Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

7. Chương 7

Cả hai ngã quỵ ra bên ngoài chuồng sắt khi tên Đội trưởng Breuer cho lệnh mở cửa hai ngày sau. Trong suốt ba chục tiếng đồng hồ cuối cùng, cả hai đều ở giữa tình trạng nửa mê, nửa tỉnh và sau cùng là ngất liệm. Ngày đầu tiên, họ còn có thể truyền tin cho nhau bằng cách vỗ vào vách nhưng sau đó thì chẳng có gì nữa. 
Họ được khiêng ra đặt nằm trên sân điểm danh sát với bức tường bao quanh lò thiêu xác. Không ai dời họ đi nơi khác. Chẳng người nào dám làm ra vẻ như đã trông thấy họ. Không một lệnh nào cho biết phải đối xử với họ ra sao… kể như họ không còn sống. Bất cứ tù nhân nào chạm vào họ có thể sẽ bị nhốt vào chuồng sắt thay chỗ họ. 
Hai giờ sau đó, xác người tù cuối cùng được mang tới lò thiêu. Tên lính SS có phận sự gác tại lò thiêu nhìn về phía 509 và Bucher rồi lơ đểnh hỏi: 
– Cái gì vậy? Có phải đưa vào đốt không? 
– Chúng vừa từ chuồng sắt ra. 
– Nhừ xương rồi hả? 
– Chắc vậy. 
Hắn chợt thấy đau lưng. Đêm qua, hắn và một cô gái điếm của quán con Dơi đã quần thảo suốt đêm. Hắn đã thắng cuộc Hoffman và Wilma một chai Hennessy nhưng thân thể hắn rã rời. Hắn bảo một tù nhân khiêng xác: 
– Hỏi xem bọn chúng ở đâu? 
Người tù đi một lúc rồi trở lại. Cùng đi với hắn có viên thư ký tóc đỏ trong dáng điệu hấp tấp. Người thư ký nói: 
– Họ là người của Tiểu trại vừa được thả từ chuồng sắt ra. Mãn hạn vào buổi trưa. Lệnh của Bộ Chỉ huy. 
Tên SS bảo: 
– Vậy thì mang chúng ra khỏi đây. 
Hắn hững hờ nhìn bảng danh sách, nói lầm thầm: 
– Phần mình có 38 xác. 
Hắn lẩm nhẩm đếm từng xác một xếp thành hàng trước cổng và tuyên bố lớn: 
– Ba mươi tám. Đủ số rồi. Đem hai cái thây kia đi, kẻo lộn. 
Người tù trật tự viên ở lò thiêu hô lớn: 
– Bốn người đi ra mang hai cái xác về Tiểu trại! 
Bốn người bước ra khiêng 509 và Bucher. Viên thư ký tóc đỏ nói nhỏ: 
– Đi ngả này. Mau một chút! 
Họ khiêng 509 và Bucher ra xa. Người thư ký khom xuống nghe ngóng. Hắn bảo: 
– Họ chưa chết. Đi tìm hai cái cáng. Mau lên! 
Người thư ký nhìn quanh. Hắn sợ Weber bất thần đi tới và nhớ ra rồi bắt 509 cùng Bucher treo cổ. Hắn vẫn đứng tại chỗ cho tới khi hai chiếc cáng được mang tới. 
– Chất họ lên. Mau! 
Khu vực quanh cổng trại và lò thiêu lúc nào cũng nguy hiểm. Bọn SS qua lại thường xuyên và Đội trưởng Brauer ở gần đó. Hắn không ưa nhìn những người tù ra khỏi chuồng sắt mà còn sống. 
Một trong bốn người khiêng xác tỏ vẻ khó chịu: 
– Kỳ cục chưa! Bữa nay khiêng tụi nó về bên đó, rồi mai sáng lại khiêng tụi nó vô đây. Làm gì sống nổi mấy tiếng đồng hồ nữa. 
Viên thư ký tóc đỏ bỗng đổ quạu: 
– Việc gì tới anh? Đồ ngu! Bộ trong các anh không còn ai biết phải quấy nữa sao? 
Một người tù lớn tuổi hỏi: 
– Bọn này là ai? Đặc biệt hả? 
Viên thư ký nhìn quanh rồi bước lại gần hơn: 
– Hôm kia, mấy người này không chịu ký tên. 
– Ký cái gì? 
– Ký giấy tình nguyên làm vật thí nghiệm cho thằng cha bác sĩ chuột bạch. 
– Ủa, tại sao ho không bị treo cổ? 
– Họ được lệnh trả về trại. Mau lên, kẻo rồi có chuyện… 
– À… tôi biết rồi. 
Tự nhiên, người khiêng xác này như có thêm khí lực. Hắn đi mau hơn khiến đòn cáng thọc vào chân người khiêng phía trước. 
– Cái gì vậy? Bộ điên hả? 
– Không. Đem mau hai ông bạn ra khỏi chỗ này rồi tôi nói cho nghe. 
Viên thư ký dừng lại. Toán khiêng xác lặng lẽ tăng thêm tốc độ. Mặt trời đang ngả về hướng Tây. 509 và Bucher đã bị nhốt lâu hơn nửa ngày. Chính Brauer muốn thế. 
Lúc đã đi tới vùng an toàn hơn, người khiêng xác phía trước nhìn quanh rồi hỏi người sau: 
– Nhân vật quan trọng hả? 
– Không. Họ là hai trong số sáu người bị Weber bắt đi hôm thứ Sáu. 
– Hình như bị đánh dữ lắm. 
– Chắc vậy. Họ không chịu ký tên tình nguyện làm vật thí nghiệm… người thư ký tóc đỏ mới cho biết. 
Người đi trước huýt gió nho nhỏ: 
– Trời ơi, vậy mà còn sống? 
– Coi thì biết. 
Họ đi tới lao xá đầu tiên. Hôm ấy là chúa nhật. Các toán tù lao tác làm việc bên ngoài đã trở về. Tin tức được loan đi nhanh như điện. 
Cả trại đều biết tại sao sáu người bị bắt đi. Họ cũng biết 509 và Bucher bị nhốt trong chuồng sắt nhờ tin tức từ văn phòng Bộ Chỉ huy. Không một ai nghĩ tới việc họ có thể sống sót trở về. Nhưng bây giờ, họ đang trở lại… 
Một người tù trong đám đông nói với người khiêng cáng phía sau: 
– Để tôi giúp bạn môt tay cho dễ hơn. 
Hắn nhảy ra giành lấy một đòn cáng. Chỉ trong khoảnh khắc mỗi chiếc cáng đã có bốn người khiêng. Sự tiếp tay này không cần thiết mấy vì Bucher và 509 quá nhẹ. Tuy nhiên, các tù nhân muốn làm một cái gì cho họ mà ngay lúc đó chẳng có gì khác hơn để họ thực hiện. Họ cẩn thận từng ly từng tí tưởng chừng như chiếc cáng dễ vỡ như thủy tinh. Trong khi đó, tin tức được loan truyền nhanh chóng: hai người tù bất tuân lệnh vẫn còn sống và được đưa về trại. Đó là người của Tiểu trại. Người của Trại chết mòn. Chưa ai từng nghe chuyện đó cả. Cũng chẳng ai biết được sở dĩ có chuyện lạ ấy là do tính khí bất thường của Neubauer… nhưng điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là họ đã phản kháng mà vẫn còn sống để trở về. 
Trước lao xá 13, Lewinsky đã đứng đợi thật lâu. Lúc chiếc cáng chưa kịp tới, hắn đã hỏi vọng: 
– Có thật thế không? 
– Đứng rồi… nhưng có phải là họ không? 
Lewinsky bước tới nhìn sát hơn. Hắn lẩm bẩm: 
– Đúng… đúng. Chính là người đã nói chuyện với tôi. Còn bốn người kia, chết rồi sao? 
– Hai người này được thả từ chuồng sắt ra. Bốn người kia đi luôn. Mấy người này không đi. Họ phản kháng.
Lewinsky quay sang Goldstein bên cạnh: 
– Phản kháng. Bạn có tin như vậy không? 
– Chưa bao giờ có, đặc biệt là người bên Tiểu trại. 
– Tôi không nói thế. Tôi muốn nói là có tin được rằng họ đã phản kháng mà vẫn còn được sống sót không? 
Goldstein và Lewinsky nhìn nhau. Muenzer bước tới nhập bọn: 
– Chẳng lẽ hung thần đổi tánh? 
Lewinsky quay phắt lại: 
– Cái gì? Tại sao bạn nghĩ thế? 
Muenzer đáp: 
– Chính Neubauer tha họ trong khi Weber đòi treo cổ. 
– Sao bạn biết? 
– Người thư ký tóc đỏ nói. 
Lewinsky đăm chiêu một lúc rồi bảo một người nhỏ thỏ đứng bên: 
– Tìm Werner cho anh ấy hay. Nói rõ là người bảo chúng ta “đừng bao giờ quên” đã trở về. 
Người tù nhỏ thó gật đầu rồi đi mau vào lao xá. Trong khi đó, những người khiêng cáng tiếp tục đi. Càng lúc càng có nhiều tù nhân ra cửa đón xem. Một vài người nhút nhát cũng cố bước tới nhìn Bucher và 509. Một cánh tay của 509 lọt ra bìa cáng, kéo lê trên mặt đất. Hai người tù đang đứng xem, chạy tới đỡ lèn, cẩn thận đặt vào chỗ cũ. 
Mắt vẫn nhìn theo đoàn người khiêng cáng, Goldstein bảo nhỏ với Lewinsky: 
– Phải can đảm lắm mới dám phản khảng. Với những người chờ chết bên Tiểu trại, thật khó tin. 
– Khó tin thật. Nhưng họ cần phải sống. Đừng để họ chết. Bạn có biết tại sao không? 
– Có phải bạn muốn nói cái sống của họ sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta? 
– Đúng. Nếu họ chết thì ngày mai, mọi việc sẽ bị quên khuấy đi. Nhưng nếu họ sống… 
“Nếu họ sống thì đó là bằng chứng cụ thể cho thấy đã có một cái gì thay đổi”. Lewinsky nghĩ thế nhưng hắn không nói ra. Thay vào đó, hắn bảo: 
– Mình có thể lợi dụng cơ hội. Ngay bây giờ. Phải làm cho anh em tin tưởng hơn. 
Goldstein gật đầu. 
Toán khiêng cáng đang tới gần Tiểu trại. Vòm trời chiều ửng đỏ chiếu rực cánh phải của trại lao tác trong khi cánh trái chìm trong ánh sáng xanh mờ. Những khuôn mặt bên cánh trái trông tái mét, nhưng các khuôn mặt ngập nắng chiều của tù nhân bên cánh phải chiếu sáng như những tia lửa của một sự sinh tồn vay mượn bất thần. Toán khiêng cáng tiếp tục đi trong ánh sáng. Thân hình đầy máu me và bụi bẩn của hai người nằm trên cáng bỗng nhiên không còn là hình ảnh của hai tù nhân bị đánh đập dã man rồi bị khiêng trả về một cách thảm hại… mà đã biến thành hai thể xác của một chuyến khải hoàn. Họ đã phản kháng. Họ vẫn còn hơi thở. Họ không hề thua cuộc. 
Berger chăm sóc họ. Lebenthal đã kiếm được một ít súp cải củ. Họ uống được vài muỗng trong lúc nửa mê nửa tỉnh và lại ngủ mê ngay. Một lúc lâu – chẳng rõ bao lâu – 509 chợt cảm thấy có cái gì âm ấm ở bàn tay. Một hơi ấm. Hắn từ từ mở mắt ra. 
Con chó chăn cừu đang liếm vào tay hắn. 509 thều thào: 
– Nước… 
Berger đang xức iodine vào các vết thương trên mặt hắn, vội vàng mủc một ít súp kê vào miệng 509: 
– Đây, uống đi. 
Nuốt được vài ngụm, 509 ngưng lại, thở mệt nhọc: 
– Bucher ra sao? 
– Nằm bên cạnh đó. 
509 muốn hỏi nữa nhưng không còn hơi sức. Berger nói trước: 
– Vẫn sống. Nằm nghỉ cho khỏe. 
Giờ điểm danh, họ được khiêng ra sân để nằm ngay trước lao xá bên cạnh những người bệnh nặng đi không nổi. 
Đội trưởng Bolte nhìn 509 và Bucher với con mắt của kẻ quan sát hai con sâu bị dẫm bẹp. Hắn hỏi tên tù đại diện Handke: 
– Hai đứa này chết rồi sao để đây? 
– Thưa Đội trưởng, tụi nó chưa chết. 
– Nhiều lắm là tới sáng mai, chúng sẽ vào lò thiêu. Đánh cá bằng cái đầu cũng chắc ăn. 
Hắn bỏ đi ngay. Còn một ít tiền, hắn muốn thử thời vận lần nữa với trò đỏ đen. Đại diện các lao xá hô to: 
– Tan hàng! Cho người đi lấy đồ ăn! 
Nhóm Lão Làng xúm lại cẩn thận khiêng 509 và Bucher vào trong. Handke khó chịu trừng mắt: 
– Bộ tụi nó là đồ sành hả? 
Không một ai trả lời. Hắn lẩn quẩn trên sân một lúc rồi cũng bỏ đi. Westhof nhổ nước bọt càu nhàu: 
– Đồ chó! Quân chó má! 
Berger nhìn hắn. Mấy lúc sau này, Westhof thường tỏ ra mất bình tĩnh. Hắn không chịu ngồi yên, nói lảm nhảm một mình và hay tìm chuyện gây sự. Berger xẵng giọng: 
– Đừng làm ồn, Westhof! Mọi người đều biết hắn rõ quá mà… 
Westhof trợn mắt: 
– Nó cũng là tù như chúng mình sao chó má vậy… 
– Biết rồi. Còn hằng chục đứa khác tồi tệ, độc hại hơn. Hễ có quyền là con người trở thành hung tợn ngay. Thôi, giúp tôi một tay. 
Họ dọn trống một chiếc giường dành riêng cho 509 và Bucher trong khi sáu người trong nhóm phải nằm đất. Một trong những người nhường chỗ là thằng bé Karel. Nó bảo với Berger: 
– Đội trưởng Bolta đoán sai. 
– Thật sao? 
– Họ không chết đâu. Nhất định là tới mai cũng còn sống. Tôi dám đánh cá với hắn. 
Berger nhìn khuôn mặt trắng nhợt của thằng bé: 
– Karel, cháu chỉ có thể đánh cá với bọn SS khi nào biết chắc là mình thua. Như vậy cũng chưa đủ. 
– Họ không chết đâu. Ba người nằm đàng kia thì chắc chắn không sống nổi. 
Berger lại nhìn Karel: 
– Cháu nói đúng. 
Karel gật đầu, hãnh diện. Dầu sao nó cũng đã có nhiều kinh nghiệm. 
Chiều hôm sau, họ đã có thể nói chuyện. Mặt họ vẫn còn tái đen nhưng ánh mắt đã linh động, chỉ có môi là còn sưng húp. Berger căn dặn: 
– Lúc nói, chớ có máy môi. 
Kể ra đó là chuyện không mấy khó. Kẻ nào từng bị giam giữ lâu đều biết cách nói mà chẳng cử động môi. 
Sau giờ ăn, thình lình có tiếng gõ cửa. Tim mọi người như ngừng đập, họ tự hỏi phải chăng có người tới để mang 509 và Bucher đi. 
Tiếng gõ cửa lại nổi lèn, dè dặt và nho nhỏ. Ahasver nói thật khẽ: 
– 509, Bucher! Cứ làm như chết! 
509 lắc đầu: 
– Không phải bọn SS đâu… Mở cửa đi, Leo. 
Tiếng gõ cửa bỗng ngưng bặt. Vài giây sau, một bóng người xuất hiện ở khung cửa sổ, bàn tay đưa cao vẫy vẫy. 509 lại bảo: 
– Mở cửa đi, Leo. Người của trại lao tác mà. 
Lebenthal ra mở cửa, một bóng người lách vào. 
Cái bóng lên tiếng: 
– Lewinsky Stanislaus. Còn ai thức không? 
– Có đủ mọi người đây. 
Lewinsky mò tởi chỗ Berger, người vừa mới trả lời. 
– Ở đâu? Tôi sợ giẫm phải mấy người nằm. 
– Cứ đứng yên, tôi sẽ tới. 
Berger mò mẫm tới sát Lewinsky: 
– Được rồi. Mình ngồi xuống đây. 
– Họ còn sống không? 
– Còn. Họ nằm bên trái bạn. 
Lewinsky dúi một vật gì vào tay Berger. 
– Cái gì vậy? 
– Iodine, aspirine và bông gòn. Có một cuộn băng với peroxide. 
Berger ngạc nhiên: 
– Cả một tủ thuốc à? Lấy ở đâu ra? 
– Đánh cắp ở bệnh viện. Một người của chúng tôi làm việc tại đó. 
– Tốt quá. 
– Có cả đường nữa. Đường miếng. Quậy nước cho họ uống. Đường tốt lắm. 
Lebenthal buột miệng: 
– Đường hả? Lấy ở đâu vậy? 
Lewinsky hỏi lại: 
– Có chỗ lấy được. Bạn có phải Lebenthal không? 
– Phải, sao? 
– Tại bạn hỏi thế nên tôi đoán ra. 
Lebenthal hơi xấu hổ: 
– Tôi đâu có hỏi với ý định đó. 
– Tôi không biết họ lấy ở đâu. Một người bạn ở lao xá 9 đưa tôi, bảo đem lại cho hai người hồi chiều. À, có phó mát nữa. Còn mấy điếu thuốc này là của anh em lao xá 11. 
– Thuốc điếu! Lại tới sáu điếu! Cả một kho tàng! 
Trong khoảnh khắc, mọi người đều im lặng. 
Một lúc sau, ông lão Ahasver lên tiếng: 
– Leo, người bạn này còn hay hơn anh. 
Leo nói mau như không kịp thở: 
– Đồ bỏ! Tôi cũng làm được vậy. 
509 hỏi nhỏ: 
– Lewinsky, có phải bạn đó không? 
– Phải… 
– Bạn ra ngoài được à? 
– Được chớ. Không được sao tới đây. Tôi là thợ máy mà. Một khúc dây đủ rồi. Rất dễ. Tôi rất rành về các loại khóa. Phần các bạn ở đây thì sao? 
Berger trả lời: 
– Ở đây, họ không khóa cửa. Nhà cầu ở bên ngoài. 
– Tôi quên mẩt. Mấy người kia có ký tên không? 
Hắn vừa hỏi vừa quay sang 509. 509 đáp yếu ớt: 
– Có… 
– Còn bạn không ký? 
– Tôi và Bucher. 
Lewinsky nghiêng người thấp xuống: 
– Chúng tôi không tin là các bạn thoát được như vậy. 
– Tôi cũng nghĩ như bạn. 
– Tôi muốn nói chẳng những các bạn còn sống nổi mà còn không có chuyện gì xảy ra, tiếp theo. 
– Đó cũng là điều tôi đã nghĩ tới. 
Berger can thiệp: 
– Thôi để họ yên. Họ còn yếu lắm. Tại sao bạn muốn biết thật chính xác như thế? 
Trong bóng tối, Lewinsky xoay mình: 
– Việc này quan trọng lắm. 
Hắn đứng lên nói tiếp: 
– Tôi phải về trại bây giờ. Sẽ mang thêm khá hơn. Muốn nói một vài chuyện với ông. 
– Bạn cứ tự nhiên. 
– Ở đây, chúng có kiểm soát ban đêm không? 
– Không. Để làm gì? Để đếm xác chết à? 
509 gọi nhỏ: 
– Lewinsky… 
– Tôi đây… 
– Bạn trở lại đây nữa chớ? 
– Chắc chắn. 
509 cố tìm chữ: 
– Bạn nghe đây… Chúng tôi… chúng tôi chưa xong đâu… chúng tôi vẫn còn… 
– Chính vì vậy mà tôi sẽ trở lại. Không phải vì lòng từ thiện đâu, bạn cứ tin tôi. 
– Được rồi, mong bạn trở lại… 
– Chắc chắn mà. 
– Bạn đã nói một lần rồi. Tôi không quên đâu. Không quên nên tôi mới tới đây. Thôi, tôi về. 
Lebenthal theo ra tới cửa. Lewinsky thì thầm: 
– Thôi, bạn vô đi. À, tôi còn quên một cái gì… 
Lebenthal hỏi: 
– Bạn không biết họ lấy đường ở đâu sao? 
– Không. Để tôi hỏi lại coi. 
Rồi hắn nói như hụt hơi: 
– Đây rồi, cầm lấy… đọc đi… mới có hôm nay… 
Hắn dúi vào tay Lebenthal một mảnh giấy rồi đi mau vào bóng tối. Lebenthal đóng cửa xong, quay vào. Ông lão Abasver nói: 
– Đường đâu? Cho tôi rờ xem sao… chỉ rờ thôi. 
Berger hỏi: 
– Mình còn nước không? 
Lebenthal trao ca nước cho ông ta. Berger bỏ hai miếng đường vào, bò tới chỗ 509 và Bucher: 
– Uống đi, chầm chậm thôi. Mỗi người một ngụm. Thay phiên nhau. 
Có tiếng người ở giường nửa lừng: 
– Ai ăn cái gì vậy? 
– Có ai ăn gì đâu. Có gì mà ăn? 
– Nghe có tiếng nuốt ừng ực. 
Berger thản nhiên: 
– Ammers, chắc bạn nằm mơ. 
– Nằm mơ sao được. Phải chia phần cho tôi. Mấy người đang ăn ngấu nghiến dưới đó mà. Chia phần đây! 
– Đợi tới sáng đi. 
– Tới sáng thì các người nuốt hết rồi… Cứ mỗi lần… 
Hắn không nói tiếp được nữa vì đang khóc nghẹn. Không ai chú ý tới hắn. Cơn bệnh của hắn đã trở nặng từ nhiều ngày qua, hắn tưởng mọi người đều lừa gạt hắn. 
Lebenthal mò lần tới chỗ 509, phàn trần vụng về: 
– Hồi nãy tôi hỏi chuyện đường không phải để bán mua đổi chác gì đâu… chỉ muốn tìm thêm cho bạn. 
– Tôi biết… 
– Tôi còn giữ cái răng vàng. Mình sẽ đổi lấy đồ ăn. 
– Được lắm, Leo. Lewinsky còn đưa cái gì lúc ở ngoài cửa đó? 
– Một miếng giấy. Không phải tiền. Giống như giấy báo. 
– Báo hả? 
– Giống như vậy. 
Berger hỏi mau: 
– Cái gì đó. Bạn có một mảnh báo hả? 
509 bảo: 
– Coi lại có phải không… 
Lebenthal bò ra gần cửa mở mảnh giấy ra xem rồi bảo: 
– Đúng rồi. Một miếng báo bị rách. 
– Đọc được không? 
– Bây giờ hả? 
– Chớ đợi chừng nào? 
Lebenthal đưa mảnh giấy lên cao: 
– Không thấy rõ. 
– Mở cửa rộng thêm. Bò ra ngoài. Có ánh sáng trăng. 
Lebenthal làm theo lời. Hắn nhìn vào mảnh giấy một lúc rồi nói: 
– Chắc là một bản tin chiến sự. 
509 giục: 
– Đọc đi! Đọc mau lên! 
Berger hỏi nhỏ: 
– Ai có diêm quẹt? 
Lebenthal đọc: 
– Remagen… Trên sông Rhin. 
– Sao? 
– Quân đội Mỹ chiếm Remagen… vượt sông Rhin! 
– Sao? Leo, có đúng vậy không? Vượt sông Rhin hả? Còn gì nữa? Một con sông ở Pháp? 
– Không… sông Rhin… ở Remagen… Quân Mỹ… 
– Đừng có nói! Tôi bảo đọc mà, đọc nguyên văn, Leo! 
– Được rồi, bây giờ thấy rõ hơn hồi nãy… 
– Qua sông Rhin? Nhưng làm sao được? Như thế là họ đang ở trên lãnh thổ Đức. Đọc đi! Đọc rõ, Leo! 
509 quên là môi mình rách nát. Hắn lẩm bẩm: 
– Qua sông Rhin? Nhưng bằng cách nào? Với phi cơ hay tàu? Nhảy dù chăng? Đọc đi, Leo! 
Mỗi người một câu, chẳng mạch lạc gì cả, họ vừa nói cho mình vừa hối Lebenthal đọc. Hắn đọc từng tiếng một: 
– Cây cầu… Họ vượt một cây cầu… Cây cầu nằm trong tầm hỏa lực mạnh mẽ của quân Đức. 
Không tin được, Berger hỏi mau: 
– Một cây cầu hả? 
– Phải, một cây cầu ở Remagen. 
509 lặp lại: 
– Một cây cầu, bắc ngang sông Rhin. Như vậy là bộ binh… Đọc tiếp coi, Leo. 
– Còn một đoạn chữ nhỏ quá, không đọc nổi. 
Berger thất vọng: 
– Có ai còn diêm quẹt không? 
Trong bóng tối, có người đáp: 
– Còn hai cây đây. 
– Vào trong, Leo. 
Họ quây quần sát bên cửa. Ammers rên rỉ: 
– Đường đâu? Tôi biết mấy người có đường mà. Chia phần cho tôi… 
509 tức tối: 
– Berger, cho con chó đói đó một miếng đi. 
– Không. 
Berger bảo luôn: 
– Lấy mền che mấy cửa sổ lại. Leo, đọc đi! 
Berger đánh diêm. Lebenthal đọc thật mau. Một số sự thật từ lâu bị che giấu bỗng lòi ra. Quân Mỹ đã vượt qua cầu. Các đơn vị có phận sự phá cầu đã không cho nổ kịp, họ sắp ra trả lời trước tòa án Quân sự Mặt trận… 
Que diêm đã cháy hết. 509 lẩm bẩm: 
– Cây cầu không bị phá. Thế là họ vượt qua an toàn. Các bạn có biết điều này là gì không? 
– Bị tấn công bất ngờ. 
– Điều này có nghĩa là Bức Tường phòng thủ phía Tây đã bị chọc thủng. 
Berger nói như nằm mơ: 
– Bức tường phía Tây bị phá vỡ. Họ vượt ngang qua. 
– Chắc là Bộ Binh chớ không phải quân Dù. 
– Chúa ơi! Vậy mà chúng tôi không biết gì hết. Mình cứ tưởng người Đức vẫn còn ở trên đất Pháp. 
509 lại nóng nảy: 
– Đọc lần nữa đi, Leo. Mình cần biết rõ. Hồi nào, có để ngày tháng không? 
Berger đánh cây diêm thứ hai. Có người la lên: 
– Tắt lửa đi! 
Lebenthal đang đọc, 509 cắt ngang: 
– Chuyện xảy ra hồi nào? 
Lebenthal dò một lúc: 
– Ngày 11 tháng Ba năm 1945. 
– Mười một tháng Ba 45. Hôm nay là mấy? 
Với những người tù chỉ còn sống trong thời kỳ đợi chết như ở Tiểu trại thì việc tính ngày tháng đã trờ thành vô nghĩa. Tuy thế, họ vẫn còn biết mang máng là ngày 11/3 đã qua cũng khá lâu và bây giờ có thể là cuối tháng Ba hoặc đầu tháng Tư. 509 bứt rứt: 
– Đưa tôi xem, mau! 
Thân thể còn đau như dần, hắn vẫn dùng hết tàn lực bò lết tới nơi. Lebenthal tránh sang bên. 509 cố đọc thật mau nhưng ngọn lửa tàn của que diêm chỉ chiếu phớt qua hàng tựa rồi lờn vờn tắt. 
– Đốt thuốc mau lên, Berger. 
Berger châm một điếu trao cho 509. 
– Đưa mảnh báo cho tôi, Leo. 
Vừa nhận mảnh giấy xong, 509 xếp lại cho vào phía trong áo. Hắn cảm thấy nó đang áp vào da thịt. Hít một hơi khói dài, 509 trao điếu thuốc cho Berger: 
– Cho mỗi người một hơi. 
Người cho diêm quẹt hỏi: 
– Ai hút thuốc đó? 
– Tới lượt bây giờ. Mỗi người hút một hơi. 
– Không hút thuốc đâu. Phần đường của tôi, có chưa? 
Ammers lại rên rỉ. 509 bò về giường. Berger và Lebenthal theo giúp. Một lúc sau, hắn hỏi nhỏ: 
– Berger, bây giờ bạn tin chưa? 
– Tin. 
– Như vậy là hy vọng về cuộc oanh tạc mới đây có thể thành sự thật… 
– Đúng vậy. 
– Leo, nghĩ sao? 
– Tin chớ sao. 
– Chúng ta cần phải… 
Berger ngắt lời: 
– Để mai rồi mình bàn sau. Ngủ đi! 
509 buông rơi người xuống. Hắn cảm thấy choáng váng, có lẽ vì khói thuốc. Đốm lửa nhỏ nhắn được các bàn tay khô đét bao bọc lần lần đi khắp phòng giam. Berger bảo 509: 
– Còn chút nước đường đây. Uống đi! 
Uống xong, 509 dặn nhỏ: 
– Giữ nguyên mấy miếng kia, đừng quậy nước nữa, để dành đổi đồ ăn. 
Trong bóng tối có người đề nghị: 
– Còn mấy điếu nữa. Cho mỗi người vài hơi đi! 
Berger nhăn mặt: 
– Chẳng còn điếu nào cả. 
– Còn mà, cho anh em thưởng thức chớ. 
– Đó là đồ của người ta cho hai người bạn vừa ở trong chuồng sắt ra. 
– Giỡn hoài! Đó là của chung, đưa ra đi! 
509 nói mau: 
– Berger, hãy coi chừng. Lấy cây gậy ra. Mình phải giành thuốc để đổi thực phẩm. Leo, bảo vệ cho Berger. 
– Được rồi. 
Có tiếng xê dịch của nhóm Lão Làng sát vào nhau rồi có tiếng chụp bắt, chửi rủa, ngã té và kêu thét. 
Berger chờ một lúc mới hô to: 
– Lính SS tới! 
Lại có tiếng nhiều người bò lê về chỗ cũ, tiếng xô đẩy, rên rỉ… rồi hoàn toàn im lặng. 
Lebenthal thì thầm: 
– Đáng lẽ lúc nãy mình không nên hút. 
– Đúng. Đã giấu mấy điếu còn lại chưa? 
– Từ lâu. 
– Đúng ra mình phải để dành nguyên. Nhưng mấy lúc có chuyện quan trọng xảy ra thế này… 

Bỗng nhiên 509 như mệt sắp ngất. Hắn tận dựng tất cả hơi sức mới hỏi được: 
– Bucher, từ nãy giờ có nghe gì không? 
– Có. Nghe rõ cả rồi. 
Nghe xong câu trả lời, đầu óc hắn quay cuồng. Vượt ngang sông Rhin – hắn còn nhớ thế – và nghe có mùi khói trong cổ họng. Hắn nhớ đã ngửi mùi khói tương tự cách đây chẳng bao lâu… nhưng vào lúc nào? Khói thuốc xuyên thẳng vào khí quản thèm thuồng của hắn, gây đau đớn nhưng không tài nào cưỡng lại. Phải rồi, khói xì-gà của Neubauer trong khi hắn nằm trên mặt đất ướt ẩm. Chuyện dường như đã xảy ra thật lâu rồi, nhưng chỉ trong chốc lát, một sự sợ hãi bỗng lóe lên. Màu khói hóa ra mờ ảo và biến thành một thứ khói khác, khói của thành phố bốc cháy bên kia hàng rào kẽm gai mà hắn đã từng ngửi thấy, khói từ con sông Rhin… và bỗng nhiên hắn có cảm tưởng đang nằm trên một triền đồi đầy sương đang nghiêng chúi xuống, chúi xuống mãi và mọi vật bỗng trở nên hiền dịu, và lần đầu tiên bóng tối bao quanh hắn không có gì đe dọa.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 24)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Đông Hà Những Ngày Tạm Trú

Sáng 26-3-1971, tôi thi hành bàn giao nhiệm vụ lại cho Pháo Đội 155 ly cho Đại Úy Khôi thuộc Tiểu Đoàn 48 Pháo Binh đến thay thế. Kế đấy, tôi hướng dẫn Pháo Đội C với đầy đủ 6 đại bác, di chuyển theo các đơn vị tiền trạm.

Khởi hành từ Khe Sanh lúc 14g15, chúng tôi theo sau một đơn vị Pháo Binh phòng không Hoa Kỳ. Đoàn xe rất dài, nối tiếp nhau có đến 10 cây số. Đường đi được Công Binh sửa chữa thêm trong suốt thời gian hành quân nên bây giờ trở nên rộng rãi như xa lộ, và tuy là đường đất không rải nhựa nhưng mặt đường ít lồi lõm. Có điều quanh co và hai bên cạnh đường vẫn còn những vách núi chằng chịt cây rừng, khuất lấp. Chính Cộng quân đã lợi dụng địa thế này, đặt những toán phục kích nhỏ, xử dụng B40 bắn vào đoàn xe của ta.

Sau một tiếng đồng hồ lăn bánh chậm chạp, chúng tôi phải dừng lại để các đơn vị tiền phong chiến đấu với một toán phục kích địch. Khi xe tiếp tục chạy, chúng tôi vượt qua chặng phục kích, nhìn thấy chiếc xe cần trục (wrecker) cháy dở nằm bên vệ đường, cùng một xe jeep với 4 chiến hữu tử thương tại chỗ!

Di chuyển trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, riêng pháo đội tôi liên tiếp thoát khỏi 3 lần phục kích tại 3 địa điểm khác nhau trên lộ trình. Lúc thì địch quân đánh vào đằng trước, giữa hoặc sau đoàn xe, nhưng may mắn, không có lần nào ngay trong đoàn xe của chúng tôi.

Để khích lệ tinh thần anh em, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng dùng trực thăng vần vũ bay theo chúng tôi, liên lạc từng phút với lòng lo lắng cực độ.

Suy nghĩ lại, quả thật Pháo Đội tôi có số đỏ! Đã vinh dự tiền phong vượt biên giới Lào-Việt sau khi Tổng Thống hạ lệnh tấn công và cuối cùng rút về sau rốt đối với các Pháo Đội tác xạ trong Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh này!

…18g00, thị trấn Đông Hà hiện ra trước mắt chúng tôi. Từ trên trực thăng, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng ra lệnh cho tôi đưa Pháo Đội vào đóng quân chung trong doanh trại Pháo Hồng của Tiểu Đoàn 48 Pháo Binh. Nơi đây, các Pháo Đội A, B đang tạm chiếm từ hai hôm qua.

Bấy giờ chúng tôi mới cảm thấy nhẹ cả người, mặc dầu thỉnh thoảng địch vẫn pháo kích hỏa tiễn vào phi trường đối diện với chúng tôi không quá 1000 thước, không làm bận tâm cho ai cả!

Tuy nhiên, công việc nhà binh là thế. Hết nhiệm vụ này, lập tức có ngay nhiệm vụ khác. Thôi thì đủ việc để làm, không có lấy một giờ “thất nghiệp”. Chúng tôi bắt tay ngay vào việc tu bổ đại bác, liên lạc Quân Cụ xin cơ phận thay thế, tu bổ quân xa, chuẩn bị “banderoles” duyệt binh, lập phúc trình tổn thất, lập bản đề nghị thăng thưởng cấp bậc, tưởng thưởng huy chương cho các anh em Hạ Sĩ Quan, binh sĩ… cơ hồ không còn đủ giờ để làm hết việc…

Chính lúc này, chúng tôi, những người hiện diện tại đơn vị, được nhận một ít tặng phẩm của Phu Nhân Tổng Thống Thiệu gởi đến. Món quà tuy nhỏ, mỗi người được 5 gói thuốc Ruby Quân tiếp vụ và 1 lọ dầu cù là, nhưng cử chỉ ưu ái này phần nào đã an ủi được lòng các chiến binh xông pha ngoài trận tuyến.

…Chẳng bao lâu, nhờ các Sĩ quan giàu thiện chí và ham việc, Pháo Đội tôi hoàn tất các công tác của Tiểu Đoàn giao phó. Rồi theo lệnh mới, tôi tiếp nhận Trung Úy Vinh làm Sĩ quan tác xạ Pháo Đội thay thế Trung Úy Lân. Vinh là người dong dỏng cao, nước da cháy nắng, là một Sĩ quan gan dạ, đã đi đoạn hậu triệt thoái được 2 khẩu đại bác 155 ly từ A Lưới về Khe Sanh bằng đường bộ, trong đoàn của Đại Úy Vẹn và Trung Úy Phương. Suốt thời gian từ 27-3 đến 3-4-1971, chúng tôi chỉ quanh quẩn ở cổng trại Pháo Hồng chờ đợi những chỉ thị của Thượng cấp… Anh em đi phép, nhân đấy lần lượt trở về đầy đủ. Chúng tôi tiếp tục cuộc sống bình thường như trước khi đi hành quân.

Vào một buổi tối, tôi tiếp nhận thư của một đồng bào Đại Lộc – lại là người đang kiêm Hiệu Trưởng Trung học Đệ I, Đệ II cấp sở tại – gởi đến. Lời lẽ trong thư đã an ủi cho tôi cùng toàn thể quân nhân Pháo Đội C/44 Pháo Binh rất nhiều.

Ông ấy viết:

Hội An, ngày 16 tháng 3 năm 1971

Anh Hy,

Trong những ngày bận rộn lo thủ tục xuất ngoại tại Sàigòn, tôi thật sự băn khoăn khi nghĩ đến anh và Pháo đội C. Chiến trường Lào với những khó khăn lúc đầu làm tôi không yên tâm. Tôi cố gắng tìm những liên lạc về anh để trả lời câu hỏi hằng ngày của Quý vị Giáo Sư trong trường tôi, của mấy em nam-nữ sinh thơ ngây và thành thật khi chúng hỏi về anh – Vị Sĩ quan trẻ, hào hoa mà chúng mến đậm đà. Tin thất thủ từ Đồi 31 làm tôi thêm bối rối. Tôi thường không say mê tin chiến sự, bỗng dưng tôi thấy quan trọng lạ thường. Tôi tìm đọc tin tức về Lào, nhưng làm sao để biết bây giờ anh ở đâu? Tôi biết chắc là trong Lào Quốc đèo heo hút gió, có lúc anh nghĩ đến trường do anh đỡ đầu – thật là kỳ lạ, chỉ có thể hiểu mà không lý giải được có hàng ngàn người đang chiến đấu tại Lào – Tại sao, ở đây quận Đại Lộc này, từ cụ già đến em học sinh, từ người thứ giả đến thứ dân đều nghĩ đến anh, hỏi về anh, lo cho anh. Đây quả là trường hợp hi hữu. Vì như anh rõ, anh cùng Pháo Đội C chỉ ở đây mấy tháng – Thời gian không đủ để sự cảm mến, những khả tín nơi anh lan tỏa rộng rãi thế này.

Chúng tôi đi ngang qua Cà phê Trâm, ngang nhà Huynh đều bị chận lại hỏi về anh. Trời tháng 2 mà trở lạnh. Chúng tôi ngồi trong văn phòng, nhìn vật kỷ niệm anh tặng, nhìn lên Đồi 37 rồi bất giác thở dài:

“Un seul être vous manque et tout est dépeuplé..” quả đúng như vậy. Sự ra đi của anh và Pháo Đội C để lại một khoảng trống quá lớn tại địa phương này, nhưng với tôi mới là điều quan trọng. Vài đêm ngủ trên đồi anh, tôi không quên được. Có cái gì đó khiến tôi tự nghĩ là “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” với anh, nó có thể là quan niệm sống về những “goût” giống nhau, những cảm nghĩ về cuộc chiến như nhau.

Tôi biết anh không có thì giờ để buồn khi chiến đấu ở Lào. Chính cái điều làm ta băn khoăn là ta ý thức quá rõ về thân phận của ta và tha nhân. Xông pha trăm trận, chắc anh không quản ngại da ngựa bọc thây, nhưng lo là sau mình, không biết có ai tiếp tục sự nghiệp mà mình phải trả bằng mồ hôi và xương máu? Thú thật với anh, tôi không tin tưởng bao nhiêu ở thế hệ mai sau.

Dù vậy, cả tôi, cả anh, chúng ta sinh ra dưới vì sao lung linh, chúng ta không chịu an nhàn trong vô vi. Chúng ta đủ an tâm thủ phận, nhưng không yên lòng vì hoàn cảnh hiện tại của nước nhà. Tôi cố gắng tạo một triết lý trong tôi khi nghĩ đến nỗi gian lao của anh. Nhưng tôi tầm thường quá, nghĩa là thấy lo lắng ưu tư, vẫn thấy có cái gì chua xót khi nghĩ về anh đang chiến đấu trong cực kỳ thiếu thốn gian nan. Trong tiềm thức ở, từ Sàigòn – không chiến tranh, tôi theo dõi tin tức ở Lào, và thật là huyền diệu, ngày 14-3-1971 tôi tìm được tin anh trên mặt báo Tin Sống.

Anh Hy, tôi thật sự sung sướng khi đọc mẩu tin nhỏ này, tôi tin là đồng bào ở Đại Lộc cũng thế và chắc là nam-nữ giáo sư và học sinh trường tôi không còn sống trong lo sợ phập phồng, ít ra là lúc này – ngay khi đọc bài báo ngắn này.

Bây giờ thì có lẽ anh đã trở về bên này biên giới. Tôi hy vọng rất ít, lá thư này sẽ đến tay anh, dù vậy, không viết cho anh tôi không chịu được.

Tôi vừa từ Sàigòn về ngày qua, và ngày mai định đi Đà Nẵng ra thăm chị, lũ cháu để được biết ít nhiều về anh…

Tôi đã trải qua một cuộc thi trắc nghiệm hào hứng và hy vọng nhiều về chuyến xuất ngoại sắp đến. Trước khi được đi, tôi sẽ ghé thăm chị và lũ cháu.

Nắng lên, trường ta bắt đầu những hoạt động rất ngoạn mục. Tôi đã tổ chức được một Chi Đoàn Thanh Niên Hồng Thập Tự và Toán Nghĩa Sinh để làm công tác cứu giúp đồng bào. Cả trường mong tái ngộ anh. Anh cho chúng tôi gởi lời thăm Trung Úy Lân, Thiếu Úy Thiện và tất cả anh em trong Pháo Đội C 44 Pháo Binh. Xin nói giùm với các chiến hữu trong Pháo Đội anh là thầy trò chúng tôi đang chờ các anh từng giờ từng khắc, cầu mong các anh được nhiều may mắn trong sa mạc tử thần.

Thân kính,

PHAN-THẾ-TẬP

Hiệu Trưởng Trung Học Đại Lộc.

Lá thư khá dài, cả 4 tờ pelure lớn viết bằng tay! Nội cái công ngồi viết cho xong bức thư, đã nói lên được những gì mà Pháo Đội tôi gặt hái được trong lòng dân Đại Lộc trước ngày xuất quân.

Những hoạt động tích cực của pháo thủ Pháo Đội C chúng tôi – khơi nguồn từ thiện tâm, thiện chí, tự nguyện của anh em, dầu sao cũng xoa dịu phần nào, dù là một phần rất bé nhỏ – đối với đồng bào sống trong thảm họa thiên tai bão lụt tại quận Đại Lộc trước đây.

Tôi vô cùng cảm động sau khi đọc xong bức thư trên, và không đợi đến sáng, tôi ra điếm canh, nhờ cái bàn nhỏ ở đấy viết phúc đáp ngay…

Trong thư, tôi thuật sơ lược những gian nan nguy hiểm cùng những chiến thắng vẻ vang thu đoạt được tại Căn cứ Hỏa Lực 30 trong 7 ngày tử thủ, trước khi rời vị trí. Tôi nhờ ông hiệu trưởng chuyển lời thành kính biết ơn của tôi và Pháo Đội C đến đồng bào đã đặc biệt lưu tâm lo lắng cho chúng tôi. Tôi không quên xác nhận rằng, lòng thương mến của đồng bào ở hậu phương là niềm khích lệ lớn lao cho toàn thể quân nhân Pháo Đội C/TĐ44 Pháo Binh chúng tôi.

Qua ngày kế tiếp, tôi nhận được một gói báo do gia đình tôi gởi ra, gồm có các nhật trình Hòa Bình, Ngôn Luận, Tin Sáng, Xây Dựng… mà vợ tôi mua từ mấy tuần trước. Trong đó có đăng những tin tức Pháo Đội C chúng tôi liên quan đến cuộc hành quân tại Căn cứ Hỏa Lực 30… Kèm theo với gói báo, có thư của Thiếu Úy Thiện gởi cho tôi, viết tại Tổng Y Viện Duy Tân:

Bệnh viện, ngày 23 tháng 3 năm 1971

Kính Đại Úy,

Lá thư này đến tay Đại Úy, trước kính thăm Đại Úy, các vị Sĩ quan và anh em binh sĩ Pháo Đội C – cũng không gì hơn – kính chúc Đại Úy và tất cả được an lành, luôn luôn may mắn, dù có hành quân ở bất cứ nơi nào.

Kính Đại Úy, bây giờ tôi cũng khỏe hơn hồi Đại Úy cùng Cô đến thăm tôi nhiều. Tuy nhiên, cái chân bị cưa vẫn còn nhức nhối, khó chịu, nhất là vào buổi tối – một đôi khi cũng rất mệt lúc tiết trời thay đổi, mưa nắng bất thường.

Tôi bị cưa chân như thế này, tuy rất giận ông Bác sĩ nhấp nhem ngoài bệnh viện Nguyễn Tri Phương, nhưng bây giờ tôi cũng đã an phận của tôi rồi – Phần Đại Úy tôi rất lo lắng. Thú thật là tôi rất thương và cảm phục Đại Úy – Đại Úy đã sống thực và tình cảm. Kể ra, tôi sống với Tiểu Đoàn trong thời gian gần hai năm, nhưng chỉ sống với 4 vị Đại Úy Pháo Đội Trưởng, mà Đại Úy là người tôi chịu sống và thích sống nhất. Còn nói về tình cảm mà Đại Úy dành cho tôi thì không thể nào kể cho xiết tôi mang ơn Đại Úy và Cô quá nhiều – Chúa nhật nào Cô cũng dẫn mấy cháu lên thăm tôi kèm theo món quà – Ơn này không biết khi nào tôi mới trả cho xong!

Kính Đại Úy, tôi kính tin Đại Úy rõ: Hôm trước có Hạ Sĩ Phan mới lên giúp đỡ cho tôi, còn trước đó một tuần có Hạ Sĩ Hường lên săn sóc tôi vào buổi sáng.

Đôi dòng kính thăm Đại Úy, các vị Sĩ quan và anh em binh sĩ Pháo Đội C – Lạy Phật gia hộ cho Đại Úy và tất cả được an lành.

Thiếu Úy cụt giò

HUỲNH-CÔNG-THIỆN

Bây giờ Thiện chỉ còn một chân! Nhưng tôi tin tưởng là Thiện đã hãnh diện với chiến tích của đồng đội gặt hái ở Căn cứ Hỏa Lực 30, những người bạn đã từng chia vui xẻ buồn trong đời quân ngũ của Thiện. Đổi một chân, cá nhân Thiện hẳn bị thiệt thòi, nhưng xác địch hàng ngàn tên quanh căn cứ là một sự trả thù nhãn tiền và hiệu quả của tất cả chúng tôi, những chiến hữu thừa kế sự nghiệp Thiện – làm cho Thiện, ít ra cũng vơi được sự hận lòng khi Thiện nhìn xuống cái chân cụt của mình.

Trước và sau Thiện, còn biết bao chiến hữu mà lòng họ không bao giờ quên được hình ảnh một người bạn, một người anh, một người em trong tập thể gia đình Pháo Đội C, đã sống với nhau qua bao ngày tháng gian khổ, nguy nan… Tất cả điều đó phải là tia nắng sưởi ấm lòng Thiện trong những phút suy tư về kiếp sống tàn phế của mình.

Thiện! Tôi muốn nói, muốn hét to trong không gian bao la này: Thiện luôn luôn vẫn là mẫu người lý tưởng của Pháo Đội C, thể hiện nơi em tất cả những gì cao đẹp nhất, khơi nguồn từ tình đồng đội… sẽ mãi mãi in sâu vào lòng mọi người – trong đó có anh.

…Vào một buổi sáng, tôi nghe Đài Phát Thanh Quân Đội thuật lời phỏng vấn tôi tại Khe Sanh. Ít hôm sau, Đài Tự Do tái phát thanh chương trình ấy vào 4 buổi trưa liên tiếp.

Cùng lúc Đài Phát Thanh Hà Nội cũng lại nói về tôi! Nhưng lại xuyên tạc một cách trắng trợn rằng, Căn cứ Hỏa Lực 30 bị bọn chúng tràn ngập và tôi đã thất lạc 6, 7 ngày trong rừng, nhịn đói, nhịn khát không tìm thấy đường về!… Quả đúng là lời tuyên truyền của Việt cộng! Trong lúc, chính chúng tôi, luôn luôn sát cánh chiến đấu với Tiểu Đoàn 2 Dù, thi hành viên mãn nhiệm vụ của Thượng Cấp giao phó. Vả lại, tôi hiện hữu, tưởng chỉ bấy nhiêu cũng đủ trả lời cho bọn chúng rồi vậy. (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: TIẾP XÚC ỦY BAN YỂM TRỢ CHIẾN TRƯỜNG

VÀ NÓI CHUYỆN TRÊN VÔ TUYẾN TRUYỀN HÌNH TẠI HUẾ. 

 (*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 2-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 23)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Trở Lại Khe Sanh Tiếp Tục Chiến Đấu

Mười bảy giờ ngày 15-3-1971, sau khi trình diện Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, tôi tiếp tục nhận thêm 2 đại bác 155 ly với Thiếu Úy Trí, Chuẩn Úy Khánh làm Trung Đội Trưởng. Đồng thời 2 khẩu khác của Pháo Đội A do Thiếu Úy Ba chỉ huy được sát nhập vào Pháo Đội tôi, cuối cùng, Pháo Đội C chúng tôi được đầy đủ 6 khẩu.

Tại Lao Bảo, Ngân được lệnh thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 101 Pháo Binh Cơ Giới 175 ly, giao Trung Đội lại cho Thiếu Úy Châu.

…Kể từ đây, lộ trình di chuyển từ Khe Sanh đến Lao Bảo, tuy không quá 15 cây số, đường rộng, hai bên lộ tương đối ít rậm rạp, đa số các lùm cây được Công binh phát quang trống trãi. Tuy nhiên, Cộng quân lại tăng gia pháo kích ngày càng khủng khiếp. Những quả đạn pháo kích được trải dài giữa đường, do các Tiền Sát viên địch ẩn nấp trên các sườn núi điều chỉnh. Vì vậy, việc tiếp tế đạn dược thật là trở ngại. Thỉnh thoảng, chúng mang cả B40 ra sát lộ trực xạ vào các đoàn xe của ta. Dần dần, vị trí Pháo Binh ở Lao Bảo bị uy hiếp nặng nề cả ngày lẫn đêm.

Thiếu Úy Châu đích thân vào máy báo cáo chi tiết từng phút… những gì xảy ra cho Pháo Đội của tôi tại Lao Bảo giờ đây, cũng không khác những gì đã xảy ra cho chúng tôi như khi còn ở Căn cứ Hỏa Lực 30. Cộng quân xử dụng đủ loại súng: Hỏa tiễn, pháo binh, súng cối 82, và ngay cả loại súng bắn thẳng như B40, 57 ly, 75 ly SKZ không giật trực xạ vào vị trí! Hầm ngủ các khẩu lần lượt bị tung nắp. Hai khẩu đại bác 175 ly của Hoa Kỳ bị hủy diệt tại chỗ.

Tình trạng mỗi lúc một bi đát vì súng hư hỏng, chiến đấu khó khăn. Nhưng tinh thần pháo thủ không hề bị suy giảm. Có lẽ vì anh em đã trải qua một cuộc thử thách cam go đầy nguy hiểm tại Căn cứ Hỏa Lực 30 trước đó không quá 3 tuần!

Đồng thời, hầu hết các tiền trạm của ta, kéo dài từ phi trường chính Khe Sanh đến Bộ Tư Lệnh Dù, Tổng Hành Dinh của Trung Tướng Hoàng-Xuân-Lãm… đều có đạn pháo kích rót đến. Những trận pháo kích này, thật sự không gây thiệt hại gì cho ta và cũng không hề làm cản trở công việc yểm trợ tiếp liệu của Tiền trạm.

Bấy giờ tôi được chỉ thị chiếm đóng vị trí ở bìa bãi đáp trực thăng cạnh Bộ Tư Lệnh Dù. 4 đại bác của tôi chỉ có nhiệm vụ tác xạ theo lệnh Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Dù để bảo vệ các căn cứ quanh vùng. Song, việc tác xạ không còn sôi động như trước, giúp cho chúng tôi có thời gian để bảo trì quân dụng, tu bổ các công sự.

Mãi đến ngày 20 và 23-3-71, các Pháo Đội B từ A Lưới, Pháo Đội A và Pháo Đội tôi từ Lao Bảo lần lượt kéo súng về Khe Sanh. Cuộc triệt thoái của những Pháo Đội này cũng thật cam go, đầy trở ngại khó khăn. Suốt dọc theo lộ trình triệt thoái, Pháo Đội B đã phải nhờ chiến xa kéo súng và chiến đấu với số “Lính Pháo Đánh Bộ” cùng với Lữ Đoàn Dù. Chính các lực lượng này đã vượt “Suối Máu” một cách vất vả, gian khổ nhất. Sau khi đoàn quân triệt thoái từ A Lưới về đến Lao Bảo, Pháo Binh của ta trấn đóng tại đây cũng được lệnh di chuyển theo… Lợi dụng thời gian này, địch gia tăng pháo kích kịch liệt, cố tạo nên trở ngại lớn lao trong kế hoạch của ta, nhưng cuối cùng đoàn quân vẫn hoàn thành nhiệm vụ.

Được quy tụ cả 3 Trung Đội về một chỗ, tôi lại nhận lệnh mới di chuyển vị trí vào gần Bộ Tư Lệnh Dù hơn. Chính nơi đây trong những lúc rỗi rảnh, tôi dành thì giờ để ghi lại những chi tiết cần thiết, bổ túc cho quyển nhật ký dở dang.

Qua hôm sau, Pháo Đội C được xuất phái Bộ Tư Lệnh Dù để tăng phái cho Lữ Đoàn I Đặc Nhiệm của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật. Dịp này, tôi hân hạnh được tiếp xúc với Trung Tá Sáu vài lần – nguyên trước kia Trung Tá là Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn I, và nay là Chỉ Huy Phó Lữ Đoàn I Đặc Nhiệm. Vẫn với giọng trầm tĩnh, nụ cười cởi mở, Trung Tá thuật lại nỗi gian truân của toàn Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn lúc chiếm đóng Căn cứ A Lưới, lúc triệt thoái… Trong câu chuyện, thỉnh thoảng Trung Tá cho tôi vài nhận xét về kinh nghiệm chiến trường thật xác thực, cùng vài cảnh tượng thương tâm xảy ra trước mắt Trung Tá…

…Vào một buổi trưa, bỗng Thiếu Tá Liên, Tiểu Đoàn Phó của tôi từ bên ngoài, nhảy vội vào Đài Tác Xạ ôm lấy tôi mừng rỡ! Râu Thiếu Tá mọc dài! Điều mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy! Thôi thì thiếu Tá hàn huyên đủ chuyện – và chính tôi không ngờ, thật tình không ngờ, lúc Căn cứ Hỏa Lực 30 bị nổ tung kho đạn, là lúc Thiếu Tá đang dùng ống nhòm từ Căn cứ A Lưới quan sát, lo lắng cho số phận mong manh của tôi! Thế rồi trong suốt cuộc hành trình cùng các chiến hữu Dù rời bỏ căn cứ, Thiếu Tá đã theo dõi từng phút, để cuối cùng mừng cho Pháo Đội C trở lại Khe Sanh an toàn. Những cảm nghĩ trung thực của Thiếu Tá đối với chiến tích của Pháo Đội C, thể hiện lòng yêu thương đậm đà, mà có lẽ, chỉ có Thiếu Tá, là người ở trong cuộc giằng co từng phút với tử thần mới phát khởi như thế.

Nhờ trở lại Khe Sanh tiếp tục chiến đấu, tôi chứng kiến hàng trăm đồng bào Lào tháp tùng theo các đơn vị thiết giáp vượt biên giới về Việt Nam. Trông họ thật thảm thương! Qua hình thức bên ngoài về cách phục sức: đàn ông đóng khố, đàn bà lượt bượt gói mình trong chiếc “xà-rông” rộng thùng thình, con nít trần truồng… Mỗi người đều có mang sau lưng một cái gùi to tướng, chứa đựng bên trong nào ngô, khoai, nào những vật dụng “không đáng giá” nhưng tối thiết cho đời sống của họ… người sau theo chân kẻ trước, âm thầm bước cạnh các chiến binh của ta.

Bất giác tôi thở dài, liên nghĩ đến những lời tuyên truyền loan đi từ Đài Phát Thanh Hà Nội về sức đề kháng của Nhân Dân Nam Lào đối với cuộc Hành Quân Lam Sơn 719! Tôi không thể và không bao giờ tưởng tượng nổi, dù có cố gắng – cũng không làm sao tin được rằng: những con người Hạ Lào ấy có đủ khả năng xử dụng các chiến cụ, cơ giới tấn công vào chúng tôi, như chúng tôi đã chạm mặt qua các cuộc công đồn của chúng tại Căn cứ Hỏa Lực 30! Thật vậy, không cần phải chú ý mới nhận thấy, thoáng nhìn họ, ta có thể so sánh họ chẳng khác nào dân tộc thiểu số trong dãy Trường Sơn dưới thời kỳ Pháp thuộc!… Hơn thế nữa, tù hàng binh do lực lượng ta bắt được tại trận, toàn là người Việt, nói tiếng Việt thuộc miền Đồng Hới trở ra… Ấy thế mà ngày cũng như đêm, đài Hà Nội không ngượng mồm lải nhải cái gọi là “Tin Chiến Sự” thuật lại những trận đánh khốc liệt trên đất Hạ Lào với giọng điệu cổ võ nhân dân Nam Lào trước thành tích này, thành tích nọ!…

Suy từ đấy, dù có khó tính bao nhiêu, tưởng cũng khó mà xuyên tạc. Nhưng với Cộng sản không có cái gì là chúng không làm được, miễn cái cứu cánh chúng đạt được! Vì lẽ này, luận điệu tuyên truyền bịp bợm của chúng, lại một lần nữa đem ra áp dụng, có gây hoang mang trong hàng ngũ chiến sĩ ta và xảo trá lường gạt dư luận quốc tế! Sự kiện đó là ngón sở trường của nhà nước Cộng sản miền Bắc vậy.

Qua ngày 24-3-1971, BCH/TĐ cùng các Pháo đội Tác Xạ A và B được triệt thoái về Đông Hà. Riêng Pháo Đội tôi vẫn trấn giữ Khe Sanh yểm trợ bao vùng. (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: ĐÔNG HÀ NHỮNG NGÀY TẠM TRÚ 

 (*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 2-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Ký thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

16. Đôi bạn mắc hoa vông

Đêm rằm tháng bảy nầy, trời đã không mưa Ngâu như thường năm mà lại còn nóng bức khó chịu. 
Tuy thế, con đường Hòa Hưng vẫn vắng hoe: ở ngoại ô xa, người ta ngủ sớm như dưới tỉnh. 
Thỉnh thoảng một chiếc xe hơi chạy về phía khám đường. Như giữa truông rừng mà ánh đèn pha hay đuổi thú, ở đây, năm bảy con vật cũng phát nhảy vào lề cỏ. 
Đó là những con chó đi hứng mát ngoài đường. Chúng tùng tam tụ ngũ nơi đó để tìm bạn, để yêu thương, để kể lể cho nhau nghe những câu chuyện chó của loài người mà chúng được mục kích, để cãi nhau, tranh nhau một nhơn tình và rất thường khi xâu xé nhau. 
Thật là rậm rật như chó tháng bảy! 
Khi ánh đèn bật lên thì trên màn bạc tình cờ ấy, hiện ra nhiều trò chó má và khúc phim ngắn kia thật là kém mỹ tục thuần phong. 
Từng cặp một, chúng thơ thẩn dưới ánh trăng mờ, chơi vơi trong nguồn ân bể ái. Lại có những anh chàng bị hất hủi, đứ ng bơ vơ tiu nghỉu; có những anh chàng đang lẽo đẽo theo một bóng hồng; có những cặp nhân tình như giận nhau, đứng cùng nhau mà mỗi người đang nhìn một ngả. 
Lạ lắm là trong loài giống nầy, cái thiếu mà đực lại thừa. Cho nên đây đó vài trận đánh nổi lên, ai cũng cả quyết tranh nhau người ngọc. 
Dạ khách là dân tứ chiếng: chó ta, mực, vện, phèn chiếm đa số, nhưng cũng có những bécđê lai, kiêu hãnh nhưng quả không hùng dũng chút nào, những con chó vá, lai giống tám mươi đời vương, bé loắt choắt mà cứ làm bộ oai. Những con chó tây chánh hiệu mà me tây nào đó đã bỏ lại khi lui về vườn để hoàn lương, ốm tong teo vì thiế u thịt bò, bâng khuâng như nhớ thời oanh liệt. 
Ở đây không phân chia giai cấp: chó ghẻ cũng lắm khi may mắn lọt vào mắt xanh của cô nàng, chó rụng lông vẫn ngồi trò chuyện được với chó xù, và cả con chó thọt cũng có bạn. 
Những anh chàng gặp đêm xui xẻo chia nhau đi từng nhà mà rủ ren. Trong đó còn nhiều cô nàng khuê môn bất xuất: chủ chúng nó không muốn chó họ đùm đề con dại, càng không muốn chó họ trao thân một cách phiêu lưu để rồi đẻ ra những tạp giống mà họ không thích. 
Những cô nàng kín cổng cao tường nầy, đẹp thì không đẹp, nhưng chúng có sức quyến rũ của trái cấm. Thế nên nhiều anh chàng ràng mãi trước ngõ mấy nhà khép cửa phòng thu kia. 
Ôi chao là khổ cho các nhà vô phước nầy. Bên ngoài chàng kêu chàng hú, bên trong nàng hứ nàng hé xuốt đêm. 
Thật là rậm rật như chó tháng bảy! 
Cái nhà khổ hơn hết là hiệu may Chức Nữ “chuyên may y phục đàn bà” như tấm bảng trước đó đã nêu lên. 
Hiệu may có che cái thảo bạt phía trước. Thảo bạt đóng bằng cửa song, trong ngoài thấy nhau được. Cổng không kín, tường không cao, bọn nó dễ trao lời nhau và cứ xấn rấn trước nhà đó mà rậm rật. 
Cô tư, cô chủ, ban đầu còn la lấy lệ, mãi sau phải lấy củi phang ra bên ngoài và quất con Ma- Lên hết mấy roi. 
Nhưng chứng nào tật nấy, bọn nầy cứ nội công ngoại kích, khó chịu quá đi thôi. 
Cô tư đàng chịu thua, đi lại giường nằm đọc Liễu Trai để quên chúng nó. Cô tìm dấu đã đánh trên lề tờsách hồi nãy và đọc thấy con ma ấy đang lên trên lầu. Cô bỗng sực nhớ đến tên con chó của mình, nên mỉm cười.
Con Ma- Lên của cô không phải là ma, cũng không leo lên đâu cả. Đó là tiếng Pháp- me- Tây để nói Ma- Đơ- Lên (Madeleine). 
Nguyên năm trước, ở xóm có một con mẹ, vợ săn đá, khách hàng khó chịu nhứt của cô; con mẻ tự xưng là Ma- Lên. 
Cô tư rất không ưa con mẹ ấy, nên đặt tên con chó như thế cho bõ ghét. 
Nhưng Ma- Lên bốn cẳng là bạn thân nhứt của Cô Tư. Tết năm ngoái cô về quê thấy nhà bên cạnh nhà ông ngoại cô, người ta toan đem cả một ổ chó con trấn nước cho chết. Động lòng thương, cô xin con chó tốt nhứt để nuôi. 
Không phải chỉ thương chó chết đuối mà thôi đâu, cô thương vì thấy số phận con chó hơi từa tựa số phận cô ở cái chỗ bị người đời hất hủi một cách bất công. 
Ở nhà quê, chó tháng giêng hay hóa dại, vì thời tiết nóng quá. Nhơn tháng ấy là tháng hoa vông trổ, người ta lầm lẫn sự trùng phùng ấy với nguyên nhơn bệnh dại, nên gọi bệnh ấy là chứng mắc hoa vông. Chó lớn thì họ còn để sống vì còn cần, chớ chó mới đẻ là họ trấn nước chết hết kẻo chúng nó mắc- hoa- vông mà khốn! 
Cô Tư năm đó bốn mươi ba tuổi, tuổi Dần. Chỉ vì cái tuổi Dần báo hại ấy mà trai đời xa lánh cô, không sợ cô mắc hoa vông mà sợ cô sát chồng, như trong sách nói. 
Thuở còn trẻ, ở làng, cô cũng được nhiều người coi mắt. Nhưng không đám nào đi tới nữa cả, sau vụ coi thầy, coi tuổi.
Cô Tư không đẹp, nhưng có duyên, có giáo dục lại có của. Thế mà cô phải chịu nhìn năm tháng trôi đi, nhìn tuổi tác cô chồng chất lên mãi trong cảnh cô độc lẻ loi. 
Cuộc kháng chiến đã đưa cô trôi nổi lên Saigon mấy năm nay và cô càng cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết giữa đô thị đông đúc nầy. 
Người con gái già, khi qua khỏi tuổi khó khăn bốn mươi, bỗng nghe thân thể và lòng bình thản lại. Cái rạo rực tuổi thơ chỉ còn là một ký ức xa xôi. Tuy nhiên bình thản không có nghĩa là vui vẻ được. 
Nếu không có Ma- Lên làm bạn, không rõ cô Tư sẽ buồn đến bực nào. Ma- Lên sạch sẽ, ngoan ngoãn, Ma- Lên trìu mến chủ, ít đi đâu. 
Nhưng nó là con gái đang thì, lại không hấp thụ được cái giáo dục tiết chế của con gái loài người, nên nó bắt đầu để cho xác thịt làm chủ nó. 
Cô Tư đọc tới chỗ chàng thư sinh vừa gác bút ngước lên thì thấy cô gái áo lam đứng trước mặt mình mà mỉm cười, thì bỗng nghe một tiếng “cẳng”, con Ma- Lên đã đánh ngã lọ trầu bà để trên bàn gần cửa song. 
Cô tức lắm. Cuối xuống đất lượm chiếc guốc mà chọi nó. Ma- Lên hoảng sợ chạy vô riu ríu nằm dưới chân giường. 
Chủ nó nghiêm sắc mặt mà hỏi xẳng: 
– Vậy đó hả? 
Chắc Ma- Lên chỉ hiểu một phần lời của chủ nó thôi, phần trách mắng tội đánh bể cái lọ. Phần kia, nó làm sao nhận thức được lý do chủ cấm đoán nó đi ra ngoài để yêu đương. 
Chính chủ nó cũng còn chưa hiểu. Nói đúng ra, cô Tư vẫn hiểu nhưng không muốn thú nhận. 
Những người xấu bụng, hay ghanh tỵ trước hạnh phúc của kẻ khác. Cô Tư là người tốt. Nhưng rủi thay, cô lại là gái già. Thành ra cô vẫn xấu một chút xíu về chỗ đó. Trước kia, mỗi lần trang bạn đi lấy chồng, cô bỗng thấy hết thương người bạn đó. Lắm khi đâm ra ghét họ, và thình lình tìm được những lỗi to lỗi nhỏ của họ lu bù. 
Lâu rồi, cô quả không còn ghanh tị với ai, vì bạn hữu cô đã thành bà nội, bà ngoại hết cả rồi. Nhưng con Ma- Lên đã đến trong đời cô. Cái ngày mà nó đi song song với con chó Mốc trước nhà, cô lại ngậm ngùi nhớ lại tuổi xuân của mình, rồi như trẻ trở lại, cô cả quyết giữ nó, không cho nó “bị hoen ố”. Phải, cô xem cái việc nó yêu đương là hoen ố thân nó. 
Mắng Ma- Lên xong, cô Tư lại tiếp tục đọc sách. Thừa cơ chủ lo ra, Ma- Lên đứng dậy, chạy vòng vòng quanh nhà như gà mắc đẻ. Ngoài kia mấy con chó hàng xóm vẫn đứng đó mà kêu “hựt… hựt… hựt”. 
Thấy dạng Ma- Lên trở ra, chúng nó áp tới xung phong vào cửa. Tiếng cào vào gỗ nghe sột sột, tiếng hựt, hựt càng phút càng to. 
Bị phá rối giữa lúc ham mê câu chuyện, côTư lần nầy giận tràn hông. 
Cô chạy mau ra ngoài, vặn khóa mở cửa để đuổi chó. Cô mở he hé cửa thôi, rồi đứng chắn nơi đó. Nhưng Ma- Lên chen vào hai chân cô, quyết vọt ra. Mưu toan bất ngờ của con chó khiến cô ngạc nhiên. Cô lấy hai chân kẹp cổ nó lại. Nó rấn tới để vuột, mạnh quá tưởng tượng, như có ai đẩy phụ thêm ngoài sau. Nếu cô Tư không khép cửa kịp, thì chắc cô đã ngã sấp vì sức xô của con Ma- Lên. 
Đóng cửa xong, cô mệt thở hổn hển, đạp một cái lên đầu Ma- Lên rồi đi vào giường. 
Tuyệt vọng, Ma- Lên theo chủ đi vào. Lần nầy nó buồn hiu hiu, nằm gác mõm lên hai chân trước, ra vẻ nhẫn nại chịu số phận. 
Cơn giận nguôi lần, cô Tư nhìn Ma- Lên rồi thương nó hơn bao giờ hết. Nó mới lớn lên, đầy dẫy sinh lực. Tiến gọi xác thịt mà nó nghe theo, tự nhiên quá, có gì bậy bạ đâu. Thế mà, tại sao nó lại phải bị bắt làm gái già? Đồng loại nó có lánh xa nó đâu, có coi tuổi coi thầy gì để mà sợ nó đâu. Thì tại làm sao bắt nó chịu số phận của một người không may đẻ vào năm Dần? 
Cô Tư vói tay vuốt lên đầu Ma- Lên, Ma- Lên cảm động ngóc mõm liếm tay chủ, mắt nhìn cô Tư nói: 
– Tôi không hiểu sao chủ cấm đoán tôi, nhưng dầu sao tôi vẫn thương chủ. Mà… buồn quá chủ ơi! 
Cô Tư nghe văng vẳng ai hát: 
Xưa kia ai cấm duyên bà 
Bây giờ bà già bà cấm duyên tôi.
 
Cô tiếp tục vuốt đầu con Ma- Lên mà không nhìn chó nữa; cô nhìn vào thuở cô hai mươi, xa lắm rồi. Ngậm ngùi thay một thời xuân đã mất! Khoa coi tuổi đã ngăn cô sống tự nhiên ngoài lễ giáo. Đời cô như còn vơi như còn vơi những nỗi niềm gì, nhưng mà lại đầy ứ những uất khí nó xúi cô xử ác với con bạn mến thương hôm nay. 
Cô Tư bỗng vụt ngồi dậy, do dự giây lát rồi đứ ng lên đi ra ngoài. 
Ma- Lên cứ bình tĩnh nằm đó, an phận mà chủ đã định cho. 
Cô Tư vặn khóa cái rột, mở cửa cái két. Chó bên ngoài hoảng sợ vẹt ra. 
Cô kêu: 
– Ma- Lên! ra đây. 
Ma- Lên như không tin được tiếng kêu của chủ là thật. Nó ngóc đầu, dao dác nghe ngóng, đến chừng chủ kêu lần thứ nhì nó mới chắc bụng, nên uể oải bước ra. 
Lần nầy nó không dám hấp tấp. Biết có được đi chăng? 
Cô Tư vuốt lên đầu nó mà rằng: 
– Đi chơi với chúng bạn cho vui! 
Rồi phải xô nó ra nó mới chịu đi cho.

Ký thác

vietmessenger.com

Bình Nguyên Lộc

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Flickr photo by Peter Le

15. Nắng chiều

Nếu chị Nguyệt không đến nơi, thì chắc hai người đã đánh nhau hay ít ra, họ cũng trao đổi nhau những tiếng nặng, khó lòng lấy lại được, rồi thì anh em sẽ tuyệt giao với nhau. 
Cái anh Vinh ấy có một tật đánh chết không chừa, là hay đùa những cái lố bịch của người khác. Anh ta có tài nhận xét những tật nho nhỏ của mọi người, có tài phóng to những điểm kỳ cục ấy lên, nắn cho nó biến thành những hình thù kỳ dị hơn, rồi lại có duyên thầm, trình bày những điều buồn cười ấy một cách ngây thơ như là vô tình mà nói đến, chớ không cố ý trêu người nào, không cố ý chọc cười ai. Chính cái ngây thơ ác hiểm ấy, cù người ta bất ngờ quá, nên không ai nín cười được. 
Nhưng hôm đó, chị Nguyệt đến đúng vào lúc mà anh Cần bị làm nạn nhơn của anh Vinh, và không muốn để chị nầy thấy bộ mặt nhăn nhăn của mình, anh Cần vui tươi lên như là không giận bạn vậy. 
Chị Nguyệt xem lại đồng hồ rồi hỏi: 
– Sao, giờ nầy mấy anh chưa về? 
– Thì đợi chị nãy giờ, đi sao được. Thôi ta đi nè! 
Bình đáp, rồi giục tất cả mọi người. 
Cả năm đồng đứng lên. 
Ra đến cửa ngõ, muốn làm lành lại với Cần, Vinh hỏi: 
– Thầy Mười Sáng là người thế nào, anh Cần? 
Như chợt nghĩ ra điều gì, Cần không đáp, mà chụp lấy vai Vinh, rồi nói: 
– Ừ, cậu có giỏi thì làm cái nầy. Tôi thách cậu đó. Cậu làm thế nào mà đùa thầy Mười Sáng cho anh em cười ngả nghiêng, ngả ngửa một bữa chơi. Cậu làm được thì tôi phục lăn tài pha trò của cậu. Thầy Mười Sáng là người thế nào à? Cậu hỏi anh Bình thì rõ. 
Nói xong, Cần hóm hỉnh cười, bụng nghĩ: “Phen nầy, thì cậu chết nhé! Làm thế nào mà đùa được con người đứng đắn ấy! Thế mới biết tài cậu chưa vững đâu nhé, cậu bé ơi, đừng có làm phách”. 
Bình, vốn là một thanh niên rất thạo về tôn giáo, về các phong trào thần học. Chính anh ta đã rủ anh em đến nhà thầy Mười Sáng hôm nay. 
Thầy Mười Sáng! Cả bọn không ai biết rõ thầy ta, trừ Bình. Để trả lời câu hỏi chưa thốt ra, mà thế nào cũng phải có của Vinh, Bình kể: 
– Thầy Mười Sáng, trước kia, có theo học ở một trường trung học công lập tại Sài gòn. Không rõ, vì lẽ gì, thầy ta bị đuổi vào năm thứ ba. Trở về tỉnh nầy nghỉ vài năm, thầy ta đi làm khán hộ. Chính trong thời kỳ thầy làm khán hộ ấy, mà tôi được quen biết thầy. Thầy đọc sách nhiều lắm, biết rất nhiều việc và rất băn khoăn về nhiều vấn đề. Thầy thường gởi gắm với tôi: “Tôi không hoàn toàn tin nơi khoa học được, vì khoa học chưa giải quyết được những vấn đề lớn, cho đến những bí mật vừa vừa của thiên nhiên, mà nó còn chưa khám phá ra nổi. Lấy ngay một thí dụ, trong nghề của tôi mà nói, cũng đủ thấy khoa học còn bối rối lắm. Bịnh truyền nhiễm, khoa học cho là do vi trùng gây ra. Vâng. Nhưng còn “dịch” của các bệnh truyền nhiễm? Ừ, con vi trùng nó truyền bịnh và lắm khi gây ra dịch. Nhưng trước khi có dịch, nó trốn ở đâu mà không tác hại? Mà vì sao, tác hại trong một thời gian, nó lại thôi? Ngày xưa, khi loài người chưa biết trừ dịch, dịch vẫn tự nhiên lui như thường, sau vài tháng hoành hành. 
Thầy Mười làm khán hộ được ít năm rồi thôi, thí phát đi tu. Nghe nói là thầy ẩn tu ở núi nào đó đâu được ba năm, rồi hạ san, xuống Sài gòn, xin giấy thông hành đi ấn Độ. “Đi nghiên cứu đạo Phật tận gốc”, thầy nói thế với những người quen biết. 
Cái năm ấy, thầy được hăm bảy buổi, và năm nay về là năm lăm đúng. 
– Thầy nghiên cứu được gì? 
– Số là thầy ta dốt về đạo Phật, không biết nguồn gốc đạo ở đâu, nên qua đến nơi rồi nghe người xúi biểu, thầy ta lên Tây Tạng. 
– Tây Tạng không phải là nhao rún của đạo Phật à? 
– Đâu có phải. Tây Tạng chỉ là một tôn phái của đạo Phật thôi. 
– Nhưng biết đâu, tôn phái ấy không quan niệm đúng hơn bọn chánh thống. 
– Đúng thế! Thành ra, đi lạc đường, mà thầy ta vẫn học được nhiêu điều hay. Tôi rủ các anh lại thăm thầy ta hôm nay là để xem thầy biểu diễn phép lạ.

° ° °

Thầy Mười Sáng sống biệt tịch trong một cái am nhỏ ở khu Bà Lụa, một ngoại ô tỉnh lỵ của tỉnh Bình Dương. 
Am cất trên đồi, giữa một vườn cây cổ thụ sầm uất, trông xuống sông, nước xanh lơ, khiến khách viếng am không khỏi nghĩ đến những vân am của đạo sĩ trong truyện Tàu nào. 
Thầy Mười Sáng gầy khô đét như một ông lão bảy mươi. Tuy nhiên thầy ta vẫn nhanh nhẹn và có đôi mắt sáng quắc. 
Chủ am tiếp khách rất niềm nở, chú ý đến từng người, cả đến cái cậu Vinh liếng thoắng làm huyên náo am tiên kia, và làm bận rộn con người trầm lặng đã học đạo từ Tây Tạng huyền bí về. 
Sau những câu khách sáo xã giao, bọn trẻ bàn về khoa học và tôn giáo. Thầy Mười nói: 
– Khoa học sai be bét hết và còn dốt lắm. Tôi đã thấy tận mắt những thầy Fa-Kia bên Ấn Độ, tự chôn sống hàng tháng mà không chết, tôi thấy họ đâm dao vào thịt mà không làm chảy máu; riêng ở Tây Tạng là nơi tu hành, những thầy tu tay mơ cũng có thể ngồi trần truồng trên tuyết hàng tuần, mà không bị cảm lạnh bao giờ. Thật là trái với những luật mà khoa học đã nêu ra. 
– Thưa thầy, họ có phép tiên chắc? 
– Đúng, họ luyện phép và chính tôi, cũng đã học được vài môn. 
Đức nói: 
– Hay đó cũng là khoa học; nhưng khác với khoa học của ta. Ta thử đặt tên khoa học của ta là khoa học A…, còn của họ là khoa học B. Cả hai đều đi tìm sự thật, mà đi hai nẻo khác nhau, ngày sau A và B sẽ gặp nhau chăng? 
– Tôi không đáp được. Điều tôi biết chắc là họ và tôi đã làm được những điều mà cái khoa học A của cậu cho là không được. Nể lời chú Bình, tôi biểu diễn phép tị hỏa cho các cậu xem. 
Bây giờ, bọn khách trẻ mới hiểu được sự có mặt của cả một cái lò rèn giữa am thầy Mười. 
Thầy Mười Sáng nhúm lửa ở đống than, còn Bình thì bước lên ghế cao, cầm hai cây thụt ở ống bễ mà thụt. 
Hơi trong hai ống bễ xình xịch bay ra, thổi văng lên những mảnh than nát. Mấy đóm lửa mới nhúm, nở to lần lần, ăn lấn vào màu đen huyền của than. Màu lửa, ban đầu, xanh xanh, càng lớn khối, càng ngã sang màu hỏa hoàng và khi những lưỡi lửa chen than mà mọc lên, thì than đã nhuốm màu bạch chảng. 
Bình thụt không ngớt tay, lửa cháy đỏ rực khuôn bếp. 
Thầy Mười Sáng mặc áo đạo sĩ màu lam có viền trắng ở các rìa. Thầy ta săn tay áo lên một cách trịnh trọng, đoạn khom lưng, cúi mình trên bếp lửa, thọc tay vào đống than cháy đỏ, chọn lấy một hòn than to nhứt và đang cháy tốt nhứt. Thầy ta làm công việc ấy dễ ợt như một cậu bé chọn kẹo. Thầy cầm hòn than đỏ giữa hai ngón tay, rồi đứng thẳng dậy, đặt nó vào giữa lòng bàn tay bên kia. 
Bốn thanh niên và một thiếu nữ trố mất nhìn. Họ hồi hộp đợi thầy Mười bị phỏng tay, phải vứt hòn than đỏ, đợi chờ cái ấy, mà cứ lo sợ nó xảy ra, rồi phải thất vọng. Có thế nào như thế được chăng? Họ tự hỏi như vậy, rồi tự bảo rằng, thì ra phép tiên, phép mầu là điều có thật chớ không ngoa. 
Hòn than trên tay của thầy Mười đã sậm màu đen, và một lớp tro trắng mỏng đã bắt đầu bao bọc lấy nó. Thầy đạo sĩ nói: “Nguội quá rồi!” 
Rồi vứt hòn than lên đống lửa. 
Bình mê xem biểu diễn, nên quên thụt lửa, khiến thầy đạo sĩ phải nhắc: 
– Chú thụt tiếp đi chớ! 
Hai ống bễ lại bắt đầu thở khì khì và đống than bắt dầu đỏ rực trở lại. 

Thầy Mười Sang bước vào đống than đang cháy, đi tới vài bước, đoạn đứng yên một nơi. 
Những lưỡi lửa cứ chờn vờn muốn táp lai quần của thầy Mười, vốn đã vén lên rồi, khiến thầy lại phải vén ống lên thật cao. 
Chị Nguyệt há miệng nhìn, mắt mở tròn xoe. Trong không khí, phảng phất một mùi huyền bí kỳ lạ, thật thật, hư hư, và thầy đạo sĩ kia, có vẻ một ông Tiên từ thời Xuân Thu hiện về. Năm khán giả trẻ tuổi nghe như mình đang lạc vào cõi tiên hay vào động quỉ. Thật là không thể tưởng tượng được. 
Đứng trên than hồng được ước chừng năm phút, thầy Mười bước xuống, mỉm cười đắc thắng. 
Bình ngừng thụt, thở ra một hơi dài và nói: 
– Mỏi rụng hai tay! 
Chị Nguyệt kính cẩn nhìn thầy Mười Sáng giây lâu, rồi hỏi: 
– Thưa thầy thầy ăn ở dễ thương cách nào mà mấy ông thầy tu trên ấy truyền cho thầy phép lạ nầy? 
– Những phép nầy không thể truyền mà được như bùa ngải. Phải bền công luyện tập mới đắc. 
– Luyện tập à, thưa thầy? Không truyền được, mà phải luyện tập, là không phải phép huyền bí nữa rồi, mà là khoa học đó, khoa học B như tôi đã nói. 
Đó là lời của Đức. 
Thầy Mười Sáng suy nghĩ giây lát, rồi đáp: 
– Có thể. Nhưng dầu sao khoa học của cậu cũng còn non lắm đối với khoa học huyền bí nầy. 
– Đúng như vậy!
– Chị Nguyệt phê. 
Bỗng cậu Vinh lắm lời kia, nãy giờ cứ làm thinh, hỏi lên đột ngột: 
– Dạ, thưa thầy… 
Anh ta mới mở lời, mà bao nhiêu con mắt đều quay nhìn anh ta. Thấy gương mặt ngây thơ một cách hóm hỉnh của Vinh, thản nhiên sắp hỏi một câu gì đó, họ đoán sẽ được cười. 
Cần lo lắng kẻ nghịch của anh, lần nầy lại thắng nữa. Còn Bình thì hoảng hốt lên, sợ những câu pha trò của Vinh sẽ chọc giận người đáng kính là thầy Mười. Nhưng đã trễ quá rồi, không còn ngăn thằng mắc dịch Vinh kịp nữa. 
Vinh ngây thơ tiếp hỏi: 
– Dạ thưa thầy, không hay cái phép mầu nầy dùng để làm gì vậy a thầy? 
Thầy Mười có vẻ bực mình lắm! Thầy suy nghĩ giây lâu, rồi đáp: 
– Thí dụ như có đám cháy, tôi đã không hề gì, lại xông vào lửa để cứu những người còn kẹt trong nhà. 
– Thưa thầy, thầy mất đến hăm tám năm trời để làm được một công việc mà bất kỳ anh lính cứu hỏa nào cũng làm được, mà chỉ tốn có hai phút đồng hồ thôi. Trong hăm tám năm trời ấy, cái khoa học non nớt của chúng tôi đã tìm được bao nhiêu là thứ, mà những thứ ấy, truyền lại cho ai cũng được cả, miễn họ chịu bỏ ra chỉ vài năm thôi, để học tập. 
Lần đầu tiên trong đời anh ta, con người nổi danh có tài hỏi vặn pha trò để chọc cười ấy, đã thất bại, vì không ai cười cả. 
Thầy Mười Sáng trố mất nhìn người khách có vẻ mặt ngây ngô, đần độn kia, nổi giận trong vài giây, rồi kinh sợ trong mấy phút. 
Đoạn thầy ta ngồi phệch xuống đất, ôm đầu mà thở dài. Cả sáu người trong nhà đều im lặng, mỗi người có một ý nghĩ riêng về quan niệm của Vinh. 
Lâu lắm, người ta mới nghe thầy Mười Sáng lẩm bẩm: 
– Hăm tám năm! Hăm tám năm! Trời ơi, sự thật đến bạc đầu tôi tìm cũng chưa ra, mà cái phép mầu kia, luyện được sau một phần tư thế kỷ cố gắng, bỗng thấy là hoài công, phí sức lắm. 
Bình bước tới, quỳ xuống trước mặt người đạo sĩ thất vọng để an ủi: 
– Thưa thầy, không là hoàn toàn hoài công đâu, vì ít ra, điều ấy cũng giúp người khác thấy rõ là nẻo của khoa học B không phải là nẻo không nên theo. 
– Không! Sụp đổ cả rồi, các cậu ơi! Cả một đời tôi, cả một đời bao nhiêu người khác, chúng tôi đã dùng nó làm gì? Chẳng qua là phung phí thì giờ và tâm trí như những kẻ trác táng kia!

Biệt Động Quân & Bùi Tín 1973

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Vietnam Ceasefire Meeting – Đại tá Bắc Việt Bùi Tín và cái bắt tay bị từ chối

Đại tá Bắc Việt Bùi Tín đưa tay ra với một nhân viên an ninh Nam Việt Nam không rõ danh tính khi bắt đầu cuộc họp chung giữa Ban liên hợp Quân sự 4 bên (JMC) và Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát (ICCS) tại Sài Gòn, ngày 4 tháng 2 năm 1973. Người lính gác từ chối bắt tay và ông Bùi Tín rời đi sau khi vỗ vai người lính với vài câu trò chuyện ngắn.

 North Vietnamese Col. Bui Tin extends his hand to an unidentified South Vietnamese security guard at the start of a joint meeting between JMC and ICCS in Saigon, Feb. 4, 1973. The guard refused to shake his hand and Bui left after patting the guard’s shoulder and a brief chat. (AP Photo/Neal Ulevich)

Năm Cùng Tháng Tận

http://www.phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Monday, December 25, 2023

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Basilique Notre-Dame de Montréal

Đây là một truyện rất ngắn của Hồ Đình Nghiêm. Ngắn nhưng mang một thông điệp rất lớn. Rất hay. Rất đáng đọc. Cám ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm đã gửi cho chúng tôi truyện ngắn này (PCH).

Hôm nay tôi cũng đi cày. Nói cho ngay tới hãng chỉ để quây quần ngồi tán phét, tới trưa miệng lành da non thì rã đám. Tàu dừng ở đúng trạm, tôi bước ra khỏi métro bằng cầu thang cuốn. Một người đàn ông rách rưới đứng ngay cửa vào ra ngửa tay:

“Hai đô-la, xin vui lòng.”

Tôi lắc đầu, bỏ đi, không nói. Trong túi tôi hình như chỉ có một tờ Mười, một tờ Hai mươi.

Những năm về trước, mấy vị “thất thế sa cơ lỡ vận” nói khác: Cho xin ít xu lẻ.

Bây giờ đổi thay, họ ấn định rõ một con số, phải là hai đồng (mới lấy). E cũng có lý, cũng đúng thôi. Cầm một đồng chẳng mua được thứ gì đâu. Giá ghi 99 cents nhưng cọng thêm thuế thì… đành ngồi trên giếng mà khát nước. Hai đô-la chỉ mua được ly cà phê nhỏ, ba hớp đã vơi cạn, nhưng ba ngụm đắng kia cũng đủ ấm lòng?

Tuy không xin được tiền, ông vô gia cư vẫn bắn tiếng Mừng Chúa Giáng Sinh.

Chính phủ vẫn thành lập các khu nhà ở đầy đủ tiện nghi chăn ấm nệm êm cơm ngày hai bữa quan hoài tới số phận họ, nhưng lắm kẻ ưa bỏ trốn ra đứng ngoài đường, nằm ngủ vật vạ trong các trạm métro kín gió. Hãy tôn trọng tự do cá nhân, mặc dù cá nhân ấy chưa thấy quan tài mắt đã đổ lệ. Lệ trào cho tình đời, lệ thoát bởi chuyện gia đình xào xáo tham quý phụ bần, rơi nước mắt tủi thân mình cô đơn, chưa kể trời giá thì tự động mắt ướt hoen mờ một giọt mặn chát.

Caféteria trong hãng được giăng đèn kết hoa, sáu cái bàn dài tháp nối lại. Bánh mì cắt lát, thịt nguội, phô mai, rượu đỏ, nho cam táo muỗng nĩa dao dĩa bằng nhựa bày chật bàn. Bà thư ký Linda cầm lên một trái thanh trà bọc lưới đỏ Made in China hỏi tôi:

“Cái này ăn ra sao?” Tôi giải thích, rằng nó giống trái bưởi nhưng ít nước hơn, vị ngọt, thanh.

Hỏi mà dường như chẳng thèm nghe câu trả lời, bà áp sát vào đôi vú lớn của bà như kiểu muốn so sánh. Tếu thật!

Nhân công làm chung trong hãng này tất cả đều gọi tôi duy một chữ “Ho”. Vậy cho tiện, chứ tên mày khó phát âm bỏ mẹ! Riêng Suzane, cô kêu tôi là Neil. Tên hay mà, chẳng dở đâu. Biết ca nhạc sĩ Neil Young chứ? Tôi chẳng có ý kiến, tất thảy với tôi đều okay.

Đến trưa, ông chủ phát lì-xì cho mỗi đứa một tờ 50, đỏ au và chắc như cua gạch. Nói vậy cũng sai lạc, dùng để cạo râu thì sát sao hơn vì tờ giấy mỏng lạnh tựa một lưỡi dao bén ngót.

Xong thì kết thúc buổi tiệc mừng cuối năm bằng màn xổ số. Mỗi đứa tự tay viết tên vào vuông giấy nhỏ, xếp làm tư rồi thảy vào cái hộp thiếc. Ông chủ là người có quyền thò tay vào lục lạo để nhặt ra một đứa may mắn, và rủi may. Chỉ có năm món quà thôi, nhưng tai tôi vừa nghe âm thanh quen thuộc của ông già Noel “Ho Ho Ho…”

Ông chủ bắt tay tôi, mừng Giáng Sinh và chúc lành năm mới nhen!

Món quà mà thần tài mới điểm danh tôi “chọn mặt gửi vàng” là một thùng giấy cứng vuông vức khá lớn, in màu mè bên ngoài một con gà tây rất sexy đã ướp qua gia vị nằm tênh hênh trên cái khay thuỷ tinh chịu được độ nóng khi đun vào lò nướng. Tôi phải bưng bê bằng hai tay, trọng lượng cũng gần 8 kí-lô chớ không đùa.

Ô kê, vui vẻ cả làng. Hẹn gặp lại năm mới. Bắt tay với nam mà hôn bên má người nữ. Ôm chi chút rồi đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ.

Tôi về lại con đường cũ, trạm vào métro kia rồi.

“Hai đô-la, xin vui lòng”. Vẫn ông ấy, vẫn lập cập rét run so vai rụt cổ. Tôi trao món quà nặng nề vào tay ông, cái hoa nhựa màu đỏ dán trên góc vẫn còn bám cứng. Mừng Chúa giáng sinh. Tôi chúc ông ta, đồng thời vụt hiện một ý nghĩ, e rằng nó chẳng thiết thực một mảy may đối với người homeless như ông. Tôi ấp úng: Ông có thể bán cho ai đó, tệ lắm cũng hai mươi đồng, theo chỗ tôi biết…

Ôi, Chúa ơi! Cảm ơn tâm lành của bạn. Ông dùng chữ my friend. Sức khoẻ nhé, bạn hiền!

Tôi đút hai bàn tay vào túi quần, bước xuống độ sâu của đường hầm u u gió hút, người mỗi lúc một ấm.

Hồ Đình Nghiêm

Nai vàng ngơ ngác

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 30/09/2013 

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Sinh viên Nguyễn Phương Uyên

Tôi luôn dành cảm tình cho hai người (ngòi) viết. Tiếc thay họ không là nhi nữ (thường tình) để mê mệt thêm. Cả hai đều là đàn ông. Ở trong nước: Người Buôn Gió. Ở nước ngoài: Tưởng Năng Tiến.

Cảm tình dành cho phận gái (toàn bến đục) thì đếm không xuể, xiêu lòng do bởi đón nghe những khổ luỵ mà họ luôn bị đón đầu, vây khổn, ở vùng đất có tên gọi dài thậm thượt Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc.
Sau hơn 38 năm, đất nước đã “sạch bóng quân xâm lược”, thế lực nào ghê gớm hơn đã xâm lược xói mòn làm quê hương khốn đốn tật nguyền hơn cả quá khứ nhọc nhằn đằng đẳng chiến tranh. Người Buôn Gió và Tưởng Năng Tiến vẫn chuyên cần đào xới dấu hỏi ấy. Tôi có cảm tình chất giọng họ chuyển tải lượng thông tin dễ gây sốc gây hoảng kia. Họ phải dằn lòng trấn áp những bức xúc, vượt qua chán ốm để cho trang văn đi sát với trần trụi của sự thật. Đọc, lạnh căm. Run. Giận. Và thở dài. Dài miên man.

Thú thật là lúc này đây, mấy trang thơ văn lăng nhăng tự tình đã khiến tôi “ớn chè đậu”. Một chữ bình dân mộc mạc khác mà Tưởng Năng Tiến ưa dùng: “Cho má nó khinh”. Tôi hình dung tới hình ảnh một thực khách gầm mặt ăn say sưa chẳng bận tâm đoái hoài tới đưa bé ăn xin rách rưới chầu chực đứng sát bàn. Không nói tới từ tâm. Không nói sự thụ hưởng. Không nói chuyện phần số. Chỉ gợn lòng, nếu là bạn, bạn thấy ngon miệng? Bạn có nuốt trôi?

Nếu tôi có hứng thú đi “khám phá” Việt Nam, đoan chắc rằng tôi sẽ viết được một cuốn sách khiến cho “Chuyện kể 1001 đêm” sẽ phải ngã mũ chào thua, hoặc nó sẽ đội nón lặng lẽ rút lui người đời thôi nhắc tới. Đàn bà con gái phụ nữ Việt Nam (chẳng biết ở Công Gô ra sao) có cả 1002 trường hợp mà người bình thường sẽ bình tâm để vắt trán nghiệm không thông.

Tin mới nhất mà tôi nghe cực lòng là bà mẹ đi cùng cô Phương Uyên bị bọn an ninh ở sân bay Nội Bài chận đầu hành hung. Bị nắm tóc kéo lê dưới nền lầy lội nước mưa. Bị đánh hộc máu mồm, sặc máu vùng kín, nạn nhân Phương Uyên còn “được” chú an ninh tận tình bóp vú. (Đi với về thì khác biệt rõ chứ bóp với bọp cũng cùng một nghĩa như nhau).

Nguyên nhân? Làm sao biết được khi mà kẻ quyền thế tâm tánh bất thường tựa nắng mưa, vui thì đánh mà buồn thì nhốt bắt. Bắt ở trần phải ở trần, cho ba lỗ mới được phần may-ô! Một cụ ông bị công an sờ gáy hỏi thăm sức khoẻ, buồn tay khiến đối tượng chấn thương sọ não, rồi còn bảo: Sao mày đi lơn tơn, không có tiền bôi trơn. Đồ bất nhơn, không biết chữ làm ơn. Chẳng ngon cơm. Bịt mũi. Thối, đéo thơm. Xem người như rác rơm!

Ông Mirek Chojecki, Công đoàn Đoàn kết Ba Lan có nói: “Những người Cộng sản là những người không bình thường”. Cộng sản Việt Nam có bất bình thường khi nắn nót đề ra khẩu hiệu “Còn Đảng còn mình”? Và mình bóp vú con gái thì đảng ta bao che bảo vệ. Sướng tệ! Mặc cho mày đổ lệ, tao đâu có xệ. Vưỡn đường bệ. Thây kệ!

Đã từng bắt cóc rồi, từng chụp mũ rồi, từng đánh bầm dập rồi, từng biệt giam rồi, từng lôi ra đứng ở vành móng ngựa rồi, từng tuyên xừ án tù 6 năm rồi. Chuyện gì cũng đã lu bu làm rồi, chỉ có mỗi việc là ông quên chưa từng bóp vú em thôi. Chú an ninh ấy đã thực sự làm một cuộc cách mệnh, là bước nhảy vọt đạo đức, trí thức không bằng cục cứt, bọn bây chớ có tức. Mai hậu sẽ là gương sáng cho đàn em an ninh học hỏi đến sướng tay. Rồi thày lay đẻ ra điều luật ngay: Để ngăn ngừa tệ nạn vận chuyển hàng quốc cấm, khi ra đường yêu cầu quý vị phụ nữ không được mặc nội y gây cản trở, kéo dài công đoạn sờ soạn khám xét lôi thôi, khó trôi. Hỡi ôi, đừng chu môi. Cường hào ác bá đang lên ngôi!

Tôi rất không ưa chữ đương đại mà đã có quý nhà thơ nhà văn mang ra sử dụng. Quen đối xử với nhau thô lỗ như vượn còn lông lá thế kia mà đương đai cái nỗi gì! Hay nghĩa của đương đại là phải tiềm ẩn chất hoang dã của thời kỳ đồ đá đồ đồng? Càng đương đại càng khó hiểu, càng mờ mịt nghĩ không ra. Muốn thông suốt chỉ nương nhờ vô tiếng nổ của phát súng lẻ loi đưa đường chỉ lối. Và chia động từ Nhắm Mắt ở dạng bất quy tắc: Tớ chết, mày tử, chúng ông thác, chúng mày đi chầu Diêm vương. Tao khóc mày cười, tao xanh mày hồng, tao tán gia bại sản mày leo chức đại gia, tao xe ôm mày xế khủng, tao cơm không có thịt mày ăn no bò cỡi ngứa mồm chơi chữ: Không có phụ nữ xấu, chỉ sợ không có thịt cá sấu cho phụ nữ ăn!

Độc lập tự do hạnh phúc. Người Việt vừa có óc khôi hài vừa là giống dân đượm tố chất ngây thơ trong huyết quản. Họ ăn đời ở kiếp với khuôn mẫu 6 chữ vàng kia mà chẳng gợn lòng truy tầm căn nguyên sự tình do đâu mà cuộc đời mãi lầm than. Viết một lá đơn trình bày nguyện vọng xin xỏ này nọ, trước tiên phải gò câu thần chú ấy cho ngay hàng thẳng lối rồi hẳn ca cẩm sau. Độc lập tự do hạnh phúc, hỏi má má hổng biết, hỏi em em thừ người, hỏi mấy chú đầy tớ nhân dân mấy chú chỉ đường tới khám Chí Hoà ra chuồng cọp Côn Đảo.

Trong một bài mới, ông Tưởng Năng Tiến có viết: “Đúng vào hôm ăn chay nên tôi không chỉ kiêng cữ thịt cá mà còn kiêng cả những lời lẽ “đắng cay” hay “chua chát” có thể gây ra khẩu nghiệp hay bút nghiệp”. Mô Phật! Điệu này e tôi cũng “ăn hiền ở lành” theo kiểu của ông. Còn me-xừ T. Jefferson thỉ lại ngôn: “Không bao giò làm phiền người khác về những việc mình có thể làm được”. Xin quý vị niệm tình chớ phiền trách tôi, vì toàn bộ những điều tôi lỡ phân trần ở trên tôi không cách gì làm được, làm khác đi.

Biết chết liền! Khẩu nghiệp với lại bút nghiệp lỡ bị dính chấu thì đành nai lưng chịu trận, để má nó khỏi khinh.

Má Phương Uyên có lần phát biểu cảm tưởng, là bà hãnh diện khi có được người con cứng rắn quật cường như vậy. Tôi là người dưng xa lạ mà cũng xin hưởng lây cái nở mặt nở mày kia. Vui hôm nọ mà giờ đây thì buồn. Vùi hoa dập liễu. Nó đánh em tới cỡ đó, nó thú tính tới mức kia thì liệu em có mệnh hệ gì không. Lạy Chúa, chữ độc lập tự do hạnh phúc đang được tô đậm bằng chính máu của người con gái 21 tuổi có tên gọi Phương Uyên. Hoặc máu ấy là cường triều nhận chìm 6 chữ huyễn mộng kia. Amen!

Hồ Đình Nghiêm

Lời cuối của kẻ tử tù!

baotreonline.com

Soi

Post on January 29th, 2020

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Năm 1988 là một năm bước ngoặt của Nike, một chiến dịch truyền thông của Nike đã tạo phong cách casual fashion, và thập kỷ 90 được coi là “thập kỷ Nike”. Tạp chí chuyên ngành Advertising Age đã coi sự kiện của Nike là một trong những chiến dịch quảng cáo thành công nhất mọi thời đại.

Ðằng sau một câu slogan nổi tiếng của Nike là sự thật quái chiêu được hình thành bởi trí óc sáng tạo của Dan Wieden và David Kennedy. Những kẻ đồng hương từ Portland nhỏ bé đều là những tay không thích quy tắc truyền thống, sẵn sàng “fuck something off” và có cảm giác muốn chống lại thế giới “us against the world”. Nhóm marketing của Wieden và Kennedy đã thử nghiệm ra một loạt những câu slogan thất bại, ngờ nghệch như: “Look, up in the air” (Nhìn kìa, ngước lên trời đó) hay “Hawaiian shirts for your feet” (áo phông màu sắc Hawaii cho đôi chân bạn).

Rồi Nike bắt đầu chơi lớn, chi đậm đến 25 triệu dollar cho quảng cáo truyền hình. Bên marketing khá lo lắng trước buổi presentation cho Nike. Năm nhóm làm clip độc lập với nội dung hoàn toàn khác nhau, và rất rời rạc. Dan muốn tìm một thứ gì đó, tạo ra một thông điệp chung để nối kết hình ảnh một cô gái trẻ, một ông cụ đi bộ trên đôi Nike cho đến hình ảnh một tay vận động chuyên nghiệp hàng đầu thế giới xỏ giày tập luyện.

Bất chợt một cái ý tưởng nảy sinh, Dan nhớ đến tay bạn đồng hương Michael Gilmore viết cho tờ “Rolling Stones”. Michael có anh trai là kẻ khét tiếng giết người. Bức tranh về Gary Gilmore hiện ra. Kẻ đầu tiên bị hành quyết ở Utah năm 1977 sau khi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ cho phép tử hình trở lại, vốn trước đó bị coi là tàn bạo và vi hiến. Kỳ quặc thay, Gary Gilmore sau khi nhận án tử lại nằng nặc đòi được hành quyết ngay lập tức. Việc trì hoãn án tử bởi nỗ lực của gia đình và Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU) đã khiến hắn nổi xung và đã gắng tự tử bất thành. Giữa tháng 1 năm 1977 khi đội hành quyết đã nạp đạn, giương nòng – trước khi trùm đầu, Gary được hỏi có muốn nói lời lâm chung gì không thì hắn dứt khoát “Let’s do it!” (Làm quách ‘mẹ’ cho xong đi!)

Dan Wieden chợt lóe lên trong đầu, “Cái quái gì mà khi đối diện với thời khắc sinh tử, hắn chẳng chút bấn loạn, lừng khừng?” Dan đã thay chữ “let’s” bằng chữ “just” để khỏi cho tay tử tù credit. Phần còn lại là lịch sử.

“Just Do It” gây tiếng vang khắp thế giới, tác động đến cả những người ngoại đạo với thể thao. Chẳng ai ngờ rằng lời cuối của một kẻ tử tù đối mặt với họng súng hành quyết lại trở thành một slogan đầy cảm hứng. Hãy chủ động cuộc sống của mình, đối mặt trực diện với nó, bất kể điều gì xảy ra!

S

Ikejime – làm cá kiểu Nhật

baotreonline.com

Soi

Post on December 13th, 2019

Post by Sơn râu 8 Oct 2024

Vì sao các món sushi và sashimi của Nhật lại tươi ngon đến vậy? Người Nhật có kinh nghiệm vượt trội hơn hẳn Bắc Mỹ và châu Âu về ngư nghiệp và các món cá. Một phần quan trọng nhất là bí quyết giết chúng một cách nhân đạo. Ðó là phương pháp truyền thống Ikejime.

Hầu hết chúng ta đều ăn cá chết ngộp, đó là những con cá bị bốc ra khỏi nước, quăng vào thùng đá rồi bỏ cho chết ngộp. Chúng vùng vẫy kiệt sức trong vòng ít nhất từ vài phút cho đến vài giờ rồi mới chết hẳn. Không chỉ đủ loại hormone căng thẳng như cortisol và adrenaline mà cả các chất độc như acid lactic và ammonia sẽ lan trong mạch máu và các mô cơ, thớ thịt. Những hóa chất này tăng tốc độ phân hủy khiến chúng bị đắng và chóng rã, sau đó là có mùi tanh rất đặc trưng của cá.

Ikejime là một phương pháp truyền thống giết cá “nhân đạo” giúp tích trữ cá tươi lâu hơn. Ðó là quá trình gồm Ikejime, Chinuki và Shinkei Jime. Nghe thì rất kinh khiếp nhưng còn đỡ hơn để cá vẫy vùng đến chết ngộp.

Ðầu tiên là Ikejime, dùng que nhọn sắc chọc vào não cá giữa hai mắt. Nếu đúng huyệt não thì thân và đuôi cá sẽ quẫy và há miệng. Lúc này, cá sẽ chết não không thấy đau đớn, nhưng tim còn đập. Kế đến là Chinuki để làm chảy hết máu cá. Nếu điêu luyện thì chỉ với hai nhát cắt, nhát đầu là động mạch chủ giữa lớp mang thứ 3 và thứ 4, nhát sau là gần đốt sống cùng đuôi cá. Lúc này, chỉ cần dốc xuôi và xả nước là cá sạch hết máu. Khi cá hết sạch máu, vi khuẩn không phát triển và cá thối chậm hơn. Cuối cùng là Shinkei jime, một kiểu sát sinh có vẻ Trung cổ nhất nhưng lại rất thiết yếu để kết thúc mọi phản xạ của hệ thần kinh của cá. Ở đây, người Nhật dùng một sợi dây mỏng inox chọc xuyên suốt tủy sống.

Ở Mỹ, FDA khuyến cáo cá tươi trữ trong ngăn lạnh chỉ nên dùng trong hai ngày bởi cá chết ngộp luôn có máu đọng, thịt hơi nát, và rất lạt. Tuy nhiên, cá Ikejime có thể trữ vài tuần vì quá trình phân hủy đã bị làm chậm triệt để. Không chỉ vậy, Ikejime còn giúp cá phát triển hương vị hoàn hảo hơn khi để lâu, giống như những tảng thịt bò ngon hơn khi cấp đông một thời gian. Chỉ có những con cá Ikejime thịt trắng muốt mới đủ phẩm chất để làm sashimi.

Ikejime thì khá phổ biến với dân câu, nhưng chỉ có dân Nhật mới sành ăn cá, mà cá ở đây đều phải giết bằng phương pháp Ikejime. Phần còn lại của thế giới, những nhà hàng cao cấp, đặc biệt về sushi và sashimi, vẫn phải chi bộn để nhập cá Ikejime từ Nhật. Thế mới biết, con cá được chết nhân đạo thì bữa ăn mới tuyệt hảo hơn.

S