This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ammers rên rỉ nói. Hắn rên rỉ như thế suốt buổi chiều. Họ đã cố giải thích phải trái nhưng hắn nhất định không nghe. Lebenthal hỏi :
– Nhà tu, nhưng của đạo nào?
– Công giáo. Sao bạn hỏi thế? Do Thái hả?
Lebenthal lắc đầu liên tiếp :
– Này! Này! Một gã kỳ thị chủng tộc! Ở đây, bọn mình không nên thế.
509 chen vào:
– Vẫn còn khối người như thế trong tù ngục.
Ammers mắng lại :
– Chính các người mới đáng tội. Không có bọn Do Thái các người thì tụi này làm gì bị ở đây!
– Sao? Anh có ý nghĩ hay ho đó lúc nào vậy?
– Không có Do Thái thì không có trại tập trung. Gọi một Linh mục đi…
Bucher không dằn được tức giận:
– Ammers, bạn không biết xấu hổ sao?
– Không xấu hổ gì cả. Tôi đang bệnh. Gọi giùm tôi.
509 nhìn đôi môi xám nhạt và cặp mắt trũng sâu của người tù sắp chết:
– Trong tù làm gì có nhà tu, Ammers.
– Phải có chớ. Đó là quyền của tôi. Tôi sắp chết.
Lebenthal không muốn nghe:
– Này, bạn không chết đâu. Bạn đã hứa với tụi này mà.
– Tôi sắp chết vì bọn Do Thái các người đã ăn cả khẩu phần của tôi. Rồi bây giờ các người không chịu gọi giùm một Linh mục. Tôi cần xưng tội. Các người có biết gì chuyện đó đâu? Tại sao tôi bị nhốt trong trại Do Thái?
– Ở đây, chúng ta đều như nhau, tất cả đều bình đẳng.
Ammers thở khò khè và quay đầu đi. Ngay phía trên nùi tóc rối bù của hắn, một hàng chữ bằng viết chì xanh lưu dấu ở vách ván: Eugen Mayer 1941. Sốt rét. Hãy báo thù…
Ammers lăn đầu qua lại không ngừng. Rồi hắn ngồi dậy thật khó khăn, nhìn quanh một vòng và thình lình thét lên:
– Các người! Tất cả các người đều khỏe mạnh! Còn tôi thì sắp chết. Chết bây giờ. Cười! Cứ cười đi! Các người tính chuyện rời trại, còn tôi, tôi đi vào lò thiêu. Vào trong lửa. Hai mắt bị bốc cháy. Mãi mãi! Hu hu…
Hắn khóc như tiếng chó tru trăng. Người hắn thẳng đờ ra và hắn tiếp tục rống lên. Miệng hắn là một lỗ trống đen ngòm trong đó phát ra thứ âm thanh khàn đục.
Sulzbacher đứng vút dậy:
– Để tôi đi cho. Tôi đi gọi một Linh mục.
Lebenthal hỏi
– Ở đâu?
– Đâu cũng được. Hỏi ở văn phòng. Ở lính canh.
– Đừng có khùng. Ở đây không có nhà tu nào cả. Bọn SS không chịu được đâu. Bạn sẽ bị ném vào chuồng cọp.
– Cũng không sao.
Lebenthal quắc mắt nhìn Sulzbacher rồi gọi:
– 509, Berger! Các bạn có nghe không?
Mặt Sulzbacher xanh như chàm. Cằm hắn bạnh ra. Hắn không nhìn ai cả. Berger ôn tồn:
– Chẳng ích lợi gì đâu. Bọn SS đã có lệnh cấm rồi, mà chúng ta lại không biết có ai là Linh mục trong số các tù nhân hiện nay. Nếu biết thì bọn này đã tìm tới ngay.
Sulzbacher không đổi ý:
– Cứ để tôi đi.
Lebenthal bức tóc mình :
– Đi tự vận hả? Để làm vừa lòng một gã kỳ thị chủng tộc?
– Cũng được. Để làm vừa lòng một gã kỳ thị chủng tộc.
– Anh hùng rơm! Thêm một anh hùng rơm!
– Đúng rồi, anh hùng rơm. Tôi đi đây.
509 bình thản gọi:
– Bucher, Berger, Rosen!
Bucher đã tới sát Sulzbacher với một khúc gậy trên tay. Hắn bổ vào đầu Sulzbacher. Mặc dầu cú đánh không hết lực nhưng cũng đủ làm cho Sulzbacher lảo đảo. Tất cả xông lại đè hắn xuống. Berger bảo :
– Ahasver, đưa dây trói con chó chăn cừu cho tôi.
Họ trói tay chân hắn lại. 509 dọa :
– Nếu bạn la lên, chúng tôi sẽ nhét giẻ vào miệng.
– Các người không hiểu tôi…
– Hiểu chớ, nhưng bạn cố nằm yên đó cho tới khi bình tĩnh lại. Chúng tôi đã mất quá nhiều người như bạn rồi.
Họ lăn hắn vào góc phòng rồi bỏ mặc ở đó. Rosen đứng dậy, nói như để xin lỗi cho người bạn:
– Anh ta vẫn còn lẫn lộn. Các bạn cố hiểu cho. Người em của anh ta hôm trước…
Ammers đã bắt đầu cứng lưỡi. Hắn chỉ còn thều thào:
– Ông ấy tới… chưa?
Bucher bực bội :
– Trong trại có thầy tu nào tạm thay không? Chỉ cần làm cho hắn yên lòng.
– Ở lao xá 17 có vài người. Một được trả tự do, hai người kia chết, còn một người nữa đang ở chuồng cọp. Sáng nào Breuer cũng dùng xiềng đánh ông ta. Hắn bảo cầu kinh sớm.
Ammers tiếp tục rên rỉ nhỏ:
– Làm ơn… Nhân danh Chúa…
Ahasver sực nhớ ra :
– Có một người ở khu B biết tiếng La Tinh.
– Tên gì?
– Không nhớ rõ. Dellbruck hay Hellbruck gì đó. Có lẽ người trưởng phòng biết.
509 đứng lên:
– Trưởng phòng là Mahner. Để tụi này hỏi thử xem.
Hắn và Berger cùng đi ra.
Mahner cho biết:
– Có thể là Hellwig. Hắn biết khá nhiều ngoại ngữ nhưng tánh khí bất thường. Hiện đang ở khu A.
Họ sang khu A. Mahner hỏi thăm người trưởng phòng cao lêu nghêu với cái đầu hình quả lê. Người có đầu hình quả lê nhún vai. Mahner mò mẫm chen qua các dãy giường, chen vào giữa những cánh tay, những đôi chân thò ra tứ phía. Ông ta vừa đi vừa gọi tên.
Vài phút sau, Mahner trở ra. Theo sau hắn là một tù nhân có bộ dạng đa nghi. Mahner bảo 509 :
– Người này đây. Mình ra ngoài kia. Ở đây ồn ào quá.
509 thuật rõ tình hình và hỏi Hellwig:
– Bạn biết tiếng La tinh?
Hellwig nhăn nhó:
– Biết. Coi chừng tụi nó đánh cắp cái chén của tôi.
– Sao?
– Ở đây, bọn họ ăn cắp dữ lắm. Hôm qua trong lúc tôi ra nhà cầu, họ lấy mất cái muỗng giấu dưới giường. Bây giờ cái chén còn ở trong đó.
– Vào lấy theo đi!
Hellwig biến mất ngay. Mahner nghi ngại:
– Chắc hắn không trở ra.
Họ vẫn đợi. Trời tối hơn. Một lúc sau, Hellwig xuất hiện với cái chén ôm vào ngực.
509 nói rõ hơn :
– Không chắc là Ammers hiểu nhiều tiếng La tinh. Chắc không quá mấy tiếng Ego te absolvo…
Họ bắt đầu đi. Trời đã tối sầm. 509 mò tới chỗ Ammers thì thầm:
– Mới tìm đtrợc một người, Ammers.
Ammers ngừng rên. Bỗng nhiên tiếng nói hắn trong ra:
– Thật hả? Có ở đây không?
– Có.
Hellwig khom mình sát xuống :
– Vinh danh Chúa Jesus Christ!
– Đời đời và mãi mãi. Amen.
Ammers thì thầm với giọng của một đứa trẻ đang kinh ngạc.
Cả hai bắt đầu lâm râm đọc kinh. 509 và mấy người kia bước ra ngoài. Ánh hoàng hôn đi chậm còn đọng trên dãy rừng ở chân trời. 509 ngồi xuống, dựa lưng vào tường lao xá. Không khí vẫn còn đôi chút ấm áp. Bucher ngồi xuống bên cạnh, nói trống không:
– Kể cũng lạ. Lắm khi trước cảnh chết chóc của cả trăm người mà mình chẳng thấy chút xúc động, bây giờ chỉ một người sắp chết – một người không mấy liên hệ tới mình – mà dường như là cả ngàn người.
509 gật đầu:
– Đã là tưởng tượng thì không đếm được. Và tình cảm cũng không hề có những con số. Chỉ một thôi… cũng quá đủ nếu người ta nghĩ tới.
Hellwig trở ra. Hắn nghiêng mình lách ra khỏi cửa. Dáng điệu đó khiến hắn giống như một người chăn chiên đang vác một chiên con trên vai. Rồi hắn đứng thẳng lên trở lại hình dáng một tù nhân. 509 hỏi :
– Làm lễ rửa tội hả?
– Không. Tôi chỉ giúp anh ta hối lỗi.
509 trao trả cái chén cho Hellwig và bảo:
– Chúng tôi muốn đền công bạn một mẩu thuốc hay một miếng bánh, nhưng hiện thời chẳng có gì. Nếu Ammers chết trước giờ ăn, chúng tôi sẽ trao phần súp của hắn cho bạn.
– Tôi không cần mà cũng không muốn gì hết. Làm như thế là xấu hổ, lường gạt.
Tới lúc đó, 509 mới nhìn thấy nước mắt đổ ròng trên mặt Hellwig. Hắn nhìn với tất cả ngạc nhiên rồi hỏi :
– Hắn có bình tĩnh không?
– Rất bình tĩnh. Hồi trưa này, anh ta ăn cắp của bạn một miếng bánh. Hắn muốn xin lỗi.
– Tôi biết chuyện đó.
– Anh ta muốn tất cả các bạn vào trong để anh ta xin lỗi.
– Sao vậy?
– Đặc biệt là hắn có chuyện muốn nói với một bạn nào đó tên Lebenthal.
509 hỏi:
– Leo, nghe chưa?
Lebenthal không bỏ tánh chấp nhất :
– Bộ hắn muốn tính chuyện buôn bán với Trời, có phải không?
Hellwig cặp cái chén vào mình:
– Không phải đâu. Lạ lùng chưa, trước kia tôi có lần muốn trở thành nhà tu hành thật sự nhưng rồi tôi bỏ trốn. Quên quá nhiều, tiếc là không làm đủ lễ nghi được.
Hắn ném một cái nhìn thoáng qua những người tù ngồi quanh đó:
– Người ta có thể bớt khổ đau nếu có thể tin vào một cái gì.
– Đúng thế. Nhưng còn rất nhiều thứ mà con người có thể tin. Không phải chỉ một mình Thượng đế.
– Đúng thế.
Hellwig đột nhiên trả lời với giọng lịch sự của một kẻ đang tranh luận trong phòng khách. Hắn nghiêng đầu một bên dường như để lắng nghe rồi nói tiếp:
– Đây là trường hợp xưng tội khẩn cấp. Lễ rửa tội riêng rẻ vẫn thường xảy ra. Xưng tội khẩn cấp… Một vấn đề của các nhà thần học… thôi, xin chào quý vị.
Như một con nhện khổng lồ, hắn bò về khu A. Nhóm Lão Làng nhìn theo, thờ thẫn. Quý vị! Lâu lắm rồi, họ chưa hề nghe tiếng đó trong tù. Một lúc sau, Berger phá tan sự im lặng:
– Vào gặp Ammers đi, Leo!
Lebenthal do dự. Berger giục:
– Vào đi. Nếu không hắn lại tru tréo lên bây giờ. Bọn mình lo mở trói cho Sulzbacher.
– Hắn chết chưa?
– Rồi. Trước lúc chết hắn còn muốn bọn mình mang người tù mới ra khỏi giường hắn. Người tù bị sốt. Hắn sợ là sẽ lấy của người kia một vật gì để cho kẻ khác. Tới lúc nhắm mắt hắn lại tru tréo và rên rỉ. Nhà tu vẫn chưa làm hắn yên lòng.
509 gật đầu:
– Mấy lúc sau này, người ta thấy khó chết hơn. Trước đây thì dễ quá. Bây giờ khó hơn vì đã quá gần hồi kết cuộc.
Berger ngồi xuống bền cạnh 509. Lúc đó là sau giờ ăn tối. Tiểu trại chỉ được phát ít súp. Không có bánh mì.
– Handke muốn gì vậy?
509 xòe tay ra:
– Hắn đưa tôi cái này. Một mảnh giấy sạch sẽ và một cây bút máy. Hắn muốn tôi chuyển khoản tiền ở Thụy Sĩ cho hắn. Không phải chỉ một nửa mà là tất cả. Năm ngàn quan.
– Và gì nữa?
– Hắn hứa là sẽ để tôi sống trong thời gian đó. Hắn ám chỉ là sẽ bảo vệ tôi.
– Cho tới khi bạn ký xong.
– Nghĩa là cho tới tối mai. Kể cũng đủ để mình làm một cái gì.
– Không đủ đâu, 509. Mình phải tìm cách khác.
509 nhún vai:
– Biết đâu. Có thể hắn còn cần tôi sống cho tới khi lấy được tiền.
– Cũng có thể hắn tính ngược lại. Hắn sẽ giết bạn để bạn không thể rút chữ ký lại.
– Làm sao có thể rút lại một khi đã ký.
– Hắn làm gì biết chuyện đó. Bạn vẫn có thể bảo là đã ký vì bị áp lực.
509 dường như suy nghĩ rất nhiều trước khi thố lộ:
– Ephraim, đáng lý tôi không nên làm thế. Tôi chẳng có món tiền nào ở Thụy Sĩ cả.
– Sao, bạn nói gì?
– Tôi chẳng có một đồng quan nào gởi ở Thụy Sĩ cả.
Berger nhìn đăm đăm vào mặt 509:
– Bạn đặt điều sao?
– Phải.
Berger dùng lưng bàn tay dụi mắt. Vai ông ta rung động.
– Gì vậy, bạn khóc à?
– Không. Tôi đang cười. Thật là ngu xuẩn, nhưng tôi vẫn cười được.
– Cứ cười đi. Chúng ta có nhiều lý do để cười.
– Tôi cười khi tưởng tượng tới Handke lúc ở Zurich. Làm sao bạn có ý nghĩ ngộ nghĩnh đó?
– Không biết được. Nhiều chuyện có thể xảy ra khi sinh mạng người ta bị đe dọa. Vấn đề trọng yếu là hắn đã tin. Và hắn chỉ có thể phát giác khi chiến tranh chấm dứt.
Berger nghiêm nghị lại:
– Đúng vậy. Chính vì thế mà tôi không tin hắn. Hắn có thể nổi cơn và làm chuyện bất ngờ. Cần phải đề phòng. Tốt hơn hết là bạn nên chết.
– Chết? Bằng cách nào? Bên mình đâu có bệnh xá. Làm sao để ẩn náu? Đây là nơi dừng chân cuối cùng.
– Còn một nơi dừng chân cuối cùng khác. Lò thiêu xác.
509 nhìn sững Berger. Hắn nhìn khuôn mặt đầy ưu tư với đôi mắt ướt và cái đầu xương xẩu để cảm thấy ấm áp.
– Có thể được sao?
– Cử thử xem.
509 không hỏi xem Berger tính những gì:
– Được rồi, mình sẽ bàn lại. Vẫn còn đủ thì giờ. Đêm nay tôi sẽ ký giấy chuyển ngân cho hắn nửa sổ tiền. Hắn sẽ nhận giấy và đòi thêm. Mình lại còn vài ngày nữa. Như thế chúng ta còn được 20 Marks của Rosen cho.
– Nhưng rồi sau đó?
– Biết đâu sẽ có biến cố. Bây giờ cứ giải quyết từng việc một. Việc này rồi tới việc kia. Nếu không, mình sẽ điên lên.
509 lật qua lật lại mảnh giấy trong tay. Hắn nhìn xuống cây bút máy: – Lạ thật. Lâu lắm rồi tôi chưa hề cầm được những thứ này. Viết và giấy. Trước kia tôi đã sống nhờ vào chúng? Chẳng biết rồi có còn được sống như thế nữa không?
Berger đang trên đường đi tới lò thiêu. Bên cạnh ông ta còn có một nhóm sáu người tù. Ông từng biết một trong số ấy. Đó là luật sư Mosse. Năm 1932, ông đã từng biện hộ cho hai nhân vật Quốc Xã liên can tới một vụ sát nhân. Hai nhân vật này được Tòa tha bổng, nhưng sau khi đảng Quốc Xã cầm quyền, luật sư Mosse bị ném vào trại tập trung. Từ ngày ông ta tới Tiểu trại, Berger chưa gặp mặt. Berger nhận ra Mosse vì ông ta đeo kính một tròng. Mosse không cần tới tròng kính thứ hai bởi chỉ còn một mắt. Năm 1933, con mắt kia bị châm lửa như một cách trả công cho những lời biện hộ.
Berger hỏi nhưng chẳng máy môi:
– Đi đâu?
– Tới lò thiêu. Làm việc.
Nhỏm người vượt qua. Bây giờ Berger lại nhận ra một người nữa: Brede, một nhân vật của đảng Dân chủ Xã hội. Ông ta chợt nghĩ tới, cả sáu người đều là chính trị phạm. Cùng đi với họ là một trật tự viên mang dấu hiệu xanh của loại tù thường phạm. Tên này đang huýt sáo một điệu nhạc sân khấu. Vừa nhận ra điệu nhạc, Berger nhớ ngay tới lời ca: Vĩnh biệt người em bé nhỏ…
Người tù bác sĩ đi chầm chậm, thở không khí trong lành của ban mai. Mỗi lần đi như thế này ngang qua trại lao tác ông ta đều có cảm tưởng của một kẻ nhàn du trong công viên. Năm phút nữa là tới bờ tường bao quanh lò thiêu xác. Năm phút sống trong gió và nắng sớm.
Nhóm tù sáu người đã khuất bên trong cổng. Dường như có gì lạ trong việc đem tù mới tới làm việc tại lò thiêu. Từ trước tới nay, toán tù làm việc lại đây được hưởng một quy chế đặc biệt hơn. Họ được cho ăn uống đầy đủ và tương đối có đôi chút tự do. Nhưng chỉ sau vài tháng là họ bị thay thế và đưa đi nơi khác thủ tiêu… Toán mới đến làm việc vừa được hai tháng nên chuyện có người ngoài tới phụ lực là một điều lạ. Berger là trường hợp duy nhất. Thoạt tiên, ông ta được gởi tới để tiếp tay trong vài ngày nhưng người tù y sĩ tiền nhiệm chết đi nên ông ta phải thay thế luôn. Do đó, Berger không ở chung một chỗ riêng biệt của toán, cũng không được hưởng khẩu phần đầy đủ hơn những tù nhân khác. Và cũng vì thế mà ông ta hy vọng sẽ không bị đưa đi thủ tiêu sau vài tháng làm việc. Nhưng đó chỉ là hy vọng suông.
Berger vừa vào cổng đã thấy sáu người kia đang đứng hàng một trên sân, không xa mấy với giảo hình đài. Tất cả đều cố gắng tránh nhìn vào đó. Sắc diện của Mosse đã thay đổi. Con mắt còn lại của ông ta nhìn Berger với tất cả lo lắng trong khi Brede cúi gầm mặt xuống.
Tên tù trật tự viên nhìn thấy Berger:
– Làm gì ở đây?
– Kiểm soát răng.
– Thợ nhổ răng hả? Vậy thì đứng riêng ra! Mấy người kia, đứng yên!
Sáu người cố đứng yên. Berger đi qua trước mặt họ, nghe Mosse thì thầm nhưng không rõ nói gì. Ông ta không dám dừng lại.
Hầm thiêu xác có một đường dốc chúi nghiêng, thây người được ném vào đó cho chùi tuột vào hầm. Bên cạnh là nơi kiểm xác. Người chết bị lột hết quần áo, vô sổ tên họ và số đính bài trước khi bi lục soát răng.
Phần việc của Berger là lập giấy khai tử và nhổ răng vàng của kẻ chết. Người tiền nhiệm của ông ta là một nha sĩ đã chết vì máu bị nhiễm độc.
Trật tự viên của hầm xác là Dreyer. Hắn vào sau Berger mấy phút.
– Bắt đầu đi!
Hắn nói trổng và ngồi vào một chiếc bàn nhỏ.
Ngoài Berger còn có bốn tù nhân khác của toán hỏa táng. Họ đang đứng gần mé dốc chùi. Xác chết đầu tiên chùi xuống như một cái bao tải lớn. Toán hỏa táng lôi cái xác vào giữa phòng, lột hết y phục ra. Drever ghi số đính bài và hỏi:
– Có nhẫn không?
– Không có.
– Răng?
Hắn chiếu đèn bấm vào miệng hé mở của xác chết. Khóe miệng của người tù này còn đọng vết máu khô. Berger báo cáo:
– Có một cái răng vàng bên phải.
– Tốt. Nhổ ra đi!
Berger quỳ xuống bên cạnh đầu xác chết đang được một người tù giữ chặt trong khi các tù nhân kia lo lột quần áo của cái xác thứ hai. Nhiều xác chết khác được đẩy xuống chồng chất lên nhau. Một xác chết chùi xuống với hai chân đi trước nên dừng đứng lại, dựa ngửa vào đường dốc, mắt mở trừng trừng, mồm hả hốc. Cái xác giữ thế đứng như thế được một lúc thì bị mấy cái xác khác đâm bổ vào, trong số này có thi thể một phụ nữ tóc dài. Tóc người đàn bà phủ lên mặt thây người đứng. Cuối cùng, dường như quá mệt vì phải gánh quá nhiều sự chết chóc trên vai, cái xác đứng trật nghiêng qua và trợt nhào. Dreyer nhăn mặt, thè lưõi liếm môi.
Trong thời gian đó, Berger đã dùng kềm lấy được cái răng vàng ra và đặt vào một trong hai cái hộp ở gần đó. Chiếc hộp thứ hai dùng để đựng nhẫn. Dreyer vào sổ chiếc răng.
– Nghiêm!
Một người tù bỗng hô lớn và tất cả năm người đều đứng nghiêm. Đội trưởng Schulte bước vào :
– Tiếp tục đi!
Hắn ngồi xuống trên một chiếc ghế cạnh bàn giấy, nhìn đống xác tù rồi chỉ vào một người trong toán thiêu xác:
– Ở ngoài có tới tám đứa ném xác. Nhiều quá. Gọi bốn đứa xuống đây để tiếp tay! Tên này ra gọi.
Berger đã tháo ra được một chiếc nhẫn trong ngón tay một xác chết khác và bỏ vào hộp thứ hai trong khi Dreyer vào sổ. Xác này đã mất hết cả răng. Schulte ngáp dài.
Theo nội quy thì các thây tù đưa tới lò thiêu phải được mổ ra, ghi lý do cái chết… nhưng chẳng ai bận tâm áp dụng các điều lệ đó. Bác sĩ của trại lâu lâu mới tới một lần và chẳng bao giờ nhìn tới thây người. Do đó, các tù nhân chết đều được ghi với lý do: đau tim. Westhof cũng thế. Hắn chết vì bịnh tim.
Các thi thể trần truồng được đặt sát bên cạnh một mặt bàn kéo. Hai tù nhân tại lò thiêu ở từng trên sẽ kéo mặt bàn lên mỗi khi trong lò trống chỗ.
Người tù đi ra ngoài bây giờ trở vào với bốn người tù khác, trong số này có Mosse và Brede. Schulte quát bảo :
– Lột hết quần áo mấy cái xác ra. Quần áo của trại để một bên. Quần áo cá nhân để một bên, giày để riêng ra, làm đi!
Schulte là thanh niên hai mươi ba tuổi, da đen xạm, mắt xám. Hắn là đoàn viên kỳ cựu của tổ chức Thanh Niên Hitler từ trước ngày cướp chánh quyền và chính tổ chức này đã đào luyện hắn thành con người khác. Hắn đã từng được giáo huấn là trên thế giới này có hạng Siêu nhân và hạng Tiện nhân. Thuyết kỳ thị chủng tộc và giáo điều của Đảng là Thánh kinh của hắn.
Hắn là đứa con tốt nhưng hắn không ngần ngại tố cáo nếu cha hắn có hành vi chống Đảng. Đối với hắn, Đảng là tối thượng… ngoài ra chẳng còn gì khác. Tù nhân là kẻ thù của Đảng và của quốc gia nên không bao giờ đảng được đối xử nhân đạo.
Chúng còn hạ cấp hơn thú vật. Giết chúng nó cũng như giết một con trùng. Schulte không hề có một chút mặc cảm nào. Hắn vẫn ngủ ngon và nếu có hối tiếc chính là điều không được gởi ra mặt trận. Hắn là một người bạn đáng tin cậy, yêu thơ, mê nhạc nhưng đồng thời cũng khẳng định rằng chỉ có tra tấn mới lấy được lời khai của tù nhân, bởi vì những kẻ thù của Đảng bao giờ cũng nói dối.
Hắn đã từng giết chết sáu người – trong số này có hai người phải chết từ từ vì hắn muốn biết thêm đồng lõa – và chỉ coi đó là chuyện quá bình thường. Hắn đang say mê con gái của một Nghị viên Hội đồng Tỉnh. Những lúc rỗi rảnh, hắn thường ca hát, giọng kim của hắn cũng dễ nghe.
Mấy cái xác cuối cùng đã được chồng lên mặt bàn kéo. Mosse có vẻ vui vui. Hắn mỉm cười với Berger. Nỗi lo sợ lúc nãy bây giờ đã biến mất. Ông ta sợ bị xử treo nhưng bây giờ thấy được sai bảo nên vững dạ và cố làm một cách hăng hái để tỏ thiện chí.
Cửa mở ra, Weber bước vào:
– Nghiêm!
Tất cả đều đứng nghiêm. Hắn bước tới bàn giấy. Giày hắn bóng lưởng. Hắn rất chú trọng đến việc chọn giày, gần như là một say mê. Hắn rũ tro điếu thuốc lên đống thây tù và hỏi Schulte :
– Xong cả chưa?
– Thưa Trại trưởng, đã vào sổ tất cả rồi.
Weber nhìn vào hai hộp đựng vàng. Hắn lấy cái mề đai từ trong hộp ra:
– Cái gì đây?
– Thưa Trại trưởng, mề đay của Thánh Christophorus, mề đay ban phước lành.
Weber nhíu mày, trả miếng vàng vào hộp :
– Mấy đứa ở trên mới xuống đâu?
Bốn người trong bọn Mosse bước tới. Cánh cửa lại mở ra và Đội trưởng Steinbrenner vào với hai người tù cũng trong toán Mosse. Weber bảo hai người tù mới vào:
– Đứng chung với mấy thằng kia! Mấy đứa khác lên từng trên!
Toán tù chuyên việc hỏa táng biến ngay. Berger đi theo họ. Weber lườm sáu người tù còn lại :
– Không phải đứng đó, lại chỗ mấy cái mốc!
Từ trên trần căn phòng, bốn cái móc to lớn buông lủng lẳng gần chỗ dốc chùi xác. Tất cả đều cao cách đầu người đứng khoảng sáu phân. Trong góc phòng bên phải là một cái ghế đẩu ba chân, bên cạnh đó là một chùm thòng lọng có móc sắt ở đầu dây.
Với chân trái, Weber đẩy chiếc ghế đẩu tới trước một người tù:
– Đứng lên trên!
Người tù run rẩy bước lên đứng trên mặt ghế. Weber nhìn đống dây thòng lọng rồi quay sang Steinbrenner :
– Nào, cho trình diễn đi! Để xem tài nghệ chứ ra sao.
Berger làm như đang tiếp tay chất hai cái xác lên trên cáng sắt, trong số có thi thể một phụ nữ tóc ngắn và một người đàn ông trông như làm bằng một loại sáp bẩn thỉu. Berger nhấc vai cái xác người đàn bà lên và nhét tóc xuống dưới để khi bị đẩy vào lò, tóc sẽ không bị gió lửa làm bốc cháy và hất ngược ra có thể làm phỏng tay mình và những người kia. Kể ra cũng hơi lạ là mấy lúc sau này, bọn SS không còn cắt tóc của những xác tù để giữ lại. Có thể chúng cho là chẳng đáng phí công vì trong trại chẳng còn bao nhiêu nữ tù nhàn. Ông ta bảo mấy người tù bên cạnh:
– Sẵn sàng rồi.
Họ mở cửa lò. Hơi lửa nóng rực phà ra. Họ đẩy hai chiếc cáng sắt lăn vào. Một người hô lớn:
– Đóng cửa lại! Mau lên!
Hai cánh cửa lò nặng nề đóng sầm lại nhưng một cánh bỗng bật ra. Berger thoáng thấy người đàn bà rướn mình lên như vừa tỉnh giấc. Tóc người tù đàn bà cháy bùng lên như một vầng hào quang, rồi cánh cửa lúc nãy bị kẹt bởi một miếng xương ập mạnh vào lần cuối.
– Cái gì vậy? Bộ còn sống hả?
Người tù vừa lên tiếng vẫn còn đầy sợ hãi. Từ trước tới nay, anh ta chỉ có phận sự lột y phục của xác chết thôi.
– Không phải đâu. Tại sức nóng làm họ chuyển động.
Berger trả lời với giọng khàn nghẹt. Hơi lửa đã làm cổ ông ta khô lại. Một tù nhân khỏe mạnh của toán hỏa táng vừa tới nói thêm:
– Đôi khi họ còn khiêu vũ nữa. Ủa, mấy con ma dưới hầm lên đây chi vậy?
– Tụi này bị đuổi lên.
Người tù khỏe mạnh bật cười:
– Để làm gì? Để đút vào lò hả?
Berger đáp:
– Ở dưới có người.
Tên tù vạm vỡ ngưng cười:
– Sao? Có người mới à? Họ làm gì?
– Không rõ. Sáu người mới tất cả.
Người tù khỏe mạnh nhìn sững Berger:
– Vô lý! Tụi này mới làm việc có hai tháng mà, chẳng lẽ lại bị thay. Không có quyền làm vậy. Có chắc không?
– Biết đâu. Họ bảo như thế.
– Bạn không biết à? Đâu thử tìm hiểu coi.
– Được rồi, nhưng bạn còn bánh mì không? Hay món gì khác cũng được. Tôi sẽ điều tra giúp cho.
Người tù nhân mất tự tin lấy một khúc bánh mì trong túi áo ra bẻ làm hai và đưa miếng bánh nhỏ hơn cho Berger:
– Đây. Bạn cố tìm cho biết chắc.
Berger bước trở ra. Có người chạm vào vai ông ta. Đó là tên tù trật tự viên đã áp giải Mosse và Brede cùng bốn người kia tới đây.
– Thợ nhổ răng hả?
– Phải.
– Xuống dưới đi. Có một cái răng phải lấy ra.
Mặt tên tù trật tự tái xanh, mồ hôi nhễ nhại. Hắn dựa người vào tường. Berger nháy mắt với người tù vừa cho bánh. Hắn theo ông ta tới lối ra ra.
– Biết chắc rồi. Họ không thay các bạn đâu. Tất cả đều chết.
– Chắc hả?
– Chắc chớ. Nếu không tôi xuống dưới làm gì?
Người tù toán cũ thở ra nhẹ nhõm. Hắn bảo Berger:
– Trả miếng bánh lại đây. Cám ơn Chúa.
Breger giữ chặt túi áo:
– Đâu được.
– Đồ ngu! Đưa miếng bánh kia lại đây! Tôi đổi cho miếng lớn hơn.
Lấy bánh xong, Berger đi xuống hầm. Steinbrenner và Weber không còn ở đó, chỉ có Shulte và Dreyer. Trên bốn cái móc sắt ở trần hầm, bốn người đang bị treo lủng lẳng, trong số này có Mosse vẫn còn đeo kính. Brede và một người nữa đang nằm chết trên sàn xi măng. Schulte bảo Berger:
– Đem tên này xuống! Hắn có răng vàng.
Berger cố làm theo nhưng không được, phải nhờ Dreyer tiếp tay. Cái xác bị treo rơi xuống như bao cát. Người chết có một cái răng cửa bằng vàng. Berger nhổ chiếc răng ra, bỏ vào hộp. Dreyer ghi vào sổ. Schulte bảo :
– Coi mấy tên kia có gì không?
Berger khám hai thây người dưới đất trong khi tên trật tự viên chiếu đèn:
– Chẳng có vàng. Chỉ có một cái răng bằng bạc và xi măng.
– Không dùng được. Còn mấy tên bị treo, soát lại xem.
Berger cố tháo Mossse xuống nhưng không nổi. Schulte quát:
– Khoan! Cứ để như thế dễ thấy hơn.
Berger đẩy cái lưỡi sưng phồng của Mosse qua một bên. Con mắt lồi ra của Mosse đang ở ngay sát mặt ông ta. Từ khóe mắt tiết ra một chất nhờn làm ướt một bên má. Tên trật tự viên đứng cạnh Berger và Schulte cũng vừa bước tới. Hơi thở của tên Đội trưởng Đức phà vào gáy ông ta, nặng mùi rượu bạc hà.
– Chẳng có gì. Cái xác kế bên!
Cái xác kế tiếp đã bị rụng gần hết răng trong một vụ tra trấn, chỉ còn hai cái làm bằng bạc hợp chất. Hơi thở của Schulte vẫn còn ở sau gáy Berger – hơi thở của một gã Quốc Xã vô tư đang thi hành phận sự tìm vàng trong miệng của những kẻ vừa bị sát hại. Bỗng nhiên, Berger cảm thấy không thể chịu đựng nổi hơi thở đó. Ông ta nghĩ, làm như đang tìm trứng trong một tổ chim.
– Thôi, chẳng có gì.
Hắn tuyên bố với vẻ thất vọng, cầm lấy danh sách và hai hộp đựng vàng lên, hắn chỉ vào chỗ sáu thây tù :
– Đem bọn chúng lên trên và rửa sạch chỗ này.
Người thẳng cứng và linh hoạt, hắn đi ra. Berger bắt đầu lột y phục của Brede. Chẳng một chút khó khăn. Họ mới chết nên thân thể vẫn còn dịu. Dreyer đốt một điếu thuốc. Hắn biết là Schulte không quay lại. Berger bảo:
– Còn quên cặp kính.
– Cái gì?
Berger chỉ tay vào Mosse. Dreyer bước tới trong khi người bác sĩ tháo gọng kính ra khỏi mặt xác người tù luật sư. Có lẽ Steinbrenner đã cố ý đùa khi cho treo Mosse vẫn còn đeo kính.
Tên trật tự viên nói :
– Mặt kính còn tốt nhưng chỉ có một tròng thì xài gì được?
– Gọng kính rất tốt.
Dreyer khom mình sát xuống:
– Gọng kền. Chẳng có giá trị gì.
Berger cãi :
– Không phải kền đâu. Bạch kim đó.
– Cái gì?
– Bạch kim.
Tên trật tự viên cầm lấy gọng kính:
– Vàng trắng à? Chắc không?
– Chắc chắn. Nếu chùi rửa sạch ông sẽ biết ngay.
Dreyer chùi gọng kính vào lòng bàn tay:
– Cũng có giá đây.
– Đúng thế.
– Vậy mình vào sổ.
– Đội trưởng Schulte đã đem sổ sách đi rồi.
– Tôi có thể theo gọi lại.
Berger vẫn nhìn Dreyer:
– Đội trưởng Schulte không để ý tới hoặc coi như vô giá trị. Có thể là chẳng đáng bao nhiêu. Biết chừng đâu chỉ là kền.
Dreyer ngẩng đầu lên. Berger tiếp:
– Đồ kền thì chẳng có giá trị gì. Ném bỏ là xong.
Drever đặt gọng kính lên bàn:
– Thôi lo dọn dẹp chỗ này đi!
– Một mình tôi làm không xuể đâu. Họ nặng lắm.
– Lên trên gọi thêm hai tên nữa.
Berger đi một lúc rồi trở lại với hai tù nhân khác. Bây giờ xác Mosse đã trần truồng. Móng tay của ông ta đều bị dập gãy còn dính vôi tường. Trong khi bị siết nghẹt, ông ta đã giẫy giụa và bấu víu vào tường. Hàng trăm người bị treo cổ trước ông ta đã cào cấu vào tường làm thủng nhiều lỗ nhỏ.
Berger để riêng áo quần và giày của Mosse ra rồi liếc nhìn lên bàn Dreyer. Cái gọng kính đã biến mất, cũng không có trên đống đồ vô dụng sắp vứt đi của tù nhân. Hắn làm như đang bận rộn và không ngước mặt lên.
– Tiếng gì vậy?
Ruth hỏi và Bucher lắng nghe:
– Tiếng chim hót. Chắc là họa mi.
– Họa mi sao?
– Không có loại chim nào hót sớm trong năm như họa mi. Anh đã biết thế hồi còn nhỏ.
Họ đang ngồi thu hình mỗi người một bên bờ rào kẽm gai ngăn đôi Tiểu trại và trại phụ nữ. Lúc đó, Tiểu trại đã tràn ngập, mọi người nằm ngồi tràn lan. Bọn lính canh cũng đã rời chòi gác đợi người đến thay.
Mặt trời đang từ từ lặn xuống, chiếu ánh đỏ trên các cửa sổ của những ngôi nhà thành phố. Cả một con đường chưa bị bom tàn phá phản chiếu nắng chiều trông như đang bốc cháy. Mặt sông soi rọi nền trời.
– Nó hót ở đâu?
– Đằng kia. Chỗ mấy cây tòng.
Ruth Holland cố nhìn xuyên qua rào kẽm gai. Đằng kia là đồng cỏ, ruộng vườn, cây cối, một nông trại lợp rơm, xa hơn nữa là một ngôi nhà trắng toát có khu vườn nhỏ trên ngọn đồi.
Bucher nhìn người yêu. Ánh mặt trời làm cho khuôn mặt xương xẩu của Ruth duyên dáng hơn đôi chút. Hắn lấy một mẩu bánh mì trong túi ra :
– Đây nè, Ruth! Của Berger đưa bảo đem cho em. Ông ấy mới đánh đổi được ở lò thiêu.
Hắn khéo léo ném mẩu bánh xuyên qua hai hàng kẽm gai. Mặt Ruth như co lại. Mẩu bánh rơi bên cạnh cô ta. Một lúc lâu như cố gắng lắm, Ruth mới lên tiếng nổi :
– Đó là phần của anh.
– Không. Anh đã có phần rồi.
Người tù phụ nữ nói như nghẹn:
– Anh cứ nói thế.
– Thật mà. Anh thề không nói dối.
Và nhìn những ngón tay của người yêu đang vói lần tới chỗ bánh rơi, hắn nói tiếp:
– Ăn từ từ thôi để còn được lâu.
Ruth gật đầu và bắt đầu nhai.
– Em đã quen với thói ăn chậm rồi. Vừa mới mất thêm một cái răng. Tự nhiên nó sút ra, không đau đớn gì cả. Thế là sáu cái.
– Nếu không đau đớn thì không thành vấn đề. Bên anh có người đau răng, sưng phù cả miệng lên. Anh ta rên rỉ cho tới lúc chết.
– Cứ cái đà này thì em chẳng còn một cái răng nào cả.
– Mình sẽ làm răng giả. Lebenthal cũng gắn răng giả.
– Em không muốn mang răng giả.
– Có sao đâu? Hàng vạn người đeo răng giả, có gì đâu!
– Chúng nó đâu thèm làm răng cho.
– Ở đây thì không được. Anh nói là chuyện về sau. Còn nhiều loại răng giả đẹp hơn của Lebenthal. Của hắn đã cũ gần hai mươi năm rồi. Bây giờ người ta làm đẹp hơn nhiều, nhìn kỹ cũng không biết, đẹp và chắc hơn răng thật.
Ruth ăn xong, quay nhìn Bucher:
– Josef, anh có tin thật là chúng mình ra khỏi nơi này không?
– Tin chớ. Tuyệt đối tin. 509 cũng tin như thế. Tất cả tụi này đã bắt đầu tin.
– Nhưng tới chừng nào?
– Tới chừng…
Hắn quên nghĩ tới việc đó nhưng vẫn cố nói thêm:
– Tới chừng mình được tự do.
– Rồi mình lại phải trốn chui trốn nhủi. Chúng nó lại săn đuổi như lúc trước.
– Bọn chúng sẽ không còn cơ hội đuổi bắt mình đâu.
Ruth nhìn người yêu thật lâu:
– Anh tin như vậy?
– Còn gì nữa?
Người tù đàn bà lắc đầu:
– Có lẽ chúng sẽ để yên mình một thời gian rồi mới đuổi bắt. Bọn nó còn biết làm gì giỏi hơn nữa đâu.
Tiếng chim họa mi lại réo rắt, trong thanh, dịu dàng nhưng khó chịu. Bucher sáng mắt lên :
– Chúng không làm gì được đâu. Chúng ta sẽ đoàn kết thành một khối, đứng lên và bước ra khỏi trại. Hàng rào kẽm gai sẽ bị phá tan. Mình sẽ đi qua con đường đằng kia. Không một ai nổ súng. Không một ai ngăn cản. Mình sẽ đi qua đồng ruộng, đi vào một ngôi nhà, giống như ngôi nhà trắng toát đằng kia và ngồi đàng hoàng trên ghế.
– Ngồi trên ghế…
– Phải. Những cái ghế đàng hoàng, có cả một cái bàn với ly tách và lò sưởi.
– Nhưng còn những kẻ sẽ đuổi chúng mình ra?
– Không còn ai đuổi mình cả. Mình sẽ có một cái giường với mền mùng và vải trải giường sạch sẽ. Rồi bánh mì và thịt.
Nhìn thấy nét nhăn nhỏ trên mặt người yêu, Bucher an ủi :
– Phải tin là sẽ có, Ruth!
Người nữ tù khóc nghẹn. Nước mắt không chảy ra. Cái khóc chỉ nhìn thấy trong ánh mắt mờ đi như có một bức màn vừa kéo ngang qua.
– Làm sao em tin được, Josef?
Bucher lặp lại:
– Phải tin chớ, Ruth. Lewinsky đã cho biết nhiều chuyện mới. Quân đội Mỹ và Anh đã vượt sông Rhin. Họ đang tiến tới. Họ sẽ giải thoát mình. Sớm lắm.
Nắng chiều đột nhiên thay đổi. Mặt trời đã khuất sau đầu núi. Thành phố chìm trong sắc xám. Những cánh cửa sổ chỉ còn là những hình bóng lờ mờ. Giòng sông lặng lờ trôi. Tầt cả đều yên tĩnh. Con chim họa mi đậu đó đã ngừng hót. Nền trời đầy mây quyển. Ánh nắng cuối cùng đọng đầy trên ngôi nhà trắng đỉnh đồi, và trong khi vạn vật đều chìm trong bóng hoàng hôn, ngôi nhà chói rực lên vừa như quá gần mà cũng quá xa.
Họ chợt nhìn thấy con chim khi nó bay tới gần. Con chim trông như một quả cầu màu đen có cánh. Bóng chim in lên nền trời. Nó đang bay trên cao bỗng chúi xuống, cả hai đều nhìn thấy và dường như muốn làm một cái gì. Hình bóng con chim nổi bật trong họ với chiếc đầu nhỏ nhắn có mỏ vàng, với đôi cánh xòe rộng trong không gian, với cái ức no tròn… rồi một tiếng động vang lên và những tia lửa từ hàng rào điện bắn ra, lợt lạt trong ánh nắng chiều để chẳng còn gì khác hơn là một cái xác cháy thành than rơi xuống đất.
– Đúng là con chim họa mi, Josef!
Bucher đính chánh mau:
– Không phải đâu em. Không phải chim họa mi mà cũng không phải con chim vừa hát. Anh biết chắc mà… không phải… con chim của chúng ta.
– Bộ tưởng tao quên mất rồi, hả?
Handke hỏi giọng khiêu khích:
– Tôi không nghĩ thế.
Hôm qua có phần hơi trễ nhưng vẫn còn thì giờ. Còn đủ thì giờ để phúc trình. Ngày mai, chẳng hạn…
Đứng sững trước 509, hắn bĩu môi:
– Tỷ phú hả? Tỷ phú Thụy Sĩ. Họ sẽ lòi tiền của mày ra hết đồng này tới đồng khác và thận mày sẽ dập nát.
509 làm ra vẻ bình thản:
– Không ai cần phải đánh đập tôi cả. Người ta có thể lấy số tiền đó một cách giản dị hơn. Chỉ cần một chữ ký của tôi là số tiền đó không thuộc về tôi nữa.
Hắn nhìn thẳng vào mặt Handke và nhấn mạnh:
– Hai ngàn năm trăm quan. Một số tiền không phải nhỏ.
Handke nói cộc lốc:
– Năm ngàn. Bộ Gestapo chịu chia đôi à?
– Không có chuyện Gestapo sẽ lấy năm ngàn.
– Nhưng mày có chịu nổi đòn vọt, giảo hình đài và chuồng cọp không?
– Chưa chắc phải như vậy.
Handke cười khẩy:
– Vậy chớ gì? Một chứng minh thư xác nhận quyền làm ngân chủ hợp pháp?
– Cũng không phải vậy.
509 vẫn nhìn chằm chặp vào Handke. Hắn tự thấy ngạc nhiên vì không còn một chút sợ hãi nào nữa cả mặc dầu sinh mạng vẫn còn nằm trong tay Handke. Trái lại, hắn cảm thấy thù hận lạ lùng.
Không phải lòng thù hận lờ mờ đối với ngục tù, không phải sự thù hận nhỏ nhen vì bị bỏ đói… không, đây là mối thù hận khôn ngoan sáng suốt. Hắn thù hận mãnh liệt đến nỗi phải nhìn xuống vì ngại Hankde có thể nhận ra.
– Vậy chớ mày muốn gì, đồ lừa ngựa?
509 ngửi thấy hơi thở của Handke. Đây cũng là điều mới lạ. Trong quá khứ, mùi hôi thúi thường xuyên của Tiểu trại không làm cho người ta ngửi thấy gì khác hơn. Hắn hiểu là không phải vì mùi hôi của Handke nặng hơn mùi xú uế của nhà tù… sở dĩ hắn ngửi thấy vì hắn thù hận Handke tột độ.
Handke đá vào ống chân 509.
– Sợ quá rồi câm hả?
509 nhịn đau, không nhúc nhích. Hắn vẫn nhìn Handke và bình tĩnh trả lờ :
– Tôi không tin là sẽ bi tra tấn. Điều đó chẳng ích lợi gì. Nếu bị tra tấn tôi sẽ chết trong tay lính SS. Quá suy nhược, tôi không còn chịu nổi nữa. Nhưng đây là vấn đề có lợi. Cơ quan Gestapo sẽ để cho tôi sống đến chừng nào họ lấy được tiền. Chỉ có tôi là người duy nhất được quyền chuyển nhượng. Gestapo không có quyền hành gì tại Thụy Sĩ. Trong thời gian đợi lấy được tiền ra, tôi vẫn an toàn. Trong thời gian đó, thiếu gì chuyện khác xảy ra.
Handke lộ vẻ suy nghĩ. Trong chỗ tranh tối, tranh sáng hắn theo dõi ý nghĩ của Handke trên bộ mặt trẹt lét của Handke. Hắn trông thấy rõ ràng. Hắn có cảm tưởng như bên trong ánh mắt Handke có một ngọn lửa nào đó đang bừng cháy.
Sau cùng tên tù đại diện lao xá 22 lên tiếng:
– Thì ra mày đã nghĩ tới tất cả chuyện đó?
– Tôi không nghĩ gì cả. Chuyện vẫn cứ như thế.
– Còn Weber nữa, ông ta không thể chờ đợi được.
509 thản nhiên:
– Ông ấy vẫn phải chờ vì Gestapo sẽ lo liệu. Đối với Gestapo thì tiền Thụy Sĩ là cả một vấn đề quan trọng.
Đôi mắt lồi xanh xạm của Handke như xoay chuyển, miệng hắn cử động như đang nhai một vật gì :
– Mày cũng xảo quyệt lắm. Trước đây còn thua cả đồ rác rến. Rồi sẽ biết, tất cả bọn mày sẽ tan ra khói.
Hắn đập vào ngực 509:
– 20 Marks đâu, đưa đây mau!
509 rút tờ giấy bạc ra. Trong một giây hắn thoáng nghĩ là không đưa nhưng hắn đã kịp thời nhận rằng làm như thế là tự sát. Handke giựt lấy tờ giấy bạc và tuyên bố:
– Cho mày sống thêm một ngày nữa, đồ sâu bọ! Chỉ một ngày thôi, tới mai sẽ biết.
509 lẩm bẩm:
– Một ngày.
Sau một lúc suy nghĩ, Lewinsky nói như để an ủi:
– Chắn hắn sẽ không làm gì đâu. Như vậy hắn có lợi gì?
509 nhún vai:
– Không thể hiểu nổi. Tánh tình hắn thay đổi luôn mỗi khi có rượu vào hay bức rức chuyện gì đó.
Lewinsky lại suy nghĩ trước khi nói:
– Phải loại hắn mới được. Ngay lúc này thì chưa thể làm được gì cả. Bọn SS đang lập danh sách số người cần thủ tiêu. Chúng tôi đã giấu một số người vào bệnh xá. Trong nay mai có lẽ phải đưa người tới ẩn náu ở đây. Còn có thể được không?
– Vẫn được nếu bạn cung cấp thức ăn cho họ.
– Đó là chuyện tự nhiên. Nhưng còn có vấn đề khác. Mình phải chuẩn bị ứng phó các cuộc lùng soát bất thần. Bạn có chỗ nào giấu kín một vài món đồ không?
– Bao lớn?
– Cỡ chừng…
Lewinsky nhìn quanh. Họ đang thu mình trong bóng tối sau lao xá. Trước mắt họ chỉ có một hàng dài những tù nhân Hồi giáo trên đường ra nhà cầu.
– Lớn cỡ một khẩu súng lực, chẳng hạn…
509 gần như mất thở:
– Một khẩu súng lục?
– Phải.
509 ngồi im một lúc lâu rồi nói qua hơi thở:
– Dưới giường tôi có một chỗ kín đáo. Có thể giấu được hơn một khẩu súng. Chúng không bao giờ tới đó. Hoàn toàn lắm.
Hắn không nhận ra là đang nói như thuyết phục Lewinsky trong khi trên thực tế chính hắn mới là kẻ cần được thuyết phục để lãnh phần nguy hiểm.
– Có sẵn đó không?
– Có.
– Đưa cho tôi.
Lewinsky lại nhìn quanh:
– Bạn hiểu tầm quan trọng của nó chớ?
509 sốt ruột:
– Hiểu rõ lắm.
– Chúng tôi phải vượt qua nhiều nguy nan mới đem về được.
– Biết lắm rồi, Lewinsky. Tôi sẽ bảo toàn nó. Cứ đưa đây.
Lewinsky rút khẩu súng từ trong túi ra đặt vào tay 509. Khẩu súng có vẻ nặng hơn hắn tưởng.
– Bọc bằng cái gì vậy?
– Giẻ tẩm dầu. Đất chỗ đó có khô không?
– Khô chớ.
509 nói dối một cách tỉnh táo. Hắn không muốn trả khẩu súng lại:
– Có đạn trong súng không?
– Có, nhưng chỉ vài viên thôi.
509 nhét khẩu súng vào trong áo lót rồi cài nút áo ngoài lại. Khẩu súng ép sát vào bên trái tim làm hắn rợn người trong giây lát. Lewinsky ngồi thẳng lên:
– Tôi đi về. Nhớ giấu thật kỹ. Giấu ngay bây giờ. Lần tới tôi sẽ sang đây cùng một người nữa. Bạn có chỗ trống chưa?
– Có sẵn rồi. Người của các bạn luôn luôn có sẵn chỗ.
– Tốt lắm. Nếu Handke trở lại, cứ cho hắn thêm chút ít. Bạn còn tiền không?
– Còn đủ cho một ngày nữa.
– Để tôi liệu xem có quyên được chút ít gì không? Nếu có, tôi sẽ giao cho Lebenthal, có tiện không?
– Được.
Lewinsky biến mất trong bóng tối của dãy lao xá kế đó. Từ đó, hắn đi lom khom, khập khểnh như một người Hồi ra nhà cầu. 509 còn ngồi chỗ cũ một lúc lâu, dựa lưng vào tường, bàn tay phải áp khẩu súng vào người. Hắn phải cố gắng lắm mới cưõng nổi ý muốn lấy khẩu súng ra, tháo giẻ bao để sờ vào khối thép. Hắn cảm nhận các đường nét của nòng súng, bá súng và chợt thấy có một sức mạnh vô hình từ đó thoát ra. Đây là lần đầu tiên sau nhiều năm dài, hắn đang làm chủ được một vật khả dĩ giúp hắn khi cần tự vệ. Hắn không còn đơn độc nữa. Hắn không còn bị phó mặc cho may rủi. Hắn cũng biết đó chỉ là ảo giác thôi vì hắn không thể dùng tới võ khí. Dầu sao thì sự hiện diện của nó cũng quá đủ rồi. Quá đủ để có một sự đổi thay ở nội tâm của hắn. Món vật có khả năng sát hại này giống như động cơ của một nguồn sống. Nhờ nó tinh thần đề kháng của hắn được gia tăng. Hắn nghĩ tới Handke, nghĩ tới lòng thù hận đối với Handke. Tên đại diện độc hại ấy đã lấy tiền của hắn nhưng vẫn yếu hơn hắn. Hắn nghĩ tới Rosen. Rồi hắn nghĩ tới Weber, tới thời gian đã qua quá lâu lúc hắn mới tới trại này. Từ nhiều năm qua, hắn không hề nghĩ như thế. Hắn đã xóa bỏ tất cả những kỷ niệm, ngay cả những kỷ niệm lúc hưng thời. Cả cái tên của hắn, hắn cũng không muốn nghe tới. Hắn đã thôi làm người và không muốn làm người. Hắn đã trở thành một con số. Hắn ngồi bất động để suy nghĩ, thở và bấu chặt khẩu súng. Kỷ niệm lục tục kéo về làm hắn có cảm giác như vừa ăn vừa uống cùng một lúc một thứ gì đó vô hình và giống như một liều thuốc mạnh.
Có tiếng đổi gác ở các chòi canh, cẩn thận hắn đứng lên. Hắn loạng choạng mất mấy giây như người say rượu. Rồi hắn đi vòng lao xá.
Một bóng người co ro bên cửa:
– 509!
Đó là tiếng gọi thì thầm của Rosen. 509 giựt mình như vừa bừng tỉnh sau một giấc mơ dài vô tận. Hắn nhìn xuống, nói không suy nghĩ:
17 giờ. Đường phố Sài gòn ngập đầy bộ đội miền Bắc nón cối và giải phóng quân mũ tai bèo và cỏ đuôi chó. Cỏ đuôi chó mỗi lúc một đông thêm! Chắc ăn rồi, chắc ăn lắm rồi, lính sư đoàn 304 gây khí thế cách mạng. Xe tăng của cộng sản, trước sau chỉ có mười chiếc, nghiến xích sắt thị uy khắp đường phố Sài gòn. Xe tăng thị uy xong đến mô-lô-tô-va Liên xô và GMC Trung Quốc. Máy phóng thanh oang oang bài ca Giải phóng miền Nam của Lưu Hữu Phước. Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước Giết lũ đế quốc Phá tan bè lũ bán nước Ôi xương tan máu rơi Lòng hận thù ngút trời ——- Vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng Vùng lên xông pha vượt qua bão bùng Thề cứu lấy nước nhà Thề Chiến đấu tới cùng Cầm gươm ôm súng xông tới Vận nước đã tới rồi Bình minh chiếu khắp nơi Nguyền xây non nước vững yên muôn đời… Và bài ca Tiến về Sài gòn: Tiến về Sài gòn ta quét sạch giặc thù Tiến về Sài gòn ta giải phóng thành đô *… Cỏ đuôi chó hát theo. Vì hai bài hát lải nhải hoài nên cỏ đuôi chó thuộc lòng. Tôi nhớ lại: Hoạt cảnh này đã ba lần tôi được chứng kiến trong đời. Lần thứ nhất, buổi chiều 19-8-1945, năm tôi lên mười. Và tôi đã diễn tả thật trung thực trong cuốn Con Thúy, cuốn sách đã đưa tôi vào nhà tù cộng sản để chịu đựng những hệ lụy tự khai. Lần thứ hai, buổi sáng giữa tháng 7-1954. Một thị xã được giải phóng. Bộ đội cộng sản tiến vô thong thả. Cỏ đuôi chó mọc nhanh, tung hô những khẩu hiệu nịnh bợ. Bài hát thuộc nhanh của cỏ đuôi chó hồi ấy là bài Bàn tay chúng ta: Hoan hô bàn tay anh Komsomol đã khơi dòng Volga đông. đã khơi nguồn hạnh phúc cho toàn dân.. Hoan hô bàn tay anh bạn Trung Hoa chắn sông Hoài ngăn đau thương nước không về toàn dân no ấm Raymondielle ngăn xe cho ngừng máu rơi ngăn chiến tranh cho đời huy hoàng ta nhớ ghi tên người tươi sáng bàn tay anh đem về thêm bông bàn tay anh đem về thêm lúa bàn tay ta băng miền thương xót dắt dìu nhau tiến lên… Hoạt cảnh giải phóng lần hai, tôi đã viết ở cuốn Vẻ buồn tỉnh lỵ chưa kịp xuất bản và bản thảo đã bị tich thu. Hôm nay, lần thứ ba, tôi biết thêm hoạt cảnh giải phóng 1975. Ba mươi năm. Vẫn thế. Vẫn thế ở mỗi biến động lịch sử trên quê hương tôi. Nếu cái vẫn thế còn làm cho tôi xúc động là, ngay cả tâm hồn cỏ đuôi chó, đã không dấy lên giông bão thù hận khi họ được khích lệ tuyết hận bừa bãi. Có phải tình nghĩa Việt Nam mãi mãi chế ngự chủ nghĩa cộng sản. Sài gòn chỉ bị cộng sản và cỏ đuôi chó quấy rầy ngoài phố. Sài gòn không hề bị cỏ đuôi chó đập phá nhà cửa, giết người. Cộng sản không dám ra mặt hành động. Cộng sản bất lực thủ đoạn châm lửa phẫn nộ cho người Sài gòn sát hại người Sài gòn. Không có bạo động đổ máu vô lý cho hợp lý khi cộng sản vào Sài gòn. Đừng bao giờ nghĩ cộng sản nhân đạo. Mà nên hiểu miền Nam nhân bản, Sài gòn nhân bản không chấp thuận tàn sát theo ý cộng sản hay theo ý của bất cứ một chủ nghĩa phi nhân nào: Lịch sử nào sẽ ghi chép chính xác? Thứ lịch sử gian dối của Mỹ và Tây phương thân cộng đã toa rập cộng sản, đã giả vờ quên tình nghĩa Việt Nam mà đề cao sự khoan dung, đạo lý cộng sản khi cộng sản xuất hiện ở Sài gòn. Đạo lý làm người của cộng sản đã thể hiện rõ nét ở Huế vụ Mậu Thân. Nó sẽ thể hiện rõ nét hơn, sẽ “phanh thây uống máu quân thù’, sẽ “cờ in máu chiến thắng” ở Sài gòn 30-4-75 nếu người Sài gòn muốn. Nhưng người Sài gòn không muốn, cả cỏ đuôi chó đáng ghét cũng không muốn, cộng sản đành thúc thủ. Để được tiếng nhân đạo. Cộng sản nói nhân đạo như tư bản nói nhân đạo, còn đốn mạt hơn cả đĩ điếm, ma cô giảng giải luân lý. Người ta cố tình quên rằng, chỉ cần mảy may lương tâm, cộng sản hết là cộng sản. Và người ta nên sáng suốt, nên thức tỉnh nhớ ràng, cái vỏ ngoài của cộng sản giống hệt áo thầy tu chân chính, những lời cộng sản nói hay hơn Chúa nói, Phật nói. Cộng sản quán triệt bí kíp “một thời im lặng và một thời lên tiếng” ở bất cứ không gian nào. Cộng sản xúi dục người quốc gia lăng nhục người quốc gia, chia rẽ người quốc gia rồi hô hào đoàn kết. Cộng sản nằm vùng, cộng sản hải ngoại còn tinh vi đến độ biết ẩn thân thật lâu, dám sống nghèo hèn, cố tình phô bày tác phong đạo đức, trình diễn đạm bạc, khuất thân hòa hoãn với những kẻ chống cộng dữ dội nhất. Để trở thành biểu tượng gương mẫu của người quốc gia chống cộng. Và, sau hết, đòn muôn thuở nằm trong bản chất cộng sản: Tìm mọi cách hạ bệ uy tín các tài năng của quốc gia để vô hiệu hóa sự chống cộng sản của các tài năng này; công khai đề cao tài năng của quốc gia trên các cơ quan truyền thông cộng sản để cô lập các tài năng này với quần chúng thù ghét cộng sản. Sài gòn động bên ngoài, tĩnh bên trong – cái tĩnh lo âu Cái động đã tôn vinh cái tĩnh. Đã không có “đấu tranh giai cấp” tình nguyện, tự nguyện và… tự học tập như cộng sản mong muốn. Điều đó đã “giải phóng” biển máu đe dọa của Mỹ và biển máu toan tính của cộng sản. Chúng tôi thả xuống chợ Bến Thành. Ngạc nhiên vô cùng, tôi thấy, ở các đầu đường, góc phố, người ta đã bán cờ đỏ sao vàng và cờ trên đỏ, dưới xanh, giữa sao vàng. Cờ may ở đâu nhanh thế? Vải của chúng ta nhập cảng cả đấy Chúng ta đã có những thằng bán thuốc âu Mỹ cho kẻ thù, bán súng đạn cho kẻ thù, chúng ta còn những thằng sản xuất cờ cho kẻ thù nữa. Cờ bán đắt như tôm tươi Kẻ hân hoan chào mừng cộng sản mua cờ, kẻ sợ hãi cộng sản cũng mua cờ. Những người bán cờ trúng mối lớn. Con buôn biết cách khai thác… cách mạng vô sản! Đã nhiều nhà treo hai mầu cờ, hai thứ cờ. Tôi thấm mệt: – Về chứ, Côn? – Tao nghĩ mày nên đi quan sát thêm. – Không đủ sức. Chỗ nào ở Sài gòn chiều nay cũng giống chỗ nào thôi. Chúng tôi trở lại. Tòa Đô Sảnh đã treo cờ kẻ thù. Công viên trước Hạ Viện đã hết náo động. Xác chết của Trung tá Long đã được kéo đi vất ở xó xỉnh nào. Pho tượng thủy quân lục chiến Mỹ đổ rạp nằm úp xuống đất. Chẳng thể diễn tả nỗi ngập ngùi. Chúng tôi cắm cúi bước qua nhà thờ Đức Bà. Giáo đường đóng cửa kín mít. Bưu Điện đã treo hai thứ cờ và giải phóng quân kè kè AK canh gác. Trong khuôn viên Dinh Độc Lập, “nhân dân” đông đầy. Cánh cổng dinh mở rộng, “nhân dân” tự do ra vào, tự do chạy nhẩy, tự do la hét. Và đó là chiêu thức giải phóng đánh đúng tâm huyệt bầy cừu. Người ta có một sự so sánh giản dị: Nguyễn văn Liệu phong tỏa Dinh Độc Lập, cách mạng giải phóng Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập, cái triều đình của những tên cầy cáo, rồi sẽ có một Hồ sơ đầy đủ về nó như một thâm cung cố sử. Thiệu cấm dân lai vãng quanh Dinh. Cộng sản mở bung cho dân vào Dinh. Sư mị dân của cộng sản, ít nhất, đã làm trí thức Lý Chánh Trung bồi hồi, cảm động mà rên rỉ “xin được nhận Hồ chủ tich làm Bác”. Tôi không thích nhìn cái Dinh ấy. Nó mang tên Độc Lập. Không, nó phải mang tên Nô Lệ. Nhưng không thích nhìn Dinh… Nô Lệ – còn nô lệ dài dài – tôi lại phải nhìn cách mạng tuyết hận danh nhân Trương Vĩnh Ký. ở cuối vườn sao góc phố Duy Tân – Thống Nhất, đối diện với hãng xe Peugeot, pho tượng Trương Vĩnh Ký đã bị giật sập. Trương Vĩnh Ký có tội gì với cách mạng vô sản? Kẻ thừa thãi công lao với nền văn hóa Việt Nam, kẻ tiên phong mở đường văn chương quốc ngữ cũng là kẻ thù của cộng sản ư? Người ta sẽ được trả lời ngay khi nghe bài hát này: Ta là người nông dân mặc áo lính chiến đấu vì giai cấp bị áp bức từ bốn nghìn năm* … Từ bốn nghìn năm đã có… cộng sản. Và các nhà nghiên cứu mác xít bảo là cộng sản nguyên thủy. Hùng Vương là kẻ thù của giai cấp vô sản. Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt… đều là kẻ thù của giai cấp vô sản cả. Địa chủ Lê Lợi đã bóc lột giai cấp nông dân kỹ nhất? Thế thì Trương Vĩnh Ký, người đã tích cực đóng góp vào công cuộc làm thăng hoa chữ quốc ngữ để, từ chữ quốc ngữ, cộng sản Việt Nam xử dụng như võ khí tư tưởng mà truyền bá chủ nghĩa của mình, có bị thù hận là… “lô gích” rồi. Với cộng sản Việt Nam, tổ tiên của họ là Karl Marx, là Freiderich Engels, là Lénine… Họ rất nên vô ơn tiền nhân và rất nên thù hận tiền nhân tự bốn nghìn năm. Họ là quắc tế. Họ phủ nhận quốc gia. Những kẻ thân cộng sản làm dáng, những kẻ theo cộng sản ở hải ngoại nghĩ gì về “giai cấp bị áp bức từ bốn nghìn năm”? Pho tượng Trương Vĩnh Ký bị giật sập nằm úp mặt xuống đất vườn sao. Cuốn sách trên tay ông chưa bị đập nát. Tôi mở mắt ngắm pho tượng. Nước mắt tôi ứa ra. Tôi lại nghĩ đến thân phận những nhà văn chống đối tư tưởng mác xít hai mươi năm Sài gòn tự do. Và, hôm nay, khi ngồi viết những giòng chữ này ở thị trấn lrvine của Orange County thuộc tiểu bang California, tôi còn nghĩ đến thân phận những kẻ làm tay sai cho cộng sản Việt Nam trong lãnh vực chữ nghĩa và nghệ thuật. Họ có hiểu vì lý do gì Trương Vĩnh Ký cũng bị xóa bỏ. Và họ, họ là cái thứ gì, giá trị bao nhiêu để hy vọng tồn tại.
° ° ° 18 giờ 30. Chúng tôi có mặt ở ngã tư Hiền Vương – công Lý. Quân trang, quân dụng, võ khí vẫn xếp đống ngổn ngang trên vỉa hè. Súng đạn sẵn sàng, thừa mứa, tha hồ lượm mà bắn giết nhau vô tội vạ. Nhưng, người Sài gòn không giết người Sài gòn. Nhiều thanh niên biết xử dụng M16 đã lượm súng, bắn chỉ thiên vung vít. Bắn cho hả giận. Bắn cho quên nỗi nhục. Bắn rồi liệng súng, nước mắt ròng ròng. Thành phố rền vang tiếng đạn nổ chỉ thiên…Chúng tôi thản nhiên đi. Lúc này, vẫn còn nhiều người lính trên đường chạy về nhà mình. Tôi nhận ra những kẻ chiến bại bất đắc dĩ và tội nghiệp ấy, vì họ mình trần, quần xà lỏn, chân đất. Làm sao tôi biết chia xẻ tâm sự uất nghẹn của người lính quốc gia đường chiều 30-4? Những trang sách nào của những ông đại tá, trung tá của Cục tâm lý chiến “không chịu đứng chung đẳng cấp xã hội và văn học nghệ thuật” với người khác đã soi tỏ tâm sự uất nghẹn này? Bầy hạc gỗ của vua Vệ, bọn ý gẩy bút cùn chỉ đủ khả năng xướng họa thơ con cóc và vấy bẩn thiên hạ thì làm nổi trò trống gì mà cũng hiệu hiệu khẩu khí ôm mối thù nặng nghìn cân? Cho nên, chúng ta có hơn một nghìn trang “Việt Nam máu lửa quê hương tôi”, gần một nghìn trang “Hồ sơ dinh Độc Lập”, vẫn còn thiếu một trang viết về người lính buông súng, lột bỏ quân phục chạy về nhà mình tức tưởi, phẫn nộ và lo âu. Chưa bao giờ tôi thấm thía thơ Đặng Trần Côn bằng lúc này:
Google photo edit by Sơn râu
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi Chinh phu, tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn…
NHỮNG TỬ SĨ KHÔNG CẦN AI GỌI HỒN Xe tăng cộng sản từ Long Khánh qua Gia Kiệm, Hố Nai định ra xa lộ Biên Hòa đã bị chặn đánh tại Tam Hiệp trước lệnh đầu hàng của Dương văn Minh. “Chiến lũy Tam Hiệp”, phải coi như thế, được sáng tạo bởi một số lính nhẩy dù, lính thủy quân lục chiến mà đại đơn vị đã tan hàng từ đêm 29-4. Họ phối hợp cùng nhân dân tự vệ và dân chúng Tam Hiệp, dùng máy cầy ủi đất đắp mô ụ nghênh địch. Mẩu chuyện này nghe kể và xem những thước phim của đài truyền hình Pháp ghi lại. Trận chiến thật ngắn ngủi nhưng rất anh dũng. Không cần hỏa tiễn Tow của Mỹ viện trợ, không cần không lực Hoa Kỳ yểm trợ. Lúc ấy, người Mỹ đã “cút”, ông đại sứ Martin cũng cuốn cờ sao xọc leo lên trực thăng bay ra hạm đội số 7. Thế giới nên công bình ghi nhận rằng, Mỹ đã “cút”, ngụy đã “nhào”, chỉ còn quân dân miền Nam chiến đấu chống cộng sản xâm lăng. Xe tăng cộng sản phải dừng lại. Chúng nổi giận bắn thẳng vào chiến lũy. Đạn của T-54 khạc tới tấp, khạc không thương xót. Quân dân ta chống trả kịch liệt. Những em nhỏ trên 10 tuổi bám sát các anh lính để được sai bảo. Một em trúng đạn giặc, máu me đầy mặt. Hai anh lính dìu em vào chỗ an toàn, băng bó cho em. Em bé khóc. Khuôn mặt hai anh lính ưu tư. Một hình ảnh đẹp nhất, nhân bản nhất của lính quốc gia. Cuộc chiến vẫn tiếp tục. Những người lính mà tướng lãnh đã bỏ trốn phóng lên phía trước. Đạn thù bắn như mưa. Lính của ta gục ngã trên những vũng máu danh dự, trách nhiệm, tổ quốc. Họ chết hết. Họ yên lòng vì họ thật sự biết họ chết vì tổ quốc, vì dân tộc. Trận chiến kết thúc mau lẹ. Xe tăng cộng sản nghiến lên xác lính của ta, nghiến lên xác của dân ta, san bằng mô ụ. Chúng ngạo nghễ bò ra xa lộ và tiến vào Sài gòn. Bất ngờ, đến cây cầu nhỏ gần nhà máy xi măng Hà Tiên, xe tăng cộng sản bị lính chi khu Thủ Đức chặn đánh thêm. Súng phóng lựu đạn, súng mọc chê, súng đại liên của lính chi khu dũng cảm đã bắn cháy một T 54. Chiến trận cũng không thể kéo dài. Cộng sản làm chủ tình hình và kết thúc lẹ. Chúng khẩn trương chạy vô thành phố. Những người lính nhẩy dù, thủy quân lục chiến và chi khu Thủ Đức đã hy sinh vào buổi sáng 30-4. Họ không cần ai mạc mặt, gọi hồn cả…
Tôi không hiểu, trong Dinh Độc Lập, Dương văn Minh và bọn hàng thần lơ láo đến mức độ nào trước ống kính xấc xược của bọn phóng viên cộng sản và trước những câu hạch hỏi hỗn láo của bộ đội giải phóng cấp tá. Họ có nghe những tiếng súng danh dự, trách nhiệm, tổ quốc của lính văn nghệ diệt T-54 ở cầu Thị Nghè, của lính nhẩy dù cách cổng Dinh Độc Lập chẳng bao xa? Chúng tôi vào trung tâm thành phố. Dân chúng đang bu kín công viên dựng hai người chiến sĩ thủy quân lục chiến Việt Nam họng súng nhắm thằng vào Hạ Viện. Những chiếc loa gắn trên cây cao đã oang oang giọng nói mới chào mừng giải phóng miền Nam. Bài hát Tiến vào Sài gòn ta quét sạch giặc thù muốn rung chuyển thành phố. Nhưng trời vẫn thiếu nắng. Cộng sản đã tiếp thu Đài phát thanh, Bưu điện… Giọng nói cầy cáo của Lý Quý Chung và ca khúc Nối vòng tay lớn không còn nữa. Chúng tôi lách đám đông. Dưới chân tượng đài của thủy quân lục chiến, xác một người cảnh sát nằm đó. Máu ở đầu ông ta chẩy ra tươi rói. Người sĩ quan cảnh sát đeo lon Trung tá. ông ta mặc đồng phục màu xanh. Nắp túi ngực in chữ Long. Trung tá cảnh sát Long đã tự sát ở đây Cộng sản để mặc ông ta nằm gối đầu trên vũng máu. Phóng viên truyền hình Pháp quay rất lâu cảnh này. Lúc tôi đến là 14 giờ 30. Dân chúng đứng mặc niệm trung tá Long, nước mắt đầm đìa. Những người không khóc thì mắt đỏ hoe, chớp nhanh. Tất cả im lặng, thây kệ những bài ca cách mạng, những lởi hoan hô bộ đội giải phóng. Trung tá Long đã chọn đúng chỗ để tuẫn tiết. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng trấn Sài gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Đô trưởng Sài gòn đã đào ngũ. Tướng giữ thành Sài gòn là Tổng giám đốc Cảnh sát quốc gia đã đào ngũ. Không có Hoàng Diệu, ở những trạng lịch sử chó đẻ của thời đại chúng ta. Và trên những tiểu thuyết đấu tranh, những hồi ký chiến đấu của những con người tự nhởn sống hùng mọi hoàn cảnh, người ta không thấy một dòng nào viết về cái chết tuyệt vời của trung tá Cảnh sát tên Long. Cộng sản đã chẳng ngu dại phong anh hùng, liệt sĩ cho quốc gia. Họ độc quyền anh hùng, liệt sĩ. Ở những cuộc đấu thầu anh hùng, liệt sĩ quốc gia tại hải ngoại, chưa thấy một nén tâm hương tưởng mộ trung tá Long. Có lẽ, liệt sĩ đích thật không lãi lớn bằng liệt sĩ giả vờ thế thì thời đại chúng ta đang sống là cái thời đại gì nhỉ? Nó không chịu, không thích vinh tôn cái thật, đã đành, nó còn nhởn chìm cái thật và vấy bẩn lên cái thật một cách thô bạo, ẩn ý và lạnh lùng. Khi cái thật bị nhận chìm, bị vấy bẩn, cái giả nổi bật, sáng giá và chói lọi, thơm tho. Như vậy, mọi giá trị về tinh thần, về đạo nghĩa bị nhởn chìm theo. Rốt cuộc, bọn giả hình sống với cái giả của chúng, huyễn hoặc mọi người bằng cái giả với bạo lực của quyền uy hợp pháp và cả quyền uy ảo tưởng hậu thuẫn. Và người công chính thụ động, buông xuôi. Cuối cùng, con cháu chúng ta sẽ chỉ biết liệt sĩ đất sét, anh hùng gian dối, vĩ nhân phường tuồng. Tôi muốn biểu dương trung tá Long như Hoàng Diệu hôm nay, Hoàng Diệu của Sài gòn. ông ta đang nằm kia, dưới chân tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam anh dũng. Máu trung tá Long đã thấm xuống lòng đất mẹ. Cái chết của trung tá Long nếu chưa thức tỉnh được sự u mê của thế giới tự do thân cộng, của bọn phản chiến làm dáng thì, ít ra, nó cũng biểu lộ cái khí phách của một sĩ quan Việt Nam không biết hàng giặc. Tôi không mấy hy vọng cái chết của trung tá Long lay động nổi cái bóng tối vô liêm sỉ trùm đặc tâm hồn những ông tướng đào ngũ. Chúng ta hãnh diện làm người Việt Nam lưu vong vì chúng ta còn trung tá Long không đào ngũ, không đầu hàng giặc và biết chết cho danh dự miền Nam, danh dự của tổ quốc. – Tôi chứng kiến tự phút đầu. – Ông nói sao? – Tôi nhìn rõ ông ta rút súng bắn vào thái dương mình. – Thật chứ? – Đáng lẽ tôi phải nói dối. – Tại sao? – Vì nói thật lúc này không có lợi. Tôi nghe hai người Sài gòn nói chuyện. Và tôi được nghe “Huyền sử một người mang tên Long” do một trong hai người kể. Truyện như vầy: 10 giờ 30, Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng, quân đội và cảnh sát tuân lệnh Tổng thống, lột quần áo, giầy vớ, nón mũ, vất súng đạn bỏ chạy về nhà mình hay nhà thân nhân của mình. Một mình trung tá Long không lột chiến bào, không phi tang tích huân chương, không liệng súng đạn. Trung tá Long từ nơi nào đến, chẳng ai rõ. ông xuất hiện ở công viên trước Hạ Viện hồi 12 giờ. Ngồi trên ghế đá, ông ta trầm ngâm hút thuốc. Rồi ông ta nhìn trước, nhìn sau, ngó ngang, ngó dọc. Rồi ông ta đưa tay ôm lấy đầu, cúi thấp. Khi ấy, Sài gòn đã ồn ào tiếng hoan hô cộng sản giải phóng. Bất chợt, ông ta đứng dậy, chậm rãi bước gần chân tượng đài. Trung tá Long đứng thẳng. ông ta ngẩng mặt. Thản nhiên, ông ta rút khẩu Colt, kê họng súng vào thái dương mình bóp cò. Tiếng đạn nổ trùm lấp tiếng hoan hô cộng sản. Trung tá Long đổ rạp. – Đó, diễn tiến cái chết của trung tá Long. – Ông có mặt ở đây trước lúc trung tá Long xuất hiện? – Phải. Tôi tuyệt vọng, không thiết về nhà nữa. – Rồi sao? – Dân chúng bu quanh xác trung tá Long. Cộng sản chưa có thì giờ kéo xác ông ta đi. Phóng viên truyền hình Pháp thu cảnh này kỹ lắm. Chỉ tiếc họ đã không thu được cái oai phong lẫm liệt của trung tá Long. Họ đến quá chậm và họ chỉ quay phim một xác chết. ông hãy nhìn cho kỹ. Trung tá Long tuẫn tiết cùng chiến bào, cùng cấp bậc, cùng tên mình. Tôi đã nhìn kỹ. Lịch sử của chúng ta đã có những vị anh hùng chỉ có tên mà không có họ. Như Đô đốc Tuyết, Đô đốc Long… Hôm nay, chúng ta có thêm trung tá Long. Những ai sẽ viết lịch sử? Và liệu sử gia đời sau có soi tỏ niềm u ẩn của Trung tá Long chảy máu mắt nhìn quê hương lạc vào tay quân thù mà bất lực cứu quê hương, mà chỉ còn biết đem cái chết tạ tội quê hương, dân tộc. Đã hàng tỉ tỉ chữ viết về những chuyện khốn nạn, viết về những tên khốn kiếp, viết về những sự việc khốn cùng. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Người ta đã viết cả pho sách dày cộm để nguyền rủa xác chết. Người ta cũng đã viết cả pho sách dầy cộm để suy tôn xác sống. Người ta ồn ào. Người ta vo ve. Dòng chữ nào đã viết về Trung tá Long? Ai đã làm công việc sưu tầm lý lịch đầy đủ của vị liệt sĩ đích thực này? Than ôi, lịch sử đã hóa thành huyền sử. Cho nên người ta nhìn quốc kỳ mà không cảm giác linh hồn tổ quốc phấp phới bay. Chúng ta đang bị sống trong cái thời đại của những ông tướng đào ngũ, của những ông tổng trưởng đào nhiệm không hề biết xấu hổ. Thời đại của chúng ta còn đòi đoạn ở chỗ, kẻ sĩ và kẻ vô lại đồng hóa trong “lý tưởng” nguyền rủa xác chết và suy tôn xác sống. Xưa, Hàm Nghi 8 tuổi, hỏi cận thần: – Tay bẩn lấy gì rửa? Cận thần đáp: – Nước. Hàm Nghi hỏi thêm: – Nước bẩn lấy gì rửa? Cận thần ngơ ngác: – Tâu bệ hạ, thần không hiểu. Hàm Nghi nói: – Nước bẩn lấy máu mà rửa! Trung tá Long đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính nhẩy dù đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Lính văn nghệ đã lấy máu rửa một vết ô nhục 30-4. Những kẻ tạo ra ô nhục 30-4 lấy gì nhỉ? Họ đang cầm ca, cầm đĩa xếp hàng ngửa tay lấy cơm, lấy nước ở đảo Guam. Biết đâu chẳng xẩy ra tranh cơm như tranh quyền bính. Và biết đâu chẳng bị ông quân cảnh Mỹ đen tặng một vài cái tát xiếc! Những kẻ này vẫn thừa thãi vô liêm sỉ để họp bàn, hiến kết cứu nước. Lịch sử lại thêm vài phụ trang chó đẻ. Giải phóng quân đã đổ đầy trước thềm Hạ Viện. Cỏ đuôi chó hoan hô tưng bừng. Dân chúng chiêm ngưỡng Trung tá Long tản mạn. Trung tá Long nằm nguyên chỗ ông ngã rạp cho máu rửa nhục Sài gòn. Giã từ liệt sĩ! Vĩnh quyết liệt sĩ. Xin hãy phù hộ tôi kéo dài cuộc sống hèn để có ngày được viết vài dòng về Trung tá. Đặng Xuân Côn và tôi qua Hạ Viện. ở đây, chỉ có bộ đội của Mặt trận giải phóng miền Nam mà người ta quen gọi là quân giải phóng. Quân giải phóng mặc quần áo bà ba, quấn khăn rằn, đội mũ tai bèo, chân mang giép râu. Nhiều người mặc quần xà lỏn. Bộ đội miền Bắc mặc đồng phục, đội nón cối, mang giép râu luôn. Quân giải phóng treo cờ Mặt trận, thay thế cờ vàng ba sọc đỏ. Khi lá cờ của Việt Nam cộng hòa bị vất xuống, cỏ đuôi chó bày tỏ lòng căm hờn Mỹ-ngụy, xúm nhau giành giật, xé nát. Có đứa dẵm dí dưới chân mình. Có đứa quấn quanh hạ bộ. Bây giờ, tôi đã nhận diện cỏ đuôi chó. Chúng nó là sinh viên ồn ào xuống đường tranh đấu năm xưa. Chúng nó là mấy thằng ký giả thân cộng sản. Chúng nó cách mạng hơn cách mạng. Chúng nó giải phóng hơn giải phóng. Truyền hình Tây Đức thu hết cảnh tượng này. Cỏ đuôi chó ôm quân giải phóng hôn hít thắm thiết, đưa thuốc lá mời mọc vồn vã, chuyện trò thân mật. Tôi cố gắng quan sát và chỉ quan sát giải phóng quân. Trên thềm Hạ Viện, một gã giải phóng quân béo tròn trùng trục. Anh ta để ria. Mặt mày nở nang, phấn khởi. Mặc quần xà lỏn, chân đất, anh ta đeo hai giây đạn tréo trước ngực như Django. Chưa đủ, anh lính giải phóng máng hai khẩu Colt trễ xuống gần đầu gối. Trông anh ta hề như Fernando Sanchoz. Đó là hình ảnh người lính giải phóng không đội mũ tai bèo. Rõ ràng một thứ thảo khấu. Giải phóng quân vào thành phố còn đeo lá cây ngụy trang. Tôi nhìn những quả đạn B-40, B-41, những quả đạn này đã thụt sập nhiều nhà cửa, đã sát hại vô số lương dân hồi Mậu Thân. Người Sài gòn chưa quên một đám tang tập thể. Những chiếc quan tài khiêng qua khắp đường phố. Lúc này, người Sài gòn đứng đây, ngẩn ngơ nhìn cỏ đuôi chó “ôm hôn thắm thiết” những kẻ đã âm mưu giết mình. Tôi vừa hiểu tại sao hôm nay Sài gòn không có nắng. Nếu tôi có thể có mặt ở khắp đầu đường, góc phố, xó chợ, gầm cầu Sài gòn hôm nay? Không ai có thể có cái có thể này. Tự nhiên, tôi cảm giác mình được an ủi vì đã được sống với Sài gòn từng phút giây buồn bã của Sài gòn 30-4. Tự nhiên, tôi cảm giác trời đất cũng chia xẻ nỗi buồn Sài gòn. Có tiếng la hét ở công viên nơi Trung tá Long tuẫn tiết. Chúng tôi chạy sang, đứng trước cửa Sài gòn ngân hàng.
° ° ° Một nhánh cỏ đuôi chó, tên lính sư đoàn 304, leo lên tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam. Nó buộc hai sợi giây cáp vào cổ hai pho tượng. Nó siết chặt, kỹ lưỡng. Nó dùng cái búa bổ mạnh trên đầu pho tượng cao nhất. Cỏ đuôi chó hồ hởi phấn khởi reo hò. Ống kính điện ảnh của cộng sản thu kỹ cảnh này, cảnh mà họ đã dàn cảnh. Phóng viên truyền hình Pháp, Mỹ, Đức, Nhật… quay không tiếc phim. Phía dưới, cỏ đuôi chó, búa dài, búa ngắn chuẩn bị đập phá tượng đài. Xác Trung tá Long đã được kéo lết ra xa. Vũng máu bất khuất của ông chưa kịp khô. Khi tên cỏ đuôi chó ở trên tụt xuống, cỏ đuôi chó ở dưới xúm nhau lại đập nát chân hai pho tượng Cộng sản thuyết minh là “nhân dân Sài gòn đã biểu lộ lòng căm thù Mỹ-ngụy cao độ.” Rồi tất cả cỏ đuôi chó kéo hai sợi giây cáp Pho tượng thủy quân lục chiến từ từ ngã rạp. Cỏ đuôi chó vỗ tay, hoan hô cộng sản. Truyền hình Pháp diễn giải: “Biểu tượng của miền Nam sụp đổ.” Vỗ vai tôi, Côn nói: – Đi chỗ khác, Long. Tôi hỏi:
Google photo edit by Sơn râu
– Đi đâu? – Đi đâu không có cảnh ô nhục này. – Phải ở đây mà nghiến răng nuốt nhục. Tôi không biết đã có người lính thủy quân lục chiến nào chứng kiến cảnh tượng này. Tôi cũng không biết ông tướng Lê Nguyên Khang, ông tướng Bùi Thế Lân đã xem những thước phim giật đổ tượng đài thủy quân lục chiến mũi súng nhắm thảng Hạ Viện chưa. Rất bất bình với tượng đài khi người ta dựng lên. Thủy quân lục chiến, những người lính của dân tộc, của tổ quốc, của quê hương như tất cả lính của các binh chủng khác, đã bị bọn ngu xuẩn nịnh bợ chế độ quân phiệt độc tài dùng làm bình phong đe dọa lập pháp, chế ngự dân sự. Tại sao họng súng nhắm thằng Hạ Viện? Lúc này, 16 giờ thiếu 10 phút, đứng ngắm hai pho tượng ngã gục, nứt vỡ, tôi quên bất bình cũ. Và cứ tưởng những nhát búa bổ xuống đầu pho tượng là những nhát búa bổ xuống đầu mình. – Đã có những ông tướng đào ngũ nuốt nhục giùm mày bên Mỹ. – Bọn bất tri vong quốc hận ấy nuốt gì? Chúng nó đã nuốt máu xương của lính, chúng sẽ tiếp tục nuốt tiền bán xương máu lính. Lảng chuyện, Côn hỏi tôi: – Trong Dinh Độc Lập có gì lạ? Tôi dịu giọng: – Có gì lạ? Tôi đang muốn biết đây…
HÀNG THẦN VÀ HÀNG THẦN BẤT ĐẮC DĨ Cuốn phim tài liệu của cộng sản nhan đề Tháng 5, những khuôn mặt do Đỗ Chu* viết lời thuyết minh, chiếu ở các rạp Sài gòn ngay trong tháng 6-1975 đã khiến dân Sài gòn buồn nôn. Nó mở ra bằng cảnh trống vắng của phòng họp của Hội đồng An ninh Quốc gia trong Dinh Độc Lập. Nó vào bằng cảnh triều đình Dương văn Minh quy hàng. Rồi nó bung ra những xóm lao động tăm tối trước tháng 4-1975. Nó giới thiệu đầy đủ khuôn mặt cỏ đuôi chó buổi sáng một tháng 5-1975. Những chủ báo nào vác cờ đỏ sao vàng. Những nhà văn nào căng khẩu hiệu chào mừng cách mạng… Mẩu bài này chỉ viết về những khuôn mặt hàng thần bất đắc dĩ. Khuôn mặt thứ nhất là tiến sĩ Nguyễn văn Hảo, phó Thủ tướng đặc trách Kinh tế, Tài chính kiêm Tổng trưởng Canh nông của nội các Trần Thiện Khiêm. Tiến sĩ Nguyễn văn Hảo đã mất hết chức tước từ khi Nguyễn văn Thiệu thoái vị, nhường ngôi cho thầy giáo Trần văn Hương. Nội các Nguyễn Bá Cẩn không có tiến sĩ Hảo. Nội các Vũ văn Mẫu không có tiến sĩ Hảo. ông tiến sĩ họ Nguyễn đã quá xa “chính quyền” bằng hai đời… Tổng thống. Tại sao ông ta lại có mặt trong đám hàng thần lơ láo ở Dinh Độc Lập trưa 30-4-1975? Truyện kể rằng, tiến sĩ kinh tế Nguyễn văn Hảo và thống đốc ngân hàng Lê Quang Uyển đem bầu đoàn thê tử leo lên nóc ngân hàng Việt Nam Thương Tín, đường Hàm Nghi, từ sáng 29-4. Đây là điểm hẹn của người Mỹ. Tiến sĩ Hảo và thống đốc Uyển tin chắc người Mỹ không thể, không nỡ bỏ rơi hai ông. Hai ông kiên nhẫn chờ đợi. Sáng qua, trưa tới, tối đến… Trực thăng Mỹ vẫn chưa đến. Sao không thấy em lại? Tiến sĩ Hảo và thống đốc Uyển chơi một đêm không ngủ trên nóc ngân hàng Việt Nam Thương Tín. 9 giờ ngày 30-4, biết chính xác bị người Mỹ cho đi tầu suốt, hai ông dắt díu bầu đoàn thê tử xuống đường. Thống đốc Lê Quang Quyền về nhà lo sợ biển máu. Rồi ông trình diện học tập cải tạo. Trại cuối cùng của ông là Hàm Tân Z30D. ở đây, thống đốc Uyển đã nổi tiếng là người phá kỷ lục ăn thịt chuột. Ông ăn đủ các loại chuột. Chẳng hiểu sự ăn chuột có giúp ông soi sáng nghĩa đời hôm nay, khi ông hiển vinh tại Kuweit? Tiến sĩ Nguyễn văn Hảo không về. ông bảo bà Cao thị Nguyệt về căn nhà đầu đường Miche, gần nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi và bà vợ nhỏ về căn nhà đường Yên Đổ. Còn ông tiến sĩ Hảo chạy vô Dinh Độc Lập làm hàng thần lơ láo. Mưu của tiến sĩ Hảo rất cao. ông sẽ thoát biển máu vì quốc tế chứng kiến ông “hàng” ở Dinh Độc Lập. Cộng sản khó thủ tiêu ông ta. Có thể, cộng sản còn đánh giá cao cái thiện chí… hàng của tiến sĩ Hảo. Y trang. Tiến sĩ Hảo, nhờ khuôn mặt nghiêm túc trong những thước phim Tháng 5, những khuôn mặt mà sau 30-4 lại phom phom mặc sơ-mi hoa hòe hoa sói lái DS-19 chạy rông trên nỗi quằn quại của Sài gòn. ông ta tiếp tục chơi ten-nít ở sân quần vợt Duy Tân, Hồng Thập Tự. Rồi ông ta ra Bắc tham quan và nghiên cứu tình hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Rồi cùng tiến sĩ Nguyễn Xuân Oanh, ông ta giúp Võ văn Kiệt “mở bung kinh tế” thành phố Hồ Chí Minh. Rồi ông ta leo lên Air France… di tản – cũng có thể gọi là tỵ nạn chính trị – và được phép mang theo cả trăm chiếc áo dài thêu sẵn làm vốn lưu vong. Hàng thần lơ láo “tỵ nạn chính trị” bên Pháp có Dương văn Minh, Nguyễn văn Hảo. Dương văn Minh còn biểu diễn xé giấy thông hành qua cửa phi trường Tân Sơn Nhất do cộng sản cấp phát khi máy bay của Air France sắp đáp xuống Charles de Gaulle! Nguyễn văn Hảo thì tiết lộ Nguyễn văn Thiệu đã ăn cắp vàng của quốc gia mang theo. Tự nhiên, hàng thần lơ láo đổi màu như kỳ nhông, biến thành những người yêu nước chống cộng. Nguyễn văn Hảo tình nguyện làm hàng thần lơ láo thì được, vì ông ta đã từng là phó thủ tướng. Nhưng nghị sĩ Nguyễn văn Huyền sao cũng cam đành làm hàng thần? Ông ta do dân bầu. Dân đâu có hàng giặc. Dân đâu có thua trận. Nghị sĩ Huyền mình hạc vóc mai không thể leo lên hàng rào phi trường Tân Sơn Nhất được. Ông ta trở về. Thay vì đợi số phận mình chìm trong biển máu hay đem tấm thân già tạ lòng cử tri, ông ta vẫn tham sinh bon chen vào đám hàng thần. Rồi ông ta cũng đã chết già, chết bệnh. Cái chết của ông không để lại một ý nghĩa sống nào cho đời sống kế tiếp. Rốt cuộc, những vạt nắng óng lên trong hoàng hôn của lịch sử hiu hắt Sài gòn chỉ là máu lính văn nghệ cầu Thị Nghè, máu lính nhẩy dù đại lộ Thống Nhất, máu Trung tá cảnh sát Long dưới chân tượng đài thủy quân lục chiến Việt Nam.
Tôi chạy xe theo hai thằng có bộ dạng khả nghi đèo nhau lạng lách vừa nẹt bô tăng ga ở ngã tư báo hiệu đèn đỏ. Là hiệp sĩ đường phố từng trải kinh nghiệm tôi biết mình đã chọn đúng đối tượng. Chúng biết có người đuổi nên không ngại hiểm nguy đã đánh võng suốt con đường Võ thị Sáu làm hoảng loạn dòng xe đang tham gia. Sau mười phút ước lượng tình hình, nhắm thời cơ thuận lợi tôi tăng tốc và dùng chân đạp đổ chúng không khoan nhượng. Nhà báo ế chảy rỗi việc rời mắt khỏi người đàn ông đen đúa tự nhận là hiệp sĩ đường phố để trông xuống mặt nhựa trầy trụa còn thấm đen vết xăng đổ. Kính vỡ, nón bảo hiểm lăn lóc cùng đôi ba vệt máu. Hiện trường bị thu nhỏ bởi lắm kẻ qua đường hiếu kỳ dừng chân bu lại. Ông hiệp sĩ đứng chống nạnh bên xe máy phân khối lớn khi có cô gái dùng điện thoại thông minh ra ghi hình. Ông nói to tiếng: Công an đã linh động nhập cuộc sau đó, họ trói ké hai kẻ bất lương và đã trao lại cái túi xách cho người bị hại. Năm triệu đồng và giấy tờ tuỳ thân của chị ấy chưa bị sứt mẻ. Có người ra tay đánh nguội đứa giật đồ và một anh sĩ quan Cảnh sát giao thông đã thưởng nóng cho tôi cái phong bì chứa hiện kim. Ảnh nói đù mẹ hai thằng này bọn tớ theo dõi giăng lưới đã lâu mà chưa túm cổ được, cám ơn nghen.
Một vài tiếng còi thổi lên, người lục tục giãn ra, trả lại sự bình thường cho con đường đang nắng chan lửa. Cô gái chụp ảnh người hiệp sĩ thời đại mới cất iPhone vào túi quần bò chật chội, vặn vẹo đến gần bên chàng anh hùng ưa vác ngà voi, ưa gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ, ưa việc nhà thì nhác việc chú bác thì siêng, ưa được nghe những lời tuyên dương có cánh… Cho em biết tên anh có đặng hôn? Ừa, chuyện nhỏ, tui tên Hưng, bạn bè kêu là Hưng đô mặc dù người tôi đâu có to con. Cô gái lanh lợi: Đô ấy là đô-la đấy. Hiệp sĩ nhăn răng cười, chẳng ngại phô bày hàm răng sún, hậu quả một lần săn bắt cướp không được như ý: Hổng dám đâu. Làm hiệp sĩ như anh có vô băng đảng không? Có chớ, nhóm tụi tui gồm bảy anh em cả thảy. Có nạn nhân từng được cứu nguy gọi thân thương là bảy anh chàng ngự lâm quân hăng hái đi bảo vệ môi sinh. Cơ sở của anh đóng đô ở đâu? Tui ở chợ Bà Hom nhưng nói nào ngay nghề chúng tôi là luôn di động chớ nên trụ yên một chỗ. Cám ơn anh nhiều nghen. Chơi ly cà phê đá không người đẹp, sẵn tui đang có tiền thưởng. Dạ khi khác anh nhớ, giờ em phải đi mần chút công chiện.
Hiệp sĩ ngó kẻ hâm mộ vừa leo lên xe tay ga chạy mất sau khúc quành lắm khói xăng, toan đội nón bảo vệ vào đầu thì cái cùi bắp dắt ở thắt lưng ré kêu liên hồi kỳ trận. A-lô. Mày hả Hưng, kíp chạy qua Đồng Khởi giúp tao một tay. Có bọn nhí sắp quậy một phi vụ béo bở nào ấy, chúng đang thập thò chờ giờ xuất quân. Dập máy, Hưng leo lên con ngựa sắt bụi bặm, hồ hởi phóng qua Đồng Khởi.
Đứa con gái đun xe vô sân quán 66 chuyên trị tiết canh lợn, vịt. Tuồng không phải là dân nhậu, cô đi thẳng lui sau nhà bếp. Bếp sử dụng lò ga nhưng vách tường vẫn ám tối như bị củi lửa táp vằn vện lọ nồi lọ nghẹ. Có khoảng sân xi-măng nhỏ dùng để rửa ráy mọi vật, tuy lộ thiên nhưng màu nắng chiếu xuống thường yếu ớt, ngại ngùng soi chẳng tỏ vuông bếp chật. Nồi niêu soong chảo máng la liệt xen kẻ với dao, hằng hà từ bé tới nhớn, từ Thái sang tận Trung quốc với đủ loại hình hài. Tựu trung, tất cả đều bằng kim loại mà đã là kim loại thì vật nọ thường ưa chung đụng với máu me. Vấn đề kinh doanh nên dao luôn được mài bén, dân nhậu ngồi đằng trước vẫn nghe ê răng tiếng dao siêng đi qua về trên thanh sắt nhám làm dũa vọng từ nhà bếp trước mỗi khởi động cắt cổ nhổ lông làm mồi nhậu cực đỉnh.
Bếp có hai kẻ lao động, một chính một phụ. Đứa con gái lách người ra vuông xi-măng thì gặp nhân mạng thứ ba. Có lẽ hắn đảm nhiệm việc rửa chén bát, nhặt rau hoặc mang rác đi quăng ra góc đường. Hắn ở trần thường trực, da dẻ nhớp nháp với màu mực xăm gớm ghiếc nát nhừ hình cọp beo rắn rít. Nhìn hắn, người ta luôn ngờ vực về một điều gì đó mà không tiện đưa ra câu hỏi. Người đối diện thường nhín cho hắn hỏi trước. Hắn có quyền để hỏi han: Đúng nó không? Đứa con gái moi điện thoại ra, chọt ngón tay lên màn hình có ghi chữ photo rồi dí vào mặt thằng đang đứng hút thuốc trên sân lầy lội nước bẩn. Cô nói, hắn tên Hưng, ngụ ở chợ Bà Hom, nhóm gồm cả thảy là bảy đứa. Em có chụp luôn chiếc xe Honda của hắn. Phải đương sự không? Gã mình trần mắt không nháy nhưng bên thái dương mãi co giật: Đúng y bon. Em trụ đây thế anh nhé, chả lâu đâu, gặp gỡ chiến hữu chốc anh về. Quán hình như đang ế, việc chẳng nhiều nhặng gì.
Có hai phương án: Một là xử nó ở quán cà phê gần chợ Bà Hom khi nó chưa đi gặp đồng bọn. Hai là đợi con vợ nó đi chợ, ta đi theo tạt nhẹ nhàng cho thị một lon a-xít. Sau câu nói, ba thằng ngồi ngó nhau, bia nắm trong tay, đứa mặt xanh đứa mặt đỏ. Lát, có đứa nói: Dầu gì mình cũng là dân đường phố am hiểu luật có vay có trả, nhắm thằng Hưng mà uýnh chớ chơi con vợ nó ngó chẳng lành. Mày hại anh em tao đến nỗi phải nhập kho đã ba năm chưa trở lại, tao xin mày tí huyết để nhớ nỗi buồn đau, chỉ có thế thôi. Mấy chai bia đồng loạt đặt xuống bàn: Ừ, chơi như vậy người trên giang hồ bớt đi sự đàm tiếu. Ta đi hai xế, một kềm sát trêu ngươi khiến hắn mất cảnh giác, chiếc sau vọt lên rút đồ nghề mà khẻ cho Hưng đô biết đời là gì.
Bệnh viện Vì Dân hồi nào tới giờ luôn nhốn nháo vật vạ kẻ nằm người ngồi. Bệnh nhân quá tải không có lối mà đi, chiếu chăn cứ có khoảng hở là trải ra đặng đứa dưỡng thương vất thân thể xuống nhắm nghiền hai mắt cố liu riu giấc điệp. Có đứa mần thinh cắn chặt răng, có đứa không ngớt bù lu bù loa than thân trách phận “trời xanh quen thói ức hiếp kẻ thế cô”. Hiệp sĩ được ưu đãi nằm trên giường, băng quấn nửa cánh tay bị chặt rụng, máu thấm đỏ loang cùng chất nước vàng như mưng mủ. Vợ hiệp sĩ ngồi mé chiếu sửa lại tấm chăn xộc xệch, hết làm chim hót đến ve kêu: Người ta hiệp sĩ thì cỡi ngựa oai phong gươm giáp cọ nhau nghe loảng xoảng có ai như ông làm cái thây bỏ hoang không ai uỷ lạo. Bao công chuyện lu bu tui bỏ mặt, sớm tối vô ra trông chừng ông như mẹ đi thăm con mới đẻ, cực biết mấy cho vừa. Mấy cái bằng khen kia như tấm giấy lộn, nói bỏ lỗi đốt lên dí vô mặt ông cũng chả hề hấn làm sôi nước mắt. Hiệp sĩ như ông ngó thêm lộn ruột, báo hại gì đâu á! Cây muốn yên mà gió chẳng chịu ngừng, bài vỡ lòng nọ sao ông chóng quên, thiệt dại ngỗ! Đừng nhắm trít con mắt lại, đừng giả bộ ngó lơ. Giả như bọn ấy đè tui ra mà trả hận thì ông có mát ruột chăng? Ông vô thăm tui hay ông cứ chạy như ma rượt ở ngoài đường bạ đâu chém đó. Vắng mợ chợ vẫn đông, không có ông thì cướp giật vẫn lai hoàn giật cướp. Công an đứng đầy đường mà bọn chúng đếch ngán, câu ấy chính miệng ông nói cho tui nghe. Ông còn bảo đù mẹ bọn công an nhát như cáy ấy, còn hiệp sĩ thì còn mình là châm ngôn của bọn tui he he he. Cười người hôm trước hôm sau người cười. Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết, tui chết đi thì ai lo cho con trâu của tui, hở?
Ca hát cả bài dài chẳng cần dòm vô mặt giấy, thấy oải, vợ hiệp sĩ xuống tông: Sao, ưa ăn chi nói tui chạy u ra trước cổng bệnh viện mua vô cho. Bún, phở, hủ tíu, mì xá xíu hay cháo lòng đi kèm giò chảo quảy? Hiệp sĩ cố cương thôi nhăn nhó: Chiếc xe của anh ra sao rồi cưng? Tui bán mẹ nó rồi, được giá lắm, đừng lo. Để đó mà ngó à? Chướng tai gai mắt lắm, thêm thay mốt mai ông về, hiệp sĩ đâu còn tay phải mà rú ga tăng tốc giựt le bà con cô bác. Trời ơi! Thiệt là trời hại tui! Thời oanh liệt nay còn đâu! Ừ, ở đó mà than trời trách đất. Mốt mai làm độc thủ đại hiệp có nước ở nhà mà xua vịt đuổi gà sân trước vườn sau. Sợ gà vịt lúc đó cũng lờn mặt hổng có sức lực mà đuổi chúng. Ăn cháo lòng cho dễ trôi hí?
Vợ hiệp sĩ nhớm đít le te đi ra khỏi phòng có lắm ruồi vo ve. Y công làm việc vượt chỉ tiêu nhưng nói nào ngay ruồi là giống bất trị. Máu me cũng như đi đâu cũng ngửi ra mùi nước tiểu hôi khai thì đông đúc ruồi nhặng là chuyện dễ hiểu vậy. May cho hiệp sĩ là gặp ê-kíp cứu trợ tận tâm chứ có lắm trường hợp gãy tay trái lại bó bột tay phải, đi cưa chân người ta vì chân ấy bị nhiễm trùng, đại khái thế. Tương ứng với cướp giật như rươi thì lương y như dì ghẻ cũng nhiều vô khối. Mẹ mìn nữa chi, lơ đễnh có chút xíu là đứa trẻ đầu xanh vô tội không cánh mà bay. Con ôi là con, sao đi mà không bảo gì nhau, để má gọi nghe đoạn trường hồi vọng? Nắng mưa là bệnh của giời, thất điên bát đảo là bệnh của người Diệt ta!
Vợ hiệp sĩ lòn lách đi trở vô, như biết phép lăng ba vi bộ, người ngợm đông là thế mà tô cháo chả hề sóng sánh vơi đổ ra ngoài hao hụt mảy may ông cụ nào sất. Nói tình ngay con mẹ bán cháo cái vá nó nhỏ bé quá, múc mỏi tay mà cứ không đầy tô. Và nó hét giá nghe trời sập: 35 ngàn. Mả mẹ nó, cầm tiền ấy mà về Hiền Vương xơi tô phở đẳng cấp thì nghe hợp tạng hơn. Hỏi, có hơi bị đắt đỏ nhỉ? Bà chị biết hôn, được ngồi ngay cổng bệnh viện thì em phải cúng cho bọn ấy một nạm tiền, chị hai thông cổm. Há miệng ra, cháo hết nóng rồi, chớ sợ phỏng lưỡi. Đó thấy không, ông chồng mớm đút cho vợ mới sanh con cũng y trang như tui vậy đó, thương hết biết. Ăn hết đi rồi tráng miệng ly cà phê sữa đá. Trong cái rủi có cái may, ông mà lành lặn không chừng giờ này đang ngồi nhậu nhẹt bán trời không văn tự, chè chén say sưa rồi hút nguyên cả bao ba số. Bây chừ tu được chút nào hay chút đó, bỏ hết tham sân si cho vợ con nhờ.
Hiệp sĩ trước đây râu hùm ngài én, là bóng ma khiến bọn nhóc tội phạm kiêng dè sợ hãi giờ này một tiếng lễ độ hai tiếng chìu lòn trước mặt mẫu hậu. Không nghe lời, vợ hổng vào thăm nuôi thì có nước nửa hồn thương đau, muốn viết bản kiểm điểm e cũng khó. Ngồi lâu cũng ê đít, vợ bảo hãy cố ngủ đi, tui còn về lo khối công chuyện. Và vợ thăng sau khi nhỏ to dấm dúi chút giấy bổi cụ Hồ vào tay một y tá ngó mặt cũng khá tử tế. Vị phụ nữ ba đảm đang biến không lâu thì có một nàng yểu điệu thục nữ xuất hiện bên giường. Anh còn nhớ em hôn? Hiệp sĩ nhướng mắt lên, ba phần nghi hoặc bảy phần đăm chiêu. Hôm ấy em có chụp ảnh anh vừa trừ gian diệt bạo ở Võ thị Sáu đó. Ối dà, đời thằng Hưng này lắm kẻ hâm mộ xin chụp ảnh chán khối, nhớ sao xiết. Ghi hình xong em còn xin anh địa chỉ, em về đưa cho họ xem bởi họ hổng muốn chơi lầm đối tượng. Họ biểu em vào nói với anh vậy là họ đã nhẹ tay, chứ em út họ vì anh mà giờ này gửi thân vào chốn ngục tù chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm. Anh nên nhắn với sáu chiến hữu còn lại là hãy chừa khu vực quận 3, đừng quỡn chạy ngang làm hiệp sĩ nữa. Nếu có cớ sự gì thì bún cháo, bất luận là thức ăn nào bán ngoài kia khi mang vào cho anh đều có ngâm tẩm độc tố. Đã nhớ chưa nào. Giờ thì nằm nghiêm chỉnh để em chụp tấm ảnh về báo cáo với mấy vị đại ca. Hình như hai ngày nữa thì anh được xuất viện nhỉ? Ráng ăn ngon ngủ yên đi nhé Hưng đô. Hiệp sĩ thều thào, giờ anh như một kẻ tàn phế, một đứa vô dụng, anh có thể biết được quý danh của em? Chuyện nhỏ, em tên Tiên. Nguyễn thị Như Tiên.
Quán 66 vốn nức tiếng món tiết canh đặc sản, sau này phô trương thương hiệu thêm vào thực đơn rắn hổ mang xào chua ngọt và chó bảy món. Một gã giang hồ rửa tay gát kiếm từ Bắc vào Nam vui chân ghé lại và mát tay làm đầu bếp, bảo rằng đấy là bí kíp gia truyền đã ba đời. Dính kẻ răng suốt tuần phải để quên bàn chải mí lị kem đánh răng ngay. Không đúng sự thật thì chặt đầu tớ đi. Quán làm nên ăn ra từ độ mùa thu heo may nọ. Ở đâu có rậm rật thì ở đấy sinh nhốn nháo, bọn hành nghề bảo kê đánh hơi ớm ớ tới cà khịa bữa trước thì bữa sau ôm đầu máu lui binh, dạ chúng em có mắt như mù, thiệt là đi ngày đàng học một sàng khôn, mai hậu chúng em chẳng dám lai vãng nữa, láo hộc máu.
Ai không biết chứ hiệp sĩ đường phố biết, quán 66 có ông sếp công an quận 10 làm ô dù, chưa kể nguyên bốn đứa đứng sau bếp đều sẵn lòng húp tiết canh, chẳng vịt lợn gì sất, máu người mới ê răng. Không đẹp không lấy tiền! Hiệp sĩ đường phố biết thêm chuyện chí tử khác, bọn quen động dao động thớt ở sau bếp chật kia có đứa từng xin đẹp một nửa cánh tay của Hưng, người đồng chí dũng mãnh thuở nọ. Biết mà ngậm bồ hòn làm ngọt. Tuy vậy nồi áp suất mà nén quá lâu, để già lửa thì có ngày bung nắp gây ì xèo hậu vận. Sáu thành viên còn lại của nhóm trong ấy có chàng ngự lâm điển trai nhất bọn vì cám cảnh vợ chồng chật vật của anh Hưng nên bụng sôi đêm ngày nằm vắt tay lên trán tìm cớ rửa hận. Hắn nghe lời chị vợ anh Hưng bỏ quên chức danh hiệp sĩ để an phận thủ thường làm đứa chạy xe ôm lãng vãng quanh khu vực quán nhậu 66. Hắn đeo đuổi tán tỉnh chìu lòn một người con gái và khổ nhục kế sớm mai kia đã thành tựu. Ngồi trong quán nước đợi nàng đi giải thuỷ, hắn trộm mở ví lén xem thẻ chứng minh nhân dân của người yêu, thuộc nằm lòng ngày cha sinh mẹ đẻ của cái Tiên cũng như địa chỉ thường trú. Hôm ấy mưa to không dứt, biến hòn ngọc viễn đông thành hòn đảo nhỏ úng thuỷ, xe bì bõm chết máy giữa đàng nhưng hắn trì chí đi đến nhà nàng trên dòng sông lắm rác. Bảo quản chiếc bánh sinh nhật không bị suy suyển và chàng trai si tình ướt như con chuột lột lọt vào được căn hộ nồng ấm. Hắn biết tiếng Anh nữa cơ, kinh thật! Hắn hát bài mừng sinh nhật bằng ngoại ngữ và Juliet mặt cảm động đến thờ thẩn. Bố khỉ, anh tin không, lần đầu trong đời có người mua bánh sinh nhật cho em. Cưng đáng yêu quá lắm! Đặt chiếc bánh kem to đùng lên bàn và Tiên đã bày tỏ sự cảm động bằng một nụ hôn đắm đuối. Roméo nói hụt hơi: Lần đầu trong đời anh cũng được một bà tiên xinh đẹp trao tặng nụ hôn. Em đáng yêu quá thể! Họ bu nhau như sam bất biết triều cường đang làm sạt lở mé sông Sài-gòn. Khi lên giường, để việc bồi đắp tình cảm xảy ra trong thuận lợi, hắn moi túi quần rõ lâu. Nàng nói: Anh đâu cần phải khẩn trương, em có sẵn áo mưa trong hộc tủ. Chàng nói: Condom mà nhằm nhò gì, anh tặng em chiếc nhẫn vàng để làm kỷ niệm. Tiên la lên: Giời ạ, con bồ câu đẳng cấp của em ơi, hãy chơi em đi.
Gió mưa ngoài trời đã tạnh, giông bão trên giường đã nguôi. Con bồ câu bé nhỏ bở hơi tai đã vật mình thét muồi đi vào giấc mộng đẹp súng nổ bên lưng cũng chả nghe ra. Nàng đi rửa bướm tiện thể giải thuỷ canh khuya khi trở lại giường thấy cái ví đựng giấy tờ của chàng rơi bên đôi dép hẳn chưa khô. Nàng hiếu kỳ lục lọi và nàng thấy tấm ảnh chụp bảy chàng ngự lâm quân. Nàng hơi choáng. Có tờ giấy rơi ra, ghi rõ lộ trình đi lại của nàng, từ quán nhậu 66 về nhà, ra chợ, đi thu nhặt tin tức và rình chụp ảnh những đối tượng cần phải nương nhờ vô đao kiếm dằn mặt. Một hàng chữ viết bút bi mực đỏ: Vì nghĩa tình huynh đệ, tôi phải kiếm cách rửa hận cho anh Hưng. Tiên hỡi Tiên, em là vì sao xấu.
Băng hiệp sĩ đường phố gần như bị sao quả tạ chiếu cố, họ tự động thu dần phạm vi hoạt động và một chiều nhọ mặt người, năm chàng ngự lâm ngồi nhậu chung bữa rượu cuối gọi là làm bữa tiễn biệt những ngày chung lưng đấu cật vào sinh ra tử. Rượu vào. lời ra: Hết anh Hưng đô đến thằng Tâm nhí, sao bọn chúng ra tay có hơi tàn độc nhỉ. Hiệp sĩ đường phố cấp số phải lên cỡ sư đoàn mới trừng trị xong bọn khốn kiếp ấy. Vô, vô đi, trăm phần trăm, không say không về. Ừ, đúng đấy, bố mẹ nó, ba say vẫn chưa chai!
Hưng chậm rãi xuống xe ôm. Một tay, Hưng moi tiền, trả xong, lại chính tay ấy đưa ra nắm chặt ly cà phê đen đá. Hai chân nghe mỏi khi lên hết những bậc cấp và dáng đi của người hiệp sĩ thất cơ lỡ vận thất thểu đến phòng sơ cứu. Mặt thằng Tâm nhí tái mét tuồng mất máu quá nhiều, vẻ điển trai của hắn sớm biến trên cái gầy gò chợt hiện. Cằm bạnh ra vì răng cắn chặt hai hàm phẫn uất. Tao không biết nói gì. Hưng bày tỏ khi đến bên giường con bệnh. Mày thương vợ chồng tao và vô tình tao chịu mang ơn nặng của mày. Uống cà phê đá đi Tâm, cà phê đá thương chớ không ai thương mình đâu. Nước mắt Tâm chảy ra. Bác sĩ có nói gì với anh không, anh Hưng? Đù mẹ tao không có can đảm đi gặp mặt mấy thằng đó. Cố quên hết đi. Tao rụng một tay và tao đã nén bao phẫn hận. Nghe tao đi. Phải nội quy tụi nó cho phép được uống rượu thì tốt biết mấy. Tâm ngó ly cà phê rịn đổ mồ hôi. Rồi mai đây tui có bị đổi giọng không anh Hưng? Mày nói vậy nghĩa là sao? Tui coi phim bộ của Trung quốc thấy bọn thái giám nói y như bọn đàn bà vậy đó. Mả mẹ con Tiên, sao con dao dùng để gọt bổ trái cây của nó bén tới độ chỉ làm tui thức giấc thôi. Mở mắt và thấy máu tuôn, thấy nó ra sân dụt cái đó xuống con nước chảy xiết trôi về lỗ cống. Nó thản nhiên gọi công an lại. Nhân danh một hiệp sĩ đường phố, tui chưa thấy ai chơi kiểu tàn độc như nó. Anh tin không, xuất viện tui sẽ thân bại danh liệt cải trang hành khất tiểu hiệp theo nó suốt đời, sẽ vặt lông nó, sẽ cắt vú nó và tui.. Thôi mày ơi, làm hớp cà phê đen giải nhiệt. Để thằng Hưng này rửa nhục cho. Mày đâu còn chim cò mà chơi. Tau sẽ bắt cóc nó và tau hiếp nó có thu hình hẳn hoi. Tau sẽ đêm bảy ngày ba vào ra không kể, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm…
Một anh y tá đi ngang dòm chừng. Hiệp sĩ đang tỉ tê nhắc chuyện ngày xưa thân ái hả. Anh một tay xin hãy đi ra, để tui kéo màn thăm dò vết thương chí tử của nạn nhân Tâm. Con bà nó, thiệt ớn chè đậu!
Thuở ấy, ở chợ Đông Ba thổi ra nguồn tin: Có nàng tiên cá thường xuất hiện mỗi sáng. Cô xoã tóc xách giỏ khép nép đi giữa những lối luôn lầy lội.
Mỗi sáng, tôi vẫn thường ngồi ở quán cà phê lộ thiên bên sông, dưới cầu Gia Hội. Tôi kiếm cơm bằng cách chạy xe thồ, bay tóc trán. Uống cốc cà phê đen đầu ngày cũng tựa như châm xăng vô bình. Động cơ xe máy phải cần xăng, chuyện đổ cà phê vào người cũng na ná, để lai tỉnh, khởi động.
Tôi ngồi, vác mặt ngó qua cái xô bồ bất tận bên hông chợ, để từ đó dồn đẩy về tôi những tiếng động tạp nhạp. Lời đồn đãi kia là một trong vô vàn thứ liên tu rậm rật rót vào tai kẻ luôn ngồi bần thần. Lạ chưa! Giữa cuộc đời bầm dập này sao đày đọa một nàng tiên cá sống trên mặt đất lao lung? Tôi tuyệt không để tâm tới những chuyện lạ. Tôi từng chở người vào Tây Lộc, họ trả tiền công khá bộn chỉ để tận mắt ngắm một cây chuối chen chúc trái đến lạ thường trong mảnh vườn mà dường như đêm qua có thứ hào quang từ cao xa phủ ập xuống. Khách rời khỏi xe, tôi cất tiền rồi quay đầu rồ máy, chẳng màng sự cố chuối chiếc “siêu khủng” chộn rộn sau lưng. Tôi từng thồ một người đàn bà cầm bình nhựa lớn lắc léo chạy quanh núi Ngự Bình tìm cho ra cái giếng linh để bà ấy khó nhọc mua được bốn lít nước chữa bá bệnh trong uống ngoài thoa. Người ta hỏi: Cậu tin không? Tôi nói: Bắt buộc, tin quá đi chớ. Và rồi tôi câm lặng, chẳng diễn nôm thêm. Một nàng tiên cá? Ừ, chớ hoài nghi, để cuộc sống có chút thi vị.
Có người truyền đạt kinh nghiệm: Cậu không nên ngồi mãi ở quán cà phê ấy, phải thay đổi địa điểm, trụ một chỗ có kẻ đâm dị nghị: E đứa ấy bỏ công quan sát địa hình ngầm mang âm mưu bất chính… Xét thấy chí lí, tôi nghe lời, tìm quán khác, rồi lại tìm quán khác. Tôi bắt đầu học thói bội bạc. Những ông bà cô bác chủ quán cũ sẽ có lời giải thích về sự vắng mặt của tôi, tùy vào tâm cảm: Ai? Hắn hả? Chắc vượt biển mất đất rồi! Cái cậu chạy xe ôm đó hả? Nó bị xe khách đụng, hiện nằm nhà thương, thập tử nhất sanh. Trời, lạ lùng gì, tin tui đi, hôm qua hắn bị công an trói ké dẫn vào đồn, láo chết!
Tôi vẫn còn chạy xe toát mồ hôi hột trong địa bàn thành phố tới ngoại ô bụi mờ, sáng tới khuya, mở mắt tới nhắm mắt. Tôi làm sao có điều kiện để xớn xác vượt biên, tôi chưa bị xe cán dẹp lép như con tép, chưa bị công an sờ nắn hỏi thăm sức khỏe; nhưng với tôi nhất nhật có khi là thiên thu, đời thường có khi hoang đường tựa mộng mị. Hôm ấy, một người con gái đã vẫy gọi tôi. Dáng ngại ngần, tóc xõa, có những lọn uốn cong và thú thật tôi chưa bao giờ thấy ai có nước da trắng ngần tựa thế, trắng đến hoang mang. Cô khoảng tuổi hai mươi hoặc hơn. Tôi tin chẳng một ai đoán được tuổi cô, khuôn mặt đó hiển lộ một thứ mà bạn không thể cắt nghĩa được, sự ngờ vực vừa hiện lên rồi tức thì nó chìm đắm rất nhanh và tâm bạn bị xao động bởi một điều gì thật huyễn hoặc. Chú chở con lên nhà ga. Cô nói, giọng nhẹ, trong. Và câu nói thiếu cái hệ trọng mà kẻ khác luôn xem là chính yếu: Bao nhiêu tiền? Nhà ga bao giờ cũng là sân khấu luôn phô diễn cảnh chia lìa, đoàn tụ. Cô đi mạng không, chẳng thể nhập vai kẻ bỏ xứ. Vậy thì cô đón người, chỉ có vậy thôi. Tôi câm lặng với một chút bồi hồi vây bọc. Xe chạy, gió trên cao lùa xới từng đám lá cây, xôn xao. Tiếng máy nổ và con đường thu ngắn dần. Chiều mát trời, những chân mây tím và hương mùi trên người cô gái luôn vấn vương sang tôi. Chú đợi cùng cháu ở sân ga có được không?
Tôi tắt máy xe, dựng chân chống lên để nghe lời cô tôi đi hỏi thăm tàu tới vào lúc mấy giờ. Bảy giờ, có thể trễ, khoảng bảy giờ mười lăm. Tôi lập lại nguyên câu trả lời kia với người con gái đứng bồn chồn bên xe. Chết, có gì trở ngại cho chú không? Tôi không hiểu. Cháu bao chú… Cô gái nói, thoáng đỏ mặt. À, như vậy nè, lát nữa chú sẽ chở cháu về, cứ cho là tám giờ tối đi, cháu sẽ trả cho chú nửa triệu. Được không chú? Chắc cô chưa bao giờ đi xe ôm? Sao chú biết? Nửa triệu, số tiền ấy không nhỏ đâu. Và dĩ nhiên là tôi đồng lòng. Cám ơn chú. Mình đứng đây có vẻ lộ liễu quá, vào quán nước ấy ngồi chờ đi chú.
Tôi dắt xe theo, nếu có một lời đề nghị thì câu tôi sẽ nói là cô nên đeo một cái khẩu trang. Đã có lắm cậu thanh niên nhìn cô với tất cả vẻ tọc mạch nằm trong những con mắt có đuôi. Kỳ lạ thay, cô như đọc được ý nghĩ của tôi. Chú có thừa cái mũ nào không? Sau rốt thì chúng tôi vào ngồi trong quán vừa mới bật sáng ngọn đèn néon tám tấc và chiếc nón tai bèo đã che bớt cái hào quang từ khuôn mặt cô luôn tỏa sự rạng ngời. Chiếc nón bèo nhèo, chẳng sạch sẽ gì, cô chẳng quan hoài và đối diện tôi là một kịch sĩ hóa trang rất vụng. Anh chị dùng gì? Cháu uống nước mía, còn chú? Cho tôi ly cà phê đen đá. Đợi người phục vụ quay lưng, cô rút từ lưng quần ra một phong bì. Cô lấy đi hai chục ngàn rồi đẩy cái bao thư màu vàng tới trước mặt tôi. Chú cất đi, trong ấy có thể hơn nửa triệu. Còn tiền này dùng để trả tiền nước, chú hút thuốc gì thì cứ gọi. Cà phê ở đây chua loét nhưng thực sự thì tôi không chỉ uống cà phê, tôi uống từng lời nói, uống không chừa cặn những chữ chú cháu thật ngọt ngào. Tôi mong bảy giờ chết tiệt kia sẽ nằm ụ trên đường rầy và tiếng hú còi tàu vẫn nghẹn cất dưới chân đèo Hải Vân, còn khuya mới tới. Trong quán có TV, đang phát chương trình ca nhạc, âm thanh kia thật đáng phàn nàn, không dưng chúng làm phá sóng những hoang tưởng của tôi. Chú có xem TV không? Tôi không thích coi, thêm nữa tôi thực sự không dư thời gian. Một tháng trước họ có trình chiếu bộ phim “Nàng Tiên Cá”, buồn cười, cháu đi chợ nghe người ta gán ghép đặt cho mỹ danh là nàng tiên cá. Tôi ngồi cứng đờ, như thể những viên đá trong ly cà phê đã làm tôi tê liệt hết các giác quan. Đơn giản chỉ vì cháu giống cô diễn viên ấy thôi. Nàng tiên, không dám đâu. Cá thì phải có vảy, có đuôi có vi, chú có sợ khi kề cận một người cá không? Mùi tanh của rong rêu nữa chứ! Tôi không biết, nhưng tôi thích ăn cá, canh chua nè, cá kho tộ nè, chá thu chiên nè. Nục, ngừ, hồng, mú, hanh, diếc, bạc má, bông lau… Tôi sẽ hỏi lại, ngồi gần kẻ thèm ăn cá cô có sợ không? Không trả lời, “nàng tiên cá” gầm mặt vào ly nước miá và cái ống hút từ môi cô đang làm cho mực nước xuống thấp gần cạn đáy. Tôi hiểu điều gì đang xảy ra, hồi còi tàu đang xẻ rách không gian, mang con tàu đi dần vào nhà ga. Nàng tiên cá đứng lên, tôi chẳng biết mình sẽ phải làm gì sắp tới. Khiên đồ đoàn của kẻ vừa đến? Thồ một kiện hàng cồng kềnh ngoài mức tưởng tượng?
Người, quang gánh, đồ đoàn, tiếng ơi ới, chân bước rậm rật túa ra chật sân, đánh dấu một dong duỗi đã kết thúc trong bình an. Những nụ cười hân hoan đón gặp. Chú thấy người đàn ông mặc áo xanh đang ôm eo cô gái áo trắng chuẩn bị lên xích lô không? Nàng tiên cá nói bên tai tôi. Chú chở cháu theo sau họ, dĩ nhiên là mình chạy thật chậm nhưng không để lạc lối. Trong túi quần tôi là chiếc phong bì chứa đựng nửa triệu, kề sát sau lưng tôi là một nàng tiên, như vậy thì không một ai ngu dại để khước từ mọi yêu cầu, và suy tính mà xem, yêu cầu ấy quá dễ chịu. Nỗi tò mò kích thích tôi, xúi tôi tham dự trò chơi chẳng có lề luật, cũng như không thể biết hồi nào thì nó thực sự buông màn. Đèn đường đã cháy đỏ hai hàng song song, cách khoảng bằng cái nhem nhuốc gần quánh đặc của màu đêm. Tôi tìm điểm dị dạng của chiếc xích lô để theo đuổi, rất thong dong. Chú thấy lạ không? Về chuyện gì? Giống như mình là kẻ tùy tùng đi sau nhằm bảo vệ họ. Cô gái nói, tay bấu chặt vào một hông áo tôi. Cũng lạ, lần đầu trong đời tôi chở khách đi với thứ tốc độ nhàn du như thế này. Thông lệ họ sẽ giục giã, chạy nhanh hơn, có được không? Vô tình, nàng tiên cá đã cho tôi cái cảm tưởng tôi không hề là đứa chạy xe ôm, tôi đã rũ bỏ mọi thứ phiền muộn để dọn lòng chở người tình đi hóng gió, đi giết thời gian.
Chiếc xích lô dừng lại ở một nhà nghỉ có bậc thềm hứng xanh đèn điện. Ánh sáng ăn ra tận lòng đường. Vũng màu ấy làm phát quang kẻ vừa rời xích lô. Chú có thích vào nhà nghỉ với cháu không? Để làm gì? Để ngủ qua đêm. Tôi đứng cúi đầu, mệt mề cùng bao dấu hỏi. Với áo xống lam lũ này nhất định sẽ gây cho nhân viên trong đó vô vàn ngờ vực. Mất nhiều thời gian không nếu chú về nhà tắm rửa và thay đổi áo quần? Thôi, nhiêu khê lắm, quên đi. Ừ, quên, chú đi đi. Cô gái xua đuổi, cô bước lên triền cỏ rồi dựa người vào một thân cây. Không về nhà? Tôi hỏi. Nàng tiên cá quyết liệt nói: Không.
Trước đây tôi chưa hề bước chân vào đồn công an. Giờ này nếu ai hỏi cảm tưởng thì tôi sẽ dễ dàng trình bày: Lòng dạ rối bời, hoang mang. Có thứ gì đấy làm đốt rất mau dưỡng khí, bạn chóng mệt mỏi. Miệng khô, nhịp tim đập không bình thường. Thời gian có vẻ đang đứng lại dù ánh sáng luôn thay đổi ngoài những chấn song. Người hỏi chuyện tôi còn trẻ, mặc đồng phục và thú thật khi nhìn lon lá găm ở cổ áo tôi chẳng tài nào biết hắn mang cấp bậc gì. Khoảng tám giờ tối hôm kia, anh ở đâu và đang làm chuyện chi? Tôi chạy xe thồ, giờ đó tôi chở một cô gái từ nhà ga về. Cô ấy tên gì, có biết không? Không. Ngang đâu thì anh bỏ cô ấy xuống? Ngang nhà nghỉ Dạ Hương. Tốt, anh nhận ra chiếc nón tai bèo này là của ai không? Của tôi, tôi cho cô ấy mượn. Chuyện gì đã xảy tới với cô ấy? Gã công an đốt thắp một điếu thuốc, hắn nhìn tôi qua cọng khói xanh, mắt nheo lại như gặp phải khói cay. Chia tay xong anh đi đâu? Tôi còn chở thêm hai người khách nữa thì về nhà. Anh vẫn đăng ký hộ khẩu ở phường Thuận Thành, không dời đổi. Vẫn ở chỗ ấy, đã tám năm nay. Được, tạm thời anh có thể về, có gì chúng tôi sẽ tìm gặp để làm việc thêm.
Trời chạng vạng khi tôi ra khỏi đồn. Tôi chạy xe ngơ ngáo như đứa chẳng thuộc địa hình. Tới chợ An Cựu tôi tấp vô quán cơm bụi đang mờ mịt khói thịt nướng gọi dĩa cơm sườn. Chỉ mất năm tiếng dành cho mục vấn đáp ở đồn bót, bụng dạ bạn sẽ đói cơm như tôi giờ này, đói như nhịn ăn đã hai hôm. Bàn bên cạnh có đám thanh niên đang nhậu, thỉnh thoảng nghe chúng hô: Vô, vô. Và luôn luôn chúng áp đặt chữ đù má trong mỗi câu nói, như thể thiếu chữ ấy buổi tợp bia phá mồi sẽ nhạt nhẽo vô cùng. Đù má, tao nói mọi chuyện đều có số phần cả, đúng không? Phận số thì luôn bày chuyện trái ngang, bọn bây có biết trên cõi ta bà này có một nàng tiên cá hiện hữu không? Mẹ kiếp, con nhỏ đó thật khờ dại, nó vào nhà nghỉ để rồi tự tử trước mặt người tình mang thói trăng hoa. Nó cực đẹp mà sao gã đàn ông kia lại ngoại tình đi ăn vụng, nghĩ không ra.
Ăn xong, dắt tăm cửa miệng tay cầm ly trà đá lò dò ba bước tôi đứng sát bàn bọn nhậu. Chuyện gì đại ca? Có đứa cà khịa. Tôi là người thân của nạn nhân xấu số, các bạn kể lại ngọn ngành sự việc cái chết của cô gái cho tôi nghe có được không? Bỏ đi đại ca, bọn này cũng nghe lời đồn thổi thôi ai đâu biết rõ nguồn cơn chân tướng, tui nghe công an nhập cuộc rồi đó, xem xét hiện trường họ nghi có kẻ dàn dựng ngụy tạo ra một vụ tự tử. Là sao ông thánh? Là có thể ai đó ra tay bức hại nàng tiên cá. Hổng phải tao nói à nghe, công an họ ngờ vậy. Rắc rối bỏ mẹ, vô cái này đi. Vô vô… Cả bọn chẳng thèm ngó ngàng tới tôi, sợ tôi giả bộ tạo cớ để lân la xin chút hơi men. Tôi bước lại trả tiền cơm, cô con gái bà chủ quán nói: Chú xạo phải không? Bà con kiểu gì kỳ khôi vậy? Sao cháu lại bảo thế, người ta quan tâm thật mà, cái chết ấy quả là mờ ám. Ai nói cô gái ấy chết? Nhân viên nhà nghỉ phát hiện sớm nên đã gọi xe cứu thương, hiện cô ấy nằm phòng hồi sinh bên bệnh viện trung ương.
Hỏi thăm và được chỉ bày, cuối cùng tôi tìm ra chỗ nàng tiên cá dại khờ nằm điều trị. Sau ba ngày, cô đã lai tỉnh, ánh mắt loáng chút sinh khí khi nhìn nhận ra tôi. Chú đó à? Giọng yếu, run, gãy gập; nhưng tai tôi phút đó thính như tai chó, rót vào rõ mồm một. Ừ, chú đây. Chú trông lạ, cứ bán tín bán nghi. Ừ, đi thăm người đau thì mình nên ăn vận ngó cho sạch sẽ thôi bụi bặm thường hằng. Một giọt nước mắt trườn ra khỏi hàng mi nhắm mở, một vệt ướt lăn đổ khỏi khóe. Bàn tay lạnh giá bò khỏi chăn đắp bấu chặt tay tôi. Phải mà đêm ấy chú vào nhà nghỉ với cháu thì… Năm ngón tay tôi bóp lấy sự mềm mại nuột nà. Chú xin lỗi, hãy đổ thừa mọi chuyện cho chú, và tốt nhất hãy cố quên đi. Một người mặc đồng phục của bệnh viện bước vào. Người nhà hả, có mang tiền theo đấy không? Tôi lôi cái phong bì màu vàng ra. Ông ta khởi sự đếm xấp giấy bạc. Nửa triệu, tôi viết biên nhận cho anh. Đúng một tuần, bệnh nhân sẽ xuất viện, anh đến đón và thanh toán phần còn thiếu, đúng không? Giờ thì nên ra về cho người nhà được tĩnh dưỡng. Nội quy, giờ giấc thăm nuôi ghi rõ ngoài cánh cửa. Tôi ra làm giấy tờ, cho anh nán ở năm phút nữa. Trên giấy nhập viện cháu mang tên Nguyệt, nhưng xin chú hãy gọi tên ở nhà, giờ đây cháu thích được gọi là Lọ Lem. Mai chú vào thăm không? Vào chứ, với cái lem luốc quen thuộc cho Lọ Lem dễ nhận. Cám ơn chú, cháu thiết tha được sống nếu có chú bên cạnh. Lọ Lem quay mặt đi như ánh đèn trên trần làm khó dễ đôi mắt. Tôi bước ra ngoài với đôi mắt cay.
Tôi đi quàng xiên tới chỗ gửi xe với chút cải lương hiện trong trí: Đôi khi dòng sống tình cờ đẩy mình tới những khúc quanh trắc trở khó lường. Đầu óc bạn hụt hẫng, rơi sai lạc như câu lục bát gieo lộn vần. Và bạn ơi, dẫu sao sự lầm đường nọ cũng có chút đáng yêu của nó. Chưa khi nào tôi ước được sống với mộng mị hoang đường như lúc này. Một nàng tiên đang phải lòng tôi. Ôi, thật quý hoá! Tôi chạy xe giữa phố đông chật, lòng thảnh thơi nhẹ nhàng như đang bơi trong biển rộng sông dài không rong rêu.
Chuông điện thoại reo. 11 giờ 40 phút. Tôi nhấc máy: – Phạm Lê Phan đây. – Sao? – Xong rồi. Tao đã giao Cục cho họ. Tốt đẹp cả. Tự nghĩ mình chỉ là thượng sĩ nên tao không đủ tư cách làm Hoàng Diệu. Tao về. Thôi nhé! Phạm Lê Phan đã về. Tôi rủ Côn ra đường. Vỉa hè nhà tôi, vỉa hè bên kia phố đã ngổn ngang mũ sắt, mũ vải, giầy vớ, ba lô, súng đạn. Không ai thèm lượm nhặt. Không ai nỡ lượm nhặt. Vợ tôi và ba đứa con cũng mở cổng ra đường. Khi nhìn quân trang, quân dụng, võ khí của quân đội ta xép lớp trên vỉa hè, vợ tôi òa lên khóc. Các con tôi khóc theo. Những tiếng khóc, những giọt nước mắt muộn màng. Tại sao người ta chỉ biết khóc vào hoàng hôn? Cảnh tượng bây giờ, đã thay đổi chút chút. Tôi thấy có nhiều người đeo băng vải đỏ ở cánh tay phải. A, những người này tôi đều biết. Họ ở dưới chợ Xóm Lách. Họ đã là nhân dân tự vệ chọc chó, hái trộm khế nhà tôi và gây phiền nhiễu cho dân lương thiện. Họ đã là những tên sống cù bơ, cù bất ngoài vòng pháp luật. Họ đã là ông thợ may hiền lành, bà chạp phô dễ tính. Họ đeo băng đỏ chờ đợi hoan hô cách mạng, hoan hô quân giải phóng. Họ thuộc sư đoàn 304 tân lập* . 11 giờ 45 phút, xe tăng cộng sản thị uy trên đường Công Lý. Nó tiến vào thành phố theo ngả Hàng Xanh, Bạch Đằng, Chi Lăng, Võ Tánh, rồi rẽ sang Cách Mạng, qua cầu Công Lý. Nó ngang qua nhà tôi. Năm chiếc. T-54 treo hoa ny-lông phía trước. Nóc xe đầy nhóc lính 304 phất lia lịa cờ đỏ sao vàng và cờ trên đỏ, dưới xanh, giữa sao vàng. Bên hông xe đeo tòng teng lồng gà, lồng vịt. Hẳn là tăng cộng sản đã dừng lại để nhận quà của “nhân dân” và để lính 304 leo lên… giải phóng Sài gòn. Gà và vịt cũng hãnh diện tham dự chiến dịch Hồ Chí Minh! Những người đeo băng đỏ dơ cao tay, hét lớn “Hoan hô bộ đội giải phóng”. Tôi có thể làm chứng nhân rất trung thực cái phút giây buồn bã này. “Nhân dân” đã không hoan hô theo. “Nhân dân” đứng trố mắt nhìn. “Nhân dân” suy nghĩ gì khi họ gặp xe tăng cộng sản, tôi không biết. Nhưng tôi đọc từ trong ánh mắt của họ một nỗi bẽ bàng. Chính nỗi bẽ bàng đó đã giữ tình nghĩa Việt Nam nguyên vẹn. Và Sài gòn không hề có đấu tranh giai cấp Xe tăng đi qua một lát thì mô-lô-tô-va và GMC Trung quốc tiến vào. Bộ đội miền Bắc đội nón cối. Quân giải phóng đội mũ tai bèo. Tất cả đứng trên xe cười thỏa mãn, vẫy tay rối rít. “Nhân dân” vẫy tay chào theo phép lịch sự. Tuyệt nhiên, “nhân dân” không hoan hô, dù cò mồi cách mạng 304 đã lấn xuống đường hô những khẩu, hiệu chào mừng quân giải phóng. Không còn cách mạng “diễn binh” nữa, “nhân dân” tản mạn về nhà mình. Đường phố nổi bật lính sư đoàn 304 đeo băng đỏ. Tôi bảo vợ tôi đưa các con vào nhà, đóng cổng, khóa kỹ rồi rủ Đặng Xuân Côn đi bộ lên Sài gòn. – Ông thấy gì? – Thấy gì? – Tôi sợ biển máu của nhân dân, không sợ biển máu của cộng sản. Rất may, nhân dân không thích biển máu. – Sẽ không có biển máu. – Phải, biển máu sẽ là đại dương nước mắt. Dọc vỉa hè số lẻ đường Công Lý, chúng tôi rảo bước. Tôi không thấy đi, thấy khát. Quân trang, quân dụng, võ khí từng đống, từng đống trên vỉa hè. Tôi đã no nghẹn ngào. Mười tuổi, tôi đi đếm xác đồng bào tôi chết đi tháng ba năm ất Dậu, 1945. Cái thị xã Thái Bình nhỏ bé của tôi, xác chết đói cùng khắp. Gầm cầu. Xó chợ. Vỉa hè… Tôi đã nhìn đồng bào tôi chết từ từ. Tôi đã nhìn người mẹ chết, đứa bé nhay vú mẹ một lúc rồi chết theo. Hồi đó, tôi chỉ biết sợ hãi, thương xót mà chưa vỡ lẽ đau đớn. Những người bạn thơ ấu của tôi như Côn, như Luyến đã cố gắng làm những gì mình có thể làm được để cứu đói Và chúng tôi, đã đi ăn mày xin cơm cứu đói. Hôm nay, 30-4-1975, ba mươi năm sau, 40 tuổi, tôi lại nhìn quần áo, nón mũ, súng đạn của quân đội nước tôi nằm ngổn ngang, chất đống trên vỉa hè Sài gòn. Tôi đã vỡ lẽ đau đớn. Nón mũ, giầy vớ, quần áo của quân đội tôi yêu dấu, cơ hồ xác chết đói năm 1945. Đời tôi sao lại phải chứng kiến nhiều thảm cảnh thế? Nước mắt ròng ròng, hai chúng tôi bước nhanh. – Long, cuộc chiến đấu chống cộng sản của dân tộc ta thật sự bắt đầu từ năm nào? – 1951. – Tại sao? – Vì cuối 1950, cộng sản quy định thành phần, giai cấp Quốc gia bị loại bỏ khỏi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập, tự do. – Như thế, dân tộc ta đã chống cộng sản 24 năm. Bốn năm chống cộng sản với Pháp thì mất nửa tổ quốc. Hai mươi năm chống cộng sản với Mỹ thì mất cả tổ quốc và nuốt nhục. – Chúng ta có thể xin cơm cứu đói 1945 mà không thể cất dấu xác chết 1975. – Chúng ta làm gì? – Làm gì? Lúc nãy, Phạm Lê Phan nói nó không đủ tư cách làm Hoàng Diệu nên nó về nhà nó. Ông muốn làm gì? Trong một biến cố lịch sử nào đó, có những người cần chết và những người cần sống. Chúng ta không có cả hai. Chúng ta chỉ có những kẻ sợ chết, cho nên, chúng ta thiếu sự chết cho sự sống. – Mày nghĩ sao, nếu Trần văn Hương không chịu “hy sinh” cho Dương văn Minh? – Có thể có đánh đấm. – Rồi sao? – Ông ta sẽ sống như Dương văn Minh thôi. – Nếu mày là Dương văn Minh? Những kẻ như Nguyễn văn Thiệu, Dương văn Minh, ngoài tham vọng quyền bính còn tham vọng đi vào lịch sử. Dương văn Minh đã có cơ hội duy nhất đi vào lịch sử, nhưng ông ta tình nguyện khước từ. Từ một tên lính của thực dân Pháp, nhờ sự chuyển mùa của đất nước khan hiếm tài năng, ông ta trở thành tướng lãnh của chế độ Ngô Đình Diệm, trở thành người anh hùng của các chiến dịch tiêu trừ loạn quân Bình Xuyên, Hòa Hảo… Tên lính Xuân tóc đỏ của quân đội, đáng lẽ, đứng ở đó là đẹp rồi. ông ta không chịu. ông ta nhúc nhích vì ngỡ mình là Nasser. ông ta bị dìu vào tội ác thoán nghịch. Và Dương văn Minh thỏa chí Quốc trưởng. Triều đình của Dương văn Minh thật phù du. Tên vũ biền không thích truy nã thân phận mình, ông ta tưởng ông ta có… đế mạng. Bị tước đoạt quyền bính, bị đuổi khỏi đất nước, Dương văn Minh cựa quậy quay về giành bằng được tước vị tổng thống. ông ta thỏa mãn. Thánh nhân thường đãi kẻ khù khờ. Thánh nhân đãi thêm đứa ngu dốt. Đất nước phải có đến thứ Dương văn Minh gánh vác, kể như đất nước tàn tạ. Dương văn Minh, trong diễn văn nhận chức vụ Tổng thống, biết nói về Trằn văn Hương: “Thầy đã hy sinh nhiều rồi” mà không biết ông ta đã già rồi và ngôi vị tổng thống ngáp ruồi vào giờ thứ hai mươi lăm của ông ta là cáo phó tuyệt vời bế mạc cuộc đời mình. Dương văn Minh chỉ cách biên giới lịch sử một sợi tóc: Nếu Dương văn Minh không ngu, lệnh đầu hàng của ông ta sẽ như thế này: “Đồng bào thân mến… Tôi, Dương văn Minh, tổng thống nước Việt Nam cộng hòa kiêm Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam cộng hòa, tưởng đã đem những ngày cuối cùng của đời tôi chuyển vần lại vận mệnh của đất nước vào thời kỳ nghiêm trọng nhất của lịch sử, nhưng suy nghĩ lại, tôi thấy không đủ tài năng, e rằng xương máu của đồng bào đổ thêm vô ích. Vậy tôi tuyên bố đầu hàng cộng sản và xin đem cái chết của tôi để tạ tội cùng đồng bào, cùng chiến hữu, cùng tổ quốc…” Và Dương văn Minh tự sát ngay tại chỗ, ngay sau khi tuyên bố đầu hàng. Phát súng Minh tự bắn vào đầu ông ta cả nước sẽ được nghe trên vô tuyến truyền thanh, cả thế giới được nghe. Và đó là cái chết cần thiết cho cái sống. Dương văn Minh bất trí. ông ta không nên làm hàng tướng, vì sự sống của ông ta vô tích sự.*
Google photo edit by Sơn râu
– Không có so sánh hay “nếu” quái đản ấy. Dương văn Minh là tên lính tẩy chưa vỡ lẽ sống chết. Hai chúng tôi vẫn cắm cúi bước. Lính của sư đoàn 304 xuất hiện khắp đường phố Sài gòn. Triết lý sống cỏ đuôi chó mà Lý Cẩm Dương đề cập trong cuốn Mạ nháy và chế độ mới đang là cái mốt ở đây. Nhưng cỏ đuôi chó mới chỉ mọc ngoài đường phố và là thứ cỏ dân giả. Những con thò lò trí thức chờ đợi quay. Góc độ còn tùy hoàn cảnh. Không thể thiếu cỏ đuôi chó vương giả. Mỗi biến cố lịch sử, chúng ta lại thấy lòi mặt một hạng người không ra cái giống người. Cái hạng người này sáng tạo thứ nhân sinh quan đốn mạt. Chỉ cần cái miệng hét lớn. Họ đã hoan hô Ngô Đình Diệm truất phế Bảo Đại. Họ đã hoan hô hụt Nguyễn Chánh Thi đảo chính Ngô Đình Diệm. Họ đã hoan hô Dương văn Minh tàn sát Ngô Đình Diệm. Họ đã hoan hô Nguyễn văn Thiệu loại bỏ Nguyễn cao Kỳ. Họ đã hoan hô hụt cộng sản tổng tấn công Mậu Thân. Trí thức cả đấy. Bây giờ, họ chuẩn bị hoan hô cách mạng “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”… Sư đoàn 304 tự đảm trách việc hướng dẫn lưu thông đường phố, bảo vệ an ninh, trật tự công cộng. Cách mạng vô sản thường ồn ào nhờ cỏ đuôi chó. Tôi nghĩ, cỏ đuôi chó đã mọc khắp vỉa hè Sài gòn. Chúng tôi đã đến Dinh Độc Lập. Lá cờ Mặt trận giải phóng miền Nam đã thay thế cờ vàng ba sọc đỏ. Nó không phất phới bay theo khí thế giải phóng. Nó rũ rượi trong ngày thiếu nắng, thiếu gió. Chiếc xe tăng thứ nhất theo ngả Thị Nghè, Hồng Thập Tự, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thống Nhất đã vào khuôn viên Dinh Độc tập ngon lành. Cổng mở rộng sẵn. Không hề bị T-54 ủi sập như báo chí cộng sản tường thuật. Sư đoàn 304 đông đầy hai bên cổng dinh. Dân chúng đứng xa ngó vào. Lác đác ở vườn sao hai bên đường, vài người đứng nhìn về phía sau nhà thờ Đức Bà. Ở phố Hàn Thuyên nhỏ hẹp, dân chúng thập thò ngoài cửa. Cộng sản vào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút. Chúng tôi băng sang nhà thờ Đức Bà. Một người quen vỗ vai tôi, nói nhỏ: – Cách đây nửa tiếng, quân ta nghênh giặc ở sau lưng nhà thờ. – Quân ta? – Một trung đội nhẩy dù quyết tử. – Có diệt được chiếc T-54 nào? – Không. – Đánh đấm ra sao? – Đánh lấy chết. Chết vinh. Tôi vừa mới khô nước mắt. Trung đội nhẩy dù chết hết. Giặc cũng chết bộn. Xác quân ta và xác giặc đã được mang đi. Chiến trường đã rửa sạch vết máu. Ông ra mà xem, đường còn ướt mèm. – Ngoại quốc có quay phim? – Họ tới không kịp. Chỉ quay T-54 vào Dinh Độc Lập. Tôi ngỡ chúng ta đã bất hạnh cả đến phút chót. – Tại sao? – Bọn ký giả ngoại quốc chỉ quay những cảnh có lợi cho cộng sản. Đặng Xuân Côn và tôi lần ra phía sau nhà thờ Đức Bà. Quả thật, một khúc đường Thống Nhất cạnh vườn sao còn ướt mèm. Cộng sản đã hiện diện khắp cơ cấu quốc gia. Bọn nằm vùng chỉ đợi thời cơ hành động. Chúng đã kịp thời đưa xe vòi rồng tới tải xác chết, rửa đường. Đề chứng minh với thế giới rằng, quân đội ta tan hàng bệ rạc, cộng sản vào Sài gòn như vào chỗ không người. – Côn. – Hả? – Ai sẽ viết trận đánh này? Ai sẽ vinh tôn lính nhẩy dù, lính Việt Nam cộng hòa? Ai biết ngọn ngành trận đánh mà viết? Chắc chắn, phải có vài trang tiểu thuyết. Ai sẽ viết những trang này? Tôi đã là bạn của lính nhẩy dù. Nguyễn Minh Tiến, Hà Huyền Chi, Hoàng Ngọc Liến, Vũ Khắc Niệm, Phạm Huy Sảnh… Bạn tôi cả đấy, lính nhẩy dù cả đấy. – Vậy mày cần sống. – Phải, dù sống hèn.
NHỮNG THIÊN THẦN MŨ ĐỎ CỦA CHƯƠNG CÒM, DZŨNG ĐAKAO, BỒN LỪA, HƯNG MẬP Một vài trang nhỏ mọn dưới đây trích từ truyện tuổi thơ Nhánh cỏ mộng mơ của tôi viết năm 1985 ở Paris mà nhà xuất bản Nam á Paris đã phát hành. Tôi không muốn thế hệ con cháu tôi quên trận đánh danh dự này. Và tôi, tự cho mình còn thiếu nhiều thành thật khi vinh tôn những người lính mũ đỏ. Vậy nên để tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên, đôn hậu bày tỏ hết lòng ngưỡng mộ lính quốc gia bằng những rung động thuần khiết, nguyên khối của các em. Với riêng tôi, vài trang truyện nhỏ mọn này nằm trong ý nghĩ: Sự thật nói ra không ai tin, thì nó biến thành tiểu thuyết. Lịch sử bỏ quên thì vẫn còn dã sử, huyền sử…
° ° °
Hai chiếc xe cam-nhông từ đâu không rõ, chạy tới đậu ngay chỗ bùng binh, sau nhà thờ Đức Bà. Lính trên xe nhẩy hết xuống. Dzũng Đakao vui mừng: – Lính nhẩy dù! Bốn ông nhóc đứng dậy, tiến sát ra lề đường. Những thiên thần mũ đỏ còn nguyên vẹn là thiên thần. Vị đại úy chỉ huy rất trẻ, mai vàng rực rỡ trên cổ áo. ông cằm cây gậy nhỏ, say mê nhìn quốc kỳ ủ rũ trên nóc Dinh Độc Lập. Rồi ông xoay lưng lại, quan sát phía Phủ Thủ Tướng. ông hơi cúi đầu giây lát. Đoạn, ông ngó thằng chiến hữu của mình, dõng dạc nói: – Lần cuối cùng, tôi nhắc nhở anh em: Dương văn Minh đã đầu hàng. Nhiệm vụ của anh em chấm dứt. Ai muốn về nhà cứ thản nhiên về. Anh em không nợ nần gì tổ quốc nữa. Những người lính nhẩy dù đứng nghiêm, đồng loạt trả lời: – Chúng tôi ở lại chiến đấu với đại úy. Vì danh dự của người lính. Đại úy dơ tay chào: – Cám ơn anh em. Chúng ta chuẩn bị nghênh địch. Dzũng Đakao, Chương còm, Hưng mập, Bồn lừa phóng tới ôm chặt lấy vị đại úy. – Thưa chú, tên chú là gì? Chương còm hỏi. Vị đại úy xoa đầu bốn ông nhóc, giọng cảm động: – Lính nhẩy dù. Mà cháu hỏi tên chú làm chi? Chương còm nắm tay vị đại úy: – Mai này, tên chú sẽ thay tên đại lộ Thống Nhất. – Chú tin không? Vị đại úy chớp mắt: – Chú tin, thế hệ các cháu phải làm lại lịch sử, phải xóa bỏ dấu tích ô nhục hôm nay. Dzũng Đakao nói: – Chúng cháu đặt tên chú cho con đường này. Chú cho biết tên chú đi. Vị đại úy vỗ nhẹ vai Dzũng Đakao: – Tên chú gắn liền với lính nhẩy dù. Lính nhẩy dù là tên chú. Các cháu nhớ đặt tên đại lộ này là đại lộ Mũ Đỏ nhé? Bây giờ chạy thật nhanh về nhà. Sắp nổ súng. Bồn lừa hỏi: – Cháu có thể giúp chú việc gì? Vị đại úy lắc đầu: – Các cháu đã giúp chú rồi, đã làm tăng ý nghĩa chiến đấu của chú, đã sưởi ấm lòng chú. Chú không còn cô đơn nữa. Nào chạy lẹ, các cháu yêu dấu…
Google photo edit by Sơn râu
Bốn ông nhóc co cẳng chạy. Nhưng chúng không chạy về nhà, mà núp dưới gốc cây đầu đường Alexandre de Rhôdes. Phía bên kia, đường Hàn Thuyên, dân chúng cũng đang lấp ló dưới những gốc cây sao. Nhiều người vào nhà thờ Đức Bà để xem chiến tranh qua kẽ hở của mấy khung cửa bên hông. Nhiều người tụ tập ở sân Bưu Điện. Xe tăng cộng sản, từ xa lộ Biên Hòa, vô Sài gòn hai lối Lối thứ nhất: Hàng Xanh, qua Gia Định, qua đường Chi Lăng, đường Võ Tánh đến Tổng Tham Mưu, rẽ trái qua đường Cách Mạng, qua cầu Công Lý. Rồi chạy thị uy khắp phố Sài gòn. Mười hai giờ trưa, xe tăng vô lối này đã xuất hiện. Lối thứ hai: Thị Nghè, qua cầu Thị Nghè (bị chặn đánh). Mãi gần bốn giờ mới lại qua cầu Thị Nghè, qua Hồng Thập Tự rẽ trái, qua Nguyễn Bỉnh Khiêm, rẽ phải, qua Thống Nhất để vào Dinh Độc Lập. – Xe tăng cộng sản rét rồi. – Bọn điên ấy không rét đâu. – Bao giờ chúng đến? – Cứ từ từ. Vị đại úy đứng ngạo nghễ giữa đại lộ Thống Nhất, khẩu Colt của ông trễ xuống bên đùi. Lính của ông đứng sau những thân cây sao với tư thế sẵn sàng khạc đạn.. – Chú ấy oai quá. – Cứ như shérif đợi bọn cướp. – Tao hồi hộp thấy mồ. – Im lặng. – Thằng nào chạy ra, ngó xuống Sở Thú xem chúng nó vô chưa? – Tao. – Để Bồn lừa đi. Mày mập chạy đâu nổi, Hưng. Bồn lừa cắm cổ chạy ra đường Thống Nhất. Nó chạy vào ngay, hổn hển: – Rồi, rồi, sắp tới! Tiếng xe tăng nghiến xích sắt trên đường nhựa nghe rõ dần rồi sôi sục trong tâm hồn bốn ông nhóc. Như chính mình tham dự trận đánh, Dzũng Đakao hét: – Nó kia kìa. Chiếc xe tăng dẫn đầu đã đến bùng binh. Nó có vẻ làm bộ làm tich. Nó có vẻ khinh khi, ngạo mạn. Đằng sau nó, đám bộ đội nón cối, dép râu ngụy trang cành lá trông dễ ghét. Chúng ôm súng AK lò mò bước y hệt chúng diễn trò khỉ. Vị đại úy đâu rồi? Chiếc xe tăng thứ hai lừ lừ bò ở cửa Bộ Tư Pháp. Một phát súng nổ. Lính nhẩy dù xuất hiện. Không thèm nấp. không thèm nằm, lính nhẩy dù đứng thẳng, bước tới, chắc tay súng, nhằm xe tăng và kẻ thù nhả đạn xối xả. Vị đại úy đó, thần tượng của Dzũng Đakao, Chương còm đó, sát cánh chiến hữu, phóng nhiệt tình và danh dự vào trận chiến cuối cùng. Để trả lời thế giới: Chúng tôi không đầu hàng. Bọn Mỹ và bọn tướng phường chèo khiếp nhược đầu hàng. Lính Việt Nam không biết đầu hàng. Chiến trường kết thúc mau lẹ. Vị đại úy và hơn ba mươi người lính nhẩy dù gục chết trên đại lộ Thống Nhất. Máu của họ, máu Việt Nam anh dũng, bất khuất đã thấm đỏ đường lịch sử tháng 4. Lính nhẩy dù, tại sao anh không chạy trốn ở phi trường, ở tòa đại sứ Mỹ, ở bờ sông? Tổ quốc đã cho anh cái gì? Dân tộc đã cho anh cái gì? Ngôi sao nào trên cầu vai anh, trên mũ anh? Bảo quốc huân chương nào, Bắc đẩu bội tinh nào trước ngực anh? -Thế là xe tăng nó vào Dinh Độc Lập! Bốn ông nhóc, nước mắt đầm đìa, thằng nọ nhìn thằng kia mếu máo. Xe tăng nghiến lên xác chết của lính nhẩy dù. Chúng nó thù hận cả xác chết. Bọn bộ đội phân tán, bao quanh khu vườn sao. Dzũng Đakao và Chương còm muốn tới vuốt mắt vị đại úy và những người lính cũng không được. Chương còm thầm thì: – Vâng, mai này, đại lộ này sẽ mang tên Mũ Đỏ và chỗ các chú chết sẽ là Đài Tưởng Niệm Anh Hùng. Cháu hứa, các cháu hứa… (Trích truyện dài Nhánh cỏ mộng mơ)
10 giờ 40, mười phút sau lệnh đầu hàng cộng sản của Dương văn Minh, Đặng Xuân Côn và tôi ra vỉa hè trước cửa nhìn Sài gòn chờ đợi cộng sản vào. Tại sao chưa đánh đã đầu hàng? Tôi nghe rõ câu hỏi nghẹn ngào đó trong những ánh mắt ngơ ngác của người Sài gòn quanh tôi. Trời hết âm u, nhưng vẫn chưa có nắng. Vẫn thiếu nắng vàng rực rỡ. Dân Xóm Lách kéo lên. Lề đường Công Lý, gần nhà tôi đông nghẹt. Dẫu lòng ngổn ngang bối rối, tôi còn chút hạnh phúc trên những khuôn mặt buồn bã của đám dân “vô sản” Xóm Lách. Không một nụ cười. Khó tìm ra niềm hân hoan. Ngay cả những người đã truy nã kỹ thân phận mình, sự nghiệp của mình ròng rã hai mươi năm Việt Nam cộng hòa, thấy chẳng dính líu gì tới “nợ máu” với cộng sản, cũng hồi hộp vì “biển máu.” Chưa bao giờ tôi thấy, kể từ nhận Sài gòn làm quê hương, một cảnh tượng Sài gòn não nề đến thế. Tôi có cảm tưởng Sài gòn đang sợ hãi cơ hồ tôi đang sợ hãi, cơ hồ mọi người đang sợ hãi. Xe cộ ngưng chạy. Những gia đình có “máu mặt” rút hết vào nhà. Cổng đóng kín mít. Cửa sổ gác cao he hé mở. Ai đã nhìn tôi qua ô cửa kính mắt lệ mờ? Tôi sinh ra ở miền Bắc, thị xã nhỏ bé, êm đềm Thái Bình. ấu thơ của tôi, trải dọc theo hàng cây hồi thấp và vương vấn cùng khắp cầu Bo. Niên thiếu của tôi lãng đãng vùng trời Hà Nội. Tôi khôn lớn ở Sài gòn. Sài gòn cho tôi những bước xuống đời cay đắng để tôi làm cuộc đời tôi Sài gòn cho tôi tình yêu, cho tôi thi ca, cho tôi tiểu thuyết. Công sinh không nặng bằng công dưỡng. Sài gòn đã nuôi dưỡng tôi. Sài gòn là mẹ tôi. Mẹ Sài gòn săn sóc tôi hai mươi năm. Tôi đã làm gì cho Sài gòn? Đã làm gì, vẫn chưa đủ, vẫn chỉ mới là cái hữu hạn trong cái vô hạn. Bây giờ, đứa con phóng đãng ôm ghì mẹ mình bằng đôi tay rời rã, nước mắt ròng ròng. Đứa con bất lực, đứa con hèn hạ, đứa con khiếp nhược, đứa con mải rong chơi nỡ để mẹ mình lạc vào tay thù. Mà chỉ biết khóc. Mà chỉ rên rỉ Mà chỉ luyến tiếc hàng me xanh, ghế đá công viên và những cuộc tình phù phiếm. Tôi hiểu những giọt nước mắt của tôi vô nghĩa, chẳng dám khóc, chẳng thiết khóc, mà mắt tôi cứ căng mọng và lệ cứ rơi. Tôi đã biết khóc vì Sài gòn, vì một thành phố kỷ niệm. Một toán quân xuất hiện. Quân ta. Tôi đếm: 19 người. Mười chín người lính, mười chín người chiến sĩ, đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gầm, lầm lũi bước. Tối hôm qua, tôi đã thấy quân ta ngang qua đây. Quân ta và xe tăng. Hình ảnh người lính sửa xích tăng đã in vào tiềm thức tôi. Tối hôm qua, tôi đã thấy tướng Vĩnh Lộc chủ chiến. 10 giờ 30 hôm nay, tôi nghe Dương văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Và, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh, tôi lặng người ngắm toán quân chiến bại. Cảm giác đầu tiên của tôi là ngậm ngùi. Tôi nhớ một câu thơ của Corneille: “ô cruel souvenir de ma gloire passée” mà Thế Lữ cảm hứng viết: “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu? Thời oanh liệt đâu? Những chiến tích rực rỡ dội vang sông núi của quân lực Việt Nam cộng hòa, những chiến tích làm bàng hoàng thế giới, làm vỡ mộng xâm lược của cộng sản, nay còn đâu? Tôi không bao giờ quên người Do Thái đã bầy tỏ công khai với nhân loại rằng, họ mơ thành người An Lộc. Tôi vốn không ưa các chế độ, các nhà lãnh đạo, một số tướng lãnh bất tài vô học, tham nhũng của miền Nam sau 1963, nhưng, luôn luôn, tôi yêu mến và cảm phục quân đội. Chế độ đã xóa bỏ chế độ, lãnh đạo đã hạ bệ lãnh đạo, quân đội tồn tại như quê hương. Bởi vì quân đội bảo vệ quê hương. Quân đội không phải là công cụ riêng của chế độ, của lãnh tụ. Một số tướng lãnh hèn mạt, vì quyền lợi cá nhân, vì địa vị khốn kiếp, đã bán mình cho chế độ, cho lãnh tụ để bán xương máu của quân đội và làm nhạt nhòa cái kiêu sa của người lính. Kẻ bán xương máu của lính nhiều nhất, kẻ dùng quân đội làm thang lưng leo lên danh vọng là Nguyễn văn Thiệu. Bây giờ, Thiệu đã bỏ đi. Cao văn Viên đã bỏ đi. Vô số tướng lãnh đã đào ngũ chạy trốn. Dương văn Minh đã đầu hàng. Quân đội tiếp tục chiến đấu. Quân đội sẽ tiếp tục chiến đấu, nếu Dương văn Minh không hám cái hư vị “tổng thống miền Nam trung lập” đến nỗi thỏa hiệp với cộng sản. Tham vọng bằn tiện của Dương văn Minh còn là tham vọng của vài ông tướng, vài ông nghi sĩ, vài ông dân biểu “nhất định” ở lại làm Tổng trưởng. Bùi Tường Huân là một thí dụ. Những người khác đã đi học tập cải tạo, đã vượt biên sang âu châu, Mỹ châu thì xin miễn kể tên, sợ mất ép-phê chống cộng của quý vị ấy. Thế giới đã thiếu sự công bình tối thiểu để khắc nghiệt lên án sự tan hàng bệ rạc của quân đội ta. Họ không thèm quan tâm tới sự tôn trọng kỷ luật tối đa của quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội không tuân lệnh đầu hàng của Dương văn Minh mà tuân lệnh đầu hàng của vị Tổng thống nước Việt Nam cộng hòa kiêm Tổng tư lệnh quân lực Việt Nam cộng hòa. Quân đội nước nào cũng thế cả, trừ trường hợp người ta làm cách mạng, làm đảo chính lật đổ Tổng thống. Tôi yêu quân đội của đất nước tôi. Tôi không xuẩn ngốc phán xét quân đội. Tôi có bổn phận ngưỡng mộ quân đội quốc gia. Và tôi đau đớn nhìn quân đội của tôi đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun, máng súng trên vai, mũi chúc xuống, mặt cúi gằm, lầm lùi bước. ông Nguyễn văn Thiệu không chứng kiến thảm cảnh này. Các ông tướng đào ngũ không chứng kiến thảm cảnh này. Tôi nghĩ các ông ấy chẳng nên nói về quân đội, nhắc đến quân đội nữa. Một bà mẹ hớt hơ hớt hái, từ dốc chợ Xóm Lách, chạy lên đuổi theo toán quân, (tôi quả quyết quân đội ta không thua trận. Quân đội ta mãi mãi chiến thắng, mãi mãi anh dũng. Chế độ Nguyễn văn Thiệu thua trận, các ông tướng đào ngũ thua trận và chính sách Mỹ ở Việt Nam thua trận). Bà mẹ già ôm chặt lấy một người lính: – Mày đi đâu nữa con? Sao không về nhà? Hết chiến tranh rồi, hòa bình rồi. Về thôi, con? Người lính cố gỡ nhẹ tay mẹ mình ra: – Con không thể về được. ‘ Bà mẹ khóc. Bà mẹ khóc tức tưởi: – Sao vậy? Có lệnh hàng rồi mà. Người lính lắc đầu: – Con không thể về được. Toán quân đã băng qua ngã tư Công Lý – Yên Đổ. Bà mẹ vẫn níu chặt người con chiến sĩ lại: – Mày đã đi đánh nhau bao lâu nay, có được hưởng gì đâu? Người lính nghẹn ngào: – Con không thể nào bỏ các bạn con. Bà mẹ rên rỉ: – Bỏ hết, bỏ hết đi con, về với má, không sao đâu. Người lính gỡ mạnh tay mẹ mình ra: – Má về đi, con phải theo các bạn con. Người lính chạy nhanh để bắt kịp các chiến hữu. Bà mẹ đứng bên đường mắt đẫm lệ, nhìn theo con mình…
° ° °
– Rồi người lính có về không? Đó là câu hỏi của ký giả Patrick Sabatier của nhật báo La libération đã đến tận nhà tôi ở Ivry sur Seine phỏng vấn tôi để làm số báo đặc biệt cho ngày 30-4-1985. Tôi đã kể câu chuyện trên nhằm trả lời câu hỏi “Điều gì còn làm ông nhớ Sài gòn nhất”? – Tôi không biết, ông Patrick ạ! Sau 6 năm tù đầy trở về, tôi hỏi thăm người Xóm Lách, được rõ là bà mẹ còn sống, và người con vẫn biệt tăm… – Anh ta đi đâu? – Tôi nghĩ rằng anh ta đi làm cuộc chiến đấu mới, không cần viện trợ Mỹ, cố vấn Mỹ và lính Mỹ. Dân tộc tôi cần thiết cuộc chiến đấu mới mẻ này. – Tại sao? – Nó mới đích thực là cuộc chiến đấu của dân tộc tôi nhằm tiêu diệt chế độ cộng sản, chủ nghĩa cộng sản để giành lại tự do, dân chủ, độc lập cho Việt Nam. Cuộc chiến đấu mới của dân tộc tôi loại bỏ hết tay sai của Mỹ, của ngoại bang. Như thể, chúng tôi gọi là một cuộc chiến đấu có chính nghĩa, tuy cô đơn, lãng mạn nhưng tổ tiên chúng tôi đã lãng mạn, cô đơn chiến đấu. – Rất đẹp, rất cao quý. – Ông ủng hộ cuộc chiến đấu mới của chúng tôi chứ? – Vâng, tôi hết lòng. Số báo đặc biệt của La libération, một tờ báo khuynh tả, xuất bản ngày 30-4-1985 viết về Việt Nam đã như gáo nước lạnh hắt vào mặt đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Số báo này có đăng thêm một đoạn trong bài thơ Sài gòn ra đường của tôi trên trang nhất.
° ° ° 19 người lính đi tới đâu, đi về đâu, tôi không biết. Hình ảnh bi thảm của họ khiến lòng tôi se lại nhưng cũng sưởi ấm tâm hồn tôi. ít ra, tôi còn được tự hào là người Sài gòn, người miền Nam. 19 người lính quốc gia đã anh dũng chiến đấu cho tới phút giây nghe lệnh đầu hàng. Vẫn 19 người lính này, biểu tượng của quân lực Việt Nam cộng hòa bất khuất, tháo bỏ quần áo Mỹ, giầy nón Mỹ, tiếp tục chiến đấu sau lệnh đầu hàng. Tôi đã thèm sống hèn, càng thèm sống hèn hơn. Để nói lên được cái hào hùng của người lính, cái tâm sự não nề của người lính, những con người không được phép chiến thắng, những con người bị tước đoạt quyền chiến thắng cộng sản. Thế giới đã không có hân hạnh nhìn 19 chiến sĩ Việt Nam. Thế giới đã không có hân hạnh nghe người lính giã từ mẹ mình lên đường nhập cuộc chiến đấu mới. Thế giới, cái thế giới mù lòa, điếc, ngọng đã bảo chúng ta thua trận đã miệt thị quân đội chúng ta tan hàng bệ rạc. Tôi đợi, tôi đã đợi, tôi đang đợi những kẻ tự nhận mình sống hùng viết những trang tâm sự của người lính sau 30-4-1975. Thú thật, tôi đã chai lỳ từ dạo cắm sừng nhọn vào đầu đề đương đầu với cuộc đời và người đời. Thế mà tôi còn khóc được hôm nay, khóc như kẻ mau nước mắt nhất. Giống hệt người mẹ anh lính, tôi cũng mắt đẫm lệ nhìn theo anh ta. – Buồn quá hả, Long? Côn hỏi. – Buồn hơn một chuyện tình buồn trong tiểu thuyết. Tôi nói. – Nếu mày còn sống và có cơ hội viết nhỉ? – Ở đâu? – Mỹ. – Ông mơ mộng hơn cả tôi rồi. – Sống phút nào mơ mộng phút ấy. 11 giờ, đường Công Lý nườm nượp những người đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun cắm cúi rảo bước. Nhiều người chạy. Đó là lính, là sĩ quan của chúng ta. Họ đã liệng súng đạn. Họ về nhà mình, nhà thân nhân của mình. Khuôn mặt họ, sự sợ hãi pha trộn sự phẫn nộ. Dân chúng hai bên đường im lặng. Không một nụ cười rè bỉu. Không một ánh mắt khinh khi. Người ta đã thù ghét chế độ, thù ghét Nguyễn văn Thiệu và tập đoàn thống tri tôi mọi cùng đám tướng lãnh dốt nát, hống hách nhưng chẳng bao giờ người ta thù ghét quân đội* . Chỉ thiếu những tiếng hoan hô nồng nhiệt, những tràng pháo tay bất tận như những lần quân ta chiến thắng sau mỗi chiến dịch trở về thành phố. Tiếng nhạc quân hành, tiếng hoan hô, tiếng vỗ tay, lúc này, là tiếng vỡ của trái tim, tiếng nứt của mạch máu, tiếng rơi của nước mắt. Lúc này, cả thành phố thấy mình chiến bại, cả thành phố chia xẻ nỗi đau chiến bại, bởi vì, những kẻ đầu trần, chân đất, quần xà lỏn, áo thun là anh, là chồng, là cháu, là em của người Sài gòn. Của Sài gòn. Có phải khi người ta đã quá sợ chết thì người ta hết biết mình sợ chết? Tôi bỗng quên nỗi sợ chết của tôi. Hoặc là tôi đã chết rồi, linh hồn tôi đậu trên chân đất của người lính tìm về nhà mình. Người lính ấy, hai mươi năm ròng rã đứng giữa biên giới sống chết, hai mươi năm chưa một lần cúi đầu, nửa tiếng đồng hồ trước vẫn ngẩng mặt và, lúc này… Tôi hết biết mình sợ chết. Hơn cả thế, tôi biết mình nên sống hèn, không nên sống hùng để cùng bị chết hèn lãng nhách. -Côn!
Google photo edit by Sơn râu
– Hả? – Ông nhớ sau hôm đảo chính 1945 chứ? – Nhớ. – Thực dân Pháp đã chạy dài, đã lột bỏ quần áo, giày vớ, đã chân đất, đội nón mê cắm cúi bước. Đã bị phát xít Nhật truy lùng. – Chúng ta đứng bên kia cầu Bo nhìn các ông Tây kéo xe bò chở đất, các bà Đầm khóc sướt mướt và phát-xít Nhật cười hoan hỉ. – A, chúng ta đã vỡ lẽ chiến bại và chiến thắng từ năm mười tuổi. Chúng tôi trở vào nhà, đóng cổng kỹ lưỡng. Chuông điện thoại reo vang. Tôi nhấc máy. – Alô, alô, tôi muốn nói chuyện với Duyên Anh. – Chính tôi. – Phạm Lê Phan đây… Phạm Lê Phan, nhà văn, nhà thơ, tác giả nhiều truyện ngắn đăng rải rác trên các tạp chí Bách Khoa. Chi Đạo từ 1960 là bút hiệu của thượng sĩ Phạm văn Kiệm, phục vụ tại Cục tâm lý chiến. Anh ta đã viết thi phẩm Chiến ca mùa hè mà Phạm Duy phổ nhạc. Chiến ca mùa hè như những trang quân sử bằng thơ ghi lại mùa hè đỏ lửa. – Mày chạy không thoát à? – Ừ. – Tao gọi bạn bè, chẳng còn thằng nào. May quá, còn mày. – May cái con c…? Mày chưa về nhà ư? – Về hả? Tao là thượng sĩ nhưng là chiến sĩ, hơn cả, tao là kẻ sĩ. Tao đại diện quân lực Việt Nam cộng hòa chuẩn bi tiếp xúc với Việt cộng. – Cục mày hết người… lớn rồi à? – Còn mỗi mình tao. Tao là tân Cục trưởng. Cục trưởng cút lâu rồi. Cục phó Phan Trọng Thiện vừa về… nhà. – Mày cũng nên về đi. – Tại sao tao lại phải về? Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè. Tao thủ trái lựu đạn, ngồi tại văn phòng Cục trưởng Tâm lý chiến thuộc Tổng cục chiến tranh chính trị của quân lực Việt Nam cộng hòa. Chai whisky trên bàn vơi quá nửa rồi. ông tu chất cay. Bọn nó vào mà tử tế, ông giao Cục, dở trò hỗn láo, ông cho lựu đạn nổ… Tao sẽ gọi mày sau. Thôi nhé! Người lính văn nghệ, thượng sĩ Phạm Lê Phan không muốn cộng sản vào Cục tâm lý chiến như vào nhà hoang. Anh ta ngồi đợi kẻ thù tới tiếp thu. Không còn cấp bậc và huy chương nào tưởng thưởng anh ta cả. Anh ta có quyền về nhà, được phép về nhà mình mà không ai dám kết tội anh ta đào ngũ hèn nhát. Nhưng mà “lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè.” Anh ta kiêu hãnh nói “tại sao tao phải trở về”? Sẽ chẳng một ai đủ liêm sỉ bắt chước Phạm Lê Phan tự vấn lòng mình “Tại sao tôi lại đào ngũ”. Tôi ngồi hút thuốc, chờ điện thoại của Cục trưởng Tâm lý chiến: Thượng sĩ Phạm văn Kiệm.
XÁC T-54 BÊN KIA CẦU THỊ NGHÈ “Lính văn nghệ đang chơi nhau dữ dội ở cầu Thị Nghè”. Tôi biết rõ những người lính ấy. Họ là nhà báo vô danh, là kép cải lương thứ yếu, là ca sĩ tân nhạc hạng xoàng. Họ còn là thanh niên Chợ Lớn, thanh niên con nhà giàu sợ hãi chiến trường, được ẩn thân ở Cục Tâm lý chiến dưới sự “bảo trợ” của tướng bà Cao văn Viên. Hai hạng người dưới, lương quân đội lĩnh xong phải cộng thêm tiền gia đình nộp cho người bảo trợ hàng tháng, chưa kể khoản tiền nặng ra mắt và được chấp thuận bảo trợ. Lính văn nghệ cơ hữu của Cục tâm lý chiến chỉ có bổn phận canh gác giữ an ninh cho Cục ngày và đêm. Sự canh gác mang tính cách trình diễn, dù đã học 9 tuần quân sự ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung. Vòng đai an ninh của Cục bé nhỏ. Đã có lực lượng bảo vệ an ninh của Cục an ninh quân đội, của Đài phát thanh Sài gòn lo giùm hết. Vậy bên đây cầu Thị Nghè, kế sát Cục, là nơi lính văn nghệ canh gác ban đêm để bảo vệ Đài phát thanh quân đội, tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, văn phòng của các quan văn nghệ… Nói ra hơi buồn, lính văn nghệ gác cầu, chỉ nhằm trình diễn tinh thần kiểng và tạo oai phong cho các quan tâm lý chiến chơi xì-phé, mạt chược những đêm trực. Truyện kể về những người lính văn nghệ gác cầu Thị Nghè sáng 30-4-1975 như sau: Xe tăng cộng sản vào thành phố Sài gòn để vô Dinh Độc Lập bằng hai ngả. Ngả thứ nhất: Từ ngã tư xa lộ Hàng Xanh, T-54 của cộng sản chia đôi. Không nhiều gì đâu. Có 10 chiếc thôi. 5 chiếc rẽ phải vô Hàng Xanh, qua đường Bạch Đằng, qua đường Chi Lăng, Võ Tánh Phú Nhuận, bọc lên đường Cách Mạng, Công Lý. 5 chiếc rẽ trái vô Thị Nghè, qua cầu, qua đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, qua đường Thống Nhất. Chiếc thứ nhất bị lính văn nghệ chặn đánh ở bên kia cầu. Với súng M- 16, lính văn nghệ đã nhắm T-54 mà khạc đạn. Lúc ấy, 10 giờ 45 phút, sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh 15 phút. Lính văn nghệ đã gây cảm hứng cho quần chúng. Sự phẫn nộ nổi lửa, nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Thị Nghè bốc phừng phừng. Bất chấp cái chết, thanh niên Thi Nghè đã viết những trang sử đấu tranh mới bằng những chai xăng châm lửa ném tới tấp vào T-54 của kẻ thù. Lửa cháy trên nóc T-54. Lửa cháy dưới T-54. Lửa cháy xích T-54. Lửa cháy đàng trước T-54. Lửa cháy đàng sau T-54. Lửa Thị Nghè bất khuất. Lửa Thị Nghè của Sài gòn. Ngọn lửa tiên phong của cuộc chiến đấu mới. Chiếc T-54 dẫn đầu đứng khựng. Nó bất động. Năm người bộ đội xe tăng, công cụ tội nghiệp của cộng sản, đã chết thảm dính chùm trong một sợi xích khốn kiếp. Đã chết mà không biết mình bị mê hoặc: Năm ngón tay trên một bàn tay Như năm người con cùng một mẹ Năm ngón tay trên một bàn tay Không xa rời nhau Như năm người con cùng một mẹ Năm người bộ đội trong xe tăng Như năm ngón tay trên một bàn tay Như năm người con cùng một mẹ Không xa rời nhau Sống bên nhau và chết bên nhau* Một chiếc T-54 bị bốc cháy. Là thừa thắp sáng cuộc chiến đấu mới. Là thừa mở mắt thế giới đui mù. Bốn chiếc sau phải dừng lại, ngơ ngác. Kẻ thù hoảng sợ. Nó hung hãn khạc đạn. Nó trấn áp. Nó vất vả qua cầu Thị Nghè. Hà Nội phải hiểu họ không có đại thắng. Bởi vì, theo Ngô Khởi, chiếm được đất mà không chiếm nổi lòng người thì không bao giờ chiến thắng cả. Xác chiếc T-54 nằm nhục nhã bên kia cầu Thị Nghè trọn ngày 30-4 và những ngày kế tiếp là biểu tượng bất hủ của lịch sử nòi giống và của quân sử Việt Nam cộng hòa. Tôi nhớ đã xem một phim, hình như tên phim là El Alamein do Frederick Stafford thủ vai đại úy quân đội ý, diễn tả một trận đánh tuyệt vọng giữa đám quân đồn trú ở sa mạc Phi Châu với đạo quân xe tăng của tướng Montgomery lừng danh Anh Quốc. Tăng của tướng Montgomery đã phơi xác lớp lớp. Và rồi, kẻ chiến thắng đã nghiêng mình kính cẩn chào tinh thần chiến đấu quả cảm tới phút chót của kẻ chiến bại. Người cộng sản, chắc chắn, thiếu sự hào sảng đó. Và, tôi còn thấy, thiếu cả những trang sách vinh tôn những người lính văn nghệ đã chết hay vẫn sống đã hạ chiếc T-54 của cộng sản bên kia cầu Thị Nghè buổi trưa ngày 30-4-1975 của những ông quan văn nghệ tự cho mình sống hùng trong ngục tù cộng sản rồi thoát ra ngoại quốc. Tôi cố tìm ở hồi ký dầy cộm của họ. Chẳng thấy gì ngoài sự kể khổ, lên án cộng sản man rợ và phô diễn cung cách sống bần tiện của mình.
Chị mở nắp, hơi cơm bốc ra ngùn ngụt trắng, toả ấm áp quanh mặt. Ba trở vào, chiếc khăn mặt vắt trên vai ướt sũng, mái tóc dính vài giọt nước.
“Cơm bữa nay ngon dữ há!”
“Uống rượu vậy rồi sao mà ăn. Tui làm cốt cho má con tui ăn đó!”
Ba cười theo vợ, trên mặt không còn dấu vết say. Tiếng sẻ kêu vang trên tàu cau trước sân làm lòng chị dịu xuống và phẳng lặng. Mọi sự đều như bao ngày, tiếng chim sẻ kêu nhiều hơn, nồi cơm bốc khói và tiếng cười của Ba khi thấy có món ăn ưa thích. Mọi rung động lay chuyển chị đã qua đi, nhưng còn lẩn quanh một nơi nào đó. Chị biết thế, chúng đang chờ đợi. Chúng sẽ đến, sẽ trở lại như bóng tối không cái gì cản được.
“Anh nè!”
Ba ngẩng lên nhìn vợ nhưng vẫn tiếp tục và cơm.
“Tối nay ra bà Bảy ngoài chợ ngủ một bữa đi”.
“Chi vậy?”
“Còn chi vậy cái chi nữa. Tối nay tui không có muốn vác cuốc ra đào lộ”.
Ba đưa một tay ghì chặt chiếc nồi, cạy mảng cháy:
“Chắc tối nay mấy ảnh không về khu này đâu. Đào hoài rồi”.
“Biết thế nào được, đại diện xã có nói mấy ông trên đồn có lệnh rồi. Dân mà ra đào lộ đắp mô, sẽ bắn súng cối chết bỏ”.
Ba sửng sốt đặt miếng cháy đang cắn dở trong miệng xuống mâm:
“Thắng Tía bảo vậy hả. Gặp nó hồi nào?”
“Lúc trưa này. Lại cho biết tụi mình cần hai người chứng hợp lệ, ông quận mới cấp… Làm cái chi mà mặt chù ụ ra vậy. Tui nhờ mấy bà làm chứng được mà”.
“Thế sao lúc tôi đi ra hồi trưa không gặp nó! Nó chỉ kiếm cớ cà rà vô đây…”
Ba đã cao giọng, sợi gân xanh ở cổ đã hiện rõ làm chị ngại. Bữa nay chị mệt lắm rồi, không còn muốn gây gổ, chỉ muốn mau xong bữa cơm ra rửa bát đũa trong bầu trời tối dần, nghe Ba phì phà thuốc lá nói chuyện mần ăn trong ngày. Chị đứng dậy, đặt tay lên vai chồng, xoa xoa:
“Đừng có giận dữ vậy nè, bấy nhiêu cãi lộn chưa đủ đã sao? Anh ở đây đi ra, mặt anh chù ụ như thế đó, có ai mắc mớ chi mà chặn lại nói chuyện. Người ta phải vô đây là phải quá”.
Chị cúi xuống cạy một tảng cháy mềm cạnh nồi, gắp mấy con tôm bỏ vô, quấn lại lấy tay bóp tròn thành khúc, đưa chồng. Ba nín thinh nhưng gân xanh trên cổ đã nhạt. Chị cười:
“Người chi mà khó tính. Một ngày ba bốn hồi ghen tuông, ai mà chịu nổi. Mai mốt mà còn thế, mẹ con tui bỏ xã lên tỉnh lấy chồng khác cho anh coi”.
Chị cười, lấy bàn chân giơ lên cọ vào đùi chồng. Ba cắn một miếng cháy lớn, nói lúng búng trong miệng:
“Xểnh một chút, đã thấy thằng chả cà rờ quanh nhà rồi. Ai mà chịu ngồi im”.
Nụ cười của chị cứng lại trong cổ họng, nước mắt bắt đầu ứa ra kề mắt. Ba bối rối, vẻ hối hận:
“Giỡn một chút thôi, có định chi đâu. Tui xử huề từ chiều rồi kia lận”.
Hình dáng người đàn ông to dần, một cánh tay quành qua lưng nhưng nước mắt vẫn dân dấn trong mi. Chị không giận, không hề thấy giận người đàn ông quen thuộc này. Nỗi buồn đã trở lại và không còn ai có thể lắng nghe những điều đang muốn nói. Mẹ chị chết rồi và Ba biết chi về chị. Một vụ cưỡng hiếp trên đồn đã lâu, chỉ có thế, Ba chỉ biết có thế. Má chết rồi, không còn ai, không còn ai cả. Nước mắt chảy buồn buồn trên má, Uông chết rồi, Hải ở bên kia sông trong bưng, chỉ còn có Tía nhưng Tía đã trở về muộn quá. Không, chị không thương gì Tía hơn Ba nhưng Tía là một phần của quá khứ. Chị đã kể và Tía đã lắng nghe những chuyện trên đồn, chuyện Uông, chuyện Hải và vẫn còn tiếp tục thương chị như ngày trước.
Nhưng rồi buổi trưa, mọi sự sẽ đưa tới đâu. Đàn ông chỉ cần ngủ với chị, có lẽ thế thôi, tiếng Ba thì thào bên tai, một bàn tay dưới vải áo vuốt ve nhè nhẹ lên ngực, nước mắt chị trào ra. Rồi, Tía sẽ được thoả mãn ngay đêm nay, ngay ngày mai. Hắn ngủ với mình rồi sẽ bỏ rơi, đi lấy vợ. Cũng được. Thà thế cho xong đi. Còn đứa nhỏ, còn có nó để săn sóc và còn Ba, những cơn ghen tuông giận dữ và những chầu rượu say sưa nồng nặc. Bây giờ đã quyết định cho Tía thoả mãn, một lần hay nhiều lần cho tới chán, chị thấy mong hắn chết luôn đêm nay cho rồi. Đúng vậy, chị đang mong hắn chết, chỉ có thế là tiện nhất. Còn hơn hắn chán rồi nhưng lúc nào quá bị thôi thúc, lại đến và chị sẽ chẳng có lý do nào không chiều thêm một lần nữa bởi vì đâu phải là không thích thú. Đúng vậy, Tía chết quách đâu cho rồi, chị đưa tay quệt nước mắt, kéo bàn tay chồng đang úp trên đầu ngực ra:
“Thôi! Trời đã tối đâu. Bữa nay làm tui khóc mấy lần rồi đó. Đêm nay đừng có hòng…”
Ba cười, đứng dậy kiếm thuốc vê thành điếu:
“Biết rồi. Đợi coi ai nghèo mà ham”.
Bộ mặt đắc chí của chồng làm chị phì cười, bê bát đũa đứng dậy ra sân. Không gian còn sáng, phía chân trời bên kia sông vàng nhạt. Chị nhớ tới Hải. Cũng hay hút thuốc quấn như Ba lúc này. Tía chắc rồi cũng chết chứ chẳng không. Dạo này mấy ảnh ham giết đại diện xã. Nhưng khi thò tay vào vại nước chị đã biết chắc rằng chị sẽ không mong như thế, không nghĩ như thế khi có Tía ở gần. Mùi thuốc lá khen khét bay quanh, tiếng Ba nựng con vang rõ trong khu vườn. Bên kia bụi mía, đã có ánh đèn thắp lên.
° ° °
Định ngưng tay bơm dầu, đèn măng-sông đã sáng xanh cả căn phòng, lấp loáng trên hàng cột và bát đũa trên bàn. Một con gà quay lớn để giữa bàn lớp da nâu bóng mỡ làm Định cảm thấy đói, nước miếng ứa ra. Vùng chiến trận, vùng chiến trận rồi đó, Định thì thào và mỉm cười vu vơ. Mới đêm qua, chàng gọi món gà hầm nấm, không ăn hết được một nửa và cũng không thấy ngon. Chàng ngồi xuống ghế, tiếng ga-men va nhau thật thanh ngoài sân, hình đen thẫm của người lính ngồi xếp bằng trên lô-cốt gần như bất động. Chiếc bàn đã đẩy người bao quanh, một chai bia từ phía sau xuất hiện trước mặt, những bọt trong li ti từ đáy ly bốc lên biến vào lớp bọt trắng mỏng dần. Yên nói:
“Một bài diễn văn chăng?”
“Thôi, miễn cái món khó tiêu ấy đi”.
Viên thiếu tá nghiêng đầu nghe Vận dịch các câu đối thoại, mỉm cười lắc đầu giơ ly cụng với tiểu đoàn trưởng. Những đôi đũa di chuyển, những câu nói trao đổi về món ăn, những ly bát va chạm. Định có cảm tưởng đang ngồi trong một gia đình an bình, không có một cái gì khác biệt bữa cơm tối thông thường nhưng chàng biết, chỉ ngẩng đầu nhìn cao hơn mặt bàn, mọi sự sẽ không còn như thế. Những âm thanh, những không gian, những câu nói tình cờ móc nối với những kinh nghiệm trong dĩ vãng tạo ra một an bình giả tạo, chàng biết vậy, nhưng thích như thế kéo dài. Hơi nóng từ đèn măng-sông toả xuống làm chàng bứt rứt dưới lưng áo. Căn phòng nhỏ bé đóng kín cửa hấp hơi ngột ngạt nhưng đó là một cớ tốt để chàng không mặc gì ăn cơm và Linh phải mặc bikini dải buộc sang một bên hông thành một cái nơ nhỏ ngồi bên kia chiếc va-li đặt trên nền xi-măng có phủ một tấm vải thay cho bàn. “Mở cửa sổ đi anh, nóng quá em không ăn được”. Những bát cơm dở dang đổi lẫn cho nhau, những thời gian đứt quãng để hôn giữa những giọt mồ hôi trên da ngực nhòe lẫn, những đôi môi trơn mỡ thức ăn chen lẫn vào nhau. Không còn gì, không còn cách nào khác hơn nữa để hoà lẫn với người yêu bên kia. Không thể còn một cách nào khác. Đôi khi mùi da thịt Linh toả ra làm tâm hồn chàng mờ nhạt, tan thành một yêu mến độc nhất là biến làm nàng nhưng chàng biết, khi ghé sát mũi thu làn hương ấy, động tác giao hợp sẽ tới không ích gì cho việc thoả mãn ý muốn ấy. Giao hợp chỉ là một khoảnh khắc sung sướng, pha lẫn tình yêu đôi khi, một thời gian thân mật tiếp cận kế tiếp sau đó bằng mỏi mệt của cơ thể. Đôi khi chàng đã muốn thử thật tàn bạo, vò xé cấu cắn cái thân thể kia, nhưng chàng không làm được bởi những giọt nước mắt và nỗi đau đớn của nàng còn là bức tường dày hơn, cao hơn ngăn cách giữa hai người. Yêu đến bao nhiêu, nhiều đến thế nào, cũng chỉ đạt một tiếp cận như thế, một khoảng chẳng ra gì giữa hai đầu đường cong của một hyperbole với hai trục. Cùng lắm, có lẽ trước khi phải cùng chết chung một lúc, chàng đoán vậy, hai người có thể đạt đến một sự sống hay sự chết? Em mong rằng có linh hồn, bởi vì như thế người ta dễ sống và dễ chết hơn. Hac-đy đặt ly uống cạn xuống bàn, mu bàn tay đầy lông nâu cựa quậy, một câu ngoại ngữ làm chàng lơ đãng lắng nghe :
“Mình có chai whisky, sao không uống, sir?”
Viên thiếu tá nhìn vào khoảng không gian trải ra từng khoảng đen trắng đậm nhạt, một đốm lửa, rồi nhiều đốm lửa xuất hiện lấp ló sau các lùm cây. Chàng hơi nghiêng đầu sang một bên tránh chỗ gồ của chiếc cột đang ấn vào gáy ê ẩm, nhìn hai nuôi dưỡng từ phía trên dốc đi xuống. Còn sáng quá, đợi một thời gian nữa, chàng tự nhủ như muốn ru mình vào giấc ngủ. Những tiếng động thông thường, tiếng bát đũa của những người dân đang ăn phía sau, đến cả tiếng động cơ của một xe ben đầu tiên đổ trên dốc xuống, đều như mang một xao xuyến êm ái. Khi còn nhỏ, chàng không hề thích khoảng thời gian tranh tối tranh sáng như thế này bởi vì không gian như xa đi, mờ lẫn vào một nơi kích thước bí ẩn. Bây giờ chàng lại thích, các binh sĩ đã chuẩn bị sẵn sàng ngồi rải rác quanh ngôi nhà nói chuyện bằng giọng thấp, bóng tối dày đặc che phủ dần, đưa chàng vào một tự do mông mênh. Một ngày nắng chói đã qua và ban đêm chưa tới. Mông bắt đầu tê đi vì ngồi quá lâu, chàng xoay người đổi vị trí, cố giữ cho đầu tựa nguyên trên cột. Những động tác chậm và khẽ làm tâm trí chàng bắt đầu chuyển động quanh dự tính ngày hôm sau. Có lẽ không nên về nhà ngay sau khi bước xuống bến xe, cần tới một hiệu bánh mua quà, tới một hàng vải mua mấy thước, những công việc kéo dài ra, trì hoãn thời gian trước khi cái màn kéo ngăn đôi căn phòng và thân thể đàn bà quen thuộc tròn trĩnh sẵn sàng trên giường. Bây giờ nỗi thao thức của ham muốn giao hợp làm thân thể xúc động nhưng chàng biết rõ ràng đến ngày cuối cùng gần Bích, chàng sẽ làm tình vội vã và cố gắng đến mức tối đa chỉ để chiếm đoạt thêm ít khoái cảm làm trừ bị. Không thể thế này mãi được. Đột nhiên chàng thù ghét Định. Con người này đến đây như một đam mê thừa thãi và đầy hăm hở tìm kiếm. Còn chàng thì không, con cầu cũ ván long bắc qua một lạch nước khuất dưới một hàng dừa. Cầu dẫn từ bên nào sang bên nào, dẫn đi hay dẫn đến…
“Đi chưa chuẩn uý?”
Khuôn mặt người trung đội phó hiện rõ nét khi đầu thuốc loé sáng. Trời đã tối rồi. Chàng đứng dậy, vươn vai :
“Cho chuẩn bị đi. Đêm nay trăng mọc mấy giờ nhỉ?”
“Độ hai tiếng nữa. Đêm nay trung đội đi kích đâu chuẩn uý?”
Vũ bước qua bực cửa vào nhà :
“Cô bác ăn cơm xong rồi à? Sớm dữ vậy”.
Người đàn bà cười, đặt đứa nhỏ lên phản gỗ :
“Ăn sớm còn chun vô hầm chứ, chú! Buổi chiều đã tưởng có đánh lớn, hết cả hồn”.
Vũ ngồi xuống ghế, mở ngực áo lấy bản đồ đặt lên bàn ngay dưới chân cây đèn dầu:
“Cô bác cứ yên tâm, ở ngay cạnh đồn đâu có lo. Tụi chúng không dám đánh đồn chính quy giữ đâu… Anh coi đây này… Trung đội sẽ đi hướng này, kích khoảng đây”.
Viên hạ sĩ quan cau mặt, cúi đầu sát xuống, ngón tay vạch theo lộ trình phải đi, làu nhàu:
“Đại đội đóng đâu? Ông Hy nói vậy chớ ổng không đóng chỗ đó. Tui biết quá mà, trung đội mình chỉ nên đi đến đây thôi”.
Vũ đã đứng thẳng dậy không nhìn theo ngón tay người phụ tá đang dò dẫm trên mặt nhựa bọc bản đồ. Bao giờ cũng vẫn chuyện kỳ kèo thêm bớt ấy. Có ích gì không, đi thêm một nghìn thước hay đi dưới năm trăm thước đâu có phải là gần hay xa thêm cái chết. Hình như ở đây, các binh sĩ coi đồn như lòng người mẹ, càng gần càng thấy yên tâm hơn. Riêng chàng, chàng mong đêm nào đồn bị tấn công, trung đội chàng đóng ngoài xa. Trong bóng tối, những khu vườn, các lùm cây hứa hẹn nhiều lối thoát hơn và chiến đấu quen thuộc hơn. Ở trong đồn khi ấy là vùng đường cùng, tới đường cùng. Chàng không thích ở vị trí bức bí, chân tường.
Người lính đứng trên đầu dốc ngăn xe hiện rõ giữa luồng pha một chiếc xe đang leo lên bên kia dốc. Một tiếng chửi thề vẳng lại: “Muốn chết hả? Bảo tốp phải tốp ngay!”. Vũ vẫy tay cho trung đội qua quốc lộ, tản vào phía sau chợ, quay lại nói với Hy:
“Tôi đi cùng đại đội đến chỗ đóng quân rồi mới đi kích. Anh nhớ tới vị trí là đặt súng cối yểm trợ sẵn. Tôi sẽ đi bên phải lộ, thấy đụng, anh cứ làm đại vài phát tầm 700 sang bên trái lộ cho lính lên tinh thần. Chỗ ấy đất hoang, khỏi lo chết dân. Sáng nay đụng biệt động quân, chiều bị hai phóng lựu, tụi chúng có vẻ ngán”.
“Cứ yên trí. Cứ có đụng là tôi làm ba trái 60 liền cho anh. Đêm nay anh được liên lạc xin 81 trực tiếp yểm trợ, cũng đỡ lắm rồi”.
Một toán quân xuất hiện dọc bờ đường, những bóng đen im lặng mập mờ. Ngọn đèn măng-sông trong quán Tàu hắt ánh sáng xanh trên mặt lộ. Tiếng động cơ rồ máy và vùng trời phía dốc bùng lên trong luồng sáng có những đợt lăn tăn đuổi lẫn nhau, các bóng đen của cây, của người quệt ngang các vách tường dãy nhà bên kia.
“Nấp mau lên! Muốn tụi chúng biết hướng đi để ăn thêm lựu đạn sao! Tiên sư cái thằng Bi! Trao có mỗi việc chặn xe mà làm không được, còn đánh chác cái con c… gì!”
Chiếc xe chạy chậm dần theo dấu hiệu của Vũ đứng giữa lộ. Hy quát:
“Tắt đèn! Muốn bắn bể hả!”
Vũ lại gần xe, đèn vụt tắt làm chàng bắt đầu nhìn thấy tài xế đầu quấn một chiếc khăn hai màu đen trắng, hàm răng lờ mờ dưới ánh đèn yếu từ trần xe toả xuống. Hy nói lớn :
“Hỏi nó xem đi đâu mà chạy trối chết vậy”.
Bàn tay người tài xế buông thõng phía ngoài, cong lên chỉ về phía sau. Giọng nói sợ sệt :
“Mấy ông ở Bến Sa mướn đưa xác về tỉnh. Tụi tui không muốn… nghe lệnh phải…”
Một tiếng mũ sắt rơi trên mặt nhựa cứng làm đứt ngang câu nói người tài xế. Ngọn đèn phía sau xe tạo một không gian đỏ ửng, phủ lên khối gồ ghề dưới tấm vải bạt bẩn rách, Vũ bắt đầu nhận rõ hình dáng những đôi giày thò ra ngoài sàn xe. Một bàn tay, một cánh tay tiến dần vào vùng đỏ ửng, xuất hiện một khối không nguồn gốc, co quắp làm chàng không thể không kêu lên : “Đừng!”. Một nửa khuôn mặt người lính nghiêng vào vùng ánh sáng, chờ đợi. Chàng thấy một nỗi lo lắng, tưởng như rằng nếu người lính kéo tấm bạt phủ ra, một cái gì đó, một cái gì chưa xuất hiện lúc này, sẽ làm chàng không thể nào quên được, không thể xua đuổi hay tiêu diệt. Người lính lùi lại, mũi súng quệt một đường ngang va vào một chiếc chân thò ra ngoài sàn xe, vật nào đó dày đặc và nặng nề bên trong làm chiếc giày lắc lư chậm chạp và rõ rệt. Rồi chỉ còn một vùng ánh sáng đỏ, một khoảng mặt nhựa và chiếc chân buông thõng bất động. Nhiều tiếng bước chân lại gần phía sau mang chàng ra khỏi nỗi lo lắng cùng thứ chất liệu với lòng khiếp sợ ấy, chàng kêu lên:
“Làm cái gì mà sụm lại vậy? Xác chết, chứ có gì đâu mà coi!”
Hai âm thanh xác và chết như quyện lại rơi rớt trong miệng chàng. Xác chết, xác chết đó, nào có gì đâu. Chàng xốc lại súng trên vai, bước sang lề đường, la:
“Chạy đi!”
Chiếc đầu người tài xế ngoái lại, hàm răng lờ mờ mở rộng. Chàng vẫy tay nhắc lại câu nói:
“Chạy đi!”
Tiếng động cơ rồ mạnh, một mùi xăng khét ấm, vùng ánh sáng đỏ hơi chao đi mờ dần về phía cầu. Chàng đặt điếu thuốc vào môi, xoay nhè nhẹ cho nước bọt thấm vào giấy. Ánh lửa của bật lửa lòe sang trong lòng bàn tay, tiếng Hy từ khoảng tối đen đưa tới:
“Xe có bao nhiêu xác?”
“Ba hay bốn”.
“Bảo an hay tụi mình?”
“Bảo an. Toàn giày vải… Tối xuất quân nghe không, trăng sắp lên rồi”.
Các binh sĩ đã lẫn vào sau các lớp nhà quanh chợ, con lộ xuống tới chiếc cầu đúc lờ mờ trắng sau khúc quanh không có một vệt đen, một hình dáng. Chàng đi cùng Hy vào vùng ánh sáng xanh của chiếc đèn măng-sông treo trong quán cà-phê đầu chợ, nghe rõ từng tiếng gót giày cao-su đặc, êm và trầm trên đường nhựa. Một vài đốm lửa đỏ thuốc lá loé trên thành đồn bên trong hàng rào kẽm gai. Phảng phất mùi khói ấm khét của xe hơi và tiếng ai đái mạnh trên đất ở một khoảng kế cận. Người hầu bàn mặc mai-ô trắng và quần đùi xắn lên tận bẹn bắt đầu kê một tấm ván vào khe để đóng cửa khi chàng bước vào. Người em gái chủ quán mở ngăn kéo lấy xấp báo. Nụ cười của nàng làm khuôn mặt như tròn lại và màu da bớt xanh dưới ánh đèn, giọng nói lơ lớ vang trong khoảng yên tĩnh có vẻ ngái ngủ:
“Chính luận và Màn ảnh phải không chuẩn uý?”
Chàng cúi xuống mở tờ nhật báo đọc những hàng chữ lớn. Đại sứ Hoa kỳ đi dự hội nghị Honolulu. Hình một thiếu nữ đang dâng kéo cho một người tròn mập mặc đồ lớn đang cười. Tổng thống Huê-kỳ tuyên bố. Chàng lật phía sau coi mục quảng cáo xi-nê. Vĩnh Lợi, L’univers de nuit. Cấm khán giả dưới 18 tuổi. Phải đi xem phim này tối mai. Yên nói rất gay cấn, kiểm duyệt để cho coi rõ cả ngực, trông hoa cả mắt!” Chàng mỉm cười nhìn người con gái đang giũa móng tay, mặt cúi xuống:
“Tiền báo gửi hết rồi, chuẩn uý”.
Vũ mở ví, lấy ba mươi đồng đặt xuống bàn:
“Gửi cô trước. Mai tôi đi phép bốn ngày nên cô đừng mua báo hàng ngày. Chỉ mua hàng tuần thôi”.
Chàng tháo hai cúc áo, lôi tấm bản đồ bọc nhựa để xuống bàn, lấy bút. Trên bìa tờ Màn ảnh, một thiếu nữ mặc áo tắm đang giơ hai tay lên trời, môi he hé tóc xoã xuống vai. Chàng ngần ngừ chọn địa điểm đặt bút, phần ngực để hở quá ít không đủ chỗ. Chàng quyết định ký vào phần hạ bộ người con gái, kéo dài đuôi chữ ký xuống tận đầu gối.
“Chuẩn uý ký chi mà kỳ quá à!”
Chàng gập nhỏ hai tờ báo, kẹp vào giữa hai lớp nhựa, bỏ tất cả vào ngực:
“Phải cẩn thận như thế mồ hôi mới không làm mủn giấy…”
Thiếu nữ lắc đầu cười. Vũ xốc lại túi đeo lưng, cầm súng bước ra ngoài, nhắm nghiền hai mắt một thời gian ngắn cho quen với bóng tối.
Chàng cúi đầu tránh một cành cây là sát, xoạc chân bước qua hàng rào. Khu vườn, nhà, hàng rào kế tiếp nhau, giác quan chàng mở rộng đón nhận, phân tích từng tiếng trẻ khóc, tiếng lá cành cọ vào nhau, từng ánh đèn chập chờn ở xa, từng lùm cây tối đen. Binh sĩ đi trước bước hụt, gót giày va xuống đất làm Vũ khó chịu. Chàng đứng lại giơ tay ra dấu, toán quân hơi chùn lại rồi tản sang hai bên bờ đất, ánh đèn lọt qua khe vách ngôi nhà bên kia cùng tiếng nói nhiều người. Chàng thì thào vào tai trung đội phó:
“Đứng dậy, đợi tôi sang trước”.
Thoạt tiên chàng nhận ra một ngọn đèn để trên bàn, rồi chàng nhìn thấy ông già có chòm râu lơ thơ, một người đàn bà ngồi quay lưng lại, sau cùng chàng nghe hiểu những lời nói trao đổi : “Con nhỏ trót lỡ rồi, phải cho thằng Tám biết… Để vậy sao?”. Chàng đi dọc vách nhà, nhìn vào một khe khác ánh sáng yếu hơn. Một bóng trắng lướt qua ngọn đèn cầy, chàng nhận ra phần tròn trĩnh sau vách là chiếc bụng bắt đầu lớn của người con gái. Chàng cố nhìn cho rõ hơn xuống dưới nữa, nhưng không còn khe hở nào thấp hơn. Binh sĩ cận vệ tới gần, ghé sát vào tai thì thào:
“Phía trước nhà cũng không có gì lạ”.
“Anh trở lại bảo Ri cho trung đội sang đi”.
Một khoảng trống mở ra đến dãy nhà lờ mờ bên kia. Chàng tì vào cây cố gắng quan sát. Mắt và tai cố gắng tìm kiếm. Không có gì khả nghi. Bên trái quốc lộ, các gò mả đen thẫm từng vệt. Chàng vẫy tay, toán quân tiếp tục di chuyển.
Định bực dọc ấn mạnh ngọn nến xuống, buông tay ra. Ngọn nến từ từ đổ sang một bên, chàng vội đưa tay giữ lại, một giọt nóng bỏng rớt trên da làm chàng thốt ra một tiếng nguyền rủa. Một câu nói từ bóng tối phía sau:
“Chuẩn uý gắn lên đỉnh mũ sắt là được ngay”.
Chàng nghe lời, lật úp cái mũ xuống để sát đầu ghế bố, nghiêng nến cho giọt mỡ rơi đủng đỉnh:
“Anh nói có lý. Nó đứng vững thật”.
Ngả người nằm dài trên ghế, hai chân còn nguyên giày gác lên vách tường, chàng nhìn những đợt sáng đậm nhạt theo đường lồi lõm của mái tôn. Tiếng cười nói lao xao lẫn tiếng ngâm vọng cổ bên kia vách. Chàng vơ vẩn tự hỏi sẽ làm gì khi cuộc chiến này chấm dứt. Giải ngũ rồi làm gì? Trở về sở cũ rồi kệ tháng ngày qua. Cũng thú vị, không còn bị bó buộc, không còn phải nghe lệnh, không còn bị mất hết thời gian. Nhưng rồi sao nữa? Mỗi buổi sáng rửa mặt xong quần áo chỉnh tề đến một quán gần sở ăn sáng, uống ly cà-phê sữa, hút điếu thuốc đầu tiên cho tới khi nắng đã bớt màu vàng sẫm yếu để trở thành nhạt hơn cho một ngày sắp bắt đầu. Ngày hôm sau như ngày vừa qua, ngày hôm nay sẽ như ngày kế tiếp ngăn cách bằng một ngày chủ nhật đi lang thang con đường lớn, vào ngắm vài cuốn sách, ăn vài thứ quà vặt để tới tối ngồi trong một quán vắng mơ ước lăng quăng tới một tương lai có nhiều đàn bà hơn để sử dụng, để thay đổi. Những đêm yên tĩnh một mình hay với Linh và những ngày tháng qua đi. Tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư và tháng Năm. Không, chàng đã không hài lòng, đã bực bội vùng vẫy để thoát khỏi chúng, những thứ bây giờ nằm đây dưới mái tôn với ánh sáng ngọn nến lập lờ chàng đang mong ước có lại. Giải ngũ chẳng giải quyết được gì. Sau cùng có lẽ chỉ còn có Linh, sự hiện diện của nàng, với thân thể và khoái cảm do nàng mang lại là làm chàng thấy tự đủ trong cuộc sống, nhưng không phải lúc nào và mãi mãi đủ. Sống liên tục cạnh nhau, nhiều khi Linh với những thứ nàng có không làm ghìm chàng vào hiện tại nữa, trí óc trở thành bồng bềnh và ao ước một cuộc sống khác. Ở nơi đây với ánh sáng ngọn nến đậm nhạt theo đường lồi lõm của mái tôn, chàng vùng vẫy và ước vọng, chàng đã vùng vẫy và ước vọng khi còn là dân sự, chàng sẽ phải vùng vẫy và ước vọng sau này. Những ước vọng có thể lớn và mang những danh từ đẹp, thần bí nhưng vẫn chỉ là những ước vọng để vùng vẫy tiến tới chúng. Tại sao cứ phải là như thế? Em không giúp được gì hơn cho anh sao, anh muốn có em và muốn có hiện tại tự đầy đủ cho anh chìm vào đó. Không, Linh không thể làm gì hơn, không thể giúp gì hơn là đôi mắt cúi xuống nhìn, hai bàn tay ấm nóng áp trên ngực khi chàng xa ra, rời đi, không còn ở bên nàng, không còn ở trong cuộc đời hiện có. Một binh sĩ lại gần, cúi xuống:
“Ông Yên bảo chuẩn uý ra sân uống rượu”.
Binh sĩ táy máy cầm cuốn truyện trên đầu ghế bố, chăm chú nhìn hình thiếu nữ mặc áo xanh dương nghiêng đầu:
“Sách chi mà dầy dữ vậy, chuẩn uý? Tiếng Tây hay tiếng Mỹ?”
“Tiếng Pháp”.
Chàng cúi xuống thổi ngọn nến, bước ra ngoài. Trăng chưa lên, các ngôi sao hiện rõ trên bầu trời, cột ăng-ten siêu tần số lắc lư theo chiều gió, ngọn mất hút trong bóng tối. Chàng hơi ngần ngừ nhìn bàn tay của tiểu đoàn trưởng chỉ vào một chiếc ghế kế bên.
“Xin đại uý cứ để tôi tự nhiên”.
Chàng đi vòng quanh bàn, hơi cúi đầu chào viên thiếu tá Mỹ đang nhìn chàng qua ly rượu vơi một phần.
“Anh uống xếc hay sô-đa?”
“Sô-đa, trung uý… Xin cứ tiếp tục… Tốp, cám ơn đại uý”.
“Anh này có vẻ tửu lượng cao đấy”.
Chàng đặt chai sô-đa xuống bàn, mỉm cười nhìn khuôn mặt tiểu đoàn phó hiện rõ trong ánh sáng hắt từ trong nhà ra:
“Cũng đại khái thôi, đại uý”.
Rượu lạnh thấm vào lưỡi, vào miệng, vào cơ thể làm chàng khoan khoái. Hai bờ tường luỹ chạy chéo dài, cao và xù xì làm chiếc sân thành một khoảng không gian chắc chắn. Chàng hỏi tiểu đoàn phó:
“Đại uý người miền nào? Tôi nghe giọng chỉ biết đại uý ở miền Bắc vào như tôi”.
“Tôi người Móng Cái”.
“Tưởng đại uý người Nùng”.
“Gọi là Nùng cũng không sai mấy”.
“Tôi nghe nói người Nùng nói tiếng Tàu giỏi lắm thì phải?”
“Tôi và vợ tôi vẫn viết thư cho nhau bằng chữ Hán. Có tụi con tôi thì không biết một chữ nào, như người Việt vậy. Anh có vợ chưa?”
“Rồi, đại uý. Đại uý có mấy anh chị tất cả?”
“Sáu. Bốn trai hai gái. Đứa út đang học trường Thiếu sinh quân. Chúng nó cũng lớn cả rồi nên tôi cũng đỡ lo khi về hưu”.
“Đại uý còn mấy năm nữa?”
Chàng uống một ngụm nước lớn, để chất lỏng chảy thật chậm xuống cổ, lắng nghe từng bọt hơi cay cay trên đầu lưỡi, cảm thấy vui vẻ và an bình với những bóng người nửa tối nửa sáng ngồi chung quanh và hai dãy tường luỹ kéo dài mất hút vào bóng tối dưới lô-cốt đại liên.
“Tôi còn một năm nữa thôi”.
“Lương hưu trí có nhiều không, đại uý?”
“Chẳng bao nhiêu. Nhưng vườn cam năm nay bắt đầu có hoa lợi”.
“Đại uý có vườn cam kia à! Mấy chục mẫu, đại uý?”
“Ba mẫu thôi. Có đeo sao hoạ chăng mới có mấy chục mẫu… Tôi đại uý già làm sao được chế độ cũ chia cấp như mấy ông ấy”.
“Có lần tôi lên cao nguyên, thấy có chỗ công binh đang san đồi làm đồn điền cao-su. Chắc cũng là làm cho mấy ông bự?”
Khuôn mặt người sĩ quan già hình như thoáng có một nụ cười, nụ cười chịu đựng mọi sự, không thắc mắc, không so sánh. Chàng rút thuốc mời.
Vận nghiêng người với chai rượu, mở nút:
“Làm một chút nữa, đại uý?”
Viên đại uý lắc đầu, úp bàn tay lên miệng ly. Định giơ ly lên:
“Cho tôi thêm… Rồi, cám ơn bồ”.
Vận cười, đóng nút chai thật mạnh:
“Anh biết lần biến cố chót, bọn tôi có về đóng ngã ba xa lộ không? Vui và tiếu lâm không thể tả được. Đại đội tên Hy được lệnh bố trí tại ngã ba và đợi lệnh. Lệnh bổ túc không thấy tới. Thế là nó và thằng Vũ mở trò: Sài Gòn đi lên, không cho. Đi về Sài Gòn, không cho nốt. Quân bên nào, đơn vị nào cũng mặc, nhất định không cho ai qua hết. Hai đứa gối túi đeo lưng nằm giữa xa lộ ăn mía hút thuốc thâu đêm, kệ hai đầu xe đủ loại đỗ đen kịt, công xa quân xa xe đò đủ loại đủ cỡ”.
Định hỏi:
“Thế rồi sao?”
“Đến mười giờ sáng được lệnh rút về. Thế chứ còn sao nữa. Thằng Vũ lừng khừng tuyên bố: Bảo bố trí tại ngã ba thì bố trí. Bố trí thì tất xe không qua được…”
Vận cười lớn, cúi xuống hạ thấp giọng:
“Hồi đó đại uý tiểu đoàn trưởng này mới là trung uý tiểu đoàn phó. Còn tiểu đoàn trưởng cũ, nghe đâu vì giải thích là đã cho quân chặn đường phe địch tăng viện về Sài Gòn nên được các quan cho thăng thiếu tá và đổi một phát về Sài Gòn”.
Yên ngồi bên kia bàn, gần tiểu đoàn trưởng, nói chen vào:
“Nếu phe kia thắng, sẽ giải thích là đóng quân sẵn sàng đợi lệnh về Sài Gòn dẹp loạn. Đằng nào thì cũng lên thiếu tá được!”
Tiếng cười ồn ào quanh bàn, thiếu tá Mỹ cười theo, hỏi:
“Các bạn có gì vui thế?”
Vận cao giọng hướng về phía tiểu đoàn trưởng, hơi rượu phà vào mặt Định làm chàng nhăn mặt:
“Đại bàng cho phép dịch cho quan Đại Mỹ nghe chơi chăng?”
Tiểu đoàn trưởng ngả người vào thành ghế xích đu, lắc viên đá trong ly rượu, cười :
“Muốn dịch thì dịch đi!”
Định đứng dậy ra góc sân, đái vào hố chàng đã đứng cạnh và tắm vào buổi trưa. Men rượu chếnh choáng. Ngẩng đầu lên nhìn trời, trăng chưa mọc, chàng quay lại, vừa cài cúc quần vừa đi vào bàn. Tiếng súng đột ngột nổ liên tiếp làm chàng đứng sững lại giữa sân lắng nghe. Một vài binh sĩ chạy băng qua, nhảy xuống hố súng cối 81. Các câu nói thanh, ngắn và lớn xen nhau: “Gần thôi phía bên kia cầu…”, “Hướng 3400, lẹ lên!” Nửa vòng nữa!”. Hai tiếng nổ lớn vọng lại, Định bước lại gần bàn rượu. Yên quỳ trên đất mở lớn tấm bản đồ trước tiểu đoàn trưởng, tay cầm bút chì mỡ giơ sẵn, mắt hướng vào phía trong. “Vặn to lên chút nữa!”. Tiếng rè rè lịch kịch, các âm thanh điện tử lộn xộn phát ra. Tiểu đoàn trưởng la: “Làm ăn cái con khỉ gì vậy! Đã cho lệnh mở máy thường trực, bây giờ còn lụi cụi điều chỉnh để đợi chúng đánh cho há hốc miệng ra hả!”. Tự dưng chàng nhận thấy bây giờ, tiểu đoàn trưởng, viên cố vấn, tất cả những người quanh bàn đều nhìn vào phía trong nhà, phía treo chiếc loa khuếch đại, hình như cùng tin có thể nhìn thấy qua cái vật hình vuông rè rè chói tai ấy trận chiến đang tiếp diễn ngoài kia. Tiếng la trách nhau của các quân nhân ụ súng cối vẳng tới, chàng nghe rõ tiếng hộp các-tông đựng đạn va vào vách tường đồn. Giọng Vũ bắt đầu rõ ràng hơn: “… Vĩnh! Vĩnh! Cho thêm hai trái đạn nổ vào nghĩa trang bên trái quốc lộ, cách đường 200… Tôi nhắc lại, hai đạn nổ nghĩa địa bên trái đường cách mặt lộ 200!”. Các cái đầu cùng cúi xuống bản đồ theo ngọn bút chì mỡ của Yên: “Chỗ này!” Chắc thường Vũ ở bên phải quốc lộ hướng Bắc bình Du-lu (Zoulou)… Tiểu đoàn trưởng và viên cố vấn cúi sát hơn. Hac-đy vội cầm chiếc đèn pin trên bàn, rọi lên bản đồ. “Hỏi thằng Vĩnh ba xem có cần yểm trợ không!”. Chàng theo Yên đến ụ súng cối. Tiếng Yên nhỏ và chậm, ngắt từng đoạn: “Hướng 3500, cao độ 62… 3500, 62”. Khối dài đen từ từ ngóc cao hơn, ánh đèn pin soi bọt nước trên ống ngắm chói sáng. “Thôi, quá rồi. Trái nửa vòng mau!”.
Vũ quỳ lên cố gắng quan sát. Các đốm lửa không còn loé sáng bên kia lộ. Khẩu trung liên bên cạnh tiếp tục tạo những vệt đỏ dài lao vào một mái nhà. Chàng đưa chân đạp mạnh vào mông xạ thủ: “Ngóc cái đầu lên nào! Định bắn chim đấy hả?”. Người lính chồm lên. “Bắn sát mặt lộ cho tôi một băng nữa”. Có một bàn tay đập đập vào chân, chàng quay lại:
“Cái gì?”
“Tư tưởng Đống đa hỏi có cần yểm trợ 81 không?”
Chàng cầm ống liên hợp, cố giữ cho hơi thở điều hoà:
“Thẩm quyền Vĩnh ba tôi nghe… Thôi, không cần… Tụi chúng rút rồi… Vĩnh! Vĩnh! Đây Vĩnh ba nghe không trả lời… Thôi bắn 60, thôi bắn 60!”
Đưa ống liên hợp lại cho hiệu thính viên, chàng quỳ thẳng dậy, không gian im lặng. Chàng gần như chỉ còn nghe thấy tiếng thở mạnh và tiếng ho khan rải rác. Chung quanh, những vệt thẫm nhạt bất động. Chàng quay đầu nhìn tứ phía, không còn dấu vết hoạt động nào của địch. Chàng cất tiếng hỏi:
“Ra, tiểu đội 1 có ai bị không? Tiểu đội 2?”
Các giọng nói quen thuộc từ bóng tối, trong lùm cây, bờ đất lao xao:
“Vô sự, vô sự chuẩn uý…”
Hiệu thính viên kéo máy lom khom lại gần, đưa ống liên hợp:
Chàng tiếp tục nhìn vào khoảng đen thẫm nhạt bên kia quốc lộ, nói thấp giọng vào máy:
“Vĩnh ba báo cáo vô sự. Địch hướng về hướng sông, phỏng đoán là thám báo địch. Sẽ sang lục soát chiến trường trong năm phút nữa. Chấm hết”.
Chàng cài vội ống liên hợp vào máy, không muốn nghe thêm các âm điện tử lẫn với những tiếng nói xôn xao đòi hỏi. Trăng chưa lên khỏi rặng cây chân trời nhưng một thứ ánh sáng nhàn nhạt, buồn tẻ, bất định đã làm các sự vật bắt đầu có đường nét rõ, gãy gọn hơn. Chàng cất tiếng, giữ cho vừa đủ nghe:
“Tất cả nạp một kẹp đạn mới! Tiểu đội 1 theo tôi”.
Chàng đứng dậy, đầu và nửa thân phía trên chợt mát lạnh trong gió. Ngọn cây phía sau xào xạc, không gian chưa trở lại bình thường trong thứ ánh trăng còn non và nhạt nhẽo. Chàng giơ cao tay hạ xuống ra lệnh, những bóng đen vụt băng qua lộ. Chiếc cầu trắng phía xa, các căn nhà bên kia có những hàng cột đen phía trước chờ đợi. Dưới các mũ sắt, các đôi mắt không là gì hơn một khoảng đen thẫm hơn nhưng chàng biết chúng có đó và đang hướng về chàng chờ đợi. Chờ đợi gì? Một tiếng nổ làm chàng gục xuống hay một cái chết đột nhiên cho họ. Tứ bề vẫn mờ nhạt trong thứ ánh sáng không dứt khoát và khó chịu, chàng nói:
“Chắc chắn tụi nó chuồn hết rồi. Anh ra chia làm hai toán đi lục soát dãy nhà và nghĩa địa. Tôi đợi đây”.
Chàng đặt khẩu súng xuống mặt nhựa, bỏ mũ xuống cố gắng bật lửa châm thuốc. Luồng gió đều đều làm tạt ngọn lửa nóng bỏng trên tay. Chiếc bật lửa rơi xuống tạo một tiếng va ngắn trên mặt đường. Tiếng nói cất lên từ phía sau:
“Chuẩn uý đứng thế, trông rõ lắm”.
Không hiểu vì lý do gì, chàng đột nhiên có cảm tình với giọng nói đó, giọng nói vô danh, gần như không thuộc về một người nào đằng sau, có vẻ như phát sinh từ cái không gian lờ mờ hỗn độn đang bao quanh. Chàng ngồi xuống, kẹp chiếc mũ giữa hai đầu gối, gắng bật một lần nữa, đầu như lọt vào trong mũ khi vùng lửa đỏ bùng lên. Khói thuốc êm ả, mơn trớn làm chàng chợt nhận ra lưng, ngực ướt đẫm mồ hôi, những giọt buồn buồn chạy dài, dừng lại một khoảnh khắc ở thắt lưng rồi biến đi. Các nhà bên kia có tiếng lao xao, chàng lắng nghe, tiếng động vụt im. Tiếng Ra trầm khẽ từ một khoảng trũng bên vệ đường:
“Tụi chúng chắc bị hai tên. Có hai vũng máu sau bếp cái nhà kia”.
Chàng tì một tay ngả người thấp xuống, cố định rõ hướng theo cánh tay Ra. Không gian ánh sáng rõ hẳn lên, mặt trăng tròn đã lên khỏi rặng cây, chàng nhận thấy tấm kim khí trên cổ tay người phụ tá lắc lư theo một nhịp điệu. Hai binh sĩ xuất hiện, hối hả lại gần:
“Tụi chó đẻ, chuẩn uý! Tụi chúng ban nãy đã nấp sau chuồng bò. Chính thằng Vịnh trông rõ ba đốm lửa hướng đó, quật vô một băng trung liên… Làm một con bò chết ngắc, một con ngắc ngư… Chuẩn uý cho gọi chủ bò dậy mổ lấy bán thịt?”
Chàng cúi xuống hút một hơi điếu thuốc để trong lòng mũ, trả lời không suy nghĩ.
“Cũng được. Anh Ra cho trung đội bố trí quanh khu này rồi hãy cho dân ra khỏi nhà”.
Hai bóng đen khuất đi, chìm lẫn vào bóng tối của hàng cây. Tiếng đập cửa vang lên trong vùng yên tĩnh: “Cô bác mở cửa đi! Tụi tôi Cộng Hoà đây!”. Chàng cúi xuống hút một hơi thuốc trong mũ, tiếng gọi và đập cửa lúc rõ lúc mờ theo sức mạnh yếu của gió. “Cô bác mở cửa… Cộng Hoà đây!”. Chàng ngửa cổ cho gió lùa xuống ngực, các giọt mồ hôi se dần trên da. Các tiếng nói lẫn lộn, trao đổi, một vùng ánh đèn xuất hiện làm các bóng người hiện ra thành từng vệt dài trải về phía lộ. Vùng ánh sáng di chuyển về phía chuồng bò, những tiếng động khó xác định xuất xứ bắt đầu nhiều hơn. Chàng như muốn ngái ngủ, ánh đèn di chuyển qua các bóng xuất hiện trên tường làm đứa trẻ là chàng hơi sợ hãi kéo chăn lên trùm kín mít, giấc ngủ đến êm đềm và buổi sáng đến trong tiếng gà mẹ gọi con ngoài sân, những khung vàng nhạt trên vách của ánh nắng mặt trời qua khe hở trên khung cửa căn nhà tại quê cũ. Hơi nóng đầu thuốc bắt đầu toả vào ngón tay, chàng cúi xuống cố hút một hơi chót, buông mẩu thuốc xuống, bốc đất phủ lên từ từ. Chàng đứng dậy.
Vùng ánh sáng rực rỡ hẳn lên khi chàng bước vào sân nhà. Một đứa bé ngái ngủ ngồi thần người trước ngọn đèn nhỏ đặt trên đất, chàng dừng lại một khoảng thời gian, nhận ra đó là một đứa gái tóc rối rủ trên vai áo rách lộ một khoảng da trắng nhạt. Một nỗi xúc động xuất hiện, chàng tự nhủ: Nào có gì đâu, một cô bé gái ngồi ngái ngủ cạnh ngọn đèn dần, chỉ có vậy. Nhưng nỗi xúc động vẫn còn đó, ray rứt và bí ẩn. Chàng băng qua sân, tới tì tay vào một then ngang nhìn vào chuồng bò: một con vật nằm dài mất một bên đùi, một người đàn ông cởi trần ngồi quay lưng lại lúi húi xẻ thịt, thỉnh thoảng bê một khối bầy nhầy vứt vào chiếc thúng. Nỗi xúc động tan biến đi khi chàng nhìn rõ người đàn bà ngồi cạnh thúng, hai tay tì trên đầu gối, bàn tay buông thõng xuống gần chạm đất. Tuyệt vọng và khốn khổ có đó rồi, điều chàng âm thầm lo sợ nó hiện ra đầy đủ như thế với hai vệt nước mắt trên da mặt đã bắt đầu nhăn của người đàn bà. Người đàn ông cởi trần mệt mỏi đứng dậy vặn người, hai bàn tay mở nguyên, giang cách xa thân hình, các vệt máu bết dày đen thẫm óng lên giữa các kẽ ngón. “Giúp tui một chút chứ! Ngồi đó mà khóc ích chi!”. Con bò thứ hai đứng sát vách chuồng đối diện bắt đầu run rẩy dữ dội, hai chân trước lẩy bẩy, các vết đạn thủng lỗ chỗ trên lớp lông vàng bết máu. Một bóng đen lại gần ngay cạnh làm chàng quay nghiêng đầu, nhận ra khuôn mặt binh sĩ xạ thủ trung liên đã chúi đầu bắn cả một băng đạn lên mái nhà. Nửa người trung đội phó đột hiện rõ trong vùng ánh đèn, đôi mắt nhỏ long lanh phản chiếu ánh sáng lộ vẻ điềm đạm, chàng thèm muốn có được thái độ ấy vì nỗi xúc động còn đang tiềm tàng, ray rứt. Có gì mà phải… đã có những dân nào bị chết… Chàng đứng thẳng người dậy, lấy thuốc châm hút. Phải rồi, có lẽ thế, chàng đã dửng dưng nhìn nhiều xác chết nhưng nhìn rõ chúng trong tư thế cứng ngắc, thực chết. Còn buổi tối, khối vô định dưới tấm bạt chiếc giày thòi khỏi sàn xe lắc lư trong vùng ửng đỏ và bây giờ nỗi thống khổ hiện ra kia, con bò run rẩy hấp hối và người đàn bà ngồi khóc. Ra nói với người đàn ông: “Bác mổ con kia đi. Nó sắp chết rồi”. Người đàn ông làu nhàu một câu không rõ, lại gần vách cầm khúc gỗ lớn, nhưng một người đã vụt bước vào đánh ngược báng súng vào đầu con bò. Con vật loạng choạng gục xuống, tứ chi tiếp tục run khẽ. Chàng nhận ra người đánh báng súng là xạ thủ trung liên. Bây giờ đầu hắn cúi xuống, vài đợt tóc dính bết mồ hôi trên trán. Ra nói: “Bán thịt cả hai con được chừng bao, bác?”. Người đàn bà im lặng giơ tay quệt ngang mặt, chàng gọi nhỏ: “Ra, Cát, rút đi thôi…”. Chàng hướng ra phía lộ và khi đi qua đứa bé ngồi trước ngọn đèn, chàng chợt nhớ ra đêm khuya ở quê ngoại, mẹ chàng đặt chàng ngồi cạnh ngọn đèn để giúp người bà săn sóc mấy con heo, bệnh bất ngờ. Mặt quốc lộ như không còn một vết bụi, loang loáng ánh trăng chạy dài về phía cây cầu đúc, chàng vẫy tay cho quân vượt qua khu đất trống, bóng tối của rặng cây cao úp phủ lên làm chàng bắt đầu nghe thấy tiếng dế kêu trong cỏ.
° ° °
Chị nghiêng đầu lắng nghe, không gian đã trở lại bình thường, có tiếng lao xao trong khu vườn bên kia nhà: “Yên rồi… Lên đi”. Đốm lửa đỏ đầu thuốc loé lên soi rõ chiếc mũi bóng loáng mồ hôi của Ba, mùi khói ấm toả ra nồng nặc : “Lên thôi, anh! Hết súng rồi”. Chị giơ đứa con vào hai cánh tay chồng lờ mờ trong miệng hầm, đứa bé mê ngủ quẫy mạnh.
“Nhà có bị sao không mình?”
Tiếng Ba từ một góc tối vẳng lại:
“Không có sao hết”.
“Sao tối nay mấy ổng đánh nhau sớm như vậy há? Trăng mới lên mà”.
Ba không trả lời, có tiếng ly va chạm vào nhau và tiếng nước chảy ở bàn, trăng đã bắt đầu làm rõ các cây cối ngoài vườn. Chị khẽ đẩy đứa bé vào phía trong, ngồi dựa vách nhìn ra ngoài khe cửa. Có tiếng heo ủn ỉn lại gần, chị ghé sát khe nhìn ra, gọi khẽ:
“Hai con heo hổng chịu vô chuồng ngủ!”
“Biết sao. Ra bây giờ dám đụng mấy ổng bất tử…”
Một bàn tay cứng ngắc lẫn mùi thuốc quàng quanh người, kéo chị ngả xuống ván, rồi một sức nặng nóng cứng thoảng hơi rượu phà vào mặt. Chị hoàn toàn buông thả, hài lòng nhưng vẫn thì thào:
“Thôi đi. Đợi chút đi, giờ này dám mấy ảnh tới gõ cửa bắt đi đắp mô”.
“Mô nè!”
Bàn tay Ba làm một bên ngực chị đau tê dại:
“Nhẹ chứ, thằng nhỏ dậy bây giờ!”
… Tiếng Ba còn thở mạnh, chị ngồi dậy khua tay tìm quần. Ba co chân đặt lên chặn lại. Chị cười khẽ:
“Nhậu say, ham dữ hôn!”
Cánh tay lại vòng quanh lưng kéo xuống, chị ngả người theo chiều kéo, mở rộng thân thể chiều đón. Đột nhiên chị nghiêng người, hay tai vít vai Ba bất động, lắng nghe tiếng loa văng vẳng qua vách.
“Thôi xuống đi mình. Mấy ảnh về rồi đó. Để sức mà đi đắp mô”.
Ba úp chụp xuống giữ nguyên chị ở vị trí cũ:
“Mấy ảnh về cứ về. Tui cứ lo việc của tui!”
“Dữ hôn. Một lần rồi chứ nào phải… Nhậu lắm vô rồi lộn xộn hoài với tui!”
Ba thở mạnh nín thinh, nhưng chị không còn hứng thú. Tiếng loa đã nghe rõ hơn giữa tiếng chó sủa, chắc mấy ảnh đã về đến nhà bà Sáu. Chị rướn người chiều ý chồng, tiếng loa cắt đứt từng tiếng lọt qua vách làm thân thể trơ cứng, và khi Ba run rẩy hối hả rồi ngả người lăn sang bên cạnh, chị vội vã ngồi dậy nhìn qua khe. Ba bóng đen băng qua vườn, tiến vào sân. Chị quờ tay lay chồng:
“Mấy ảnh tới kia!”
Ba ngồi dậy, bước xuống đất lom khom mặc quần. Tiếng gõ cửa nhẹ, một giọng nói như cố làm ra vui vẻ và thân mật:
“Mở cửa cô bác! Chưa chín giờ đã đi ngủ dữ đa…”
Tiếng then cửa va lạch cạch, ánh trăng vụt hiện một khung vuông trên nền nhà. Chị nhìn qua vai chồng, cố nhận diện ba hình đen thẫm đứng xoay lưng lại ánh trăng, một tiếng ho nhẹ gần như quen thuộc. Giọng nói cũ tiếp tục:
“Phiền anh chị ra mần mấy cái mô… Cho tụi tay sai đế quốc Mỹ ngắc ngư chơi”.
Một tiếng cười nhỏ chấm dứt câu nói, trơ trọi lạc lõng, Ba nín thinh đứng im, chị nín thinh nghĩ tới nỗi mệt mỏi từng nhát cuốc bổ xuống đất cứng tê dại cánh tay trong bóng đêm, mồ hôi chảy ra ướt đẫm vai lẫn sương đêm và sáng hôm sau từng toán quân vào xã thu thẻ kiểm tra với một câu nói nửa mời mọc nữa đe doạ: “Phiền cô bác ra phá giùm mấy cái mả Hồ Chí Minh cho xe đò lưu thông, đồng bào buôn bán làm ăn chút chứ… Tụi tôi đợi trả thẻ cô bác ở lộ”. Cứ như thế bao lần rồi, chị mỏi mệt nhắm mắt lại, người như muốn rã rời. Tiếng chân Ba bước nhanh lại góc nhà, ánh trăng mất vật cản ùa vào mặt và vẫn một tiếng ho quen thuộc ấy làm chị mở bừng mắt cố nhận rõ mặt người đàn ông từ lúc đầu vẫn đứng dưới bực thềm, bất động. Ba lại gần cửa, tiếng thuổng va vào cột vang động như một nỗi bực tức không dám thổ lộ. Chị nói:
“Thôi mấy anh cho tui ở nhà bữa nay. Tui đang đau, cả đứa nhỏ nữa”.
“Thôi mà. Anh chị ráng chút chút, đóng góp cho giải phóng nhân dân… Đừng có lo! Tụi chúng không dám bắn vô đầu đồng bào đâu. Mấy bữa trước tụi chúng bị đồng bào kéo lên kiện trên quận vì bắn vô xã đó, còn ớn mà”.
Tiếng nói từ bóng đêm đứng ngoài thềm cất lên, thật quen thuộc làm chị sững sờ:
“Thôi, để chị ở nhà bữa nay. Đứa nhỏ đau mà”.
Xúc động đột ngột dâng lên làm chị nghẹn ngào, bàng hoàng. Đúng Hải, đúng Hải rồi, Hải chưa chết và đêm nay trở về đứng ngoài thềm trong ánh trăng với những tiếng ho dè dặt. Chị hơi rướn người về phía trước như để nhìn rõ hơn khuôn mặt chìm trong bóng tối, tiếng loa gọi theo chiều gió lan tới, những người đàn ông im lìm khoảnh khắc như ngủ thiếp. Không ai nói gì thêm và chị đứng đó cứng người ra, thân thể Ba bên cạnh chỉ còn như một cái cột, một vách tường, những bóng đen ngoài hiên như cây cỏ trong vườn. Ba thở dài thật khẽ bước qua bực cửa, lẫn vào trong những bóng đen, lưỡi thuổng loang loáng hắt ánh trăng. Chị mơ hồ thấy đất lạnh thấm vào gót chân, cơ thể thôi rướn căng về trước, Hải đã trở thành bóng đen mờ mịt tan lẫn vào khu vườn, khoảng hiên trắng dưới ánh trăng yên tĩnh. Chị bước ra ngoài ngồi xuống bậc thềm, hơi đất thấm vào mông vào đùi, ánh sáng trăng tứ bề, trên tóc, trên bàn tay, trên nỗi xao xuyến mong ước và tuyệt vọng. Hải đó, chưa chết và trở về như một bóng đen trên thềm đất, như một lôi cuốn tàn bạo làm người chị rũ rượi như khi tiếng súng uy quyền bắt chị lết xuống căn hầm nồng mùi đất ẩm mùi thuốc lá của chồng. Hải đã trở lại, Hải của buổi trưa ven sông lao vào Tía chửi rủa đấm đá túi bụi và chị đứng sững sợ hãi, muốn can hai kẻ, muốn chạy, muốn kêu. Hải của đồn bốc cháy ngùn ngụt, Hải chạy băng qua ruộng mía, sờ soạng vội vã và lục lạo, co quắp sức mạnh trên thân thể chị trên lớp lá cây xào xạc trong bóng đêm. Tiếng loa, tiếng ồn ào rầm rì từ phía trụ sở hội đồng xã vẳng lại, chị ngồi im trên thềm, ánh trăng rải đầy trên sân trên lá cây, lắng nghe tim đập khắc khoải. Chị ngồi im trên thềm, chờ đợi. Chờ đợi Hải sẽ trở lại, chị biết thế, hắn sẽ phải trở lại để sờ soạng, co quắp sức mạnh trên thân thể chịu đựng chiều đón. Không thể tuyệt vọng hơn được, mọi sự sẽ phải đến như thế. Tiếng loa, tiếng ồn ào rầm rì, tiếng chân người lan dần về quốc lộ. Da thịt khe khẽ ướt át nhờn trơn, mông bắt đầu ê ẩm, chị muốn đứng dậy ra vại nước tắm, chị muốn đổi thế ngồi, ánh trăng làm lo âu tăng cao dần, chị muốn lùi vào nhà, ẩn dưới hiên, trong bóng đêm. Nhưng cơ thể vẫn bất động, ánh trăng trên đất trên lá cây, tràn đầy trên tóc trên tay, trên nỗi chờ đợi đến tuyệt vọng một bóng đen sẽ từ bụi rậm, bờ cây xuất hiện như một sức mạnh co quắp phải đón nhận trên thân thể đang tê dại, rũ rượi, nhờn trơn.
Vũ vẫy tay ra hiệu cho quân rời vườn, vào lộ. Chiếc đồn nham nhở ám khói đã hiện ra, người lính gục trên vọng canh bất động như ngủ thiếp. Khu chợ nằm đối diện bên kia lô, một cái chợ quê thông thường như bao nhiêu chợ khác đã đi qua, nhưng trông thấy nó chàng vẫn thấy vui thích, những vui thích giản dị chẳng có gì nhiều: một chai bia có đá cho những giọt mồ hôi đang chảy dọc người, một ly cà-phê túi bốc khói vào sáng sớm và buổi chiều, một tờ báo hàng ngày tới vào lúc gần tắt nắng chàng không bao giờ đọc kịp trang tư vì hoàng hôn quá ngắn và ít khi có dịp được đóng quân nơi thắp được đèn.
“Đóng chỗ cũ. Nấu cơm ăn ngay đi cho chắc”.
Chàng gật đầu mỉm cười với bà chủ nhà, tháo túi đeo lưng đặt dựa vào vách, mở nắp lấy khăn. Nước mát vỗ tung toé trên da mặt khoan khoái và êm tĩnh. Những người lính đi lại, những chiếc khăn đưa lên lau cổ, những chiếc nồi lọ đen lắc lư. Ở góc vườn, một binh sĩ bắt đầu nhóm bếp dưới gốc cây đu đủ, một làn khói xanh mỏng bốc lên theo mái tranh đầu hồi. Cơn gió lùa qua nhà máy xay làm những lá cây lật ngược sáng lên dưới nắng, bao phủ một lớp mát quanh thân thể, tạo một cảm giác an ninh êm ái trong tiếng động cơ một xe hơi nổ nhỏ dần. Chàng tháo dây đạn đặt lên túi đeo lưng dựng sát vách, cầm súng đeo lên vai đi lại chợ. Trời xanh không mây trên cao, nắng lấp lánh trên nhựa đường sạch bụi bốc khói như hơi toả. Quán ăn Tàu nằm gần sát quốc lộ, bàn ghế quét vec-ni nâu sẫm, ly đựng ớt lau sạch và nước giấm trong làm những khoanh ớt thái mỏng đỏ ửng lên. Chàng tựa người vào tường chân gác lên ghế nhìn các mảng tường và mái đóng mốc đen bên kia đường, uống liên tục ly bia từng ngụm nhỏ, nghe luồng nước mát thấm vào bụng từng đợt. Hai chiếc xe hàng rồ máy chạy qua, làn khói xanh từ ống thoát hơi toả mờ dần. Chàng đặt ly xuống châm thuốc. Người trung sĩ ngồi bàn bên cạnh cất tiếng:
“Đại đội hôm nay về sớm thế chuẩn uý? Mới có bốn giờ”.
Vũ quay lại:
“Lâu lâu cũng phải có chiều thong thả… Còn tắm rửa, uống bia, đọc báo một chút chứ. Cứ kéo lên kéo xuống con đường này hoài!”
“Cuối tháng này đại đội chuẩn uý đổi phiên cho đại đội I. Sang đó tuy nằm trong rừng nhưng giữ đồn thì khoẻ hơn”.
“Dĩ nhiên rồi”.
Một quân nhân xuất hiện sau ụ đất cửa đồn, phù hiệu cấp bậc trên ngực phản chiếu ánh nắng buổi xế trưa, vạch vải trắng bảng tên nổi rõ trên áo trận. Vũ theo dõi hình dáng xa lạ ấy len lỏi theo lối đi chữ chi giữa hàng rào kẽm gai, quay lại hỏi viên trung sĩ:
“Sĩ quan mới tới đấy phải không?”
“Chuẩn uý Định, bổ sung cho đại đội chuẩn uý đó. Trông cũng có đường lắm”.
Định bước vào quán, ngần ngừ nhìn chung quanh. Các bàn đều có lính ngồi, súng gác ngổn ngang trong tầm tay. Vũ lên tiếng:
“Mời anh ngồi đây. Tôi là chuẩn uý Vũ, đại đội 3. La-de chăng ông bạn?”
° ° °
Tía vụng về hôn, hơi thở dồn dập buồn buồn trên thái dương làm chị quay mặt đi, đôi môi đưa ngang tầm người đàn ông. Chị nhắm mắt lại khi làn da bắt đầu tiếp xúc với môi Tía khô và nóng, thân thể rung nhè nhẹ. Một vài lần đi coi chiếu bóng ngoài tỉnh, chị đã thấy đàn ông đàn bà hôn nhau rất lâu và có vẻ sung sướng, ngày xưa Tía cũng đã hôn chị nhưng ngắn và nhẹ trên má. Nỗi rung cảm mới lạ làm chị mong Tía giữ nguyên vị trí lâu hơn, lâu hơn nữa. Nhưng chị bắt đầu ngạt thở và lo lắng:
“Thôi, hôn chi mà dữ…”
Tía cười, không còn vẻ lúng túng nào trong dáng điệu, tự tin như khi ngồi sau bàn tại trụ sở hội đồng xã. Chị bắt đầu bỡ ngỡ khi nhận ra mình trở thành rụt rè trước người đàn ông quen thuộc. Tía nói:
“Mới có thế đã kêu dữ… Thế này mới…”
° ° °
Vũ xoay cái ly cho hơi lạnh thấm vào da tay:
“Tôi không hiểu anh đấy, anh Định. Tôi tình nguyện đi Thủ Đức, ở đơn vị tác chiến là chuyện dĩ nhiên, còn anh… Từ ngày tới sư đoàn này, hơn một năm rồi, anh có biết tôi ngủ trên giường bao lâu không? Mười sáu lần, mười sáu ngày phép!”
Định giữ nguyên dáng ngồi, tiếp tục nhìn ra lộ:
“Mệt nhỉ”.
“Ở miền này còn khá. Trước trung đoàn này ở miền dưới, lội bùn tối ngày. Quần áo nhớp nhúa, mồ hôi, nước sông, bùn cứ thế trộn lẫn. Có khi cả tuần không có dịp thay quần áo”.
“Tôi có ở Hậu Giang một năm trước khi động viên”.
“Ở như một dân chính thời bình! Anh có biết bùn với dân tác chiến là cái gì không? Một chất lầy nhầy hôi hám lúc nhúc, mồ hôi đổ ra ướt đẫm người để đi năm chục thước, chân lún sâu tới đầu gối là tối thiểu. Anh biết không, rời cái miền ấy một tháng rồi tôi còn nằm mơ thấy mình bị tụt xuống bùn. Lút đầu!”
Định giữ nguyên dáng điệu nhìn ra quốc lộ, hỏi:
“Thế rồi sao nữa?”
Nỗi tức giận, không phải tức giận con người mới tới ngồi kia, không phải tức giận bộ quần áo nhớp nháp đang mặc, xâm chiếm ồn ào thân thể. Vũ làm hai ngón tay chàng bóp nát mẩu thuốc hút dở. Nỗi mệt nhọc của một đêm ít ngủ, những giọt máu trên cỏ của hai biệt động quân bị thương buổi sáng, những cực nhọc kéo dài ngày này qua tháng khác, những trận đánh xảy ra làm xáo trộn tâm hồn, những tiếng kêu của những người bị thương, những mảnh thịt nát bấy, tiếng trực thăng ù ù tản thương, những giọt máu rơi bắn tung trên tay, mồ hôi chảy dọc người tầm tã, tất cả, tất cả những cái ấy, những thứ đó… Vũ vụt buông khỏi miệng một câu hỏi như một lời nguyền rủa:
“Thế anh xin đến cái đơn vị này làm cái gì?”
Định quay lại nhìn rồi quay đi, tiếp tục ngó con lộ, hàng rào kẽm gai phía bên kia, im lặng. Vũ thoáng thấy, chàng không chắc chắn có phải đúng thế không, trong cái nhìn vừa rồi một vẻ buồn bã. Nỗi giận dịu xuống, Vũ cầm ly lên uống nốt phần bia còn sót, hỏi mỉa mai dù không định tâm:
“Ghét Cộng thế sao anh Định?”
Định cười. Nụ cười điềm tĩnh, không châm biếm, không chế nhạo làm Vũ tự dưng cảm thấy chàng đang đối thoại với một thứ người khác giống, một loại người không cùng một ngôn ngữ với chàng. Định nói:
“Tôi đã nói với anh rồi. Chắc là tôi không hiếu chiến hay ghét Cộng hơn anh đâu”.
Bàn tay Tía mở rộng úp lên một bên vai, những ngón như giãn ra, muốn dài vô tận trên da thịt. Chị cảm thấy ẩm ướt lạnh của mồ hôi, nhờn trơn như muốn thấm vào da, đúng thứ nhờn lạnh này, bàn tay Hải đêm hôm ấy, đêm hôm đồn bị đốt. Những nhờn trơn của mồ hôi, những ngón tay quều quào, vẫn chúng. Nỗi kinh sợ quá khứ làm chị rùng mình nhắm nghiền mắt lại, cố gắng tìm lại khoái cảm của những vuốt ve đầu tiên. Nhưng cố gắng thất bại, chị vùng lăn người sang một bên ngồi dậy, quấn lại tóc. Thằng Bê đứng bậc thềm nhìn vào, mắt đen láy bập bẹ:
“Má… má”.
Chị cài lại cúc áo, bước xuống đất ra bồng con không buồn ngó người đàn ông. Ngoài sân, trái mít khô nằm lăn lóc cạnh vại nước.
Một lần nữa một câu hỏi không muốn mỉa mai định ý thoát ra khỏi miệng Vũ:
“Chắc anh thất tình?”
Định cười. Vẫn nụ cười điềm tĩnh, không châm biếm, không chế nhạo làm Vũ vẫn cảm thấy đang đối thoại với một kẻ không cùng sử dụng một thứ ngôn ngữ với mình. Định trả lời:
“Tôi có vợ rồi và còn yêu vợ”.
Yên cùng Hac-đy mặc quần cụt áo lót trắng bước vào quán cùng lúc với hai người dân mặt đỏ bừng đi loạng choạng. Người già mặc quần đen hở rốn lắc mạnh đầu, chỉ Hac-đy cười lớn, hàm răng vàng chỉ còn mấy cái phía trong.
“Chào ông Mỹ! Ông đi uống rượu …”
Hac-đy cười theo, vỗ lên vai trần, cố nói thật rõ một câu tiếng Việt:
“Chào… cụ. Cụ đi… uống rượu”.
Câu nói sai dấu làm cả quán cười ồn ào. Yên nhắc lại câu nói, Hac-đy lắng nghe rồi bắt chước. Ông già cười, kéo người dân đi cùng ngồi xuống ghế, phân bua với Yên.
“Thằng Ba cãi lộn với con vợ nó. Nó lôi tôi đi nhậu hoài từ trưa tới giờ đó”.
Yên nhại giọng cụ già, hỏi:
“Thế rồi bác đi nhậu về say, lại cãi lộn với bác gái ở nhà nên lại ra đây uống nữa chớ gì?”
Định hỏi:
“Ông già ở đâu đấy?”
Vũ đáp:
“Xóm dưới kia. Lò rèn chỗ khúc quanh là của ông”.
Ông già quay sang phía Ba đang ủ rũ uống ly đế người hầu bàn mới mang ra:
“Thôi chú! Chú nghe qua đây. Con vợ nó hư thì chú oánh lộn với nó chứ. Can chi mà buồn dữ vậy ha”.
Tiếng Tía vang lên từ sau lưng:
“Sao em kỳ vậy?”
Chị im lặng một thời gian, ngần ngừ trả lời:
“Tui không biết”.
Vũ làu nhàu:
“Thật trái cựa! Tên nào ở đây cũng muốn đổi về chỗ yên hết. Anh thì lại đâm đầu ra đây. Thôi, cũng có cái hay là thêm anh, chắc tôi xin đi phép được tuần này”.
Định cười:
“Như vậy là tôi cũng có ích, sao anh nhăn nhó hoài vậy?”
“Tôi không có lý do để nhăn nhó với anh. Anh biết điều đó mà”.
Vũ giơ tay vẫy người hầu bàn:
“Cho chai la-de lớn nữa. Lẹ lên bồ! Anh nên bỏ lon ra trước khi nhận trung đội, nếu không thì một tuần sau sẽ được đeo lon cố thiếu uý”.
“Tôi còn đeo ngày hôm nay để lính biết tôi là cái gì, khỏi phải giới thiệu”.
“Còn bảng tên, phù hiệu đơn vị cũ…?”
“Để thiên hạ biết tên luôn và biết tôi ở đâu đổi đến, khỏi hỏi!”
Vũ rót bia vào ly thật chậm để bọt khỏi bốc lên:
“Cái gì cũng có lý do vậy hả? Mai kia tử trận chắc cũng tuyên bố lý do trước khi tắt thở, ông bạn?”
“Có chứ. Lúc ấy có lẽ tôi sẽ biết là tại tôi yêu đời sống quá chưa biết chừng”.
Chị quyết định, thật dứt khoát. Trái mít khô đặt vào tay thằng Bê đang bò lê la dưới đất, cánh cửa liếp kéo lại, chị nói với Tía:
“Anh lau tay cho hết mồ hôi đi. Rồi muốn làm gì thì làm. Đừng có rờ rẫm…”
Hai tiếng nổ lớn làm ly bia trên tay Định nghiêng đổ ra ngoài một đợt bọt. Tiếng súng kế tiếp nổ liên hồi sau chợ. Yên chạy băng qua lộ vào đồn, Hac-đy chạy sau, cái mông to nhiều mỡ lắc lư giữa hàng rào kẽm gai. Vũ nhào ra khỏi quán, Định cầm súng chạy theo, cơ thể náo nức chờ đợi. Chờ đợi cái gì, chàng không biết, có lẽ một trận đánh, hay là một cơ hội để đối diện với chính mình.
Vũ la lớn vào phòng thông tin đang có những làn khói bốc ra:
“Thôi bắn! Chúng chạy hết rồi còn bắn cái con khỉ gì. Dập tắt lửa đi cho tôi!”
Định bước vào phòng đầy những mảnh gỗ và vữa vụn nát. Hai binh sĩ đương lấy chân giẫm lên đống báo còn bốc khói. Một binh sĩ đang tì người trên bàn như ngủ, vụt tuột xuống ngã lăn ra sàn. Bàn tay kéo dài như vô chủ quệt một vệt máu không đều trên mặt gỗ. Vũ làu nhàu:
“Thế là hai tên bị. Chẳng ra cái thống chế gì hết!”
Định vịn lên cổ súng quỳ xuống, đưa tay kia luồng qua khe áo đặt lên ngực người lính nằm dài. Một chất nóng nhớp nháp phụt qua khe tay. Chàng rút ra, quay đầu lại nói với Vận đang lúi húi quấn băng quanh đầu một binh sĩ mặt ngơ ngác:
“Chàng này bị vào ngực. Máu ra nhiều quá, anh nên băng cho hắn ngay đi”.
Chị giật bắn mình, ngẩng đầu nghe ngóng:
“Đánh đồn nữa rồi”.
Tía dằn chị xuống, bàn tay tiếp tục lục lạo. Chị nghiêng người vùng dậy:
“Đụng tui nữa, tui la làng đó!”
Chị bước xuống đất, xốc lại quần áo, cúi bồng con, mở cửa liếp bước ra sân. Tiếng súng đã im. Chị quay lại hỏi Tía:
“Anh gặp chồng tui ở quán nào, chỗ ngã ba hay ngoài chợ?”
Định đứng dậy, chùi tay vào tờ báo trên bàn. Hy cúi đầu trên C.10 liên lạc với đồn, Vũ ngậm điếu thuốc trên môi, tay lục túi tìm bật lửa. Định hỏi:
“Kết quả?”
“Tụi nó phóng thật hay. Từ bờ tre đến đây gần hai trăm thước, chúng làm hai trái trúng cả hai. Một lửa một thường. May trung đội tôi trực hôm nay, đóng bên kia, chứ không cũng lãnh đủ”.
Hy nhăn nhó đưa ống liên hợp cho hiệu thính viên, thở dài đứng dậy:
“Hai bị thương, còn thì vớ vẩn đại khái mà Đại bàng đang la vỡ đồn trong kia. Rủa tôi tùm lum: Làm ăn cái con quái quỷ gì mà mới năm giờ chiều đã để tụi chúng tung hoành như vậy”.
Định hỏi Vũ:
“Lính gác giặc không trông thấy thì sao?”
Hy làu nhàu:
“Rồi anh Định sẽ thấy! Bảo chúng cắt gác cẩn thận ban ngày thì không chịu, coi thường. Lúc thấy có người chết thì sợ. Rồi anh sẽ biết, anh sẽ mệt vì quân mình hơn vì quân địch”.
Định gác súng vào mép bàn, ngồi xuống ghế gọi chủ quán:
“Cho tôi một ly cà-phê đen”.
Da tay dính trên gỗ súng, chàng giơ lên coi: máu còn đọng cứng giữa các kẽ ngón. Chàng đứng dậy cầm ly bia ra cửa quán, xối rửa. Chiếc Jeep tản thương rồ máy, Vận la lớn:
“Không được đâu, hết chỗ rồi”.
Người đàn bà oà khóc lớn tiếng, chắp hai tay vái lia lịa:
“Thiếu uý làm phước chở giùm… Tui chỉ còn có một mình nó. Thằng anh nó đã chết vì mìn tháng trước… Thiếu uý làm phước…”
Vận làu nhàu:
“Rồi! Bác cho em lên đây. Bị thương sơ sơ thôi, bác đừng lo”.
Binh sĩ ngồi cạnh tài xế bước xuống theo lệnh Vận, người đàn bà bế đứa bé quanh đầu quấn băng dính máu và thuốc đỏ leo lên xe. Vận vẫy tay, chiếc Jeep lao ra lộ. Chiếc GMC chở quân hộ tống rồ máy chạy theo. Vận bước vào quán, nhìn Định:
“Không mở đường kịp. Dám bị chúng cho một mách trước khi tới quân y viện lắm”.
Định chùi tay vào quần cho khô, đẩy ly bia uống dở về phía bạn, khu chợ đã trở lại bình thường, một vài hàng tạp hoá đã mở cửa lại. Vận đưa tay lên chùi mồ hôi trán:
“Dân ở đây kỳ cục. Bị sơ sơ thì đi xe ba bánh lên tỉnh có phải chắc ăn không. Đòi đi xe nhà binh, dám chưa chết, mìn một phát thành chết ngắc”.
Định hỏi:
“Tổng cộng bao nhiêu người bị, anh Vận?”
“Hai binh sĩ bị thương nặng vừa tản thương đó, hai xoàng. Thường dân bốn bị thương, nhẹ nhất là đứa nhỏ vừa rồi. Tụi khốn! Bắn vào giữa chợ, không có thương ai gì cả”.
Định cúi đầu, ly cà-phê bốc khói, nắng buổi chiều đọng một lớp vàng long lanh như chất sữa trong chiếc ly buổi sáng. Anh tưởng anh sẽ tìm được cho anh cái gì ở đó? Không có gì đâu anh, không có gì hết đâu anh! Chàng nuốt ngụm cà-phê nóng bỏng và đắng, nhận ra rằng từ lúc có tiếng nổ cho tới khi tản thương xong, chàng không suy nghĩ gì cả. Cầm súng chạy theo Vũ, tì súng vào cột bắn vào bụi tre phía xa, vào phòng thông tin đặt tay lên ngực người lính bị thương, thân thể chàng cử động tự nhiên và tách rời khỏi tâm trí. Không, chưa thấy gì, chưa tìm thấy gì. Những giọt máu dính vào tay, chùi đi, rửa đi, thế là hết. Không có gì đâu anh, không có gì hết đâu anh! Em biết thế, em là đàn bà và em yêu anh. Không, chàng đã thấy… Đã thấy gì, một kích thích, một ham muốn chiến đấu, đúng thế, khi tì súng lên cột, chàng đã mong địch tràn ra xung phong. Chỉ có thế thôi, chất lỏng đen đằng trong miệng làm chàng thèm muốn một điếu thuốc, nỗi thèm muốn rõ rệt, đòi hỏi. Chàng châm lửa hút, hưởng thụ khoái cảm của làn khói trong cuống họng đúng lúc, như khi vừa làm tình xong, thân thể còn bải hoải và miệng còn dư vị nước bọt người đàn bà. Trong không gian khép kín của căn phòng, làn khói ứ đọng mờ dần có vẻ như thấm vào từng sợi vải, thớ gỗ lớp vôi phủ vách tường. Tiếng Linh nói nho nhỏ xen kẽ tiếng mở nút chai nước hoa bé xíu lấy từ chiếc xắc tay: “Mỗi lần ở nhà anh về, quần áo em đầy mùi thuốc lá. Về chưa ngồi xuống ghế, cụ bà đã biết là đã tới anh… Mấy lần em bị mắng vì thế”. Chàng cứ ngạc nhiên về nhận xét của nàng, chàng chỉ nghĩ tới giữ quần áo nàng cho phẳng phiu bằng cách đưa vào sau bức màn, lấy áo dài và quần ra là hộ. Ấn chiếc bàn là theo từng phần dụng cụ bao phủ thân thể thiếu nữ trong không gian mờ sáng của căn phòng đóng cửa và không bật điện, ý thức sự hiện diện, sự bộc lộ cơ thể chưa khám phá tận cùng bên kia bức màn, chàng tìm thấy một liên lạc chặt chẽ và ấm áp với Linh, một liên lạc ràng buộc không thể tìm được nơi khác, lúc khác. Chàng thường chỉ để cho Linh một phút để mặc bộ quần áo vừa là lại tung qua bức màn để nàng phải mặc ngay lớp vải nóng bỏng vì hơi điện, để sau đó nàng bước ra xuýt xoa kêu ca và khuôn mặt đỏ hồng lên, lấm tấm những điểm mồ hôi trên trán. Vũ bước vào, lẳng lặng ngồi xuống ghế. Định đưa tay lên ngửi: không còn mùi máu. Chàng tự hỏi người bị thương sắp chết có ngửi thấy mùi máu của chính mình hay không. Vũ nói:
“Đại bàng nổi cơn nóng lạnh quá xá. Mới đầu còn không chịu cho tản thương ngay bằng xe, sợ kích chết thêm”.
Vũ cầm bình trà trên bàn, cười mệt nhọc:
“La thì la vậy. Rốt cuộc sau cùng không những tản thương lính mà còn tản thương luôn cả dân nữa”.
Định hỏi:
“Anh có xin được nghỉ phép không?”
“Được. Bốn ngày. Sáng mai bàn giao trung đội cho anh xong là đi phép. Khi về, tôi sẽ làm đại đội phó đại đội chỉ huy của trung uý già lẩm cẩm. Sáng mai tôi sẽ đi nhờ xe cố vấn Mỹ về tỉnh”.
Vũ cố gắng giải thích. Mai đi phép: bốn ngày xa đơn vị, xa vùng chiến trận, bốn ngày thoả mãn sinh lý. Nhưng chàng dù cười, dù nói nhiều, nỗi vui sướng vẫn như bồng bềnh bên ngoài chàng. Trở về nhà qua ngõ hẹp có cây trứng cá lớn, đứa con chạy ra, bữa cơm trưa ồn ào và sau đó chiếc màn kéo ngăn đôi căn buồng, Bích và chiếc háng của nàng và con vật háu ăn hùng hổ để rồi sau đó mồ hôi toát ra đầy người ngủ thiếp đi trong làn hơi nóng từ mái tôn toả xuống. Buổi tối đi xem chiếu bóng về, lại tìm tòi giây phút khoái cảm ngắn ngủi, thoảng qua như vệt tàn thuốc rơi trên mặt đất. Chàng có ý nghĩ so mình với một con trăn, lâu lâu ăn một miếng mồi lớn, ăn xong nằm tiêu hoá hàng tháng. Thật không còn gì khi đàn bà chỉ là một con vật cái. Chàng tự hỏi bây giờ có dịp làm tình với Oanh, sẽ tìm thấy gì. Chàng quay lại hỏi Định đang im lặng ngó khoảng không trước mặt:
“Nếu có dịp, có nên ngủ với người yêu xưa kia không, anh Định?”
“Cái đó tuỳ”.
“Trường hợp người ấy xa mình còn trinh và đi lấy chồng đàng hoàng?”
“Tôi cho rằng không nên bởi vì đổi một kỷ niệm đẹp lấy một cái tam giác, bao giờ cũng lỗ”.
Vũ suy nghĩ. Không, bây giờ nếu chàng làm tình được với Oanh, chàng không có gì để lỗ vì chẳng có kỷ niệm đẹp để mất đi. Nhưng cũng có thể là lỗ vì chàng còn có một nuối tiếc. Định hỏi:
“Tôi nghe đồn lính nào sắp chết có thể biết trước hay linh cảm. Có đúng không anh?”
“Tôi không biết. Cho tới giờ, chôn khá nhiều đồng đội rồi, tôi chưa thấy anh nào chết mà linh cảm được trước. Chỉ có điều lính kiêng nhất là úp mũ lên súng như thế này!”
Vũ cầm mũ sắt úp lên nòng súng nhô cao khỏi mép bản. Định cười, bắt chước cầm mũ lưỡi trai đội lên súng mình, nhắc lại câu nói:
“Như thế này…”
Đột nhiên Vũ bắt đầu có cảm tình với người đồng đội mới vì hành động vừa qua, chàng nói vui vẻ:
“Mai tôi về Sài Gòn, anh cần nhắn gì với bà xã không?”
° ° °
Chị vùng ôm lấy chồng khi người đàn ông vừa bước qua ngưỡng cửa, mắt đang chớp mở tìm quen với bóng tối trong buồng. Chị khóc nức nở trong vòng tay ngỡ ngàng của Ba, toàn thân như muốn trải dài ra tìm nơi nương tựa.
“Coi kìa! Tôi có nói chi nữa đâu, sao em khóc dữ vậy?”
Những đau đớn tích luỹ từ bao giờ, tiếng má la hét đau đớn trên mặt phản, những lời đôi co với Ba, những vuốt ve nhờn trơn mồ hôi của Tía ùa tới làm thân thể như muốn cong gập lại như một con sâu bị kim xuyên qua. Chị nghẹn ngào, khóc không sao ngừng được. Những đầu gối, những đôi giày cao cổ, cặp mắt gườm gườm, hai ba bốn năm cặp mắt gườm gườm từ bốn tường đồn xáp lại bao quanh, lớp lá khô gồ ghề dưới da lưng đùi mông và thân thể Hải quằn quại áp nặng bên trên, giọng nói như van xin của Uông trong bụi cây ven sông khi chị nằm yên đó, thân thể mở rộng với chiếc quần vắt ngang ngực. Chị khóc lớn hơn, đứa bé hét theo, Ba như sợ hãi, lắp bắp:
“Coi kìa!… Con nó khóc kìa”.
Chị buông Ba ra, đứng dậy bồng con ra sân, chùi nước mắt ngồi xuống cạnh vại nước. Nước bên trong phẳng lặng lấm tấm vài hạt bụi và một chiếc lá khô nhỏ hơi lay động. Chị nhìn bóng khuôn mặt mình lờ mờ, đằng sau trên cao những đám mây còn trắng trên nền trời. Một giọt nước mắt rớt xuống làm khuôn mặt tan vỡ, chị mím môi cố ngăn những nức nở từ lồng ngực đưa lên. Không muốn, má ơi má, con không muốn như thế. Con không muốn… Một giọt nước nữa rớt xuống. Má chết rồi, chết chôn ngoài gò cuối làng, mái tóc xoã ra khỏi cáng và bết máu. Sao má khóc nhiều thế, má khóc giấu một mình sau bếp, ngoài vườn. Chị vục gáo múc nước ra chậu, khuôn mặt mờ ảo vỡ nát không còn vết tích, chị khoắng mạnh những lá rau trong chậu, vớt thành bó để lên thớt thái. Chắc chắn như thế đó, chắc chắn từ giờ sẽ để cho Tía… Chị sẽ là người đàn bà có chồng còn ngủ với trai. Trai nào? Gã trưởng đồn gườm gườm, Hải đè nặng đau đớn hay Uông năn nỉ bên trên thân thể mở rộng chiếc quần vắt ngang. Chị bê rổ rau đã rửa xong vào bếp, nhóm lửa. Ngọn lửa đỏ bập bùng, làn khói xanh dày đặc trước cửa bếp. Nhìn qua vách thấy Ba nằm như ngủ trên phản, chắc ảnh say rượu rồi, chị quay lại ngồi ngó lửa, bắt đầu khóc như một ngày đã lâu chị thấy mẹ ngồi khóc một mình như thế, cũng ở chỗ này. Những giọt nước nóng rớt xuống chân xuống đùi, chị ngồi lặng đi không nhúc nhích trong một không gian đầy dẫy tan vỡ không còn biết bấu víu vào đâu. Trước Ba đã có những cặp mắt gườm gườm trong đồn, tiếng la hét trên phản của má, có Hải có Uông, bây giờ thêm Tía hay thêm ai nữa cũng thế mà thôi. Chị chẳng còn gì để giữ để cản nữa khi thân thể căng nóng lên với một người hay nhiều người đàn ông khác nữa. Nghiêng đầu xuống thổi cho lửa bùng lên, chị nghe thấy tiếng một giọt nước rớt tan trên than tro.
° ° °
Định lách đầu lưỡi lê vào khe vải, rọc đứt các đường chỉ khâu phù hiệu vai áo. Người lính ngồi ghế bố bên kia hỏi sang:
“Chuẩn uý ở lại đại đội chỉ huy à?”
“Không, tôi ra đội ngoài kia. Ở lại đồn đêm nay thôi”.
“Chuẩn uý động viên phải không?”
“Sao anh biết?”
Người lính cười, đưa tay xoa bộ ngực trần:
“Thấy chuẩn uý mang theo nhiều sách thì biết. Ông Vận trợ lý, động viên đấy, cũng bao nhiêu là sách”.
“Anh đi lính lâu chưa?”
“Ba năm ba tháng. Quân dịch mà chuẩn uý. Mấy tháng trước em buồn ghê hồn, bây giờ cũng nguôi ngoai rồi”.
Định một tay kéo căng vải áo, tay kia lách mũi lưỡi lê vào khe bảng tên trên ngực:
“Cái gì rồi cũng phải quen đi”.
“Quen đi đâu, chuẩn uý. Hồi đầu năm con vợ ở quê nó đi lấy chồng”.
“Vợ hả?”
“Không hẳn thế, chuẩn uý. Bà già định đợi em hết quân dịch là về cưới. Nhưng nó không đợi được nó đi lấy chồng từ hồi ấy rồi. Em buồn hoài, chuẩn uý”.
Định cầm mảnh vải lên ngắm hàng chữ thêu tên bằng chỉ đen. Linh đã thêu cho chàng vào buổi sáng trong khu tiếp tân quân trường, ngồi trên bậc thềm ở phía sau nhà chòi, Linh đã vừa cắt bánh vừa nói: “Em thêu cả tuần mới xong đó. Anh đi lính mà điệu quá đi. Biên bằng bút nguyên tử như mọi người không được sao, bắt em thêu gần chết”. Giọng nói bông đùa của nàng vang như một tiếng vọng, chàng dò xét từng đợt hơi ấm từng sự di chuyển nhẹ của từng thớ thịt sau làn lụa quần thấm vào bàn tay chàng những ngón mở rộng. “Anh ăn bánh đi. Cầm hai tay không rơi bây giờ”. “Muốn anh bỏ tay ra thì cứ nói. Dùng mưu không nổi đâu”. “Thế anh buông ra đi! Từ hồi nhập trường, cứ gặp nhau là anh ôm em ác quá đi”. Chàng đưa miếng bánh lên miệng cắn: “Mười lăm hôm nữa sẽ làm lễ gắn an-pha rồi, anh…”. Mái tôn che khuất nửa người trên, chàng chỉ trông thấy hai tấm thân hai đôi chân kề sát. “Em nhìn đây này, Linh! Thấy chưa… Anh ôm em thế này là quá lành mạnh rồi. Nhìn đi, nhìn thiên hạ đi…”. Linh vùng vẫy thoát khỏi vòng tay chàng, ngồi thẳng dậy mặt đỏ bừng: “Đi chỗ khác đi anh!”. Chàng cười, cầm một miếng bánh đưa lên ăn: “Đi đâu bây giờ. Các câu lạc bộ chật cứng lại ồn kinh hồn. Em phải biết anh mang poncho ra trải ở đây từ bảy giờ sáng mới giữ được chỗ này”. Mái tóc Linh rũ xuống che khuất một bên mặt, chàng búng mẩu thuốc ra phía trước. Nàng bất động, mái tóc vẫn che khuất nửa khuôn mặt, chàng nghiêng người ra phía trước, thấy những giọt nước mắt đọng và hai má đẫm nước, những giọt im lặng rớt xuống vạt áo. Chàng thở dài cầm vải bảng tên và phù hiệu đơn vị cũ bỏ vào túi quân trang, tháo cấp bậc cho vào túi áo, đứng dậy ra sân. Người lính nhìn lên, hỏi:
“Gia đình chuẩn uý ở đâu?”
“Sài Gòn”.
“Em ở Cao Lãnh kia lận. Chuẩn uý biết Cao Lãnh chứ? Tụi Cộng về nhiều lắm. Thằng bạn em, ở sư đoàn 7 ấy, về thăm vợ bị tụi nó bắt vô trỏng liền”.
“Vợ chưa cưới đi lấy chồng rồi, anh cần gì về làng nữa”.
“Không về biết đi đâu, chuẩn uý?”
Định bước nhanh ra ngoài, những câu hỏi những lời nói của người lính làm chàng khó chịu. Rải rác ngoài sân ven tường đồn, binh sĩ bắt đầu ăn cơm. Làn khói trắng mỏng bùng dâng lên từ một nồi cơm mở nắp. Chàng không thấy đói, có lẽ tại ly cà-phê vừa uống, có lẽ cũng tại bàn tay đẫm máu người lính bị thương vừa rồi. Không có gì đâu anh, không có gì hết đâu anh! Chàng đi dọc vách đồn, leo lên lô cốt đại liên. Cánh đồng phía dưới tràn đầy nắng vàng của buổi chiều. Hai đứa bé đang tắm ở chiếc giếng phía dưới, chiếc gàu bị kéo tung hắt nước vào người con gái. Vài binh sĩ đứng quanh phá lên cười. Chàng tự dưng thấy nôn nao trong người, hình ảnh Linh ngồi dưới gốc cây tầm ruột xuất hiện trở lại rõ từng đường nét từng màu sắc. Chàng nhắm mắt lại, hình ảnh biến đi và chàng thấy gió từ cánh đồng phía dưới mơn trớn trên da mặt. Mùi hoa cải phảng phất, chàng dựng chiếc xe đạp vào bụi xương rồng trơ trụi, ngồi nghỉ. Những gốc nhãn vỏ nâu chạy dài trên những lớp lá khô di chuyển theo gió tạo những âm thanh xào xạc và cô quạnh. Đầu người bà bạc trắng cúi xuống thấp hơn nữa: “Bà già rồi, sống ở đây chết ở đây cho gần ông bà. Cháu về nói với ba me là bà không đi đâu”. Khi đạp xe rời làng, con đường lát gạch hai bên bờ rêu mọc xanh, nước mắt chàng chảy ràn rụa trên má. Khóc tại người bà ở lại lủi thủi một mình hay là khóc cho ao bèo dày đặc mát xanh, những vườn nhãn ven con sông sâu giữa hai bờ đất, một tuổi ấu thời thiên đàng tìm thấy và mất đi vĩnh viễn. Một tràng súng nổ ở xa, chàng ngẩng lên nhìn, người lính ngồi sau khẩu đại liên nói: “Chắc đồn dân vệ bên kia sông bắn…” Em không cản anh vì em biết anh chỉ có thể sống yên bên em sau khi tham dự cuộc chiến. Những lời nói biểu lộ một khuất phục. Có phải Linh đã khuất phục, đã để dĩ vãng tâm hồn của nàng quấn quít quanh người yêu như đuôi chiếc diều nên đã có tình yêu ấy. Nếu ngược lại, nàng giữ nguyên cá tính, giữ nguyên và khép kín tất cả, mọi sự sẽ ra sao. Trở thành và chỉ còn là một cơ thể đàn bà như những cơ thể đàn bà khác? Nếu em không yêu anh, ngoại tình dễ quá anh. Đàn bà sinh ra vốn là một người đĩ, giữa một gái đĩ và người vợ chỉ khác nhau có thế: một thái độ tình cảm, một khuất phục, một chịu đựng chiếm hữu kẻ khác. Một binh sĩ cầm súng băng qua sân lại gần lô-cốt bắn lên trời ba phát. Yên nói:
“Lệnh cho đại đội 3 mở máy liên lạc đó”.
Chàng nhảy xuống đất. Chiếc cột ăng-tên cao và ngọn cong mềm lắc lư theo chiều gió. Bên trong, chiếc bàn chân nham nhở. Một tấm bản đồ mở rộng, các sĩ quan ngồi quanh chờ đợi. Chàng tựa cột châm thuốc hút, lơ đãng ngắm mọi người, các chi tiết, mái tóc dài ngắn, những nét mặt gãy hay cong nhưng không một ý nghĩ nào xuất hiện. Một khoảng trống không với những cử động đưa điếu thuốc lên môi. Hy và Vũ bước vào, đặt súng dựa vào cột, hất ngửa cái mũ sắt trên ghế bố kế cận, ngồi xuống hai chiếc ghế dành sẵn. Chàng đột nhiên cảm thấy nỗi uể oải từ dáng điệu mệt nhọc hất chiếc mũ sắt đè nặng lên tất cả. Tiểu đoàn trưởng cất tiếng nói, trỏ vào một điểm trên bản đồ, viên sĩ quan cố vấn Mỹ cúi xuống nhìn, một khoảng nắng từ ngoài vào lấp loáng trên mái tóc nâu nhỏ sợi.
“… Tin chót cho biết ngày hôm qua C của tụi chúng còn ở khu này”.
Những cái đầu cúi xuống bàn theo hướng chiếc bút chì trong tay viên đại uý, một nhịp điệu gần như thần bí, chậm chạp trong một đền thờ thần linh và tiếng nói viên sĩ quan như một lời giảng hướng dẫn không có một giá trị nào hơn là một thói quen thường ngày.
“Chắc chúng chuyển quân qua vùng này thôi. Đánh thì chẳng dám đụng tới bọn mình đâu”.
“Nếu ý định của chúng là chuyển quân thì thế nào đêm nay tụi du kích cũng phá rối tối đa… Đại đội 3 đêm nay đóng đây cho tôi… Cho toán kích nằm chỗ này”.
Một người ngồi trước mặt đưa tay lên cởi ngực áo, rút bản đồ ra trải xuống bàn. Một hành động thông thường nhưng làm chàng tự dưng xúc động. Một nỗi xúc động tác động chậm chạp làm tâm hồn chàng như trải dài ra, mềm yếu trong một khắc khoải xao xuyến. Cuộc đời đấy, cái chàng định tìm đấy, có phải thế không những tiếng nói nho nhỏ chậm rãi từ cái bàn loang ra, những âm thanh của toán lính làm việc ngoài sân vẳng vào cùng những tia nắng chiếu hắt trên những sợi tóc nâu vàng. Một nghẹn ngào lẩn khuất đâu đây, trong chàng, ngoài sân nhớp nhúa, trong phòng, trên những cái đầu đang cúi xuống, quanh những âm thanh ngập ngừng. Chàng tìm thấy rồi đó chăng? Đúng thế Linh, đúng thế đấy, Linh? Không có gì ở đây, không có gì ở đây cho anh cả. Hình ảnh Linh mắt long lanh ướt nước dưới ánh trăng mở ra từ bên trong chàng làm nỗi nghẹn ngào thôi không lẩn khuất, ùa tới tích tụ và đè nặng lên từng phần thân thể. Không có gì thật, không có gì hết trong cái chết. Không có đến cả một khoảng chân không tối đen nữa, như vậy đó Linh, có phải em đã tìm thấy như thế khi anh chới với trên thân thể em đêm khuya về sáng… Hai tiếng súng nổ bên trái đồn, tiếp theo từng chuỗi dài. Viên đại uý ngẩng đầu lắng nghe:
“Trung đội nào còn ở phía đó?”
Vũ trả lời ngắn ngủn:
“Trung đội tôi”.
Yên la vào phòng truyền tin:
“Vặn to lên!”
Tiếng lạch cạch rít cao vang từ cái loa nhỏ mắc trên cột. Những cái đầu ngẩng lên, một bàn tay quay lại phía sau, chàng đưa mẩu thuốc cháy dở, những ngón tay khép lấy và mẩu thuốc biến sau chiếc gáy tóc đen rậm. Tiếng nói bắt đầu phát ra, ngần ngừ và đứt quãng giữa các âm điện tử:
“Yên! Yên!… Đây Vĩnh, yêu cầu cho gặp thẩm quyền của Vĩnh…”
Đột nhiên Hy mạnh mẽ vụt quay lại, la vào phòng truyền tin:
“Bảo nó có gì thì báo cáo mẹ nó đi cho được việc!”
Chàng tiếp tục nhìn chiếc loa, câu nói dữ dằn của Hy vang bên tai chàng thật tự nhiên như hàng cột có đó. Một bàn tay giơ lên trả mẩu thuốc, chàng cầm lấy đưa lên miệng hút tiếp.
“… Vĩnh báo cáo, Vĩnh báo cáo… Hai tên mặc đồ đen xuất hiện phía chùa, bắn hai phát Mas 36. Nhắc lại, hai tên mặc đồ đen…”
Hy la lớn át tiếng rè rè đang vụt to lên:
“Bảo trung đội 3 cứ ở nguyên vị trí cho tôi!”
Âm thanh từ máy vụt nhỏ đi làm những câu tiếng Anh của Vượng và viên cố vấn Mỹ hiện rõ trong không. Những làn khói thuốc bốc từng vệt nhỏ lơ lửng. Tiểu đoàn trưởng giơ tay bắt:
“Định bảo hai anh ở đồn ăn cơm tiễn cố vấn mai về trung đoàn, nhưng chưa chi đã lộn xộn, thôi vậy”.
Hy đứng dậy giơ tay bắt hai quân nhân Mỹ, Vũ nghiêng người cầm quai chiếc mũ sắt trên ghế bố, hỏi tiểu đoàn trưởng:
“Còn việc đi phép của tôi thế nào, đại uý?”
“Anh cứ yên trí. Giấy phép tôi ký rồi. Sáng mai anh bàn giao trung đội cho chuẩn uý Định rồi vào đây đi xe về tỉnh cùng thiếu tá”.
“Cám ơn đại uý”.
Viên tiểu đoàn trưởng cười, đứng dậy lại gần bàn nước, nói qua vách:
“Mấy giờ ăn đấy các chú?”
Định nói với Vũ:
“Anh ra ngoài luôn tới sáng mai hả?”
“Ừ… Thế là mai anh phải dẫn trung đội của tôi đi mở đường cho tôi đi phép! Thôi, sáng mai gặp nhau”.
“Đợi tôi lấy súng ra ngoài với anh một lát”.
Tiếng của Yên gọi với:
“Anh Định nhớ một tiếng nữa ăn cơm đấy!”
Chàng gật đầu không quay lại, theo Vũ len lỏi giữa các hàng rào kẽm gai, ráng vàng buổi chiều loang loáng trên các mũi nhọn xám trắng. Hai người ngồi xuống bờ thềm nhà hướng ra cánh đồng phía dưới. Một binh sĩ xách một thùng nước đi theo cô gái vào bếp, ngâm vọng cổ:
“… Em Lan ôi!… Vì ai mà anh phải đoạ đày…”
Các tiếng cười xuất hiện rải rác, Vũ tiếp tục nói:
“Không biết anh thế nào, còn tôi, cái khó chịu nhất ở đây là cảm giác mất an ninh thường xuyên. Không thể quen được với cảm giác này. Quen cái gì thì quen, cái này thì không. Nó như bám vào da, như ngấm vào xương tuỷ. Anh biết không, có lần về phép đang ngủ trên giường, thằng bé nằm giường bên kia đạp chân vào thành giường đến rầm một cái, tôi ngồi nhỏm ngay dậy, quơ tay cầm súng. Xoa vào bà xã mới nhớ ra là đang ngủ ở nhà…”
“Hậu quả kỳ cục và đôi khi bực mình vì bị méo mó nghề nghiệp. Bây giờ nhìn cảnh vật, tôi không thấy đẹp hay xấu. Óc tự dưng chỉ thu nhận những chi tiết địa thế cần thiết cho việc tiến quân, rút hay đóng quân thôi. Một hàng dừa chỉ có nghĩa là chỗ đó có nước, một bờ tre là một nơi phục kích tốt cho địch, con đường quang đãng chỉ có nghĩa là dám bị bắn sẻ, trăng chỉ là một yếu tố để tính xem toán kích đêm nay nên cho đi lúc mấy giờ và về lúc mấy giờ …”
Vũ vụt búng mẩu thuốc lên cao, tiếp tục:
“Thà cứ như thế còn hơn”.
“Tôi không hiểu anh nói gì”.
Vũ cười:
“Rồi anh sẽ hiểu trong hai tuần nữa là tối đa. Bọn mình sẽ ra sao nếu ngày nào cũng nghe gió thổi với cái tai dân sự… Suy nghĩ nhiều ở đây khó sống”.
Một luồng gió mạnh từ phía dưới cánh đồng ùa lên. Không gian hết nắng, chàng mân mê báng súng tự hỏi nắng hết từ lúc nào, sao chàng không biết. Hồi nhỏ, chàng đã ngồi chờ ven hồ nhiều buổi chiều xem lúc hết nắng ra sao nhưng chưa bao giờ biết. Ánh sáng dịu dàng rồi biến đi lúc nào trong khi chàng cạy một hòn sỏi vứt xuống nước hay rứt một cọng hoa cỏ đưa lên miệng ngậm. Vị cỏ hơi cay và hăng trên đầu lưỡi, tiếng Linh cười: “Sao anh hay ngậm cỏ thế. Chắc kiếp trước anh là con bò!”. Thân thể nàng trong áo dài nằm như một vũng nắng ban sáng còn sót lại trên cỏ đồi, những trái thông khô đen rải rác, đôi môi vướng những sợi tóc dài vướng vào miệng. Một khoảng thời gian giữa những khi nắng dịu dàng và khi ánh nắng biến đi, nỗi hạnh phúc chỉ có thế, hay hơn thế? Không, lâu hơn, chàng đã sung sướng suốt ngày hôm đó, cả tuần lễ ấy. Tuần lễ Linh để băng-đô hồng trên tóc và cầm cành mimosa. Tiếng Vũ trầm hẳn xuống như một lời thì thào:
“… Tôi hay tự hỏi một điều như thế này: Tại sao chúng ta tin chúng ta có chính nghĩa nhưng chính nghĩa ấy lại không giúp gì hết trong việc chiến đấu. Anh, tôi, Vượng, Yên… tất cả những tên có mặt trong tiểu đoàn này cũng như các đơn vị khác đều đồng ý là phải chống Cộng. Nhưng mọi sự đã chẳng ra làm sao hết. Tôi đã từng khai thác tù binh, tụi chúng tin tưởng ở chính nghĩa của chúng nó đến độ phát tởm lên được”.
Chàng để súng nằm thăng bằng trên đùi, móc túi lấy bật lửa châm thuốc, nói:
“Tại chúng ngu!”
Vũ quay lại giọng hạ thấp:
“Vì thế tụi chúng sung sướng hơn bọn mình?”
“Tôi không biết”.
Chàng suy nghĩ, rồi tự dưng những lời nói ùa ra khỏi môi, liên tiếp, chèn ép:
“Không thể hơn được. Ngu thì cũng giống như một đứa trẻ. Sung sướng hay không cũng thế thôi. Tôi cho rằng người nào cũng thế thôi. Đại tá có những cái lo và cái sướng của đại tá, chuẩn uý có cái lo cái sướng của chuẩn uý. Mức độ sướng hay khổ như nhau hết”.
Chàng tiếp tục nói những lời thành chuỗi liên tục, chàng không hiểu chàng định nói gì, đi đến đâu. Chàng nói để trấn áp một nỗi lo sợ kỳ dị, sợ người ngồi cạnh, một người như sắp chết. Tại sao lại có tin tưởng Vũ ngồi đây sẽ chết? Có gì, cái gì chứng tỏ. Chàng tìm tòi, hối hả. Phải có một lý do, cái mũ úp trên nòng súng? Không, không phải. Chàng thở ra, chính vậy, tại câu văn chàng đọc trong một truyện đã lâu: Ngoài trận, người lính sắp chết hay phân tích sáng suốt toàn thể đời sống của mình. Vô lý. Thế nào là phân tích sáng suốt đời sống. Như Vũ vừa rồi? Chàng ngẩng đầu lên, ráng vàng còn rung rinh trên một ruộng mía phía xa, những ngọn mía đổ nghiên dưới cơn gió từ phía sông tới, cả một nếp xanh ánh vàng nhẹ chuyển động như lớp cỏ tranh cao nguyên. Những lá cỏ sắc cạnh cọ vào thành xe. Phía xa, những đồi thấp chạy xuôi xa mờ đến chân dãy núi và lúc ấy chàng đã tự hỏi ý thức sáng suốt để làm gì, để biết là mình phải sống hay mình phải chết? Suốt đêm được phép ra thị trấn, trời mưa nhỏ và lạnh làm chàng kéo cao áo blouson lính và đút sâu hai tay vào túi, lắng nghe bùn lép nhép ẩm ướt dưới giày. Quán cà-phê phin độc nhất có bốn bậc gạch dẫn lên và nằm cạnh một rạp hát tồi tàn đính những bảng quảng cáo của một đoàn hát mới từ đồng bằng lên ướt đẫm nước mưa. Ngụm cà-phê nóng bỏng và đắng làm chàng dịu người, chùng xuống. Một điệu nhạc twist nổi lên, một binh sĩ không quân mặc quân phục tác chiến đội nguyên mũ xanh đứng dậy tiến ra giữa phòng từng bước đưa dài chậm theo nhịp nhạc. “Solo một bản đi Cường! Cho đời buồn thêm!”. Binh sĩ tên Cường quay lại nhìn các bạn ngồi sát tường, rồi nhìn chàng nhưng chàng biết rằng hắn không nhìn các bạn, không nhìn chàng, không phải nhìn những bóng người cọ quậy, bàn ghế khẳng khiu, hắn nhìn một cái gì khác ở đằng sau, trên kia, trong hắn. Hắn bắt đầu nhảy, những mũi giày xoay đi, day xuống sàn xi-măng hai cánh tay cử động. Một nỗi buồn toả ra trong từng dáng điệu, từng gót giày đi trên xi-măng, chàng không thể rời mắt khỏi Cường, không phải Cường, một người lính, không phải một người lính, một người đang buồn. Không, cũng không phải người đang buồn mà là chính nỗi buồn, chàng biết thế, nỗi buồn của hắn, của người, của chàng. Âm nhạc ngừng, nỗi buồn sững lại, tích tụ đông đặc lại trong một khoảnh khắc, chàng tự dưng nghe thấy một giọt mưa, thật rõ ràng, rơi trên một hộp sắt rỗng ngoài cửa sổ. Vũ hích đầu gối vào chàng, nói:
“Anh nghĩ gì thế?” Nhớ bà xã hả?”
“Không”.
“Mai tôi về anh có cần nhắn gì bà xã không?”
Định cười:
“Anh hỏi tôi câu ấy một lần rồi”.
Vũ cười theo:
“Nhưng anh chưa trả lời”.
Định mở ví lấy danh thiếp đưa cho bạn:
“Địa chỉ đây. Anh nói hộ với cô nàng là khi nào có thư tôi, hãy lên thăm. Đừng có đi ẩu trong cái vùng này”.
“Chị ấy liều lắm hay sao?”
“Đủ để tìm đến tôi bất cứ nơi nào, trừ…”
Định muốn nói “trừ trong cái chết” nhưng âm thanh tắt ngẳng, vô lý. Vũ bỏ tấm danh thiếp vào túi, thở dài:
“Anh có lý do để sống hơn tôi nhiều. Tôi chỉ có…”
Có tiếng gọi từ phía đồn, Vũ lắng nghe, mân mê khẩu súng để giữa hai chân, hỏi:
“Anh chưa có băng cong hả?”
“Tôi có hỏi tiếp liệu. Không có một chiếc nào hết”.
“Dĩ nhiên. Băng của tôi là do hai băng thường nhờ ông già lò rèn ấy làm hộ. Nạp được ba mươi hai viên. Hách hơn cả băng cong Mỹ. Anh cầm lấy mà dùng. Mai tôi đi phép, khi về ở tiểu đoàn bộ, ít cần thứ này. Rồi anh sẽ biết quý nó vì đã đụng lớn, không có dịp lắp một băng thứ hai. Vậy có ba mươi hai viên vẫn dễ chịu hơn mười lăm viên.
Vũ đột nhiên vui vẻ, cười:
“Còn một thứ chưa bàn giao cho tân trung đội trưởng. Khi nào chuyển quân qua tỉnh chỉ ở vài ba tiếng, anh đến số 15 Nguyễn Hoàng, gần ngay chợ. Thường trực có gái. Đợi năm phút là cùng. Bọn tôi có dịp ghé qua tỉnh là nhào vô liền. Anh chàng Oai, trung đội trưởng trung đội này trước, có một lần mang quân mở đường về cách tỉnh sáu cây số, hắn trao trung đội cho trung đội phó, rồi xách một binh cận vệ nhảy xe lôi về tỉnh. Nhào vào chỗ đó làm một trận. Cả đi lẫn về mất đúng một giờ, kể cả di chuyển và uống một chai bia. Hắn hạn định thời gian mà…”
“Bây giờ anh chàng ấy đổi đi đâu?”
“Chết rồi. Ở chiến khu D. Hắn cùng hiệu thính viên chạy băng qua khoảng trống đầu tiên, bị trúng đạn giữa lưng khi quay lại vẫy trung đội lên. Tên ấy liều vô kể. Hành quân ba ngày rồi, binh sĩ hết nước, cả tụi thiết vận xa cũng không còn một giọt. Hắn đòi lấy nước trong đầu máy M. 113 ra, tụi thiết vận không chịu, hắn chửi thằng thiếu uý thiết giáp um cả rừng lên. Đến chiều, khát quá đi không nổi, hắn cho quân chiếm luôn mấy cái M. 113 rút nước trong radiateur ra uống, chia cho cả bọn thiết vận nữa. Thế là cánh quân ì ra không tiến được nữa, đầu máy hết nước lấy gì chạy. Sau cùng, bộ tư lệnh hành quân phải cho trực thăng lên thả nước xuống. Tất cả đều hể hả, vừa được nghỉ quân một buổi chiều vừa được uống nước. Hắn không tử trận ngày hôm sau, về thế nào cũng lãnh ba mươi củ”.
“Hắn khoá mấy Thủ Đức?”
“Không khoá nào cả. Hắn đang học khoá sĩ quan hải quân Nha Trang thì bị nàng cho rơi để lấy một ông tá. Hắn chửi um lên rằng: Thiên hạ bị thất tình mới đi hải quân, tao đi hải quân rồi mới thất tình! Thế rồi hắn nhảy dù về Sài Gòn, rình cô nàng đi mua đồ, bắt mang về nhà riêng. Hắn lột truồng ra nhưng không đụng đến, chỉ chụp một bức ảnh rồi cho về. Rồi vì vừa ba gai, vừa xoay xở, hắn sang bộ binh. Tôi với hắn là bạn khá thân nên khi ra trường, tôi xin đến sư đoàn này để gặp nó. Trung đoàn đang hành quân nên tôi nằm đợi thì trực thăng chở hắn về. Hắn lục bức ảnh ấy cùng phim nhờ tôi trao lại cho cô nàng. Hắn chết chiều hôm ấy một mình trong quân y viện vì tôi phải theo ngay trực thăng tới tiểu đoàn đang hành quân thế chỗ cho hắn. Thật kỳ cục! Xoay đến đây để gặp bạn thì không những được gặp mà còn được thay chỗ nữa… Suốt trong cuộc hành quân, tôi mang bức hình ra coi hoài. Hắn chụp ác lắm, bắt cô nàng kia nằm hếch hoác”.
“Anh có đưa trả không?”
“Có. Tôi có tìm đến sau này ngay sau khi được cái phép đầu tiên”.
“Người con gái nói sao?”
“Tôi không biết. Tôi nói là hắn chết rồi và trả bức hình lại. Nàng ta ngồi im trên ghế và tôi đi về liền”.
“Lúc đó cô ta có con chưa?”
“Rồi”.
Đột nhiên Định hối hận đã không chụp hình Linh khoả thân mang theo tới nơi này. Chàng có định một lần nhưng Linh không chịu. Điều chàng mong ước bây giờ là có ngay một hay nhiều bức nàng không mặc gì rõ từ đầu đến gót chân dưới mọi khía cạnh. Chàng muốn có chúng, cần có chúng. Sự nhớ rằng chàng có một người vợ tên Linh, Nguyễn Thuý Linh, không có nghĩa gì cả. Nhà có cái cổng gỗ, có chiếc sân chứa hai cây muỗm cổ thụ, bộ bàn ghế sơn xanh. Không có nghĩa gì cả. Nàng thường ngủ trên chiếc giường sắt nhỏ kê sát tường, cạnh chiếc tủ sách xếp bừa bãi, hay đi đôi dép Nhật quai trắng. Không là gì cả, không là gì hết, toàn những kỷ niệm, những hình ảnh mờ, những dư vị cảm xúc, những nhớ thương khắc khoải… Không, Linh của chàng không phải chỉ còn là thế khi xa nhau. Chàng mở ví, những khuôn mặt nàng lấp loáng dưới lớp nhựa bọc, Linh không phải chỉ có vậy, những khoảng đậm tối hay sáng uốn quanh tạo một cái gì đó của Linh trên những miếng giấy hình chữ nhật, hình vuông. Trong nghĩa trang, những bức hình người chết gắn trên mộ chí, chàng luôn luôn cảm thấy đó là hình người đã chết rồi bởi vì biết rõ ràng rằng dưới lớp gạch, không còn gì hết. Bây giờ những khuôn mặt Linh dưới lớp nhựa này cũng không khác. Nhưng chàng muốn nàng phải là hơn nữa. Muốn thế, những kỷ niệm và hình ảnh lưu giữ trong tâm chàng không thể đủ, cần phải có một bức hình, tối thiểu là vậy, đầy đủ chi tiết từ vẻ tròn của bộ ngực nằng nằng trong lòng bàn tay, thung lũng êm mượt giữa hai đùi xuôi dài tới ngón chân, những thứ đã tiếp xúc với chàng làm cho nàng qua chúng trở thành một người giống cái chàng yêu. Rồi cũng chỉ là một thất vọng, một thất bại bởi vì tiếp xúc là ở ngoài, thân thể Linh ở bên ngoài, vĩnh viễn như thế và trong tâm hồn chàng lúc này, Linh ở nơi nào. Một số dày đặc những hình ảnh lưu lại, những dư vị cảm xúc không thể chắp nối, không thể tích tụ để Linh đầy đủ nguyên vẹn là của chàng. Vẫn một thất bại đến tuyệt vọng, một thứ thất vọng chàng đã tìm thấy ngay khi phủ lên người nàng, chân tay đan lẫn vào nhau. Và tới cả những khi cả hai cùng sung sướng đồng thời, chàng chỉ cảm thấy những khoái cảm của mình, không phải của Linh. Và có lần hai đứa cùng cố mở mắt nhìn nhau, nhưng nỗi cố gắng phải tạo ra để giữ cho thân thể bất động đã làm cho chàng không tìm thấy được nàng trong đôi mắt như mờ đi ngây dại phía dưới. “Nhiều khi em muốn em là anh quá”. Chàng cũng muốn đổi vị trí như thế, nhưng không được đâu, không bao giờ được đâu, mọi sự là như thế rồi, vĩnh viễn là vậy. Chỉ còn những khoảnh khắc sau cơn ân ái, thân thể lẫn trong nhau, một tiếp xúc thân mật và mệt mỏi. Chúng ta chỉ có được thế thôi, một sự tiếp cận.
Chàng quay lại hỏi:
“Anh có chụp hình nu bà xã bao giờ không?”
Vũ lắc đầu, mệt nhọc:
“Không. Để làm gì? Có thứ đó trên người, dễ sốt ruột vô ích”.
Có tiếng gọi từ phía đồn, hai người lắng nghe, Vũ nói:
“Họ gọi anh về ăn cơm kìa”.
Định đứng dậy đeo súng lên vai, hỏi:
“Đánh trận, vấn đề sinh lý ra sao? Đòi hỏi dữ dội lắm phải không?”
Vũ ngồi im trên bực thềm đất, mắt nhìn theo lơ đãng một con chim sẻ nhảy từng nấc gần vại nước:
“Bịa. Đại khái thôi, còn ít bị thôi thúc hơn là ngồi văn phòng nữa”.
“Tôi thấy…”
Vũ ngắt lời, giọng khó chịu:
“Anh hiểu sai vấn đề rồi. Nhưng rồi anh sẽ biết. Hồi ở quân trường khác, ở đây khác. Lính hành quân về nhào lấy gái không hẳn vì nhu cầu sinh lý. Có lẽ vì một cái gì khác hơn. Không biết anh sẽ thế nào, còn tụi tôi hôm trước vừa mỗi đứa một chầu xong, hôm sau hành quân đụng địch một trận ba tiếng đồng hồ, rút về hậu cứ một đêm bổ sung, sau một chầu bia là cả bọn tôi lại nhào tới chỗ có gái trong năm phút ấy rồi…”
Định cúi nhìn mũi giày đang dí một mẩu thuốc vào sâu trong đất, Vũ nói tiếp:
“Bàn giao thế là đủ rồi. Còn chiếc võng, tôi còn dùng đêm nay. Sáng mai trao quân, trao võng luôn. Cho anh mượn một thời gian dài hạn”.
“Anh cứ nói với bà xã tôi may hộ một chiếc nữa. Anh cho giùm chi tiết. Khi nào có dịp lên thăm, mang lên sau. Anh đưa lại tôi danh thiếp, tôi viết thêm mấy chữ cho tiện, anh Vũ”.
Định ngồi xuống, kê ngang báng súng trên đùi, viết. Mu bàn tay không có chỗ tựa, ngọn bút như lạc khỏi yêu mến làm chàng không muốn viết nhiều. Em nói đúng, không có gì ở đây cho anh cả. Và ở Sài Gòn cũng không có gì cho anh hết. Anh đang ở một thứ tiền đồn. Vũ cầm danh thiếp lên, hỏi:
“Đọc được không?”
“Cứ tự nhiên”.
Định đứng dậy, đeo súng lên vai. Ráng vàng còn dấu vết trên tấm danh thiếp hơi rung động trong những ngón tay Vũ. Có tiếng gọi, chàng ngừng lại, Vũ tiến lại gần, tấm danh thiếp còn cầm ở tay, giọng nói nâng cao để át tiếng động cơ một xe vận tải đang chạy lại gần:
“Anh nói giùm với Yên là đêm nay trung đội tôi đi kích. Tôi cho số nhà nào, cứ bắn ngay số nhà đó, khỏi điều chỉnh…”
Chiếc xe vận tải lại gần, tiếng động cơ át giọng nói Vũ. Chiếc xe lao xuống dốc băng qua giữa đồn và chợ, một làn khói xanh bay là là mặt lộ. Định hỏi lại:
“Anh nhắc lại đi. Nửa câu dưới tôi nghe không rõ”.
“Thôi không cần”.
Định đứng yên nhìn bạn chờ đợi. Không vì một lý do nào cả, chàng muốn biết Vũ đã nói những gì khi chiếc xe chạy qua. Nhưng Vũ đã quay người đi vào vườn, báng khẩu súng va vào một kẹp đạn kêu vài tiếng khẽ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.