Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

10. Chương Mười

Một lần nữa, Neubauer cầm tờ giấy ở mặt bàn lên. Hắn nghĩ đối với mấy người anh em đó thì là chuyện đơn giản. Chỉ là những quy tắc co dãn, đọc thời dễ nhưng làm thì khác hẳn. Phải lập một danh sách các tù nhân chánh trị quan trọng nhất… với điều kiện là ở trại vẫn còn sót lại một số người này. Đó là chỗ lắc léo. Vấn đề được ám chỉ đã quá rõ ràng. Muốn nắm chắc vấn đề, phiên họp sáng nay với Dietz vẫn chưa đầy đủ. Nói như Dietz thì dễ quá. Hắn tuyên bố “Hãy thanh toán các phần tử nguy hiểm… trong giai đoạn khó khăn này, không thể nương tay với những kẻ thù nguy hại cho Tổ quốc và cứ nuôi chúng mãi”. Nói thì bao giờ cũng dễ, đến lúc làm thì người khác làm. Lại còn một vấn đề nữa. Muốn thi hành đúng mức phải có chỉ thị bằng giầy tờ với đầy đủ chi tiết. Nhưng với Dietz thì chẳng hề có giấy trắng mực đen… và bây giờ kẻ thi hành phải gánh trọn trách nhiệm.

Neubauer ném tờ giấy qua một bên và lấy xì-gà ra. Xì-gà cũng đã bắt đầu khan hiếm. Hắn vẫn còn giữ bốn hộp, sau đó chỉ còn lại thứ nội hóa đã dở lại cũng chẳng còn bao nhiêu. Hầu hết đều bị cháy. Đáng lý ra phải biết phòng xa lúc có quá nhiều, nhưng có ai nghĩ tới những bất ngờ lớn lao?

Weber bước vào. Sau một chút ngập ngừng Neubauer đẩy hộp xì-gà tới làm ra thân thiết:

– Làm một điếu chơi! Loại hiếm có đấy! Partagas thứ thiệt.

– Cám ơn. Tôi chỉ hút thuốc điếu.

– À hả! Mình quên mất. Anh chỉ hút đinh đóng hòm thôi.

Weber cố dằn để khỏi nhíu mày. Hắn lấy từ trong túi ra một cái hộp dẹp bằng vàng, dọng đầu thuốc lên nắp hộp. Năm 1933, hộp vàng này là của một nghị viên tên Weizenblut. Hắn chiếm đoạt của người kia và cho là điều may mắn vì tên tắt của người chủ cũ là A.W (Aoron Weizenblut) cũng có thể đọc thành tên của hắn Anton Weber. Đây là chiến lợi phẩm duy nhất của hắn từ nhiều năm nay, hắn không cảm thấy cần thiết gì nhiều và ít để ý tới của cải. Neubauer bảo :

– Có một chỉ thị vừa mới gởi tới. Anh đọc qua cho biết.

Weber cầm tờ giấy lên, đọc rất lâu. Neubauer sốt ruột:

– Phần sau chẳng có gì quan trọng. Tôi chỉ lưu tâm tới chuyện chánh trị thôi. Tính phỏng, mình còn chừng bao nhiêu?

Weber đặt tờ giấy xuống mặt bàn:

– Tôi không nhớ rõ lắm. Có thể nói là phân nửa số tù hiện hữu. Những đứa có dấu hiệu tam giác đỏ, không kể ngoại quốc. Một nửa kia là thường tội, một số đồng tính luyến ái, một sổ theo đạo Jehovah v.v…

Neubauer nhìn lên. Hắn không hiểu là Weber định giở trò gì. Nét mặt Weber vẫn không có gì lạ.

– Tôi không nói thế vì không phải tất cả những người có dấu hiệu tam giác đỏ đều là chánh trị phạm… theo ý nghĩa của chỉ thị này.

– Vâng, không phải vậy. Đó là dấu hiệu mơ hồ để dễ xếp loại. Trong số đó có bọn Do Thái, Công giáo, Dân chủ, Dân chủ Xã hội, Cộng sản và nhiều thứ khác.

Neubauer quá biết chuyện đó. Mười năm trong nghề, hắn không đợi Weber nói rõ như thế mới hiểu. Hắn lại có ý nghĩ là viên sĩ quan trưởng trại của hắn muốn chơi xỏ hắn. Hắn cố giữ giọng bình tĩnh:

– Tù chánh trị thật sự còn bao nhiêu?

– Đa số là Cộng sản.

– Không thể có con số rõ ràng sao?

– Trong hồ sơ có ghi.

– Ngoài những người đó còn có nhân vật chánh trị quan trọng nào khác không?

– Tôi sẽ cho điều tra. Có lẽ còn một số ký giả cùng bọn Dân chủ Xã hội và Dân chủ.

Neubauer nhả khỏi Partagas. Thật là kỳ la! Khói xì-gà giúp cho người ta lạc quan và bình tĩnh. Hắn lại dùng giọng dịu dàng:

– Được rồi. Trước hết là lọc ra rồi duyệt lại các bảng danh sách. Sau đó là phần quyết định cho bản phúc trình. Có phải thế không?

– Vâng.

– Không có gì phải vội. Còn cả hai tuần nữa. Quá đủ để hoàn tất mọi việc, hả?

– Vâng.

– Ngoài ra mình còn có thể đề ngày trước. Rất có thể có đứa bị cho vào danh sách rồi ngã lăn ra chết trước khi phúc trình. Thế là hỏng.

– Vâng.

– Tôi nghĩ là chúng ta không cần có nhiều… nghĩa là chúng ta không cần phải có con số minh bạch.

Weber đáp giọng bình lĩnh:

– Chúng ta không cần phải thế.

Hắn hiểu Neubauer muốn nói gì và Neubauer cũng biết là hắn đã hiểu ý mình.

– Phải mờ ảo. Phải làm thế nào cho không được rõ ràng lắm. Tôi có thể tin cậy anh ở phương diện đó…

Neubauer đứng lên. Với một cái kẹp giấy hắn xoi phần cuối của điếu xì-gà cho thông. Hắn đã nhai nó nhừ ra cho nên bây giờ không hít vào được nữa.

– Công việc ra sao? Có nhiều lắm không?

– Xưởng đồng đã bị tê liệt hẳn. Mình đang cho người tới đó dọn dẹp. Hầu hết các toán khác làm việc như thường lệ.

Điếu xì-gà đã thông hơi.

– Dọn dẹp? Ý kiến hay. Sáng nay Dietz có nói với tôi về việc đó. Quét dọn đường sá, triệt hạ các nhà bị trúng bom, có lẽ cần đến hằng trăm người. Tình trạng khẩn trương càng ít tốn chừng nào càng tốt. Dietz đồng ý như thế. Tôi cũng vậy. Có ý kiến gì không?

– Thưa không.

Neubauer bước tới cửa sổ nhìn ra:

– Có thư khiếu nại về việc tiếp tế thực phẩm. Chúng ta cần phải tiện tặn. Anh có ý kiến gì hay không?

– Thì cứ phát ít hơn.

– Đó là chuyên dễ. Nhưng nếu chúng nó kiệt sức cả thì lấy ai làm việc?

– Có thể lấy bớt của Tiểu trại. Ở đó có quá nhiều miệng ăn không. Sắp chết còn ăn làm gì.

Neubauer gật đầu :

– Cũng vậy thôi. Anh đã biết phương châm của tôi: Luôn luôn nhân đạo, càng lâu càng tốt. Dĩ nhiên là tới lúc không thể còn…

Cả hai đều đứng bên cửa sổ hút thuốc. Họ nói thật bình thản và khách quan như hai vị thương gia khả kính đang bàn chuyện gia súc trong lò sát sanh. Bên ngoài, tù nhân đang cặm cụi bên những luống hoa chung quanh tư thất người Chỉ huy trưởng.

Neubauer làm ra vẻ tâm sự:

– Tôi vừa cho trồng diên vỹ và thủy tiên trên một luống. Vàng và xanh… một sự hòa hợp khéo léo của màu sắc.

Weber đáp giọng hững hờ:

– Vâng.

Neubauer cười to:

– Dường như anh không thích mấy, hả?

– Không thích lắm. Tôi thích ném trái lăn.

Neubauer vẫn không rời mắt đám tù đang làm việc :

– Trò chơi đó cũng thích thú. À, còn ban nhạc của trại? Coi bộ họ lười dữ lắm.

– Mỗi ngày họ trình tấu hai lần, lúc đi và về của toán lao tác và mỗi tuần hai buổi chiều.

– Buổi chiều thì các toán lao tác làm sau nghe. Anh có thể dàn xếp cho họ làm việc thêm một giờ mỗi đêm, sau giờ điểm danh. Điều này có lợi lắm. Chúng sẽ quên mệt mỏi. Đặc biệt là lúc ta bắt đầu giảm khẩu phần.

– Vâng. Để tôi lo.

Neubauer trở lại bàn giấy. Hắn kéo hộc bàn và lấy một cái hộp nho nhỏ ra:

– Weber, đây là một bất ngờ cho anh. Mới tới hồi sáng. Chắc là anh sẽ hài lòng.

Weber mở nắp hộp ra; bên trong là một Chiến trận Bội tinh. Neubauer ngạc nhiên khi nhận thấy mặt Weber ửng đỏ. Hắn giải thích:

– Đây là một lời xác nhận. Đáng lý anh phải có từ lâu. Trên một phương diện nào đó, chúng ta cũng là người của chiến tuyển. Anh đừng nói gì thêm cả.

Và hắn chìa tay ra. Neubauer bắt lấy:

– Cũng gian truân lắm. Phải cố gắng hơn.

Weber đi ra. Neubauer lắc đầu. Thủ đoạn nho nhỏ về cái huy chương không ngờ có hiệu quả hơn hắn tưởng. Dầu sao, con người nào cũng có nhược điểm riêng. Hắn đứng nghĩ ngợi một lúc lâu trước tấm bản đồ Âu châu rộng lớn treo trên tường đối diện với chân dung của Hitler. Những lá cờ li ti cắm trên đó đã lỗi thời vì còn nằm sâu trên phần đất Nga. Neubauer không nhổ ra vì hắn có óc mê tín và cho rằng biết đâu sẽ có một ngày nào nó lại sẽ biến thành sự thật. Hắn thở dài, quay trở lại bàn giấy, nhấc bình hoa tím lên ngửi. Một ý nghĩ mơ hồ chợt thoáng qua. Chúng ta là thế đó, những người ưu tú của chúng ta, gần như lúc nào cũng hoạt động. Tâm hồn chúng ta chất chứa mọi thứ. Kỷ luật thép vào những lúc tối cần của lịch sử và đồng thời là tình cảm sâu đậm. Lãnh tụ với tình thương trẻ con. Goering người bạn của thú vật. Hắn lại ngửi hương hoa lần nữa. Một trăm ba mươi ngàn Marks mất đi nhưng vẫn chưa nao núng. Không thể rơi xuống đất đen! Vẫn còn có mắt thấm mỹ. Ý kiến về băng nhạc là ý kiến hay đó chớ. Selma và Freya sẽ lên đây chiều nay. Mẹ con nó sẽ có một ấn tượng toàn hảo.

Hắn ngồi vào chỗ bàn máy và đánh lệnh cho ban nhạc với hai ngón tay no tròn. Đây là ý kiến riêng của hắn. Thêm vào đó còn có chỉ thị miễn làm việc cho những tù nhân yếu đuối. Thật ra thì sự việc khác hẳn nhưng hắn muốn diễn dẫn như thế. Weber có làm gì là chuyện của hắn.

Thỏa mãn, Neubauer nhấc máy điện thoại lên. Luật sư của hắn đã tỏ ra quá được việc: mua lại những lô đất bị trúng bom. Thật rẻ. Ông ta cũng mua luôn cho hắn những lô đất chưa bị oanh tạc. Thế là vớt lại được phần lớn. Đất cát luôn luôn có giá trị dầu có bị ném bom hàng trăm lần. Phải biết lợi dụng tâm trạng sợ hãi thông thường của kẻ khác.

Toán tù thu dọn tại xưởng đồng đang trên đường về trại. Họ đã làm việc quần quật suốt mười hai tiếng đồng hồ. Hầu hết các bộ phận của xưởng đều sập đổ hoặc hư hại nặng. Chỉ có một ít cuốc xuổng nên đa số tù nhân phải bới móc bằng tay không. Bàn tay họ rách sướt và đẫm máu. Tất cả đều mệt ngất và đói lả. Vào giữa trưa, họ chỉ được phát cho một ít súp với vài lá rau không rõ loại nổi lều bều. Có điều là súp hãy còn ấm. Ngược lại, bọn kỹ sư và trưởng xưởng đã bắt họ làm việc như nô lệ. Bọn này toàn là dân sự nhưng có kẻ còn ác độc hơn cả lính SS.

Lewinsky đi ở giữa đoàn. Bên cạnh hắn là Warner. Lúc mới chia toán, họ cố chen vào để được đi chung nhóm. Lần này bọn SS không gọi từng số một mà ra lệnh tổng quát là cần bốn trăm người.

Thu dọn một nơi đổ vỡ vì bom đạn là cả một việc nặng nhọc, do đó ít người chịu tình nguyện và nhờ đó mà Lewinsky và Werner nhập đoàn rất dễ dàng. Họ biết là họ sẽ làm gì khi được đi. Họ đã làm thế nhiều lần rồi.

Đoàn tù 400 người chậm chạp đi. Mười sáu người đã ngất xỉu trong khi làm việc. Trong số này còn 12 người có thể bước nổi nếu có người cặp một bên, bốn người kia được khiêng theo… hai người nằm chung một chiếc cáng… hai người nữa bằng chân và tay.

Đường về trại rất xa thế mà họ còn bị dẫn đi vòng. Bọn SS không muốn họ đi vào lòng thành phố sợ dân chúng sẽ nhìn thấy họ và sợ họ sẽ nhìn thấy tận mắt cảnh tàn phá nặng nề.

Khu rừng phong hiện ra trước mắt. Nắng chiều làm cho vỏ cây óng như tơ. Lính SS và trật tự viên chia nhau từng khoảng để kiếm soát đoàn tù. Bọn SS hờm súng trên tay. Đoàn tù loạng choạng đi về phía trước. Chim chóc hót trên cành. Không khí thoang thoảng hương nhựa của lá xanh. Các cây tuyết hoa và ngọc trâm rải đầy bông trên rãnh nước. Không một ai lưu ý. Mọi người đã mệt lả từ lâu. Rồi những cánh đồng xuất hiện với những luống cày đất mới và bọn lính canh lại tụ tập nhau.

Lewinsky ra chiều khích động. Hắn hỏi nhỏ, môi không mấp mảy.

– Để ở đâu?

Werner ép sát một cánh tay vào cạnh sườn.

– Ai tìm thấy?

– Muenzer. Vẫn ở chỗ cũ.

– Vẫn ở chỗ cũ?

Werner gật đầu.

– Mình đã có đủ các bộ phận chưa?

– Đủ. Muenzer sẽ ráp lại.

– Tôi lượm được một nắm đạn. Chẳng biết có vừa không vì phải giấu ngay. Hy vọng là sẽ vừa.

– Vẫn có thể xài được.

– Còn ai có món gì nữa không?

– Muenzer tìm thấy một vài bộ phận rời của súng lục.

– Có phải cùng một chỗ hôm qua không?

– Phải.

– Chắc có người để ở đó.

– Dĩ nhiên. Người ngoài trại.

– Một công nhân?

– Phải. Đây là lần thứ ba. Chẳng có gì xảy ra.

– Biết chừng đâu do một người của chúng mình dọn dẹp ở xưởng vũ khí?

– Không phải đâu. Họ chưa ra tới chỗ đó. Chắc phải là người bên ngoài.

Từ lâu rồi, phong trào bí mật của trại tập trung cố gắng tìm kiếm vũ khí. Họ dự liệu một trận đánh cuối cùng với bọn SS mà ít ra là không đến nỗi với tay không. Vấn đề khó khăn lớn của họ là không làm sao móc nối được. Tuy nhiên, kể từ khi có trận oanh tạc đầu tiên đoàn tù đi dọn dẹp bỗng bất ngờ bắt gặp một số vũ khí và một số bộ phận rời của súng ống. Tất cả đều được giấu dưới những đống gạch vụn. Nhờ khám phá ra nguồn hy vọng đó mà đoàn tù bị gọi đi thu dọn càng có thêm nhiều người tình nguyện hơn.

Đoàn tù đi qua một cánh đồng cỏ rào kẽm gai. Hai con bò với màu lông nâu và trắng ra sát bờ rào ngửi dò. Một con kêu lên giọng trầm trầm. Mắt chúng như ngời lên. Nhưng gần như chẳng một người tù nào dám nhìn tới chúng vì họ sợ cơn đói sẽ chỗi dậy khủng khiếp hơn.

– Liệu có bị lục soát trước khi tan hàng không?

– Sao? Hôm qua không có mà. Toán của mình đâu có tới gần xưởng vũ khí. Các toán dọn dẹp bên ngoài ít khi nào bị kiểm soát.

– Khó mà biết chắc. Nếu bắt buộc phải ném chúng đi thì…

Werner nhìn lên nền trời đang tỏa chiếu những tia hồng, xanh, lẫn lộn chút vàng.

– Trời sẽ sập tối khi mình về tới nơi. Cứ đợi tới đó rồi sẽ liệu. Có gói đạn kỹ không?

– Có. Trong một lớp giẻ.

– Được rồi. Nếu có động tĩnh, chuyền cái gỏi đó ra sau cho Goldstein. Hắn sẽ chuyền sang Muenzer rồi tới Remme. Một trong những người này sẽ ném nó ra xa. Nếu may mắn hơn và nếu bọn SS vây chung quanh thì cứ vứt nó vào giữa khi cần thiết. Đừng ném sang một bên. Như thế chúng không thể đề quyết là của ai. Hy vọng là toán đốn cây sẽ cùng về tới một lượt với mình. Muller và Ludwing trong toán đó đều đã biết cả rồi. Lúc đi vào cổng, toán của họ sẽ làm như nghe sai lệnh trong khi chúng ta bị lục soát, họ sẽ đi sát vào toán chúng ta và lượm đồ lên.

Qua một khúc quanh, con đường lại đưa tới bìa thành phố theo một ngả thẳng. Những khu vườn nho nhỏ và các ngôi nhà nghỉ mát xây bằng gỗ nằm dọc hai bên đường. Một số người mặc áo ngắn tay đang chăm sóc mảnh vườn của họ. Chỉ có vài người ngẩng đầu lên. Hình ảnh đoàn tù không còn lạ gì với họ. Mùi đất mới xới phảng phất xông ra từ các liếp vườn. Có tiếng gà gáy gần đâu đó. Bên lề một bảng hiệu lưu thông với hàng chữ: CẨN THẬN. KHÚC QUANH. 27 cây số tới Holzfelde.

Thình lình Werner hỏi:

– Cái gì đằng kia? Có phải toán đốn cây không?

Trèo một khoảng đường phía trước, họ thấy một đoàn người. Vì hãy còn quá xa, họ không biết rõ hơn. Lewinsky đáp :

– Có thể là toán đốn cây. Họ đi trước chúng mình. Cố gắng một chút là bắt kịp họ.

Hắn nhìn quanh. Phía sau hắn, Goldstein đang khập khểnh với hai tay đặt lên vai của hai người bên cạnh. Lewinsky bảo hai người này:

– Các bạn để chúng tôi thay cho.

Hắn đỡ Goldstein một bên tay trong khi Werner cặp kè bên kia. Goldstein hổn hển:

– Bốn mươi tuổi rồi, trái tim kể như bỏ đi.

Lewinsky hỏi :

– Tại sao bạn đòi đi? Đáng lý ra đã được đổi sang toán đóng giày rồi.

Goldstein nhăn nhó một cách đau đớn:

– Muốn xem một lần chót bên ngoài trại ra sao. Cần không khí tươi mát. Dại quá!

Werner an ủi:

– Không sao đâu. Cứ treo người lên vai tụi này. Còn đủ sức, đừng lo.

Trời đã mất lần ánh chói chang và bắt đầu tái nhợt. Goldstein bảo nhỏ:

– Cho mấy gói đồ của các bạn lẫn lộn vào đồ của tôi. Nếu có lục soát, chúng chỉ lục soát các bạn hoặc mấy người khiêng cáng chớ không để ý đến bọn què quặt này đâu. Nếu cần tôi chỉ ngã lăn ra bất tỉnh là xong.

Werner cãi:

– Nếu có lục soát chúng không chừa ai đâu.

– Không. Chẳng bao giờ chúng khám tụi sắp chết này. Cứ cho mấy gói đó vào áo của tôi.

Werner và Lewinsky cùng nhìn nhau một lượt:

– Đừng lo, Goldstein. Rồi cũng đâu vào đó.

– Không. Đưa đây cho tôi.

Cả hai không trả lời.

– Tôi bị bắt chẳng ăn thua gì. Các bạn khác hơn.

– Đừng nói nhảm!

Goldstein cười như mếu:

– Không phải tôi muốn làm ra vẻ hy sinh đâu. Trao cho tôi là tiện hơn cả. Dầu sao tôi chẳng còn sống được bao lâu.

Werner đáp:

– Để tụi này tính. Mình còn đi cả tiếng đõng hồ nữa. Lúc gần tới trại, bạn ra phía sau. Nếu có gì, tụi này sẽ chuyền cho bạn, bạn chuyền cho Muenzer ngay. Muenzer nhớ chưa?

– Nhớ.

Một phụ nữ cỡi xe đạp đi qua. Bà ta mập mạp và đeo kính. Trên tay cầm xe có một hộp giấy bìa. Bà ta nhìn một bên, không muốn trông thấy đoàn tù.

Lewinsky bỗng nhìn sững phía trước:

– Kia, không phải toán đốn cây.

Đám đông phía trước đang tới gần. Không phải đoàn tù sau bắt kịp đoàn tù trước mà là cả hai đoàn người đang đi ngược chiều nhau. Bây giờ đoàn tù lao tác đã trông rõ đó là một rừng người đi không theo hàng lối.

Một người phía sau Lewinsky hỏi:

– Tù mới hả? Hay một chuyến phát lưu?

– Không phải. Không thấy có lính SS. Và họ không hướng về trại. Toàn là thường dân.

– Thường dân sao?

– Bộ bạn không thấy họ đội nón à? Có cả phụ nữ và trẻ con nữa. Ồ, đông trẻ con lắm.

Bây giờ họ đã thấy rõ hơn. Hai đoàn người càng lúc càng tới gần nhau. Bọn SS bỗng hô to:

– Đi qua bên phải! Sát bên phải! Hàng chót bên phải đi cặp theo mé rãnh. Rời khỏi hàng sẽ bị bắn bỏ!

Werner nói qua hơi thở :

– Dân tị nạn. Họ là người thành phố đi tránh bom.

– Dân ti nạn?

– Đúng. Dân tị nạn.

Lewinsky tròn mắt :

– Bạn nói đúng. Họ là dân tị nạn nhưng là người Đức.

Tin tức loan nhanh khắp đoàn tù. Dân tị nạn! Dân Đức đi lánh nạn! Thật là chuyện khó tin nhưng lại là chuyện có thật: sau mấy năm chiến thắng ở Âu Châu và đánh đuổi các dân tộc khác, bây giờ đến lượt dân Đức chạy trốn ngay trên quê hương họ.

Đoàn người tị nạn gồm toàn đàn bà trẻ con và các cụ già. Họ mang theo khăn gói, bao hộp. Vài người đem theo xe đẩy với đồ đạc của cải chất lên trên. Họ đi nặng nhọc, buồn thảm, người nọ sau người kia.

Lúc này hai đoàn người đã tới sát nhau. Không khí bỗng im lặng lạ lùng. Tất cả những gì nghe được chỉ là tiếng chân lạo xạo trên mặt đường. Và cũng thật tự nhiên, thái độ và cung cách của đoàn tù biến đổi, mặc dầu chẳng ai nói với ai hoặc trao đổi nhau một cái nhìn ra hiệu. Sự thay đổi đột ngột đó dường như do một mệnh lệnh vô hình ban ra. Những con người đói lả, mệt ngất chợt cảm thấy từ bên trong có một tia lửa bắn ra và cháy bùng trong huyết quản. Họ bắt đầu cất bước đúng như con người, chân dở cao, đầu ngẩng lên, mặt đầy sinh khí.

Goldstein phá tan sự im lặng nặng nề:

– Cứ để tôi đi.

– Không được.

– Để tôi đi tự nhiên cho tới khi họ qua xong.

Lewinsky và Werner dang ra. Goldstein nghiến răng, cố vận dụng tàn lực để bước đi như các bạn, đầu ngửa lên, hơi thở mệt nhọc. Nhưng hắn vẫn cố đi như một con người.

Tiếng chân của đoàn tù lần lần như đã nhịp nhàng.

Hai đoàn người bắt đầu giáp mối nhau. Dân chiến nạn phải đi về các làng mạc xa. Nhà ga đã sụp đổ sau trận mưa bom nên họ còn phải đi bộ thêm một đoạn đường dài. Một vài thường dân mang băng tay có chữ SA làm nhiệm vụ hướng dẫn. Phụ nữ dường như chỉ còn lê bước trong khi trẻ con kêu khóc vang rần. Riêng đàn ông thì lẳng lặng nhìn sững về phía trước.

Một tù nhân người Ba Lan phía sau Lewinsky nói nhỏ:

– Cũng giống như lúc tụi này chạy trốn khỏi Warsaw.

Một người tù Bỉ nói tiếp theo:

– Thì cũng như chúng tôi chay khỏi Liége.

– Có khác gì cảnh dân chúng di tản khỏi Ba Lê.

– Không. Thảm hại hơn chớ. Thảm hại hơn nhiều. Họ rượt đuổi chúng ta một cách tàn tệ.

Tuy thế, dường như chẳng có chút thù hận nào trong giọng nói của những người tù. Cũng không oán ghét. Phụ nữ và trẻ con ở đâu cũng giống nhau, và gần như là quy lệ: người vô tội thường gặp thảm cảnh hơn những kẻ gây nên tội. Trong số dân tị nạn mệt mỏi khốn khổ này chắc chắn có lắm người chưa hề cố ý làm điều ác và cũng chẳng bao giờ làm bất cứ gì để vượt ra ngoài mệnh số. Đó không phải là cảm tưởng của tù nhân. Họ đang nghĩ tới một cái gì khác hơn đôi chút. Cảm tưởng của họ không liên quan gì tới cá nhân. Cũng không dính líu gì tới thành phố hay liên hệ gì tới đất nước. Điều họ đang nghĩ gần giống như cảm tưởng của một nền công lý vĩ đại vô tư chợt giáng hiện ngay lúc hai đoàn người vượt ngược qua nhau. Một tội ác thế giới đã xảy ra và hầu như sắp sửa thành công, luật pháp của nhân loại bị lật đổ và dẫm nát, quy tắc của sự sống bị chà đap, bị nghiền bóp và bị xé tan từng mảnh vụn. Trộm cướp được coi là hợp pháp, sát hại được gắn huy chương, khủng bố trở thành luật lệ… và bây giờ, giữa giây phút nghẹt thở này, bốn trăm nạn nhân của quyền lực độc tài chợt cảm thấy… có một âm thanh nào đó vang lên và mũi kim thời gian đang từ từ đi ngược lại. Họ cảm thấy không phải chỉ có những quốc gia, những đất nước cần được cứu vãn mà còn phải cứu vãn cả quy tắc của sự sống còn. Họ nghĩ tới những cái tên có thể thực hiện sự cứu vãn này, trong đó có một danh tánh đơn giản và xưa cũ là THƯỢNG ĐẾ. Và danh tánh ấy cũng có nghĩa là CON NGƯỜI.

Đoàn người tị nạn bây giờ đã vượt qua đoàn tù. Trong vài phút ngắn ngủi, họ có vẻ như một đoàn tù và đoàn tù là những kẻ tự do. Hai cỗ xe do ngựa kéo chở đầy hành lý đi sau cùng đoàn dân chiến nạn. Bọn SS lăng xăng chạy tới chạy lui để ngăn ngừa các tù nhân ra dấu hiệu hay nói một lời nào đó. Chẳng có gì xảy ra. Bốn trăm người tù vẫn lẳng lặng đi, nhưng tiếng bước đã trở lại rời rạc, và Goldstein lại phải quàng tay qua vai của Lewinsky và Werner… và khi các rào chận trước cổng rào hiện ra với tấm bảng đỏ nổi bật hàng chữ đen Người nào số phận ấy, mọi người chợt nhìn ra với đôi mắt khác lạ mặc dầu ý nghĩa châm biếm khủng khiếp của nó đã luôn luôn ám ảnh họ từ nhiều năm.

Dàn nhạc đón họ ở cổng vào. Họ tấu bản Hành khúc Fridericus Rex. Ngay sau cổng là bọn lính SS và viên Phó trưởng trại. Đoàn tù bắt đầu nhịp bước theo tiết tấu của bản nhạc.

– Chân dở cao! Mắt nhìn thẳng!

Đoàn tù đốn cây vẫn chưa về tới.

– Đứng lại! Đếm số!

Đoàn tù bắt đầu điểm số. Lewinsky và Werner nhìn dò xét viên Phó trưởng trại. Hắn vừa nhún chân vừa hét to:

– Khám người! Toán thứ nhất, bước ra!

Gói vải bọc các bộ phận rời của khẩu súng được cẩn thận chuyền vào tay Goldstein. Tự nhiên Lewinsky xuất hạn.

Thình lình, tên Đội trưởng Steinbrenner như ngửi thấy một điều gì. Với hai nắm tay hùng hổ, hắn vẹt đường xông tới Goldstein. Werner mím mội. Nếu cái bọc đó không tới tay Muenzer hoặc Remme kịp lúc thì hỏng cả.

Trước khi tên Đội trưởng Đức tới nơi, Goldstein đã ngã vật ra. Steinbrenner đá vào sườn Goldstein :

– Đứng dậy! Đồ chó!

Goldstein cựa quậy. Hắn quỳ lên, rên rỉ, sùi bọt mép rồi lại ngã lăn ra.

Tên Đội trưởng nhận ra sắc mặt tái xám và đôi mắt trợn tròn của người tù. Hắn đá thêm một cái vào người Goldstein và suy nghĩ xem có nên châm một diêm quẹt cháy vào mũi người tù để biết chắc là thật hay giả. Nhưng hắn vụt nhớ ra lúc nãy đã đánh phải một tù nhản đã chết làm trò cười cho đồng đội, hắn lại thôi. Hắn bỏ đi, miệng chửi rủa lầm thầm.

Viên Phó trưởng trại hỏi người chỉ huy đoàn tù:

– Bọn này làm ở xưởng vũ khí, hả?

– Không. Chúng nó lo dọn dẹp.

– À, phải rồi. Còn đám kia đâu?

– Đang trên đường lên đồi.

– Được rồi. Cho bọn này đi để trống chỗ. Khỏi phải xét người.

Người chỉ huy đoàn tù ra lệnh:

– Toán thứ nhất, bước về chỗ! Bên trái quay! Bước đều, bước!

Goldstein đứng lên. Hắn lảo đảo nhưng vẫn đứng được. Werner hỏi gần như không ra tiếng vì đầu của hắn và Goldstein kề sát nhau:

– Có ném cái gói ra ngoài không?

– Không.

Werner hơi ngạc nhiên lẫn vui mừng:

– Chắc hả?

– Chắc chớ.

Đoàn tù đi qua cổng. Bọn SS không còn chú ý tới họ nữa. Phía sau họ, đoàn tù lao tác tại xưởng vũ khí đang bị lục soát cẩn thận. Werner lại hỏi:

– Ai cất? Remme hả?

– Không. Tôi giữ.

Họ đã vào tới sân điểm danh và ngừng lại. Lewinsky hỏi :

– Nếu bạn không đủ sức đứng lên nữa thì tụi này làm sao tống nó ra? Bọn chúng thấy hết…

– Phải đứng lên được chớ.

– Sao?

Goldstein cười:

– Trước kia, tôi đã từng một thời làm diễn viên.

– Vậy là bạn đóng kịch à?

– Chỉ giả vờ phần cuối thôi.

– Làm sao lại sùi bọt mép?

– Chỉ là trò lúc còn đi học.

– Nhưng tại sao không chuyền cho người khác?

– Lúc nãy tôi đã nói rồi mà.

Werner máy môi báo động:

– Coi chừng, bọn SS tới.

Đoàn tù đứng nghiêm.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

9. Chương Chín

Trận không tập kế tiếp xảy ra hai ngày sau. Còi bắt đầu rú từ tám giờ tối. Sau đó ít phút, những trái bom đầu tiên rơi xuống. Chúng rơi nhanh như những giọt mưa rào và tiếng nổ chỉ vang to hơn tiếng súng phòng không một ít. Chỉ vào phút cuối cùng mới tới lượt những quả bom nặng.

Tòa soạn nhật báo Mellern phát hỏa. Máy in chảy nhảo ra. Các cuộn giấy nổ răng rắc, bay tung lên và tòa nhà sụp xuống.

Neubauer tính nhẩm, thiệt hại cả trăm ngàn Marks, cả trăm ngàn đồng của mình đã ra tro. Chưa bao giờ hắn thấy hằng bao nhiêu của cải bốc cháy quá dễ dàng. Quân trâu chó! Nếu biết trước, mình đã mua cổ phần ở hầm mỏ. Nhưng hầm mỏ cũng bốc cháy, cũng bị ném bom. Không còn đâu an toàn nữa. Họ bảo là khu vực kỹ nghệ Rurh cũng bị tàn phá. Còn chỗ nào an toàn đâu?

Bộ quân phục của hắn dính đầy tro giấy. Mắt hắn đỏ ngầu vì khói và nước mắt. cửa hiệu xì-gà nằm bên kia đường là của hắn cũng đã đổ nát. Hôm qua, đó là một mỏ vàng, hôm nay là một đống tro than. Lại mất đi ba chục ngàn đồng Marks. Có thể là bốn chục. Người ta có thể mất cả sự sản trong một đêm. Đảng đâu? Mỗi người của đảng đều chỉ nghĩ cho riêng mình. Bảo hiểm đâu? Họ sẽ sạt nghiệp nếu trả đủ tiền bồi thường thiệt hại chỉ một đêm nay thôi. Vả lại, hắn chỉ bảo hiểm với mức quá thấp. Người ta thường nhắc đi nhắc lại khi chiến tranh kết thúc, việc lo bồi thường to tác sẽ bắt đầu, kẻ địch bị thua sẽ phải trả những khoản tiền vĩ đại. Lại một chuyện như có thật! Ngày mai, sẽ còn gì bốc cháy?

Hắn nhìn sững sờ vào các bức tường nứt nẻ của tòa nhà. Năm ngàn điếu xì-gà đã thành than. Cũng vậy thôi. Nhưng hồi đó, mình tố cáo tên Freiberg để làm gì? Bổn phận? Vô lý. Bổn phận làm cháy ra tro. Tất cả, một trăm ba mươi ngàn Marks. Một trận hỏa hoạn nữa, một vài trái hom rơi xuống tòa nhà của Max Blank, một vài trái trên ngôi vườn và trên tư thất hắn – điều đó có thể xảy ra ngày mai – và hắn sẽ trở lại tay trắng. Hoặc không phải thế đi nữa thì tuổi già tới! Càng tệ hại hơn! Nỗi nghi ngờ, mối lo sợ cho tới nay vẫn chưa làm gì được hắn bỗng chốc kéo cả tới ngồi xổm đó, nhìn trợn trừng vào mặt hắn. Chúng ngồi lổm ngổm trên đống gạch vụn của cửa hiệu xì-gà, chúng đi vơ vẩn trên các bức tường xiêu vẹo của nhà báo, chúng nhăn mặt trân tráo với hắn và giương cả móng vuốt ra đe dọa tương lai. Cái cổ mập ú và đỏ hồng của hắn ướt đẫm, hắn bước lui không định hướng. Trong phút chốc hắn không nhìn thấy gì cả mặc dầu đã biết cả rồi mà vẫn chưa chịu nhìn nhận: rằng phe hắn chẳng bao giờ thắng trận được nữa.

Hắn nói lớn một mình:

– Không! Không, không… vẫn còn có lãnh tự… một phép lạ… mặc dầu rằng… dĩ nhiên…

Hắn nhìn quanh. Không một bóng người. Không cả người lo chữa lửa.

Selma Neubauer sau cùng rồi cũng nín khóc. Mặt bà ta như sưng lên, chiếc áo bằng lụa Pháp dính đầy đốm nước mắt trong khi hai bàn tay quá đầy đặn của bà vẫn còn run.

Neubauer nói với giọng không cả quyết :

– Đêm nay chúng không tới nữa đâu. Cả thành phố đã bốc cháy rồi, chúng còn chỗ nào để ném bom?

– Nhà của anh, cơ sở thương mại và khu vườn của anh vẫn còn đứng vững mà.

Neubauer cố dằn cơn giận xuống:

– Vô lý! Bọn chúng đâu phải chỉ nhắm vào đó.

– Còn những căn nhà khác, những hiệu buôn khác. Các cơ xưởng nữa. Bao nhiêu đó cũng đủ rồi.

– Selma…

Vợ hắn cắt ngang:

– Anh muốn nói gì thì nói, tôi vẫn cứ lên đó. Chúng tôi lên trại ở với anh, dầu cho phải ở chung với bọn tù. Tôi không thể ở lại thành phố này nữa. Ở cái bẫy chuột này! Tôi không muốn chết. Anh thì chẳng cần gì miễn là an toàn cho anh. Chúng tôi có chết rục cũng mặc. Anh thì luôn luôn vậy thôi!

Neubauer nóng mặt:

– Tôi mà như vậy hả? Bà nhìn lại quần áo, giày dép của bà xem. Tất cả đều mua từ Ba Lê. Ai mua cho bà? Reng đắt tiền mua tận bên Bỉ. Áo hồ cừu. Mũ lông thú. Phải mua ở Ba Lan. Bao nhiêu thứ chẳng ai có. Còn căn nhà nữa…

– Ông quên mất một thứ. Cái quan tài. Ông còn kịp thì giờ để mua ngay bây giờ. Tới mai thì hòm sẽ lên giá. Cả nước Đức chẳng còn mấy cái đâu. Nhưng ở trên trại, anh có thể bắt họ đóng một chiếc. Người của ông đông lắm mà.

– À, thì ra đây là sự trả ơn của bà. Bà trả ơn cho những sự nguy hiểm mà tôi phải vượt qua.

Selma vẫn không chịu nghe:

– Tôi không muốn bị chết cháy! Tôi không muốn bị nát ra từng mảnh.

Bà ta quay sang cô con gái:

– Freya, mày có nghe ba mày nói không? Cha của mày đó! Mình có đòi hỏi gì hơn là được cho tá túc trong nhà của ông ta trên đó đâu. Đế được sống. Ông ấy từ chối. Lại Đảng nữa. Dietz sắp nói cái gì đây? Dietz nói gì về những trái bom? Những trái bom có dính líu gì tới đảng?

– Im, Selma!

– Mày nghe không, Freya? Im! Đứng yên! Chết lặng câm! Im, Selma… ông ấy chỉ biết bao nhiêu đó.

Neubauer thận trọng từng chữ:

– Năm mươi ngàn dân chúng cùng chung một tình trạng với mình. Tất cả họ…

– Năm chục ngàn người có liên quan gì tới tôi. Năm chục ngàn người đó có cần quái gì nếu tôi chết. Thôi, để dành mấy con số thống kê đó để làm diễn văn cho đảng.

– Trời ơi…

– Trời hả? Trời ở đâu? Các người đã đẩy ông ta đi mất rồi. Đừng nói chuyện trời với tôi…

Neubauer nghĩ thầm, tại sao mình không cho nó một cái tát? Tại sao bỗng dưng mình đâm ra mệt mỏi thế này? Phải tát nó! Để chứng tỏ quyền uy! Một trăm ba mươi ngàn Marks ra tro. Và con đàn bà đang gào thét này! Hãy nắm lấy cơ hội! Phải cứu vãn! Cái gì? Cứu vãn cái gì đây?

Hắn ngồi xuống một chiếc ghế dựa. Hắn không hiểu đó là chiếc ghế quý giá của xưởng Gobelin nổi danh hồi thế kỷ thứ 18 mà nữ bá tước Lambert đã từng làm chủ… hắn chỉ biết đó là một cái ghế có vẻ sang trọng thôi. Hắn đã mua nó mấy năm trước với một vài món khác của một thiếu tá từ Ba Lê trở về.

– Freya, lấy cho ba một chai bia!

– Freya, lấy cho ông ấy một chai sâm banh! Ông ta cần uống kẻo không nó sẽ bay bổng lên trời. Bốp, bốp, bổp, cho nút chai nổ lên để ăn mừng chiến thắng.

– Im miệng, Selma!

Đứa con gái đi vào nhà bếp. Người đàn bà đứng lên:

– Ông có đồng ý cho tôi lên đó đêm nay không?

Neubauer nhìn xuống đôi giày bám đầy tro. Hắn thong thả nói:

– Nếu mình đi ngay bây giờ họ sẽ đồn đãi này kia. Họ sẽ bảo là tôi lợi dụng chức vu bỏ rơi các chiến hữu lại thành phố. Và thật ra ngay lúc này trên ấy còn nguy hiểm hơn ở đây nhiều. Lần tới, họ sẽ coi trại trên đó là mục tiêu chánh. Ở đó có cơ sở kỹ nghệ chiến tranh.

Kể ra thì Neubauer cũng có vài phần thành thật nhưng lý do từ chối của hắn là muốn được ở riêng. Trên đó hắn có một cuộc sống riêng biệt, theo lời hắn. Báo, rượu cô-nhắc và thỉnh thoảng có đàn bà nhẹ hơn vợ hắn ít lắm là hai chuc kí – một vài người đàn bà biết nghe khi hắn nói, biết ngưỡng mộ hắn như một nhà tư tưởng, một đấng nam nhi, một tay lịch lãm. Ngần ấy thứ là một thú vui vô hại cần thiết sau khi phải chiến đấu vất vả cho cuộc sống còn.

Selma vẫn không đổi ý:

– Họ nói gì mặc họ! Phận sự của ông là lo cho gia đình.

– Được rồi, mình sẽ bàn sau. Bây giờ tôi phải ra trụ sở Đảng xem họ quyết định ra sao. Có thể họ đang chuẩn bị cho di tản dân chúng về thôn xóm, nhất là những người đã tiêu tan nhà cửa. Có thể là em sẽ cũng…

– Không có thể gì hết. Nếu còn ở lại đây, tôi sẽ chạy cùng đường và la to, la to mãi…

Freya mang bia lên. Bia không lạnh. Hắn nếm qua, tự dằn giận và đứng lên. Vợ hắn hỏi mau:

– Được hay không?

– Tôi sẽ trở lại và bàn sau. Trước hết phải biết họ tính gì.

– Được hay không?

Neubauer nhìn thấy Freya đứng sau mẹ đang ra dấu gật đầu. Hắn chán nản bảo:

– Thôi, cũng được.

Selma há miệng ra. Sự uất hận từ trong thoát đi như bong bóng xì hơi khiến bà ta mềm nhũn và ngã vật xuống chiếc ghế dựa. Trong khoảnh khắc người đàn bà chỉ còn là một khối thịt mềm rung động bởi những tiếng khóc nghẹn :

– Tôi không muốn chết… tôi không muốn… với tất cả những vật xinh đẹp này… không thể chết bây giờ…

Neubauer nhìn vợ với vẻ nhờm tởm. Thật là quá dễ. Nó gào thét, kêu la nhưng phần mình có ai biết cho đâu. Hắn phải một mình nuốt lấy tất cả và lặng câm như đá ngầm giữa biển. Một trăm ba mươi ngàn Marks. Nó không hỏi lấy một tiếng.

Hắn xẵng giọng bảo Freya trước khi ra cửa:

– Canh chừng má cho cẩn thận.

Trong khu vườn sau nhà, hai tù binh Nga còn đứng đó. Trời đã sẫm tối nhưng họ vẫn chưa ngừng tay. Đó là lệnh của Neubauer. Hắn muốn họ làm một số luống thật gấp để trồng uất kim hương. Uất kim hương, ngò tây và húng quế cùng một vài loại rau khác. Hắn rất thích các loại rau cải và đồ gia vị. Ý muốn của hắn mới bắt đầu được thực hiện có mấy ngày qua mà bây giờ dường như đã lâu hàng thế kỷ. Bây giờ chẳng lẽ hắn trồng những điếu xì-gà cháy, những miếng chì chảy của máy in báo.

Hai người tù binh chống tay lên cán xuổng trong lúc Neubauer ra tới.

– Đứng trợn mắt ngó hả?

Thình lình, cơn giận dồn nén bốc lên. Một tù binh trả lời gì đó bằng tiếng Nga. Hắn chửi to :

– Quân trâu chó! Đứng lỏ mắt ra hả? Đồ vô lễ! Chắc tụi mày hài lòng lắm khi thấy nhà cửa dân chúng vô tội bị tàn phá, phải không?

Người Nga không dám nói nữa. Hắn quát lên:

– Làm việc mau! Đồ chó lười biếng!

Hai tù binh không hiểu hắn nói gì. Họ nhìn sững hắn để mong tìm hiểu. Tức giận, Neubauer vung chân đá vào bụng một tù binh. Hắn ngã té rồi lồm cồm chống xuổng đứng lên, cán xuổng còn ở trong tay. Neubauer nhìn thấy ánh mắt của người tù và cái cán xuổng trong tay anh ta. Hắn bỗng nghe nhói ở da dày như bị dao đâm, vội rút súng ra.

– Đồ tap chủng. Kháng cự hả?

Hắn quật bá súng vào giữa trán người tù Nga. Người tù té nhào và không đứng lên được nữa. Hắn gầm thét :

– Tao bắn mày chết luôn cũng được. Muốn nổi loạn à? Định dùng cán xuổng đập tao sao? Đáng bắn lắm. Gặp đứa khác là mày chết rồi.

Hắn nhìn sang tên lính gác đang đứng gần đó:

– Có phải vậy không? Nó toan đưa cán xuổng lên, phải không?

– Thưa Đại tá, phải.

– Được rồi, cho xối lên đầu nó một thùng nước.

Neubauer quay nhìn người Nga thứ hai. Người này đang khom thật thấp trên cán xuổng. Mặt anh ta trắng nhợt. Từ xa có tiếng chó sủa như điên dại. Neubauer cảm thấy miệng khô quánh. Hắn bỏ đi, hai bàn tay vẫn còn run. Chuyện gì vừa xảy ra. Hắn nghĩ thầm. Sợ chăng? Mình mà sợ sao? Không thể sợ một tên tù binh ngu đần được. Vậy là cái gì? Phải chăng vì mình quá lịch sự? Chắc thế. Nếu là Weber thì hắn dần tên kia cho tới chết. Dietz thì bắn bỏ ngay tại chỗ. Mình làm không được. Đa cảm, thật là phiền. Phiền đủ mọi thứ, cả với Selma nữa.

Chiếc Mercedes đậu bên ngoài. Neubauer sửa bộ ngay ngắn lại và ra lệnh cho tài xế:

– Tới trụ sở Đảng, Alfred. Đường từ đây tới đó có trống không?

– Đi vòng thì tiện hơn.

– Thì đi vòng vậy.

Xe bắt đầu chạy. Neubauer quan sát mặt người tài xế:

– Có chuyện gì đó, Alfred?

– Mẹ tôi chết.

Neubauer bức rức. Lại thêm chuyện! Một trăm ba mươi ngàn Marks, Selma gào thét, và bây giờ lại phải an ủi kẻ khác:

– Xin chia buòn với chú. Đúng là bọn sát nhân vô lại, giết cả đàn bà và trẻ con.

Hắn cố nói thật gọn theo kiểu nhà binh để mau xong chuyện. Alfred nhìn thẳng phía trước :

– Mình cũng ném bom họ. Lần đầu, tôi chứng kiến ở Warsaw, Rotterdam rồi tới Coventry. Trước khi tôi bị thương.

Neubauer nhìn sững người tài xế. Chuyện gì đã xảy ra hôm nay? Trước tiên là Selma và bây giờ là tên tài xế. Có phải là mọi việc đã đổ vỡ hết rồi không?

– Đó là chuyện khác, Alfred. Hoàn toàn khác xa. Chúng ta dội bom là do nhu cầu chiến thuật. Còn bọn chúng chỉ cố sát hại thôi.

Alfred không trả lời. Hắn nghĩ tới bà mẹ, tới Wersaw, Rotterdam, Coventry và ông Thống chế Đức phì nộn. Hắn cho xe quặt nhanh ở góc đường.

– Đừng nên nghĩ như thế, Alfred. Đó là tư tưởng phản nghịch. Dĩ nhiên là tôi thông cảm với chú trong khi vừa mất bà cụ. Chú đừng nên có ý nghĩ ấy nữa. Lệnh là lệnh cứ biết thế là đủ với lương tâm. Kẻ hối hận không phải là người Đức. Nghĩ sái quẩy cũng vậy. Lãnh tụ của mình biết chắc chắn là ông cần phải làm gì. Chúng ta chỉ cần tuân lệnh. Lãnh tụ sẽ bắt chúng đền tội về những vụ tàn sát tập thể này. Gấp đôi hay gấp ba! Với võ khí bí mật. Ta sẽ bắt chúng quỳ xuõng. Bọn Anh đã bị ăn hỏa tiễn V1. Với võ khí mới ta sẽ làm cho hòn đảo của chúng biến thành tro bụi. Cả bọn Mỹ nữa. Chúng phải trả nợ máu. Gấp đôi, gấp ba, gấp đôi, gấp ba!

Neubauer lặp lại những tiếng sau cùng và chợt thấy đầy tin tưởng gần như tất cả những gì vừa nói đều là sự thật.

Hắn lấy một điếu xì-gà trong túi da. Hắn muốn tiếp tục nói. Bỗng nhiên hắn cảm thấy cần phải nói… nhưng nhìn thấy đôi môi mím chặt của Alfred, hắn không nói nữa. Hắn nghĩ thầm, chẳng còn kẻ nào chú ý tới mình sao? Phải tới khu vườn ngoài thành phố. Ở đó có những con thỏ lông mịn màng, mắt đỏ. Lúc nào cũng thế, như khi còn bé, hắn muốn nuôi thỏ, nhưng ông thân hắn không cho. Bây giờ, hắn làm chủ một bầy thỏ. Ở đó có mùi rơm, có lông mịn và lá cây tươi. Đó là sự an toàn của kỷ niệm ấu thời. Những giấc mơ chìm trong quên lãng. Đôi khi con người bỗng trơ trọi một cách thảm hại. Một trăm ba mươi ngàn Marks. Lúc nhỏ, lần có tiền nhiều nhất chỉ là bảy mươi lăm pfennigs. Hai hôm sau, món tiền tí hon của hắn bị đánh cắp.

Từng cụm lửa nổi tiếp bốc lên cao. Thành phố cũ kỹ bốc cháy như ngọn đuốc, như những mảnh bùi nhùi. Hầu hết nhà cửa ở đó đều xây bằng gỗ. Mặt sông phản chiếu ánh lửa trông như chính con sông cũng đang phát hỏa.

Nhóm Lão Làng đi lom khom trong bóng tối bên ngoài lao xá. Dưới ánh sáng đỏ đục, họ nhận ra các trạm canh có súng máy đều trống trơn. Bầu trời trông có vẻ lạ kỳ với các lởp mây ngời chiếu màu hồng của loài hồng hạc. Lửa chiếu hắt cả từ trong ánh mắt của những xác chết đang chồng chất lên nhau.

Một tiếng động nho nhỏ bỗng làm 509 chú ý. Khuôn mặt Lewinsky như từ dưới đất nhô lên. 509 thở một hơi sâu vào rồi đứng lên. Hắn đã đợi Lewinsky mãi cho tới lúc này từ khi đã lấy lại đủ sức để bò. Hắn vẫn có thể ngồi nhưng hắn muốn đứng lên để chứng tỏ với Lewinsky rằng hắn vẫn đi đứng được chớ chưa phải là kẻ tàn phế.

Lewinsky hỏi:

– Tât cả đều bình thường chớ?

– Rất bình thường. Muốn diệt chúng tôi không phải dễ.

Lewinsky gật đầu :

– Có chỗ nào để mình nói chuyện không?

Họ đi sang phía bèn kia đống xác người. Lewinsky nhìn quanh thật mau :

– Bọn lính canh vẫn chưa trở về chỗ…

– Bên này, chúng chẳng cần canh gác mấy. Còn ai đủ sức để trốn…

– Tôi cũng nghĩ vậy. Còn việc kiểm soát đêm?

– Chưa bao giờ có.

– Ban ngày thì sao? Bọn SS có thường lui tới không?

– Gần như chẳng bao giờ. Họ sợ chí rận, kiết lỵ và sốt rét.

– Lao xá trưởng có tới không?

– Chỉ có mặt lúc điểm danh thôi.

– Tên hắn là gì?

– Bolte. Đội trưởng.

Lewinsky tỏ vẻ hài lòng :

– Chắc đại diện lao xá không hề ngủ ở đây? Còn trưởng phòng?

– Bạn đã có lần nói chuyện với ông ấy. Berger. Không ai tốt bằng.

– Có phải ông bác sĩ làm việc ở lò thiêu xác không?

– Đúng. Bạn lấy tin hay thật.

– Chúng tôi cần phải điều tra. Đại diện lao xá là…

– Handke. Tù thường phạm. Vừa mới đá chết một trong những người của chúng tôi cách nay vài đêm.

– Sâu hiểm?

– Không. Chỉ hung tợn. Nhưng hắn không biết rõ tụi này, lại rất sợ bịnh truyền nhiễm. Chỉ biết một vài người. Lao xá trưởng còn biết ít hơn. Phần kiểm soát đều do trưởng phòng. Ở đây muốn làm gì cũng dễ dàng.Có phải bạn cần biết như thế không?

– Phải, đó là điều tôi muốn biết. Bạn rất sành tâm lý.

Vừa đáp, Lewinsky vừa nhìn dấu hiệu hình tam giác đỏ trên chiếc áo tù rộng thùng thình của 509. Hắn vụt hỏi:

– Cộng sản hả?

509 lắc đầu.

– Dân chủ Xã hội?

– Không phải.

– Như vậy là gì? Bạn phải ở trong một tổ chửc nào chớ?

509 nhìn lên. Da mặt quanh mắt hắn vẫn còn xám ngắt vì trận đòn vừa qua. Nhờ thế mà mắt hắn như ngời sáng hơn, chúng chiếu thẳng vào vùng lửa đỏ như không còn thuộc vẻ khuôn mặt đầy thương tích nữa.

– Chỉ là một con người… nếu bạn cho trả lời như thế là đủ.

– Sao?

– Thôi. Chẳng có gì.

Lewinsky như chợt hiểu ra:

– Phải rồi, bạn là một nhà tư tưởng. Như thế càng tốt. Chúng tôi càng thêm tin cậy.

– Bạn có quyền tin cậy. Tin cả nhóm chúng tôi. Những người đang ngồi đằng kia. Họ là những kẻ đã ở đây lâu nhất.

Và 509 cười thiểu não:

– Chúng tôi là nhóm Lão Làng?

– Còn mấy người khác?

– Chẳng sao cả. Toàn người Hồi. Cứ kể như họ chết. Chỉ còn biết tranh nhau đồ ăn thừa thải và chỉ đủ khả năng chết nằm dài. Không còn sức đâu để phản bội.

Lewinsky nhìn thẳng vào mắt 509:

– Như vậy chúng tôi có thể gởi một người qua đây lánh mặt được không? Có ai để ý không? Nhiều lắm chỉ vài hôm.

– Nếu người đó còn mập mạp thì hơi khó.

Lewinsky dường như không nghe thấy câu nói đùa chua chát. Hắn xích lại gần hơn:

– Chắc sắp có chuyện xảy ra. Tại nhiều nơi, các đại diện lao xá mang dấu hiệu đỏ đều được thay bởi các tù nhân mang dấu hiệu xanh. Có vài tin nói về các chuyến đi đêm trong sương mù. Bạn hiểu rõ rồi chớ?

– Hiểu. Đó là các chuyến đưa tới trại thủ tiêu.

– Đúng lắm! Lại có tin đồn về những vụ tàn sát tập thể. Người của những trại khác vừa tới đây cho biết như thế. Chúng ta phải thận trọng. Phải tổ chức tự vệ. Không để cho bọn SS muốn làm gì cũng được. Chúng tôi mới vừa nghĩ tới bạn khi có tin như thế… Chúng tôi muốn làm biến mất vài nhân vật quan trọng khi tình thế căng thẳng.

– Ở bệnh xá không còn an toàn nữa sao?

Lewinsky lại nhìn đăm đăm 509:

– Bạn cũng biết nữa à?

– Biết chở.

– Bạn có cộng tác với phong trào chúng tôi bên đó không?

– Khoan đề cập vấn đề đó. Mọi việc hiện ra sao?

Lewinsky đáp bằng một giọng khác hơn :

– Bệnh xá đã không còn sử dụng được nữa. Chúng tôi vẫn còn để vài người tại đó, nhưng bọn chúng dường như đang kiểm soát chặt chẽ hơn.

– Còn khu bệnh sưng màng óc và thương hàn?

– Chúng tôi vẫn nhờ tới nhưng không đủ. Cần có những nơi khác khá hơn để giấu một vài người. Tại lao xá chỉ trốn được một vài ngày là cùng. Bao giờ cũng phải đề phòng những vụ kiểm soát đêm.

– Tôi hiểu rồi. Các bạn cần có những nơi như thế này, luôn luôn hỗn loạn và thay đổi, lại chẳng có nhiều vụ lục xét.

– Rất đúng. Ngoài ra còn cần có người tin cẩn giữ vai trò chánh.

– Vậy bạn có thể tin chúng tôi.

Mình tự quảng cáo như cho một hãng bánh – 509 vừa nghĩ thầm vừa hỏi:

– Bạn muốn biết gì thêm về Berger?

– Về công việc của ông ta tại lò thiêu. Chúng tôi chẳng có ai ở đó cả. Ông ấy có thể cho chúng tôi chi tiết?

– Cũng được, ở đó, ông ta có phận sự nhổ răng xác chết, ký giấy chứng tử. Đã làm việc ở đó hai tháng. Người mà ông ta đến thay đã bị mang đi thủ tiêu.

Lewinsky gật đầu:

– Nếu vậy thì ông ấy sẽ còn làm việc được hai hoặc ba tháng nữa. Còn đủ thì giờ.

– Phải. Hãy còn kịp.

509 ngẩng bộ mặt xanh tái lên. Hắn biết những người được cho làm việc tại lò thiêu xác cứ mỗi bốn hoặc năm tháng là bị thay thế và tống vào các phòng hơi ngạt hoặc các trại tàn sát. Đó là phương cách đơn giản nhất để diệt những chứng nhân đã biết quá nhiều. Như vậy, Berger còn sống nhiều lắm là ba tháng nữa. Nhưng ba tháng cũng còn lâu. Nhiều diễn biến sẽ tới, đặc biệt là nếu có sự tiếp tay của trại lao tác.

509 hỏi:

– Phần chúng tôi, các bạn sẽ giúp được gì?

– Cũng như các bạn giúp chúng tôi.

– Đối với chúng tôi đó không phải là chuyện quan trọng. Hiện thời chẳng có ai cần lánh mặt. Chúng tôi cần thực phẩm.

Lewinsky im lặng một lúc lâu rồi đáp:

– Chúng tôi không thể tiếp tế cho toàn thể lao xá. Bạn cũng biết vậy.

– Không phải thế. Bọn này chỉ có mười hai người thôi.

– Khẩu phần bên đó cũng quá ít. Nếu không thì hằng ngày chẳng có người bị đưa sang bên này.

– Điều này tôi cũng biết. Chúng tôi không nghĩ chuyện lo cho đầy bụng mà chỉ cần không bị chết đói.

– Hiện chúng tôi đang lo để dành đồ ăn cho những người lánh mặt vì họ không có khẩu phần. Nhưng chúng tôi vẫn cố lo cho các bạn. Như vậy được không?

509 nghĩ thế là được lắm rồi, còn hơn chẳng có gì. Một lời hứa… nhưng ít ra phải đợi tới lúc giúp được người ta trước đã.

– Được lắm.

– Mình nên cho Berger biết. Ông ấy sẽ là liên lạc viên vì chỉ có ông ta mới qua trại chúng tôi được. Bạn lãnh trách nhiệm mấy người kia. Càng ít người biết càng tốt. Chỉ cần một người liên lạc giữa nhóm này và nhóm kia. Và một người để thay thế. Nguyên tắc cũ chắc bạn quá biết.

– Vẫn còn nhớ.

Lewinsky bò vào bóng tối đỏ mờ, xuyên qua các lao xá, tới nhà cầu và chui vào lối ra. 509 dựa ngửa ra. Bỗng nhiên hắn thấy quá mệt mỏi. Hắn có cảm tưởng như đã nói và suy nghĩ quá nhiều. Đầu óc hắn chỉ tập trung vào cuộc hẹn gặp Lewinsky. Bây giờ hắn choáng váng. Thành phố phía dưới cháy rực như một lò lửa khổng lồ. Hắn bò tới chỗ Berger.

– Ephraim, tôi tin là cơ hội sắp tới.

Ông lão Ahasver vừa bò tới:

– Bạn gặp hắn rồi hả?

– Gặp rồi. Họ sẽ cố giúp mình. Và mình giúp họ.

– Mình giúp họ?

509 ngồi thẳng lên, cảm thấy tỉnh táo lạ:

– Phải. Chúng ta sẽ giúp họ. Không ai nhờ ai.

Có một cái gì như kiêu hãnh trong giọng nói 509. Họ không ngửa tay xin, họ trả lại bằng khả năng của họ. Thế là họ vẫn còn hữu dụng, còn có thể giúp ích được cho Đại trại. Một luồng gió mạnh có thể hất tung thân thể xương xẩu, mục nát của họ lên nhưng ngay lúc đó, họ không cảm thấy nhu nhược nữa. 509 nói tiếp :

– Chúng ta đã có lối thoát. Chúng ta sẽ móc nối lại, không còn bị cô lập nữa. Hàng rào y tế đã bị phá vỡ.

Dường như hắn muốn nói: chúng ta không còn bị đày ải cho tới chết, chúng ta vẫn còn dịp may. Đó là khoảng trống vĩ đại giữa tuyệt vọng và hy vọng. Hắn tiếp tục trình bày :

– Từ nay trở đi, mình phải luôn luôn nhớ tới điều đó. Chúng ta phải nhai nuốt nó như ăn bánh mì. Như ăn thịt, sắp tới hồi kết cuộc rồi. Những ngày của thống khổ, của tuyệt vọng đã trôi qua. Bây giờ là hy vọng. Chúng ta phải coi đó là món ăn tinh thần. Nó giống như thịt vậy.

Lebenthal hỏi:

– Hắn có tin tức gì mới không? Một mảnh giấy báo hay…

– Không. Khó lắm. Họ đang làm một máy thu thanh bí mật bằng những bộ phận của máy hư hoặc đánh cắp được. Vài hôm nữa là máy có thể dùng được. Không chừng họ sẽ nhờ giấu ở đây. Lúc đó mình sẽ biết rõ những gì xảy ra.

Nói xong, hắn lấy từ trong túi ra hai miếng bánh mì của Lewinsky trao cho hắn lúc sắp trở về Đại trại. Hắn đưa cho Berger:

– Ephraim, chia giùm cho anh em. Họ sẽ tiếp tế thêm.

Mỗi người lấy một mẩu bánh nhỏ. Họ ăn chầm chậm. Phía dưới họ, thành phố cháy đỏ. Phía sau họ là những người nằm chết.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 26)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

Khao Mừng Chiến Thắng Lam Sơn 719

Để thu thập những kinh nghiệm trong cuộc Hành quân Lam Sơn 719, các Phái Đoàn thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, thuộc trường Pháo Binh Dục Mỹ… lần lượt đến các đơn vị trực tiếp tham chiến trao đổi kinh nghiệm, đúc kết thành quả…

Từ vị trí hành quân, tôi nhận được công điện của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn triệu hồi, lãnh phần thuyết trình. Tôi đã chuẩn bị thật chu đáo những vấn đề thiết yếu và trước các Phái Đoàn, lời nói đầu tiên của tôi là một lời minh xác:

“…Với ý thức buổi thuyết trình hôm nay là để rút tỉa kinh nghiệm chiến trường – chứ không phải là buổi diễn thuyết về một đề tài văn chương. Vì vậy, những lời trình bày của tôi trước Phái đoàn, trước quý vị sẽ không có những từ hoa mỹ, những sự kiện tiểu thuyết hóa… trái lại, chỉ có những nhận xét trung thực, và tôi chỉ biết nói lên những điều trung thực do chính tai tôi nghe, mắt tôi thấy… tại trận chiến, tại Căn cứ Hỏa Lực 30, và cảm nghĩ của tôi đối với cuộc viễn chinh lịch sử này…”

Nhờ những buổi thuyết trình trên, các Phái Đoàn đã giúp cho chúng tôi khá nhiều kinh nghiệm quý báu, nhờ ở sự khách quan nhận xét trong nhiều cuộc thuyết trình trước đó của binh chủng bạn…

Trở lại hành quân, ngày 17-4-1971, tôi được biết là ngày Đại lễ “Khao Quân Mừng Chiến Thắng Lam Sơn 719” tổ chức trọng thể tại Cố Đô Huế, dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Nguyễn-Văn-Thiệu.

Từ Bộ chỉ huy Tiểu đoàn, Thiếu Tá Nguyễn-Văn-Tự Tiểu Đoàn Trưởng, hướng dẫn Trung Úy Quang Sĩ quan Tiếp Liệu, Trung Sĩ nhất Mân Hạ Sĩ quan truyền tin trong các Ban tham mưu Tiểu Đoàn, đại diện cho toàn thể 3 Pháo Đội Tác Xạ A, B, C ra Huế tham dự… và cũng đại diện nhận lãnh những tưởng thưởng mang lại bởi các chiến tích của chính chúng tôi gặt hái được tại Căn cứ A Lưới, 30, Lao Bảo!

…Lúc 8g00, từ đồi 55, tôi mở radio nghe trực tiếp truyền thanh tất cả những gì đang xảy ra trong buổi lễ… Tiếng nhạc quân hành đến những lời giới thiệu các Quân Binh Chủng, cùng những chiến quả vẻ vang… dồn dập… dồn dập… khơi lại trong lòng tôi bao cảm nghĩ miên man về những gì tôi đã thấy được, nghe được và ngửi được tại Căn cứ Hỏa Lực 30: Chiến xa địch cháy, biển người Cộng quân tan xác quanh căn cứ… trên bãi trực thăng…, mùi hôi thúi nồng nặc phả vào vị trí… tất cả… tất cả… hiện dần trong tâm tư tôi như cuộn phim quay chậm, thật chậm… hình ảnh rất nổi, rất rõ!…

Nằm dài trên ghế bố với bộ quân phục tác chiến, tôi nhìn vơ vẩn lên nóc Đài Tác Xạ, tay không rời điều thuốc… tôi hút như điên. Hết rít hơi này đã tiếp hơi khác, hết điếu này lại đến điếu khác. Tôi cố xua đuổi những hình ảnh chém giết, sát phạt mà hậu quả là xác người chồng chất lên nhau, kẻ mất đầu lòi ruột, kẻ nát thây, cháy đen!… Trong đó, chính tôi đã chỉ huy Pháo Đội C 155 ly góp phần với Tiểu Đoàn 2 Dù, Pháo Đội C3 Dù thu đạt được.

Tôi không tin số thương vong của Cộng quân là 16.244 mạng! Tôi không tin! Ít ra phải gấp đôi, gấp 3 lần số đó. Vì hơn ai hết, chúng tôi – những người đã tử thủ Căn cứ Hỏa Lực 30 – nhìn được tận mắt không biết bao nhiêu xác giặc trên lộ trình di chuyển, lúc rời căn cứ. Số xác ấy, Tiểu Đoàn 2 Dù đã không thể kiểm được, sau những trận đánh liên tục, kéo dài từ ngày 26-2-1971 đến ngày 3-3-1971! Và đó mới chỉ là số xác chúng tôi khám phá khi di chuyển về hướng Nam, trên một triền đồi do chúng tôi tự vạch lau cỏ mà đi, rộng không quá 20 thước, dài khoảng 1000 thước – huống hồ kiểm kê cả chu vi rộng lớn bao quanh vi trí, nhất là hướng Bắc, Đông Bắc và Đông, thì đếm sao cho xuể!

Bất giác tôi thở dài, tự làm một so sánh: tỷ lệ thiệt mang giữa ta và địch – dưới mắt tôi, tại Căn cứ Hỏa Lực 30 – ít ra cũng là 1/100. Thật là khó tin nếu không chứng kiến như chúng tôi.

…Dĩ vãng trở về với tôi nhanh quá! Mới ngày nào đây, trên đồi đầy sỏi ở Hạ Lào, tôi cùng các chiến hữu đã kiên cường chận địch, vui buồn chia xẻ cho nhau, nguy nan không rời bỏ nhau… khơi lại cho tôi cái điều làm cho tôi quyết tâm chiến đấu lúc bấy giờ… Điều đó là:

– Tôi muốn sống trong chế độ tự do của miền Nam thân yêu này.

– Tôi không muốn tôi cùng các chiến hữu bị bắt làm tù binh.

– Tôi không muốn sống dưới chế độ độc tài đảng trị – mà hơn một lần tôi đã chứng kiến cảnh đấu tố dã man rùng rợn ở Quảng Nam.

– Tôi không muốn chết bỏ thây nơi xứ người.

Chỉ có bấy nhiêu điều đã thúc đẩy tôi chiến đấu một mất một còn với địch. Ấy vậy mà lúc thấy xác giặc la liệt trên bãi chiến, lòng tôi đăm se lại! Trong tình thương yêu bao la đối với các chiến hữu đã hy sinh đền nợ nước của ta, có một tí khoảng trống nào đó, để tôi nghĩ đến cái chết thê thảm của những người Bắc-Việt đã bị đầu độc bởi tà thuyết Cộng sản, Chủ nghĩa Mác-Lê!

Sông Gianh, một sỉ nhục của Quốc gia trong thời Trịnh-Nguyễn phân tranh ở thế kỷ trước, hậu quả là tạo nên cảnh tương tàn đằng đẳng nửa thế kỷ! Cuối cùng, ông cha chúng ta đã phải trả một giá rất đắt bằng chém giết vô cùng man rợ, mới thống nhất được giang sơn về một mối.

Ngày nay, giòng Bến Hải, “Giòng sông ô nhục” lại giẫm lên vết xe cũ, do tập đoàn lãnh đạo Cộng đảng, đang tâm chia cắt hai miền, rồi xảo trá tạo ra những “bình phong” che mắt dư luận nước ngoài bằng “Mặt trận” này, “Tổ chức” nọ… phát động cuộc trường kỳ chiến tranh gọi là “Chiến Tranh Nhân Dân” – đến ngót một phần tư thế kỷ – cố tình khuất phục hai miền Nam-Bắc hủy diệt bản ngã con người, bất chấp mọi hành động, mọi phương diện, miễn đạt được cứu cánh: Nhuộm Đỏ toàn vùng Đông-Nam-Á!…

Với dã tâm trên, giới lãnh đạo miền Bắc đã nhẫn tâm xua đám dân đen, đẩy vào lò lửa đỏ, dùng chiến thuật biển người đối với vũ khí, cơ giới, của thời đại tân tiến này! Tiếng hò hét xung phong điên cuồng của hàng ngàn hàng vạn Cộng quân, không át nổi tiếng nói thì thầm khơi lên từ lương tri của những ai có nhiệt tâm muốn vá lại “tấm dư đồ rách”. Mọi công dân Việt Nam chúng ta, tự thấy công phẩn trong hành động của Cộng nô!…

Nếu đã chứng kiến và thật tâm đau xót trước cảnh con mất cha, vợ mất chồng, hoặc bùi ngùi cảm động khi nghĩ đến các chiến hữu gan dạ đã gởi một phần thân thể ở chiến địa, để bảo vệ chính đáng miền Nam tự do này — Tôi lại chua xót liên tưởng đến những tan nát của hàng vạn gia đình người Việt, vì áp lực của guồng máy cai trị miền Bắc, vì nghe lời đường mật, bịp bợm, với một hệ thống tuyên truyền xảo trá tinh vi của tập đoàn Cộng sản miền Bắc… giờ đây, phải sống thoi thóp trong cảnh bần cùng hóa, chịu tất cả những thiếu thốn cùng cực từ tinh thần đến thể xác của một kiếp người, sau khi cha, anh họ đã hóa ra những chiến sĩ vô danh, gởi xác chốn rừng thiên nước độc, nơi đất lạ quê người, để nhận những lời ca tụng hão huyền của Đảng và Bác!…

Thật sự, tôi không hãnh diện khi nghĩ rằng chính mình đã góp công giết hàng ngàn hàng vạn “Việt” cộng. Trái lại, tôi hãnh diện vì đã góp một phần nhỏ, rất nhỏ, trong công cuộc phá tan hậu cần vĩ đại, gồm cả nhân vật tài lực của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản miền Bắc. Chính nhờ vào nguồn nhân vật lực tồn trử ở Hạ Lào này, chúng đã gây rối cho cả ba quốc gia ưa chuộng hòa bình nhất: Nam Việt-Nam, Cao-Miên, Ai-Lao, triền miên từ năm này qua năm khác!…

Giờ đây, xa cái phút háo hức sát phạt tại chiến trường để bảo vệ mạng sống cho chính mình và đồng đội, tôi có đủ bình tĩnh nhìn lại bước đường đã qua với sự thanh thản trong lòng, vì đã hoàn thành sứ mạng của một giai đoạn. Cái sứ mạng đó là chúng tôi đã thực hiện phần nào công cuộc chận đứng, hoặc ít ra đã làm giảm thiểu những sách nhiễu, giết chóc, khủng bố của cái gọi là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” – một chiêu bài của chính quyền Cộng sản miền Bắc.

Các nhà độc tài, chủ trương Đảng trị miền Bắc phải biết rõ, thấy rõ, nghe rõ… và chịu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc. Nhưng trí họ bị nhiễm độc Duy vật biện chứng, mắt họ đui, tai họ điếc… Hậu quả họ đã gây nên tang tóc cho cả một dân tộc, gây nên tai nạn khủng khiếp cho cả một thế hệ trẻ của thế kỷ 20 này!…

…Tiếng kèn khai quân hiệu, bế quân hiệu kéo tôi về thực tại. Tôi im lặng, lắng nghe những diễn tiến nối tiếp vang vọng từ chiếc radio bé nhỏ… hẳn giờ phút này không ít kẻ như tôi – những người từng đối diện với tử thần trong cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 – không được may mắn tham dự Đại Lễ “Mừng Chiến Thắng”, đang ngồi trước máy truyền thanh, tự mình ôn lại những kỷ niệm khủng khiếp vừa qua. Chắc chắn tâm hồn họ bàng bạc những suy tư về một nghĩa vụ cao cả mà họ đã hoàn thành.

Chiến tranh, tự nó đã tiềm ẩn những hành động dã man! Những kẻ tạo ra chiến tranh lại còn dã man hơn nữa! Kẻ đó lịch sử dân tộc sẽ không bao giờ tha thứ, cho dù nó có ngụy trang dưới hình thức này hoặc hình thức khác. Nhân dân miền Nam sẽ không bao giờ quên mối hận “Giòng sông ô nhục Bến Hải” mà kẻ đang tâm chia cắt, không ai khác hơn là chính quyền miền Bắc, bọn Cộng nô cho quan thầy Trung-Xô!

25 năm chinh chiến trôi qua! Bao nhiêu ruộng vườn tan nát! Bao nhiêu xương máu con dân Việt trải khắp nẻo đường quê hương! Chưa vừa ư? Đất mẹ đã bao lần rên rỉ dưới gông cùm xiềng xích của Tàu phù hằng mười thế kỷ, không đủ là kinh nghiệm cho bọn lãnh đạo miền Bắc ư? Bài học Đức Quốc ngày nay không đủ thức tỉnh cơn mê loạn háo sát của chính quyền miền Bắc ư? Từng ấy ý tưởng cứ quay cuồng trong tâm trí tôi như là một duyên cớ chính đáng, để tôi nghĩ rằng, tôi và các chiến hữu đã có lý khi tham dự cuộc chiến Hạ Lào.

Với ba năm mang cấp bậc Đại Úy, tôi đã liên tiếp nắm giữ Pháo Đội Chỉ Huy, rồi Pháo Đội Tác Xạ. Từ hai năm sau cùng, không rời cuộc sống tập thể trong giây phút nào, tôi đã thông cảm quá nhiều những ưu tư của pháo thủ thuộc hạ trong cuộc sống bình thường, cũng như lòng gan dạ phi thường lúc đối đầu với địch…

Thượng tuần tháng 10-1970, ngày tôi chính thức về sống với Pháo Đội C – Cuộc Hành Quân Lam Sơn 719 quả thật là cuộc hành quân vĩ đại! Hân hạnh Pháo Đội C được tham dự ngay từ phút đầu của cuộc vượt biên với một chiến quả đáng kể. Do chiến quả này, Pháo Đội tôi có 101 quân nhân được tưởng thưởng. Trong đó, 3 Hạ sĩ quan và 7 binh sĩ mang cấp bậc mới. Tất cả số còn lại – kể cả tôi, đều được huy chương!

Sau hai tháng “Mừng Chiến Thắng Lam Sơn 719”, ngày 18-6-1971 tôi được gọi về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, cùng một số pháo thủ đại diện Pháo Đội C dự lễ gắn huy chương.

10g00, Đại Tá Vũ-Bình-Chung đến chủ tọa buổi lễ…

Tôi được Đại Tá đại diện Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH gắn một anh dũng bội tinh với nhành dương liễu ngay tại sân cỏ Tiểu Đoàn! Lân, một anh dũng bội tinh với ngôi sao vàng!

…Giờ đây, tất cả những gì đã qua, sẽ theo thời gian chìm vào dĩ vãng! Định luật của tạo hóa quay theo thời gian không bao giờ trở lại khởi diễn – nhưng dư âm của cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào – chắc chắn sẽ không bao giờ phai nhòa trong ký ức những ai đã tham dự trực tiếp, đối diện với Tử Thần. (Hết)

Viết xong tại Đồi 55 Đất Sơn lúc 12g00 ngày 9 tháng 5-1971

(Phật lịch 2515, 15 tháng 4 ta, Tân Hợi)

(Thêm chương cuối ngày 20 tháng 6 năm 1971)

Tác giả

TRƯƠNG-DUY-HY 

(*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 2-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Đồi 30 Hạ Lào (kỳ 25)

Trương Duy Hy

Trần Vũ post

December 1st, 2020

Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Tổng Thống VNCH 1972

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

 Tiếp Xúc Ủy Ban Yểm Trợ Chiến Trường

Và Nói Chuyện Trên Vô Tuyến Truyền Hình Tại Huế.

Ngày 2-4-1971, thi hành chỉ thị của Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn I, tôi hướng dẫn một số chiến hữu Pháo Binh có công trong cuộc Hành quân Lam Sơn 719, tháp tùng Phòng Tâm Lý Chiến thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I vào Huế – do lời mời của Ủy Ban Yểm Trợ Chiến Trường sở tại tổ chức, đồng thời cũng là dịp để trình bày cho đồng bào hậu phương, những sự kiện trung thực đã xảy ra tại mặt trận Hạ Lào, tại mỗi nơi mà chính mỗi chúng tôi đã chứng kiến trong lúc chiến đấu.

Hơn 9g00 chúng tôi rời Đông Hà. Đi với tôi có BI Huy, Đại Úy Thìn đại diện cho các chiến hữu Tiểu Đoàn 62 Pháo Binh. Thiếu Úy Hiền đại diện cho Tiểu Đoàn 64 Pháo Binh cùng một vài Hạ sĩ quan, binh sĩ thuộc các tiểu đoàn liên hệ trực tiếp tham dự cuộc chiến Hạ Lào.

Đến Huế, chúng tôi nhận ngay sự tiếp đón nồng nhiệt của Đại Úy Tôn-Thất-Đàm, Đại Đội Trưởng Đại Đội Chiến Tranh Chính Trị. Mặc dầu Đại Úy đã đặc tâm lo lắng cho chúng tôi chỗ nghỉ ngơi khang trang với đầy đủ tiện nghi… nhưng đa số anh em chúng tôi lại chỉ muốn tự do trong thơ mộng của “Đêm tàn Bến Ngự”, “Trăng nước sông Hương”!…

Ngày 3-4-1971 khoảng 8g00, Đại Úy Đàm hướng dẫn chúng tôi đến Đài Truyền Hình Huế. Tại đây, một số các bạn trong Ủy Ban Yểm Trợ Chiến Trường, cùng một số đồng bào và các em nam-nữ sinh đang đợi chúng tôi. Trên khuôn mặt mọi người đều tỏ vẻ vui mừng, niềm nở…

Trong thời gian chờ đợi nhân viên Đài Truyền Hình chuẩn bị hệ thống thu hình, một nữ sinh trạc độ 17 tuổi, sau khi xem được những tấm hình do tôi chụp được tại Căn cứ Hỏa Lực 30, nhằm lúc tác xạ yểm trợ, tịch thu vũ khí địch… đã hỏi tôi:

– Thưa Đại Úy, mình đánh thắng vậy, sao em nghe các anh Pháo Binh rút lui, bỏ súng lại bên Lào hết?

Câu hỏi thật ngắn, gọn, nhưng quả thật là một câu hỏi rất khéo mà chắc rằng đồng bào hậu phương – những người quan tâm đến cuộc chiến hẳn ít nhiều cũng thắc mắc như thế. Tôi không ngờ câu hỏi ấy lại được thốt trên đôi môi mọng đỏ, duyên dáng của một cô bé học sinh!

Tôi đã trả lời không suy nghĩ:

– Để giải đáp câu hỏi của em, hay đúng hơn, những thắc mắc mà em vừa nêu lên, anh sẽ giải đáp từng điểm một, những gì anh biết và nhìn thấy tận mắt trong những ngày các anh tử thủ Căn cứ Hỏa Lực 30 – Nơi đó, chính anh và các chiến sĩ Dù trực tiếp chiến đấu từ đầu đến cuối.

Trước tiên, anh đề cập đến việc “rút lui”. Các anh đã rút lui như thế nào? Lúc tất cả các đại bác của các anh bị tê liệt, các anh phải di chuyển theo Tiểu Đoàn 2 Dù chiến đấu. Sau đấy, các anh được trực thăng vận về Khe Sanh nhận súng mới, rồi trở lại chiến trường, tiếp tục tác xạ yểm trợ. Việc rời Căn cứ Hỏa Lực 30 là nhiệm vụ các anh tuân hành thượng lệnh. Riêng Tiểu Đoàn 2 Dù, sau khi đưa các anh về, vẫn tiếp tục đánh bọc ra mặt Tây căn cứ, tịch thu rất nhiều chiến lợi phẩm, phá hủy rất nhiều kho tàng trữ quân trang dụng, máy quay ronéo, máy truyền tin… mãi đến ngày 20-3-1971 — nghĩa là sau 17 ngày chiến đấu nữa, mới triệt thoái về Khe Sanh. Như thế là các anh đã chiến đấu, chứ có lui theo cái nghĩa địch tấn công, đẩy lực lượng ta ra khỏi căn cứ đâu.

Thứ nữa, các anh có bỏ súng cho địch dùng không? — Đối với các anh là những Pháo thủ chuyên nghiệp. Mỗi đại bác có hàng trăm cơ phận… các anh chỉ cần siết chặt một con ốc, đại bác tức khắc sẽ biến thành một khối sắt khổng lồ, cho dù có xử dụng đến xe cần trục hàng chục tấn cũng không thể lôi khỏi cơ bẩm để nạp đạn vô nòng! Lại nữa, các anh có thể rút bỏ vài cơ phận thật nhỏ nhưng rất quan trọng như kim châm hỏa, cần vận dụng… thiếu một trong hai món này, đại bác 155 ly của anh chỉ còn có mỗi một công dụng: triển lãm! Việc tháo gỡ những cơ phận đó, để chôn giấu hoặc vứt ra ngoài vị trí, rất dễ dàng, nhanh chóng.

Chắc các em đã đọc báo tường thuật trận đánh ở căn cứ LoLo? Ở đấy cũng có Pháo Binh. Khi địch bám sát căn cứ, lệnh triệt thoái ban hành thật khẩn cấp… Hàng chục trực thăng đáp xuống chớp nhoáng trong vòng 5-10 phút, di chuyển tất cả quân nhân rời căn cứ. Địch không kịp trở tay: sau đó, chúng ào lên căn cứ thu chiến lợi phẩm với dụng tâm lấy chiến cụ của ta làm phương tiện tuyên truyền, khuếch trương chiến quả… nhưng, đồng thời, B52 lao đến, lấy căn cứ làm tâm điểm, dội bom phá tan căn cứ!… Dẫu có khó tính bao nhiêu, ta cũng không thể phủ nhận cái giá mà địch phải trả về sinh mạng – giá đó – tính ra hàng ngàn tên chứ không thể ít hơn được!

Thế cho nên, khi để lại những khối sắt khổng lồ – sau khi đã tiêu hủy những cơ phận thiết yếu – đem đánh đổi hàng ngàn Cộng quân, là điều không chối cãi rằng chúng ta đã thắng. Phương chi, đối với Quân Lực ta, các vị Tướng Lãnh đều có đồng một quan niệm bảo vệ tối đa sinh mạng của binh sĩ, tiết kiệm tối đa xương máu của thuộc hạ – Để chứng minh điều này, có bao giờ các em nghe Quân Lực VNCH dùng chiến thuật biển người chống cộng không? Trong lúc đó thì Cộng quân thí mạng một cách điên cuồng.

Từ những sự kiện trình bày trên, hẳn các em đã có một ý niệm việc để lại các khối sắt khổng lồ hàng ngàn ký kia, đã nằm trong chiến thuật “đánh lừa địch” của Bộ Tư Lệnh Hành Quân chớ đâu phải bỏ súng bên Lào để Cộng quân tịch thu một cách dễ dàng!

Tại Căn cứ Hỏa Lực 30 của anh cũng vậy. Với cao độ 727 thước, địch đã “ê răng, ê càng” thảm bại suốt 7 ngày tấn công liên tiếp đến nổi chúng không dám xung phong nữa! Mặc dầu các anh em đã rời căn cứ hai ngày. Về sau, căn cứ được phá hủy bằng bom do phản lực cơ và B52 thi hành, chắc chắn không còn sót một mảy may nào quân trang quân dụng dưới sức công phá khủng khiếp của những trận mưa bom này!

…Lúc vào phòng thu hình, chúng tôi trả lời đủ các câu hỏi của mọi người. Tuy nhiên, chúng tôi xác nhận rằng: Những câu trả lời của mỗi chúng tôi là những lời trình bày lại một sự thật, ở mỗi chỗ chúng tôi chiến đấu, thấy và nghe được những gì đã xảy ra, chứ không là đại diện cho cả binh chủng, cho tất cả các chiến hữu đã tham dự cuộc hành quân, kéo dài từ Khe Sanh đến Tchépone, từ ranh giới hoạt động phía cực Bắc của Liên Đoàn Biệt Động Quân đến phía cực Nam của Sư Đoàn I Bộ Binh…

Nhân dịp này, tôi không quên đề cập mẩu chuyện của Đại Úy Thìn thuật lại việc săn tin của các phóng viên ngoại quốc. Mẩu chuyện ấy điển hình – có lẽ thế – cho một vài phóng viên chiến trường say mê với thiên chức:

…Hôm ấy, Thìn cùng Pháo Đội anh được trực thăng vận vào Căn cứ Sophia, đó là căn cứ có pháo binh chiếm đóng, sâu nhứt trong nội địa Lào để yểm trợ trực tiếp cho các tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn I Bộ Binh hoạt động tại Tchépone.

Ngay khi đặt chân đến vị trí, Cộng quân liền chào Pháo Đội anh bằng những loạt pháo kích hỏa tiễn! Vì vậy, quân nhân trong Pháo Đội anh vừa phải bắt tay thiết lập các công sự, lại vừa phải phản pháo và tác xạ yểm trợ… thôi thì không còn một phút nào ngơi nghỉ. Tại đấy, có một phóng viên người Nhật (tôi quên tên) – kể ra anh cũng khá can đảm, và là một phóng viên chiến trường duy nhất, đi theo một đơn vị chiến đấu vào sâu nội địa Lào nhất – đã từng lao mình thu được những tấm hình cận chiến giữa lúc thiết giáp ta giao tranh với chiến xa địch, bằng viễn vọng kính cài trên máy ảnh.

Không biết bấy giờ anh định làm gì mà ôm đồ nghề vượt sườn đồi tiến lên vị trí Thìn. Cùng lúc đó, một pháo thủ đang vác trên vai một khúc cây khá dài, nặng, tiến song song và cách chàng phóng viên ngoại quốc nọ vài ba thước. Bỗng có tiếng hú ghê rợn của hỏa tiễn thấp dần… thấp dần… vượt qua đầu… anh bò lê bò càng, để tung tóe đồ nghề trên đất… trong lúc, pháo thủ của Thìn thả một đầu cây xuống đất, một đầu tựa vào vai đứng nhìn anh ta cười ha hả!… Anh có vẻ mắc cở – theo lời Thìn – lồm cồm đứng dậy đi lượm lại ống kính, máy ảnh…

Có lẽ anh ta đã khiếp đảm vì trải qua nhiều trận pháo kích nặng nề, hoặc có thể anh chưa kinh nghiệm với những tràn pháo kích “lai rai” của địch mà lệ thường, khi còn nghe được tiếng hú của hỏa tiễn, của đại bác địch, thì chắc chắn chỗ đứng của mình yên như bàn thạch. Vì như thế, điểm nổ đã cách xa, do đó, chàng pháo thủ nhà ta bình chân như vại!

Sau đấy, anh ta tiến lên gặp Thìn, xin được quay phim cảnh làm việc của pháo thủ, cảnh tác xạ của Pháo đội… Đang khi nói chuyện, anh đăm đăm nhìn cái nón sắt bị thủng một lỗ lớn, do mảnh đạn pháo kích xé rách, trên đầu một pháo thủ đang bê càng súng…

Lân la đến cạnh chàng pháo thủ, anh tự tay cầm lấy cái nón sắt hai lớp mới toanh của anh, xin đổi lấy nón sắt của chàng pháo thủ. Nhưng đổi không được, vì đó là kỷ niệm hi hữu trong đời binh nghiệp của chàng ta. Anh bèn gạ gẫm xin bù thêm 10 đô-la cùng với bộ nón sắt mới ấy!… Cuối cùng, chàng pháo thủ vẫn khăng khăng không “thèm” đô-la! Dĩ nhiên, trong cuộc mặc cả này, anh phóng viên ngoại quốc kia xử dụng loại ngôn ngữ “quốc tế” bằng cử chỉ hơn là bằng tiếng nói. Vì anh là người Nhật.

Ngoài ra, Thìn còn kể cho tôi nghe việc các phóng viên ngoại quốc đi săn tin tại chiến trường: Họ không bao giờ dám rời trực thăng quá 5 phút! Đến nơi là họ nhào vội vào hầm tránh pháo kích. Còn hỏi thì được mấy ai biết rành sinh ngữ để trả lời?!… Bởi vậy, các bản tin chiến trường do các vị phóng viên này gởi đi, hầu hết thiếu hẳn sự trung thực, mặc dầu có vài trường hợp may mắn họ đã đến tận nơi… Đã không trung thực lại chấp nối những hình ảnh trận Điện-Biên-Phủ của năm 1954, thì quả thật là khôi hài!

Sự kiện trên, làm cho tôi tưởng tượng – mà không nhầm – rằng, nếu chàng pháo thủ của Thìn bằng lòng đổi bộ nón sắt kèm theo thêm 10 đô-la kia, thì sau này cái nón sắt lủng nọ, sẽ tạo biết bao huyền thoại oai hùng cho vị phóng viên Nhật!

Trong buổi nói chuyện hôm nay, riêng phần Pháo Binh, Đại Úy Thìn trình bày hoạt động do Pháo Đội Thìn chỉ huy, từ lúc trực thăng vận chiếm đóng căn cứ Sophia, với tất cả những hiểm nguy, gian khổ, kéo dài cả tuần lễ. Nhưng cuối cùng, nhờ sự gan dạ và nhất là tình đồng đội gắn bó, Thìn đã cùng các pháo thủ của anh hoàn tất nhiệm vụ yểm trợ một cách hữu hiệu, nhất là diện đối diện trực xạ với Cộng quân mà cả đôi bên đều nhìn thấy nhau, thách thức nhau…

Thiếu Úy Hiền, bằng giọng nói “pur ” Quảng Nam trung thực thuật lại những lúc vừa tác xạ hổ tương cho căn cứ chúng tôi lại vừa trực xạ với khoảng cách dưới 1000 thước chống các ổ súng 57, 75 ly bắn thẳng của địch tại Căn cứ Phú Lộc.

BI Huy kể lại trận đánh tràn vào bãi đáp mà chính Huy đã chạy đến góp phần với các nhân viên khẩu 4 của HSI Cũ, trực xạ với khoảng cách ngắn nhất từ 50 đến 100 thước, chận đứng cuộc tấn công biển người bên ngoài tuyến thứ nhì.

Trung Úy Lân kể lại phút nghẹt thở nhất khi trực xạ chống thiết giáp địch…

Cuối cùng, chúng tôi được Ủy Ban Yểm Trợ Chiến Trường mời về dùng cơm tại Câu Lạc Bộ Huế, trước khi chia tay trở lại đơn vị.

Cùng buổi sáng này, toàn bộ Tiểu Đoàn 44 Pháo Binh di chuyển từ Đông Hà về Đà Nẵng. Trung Úy Vinh thay tôi lãnh trách nhiệm tháp tùng các Pháo Đội và Bộ Chỉ Huy theo quốc lộ I trở lại Hòa Cẩm.

…Sau khi rời Đại Úy Đàm, tôi đi thẳng về hậu cứ tiếp tục nhận lãnh công tác mới do Tiểu Đoàn chỉ định. Rạng ngày 5-4-1971, chúng tôi di chuyển đến thay thế nhiệm vụ của một Pháo Đội 155 ly, thuộc Tiểu Đoàn 20 Pháo Binh của Thiếu Tá Trần-Thanh-Hào, đồn trú tại đồi 55 Đất Sơn.

Trình diện Trung Tá Thục, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 51 xong, tôi bắt đầu làm việc với chức vụ Pháo Đội Trưởng Pháo Đội C kiêm Sĩ Quan Phối Hợp Hỏa Lực của Trung Đoàn này.

…Lân rời bệnh viện, liền được Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đề cử đi Sàigòn, theo lời mời của BCH/PB/QLVNCH… Rồi từ đấy, Lân không còn hợp tác với tôi nữa mà nhận một chức vụ mới tại BCH/TĐ.

Được tin Pháo Đội C/TĐ44 PB về Đà Nẵng, đồng bào Đại Lộc gởi quà cáp đến biếu, gởi thư hỏi han và đến tận nhà thăm viếng! Tôi không ngờ đồng bào đã dành cho Pháo Đội chúng tôi một niềm ưu ái lớn lao như thế! Thâm tâm của mỗi chúng tôi, thường vẫn nghĩ rằng: công tác xã hội thực hiện tại Đại Lộc vừa qua là bổn phận của mỗi quân nhân trong Đại Gia Đình Quân Đội. Nhưng dù sao, lòng cảm mến chân phác của đồng bào cũng đã an ủi chúng tôi, và hơn thế nữa, đã khích lệ chúng tôi rất nhiều trong nhiệm vụ chiến đấu, tạo cho chúng tôi một quan niệm sống phù hợp với lý tưởng mà Quân Đội đòi hỏi “Do dân mà ra – Vì dân mà chiến đấu” và cứu cánh là phải “Bảo vệ dân – Giúp đỡ dân” trong mọi trường hợp với khả năng cơ hữu.

Bây giờ, Pháo Đội tôi chỉ còn hai bàn tay trắng! Tất cả công trình kiến tạo nên những phương tiện thiết yếu tại Đài Tác Xạ, cho nếp sống tập thể của Pháo Đội do mồ hôi và sức lực của anh em, đều bị tan nát tại Căn cứ Hỏa Lực 30. Duy chỉ còn tinh thần đồng đội, thiện chí làm việc, chịu đựng gian khổ nảy thêm lợi tức – Cái lợi tức ấy vốn dĩ đã tiềm ẩn trong buồng tim, khối óc của mỗi pháo thủ, trộn lẫn với hoàn cảnh vào sanh ra tử, chung lưng đấu cật, chịu đựng gian khổ trong một chiến trận vô cùng khốc liệt kéo dài cả tháng… Quả thật, anh em chúng tôi thương yêu nhau hơn bất cứ lúc nào.

Âm thầm xây dựng lại Pháo Đội, chúng tôi đã thách thức trở ngại, can đảm dấn thân trong nhiệm vụ mới với tất cả sự thiếu thốn về vật chất. Khởi điểm bằng con số “không”, nhưng dồi dào nghị lực và kiên trì vào sự hình thành tốt đẹp bởi những thực hiện cụ thể, hữu hiệu hôm nay và ngày mai tại Pháo Đội C này. (Còn tiếp)

TDH, 1971

Kỳ sau: KHAO MỪNG CHIẾN THẮNG LAM SƠN 719   

 (*) Trần Vũ đánh máy lại tháng 2-2019 từ bản in của Nxb Đại Nam 1980. 

(**) Lexique: Tiểu Đoàn (TĐ), Bộ Chỉ Huy (BCH), Pháo Binh (PB), Pháo đội C (PĐC), Trung Sĩ Nhất (TSI), Trung Sĩ (TS), Hạ Sĩ Nhất (HSI), Hạ Sĩ (HS), BI (Binh nhất), B2 (Binh nhì).

(***) Ảnh minh họa sưu tập từ Beaufort County Now, Dòng Sông Cũ, Hoàng Sa, Pinterest, Cherrieswriter, vuhmai.blogspot, Getty Images, Militaria, Nam magazine và vnaf.

Huyệt đào trên mộ

damau.org

Hoàng Chính

Post on 15 Mar 2021

Dựa theo lời kể của Bác sĩ LND, một bạn học cùng lớp năm xưa. Tranh minh họa: HC

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

“Đừng chôn sâu quá, mai mốt khó…” tôi buột miệng nói và sựng ngay lại.

Từ dưới cái hố mới sâu gần tới đầu gối, Cu Anh, gã thanh niên đang hì hạch đào đất nói vọng lên, “Đất cứng quá trời là cứng.”

Chợt có tiếng loạt soạt từ bụi cây sau lưng. Không ai bảo ai, chúng tôi đồng loạt quay đầu lại, nín thở, mắt săm soi bóng tối. Tiếng động ấy im bặt. Chắc là một con rắn ráo. Tôi thầm nghĩ. Vùng này nhiều rắn ráo, rắn ráo không có nọc độc nhưng cũng phải cẩn thận. Từ lúc mới chuyển về đây tôi đã được thông báo như thế.

Im lặng một lát, Cu Anh lại đều tay xới đất. Cầm đèn bin đứng cạnh tôi, Cu Em – em ruột của Cu Anh – lên tiếng, “Chừng nào mình trở lại hả ông thày?”

Tôi ngập ngừng, “Chắc khoảng vài tháng.”

“Sao lâu vậy?”

“Phải chờ cho da thịt rữa hết đã.”

“Đúng rồi há.” Cu Em gật gù, cái đèn bin trong tay cũng lúc lắc, ném vạt ánh sáng chập chờn lên nền đất khô đầy rác vụn thay vì soi thẳng vào cái hố đang đào dở dang.

Tiếng xẻng xới vào đất chợt ngừng. Cái hình người đen thui đang lúi húi trong bóng tối nghểnh cổ lên, cất giọng khàn khàn, “Rọi đèn đàng hoàng coi mày!”

Một làn gió nhẹ vật vờ lướt qua. Cái lạnh luồn vào sống lưng, tôi kéo cao cổ áo, rùn vai chắn gió. Hơn nửa tiếng đồng hồ ngồi nhấp nhổm trên băng ghế gỗ chiếc xe La Dalat cũ kỹ, tay bám thành ghế, chân đè cạnh chiếc băng ca cho xác chết khỏi tuột xuống đường, suốt đoạn đường từ bệnh viện đến đây, mấy đứa chúng tôi – một tài xế cầm tay lái, bốn hành khách ngồi trong lòng xe – chẳng ai nói với ai một lời, bây giờ bỗng dưng đứa nào cũng nhiều chuyện. Tôi nghĩ hai anh em có cái tên nghe vui tai: Cu Anh và Cu Em này chắc cũng gai gai nỗi sợ như tôi nên cái miệng lào xào không ngớt.

Lại có tiếng sột soạt trong bóng tối. Đang đào huyệt, Cu Anh ngưng tay, nghe ngóng. Cu Em cầm đèn bin xoay vòng, ánh sáng vương vãi lên những khóm lá xanh. Cả bọn nín thở, dõi mắt theo ánh đèn. Trên tấm màn nhung đen thẫm của đêm chợt nhập nhòe hai đốm sáng biếc xanh. Ở đây không có cọp beo. Tôi thầm trấn an mình.

Tiếng lạch cạch vang lên sau lưng. Gã bảo vệ – tôi không nhớ tên – gồng hai cánh tay như muốn siết cổ khẩu AK, rồi xoay người chĩa mũi súng vào bóng đêm. Tôi dán mắt vào cái vệt đen thẫm nhòe trong vũng đêm với hai đốm sáng biếc xanh. Rồi hai viên ngọc xanh ấy biến đi, tiếng sột soạt trên cỏ xa dần.

“Con mèo hoang.” Tôi thì thào. Gã bảo vệ hạ khẩu súng xuống.

“Đào tiếp đi,” tôi nhắc.

Tiếng xẻng sắt cày vào đất cằn lại sần sượng vang lên.

Tôi nhìn quanh. Trời đất tối mù. Dường như trời sắp mưa bởi mây mù giấu đi những vì sao mọc sớm. Những tàng cây rậm lá đu đưa trong gió nhẹ. Mùi đất khô gây gây lẫn trong thoáng hương dịu dàng của một loài hoa dại nào đó lâng lâng trong không khí. Trong vũng sáng đèn bin nhợt nhạt, lờ mờ bóng Cu Anh – dưới cái hố hình chữ nhật – cúi xuống, ngẩng lên nhịp nhàng với cái xẻng đầy đất khô quăng lên miệng hố.

Đột nhiên ánh sáng từ ngọn đèn bin mờ dần.

“Hết bin rồi.” Cu Em lắc mạnh cái đèn bin trong tay. Ánh đèn lờ mờ hé lên rồi tắt ngấm.

“Đèn bin ít khi xài sao lại mau hết bin vậy,” Tôi cằn nhằn, gỡ cái đèn bin từ tay Cu Em, xoay xoay nút vặn và đập nhẹ vào lòng bàn tay. Vô ích. Bóng tối vẫn bủa vây bọn chúng tôi.

“Có đem theo bin sơ cua không?” Tôi hỏi.

Không có tiếng trả lời. Và tôi nhớ ra. Từ dạo chiến tranh biên giới phía tây nam bùng lên, không hiểu sao điện trong bệnh viện bị cúp hoài. Và khi cúp điện thì phải cần đến đèn bin. Có lần điện cúp ngay khi đang mổ cho bệnh nhân. Không có cái đèn bin này thì chẳng biết làm sao.

“Chạy ra mượn ông gác cổng cái đèn dầu,” tôi nói.

“Đèn dầu tối hù, lỡ gió thổi tắt mất tiêu,” Cu Em nhanh nhảu. “Hay là mình kêu thằng tài xế chạy xe sát vô, rọi đèn pha cho mình.”

Và không chờ tôi đồng ý, nó xoay lưng, quẹt một que diêm, rón rén từng bước trên nền đất gồ ghề, về phía cái bóng lù lù của chiếc xe đậu trên lối mòn.

Chúng tôi đứng, ngơ ngáo như những hồn ma trong nghĩa địa. Gió đêm mơn man như những ngón tay ai đó vuốt rờn rợn trên mặt, trên cổ. Trong đêm vắng, giữa tiếng vọng râm ran của côn trùng, tiếng đề máy xe rì rầm vang lên. Hai ngọn đèn vạch lên hai luồng ánh sáng, chiếc xe lắc lư bò lê trên nền đất nhấp nhô mồ mả, về phía chúng tôi.

“Coi chừng cán lên mộ người ta đó!” Đứng trong lòng huyệt cạn, Cu Anh hét lớn. “Xích qua bên này một chút.” Nó vừa gào vừa đưa tay vẫy liên tục. Không biết người lái xe có nghe thấy không nhưng tôi thấy chiếc xe đổi hướng, tiếng máy hậm hực và hai ngọn đèn xe chệch về phía chúng tôi. Vệt sáng vàng vọt vạch ngang mặt huyệt mộ đang đào dở dang.

“Được rồi đấy, đào tiếp đi.” Tôi nói.

Những mũi xẻng lại xoàn xoạt xoắn vào nền đất.

“Đừng chôn sâu quá, mai mốt khó đào.” Tôi lại dặn hai anh em thằng bé đào huyệt.

“Mai mốt đào chi vậy?” Bàn tay đào đất ngưng ngang, Cu Anh ngước lên chờ câu trả lời.

“Lấy bộ xương.” Cu Em trả lời hớt.

“Để chi vậy?”

“Cho học sinh Trung Học Y Tế.” Tôi nói.

“Thật vậy sao? Trường đó mới mở, đã có ai vô học đâu.”

“Thôi đào lẹ đi. Khuya rồi,” tôi dục.

Cu Anh lại hì hục xới đất.

“Mình lấy bộ xương về xài lỡ mai mốt ông già lại nhận con ổng thì sao?” Im lặng suốt quãng đường, bây giờ gã cầm AK mới mở miệng. Tôi lặng thinh. Gã tiếp, “Xác con ổng là ổng có quyền đòi.”

Câu nói làm tôi nhớ hồi sáng, lúc ông già chắp tay vái lạy, van xin bệnh viện lo dùm hậu sự cho con trai, tôi đã cầm lấy hai cổ tay khô lạnh và khẳng khiu như hai khúc củi của ông già, quả quyết sẽ tận tình lo cho người chết. Ông già thều thào bảo khi nào làm ăn khá giả sẽ trở lại nhận xác con trai. Nhưng tôi không mấy tin ông sẽ trở lại. Ông quá già, đi đứng còn không vững, biết ông còn sống được bao lâu, nói gì đến chuyện làm ăn khá giả.

Tuy nhiên lỡ như ông già ấy trở lại nhận xác con thì sao nhỉ. Ý nghĩ ấy cứ ám lấy tôi từ chập tối đến giờ, bởi lúc ký giấy cho phép chúng tôi đem cái xác đi chôn, bác sĩ giám đốc bệnh viện đã nói nhỏ vào tai tôi, “Đừng chôn sâu quá, mai mốt còn phải đào lên lấy bộ xương.”

Đứng bên miệng hố chờ đến lượt xuống đào thay cho anh mình, Cu Em đề nghị, “Lỡ ổng trở lại thì mình cho ổng ít tiền là xong chứ gì. Ổng nghèo mạt rệp, cho tiền…”

“Tiền ở đâu?” Gã AK ngắt lời.

“Mình quyên tiền. Ổng già tội nghiệp, mất đứa con trai duy nhất.”

“Ai cho thì cho hổng có tui à nghe,” trong bóng tối cái đầu của gã AK lắc lư. “Tui hổng ủng hộ cái chuyện lấy xác người chết về xài.”

Tôi thở dài. Tôi cũng không thích việc đào mộ người chết, dù là đào để lấy xác về cho học sinh học môn Cơ Thể Học. “Đừng ngại. Mình không có tiền mua học cụ cho học sinh.” Lời trấn an của giám đốc bệnh viện bám lấy tôi suốt quãng đường vòng vo qua bao nhiêu khúc quanh, bao nhiêu cánh đồng hoang, và gập ghềnh trên những ổ gà từ bệnh viện đến cái nghĩa trang khuất nẻo này. Trong tai tôi giờ này vẫn loạt soạt tiếng cành cây đập vào kính xe và tiếng sủa rầm rộ của lũ chó không hiểu vì lý do gì hùa nhau chạy theo xe chúng tôi. Tôi thấy bốn người chúng tôi chia nhau ngồi hai bên hàng ghế trong lòng xe. Người chết cuộn tròn trong chiếc chiếu rách. Mỗi khi xe lọt ổ gà, dưới ánh đèn vàng vọt từ cái bóng đèn nhỏ xíu ở nóc xe, hai cái chân khẳng khiu thò ra ngoài chiếc chiếu cứ bật lên như thể người chết muốn chống tay ngồi dậy, đòi quay xe trở lại. Đã vậy một đứa trong bọn chúng tôi cứ luôn miệng xì xào, “Hình như cái chân nó nhúc nhích, ông thày ơi.”

Tất cả như một khúc phim chiếu chậm trong đầu tôi.

Tôi thấy rõ nét mặt cau có của lão già gác nghĩa trang khi bị chúng tôi đánh thức dậy giữa đêm khuya. Ngọn đèn dầu lù mù dẫn lối. Và câu dặn, “Nhớ chôn sâu một chút kẻo mai mốt nó đưa tay lên kéo chân người ta đó.” Tràng cười ma quái sau câu nói đùa giữa đêm đen ấy còn mãi vang vọng trong óc tôi.

“Tối hù. Hổng thấy đường đào gì hết ráo á.” Cu Anh nói vọng lên từ lòng huyệt mộ còn rất cạn. Đất đá đổ rào rào theo nhịp xẻng.

Tôi lặng thinh. Là bác sĩ mới ra trường, tôi được điều về cái huyện xa xôi này và vì chưa tìm ra chỗ ở, tôi tạm trú ngay trong bệnh viện. Có mặt trong bệnh viện hai mươi bốn giờ một ngày, tôi thành bác sĩ trực thường xuyên. Mọi người có điều gì khúc mắc là cứ xoay về phía tôi. Chuyện gì cũng đổ lên vai tôi.

“Sao hổng chôn ban ngày vậy?” Gã ôm AK hỏi trống.

“Nhà xác không còn chỗ,” tôi giải thích.

Bệnh viện tỉnh nhỏ. Nhà xác chỉ có vài cái giường sắt vênh vẹo mà giường nào cũng nhét tới hai xác chết. Toàn là dân nghèo những thôn làng sát biên giới bị Khờ Me Đỏ sát hại. Thường thì người nhà đem xác thân nhân về an táng nhưng những người này làng mạc bị đốt cháy, nhà cửa bị thiêu hủy, người bị giết, gia súc bị cướp hết, đâu còn chỗ để trở về.

“Phải chôn gấp lấy chỗ cho người khác.” Tôi nói.

Lại lặng im. Quanh chỗ chúng tôi, lũ côn trùng cũng im bặt, chỉ còn tiếng xẻng xới vào đất khô lẫn tiếng đất đá rào rào. Và xa xa vẳng lại tiếng chó sủa nhấm nhẳng nghe buồn nản.

“Nhớ đừng chôn cái chiếu,” tôi nhắc.

“Sao vậy?” Cu Anh ngưng tay xẻng, ngước lên hỏi.

“Cái chiếu mượn của bà già…”

“Bà già nào tốt quá trời dzậy?” Đứng bên miệng huyệt Cu Em nói, giọng reo vui.

“Bà già vẫn thường đem lon ghi gô đi hứng nước ở cái vòi bên phòng sản khoa đó.” Gã AK giải thích. Là nhân viên bảo vệ bệnh viện nên gã rành mọi chuyện.

“À, bà già nuôi nhỏ con gái mới sanh đó hả?” Cu Em hỏi.

“Còn ai vào đây nữa.”

“Bả cho mượn chiếu rồi tối bả lấy chi ngủ?” Đang đào huyệt, Cu Anh cũng chĩa vào.

“Ai mà biết.”

“Nghe nói con gái bả chửa hoang.” Gã bảo vệ nói.

Không nghe ai nói gì, gã tiếp, “Con nhỏ còn nhỏ xíu mà cái bụng chành bành.”

“Thôi,” tôi ngắt. “Làm lẹ cho xong đi, khuya rồi.”

Lại im lặng. Đêm rền rĩ tiếng máy chiếc xe LaDalat cũ kỹ lẫn vào tiếng xẻng đục lộp cộp vào nền đất cứng và tiếng đất đá rào rào đổ lên nhau.

“Mình khiêng anh này nhắm chừng mình có bị lây bịnh của ảnh không, ông thày?” Lại thằng Cu Em nhiều chuyện. Vừa hỏi nó vừa chỉ vào cái xác cuộn tròn trong chiếc chiếu nằm trơ trên nền đất gồ ghề.

“Không đâu.” Tôi trấn an.

“Ông già nó ở kế bên còn không lây…” Gã AK chêm vào.

“Đúng rồi,” tôi tiếp lời gã AK. “Hai cha con, chỉ người con bị xơ gan.”

“Tội nghiệp!” Cu Em chép miệng. “Họ ở đâu lên dzậy?”

“Họ chạy từ Cam-pu-chia về. Họ hồi hương.” Tôi nói.

“Hồi hương à?”

“Ừ, hồi hương.” Tôi thì thầm như sợ ai nghe thấy.

Hai chữ “hồi hương” bao giờ cũng làm nhàu nát lòng tôi. Tôi nhớ cái hôm tôi gặp hai cha con nhà ấy. Hai người đều già nua trong mắt tôi. Tôi nhìn cái người có khuôn mặt hốc hác nhưng đôi mắt đầy nét sắc sảo. Ông ta có cái đầu tóc bạc, và chòm râu dê có nhiều sợi bạc quắt queo trên chiếc cằm nhọn. Ông già râu dê nắm chặt cánh tay của một ông già khác, gầy gò, xương xẩu với hai con mắt lạc thần, và cái bụng to phình mở bung hai vạt áo có những chiếc cúc trật chìa.

“Bác đưa ông cụ vào đây.” Tôi nói với ông già râu dê. Ông già có chòm râu dìu ông già hốc hác và to bụng lết từng bước lên bậc thềm, vào phòng khám, và đẩy ông già to bụng xuống chỗ trống ở đầu băng ghế dài mà một bệnh nhân vừa đứng dậy nhường chỗ.

Ông già có cái bụng to chống tay nặng nề ngồi xuống ghế. Ông già râu dê đứng bên cạnh, dựa lưng vào vách tường loang lổ. Đoán họ là hai anh em, tôi đến trước mặt ông già to bụng, nhìn vào hai hố mắt sâu. Tròng trắng màu vàng đục vằn vện những tia máu đỏ. Cặp môi khô như miếng vỏ cây xám xịt. Hai con mắt ấy nhìn xuyên qua tôi, vào khoảng không nào đó mịt mờ.

Tôi quay qua ông già râu dê, “Ông cụ này là gì của bác vậy?”

Ông già phều phào nói, “Con trai tui đó.”

Tôi giật mình. Bộ xương với cái bụng vồng cao, với nét ngoài sáu mươi trên khuôn mặt đang ngồi đờ đẫn trước mặt tôi làm sao có thể là con trai ông cụ được. Ngược lại thì có. Chắc tôi nghe lầm. Tôi hỏi lại, “Ông cụ này là gì của bác?”

Ông già đưa tay gãi chòm râu, “Con trai tui đó. Nó mới ba mươi hai tuổi à.”

Đến lúc ấy thì tôi không tin cả mắt lẫn tai mình nữa.

Tôi ký giấy nhập viện ngay lập tức. Người thanh niên hít thở khó khăn. Như thể cố kéo những chùm không khí đã đông đặc qua hai lỗ mũi phập phồng vào trong lồng ngực. Những đường viền tĩnh mạch hằn lên như những chùm rễ ngoằn ngoèo trên làn da bụng căng bóng. Tôi đâm kim hút bớt nước trong ổ bụng, nhưng cũng chẳng thay đổi được gì. Hút xong, chưa được bao lâu, cái bụng lại căng phồng.

Rồi chẳng bao lâu, con bệnh xơ gan cổ trướng ấy không còn thở nữa.

Trong lúc tôi miên man với hình ảnh lúc còn sống của cái xác người đang nằm bó chiếu dưới chân tôi, Cu Anh vẫn miệt mài với động tác đào, xúc và đổ trong lòng huyệt mộ.

Tôi đưa tay đuổi những con muỗi bám trên mặt, âm thầm nhớ lại hoạt cảnh vừa xảy ra cách đây chưa đầy nửa tiếng đồng hồ. Tôi xoay cái cổ chân còn nhói đau khi trượt chân ban nãy. Khu nghĩa địa hoang vu, đầy những hố đất đào dở dang không biết vì có phải trước đây ai đó đào, gặp chỗ đá cứng nên bỏ để đào qua chỗ khác, hay đó là những lòng huyệt mà xác chết đã được cải táng. Ông già gác nghĩa trang cầm cái đèn dầu vừa xoay xở để che gió vừa dọ dẫm bước đi trong bóng tối.

“Coi chừng thụt xuống hố, nghe mấy cha.”

Lão chưa nói dứt câu thì ngực tôi đã thắt lại khi chân tuột bên bờ đất lở của một miệng hố. Tôi lảo đảo cố giữ thăng bằng. Lão già gác nghĩa trang hỏi vọng lại, “Lọt hố hả? Tui đã nói là coi chừng.”

“Không sao,” tôi mau miệng trả lời.

Lũ chúng tôi lầm lũi lần mò từng bước theo chân người gác nghĩa trang. Trong đời tôi chưa bao giờ đưa tiễn ai trong một đám tang u uất như thế này. Người gác nghĩa trang với ngọn đèn dầu le lói. Tôi cầm đèn bin rọi xuống đất để hai đứa Cu Anh và Cu Em khiêng xác phía sau tôi thấy đường. Hai đứa là y công của bệnh viện. Cái xác người thanh niên ba mươi hai tuổi – bó tròn trong chiếc chiếu – ấy lắc lư theo nhịp bước của hai người thanh niên. Những ngón chân co quắp quẫy động như có điều gì muốn nói. Gã bảo vệ ôm khẩu súng đi sau cùng.

Loay hoay tới lui một lúc, lão già gác nghĩa trang dừng lại.

“Chỗ này. Chỗ này đất hơi cao. Nhớ chôn sâu một chút, kẻo mai mốt nó đưa tay lên kéo chân người ta đó.”

Câu nói dứt, tràng cười ma quái vang lên, lanh lảnh trong cái tĩnh lặng của đêm, lẫn vào tiếng côn trùng râm ran.

Cả bọn đứng sựng lại. Hai đứa ở hai đầu băng ca nghểnh cổ chờ.

Lão già quay lưng. Ngọn đèn dầu le lói, chập chờn trên cái nền đen thẫm của những lùm cây và tan nhòe vào bóng tối. Tôi quơ cái đèn bin. Vệt sáng quét chung quanh, vạch lên những mô đất nhấp nhô, những tấm bia lở lói, những cây thánh giá khẳng khiu chụm vào nhau. Tiếng con vạt sành nào đó chèn chẹt trong thinh không tan vào tiếng côn trùng rỉ rả.

Nhát xẻng đầu tiên làm tắt ngấm cái âm thanh rền rĩ của lũ côn trùng. Những tiếng động thô cộc của mũi xẻng đào vào đất khô xoàn xoạt trong đêm vắng. Trong cái chuỗi âm thanh rờn rợn của khu nghĩa địa âm u, tiếng chó sủa từ thôn xóm ngoài xa vọng lại bỗng dưng nghe gần gũi, thân thuộc.

Hai anh em Cu Anh và Cu Em thay phiên nhau đào. Ban đầu tôi đưa đèn bin cho Cu Em để nó soi xuống hố cho anh nó thấy đường mà đào, nhưng rồi đèn hết bin. Tôi cầm cái đèn bin vô dụng trong tay, thoáng chút an tâm vì ít ra cũng có vũ khí tự vệ lỡ như xảy ra chuyện gì.

Một lúc sau, Cu Anh ngưng tay đào, chống tay lên cán xẻng, thở hì hạch, “Đất cứng quá ông thày ơi.”

Tôi nhìn xuống khoảng trũng hơi quá đầu gối nó một chút, “Cố thêm chút xíu nữa được không.”

“Đất cứng như đá,” Cu Anh lẩm bẩm.

“Rán chút nữa. Chỗ này đất cao mai mốt mưa cuốn trôi hết đất…” Tôi ngưng nói, hình ảnh một cánh tay xương xẩu hay một bàn chân đen đúa ló lên từ mặt đất như câu nói của lão già gác nghĩa trang ban nãy hiện ra rõ nét trong đầu tôi. Tôi nói nhỏ, “Đào thêm chút nữa được không. Lỡ anh ta thò tay lên như ông già gác nghĩa trang nói…”

“Mệt rồi hả, để tui,” Cu Em hăng hái nhảy xuống hố, tay nắm lấy cán xẻng.

Vừa đâm đến nhát xẻng thứ hai nó thụp người xuống, hét lên một tiếng. Tiếng hét lẫn vào âm thanh trầm đục như thể một vật gì vừa bung vỡ dưới chân nó. Và một thứ mùi xú uế bung ra trong không khí. Tôi nín thở, nghểnh cổ nhìn. Chân của Cu Em thụt xuống cái hố đen ngòm tới tận đầu gối. Nó quăng xẻng cuống cuồng rút chân lên, và chống tay leo vội lên miệng hố.

“Cái hòm người chết, ông thày ơi.” Cu Em nói như hụt hơi. Hai chân cuống cuồng chùi lên cỏ.

Tôi bước tới sát miệng huyệt. Một cái hố đen hun hút trong lòng huyệt mộ lởm chởm đất đá.

“Có đạp trúng xương cốt gì dưới đó không?” tôi quay lại hỏi Cu Em.

Nó lắc đầu, phì phò thở, “Hổng thấy gì hết ráo.”

“Chắc rữa mục hết rồi,” tôi nói nhỏ, đủ cho cả bọn nghe, và cũng để tự trấn an.

“Chắc người đó đi đầu thai rồi.” Cu Anh nói.

Gã cầm AK bịt mũi, cằn nhằn, “Cha già gác nghĩa trang chỉ chỗ tầm bậy.”

“Tui hổng đào nữa đâu.” Cu Em vừa chùi chân trên cỏ vừa nói.

“Tui cũng vậy. Đất cứng như đá vậy đó.” Cu Anh phụ họa.

Con mèo hoang nào đó chợt gào lên trong đêm vắng như thể phản đối lũ người làm khuấy động khung đêm đen tĩnh lặng của nó.

“Thôi thì chôn cạn vậy,” tôi kết luận. “Mai mốt lấy cốt cũng dễ.”

“Nhớ lấy cái chiếu lại cho bà già.” Gã AK nhắc.

“Khỏi!” Tôi kết luận.

Chúng tôi hì hạch đặt xác chết xuống huyệt và vội vã đắp đất lên.

Tôi phụ với hai người thanh niên đập mạnh cho đất dính chắc trên mộ. Gã AK ôm súng, vẩn vơ nhìn quanh. Tôi nghĩ đến mùa mưa sắp tới. Tôi nghĩ đến những cơn mưa rào rầm rộ mái tôn, đến những con đường hóa thân thành dòng suối cuồn cuộn nước. Tôi không dám nghĩ gì thêm. Tôi muốn thì thầm một câu gì đó với người thanh niên vừa mới từ đất Miên hồi hương về Xứ Việt để chết. Nhưng tôi nghĩ không ra. Dù sao thì anh ta cũng được yên nghỉ ở quê nhà, trong vòng tay cha mình.

Và hình ảnh ông già với chùm râu bạc hiện ra trong trí tôi. Tôi nhớ giây phút tia nhìn từ đôi mắt người con đang dán vào cha mình bỗng dưng lạc thần, như thể anh đang rụt rè bước chân vào cõi khác. Và người cha vội vã quay đi. Ông không dám nấn ná thêm vào cái khoảnh khắc biệt ly với ruột rà máu mủ của mình. Tôi nhớ hai bàn tay xương xẩu chắp lại, van xin bệnh viện lo chôn cất dùm con mình. Tôi nhớ cả hình ảnh ông già – cái túi vải trong tay – lủi thủi lê bước trên lối mòn ra đường cái. Miếng vá hình vuông lay động chập chờn trên lưng chiếc áo bà ba màu nâu nhăn như nùi giẻ.

Ngày hôm sau, tôi ra chợ mua chiếc chiếu mới. Lúc đem trả lại cho bà già nuôi con gái đi sanh trong bệnh viện, bà trợn mắt ngạc nhiên, “Đem dzìa làm chi vậy? Đã cho người ta làm phước còn lấy lại làm chi!”

28.02.2021

Giáng Sinh Này, Giáng Sinh Xưa

damau.org

Hoàng Chính

Post on 25 Dec 2023

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Cho sinh nhật ldv

Ông già đi vào phòng ngủ. Hai cái gối ở đầu giường ngểnh cổ nhìn ông. Ông nheo mắt nhìn lại chúng nó. Hình như cái gối của ông còn nhoẻn miệng cười. Còn cái gối của vợ ông thì nheo một con mắt, cái kiểu đá lông nheo của cô gái nghịch ngợm. Ông khẽ lắc đầu. Và ông nhắm chặt hai mắt. Loay hoay một hồi, ông ra phòng khách, nhìn trước nhìn sau. Cái ti vi dán vào vách tường nhìn ông dò hỏi. Ban nãy ông đã tắt tiếng, chỉ để hình nên ông không hiểu nó muốn nói gì. Ông chỉ thấy hình ảnh những thiếu nữ áo dài trắng đứng bên hang đá, mấp máy những cánh môi hồng. Ông chôn chân trên nền nhà lót thảm. Lẩn quẩn một lúc, ông lết đôi dép qua phòng làm việc, đứng trước tủ sách, cau mày suy nghĩ. Lũ sách vở chen lấn nhau, cố ló mặt ra khỏi cái đám ngay hàng thẳng lối để ông nhìn thấy. Ông đứng lặng thinh. Ông không rút đại một cuốn ra để đọc vài câu rồi nhét vào chỗ cũ như mọi khi. Một lát, ông bỏ ra phòng ăn, ngẩn ngơ nhìn những ngăn tủ. Lũ ly chén lơ láo nhìn ông, như lũ học trò của ông ngày xưa vẫn xếp hàng trước cửa lớp đầu buổi học. Ông không nghe tiếng bọn học trò xì xào nhưng ông nghe ra được tiếng lanh canh của ly chén chạm nhau. Ông đứng bất động. Rồi ông lắc đầu. Lưng khòm. Mắt mỏi. Đầu gối run. Óc rối mù.

Ông lần ra phòng khách, nhìn cuốn lịch trên tường. Những con chữ bò lổm ngổm trên chân dung cô ca sĩ mắt to, môi mọng. Ông nheo mắt nhìn. Quái lạ! Mấy hôm trước cuốn lịch bảo ông sắp Giáng Sinh mà hôm nay – nghĩa là cả tuần lễ sau, ông nhớ loáng thoáng như thế – cũng vẫn chỉ sắp Giáng Sinh. Con số 20 và hàng chữ Tháng Mười Hai lao xao trò chuyện. Như vậy nghĩa là chỉ còn vài hôm nữa là lễ Giáng Sinh. Thời gian có lướt đi hay đã đọng lại và ngủ quên trên cuốn lịch? Sắp Giáng Sinh rồi. Giáng Sinh là ngày lễ quan trọng; cực kỳ quan trọng, bởi đó cũng là sinh nhật của vợ ông. Ông gõ ngón tay xương lên vầng trán nhăn như gõ cửa phòng người quản gia canh chừng trí nhớ. Và ông nhớ đã mua quà sinh nhật cùng với quà Giáng Sinh cho vợ, ông nhớ đã giấu thật kỹ để tạo bất ngờ cho bà nhưng tai họa đang chờ ông bởi ông không nhớ mình giấu món quà ấy ở đâu.

Đúng là tai họa.

Người ta gọi ông là ông già từ hồi nào ông cũng không nhớ nữa. Ban đầu ông không mấy tin, bởi ông thấy mình chưa già. Dù những thứ bệnh của người già cứ đeo dính lấy ông như lũ đỉa đói trong đầm lầy nhiệt đới. Huyết áp cao. Mỡ trong máu cao. Tiểu đường. Cườm mắt. Loãng xương. Phong thấp. Nhưng những thứ bệnh vớ vẩn ấy đến từ từ, khiến ông quen dần với chúng nó, và không còn cảm thấy bất ngờ. Có khác chăng là dạo này mọi thứ đồ vật trong nhà đua nhau chọc ghẹo ông, như cặp gối trong phòng ngủ, như lũ sách vở trên kệ, như đám ly tách trong tủ, như cái ti vi dựa vách tường. Đôi khi ông nghe được cả tiếng chúng nó cười khúc khích.

Thì cứ cho là ông đã già với mắt nhìn kèm nhèm, tai nghe lõng bõng, nhưng ông vẫn tin là mình chưa già mấy. Bởi ông vẫn yêu thương vợ ông, yêu hơn cái thời hai mươi tuổi. Vậy là ông chưa già. Trái tim còn nguyên vẹn. Ông định nghĩa tuổi tác qua cách hành xử của trái tim. Năm nào gần Giáng Sinh ông cũng mua cho vợ vài món quà nho nhỏ, vừa để mừng lễ, vừa để tặng sinh nhật bà. Và ông nghĩ còn yêu thương được là vẫn còn rất trẻ. Điều làm ông bận tâm là dạo này trí nhớ ông hơi loạc choạc. Ông hay quên. Quên nhiều nhất là những chuyện vừa xảy ra. Đơn giản như vừa uống thuốc xong, quay đi quay lại, đã băn khoăn không biết mình đã uống thuốc chưa. Thuốc của ông lại là thứ độc hại, bỏ một ngày là thấy phiền phức ngay. Ngày nào vợ ông cũng phải nhắc ông uống thuốc. Định lục tủ kiếm quyển sách nào đó nhưng bước vào phòng làm việc, ông ngẩn ngơ không biết mình vừa định làm gì. Thật lâu sau mới sực nhớ lại là định đi tìm một cuốn sách. Nhớ được rằng mình đi tìm cuốn sách nhưng lại quên mất tên cuốn sách ban nãy muốn tìm. Cứ loanh quanh lẩn quẩn như thế mà hết ngày.

Và hôm nay cái tật hay quên làm ông cuống lên. Quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của bà ông lén đi mua về rồi ông giấu ở đâu không nhớ nữa. Biết lục ngăn nào trong trí nhớ để tìm bây giờ! Thông thường khi cần tìm cái gì đó mà không thấy thì ông hỏi bà, nhưng chuyện này làm sao mà hỏi được.

Ông đã từng tìm tòi, nghiên cứu sách vở để tìm phương thức chống lại chứng hay quên của mình. Và ông đã tìm ra được cách tốt nhất để chế ngự nó. Ông áp dụng cách ấy. Phương pháp của ông là khi định làm gì thì miệng nhắc liên tục đến việc ấy, cho đến khi làm xong. Như muốn tìm cái áo thì khi đi đến tủ áo, miệng sẽ luôn lẩm bẩm “cái áo, cái áo, cái áo.” Khi tìm thấy cái áo rồi thì miệng mới thôi lẩm bẩm.

Mới hồi sáng cái tật chóng quên đã chọc ghẹo ông một cách sỗ sàng. Ấy là thời tuổi trẻ, đôi khi ông cũng có thơ đăng báo. Bây giờ không còn bận tâm với vần với điệu nữa nhưng thỉnh thoảng, bất chợt ông cũng nghĩ ra được một câu nghe như thơ, và ông quyết định lấy bút viết cái câu hay ho ấy xuống. Ông lẩm bẩm “cái bút, cái bút, cái bút” trong khi bước vào phòng làm việc để lấy bút. Nhưng rồi khi tìm được cái bút thì câu thơ trong đầu đã tan biến như vạt sương mù sớm mùa thu trên khóm lá đường phong trước nhà.

Trí nhớ của ông cứ mòn dần, và đầu óc ông nhiều lúc trôi dạt đến tận nơi nào xa lắc. Và bây giờ ông đâm ra hoang mang. Mình giấu quà cho bà ấy ở đâu. Nhà rộng, ngõ ngách lung tung, biết đâu mà tìm. Nhưng mà có khi nào năm nay chưa mua mà trí nhớ mình lẫn lộn với năm ngoái năm xưa nên cứ nghĩ là đã mua quà cho bà ấy rồi không?

Buổi tối, trước khi đi ngủ, ông đi vào phòng làm việc, miệng lẩm bẩm “mắt kính, mắt kính…” và ông loay hoay tìm mắt kính để vào giường thấy đường mà đọc sách. Không tìm ra chỗ giấu quà chắc ông sẽ chẳng thể nào ngủ được, mà không ngủ được thì đành thức đọc sách dỗ giấc chứ biết làm gì khác hơn được. Nhưng vừa bước qua cửa phòng làm việc ông đã quên bẵng đi mình phải làm gì. Vậy là ông cứ đi tới đi lui, lật cái này, đẩy cái kia để tìm và miệng vẫn lẩm nhẩm. Nhưng đầu óc không nối kết được với những chữ mà cái miệng đang lẩm bẩm. Ông không còn biết mình vào phòng để làm gì nữa.

Cứ thế. Tay lục lọi, miệng lép nhép và thỉnh thoảng ông bật lên một cơn ho và đứng sựng lại ngẩn ngơ như người mất trí.

Chờ lâu không thấy ông vào ngủ, vợ ông đi tìm.

Bà thấy ông đứng ngẩn trong phòng làm việc, miệng lẩm bẩm, mắt ngơ ngác nhìn quanh. Bà nghiêng đầu lắng nghe. Bà tập được tính kiên nhẫn từ mấy mươi năm chung sống. Bà biết ông không còn sáng suốt như thời trai trẻ. Bà đã chuẩn bị cho cái ngày hình ảnh bà nhòe đi trong trí nhớ ông, và ông ngập ngừng nhìn bà, nói với bà bằng cái giọng rụt rè quen thuộc, “Xin lỗi, bà là ai; tôi có quen bà không?”

Bà nhìn ông. Giọng ông khàn khàn. Môi ông mấp máy. Như tín đồ tụng kinh. “Mắt kính. Mắt kính. Mắt kính.”

“Ông tìm cái gì thế?” Bà hỏi nhỏ. Bà không muốn ông giật mình.

Ông ngẩn người ra, “Tôi cũng không biết nữa.” Ông nói lí nhí như đứa bé bị bắt quả tang làm điều sai trái. Và miệng ông lại lẩm bẩm, “Mắt kính, mắt kính…”

“Nói chuyện với ai mà cứ lải nhải ‘mắt kính, mắt kính’ thế?” Bà nói.

Như nghe được câu thần chú, ông tỉnh hẳn, “Đúng rồi, bà nhắc tôi mới nhớ, tôi tìm mắt kính. Không có bà chắc tôi chết quá!”

Ông lê từng bước, tới sát bên, choàng tay lên vai bà. Bà đứng lặng. Ông kéo một cánh tay bà, vắt lên vai ông, để có một vòng ôm như những ngày hai người còn trẻ. Tình còn nở hoa. Quên gì thì quên nhưng ông vẫn nhớ những vòng ôm thời tuổi trẻ của hai người. Những vòng ôm ấm áp. Không có bà chắc tôi chết quá. Câu nói của ông làm bà cảm động. Tự dưng bà muốn khóc. Dạo này bà cũng dễ cảm động. Hơi một chút là rơi nước mắt. Thời trẻ đâu có vậy. Nhưng bà cố nén cơn xúc động.

“Tìm mắt kính làm gì?” Bà hỏi, nhìn sâu vào mắt ông. Qua lớp thủy tinh của cặp kính lão ông đeo trên mặt, đôi mắt ông hiền như mắt vị thiền sư. Bà kéo tay ông, “Vào ngủ thôi. Khuya rồi.”

Ông níu tay bà lại, “Nhưng phải tìm mắt kính, không có mắt kính làm sao đọc sách.”

Ấy là thói quen của ông. Vào giường bao giờ cũng phải đọc vài trang sách rồi mới ngủ. Hôm nay lại thêm nỗi hoang mang – không biết đã giấu quà Giáng Sinh và quà sinh nhật của vợ ở đâu, hay là chưa mua mà cứ yên trí đã mua rồi. Nỗi hoang mang ấy nhằng nhịt như màng nhện dăng đầy trong óc, ông sẽ chẳng cách nào ngủ được.

“Tôi đánh mất mắt kính rồi!” Giọng ông nghe như tiếng thở dài.

“Để tôi tìm cho,” và bà đưa tay, nhẹ nhàng gỡ cặp kính lão ra khỏi mắt ông. “Đang đeo trên mắt mà còn đi tìm đâu nữa!”

Trên khuôn mặt nhăn nheo của ông nở ra một nụ cười ngây ngô. Nụ cười của đứa bé lên ba, lên bốn. Tuy nhiên nỗi băn khoăn vì những món quà thất lạc cứ xoay vòng trong óc ông như cơn lốc.

Ông đã lẫn thật rồi, bà thầm nghĩ, nhưng vẫn còn may mắn bởi ông vẫn còn nhận ra bà, người vợ của hiện tại và người tình của ba mươi mấy năm xưa. Bà níu lấy tay áo ông như thuở mới quen và nói với ông cái câu bà vẫn nói mỗi tối, “Vào ngủ sớm cho khỏe.”

Ngang qua phòng khách bà dừng lại, nhìn màn hình ti vi một lát, rồi vói tay tắt máy và lẩm bẩm, “Giáng Sinh qua cả tuần rồi mà họ vẫn chơi nhạc Giáng Sinh.”

Ông giật mình, nghiêng đầu hỏi, “Bà nói gì?”

“Tôi nói Noel qua lâu rồi mà Ti Vi vẫn chơi nhạc Giáng Sinh… À mà cuốn sách với cái khăn quàng cổ ông tặng tôi đắt tiền quá, năm tới gom chung quà sinh nhật với quà Giáng Sinh thành một món thôi cho bớt tốn tiền ông à.”

231215

Bao nhiêu lần tôi đã khóc

thoibao.com

Cập nhật ngày 19/03/2018 Hoàng Chính

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu

Xế trưa, chuyến xe đò liên tỉnh về tới Vĩnh Long. Tôi đeo cái túi vải trên vai, lầm lũi đếm bước trên con đường rải đá, theo bà nội, về nhà chú thím Hà. Bầu trời Vĩnh Long rộng thênh thang. Hàng cây viền hai bên lối đi. Nắng hạ vàng từng vạt đu đưa đầu cành. Những con chim ẩn trong khóm lá ríu rít gọi mời. Nhà chú Hà ở trong một xóm nhỏ. Có con đường nối ra phố chợ. Con đường đá giăm dài tưởng chừng như vô tận. Bà nội bước thoăn thoắt phía trước. Tôi lẽo đẽo theo sau. Bà nội lúc nào cũng dẻo dai, năng động. Tôi, hồi ấy, học trò, mười bốn tuổi mà ốm o, yếu đuối.
Nhà chú thím Hà là một mái tranh, nho nhỏ, xinh xắn, nấp bóng một cây bàng rậm lá.
Vừa bước vào sân, chân tôi suýt vấp phải bậc thềm vì hai mắt bận dán lên một bóng người. Một cô gái nhỏ, tóc chấm vai, từ trong nhà chú thím rón rén đi ra. Cậu học trò thành phố và cô gái tỉnh nhỏ ngỡ ngàng nhìn nhau. Cô gái khẽ mỉm cười, rồi cúi đầu bước nhanh xuống bậc thềm. Còn tôi quên bẵng mình đang đi đâu.
“Thằng cháu của thím làm gì mà ngẩn người ra thế?” Từ trong nhà vọng ra giọng nói ngọt ngào của thím tôi. Tôi đỏ mặt, khoanh tay chào người thím lâu ngày không gặp.
“Hàng xóm của thím đấy.” Thím Hà kết thúc câu nói bằng một cái nháy mắt đầy ngụ ý.
Chú Hà từ nhà sau đi lên, bắt đầu ngay bằng một câu châm chọc, “Tôi đoán là từ nay năm nào cháu tôi cũng sẽ về đây nghỉ hè.” Mặt tôi bừng nóng. Ai đã từng mười bốn, mười lăm tuổi đều cũng sẽ đỏ mặt như tôi.
Trong lúc bà nội ngồi bên ly nước chè tươi xôn xao kể chuyện thành phố. Chú Hà rủ, “Đi chợ với chú không?” Tôi hăng hái bước theo chú. Lần nào đến một nơi chốn không phải là thành phố mình, tôi đều thấy lòng xôn xao, thích thú.
Phố chợ nhỏ bé, vuông vức. Những hàng quán lưa thưa. Rải rác những quang gánh. Lác đác người đi chợ. Vài con chó quanh quẩn bên những quầy hàng thức ăn.
“Chợ chiều nên vắng vậy đấy cháu,” chú Hà giải thích. “Sáng sớm mới đông người.”
Tôi thong dong đếm bước trên lối đi hẹp giữa hai hàng quán, và dừng lại trước một sạp báo. Những tờ nhật báo kẹp trên sợi dây dăng ngang. Bà bán hàng ngồi trong bóng mát, phe phẩy chiếc quạt nan. Tôi lẩm nhẩm đọc tên những tờ báo quen thuộc mình vẫn thấy ở Sài Gòn. Vài cuốn sách mỏng cũng được cặp bằng chiếc kẹp phơi quần áo vào sợi dây dăng ngang. Trong những cuốn sách ấy, tôi bắt gặp, Đêm Nghe Tiếng Đại Bác. Cuốn sách mỏng, với trang bìa giấy trắng đơn sơ.
Tôi mừng rỡ, run run gỡ cuốn sách xuống, nhanh nhẹn trả tiền cho bà cụ và hí hửng theo chú Hà ra về. Chú Hà mua con vịt xiêm. Con vật quàng quạc bên tai hai chú cháu suốt đường về.
“Cháu mua được cuốn gì thế?” Chú Hà hỏi.
Tôi hí hửng, “Đêm Nghe Tiếng Đại Bác của nhà văn Nhã Ca, chú ạ.”
Chú Hà gật gù, “Cháu ở Sài Gòn chắc ít nghe tiếng đại bác. Ở dưới này đêm nào cũng phải nghe.”
Trong lúc cả nhà bận rộn bếp núc, tôi ngồi ở thềm nhà, mê man với cuốn sách suốt buổi chiều. Cho đến khi cô gái hàng xóm tóc chấm vai bước lên bậc thềm. Tôi cầm chắc cuốn sách trong tay, sợ nó sẽ bay vụt khỏi tay mình như cánh chim. Tôi nhìn hai con mắt đen nhánh. Hai con mắt đen nhánh nhìn tôi. Cánh mi chớp vội. Và một khóe cười mỏng manh thoáng hiện. Cô gái bước nhanh vào nhà, đi thẳng ra sau bếp.
“Cháu ơi,” tiếng thím Hà gọi, vọng lên từ sau bếp. “Có muốn phụ thím một tay làm bếp không nào?”
Mặt tôi bừng nóng. Những ngày vừa mới lớn, bất cứ người nào cũng có thể làm mặt tôi bừng nóng. Bất cứ câu chọc ghẹo – dù xa xôi đến đâu – cũng làm tôi đỏ mặt. Những nhịp tim xôn xao trong lồng ngực. Tôi nhấp nhổm trên bậc thềm. Trong lúc ấy câu chuyện về người lính ngoài mặt trận và cô em gái ở thành phố trong Đêm Nghe Tiếng Đại Bác cứ xốn xang trong đầu.
Tôi ngước nhìn những chiếc lá bàng xanh biếc, hình dung những ngón tay cô gái hàng xóm của chú thím tôi – cái người tóc chấm vai – đang phụ thím nhặt rau thơm sau bếp. Dòng suy tưởng ấy bị cắt ngang khi chú Hà xà xuống, ngồi cạnh tôi trên bậc thềm còn hâm hơi nóng của nắng mùa hạ. Chú hỏi chuyện học hành, chuyện công ăn việc làm của bố mẹ, chuyện bầy em đang lớn. Hết chuyện, hai chú cháu ngồi lặng thinh bên nhau một lúc lâu.
Bỗng chú hỏi, “Trên ấy nhà cháu có đào hầm không?”
Câu hỏi của chú dẫn tôi về thực tại của một đất nước chém giết nhau cả trong những giờ hưu chiến.
“Không chú ạ, bố cháu chỉ làm hầm trong nhà.” Tôi kể cho chú nghe về cái hầm lộ thiên trong nhà với những viên gạch chồng lên nhau, với những thanh gỗ vắt ngang, bên trên chồng chất những bao cát.
“Dưới này nhà ai cũng có hầm,” chú kể. “Chú cũng đang định đào. Chúng nó pháo kích lung tung, chẳng biết đàng nào mà tránh.”
Tôi nghĩ tới những lần Việt Cộng pháo kích vào thành phố. Đêm khuya vắng, một tiếng nổ nhỏ, nghe rất xa, tiếng gió rít trên đầu và một tiếng nổ long trời theo sau. Điệp khúc của chiến tranh. Điệp khúc của những kẻ chui lủi trong bờ rừng, trong những hang hố tối tăm, đêm đêm mò ra, gieo chết chóc, kinh hoàng.
Chú Hà xoay qua nhìn tôi, “Cháu có sợ Việt Cộng pháo kích không?”
“Cháu cũng…” Tôi ậm ừ câu trả lời. Mười bốn tuổi, lòng chưa thấm nỗi sợ cái chết không hình dạng, dẫu cái chết ấy lẩn khuất chung quanh.
Không chờ câu trả lời của tôi, chú tiếp, “Tối nay chú lấy ghế bố cho cháu ngủ ngoài hiên này cho mát nhé.”
Buổi tối, tôi ngồi dưới ngọn đèn dầu, vừa đập muỗi vừa say sưa đọc truyện Nhã Ca. Mãi đến khuya mới ra ngoài hiên, chui vào mùng, ngả lưng trên ghế bố, rõi mắt về phía căn nhà ở cuối dãy, nơi ánh đèn dầu le lói qua khung cửa. Thím Hà bảo nhà cô bé hàng xóm bé bỏng của thím ở đàng ấy. Tôi hít hà mùi hoa dại gây gây mọc đầy bên hàng giậu. Thím tôi bảo nhà cô bé ấy có trồng hoa lý. Đêm khuya, hoa lý thơm ngát không gian. Đêm, tôi sẽ xoay mặt về hướng ấy để đón mùi dạ lý và mơ màng dỗ giấc. Chốn ấy có một cô gái nhỏ có mái tóc chấm vai.
“Đêm,” giọng thím Hà ngập ngừng trong tiếng chó sủa ran ngoài đầu ngõ. “Nếu có pháo kích, chạy nhanh vào nhà, chui xuống gầm bàn, nghe cháu.” Thím tôi dặn dò, trước khi gài bốn góc mùng xuống dưới mép chiếc chiếu mỏng.
Tôi mơ màng trong tiếng rên rỉ của lũ ve sầu. Radio nhà ai vang vọng câu hát về một thời gạo trắng trăng thanh. Rồi tiếng nhạc chợt tắt, chắc tại đã khuya, nhà ấy sửa soạn đi ngủ. Tôi thầm hát trong đầu cho tôi nghe câu hát cuối, “vô đây em, dù trời khuya…” Gió nhẹ đu đưa những cành bàng, một đốm hỏa châu lập lòe trong kẽ lá. Tôi nằm chờ một giấc mơ. Giấc mơ mỏng mềm, có một người mái tóc chấm vai, đến hỏi mượn tôi cuốn truyện của Nhã Ca.
Thế nhưng chẳng có ai rụt rè đến bên mùng tôi, ngập ngừng hỏi mượn Đêm Nghe Tiếng Đại Bác. Cũng không có hương dạ lý thoang thoảng trong thoáng gió mềm. Chỉ gây gây mùi hoa dại của loài cây mọc hoang bên hàng giậu. Đêm đầu kỳ nghỉ hè ở Vĩnh Long, tôi không kịp mơ thấy gì hết, và tôi cũng không bao giờ gặp lại cô bé hàng xóm của thím Hà – cô gái nhỏ có mái tóc chấm vai – nữa.
Mùa hè của tôi kết thúc bất ngờ như con vật tội tình bị nhát dao cắt ngang cuống họng. Thoáng mộng mơ năm mười bốn tuổi của cậu-thiếu-niên-tôi tắt ngúm sau ánh lửa lóe lên trong đêm tối và tiếng nổ xé toang màn đêm, cùng tiếng mảnh hỏa tiễn rơi như mưa rào, với tiếng la, tiếng hét, tiếng khóc vang dội trời đêm.
Đêm hôm ấy bọn khủng bố có cái tên dài lê thê Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đã giết cô gái tóc chấm vai của tôi – phải của tôi không? – và bao nhiêu người khác nữa bằng hỏa tiễn 122 ly của Liên Bang Sô Viết.
Tôi cuống cuồng bò lê vào nhà, chui xuống gầm bàn, đầu va vào những chiếc ghế gỗ, sưng vù, tay vẫn ôm cứng cuốn sách nhàu nhò của Nhã Ca. Đêm Nghe Tiếng Đại Bác.
Ngày hôm sau, chìm giữa những chiếc áo tang nhăn nhúm, những vành khăn trắng rối tung, những thân người lăn lộn, vật vã, tôi khóc. Đó là mảnh kỷ niệm nhập nhòe của tôi với Vĩnh Long. Đó là lần tôi khóc giữa đám đông, bên những người xa lạ nhưng vô cùng gần gũi.
Tôi giữ cuốn Đêm Nghe Tiếng Đại Bác như giữ gìn bảo vật. Chứng tích khó quên của một chuyện tình – có không, một chuyện tình trẻ con? Nếu như đêm ấy những người anh em khốn kiếp kia không pháo kích vào tỉnh Vĩnh Long, biết đâu tôi với cô gái tóc chấm vai ấy sẽ còn vô số chuyện để kể với nhân gian.
Năm 1976, đối đầu với chiêu trò đốt sách của lũ cướp cạn, tôi thuê một ông thợ đóng sách đặt Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, Giờ Thứ 25, Đài Tưởng Niệm Đen Của Bầy Diều Hâu Gẫy Cánh vào giữa hai cuốn báo Đứng Dậy của Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan rồi đóng bìa cứng. Lúc kiểm kê, bọn cướp cạn lật trang đầu, trang cuối, thấy bầy chữ nghĩa tươm mùi cách mạng, không tịch thu, và tôi giữ được những cuốn sách quý ấy một thời gian.
Cho đến khi có đứa tố cáo ông thợ đóng sách kia với gã công an khu vực.
Tôi yêu mến tác giả Đêm Nghe Tiếng Đại Bác từ cái ngày Vĩnh Long xa xưa ấy, khi tôi mười bốn tuổi. Và dẫu chưa gặp Nhã Ca bao giờ tôi vẫn có cảm giác mình là người thân của tác giả, mình ở cùng xóm với tác giả Giải Khăn Sô Cho Huế.
Cho đến mãi nửa thế kỷ sau, ở Xứ Tuyết, trong lễ tưởng niệm những nạn nhân bị thảm sát ở Huế trong tết Mậu Thân 1968, tôi mới gặp (lại) tác giả Đêm Nghe Tiếng Đại Bác; cuốn sách mà tôi đã ôm cứng trong tay lúc co rúm dưới gầm bàn, tránh đạn pháo kích của quân khủng bố.
Buổi lễ trang nghiêm, u buồn. Ngôi chùa như nơi chốn nương tựa ấm cúng của những mảnh hồn lưu lạc. Nhà văn Nhã Ca của Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, Giải Khăn Sô Cho Huế, nhà thơ Trần Dạ Từ của Thuở Làm Thơ Yêu Em trầm lắng trong tiếng cầu kinh. Những ngọn nến viền hình ảnh quê hương chữ S. Những ngọn nến nhỏ trong những lòng bàn tay bé nhỏ. Những tà áo trắng thướt tha như sương khói loang sóng nước dòng Hương. Giữa đêm u trầm tôi lao đao vấp ngã trên những nấm mồ lấp vội, hụt chân dưới hố chôn người buổi Mậu Thân khốn khó thuở nào. Nhã Ca kể về xác một người bạn tìm thấy trong hố chôn người ở Huế, tóc và móng tay vẫn mọc dài. Nhã Ca nói về nỗi băn khoăn rằng một mai người ta sẽ lãng quên những cái chết oan khiên.
Rồi ai đó kể câu chuyện về “một chiếc cầu đã gẫy.” Rồi ai đó nữa kể câu chuyện về một người mẹ bị cướp mất đứa con thân yêu giữa “đêm mộng thái bình.” Những lời ca thấm tận vào từng ngõ ngách tâm hồn. Và đêm cuối mùa đông băng giá, giữa xứ sở an bình, trong lòng ngôi chùa ấm áp chân tình, tôi đã lại khóc.
Bao nhiêu lần tôi đã khóc giữa đám đông, bên những người xa lạ, nhưng vô cùng gần gũi.
Như cái lần khóc ở Vĩnh Long năm nào.
Hoàng Chính


Sài Gòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu 9 Oct 2024

2. Chương 2

Tôi vụt thức khi thấy cổ họng mình khô rang. Ngó dạ quang của đồng hồ: 2 giờ 48 phút. Thì ra tôi đã chợp mắt trong cơn sợ hãi. Thuốc lá làm họng tôi khô, lưỡi tôi khô, môi tôi khô nhưng rượu đã không làm tôi say. Rượu đủ. Đó là tên truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu. Rượu chưa đủ, không đủ khả năng trấn áp nỗi sợ biển máu của tôi. Có lẽ, thuốc phiện đủ khả năng ấy. Tôi thèm được nằm bàn đèn với Nguyễn Mạnh Côn – với Hoàng Hải Thủy thì nhất – hút vài cặp. Thuốc phiện sẽ bắt tan loãng mọi sợ hãi. Nếu ta say, thuốc phiện giúp ta thoát thực tại ưu phiền, đưa ta lên cõi phiêu bồng lâng lâng. Thuốc phiện lâu say mà say lâu. Và hễ say, dao kề cổ vẫn tỉnh bơ, bởi chẳng còn ý thức nổi không gian, thời gian, nói chi sự việc quanh mình. Dẫu mắt vẫn mở. Mắt mở không phải là thức. Dù mắt nhắm. Mắt nhắm không phải là ngủ. Tai vẫn nghe người nói song không biết trả lời Lý Bạch mới say rượu mà đã trở thành thi bá và chết đẹp vì say. Thời nhà Đường, Trung Hoa chưa “sáng tạo” được dọc tẩu, đèn dầu lạc và cung cách nằm hít tô phe, nên Lý Bạch đã chưa phiêu diêu trong cõi say phù dung. Do đó, nhân loại vẫn thiếu những bài thơ trác tuyệt của thi sĩ thịnh Đường. Giá tôi được chết say thuốc phiện, tôi sẽ hoan hỉ vô cùng. Tôi sẽ vượt khỏi sợ hãi chờ chết. Hạnh phúc cho những nhà văn nào bị cộng sản đánh dấu, bị thất bại di tản, đang chong ngọn đèn dầu lạc soi tâm sự và thả tâm sự ấy theo khói thuốc phiện vào giây phút mà cái thòng lọng thù hận đang xiết chặt dần cổ mình.
Không có thuốc phiện, tôi đành đem hồi tưởng và ý nghĩ vẩn vơ ra thay thế và coi như những lời giăng dối gửi cho hư vô. Trăm năm trước tôi, Từ Diễn Đồng đã chờ sáng:
          Đêm sao đêm mãi tối mò mò
          Đêm đến bao giờ mới sáng cho
          Con trẻ u ơ chừng muốn dậy
          Ông già húng hắng ngại thèm ho
          Ngọn đèn giữ trộm khêu còn nhỏ
          Tiếng chó nghi người cắn vẫn to
          Làng nước ai ai đà thúc dậy
          Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho
Dân tộc bất hạnh của chúng ta chờ sáng dài dài, chờ sáng đều đều. Đêm tối không chỉ một đời người mà từng thế kỷ. Trăm năm sau Từ Diễn Đồng, Nguyễn Sĩ Tể lại Chờ sáng. Tôi không chờ sáng. Tôi muốn đêm tối vô cùng, đừng bao giờ sáng nữa. Vì bóng tối vỡ, tôi sẽ nhìn rõ hình cụ của đao phủ. Tôi đang chờ chết. Làm sao anh có cảm giác đích thực của kẻ chờ chết? Người ta hằng nói về nỗi thống khổ, về nỗi sợ hãi đã kinh qua. Kinh qua chưa đủ. Cần thể nghiệm. Cho nên, có nhiều nhà văn của chúng ta ôm trái ngọt thống khổ mà không dám nuốt. Rốt cuộc, sự kinh qua thống khổ chỉ thể hiện trên những trang giấy kể khổ, tố khổ mà không soi sáng cho đời sống một ý nghĩa nào. Đây là một thiếu sót lớn trong văn nghệ của chúng ta. Sự thiếu sót đã khiến tác phẩm văn chương của chúng ta thiếu kích thước, vắng cái chiều sâu thăm thẳm. Hình như, chúng ta cũng bằng lòng sự thiếu sót đó. Và chúng ta đánh giá đại tác phẩm của chúng ta bằng cuốn sách nào nhiều sổ trang nhất, dầy nhất, cầm nặng tay nhất? Thế thì lại thêm một vấn đề đặt ra. Kinh qua nỗi khổ, thể nghiệm trọn vẹn nỗi khổ mà nhiều tài năng phô diễn, xem chừng cũng vô tích sự. Tôi là kẻ thiếu tài năng phô diễn nên tôi đã không phô diễn trọn vẹn cảm giác sợ hãi chờ chết của tôi. Và tôi bắt chước Thanh Tịnh để khỏa lấp một sự bất tài: Bấy giờ tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Tôi bắt chước câu văn của Thanh Tịnh thôi. Trường hợp hồi tưởng buổi học đầu đời của Thanh Tịnh và trường hợp của tôi khác hẳn. Rõ rệt tôi là kẻ bất tài.
Súng vẫn nổ ròn ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Trực thăng Hoa Kỳ vẫn vần vũ một góc trời Sài gòn. Ở những nơi nào nữa, trên quê hương miền Nam, những người lính Cộng Hòa đang trả lời chính quyền Mỹ, dân tộc Mỹ và thế giới rằng, họ không phải là tên bù nhìn Nguyễn văn Thiệu. Khẩu khí Nguyễn văn Thiệu là, khẩu khí một tên lính đánh mướn. Thiệu không chống cộng, Thiệu nhả ngôi vị tổng thống vì Mỹ cúp viện trợ. Lính và sĩ quan liêm sỉ của nước Việt Nam cộng hòa tiếp tục chiến đấu chiến đấu vào lúc “đại tướng” Cao văn Viên đã đào ngũ chạy trốn sang đảo Guam. Bây giờ tôi mới thấy tôi hèn nhát. Nếu tôi đã là lính, lúc này, tôi được chiến đấu, được chết anh dũng, chết xứng đáng. Dẫu không có quan tài, không có quốc kỳ phủ trên quan tài, không cả da ngựa bọc thây, vẫn còn giọt nước mắt tiếc thương của chiến hữu. Vì tôi trót hèn nhát nên tôi phải ngồi chờ chết, chờ chết nhục, chết thảm. Chợt nhớ đoàn xe tăng tối hôm qua, tôi băn khoăn không hiểu xe tăng của ta đi về đâu chặn giặc cứ điểm nào. Bên kia biên giới của tuyệt vọng là hy vọng. Câu này áng trong tôi một đốm sáng. Tôi kiếm cái radio nhỏ mở nghe tin tức xem Tân tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam cộng hòa, trung tướng Vĩnh Lộc, còn tuyên bố gì thêm không.
Đài phát thanh Quân Đội im bặt. Đài Sài gòn chỉ léo nhéo Nối vòng tay lớn và giọng nói no đầy đắc thời của tên dân biểu ngu dốt chủ trương giữa Lý Quý Chung. Hắn đã là Tổng trưởng Thông tin của nội các Vũ văn Mẫu. Tướng Vĩnh Lộc không còn tiếng nói. Ông ta đang ở đâu? Xướng ngôn viên quen thuộc của đài Sài gòn loan tin giới nghiêm 24 trên 24 kể từ hôm nay, 30-4-1975. Giới nghiêm 24 trên 24. Tình trạng cực kỳ nghiêm trọng rồi. Sài gòn sẽ biến thành một Stalingrad chăng? Tôi mong thế. Để được chiến đấu và được chết đúng nghĩa một cái chết. Tắt radio. Tôi ngồi hút thuốc chờ sáng. Tôi không chờ chết nữa…

° ° °

Những chuyện vừa xảy ra từ đầu tháng 4 mà tưởng chừng xa lắm rồi. Lịch sử nào cũng có những trang buồn bã và những trang chó đẻ. Những trang chó đẻ nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại tính từ ngày 12-3-1975. Và những trang này không chứa chất u ẩn cần các sử gia đời sau soi sáng. Nó phơi ra thỗn thện như những miếng thịt bầy nhầy, như xác chết muông thú nhung nhúc ròi bọ. Hiện nguyên hình, hiện rõ chân tướng trên những trang sử chó đẻ là bọn thống trị tôi mọi chiếu nhất, chiếu nhì của cái chế độ bệ rạc đệ nhị cộng hòa. Khi máu của dân, của lính chẩy dài dọc 300 cây số liên tỉnh lộ số 7, con trâu Nguyễn văn Thiệu và con bò Trần Thiện Khiêm vẫn húc nhau. Đứa tham nhũng đòi lật đổ đứa tham nhũng. Và thầy tu Trần Hữu Thanh và “chiến hữu” đã nhân danh cái Thiện chống cái ác vì cái ác khác. Cuộc chiến đấu của thầy tu Trần Hữu Thanh không có tên để đặt. Có vẻ, cuộc chiến đấu ấy như thể là cuộc khiêu vũ trên xác chết. Cao nguyên đã mất. Vùng đất chiến lược đã mất. Con trâu hận chủ nó và hận con bò đã nộp dân, dâng đất cho cộng sản. Trâu bò không có lòng trắc ẩn, nên cảnh tượng hãi hùng diễn ra dọc 300 cây số đường máu chỉ là hoạt cảnh tương tự chương trình tạp lục của Tùng Lâm. Và tất cả đồng ý với trâu bò, sự nghiệp nộp dân, dâng đất cho cộng sản của Nguyễn văn Thiệu là… di tản chiến thuật?
Người ta bỗng nhớ những cuộc rút lui chiến thuật theo “Thông cáo của Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp” vào những ngày trước 20-7-1954 và sau thất bại Điện Biên Phủ. Thoạt đầu, những tỉnh thượng du “rút lui chiến thuật” rồi các tỉnh trung du “rút lui chiến thuật” rồi các tỉnh đồng bằng “rút lui chiến thuật.” Rồi mất miền Bắc. Dĩ vãng đã không lay động cơn mê sảng hiện tại. Và cơn mê sảng biến chứng thành lú lấp. “Rút lui chiến thuật” 1954 không phải, không bao giờ phải là “di tản chiến thuật” 1975. Cái chính trường của Sài gòn hoàng hôn chỉ đủ khả năng găm vào Nguyễn văn Thiệu và triều đình cầy cáo của Thiệu. Và, thê thảm lắm, sự mong muốn của Thiệu, từ chức, người ta quả quyết, là ý Mỹ. Đó là sự thật đau lòng. Mỹ muốn Ngô Đình Diệm thay thế Bảo Đại, thay thế ảnh hưởng thực dân cũ bằng thực dân mới.

Google photo edit by Sơn râu

Bảo Đại bị truất phế. Mỹ muốn thay thế Ngô Đình Diệm bằng đám tướng lãnh vai u thịt bắp, vô học và ngoan ngoãn. Ngô Đình Diệm bị hạ sát. Ngô Đình Diệm trưng cầu dân ý để phản bội Bảo Đại và tự biên tự diễn cách mạng nhân vị. Cách mạng nhân vị đã tiêu diệt quốc trưởng Bảo Đại và toàn ban Hội tề ấm ớ. Đám tướng lãnh thoán nghịch cũng nhân danh cách mạng tháng 11 tiêu diệt nhà Ngô và cách mạng nhân vị. Mỹ muốn thế. Mỹ muốn hết. Mỹ chỉ cần tay sai một giai đoạn nào đó, cho một mục đích nào đó. Nhưng Mỹ khoái chơi trò chơi dân chủ. Mỹ mở võ đài đánh đấm độc tài. Mỹ cổ võ. Cả nước Việt Nam chống độc tài Ngô Đình Diệm. Cả nước Việt Nam tưởng mình làm cách mạng, tưởng mình hạ bệ Ngô Đình Diệm. Nẩy sinh một số kiêu tăng mà Thích Trí Quang là biểu tượng rõ nét. Ông thầy tu này coi miền Nam giống cái sân chùa Từ Đàm của ông. ông đã thật “thiêng liêng” những giai đoạn chống Diệm, chống Hương, chống Kỳ. ông thật sự hết thiêng khi chống Thiệu. Tòa Đại Sứ Mỹ đã ngó lơ, mặc ông tuyệt thực đủ 100 ngày trước Dinh Độc Lập rồi ông âm thầm về dưỡng sức tại Dưỡng đường “đỡ đẻ” của bác sĩ Nguyễn Duy Tài? Thích Trí Quang cháy từ đó. ông ta không hiểu Mỹ chỉ cần ông ta cho một mục đích nào đó, trong một giai đoạn nào đó. Nhiều kẻ đối lập Thiệu và đối lập tổ quốc cũng không hiểu, không chịu hiểu và không biết hiểu như ông thầy tu Thích Trí Quang. Mỹ xử dụng ông Trí Quang, thỏa mãn tự ái của Phật tử quá khích, giải tỏa niềm tự ti lép vế 100 năm, đồng thời, hâm nóng tự ái Chúa tử, réo gọi cái lép vế hiện thời. Giữa Trí Quang và Hoàng Quỳnh giàn trận. Hai đêm mù mịt con Phật, con Chúa giao tranh giữa Sài gòn, thời Nguyễn Khảnh, là kết quả đẹp của Tòa Đại Sứ Mỹ. Đến lượt Thiên chúa giáo quá khích biểu dương lực lượng “kick-out” Cabot Lodge và “chiếm đóng” Dinh Gia Long. Tôn giáo thay thế đảng phái. Đảng phái hoàn toàn tê liệt. Mỹ lại phân tán mỏng tôn giáo. Phật Giáo chia ra hai hệ phái kình địch nhau: ấn Quang và Việt Nam quốc tự. Giấc mộng hóa đạo (hóa các đạo khác thành đạo Phật) mà văn gia Nguyễn Đức Quỳnh mớm cho ông Thích Tâm Châu bị vỡ. Thiên chúa giáo chia ra hai lực lượng chống đối nhau: Lực lượng đại đoàn kết và Mặt trận công dân công giáo. Trò chơi của Mỹ đã xong. Nguyễn văn Thiệu yên ổn đóng vai bù nhìn. Và Mỹ tự do toan tính những âm mưu của Mỹ.
Những kẻ thèm quyền bính và những kẻ chống đối ảo tưởng không quán triệt cái thủ thuật dùng tay sai cho mục đích nào, trong giai đoạn nào của Mỹ nên đã đối lập hư vô, đã câu sao in mặt nước, đã cù trên mũ sắt. Khi Mỹ còn cần Thiệu như một đầy tớ đắc dụng, chống đối Thiệu chỉ là sự làm dáng dân chủ giả hiệu của Mỹ ở nước nhỏ. Nhưng khi Mỹ không cần Thiệu và không cần bất cứ một tay sai nào thay thế Thiệu nữa, Mỹ muốn bỏ rơi Nam Việt Nam – vì đến giai đoạn bỏ, bởi mục đích đã đạt – thì người ta lại chỉ có thể hiểu rằng Mỹ sẽ bỏ Thiệu vì… ý dân bản xứ là ý trời. Ý ấy thể hiện ở công cuộc bài trừ tham nhũng Nguyễn văn Thiệu của thầy tu Trần Hữu Thanh. Có lẽ, ông thầy tu Trần Hữu Thanh ngây thơ, ông tưởng Trần Thiện Khiêm trong sạch như “con cò mà đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”, hoặc Trần Thiện Khiêm như cánh sen, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Ông ta “trụ trì” ở Dòng Chúa Cứu Thế, đâu biết những cánh rừng thông non của tổ quốc, Trần Thiện Khiêm đã bán hết, bán rẻ cho tư bản Nhật. Riêng vụ chặt thông non, Trần Thiện Khiêm đã đáng đem ra xử tử Nếu có dịp – trước 1975, dĩ nhiên – ra Cam Ranh, thấy gốc và ngọn thông xếp núi vất lại, lái buôn Nhật chỉ mua khúc thân giữa thật ngắn, mới đếm được tội ác của Trần Thiện Khiêm. Và người tê liệt lòng yêu nước cũng bỗng dậy lòng yêu nước. Thầy tu Trần Hữu Thanh không nhìn thấy gì, nghe thấy gì cả. Thầy nhắm mắt bài trừ tham nhũng Nguyễn văn Thiệu nhân danh tham nhũng Trần Thiện Khiêm. Và, như những kẻ bị Thiệu loại ra khỏi chính trường, tước đoạt quyền bính, thầy tu Trần Hữu Thanh hồ hởi phấn khởi chờ đợi ngày Nguyễn văn Thiệu gửi lời “cám ơn” đồng bào 1. Tất cả đã chỉ vì Thiệu, chỉ nhằm Thiệu mà quên suy diễn: Hàng tỉ đô-la tung sang Việt Nam, không tiếc sao lại tiếc 200 triệu?
Nhưng cái chính trường vét đĩa ấy đã không suy diễn sự kiện Mỹ cúp viện trợ, đã không nhớ lại sự “rút lui chiến thuật” 1954. Nó bung ra tứ phía và tưởng cò sẽ béo khi nước đục. Nó rộn ràng đó đây. Nó hân hoan Mỹ cúp viện trợ cho Thiệu. Nó tưởng Mỹ cúp viện trợ cho Thiệu là đuổi Thiệu đi. Nó hy vọng tràn trề, kế vị Thiệu sẽ được Mỹ tiếp tục viện trợ và viện trợ nhiều hơn. Những người đủ tư cách trả lời những kẻ ôm ảo tưởng Mỹ viện trợ nhiều hơn là các ông tướng quân đoàn, tướng sư đoàn thì đều im lặng. Chỉ cần một ông tướng pháo binh nói sự thật về sự giới hạn đến thê thảm đạn phản pháo. Đã đủ thức tỉnh mọi người cái thế kết đoàn tự lực ngăn giặc. Buồn thay, đã chẳng hề ai có thẩm quyền lên tiếng về những phi vụ Mỹ yểm trợ hành quân càng ngày càng thưa từ sau hòa ước Paris và mất hẳn và chiến cụ viện trợ nhỏ giọt bó tay quân lực Việt Nam cộng hòa. Bầy hạc gỗ nín khe. Đám cầy cáo hưởng thụ no nê thì hóa đui, điếc, câm. Bởi thế, thay vì rộn ràng một hội nghị Diên Hồng không cần Thiệu và quần thần đê tiện của Thiệu, người ta tấp nập, vội vàng chiếm thế thượng phong vào… Dinh Độc Lập ngồi lên cái ghế nô dịch của Thiệu. Ba trăm cây số đường máu oan nghiệt của quân dân “di tản chiến thuật” không làm xúc động ai. Hình như ruồi nhặng chỉ thích đậu trên máu quánh, và kên kên chỉ thèm xác chết rữa…
Đó đây, từng nhóm thống trị bù nhìn phế thải họp bàn mưu đồ lợi dụng thời cơ phục hồi quyền bính cũ. Những khuôn mặt cá ươn của chính trường bay ra cái chợ chiều dân tộc. Và những giọng nói cú vọ lại phát ngôn lời sắt son yêu nước. ông Nguyễn Cao Kỳ là người cay cú Nguyễn văn Thiệu nhất và thèm quyền bính nhất trong đám tôm tép chợ chiều. Thuở nắm quyền bính “độc lập, tự do” trên: không có kỳ đà tổng thống cản mũi, dưới: không có gà què quốc hội làm phiền, ông ta thường hay phát ngôn nhảm nhí bất xứng với cương vị thủ tướng. Trong chợ chiều, ông ta buông một câu chính khí:
– “Tôi không đi đâu cả. Tôi nhất định ở lại Việt Nam. Tôi đã quen ăn tương cà, canh mắm rồi. Sang Mỹ ăn bơ sữa dễ bị ỉa té re. Đứa nào sang Mỹ, đàn ông làm cu-ly đàn bà làm đĩ “!
Nhiều người rất cảm động khẩu khí Nguyễn Cao Kỳ, đinh ninh rằng ông ở lại chiến đấu, quyết xin được da ngựa bọc thây, dẫu chẳng lật lại thời thế, bảo vệ miền Nam dân chủ tự do, thì cũng đem thân báo đền nợ nước để khỏi thẹn với tiền nhân dưới suối vàng. Xin mở một ngoặc đơn. (Rất tiếc ông Nguyễn Cao Kỳ đã ra đi. Người ta sẽ thông cảm ông, sẽ chia xẻ với ông lời nói của cổ nhân “chấp kinh tòng quyền”, nếu ông biết ẩn thân, diện bích mà suy nghĩ một câu ngắn trong Cựu ước: “Có một thời im lặng và một thời lên tiếng”. Tại ông ham lên tiếng và lại lên tiếng nhảm, lên tiếng không đúng thời nên ông mắc khẩu nghiệp. Và bị công kích. Khi viết cuốn sách này và từ dòng này, tôi đã thiền, nên xin ông hiểu giùm rằng, tôi không thích công kích ông nữa). Khép ngoặc đơn. Dù ghét ông Kỳ hay dù chẳng ghét ông Kỳ, rất nhiều người đã vì khẩu khí Tân Sa Châu của Nguyễn Cao Kỳ mà ở lại, hy vọng được cùng ông Kỳ chiên đấu. Rốt cuộc thì đa số vào tù nghĩ là ông Nguyễn Cao Kỳ sáng giá nhất chợ chiều tôm tép, một ông tướng đã vội hạ quyết tâm:
– Lần này ông nắm quyền bính, thằng nào trình văn thư cho ông ký ở bàn mạt chược, xin phép ông, tôi bắn bỏ hết!
Đó mới là sinh hoạt một cụm. Những cụm khác ra sao? Quý vị mót làm Tổng trưởng lăng xăng như gà mót đẻ. Thiệu đổ sẽ có nội các mới. Nội các nào? Người ta đi tìm chỗ cư ngụ của Thủ tướng tương lai. Thầy tu Trần Hữu Thanh quên Chúa, nhất định phá bùa ếm dấu trong bụng con rùa đồng đen làm chân tượng đài tri ân các nước viện trợ cho Việt Nam cộng hòa. Đất nước bất hạnh của chúng ta đã có Tổng thống tin bói toán, tử vi, lại còn thêm những kẻ đối lập Tổng thống tin tử vi, bói toán, ngải và bùa ếm! Phong trào của thầy tu Trần Hữu Thanh quả quyết rằng, chỉ cho chất nổ phá tung con rùa đồng đen là Nguyễn văn Thiệu… băng hà. Sự tham quyền cố vị của Thiệu nằm ở chỗ nào đó trong bụng con rùa. Một cái bùa của cụ Diễn, chắc chán. Tôi chợt nhớ một chuyện tương tự đã xảy ra cách đây 20 năm. Một số các ông Đại Việt quan lại đã gài mìn giật sập Chùa Một Cột 2. Các ông ngu si này lý luận:
– Long mạch của cố đô nằm dưới Chùa Một Cột. Phải đánh sập chùa, bít long mạch thì cộng sản bất yên mà quốc gia mới có cơ hội Bắc tiến giải phóng quê hương.
Cộng sản có bất yên, Bắc tiến có thực hiện nổi không, chúng ta đã được trả lời. Cái ngu hôm qua lại vẫn là cái ngu hôm nay. Dễ hiểu thôi, vì trong phong trào của thầy tu Trần Hữu Thanh có vài ông Đại Việt? Người ta đòi phế bỏ một ông Tổng thống bằng cách đi phá bùa ếm!

° ° °

Tôi cảm giác thời gian ngừng lại. Khi tôi mong trời vỡ sáng thì trời không muốn vỡ sáng. Mới 4 giờ. Tiếng súng từ phi trường Tân Sơn Nhất vọng vào đã thưa thớt, nhưng tiếng phi cơ trực thăng vẫn ầm ĩ một góc trời thành phố. Tôi bật ti-vi. Màn ảnh nhỏ trắng xóa. Không có cái bất ngờ như tôi tưởng tượng. Tôi đâm ra tương tư người lính sửa xe tăng trước cửa nhà mình tối qua và ông tướng Vĩnh Lộc. Tôi mở radio. Giới nghiêm 24 trên 24 kể tử 0 giờ ngày 30-4-1975. Lệnh giới nghiêm không thay đổi. Tôi tắt ngay radio để khỏi bị nghe Nối vòng tay lớn và giọng tanh tưởi của Lý Quý Chung luận về tình nghĩa Trung Nam Bắc. Có vẻ như thằng ở giữa đần độn này muốn mở đường chào đón “anh em Việt cộng” của nó. Tôi nghĩ rằng đã có sự phân chia trong chế độ phù du Dương văn Minh. Quân sự chủ chiến. Dân sự chủ hòa. Thật sự, tôi không thiết nhớ lại cái chính trường vỏ tôm Sài gòn những ngày tháng tư. Mà tôi cứ bị nhớ. Con người khó thoát khỏi sự chi phối của chính trị, dù là chính trị cà chớn của những thằng cà chớn.
Tháng tư 1975 quả là tháng chó đẻ của 5000 năm văn hiến, là tháng chó đẻ của 1975 năm sau Công nguyên, ghi niên biểu vào lịch sử Việt Nam và cả lịch sử Hoa Kỳ. Thành quả khai phóng tự do, dân chủ của Mỹ và thành tích 7 năm chấp chính của Nguyễn văn Thiệu nằm trong tháng 4-1975. Sự nghiệp vẻ vang của Thiệu nổi bật ở bài diễn văn từ chức và bài diễn văn từ chức rạng rỡ có một câu: “Bảo chúng tôi chống cộng sản mà không viện trợ thì làm sao chúng tôi chống cộng được?”
Rõ là khẩu khí của tên vô lại, của thằng đánh mướn đê tiện. Nhân sinh quan của Nguyễn văn Thiệu in nổi trên xú ngôn quốc sỉ này. Lý tưởng chiến đấu của Nguyễn văn Thiệu in nổi trên xú ngôn quốc sỉ này. Chính vì xú ngôn quốc sỉ này mà Việt cộng dám thóa mạ quân đội Việt Nam cộng hòa anh dũng của chúng ta là lính Ngụy là bọn đánh mướn. (Tôi xin, một lần nữa, xác nhận ở đây, quân đội là của tổ quốc, của dân tộc, vì tổ quốc, vì dân tộc mà chiến đấu. Quân đội việt Nam cộng hòa không phải là công cụ của bất cứ một chế độ nào, kể từ chế độ Ngô Đình Diệm trở đi. Quân đội đứng trên các chế độ). Lại mở ngoặc đơn. (Kẻ vô liêm sỉ Nguyễn văn Thiệu cũng đòi học đòi danh sĩ Nhất Linh tuyên bố: Đời tôi để cho lịch sử xử? Thêm một kẻ vô liêm sỉ, thứ tiến sĩ cơm thừa canh cặn ở Dinh Độc Lập, đã bình giảng xú ngôn Nguyễn văn Thiệu thành một pho xú thư dầy cộm bêu riếu dân tộc). Khép ngoặc đơn. Thiệu từ chức chỉ vì thầy Mỹ cúp tiền. Nhưng Thiệu không biết xấu hổ khi phát xú ngôn, ông ta dùng câu đó để diễu cợt những kẻ chống đối ông ta với thâm ý: Mỹ cúp tiền tao mới chịu từ chức chứ không phải tao từ chức vì áp lực chống đối của chúng mày? Chúng ta đành ngậm ngùi đã có một vị Tổng thống nằm trong một trang nào đó của những trang lịch sử chó đẻ tháng 4-1975.
Nguyễn văn Thiệu từ chức “đột xuất” khiến Phong trào của thầy tu Trần Hữu Thanh cụt hứng. Bùa yếm của Thiệu còn nguyên vẹn và con rùa đen cũng còn nguyên. Nhưng thầy tu Trần Hữu Thanh hét đối tượng… bài trừ Nguyễn văn Thiệu nhường ngôi cho ông già gân Trần văn Hương. Nội các Nguyễn Bá Cẩn thành lập thật nhanh, nhanh đến nỗi không ai biết tên một vị Tổng trưởng nào. Nội các này cần lập nhanh để chạy trốn hợp pháp lẹ. Tổng thống Trần văn Hương đòi chết như một chiến sĩ, nhưng ông hạ sĩ danh dự đã không toại nguyện, ông chỉ gây khó khăn cho những người di tản với cái sắc lệnh cấm công chức, sĩ quan và thanh niên trong tình trạng quân dịch chạy loạn cộng sản. Dược sĩ La Thành Nghệ là nạn nhân của tổng thống Trần văn Hương. Ông ta vượt biển quá sớm, bị hải quân bắt đem về đất liền, bị ở lại và bị đi học tập cải tạo.
Vào những ngày cuối tháng 4, ông chủ Hoa Kỳ không còn thiết làm chủ bọn thống trị bù nhìn nữa. Ông ta… giải phóng nô lệ, thế nhưng cái chính trường Sài gòn hèn mạt vẫn nơm nớp sợ hãi ông chủ và tưởng rằng ông chủ Hoa Kỳ thích Dương văn Minh thay thế Trần văn Hương để thực thi hòa giải dân tộc. Lưỡng viện Quốc Hội họp. Tất cả quay về sau lưng, thấy mấy ông Mỹ ở Tòa Đại Sứ đến dự kiến, ngỡ rằng Mỹ gây áp lực. Bèn đồng ý Dương văn Minh cái rụp. Thế là chúng ta có Tổng thống Dương văn Minh.° ° ° Tôi mở cổng ra vỉa hè, nhìn xuống cầu Công Lý, nhìn lên Dinh Độc Lập. Đường phố vắng hoe. Trời lất phất mưa. Không phải sương rây. Sẽ xảy ra chuyện gì những giờ sắp tới? 4 giờ 30 rồi. Tôi trở vào nhà, rất mong những người lính Sài gòn, những sĩ quan quả cảm, những tướng lãnh đầy trách nhiệm làm Sài gòn thành một Stalingrad.

Google photo edit by Sơn râu

Chúng ta đã có những ngày Hà Nội dân chúng đốt cháy phố phường, đục tường nhà này xuyên qua tường nhà nọ, sống với thủ đô, chết với thủ đô để trả lời kẻ thù và thế giới lòng yêu tự do, dân chủ và ý chí chiến đấu của chúng ta. Tôi mong được chết bởi đạn quân thù khi đang chiến đấu. Tôi sẽ tình nguyện vác đạn. “Xin làm đôi giầy của dũng sĩ” thôi.
Tự nhiên, lòng tôi dạt dào cảm xúc. Tôi bỗng thấy cái bài hát tôi ghét nhất trở thành hay nhất:
          … Nhân dân tự vệ
          Vang lên lời thề
          Không để quân thù giầy xéo quê nhà ta
          Từng khu phố đứng lên…
Cảm xúc, bây giờ, khiến tôi nhớ những bài báo của Trần Việt Sơn, đăng mỗi ngày, trang 2, báo Chính Luận. Những bài báo của anh Trần Việt Sơn đã bắt cả Sài gòn lạc quan trước khí thế tiến công của cộng sản. Ngòi bút của Trần Việt Sơn thật giá trị. Anh đã trấn an Sài gòn khi Huế mất, Đà Nẵng mất, Quy Nhơn mất. Anh quả quyết chúng ta sắp phản công và cộng sản phải ngừng lại ở bên kia đèo Cả. Cùng với những bài báo của Trần Việt Sơn – than ôi, chỉ có một con én quả cảm và bình tĩnh Trần Việt Sơn và chỉ có một nhật báo Chính Luận – Nguyễn Trọng Nho bay trên vùng trời Long Khánh quan sát mặt trận với các chuyên viên quân sự, tuyên bố cùng báo chí sự bạc nhược của bộ đội miền Bắc sau hai trái bom CBU. Sài gòn tin tưởng lại. Chúng ta còn võ khí xử dụng vào phút chót. Bom CBU. Bom CBU sẽ đẩy lui tham vọng điên cuồng của cộng sản. Chính tôi cũng được kích thích mạnh bởi báo cáo của Nguyễn Trọng Nho. Tôi đã đến Cục tâm lý chiến, tìm gặp ông đại tá Cao Tiêu, đề nghị ông can thiệp với không quân chở một số nhà văn, nhà báo danh tiếng đi quan sát các mặt trận gần để về, viết báo, nói trên các đài phát thanh, truyền hình gây lại niềm tin tưởng. Đại tá Cao Tiêu đồng ý 3. Nhưng ông đã không thực hiện. Tôi còn nhớ cả cái sĩ khí của một số anh em văn nghệ ở những ngày cận kề 30-4. Họ đã họp nhau tại một căn nhà ở đường Tự Do, quyết định xuất bản một tờ báo lửa. Nếu tôi nhớ lầm, xin được tha thứ: Trong số anh em văn nghệ đó có anh đang ở đây và một số còn kẹt lại quê hương, không tiện nêu tên. Người ta sẽ nghĩ gì về thái độ của kẻ sĩ lúc tổ quốc lâm nguy, và sẽ nghĩ gì về bọn tướng lãnh đào ngũ trước buổi họp của kẻ sĩ đòi xuất bản báo lửa?
Trong những phút giây mà mạng sống như sợi chỉ treo mành, rất hiếm những con người còn dám ngẩng mặt. Những người này chung thân im lặng, đôi khi còn xấu hổ nếu có ai nhắc đến thái độ sống của mình, dẫu để vinh tôn. Chắc chắn, thái độ sống của những người dám ngẩng mặt khi những người khác chạy trốn hay chuẩn bị cúi mặt cần phải được thắp sáng bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào. ít nhất thì cũng để kẻ thù của chúng ta không dám mở miệng khinh bỉ chúng ta hèn mạt. Vì khan hiếm những con người dám ngẩng mặt nên chúng ta thừa những con người mê muội thèm khát quyền bính đến quên cả thế lẫn thời. Lời thóa mạ nào dành cho những kẻ trí thức bám quanh Vũ Văn Mẫu bon chen danh vọng giờ thứ 25? Những tên Tổng trưởng đê tiện của Vũ văn Mẫu rồi cũng vào tù. Và cũng muối mặt nhận mình là tù nhân tư tưởng!
Tôi muốn quên hết, quên hết, quên cả những thảm cảnh đồng bào tôi di tản về đất hứa Phú Yên và bị ở lại với cộng sản; đồng bào tôi nhục nhã xuống tàu từ Đà Nẵng vào Phú Quốc, từ Đà Lạt xuống Phan Thiết. Quên để mường tượng một Sài gòn sắp biến thành Stalingrad vài giờ nữa. Tôi chợt thấy mình còn hạnh phúc. Hạnh phúc ước mơ chết ngon lành.

5 giờ. Tôi đã trải qua 300 phút của ngày dài nhất. Ngẫu nhiên, tôi trở thành chứng nhân của thời đại tôi, một chứng nhân không thích rườm rà chi tiết, một chứng nhân chỉ khoái vắn tắt từng sự kiện và suy diễn những sự kiện theo kiến thức hữu hạn của mình. Nhưng luôn luôn sáng tạo, cố gắng sáng tạo. Rất nhiều khi chứng-nhân-tôi quên hẳn những sự kiện quan trọng mà chỉ nhớ những sự kiện vớ vẩn. Người viết tiểu thuyết khác người viết lịch sử ở chỗ đó. Người viết tiểu thuyết thường khám phá ra ở sự kiện vớ vẩn cái vóc dáng đẫy đà và quan trọng hơn cả sự kiện quan trọng dưới mắt sử gia. Tôi mê huyền sử, dã sử nặng gấp bội chính sử, ngoại sử. Giản dị lắm, huyền sử và dã sử không thèm quan tâm tới niên biểu. Thế mà tôi lại quan tâm tới niên biểu của một ngày dài nhất đầu tiên trong đời tôi đã trôi mút mít 20 năm.
10 tháng 7 năm 1954, là ngày dài nhất ấy, là ngày quân đội liên hiệp Pháp rút khỏi thị xã Thái Bình, là ngày dân chúng di tản. Thực sự, những người có máu mặt và hiểu thời cuộc đã “rút lui chiến thuật” trước 10-7. Ngày dài nhất ấy, với tuổi 19 của tôi, thật phũ phàng. Tôi nhớ lại. Như thế này…
Hàng năm, tôi đều từ Hà Nội về Thái Bình nghỉ hè. Hè 1954 xảy ra vụ “rút lui chiến thuật” trước khi tôi lên Hà Nội. Sự hãi hùng bắt đầu từ 12 giờ ngày 10-7. Lính Hổ xám, lính pạc-ti-dăng và cả lính Bảo chính đoàn nữa, xông vào các nhà buôn bán lớn tống tiền, cướp của và hãm hiếp đàn bà, con gái. Y hệt những thảm cảnh đã diễn ra tại vài thành phố miền Trung trước 30-4-1975. Hàng phố vội vàng đóng cửa kín mít. Bố mẹ tôi tìm chỗ nấp nếu cửa bị xô mở. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi những bước giầy đinh rằm rập trên vỉa hè trước nhà mình. Tim tôi muốn vỡ ra. Tình trạng nín thở kéo dài đến tối. May mắn, bố mẹ tôi buôn bán nhỏ nên đã thoát cảnh tống tiền, cướp của, hãm hiếp. Tuy nhiên, chúng tôi đã có một đêm không ngủ, một đêm không ngủ đợi chờ bất hạnh. Đêm im lặng. Máy điện chạy nghe rõ. Và máy bay bà già lượn suốt đêm trên vùng trời thị xã. Gần sáng, một tiếng nổ lớn ở phía cầu Bo. Rồi hoàn toàn vắng lặng. Máy bay bà già đã hết lượn. Chỉ còn vang vang động cơ của máy phát điện. Mãi 12 giờ hôm sau, 1 1-7, dân thị xã mới biết Pháp đã rút lui. Người ta tự động di tản về nông thôn. Thị xã bỏ trống 4. Tôi chờ hiệp định Genève ký kết xong mới lên Hà Nội. Và Hà Nội trước những ngày cộng sản vào tiếp thu rất bình yên. Như Sài gòn chiều ngày 29-4-1975. Không hề có tống tiền, cướp của, hãm hiếp do một số lính vô kỷ luật tạo ra. Cũng không hề có “đấu tranh” giành lại “xương máu bị bóc lột” của dân nghèo.
20 năm sau, 1975, tôi 40 tuổi, lại thêm một ngày dài nhất và một đêm không ngủ trong đời mình. Đêm không ngủ, tôi vừa trải qua. Ngày dài nhất, tôi mới đếm được 5 giờ. Với một nhà văn tài năng, 5 giờ đồng hồ đợi chết, ông ta sẽ cống hiến chúng ta những trang sách rụng rời về cảm giác sắp chết. Và ông ta sẽ soi sáng ý nghĩa sống của sự chết. Có thể, ông ta sẽ cho chúng ta biết chính xác nơi chốn ngự trị của linh hồn. Chúng ta cần hiểu điều đó, thèm hiểu điều đó. Rằng, những người công chính, sau khi chết, về đâu; những kẻ giả hình về đâu; những người chịu đựng oan khiên ngộ nhận về đâu; những kẻ điêu ngoa, dối trá về đâu; những người suốt đời cặm cụi ngậm cô đơn và thống khổ để làm đẹp cho con người cho cuộc đời về đâu; những kẻ phì nọc rắn, phun nọc rết, nhẩy múa trên cay đắng đồng bào chúng nó, của đồng loại chúng nó về đâu ông ta còn có thể mặc khải một niềm sống tuyệt vời nếu con người vượt lên được trên nỗi sợ hãi chết, nếu con người thản nhiên chờ chết. Tôi chợt nhớ sự thản nhiên sống và thản nhiên chờ chết của cổ nhân Đông phương. Đến một tuổi nào đó, con người Đông phương, con người cũ Việt Nam, con người nguyên thủy Việt Nam thừa ngạo nghễ rung đùi ngâm thơ nhìn quan tài mua sẵn cho mình hay ngồi trên nắp quan tài mà say sưa cuộc cờ Khi con người nhìn rõ cái phù ảo của cuộc sống thì nó không thèm lý tới sự chết. Và, vì đã quán triệt cái lẽ phù ảo của cuộc sống, con người sẽ cố sống cho ra con người, cố làm cái gì đó thật ý nghĩa cho những cuộc sống nổi tiếp. Hẳn nhiên, ý nghĩa của sự sống khi con người thấu hiểu lẽ phù ảo của nó chẳng bao giờ là tiện nghi vật chất thừa mứa, là tiền bạc phủ phê, là hư danh hão huyền đến nỗi phải kèn cựa nhau, tranh giành nhau đến xầy da, sứt trán, đến chém giết nhau, đến thù hận nhau làm phôi pha tình người và mất ý nghĩa của sự sống, mất lạc thú của cuộc sống. Ca dao chẳng đã luận về sự bình đẳng của sự chết đó ư!
          Vua Ngô đi bốn tàng vàng
          Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì
          Chúa Chổm nốc rượu tì tì
          Chết xuống âm phủ khác gì vua Ngô
Nếu Chúa Chổm là Lý Bạch, là Tản Đà, là Tề Xương, là Hà Huyền Chi, là Baudelaire, là Hoàng Anh Tuấn, là Nguyễn Bính…, Chúa Chổm hơn vua Ngô triệu triệu lần. Vì Chúa Chổm có thơ để lại cõi thế mà vua Ngô chả có gì. Vua Ngô chết là mục xác. Chúa Chổm sống mãi, Chúa Chổm bất tử, Chúa Chổm phục sinh nhờ thơ của Chúa Chổm. Cái thứ sống mãi trong hòm kính là thứ sống mãi bệ rạc không hứa hẹn hòm kính sẽ bị đập vỡ tan tành.
Tôi không phải là nhà văn tài năng nên tôi đã sợ chết ngâm rọ dưới sông, sợ chết sặc sụa trong biển máu. Và tôi không thể có những trang sách tuyệt vời về cảm giác chờ chết. Tôi đã sợ hãi chết, sợ hãi trời chóng sáng, đã muốn bóng tối mênh mang vô cùng để khỏi nhìn rõ đao phủ và hình cụ của nó. Bây giờ, tôi chờ sáng, tôi hết sợ chết nếu tôi được chết bởi đạn quân thù găm trong tim giữa lúc tôi đang chiến đấu. Không một kẻ chiến bại nào được da ngựa bọc thây cả. Da ngựa biết chê thây chiến bại.
Tôi mở radio. Lệnh giới nghiêm nhắc đi nhắc lại. Không còn Nối vòng tay lớn. Không còn cả giọng nói bầy nhầy đón gió trúng mối của biểu tượng Lý Quý Chung. Tâm hồn tôi rạng rỡ khi hình tưởng người lính sửa xe tăng tối qua và nhật lệnh quyết chiến của tướng Vĩnh Lộc, người hùng Pleime năm xưa, “vua xứ mọi” của tôi. Ông đang ở đâu, ông Vĩnh Lộc? ở đâu cũng được, ông còn ở màn ảnh nhỏ của Truyền Hình Việt Nam, băng tần số 9, tối hôm qua là đủ rồi. ít nhất, với tôi. Lập tức tôi có ý nghĩ mới: Bằng hữu tôi, đồng bào tôi di tản thoát, đã mất dịp làm Người Sài gòn. Sài gòn sắp thành Stalingrad, nơi đó phẩm cách nguyên khối của người Việt Nam được chứng tỏ cùng thế giới: Rằng người Việt Nam chiến đấu chống cộng sản cô đơn và lãng mạn không cần cố vấn Mỹ và viện trợ Mỹ.

Tôi cảm khái, khe khẽ hát:
          Từng bờ tường mái hiên
          Từng mô đất
          Từng khu phố
          Từng khe cống
          Sài gòn vùng đứng lên…

Hãy đứng lên, hãy ngẩng mặt, Sài gòn! Có tôi làm giầy dũng sĩ ngăn giặc xâm lăng. Có tôi làm công dân tải đạn…

——————————–

1Trong giai đoạn ồn ào của Phong trào bào trừ tham nhũng. Đài Tiếng Nói Việt Nam của cộng sản đã kết tội thầy tu Trần Hữu Thanh là tay sai CIA thay vì ca ngợi thầy. Thầy bị bắt tháng 2-1976, đã được tha và bị quản chế tại sinh quán.
2Công trình kiến trúc từ thời nhà Lý đã bị tan nát. Chùa Một Côt hiện nay là kiến trúc mới mô phỏng chùa củ. Báo chí Hà Nội, hồi ấy — trước ngày cộng sản tiếp thu — đã gọi bọn giật sập Chùa Một Cột là bọn phản quốc, bọn ngu xuẩn…
3Ông tướng chiến tranh chính trị Trần Văn Trung đã mời tôi đến Tổng cục Chiến tranh chính trị ba lần để nói về nghệ thuật tâm lý chiến. Cã ba lần, Trần Văn Ân đều dự kiến. Lần thứ tư tôi từ chối vì ý kiến của tôi chưa được thực hiện. Tôi tình nguyện đến ông Cao Tiêu. Có lẽ, ông lo… di tản, bỏ rơi đề nghị của tôi. Cám ơn ông, nếu ông thực hiện, tôi sẽ chết rũ trong tù.
4Bộ truyện Vẽ buồn tỉnh lỵ gồm 6 cuốn. Tôi mới cho xuất bản Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy, Thằng Khoa. Còn thiếu Thằng Vọng và Vẽ buồn tỉnh lỵ. Tôi đã tiếc không cho xuất bản trọn bộ sớm hơn. Để độc giả thấy 1954 mà so sáng 1975. Hai bản thảo đã bị cộng sản tịch thu hôm công an đến bắt tôi, 8-4-1976. Tôi sẽ viết lại ngày gần đây. Vì một nhà xuất bản Pháp muốn dịch trọn vẹn bộ truyện này.

Sàigòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 1

Sàigòn trường ca

1.-

 Em thuở ấy còn hoa phong nhụy

Trên bản đồ địa lý giáo khoa thư

Rất thật thà và cũng rất ngu ngơ

Anh mực tím vẽ giấc mơ viễn xứ

Giấy trắng học trò viết tên em đầy vở

Viết đầy hồn tuổi nhỏ của anh xưa

Chuyến tầu vô Nam còi thét trong mơ

Nên ga bến chỉ đợi chờ tưởng tượng

Thế đã đủ làm anh sung sướng

Đủ làm anh chiêm ngưỡng em rồi

Hỡi Sài gòn xa lạ của anh ơi

Anh thầm gọi khi đất trời hiu quạnh

Nuốt miếng nắng vàng lòng thôi mưa lạnh

Và thèm bay như đôi cánh hạc hồng

Đêm sách đèn chữ nghĩa chạy lung tung

Ngày trường lớp cũng uổng công thầy dậy

Cái bảng đen mịt mù sao anh thấy

Xa nơi anh lộng lẫy một Sài gòn

Một Sài gòn tươi mát ngọt ngon

Đang vẫy gọi lời mật ong say đắm

Bước chân đời hiền ngoan nhưng chậm lắm

Anh theo nhanh mà vẫn cứ dại khờ

Sài gòn ơi, biết đến bao giờ

Anh khôn lớn để ước mơ đầy tuổi

2.-

Năm anh mười chín

Đường hoa xưa lầy lội

Quê nhà anh cằn cỗi thê lương

Như chim hạc hồng anh vội trốn mùa đông

Đôi cánh mỏng trĩu cong tâm sự

Tổ quốc mình còn ho lao quá khứ

Đã ung thư một hiện tại qua phân

Anh đến cùng em, anh đến thật gần

Với lòng anh bản đời ngµy xưa vẽ dở

Em nắng vàng xoài, mưa xanh vú sữa

Nỗi sầu riêng hồn anh lịm cơn mê

Sông miền Nam chẳng ai thích ngăn đê

Nên tình cảm mênh mông biển nước

Sài gòn em là mộng ước

Em áo bà ba đơn sơ và em giọng nói thiệt mùi

Em chân tình và em tha thiết quá em ơi

Xao xuyến ù ơ, bồi hồi vọng cổ

Em cho anh hơi thở

Cho anh niềm tin xây dựng tương lai

Em cho anh cả đất lẫn trời

Cả nắng thi ca, cả mưa tiểu thuyết

Em cho anh đếm làm sao hết

Đời yên vui nhờ liếp ấm em che

Đời yên vui nhờ một chốn lui về

Anh thấy rõ ngọn đèn soi cuộc sống

Phóng tầm mắt anh nhìn xa trông rộng

Thế giới ơi, tôi kiêu hãnh có Sài gòn.

Nếu phải lìa em, anh sẽ mỏi mòn

Anh sẽ giối giăng đọc tên em từng hàng cây, con phố

Theo bước chân người anh rày đây mai đó

Mỗi chia ly mỗi gần gũi em hơn

Mỗi chia ly mỗi thơm ngát nỗi buồn

Anh mới hiểu

Sài gòn trái tim anh, tim đất nước

Anh mới hiểu

Tại sao mình yêu tổ quốc

Và tại sao mình yêu dấu Sài gòn

Em cho anh nhiều, em nhớ nổi không

Tiếng hát thê lương, điệu ru kỷ niệm

Em cho anh no tròn sự nghiệp

Để anh đi làm đẹp cuộc đời

Sài gòn

Tên em trên những vệt son môi

trong ánh mắt và trong hơi thở

trong hạnh phúc và trong đau khổ

ở tuổi non và ở tuổi già

ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua

ở hôm nay anh sống và ngày mai anh chết

ở ngàn dặm kẻ chân mây mù mịt

ở tấc gang người cuối phố đầu phường

ở sớm công viên ngọn cỏ ngậm sương

ở chiều bùng binh đèn mầu phô sắc

ở bình minh nụ cười

ở hoàng hôn nước mắt

ở chốn ngoài ta

ở cõi vô thường

ở nghẹn ngào vết chém thê lương

của lịch sử trăm năm phản bội

của lịch sử làm nên bởi những tên gian dối

những tên bù nhìn yêu nước độc quyền

những tên tay sai tráo trở đảo điên

Em ngự đền đài, em là đà huyệt mộ

ở mọi nơi vì em là thành phố

Là chứng nhân và là cả nạn nhân

Anh yêu em muốn cắn nát vai trần

Muốn ghì chặt môi hôn bây giờ và mãi mãi

3.-

Sài gòn khăn sô

Mùa xuân tím tái

Lưỡi lê đàng ngoài thù hận đàng trong

Chim hạc hồng tiếp tục trốn mùa đông

Chả thấy Hoàng Diệu nào tuẫn tiết

Anh chỉ thấy bọn tướng hèn khốn kiếp

Lột xé chiến bào, phi tang tích huân chương

Đứa tham sinh rời lủi quê hương

Đứa úy tử gục đầu chịu trói

Sài gòn ơi, anh biết em đau nhói

Anh biết em nhục nỗi tháng Tư

Nỗi nhục ghim sâu, em vẫn thủ đô

Vẫn rực rỡ tự hào những người

Ta không bỏ em cao thượng

Ta ở lại địa ngục trần gian

và ta tự tìm lên thiên đàng hạnh phúc

Bởi vì ta được khóc với Sài gòn

Nước mắt ta nhỏ xuống vết thương non

Vết thương xót xa làm ta khôn lớn

Sài gòn

Em đã cho anh hai mươi năm sung sướng

Anh phải van lơn để hứng chịu cơ cầu

Ngày mai, trong ngục tù hay phát vãng rừng sâu

Anh không thẹn khi nói: Anh yêu em tha thiết

Hãy mơn nhẹ nỗi đau, đừng rên xiết

Hãy thinh không niềm bí ẩn trùng khơi

Sài gòn ơi

mãi là em nhé,

Sài gòn ơi

Google photo edit by Sơn râu

Dù biển dâu có khoác áo chồn tinh

lên tên em diễm tuyệt

Mãi là nắng thi ca là mưa tiểu thuyết

Dù đường xưa đầy dấu vết kên kên

Mãi là em,

mãi là em ngơ ngác, dịu hiền

Để anh vững hành trang xa em biệt xứ

Để anh vỗ về tương lai bằng điệu ru quá khứ

Để anh yên vui còn một chốn lui về

4.-

Tháng sáu mây chì

Mưa tiễn anh đi

Mưa sướt mướt hay Sài gòn sướt mướt

Anh đi theo nổi trôi vận nước

Anh đi theo dâu biển quê nhà

Anh hết là anh

Anh đã là ta

Cái tiểu ngã nhập vào đại ngã

Nỗi thống khổ chẳng riêng ai chịu nữa

Nó đè lên vai cả dân tộc

cả thế giới chúng mình

Nó trong giọt nước mắt già và trên ngọn tóc xanh

Nó ở cuộc đời thênh thang

và ngục tù tăm tối

Nó ở ban mai kinh nguyện cầu

nửa đêm kinh sám hối

ở hồi chuông cáo phó

ở tiếng khóc chào đời

Nó gầm gừ đe dọa dài dài

Sau mỗi hòa bình của chiến tranh ý thức hệ

Nó là tham lam, ích kỷ

là kiêu căng, ngu xuẩn là độc ác dối gian

Nó xui Việt Nam tàn nhẫn với Việt Nam

Và bắt nhân loại phải rời xa nhân loại

Nó đã bắt ta xa em, Sài gòn hỡi

Nó đầy ta suối độc, rừng thiêng

Nó còn giả vờ giăng khẩu hiệu nhân quyền

Con ó bảo mỏ mình thôi nhọn hoắt

và con gấu khoe chân mình cùn nanh vuốt

Nhưng loài người vẫn bị mổ mắt, vẫn bị cấu cào

Ta thì vẫn nằm dài trong những đề lao

Nghe nỗi nhớ Sài gòn thơm ngát

5.-

Mùa thu nghe con cuốc cuốc

Có gần ta những buổi chiều nhung

Em đến luôn luôn, em đến rất thường

Với cỏ úa công viên, với cây khô tước vỏ

Với phấn son, lược gương vất bỏ

Với móng tay dài, ánh mắt diều hâu

Phan Đình Phùng tạm trú nơi đâu

Trần Quý Cáp hộ nào chứa đó

Ôi, Cần Vương trăm năm cũ

Cũng biển dâu dâu biển dưới mồ

Giải khăn sô trên vừng trán tháng Tư

Cho người chết và cho lịch sử

Cho nhiệt tình và cho danh dự

Cho quên trời xa cho nhớ đất gần

Em đến hoài hoài, em đến thật chăm

Với bước chân em rã rời cõi tạm

Với mũi tên găm tim xưng phổi nám

Em gọi ta về máu đỏ chiêm bao

Em gọi ta về xao xuyến dạt dào

Em có hiểu vì sao ta ở lại

Em có hiểu vì sao ta đóng đinh chịu tội

Sài gòn ơi, nay mới thật yêu em

Xưa đã yêu rất mướt rất mềm

Đã tha thiết chỉ gọi là tha thiết

Chưa cuồng điên, dại rồ, mãnh liệt

Vẫn ngỡ tình yêu khói nắng mơ hồ

Vẫn tưởng tình yêu bọt nước hư vô

Nên mới có bây giờ ta sám hối

Ta tình nguyện lưu đầy chuộc lỗi

Bởi mãi rong chơi nên đánh mất Sài gòn

Bởi trót lơ là làm héo đóa môi son

Làm suối lệ thành đại dương nước mắt

Hạnh phúc trong tay ta vừa vuột mất

Em gọi ta về hiu hắt dặm đường xa

Ta những chàng trai của Sài gòn mở hội hôm qua

Của hôm nay đề lao, tập trung lao cải

Của Sơn La, Lai Châu, Lào Kay, Yên Bái

Của Ninh Bình, Vĩnh Phú, Gia Trung

Của Kàtum, Thanh Nghệ, Phước Long

Của Trảng Lớn, Vườn Đào, Đồng Tháp

Của Chí Hòa, Hàm Tân, Sa ác

Của Gia Rai, Xuyên Mộc, vân vân

Hỡi Sài gòn, người tình chói lọi chân dung

Em gắng đợi ta về trong nỗi nhớ

6.-

Anh hỏi trời cao

Trời cao hớn hở

Anh chỉ đất thấp

Đất thấp mặn nồng

Có tình yêu, hạnh phúc nào già không

Trời đất nói hạnh phúc, tình yêu nghìn năm son trẻ

Và thành phố anh yêu cũng nghìn năm như thế

Sài gòn ơi, em trẻ mãi chẳng già

Anh sẽ về thắp sáng ngọn đèn xưa

Vẽ lại chân dung em

bản đồ giáo khoa thư địa lý

Viết tên em Sài gòn hoa phong nhụy

Sài gòn tình thơ anh

Sài gòn ấu thơ anh

Sài gòn mưa tâm tư

Sài gòn nắng tâm tình

Sài gòn mênh mông

Sài gòn vời vợi

Sài gòn rất tươi

Sài gòn thật mới

Thế giới ơi, tôi không mất Sài gòn

(Sa Ác, 30-4-1979)

1

Tôi nhìn đồng hồ: 0 giờ 1 phút. Ngày mới của nhân gian đã sang được 60 giây. Hoàng hôn của đời tôi khởi sự. Từ đốm lửa ở đầu điếu thuốc loé lên mỗi hơi rít đẫy đà, tôi mơ hồ thấy nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Tôi linh cảm tôi sẽ là một trong cả triệu nạn nhân bị đẩy vào cuộc tàn sát tuyết hận ghê gớm của cộng sản như người Mỹ khẳng định và như Soljenitsyne quả quyết. Tôi sợ hãi. Tôi sợ hãi vô cùng: Vì tôi chưa hiểu cộng sản sẽ dành cho những nhà văn chống đối họ cách chết nào, lối chết nào, kiểu chết nào. Khái Hưng đã bị dìm dẫy sặc dưới nước. Lan Khai đã bị nhét vô rọ liệng xuống sông. Sắp đến lượt chúng tôi. Sắp đến lượt Doãn Quốc Sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Mạnh Côn, Như Phong… Chẳng biết những người này có nhanh chân và may mắn hơn tôi? Chẳng biết anh em nào đã ra đi, anh em nào còn kẹt lại? Riêng tôi, tôi tuyệt vọng di tản từ lúc cổng sắt của Phòng thông tin Mỹ góc đường Lê Quý Đôn – Phan Đình Phùng mở tung, dân Sài gòn ùa vào đập phá cho hả giận bị đánh lừa và hôi đồ cho bõ tức. Với tôi, định mệnh an bài hồi 14 giờ, ngày 29-4-1975. Sứ thần Lan Carter không trở lại thực thi lời tâm huyết của tổng thống Gerald Ford: “Phải dành ưu tiên di tản những nhà văn, những nhà báo, những chủ bút”… Tôi nhớ Phạm Duy, trước phút chạy thục mạng, đã cố gọi giây nói khuyên tôi: “Tìm lối thoát lẹ đừng tin Mỹ, bọn Mỹ chó đẻ lắm”? Bọn Mỹ chó đẻ thật. Nó năn nỉ chúng tôi đến Usis ghi tên di tản. Nó lập danh sách, ghi rõ tên tuổi, bút hiệu, địa chỉ của chúng tôi. Nó đem danh dự của dân tộc nó quả quyết sẽ không bao giờ để chúng tôi lọt vào tay cộng sản. Chúng tôi tin nó. Và chúng tôi đã không kiếm đường khác. Bấy giờ, ông đại sứ John Dan chưa công bố thư riêng của hoàng thân Sirit Matak sau khi cuốn cờ sao xọc rời Phnom Penh: “Sống chết đối với tôi không quan trọng. Điều quan trọng là tôi đã trót tin người Mỹ”? Sirit Matak khước từ di tản. Nếu tôi không lưỡng lự giữa hợp pháp và bất hợp pháp, chỉ cần xỉa cho chị me Mỹ đen dưới chợ Xóm Lách mỗi đầu người ba trăm đô-la, tôi đã leo máy bay Mỹ ở phi trường Tân Sơn Nhất. Mới hay, me Mỹ giá trị hơn lời của tổng thống Gerald Ford và danh dự Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Khi tôi quán triệt tâm huyết Mỹ, đó là lúc tôi chờ đợi cái chết. Tôi đã chưa hề tin Mỹ. Lần đầu tôi tin Mỹ và tôi e rằng không còn dịp để nói là lần cuối cùng. Mỹ giống hệt cộng sản. Nó bảo trắng thì là đen. Nó bảo thắng thì là bại. Nó bảo đồng minh thì là đầy tớ. Nó bảo chung thủy thì là phản phúc. Nó dọa biển máu, biển máu. Nó vẽ ra những cảnh tượng hãi hùng. Nó sáng tạo sự khiếp đảm. Nó bắt thần kinh con người phải căng thẳng. Nó khiến con người gần như mất hết phẩm cách vì sợ chết, ôm lấy nó để nó giáng những báng súng thô bạo lên thân thể, nó đấm, nó đạp mà vẫn cam đành nhục nhã, ê chề, đau đớn cho sự sống hèn mọn ngoài biển máu quyết đoán của nó. Rồi nó thản nhiên vất cả một dân tộc lại, thoi thóp từng giây với ác mộng biển máu. Từ khai thiên lập địa, từ có loài người, chưa có giống người nào dã man, độc ác, lạnh lùng hơn giống tư bản. Cái giống tư bản đã viện trợ thêm cho chúng tôi cảm giác rụng rời của tưởng tượng nỗi chết, cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim. Tư bản làm tê liệt tâm hồn con người để cộng sản kết thúc cuộc sống của con người. Hai kẻ tội đồ của nhân loại đã thông đồng một trò chơi khốn kiếp ở nhiều nước nhỏ trên trái đất. Hôm nay, ở nước tôi.

Để quên nỗi chết, tôi chỉ còn biết hồi tưởng.

° ° °

Tín hiệu của ngày dài nhất trên quê hương Việt Nam khốn khổ đã phóng lên vùng trời Ban mê thuột hôm 12-3-1975. Nhưng Sài gòn không treo cờ rũ như đã treo để tang Phước Long thất thủ hồi đầu tháng 1-1975. Thành phố ấy vẫn ăn chơi trong mọi khắc khoải, vẫn nhẩy nhót trên mọi ưu phiền, vẫn cửng cổ quyền bính và âm mưu truất phế quyền bính. Những xác chết của quân dân chất đống, những dòng máu của quân dân chẩy dài, ở Darlac, còn tươi rói, chẳng làm lay động nổi cái bóng.. tối phủ kín lương tri mê sảng của giai cấp thống trị và bọn đối lập tổ quốc Người ta lạy lục xin viện trợ chống giặc. Người ta lạy lục cúp viện trợ chống giặc. Phong trào bài trừ tham nhũng chuẩn bị cuộc xuống đường vĩ đại. Cảnh sát chuẩn bi cuộc đàn áp ngoạn mục. Lần này, thầy tu Trần Hữu Thanh hạ quyết tâm phá nát con rùa tại công trường Duy Tân vì Nguyễn văn Thiệu dấu bùa yểm sự nghiệp bảo vệ đất nước dưới mu rùa! Lịch sử đã quá xa thời đại thầy tăng dựng triều đại nhà Lý vẻ vang. Bây giờ là giai đoạn tôn giáo thay thế sự ươn hèn của đảng phái. Để múa may ít và để bị giật giây múa may nhiều. Và vô tích sự. Hoàn toàn vô tích sự. ông Trần Hữu Thanh chống ông Nguyễn văn Thiệu bằng sở nguyện của ông Trần Thiện Khiêm, bằng tài liệu của ông Trần Thiện Khiêm, bằng hậu thuẫn của ông Trần Thiện Khiêm, tham nhũng ngang cơ ông Nguyễn văn Thiệu. Nhân danh một điều ác loại trừ một điều ác. Đó là tư tưởng tranh đẩu của một số thầy tu. Và, dĩ nhiên, không có hồi chuông cáo phó nào rung lên cho Ban mê thuột, ở nhà thờ, ở nhà chùa…

Google photo edit by Sơn râu

Ngày Nông Dân 1975 định tổ chức thật vĩ đại ở Sài gòn tạm hoãn. Những công trình xây cất tại Sở Thú cho ngày “Người cầy có ruộng” đang ồn ào, bỗng im lặng. Một triệu số giai phẩm Cách mạng xanh ấn loát xong xuôi đành nằm vô duyên ở Bộ Canh Nông, ở Sài gòn ấn quán, không còn dịp tặng nông dân tham dự đại hội. Bài ca cách mạng xanh của Phạm Duy do Thái Thanh hát chẳng kịp vang vọng những lời nhân bản: “Ruộng vườn chia nhau mà không cần đổ máu”… Tuy nhiên, sóng ngầm chỉ mới dấy lên ở đáy lòng giai cấp thống trị bù nhìn và tham vọng của bọn đã bị tước đoạt quyền bính bù nhìn cũ. Sóng nổi rõ rệt, không, không phải là sóng mà là những cọng rác bắt đầu nhô lên dòng thế sự, là đám Nguyên văn Binh, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quý Chung… Binh ôm chặt thầy tu Trần Hữu Thanh, khuynh loát nhóm dân biểu Quốc Gia, xúi dục tạo những xáo trộn. Chung theo sát gót Dương văn Minh, chờ đợi phất cờ.” Nguyễn văn Binh, cháu Tổng giám mục Sài gòn Nguyễn văn Bình, như cái nhân cộng sản cấy vào nhóm dân biểu đối lập Quốc Gia của những tay chống cộng sản khét tiếng Nguyễn Trọng Nho, Trần văn ân, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Văn Cung… Chính Binh đã qua mặt nhóm Quốc Gia viết thông cáo và nhân danh nhóm Quốc Gia -. Binh là chủ tich của nhóm – công khai đối lập… tổ quốc, nghĩa là xúi Mỹ cúp viện trợ cho Việt Nam. Nhóm Quốc Gia, vì cảm tình đã không tỏ thái độ gì cả. Những kẻ gọi là đối lập Nguyễn văn Thiệu đã quên việc lớn, chỉ nghĩ đến việc nhỏ. Đất nước mới vĩnh cửu, Nguyễn văn Thiệu nhất thời. Chỉ nghĩ tới cái nhất thời mà quên cái vĩnh cửu nên người ta hăm hở săn đuổi Nguyên văn Thiệu, người ta không thích đưa ra một đề nghị tạm xóa bỏ hận thù riêng để đối phó hận thù chung. Dễ hiểu thôi, chính trường của miền Nam, đúng hệt lời nhận xét của Nguyễn Trọng Nho: “Không có đối lập, chẳng có thân chính quyền, chỉ rặt gà què ăn quẩn”. Cần nối tiếp: “… và gia nô”? Cái chính trường đê tiện ấy, thực sự, không có đối lập đúng nghĩa. Chỉ là đối lập tổ quốc và đối lập người nguyên thủ quốc gia như đối phó kẻ thù. Bọn đối lập tổ quốc, ai cũng rõ chân tướng của chúng, là bọn cộng sản nằm vùng, là bọn thân cộng sản, là bọn đầy tự ti mặc cảm. Bọn gia nô miễn đếm xỉa. Một vài chính khách, dân cử đối lập chân chính thì lại thiếu thái độ chính trị. Nghĩa là chỉ biết chê sai mà không dám khen đúng, chỉ thích xa cách lấy danh mà không thích gần gũi hứng nhục vì quyền lợi của dân tộc, vì sự sống còn của tổ quốc Họ còn ngây thơ nữa. Muốn Nguyễn văn Thiệu té nhào nhưng họ không đủ tài năng cù nách Godfather của Thiệu. Khi bố già Sam còn yêu Thiệu, đối lập là trò hề rẻ tiền, hơn cả trò hề, là sự làm dáng dân chủ cho Thiệu vững vàng thêm. Nguyễn văn Thiệu trở thành kẻ tồi tệ do Godfather Sam khích lệ, do gia nô sùng bái, một phần do đối lập chỉ mưu đồ hất ông ta mà không chịu đóng góp xây dựng cho ông ta. Bởi vậy, với riêng Thiệu, đối lập và đối nghịch nguy hiểm hơn cộng sản; với đối lập và đối nghịch, Nguyễn văn Thiệu nguy hiểm hơn cộng sản. Cái chính trường ngu xuẩn ấy khoán trắng việc đánh giặc bảo vệ tổ quốc cho quân đội. Để làm những trò khỉ đối lập Để làm xáo động hậu phương cả trong lúc hậu phương và tiền tuyến đều bàng hoàng chuyện mất đất.

Không một hồi chuông cáo phó nào rung lên cho Ban mê thuột, ở nhà thờ, ở nhà chùa và ở cả lòng những kẻ đối lập phiêu lưu mà, đáng lẽ, cần phải rung lên. Cuộc chiến hai mươi năm, chưa lần nào lãnh thổ nước Việt Nam cộng hòa bị cộng sản ngoạm một miếng to thế, mầu mỡ thế. Ban mê thuột là vùng kinh tể trù mật của Cao nguyên. Một nhà phát hành sách báo ở Sài gòn cho biết, số sách báo bán riêng tại Ban mê thuột bằng cả miền Trung cộng lại. Nhưng Ban mê thuột đã thất thủ. Và Sài gòn không treo cờ rũ. Và Sài gòn đã quên cả Phước Long, đã chẳng cần đặt câu hỏi: Trước thời gian Phước Long mất, có một căn cứ, một đồn bót nào bị mất?Không, mất sáng thì quân đội ta chiếm lại chiều, mất đêm thì quân đội ta’ chiếm lại ngày. Nửa tấc đất cũng không để lọt vào tay cộng sản. Ngay Quảng Trị khó tái chiếm mà vẫn tái chiếm. Căn cứ Tống Lê Chân heo hút biên giới mà vẫn tử thủ. Tại sao bỏ rơi Phước Long? Niềm u uẩn Phước Long tại sao không bày tỏ? Mục đích bẩn thỉu nào đã cống hiến xương máu quân dân Phước Long làm quà tặng cho “giải phóng miền Nam”? Tất cả đều ngậm miệng, gia nô và đối lập; tướng hùng và tướng hèn. Rồi Ban mê thuột? Tiếng nói của lương tri nào kịp thời an ủi những cái chết tội nghiệp của dân, những cái chết bi phẫn của lính? Im lặng và lạnh lùng. Sài gòn vẫn nhẩy đầm, vẫn rượu gái, vẫn tham nhũng, vẫn làm tiền, vẫn củng cổ quyền bính, vẫn âm mưu cướp đoạt quyền bính… Phải đợi đến ngày 17-3-1 975, ngày khởi sự “300 cây số đường máu” dọc liên tỉnh lộ số 7 về đất hứa Tuy Hòa, nghĩa là ngày vĩnh biệt Cao Châu 1, Sài gòn mới hơi hơi xao xuyến!

0 giờ 15 phút. Trực thăng Mỹ vẫn vần vũ một góc trời Sài gòn. Nó tiếp tục hạ cánh, cất cánh chở những người Việt Nam hạnh phúc leo lên được nóc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Nghĩ cũng tội nghiệp cái hạnh phúc đó. Tư bản Mỹ đem chiến tranh sang Việt Nam và cần leo thang đúng chỉ tiêu của chính sách khai phóng tự do, dân chủ giả hiệu made in USA, họ đã nhỏ những giọt nước mắt cá sấu xuống xác chết anh em ông Ngô Đình Diệm, đã dẵm những gót giầy đinh thô bỉ lên những năm bình yên của miền Nam. Bằng đô-la, họ đã làm đảo tung trật tự xã hội Việt Nam, đã gây ô nhiễm đạo lý Việt Nam, đã tạo dâu biển tình nghĩa Việt Nam, đã dựng một giai cấp thống trị mới điếm đàng, tồi tệ, gian manh nhất trong lịch sử thực dân. Giai cấp giá trị mới này được phép làm giàu trong chiến tranh để phục vụ guồng máy chiến tranh tư bản Mỹ. Chúng ta có các ông vua chở dầu chiến lược, vua kẽm gai, vua xây bin-đinh cho Mỹ mướn, vua giặt áo quần Mỹ… Bằng quyền bính tôi mọi, họ đã bầy ra thế trận để tướng lãnh thù hận tướng lãnh, đảng phái thù hận đảng phái, tôn giáo thù hận tôn giáo, con người xa lánh con người. Và họ gọi là chống cộng sản. Và họ gọi là khai phóng dân chủ, tự do. Và họ gọi là chính sách tán biên cương xuất cảng chân thiện mỹ hai trăm năm Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ. Sự cao quý, sự lương thiện của đất nước, của dân tộc Lincoln đã chỉ thể hiện ở Việt Nam, ở các nước nhỏ trên thế giới qua chính sách bần tiện và gian dối của Hoa Kỳ. Suy diễn chính xác danh ngôn Fulbright: “Sài gòn là một ổ điếm,” thì ổ điếm ấy tập trung đủ mặt Tú Bà, Sở Khanh, Khuyển Ung, Khuyển Phệ tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ và lũ điếm thối thống trị bù nhìn tập trung ở Dinh Độc Lập. Cái ổ điếm Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ đã đánh đĩ dân chủ, tự do Mỹ để bành trướng chân lý kiểm tục của cộng sản. Hai chi nhánh điếm của hai đại công ty điếm Hoa Kỳ và Liên Sô khuếch trương kỹ nghệ đĩ dân chủ, đĩ cách mạng ở nước Việt Nam dưới hai bảng hiệu Chống cộng sản bảo vệ tự do, dân chủ và Chống Mỹ cứu nước. Vi trùng tư bản và vi trùng cộng sản làm mòn teo dân tộc Việt Nam. Vi trùng này ghê gớm hơn vi trùng giang mai, vì là vi trùng chiến tranh tư bản chống chiến tranh cộng sản và vi trùng chiến tranh cộng sản chống chiến tranh tư bản. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc phi cộng sản, phi tư bản, bị nhiễm cả hai thứ vi trùng chủ nghĩa. Vi trùng cộng sản gây bệnh cách mạng giải phóng rồi biến chứng thành các bịnh khát máu, ngu dốt, nghèo khổ, thù hận, ngục tù… Vi trùng tư bản gây bịnh dân chủ tự do giả hiệu rồi biến chứng thành các bịnh độc tài, tham nhũng, vọng ngoại, chia rẽ, tham quyền cố vị. Nhưng sự biến chứng nguy hiểm nhất của bịnh dân chủ tự do giả hiệu là hạnh phúc hứng bom đạn, hạnh phúc chết chóc, hạnh phúc hưởng thuốc khai quang và hạnh phúc di tản. Hạnh phúc di tản, thứ hạnh phúc cuối cùng của người Mỹ ban phát cho “đồng minh chống cộng”Õ Việt Nam, được tính thêm bằng những báng súng, những cái đạp, những cú đấm tối tăm mặt mũi. Lịch sử Hoa Kỳ sẽ không ghi những báng súng, những cái đạp, những cú đấm biểu tượng văn minh và văn hóa hai trăm năm Hiệp chủng quốc Mỹ giáng xuống thân phận Việt Nam sợ hãi cái biển máu do Mỹ tưởng tượng. Nhưng dân tộc Việt Nam sẽ nhớ mãi. Rằng, có hai cách trốn tránh biển máu thêu dệt kiểu Mỹ, một là chịu đòn mềm xác để leo lên được nóc Tòa Đại Sứ Mỹ, hai là chi cho me Mỹ, bất kể đen hay trắng, 300 đô-la một đầu người?

Cùng với tiếng trực thăng vần vũ, tôi còn nghe cả tiếng súng nổ ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Cộng sản đã pháo kích vào phi trường quân sự từ mấy hôm nay. Họ chưa ngừng pháo kích. Họ muốn tấn chiếm yếu khu Tân Sơn Nhất. Lính của chúng ta vẫn chống cự. Vào giờ này, bọn tướng lãnh hèn mạt, bọn đại tá nham nhở đang tranh giành nhau chỗ ngủ, phần ăn tại đảo Guam. Có thể, nhiều đứa đang thức bảo vệ đồ tế nhuyễn, công lao ăn cắp xương máu lính của chúng, mà chúng không quên di tản theo để làm rạng rỡ thêm sự nghiệp đào ngũ. Bọn tướng lãnh đốn mạt đã vất lại Danh dự, Tổ quốc, Trách nhiệm. Nhưng lính thì không, lính còn nguyên phẩm cách làm người, còn nguyên danh dự làm lính. Dù tướng đã đào ngũ chạy trốn, dù chỉ huy đã đào ngũ chạy trốn, lính vẫn hiên ngang bảo vệ tổ quốc, bảo vệ danh dự, và duy trì trách nhiệm của lính. Không còn ngôn ngữ nào khốn kiếp hơn để miệt thị bọn tướng lãnh đào ngũ. Cũng chẳng còn ngôn ngữ nào cao quý hơn đề vinh danh những người lính Việt Nam cộng hòa biết ý nghĩa sống, ý nghĩa chiến đấu và ý nghĩa chết. Hơn cả hào hùng, lính của chúng ta lãng mạn nhất loài người, chấp nhận chiến đấu cô đơn và gục ngã âm thầm.

Súng nổ ròn, nổ đẹp ở phía phi trường Tân Sơn Nhất. Và ở những nơi nào nữa trên quê hương tôi vào lúc bi thảm của lịch sử, vào lúc mà người lính có quyền đứng thẳng, ngẩng mặt, vất vũ khí, giã từ trận mạc? Họ lại khước từ cái quyền đó, họ đứng thẳng, ngẩng mặt phóng nhiệt tình và niềm kiêu hãnh của họ về hướng kẻ thù. Những người lính Việt Nam cộng hòa đã trả lời cho thế giới một cuộc chiến bảo vệ tự do đích thực, cuộc chiến không còn Mỹ và tay sai của Mỹ. Cuộc chiến đấu chống cộng sản của dân tộc Việt Nam chỉ khởi sự từ những ngày cuối tháng 4-1975. Từ những ngày này, lính đã thắp sáng chính nghĩa quốc gia. Trước đó, chính nghĩa của chiến đấu bị lu mờ, bị ô nhiễm, bị ngộ nhận bởi Mỹ và đầy tớ thống trị bù nhìn của Mỹ.

Nghe súng nổ, tôi liên tưởng người lính, nhân vật bất hủ của nhà văn James Jones trong tác phẩm from here to eternity. Anh ta tạm bỏ đơn vị vì lý do giết gã cai ngục quân lao trả thù cho bạn. Anh ta bị thương, tá túc tại nhà một vũ nữ. Biết tin quân thù xuất hiện và đồng đội anh hăng say chiến đấu, anh ta trở về đơn vị.

– Quân đội bạc đãi anh, anh trình diện làm gì nhỉ?

– Vì tôi là lính.

Vì tôi là lính. Câu nói đầy cảm xúc và cảm khái. Lính của chúng ta đã nói thế, nếu có ai hỏi tại sao các anh còn chiến đấu khi bọn tướng lãnh, bọn đại tá tham mưu đã đào ngũ. Tôi lại nhớ chập tối hôm qua…

° ° °

Lúc ấy, trên màn ảnh nhỏ của đài Truyền Hình Việt Nam, băng tần số 9, ông tướng Vĩnh Lộc, mà có thời chúng tôi âu yếm gọi là “vua xứ mọi” đang chắp tay sau lưng đi đi lại lại. Tướng Vĩnh Lộc thay thế “đại tướng” Cao văn Viên đã đào ngũ, nắm quyền Tổng tham mưu trưởng quân lực Việt Nam cộng hòa. Tướng Vĩnh Lộc còn ở lại với lính, với dân. Vào phút giây “sauve qui peut” này, vẫn thấy tướng Vĩnh Lộc chưa chạy, tưởng rằng ông ta xứng đáng con nhà tướng. Tôi không có kiến thức quân sự như Phạm Huấn đề thẩm định giá trị trận mạc và tài năng chỉ huy của tướng lãnh, vậy xin có vài hàng thật trung thực về “vua xứ mọi”, ông vua đã đối xử với tôi như một ông “vua” đối với một kiêu sĩ.

Hồi ấy, thời điểm Nguyễn văn Thiệu ra tranh cử tổng thống lần đầu, tôi đang ồn ào trên nhật báo Sống. Nhật báo này bảo trợ ấp Tân Lợi ở Rạch Giá, muốn tổ chức hai đêm đại nhạc hội tại Nha Trang và Quy Nhơn và rất muốn “vua xứ mọi” giúp đỡ tận tình. Chu Tử định cử Nguyễn văn Đông lên Pleiku “yết kiến” ông “vua xứ mọi”, Tư lệnh vùng 2. “Trì phủ Nguyễn Hoàng Đạt, tùy viên báo chí của tướng Vĩnh Lộc ngăn cản, bảo rằng, chỉ có tôi, tướng Vĩnh Lộc mới dành cho mọi dễ dàng. Chu Tử bèn phong tôi chức “đại sứ” của “vương quốc” Sống. Tôi hơi ngỡ ngàng vì tôi chưa hề gặp gỡ, chuyện trò riêng tư với tướng Vĩnh Lộc. Thế thì tôi cầm “quốc thư” ra đi. Đến Pleiku buổi chiều, chuẩn úy Nguyễn Trọng Nho ra phi trường đón tôi. Nho lái tôi về tư thất của quan năm Nguyễn văn Tự, hỗn danh Năm Mù, Tham mưu phó chiến tranh chính trị quân đoàn 2. Các quan đang xoa mã tước còm. Chỉ có Diên Nghị và Nguyễn Hoàng Đạt niềm nở thăm hỏi tôi. Quan năm chiến tranh chính trị, qua cặp kính đen của ông ta, đã nhìn tôi như nhìn một phóng viên hạng bét mà ông ta thường tiếp xúc. Kệ ông ta. Qua một đêm ở Pleiku, sáng hôm sau tôi yết kiến “vua xứ mọi”. Vua có công tác khẩn phải đi Lâm Đồng, chở tôi ra phi trường, dặn dò: “Đừng về, đợi tôi nhé, chiều nay chúng ta mạn đàm.” Buổi chiều, tướng Vĩnh Lộc cho người mời tôi lên quân đoàn. ông tướng vừa bay nhiều giờ trên vùng trời Lâm Đồng, chưa kịp về tư thất tắm gội, thay quần áo. ông ta tiếp tôi tại văn phòng. Có quan năm chiến tranh chính trị dự kiến. Tôi tặng ông tướng cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi. ông ta nói: “ông Duyên Anh lật chương thứ năm, tôi đọc cho ông nghe.” Ông tướng bảo, yêu tôi nhất ở Hoa thiên lý. ông tướng thao thao chuyện văn chương của tôi. Rồi chúng tôi luận về Đông chu Tam quốc… Gần 9 giờ tối, ông tướng “xin lỗi về nghe tin tức Sài gòn, vì dân sự nhất định phải đuổi liên danh quân sự ra khỏi chính trường.” ông tướng chỉ thị chiêu đãi tôi tại Phượng Hoàng.

Bất cứ một nhà văn nào được bất cứ một độc giả nào hiểu văn chương của mình, yêu văn chương của mình thì cũng đều thích thú cả. Tôi có cảm tình với tướng Vĩnh Lộc từ đó. Và từ đó, ông Năm Mù yêu dấu của tôi khoái tôi ông ta mắng yêu: “Tại cậu, tớ lại phải đọc tiều thuyết của cậu để đấu với ông tướng.” Vì chống đối cố vấn Mỹ ngu xuẩn, tướng Vĩnh Lộc mất chức Tư lệnh vùng 2. ông ta sai Nguyễn Hoàng Đạt về Sài gòn gọi tôi lên Pleiku đề cho tôi nguyên cơ sở ấn loát tuần báo Cao Châu. “sợ rằng Lữ Lan sẽ phá nát” và tặng tôi 9 trăm 98 ngàn là tiền quỹ của tuần báo Cao Châu. ông tướng muốn giúp tôi xuất bản nhật báo như đã muốn giúp tôi đắc cử dân biểu thị xã Nghĩa Trang sau vụ án trò giết thày. Cả hai lần, tôi đều từ chối. Tôi còn từ chối thêm lần thứ ba là lần ông ta nắm Tổng cục Quân huấn, loay hoay tìm giải pháp hợp lệ tình trạng quân dịch cho tôi. ông ta bảo tôi cầm bút hữu hiệu hơn cầm súng. ít có ông tướng nào đọc nhiều tác phẩm của các nhà văn Sài gòn và hiểu được sức mạnh của văn nghệ như tướng Vĩnh Lộc. Gọi ông ta là tướng trí thức, có lẽ không sợ lộng ngôn. Rất tiếc, giai cấp tướng lãnh khá hiếm những Vĩnh Lộc. Khi ông bị biếm về trường Cao Đẳng Quốc Phòng, tôi có ghé thăm ông một lần.

Bây giờ, ông xuất hiện trên ti vi, nắm quyền Tổng tham mưu trưởng vào giờ thứ hai mươi lăm. ông ta có vẻ bối rối trong Nhật lệnh đọc từng câu rời rã. Sự thung dung cần thiết lúc này để gây lại phấn khởi, để lấy lại niềm tin đã thiếu hẳn ở người hùng Pleiku. Cái vẻ phẫn nộ pha lẫn chán nản của tướng Vĩnh Lộc đã làm tôi buồn bã thêm. Tôi bỏ ra sân. Nghe tiếng xích xe tăng nghiến trên mặt đường, tôi mở cổng ra xem. Một đoàn xe tăng của ta từ hướng Tân Sơn Nhất chạy vào Sài gòn. Bất chợt, một chiếc dừng ngay trước cổng nhà tôi. Những chiếc tăng phía trước và phía sau dừng lại hết. Ngã tư Công Lý – Yên Đổ đủ một chỗ trống cho xe hơi qua lọt. Người lính xe tăng mở nắp, cầm cái búa lớn nhẩy xuống đường. Chiếc tăng bị trục trặc. Bình tĩnh, người lính giáng những nhát búa. Chắc chắn, anh ta không nghe tướng Vĩnh Lộc hài tội tập đoàn Nguyễn văn Thiệu và kêu gọi tiếp tục chiến đấu. Người lính ấy, biểu tượng rực rỡ và đích thực của quân đội, còn nguyên vẹn danh dự và trách nhiệm. Anh ta thừa hiểu bọn tướng lãnh đầu sỏ đã chạy trốn hết. Bọn thống trị bù nhìn đã chạy trốn hết. Nhưng anh ta là lính, dù thoi thóp một phút chiến đấu, anh ta vẫn bảo vệ danh dự quân đội, anh ta vẫn chứng tỏ trách nhiệm của anh ta với tổ quốc, dân tộc. Người lính im lặng làm công việc của anh ta. Hẳn nhiên, anh ta không hò hét. Nên, anh ta vẫn còn đây, trước cổng nhà tôi số 225 Bis đường Công Lý, sửa xích xe tăng một cách thản nhiên. Sự thản nhiên của người lính tôi đã không tìm thấy ở tướng Vĩnh Lộc trên vô tuyến truyền hình. Nếu “cái dũng của thánh nhân” đã biểu hiện rõ nét ở các ông tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm văn Phú, chắc chắn, những cái chết của các ông ấy đã phục sinh một ý nghĩa chiến đấu tuyệt vời. Chỉ tiếc các ông ấy tự sát quá vội vàng, tự sát chưa đúng lúc. Cần một tướng Nguyễn Khoa Nam có đủ cái thung dung tự tại phút nguy cơ, vùng 4 đã là những chiến khu lý tưởng dẫu thất thế sau 30-4. Tuy nhiên, các ông tướng tự sát vẫn xứng đáng con nhà tướng, vẫn để lại những dấu ấn khó phai nhòa trong quân sử và trong lịch sử. ông tướng Vĩnh Lộc quên cái dũng, vì ông pha trộn sự phẫn nộ Nguyễn văn Thiệu, Cao văn Viên và bọn tướng đào ngũ, vào sự đối phó tình hình khẩn trương. Người lính xe tăng đang sửa xe đã biết dằn sự phẫn nộ. Danh dự của anh soi sáng trách nhiệm của anh. Danh dự ấy, có soi sáng những khuôn mặt tướng tá đào ngũ trong những cái lều ở đảo Guam?

Người lính đã sửa xong xích tăng. Anh ta leo lên xe, chui xuống, đậy nắp. Đoàn xe tiếp tục chạy. Về đâu? Tôi không biết. Trở vô nhà, ông tướng Vĩnh Lộc đã đọc xong Nhật lệnh. Màn ảnh vô tuyến truyền hình, bây giờ, chỉ còn cái dấu chỉnh hình tưởng chừng cái hình bát quái và giọng hát buồn nôn của mấy cậu sinh viên tranh đấu nhai đi, gặm lại ca khúc Nối vòng tay lớn, thỉnh thoảng bị đứt khúc bởi tiếng nói đắc thời của Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thông tin nội các Vũ văn Mẫu? Tôi vội tắt ti vi.

Google photo edit by Sơn râu

0 giờ 45 phút. Súng nổ ở phi trường Tân Sơn Nhất vọng vào lấn át tiếng máy bay trực thăng lên xuống nóc Tòa Đại Sứ Mỹ. Tôi ngồi dựa lưng ghế bành, để cả hai chân trên mặt bàn xa-lông, hút thuốc gạt tàn bừa bãi. Lúc này, tôi thèm nghe nhạc Schubert. Tôi thèm nghe hồ cầm độc tấu La Jeune Fille ét la Mort của Schubert. Vợ con tôi đã ngủ. Các con tôi mệt nhoài di tản thất bại hôm qua, ngủ say sưa. Vợ tôi ngủ chập chờn. Tôi nghe rõ tiếng thở dài của vợ tôi. Trong đời sống, có những lúc vợ chồng không dám an ủi nhau. Vợ tôi đã không dám dục tôi đi ngủ, để mặc tôi đốt thuốc thâu đêm. Tôi thèm nghe Schubert diễn tả sự chết, chẳng tại vì can đảm. Mà vì nuôi hy vọng được chết cuống quít, chết hạnh phúc, chết gắn bó với âm thanh. Khó lắm. Cộng sản thích con người sống mòn và, đồng thời, thích con người chết mòn. Chúng tôi sắp chết sặc sụa trong biển máu. Có phải cái nỗi “chết đuối người trên cạn,” Nguyễn Gia Thiều đã tiên liệu cho dân tộc chúng ta? Con người của thời đại chúng ta đã mắc lưới ý thức hệ và đã thay phiên nhau “chết đuối trên cạn.” Nghĩ mà ghê tởm ý thức hệ, chủ nghĩa. Dân tộc chúng ta chẳng đã một lần Thập nhị sứ quân, một lần sông Gianh đấy ư? Không thấy lịch sử viết về biển máu sau Đinh Bộ Lĩnh, sau Nguyễn Huệ thống nhất đất nước. Khi cuộc đời thôi chiến trường, con người trở về bình yên để xây dựng lại cái vĩnh cửu của con người. Con người quên oán hờn, con người không sợ hãi hình phạt trả thù của thù hận. Con người bằng lòng cái đã chết và hoan hỉ cái đang sống. Thi sĩ Hoàng Cầm đã diễn tả chính xác cái còn lại của người Việt Nam sau chiến tranh:

          Ai cũng chết cả rồi

          Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam…

Những cái chết cho cái tồn tại vĩnh cửu của dân tộc chẳng làm thăng hoa cái sống sót nữa. Chủ nghĩa và ý thức hệ ngoại lai khốn kiếp đã phủ lên tình tự đích thực của Việt Nam cái bóng tối đen đặc hãi hùng. Từ đó, cuộc đời thôi chiến trường bên ngoài là để khởi sự chiến trường bên trong, thứ chiến trường phủ nhận mọi cái đã chết và đe dọa mọi cái sống sót. Và đó, chiến trường hủy diệt “cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam”. Đã thấy rồi, 1 triệu 500 ngàn người Việt Nam sống sót sau chiến tranh mười năm, chưa kịp dứt nụ cười đã bị tàn sát bởi cuồng phong chủ nghĩa cộng sản. Người Việt Nam bị học tập thù hận rồi say sưa thù hận để giết người Việt Nam bằng ý thức hệ mà người Việt Nam không hiểu nó là cái gì? Người Việt Nam đã chết thảm trong Cải Cách Ruộng Đất 1 triệu 500 ngàn mạng, trong sửa sai thêm 500 ngàn mạng. Hình tưởng máu của hai triệu con người? Có làm nên một dòng sông? Và dòng sông oan nghiệt ấy bắt nguồn từ đâu, chẩy đến một mục đích nào? “Máu người dân Việt còn cầy cho luống cầy,” Phạm Duy đã van xin máu Việt Nam chỉ đổ cho tương lai Việt Nam. Rốt cuộc, nó đã đổ cho thắm màu cờ Mác-xít, cho tham vọng đầy đoạ dân tộc, đầy đọa con người của bọn lãnh tụ đê tiện. Giấc mơ bình dị của Việt Nam được diễn tả:

          Em đã mơ gì em ơi?

          Lúa chín hai mùa no ấm

          Chồng giết giặc về em vui…

đã bị hủy diệt. Và riêng tôi, tôi ngồi đợi chết sặc sụa trong biển máu của hòa bình sau chiến tranh hai mươi năm. Chưa hề thấy một dân tộc nào bất hạnh như dân tộc Việt Nam, một dân tộc sợ hãi chiến tranh, sợ hãi luôn cả hòa bình. Sợ hãi mà vẫn phải chấp nhận cả hai. Còn bất hạnh thêm là người Việt Nam không nhìn rõ trái đau khổ chín vàng trên thân phận mình để hái, đề nuốt ngon chất đắng mà Thượng Đế đã ban ân sủng và phó thác cho sứ mạng tạo dựng lại loài người sống trọn vẹn tình nghĩa con người lý tưởng mà Thượng Đê mong muốn. Nạn nhân của chủ nghĩa, của ý thức hệ ngoại lai, xa rời tình tự dân tộc vì ngu muội phiêu lưu, không chịu khôn lớn bằng thống khổ vàng mười để về nguồn, để sống như con người Việt Nam nguyên thủy, để cống hiến cho nhân loại ý nghĩa phục sinh của nỗi chết, lại tiếp tục phiêu lưu, lại chạy theo chủ nghĩa mới, ý thức hệ mới vá víu, vay mượn và rồi tranh giành khắp nơi, gấu ó khắp nơi, bé nhỏ dần mà vẫn quên truy nã bản thân mình.

Không có La Jeune Fille et la Mort, tôi lại nhớ…

Mai Thảo dặn tôi rằng:

– Tôi ngồi nhà chờ ông, hễ Usis gọi, ông ghé đón tôi, chúng ta cùng đi.

Lúc này Mai Thảo đã rời Chiều Tím ở đường Võ Tánh, về 101 Phan Đình Phùng. Trọn buổi sáng hôm qua, tôi canh điện thoại. Usis không gọi. Gần trưa, Đặng Xuân Côn dục tôi:

– Cứ lên Usis xem sao. Thiên hạ chạy ầm ầm.

Tôi đồng ý. Côn chở vợ con từ Phú Nhuận lên. Chúng tôi đến đón Mai Thảo. Nhà văn lừng khừng nhất nước của tôi đã biến. Tôi nghĩ Mai Thảo ham vui đâu đó, nên quên hẹn. Về sau, do Mai Thảo kể, tôi mới biết anh ta “tìm đường cứu nước” qua ngả Nguyễn Cao Kỳ. ông Kỳ đóng vai Mạnh Thường Quân đi tản. Tân khách của ông hầu hết là văn nghệ sĩ. Mặc dù đã tuyên bố nẩy lửa tại Tân Sa Châu rằng nhất định không đi, nhưng ông ta vẫn âm mưu đi và kết nạp Giới Tứ Thôi, Ngụy Thù, Triệu Thuẫn, Hiền Điệt toan tính chuyện Trùng Nhĩ. “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn.” ông Kỳ theo triết lý sống này. Tân khách di tản tụ tập cả bầy trong tư thất Trùng Nhĩ ở Tân Sơn Nhất. Bà Kỳ đi trước. Đài phát thanh ngoại quốc loan tin. Họ bình luận thêm: Tới Guam lần này không có thảm trải, và bà Kỳ bị xịt thuốc sát trùng như mọi người tỵ nạn? Bà Kỳ đi, để lại mấy cái tủ lạnh đầy nhóc thực phẩm. Tân khách vừa tiêu thụ cạn láng thì ông Kỳ lặng lẽ ra đi. Tân khách ở lại chịu pháo kích tơi bời. May mà ống nước không trúng đạn cộng sản nên tân khách uống đỡ cầm hơi trên đường về nhà mình, vừa lê bước vừa chửi rủa Trùng Nhĩ. Có lẽ tại ông Kỳ bỏ rơi Giới Tử Thôi, Ngụy Thù nên sự nghiệp phục quốc của ông nó lận đận. Thành thật chia buồn cùng ông. Mã Viện nói: “Thời loạn, bầy tôi tìm vua hiền mà phò chứ vua khỏi cần tìm bầy tôi.” Mã Viện tìm Lưu Tú, giúp Lưu Tú diệt Vương Mãng mà mở thời Đông Hán. Các tân khách tìm ông Kỳ phò, noi gương đám tòng vong của Trùng Nhĩ, ông Kỳ bỏ rơi, thành thử, ông Kỳ cứ đòi ôm cờ phục quốc mà mãi không được ôm. Do đó, đất nước vĩnh viễn không có tướng quốc ký văn thư trên bàn mã tước và trong cuộc chọi gà!

Không gặp Mai Thảo, chúng tôi lái xe đến Usis. Trịnh Viết Thành chở vợ con vừa ép lề:

– Đi nổi không, Duyên Anh?

– Nổi..

Tôi méo xệch miệng:

– Nổi lềnh bềnh…

Trịnh Viết Thành, Đặng Xuân Côn và tôi len vào sát cổng Usis khóa chặt. Đàn bà, con nít ngồi lại trong xe. Nguyễn Ngọc Bích nhận ra tôi, lớn tiếng:

– Yên chí. Đợi ông Alan Carter về.

– Ổng đâu?

– Bên tòa Đại Sứ.

Chúng tôi lách ra, đứng chờ. Rất yên tâm, vì nhân viên Usis còn nguyên con, và hai chiếc buýt vẫn đậu trong sân. Nửa tiếng đồng hồ sau, cổng Usis bị dân di tản ké đạp tung. Sứ thần Lan Carter, giám đốc Usis không bao giờ trở lại nữa. Thiên hạ đập phá và hôi đồ. Hoàng Hải Thủy dắt vợ con đến giữa cơn hỗn loạn. Bẽ bàng nhất là Nguyễn văn Liên, trưởng phòng nhân viên của Usis. Mấy hôm trước, anh ta đã dẫn vợ con ra đi. Vì lệnh của ông già Hương cấm chỉ thanh niên trong tình trạng quân dịch di tản nên Liên đành bỏ một đứa con lại. Vô phi trường, anh ta thấy lên tàu bay quá dễ dàng, bèn xui vợ đóng kịch băng huyết mà trở về cứu nốt con. Bây giờ kẹt lại cả chùm.

Tôi chia tay Trịnh Viết Thành, cùng Đặng Xuân Côn phóng tìm Nguyễn Tuấn Anh ở đường Hai Bà Trưng. Tuấn Anh cho vé tàu phước thiện. Chúng tôi theo Tuấn Anh vào Chợ Lớn. Nhưng tôi đã không xuống tàu. Cả Côn luôn. Chúng tôi chào vĩnh biệt Nguyễn Tuấn Anh, trở về Sài gòn. Tôi lái xe qua Tòa Đại Sứ Mỹ, ngắm thảm cảnh “lính thủy đánh bộ” Hoa Kỳ đấm đá, xô đạp “đồng minh” di tản. Cay mắt quá, tôi ra bờ sông Sài gòn nhìn mấy con tàu sắt đầy nhóc người chạy trốn cộng sản đến nỗi tàu nghiêng hẳn về một bên. Tôi đã nghĩ những con tàu này khó ra nổi cửa biển. Rồi tôi quyết định lái xe về nhà tôi. Mở cửa xe cho các con xuống, tôi mệt mỏi:

– Thôi, đành ở lại sống với cộng sản!

Nhà tôi chớp mắt, buồn bã:

– Không còn cách nào hả, bố?

– Còn hai cách.

– Sao bố không tính?

– Khó tính.

– Sao?

Tôi cù không trúng nách nhà tôi:

– Thứ nhất, anh không phải là bố tổng thống Mỹ. Thứ hai, em không phải là mẹ tổng thống Mỹ?

Nhà tôi nín thinh. Các con tôi thay quần áo xong là chạy ra vỉa hè chơi. Tôi ngồi ngả lưng dài trên ghế bành hút thuốc và thở dài. Một thoáng kỷ niệm chập chờn theo khói thuốc. Năm 19 tuổi, đất nước vào Dương lịch 1954, tôi đã di cư. Thuở ấy, di cư dễ dàng, muốn vô Sài gòn ngày nào thì vô. Tôi rong chơi Hà Nội đến tháng 9 mới tính chuyện giang hồ. Nhờ thuộc thơ Nguyễn Bính và có chút “nhan sắc”, tôi tán được vài em nữ sinh mà gia đình nhất định ở lại chờ cụ Hờ về. Thế là tôi bèn thêu dệt những cuộc chia ly não nùng. Tôi tìm em thứ nhất, đau đớn báo tin cho em biết rằng tôi sẽ vào Sài gòn lập sự nghiệp, “ngày về xa quá người ơi”, và mong mỏi “đường đời anh muốn em còn mơ”… Dạo đó, chưa có những bài hát lấp sông Bến Hải, trở về quê hương diệt tan giặc cộng, gặp lại em gái năm xưa nối giây tình tứ đứt đoạn nên tôi chi nhạc và lời Lê Trạch Lựu. Tôi vi vút: “Bao giờ anh về gần em cùng đếm này trăng này sao chia nhé em”… Em gái cảm động lắm. Tôi chi thêm thơ Hoàng Công Khanh, ví mình như tráng sĩ Lê Liêm:

          Thuở ấy lên đường có một thân

          đường sang Hời mấy ngả phân vân

          nàng mơ Đát Kỷ xô hung Trụ

          ta mộng Kinh Kha diệt bạo Tần

          nửa nụ cười xuân muôn tráng sĩ

          ba nghìn tân khách một giai nhân

          thiếu bao đưa đón lòng không thiếu

          chỉ thiếu một người đi tiễn chân

Em gái mủi lòng, xin đi tiễn chân cho tôi khỏi thiếu thốn. Chúng tôi hẹn hò. Đưa em lên Cổ Ngư ăn bánh tôm. Dạo quanh hồ Gươm. Chui vào rạp xi-nê-ma. Rồi dìu em về gác trọ của tôi, nhờ em thu xếp hành lý lên đường. Em tiễn chân tôi đến Tòa thị chính. Tôi nằm đây cô quạnh chờ sáng sớm ngày mai xe GMC của lính Tây đến bốc tôi sang phi trường Gia Lâm. Em gái không thể nằm bên tôi tâm sự trắng đêm. Em phải về trước chín giờ tối kẻo mẹ mắng. Lúc em gần về, tôi cảm khái:

          Cầm tay anh sẽ nói

          Khóc lóc mà làm chi

          Hôn nhau một lần cuối

          Em về đi. anh đi…

Cám ơn thi sĩ Nguyễn Bính, em gái khóc. Và tôi cầm gỡ tay em, ôm gỡ em, hôn gỡ em. Tôi lớn rồi, tôi hết “ngày xưa còn bé.” Tôi biết yêu, biết gian dối. Em gái buồn bã ra về. Sợ em trở lại thì vỡ nợ, tôi phải nán nằm, đốt cháy mười điếu Cotab rồi mới xách hành lý rút êm về gác trọ. Tôi chưa… lên đường. Vài hôm sau, tôi lại “bổn cũ soạn lại”, gạ em thứ hai chia ly. Cho đến khi hết sạch em, không thể muối mặt “tái bản” chia ly em thứ nhất, và túi rỗng tuếch rồi, tôi mới âm thầm ra đi.

Than ôi, năm 39 tuổi, đất nước vào Dương lịch 1975, tôi phải cõng vợ con di tản và không di tản được. Bây giờ, thơ tình là thơ cù nhầy Phan Khôi khi vợ tôi hỏi tôi “ở với việt Cộng có làm sao không”?

          Làm sao cũng chẳng làm sao

          Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.

          Làm chi cũng chẳng làm chi

          Dẫu có việc gì cũng chẳng làm sao…

Đang ở cái thế “mã cùng đồ” thì ông luật sư Dzu và vợ là ca sĩ Đan Thanh tới, hỏi chuyện ra đi ngả Usis. Tôi não nề đáp: “Hỏng rồi, hỏng rồi”? Và tôi ra vỉa hè xem “nhân dân chống Mỹ cứu nước”. Chiến dịch Hôi Đồ đồng khởi ngoạn mục. Các trụ sở của cơ quan thiện nguyện Mỹ, của Hội cha mẹ nuôi quốc tế, của các nhà cho Mỹ mướn, của các gia đình di tản không còn ai trông giữ bị tấn công ào ạt. Người người, lớp lớp, dân Xóm Lách phóng lên đường Công Lý. Thoạt đầu, nhân dân “giải phóng” sữa đặc, sữa bột, đồ hộp. Rồi mùng mền, ri-đô. Rồi tủ, giường, bàn ghế. Rồi máy lạnh, tủ lạnh, bếp ga. Rồi cửa sổ, cửa kính. Trẻ già, trai gái, bô lão, nhi đồng tham dự chiến dịch một cách quyết liệt. Rất may không xảy ra giết nhau vì thù hận cá nhân. Tôi chứng kiến “nhân dân anh hùng” làm thịt gọn một chiếc buýt chuyên chở lính Mỹ. Chiến dịch Hôi Đồ và sự lưu thông bất chấp đèn đường chiều 29-4 là dấu hiệu rõ nét nhất của sự sụp đổ miền Nam. Kể từ 16 giờ ngày 29-4-87, Sài gòn sống trong tình trạng vô chính phủ. Có một điều để tôi suy nghĩ, để tôi còn yêu mến dân Sài gòn và thành phố Sài gòn là dân nghèo Sài gòn chỉ hôi đồ của Mỹ và những vi-la do Mỹ mướn bỏ trống. Ý thức đấu tranh giai cấp chưa thấm vào lương tri dân nghèo Sài gòn và không bao giờ thấm nổi cả Tất cả những gia đình quyền quý, giầu sang đều bình yên. Ngay cả những gia đình tướng tá, bộ trưởng, cảnh sát hống hách cũng bình yên. Tinh thần dân tộc cao quý thể hiện rõ rệt ở Sài gòn chiều 29-4. Con người, nhất là con người nghèo khổ triền miên bị áp bức, bóc lột được quyền phẫn nộ lúc này, lúc mà luật pháp quốc gia dưới chân họ. Người ta tự do trả thù, đốt nhà, cướp của, hãm hiếp, sát nhân; tự do đối với những đối tượng thù nghịch. Nhưng không một ai thèm hưởng cái tự do đó. Người ta vẫn ăm ắp lương tri và nhân tính. Và tôi nghĩ đó là bài học cho toàn thể người Việt Nam trên trái đất. Và tôi hãnh diện là người Sài gòn của chiều 29-4-1975 và mãi mãi. Tôi ra đi, mang theo lương tri và nhân tính của người Sài gòn chiều 29-4. Vì nó mà tôi còn khao khát chiến đấu. Vì nó mà tôi biết can đảm và kiên nhẫn chịu đựng mọi nghịch cảnh oan khiên.

Nhà thơ tàn tật Huy Tưởng chống nạng đến thăm tôi xem tôi đi được hay kẹt lại. Tôi bỏ cảnh tượng hôi đồ, mời Huy Tưởng vô nhà. Mở chai Rémy Martin cuối cùng, Huy Tưởng và tôi cụng ly:

– Anh có sợ không?

– Sợ gì?

– Anh có nhiều điều để sợ. Tôi nhắc anh nghe một điều thôi. Anh đã thách Võ Nguyên Giáp cho T-54 xâm nhập chiến tuyến Hải Lăng và bảo hạ sĩ Sứt đang chờ T-54 để phóng hỏa tiễn TOW. Anh nhớ chứ? Anh đã tuyên bố trên vô tuyến truyền hình Huế được phát lại ở Sài gòn. Anh nhớ chứ? Chuyến bay trên phá Tam Giang của anh với Phạm Duy, Tô Thùy Yên, Trần văn Ân, Nguyễn Trọng Nho…

– Uống đi, bằng hữu. Có thể là cuộc rượu cuối cùng đấy!

Tôi bốc máu Kiều Phong:

– “Sống bằng không mà chết cũng bằng không”?

Sống có thể bằng không nhưng chết khó thể bằng không. Tôi đâu phải nhân vật tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung. Alain De lon đã diễn xuất một vai thật người trong phim Deux hommes danh la ville với Jean Gabin. Khi lên máy chém, người không sợ chết đã thú nhận, thành khẩn thú nhận “Tôi sợ”! Tôi đã biết Lan Khai chết cách nào, Khái Hưng chết cách nào, làm sao tôi không sợ? Tôi sợ lắm, sợ lắm, sợ lắm…

——————————–

1          Danh từ của ông Vĩnh Lộc thay thế cao nguyên.

2          Trong kịch thơ “Bến nước ngũ hồ”

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 9 Oct 2024

8. Chương 8

Nhà cầu tràn ngập với các bộ xương người. Họ đứng thành hàng dài, người nọ hối thúc người kia. Một số còn chờ đợi nằm lăn lóc trên mặt đất, thân hình co giựt từng hồi. Một tù nhân đứng thẳng người lêu nghêu như một con cò, một khúc chân xương xẩu nhấc cao, một cánh tay gầy guộc áp vào tường, miệng há hốc, mắt nhìn trừng trừng vào khoảng không. Hắn đứng như thế một lúc rồi thình lình ngã ra chết tốt. Chuyện này vẫn thường xảy ra: các bộ xương từ lâu không còn bò lết nổi hay bất thường gượng đứng lên, đứng được một lúc với ánh mắt vô hồn… rồi ngã chết… dường như ý nguyện cuối cùng của họ trước khi chết là được đứng thẳng lên với dáng điệu của một con NGƯỜI. 
Lebenthal thận trọng bước ngang qua xác chết. Tức khắc có tiếng chửi rủa nổi lên. Những người đang chờ tới phiên tưởng hắn đang cố vượt hàng. Họ lôi hắn lại và đánh đấm túi bụi. Không ai dám rời chỗ cũng như không ai dám để hắn trở lại chỗ cũ. Tuy thế, họ cũng đánh được hắn ngã xuống rồi dẫm lên. Lebenthal chỉ nghe đau đớn chút ít thôi: họ không hơi sức. 
Hắn lại đứng lên. Dụng ý của hắn không phải là qua mặt các bạn đồng lao, hắn đang định đi tìm Bethke, một tù nhân thuộc toán chuyển vận. Hắn đã hẹn với Bethke tới đây để nói giá về chiếc răng vàng. 
Hắn không thấy Bethke. Nhà cầu vẫn là nơi mọi dịch vụ thường diễn ra, nhưng đối với Bethke – một tay có máu mặt – thì chỗ này không mấy thích ứng. 
Cuối cùng, hắn không chờ nữa, đi về phía trại tắm giặt. Đây là một chi nhánh của nhà cầu bên trong có một số ống máng xây bằng xi-măng và bên trên đó là những ống nước rỉ rả nhỏ giọt. Hàng khối tù bao quanh nơi đó hoặc để uống nước, hoặc để lấy nước vào lon đem về lao xá. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ có đủ nước để tắm rửa. Và những ai muốn thấm nước vào mình bao giờ cũng nơm nớp sợ quần áo bị đánh cắp đi. 
Nơi được coi như khu vực chợ đen khá lý tưởng là phòng tắm. Ở nhà cầu người ta chỉ có thể đổi chác các mẩu bánh mì hoặc vài ba tàn thuốc. Tại phòng tắm, người ta làm ăn khá hơn nhiều. Ngay cả những tù nhân của trại lao tác cũng lẻn sang đó. 
Lebenthal chen lấn đi vào. Có người hỏi: 
– Bạn có gì đó? 
Leo nhìn sang người tù một mắt thật mau rồi đáp gọn lỏn: 
– Không có. 
– Tôi có mấy củ cải đỏ. 
– Ăn thua gì. 
Tới phòng tắm, Lebenthal cảm thấy quyết tâm hơn. Hắn có hai hạng người để giao dịch về cái răng vàng của Lohmann: Bethke và một cai thợ của toán lao tác. Cả hai người này đều cần tiền. Tên cai thợ thì si tình một phụ nữ tên Mathilde nào đó cùng làm chung một xưởng với hắn. Thỉnh thoảng, nhờ hối lộ họ được cho gặp riêng. Nghe đâu người đàn bà này cân nặng gần 100 kí-lô và đối với hắn là đã quá đẹp: sống ở một nơi bị đối thường xuyên thì hình vóc đẫy đà là tiêu chuẩn của sắc đẹp. Hắn đã đề nghị đối cho Lebenthal nhiều cân khoai tây và nửa kí mỡ. Lebenthal từ chối và cho tới bây giờ hắn mới nhận ra đó là thái độ sáng suốt. Hắn hy vọng là Bethke sẽ trả giá cao hơn nhiều. Hắn biết rằng tình yêu bất bình thường bao giờ cũng chịu hy sinh nhiều hơn tình yêu suông sẻ. Hắn đã biết tên tù chuyển vận ấy đồng tính luyến ái với một gã tù xinh trai còn nhỏ tuổi, bây giờ hắn quyết định phải bắt giá cao. 
Bethke hỏi hắn: 
– Có đem theo cái răng không? 
– Không. 
– Tôi không mua được cái gì chưa nhìn thấy. 
– Một đồng vàng là một đồng vàng. Răng cấm mà. Nặng, chắc, vàng tiền chiến. 

– Đồ bỏ! Phải cho coi đã. Không thì thôi. 
Lebenthal biết rằng tên tù có thế lực này có thể lấy không chiếc răng đi nếu đưa cho hắn xem. Trường hợp đó, hắn không làm được gì cả, nếu thưa kiện, hắn sẽ là người bị treo cổ trước nhất. Hắn bình tĩnh đối đáp: 
– Còn nhiều người dễ hơn bạn. 
– Nhiều người! Điên hả? Chỉ một người coi! 
– Một người lúc nãy có mặt ở đây. 
– Vậy à? Cho biết mặt xem sao. 
Vừa nói hắn vừa nhìn quanh. Hắn biết người nào có thể mua cái răng vàng phải là kẻ làm việc ngoài trại hoặc có liên lạc với bên ngoài. 
Lebenthal nói dối rất tự nhiên: 
– Bạn vừa gặp hắn cách đây một phút. 
Bethke giựt mình: 
– Ai? Thằng bò mộng ở nhà bếp hả? 
Lebenthal nhún vai: 
– Tôi tới đây nhất định là phải có mục đích. Có thể một người nào đó cần một món quà tặng cho ai đó và đang cần có tiền mặt. Vàng lúc này đang cao giá ở bên ngoài. Chắc chắn là hắn đổi đồ ăn nhiều hơn. 
– Láu cá! Lưu manh! 
Bethke mắng một cách giận dữ. Lebenthal nhướng mắt lên rồi nhắm lại: 
– Món quà đó nhất định không thễ có ở trong trại. Phải là món quà bằng tơ lụa chẳng hạn. 
Bethke gần như nghẹn thở: 
– Bao nhiêu? 
Lebenthal cương quyết: 
– Bảy mươi lăm. Giá đặc biệt. 
Thật ra hắn chỉ muốn có ba mươi Marks. Bethke trừng mắt: 
– Ban có biết rằng tôi chỉ nói một tiếng là đủ bị treo cổ không? 
– Biết chớ. Miễn là bạn chứng minh được. Nhưng có lợi gì đâu. Bạn cần vàng. Chúng mình nói chuyện làm ăn. 
Bethke tính toán xong trong đầu một lúc rồi bảo: 
– Không nói chuyện tiền. Đồ ăn thôi. 
Lebenthal không trả lời ngay. Bethke nói mau: 
– Một con thỏ rừng. Tính sao? 
– Thỏ rừng loại nào? Chó hay mèo? 
– Đã bảo là thỏ rừng mà. 
– Chó hay mèo? 
Hai người nhìn thẳng vào mắt nhau một lúc lâu. Lebenthal không chớp mắt. Bethke thở hắt ra: 
– Chó. 
– Chó chăn cừu? 
– Chó chăn cừu? Sao không đòi con voi? Chó cỡ thường nhưng mập. 
Lebenthal tính mau. Chó có nghĩa là thực phẩm. Thật là chuyện bất ngờ may mắn. Hắn bảo: 
– Tụi này không có chỗ nấu, không có chỗ lột da. Làm sao? 
– Tôi cho lột da rồi giao. 
Bethke tỏ ra sốt ruột hơn. Hắn thừa hiểu là nói về chuyện thực phẩm thì tên bò mộng ở nhà bếp có khả năng đánh bại hắn. Hắn nghĩ tới vài món tơ hóa học mà hắn sắp mua tặng người tù trẻ. Hắn cảm thấy vui vui. 
– Được, tôi sẽ nấu luôn cho. 
– Vẫn còn khó. Tụi này cần một con dao. 
– Dao à? Để làm gì? 
– Chỗ tụi này không có con dao nào cả. Phải cắt thịt để chia phần chớ. Thằng cha bò mộng bảo là… 
– Được rồi. Được rồi. Cho các bạn một con dao. 
Hắn nghĩ tới cái quần lót bằng tơ hóa học màu xanh hay màu hoa cà. Hoa cà tốt hơn. Gân kho có một cửa hiệu buôn loại đó. Người tù trật tự viên sẽ cho phép hắn đi. Chiếc răng hắn sẽ bán cho nha sĩ cũng gần đó. 
– Bạn sẽ có thêm một con dao. Bao nhiêu đó là đủ cả rồi. 
Lebenthal vẫn chưa chịu: 
– Còn một ít bánh mì nữa chớ. Chừng nào? 
– Tối mai. Ngay sau khi sập tối. Phía sau nhà cầu. Nhớ đem cái răng theo, không có thì… 
– Con chó có già chưa? 
– Không biết. Cỡ vừa vừa. Chi vậy? 
– Nếu chó già thì phải nấu lâu hơn. 
Bethke trợn mắt như muốn đấm vào mặt Lebenthal. Tuy nhiên, hắn hỏi với giọng trầm tĩnh: 
– Còn gì nữa? Đồ gia vị? Trứng cá? 
– Bánh mì. 
– Ai nói bánh mì hồi nào? 
– Thằng bò mộng ở nhà bếp… 
– Câm miệng. Để rồi tính. 
Con dao, hắn có thể đánh cắp. Bánh mì thì không khó khăn gì. Còn con chó là thứ chó săn. Hắn hấp tấp kết thúc: 
– Tối mai, chờ phía sau nhà cầu. 
Lebenthal trở về lao xá. Hắn không thể tưởng lại may mắn đến thế. Một con thỏ rừng, hắn sẽ tuyên bố với các bạn như vậy. Không phải vì thịt chó sẽ làm cho mọi người khó chịu… đã có người ăn cả thịt của xác chết… nhưng vì công khó của chuyện mặc cả, hắn phải phóng đại chút ít. Vả lại, cũng vì thương Lohmann nên hắn muốn chiếc răng của người chết phải được đối với một cái gì xứng đáng hơn con chó tầm thường. Hắn sẽ tìm cách bán con dao, vậy là sẽ có thêm tiền. 
Đêm tối dầy mù, từng đợt sương đưa nhau chất lớp bên trên trại. Lebenthal ôm con chó và bánh mì giấu trong áo lầm lủi trở về lao xá. 
Phía trước lao xá có bóng người ngất ngưởng. Không phải bóng dáng quen thuộc của những người trong trại: họ không có dáng điệu ngắt ngưởng ấy. Trong phút chốc, hắn nhận ra Handke, tên tù đại diện lao xá 22. Handke đang bước đi loạng choạng. Lebenthal chợt hiểu ra. Đây là ngày đặc biệt của Handke, hắn vừa uống rượu ở một nơi nào đó. 
Hắn biết là không thể vượt qua tên tù ác ôn này để báo động cho các bạn. Hắn vội lách ra bức tường sau của lao xá, núp trong bóng tối. 
Westhof là người đầu tiên bị hắn trông thấy: 
– Ê, tên kia! 
Westhof đứng sựng lại. 
– Sao không ở trong lao xá? 
– Dạ tôi đi ra nhà cầu. 
– Nhà cầu mồ tổ mày! Lại đây! 
Westhof bước tới. Trong bóng đêm, hắn nhìn không rõ mặt Handke. 
– Tên gì? 
– Westhof. 
Handke rống lên: 
– Mày đâu phải tên Westhof. Mày là thằng Do Thái hôi tanh. Tên gì? 
– Tôi không phải Do Thái! 
Handke tát vào mặt Westhof: 
– Sao? Ở lao xá mấy? 
– Hai mươi hai. 
– À… lao xá của tao, phòng nào? 
– Phòng D. 
– Nằm xuống. 
Westhof vẫn đứng. Handke bước tới. Bây giờ Westhof đã trông rõ mặt hắn và muốn bỏ chạy. Handke đá vào xương ống chân Westhof. Là đại diện lao xá, hắn được ăn uống đầy đủ nên mạnh hơn bất cứ ai trong trại. Westhof ngã xuống và bị bồi thêm một cú đá vào ngực. 
– Nằm yên, thằng Do Thái bẩn thỉu! 
Westhof đã nằm dài. Handke hét to: 
– Phòng D, bước ra ngoài! 
Các bộ xương lần lượt bước ra. Họ đã biết chuyện gì xảy ra. Một người của họ đã bị đánh ngã. Những ngày say khướt của Handke thường có chuyện xảy ra như thế. Hắn líu lưỡi: 
– Đủ cả chưa? Trình diện. 
Berger báo cáo: 
– Tất cả đều có mặt. 
Handke nhướng mắt cố nhìn ra các dãy hàng sau cùng. Bucher và 509 đứng chen trong bọn. Họ đã phải cố gắng hết sức mới đi và đứng nổi. Ahasver vắng mặt vì bận giữ con chó chăn cừu. Nếu Hanđke nhớ ra và có hỏi thì Berger sẽ báo cáo là ông ta đã chết. Nhưng hắn đã say mèm, và dầu còn tỉnh đi nữa, hắn cũng không nhớ hết những ngirời đứng trước mặt. Hắn không dám vào lao xá vì sợ bị lây bệnh sốt rét và kiết lỵ. 
Giọng hắn đặc quánh hơn: 
– Còn tên nào không tuân lệnh nữa. Quân hạ… hạ tiện! 
Không ai trả lời. Hắn nhừa nhựa tiếp: 
– Đứng… nghi… êm! Giống như ngư… ời có học! 
Đoàn tù đứng nghiêm. Hắn nhìn lờ đờ vào các dãy hàng một lúc rồi quay phắt lại, dẫm lên người Westhof. Westhof dùng tay cố che đầu. Handke tiếp tục đá vào khối thịt. Không còn tiếng động nào khác hơn những tiếng huỳnh huỵch của giày Handke phóng vào sườn Westhof. 509 bỗng nhận thấy Bucher động đậy. Hắn chụp cổ tay Bucher và giữ chặt. Bucher cố vùng vẫy nhưng 509 vẫn không buông. Handke tiếp tục dẫm lên thân thể Westhof. Sau cùng quá mỏi chân, hắn nhảy lên cả hai chân rồi phóng mạnh xuống lưng người tù nhiêu lần nữa. Westhof nằm bất động. Handke quay trở lại các dãy tù đứng nghiêm. Mặt hắn ướt đẫm mồ hôi. Hắn chửi rủa: 
– Quân Do Thái. Tụi mày sẽ bị dẫm bẹp như sâu bọ. Bọn bây là ai? 
Hắn vừa hỏi vừa chỉ vào đám tù. 509 đáp: 
– Do Thái. 
Handke gật đầu và nhìn thật lâu xuống đất. Rồi hắn quay người bỏ đi về phía bờ rào bên cạnh lao xá nữ tù nhàn. Trong im lặng, đoàn tù nghe rõ hơi thở nặng nề của hắn. Trước kia hắn là ấn công và bị bắt giữ về tội đả thương người. Hắn làm đại diện lao xá gần một năm qua. Hắn đứng đó một lúc rồi lẳng lặng đi ngược lại, ra thẳng đường cái không nhìn qua đám tù. 
Berger và Karel tới lật Westhof lên. Hắn đã ngất lịm.
Bucher hỏi: 
– Sườn có gãy không? 
Karel đáp: 
– Nó chỉ đá vào đầu. Tôi thấy rõ. 
– Có nên khiêng vào trong không? 
Berger lắc đầu: 
– Không. Cứ để ở đây tốt hơn. Trong đó không có không khí để thở. Có ai còn nước không? 
Có người mang tới một lon nước. Berger mở áo Weslhof ra. Bucher lo ngại: 
– Hay là khiêng vào trong đi. Thằng mọi đó có thể trở lại. 
– Không sao đâu. Tôi biết hắn lắm. 
Lebenthal từ chỗ núp chạy tới: 
– Chết hả? 
– Chưa. 
Begrger nói: 
– Hắn giẫm lên người Westhof. Trước đây hắn chỉ đánh không thôi. Chắc bữa nay say dữ lắm. 
Lebenthal ép sát tay vào áo: 
– Có đồ ăn đây. 
– Nói nhỏ thôi, kẻo cả trại kéo ra bây giờ. Món gì? 
– Thịt. Đổi cái răng. 
– Thịt hả? 
– Đúng. Và bánh mì. 
Hắn không nói gì về con thỏ rừng. Tình trạng bây giờ không thích hợp. Hắn liếc nhìn khuôn mặt người bạn đồng cảnh nằm dưới đất có Berger quỳ bên cạnh. Hắn thở dài: 
– Westhof có thể còn ăn được vài miếng. Nấu chín rồi. 
Sương mù xuống dầy hơn. Bucher đứng ở chỗ hàng rào đôi, bên kia là trại nữ. Hắn kêu nho nhỏ: 
– Ruth! Ruth ơi! 
Một bóng người tới gần. Hắn trợn mắt ra nhưng vẫn không nhìn rõ mặt. 
– Ruth! Ruth đó hả? 
– Phải. 
– Thấy anh không? 
– Thấy. 
– Anh có đồ ăn đây. Thấy bàn tay anh không? 
– Thấy, thấy. 
– Thịt đó nghe! Đây, anh ném qua. 
Hắn lấy miếng thịt nhỏ liệng qua bờ rào. Đó là phân nửa phần thit mà hắn được chia. Bóng người đàn bà bên kia cúi xuống mò trên mặt đất. Bucher nói nhỏ: 
– Ở bên trái, bên trái của em. Cách chỗ đứng chừng một thước, được chưa? 
– Chưa. 
– Bước qua bên trái chút nữa. Thịt nấu chín rồi. Cố kiếm đi. 
– Được rồi. 
– Hay quá. Ăn đi em. Có ngon không? 
– Ngon lắm. Còn hết? 
Bucher giựt mình: 
– Hết rồi. Anh vừa mới ăn phần của anh. 
– Anh còn nữa mà. Ném sang đây! 
Bncher bước tới gần hơn, gai kẽm đâm vào người hắn: 
– Có phải là Ruth không? Chắc không phải rồi… 
– Ruth đây. Ném nữa đi! 
Hắn nhận ra không phải Ruth. Người nữ tù mà hắn yêu chẳng bao giờ nói thế. Sương mù, sự khích động, bóng đen và tiếng nói thì thầm đã lừa gạt hắn. 
– Cô không phải là Ruth. Gọi tên tôi thử xem! 
– Suỵt! Nói nhỏ vậy. Ném thêm đi! 
– Tên cô là gì? Nói mau! 
Bóng người không trả lời. Bucher nói như van lơn: 
– Phần thịt đó là của Ruth! Trả cho cô ta. Nghe rõ chớ? Trả lại cho Ruth. 
– Được rồi. Còn thịt nữa không? 
– Hết rồi. Trả lại cho Ruth. Đó là phần của Ruth. 
– Được mà… 
– Trả lại cho Ruth, bằng không tôi… tôi… 
Hắn ngừng nói. Hắn có thể làm gì được? Hắn thừa biết ngươi phụ nữ đứng đó đã nuốt miếng thịt từ lâu. Chán nản, hắn buông người rơi xuống như một nắm tay vô hình vừa giáng cho hắn một quả đấm thôi sơn. 
– Ô… con quỷ cái… chết đi cho khuất mắt… 
Thật quá lắm. Một miếng thịt sau bao nhiêu tháng đói dài rồi để mất đi một cách vô cùng ngu ngốc. Hắn nấc nghẹn. 
Bóng người đàn bà bên kia rào vẫn thì thầm: 
– Đem thêm nữa đi… tôi sẽ cho xem… đây nè… 
Dường như cái bóng tốc váy lên. Hằng đợt sương mù xõa tới khiến cử chỉ vừa rồi trông như ma quái đang khiêu vũ. 
– Đồ chó… chết đi… chết ngay đi… Ngu ngốc… tôi… 
Đáng lý ra hắn phải biết chắc chắn rồi mới ném miếng thịt sang, hoặc chờ tới khi trời sáng sủa hơn chút ít… nhưng biết đâu trong khi chờ đợi như thế hắn chẳng nuốt trửng phần thịt ấy đi. Một miếng thịt là một mảnh của sự sống. Hắn muốn mửa ra… 
Khí lạnh của đêm làm hắn tỉnh dậy, đi trở về. Tới trước lao xá hắn vấp phải một người. Rồi hắn nhìn kỹ thấy 509: 
– Ai nằm đó? Westhof hả? 
– Phải 
– Chết rồi sao? 
– Chết rồi. 
Bucher khom người sát xuống để nhìn tận mặt người chết. Khuôn mặt đẫm ướt sương, hằn lên những vết bầm đen do những cú đá của Handke. Khuôn mặt người chết và miếng thit chó vừa mất đi dường như chỉ là một. Hắn lẩm bẩm: 
– Khốn nạn! Tại sao mình không giúp hắn? 
509 sửng sốt: 
– Sao nói lạ vậy? Mình đâu có cách gì? 
– Được chớ. Tại sao không? Mình đã từng xoay xở nhiều thứ. 
509 lặng thinh. Bucher buông mình ngồi bên cạnh: 
– Mình đã từng ứng phó với Weber. 
509 nhìn sâu vào lớp sương mù. Hắn chợt nghĩ, lại chuyện đó nữa. Một thứ anh hùng chủ nghĩa sai lầm. Lần đầu tiên từ nhiều năm qua, người con trai này đã có dịp kinh nghiệm một vụ phản kháng trong tuyệt vọng rồi may mắn thoát chết… và chỉ trong vài ngày, hình ảnh oanh liệt đó biến thành một thứ tâm trạng giả hiện làm cho người ta quên khuấy những điều nguy hại khác. 
– Chú nghĩ là đã dám chạm trán với tên trưởng trại là thừa sức đối phó với tên đại diện say ấy hả? 
– Được chớ. Tại sao không? 
– Như vậy chúng ta phải làm gì? 
– Không biết. Phải làm một cái gì đó. Nhưng không thể cứ để cho Westhof bị dẫm lên cho tới chết. 
– Sáu, hay tám người chúng ta phải tấn công Handke, có phải chú muốn nói thế không? 
– Không. Chuyện đó vô ích. Hắn mạnh hơn mình nhiều. 
– Vậy còn biết làm gì nữa? Nói phải quấy với hắn? 
Bucher không trả lời. Hắn biết có nói cũng chẳng ăn thua gì với một gã say hung tợn. 509 nhìn hắn một lúc rồi bảo: 
– Nghe đây, Bucher! Với Weber chúng ta không có gì mất mát mà lại may mắn thoát khỏi. Nhưng nếu chúng ta làm thế với Handke, hắn sẽ giết thêm một hoặc hai người nữa rồi báo cáo là lao xá nổi loạn. Berger và một vài bạn khác sẽ bị treo cổ. Trong số đó, có thể có chú. Kế đến là lao xá bị cúp thực phẩm luôn nhiều ngày để rồi sẽ có thêm cả chục người chết. Có đúng không? 
– Có thể. 
– Chú có thấy giải pháp nào khác nữa không? 
Bucher suy nghĩ giây lâu rồi miễn cưỡng đáp: 
– Không. 
– Tôi cũng vậy. Mấy lúc gần đây. Westhof tỏ ra hiếu động. Cũng hiếu động như Handke. Nếu hắn không chống lại, hắn chỉ bị vài đá là cùng. Hắn là người tốt. 
509 quay sang phía Bucher hỏi tiếp với giọng đầy chua xót: 
– Bộ chú tưởng có một mình chú ngồi đây tưởng nhớ tới Westhof thôi sao? 
– Không phải vậy. 
– Rất có thể là hắn sẽ ngậm miệng và vẫn còn sống nếu chúng ta không thoát khỏi bàn tay ác nghiệt của Weber. Có bao giờ chú nghĩ tới điều đó chưa? 
Bucher nhìn sững 509: 
– Chưa. Ông cho là như thế sao? 
– Có thể như thế chớ. Tôi đã chửng kiến nhiều vụ điên rồ hơn thế nữa. Và toàn là hạng người bình thường rất khôn ngoan. Càng khôn chừng nào tới lúc dại càng dại hơn nhiều, nhất là khi muốn tỏ ra mình can đảm. Toàn là chuyện trẻ con. Có biết Wagner ở lao xá 21 không? 
– Biết. 
– Hắn không ra gì nhưng là người có can đảm. Thật nhiều. Hắn đánh trả lại. Hai năm trước đó, hắn làm cho bọn SS mến nể và Weber tỏ ra chiều chuộng hắn. Nhưng rồi hắn không thoát… Để làm gì chớ? Hắn cũng là người dùng được nhưng không thể tự chủ. Còn nhiều người nữa cũng như hắn. Chỉ có một số ít sống sót. Chính vì vậy mà tôi giữ chặt tay chú hồi tối qua trong khi thằng Handke đang giậm lên người Westhof. Bây giờ chú hiểu chưa? 
– Ông cho rằng Westhof… 
– Chuyện đó không thành vấn đề. Westhof đã chết… 
Bucher lặng thinh. Bây giờ hắn đã thấy rõ 509. Sương đã từ từ tản mác, có nơi ánh trăng đã xuyên vào. 509 đứng lên. Mặt hắn vừa đen vừa bầm tím vì những vết thương. Bỗng Bucher chợt nhớ ra một vài mẩu chuyện cũ mà hắn đã được nghe nói về quá thời của 509 và tên Trưởng trại Weber. 509 vẫn nghiêm giọng: 
– Chú nghe đây và nghe cho kỹ. Đừng bao giờ cho rằng tinh thần không bị tan vỡ. Tôi đã biết nhiều người đầy nghi lực về sau chỉ còn là những con vật kêu rú. Điều cần yếu là thời gian và cơ hội. 
509 phất tay về phía đồn trại của bọn SS và nói tiếp: 
– Bọn ở đằng kia, chúng biết quá rõ về điều đó cho nên chúng luôn luôn giữ kỹ. Vấn đề quan trọng duy nhất về sức chịu đựng là điều mà người ta có thể nhờ nó thực hiện được chớ không phải làm như đã thực hiện. Can đảm mù quáng là tự sát. Phải biết giấu kín nó để bọn chúng không tìm ra… chỉ sử dụng trong trường hợp tối cần… như đã làm với Weber. Ngược lại… 
Ánh trăng đã soi tới thi thể Westhof, chờn vờn trên đó. 509 lại nói đều đều: 
– Một vài người trong số chúng ta cần phải sống sót. Sống cho mai sau. Đừng để sức chịu đựng trở nên vô nghĩa với đời. 
Hắn ngửa người ra, mệt nhọc. Suy nghĩ cũng phí sức không kém như chạy bộ. Phần lớn thời gian, ít ai có dịp để nghĩ ngợi vì đói lả và mệt ngất, nhưng đôi khi, một cái gì kỳ lạ xuất hiện, người ta bỗng sáng suốt dị thường và có thể nhìn thật xa… cho tới khi có một lớp sương mù của sự mệt mỏi len vào. 
– Phải có một vài người sống sót, những người không muốn quên. 
Hắn nhìn Bucher. Người tù này còn trẻ hơn hắn khoảng hai mươi tuổi. Bucher còn có thể thực hiện được nhiều việc. Hắn nghĩ tới mình… Thời gian… thật là vô vọng. Thời gian cứ gặm nhấm và gặm nhấm không thôi. Người ta chỉ nghĩ tới khi mọi việc đã đi qua. Mười năm sống trong tù ngục bằng với hai, ba mươi năm ở ngoài đời. 509 tiếp tục nói ra: 
– Khi mình ra khỏi đây, đừng tưởng bọn chúng sẽ quỳ xuống van lạy. Chúng sẽ cố chối cãi, phủ nhận tất cả. Chúng cố quên mọi việc đã xảy ra. Chúng ta cũng vậy. Một số người trong chúng, ta cũng muốn được quên đi. 
Bucher cãi lại: 
– Nhất định là tôi sẽ không quên. Tôi sẽ nhớ tất cả. 
– Được lắm. 
Cơn sóng mệt ngất lại xô tới mãnh liệt hơn. 509 nhắm mắt lại nhưng gượng mở ra ngay. Hắn còn vài điều cần phải nói trước khi lại quên đi mất. Có thể Bucher sẽ thoát qua cho nên đối với hắn đây là một điều quan trọng. 509 nói khó khăn: 
– Handke không phải là đảng viên Quốc Xã. Hắn cũng là tù như mình, sở dĩ hắn hung ác như thế là vì hắn có quyền hành. Hắn biết là chúng ta có khiếu nại cũng chẳng làm gì được. Hắn không có trách nhiệm. Chính quyền lực tạo ra như thế… Quá nhiều quyền lực trong tay kẻ ác… quá nhiều quyền lực trong bàn tay của bất cứ ai… chú hiểu chưa? 
– Hiểu rồi. 
– Điều đó và sự uể oải của trái tim… sự sợ hãi… sự trốn lánh lương tâm… đó là nguyên nhân của thống khổ… đó là điều mà tôi đang nghĩ tới hôm nay. 
Cơn mệt mỏi đã biến thành một vầng mây đen ngòm ồn ào kéo tới. Hắn lấy một mẩu bánh mì trong túi ra: 
– Đây, tôi không thấy đói… ăn thịt rồi… chú mang cho Ruth… 
Bucher vẫn không động đậy. 509 nói như người đang ngây ngủ: 
– Lúc nãy tôi đã nghe hết rồi. Đem cho cô ấy… đây là… 
Đầu hắn gục xuống nhưng hắn cố ngẩng lên. Trên khuôn mặt hốc hác đầy vết bầm thoáng một nụ cười: 
– Cũng quan trọng… khi cho… 
Bucher lấy miếng bánh đi về phía trại đàn bà. Sương đã nổi lên khoảng ngang vai. Phía dưới mọi vật đều sáng tỏ. Một lúc sau, Ruth hiện ra, không có đầu vì bị sương che khuất, cảnh vật như ma quái. 
– Khom xuống, Ruth! 
Cả hai ngồi xệp xuống đất. Bucher ném miếng bánh sang. Hắn định hỏi xem Ruth có nhận được mấy miếng thịt không nhưng rồi thôi. 
– Ruth, anh nghĩ là chúng mình sắp thoát khỏi nơi này. 
Ruth không trả lời vì đang nhai bánh. Mắt người nữ tù mở to chiếu về phía Bucher. Hắn nói thêm vào: 
– Bây giờ, anh tin tưởng lắm rồi. 
Hắn không biết vì sao hắn bỗng tin như thế. Có lẽ vì những điều 509 đã nói với hắn. Hắn đi trở lại. 509 đã ngủ say, đầu hắn sát bên thi thể Westhof. Cả hai bộ mặt đều đầy vết sưng bầm. Bucher cảm thấy khó phân biệt trong hai người nằm đó, ai là người còn hơi thở. 509 ở đây luôn hai đêm để chờ Lewinsky. Hắn để 509 ngủ. Đêm không lạnh lắm nhưng Bucher vẫn lột áo của Westhof ra và đắp lên mình 509.