This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nhắc tới Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc thì bà con mình lại nhớ tới bài thơ ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu, đời nhà Ðường:
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”
Từ bài thơ Ðường Luật thất ngôn bát cú, nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu của chúng ta dịch qua thể thơ lục bát với bản dịch tuyệt vời với 2 câu kết là:
“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”
Ðời nhà Ðường, Thôi Hiệu, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Ðỗ Phủ… cũng đã dừng gót giang hồ tại Hoàng Hạc Lâu, nhậu cho đã rồi làm thơ
Lý Bạch về Hoàng Hạc Lâu; nhưng thấy đã có bài thơ Thôi Hiệu treo ở đấy.
“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc.
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”
(Trước mắt có cảnh mà đành chịu!
Vì thơ Thôi Hiệu viết trên đầu).
(Thằng cha Thôi Hiệu nầy viết hay quá! Làm mình cụt hứng. He he!)
Hoàng Hạc Lâu tan nát vì do mấy Chú Ba thời phong kiến đánh nhau cho đã; rồi đốt nhà, nên Hoàng Hạc Lâu cháy tới 12 lần.
Thời CS, Hoàng Hạc Lâu bây giờ cao hơn 50 mét, có năm tầng lầu Trên tầng cao nhất người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, của hai sông Trường Giang và Hán Thủy.
Mấy cái chuyện nầy đều liên quan tới cái tỉnh Hồ Bắc, nơi có thủ phủ Vũ Hán, tâm điểm của dịch bệnh “coronavirus’ đang phát tán ra khắp Năm Châu!
Vụ dịch Coronavirus tới giờ nầy đã giết chết ít nhất 362 người và lây nhiễm gần 17,300 người (đa số ở Trung Quốc), cái đáng sợ là nó sẽ tiếp tục lan rộng ra ngoài Trung Quốc. Tại Phillipines cũng đã có một người chết rồi!
Bị con ‘Coronavirus’ gí tới đường cùn(g), bè lũ ăn hại ở Trung Nam Hải hết dám xưng hùng xưng bá như bữa duyệt binh vào ngày Mùng 1, tháng Mười, năm 2019, (chỉ cách nay có 4 tháng thôi) tại Quảng trường Thiên An Môn để Tập Cận Bình đánh trống thổi kèn ăn mừng 70 năm CS chiếm được chánh quyền, đè đầu cỡi cổ dân Tàu và hăm he mẻ răng các nước khác là:
“Khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng!”
(Nghe quen quen à nha!)
Pháo bông bắn đầy trời thủ đô Bắc Kinh và nở ra những cái hình (hình kèm theo) giống hịt như hình con ‘Coronavirus’ mới vậy!
Và cái con ‘coronavirus’ đang rượt chánh quyền Trung Cộng chạy có cờ, chạy vô chạy tuốt ra ngoài tới nước Nga của Vladimir Putin và ngay cả chủ nghĩa tư bản đang giãy đành đạch để chết là bọn Liên Âu để xin ông đi qua bà đi lại giúp đỡ ‘ngộ’ giùm một cái. Nguy cấp quá xá rồi!
Vào lúc 6 giờ chiều, ngày thứ Ba, 28 tháng Giêng, năm 2020, chiếc máy bay phản lực Boeing 747, cất cánh từ sân bay Barajas ở thủ đô Madrid, Spain quá cảnh 20 tiếng đồng hồ tại Hà Nội rồi cất cánh bay lên, tới Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc để làm thuyền cứu sinh, rước công dân của Liên Âu ra khỏi vùng đất chết.
Khi vòng quanh bầu trời Vũ Hán, dưới cánh bay của họ là một sa mạc, một thành phố ma, tiêu điều trong hoang vắng như một chiến trường vừa bị trải qua một trận ném bom B52. Ðường phố vắng hẳn tiếng xe; sân bay hoàn toàn trống vắng.
Phi hành đoàn đeo khẩu trang, mang găng tay, ở nguyên trên máy bay và 72 hành khách lên máy bay rồi họ cất cánh bay lên.
“Ðối với người vượt thoát khỏi tâm điểm của dịch bệnh Corona Wuhan, mừng rỡ giống như họ đang được về nhà và bỏ lại tất cả phía sau”.
Hệ thống y tế của Trung Quốc đã ‘sụm bà chè’; vì giường dành cho bệnh nhân và vật tư y tế cần thiết đã hết. Trong khu cách ly của Bệnh viện số 3, Thành phố Thiên Môn, tỉnh Hồ Bắc, giường số 15 trên lầu 2, bệnh nhân Bá Mạn Nhi, 24 tuổi, gởi lên mạng xã hội Weibo của Trung Quốc lời trăng trối, nghe rất đau lòng.
“Tôi không nghĩ rằng tôi có thể vượt qua đêm nay, và đến giờ tôi cuối cùng cũng có thể nhận ra cái chết là gì. Không ai tin cả. Không ai tin rằng tôi đang trên bờ vực của cái chết.
Bệnh viện chỉ phát hai viên ‘Oseltamivir’, cơm một ngày hai bữa, ngoài ra không còn gì khác vì bệnh viện chỉ có một phương án đó mà thôi.”
Ngày 30, tháng Giêng, năm 2020, y tá đến đo thân nhiệt. Bá Mạn Nhi yếu quá, không thể phản ứng gì, y tá phải kéo chăn ra và không ngừng vỗ vào Bá Mạn Nhi, khi thấy cô không có động tĩnh gì như vậy. Chỉ sau khi Bá Mạn Nhi cố gắng phát ra một giọng nói yếu ớt, y tá mới biết là cô còn sống.
“Tôi nằm trên giường, không thể gượng dậy. Tôi biết hôm nay tôi sẽ phải chết, hô hấp suy kiệt, cũng không được truyền dinh dưỡng nữa. Tôi đã chủ động đi cách ly. Tôi không ngờ rằng mình sẽ phải vào địa ngục trần gian!
Tôi đang bị cách ly trong bệnh viện, tất cả những gì tôi nói đều là sự thật. Tuyên truyền trên báo chí của nhà nước toàn bộ đều là láo khoét, bịa đặt.
Những bệnh nhân đang nằm chờ chết tại đây giống như tôi không hề ít, chúng tôi tin vào chính phủ, vậy mà hiện tại nhận được kết cục như thế này đây!”
Vậy mà cũng theo mửng cũ, cái tật không bỏ hè, Tể tướng Lý Khắc Cường vẫn còn lên gân, nổ ‘lép bép’ là:
“Chính phủ Trung Quốc luôn đặt sự an toàn và sức khỏe của người dân lên hàng đầu và đang nỗ lực để ngăn chặn và kiểm soát dịch bệnh một cách minh bạch và có trật tự. Công việc hiện tại là kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh và điều trị cho bệnh nhân, cũng như bảo đảm trật tự cuộc sống bình thường của người dân Trung Quốc và người nước ngoài tại Trung Quốc!”
Trong khi đó thì hình ảnh một ông cụ mang khẩu trang nằm chết cô độc trên lề đường của thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc tràn ngập trên Truyền thông Phương Tây làm ai nấy cũng đều thương cảm!
Rồi bà con ở các nước khác cũng đang lo sốt vó vì sợ bị lây lan! Nước Úc tới giờ phút nầy đã có tới 12 ca bị thử nghiệm dương tính rồi đó.
Té ra Lý Thừa tướng hô khẩu hiệu trước bàn dân thiên hạ cho đỡ quê thôi; chớ trong hậu trường, Lý tuân lịnh Hoàng đế Tập, nên đã gởi tên du thuyết ‘Vương Nghị’ đi Nga xin ‘hợp tác’.
(Nói ‘hợp tác’ cho đỡ quê vậy mà! Mà nè trước khi vô Moscow, Vương Nghị có được kiểm dịch hông? Nếu có, thì lúc nói chuyện với thằng Nga, hai cha nhớ mang khẩu trang cho đúng cách, kẻo khi bốc phét, văng nước miếng tùm lum rồi ‘hợp tác’ tặng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin (cựu trùm mật vụ KGB) vài con ‘coronavirus’ cho biết với người ta thì bỏ cha cả lũ.)
Rồi đích thân Lý Thừa tướng nói chuyện qua điện thoại với Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen hứa trao đổi thêm thông tin (đừng có đưa ‘tin vịt’ nữa được hông nè?) với hy vọng sẽ mua được các dụng cụ y tế cần thiết từ các nước thành viên của Liên Âu.
Liên Âu cho biết sẽ cố gắng hết sức và phối hợp tất cả các phương tiện cần thiết để hỗ trợ cho Trung Quốc.
Thôi vì tình nhân loại, người Tàu đang ngụp lặn trong cơn hoạn nạn về dịch bệnh ‘Coronavirus’ thì cộng đồng các nước khác trên thế giới, vì lương tâm, vì tình đồng loại và cũng vì sức khỏe của chính dân mình, nên chung tay góp sức vào việc phòng chống dịch bệnh để cứu dân Tàu trước; sau là để tránh lây lan tới cả dân mình.
Khi cơn dịch bịnh ‘Coronavirus nầy hy vọng sẽ được dập tắt, thì bà con tin tui đi, Trung Cộng sẽ lại đánh trống thổi kèn, vỗ ngực xưng tên nhờ sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của đảng ta cho mà coi!
Còn cầm bằng thất bại, dân Tàu chắc chắn sẽ tính sổ tới nơi tới chốn với cái đảng CS ‘ôn hoàng dịch lệ’ nầy!
Năm 1970, tui tính thi vào khóa 28 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Phần số khiến xui sao đó, thằng Đoàn Văn Cấm, bạn học trường Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho, con chủ vựa ve chai Đồng Lợi gần giếng nước trên đường Nguyễn Tri Phương, rủ tui qua Cần Thơ thi vô trường Đại học Sư Phạm ở khu Cái Răng. Khoái tiếu ngạo giang hồ, tui ngồi Vespa cho nó chở tui đi. Chó táp phải ruồi, tui đậu. Và tui mọc rễ luôn ở đó, khoảng 20 năm, cho tới ngày tui bỏ nước ra đi! “Nước trong xanh, sao lại chảy hoài? Thương người xa xứ lạc loài đến đây”
Quê người, Melbourne, Victoria, Australia, tui ở đây còn lâu hơn nữa, vậy mà 30 năm rồi tui vẫn còn luyến nhớ Cần Thơ. Thảng hoặc nghe ai nhắc tới hai chữ Cần Thơ là tui bùi ngùi trong tấc dạ. Tui nhớ lúc VC vô, có đêm đang ngủ với vợ, với con (không biết bị ai mật báo), CA phường Hưng Lợi nửa khuya xét nhà bắt tui về đồn nhốt vì không có tên trong hộ khẩu. Độc lập tự do thời CS mẹ rượt như thế đó.
Rồi: “Cần Thơ có Bến Ninh Kiều. Dưới chân tượng Bác đĩ nhiều hơn dân” Nghe mà đớn đau, chua xót. Rồi “Chiếc áo bà ba” của Trần Thiện Thanh. Hồi trong nước, ông viết lời khác. Ra được nước ngoài, ông viết lời khác. Rồi “Chiều Tây Đô” của Lam Phương. Tui nhớ thơ của ông Huỳnh Kim. “Chợ đã nổi từ nửa đêm về sáng/ Ta vẫn chìm từ giữa bữa hoàng hôn. Em treo bẹo Cái Răng Ba Láng/ Ta thương hồ Vàm Xáng Cần Thơ!” Nhậu từ hồi chiều tối. Xỉn dữ nhe cha!
Viện Đại Học Cần Thơ xưa – nguồn manhhaiflickr
Theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị: ‘bẹo’ là nêu ra hoặc bày ra để cho người ta ngó thấy. Như vậy bẹo là “chưng ra, đưa ra để khêu gợi”; “bẹo mặt” là chường mặt ra; “bẹo hình bẹo dạng” là phô trương hình dáng, chưng diện màu sắc có ý khoe.
Hồi xưa mấy bà già cổ lỗ sĩ hay rầy con gái, chửi em như tát nước vô mặt: “Con quỷ cái nầy bẹo hình bẹo dạng cho dữ nhe! Đồ ngựa bà.”
Như vậy cây bẹo là “treo gì bán nấy”. Em thoa son dồi phấn vì em muốn bán cái nhan sắc của em. Quyền của em mà. Em làm đẹp tui càng khoái dòm! He he! Cho dù cũng có em tủi thân mình, cà nanh, ghen tị: “Trắng da vì bởi phấn dồi/ Đen da vì bởi em ngồi chợ trưa”
Mỹ Tho hồi xưa khoái trồng me. Cần Thơ lại khoái trồng xoài. Đại lộ Hoà Bình hồi xưa là đường Hàng Xoài. Trồng cây ven đường để lấy bóng mát cho lối đi bộ dọc theo đường nhưng phải đoan chắc rễ cây không làm hư mặt lộ. Không biết hồi xưa mấy ông Lục lộ Sở Trường Tiền trồng cây dương tùy hứng hồn thơ; trồng me, xoài vì vợ đang ốm nghén? Còn thời CS đốn ráo cho tụi bây khỏi tối ngày bàn vô tán ra phải trồng cây gì vừa mát, vừa đẹp, vừa thơ nghe thiệt là nhức cái đầu! Ủa tụi nó có đầu đâu mà nhức?
Tui nhớ đường Hai Bà Trưng, thời Tây là Route de Quai, Bến sông Quai de Commerce. Cách đây một thế kỷ, con đường mé sông mới đầu là xoài, sau thay bằng hàng dương, nên dân gian thường kêu Bến Hàng Dương. Từ năm 1958, Tỉnh trưởng Đỗ Văn Chước (1957- 1959) đổi tên Bến Hàng Dương thành Bến Ninh Kiều ngày 4 tháng 8 năm 1958. Bến Ninh Kiều có Chùa Ông, nhà lồng chợ Cần Thơ, từng được gọi là chợ Hàng Dương. Bến Ninh Kiều có đèn 3 ngọn, bến đò xuôi dòng sông Hậu đi Cái Côn, Trà Ôn, Kế Sách, Đại Ngãi.
Lục trên ‘Google images’, tui tìm được cột đèn 3 ngọn nằm giữa ngã ba đường Ngô Quyền và đường Hai Bà Trưng. Trên lầu, bên tay phải là bảng hiệu nhà thuốc Tây ‘Pharmacie du Mekong’. Bên tay trái là Vinh Huê, tiệm “bịch răng”. Chú Ba nầy viết sai chánh tả. Bịt là dùng kim khí để bọc, viền xung quanh. Viết trúng phải là bịt răng vàng.
Bến Ninh Kiều với hàng dương xưa – nguồn manhhaiflickr
Bắc Kỳ dùng chữ ‘bọc răng vàng’.
Năm 1966, Ba tui từ cư xá Bưu Điện Tân Định căn số 230/9 ở lầu hai, đáo nhậm chức Trưởng ty Bưu Điện Mỹ Tho số 31 và 33 Đại lộ Gia Long. Tui đang học Đệ tứ 5 trường Petrus Trương Vĩnh Ký ở đại lộ Cộng Hoà chuyển trường về Trung học Nguyễn Đình Chiểu trên Đại lộ Hùng Vương. Cùng lúc nhà kế là căn chót số 230/10 có cái khung cửa sắt nhỏ ngăn cách trên hành lang, ông Trần Ý về đáo nhậm Ty Bưu Điện Cần Thơ trên đường Phan Đình Phùng góc Ngô Quyền. Ông Trần Ý, người Trung, vợ Bắc, có 4 người con: Anh: Trần Minh Trí (tên ở nhà là Viên), Trần Minh Ngọc, Trần Minh Sơn và con gái út là Trần Thị Minh Chi. Minh Chi đang học Gia Long chuyển về Đoàn Thị Điểm. Mãi những năm 1970s, nghe nói Minh Chi đang học Luật Cần Thơ, vượt biển rồi được định cư bên Đức và tui bặt tin người năm cũ từ độ ấy.
Tui nhớ đèn 3 ngọn Cần Thơ mà mỗi ngọn là một bóng đèn néon dài 1 mét 2 chĩa ra 3 hướng vì là nằm giữa ngã ba. Những tối mưa thiêu thân bù mắt bay đầy coi buồn thấy mẹ.
Tui nhớ uống rượu nếp than với em học trò cũ Nguyễn Hoàng Dũng, dân Kế Sách, đang học Kỹ sư Nông nghiệp Cần Thơ đêm bánh cống Cần Thơ đèn 3 ngọn. Ôi cái thời ‘mất dạy’, đói cơm, rách áo bánh cống làm gì có mặt con tôm. Bột gạo làm lớp vỏ bánh giòn. Đậu xanh nấu chín và làm nhưn. Chút thịt bằm, hành, tỏi, gia vị, dầu ăn. Trộn bột gạo với nước. Dùng một loại khuôn đặc biệt gọi là ‘cống’ bằng thiếc. Đổ bột vào khuôn, nhúng khuôn vào chảo dầu nóng, chiên cho đến khi bánh chín vàng ươm. Cắt bánh cống ra làm hai. Cuốn với cải xà lách, rau sống, chấm nước mắm chua ngọt. Trước lúc VC từ bưng biền vô cướp phá Cần Thơ, dân còn khá, bánh cống chỉ là món ăn chơi như bánh xèo. Bánh cống không phải là đồ nhậu. Sau 1975, đời đói nhăn răng, bánh cống không còn ăn chơi nữa mà ăn thiệt cho khỏi đói rã ruột.
50 năm đã trôi qua, tui nhớ bánh cống đèn 3 ngọn. Tui nhớ người cũ; tui nhớ học trò xưa. Tha hương biền biệt nhưng tui vẫn vấn vương hoài cố thổ; lòng tui bùi ngùi quá mạng Cần Thơ ơi!
Neubauer ngồi ở văn phòng. Đối diện hắn là bác sĩ Wiese, một con người hình thù như khỉ với da mặt lốm đốm tàn nhang và một bộ râu đỏ hoe vô trật tự. Neubauer có vẻ bực bội. Hôm ấy là một trong những ngày mà mọi việc đều có vẻ bất lợi. Tin tức trên mặt báo cho thấy có sự dè dặt nhiều hơn, ở nhà vợ hắn bỗng biến tánh, con gái hắn vừa dọn dẹp vừa khóc thút thít, hai luật sư trả lại hắn những căn phòng họ đã thuê khá lâu trong thương xá… và bây giờ đến lượt tên lang băm thô bỉ này đòi hỏi thái quá. Hắn hỏi với giọng chán chường: – Như vậy bác sĩ cần bao nhiêu đứa? – Ngay lúc này chỉ cần sáu thôi. Suy nhược về thể chất. Wiese không phải là bác sĩ của trại tập trung. Hắn làm chủ một bệnh viện tư ở ngoại ô và nuôi cao vọng trở thành một khoa học gia. Cũng như nhiều y sĩ khác, hắn dùng người làm vật thí nghiệm, và chính trại tập trung đã nhiều lần cung ứng tù nhân cho hắn trong mực đích ấy. Hắn là chỗ quen biết của viên Tỉnh trưởng cũ cho nên không một ai hỏi hắn nhiều về cách sử dụng các tù nhân. Người ta chỉ biết là sau đó, thi thể của những người tù bao giờ cũng được gởi trả lại đầy đủ để đưa vào lò thiêu xác. Bao nhiêu đó đã đủ rồi. – Bác sĩ cần họ để thí nghiệm cho y khoa? Wiese cười. Hàm răng ngay dưới bộ râu hắn trông lớn một cách nhức mắt: – Vâng. Thí nghiệm cho quân đội. Dĩ nhiên là vẫn phải giữ bí mật. – À, bí mật… Neubauer thở khó nhọc. Hắn không chịu đựng nổi giọng kẻ cả của hạng người như Wiese. Chỗ nào cũng có bọn họ chen vào và tỏ ra ngạo mạn đối với những người chiến đấu kỳ cựu. Hắn bảo: – Bác sĩ muốn lấy bao nhiêu đứa cũng được. Chúng tôi rất vui lòng nếu bọn chúng còn có thể hữu dụng. Điều mà chúng tôi cần là lệnh chuyển giao. Wiese nhìn lên với vẻ ngạc nhiên: – Lệnh chuyển giao? – Đúng vậy. Một lệnh chuyển giao từ thượng cấp của tôi. – Nhưng sao vậy… tôi không hiểu.. Neubauer cố che đậy sự khoái trá. Hắn đã chờ đợi sự ngạc nhiên của Wiese. Bác sĩ Wiese lặp lại: – Tôi không hiểu… Từ trước tới nay có bao giờ phải thế đâu. Neubauer cũng biết thế. Wiese không cần xin phép vì hắn quen biết với viên Tỉnh trưởng. Tuy nhiên, nhân vật có quyền thế đó đã bị đẩy ra mặt trận vì bị tố dính líu tới nhiều việc mờ ám. Bây giờ Neubauer có dịp làm khó dễ. Hắn cố dùng giọng khả ải: – Tất cả chỉ là thủ tục thôi. Nếu quân đội cấp cho bác sĩ một giấy phép, bác sĩ có thể lấy chúng đi mà không gặp bất cứ một trở ngại nhỏ nào. Wiese không lưu tâm tới vấn đề này, hắn chỉ dùng quân đội như tấm bình phong. Neubauer thừa sức hiểu. Wiese bứt bứt mấy sợi râu: – Thật tình tôi chẳng hiểu gì cả. Từ trước tới nay tôi vẫn lấy người chẳng có gì khó khăn. – Để thí nghiệm? Chính tôi đã giao? – Tôi lấy tù nhân của trại này. Neubauer nhấc máy điện thoại lên: – Chắc có sự ngộ nhận. Để tôi hỏi lại xem. Hắn không cần phải hỏi vì đã quá biết. Sau vài câu điện đàm, hắn đặt máy xuống: – Đúng như tôi đoán, thưa bác sĩ. Trước đây bác sĩ chỉ xin người làm việc nhẹ thôi, về vấn đề này chúng tôi khỏi phải làm thủ tục gì cả. Mỗi ngày trại cung cấp tù cho hàng chục cơ xưởng… Trong trường hợp ấy, tù nhân vẫn thuộc quyền giám thị của trại. Trường hợp của bác sĩ thì khác, bởi vì bác sĩ dùng chúng để thí nghiệm về y khoa. Do đó, cần phải có lệnh của cấp trên. Wiese lắc lắc cái đầu khó coi: – Nhưng chung quy cũng vậy thôi. Bọn tù cũng dùng để thí nghiệm như từ trước tới nay. Neubauer ngửa người ra: – Vấn đề đó tôi không rõ lắm. Tôi chỉ biết qua các hồ sơ. Theo tôi thì nên cho nó dừng lại tại chỗ. Chắc chắn là bác sĩ không muốn nhà chức trách lưu ý về sự lầm lẫn đó. Wiese ngồi im lặng một lúc lâu. Hắn nhận ra chính hắn đã tự gài bẫy hắn. Sau cùng hắn hỏi: – Nếu tôi xin người làm công việc nhẹ, Đại tá có vui lòng không? – Chắc hẳn chớ. Bộ phận lao tác của tôi chỉ lo về việc đó. – Tốt. Như vậy tôi xin sáu người làm công việc nhẹ. Neubauer cảm thấy hứng thú với chiến thắng không mấy vẻ vang: – Nhưng, thưa bác sĩ! Thành thật mà nói, tôi không làm sao hiểu nổi có sự thay đổi đột ngột như thế. Trước tiên, bác sĩ muốn lấy người để thí nghiệm, bây giờ lại muốn mượn người làm công việc nhẹ. Những tù nhân mà thể chất hoàn toàn suy nhược thì vá một đôi bít tất cũng không nổi, bác sĩ hãy tin tôi.
Wiese nuốt nước bọt, đứng lên thật mau và lấy mũ. Neubauer cũng đứng lên. Hắn thỏa mãn vì đã chọc phá được Wiese nhưng không muốn biến tên thầy thuốc này thành kẻ thù thực sự. Biết đâu, một ngày nào đó, viên Tỉnh trưởng kia sẽ trở về đây. Hắn bảo: – Thưa bác sĩ, tôi có một vài ý kiến. Wiese quay lại. Mặt hắn tái xanh. Những đốm tàn nhang lộ rõ ra trên màu da nhợt nhạt: – Ý kiến Đại tá ra sao? – Nếu bác sĩ cần người gấp, bác sĩ có thể xin những tên tù tình nguyện. Việc này không cần thủ tục. Khi một tù nhân tình nguyện hiến thể xác cho khoa học, chúng tôi không có gì để ngăn cản cả. Tuy không hoàn toàn chánh thức nhưng tôi cũng không bị ràng buộc bao nhiêu, đặc biệt là với bọn chết đói ở Tiểu trại. Chúng chỉ ký tên nhìn nhận đã tình nguyện là xong. Wiese không trả lời ngay. Neubauer nói tiếp với vẻ nhiệt thành: – Trong trường họp này, việc trả thù lao coi như không cần thiết. Bác sĩ thấy đó, tôi vẫn cố làm hết sức mình. Wiese vẫn nghi ngại: – Tôi không hiểu tại sao Đại tá bỗng dưng khó khăn đến thế. Tôi phục vụ cho Tổ quốc… – Chúng ta đều làm như thế cả. Tôi cũng chẳng khó khăn gì đâu. Đó chỉ là nguyên tắc. Với một thiên tài khoa học như bác sĩ, điều đó không cần thiết, nhưng với chúng tôi thì là cả một nửa thế giới. – Như vậy tôi sẽ có sáu người tình nguyện? – Sáu hoặc hơn nữa, tùy bác sĩ muốn. Tôi sẽ nhờ Trại trưởng đi một vòng tới Tiểu trại. Weber là người rất được việc. – Tốt lắm. Cảm ơn. – Không dám! Wiese rời văn phòng. Neubauer nhấc máy nói lên ra chỉ thị cho Weber: – Cứ để cho hắn tự chán nản. Không bắt buộc bằng lệnh. Chỉ có tình nguyên thôi. Nếu không ai chịu tình nguyện thì đành vậy. Hắn cười giọng đều giả rồi đặt máy xuống. Cơn khó chịu lúc nãy đã tan biến. Hắn thích thú vì đã được dịp chứng tỏ cho những tay “học phiệt” ấy biết là lời nói của hắn cũng có giá trị đó chớ. Tạo ra chuyện tình nguyện cũng là một ý kiến hay. Wiese sẽ hết sức khó khăn trong việc tìm người vì hầu hết tù nhân đều biết sõ phận sẽ ra sao. Ngay cả viên Y sĩ của trại cũng tưởng mình là khoa học gia đang nhặt nhạnh các tù nhân để dành khi cần thí nghiệm. Neubauer nhăn mặt. Hắn quyết định chút nữa sẽ hỏi xem mọi việc diễn tiến ra sao. Lebenthal hỏi: – Còn thấy ra vết thương không? Berger đáp: – Rất khó nhìn ra. Bọn SS chắc không thấy được đâu. Đó là chiếc răng trong cùng. Trong chốc lát là hàm sẽ cứng lại. Họ đã đặt xác của Lohmann ngay trước lao xá. Giờ điểm danh buổi sáng đã qua. Họ đang chờ chuyến xe lấy xác. Ahasver đứng bên cạnh 509. Môi ông ta động đậy. 509 bảo: – Khỏi phải đọc kinh Kaddish cho hắn. Anh ta là tín đồ Tin Lành. Ahasver nhìn lên: – Tôi có làm gì hại hắn đâu. Và ông lão tiếp tục đọc thì thầm. Bucher ra tới nơi. Phía sau hắn là Karel cậu bé Tiệp Khắc. Chân của nó ốm như tăm và khuôn mặt chỉ bằng một nắm tay. Nó đi lảo đảo. 509 bảo: – Trở vào đi Karel! Ngoài này lạnh lắm. Thằng bé lắc đầu và tiếp tục đi tới. 509 biết tại sao thằng bé muốn có mặt. Thỉnh thoảng Lohmann cho nó một ít bánh mì. Và đây là tang lễ của Lohmann, tức là con đường ra nghĩa trang, là những tràng hoa có hương nồng, là cầu nguyện và khóc kể, là mọi nghi thức mà họ có thể làm cho người quá cố… nhưng ở đây, tang lễ là đứng nhìn người chết với đôi mắt ráo hoảnh. Berger lên tiếng: – Xe tới kìa. Vào những năm đầu, trại chỉ có những người khiêng xác, nhưng rồi số tù chết càng ngày càng gia tăng, người ta phải dùng tới một cỗ xe được kéo bởi một con ngựa nhỏ. Con ngựa chết và bây giờ thay vào là chiếc xe vận tải giống như xe chở các loại gia súc từ lò sát sanh ra. Chiếc xe phải đi từ lao xá này sang lao xá khác để lấy xác. – Có bọn khiêng xác không? – Không. – Vậy là mình phải lo liệu đấy. Gọi Westhof và Meyer. Lebenthal nói khẽ: – Đôi giày. Mình quên mất. Còn xài được. – Đúng rồi nhưng phải có cái gì để bao chân. – Còn một đôi rách tươm của Buchbaum trong phòng, để tôi lấy ra. 509 nói: – Hãy đứng thành vòng tròn. Mau lên! Đừng để ai thấy tôi. Hắn quỳ xuống bên cạnh Lohmann. Các tù nhân khác vây quanh trong khi chiếc xe lấy xác dừng lại trước lao xá 17. Họ che hướng nhìn của toán người trên xe và của các tên lính canh từ các tháp gần đó. Bàn chân của Lohmann chỉ còn xương nên chiếc giày đã trở nên quá rộng. 509 lấy ra chẳng mấy khó khăn. – Đôi giày kia đâu? Mau lên, Leo! – Đây… Lebenthal giấu đôi giày rách dưới vạt áo. Hắn bước chen vào giữa rồi thả đôi giày rơi xuống trước mặt 509. Lấy đôi của 509 trao, hắn nhét vào vạt áo rồi trở vào trong. Mang xong đôi giày rách vào chân Lohmann, 509 đứng lên, choáng váng. Chiếc xe đã tới lao xá 18. – Ai lái xe? – Trật tự viên Strochschneider. Lebenthal trở ra. 509 gần như nói một mình: – Tại sao mình lại quên? Đế giày vẫn còn tốt. – Bán được không? – Đổi đồ ăn. – Được rồi. Xe đã tới gần. Lohmann nằm dài dưới nắng. Miệng hắn trẹo một bên, mồm hơi há ra. Một trong hai mắt hắn chiếu ra màu vàng của loại nút bằng sừng. Không ai nói gì nữa cả. Mọi người nhìn vào hắn. Hắn đã xa rời họ vĩnh viễn. Người ta đang lấy xác ở khu B và khu C. Trật tự viên Strochschneider quát tháo: – Mau lên! Ném mấy xác sình đó lên đi! Sáng nay, khu D chỉ có bốn người chết. Ba cái xác vừa chồng lên đã choáng hết chỗ. Nhóm Lão Làng bỗng hoang mang không biết đặt Lobmann vào đâu. Những cái xác trên xe đã chất lên quá cao. Phần lớn đều cứng ra. Strochschneider lại quát: – Để trên cao! Chân cẳng để đâu. Vài đứa trèo lên, đồ heo chỏ! Bọn bây chỉ còn làm có bấy nhiêu thôi. Chất xác chết và chết. 509 gọi: – Bucher! Westhof! Tới đây! Berger, 509, Ahasver và Lebenthal nâng Bucher lên xe cùng Westhof. Bucher mới đứng lên đã lảo đảo. Hắn chụp vào một xác chết chưa cứng hẳn nên cả hai đều rơi xuống. Strochschneider gầm gừ: – Đồ trời đánh! Làm cái gì vậy? Berger nói nhỏ: – Mau lêu Bucher! Làm lại! Họ vừa thở hổn hển vừa day Bucher lên. Lần này hắn đứng vững. 509 bảo: – Đưa cái xác kia lên trước. Nó còn mềm, dễ đẩy lên. Đó là một cái xác đàn bà nặng hơn những cái xác bình thường trong trại. Người phụ nữ này vẫn còn vành môi, chết không phải vì đói. Ngực bà ta vẫn còn đầy, không phải là nữ tù nhân của trại này, bởi vì nếu ở đây, bà ta chỉ còn da bọc xương thôi. Rất có thể người đàn bà đó ở trong trại giam những người Do Thái có chứng chỉ tạm trú của miền Nam Mỹ: ở đó các gia đình được sống chung nhau. Tên trật tự viên bước xuống xe, trông thấy xác người đàn bà, hắn lại chửi tục tằn: – Nối máu dâm hả? Bọn con trừu! Chửi xong hắn cười khoái trá. Là trật tự viên của toán lấy xác, hắn khỏi phải đích thân lái xe nhưng hắn thích lái vì đây là chiếc xe hơi. Trước kia hắn là tài xế nên bây giờ mỗi khi ngồi vào chỗ tay lái là hắn cảm thấy vui tươi. Phải tám người mới đưa nổi cái xác đàn bà lên. Thế mà họ thở không ra hơi. Và trong khi tên tù trật tự viên nhổ nước thuốc lá vào họ, họ nâng Lohmann lên xe. Xác của người bạn họ quá nhẹ so với xác của người phự nữ kia. Berger dặn nhỏ:
– Nêm hắn cho thật chắc. Móc tay vào các cánh tay kia. Cuối cùng, họ chèn được hai cánh tay của Lobmann vào phía dưới mèn xe. – Xong rồi. Bucher vừa nói vừa buông mình xuống đất. – Xong rồi, đồ cào cào, châu chấu! Tên tù trật tự viên mắng xong lại cười to. Mười bộ xương người làm việc vội vã làm hắn nhờ tới những con châu chấu khổng lồ kéo lôi xác chết của một con châu chấu khác. “Đồ cào cào, châu chấu!” Hắn nhìn nhóm Lão Làng và lặp lại. Họ không cười. Họ đang thở hổn hển và bận nhìn vào chiếc xe, nơi bàn chân của người chết thò ra. Trong số những bàn chân ấy có một đôi chân của trẻ em mang giày trắng lem luốc. Strocbschneider về chỗ tay lái và hỏi: – Kỳ tới, ai là người trong các bạn thương hàn ở đây được đi xe? Không ai trả lời. Mặt hắn sa sầm, hắn lại chửi: – Quân bẩn thỉu. Đồ câm! Hắn đạp mạnh ga. Máy xe nổ như một tràng súng máy. Các bộ xương vội vàng nhảy tránh. Hắn gục gặc đầu khoan khoái và cho xe phóng đi. Họ đứng trong vàng khói xăng. Lebenthal ho rồi chửi: – Đồ heo mập ngạo mạn! 509 vẫn đứng trong vầng khói: – Cũng là một cách trừ rận. Berger đang trên đường sang lò thiêu xác thì thấy Weber và Wiese đang đi tới. Ông ta khập khênh trở lại báo động: – Weber sắp tới! Đi với hắn có Handke và một người mặc thường phục. Chắc tên bác sĩ chuột bạch. Hãy coi chừng! Lao xá nhốn nháo lên. Sĩ quan cao cấp ít khi tới Tiểu trại. Mọi người đều hiểu sắp có chuyện quan trọng. 509 gọi: – Ahasver, giấu ngay con chó chăn cừu! – Họ có lục soát không? – Có thể không. Còn một người mặc thường phục nữa. – Họ tới đâu rồi? Còn đủ thì giờ không? – Còn. Mau lên! Con chó chăn cừu ngoan ngoãn nằm yên trong khi ông lão Ahasver gãi nhẹ lên mình hắn và 509 trói chặt chân tay hắn lại. Chưa bao giờ hắn vùng chạy cả nhưng cuộc viếng thăm này có vẻ bất thường nên tránh được rắc rối là tốt hơn. Ahasver nhét giẻ vào miệng người tù điên vừa đủ để hắn thở chớ không sủa được. Họ đẩy hắn vào một góc tối. Ahasver bảo: – Nằm đây! Nằm yên nghe! Con chó chăn cừu toan ngồi lên. Ahasver đưa tay dọa: – Nằm xuống! Nằm tại chỗ! Người điên vâng lời ngay. Bên ngoài Handke quát lớn: – Tất cả bước ra! Các bộ xương xô đẩy nhau và xếp thành hàng. Những người không đi nổi cũng được đỡ theo hoặc khiêng ra. Weber nhìn Wiese: – Bác sĩ cần những đứa như thế này chớ gì? Cánh mũi Wiese phập phồng như đang ngửi thấy mùi ngon. Hắn bảo nhỏ: – Đúng là những mẫu thí nghiệm tốt. Rồi hắn đeo kính gọng sừng vào, ung dung duyệt xét đoàn tù. Weber hỏi: – Bác sĩ cần chọn lựa? Wiese ho khẽ: – Còn câu chuyện… tình nguyện… – Thôi được, tùy bác sĩ. Sáu người làm việc nhẹ bước ra! Không một ai động đậy. Mặt Weber đỏ lẻn. Các đại diện lao xá lặp lại lớn tiếng lệnh của Weber và xô một vài người tới. Weber đi dài theo các dãy tù và hắn chợt thấy ông lão Ahasyer đứng ở hàng cuối của lao xá 22. Hắn nói to: – Tên này! Tên già có râu! Bước ra! Bộ không biết ở đây cấm chạy bậy bạ hả? Đại diện lao xá đâu? Lôi cổ tên già này ra! Ahasver bước ra. Wiese lẩm bẩm: – Già quá. Và hắn giữ Weber lại: – Khoan đã! Chúng ta áp dụng phương cách khác. Rồi nắn lấy giọng ôn tồn: – Các người nghe đây! Các người cần phải vào bệnh viện. Vào tất cả. Bệnh xá của trại đã hết chỗ trống ròi. Tôi có thể giúp các người sáu chỗ để điều trị. Các người cần cháo, thịt và thức ăn bổ dưỡng. Sáu người nào xét thấy cần hơn tất cả, hãy bước ra! Từ khu B, một bộ xương thất thểu ra hàng và đứng yên. Wiese ngắm nhìn rồi bảo: – Tốt, bạn là kẻ biết lẽ phải. Chúng tôi sẽ bồi dưỡng cho. Một người tù nữa bước ra. Rồi thêm một người. Họ đều là những tù nhân mới. – Mau lên! Ba người nữa! Weber giận dữ hét lớn. Hắn nhận thấy ý kiến của Neubauer về vấn đề tình nguyện là dại dột. Chỉ cần ngồi ở văn phòng ra lệnh gọi sáu tên là xong. Khóe miệng của Wiese xệ xuống: – Tôi đích thân bảo đảm cung cấp cho các người đầy đủ thực phẩm. Thịt, ca-cao, súp… Weber bực bội: – Thưa bác sĩ, bọn ngu này không quen nghe nói theo kiểu đó. Bộ xương Wessya đứng bên cạnh 509 dường như bị thôi miên: – Thịt hả? Wiese quay lại nhìn hắn: – Đúng vậy, người bạn, có thịt mỗi ngày. Wessya nhai miệng không. 509 thức tỉnh hắn bằng một cái thúc khuỷu tay. Tuy chỉ là một cử động kín đáo nhưng Weber cũng nhìn ra. Hắn đá vào bụng 509: – Đồ tạp chủng! Theo ý của Weber thì cú đá chẳng có gì nặng, chỉ là một đòn cảnh cảo chớ không phải trừng phạt. Nhưng 509 đã ngã lăn ra. – Đứng lên, quân gian trả! Wiese nắm giữ Weber lại và bảo nhỏ: – Chớ làm thế. Tôi muốn họ nguyên vẹn. Hắn khom xuống xem xét 509. Một lúc sau 509 mở mắt ra. Hắn không nhìn Wiese mà nhìn Weber. Wiese đứng thẳng lên: – Ông cần vào bệnh viện. Chúng tôi săn sóc cho. 509 ngồi dậy với tất cả khó khăn. Hắn thở hổn hển: – Tôi không bị thương. Wiese cười: – Là y sĩ, tôi biết rõ hơn ông. Hắn xoay sang Weber: – Vậy là thêm hai người nữa. Người cuối cùng phải trẻ hơn. Hắn chỉ vào Bucher “Người này chẳng hạn…” – Bước ra! Bucher bước ra đứng cạnh 509. Nhớ lỗ trống này, Weber nhìn thấy thằng bé Tiệp Khắc – Karel. Hắn hỏi: – Bác sĩ có cần thêm nữa không? – Cám ơn, tôi chỉ cần những người trưởng thành thôi. Cám ơn nhiều. – Được rồi. Tất cả sáu người tới trình diện tại văn phòng trong vòng 15 phút. Đại diện lao xá! Ghi số đính bài của chúng. Đi tắm rửa đi, bọn hôi thúi! Họ đứng sững như bị trời trồng. Không một ai lên tiếng. Họ hiểu chuyện gì phải xảy ra. Chỉ một mình Wassya nhăn mặt. Hắn là kẻ xấu chứng đói nên dễ tin lời của Wiese. Ba người tù mới nhìn vào khoảng trống một cách vô hồn, họ sẵn sàng ngoan ngoãn tuân theo bất cứ lệnh nào, ngay cả việc phải chạy đâm sầm vào hàng rào điện. Ahasver rên rỉ dưới đất. Sau khi Weber và Wiese đi rồi, Handke đã đánh ông ta bằng gậy. – Josef! Có tiếng gọi yếu ớt từ trại phụ nữ. Bucher không nhúc nhích. Berger lay động hắn: – Ruth Holland kìa. Trại giam đàn bà nằm bên trái của Tiểu trại, bị ngăn cách bởi một hàng rào đôi không châm điện. Bên đó chỉ có hai lao xá nhỏ được dựng lên trong chiến tranh, khi các cuộc bắt bớ tập thể bắt đầu. Trước đó, trại Mellern không hề có nữ tù nhân. Hai năm trước, Bucher đã làm việc tại đó luôn nhiều tuần. Hắn làm thợ mộc. Nhờ đó mà hắn gặp Ruth Holland. Thỉnh thoảng họ có gặp nhau và trò chuyện kín đáo. Rồi Bucher bị đổi sang một toán lao tác khác. Họ chỉ gặp lại nhau từ ngày Bucher bị đưa sang Tiểu trại. Vào một vài đêm dày sương mù, họ ra sát bờ rào to nhỏ với nhau. Ruth Holland đứng phía sau hàng rào kẽm gai ngăn cách hai trại. Vạt áo phùng phình lất phất quanh đôi chân khẳng khiu của cô ta. – Josef! Bucher nhìn sang: – Tránh chỗ khác đi, Ruth! Coi chừng bọn lính canh nổ súng! Ruth lắc đầu. Tóc cô ta hớt ngắn và xám đục. – Đừng đi Josef, cứ ở lại, đi không được đâu! Bucher nhìn 509 với ánh mắt cầu cứu. 509 đáp thay hắn: – Chúng tôi sẽ trở lại. – Anh ấy không trở lại được đâu. Tôi biết mà. Ông cũng biết. Kuth áp hai bàn tay lên hàng rào dây thép: – Không một người nào có thể trở lại. Bucher nhìn lên các tháp canh: – Vào trong đi, Ruth! Đứng đó nguy hiểm lắm. – Không trở về được đâu. Mấy người đều biết hết mà. 509 không trả lời. Còn gì đễ nói nữa. Từ bên trong, hắn tự cho mình đã điếc. Hắn chẳng còn một chút tình cảm nào, cho kẻ khác cũng như cho hắn. Hắn chỉ cảm thấy mình chẳng còn cảm thấy gì nữa cả. Ruth Holland vẫn không chịu im: – Anh ấy không trở lại được đâu. Đừng để anh ấy đi. Bưcher cúi gầm mặt xuống. Hắn chẳng biết phải nói gì. Tiếng của Ruth lại vang lên đều đều như tiếng kinh cầu: – Đừng để anh ấy đi. Thay một người khác vào. Anh ấy còn trẻ. Thay một người khác vào… Không một ai trả lời. Mọi người đêu biết là Bucher bắt buộc phải đi. Handke đã ghi số đính bài rồi. Vả lại, đâu có ai chịu thay vào. Họ đứng đó, người nọ nhìn người kia. Những người phải ra đi và những người còn ở lại. Họ nhìn nhau. Nếu bị sét đánh và chết tốt ngay có lẽ còn dễ chịu hơn đối với 509. Khó chịu bởi trong những cái nhìn nhau ấy còn có những lời lẽ giả dối không được nói ra: Tại sao lại là tôi? Ngay tôi? của phía bên này… và: Cám ơn Thượng đế. Không phải là tôi! Không phải chính tôi! của phía bên kia. Ahasver từ từ ngồi lên. Trong một lúc, ông ta bị lóa mắt rồi chợt nhớ ra. Ông nói lầm thầm. Berger quay mặt sang nơi khác. Người tù già nua bỗng nấc lên: – Lỗi tại tôi. Tôi… bộ râu của tôi… vì vậy mà họ tới gần. Nếu không, họ còn đứng đằng kia… Vừa tức tưởi, người tù già vừa bứt chòm râu với cả hai tay. Nước mắt tuôn ròng xuống. Ông lão không còn đủ sức để giựt đứt những sợi râu ra. Đầu ông ta gục tới gật lui. Berger lạnh lùng: – Thôi, vào trong đi. Abasver trố mắt nhìn lên rồi thình lình chụp úp xuống mặt đất kêu gào thảm thiết. 509 bảo: – Chúng ta đi. Lebenthal hỏi: – Cái răng vàng đâu? 509 móc chiếc răng từ trong túi ra trao cho hắn. Lebenthal run rẩy khoát tay về phía thành phố: – Thượng đế của bạn đấy! Những điềm lành và cột lửa! 509 lại mò trong túi áo. Lúc nãy, khi lấy chiếc răng ra hắn sờ trúng một mẩu bánh mì còn sót lại. Bây giờ mẩu bánh còn giúp ích gì cho hắn nữa. Hắn trao miếng bánh cho Lebenthal. Lebenthal tức giận: – Bạn ăn đi. Đó là phần của bạn. – Không. Nó chẳng giúp ích được gì cho tôi nữa. Một người Hồi liếc thấy mẩu bánh. Hắn luống cuống đi mau tới, miệng há hốc ra, chụp vào tay 509 và ngoạm miếng bánh. 509 đẩy hắn ra và đưa miếng bánh tới tận tay thằng bé Karel từ nãy giờ vẫn đứng yên bên cạnh hắn. Người Hồi bấu vào tay Karel. Thằng bé bình tĩnh đá vào ống quyển của người Hồi. Hắn loạng choạng lùi ra và bị những người khác đẩy tuốt ra xa hơn. Karel hỏi 509 với giọng tự nhiên: – Họ sẽ cho ông vào phòng hơi ngạt? Berger quạu quọ: – Karel, ở đây không có phòng hơi ngạt nào cả. Bộ không biết sao? – Ở Birkenau họ cũng nói như vậy, nhưng tới khi họ đưa khăn và bảo đi tắm, thì lại là hơi ngạt. Berger đẩy thằng bé sang một bên: – Đi ăn bánh đi kẻo họ cướp bây giờ. – Không sao đâu. Thằng bé đáp xong, cho miếng bánh vào miệng. Nó đã lớn lên trong nhiều trai tập trung nên phản ứng và ngôn ngữ của nó chẳng làm sao khác hơn được. 509 giục: – Thôi, chúng ta đi… Ruth Holland khóc nức nở. Hai bàn tay của cô ta bấu vào hàng rào kẽm gai trông như những ngón chân chim. – Thôi, đi! 509 thúc hối. Hắn ném một cái nhìn bao quát lên những người còn ở lại. Đa số đã lạnh lùng bò trở vào lao xá từ lâu. Ngoài sân chỉ còn những người của nhóm Lão Làng và một vài người khác. Bỗng nhiên 509 cảm thấy dường như có một cái gì to lớn và quan trọng cần phải nói ra, một cái gì mà mọi việc đều tùy thuộc vào. Hắn cố hết sức nhưng khòng thể đặt cái gì đó vào trong óc cũng như vào ngôn ngữ. Cuối cùng hắn chỉ nói được: – Đừng quên chuyện này! Không một ai lên tiêng. Hắn biết là họ có thể quên. Hắn đã từng chứng kiến những việc tương tự. Có lẽ Bucher sẽ chẳng quên vì hắn hãy còn trẻ nhưng hắn lại phải ra đi. Họ bước đi loạng choạng. Họ không tắm theo lời của Weber. Đó là một lối đùa của hắn vì nước đã không đủ uống thì lấy đâu ra để tắm. Họ đi thẳng tới, không nhìn quanh. Họ đi qua cổng rào, nơi được gọi là địa ngực môn. Wassya liếm môi. Ba người tù mới vẫn bước như hình nhân bằng máy. Họ vượt qua các lao xá đầu tiên của trại lao tác. Các toán tù ở đây đã rời khỏi trại từ lâu. Lao xá trống vắng và ảm đạm, nhưng đối vời 509 chúng có vẻ là một nơi tốt nhất trên thế giới vì ở đó có sự sống, có an toàn. Hắn bỗng có ý định bò vào đó và trốn lánh chuyến đi chạm trán với tử thần này. Hắn lạnh lùng nghĩ tới… chỉ sớm có hai tháng. Có thể sớm có hai tuần thôi. Tất cả đều hỏng cả rồi. Hỏng cả. – Đồng chí. Một người tù đâu đó bỗng xuất hiện và gọi hắn, lúc bấy giờ hắn đang đi ngang lao xá 13. Người tù vừa gọi đứng trước cửa, mặt đầy râu ngắn. 509 nhìn lên rồi thì thầm: – Đừng quên chuyện này! Hắn không hề quen người tù ấy. Tuy nhiên, người tù của lao xá 13 trả lời mau: – Chúng tôi sẽ không quên. Các bạn đi đâu? Các tù nhân phải ở lại làm tạp dịch trong trại lao tác đã thấy Weber và Wiese đi về phía Tiểu trại. Họ linh cảm có chuyện quan trọng xảy ra. 509 dừng bước. Hắn nhìn người tù có râu ngắn. Bỗng nhiên, hắn không còn lạnh lùng. Hắn lại cảm thấy điều quan trọng mà hắn vừa nói và lặp lại một cách khẩn thiết: – Đừng quên chuyện này! Đừng bao giờ quên! Mai mãi! – Mãi mãi! Người tù trại lao tác lặp lại hai tiếng sau cùng của 509 với một giọng cương quyết và hỏi tiếp: – Các bạn phải đi đâu? – Đi nhà thương. Để bị thí nghiệm thay cho loài chuột. Đừng quên! Bạn tên gì? – Lewinsky, Stanislaus. – Đừng quên chuyện này, Lewinsky! – Nhất định không bao giờ quên. Lewinsky sờ vào vai 509. Hắn nhìn kỹ vào Lewinsky. Lewinsky gật đầu. Khuôn mặt hắn hoàn toàn khác những người của Tiểu trại. 509 biết là Lewinsky đã hiểu cả rồi. Hắn tiếp tục bước đi. Phía sau hắn, tù nhân Wassya nói như mê sảng: – Thịt. Súp và thịt! Văn phòng có mùi hôi của sáp đánh giày. Người trưởng văn phòng chỉ vào một tờ giấy: – Ký tên vào đây! 509 nhìn lên mặt bàn. Hắn không hiểu tại sao lại phải ký tên. Tù nhân chỉ có tuân lệnh chớ có làm gì khác hơn được đâu. Bất giác, hắn có cảm tưởng đang bị nhìn chằm chặp. Đó là viên thư ký ngồi phía sau tên trật tự viên. Tóc hắn màu đỏ. Nhận ra 509 đã chú ý tới mình, viên thư ký từ từ nghiêng đầu một cách kín đáo từ trái sang phải rồi cắm cúi làm việc như chẳng có gì xảy ra. Weber bước vào. Mọi người đều đứng nghiêm. Hắn lấy tờ giãy trên bàn rồi quắc mắt: – Chưa xong hả? Mau lên! Ký vào đây! Wassya lên tiếng: – Tôi không biết viết. – Thì gạch chữ thập vào. Wassya gạch một lúc ba chữ thập. – Người kế tiếp. Ba người tù mới lần lượt bước tới ký tên. 509 cố trấn tĩnh một cách tuyệt vọng. Hắn cảm thấy dường như đâu đây có một lối thoát đang chờ sẵn. Hắn lại nhìn viên thư ký nhưng người này không ngẩng đầu lên. Weber hét: – Tới phiên mày. Mơ mộng hả? 509 cầm lấy tấm giấy. Mắt hắn mờ đi. Chữ trên giấy đang nhảy múa. Weber đá vào người hắn: – Còn muốn đọc hả? Ký vào mau, đồ chó! 509 đã đọc được gần trọn câu “Tôi cam kết là đã tình nguyện…” Hắn buông rơi tờ giấy xuống. Bao nhiêu đó đã rõ ràng rồi. Chính vì vậy mà người thư ký đã ra hiệu cho hắn. – Đồ trâu chó! Bộ muốn tao dạy cho ký tên hả? 509 lắc đầu: – Tôi không hề tình nguyện. Viên trưởng văn phòng nhìn sững 509. Tất cả các thư ký đều ngẩng đầu lên và cúi xuống chồng giấy tờ trước mặt thật mau. Trong một lúc không biết bao lâu, cả phòng lặng như tờ. Weber như chưa nghe rõ: – Mày nói gì? 509 hít một hơi thở sâu: – Tôi không hề tình nguyện. – Nghĩa là không chịu ký tên? – Vâng. Weber liếm môi: – À… mày không chịu ký… Hắn chụp bắt cánh tay trái của 509 và vặn ngược ra sau, đồng thời kéo lên. 509 ngã chúi xuống nền gạch. Weber lôi hắn dậy, đấm đá túi bụi. 509 kêu thét một lúc rồi ngất lịm. Weber càu nhàu: – Đồ yếu như sên. Và hắn mở cửa ra, gọi lớn: – Kleinert! Michel! Lôi đống giẻ rách này ra và làm cho nó tỉnh dậy. Để nó ngoài đó cho tôi. Hai người lính kéo lôi 509 ra ngoài. Weber bảo Bucher: – Tới phiên mày! Ký đi! Bucher bỗng phát run mặc dầu không muốn run. Hắn chợt thấy cô đơn vì 509 không còn bên cạnh hắn. Hắn có ý nghĩ bỏ cuộc nhưng một cái gì bắt hắn phải làm thật mau giống như 509 đã làm, nếu không thì trễ mất và hắn chỉ là một người máy. Hắn lắp bắp: – Tôi cũng không ký. Weber nhăn mặt: – Lạ chưa! Lại thêm một đứa nữa! Bucher gần như không cảm thấy sức va chạm của quả đấm. Trong nháy mắt, tất cả đều tối sầm quanh hắn. Lúc mở mắt ra, hắn thấy Weber đứng đó. Hắn thầm nghĩ… 509… 509 lớn hơn mình 20 tuổi. Ông ta cũng không ký như mình. Phải cố vượt qua. Hắn chợt nghe đau nhói, nhức buốt ở xương vai như bị lửa đốt, dao đâm… hắn không còn nghe được tiếng kêu la của chính hắn… rồi trời đất tối sầm. Tỉnh dậy lần thứ hai, hắn thấy mình may đều ướt đẫm và đang nằm cạnh 509 trên nền xi-măng của một gian phòng khác. Tiếng nói rồ rồ của Weber vọng vào tai: – Tao có thể bắt người khác ký thay cho bọn mày và thế là xong, nhưng tao không làm vậy. Tao sẽ bẻ gãy sự lì lợm của chúng mày và làm chúng mày phải tự tay ký vào. Phải van lạy, phải khóc lóc tao mới cho. 509 nhìn sang. Đầu của Weber nhô lên trong khung cửa sổ. Cái đầu trông như lớn ra với nền trời ở phía sau. Cái đầu đó tượng trưng cho sự chết và nền trời phía sau tượng trưng cho sự sống. Hắn nghĩ thầm, tại sao mình kình chống? Ý nghĩ đến với hắn một cách chán chường… có gì khác biệt với cái chết do gậy gộc gây ra và cái chết với một chữ ký tên rồi bị chích một mũi thuốc… mau hơn, êm thắm hơn. Tự nhiên hắn nghe có tiếng nói bên cạnh hắn, tiếng nói của chính hắn do một kẻ nào khác phát âm “Không. Tôi không ký… và nếu có bị đánh đập cho tới chết…” Weber cười sang sảng: – Thì ra chúng mày muốn như thế. Muốn chết hả? Với bọn tao, muốn được đánh chết phải mất mấy tuần. Đây chỉ là mới bắt đầu. Hắn chụp lấy sợi dây nịt. Sợi dây quất ngang mắt 509. Hắn chưa bị thương vì mắt đã thụt quá sâu. Lần thứ hai, sợi dây vút vào môi hắn làm nó nứt nẻ ra. Và sau khi bị đánh trúng vào xương sọ liên tiếp mấy cái, 509 lại ngất lịm. Weber xô hắn sang bên và quất vào Bucher. Bucher cố tránh né nhưng không kip. Đầu dây nịt đập vào mũi hắn và một cú đạp mạnh vào hạ bộ. Bucher kêu la nhưng vẫn còn cảm nhận đầu dây nịt đang bổ liên hồi vào lưng và cổ cho tới khi hắn rơi tõm vào khoảng tối đen. Hắn nghe có nhiều tiếng nói lẫn lộn nhưng vẫn không nhúc nhích. Càng bất động được bao lâu thì thời gian không bị đánh đập càng được kéo dài. Hắn cố đừng nghe nhưng tiếng nói quá gần như chọc thủng màng tai. – Thưa bác sĩ, nếu chúng không chịu tình nguyện… như bác sĩ thấy, Weber đã làm hết sức mình để khuất phục chúng. Giọng nói của Neubauer cho thấy hắn đang ở trong tình trạng thoải mải vì đã tiên liệu diễn biến đúng được phần nào. Hắn hỏi Wiese: – Bác sĩ có lãnh trách nhiệm vụ này không? – Dĩ nhiên là không. Bucher cẩn thận hé mắt nhưng hắn không tự kiểm soát được nên mí mắt vụt mở toang ra. Hắn nhìn thấy Wiese và Neubauer. Rồi bắn thấy 509. Mắt 509 cũng đã mở ra. Không thấy Weber đâu cả. Một lần nữa, Wiese nhắc lại: – Là người trí thức, tôi không muốn bắt ép họ… Neubauer cắt ngang: – Là người trí thức, vâng… có phải bác sĩ cần những người như thế này để thí nghiệm không? – Đó là vấn đề khoa học. Các cuộc thí nghiệm của chúng tôi có thể cứu mạng cho hằng vạn kẻ khác. Có thể là Đại tá chưa hiểu rõ… – Vâng, có thể như thế. Nhưng có thể là bác sĩ không hiểu rõ tình trạng ở đây. Chỉ là chuyện kỷ luật đơn giản thôi, nhưng hết sức quan trọng. Wiese trả lời với thái độ tự kiêu: – Mỗi người một hoàn cảnh. – Đúng vậy, đúng vậy. Rất tiếc là tôi không thể giúp ích bác sĩ nhiều hơn nữa. Nhưng chúng ta không thể cưỡng bách những kẻ ở dưới sự bảo vệ của mình. Và những người đang nằm đây dường như gớm ghiếc khi phải xa rời trại. Hắn quay lại hỏi 509 và Bucher: – Có phải các người muốn ở lại trại không? 509 mấp máy môi. Neubauer hỏi lại: – Cái gì? – Muốn. – Và người kia? – Tôi cũng vậy. Neubauer cười: – Bác sĩ thấy không? Họ quý mến trại của họ. Chẳng còn cách nào hơn. Wiese không cười theo. Hắn trợn mắt về phía 509 và Bucher: – Thô bỉ! Lần này chúng tôi chẳng có ý định gì khác hơn là thí nghiệm phương diện dinh dưỡng. Neubauer thổi khói xì-gà bay ra xa: – Cũng xong. Chúng tôi sẽ phạt họ gấp đôi về tội bất tuân thượng lệnh. Nếu bác sĩ còn cần thêm, trại chúng tôi vẫn sẵn sàng. Wiese lạnh lùng: – Cám ơn. Neubauer đóng cửa và quay vào. Làn khói xanh xanh và thơm phức của điếu xì-gà vờn quanh hắn. 509 ngửi thấy và thèm đến có cảm giác như khí quản bị xé rách ra. Tự nhiên, hắn hít một hơi thật sâu để hưởng mùi vị của khói trong khi mắt vẫn không rời Neubauer. Hắn không biết tại sao Bucher và hắn không bị gởi theo Wiese, nhưng chỉ trong khoảnh khắc hắn chợt hiểu ra. Chỉ có một cách giải thích thỏa đáng. Họ đã không tuân lệnh một sĩ quan SS và sẽ lãnh hình phạt của trại. Hình phạt ra sao thì hắn đã từng chứng kiến. Nhiều người đã bị xử treo chỉ vì không tuân lệnh của một tên tù đại diện, trật tự viên tầm thường. Hắn bỗng tự trách, không chịu ký tên là bậy. Với Wiese ít ra họ cũng còn có đôi chút hy vọng. Bây giờ… trễ mất rồi. Sự hối hận làm hắn tức nghẹn. Nó kẹp siết dạ dày, nó sừng sững trước mắt nhưng đồng thời, nỗi thèm khói thuốc của hắn cũng sắc bén một cách khó hiểu. Neubauer nhìn xuống số đính bài trên ngực. 509. Đó là một con số quá nhỏ. Hắn hỏi: – Ở trại bao lâu rồi? – Mười năm. Thưa Chỉ huy trưởng. – Mười năm? Neubauer không tin được là tù nhân của những ngày đầu tiên vẫn còn tồn tại. Hắn nghĩ thầm, đây là một chứng tích về lòng nhân hậu của ta. Chưa chắc những trại khác còn có người sống đến ngày nay. Hắn hít một hơi xì-gà. Không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Weber bước vào. Neubauer lấy điếu thuốc khỏi miệng và ợ dài. Hắn đã dùng điểm tâm với trứng và xúc xích – một trong những món mà hắn ưa thích nhất. Hắn gằn giọng: – Weber! Tôi có ra lệnh làm thế đâu. Weber ngước lên, cho là lời nói đùa. Hắn không thấy dấu hiệu gì khác lạ nên nói ngay: – Tôi sẽ cho xử treo chúng vào giờ điểm danh tới. Neubauer lại ợ ra. Hắn lặp lại: – Tôi bảo là đã không ra lệnh. Tại sao anh tự tiện làm như thế? Weber không trả lời ngay. Hắn không hiểu tại sao Neubauer tại tốn quá nhiều lời đối với những chuyện cỏn con như thế. Neubauer nói tiếp: – Ở đây có nhiều người hay tự tung tự tác như thế. Có phải anh mất thăng bằng không, Weber? – Thưa không. Neubauer quay sang phla 509 và Bucher. Treo cổ chúng, Weber vừa bảo thế. Dĩ nhiên là hắn có lý. Nhưng tại sao? Một khúc quanh đã bắt đầu ló dạng. Vả lại, cũng nên dạy cho Weber biết không phải mọi việc đều diễn tiến theo như ý hắn. Neubauer lạnh lùng hơn: – Đây không phải là một vụ từ khước tuân lệnh trực tiếp. Tôi đã chỉ thị là cần người tình nguyện. Nhưng việc xảy ra khác hẳn. Nhốt hai người này vào chuồng sắt hai ngày. Không còn hình phạt nào khác. Hiểu chưa? Tôi muốn ít ra lời nói của tôi cũng có giá tri. – Vâng. Neubauer bước ra ngoài. Hắn thấy rõ mình là thượng cấp, và khoan khoái. Weber nhìn theo với đôi mắt thù hằn. Mất thăng bằng? Ai là kẻ mất thăng bằng? Và ai là kẻ muốn lấy lòng tù nhân? Hai ngày chuồng sắt. Hắn bực tức xoay quanh. Một mảng nắng chiều đọng trên bộ mặt dập bấy của 509. Weber nhìn kỹ hơn: – Tao nhớ đã gặp mày ở đâu. Mày nhớ chớ? – Thưa, tôi không biết. 509 biết thật rõ ràng. Hắn hy vọng Weber đừng nhớ ra. – Tao biết là trước đây đã gặp mày. Tao sẽ tìm ra. Sao bị thương tích nhiều vậy? – Thưa, tôi ngã té. 509 thở ra dễ chịu. Cách đối đáp này chỉ là một thủ tục cũ rích tái diễn. Cũng là một trò đùa tàn nhẫn trong những ngày đầu tiên. Không một tù nhân nào được phép khai là đã chịu cực hình hay bị đánh đập. Weber nhìn 509 một lần nữa và lẩm bẩm: “Mình nhớ là đã gặp tên ngốc này hồi trước kia”. Hắn mở cửa ra gọi to: – Ném hai tên này vào chuồng sắt hai ngày. Và hắn quay lại đe dọa: – Đừng tưởng là sẽ được yên thân, loài sâu bọ! Tao sẽ treo chúng mày lên! Họ bị kéo xển ra ngoài. 509 nhắm mắt lại vì đau đớn. Rồi hắn ngửi thấy khí trời và mở mắt ra. Bên trên là vòm trời xanh vô tận. Hắn nghiêng đầu nhìn sang Bucher. Thế là đã thoát đại nạn. Thật khó tin.
5. Chương 5 Lao xá tối đen và hắt ra mùi hôi thúi. Lâu lắm rồi, họ đã sống không đèn đuốc. Berger thì thầm: – 509, Lohmann muốn nói chuyện với bạn. – Bộ nguy ngập rồi sao? – Chưa. 509 mò mẫm dài theo các lối đi chật hẹp tới các gian phòng gỗ. – Lohmann? Có tiếng sột soạt và Lohmann hỏi: – Berger có tới không? – Không. – Gọi ông ấy tới. 509 lại mò mẫm về chỗ cũ. Có tiếng chửi rủa. Hắn đã giẫm lên những người nằm ở hành lang. Một người cắn vào bắp chân hắn. 509 phải đập vào đầu kẻ đó cho tới khi hắn nhả ra. Phải mất nhiêu phút, hắn mới trở lại được chỗ của Lohmann, bên cạnh có Berger. – Có Berger cùng tới, bạn cần gì? Lohmann duỗi cánh tay ra: – Đây nè! 509 hỏi: – Cái gì? – Xòe tay ra phía dưới bàn tay tôi. Cẩn thận. 509 sờ vào nắm tay xương xẩu của Lohmann, cảm thấy như chạm phải da loài bò sát. Nắm tay từ từ từ mở ra. Một vật gì bé nhỏ và nằng nặng rơi vào lòng bàn tay 509. – Cất đi! – Ừ, nhưng cái gì vậy? Hay là…? Lohmann thều thào: – Đúng rồi. Cái răng của tôi. Berger chen tới gần: – Cái gì? Ai nhổ nó ra? Lohmann cười nghẹn. Cái cười không ra tiếng giống như tiếng cười lẩn khuất của một oan hồn: – Tôi. – Bạn? Làm cách nào? Cả hai đều cảm thẩy nét thỏa mãn của người sắp chết. Lohmann kiêu hãnh như một đứa trẻ nhưng hoàn toàn bình tĩnh: – Cạy bằng đinh. Hai tiếng đồng hồ. Một cây đinh nhỏ. – Cây đinh đâu? Lohmann lấy cây đinh bên cạnh hắn và trao cho Berger. Berger đưa cây đinh lên gần cửa sổ và sờ vào chung quanh. – Rỉ sét cả. Có chảy máu không? Lohmann lại cười nghẹn: – Berger, tôi không sợ ngộ độc đâu. Berger mò trong túi rồi bảo: – Khoan! Có ai còn diêm quẹt không? Diêm quẹt là vật quý của tù. 509 đáp: – Tôi không có. Một người ở chiếc giường nửa lừng lên tiếng: – Có đây. Berger đánh diêm. Lửa lóe lên. Berger và 509 phải nheo mắt lại như để khỏi bị lóa hầu có thể nhìn lâu hơn. Berger bảo: – Hả miệng ra! Lohmann nhìn sững Berger. Hắn thều thào: – Đừng có khùng. Bán nó đi. – Hả miệng ra. Một cái gì thoáng hiện trên mặt Lohmann giống như một nụ cười: – Thôi, để tôi yên. Ước gì còn gặp lại các bạn một lần nữa trong ánh sáng. – Tôi đi lấy iodine lại sát trùng cho. Berger trao que diêm cho 509 và mò mẫm về chỗ nằm. Có người la lên: – Tắt lửa đi! – Câm miệng! Người tù có que diêm trả đũa ngay, nhưng giọng nói lúc nãy lại vang lên: – Tắt lửa đi! Hay là muốn cho cả trại bị tiêu diệt? 509 sửa bộ đứng để cho thân hình khom xuống của hắn lọt vào giữa bức tường và que diêm. Người tù ở chiếc giường nửa lừng giăng chiếc mền rách của hắn che cửa sổ trong khi 509 dùng vạt áo che ngọn lửa. Mắt Lohmann thật trong – hoàn toàn trong. 509 nhìn đoạn diêm chưa cháy hết, nhìn sang Lohmann rồi nghĩ tới chuyện đã sống chung với Lohmann từ bảy năm qua và đây là lần cuối. Hắn đã từng nhìn quá nhiêu khuôn mặt trong trạng thái đó. Hắn nghe nóng ở các đầu ngón tay nhưng vẫn cố giữ que diêm cho tới khi không thể chịu nổi nữa. Hắn nghe tiếng chân Berger quay lại. Rồi bất thần, bóng tối chụp xuống như có ai vừa đâm mù mắt hắn. – Còn diêm không? Người tù ở chiếc giường nửa lừng trao hắn một que diêm khác: – Chỉ còn một que cuối cùng. Một que diêm cuối cùng, 509 bàng hoàng. Mười lăm giây ánh sáng. Mười lăm giây cho bốn mươi lăm năm đang còn được gọi bởi một cái tên: Lohmann. Những giây cuối cùng. Ảnh lửa lóe lên. – Tắt lửa ngay! Đập vào tay hắn cho tắt lửa! – Đồ ngu! Bọn nó không thấy đâu. 509 hạ tay thấp xuống. Berger đứng sát vào, chai iodine ở trên tay: – Hả miệng ra… Bỗng nhiên, ông ta ngừng nói. Bây giờ, ông ta cũng đã nhìn thấy tận tường khuôn mặt của Lohmann. Ông ta muốn làm một cái gì nhưng khòng kịp nữa. Từ từ Berger cho chai iodine vào túi. Lohmann nhìn lên, không nháy mắt. 509 nhìn nơi khác. Hắn xòe bàn tay ra. Một khối vàng nhỏ bé nằm đó. Hắn lại nhìn Lohmann. Lửa cháy nóng đầu ngón tay. Từ bên cạnh một bóng người đập vào tay hắn. Lửa tắt ngấm. Hắn nói: – Ngủ ngon, Lohmann! Berger bảo: – Tôi sẽ trở lại. Lohmann thở nhẹ: – Cứ để mặc tôi. Thế này là dễ rồi… – Có thể sẽ tìm được vài que diêm khác. Nhưng Lohmann chẳng nói được gì nữa. 509 cảm thấy mảnh vàng nằng nặng ở bàn tay. Hắn bảo nhỏ Berger: – Mình ra ngoài kia. Nói chuyện ở ngoài đó tốt hơn. Chỉ có hai chúng ta thôi. Họ sờ soạng ra phía cửa và đi sang bên hông lao xá để tránh gió. Lúc này thành phố chỉ còn là một khối đen, phần lớn những nơi cháy đã được dập tắt. Chỉ còn gác chuông giáo đường St. Cathérine đang đẫm lửa như một ngọn đuốc khổng lồ. Ngôi nhà thờ này quá cổ, gỗ đã khô đét từ lâu nên Đội Cứu hỏa đành chịu bất lực. Cả hai ngồi xuống. 509 hỏi: – Bây giờ mình làm sao? Berger dụi tay vào hai mắt nóng đỏ: – Nếu mảnh vàng đã bị chúng ghi sổ thì mình bó tay. Chúng nó sẽ điều tra và treo cổ một vài người… tôi là người trước tiên. – Hắn bảo là không có khai báo. Lúc hắn tới đây, thủ tục đó chưa được áp dụng. Hắn đã ở đây bảy năm rồi. Thời đó răng vàng chỉ bị cạy ra chớ không vào sổ. – Có chắc không? 509 nhún vai. Cả hai ngồi im lặng một lúc. Cuối cùng 509 đưa ý kiến: – Mình vẫn còn dịp để nói sự thật và trao cho chúng cái răng vàng. Hoặc gắn trả vào miệng Lohmann khi hắn chết. Bàn tay nắm chặt miếng vàng, 509 nói tiếp: – Hay là mình cứ làm như thế? Berger lắc đầu. Khối vàng bé nhỏ ấy có thể đổi lấy cuộc sống nhiều ngày. Cả hai đều biết như thế nên đều không muốn bỏ cuộc. 509 lại hỏi: – Sao mấy năm trước hắn không cạy ra để đổi lấy thực phẩm? – Bọn SS đâu chịu để yên. – Đúng vậy. Càng đúng hơn khi chúng khám phá vết thương còn mới trong miệng hắn. – Điều đó không đáng lo mấy. Chỉ cần hắn chống nổi tử thần thêm ít lâu nữa là vết thương sẽ lành. Vả lại đó là chiếc răng cấm trong cùng, khó mà thấy được. Nếu hắn chết đêm nay thì chờ tới sáng cũng khá lâu. Nếu sáng mai hắn chết, mình cứ để cho thi thể cứng lại. Như vậy là xong. Chúng ta có thể lừa thằng Handke lúc điểm danh buối sáng. 509 nhìn sang Berger: – Chúng ta cứ thử coi. Mình đang cần tiền, đặc biệt là hiện nay. – Đúng, mình chẳng còn cách nào khác hơn. Ai sẽ lo việc đổi chác? – Lebenthal. Chỉ có hắn mới đủ khả năng. Phía sau họ, cửa lao xá mở ra. Vài ba người kéo lôi tay chân của một hình người đem ném lên đống xác chết bên lề đường. Nơi đó là chỗ nằm của các tù nhân đã chết từ lúc điểm danh buổi tối. – Ủa, Lohmann hả? – Không phải. Chẳng có người của mình. Đám này toàn là dân Hồi. Những người vừa lôi xác chết ra lảo đảo trở lại lao xá. Berger hỏi: – Có ai thấy mình nhận chiếc răng vàng không? – Chắc là không. Quanh chỗ hắn nằm, hầu hết đều là người Hồi. Người duy nhất có thể thấy là anh chàng cho mình diêm quẹt. – Hắn có nói gì không? – Không, chưa nghe gì cả. Nhưng hắn vẫn có thể bắt mình phải chia phần. – Chuyện đó không đáng ngại, vấn đề là không biết hắn có hiểu lầm đây là một món béo bở để rồi bán đứng chúng mình không? 509 nghĩ ngợi. Hắn từng biết rất nhiều người đã dám làm bất cứ gì miễn là có được một mẩu bánh mì. Cuối cùng hắn nói: – Trông anh ta không phải hạng người đó. Bằng không tại sao anh ta cho mình diêm quẹt? – Điều đó không dính dáng gì chuyện kia. Phải cẩn thận, nếu không thì cả hai chúng ta sẽ xong đời. Luôn cả Lebenthal nữa. 509 quá biết điều này. Hắn đã chứng kiến nhiều người bị treo cổ chỉ vì chuyện không đâu. Hắn bảo: – Phải để ý hắn ít lắm là cho tới khi hỏa thiêu Lohmann và Lebenthal đã mua bán xong cái răng. Sau đó hắn chẳng còn làm gì được nữa. Berger gật đầu: – Bây giờ tôi vào trong may ra sẽ tìm thấy vài ý kiến. – Được rồi. Tôi ở đây chờ Leo. Có lẽ hắn còn ở bên trại lao tác. Berger đứng lên đi vào lao xá. Ông ta và 509 có thể hy sinh mạng sống để cứu Lohmann, nhưng họ biết là chẳng còn cách nào nữa. Do đó họ nói về người sắp chết như nói tới một phiến đá. Những năm bị giam cầm đã bắt buộc họ phải thực tế hơn. 509 ngồi co ro trong bóng tối của nhà cầu. Đó là nơi tốt nhất, ở đó không ai để ý tới hắn. Toàn thể các lao xá thuộc Tiểu trại chỉ có một nhà vệ sinh công cộng tương đối rộng lớn này được xây lên ở một khoảng đất trống nằm giữa hai trại. Đó là nơi mà các bộ xương tấp nập ra vào với những tiếng rên rỉ không ngừng. Nói chung thì hầu hết mọi tù nhân đều bị bệnh tả, có kẻ trầm trọng hơn và nhiều người đang nằm lả quanh đó chờ lấy lại sức để lết vào trong, cả hai bên nhà cầu đều có hàng rào kẽm gai để ngăn cách Tiểu trại và trại lao tác. 509 lựa thế ngồi để tầm mắt có thể bao lấy cổng trại. Ngoài cổng là dãy nhà của bọn SS và tay sai như lao xá trưởng, đại diện lao xá và phu lấy xác. Berger là người duy nhất của lao xá 22 được phép đi qua cổng để tới lò thiêu người. Tất cả mọi tù nhân khác đều bị cấm. Người Ba Lan gọi đó là địa ngục môn vì sau khi được đổi tới Tiểu trại, tù nhân chỉ có thể ra khỏi cổng khi đã thành xác chết. Bất cứ tên lính canh nào cũng có quyền nổ súng vào một bộ xương bị nghi ngờ là toan lẻn sang trại lao tác. Gần như chẳng một ai làm việc đó. Những người tù bên trại lao tác cũng chỉ được qua Tiểu trại khi có phận sự. Chẳng những bị kể như là khu vực trong hàng rào y tế, Tiểu trại còn bị các tù nhân mạnh khỏe khác coi như một phòng chờ đợi của nghĩa trang, nơi tập trung những người đang chờ chết. Qua hàng rào kẽm gai, 509 có thể nhìn thấy một phần những con lộ bên trại lao tác. Trên những con lộ đó, tù nhân chưa tới giờ ngủ, tụm năm, tụm ba chuyện trò hoặc đi lang thang… Và mặc dầu khu vực đó chỉ là một phần của toàn trại nhưng 509 có cảm tưởng như bên này và bên kia đang bị ngăn cách bởi một cái vịnh không thể bắc cầu… và mặc dầu khu vực bên kia trông như một nơi tạm cư lạc lõng nhưng ít ra ở đó sinh khí và tình đồng đội vẫn còn. Từ phía sau, 509 nghe những bước chân kéo lê yếu ớt của các tù nhân đi vào nhà cầu. Hắn không muốn nhìn quanh để khỏi bắt gặp những cặp mắt lịm chết của họ. Gần như họ không mở miệng nói nữa, nhiều lắm là họ chỉ còn rên rỉ. Từ lâu rồi, họ không còn suy nghĩ nữa. Họ được gọi là dân Hồi giáo bởi vì họ hoàn toàn phó mặc cho số mạng. Họ cử động như một cái máy vặn dây thiều và chẳng còn một chút ý lực nào ngoại trừ một vài vận chuyển của thể chất. Trong họ tất cả đều tắt lịm. Họ là nhũng thi hài còn sống và sẽ chết đi như ruồi nhặng trong giá rét. Tiểu trại đầy dẫy những người loại đó. Họ đã vỡ nát và mất hướng, chẳng còn gì có thể cứu vãn được – ngay cả tự do. 509 cảm thấy lạnh thấu xương. Tiếng thì thầm rên rỉ phía sau hắn giống như một làn nước lũ có thể dìm sâu người ta trong đó. Nhờ vào tinh thần bất khuất, nhờ vào ý chí không đầu hàng số mạng mà nhóm Lão Làng vẫn còn sống. Tự nhiên, 509 lắc vai và quay đầu dường như với cử động đó, hắn biết ra là mình vẫn còn sống và vẫn còn nghi lực. Bên trại lao tác có tiếng còi rú lên. Các dãy lao xá đều có nhà cầu riêng nên ban đêm đều bị khóa cửa. Tù nhân đã biến dạng. Không đầy một phút, tất cả đều trống vắng, chỉ còn lại những chiếc bóng mờ thiểu não bên Tiểu trại. Những cái bóng ở đây đã bị đồng bạn phía bên kia quên lãng từ lâu… đó là sự còn lại của sự sống đang run rẩy trên vùng đất chết. Lebenthal không đi qua cổng. Thình lình 509 thấy hắn đi xéo phía trước mình. Có lẽ hắn đã đi qua bởi một ngõ ngách nào đó phía sau nhà cầu. Không ai rõ hắn tới lui ra sao cả. – Leo! Lebenthal dừng lại: – Chuyện gì vậy? Kìa, bọn SS vẫn còn ở đó. Tránh ra chỗ khác đi. Cả hai đi về phía lao xá. 509 hỏi: – Có được món gì không? – Cái gì? – Đồ ăn chớ còn gì nữa? Lebenthal nhún vai: – Đồ ăn! Bạn nghĩ gì? Tôi có phải là trật tự viên nhà bếp đâu. – Tôi không nói thế. – Vậy bạn muốn tôi phải làm gì? – Không muốn gì cả. Tôi chỉ hỏi là bạn có món gì ăn được không. Lebenthal đứng lặng yên rồi chua chát bảo: – Thực phẩm. Bạn có biết là những người Do Thái trong trại đều bị phạt nhịn bánh mì hai ngày không? Lệnh của Weber. 509 nhìn sững Lebenthal: – Có thật không? – Hừ, tôi dựng đứng lên à? – Trời! Rồi sẽ có hàng đống thây người. – Đúng vậy. Hàng đống. Vậy mà bạn muốn biết tôi có món gì để ăn không… – Bình tĩnh, Leo. Ngồi xuống đây. Đây là một mẩu chuyện đẫm máu. Ngay bây giờ, nếu mình khéo xoay xở, mình sẽ có… Lebenthal bắt đầu run: – Thật vậy không? Như thế tất cả đều là lỗi của tôi sao? Hắn có tật hay run lên mỗi khi bị xúc động. Đối với hắn, run lên cũng đồng nghĩa như gõ mấy đầu ngón tay lên mặt bàn mà kẻ khác thường làm. Phản ứng như thế cũng là một cách tự trấn an, một cách làm giảm bớt cơn xúc động. Ở trại tập trung thì loạn thần kinh và thái độ lạnh nhạt đều được coi như một. Lebenthal trách bằng tiếng rên cao giọng: – Tôi đã cố hết sức mình. Tôi đã phải lựa thời cơ để chụp giựt, và bây giờ bạn tuyên bố là chúng ta cần… Giọng hắn bỗng nhiên chìm lặng như tiếng nói trong cổ họng của người đang súc miệng, nghe giống như một trong số các loa phóng thanh của trại thình lình bị vỡ tan. Các ngón tay hắn mò mẫm trên mặt đất. Cuối cùng, hắn tìm thấy hàm răng giả, dùng vạt áo lau sạch rồi gắn vào miệng. Bây giờ cái loa lại tiếp tục phóng thanh. 509 để mặc hắn oán trách, chẳng thèm nghe. Lebenthal chợt nhận ra nên ngừng nói. Một lúc lâu, hắn hỏi: – Chúng ta đã từng bị bỏ đói, có khi hơn cả hai ngày liền. Tại sao bữa nay bạn lại làm ồn như thế? 509 nhìn người bạn một lúc lâu, rồi trỏ tay xuống thành phố và ngôi nhà thờ đang cháy rực. – Cái gì ở dưới kia, Leo… – Cái gì đâu? – Ở dưới kia. Cái gì đó trong kinh Cựu Ước? – Sao lại dính dáng tới kinh Cựu Ước? – Có phải điều đó giống như trong thời kỳ của Moses chăng? Một cột lửa đưa con người thoát khỏi vòng nô lệ? Lebenthal nheo mắt và nói bằng giọng vững chắc hơn: – Một vầng khói ban ngày và một cột lửa ban đêm. Có phải bạn muốn nói thế không? – Đúng vậy. Và phải chăng là ý Trời? – Đức Jehovah. – Đúng, đức Jehovah. Và phía dưới kia… bạn đã biết rồi. Đó là một sự kiện nhỏ tương tự như thế. Đó là hy vọng, Leo, hy vọng của chúng ta. Khốn thay, có ai trong các bạn nhận thấy điều đó không? Lebenthal không trả lời. Hắn ngồi co quắp lại rồi nhìn đăm đăm xuống thành phố. 509 ngã người ra sau. Đây là lần đầu tiên hắn nói ra điều đó. Hắn nghĩ, ít ai muốn nói tới vì nó sẽ giết chết người ta. Đó là một thứ ngôn ngữ vĩ đại. Mình đã tránh nhắc tới từ nhiều năm qua vì nó gặm nhấm mình… nhưng bây giờ nó đã trở lại, tuy người ta không dám nghĩ ra, nhưng nó đã xuất hiện, và bây giờ nó sẽ tàn hại đời mình hay sẽ biến thành sự thật. Hắn nói: – Leo, cái gì ở dưới kia có nghĩa là phá sản. Lebenthal động đậy và nói khẽ: – Nếu chúng thất trận. Chỉ có thể… nhưng làm sao biết được? Tự nhiên hắn nhìn quanh sợ hãi. Trong những năm đầu tiên, tin tức về các trận chiến đều được phổ biến cho tù nhân. Tuy nhiên, về sau, khi các chiến thắng không còn nữa, Neubauer ra lệnh cấm mang báo chí vào trại và tuyệt đối cấm máy thu thanh của trại loan báo những tin tức liên quan tới cuộc lui quân. Từ đó, những tin đồn dữ dội lan khắp các lao xá cho đến nỗi không ai còn biết sự thật ra sao cả. Cuộc chiến đang ở vào giai đoạn bất lợi, mọi người đều hiểu, nhưng cuộc cách mạng mà họ mong đợi từ bao năm qua vẫn chưa hiện tới. – Leo, chúng đang thua trận. Đã tới giai đoạn kết thúc rồi. Nếu chuyện dưới kia xảy ra vào năm đầu tiên thì chẳng có nghĩa gì. Bây giờ ó xảy tới – sau năm năm – điều này chứng tỏ là phe đồng minh thắng. Lebenthal lại nhìn ra sau: – Tại sao bạn nói tới chuyện đó? 509 quá hiểu về trạng thái tin tưởng của người tù. Những gì được nói lớn ra chắc chắn sẽ không có hiệu lực. Vả lại, một hy vọng hão huyền còn gây tai hại lớn cho nghị lực. Đó là lý do khiến nhiều người dè dặt. – Tôi nói tới chuyện đó vì đây là lúc phải đề cập tới. Hiện thời, niềm hy vọng ấy sẽ giúp chúng ta vượt qua. Lần này không phải là những mật hiệu ở nhà cầu. Chúng ta phải… 509 bỗng ngưng ngang. Lebenthal hỏi: – Phải sao? 509 không tin chắc ở mình. Vượt qua – hắn nghĩ tiếp – Phải vượt qua và hơn thế nữa. Cuối cùng hắn bảo: – Đây là một chủng tộc. Leo, một chủng tộc với… Hắn nghĩ “với sự chết chóc” nhưng không muốn nói ra. Hắn chỉ về phía đồn trại của bọn SS: – Với bọn ở đằng kia! Chúng ta không để cho thua cuộc. Giai đoạn kết thúc đã ló dạng, Leo. Hắn nắm lấy cánh tay của Lebenthal: – Bây giờ, mình phải làm một cái gì… – Nhưng mình có thể làm gì? 509 cảm thấy đầu óc quay cuồng như người say. Từ lâu hắn đã mất thói quen nói nhiều. Và cũng từ lâu, hắn chưa hề suy nghĩ nhiều như hôm nay. Hắn lấy chiếc răng vàng của Lohmann từ trong túi ra đưa cho Lebenthal: – Của Lohmann. Chắc là không vào sổ. Bán được không? Lebenthal thử sức nặng của khối vàng bé tí bằng mấy cử động của bàn tay. Hắn không lộ vẻ gì ngạc nhiên: – Nguy hiểm. Chỉ có thể thương lượng với một kẻ nào có thể rời khỏi trại hoặc có liên lạc với bên ngoài. – Làm cách nào cũng được. Mình sẽ đổi được gì? Cần phải làm gấp. – Không thể quá gấp được. Một việc như thế này cần phải tính toán cẩn thận. Phải nhờ tới đầu óc, nếu không thì chúng ta sẽ bị xử giảo hoặc chẳng có một xu nhỏ nào. – Có thể tính ngay đêm nay không? Lebenthal buông rơi bàn tay cầm chiếc răng vàng xuống: – 509, hôm qua bạn hãy còn sáng suốt mà. – Hôm qua đã qua lâu lắm rồi. Một tiếng đổ vỡ từ thành phố vọng lên và sau đó là một tiếng chuông ngân. Lửa đã thiêu rụi các xà ngang của tháp giáo đường và cái chuông vừa rơi xuống. Lebenthal rụt mình vào với vẻ sợ hãi : – Chuyện gì vậy? 509 liếm môi: – Một dấu hiệu, Leo. Một dấu hiệu cho thấy là hôm qua đã quá lâu rồi. – Có phải cái chuông không? Tại sao chúng không đúc nó thành đại bác? – Không biết được, có thể chúng quên. Bây giờ mình tính sao? Mình còn phải xoay xở cho những ngày không có bánh. – Đêm nay chắc không được. Đây là đêm thứ Năm. Sinh hoạt cộng đồng hằng tuần tại Bộ Chỉ huy SS. – Biết rồi. Nhưng đêm nay, mấy cô gái điếm ấy tới. Lebenthal nhìn lên: – Bạn cũng biết nữa à? Bằng cách nào? – Bằng cách này hay cách khác. Tôi biết, Berger biết, Bucher biết và Ahasver cũng biết. – Còn ai nữa không? – Hết rồi. – Thế là các bạn hiểu cả. Tôi không ngờ là bị theo dõi. Phải cẩn thận hơn mới được. Được rồi, cứ tính chuyện đêm nay. 509 bảo: – Leo, cố bán cho được cái răng đó đêm nay. Đó là vấn đề quan trọng hơn. Phần kia tôi sẽ thay bạn. Đưa tiền cho tôi. Tôi đã có cách. Không khó khăn gì. – Bạn biết làm thế nào rồi chớ? – Biết. Ngồi chờ ở chỗ đất lõm. Lebenthal nghĩ ngợi một lúc rồi bảo: – Có một gã trong đội vận tải. Ngày mai hắn lái xe xuống phố. Sẽ cố gắng xem hắn có cắn câu không. Được. Có thể tôi sẽ trở lại kịp để đổi chác. Hắn trao chiếc răng vàng cho 509. Ngạc nhiên, 509 hỏi: – Sao lại đưa tôi? Bạn cứ giữ có phải tiện hơn không? Lebenthal lắc đầu với một chút bực dọc: – Bây giờ bạn đã biết cách bán buôn, đổi chác rồi, tại sao không hiểu là đừng để cho chúng nó có cơ hội phỗng tay trên. Nếu điều đình xong tôi sẽ trở lại lấy. Trong khi đó, bạn giấu nó đi. Nào, hãy nghe tôi… 509 nằm sát xuống chỗ đất lõm kế hàng rào kẽm gai. Ở đấy, bức rào bắt đầu vòng quanh nên các trạm canh có trí súng máy khó nhìn thấy – nhất là vào đêm có sương mù. Nhóm Lão Làng đã khám phá chỗ ẩn núp này từ lâu, nhưng chỉ có một mình Lebenthal biết lợi dựng nơi đó để làm ăn từ nhiều tuần qua. Khoảnh đất phía ngoài trại trải dài hàng trăm thước là khu cấm địa, chỉ có người mang giấy phép đặc biệt của bọn SS mới được đi qua. Cả một khu vực rộng đó đã được khai quang và tầm súng đại liên lúc nào cũng sẵn sàng quét ngang qua. Lebenthal vốn có giác quan thứ sáu về mọi vấn đề liên quan tới thực phẩm, đã quan sát kỹ diễn biến của những đêm thứ Năm suốt mấy tháng qua và nhận thấy sự đi lại đều đặn của hai cô gái qua vùng đất cấm đó. Mỗi lần như thế, họ đi sát bên phía Tiểu trại. Hai cô gái đó là chiêu đãi viên của quán con Dơi, một quán rượu bẩn thỉu ở ngoại ô thành phố. Họ tới làm kẻ giúp vui cho những buỗi dạ hội văn nghệ của bọn SS. Bọn SS cho phép họ đi qua khu cấm địa vì nếu không, họ sẽ phải đi vòng và mất ít nhất là hai tiếng đồng hồ. Trong thời gian họ đi vào vùng này, hàng rào thép chạy dọc theo Tiểu trại được ngưng châm điện. Cơ quan điều hành của trại không hề hay biết việc này. Vả lại, chắc chắn chẳng có gì xảy ra vì không một tù nhân nào của Tiểu trại có đủ sức đào thoát cả. Một hôm, có lẽ vì trắc ẩn một trong hai cô gái điểm đã ném một mẩu bánh mì qua rào kẽm gai giữa lúc Lebenthal tình cờ có mặt gần nơi đó. Một vài câu trao đổi trong bóng tối bắt đầu có hiệu lực… và kể từ hôm đó, các cô gái mãi dâm ấy thỉnh thoảng mang theo một vài món ăn bán cho Lebenthal, nhất là trong những đêm mưa hoặc có sương mù. Họ ném đồ ăn qua hàng rào trong khi giả vờ sửa lại bít tất hoặc giũ cát khỏi giày. Trại hoàn toàn chìm khuất trong bóng tối và bên phía này, lính canh thường ngủ gà ngủ gật. Cho dầu có tên lính nào nghi ngờ đi nữa, hắn cũng không dám bắn vào các cô gái kia. Và nếu muốn điều tra, hắn cũng phải mất ít nhất vài mươi phút, thời gian đó cũng đủ để phi tang. 509 nghe tiếng chuông của giáo đường thành phố rơi xuống. Một vầng lửa bắn lên và túa ra. Tiếp theo là tiếng còi từ xa của đội cửu hỏa. Hắn không nhớ rõ là đã đợi mất bao lâu. Ở trại tập trung, thời gian là một ý niệm mơ hồ, vô nghĩa. Thình lình hắn nghe thấy tiếng người và tiếng bước chân. Trùm chiếc áo ngoài của Lebenthal lên, hắn bò tới sát bờ rào nghe ngóng. Từ phía trái, tiếng bước chân nhè nhẹ đi lần tới. Hắn nhìn ra sau. Trại tối om, hắn không thể nhìn ra được cả những người Hồi đi khập khễnh tới nhà cầu. Thay vào đó, hắn nghe tiếng gọi của một tên lính canh phía sau hai cô gái điếm: – Đổi gác vào 12 giờ. Mình gặp nhau sau đó chớ? – Được rồi, Arthur. Tiếng bước chân tới gần hơn. Nhưng 509 còn phải mất thêm ít phút mới nhận ra bóng dáng của hai cô gái điếm. Hắn nhìn sang các pháo tháp. Trời tối, tối đến nỗi hắn không nhìn thấy được bọn lính canh… như thế bọn chúng cũng không thể thấy hắn. Thận trọng hắn bắt đầu huýt gió. Hai cô gái điếm dừng lại. Một người hỏi: – Ông ở đâu? 509 đưa một cánh tay lên vẫy vẫy. – À thấy rồi. Có tiền đó không? – Có. Các cô đem theo những gì? – Đưa ba đồng Mark đi. Với một cái que dài, 509 đẩy túi tiền ra đường. Một cô gái khom xuống, lấy tiền ra và đếm thật mau. Cô gái kia bảo: – Đón bắt lấy! Cả hai lấy một số khoai tây trong hai túi áo choàng ném qua bờ rào. 509 cố dùng vạt áo của Lebenthal đón bắt. Cô gái điếm mập mạp hơn lại bảo: – Bánh mì đây. 509 nhìn những mẩu bánh bay vụt qua rào kẽm. Hắn thu lượm thật nhanh. Hai cô gái điếm toan bỏ đi thì 509 huýt gió. Cô mập mạp hỏi: – Cái gì nữa? – Mấy cô có thể mang nhiều hơn nữa không? – Tuần tới? – Không. Tôi muốn nói tới chuyến trở về. Thế nào mấy người SS cũng cho các cô một ít gì. Cô mập mạp nghiêng mình tới: – Có phải ông là người cũ không? Cô gái kia hớt lời: – Họ giống nhau như một, Fritzie. 509 thì thầm: – Tôi sẽ chờ ở đây. Vẫn còn tiền. – Bao nhiêu? – Ba Marks. Cô mảnh khảnh bảo: – Thôi mình đi, Fritzie. Suốt thời gian này, cô ta giậm chân tại chỗ để cho bọn lính canh tưởng rằng họ tiếp tục đi. – Tôi có thể chờ suốt đêm. Năm đồng. Cô gái điếm tên Fritzie hỏi: – Ông là người mới hả? Người kia đâu? Chết rồi sao? – Bệnh. Hắn nhờ tôi thay. Năm đồng. Có thể nhiều hơn. – Thôi đi, Fritzie. Đứng lâu không được đâu. – Được rồi, để xem. Ông cứ chờ ở đây. Họ tiếp tục đi. 509 nghe thấy tiếng lào xào của y phục. Hắn bò về chỗ cũ, kéo lê chiếc áo theo và nằm xuống thở mệt nhọc. Hắn có cảm tưởng như đổ mồ hôi nhưng thân hắn vẫn khô ráo. Vừa lúc nhìn quanh, hắn thấy Lebenthal. – Xong rồi chớ? – Xong rồi. Khoai tây và bánh mì. – Đồ súc vật! Quân hút máu! Mua trong trại cũng đắt tới thế này là cùng. Một Mark rưỡi là đúng giá. Với ba Marks là phải có thêm xúc xích. Bạn thấy chưa? Không rành nghề là bị hớ. 509 không cần nghe, hắn bảo: – Chia đôi đi, Leo. Họ bò về phía sau trại và lựa khoai tây với bánh mì để riêng ra. Lebenthal bảo: – Tôi cần khoai tây để đổi chác, sáng mai. – Không. Chúng tôi cũng cần đủ thứ. Lebenthal quắc mắt: – Vậy à? Như thế lần tới tôi đào đâu ra tiền? – Chắc chắn là bạn còn tiền mặt. – Bạn mà biết cóc khô gì! Cả hai đang chống mình trên hai tay hai chân, trông như hai con thú dữ đang gầm gừ nhau. 509 phá tan bầu không khí nặng nề: – Bọn họ hứa sẽ đem thêm khi trở về. Đồ ăn ả đó ngon và dễ đổi chác hơn. Tôi bảo họ là mình còn 5 Marks. – Bạn có tiền thì cứ xoay xở lấy. 509 nhìn thẳng vào mắt Lebenthal. Cuối cùng Lebenthal nhìn nơi khác rồi buông mình xuống chống bằng hai khuỷu tay. Hắn rên nho nhỏ: – Bạn phá hoại cuộc làm ăn của tôi. Thật sự bạn muốn gì? Tại sao bạn xen vào mọi việc? 509 cố cưỡng lại ý định nhai nuốt củ khoai, nuốt thật mau hết củ này tới củ khác, nuốt tất cả trước khi có người ngăn cản. Lebenthal tiếp tục rên: – Phá hoại mọi thứ. Xài tiền như đồ ngu… Bây giờ làm sao kiếm ra tiền? Những củ khoai. 509 ngửi thấy chúng. Bánh mì. Thình lình bàn tay hắn không tuân lệnh đầu óc hắn. Ăn! Nhai! Nuốt! Mau! Thật mau! Hắn quay đầu sang phía khác và nói hết sức khó khăn: – Mình còn cái răng vàng chắc chắn sẽ đổi được một thứ gì. – Đêm nay không được rồi. Cần phải có thời gian. Chưa chắc lắm đâu. Nắm trong tay rồi mới biết. 509 nghĩ chẳng biết hắn có đói không. Hắn nói gì thế? Dạ dầy hắn không bị xé nát từng mảnh sao? – Leo, hãy nghĩ tới Lohmann. Chờ quá lâu thì trễ mất. Bọn mình tính từng ngày. Từ phía trại phụ nữ một tiếng thét lanh lảnh vang lên… như tiếng của loài chim đang kinh hãi. Một người Hồi đang đứng gần đó với một chân, hai tay duỗi thẳng lên trời. Một người nữa đang cố đỡ cho hắn khỏi ngã trông như cả hai đang múa một vũ điệu kỳ dị. Trong khoảnh khắc, họ lảo đảo rồi ngã tẻ như củi khô. Tiếng kêu lanh lảnh ngừng lại. 509 xoay người lại: – Khi chúng ta giống họ, không còn gì để cứu vãn nữa. Chúng ta phải chống lại, Leo… – Chống lại… bằng cách nào? – Phải chống lại… 509 đã bình tĩnh lại. Cơn xúc động đã qua. Mùi bánh mì không làm mờ mắt nữa. Hắn kề miệng sát vào tai Lebenthal: – Để sau nay còn có dịp trả thù… Lebenthal co người lại: – Tôi không muõn dính dáng tới chuyện đó. 509 cười mệt mỏi: – Bạn không muốn là phải. Chỉ giỏi xoay xở thôi. Lebenthal im lặng một lúc lâu rồi cho tay vào túi đếm lấy vài đồng tiền và trao cho 509: – Ba Marks đây. Hết rồi. Thỏa mãn chưa? 509 lấy tiền, không trả lời. Lebenthal chia bánh và khoai ra. – Mười hai phần. Ít quá. – Mười một phần thôi. Lohmann đâu có cần thứ này, phải không? – Cũng được, mười một phần. – Leo, mang giùm vào cho Berger. Họ đang chờ. – Được, đây là phần của bạn. Có chờ hai con điếm ấy trở lại không? – Phải chờ. – Vẫn còn dư thì giờ. Chúng chỉ trở lại sau một, hai tiếng đồng hồ. – Cũng được. Tôi vẫn đợi ở đây. Lebenthal nhún vai: – Nếu họ cũng mang bao nhiêu thứ như lúc nãy thì uổng công. Tôi có thể đòi nhiều hơn ở Đại trại. Loài súc vật, bán giá cắt cổ! – Được rồi, Leo. Tôi sẽ cố đòi nhiều hơn.
Mười tám giờ ba mươi, tôi lách mình qua cổng. Vợ con, cả ông bà nhạc gia… chạy vội ra ôm chầm lấy tôi oà khóc sướt mướt!
Năm đứa con tôi tranh nhau níu lấy áo quần tôi, như muốn để chúng xác nhận rằng, ba nó quả thật còn sống bằng xương bằng thịt. Đứa lớn nhất, nhìn vào ống chân trái bị rách của tôi, vừa khóc vừa hỏi:
– Ba bị thương ở chân hả ba?
– Ba bị thương xoàng thôi, rách sơ tí thịt thôi! Không can gì, lành rồi.
Thật ra, mọi người những tưởng tôi đã gởi xương tại Hạ Lào, nhất là khi đọc báo thấy có đăng tin một Đại Úy Pháo Binh hy sinh tại trận địa, nhưng không ghi rõ tên mà chỉ ghi: “…Đại Úy H, Pháo Đội Trưởng Pháo Đội C…”. Sau này tôi mới biết đó là Đại Úy Nguyễn-Văn-Hồ, PĐT/PĐC thuộc Tiểu Đoàn 20 Pháo Binh của Thiếu Tá Hào. Anh là người bạn chí thân của tôi, từng làm việc chung tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh ở Quảng Ngãi trong mấy năm liền trước đây – và, tháng 7 năm ngoái, Hồ cùng tôi thụ huấn khóa Pháo Đội Trưởng tại trường Pháo Binh QLVNCH Dục Mỹ. Lúc bấy giờ, anh cùng tôi nằm chung một giường hai từng. Tất cả tật xấu cùng nết tốt, chúng tôi không giấu nhau tí nào. Nghe tin anh tử trận, thật tình tôi đã khóc!… Tôi cũng không ngờ nhà tôi lại biết tin trước cả tôi! Tôi đâm sửng sốt khi nghe nhà tôi thuật lại:
– Mấy đứa bạn em xem báo, thấy có Đại Úy H., Pháo Đội Trưởng Pháo Đội C… Tờ báo ác hại, lại không ghi rõ Tiểu Đoàn, nên cả đám bạn em cứ đề quyết là anh. Em lo quá, chạy vội lên hậu cứ Tiểu Đoàn hỏi thăm và các ông Trung Sĩ trên đồn thì nói anh vẫn bình an ở Lào. Em không tin, lo rứt cả ruột gan… Hôm kia, nghe tin đồn là anh đã về Khe Sanh, cả nhà trông anh ngắn cổ, vẫn không thấy thư từ gì cả làm em sinh nghi… Chắc anh bị thương… bị… nên Tiểu Đoàn họ giấu chăng? Tối lại, nhiều người bạn anh lại hỏi thăm tin tức anh. Ai cũng nghi là anh chết! Em cùng các bà trong Hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ vùng I đi cầu nguyện cho các anh luôn…
Bây giờ tôi mới thấm thía thế nào là tình gia đình! Suốt trong cuộc chiến, tôi đã quên đi để dối tâm lo lắng cho những pháo thủ đã cùng tôi tử thủ Căn cứ Hỏa Lực 30.
Thằng Bách Chiến cố gắng vác khẩu AK47, anh nó đội cái nón, chị nó xách cái mặt nạ – chiến lợi phẩm của tôi mang về – săm se cả buổi. Hẳn những vết máu còn dính trên cây súng tạo cho chúng những tưởng tượng ghê gớm về cuộc chiến.
…Vào nhà, tôi ngã mình trên salon, đảo mắt nhìn khắp các đồ vật trang trí tại phòng khách với một cảm tưởng lâng lâng khó tả.
Bức hình chung của nhà tôi và tôi chụp sau cuộc hành quân tháng 4-1964 treo trên tường – lúc tôi còn là Chuẩn Úy với kiếp Tiền Sát Viên – đập vào mắt tôi… Bỗng dưng những kỷ niệm xa xưa cách nay 7, 8 năm hiện lên trong trí tôi. Tôi không bao giờ quên cuộc hành quân gian khổ dạo ấy. Chứng tích còn lại là bộ râu, sau hơn một tháng trời di chuyển từ Kontum lên Tân Cảnh, vượt Toumorong, xuyên rừng núi về hướng Đông… Cuối cùng là nút chặn tại Mang-Bút để tiêu diệt đám tàn quân Việt cộng chạy loạn vì cuộc hành quân Đỗ Xá. Bấy giờ, lực lượng ta tấn công phía Tây Quảng Ngãi lên miền Sơn Cước… Nó còn nhắc cho tôi nhớ lại cảnh đói khát hai ngày, cùng với một Tiểu đoàn Bộ binh, chúng tôi đều phải dùng rau má, cải tàu bay rừng thay cơm!…
Giờ đây, dưới cằm, râu tôi cũng lại mọc dài, nhưng nó là chứng tích của những ngày tử thủ Căn cứ Hỏa Lực 30 trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 vượt biên, tấn công sào huyệt của Cộng quân ở Hạ Lào… Có lẽ, vì cuộc hành quân quy mô có tính cách chiến lược với quá nhiều nguy hiểm xảy đến cho tôi và đồng đội, nên bộ râu của tôi tự nó có một ý nghĩa khác trước! Nó được dính trên khuôn mặt hốc hác hơn, gầy gò hơn, thể hiện sự lo âu bởi trách nhiệm nặng nề hơn…
…Không để tôi yên, các con tôi bâu quanh lấy tôi, hết đứa này hỏi đến đứa khác hỏi, chúng bắt tôi phải trở về với thực tại. Chúng đặt không biết bao nhiêu câu hỏi, đến nỗi tôi không còn biết trả lời câu nào trước, câu nào sau!… Bà ngoại chúng thấy vậy phải hét to:
– Chứ bọn bây không ra sân chơi, để ba bây nghỉ à? Đi, đi chỗ khác chơi…
Cụt hứng, chúng lủi thủi mang chiến lợi phẩm của tôi ra hàng hiên ngồi kháu chuyện…
Sau đấy, tôi đưa gia đình đến hiệu ảnh chụp một tấm hình lưu niệm trước khi “hạ” bộ râu.
…Để có điều kiện săn sóc cho tôi, nhà tôi phải nghỉ ở sở một tuần. Nhân tiện chúng tôi đưa nhau đến Tổng Y Viện Duy Tân để ủy lạo cho các pháo thủ Pháo Đội C đang điều trị tại đây, nhưng tôi thất vọng vì chỉ được gặp vài người: HS Đình, HS Vốn, BI Một và BI Quốc… Các pháo thủ này cho tôi biết, số còn lại nằm ở Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Trong đó, chỉ có Thiếu Úy Thiện bị cưa chân phải lên tận đầu gối!
Nghe Thiện bị cưa chân, tôi buồn không thốt nên lời. Vết thương của Thiện ở chân đâu có nặng bằng ở mông, vậy mà Thiện bị cưa mất một chân! Tại sao có thể thế được?!…
Sau khi giúp đỡ một ít tiền cho các pháo thủ, chúng tôi tìm nhà Thiện. Nơi đây, vợ Thiện vừa lên xe đò ra Huế để nuôi Thiện. Người anh của Thiện thuật lại cho tôi: – Thưa Đại Úy, hôm đưa Thiện từ Khe Sanh về bệnh viện, vì thương binh quá đông, nên các bác sĩ xem không kỹ, cứ cho là bị thương xoàng, không ngờ để quá 4 ngày, thối lây qua xương! Vì vậy, lúc ở Huế, bác sĩ bảo phải cưa chứ không còn cách nào khác.
Hai hôm sau, có tin Thiện di tản về Tổng Y Viện Duy Tân, vợ chồng tôi vội vả lên thăm ngay.
Khỏi cần phải hỏi, chúng tôi tiến vào phòng thương binh dành riêng cho các Sĩ quan tham dự cuộc Hành Quân Lam Sơn 719.
Thiện nằm nghiêng, toàn thâm đắp một tấm drap trắng.
Tôi chạy vội lại giường Thiện, ôm chầm lấy Thiện, nghẹn ngào không thốt nên lời!… Mặt Thiện tái nhợt vì mất máu, thân hình gầy gò khẳng khiu. Thiện gượng ngồi dậy nhưng không ngồi được. Tôi biết ý, bảo Thiện cứ tự nhiên nằm cho khỏe.
Qua hai hàng nước mắt đọng quanh mi, Thiện bảo tôi:
– Tôi tức quá Đại Úy ơi! Bị rủi ro phải về trước, không được cùng Đại Úy, các bạn chiến đấu… Lúc tôi nhập viện, nếu ít thương binh, may ra tôi được săn sóc kỹ hơn và hy vọng không đến nỗi phải cưa giò như thế này!… Thưa thật với Đại Úy, nằm bệnh viện mà lòng tôi chẳng yên tí nào, cứ nghĩ đến Đại Úy và anh em trong Pháo Đội hoài! Sau khi cưa chân, họ chuyển tôi ra khu ngoại thương. Gặp ai về bệnh viện tôi cũng hỏi thăm tin tức Đại Úy, nhưng chẳng có ai biết. Hôm rồi một số anh em bị thương của Pháo Đội về điều trị ở Huế, nhưng chúng cũng không biết gì về Đại Úy cả. Có đứa bảo Đại Úy bị lạc làm tôi lo quá, nhất là nghĩ đến sức khỏe của Đại Úy… chắc không chịu nổi khí hậu ở rừng… nguy quá!
– Em bị thương, anh xem như chính anh bị gãy cánh tay mặt! Sau khi đưa em về, tình hình trên Căn cứ trầm trọng không kể xiết. Mỗi ngày chúng pháo kích có đến hàng ngàn đạn đủ loại… chiến xa tấn công… Bọn chúng tràn lên cả bãi đáp trực thăng, nơi em bị thương… Nhưng nhờ bọn mình có thời, bắn cháy được hai chiến xa chúng. Rồi nhờ địa thế căn cứ mình khá cao, nên sau đấy chúng chỉ xung phong bằng bộ binh… đủ cho Dù với mình trực xạ tiêu diệt!
Tôi thuật sơ qua những phút hãi hùng khủng khiếp nhất cho Thiện nghe, trong lúc vợ tôi đứng cạnh tôi bùi ngùi nhìn cái chân cụt của Thiện, thỉnh thoảng run lên vì nhức!
Cuối cùng tôi bảo Thiện:
– Thôi em yên tâm nằm điều trị tại đây, anh sẽ cho một đứa đến săn sóc và để cho em sai vặt… Vừa rồi, anh những tưởng không được gặp em tại đây trước khi ra lại Khe Sanh, nên anh và chị có đến nhà gởi người anh của em để chuyển lại em ít tiền mọn của Pháo Đội… Em hãy xem đó như là chân tình của toàn thể quân nhân Pháo Đội C tưởng nhớ đến em, mà vui lòng không từ chối.
Vẫn với nước mắt đoanh tròng, Thiện tiếp:
– Thành thật tôi cám ơn Đại Úy và anh em trong Pháo Đội. Kính nhờ Đại Úy chuyển lời cầu chúc của tôi đến các bạn được bình an trong cuộc Hành Quân này.
…Từ giả Thiện, trên đường về, tôi rộn lên bao niềm suy tư chua xót trước hoàn cảnh gia đình Thiện! Gương hy sinh, tình đồng đội của Thiện hiện lên rõ trong trí tôi! Ngoài Thiện còn biết bao cảnh thương tâm khác quyện vào nhau, ám ảnh và như thúc giục tôi – một thằng người còn toàn vẹn – ý thức lấy trách nhiệm, sớm trở lại chiến trường để cùng chia xẻ với các chiến hữu trong thiên chức bảo vệ Miền Nam Tự Do này, trong đó có gia đình, họ hàng và bè bạn của chính tôi, không muốn để cho họa Cộng sản tràn xuống mũi Cà Mau. Dù rằng, tôi chỉ là một trong muôn vàn hột cát trên bãi sa mạc, chẳng có nghĩa gì đối với sự hy sinh cao cả của các chiến hữu đàn anh.
7 ngày phép trôi qua nhanh! Tôi từ giã gia đình với tất cả sự bịn rịn của vợ con, những tiếng khóc nức nở của bé Chiến, bé Hảo, của người vợ biết nuông chìu lo lắng cho chồng!… Trước mặt tôi phút này là tất cả những gì trói buộc, giữ chặt tôi trong mái nhà êm ấm đầy đủ tiện nghi… Nhưng khuất sau dãy núi Ái Vân, hình ảnh chiến đấu của các chiến hữu gan dạ là một thanh gươm vô hình nhưng sắc bén, đã cắt đứt tất cả những lưu luyến đang vây quanh tôi, khích động tôi thản nhiên hướng về bổn phận, nhiệm vụ, mà giờ đây các pháo thủ đang chờ đợi tôi trong cuộc hành trình dang dở…
…Đông Hà bắt đầu mưa lại. Qua một đêm tạm trú với Thiếu Tá Thanh, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 48 Pháo Binh, tôi xin được trực thăng lên lại Khe Sanh… (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: TRỞ LẠI KHE SANH TIẾP TỤC CHIẾN ĐẤU
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 2-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972
Về Khe Sanh Sau 23 Ngày Tử Thủ Căn Cứ Hỏa Lực 30
Hai mươi phút sau, phi trường Khe Sanh hiện ra trước mặt tôi…
Nhân viên Pháo Đội túc trực đón tôi với 1 chiếc dodge. Lập tức đưa tôi về BCH/TĐ gặp Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng.
Vừa gặp tôi, Thiếu Tá ôm chầm lấy tôi, hai tay vỗ nhẹ vào lưng tôi, khẻ bảo:
– Tôi mừng quá! Anh về được tôi mừng quá! Tôi lo cho anh từng giây, từng phút!…
Tôi cảm động đến nghẹn ngào và ứa nước mắt khi nghĩ đến cái chết của binh sĩ thuộc hạ, đã từng chiến đấu bên cạnh tôi trong những ngày tử thủ Căn cứ Hỏa Lực 30, giờ đây không còn thấy nữa!…
Cùng lúc ấy, Thiếu Úy Liêm phụ tá Ban 3 chạy vội vào hầm chỉ huy báo cáo với Thiếu Tá:
– Trình Thiếu Tá, trực thăng không chịu triệt thoái nữa…, còn 15 anh em chưa về được!
Tôi cướp lời Liêm:
– Thưa Thiếu Tá, Thiếu Tá làm thế nào can thiệp gấp với Bộ Tư Lệnh Dù xin trực thăng tiếp tục lên đưa anh em về kẻo tội quá! Hiện chỉ còn Thường Vụ Trung Đội là TSI Lục hướng dẫn anh em thôi… Bây giờ còn sớm chán… Xin Thiếu Tá giúp ngay mới kịp…
Tôi vừa dứt lời, Thiếu Tá chụp lấy cái nón sắt bên cạnh, đi ngay qua Bộ Tư Lệnh Dù cùng Thiếu Tá Thông.
Khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ sau, 4 trực thăng lên đường triệt thoái số anh em còn sót lại. Nhưng, cuối cùng vẫn còn Hạ Sĩ Cang, Y tá Pháo Đội và B2 Bân bị kẹt lại. Tôi có hỏi các pháo thủ về sau, và được biết, phi công vội vả quá, thành thử Cang và Bân không tài nào leo lên trực thăng! Tôi ngồi đứng không yên, nghĩ đến nỗi vất vả gian truân đầy nguy hiểm mà Cang và Bân còn phải hứng chịu! Ít ra, chúng phải đợi đến vài hôm nữa, khi có tái tiếp tế mới mong về lại Khe Sanh… Trong thời gian ấy, việc gì sẽ xảy ra?!… Tôi thầm cầu nguyện cho các đồng đội tôi được bình an!
Từ Khe Sanh, tất cả các thương binh được chuyển khẩn cấp về Quảng Trị. Trung Úy Thọ, Sĩ quan Trợ Y Tiểu Đoàn đưa tôi qua bệnh xá dã chiến Quân Đoàn 1 để băng bó lại vết thương và làm giấy chứng thương. Nhân tiện, tôi được gặp các binh sĩ Biệt Động Quân… Anh em vồ vập cám ơn tôi… mừng cho tôi gặp nhiều may mắn vì chính các anh ấy không hy vọng tôi có thể leo nổi lên trực thăng! Các anh cũng cho tôi biết là tất cả các binh sĩ Biệt Động Quân triệt thoái bằng đường bộ với chúng tôi, đều may mắn về đầy đủ.
Sau đấy, tôi tháp tùng Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng và Thiếu Tá Thông xuống Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đoàn I. Trước tiên, sau cái bắt tay mừng cho tôi, Trung Tá Chung ân cần hỏi thăm sức khỏe anh em Pháo Đội C… xong hướng dẫn tôi đi trình diện Chuẩn Tướng Phan-Đình-Soạn, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa – mà bây giờ đang là Tư Lệnh Phó cuộc hành quân Lam Sơn 719 này.
Trung Tá trình với Chuẩn Tướng:
– Kính Chuẩn Tướng, Đại Úy Hy vừa mới từ Căn cứ Hỏa Lực 30 về, đến trình diện Chuẩn Tướng…
Tôi đứng nghiêm chào, trình diện… và không đợi tôi trình hết câu, Chuẩn Tướng bắt tay tôi, một tay vỗ vào vai tôi, Chuẩn Tướng bảo:
– Thật là mừng khi gặp lại anh, bình yên chứ? Còn các anh em khác thế nào?
– Thưa Chuẩn Tướng, đã về được gần hết, chỉ còn sót lại hai nhân viên. Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng tôi hết mình can thiệp, nhưng trễ rồi. Tôi hy vọng hai anh em đó sẽ về ngày mai hoặc ngày kia, khi có tái tiếp tế.
Chuẩn Tướng đưa mắt nhìn Trung Tá và dắt tôi ra khỏi hầm làm việc, nói với Trung Tá Chỉ Huy Trưởng:
– Thôi, mình qua bên anh nói chuyện.
Lên khỏi miệng hầm, tôi móc ở túi một huy chương cấp 3, có khắc mấy dòng chữ “Chiến công Cấp 3…” của Cộng quân do anh em Nhảy Dù tịch thu tuần trước kính biếu Chuẩn Tướng.
Cùng lúc đó, hai vị tướng lãnh 2, 3 sao và vài Sĩ quan cấp Tá của Hoa Kỳ đang trò chuyện – có lẽ là chuyện hành quân, Chuẩn Tướng đưa cao cái huy chương và giới thiệu tôi trước các Sĩ quan cao cấp ấy. Bằng ngoại ngữ, Chuẩn Tướng nói qua về Căn cứ Hỏa Lực 30 mà tôi đã tử thủ.
Khi vào hầm Trung Tá CHT/PB/QĐI, tôi tường thuật tỉ mỉ từ ngày 26-2-1971 đến hôm nay tất cả những gì Pháo Đội tôi thực hiện cạnh Tiểu Đoàn 2 Dù. Tôi không quên trình bày trước Trung Tá và Chuẩn Tướng về trường hợp chiến đấu gan dạ của Trung Úy Lân. Chuẩn Tướng rất hài lòng và hứa sẽ cố gắng can thiệp thăng cấp cho Lân…
Từ giã Chuẩn Tướng và Trung Tá Chung, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng cùng Thiếu Tá Thông đưa tôi về lại BCH/TĐ dùng cơm tối. Nhân cơ hội này, Đại Úy Diệm, Pháo Đội Trưởng Pháo Đội Chỉ Huy thuật lại cho tôi những gì đã xảy ra trong vụ kho đạn phát nổ tại Căn cứ Hỏa Lực 30 mà chính Diệm chứng kiến. Diệm kể:
– Chiều ngày 2-3-71, tôi được lệnh phải mang dây câu súng chuyển trực tiếp cho thầy để triệt thoái súng. Nhưng khi đến nơi, nhìn xuống Căn cứ Hỏa lực 30 của thầy lửa cháy, đạn nổ lung tung… cơ hồ khói lửa ngập tràn cả căn cứ… Thỉnh thoảng những cột khói, lửa phụt lên… Tôi chắc thầy không cách nào có thể ở lại căn cứ, chắc lúc đó thầy và lực lượng Dù phải rút khỏi căn cứ… Tôi nhìn rõ các khẩu đại bác 105 ly của Pháo Binh Dù, 155 ly của Pháo Đội thầy nghiêng ngã, xiêu vẹo… trông thật khủng khiếp…
– Không, lúc đó tôi còn ngồi trong hầm cạnh Đài Tác Xạ. Mãi đến 17g00 hơn tôi mới thoát ra khỏi hầm chạy đến phòng tuyến! Tôi có nghe và nhìn thấy trực thăng đến… Không những hai chiếc chứ đâu phải một chiếc? Nhưng vì tôi nghĩ không có bổn phận gì với phi hành đoàn, thành thử tôi không mở máy liên lạc. Giá lúc đó biết Diệm đang bay trên đầu thì tôi đã liên lạc rồi. Với ăng-ten ngắn 7 đoạn, hẳn Diệm cũng nghe rõ…
– Tôi đi một chiếc, còn Trung Tướng Tư Lệnh Dù đi một chiếc… Tôi không ngờ lúc đó mà thầy còn có thể ngồi trong hầm?!…
– Chứ làm sao mà chạy! Thế mà còn may… sau khi chạy ra giao thông hào thì hầm cũng sập, suýt nữa gởi xác tại chỗ còn gì!
– Hôm đó tôi quần mãi trên không phận Căn cứ 30 có đến cả giờ đồng hồ. Cuối cùng phải đem dây, lưới trở về lại…
…Đêm nay, Diệm nhường cái nệm cho tôi nghỉ. Tuy vậy, cũng khó khăn lắm tôi mới dỗ được giấc ngủ. Hình ảnh của pháo thủ đã hy sinh, đã thất lạc tại Căn cứ Hỏa Lực 30, và nỗi lo lắng cho Cang, Bân cứ lởn vởn trong tâm trí tôi…
Rạng ngày 6-3-1971, mới 7 giờ sáng, Trung Tá Đặng-Nguyên-Phả, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 48 điện thoại mời tôi dùng điểm tâm tại Bộ Chỉ Huy Hành quân/TĐ48/PB. Trung Tá đã cư xử với tôi bằng một cảm tình đặc biệt nhất, xem tôi như người em của 4 năm về trước tại Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh. Tôi cảm động vô cùng. Trung Tá hỏi tôi vài vấn đề thuộc phạm vi kinh nghiệm “nghề nghiệp”, kinh nghiệm tác chiến học được của Tiểu Đoàn 2 Dù cùng diễn tả lại những trận đánh cam go tại Căn cứ Hỏa Lực 30.
10g00 tôi tiếp nhận 2 đại bác 155 ly mới. Thiếu Úy Ngân và Thiếu Úy Châu làm Trung Đội Trưởng. 14g00 tôi đích thân đưa Trung Đội lên Lao Bảo, đóng chung với Pháo Đội A/TĐ44/PB do Đại Úy Thu, Pháo đội Trưởng, có nhiệm vụ tăng cường cho Pháo Đội này yểm trợ trực tiếp Lữ Đoàn 1 và các tác xạ hổ tương với Căn cứ Phú Lộc.
…Được Chuẩn Tướng mời dùng cơm tối tại Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đoàn, tôi rời Lao Bảo trước 18g00 cùng ngày.
Quanh bàn ăn, ngoài Trung Tá CHT/PB/QĐI còn có các vị Tiểu Đoàn Trưởng TĐ44, 48, 64 Pháo Binh, vài vị Sĩ quan Hoa Kỳ, Thiếu Tá Thông, Thiếu Tá Đảng, Đại Úy Kinh… Trước khi nhập tiệc, Chuẩn Tướng cho biết, các món ăn đều do gia đình Chuẩn Tướng vừa gởi ra lúc trưa. Tôi cảm động nhất khi Chuẩn Tướng giới thiệu bữa cơm thân mật đêm nay là để “Welcome Captain Hy”.
Chuẩn Tướng ngỏ ý ngạc nhiên khi nghe tôi làm Pháo Đội Trưởng Pháo Đội C qua Lào. Vì trước đây, tôi là Sĩ quan Tiếp liệu! Nhân tiện, tôi trình bày với Chuẩn Tướng việc tôi được gọi thụ huấn khóa Pháo Đội Trưởng tại trường Dục Mỹ tháng 7 năm ngoái. Sau đấy, chính tôi muốn cầm Pháo Đội Tác xạ để cùng anh em chiến đấu, chứ ở Tham Mưu tôi đã công tác non 4 năm rồi!… Đồng thời, tôi cũng tỏ bày với ý nghĩ trung thực của tôi về cuộc chiến tại Lào:
– Thưa Chuẩn Tướng, mới nắm Pháo Đội 6 tháng thì được tham dự cuộc hành quân này – đúng là cuộc hành quân không tiền khoáng hậu! Nhờ vậy mà tôi học hỏi khá nhiều kinh nghiệm. Hy vọng những kinh nghiệm này sẽ giúp cho tôi trong việc chỉ huy chiến đấu hiệu quả hơn trước. Nhất là chiến trường khủng khiếp ở Hạ Lào hẳn đã tôi luyện cho pháo thủ Pháo Đội C không còn ngán với chiến cuộc tại nội địa…
…Đói khát kéo dài từ 26-2-1971 đến 5-3-1971, giờ đây được ăn một bữa cơm ê hề giò gà rô-ti, tôm… Chuẩn Tướng lại cho phép tôi tha hồ dùng! Quá ngon miệng, tôi ăn đến quên thôi!…
Cũng trong dịp này, tôi được biết tại Bộ Chỉ Huy Hành quân, chính Trung Tá và Chuẩn Tướng đã đặc tâm lo lắng cho từng Pháo Đội tham dự bằng những chỉ thị kịp thời về các tác xạ hổ tương. Những lúc chúng tôi bị uy hiếp nặng nề, chính Trung Tá và Chuẩn Tướng không hề rời máy vô tuyến để theo dõi, ra lệnh… Hành động của Trung Tá và Chuẩn Tướng còn thể hiện qua những lần tôi được tiếp xúc tại Khe Sanh, chứng tỏ Trung Tá và Chuẩn Tướng thật tâm lo lắng cho chúng tôi hơn bao giờ hết. Trong câu hỏi đầu tiên của những bậc đàn anh khi gặp tôi, tôi nhớ rõ – lúc nào cũng hỏi thăm tình trạng sức khỏe của pháo thủ, và mừng rở khi biết các pháo thủ chiến đấu gan dạ, nêu cao tinh thần đồng đội, rồi cuối cùng mới hỏi đến các chiến cụ, tình trạng đại bác… Sự kiện này đã an ủi chúng tôi và gợi cho chúng tôi cái cảm nghĩ: quả thật, chúng tôi đã chiến đấu trong tập thể, không đơn độc – và, tập thể đó, có cả những bậc đàn anh khả kính luôn luôn hướng về chúng tôi…
…20g00, tôi trở về BCH/TĐ. Nơi đây tôi phải thức để viết cho xong bản tường trình về công trạng của Lân, giao cho Ban I đánh máy để kịp đệ trình Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, và một bản “Kinh nghiệm Chiến Trường” dưới sự nhận xét của tôi về Căn cứ Hỏa Lực 30 đệ trình lên Chuẩn Tướng.
…Sáng ngày 7-3-1971, Đại Úy Kinh, từ BCH/TĐ48/PB/HQ gọi điện thoại mời tôi sang bên ấy gấp, vì một số ký giả, phóng viên… đang mong được tiếp xúc với tôi.
9g30, tôi đích thân lái chiếc xe jeep đến chỗ hẹn. Tôi không ngờ các bạn ký giả, phóng viên đã sẵn sàng ngồi quanh chiếc bàn vuông tự bao giờ. Ngoài một số phóng viên Quân Đội còn một số ký giả của các báo mà tôi chưa hân hạnh được quen biết. Tất cả anh em đã dành cho tôi một sự tiếp đón nồng hậu bằng những cái bắt tay chặt chẽ, bằng những lời tâm tình chân thật, bằng những nét lo âu… vui mừng… thể hiện trên nét mặt qua những mẫu chuyện tôi trình bày về cuộc chiến đấu tại Căn cứ Hỏa Lực 30…
Cái khó khăn của tôi là làm thế nào lột trần được những chiến thắng, vượt ngoài sức tưởng tượng của chính tôi, của các bạn đồng đội bằng lời nói! Thật vậy, tại Căn cứ Hỏa Lực 30, chúng tôi đã đâu lưng đấu cật cùng Tiểu Đoàn 2 Dù và Pháo Đội C3 Dù đạt được một chiến quả vĩ đại quá, nhưng lúc bấy giờ trong tay tôi không có lấy một tấm hình để chứng minh! Bao nhiêu film màu, film đen đều gởi về Đà Nẵng để nhờ vợ tôi sang, ngay khi tôi còn đang chiến đấu tại căn cứ không kịp gởi ra cho tôi – vả lại, biết thế nào mà gởi được, vì tin tức chiến sự hằng ngày chắc chắn đã làm cho gia đình tôi lo âu cùng cực, còn đầu óc đâu nghĩ đến việc rửa film, sang ảnh hầu gởi lên căn cứ cho tôi!… Ấy thế là tôi chỉ còn biết lật lại những trang nhật ký, bám đầy bụi đất, tường thuật từng chiến thắng… từ các cuộc yểm trợ cho Tiền Sát Viên cho Căn cứ Hỏa Lực 31, cho Biệt Động Quân, với những cuộc trực xạ chống thiết giáp, đẩy lui mộng tràn ngập vị trí theo chiến thuật biển người của Cộng quân khi chúng xung phong vào bãi đáp… Tôi cũng không quên diễn tả trận đánh gan dạ phi thường nhưng đầy mưu lược của binh sĩ Dù xảy ra trước mắt tôi không quá 75 thước! Cùng tình đồng đội, tinh thần thượng võ từ vị tướng lãnh cho đến anh Binh nhì của binh chủng ưu tú này. Nhân tiện, tôi cũng đã dẫn chứng cho các bạn ký giả lòng khâm phục của chúng tôi qua vài hành động cao thượng của BCH/TĐ2 Dù, đó là, sau mỗi trận đánh, chiến tích của chúng tôi được BCH/TĐ2 Dù báo cáo rất tỉ mỉ về Bộ Tư Lệnh Dù ở Khe Sanh, không hề có sự nhầm lẫn giữa những gì chúng tôi thu đạt được và Tiểu Đoàn 2 Dù thu đạt được (điều này tôi được Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng đề cập đến trong những lúc chuyện trò tại BCH trong mấy ngày qua)…
…Khoảng 11g00, trở lại BCH/TĐ, tôi nhận giấy phép 7 ngày do Thiếu Tá tôi cấp. Nhưng khi cầm giấy phép trên tay, Thiếu Tá bảo:
– Tuy tôi cấp cho anh 7 ngày phép, nhưng anh cố gắng ra sớm sớm để lo cho Pháo Đội… thăm hai ngày cho gia đình biết tin là đủ rồi…
Tính Thiếu Tá tôi từ lâu vẫn vậy! Nhưng cảm tình nồng nhiệt và biết ơn Thiếu Tá đã khơi trong lòng tôi hôm về lại Khe Sanh, do Thiếu Úy Kiêm Trưởng Ban 5 tâm sự – Là chính Thiếu Tá đã xúc động đến rơi nước mắt, lúc không bắt được liên lạc với tôi, và nhất là sau lúc Diệm báo cáo về tình hình Căn cứ Hỏa Lực 30 mà chính Diệm là chứng nhân! Cả tuần lễ, Thiếu Tá không hề chợp mắt, gắt gỏng mọi người… Tất cả chỉ vì lo cho tôi, nghĩ đến Pháo Đội C! Tôi hiểu và kính trọng Thiếu Tá tôi lắm. Tuy vậy tôi vẫn bực mình về việc tiết kiệm ngày phép của Thiếu Tá cho tôi. Tôi cảm nghĩ bị “cân hồ” quá kỹ!
– Thưa Thiếu Tá, với thân tàn ma dại này, tôi nghĩ, tôi phải uống, chích thuốc 7 ngày chưa chắc đã lại sức! Tôi xin Thiếu Tá đi đúng ngày, về đúng phép của Thiếu Tá cho…
Nỗi lo của Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng tôi là nỗi lo triền miên, lo từng con ốc trong súng bị rơ đến cái bửng xe bị móp… Chuỗi ngày dài, tôi được hân hạnh sống cạnh Thiếu Tá, chưa lần nào thấy Thiếu Tá tôi thơi thới! Âu đó cũng là bản tính do thiên phú. Nhưng nghĩ cho cùng, nhờ những nỗi lo này của Thiếu Tá mà Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh đã hơn hai lần giết sạch bọn đặc công Cộng sản đột kích vào BCH/TĐ tại Hòa Cẩm, Đà Nẵng…
Với giấy phép trên tay, tôi đi vội về BCH/PB/QĐI xin phương tiện. Một lần nữa, tôi gặp Trung Tá Chỉ Huy Trưởng. Trung Tá lấy bom, cam cho tôi ăn rồi giao tôi cho Trung Tá Chỉ Huy Phó can thiệp xin một phi vụ trực thăng.
Kết quả, tôi được về Đông Hà trong chuyến trực thăng của Chuẩn Tướng Phan-Đình-Soạn. (Còn tiếp)
TDH, 1971
Kỳ sau: BẢY NGÀY PHÉP
(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 2-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980.
(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).
(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.
(Câu chuyện xảy ra hồi tiền chiến) Đã sáu giờ chiều rồi mà người ta chưa nghe gì hết. Thiên hạ sốt ruột hỏi nhau: “Năm nay, mấy ổng không dám à?” “Hay là xin phép không được?” Có người thạo tin cắt nghĩa: “Sao lại không dám! Nội cái vụ đường thẻ mà Bang Huếnh đã lời hai trăm ngàn, thì năm, ba ngàn bạc pháo kể gì. Cũng không phải là xin phép không được. Nhưng, số là năm nay, họ thương thuyết với nhau, kẻ đốt trước, người đốt sau, tính giờ mà nói chuyện ăn thua, chớ không đốt một lượt như năm ngoái nữa, nghe rùm tai lắm, mà lại có kẻ ăn gian, thỉnh thoảng nín luôn năm, sáu phút, khó kiểm soát được. Giờ nầy, họ còn thương lượng, cãi qua, cãi lại mãi không rồi”. Trăng rằm tháng giêng đã lố dạng trên dãy phố ở tỉnh lỵ Thủ Dầu Một. Hôm ấy là ngày, theo tục lệ người Tàu trong tỉnh, thỉnh Tào Kê. Không ai biết rõ “thỉnh Tào Kê” là cái quái gì. Nhưng chắc chắn là cúng nhiều, kéo nhau đi ngoài đường và “cái đinh” của ngày lễ là đốt pháo đua. Ông cắc chú nào đốt nhiều hơn ông khác là ăn. Không ăn cái gì hết, nhưng được đồng bào của họ phục lắm. Thật ra, chỉ vài ông Bang trong tỉnh lỵ mới dự cuộc đua đốt pháo nầy, vì phải đốt hàng mấy giờ liền, nếu không làm ăn lời to, thì đừng mong đua với ai. Thình lình, người ta nghe ba tiếng pháo đại nổ, sau nhau không quá hai giây. – À, ra họ đốt một lượt! Trong những con đường hẹp ở chợ, hai bên đều có nhà phố đứng lên, tiếng pháo bị tiếng dội đôi dồn lên như tiếng sấm trong thung lũng. Khói thuốc pháo bay mù trời, mịt đất, đến đỗi ánh sáng của những bóng đèn đường bị lu mờ bớt lần. Những người đi dạo phố, những khách trong tiệm ăn, muốn nói chuyện với nhau, phải hét cho lớn, và kề miệng sát vào tai người nghe mà la. Nhưng không mấy ai còn ở trong nhà, trong tiệm được, vì khói thuốc vào đó, không lối ra, đầu độc cả không khí trong nhà. Pháo vẫn nổ rền trời. Mỗi người dự đua, sợ rủi ro ngưng tiếng nổ, rồi mang tiếng ăn gian, để ra tới bốn người đốt pháo. Năm ấy, có ba ông Bang thi đua, thành ra, một lượt đến mười hai tiếng pháo kêu vang. Những người có con nhỏ, phải mau mau ẵm chúng đi thật xa, ra ngoại ô, không khéo thì chúng sẽ bị động kinh hay bị chết ngất mất. Pháo thi đua nhau nổ mà đinh tai, nhức óc. Lúc ấy, hơn tám giờ. Tại tiệm sắt của ông Bang Sa, một tên người nhà về thưa lại với ông Bang, đang ngồi uống trà tại ghế giữa: – Ông Bang à! Đằng tiệm gạo của Bang Lếnh, pháo còn nhiều bằng hai của mình, làm sao? – Làm sao à? Không sợ mà! Á Lìn à! Á Hón à! Á Quý à! ti mua thêm, coi tiệm nào còn chút lỉnh gì mua hết tọi. Không tủ thì ti vô xóm mua. Lịnh vừa ra, thì ba bốn chú tửng vội thót lên xe máy, đạp đến các tiệm nhỏ ở ngoại ô, mà vơ vét. Họ mua không trả giá, nhưng cũng không được bao nhiêu, vì các tiệm khác đã vét trước rồi. Cho đến pháo ở các chợ lân cận như chợ Búng, chợ Lái Thiêu, cũng không còn. – Mo tược ít quá à! Tài phú a, – ông Bang Sa kêu – tài phú piểu sớp-phơ ti Chợ Lớn mau mau. Nè, tiền lây, tài phú mua thêm một ngàn tồng. Tài phú Nải nhận tiền, chạy ra sau, hối sớp-phơ cho xe ra rồi thẳng xuống Chợ Lớn. – Hò….chạy cho mau mau mà! Về tễ, cái lầy ông chủ rầy mà – Chú ta thúc hối. Thật ra, xe chạy có gió. Nhưng khi qua khỏi chợ Bình Phước, thì nó đứng lại. – Cái gì tó? – Banh! – Tời lất ơi! Chết ngộ dồi? Dáng sửa coi. Người tài xế không thèm đáp. Anh ta bước xuống, giở máy ra, bấm đèn Pin mà rọi, rồi lây quây vặn, mở và chửi thề. Bỗng có một ánh sáng đèn pha từ phía trên Thủ rọi xuống. – Thôi lị ở tây sửa. Ngộ có giang xe lầy ti Chợ Lớn. – Được rồi, được rồi! – Người lái xe đáp -, khỏi cần quá giang, xe mình chạy được rồi. Nói xong, anh ta rồ máy. Tài phú Nải mừng quá, leo lên xe. Chiếc xe hơi từ trên Thủ xuống đã qua mặt họ và chạy xa rồi. Máy lại tắt. – Cái gì lữa tó? – Banh nữa! – Na má, cái lị dở quá mà. Ngộ lói với ông chủ cúp tiền lị hà. – Dở gì, tại xe cũ phải vậy chớ. Rồi anh ta lại lây quây sửa, vặn, tháo, mở… Một chiếc xe khác xuống nữa. Lúc ấy đã hơn mười giờ. Tuy là thái bình, nhưng mà người đi chơi đêm bằng xe hơi, chỉ đi đầu hôm thôi, nên xe nầy, có thể coi là chiếc xe cuối cùng họ gặp. – Thôi lần lầy, ngộ hổng thèm lợi lị lữa đâu. Sau lời của tài phú Nải, anh tài xế nhảy lên xe, cho rồ máy và chạy tới. – Tài phú không đi phải hôn? Tôi đi một mình vậy. Tài phú Nải do dự vài giây rồi cũng nhảy lên xe. Xe từ từ chạy tới và bị xe kia qua mặt nữa. Đến giữa cánh đồng Chó Ngáp, nó lại tắt máy. Đó là một cánh đồng hoang vắng minh mông, bao la dưới ánh trăng vằng vặc. Tức quá, tài phú Nải dậm chưn rầm rầm: – Chết ngộ! Mà chết lị lữa mà! Chết dồi! Ông chủ thua, mình chết dồi! Á, kỳ quá mà, cái lị muốn phá ông chủ hả? Anh tài xế cười xòa. – Hả? Cái lị muốn phá, cái lị nói ti. Ông chủ bỏ tù cái lị coi. – Xe hư mà! Nói xong, anh tài xế lại cười ngất. – Hứ, cái zì mà hư kỳ cục. Cái lị phá ông chủ mà. Bỗng anh tài xế nghiêm nét mặt lại: – Tài phú nè! Ông chủ xài lảng quá, mình đi làm gì cho mệt. Ở đây tới khuya, rồi đón xe lên mà về. Tôi đã phá xe hư thật rồi. – À, dõ dàng mà! Ngộ nói túng quá má! Chú Nải vừa nói, vừa bứt đầu, bứt cổ, đạp rầm rầm trên sàn xe. – Chết cái lị! Chết cái lị! Ngộ tức chết ti thôi! Chú vừa nói, vừa phun nước miếng phèo phèo, trợn dọc mắt lên và quíu mười ngón tay như muốn cào, muốn xé anh tài xế. – Hà, ông chủ ngộ thua dồi! Ông chủ ngộ mất tiếng dồi! Chú Nải ngã ngửa trên nệm xe, đấm ngực anh ách. – Chú đừng tức. Tôi làm vậy cho đỡ tiền ông chủ mà. – Tiểu la má lị. Tỡ cái gì, ai cầu lị làm tỡ tốn tiền. Ông chủ lời bằng một tăm lần cái ló, ông chủ cần gì. Miễn có tiếng thì thôi chớ. – Cái tiếng đốt pháo nhiều đó không ra khỏi Thủ Dầu Một, ai biết mà ham. – Thây kệ người ta. – Thây kệ sao được. Hôm trước nhà Phước Thiện ho lao quyên tiền, ông chủ nói lỗ quá, cho nó một trăm. Sao bữa nay ổng đốt pháo dữ quá vậy. Đốt pháo có ích gì hôn? – Sao không ích. Lốt pháo, người làm pháo bán chạy, thợ làm pháo mới sống lược chớ. Ngộ hỏi lị cái lầy, lị lói cho trôi. Ông chủ mà không lốt pháo, thì tiền ló, ông chủ có cho ai không? Chắc là không. Vậy lốt pháo tức là cho thợ làm pháo ăn ló. Lị cãi ngộ chỗ ló lược không? Anh tài xế cãi không được. – Lị cãi không lược thì cho xe chạy ti! Nhưng anh ta vẫn đứng trân trân. – Lị hổng cho chạy à? Ngộ lánh lị coi. Tài phú Nái xốc tới, níu đầu anh tài xế. Nhưng anh ta lẹ tay, rút tay quay xe ra, rồi hăm: – Nị xáp tới, ngộ đập một cây nát đầu. Ngộ cãi không được, mà ngộ tức lắm, không chạy. – Hà, cái lị tiên dồi, cãi hỏng lược, mà hỏng chịu thua.
Tám Tơ khà một cái dài như rắn hổ, đặt tô trà Huế xuống bàn một cái cộp, rồi hỏi: – Mầy lâu làm sao? Tư Nết gãi tóc, nhăn mặt giây lâu rồi nói: – Thật tôi không nỡ nào… – Mầy phải nỡ… – Ngộ không! Anh nói giọng đó thì tôi trả lời dứt khoát với anh cho rồi. Tôi không nhận lời. – Vậy hà, vậy thì tao cho mầy ở tù. Tư Nết cười ha hả: – Hứ, thứ trùm trưởng là tay sai của người ta mà cũng làm oai. Bộ mặt của anh mà bỏ tù ai được. – Bỏ tù mầy được. Nè, đêm hôm qua mầy biết ai chèo xuồng cho thầy Hương Quản rượt bối đó không? Tư Nét giật nẩy mình, mặt tái lét. Hắn ngó quanh quất và rất mừng là quán vắng tanh. Cả chủ quán cũng chạy đâu mất. – Xanh mặt rồi đó, còn nói cứng nữa thôi? – Ừ, cho là anh chèo xuồng đi. Rồi sao nữa? – Tới vàm Tắt, tao thấy rõ trên xuồng bối có mầy ngồi. Tao theo gần kịp, mà thương mầy có mẹ già bịnh nặng, nên tao lơi giầm, cho tụi bây thoát. Mồ hôi Tư Nết xuống có giọt. Lâu lắm hắn mới nói được: – Thôi… anh muốn gì, tôi cũng bằng lòng nghe theo hết. – Có gì đâu mà khó. Nè, ghe Bình Trước, ghe Tân Uyên do dân chợ là dân cà-phê xíu mại bơi nên tao thị như đờ bỏ. Ghe mấy làng khác cũng không có gì đáng ngán. Chỉ còn hơi lo về ghe Tân Ðức và rất lo về ghe An Thịt của mầy thôi. Dân bơi Tân Ðức năm nay đã thành lão tướng hết ráo. Rốt cuộc thì còn lo một mũi An Thịt của mầy đó. Tao hỏi thì biết chắc là năm nay mầy giữ cây xà bát trên ghe làng mầy, nên tao mới cậy mầy. – Tôi phải làm gì, đâu anh nói nghe thử? Chắc chắn là chỉ có ghe Ba Doi của tụi tao và ghe An Thịt của tụi bây tới mức ăn thua trước. Chừng đó hai chiếc ghe ấy sẽ song song với nhau mà rút. Dân An Thịt của mầy cừ lắm, tụi tao ngán quá. Tụi tao tính đâm đại mũi vào hông ghe An Thịt. Ghe bây cũ quá chắc phải rã, tụi tao ăn chắc. Mà muốn đâm cho được, phải nhờ đến mầy làm nội công. Tụi tao chĩa mũi qua, tụi bây tránh đi, rồi tụi tao làm sao đâm. Mầy giữ xà bát, mầy phải lái làm sao để đưa hông hớ hênh cho tụi tao dễ đâm… – Chỉ có như vậy hè? – Chỉ có bấy nhiêu đó mà mầy được thưởng mười đồng, còn ăn chia tiền thưởng của ông Chánh 1 nữa. Nghe nói năm nay tiền thưởng giải nhứt là một trăm. Tư Nết làm thinh mà nghe, rồi nín lặng giây lâu đoạn thở ra hỏi: – Hồi hôm, tới Vàm Tắt anh thấy tôi đang làm gì? Ý Tư Nết muốn kiểm soát lại coi quả mình bị trông thấy thật sự hay không. Chỉ có nỗi nguy ấy mới khiến anh phản bội hàng ngũ được. – Mầy bơi đằng sau, thằng Sang bơi trước mũi. Thằng ngồi giữa tao không biết. Tư Nết bây giờ mới hoàn toàn chịu thua.
Anh ta lững thững ra khỏi quán, mặt buồn hiu. Luôn sáu năm, ghe bơi An Thịt chiếm giải nhứt trong các cuộc đua. Anh góp phần trong vinh quang địa phương ấy rất nhiều, cho đến đỗi năm nay người ta tôn anh giữ xà bát, tức là giữ cây chèo dài phía sau, thế cho bánh lái ghe, không được phép gắn. Thế mà anh phải phản bạn thì có đau lòng hay không? Chuyến đi bối đêm hôm rồi, xui xẻo hết sức. Không lượm được một hột gạo mà còn bị xuồng hương quản Ba Doi rượt chạy muốn hụt hơi vì bạn của anh lỡ chém một chủ ghe. Tư Nết nhớ lại mẹ đang nóng mê sảng ở nhà, nhớ số tiền đưa trước do Tám Tơ hứa. Thật là quyến rũ. Mà chèo kéo làm sao! Anh nhớ bạn hữu, ba mươi người, toàn là dân chèo ghe với nhau, người nào cũng lưng cháy nắng, bàn cẳng hà ăn, cực khổ cả năm mới được vài phút vui là tới mức ăn thua trước các làng khác trong tỉnh. Vậy mà năm nay…! Về tới nhà, anh nghe mẹ nôn ọe ầm lên, và thấy hàng xóm lăng xăng bên chõng bà cụ. Họ chỉ có gừng và nước nóng để cứu binh nguy ngặt của bà. Vì thế bà vẫn sốt liên miên. Tư Nết không bước qua thềm, trở gót và chạy mau đến nhà Tám Tơ. Chưa tới cửa anh đã nói: – Anh Tám ơi, tôi quyết đinh rồi, anh đưa trước năm đồng đây coi. Gấp lắm! Tám Tơ làm thinh lần dây lưng mở hồ bao lấy ra một tấm giấy con công ướt nhẹp: – Nè, mà hễ nuốt lời thì chết đa nghen! – Hứa rồi mà!
Khúc sông Ðồng Nai trước chợ Biên Hòa rộng như một cái hồ to, thể mà ghe bơi năm đó thả lềnh bềnh gần chật sông. Ông Tỉnh Trưởng là đảng viên của một đảng trụ cốt của đệ tam Cộng Hòa Pháp, nên ông ra lịnh ăn lễ Cát-to-ru-dết thật rình rang. Ghe làng nào cũng phải có mặt, làng thất mùa, làng bị bịnh truyền nhiễm gì cũng phải tham dự cuộc đua bơi năm đó cả. Ðứng ở bờ sông trước dinh ông Chánh mà ngó lên Cồn Gáo, người xem có cảm giác như lạc vào miền lạ nào. Màu sắc hực hỡ của mấy mươi chiếc ghe mới sơn, với đầu rồng, đầu phụng của nó gợi hình ảnh cuộc nam du của vua nhà Tùy, nhắc nhở những thuyền rồng vua Lê, những hành cung của chúa Trinh. Những đuôi rồng, đuôi phụng, cong quớt lên, lại gợi hình ảnh xứ Thái, xứ Miên, với những chiếc ghe dài hình rắn Na-Ra. Một hồi trống. Tức thì mấy mươi chiếc ghe chuyển mình, lượn tới để sắp hàng. Một tiếng súng. Trả lời tiếng súng ấy, mấy mươi chiếc phèng la đánh lên một lượt, rồi mấy trăm tiếng người hô lên một lượt để ra hiệu khởi hành: Phèng! – Hè! Phèng? – Hè! Tiếng phèng la trên mỗi chiếc ghe bơi, chỉ định thời gian hạ giầm cho dân bơi. Tiếng hè của họ xác định rõ thêm thời gian ấy. Nhờ thế họ hạ giầm ăn rập với nhau, mấy mươi người đều cúi rạp mình xuống cùng một lúc. Phèng! – Hè! Phèng! – Hè! Trên mỗi chiếc ghe, mấy mươi người dân bơi giống hệt như người gỗ được cột dính với nhau, rồi một bàn tay bí mật vô hình nào đó giựt dây cho họ cử động. Mấy mươi chiếc ghe bơi. trông đàng xa như mấy mươi con thủy quái thời tiền sử còn sót lại và thừa lúc biển lặng trời êm, nổi lên để giỡn nước. Chúng trườn tới trên mặt sóng như những con dao long hồ Ðộng Ðình tả trong truyện Tàu ngày xưa, đầu có mồng có mỏ, có vảy, đuôi có rìa.
Xanh, trắng, đỏ, vàng pha trộn với nhau trên màu bạc của mặt nước phản chiếu ánh mai, lóng lánh như cá ngũ sắc trong một chiếc bồn khổng lồ nào. Phèng! – Hè! Phèng! – Hè! Phèng! – Hè! Ðua chưa đầy trăm thước mà đã có ba làng rớt lại sau. Ðó là những làng chợ mà dân bơi là dân cà-phê, xíu mại, y như lời Tám Tơ nói. Họ chỉ dự cho có mặt, và vui lòng ở lại đùa chơi khi bi bỏ rơi. Bây giờ sông nổi sóng. Mũi ghe rẽ nước vo vo. Giầm chém xuống mặt sông làm bắn nước lên trắng như bọt thác. Phèng! – Hè! Ghe bơi không lướt theo một tốc độ đều đều như thuyền chạy buồm. Hễ giầm hạ một bận là nó vượt một cái, thành ra xa trông tưởng như nó nhảy. Mà nó cũng nhảy thật đó. Sức bơi mạnh quá khiến nhiều chiếc làm bằng gỗ nhẹ, nhảy chồm lên. Có năm, vài chiếc đứt làm hai đoạn, hoặc rã bung ra. Phèng! – Hè! Hai chiếc ghe giữa đi kề sát nhau. Dân bơi bên nây dùng giầm mà chém vào tay dân bơi bên kia. Cuộc chém trả gây thành một trận thủy chiến tai hại cho cả đôi bên, và cả hai bên đều rơi lại. Chiếc ghe rồng xanh, không biết anh xà bác lái thế nào mà lật úp xuống. Hai mươi chín người trên ghe đều quăng giầm, rối rít bu quanh ghe họ để lật nó trở lại, không phải mong theo kịp ai nữa, mà cốt cứu sống anh giầm đốc. Anh nầy ngồi trước mũi, hai chơn bị cột dính vào hông ghe cho khỏi té xuống nước. Hễ ghe chìm là anh ta nguy. Phèng! – Hè! Bây giờ còn có sáu chiếc là mong tranh ăn thua với nhau. Thành thử cuộc đua vô cùng hào hứng trong cái nước rút lớn của họ. Chiếc nầy lấn chiếc kia một mũi thôi. Họ rút tới như ta so đũa, ráng so cho bằng với nhau, đề dành sức đặng rút vào phút chót mà tranh giải. Nhưng không làm sao so cho bằng được cả. Sáu chiếc cứ thay phiên nhau mà so le, trờ tới hoặc thụt lùi. Trên bờ, khán giả la ó vang trời. Có người nôn quá nhảy múa lăng xăng thỉnh thoảng một anh rơi xuống nước, kêu cái chũm. Phèng! – Hè! Ghe phụng xanh và ghe rồng vàng bỗng như hai mũi tên bắn mạnh tới. – Ba Doi với lại An Thịt đó, bà con ơi! – Rứt lèn, Ba Doi! – Ráng giữ danh tiếng, An Thịt! Một chiếc thứ ba, đầu phụng mỏ đỏ, mình nhiều màu, chừng như cũng muốn bắn theo. Ðó là ghe Tân Ðức. Nhưng gắng được vài phút, nó lại trở về hàng cũ. Cuộc đua đã gạn ngã ngũ: Nhứt, nhì về tay An Thịt, Ba Doi, chớ không sai chạy được. Nhưng khán giả càng hồi hộp hơn bao giờ hết. Bạn của An Thịt thì lo lắng An Thịt mất chức vô địch, còn bạn của Ba Doi thì nôn nao mong Ba Doi lên chưn một lần.
Ba Doi và An Thịt nằm trên khúc sông Ðồng Nai ở gần ngoài cửa. Sông lớn tập cho họ quen bơi chèo và buộc họ bơi chèo giỏi. Dân hai vùng đó, người nào cũng lưng nách và bắp thịt tay của họ thì có u có nần. Phèng! – Hè! – Lên con, Ba Doi! – Ừ đó! Ừ đó! Ừ đó! Ðược đa! An Thịt! Ghe An Thịt lấn hơn ghe Ba Doi nửa mình. Ghe sau hổn hển rượt theo, coi muốn hụt hơi mà chỉ nhích lên được độ một gang thôi. Ðã kém, nó lại không đi đường ngay lối thẳng, mà chĩa xéo mũi vào bờ bên nây. – Ba Doi đổ quạu rồi, coi chừng nó đâm ẩu! Thiên hạ ó ré lên. – Ðâm làm sao được. Bộ An Thịt người ta dại hay sao. Người ta cũng chĩa xéo như nó rồi hai chiếc cứ song song như cũ, làm sao mà đâm. Nhưng kỳ lạ thay, ghe An Thịt chẳng những không cho ghe mình đi song song với chiếc ghe gây sự kia, lại còn chĩa mũi qua bờ đối diện, tức là đem hông mình mà dưng cho mũi ghe địch. Tư Nết ăn tiền, đã trung thành với lời giao ước, đem cả làng nạp mạng cho Ba Doi. Anh nghĩ bụng, bất quá bạn đồng thuyền của anh sẽ chửi anh tan ông nát cha vài phút, rồi rầm một cái là ghe anh lật nhào, rồi mạnh ai nấy lội, không còn dám hả miệng chửi dai hoài. Tuy nhiên anh vẫn nghe nhờm nhờm nơi tay khi cầm xà bát mà nại cho ghe anh chĩa xéo, nhờm nhờm như là cầm dao thọc huyết con heo. Trừ anh đánh phèn la, cả thuyền đều cấm đầu cấm cổ mà bơi, không còn biết trời đất gì cả. Họ chưa kịp thấy sự phản trắc của anh mà cho dẫu thấy họ cũng chằng làm sao được. Phèng! – Hè! Cả thuyền đều cấm đầu cấm cổ mà bơi. Ba mươi người mà như là một người. Sự duy nhất ấy không phải chỉ ở việc bơi ăn rập và reo hò một lượt với nhau mà cả ở trong lòng họ. Cả làng, cả đội sẽ thắng hay bại, chớ không riêng anh Ất anh Giáp nào. Dân làng sống ỳ đồng đội từ cái ăn, cái làm, cái chơi cho đến cái chết. Tư Nết đã đồng đội với họ từ vụ lụt lớn, cách đó mười lăm năm, từ vụ thất mùa bảy năm trước, từ vụ cọp Rừng Sát chụp tía anh và được cả làng ùa ra cướp lại, thì làm sao bây giờ anh lại thôi đồng đội với họ? Tất cả những ý nghĩ ấy qua mau trong đầu anh. Phèng! – Hè! Hồi hộp lắm. Hai ghe cách nhau gần trăm thước hồi nãy, bây giờ chỉ xa nhau độ hai mươi thước thôi. Cả hai như cố châu đầu lại để chạy về một cái đích chung, vô hình, ở đầu phía trước, và ghe nào chèo mau hơn sẽ bi đâm lủng hông. Phèng! – Hè! Dân bơi hả miệng mà la, và cũng để táp lấy những giọt nước sông do giầm phía trước chém bắn lên cho đỡ khát. Một anh bạn bơi, giọng khàn khàn nói: – Chết rồi, nó đâm! – Mầy lái cái mắc dịch gì mà kỳ vậy Nết? – Nết ơi, mầy muốn ở tù sao mà đưa hông cho nó đâm? Câu sau đó là của Hương Trưởng Chi người đánh phèng la. Tư Nết cười ha hả mà đáp: – Chính vì sợ ở tù nên tôi mới cho nó đâm. Mà thôi, bà con ơi thà là ở tù? Ghe An Thịt bỗng quay mũi ngay lại, rồi quay xéo cho đi song song với ghe Ba Doi. – Hè… è… è!! Một tiếng hè dài không dứt, thế là An Thịt bứt đi, bỏ Ba Doi xa đến một mình rưỡi, vượt qua khỏi trái nổi neo ở trước đó đề làm mức ăn thua. Ghe Ba Doi tiu nghỉu như mãnh thú vừa vồ hụt con mồi, nhìn nó chạy thoát, lòng đầy căm giận. Ba mươi chiếc giầm sơn đỏ của ghe An Thịt bỗng đưa cao lên một lượt để chào quan khách trong bờ. Khán giả có ấn tượng như thấy một con rít chạy tớ đó rồi ngã lăn đùng ra, đưa mấy trăm chân lên trời. Tiếng hoan ở hai bên bờ sông vang dậy lên. Tư Nết chỉ hưởng sung sướng chung trong vài giây. Anh nhớ lại chuyện riêng, lẩm bẩm nói: – Thôi, cũng được. Chắc ở ngoài bà con họ chẳng bỏ má mình đâu.
Thế Vận Hội cho người khuyết tật, mang tên Paralympics, đã mở màn tại Paris ngày 28 tháng 8. Năm nay con số lực sĩ tham dự lên đến 4,400 người, đến từ 167 quốc gia, một nhóm 8 người trong nhóm “tị nạn”, và gần 100 tuyển thủ “trung lập” đến từ Nga và Bạch Nga (Belarus), hai nước đang bị cấm tham dự vì chiến tranh với Ukraine.
Ảnh: BBC
Thuở ban đầu, “para” trong paralympics đến từ chữ paraplegic dùng để gọi những người bị liệt tay chân. Nhưng một khi phong trào thể thao này phát triển và bao gồm nhiều hình thức khuyết tật khác, kể cả về mặt trí tuệ, “para” được dùng với ý nghĩa “bên cạnh” – tức đi đôi với giải Olympics tuy có nhiều phần khác. Chẳng hạn như luật chơi được biến đổi, cách phân loại lực sĩ được chia theo mức độ tàn tật của họ v.v. Đặc biệt là người khiếm thị cũng có thể tham gia trong một số môn. Muốn tìm hiểu thêm về lịch sử Paralympics, mời đọc bài viết về đề tài này trong số báo Trẻ tháng 8, 2021. [1]
Ảnh: Reuters
Đội tuyển Hoa Kỳ lần này gồm có 225 lực sĩ, có mặt trong toàn bộ 22 môn thi đấu tại Paris. Trung Quốc đông dân nhất, đứng đầu với 285 lực sĩ, kế đến là Brazil (255) và Pháp (237). Năm nay cũng là lần đầu tiên giải Paralympics có nhiều nữ lực sĩ tham dự nhất – 1983 người (45%), và nhiều huy chương cho phụ nữ nhất – 235. Cũng cần nhắc lại là tại Olympics vừa kết thúc, phụ nữ chiếm 50% số lực sĩ. Đây là một dấu hiệu tốt cho sự phát triển của sự bình đẳng trong thể thao nói riêng cũng như xã hội nói chung.
Ảnh: AP
Mặc dù đất nước họ đang bị Nga xâm lược, Ukraine vẫn cố gắng đưa được một đoàn thể tháo gia 140 người đến Paris để tham dự 17 trong tổng số 22 môn thi. Không những vậy, Ukraine cũng sẽ có mặt trong một bộ môn lần đầu tiên được đưa vào Paralympics là “boccia” (lăn banh sắt). Trò chơi này ở miền Nam VN ngày xưa cũng có nhiều người thích, gọi là “boule” theo tiếng Pháp. Các độc giả thuộc lứa tuổi lão thành chắc còn nhớ; bản thân người viết cũng từng sở hữu một bộ banh sắt sau khi qua Mỹ.
Ảnh: AP
Paris 2024 cũng là giải Paralympics thứ bảy cho nữ lực sĩ siêu đẳng Oksana Masters, người gốc Ukraine nhưng từ nhỏ được nhận làm con nuôi bởi cha mẹ Mỹ. Năm nay 35 tuổi, Oksana tham dự Paralympics mùa Đông lẫn mùa Hè và đã thắng 17 chiếc huy chương trước cả khi cô đặt chân đến Paris. Vào mùa Đông, Oksana thi đấu môn Nordic ski, tương đương chạy bộ đường trường. Mùa Hè cô thi đấu môn chèo thuyền (para rowing) và đạp xe bằng tay (hand cycling). Oksana là lực sĩ duy nhất trên thế giới đạt được những thành tích khó thể tưởng tượng này.
Ảnh: Instagram
Jessica Long của đội tuyển Mỹ cũng là con nuôi đến từ Nga khi mới 13 tháng. Chưa đầy 2 tuổi thì cô bị một chứng bệnh xương gọi là fibular hemimelia, phải cưa cụt hai chân. Dẫu vậy, nhờ cha mẹ nuôi khuyến khích và hỗ trợ, cộng với sự quyết chí cần thiết của một nhà thể thao chuyên nghiệp, Jessica Long đã tạo được cho mình một chỗ đứng riêng biệt. Trước Paris 2024 cô đã thắng cả thảy 29 huy chương Paralympics (16 HCV), tính từ giải Athens 2004, nhiều hơn cả kình ngư Michael Phelps. Paris là giải Paralympics thứ sáu của cô, một thành tích thật sự đáng nể!
Ảnh: Instagram
Haven Shepherd là một nữ lực sĩ con nuôi khác của đội tuyển Mỹ. Tên thật Đỗ Thị Thuý Phượng, sinh năm 2003 tại Đà Nẵng, cô suýt chết khi cha mẹ cô ôm cô vào lòng và nổ bom tự tử. Thuý Phượng sống sót như một phép lạ và được ông bà Shepherd ở Missouri nhận làm con nuôi mặc dù họ đã có 6 người con ruột. Haven tham dự Paralympics lần đầu tại Tokyo 2020; báo Trẻ đã có bài viết về cô vào lúc ấy, mời đọc tại đây [2]. Paris 2024 là giải Paralympics thứ nhì của Haven. Cô hay nói nửa đùa: “Nhờ mất hai chân mà tôi mới được đi nhiều nơi!”
Ảnh: Team USA
Trung sĩ Kevin Nguyễn là một gương mặt Việt khác trong đội tuyển Mỹ, tham dự môn bắn súng. Gia nhập quân đội năm 2011, vào tháng Hai 2013, chỉ 3 tháng sau khi được đưa sang Afghanistan, Kevin đạp trúng mìn trong một cuộc hành quân và phải cưa bàn chân phải. Anh mất 2 năm để hồi phục. Sau khi xuất viện, Kevin xin được trở lại quân đội và gia nhập đội bắn súng Army Marksmanship tại Fort Benning. Anh kể thời gian đầu anh rất khổ sở và bị trầm cảm nặng, nhưng dần dà anh tìm lại được lý tưởng cho cuộc sống và đây là lần thứ nhì anh đại diện nước Mỹ tại giải Paralympics.
Cứ tưởng ở Berlin không có mại dâm. Nhầm to! Một ngành công nghiệp tình dục được luật pháp bảo vệ, có hiệp hội đàng hoàng. Luật về mại dâm ở Đức được ban hành từ năm 2002.
‘Phố đèn đỏ’ ở thành phố Hamburg, Đức
Chiêu mộ…
Nếu “Chị em Tây” hoạt động hợp pháp, công khai được chính quyền kiểm soát, có đóng thuế, đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp thì “Chị em Ta” từ lặng lẽ, lén lút sang vùng lên mạnh mẽ Hơn 70% “Chị em Tây”, khoảng hơn 20 vạn ở Đức, phần đông đến từ Romania và Bulgaria, hai nước nghèo trong khối EU … Tuy nhiên quy mô, tầm cỡ “Phố đèn đỏ” từ nhà thổ, đứng đường, giá cả đến dáng vóc, ngón nghề của “Chị em Ta” thì … thua xa “Chị em Tây”! Nhưng mà “Thôi, mình về tắm ao ta. Dù nhỏ, dù hẹp … “râu” nhà vẫn hơn …”, vẫn hơn … “râu bắp”! Nhiều người hóm hỉnh tự trào.
Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, lực lượng công nhân theo chương trình hợp tác giữa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ Đức khá đông. Khi bức tường Berlin sụp đổ (09/11/1989), nhiều người có nguyện vọng xin ở lại, có số trốn lại… Từ Tiệp Khắc, lao động hợp tác cũng rùng rùng vượt biên qua Đức. Người Việt có cái được là chớp thời cơ rất giỏi. Họ nỗ lực làm nhiều việc để mưu sinh. Giai đoạn “tranh tối tranh sáng”, tình hình kinh tế-xã hội chưa ổn định khi mới thống nhất nước Đức, đúng là dịp người Việt…nhảy ra thương trường. Nghề phất lên nhất là buôn lậu thuốc lá, băng đĩa (hầu hết là băng đĩa sex), quần áo, tổ chức đường dây đưa người từ các nước Đông Âu nhập lậu vào Đức … Nhiều người kể đây là giai đoạn “cơn mưa vàng”. Không ít người giàu lên trông thấy. Khi nhà nước Đức ổn định lại tình hình mọi mặt cũng là lúc đông đảo người Việt đã có vốn tích luỹ chuyển sang làm ăn… “chính thống”, “chính ngạch”như mở quán ăn, bó hoa bán nếu muốn ở lại lâu dài.
Các cô gái Việt chào hàng trên mạng ở Berlin
Ông L.Q.T. (sáu mươi mốt tuổi) là công nhân từ Tiệp Khắc vượt rừng sang Berlin. Ông từng bị lính biên phòng Đức bắt hai lần, kể: “Cuối năm 1990, rất đông công nhân VN tại Tiệp Khắc vượt rừng trốn sang Đức, một số sang Áo. Đến Đức mưu sinh bằng cách làm ăn … không ngán sợ, e dè chi hết! Đó là buôn lậu thuốc lá từ Ba Lan “đánh sang”! Anh biết rồi đó, buôn lậu chỉ có giàu trở lên chứ khá chi nổi! Nắm bắt tâm lý cánh đàn ông xa quê hương lại cô đơn và lúc hầu bao đang rủng rỉnh, chị H. bèn chiêu mộ chị em tại chỗ trẻ, khoẻ … bán “cái vốn tự có”. Sau một thời gian chị cũng “tắm mình” lác đác trong “cơn mưa vàng”. Nhưng phải ướt đẫm “cơn mưa vàng” mới chịu kia. Chị về nước… kéo một số bạn gái trẻ đẹp mười tám đôi mươi có, ba mươi, bốn mươi có, yêu cầu ngoại hình dễ coi sang Đức khai thác cái “vốn tự có” hết mức có thể…”. Tôi ngắt lời ông T., hỏi có phải chị H. tổ chức buôn người không? Ông cười hà hà: “Các cô gái sang Đức theo chị H. là hoàn toàn tự nguyện, không phải là nạn nhân nô lệ tình dục hay nạn nhân của buôn người. Đầu những năm 90, lúc này đường dây đưa người sang Đức còn dễ. Cứ qua các nước Đông Âu như Tiệp Khắc, Hungary, Romania rồi chuyển tiếp sang Berlin. Một tay chị dàn dựng, điều phối ngon ơ! Chẳng có mang danh công ty xuất cảng lao động, trung tâm môi giới, tư vấn học nghề gì sất! Các cô gái qua được Berlin rồi, thay vì nhập trại tị nạn thì nhập vào…trại của chị H. Chị lo chỗ ăn nghỉ tận tình, giấy tờ chu đáo. Các cô gái tin tưởng, tự thân vận động, tự bán mình! Biết điều thì trả ơn cho chị, chia chác sòng phẳng. Được chị tạo điều kiện bảo bọc, hành nghề, được dành tiền gửi về quê nhà thì sướng nhất rồi. Lúc ấy gia đình đâu phải vay mượn, cầm cố nhà cửa đất đai chi vì có đường dây chị lo tất! Người ở quê nhà chỉ có lãi thôi!”.
Công việc làm ăn của chị H. suôn sẻ kéo dài hơn 20 năm. Qua “cơn mưa vàng”, chị miệt mài nhặt euro trong “cơn mưa đồng” xem ra rất ổn. Chỉ vì COVID-19 công việc của chị mới bị ảnh hưởng … Hiện nay hoạt động “Phố đèn đỏ” của chỗ chị H (vùng Lichtenberg) đã không còn rộn ràng, sôi nổi như trước. Không biết chị có đổi từ “nuôi gà mái đẻ trứng vàng” sang hướng kinh doanh khác hay phải tiếp tục đối phó với “Phố đèn đỏ…online”?
‘Chị em Tây’ đón khách
“Phố đèn đỏ… online”
Một sáng Chủ Nhật cuối tháng Bảy vừa rồi. Ngồi trước mặt tôi trên tàu điện M12 thưa vắng khách là cô gái Việt tóc ngắn, dáng người to cao, khuôn mặt dễ thương. Cô ta dán mắt vào màn hình điện thoại, hai tay thoăn thoắt bấm phím nhắn tin. Thỉnh thoảng lại thở dài, nhìn xa xôi. Tôi hỏi cô đến Đức lâu chưa. Cô nói đã hơn 3 tháng. Cô quê thị xã Hồng Lĩnh, năm nay 24 tuổi. Cô bỏ việc phục vụ khách sạn từ Hungary một mình đi xe lửa sang Đức mong sẽ có cuộc sống khá hơn. Được cô bạn hứa sẽ tìm việc giúp. Nhưng đến Đức việc đâu có sẵn đón mình. Lên trang mạng của Đức đăng tìm việc, thấy nhiều người có hoàn cảnh éo le quá cô thấy mình thật sự bế tắc! Thấy có vài cô gái đăng ảnh nuy, sẵn sàng bán “cái của mình” có thì cô hoảng! Đến nỗi ấy sao? Khi biết có nơi nhận người phục vụ khách sạn, cô hăm hở đến nơi hẹn. Không biết thế nào tôi cũng chúc cô gặp nhiều may mắn và không quên dặn nhớ cảnh giác!
Tôi đem chuyện kể cho Q.T.T., định cư Đức hơn 30 năm, nghe. Bạn ấy rỉ rả: “Đăng tìm việc trên nhiều trang mạng đầy dẫy chú ơi! Cô gái ấy nói đúng. Người không tìm ra việc nên rao bán trinh cũng có. Nào là cần tìm bạn nam ở cùng để giải toả nhu cầu sinh lý. Nào là em cần tìm một bạn nam cùng ở để giảm bớt tiền thuê trọ. Nhưng phải biết nấu ăn, ngủ không ngáy, không hút thuốc. Ai thích ở ghép thì liên hệ. Nào là mình rất nghiêm túc, mới 23 tuổi, đang có nhu cầu giải toả… Ai lịch sự, đàng hoàng thì liên hệ. Xong việc đường ai nấy đi … Loạn chú ơi! Cô nào cũng nói nhắn tin liên hệ qua telegram hết! Chú thử bỏ ra vài tiếng lướt mạng sẽ thấy… ối giời ôi luôn! Cũng phải đề phòng chứ không thì sập bẫy như chơi. Bên mình có lời nhắc rất… giá trị đó chú, “Đừng nghe cave hoặc “gái bán hoa” kể chuyện, đừng nghe con nghiện trình bày” thiệt không sai!
Quanh đây có nhiều khu vui chơi, giải trí, ‘chị em Ta’, ‘Chị em Tây’ thỉnh thoảng lai vãng
Nghe lời T, một tối nọ tôi “cày” vài trang mạng thì đúng như cậu ta nói. Có cô gái rao: “300k/1 giờ, qua đêm 1.5 triệu (tiền Việt). Ai đi ib telegram @bichthu 2003. An toàn, kín đáo, sạch sẽ. Nhanh tay thì còn ạ! Em đang trống”. “Do tình hình khó khăn, em sinh 2004, năm 2 đại học mà không đủ điều kiện tài chính để tiếp tục. Em cần nhượng lại chính bản thân mình. Em nhận kèo làm thêm, lần đầu em giảm 50% lấy chỗ đi lại. Tele: @ kieuthutran2004”. “Em hơi mệt, cần tìm một chỗ dựa vững chắc. Do ly hôn đã lâu, tối nào cũng một mình chán quá. Em cần tìm một anh có nhu cầu quan hệ lịch sự, kín đáo. Tuần gặp 2 đến 3 lần. Giá cả thương lượng nha! Tele em: @kimoanhho2xxx”. Tôi chỉ trích vài ba lời chào hàng có kèm ảnh (địa chỉ liên hệ đã thay đổi).
“May rủi thôi chú. Có người ảo, người thật. Mấy ông bạn của cháu nói nhiều cô gái khá xinh quê từ Quảng Bình trở ra, nước da trắng nhưng thân hình èo uột trông tội nghiệp. Khi đến điểm hẹn là phòng trọ chật chội hai, ba người ở ghép thấy chẳng ra làm sao. Cho 5 hay 10 đồng (tiền euro) an ủi rồi quay về”, T kể.!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.