Cưới vợ

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

September 13th, 2024

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Hồi ở Việt Nam, xứ mình, gặp nhau, mình thoải mái hỏi như: “Mấy tuổi (để kêu anh hay chú), nhà ở đâu (để huỡn tới nhậu), số mobile (để kêu), lương khá không (để mượn tiền lúc kẹt), có vợ chưa, con bao lớn (tính làm sui)? Nhưng Úc nó nói đời tư của nó.

Còn chuyện hỏi vợ? Nhiều thằng Úc cầu hôn trong cảnh riêng tư, như trong một bữa ăn tối lãng mạn hai đứa, anh mình móc xỉa, hao! Tui cũng vậy. Ủa tui đâu phải là Úc. Tui là Mít mà! Chắc chí lớn gặp chí mén.

Nhưng Úc khùng (người khác nói chớ không phải tui nhe) “Cầu hôn, nghi lễ rườm rà hoa lá cành, rất cải lương Út Bạch Lan Thành Được! Mấy anh mình phải chuẩn bị chớ không phải a thần phù nhào vô táp, xực. Anh mình phải lựa chọn thời điểm và địa điểm, nhiều điểm lãng mạn, thường là ở một nơi đặc biệt có ý nghĩa. Chớ không chọn chợ cá Footscray bao giờ.

Phải chuẩn bị chu đáo để tạo bất ngờ công khai trước bạn bè và gia đình tại lễ hội, buổi hòa nhạc, hoặc thậm chí trên sân khấu làm cho khoảnh khắc trở nên đặc biệt.

Úc xài vợ hao lắm, lần nào cũng phải đủ thứ chọn mệt quá!

Rồi trình cho em chiếc nhẫn đính hôn kim cương 3 ly 2, hao quá! Thấy kim cương, em khoái gần chết thì cần chi phải hỏi: “Will you marry me?”  (Em có chịu lấy anh không?”

Quỳ cầu hôn trên sân khấu Opera San Francisco – photo Daniel Illig

Úc khùng nầy còn đỡ! Có Mít còn khùng hơn: “Anh nghèo nên chẳng nhẫn kim cương. Thì đây anh đan nhẫn cỏ. Lòng anh chắc em đã biết.” Biết gì? Biết anh mạt, biết anh nghèo rớt mùng tơi. Nghèo mà chơi trèo đi hỏi vợ. Em ‘no’ là cái chắc!

Khi cầu hôn, anh mình phải quỳ gối trước mặt em yêu.

Tui không hiểu tại sao lại quỳ gối? Hồi xưa đi học bị thầy cô bắt quỳ gối trước mặt bọn quỷ sứ cùng lớp, tui coi hành vi của thầy, cô nhằm sỉ nhục tui trước mặt bàn dân thiên hạ. Giờ tui muốn nó lấy tui; tại sao tui phải quỳ trước mặt nó? Lấy về, nó đẻ ra con tui, nó làm má của con tui; chớ nó đâu có làm má của tui mà bắt tui phải quỳ chớ?

Như kép cải lương phải thuộc tuồng để nói: “Anh rất yêu em; anh không thể tưởng tượng cuộc sống của mình mà thiếu em. Em có đồng ý làm vợ của anh không?” “Uý trời! Rồi bấy lâu không có em; mình không có sống, mình ngáp ngáp chết ngắc rồi sao? thầy cô lại muốn anh nói ra những lời xạo ke, dóc tổ vậy chớ?”

Cái vụ cầu hôn này là do con nữ nó xúi; vì nó ốm nghén. Vậy mà còn làm kịch sĩ Kim Cương, đào Bạch Tuyết vẻ ngạc nhiên, nhiều xúc động. Nếu đồng ý, em đồng ý là cái chắc, nắm đầu được nó rồi thì nắm cho nó chắc. Nắm lơi lơi coi chừng nó chạy mất. Thì em trong vai Chúc Anh Đài, người được cầu hôn, sẽ trả lời bằng một câu như: “Có, em đồng ý” Còn em chảnh; em ra vẻ ta đây lá ngọc cành vàng thì ỏn ẻn em cần thêm thời gian vì em ngờ nó là một “gold digger”, một thằng đào mỏ.

Quỳ cầu hôn trên đường phố ở Nam Định

Tóm lại, Úc phải quỳ cầu hôn bắt chước thời Trung Cổ ở Châu Âu thể hiện lòng tôn trọng đối phương, người mà ta sẽ cãi lộn suốt cả quãng đời còn lại.

“Tổ cha nó! Chưa cưới mà mấy thằng Úc đã giương cờ trắng đầu hàng vô điều kiện con vợ tương lai của nó rồi hè? Thờ bà thủng thẳng mình thờ chớ!”

Nhiều đứa con của ông Út Trà Ôn sau đó vẫn còn óc cải lương, Úc có óc ‘opera’ vẫn ngoan cố chọn quỳ gối. Tuy nhiên, may mắn thay trong thời ‘hiện đại’, để khỏi ‘hại điện’ bây giờ rể Mít không phải quỳ gối lạy ai hết ráo.

Tui nhớ cầu hôn má thằng Tèo bây giờ cách đây 50 năm, tức nửa thế kỷ, tui buộc phải theo truyền thống cuới vợ của Mít mình. Nhưng tía má tui đi trước kẻ thù của con mình một bước, đã biết điều cúng cái đầu heo luộc chấm mắm nêm, cho ông mai dò la trước. Tía má em nhậu khoái tỉ, châm chước lễ vấn danh, chạm ngõ cho làm ngay đám hỏi vì bụng em ngày càng lúp lúp. Trong lễ hỏi, tía má tui mang lễ vật đến nhà con vợ tương lai của tui để chính thức xin cưới nó về để nắm đầu tui. Lễ vật có trầu cau, trà, rượu, bánh kẹo … Em ăn ngọt mà tui toàn cay đắng. Hai gia đình sẽ thảo luận đến lễ cưới: như ngày cưới, sính lễ và các thủ tục râu ria khác với nhiều nghi thức truyền thống và lễ nghi cho giống với thiên hạ.

Quỳ cầu hôn trên đường phố ở Hải Phòng

Ngày rước dâu, tui toan cuốc, thụp xuống trồi lên 3 cái thì ông trưởng tộc bên đàng gái khoát tay: “Miễn! Miễn!”  Giờ nghĩ lại tiếc nhe! Nghe tía má tui hỏi cưới nó cho tui, nó híp mắt cười ha hả rồi gật đầu cái cụp. Thôi rồi Lượm ơi! Thân tui như cây quế giữa rừng để cho con mán, con mường nó leo! Hu hu! Phải chi hồi đó nó chê không chịu ưng, không ‘OK Salem’ thì đời tui đâu có bị ‘lem luốc’ huốt quá cỡ tới mức nầy!

Thằng bạn nhậu của tui thì khác. Đường vào tình yêu của nó có trăm lần vui, có vạn lần buồn. Khi làm phép hôn phối, Cha xứ kêu nó lặp lại lời Cha: “Anh là Tèo nhận em Bông làm vợ và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”.

Tèo trả lời Cha xứ: “Con sẽ ráng”.

Cha xứ không chịu: “Tèo? Không nói con sẽ ráng! Phải nói con sẽ làm!”

Cưới xong, vợ chồng Tèo nằm với nhau chưa nát một chiếc chiếu thì VC vô. Tụi nó đem Tèo cất vô hộp. Em Bông ở ngoài vượt biên qua Mỹ rồi lấy chồng khác. Tèo tù ra, vượt biên tới đảo Kuku thuộc Indo, Cao uỷ tị nạn hỏi đi Mỹ không? Tèo hận tình em, Tèo đi Úc và ở vậy. Mấy thằng bạn nhậu hỏi tại sao? Tèo nói cưới vợ phải cầu hôn; phải quỳ mà đầu gối của tao lỏng bạc đạn rồi, mệt lắm. Đi chơi nhỏng nhỏng sướng hơn. Đời tao ngu một lần thôi. Hổng lẽ ngu thêm lần nữa sao mấy cha?

ĐXT

Cánh đồng hoa Thẩu

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

August 30th, 2024

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Tranh Hồ Đắc Vũ

Từ tỉnh Mazar e sharif đi về hướng Bắc, là vùng Termez với  đường đèo hiểm trở xuyên qua dãy núi đá, nơi những trận phục kích, đánh hỏa công nổi tiếng của quân đội Mỹ trong chiến tranh Afghanistan. Termez nằm ngay biên giới Afghanistan và   . Xéo về hướng Tây Bắc là vài làng nhỏ, lọt giữa khu thung lũng hẹp, trải dài, dọc sườn núi đá.

Mặt trời vừa sáng trên dãy vách núi mù sương, khiến cái lạnh vùng núi vẫn còn tê tái trên mặt. Dưới thung lũng, những cánh đồng Thẩu (Cây thuốc phiện) đầy hoa màu hồng tía đã bắt đầu tàn, đài hoa đã lớn bằng những trái quýt.

6 giờ sáng, Zahra đã cong lưng, xới đất, làm cỏ cho những cây Thẩu trong cánh đồng nằm phía sau lưng căn nhà gỗ mục nát, vách được bít lại bằng vài tấm vải nhựa, nóc chắp vá những miếng gỗ thùng tiếp liệu của quân đội Mỹ, so le, không cùng cỡ.

– Hê! Zahra, mừng Ala!

Người hàng xóm đưa tay chào. Anh là Amir, vợ chết vì bom đạn 3 năm trước. Đang chăn một đàn dê, mới dọn tới vùng này, ở căn lều gỗ, trên những bậc đá, sát thung lũng

– Hê Amir!

– Nhờ siêng năng làm cỏ nên ruộng Thẩu của chị tốt quá!

– Năm nay thời tiết khô ráo, ít sương muối.

– Vậy là chị sẽ trúng mùa.

Zahra, ngước nhìn trời.

– Cám ơn Ala!

– Tôi có ít sữa dê và miếng phô mai cho chị.

Zahra bỏ cái cuốc chim, đứng dậy, lấy gói quà.

– Cám ơn anh! Chút nữa ghé nhà, có chục trứng gà cho anh.

Amir dùa đàn dê lên vùng đồi cỏ bên chân núi, Zahra lấy cây cuốc nhỏ, giẫy những đám cỏ dại dưới từng gốc Thẩu.

Mặt trời xế bóng đầu núi, Zahra cũng vừa xong công việc làm cỏ. Chị đứng nhìn cánh đồng Thẩu của mình…Đúng như Amir nói. Cây Thẩu năm nay xanh đậm, thân mọc thẳng, khỏe mạnh, hoa Thẩu to hơn mùa năm ngoái, nở rộ, đầy cánh đồng. Những cánh hoa màu hồng tía đã bắt đầu tàn, đài hoa to, tròn, sẵn sàng cho mùa lấy nhựa Thẩu năm nay.

Khi quân đội Mỹ rút đi và Taliban lấy được Afghanistan, cái suy sụp đầu tiên là dân chúng không có việc làm và không còn gì để ăn, chính phủ Taliban mới rất bối rối trong việc ổn định lại đời sống của đất nước sau bao năm chiến tranh. Taliban là kẻ chiến thắng, nên tệ nạn kiêu binh, lạm quyền xảy ra khắp nơi.

– Tôi đến đây xin trợ cấp lương thực.

Zahra, nói với anh Taliban trẻ, đang ôm khẩu AK, đứng trước cửa văn phòng “Dịch Vụ Công Dân Taliban”

– Chị có thể chứng minh điều kiện của mình.

Zhara đưa ra tấm hình màu vàng ố, chụp chung với Abdul, người chồng đã qua đời, trong bộ đồ đen, đứng dưới lá cờ Taliban, tay đưa cao khẩu AK.

– Chồng tôi là chiến binh anh hùng của Taliban… Đã chết cho Taliban.

“Utan, đẩy chiếc xe bán nồi, chảo, bằng nhôm đúc, phía trên treo những ly, bình đựng nước xách tay, can nhựa, sát đáy xe là quả đạn cối 81, cưa đầu, gắn ngòi nổ, nút kích hỏa nằm trong ống tay áo rộng của anh. Theo kịch bản của trùm khủng bố Taliban vùng Termez. Utan kéo chiếc xe vô phiên chợ mỗi thứ Năm trong cái làng lèo tèo chừng 20 gia đình ở phía Tây Nam thị trấn Balkh, rao bán đồ nhà bếp. Cũng nơi đây, 2 tiểu đội lính rừng của Mỹ thường tuần tiễu vùng Termez, và trên đường về, hay nghỉ chân bên cái giếng nước trong làng, nơi có quầy bán dưa hấu, dưa gan ướp đá lạnh. Abdul, giả làm người mua hàng, tới sát Utan, anh đang lựa chiếc can đựng nước 20 lít, trả giá tới lui. Khi thấy 2 tiểu đội lính Mỹ ngồi nghỉ bên quầy bán dưa hấu đã dựng những khẩu súng vô bức tường gạch, nói chuyện bâng quơ với cô bán cam xinh đẹp Zahra từ bên kia bức tường, thì Abdul và Utan cùng đẩy mạnh chiếc xe bán nồi vô đám lính Mỹ, Utan giựt kíp nổ, đám lính Mỹ chết ngắt khi đang ăn dưa hấu.”

Nhưng.

Abdul nói nhỏ.

– Thằng kia đã dựng khẩu đại liên vô vách, 2 thằng M79 cũng vậy… Chuẩn bị Utan!

Abdul kéo miếng ny lông che đầu đạn cối, kiểm tra lần cuối.

– Tấn công!

Abdul và Utan quay chiếc xe vô đám lính Mỹ, Abdul, Utan đưa 2 càng xe lên cao, đẩy mạnh, xe chạy nhanh, nhưng một bánh bị cong, chiếc xe ẹo qua trái.

– Rầm!

Đầu xe đụng mấy viên gạch che chung quanh cái giếng lộ thiên, thùng nhựa văng khắp nơi, chiếc xe rớt xuống giếng, kéo theo Abdul và Utan.

– Bùm!

Quả đạn cối nổ! 2 anh chết tươi dưới đáy giếng, còn Zhara thì chết cứng, đứng sau quầy bán cam, nhìn chồng mình về chầu Ala.”

Anh Taliban trẻ cười.

– Vậy là 2 người đó không hoàn thành nhiệm vụ được Taliban giao phó!

– Nhưng anh ta một chiến sĩ Taliban thứ thiệt!

– Tôi khuyên chị, nên làm việc kiếm sống, Taliban sẽ không trợ cấp gì…

Anh xuống giọng.

– … Những ông lớn đang ăn chia trợ cấp! Khó tới tay chị lắm!

Anh nhún vai.

– Tôi! Taliban đã 3 năm! chỉ món tiền lương ít ỏi với 4 lít sữa, 2 ký thịt dê cho mỗi tháng… Và tôi còn người mẹ mù lòa phải nuôi dưỡng.

Zahra thở một hơi dài, xả hết nỗi thất vọng, chị quay đi.

– Ê! Chị kia!

Tay Taliban râu xồm, bụng bự, mặt bộ đồ lính đen, nón bê rê đen, có vẻ là cấp chỉ huy lớn, ló đầu ra khỏi cửa, kêu lớn.

Zahra, quay lại.

– Chị vô văn phòng.

Zahra, theo ông ta vô văn phòng. Trong căn phòng máy lạnh mát rượi, một bàn làm việc, một kệ đầy những chai rượu Mỹ, dưới đó là một cái giường nệm, 2 gối phẳng phiu.

Ông ta chỉ tay.

– Ngồi xuống ghế… Chị uống gì? Whiskey, Coke? Hay whiskey pha Coke?

– Dạ! Coke.

Ông rót ly rượu, lấy lon Coke lạnh ngắt, đặt trước mặt Zahra.

– Dạ! cám ơn.

Ông tằng hắng, bước tới, chống hai tay vô bàn, cúi sát mặt chị.

– Tôi nói thẳng, bớt mất thì giờ… Nếu chị bằng lòng ở với tôi…

Zahra, sặc ngụm coke ra bàn.

– Tôi sẽ ký giấy trợ cấp của Taliban cho chồng chị 100 đô 1 tháng…

Zahra, lắc đầu.

– Xin lỗi!

– … Tôi sẽ làm cho chị một căn nhà đàng hoàng…

– Dạ không!

– … Tôi trợ cấp riêng cho chị 200 đô mỗi tháng…

– Không! Tôi không làm được!

– … Nội trong ngày mai, 10 người lính sẽ tới ruộng Thẩu lấy hết nhựa cho chị.

Zahra, ném lon Coke vô tường, đứng dậy.

– Không bao giờ!

Cô đạp cửa, bỏ đi.

Anh lính Taliban trẻ đứng bên ngoài lắc đầu, dộng cây súng AK xuống đất.

Trời đã ấm lại từ sáng sớm. Những nông dân mặc vải thô trắng, đầu quấn khăn, tay cầm cây dao nhỏ, lưỡi cong, bắt đầu lấy nhựa trên các cánh đồng Thẩu dọc theo thung lũng đầy nắng. Tới mùa lấy nhựa, các nông dân làm thuê tụ lại thành một nhóm, cùng lấy nhựa Thẩu. Họ bắt đầu từ các cánh đồng bên phải, cho tới hết bên trái. Chủ cánh đồng phải lo ăn uống cho các nông dân, từ buổi sáng cho tới chiều tối, và trả món tiền lương lao động thời vụ khi xong công việc.

– Nhưng tôi không có đủ tiền để lo bữa ăn và trả công cho các bạn… Tôi nghèo lắm.

Những người nông dân ái ngại nhìn Zahra.

– Rồi ai sẽ giúp chị?

– Tôi sẽ tự làm lấy…

– Làm sao chị có thể xong công việc, với cánh đồng lớn như vậy? Nếu để lâu, mủ Thẩu sẽ già đi, khiến cho nhựa tươi có vị đắng… Bán mất giá!

– Tôi sẽ lấy nhựa liên tục trong 3 ngày liền…

Sáng hôm sau, mặt trời vừa qua khỏi núi đá bên thung lũng, rải lớp nắng vàng trên những cánh đồng Thẩu xanh tươi. Các nông dân đang nhanh tay cắt Thẩu, lấy nhựa. Xa hơn, về cuối thung lũng, trên cánh đồng gần chân núi, là Zahra, người đàn bà mặt chiếc áo choàng vải thô đã bạc màu, đang lấy nhựa Thẩu một mình. Chị cầm chiếc dao nhỏ có lưỡi thép cong, cứa vài đường xéo trên từng đài hoa, những giọt nhựa màu trắng tươm ra, lăn chậm xuống dọc thân, chỉ trong vài phút, gió và nắng đã biến những giọt nhựa trắng thành lớp nhựa đặc quánh, màu nâu đậm, lớp nhựa nguyên thủy, chưa tinh lọc của thuốc phiện. Cắt được chừng vài trăm cây thì đã tới chiều, cũng đúng lúc cho lớp nhựa màu nâu trên đài hoa Thẩu khô lại. Zahra, lấy chiếc dao bầu, lưỡi ngắn bằng bàn tay, cẩn thận cạo lớp nhựa nâu trên từng đài Thẩu, bỏ vô chiếc hộp thiếc đeo bên hông. Đây là nhựa Thẩu khô, nông dân thường gọi là “Thuốc phiện Mẹ”.

Đúng như những người nông dân nói, Thẩu của Zhara năm nay được mùa, mới làm được chừng 1/4 cánh đồng, mà số lượng nhựa đã quá nhiều. Zhara vui trong lòng, chị ngồi xuống bờ ruộng, lấy cục phô mai dê trong túi, kẹp miếng bánh mì khô, ăn chiều.

– Hê! Zahra! Mừng Ala.

– Hê! Amir!

– Tôi tới đây giúp chị lấy nhựa Thẩu… Mình có thể làm suốt đêm, cho đến khuya, đã có sẵn 2 đèn soi.

Đêm đó, trăng lưỡi liềm ló ra sau dãy núi đá, trải lớp sáng trắng lạnh suốt thung lũng. Zahra đeo đèn soi trên đầu, lấy nhựa Thẩu cho tới 10 giờ tối.

Về tới nhà, Zahra mở nắp hộp thiếc lớn, dùng con dao đẩy hết số nhựa Thẩu vô hộp. Chị cầm chiếc hộp lắc nhẹ.

– Chắc cũng được 3 ký…. Mỗi ký nhựa Thẩu tươi hiện nay là 100 tới 150 đô … Vậy là năm nay trúng mùa… Vậy là cuộc sống đỡ vất vả, chật vật hơn năm ngoái…

Zahra đốt ngọn đèn dầu, treo trên vách, múc thùng nước mưa, đổ đầy chiếc thau lớn, tới giường, mở hộc tủ nhỏ, lấy cục xà phòng, cái khăn lớn, kéo chiếc ghế thấp, chị ngồi lên, cởi chiếc áo choàng màu trắng, loang lổ những vết ố của nhựa Thẩu, 2 tay Zahra mở nút chiếc áo ngực móc lên thành ghế, cúi xuống tuột cái quần lót, màu da nâu hồng của Zahra lồ lộ trong ánh đèn dầu vàng đục. Chị bước vô thau, múc lon nước lớn, ngửa mặt, xối vô mái tóc cắt ngắn, nước tuột xuống, chạy thành những đường dài, lăn qua bộ ngực căng cứng, vòng xuống chiếc bụng thon…

– Rầm!

Cánh cửa trước tung ra. Zahra mở mắt, tay chụp cái khăn lớn, che người.

Trong ánh trăng hắt vô lờ mờ, tay Taliban râu xồm đứng sừng sững.

Zahra lui vô góc nhà, lấy chiếc ghế, đưa ra trước mặt.

– Không! Đừng tiến tới… Tôi đánh.

Ông ta bước nhanh, đưa tay gạt mạnh, chiếc ghế văng đi, Zahra chụp cái nồi nhôm trên vách.

– Tao đã nói!… Nếu mày cho tao … Mày sẽ có cuộc sống sung sướng hơn mọi người…

– Không đời nào!

Zahra la lên.

– Amir! Amir! Cứu tôi! Amir!

Trong cơn bấn loạn chị kêu cứu, nhưng làm gì có ai đến cứu Zahra ở vùng núi mông quạnh vào giờ này.

Tay Taliban nhào tới, Zahra đập cái nồi vô đầu ổng, ông lắc đầu.

– Chống cự vô ích! Cho tao đi… Sẽ yên chuyện!

Ông chụp lấy chiếc khăn tắm, kéo mạnh, Zahra xoay một vòng, đứng trần truồng, ẩn hiện trong ánh đèn trên vách.

Tiếng chân chạy vô nhà, Amir la lớn

– Zahra! Có chuyện gì?

Tay Taliban râu xồm rút chiếc dao rừng đeo sau lưng, làm cái rẹt.

Amir té xuống, đầu quẹo qua một bên trong vũng máu lan ra, anh chết, trước khi biết chuyện gì.

Zahra phóng ra cửa, chạy nhanh vô đêm tối trước mặt, ông Taliban râu xồm rượt theo.

Zahra trần truồng cắm đầu chạy, cô không biết mình đang chạy đi đâu, chỉ chạy để thoát khỏi cơn động tình thú tính của tay Taliban, Zahra chạy… Chạy… Chạy thục mạng vô màn đêm tối thui trước mặt, bỗng chị nghe tiếng lào xào của lá, những nhánh cây bật vô người tanh tách, rát rạt. Zahra đứng lại, thở hổn hển… Nhìn quanh… Ủa? Ánh trăng lưỡi liềm lấp lánh trên những cây Thẩu thẳng đứng…Chị đã chạy tới cánh đồng Thẩu. Zahra trần truồng, run rẩy nhưng cảm thấy an toàn trong cánh đồng thân yêu của mình, chị quỳ xuống ôm những cây Thẩu vô người.

– Zahra! Mày không thoát được đâu! Chịu đi! Cho yên thân sung sướng!

Và như một con sói, không biết từ đâu, Taliban râu xồm chụp mạnh vô người Zahra, ông kéo chị tuồn tuột tới khoảng trống, nơi những cây Thẩu bị chặt xuống nằm đầy mặt đất, dày như một lớp nệm, nơi chị và Amir đã lấy nhựa hồi chiều. Tay Taliban đổ ập xuống, Zahra thấy khó chịu đưa 2 tay chụp vô lớp cây Thẩu đã khô nằm bên người, chị cong người, lấy hết sức chồm dậy, 2 tay đâm những cây Thẩu đã cắt, vô mặt ông Taliban, những cây Thẩu khô, cứng lại như mũi tên gỗ đã đâm vô mắt ông ta. Ông bật ngửa ra sau.

– Ah! Ah….Chết tao… Con dê cái… Mày sẽ chết!

Ông ta lăn lộn, Zahra đâm túi bụi vô mặt, vô người ông Taliban râu xồm. Chị trần truồng chạy về nhà, kéo xác Amir ra sân, lấy chiếc đèn dầu trên vách.

Đêm đó, cánh đồng Thẩu bị đốt, cháy rụi, nướng chín tay Taliban râu xồm, sau đó căn nhà ọp ẹp của Zahra phát hỏa, ra tro trong vài phút,

Sáng hôm sau, vài nông dân ở xa tới đây làm nghề lấy nhựa Thẩu, nói với nhau.

– Cánh đồng Thẩu của chị Zahra trúng mùa… Cháy uổng quá!

Và họ cũng không bao giờ thấy bóng dáng của Zahra từ hôm đó.

HĐV

Aleeza

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

September 7th, 2024

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Nhìn bản đồ bay trên màn hình ở lưng ghế trước, chuyến bay B-115 Paris-Boston của hãng Emirates vạch một đường đỏ, đã 1 giờ khuya tại Boston, vậy là 4 tiếng nữa mới đáp. Tôi bấm đèn gọi tiếp viên.

– Chào anh!

– Chào cô!

Nhìn người đàn ông Ả Rập, râu bờm, quấn trong đống vải trắng đã ố vàng, đang ngáy khò bên ghế phải.

– Gr… ừ! Gr… ừ! Gr… ừ!

Tôi nhún vai, quay qua cô tiếp viên.

– Tôi cần uống một ít bia để qua cơn động đất này

– Ông có thể uống 1 lần 1 lon, cho tới trước khi hạ cánh.

– Cám ơn.

Cô tiếp viên vô phòng, mang ra lon Corona lạnh, đặt xuống khay.

– Còn 4 lon, tôi để ở tủ lạnh…

Cô chỉ tay.

– … Trong kia, sau tấm màn, ông tự do vô lấy khi hết bia… Chúc ông ngủ được!

Ăn hết bao đậu phụng, 4 lon bia, tôi ngáp dài, ngả ghế ra sau, cố đóng đôi mắt mở, tìm giấc ngủ.

– Grrrr…ẹ ẹ ẹ ẹ… ttttt…ít!… ít!

Tắt ngang.

– Gr… í í ít…Tít!

Nín.

– Grrrr…ẹ ẹ ẹ ẹ… ttttt…ít!… ít!

Nín.

Tôi hồi hộp chờ tiếng ngáy tiếp…

– Grrrr…ẹ ẹ ẹ ẹ… ttttt…ít!… ít!

Tranh Hồ Đắc Vũ

Tôi quay phắt, mở mắt nhìn hàm râu bờm của cha Ả Rập rung rung trong tiếng ngáy với âm điệu mới, ngậm tiếng chửi thề trong miệng. Thôi đành! Tôi đứng dậy, bước vô, vén tấm màn.

– Ông cần thêm bia?

Tôi lấy lon bia trên tủ lạnh

– … Và tôi cũng cần đứng đây đợi cho qua cơn động đất mới của gã Alibaba ngoài kia.

Cô tiếp viên đang ngồi đọc tờ Times, cười, đứng dậy.

– Ông có thể tị nạn ở đây.

– Cám ơn… À! Cám ơn cô…

Tôi liếc nhìn bảng tên.

– … Aleeza! Tôi là H.

– Anh đi công việc hay nghỉ Hè?

– Thăm 2 đứa con gái ở Paris, tới Barcelona, trở về Boston.

Tụi tôi nói chuyện về thời tiết, mưa nắng, âm nhạc, tôi được biết cô là dân Afghanistan, cùng gia đình qua Pháp 15 năm trước. Aleeza gợi vài mẩu chuyện về chiến tranh Việt Nam, cô có vẻ châm biếm vụ bỏ chạy khỏi Sài Gòn của người Mỹ.

Tôi vén màn, nhìn vô gã Alibaba đã tắt ngáy.

– Xong! Tôi đi ngủ, chào! Mong sẽ gặp lại, khi nào cô đáp xuống Boston xin gọi! Sẽ rất hân hạnh mời Aleeza buổi tối tại nhà hàng của tôi.

Tôi đưa danh thiếp cho Aleeza, đôi mắt đen dịu dàng của cô gái nháy mắt.

– Cám ơn anh, sẽ gặp…Và không có mặt gã Alibaba.

Tôi cười.

Về tới Boston, tôi bù đầu dọn dẹp căn nhà mới, nhỏ hơn nhà cũ, nhưng xây dựng theo kiểu Tudor của Anh, với tường đá, đà gỗ, đúng gu xưa của mình.

Đầu tháng 7 tôi dọn vô, sắp xếp hết mọi thứ và bắt đầu cuộc sống độc thân lần thứ 3.

Chris từ Montreal qua chơi, nên chiều thứ 7

– Hello! Jim, qua đây làm bữa nhậu mở hàng!

– Mở hàng? Cha mở nhà hàng?

– Không! Nhà mới! Tao ly dị, chưa có hàng … Nên mở hàng.

– Hello! K.

– Ừ! Chú dọn nhà xong rồi! qua nhậu khai trương.

Tôi chạy ra khu VN, mua bê thui, nai nướng, lẩu gà hầm sả.

Bàn nhậu dọn ngay căn nhà trồng cây.

– Ê! H… Cái này là thịt bò?

– Không! Bò con…

– Tao muốn thử.

– Ok!

Tôi cúi xuống thùng lấy bia, Jim gắp 2 miếng bê thui lớn, nhúng vô nồi lẩu gà hầm sả.

– Ngon!

Jim khen.

– Nhúng với nước gà quá ngon!

– Cái gì? Nhúng bê thui vô lẩu gà?

Tôi để 6 lon bia xuống bàn.

– … Giống như cha ăn spaghetti với burger!

Cả bàn cười, cụng lon.

– Tính tong! Tính tong!

Chuông cửa kêu. Mắt tôi đứng tròng, miệng há ra.

– Ai? Bạn tui chưa có ai biết tui dọn về đây! Vậy là không phải bạn!…

– Hay là hàng xóm khiếu nại vì tụi mình cười lớn?

Jim xoa râu cằm.

– Hoặc là cảnh sát… Đi thu thập tin tức?

K tần ngần, vô duyên.

– Chẳng lẽ sở thuế tìm?

– Tính tong! Tính tong!

Tôi chụp tay nắm cửa, mở mạnh….

Mắt tôi lại đứng tròng, miệng lại há ra lớn hơn.

Cả một vùng sáng tràn vô, trước mặt tôi là Aleeza, trong bộ đồ lụa đen bó sát người, nhoẻn miệng cười.

– Hello anh H!

– Hello Alaazi!

– Không! Aleeza.

– Mời cô vô.

Tôi giới thiệu.

– Đây là Aleeza, tiếp viên hàng không của hãng Emirates, bạn.

Quay qua.

– Jim, K, Chris… bạn kinh niên.

Tôi đưa Aleeza lon bia mới khui.

Mấy cái miệng cùng la. – Cheer!

– Em đã làm việc cho hãng American Airlines ở Boston 2 tháng rồi, mướn nhà ở Medford, gần đây, hôm nay nghỉ… Ghé thăm anh.

– Tụi anh đang uống bia, mời em luôn, 8 giờ anh đưa em đi ăn tối ở nhà hàng của anh, gần đây.

Những ngày độc thân của tôi mới bắt đầu, đã có triệu chứng chấm dứt cấp kỳ sau bữa ăn tối ở nhà hàng Saigon (của em tôi).

Đưa Aleeza vô phòng khách, tôi làm 2 ly whiskey với đá, tắt bớt đèn, Aleeza đưa tay mở đèn.

– Em không muốn bóng tối …Vì em sinh ra trong bóng tối của đất nước em.

Tôi nhìn đôi mắt đen, có hàng lông mi dài, nhắm lại.

– Đất nước nào?

– Đất nước cùng khổ, luôn bị những người da trắng giày xéo…

– Afghanistan? Đất nước mà cha mẹ em đã bỏ sau lưng, chạy đi tìm cuộc sống khác … Tại một quốc gia thù địch của mình…

Tôi đưa ly rượu cho Aleeza, cô cụng ly.

– Xin lỗi! làm anh mất hứng cho một đêm vui.

Aleeza đứng dậy, bước tới, tay mở nút áo, bộ ngực nở, màu da nâu, lộ ra, tôi đưa tay chực ôm, cô xoay người, bước tới ghế dài, tôi theo, đẩy vai cô nằm xuống, hôn nhẹ vô đôi mắt vừa nhắm, lần xuống má, tới cổ, tôi kéo, chiếc áo bựt nút, Aleeza vùng đứng dậy, áo tuột ra trong tay tôi, cô cười.

– Hello!

Aleeza vô phòng ăn, tôi chạy theo, cô đứng lại, chống 2 tay vô cạnh bàn, ngửa người ra, tôi bước tới, hôn nhẹ vô bộ ngực nhô cao, phập phồng nhịp thở mạnh, đôi môi lướt xuống bụng, lớp da nâu đồng rần lên những đốm nhỏ như da gà, lướt qua hông, bật nút quần, Aleeza đứng dậy, chạy vô phòng tắm, tôi theo, cô bước vô bồn, hai tay ôm bộ ngực trần, mắt nhắm nghiền, tôi bước tới, kéo cô sát vô người, đưa tay mở nước, vòi hoa sen tóe ra, màn nước ấm tỏa đầy, những giọt nước trong như thủy tinh  chảy dài trên mặt, trên môi, trên bộ ngực màu nâu mận, lăn tăn chạy xuống dưới…

Mỗi tháng, Aleeza đều ghé chơi, thường thì 2 ngày cuối tuần.

– Em muốn xuống phố?

– Không anh, ở nhà yên tĩnh hơn.

Aleeza sống rất yên lặng, kín đáo, cô không bao giờ muốn ra đường, chỉ lẩn quẩn trong nhà, nghe nhạc, uống rượu, cô có năng khiếu kể chuyện vui, rồi 2 đứa ôm nhau cười, lăn ra sàn, làm tình. Một hôm, sau khi Aleeza đi, tôi dọn dẹp nhà, lúc bỏ rác vô thùng, thấy 3 cái phone tay, đây là loại phone trả tiền trước, chắc Aleeza xài tiết kiệm, nên tôi không quan tâm gì lắm.

Lần đó ghé, Aleeza có vẻ mệt mỏi, cô lăn vô giường, không kịp thay đồ, ngủ một giấc và thức dậy làm bữa rượu xế chiều.

– Em nấu món trừu nướng nhà quê của dân vùng núi Afghanistan, anh có thể làm món măng tây với dầu Ô liu tỏi.

– Anh chỉ có thể làm dầu ô liu…Măng tây tỏi nướng, chịu thua.

– Em chỉ cho, lấy bao măng tây ra… Bao màu xanh… Đúng!

Tôi xé bao măng tây.

– Rửa sạch… Ok! Cắt bỏ phần cứng…

– Không phải đầu.

– …

– Phần đuôi

– Xong!

– Mở lò nướng nhỏ, độ nóng 250, để timer 3 phút…

Aleeza mở tủ lấy ra bao tỏi khô,

– Lấy một củ… Đúng rồi, đưa em.

Cô xoay ngang lưỡi dao đập mạnh, củ tỏi dập ra từng mảnh.

– Anh bỏ lớp vỏ…

Cô quay qua rắc muối, trộn mù tạt vô thau sườn trừu

– … Cắt tỏi thật nhỏ.

Aleeza sắp những miếng sườn vô khay nhôm, đóng nắp lò nướng.

– Xong em.

– Tắt lò, lấy măng tây, sắp đều vô đĩa lớn.

Tôi đưa 2 tay.

– Hoàn tất!

– Chưa! Em làm phần cuối, dầu ô liu tỏi nướng, đợi trừu chín…

Aleeza chồm tới, kéo cổ tôi, hôn thật nồng nàn.

– Tụi mình có bữa tối ngon lành.

Tôi dọn bàn ăn, khui 2 chai Caymus, đúng lúc Aleeza mang dĩa trừu nướng thơm lựng tới, cô gắp 4 miếng sườn cho mỗi dĩa, chia măng tây cho 2 người. Tôi rót 2 ly rượu.

– Em lên phòng thay đồ, xuống liền.

5 phút… 10 phút, 15 phút.

Tôi nóng ruột,lên lầu, cửa phòng không đóng.

– Hello! Aleeza.

Tôi bước vô.

– Ủa? Em khóc?

Cô cười.

– Nhỏ em dưới Texas lại mất việc… Không trả tiền nhà đã 2 tháng, má em vô nhà dưỡng bệnh…

– Em cần anh giúp?

– Không! Cám ơn anh, em lo được

Cô đứng dậy.

– Em phải đi … Có chuyện gấp!

Aleeza lấy vali, gọi taxi, điều ngạc nhiên là xe tới ngay trong 2 phút, anh tài xế nhìn giống như người Afghanistan, nhanh chóng bỏ hành lý của Aleeza vô xe.

– Em xin lỗi! Đã không có bữa tối ngon lành với anh… Bye.

Chiếc xe chạy nhanh, quẹo rít bánh ngay ngã tư.

Tôi vô nhà ăn mấy miếng sườn, nốc 3 ly Caymus, ngồi xuống ghế dài làm thêm ly Scotch, nhắm mắt…

Xao xuyến nhớ Aleeza…

Cuối tháng 8, Boston đã lốm đốm mùa Thu sớm dọc hàng cây sau vườn, các con sóc nâu không còn rượt nhau trên dãy rào gỗ và những cơn gió nhẹ mang cái hiu lạnh 40 độ luồn qua khe cửa mỗi khuya.

Chiều thứ 2, ra khỏi văn phòng, tôi với mấy người bạn ghé Bar, làm chầu nhậu bí tỉ mừng sinh nhật Jim. 10 giờ đêm tôi về tới nhà, xe vô bãi đậu, đèn tự động bật sáng, tôi giật mình.

Aleeza đứng khuất sau cánh cửa nhà xe mở sẵn.

Tôi chạy tới ôm cô, khuôn mặt xanh xao, cặp mắt mi dài nhắm kín, giọt nước mắt lăn xuống bờ má hốc hác, tôi hôn đôi môi nhạt, run run lạnh.

– Em ngồi.

Tôi rót 2 ly Scotch, cụng ly.

– Mừng em trở lại.

Aleeza uống hớp rượu thật chậm, cô đứng dậy, tay mở nút áo, bộ ngực nở màu da nâu lộ ra, tôi bước tới, hôn nhẹ vô bộ ngực nhô cao, lên xuống theo nhịp thở, hôn xuống bụng, lần qua hông, Aleeza bật ngồi dậy, chạy vô phòng tắm, tôi chạy theo, cô bước vô bồn, hai tay ôm bộ ngực trần, mắt nhắm nghiền, tôi ôm sát cô, đưa tay mở nước, vòi hoa sen tóe ra, màn nước ấm tỏa đầy, những giọt nước trong như thủy tinh  chảy dài trên mặt , trên môi, trên bộ ngực màu nâu mận, lăn tăn. Bỗng Aleeza tắt nước, ôm chặt, ngã đầu … Cô khóc, những giọt nước mắt ấm, lăn trên ngực tôi.

Aleeza ra khỏi bồn, lau qua loa, mặc đồ.

– Em có việc gấp, phải đi ngay.

Tôi đưa cô ra cửa, đúng lúc chiếc xe taxi trờ tới, Aleeza quay lại.

Lần đầu tiên, cô nói.

– Em yêu anh!

Cô vô xe, đóng cửa, chiếc taxi chay đi, tôi thấy khuôn mặt xanh xao của Aleeza quay lại trong xe.

Từ hôm đó, Aleeza không trở lại nữa.

Tháng 9, vụ khủng bố ngày 11 xảy ra.

Bản tin của CNN.

“19 kẻ khủng bố lén lút đưa dao cắt hộp và dao nhỏ qua cửa an ninh tại 3 phi trường phía Đông, phi trường Quốc tế Logan ở Boston, phi trường Quốc tế Dulles ở Washington, D.C. và phi trường Quốc tế Newark ở New Jersey. Họ đã chọn 4  chuyến bay sáng sớm đi California của American Airlines để hành động, bởi vì những chiếc máy bay này đã được đổ đầy nhiên liệu cho chuyến bay xuyên bang. Ngay sau khi cất cánh, những kẻ khủng bố đã chiếm 4 chiếc máy bay và nắm quyền điều khiển, biến các máy bay chở khách thông thường thành hỏa tiễn, và tấn công vô 2 tòa tháp đôi ở New York, Ngũ Giác Đài ở Washington DC cùng Pennsylvania…”

Jim gọi.

– Hello H, tui có mail cho ông danh sách phi hành đoàn American Airlines bị tử thương trong 3 chuyến bay ngày 11-9 vừa qua.

Tôi mở mail.

“Danh sách phi hành đoàn của chuyến bay American 767 từ phi trường Logan, Boston…

Karen Martin, tiếp viên hạng nhất.

Kathleen, tiếp viên.

Betty Ong, tiếp viên.

Dianne Snyder, Tiếp viên.

…

Aleeza, tiếp viên hạng thương mại.

Người cung cấp và dàn cảnh để chuyển 2 thùng dao cắt và dao nhỏ tại phi trường Boston. Cô tiếp viên gốc Afghanistan, đã chết theo vụ nổ”

…

Tôi lịm người.

Bây giờ thì tôi hiểu.

HDV

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 20)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Kỳ trước: Buối tối dừng quân nghỉ đêm, B2 Xề là người bị thương được anh em cáng đi bỗng mất tích khi anh em để anh dưới con dốc nằm chờ sẽ trở lại tìm cách khiên anh lên con dốc.

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972 

Trương Duy Hy

TRIỆT THOÁI RA KHỎI CĂN CỨ HỎA LỰC 30 (Tiếp theo)

…Trời chưa sáng rõ, tôi đã đánh thức TSI Lục, TS Đổng và các anh em đi tìm B2 Xề… Lần này, TSI Lục hướng dẫn 20 Pháo thủ, trang bị súng AR15 và M79 xuống chỗ cũ lục soát thật kỹ. Vẫn không tìm ra B2 Xề. Cả toán lại tiến sâu xuống suối, và ngạc nhiên thấy cái bóp của B2 Xề vứt bên này suối!? Đoạn đường từ suối lên chỗ Xề nằm đâu có gần. Nhất là đối với một người bị thương nặng như Xề! Lúc qua suối, Xề còn được khiêng trên cáng, cái bóp ở túi quần làm sao có thể rơi ra được? Một lần nữa, anh em chia nhau cố gắng tìm.

Sau 30 phút vẫn không dò ra một tí vết tích nào khác, TSI Lục đành phải hướng dẫn anh em về, tường thuật tất cả chi tiết trên và giao cho tôi cái bóp của Xề.

Đau khổ hơn bao giờ cả, tôi đăm ra cau có, gắt gỏng với tất cả mọi người. Thật vô lý! Lân nhăn tôi hoài, khuyên tôi mãi, nhưng hình bóng B2 Xề vẫn ám ảnh ray rứt, làm cho tôi không thể quên được.

7g30 chúng tôi tiếp tục lên đường, trẩy theo hướng 2400 ly giác.

Mặt trời càng lên cao, ánh nắng càng gay gắt phút chốc mồ hôi chảy thấm cả áo giáp… Trước sau, tôi uống hết 3 bi-đông nước mà vẫn cứ khát. Hầu như các binh sĩ đi gần tôi đều được tôi “chiếu cố” xin nước! Anh em khuyên tôi không nên uống nước nhiều, đi mệt. Nhưng tôi không thể chịu được cơn khát xé nát cổ họng mặc dầu tôi biết uống vào thì mồ hôi toát ra dầm dề. Ấy vậy mà không tài nào tôi nhịn được.

Dọc theo lộ trình sáng nay, chúng tôi đi qua một ngã tư đường mòn, chằng chịt dây điện thoại mới giăng, móc trên cây rừng ở hai bên đường.

Có lẽ Cộng quân thiết lập hệ thống liên lạc hữu tuyến này, ngay sau khi chúng tôi chiếm đóng Căn cứ Hỏa Lực 30 (?)… Các binh sĩ Dù vừa đi vừa cắt từng đoạn…

Qua khỏi ngã tư, chúng tôi đi xéo về hướng Nam để tránh đường mòn… nhưng sau đó lại gặp một đường mòn khác, cũng có dây điện thoại. Mặt đường nhẵn thín, chứng tỏ Cộng quân sử dụng tối đa con lộ này. Tôi nhẫm tính từ đây đến Căn cứ Hỏa Lực 30 chúng tôi không quá 1500 thước đường chim bay mà hệ thống liên lạc hữu tuyến của địch đầy dẫy như thế, hẳn chúng đã có một kế hoạch thanh toán chúng tôi từ lâu, nhưng chúng chưa thực hiện được đó thôi.

Những dốc đứng lần lượt hiện ra trước mắt chúng tôi, hết dốc này nối tiếp dốc kia, độ dốc cao hơn triền núi chiều hôm qua! Tất cả anh em đều mệt ngất và thỉnh thoảng nhắc tôi:

– Giá hôm nay còn anh Xề cũng không biết làm sao khiêng cho nổi.

Hình ảnh Xề lại hiện đến với tôi!

Tôi cố gắng hết sức, chống gậy đi trước Lân. Có những dốc cao chắn ngang bằng những rễ cây… phải đu cả người, chúi đầu về đằng trước làm điểm tựa rồi nhờ anh em đi sau đẩy mới lên được!…

Đến trưa, có lệnh tạm nghỉ. Nước đã hết không còn một giọt… Vài anh em móc bao gạo sấy, lần từng nắm bỏ vào mồm nhai rôm rốp… trong lúc binh sĩ Dù có nhiều anh em vẫn còn nước đổ vào gạo sấy làm cơm trưa.

Tôi và Lân mệt lả, không biết đói, chỉ có khát nước thôi. Tôi lấy trong túi áo hai thẻ bánh do anh em Dù cho — nguyên bánh này tịch thu được trong túi các chiến binh Cộng sản, mà Lân đã chứng kiến xác họ la liệt ở bãi đáp! Lân e ngại bảo tôi:

– Để khi nào thật đói hãy ăn.

– Chứ bây giờ anh còn no sao? Hay anh gớm vì tịch thu bánh này trên xác địch?

Lân cười không đáp.

Tôi bốc lớp giấy bên ngoài, bẻ nửa thẻ nếm thử. Bánh vừa mặn lại vừa ngọt, khi nước bọt thấm hết vào bánh, tôi có cảm giác deo dẻo, có mùi thơm của đậu xanh pha lẫn mùi nếp… Khi anh em Dù cho tôi, anh em có bảo tôi:

– Mỗi binh sĩ địch đều có mang theo vài thẻ bánh này để cầm thực. Ăn một thẻ như thế có thể no một ngày.

Còn một thẻ rưỡi, tôi gói cẩn thận cất vào chỗ cũ.

…Nghỉ được một tiếng đồng hồ, chúng tôi lại tiếp tục lên đường.

Mãi đến 17g00, chúng tôi đi ngang qua một triền núi bị phát quang bởi B52 và Pháo Đội tôi đốt cháy bằng đạn khói trước đây… Tất cả mọi người đều ngụy trang nón, những nón chưa được vẽ rằn ri, xanh đỏ, phải ôm trước ngực để khỏi lộ mục tiêu vì chói sáng.

Tôi với Lân lo quá! Khoảng trống quá rộng, tại đây tôi quan sát rõ căn cứ Hỏa Lực 30 và tất cả cảnh trí ven căn cứ ở mặt Nam, Tây và Đông. Những chướng ngại vật thiên nhiên do đỉnh đồi cao 727 thước với triền núi dốc… đã làm cho Cộng quân mệt lả khi bò lên đến sát rào phòng thủ, còn sức đâu đánh với đấm!

Tôi ê người khi nghĩ đến sự liều lĩnh của Cộng quân, thí mạng vượt qua tất cả triền núi vừa cao vừa dài như thế để tấn công chúng tôi… Điều thất bại hẳn đã thấy rõ! Vậy mà các cấp chỉ huy của chúng lại có thể điên cuồng thực hiện các cuộc xung phong!

Sau khi vượt qua quãng đường trống trải nguy hiểm này, chúng tôi tiến lên ngọn đồi thấp đằng trước. Thiếu Tá Mạnh cho lệnh dừng quân. Các Đại Đội lập tức chia nhau đóng xa BCH/TĐ, đặt các tổ báo động, các tổ chiến đấu…

Đến phút này, hầu hết mọi người không ai còn một giọt nước. Anh em chia nhau, kẻ đốn cây, người đào công sự tạm, số còn lại tung ra tứ phía đi tìm nước.

Một tiếng đồng hồ sau, các pháo thủ đem về cho tôi hai nón sắt đầy nước. Tôi cùng Lân uống đến no. Sau đó, tôi phân phối nhân viên nghỉ tạm quanh tôi và Lân. Giao TSI Lục cắt đặt việc canh gác, đốc thúc anh em đào hầm trú ẩn để tránh pháo kích địch.

Trong suốt thời gian di chuyển, có vài lần tôi nhờ máy của Thiếu Úy sĩ quan Liên lạc 320, liên lạc với Đại Úy Vẹn ở A Lưới và Thiếu Tá Hằng ở Phú Lộc, song tôi từ chối trả lời hướng di chuyển cùng tọa độ điểm đứng vì sợ lộ, địch kiểm thính được sẽ thực hiện cuộc tấn công bất thần hoặc phục kích chận đường, nhất là vùng này đối với chúng quá quen thuộc, sự điều động binh sĩ của chúng hẳn là nhanh chóng, dễ dàng… Trong lúc chúng tôi di chuyển hoàn toàn nhờ vào bản đồ và địa bàn, vượt suối leo đồi chứ không theo một đường mòn nào cả.

Tôi biết Thiếu Tá Hằng và Đại Úy Vẹn rất lo, cũng như không mấy bằng lòng tôi, song tôi không thể làm hơn được. Tôi nghĩ: Với hệ thống liên lạc vô tuyến của BCH/TĐ2 Dù và Bộ Tư Lệnh Dù ở Khe Sanh, sẽ cho Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng của tôi những tin tức xác thực về cuộc di chuyển mà chúng tôi đang thực hiện.

Từ sáng đến giờ, lai rai tôi uống có đến 10 viên Anacine nhưng lại không có lấy một miếng cơm trong bụng. Xót ruột một cách kỳ lạ.

BI Một mang lại cho tôi một bịch gạo sấy loại nhỏ đã ngâm nước lạnh với một lon thịt gà hộp… Cùng với Lân, chúng tôi xúc mỗi đứa một muỗng, chắp miệng không biết bao nhiêu lần, nhưng cơm vẫn không muốn trôi vào cổ!

Bấy giờ, đằng sau tôi khoảng 5 thước, một binh sĩ Dù cầm lại cho tôi một ca cơm mới nấu nóng hổi trộn lẫn với canh bí đao. Anh bảo tôi:

– Đại Úy dùng ca cơm tôi mới nấu này… Cơ khổ, Đại Úy ốm yếu thế mà ăn như vậy nữa thì làm sao đi nổi? …

Tôi cầm ca cơm, nhìn Lân ứa nước mắt! Chính binh sĩ này đã hơn một lần, tôi từ chối không cho nước. Sau đó, vì tôi báo cáo vụ tháo gỡ dù trong đạn chiếu sáng trên Căn cứ Hỏa Lực 30, anh đã thọ phạt trước mặt tôi ngay tại BCH/TĐ2 Dù. Giờ đây, chính anh ta lại mang cơm đến cho tôi ăn! Có thể thế được ư?…

Tôi ngập ngừng hỏi anh:

– Anh không giận tôi báo cáo để anh bị phạt hôm trước? Anh cũng không giận vì tôi đã không cho anh nước hôm còn ở trên căn cứ sao?

– Thưa Đại Úy, việc Đại Úy giữ nước để tu bổ súng, tuy hôm đó, tôi có bực mình thật, nhưng nghĩ lại, súng có tốt, Đại Úy mới yểm trợ giúp đỡ cho anh em tôi hiệu quả… Còn việc tôi bị phạt là tại tôi chứ phải vì Đại Úy đâu?… Lính mà Đại Úy!… Tiểu Đoàn tôi bây giờ phạt thế là nhẹ nhất rồi đấy!…

Anh nói rồi cười ha hả, xem như những gì đã qua, không đáng cho anh để ý nữa.

Hành động của anh, thêm một lần nữa làm cho tôi thầm phục Tiểu Đoàn 2 Dù. Những tiếng “Lính mà Đại Úy” cho tôi ý niệm về hành động vô tư, có thể bất cứ binh sĩ nào của Tiểu Đoàn này cũng có. Nó vô thưởng vô phạt, vì ý thức “thiện” không phải là không có khi hành động, nên những lầm lỗi của họ đáng mến hơn là đáng trách.

…Cũng như đêm qua, đêm nay, Lân và tôi ôm nhau nằm trên đá sỏi, màn trời chiếu đất – đúng nghĩa màn trời chiếu đất!

Khoảng 24g30, vài quả đạn rơi gần các tổ chiến đấu, mảnh văng vào chỗ chúng tôi nằm, tiếng nổ chát tai, có lẽ là đạn 57, 75 ly của Cộng quân. Tuy vậy, không ai bị thương, cũng không có tiếng súng phản ứng.

Rạng ngày 5 tháng 3-1971, Thiếu Tá Mạnh gọi tôi đến bảo:

– Anh khỏe chưa? (vừa cười, Thiếu Tá tiếp)… tôi chìu ý anh, xin được phương tiện triệt thoái hết các thương binh và Pháo Binh của anh cùng Biệt Động Quân rồi. Tôi đã ra lệnh chốc nữa dọn bãi đáp sẵn để đón trực thăng.

– Cám ơn Thiếu Tá. Trong hai ngày qua theo chân Thiếu Tá, tôi mệt quá. Ước gì đừng đau ốm, tôi cũng không ngán… ngặt cái chân đau và bệnh kiết không dứt.

– Có các anh đi theo, bọn tôi thêm lúng túng, tôi chỉ mong các anh về càng sớm càng hay, để bọn tôi rảnh tay chiến đấu. Dầu sao bọn tôi quen lội bộ, đánh bộ hơn các anh.

– Thiếu Tá bảo rất đúng. Tôi nghĩ Thiếu Tá và Đại Úy Hạnh thật tình lo cho chúng tôi hết mình… Về lại Khe Sanh chuyến này, không biết sau này khi trang bị lại đại bác, có còn yểm trợ trực tiếp cho Tiểu Đoàn 2 Dù nữa không? Tôi mong sao lần sau, có dịp cùng chiến đấu với Thiếu Tá và anh em Dù trong Tiểu Đoàn này. Tôi cũng thành thật tỏ bày với Thiếu Tá – Đây là lần đầu tiên tôi phải tăng phái cho Dù – và nhờ chuyến đi này, Pháo Đội tôi học được nhiều kinh nghiệm hơn bao giờ hết…

Tôi trở về với Lân, thuật lại lời Thiếu Tá Mạnh, xong tôi cho lệnh gom anh em lại một chỗ và chia ra thành nhiều toán nhỏ, mỗi toán 8 người. Kẻ bị thương sắp trước, người mạnh kế tiếp… ngồi dọc một hàng thật trật tự.

Trong số anh em Biệt Động Quân còn lại, có một TSI Trưởng toán, nghe triệt thoái bằng trực thăng liền tìm đến tôi.

– Thưa Đại Úy, Pháo Binh và Biệt Động Quân hôm nay được trực thăng bốc hả?

– Tôi vừa nhận lệnh đây, Dù sắp dọn bãi đáp, có lẽ chốc nữa trực thăng sẽ đến. Anh lo sắp hàng cho anh em đi là vừa.

– Đại Úy cho bọn em theo với. Mấy anh em bị thương trông thảm quá.

– Tôi biết nỗi khó khăn phải cõng, phải dìu thương binh… nó sờ sờ ra đấy ai mà không thấy… Anh em tập trung số thương binh ra phía trước, sắp chung với số thương binh của Tiểu Đoàn 2 Dù và các thương binh của tôi cho dễ kiểm soát… Bây giờ chỉ có lệnh triệt thoái thương binh, Pháo Binh và các anh thôi. Còn anh em Dù vẫn tiếp tục chiến đấu theo lệnh mới… Các anh nên cố gắng giữ trật tự kẻo bị Thiếu Tá la và nhất là phi công nó sợ, nó không dám bốc…

Anh ta cám ơn tôi, đi cắt đặt các toán ngồi song song với Pháo Binh.

Từ hai hôm nay, tuy chúng tôi không còn một ai trên Căn cứ Hỏa Lực 30 nữa, tại đây chỉ có bãi mìn tự động bao quanh, thế mà địch vẫn tiếp tục pháo kích! Thỉnh thoảng tiếng ầm ầm vang vọng từ căn cứ do đạn pháo kích địch rót vào, bụi đất tung lên… làm cho chúng tôi thầm nghĩ: Có lẽ Cộng quân đã “ê răng, ê càng” vì sau 7 ngày đêm tấn công liên tục, dồn dập, với những trận mưa pháo kích và nhất là kho đạn phát nổ giữa lòng căn cứ… chúng vẫn không áp đảo nổi chúng tôi – hẳn chúng phải tởm, không dám xua quân lên chiếm nữa! Và có lẽ chúng đinh ninh rằng lực lượng ta còn cố thủ vị trí?!…

Sáng nay cũng thế, tiếng đạn pháo kích của địch vẫn nối tiếp vang vọng cả núi rừng để uy hiếp một “Căn Cứ Bỏ Ngõ”!

…Chuẩn Úy Long, chỉ huy một Trung Đội Dù – thoạt trông, tôi có cảm tưởng Long lớn tuổi hơn tôi vì bộ râu quai nón khá rậm và dài, chứng tích của những ngày tử thủ tiền đồn Đông-Nam Căn cứ Hỏa Lực 30… đang tiến về phía tôi, trên tay cầm một ca cà phê nóng hổi. Long đến bên cạnh tôi tâm sự:

– Khi nãy, thấy Đại Úy vác cái cuốc ở dưới dốc đi lên, trông thiểu não quá! Đại Úy bị bệnh chăng?

– Tôi bị bệnh cả tuần nay, song không can gì, ngặt có chứng sưng khớp xương làm tôi đau đớn nhất. Tôi đã chạy chữa 18 năm nay, nhưng “tiền mất, tật còn”… giờ phải lội bộ, leo núi theo các anh em, nên nó tái phát nhức lắm!

Long trao cho tôi ca cà phê, mời tôi uống… nể lời, tôi chỉ hớp một hớp vì sợ bệnh kiết sẽ nặng hơn chăng! Tiếp đó, tôi chuyền ca cà phê qua Lân. Ba anh em cùng uống chung ca cà phê nấu bằng nước suối. Hương vị thật ngọt ngào dễ dỗ chúng tôi liên tưởng đến những phòng trà, quán giải khát ở chốn phồn hoa đô thị… Sau đó, Long mời tôi xuống phía dưới, nơi anh và Trung Đội của anh đang tạm trú.

Ngồi trên miệng hầm có gát cây rừng, bên trên phủ một lớp cây dày, Long bảo tôi:

– Nếu có gì trục trặc không về được hậu cứ hôm nay, Đại Úy đến ở chung với tôi cho bảo đảm.

– Cám ơn anh, tôi còn hơn 30 nhân viên, thành phải ở đằng ấy cho chúng yên tâm.

Nồi cơm sáng bốc hơi nghi ngút. Tôi và Lân được Long mời dùng cơm cùng với binh sĩ của Trung Đội anh. Lân ăn rất thật tình, riêng tôi vẫn cứ ngại ngại bởi chứng kiết chưa dứt, không dám bắt kịp Lân – dù tôi đói và thèm cơm kinh khủng!

Sau bữa cơm, chúng tôi ngồi phì phà rít thuốc lá… TSI Bang nhìn thấy tôi, vội chạy lại xin cái bi-đông và cái địa bàn. Tôi bảo:

– Tôi biếu anh đấy, nhưng nếu tôi về không được thì xin anh trả lại cho tôi để tôi đựng nước… và nhắm hướng mà đi…

– Đại Úy yên trí, tôi sẽ trả lại Đại Úy ngay, nếu Đại Úy còn kẹt… À này, tôi biếu Đại Úy 10 đồng Hồ Chí Minh… tôi tịch thu được của Việt cộng trên căn cứ hôm trước… Đại Úy giữ làm kỷ niệm…

Vừa nói, Bang vừa móc trong túi áo, trao cho tôi tờ giấy bạc 10 đồng có in hình Hồ Chí Minh bên góc.

Chúng tôi đợi mãi đến 13g00 hơn mới có trực thăng đến. Tại bãi đáp, khuất trong đám cây cao và rậm, Đại Úy Hạnh hướng dẫn phi cơ đáp xuống bãi… nơi đó có lựu đạn khói màu đánh dấu.

Chiếc trực thăng đầu tiên hạ thật thấp, xô vội các thùng đạn, tiếp nhận tất cả vũ khí cá nhân và cộng đồng — chiến lợi phẩm tịch thu của địch trong đêm 2 tháng 3-1971 — trận đánh cuối cùng trước khi chúng tôi rời căn cứ. Số chiến lợi phẩm này khá nhiều, chở đầy một trực thăng.

Chiếc thứ nhì… thứ ba… cũng như chiếc trước, sau khi vứt các kiện đạn, liền tiếp nhận toán thương binh.

Nhìn Lân và các thương binh được lên trực thăng, tôi mừng quá! Tôi bước đến cạnh Đại Úy Hạnh hỏi vài điều… Chiếc thứ năm bắt đầu triệt thoái Pháo Binh và Biệt Động Quân. Tôi không thể lên được, phi công không chịu hạ thấp — phải chăng phi hành đoàn thấy toán sau này đều khỏe mạnh cả? Không một ai bị băng bó nên cứ lơ lửng trên không!… Chàng xạ thủ đại liên ngồi bên hông trực thăng hờm sẵn cây thông nòng đại liên, giới hạn chở một số người vừa sức cho trực thăng bốc lên. Một số pháo thủ của tôi, một vài binh sĩ Biệt Động Quân về được chuyến này.

Trong lúc chờ chiếc thứ năm và thứ sáu, tôi gỡ bọc vải ngụy trang nón sắt để lộ 3 mai vàng, sơn trước nón… Tôi hy vọng các phi công sẽ bình tĩnh hơn khi thấy có Sĩ quan hướng dẫn. Tôi đã nghĩ đúng! Khi tiến từ từ đến trực thăng, phi công ngoài nhìn tôi và cho trực thăng hạ thật thấp — Tuy chân trực thăng không chấm đất, nhưng vừa tầm cho tôi co chân bước lên. Ngay khi đó, xạ thủ đại liên, một tay nắm giá súng, một tay nắm chặt vai tôi, lôi mạnh vào trong trực thăng. Tất cả cử động này được thực hiện chớp nhoáng.

Kết quả, trong hai chuyến đi này, trực thăng bốc được 16 nhân viên vừa Pháo Binh vừa Biệt Động Quân.

Ngồi trên trực thăng, tôi nhìn lại Căn cứ Hỏa Lực 30 với một tầm xa không quá 2500 thước, khói lửa mịt mù hòa lẫn với tiếng nổ kinh hồn do bom trên các phản lực cơ dội xuống!… Nhiều tiếng nổ phụ tiếp theo… Nơi đó, chỉ còn một địch quân mà chúng tôi nghi ngờ là “Pathet Lào” do binh sĩ Dù bắt được hôm 3 tháng 3-1971. Binh sĩ này không được chúng tôi mang theo, vì ngay cả thương binh của chúng tôi cũng vất vả khó khăn lắm mới di tản được, huống hồ là một thương binh của địch. Nhưng thật sự, lúc bấy giờ, phương tiện tản tương là một vấn đề nan giải! Dù chúng tôi phải chua xót để một thương binh địch lại căn cứ! Tôi còn nhớ rõ, hình ảnh các chiến sĩ Dù khiêng hắn ta đặt ngay giữa hầm bệnh xá, bên trên có PSP và vài lớp bao cát — Đó là cái hầm duy nhất còn mái che, với hy vọng, một hy vọng mong manh, nó sẽ có thể sống sót sau khi chúng tôi rút khỏi căn cứ, nhờ đồng đội chúng bò lên mang đi cứu chữa!…

Giờ đây, Căn cứ Hỏa Lực 30 bị hủy diệt hoàn toàn! Chắc chắn sẽ không còn một tí gì sót lại để Cộng quân xử dụng, và không biết số phận của thằng bé “Pathet Lào” ấy sẽ ra sao?…

Để tỏ lòng biết ơn chàng xạ thủ đại liên, tôi biếu anh ta tấm giấy bạc 1 đồng và 1 huy hiệu Sĩ quan Cộng quân, do tôi thu được trên bãi trực thăng ở Căn cứ Hỏa Lực 30 sáng ngày 27 tháng 2. Anh ta tỏ vẻ mừng lắm, gỡ vội nón đang đội trên đầu đặt xuống cạnh ghế, trườn người lại hỏi chuyện tôi…

(Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: VỀ KHE SANH SAU 23 NGÀY TỬ THỦ CĂN CỨ HỎA LỰC 30

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 1-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 19)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Đã có lịnh triệt thoái bằng đường bộ.  Đơn vị được máy bay và pháo binh từ xa yểm trợ hỏa lực để rút quân. Tình trạng vô cùng khó khăn khi phải dìu theo một số thương binh. Nhưng không thể khác hơn, đơn vị sẵn sàng thi hành theo lịnh…

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972 

Trương Duy Hy

TRIỆT THOÁI RA KHỎI CĂN CỨ HỎA LỰC 30

Mười bảy giờ, chúng tôi chính thức rời khỏi Căn cứ Hỏa Lực 30.

Thiếu Tá Lê Văn Mạnh và Đại Úy Trần Công Hạnh bảo tôi:

– Anh cho tất cả thương binh cùng số binh sĩ có trách nhiệm khiêng cáng đi giữa và đi trước Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn. Số anh em còn lại đi sau BCH. Tôi biết các anh không quen chiến đấu với AR15, anh hãy cho lệnh binh sĩ của anh, khi nghe súng nổ thì nằm tại chỗ để bọn tôi đánh, chứ đừng chạy lộn xộn nguy hiểm. Chúng tôi sẽ bảo vệ cho các anh…

Lời nói của quý vị ấy, thật sự đã làm cho tôi cảm động vô cùng. Tôi thầm nghĩ, kết quả cảm tình này hẳn là được tạo bởi thiện chí của Pháo Đội tôi, công tác chặt chẽ với Tiểu Đoàn 2 Dù trong suốt một tháng qua – từ các cuộc yểm trợ chính xác liên tục bằng đại bác cho đến những lúc đâu lưng đấu cật chiến đấu tử thủ Căn cứ Hỏa Lực 30, đã được BCH/TĐ2 Dù ghi nhận với thiện cảm chân thật.

Tôi thi hành đúng theo kế hoạch của Thiếu Tá Mạnh chỉ thị. Tuy nhiên, vì quá gầy yếu, một chân bị Rhumatisme đang hành, tôi cố gắng theo cho kịp đã bở hơi tai, còn sức đâu tới lui để kiểm soát nhân viên! Lân, thì tay đeo trước ngực, tay chống gậy, khập khà khập khểnh hướng dẫn toán bị thương… Các pháo thủ khỏe nhất luân phiên 5, 10 phút thay nhau khiêng B2 Xề. Cáng khiêng làm bằng cây rừng còn tươi. Cái ponchot được cột chéo hai đầu lên cáng để khoảng giữa cho Xề nằm. Trông thật đau lòng đến ứa nước mắt!

Vượt qua khỏi phòng tuyến, đoàn quân triệt thoái thẳng hướng 4200 ly giác. Mùi hôi thúi từ các tử thi Cộng quân xông lên nồng nặc… Suốt dọc lộ trình 1000 thước, xác Cộng quân đầy dẫy. Có xác nằm co quắp, có xác cháy đen, có xác bị kiến rừng bu quanh khắp vết thương đã sình thối. Ruồi bọ tha hồ rửa thịt! Tôi định bụng sẽ không nhìn đến tử thi, nhưng có nhiều tử thi nằm ngay trên lộ trình di chuyển, bắt buộc tôi phải nhìn để tránh!… Hai tử thi đặc biệt mà tôi gặp, có lẽ không bao giờ tôi quên được: Theo triền đồi, hắn quỳ hai gối và chắp hai tay, cánh tay ngoài xuôi theo triền đồi, trán gục xuống trên hai bàn tay xòe ra tự bao giờ… đầu đạn M79 tống vào hậu môn, dừng lại ở bên trong không nổ, để lộ phần sau nom rõ mồn một. Một xác khác nằm ngữa, tay chân duỗi thẳng, thân thể bị cháy đen như than, nhưng riêng trán bên phải, một mảng thịt lớn bị tróc, để lộ xương trắng hếu!

Thật sự chúng tôi không còn biết sợ là gì nữa! Chỉ trông rời khỏi căn cứ để tránh một mục tiêu quá lộ liễu, mà chúng tôi đã phải trân người trong 7 ngày tròn chịu pháo kích khủng khiếp, tấn công từng giây từng phút… hồi hộp không biết bao giờ “Chúa” gọi!

Thỉnh thoảng đám ruồi nhặng bám trên tử thi bay tung lên – khi chúng tôi đi qua – tử khí được dịp bốc lên phả vào mũi mọi người, cơ hồ làm nghẹt cả khí quản! Phần mệt không đủ mũi thở, phần không còn đường nào khác để tránh… vì xác địch chồng chất quanh khắp căn cứ, chỗ nào cũng có, và lúc toán đi đầu mở đường đã tạo ra một đường mòn nào thì người kế tiếp cứ nhìn đấy mà bước theo. Bởi vậy, chẳng còn ai buồn đưa tay lên che mũi!

Di chuyển được 30 phút, trước mặt chúng tôi bụi đất mịt mù tung lên, sau những ánh chớp, lửa lóe sáng cả một vùng… tiếng nổ ầm ầm kéo dài như tiếng sấm rền vang… cứ thế nối tiếp từ đằng xa tiến dần… tiến dần… và ngừng lại, khi cách chúng tôi khoảng 700, 800 thước!… B-52 dội bom… …

Đại Úy Hạnh quay ra sau nhìn tôi bảo:

– May quá! Bọn mình đi sớm vài tiếng đồng hồ chắc tiêu hết!

– Chứ Đại Úy không liên lạc với Bộ Tư Lệnh sao? — Tôi hỏi.

– Có chứ! Nhưng bất ngờ làm sao biết được!

Tôi rùng mình. Giai thoại “Đồi Ma”, “Suối Máu” ở Hạ Lào thoáng nhanh qua trí tôi!

“Đồi Ma”, nơi B-52 tiêu diệt gọn một Trung Đoàn Cộng quân trong lúc đang di chuyển.

“Suối Máu” nơi không ngừng loang vết máu vì các cuộc phục kích!… Biết đâu – Tôi nghĩ dại – Cái rủi ro lại chẳng đến với chúng tôi?

Trong lúc đó, nhìn lại vị trí trên đỉnh 727 thước, đạn pháo kích của địch vẫn rót đều vào căn cứ! Có lẽ chúng không nhìn thấy chúng tôi triệt thoái vì bức màn khói và vì lo nấp hầm để tránh kế hoạch “Du Lu!” do tác xạ hổ tương của các đơn vị Pháo Binh bạn.

…Đường đi càng lúc càng dốc, dần dần tôi theo không kịp BCH/TĐ Dù nữa. Chân tôi đau và sưng tấy ở đầu gối – nơi Rhumatisme xuất hiện từ 2 hôm nay. Tôi ngồi xuống nghỉ tạm, nuốt 2 viên Anacine cho đỡ nhức! Cùng ngồi với tôi, có một binh sĩ Dù bị thương ở chân, anh ta người miền Trung, khoảng 18, 19 tuổi. Anh hỏi tôi:

– Đại Úy bị thương hay sao mà đi khập khễnh thế?

– Không, tôi bị thương xoàng không ăn nhằm gì, nhưng bị sưng khớp xương đau lắm… – Thế Đại Úy cầm cây gậy của tôi để đi cho kịp…

Vừa nói, anh vừa trao cây gậy cho tôi. Tôi ngạc nhiên quá, vì chính anh cũng đi khập khễnh không hơn gì tôi và chính anh bị thương ở chân, y tá băng gồ lên chứng tỏ vết thương không phải là nhẹ. Tôi bảo anh:

– Không được, phải để anh chống mà đi. Anh bị thương với cái băng to như thế, tôi chắc không nhẹ đâu, anh cần phải dưỡng cái chân để đi xa nữa chứ.

Tôi trao gậy lại cho anh, nhưng nhất định anh không chịu nhận.

– Đại Úy cứ dùng để đi cho kịp BCH/TĐ.

Rồi anh tâm sự:

– Tôi bị thương từ bốn hôm nay, không tải thương được! Lúc sáng có lệnh triệt thoái, tôi theo Đại Đội bên tiền đồn trở về, những tưởng sẽ nghỉ đỡ một đêm, không ngờ lại đi ngay… mệt quá!

– Anh ở tiền đồn mới về à? Chết chữa! Thế anh cần phải chống gậy mà đi chứ!

Cuối cùng anh vẫn đay đảy từ chối! Tôi cảm động, thầm nghĩ có lẽ tôi tiều tụy lắm mà chính tôi không biết, đã khơi nơi lòng anh niềm trắc ẩn chân thật đối với tôi… Thế rồi anh và tôi tiếp tục lên đường.

Nhờ cây gậy “phép” tôi lết được nhanh hơn đôi tí. Nhiều lúc tôi phải ngồi xuống, chỏi hai tay sau lưng, trượt lên lau lách… với tất cả cố gắng… nhưng vẫn không làm sao bắt kịp BCH/TĐ.

Trên đường di chuyển chiều nay, một lần nữa tôi khâm phục cách tổ chức chiến đấu của Tiểu Đoàn 2 Dù… Dẫu cho tình thế khó khăn đến mấy, tất cả các Đại Đội đều giữ đúng đội hình quả trám, bảo vệ trọn vẹn BCH/TĐ ở giữa — và, thi hành lệnh của Thiếu Tá Mạnh thật nghiêm chỉnh.

Nhân dịp này, tôi được biết Thiếu Tá cũng giàu tình cảm lắm. Chính Thiếu Tá Mạnh đã không cầm được nước mắt khi ra lệnh mai táng một chiến sĩ Dù tại tiền đồn, vì không có phương tiện triệt thoái, trước khi Thiếu Tá trở về BCH/TĐ cách đây mấy hôm… Niềm kính phục Thiếu Tá lan tỏa trong lòng mọi người, nhất là cử chỉ ưu ái với lời nói nhỏ nhẹ của Thiếu Tá Mạnh trong bất cứ một tiếp xúc nào với sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ, cũng như sự cư xử với đơn vị bạn… cụ thể là với chúng tôi…

Lân tuy lớn con và mạnh hơn tôi nhiều, nhưng giờ đây mang thương tích ở tay, ở chân, nên không còn phong độ như trước. Càng đi, càng tụt dần về sau với tôi… để cuối cùng Lân lại dìu tôi, tôi dìu Lân đi sau rốt!

…Ánh trăng lưỡi liềm lơ lửng trên nền trời trong lờ mờ soi sáng khắp đó đây. Hơi mát của sương đêm và không khí núi tỏa ra vẫn không chận được những giọt mồ hôi đang thấm ướt bộ quân phục. Bi-đông tôi đã ráo cạn, không còn một giọt nước! Cổ tôi rát bỏng, nước bọt cô đọng lại, tôi khát, khát lắm!

Mãi đến 21g00, chúng tôi đến gần suối. Tiếng róc rách của nước len mình qua các tảng đá, tạo nên một âm thanh khả ái quá! Trí tôi tưởng tượng mạnh hơn bao giờ hết – một cuộc giải khát ngon hơn cả ngồi ở phòng trà có máy lạnh!… Tôi thèm đến nỗi ước gì có “đôi hia 7 dặm” mà tôi được đọc trong các chuyện thần thoại… để bước nhanh đến suối!…

Khổ nỗi, trước khi xuống suối, chúng tôi phải qua một cái bực thật thẳng, khó khăn. Tôi loay hoay xoay trở vài phút, rồi nhờ người trước đở, kẻ sau níu, tôi mới xuống được…

Vội vàng, tôi quên cả việc cám ơn anh em, nhào vội ra giữa giòng suối, khoát lên trên mặt nước vài cái rồi hụp đầu xuống tu một hơi dài không thở!… Tiếp đấy, tôi vốc nước tạt vào đầu, vào cổ để mặt nước chảy thành dòng xuống ngực, xuống lưng hòa với mồ hôi! Làm cho áo tôi vốn dĩ đã ướt vì mồ hôi, bây giờ lại ướt thêm vì nước suối!

Hơi mát bốc lên từ mặt nước hòa với cái lạnh của nước phả vào người, tôi cảm thấy sảng khoái lạ thường… Cơn mệt dần dần tan đi. Xong, tôi tháo bi-đông đeo bên thắt lưng, múc đầy nước cài thật kỹ đặt vào chỗ cũ.

Nhìn lại, cái cáng khiêng B2 Xề còn nằm trên bục đất… anh em đang tìm cách chuyển xuống suối! Tôi đi ngược lại bảo hai pháo thủ phụ trách:

– Anh em cố gắng đưa Binh nhì Xề qua suối. Có lẽ đi một đoạn nữa là dừng. Bây giờ đã 9g00 tối rồi, chắc phải đóng tạm trên đồi đối diện với chúng mình đây…

Hạ sĩ Dũng và B2 Bân vừa vuốt mồ hôi chảy dòng trên mặt vừa trả lời:

– Khổ quá Đại Úy ơi! Bọn em mệt ngất người! Anh Xề ảnh nặng quá trời! Bọn em ráng lắm rồi… không biết có khiêng nổi nữa không! Khi nãy trợt lên trợt xuống, nhiều lúc lật cả bàn chân thiếu điều muốn gãy… mà phải ráng giữ cho khỏi rơi cái cáng, chỏi rời cả tay…

– Tôi hiểu rõ nỗi vất vả của anh em lắm. Các anh em thương nhau như thế này, không bao giờ tôi quên đâu. Tôi hứa lúc về, tôi sẽ đề nghị tưởng thưởng xứng đáng để đền bù lúc nguy hiểm và vất vả này của anh em.

…Bên kia bờ suối… B2 Quốc với vết thương trên tay, đang dìu B2 Phương lên dốc!

Đi một mạch hơn 4 tiếng đồng hồ, chúng tôi mới xuống chân đồi giới hạn bởi con suối này!

Sau khi dặn dò các pháo thủ khiêng cáng, tôi tiếp tục nối đuôi đồng đội tiến lên ngọn đồi trước mặt, đồng thời, Pháo Đội B và A Lưới vẫn tiếp tục tác xạ hai bên trục tiến quân không quá 500 đến 700 thước. Đại Úy Hạnh đích thân vào máy xin các tác xạ này. Tiếng đại bác hú rợn người qua đầu, nổ ầm ầm rền cả núi.

Tuy trong người cảm thấy khỏe nhờ con suối nhưng cái chân lại nhức nhối không tả được. Tôi lết theo anh em trong đau đớn cùng cực… Đường càng lúc càng khó đi vì dốc quá đứng và dễ bị lạc. Chúng tôi bắt đầu gặp đường mòn của Cộng quân.

Khi BCH/TĐ dừng quân và phân phối vị trí bố phòng cho các Đại Đội đâu vào đấy, tôi mới lò dò đến!

Thiếu Tá Mạnh chỉ cho tôi một khoảnh đất kế cận và bảo:

– Anh thu xếp cho Pháo Đội anh nghỉ chỗ này, ráng mà đào hầm kẻo tối nó đột kích, pháo kích không có chỗ nấp.

Tôi nhận lệnh, gọi tất cả anh em lại một chỗ, nhưng nửa giờ sau mới tập trung được. Tuy vậy, vẫn thiếu 3 người: B2 Xề và hai pháo thủ khiêng anh ta.

TSI Lục tiến đến tôi, báo rằng: Anh em còn đi sau một số… Nhưng 15 phút qua vẫn không thấy! Bỗng HS Dũng từ dưới đồi vượt lên báo cáo cho tôi:

– Thưa Đại Úy, hai đứa em đi lạc qua cánh trái bị cái dốc thẳng đứng không thể nào lên được. Nhìn đằng trước, đằng sau, không còn một ai nữa. Bọn em đặt cáng xuống đường, bảo anh Xề nằm yên để bọn em lên trình chỗ đóng quân, trình Đại Úy tăng cường cho vài người xuống khiêng thế!

Tôi ra lệnh cho TSI Lục ngay:

– Anh cho 10 người đi gấp kẻo khuya. Tôi sẽ can thiệp cho Thiếu Tá chừa đường cho anh em đi về… Phải mang theo súng cá nhân, nón sắt, áo giáp…

Tuy ra lệnh cho TSI Lục như vậy nhưng tôi cũng đi theo một đoạn đường đến tận vòng đai ngoài cùng, nhờ một binh sĩ Dù hướng dẫn, vì anh ta bảo anh ta nhớ đường. Tôi trao cho anh 1000 đồng, nhưng anh không cầm, lại còn nhăn tôi:

– Đại Úy đừng làm thế. Giúp được gì cho Đại Úy và các anh em Pháo Binh là chúng tôi giúp ngay chứ tiền bạc gì!

– Thành thật cám ơn anh, nhưng tôi nghĩ, ít ra anh cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn của cả Pháo Đội – mà, tôi là đại diện. Nếu không thì đây là phần thưởng riêng của tôi đối với anh vậy.

Cuối cùng, nhất định anh không nhận.

Thế rồi, TSI Lục dẫn 10 binh sĩ “xuống núi” do anh ta hướng đạo.

Trở về chỗ Lân ngồi, tôi đợi tin!

Nhờ BI Huy, B2 Một phát bằng một khoảng đất vừa đủ cho tôi và Lân ngã lưng. Không mền… không chiếu… không tất cả!.. Đến một cái sac nhỏ đeo vai đựng bao gạo sấy và hộp thịt ba lát cũng đã rơi mất tự bao giờ! Tôi chỉ còn vỏn vẹn bộ quân phục mặc trong người với cái nón sắt, áo giáp và khẩu colt đeo bên hông!

Nằm bên Lân, xuyên qua cành cây kẻ lá, những vì sao lấp lánh trên trời cao đập vào mắt tôi… Tôi bắt đầu nghĩ mông lung đủ chuyện… Tôi bảo Lân:

– Lân ơi! Anh nghĩ thế nào về phản ứng bảo vệ Căn cứ Hỏa Lực 30 của bọn mình với anh em Dù?

– Mình thắng lợi lớn thật, nhưng chúng pháo kích không chịu nổi!…

– Tôi cũng nghĩ như anh. Cứ nhìn số xác Việt cộng chết cả một vùng rộng lớn khi chiều, tôi chắc các mặt Bắc, Đông và Tây của căn cứ hẳn cũng nhiều như thế… vì lúc tấn công bọn mình, chúng hô xung phong cả bốn mặt, nhất là đêm 26 rạng 27… thì, chẳng lẽ bọn chúng chỉ chết ở một mặt này thôi à!

– Thì đấy, Đại Úy không để ý sao? Sau mỗi trận đánh, anh em TĐ2 Dù đếm xác và thu chiến lợi phẩm toàn là bên trong và ngay trên hàng rào phòng thủ… Tôi thấy các báo cáo của TĐ2 Dù gởi về Bộ Tư Lệnh ở Khe Sanh chắc là không được chính xác, bỏ sót quá nhiều… tối thiểu mỗi trận chúng chết cũng vài ba trăm là ít. Phần thả bom, rocket, phần các Pháo Đội yểm trợ hổ tương, mình trực xạ, phần thì lựu đạn M79 của Dù, cả chục lần làm tắt tiếng xung phong của chúng… mình đồng da sắt chịu cũng không nổi nữa là!…

– Tiếc vì không thể kiểm kê hết xác và thu cho hết chiến lợi phẩm! Nhưng nghĩ cho cùng, khó làm gì hơn được. Chung quanh triền đồi bọn chúng đã đào nhiều hầm ếch như thế, dại gì anh em đi thu chiến lợi phẩm ở bên ngoài để bị bắn sẻ. Tôi thấy Dù tác chiến hay lại cẩn thận. Lúc đáng hy sinh thì không tiếc mạng sống, nhưng không phải lúc đổ xương máu anh em lại dò dẫm từng bước. Quả thật anh em họ đã có một kinh nghiệm chiến đấu đáng kể. Tôi nghĩ, nếu về được hậu cứ, chắc gì mình thuật lại mà có người tin sự tổn thất của chúng lớn lao như chính bọn mình đã thấy!

– Có thể lắm! Chỉ những người trực tiếp chiến đấu tại đây như bọn mình có thấy tận mắt mới tin đó là sự thật.

– Được phối hợp tác chiến với Tiểu Đoàn 2 Dù kỳ này, thật là may mắn cho bọn mình đủ thứ… lại học hỏi được nhiều kinh nghiệm…

…TSI Lục trở về, vẻ mặt hơ hải, báo cáo tiếng được tiếng mất:

– Thưa Đại Úy… bọn tôi xuống… tới nơi… chỉ còn chiếc cáng…với mấy sợi dây cột ponchot… và một gùi băng… tôi phân tán anh em… tìm chung quanh nhưng không thấy… gọi cũng không nghe lên tiếng!… Không biết anh Xề bỏ đi đâu mà lạ thế?… Khó hiểu quá… hai mắt của ảnh bị băng kín, dầu có gỡ băng cũng chưa chắc thấy đường… vì vết thương ở hai mắt khá nặng…

Tôi điếng cả người! Hồi tưởng trước đây một tiếng đồng hồ, tôi đứng cạnh cáng ở bên kia bờ suối!

Tôi gay gắt hỏi HS Dũng:

– Khi nãy mày để Xề nằm đợi, mày đã bảo gì với nó?

– Thưa Đại Úy, em dặn kỹ hai ba lần bảo anh cứ nằm yên tại chỗ để em lên nơi đóng quân, trình với Đại Úy xin người xuống tiếp tay… Em thề với Đại Úy em có dặn kỹ.

Tôi long cả mắt, quát ầm lên và không cầm được nước mắt, khi nghĩ đến nỗi cực khổ không tả xiết của anh em, vì Xề mà khiêng hơn 4 tiếng đồng hồ, cùng những đau đớn hành hạ từ những vết thương trên thân thể Xề.

Thiếu Tá Mạnh nghe tôi to tiếng với nhân viên, gọi tôi lại bảo:

– Anh giải quyết nho nhỏ, chỗ này không yên đâu, bây giờ khuya rồi, anh nên nghỉ đi. Sớm mai cho anh em xuống tìm lại một lần nữa xem sao… Khoảng 7 giờ hơn tôi mới cho lệnh di chuyển…

Tôi cám ơn Thiếu Tá, trở lại chỗ Lân nằm, tôi bảo Lân:

– Sức khỏe tôi quá kém! Phải chi tôi không bị Rhumatisme hành ở chân thì đâu đến như thế này… Trời! Khổ tôi quá! … Bây giờ không biết B2 Xề nó bỏ đi đâu?!…

TSI Lục lại bên tôi trình bày cặn kẽ:

– Thưa Đại Úy, chính tôi kiếm cây cột cáng khi chiều. Tôi cột cái ponchot bằng dây thép niềng thùng đạn 105 ly. Tôi dùng kềm quấn chặt.

Vì biết Xề nó nặng lắm, có thể tuột ponchot! Lạ quá, bây giờ ponchot cũng không còn, mà tay đâu thằng Xề nó mở được dây thép. Chân nó cũng bị thương nặng cơ mà… Tôi nghi Việt cộng đi sau mình bắt nó quá!…

Lân tiếp:

– Tôi nghĩ đây là trường hợp bất khả kháng, Đại Úy phải bình tĩnh hơn để giải quyết. Anh em ai cũng biết Đại Úy lo sốt cả ruột. Còn trách mấy anh em khiêng cáng cũng tội nghiệp. Đường dốc như bức thành, nhiều chỗ cao hơn đầu… Các Đại Đội Dù quen di chuyển bằng bộ, tôi tưởng anh em theo kịp thế này là đáng khen rồi. Còn 12 thương binh của mình nữa, Đại Úy còn biết bao nhiêu việc phải lo! Bây giờ đã khuya, làm ăn gì được nữa! Đại Úy cứ tạm nghỉ, để sáng mai bảo anh em đi tìm lại rồi hẳn hay…

Lân khuyên tối rất phải – chỉ có chúng tôi – những người trong cuộc mới rõ nỗi thống khổ hôm nay. Nhưng lòng tôi thật rối như tơ vò, chẳng yên tí nào.

Tôi thao thức, trằn trọc trên đá sỏi… Hơi lạnh len vào từng thớ thịt, từng khớp xương, làm cho chân tôi nhức không chịu nổi. Tôi có cảm tưởng như ai đóng đinh 10 phân vào đầu gối, và cái búa gõ liên tục vào đầu đinh! Xương bàn tọa ở 2 bên ghè lên đá sỏi đau ê cả người.

Thân tôi chỉ còn da bọc xương. Tôi lần trong túi quần lấy khăn tay xếp nhiều lớp, kê vào chỗ tiếp giáp giữa xương và đá sỏi… cố dỗ giấc ngủ, nhưng vẫn không ngủ được.

Lân nằm cạnh tôi, vì mất máu bởi các vết thương lạnh run cầm cập không hơn gì tôi. Hai đứa lại nằm sát vào nhau, ôm nhau gối đầu trên áo giáp thao thức trắng đêm! (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: TRIỆT THOÁI RA KHỎI CĂN CỨ HỎA LỰC 30 (tiếp theo)

 (*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 1-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Ký thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Google photo

12. Rung cây Dừa

Một khối đen đùn lên ở chân trời phía Đông Nam. Thầy giáo lấy tay che mắt, vì nắng sớm chói lòa, để theo dõi cây khói, cứ mọc lần lên cao ấy. 
Khói mọc lên, tức là một chiếc tàu sắp đến gần bờ, mà khi tàu ở Đông Nam đến, thì là tàu tuần rồi. Những chiếc tàu ở Pháp qua, đều ở Tây Nam lại. 
Gần một tháng nay, không có chiếc tàu nào chạy qua lối đây cả. Nên chi thầy giáo nghe vui rộn lên, như là thấy dáng bạn đằng xa. 
Bạn? 
Ừ, bạn, bạn thực đó, mặc dầu thầy giáo biết rõ ở trong nội địa, người ta xem tàu ấy và người trên tàu là thù. 
Thầy giáo đã hờn một người, rồi hờn luôn cả loài người. Thầy trốn ra đây đã hăm hai năm. Không đứng bộ đinh của làng nào trên nước Việt Nam nữa, thì nước Việt Nam đó đánh nhau với ai, thầy không mảy may sốt ruột, và không xem “ai đó” là kẻ thù. 
Đây là hòn Củ Tron, nói đúng ra là một đảo trong quần đảo Củ Tron. Hòn nầy, thật ra, gồm đâu lối hai mươi hòn đảo nhỏ. 
Vịnh Thái Lan, phần thuộc hải phận Việt Nam, chi chít những đảo là đảo, như có đứa trẻ tinh nghịch nào hốt đá cuội mà vứt rải trên một cái ao con. Đảo ấy xúm xít lại với nhau từng chùm, thành nhiều bầy đảo riêng mà người dân trong nội địa, để đơn giản hóa, xem mỗi bầy như là một hòn duy nhứt và chỉ đặt một tên thôi. 
Tại sao lại có sự đào ngũ nước nhà và loài người nầy? Có gì đâu? Thật trẻ con và buồn cười hết sức, thầy giáo đã thất vọng vì tình mà lại. Rõ là: 
“Một người làm đĩ, xấu danh đờn bà!”. 
Lời tục không sai. 
Một người đờn bà đã phụ thầy, chỉ có một người thôi, thế mà thầy oán tất cả giống đờn bà, rồi oán lây cả loài người. 
Thầy kêu đời là giả dối, người là xấu xa và đâm ra ngâm toàn thơ yếm thế và mê cảnh làm bạn với hươu nai trong những bài thơ đó. 
Ban đầu, thầy định vào núi tu, nhưng trên Bảy Núi thì đang lắm ông đạo lăng nhăng, ông đạo Nằm, ông đạo Lết, ông đạo Huế, ông đạo Hù. Vả lại, thỉnh thoảng có những bà mộ các ông đạo ấy lên hành hương, thì cuộc đụng chạm với “những con ác quỷ” làm sao dứt được. 
Những hòn đảo xa, xanh tím nơi chân trời ngoài kia, có những sự tích huyền ảo đối với người trên bờ, họ truyền miệng nhau mớ chuyện thần tiên ấy từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. 
Nên chi, bầy đảo chốn hải giác thiên nhai, vốn đã quyến rũ thầy từ thuở bé, bấy giờ, khi lòng thầy nát ngướu vì sự phản bội của một người đờn bà, nó lại kêu lên cái tiếng gọi xa xăm và quyến rũ của nó. 
Ra tới quần đảo Củ Tron, thầy mới nhận ra là sống một mình không được, hay được mà khổ biết bao nhiêu. Vì thế, thay vì ở biệt tích trên một hòn hẻo lánh, thầy tá túc nơi một cù lao đông tám gia đình. 
Thầy ta bỏ tên cũ, và dân đảo chờ mãi không nghe thầy xưng tên, mới kêu thầy là thầy giáo, và chức thầy giáo biến thành tên thầy từ đó. 
Về vật chất, con người ở đây lùi về đời sống cổ sơ, tự làm lấy mọi việc, ít khi trao đổi hàng hóa với nội địa. Nhưng thứ nhứt là về mặt tinh thần. Cùng một nhịp với cuộc sống, họ cũng bỏ rơi lần lần những phiền toái xã giao về tình cảm, về ý nghĩa của một xã hội văn minh. Đời người, nhờ thế, mà ít bị ràng buộc biết bao. 
Cây khói mọc lên cao, rồi ngã đầu dưới gió sớm, rồi ống khói tàu nhô lên. Trông từ xa, ống khói và làn khói giống như một cây đuốc, mà người cầm còn núp ở đâu dưới hố sâu. 
Lần lần cả chiếc tuần dương hạm dình dàng bò lên trên góc biển hình tròn; đó là tế nhận tinh vi dưới hai con mắt biết khoa học của thầy giáo. 
Nối đuôi tuần dương hạm là năm chiếc tuần hải ngạn nhỏ, trông như một con heo mẹ ột ệt dắt một bầy heo con. 
Còi tàu hú vang rền, xịt khói dày đặc, rồi dừng lại ngoài khơi. 
Không trông thấy rõ gì, mà thầy giáo vẫn biết họ đương hạ thủy những chiếc xuồng máy. 
Cảnh nầy, độ ba tuần, lại diễn lại một lần. Lần đầu, cách đó mười năm. Thâm ý của Hải Quân Pháp là dòm ngó xem trên các đảo hẻo lánh ấy có Việt Minh hay không. Nhưng dân ở các đảo, và cả thầy giáo nữa, lại ngỡ là họ ghé xin nước, xin trái cây. 
Không chiếc xuồng máy nào vào bờ mà không mang theo bơ, sữa, súc-cù-là, kẹo, bánh. Người dân ở đảo ngỡ đó là quà trao đổi, nên biếu lại nước suối ngọt, chuối, dừa. Thủy quân Pháp vui lòng nhận quà đó, để gây thân thiện. Rồi khi dòm ngó thấy dân chúng chất phác làm ăn, họ trở ra khơi. Nhưng thỉnh thoảng họ vẫn trở lại. Thật là một sự xem chừng kiên nhẫn. 
Nhờ thế, thầy giáo biết rằng, dân ta đã đứng lên kháng Pháp. Lòng trần chưa gội sạch, nên khi nghe tin nầy, thầy nôn nao mấy hôm. Nhưng mà dứt là dứt! Ôi, đau như hôm vĩnh biệt đất liền, quyết tâm quên người yêu và thỉnh thoảng day lại nhìn ngọn cau ngả nghiêng dưới gió. Niềm đau vận nước hôm đó cũng ray rứt như là cuộc phân vân ngày đi. Thật là “linh đinh nửa nước, nửa dầu”. Nhưng thôi, dứt là dứt hẳn! 
Khi xuồng máy cày mặt biển, lủi gần tới bờ, thầy giáo vội vàng rời chỗ nhắm, trở về xóm để báo tin cho người ta đủ ngày giờ đốn chuối, hái dừa. 
Dưới xuồng chỉ có một Tiểu Đội thôi, nhưng tới tám người lính và viên Đội Trưởng lên bờ, mà họ lên tay không. Ngày thường thì họ võ trang tới chơn tóc, kẽ răng, và ở lại dưới xuồng đông hơn để ngừa nguy biến. 
Thầy giáo làm thông ngôn. Bọn thủy thủ cũng chào hỏi vui vẻ như mọi lần, nhưng sắc mặt hơi buồn. Viên Đội Trưởng nói: 
– Tôi đến đây lần cuối cùng, để từ biệt các anh. 
– Anh đổi đi nơi khác à? 
– Không. 
– Vậy thì làm sao? 
– Hiệp Định Giơ-neo, các anh biết chớ? 
– Có, có nghe anh nói. 
– Sau Hiệp Định đó, chúng tôi ngỡ còn được ở miền Nam. Nhưng chính phủ anh yêu cầu chúng tôi rút lui toàn diện. 
– Vậy hả? 
– Bây giờ thì các anh độc lập rồi đó, không còn nói ra, nói vào gì được nữa. Anh có về đất liền không, anh Giáo? Về mà hưởng độc lập. 
– Không! 
– Thế ra, cái chuyện ngày xưa ấy, cái chuyện xui anh trốn ra đây ấy, là chuyện lòng thật sự, quả như anh đã nói. Từ thuở giờ, chúng tôi ngỡ anh nói dối và vẫn xem chừng anh đấy. 
Bọn lính thủy cười rần rần; một anh đưa cánh tay ra, trên da có xâm quả tim bị mũi tên xuyên ngang, máu chảy có giọt, mà rằng: 
– Đây, tình đau khổ! “Ẻn” đã đập nát quả tim tôi, vậy mà tôi có thèm đi đâu. Hay nói cho đúng ra, tôi có đi, tôi đi cùng khắp bầu trời, để tìm nhiều “ẻn” khác, và tìm được dễ dàng. 
Nhưng thầy giáo vẫn điềm nhiên: 
– Thôi, vĩnh biệt! 
– Vĩnh biệt! 
– Vĩnh biệt! 
Bọn thủy thủ bắt tay từng người, rồi mang quà trở xuống bờ biển. 
Cả đảo đưa họ, rồi về nhà, trừ thầy giáo. Thầy đứng nhìn xuồng cập tàu, nhìn cột sắt đen vẽ nét đứng, nét ngang trên nền trời xanh lơ, và nhứt là lắng nghe tiếng còi thét lên trong không gian, gợi nhớ những chuyến đi, những cảnh non nước xa lạ, mà thầy mơ thuở còn bé, và bây giờ, mặc dầu đã ra đây rồi, vẫn còn mơ cái kỳ ảo của viễn phương. 

Dứt là dứt! Tuy thế, cuộc hội kiến hôm nay vẫn làm huyên náo lòng thầy giáo như cái tin khởi nghĩa mười năm xưa.
Vận nước thịnh, suy, hưng, vong triều đại, đó là những điều mà ta khó lòng dửng dưng được, và không thể đặt điều ấy ngang hàng với một câu chuyện tình. 
Nhưng thôi, dứt là dứt! 
Khi mấy con tàu chỉ còn bằng mấy cái vú cau mà trẻ con thả chơi trên bể cạn, thầy giáo quay lưng đi vào xóm, nhưng không ghé đó, lại đi thẳng ra bãi biển nghịch điểm. 
Thầy đẩy xuống nước một chiếc thuyền độc mộc nằm phơi nắng trên bãi cát, rồi thót lên ngồi trên đó. 
Giữa những cù lao trong quần đảo Củ Tron, là những vuông biển nhỏ im lặng như mặt hồ. Bơi xuồng trên bao nhiêu là hồ ấy, đi từ đảo nầy qua đảo kia, là cái thú vui vô song nhắc nhở cảnh người xưa chu du năm hồ, bốn biển, cảnh Từ Thức chèo thuyền chợt gặp Đào Nguyên. 
Nhứt là những hòn đảo nầy là những hòn non bộ thiên nhiên, mà trong đất liền, nghe nói, ai cũng thèm nhểu nước miếng. 
Đảo đá vôi lồi lõm những gộp đá hình thù kỳ dị, những hang non hiểm hóc, và những động là là mặt nước, trông như cửa động đào; gộp đá vôi thì mỗi gộp mỗi màu, trên ấy mọc lên những cây lùn, mà hình dáng lại cằn cỗi như cổ thụ, và tất cả soi bóng, in hình một cách trung thành, đầu lộn ngược, trên mặt biển đang nhạt màu trời và phẳng như gương. 
Hạ nhẹ mái giầm, thầy giáo nhìn một sườn non và nhớ lại cái mộng của mình, là xây ở lưng chừng sườn non ấy một ngôi chùa, mái cong, lợp bằng ngói sứ nhiều màu. Ngôi chùa ấy, vài năm sẽ xanh rêu, và ngồi ở dưới xuồng trông lên, y hệt như ngắm non bộ, để rồi mơ đến hình ảnh nước Tàu ngày xưa, nước Tàu cổ kính trong tranh: một ngôi chùa cổ cheo leo trên sườn núi, trong rừng sâu, chiếc cầu đá bắt ngang sơn khê, bên cầu, hai tu sĩ, tóc, râu dài chảy trắng xuống như thác nước đổ, đang ngồi đánh ván cờ muôn thuở. 
Thầy giáo bơi xuồng độc mộc từ hòn nầy qua hòn khác, cho đến lúc hoàng hôn nhuộm tím chân trời và mặt nước. 
Mấy lúc nầy, thầy hơi mệt
– đã năm mươi rồi, còn gì nữa!
– nên chỉ làm lấy lệ, cho có mà sống lây lất qua ngày, và cho dư thời giờ đi dạo thả cửa như vầy. 
Năm mươi! Trời ơi, đã hăm hai năm rồi, thành tiên trong động vắng thì chưa thành, mà lòng trần vẫn còn xao động, mỗi khi một ngọn gió xa thổi đưa sóng đời tới. 
Còn sống mấy năm nữa đây, rồi sẽ giã từ hẳn mọi thứ, kể cả đời sống cổ sơ bình dị nầy? Chắc cũng chẳng bao lâu, vì thầy giáo nghe trong người yếu lần. Năm mươi là khúc đường quanh, bước qua là nghe khác nẻo đi vừa bỏ, hễ dang nắng, dầm mưa là nghe muốn ể mình. 
Lại còn!… Thầy giáo nghĩ tới đây, thì buồn đến muốn nhảy xuống biển cho rồi. 
Ở đây, người dân sống tập thể trong nhiều điểm: thí dụ cất nhà, đốn gỗ để mổ xuồng, cuốc đất, trồng khoai, vân vân…
Mấy lúc nay, thầy nghe yếu trong người, nên tự buông tha mình khỏi những khổ dịch vần công. 
Người trong đảo, ban đầu, nhìn thầy bằng những cái nhìn trách móc, rồi sau đó, khinh thầy ra mặt. Thì ra, cũng còn vướng loài người với những ràng buộc phiền phức. 
Đêm ấy, thầy giáo nhức đầu như có hai khúc gỗ kẹp hai bên màng tang, rồi ai đó chơi nghịch, siết chặt hai khúc gỗ lại. Ác mộng liên miên tới sáng, rồi lên cơn sốt. Rõ ràng là cảm thử. 
Ở đây, người ta sống như người Thượng Cổ, hay như người sơn cước ngày nay. Ai có sức khỏe thì lướt khỏi bịnh tật. Lướt được là đi hết đường đời tới khi đầu bạc. Ai không dẻo dai là chết quay ra. 
Nhưng trường hợp của thầy giáo chưa xảy ra bao giờ: không lăn đùng ra mà chết, cũng chẳng khỏi cơn sốt liên miên. 
Người ta đến thăm thầy giáo trong ba ngày đầu, rồi thôi. Một mụ hàng xóm, thương tình, nấu khoai, phần chia của thầy, cho thầy ăn đỡ dạ trong năm ngày. Nhưng khoai của thầy hết sạch. Người ta nuôi thầy bằng khoai hàng xóm, trong nửa con trăng. 
Thầy hết sốt nhưng vẫn nằm liệt. Một ông lão còn sõi, nhìn thầy rồi lắc đầu: 
– Không thế khỏi. Như là bại, xụi ấy mà! Nằm riết đến thúi xương là chết! 
Vậy, ra đây là một cái miệng vô ích. 
Không giận ghét thầy, người ta vẫn không lui tới nữa. Cái miệng vô ích, kể như chết rồi. Không giết đó là may, ai hơi đâu mà nuôi mãi. 
Sau hai ngày vắng khách. Thầy giáo bỗng hiểu và thầy bỗng rợn người lên khi nghĩ đến câu chuyện rung cây dừa, mà thầy được biết thuở bé, khi đọc địa dư. 
Ngoài khơi Thái Bình Dương có những hòn đảo thần tiên, mà dân trên đó, suốt ngày, ca hát, vui chơi. Khi một người chủ gia đình trở nên già yếu, họ bắt y leo lên ngọn dừa, rồi áp nhau mà lung lay gốc cây dừa ấy. 
Người leo cây, nếu bám chặt được, là sẽ sống thêm ít lúc. Bằng rủi tay rơi xuống, thì họ cho ngay hắn ta là một cái miệng vô ích, cần phải cô lập một nơi cho chết đói lần mòn. 
Rung cây dừa! Thế ra, là mình bị họ rung cây dừa đây! 
Sống cổ sơ bình dị! Thú biết bao, mộc mạc thong thả biết bao! Nhưng cũng giống thú vật biết bao. Con thú đầu đàn, khi vồ hụt mồi lần đầu là bị đàn coi là hết khả năng, bị thay thế ngay, rồi bị thịt ngay. 
Sống cổ sơ bình dị! Có làm mới có ăn, già nua là không còn hay ho gì nữa! Xã hội chỉ nuôi những cái miệng hữu ích thôi! 
A ha ! Đó là một xã hội thú vật, cóc cần tình cảm, cóc cần tình thương đối với lớp “người trái chanh”, lớp người bị vắt hết cả nước cốt trong thời niên thiếu để dâng lên đoàn thể, và bây giờ chỉ còn trơ lại cái vỏ khô như xác ve. 
Thầy giáo gượng dậy, lết cùng nhà và may sao, tìm được hũ khoai mà mụ láng giềng không thấy. Thầy ăn khoai sống mấy hôm. 
Muốn về đất liền lắm, lần nầy. Nhưng ở đây thì không dung miệng vô ích, còn ở trong ấy, thì lại dung quá nhiều miệng vô ích. Không phải miệng lớp già, mà là những miệng ký sinh nhân. Chán thay, chạy ô mồ mắc ô mả, bây giờ muốn chạy thầy cả, lại ngại mắc thầy con. 
Ở đâu hợp lý tưởng bây giờ để được dung thân buổi xế chiều của một cuộc đời, tuy lánh mặt, nhưng vẫn hữu ích? (Nếu không hữu ích thì cuộc đời ấy hẳn đã phải bị rung cây dừa ngay từ thuở mới ra đây). 
Ngày xưa, sao mà quyết định quá dễ, dứt tình với người yêu, với loài người như dứt sợi bòng bong đeo trên rào. Bây giờ nó trợn trạo như là xuống không lọt, mà lên lại chẳng thông. 
Quá nửa đời người rồi, và vào đoạn đường ấy, con người ngại trở bước lắm chăng? 
“Mà ngươi, ngày xưa đã từ bỏ tất cả, cả những cái lớn lao, lẽ gì ngày nay lại không dám đánh rơi một khu sống không dung tha tình cảm, một khu sống mà người ta siêng năng để mà sống, như đàn kiến. Chỉ có thế thôi. Và như đàn kiến, con nào ngã dọc đường, thì mặc thây nó, không ai hơi dâu mà ngừng lại nhỏ cho vài giọt nước mắt, để cho rối trật tự của đoàn đang đi”. 
– Mầy phải chọn, thầy giáo Lầu ơi! 
Thầy giáo khiển trách mình và bất giác gọi đến cái tên, mà hăm hai năm nay thầy bỏ hẳn. 
Thầy giật nẩy mình. Tên ấy vang lên như một giọng nói của một người thân yêu, dội trở lại với một hình bóng mờ xa của những người biết thương, thương nhiều quá, thương đến cả kẻ thù, đến cả những cái miệng hoàn toàn vô ích. 
Lần thứ ba, lòng giáo Lầu huyên náo. Nhưng lần nầy, thầy không thản nhiên được, sau trận dao động đầu tiên. 
Tiếng vang của mối tình đến, rồi tan trong gió. 
Tiếng vang vận nước thoảng qua, rồi tắt lần trong thờ ơ của người yếm thế. 
Nhưng tiếng vang của loài người, của xã hội văn minh lại kêu réo như tiếng còi tàu thỉnh du. Còi tàu vẳng đưa lên hình bóng nước non xa lạ, còn tiếng con người lại nghê nga chơn trời cũ, bóng bạn xưa, không thúc giục như còi tàu, nhưng lại thỏ thẻ, nỉ non, dai dẳng như lời mời nhẫn nại của một người nhiều hảo ý và thiết tha đón khách. 
Sáng hôm sau, một chú Lỗ Bình Sơn tân thời, đầu bù, tóc rối, bơi chiếc xuồng độc mộc trở vào bờ, bịn rịn cù lao rung dừa nhưng lại háo hức hơn, vì mơ mảnh đất liền, biết thương đến con bò già, không kéo cày được nữa.

Ký thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Google photo

11. Kẻ chiến bại

Gõ cửa đến ba, bốn hiệp, mà không thấy bóng ai, cũng không nghe ai lên tiếng, tôi gọi to: 
– Có ông chủ ở nhà không? 
– Ai đó? Mạnh hả, đi tuốt xuống đây. 
Tiếng anh Thành nghe xa lắm, ở mãi dưới bếp. 
Tôi bước vào buồng khách và ngần ngại đứng dòm ra sau. Thành, chắc hiểu ý tôi, nên bảo nữa: 
– Đi xuống đây mà. Nhà không ai hết. 
Tôi quen nhiều với anh Thành, mà không là bạn thân với anh ấy, nên tôi chưa xông pha nhà nầy lần nào cả, vì còn phải giữ lễ với chị Thành. 
Hôm nay, chắc chị Thành đưa con về quê nghỉ mát, nên nhà vắng và anh Thành, chắc đang đun nước ngoài sau. 
Nhưng đi đến nơi, tôi ngạc nhiên hết sức: anh Thành mặc bi-da-ma, coi có vẻ trai thế kỷ hai mươi lắm, nhưng anh ta lại đang đứng say sưa ngắm một cảnh non bộ, đặt ở giữa sân trong. 
– Cha, có gắn hòn non bộ trong nhà à? Sao không bao giờ nghe cha nói đến? 
Tôi hỏi, sau mấy phút chưng hửng nhìn bạn. 
– Các anh hiểu gì mà nói cho mệt. Không phải tôi gắn đâu nhé. Mới gắn gì mà rêu đã phủ xanh các gộp đá, mới gắn, nó đâu được vẻ cổ kính như vầy. Số là cái ông nào đó, trước ở đây, chừng như lâu lắm, đã tạo nên cảnh thiên nhiên nầy. Rồi ông đi hay chết mất, bộ giả sơn truyền qua không biết bao nhiêu người, bị bỏ bồ lăn, bồ lóc, bây giờ mới đến tay tôi. 
Tôi nhớ, thuở tôi còn nhỏ, ông tôi cũng chơi non bộ, nên tôi hơi biết thưởng thức món đó. 
Quả thật, hòn núi giả nầy rất đẹp. Nó đẹp vì đấp khéo. Những phiến đá, những khối xi-măng như là vứt bừa bãi lên đó, không tố giác được công trình của tay người. Y như là một khối đá tự nhiên bị nước đào mòn, khuyết đi một cách không lề lối. Nó lại đẹp vì vẻ cổ kính của nó, Năm tháng, gió sương, mưa nắng đã thổi sanh khí vào hòn non bộ ấy, tạo cho nó một sức sống mãnh liệt. Một lớp rêu xanh mịn, mướt lông nhung phủ kín mặt đất và từ mỗi hốc đá, mọc ra, từ bao lâu rồi không biết, đủ thứ cỏ rong. Nhìn hòn giả sơn, không khỏi nghĩ đến rừng núi thâm u, ngàn năm chưa thấy dấu chơn người. 
Tôi theo Thành vào nhà, cái nhà lá nho nhỏ, mà anh gọi là thảo lư. Cái tiếng thảo lư nầy, cùng với mớ tranh Tàu treo trên vách, khiến tôi thấy Thành có vẻ Tàu lắm, hay có ý muốn thành Tàu lắm, một thứ Tàu đâu hồi cổ sơ, Tàu của thời Xuân Thu, Tàu đầy thơ mộng và đông đúc những Tiên. 
Tự nhiên là Thành cho tôi uống trà Tàu. Thường thường, anh Thành uống trà hơi ấm thôi, uống cả ly lớn. Nay anh và tôi uống chén nhỏ, nước trà thật nóng. 
– Đó, anh hớp từng hớp, rồi đừng nói gì, cứ nhìn cảnh rồi suy tưởng. 
Lẽ cố nhiên là tôi không nói gì trước người con trai biết ham thích sống ồn, sống hoạt, bây giờ biến thành một ông Tàu ngậm ống điếu dài, hay một nhà Nho, móng tay dài cũng thế. 
Tay nâng ngang môi chung trà xưa, mà nét vẽ rất thanh đạm trên men ngà, Thành như chìm trong bồn cá Tàu giữa bàn. Cá nhiều màu lượn quanh những thủy thảo mọc lên trên một nền sạn trắng và đá biển, cũng hiểm hóc như hòn non bộ. 
Chịu không nổi sự im lặng mãi, tôi nói: 
– Anh còn thiếu một món nữa mới thành một ông Tàu hoàn toàn. 
– Món gì? 
– Chim. 
– Phải, thiếu chim. Nhưng tôi thấy chim lồng không đẹp, nên thôi không nuôi. 
– Nhưng còn những cái nầy, không ở trong lồng sao? Anh đem nước non, trời biển thu nhỏ lại trong một góc vườn, một bồn kiểng, còn đẹp gì nữa. 
– Ấy mà đẹp. Chính vì thu lại được, nó mới đẹp. Mà thu lại là cả một nghệ thuật đấy nhé! Con chim thì thấy nó ở trong lồng thật sự, có cái gì nhơn tạo trong đó, chán quá. 
Anh coi như cây tùng và cây chùm nụm ngoài sân kia, nếu tôi trồng dưới đất, nó sẽ lớn. Nhưng nó không đủ sức lớn để trở thành cây cổ thụ trong rừng sâu. 
Bây giờ tôi ép nó mọc trong chậu, thiếu chất ăn, nó thành cằn cỗi như cây già trên núi. Coi hay lắm. 
– Bệnh lao phổi có dính dáng gì đến sở thích kỳ dị của anh chăng? 
Anh Thành đau phổi đã ba năm rồi, và nhờ khéo chữa nên đã khỏi. 
Anh Thành ngả lưng lên ghế cười ha hả: 
– Anh lầm to, như bao nhiêu người khác. Tôi vẫn có sở thích nầy từ lâu rồi, tôi vẫn chơi cá Tàu, non bộ, cây cảnh. Tôi chơi từ cái lúc tôi còn đi đánh ten-nít, đi bơi lội kia. Không, cái thú nầy không phải cái thú riêng của ông Tàu ủ rũ, hay ông già lụ khụ. Nó vẫn đi đôi được với sự sống ồn, trẻ và hoạt. 
Rồi đột ngột, anh hỏi: 
– Dynamique dịch ra Việt ngữ là gì? 
– Tôi dịch không nổi tiếng đó, anh cứ tạm nói là cường sinh đi. 
– Không ổn. Nhưng tạm dùng vậy. Anh có biết dân tộc nào cường sinh hơn dân tộc Nhựt Bổn không? Thế mà họ là những tay chơi cây cảnh, non bộ sành nhứt đó. 
Phải, bịnh tật làm cho con người ủy mị, nhưng trò chơi nầy không ủy mị chút nào như nhiều người cứ tưởng và cứ cho đó là món giải trí phong kiến và lạc hậu. 
Ở đời có nhiều việc, mới xem, ngỡ là trái ngược với nhau. Nhưng thật ra, nó đi đôi với nhau rất xứng. Ai bảo thủ bằng dân Anh. Nhưng có phải là dân Anh làm cách mạng trước nhứt chăng? Ai tin ma cho bằng dân Anh. Nhưng có phải là dân Anh làm việc có phương pháp và suy luận khoa học nhứt chăng?

Trời nóng bức quá. Tôi đòi nước đá. 
– Không, anh chỉ được uống trà nóng, trong thảo lư của bác Tàu cổ. Ta phải mín đàm cho nó đúng điệu. Cả một nghệ thuật đấy. Như tôi, tôi xem tranh ảnh về Huế, thì thế nào cũng không khỏi ngâm bài Nam bường 
Nước non nghìn dặm ra đi… 
Mượn màu son phấn đền nợ Ô, Ly… và bắt thèm bánh lá chả tôm. Ấy, phải có một sự hòa hợp như vậy. Cây sì-cú nầy,
– vừa nói, anh Thành vừa chỉ chậu sì-cú trên bàn, gần bồn cá -, riêng nó, không đẹp đẽ gì, mà thiếu thì không được đâu. Cá Tàu phải đi với sì-cú.
Tối hôm đó, trời lặng gió. Trong khi cá táp móng nghe bong bóc trong bồn, Thành thắp hai cây đèn cầy, gắn trên hai viên gạch rồi đem đèn để phía ngoài kia, một cây sau hòn non bộ, một cây khác, sau chậu tùng. 
Thành, như là ở đời xưa hiện về. Anh ngồi trên ghế bố, nhìn bóng dáng cái núi giả và cây tùng nổi bật lên trước ánh đèn. 
Tôi cà rỡn: 
– Quả thật là: yêu ngày chưa phỉ, lại yêu đêm. 
– Đó, mới lòi chỗ dốt của anh nữa. Người ta chỉ nhìn cây kiểng và hòn non bộ như vậy thôi. Ban ngày, con mắt bị xao lãng vì những cái thấy khác. Vả, ban ngày cảnh thiệt xung quanh ta lớn quá, khiến ta cứ nhớ, ta nhìn núi giả. Giờ đây, ta sẵn lòng quên và được quên sự thật, chỉ thấy hình dáng của núi cao đứng sững trước mặt trời sắp lặn. 
– Thi sĩ quá. 
– Anh cứ mà chế nhạo, tôi không cần dư luận của ai hết.
Giống lắm. 
– Giống cái gì? 
– Giống núi thật. 
– Anh có đi chơi núi rồi à? 
– Cũng có chớ. Mà việc trèo núi, ở đây, không dính dáng tới chỗ giống hay không. Giống là giống hòn núi thật, trông đàng xa. Còn chi tiết trên núi, tôi chưa nói đến. Cả trăm hòn non bộ trong nước Việt Nam, chưa dễ tìm ra được một hòn như vầy! Anh coi, các mỏm đá không đều, không cân xứng như ở mấy hòn khác, không có vẻ nhân tạo chút nào. Hoàn toàn giống thiên nhiên. Nếu chụp ảnh một mình nó, thì tôi đố ai khỏi lầm. Còn cái cây tùng và cây chùm nụm nầy, nó giống hệt cây cổ thọ. 
Tôi nhớ ông chú tôi hồi đó hay chê dốt những người đem cây chùm nụm uốn thành hình con phụng, con công. Theo ông, cây chùm nụm phải có dáng tự nhiên như cây mọc trong rừng. Theo ông, các vườn Tàu, vườn Nhựt với những đường đi cong quẹo, với những xó ngạc nhiên, với những cầu tre bắc ngang suối giả, đẹp hơn vườn Âu Châu nhiều. 
Bây giờ, ta lại nói đến chi tiết bộ giả sơn. Nếu không phải là một tay chơi sành lắm, thì không thể nào đắp nổi một hòn non như vầy, các hang đá hiểm hóc, ăn sâu vào núi, trông bí mật lạ. Nó trổ ra mặt hồ. Nếu có một chiếc xuồng nhỏ do một người bơi tẻ vào hang, thì ta không khỏi nghĩ đến người Đào Nguyên lạc lối. Cái khe nước chảy dưới cầu, để đổ ra hồ, có vẻ sống lắm. Tuy nó cạn, mà tôi, dường như, nghe nó thầm reo và tưởng nó đang len lỏi, dò lần về mẹ nó là cái hồ lớn kia, chú tiều phu vai trĩu củi và túp lều tranh đứng co ro đằng xa kia, thật là khéo lựa. Nó nhỏ vừa với sức lớn của núi rừng. Có người dốt, mua ông Tiên lớn quá, hoặc cái nhà quá to, trông nó luốt đi thành ra của họ, hòn non kêu lớn lên luôn luôn: “Ta đây giả, ta đây giả”. Hai ông tiên ngồi đánh cờ trên thạch bàn, gợi những ngày không bợn lo âu. Tôi tưởng như Bạch Hạc đồng tử bay gần đâu đó. Ngôi chùa rêu phủ đứng cheo leo trên sườn núi đẹp vô cùng, không khác gì tranh thủy mặc Tàu. Tôi rất yêu hình ảnh của nước Tàu cổ, nước Tàu với những tửu quán, trà đình với những nhà ngói sứ, mái cong cong, với những văn nhơn bắt gặp thơ đề trên vách một ngôi chùa xưa rêu phủ trong rừng tùng, nét chưa ráo mực, mà nàng tiểu thơ đề vịnh đã lâu rồi… 
Nói tới đó, Thành chỉ lên vách, tôi nhìn theo, thì nhận ra một bức tranh, không, một tấm lụa, trên đó có viết bằng chữ thảo, một bài thơ Tàu: 
Khứ niên kim nhựt thử môn trung 
….. 

Đào hoa y cựu tiếu đông phong. 
Nét chữ bay bướm, tung hoành, đẹp như một bức thủy mặc với những nét vẽ phác. 
Tôi nhìn Thành trừng trừng, kinh ngạc trước con người chưa đi thi Huế lần nào nầy, mà cứ nói đến những chân trời xa. 
– Hình như, anh ưa đi lắm thì phải? 
Tôi hỏi để chắc bụng về ý nghĩ của tôi đối với mâu thuẫn kỳ dị trong con người nầy. 
Thành không đáp ngay, chỉ đặt bàn tay lên vai tôi, rồi gởi gấm: 
– Các cụ ta xưa, nhứt là những nhà Nho lỡ vận, thích non bộ, vì họ cố ý gạt gẫm lòng họ trong cảnh nước non, trời biển bị thu hình, để nghe như đã tóm thâu trần giới được trong tay họ. 
Tôi bỗng chợt hiểu rằng, giấc mơ non xa, nước lạ của Thành, không phải do mộng đi bất toại mà có, mà chính là kết tinh của mặc cảm nhỏ nhoi của đời anh.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

4. Chương Bốn

– Đếm lại! Đồ chó lợn bẩn thỉu!

Các toán lao tác của Đại trại đứng dài từng hàng ngang mười người, tùy theo lao xá, trên sân điểm danh. Trời đã chập choạng vào đêm nên đám tù nhân trong các bộ y phục có sọc trông giống như một bầy ngựa rằn đông đảo đang mệt lả.

Công việc điểm danh đã kéo dài hơn một tiếng đồng hồ vẫn chưa xong. Đó là do cuộc oanh tạc. Các toán làm việc tại xưởng đồng đã phải chịu thiệt hại về nhân mạng. Một trái bom rơi vào đó làm cho một số tù chết và bị thương. Chẳng những thế, sau phút kinh hoàng đầu tiên, bọn lính SS bắt đầu nổ súng vào những người tù toan tìm chỗ ẩn núp. Chúng sợ tù tẩu thoát, do đó lại có thêm năm, sáu người ngã gục.

Sau trận mưa bom, tù nhân lôi xác của các bạn đồng lao ra khỏi các đống gạch vụn – có người chỉ còn lại một tay hoặc một chân. Vì vậy mà giờ điểm danh kéo dài hơn. Đối với bọn SS thì sinh mạng tù chẳng có nghĩa gì, chết hay sống cũng vẫn phải hiện diện đủ số. Công việc sổ sách không thể bị ngưng trệ bởi những xác người.

Các toán lao tác đã cẩn thận mang theo về trại những gì còn lại của những kẻ đã nát thây: có người mang một cánh tay, có người vác theo hai cái chân hoặc mấy cái đầu nát bét. Họ cũng làm tạm vài chiếc cáng để khiêng theo những người bạn cụt chân hay lủng ruột. Số tù nhân bị thương còn lại thì được đồng bạn dắt dìu hoặc kéo lê đi. Một vài tù nhân may mắn được băng bó sơ sài bằng bất cứ gì mà đồng bạn lượm được. Số người ra máu quá nhiều thì được cột chận động mạch bằng dây kể cả dây kẽm. Những kẻ bị thương ở bụng nằm trên cáng, hai tay phải ôm giữ đùm ruột đã lòi ra.

Đoàn tù đi lên núi vừa mệt ngất vừa đau đớn. Thêm hai người tắt thở dọc đường. Xác họ bị kéo lôi. Cảnh tượng này khiến cho sáng kiến của Đội trưởng Steibrenner trở thành cổ quái. Ngay tại cổng vào, ban nhạc của trại vẫn tấu một khúc quân hành như thường lệ trong khi đoàn tù mắt nhìn thẳng, chân bắt buộc phải nhấc cao, đi ngang qua viên sĩ quan Trại trưởng Weber và thuộc cấp của hắn. Ngay cả những tù nhân bị trọng thương nằm trên cáng cũng phải quay đầu sang phải với tư thế nhà binh mặc dầu đang chờ chết. Chỉ có những kẻ chết rồi mới khỏi chào. Ngay lúc đó, Steibrenner bỗng để ý một tù nhân bị kéo lê bởi hai đồng bạn, không chịu ngẩng đầu lên. Hắn không để ý tới hai chân kéo lết của người này nên nhảy bổ tới dùng súng lục đập vào mắt y. Đầu người chết bật ngửa ra bởi cú đánh và hàm dưới rơi xuống, chừng như cái miệng đỏ ngòm máu với cử động kỳ dị cuối cùng của xương sọ, đã ngoạm vào khẩu súng. Bọn SS cười rộ lên khiến Steibrenner tức tối. Hắn chợt nhận ra là uy tín của hắn trong việc dùng ắc-xít hydrochloric để giết người đã mất đi.

Từ xưởng đồng về tới trại đã mất nhiều thời gian nên việc điểm danh trễ hơn thường lệ. Theo quy lệ, người chết và bị thương phải đặt nằm thật đúng theo thứ tự của từng lao xá. Ngay cả đến những kẻ bị thương quá nặng cũng chưa được đưa đến bệnh xá ngay hay băng bó: điểm danh là điều quan trọng hơn tất cả.

Nhanh lên! Làm lại! Lần này mà không xong thì biết!

Trại trưởng Weber ngồi dạng chân trên một chiếc ghế cây đặt ở sân điểm danh. Hắn 35 tuổi, người tầm thước, rắn chắc. Mặt hắn bạnh ra, da ngâm với một cái thẹo chạy dài từ khóe miệng bên phải xuống quá cằm – kỷ niệm của một trận ẩu đả với đám đông thuộc phe Reich vào năm 1929. Tay lựa vào lưng ghế, Weber bực dọc nhìn đám tù nhân trong đó có cả lính SS, đại diện lao xá và trật tự viên chạy tới chạy lui vừa đánh đập vừa la hét.

Các đại diện lao xá đã ướt mồ hôi lại hô to: Một, hai, ba… Tiếng hô của họ vang lên buồn lặng.

Chuyện lộn xộn xảy ra là do những thây tù bị tan nát ở xưởng đồng. Đoàn tù đã cố hết sức gom góp đầu, tay, thân mình nhưng làm sao để tìm thấy những bộ phận đã mất mát hoặc tan nát hẳn. Họ cố gắng cách mấy rồi cũng thấy thiếu mất hai người.

Giữa cảnh tranh tối, tranh sáng, các toán tù lao tác đang cấu xé nhau để giành cho toán của mình những tứ chi rời rạc và nhất là phải cố tranh cho được những cái đầu. Mỗi lao xá đều cố làm cho phần mình đủ số người để tránh khỏi hình phạt tàn khốc vì không báo cáo đúng. Họ giành giựt lôi kéo các bộ phận thân thể loe loét máu cho tới khi có lệnh “Ngừng lại!” vẫn còn thiếu hai người. Có lẽ quả bom đã làm họ tan thành mảnh vụn hoặc, thi thể của họ bị tống bay lên trên mái xưởng đồng.

Tên SS phụ trách việc điểm danh báo cáo với Weber:

– Bây giờ chỉ còn thiếu có một người rưỡi. Bọn Nga có được ba cái chân cho một xác còn bọn Ba Lan thì một cánh tay cho nhiều xác.

Weber ngáp dài:

– Gọi từng tên để coi đứa nào vắng mặt.

Một luồng xao động khó nhìn thấy đang chạy dài qua các dãy tù đang đứng lắc lư. Gọi tên từng người có nghĩa là họ phải đứng thêm một hoặc hai giờ nữa – bởi vì người Nga và Ba Lan không hiểu Đức ngữ thường lầm lẫn về tên của họ.

Việc gọi tên bắt đầu. Tiếng xì xào nổi lên rồi tiếng đánh đập và chửi rủa. Bọn lính SS sẵn bực tức vì mất thời giờ giải trí bắt đầu sử dụng roi vọt. Trật tự viên và đại diện lao xá cũng quất túi bụi vào các bạn đồng lao vì không thể làm khác hơn. Đây kia, một vài người ngã sụm trên vũng máu đen ngòm đang từ từ lan rộng dưới những người bị thương. Những khuôn mặt xám trắng đã phảng phất bóng dáng của tử thần trong màn tối. Họ lờ đờ nhìn sang các đồng bạn đang đứng nghiêm, tay kẹp thẳng hai bên, và chẳng làm sao giúp được những kẻ đang đổ máu chí chết. Đối với một số trọng thương, khu rừng chen chúc những chân ngựa rằn dơ bẩn hôm đó là cảnh tượng cuối cùng mà họ được nhìn thấy trên cõi thế.

Mặt trăng có quầng nhô lên phía sau lò thiêu. Bầu trời vẫn đục. Trăng dường như sựng lại một lúc lâu phía trên ống khói, ánh sáng mờ ảo từ nơi đó như phát hiện những oan hồn chỗi dậy từ ngọn lửa lạnh tanh bốc ánh ra.

Trong dãy hàng mười của lao xá Mười Ba, tù nhân Goldstein đang đứng đó. Hắn là người đứng chót về cánh trái, bên cạnh hắn là những bạn đồng lao xá chết và bị thương. Một trong những kẻ bị thương là bạn thân của hắn tên Scheller, nằm sát bên chân hắn. Bằng khóe mắt, Goldstein nhìn thấy máu từ một chân gãy của bạn bỗng túa ra mau hơn lúc nãy. Sợi dây băng quá nhỏ đã sút ra và Scheller chắc chắn không thoát chết. Goldstein thúc cùi tay người bên cạnh là Muenzer rồi ngã quỵ xuống như ngất xỉu. Hắn đã nhắm trước nên lúc ngã, hắn đã nằm vắt qua Scheller.

Thật là một sự mạo hiểm. Tên SS lao xá trưởng bực bội đang rảo quanh như một con quân khuyển chực táp người. Một cú đá với chiếc giày ống nặng chịch của hắn vào thái dương là đủ kết liễu cuộc đời của Goldstein. Những người tù gần đó vẫn không nhúc nhích nhưng đều thừa hiểu việc gì đã xảy ra.

Rất may là lúc đó tên SS lao xá trưởng đang nói gì đó với người đại diện lao xá ở cuối hàng. Người đại diện cũng phát giác ra thủ đoạn của Goldstein nên dài dòng hơn để cố lưu tên lao xá trưởng lại thêm được lúc nào hay lúc ấy.

Goldstein mò tìm sợi dây. Ngay trước mắt hắn, máu luôn xối xả và hắn ngửi thấy mùi thịt sống. Scheller thều thào:

– Đừng, kệ nó.

Goldstein đã mò ra nút dây bị sút và siết lại. Máu vẫn tuôn ra. Scheller rên nhỏ:

– Rồi bọn chúng cũng chích cho một mũi là xong đời. Với cái chân gãy này…

Cái chân chỉ còn dính lủng lẳng với một vài dây gân và mảng da. Với cái té giả vờ lúc nãy, Goldstein đã làm cho bàn chân của bạn quặp lại như xương chân của Scheller có thêm một khớp thứ ba. Hai bàn tay của Goldstein đã ướt máu. Hắn siết mạnh gút dây nhưng một lần nữa sợi dây lại trợt ra. Scheller co giựt cả người:

– Buông ra đi.

Goldstein phải tháo mối dây ra. Những mảnh xương bể như chạm vào tay hắn. Hắn buồn nôn, cố dằn xuống rồi mò vào đống thịt bầy nhầy tìm ra sợi dây, kéo nó lên phía trên và… bỗng giật nẩy người. Muenzer vừa đá vào chân hắn. Tên SS lao xá trưởng vừa đi tới vừa càu nhàu:

– Lại thêm một con heo! Nó muốn gì đây?

Người đại diện lao xá nói mau:

– Thưa Đội trưởng, hắn ngất xỉu.

– Đứng lên, đồ tạp chủng biếng nhác!

Tên lao xá trưởng vừa quát vừa đá vào cạnh sườn Goldstein. Cú đá mạnh hơn dự định. Lập tức, người tù đại diện lao xá đá bồi theo. Có thế hắn mới ngăn được sự nổi cơn của tên Đội trưởng. Goldstein vẫn không nhúc nhích. Máu của Scheller loang dần tới mặt hắn.

Tên lao xá trưởng bỏ đi:

– Kệ nó, cho nó nằm luôn. Chó má, biết chừng nào mới xong?

Người đại diện lao xá đi theo. Goldstein chờ một lúc rồi quấn sợi dây quanh chân bạn, siết mối thật chặt. Máu ngưng chảy, chỉ còn ri rỉ.

Thân trọng, Goldstein bỏ tay ra. Sợi dây không sút nữa.

Cuộc điểm danh rồi cũng xong. Bọn SS kết luận là ba phần tư thi thể của một tù binh Nga và phần thân trên của người tù Sibolski tại lao xá 5 mất tích. Kể ra thì không đúng hẳn vì hai cánh tay của người này đã bị toán tù lao xá 17 giành lấy để ráp vào phần thi thể còn lại của Josef Binswanger đã thiếu mất gần như tất cả. Ngược lại, hai tù nhân của lao xá 5 đã đánh cắp nửa thân mình dưới của người tù Nga để ráp vào Sibolski vì họ nghĩ rằng khó mà phân biệt được những cặp chân. Rất may là ngoài những phần đó ra, đám tù còn lại một số tứ chi vừa đủ để bổ sung cho một tên tù rưỡi lúc đầu bị coi như mất tích. Như thế là không có một tù nhân nào tẩu thoát trong sự hỗn loạn của trận mưa bom. Tuy nhiên, các toán tù vẫn có thể bị bắt buộc phải đứng tại sân điểm danh cho tới sáng để chờ đợi kết quả tìm kiếm những phần thi thể còn sót tại xưởng đồng. Mới hai tuần trước đó, toàn trại đã phải đứng luôn hai ngày cho tới khi một tù nhân mất tích được tìm thấy tự tử ở chuồng heo.

Weber bình tĩnh ngồi trên ghế, cằm vẫn tựa vào hai bàn tay. Suốt buổi điểm danh hắn gần như không cử động. Sau khi được phúc trình, hắn từ từ đứng lên vươn vai:

– Tụi nó đứng khá lâu, chắc cần cử động. Cho tập bài địa lý đi!

Lập tức, nhiều khẩu lệnh vang lên:

– Đặt hai tay sau đầu! Gối cong lại! Nhảy nhái về phía trước… nhảy!

Đoàn tù làm theo lệnh. Họ chậm chạp nhảy tới trước với hai gối cong lại. Trong lúc đó, trăng đã lên cao và chiếu sáng hơn. Một khoảnh sân được soi rọi. Phần còn lại chìm trong bóng tối của các dãy nhà. Đường viền của lò thiêu người, của cổng trại và cả của giảo hình đài nổi bật trên mặt đất.

– Nhảy lui!

Đoàn tù nhảy lùi vào bóng tới. Họ loạng choạng ngã té. Bọn SS, các trật tự viên và đại diện lao xá đánh đập túi bụi cho tới khi họ đứng lên. Tiếng la hét dường như lẩn khuất trong tiếng lào xào của vô số bàn chân.

– Nhảy tới! Nhảy lui! Nhảy tới! Nhảy lui! Ngừng lại!

Bây giờ đến phần tập bài địa lý. Tù nhân phải buông mình ngã sấp tới trước, bò dài trên sân, nhảy lên cao, ngã sấp xuống và tiếp tục bò. Mặt sân trong phút chốc biến thành một khối khổng lồ lúc nhúc tựa như một đàn giòi có sọc. Tù nhân vừa bò vừa che chở cho các đồng bạn bị thương, nhưng sự vội vàng và sợ hãi khiến họ khó làm tròn bổn phận đối với những kẻ không may.

Sau mười lăm phút, Weber ra lệnh cho ngừng lại. Nhưng mười lăm phút đó cũng đã đủ làm kiệt sức đoàn tù đang đói và mệt lả. Đâu đâu cũng có người không ngốc đầu lên nổi nữa.

– Xếp hàng theo thứ tự từng lao xá!

Đoàn tù gượng gạo trở về hàng. Những người khỏe mạnh cố dựng dậy những đồng bạn ngất ngư cho họ đứng tựa vào. Những kẻ không dậy nổi được khiêng ra đặt gần số tù nhân bị thương, cả trại đứng yên. Weber bước tới:

– Bài học mà các người vừa thực tập rất có lợi. Bây giờ các người đã biết làm thế nào để lẩn tránh mỗi khi có một trận oanh tạc.

Vài tiếng cười nhạo báng khoái trá của bọn lính SS nổi lên. Weber liếc nhìn về phía đó rồi tiếp tục nói lớn:

– Hôm nay các người đã có một kinh nghiệm bằng xương thịt về hành động phi nhân của kẻ thù mà chúng tôi đang đối phó. Nước Đức lúc nào cũng chỉ mong muốn được hòa bình, đã bị tấn công một cách dã man. Bị thảm bại tơi bời khắp các mặt trận, chúng đã dùng tới những biện pháp tuyệt vọng cuối cùng. Chúng đã vi phạm quy ước quốc tế bằng cách ném bom bừa bãi và hèn nhát lên các thành phố thanh bình của nước Đức. Chúng tàn phá bệnh viện, hủy diệt giáo đường. Chúng sát hại đàn bà và trẻ con vô tội. Không còn gì để diễn tả cho đúng với những tên quái vật không phải là người đó. Chúng tôi sẽ không để cho chúng phải chờ đợi một cuộc trã đua. Bắt đầu từ ngày mai là các toán lao tác phải ra khỏi trại sớm hơn một giờ để dọn dẹp. Cho tới khi có lệnh mới, sẽ không còn ngày nghỉ chúa nhật nữa. Người Do Thái sẽ không được phát bánh luôn hai ngày. Có thế các người mới nhớ mà cảm ơn những vụ đồt phá của kẻ địch.

Weber ngưng nói. Cả trại vẫn đứng yên. Có tiếng máy xe đang tiến lần lên núi. Đó là chiếc Mercedes của Neubauer. Weber ra lệnh:

– Hát lên! Nước Đức mến yêu…

Đoàn tù sững sờ chưa biết phải làm sao. Trong những tháng qua, lệnh hợp xướng gần như không được nhắc nhở tới… vả lại trước đây, họ chỉ bị bắt phải hát những bài dân ca thôi. Theo thông lệ thì lệnh hợp xướng chỉ ban ra mỗi khi có biện pháp nhục hình.

Trong khi các tù nhân chịu khổ hình kêu thét thì các tù nhân khác phải hát lên những ca khúc trữ tình. Bản quốc ca của thời tiền Quốc Xã từ nhiều năm qua không thấy cho lệnh hát.

– Quân tạp chủng, hát lên!

Tại lao xá 13, Muenzer bắt đầu hát. Các tù nhân khác hát theo. Những kẻ không thuộc lời hoặc không biết tiếng Đức cũng phải mấp máy môi. Đó là vấn đề chính yếu.

– Sao vậy?

Muenzer hỏi nhỏ, đầu quay sang người đứng bên cạnh là Werner, và vẫn làm như đang hát.

– Cái gì?

Tiếng hợp ca lần lần nghe giống như một điệu khóc than lạc giọng. Ngay từ đầu, họ đã bắt giọng bổng nên bây giờ họ không thể hát nổi những âm thanh cao vút trong đoàn kết. Vả lại, đoàn tù còn đâu hơi sức nữa.

Tên Phó trại trưởng quát to:

– Hát cái gì mà như khóc? Hát lại ngay từ đầu. Lần này không xong thì cho đứng suốt đêm.

Đoàn tù hát lại với giọng trầm nên có vẻ khả hơn.

Werner bỗng nhận ra có một cái gì khác lạ, và hắn chợt có cảm tưởng là không phải chỉ một mình hắn nhận ra điều đó… dường như Muenzer cũng nhận thấy, dường như Goldstein nằm dưới đất cũng nhận thấy, mọi người đều nhận thấy, kể cả bọn lính SS. Bài ca bất thần mang một sắc thái khác hẳn với những lần trước họ đã hát. Tiếng hát to hơn gần như mỉa mai thách thức và lời ca chẳng dính dáng gì cùng giọng hát. Ước gì Weber không nhận thấy – Werner hy vọng thế – trong khi liếc trộm sang Weber. Nếu hắn nhận ra, trên sân sẽ có nhiều người chết hơn lúc nãy.

Mặt của Goldstein và Scheller kề sát bên nhau. Môi Scheller mấp máy. Goldstein không hiểu bạn muốn nói gì nhưng nhìn vào đôi mắt lờ đờ của bạn, hắn đoán là chuyện gì xảy ra. Hắn bảo:

– Đừng có ngu! Mình có thể tin cậy ở người bạn trật tự viên tại trại cứu thương. Hắn sẽ có cách. Anh đừng lo.

Scheller lại mấp máy môi. Goldstein gầm gừ:

– Anh sẽ được cứu chữa, đừng nói gì hết!

Trước mắt hắn là màu da xám nguệch của kẻ bị thương. Hắn hét to giữa lúc bản quốc ca đang tới câu chót:

– Chúng nó không chích chết đâu. Người bạn trật tự viên sẽ hối lộ cho bác sĩ.

– Nghiêm!

Bản quốc ca chấm dứt. Đại tá Chỉ huy trưởng Neubauer vừa đi tới. Weber báo cáo:

– Tôi vừa giáo huấn chúng xong và cho lệnh mỗi ngày làm thêm một giờ.

Neubauer không để ý. Hắn nhìn lên nền trời đen:

– Chẳng biết đêm nay bọn giặc ấy có tới nữa không?

Weber nhăn mặt:

– Theo tin đài phát thanh, chúng ta đã bắn hạ chín chục phần trăm.

Neubauer không cho thế là kỳ dị. Hắn nghĩ, lại thêm một kẻ chẳng có gì để mất mát. Một tên Dietz bé nhỏ, một gã làm thuê, thế thôi. Hắn càu nhàu:

– Cho chúng tan hàng đi.

– Giải tán!

Đoàn tù đi trong hàng ngũ trở về các lao xá. Họ mang theo những người chết và bị thương. Werner, Muenzer và Goldstein khiêng Scheller đi, hắn có vẻ như không qua khỏi đêm nay. Trong khi các bạn tập bài địa lý, Goldstein lại lãnh thêm một cú đá vào sóng mũi. Bây giờ máu bắt đầu chảy ra. Trong ánh sáng nhạt nhòa, màu máu biến thành xám tím.

Gió từ thành phố thổi lên càng lúc càng mạnh và đánh thốc vào đoàn tù khi họ đi quanh một góc đường. Trong gió có mùi khói của thành phố đang bốc cháy.

Nét mặt những người tù biến đổi. Werner lên tiếng:

– Có ngửi thấy không?

– Có.

Muenzer vừa đáp vừa ngẩng đầu lên. Goldstein chợt nhận ra vị ngọt của máu trên môi. Hắn nhổ xuống đất và cố mở rộng miệng để ngửi khói.

– Làm như chỗ này cũng đang bốc cháy.

– Ờ.

Bây giờ họ có thể trông thấy được. Khói loang dài từ thung lũng tới các đường phố giống như một làn sương mù trắng mỏng và trong chốc lát, mọi ngõ ngách của lao xá đều có sự hiện diện của làn sương mù đó. Tự nhiên Werner chẳng hiểu tại sao mình đang nhận thấy rằng hàng rào kẽm gai quanh trại không thể ngăn nổi sự xâm nhập của khói… dường như trại giam thình lình không còn là nơi cách biệt với thế giới bên ngoài.

Họ tiếp tục đi. Họ đi trong khói. Bước chân của họ vững chắc hơn và đôi vai của họ thẳng cứng hơn. Goldstein khom xuống gần sát mặt Scheller:

– Ngửi đi! Hãy cố ngửi!

Hắn nói với giọng vừa tha thiết vừa thất vọng. Nhưng Scheller đã lịm ngắt từ lâu.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 7 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

3. Chương 3

Chiếc Mercedes phóng nhanh xuống thung lũng. Chỉ huy trưởng Neubauer ngồi bên cạnh tài xế. Người hắn đẫy đà, mặt lúc nào cũng căng phồng như người uống bia. Đôi bao tay trắng bọc hai bàn tay to lớn của hắn ngời chiếu dưới nắng. Hắn nhận thấy thế nên lột ra. Hắn nghĩ tới Selma và Freya, tới ngôi nhà. Chẳng ai trả lời điện thoại cả. Hắn giục tài xế:

– Nhanh lên, Alfred! Nhanh lên!

Tới ngoại ô họ đã ngửi thấy mùi khói lửa. Khói càng lúc càng dầy và làm xốn mắt khi xe tiến vào xa hơn. Đến gần ngôi chợ Mới, họ trông thấy hố bom đầu tiên. Ngân hàng tiết kiệm đã sụp đổ và đang bốc cháy. Đội cứu hỏa đã tới nơi và đang cứu chữa những nhà gần đó. Nhưng các tia nước dường như quá nhỏ nhoi để trở nên hữu hiệu. Hố bom tại công trường bốc mùi hôi của lưu huỳnh và ắc-xít. Neubauer cảm thấy buồn nôn:

– Lái qua phố Harken, Alfred! Mình không thể vượt qua khu vực này.

Tài xế quặt tay lái, chiếc xe quanh một vòng rộng về khu vực phía Nam của thị trấn. Ở đây, những ngôi nhà có các khoảnh vườn nho nhỏ vẫn bình yên dưới ánh mặt trời. Gió đứng lại ở phía Bắc, trời trong lành. Đến lúc họ vượt qua con sông, mùi khét cháy trở lại mạnh hơn và tràn ngập mặt đường như sương mù mùa Thu.

Neubauer sờ vào bộ râu mép đã cắt cho giống Hitler – nhà lãnh tụ Đức Quốc Xã. Trước đó khá lâu, hắn để râu theo kiểu William Đệ Nhị. Hắn vẫn thấy đau nhói ở dạ dày. Selma! Freya! Ngôi nhà xinh xắn! Cả bựng lẫn ngực đều đau nhói như dạ dày.

Cuối cùng, xe rẽ vào đường Liebig. Neubauer nghiêng mình ra. Ngôi nhà vẫn còn! Khu vườn trước cửa! Trên sân cỏ vẫn còn bộ hình người bằng đất sét nặn và một con chó Đức bằng sứ đỏ. Nguyên vẹn! Tất cả cửa sổ cũng thế! Cơn đau ở dạ dày dịu bớt. Hắn lên lầu và mở cửa ra. May quá, hắn nghĩ, thật là may! Có thế chớ! Tại sao phải có một việc gì xảy tới cho hắn?

Hắn mắc nón lên và bước vào phòng trong:

– Selmal Freya! Ở đâu?

Không một ai trả lời. Neubauer bước sải tới cửa sổ và mở ra. Trong khu vườn sau nhà, hai tù nhân người Nga đang làm việc. Họ nhìn thoáng lên rồi cúi xuống tiếp tục đào xới. Hắn hét lớn:

– Ê, bọn Bôn-sơ-vích! Vợ con tao đâu?

Một tù nhân lải nhải bằng tiếng Nga…

– Dẹp thứ tiếng lợn đó đi, đồ ngu dốt! Mày không biết tiếng Đức hả? Hay để tao dạy cho?

Hai người Nga sững sờ. Bỗng có tiếng nói từ phía sau Neubauer:

– Bà đang ở dưới hầm rượu.

Hắn quay phắt lại. Thì ra là cô bé giúp việc nhà.

– Trong hầm rượu hả? Ồ, đúng vậy. Còn mày, nãy giờ đi đâu?

– Tôi ra ngoài một chút.

Cô gái đứng ở cửa, mặt đỏ bừng và mắt chiếu ngời như vừa dự một buổi hôn lễ về. Cô bé lắp bắp tiếp:

– Họ nói có tới cả trăm người chết. Ở nhà ga, ở xưởng đức đồng, và ở trong nhà thờ…

Neubauer cắt ngang:

– Im! Ai nói thế?

– Mấy người ngoài kia.

Neubauer bước tới:

– Ai! Nói thế là kình chống quốc gia! Ai nói?

Cô gái bước lui:

– Ở ngoài kia… Tôi không biết… có một người… nhiều người…

Neubauer giận dữ:

– Bọn phản nghịch! Đồ súc vật! Quân đê tiện! Lũ gây hoang mang. Còn mày, mày ra ngoài đó làm gì?

– Tôi… có làm gì đâu…

– Lãng công hả? Loan truyền tin thất thiệt để gây hoang mang! Được, rồi sẽ biết. Phải có biện pháp mạnh, hoàn toàn sắt thép! Thôi vào bếp đi!

Cô gái chạy vụt đi. Neubauer vừa thở nặng nhọc vừa đóng cửa sổ lại. Bây giờ hắn biết chẳng có gì xảy ra. Vợ con hắn đang ở hầm rượu. Đáng lý ra hắn phải nghĩ tới điều đó.

Hắn rút một điếu xì-gà, châm lửa rồi vuốt thẳng áo ngoài, ưỡn ngực lên, nhìn vào gương và đi trở xuống.

Vợ con hắn ngồi cạnh nhau trên một chiếc gối sát tường. Phía trên là bức chân dung nhiều màu của Fuhrer lồng trong một khung vàng to lớn.

Trước khi có chiến tranh hầm rượu được biến cải thành hầm trú ẩn. Sườn căn hầm toàn bằng thép, trần làm bằng xi-măng cốt sắt và tường thật dày. Vào thời kỳ đó, Neubauer chỉ có ý định xây cất để trình diễn thế thôi. Không ai chịu tin là nước Đức có thể bị dội hom. Lời tuyên bố của Thống chế Goering quả quyết rằng mọi người có thể gọi ông là Meier nếu phi cơ địch thành công trong việc oanh tạc trước sức mạnh của Luftwaffe (Không quân Đức), đã quá đầy đủ đối với bất cứ một người Đức nào có tánh khiêm nhường. Không may là sự việc đã xảy tới trái ngược.

Selma Neubauer đứng dậy và nức nở gọi:

– Bruno!

Selma là một phụ nữ tóc hung, người mập mạp. Lúc đó bà ta đang mặc một chiếc áo dài màu hồng may bằng hàng Pháp có viền ren. Năm 1941, Neubauer đã mua chiếc áo này trong một kỳ nghỉ phép tại Ba Lê. Thịt ở gò má run run, người đàn bà lắp bắp chẳng ra lời.

– Qua rồi, Selma. Bình tĩnh lại.

Selma vẫn không nói được nguyên câu:

– Rồi… chừng bao… bao lâu?

– Bọn chúng đi rồi. Cuộc tấn công bị đẩy lui. Họ không còn trở lại nữa.

Selma siết chặt áo quanh ngực:

– Ai nói thế Bruno? Làm sao anh biết?

– Chúng ta đã bắn hạ phân nửa. Chúng sẽ dè dặt không dám quay lại đâu.

– Làm sao anh biết?

– Biết chớ. Lần này chúng tấn công bất ngờ. Lần tới chúng ta đã phòng thủ chặt chẽ.

Người đàn bà thôi nhai chữ: – Đã đủ chưa? Anh định nói bao nhiêu đó là đủ rồi à?

Nguời vợ chăm chú nhìn vào mặt chồng. Mắt bà ta xanh lợt. Thình lình bà gào to:

– Không! Chưa đủ đâu. Đó là những lời vu vơ, chẳng có nghĩa gì cả. Những lối nói như thế chúng tôi đã nghe nhiều lắm rồi. Trước hết người ta bảo là chúng ta mạnh đến nỗi không có một phi cơ địch nào dám bén mảng tới nước Đức, rồi thình lình chúng tới. Rồi lại bảo là chúng không dám trở lại vì chúng ta đã bắn rơi tất cả ở biên giới, và hàng chục lần chúng vẫn cứ trở lại; và còi báo động không bao giờ ngưng nghỉ. Bây giờ chúng tấn công mình ngay tại đây, và anh lại bảo là chúng sẽ không tới nữa, rằng chúng ta sẽ hạ chúng. Có người nào tin được không?

– Selma!

Neubauer sửng sốt. Rồi, ngoài ý muốn, hắn ném một cái nhìn lên bức chân dung của Hitler. Hắn nhảy vội ra phía trước và đóng sầm cửa lại:

– Em điên ha? Bộ em muốn chúng ta gặp rắc rối sao? Có khùng không mà la hét như thế?

Hắn đứng thẳng trước mặt vợ. Qua bờ vai của người đàn bà mập mạp, đôi mắt cương nghị của nhà lãnh tụ Đức Quốc Xã vẫn tiếp tục nhìn thắng cảnh Berchtegaden. Neubauer có cảm tưởng như ông đã nghe thấy tất cả.

Selma không thấy ảnh Hitler. Bà ta vẫn gào thét:

– Khùng! Ai khùng chớ không phải tôi! Trước chiến tranh, cuộc sống của chúng ta quá đẹp… và bây giờ?… Tôi muốn biết ai là kẻ khùng.

Neubauer chụp lấy hai vai vợ và lay mạnh đến nỗi đầu người đàn bà gục tới gục lui làm bà ta thôi la hét. Tóc người đàn bà sút sổ, bà ta cố nuốt nước bọt và ho sặc sụa. Neubauer buông tay ra. Selma rơi xuống gối như một cái bị. Neubauer hỏi đứa con gái:

– Má mày làm sao vậy?

– Chẳng có gì đáng kể. Có lẽ má bị xúc động mạnh.

– Tại sao? Có gì xảy tới đâu.

– Không có gì xảy tới hả? Dĩ nhiên là chẳng có gì xảy tới cho ông trên kia. Nhưng còn mẹ con tôi ở dưới này…

– Im! Đồ ngu, không được la lớn! Tôi nai lưng làm mọi mười lăm năm để cho bà phá nát một đêm với cái kiểu gào thét đó hả? Bà có biết là bao nhiêu người đang chờ chực để vồ lấy chỗ của tôi không?

Freva chen vào nói với cha:

– Ba! Đây là lần oanh tạc đầu tiên. Từ trước tới giờ má với con chỉ quen với còi báo động không thôi. Má sẽ quen lần lần.

– Lần đầu tiên? Dĩ nhiên là lần đầu tiên! Ít ra cũng phải mừng là chẳng có gì xảy tới cho mình chớ sao lại la hét vô lý như thế.

– Má dễ bị kích thích, rồi sẽ quen.

Neubauer bực mình vì thái độ bình tĩnh của con gái:

– Dễ bị kích thích? Ai lại không dễ bị? Bộ mày tưởng tao không dễ bị kích thích sao? Có điều là phải biết tự kềm chế. Nếu không rồi thì sẽ biết chuyện gì xảy ra.

Selma cười:

– Cũng vậy thôi!

Bà ta nằm trên nệm, đôi chân to béo duỗi dài ra, hai chiếc dép lụa màu hồng vẫn còn dính ở bàn chân. Theo Selma thì màu hồng và chất lụa tiêu biểu cho sự sang trọng. Bà ta nói tiếp:

– Dễ bị kích thích! Rồi sẽ quen! Nói thì dễ lắm!

– Tôi à? Tại sao?

– Không có gì xảy ra cho ông.

– Cái gì?

– Không có gì xảy ra cho ông. Còn mẹ con tôi thì ở đây ngồi trên bẫy.

– Lại nói càn. Ở đây cũng như ở trên kia. Bà muốn nói gì khi bảo là chẳng có gì xảy ra cho tôi.

– Ở trên trại, ông được an toàn.

– Sao?

Neubauer ném điếu xì-gà xuống và đạp chân lên:

– Ở đó làm gì có hầm trú ẩn như ở đây.

Selma không biết đó là lời nói dối:

– Tại ông không cần. Tại ông ở xa thành phố.

– Bà làm như có sự khác biệt vậy. Chỗ nào bom rơi thì nó vẫn rơi.

– Họ không ném bom trại tập trung.

– Đúng à? Thật là một tin mới lạ. Làm sao bà biết? Bọn Mỹ rải truyền đơn bảo thế phải không? Hay cung cấp cho bà tin tức bằng một buổi phát thanh đặc biệt?

Neubauer nhìn cô con gái, chờ đợi sự tán đồng. Nhưng Freya đang bứt những tua viền của một mảnh hàng đặt trên mặt bàn gần chiếc nệm. Người mẹ trả lời thay con:

– Họ sẽ không ném bom xuống người của họ.

– Đừng nói bướng! Chúng ta có giam giữ một người Mỹ nào ở đó đâu. Cũng chẳng có người Anh. Chỉ toàn bọn đê tiện người Nga, Ba Lan, Balkan. Và kẻ thù của Tô quốc là lũ Do Thái, bọn phản nghịch và tội phạm.

Selma vẫn ngoan cố:

– Họ cũng không ném bom người Nga, Ba Lan và Do Thái.

Neubauer sửng sốt và giận dữ:

– Coi bộ bà biết khá nhiều đó. Nhưng nghe tôi nói đây. Bọn chúng không thể biết cái trại trên đó là trại gì, hiểu chưa? Tất cả những gì chúng nhận ra là các dãy nhà. Chúng có thể cho đó là trại quân. Chúng còn thấy những tòa nhà lớn là bản doanh của SS chúng ta. Chúng còn thấy người làm việc trong đó, cho là cơ xưởng, là mục tiêu. Trên đó còn nguy hiểm gấp trăm lần ở đây. Chính vì vậy mà tôi không muốn bà lên ở trên đó. Ở dưới này không có nhà trại cũng không có cơ xưởng, hiểu chưa?

– Chưa.

Neubauer nhìn sững vào vợ. Từ trước nay chưa bao giờ Selma trở chứng như thế cả. Hắn không hiểu chuyện gì đã khiến vợ hắn biến thành một con người khác. Nếu bảo chỉ vì quá sợ không thôi thì chưa đủ. Hắn chợt cảm thấy bị gia đình bỏ rơi ngay trong lúc đang ở bên nhau. Hắn nhìn con gái với vẻ bực tức:

– Còn mày, mày nghĩ sao? Sao không mở miệng ra?

Freya đứng lên. Cô gái đã hai mươi tuổi, mảnh khảnh, da mặt hơi vàng, trán nhô ra, không giống mẹ cũng chẳng giống cha.

– Con nghĩ là má sẽ trấn tĩnh lại trong giây lát.

– Cái gì?

– Chắc má đã qua cơn xúc động rồi.

Neubauer lặng thinh, cố ý chờ vợ nói một lời gì. Cuối cùng hắn bảo:

– Được rồi.

Freya hỏi:

– Má và con có thể lên lầu bây giờ chưa?

Neubauer ném một cái nhìn nghi ngại về phía vợ. Hắn chưa tin hẳn. Hắn cần phải biết chắc chắn là dầu trong trường hợp nào vợ hắn cũng không được nói như thế với bất cứ ai. Ngay cả với cô gái giúp việc nhà. Càng phải dè dặt hơn đối với con bé ấy. Freya mở ngõ:

– Lên trên lầu có vẻ tốt hơn, Ba. Có nhiều không khí.

Hắn vẫn do dự. Hắn thấy vợ cứ nằm đó như một bao bột. Tại sao nó không nói một lời gì có ý nghĩa?

– Tao phải ra Tòa Thị chánh vào 6 giờ. Dietz điện thoại bảo là cần thảo luận tình hình.

– Ba cứ yên tâm. Mọi việc đều êm đẹp. Sắp tới giờ dùng bữa rồi.

– Tốt.

Neubauer vững lòng. Ít ra con gái hắn cũng tỏ ra biết điều. Hắn có thể trông cậy được. Đó là thịt và máu của hắn. Hắn bước tới bên vợ:

– Thôi, Selma. Hãy quên những chuyện lúc nãy đi! Chẳng có gì quan trọng.

Hắn nhìn vào mặt vợ và cười với đôi mắt lạnh lùng:

– Nghe không? Hả?

Người vợ chẳng trả lời.

Hắn vuốt ve bờ vai tròn lẵn của vợ:

– Thôi, dậy đi để lo cơm tối chớ. Hãy làm một món ăn thật đặc biệt để mừng cơn xúc động đã qua.

Selma hờ hững gật đầu:

– Tốt lắm.

Neubauer nhận thấy là chuyện kể như đã xong. Con gái hắn có lý. Selma sẽ không gàn bướng nữa.

– Này, nhớ cho một món thật ngon và đặc biệt nghe không các cô. Selma cưng, anh làm việc chỉ vì em, nhờ đó em mới có ngôi nhà xinh xắn này, cả hầm trú ẩn an toàn nữa, thay vì phải lên trên kia sống gần bọn ác ôn, bẩn thỉu. Cũng nhớ là mỗi tuần anh ngủ nhà vài đêm. Chúng mình cùng ở một thuyền, cần phải hợp lực để giữ vững. Bây giờ lo nấu một cái gì thật ngon. Anh tin tài làm bếp của em. Ờ, uống một chai sâm banh Pháp chớ? Mình còn nhiều mà?

Người vợ đáp:

– Nói gì chớ sâm banh thì còn nhiều.

Đoàn trưởng Dietz thao thao bất tuyệt:

– Còn điều này nữa. Có người nói tới tai tôi là nhiều vị đã có ý định gởi gia đình về quê. Có đúng thế không?

Không ai trả lời.

– Tôi không thể chấp nhận điều đó. Chúng ta là sĩ quan SS, chúng ta phải làm gương. Nếu chúng ta đưa gia đình ra khỏi thành phố trước khi lệnh di tản chung được ban hành thì chắc chắn sẽ bị xuyên tạc. Bọn phao tin thất thiệt và những tên chuyên gây hoang mang dư luận sẽ chụp ngay cơ hội. Do đó, tôi không muốn chuyện như thế xảy ra mà tôi không được biết.

Thon mảnh và cao lớn trong bộ quân phục sang trọng, hắn nhìn thẳng vào các sĩ quan trực thuộc. Mỗi người đều có vẻ cương nghị và ngay thật. Hầu hết đều nghĩ tới việc di tản gia đình, nhưng chẳng một ai để lộ ra dầu là trong ánh mắt. Mọi người đều nghĩ như nhau: đối với Dietz thì nói là việc dễ. Hắn không có gia đình trong thành phố. Từ Saxony tới, hắn mang theo tham vọng được nhìn ngắm như một sĩ quan nước Phổ trong đội Ngự lâm quân. Thật là giản dị. Điều gì không ảnh hưởng tới cá nhân mình, người ta luôn luôn thực hiện được một cách can đảm.

Dietz tiếp:

– Thưa quý vị, tôi thiết tưởng nói như thế đã đủ rồi. Hãy nhớ thêm lần nữa: các loại võ khí tối tân nhất của chúng ta đang được sản xuất hàng loạt. Hỏa tiễn V. 1 không so sánh nổi dầu cũng rất hữu hiệu. Luân Đôn sẽ ra tro. Nước Anh nổ tung. Các tòa nhà chọc trời ở Nữu Ước sẽ trở thành gạch vụn. Chúng ta đang chiếm các hải cảng quan yếu của Pháp. Đoàn quân xâm lăng của địch đang gặp nhiều khó khăn về vấn đề tăng viện. Cuộc phản công của ta đang đẩy địch ra bể. Chúng ta đã huy động những lực lượng trừ bị hùng hậu. Về phần võ khí mới của chúng ta – tôi không được quyền nói rõ hơn – nhưng giới thẩm quyền cao cấp nhất cho biết: chiến thắng sẽ về ta trong ba tháng. Chúng ta có bổn phận kiên trì trong thời gian đó.

Hắn đưa cánh tay ra, hô lớn:

– Trở về đơn vị! Hitler muôn năm!

Toàn thể các sĩ quan hiện diện hô theo:

– Hitler muôn năm!

Neubauer rời Tòa Thị chánh. Hắn nhớ lại là Dietz chẳng nói gì về nước Nga. Cũng không nói về trận sông Rhin. Và chẳng một lời nào, đề cập đến Bức Tường phía Tây bị tan rã. Kiên trì… rất dễ đối với hắn. Hắn chẳng có gì cả. Hắn là người cuồng tín. Hắn không hề làm chủ một thương xá gần trụ sở Hỏa xa. Hắn không có phần hùn trong tờ báo Mellern. Hắn lại cũng chẳng có một mảnh đất nào để xây nhà. Mình có tất cả. Đặt giả thuyết tất cả những thứ ấy đều sụp đổ, tan nát… ai sẽ đền bồi cho mình?

Thình lình có bóng người trên đường phố. Công trường ngay trước Tòa Thị chánh đông nghẹt dân chúng. Trên tam cấp của Tòa Thị chánh đã đặt sẵn một máy vi âm. Dielz sắp nói trước công chúng. Neubauer lên chiếc Mercedes.

– Về phố Hermann Goering, Alfred!

Tòa thương xá của Neubauer nằm ở góc đường Hermann Goering và Fiedrich. Đó là một tòa nhà rộng lớn với một cửa hiệu thời trang ở từng dưới.

Hai từng trên gồm có các văn phòng, cửa hàng.

Neubauer bảo tài xế dừng xe rồi đi quanh tòa nhà. Hai cửa kính trưng bày hàng hóa bị nứt bể, ngoài ra chẳng có gì hư hại. Hắn nhìn lên các từng trên, khói từ nhà ga xe lửa đang phủ mờ trên ấy nhưng không có căn phòng nào bị cháy. Có thể một vài cửa kính bị nứt rạn… chẳng sao.

Hắn đứng nhìn một lúc và nhẩm tính: hai trăm ngàn đồng Mark. Nếu không hơn thì cũng thiệt hại vào khoảng đó. Hắn đã mua lại tòa nhà với giá năm ngàn. Năm 1933, sở hữu chủ là một người Do Thái tên Max Blank. Người Do Thái này ra giá một trăm ngàn và kêu là đã chịu lỗ nhiều rồi nên không thể bán rẻ hơn. Sau hai tuần bị nhốt trong trại, Max Blank đành bán lại với giá năm ngàn. Neubauer nghĩ, mình cũng đứng đắn đó chớ, bằng không mình vẫn có thể lấy không. Blank có thể sẽ tặng cho mình sau khi bị SS quần thảo cho một trận. Mình đã trả hắn năm ngàn đồng Mark. Cũng là đồng tiền đáng giá mặc dầu không phải trả một lần. Vào thời đó mình chưa dư dả gì nhưng mình đã trả ngay khi nhận được món tiền vay mượn. Blank cũng tỏ ra hài lòng. Một vụ buôn bán hợp lệ. Với sự đồng ý hoàn toàn của hắn. Có vi bằng của công chứng viên, vấn đề Max Blank ngã té vì tai nạn trong trại tập trung làm mất một mắt, gãy một tay chỉ là một ngẫu nhiên đáng tiếc. Neubauer không nhìn thấy tận mắt vụ đó, cũng không có mặt. Hắn không hề ra lệnh. Hắn chỉ xếp đặt để cho Blank được bảo vệ để cho các binh sĩ SS quá nhiệt thành không làm hại đến Blank. Chuyện gì xảy ra sau đó thuộc phần của Weber.

Hắn quay người lại. Tại sao đột nhiên hắn nhớ tới chuyện cũ ấy? Hắn làm sao thế? Tất cả những việc đó đã chìm sâu trong quên lãng. Người ta cần phải sống. Nếu hắn không mua tòa nhà ấy thì một người nào khác của Đảng cũng sẽ mua. Có lẽ còn rẻ hơn. Hoặc lấy không. Hắn tự thấy đã hành động hợp pháp. Đúng theo luật lệ. Chính lãnh tụ của hắn đã tuyên bố là các đảng viên trung thành cần phải được tưởng thưởng. Và hắn, Bruno Neubauer, chỉ được có chút ít chẳng ra gì nếu đem so sánh với những gì hiện có của các nhân vật cao cấp, như Goering, Springer chẳng hạn. Xuất thân là một phu khuân vác ở khách sạn bây giờ đã là triệu phú. Neubauer không trộm cắp bất cứ một cái gì. Hắn chỉ mua rẻ thế thôi. Hắn có biên nhận. Mọi sự đều được thị chứng.

Một khối lửa từ nhà ga bắn vọt lên. Tiếp theo là nhiều tiếng nổ. Có lẽ là các toa chở đạn dược. Phần trên tòa nhà phản chiếu màu lửa đỏ dường như bỗng nhiên túa mồ hôi máu. Neubauer nghĩ, thật là kỳ dị. Mình đang bị xúc động. Những luật sư bị kéo lôi ra khỏi tầng trên cao ấy vào lúc đó đã bị quên mất từ lâu. Hắn trở lại xe. Rất gần với nhà ga… một chỗ lý lưởng cho việc làm ăn nhưng tối ư nguy hiểm khi bị oanh tạc. Như thế sao lại không xúc động?

– Tới đường Gosse, Alfred.

Tòa soạn báo Mellern hoàn toàn vô sự. Neubauer đã biết tin này qua điện thoại. Họ cho phát hành thêm một ấn bản. Báo bán chạy như tôm tươi. Hắn nhìn những đống báo vơi lần. Cứ mỗi tờ báo bán được, hắn được một pfennig (1/9 của đồng xu Anh). Người bán báo lại tới lấy báo, chúng chạy vọt đi trên xe đạp. Thêm ấn bản tức là thêm lợi tức. Mỗi người bán báo mang đi ít nhất 200 tờ. Neubauer đếm được mười bảy người. Như vậy hắn có thêm ba mươi bốn đồng Mark. Dầu sao thì cũng có điều thuận tiện. Hắn sẽ dùng tiền này đế sửa lại các cửa kính bị bể. Vô lý… chúng đã được bảo hiểm. Họ phải xuất tiền chớ! Ba mưoi bốn đồng Mark vẫn là của hắn.

Hắn mua một tờ báo. Lời kêu gọi ngắn gọn của Dietz đã được đăng tải. Việc làm thật nhanh. Báo cũng đăng tin có hai phi cơ bị bắn rơi trên thành phố, phân nửa khác rơi ở Minden, Osnabruech và Hanover. Một bài nhận định của Goebbels về sự tàn bạo vô nhân của việc không tập các thành phố thanh bình của Đức. Ngoài ra, còn có một vài lời tuyên bố đầy hào khí của Hitler. Bài tường thuật cho biết lực lượng Thanh niên Hitler đang truy lùng các phi công đã nhảy dù ra. Neubauer ném tờ báo và bước vào cửa hiệu bán xì-gà trong góc.

– Ba điếu Deutsche Wacht!

Người bán đưa nguyên hộp ra. Neubauer chọn lựa hững hờ. Loại xì-gà này quá tệ. Chỉ toàn bằng lá giẻ gai. Ở nhà hắn còn một số ngon hơn, loại nhập cảng từ Ba Lê và Hòa Lan. Hắn hỏi mua xì-gà Deutsche Wacht chỉ vì cửa hiệu này là của hắn. Trước khi có cuộc Nổi Dậy, sở hữu chủ là Lesser và Sacht, người Do Thái. Sau đó một sĩ quan xung kích tên Freiberg chụp lấy cơ hội. Hắn làm chủ tới năm 1936. Một mỏ vàng. Neubauer cắn vào đuôi điếu thuốc. Hắn đã làm gì đối với việc Freiberg trong khi quá chén đã có vài lời xúc phạm tới Hitler? Hắn chỉ làm bổn phận của một đảng viên ngay thẳng là phúc trình lên thượng cấp. Ít lâu sau, Freiberg biến mất, Neubauer đã mua lại cửa hiệu trong tay người vợ góa. Hắn khuyên quả phụ này nên bán gấp. Hắn cũng cho bà ta biết là hắn được tin tất cả tài sản của Freiberg sắp bị tịch thâu. Tiền bạc dễ giấu hơn là một cửa tiệm. Người góa phự tỏ ý biết ơn và bán cửa hiệu. Dĩ nhiên là với giá bằng một phần tư. Neubauer nhấn mạnh là hắn chẳng giàu có gì và việc buôn bán cần nên thanh toán gấp. Người góa phụ chấp nhận. Vấn đề tịch thâu chẳng bao giờ xảy ra. Neubauer lại giải thích. Hắn bảo chính hắn đã can thiệp cho bà ta. Như vậy bà ta cứ giữ lấy tiền. Hắn tự thấy mình đứng đắn. Bổn phận là bổn phận… và cửa hiệu có thể bị tịch thâu. Vả lại, một quả phụ không đủ sức quán xuyến một cửa hàng. Bà ta có thể bị ép buộc để bản rẻ hơn.

Neubauer lấy điếu xì-gà đang ngậm ra. Điếu thuốc không thông hơi. Loại thuốc tồi tệ. Nhưng người ta vẫn mua. Họ chỉ cần bất cứ thứ gì có thể hút được. Đáng thương vì bị hạn chế. Hắn nhìn cửa hiệu một lần nữa. Thật là may mắn. Chẳng có gì xảy ra. Hắn nhổ nước bọt. Thình lình hắn cảm thấy mùi vị khó chịu trong miệng. Chắc tại điếu xì-gà. Hay vì lý do nào khác? Dầu sao cũng chẳng có gì xảy ra. Bị xúc động? Tại sao hắn bỗng nghĩ tới tất cả những chuyện cũ kỹ ấy? Chuyện xưa đang hiện về! Hắn ném điếu thuốc trước khi bước vào xe và cho tài xế hai điếu còn lại:

– Đây, Alfred. Phần thưởng đặc biệt đêm nay. Nào, chúng ta đi… về vườn nhà.

Neubauer hãnh diện với khoảnh vườn này. Ngôi vườn chiếm một lô đất rộng ở ngoại ô, phần lớn dành để trồng rau cải và cây trái. Trong vườn còn có cả một mảnh đất trồng toàn hoa quý và một cái trại nhỏ nuôi gia súc. Một số tù binh Nga lo việc chăm sóc. Họ không được hưởng thù lao, đáng lý họ còn phải trả ơn cho chủ vườn thay vì phải làm việc quần quật từ suốt mười hai đến mười lăm giờ mỗi ngày tại xưởng đồng, ở đây họ được hít thở khí trời trong mát mà công việc tương đối nhẹ nhàng hơn.

Chiều đã xuống. Bầu trời vẫn còn trong sáng, trăng đang treo trên các ngọn cây táo. Mùi đất mới xông lên thật đậm đà. Vài loại rau cải nhô lên từ các luống đất dầy phân và các thứ cây ăn trái đã nảy mầm bụ bẫm. Một cây anh đào Nhật nhỏ bé vừa được giữ kỹ trong nhà kính suốt mùa Đông, bây giờ đã trổ một ít hoa hồng trắng.

Các tù binh Nga đang làm việc trên mảnh đất. Neubauer nhìn thấy những dáng lưng khom xám xịt của họ và bóng đen của người lính canh với khẩu súng gắn lưỡi lê dường như muốn chọc thủng trời. Sự hiện diện của tên lính canh chẳng qua là do quy lệ vì những người Nga ấy nhất định chẳng bao giờ đào tẩu. Họ còn biết đi đâu với bộ quân phục ngoại quốc trên mình và chẳng hề biết tiếng Đức? Bên cạnh họ là một cái bao khổng lồ chứa đầy tro lấy từ lò thiêu người ra để dùng làm phân bón các luống măng và dâu tây mà Neubauer coi như của quý. Hắn không ăn được bao nhiêu. Bao phân bón đang đựng tro của 60 người bị hỏa thiêu, trong số có 12 đứa trẻ.

Dưới ánh chiều tà, ngọc trâm và thủy tiên đượm màu xanh tái. Các loại hoa quý này được trồng dài theo bờ tường phía Nam và được bao bọc bởi các khung kính. Neubauer mở một trong các cửa sổ ngang và khom mình xuống. Chưa có hương vị của thủy tiên, chỉ có mùi hoa tím, những cánh hoa tím không nhìn thấy được giữa hoàng hôn.

Hắn hít một hơi thở thật sâu. Đây là ngôi vườn của hắn. Hắn đã phải chi tiền để làm của riêng. Sòng phẳng và lương thiện. Đúng giá. Hắn không cướp đoạt của ai. Đây là đất của hắn. Mảnh đất làm người ta trở lại với nhân tính sau bao nhiêu công việc nặng nề phụng sự cho Tổ quốc và gia đình. Hắn nhìn thấy các cây tùng bách mọc bên cạnh loài kim ngân hoa và loại hồng có dây leo. Hắn nhìn thấy hàng giậu huỳnh dương, hòn giả sơn và những bụi đinh hương, hắn gửi thấy mùi hăng nòng của không khí đã nhuộm tiết Xuân, hắn nhẹ nhàng rờ các nhánh bọc rơm của các cây đào và lê, và hắn mở cửa đi về phía trại chăn nuôi.

Hắn không đi về phía những con gà đứng trên sào trông như những mụ đàn bà ngồi xổm – hắn cũng không ra phía những con heo đang ngủ – hắn đi thẳng về chuồng thỏ.

Đây là loại thỏ Angora có lông dài trắng xám và mượt như tơ. Lúc hắn mở đèn lên, bầy thỏ đang mơ màng, một lúc sau chúng bắt đầu động đậy. Hắn thọc một ngón tay qua mắt lưới và gãi nhẹ vào lông chúng. Lông thỏ mềm mại hơn bất cứ gì hắn đã biết. Lấy một vài lá cải trong một cái rổ cạnh đó, hắn cho vào chuồng. Bầy thỏ xáp tới và bắt đầu gặm nhấm chậm rãi, từ tốn với những chiếc mõm đỏ hồng. Hắn gọi âu yếm:

– Mucki! Lại đây, Mucki!

Hơi ấm của chái nhà làm hắn ngây ngất. Giống như một giấc ngủ xa xôi. Mùi hơi của thỏ mang lại một sắc thái vô tư quên lãng. Đó là một thế giới nhỏ bé tự nó gần giống như đời sống của cỏ cây, không bom đạn, không phiền toái và không phải tranh đấu để sinh tồn – rau cải, lông mịn, bị xén bớt và sanh đẻ. Neubauer đã từng bán lông của chúng nhưng không cho giết con nào. Hắn lại gọi:

– Mucki!

Một chủ thỏ trắng và to lớn nhích tới ngậm lấy lá cải của hắn vừa thò vào. Đôi mắt đỏ ngời chiếu như hồng ngọc. Neubauer gãi vào cổ nó. Giày hắn kêu kèn kẹt lúc hắn nghiêng mình. Selma đã nói gì? An toàn? Ở bên trại, các anh được an toàn? Có ai được an toàn đâu?

Hắn cho thêm cải vào chuồng. Mười hai năm, hắn nghĩ tiếp. Trước ngày cách mạng, mình là một thư ký Bưu điện với không đầy hai trăm đồng Mark một tháng lương. Với khoản tiền đó, thật là sống dở chết dở. Bây giờ, mình đã có chút ít. Không thể để mất được.

Hắn nhìn vào đôi mắt đỏ của Mucki. Hôm nay, mọi việc đều khả quan, vẫn còn phải tiếp tục khả quan. Vụ không tập vừa qua có thể do lầm lẫn.

Thành phố chẳng có gì quan trọng, nếu ngược lại họ đã cố hủy diệt nó rồi. Neubauer cảm thấy yên tâm hơn.

Hắn lại gọi “Mucki” và nghĩ tiếp: An toàn! Dĩ nhiên là an toàn. Vả lại, có ai muốn đổ vỡ vào phút chót đâu?

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 18)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 24 Sep 2024

Trương Duy Hy 

TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG TRƯỚC KHI RỜI CĂN CỨ HỎA LỰC 30

Rời Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Dù, vừa ló đầu khỏi hầm, một quả cối 82 ly của địch rớt trước mặt tôi! Sau tiếng nổ — bụi đất tung vào mặt, tôi tưởng bị thương, nhưng may mắn không hề gì. Tôi đành ở lại đây vài phút để nghe động tĩnh… xong, tôi băng qua hầm của y sĩ TĐ2 Dù nấp tạm. Nhờ vậy, tôi gặp Trung Úy Ninh, Sĩ quan truyền tin Dù. Ninh trước cùng học với tôi khóa Tiếp Liệu Binh Đoàn. Chúng tôi còn quen nhau khi làm việc tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh ở Quảng Ngãi. Nhân tiện, tôi nhờ Ninh cho tôi mượn một máy PRC-25 vì tất cả máy móc của tôi và Kim đều bị vỡ nát. Ninh sốt sắng nhận lời ngay…

Vài phút sau, Ninh khệ nệ đem đến cho tôi mượn máy mới. Nhưng ăng-ten bị hỏng, tôi phải bắt nhân viên truyền tin sau đó tìm ăng-ten đoạn lắp vào.

Trong khoảng thời gian này, Cộng quân pháo kích không thể tưởng được… Hàng loạt, hàng loạt rồi hàng loạt đạn đủ loại cứ nhắm vào vị trí chúng tôi bắn xối xả. Chúng tôi không còn biết đạn ở hướng nào bay đến. Chung quanh vị trí đều có tiếng “départ” của súng cối 82 ly, đại bác 57 ly, súng không giật 75 ly và xa hơn, súng cối nặng và đại bác của địch gõ đều đều.

Nóng ruột quá, không biết ở vị trí nhân viên của tôi giờ đây ra sao, tôi liền chạy ào về Đài Tác Xạ… Ninh thấy tôi ốm yếu nên tự ý mang máy vô tuyến chạy theo tôi, mặc cho đạn pháo kích đang nổ bừa bãi khắp đó đây.

Vừa nhảy xuống hầm, Lân nhăn mặt… nhìn kỹ, tôi thấy tay của Lân đã sưng vù lên, băng cá nhân quấn quanh vết thương… hai ống quần của Lân bị xé cụt từ bao giờ để lộ hai ống chân điểm nhiều vết máu khô và mảnh sắt vụn. Có mảnh găm sâu vào thịt!… Chung quanh Lân, 4 nhân viên bị thương nhẹ, đứa ngồi, đứa nằm thở… Tôi hốt hoảng ôm chầm Lân để mặc cho nước mắt tuôn trào! Tôi nghẹn ngào nói với Lân:

– Thôi hết rồi! Hết rồi còn gì nữa đâu!…

Ninh và Lân thấy tôi xúc động mạnh, khuyên tôi bình tĩnh lại để lo cho anh em. Thật ra, tôi không còn biết là có tôi nữa! Tôi chi nghĩ đến anh em — những người mà vợ con họ đang cần đến họ, mong cho có ngày đoàn tụ và tôi, kẻ chỉ huy trực tiếp tự cảm thấy có bổn phận phải lo cho họ trước đã.

Kiểm điểm lại, quân số trước sau vẫn còn 35 người, kể cả tôi. 39 người về trước gồm Thường Vụ, 6 Khẩu Trưởng, Ban Tác Xạ, Thiếu Úy Ngân và một số pháo thủ cùng nhân viên nhà bếp…

Lân thuật lại cho tôi nghe khi trở lại vị trí, không còn Khẩu trưởng, nhân viên Khẩu 4 đào lấy khối kích hỏa và cần vận dụng lắp vào súng. Lân cho lệnh bắn vài phát. Sau đấy, địch pháo kích rát quá. Một quả lọt ngay vào vị trí súng, Lân bị thương cùng với Trung Sĩ Chất, Hạ sĩ Đình, Binh nhì Một, Binh nhì Ngô… bắt buộc anh em phải nhào vào Đài Tác Xạ núp. Lân co tay mặt chỉ cho tôi xem nơi mảnh đạn pháo kích làm sưng cạnh bàn tay anh như quả trứng gà so! Mảnh đạn ghim sâu vào bên trong.

Kế đó, tôi bảo Lân và 4 anh em bị thương cố gắng chạy qua hầm bệnh xá mà nghỉ tạm. Ở đó còn y tá, sẽ được giúp đỡ thay băng. Số nhân viên còn lại, tôi cho ra giao thông hào tạm trú.

Lân bảo:

– Để cho anh em ra tháo khối kích hỏa chôn lại đã, khi nãy đến giờ bị pháo kích rát quá, tôi chưa cho tháo…

– Anh cùng mấy đứa đi trước, để tôi lo liệu cho. Tôi trả lời.

Tôi gọi nhân viên Khẩu 4 thi hành việc chôn giấu khối kích hỏa, cần vận dụng. Xong tôi gọi tất cả anh em vào tạm trú nơi hầm tôi. Vì lúc bấy giờ, các hầm khẩu đều bị bung cả nắp rồi.

Khoảng 14g00 hơn, địch pháo kích nhiều hơn nữa, với nhịp bắn tối đa… Ầm ầm… Cả hai vị trí của tôi và Pháo Đội C3 Dù mù mịt đất bụi!

Bỗng hầm đạn của Pháo Binh Dù bốc cháy! Tiếp theo đạn nổ cả hàng ngàn quả! Hầm đạn lại làm giữa vị trí của Pháo Đội Dù, do đó, tất cả đại bác 105 ly đều bị hư nát. May mà Trí đã triệt thoái một số lớn nhân viên về Khe Sanh lúc sáng, chứ nếu còn ở lại thì không biết tai hại bao nhiêu mà lường. Nhân viên còn sót lại của Trí vỏn vẹn không quá 4 người. Anh em qua tá túc tại BCH/TĐ2 Dù với Thiếu Úy Sĩ quan liên lạc, tránh được một thảm họa vô cùng khủng khiếp!… Khắp căn cứ, các đám cháy nối tiếp, lan rộng ra, hầu hết các hầm làm bằng dư liệu tác xạ như thùng gỗ, ống giấy… giờ đây biến thành những vũng lửa, không tài nào chữa nổi.

Chúng tôi bị kẹt trong hầm, không còn cách nào vượt ra giao thông hào nữa. Lửa bắt qua nóc Đài Tác Xạ cháy tấm bạt phủ bên trên, lồng vào miệng hầm tôi. HS Vinh, BI Sinh và BI Huy — ba nhân viên duy nhất còn lại với tôi, lo tháo nước trong ống nạp sang một cái thau, tạt lên đám cháy… Nguy hiểm không thể tả xiết!… Đồng thời, địch vẫn liên tục pháo kích bồi vào, dù rằng tại Căn cứ Hỏa Lực 30 cảnh hầm đạn bị nổ có thể nhìn rõ xa hàng 15, 20 cây số!

Ninh đề nghị với tôi rời hầm. Nhưng tình thế không cho phép, đạn 105 ly nổ dữ dội. Chốc chốc phụt lên không một ống lửa cao ngất, tỏa hơi nóng trùm căn cứ, kèm theo tiếng “v…è…o….v…è…o…” của những quả đạn bị thuốc nạp tống ngang qua đầu chúng tôi. Một vài quả rơi vào hầm nạp khẩu 3, khẩu 2 sát ngay miệng Đài Tác Xạ tạo nên một đám cháy lớn lan ra mấy quả đạn 155 ly cài sẵn hỏa pháo, tiếp theo, tiếng nổ kinh hồn làm rung chuyển cả hầm tôi. Đồng thời, đất bụi lùa vào hầm cơ hồ làm chúng tôi nghẹt thở!… Lúc bụi tan, nhìn qua Đài Tác Xạ, thì miệng hầm đã sập từ bao giờ.

…Một vài chiếc trực thăng vần vũ trên không phận căn cứ thật lâu, nhưng bay rất cao, tôi không buồn liên lạc vì nghĩ rằng mình không có nhiệm vụ gì với phi công.

Thúc thủ trong hầm, tôi chỉ còn biết ngồi đếm từng tiếng hú rợn người của pháo binh địch vèo vèo qua đầu và tiếng nổ liên tục dây chuyền phát ra từ hầm đạn 105 ly của Trí, hòa lẫn với tiếng nổ 155 ly ở các hầm khẩu 1, 3, 6 của Pháo Đội tôi, tiếng súng cối địch… nối tiếp không dứt.

Đến 17g00 sức phá hoại vô cùng kinh khủng của kho đạn làm cho chúng tôi không thể trân người chịu được nữa! Chúng tôi bàn nhau rời hầm, dù có phải nguy hiểm đến tính mạng, hơn là bị chôn vùi mất xác tại đây!… Thế là từng người một, nhảy lên hầm, vụt chạy ra tuyến phòng thủ ở hướng Nam. Người này cách người kia 1 phút… Đến phiên tôi… rời khỏi miệng hầm độ năm bước… ầm… ầm… tiếp liền hai tiếng nổ dữ dội xô tôi ngã xuống đất, cùng lúc một mảnh đạn xuyên qua ống quần trái!… Chân phải, 2 mảnh nhỏ khác ghim vào đầu gối nhưng không sâu lắm. Ngay lúc ấy, tôi thấy tê hết đôi chân… Một phản ứng tự nhiên đến với tôi trong tích tắc, tôi tự nhủ: Chết… bị thương rồi! Tôi vội đưa tay sờ soạng từ thắt lưng xuống chân… Khi liếc nhìn thấy ống quần bên trái bị chém một đường, tôi định thần ngay: tôi đã bị thương nhẹ! Lúc ra được phòng tuyến, tôi gỡ được cả 2 mảnh trên đầu gối bên phải vứt đi. Kế đó, tôi lấy phòng tuyến không có mái che này làm nơi nấp tạm.

Nhìn quanh, thấy trống trải quá, tôi bắt đầu e ngại… vì mặt này địch vẫn pháo kích bồi thêm bằng súng cối 82 ly! Bỗng rầm rầm… tiếp theo sau, hàng ngàn phi tiễn nhỏ như đầu tăm bằng thép rắn chắc rào rào rơi khắp nơi! Đúng là phi tiễn đạn tổ ong chống biển người! Quả đạn phát nổ tại hầm 105 ly cách tôi không quá 15 thước!… Tôi đâm lạnh cả người!…

Lát sau, tôi ló đầu lên khỏi bờ đất, nhìn vị trí 105 ly, tôi thấy rõ khẩu đại bác 105 ly của PĐC 3 Dù ở phía Nam bị lật ngược, đưa hai bánh xe cháy đen lên trời! Quanh mâm đóng cọc, còn dính một cọc sắt trắng hếu! Khẩu 1 của tôi, nòng súng bị cụp ở giữa phần trắng, gục xuống đất! Thật khó có thể tưởng tượng được sức công phá của một kho đạn pháo binh bị cháy ngay giữa vị trí! Ấy thế mà trước đó 5, 10 phút tôi đã ở trong hầm cách càng khẩu súng 1 khoảng 15 thước!… Các khẩu kế cận khẩu 1 không còn nguyên vẹn nữa, tất cả đều cháy bánh súng…

Lân nằm trong hầm y tá không yên, lo cho số phận tôi ở vị trí. Lân bảo B2 Một cố gắng tìm tôi. Nhưng làm sao ra khỏi hầm được?! Hắn cứ lấp ló ở miệng hầm, dớn dác nhìn quanh… Vừa lúc tôi đang nhướng mắt nhìn hướng nó… Nó mừng quá hét to lên, mặc dầu tôi cách nó 10 thước:

– Đại Úy! Đại Úy!… Trung Úy Lân bảo tôi đi tìm Đại Úy!.. Ổng lo cho Đại Úy, cứ hối tôi đi tìm hoài. Nhưng tôi không tài nào đi được. Đạn nó nổ quá trời!…

– Mày nói với Trung Úy Lân, tao và anh em ra được giao thông hào hết rồi. Tao sẽ vào với Trung Úy bây giờ…

Mãi đến 19g00 đạn mới hết nổ! Bao nhiêu hầm hố trong vị trí đều cháy sạch hoặc sập. Riêng các công sự trên giao thông hào ở tuyến phòng thủ không bị ảnh hưởng vì xa điểm nổ.

Được biết sự hư hại sơ khởi như thế, tôi muốn báo ngay cho hậu cứ biết, song cái PRC-25 tôi mượn của Ninh không thể liên lạc được. Tôi vội vã đến BCH/TĐ2 Dù nhờ Thiếu Úy Sĩ quan liên lạc 320 báo cáo hộ tôi. Tôi e ngại nói thật thì Cộng quân rà tần số biết được nên tôi nhờ anh em cố gắng ngụy thế nào để hậu cứ hiểu 5 khẩu đại bác của tôi và 6 khẩu của Trí hoàn toàn bất khiển dụng. Anh suy nghĩ một lát… vì khóa ngụy của anh đã bị lộ từ hôm Căn cứ Hỏa Lục 31 không còn nữa! – Xong anh báo cáo với một lời ngụy thật là khôi hài:

– … “…….” bị bệnh teo rồi!

Cái hay ở chỗ là hậu cứ Dù đóng ở Khe Sanh nhận và hiểu được điều mà Sĩ quan Liên lạc 320 muốn nói để trình lên Thượng cấp….

Từ hôm Căn cứ Hỏa Lực 31 không còn hoạt động tôi đâm biếng ăn, vả lại cũng không còn đầu óc để nghĩ đến ăn nữa. Tinh thần căng thẳng từng phút, từng giây lo cho pháo thủ. Tôi thức trọn vẹn cả ngày lẫn đêm. Bệnh kiết xuất hiện từ hai hôm rồi, chữa vẫn không dứt. Rhumatisme hoành hành các khớp xương, ghẻ thì tha hồ phát triển! Tôi tự biết mình yếu và xanh lắm, nhưng trước binh sĩ thuộc hạ, tôi vẫn cố gắng hoạt động vì tinh thần trách nhiệm, vì tự ái và vì muốn giữ niềm tin cho anh em…

Tối lại, Trung sĩ nhất Bang Thường vụ Dù tìm đến gặp tôi… giao cho Pháo Binh và một số anh em Biệt Động Quân còn sót lại ở căn cứ, nhiệm vụ giữ một khoảng vài chục thước trên tuyến phòng thủ, đối diện với hầm bệnh xá.

Tôi gọi TS Lục lo cắt đặt đi lãnh lựu đạn phân phối cho mọi người.

Sau đó, tôi xin một ca cơm vừa mới nấu của anh em Dù mang về hầm bệnh xá cho Lân ăn. Còn các binh sĩ của tôi đều dùng lương khô.

Hầm bệnh xá rất chật, vì tất cả thương binh đều đưa vào đấy. Lân giữ tôi nằm sát bên Lân nghỉ tạm. Trong số anh em thương binh có một binh sĩ Biệt Động Quân tên Sơn thuộc Tiểu Đoàn 39, vết thương đã có dòi! Anh nói giọng Sàigòn, nét mặt hiền hậu, tiếng nói nhỏ nhẹ. Nhưng với bệnh viện dã chiến này thật sự không đủ điều kiện để điều trị cho anh như ý muốn. Nhân tiện anh thuật lại 12 ngày lạc trong rừng — kể từ sau ngày 19 tháng 2 đến hôm nay là 2 tháng 3 với vết thương nặng trên tay, anh vừa tìm đến Căn cứ Hỏa Lực 30 khi sáng, sau mười ngày lặn lội một mình trong rừng. Trong lúc chạy lạc, anh có gặp một đoàn quân Cộng sản di chuyển cùng đường với anh, nhưng vì anh mang thân hình gầy gò tiều tụy, bọn chúng không hỏi…

Vào khoảng 20g30, Cộng quân lại tấn công khắp các tuyến. Nặng nhất là mặt Nam. Chúng tràn lên hai bãi đáp trực thăng mới (bãi số 2 và bãi số 3), chia thành từng tổ quyết tử 5, 7 tên nhào vô phòng tuyến…

Các binh sĩ Dù dùng lựu đạn và M79 lần lượt sát hại chúng, chận đứng các cuộc xung phong. Riêng phòng tuyến giao cho Pháo Binh và Biệt Động Quân giữ, chỉ cách hầm bệnh xá non 10 thước, anh em Biệt Động Quân thấy địch xuất hiện khá đông trước công sự, mừng quá, dùng đại liên M60 bắn xối xả, làm gục hàng chục tên trước họng súng. Nhưng cùng lúc đó, ánh lửa phát từ nòng đại liên đã làm mồi cho một quả B40. Kết quả một vài binh sĩ tử thương. Anh em Pháo Binh, nhân đó cũng bị “vạ” lây. Hai pháo thủ bị thương nặng và 6 bị thương nhẹ.

BI Quốc vội vàng kéo lê hai pháo thủ bị thương nặng ra phía sau phòng tuyến. Trong phút cấp bách, tuy một tay đã bị thương, Quốc vẫn bình tĩnh dùng tay còn lại, bốc từng quả lựu đạn đưa lên mồm kê vào răng mở khóa an toàn… tung ra đằng trước… hết quả này đến quả khác. BI Quốc đã vứt trọn một thùng lựu đạn, giết sạch 7 tên Việt Cộng ngay phía trước công sự anh đang cố thủ không quá 6 thước.

Thỉnh thoảng, dưới ánh sáng của một vài trái signal tay, chúng tôi thấy xác địch nằm la liệt… kẻ sau gối đầu lên chân người trước chết một cách vô cùng thê thảm!

Hầm bệnh xá thêm bận rộn tiếp nhận “tân thương binh”. Các y tá Tiểu Đoàn 2 Dù hết mình làm việc. Bên ngoài tiếng AK vẫn nổ dòn, tiếng ầm ầm của lựu đạn, M79 cùng với mìn claymore tự động và mìn claymore điều khiển cùng hòa tấu hỗn độn, rung chuyển cả một vùng.

Tiếng hò hét xung phong của Cộng quân nối tiếp nhau hỗ trợ tinh thần cho đám tàn quân, không hề làm nao núng khả năng chiến đấu của các chiến sĩ ta.

…Để biết rõ những hư hại thật sự tại vị trí, lúc 6g00 tôi lần về Đài Tác Xạ và hầm ngủ của tôi. Cảnh hoang tàn không thể tưởng tượng hiện ra trước mắt tôi: Đài Tác Xạ cháy rụi, hầm ngủ kiên cố của tôi đã sập, các khẩu đại bác 155 ly đều bị cháy bánh súng và khẩu 1 cụp nòng súng để lộ vết vỡ nứt trông ghê người!… Các hầm khẩu, hầm nhân viên đều bị tung nắp… đó là hậu quả của vụ nổ kho đạn 105 ly chiều hôm qua. Nghĩ lại, nếu chiều hôm qua chúng tôi còn ở ráng trong hầm, chắc chắn chúng tôi không có ai có thể thoát chết! Bên vị trí của Trí thảm hại còn hơn cả bên tôi. Tất cả đại bác đều tan tành hết.

Tôi sững sờ nhìn 5 khẩu 155 ly, lòng buồn ray rức… Đời sống của chúng tôi đã gắn liền với nó – và hơn 5 tháng qua, nó đã tạo nên biết bao kỷ niệm vui buồn khi tác xạ, khi thanh tra, khi lau chùi… Bây giờ, tôi sắp phải vĩnh viễn xa nó! Bắt buộc phải xa nó! Hình ảnh kiêu hùng mà chính các đại bác này, cùng chúng tôi, đã bao phen gây sóng gió tại chiến trường Quảng Nam và mấy tuần qua tại Hạ Lào… tiêu hủy biết bao nhiêu kho vật liệu, phá tan biết bao nhiêu cơ giới, sát hại biết bao nhiêu địch quân… Tất cả… tất cả như hiện rõ trong trí tôi… Một ý nghĩ điên rồ đến với tôi: Tôi ao ước mang chúng về! Dù bây giờ chúng chỉ còn là những khối sắt khổng lồ!

Trời chưa sáng hẳn, địch chưa pháo kích, tôi bước đến từng ụ súng, vỗ vào từng khối sắt lẩm bẩm thầm nhủ: “Vĩnh biệt, tôi vĩnh biệt các bạn.. Vĩnh biệt.”… Nếu có ai nhìn được cử chỉ của tôi lúc này, hẳn cho tôi là thằng điên! Không! Tôi không điên, tôi tỉnh lắm!…

Nhìn khắp các hầm đạn khẩu, hầu hết các quả đạn có gắn đầu nổ đều nổ sạch tự bao giờ! Trên mặt đất, chỉ còn lại những lỗ nám đen… mấy tấm PSP bên trên chất đầy bao cát và ống nạp bị bật tung cong queo! Quan sát kỹ, tôi không còn nhận ra được nó là hầm đạn khẩu nữa! Riêng những quả đạn chưa gắn đầu nổ — tuy chúng tôi vẫn sắp gần nhau — nhưng lại không nổ mà bị văng ra xa khắp đó đây…

9g30 ngày 3 tháng 3-71, sau khi lục soát, các chiến binh Dù khiêng vào hầm y tá một thương binh Việt cộng. Hắn trạc độ 16, 17 tuổi bị thương ở chân và hông khá nặng nên thở khó khăn. Một vài binh sĩ Dù mang cơm lại cho hắn ăn, rót nước cho hắn uống… đặc biệt một điều là hỏi gì hắn cũng không nói, cứ trừng đôi mắt nhìn hết người này đến người khác. Vì vậy mà anh em chúng tôi không biết nó thuộc loại lính gì của Cộng sản! Chúng tôi đoán nó là “Pathet Lào”!

…Được Thiếu Tá Mạnh gọi vào họp, tôi vội vả đi ngay, vì tin rằng sẽ nhận được lệnh mới. Ý nghĩ ấy quả đúng sự thật.

Tại BCH/TĐ2 Dù giờ đây, Thiếu Tá Mạnh là Chỉ Huy Trưởng, còn Pháo Binh là tôi.

– Bây giờ có lệnh rút bằng đường bộ. Tôi vừa chỉ thị cho Đại Đội tiền đồn trở về, và như thế, có thể sau 12g00 mình rời khỏi căn cứ này. Anh xem lại đại bác của anh có còn xử dụng được không?

– Trình Thiếu Tá, tôi đích thân đi kiểm soát khi sáng — Chẳng những đại bác của tôi mà cả đại bác của Đại Úy Trí cũng chẳng còn gì nữa. Tuy vậy, Thiếu Tá yên trí, tất cả cơ phận quan trọng tôi đã thủ tiêu hết rồi. Hầm của tôi kiên cố như thế mà còn sập nóc, Thiếu Tá!

– Thế quân số của anh bây giờ được bao nhiêu?

– Vẫn 34, nhưng có tăng thêm 8 bị thương thành đến 13 thương binh! Trong đó có hai nặng, số còn lại, một vài anh em rất nhẹ, có thể đi lại được dễ dàng… Kính nhờ Thiếu Tá can thiệp cho trực thăng tải thương anh em về trước… mình có rút bộ cũng chả sao.

– Khó qua, bây giờ không thể xin được. Thôi đành khiêng và dìu anh em đi.

Trở lại hầm bệnh xá, tôi cho gọi TSI Lực vào cùng tôi cắt đặt việc triệt thoái bằng đường bộ, chúng tôi chia cho 8 binh sĩ lực lưỡng nhất, trách nhiệm thay phiên nhau khiên B2 Xề. Còn anh em khác, cố gắng chống gậy đi theo… B2 Quốc dìu B2 Phương, BI Ngô dìu HS Dình…

…12g00!… Rồi 13g00!… 14g00!… Đại Đội tiền đồn vẫn chưa về được căn cứ! Sau này tôi mới biết được Đại Đội tiền đồn còn một số binh sĩ quá ít, lại phải khiêng 8 thương binh! Sườn núi quá dốc, Cộng quân lại pháo kích dọc đường! Thêm vào đó, anh em cũng đã mệt mỏi quá sức sau hai đêm liên tiếp cố thủ, chống lại các cuộc đột kích và tấn công của địch lên vị trí.

Mãi đến 16g00 Tiểu đoàn mới quy tụ được tất cả quân số, ngoại trừ Đại Đội nặng đã về Khe Sanh sáng hôm qua.

Đúng 17g00 kém 5 phút, kế hoạch “Du Lu” được áp dụng cho chúng tôi.

Tất cả Pháo Binh các nơi có tầm bắn đến Căn cứ Hỏa Lực 30, đều tác xạ tối đa chung quanh căn cứ, chỉ chừa một con đường duy nhất dọc bãi đáp trực thăng mới nhất (bãi đáp số 3) xuống thẳng phía Nam ­ nơi mà đêm qua địch đã tràn lên tấn công căn cứ! Đồng thời, hai chiếc Jet bắn hai màn khói dày về hướng Đông trải dài từ phía Nam lên Bắc và về hướng Tây từ Bắc xuống Nam…

Đứng trên đồi nhìn xuống lộ trình sắp đi, không một ai có thể tiên đoán những gì sắp xảy ra — Nhưng dù có lo âu cũng vô ích, vì ngoài lộ trình này, không còn một lộ trình nào thuận tiện hơn! (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: TRIỆT THOÁI RA KHỎI CĂN CỨ HỎA LỰC 30

 (*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 1-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Phóng đồ Căn cứ Hỏa lực 30 do chính tay đại úy Trương Duy Hy vẽ theo không ảnh và quan sát tại chỗ cuộc tấn công của Bắc-Việt đêm 2 tháng 3-1971 và hướng triệt thoái của quân đồn trú sáng 3 tháng 3-1971, in trong hồi ký.