cả sinh viên đều nghe: – Người nầy bị chứng ung thư phổi. Dấu hiệu chánh: đầu móng tay bầm tím và co quắp lại. Những dấu hiệu phụ: nghẹt thở gầy ốm nhanh chóng trong mười lăm hôm… Giáo Sư vừa lắng tai nghe phúc trình của anh nội trú giỏi nhứt nhà thương, vừa bước tới kiểm soát lời anh ta. Khi Thành phúc trình xong, Giáo Sư hỏi: – Phụ Giáo đâu? Lúc ấy, người Phụ Giáo ở ngoài, vừa bước vào. Giáo Sư nói: – Bác Sĩ à, cho chuẩn bị để mổ ngay. – Chuẩn bị rồi, thưa Thầy. Đường, sinh viên thường, năm thứ nhì, chen tới hỏi: – Thưa Thầy, liệu cứu hắn được hay không? Họ trao đổi ý nghĩ với nhau bằng ngoại ngữ, nhờ thế con bịnh không hiểu được, nên khỏi sợ sệt. – Rất có thể thành công. Giáo Sư khiêm tốn đáp. Đường lại hỏi thêm: – Thưa Thầy, bịnh sẽ tái lại hay không? Giáo Sư mỉm cười: – Nếu nó không tái lại, hóa ra loài người đã chữa ung thư được rồi à? Không, vài năm sau hắn sẽ chết. Cố gắng của khoa học là lùi phút chót của con bịnh lại, lâu chừng nào hay chừng nấy.
Giáo Sư đã thành công. Không ai ngạc nhiên hết, vì ông ấy mổ vững như thợ thiến gà. Nhưng mấy hôm sau, con bịnh bị nhiễu chứng. Đầu tiên là chứng nghẹt phát quản phổi. Có những giọt máu khô sau cuộc mổ mà con người không làm sao tìm thấy được. Một giọt máu khô ấy, theo vết thương mổ, chạy vào phát quản, rồi bị dòng máu đẩy đi. Nhưng một khi kia, gặp nơi phát quản hẹp quá thế là nó chận ngõ đón truông, không cho tuần hoàn làm việc. Lại phải mổ. Mà trước khi mổ phải khó nhọc tìm xem tên phiến loạn phá hoại sự lưu thông ấy trốn chắc chắn nơi đâu.
Hệ thống lưu thông của máu huyết vừa được giải tỏa, thì con bịnh lại bị nhiễm trùng độc. Vì mổ mãi, nên vi trùng có dịp xâm lăng cơ thể anh ấy, như mở cửa thành cho quân địch vào ấy mà! Một thành phố kiểm soát chặt chẽ bao nhiêu cũng khó ngăn sự len lỏi của ẩn binh. Miệng mổ và dụng cụ được khử độc kỹ lưỡng bậc nào, cũng không chận toàn thể vi trùng đột nhập. Tất cả nhà thương đều được huy động để săn sóc con bịnh, tất cả dụng cụ, thuốc men đều được xử dụng để đối phó đến hàng chục nhiễu chứng mà hắn vướng phải. Ở bịnh viện Bình Dân, trại nào cũng là trại do Y Khoa Đại Học phụ trách để nghiên cứu cả. Ngoài, người ta không biết, nghe nói học trò đến học thì sợ lắm, ngại họ dùng các con bịnh làm đám đất thí nghiệm. Sự thật, thì Y Khoa Đại Học cẩn thận hơn cả nhà thương thường, không hề thí nghiệm càn như người ta ngỡ. Trái lại, sự săn sóc thì châu đáo đến mức kiểu mẫu cho sinh viên noi theo. Còn sinh viên, thì phần đông, tận tâm, cố gắng để được hành nghề. Thành thử, con bịnh, nhứt là những con bịnh mấy chứng nguy, được họ chiến đấu quyết liệt với thần chết, để cướp hắn lại. Bao nhiêu tự ái đều nhảy ra mặt trận: tự ái của ông thầy quyết cho học trò tín nhiệm, tự ái của sinh viên quyết chứng tỏ mình hiểu biết và làm được. Ngoài ra, lương tâm nhà nghề và tinh thần đồng đội cũng tiếp chiến với bao nhiêu thứ kia. Sáng sáng, xem biểu nhiệt độ, họ lặng thinh mà thở dài, hoặc nhảy nhót tưng bừng, ôm nhau mà cười, nói: – Ta đã thắng! Sự thắng bại thật là bất phân. Vài hôm, bên tử thần muốn làm chủ tình hình, hôm khác, bên đoàn Y Khoa lấn nước. Hai đối thủ tranh nhau từng tấc đất, rình rập nhau để chụp lấy sơ hở của bên kia. Bên tử thần cứ lù lù tiến tới, trong những bước chậm rãi, một cách hiểm ác, chậm rãi mà chắc chắn, vì hắn tin, không con mồi nào thoát khỏi hắn cả. Bên đoàn Y Khoa, hôm thì tấn công ồ ạt, hôm lại dùng chiến thuật du kích, để khai trừ từng thằng một, những binh tướng lẻ tẻ của thần chết như là động kinh, vọp bẻ vân vân… Không giờ phút nào mà cuộc chiến đấu không diễn ra và kẻ chịu đựng nhứt trong bọn là các nội trú. Đời Y Khoa không có gì khổ hạnh bằng mấy năm nội trú. Trăm dâu đều đổ lên đầu nội trú, đến nỗi mấy anh ấy ăn, ngủ đều mặc áo choàng trắng sẵn trong mình, thảo nào mà nhiều vị lương y không khoe bằng Bác Sĩ, mà lại biên lên bảng hiệu: Cựu Nội Trú, cho người ngoài khiếp phục chơi. Nội cái việc thi đỗ vào nội trú cũng bằng là vượt Vũ Môn cấp nhì vậy. Ngày thứ năm mươi sáu, sốt lui một cách đột ngột. Tử thần, dường như thấy khó thắng, nên nửa đêm rút đi êm thắm và trật tự. Mười một giờ đêm hôm đó, anh nội trú Ân đi soát lại cái giường lần cuối cùng, để vào buồng ngả lưng một lúc. Anh rờ lên trán anh 17, thì nghe mát lạnh. Hoảng hốt và mừng rỡ, anh chạy vào buồng đánh thức bạn đồng khoa dậy: – Giặc! giặc! tụi bây ơi! Bọn kia dụi mắt hỏi: – Bịnh vào à? – Không, giặc lui rồi! – Giặc nào? – Giặc 17. – Hắn chết rồi à? – Không, thủy hạ. Cả bọn đều nhảy xuống giường. Anh Tuân hét: – Đi lấy Potion de Todd mau lên! Khi nhiệt độ xuống thình lình như thế, con bịnh cũng nguy, vì hắn có thể bị nhiễu chứng khác, nên phải cho hắn uống Potion de Todd cho hắn ấm lại. Bọn sinh viên chạy rần rần ngoài trại bịnh, vây lấy con bịnh, mà tên đã bị quên mất, và được họ gọi là 17. 17, cái tên ám ảnh, cái tên khủng khiếp, làm cho họ mất ăn, mất ngủ gần hai tháng trời nay. Con bịnh vừa tỉnh, ngơ ngác nhìn đám người lạ mặt đang cúi xuống người hắn. Một anh lạ mặt, nắm lấy tay hắn, để bắt mạch tay. Từ đó đến sáng, họ lui tới phòng 17 không ngớt, hỏi hắn đủ điều, thật khổ sở cho hắn.
Giáo Sư H. vỗ bụng 17, nhe răng ra cười, mà rằng: – Vài hôm, anh về, ráng mà ăn phở, anh gầy lắm rồi! Cả bọn sinh viên đều cười rộ lên. Giáo Sư H. là người miền Bắc. Họ ngỡ Giáo Sư quảng cáo cho món ăn quê hương của ông, nên cười chế nhạo tự ái địa phương của ông. Giáo Sư như đoán hiểu, day lại giải thích bằng ngoại ngữ: – Các anh đừng lầm. Người bình dân này không mong ăn được gan sống, trứng sống hoặc các thức ăn bồi bổ khác. Món ăn bổ nhất và rẻ tiền nhất, mà hắn có thể hưởng được là món phở. Tôi khuyên thiết thực chứ không phải vì tự ái địa phương, mà cũng không đùa. Con bịnh được cho nằm thêm mười hôm để quan sát lại. Tất cả đoàn Y Khoa, ai cũng xem hắn là tác phẩm của họ. Họ đã để bao nhiêu là mồ hôi, là tâm trí vào con người của hắn, nên họ cứ ngỡ là chính họ đã tạo ra hắn. Vì thế, họ đã thương mến hắn như thương mến một đứa con đẻ. Còn sót lại bao nhiêu ngày ở chung với hắn, họ cố thương mến vội vàng để vớt vát được bao nhiêu hay bấy nhiêu những mảnh tình vụn giữa con bịnh và họ. Vài hôm nữa đây, hắn sẽ trở về làng xa hẻo lánh của hắn và không bao giờ còn nghe ai nói đến tên hắn nữa. Còn đâu con người hay ho, mà mỗi giây phút, mỗi nhắc nhở cho họ tài giỏi tận tâm và thành công của họ nữa. Anh nông dân đi đất ấy được mấy cô sinh viên thêu tặng nhiều chiếc khăn tay rất đẹp, sực nước hoa. Mấy anh sinh viên thì tiếp tế thuốc thơm, ngon ngoại quốc, anh ta không biết cất đâu cho hết, vì Giáo Sư căn dặn anh đừng hút thuốc điếu. Những bữa ăn của anh là những bữa ăn của ông hoàng; phần ăn nhà thương của anh, bọn sinh viên lấy cho công nhơn nhà thương hết, rồi thay vào đó là gà nấu đậu, cà-ri dê, sô-cô-la đủ thứ món ngon, vật lạ, mà họ xuất tiền ra để mua sắm. Bàn đầu giường của 17 ngày nào cũng được trang trí bằng hoa thơm, một đĩa trái cây, và giường anh dược trang trí bằng những cô khách sinh viên xinh xắn hay ngồi xề lại để nói một câu chuyện ngắn ngắn với anh. Lần lần, giường 17 biến thành câu lạc bộ của hai mươi sinh viên trai và gái, nội, ngoại trú và thường. Họ trực họp ở đó trong những phút ngớt việc, họ hỏi thăm công việc đồng áng của anh ta, họ trao đổi tin tức với nhau, kẻ nắm chơn anh, người vuốt tóc anh, mà đàm đạo như trong sa-lông tân khách vuốt ve một lọ cổ quý. Còn ba hôm nữa là hắn ra nhà thương. Còn hai hôm nữa… Còn một hôm nữa… Hôm kế chót ấy, họ bu lại đó mà làm thinh, bùi ngùi nghĩ đến sự vĩnh biệt hôm sau: “bá niên vạn kiếp nan tao ngộ!” Cả đến Giáo Sư H. và ông Phụ Giáo làm việc bù đầu, mà cũng tìm cách ghé qua, để nói đùa với hắn một vài câu, nói bông lơn ngoài miệng, mà lòng ngậm ngùi thương ai. Hôm sau đó, Giáo Sư H. đi thăm bịnh, chừa giường 17 lại, đặng thăm sau hết để giã từ. Khi ông và đoàn sinh viên tới nơi, con bịnh đã sẵn sàng khăn gói. Bác Sĩ chưng hửng, hỏi: – Về ngay bây giờ à? Thường thường, cho về hôm nay, thì chiều lại, hay ngày sau, người ta mới về chứ. – Thưa Bác Sĩ, tôi nhớ nhà quá. – Ừ, thì về. Nhớ ráng mà ăn phở nhé! Giáo Sư bị sinh viên gán cho tục danh là ông “Thầy phở” vì ai ra về, ông ấy cũng căn dặn ăn phở cả. 17 từ biệt từng người đã săn sóc mình, từ biệt từng người những con bịnh khác, rồi mang gói ra đi. Giáo Sư H. thấy sinh viên trìu mến con bịnh quá, đoán biết tâm trạng họ, nên thấy cần đề cao khoa học, để cho tự ái của họ lùi về đúng chỗ của nó. Ông nói: – Nếu biên sổ tính tỉ mỉ, thì con bịnh nầy đã tiêu phí của công quỹ gần tám mươi nghìn đồng, trong non hai tháng trời về tiền cơm, tiền thuốc, tiền công mổ xẻ vân vân… Tuy thế, công quỹ không cho hắn bao nhiêu đâu, mà các anh, các chị, tuy khó nhọc cũng chẳng cho hắn bao nhiêu. Chính khoa học đã cho hắn tất cả. Từ phương pháp tối tân, dụng cụ mổ xẻ tối tân, đến các thứ thuốc trụ sinh đều là công của khoa học, của phương pháp tìm tòi rất khoa học và của khoa học. Vừa nói, ông thầy lỗi lạc và đám sinh viên vừa theo dõi bằng mắt con người tốt số đã thoát khỏi nanh vuốt của thần chết. Hắn ra tới vỉa hè, bước xuống phố, để băng qua đường Hai Mươi. Hắn vui mừng, nên đi xăn xái, cúi xuống nhìn lớp nhựa đen, như đang nghĩ đến ruộng nương xa xôi, mà hắn rời bỏ mấy tháng nay. Hình ảnh một túp lều tranh bên bờ rạch, chắc đang hiện lên, thân thiết hơn bao giờ cả. Bỗng một chiếc cam-nhông, một sản phẩm của khoa học, từ phía Ngả Bảy lù lù tới đâm vào hắn. Chiếc bọc gói văng ra xa, còn hắn thì ngã xuống, rồi bánh xe nặng đè lên ngực hắn. Cả đoàn Y Khoa đều kêu trời lên, rồi đứng lặng người, chết sững trước sự bạc bẽo của số mạng. Chị ngoại trú Hương rú lên một tiếng, rồi ngất đi trên cánh tay anh Thập, một sinh viên mới vào học, ngơ ngác không hiểu gì cả. Anh ngoại trú Danh đấm ngực mà kêu: – Trời ơi, bao nhiêu công của hai tháng trời! Thật là vô lý! Giáo Sư H. chỉ thở dài mà nói nho nhỏ: – Khoa học đã lấy lại tất cả những gì khoa học đã cho…
Josui đi yên lặng trong một đường phố ở Los Angeles. Ngày hôm ấy, nàng sửa soạn một công việc thật khổ tâm, không sao tránh được. Nàng dậy sớm và sau khi trang điểm kỹ lưỡng, nàng mặc một bộ quần áo màu xanh nước biển mới nguyên, chiếc áo khoác ngoài che thân hình đầy mập của nàng. Số tiền cha nàng gửi ở một ngân hàng ở San Francisco đủ cho nàng ăn mặc, trả tiền phòng và tiền ăn trong một ký túc xá tầm thường. Những gì còn lại, nàng phải trông chờ vào cứu tế cuộc. Nàng đã hỏi một người xa lạ địa chỉ một tổ chức bảo vệ thiếu nhi. Chính đến cơ quan này, ở một hộ khá nghèo mà nàng tới sáng nay. Cửa mở, Josui đi vào. Người nữ thư ký ngập ngừng nhìn nàng.
– Xin cho biết quí danh.
– Sakai.
– Xin mời cô vào.
Josui tuân lời. Nàng đứng trước một người đàn bà tuổi trung niên vẻ mặt hiền hậu ngồi ở một bàn giấy, sắc mạo không xứng với chân giá trị của mình.
– Cô Sakai, tôi biết giúp ích gì cho cô?
– Tôi nghe nói ở đây có săn sóc trẻ con…
– Cô sắp sinh nở?
– Vâng, không ngay lúc này, nhưng tôi phải sửa soạn trước.
– Cô có gia đình không?
– Không.
Người nữ thư ký ghi nhận những lời khai của Josui.
– Cô có muốn giữ đứa bé không?
– Không, tôi có một mình, tôi không thể giữ nó được. Nàng đã tập luyện nói câu này và nói không chút khó khăn.
Ồ! Lennie, nàng dỗ dành, an ủi mãi tận trong đáy lòng! Nó mới yên tĩnh làm sao! Tưởng như nó nghe thấy những lời nàng nói.
– Tên tôi là cô Bray, – Người đàn bà nói dịu dàng. – Cô hãy cho tôi biết chút ít về cô có được không?
– Tôi có một mình. Tôi không có gì đáng kể.
– Cô có thể cho tôi biết tên ông thân sinh ra cô được không?
– Ông là người Mỹ da trắng. Tôi là người lai Mỹ – Nhật.
– Vậy cha đứa bé có chịu nhận một phần trách nhiệm của ông ta không?
– Tôi không muốn cho chàng biết.
Cô Bray phản đối:
– Ồ! Cô em thân mến, như vậy không tốt! Tôi có thể nói cho ông ta biết nếu cô muốn.
– Không, cám ơn.
Giọng nói của Josui như không muốn người nghe đáp lại.
Cô Bray không nhẫn nại được nữa:
– Cô Sakai, như vậy thật khó nhận con cô. Việc thu nhận hầu như không thành vấn đề nữa. Không ai muốn nuôi một đứa con lai.
– Thôi được! Để chúng tôi xem sao! Cô có thể trả một phần tiền được không?
– Vâng, tôi tưởng có thể được.
Josui hóa ra khờ khạo vì sự biến đổi này. Nàng không tự hỏi Lennie sẽ ra sao. Nàng hình dung một cô nhi viện, trẻ con chơi đùa trên cỏ dưới những cây lớn.
Cô Bray lại cầm bút chì và viết vài chữ.
– Tôi khuyên có nên lại một bệnh viện. Đây là địa chỉ. Cô hãy hỏi bác sĩ Steiner. Đó là một người đàn bà, một người tị nạn, rất hiền từ và dịu dàng. Chúng tôi sẽ đến bệnh viện tiếp nhận đứa bé. Tôi tưởng cô không nên trông thấy nó làm gì.
– Ồ! Có chứ! – Josui kêu lên, rất xúc động.
– Nếu cô quyết định xa rời đứa bé, tôi khuyên cô không nên nhìn mặt nó, – cô Bray nói và ngẩng đầu lên.
– Tôi muốn xem mặt nó.
Cô Bray nhún vai và nói tiếp:
– Có thể ngày nào sinh đẻ?
– Có lẽ tháng sáu.
– Địa chỉ cô?
Josui cho địa chỉ.
Cuộc tiếp xúc mà nàng rất e sợ, thế là kết thúc Lennie có thể ra chào đời, có người sẽ săn sóc nó. Josui đứng dậy.
– Xin cảm ơn cô. – nàng nói và nghiêng mình.
– Xin cô cứ tự tiện. – cô Bray lễ phép trao đổi.
Josui ngồi trong một công viên nhỏ để nghỉ ngơi. Nàng tự cấm mình không được nghĩ đến Allen. Bây giờ chàng biết là không bao giờ chàng trông gặp nàng nữa. Nàng không để lại một thứ gì, ngay cả một bức thư. Nàng giản dị ra đi, mang hết quần áo, đồ lặt vặt, chút ít nàng có. Có lẽ Allen sẽ trả lại căn nhà và trở về với bố mẹ. Riêng chỉ có Kobori biết địa chỉ của nàng, nhưng nàng cấm chàng không được lại thăm nàng.
Bác sĩ Steiner tò mò nhìn thiếu phụ Nhật xinh đẹp. Cô Bray báo tin cho bà là Josui sẽ tới và bà chờ đợi. Bà chưa biết một người Nhật nào.
– Vậy cô không có điều gì nói với tôi à? – Bác sĩ Steiner hỏi nàng một lần nữa.
– Không, – tôi xin bà, – tôi không lưu ý đến việc ấy.
Thấp và béo, bà bác sĩ hiểu rõ mình xấu xí. Bà không oán hận ai vì sự bất hành này, thu lãnh từ lâu. Giống một người thượng cổ tạc đẽo thô sơ trong một tảng đá xám, làm sao bà có thể hy vọng lôi cuốn được con mắt của người đàn ông. Và ít nhất bà cũng được trời phú cho thông minh nên bà nhất tâm chuyên chú vào khoa học. Điều tiếc nhớ cuối cùng trong lòng bà biểu hiện bằng sự khiêm nhường và cảm phục trước sắc đẹp của con người. Vì vậy bà ngắm nghía mãi Josui.
Sau nhiều tuần thất vọng, Josui không còn thấy xúc động trước lời ca tụng hay xót thương. Nàng luôn luôn đau đớn vì một nỗi lạnh lùng về tinh thần. Bà bác sĩ thấy dưới tấm mền đắp lên người thiếu phụ bàn chân bàn tay nàng lạnh ngắt.
– Cô bé ơi, cô lạnh đấy! – Bà kêu lên. – Nhưng theo y tá, ngày hôm nay lại nóng.
– Tôi vẫn bị lạnh luôn.
– Cô duỗi chân tay ra, tôi không thăm bệnh được. Nàng cứng rắn như một tượng đá, mà thật ra nàng giống thế. Nàng không suy nghĩ, không cảm thông và xua đuổi hết tất cả những kỷ niệm lướt qua đầu óc nàng. Vậy mà về đêm, khi nàng không ngủ được, những kỷ niệm xa xưa lại trở về với nàng, như máu trào lên vết thương mở rộng. Cứ như vậy nàng lại bội phần đau đớn, không phải vì quá khứ, nhưng vì nàng nhủ thầm nàng sẽ không được trông thấy Lennie, không được sống với con, không được thấy con khôn lớn, không bao giờ được nghe con nói, không được vui hưởng nụ cười đầu tiên của con, không bao giờ được tắm cái thân hình nhỏ bé cựa quậy luôn.
Google photo
Không bao giờ nàng biết con nàng nữa.
Sau nhiều giờ suy nghĩ, cuối cùng nàng chấp nhận lời khuyên bảo của cô Bray. Nếu nàng nhìn mặt con một lần, nàng sẽ không thể xa rời con nàng nữa. Nàng thật chán nản. Nỗi đau khổ của nàng vượt xa tất cả những nỗi đau khổ của đàn bà. Lòng nàng tan nát và tan nát, nàng tự trách lỗi lầm của nàng làm đau khổ đứa bé. Còn nhỏ bé như vậy, không có gì tự vệ, thơ ngây dễ bị xâm hại… và nàng đã bỏ con. Nó sinh ra đời theo luật của tạo hóa, ái tình có thủ vai trò, Lennie từ bóng tối ra chào đời. Vì đó là một đứa trẻ vui vẻ. Josui cảm thấy như vậy. Sau một đêm khóc lóc, đứa hài nhi cựa quậy đánh thức nàng dậy, và nàng cảm thấy nó cười trong khi chờ đợi được giải phóng ra ngoài. Trong lúc đau khổ bội phần, nàng cảm thấy đau đớn đến cực độ, vì biết rằng không bao giờ nàng được nghe tiếng con cười đùa.
– Cô rất khỏe mạnh, – bà bác sĩ cam đoan với nàng. – Tất cả đều bình thường. Hàng tháng cô hãy lại đây. Mọi việc sẽ tốt đẹp.
– Xin cảm ơn bà. – Josui nói.
Nàng mặc áo, búi lại tóc và đi.
Nàng đi rồi, bà bác sĩ gọi dây nói cho cô Bray:
– Tôi đã khám thiếu phụ Nhật, – bà nói lớn giọng, tưởng rằng ở điện thoại phải nói như vậy. – Nàng thật kỳ dị, rất đẹp và khỏe mạnh. Thiếu phụ này chắc phải ở giới quý phái. Đứa trẻ sẽ đẹp, thông minh và rất khỏe mạnh. Trong danh sách của cô có ai biết lượng giá báu vật này không?
– Chà, nếu bà biết được! (Tiếng nói giọng mũi và khô khan của cô Bray có vẻ chán nản). Chúng tôi có 370 cặp vợ chồng phải thỏa mãn. Họ thúc giục chúng tôi để có những đứa trẻ theo yêu cầu của họ và tất cả lỗi lầm đều rơi vào đầu tôi vì tôi không thể cung cấp những đứa trẻ như sự mơ ước của họ. Này! Tôi bỏ một mỹ kim đánh cuộc với bà là không một cặp vợ chồng nào muốn nhận đứa bé này.
Bà bác sĩ đỏ mặt.
– À! Nền dân chủ của cô làm tôi nghĩ đến tên ác quỉ Hitler! Tôi chỉ có một phần tám máu Do Thái, nhưng với Hitler, tôi hoàn toàn là người Do Thái.
Cô Bray không trả lời.
– Ồ! Thế cô không trả lời à?
– Tôi còn suy nghĩ. Tôi không có một ý kiến nào. Phải giao đứa bé này cho cô nhi viện “Cực Tây”.
– Trên thực tế, họ không còn một chỗ nào để nhận thêm một đứa bé.
– Như vậy, tôi biết làm thế nào?
– Điều đó liên hệ đến cô Bray – bà bác sĩ kêu lên. Về phần tôi, tôi săn sóc đứa bé lúc sinh đẻ, sống và khỏe mạnh. Đó là công việc của tôi.
Bà mắc ống nói bất ngờ và lấy tay áo lau trán. Sự tức giận bao giờ cũng làm bà Steiner toát mồ hôi và bà vẫn tự trách mình tính hay giận dữ. Với thân hình mập mạp, những cơn giận dữ này có thể nguy hiểm được. Nhưng điều ấy đối với bà không cần. Bà cũng chẳng còn mong sống lâu, ngay cả ở Mỹ.
Trước mặt người nữ y tá rụt rè, tiếng bà ta như tiếng sấm!
– Đến lượt sản phụ sau… mau lên!
– À! À! – Bà bác sĩ Steiner hoan hỉ nói.
Bà đón đứa bé bà chờ đợi, nó sinh ra chậm vài ngày, một đứa bé trai mủm mỉm, thật cân đối đến tận những nét nhỏ, bà hứng thú chờ đợi nó, nóng nảy nữa. Tất cả mùa xuân bà nghĩ về đứa bé, thoạt đầu tự chế giễu mình, sau nhiệt thành nghĩ đến nó, một đứa bé không ai muốn nhận. Nó sẽ kỳ dị, đứa bé này: một kẻ phiêu lưu sinh ra, bất chấp cả những luật lệ và những sự căm hờn, một đứa trẻ táo bạo, sáng tạo ra một thế giới mới.
– À! – Bà bác sĩ nhắc lại dịu dàng hơn, mắt bao trùm đứa bé.
Nó chưa biết nhìn, bà biết rõ, vậy mà như nó nhìn bà. Nó có cặp mắt đen lớn và một khuôn mặt nhỏ tươi vui.
– Một đứa bé trai. – Bà báo tin cho Josui được đánh thuốc mê và không nghe thấy bà nói. – Đừng mang đứa bé đi, bà ra lệnh cho người nữ y tá, ta muốn tự ta săn sóc nó.
Người nữ y tá quấn đứa nhỏ trong chiếc mền cũ sạch, và đặt nó trong một chiếc giường trống. Bà bác sĩ đứng gần giường và ngắm nghía Lennie. Thiếu phụ không nói nhiều, nhưng trước khi bị mê, nàng đẩy chiếc mặt nạ ê-te ra.
– Tôi dặn bà hai điều quan trọng, – nàng nói với bà bác sĩ giọng rõ ràng. – Tôi không muốn nhìn đứa bé. Tên nó phải là Lennie.
– Không có họ sao?
– Không.
Bị quặn đau, nàng quyết định đặt chiếc mặt nạ lên mặt nàng.
– Lennie, – bà bác sĩ thì thầm.
– Tên này được lắm. Đứa bé có khuôn mặt nhỏ, nhẫn và xanh xao, một thân hình nhỏ rất cân đối.
Nó nhìn bà, nóng lòng muốn đùa nghịch, hoặc ít nhất bà cũng tưởng tưởng như thế. Nó làm bà ngạc nhiên hết sức vì những trẻ sơ sinh thường tiếp tục ngủ lâu. Nhưng Lennie thì không. Nó đã già dặn với đời. Một mối xúc động, một sự ham muốn nồng nhiệt rung động trong tấm lòng âu yếm của người đàn bà này không được tạo hóa ban ân. Chưa bao giờ bà được thấy rung động tình mẫu tử, có lẽ bà coi sự sinh đẻ là một địa hạt ngăn cấm, bà không bước chân tới được. Nhưng Lennie thật là độc nhất, khác hẳn những đứa trẻ khác. Quấn trong tấm drap trắng, hai tay nhỏ xíu nắm lại để dưới cằm, cặp mắt lớn và đen nhìn bà, nó như muốn đánh giá bà và nói: “Vậy bà cũng là một người phải không?”.
Bà bác sĩ quay lại người sản phụ. Josui ngủ, duỗi thẳng, tưởng như nàng không bao giờ trở dậy nữa. Bà thấy nàng xanh xao và bắt mạch nàng. Mạch đập bình thường. Thuốc mê càng hiệu nghiệm khi thiếu phụ càng muốn được ngủ.
– Đưa nàng sang buồng khác, – bà nói. – Nàng không muốn nhìn mặt đứa bé.
Ngay chiều tối hôm ấy, trước khi về nhà, bà bác sĩ Steiner vào phòng các trẻ sơ sinh và tiến ngay đến nôi của Lennie. Nó ở kia, đứa bé vô song, nó ngủ bình thản, không có quắp, như số đông những trẻ sơ sinh khác, nhưng nó nằm duỗi dài, như muốn đo cái hình nhỏ bé của nó. Bà bác sĩ Steiner cầm cái bàn tay xinh xắn. Bà biết rằng những trẻ Á Châu không nắm tay lại như những trẻ Tây phương. Những trẻ như vậy có lẽ sinh ra đời dễ chịu đựng số phận của chúng, được phủ thêm cho đức tính ngoan ngoãn của một dân tộc thật cổ xưa. Phương diện hữu hình đặc biệt còn tiêu biểu một điều xa lạ, một sức hấp dẫn đối với trí tưởng tượng, nhưng một ngày kia khi người ta quan tâm đến đời sống hơn là cái chết, trí thông minh của người ta sẽ thám hiểm cái địa hạt huyền bí này. Mắt vẫn chăm chú nhìn Lennie, bà bác sĩ bỗng nghĩ tới cảnh cô đơn của đứa trẻ. Sau những ngày ngắn ngủi ở bệnh viện, nó sẽ đi đâu?
Bà bác sĩ Steiner bỗng quay đi không nhìn đứa bé và trở về nhà theo lộ trình quen thuộc hàng ngày. Bà sống ở ngoại ô, trong một biệt thự xấu xí kiểu mới. Bà đã cố tìm một nhà gian để sinh sống, nhưng không được. Mặc dầu vụng về việc bếp núc, bà vẫn cần phải có một căn nhà riêng. Bà tra chìa khóa vào ổ, và như thói quen đẩy chìa khóa vào quá sâu. Bao giờ bà cũng dậy sớm để căn nhà được sạch sẽ khi bà đi, không có một vẻ đẹp nào đối với con mắt người khác, ngoài mắt bà. Trên bàn chồng chất sách. Bà bác sĩ vừa bận rộn vừa nói to tiếng Đức. Bà tắm và mặc một chiếc áo choàng cũ vải bông. Rồi ba sửa soạn buổi cơm tối một món canh đun nóng và những mẩu bánh cắt dầy phết bơ.
Google photo
Lẩm bẩm bà nói, bà tự hỏi có phải mình điên không? Ba cần gì đứa trẻ con? Bà biết làm thế nào để trả một người tâm phúc hiểu biết giá trị đứa bé kỳ dị này hầu săn sóc được nó? Bà ngồi xuống bàn và thận trọng rút hàm răng giả. Thoải mái, bà nhai bánh ngâm trong súp bằng lợi. Tất cả răng của bà đều rụng ở trại tập trung. Sau bữa cơm tối, bà rửa bát đĩa và ngồi trong chiếc ghế bành lớn bọc nhung đỏ đã phai màu. Bà mở một chiếc hộp, lấy một điếu xì gà và hút. Mặc dầu bề ngoài bình tĩnh, những ý nghĩ của bà quay cuồng trong đầu óc bà thật dữ dội.
Trong vòng mười phút, bà nhấc cần máy nói và đẩy điếu xì gà sang một khóe miệng, bà nói:
– Bray, cô đấy à?
Giọng nói mệt mỏi và xa xăm đáp:
– Thưa bác sĩ, vâng.
– Đứa bé đã sinh ngày hôm nay.
– Đứa bé nào?
– Bray, tôi xin cô, cô đừng có ngốc thế. Thiếu phụ Nhật xinh đẹp cô gửi đến tôi đó. Làm sao cô quên được? Bray, cô có nghe tôi nói không?
– Tôi nghe rõ bà hơn nếu bà đừng la như thế.
Bà bác sĩ Steiner hiểu rằng cô Bray bị mệt nhọc và dễ giận dữ.
– Làm thế nào mà cô không nghe được nếu tôi không nói to! Thật kỳ cục quá! (Bà nói to nữa.) Bray, tôi quyết định rồi, tôi giữ đứa bé này.
Bà chờ đợi kết quả của cái tin giật gân này, cô Bray im lặng.
– Bray, cô có nghe thấy tôi không?
– Vâng, tôi nghe rõ. Nhưng, theo nguyên tắc, chúng tôi không giao trẻ con những người đàn bà không có chồng.
Bác sĩ tức giận:
– Thế cô nhi viện có chồng không? Cô bảo tôi cô cho đứa bé vào một cô nhi viện. Nó sẽ bị bịnh đi tiêu chảy và chết. Mười đứa trẻ đã gặp trường hợp này năm nay. Tôi không muốn nó là trường hợp thứ mười một. Tôi sẽ nhận nó. Nếu có sự khó khăn, tôi xin chịu trách nhiệm.
Sau một ngày dài dặc, nóng oi ả, sau khi cật vấn nhiều sản phụ trẻ tuổi và cáu gắt, cô Bray thấy chán ngán tình yêu và những hậu quả của nó. Lúc này giá có một công việc nào cô cũng chẳng cần.
– Được lắm! – Cô kêu và thấy mệt quá sức.
Khi Josui thấy tờ giấy khai từ bỏ con, nàng ngập ngừng. Nàng hỏi cô Bray:
– Không ai nhận đứa bé hay sao?
– Hơn hết là cô không nên biết điều này, – cô Bray trả lời với giọng như không muốn đối đáp nữa.
Josui không nói gì. Bỗng giật mình, nàng cúi đầu và vội vã biên tên mình trên dòng ghi “người mẹ”. Nước mắt trào lên mắt nàng và lóng lánh trên lông mi. Cô Bray cầm tờ giấy và thấm khô.
– Thế là xong. Nếu cô muốn biết tin tức đứa bé, cô có thể viết thư cho chúng tôi. Nếu có điều gì xảy ra, chúng tôi sẽ báo tin cô biết. Tôi khuyên cô nên quên nó đi.
– Xin cảm ơn cô, – Josui nói khẽ. – Xin chào cô.
– Xin chào cô.
Josui đi ra ngoài đường phố nắng chói chang. Nàng muốn được yên tĩnh, nhưng bà bác sĩ Steiner chờ đợi nàng để thăm lần chót. Nàng thấy có thể tin tưởng ở bà bác sĩ này, mặc dầu bà có vẻ kỳ cục, đầu tiên vì đó là một người đàn bà, và sau nữa, Josui thấy bà hiền lành tuy nóng nảy. Sau khi thăm lần cuối này, nàng sẽ viết thư cho Kobori để hẹn gặp gỡ. Lúc đó hai người sẽ quyết định xử sự thế nào.
Xanh xao và im lặng, nàng đi vào phòng giấy bác sĩ đang nóng lòng chờ đợi nàng, vì bà đã có quyết định rồi. Bà bác sĩ nói ngay:
– Đây, tôi nói để cô biết… (Bà nhìn Josui lại ngắm nghía sắc đẹp mảnh mai của nàng.) Tôi muốn cô biết chuyện, nhưng xin cô đừng nói cho cô Bray rõ. Tôi không muốn có chuyện xích mích với người đàn bà dũng cảm nhưng đần ngu ấy.
Bà ngả người ra phía trước, hạ thấp giọng vẻ quan trọng:
– Đây, tôi giữ con của cô. Đó là một đứa bé kỳ dị. Nó gồm thu trong thân hình nhỏ bé của nó cả thế giới! (Bà bác sĩ giơ hai tay nắn làm một cử chỉ như bao quanh cả vũ trụ.) Tôi sẽ dạy dỗ nó trở thành một vĩ nhân. Điều đó sẽ dễ dàng vì nó đã chứa đựng một thứ gì cao cả. Vừa choáng mắt, vừa cảm động, Josui lắng nghe. Nàng cũng ngả người ra phía trước. Dưới những băng bó chặt, hai vú của nàng đau đớn, chan chứa một thứ sữa không có công dụng gì. Nàng nhiều sữa quá, theo cô nữ y tá ở bệnh viện, nàng có thể nuôi luôn ba đứa bé được.
– Vậy tôi có thể biết tin tức con tôi được, – nàng thở dài. – Tôi sẽ biết nó ở đâu.
– Cô có thể biết, – bà bác sĩ quả quyết – Cô có thể giữ nó trong một thời gian cũng được. Cô hãy đến căn nhà nhỏ của tôi và hãy săn sóc đứa trẻ.
– Ồ! Xin cảm ơn! (Tất cả những quyết định của Josui đều nhượng bộ trước một sự ham muốn mãnh liệt.) Tôi không thể ở lâu được, nhưng có thể một đêm…
– Xin cứ lại. Đây, chìa khóa. Cô hãy đến một mình. Tôi sẽ đem đứa bé về sau.
– Nhưng bà làm thế nào…
Josui nhìn chiếc bàn đầy giấy tờ.
– Tôi đã xếp đặt. Tôi có một bà láng giềng tốt, một bà già, nhưng không già lắm, con ba đều đi vắng. Bà sẽ trông nom đứa bé ban ngày. Các bà già thường yêu trẻ con lắm. Đến tuổi chúng ta, người ta hiểu rằng bọn con trẻ mang trong người chúng mối liên lạc giữa quá khứ và tương lai. Thôi, cô đi luôn bây giờ, và hãy sửa soạn đón tiếp đứa bé.
Josui cầm chiếc chìa khóa do cái bàn tay mập và vuông đưa cho nàng. Nàng cúi đầu xuống và đặt má lên bàn tay này một lúc, rồi nàng đi ra, không sao nói được lời nào. Như vậy, nàng sẽ bế con của nàng, con cả của Allen trong cánh tay nàng. Nàng có thể bế, tắm rửa và nuôi nấng con. Và trong khi đứa bé ngủ, nàng làm gì? Nàng khâu cho nó những quần áo nhỏ mà bà bác sĩ hiền từ và dễ giận dữ đã để dành cho nó khi lớn. Như vậy, con nàng sẽ biết mẹ nó yêu quí nó. Nàng vào một cửa hàng, mua những miếng dạ rẻo, màu hồng xanh, kim và lụa màu.
Cắp gói các đồ lặt vặt, nàng đi xe buýt về nhà có Lennie ở.
Bà bác sĩ Steiner về, bế Lennie. Bà đặt đứa bé vào chiếc nôi do Josui xếp đặt. Josui cởi khuy áo ngực và nhìn bà bác sĩ, vẻ van lơn.
– Cô bé đáng thương! – Bà bác sĩ nói, giọng thương xót. – Cố nhiên rồi, cô cứ tự nhiên. Ta sẽ làm tắt sữa khi nào cô muốn, hãy ẵm lấy con.
Chìm đắm trong nỗi hân hoan, Josui bế con trong cánh tay và ẩn mình trong phòng. Riêng với con, nàng nuôi nấng nó. Mắt chăm chăm nhìn cặp mắt trẻ thơ, nàng cảm thấy nỗi đau đớn cửa nàng tê tái, lên tới cực độ, tràn ngập cả tâm hồn nàng. Nàng khóc và nước mắt rơi xuống mặt Lennie. Nàng lau mặt con và không ngớt nhìn nó, rung động vì tình yêu thương.
Không mấy lúc no nê, thằng bé ngủ. Nàng đặt con vào nôi và chăm chú ngắm nghía khuôn mặt nhỏ bé, bàn tay và bàn chân con. Nàng nhận ra miệng nó giống miệng Allen, với cặp môi cong dịu dàng, nhưng cằm lại có vẻ cương quyết sửa đổi sự dịu dàng kia, đó là cái cằm của bác sĩ Sakai. Bàn tay đứa bé giống bàn tay mẹ. Còn hai vai vuông kia giống ai? Nàng trông cặp lông mi con: lông mi của một người đàn bà Mỹ, dài và cong, với đôi mắt phượng của người Á Đông. Cặp mắt tuyệt đẹp kia. Allen đã đi hưởng tổ tiên nào của chàng. Cặp lông mi giống lông mi của một người đàn bà Mỹ xinh đẹp nào mà Josui không thể bao giờ biết được.
Cứ như vậy khởi đầu cái tuần lễ kỳ thú, vì một tuần lễ qua đi hai người đàn bà mới có thể chia tay nhau được. Cuối cùng Josui kể câu chuyện ngắn về đời sống của Lennie. Vừa nói, nàng vừa nhớ lại những chi tiết đã lãng quên hoặc khi trước nàng không lưu ý đến.
– Khi lần đầu tiên chúng tôi gặp gỡ nhau dưới giàn hoàng hậu, cuối cùng khi chúng tôi… bà đã biết… hôn nhau.
– Không, tôi không biết. Không bao giờ tôi hôn một người đàn ông. Vậy việc gì xảy ra thế?
– Chúng tôi cảm thấy sự chuyển động nhẹ trong không khí, một làn gió thoảng, mặc dầu trời yên lặng và không có gió. Tưởng như có một sự hiện diện nào khác xen thêm vào sự hiện diện của chúng tôi. Bà tưởng như thế có thể được không?
– Không phải là không có thể được.
Ẵm đứa bé trong lòng, chiếc váy căng thẳng trên hai đầu gối mập, bà bác sĩ Steiner muốn giải thích cho Josui rõ vì sao Lennie đối với bà tiêu biểu sự đắc thắng của đức tin của bà.
– Nó đẹp quá, đứa bé này! Nó chứng mình lý thuyết của tôi sự tạp chủng có thể có những kết quả tuyệt vời. Tuyệt vời cô có rõ không, cô bé? Đó là một thắng lợi.
Lennie ngủ trong nôi ban đêm, vì lúc đó hai người đàn bà cuối cùng phải ngừng nói. Ban ngày, từ cánh tay mẹ, Lennie chuyển sang cánh tay bà bác sĩ Steiner. Nó ngủ, người ta cũng mang từ phòng này sang phòng nọ, người ta đặt nó lên hai đầu gối, đầy đủ tiện nghi hoặc người ta hiến nó một vài đầu vú căng sữa mà tức thời nó ngoặm lấy ngay, hai người đàn bà bao phủ nó bằng tình yêu thương. Tất cả những kỷ niệm đầu tiên của nó, chôn giấu trong trí nhớ của nó, chỉ nói lên tình yêu thương, tình yêu thương lại tình yêu nữa. Đó là một đứa trẻ được chiêu đãi nhất trên đời.
Ngày cuối tuần đến và Josui sửa soạn ra đi. Hạn kỳ đó, thoạt đầu nàng e sợ mãi, lúc đến gần, nàng đỡ lo sợ hơn. Nàng không còn muốn đem Lennie ra khỏi nơi này. Ở đây nó được che chở. Tấm lòng quảng đại của người đàn bà này, thấu hiểu đời sống và cái chết, không yêu thương ai khác là toàn thể nhân loại và Lennie. Gần bà, nó được an toàn.
– Ở đây với tôi, cô bé, – bà bác sĩ đề nghị với Josui. – Cả ba chúng ta sẽ sống chung với nhau. Tôi kiếm cũng được khá.
Josui từ chối:
– Đứa bé không phải của riêng tôi. Nếu tôi ở lại, một ngày kia, nó sẽ hỏi về bố nó. Tôi sẽ không thể chịu đựng được và cũng không thể trả lời được. Xin cho tôi đi.
Để tắt sữa, theo những lời chỉ dẫn của bà bác sĩ. Rồi nàng sửa soạn rời ngôi nhà nàng. Ở San Francisco, Kobori chờ đợi nàng, lúc ấy nàng sẽ quyết định. Lòng nàng bình tĩnh, bình tĩnh vì tình yêu đã hết. Lúc đi, nàng ôm con trong lòng. Nó đi giày vải màu xanh và hồng thêu mấy con bướm, do mẹ nó khâu. Nàng trao đứa bé cho bà bác sĩ Steiner, lùi lại một bước và cúi rạp xuống, theo kiểu Nhật.
– Xin cảm ơn, xin cảm ơn, bây giờ và suốt đời tôi và đời con tôi.
– Một ngày kia, xin mời cô lại.
Josui lại cúi người xuống nữa.
– Xin cảm ơn, – nàng nhắc lại, – xin cảm ơn. Nhưng nàng không muốn chính thức tỏ ý nghĩ của nàng: không bao giờ nàng trở lại nữa. Đứa bé nàng cho là cho hẳn. Giữa quá khứ và tương lai, nàng không muốn có dây liên lạc nữa.
Kobori đợi nàng ở ga San Francisco. Tàu đến đúng giờ. Josui lại đẹp và mảnh mai như xưa. Kobori cố hãm lại ý muốn định xổ lại đón nàng. Chàng ước ao mối buồn tình ái của nàng đã tiêu tan, nhưng cần phải nương nhẹ những cơn bệnh mới khỏi. Thành thật, chàng muốn để Josui tự do từ chối chàng. Vả nữa, chàng không thể hưởng một cách bình tĩnh sự đắc thắng ngẫu nhiên, nếu chàng không nói cho Josui biết cái tin đăng trên các báo từ ngày hai người gặp gỡ nhau.
Chàng trật mũ và chìa tay, không muốn người ngoài để ý cách chào cúi rạp của người Nhật.
– Josui.
Nàng không trông thấy chàng. Nghe thấy gọi, nàng quay lại phía chàng.
– Kobori, anh đi đón em, thật quý hóa quá!
Google photo
Hai người đi gần nhau, Kobori không thể không ngắm nghía Josui. Chàng thấy người nhẹ nhõm khi trông thấy má nàng đánh phấn hồng dịu. Nàng đã trưởng thành, nay nàng bình tĩnh từ tốn. Đối với con mắt Kobori, những đức tính này càng tăng vẻ đẹp của nàng.
Chàng gọi một chiếc tắc xi, mời nàng lên xe và ngồi gần nàng.
– Anh nghĩ ta có thể cùng ăn buổi sáng được, – chàng ngập ngừng nói.
– Hay lắm! – Josui đáp.
Chàng nói địa chỉ cho tài xế và ngồi lên đệm xe. Chàng không biết nói gì. Và cũng vì một lý do chính đáng, chàng không muốn hỏi han về đứa bé. Chàng không muốn biết nó sống chết hay số phận ra sao.
May mắn tiệm cao lâu không xa. Kobori trả tiền xe và thưởng người tài xế rất hậu hĩ. Chàng những muốn khoác tay Josui như người Mỹ chàng trông thấy, nhưng chàng rất nhút nhát. Chàng đưa nàng vào một tiệm cao lâu nhỏ nhưng sang trọng. Từ chỗ ngồi, người ta trông thấy vịnh nhỏ. Trên bàn có bầy hoa thủy cúc màu tím lợt và cây mã tiên thảo màu vỏ cam của Kobori mua.
Chàng cố ngồi trên chiếc ghế quá nhỏ và cuối cùng bắt đầu thấy thoải mái và thích thú.
– À! Bây giờ em phải ăn các món anh đã gọi. Hình như đó là những món ăn đặc biệt nhất của tiệm này. Nó giống nhiều các món Á Đông nhưng có nhiều gia vị hơn.
– Em đói. – Josui nói. – Em thấy ăn ngon miệng từ ngày em không còn buồn rầu nữa.Đó là một tin tốt lành: nàng không buồn nữa! Kobori mỉm cười. Rồi chàng lại nhớ một tin khác, mà chàng phải nói cho nàng biết.
– Còn phải đợi món tôm.
– Tôm là món ăn chắc phải nấu vào lúc cuối cùng.
– Chúng ta không vội, có phải không?
– Không, không có gì vội (chàng hắng giọng). Thật ra anh thấy chờ đợi lâu như vậy rất thích hợp. Anh có mấy tin báo cho em. Anh không rõ em cho là tốt lành không?
– Tin tức gì thế anh? – Nàng nhắc lại và nghĩ đến Allen.
– Tuần lễ trước, – Kobori bắt đầu nói, chăm chú để diễn tả được rõ ràng tình thế – anh được biết các vị thẩm phán California đã quyết định cho phép các cuộc hôn nhân giữa các người da trắng và người Nhật.
– Anh nghĩ em phải biết việc này vì nó có thể thay đổi tình thế. Nghĩa là em có thể, nếu em còn muốn, viết thư cho người Mỹ kia mà anh không muốn đọc tên. Bây giờ hai người được phép chung sống với nhau ở đây.
– Chúng em không thể sinh sống bất cứ ở nơi nào khác. Bây giờ không thể được nữa.
Kobori thấy lòng se lại:
– Em muốn nói rằng em không muốn sống với anh ta nữa phải không?
– Không phải vấn đề muốn hay không. Đó là một điều không thể thực hiện được nữa. (Giọng nói quả quyết của nàng có vẻ ngã lòng trong chốc lát.) Kobori anh có hiểu rằng, em không thể nhìn được nữa hay sao? Bây giờ luật lệ có làm gì? Cuối cùng em đã hiểu anh ta, không thể đủ cho cả một cuộc đời.
Như có những tiếng đập vào lồng ngực Kobori.
– Em không còn…
Nàng nói tiếp câu của chàng:
– Tình yêu đối với người Mỹ kia phải không? Điều đó không có quan trọng. Và nửa tình yêu không đủ. Người Mỹ có thể thỏa mãn với tình yêu được. Em thì không. Nay em hiểu rõ điều đó.
Chàng thở dài:
– Như vậy có nghĩa là em sẽ trở về Nhật hay sao?
Nàng trả lời không chút ngập ngừng:
– Vâng, anh Kobori ạ, như cha em.
Người hầu đến giữa lúc này, mang món tôm để trong một đĩa sứ đẹp. Y kiêu hãnh đặt đĩa tôm trước mặt Kobori và đưa cho chàng một bộ thìa đĩa.
– Chắc ông muốn tự đưa thức ăn mời bà?
Kobori ngạc nhiên, cầm một cách vụng về bộ thìa đĩa và nhìn Josui vẻ thiểu não:
– Anh chưa làm việc này bao giờ.
– Anh đưa em! – Nàng nói và giơ tay. – Anh Kobori, cho em đĩa của anh để em xẻ thức ăn.
Chàng đưa chiếc đĩa, nhẹ nhõm hẳn người.
– Cảm ơn em, – Chàng nói nhỏ.
Nhìn nàng, chàng lấy làm mãn nguyện thấy nàng còn giữ chuỗi hạt ngọc Ấn Độ. Chàng nói âu yếm:
– Anh là chủ, nhưng em lại làm hết, giỏi hơn anh nhiều.
Nàng mỉm cười không đáp. Nàng cảm thấy tự nhiên hầu hạ con người to lớn và vụng về này. Công việc đó là công việc của nàng. Nàng nghĩ trong hết phần còn lại của đời nàng.
Ngày hôm đó, trời nóng bức trong thành phố nhỏ này ở Virginia. Hồi này vào giữa mùa hạ.
Mảnh dẻ trong chiếc áo mỏng màu xanh, sau khi yên nghỉ giấc trưa, bà Kennedy đi xuống cầu thang đánh si bóng. Bà ngừng lại trong hồ tắm. Bà tỉnh giấc vì tiếng nói và tiếng vỗ nước: đó là Cynthia và Allen. Bà giữ ý không nói với Allen về Cynthia, bà không buộc con phải theo ý bà, từ ngày chàng trở về, trong mùa Đông trước, vì mệt mỏi một cách lạ lùng, nên chàng thường bực tức luôn. Bà liền dẫn chàng đi Wison Bring trong một tháng, không căn vặn gì chàng. Do ông Kennedy nói, bà biết thiếu phụ Nhật đã bỏ đi, không để lại một chữ nào. Allen thôi không làm công việc với tờ báo nữa và triệt hồi khế ước thuê căn nhà để về với cha mẹ chàng.
– Đó là điều hay hơn hết cả, – bà Kennedy nói với chồng và chỉ được đáp lại bằng sự yên lặng thường lệ.
Bà nấp sau cửa sổ để âu yếm nhìn đôi thanh niên nằm dài dưới gốc sung ở ngoài hiên. Bà thấy cả hai người đều đẹp. Bà buông tấm màn cửa và ngồi xuống. Từ tháng trước, bà hy vong hàng ngày Allen đến bảo bà:
– Thưa mẹ, ngày hôm nay Cynthia đã hứa hẹn…
Bà thận trọng tựa người vào lưng ghế để khỏi làm hư mớ tóc và nhắm mắt lại. Bà mỉm cười và chờ đợi.
Cynthia cọ đầu với chiếc khăn lớn màu xanh. Nằm ở phía dưới chân nàng, Allen hỏi nàng một câu vụn vặt:
– Có phải em lựa chiếc khăn màu xanh và em ưa thích màu này không, hay là em thấy chiếc khăn này hợp với em.
– Đi qua phòng tắm, em dù bắt chiếc khăn người ta ném cho, nhưng cũng có thể em lấy chiếc khăn này vì màu sắc của nó, có lẽ là một cử chỉ vô ý thức.
– Hoàn toàn biết rõ, như thường lệ, – Allen nói đùa.
– Có thể được.
Chàng chóng khuỷu tay lên.
– Chúng ta nói những điều điên rồ.
– Chẳng có gì thay đổi cả. Em còn nhớ khi anh khoảng lên mười, em thấy anh và cậu bé kỳ cục nhất.
– Nhưng hồi ấy, em yêu anh lắm phải không?
Nàng ngập ngừng, thận trọng:
– Có lẽ, đôi khi.
Sự thận trọng này làm cho Allen bực tức.
– Cynthia, em hãy bỏ chiếc khăn khốn kiếp xuống, – chàng ra lệnh.
Bỗng ngả người ra, chàng nắm lấy gốc khăn và giựt khỏi tay nàng. Nàng giựt lại và hai người giằng co chiếc khăn.
– Lại một cử chỉ kỳ khôi của anh rồi! – Thiếu nữ kêu lên.
– Được! Nhưng hãy nghe anh, anh ngán thái độ của em đối với anh. Em hiểu rõ rằng anh muốn nói gì và em không để cho anh hết lời, – chàng nói và bỗng buông chiếc khăn ra.
Nàng ném chiếc khăn xuống đất.
– Được lắm! Anh nói đi cho xong chuyện.
Allen cảm thấy khó chịu một cách lờ mờ trước cặp mắt xanh sáng ngời, môi mím lại. Chàng có quá tự tin về sự đắc thắng của mình không?
– Thôi, anh nói đi! – Nàng vật nài.
– Cố nhiên. (Bỗng chàng nói vẻ tức giận.) – Anh muốn em lấy anh. Em biết điều đó và em biết thế đã từ lâu.
– Được! Này! Còn em, em không muốn lấy anh. Đã đến lúc anh phải biết điều này.
Nàng trả lời như ném vật gì vào đầu chàng, nhưng nàng thấy chàng nghe mà không hiểu.
– Anh không muốn chấp thuận lời đối đáp của em. – chàng nghiêm trang nói – Nếu em nghĩ đến Josui…
– Đúng rồi, chính em nghĩ đến nàng.
– Vô ích, vì thế là hết tất cả rồi. Coi như việc này chưa xảy ra… Anh tự hỏi không rõ tại sao anh lại mắc mưu vào được. Anh ở xa nhà lâu quá. Và em biết, Cynthia… Cuối cùng phải nói với em, dù em lãnh đạm với điều này, nghĩa là chưa bao giờ anh tiếp xúc với đàn bà Nhật như những bạn bè khác.
Chưa chắc nàng đã nghe chàng nói. Nàng bất động như một pho tượng.
– Em tưởng như biết tại sao Josui lại bỏ anh đi. Nàng sắp sinh nở.
– Không. Nàng không có nói với anh.
Cynthia như để ý đi đâu.
– Em không tin như thế, – nàng nói. – Theo ý em, nàng biết rằng mẹ anh không chịu nhận nàng, nàng cũng chẳng muốn giữ đứa bé làm gì.
– Thôi em đừng công kích mẹ anh nữa! – Chàng phản đối. – Bà không chịu trách nhiệm và em đã biết. Em biết luật lệ.
– Thật nói dóc! Anh tưởng như miền Virginia là tiểu bang duy nhất của nước ta!
– Chính nhà của anh ở đấy!
– Nói dóc quá! – Nàng nhắc lại và mắt nàng ướt đẫm giọt lệ.
Trông thấy nàng khóc, chàng đứng dậy, hai tay giơ ra.
– Cynthia, em thân mến…
Nàng lùi lại:
– Đừng đụng vào em! Em không thể chịu được.
Nàng cúi xuống, nhặt chiếc khăn xanh, chạy qua thảm cỏ về nhà nàng.
Chàng nhìn nàng đi, lòng chán nản nặng nề, tưởng như không bao giờ thấy như thế. Vũ trụ như sụp đổ. Chàng rời căn nhà ở New York, cách đây một tháng, trong một tình trạng thảm thương… một ý nghĩ duy nhất trong đầu óc đau đớn của chàng, kéo lê về nhà để hàn gắn vết thương: Cynthia! Cynthia chờ đợi chàng ở nhà. Chàng sẽ để một khoảng thời gian để tự thuyết phục chàng là thật sự chàng không thương yêu Josui và cuối cùng sẽ quên nàng. Sau đó, chàng lại sống cuộc đời bình thường.
Allen đi thong thả qua thảm cỏ và thấy mẹ chàng đứng trước cửa. Chàng muốn bỏ vứt đi ngay cái tin ghê gớm kia.
– Thưa mẹ, con xin nói một lần chót và xin mẹ đừng nhắc lại chuyện này nữa: con có yêu cầu Cynthia lấy con và nàng từ chối.
– Allen, tại sao?
– Nàng không cho con biết lý do.
Thất vọng, bà nhìn người con lớn, rất đẹp trai và đoán nỗi đau khổ của chàng dưới cái bề ngoài hãnh diện.
– Con lại muốn tái đăng vào quân đội, thưa mẹ, – chàng nói giọng ngập ngừng.
– Ồ! Con yêu của mẹ.
Vừa thổn thức, bà vừa giơ tay ra đón con, nhưng chàng quay đi và lên phòng riêng.
Bà bác sĩ Steiner, ngồi trên ghế, cầm một chiếc khăn lớn bằng bọt bể trải trên đầu gối.
– Bây giờ nhấc nó lên, – bà Markey. Đặt nó lên đầu gối tôi.
Google photo
Bà Markey ẵm Lennie ở trong bồn tắm ra và khẽ đặt nó vào lòng bà bác sĩ đang chờ đón nó. Thằng bé cố ngồi thẳng và mỉm cười với bà. Nó thường mỉm cười luôn với hai khuôn mặt quen thuộc. Nó chỉ kêu la khi một trong hai người đàn bà đáng yêu và vụng về này vô ý đâm chiếc kim vào nó, hoặc bắt nó chờ đợi bầu sữa, điều ít khi xảy ra. Cặp mắt lớn của nó giống trái hạnh đào, mầu đen như nhung, hơi cụp xuống, với đôi lông mi kỳ dị, rất dài và cong, làm bà bác sĩ hết sức vui vẻ. Bà lau chùi đứa bé hết sức kỹ lưỡng.
– Này, bà Markey, – bà nói giống như người diễn thuyết, – bà hãy lưu ý xem hai bàn tay Lennie. Ngón thứ nhất và ngón thứ tư duỗi thẳng, còn ngón tay cái, ngón thứ nhì và ngón thứ ba gập lại. Đó chính là điệu khiêu vũ ở Miến Điện và Thái Lan. Nghĩa là những người sáng tạo ra vũ điều này tại các xứ Á Đông trông thấy ở những cử chỉ này của đứa bé sự biểu lộ đầu tiên của bàn tay loài người.
Bà Markey, một người đàn bà tầm thường cung kính nhìn hai bàn tay Lennie, những ngón tay này bay nhảy như chim muông, đứa bé hầu như khiêu vũ, với tất cả những lỗ đồng tiền ở má và những nụ cười, linh động như nước chảy và những tia nắng. Bà so sánh nó với thằng con cháu bà, nặng nề hơn, mà một trong những người ấy đã đến tuổi thành nhân để đi lính và chết, không ai biết tới, tại một đảo bao phủ bởi toàn rừng rậm. Khi bà khoe khoang Lennie với bạn láng giềng của bà, người ta trả lời:
– Làm sao bà có thể say mê một đứa trẻ Nhật được thế?
– Lennie khong phải là Nhật, – bà Markey đáp. – Nó khác hẳn những đứa bé mà tôi biết.
Những người đàn bà chua ngoa lại nói vẻ độc ác:
– Và phải nói rằng con trai bà lại bị người Nhật giết.
Lòng bà đau đớn nhớ đến Sam con trai, nhưng bà trả lời:
– Lennie không chịu trách nhiệm về những việc này.
Làm thế nào các bạn láng giềng ngu ngốc của bà có thể hiểu được những ý nghĩa thầm kín của bà.
Bỗng Lennie thay đổi vẻ mặt. Khuôn mặt thông minh của nó bỗng sa sầm xuống và có vẻ kinh ngạc. Nó nhìn bà bác sĩ Steiner như trách móc, tuy đã hiểu rằng bà là nhân vật chính trong đời nó. Miệng nó như bông hồng hé mở khẽ run run những giọt lệ lóng lánh trên lông mi mắt.
– Mau lên! – bà bác sĩ Steiner hoảng hốt. – Thằng bé đói rồi! Phải, phải, cục vàng của ta! Bầu sữa, bà Mackey!
Bà Markey chạy tìm bầu sữa, bà bác sĩ cẩn thận sờ bầu sữa nóng ấm ra sao. Bà quấn chiếc tả cho Lennie và buộc chặt lại. Thằng bé không chịu đựng được khoảng thời gian ngắn ngủi này. Nó cử động mạnh chân tay mụ mẫm.
– Đây! Đây! – Bà bác sĩ xin lỗi. – Để ta làm từ từ, ta biết làm. Đây, bầu sữa của con.
Nó giơ tay (quá sớm đối với tuổi nó, bà bác sĩ ghi nhận như vậy), bám lấy bầu sữa và đút vào mồm, méo xệch đi vì nhăn nhó đói. Được cánh tay rắn chắc của bà bác sĩ nâng đỡ, nó bú sữa. Nguôi dịu, nó trầm ngâm nhìn khuôn mặt to lớn, hiền từ cúi xuống mặt nó. Bà bác sĩ vẫn tiếp tục nói:
– Tôi đã làm xong trắc nghiệm ngày hôm qua, bà Markey.
– À, thật à! – bà Markey lẩm bẩm, vẻ không tán thành.
Bà thấy tàn ác và bất chính khi bắt một đứa bé nhỏ xíu và hoàn toàn như Lennie phải chịu sự trắc nghiệm.
– Phải, tất cả các cuộc trắc nghiệm, ngay cả trắc nghiệm thần kinh, – bà bác sĩ nói lớn giọng và oai nghiêm. – Hệ số thông minh của nó, tôi rất hài lòng nói để bà biết, cao hơn tất cả những mẫu trẻ đồng tuổi nó. Thật phi thường, nhất định phi thường.
– Tại sao bà lại gọi Lennie là một “mẫu trẻ”? – Bà Markey hỏi vẻ khiêu khích.
Bà bác sĩ Steiner ngạc nhiên nhìn bà láng giềng:
– Và tại sao không được?
– Danh từ đó làm cho thằng bé mất cá tính. Lennie không những là một mẫu trẻ, nhưng là tình yêu đằm thắm của những đứa bé, một đứa trẻ đáng yêu nhất.
Lennie nghe thấy bà Markey nói liếc nhìn bà. Bà già yêu thương đứa bé đến chảy nước mắt.
Bà bác sĩ cười:
– Markey, bà không yêu đứa bé này à!
Bà Markey lấy tay che hàm răng hư hỏng trước khi mỉm cười:
– Tôi tự hỏi tại sao tôi lại yêu nó nhiều thế, sau những đứa bé tôi biết và sau cả con tôi đã chết. Nhưng khi thằng bé Lennie nhìn tôi, lòng tôi lại thấy như tan nát.
Lennie đẩy bầu sữa ra, một ít sữa chảy xuống cằm nó, nó mỉm cười đẹp như thiên thần và chạy lại bà bác sĩ mập mạp, vẻ chăm chú. Bà sẽ nói thế nào?
Bà bác sĩ cúi đầu xuống khuôn mặt tươi vui. Bỗng bà nghĩ đến những xác nhỏ trẻ thơ chết đói, bị giết bằng lưỡi lê, chất lên thành đống, bị giết vì cha mẹ chúng là Do Thái, theo Thiên Chúa giáo hay theo kháng chiến, bị thù ghét sợ hãi và khinh bỉ. Bà hãi sợ, chỉ e Lennie nhìn thấy những kỷ niệm này trong cặp mắt bà. Thằng bé thật dễ xúc động! Khối óc của nó chứa đựng tất cả những báu vật trên đời. Bà nâng cao nó lên, đặt lên vai bà và cảm thấy ở má bà những sợi tóc tơ mềm mại màu hung nâu. Bà đã trông thấy biết bao trẻ thơ chết nhưng đứa bé này, ba sẽ cứu sống.
– Thật mùa hoa nở! – bà khẽ nói, – mùa hoa nở đẹp quá.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.