Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 11 Oct 2024

12. Chương Mười hai

Tù từ các lao xá Tiểu trại đứng thành hàng dài trên sân điểm danh. Đội trưởng Niemann nhún gót qua lại như người nhàn nhã. Hắn trạc độ ba mươi tuổi, mặt choắt, tai vểnh, cằm lẹm, tóc hoe màu cát. Hắn đeo một cặp kính không vành. Nếu không mặc quân phục, hắn có dáng vẻ của một gã thư ký quèn. Và đó cũng là sự thật trước khi hắn đầu quân vào SS.

Giọng hắn réo lanh lảnh:

– Đứng nghiêm! Tù mới, bước ra! Đứng hàng hai!

509 bảo nhỏ Sulzbacher:

– Hãy coi chừng!

Một dãy tù hàng đôi đứng trước Niemann. Hắn ra lệnh:

– Đau ốm và tàn tật bước qua bên phải!

Hai hàng tù lay động nhưng chẳng một ai bước ra. Họ đã có quá nhiều kinh nghiệm về chuyện này rồi.

– Mau lên! Ai cần khai bệnh hay băng bó, qua bên phải!

Sau vài giây ngập ngừng, một số người bước sang bên phải. Niemann đi tới, hỏi người đứng đầu :

– Bệnh gì?

– Thưa Đội trưởng, chân sưng và tét một ngón.

– Còn người kia?

– Thưa Đội trưởng, bệnh sán khí.

Hắn tiếp tục hỏi rồi cho hai tù nhân lui về chỗ cũ. Đó là thủ đoạn để làm cho tù yên tâm. Và hắn đã thành công. Thêm một số tù khác bước sang bên phải. Niemann gật gù:

– Ai đau tim bước ra luôn! Không làm nổi được việc nặng nhưng còn vá được giày vớ cũng bước ra.

Thêm một số người nữa bước ra. Nhẩm đến đã có khoảng ba mươi người, Niemann thấy không cần thêm nữa. Tuy vậy, hắn vẫn bực tức những tù nhân không chịu mắc mưu. Hắn lại thét lanh lảnh:

– Bọn mày còn khỏe mạnh hả? Được rồi, để thử coi! Bên phải, quay! Chạy vòng sân!

Đám tù bắt đầu chạy. Thở hổn hển, họ chạy ngang qua những người bạn khai bệnh còn đứng nghiêm và mỗi người đều tự nhủ chưa chắc ai là kẻ sẽ thoát hiểm. Chắc chắn là có người đang chạy sẽ ngã quỵ xuống, và Niemann sẽ tức tốc cho vứt kẻ ấy vào đám tù khai bệnh.

Đám tù đã chạy tới vòng thứ sáu. Tất cả đều gần ngã quỵ, nhưng họ biết đây không phải là vấn đề thử sức khỏe mà chính là cuộc chạy trốn lưỡi hái của tử thần. Mặt ướt đẫm mồ hôi, mắt lờ đờ thảm hại – một thứ ánh mắt kinh hoàng chẳng một loài thú nào có được, chỉ trừ loài người…

Tới bây giờ, đám tù khai bệnh lúc nãy mới nhận chân thực tế. Họ đâm ra hốt hoảng. Hai người trong bọn xông vào cùng chạy. Niemann kêu lên:

– Trở về chỗ!

Họ không nghe. Điếc vì sợ hãi, họ cứ cắm đầu chạy. Guốc gỗ sút ra, họ chạy với những bàn chân rướm máu. Niemann không rời mắt hai người tù ấy, nhưng vẫn để họ chạy. Rồi tới khi cả hai ngỡ là thoát nạn, hắn chờ họ chạy ngang tới, đưa chân ra khoèo khiến cả hai đều quỵ té. Họ cố chỗi dậy nhưng hai cú đá nặng nề tiếp theo khiến họ ngã sấp luôn. Với giọng lanh lảnh, Niemann ré lên :

– Đứng dậy mau! Trở về chỗ!

Hai người tù đành lủi thủi làm theo.

Suốt thời gian này, Niemann quay lưng về phía lao xá 22. Đoàn tù vẫn tiếp lục chạy vòng quanh. Thêm bốn người nữa ngã lăn, hai người bất tỉnh: một người mặc áo kỵ binh, người kia mặc áo lót đàn bà. Tên tù trật tự viên phát y phục đã bày ra trò đố. Trong số tù đang chạy, trên một chục người ăn mặc đủ kiểu trông như một đại hội trá hình.

509 để ý thấy Rosen vấp chân suýt ngã rồi từ từ bị vượt qua. Hắn biết chỉ vài giây nữa là Rosen sẽ kiệt sức và quỵ xuống. Có liên quan gì tới mình đâu, hắn nghĩ thế và nhủ thầm là chớ dại dột. Mỗi người phải tự xoay xở lấy. Một lần nữa, đoàn tù mới chạy ngang qua đám tù cũ. Rosen bây giờ đang lệt bệt ở sau cùng. Tự nhiên 509 nhìn sang Niemann. Lưng tên Đội trưởng vẫn còn quay lại phía các tù cũ. 509 nhìn quanh. Chẳng một trưởng phòng nào chú ý tới hắn. Mọi người đang nhìn vào hai ngưòi tù bị Niemann đá lúc nãy. Thật gọn gàng, 509 vói chụp vào tay Rosen trong lúc người tù này loạng choạng sắp té, kéo hắn vào và lẹ làng đẩy ra phía sau:

– Mau! Vượt qua hàng! Chui vào lao xá! Trốn mau!

Hắn nghe hơi thở hổn hển của Rosen ở phía sau. Từ khóe mắt hắn nhìn thấy có gì cử động và tiếng thở hào hển không còn nghe thấy nữa. Niemann vẫn còn mải mê nhìn đoàn tù chạy. 509 hy vọng là Rosen hiểu ý hắn. Và nếu rủi ro bị bắt lại Rosen chắc sẽ chẳng khai gì bất lợi cho hắn. Niemann không hề đếm số tù, như thế là đỡ lo. 509 cảm thấy gối run rẩy và cổ họng khô đắng. Máu như dồn mạnh vào hai vành tai hắn.

Hắn cẩn thận quay nhìn Berger, vẫn bất động, Berger chăm chú theo dõi đoàn người chạy vòng quanh càng lúc càng có thêm người quỵ ngã. Tuy nhiên, sắc diện hơi biến đổi của ông ta cho thấy là mình đã biết hết rồi. Thình lình phía sau hắn, có tiếng thì thầm của Lebenthal:

– Hắn vào tới bên trong rồi.

Hai gối của 509 càng run mạnh hơn. Hắn phải tựa vào Bucher cho khỏi té.

Niemann tháo kính ra lau vì tròng kính đã mờ bởi chính nhiệt độ của hắn trong khi hừng chí theo dõi cuộc chạy đua với tử thần của đoàn tù. Luồng nhiệt lực đó hắn đã phát hiện lần đầu tiên vào năm 1934 khi hắn giết một người Do Thái. Thoạt đầu, hắn không có ý định giết nhưng chính luồng nhiệt lực ấy đã chi phối hắn. Đúng ra hắn chỉ là một kẻ nhút nhát, nhưng khi nhìn thấy người Do Thái kia bò lê trước hắn xin tha, hắn bỗng cảm thấy mình cũng là một cái gì, một nhân vật có quyền lực trong tay, một kẻ nắm quyền sinh sát… và hắn bổ vào sọ đầu trên đó có những sợi tóc nhuộm lưa thưa…

“Tất cả, đứng lại”!

Đoàn tù bị hành xác dường như không tin hẳn. Họ ngỡ là sẽ bị bắt buộc chạy cho tới chết. Mặt đất và những người chung quanh họ đang đảo lộn quay cuồng. Họ tựa vào nhau để cố đứng. Niemann đeo kính vào và đột nhiên có vẻ gấp rút:

– Đem mấy cái xác qua đây!

Đoàn tù nhìn hắn, chẳng hiểu ra sao vì trên sân chưa có người nào chết. Hắn vội vàng chữa lại :

– Mấy đứa sụm chân đó! Đem qua đây!

Vài phút sau, những kẻ mệt ngất bị đem chất đống lên nhau. Trong sự hỗn loạn đó, 509 chợt thấy Sulzbacher được vài người án ngữ phía trước đang đá vào xương ống chân của một người tù ngất lịm rồi khom người xuống vặn tai và giựt tóc của người này. Hắn xốc người nay lên nhưng anh ta lại sụm xuống. Tức bực, hắn đấm đá túi bụi vào gã tù bất tỉnh cho tới khi một trật tự viên tới xô hắn ra. Sulzbacher lại xông vào nhưng bị tên tù có chức phận nay đá bật ra vì tưởng rằng Sulzbacher có thù hằn gì với người tù bất tỉnh đó. Tên trật tự viên đuổi hắn:

– Đi chỗ khác! Đồ tạp chủng! Đằng nào rồi nó cũng chết.

Xe chở xác vừa lên tới. Máy xe nổ như tiếng đại liên. Những người bất tỉnh được chất lên. Một vài kẻ chỉ mới kiệt sức nhưng chưa ngất lịm cố vùng dậy chạy trốn nhưng không thoát. Niemann vội vàng ra lệnh :

– Những đứa không thuộc nhóm này, tan hàng! Tù khai bệnh đi theo xe!

Lập tức, những người tù may mắn chạy vào lao xá. Xe lăn bánh thật chậm để những tù nhân khai bệnh có thể kịp theo sau. Nieimann đi bên cạnh họ và bắt đầu đổi giọng dịu dàng :

– Vậy là mấy người sẽ không còn phiền muộn gì cả.

Trong khi đó, toán tù vừa nhập lao xá 22 băn khoăn. Có người hỏi 509:

– Họ đi đâu vậy?

– Chắc tới lao xá 40.

– Để làm gì?

– Không biết.

Hắn không muốn nói ra điều mà tất cả tù nhân đều đã biết. Tại đó Niemann còn cả một thùng hơi ngạt và một ít thuốc chích chết người. Họ chỉ ở đó tới tối là chiếc xe chở xác lại tới nơi đưa thi thể họ về lò thiêu.

509 hỏi Sulzbacher:

– Sao lúc nãy bạn đánh người kia hoài vậy?

Sulzbacher nhìn vào mặt 509 nhưng không trả lời. Hắn nấc nghẹn như vừa nuốt phải một cụm bông gòn rồi tránh ra nơi khác. Rosen nói thay cho bạn:

– Người kia là em của anh ta.

Suizbacher nôn ra, chẳng có gì ngoài mật xanh.

– À, mày vẫn còn đây hả? Bộ tưởng quên rồi sao?

Handke đứng trước mặt 509, chậm chap nhìn từ đầu đến chân người tù. Lúc đó là giờ điểm danh tối. 509 không nói gì cả. Chỉ có điên mới dám chọc giận một đại diện lao xá. Im lặng bao giờ cũng tốt hơn. Hắn hy vọng là Handke tuy nói thế nhưng đã quên chuyện cũ hoặc chỉ nói để dằn mặt rồi thôi. Handke nhăn mặt :

– Sao?

Berger đáp giọng tự nhiên:

– Số đính bài đã bị ghi hôm đó rồi.

Handke quay phắt sang:

– Thật không?

– Thưa, chính Đội trưởng Schulte tự tay ghi. Tôi thấy.

– Ghi trong bóng tối? Được, nếu vậy càng tốt.

Hắn vẫn lắc lư và nói tiếp:

– Để tao hỏi lại coi. Có buồn phiền gì không hả?

Không một ai trả lời. Hắn bảo:

– Thôi được. Lo ăn đi trước đã. Súp thôi. Tao sẽ đích thân tới đó, đồ tạp chủng! Nghiêm!

Bolte tới nơi. Cũng như thường lệ, hắn có vẻ hối hả. Suốt hai tiếng đồng hồ thua bài, hắn phải cố tìm cách gỡ nên chỉ nhìn qua số người chết rồi bỏ đi ngay. Handke vẫn còn ở lại. Hắn ra lệnh cho toán tù đi lấy thực phẩm xuống nhà bếp rồi bước chậm rãi ra phía hàng rào kẽm gai chia đôi Tiểu trại và các lao xá đàn bà. Hắn đứng đó nhìn qua bên kia một lúc lâu.

Berger bảo:

– Chúng mình vào trong. Chừa một người ở lại coi chừng hắn.

Sulzbacher tình nguyện:

– Để tôi.

– Hãy thông báo ngay khi hắn bỏ đi.

Nhóm Lão Làng vào cả bên trong. Tốt hơn hết là đừng để cho Handke thấy mặt. Berger bồn chồn :

– Mình nên làm gì bây giờ? Quân trâu chó đó chắc muốn kiếm chuyện.

– Có thể là hắn sẽ lại quên. Dường như hắn khó chịu chuyện gì đó. Phải chi mình có rượu để làm hắn say khướt luôn.

Lebenthal nhổ nước miếng:

– Rượu! Làm sao có! Không thể có được!

509 nói:

– Có thể là hắn chỉ nói đùa.

Tuy nói vậy nhưng 509 không dám tin lời mình. Dầu sao thì đó cũng là chuyện thường xảy ra. Bọn SS toàn là những chuyên viên gây sự sợ hãi thường xuyên. Đã có lắm người vì quá sợ mà mất trí. Một vài kẻ đã điên loạn chạy bổ vào hàng rào điện, một số khác chết vì đứng tim.

Rosen tới gần, nói nhỏ với 509:

– Tôi còn một ít tiền đây. Bốn chục Marks. Bạn lấy cho hắn. Ở chỗ khác chúng tôi vẫn thường làm như vây.

Hắn dúi những tờ giấy bạc vào tay 509. Tự nhiên 509 cầm lấy không hề ý thức là đang nhận tiền một kẻ khác.

– Chắc chẳng tới đâu. Hắn cứ lấy tiền và vẫn kiếm chuyện.

– Hứa là sẽ hối lộ thêm.

– Nhưng lấy tiền ở đâu ra?

Berger góp ý:

– Lebenthal còn ít nhiều. Phải không, Leo?

– Có, tôi còn một ít. Chỉ sợ là sau khi thỏa mãn lần đầu, hắn cứ trở lại mỗi ngày đòi thêm cho tới lúc mình sạch túi. Chừng đó mình trở lại tình trạng cũ, chỉ khác hơn là chẳng còn tiền.

Tất cả đều im lặng. Không ai cho là lời nói của Lebenthal tàn nhẫn. Đó là sự thật. Vấn đề là có nên hy sinh công việc mua bán đổi chác của Lebenthal chỉ để lấy một đôi ngày trì hoãn cho 509 hay không. Chấp nhận như thế là nhóm Lão Làng sẽ còn ít thực phẩm hơn, rất ít đến nỗi có thể khiến cho một vài người quá yếu chết luôn. Thật ra, mọi người đều sẵn sàng hy sinh mọi thứ nếu sự hy sinh đó có thể thật sự cứu mạng cho 509, nhưng làm sao có thể biết được với tính tình hay thay đổi của tên tù đại diện lao xá. Kéo dài vài ngày sống sót riêng cho một người trong khi hàng chục sinh mạng khác lâm nguy là điều khó chấp nhân. Đó là quy luật bất thành văn của ngục tù trong mục đích duy trì sự sống còn. Tất cả đều hiểu rõ, nhưng trong trường hợp này, họ không muốn liều. Họ đang tìm một lối thoát chung.

Cuối cùng Bucher ngỏ ý một cách tuyệt vọng:

– Hay là mình giết chết tên chó má đó.

Ông lão Ahasver vẫn cứ sáng suốt:

– Bằng cách nào? Hắn khỏe gấp mười mình.

– Nếu tất cả chúng ta đều dùng chén…

Bucher không nói nữa. Hắn tự thấy dại dột.

Dầu cho giết Handke thì rồi sẽ có cả lô tù nhân bị treo cổ. Berger hỏi:

– Hắn còn đó không?

– Còn. Vẫn đứng một chỗ.

– Có thể là hắn sẽ quên.

– Hắn bảo là chờ bọn mình ăn xong.

Một không khí im lặng chết chóc bao trùm. Một lúc sau, Rosen nói với 509 :

– Bạn cứ biếu hắn 40 Marks. Đó là tiền của bạn. Tôi đã tặng bạn rồi. Của riêng tôi tặng riêng bạn, chẳng dính líu gì tới người khác.

Lebenthal tuyên bố:

– Đúng. Đúng lắm.

509 nhìn ra cửa. Hắn thấy hình dáng đen mờ của Handke in trên nền trời xám. Cách đó ít lâu, một cái gì tương tự như thế đã diễn ra… một cái đầu in trên nền trời, một đại họa. Hắn không nhớ rõ lúc nào. Hắn lại nhìn ra cửa không hiểu tại sao mình chẳng có quyết định nào cả. Một sức kình chống mờ ảo đang hình thành trong hắn. Đó là sức kình chống với quyết định lo lút cho Handke. Trước đây hắn có bao giờ nghĩ tới việc này đâu, chỉ toàn là sự sợ hãi.

Rosen thúc gịục:

– Cứ ra gặp hắn. Đưa hết tiền cho hắn và hứa hẹn thêm.

509 do dự. Hắn không hiểu hắn nữa rồi. Hắn chỉ còn hiểu là hối lộ sẽ cũng chẳng có hiệu lực gì một khi Handke cố tình hủy diệt hắn. Chuyện đó đã xảy ra quá nhiều trong nhà tù. Chúng nó lấy tiên nhưng rồi lại hạ sát người lo lót để diệt khẩu. Nhưng một ngày sống sót cũng là một ngày sống sót… và biết đâu chỉ trong một ngày ấy thôi, nhiều biến đổi lớn sẽ xảy ra.

Thằng bé Karel nói lớn:

– Toán khiêng đồ ăn đã về tới.

Berger khuyến khích 509:

– Cứ thử một lần đi. Nếu hắn trở lại đòi thêm mình dọa tố cáo hắn. Chúng ta có cả chục nhân chứng. Tất cả đều khai một lời. Mình chỉ còn có cách đó thôi.

Từ bên ngoài, Sulzbacher nói vọng vào:

– Hắn đang đi tới.

Tên đại diện hung ác đi vòng tới trước khu D, quát hỏi:

– Thằng khốn kiếp đâu rồi?

509 bước ra:

– Tôi đây.

– Tốt lắm. Tao sắp sửa ra tay đây. Từ giã bọn chúng đi. Chúng nó sẽ tìm ra mày sau. Có cả kèn trống linh đình.

Hắn nhăn nhó với thái độ khôi hài, tự cho mình đùa rất có duyên. Berger thúc nhẹ khuỷu vào người bạn. 509 bước tới.

– Tôi có thể nói với ông vài câu không?

– Nói với tao? Sao lạ vậy?

Handke đi về phía cửa ra. 509 bước theo. Từ phía sau, hắn nói vọng tới:

– Tôi có một ít tiền.

– Tiền? À hả? Bao nhiêu?

Hắn vừa hỏi vừa tiếp tục đi.

– 20 Marks.

509 muốn nói bốn mươi nhưng sức kình chống trong người hắn đã ngăn cản lại. Hắn chỉ muốn mua sự sống bằng một nửa số tiền thôi.

– 20 Marks và hai xu nhỏ! Bỏ đi, con!

Hắn bước mau hơn. 509 cố bắt cho kịp:

– 20 Marks vẫn hơn là chẳng có gì.

– Cứt!

Thế là hết luôn cơ hội lo lót 40 Marks. 509 nhận ra là đã lầm. Một sự lầm lẫn hết cứu vãn. Hắn nghe đau nhói ở dạ dầy. Sức kinh chống ban nãy tan biến. Hắn nói mau:

– Tôi vẫn còn nhiều tiền hơn.

Handke dừng lại:

– A ha! Một nhà đại tư bản hả! Một nhà tư bản chết! Bao nhiêu?

509 hít một hơi thở thật sâu :

– 5.000 đồng quan Thụy Sĩ.

– Sao?

– 5.000 đồng quan Thụy Sĩ. Gởi tại một ngân hàng ở Zurich.

Handke bật cười:

– Bô mày tưởng nói vậy là tao tin ngay sao, thằng khố rách?

– Trước kia, tôi không phải là thằng khố rách.

Trong một lúc khá lâu, Handke nhìn đăm đăm vào mặt người tù mà hắn không thể nào ưa nổi. 509 nói thật mau:

– Tòi sẽ chuyển một nửa khoản tiền ấy sang ông. Thủ tục rất đơn giản, chỉ một giấy chuyển ngân là món tiền sẽ về tay ông. Hai ngàn năm trăm đồng quan Thụy Sĩ không phải nhỏ.

Hắn nhìn vào khuôn mặt khó hiểu trước mắt rồi nói tiếp:

– Chiến tranh sắp kết thúc một ngày gần đây. Tiền bạc ở Thụy Sĩ có thể lấy ngay… Khi chúng ta bại trận.

Handke ngẩng đầu lên, giọng hắn thấp hơn:

– Thì ra thế. Bọn mày đang tính toán như thế, hả? Đừng tưởng bở! Sinh mạng tụi mày ở trong tay bọn tao. Cứ tưởng nói thế là xong sao? Tiền ký thác ở ngoại quốc bất hợp lệ… rồi sẽ bị điều tra, càng rắc rối cho mày thêm.

– Nhưng có 2.500 đồng quan Thụy Sĩ trong tay và chẳng có gì cả là chuyện không giống nhau…

– Đối với mày cũng thế. Đừng nói nữa!

Đột nhiên Handke tru tréo lên rồi xô mạnh vào người 509 làm hắn quỵ xuống.

509 từ từ đứng lên. Berger từ xa tới. Handke đi luôn, bóng hình gã chìm khuất trong màn đêm. Berger hỏi ngay:

– Sao? Chuyện gì?

– Hắn không chịu lấy tiền.

Berger đứng im. 509 chợt nhận ra trong tay Berger có một cây gậy. Hắn kể lại :

– Tôi hứa sẽ dâng hắn nhiều hơn. Hắn không chịu. Có lẽ tôi đã sai lầm về một điều gì đó.

– Hắn không ưa bạn vì chuyện gì?

– Hắn không chịu nổi tôi. Bây giờ thì mọi việc đều như nhau. Tôi hứa sẽ chuyển nhượng cho hắn một số tiền ở Thụy Sĩ. Hai ngàn rưỡi đồng quan Thụy Sĩ mà hắn vẫn cứ thế.

Họ đã về tới lao xá. Họ chẳng cần tường thuật, mọi người cũng đã hiểu. Tất cả đều còn đứng nguyên chỗ cũ. Không một ai rời vị trí… nhưng dường như chung quanh 509 có một khoảng trống vô hình, một vòng rào cô lập… sự cô đơn của cái chết.

Rosen buột miệng:

– Khốn kiếp!

509 nhìn Rosen với ánh mắt hòa dịu rồi bảo Lebenthal:

– Cho tôi mượn cái đồng hồ.

Berger đưa ý kiến:

– Mình vào trong nghĩ xem có ý gì hay không?

– Chẳng còn gì đâu. Bây giờ chỉ còn đợi chờ thôi. Đưa đồng hồ cho tôi và cứ để tôi một mình.

Hắn ngồi đơn độc. Kim đồng hồ lòe xanh trong bóng tối. Hắn nghĩ thầm, ba mươi phút. Mười phút tới văn phòng, mười phút để báo cáo và ra lệnh, mười phút đi trở lại. Kim dài sẽ đi đúng nửa vòng… nửa vòng kim, một mạng sống.

Bỗng nhiên hắn nghĩ tiếp, biết đâu có thể lâu hơn. Nếu Handke báo cáo về chuyện tiền Thụy Sĩ thì Khối Chính Trị bắt buộc phải can thiệp. Như vậy chúng sẽ làm mọi cách để lấy cho được tiền, trong thời gian này hắn không thể bị giết chết. Lúc nói chuyện đó với Handke, hắn không hề nghĩ tới điều này… chỉ có ý định khơi lòng tham của tên đại diện hung ác ấy thôi. Đúng là một dịp may, nhưng biết Handke có đề cập tới vấn đề ấy hay không.

Bucher lặng lẽ tới chỗ 509, hắn ngập ngừng:

– Còn một điếu thuốc đây. Berger gọi bạn vào trong hút.

Thuốc lá. Tốt lắm. Đó là điếu thuốc cuối cùng của Lewinsky tặng sau khi hắn vừa bị nhốt trong chuồng cọp ra. Chuồng cọp… bây giờ hắn nhớ ra rồi. Cái đầu in trên nền trời mà Handke gợi nhớ chính là cái đầu của tên Trại trưởng Weber. Weber, chính hắn là người gây ra mọi thứ.

Bucher giục:

– Thôi đi vào.

509 lắc đầu. Thuốc lá. Đó là món điểm tâm cuối cùng của tử tội. Hút xong một điếu thuốc mất bao lâu? Năm phút? Mười phút, nếu hút chậm? Một phần ba thời gian của nửa vòng kim dài trên mặt đồng hồ. Không được. Hắn còn những việc khác cần làm. Nhưng làm cái gì? Có gì để làm đâu? Miệng hắn bỗng nghe thèm thuốc một cách lạ lùng. Nhưng, nếu hút tức là tự nhìn nhận đã thua cuộc.

Hắn bỗng nổi giận:

– Đi đi! Mang điếu thuốc bẩn thỉu ấy đi đi!

Hắn lại nhớ tới cơn thèm thuốc tương tự. Đó là lần Neubauer hút xì-gà sau khi hắn và Bucher bị Weber đánh chết lên chết xuống. Lại cũng thằng Weber. Như thường lệ. Như nhiều năm qua…

Hắn không muốn nghĩ tới Weber. Không muốn nghĩ tới lúc này. Hắn nhìn xuống đồng hồ. Năm phút đã đi qua. Hắn nhìn lên vòm trời. Đêm ẩm nhưng hiền dịu. Đây là dịp để cây cối đâm chồi nảy lộc. Đêm mùa Xuân. Mùa Xuân đầu tiên của hy vọng. Nhưng đây chỉ là một thứ hy vọng rách nát, tồi tàn, chỉ còn là cái bóng. Đúng ra, hắn không nên nói về chuyện bại trận, một cái gì khiến hắn nghĩ thế.

Trễ lắm rồi. Hắn đã nói với Handke. Nền trời như đen sậm hơn, bụi bẩn hơn, thấp xuống hơn với đầy đe dọa. 509 thở mệt nhọc. Hắn muốn bò ra xa, chúi đầu xuống đất để lẩn trốn, móc trái tim ra và cất giấu đi để cho nó vẫn còn đập nếu…

Mười bốn phút, có tiếng thì thầm buồn ngậy ở phía sau. Hắn đoán là ông lão Ahasver đang cầu kinh. Điệu kinh cầu này hắn đã từng nghe nhiều lần… những lời cầu nguyện cho kẻ chết, kinh Kaddish. Hắn nói vọng ra sau:

– Tôi chưa chết, cụ ơi! Đừng đọc nữa!

Tiếng thì thầm đâu rồi? Sao không còn nghe thấy nữa? Từ từ, 509 đưa bàn tay lên và từ từ mở ra thận trọng như người đang nắm giữ một viên kim cương sợ nó bỗng biến thành than đá. Hắn cố thở thêm vài hơi nữa trước khi nhìn vào đường chỉ tay mờ mờ của mệnh số.

Ba mươi lăm phút trôi qua. Ba mươi lăm phút rồi sao? Thế là hơn năm phút, năm phút tuyệt vời, năm phút tối quan trọng. Nhưng có lẽ đó là năm phút để báo cáo tới khối chính trị… hoặc Handke tự cho mình thêm chút thì giờ.

Thêm bảy phút nữa trôi đi. 509 ngồi yên. Hắn thở và nhận ra còn đang thở. Không có một tiếng động nào cả. Không có tiếng bước chân, không có tiếng xiềng xích, không có lời quát tháo. Nền trời vẫn còn đó, dường như cao hơn. Trên đó chẳng có bóng dáng một đám mây nào đi đưa tang cả.

Hai mươi phút rồi ba mươi phút. Phía sau hắn có tiếng người thở ra nhẹ nhõm. Bầu trời sáng hơn lên. Có tiếng dội từ xa của nhịp tim, tiếng phần phật của mạch máu, và hơn thế nữa, tiếng dội rền vang trong tiếng dội rồi tia lửa – chưa chịu tắt – ngún cháy và bừng sáng mãnh liệt hơn trước kia. Bàn tay trái yếu ớt buông chiếc đồng hồ rơi xuống.

– Có thể…

Phía sau hắn, Lebenthal vừa lẩm bẩm bao nhiêu đó rồi ngưng lại với sự sợ hãi pha lẫn lòng mê tín.

Thời gian đột nhiên như không còn kéo dài ra mà tan chảy. Tan chảy đi mọi hướng. Thời gian… như giòng nước đổ xuống triền đồi. 509 chẳng hề giựt mình khi bàn tay Berger thò lấy chiếc đồng hồ

– Một giờ mười phút. Hôm nay nhất định không có gì xảy ra. Rất có thể là chẳng bao giờ nữa đâu, 509. Chắc hắn đã suy nghĩ kỹ.

Rosen đầy tin tưởng:

– Đúng vậy.

509 bỗng hỏi một câu ngoài đề:

– Leo, tối nay bọn gái điếm có đi qua không?

Lebenthal không giấu được ngạc nhiên:

– Bạn lại nhớ tới chuyện dạ dầy à?

– Phải.

Vậy chớ nghĩ tới gì bây giờ? 509 tự hỏi. Hắn tiết lộ:

– Chúng ta còn khá nhiều tiền. Tôi chỉ đề nghị biếu Handke 20 Marks thôi.

Lebenthal sửng sốt:

– Sao chỉ có 20 Marks?

– Hai mươi hay bốn mươi cũng vậy thôi. Nếu muốn thì hắn lấy, chỉ có thế.

– Nhưng nếu đêm mai hắn lại tới?

– Nếu có tới hắn sẽ lấy 20 Marks. Nếu hắn báo cáo thì bọn SS tới. Trong trường hợp đó tôi đâu còn cần tiền nữa.

Rosen quả quyết:

– Hắn không báo cáo đâu. Chắc chắn mà. Hắn sẽ nhận tiền.

Lebenthal cảm thấy dễ chịu:

– Bạn cứ giữ số tiền đó. Tôi còn khá đủ cho đêm nay.

Và thấy 509 đang làm một cử chỉ không tán thành, hắn gằn giọng nói tiếp:

– Tôi không lấy mà. Còn tiền đây. Thôi vào đi. Để tôi lo.

509 từ từ đứng lên. Từ lúc ngồi xuống cho tới bây giờ hắn có cảm tưởng là không bao giờ còn đứng lên nổi nữa, làm như gân xương hắn đã tan chảy thành keo. Hắn cử động tay chân. Berger theo sau hắn. Họ im lặng một lúc lâu rồi 509 lên tiếng trước:

– Ephraim, con người có cách nào thoát khỏi vĩnh viễn sự sợ hãi không?

– Bi quan đến thế sao?

– Bi quan chớ. Hơn bao giờ hết.

– Có lẽ tại vì bạn sinh động hơn.

– Bạn tin như vậy à?

– Phải. Bởi vì tất cả chúng ta đều đã thay đổi.

– Rất có thể. Nhưng trong cuộc sống làm thế nào để thoát khỏi những điều sợ hãi?

– Khó lắm. Nhưng với chuyện vừa xảy ra thì được. Đây là một sự sợ hãi cảm nhận với lý do. Còn sự sợ hãi kia – một sự sợ hãi dai dẵng, cái sợ trong ngục tù – thì tôi không biết. Hiện thời mình chỉ nên nghĩ tới ngày mai. Ngày mai và thằng Handke.

509 nhìn thẳng tới trước:

– Nhưng đó là điều tôi không muốn nghĩ tới.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 11 Oct 2024

11. Chương Mười một

Một đoàn tù phát lưu vừa tới buổi chiều. Khoảng 500 người đang cố lê bước lên đồi. Trái với dự đoán của mọi người, đoàn tù mới tới chẳng có bao nhiêu kẻ tàn phế. Dọc đường, những người không đủ sức theo đoàn đều bị bắn bỏ cả rồi.

Phải trải qua một thời gian khá lâu, thủ tục nhập trại mới hoàn tất. Bọn SS cùng đi với họ cứ đếm đi đếm lại mãi vì chúng quên trừ con số vài mươi người chết ở dọc đường. Trong khi đó, bọn SS của trại đương nhiên phải dè dặt, chúng chỉ nhận những người có mặt và còn đủ sức đi qua cổng trại. Và vấn đề bỗng trở thành một trò thú vị của bọn SS. Trong khi đoàn tù phát lưu còn đứng ngoài cổng, thêm vài tù nhân ngã lăn ra. Bọn đồng cảnh toan lôi họ theo nhưng bọn SS ra lệnh phải đi mau gấp đôi nên số người bất hạnh kia bị bỏ mặc cho số mạng. Khoảng hơn hai mươi người nằm rải rác trên đoạn đường 200 thước cuối cùng, có kẻ kêu rú, tru tréo như những con thú bị thương, có kẻ không còn đủ hơi sức để rên rỉ nữa chỉ biết nằm yên với đôi mắt trợn trừng kinh hãi. Họ biết nếu còn tiếp tục nằm đó, việc gì sẽ phải tới. Trên đường lưu đày, hàng trăm người đồng cảnh đã chết với một viên đạn xuyên qua cổ.

Quang cảnh bi thảm trước mắt bị bọn SS biến thành trò đùa. Steinbrenner lên tiếng trước :

– Coi kìa, tụi nó đang van lạy xin nhập trại.

Trong khi đó bọn SS bên ngoài la hét không ngừng:

– Mau lên! Mau lên!

Toán tù kiệt sức cố nhổm dậy để bò đi. Steinbrenner lại bảo:

– Rùa chạy đua! Tôi bắt cá tên sói đầu ở giữa!

Người tù sói đầu đang bò tới trên mặt đường nhựa trơn tuột. Hắn vượt qua một tù nhân khác đang chỏi tay cố nhổm lên nhưng không nổi. Mỗi người tù bò đi đều nghểnh cổ một cách khác thường… họ nhìn tới cổng trại cứu tinh trước mặt nhưng đồng thời sợ hãi chờ nghe một tiếng súng nổ ở phía sau.

– Cố lên! Tiến tới nữa, sói đầu!

Bọn SS đứng thành hai hàng dài. Thình lình hai phát súng nổ vang. Đó là hai phát súng của một gã Đội trưởng trong đoàn áp giải. Hắn vừa nhăn mặt vừa cho khẩu súng lục vào bao. Hắn chỉ mới bắn chỉ thiên.

Tuy nhiên, tiếng súng đã làm cho toán tù đang bò sợ điếng hồn. Họ cho là đã có thêm hai người bạn phía sau đã bị bắn. Trong cơn kinh hoàng, tay chân họ như co rút lại. Một người sụm xuống hai tay duỗi thẳng ra và chấp lại, miệng lẩm nhẩm cầu kinh, mồ hôi tươm đầy trán với từng hột lớn. Một người nữa sụm theo, im lặng và bằng lòng với số mệnh, hai tay ôm lấy mặt. Vài giây sau, hắn không còn động đậy nữa.

Steinbrenner hô lớn:

– Còn 60 giây nữa! Một phút đúng! Cửa thiên đàng sẽ đóng lại sau một phút! Đứa nào không tới kịp sẽ ở ngoài luôn!

Hắn nhìn vào đồng hồ và lay động cửa trại như sắp đóng lại. Cuộc bò đua với tử thần trở thành vô vọng hơn. Chỉ có người tù úp mặt vào lòng bàn tay là không nhúc nhích. Hắn đã vĩnh viễn bỏ cuộc.

Lại có tiếng reo hò của Steinbrenner:

– Hoan hô! Đầu sói của tao thắng cuộc rồi!

Hắn đá vào mông của người tù để giúp bò mau hơn. Cùng lúc ấy, một số tù nhân khác cũng đã bò qua cổng, nhưng hơn một nửa vẫn còn ở bên ngoài.

Steinbrenner lại hô to:

– Còn 30 giây!

Tiếng kéo lê của tay chân và tiếng rên rỉ nổi lên. Hai tù nhân nằm sấp trên mặt đường, hai tay quơ quào như người đang bơi. Họ không còn sức để nhổm lên nữa. Một trong hai người khóc rú lên.

Lại cũng Steinbrenner tuyên bố sau khi nhìn đồng hồ:

– Còn lại 15 giây!

Tiếp theo đó là một phát súng nổ. Lần này không phải là phát súng chỉ thiên. Người nằm sấp, mặt úp vào hai bàn tay, co giựt liên hồi rồi duỗi người ra như lún sâu xuống mặt đường. Máu đọng thành vũng đen quanh đầu hắn… như một vòng hào quang đen. Người tù đang cầu nguyện phía trước cố vùng dậy, nhưng hắn chỉ mới chống gối lên là lật ngửa ra. Mắt nhắm nghiền nhưng tay chân hắn bơi đạp tới tấp vào không khí giống như đứa bé nằm nôi. Một tràng cười rộ lên.

Một trong những tên lính SS hỏi gã Đội trưởng vừa bắn chết người tù kia:

– Mình xử hắn bằng cách nào? Từ phía sau xuyên ngực hay xuyên mũi?

Gã Đội trưởng chậm chạp bước quanh người tù đang đạp không khí. Hắn dừng lại ra dáng suy nghĩ rồi nổ một phát đạn xuyên xéo qua đầu. Người tù cong mình ngược lên, chân hắn đập mạnh xuống mặt đường rồi duỗi người ra. Một chân hắn chậm chạp nhấc lên, duỗi ra, co vào và duỗi ra…

– Coi bộ phát súng không linh hả, Robert?

Gã Đội trưởng lạnh lùng:

– Linh lắm chớ. Đó là phản ứng của thần kinh.

Steinbrenner dõng dạc tuyên bố:

– Hết giờ rồi! Đóng cửa lại!

Bọn lính canh từ từ khép cửa lại. Nhiều tiếng thét hãi hùng vang lên. Mắt Steinbrenner ngời sáng :

– Xin đừng chen lấn, thưa quí vị! Cứ bò vào từng người một, kẻo người ta lại bảo chúng tôi không được bình dân.

Ba người tù bò gần tới nơi rồi kiệt sức. Robert bình tĩnh bắn thêm hai người xuyên qua cổ. Người thứ ba vẫn còn ngồi được cứ trơ mắt nhìn Robert. Lúc gã Đội trưởng này bước ra phía sau, người tù cũng quay đầu theo dường như với cái thế đối diện đó, hắn sẽ làm cho Robert không bắn được. Robert đổi chỗ hai lần, nhưng đầu người tù vẫn không chịu giữ yên, cứ quay theo… Cuối cùng tên Đội trưởng nhún vai:

– Tại mày muốn vậy.

Hắn vừa nói vừa nổ súng vào giữa mặt người tù. Hắn cho súng vào bao rồi tính gọn:

– Vậy là chẵn bốn mươi.

Steinbrenner tới gần, hỏi:

– Bắn tất cả bốn chục hả?

Robert gật đầu:

– Tính chung từ lúc khởi hành.

Steinbrenner nhìn chăm chú vào mặt Robert với vẻ thán phục của kẻ đang đứng trước một lực sĩ vừa phá kỷ lục:

– Cừ khôi lắm.

Một Đội trưởng lớn tuổi hơn cằn nhằn Robert:

– Anh cứ bắn và bắn mãi thì làm sao điều chỉnh sổ sách?

Sau ba tiếng đồng hồ, thủ tục sổ sách vẫn chưa xong. 36 người ngã gục, 4 người chết.

Đoàn tù phát lưu từ sáng sớm tới lúc bấy giờ vẫn chưa được phát nước. Nhân lúc bọn SS ít chú ý, hai tù nhân của lao xá 6 lén lút trao nước cho họ. Cả hai người này bị bắt và đang bị treo trên giá tréo gần lò thiêu người.

Thủ tục vẫn tiếp diễn. Hai giờ sau, thêm 7 người chết và 50 người ngã gục. Đến 6 giờ, tình trạng tệ hại hơn: 12 ngưới chết và trên 80 người ngã lăn ra. Tới 7 giờ, lại thêm 120 người ngã xuống và không ai còn biết nổi số người chết là bao nhiêu vì những kẻ bất tỉnh cũng trơ ra như xác chết.

Khoảng 8 giờ, việc kiểm nhận những người tù còn đứng nổi kết thúc. Trời đã tối và bầu trời đầy những mây quyền. Đoàn tù lao tác vừa về tới. Họ phải làm thêm giờ phu trội nên đoàn tù phát lưu được lo tới trước. Một lần nữa họ lại tìm thấy một số võ khí. Đây là lần thứ năm, cũng tại một chỗ. Nhưng lần này còn có thêm một mảnh giấy với hàng chữ: Chúng tôi vẫn nghĩ tới các bạn. Ít lâu nay, tù nhân đã hiểu rằng chính những công nhân tại xưởng võ khí đã giẩu các khẩu súng ấy dành cho họ.

Werner bảo nhỏ:

– Đang hỗn loạn thế này, chắc mình sẽ thoát.

Lewinsky ép sát cái gói nho nhỏ vào cạnh sườn:

– Tiếc là chẳng có thêm. Qua hai ngày nữa là chẳng còn cơ hội nào khác vì thành phố đã được thu dọn sạch sẽ cả rồi.

Weber ra lệnh:

– Cho bọn chúng vào trong. Điểm danh sau.

Goldstein tỏ ý tiếc:

– Khốn nạn! Mình có mang cả khẩu đại bác vào cũng lọt tuốt!

Họ đi thẳng vào lao xá. Weber cao giọng:

– Tống bọn tù mới vào phòng khử trùng! Đừng để phải chứa thêm sốt rét hay ghẻ ngứa! Trật tự viên đâu?

Một gã tù trình diện. Weber hách dịch:

– Quần áo bọn này cần được khử trùng, có còn gì để chúng thay không?

– Thưa Trại trưởng vẫn còn đủ. Tháng trước mình có thêm được hai ngàn bộ.

Weber chợt nhớ ra. Hai ngàn bộ quần áo đó từ Auschwilz gởi tới. Các trại thủ tiêu luôn luôn có thừa quần áo để gởi đi những trại khác. Hắn ra lệnh:

– Cho bọn chúng vô thùng! Mau lên!

Lệnh được truyền đi:

– Lột quần áo ra! Vào nhà tắm! Quần áo để phía sau, vật dụng để trước mặt!

Tiếng xì xào chạy dài theo các dãy tù trong bóng tối. Hiệu lệnh rõ ràng là bảo đi tắm rửa nhưng tắm rửa đối với tù nhân còn có nghĩa là vào phòng hơi ngạt. Tại mấy trại thủ tiêu, tù nhân trần truồng bị đưa tới phòng hơi ngạt và được bảo là cho đi tắm. Nhưng trong các phòng tắm này, thay vì túa nước ra, các vòi gương sen lại tỏa ra hơi ngạt giết người.

Tù nhân Sulzbacher hỏi Rosen bên cạnh:

– Làm sao bây giờ? Ngã lăn ra chăng?

Đoàn tù bắt đầu cởi quần áo ra. Kinh nghiệm cho biết họ chỉ có mấy giây để quyết định thôi. Họ chưa hề biết trại này. Nếu đây là loại trại tuyệt diệt thì giả bộ bất tỉnh là tốt hơn. Làm như thế có thể sống thêm được ít lâu vì quy lệ không cho kéo xểnh những tù nhân bất tỉnh vào phòng hơi. Biết đâu nhờ thế họ còn có thể sống thêm được ít lâu và hy vọng được sống sót vì không phải tất cả những ai bị đưa tới trại thủ tiêu đều phải chết. Tuy nhiên, nếu đây không phải là loại trại đó thì giả vờ bất tỉnh lại nguy hiểm hơn, bởi vì những tù nhân không còn dùng được vào việc gì nữa sẽ bị chích thuốc độc cho chết luôn.

Rosen nhìn lướt qua những người đang bất tỉnh. Hắn nhận thấy không ai chú ý đến những người này. Hắn hiểu ngay là không phải bị đưa vào phòng hơi ngạt nên trả lời thật nhỏ:

– Không. Chưa phải lúc…

Những dãy hàng lúc này tối mò mò bây giờ trắng đục ra. Đoàn tù đứng trần truồng. Họ vẫn còn hình dáng con người nhưng đã quên điều đó từ lâu.

Họ bị đẩy vào một phòng tắm có nhiều thùng nước lớn chứa nước sát trùng cực mạnh. Qua tới phòng y phục, mỗi người được ném cho vài mảnh vải che thân. Bây giờ họ lại ra đứng thành hàng trên sân điểm danh.

Họ hối hả mặc quần áo vào. Gọi là quần áo thì không đúng hẳn nhưng họ cũng hân hoan biết mình không đang ở tại một trại thủ tiêu. Sulzbacher được phát cho một cái quần lót đàn bà có reng đỏ. Rosen thì được ném cho một cái áo lễ rộng của một linh mục. Chẳng có gì vừa vặn cả. Đó là quần áo còn lại của những người đã chết. Cái áo thầy tu của Rosen có vết đạn xuyên qua và lờ mờ còn dấu máu. Một số tù nhân khác nhận được các đôi guốc gỗ trước kia là của những người tù tại một trại tập trung ở Hòa Lan. Với những người chưa hề đi guốc quả là một cực hình.

Công việc phân phối tù về các lao xá vừa bắt đầu thì còi báo động từ thành phố phía dưới rú lên. Tất cả đều đưa mắt về phía Trại trưởng Weber.

Hắn hét thật to giữa tiếng ồn ào:

– Cứ tiếp tục!

Lính SS và trật sự tự viên lăng xăng chạy tới chạy lui. Đoàn tù đứng tại chỗ hoàn toàn yên lặng, mặt hơi ngẩng lên phản chiếu màu xanh mờ của ánh trăng. Weber lại thét:

– Cúi đầu xuống!

Lính SS và bọn trật tự viên lại chạy tới chạy lui truyền lệnh. Thỉnh thoảng chúng nhìn lên trời. Tiếng ho của chúng chìm trong sự huyên náo. Chúng lại sử dụng dùi cui.

Hai bàn tay trong túi áo, Weber đi tới đi lui ở bìa sân. Hắn không buồn ra lệnh nữa. Neubauer từ nhà riêng chạy vụt ra:

– Cái gì đây, Weber? Sao chúng chưa vào lao xá?

Weber thản nhiên:

– Phân phối chưa xong.

– Cần gì. Đừng để chúng đứng ở đây. Bọn phi công sẽ tưởng lầm là binh sĩ.

Còi báo động đổi giọng. Weber đáp:

– Trễ rồi. Cho chúng đi càng dễ bị phát giác hơn.

Hắn đứng yên nhìn Neubauer. Tự nhiên Neubauer hiểu hắn muốn gì. Hắn chờ đợi Neubauer chạy về hầm trú ẩn. Bực mình, Neubauer cũng đứng yên và chửi trổng :

– Đưa bọn này tới thật là dại. Ở đây còn chưa xong lại phải gánh thêm nữa. Khùng cả đám! Sao không đưa chúng tới các trại thủ tiêu?

– Các trại thủ tiêu còn ở quá xa về phía Đông.

– Chú định nói gì?

– Ở quá xa về phía Đông. Xa lộ và thiết lộ phải dành cho nhu cầu quân sự.

Một lần nữa, Neubauer bỗng nghe đau nhói ở dạ dầy. Hắn nói để tự trấn an:

– Phải rồi. Còn phải gởi quân ra mặt trân.

Weber không trả lời. Neubauer liếc xéo hắn rồi bảo:

– Cho chúng nó nằm xuống. Như vậy không thấy có đội hình.

Weber bước lê tới trước quát lớn:

– Nằm xuống hết!

Bọn lính SS lặp lại:

– Nằm xuống hết!

Đoàn tù nằm rạp xuống. Weber trở về chỗ cũ. Neubauer muốn bỏ vào nhà, nhưng có cái gì trong thái độ Weber khiến Neubauer khó chịu. Hắn vẫn phải đứng yên, nghĩ thầm, lại thêm một gã vong ơn. Mới vừa giúp hắn được ban thưởng Chiến tranh bội tinh, bây giờ hắn trở mặt. Đồ thiển cận! Nghĩ cho cùng thì hắn có gì mất mát đâu? Một vài miếng kẽm đeo trên ngực để làm anh hùng, hắn chỉ có thế, quân làm thuê!

Trận không tập không xảy ra. Một lúc sau, có hiệu còi chấm dứt báo động. Neubauer nhìn quanh:

– Càng ít ánh sáng càng tốt. Cho phân phối mau lên. Phần còn lại để mai giao cho đại diện lao xá và văn phòng lo.

– Vâng!

Neubauer vẫn còn đứng. Hắn nhìn đoàn tù mới. Họ đứng lên hết sức khó khăn, có người đã ngủ vì quá mệt đến nỗi phải lay mạnh mới thức dậy. Một số người khác vẫn còn nằm như không dậy nổi.

– Cho đem xác chết qua sân lò thiêu. Để bọn chúng khiêng mấy tên bất tỉnh đi.

– Vâng.

Đoàn tù sắp thành hàng bắt đầu đi về các lao xá.

– Bruno! Bruno!

Neubauer quay người lại. Vợ hắn đang tới gần cổng trại, giọng nói lộ vẻ xúc động mạnh :

– Bruno! Anh đứng đâu? Có gì xảy ra không? Anh có…?

Bà ta ngừng nói vì vừa nhìn thấy chồng. Phía sau bà là cô con gái.

Giận dữ, nhưng Neubauer phải nói qua hơi thở vì sợ Weber nghe:

– Tới đây làm gì vậy? Làm sao ra được chỗ này?

– Lính canh biết tôi mà. Anh không trở về nên tôi tưởng có chuyện gì xảy ra. Tất cả những người này…

Người đàn bà lại ngưng nói như vừa chợt tỉnh. Neubauer vẫn phải nói qua hơi thở:

– Tôi đã dặn kỹ là cứ ở trong đó. Tôi cấm tới đây…

Freya nói thay cho mẹ:

– Ba, hồi nãy má sợ quá nên mất trí. Còi rú lớn quá, gần quá…

Đoàn tù mới đi vào con lộ chánh, sát với chỗ ba người đang đứng. Selma hỏi nhỏ:

– Ai vậy?

– Cái gì? Có gì đâu. Tù mới tới bữa nay.

– Nhưng…

– Không nhưng gì cả. Bà tới đây làm gì? Đi về cả.

Neubauer đẩy vợ con sang một bên và ra lệnh:

– Về hết! Về mau!

Selma nhìn đăm đăm vào mặt của những người tù vừa đi ngang qua một mảng sáng trăng.

– Trông họ dường như…

– Như cái gì? Chúng là tù. Bọn phản bội Tổ quốc! Còn muốn trông họ như cái gì? Như các ông chủ Ngân hàng hả?

– Còn mấy người bị khiêng theo…

Neubauer gầm gừ:

– Tôi hểt chịu nổi rồi! Vậy là quá lắm! Toàn là chuyện buồn nôn! Chúng mới tới hôm nay, có việc gì dính líu tới tôi mà bảo họ trông như cái này, cái nọ. Trái lại, họ được tới đây là để nuôi cho mập ú lên. Có phải vậy không, Weber?

– Thưa Chỉ huy trưởng, đúng vậy.

Weber vừa đáp vừa liếc nhìn với vẻ hơi thích thú sang Freya và bỏ đi.

– Thôi, bà và con Freya về đi. Tuyệt đối cấm tới đây. Chỗ này không phải là sở thú.

Neubauer đẩy vợ con đi. Hắn sợ Selma lỡ lời có hại. Phải luôn luôn đề phòng mọi mặt. Không tin cậy ai được, cả tên Weber. Thật là phiền vì đã để Freya và Selma lên trên này vừa gặp lúc chuyến tù phát lưu mới tới! Hắn quên bảo họ cứ ở lại thành phố. Bây giờ thì không được nữa rồi vì đã có còi báo động. Có quỷ thần mới biết tại sao Selma lại dễ bị xúc động đến thế. Khi còi báo động rú lên, một mệnh phụ phu nhân bỗng biến thành một người đàn bà nói nhảm.

– Bọn lính canh rồi sẽ biết tôi! Tại sao chúng để bà tới đây? Cứ cái đà này thì rồi ai muốn tới cũng được cả!

Freya nhìn quanh:

– Chắc chẳng có bao nhiêu người muốn tới đây.

Neubauer bỗng tưởng chừng như nghẹt thở. Con nhỏ này lại muốn gì đây? Máu và thịt của mình đó sao? Cách mạng! Hắn nhìn trừng trừng vào khuôn mặt bình lặng của Freya. Có lẽ nó không nghĩ như nó nói. Thình lình hắn bật cười:

– Đừng tưởng vậy mà lầm. Bọn tù lúc nãy đã van lạy để xin được ở lại đây. Chúng cầu xin, chúng khóc lóc! Để rồi coi, chỉ vài tuần nữa, chúng sẽ khác hẳn đi đến không còn nhận ra được. Đây là trại tập trung tốt nhất nước. Nổi tiếng là một an dưỡng viện.

Khoảng 200 người của đoàn tù mới vẫn còn ở lại ngay phía trước Tiểu trại. Toàn là những người kiệt sức. Họ phải dựa vào nhau. Trong số này có Sulzbacher và Rosen. Tù nhân cũ đứng riêng ở ngoài. Họ biết là chính Weber sẽ đích thân giám thị việc phân phối về các lao xá. Vì lẽ đó nên Berger phái 509 và Bucher đi lấy đồ ăn để tên trại trưởng hung ác đừng chạm mặt họ. Nhưng cả hai đều bị đuổi trở lại. Nhà bếp cho biết chỉ phân phối thực phẩm sau khi phân phối xong các tù nhân mới.

Cảnh vật chìm trong bóng tối. Chỉ riêng Weber và Đội trưởng Schulte là có đèn bấm. Đại diện các lao xá lần lượt báo cáo. Weber bảo người phụ tá đại diện Tiểu trại:

– Cho bọn này vào đây.

Viên đại diện trại bắt đầu chia người. Schulte theo dõi từng ly từng tí trong khi Weber đi dài theo các dãy tù. Tới khu D của lao xá 22, hắn chợt hỏi:

– Sao ở đây ít hơn hôm trước?

Đại diện lao xá Handke đứng nghiêm:

– Thưa Trại trưởng, phòng này hẹp hơn các khu khác.

Weber bấm đèn lên. Ánh sáng chờn vờn qua các khuôn mặt hốc hác. 509 và Bucher đứng ở cuối hàng. Vòng tròn ánh sáng lướt qua làm 509 chóa mắt, tiếp tục lướt tới rồi quay trở lại.

– Tao nhớ dường như có biết mày, ở đâu?

– Thưa Trại trưởng, tôi ở trại nay lâu lắm rồi.

Đốm sáng tròn hạ xuống, dừng lại số đính bài.

Handke nói vào:

– Thưa Trại trưởng, hắn là một trong mấy đứa bị đưa tới văn phòng hôm trước.

– À, nhớ rồi.

Ánh sáng chiếc đèn bấm trở lại số đính bài rồi lướt qua trong khi Weber bảo Schulte:

– Ghi số của nó!

Đội trưởng Schulte trả lời với giọng tươi tắn:

– Dạ. Cho chúng vào đây bao nhiêu?

– Hai chục. Không, ba chục. Chen nhau mà sống.

Schulte và người đại diện lao xá đếm người và ghi sổ. Từ trong bóng tối, nhóm Lão Làng theo dõi cây bút chì của Schulte. Họ không hiểu hắn đã lấy số của 509 chưa. Weber không hề nhắc lại việc đó và bây giờ đèn bấm đã tắt rồi. Weber hỏi:

– Xong chưa?

– Dạ, xong rồi.

– Công việc sổ sách để mai rồi sẽ làm ở văn phòng.

Với dáng diệu tự tin, Weber nghinh ngang bỏ đi. Bọn Đội trưởng theo hắn, chỉ còn Handke vẫn loanh quanh ở đó. Hắn lừ nhừ ra lệnh:

– Bọn khiêng đồ ăn, bước ra!

Berger nói nhỏ với 509 và Bucher:

– Đừng đi. Hãy để hai người khác thay. Tốt hơn hết là đừng để cho Weber thấy mặt lần nữa.

– Schulte có ghi số đính bài của tôi không?

– Không thấy.

Lebenthal quả quyết:

– Không có ghi. Tôi đứng ở phía trước và để ý. Hắn quên.

Ba mươi tù nhân mới đứng bất động một lúc lâu trong bóng đêm lộng gió. Cuối cùng Sulzbacher lên tiếng :

– Trong lao xá còn chỗ không?

Người đứng bên cạnh hắn cất giọng khàn khàn:

– Nước, nước đâu! Ai có nước cho một chút.

Có người mang tới nửa thùng thiếc nước. Toán tù mới đổ xô tới. Họ nghiêng thùng xuống, dùng tay vốc nước cho vào miệng. Có kẻ nằm dài ra chui vào kẽ hở để giành nước. Có tiếng rên rỉ. Nước đổ ra đất. Bất kể, họ cứ liếm nước trên mặt đất. Môi họ dính đầy đất cát, đen sậm lại.

Berger thấy Sulzbacher và Rosen không nhập bọn. Ông ta bảo:

– Gần nhà cầu có vòi nước. Chỉ chảy rỉ rả thôi nhưng các bạn đủ uống. Lấy một cái thùng tới đó đi.

Một trong những người tù mới nhe răng:

– Đi lấy nước để mấy người trộm phần ăn của tụi này hả?

Rosen xách thùng lên:

– Để tôi đi.

Sulzbacher cũng bảo :

– Tôi đi nữa.

Berger ngăn lại:

– Bạn cứ ở đây. Để Bucher cùng đi và chỉ đường cho.

Rồi quay sang đảm tù mới, ông ta nói tiếp:

– Tôi là trưởng phòng của lao xá, có bổn phận giữ trật tự. Rất mong các bạn hợp tác, bằng cứ rối loạn mãi chắc chẳn sẽ không thể sống được lâu.

Không một ai trả lời. Chẳng biết họ có nghe thấy hay không. Một lúc sau, Sulzbacher hỏi:

– Ở trong còn chỗ không?

– Chật kín rồi. Bọn này phải ngủ thay phiên nhau. Một vài người bắt buộc phải ở ngoài.

– Còn gì ăn đỡ đói không? Tụi tôi đã đi suốt ngày rồi.

– Mấy người khiêng đồ ăn đang đi lấy.

– Tên tôi là Sulzbacher. Đây có phải là trại thủ tiêu không?

– Không.

– Chắc vậy à?

– Chắc chớ.

– Cám ơn Thượng đế! Cũng không có phòng hơi ngạt?

– Không.

Sulzbacher lại lầm bầm:

– Cám ơn Thượng đế!

Ông lão Ahasver chen vào :

– Nhưng đừng tưởng đây là khách sạn. Các bạn từ đâu tới.

– Chúng tôi đã đi ròng rã năm ngày. Đi bộ. Tất cả ba ngàn người. Trại cũ được lệnh dẹp bỏ. Người nào đi không nổi đều bị bắn.

– Nhưng từ đâu?

– Từ Lohme.

Một số tù mới vẫn còn nằm dài trên đất. Một người rên rỉ:

– Nước! Người đi lấy nước đâu rồi? Bộ nó ở đó uống cho no sao? Quân khốn kiếp!

Lebenthal hỏi hắn :

– Sao bạn không đi như anh ta?

Người tù vừa chửi rủa nhìn Lebenthal với ánh mắt vô hồn:

– Nước, làm ơn cho nước.

Ỏng lão Ahasver lại hỏi :

– Bạn từ Lohme tới?

– Phải.

– Có biết người nào tên Martin Schimmel ở đó không?

– Không.

– Còn một người tên Moritz Geweirz? Mũi bị đánh xẹp vào, đầu sóỏi.

Sulzbacher mệt mỏi đáp:

– Không.

– Biết Gedalje Gold không? Hắn chỉ còn một vành tai. Ở lao xá 12.

– Mười hai?

– Phải. Bốn năm trước.

– Trời!

Sulzbacher vừa kêu lên vừa quay mặt đi – Câu hỏi quá trẻ con – Bốn năm. Tại sao không là một trăm năm?

509 nói xen vào:

– Thôi để anh bạn mới nghỉ. Đi xa mệt lắm.

Người tù già thì thầm với mình:

– Họ là bạn của tôi. Chỉ muốn biết số phận họ.

Bucher và Rosen khiêng thùng nước về. Có dấu xây xát trên người Rosen. Áo anh ta bị xé toạc tới vai. Bucher nói:

– Họ đánh nhau giành nước. Nhờ có Mahner nếu không thì loạn xà ngầu. Bây giờ họ đã xếp hàng có trật tự rồi. Mình cũng phải làm như thế ở đây, nếu không thì thùng nước lại đổ nữa.

Những người tù mới đứng lên. Berger ra lệnh:

– Tất cả đứng thành hàng! Mỗi người sẽ được phát một ít. Người nào không đứng trong hàng sẽ không có nước.

Đoàn tù mới lục tục vào hàng, chỉ có hai người chạy ùa tới. Cả hai đều bị đánh gục. Ahasver và 509 đem một số ca nhôm múc nước phân phối. Bucher bảo Rosen:

– Tụi mình thử đi chuyến nữa coi. Chắc không còn lộn xộn đâu.

Sulzbacher nói giọng vô hồn:

– Chúng tôi có tất cả ba ngàn người.

Toán tù khiêng thực phẩm về tới. Không có đồ ăn cho đoàn tù mới. Hỗn loạn diễn ra. Họ ấu đả nhau trước Khu A và B. Người Trưởng phòng ở đó không biết phải làm sao. Tại Khu D, Berger bình tĩnh nói với 509 :

– Mình phải chia cho họ một ít.

– Chỉ có thể cho súp thôi. Không thể cho bánh mì. Bọn mình đã chịu đói lâu hơn họ.

– Được rồi. Nhường súp cho họ.

Và Berger nói với Sulzbacher:

– Nhà bếp không phát khẩu phần cho các bạn bữa nay. Nhưng chúng tôi sẽ nhường súp cho.

– Cám ơn ông

– Cái gì?

– Cám ơn.

Tù nhân cũ nhìn hắn với những cặp mắt ngạc nhiên. Từ lâu họ đã bỏ mất hai tiếng cám ơn.

Berger bình tĩnh lại:

– Có ai trong các bạn có thể đứng ra làm trật tự viên không?

– Có Rosen với hai người bên cạnh anh ta. Việc phân phối thức ăn bắt đầu. Rosen đứng canh chừng để ngăn chận những người tới hai lần. Một số tù cũ lên tiếng than phiền. Berger trấn an:

– Đây là mình chỉ cho mượn thôi. Mai họ trả lại.

Và quay sang Sulzbacher:

– Chúng tôi cần bánh mì vì đói lâu ngày rồi.

– Cám ơn ông và các bạn. Ngày mai chúng tôi sẽ trả lại.

Sau mấy phút ăn uống qua loa cho đỡ đói, bọ bắt đầu lo chỗ ngủ. Hầu hết những người trong nhóm Lão Làng đều ở bên ngoài để nhường một ít chỗ cho tù mới. Ông lão Ahasver và thằng bé Karel cũng có mặt trong số này, kể cả con chó chăn cừu. Rosen, Sulzbacher và khoảng hơn mười tù nhân mới cùng ở ngoài với nhóm Lão Làng. Sulzbacher bực tức nói:

– Phiền quá.

– Có gì phiền đâu. Vả lại bạn đâu phải chịu hết trách nhiệm cho họ.

Trời nhuốm lạnh hơn. Từ trong lao xá thỉnh thoảng có tiếng rên rỉ và tiếng la hoảng của những người gặp ác mộng. Sulzbacher nói với 509:

– Cám ơn Trời! Thật là may mắn! Chúng tôi cứ tưởng bị giải tới một trại thủ tiêu.

509 chẳng trả lời. May mắn, hắn nghĩ thầm, có thể đúng.

Ông lão Ahasver lại bắt chuyện:

– Các anh đi đường ra sao?

– Chúng nó bắn bỏ những người đi không nổi. Chúng tôi có tất cả ba ngàn…

– Biết rồi, lúc nãy bạn đã nói tới mấy lần.

– Phải.

509 hỏi:

– Bạn có nhìn thấy gì không? Tình trạng bây giờ ra sao?

Sulzbacher suy nghĩ một lúc rồi uể oải đáp :

– Hai đêm trước đây chúng tôi vẫn còn đủ nước. Về đồ ăn thì lúc có lúc không. Chúng tôi đông lắm.

Rosen chen vào:

– Anh quên nói có người cho bốn chai bia.

509 cố giấu vẻ sốt ruột:

– Tôi không hỏi chuyện đó. Tôi muốn biết xem các thành phố hiện nay ra sao, có bị tàn phá không?

– Chúng không cho bọn này đi qua thị trấn.

– Nhưng bạn có thấy gì không?

Sulzbacher nhìn 509:

– Chẳng thể nhìn thấy bao nhiêu khi đã đi không muốn nổi giữa lúc chúng bắn phía sau. Không gặp một chuyến xe lửa nào cả.

– Tại sao trại bị dẹp bỏ?

– Vì trận tuyến đã tới gần.

– Ủa, làm sao bạn biết? Nói mau đi? Lohme ở đâu? Có cách xa sông Rhin không?

Sulzbacher cố giữ mí mắt khỏi sụp xuống:

– Xa… năm mươi… bảy mươi cây… số… mai sẽ…

Đầu hắn gục xuống nhưng hắn cố nói:

– Mai sẽ… nói… buồn ngủ…

Ông lão Ahasver nói vào:

– Tôi đã từng bị giam ở Lohme. Cách sông Rhin 70 cây số.

509 vừa lẩm bẩm vừa tính nhẩm :

– Bảy mươi… và cách chỗ này… hai trăm… hai trăm năm chực cây số.

Người tù già nhún vai:

– 509, anh cứ mãi nghĩ tới cây số thôi. Sao không nghĩ là bọn nó có thể đối phó với mình như các bạn mới tới này? Dẹp trại… giải tù đi nơi khác… Chừng đó mình sẽ ra sao? Bọn mình có còn ai cất bước nổi đâu?

Rosen nói như nằm mơ:

– Đi không nổi sẽ bị bắn bỏ.

Và hắn lại ngáy ngon. Những người còn thức đều im lặng. Họ quên mất sự thật có thể xảy ra đó. Bây giờ họ bỗng thấy sợ. 509 đăm chiêu nhìn lên những cụm mây bạc bay qua. Rồi hắn nhìn xuống những con đường trong thung lũng mập mờ dưới ánh trăng. Hắn hơi tiếc là đã đồng ý chia súp. Biết chừng đâu mình còn đi nổi. Nhưng đi nổi có giủp ích được gì không? Nhất là chỉ còn đủ sức đi trong vài phút? Hắn nói gần như để mình nghe:

– Biết đâu lần này chúng không bắn những người không đi nổi?

Người tù già nói giọng mỉa mai:

– Vậy sao? Nếu vậy, chúng sẽ cho mình thức ăn ngon, phát quần áo mới rồi vẫy tay chào từ giã.

509 nhìn Ahasver. Ông lão vẫn thản nhiên. Chẳng còn gì có thể làm cho ông ta sợ được nữa.

Berger bỗng lên tiếng:

– Lebenthal tới.

Lebenthal ngồi xuống bên họ. 509 hỏi:

– C6 nghe được gì thêm không, Leo?

Leo gật đầu:

– Chúng nó đang có ý định thủ tiêu thật nhiều những tù mới. Người thư ký tóc đỏ đã mật báo với Lewinsky. Anh ta không biết họ sẽ thực hiện bằng cách nào, nhưng có lẽ chỉ trong nay mai. Rồi chúng sẽ phúc trình là những người đó chết trong lúc đi đường.

Một trong số những tù mới vùng dậy trong cơn mê ngủ, thét lên rồi ngã phịch xuống ngủ say, mồm há hốc.

– Chỉ có ý định thanh toán tù mới thôi hả?

– Lewinsky chỉ biết có bấy nhiêu. Nhưng hắn bảo mình phải đề phòng.

– Đúng vậy, cần phải đề phòng.

509 suy nghĩ một lát rồi tiếp:

– Nghĩa là bọn mình phải sập bẫy xuống, phải vậy không?

– Dĩ nhiên.

Meyer nói toạc ra:

– Nếu chúng ta cho mấy người tù mới biết, họ sẽ đề phòng. Và nếu bọn SS không tìm ra đủ số, chúng sẽ bắt bọn mình thay vào.

509 liếc nhìn Sulzbacher đang ngủ say, đầu tựa vào vai Berger.

– Đúng vậy. Nhưng phải làm sao bây giờ?

Đó là một quyết định khó khăn. Meyer đã nói đúng. Họ im lặng thật lâu. Sau cùng, Meyer lên tiếng :

– Họ không liên can gì tới mình cả. Phải lo liệu cho mình trước.

Berger đưa tay dụi đôi mắt đỏ. 509 bấu chặt tay vào cánh áo. Ahasver quay nhìn Meyer, ánh trăng mờ ảo làm mắt người tù già chiếu sáng ra:

– Nếu họ không liên can gì tới mình thì mình cũng chẳng dại gì liên can tới ai.

Berger ngẩng đầu lên:

– Ông nói đúng.

Ahasver từ từ ngã người dựa vào tường. Cái đầu xương xẩu với đôi trũng mắt sâu hoắm của ông ta dường như đang nhìn thấy một cái gì mà mọi người không thể thấy. Berger thở dài :

– Mình cho hai người bạn mới này biết, họ sẽ thông báo cho những người kia. Chúng ta không thể làm gì hơn. Có biết chuyện gì sắp xảy ra đâu.

Karel vào trong từ lúc nãy bây giờ trở ra thông báo:

– Có một người mới chết.

509 đứng lên :

– Mình vào khiêng hắn ra. Ahasver, ông cũng vào luôn nằm chỗ đó ngủ một chút.

Chim Bay Về Biển

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

 November 18, 2013 

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

  Peter Le photo on Flickr edit by Sơn râu

Một mai chim bỏ bay về biển

Ta đứng một mình ngó nhánh sông

Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy

Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng

(Sương Mai)

Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của nhưng người Nha trang xa xứ.  Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.

Nha trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.

Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, một đồng môn huynh trưởng cùng trường Võ Tánh, sau 15 năm trở lại Nhatrang, đã viết:

“Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đã ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đã xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Bãi cát không còn cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đã bi xóa khỏi bản đồ trái tim.

… tôi trở về nhìn lại biển xưa thấy không còn lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên bãi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đấp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về”( trích trong “Nhà Từ Đường” tháng 5.2013- trên VOA)

Một chị bạn , hiện định cư ở thành phố Seattle bên Mỹ. Năm 1954 là một cô bé 7 tuổi, di cư theo gia đình từ Hà nội vào Sài gòn. Ông bố là quân nhân, được bổ nhậm ra một đơn vị ở Nhatrang. Cô rất vui mừng được theo cha ra sống ở thành phố biển. Thi đậu vào lớp đệ thất  trường Võ Tánh. Nhưng chỉ mấy năm sau lại bịn rịn bỏ lại bạn bè, theo bước chân cha ra tận Quảng Nam, rồi Huế. Sau này trở thành cô giáo trung học, lên cao nguyên sống với phố núi và đám học trò Kinh – Thượng, giữa chiến tranh vây bủa, may mắn sống còn trong lần di tản kinh hoàng trên con đường Tỉnh Lộ 7B.Vậy mà một thời tuổi thơ ngắn ngủi ở Nha trang lại là mảng quá khứ đẹp đẽ nhất. Trong ký ức và cả trong trái tim, chị đã dành ngăn lớn nhất cho Nha Trang. Sang Mỹ định cư khá lâu, chị háo hức trở về thăm Nha trang, để rồi “chỉ thấy lòng buồn rười rượi, bởi đang đi trên đất Nha trang mà cảm giác như mình là  kẻ lạ, không tìm thấy bóng dáng Nha trang của mình ngày trước”.

Hai người bạn học cùng lớp với tôi. Sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên và gần trọn một đời sống với Nhatrang. Trước 75 đều là thầy, cô giáo trung học, giờ chỉ âm thầm nhìn đời từng ngày trôi đi vô vị, viết những bài thơ buồn trước bao điều đổi thay ngao ngán. Họ ở lại với Nha trang cho đến hôm nay, sau bao nhiêu lần tưởng chừng Nha trang đã hất hủi, đuổi xô, không còn chỗ cho họ dung thân. Hai người bạn của tôi rất chí tình với bạn, sống chết với quê, vậy mà đã bao lần than thở: “không ra đi như mi, tớ ở lại với Nhatrang mà vẫn không tìm ra Nhatrang của bọn mình ngày trước! Không có gì đau hơn là sống trên chính đất nước mình mà cứ mãi hoài vọng một quê hương!” Và họ chỉ còn gặp lại Nhatrang trong ký ức, trong những bài thơ họ viết về một thời quá khứ, nghe chừng đã rất xa xưa như trong tiền kiếp:

chiều quá chén nửa đêm tỉnh giấc

mảnh trăng khuya vòi või chờ ai

trong cỏ ướt dế buồn thao thức

giữa quê nhà sao mãi hoài hương.

…

Từ buổi ấy đồng thu cỏ biếc

nghe âm u gió tạt mùa xa

người đứng giữa trời không – luyến tiếc

nghĩ ngợi gì tóc rủ sương pha.

….

Bao năm tìm lại con đường

nẻo xanh ngần ngại nghe chừng rất xa

chiều thu xứ ấy mù sa

tình thu thuở ấy cũng là chiêm bao.

(đ.ư.v)

Đám học trò bọn tôi thưở ấy, giờ tóc ai cũng bạc. Sau cuộc thăng trầm quá lớn, nhiều khi tưởng mình giờ là một người nào khác. Dù còn sống ở quê nhà hay lưu lạc tha phương, ai cũng đã phải trải qua một cuộc đổi đời bi thảm. Vết thương lớn, nhỏ trong lòng dường như vẫn chưa lành.

Lần trở lại Nha trang duy nhất để tìm bốc mộ thân phụ bên ngoài một trại tù “cải tạo”, cách đây đúng mười năm, tôi đi một mình trên những con đường xưa, nghe tiếng sóng vỗ xa xa mà trong lòng chỉ còn dội lại những dư âm ngày cũ.

Tôi may mắn gặp lại vài ba người bạn học. Nhưng dường như tất cả đều nở nụ cười không trọn. Vui đó rồi buồn đó, bởi mỗi người một số kiếp long đong.

Một thằng bạn rất thân,cùng học ba năm cuối ở trường Võ Tánh. To con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ tôi còn gặp lại nó ở Nhatrang. Mặc dù bây giờ nó không được phép ở lại trong ngôi nhà và thành phố Nha trang xưa của nó.

Sau sáu tháng vào tù, căn nhà nhỏ của nó ở Nha trang bị tịch thu, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông…về đâu đó, không bao giờ trở lại. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên đi làm phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ sửa sang một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, đã cưu mang ba đứa bé không thua gì một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn có những tấm lòng còn hơn cả những chữ Từ Bi viết trong mấy ngôi chùa.

Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái ân nhân để xin nói một lời tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau, yêu nhau rồi lấy nhau. Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị lại yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị bảo vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị xem như con ruột của mình. Chính cái tình thương và sự gắn bó ấy mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời. Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu trở về thành phố cũ. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên vùng quê Diên Khánh.

Cũng chính vì Nha trang đã tạo nên cái hộ khẩu mỗi người mỗi nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi được gọi phỏng vấn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.

Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.

Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang, tối lại chạy về Diên Khánh!

Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.

Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.

Tôi quay sang bảo thằng bạn:

– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.

Nó xua tay:

– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.

Tôi đùa:

– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.

Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính. Khi chia tay, nó ôm vai tôi buồn bã:

–Mày thấy không, cái thành phố Nha trang mà tao sống cả một thời đẹp đẽ, giờ cũng phụ bạc tao, gây cho gia đình tao bao khốn khó! Từ ngày thuộc về bọn CS, Nhatrang với tao là một vùng đất xấu, lạ lẫm. Mày còn nhớ tác phẩm tiếng Pháp “Le domaine maudit” của ông thầy Cung Giũ Nguyên?

Tôi thực sự chưa hiểu, chỉ thấy mơ hồ có một điều gì đó không ổn trong cách suy tư của nó. Nhưng tôi cảm được nỗi đau của nó.

Một cô bạn học từ những năm đệ ngũ, đệ tứ bên trường Văn Hóa. Một lần sang Mỹ thăm cô con gái là sư cô ở một ngôi chùa vùng Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Liên trường Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO, nên nàng và hai cô con gái không được đến Mỹ. Dắt con lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Nàng bảo nhiều lúc nhớ Nhatrang lắm, thử quay về, nhưng rồi thấy lạc lõng, mọi thứ chỉ mới đây thôi mà sao giờ trở thành xa lạ quá.  Cuối cùng, mẹ con quyết định mua một căn nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn xa lạ. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Hôm ngồi trên máy bay trở lại Bắc Âu, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Có nhiều bài tiếc nhớ Nhatrang xưa. Nha trang của nàng và của đám bọn tôi. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ của nàng chắc cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.

Một thằng bạn khác cùng học trường Võ Tánh. Sau này gặp nhau trong cùng một đơn vị lính. Đánh giặc rất lì, nhưng luôn bị “đì” bởi bản tính ngang tàng không nể mặt cả cấp chỉ huy. Trong khi đang ở tù ngoài Bắc, chị vợ ở nhà chán chường cuộc sống, lội xuống biển Nha trang tự vẫn, để lại một thằng con trai năm tuồi. Nơi người ta tìm ra thi thể của chị, chính là bờ cát dấu tích yêu đương hẹn hò, thưở hai người mới quen nhau.

Ra tù, không thể sống trên thành phố quê hương một thời đẹp đẽ giờ chỉ còn là mảnh đất thê lương tang tóc, mỗi ngày phải ám ảnh bởi cái chết đau đớn của người vợ trẻ đẹp dấu yêu, nó dắt mẹ già và đứa con thơ vượt biển. Sang Mỹ, nhờ mẹ chăm sóc cho đứa con, nó vừa đi làm vừa đi học. Được bạn bè khen, nó bảo: “chẳng phải tao siêng năng chăm chỉ gì đâu, nhưng vì không muốn còn có chút thì giờ rảnh rang nào để nghĩ ngợi mông lung, hồi tưởng về một quá khứ đau lòng”. Nó chưa bao giở về lại Nhatrang. Bạn bè ai cũng phục khi nó lấy được bằng Cao học Tâm Lý ( Master of Psychology) và có công việc làm lương cao, ổn định. Trong đám bạn bè bất hạnh, nó là đứa thành công nhất. Bỗng một ngày được tin nó chết. Chết đau đớn. Thuê phòng trong một khách sạn ở gần nhà, rồi đến đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, để lại mấy lá thư. Tôi nhận được lá thư nó viết cho tôi, được cảnh sát giao lại, nét chữ đẹp đẽ ngay ngắn, chứng tỏ nó rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình.

“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với biển. Mày đừng nghĩ là tao buồn. Tao vui lắm đó. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, đám bạn bè thân thiết nhất của tao. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không được chết ở chiến trường như bọn thằng Lâm, thằng Bê, thằng Pho, anh Tài, Đức”.

Đọc xong thấy lòng đau đớn như có nhiều vết chém, vậy mà không biết vì sao tôi không khóc được.

Những người tiễn đưa nó hôm ấy, hầu hết là bạn bè cùng đơn vị xưa, và một số bạn học cùng trường Võ Tánh Nha trang.

Năm ngoái, một chị bạn cùng trường Võ Tánh, cùng học Ban C sau tôi một năm, định cư ở Canada, cũng đã ra đi, sau hơn hai năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Tôi và có lẽ hầu hết bạn bè Võ Tánh rất mến phục cô bạn có tấm lòng và rất khí khái này từ những năm 1962-1963. Mọi người đã ưu ái tặng chị biệt danh “Nữ hoàng xuống đường”. Luôn sống hết lòng với bạn bè và quê hương đất nước. Quyết liệt, kiên cường trước những bất công, bạo lực. Những ngày lâm bệnh, sớm ngộ Đạo Đất Trời, chị buông bỏ tha thứ hết những hờn giận ân oán riêng tư. Một thời gian trước khi mất, chị vẫn  liên lạc trao đổi với tôi về những kỷ niệm Nha Trang, về tình hình chính trị ở quê nhà với  nhiều hy vọng, và tiếc là không thể sống lâu hơn để chứng kiến ngày chế độ Công sản man rợ độc tài cáo chung trên quê hương. Chị ra đi, để lại bao thương tiếc cho gia đình, người thân và tất cả bạn bè. Chị mong muốn và dặn dò, sau khi chị mất xin gia đình hỏa thiêu và mang tro cốt của chị rải ở ngoài khơi Thái Bình Dương để hương linh của chị theo biển trôi về quê nhà, bên kia bờ đại dương, ở đó có bãi biển Nha trang thơ mộng, nơi chị sống cả một thời tuổi thơ và lớn lên với những vui buồn, vinh nhục.Tôi hình dung đây không phải là cánh hải âu mà là một cánh đại bàng hùng vĩ, đẹp đẽ vừa bay về với biển.

Cuối tháng 2/2013, trước khi trở về lại Bắc Âu, tôi bất ngờ nhận được hung tin: hiền thê của một anh bạn qua đời vì một chứng ung thư khó chữa. Chị là cựu nữ sinh Nữ Trung Học Nha Trang, và sau này là một người đàn bà tuyệt vời. Gia đình anh chị là một đại gia đình quân đội. Các con của chị đều là sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ, một cô con gái tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng West Point. Sau này đều trở thành những bác sĩ, luật sư. Phu quân của chị là một người bạn, người đàn anh của tôi ở trường Võ Tánh cũng như trong quân đội ngày trước. Con nhà giàu, đẹp trai và tính tình hào hoa vui tính. Là môt sĩ quan trẻ đầy phong độ khi tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, đối tượng của nhiều cô con gái Nha trang thuở ấy. Ngày anh quyết định làm đám cưới với chị, chắc chắn có nhiều cô tốn khá nhiều nước mắt. Cuộc tình đẹp. Một gia đình thành công, hạnh phúc. Chị luôn bặt thiệp vui vẻ, hết lòng với bạn bè, đồng môn, đồng đội cũ của chồng. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Ai cũng quí mến chị. Vậy mà đùng một cái, chị ra đi, đột ngột chẳng ai ngờ.

Hôm dự dám tang chị, rất nhiều bạn bè cùng khóa Võ Bị với anh và đồng môn thân quen thời Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha trang, từ mọi nơi về tiễn biệt. Trong nhà nguyện không còn chỗ đứng. Anh chồng ốm nhom, tiều tụy. Khi nói lời chia buồn, tôi ôm đôi vai gầy gò mà thấy thương anh, tội nghiệp. Khuôn mặt hốc hác, đôi mắt quầng thâm. Tôi nghĩ là anh đã khóc thầm nhiều lắm, ở cái tuổi đã trải qua bao thăng trầm mất mát, tưởng như không còn nước mắt.,,

Khi nhìn quan tài chị được đưa vào lò thiêu. Cửa lò đóng lại. Tôi tưởng tượng, lại thêm một cánh chim đẹp đẽ nữa vừa bay về với biển.

Tôi nghĩ rồi sẽ có môt ngày, thế hệ bọn tôi, những cô cậu học trò rời trường Võ Tánh vào những năm đầu thập niên 60, bây giờ đều đã trên tuổi 70, sẽ lần lượt ra đi. Tất cả cuối cùng rồi cũng là những cánh chim bay về với biển.

Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ hoa mộng, nhưng cũng đã để lại trong lòng họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời.  Những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa, tất cả giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lời thằng bạn còn ở lại Nha Trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên và tác phẩm Le Domaine Maudit viết từ năm 1961, như là một tiên tri của Thầy.

Phạm Tín An Ninh

Ba dòng nước mắt

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

December 20, 2008   

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận đuợc thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31. Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:

“Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chửa trị những vết thương khó lành được trong lòng.

Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt..”

Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình. Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa. Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng?

Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy. Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.

Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện. Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần “inh”. Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung đại đế, cái nơi nổi tiếng “con gái cầm roi đi quyền” đó nó ra sao. Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè. Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân. Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá. Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn. Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính. Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm. Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui. Vì kể từ hôm nay, không còn “chúng mình ba đứa” nữa. Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài gòn học tiếp.

Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F 5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó. Sau khi về nước chỉ có thằng Bình đươc lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.

Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho Quân Đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt. Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch. Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang. Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần “anh về với em rồi anh lại đi”. Có lẽ  nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.

Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó bọn tôi cũng mờ mịt lắm.

Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi  nhà phía trước “thăm dân cho biết sự tình”, không ngờ “hồn lỡ sa vào đôi mắt em”, đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà. Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng đều tình nguyện làm phụ rể.

Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế. Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị.  Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc. Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.

Chỉ có thằng Bình là “số đẻ bọc điều”. Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hoà, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói. Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo “tán”, sau các buổi tan trường.

Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm. Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, phi đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ. Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu. Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập. Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành. Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng rất tự hào do chính tay mình nấu: cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao “đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng” như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán. Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.

Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate. Khách khứa lên đến trăm người.

Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi “xác thân đã nhuốm mùi trần tục”, một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.

Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển. Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói “lắm mối tối nằm không “, đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.

Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hoà. Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình. Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học. Mỵ Khê, bà xã của Bình cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hoà lẫn tiếng khóc của trẻ thơ. Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.

Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần. Biên Hoà bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo. Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khoá, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.

Ngày 29.4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục. Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ ngoài biển..

Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường. Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài gòn để kịp đưa vợ con đi. Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam. Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.

Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày,thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.

Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện “học tập cải tạo” bất ngờ gặp Bình. Trong cái cảnh “nước mất nhà tan” này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn. Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em. Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.

Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả.

Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng. Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.

Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên. Trong trại tỵ nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên. Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.

Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina lúc 9 giờ rưởi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ. Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế “ứng chiến” để đối phó với những điều bất trắc. Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình. Trong nhà tối om. Cổng khoá chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box. Tôi hỏi anh tài xế taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.

Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão. Và vẫn còn hàng ria mép. Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.

–  Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.

–  Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trưóc khi gặp vợ chồng Bình.

Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.

Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á châu.

– Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.

Ông bảo người con gái đứng trong quày mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự:

– Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao. Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè, Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quần. Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì Bác mà gây nên cớ sự. Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên giới Lào. Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó. Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết. Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai Bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.

Tôi đưa tay xin ngưng lời bác.

–  Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác?

– Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với  Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi “mu” qua Hawaii. Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn. Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè. Hai bác cũng sẽ nhận trách nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.

–  Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác?

–  Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư. Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó. Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ. Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.

Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về. Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.

Người ra mở cửa là Mỵ Khê. Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó. Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.

Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi.

Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm tâm sự thâu đêm.

Tôi chưa  biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự.

–  Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này. Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người. Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng. Mong nó trở về đây. Cháu Lina, con gái của tao cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống

– Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao?

– Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.

–   Bây giờ mày tính sao? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày?

–   Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.

–   Còn mày thì sao?

–   Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Na Uy ở với mày là phúc cho tao. Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.

Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những dông tố trong đời. Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má. Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ hello, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.

Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.

Sáng nay, chủ nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu giây giọng nói quen thuộc của thằng Định:

–   Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.

Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình:

–  Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây. Vừa từ bệnh viện về. Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận. Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của nguời cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu. Bác sĩ bên này giỏi thật. Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của  nó. Mày cố gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.

Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà:

–  Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào:

–  Hello, Ninh! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.

Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ. Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện  chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.

Phạm Tín An Ninh

Sài Gòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu

4. Chương 4

9 giờ. Tôi bảo Đặng Xuân Côn thả tôi xuống trước rạp Kinh Thành. Côn chạy về Phú Nhuận. Mình tôi đứng bên dãy phố Hai Bà Trưng nhìn sang vỉa hè bên kia, buổi sáng Tân Định. Chỗ đó, vài hôm trước, tôi vừa gặp anh Trần Kim Tuyến, sơ-mi bỏ ngoài, giép Nhật Bản, thất thểu đi.
-Anh đi đâu đấy, anh Tuyến?
– Đi đâu?
Ông Giám đốc Sở nghiên cứu chính trị, “tên trùm mật vụ ác ôn thời Diệm” – cộng sản nó gọi thế – thở dài.
– Chúng ta đã chống cộng. Riêng tôi thì cứ ngoác miệng đòi “chống cộng đến chiều.” Và rồi chúng ta hỏi nhau đi đâu. Anh sẽ đi đâu, anh Tuyến?
– Chẳng hiểu.
– Mỹ nó không đón anh à?
– Không. Còn cậu?
– Có lẽ cũng không. Người Mỹ dành ưu tiên số một cho me Mỹ, cho bọn tham nhũng, thối nát, cho đám làm giầu bằng chiến tranh.
– Cậu định đi đâu?
– Chẳng hiểu, anh ạ!
Không có lối chạy cho người chống cộng. Những kẻ chống cộng tự nguyện rất kiêu hãnh nhưng luôn luôn thiệt thòi. Tôi là một trong những kẻ ấy. Vì chống cộng tự nguyện, tôi không bị xếp vào hàng ngũ đầy tớ Mỹ. Đó là một thiệt thòi. Sự thiệt thòi nhìn rõ: Có cả chục ngàn chỗ cho những người chưa hề chống cộng trên máy bay di tản của Mỹ mà lại không có chỗ nào cho Doãn Quốc sĩ, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thanh Tâm Tuyền… Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng*, ở “Lời giới thiệu”, cộng sản viết: “… Một số người khác như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ. Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa cộng sản. Họ cho văn nghệ làm sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện đểà đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là “viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ.” Doãn Quốc Sĩ coi mình như một “viên kim cương, răng cộng sản không sao nhá được.” Thêm một thiệt thòi. Và cái thiệt thòi cay đắng là bị cộng sản chụp cái mũ khả ố “chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới”. Như thế, vẫn chưa đủ nghẹn ngào. Kẻ chống cộng tự nguyện còn bị những người tập sự chống cộng, bập bẹ chống cộng, vỡ lòng chống cộng, ngớ ngẩn chống cộng phán xét một cách dễ chửi thề. Hẳn nhiên, những kẻ chống cộng tự nguyện thường xuyên bị vây hãm, bị bêu nhục bởi bòn đầy tớ Mỹ chống cộng ở bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào. Nhưng mà những kẻ chống cộng tự nguyện phải chấp nhận, hiên ngang chấp nhận và can đảm chống luôn cả bọn đầy tớ ngoại bang chống cộng, bọn làm thui chột niềm tin chống cộng, bọn giúp cộng sản đánh bóng chính nghĩa của nó, bọn ảo tưởng và thù vặt vì bất đồng quan điểm. Những kẻ chống cộng tự nguyện ngổn ngang kẻ thù. Ngoài cộng sản, họ còn bị đánh dấu tuyết hận bởi bè lũ thống trị tôi mọi, tập đoàn ăn cắp, thảo khẩu chính trị, lũ thời cơ chủ nghĩa, đám buôn bán Phật Chúa… Song cần chi, hai tiếng tự nguyện mà kẻ thù cộng sản khoác hoa quanh cổ họ cơ hồ hào quang đốt cháy mọi rác rưởi, bèo bọt thế thời. Và họ vẫn ngồi lên tất cả như đã ngồi lên tất cả những khuôn mặt sa-đích chính trị rẻ tiền.
– Anh có lối nào khác lối Mỹ không?
Tôi hỏi. Bác sĩ Trần Kim Tuyến lắc đầu buồn bã:
– Không.
Không. Chúng ta đã chống cộng sản hai mươi năm và chúng ta không có lối chạy trốn cộng sản! Tại sao tổ tiên chúng ta đã không tìm đường chạy trốn mà chỉ tìm chỗ tạm lui về chờ đợi tiến lên? Chắc chắn, tổ tiên chúng ta chống giặc nước một mình. Còn chúng ta, chúng ta chống giặc nước với người Mỹ. Chúng ta đã đổ xương máu cho KHÔNG. Và cái không ủ ê nhất là cái không lối chạy trốn giặc. Liệu chúng ta đã học được một điều gì trong bài học chống cộng sản với Mỹ rồi không còn lối chạy trốn cộng sản? Chỗ đó, vài hôm trước… Chỗ đó, hôm nay…
Tôi đã thất thểu bước tới ngã tư Hai Bà Trưng – Yên Đổ – Trần Quang Khải. Nỗi chết không còn ám ảnh mà nỗi chết hiện dần. Tự nhiên, tôi thèm sống vô cùng. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh a! Đỗ Bá Thế đã phán vậy. Sự thèm sống khiến tôi quên sợ chết. Lạ quá, lúc đó, tôi chẳng hiểu nổi tôi. Phải nói, tôi chẳng hiểu nổi sự chuyển dịch tâm hồn tôi. Nếu tôi đã chưa biết cái cảm giác lênh đênh của tâm hồn thì, bây giờ, tôi biết. Biết rõ. Tâm hồn tôi lênh đênh theo bóng ngã hoàng hôn của cuộc chiến đấu hai mươi năm hư ảo. Lênh đênh chạy trốn. Lênh đênh bất bình chạy trốn. Lênh đênh sợ chết. Lênh đênh chờ chiến đấu. Lênh đênh thèm sống. Lênh đênh ước mơ.
Đi ngược đường Yên Đổ, tôi về nhà tôi.

° ° °

Thành phố Sài gòn bất chấp lệnh giới nghiêm 24 trên 24 của Dương văn Minh. Thành phố này, hình như, cũng bất chấp cả nỗi ngậm ngùi sắp đến. Sài gòn thản nhiên chờ đợi niềm bất hạnh. Mặt trời vẫn chưa mọc. Có vẻ mặt trời không thích mọc hôm nay. Tôi buồn bã đứng trước cổng nhà mình ngó ngang, nhìn dọc. Bà bán thuốc lá sát cổng nhà tôi hớt hơ hớt hải từ dưới Xóm Lách chạy tới chỗ tôi:
-Cậu không đi được à?
– Không.
– Liệu người ta có để cậu yên không?
– Ai?
– Thì… Việt cộng?
Bà ta nói nhỏ:
– Cậu ạ, người ta vây kín Sài gòn rồi!
Tôi thở hắt ra:
– Thế à?
Nhìn bà bán thuốc lá, tôi hỏi:
– Sao bữa nay bà không bán?
– Tôi tưởng giới nghiêm.
– Chứ không phải mệt vì đêm qua lo hôi đồ à?
– Tôi thề với cậu, không quen làm việc ấy.
– Làm thì đã sao, của Mỹ chứ bộ.
– Mà không quen.
Tôi nhìn thẳng vào mặt bà ta:
– Việt cộng vào, bà có để tôi yên không?
Bà ta chớp mắt lia lịa:
– Tôi mong cậu đi lọt mà.
Từ người vô sản bán thuốc lá, tôi quan sát những người vô sản Xóm Lách quanh tôi. Tất cả đều còn cho tôi những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm. Tôi yên tâm. Đã quá hiểu những bài học căm thù của cộng sản, tôi sợ rằng những nụ cười, những ánh mắt chứa chan tình cảm của người vô sản Xóm Lách sẽ biến mất. Chưa biết bao giờ. Có thể lát nữa. Có thể trưa nay. Có thể chiều nay. Có thể tối nay.
– Bà Tẹo.
– Dạ.
– Tôi đã làm phiền bà điều gì chưa?
– Sao cậu hỏi vậy?
– Bởi vì sẽ thay đổi nhiều đấy.
– Không có gì thay đổi đâu cậu ạ? Tôi vẫn bán thuốc lá trước cổng nhà cậu, vẫn xin được bán thiếu cho cậu để cuối tháng có món tiền để dành lớn.
– Cám ơn bà.
Tôi bấm chuông. Nhà tôi ra mở cổng:
– Thế nào, bố?
– Thế nào là thế nào?
– Còn nước tát không?
– Cạn rồi. Mỹ thật sự cút rồi. Nhưng em yên tâm. Bằng hữu của chúng ta còn ở lại khá đông. Anh đã gặp Mai Thảo, Nguyễn Tuấn Anh…
Nhà tôi nín thinh. Tôi vào, gieo người xuống ghế bành, gác chân lên bàn xa-lông. Tôi cảm giác căn nhà của gia đình tôi đã trở thành cái nghĩa địa hoang vắng. Nỗi hiu quạnh đùn lên, đùn lên, dâng ngập trắng xóa. Lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn rõ cái lẽ phù ảo của đời sống. Nhờ vậy, tôi thanh thản dọn chết. Và tôi còn dọn thêm cả sự “thoát chết, bung ra.” Nếu lúc này có Mai Thảo ngồi đấu hót? Tôi trách tôi đã quên rủ Mai Thảo đi nhìn Sài gòn hấp hối và rủ Mai Thảo về nhà tôi uống rượu. Tôi vẫn còn vài chai Table du roi. Tôi nhớ, mới đây thôi, Mai Thảo tâm sự với tôi:
– Tôi ở một nơi chốn nào là lòng gửi nơi chốn đó nên xa một nơi chốn là nhớ vô cùng, dẫu nơi chốn cũ chẳng xa gì nơi chốn mới. Thật sự, tôi không thích di tản. Xa quá, xa quá…
Và Mai Thảo rất lừng khừng chuyện ra đi- Anh ta cứ ra, theo triết lý cù nhầy của Nguyễn Bính “ngày mai ra sao rồi hãy hay.” Mai Thảo tâm sự tiếp:
– Tôi có ông thày học khá lạ lùng. ông ta đã nói với tôi rằng, người ta chỉ cần sống đến 50 tuổi. Là đủ rồi. Tôi đã 50 tuổi. Sống thêm có lẽ thừa thãi.
Mai Thảo đã 50 tuổi. Tôi mới 40. Cho nên, dù đã vỡ lẽ phù ảo của cuộc đời, Cứ thèm thuồng “thoát chết, bung ra” trong những giờ phút dọn chết.
 

° ° ° 10 giờ thiếu 10 phút. Chuông điện thoại reo vang:
– Long hả?
– Ừ!
– Chúng nó xuất hiện ở Xóm Gà, Gò Vấp rồi. Trên ấy ra sao?
– Im lặng.
– Mày nghĩ xem có nên chở gia đình lên bà Nguyễn Đình Vượng tránh né cảnh tranh tối tranh sáng không?
– Không cần.
– Tại sao không cần?
– Vì bà Vượng cũng bị ném vào biển máu! Nếu ông muốn cùng chết với tôi thì lên đây.

Google photo edit by Sơn râu

Đặng Xuân Côn, Thằng Côn, người bạn ấu thời của tôi, người bạn đã, cơ hồ cái bóng, theo sát tôi 30 năm ròng rã, đã chia xẻ vinh nhục với tôi, đã đau khổ vì tôi, đã ôm đau khổ của tôi làm đau khổ của mình. Chúng tôi học tiểu học ở trường Monguillot thị xã Thái Bình. Côn là cháu đích tôn của cụ Đặng Đình Điền, tự Hào Điển, một trong những lãnh tụ Việt Nam quốc dân đảng. Năm 1951, sau khi cộng sản quy định thành phần, giai cấp, mặc dù đã mù lòa, bệnh hoạn, cộng sản vẫn bắt cụ Hào Điển, bỏ cụ vào cái rổ xề, khiêng cụ ra giữa cánh đồng hoang vắng và để cụ chết đói chết khát ở đó. Qua mấy năm tao loạn, chúng tôi lại gặp nhau ở thị xã Thái Bình đổ nát vì tiêu thổ kháng chiến. Tình bạn vẫn khắng khít. Chúng tôi học trung học tại trường Trần Lãm và không ngớt tương tư thị xã đềm êm cũ với những hàng hồi thơm hăng hắc dọc vỉa hè đường phố. Rồi chúng tôi lên Hà Nội trọ học. Mùa hè 1954, tôi về Thái bị kẹt vì Pháp “di tản chiến thuật”. Tôi ở lại chứng kiến quân cách mạng tiếp thu Thái Bình. Rồi hội nhập đời sống mới.
Cuối tháng 7-1954, Côn trở lại Thái với nhiều ưu tư. Nó không hé miệng nói cho tôi nghe những ưu tư của nó. Chúng tôi thường lên cầu Bo ngắm dòng sông Trà Lý đỏ ngầu phù sa mùa nước lũ. Cầu Bo. cây cầu kỷ niệm của chúng tôi, bị quân Pháp đánh sập nhịp giữa trước đêm rút lui. Người ta bắc cầu giây đi tạm. Côn ở Thái hai tuần lễ và lỉnh tránh mọi công tác… cách mạng. Một buổi sáng nó tìm tôi khi tôi đang bận kê bàn ghế cho lớp học dạy “công nhân” vỡ lòng quốc ngữ. Côn rủ tôi sang Nam Định chơi. Tôi từ chối, vì… công tác khẩn trương. Tôi bảo Côn đợi vài hôm nữa. Nó bỏ về. Rồi nó sang Nam Định lúc nào tôi không rõ. Cuối tháng 8-1954, Nguyễn Thịnh từ Hà Nội về Thái. Tôi hỏi thăm Côn. Thịnh nói Côn đã vào Sài gòn..
Tôi choáng váng. Côn đã nghi ngờ tôi theo… cách mạng, không dám tâm sự với tôi. Tôi vội vàng chuồn lên Hà Nội, kiếm nhà Vũ Thượng Văn ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, hỏi thăm đia chỉ Côn tại Sài gòn. Tiêu pha hết đồng bạc cuối cùng ở Hà Nội, cuối tháng 9-1954 tôi mới vào Sài gòn, đến phố Heurtaux bên Khánh Hội tìm Côn. Thế là chúng tôi có tháng ngày nhà hát Tây ba đào, có tình yêu lẩm cẩm, có Đỗ Tiến Đức, Hà Huyền Chi… Chúng tôi thêm những kỷ niệm cay đắng vào đời. Sự nghiệp văn chương của tôi, phần lớn, là do Thằng Côn đóng góp. Bằng khích lệ. Bằng cả những đồng tiền mồ hôi của nó. Tập truyện Hoa thiên I)” của tôi, Côn bỏ tiền xuất bản. Nếu có lần nào đền ơn Thằng Côn thì chỉ một lần Thằng Vũ nghiến răng chịu nhục, chịu hành hạ cả thể xác lẫn tâm hồn để ngậm miệng cho Thằng Côn bình yên ngoài nhà tù mà tìm cách đưa vợ con trốn khỏi Việt Nam. Đáng lẽ, Côn ra đi bình yên trước 30-4-75, nó cứ bám sát tôi Cho đến phút chót, nó vẫn lo tôi bị tàn sát trước nhất.
– Tao nghĩ mày nên đưa vợ con lỉnh chỗ khác.
– Chỗ nào? Không còn chỗ nào cho tôi ẩn thân cả. Mà tôi cũng cóc cần ẩn thân nữa.
– Mày đừng chướng.
– Cúp điện thoại đi!
Tôi cúp trước, khỏi cần đợi Côn.

° ° °

10 giờ 20 phút. Chuông điện thoại lại reo:
– Long hả?
– Ừ!
– Chúng nó đã lảng vảng khu nhà anh Hoàng văn Đức rồi. Tao lên mày nhé?
– Hỏi chi nữa!
Tôi cúp điện thoại ngay. Và, thật sự, kể từ phút này, tôi đã té nhào khói lãng du lênh đênh trên ước mơ, tôi hết dám thèm “thoát chết, bung ra.” Tôi sợ hãi. Tôi trở về với sự sợ hãi 0 giờ 1 phút. Nỗi chết gần kề. Đao phủ và hình cụ của nó đang chờ tôi bên bờ biển máu. Làm thế nào đểà con người được chết ngon lành? Tôi chợt nhớ một truyện ngắn của Jack London, nhan đề Mất mặt. viết về sự dọn chết tuyệt vời của một người không thích chết đau đớn, sợ hãi chết khắc khoải. Câu chuyện như thế này: Một gã phiêu lưu da trắng lạc vào một bộ lạc hung dữ nhất của một vùng Bắc cực. Các bộ lạc ở đây đánh giá trị vĩ đại nhất bằng sự tàn ác nhất. Bộ lạc nào giết kẻ thù chết từng giây, chết đếm nỗi chết từng giây, chết quằn quại, rên la lâu nhất, bộ lạc ấy được tôn vinh và công nhận là minh chủ. Thế thì gã phiêu lưu của Jack London đã rơi vào tay bộ lạc minh chủ. Gã hiểu gã sẽ bị chết co rút mỗi tế bào. Gã cũng hiểu những kẻ tàn ác nhất đều là những kẻ thèm sống “muôn năm”, thèm bất tử, nên gã xin được kéo dài ngày chịu tội để kiếm lá luyện thuốc bất tử. Môn thuốc này bôi khắp mình mẩy, tên bắn vào văng ra, búa bổ xuống nẩy tung, lao phóng trúng cong oằn… Tù trưởng của bộ lạc minh chủ sướng quá, bèn cho gã phiêu lưu đi tìm lá. Gã khôn ngoan, luyện thuốc bất tử thật lâu. Khi đã luyện xong, gã yêu cầu vị tù trưởng thử. Vị tù trưởng sợ, không dám thử. Không ai trong bộ lạc dám thử cả. Tất cả những kẻ hung ác đều sợ chết thảm và đều thích người khác chết thảm. Cuối cùng, gã phiêu lưu tình nguyện thí nghiệm thuốc bất tử của mình. Bộ lạc đồng ý. Gã yêu cầu kê cổ gã trên một 1 húc gỗ tròn và chắc và phải dùng một cái búa sắc như nước do tay lực lưỡng xử dụng. Gã bôi thuốc đầy cổ. Rồi gã dục hạ búa. Nhát búa vung lên, bổ mạnh xuống. Gã phiêu lưu bay đầu. Gã được chết ngon lành. Bộ lạc minh chủ mất mặt, mất ngôi minh chủ và bị các bộ hạ khác khinh bỉ, vì đã để kẻ thù chết sung sướng, chết thanh, chết gọn…
Cộng sản ác hơn và khôn ngoan hơn bộ lạc minh chủ bị mất mặt trong truyện ngắn của Jack London. Và tôi, tôi không có can đảm dọn cho mình cái chết ngon lành. Tôi sợ luôn cả cái chết ngon lành, cái chết của chiến sĩ, cái chết của liệt sĩ, cái chết của thánh tử đạo. Rốt cuộc, tôi thèm sống, sợ chết. Bởi tôi vừa nhận ra tôi đích thực rằng tôi chỉ là nghệ sĩ. Tôi cần sống sót. “Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán.” Cao Dao khuyên tôi thế. Tôi cần sống sót. “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ”? Đỗ Bá Thế dạy tôi thé. Nhà văn không cần thiết tử vì đạo. Vì y vô đạo. Nhà văn không cần thiết tuẫn tiết. Vì y tuẫn tiết sẽ chẳng còn ai sống để viết về những cái chết đẹp trong cõi đời. Nhà văn cần thiết có tác phẩm, và phải là tác phẩm rực rỡ kinh qua mọi sợ hãi, mọi thống khổ mỏi mòn. Nhà văn là người viết về sự sống ngoạn mục, nỗi chết phi thường của người khác, không bao giờ là kẻ trông đợi người khác viết về cái chết, nỗi chết của mình. Do đó, nhà văn bất chấp những kẻ bỉ thử mình, lăng mạ mình đủ điều về sự sống của mình. Rất tự hào và đủ quyền kiêu hãnh để nói, những kẻ bỉ thử, lăng nhục nhà văn là những kẻ không biết viết hay viết chẳng ra gì. Những kẻ này không bao giờ được phục sinh, bởi vì họ không hề có một cái gì đểà lại cho đời sống kế tiếp. Tôi là nhà văn, tôi chẳng lấy gì làm xấu hổ mà công khai nhận mình thèm sống sợ chết. Tôi đã bày tỏ thái độ của tôi rõ rệt trong bài Chút tâm sự của người làm thơ trong tù. Theo tôi, sự tồn tại khác hẳn với sự sống. Tôi chưa thấy một nhà văn chuyên nghiệp nào – nhà văn nuôi mình, nuôi vợ con mình bằng hàng tỉ chữ thao thức viết – khi chết được vinh tôn như một anh hùng, liệt sĩ. Người ta đã chỉ vinh tôn tác phẩm của nhà văn. Tôi cũng chưa thấy ai nhận trách nhiệm nuôi vợ con nhà văn, nuôi nhà văn cả, nhưng người ta cứ bắt nhà văn phải có đủ thứ trách nhiệm, đủ thứ đạo đức, đủ thứ can đảm. Người ta còn bắt nhà văn dấn thân, nhà văn tranh đấu cho đủ thứ quyền của con người, nhưng, mỉa mai thay, cái quyền lợi thiết thực của nhà văn là tác phẩm mồ hôi, tim óc của họ bị đạo tặc công khai tước đoạt, không ai tranh đấu cho nhà văn cả Tôi đã thấy chính xác nhà văn tạo hào quang rực rỡ cho anh hùng, liệt sĩ, thần thánh. Nhân loại đã thờ phụng hình chúa Giêsu vẽ theo trí tưởng tượng của Michel Ange mà không thờ Michel Ange. Những bức tượng, những tranh vẽ trong giáo đường của Léonard de Vinci, của Raphael về Đức Mẹ, về thiên thần đều được kính cẩn thờ phụng cả đấy. Ai đã nói cho nhân loại biết tài năng của Michel Ange, Léonard de Vinci, Raphael? Nhà văn. Nhà văn viết về Thượng Đế. Nhà văn làm ra Thượng Đế. Thượng Đế không làm ra nhà văn. Gần gũi chúng ta nhất, người Tầu và cả người Việt Nam đều đèn nhang, trầm hương xì xụp vái lạy ba anh Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi mà quên nhà văn La Quán Trung đã phong thánh cho ba anh rất lơ mơ trong lịch sử Trung Hoa. Tài năng của nhà văn La Quán Trung đã biến nhân vật tiểu thuyết thành thánh. Không ai thờ La Quán Trung cả. Người ta hằng luận về hào khí Võ Tòng, Lâm Xung mà quên Thị Nại Am; ngợi ca Kiều Phong, Lệnh Hồ Xung, Dương Quá, Quách Tĩnh mà quên Kim Dung. Vân vân… ở thời đại của tôi và ở đất nước tôi, nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc đã phong thánh cho Hồ Chí Minh. Khi đất sét được nặn hóa thánh, thánh tưởng mình thiêng đã bỏ tù những kẻ phong thánh cho mình. Nhân Văn giai phẩm là thí dụ điển hình. Nguyễn Bính có câu thơ mà tôi rất thích: Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ. Cái đám thế nhân mắt trắng có thánh để thờ, có thần tượng để chiêm ngưỡng, có lãnh tụ để suy tôn, có ước mơ để mơ ước, đã không đem gạo nuôi nhà văn, đã không biết ơn nhà văn, lại còn ong óng lời chó dại, lại còn phun phì nọc rắn rết lên án nhà văn, thống trách nhà văn. Vậy thì nhà văn, anh đã sáng suốt nhận ra anh chưa? (Tôi đã nhận ra tôi. Và tôi cho rằng tôi chỉ có trách nhiệm với những thống khổ tôi đã kinh qua, đã thể nghiệm. Tôi không được phép phản bội những oan khiên, những cay đắng, những cô đơn đã soi sáng cuộc đời tôi. Và tôi hiểu rằng nhà văn có quyền phép ghê gớm. Nhà văn đưa thằng bán chiếu Lưu Bị lên ngôi anh hùng và bắt kẻ anh hùng Tào Tháo làm đứa gian hùng. Thế nhân mắt trắng, cái đám ưa hạch sách nhà văn, vấn nạn nhà văn, thị phi nhà văn, chụp mũ nhà văn, sống nghìn đời vẫn không đủ tư cách và khả năng hủy diệt nổi tác phẩm của nhà văn. Nhưng, nhà văn chỉ cần cuốn sách mỏng, viết bằng chân trái, cũng đủ nhốt cái đám gian dối lương tâm vào ngục tù muôn thuở. Đừng có đùa với văn chương Và đừng có rỡn mặt nhà văn. Chưa quán triệt sức mạnh của văn nghệ, học đòi làm lãnh tụ, học đòi mưu đồ quốc sự, đã không biết kính trọng nhà văn còn xúi dục tiểu yêu bôi bẩn nhà văn, quả là bọn cắn hạt gạo chưa vỡ đôi Người ta chỉ đố kỵ niềm vinh quang của nhà văn mà không chịu cảm thông nỗi nhục nhằn nhà văn phải kiên nhẫn chịu đựng, chịu đựng không ngừng. Và nhà văn làm việc cho ai, tác phẩm của nhà văn để lại cho ai, người ta cứ giả vờ không thèm biết. Rồi mỗi năm bao nhiêu tiến sĩ tốt nghiệp và bao nhiêu năm mới nẩy sinh một danh sĩ, người ta cũng cứ giả vờ không biết. Và nhà văn chờ đợi cái chết vì tác phẩm của mình thì không ai biết. Nhưng cần gì ai biết mình sống ra sao, viết trong những hoàn cảnh nào, nhà văn, có vẻ như kiêu ngạo để không lý tới cái hôm nay. Mà đúng thế, nhà văn đã không lý tới cái hôm nay, cũng chẳng thèm lý tới những phán xét ngu xuẩn của thời nay. Trên sầu đạo và ngược dòng nghịch lũ oan khiên, nhà văn mang tâm sự của con gọng vó, âm thầm bước, âm thầm lội. Và âm thầm đợi chết. Như tôi. Không ai chia xẻ với tôi nỗi sợ hãi cả. Ngày nào đó “thoát chết, bung ra”, tôi viết những trang sách ghi lại cảm giác rụng rời của tưởng tượng nỗi chết, cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào, tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim, chắc chắn, tôi vẫn được chiếu cố tận tình bởi soi mói của cú vọ, bởi phẩm bình của quạ diều. Có phải đó là sự trả nghiệp, theo nhà Phật?

° ° ° Đặng Xuân Côn chở vợ con lên. Tôi cũng tính xong sổ đời. Thấy chẳng để lại vết tích nào dơ bẩn trên 200 số báo Tuổi Ngọc và suốt 1 5 năm viết văn, làm báo, tôi cam đành đợi chết. Nói cam đành vì tôi thèm sống, sợ chết. Để cực tả, phải viết: Tôi thèm sống vô cùng. Lúc này tôi mới cảm Tư Mã Thiên và phục Tư Mã Thiên. Than ôi, Tư Mã Thiên chịu nhục hình, cố bám lấy cái sống hèn chỉ vì chưa lo xong Sử ký. “Ta hồ văn chương chi sự thốn tâm thiên cổ Nếu Tư Mã Thiên không chấp nhận hình phạt thiến, không vượt lên sự khinh bỉ của thể nhân mắt trắng, không cô đơn những ngày tháng còn lại, sẽ muôn đời không có Sử ký của Tư Mã Thiên. Kẻ làm việc cho muôn đời chấp nê chi cái lẽ sống hèn, sống hùng. Những đứa chê bai Tư Mã Thiên đều đã chết như cây cỏ. Chúng nó sống hùng lắm, sống hùng miệng lưỡi mà chẳng có gì để lại: Chúng nó chê Tư Mã Thiên sống hèn, sống nhục nhã tội bị thiến, không dám chết giữa pháp trường, nhưng nhờ biết sống hèn, sống nhục, Tư Mã Thiên có Sử ký. Tư Mã Thiên được phục sinh bằng Sử ký. Và bằng Sử ký, Tư Mã Thiên bất tử.
          Ông đau vết hoạn lưỡi dao hèn
          Từ đó, cung giương một mũi tên
          Theo hồn tài tử. tên bay vút
          Ngạo nghễ hành tinh Tư Mã Thiên
          Những đứa chê ông chết cả rồi
          Nhưng ông sống mãi như mây trôi
          Hai nghìn năm ngỡ chùng gang tấc
          Mảnh đất oan này lại có tôi…

Google photo edit by Sơn râu

Sử ký và Tư Mã Thiên đã đủ soi sáng thân phận nhà văn và tác phẩm hoàn thành bất chấp nghịch cảnh, bất chấp mọi hoàn cảnh, bất chấp cung cách sống, bất chấp cảnh ngộ sống chưa? Có lẽ, với ngự sử vô học, với “sa đích phê bình văn nghệ rẻ tiền”, cần được giáo dục thêm nữa. Tôi không thừa thì giờ nói với hai hạng người vừa kể. Tôi tâm sự với nhà văn. Nhà văn có sức mạnh tuyệt luân. Nhà văn là con người như mọi con người. Y cũng phải chết thôi. Có thểà, y sẽ bị chết theo cung cách Gandhi đã bị chết. Nhưng tác phẩm của y không bao giờ chết. Y có thể chịu hình phạt nhục, chịu phán xét ngu xuẩn như Tư Mã Thiên, như Gheorghiu. Chính sự chịu nhục sống hèn (hiểu theo nghĩa bần tiện của thế nhân mặt trắng) của nhà văn đã làm tác phẩm của y rực rỡ và tác phẩm của y phục sinh y sau cái chết. Nhà văn, có thể, chết thảm như Khái Hưng và Lan Khai. Cộng sản đã nhận chìm Khái Hưng, Lan Khai dưới nước mà không thể nhận chìm tác phẩm của tác giả Hồn bướm mơ tiên, Dọc đường gió bụi, của tác giả Cái hột mận, Lầm than… dưới nước. Cộng sản kiêu ngạo nhất loài người, đầy đủ quyền uy và biết chơi bạo lực mà vẫn ngậm ngùi sợ hãi văn chương – tư tưởng: “Cơ sở giai cấp của bọn phá hoại còn tồn tại lâu dài trong xã hội ta. Khi đã hết giai cấp, thù địch vẫn còn. Vì tư tưởng của giai cấp có sức sống dai hơn giai cấp tính ra nó”* . Nghĩ cũng tội nghiệp cho đám lãnh tụ ễnh ương của quyền uy ảo tưởng và đồ đệ cứ hăm hở đòi hủy diệt nhà văn và tư tưởng của nhà văn. Phải nói rõ rệt là nhà văn cố gắng soi sáng những mê muội của thời đại mình. Thời đại mê sảng, cố tình mê sảng thì người đời sau sẽ làm công việc thương người đời xưa. Nguyễn Du còn ngờ vực, 300 năm sau, có ai hiểu ta chăng, thì nhà văn xá chi những hạch hỏi vô lý, vô nghĩa, vô học, vô ơn của cóc nhái thời thượng. Song, cần thiết, nhà văn phải nhận ra mình, phải nhận ra sức mạnh tuyệt luân của mình và phải biết xử dụng, dám xử dụng sức mạnh đó để chế ngự bạo lực đến từ bất cứ phía nào, ở bất cứ nơi đâu, dẫu sự chế ngự có mang tới những cay đắng nghiệt ngã, những oan khiên ứa máu, những ngộ nhận nứt tim. Và cả nỗi chết. Và luôn sự thèm sống hèn đểà thoát chết. Tôi nghĩ rằng cái cứu cánh biện minh cho cung cách sống chết của nhà văn là tác phẩm y để lại cho đời sống. Trong bộ cassette tưởng mộ Victor Hugo, một vị viện sĩ của Viện Hàn Lâm Pháp quốc đã múa một tuyệt chiêu: “Nước Pháp không được phép nói tha thứ những bê bối trong cuộc đời của Victor Hugo mà phải có bổn phận chấp nhận những bê bối ấy. Vì sự nghiệp văn chương của Hugo đã làm rạng rỡ cho đất nước Pháp và dân tộc Pháp.”
Tôi không ở nước Pháp, không là nhà văn Pháp. Georges Simenon viết nhiều, viết khỏe, chẳng cần phải quan tâm văn chương, tư tưởng của Simenon, Jean-paul Sartre đã vinh tôn khả năng sáng tạo của Simenon. Tôi cũng viết nhiều, viết khỏe, thì chỉ nghe Sài gòn dè bỉu và đợi Hà Nội vào tàn sát. Và tôi thèm sống hèn. Để hy vọng có một Sử ký như Tư Mã Thiên.

° ° °

10 giờ 30. Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng. Đặng Xuân Côn mở radio thật lớn. Tôi lặng người trong giọng nói cơm nguội của Big Minh. Tôi mất miền Nam từ giây phút này.
– Tắt radio đi, Côn?
– Để nghe xem còn tin tức gì nữa.
– Hết rồi.
– Chưa.
– Tôi bảo hết rồi. Tắt đi?
Tôi nhìn Côn:
– Có thể ông thoát biển máu. Vợ con tôi cũng có thể thoát biển máu. Tôi thì khó thoát.
Côn an ủi tôi:
– Mày sẽ thoát.
Tôi lắc đầu:
– Khó lắm. Tôi biết tôi. Cộng sản biết tôi. Những kẻ muốn làm tốt đẹp cho xã hội miền Nam sẽ bị quăng xuống biển máu. Nếu ông thoát…
Côn chớp mắt:
– Tao hiểu tao sẽ phải làm gì cho mày.
– Cho vợ con tôi thôi.
– Mày muốn tao sẽ làm gì?
– Đưa vợ con tôi rời khỏi Việt Nam.
Im lặng. Hai chúng tôi nhìn nhau, nước mắt ứa ra. Trong phòng ngủ, hai người đàn bà và những đứa trẻ con khóc nức nở. Tôi biết, cả Sài gòn đang khóc….


NẾU CUỘN BĂNG NHỰA GHI LỆNH ĐẦU HÀNG CỦA DƯƠNG VĂN MINH THẤT LẠC
Mỗi biến cổ lịch sử xảy ra thường kèm theo những chuyện ngoài lề. Và những chuyện ngoài lề được truyền kể, được thêu dệt thành huyền thoại. Một trong những chuyện ngoài lề dưới đây không phải là huyền thoại. Mà là chuyện ở quán cà-phê vỉa hè sau ngày 30-4-1975. Người ta thuật cho nhau nghe, người ta luận bàn và người ta không thèm quan tâm đến cái vô lý của câu chuyện.

° ° °

10 giờ, Phủ tổng thống gọi cho Đài phát thanh sài gòn, yêu cầu gửi gấp sang một chuyên viên ghi âm. Anh chuyên viên đem máy móc, băng nhựa đến trình diện ông Giám Đốc Nha báo chí Phủ tổng thống. Anh vào phủ bằng lối góc ngã tư Nguyễn Du – Thủ Khoa Huân – Huyền Trân Công Chúa. Giám đốc Nha báo chí hướng dẫn anh chuyên viên tới phòng họp của Tổng thống. Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng cộng sản tại đây. Kẻ viết lệnh đầu hàng là Lý Quý Chung, Tổng trưởng Thông tin của nội các Vũ văn Mẫu, “danh sĩ” của môn phái Hoa Lan. Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng xong, anh chuyên viên Đài phát thanh đem băng về đài. Anh ta lái chiếc Honda 50. Cuốn băng lịch sử được giao cho phòng phát thanh và được ra lệnh phát vào đúng 10 giờ 30 phút.

° ° °

Câu chuyện vắn tắt trên đây ví như Kinh Xuân Thu của Khổng Tử. Các vị Đông Lai, các Mao Tôn Cương “phản động” đã “bác nghị”, đã “lời bàn” sôi nối.
– Tôi không tin đại sự lại giản dị thế.
– Dương văn Minh hiểu gì đại sự? ông thử nhìn kỹ coi, bọn Minh sún có thằng nào ra cái giống người?
– Tôi nghĩ lệnh đầu hàng trực tiếp truyền thanh.
– Trực tiếp con khỉ! Chúng nó quýnh hét, đâu kịp chuẩn bị. Phải tin tôi, thằng chuyên viên Đài Sài gòn là bạn tôi.
– Là bạn ông à?
– Ừ! Nó lái Honda “chở” lệnh đầu hàng. Tôi tự hỏi, nếu nó bị đụng xe, chết ngỏm, lịch sử sẽ ra sao? Hoặc nó phẫn nộ, vất cha nó cuốn băng ghi lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, về ngủ với vợ, lịch sử sẽ ra sao?
– Chắc chắn Sài gòn nổ lớn.
– Nổ lớn, tôi đã mong mỏi. Rốt cuộc, chỉ tại thằng chuyên viên mẫn cán, ngu đần, sợ lệnh lạc mà cộng sản vào Sài gòn ngon ơ. Tức muốn hộc máu mồm.
– Tôi nghe nói cộng sản đã vô Dinh Độc Lập từ đêm trước, chúng dí súng sau ót Dương văn Minh, bắt Minh đọc lệnh đầu hàng.
– Không có vụ ấy.

° ° °

Nếu câu chuyện kể trên đúng 80%, nếu anh chuyên viên của Đài phát thanh Sài gòn bị đụng xe chết giữa đường Thống Nhất, nếu anh chuyên viên quên Dương văn Minh, quên lệnh đầu hàng về ngủ với vợ, tôi tin chắc rằng lịch sử khác đi một chút. Nó cũng sẽ bị sang trang nhưng không đến nỗi sang trong buồn tủi. Sẽ có máu, nhiều máu của Sài gòn 30-4-1975. Và đó là những dòng máu cần thiết cho Sài gòn ngày mai…

Sài Gòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

3. Chương 3

Ông Từ Diễn Đồng mâu thuẫn với chính ông. Đã hỏi:
          Lòng nước ai ai đà thức dậy
          Dậy thì lên tiếng gọi nhà nho…
Ông lại chép miệng:
          Thiên hạ có khi đang ngủ cả
          Tội gì mà thức một mình ta
Không ai ngủ. Tất cả đều thức. Và thức trắng đêm qua. Và cùng đợi chờ. Có ba tâm trạng đợi chờ trong một đêm bắt buộc không ngủ. Kẻ đợi chờ cộng sản mang hạnh phúc cho mình. Kẻ đợi chờ cộng sản mang bất hạnh cho mình. Kẻ đợi chờ cộng sản vùi xác giữa một thành phố bất khuất. Tôi đang ở tâm trạng thứ ba sau khi thoát khỏi tâm trạng thứ hai. 6 giờ thiếu 10 phút. Thường lệ, vào giờ này, sinh hoạt chợ Xóm Lách đã ồn ào. Hôm nay im vắng. Chẳng phải vì giới nghiêm đâu, mà vì cuộc hôi đồ chiều hôm qua đã diễn sâu tới khuya, đã diễn xa lên Sài gòn, đã diễn rộng khắp khu vực nên dân chúng ngồi nhà ngắm “chiến lợi phẩm”. Tôi lại mở cổng ra đường. Bước sát cột đèn lưu thông, tôi đứng ở ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Lần đầu tiên, từ hai mươi năm khôn lớn tại Sài gòn, tôi được nhìn Sài gòn buồn bã. Như thể Sài gòn choàng khăn tang và hồi chuông cáo phó đã đọng trên đầu cỏ, ngọn lá. Con phố Công Lý, con đường của VIP, nườm nượp xe cộ từ tan giới nghiêm đến vô giới nghiêm, hôm nay, vắng ngắt. Tôi mơ hồ thấy, trong hiu quạnh khôn cùng của ban mai Sài gòn 30-4, những lời giối giăng đứt khúc. Chắc chắn không có sóng ngầm. Chắc chắn không có Stalingrad ở Sài gòn. Không có một dấu hiệu nào chứng tỏ thành phố chuẩn bị nghênh giặc. Tôi đã thất vọng. Tôi đã tuyệt vọng. Não nề hơn, tôi đã thất tình với cuộc chiên đấu mơ ước. Với Dương văn Minh và đám cầy cáo đui què, không bao giờ có chiến đấu, dù chiến đấu để chết đẹp, chết xứng đáng làm người. Tôi tự trách tôi ngu xuẩn đã không chịu suy diễn sự dọn đường quỳ mọp của Lý Quý Chung, phát ngôn viên chính thức của Dương văn Minh. Tôi ngu xuẩn hay tôi giống người sắp chết đuối với được cái phao Giới Nghiêm 24 trên 24? Sài gòn của tôi, Sài gòn của chúng ta đã lần nào chịu khuất phục trước bạo lực xâm lăng? Từ thành phố này mang tên Sài gòn, ít nhất, đã hai phen nó phóng nhiệt tình và lòng tự phụ vào mặt kẻ thù xâm lược. Còn nhớ Tiếng súng Nam Bộ của tháng ngày 1946 chứ:
          Tiếng súng vang sông núi miền Nam
          ầm đất nước Việt Nam
          Tiếng súng vang lùng khắp non sông
          dục ta ra tranh đấu
          Tiếng súng vang sông núi miền Nam
          vì mưu chiếm miền Nam
          Ta muốn băng mình xuống phương Nam
          xé xác quân tham tàn…
Còn nhớ nghĩa sĩ Bình Xuyên* thuở ấy chứ?
          Bình Xuyên…
          Bình Xuyên oai hùng ngàn năm
          đoàn dũng sĩ máu sôi lòng hờn căm
          Khi quân ta tiến ra
          vung gươm lên chói lòa
          muôn đầu rơi sát khí
          ầm vang hát
          chốn sa trường không tiếc thân…
          Bình Xuyên…
          Gò Công hai lần diệt Tây…
Còn nhớ tuổi trẻ Sài gòn thuở ấy chứ? Những gậy tầm vông của thanh niên đã làm khiếp đảm súng liên thanh của liên quân Anh-ấn-pháp. Những địa danh Cầu Quay, Cầu Mống, Rạch Đỉa, Thị Nghè đã làm nản lòng quân xâm lược. Và đã làm Sài gòn ngạo nghễ, đã làm người Sài gòn bất hủ. Đó là lần Sài gòn đứng dậy, đứng hết dậy viết những trang lịch sử mới sau 100 năm nô lệ. Lần thứ hai, còn nhớ chứ, tháng ngày mùa hè 1955. Tuổi trẻ Sài gòn lại đứng dậy, kẻ sĩ Sài gòn lại đứng dậy biểu dương nhiệt tình và lòng tự phụ cho bạo lực cộng sản mở mắt. Những khẩu hiệu chiến đấu ăm ắp sáng tạo: Chặt cổ Hồ Chí Minh. chém ngang thây Trường Chinh… Những bước chân săn đuổi Văn Tiến Dũng khiến nức lòng đường phố. Nhiệt tình của tuổi trẻ bốc cháy Majestic, Galliéni. Gươm dáo Bảo Tàng Viện cũng rung rinh nhạc võ Kẻ thù phương Bắc rụng rời… Nhưng hôm nay… Đứa thoán nghịch đã học đòi Mạc Đăng Dung sẽ học đòi Mạc Đăng Dung thôi…
Tôi nhìn ngang con đường Công Lý. Tôi nhìn dọc con đường Yên Đổ. Tôi hình tưởng những con phố khác. Tôi hình tưởng cái toàn thể Sài gòn và những vùng thân yêu Đakao, Tân Định, Phú Nhuận, Chí Hòa… Tất cả chìm vào mù khơi hiu hắt. Tất cả rơi xuống hụt hẫng thinh không.
          Sài gòn.
          Em đã cho anh hai mươi năm sung sướng
          Anh phải van lơn để hứng chịu cơ cầu
Tôi chôn chân cạnh trụ đèn lưu thông, ngã tư CôngLý – Yên Đổ. Tôi thèm được chết đứng ở đây. Tôi thèm được chết đứng cơ hồ Từ Hải, cái chết đứng bị phản bội nhục nhã. “Thiên hạ có khi đang ngủ cả,” mình tôi, một mình tôi thức, mình tôi chới với trong quạnh hiu ứa máu của Sài gòn đợi chờ khuất phục. Và tôi, tôi lại đợi chết. Mơ ước cuối cùng của tôi đã tàn tạ khi chưa kịp nở. Tôi mơ hồ nghe tiếng bước chân thù dẫm trên đường phố, tiếng rên xiết của đất đá, tiếng chuông cáo phó rung lên cho Sài gòn chết oan. Tôi không chết đứng nổi. Tội nghiệp tôi. Tôi trở về, đẩy cổng, vào nhà.

° ° °

Đạn nổ phía phi trường Tân Sơn Nhất đã thưa thớt. Trực thăng Mỹ vần vũ mạnh hơn ở góc trời đó, góc trời ân huệ của những người Việt Nam đã ăn no đấm đá của lính Mỹ để leo lên nóc Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ; góc trời thảm não của những người Việt Nam không được ăn no đấm đá của lính Mỹ để bị ngồi bó gối trước cống Toà Đại Sứ Hoa Kỳ.
Trời đầy sương mù. Tại sao sương mù mùa xuân, mùa khô của miền Nam? Bỗng chuông điện thoại reo:
– Alô, bố Tí hả?
– Ừ.
– Tao lên được không?
– Giới nghiêm 24 trên 24 mà.
– Ở đây, thiên hạ đi lại ầm ầm.
– Thì ông lên đi?
Đặng Xuân Côn từ Phú Nhuận gọi cho tôi. Chuông điện thoại reo làm các con tôi thức. Nhà tôi, vì uống thuốc an thần quá trễ nên vẫn còn ngủ mê man. Thằng con lớn của tôi chạy ra phòng khách. Nó bật đèn. Thấy tàn thuốc lá bừa bãi, chai Rémy Martin đã cạn nằm nghiêng, nó hỏi:
– Bố không ngủ à?
Tôi gật đầu.
– Bố sợ cộng sản à?
Tôi lắc đầu.
– Tại sao bố không ngủ?
Tôi đáp:
– Rất nhiều người không ngủ đêm qua.
Không để con nít biết chuyện nước non buồn thảm, tôi dục con tôi:
– Cu Tí pha cà-phê cho bố.
Đặng Xuân Côn đã lái xe lên Sài gòn. Chúng tôi uống cà-phê, đàm luận. Con nít bị đuổi hết vô phòng ngủ:
– Có gì lạ ở Phú Nhuận?
– Thiên hạ đợi Việt cộng vào.
– Hân hoan đợi?
– Một nửa sợ hãi, một nửa vui mừng. Chắc chắn, không có đánh đấm gì đâu. Dương văn Minh là cái xác chết. Bọn tướng lãnh đầu xỏ cút hết rồi. Đào ngũ hết rồi. Ông Vĩnh Lộc ví như chiếc lá cuối cùng. Gió cũng cuốn ông ta bay…
– Tôi hiểu. Tôi đã mơ mộng Sài gòn sẽ là Stalingrad thứ hai. Rốt cuộc, nó sẽ là Hochiminhgrad, đúng như tiên đoán trước của lãnh tụ văn nghệ Nguyễn Đức Quỳnh mười tám năm cũ.
– Mày tính sao?
– Tính gì?
– Chuồn.
– Chuồn đâu? Mã cùng đồ rồi!
– Về Long Xuyên ẩn thân.
– Mai danh ẩn tích hả? Kệ mẹ nó. Đến đâu hay đến đó.
Đặng Xuân Côn có thể đưa vợ con di tản dễ dàng. Cứ bám lấy tôi vào những ngày tôi bối rối nhất. Rồi tôi biến thành cái đầu tầu di tản, kéo các toa em vợ. Nhà tôi không thèm nghĩ đến con mình, chỉ nghĩ vợ con của đứa em trai mình, bắt tôi kéo bằng được vợ con đùm đề của cậu em trai du học bên Mỹ.
Rốt cuộc, kéo nặng quá, đầu máy chết. Phạm Duy, trước khi chạy, cho tôi hay rằng anh đã phải vất vài đứa con lại. Anh khuyên tôi lo thoát lấy thân mình. Tôi còn bận bịu lo thoát thân vợ con của em vợ. Than ôi!
-Thả một vòng Sài gòn chơi chăng?
Đặng Xuân Côn đề nghị.
– Thì đi.
Tôi trả lời. Lúc ấy đã 7 giờ, đường phố không còn hoang vắng như cách đây một tiếng đồng hồ. Xe cộ xuôi ngược, bớt cảnh nườm nượp hàng ngày. Đèn lưu thông chớp nháy tự động ở các ngã tư. Lệnh giới nghiêm của Dương văn Minh vô hiệu quả. Luật pháp quốc gia đã bị coi thường. Người ta có thể tự do thanh toán nhau vì thù hận riêng tư hôm nay. Người ta có thể cướp bóc, hãm hiếp hôm nay. Cảnh sát vắng bóng. Quân cảnh vắng bóng. Nhưng cao quý thay là ngày Sài gòn thả nổi, ngày Sài gòn có chính phủ như vô chính phủ, tất cả bình yên nhờ chân lý mất gì không mất tình người Việt Nam. Tôi muốn vinh tôn dân tộc tôi bằng vàng son chói lọi. Tôi muốn vinh tôn Sài gòn bằng gấm vóc kiêu sa. Thành phố thân yêu của tôi, có trái tim của mấy triệu trái tim. Thành phố ấy không hề khích lệ, đốc xúi trả thù, tuyết hận trong cơ hội tha hồ trả thù, tuyết hận và tha hồ nhân danh đủ thứ chính nghĩa. Sài gòn, thành phố nhân bản, thành phố biểu tượng của tình nghĩa Việt Nam, của tình người Việt Nam. Như thế, Sài gòn vĩnh cửu, Sài gòn tồn tại như dân tộc Việt Nam. Tôi yêu Sài gòn.
          Sài gòn,
          tên em trên những vệt môi son
          trong ánh mắt
          và trong hơi thở

          trong hạnh phúc
          và trong đau khổ
          ở tuổi non và ở tuổi già
          ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua
          ở hôm nay anh sống và ngày mai anh chết
Trước hết, Đặng Xuân Côn lái xe ngang qua căn nhà số 101 Phan Đình Phùng. Tôi thấy Mai Thảo đang nói chuyện với cô bé Nicole, (cháu của ông Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tạp chí Văn). Tôi ấm lòng. Mai Thảo còn ở lại Sài gòn. Chúng tôi sẽ cùng bơi trong biển máu. Đặng Xuân Côn cư ngụ tại cư xá Chu Mạnh Trinh, Phú Nhuận. Hắn cho tôi biết Văn Quang, Nguyễn Mạnh Côn, Trịnh Viết Thành còn ở lại. Anh em văn nghệ còn ở lại, tôi mới rõ bốn người. Những ai nữa, và những ai đã đi thoát,. không ai hiểu. Một ngày dài nhất còn là một ngày xa cách nhất. Vẫy tay chào Mai Thảo, chúng tôi vòng lại đại lộ Hai Bà Trưng, đến nhà thờ Tân Định. Gặp Nguyễn Tuấn Anh, ngỡ ngàng tưởng chừng gặp người trong mộng. Tuấn Anh và gia đình đã xuống tầu chiều qua. Tôi đã bắt tay vĩnh biệt anh. Thế mà anh trở lại, đang khuân “hành lý di tản” vào nhà. Con tầu đã đi. Người bạn của tôi không đi nữa. Vài câu đối thoại nhanh, chúng tôi tạm biệt Tuấn Anh lên Sài gòn. Tôi nghĩ Nguyễn Tuấn Anh sẽ chung số phận với tôi. Anh ta là bác sĩ, đã phục vụ quân đội, đã là dân biểu đối lập trong nhóm Quốc Gia, đã bày tỏ thái độ chống cộng quyết liệt như Nguyễn văn Cử, Nguyễn Trọng Nho, Đặng văn Tiếp, Nguyễn văn Cung, Trần văn Ân. Anh ta sẽ bơi trong biển máu.
Chúng tôi đậu xe sát lề đại lộ Thống Nhất, ngay cửa tư thất của ông Đại Sứ Pháp tại Sài gòn, thả bộ lên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Trực thăng lên xuống đều đặn. Trên nóc tòa nhà biểu tượng cho quyền uy Hiệp chủng quốc ở Việt Nam, vẫn đông nghẹt người di tản. Chung quanh tường Toà Đại Sứ, Thủy quân lục chiến Mỹ mặc áo giáp, tay trần, kè kè M-16 gắn lưỡi lê sẵn sàng đàn áp những người Việt Nam sợ biển máu, nhất định đáp lời kêu gọi di tản của tổng thống Ford. Thủy quân lục chiến Mỹ, binh chủng vẻ vang của quân lực Hoa Kỳ, được thần thánh hóa trong phim ảnh do Hồ ly vọng sản xuất, đã và đang diễn nghĩa cái nắm tay thân hữu của Mỹ với các nước đồng minh. Năm 1954, lính thủy Mỹ thân ái cầm tay người Việt Nam di cư bỏ trốn cộng sản. Năm 1975, “lính thủy đánh bộ” Mỹ giáng báng súng xuống thân phận Việt Nam di tản bỏ trốn cộng sản. Hẳn nhiên, lý luận theo cộng sản, đó là hiện tượng. không phải là bản chất. Bản chất tốt đẹp là dân tộc Mỹ, là đất nước Mỹ. Hiện tượng xấu xa là chính phủ Mỹ, chính sách Mỹ đối với nước nhỏ. Thế thì cái hiện tượng Hoa Kỳ đang lạnh lùng đề phòng những người Việt Nam di tản xếp hàng đông đặc trên vỉa hè phía trước Tòa Đại Sứ chỉ rình cơ hội là tông cửa xô vào, leo lên nóc Tòa Đại Sứ. Dân tộc Việt Nam chưa được hưởng tí gì về sự nghiệp khai phóng dân chủ, tự do của Mỹ ở Việt Nam ròng rã hai mươi năm. Dân tộc bất hạnh này chỉ hưởng dùi cui, báng súng, lựu đạn khói, phi tiễn vì áp dụng bài học tự do, dân chủ. Và hôm nay, dân tộc ấy có định nghĩa chính xác về tự do trước cổng Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ.
Chúng tôi lái xe ra bến Bạch Đằng. Những con tàu nghiêng lệch về một bên đã đi cả rồi. Cái phà qua Thủ Thiêm còn sang ngang. Và trên sông, những chiếc ghe chèo, ghe máy đuôi tôm vẫn thản nhiên xuôi ngược. Chúng tôi sang Khánh Hội. ở kho 5, thiên hạ di tản ùn ùn kéo nhau vô. Có lẽ còn tàu. Chúng tôi trở lại Sài gòn. Các cửa hiệu khu phố Lê Lợi, Tự Do, Nguyễn Huệ đóng cửa. Ở những căn nhà lầu, cửa sổ mở tung và những khuôn mặt ngó xuống nhìn Sài gòn dáo dác. Khác với Sài gòn ngày 11 tháng 11 năm 1960, khác với Sài gòn buổi chiều trước 1-11-1963, khác với Sài gòn ngày chỉnh lý, ngày biểu dương lực lượng, ngày đảo chính cục bộ, Sài gòn sáng 30-4-1975 là ngày hân hoan dấu kỹ, là ngày ngơ ngác phô ra, là ngày sợ hãi hiện rõ. Trời u ám. Người ủ ê. Hơn tám giờ mà mặt trời còn ẩn kỹ. Không một sợi nắng. Có ba ngày lạ lùng trong tháng 4. Hôm tên phi công phản phúc oanh tạc Dinh Độc Lập, trời lất phất mưa. Hôm Dương văn Minh “lên ngôi” tổng thống, trời lất phất mưa. Và hôm nay, trời u ám lạ thường. “Khí trời u uất hận chia ly”. Câu thơ này đã diễn tả chính xác Sài gòn buổi sáng 30-4-1975.
Tôi bảo Đặng Xuân Côn đậu xe. Chúng tôi lang thang trên hè phố. Tôi nhìn vào Garden (Givral cũ) vắng hoe. Bên kia, Continental cũng thế. Mới hôm nào, ngày Sài gòn hốt hoảng tin cộng sản tấn chiếm Đà Nẵng, tôi còn ngồi chung bàn với Cao Dao, Đỗ Bá Thế luận bàn thế cuộc. Cao Dao, người biết quá nhiều, cộng tác viên của vài tờ báo Mỹ lớn. Anh viết tiếng Việt và Phùng thị Hạnh dịch sang Anh Ngữ. Sau này, sang Bỉ, viết báo Đức, anh lại viết bằng tiếng Pháp. Đỗ Bá Thể, tác giả Thím Bẩy Giỏi. Ngã tư quốc tế* , tiểu thuyết gia, báo gia, điện ảnh gia, kẻ lãng du tình ái không hề mỏi gối long chân. Cả hai, Cao Dao và Đỗ Bá Thế đều bình thản trước cơn hấp hối của Sài gòn. Tôi hỏi Cao Dao:
– Cả nước lo di tản, ông còn ngồi đây tán phét à?
Cao Dao cười tít mắt:
– Để thiên hạ đi vợi, tớ chạy sau chót.
Tôi nói:
– Ông ơi, không có chuyến tầu vét Hải Phòng 1955 đâu
Cao Dao hít đẫy hơi thuốc, nhả khói:
– Thì ở lại. Di tản sớm mất giá. Chạy trốn sau có giá. Cậu là nhà văn, cần buôn kinh nghiệm mà bán.
Tôi cười:
– Nhỡ vào biển máu, cạn láng?
Đỗ Bá Thế vỗ vai tôi:
– Tao đã đi mòn chân Âu Châu rồi, tao không viết được chữ nào thời gian dài tao ở Pháp. Về Việt Nam tao mới biết viết! Mày muốn tác yêu tác quái xứ người, mày cần ở lại. Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ?
Nghe hai ông già này nói chuyện câu trăng, câu sao trên mặt nước, tôi chợt nhớ hai câu thơ của Hoàng Cầm trong kịch bản Lên đường:
          Đêm ba mươi còn đi cầu danh lợi
          Vận nhà ta đến lúc hỏng mất rồi
Đó là ý nghĩ của tôi mấy hôm trước. Bây giờ, nhìn vào Garden qua cửa kính, tôi nhớ Cao Dao, Đỗ Bá Thề, và trong tâm hồn tôi vừa nẩy mầm hy vọng mới. Ừ nhỉ, nếu không dám tình nguyện đi buôn thì bất đắc dĩ đi buôn vậy “Thoát chết, bung ra được là mày nên người, Duyên Anh ạ?” Thoát chết, bung ra được… Di tản sớm mất giá. Tôi đã có niềm an ủi bị ở lại. Bước nhanh qua La Pagode. Cũng vắng hoe. Các nhà văn nghệ chiếu nhất, hàng đầu, chiếu ba hàng cuối, bằng hữu của tôi nơi mô? Sông chưa lấp mà tưởng chừng đã lấp. Biển dâu tự lúc nào vậy? Tôi đọc khẽ Trần Tế Xương:
          Sông kia rầy đã nên đồng
          Nơi thì nhà cửa nơi trồng ngô khoai
          Đêm nghe tiếng ếch bên vai
          giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…
Và đọc khẽ Vũ Đình Liên:
          Những người muôn năm cũ
          Hồn ở đâu bây giờ…
Quay lại, tôi đã đứng trước cửa Phòng Triển Lãm. Nhìn sang Caravelle, tôi thấy vài anh phóng viên ngoại quốc đeo súng! Phóng viên nhiếp ảnh, quay phim, thông tín viên, ký giả ngoại quốc ví như lũ đỉa đói đã hút máu cuộc chiến của chúng ta bằng những tin bẩn, phim bẩn, bình luận bẩn của họ. Chính họ đã tiếp tay cộng sản tạo ra hôm nay. Sự hiểu biết thiển cận của họ, sự làm dáng tiến bộ của họ, sự phản chiến một chiều của họ, sự xuyên tạc, bêu nhục cuộc chiến đấu của chúng ta đầy ác ý và giúp cộng sản thắng lợi ngoài nước trước khi thắng lợi trong nước. Phóng viên, ký giả ngoại quốc, đỉa đói và kên kên gớm ghiếc, nhiều kẻ lãnh lương của Việt cộng, nhiều kẻ đần độn, nhiều kẻ tự nhận lương tâm của mình là lương tâm nhân loại để phán xét chiến tranh Việt Nam. Họ còn ở lại Sài gòn. Họ chưa muốn… di tản. Họ cần thiết có những thước phim, những tấm ảnh, những bài báo ngưỡng mộ cộng sản. Họ chờ đợi cộng sản tiến vào sài gòn. Họ đeo súng*. Không phải để đối phó với cộng sản mà để bắn chết bất cứ một người lính vô kỷ luật, một người Việt Nam nào đe dọa mạng sống của họ. Nhà báo đeo súng, thứ nhà báo vô liêm sỉ. Chắc chắn, nghĩa vụ luận báo chí của nước họ không có điều khoản đeo súng hành nghề. Nhà báo đeo súng và nhà báo đeo súng đã miệt thị ông Nguyễn Ngọc Loan bắn bỏ tù binh?
Nhìn những tên phóng viên ngoại quốc đeo súng nghênh ngang trước cửa khách sạn Caravelle, tôi lấy làm ghê tởm. Làng báo Việt Nam cũng có ít nhất, năm đứa đeo súng hành nghề. Đứa lõa lồ nhất, vô lại nhất là Như văn Uy. Thằng này đem súng cả vào Hạ Viện, bắn loạn xà ngầu. Nhưng khi bị Đặng văn Tiếp thách “bắn chậm thì chết”, nó co vòi. Bẩn mắt vì ngó những thằng phóng viên ngoại quốc đeo súng, tôi ngắm Hạ Viện. Hạ Viện đã giống chùa Quán Sứ của bà Hồ Xuân Hương:
          Hạ Viện sao mà cảnh vắng teo
          Hỏi thăm dân biểu đáo nơi neo
Nghị sĩ chạy cả rồi. Dân biểu chạy cả rồi. Chiến hay hòa không có tiếng vang rung chuyển nơi đây. Cho nên, những trang lịch sử chó đẻ nhất của dân tộc phải tính từ ngày 12-3-1975. Và những trang này không chứa chất u ẩn cần các sử gia đời sau soi sáng. Nó phơi ra thỗn thện như những miếng thịt bầy nhầy, như xác chết muông thú nhung nhúc ròi bọ.
Chẳng còn gì hấp dẫn ở trung tâm thành phố, cũng chẳng có gì lạ lùng ở bất cứ một khu vực nào của Sài gòn. Câu thơ sau đây của Trần Tế Xương diễn tả đúng cảnh tượng Sài gòn buổi sáng 30-4-1975:
         Kẻ đi người lại dáng bơ vơ… Chúng tôi trở lại tòa Đại Sứ Mỹ. 8 giờ 15 phút. Lính Mỹ vẫn lạnh lùng canh gác. Con nít ngủ la liệt trên vỉa hè. Cụ già dựa lưng vào tường, nửa thức nửa ngủ và nửa mơ màng thiên đường Mỹ. Chúng ta tìm về đất hứa không có Moise hướng dẫn, không có Moise bênh vực, không có Moise bảo vệ và không có Moise đầy phép tích nên chúng ta bệ rạc nằm, ngồi ngổn ngang trước Toà Đại Sứ Mỹ, chúng ta ăn báng súng, ăn xô, ăn đạp. Quân dữ ở không gian và thời gian nào cũng thế. Quân dữ ở thời đại của chúng ta hơi khác một tí là nó đã từng bảo nó là bạn của chúng ta. Người ta cần nhớ bài học cay đắng di tản những ngày cuối tháng 4-1975 ở phi trường Tân Sơn Nhất, ở tòa Đại Sứ Hoa Kỳ nằm trên đại lộ Thống Nhất mà định mức hào hiệp của người Mỹ thống trị. Và người ta sẽ quán triệt chân lý: Chỉ người Việt Nam mới giải thoát nổi thân phận Việt Nam khỏi ách thống trị của cộng sản. Người Việt Nam phải làm chủ vận mệnh của dân tộc mình. Mọi hậu thuẫn, trợ giúp tinh thần, vật chất là phụ. Chấp nhận viện trợ và khước từ chỉ huy, lãnh đạo. Để không còn vết nhục quốc sỉ Nguyễn văn Thiệu: “Bảo chúng tôi chống cộng sản mà không viện trợ thì làm sao chúng tôi chống cộng được”?
8 giờ 17 phút, bất thần, Thủy quân lục chiến Mỹ rút hết một lượt vào bên trong Tòa Đại Sứ. Dân di tản nhất loạt đứng dậy. Cụ già tỉnh táo. Con nít thức giấc. Mọi người chờ đợi một “biến cố” như một quyết định ban ân huệ vào phút chót. 8 giờ 25 phút, không thể chờ đợi lâu hơn, nóng ruột lắm rồi. Dân di tản leo tường vào, xô cổng vào. Chiếc trực thăng bay lên đúng 8 giờ 30 phút. Dân di tản đã ùa vô đầy sân Tòa Đại Sứ. không có chiếc trực thăng nào xuống, không còn chiếc trực thăng nào xuống nữa. Năm phút, mười phút, rồi ba mươi phút. Trực thăng hết vần vũ trên một góc trời Sài gòn. Chiếc trực thăng cuối cùng rời Sài gòn hồi 8 giờ 30 phút. Có thể, chuyến đó mang ông đại sứ Martin, các nhân vật của Tòa Đại Sứ, và lính Thủy quân lục chiến Mỹ ra khơi. Dĩ nhiên, ông đại sứ Martin đã không quên gấp lá cờ sao xọc vuông vắn, bê theo, bước lên tàu bay. Thế giới có thể mường tượng cảnh cuốn cờ bỏ chạy của đại sứ Martin qua hình ảnh đại sứ John Dean. Hình ảnh đại sứ John Dean cuốn cờ bỏ chạy khỏi Nam Vang đã đăng trên báo chí.
Những người hụt di tản đau nhất, đau đến mất trí, là những người đã chịu đựng “gian khổ” leo lên nóc Tòa Đại Sứ Đã ngồi trước cổng Thiên Đàng mà lại bị xuống Địa Ngục, còn gì nghẹn ngào hơn? Tuyệt vọng vì người Mỹ hào hiệp không trở lại, họ dắt díu nhau, tìm lối, mò mẫm xuống. Di tản trong gặp gỡ di tản ngoài. Di tản trên gặp gỡ di tản dưới. Chỉ Picasso mới đủ khả năng vẽ những khuôn mặt méo mó của người di tản hụt từ nóc Toà Đại Sứ xuống sân, bước ra đường. Thảm cảnh này rất nên ghi vào những trang lịch sử chó đẻ.
Ông Hồ Chí Minh không có tham vọng đánh tan giặc Mỹ. Hơn bất cứ ai, ông hiểu thấu binh pháp Tôn Vũ: “Tri kỷ tri bỉ.” Cho nên châm ngôn chống Mỹ của ông là”Đánh cho Mỹ cút”, không đánh cho Mỹ thua. ông ta đã thành công. Mỹ không thua mà Mỹ cút. Mỹ không bao giờ thua trận cả. Mỹ càng không bao giờ thua Việt cộng.

Google photo edit by Sơn râu

Mỹ mở chiến tranh như mở cuộc chơi. Chơi lấy thắng mãi đâm ra nhàm chán, Mỹ chơi lấy… không thắng. Không thắng và thua khác nhau. Cút và thua khác nhau xa tít tắp. Như ăn uống và tiêu hóa vậy. Người ta có thể bắt bẻ: Không ăn lấy gì tiêu hóa, không thua tại sao cút? Bắt bẻ thế là sai. Mỹ muốn thắng Việt cộng thì bố Việt cộng cũng chẳng đỡ nổi. Đằng này, Mỹ không thèm thắng, dù Mỹ thí lính Mỹ chết thảm, què quặt, tàn phế như con nít đốt kiến. Do đó, thế giới thân cộng mới bảo chiến tranh Việt Nam là chiến tranh bẩn thỉu. Mỹ giao đấu với Việt cộng móc ngón tay: “Tao không đập mày chết đâu.” Việt cộng lạy lục: “Cám ơn ông, tôi chỉ mong ông cút.” Và Mỹ bèn cút…
 

° ° °

Cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc chiến tranh giai đoạn cho một mục đích*. Sự nghiệp chống cộng sản bảo vệ độc lập, tự do, dân chủ của chúng ta chỉ là cái cớ để Mỹ khỏa lấp cái tham vọng hèn hạ của họ. Hai trái bom CBU thả thử xuống chiến trường Long Khánh tiêu diệt dưỡng khí trong một chu vi rộng lớn đã làm “chết sạch” gần hai sư đoàn Việt cộng và cả quân dân ta luôn. Sự tiến công của cộng sản phải dừng lại. Mục đích thử bom CBU của Mỹ đã đạt. Không có thèm trái thứ ba như đã không có ngày thứ mười ba trải thảm bom B-52 ở Hà Nội. Mỹ hoàn toàn yên ổn lương tâm. Phi-la- tồ American rửa tay, mặc xác cho Việt cộng với biển máu của nó. Người Mỹ thực sự hết trách nhiệm khai phóng dân chủ tự do và bảo vệ dân chủ tự do ở Nam Việt Nam vào hồi 8 giờ 30 ngày 30-4-1975. Một nửa dân tộc bị bán đứng cho cộng sản. Một biển máu hứa hẹn dâng tràn. Và tổng thống Gerald Ford thản nhiên tuyên bố: “Lịch sử đã sang trang!”
Nếu có một sư đoàn bộ binh “phản loạn” bao vây Tòa Đại Sứ Mỹ, nghênh súng phòng không hạ trực thăng Mỹ, không cho đáp xuống, liệu lịch sử có sang trang dễ dàng?

TRUYỆN NGHE KỂ SAU 30-4-1975
Lịch sử thường làm nên bằng những bất ngờ. Lịch sử còn đãi ngộ những kẻ có duyên và hờ hững với những kẻ vô duyên. Người vô duyên nhất trong lịch sử hiện đại là cụ Nguyễn Hải Thần. ông Lý Thành Cầu, đại tá tình báo của quân đoàn Lư Hán, người đã theo tướng Tiêu Văn sang Việt Nam tước võ khí Nhật ở miền Bắc, người đã dẫn dắt Hồ Chí Minh gặp Tiêu Văn để hối lộ vàng cho Tiêu Văn rút Tầu phù về nước, khi vào tù cộng sản* , kể cho Doãn Quốc Sĩ, Hoàng Mạnh Hùng và tôi nghe rằng:
– Cụ Nguyễn Hải Thần làm thơ chữ Hán trác tuyệt, hay gấp bội thơ chữ Hán của cụ Hồ Chí Minh. Cụ mê thơ quên đại sự. Thống chế Tưởng Giới Thạch kính trọng cụ Nguyễn lắm, nhưng bận việc nước non, rất hiếm dịp tiếp cụ Nguyễn và nếu có dịp, chỉ tiếp được 15 phút. Cụ Nguyễn gặp Tưởng không bàn chuyện cứu nước, mà cứ khoe thơ, bình thơ mãi hết thì giờ.
Đó là nỗi vô duyên thứ nhất của cụ Nguyễn Hải Thần. Nỗi vô duyên thứ hai được nhà văn Trúc Sĩ, tác giả Kẽm trống khá hay, người đã tham dự ngày tổng khởi nghĩa 19-8-1945 tại vườn hoa Ba Đình, Hà Nội kể lại trong trường thiên tiểu thuyết Thét hận* . Theo Trúc Sĩ, cụ Nguyễn Hải Thần bôn ba sang Tầu trước Lý Đông A có vài năm mà cụ nói tiếng Việt không sõi nữa. Vì cụ ấp úng “tồng pào thân mến” nên Trần Huy Liệu mới dám vỗ vai cụ, mời cụ xuống đểà thao túng diễn đàn. Và quốc gia bị cộng sản chế ngự. Cộng sản cướp luôn công lao chiến đấu giành độc lập của các đảng phái quốc gia. Nỗi vô duyên thứ hai của cụ Nguyễn Hải Thần xứng đáng là bài học quý giá cho những ai mưu đo chuyện phục quốc, cho thế hệ trẻ trưởng thành tại quê người.
Vì vô duyên với lịch sử, cụ Nguyễn còn bị cộng sản ghép vào bộ ba bán nước Tam Thần Sâm (Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn văn Sâm) và nhục mạ cụ bằng bài hát:
          Nguyễn Hải Thần.
          Nguyễn Hải Thần ông ơi,
          ông ra đi từ 21. 22
          ông ra đi sang nước Tầu buôn sái
          vì sái thơm ông hy sinh cả một đời…
Và nhái ca dao Thằng Bờm:
          Thằng Thần có cái Việt Nam
          thực dân gạ đổi ngai vàng nhà vua
          Thần rằng Thần chung lấy vua
          thực dân gạ đổi ba cô nàng hầu…
          ……..
          thực dân gạ đổi cơm đen Thần cười…
Người có duyên, dù thù hận cách mấy, dù không ưa một tí ti ông lão nào cả, người ta vẫn phải công nhận ông ta có duyên với lịch sử, là Hồ Chí Minh. Bất ngờ, về nước năm 1945, ông Hồ Chí Minh lơ thơ vài sợi râu. Và ông ta được suy tôn là “cha già dân tộc”, một cách lãng xẹt. Nguyễn Thanh Trịnh, nhà văn trẻ của tuần báo Tuổi Ngọc kể với tôi rằng, đã gặp Nguyễn Đình Thi, đã chất vấn bộ râu của “Bác Hồ” và được trả lời:
– Râu của Bác là cái may và còn là cái không may. Nếu 54 tuổi, cằm bác nhẵn thín, lịch sử đã có khúc rẽ:
Nguyễn Đình Thi không dám “diễn nghĩa”… cụ thể về mấy sợi râu lơ thơ tơ liễu buông mành của ông Hồ Chí Minh năm 1945. Cái may của ông Hồ nhờ râu. Cái không may của dân tộc vì râu của ông ta. ông Hồ Chí Minh khôn lỏi. Bí danh cuối cùng của ông chọn làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã chứng tỏ ông ta toan tính kỹ lưỡng. âm nhạc có bảy nốt. Hồ Chí Minh chiếm ba nốt êm ái. Hồ Chí Minh muôn năm thì ông ta chiếm 4 nốt. Mà Bác Hồ Chí Minh muôn năm là 5 nốt. Tình tính tinh: Hồ Chí Minh. ông Hồ Chí Minh đã đi giép râu, mặc quần áo đại cán, cầm que điều khiển giàn nhạc đại hòa tấu chơi bài Kết đoàn, có vẻ như ông ta rành âm nhạc. Ông ta gây dễ dàng cho các nhạc nô suy tôn ông và gây khó khăn cho các nhạc nô muốn suy tôn lãnh tụ kế nghiệp và lãnh tụ đối nghịch. Thí dụ: Tôn Đức Thắng, Đặng Xuân Khu, Lê Đức Thọ, Ngô Đình Diệm, Nguyễn văn Thiệu… Ti tì tị: Ngô Đình Diệm. Nghe không du dương. Tí ti tị: Nguyễn văn Thiệu. Càng chói lỗ tai. Tì tí ti: Hồ Chí Minh. Mê ly như hờ ly rút tinh tủy? Thế là ông Hồ Chí Minh có hàng trăm bài suy tôn công đức và sự nghiệp. ông ta xứng biệt danh Cáo Già.
Vì khôn lỏi, ông ta cố tình cấy râu ớ có râu lơ thơ. Nhờ râu lơ thơ, ông ta tự nhận mình là “cha già dân tộc,” là “Bác Hồ,” là “Cụ Hồ”. Cả nước gọi ông bằng Bác, bằng Cụ. ông ta, chó ngáp phải… râu, trở thành bác của nam phụ lão ấu? Nếu 1945 về nước “cướp chính quyền”, ông Hồ Chí Minh không có râu, ông ta sẽ bị miệt thị:
       Đàn ông không râu bất nghì
       Đàn bà không vú lấy gì nuôi con…
Ông ta chẳng bao giờ dám trơ trẽn để cho văn nô, thi nô, nhạc nô ví mình như “cha già dân tộc,” như Bác của nam phụ lão ấu, như Cụ… trong dân! Lịch sử đã có khúc rẽ. Ôi, vì vài sợi râu lơ thơ mà ông Hồ Chí Minh có duyên với lịch sử. Sự có duyên của ông ta đã khiến dân tộc đói khổ, ngu dốt, lạc hậu, thù hận, tù đầy. Và đó là trớ trêu của lịch sử. “Với một chữ nếu, người ta có thể bỏ Paris vào trong cái chai.” Nếu cụ Nguyễn Hải Thần nói giỏi tiếng Việt, Việt Minh đi về đâu từ 1 945? Nếu ông Hồ Chí Minh vô tù, dân tộc Việt Nam đi về đâu? Chắc chắn, không đi vào quỹ đạo cộng sản.
Đừng tưởng lịch sử sáng suốt. Lịch sử đã mù lòa chọn kẻ có duyên Hồ Chí Minh mà đãi ngộ. Nói cho hợp lý, muốn lịch sử mù lòa, những kẻ âm mưu lãnh tụ cần tua tủa thủ đoạn và biết hóa trang. Hồ Chí Minh chính là một trong những kẻ đó. Nhưng lịch sử không chỉ đãi ngộ những kẻ có duyên mà còn đãi ngộ những kẻ liều lĩnh đúng thời. Nguyễn Nhạc là biểu tượng của những kẻ liều lĩnh đúng thời. Kẻ phóng đãng đất Bình Khê, nhờ liều lĩnh mà dẫn lối cách mạng Tây Sơn để Nguyễn Huệ* mở đường đi tuyệt vời cho dân tộc. Nếu Nguyễn Nhạc không liều lĩnh, có nhà Tây Sơn không? Và nếu Nguyễn Nhạc không phóng đãng, Nguyễn Nhạc là Biện Nhạc hiền lành, có nhà Tây Sơn không?

° ° °

Ông Đinh Xuân Cầu, tác giả Bên kia Bến Hải và Đôi kính, kể với tôi rằng:
-Lịch sử có thể thay đổi bằng một cú chơi bạo cuối cùng. Những người chống cộng quyết liệt đã vận động xong một sự hợp tác với một tiều đoàn nhẩy dù. Tiểu đoàn dù sẽ bao vây Toà Đại Sứ Mỹ, sẽ nhắm trực thăng mà hạ. Trực thăng không đáp xuống được đểà cứu ông đại sứ thì thủy quân lục chiến Mỹ phải đổ bộ vào cứu. Chúng ta lợi dụng cơ hội này hô hào chiến đấu vì Mỹ lại can thiệp thì quân đội sẽ lên tinh thần. Kế hoạch định vào sáng 30-4. Bất ngờ, 30-4, Dương văn Minh ban lịnh giới nghiêm. Quý vị đầu não của kế hoạch nản lòng, nằm nhà thở dài. Thế là lịch sử sang trang!
Cú chơi bạo cuối cùng sẽ ngoạn mục lắm. Người ta có thể mường tượng ra phản ứng của Mỹ. Nhất định, Thủy quân lục chiên Mỹ sẽ can thiệp. Chúng ta bắt Mỹ phải chơi trò chơi do chúng ta bầy ra. Chúng ta không cho “Mỹ cút”. “Mỹ đã trở lại.” Chỉ cần bốn tiếng đó cho một khoảnh khắc thế sự. Là có thay đổi lòng người. Là sẽ thay đổi mọi mặt. Nhưng vì thiếu liều lĩnh cần thiết, vì hèn nhát, những kẻ định níu kéo lịch sử đã nản lòng. Và lịch sử lạnh lùng sang trang như sự lạnh lùng của tuyên bố Ford. Và chúng ta có những khuôn mặt méo mó di tản hụt, từ nóc Tòa Đại Sứ Mỹ mò mẫm xuống sân, lếch thếch trên đường về…

Chuyện Xóm Tôi

Đỗ Trường 01/07/2019

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

Ảnh minh họa

Phần 1: Cuộc Gặp Bất Ngờ.

Trung tuần tháng sáu, cái nắng đã kéo nhiệt độ ngoài trời lên đến gần ba mươi độ. Praha như được dát vàng một màu, dưới bầu trời cao xanh thăm thẳm. Họa sỹ Quốc Việt mới từ Việt Nam sang nhìn hàn thử biểu giữa Quảng trường Con ngựa, cười tươi, hỏi bâng quơ: Kỳ lạ, ba mươi độ đi bộ giữa trời, mà gió cứ mát rười rượi ấy nhỉ? Đứng cạnh, nhưng tôi không trả lời, để anh tự cảm nhận. Rồi đưa anh một vòng quanh trung tâm thành phố. Trời đã về chiều, ánh nắng vẫn còn hắt ngược lên từ phía bên kia của con sông Vltava. Mới có mấy ngày, vậy mà dường như họa sĩ Quốc Việt đã nhớ đến quê nhà. Do vậy, sau khi tự xoa gối, bóp chân, anh bảo: Mình kiếm chỗ nào có không khí Việt, nhấc lên nhấc xuống tí ti cho khí thế. Vậy thì, chỉ có vào chợ Sapa thôi. Tôi trả lời anh như vậy. Quốc Việt đứng thẳng dậy, dù chân còn chút khập khiễng, vẫn: Nào ta đi.

Tôi không khoái lắm cái món ồn ào nơi đông người, nên rất ít khi vào khu chợ người Việt. Quốc Việt cũng không phải là người của rượu bia, có lẽ muốn vào cho đỡ nhớ quê, món ăn quê và để biết vậy thôi. Chả trách, mấy năm trước đây ông bạn bác sĩ Viên Văn Đoan, Trưởng khoa khám bệnh, Bệnh viện Bạch Mai, và vợ chồng Nguyễn Lân Việt, Hiệu trưởng Đại học Y khoa Hà Nội sang München dự hội nghị tim mạch thế giới có mấy ngày thôi. Vậy mà bố nào bố nấy Vali đầy mì tôm, cùng đồ ăn mắm muối tỏi hành. Như thể gói cả hương hồn Việt mang theo vậy. Cũng may, cạnh khách sạn có cái quán cơm phở mở từ sáng cho đến đêm của vợ chồng Dũng Yến, cũng bạn tôi. Vậy là, các bác sĩ, hội nghị viên không phải dùng đến cái khoản mì tôm. Hôm tôi sang, các bố chất cả mì tôm vào cốp xe của tôi, bảo: Ngon, quí lắm đấy, mang về ăn dần nhé…Khổ cái thân tôi mang về cũng dở, vứt đi thì tiếc. Bởi, cái món này, tôi cứ động vào là bị lão Tào rượt đuổi. Do vậy, cái tâm trạng của họa sĩ Quốc Việt có thể hiểu, và cảm thông. Bởi, cũng giống như mấy gã bác sĩ đi dự hội nghị, hay tâm lý ngày đầu đến Đức của tôi, từ trên ba chục năm trước vậy. Nên tôi chiều anh.

Chợ Sapa chiều tối, quán, nhà hàng, người ngồi ăn nhậu khá đông. Không khí y hệt nơi quê nhà làm Quốc Việt hứng khởi. Giữa trời Âu mà có không gian này, thật là tuyệt vời, Quốc Việt cứ lẩm bẩm, lẩm bẩm. Tôi ghé tai, sống lâu ở nơi đây, bác sẽ chán ngấy cái không khí này thôi. Quốc Việt im lặng. Anh không uống được nhiều. Tôi phải lái xe, nên chỉ giật cầm chừng vài vại nhỏ, rồi chuyển sang bia không độ cồn. Chán phè, tôi giục Quốc Việt cạn nhanh, rồi đi tìm mua mấy cái quần shorts để thay, bởi quần dài, áo hộp bí bức qúa rồi.

Tôi đang lúi húi ướm thử quần, bởi dường như nhãn mác, số cỡ dán đều đểu cả, chợt gã bán hàng gọi như reo lên: Anh Trường…Trường Độ. (Độ tên mẹ tôi)

Giữa trời tây, có kẻ réo đúng tên cúng cơm làm tôi giật cả mình, ngẩng đầu lên. Nhìn hắn một lúc, tôi cũng thốt lên: Tiến…Tiến Vân (Vân tên mẹ Tiến). Hắn ôm chặt lấy tôi, vậy là ba mươi mấy năm rồi, anh em mình vẫn còn nhận ra nhau. Tiến bằng tuổi em gái út tôi. Khi tôi sang Đức hắn và em tôi đang học cùng Trường cấp ba Lê Qúi Đôn ở Xã Đàn. Nhà tôi số 124 Đê La Thành (Ô Chợ Dừa) bên kia mặt đê là nhà Tiến…

Nhớ trước hôm sang Đức mấy tháng, tôi vừa chở một mớ đầu máy khâu từ Hải Phòng về, nghe tiếng bà Vân quát mắng Tiến ầm ĩ… Xóm Trại Tóc, với Trại Nhãn đồng nát, ve chai này, đánh chửi, đâm chém nhau là chuyện thường. Nếu có can ngăn, thì can ngăn cả ngày. Nhưng Tiến lớn lên và cùng học với em tôi, nên tôi lò dò sang. Thấy tôi, bà Vân ngừng chửi. Tiến nằm úp mặt vào tường. Tôi mấy lần lay hỏi, hắn vẫn không trả lời. Tiếng bà Vân rít lên trong kẽ chân răng:

– Cháu xem, nó có chịu học hành gì đâu, đến trường toàn tụ tập đánh nhau. Nhà trường gọi cô đến, thông báo sẽ đuổi học đấy.

– Sẽ đuổi, tức là chưa có quyết định đuổi phải không ạ?

– Vậy là người ta đuổi rồi chứ còn gì nữa hả cháu.

– Thôi cô cứ bình tĩnh, đừng mắng chửi nó nữa. Cháu vào trường hỏi xem thế nào đã.

Tôi quen cô Hạnh từ gã bạn Viên Văn Đoan, bác sĩ ở Bệnh viện Bạch Mai. Cô Hạnh ở Láng, dạy văn ở Trường trung học Lê Qúi Đôn. Năm ấy, cô cũng gần đến tuổi về hưu. Từ cô, tôi cũng quen nhiều thày cô ở trường Lê Qúi Đôn. Bởi, với đồng lương chết đói, ngày đó, ai cũng phải tìm thêm việc làm. Nghề may gia công thích hợp với mọi gia đình, nhất là các thày cô giáo. Do vậy, các thày cô hay nhờ tôi mua bán, sửa chữa máy khâu khi cần. Hơn nữa, các thày cô ở trường quí và thân thiết với tôi, bởi cái gã buôn lậu máy khâu như tôi, động đến văn học sử, cái chó gì cũng biết. Khi hứng lên, chuyện trò, hoặc tranh luận, đôi lúc các thày cô bị hạt bí, cười kết thúc bằng câu: Thằng ranh ma.

Khi tôi đến, cô Hạnh đang lững thững dắt xe ra cổng. Nhìn thấy tôi, cô cười, sao hôm nay rảnh rỗi thế này? Tôi hỏi cô về sự việc của Tiến. Cô trả lời, không chủ nhiệm lớp Tiến, nên không biết cụ thể thế nào. Tuy nhiên, cô dẫn tôi vào phòng giáo vụ. Cũng may, mấy thày cô ở đó, đều dính vào may hàng gia công, liên quan đến máy khâu, chỗ tôi quen cả, nên vui vẻ cho biết: Vụ việc không nghiêm trọng, nhưng xảy ra nhiều lần, từ mâu thuẫn của các khu, nhóm học sinh. Nhà trường nhiều lần nhắc nhở, cảnh cáo, song không hề chuyển biến. Tôi nhắc lại hoàn cảnh khó khăn của gia đình Tiến, mong các thày cô giúp em được tiếp tục học hành. Nghe bùi tai, các thày cô hứa sẽ giúp… Lúc tôi ra về, các thày bảo, Tiến và gia đình nên làm bản cam đoan, không để sự việc tiếp diễn, để nhà trường có cơ sở xử lý, kỷ luật. Và nhắc Tiến cứ đi học bình thường.

Tôi về, nói lại với Tiến và bà Vân. Bà mừng lắm: Thế cháu viết giúp cho cô và em bản cam kết nhé!

Tôi chuồn sang Đức được mấy năm, mẹ tôi chuyển về ở đường Tàu Bay. Hơn ba chục năm lưu lạc trời Âu, tôi chỉ về nước khi mẹ mất, và lúc sang cát. Và lần gần đây nhất, năm 2015 về Hà Nội được hơn một tuần, tôi buộc phải rời khỏi Việt Nam. Do vậy, tôi không có thời gian trở về cái xóm đồng nát, ve chai, dù ngôi nhà của chúng tôi chưa hề đổi chủ. Cái xóm, nghe tên, tưởng chừng ai cũng phải kinh sợ ấy, gắn liền với một phần tuổi thơ, và sự trưởng thành của tôi thực sự rất ấm tình người. Trải qua bao biến động, với những mở đường, qui hoạch bát nháo, vô tội vạ, song rất may mắn xóm tôi, người xóm tôi vẫn còn đó…

Tiếng hỏi của khách mua hàng cắt ngang dòng hồi tưởng của Tiến và tôi. Chọn được chiếc quần vừa khít cho họa sĩ Quốc Việt, tôi bảo Tiến: Cứ việc chăm sóc khách hàng. Anh phải đưa Quốc Việt về khách sạn, rồi sẽ quay lại ngay. Bởi, sáng mai anh Quốc Việt đi Wien sớm. Tiến cười khà khà, kiểu gì em cũng chờ anh.

Khi tôi quay lại, thành phố đã lên đèn. Các quầy hàng hầu như đã đóng cửa. Chỉ các quán ăn vẫn còn khí thế, tưng bừng. Tiến đứng chờ tôi ở ngay cửa kho. Vừa xuống xe, hắn đã kéo tôi vào một nhà hàng ngay trước mặt, khá đông khách và ồn ào. Tôi bảo, tuổi này ăn uống cũng phải nhìn trước ngó sau rồi, tốt nhất em kiếm chỗ nào yên tĩnh một chút, anh em mình còn chuyện trò được. Tiến vòng ra sau, đưa tôi vào Hồ Sen Quán. Ngoài balkon khá đông khách, nhưng bên trong Hồ Sen Quán còn một khu có khoảng không khá tĩnh lặng. Ngồi vào bàn, chợt làm tôi nhớ đến mấy năm trước. Cũng nơi này, rượu bia đã tưng tửng, nhà thơ Trần Mạnh Hảo (Saigon) và nhà văn Trần Ngọc Tuấn (Praha) đọc thơ cứ như lên đồng vậy. Các thính giả sồn sồn nhập tâm, khoái cười cứ phe phé. Còn các cháu ú ớ tiếng Việt thụt ra, thụt vào ở cửa sau, cứ ngỡ hai bác đang lên cơn động kinh. Tôi ngồi nghe, quả thực, phục trí nhớ của hai ông nhà thơ, nhà văn này.

Vừa ngồi, chưa kịp gọi đồ nhậu, Tiến đã ực liền tù tì mấy ly rượu mạnh kèm bia. Nhìn kiểu uống, tôi biết tửu lượng hắn vào dạng cao thủ. Tôi bảo, chơi kiểu này, chút nữa làm sao về. Hắn cười: Không được, thì Taxi thôi. Mấy khi anh em mình có dịp như thế này.

Rượu vào lời ra, nhắc lại với nhau những kỷ niệm về gia đình, xóm giềng, làm cho tôi, một kẻ đường trở về nhà, về quê cứ còn xa vời vợi, càng thêm buồn, đành phải cắt ngang câu chuyện:

-Này Tiến, em có gian hàng ở chợ Sapa này từ khi nào vậy?

Tiến cười:

-Trước đây là của em. Nhưng từ ngày lấy bà vợ hai, và chuyển về Decín vùng biên Séc – Đức, em cho vợ chồng cháu gái đầu anh ạ.

-Đường tơ của thằng em giăng cũng dầy ra phết đấy nhỉ! Thế thì bà vợ cả đâu? Tôi cười đùa, ngạc nhiên và hỏi.

-Bị bệnh mất lâu rồi. Hạ (tên vợ em) mất được mấy năm, em mới lấy vợ khác. Tuần này, vợ chồng cháu đi nghỉ hè, em về trông hàng giúp nó thôi.

-Em có mấy cháu với Hạ?

Tiến ngập ngừng, hai mắt chớp chớp, nhìn ra khoảng trống trước mặt:

-Thật ra, cháu gái đầu không phải con ruột của em. Với Hạ, em chỉ có một cháu trai, hiện đang học năm cuối Đại học kỹ thuật Praha.

– Nghĩa là trước em, Hạ đã có một đời chồng?

Không trả lời tôi ngay, mặt hắn chùng xuống, cục yết hầu căng lên, lăn đi lăn lại. Hắn lắc lắc cái đầu cho xuôi cục nước, dường như đang chẹn ngang họng:

-Không phải! Chúng em quen, yêu nhau từ thuở trung học. Hạ là em họ bên vợ của Nguyễn Đức Thịnh cảnh sát khu vực, thuộc tổ khối nhà mình. Sau vụ ôm thằng giựt lựu đạn liều chết trong xóm, Thịnh được phong anh hùng, lên Trưởng công an phường Ô Chợ Dừa. Mấy năm sau, không rõ dính vào vụ gì, Thịnh bị tước quân tịch đuổi về địa phương. Chắc anh còn nhớ?

-Nguyễn Đức Thịnh thì nhớ. Còn sự việc Hạ thế nào, em có thể nói rõ hơn chăng?

-Quá khứ, và nỗi đau đã chôn vùi từ mấy chục năm trước. Nếu anh muốn biết, thì sự việc phải khơi lại từ đầu…

Qúa nửa đêm, máy bay đáp xuống phi trường Moscow. Nhóm người vượt biên dưới danh nghĩa tham dự Hội chợ nông nghiệp đang ngáo ngơ nơi cửa ra, chiếc xe thùng từ đâu trờ tới. Một gã trung niên dáng vẻ trí thức, cử chỉ nhã nhặn mở cửa xe, mời mọi người lên. Xe quay đầu, lao nhanh về phía ngoại ô. Tháng 4, trời chớm bước sang hạ. Cỏ cây cựa mình thức dậy, trải một màu xanh ngút tầm mắt người. Con đường cứ thấy dài hun hút, gục đầu vào vai Tiến, bất chợt nghĩ đến căn nhà bố mẹ thế chấp, đặt cược cho chuyến đi làm Hạ rùng mình.

Xe dừng lại trước cửa căn nhà cuối cùng của ngôi làng nhỏ. Nơi đây khá đẹp và yên tĩnh. Có lẽ, nghe tiếng xe, người đàn bà tập tễnh ra mở cửa. Căn nhà cũ, nhưng khá sạch sẽ. Trước khi vào nhà, gã đàn ông thu tất cả hộ chiếu và bảo:

-Công đoạn và trách nhiệm đưa người sang đến Nga của chúng tôi đã xong. Còn đến Ukraine và Slowakia thuộc đường dây khác. Tất nhiên, chúng tôi sẽ lo ăn uống, nhà cửa đến khi nào có xe đến đón mọi người.

Đêm đầu, chẳng ai ngủ được, quây quần cả bên chị cụt chân. Trò chuyện mới biết chị tên Dung quê ở Thanh Hóa. Đất đai, ruộng vườn nhà chị bị thu hồi để làm nhà máy xi măng, hay phân bón gì đó. Tiền đền bù rẻ như bèo, việc làm không có, chị đành tạm biệt chồng con tìm đường xuất ngoại. Chị ngập ngừng kể trong nước nước mắt. Chị sang Nga vào mùa đông. Một mùa đông có thể rét nhất châu Âu từ mấy chục năm qua. Con đường vượt qua rừng tuyết, suối tuyết, rồi đến những đồng tuyết từ Ukraine sang biên giới Slowakia kéo dài đến mấy tuần. Lạnh đến nỗi chân chị không còn cảm giác. Vậy mà, vào đến biên giới Slowakia, bị lính biên phòng phát hiện, truy đuổi. Chị và một số người bị bắt. Khi đưa chị đi khám, bác sĩ mới phát hiện một bàn chân của chị đã bị đóng đá. Họ buộc phải lập tức cắt bỏ. Ở bệnh viện nghỉ ngơi, an dưỡng, tập đi một thời gian, chị bị trục xuất trở lại Ukraine, rồi về đến Nga. Con đường chết chị đã tìm đến, nhưng không hiểu sao chị vẫn sống. Đang lúc nửa sống, nửa chết như vậy, chị gặp được một người cùng làng, cựu du học sinh. Gã tận tình giúp, và gửi chị cho đường dây quen biết này. Công việc của chị nấu nướng, giặt giũ, vệ sinh dọn dẹp và tập luyện phục chờ đến hè nắng ấm. Tiệp, Đức vẫn là nơi đến của chị…

Mấy chục con người được lùa vào chiếc xe thùng kín mít. Ngày cũng như đêm xe chạy không ngừng nghỉ. Khi đến được vùng biên Ukraine và Slowakia, to khỏe như Tiến mà mặt cũng xanh như đít nhái, cắt không ra giọt máu. Phụ nữ trên xe dường như chỉ còn thoi thóp thở. Sức khỏe có thể hồi phục sau vài ngày nghỉ ngơi. Nhưng điều kinh sợ hơn đối với những thân phận khốn khổ đang trốn chạy trước sự đểu cáng, tàn nhẫn của kẻ dẫn đường có cùng chung một giống nòi và quê hương. Đã được chị Dung cụt, và những người đi trước cảnh báo sự nguy hiểm của chặng đường này. Do vậy, cũng như những người đồng hành, Tiến và Hạ luôn trong tâm trạng phập phồng, lo sợ.

Tháng 5, màn đêm buông xuống dường như chậm hơn. Giữa rừng già, trời không khô nóng như ở nơi quê nhà, song mấy chục con người lèn trong một căn nhà, thì quả thực vô cùng ngột ngạt. Đàn ông, con trai nằm tràn cả ra hành lang và khoảng sân trước cửa. Gần sáng, trời dịu mát, tất cả chìm sâu vào trong giấc ngủ… Bất chợt, tiếng kêu thét của Hạ, và mấy cô gái trẻ làm cho Tiến mọi người giật mình, bật dậy. Trời còn tối, loang loáng dưới ánh đèn Pin, Tiến nhìn thấy, cửa sau đã bị bật mở. Bốn, năm thằng đang ghì kéo Hạ và hai cô gái bên cạnh.

-Các ông làm gì thế này? Tiếng ai đó giật hỏi.

– Đưa đi phục vụ sếp.

– Các ông là người dẫn đường, hay kẻ cướp hiếp dâm?

Nói hết câu, Tiến trườn lên, giật Hạ ra khỏi tay gã cầm đèn Pin. Gã xoay người đạp mạnh. Bị trúng bụng Tiến ngã đè lên mấy người nằm phía sau. Chưa cảm thấy đau, Tiến vùng dậy, lao thẳng vào. Gã cầm đèn bị ngã bổ ngửa ra phía sau, làm chiếc đèn Pin văng trúng vào mặt tên đứng bên cạnh. Bị đau, hắn vội thả tay cô gái, ôm mặt, ngồi thụp xuống. Gã cầm đèn bò dậy, vừa rút súng trong bụng, Tiến cua được cái then gài cửa quật đúng vào tay. Súng rơi xuống đất. Ba, bốn tên đồng bọn đều rút súng chĩa thẳng vào Tiến, và mấy người đứng cạnh. Thấy vậy, mọi người đều bỏ chạy ra rừng, chỉ còn lại Hạ và hai cô gái. Tiến không bị bắn chết, nhưng gẫy mất mấy cái xương sườn, sau một trận trả thù hội đồng, trong tiếng khóc van xin của Hạ…

Trời sáng hẳn, mọi người mới quay trở về. Trong nhà chỉ còn mình Tiến nằm bất động ở cửa sau. Được mọi người chăm sóc, lúc sau Tiến đã tỉnh lại. Với những vết thương này, Tiến không thể bình phục trong vài ba tháng tới. Vậy là con đường đi của Tiến càng kéo dài thêm. Tuy nhiên, với Tiến lúc này, không phải sức khỏe của mình, mà thân thể bị giày vò, tâm hồn đau đớn của Hạ mới là quan trọng nhất.

Đến trưa, chúng chở thực phẩm cùng Hạ và hai cô gái về. Nhìn các cô tơi tả, rũ như tàu lá, ai cũng thương cảm. Và như không có việc gì xảy ra, lũ đầu trâu mặt ngựa thảy mấy hộp thuốc giảm đau vào người Tiến:

-Mày chưa chết được đâu. Uống đi cho mau lành, nhắm mắt lại, đừng làm những chuyện bao đồng, dại dột nữa. Gia đình đang trông ngóng mày đấy…

Hạ buộc phải ở lại phục vụ bọn đầu trâu mặt ngựa, và chăm sóc Tiến. Để vượt qua được nỗi đau, sự tủi nhục ấy, quả thật nhiều lúc tưởng như quá sức chịu đựng của họ. Khi khỏe trở lại, Tiến có ý định trả thù, song đều bị Hạ can ngăn. Mùa thu năm ấy, Hạ và Tiến được bọn chúng bố trí vượt vào Slowakei, rồi đến Praha trót lọt.

Tiến không bất ngờ, khi bác sĩ thông báo Hạ đã mang thai. Và cái thai quá lớn không thể nạo bỏ. Không loại bỏ được mầm sống này, nghĩa là nỗi đau, nỗi ám ánh mãi mãi không thể cắt bỏ trong lòng Tiến cũng như Hạ.

Ra đi, hay ở lại với Hạ? Tuy không nói ra, song sự mâu thuẫn luôn day dứt trong lòng Tiến. Rồi tiếng trống tựu trường, với những kỷ niệm thuở học trò hồn nhiên và bao dung đã kéo Tiến ở lại với Hạ.

Mấy chục năm từ làm thuê cho đến tự hàng nghề, Tiến và Hạ mới có cơ ngơi như ngày nay…

Hồ Sen Quán dường như đã đến giờ đóng cửa, tôi buộc cắt ngang dòng suy nghĩ của Tiến:

-Anh phục tấm lòng độ lượng, bao dung của thằng em!

Tiến nói như thể phân bua:

-Cũng không hẳn như vậy đâu. Khi Hạ đột ngột bị bệnh mất, em mới nhận ra, quyết định của mình là đúng. Và sự bao dung, yêu mến hết lòng của em với cháu đầu, chỉ từ khi Hạ mất. Trước đây, mỗi lần chỉ cần va chạm nhỏ với Hạ, nhìn thấy cháu, trong lòng em lại nhói lên, chỉ muốn đạp đổ tất cả, rồi ra đi anh ạ…

Đêm muộn, vậy mà ngoài kia trời vẫn còn sáng đục. Dường như, có một vệt nắng cuối ngày không chịu tắt, còn nằm vắt qua bầu trời. Như một sự đồng cảm, tôi đứng dậy, bóp nhẹ vào vai Tiến để ra xe:

-Anh tin, những mâu thuẫn trong nội tâm của em về người đàn bà mà mình yêu thương. Đó là suy nghĩ rất thực của mỗi một con người, trong một cái xã hội đầy rẫy những bon chen, tính toán và lọc lừa này. Anh nghĩ, có rất ít thằng đàn ông vượt qua được những định kiến, rào cản, để làm được như em.

Leipzig ngày 30-6-2019

Đỗ trường

Cái Bẫy

Đỗ Trường

08/08/2019

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

Đã lâu lắm rồi, châu Âu mới có một mùa hè nắng và nóng đến vậy. Trời đã vào đêm, vậy mà dường như, hơi nước bốc lên từ con đường Beton vẫn còn những vệt mờ mờ xuyên qua khung cửa kính trước mặt. Cửa ra của sân bay Leipzig đã vắng người. Nguyễn Bình An có vẻ sốt ruột, kiễng chân, nhoài người, nhòm vào phía trong, văng tục:

-Thằng bỏ mẹ này, có lẽ mang hàng lậu, tiền bẩn bị Hải quan, Công an tóm cổ lại thật rồi.

Từ phía sau, tôi nói vọng lên trấn an:

-Nếu quả vậy, thì nó đã bị tóm ở phi trường Paris, London, chứ đâu đến lượt cái sân bay tỉnh lẻ này. Cái loại quái thai, quyền lực nghiêng ngả, lắm của, nhiều tiền như nó, thiếu gì kẻ đóng thay chết thế. Tội gì, nó phải làm như vậy.

An quay lại, ngồi xuống cạnh tôi lẩm bẩm:

-Thằng này, đâu chỉ có mấy cái tội đó. Những mưu mô, cạm bẫy, bè phái tranh giành quyền lực, bòn rút ngân khố, dẫn đến kẻ thù của nó ở khắp mọi nơi. Nhiều khi biển khơi sóng lớn vô can, nhưng lại chết ngay ở cái ao tù nhỏ bé đấy. Và sự quả báo cũng muôn hình vạn trạng, sớm muộn khác nhau mà thôi.

Gã bạn này của An chức tước không lớn lắm, tên tuổi cứ khuất lẫn ở đâu đó, nhưng ở vị trí đắc địa, có quyền sinh sát. Do vậy, uy thế vây cánh chìm nổi rải khắp nước, dẫn đến bổng lộc, múc máy được nhiều. Nếu An không bị thu giấy phép lái xe mấy tháng, vì can tội bia rượu, thì có lẽ hắn không nhờ tôi lái xe ra sân bay. Bởi, hắn biết, tôi rất kỵ những thành phần này.

Ngước mắt nhìn, thấy An tần ngần định nói tiếp, tôi bảo:

-Thành phần này, ông nghĩ làm quái gì cho nhức đầu. Thằng nào bị bắt, bị làm thịt thì sạch sẽ xã hội chừng đó.

An trừng mắt nhìn tôi, rồi đột nhiên giọng chùng xuống:

-Dù nó đã trở thành kẻ nào đi chăng nữa, thì tình bạn của tôi vẫn vậy. Tuổi thơ của chúng tôi cùng trải qua những ngày đánh bi, đánh đáo. Rồi lớn lên với những tháng năm đói khát ở Trường An Ninh. Có lẽ, tình bạn của tôi vẫn ở lại với nó bởi những hoài niệm ấy…

***

Nguyễn Bình An sống tình cảm, có tính hòa đồng cảm thông, do vậy dường như ngành an ninh, cảnh sát không hợp với hắn. Vào năm 1983, An được làm tổ trưởng liên ngành đi tịch thu tài sản của người dân ở Hà Nội, theo cái chỉ thị quái đản Z30. Lúc đầu hắn rất hăm hở. Mấy ngày sau, thấy sự chán chường hiện trên khuôn mặt, và hắn còn cho đó là sự sỉ nhục. Buổi tối cuối tuần, An đã ngắc ngư ở đâu đó, rồi thất thểu đi bộ tìm tôi. Thấy lạ, tôi hỏi: Xe pháo đâu, mà rũ rượi như thế này? Hắn không trả lời, ngoắc tay, rủ đi uống tiếp.

An không phải là đệ tử lưu linh, song chẳng hiểu thế quái nào, hôm nay rượu gạo hắn cứ liên tục nhát một. Sợ hắn đổ kềnh kếnh cang, tôi liền úp cốc, hỏi:

-Việc chó gì, mà tâm trạng bất ổn thế này?

Hắn hất tay tôi, rồi ngửa cốc định rót tiếp:

-Có nói, ông cũng đếch hiểu tâm trạng lúc đó của tôi đâu.

Tôi úp tay vào miệng cốc:

-Khoan rót. Chưa nói, làm sao ông biết, tôi không hiểu. Và dù hiểu, hay không hiểu, thì ông cứ tuôn mẹ nó hết ra, có phải nhẹ nhõm, thanh thản hơn không.

An đặt chai rượu xuống, nhìn tôi với đôi mắt ngân ngấn như có nước, rồi rỉ rả kể:

Sáng hôm qua, tổ tôi nhận lệnh sục vào một quán cà phê ở Quan Thánh. Như có linh cảm, tôi lùi lại đứng vòng ngoài, để thằng tổ phó dẫn quân sục sạo. Lúc sau, nghe có tiếng phụ nữ vật vã van xin: Các anh thông cảm, bao cà phê này là tài sản, vốn liếng cuộc sống của cả gia đình. Các anh lấy đi, chắc chắn mẹ em sẽ chết, bởi không còn tiền thuốc thang…

Lúc đầu, tôi không định vào. Nhưng tiếp đó, nghe tiếng rên rỉ, van xin trong tiếng nấc, tiếng ho của bà cụ, tôi (bị xúc động) chịu không nổi, nên đi vào.

Thật ra, quán cà phê là hiên nhà, thông với phòng khách của gia đình. Trông (bô nhếch) không khác gì quán chè chén của mấy bà bán vỉa hè. Ngách phòng khách có một căn phòng nhỏ tạm bợ, dường như mới được cơi nới. Nơi đó, có một chiếc giường duy nhất dành cho bà cụ đang cơn thập tử nhất sinh. Và bao cà phê hạt chừng bốn chục cân được kéo ra từ gầm giường ấy. Không hiểu sức lực từ đâu, khi tôi vào, thấy bà cụ đang xoay người giơ tay quờ quạng, như muốn túm, níu lại, dù khoảng cách với bao cà phê còn rất xa. Dưới đất, người phụ nữ run rẩy, ngồi chặn trước cửa, mặt cúi gằm xuống. Thằng tổ phó, thấy tôi, hắn lắp bắp gì đó, làm người phụ nữ ngẩng đầu lên, và quay lại. Tôi giật mình, quyển sổ trên tay rơi tuột xuống đất. Lùi lại mấy bước, tôi kêu: Cô Ngọc, cô Ngọc…Rồi như vô thức, tôi quay đầu, định bỏ chạy. Cô Ngọc sững lại một giây, rồi hỏi: An… An đúng không? Em làm gì ở đây? Lúc này, tôi đang muốn tìm cái lỗ nào đó để chui xuống, nên không còn tâm trạng trả lời. Từ xám ngắt, khuôn mặt Cô Ngọc chuyển sang đỏ ửng, và một chút bối rối, rồi đứng phắt dậy: Em đang làm nhiệm vụ phải không? Tôi ấp úng, đứng trước cô vẫn như đứa học trò mắc lỗi bị phạt năm nào.

Cô Ngọc là giáo viên chủ nhiệm mấy năm học cấp 3 ở trường dân tộc nội trú của tôi. Khi chúng tôi sắp đến kỳ thi tốt nghiệp, cô được chuyển về Hà Nội, dạy ở một trường trung học, thuộc ngoại ô thành phố. Tuy là người Hà Nội, song cô rất yêu thương, tận tình dạy bảo và bao dung những thằng học sinh miền núi, tỉnh lẻ như chúng tôi. Khi về Hà Nội học, tôi đã mấy lần đi tìm cô, nhưng do nhầm lẫn địa chỉ, nên không tìm được. Rồi không ngờ bảy năm sau, không tìm mà gặp, trong cái hoàn cảnh cô và trò đều muốn độn thổ này.

Thấy tôi đứng như trời trồng, cô bảo: An cứ tiếp tục làm nhiệm vụ của mình đi. Tôi càng bối rối. Chưa biết xử trí thế nào, thì thằng tổ phó kéo thốc tôi ra ngoài, rỉ tai:

-Hoàn cảnh cô giáo của ông quả thực khó khăn, do vậy, tịch thu (không nỡ), không được, không tịch thu thì càng không được. Bởi, ở đây không chỉ có ông và tôi. Và ngoài kia nữa, còn rất nhiều tai mắt đang rình mò chúng ta. Bây giờ, có lẽ ông không nghĩ được gì đâu. Theo tôi, chỉ còn cách duy nhất, tạm tịch thu nửa bao, gọi là có tang vật. Về gặp sếp, hoặc bằng cách nào đó, ông xin lại, trả cho cô giáo.

Không còn cách nào khác, tôi trở vào nhà, nói với cô Ngọc hướng giải quyết như vậy. Cô cười. Tiếng cười mềm nhũn, như xát muối vào lòng tôi, khi cô cứ xuýt xoa: Làm vậy, có ảnh hưởng gì đến em không…ảnh hưởng gì đến em không… Tôi trả lời: Không, một cách vô thức. Có lẽ, câu trả lời này, cho tôi và cô đỡ ngượng ngùng thôi. Chứ quả thật, tôi chưa biết sự việc sẽ diễn ra như thế nào.

Đầu giờ chiều, dường như sếp vừa ăn nhậu ở đâu đó về, mặt mũi có vẻ tưng bừng lắm. Biết lúc này, tính nết của sếp dễ dãi, mát mẻ nhất, tôi lựa lời trình bày sự việc. Lúc đầu, sếp cứ tưởng chuyện trăng hoa ong bướm, nên cứ gật đầu lia lịa. Khi đến đoạn xin lại tang vật, trả cho khổ chủ sếp giật mình, tỉnh rượu ngay, mắt nhìn tôi trừng trừng: Không được. Việc này, đâu chỉ có ngành an ninh cảnh sát quyết định được. Cái chỉ thị Z 30, nó không chỉ cắt đầu mày, mà nó còn thiến cả đầu của tao nữa đấy. Đừng đùa với lửa trong lúc này.

Rất ngán ngẩm, tôi rời phòng sếp. Nhưng nghĩ đến hoàn cảnh cô giáo Ngọc, và giữ lời hứa của mình, chiều nay, tôi mang chiếc xe đạp (tài sản đáng giá nhất) cắm ở ngoài chợ giời. Cảnh giác, quan sát chắc chắn không có kẻ rình mò, tôi mới dám vào nhà cô Ngọc. Đưa cho cô, tôi bảo đó là tiền bán cà phê.

Tôi ngắt lời An:

-Ông hơi bị nhanh nhẩu đoảng. Bởi, cô Ngọc khó có thể tin đó là tiền bán cà phê.

-Tất nhiên, cô Ngọc không tin. Bởi, cô biết tài sản, tiền bạc đã bị nuốt rồi, thì làm sao mà nhả ra được. Nếu có xin xỏ được, thì làm chó gì nhanh như vậy. Nên cô trả lại tiền. Tuy nhiên, tôi vẫn để lại, rồi chuồn đi uống rượu cho đến bây giờ. Quả thực, nếu tôi không mang tiền đến thì bà cụ nhà cô Ngọc chỉ có con đường chết. Bởi, sau khi khám nhà, tịch thu tài sản, quán cà phê không thể hoạt động. Và nếu có hoạt động, thì khách nào dám đến…

Một tuần sau bữa nhậu chán chường ấy, An không đến tìm tôi. Thấy lạ, tôi đến đơn vị hắn hỏi. Đồng đội của hắn bảo: An bị bệnh đau đầu, chóng mặt cả tuần nay, nhưng bác sĩ chưa tìm ra căn nguyên, hiện đang nằm ở Bệnh viện 198. Nghe xong, bất chợt, tôi bật cười, suýt nữa phát ra thành tiếng: Thằng cha này đóng kịch giỏi. Tiếng cười vô duyên làm gã đồng đội của hắn ngớ cả người, tưởng tôi lên cơn điên. Có lẽ, chẳng phải riêng tôi mong cho hắn nằm viện đâu, mà còn rất nhiều thằng mong như vậy, nhưng với mục đích, chủ ý khác nhau mà thôi. Bởi, cái chức tổ trưởng liên ngành, quyền hành ngang ngửa với những ông đội cải cách ruộng đất ngày xưa. Oai phong béo bở, thơm như mít như vậy, thằng nào chẳng khoái, chẳng nhòm ngó, đang xếp hàng chờ đến lượt…

Thấy tôi thiu thiu gà gật, miệng còn tủm tỉm cười, An huých cùi chỏ vào mạng sườn:

-Ngủ rồi, còn cười cái chó gì nữa.

-Chẳng hiểu thế quái nào, cái thời ông cầm đầu bọn liên ngành đi cướp bóc người dân, trở về luồn vào quấy phá giấc ngủ bù của tôi.

-Tôi cũng đang muốn quên cái thời bi thương và khốn nạn ấy. Tuy nhiên, cũng cần phải cảm ơn nó đã giúp tôi đủ can đảm từ bỏ tất cả, để chuồn sang Đức cày thuê cuốc mướn. Mà này, thằng bỏ mẹ ấy, hình như bây giờ mới bò ra kia…

Nhìn theo hướng tay An chỉ, sau cửa kính thấy một gã thấp đậm, bụng to như đàn bà chửa, làm cho đôi chân ngắn tũn lại, Từ xa nhìn đôi chân khuỳnh khuỳnh chữ bát của hắn đang vạt đi, vạt lại, tôi cứ ngỡ một con cua đang bò.

Tay bắt mặt mừng, vẫn chất giọng sếp từ Việt Nam sang, cứ oang oang như chốn không người. An cười cười bảo tôi: Đây là Trần Văn Tân tức Tân Cháy, nguyên Phó cục trưởng thanh tra thuộc…Tân Cháy xua tay, không để An nói hết: Thôi ông cắt mẹ cái chương trình ấy đi. Rồi Tân Cháy quay sang tôi: Trường, Đỗ Trường phải không? Đã nghe, đã đọc ông. Trông cũng còn ngon ra phết nhỉ.

An hỏi làm gì, mà bây giờ mới mò ra. Tân Cháy bảo, Vali bị thất lạc. Phải trình báo, họ đã tìm thấy. Ngày mai mới đến nơi, họ sẽ chở thẳng đến nhà ông. Mấy thằng Hàng không Đức quả là nhanh và nhiệt tình. Trong lúc làm việc, chúng cứ xin lỗi, cảm ơn liên mồm. Ở Việt Nam ít được nghe, sang đây nghe nhiều những cảm từ này thấy lạ, đôi khi, thấy rách việc ông ạ.

Vừa bước chân lên xe, Tân Cháy đã hỏi:

-Dạo này làm cái quái gì cũng nhọ. Các ông xem có chỗ nào giải đen không?

Tưởng gã hỏi về vấn đề ăn uống kiêng kỵ, đen đỏ, nên tôi trả lời:

-Ở đây làm quái gì có thịt chó mà giải đen.

Gã cười:

-Chó mèo gì, ông nỡm, cái khoản kia kìa!

An bảo:

-Ông không bao giờ bỏ được cái tật ấy. Bây giờ đưa ông đến Nhà Đỏ nhé!

-Nhà Đỏ thì nói làm gì. Phải là những bạch kim, mắt xanh, da trắng ở độ trăng tròn mới đỉnh. Đạn dược không thành vấn đề.

-Thế thì ông về Việt Nam nhé! Ở đây không có. Nếu có, trước sau cảnh sát nó xích cổ ông lại.

-Chả lẽ, ở đây không có hoa tiêu, dẫn mối và bảo kê?

-Tôi không biết, và cũng chưa nghe.

Tân Cháy thở dài:

-Thế thì cuộc sống buồn chết đi được. Cả triệu Euro trong tài khoản của tôi mang sang đây định mua bất động sản, thành lập công ty, để hợp thức hóa việc ở lại Đức, theo sự hướng dẫn của văn phòng luật ở Berlin, có lẽ phải suy nghĩ lại. Nếu ở Đức buồn tẻ như vậy.

Tôi hơi bị khó chịu, dù câu nói của Tân Cháy có thể là thật tình:

-Nhiều tiền như vậy, ông tìm đường sang Đức làm chó gì?

-Nếu ở Việt Nam mà bình yên, dù có phải mai danh, ẩn tích thì tôi cũng chẳng lọ mọ sang đây làm quái gì. Ông không biết chúng đang xây lò đốt nhau hừng hực đấy sao. Chẳng biết khi nào mình phải chui vào cái lò bát quái đó. Thôi cứ chuồn trước là thượng sách.

An quay sang gã:

-Già rồi, ông bỏ bớt cái thú tính ấy đi. Cái bả hồi ở Trường An Ninh vẫn chưa tởn sao?

Tân Cháy im lặng. Nhìn sang, tôi thấy mắt gã mở trừng trừng dội ngược lên trần xe. Vỗ vai, tôi đùa hỏi gã:

-Tên Trần Văn Tân đang ngon lành, làm thế quái nào ông có cái Spitzname Tân Cháy. Nghe có vẻ bà con, họ hàng với ông Hỏa, bà Hỏa thế nhỉ?

Tân Cháy chớp chớp mắt, rồi co người ngồi thẳng lại:

-Cái tên cúng cơm này, chẳng hề liên quan gì đến ông bà Hỏa cả. Nhưng nó cũng là một giai thoại đấy, và có ngay từ thuở tôi và Nguyễn Bình An đang là sinh viên Trường An Ninh. Này, ông An hãy kể lại thật vô tư, và chính xác, có khi cho Đỗ Trường hứng thú viết được cả cái truyện ngắn chứ chẳng đùa.

An cười:

– Tên Tân Cháy, nó gắn liền với cái bẫy tình, sau này là bẫy người của các ông. Những mưu mô quái quỷ, dẫm đạp lên nhau ấy, đã kể thì phải nói toạc ra hết. Ông có đủ can đảm nghe lại không?

Chẳng biết, trên máy bay, hay lúc chờ làm thủ tục vali thất lạc Tân Cháy đã khật khừ bia, rượu hay chưa, nhưng giọng có vẻ cứng cỏi, khí thế lắm:

-Chuyện thường xảy ra ở huyện nhé! Tôi đã hạ cánh an toàn, chẳng ngại bố con thằng nào cả. Cái xã hội từ trên xuống dưới lọc lừa nhau, chứ chẳng riêng thằng chó nào. Thằng nào nhiều mưu, đủ mạnh thì thắng vậy thôi. Ông cứ việc kể tuốt tuồn tuột ra…

***

Cái đói cứ xoắn lấy Tân. Có lẽ, chưa bao giờ gã phải chịu những cơn đói triền miên, đói hoa mày chóng mặt, đói quên cả học hành. Khi còn ở trên quê, hay ở trường nội trú tỉnh cũng đói, song gã còn có thể vào rừng kiếm một thứ gì đó ấn vô bụng. Chứ ở Trường An Ninh, giữa phố phường Thủ Đô, làm chó gì có rừng để gã vào tìm rau, tìm củ. Do vậy, gã buộc phải chui vào chuồng lợn, chuồng heo để tìm cơm cháy, của nhà bếp vừa thải xuống đó. Và cũng từ cái chuồng heo này, kết cho gã một mối tình, có thể nói đi vào “giai thoại“ truyền miệng trong giới sinh viên.

Thật ra, Cao Hồng Hạnh không xấu đến nỗi… như các sinh viên đàn anh thường lấy ra gán ghép, trêu đùa. Nhưng Hạnh mắc phải chứng bệnh hở van dạ dày, dẫn đến mồm miệng và hơi thở có mùi rất khó chịu. Do vậy, dù làm công việc quản lý dạ dày của sinh viên, và là cháu ruột của một sĩ quan cấp cao, quyền uy ngoài Bộ, song chàng sinh viên nào đến với Hạnh chỉ được một thời gian ngắn, rồi không đủ can đảm quay trở lại. Tuy chưa đến cái tuổi các cụ cho là quá lứa lỡ thì, nhưng nhìn Hạnh ngày càng khô cằn. Tân quen Hạnh đang ở hoàn cảnh như vậy, và trong một lần xuống nhà bếp sinh viên rình lấy cơm cháy.

Chỉ có vài lần, Hạnh dành riêng phần cơm và những rá cơm cháy cuối ngày cho Tân cùng bạn bè, vậy mà không rõ bọn thối mồm, độc miệng nào đã đồn thổi, gã khoái cỡi máy bay bà già. Ban đầu có một chút mặc cảm, mấy ngày gã không dám gặp Hạnh. Dù nàng cứ kè kè cái cặp lồng cơm thịt thơm phưng phức đi tìm gã khắp nơi. Có vài ngày như vậy, mà cái dạ dày cứ réo lên ùng ục, dường như gã không còn sức lực, tinh thần để theo kịp giáo trình học hành và luyện tập. Có thể nói, cũng là kẻ chịu khó đọc Marx, đôi lúc gã cũng nhận ra sự mâu thuẫn, và cảm thấy phân vân, dao động. Nhưng có câu này của Marx, gã khoái: “Vật chất quyết định ý thức“. Nó điểm đúng vào tâm lý, thực tế làm cho gã thức tỉnh, đảo lại ý nghĩ, nhận thức của mình trước những quan niệm cũ rích. Do vậy, với gã lúc này, cái dạ dày quan trọng hơn, tiếng tăm, và sự đồn thổi của bọn rách việc. Từ đó, quan hệ có tính hai chiều giữa gã và Hạnh ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng. Vậy là, cái tên cúng cơm Tân Cháy, vận vào gã từ đó.

Buổi tối cuối tuần, sân trường vắng vẻ. Sau bát mì khuya, Hạnh kéo Tân Cháy ra góc tối đằng sau nhà ăn đứng chuyện trò, tâm sự. Trời oi nồng, cũng như mọi khi, Tân Cháy vô tư cởi phanh cúc áo. Hạnh ngả đầu vào vai gã, tay cầm tờ báo quạt phành phạch: Trời có lẽ sắp mưa anh ạ. Gã chưa kịp trả lời, không hiểu từ đâu ánh đèn pin rọi thẳng vào mặt. Dường như, Hạnh bị giật mình, làm rớt tờ báo xuống đất, hai tay ôm chặt lấy gã. Tân Cháy chưa kịp định thần, đã thấy mấy tay bảo vệ vây xung quanh, và quát:

– Hai người đứng yên, giữ nguyên hiện trường. Học viên an ninh gì mà có lối sống buông thả thế này.

Tân Cháy lùi lại, đẩy Hạnh ra xa:

-Chúng tôi đứng chơi, có làm gì đâu.

Đèn pin rọi sang Hạnh, áo quần xộc xệch. Nút áo tuột đâu mấy chiếc, dưới quần khóa chưa kịp cài:

-Quần áo thế này, bảo chưa làm gì hử? Về văn phòng lập biên bản.

Mặc cho Hạnh và gã giải thích, xin xỏ, song cái biên bản quan hệ trai gái buông thả, ảnh hưởng nghiêm trọng hình ảnh người học viên an ninh nhân dân vẫn được lập ra.

Tân Cháy chưa kịp hoàn hồn, mấy ngày sau Phòng tổ chức và Phòng giáo vụ gọi lên. Sau khi đe nẹt, rồi xoa nắn, gã có hai con đường để chọn lựa. Nếu là sự chơi bời, buông thả, có thể bị đình chỉ học, trả về địa phương. Song nếu là quan hệ yêu đương nghiêm túc, đi đến hôn nhân, sẽ chỉ nhận mức độ kiểm điểm, cảnh cáo trước phòng, khoa mà thôi.

Dù biết đó là cái bả, một kịch bản tồi, song con đường thứ hai, buộc Tân Cháy phải chọn. Và đám cưới của gã với Cao Hồng Hạnh diễn ra một cách chóng vánh, làm cho bạn bè, đồng đội của gã không khỏi ngạc nhiên. Thôi thì cũng mừng cho gã. Từ nay, gã cứ việc cơm no bò cỡi. Bạn bè gã bảo vậy. Mà chẳng mừng sao được, khi ra trường bạn bè cùng khóa, người lên rừng, kẻ phải xuống biển, gã được bắn một phát về Bộ. Tuy nhiên, không có ai có thể hiểu được nỗi hận trong lòng gã.

Mười mấy năm trong ngành dù sau lưng có ông chú vợ, gã cũng không làm nên công trạng gì. Tước thì có chức thì không, nên gã đâm chán nản. Nhân ông chú vợ được chuyển ra Văn phòng chính phủ, gã cũng xin chuyển ngành, làm Trưởng phòng ở Cục thanh tra thuộc một Bộ gã đã từng theo dõi mảng an ninh. Từ đây, gã có quan hệ chặt chẽ với các Giám đốc, Tổng giám đốc trên khắp cả nước, nhất là từ khi Mỹ bỏ cấm vận. Tiền bạc, đất cát từ đâu rót về cứ đều đều làm cho gã đổi tính, đổi nết. Mưu mô, cạm bẫy của gã giăng ra đố con mồi nào chạy thoát. Những kịch bản gã đã dựng không thể ai bắt bẻ, hoặc chọc khe. Khi gã thành công nhử Tổng giám đốc ở phía Bắc sập bẫy, đi nghỉ mát dài hạn, để đồng bọn một Tổng giám đốc ở phương Nam có cơ hội trèo lên chiếc ghế Thứ trưởng, thì ngay sau đó gã có quyết định lên Phó cục trưởng thanh tra. Một chức vụ có thể nói, không lớn cũng không hề nhỏ, song ở vị trí đắc địa, ngứa mắt chọc thằng nào, thằng ấy đi điếu. Chẳng vậy, trong một lần khật khừ với mấy thằng bạn thời trẻ trâu, gã rỉ tai: Tao thừa tài lực để ngồi vào cái ghế cục trưởng, thứ trưởng, nếu muốn. Nhưng những thứ đó ở cái Bộ này chỉ là hư danh, chết thế mà thôi. Cái tao cần là quyền lực, bởi ở đất nước đang lộn tùng phèo, không biết thằng bé sợ thằng to, hay thằng ngồi trên sợ thằng ngồi dưới. Thằng nào cũng có cái Thóp để bóp cả. Nên, tao chỉ làm cục phó cho đến khi giải nghệ…

Xe đã về tới trước cửa nhà, câu chuyện Nguyễn Bình An kể về Tân Cháy phải dừng lại, dù chưa đến hồi kết. Tuy vậy, Tân Cháy vẫn cười ha hả, khen An có trí nhớ tuyệt vời.

Lê Thu Đông vợ An là bạn học thời trẻ trâu, và cũng là đồng nghiệp của An và Tân Cháy sau này, vẫn còn chờ cơm. Trời đã về sáng bữa nhậu vẫn chưa tàn. Song tôi vẫn phải tạm biệt vợ chồng An- Đông và Tân Cháy quay về Leipzig cho kịp giờ làm việc. Xe sắp chuyển bánh, thấy Tân Cháy chân trần chạy ra giựt cửa xe, ghé tai thì thầm:

-Nếu có hứng thú viết lách gì đó, đề nghị Đỗ Trường nhớ đổi cho cái tên nhé.

– Tỉnh rượu rồi hay sao, mà lại co rúm người vào như vậy.

-Một phần như vậy, nhưng cái chính canh bạc chưa đến hồi kết.

Tôi đùa:

-Ông cẩn thận, không lại bị xích cổ về như Trịnh Xuân Thanh, thì đi mò tôm đấy.

Gã cười:

-Vụ thằng Thanh cũng là một kịch bản. An ninh, mật vụ Đức, họ thừa biết, nhưng mắt nhắm mắt mở để các bố diễn xuất thôi. Do vậy, vụ án này không bao giờ có hồi kết, rồi sẽ đi vào quên lãng.

Nhận định, này của Tân Cháy dường như cho tôi một sự đồng cảm. Tôi gật đầu, và cũng chúc gã công việc xuôi chèo mát mái cùng với Công ty luật ở Berlin vào tuần tới.

Leipzig ngày 8-8-2019

Đỗ Trường

Tiền Đồn

Thế Uyên
Post by Sơn râu 10 Oct 2024

Phần 2.

Đổi vị trí nằm, mắt định vào đúng hướng một chùm tia nắng lọt qua một khe thủng trên mái tôn. Những chấm bụi sáng tan vỡ bay lộn, biến vào khoảng không chung quanh. Hơi nóng hấp từ mái thấp, bốc từ vách tường vữa lở lô gạch có những vệt khói đen. Mồ hôi thấm ướt lưng áo lót, nhớp nháp dính vào vải ghế bố. Chàng xoay người đi đưa lưng ra khoảng trống nhưng không ích gì, không gian nóng đều. Chàng mơ màng nghĩ đến những người làm cách mạng bị bắt và xử tử bằng cách bỏ vào nồi nước một đầu máy xe lửa trong một cuốn tiểu thuyết đọc đã lâu. Chàng vụt nhớ ra tên cuốn sách, Condition humaine, buổi sáng trời mát dịu nắng, trên cao lá cây mới ra xanh mềm, da tay Linh mịn ấm. “Em mua cho anh cuốn này… Lớn như anh rồi còn chưa đọc cuốn này thì dốt quá!”. Chàng mở mắt chậm chạp. Mái tôn như cong thêm vì sức nóng. Chàng muốn cởi quần trận, cởi áo lót, nằm trần trụi như các binh sĩ đang lúi húi cạnh máy truyền tin. Những âm thanh cao đều, gay gắt rung rung trong không khí. Chàng nhắm mắt lại, cố ngủ. Mái tôn cong lên, một múi lòi xuống, tiếp tục hạ gần sát mặt. Chàng vùng vẫy, cố đưa tay đẩy lên. Có tiếng la hét quái dị tứ bề, chàng vùng vẫy. Ý thức vụt trở lại, bắt đầu làm chàng nhận thấy mình vừa ra khỏi cơn mê, mồ hôi ướt sũng áo quần nhớp nhúa. Chàng ngồi dậy mở bi-đông dốc lên miệng, bắt đầu nghe hiểu những lời to tiếng đánh thức chàng dậy. Tiếng trung uý già quát lên:

“… Cái cái cái gì! Có luật lệ nào cho sử dụng truyền tin vào chuyện tư không? Anh nói đi!”

Định nhận ra viên trung sĩ mặc thường phục đi cùng chuyến xe về đồn buổi sáng đang đứng ngoài nắng, mồ hôi chảy đầy mặt. Chàng nhìn và đột nhiên có ý muốn can ra. Từ khuôn mặt những giọt mồ hôi chảy chàng thấy căng lên một ước muốn bùng nổ dữ dội. Chiếc miệng viên trung sĩ há ra như bị kéo mạnh:

“Chẳng cần luật lệ gì hết! Trung uý làm gì tôi thì làm! Tôi bị mìn địch gãy chân nằm Cộng Hoà bây giờ mới hết. Đâu phải tôi đi chơi. Tiền lương tôi kẹt cả ở đại đội, vợ con tôi đói! Tôi phải nhờ ở đây gọi sang, nhờ trao lương cho đoàn tiếp tế mang về đây… Vậy đó! Chỉ có vậy đó! Trung uý làm gì tôi thì làm!”

Chàng thấy chiếc lưng viên sĩ quan già, gầy và cong lên rung động tức giận, một giọt mồ hôi lăn từ gáy, lọt khuất vào trong chiếc áo lót loang lổ những khoảng màu nhạt.

“Anh nói hỗn thế hả! Đứng nghiêm trình diện tôi!”

Hai cánh tay buông thõng của viên trung sĩ quờ quạng trên quần rồi vung lên cao. Hắn bỏ chạy ra sân, phân bua:

“Tôi bị mìn địch, đâu phải đi chơi, đâu phải nhảy dù! Bây giờ ổng hành tôi… Ổng hành hạ tôi!”

Hình dáng hắn khuất sau bức tường, chàng tiếp tục nghe thấy tiếng la lối, tiếng chân người, những câu nói trao đổi. Chàng bước xuống đất, ra sân. Sàn xi-măng nóng bỏng làm chàng bước nhanh và ngắn. Các binh sĩ xúm quanh nhìn Yên, sĩ quan ban 3, đang đẩy viên trung sĩ vào sát tường, chiếc miệng há lớn nhưng không còn âm thanh phát ra. Yên làu nhàu la toán lính:

“Làm cái bì mà bu lại vậy! Giải tán đi! Còn cái anh này, làm cái chi mà la oải lên thế! Bây giờ vào cái lều kia mà ngủ. Đại bàng bảo anh còn la thêm một tiếng nữa thì đừng có trách. Hiểu không?”

Yên buông viên hạ sĩ quan ra chờ đợi. Chiếc miệng há hốc của người trung sĩ, một cánh tay đưa lên vuốt mồ hôi trán:

“Tôi có lỗi gì mà trung uý ổng đòi phạt tôi? Bắt tôi…”

“Thôi, thế đủ rồi, vào lều ngủ đi. Anh còn nói nữa, đáng lẽ không bị phạt thì bị phạt. Thôi vào lều đi, nghe tôi…”

Giọng Yên dịu xuống, dỗ dành. Viên trung sĩ vén chiếc bạt, chui vào lều làm bằng hai poncho cột lại, Yên mỉm cười nhạt nhẽo, hai bàn tay mở về phía trước mệt mỏi. Định hỏi:

“Có phải trung uý Thịnh trước dạy chiến thuật ở Thủ Đức?”

“Đúng, ông ta đấy”.

Định trở vào phòng truyền tin đại đội chỉ huy, cúi đầu tránh mái tôn thấp chìa ra. Chàng trở lại ghế bố, châm thuốc hút. Trung uý già nằm trên ghế kế cận, cặp đùi khẳng khiu lấm tấm lông đen, mái tóc hoa râm cắt ngắn. Khi còn là sinh viên sĩ quan trừ bị, cùng các bạn, chàng rất ghét người này, huấn luyện viên hách với sinh viên, bợ đỡ chỉ huy trưởng, khoe khoang thân thế tối ngày. Sau một lần bị phạt đứng phơi nắng dưới sườn đồi vì một lỗi không đâu, chàng đã tự hẹn ngày nào gặp lại huấn luyện viên này ở đơn vị tác chiếc, chàng sẽ tìm cách đấm cho một trận. Chàng ngẩng đầu lên, ông già đang nhìn chàng bằng đôi mắt trũng sâu dưới làn trán nhăn nhíu. Chàng cúi xuống, nhìn làn khói thuốc.

“Chút nữa các anh ký vào tờ trình của tôi. Tôi sẽ gửi về trung đoàn phạt cho hắn chết”.

Hạ sĩ truyền tin ngẩng đầu lên, nói:

“Thôi thì hơn, trung uý. Anh ấy nóng tính nên vậy thôi. Không có ý gây chuyện với trung uý đâu”.

“Tôi không cần anh khuyên! Anh đã chứng kiến nội vụ, anh phải ký vào tờ trình. Hơn nữa chính anh còn để cho hắn sử dụng máy không có phép tôi, anh có muốn tôi đề nghị phạt cả anh không?”

Viên hạ sĩ cúi xuống, mở máy phát thanh, làu nhàu:

“Mất gì một chữ ký…”

Chàng vứt mẩu thuốc, duỗi thẳng chân, quay mặt vào trong tường, tẩn mẩn dùng ngón tay gạch chữ đầu tên của Linh. Những hàng cây cao-su chạy dài xuống chân đồi 19 chấm dứt nơi ranh giới xạ trường chói nắng, chàng đứng nghiêm cảm rõ những giọt mồ hôi chảy dọc lưng dọc đùi vào giày, lan theo tay làm trơn tuột báng súng. “Trí thức gì mà dốt, tập dở ẹc!”, chàng lắng nghe lời xài xễ, tức giận muốn vùng ra đấm vào giữa cái bộ mặt choắt già nua ấy.

Chàng xoay người hướng ra ngoài, bây giờ bộ mặt già nua nằm kế cận, và chàng không thấy gì hơn là một chút thương hại và rất nhiều dửng dưng.

“Anh tốt nghiệp khoá 14 phải không?”

“Vâng”.

“Đại uý cho anh đi đại đội nào? Sao nằm đây?”

“Đại uý cho tôi ra đại đội hiện đang ở ngoài đồn. Sáng mai mới phải ra trung uý”.

Chàng quay mặt vào tường, tỏ ý buồn ngủ để chấm dứt mọi trao đổi lời nói. Nhưng viên trung uý vẫn tiếp tục:

“Anh thử lửa bao giờ chưa?”

“Rồi trung uý. Nhưng trong trường hợp bị thiên hạ bắn mà tôi tay không. Hồi tản cư… Còn trong tay có súng có thể bắn lại thì chưa, trung uý”.

Chàng nhắm mắt lại, cố ngủ một giấc nữa. Chàng không muốn tiếp tục nói, không muốn thức tỉnh, không muốn nhớ tới hình dáng bàn tay Linh buông thõng, những chiếc ghế màu đỏ sẫm và nắng buổi sáng trên mũi chiếc giày trắng có nơ nhỏ. Chàng đưa tay ra phía sau kéo áo lót căng ra. Một thoáng mát mẻ trên da lưng, ngọn gió từ sông ùa vào làm Tuân và chàng run lên. Chiếc phi cơ chúc mũi sà xuống, nổ súng. Tuân kéo chàng lao sâu hơn nữa vào bãi ngô. Hai người trườn trên cát khô, cố ẩn mình dưới lớp lá. Có tiếng nổ lớn kèm theo tiếng đại liên phát hiện từ phía sông. Quay lại nhìn thấy một chiếc tàu chiến nhỏ dưới lòng sông, một khẩu súng nòng dài giật lui liên tiếp, chàng ngẩn người ra ngắm cho tới khi nòng súng lắc lư, quay thật chậm hướng về phía bãi ngô. Chàng hốt hoảng theo anh lao người sâu nữa vào bên trong, trườn giữa các luống ngô. Tuân la: “Có hố!” Nhảy vào đây Định!”. Chàng theo anh nhảy vào, ngã chúi xuống đáy hố. Đạn cắt đứt những ngọn ngô, cành lá vụn rơi lả tả. Cát dưới hai lòng bàn tay ẩm ướt, màu đen. Chàng cảm thấy hoàn toàn yên ổn, ngẩng đầu tì lên tay. Tuân nằm bên, đầu ngẩng cao nhìn chăm chú về phía trước: một đôi chân trắng bất động trong chiếc váy đen, hình dáng một thân thể đàn bà. Tuân từ từ nghiêng đầu, chăm chú tiếp tục nhìn. Chàng bắt chước cử động của anh và nhìn thấy giữa hai chân một khoảng đen. Người chàng nóng bừng lên, mắt hơi hoa đi trong tiếng nổ rền dưới sông. Chàng có nghe thấy tiếng súng nhưng không để ý, không thể làm gì hơn là giữ nguyên vị trí và nhìn vào đó, cố khám phá trong bóng tối kia những đường nét dứt khoát hơn. Tuân thì thào: “Dậy coi xem! Chắc cô ta còn sống đấy, anh vừa thấy cựa quậy”. Tiếng một chiếc mũ sắt rơi trên sân vang chói tai, chàng ngồi dậy vuốt mồ hôi trán, mở bi-đông đưa lên miệng uống một ngụm lớn. Viên trung uý chưa ngủ, một tay vắt trên trán, những giọt mồ hôi làm ướt đẫm mảng tóc mai nửa xám nửa bạc.

“Anh còn thuốc lá không?”

“Mời trung uý. Thuốc đen”.

Ngày hôm ấy chàng mới mười hai, ngồi nhìn Tuân kéo cô gái ngồi dậy và bắt đầu nói chuyện. Chàng lắng nghe những câu nói, tò mò chờ đợi một sự kỳ lạ xảy ra. Cái gì sẽ xảy ra, chàng không biết, chỉ lờ mờ cảm thấy những nóng bừng ray rứt và mắt không rời hai người tựa vào thành hố. Chàng thất vọng như vừa hụt không được dự một cuộc vui kỳ diệu khi hết tiếng súng, Tuân từ biệt cô gái, kéo chàng ra khỏi hố, len lỏi giữa các luống ngô tìm đường trở về làng. Tuân hơn chàng ba tuổi nhưng đã là đàn ông. Khi tắm ngoài ao, chàng đã nhận thấy anh khác hẳn mình. Tại sao Tuân không tiến thêm, người con gái đã đỏ mặt và cười nép người vào thành hố cát. Chàng cựa mình, quay trở mặt vào tường đồn và cảm thấy thèm muốn đàn bà bắt đầu biểu lộ. Đầu điếu thuốc tẩn mẩn vạch một vòng tròn trên viên gạch ngang tầm mắt. Khói thuốc dội trở lại cay sè, chàng đưa tay lên dụi, hai làn da đẫm mồ hôi cọ vào nhau trơn nhẫy. Tiếng hiệu thính viên bắt đầu và tiếp tục đều đều: “Bắc bình anh dũng, bắc bình anh dũng, cải cách anh dũng oanh liệt, non nước gay go anh dũng. Yên bái, tốp. Tôi nhắc lại, bắc bình anh dũng cải cách… không nghe rõ à? Điều chỉnh lại đi. Một hai ba bốn năm sáu… nghe ba trên năm…” Người đàn bà bồng con trên bãi cát năn nỉ người lái đò: “Bác cứ chở giùm đi. Máy bay bà già không bắn đâu, chồng tôi ốm nặng, tôi phải qua sông gấp”. Người lái đò ngẩng đầu nhìn chiếc phi cơ lượn vòng trên cao, nhìn dòng sông Nhị mùa nước bắt đầu dâng. Tuân nói: “Hai anh em tôi bơi khá lắm, bọn tôi sẽ khênh theo hai cây chuối kia. Có gì cho bà ấy bám… Bác chở giùm tất cả đi một chuyến”. Tuân đứng đầu mũi chèo, chàng ngồi trong khoang nhìn thiếu phụ bằng cả tâm hồn náo nức. Đầu chiếc vú khuất trong miệng đứa bé nhưng phần phồng căn trắng hồng quyến rũ thế nào nhưng… Khi đứng trên bờ đê cao nhìn theo hình dáng thiếu phụ đi khuất sau rặng tre chân đê, Tuân thở dài sau khi cởi phanh ngực áo đón gió cho khô mồ hôi: “Bà ấy đẹp như chị Khanh. Người Hà Nội tản cư đấy”. “Sao anh biết?”. Tuân cười giơ tay vuốt tóc: “Mày nghĩ cái gì mà không thấy tao với cô ấy nói chuyện hoài từ bến lên đến đây? Cô ấy đẹp ghê phải không?”. Nghe anh gọi thiếu phụ là cô ấy, chàng thán phục. Chàng xoay người nằm ngửa lên mái tôn, quờ tay kiếm tờ báo đưa lên quạt. Một thời gian mát mẻ ngắn trên da mặt, bầu trời u ám cuối mùa đông, gió từ sông lên lành lạnh, tự dưng chàng kéo tay anh: “Đứng lại đi! Chắc bà còn nhìn theo chúng mình”. Hai anh em quay lại. Người bà chống chiếc gậy còn đứng ở gò cao gần cổng làng, gió thổi mạnh dạt tà áo sang một bên, những đám mây bay thấp và nhanh phía sau. Tiếng những lá ngô chung quanh xào xạc, âm thanh sắc và êm ái làm nước mắt chàng trào ra. Chàng hỏi anh: “Sao bà không chịu sang ở chung với gia đình chúng mình? Bà già thế sao bà ở một mình. Tây đến thì sao anh?”. Tuân tháo mũ giơ cao phất về phía cổng làng: “Bà với thầy không ưa nhau từ lâu… Vung mũ lên mày, bà chưa nhìn thấy tụi mình vẫy đâu!”. Chàng tháo vội chiếc mũ xanh rộng vành của đoàn thể sói con, leo lên một ngôi mộ vẫy lia lịa, la lớn: “Bà ơi bà. Bà!…” Chàng quay mũ hoài, nước mắt chảy ướt mặt, gió thổi tạt những giọt nước nóng lấm tấm vào vành tai. Lớp mây đen kéo ngang phía chân trời làm hình dáng người bà mờ lẫn đi, thấp thoáng trong trời đất. Tuân kéo tay chàng đi về phía sông.

“Về đi, không hết đò”. Lên tới bờ đê cao phía bên kia, hai người đứng nhìn xuống dòng sông đỏ cuồn cuộn, khu làng, luỹ tre, ruộng ngô hoà lẫn vào nhau. Tuân nói: “Tại sao bà theo ra tiễn, lại không cho bọn mình biết nhỉ?” Bãi ngô dâng lên cao, những thân cây bắp rễ đâm ngang tua tủa, chàng sợ hãi nắm lấy tay anh. Người con gái trong bụi ngô cười rú lên, chàng sợ hãi vùng chạy nhưng chiếc váy đen bùng lớn như lưới, đôi chân trắng sừng sững cột đá ngôi đền thần thoại. Chàng vùng vẫy nhưng như bị kéo, bị hút vào trong chiếc lưới đen mênh mông. Chàng hết sợ hãi nhưng muốn rất muốn ngoái cổ lại nhìn người bà đang đứng tiễn trên gò đất cổng làng đằng sau có mây đen xám. Chàng muốn nhìn, muốn quay cổ lại nhưng không được. Chàng vùng vẫy, không gian nóng bỏng, có tiếng đổ vỡ ầm ĩ. Chàng vùng mạnh… “Đù mẹ cái mũ sắt thằng nào cứ để vướng lối hoài vậy!”. Chàng mở mắt, chiếc mũ sắt lật ngửa còn đang quay tròn thêm một vòng trên sân gạch nắng chói chang. Chàng giơ tay lên coi đồng hồ, mồ hôi làm mờ mặt kính và làm thành kim khí áp vào da ngứa ngáy. Chưa tới ba giờ.

° ° °

Có tiếng giày ngoài sân, chị giật mình buông lược quay lại và thở ra nhẹ nhõm khi nhận ra Tía. Chị cười:

“Làm người ta hết cả hồn. Cứ tưởng mấy ổng vô…”

Tía bỏ chiếc mũ nhựa tròn xuống phản, rút khăn lau mồ hôi trên trán rồi lau báng súng:

“Mấy ổng vô thì sao? Mấy ổng hiền khô à, không thấy sao? Cho xin ly nước, đi từ lộ vào đây khát quá trời”.

Chị vục ly vào vại múc đầy, đặt lên mép phản:

“Mấy ổng hiền thiệt, nhưng vô đóng đây đến đêm mấy ảnh về lại hạch hỏi lôi thôi: “Sao lại để lính Mỹ – Diệm vô đóng! Bộ muốn làm tay sai cho chúng hả?”. Ui chao!…”

Chị cười lớn ngồi xuống phản tiếp tục chải đầu:

“Rồi mấy ảnh còn bắt vô lấy cuốc ra đắp mô nữa. Sợ thấy bà!”

Tía đặt khẩu súng gác lên cột, mở banh ngực áo lùa khăn vào lau mồ hôi trên ngực:

“Sáng ra, tụi tôi đã không bắt anh chị ra phá đi, thế là đỡ quá rồi còn chi”.

Người đàn ông tiếp tục lau ngực, những bắp thịt cuộn căng lên theo cử động của cánh tay. Chị nhìn và nhớ tới ngực chồng, cũng đầu vú nhỏ một cách chi mà kỳ… Không biết đàn ông có vú để làm chi, chị mỉm cười. Người đàn ông theo dõi biến đổi nét mặt, bắt gặp nụ cười, vội đứng dậy lại gần:

“Em à”.

Chị giật mình lùi lại, thân hình tì lên cánh tay xuôi về phía sau làm ngực tức sữa căng lên dưới vải. Tía giơ tay lên, chị vùng né tránh lùi ra phía sau cột, cười:

“Bộ quên tui có chồng con đàng hoàng rồi sao? Muốn bị xua ra khỏi nhà sao mà làm dữ vậy? Đã cho trú nắng, cho uống nước, còn lộn xộn”.

Tía ước lượng khoảng cách giữa hai người, liệu không thể nhảy tới kịp trước khi người đàn bà chạy ra sân, đành ngồi xuống phản cười dàn hoà:

“Em ngồi xuống đi. Tôi không làm chi đâu mà sợ. Có chuyện muốn nói mà”.

“Nói chi thì nói luôn đi. Không chồng tui về bây giờ lại lui lủi như mèo cắt tai rút mất cho coi!”

Tía tức giận, vỗ ngực bạch bạch:

“Bộ tôi sợ thằng chả sao? Tôi không muốn gây rầy rà cho em đó thôi”.

Chị bĩu môi:

“Hăm hoài à! Bộ tưởng làm đại diện xã có súng là tui sợ hay sao”.

Chị cười vui vẻ rồi ngừng khi nhận ra dáng điệu đột nhiên ủ dột của người đàn ông. Chị lại phản ngồi, dịu giọng:

“Anh tới có chuyện chi, nói đi. Tui nghe đây”.

Tía ngẩng đầu nhìn quanh quẩn, rồi nói rụt rè:

“Em à… Tôi vẫn thương em như xưa…”

Đầu cúi xuống, giọng ngập ngừng:

“Em tin tôi đi. Tôi thương em lắm. Thương như hồi ấy… hơn nữa”.

Giọng nói quen thuộc làm chị nhớ lại những ngày đã qua, ngày chị chưa lấy ai và vùng này chưa lộn xộn, ngày chị còn mơ lấy chồng ở tỉnh, hai vợ chồng sẽ cần cù làm ăn, chị bán hàng ở chợ, tối về đi xem tuồng với nhau hay đêm khuya đi ăn tô mì nóng. Ngày ấy trai làng theo đuổi hoài hàng tá, trong đó có Hải, có Tía là chiếm được nhiều cảm tình của chị hơn cả. Nhiều đêm chị nhận lời ra ngoài ruộng nói chuyện với Hải, con người ăn nói đứng đắn và cư xử cũng vậy. Cũng nhiều đêm khác chị ra ngồi bờ lạch với Tía, kẻ hay đòi hỏi nọ kia, nay gạ cầm tay mai đòi hun má. Chị không nhận lời lấy ai hết, mơ lấy chồng mần ăn ngoài tỉnh. Mơ thế hay là vì sợ đau đớn như mẹ chị hồi nhỏ khi Tây về xã và xúm quanh chiếc phản… Chị không biết rõ, nhưng rồi mọi sự chẳng ra làm sao cả, chị thở dài cúi xuống không nhìn người tình cũ đang thì thào kể lể. Không, không có điều gì xảy ra như lòng mơ ước năm xưa cả. Tía một bữa say đánh ông hội đồng xã, sợ, bỏ làng ra đi. Chị hối hận vì sau buổi trưa hai người đàn ông đánh lộn ở bờ dừa, Tía tìm cách gặp mặt chị và chị đã nín thinh không trả lời câu hỏi, lảng tránh ngay vì nét mặt Tía quá dữ dằn. Thế rồi đến tối, Tía uống say ngoài quán, bị hội đồng xã chế giễu, đã gây ẩu đả. Sáng hôm sau biết chuyện, chị lại kiếm, nhưng Tía đã bỏ làng đi biệt tích từ đêm. Trở về nhà, chị khóc giấu trong bếp khi nghĩ đến cảnh Tía lủi thủi một mình lội bộ lên tỉnh. Những tháng sau đó, chị sống trong chờ đợi Tía trở về sau khi từ chối lời hỏi cưới của Hải. Rồi chiến tranh lan tới, Hải bỏ làng theo mấy tên du kích vẫn đêm đêm lẻn về khuyến dụ. Tiếng súng bắt đầu nổ vang ruộng vườn. Chiếc đồn đổ nát trước chợ được tỉnh cho sửa chữa lại, hai chục dân vệ đến trú đóng trong số đó có vài gã con trai trong làng. Nhưng bây giờ có súng có đạn, họ không còn cư xử như xưa. Chỉ còn Uông, một người đã theo đuổi chị ngày xưa nhưng bị cự tuyệt khá tệ, là còn cư xử đứng đắn. Tất cả những kẻ khác trong đồn đều tìm cách trêu chọc các cô bạn gái cùng làng xã cũ một cách thô lỗ. Đôi khi bị chọc quá tệ, cũng không cô nào dám cự nự nặng lời vì những kẻ kia đe rằng trưởng đồn rất dữ: “Lộn xộn đến tai ổng, ổng đốt xã cho coi!”. Uông mỗi khi có dịp, thường vô làng cà rà với bà con cả ngày, không phải để ngăn hay tìm du kích, mà để cản mấy đồng đội quê nơi khác khỏi phá phách. Nhưng những xã bên, số gà bị bắt đi ăn thịt không trả tiền mỗi ngày một tăng với sự hống hách của viên trưởng đồn ngoài chợ. Hắn đánh thêm thuế đặc biệt vào hàng hoá, đe ai lên thưa ông quận, sẽ bắn bỏ. Đôi mắt hắn lừ lừ, nhìn vào đàn bà như xoáy rách quần áo ra. Các bà ngoài chợ đồn rằng hắn xưa kia làm bồi cho một sĩ quan Pháp miệt Hậu Giang, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu đàn bà đã khổ vì hai thầy trò hắn. Bị tù, giải ngũ, làm lơ xe đò đứng bến một thời gian rồi không hiểu sao hắn được làm trưởng đồn dân vệ vùng này. Mọi người còn đồn hắn giàu lắm, bao tới ba vợ nhỏ ngoài tỉnh. Chị thường lắng nghe những lời đồn đại này và sợ hãi len lét cúi xuống mỗi khi lão sán tới gần ngoài chợ. Một buổi sáng, mới đặt chân lên quốc lộ chị bị hai khẩu súng dí vào ngực dẫn vào đồn. Chị run rẩy bước theo đường vòng chữ chi giữa rào kẽm gai, láo liên tìm Uông trong đám người đang cười rộ lên. Uông đâu, Uông đâu rồi. Có người la lên: “Em Hai ơi, em tìm chi nữa. Thằng Uông bị sai đi công tác dưới tỉnh mốt mới về. Vô tình diện trưởng đồn nộp thuế đi cho rồi, em Hai ôi…”. Tất cả năm đứa, trưởng đồn mắt lừ lừ, hai người bắt chị về đây, hai người nữa, tất cả là năm người. Chị lùi, lùi hoài, vấp phải phía sau té ngửa. Có tiếng cười lớn, những đầu gối bắp đùi tiến lại gần. Y như thế, y hệt ngày đã lâu chị còn là cô bé nằm run rẩy nấp dưới gầm phản, những tiếng cười lớn, những đùi những gối tiến lại gần, có tiếng la hét, tiếng má chị hay ai khác? Ba ngày sau đi công tác về, Uông tới thăm, ngồi nghe chị kể lại trong tiếng khóc. Uông không nói gì cả, hắn cũng không chào má chị đứng đó.

Uông không nói gì cả, lẳng lặng ra về, rồi một ngày qua hai ngày qua không có gì thay đổi. Đồn trưởng vẫn thu thuế chợ, vẫn hống hách, Uông vẫn thầm lặng như cái bóng cho tới một buổi sáng, vừa đặt gánh xuống, chợ chưa đông, Uông đã đợi sẵn lại gần nói nhỏ: “Giả bộ đau, về đi. Nghe tui, giả bộ đau về đi!”. Chị nghe lời, trở về nhà ngồi giặt quần áo cho tới khi có tiếng súng nổ ran và đồn bốc cháy khói đen cánh đồng. Chị không chạy vô hầm núp, đứng sững ra nhìn. Hẳn năm gã ấy phải chết. Một tiếng nổ dữ dội, các viên ngói tung lên cao rơi xuống lả tả làm chị chợt nhớ má chị có thể bị chết ngoài chợ trước đồn. Chị chạy vội, hối hả trên bờ ruộng và gặp một toán người băng đồng chạy vào mấy ruộng mía. Thoáng trông chị tưởng hành khách chiếc xe đò đang đỗ trước đồn. Lại gần hơn chị nhận ra nét mặt quen của vài anh du kích thỉnh thoảng vẫn về xã tổ chức nói chuyện chống Mỹ, người nào cũng khệ nệ ôm thùng đạn, súng lủng lẳng hai ba khẩu trên vai. Hải chạy sau chót, mồ hôi đầy mặt, dừng lại cười: “Bọn tôi trả thù cho em rồi đó. Nhảy trên xe đò xuống, bọn tôi giết không còn thằng nào trong đồn… Đêm nay tôi trở lại thăm em nghe!”. Hải nhảy vào bụi khuất dạng. Hai chiếc thiết giáp từ tỉnh xuống nổ súng bắn liên hồi, chị nằm ép dưới ruộng tới trưa mới ra được chợ. Má chị chết rồi. Uông cùng vài người làng khênh giùm xác về. Chị khóc ròng đi phía sau, tiếp tục khóc sau khi tắm rửa cho hết bùn dưới lạch. Uông đón dẫn chị vào bụi. “Tôi trả thù cho em đó”. Chị không kháng cự gì cả, thân thể rã rời trong tay người đàn ông vội vã. Khi Uông lôi dậy mặc hộ quần áo, chị mới nhớ ra má đã chết, máu chảy loang thành vũng sau gánh hàng và xác mới đưa về nhà chưa tắm rửa chưa liệm. Chị khóc lớn tiếng trên con đường từ lạch về nhà, và đêm về sáng khi Hải thò tay qua khe vách đánh thức, mắt đã sưng húp lên đau nhức: “Chiều tôi đi em… Tôi thương em, em biết không. Từ khi Uông báo tin em bị tụi chúng làm ẩu, tôi ngày đêm lo tổ chức nội tuyến với hắn để công đồn… Tôi tình nguyện chỉ huy tổ chức…”. Chị không khóc, thân thể bỏ mặc trong tay Hải cho tới khi trời bắt đầu sáng, người đàn ông từ giã đi khuất sau hàng dừa. Uông bị tỉnh bắt vì tội nội tuyến, biệt tích luôn ngay từ hôm sau. Lâu lắm, một tuần hay một tháng sau chị mới nhớ ra đáng lẽ những khi ấy phải nói với Uông, với Hải: “Má tôi chết rồi đó. Xác còn để trong nhà kia. Anh buông tôi ra!”. Lớp cỏ trên mộ xanh dần, chị đã quen gánh hàng ra chợ trước đồn cháy đen và khi về đã quay đầu lại đáp chuyện với Ba lẽo đẽo theo sau.

° ° °

Vũ uống nước trong gáo từng ngụm nhỏ, bàn tay kia vẫn ấn bi-đông vào sâu trong vại nước. Hai chân người đàn bà vẫn bất động, buông thõng dưới mép phản, chiếc bụng vẫn lên xuống phập phồng theo nhịp thở, đầu đứa bé gối trên nhấp nhô đều đều. Một tiếng chửi thề của binh sĩ gian ngoài làm chàng giật mình quay lại nhìn cánh cửa mở, tay nâng bi-đông khỏi vại, toàn thân chuẩn bị dáng điệu người đang lấy nước để nguỵ trang sự thèm muốn cuồng nộ đang thôi thúc trong từng thớ thịt. Không có ai ở sân sau. Chàng tiến lên một bước. Người đàn bà vẫn ngủ và dưới vải đen, chàng hình dung các đường nét căng lên. Cổ họng khô đi, mắt không rời cái thân thể đang mở ra trên phản, ngón tay chàng tẩn mẩn vạch tên mình từng chữ trên mặt bàn. Chữ V đã hiện rõ giữa lớp bụi mỏng, chữ U nữa, còn chữ U nữa. Những luồng máu chảy nhanh như muốn ồ ạt ào ra khỏi da thịt, chàng tiến thêm một bước nữa đến gần phản, hơi thở dồn dập. Bàn chân bám đất buông thõng thò khỏi vải quần đen đột nhiên co lên đặt vào mép phản, người đàn bà ngái ngủ mở mắt nhìn mái tranh bên trên, chậm rãi quay ngang ngó người đàn ông. Một giật mình thoáng qua biểu lộ trong những ngón chân co lại và chàng nhìn thấy những hạt bụi rơi lả tả xuống đất. Hơi thở dồn dập hơn, người đàn bà như thế là bằng lòng, vị trí khi ngủ không thay đổi, chàng nói thì thầm một mình, như thế là bằng lòng. Nhưng chàng vẫn đứng sững đó vì cánh cửa phía sau lưng vẫn mở. Chàng tự nhủ: Ra đóng lại đi, đóng lại đi là xong. Chàng kéo bi-đông ra khỏi vại nước, đóng nút, người đàn bà vẫn nằm nguyên nhưng mắt không nhìn chàng nữa, hai đùi vẫn mở ra và một bàn chân vẫn tì lên mép phản. Chàng quay ra đến gần cửa, ngoài sân trời còn nắng gắt, từng khoảng tròn sáng in trên cỏ trên đất và dưới hai gốc cây, chiếc võng gió thổi phồng lên như búp đa. Chàng buông tay khỏi cánh cửa, bước ra ngoài sân. Gió từ đồng hoang phía sau ùa mát lạnh trên lưng ướt đẫm mồ hôi, nỗi thèm muốn vụt rời cơ thể, các thớ thịt mềm đi, chùng nhão. Vũ trở lại võng ngồi xuống châm điếu thuốc hút. Người đàn bà đã ra sân bế theo đứa nhỏ, liếc nhanh. Chàng không hiểu người đàn bà đang nghĩ gì nhưng chàng biết chắc khi nãy nếu chàng đi tới cùng, người đàn bà cũng không hối tiếc và bây giờ, không có gì xảy ra, cũng không có luyến tiếc nào, cho cả chính chàng. Vũ hút mạnh, khói thuốc cuồn cuộn cay trong cổ họng, toả ra tan nhanh trong gió. Chàng tẩn mẩn suy nghĩ lại biến cố vừa qua vì đã lâu lắm không thấy thèm đàn bà dữ dội. Thế rồi bỗng dưng… Có lẽ tại sáng nay lúc cho quân băng bờ bụi ép sát quốc lộ, chàng đã nhìn thấy thoáng qua chiếc mông trắng của một nữ hành khách xe đò xuống đi tiểu. Có lẽ tại buổi sáng chưa kịp mặc quần sau khi đi cầu, chàng đã phải cầm súng bắn thằng du kích và sau đó đã cúi xuống nhìn. Cành lá chao đi sau một cơn gió mạnh làm nắng ùa xuống chiếu chói trên mặt, chàng quay ngang người nhìn ra ngoài lộ. Một chiếc xe ba bánh đầy người đang len lách giữa hai đống đất di tích của một chiếc mô chưa phá hết. Tiếng động cơ nổ lớn nặng nhọc, khói xanh phụt lên phía sau che phủ mặt một đứa bé ngồi cuối băng sau. Chàng nhìn theo xe cho tới khi đi khuất sau rặng cây, tự dưng nhớ tới Oanh và tự hỏi bây giờ nàng đã mấy con. Từ ngày nàng đi lấy chồng đến nay đã năm năm. Ít nhất cũng phải bốn con. Lưng nàng hơi cong và mỗi khi thuận để chàng ôm, thân thể thật nẩy nở. Tướng lắm con, lũ bạn cùng học bảo thế và chàng đã mỉm cười thú vị trong căn phòng thiếu sáng khi cúi xuống nhìn nàng nằm trên giường. Tại sao buổi trưa ấy không tiến đến nơi đến chốn cho rồi, tại sao chàng lại ngừng khi nàng giao hẹn: “Rồi anh phải cưới em ngay, anh chịu không?”. Định cưới hay không, đáng lẽ cứ nên đi đến cùng. Thế có phải hơn không, ít nhất cũng không để lại cho chàng một nuối tiếc dai dẳng cho tới giờ, ít nhất cũng không đưa chàng đến tình trạng như hiện nay, nằm ven một quốc lộ và thèm muốn một người đàn bà quê mùa vú nát nhẽo vì lũ con, bàn chân đầy đất. Bây giờ chàng tin rằng, tin thực chắc chắn, nếu đi đến cùng với Oanh, chàng sẽ không buồn khi nàng đi lấy chồng, không còn nỗi tiếc nuối dai dẳng tới gốc cây ven quốc lộ này. Gió thổi mạnh hơn làm võng đu đưa nhè nhẹ, những lá cỏ tranh đổ nghiêng run rẩy làm Bích trở thành quyến rũ hơn dưới lớp lụa đen hơi láng. Chàng đã vì ngần ngừ với Oanh nên đã đi tới cùng với Bích trên đám cỏ tranh đổ nghiêng, chàng đã vì không muốn lấy Oanh lưng hơi gù háng nở nên sau này đã lấy Bích mang đủ hai đặc tính tương tự để rồi sau cùng thấy rằng, như lúc này chẳng hạn, chàng chưa hề yêu một ai trong cả hai người con gái ấy. Chỉ có một khác biệt: chàng đã lấy Bích nên không còn một tiếc nuối nào cả. Tình yêu bắt đầu bằng một quyến luyến người con gái để kết tận cùng bằng những thói quen cấu kết thành chuỗi. Buổi trưa ấy, lúc Bích ngã người trên cỏ, nắng gắt và mặt trời còn ở trên cao và khi nàng cài lại tóc khóc thút thít, trời gần như hết nắng. Sau này không hề còn những khoảng thời gian quên thời gian. Sau này chỉ còn một thói quen khi mấy đứa con đã ngủ, chàng tự động đưa tay tìm thân thể vợ, một số động tác, một nỗi sung sướng ngắn ngủi để rồi sau đó lăn vào một góc ngủ. Cuộc sống trong quân ngũ làm cho mỗi khi về phép, thân thể Bích trở thành mới lạ và hấp dẫn hơn, chàng dành nhiều thì giờ khám phá lại, nhưng cũng chỉ trong lần đầu. Lần thứ hai, đêm thứ hai, khi các con đã ngủ, tay chàng tự động tìm thân thể vợ, và tiếp đó làm đúng một số động tác tối thiểu để cảm thấy một sung sướng ngắn ngủi trước khi vào giấc ngủ. Tiếng động cơ ầm ì lớn dần, chàng nhô đầu khỏi mép võng nhìn ra lộ. Một binh sĩ đang xỏ tay vào áo, quay lại la về phía chàng:

“Đoàn xe về tới rồi, chuẩn uý!”

Chàng vòng tay trước miệng cố át tiếng động cơ:

“Bảo Ích mở máy sẵn đợi lệnh Đống đa!”

Người lính gật đầu đi vào nhà, chàng nằm xuống, cử động co giãn các ngón chân sắp phải cho vào đôi giày cao cổ. Hai ngón cái móng dài hẳn, có một vệt đất đen vòng cung phía dưới. Bẩn quá rồi, cần phải tắm gấp. Chàng quay lại phía sau, chỗ vại nước gốc cây gần bếp chàng đã thấy vài binh sĩ tắm trước khi ngủ thiếp đi. Người đàn bà đang ngồi đó, tay vươn lên vục gáo vào vại. Chàng quay đầu đi, tự hỏi chỉ có bấy nhiêu nát nhẽo, chỉ có bấy nhiêu đã làm chàng suýt nữa nhào lên như một con bò đực nhảy cái. Bây giờ chàng hiểu người lính bị phạt ba tháng tù ở một phiên toà quân sự vì tội hiếp một đàn bà, một người đàn bà lem luốc béo phị. Chàng nhìn nhân chứng, nhìn bị cáo nét mặt hiền lành đầy vẻ sợ sệt, không thể tưởng tượng được hắn đã có những hành động dữ dội với một sinh vật cái ấy như trong tội trạng đã ghi. Hắn khóc nức nở khi nghe tuyên án và những giọt nước mắt làm chàng sững sờ. Bây giờ chàng hiểu chỉ cần một buổi trưa nắng chói chang, một khoảng da thịt trắng hở ra vào một khoảnh khắc nào đó là đủ… Giữa chàng và người lính nét mặt khổ sở khi bị phạt ba tháng tù không khác biệt. Không, không thể có một phán đoán nào đối với người lính. Chàng ngồi dậy, khó chịu, đưa tay nhổ một bông cỏ, cúi xuống lùa vào khe móng cạy đất đen bám cứng. Con sông đỏ ngầu đất, nước nóng bỏng bao quanh chiếc chân buông thõng, chàng lúi húi cạy móng chân, quá chăm chú đến độ khi cái Gái rón rén đến sau vỗ tay vào đầu mới giật bắn mình quay lại. Thân thể Gái láng nước bùn nâu bóng, nữ tính đã bắt đầu biểu lộ phía ngoài. Đứa bé mới lớn làm chàng đã ý thức mình là đàn ông trưa hôm ấy với Gái khi hai đứa chạy đuổi nhau dưới nước, quấn vào nhau lẫn với đám rễ si ven bờ. Chàng ngồi dậy, kéo đôi giày lại gần, xỏ tất, quyết định nếu trong tuần này có sĩ quan mới về đúng như nguồn tin của trung đoàn, chàng sẽ xin cho được bốn ngày phép. Hai tháng liền chưa vào một thị trấn, chàng thấy đã đến lúc cần. Chàng cột giày, một con cuốn chiếu bò ngoằn ngoèo sang mũi giày, chàng đưa chân dí mạnh, cố nghĩ tới địa thế vùng sẽ phải đi qua chiều nay để trấn áp thèm muốn đang trở lại.

Chàng ngồi xuống, để súng ngang đùi, mở bi-đông uống một hơi dài. Hy tiếp tục liên lạc với tiểu đoàn, giọng làu nhàu:

“Đoàn xe qua cả giờ rồi, cho anh em về thôi chứ! Còn tắm rửa một chút… Sao! Còn phải đợi đoàn xe thứ hai? … Thôi được!”

Hy cài ống liên hợp và đai vải, mở túi lấy bao thuốc:

“Tiểu đoàn bảo đợi thêm. Có thể còn đoàn xe nữa. Mấy giờ rồi bồ?”

Vũ giơ tay lên coi, uể oải đáp:

“Ba giờ kém năm”.

° ° °

Định tháo đồng hồ, bỏ vào túi. Da cổ tay tiếp xúc với không khí, thoáng một cảm giác mát mẻ làm chàng dễ chịu hơn. Một binh sĩ cởi trần bóng nhẫy mồ hôi bước vào, cúi nhặt chiếc mũ sắt còn hơi rung động trên sàn xi-măng:

“Đứa nào quẳng mũ tao ra đây?”

Câu hỏi bực tức rơi tan vào hơi nóng, không một ai trả lời. Hiệu thính viên tiếp tục ngâm cải lương theo những giòng chữ trên một tờ giấy nát nhàu. Chàng im lặng nhìn bộ ngực người lính trần trụi dưới nắng như trông thấy nỗi ấm ức toát ra thành giọt mồ hôi lớn dần. Binh sĩ chủ chiếc mũ ngồi xuống ghế bố, tháo chiếc khăn mặt cáu đen ở cổ xuống lau mồ hôi, mỉm cười lắc đầu khi bắt gặp mắt chàng.

“Nóng quá chuẩn uý”.

“Nước uống lấy ở đâu anh?”

“Tụi tôi lấy ở ngoài giếng kia. Nhưng chuẩn uý tội chi mất công. Lên bàn lấy, bàn ở gần chỗ cố vấn Mỹ ở. Các sĩ quan uống nước ở đấy cả”.

Định đứng dậy, mặc áo nhưng không nhét vạt vào trong quần. Giữa những người mặc quần cụt ở trần, quần áo đủ bộ như chàng đã là quá chỉnh tề. Căn nhà phía trên mát hơn, đầy cột như một ngôi chùa cổ. Một người mặc mai-ô ngồi cạnh bàn giơ tay bắt:

“Anh mới tới phải không? Tôi là thiếu uý Vận, sĩ quan trợ y tiểu đoàn. Nước ở bàn kia, bồ cứ tự tiện”.

Định uống từng ngụm nhỏ, quan sát vơ vẩn, chợt nhận ra bàn nước là hương án hay bàn thờ đã long sơn.

“Đồn này trước kia là một cái đình hay sao, anh Vận?”

Vận ngẩng đầu khỏi xấp giấy, đặt bút móc túi lấy bao thuốc chìa ra mời:

“Chính vậy. Tỉnh cho xây thêm hệ thống công sự bao quanh, rào kẽm gai lại thành đồn dân vệ”.

Định nhìn quanh, nhiều khoảng tường xây lại bằng gạch đã vỡ, chàng nhớ lại những vệt khói đen, những mái tôn cong queo bất thường trong căn vừa nằm. Một không gian điêu tàn bộc lộ từng góc cạnh. Vận thở khói ra hai lỗ mũi, làn khói bám sát mặt, mỏng dần.

Đồn bị đánh tan một lần cách đây hai năm. Chết cả trung đội dân vệ. Trừ mấy thằng nội tuyến là thoát. Tụi Cộng cướp xe đò, giả trang hành khách đột kích lúc tám giờ sáng. Súng ống mất sạch. Hồi tiểu đoàn này tới, chỉ còn căn nhà giữa là có mái. Dọn dẹp, sửa chữa gần chết cả tuần mới trú quân tàm tạm được.

“Tại sao các đồn dân vệ hay bị nội tuyến thế nhỉ?”

Vận cầm bút gõ gõ xuống bàn:

“Tại tuyển mộ không kỹ. Các quan trên cắt nghĩa vậy. Nhưng tôi cho rằng tại mấy ông ấy hay quấy nhiễu dân nhiều hơn. Tinh thần partisan cũ mà. Ngay cả cái đồn này cũng thế. Nghe đâu đồn trưởng bắt gái mang vào đây hiếp, lại làm đúng con bồ của anh dân vệ dưới quyền. Nội tuyến, vỡ đồn là cái chắc. Bởi thế…”

Vận cười. Định cười theo, vơ vẩn nhìn tiểu đoàn trưởng mặc áo lót còn nằm quay mặt vào tường trên ghế bố sát vách bên kia.

“Bởi thế sao?”

“Bởi thế nếu anh thấy ở đây khá tà tà với các binh sĩ nhảy dù về tỉnh, đừng ngạc nhiên nhiều. Lính chính quy chúng ta cần phải được giải quyết sinh lý ở những nơi được phép”.

“Còn bọn mình?”

“Cứ hai tháng có thể xin đi bốn mươi tám tiếng phép. Quê ở Trung, một năm có thể đi phép một lần mười ngày”.

Định búng mẩu thuốc ra sân, châm điếu mới. Hai tháng nữa, hai tháng một đêm sống với Linh. Chàng thoáng cảm thấy một nỗi buồn nhói lên trong lồng ngực. Một đêm gần nhau sau sáu mươi ngày. Ít quá. Thời kỳ còn ở quân trường Thủ Đức, mỗi tuần về phép một lần còn thấy thời gian quý giá vô cùng. Chiếc bus chưa qua cầu vào thành phố, người đã nôn nao rộn rã và khi bước lên tắc-xi, chàng cũng phải hút ngay một điếu thuốc để trấn tĩnh. Bữa cơm trưa, dù ăn món gì và tại đâu, chàng cũng không hề thấy ngon, những miếng thịt quay lộn trong miệng rời xuống dạ dày không ghi lại một xúc vị nào rõ rệt. Trong những tháng đầu nhập ngũ, sau bữa cơm, chàng đưa Linh tới một khách sạn gần chợ ồn ào ven sông và ôm nàng thật lâu trong tay trước khi làm bất cứ điều gì. Mắt nhắm lại và không hôn, không cử động, hai thân thể ép lẫn vào nhau trong khi bên ngoài chợ họp ồn ào phía dưới. Đêm khuya về sáng, khi mỏi mệt rã rời, chàng đưa Linh tới quán ăn mở khuya, ăn cháo nóng, uống cà-phê, cùng nhìn xuống nhà ga vắng, những đường sắt chạy dài loang loáng ánh đèn. Trở về phòng, không bao giờ chàng muốn ngủ, thời gian còn lại quá quý và hiếm. Nằm gối đầu lên nàng, làn da ấm phập phồng theo nhịp thở đều, chàng thiếp đi một thời gian và chỉ thức giấc khi Linh áp mặt kính lạnh của đồng hồ vào má đánh thức: “Dậy đi anh. Năm giờ rồi”. Trên xe cửa kính mở gió ùa vào, chàng nhìn cánh đồng tối đen đầu trống rỗng và chỉ bắt đầu thấy buồn khi thu mình trong một góc phòng câu lạc bộ uống cà-phê sữa trong không khí xao xác của thời khắc một ngày mới bắt đầu. Hai quân nhân Mỹ cầm súng bước vào, Vận đứng dậy bắt tay, giới thiệu:

“Thiếu tá Ken-nay (Kenney), trung sĩ Hac-đing (Harding), tức Hac-dy (Hardy). Chuẩn uý Định mới đáo nhậm”.

Chàng có cảm tình ngay với viên hạ sĩ quan ngoại quốc đang cười lớn tiếng vui vẻ, tay giơ cao chai rượu lấy trong xách tay ra:

“Black and white, được không?”

Vận cười:

“Anh là cố vấn sao lại đi hỏi ý kiến tụi tôi?”

Viên thiếu tá nhếch mép cười, nét mặt và dáng điệu như một nhà quý phái Anh trên màn ảnh, ngồi xuống chiếc ghế bố có mùng màn đẹp và tốt hơn mức thường. Trên mặt chiếc bàn nhỏ kê sát, ngổn ngang vật dụng hành quân và cá nhân. Binh sĩ hầu cận mở một chiếc rương nhỏ trắng lấy ra một chai coca cola ướp đá, giơ lên hỏi viên sĩ quan. Định quay lại hỏi bạn:

“Thiếu tá sao lại cố vấn tiểu đoàn?”

“Ông ta mới lên chức tuần trước. Đã có lệnh thuyên thẳng về làm cố vấn trung đoàn. Mai lên đường. Bọn họ mua rượu để góp vào tiệc tiễn hành tổ chức tối nay đấy”.

Viên trung sĩ Mỹ chỉ còn mặc áo lót và quần đùi trắng, lại bàn kéo ghế ngồi, vui vẻ góp chuyện bằng giọng ngân dài và cao của người miền Nam. Chàng lơ đãng nghe các đối thoại trao đổi, vơ vẩn nhìn cánh tay Hac-đy đặt trên bàn có những sợi lông vàng óng như màu tóc. Cánh tay đột nhiên vung lên kèm một tiếng kêu thích thú:

“A! Gay lắm, sir. Cô nàng chịu rồi. Bảy ngàn một tháng mỗi tuần lễ một đêm thứ năm và nửa chiều chủ nhật. Thế là vừa phải, không đắt quá. Vừa thoả thuận xong, lại được theo tân thiếu tá đổi về tỉnh… Nếu không cũng dám lỗ. Còn ở đây, một tháng hoạ chăng tôi mới được về một lần. Bảy ngàn chỉ có một đêm lại đắt quá!”

Vận cắt ngang lời:

“Có hình nàng không, cho coi bồ!”

Viên trung sĩ lại ghế bố, móc túi quần lấy ví. Định cúi xuống coi. Sau làn nhựa, một người đàn bà nét mặt nặng nề đang cười ngửa đầu làm căng lớp vải trên ngực để hở. Vận hỏi:

“Cô ta làm bar nào? Sexy lắm, Hac-đy”.

“Black Angel bar, sir. Quà đầu tiên nàng tặng tôi sau khi thoả thuận giao kèo đây này. Coi lẹ giùm, please! Không thiếu tá tôi biết, ông la”.

Ngón tay trỏ của Hac-đy lách xuống hất miếng nhựa, mặt sau là hình người đàn bà khoả thân nằm buông thõng hai chân, hai tay mở ra chào đón. Vận giằng lấy, Hac-đy cố giữ chặt, cười lớn. Định nói:

“Lúc không mặc gì, trông khá hơn”.

Một câu nói tiếng Việt xen vào:

“Cái gì mà vui vẻ vậy các bồ? Hac-đy và thiếu tá về bình yên hả?”

Định quay lại. Tiểu đoàn trưởng đã dậy, một tay đưa lên gãi đầu, một tay đưa ra bắt Hac-đy. Vận cười:

“Bồ của Hac-đy gay cấn lắm, đại uý”.

“Nói với hắn cho tôi coi”.

Định mơ hồ cảm thấy giọng người chỉ huy có vẻ bực tức. Chàng ngẩng đầu quan sát viên đại uý đang chăm chú coi bức hình khoả thân, nét mặt lộ vẻ bực dọc.

“Bảo Hac-đy là hắn có số đào hoa đấy”.

Viên hạ sĩ quan nghe câu Vận dịch, nét mặt đỏ bừng vui vẻ. Định mỉm cười cúi xuống, tẩn mẩn mở tấm bản đồ để trên bàn. Vị trí đồn được ghi bằng bút chì đỏ. Chàng dò theo đường tiến quân của đại đội mở đường ban sáng. Một ngón tay vụt đặt lên bản đồ, tiếng tiểu đoàn trưởng:

“Sáng đụng nhau với biệt động quân ở đây. Bực cả mình! Chẳng ra sao cả”.

Vận chọc ngón tay vào đùi chàng ra hiệu. Định đứng dậy theo ra sân. Vận nói:

“Đại bàng sắp nổi cơn nóng lạnh rồi đó. Ngồi lại chỉ thêm mệt”.

“Nóng quá. Ở đây các anh tắm ở đâu?”

Vận chỉ vách đồn phía trước mặt, một hố nhỏ có đường rãnh thông ra ngoài. Một thùng nước để sát tường, ánh nắng phản chiếu lấp loáng.

“Anh tắm thùng nước này đi. Đại đội Hy chưa về, không có ai giữ mặt sau, ra giếng của dân dám bị bắn sẻ lắm. Tuần trước có một binh sĩ bị bắn xuyên vai suýt tịch trong khi tắm”.

Định loay hoay không biết đặt miếng xà-phòng vào đâu, sau cùng nhét vào một khe ống tre vỡ vách đồn. Bên trái chàng hai binh sĩ đang lúi húi thổi cơm dưới chân lô cốt, cao ngang mặt có một binh sĩ ngồi xếp bằng sau khẩu đại liên. Chàng đã quen tắm truồng giữa đám đông quân trường, nhưng nơi này, chàng tự hỏi không biết sĩ quan có tắm như thế trước mặt binh sĩ và thượng cấp hay không. Sau cùng chàng quyết định để nguyên quần đùi, cúi xuống cầm ca múc nước trong thùng có một lớp váng loang mỏng trên mặt. Nước phơi nắng lâu nóng như muốn bỏng trên da, phủ một làn kích động lên cơ thể. Nước Hồ Tây buổi trưa hè cũng nóng tương tự, nhiều khi chàng đã phải co chân lộn xuống sâu tìm nước lạnh buốt. Những bè củ ấu do thuyền chài kết lại từng khung vuông rải rác trên hồ, chàng cùng An mỗi người một tấm ván, bơi hết khung này tới khung kia tìm trái ấu xanh, cắn ngọt như có sữa. Làn nước nóng bao phủ tạo một khoái cảm rạo rực, hai đứa ghé vào bờ nghỉ. Ngồi trên một cành cây vối sà sát mặt nước, An đã đưa tay xuống phía dưới làm một số động tác. Chàng tò mò quan sát và ngạc nhiên khi thấy An đột nhiên rướn người lên, toàn thân run rẩy, mắt nhắm nghiền trong một niềm hoan lạc bí mật. Chàng cài chiếc ca lên đầu một thanh tre, cúi xuống bê thùng nước lên dội lần chót. Chàng tì đáy thùng vào vách, cố điều khiển chiều nghiêng bằng một tay, tay kia kéo mép quần ra cho nước chảy vào làm tan lớp xà-phòng đọng phía trong. Một cái gì đã thay đổi từ ngày ấy chàng chưa hiểu rõ vì trên cơ thể chưa có biểu lộ nào của tuổi dậy thì, nhưng chàng đã bắt đầu rung động và e thẹn khi gặp Nhi, một cô gái mười tuổi con một công chức gần nhà. Và một lần đi cùng ra hồ, chàng đã thấy toàn thân như quyến luyến Nhi khi bơi từ xa vào nắm lấy chân nàng buông thõng khỏi cầu gỗ. Chàng co một chân lên cố đứng thật vững để mặc quần. Bộ quần áo móc trên cọc sắt buộc lều nóng cứng lên vì nắng làm chàng không mặc áo, cởi trần bước vào nhà. Yên đang lúi húi quanh chiếc máy C.10 dựng ở cửa buồng truyền tin. Vận vẫn ngồi ở bàn, ngẩng đầu nói:

“Đại đội của Hy sắp rút về đồn. Chút nữa tôi sẽ giới thiệu anh với Hy và Vũ. Đại uý bảo anh ở lại đồn đêm nay, dự tiệc tiễn cố vấn Mỹ đã. Mai ra nhận trung đội của Vũ sau”.

Định nói:

“Xin cám ơn đại uý”.

Tiểu đoàn trưởng ngẩng cao đầu khỏi tấm bản đồ mở rộng trên bàn, hơi cười. Chàng cầm áo đi ra, trở lại ngồi trên ghế bố trong khu đã nằm buổi trưa. Không khí vẫn nóng, những giọt mồ hôi bắt đầu ứa ra trên ngực. Viên trung uý già ngồi buông thõng chân hút thuốc, mắt nhìn khoảng tường lỡ nát phía trước. Chàng nói:

“Quên không hỏi trung uý giữ chức vụ gì ở đấy”.

“Coi đại đội chỉ huy. Chán thấy mẹ! Tụi chúng nó chơi đểu, đày tôi ra cái tiểu đoàn này. Anh cứ tin tôi đi, tháng nữa là cùng tôi sẽ rời trung đoàn này”.

Chàng cúi xuống lấy khẩu carbine lãnh hồi sáng, mở cơ bẩm. Dầu nhớt dính đất cáu đen từng vệt dài. Chàng mở rộng tờ báo trải trên vải ghế bố, lúi húi tháo các cơ phận ra lau. Viên trung uý xoay người lại, hai đầu gối khẳng khiu rung nhè nhẹ theo nhịp chân lắc lư:

“Anh còn thuốc lá không?”

“Dạ còn. Xin mời trung uý”.

“Anh biết tại sao tôi phải đổi đến cái tiểu đoàn này không? Tại tội bồ với chỉ huy trưởng của trường. Khi ổng đổi đi, tụi nó bẩy tôi đi luôn. Tụi đểu!”

Định giơ cao cơ bẩm lên coi, tạo dáng điệu chú ý tới kim hoả để khỏi phải nói. Chàng đồng ý với “tụi đểu” ấy. Chàng không ưa loại sĩ quan như ông già này, thứ quân nhân sống bằng nịnh bợ thượng cấp. Buổi đêm về sáng, di hành về trên xa lộ vệt trắng lớn chạy dài mất hút tận đàng xa dưới ánh trăng, đại đội chàng lết bết đi, mắt ngước tìm kiếm ngọn đèn đỏ quen thuộc trên đồi có quân trường. Một sinh viên sĩ quan làu nhàu chửi thề: “Chỉ huy cái gì mà không biết sức quân! Mới đi lính được bốn tháng, đã bắt con nhà người ta đi hàng năm chục cây số trong hăm bốn giờ. Sinh viên là thứ người chứ có phải là cặc đâu!”. Hàng quân cười to trong đêm, nhiều tiếng lao xao nhại “Sinh viên sĩ quan là người… đâu phải là…”, “Thằng Quý là người chứ có phải là c… đâu mà các quan nỡ bắt nó đi di hành…”. Chàng lắng nghe các câu cười đùa, thấy bớt mệt và ngọn đèn đỏ trên cột cao đã trông thấy rõ. Chắc sẽ về đến trường trước tám giờ sáng, kịp đi phép. Chàng lấy bi-đông đưa lên miệng uống, châm thuốc. Ánh lửa bùng lên soi sáng nét mặt viên trung uý đi lầm lũi bên cạnh, bóng đen nhỏ thó từ lâu chàng vẫn tưởng là bạn đồng khoá. Tới ngã tư xa lộ, trời gần sáng, chỉ huy trưởng quân trường ngồi đợi trên xe jeep, chàng đột nhiên nghe tiếng la lối của viên trung uý: “Trình đại tá anh này! Nó dám chửi đại tá công khai lúc nãy”. Quý bị quân cảnh lập tức áp tải đưa lên xe về trường nhốt, hàng quân xì xào bàn tán, dự đoán đương sự sẽ bị phạt hai mươi củ và ba tuần cúp phép. Nhưng buổi chiều đi cùng Linh ngoài đại lộ Lê Lợi, chàng đã thấy Quý vui vẻ cười với vợ. Hắn cười lớn cắt nghĩa: “Vợ tao đợi tới mười hai giờ không thấy về phép, lên trường kiếm. Biết tao bị giam, bả báo ông chú và một cú tê-lê-phôn can thiệp, đại tá cho gọi tao lên. Sau khi nghe trình bày, mặt trời mắng sơ sơ mấy mắng rồi tha cho ngay”. Quý thôi cười, hạ giọng một cách thích thú: “Giấy phép được trao liền…” “Còn lão trung uý?…” “Còn cái gì nữa. Lão tìm tao xin lỗi, chắc vì sợ tao nói với ông chú cho đi Cà Mau Bến Hải một phát … Thực ra, tao đâu thèm trả thù vặt mà lo!”. Từ ngày ấy, chàng ngại giao thiệp với Quý. Một con ông cháu cha như vậy tại sao còn bị động viên. Chắc hắn cùng loại với Việt, một sinh viên sĩ quan cựu nhân viên phủ tổng thống sau khi mãn khoá hai tháng đã trở về thăm trường với tư cách thượng khách tới thuyết trình và chàng đã phải bắt súng chào mỏi tay trước khi cùng cả khoá ngồi xếp bằng trên sàn xi-măng nghe những lời ca tụng tổng thống cùng gia đình.

“Đây là chuẩn uý mới tới, đại uý”.

Chàng đặt báng súng xuống ghế, đứng đậy bắt tay viên đại uý cao lớn mới bước vào. Viên trung uý nói:

“Đại uý Woòng, tiểu đoàn phó. Trước coi đại đội chỉ huy tại đây”.

Chàng ngồi xuống, bắt đầu ráp lại súng, hơi khó chịu với câu nói ngụ ý ám chỉ sự kiện tiểu đoàn phó mới lên chức đại uý của trung uý già. Đến đây, nơi tiền đồn rồi còn đố kỵ. Chàng thở dài nhẹ nhõm khi nghĩ ngày mai sẽ không còn phải ở cạnh cái ông già tóc hoa râm nhỏ nhen này. Tiểu đoàn phó cởi hàng cúc trên áo ngực, cầm tờ báo quạt liên tiếp vào ngực, nói:

“Nóng quá sức. Bốn giờ chiều rồi còn nóng. Chẳng kém gì mùa hè ngoài Bắc”.

Chàng thấm dầu vào giẻ, lau một lượt mỏng lên các cơ phận bằng thép, tự hỏi cái giọng lơ lớ này thuộc vùng nào ngoài Bắc, sau cùng, khi phết dầu thật nhẹ lên sắt che cò, chàng mỉm cười vì thấy đã ngu: tên là Woòng, lại ở sư đoàn này, chắc chắn phải là người Nùng hay Tàu Móng Cái.

° ° °

Chị khóc nức nở, những hình ảnh cũ, những đau đớn đã trải qua làm lồng ngực căng đau nhức, nước mắt chảy liên tiếp trên má, rớt xuống nóng ran từng khoảng trên đùi. Tía hoảng hốt xích lại gần, nắm tay siết chặt:

“Tôi có nói chi đâu! Tôi thương em lắm, tôi có định chê em đâu. Lâu lâu gặp nhắc lại chuyện xưa cho vui vậy thôi. Có chi đâu mà em khóc”.

Qua làn nước mắt, nhìn dáng điệu hốt hoảng của người đàn ông, nét mặt luống cuống lo ngại, chị thấy bớt buồn. Bàn tay bắt đầu cảm thấy hơi ấm toát ra từ làn da ấm cứng của người đàn ông. Tía rút khăn ra lau những giọt mồ hôi trên trán, ngượng nghịu mỉm cười với dáng điệu thường có khi còn là một người bạn trai tính nết nóng nảy nhiều khi giận lẩy như trẻ con. Chị hết buồn, bây giờ hai bàn tay chị đã bị kéo đặt lên đùi người đàn ông. Thằng Bê nhặt được một trái mít xanh rụng lăn lóc ngoài sân, hướng vào nhà gọi:

“Má! Má!”

Chị quay ra la lớn:

“Con đá banh đi, con đá banh đi má coi”.

Bàn tay người đàn ông vòng đặt lên lưng từ hồi nào bắt đầu cử động. Chị biết khi bàn tay cử động như thế, người đàn ông đang muốn gì và các cử động kế tiếp sẽ ra sao. Chị không muốn điều đó nhưng một thúc đẩy từ bên trong làm chị nhủ thầm: đợi một chút, một chút nữa… Những ngón tay sau khi lướt nhẹ trên vải áo, tiến lên. Chị vùng gạt tay người đàn ông, đứng dậy, hơi thở khó khăn:

“Đừng có bê bối! Tui la làng bây giờ”.

Tía toan đứng dậy theo nhưng lại thôi, ngồi lặng một chỗ cúi đầu xuống, giọng nói như thì thào và buồn rầu:

“Tôi đâu muốn bê bối, em. Tại tôi thương em. Em biết bữa tôi bỏ xã, tôi chỉ mong kiếm được nhiều tiền, mở một tiệm sửa xe đạp là về xin cưới em. Hai đứa mang nhau ra khỏi tỉnh khỏi lo có ai quấy nhiễu như ở vườn… Nhưng mãi cũng không làm được chi… Biết em có chồng con rồi, tôi vẫn nhận làm đại diện xã để trở về… Tôi thương em quá”.

Giọng nói ngập ngừng nhiều khi e dè làm chị cảm động, hồi hộp y như một ngày đã lâu lắm, khi Tía nói thương chị bằng một giọng nhỏ hơn bây giờ. Bờ ruộng đã ướt sương đêm nhưng chị chưa muốn về cho tới khi Tía chụp hôn lên má. Buổi đêm, tiếng dế kêu rỉ rả, một vòng tay luống cuống ôm và một chiếc hôn trên má ấy, chị đã nằm thao thức cho tới gà gáy sáng và chiếc xe lam chuyến sớm nhất rồ máy chạy trên quốc lộ. Hồi ấy chị còn là cô gái chưa biết gì và Tía còn hung hăng như một con gà trống. Chị nhìn ra ngoài sân, thằng Bê vẫn loay hoay nghịch trái mít khô, chị nhìn Tía, người đàn ông cúi mặt, chị chỉ thấy đôi môi mấp máy. Tía không còn trẻ như xưa, chị cũng vậy. Nhiều chuyện đã xảy ra từ ngày ấy. Ý nghĩ này làm chị vụt buồn rũ rượi.

Tiền Đồn

Thế Uyên

Post by Sơn râu 10 Oct 2024

Phần 1.

Ba tiếng súng nổ phía đồn, Vũ nghe rõ đủ ba tiếng kế tiếp trong cơn ngủ chập chờn nhưng không muốn thức tỉnh ngay. Chàng xoay mình, chiếc áo còn ướt mồ hôi ở lưng dính vào vải võng, chàng mở mắt chậm chạp, bầu trời sáng trăng, những đám mây trên cao viền bạc óng ả. Bàn tay tự động quờ quạng mở máy lúc nào không rõ, bây giờ tai chàng bắt đầu nghe thấy tiếng u u phát ra. Một đám mây tiến đến che khuất mặt trăng, vùng bóng tối lan dần từ phía khoảng trống cuối chợ tiến nhanh lại toán quân, những bóng đen thẫm nằm bất động từng vệt trên đất. Chàng áp ống nghe vào tai, đưa chân đạp hiệu thính viên nằm cong queo dưới đất. Địch tấn công lớn gần Bến Sa, tiểu đoàn 3 bị vây. Lệnh mở đường và giữ an ninh lộ trình cho tiểu đoàn dù đi đường bộ lên tiếp viện. Một bóng đen tiến lại gần, thì thào: “Vũ đâu? Chuẩn uý Vũ nằm đâu?”. Vũ cầm nút nhựa cứng gõ vào thành bi-đông, tiếp tục tu nước. Bóng đen lại ngồi cạnh, khum tay hút thuốc, đầu lửa đỏ loé sáng soi rõ bộ cằm râu lởm chởm. Các binh sĩ đã tỉnh ngủ, loay hoay tháo võng, gập áo mưa. Những bóng đen lập lờ sau hàng cột chợ, những tiếng leng keng của các bi-đông mở nút, tiếng báng súng va thầm trên đất nện. Vũ đeo dây đạn vào người, dựng khẩu súng vào vai, có tiếng một binh sĩ chửi rủa nho nhỏ, chàng khum tay hứng nước từ bi-đông chảy ra, té lên mặt. Tỉnh hẳn ngủ, nhìn khu chợ như sáng bừng lên dưới ánh trăng không còn mây che, chàng thấy mệt mỏi. Hy quay lại xoay tay đưa điếu thuốc lại cho chàng châm nối. “Trung đội 3 xong chưa?”, chàng gật đầu, “Vũ biết lệnh chưa?”, chàng làu nhàu: “Nghe ban nãy rồi. Một giờ đêm mới về đến đây. Ba giờ sáng đã xuất quân!”. Một bóng đen băng nhanh qua sân chợ lại gần Hy hỏi nhỏ: “Đi chưa đại đội trưởng?”. Hy đứng dậy, bỏ điếu thuốc xuống đất, lấy chân đạp mạnh: “Trung đội 3 đi bên trái đường…”, chàng gật đầu. Trung sĩ Ra thì thào: “Sáu giờ sáng trung đội mình mới phải đi đầu chứ chuẩn uý?”. Vũ tự dưng cáu kỉnh, chàng chưa bao giờ quen với tình trạng tỵ nạnh từng ly từng tí giữa các đơn vị lớn nhỏ, giữa từng chiến binh của đơn vị này. Chàng cố giữ khỏi lớn tiếng: “Được rồi! Tiểu đội 2 trực trung đội đêm nay, đi trước! Đúng 6 giờ sáng, đổi phiên cả trung đội lẫn tiểu đội đi đầu. Rắc rối!” Chàng làu nhàu: “Nào có phải đi sau mà không chết đâu!”. Toán quân lầm lũi ngái ngủ di chuyển dưới ánh trăng, len lỏi phía sau các ngôi nhà kín mít im lìm. Một hàng rào chắn ngang, binh sĩ tay giơ cao súng, tay cố ấn dây kẽm gai xuống xoạc chân bước qua. Toán phía sau dồn cục, chờ đợi. Có tiếng ngáp dài, Vũ lắng nghe, tự hỏi âm thanh phát xuất từ hàng quân hay trong nhà. Chàng xoạc chân vượt qua hàng rào, kẽm gai lướt sắc trên mông, chàng tự dưng thấy thèm ngủ đến độ muốn nằm ngay xuống giữa hai luống rau, nằm ngủ cho tới sáng. Toán quân tiếp tục đi, một vệt dài đen thẫm im lặng uốn cong lên lỏi giữa các nhà kín mít, trăng sáng thật sáng làm nổi một tiếng chửi thề trên giọng khàn hạ thấp của một binh sĩ bị kẽm gai móc vào chân. Bốn giờ sáng có lệnh dừng quân bố trí, Vũ cho trung đội đóng dài dọc lộ phía sau lớp nhà, hút thuốc trong chiếc mũ úp trên tay. Âm thanh rì rào của máy truyền tin, hiệu thính viên thì thào xen lẫn với tiếng huýt sáo nhỏ: “Thanh 3 gọi Thanh nghe không trả lời, Thanh 3 gọi Thanh nghe không trả lời… Thanh 3 đã tới vị trí ấn định, Thanh 3 đã tới vị trí ấn định…”. Đoàn xe tải quân tiếp viện bắt đầu xuất hiện, những khối đen to dần trong tiếng động cơ ầm ì, những ngọn đèn xanh nguỵ trang leo lét như mắt mèo. Vũ đứng dậy, đeo súng lên vai, gắn điếu thuốc lên miệng ra đứng ven quốc lộ, tựa lưng vào cột hàng rào. Những bóng đen bất động trên xe, một vài đốm lửa đỏ hình như hướng về phía chàng như một lời chào không thành tiếng. Ánh trăng tràn đầy, loang loáng trên các đỉnh tròn của mũ sắt, lẫn trong tiếng động cơ vang lớn. Đoàn xe đã đi qua, Vũ nhìn theo chấm đỏ chiếc xe cuối cùng, vơ vẩn nghĩ tới đơn vị bạn đang thất thế, cầm cự từng phút cũng dưới thứ ánh trăng này. Chàng trở lại chỗ cũ ngồi tựa cửa căn nhà, tay quàng lên báng súng ngủ thiếp đi.

Cánh cửa lay động như muốn mất hút về phía sau, Vũ giật mình vùng quay lại. Trời đã hửng sáng. Người đàn bà bất động đặt nguyên tay trên cánh cửa nhìn những người lính ngổn ngang ngoài thềm, không ngạc nhiên, không sợ hãi. Phía trong, ba đứa trẻ ngủ lăn lóc trên chiếu trải ngay dưới đất. Vũ giơ tay che miệng, hỏi qua tiếng ngáp: “Sao bác để các em ngủ đất? Dễ đau bịnh lắm!”. Người đàn bà trả lời, không mỉm cười, không nhăn nhó: “Phải đành vậy. Nằm giường đâu có chạy đạn kịp. Dạo này đánh nhau quá trời đi chú!”. Vũ đứng dậy vươn vai nhìn một vùng trời bắt đầu ửng đỏ, ra sân múc nước té vào mặt, châm một điếu thuốc, nghĩ tới một ngày vất vả đương chờ đợi.

° ° °

“Mấy giờ rồi anh?”

“Không biết”.

“Anh xem đi”.

Đầu người con gái đè nặng trên bụng, ánh trăng phản chiếu từng đợt sáng trên tóc khi thiếu nữ cử động. Định cuối xuống mỉm cười.

“Đồng hồ anh để trong túi quần trái, em lấy mà coi”.

Bàn tay nhỏ trắng vùng lên, lách giữa những lớp vải tìm kiếm, những đầu ngón cử động mơn trớn trên đùi chàng. Thiếu nữ giơ đồng hồ lên, nghiêng đi nghiêng lại để tránh ánh trăng phản chiếu trên mặt kính.

“Ba giờ rồi anh…”

“Tám giờ anh mới đi. Bọn mình còn nhiều thì giờ”.

Định cúi xuống, thiếu nữ đang ngậm ngón tay trỏ của chàng, đầu lưỡi nóng ẩm ướt trên da, ánh trăng đọng hai vết nhỏ trên đôi mắt mở lớn. Chàng nghi ngờ, đưa tay vuốt kẽ mắt, tìm thấy vết ẩm ướt. Linh vòng bàn tay qua gáy chàng, rướn người lên hôn, Định giữ nguyên vị trí, đôi môi nàng mấp máy tìm kiếm, chàng bất động, bàn tay ấp lên trên gáy cử động yếu dần và bây giờ Linh đã buông đầu vào lòng chàng, những giọt nước mắt xuất hiện từng khối trắng đọng lớn dần.

“Tại sao em không cản anh đi sư đoàn? Linh! Em biết lúc ấy em cản, anh sẽ rút đơn lại mà”.

Thiếu nữ cựa người, một giọt nước mắt, chàng trông rõ một giọt nước mắt lăn xuống gạch.

“Em không muốn… Nhưng tại sao anh cứ phải ra trận mới được? Anh tưởng em sẽ tìm được cái gì cho anh ở đó. Không có gì đâu anh, không có gì hết đâu, anh! Em biết thế, em là đàn bà, em yêu anh, em biết rằng không có gì ở đó cho anh đâu!”

Định nín lặng nghe, tiếng đoàn xe lửa lớn dần, át tiếng nói của Linh. Bây giờ đoàn tàu đã đi qua, ánh trăng tiếp tục trên sân gạch, trên những trái tầm ruột góc sân bên kia. Chàng tựa đầu vào vách tường, khép mắt gần kín để nhìn những ánh sáng lấp loé trên hàng mi.

“Em không muốn cản anh bởi vì em biết anh chỉ có thể sống yên bên em sau khi tham dự cuộc chiến. Mỗi người đàn ông cần phải trải qua một cái gì đó mới có thể sống yên…”

“Đừng lo cho anh!”

Bàn tay Linh đưa lên lục lọi túi áo lấy bao thuốc, đặt một điếu vào môi chàng. Ánh bật lửa bùng lên, nét mặt Linh xuất hiện gần như vui vẻ làm chàng ngạc nhiên và cảm thấy đau nhói trong lồng ngực. Cái chết xuất hiện, lẩn khuất với nụ cười… Không rõ ràng như thế, chàng tin sẽ có thể chết. Có lẽ vì sự có thể này, chàng đã xin đi đơn vị tác chiến, có phải chỉ vì thế…

“Em biết tại sao anh muốn ra trận không?”

“Em đã nói rồi. Anh cần phải trải qua chiến trận… Để làm gì? Vì tự ái đàn ông, vì kiêu hãnh làm người hay vì cái gì nữa em đâu biết. Em chỉ biết em không nên cản trở anh, em chỉ biết anh chỉ có thể sống yên bên em sau khi đã trải qua… cuộc chiến tranh này.

Linh ngừng bặt vì chàng đã vòng tay nâng lên hôn, ngậm đôi môi nóng và cắn mạnh, thiếu nữ muốn kêu nhưng âm thanh không thoát ra.

“Không hiểu sao em tin rằng em sẽ chết trước anh đấy, anh yêu!”

Định cười, nhặt điếu thuốc còn cháy quăng lăn lóc bên cạnh, hút tiếp:

“Em có tin có linh hồn không, Linh?”

“Em không biết nữa, nhưng em mong rằng có. Bởi vì như thế dễ sống và dễ chết hơn, anh thường nói”.

Bởi vì như thế dễ sống và dễ chết hơn? Có đúng thế hay không, không biết, nhưng chàng biết chắc đã nhiều lần luyến tiếc vì thời kỳ thơ ấu, thời kỳ chàng tìm thấy, cảm thấy có những vị thần linh dữ tợn sống trong các hốc cây đại thụ, những con ma lả lướt trên rễ đa và những nàng tiên lang thang vơ vẩn trong không gian đi tìm những đứa trẻ đang khóc vì mất đồ chơi hay tủi hổ vì cha mẹ mắng. Chàng nhớ lại thật rõ rệt bốn bức vách quét hắc ín căn phòng chứa xác toà nhà bác sĩ một thị trấn xa, nơi chàng ở nhờ khi tới đáo nhiệm sở mới. Chung quanh vườn rộng um tùm, cành lá trĩu nước của mùa mưa kéo dài, nửa đêm chàng nghe thấy tiếng cạo sửa, cửa thông sang phòng để đồ bên cạnh. Trong giấc ngủ chập chờn, ý thức như ghi nhận những vết cào xước ấy ngay trên sọ. Buổi sáng trở dậy, đi quanh nhà xem xét, chàng thoáng lạnh người khi không tìm thấy trên các cửa một vết cào nào. Khu nhà rộng không có chó, không có mèo. Người đàn bà làm vườn trợn mắt thì thào: “Ông không biết à? Xưa Tây bắn chết mấy chục người ngoài vườn. Xác xếp cả trong phòng đó, phòng chứa xác của ông đốc-tờ!”. Đêm sau chàng đi uống cà-phê khuya, trở về tắt đèn, cầm chiếc đèn bấm đi rừng thu người trong góc phòng chờ đợi. Khi tiếng cào bắt đầu, chàng rón rén tiến lại gần, chồm lên đạp tung cửa, nhào sang buồng chứa đồ. Dưới ánh đèn pin quạt ngang dọc, không dấu vết một sinh vật nhưng cửa chiếc tủ kê nghiêng đang từ từ mở một cánh. Tim thắt lại lạnh giá, chàng nhảy chồm tới mở tung cánh tủ còn lại. Dưới ánh đèn một con chuột lớn đang lẩn trốn sau dãy chai lọ va đổ loảng xoảng. Khi nhảy tới, chàng tìm gì? Một bóng ma hiện hình, một con quỷ không đầu hay một hồ ly xoã tóc đang khát tình? Chàng không hiểu rõ, chỉ biết đã thấy thất vọng đến tận xương tuỷ khi thấy một con chuột mắt giương lấp lánh sợ sệt. Bàn tay nóng của Linh úp lên má chàng:

“Anh nghĩ tới cái gì thế?”

“Anh đang tự hỏi có linh hồn hay không”.

Tự dưng một nỗi thiết tha với cuộc đời, thiết tha mạnh mẽ tới độ làm cơ thể chàng rung lên, nhức nhối. Chàng nói dồn dập:

“Trong đời anh, anh chưa thấy người đàn bà nào yêu mạnh mẽ như em. Vậy nếu em chết trước, anh sẽ lấy vợ khác, đêm tân hôn anh sẽ mang tới căn phòng xưa bọn mình đã sống ở Đà Lạt tuần trăng mật. Anh sẽ để cô nàng trần truồng nằm trên giường, rồi mở lớn cửa sổ gọi tên em. Nếu có linh hồn em sẽ phải hiện về. Nếu không, sau cái chết sẽ không còn gì cả. Em hiện về không, Linh? Anh sẽ gọi tên em thật to cho cả vùng đồi, cho tới tận nghĩa trang có mộ em…”

Thiếu nữ níu tay qua vai người đàn ông, ngồi dậy, mắt mở lớn:

“Em sẽ về! Nếu có linh hồn… bằng bất cứ…”

Thiếu nữ vùng úp mặt vào vai chàng khóc nức nở nghẹn ngào:

“Anh nói thật đi anh! Sau cái chết anh còn tin có gì nữa không, còn gì nữa không…”

Định bế thiếu nữ vào nhà, qua chiếc sân ánh trăng đã nhạt. Chàng hơi dừng lại trên bậc cửa, nhìn lên bầu trời phía đông đã bắt đầu trắng sáng trước khi cúi xuống hôn lên khuôn mặt đẫm nước mắt. Nằm phủ lên Linh, chàng không thấy thèm muốn nhưng chàng muốn, vô cùng mãnh liệt, vào sâu trong cơ thể phía dưới của người khác kia, kẻ khác kia, những thúc đẩy run rẩy của cơ thể chàng tìm kiếm đương hoà hợp với Linh, người khác kia, không có nghĩa gì hơn không mang một giá trị gì hơn là biểu lộ một chống đối thật nhỏ và vô ích với khoảng không có gì hết sau cái chết. Khi thân thể rung chuyển mạnh trước phút cao độ của đàn ông, Linh vùng siết chặt, những ngón tay có móng nhọn chới với trên lưng chàng, những câu nói nàng thốt ra, chàng không hiểu rõ, nhưng cảm thấy một chuỗi tiếng kêu tuyệt vọng từ ngàn xưa của con người khi biết chẳng bao giờ thoát khỏi cái chết đang chờ đợi.

° ° °

Súng cối ở đồn bắn? Chị Ba nhấc đầu khỏi gối lo ngại, nín thở nghe ngóng. Thân thể cứng lại trong chờ đợi tiếng nổ lớn kinh hồn. Chiếc đồng hồ lấp loáng ánh dạ quang xanh mờ vẫn kêu tích tắc trên bát sát giường. Chung quanh im lìm, tiếng một con chó sủa ở xa, một con mối tắc lưỡi trên vách. Không có gì cả, chị thở phào. Chắc thằng Bê đạp chân vào vách, không phải tiếng súng cối bắn đi. Chị tự hỏi mấy giờ, bực mình khi nhớ ra ban nãy có ngó vào đồng hồ nhưng không nhớ là mấy giờ. Chị lồm cồm ngồi dậy, đưa tay cuộn mái tóc rũ rượi lên đầu, gáy và bàn tay đều nhớp mồ hôi, nóng bừng. Mới có ba giờ. Qua khe vách, ánh trăng từng vệt cắt ngang thân hình anh Ba và thằng Bê nằm phía ngoài. Chị cúi xuống, người đàn ông ngủ say, tiếng thở đều đều.

“Anh ơi! Hình như có tiếng súng ở đồn”.

Người đàn ông ầm ừ, co hai chân lên, một khoảnh khắc ngắn bàn chân bám đất hiện rõ dưới ánh trăng.

“Để tui ngủ. Sáng đâu nào”.

Chị lay chồng khe khẽ:

“Anh cứ dậy thử coi. Lỡ mấy ông bắn thiệt, chun vô hầm đâu có kịp”.

Chị đưa tay quàng lấy đầu chồng, kéo lên. Đầu gối người đàn ông lọt vào giữa hai đùi ấm áp, làm chị tự dưng muốn khép hai chân lại. Vợ chồng vừa đôi co lúc tối, chị muốn ăn nằm từ chiều, từ lúc anh Ba xối nước ngoài sân, cái mông cứng lâu láng nước làm chị nóng ran từ dưới lên trên. Chị cố ru cho thằng Bê và khi nó đã ôm cái chăn dạ lính ngủ, anh còn lúi húi đan gì không biết ở căn bên. Chị giục tắt đèn, một lần, hai lần, anh không nhúc nhích. Có tiếng dao chặt nhẹ và tiếng cười: “Có người nghèo mà ham quá ta…”. Nghe tức điên, chị không thèm nói nữa, quay mặt vào vách cố ngủ. Anh kéo ngửa ra, chị vùng vằng không chịu. Anh lao người lên, đè trên cánh tay đau nhói, chị càng tức co chân đạp tung anh xuống đất. Sau cùng cả hai cùng ức, nằm cạnh nhau im lặng. Về khuya chị thao thức không ngủ được, người vẫn râm ran bứt rứt. Chị xoay người lại ép sát vào chồng. Chị biết anh chưa ngủ. Nhưng anh nằm im. Chẳng lẽ chị lại dàn hoà trước. Chị toan tính quẩn quanh, mong có tiếng súng nổ để cả vợ chồng con cái leo xuống cái hầm dưới gậm phản. Thế là tiện, khỏi phải ai dàn hoà với ai hết. Nhưng đêm nay yên tĩnh. Trăng sáng, chắc mấy ông trong đồn nhớ vợ nhớ con không buồn động tĩnh. Chị ấm ức, ấm ức với tất cả. Chẳng lẽ lại đưa tay ra trước để anh chàng sáng mai làm tàng, chịu đâu nổi. Bây giờ không gian bốn bề yên tĩnh, trăng sáng như ban ngày ngoài vách và người chị thì như thế. Chị đưa tay xoa bộ ngực căng tức sữa, một cảm giác buồn buồn bứt rứt lan khắp người, phía dưới bụng như căng ra. Chị bước xuống đất, tiến đến sát vách đối diện, nhìn qua khe. Hàng hiên sạch trắng dưới ánh trăng, dưới mấy bóng cây ngoài vườn không hình dạng nào khả nghi: đêm nay không có toán quân nào tới đóng quanh nhà. Chị toan mở cửa ra ngoài, nhưng lại thôi. Biết đâu mấy ông lại không nằm phía chuồng bò bên kia, bước ra dám bị đạn lầm. Ai biết được mấy ông ở chỗ nào, lệ thế rồi, ban đêm ra khỏi nhà không cầm đèn bắn chết bỏ. Tuần trước, trăng cũng sáng, bà Hương ấp trên nửa đêm ra ngoài đi cầu, bị bắn gãy cẳng. Còn nằm nhà thương trên tỉnh chưa về. Thôi, ở trong nhà là hơn dù chị rất ghét làm việc này trong nhà. Anh Ba nằm kia. Tấm ảnh nhìn chị còn ngượng nữa là… Những lúc thế này, chị muốn già phứt cho rồi để có thể như mấy bả, tiện đâu ngồi đó. Chị cúi xuống, cẩn thận kéo cái chậu xa vách cho vừa tầm, chị tụt quần ngồi có giữ cho tiếng nước khỏi vang động. Có tiếng cười nhỏ trên giường thì phải, chị không dám chắc có phải không. Lại gần giường, chị khe khẽ leo lên, một cánh tay đột nhiên quàng qua lưng, vít xuống. Chị vùng vẫy thì thào:

“Khéo đè lên thằng nhỏ!”

“Đè lên đâu cũng được, làm tàng hoài à!”

Chị giẫy giụa, cố xoay người ép vào vách:

“Chẳng biết ai làm tàng…”

Đột nhiên chị chống tay ngồi lên. Có tiếng động cơ lớn dần, ầm ĩ dữ dội. Anh Ba nới lỏng tay úp trên ngực vợ, nghe ngóng. Đoàn xe vụt trên lộ bên kia vườn, hết chiếc nọ đến chiếc kia. Sau cùng tiếng động cơ nhỏ dần, khuất đi. Chị thả người nằm xuống, hất chồng ra ngoài thì thào:

“Thôi mình! Mấy ông hành quân lớn, đạn bắn tùm lum bây giờ. Tôi hổng chịu xách quần tụt vô hầm như bữa trước đâu”.

“Thì ôm quần tụt vô đã sao, như bữa trước đã sao?”

Chị thẹn nóng bừng má. Bữa đó, súng nổ tứ tung, ngồi sát vách đất hầm tay ôm mớ quần áo, tay bồng đứa nhỏ mà ảnh còn tiếp tục… Nỗi ngượng nghĩ lại làm chị bơ thờ, tứ chi xao lãng thủ thế. Anh Ba lợi dụng lao ngay lên. Chị vùng người không kịp. Chị nói nhỏ:

“Làm khẽ chứ! Cho thằng nhỏ ngủ”.

Chị lơ mơ nghĩ sáng mai phải dậy sớm ra chợ bán thúng khoai mì. Chắc chín giờ là hết, tới hàng vải mua cho thằng nhỏ chiếc áo, cái màu đỏ chị ngắm nghía từ ba bữa nay. Tiếng anh Ba thở mạnh, chị chợt nhận thấy hơi ùa ra khỏi miệng mình còn mạnh hơn, rồi chị chẳng còn nghĩ còn nhận thấy cái gì nữa.

° ° °

Hy trải tấm bản đồ bọc nhựa xuống cỏ, cầm bút chấm. Nắng hắt trên nhựa bọc làm Vũ nhăn nhó khó chịu.

“Trung đội 3 hôm nay trực, đi bên phải quốc lộ. Trung đội 2 đi bên trái, tôi và trừ bị đi sau trung đội 2”.

Có tiếng huýt sáo vang từ máy truyền tin, Vũ đưa tay lên cầm ống liên hợp, trả lời. Lưỡi chàng chuyển động khó khăn, miệng khô khan thèm thuồng một ly cà-phê sữa đặc quánh. Chàng cài ống nghe vào đai vải, quay lại nói:

“Tiểu đoàn báo cho biết có một đại đội biệt động quân từ bên kia sông rút sang, theo lộ trình này…”

Vũ cầm bút vạch trên bản đồ:

“Tiểu đoàn dặn phải cẩn thận, không đụng lầm. Họ sẽ tới ngã tư đất đỏ rồi theo quốc lộ về tỉnh”.

Hy gạch chữ thập lên bản đồ:

“Khỏi lo đụng lầm. Một giờ nữa tối đa đại đội mình vượt qua ngã tư rồi. Vũ nhớ khi qua ngã tư, cho bắn càn quét vào rừng bên phải”.

Vũ khó chịu, làu nhàu. Chàng rất ghét cái lối nổ súng bừa bãi khi không có địch. Chàng đứng dậy, vươn vai hỏi:

“Chắc có địch ở số nhà đó không?”

Hy gập bản đồ, đút vào ngực áo:

“Một trung đội du kích. Thằng Tư tưởng bảo vậy. Cứ biết vậy đã. Nhưng mong rằng tin đó sai”.

Khi len lỏi sau các dãy nhà, các ruộng khô gần tới ngã tư, Vũ hết sức mong tin đó sai. Xe hàng đỗ dồn cục, các hành khách đứng từng nhóm nhỏ nhìn về phía trước. Chàng cho quân ép sát lộ, một người đàn bà đi tiêu luống cuống kéo quần đứng dậy, một ông già tiếp tục đái, thản nhiên nhìn toán lính xáp lại gần. Cho quân bố trí sau bờ tre, chàng gọi hiệu thính viên đi cùng lại ngã tư, hỏi mấy người tài xế đang ngồi ngổn ngang hút thuốc:

“Có mô phải không? Mấy cái?”

Một người mặc áo trận lính cũ lem luốc dầu mỡ đứng dậy:

“Tụi tôi cũng không rõ. Vừa tới chỗ bờ ấp kia thì bị mấy ổng hét bắt trở lui. Tụi tôi trở lui… Có tới hai ba cái mô chi đó”.

Vũ cầm máy, gọi Hy:

“Thanh thấy gì không? Thanh 3 chẳng thấy gì cả”.

Chàng nhìn qua ngã tư: bên phải đường là khoảng trống dài gần một cây số cây mọc thấp ngang đầu tới mép rừng. Phía xa bờ ấp cao vững như bức tường. Một khẩu trung liên đặt ở đó, trung đội chàng chỉ có nước nằm chịu trận. Vũ nói vào máy:

“Thanh cho Thanh 2 tiến trước giùm. Bên đó có rừng cao-su”.

Tiếng Hy trả lời biến giọng qua ống nghe:

“Tôi có lệnh như thế rồi. Nhưng thằng Thanh 2 không dám tiến. Đồ gà chết cả lũ! Thôi, Thanh 3 tiến đi, tôi yểm trợ cho”.

Trung đội mở rộng hàng qua ngã tư rồi đứng lại. Các binh sĩ nhìn khoảng trống dài trước mặt. Phía xa thành ấp đất trắng vững chãi, Vũ bực dọc, tiên phong lên đi đầu. Chàng mệt và chán không muốn chửi rủa gì nữa. Mọi sự là như thế rồi. Không thể sửa đổi, sức không đủ cho chàng sửa đổi bất cứ cái gì. Tay đặt trên cò súng đã nhờn trong mồ hôi, chàng cố tập trung quan sát vào bờ ấp. Yên tĩnh, bất động. Còn xa quá, không thể phân biệt được chi tiết. Đột nhiên có tiếng la lớn phía sau:

“Dừng lại đi! Đi nữa nó bắn chết hết”.

Vũ quay lại. Toán quân trải rộng và dài về phía sau. Xạ thủ trung liên tiểu đội đầu đi một mình, người tải đạn ngồi bệt xuống một quãng phía sau. Vũ tức giận. Vẫn binh Cận, một kẻ luôn luôn kêu than, luôn luôn tìm dịp nhảy dù về tỉnh. Mỗi lần bị la, hắn nhìn chàng như muốn gây lộn. Và nhiều lần, chàng đã muốn đưa súng lên cho hắn một phát rồi mọi sự muốn tới đâu thì tới. Chàng la lớn:

“Lên đi! Đứng đây, nó quạt thì tịch hết”.

Cận vẫn ngồi dưới đất, nói trống không:

“Lên còn chắc chết hơn nữa”.

Vũ thấy cơn giận biến thành một ước muốn giết người cuồn cuộn trong mạch máu. Chàng ngó cái bộ mặt lấp ló trên cỏ, đôi mắt láo liên sợ hãi của Cận như thấy đó là tất cả những cái gì chàng thù hận trong cuộc đời này. Từ người vợ cằn nhằn cau có, đứa con hay đau quặt quẹo cho tới lão tiểu đoàn trưởng đầu húi cua hay la hét, cho tới những nỗi cực nhục nhọc nhằn chàng đã phải trải qua cho tới lúc này, lúc này… Chàng đi trở lại, súng hạ xuống tiến trở lại phía Cận. Đôi mắt láo liên hấp háy dưới ánh nắng buổi sáng nhìn chàng.

° ° °

Nắng chiếu trên mặt bàn làm chất sữa trong ly mỡ màng hẳn lên, Định tỳ cằm lên tay cúi nhìn mảnh giấy ghi tiền đặt bên cạnh gạt tàn thuốc. Chàng thấy yêu chất sữa dưới nắng, làn khói thuốc xanh cuồn cuộn bay, chậm chạp và tha thiết trong một luyến tiếc cũ kỹ. Chàng đặt tay lên tay Linh trên thành ghế kế bên. Đôi mắt thiếu nữ mở lớn im lặng. Ngoài hè, hai người đàn bà dừng lại nói chuyện, vẻ mặt như cãi lộn. Định rút tay về, cầm chiếc mũ lưỡi trai bạc nắng, tháo phù hiệu cấp bậc. Chàng nói:

“Ở sư đoàn này, không ai đeo lon đi hành quân. Sẽ bị bắn chết liền”.

Chàng vặn lại núm đồng vào đinh, bỏ tất cả vào túi, cầm bao thuốc, lấy một điếu. Chàng cầm bật lửa châm hút, chàng đặt bao thuốc xuống bàn, đặt bật lửa xuống cạnh bao thuốc, chàng cầm ly lên uống, đặt ly xuống. Những hành động bình thường của cuộc đời này, của chàng dưới đôi mắt nhìn mở lớn của Linh. Tám giờ rồi, tám giờ của một buổi sáng có nắng, tám giờ của một ngày. Nhưng một siết thắt, một mong manh bao phủ tất cả những cử động, những khói thuốc, những chất sữa mỡ màng trong chiếc ly sứ dày cộm. Tám giờ rồi… Chàng quay lại nói, nhìn ra phía sau Linh:

“Mười lăm phút nữa anh đi”.

“Anh đừng nói gì cả, anh đừng nói nữa, em van anh!”

Chàng quay đầu lại, khó khăn nhìn ra đường, nhìn sang bên kia hè, nhìn thành tường thấp ngay trước mặt, nhìn chiếc ghế bọc da đỏ bên kia bàn, nhìn đôi giày cao gót trắng có một chiếc nơ nhỏ bằng da cứng, nhìn phần bàn chân Linh lộ khỏi giày, lớp lông tơ óng ả dưới nắng. Bàn tay của Linh đưa vào tầm mắt nhìn của chàng, tìm bàn tay chàng kéo đi. Chàng nhìn những chiếc xe chạy ngoài lộ, chàng nhìn những người đi trên vỉa hè, chàng nhìn thành tường thấp trước mặt, chàng nhìn chiếc ghế da đỏ bên kia bàn, chàng nhìn chiếc nơ nhỏ bằng da trên mũi giày. Những ngón tay Linh len lỏi, khao khát tìm đan kết với các ngón tay của chàng. Những ngón tay ấm, buồn rầu. Những quấn quít tuyệt vọng, câm nín trên tâm hồn chàng, tâm hồn đang gây gấy trong một chia lìa với những chiếc xe chạy ngoài lộ, những người đi trên vỉa hè, bức tường thấp trước mặt, chiếc ghế bọc da đỏ bên kia bàn, những ngón tay ấm buồn rầu trên da chàng. Định cầm bao thuốc lá bỏ vào túi, cầm bật lửa bỏ vào túi quần, đứng dậy, cầm túi quân trang đưa lên vai. Linh ngồi bất động, bàn tay buông thõng trên thành ghe, nắng lấp lánh trên hàng mi dài. Chàng bước ra khỏi quán, chàng mở cửa xe tắc-xi, ném túi quân trang xuống sàn, chàng đóng cửa xe và chàng không biết Linh ngồi trên ghế nhìn gì, bức tường thấp trước mặt, những người đi trên hè hay điếu thuốc cháy dở bốc khói trong gạt tàn lúc chàng đứng dậy ra đi.

° ° °

Rổ khoai mì đã bán gần hết, chị hài lòng xoa hai tay vào nhau cho sạch đất. Nắng chưa gắt, chiếc nón chị còn quẳng ngửa bên cạnh trên đất. Một người lính dừng lại, chị thấy đôi giày da cao cổ đầy bụi, gót phía sau mòn vẹt. Giọng nói lơ lớ làm chị biết đây là một người Nùng, tiểu đoàn đóng vùng này gần như có giọng nói như thế cả, mấy anh du kích gọi là dân xì dầu, lý do tại họ gần như không biết ăn nước mắm. Không hiểu xì dầu ngon lành gì mà mấy ổng ăn hoài được. Chị thốt cười rúc rích. Bà Tư đưa tay xua ruồi trên gói xôi bọc lá sẵn, cầm đưa lên cho người lính, quay lại gắt đùa:

“Con Ba có cái chi thích mà cười hoài vậy?”

Chị tiếp tục cười, liếc nhìn người lính đang bốc xôi đưa lên miệng, khẩu súng kẹp giữa hai chân báng kê trên mũi giầy, trả lời:

“Tui thích cười thì tui cười…”

“Thôi, qua biết rồi. Sáng nay mặt trời lên gần tàu cau rồi, qua nhà tụi bay còn thấp liếp kéo kín mít. Ngủ chi kỹ vậy, bây giờ cười dữ. Qua biết quá mà…”

Chị vụt thấy nóng bừng mặt, im bặt cúi xuống luống cuống. Người lính nhìn chị như thế từ lúc nào chị không hay. Tự dưng chị ngồi ngay ngắn lại, lấy nón đội lên đầu. Chị thấy sờ sợ. Chợ buổi sớm đương đông và những người lính chính quy này về đây từ hơn một tháng không làm bậy bạ bao giờ, nhưng chị vẫn thấy sợ. Chị ngồi nín thinh nhìn xuống đất và chỉ thở ra nhẹ nhõm khi đôi giày cao cổ đụng đậy rồi đi khuất khỏi tầm nhìn. Chị biết không nên sợ vì không có gì đáng sợ cả nhưng chị vẫn… Thôi, phải rồi, tụi lính Pháp hồi ấy cũng đi thứ giày này. Bị tát văng vô gậm phản, chị vừa đau vừa sợ nằm cố nín khóc, sợ bị lôi ra đánh thêm. Chị nhìn thấy những đôi giày như thế ngọ nguậy tiến lui, tiếng má chị la hét phía trên, tiếng cười lớn của toán lính, những câu nói xì xồ giữa la oải đau đớn nhỏ dần thành rên rỉ. Chị nằm lịm dưới gầm như thế cho tới chiều, cho tới khi toán quân rời khỏi làng, người bà lôi ra tắm rửa, cho ăn trước khi dẫn vào buồng thăm mẹ nằm trên giường mắt sưng vù đỏ ngầu:

“Còn chỗ này bán nốt cho tôi đi! Năm đồng chịu không?”

Chị ngẩng lên, nhận ra đại diện xã:

“Tưởng ai! Anh thì còn lâu tui mới bán”.

Chị cười, lấy giấy gói.

° ° °

Vũ ngừng lại cách binh Cận vài thước, hạ mũi súng xuống. Chàng cố kìm giữ cho ngón tay trỏ nằm nguyên trên sắt che cò, nếu không… Chàng cố giữ giọng điềm tĩnh, ra lệnh:

“Tiếp tục đến!”

Cận đứng dậy, xốc lại bao đạn, bước nhanh về phía trước. Khi đi ngang qua chàng, mắt Cận nhìn trộm, ánh mắt vừa sợ hãi vừa thù hằn. Toán quân bắt đầu di chuyển, Vũ đột nhiên thấy tiếc một dịp giết người. Trái lệnh tại mặt trận, chàng có thể bắn chết Cận không bị hậu quả gì hơn một cuộc điều tra lôi thôi và ba mươi củ là cùng. Bây giờ Cận đã lủi thủi đi sau xạ thủ trung liên, chàng nhìn cái lưng nhấp nhô, thấy uất ức lại tăng thêm. Tại sao chàng không bắn ngay lúc hắn vừa ngồi bệt xuống, tại sao chàng lại cố kiềm chế. Dịp may đã qua rồi. Và như vậy sẽ còn ngày lại ngày tiếp tục chiến đấu với những binh sĩ thiếu kỷ luật như thế này không biết cho tới bao giờ. Chàng không thể vừa chiến đấu chống địch vừa lo chống thuộc hạ.

Vũ quay lại hiệu thính viên, làu nhàu:

“Thằng Cận hên thật!… Anh báo cho Đống đa trưởng biết bọn mình đã tiếp tục tiến”.

Một tràng tiếng nổ từ phía ấp, khóm cây rung động dưới làn đạn. Vũ quỳ xuống, la vào trong máy giữa tiếng súng bắn trả ồn ào.

“Vĩnh 3 bố trí tại chỗ. Địch bắn từ bờ ấp bên phải quốc lộ. Nghe không trả lời. Tôi không thể tiến được!”

Tiếng Hy hối hả:

“Tôi cho súng cối yểm trợ… Bọn chúng có trung liên đầu bạc. Tôi đang xin tư tưởng Đống đa bắn 81”.

Chị Ba giật mình đánh rớt gói khoai mì xuống đất, lắng nghe tiếng súng nổ liên hồi. Chợ vụt im bặt tiếng ồn ào, mọi người đứng dậy lo ngại nhìn về hướng tiếng súng. Đại diện xã cười:

“Xa tới hai cây số lận. Đừng lo. Làm hư hết cả khoai mì của tôi rồi!”

Vũ đứng dậy la lớn:

“Thôi bắn! Thôi bắn!”

Xạ thủ trung liên ngồi dậy nhìn về phía bờ ấp. Vũ tiến lại gần:

“Tụi chúng rút rồi”.

Chàng chưa nói hết câu, một tiếng nổ lớn bùng ra bên phải, tiếp theo một tiếng nữa. Chàng chạy lại máy vô tuyến, giằng ống nghe trong tay hiệu thính viên:

“Vĩnh thanh, Vĩnh thanh! Súng cối hai trái nổ bên phải tôi 100 thước. Không ai bị thương. Gọi tư tưởng Đống đa nhờ pháo binh yểm trợ mau. Đụng cả C. chúng nó rồi!”

“Vĩnh ba tiếp tục bố trí tại chỗ cho tôi! 81 sắp bắn đó, quan sát!… Pháo binh sắp bắn trái khói bên phải anh. Điều chỉnh thẳng với tư tưởng Đống đa. Hết”.

Một tiếng nổ, hai tiếng nổ, một chuỗi tiếng nổ ở trong đồn phía bên kia quốc lộ. Chị Ba lụp chụp quơ cái thúng:

“Chết tui rồi!”

Dân chúng chạy tản mát vào các dãy nhà chung quanh chợ. Đồ hàng đổ lỏng chỏng. Đại diện xã la lớn:

“Bà con đừng lo! Bà con đừng lo! Súng cối đồn bắn đi đó. Không có sao đâu!”

Chị nấp sau cột láo liên nhìn những người lính chạy băng qua lộ, tập trung trước đồn. Các tiếng nổ kế tiếp. Chị bắt đầu bình tĩnh, quay lại mỉm cười với người ngồi xệp dưới chân:

“Hú hồn! Cứ tưởng mấy anh đánh đồn nữa”.

° ° °

Định xuống xe ba bánh, sửa lại mũ cho thẳng, xách túi quân trang ném lên vai. Con đường đất đỏ nát bấy, những vũng nước phản chiếu ánh nắng buổi sáng hắt vào mắt làm chàng mỏi mệt thêm sau mỗi bước chân. Chàng ném túi quân trang xuống đất, ngồi lên trên thở mạnh. Những giọt mồ hôi chảy trên da lưng và bụng. Một chiếc Jeep nhấp nhỏm từ phía trong đi ra, Định ngẩng đầu lên, hai sĩ quan trên xe nhìn chàng, chàng nhìn họ, chiếc xe vượt qua trong tiếng động cơ nổ nhỏ dần về phía cổng doanh trại. Định đứng dậy lấy phù hiệu trong túi ra đeo vào ngực, vác túi quân trang đi tiếp. Dãy nhà lớn đổ nát, một chiếc GMC đỗ giữa sân, các toán lính ôm súng ngồi rải rác, nhìn chàng đi qua. Phòng truyền tin náo nhiệt, sĩ quan ban I lắc đầu nói:

“Chuẩn uý Định đợi ở đây đi. Tiểu đoàn 1 đang đụng địch, chưa thể liên lạc được đâu”.

Định đứng tựa vào tường, châm thuốc hút. Các âm thanh điện tử trong, cao xen kẽ tiếng văng tục của một hiệu thính viên. Một thiếu uý lại gần giơ tay. Định đưa điếu thuốc cho châm tiếp. Chàng hỏi:

“Tiểu đoàn đụng địch?”

“Không, đụng lẫn nhau mới đau chứ! Một đại đội của tiểu đoàn 1 đụng đại đội biệt động quân. Thế mới nhảm. Hai biệt động quân bị thương”.

“Tôi sắp tới tiểu đoàn đó”. Định tới nhờ ban truyền tin báo cho tiểu đoàn biết, cung cấp phương tiện tới đơn vị.

“Việc gì phải mất công! Xuân, ra đây bồ. Xuân trưởng ban 5 tiểu đoàn anh đó. Còn đây lính mới”.

Định mỉm cười đưa tay bắt và chàng có cảm tình ngay với khuôn mặt tròn, đôi mắt cũng tròn, giọng nặng và niềm nở của người miền Hậu Giang. Chàng hỏi:

“Tiểu đoàn mình choảng với biệt động quân hả?”

Xuân cười lộ hàm răng có một chiếc nhô ra:

“Thế mới kỳ! Chưa biết lỗi tại ai. Hy tính hắn cẩn thận lắm, không hiểu sao… Trung đoàn trưởng đang la oải phòng bên kia, bồ thò ra bây giờ là ăn xài xễ đó”.

Sĩ quan truyền tin rời máy lại gần, giơ tay:

“Cho điếu thuốc bồ! Đại đội trưởng biệt động quân đang chửi thiên hạ tùm lum. Hắn đe sẽ mang quân về đánh tiểu khu vì tội cho lộ trình ẩu. Hai binh sĩ của hắn bị thương vì đạn 81. Mẹ kiếp, nhảm thật! Chẳng ra cái thể thống gì hết đó. Giữa ban ngày ban mặt mà đánh lộn nhau, không nhờ bên pháo binh thấy hai bên cùng xin yểm trợ, không chịu tác xạ ngay, không thì còn chết nhiều”.

Xuân hỏi:

“Có lệnh của tiểu đoàn cho tôi chưa?”

“Rồi. Bảo anh mang xe về ngay. Đi đường cẩn thận vì sáng nay kẹt quân chưa mở đường đâu”.

Định lên ngồi cạnh tài xế, Xuân móc túi quần lẩy ra một trái lựu đạn.

“Bồ cầm tạm lấy cái này. Lộ trình này không thể biết trước được… Xe tải gạo tiếp tế thôi, nhưng tụi Cộng không thèm biết điều đó”.

Chiếc xe vụt thắng lại giữa đường, một người mặc thường phục nhảy lên bục, mừng rỡ:

“Thiếu uý Xuân! May quá. Chưa biết làm sao về tiểu đoàn đây”.

“Chân lành rồi hả? Xuất viện tuần trước phải hôn? Chơi đã Sài Gòn rồi chứ? Leo lên phía sau đi”.

Xuân quay lại nói:

“Trung sĩ Mẹo đại đội 1 đó. Hắn bị mìn gãy cẳng tháng trước”.

Khi chiếc xe ra khỏi thị trấn, người tài xế nhìn chăm chú lòng đường loang đất đỏ từng khoảng, Xuân ngó ngoáy nhìn láo liên hai bên, tay siết chặt trên cổ khẩu cac-bin đặt dọc cửa xe. Định quay đầu nhìn ra phía sau. Hình như không còn ai nói chuyện. Chàng bỏ trái lựu đạn vào giữa hai đùi, kẹp chặt, lấy bao thuốc và bật lửa. Xe lắc lư làm ngọn lửa không bén ngay vào đầu thuốc. Khi điếu thuốc đã cháy, chàng ngẩng lên nhìn về phía trước. Những vệt đất gồ ghề trên mặt lộ dưới nắng nhòe lẫn với màu cà-phê sữa trong chiếc ly chàng mới uống hồi sáng và những ngón tay Linh, những sợi lông tơ nhỏ phớt trắng dưới nắng.

° ° °

Vũ mở bi-đông đưa lên miệng tu một hơi dài. Chàng chậm chạp xoay núm nhựa đậy lại, mắt nhìn theo những người lính biệt động quân đi chót khuất sau hàng cây. Bên cạnh chỗ chàng ngồi, một vài giọt máu của kẻ bị thương nhỏ xuống bắt đầu có màu nâu sậm. Hy vung tay tiếp tục nói lớn tiếng:

“Hắn vừa tiến tới vừa quát: Ai làm đại đội trưởng ở đây? Tôi la lại: Tôi là đại đội trưởng, yêu cầu anh cho biết cấp bậc, mời ngồi nói chuyện chơi… Hắn không ngồi, quát tại sao bọn mình kêu 81 bắn bừa. Tôi la lại là chính bên hắn bắn hai trái 60 trước, thử hỏi bên nào gà chết trước!”

Xạ thủ súng cối nói chen vào:

“Tụi chúng gà chết! Bắn hai phát mà không trúng trung đội chuẩn uý Vũ đi khơi khơi…”

Vũ cúi xuống, im lặng. Chàng nhìn những giọt máu bám trên lá cỏ, không nghĩ ngợi, không buồn rầu, không vui mừng. Tiếng Hy tiếp tục:

“Tôi trách hắn đổi lộ trình sao không báo trước. Tôi trách hắn không chịu quan sát, tụi Cộng ở bên phải ấp sao không thấy không bắn, lại nhè trung đội của anh đang đi khơi khơi khoảng trống mà làm hai quả 60 liền… Sau cùng hắn à một tiếng rồi la: Tại thằng tiểu khu. Về đánh chiếm tiểu khu hỏi tội… Thế rồi hắn kéo quân đi”.

Hiệu thính viên xen vào:

“Tiểu đoàn vừa nói tụi họ vừa đi qua đồn vừa chửi tùm lum. Kể tức cũng phải. Tự dưng bị thương hai người, chẳng ra sao hết, chỉ tụi Cộng là lợi. Hai bên đánh lộn nhau, chúng vác trung liên chuồn mất”.

Hai tiếng nổ lớn kế tiếp vang dội. Những viên đất nhỏ rơi lả tả trên đầu, quần áo. Vũ quay đầu lại la lớn về phía toán đang dùng TNT phá ụ:

“Còn mấy cái mả Hồ Chí Minh nữa mới xong?”

Một tiếng la trả lời:

“Ba mả nữa!”

Vũ nói với Hy:

“Ít nhất một giờ trưa mới xong. Trưa nay có cơm không?”

“Yên trí. Tôi gọi về đồn bảo hoả đầu vụ rồi. Chắc chúng sắp mang ra”.

Vũ đứng dậy, đeo khẩu súng lên vai đi băng qua lộ. Toán phá đường cởi trần, mồ hôi bóng nhẫy. Khu vườn mát rượi, gió từ đồng trống phía xa thổi tới lá cây cọ vào nhau êm ái. Những binh sĩ đang lúi húi nấu cơm, những làn khói xanh bốc lên, kéo dài và tan biến theo chiều gió. Vũ bước vào căn nhà, cúi đầu đáp lễ người đàn ông rụt rè đứng dậy. Chàng cúi xuống nhìn chiếc hầm trú dưới gầm phản: không có gì khả nghi. “Cảm phiền bác cho quân sĩ tôi đóng đây và lấy nước”. Chàng không muốn ngồi lại, căn phòng quá thiếu sáng, quá tù túng. Chàng dựng súng vào vách hành lang, rút cái võng ni-lông kẹp giữa xấp bản đồ ra khỏi ngực áo vứt xuống sàn đá hoa làm gối. Lưng mát lạnh, những cành lá thấp thoáng ánh nắng, những tiếng reo nho nhỏ và thanh, chàng ngủ thiếp đi và thức tỉnh khi tiếng nhạc trong transistor của hoả đầu quân lớn dần. Chàng ngồi xếp bằng trên thềm, chàng biết chàng ăn không ngon không phải vì mệt, không phải vì đánh lộn quân bạn. Chàng ăn không ngon vì ánh nắng cứ lấp lánh trên các lá cây, các lá cây tiếp tục cọ vào nhau êm ái làm chàng như thấy có một cái gì vô ích và thừa thãi. Sau cùng, khi lại ngả người trên gạch ngủ tiếp, chàng nghĩ rằng chàng đang nhớ quê cũ, chàng đang nhớ tuổi ấu thời, chàng đang thèm trở về nhà để ngủ bên thân thể rắn chắc, một giấc yên tĩnh không lo bị bắn, sẽ bị đột kích, bị thương, bị chết trong khi ý thức còn lẫn trong u tối của giấc ngủ.

° ° °

Chị tức nghẹn cổ họng, miếng cơm nằm đó không chịu xuống. Chị cầm tô canh lên uống, rồi tự dưng vùng liệng xuống đất. Nước canh, mảnh vỡ tung toé trên đất. Chị cúi nhìn vết nước thấm loang trên nền nhà khô nâu, càng uất ức. Chị la lớn:

“Tui không làm chi bậy, tui không có gì phải giấu hết. Tôi hổng sợ ai hết đó! Có đánh thì đánh đi coi!”

Ba nín thinh trước cơn giận của vợ, nhưng rồi anh bắt đầu nói, giọng hạ thấp hơn trước:

“Không có chi! Không có chi sao bà Hạnh nói trông thấy hai người nói chuyện hoài sau hàng ba chợ? Thiếu chi chợ, sao lại đứng lúi xụi”.

“Thế bộ tự dưng tôi vô đứng đó sao? Súng bắn ầm ầm, tôi đứng chạy núp…”

Chị hầm hầm đứng dậy ra sân. Nhưng tới hiên, chị dừng lại la lối:

“Ba ngày một trận ghen tuông! Tui chịu hết nổi rồi đó. Ừ! Thằng Tía là bồ của tui đó, đã sao chưa! Chồng chi mà kỳ. Bộ muốn tui đứng sựng giữa chợ cho đạn nổ chết luôn sao. Chạy núp, ai mà chọn được chỗ. Bộ muốn tui chết phải hôn? Muốn thì nói đi!”

Chị ngồi xuống thềm, khóc. Nước mắt càng tràn ra, chị càng tức. Đứa bé thấy mẹ khóc, cũng hoạ theo. Chị trở vào phản bồng con ra ngoài đầu thềm, kể lể:

“Thôi! Chỉ có con là thương má thôi, phải hôn? Má con mình đến đi kiếm chỗ khác thôi. Má nuôi con nghe, hổng cần con người đó há”.

Chị lại bắt đầu khóc sau khi liếc nhìn thấy chồng đang rời khỏi phản. Ba lầm lũi đi qua mặt hai mẹ con, mở cổng đi về quốc lộ. Chắc ảnh đi nhậu, chị nghĩ tủi thân khóc lớn hơn rồi ngừng bặt sau khi thấy bóng chồng khuất sau một khúc quanh. Cứ mỗi lần cãi lộn xong là lại như thế, nhậu say đến đi hết nổi mới trở về nhà ngủ vùi. Cũng may anh hiền, say đến đâu cũng không đánh mẹ con chị bao giờ. Ảnh thế mà tốt hơn nhiều người khác. Chị đột nhiên thấy mình muốn cười, rồi chị mỉm cười. Có ai trông thấy đâu mà sợ. Chị lấy khăn lau mặt đứa bé, nhét vào tay nó một con vịt nhựa, thu xếp bát đũa vào rổ bê ra sân rửa. Trời nắng gắt nhưng ánh nắng không qua được lớp lá mít dày đặc trên đầu. Chị nghĩ tới chồng đang lầm lũi đi dọc bờ ruộng. Khi nãy anh đi vội, đâu đội nón. Phơi nắng sau khi say độc lắm. Thế nào cũng đau cho mà coi. Nghĩ cũng tội nghiệp ảnh. Anh thương mình quá nên hay làm tùm lum vậy thôi. Nào đã có chi bậy bạ đâu. Tự dưng máu dồn lên nóng bừng mặt. Chị nhớ tới một buổi trưa, lâu rồi, ngày chưa lấy chồng, ngồi với Tía sau bờ dừa ngoài sông. Bàn tay người đàn ông sần sùi và ráp trên cánh tay, chị run lên. Giá bữa ấy Tía đừng có vội, chị đâu có la lên. Giá lúc đó ảnh chịu khó đợi đến tối… Đúng thế, nếu trời tối, chắc chị không la. Nhưng ảnh vội quá. Chị la lên và Hải đã chạy đến. Hai người đàn ông đánh lộn nhau. Chị đứng sững dưới gốc cây dừa, chẳng mong cho ai thắng. Hải cũng thương chị. Và chị cũng chẳng biết bênh ai trong hai kẻ đang hầm hè lăn xả vào nhau đấm đá… Chị bê rổ bát đứng lên, đặt từng chiếc úp xuống giàn cây trước sân. Hải đi theo mấy anh du kích, Tía lên tỉnh mần ăn mất tích. Ở lại ấp, sau cùng chị lấy Ba. Kể cũng kỳ. Mình đã tưởng không lấy Tía thì lấy Hải. Rút cục, một con rồi kia. Chị cười, đi vào nhà. Chuyện hai người đánh nhau tùm lum hồi ấy, cả xã biết. Tía trở về là đại diện xã. Lại hay cà rờ chung quanh, làm ảnh chi không ghen cho được. Chị lại cười, lấy lược chải lại tóc và nhìn khuôn mặt mình trong gương. Nắng ngoài sân chói một khoảng nhỏ góc gương làm chị nhíu mắt.

° ° °

Vũ từ từ cảm thấy nóng bỏng trên đùi và ngực. Nắng buổi trưa đã chiếu tới hàng hiên, chàng toan cựa mình lăn vào trong nhưng vách tường chận lại. Bây giờ đã tỉnh hẳn ngủ, chàng nhớ lại thứ lo lắng bồng bềnh bao phủ từ trong giấc ngủ kéo dài tới lúc này. Hình như có địch trong bụi đang bò tới gần, nòng súng lắc lư dọ dẫm tìm đường ngắm đúng. Vũ muốn ngồi dậy mở mắt quan sát tứ phía nhưng thân thể chàng ì ra. Các ý nghĩ xôn xao, vẫn cảm giác bất an, vẫn thứ vị trí ranh giới với cái chết ấy, không có gì đâu, lính chắc có đứa thức gác phía sau nhà. Không có gì đâu, không có gì đâu… Chàng xoay người quay lưng ra phía ngoài, cố ngủ tiếp nhưng không được. Lưng lành lạnh trống trải và thụ động vô phương tự vệ như một tấm bia trên thềm bắn. Đến như thế là vô ích rồi, không thể khuyên nhủ được gì nữa để tâm hồn chịu trở vào giấc ngủ, chỉ còn có cách ngồi dậy quan sát… Vũ ngồi lên, nhìn tứ phía. Bên kia quốc lộ hàng cao-su chạy dài từng hàng trống trải, cỏ từng khoảng dưới vùng nắng lọt qua lá phía trên. Không có gì cả, không có một người nào, không một cành cây lùm cỏ rung động một cách khả nghi. Vũ đưa chân móc dây nịt đạn lại gần, lấy bi-đông đưa lên miệng tu một hơi dài. Chàng để trả bi-đông vào bao, châm thuốc hút và bắt đầu thấy hoàn toàn an ninh. Chàng đã mở mắt, tỉnh táo và khẩu súng trong tầm tay. Mắt mở, tỉnh táo và súng cầm tay, chỉ như thế mới thấy yên ổn. Ban đêm chàng nằm trên võng, bàn tay mân mê báng súng gác bên, lắng nghe từng tiếng động. Tiếng chó sủa vu vơ nơi xa, tiếng một con chuột chạy va vào một ống bơ, tiếng trẻ khóc trong một ngôi nhà, tất cả đến thẳng ý thức chàng đòi hỏi một chú ý, một phân tích. Có địch hay không. Có hay không, hướng nào. Giác quan cực nhạy trong một tình trạng căng thẳng kéo dài và thường trực đến độ một đêm tự dưng chàng bừng ra khỏi giấc ngủ, tâm hồn chưa chuyển vận, tay trái đã đặt lên dây nịt đạn và khẩu súng đã gọn ghẽ trên tay phải: nhưng không một tiếng động, một luồng gió bất thường. Cái gì đã làm chàng thức tỉnh? Ngồi im nhìn và lắng nghe trong ánh trăng ban đêm, sau cùng chàng khám phá ra chính người lính gác giặc đổi phiên gác rón rén đi qua che khuất trong một khoảnh khắc ánh trăng vẫn chiếu trên mặt, đã làm chàng thức giấc. Mới chỉ thiếu đi một khoảnh khắc ánh trăng … mình mệt rồi, chàng thì thào, phải kiếm đôi giày khác, đưa đôi này đi làm fermeture. Một thằng bạn nào đã nói: Phải đi giày có fermeture đỡ căng thẳng thần kinh… Hắn có lý đấy, chàng sợ nhất ban đêm bị đánh bất ngờ, xỏ giày không kịp, cứ chân không tác chiến và chạy băng bờ bụi.

Có tiếng cãi cọ lớn phía sau nhà. Một anh binh sĩ chạy ra, mặt đỏ bừng tức giận:

“Tôi bảo thằng Cận nó gác. Nó không chịu. Bảo bị kích bất ngờ, chết nó trước nó chịu!”

Vũ ngẩng đầu lên nhìn, chàng không ưa hạ sĩ này. Không có khả năng chỉ huy lại hay la lối chê trách đồng đội. Hắn nói có lý, có lý nhưng chàng hôm nay không cho lệnh gác ngày. Chưa ra lệnh, không cần bảo vệ lệnh. Chàng mỏi mệt và tức giận. Tức giận tất cả, từ bộ mặt hỗn láo của Cận.

Người hạ sĩ cau có trở lại, làu nhàu:

“Tiểu đội 1 nhảy dù về đồn hết rồi, chuẩn uý!”

“Tôi cho họ về thổi cơm”.

“Nhưng chuẩn uý bảo chỉ cho mỗi tiểu đội về hai người thôi”.

“Hiện giờ còn bao nhiêu?”

“Dạ mười người, tính cả chuẩn uý”.

Vũ đột nhiên mỉm cười vu vơ. Mười người trên tổng số mười bảy. Không sao. Còn hai người, đối với chàng, thế cũng đủ. Một kẻ coi bên trái và phía trước, một kẻ coi bên phải và phía sau, chàng đi đâu cũng được.

Vũ xách súng đứng dậy, đi vòng ra phía sau nhà. Chàng la lớn về phía toán lính:

“Tôi đi năm mươi thước về phía này, nhớ đó! Đừng có bắn ẩu”.

Chàng chọn một chỗ cỏ thấp đằng sau một bụi cây nhỏ có hoa tím lấm tấm, tụt quần ngồi xuống. Chàng búng mẩu thuốc ra phía trước, lơ đãng theo dõi nó rơi lướt trên các ngọn cỏ rồi khuất xuống dưới. Một làn khói xanh bắt đầu cuồn cuộn bốc lên khỏi lớp cỏ, tan vỡ dưới gió. Chàng nhìn làn khói, buồn bã và bực tức. Sau cùng chàng hiểu rằng chàng đang tiếc đã không bắn chết Cận sáng nay, tiếc vô cùng. Chàng đứng lên định cài thắt lưng, một tiếng súng nổ chát chúa phía trước. Chàng tiếp tục tìm đầu dây thắt lưng, chắc lại một tên du kích nào bắt hú hoạ quấy nhiễu. Một tiếng rít dài vụt qua đồng thời với tiếng nổ thứ hai. Nó đang nhắm mình, chàng không kịp nhét cái giống vào trong quần, cúi vội xuống cầm súng đưa lên vai, bắn vội vã vào những gốc cây, bụi rậm phía trước. Sau ba phát liền, chàng biết tên du kích chắc chắn đã lẩn mất nhưng nỗi bực tức làm tay chàng tiếp tục bóp cò, phía xa từng lớp vỏ cây trúng đạn văng ra, từng lớp bụi trắng bờ ấp tung lên làm chàng dễ chịu hơn. Chàng tiếp tục bắn và khi băng đạn hết, chàng quay lại phía sau la lớn mấy người lính lấp ló ẩn nấp quan sát:

“Bảo hiệu thính viên báo cáo đại đội trưởng: Một tên du kích bắn sẻ! Vô sự!”

Chàng cúi xuống, nắng chiếu vào lớp lông óng ánh. Chàng cầm súng đứng sững một thời gian, cúi nhìn cái giống của mình dưới ánh nắng, không suy nghĩ gì cả.