Sàigòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

8. Chương 8

17 giờ. Đường phố Sài gòn ngập đầy bộ đội miền Bắc nón cối và giải phóng quân mũ tai bèo và cỏ đuôi chó. Cỏ đuôi chó mỗi lúc một đông thêm! Chắc ăn rồi, chắc ăn lắm rồi, lính sư đoàn 304 gây khí thế cách mạng. Xe tăng của cộng sản, trước sau chỉ có mười chiếc, nghiến xích sắt thị uy khắp đường phố Sài gòn. Xe tăng thị uy xong đến mô-lô-tô-va Liên xô và GMC Trung Quốc. Máy phóng thanh oang oang bài ca Giải phóng miền Nam của Lưu Hữu Phước.
          Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước
          Giết lũ đế quốc
          Phá tan bè lũ bán nước
          Ôi xương tan máu rơi
          Lòng hận thù ngút trời
          ——-
          Vùng lên nhân dân Việt Nam anh hùng
          Vùng lên xông pha vượt qua bão bùng
          Thề cứu lấy nước nhà
          Thề Chiến đấu tới cùng
          Cầm gươm ôm súng xông tới
          Vận nước đã tới rồi
          Bình minh chiếu khắp nơi
          Nguyền xây non nước vững yên muôn đời…
          Và bài ca Tiến về Sài gòn:
          Tiến về Sài gòn
          ta quét sạch giặc thù
          Tiến về Sài gòn
          ta giải phóng thành đô *…
Cỏ đuôi chó hát theo. Vì hai bài hát lải nhải hoài nên cỏ đuôi chó thuộc lòng. Tôi nhớ lại: Hoạt cảnh này đã ba lần tôi được chứng kiến trong đời. Lần thứ nhất, buổi chiều 19-8-1945, năm tôi lên mười. Và tôi đã diễn tả thật trung thực trong cuốn Con Thúy, cuốn sách đã đưa tôi vào nhà tù cộng sản để chịu đựng những hệ lụy tự khai. Lần thứ hai, buổi sáng giữa tháng 7-1954. Một thị xã được giải phóng. Bộ đội cộng sản tiến vô thong thả. Cỏ đuôi chó mọc nhanh, tung hô những khẩu hiệu nịnh bợ. Bài hát thuộc nhanh của cỏ đuôi chó hồi ấy là bài Bàn tay chúng ta:
          Hoan hô bàn tay anh Komsomol
          đã khơi dòng Volga đông.
          đã khơi nguồn hạnh phúc cho toàn dân..
          Hoan hô bàn tay anh bạn Trung Hoa
          chắn sông Hoài
          ngăn đau thương
          nước không về toàn dân no ấm
          Raymondielle ngăn xe cho ngừng máu rơi
          ngăn chiến tranh cho đời huy hoàng
          ta nhớ ghi tên người tươi sáng
          bàn tay anh đem về thêm bông
          bàn tay anh đem về thêm lúa
          bàn tay ta băng miền thương xót
          dắt dìu nhau tiến lên…
Hoạt cảnh giải phóng lần hai, tôi đã viết ở cuốn Vẻ buồn tỉnh lỵ chưa kịp xuất bản và bản thảo đã bị tich thu. Hôm nay, lần thứ ba, tôi biết thêm hoạt cảnh giải phóng 1975. Ba mươi năm. Vẫn thế. Vẫn thế ở mỗi biến động lịch sử trên quê hương tôi. Nếu cái vẫn thế còn làm cho tôi xúc động là, ngay cả tâm hồn cỏ đuôi chó, đã không dấy lên giông bão thù hận khi họ được khích lệ tuyết hận bừa bãi. Có phải tình nghĩa Việt Nam mãi mãi chế ngự chủ nghĩa cộng sản. Sài gòn chỉ bị cộng sản và cỏ đuôi chó quấy rầy ngoài phố. Sài gòn không hề bị cỏ đuôi chó đập phá nhà cửa, giết người. Cộng sản không dám ra mặt hành động. Cộng sản bất lực thủ đoạn châm lửa phẫn nộ cho người Sài gòn sát hại người Sài gòn. Không có bạo động đổ máu vô lý cho hợp lý khi cộng sản vào Sài gòn. Đừng bao giờ nghĩ cộng sản nhân đạo. Mà nên hiểu miền Nam nhân bản, Sài gòn nhân bản không chấp thuận tàn sát theo ý cộng sản hay theo ý của bất cứ một chủ nghĩa phi nhân nào: Lịch sử nào sẽ ghi chép chính xác? Thứ lịch sử gian dối của Mỹ và Tây phương thân cộng đã toa rập cộng sản, đã giả vờ quên tình nghĩa Việt Nam mà đề cao sự khoan dung, đạo lý cộng sản khi cộng sản xuất hiện ở Sài gòn. Đạo lý làm người của cộng sản đã thể hiện rõ nét ở Huế vụ Mậu Thân. Nó sẽ thể hiện rõ nét hơn, sẽ “phanh thây uống máu quân thù’, sẽ “cờ in máu chiến thắng” ở Sài gòn 30-4-75 nếu người Sài gòn muốn. Nhưng người Sài gòn không muốn, cả cỏ đuôi chó đáng ghét cũng không muốn, cộng sản đành thúc thủ. Để được tiếng nhân đạo. Cộng sản nói nhân đạo như tư bản nói nhân đạo, còn đốn mạt hơn cả đĩ điếm, ma cô giảng giải luân lý. Người ta cố tình quên rằng, chỉ cần mảy may lương tâm, cộng sản hết là cộng sản. Và người ta nên sáng suốt, nên thức tỉnh nhớ ràng, cái vỏ ngoài của cộng sản giống hệt áo thầy tu chân chính, những lời cộng sản nói hay hơn Chúa nói, Phật nói. Cộng sản quán triệt bí kíp “một thời im lặng và một thời lên tiếng” ở bất cứ không gian nào. Cộng sản xúi dục người quốc gia lăng nhục người quốc gia, chia rẽ người quốc gia rồi hô hào đoàn kết. Cộng sản nằm vùng, cộng sản hải ngoại còn tinh vi đến độ biết ẩn thân thật lâu, dám sống nghèo hèn, cố tình phô bày tác phong đạo đức, trình diễn đạm bạc, khuất thân hòa hoãn với những kẻ chống cộng dữ dội nhất. Để trở thành biểu tượng gương mẫu của người quốc gia chống cộng. Và, sau hết, đòn muôn thuở nằm trong bản chất cộng sản: Tìm mọi cách hạ bệ uy tín các tài năng của quốc gia để vô hiệu hóa sự chống cộng sản của các tài năng này; công khai đề cao tài năng của quốc gia trên các cơ quan truyền thông cộng sản để cô lập các tài năng này với quần chúng thù ghét cộng sản.
Sài gòn động bên ngoài, tĩnh bên trong – cái tĩnh lo âu Cái động đã tôn vinh cái tĩnh. Đã không có “đấu tranh giai cấp” tình nguyện, tự nguyện và… tự học tập như cộng sản mong muốn. Điều đó đã “giải phóng” biển máu đe dọa của Mỹ và biển máu toan tính của cộng sản. Chúng tôi thả xuống chợ Bến Thành. Ngạc nhiên vô cùng, tôi thấy, ở các đầu đường, góc phố, người ta đã bán cờ đỏ sao vàng và cờ trên đỏ, dưới xanh, giữa sao vàng. Cờ may ở đâu nhanh thế? Vải của chúng ta nhập cảng cả đấy Chúng ta đã có những thằng bán thuốc âu Mỹ cho kẻ thù, bán súng đạn cho kẻ thù, chúng ta còn những thằng sản xuất cờ cho kẻ thù nữa. Cờ bán đắt như tôm tươi Kẻ hân hoan chào mừng cộng sản mua cờ, kẻ sợ hãi cộng sản cũng mua cờ. Những người bán cờ trúng mối lớn. Con buôn biết cách khai thác… cách mạng vô sản! Đã nhiều nhà treo hai mầu cờ, hai thứ cờ. Tôi thấm mệt:
– Về chứ, Côn?
– Tao nghĩ mày nên đi quan sát thêm.
– Không đủ sức. Chỗ nào ở Sài gòn chiều nay cũng giống chỗ nào thôi.
Chúng tôi trở lại. Tòa Đô Sảnh đã treo cờ kẻ thù. Công viên trước Hạ Viện đã hết náo động. Xác chết của Trung tá Long đã được kéo đi vất ở xó xỉnh nào. Pho tượng thủy quân lục chiến Mỹ đổ rạp nằm úp xuống đất. Chẳng thể diễn tả nỗi ngập ngùi. Chúng tôi cắm cúi bước qua nhà thờ Đức Bà. Giáo đường đóng cửa kín mít. Bưu Điện đã treo hai thứ cờ và giải phóng quân kè kè AK canh gác. Trong khuôn viên Dinh Độc Lập, “nhân dân” đông đầy. Cánh cổng dinh mở rộng, “nhân dân” tự do ra vào, tự do chạy nhẩy, tự do la hét. Và đó là chiêu thức giải phóng đánh đúng tâm huyệt bầy cừu. Người ta có một sự so sánh giản dị: Nguyễn văn Liệu phong tỏa Dinh Độc Lập, cách mạng giải phóng Dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập, cái triều đình của những tên cầy cáo, rồi sẽ có một Hồ sơ đầy đủ về nó như một thâm cung cố sử. Thiệu cấm dân lai vãng quanh Dinh. Cộng sản mở bung cho dân vào Dinh. Sư mị dân của cộng sản, ít nhất, đã làm trí thức Lý Chánh Trung bồi hồi, cảm động mà rên rỉ “xin được nhận Hồ chủ tich làm Bác”. Tôi không thích nhìn cái Dinh ấy. Nó mang tên Độc Lập. Không, nó phải mang tên Nô Lệ. Nhưng không thích nhìn Dinh… Nô Lệ – còn nô lệ dài dài – tôi lại phải nhìn cách mạng tuyết hận danh nhân Trương Vĩnh Ký. ở cuối vườn sao góc phố Duy Tân – Thống Nhất, đối diện với hãng xe Peugeot, pho tượng Trương Vĩnh Ký đã bị giật sập. Trương Vĩnh Ký có tội gì với cách mạng vô sản? Kẻ thừa thãi công lao với nền văn hóa Việt Nam, kẻ tiên phong mở đường văn chương quốc ngữ cũng là kẻ thù của cộng sản ư? Người ta sẽ được trả lời ngay khi nghe bài hát này:
          Ta là người nông dân
          mặc áo lính
          chiến đấu vì giai cấp bị áp bức
          từ bốn nghìn năm* …
Từ bốn nghìn năm đã có… cộng sản. Và các nhà nghiên cứu mác xít bảo là cộng sản nguyên thủy. Hùng Vương là kẻ thù của giai cấp vô sản. Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt… đều là kẻ thù của giai cấp vô sản cả. Địa chủ Lê Lợi đã bóc lột giai cấp nông dân kỹ nhất? Thế thì Trương Vĩnh Ký, người đã tích cực đóng góp vào công cuộc làm thăng hoa chữ quốc ngữ để, từ chữ quốc ngữ, cộng sản Việt Nam xử dụng như võ khí tư tưởng mà truyền bá chủ nghĩa của mình, có bị thù hận là… “lô gích” rồi. Với cộng sản Việt Nam, tổ tiên của họ là Karl Marx, là Freiderich Engels, là Lénine… Họ rất nên vô ơn tiền nhân và rất nên thù hận tiền nhân tự bốn nghìn năm. Họ là quắc tế. Họ phủ nhận quốc gia. Những kẻ thân cộng sản làm dáng, những kẻ theo cộng sản ở hải ngoại nghĩ gì về “giai cấp bị áp bức từ bốn nghìn năm”? Pho tượng Trương Vĩnh Ký bị giật sập nằm úp mặt xuống đất vườn sao. Cuốn sách trên tay ông chưa bị đập nát. Tôi mở mắt ngắm pho tượng. Nước mắt tôi ứa ra. Tôi lại nghĩ đến thân phận những nhà văn chống đối tư tưởng mác xít hai mươi năm Sài gòn tự do. Và, hôm nay, khi ngồi viết những giòng chữ này ở thị trấn lrvine của Orange County thuộc tiểu bang California, tôi còn nghĩ đến thân phận những kẻ làm tay sai cho cộng sản Việt Nam trong lãnh vực chữ nghĩa và nghệ thuật. Họ có hiểu vì lý do gì Trương Vĩnh Ký cũng bị xóa bỏ. Và họ, họ là cái thứ gì, giá trị bao nhiêu để hy vọng tồn tại.

° ° ° 18 giờ 30. Chúng tôi có mặt ở ngã tư Hiền Vương – công Lý. Quân trang, quân dụng, võ khí vẫn xếp đống ngổn ngang trên vỉa hè. Súng đạn sẵn sàng, thừa mứa, tha hồ lượm mà bắn giết nhau vô tội vạ. Nhưng, người Sài gòn không giết người Sài gòn. Nhiều thanh niên biết xử dụng M16 đã lượm súng, bắn chỉ thiên vung vít. Bắn cho hả giận. Bắn cho quên nỗi nhục. Bắn rồi liệng súng, nước mắt ròng ròng. Thành phố rền vang tiếng đạn nổ chỉ thiên…Chúng tôi thản nhiên đi. Lúc này, vẫn còn nhiều người lính trên đường chạy về nhà mình. Tôi nhận ra những kẻ chiến bại bất đắc dĩ và tội nghiệp ấy, vì họ mình trần, quần xà lỏn, chân đất. Làm sao tôi biết chia xẻ tâm sự uất nghẹn của người lính quốc gia đường chiều 30-4? Những trang sách nào của những ông đại tá, trung tá của Cục tâm lý chiến “không chịu đứng chung đẳng cấp xã hội và văn học nghệ thuật” với người khác đã soi tỏ tâm sự uất nghẹn này? Bầy hạc gỗ của vua Vệ, bọn ý gẩy bút cùn chỉ đủ khả năng xướng họa thơ con cóc và vấy bẩn thiên hạ thì làm nổi trò trống gì mà cũng hiệu hiệu khẩu khí ôm mối thù nặng nghìn cân? Cho nên, chúng ta có hơn một nghìn trang “Việt Nam máu lửa quê hương tôi”, gần một nghìn trang “Hồ sơ dinh Độc Lập”, vẫn còn thiếu một trang viết về người lính buông súng, lột bỏ quân phục chạy về nhà mình tức tưởi, phẫn nộ và lo âu. Chưa bao giờ tôi thấm thía thơ Đặng Trần Côn bằng lúc này:

Google photo edit by Sơn râu

          Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
          Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi
          Chinh phu, tử sĩ mấy người
          Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn…

NHỮNG TỬ SĨ KHÔNG CẦN AI GỌI HỒN
Xe tăng cộng sản từ Long Khánh qua Gia Kiệm, Hố Nai định ra xa lộ Biên Hòa đã bị chặn đánh tại Tam Hiệp trước lệnh đầu hàng của Dương văn Minh. “Chiến lũy Tam Hiệp”, phải coi như thế, được sáng tạo bởi một số lính nhẩy dù, lính thủy quân lục chiến mà đại đơn vị đã tan hàng từ đêm 29-4. Họ phối hợp cùng nhân dân tự vệ và dân chúng Tam Hiệp, dùng máy cầy ủi đất đắp mô ụ nghênh địch. Mẩu chuyện này nghe kể và xem những thước phim của đài truyền hình Pháp ghi lại.
Trận chiến thật ngắn ngủi nhưng rất anh dũng. Không cần hỏa tiễn Tow của Mỹ viện trợ, không cần không lực Hoa Kỳ yểm trợ. Lúc ấy, người Mỹ đã “cút”, ông đại sứ Martin cũng cuốn cờ sao xọc leo lên trực thăng bay ra hạm đội số 7. Thế giới nên công bình ghi nhận rằng, Mỹ đã “cút”, ngụy đã “nhào”, chỉ còn quân dân miền Nam chiến đấu chống cộng sản xâm lăng. Xe tăng cộng sản phải dừng lại. Chúng nổi giận bắn thẳng vào chiến lũy. Đạn của T-54 khạc tới tấp, khạc không thương xót. Quân dân ta chống trả kịch liệt. Những em nhỏ trên 10 tuổi bám sát các anh lính để được sai bảo. Một em trúng đạn giặc, máu me đầy mặt. Hai anh lính dìu em vào chỗ an toàn, băng bó cho em. Em bé khóc. Khuôn mặt hai anh lính ưu tư. Một hình ảnh đẹp nhất, nhân bản nhất của lính quốc gia. Cuộc chiến vẫn tiếp tục. Những người lính mà tướng lãnh đã bỏ trốn phóng lên phía trước. Đạn thù bắn như mưa. Lính của ta gục ngã trên những vũng máu danh dự, trách nhiệm, tổ quốc. Họ chết hết. Họ yên lòng vì họ thật sự biết họ chết vì tổ quốc, vì dân tộc. Trận chiến kết thúc mau lẹ. Xe tăng cộng sản nghiến lên xác lính của ta, nghiến lên xác của dân ta, san bằng mô ụ.
Chúng ngạo nghễ bò ra xa lộ và tiến vào Sài gòn. Bất ngờ, đến cây cầu nhỏ gần nhà máy xi măng Hà Tiên, xe tăng cộng sản bị lính chi khu Thủ Đức chặn đánh thêm. Súng phóng lựu đạn, súng mọc chê, súng đại liên của lính chi khu dũng cảm đã bắn cháy một T 54. Chiến trận cũng không thể kéo dài. Cộng sản làm chủ tình hình và kết thúc lẹ. Chúng khẩn trương chạy vô thành phố.
Những người lính nhẩy dù, thủy quân lục chiến và chi khu Thủ Đức đã hy sinh vào buổi sáng 30-4. Họ không cần ai mạc mặt, gọi hồn cả…


Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

16. Chương Mười sáu

Tám người đứng trước sân lò thiêu xác. Tất cả đều mang dấu hiệu tù chánh trị. Berger không biết một ai trong số đó nhưng hiểu rõ là số phận của họ sẽ ra sao.

Trật tự viên Dreyer đã có mặt tại bàn viết ở dưới hầm. Luôn ba ngày qua hắn đều vắng mặt nên Berger không thể thực hiện điều đã toan tính. Hôm nay, chẳng còn cách nào khác hơn, ông ta quyết định phải liều mới mong có kết quả.

Nửa giờ sau, Đội trưởng Schulte tới. Mặc dầu sắc mặt có vẻ tươi tỉnh nhưng hắn vẫn cứ ngáp dài. Dreyer cặm cụi ghi chép như thường lệ.

Hầm kiểm xác khá rộng và thoáng nhưng thây tù cứ được chùi xuống mỗi lúc một nhiều khiến mùi hôi thúi bắt đầu nồng nặc. Schulte vươn vai đứng dậy cho biết là hắn phải đi ăn. Berger không rõ lúc đó là chiều hay trưa.

Dreyer xếp chồng giấy lại.

– Còn bao nhiêu xác nữa?

– Hai mươi hai.

– Được rồi. Đi ăn cái đã. Bảo bọn trên kia ngưng chùi xác xuống, chờ tôi trở lại.

Ba người tù trong toán kiểm xác bước ra, chỉ còn một mình Berger với cái xác chưa đưa lên lò. Dreyer càu nhàu:

– Sao chưa chịu đi?

Berger đứng thẳng lên:

– Mình quên vào sổ người này.

– Vô lý! Có cái nào sót đâu.

– Có chớ. Vẫn sót cái xác này.

Dreyer không chịu nổi nữa. Hắn quát tháo:

– Trời ơi! Bộ ông điên hả? Ông ăn nói gì kỳ vậy?

– Cần phải vào sổ thêm một người nữa.

Dreyer trợn mắt:

– Vậy sao? Tại sao phải vào sổ thêm?

– Để danh sách được chính xác.

– Ai bảo ông là không chính xác. Bộ ông xét sổ tôi hả?

– Không dám. Tôi chỉ nói là cần ghi thêm nữa thôi. Phải so sánh lại với sổ ghi những vật bằng vàng.

– So sánh à? So sánh với sổ của con ma!

– Phải so sánh với sổ của tôi. Từ ngày tới làm việc ở đây tôi có một sổ riêng. Để đề phòng bất trắc.

Dreyer nhìn người tù bác sĩ từ đầu tới chân như mới gặp lần đầu tiên:

– À thì ra thế. Mày cũng có một cuốn sổ? Và mày chỉ nói ra khi chỉ còn có một mình tao. Lầm lớn rồi, đồ con bò…

Hắn nghiến răng, gằn giọng:

– Đâu, bây giờ thử nói cái gì sẽ ngăn tao đập vỡ cái đầu quả trứng của mày ra? Tới chừng đó, tao vào sổ thêm là chính xác ngay. Dễ quá. Tao chỉ nói mày té quỵ là xong.

Hắn vừa nói vừa đi tới. Người hắn vẫn mập mạp và nặng hơn Berger khoảng 30 kí. Dầu sẵn cặp kềm trong tay, Berger cũng không chống nổi. Hắn chụp cánh tay Berger, vặn ngược ra sau. Berger không nói năng chi cả. Ông ta chúi đầu tới trước cố chịu đựng.

Nhìn bàn tay của Dreyer từ từ đưa lên. Berger cố nhịn đau, nói thật nhanh:

– Anh đừng tưởng không ai biết chuyện này. Tôi đã đề phòng trường hợp này rồi nên viết sẵn lời tố cáo.

Bàn tay Dreyer dừng lại. Berger nói tiếp ngay :

– Nếu chiều nay không có tôi về trại, thư tố cáo của tôi sẽ tới tay Trưởng trại về chuyện hầm kiểm xác làm mất hai chiếc nhẫn vàng và một gọng kính bạch kim.

Dreyer nheo mắt :

– Thật vậy à?

– Đúng vậy. Anh đừng tưởng là tôi chỉ biết liều chớ không biết tính toán.

– À mày cũng biết chuyện đó nữa?

– Tôi đã viết rõ ràng. Weber, Schulte và Steinbrenner sẽ nhớ ra ngay gọng kính đó. Gọng kính của người tù một mắt. Đó là chuyện khó quên mau.

Bàn tay gã trật tự viên hạ xuống.

– Chính mày nói không phải là vàng mà.

– Nhưng nó vẫn là vàng.

– Đồ tạp chủng!

Hắn đẩy mạnh làm Berger ngã té. Cố gượng đứng lên ông ta chống vào xác người chết trúng vào răng và mắt, nhưng mắt ông ta vẫn không rời Dreyer.

Dreyer thở rống :

– Rồi mày tưởng là mấy thằng bạn thúi tha của mày sẽ được khen thưởng, hả? Được khen thưởng vì mày đánh tráo xác chết.

Berger đã đứng lên. Gối bắt đầu rung nhưng ông ta cố kềm chế để Dreyer đừng thấy.

Dreyer không thấy. Hắn đang bận suy nghĩ. Tay hắn rờ vào mụt nhọt trên môi đã nung mủ. Berger chụp lấy cơ hội :

– Đừng rờ vào đó!

– Cái gì? Sao đừng rờ?

– Nhiễm độc tử thi là hết thuốc chữa.

Dreyer sửng sốt nhưng bình tĩnh ngay :

– Tao có rờ tới xác chết nào đâu.

– Nhưng tôi đã rờ mó xác chết và anh đã nắm tay tôi. Viên y sĩ trước tôi cũng chết vì thế.

Dreyer cuống quít chùi tay vào quần :

– Làm sao bây giờ? Trời ơi! Có cách gì không? Mau đi!

Nhìn chằm chặp vào mặt Dreyer một lúc, Berger với lấy chai iodine trên kệ. Ông ta biết là Dreyer vẫn chưa bị nhiễm độc nhưng cố làm như thế để hắn hoang mang. Phết iodine lên mụt nhọt vài lần, Berger trả chai thuốc về chỗ cũ trên kệ rồi nói giọng tự tin :

– Xong rồi… đã sát trùng.

– Có chắc không?

– Chắc chớ.

Hắn nhai miệng một lúc rồi hỏi Berger :

– Sự thật, ông muốn gì?

Berger cảm thấy người như bay bổng lên :

– Đổi tên và số của người chết.

– Nhưng còn Schulte?

– Hắn không biết đâu, nhất là tên họ.

– Còn quần áo? Số đính bài?

– Tôi có mang theo đây. Cả hai người đều cùng một cỡ với nhau.

Dreyer vẫn chưa hết bực dọc :

– Bọn các người cũng mưu mô quỷ quyệt lắm!Hắn cho cả hai tay vào túi, đi qua đi lại một lúc rồi đứng lại trước mặt Berger nhìn chằm chặp. Berger nói ngay:

– Đối với anh chẳng có gì đáng sợ cả. Thêm một người tù chết có nghĩa lý gì nhưng phần tôi thì nguy hiểm hơn. Bởi thế tôi cần tới sự bảo đảm của anh hơn.

Dreyer không trả lời. Berger thuyết phục thêm:

– Còn một điều nữa mà những người tù như chúng ta cần phải nghĩ tới. Chiến tranh này đã tới hồi kết thúc trong thất bại. Quân Đức đã bị đẩy lui khỏi đất Pháp và Nga. Quân Mỹ đã vượt sông Rhin. Trước tình thế đó, việc tuyên truyền về võ khí bí mật đã không còn hữu hiệu. Chỉ trong vài tuần hay vài tháng nữa là xong cả. Kế đến là vấn đề thanh toán ở đây. Anh có muốn bị kết tội bởi lỗi lầm của những kẻ khác không? Nhưng nếu anh giúp chúng tôi, đương nhiên anh sẽ được an toàn.

– Chúng tôi… ông muốn nói ai?

– Chúng tôi đông lắm. Ở đâu cũng có, không phải riêng trong Tiểu trại.

– Và nếu tôi có tố cáo tất cả thì các người sẽ ra sao?

– Nhưng còn câu chuyện mấy chiếc nhẫn và gọng kính vàng?

Dreyer gật gù và cười chán nản:

– Các người tính kỹ thật.

Berger lặng thinh. Dreyer nhướng mắt:

– Có phải người mà ông định cho giả chết muốn đào tẩu không?

– Không. Chúng tôi chỉ muốn hắn thoát khỏi cái này.

Vừa đáp Berger vừa chỉ lên móc sắt trên trần.

– Tù chánh trị hả?

– Đúng.

Dreyer nhíu mày:

– Nhưng nếu rủi hắn bị tìm thấy trong một cuộc soát trại thì sao?

– Các lao xá bèn đó đều tràn ngập. Không thể tìm được hắn.

– Đại diện lao xá biết vụ này chưa?

Berger nói dổi:

– Biết chớ. Nếu không thì làm sao qua mắt được.

– Các người có liên lạc với văn phòng Bộ Chỉ huy không?

– Chúng tôi có liên lạc khắp nơi.

Drever nhìn ra cửa:

– Thôi được. Làm mau đi. Để họ tới thì chết cả lũ.

Hắn hé cửa, nghe ngóng. Berger nhìn xác những người tù và một ý nghĩ khác chợt hiện ra: phải thay đổi hai lần. Có thế mới làm cho Dreyer không biết được tên họ của 509. Dreyer mắng nho nhỏ :

– Mau đi chớ, đồ ngu!

Berger vừa chọn xong một cái xác thích hợp. Ông ta lấy bộ quần áo tù của 509 giấu trong người ra. Sau khi thay đồ xong cho xác chết, Berger ném quần áo của người tù kia lẫn lộn vào đống quần áo của những người tù trước.

– Xong rồi!

Dreyer quay lại:

– Không để lại dấu vết nào chớ?

– Không.

– Được rồi. Hãy nhớ là tôi không nhìn thấy gì cả, tôi không biết tí gì về chuyện này. Trong thời gian đó, tôi đang ở nhà cầu. Hiểu rõ chưa?

– Rõ lắm.

– Còn bản danh sách riêng của ông?

– Mai tôi mang tới hoặc tôi sẽ tiêu hủy nó.

– Có tin được không?

– Anh phải tin.

Trán Dreyer nhăn tít lại. Hắn hỏi với giọng lo ngại:

– Nếu chuyện đổ bể…

Berger quả quyết :

– Tôi nhất định không khai một lời. Trong mình tôi có giấu thuốc độc. Tôi sẽ tự vận ngay.

Ánh mắt gã tù trật tự viên thoáng vẻ thán phục:

– Ông quả là một tay cừ. Rất tiếc là tôi đã hiểu hơi chậm.

Hắn ra lệnh trong khi dợm bước ra:

– Thôi, đẩy bàn kéo lên đi!

Berger gọi giựt lại:

– Này, tôi có một món quà!

– Món quà?

Berger rứt trong túi ra một tờ giấy bạc 5 Marks và đặt lên bàn. Dreyer chộp lấy:

– Tốt lắm. Ít ra cũng có gì đền bù sự nguy hiểm.

– Tuần tới, anh sẽ có thêm năm Marks nữa…

– Ủa… còn gì nữa sao?

– Chẳng có gì nữa cả. Chỉ đền ơn thêm cho lần này thôi.

– Được lắm. Dầu sao con người cũng không phải là quái vật. Rất sung sướng giúp ích cho các bạn.

Hắn bước ra. Berger bỗng thấy choáng váng phải dựa ngay vào tường. Mọi việc đã diễn ra suông sẻ. Tuy nhiên, vẫn phải cảnh giác vì hạng người này không thể đặt hoàn toàn tin tưởng…

Goldstein hỏi:

– Trong các bạn ai là 509?

– Chi vậy?

– Tôi vừa được đưa sang đây.

Goldstein tới Tiểu trại vào buổi chiều cùng với 12 người khác. Hắn nhìn Berger:

– Lewinsky gởi tôi sang.

– Bạn ở lao xá chúng tôi?

– Không. Lao xá 21. Gấp rút quá nên không dàn xếp kịp. Để rồi tính sau. 509 đâu?

– 509 không còn nữa.

Goldstein nhìn lên:

– Chết hay lẩn tránh?

Berger ngập ngừng. 509 ngồi gần đó bảo Berger:

– Bạn có thể tin người này. Lần trước, Lewinsky có nói rồi.

Và quay sang Goldstein, 509 tiếp:

– Bây giờ tên tôi là Flormann. Có tin gì mới lạ không? Lâu quá, chúng tôi không được tin tức gì của các bạn.

– Lâu à? Mới có hai ngày…

– Hai ngày cũng đã lâu. Có gì mới lạ không? Bạn ngồi xích lại. Không ai nghe được gì đâu.

– Đêm rồi trong lao xá 6, chúng tôi có bắt được một ít tin tức qua máy thu thanh ráp lén. Đài Anh hơi khó nghe nhưng có một điểm chắc chắn là quân Nga đang oanh tạc Bá Linh.

– Bá Linh?

– Phải.

– Còn quân đội Anh và Mỹ?

– Không có tin gì khác. Chúng tôi phải cẩn thận sợ đổ bể. Vùng Ruhr bị bao vây. Họ đã vượt qua sông Rhin khá xa rồi.

509 nhìn sững ra hàng rào kẽm gai trên đó còn thoáng hiện một chút nắng chiều dưới cơn mưa:

– Coi bộ hơi chậm…

– Chậm sao được? Bạn cho thế là chậm sao? Chỉ trong một năm quân đội Đức bị đẩy lui từ Nga về tới Bá Linh và từ Phi châu về vùng Ruhr mà còn cho là chậm à?

509 lắc đầu:

– Không phải tôi định nói thế. Chậm là chậm với ở đây. Với chúng mình. Bạn hiểu không? Tôi đã ở đây quá nhiều năm… và mùa Xuân năm nay chậm tới hơn tất cả. Tôi bảo chậm vì cảm thấy sốt ruột phải đợi chờ.

Goldstein cười:

– Hiểu rồi. Tôi biết rõ điều đó lắm. Đặc biệt là đêm nay. Khi người ta không thể ngủ mà cũng cảm thấy khó thở. Quả là chậm vô cùng nếu nhìn theo khía cạnh đó.

– Đúng vậy. Mấy tuần trước, tụi này có biết gì đầu, cũng chẳng cảm thấy gì cả. Bây giờ thì chậm quá. Chậm mà còn phải chờ. Và chờ trong sự hồi hộp sợ bị bắt…

509 nghĩ tới Handke. Âm mưu của nhóm Lão Làng sẽ bị bại lộ nếu Handke bắt gặp 509. Trên giấy tờ hắn đã chết nhưng trên thực tế, Handke đã biết mặt hắn quá rõ. Ngoài ra lại còn Weber. Hắn có thể nhận ra ngay 509 trong một cuộc lục soát bất thần.

– Bạn tới có một mình?

– Có hai người nữa.

– Còn ai sắp sang đây không?

– Có thể còn nữa nhưng họ khó qua chánh thức như tôi. Bên đó hiện thời có khoảng năm, sáu chục người luôn luôn phải lẩn tránh.

– Làm thế nào để giấu được bao nhiêu đó?

– Đêm nào cũng phải đổi lao xá.

– Nhưng nếu bọn SS ra lệnh phải trình diện tại cổng hay tại văn phòng?

– Trong trường hợp đó, họ sẽ không đi.

509 ngồi thẳng dậy, ngạc nhiên:

– Rồi bọn chúng chịu bỏ qua sao?

Goldstein nghiến răng :

– Chúng nó chắc không thích phải đích thân vào lao xá. Nếu muốn, chúng phải đi đông người và võ trang đầy đủ.

509 lặng thinh. Những gì hắn vừa nghe có vẻ ly kỳ quá. Cuối cùng hắn hỏi :

– Chuyện xảy ra bao lâu rồi?

– Khoảng một tuần. Dường như đã có một cái gì thay đổi. Bọn SS bỗng nhiên nhận ra là chúng ta có tới hàng ngàn người. Vả lại, chúng cũng biết chiến trận bất lợi về phần chúng.

Goldstein vừa nói vừa đứng lên:

– Thôi, để tôi đi tìm thử xem có chỗ nào đặt lưng không.

509 nằm dài gần bên đống xác tù. Đống thây người đêm nay cao hơn thường lệ. Đêm qua, họ không được phát bánh mì. 509 phải nằm gần đống xác để khỏi bị gió lạnh lùa tới.

Hắn rùng mình. Hắn có thể trở vào lao xá ngủ trong hơi ấm hôi thúi vài giờ nhưng hắn không muốn thế. Hắn cứ muốn ngồi một chỗ nhìn mãi vào bóng đêm.

Ahasver từ trong bóng tối đi ra:

– 509, có ở đó không?

– Tôi đây. Có gì vậy?

– Con chó chăn cừu chết rồi.

– Ủa, không thấy hắn bệnh hoạn gì cả.

– Hắn ngủ rồi đi luôn.

– Có cần tôi tiếp tay khiêng hắn ra không?

– Không. Hắn chết lúc đang nằm bên ngoài. Tôi chỉ muốn báo tin hắn chết thôi.

– Phải.

– Phải, 509.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

15. Chương Mười lăm

Hai trăm người tù đi thành một hàng dài trên phố. Đây là lần đầu tiên họ được dùng trong công việc dọn dẹp bên trong thành phố. Từ trước tới nay họ chỉ được cho làm việc tại các cơ xưởng bị tàn phá ở ngoại ô.

Lính SS trấn giữ tại các ngã đường và chia thành từng tiểu đội canh gác phía bên trái. Bom chỉ rơi bên phải. Tường và mái nhà đổ tràn ra ngoài đường khiến cho lưu thông gián đoạn.

Vì không có đủ xẻng, cuốc nên một số tù nhân phải làm việc bằng tay không. Bọn trật tự viên và giám thị cuống quít lên, chúng không biết nên đánh đập để thúc hối đoàn tù hay phải tự kềm chế. Mặc dầu thường dân bị cấm qua lại nơi này nhưng gia chủ của các ngôi nhà sup đổ vẫn còn ở lại.

Lewinsky và Werner làm việc gần nhau, cả hai đều tình nguyện xung vào đoàn khai quang với một số tù nhân chánh trị khác mà sinh mạng đang bị đe dọa. Tuy công việc ở đây vất vả hơn nhưng ít ra nó cũng giúp họ khỏi bị bọn SS bắt gặp trong trại lúc ban ngày.

Werner hỏi nhỏ:

– Có thấy tấm bảng tên đường không?

Lewinsky nhăn mặt. Con đường mang tên Hitler.

– Thấy. Tên của thánh thần đó nhưng vẫn cứ bị ăn bom.

Lưng áo rằn của họ ướt đẫm mồ hôi. Họ gặp Goldstein khi được di chuyển tới một nơi khác. Hắn cũng tình nguyện đi mặc dầu đang đau tim. Werner và Lewinsky không ngăn cản vì thừa hiểu tù chánh trị còn ở lại trại lúc ban ngày là khó thoát khỏi tay bọn SS. Mặt hắn lúc này đã xám xịt. Cánh mũi hắn phồng lên, xệp xuống:

– Có mùi thúi ở đây. Chắc là của xác chết đã lâu ngày.

– Đúng rồi.

Họ đã quen đánh mùi và mùi xác chết lại càng quen thuộc hơn. Họ chất đống những gạch ngói bể nát dài theo một bờ tường. Những mảnh vụn nát được chất lên xe kéo đi nơi khác. Phía sau họ, bên kia đường là một cửa hàng thực phẩm. Tất cả các cửa sổ đều bị thổi bay nhưng một số hộp giấy đã được gom chất đống trước cửa. Một gã đàn ông có râu mũi từ phía sau đống hộp nhìn ra. Đó là một trong những khuôn mặt quen thuộc vào năm 1933 khi xuống đường với những biểu ngữ: Không mua đồ của người Do Thái. Cái đầu hắn như bị cắt ngang bởi bức tường nơi cửa sổ.

Trong một cái sân không bị trúng bom, trẻ con đang đùa nghịch. Bên cạnh chúng là một người đàn bà mặc áo đỏ đang nhìn những người tù. Thình lình mấy con chó từ chỗ đó phóng chạy qua đường. Chúng ngửi giày và quần áo tả tơi của các tù nhân. Một con chó bỗng chồm lên như mừng đón người tù có số 7105. Tên trật tự viên của toán này không biết phải làm sao. Mặc dầu chỉ là chó chớ không phải người nhưng việc làm bạn với một tù nhân không được cho là thích hợp – nhất là trước mặt bọn SS.

Người tù mang số 7105 cũng luống cuống. Hắn vẫn cắm cúi làm việc như con vật chẳng hề có mặt. Nhưng con chó vẫn theo hắn. 7105 cúi xuống cố gắng làm việc hăng hái hơn. Hắn lo sợ: cử chỉ quấn quít của con vật cũng có thể mang tới sự chết chóc.

Tên tù giữ trật tự đưa dùi cui lên và quát:

– Đi! Đi chỗ khác, đồ lông xù hôi hám!

Lúc này hắn đã có chủ ý. Phải tỏ ra cứng rắn trước mặt bọn SS. Tuy nhiên, con vật vẫn phớt lờ, nó cứ nhảy nhót chung quanh 7105, thỉnh thoảng lại chồm lên.

Tên trật tự viên ném mấy hòn đá về phía con vật. Hòn đá đầu tiên trúng vào đầu gối 7105, cho tới hòn thứ ba mới trúng ngay vào bụng chó. Con vât nhảy qua một bên và sủa kẻ ném đá. Tên trật tự viên lượm một viên đá khác vừa ném vừa chửi rủa:

– Đồ quái vật! Cút mau!

Con chó tránh thoát nhưng không bỏ chạy. Nó phóng tới và chụp vào người tên trật tự viên. Hắn té ngửa ra trên đống gạch vụn. Con chó nhe răng gầm gừ. Cuống cuồng, hắn kêu to :

– Cứu tôi! Mau cứu tôi!

Bọn SS gần đó cười rộ lên.

Người đàn bà mặc áo đỏ chạy qua đường gọi con vật:

– Về đầy! Về ngay đi! Con quỷ này cứ rắc rối hoài!

Vừa nói bà ta vừa kéo lôi con chó về nhà. Vẻ sự sệt, người đàn bà nói với tên lính SS đứng canh gần đó :

– Nó bứt dây mà tôi không hay. Để tôi cột nó lại.

Tên lính SS lên mặt:

– Chút nữa nó đã ngoạm tên kia một miếng.

Người đàn bà cười gượng:

– Để tôi xích nó lại ngay.

Tên trật tự viên đã đứng lên và phủi bụi trên quần áo. Một tên lính trong bọn SS hỏi gã trật tự viên:

– Sao không cắn nó?

Gã trật tự viên lặng thinh. Đó là phương cách tốt nhất. Hắn tiếp tục phủi bụi một lúc nữa rồi hùng hổ bước tới chỗ các tù nhân đang làm việc. 7105 đang cố lôi một cái bàn ngồi vệ sinh ra khỏi đống gạch vụn thì bị gã trật tự viên đá ngã nhào. Nhóm tù chung quanh không dám ngừng tay song vẫn theo dõi bằng khóe mắt. Tên lính lúc nãy nói chuyện với người đàn bà xồng xộc đi qua. Hắn đá mạnh vào mông tên tù giữ trật tự :

– Để yên cho nó! Có phải lỗi của nó đâu! Sao hồi nãy mày không cắn lại, đồ chim ục!

Ngạc nhiên, gã tù chuyên thói hống hách quay lại. Nét giận dữ trên mặt đã nhường chỗ cho một cái cười như mếu:

– Vâng, vâng. Tôi chỉ muốn…

– Làm phận sự đi!

Tên trật tự viên lại lãnh thêm một giày vào bụng. Hắn cố đứng nghiêm rồi quay mình về chỗ.

Lewinsky hỏi nhỏ Werner:

– Có để ý gì không?

– Chắc là tại có mặt dân chúng quanh đây.

Thỉnh thoảng, các toán tù len lén nhìn qua bên kia đường và bờ đường bên kia nhìn sang họ. Mặc dầu chỉ cách nhau mấy thước nhưng khoảng cách lại xa diệu vợi như khoảng cách giữa hai lục địa. Đa số tù nhân mới có dịp nhìn tận mắt thành phố lần đầu kể từ khi vào trại. Họ lại bắt gặp dân chúng đi đi lại lại với công việc hàng ngày. Đối với họ hình như cảnh tượng đó chỉ có trên Hỏa tinh.

Một thiếu nữ giúp việc nhà mặc áo xanh đốm trắng đang lau chùi những cánh cửa sổ còn nguyên vẹn của một ngôi nhà. Hai tay áo xăn cao, cô ta vừa làm vừa hát nho nhỏ. Ở một cửa sổ khác, một bà lão thò đầu ra, tóc trắng xóa. Ánh nắng rơi trên tóc, chói sáng trên những tấm màn và những bức ảnh trong phòng. Mắt bà buồn bã nhìn về phía đoàn tù. Ở góc đường là một nhà thuốc Tây. Người chủ hiệu đứng trước cửa ngáp dài. Một thiếu nữ mặc áo màu da beo đi ra phố, chân mang giày, tay mang bao len. Bọn SS nhường cho cô ta đi qua. Nhiều người tù chưa bao giờ trông thấy một phụ nữ từ nhiêu năm. Tất cả đều chú ý đến cô gái, chỉ trừ một mình Lewinsky là nhìn sững phía sau.

Werner cảnh giác:

– Coi chừng! Giúp tôi một tay!

Hắn vừa nói vừa chỉ một mảnh vải từ trong đống gạch đổ nát ló ra:

– Chắc có người bị chôn lấp ở đây.

Họ cuốc những mảnh gạch đá qua một bên. Ít phút sau, một khuôn mặt nát bấy, bê bết máu lộ ra. Bên cạnh đó là một bàn tay. Có lẽ người này đã đưa tay lên che mặt khi tòa nhà đổ xuống.

Bọn SS bên kia đường đang chọc phá cô gái với những lời đùa cợt. Cô ta cười và liếc mắt với chúng…

Bỗng nhiên còi báo động rú vang.

Người chủ hiệu thuốc Tây biến mau vào trong. Cô gái áo da beo chạy quýnh quáng. Vấp phải một đống gạch ngói, thiếu nữ té dài, bít tất rách toạt, đôi bao tay xanh dính đầy vôi cát. Tù nhân đứng thẳng người lên.

– Đứng yên! Nhúc nhích sẽ bị bắn bỏ!

Bọn SS từ các ngã đường chạy ùa ra:

– So hàng lại! Đứng hàng tư! Bước đều, bước!

Đoàn tù hoang mang không biết phải nghe theo lệnh nào. Một vài phát súng nổ. Bọn SS cuối cùng họp thành một nhóm. Các tên Tiểu đội trưởng phân vân không biết phải làm gì. Còi chỉ mới báo động lần đầu nhưng bọn chúng đều sợ sệt ra mặt, cứ nhìn lên không. Nền trời tươi sáng dường như trong chốc lát tươi sáng hơn lên nhưng đồng thời cũng tối sầm lại.

Bây giờ bên kia đường đã náo nhiệt hơn. Những người trước đây không thấy đâu, lúc này tràn ra ngoài. Trẻ con la khóc. Người chủ cửa hàng tạp hóa phóng vọt ra khỏi tiệm và bò trên các đống gạch đổ nát trông như một con giòi. Một thiếu phụ vừa chạy vừa xách theo một lồng chim. Có gái ở thuê, váy tốc cao, chạy hối hả. Lewinsky nhìn theo cô ta. Giữa khoảng bít tất đen và quần lót xanh nổi bật làn da trắng của hai chân.

Trong một thoáng, cảnh vật đã biến đổi: bờ đường thanh bình và tự do phía bên kia bây giờ bỗng tràn ngập những người chạy tìm nơi trú ẩn vơi nét mặt kinh hoàng, trong khi bên này đường, tù nhân đứng lặng câm trước cảnh đổ nát, nhìn sang.

Một gã Tiểu đội trưởng SS dường như nhận ra điều đó. Hắn hô to:

– Tất cả, đằng sau, quay!

Bây giờ, đoàn tù đứng đối diện cảnh hoang tàn.

Còi bẳt đầu đổi giọng. Bọn SS chạy nhào tới một hầm núp tại căn nhà gần đó, chỉ chừa lại một vài tên canh giữ hai đầu đường:

– Trật tự viên! Cấm chúng cử động! Đứa nào nhúc nhích sẽ bị bắn ngay!

Sắc mặt của tù nhân căng thẳng. Họ nhìn đăm đăm vào các bức tường sụp đổ và chờ đợi. Họ không được lệnh cho nằm xuống. Bọn SS muốn họ đứng để dễ kiểm soát. Thình lình con chó lúc nãy hiện ra. Nó lại bứt dây và đi tìm 7105. Vừa gặp hắn, con vật chồm lên liếm mặt.

Trong một thoáng, mọi tiếng động ngưng bặt. Trong sự im lặng bất thần dường như bứt xé thần kinh ấy, đột nhiên có tiếng dương cầm nổi lên. Tiếng đàn vọng lên rõ ràng và trong sáng nhưng chỉ trong phút chốc lại tan biến. Tuy nhiên, Werner đã nhận ra đó là nhạc điệu của tù nhân từ Fidelio. Nhất định không phải là một bản nhạc qua máy thu thanh. Đài phát thanh không hề cho chơi nhạc trong khi có báo động… có thể đó là một điệu nhạc từ một máy quay dĩa mà người nào đã quên vặn tắt, cũng có thể một người nào đó đang đánh dương cầm bên cửa sổ.

Tiếng đàn lại nổi lên. Werner cố tập trung tinh thần theo nhịp điệu, cắn chặt răng, hắn cố lắng nghe. Hắn không muốn nghĩ tới những quả bom và sự chết chóc. Hắn không thể chết lúc này. Không thể chết một cách phi lý. Hắn cố nhớ bản nhạc, một bản nhạc mà các tù binh kia đã hát lên khi lấy lại tự do. Bàn tay nắm chặt, hắn cố nghe từng tiếng dương cầm, nhưng điệu đàn đã chìm trong sự đổ vỡ loảng xoảng của kim khí.

Cả thành phố rung chuyển với quả bom đầu tiên. Tiếng bom rú ngắt khoảng giọng hú của còi báo động. Một mảng tường từ từ long ra. Một số đông tù nhân cuống cuồng ném mình lên những đống gạch vụn. Bọn giám thị chạy tới:

– Đứng lên! Đứng cả lên!

Tiếng quát tháo của chúng chìm khuất. Chúng lôi những người tù quá sợ đứng lên. Goldstein nhìn thấy đầu của một người tù vừa ném mình xuống lúc nãy bị đổ máu. Người tù bên cạnh hắn ôm lấy bụng rồi ngã sấp. Họ không bị thương vì mảnh bom mà là bởi những phát súng không nghe thấy của bọn SS.

Goldstein thét lớn với Werner:

– Cái hầm kìa! Chui vô đó! Bọn chúng không dám tới đâu!

Họ nhìn một căn hầm bỏ trống của ngôi nhà đổ nát. Căn hầm như rộng thênh thang. Bóng tối trong nó là sự an toàn. Căn hầm như có sức cuốn xoáy khiến họ không cưỡng nổi. Những người tù đứng đó, nhìn chằm chặp vào căn hầm như bị thôi miên. Họ bắt đầu lảo đảo. Werner cố cưỡng lại:

– Không.

Và hắn thét to lên:

– Không được. Tất cả sẽ bị bắn! Cứ đứng yên!

Goldstein quay nhìn Werner. Mắt hắn đục ngừ như diệp thạch. Miệng hắn xoay động:

– Không phải chạy để núp. Phải đào tẩu! Chạy luôn qua đó! Có một lối ra ở phía sau!

– Không!

Hắn tưởng là mình đang nói nhỏ nhưng sự thật thì hắn đang hét thật to giữa những tiếng ầm ĩ hỗn loạn “Không!” Chẳng phải là để nói với Goldstein mà là để nói với chính hắn. “Ngay lúc này không được! Không được đâul” Hắn biết đó là sự điên cuồng, bao nhiêu công trình xây dựng ngấm ngầm của anh em sẽ lâm nguy, bạn bè sẽ bị giết chết như trùng dế. Cứ mỗi tù nhân vượt ngục là mười tù nhân khác bị giết chết. Máu sẽ đổ đầy đường.

– Không!

Werner hét lên và giữ chặt Goldstein lại đồng thời cũng giữ chính mình.

Các bửc tường rung chuyển. Một sức lay động mãnh liệt xảy ra rất gần và một mảng tường lớn đổ ập xuống. Một tù nhân gần đó bị mảng tường nát vụn úp chụp lên, nhưng hắn vẫn còn đứng ngơ ngác không hiểu vì sao thình lình có một đống gạch vôi và cát phủ xuống tới tận hông mà hắn vẫn còn sống. Bên cạnh hắn, một số tay chân từ trong đống gạch ló ra, giãy giụa vài phút rồi bất động.

Áp lực từ từ lắng xuống. Thoạt tiên, không một ai chú ý, chỉ thấy là cái gì siết kẹp quanh đầu bỗng như nới lỏng ra. Rồi lần làn tiếng ồn ào khác với tiếng va chạm của kim khí và gạch đá nổi lên. Tới lúc đó, họ biết là đã xong rồi.

Bọn SS từ hầm núp chui ra. Werner nhìn bức tường trước mắt, nhìn căn hầm bỏ trống, không còn cảm thấy sức cuốn xoáy đen ngòm của nó nữa. Dưới chân hắn, khuôn mặt bê bết máu lúc nãy vẫn còn đó, đằng kia là chân tay bị vùi lấp không trọn vẹn của các người đồng cảnh. Rồi hắn bỗng nghe một lần nữa tiếng dương cầm nổi lên trong những tràng súng cao xạ. Hắn mím môi.

Khẩu lệnh vang lên. Người tù sống sót giữa đống gạch đổ nát trèo ra khỏi nơi đó. Bàn chân phải của hắn cong vẹo. Hắn đứng một chân cố giữ cho khỏi ngã. Một tên SS chạy tới:

– Làm việc đi! Đào những đứa chết ra!

Toán tù xông lại đào xới bằng cuốc, xuổng và tay không. Vài phút sau, họ đã thấy bốn người bạn lẫn lộn trong đó. Ba người đã chết. Họ khiêng người còn ngoắc ngoải ra. Werner nhìn quanh tìm phương tiện cứu cấp. Hắn chợt thấy thiếu phụ áo đỏ bước ra khỏi nhà. Bà ta không chạy vào hầm núp. Bây giờ trên tay bà ta có một ca nước và một cái khăn. Người đàn bà nhìn thẳng, đi ngang qua bọn SS, tới trước chỗ người tù bị thương, đặt ca xuống. Bọn SS nhìn nhau chẳng biết nên có thái độ nào. Thiẽu phụ bắt đầu rửa sạch mặt người tù. Hắn ói ra từng ngụm máu. Người đàn bà lại lau sạch. Một tên SS bỗng bật cười.

Tiếng súng cao xạ im bặt. Trong không khí yên lặng, tiếng dương cầm lại nổi lên. Bây giờ Werner đã biết rõ người đánh dương cầm ngồi bên cửa sổ lầu nhất cửa hiệu tạp hóa. Ông ta đeo kính và đúng là đang chơi bản nhạc nói về những người tù được tự do. Bọn SS nhíu mày. Một tên vỗ tay vào trán. Werner không hiểu người đàn ông ấy đánh đàn để quên sự sợ hãi hay còn một ý nghĩa nào khác. Hắn muốn rằng bản nhạc đó là một thông điệp ngầm cho hắn và cho các người đang sống cảnh tù ngực.

Dân chúng bắt đầu rời hầm trú ẩn. Bọn SS lấy lại cung cách nhà binh. Khẩu lệnh lại vang lên đây đó. Một tên SS được cắt đặt ở lại với đám tù chết và bị thương, rồi đoàn tù được lệnh di chuyển tới một miệng hầm bị bom lấp kín.

Hố bom còn nồng nặc mùi lưu huỳnh. Bên miệng hố, một vài thân cây trốc gốc ngã nghiêng, lòi rễ ra ngoài. Quãng đường sắt gần bên công viên vặn vẹo và chĩa mũi nhọn lên. Quả bom đã không rớt ngay trên hầm mà chỉ rơi một bên làm bịt miệng hầm lại.

Suốt hai tiếng đồng hồ, đoàn tù cố gắng mở lại miệng hầm. Họ moi sạch đất cát tại các bậc thang. Họ làm việc thật hăng dường như những người trong hầm là bạn đồng lao.

Nửa giờ sau, miệng hầm được khai thông. Trước đó khoảng mười phút, họ nghe thấy tiếng kêu la từ bên trong. Lúc miệng hầm vừa được mở ra một khoảnh, tiếng kêu la vang dậy hơn. Một cái đầu thò ra và kêu thét. Tức khắc có hai hàn tay từ bên dưới ló lên moi moi vào đống gạch đất đổ nát trông như một con chuột khổng lò bươi đất để ra khỏi miệng hang.

Một tên trật tự viên la lớn:

– Coi chừng! Lại sập nữa bây giờ!

Cái đầu bị kéo vào rồi một cái đầu khác ló ra, kêu réo. Nhưng cái đầu thứ hai lại cũng bị kéo thụt vào. Những người trong căn phòng nghẹt thở đang tranh nhau một chỗ có ánh sáng.

– Đẩy họ vào! Bị thương cả đám bây giờ! Phải moi lỗ hổng lớn thêm ra! Đẩy họ vào!

Toán tù dùng tay đẩy họ vào trong khi những tù nhân khác dùng cuốc xuổng đào xới. Họ tận lực như để cứu thoát chính sinh mạng họ. Sau cùng miệng hầm được mở ra khá rộng vừa đủ cho một người chui qua. Ông ta có vẻ khỏe mạnh. Lewinsky nhận ngay ra người chủ hiệu tạp hoa có râu mũi. Ông ta tự lực bươn tới vừa rên hừ hừ. Tới khoảng giữa bụng thì ông ta bị vướng. Tiếng la hét bên trong nổi dậy lớn hơn. Họ nắm chân ông ta lôi xuống. “Cứu tôi. Cứu tôi ra! Tôi hứa sẽ… cho…”, ông ta la thét lên lanh lảnh.

Chới với, người có râu mép cố bấu tay vào miệng hầm van xin các tù nhân :

– Mau cứu tôi! Quý vị ơi! Xin cứu tôi!

Bộ râu Hitler đảo qua đảo lại, trông ông ta như một con hải cẩu mắc bẫy.

Mấy người tù nắm tay ông ta lôi ra. Vừa được buông ra, người chủ hiệu tạp hóa rụng xuống, cố đứng lên ngay rồi bỏ chạy không một lời cám ơn. Cửa hầm lần lần được nới rộng thêm. Toán tù lùi bước lại.

Những người trốn bom lần lượt kéo ra. Đàn bà, trẻ con, đàn ông… Một số hấp tốp, mặt xanh như chàm, áo ướt mồ hôi… một số khác khóc lóc rên la, chửi rủa… và rồi tới phiên những người câm lặng, những người không quá sợ.

Goldstein thì thầm :

– Quý vị! Bạn có nghe không? Quý vị, hắn gọi mình thế…

Lewinsky gật đầu rồi nhái giọng của người có râu mũi :

– Tôi hứa sẽ cho… Rồi chẳng có gì cả. Trông hắn như con khỉ.

Bỗng nhiên hắn chú ý tới Goldstein:

– Thật là kỳ dị! Thay vì họ cứu mình thì mình lại cứu họ.

Goldstein lảo đảo rồi ngả nghiêng ra. Nhanh tay, Lewinsky và Werner chụp kịp đặt hắn nằm xuống một mô đất.

Họ đứng bên miệng hầm, họ là những người từ của năm này qua năm khác, họ đứng nhìn những người chỉ bị giam hãm trong giây lát đi ngang qua. Lewinsky nhớ lại một cái gì tương tự đã xảy ra… khi đoàn tù đi ngược chiều với đám dân chúng trên đường di tản khỏi thành phố. Hắn chợt thấy cô gái áảo xanh đốm trắng vừa chui ra miệng hầm. Cô ta vừa phủi áo vừa cười với hắn. Một phế binh chống nạng theo ra. Người lính tàn phế này kéo sát hai chiếc nạng lại để đứng nghiêm rồi chào các tù nhân theo kiểu nhà binh trước khi khập khểnh ra đường. Người sau cùng ra khỏi hầm là một ông lão, da mặt nhăn nheo. Ông lão hom hem nhìn những người tù và nói giọng run run:

– Cám ơn lắm. Trong đó còn mấy người bị đất vùi.

Chậm chạp và thanh thoát, ông lão bước lên các nấc thang xiêu vẹo. Toán tù cứu cấp vào trong hầm.

Bây giờ, họ đang trên đường về trại, mang theo những người bạn đã chết và bị thương. Nắng chiều nhuộm thắm cả bầu trời. Không khí trong mát, trời đất xinh tươi tưởng chừng như thời gian ngừng lại… không có chết chóc và tàn phá.

– Tụi mình cũng là những anh hùng chớ bỏ sao!

Goldstein đã có vẻ tươi tỉnh lại. Hắn nói thêm :

– Đào xới đau nhức cả xương ngón tay để cứu những kẻ chẳng ngó ngàng gì tới mình cả.

Werner ném một cái nhìn nghiêm khắc :

– Bạn không nên đi với toán khai quang nữa. Đi thế này có ngày sẽ mất mạng.

– Chớ ở lại trại để bọn SS tóm cổ à?

– Chúng tôi sẽ lo cho bạn một chỗ khác.

Goldstein cười thiểu não:

– Vậy là tôi đã thích hợp với Tiểu trại?

Werner vẫn lạnh lùng:

– Tại sao không? Ở đó an toàn hơn, vả lại cũng nên có người của mình ở đó.

Gã trật tự viên đã đá 7105 lúc nãy đi ngang chỗ người tù này. Hắn đi bên cạnh một lúc rồi dúi vào tay 7105 một vật và bước chậm lại. 7105 nhìn xuống tay, ngạc nhiên lẩm bẩm :

– Một điếu thuốc.

Lewinsky ra vẻ suy tư :

– Bọn chúng đã bớt hung hăng. Có lẽ chúng đang nghĩ tới tương lai.

Werner gật đầu:

– Cũng nên để ý tới gã trật tự viên này. Có thể còn nhiều việc phải nhờ tới anh ta.

Họ lê chân dưới nắng chiều dìu dịu. Muenzer bỗng lên tiếng :

– Thành phố. Nhà cửa. Dân chúng tự do. Chỉ cách mình mấy thước. Dường như không phải đang sống trong cảnh ngục tù.

7105 ngẩng mặt lên:

– Chẳng biết họ nghĩ gì về mình.

– Nghĩ gì à? Có trời mới biết họ hiểu thế nào về chúng ta. Vả lại, chính họ bây giờ cũng chẳng sung sướng chút nào.

Họ bắt đầu đi lên đồi. 7105 nói với giọng tiếc rẻ:

– Ước gì tôi có con chó đó…

Muenzer chêm ngay vào:

– Nướng thì tuyệt diệu. Ít lắm cũng phải 15 kí.

– Không phải. Tôi không nói tới chuyên ăn. Tôi chỉ muốn có nó bên cạnh.

Chiếc xe không thể vượt qua. Hầu hết các con đường đều nghẽn lối. Neubauer bảo tài xế :

– Lái trở lại, Alfred! Chú chờ tôi ở trước nhà.

Hắn xuống xe để đi bộ. Hắn trèo qua một bức tường đổ ụp ra đường. Phần còn lại của ngôi nhà vẫn đứng yên. Một người đàn ông đứng nơi chỗ tường đổ, mình mẩy vấy máu. Ông ta cứ nhìn đăm đăm vào khoảng trống của ngôi nhà, không nhúc nhích. Phía sau ông ta, một người đàn bà chạy tới chạy lui thu dọn những vật dụng, bàn ghế tung tóe khắp gian phòng.

Neubauer nghe có gì động đậy trong đống gạch đá vụn dưới chân. Đống gạch đá tiếp tục động đậy. Hắn cúi xuống bới những viên đá gạch sang một bên. Một cánh tay người lộ ra. Hắn kêu to :

– Có ai đó không? Tại đây có người bị… Mau đi!

Không ai nghe tiếng kêu của hắn. Hắn nhìn quanh. Trên đường không một bóng người. Hắn gọi người đàn ông đứng chỗ bức tường đó:

– Ông ơi, lại đây mau! Có người bị lấp ở đây!

Người đàn ông đưa tay chùi vết máu trên mặt nhưng không quay đầu lại. Neubauer dời một tảng gạch sang bên. Hắn nhìn thấy một mảng tóc, vội vàng quay lại gọi:

– Alfred, lại đây mau!

Chiếc xe không còn đó. Hắn chửi lớn:

– Đồ trâu chó! Lúc mình cần tới thì chẳng có ai!

Hắn tiếp tục dùng tay bươi móc. Mồ hôi đã thấm ướt mặt và cổ. Hắn không quen với công việc tay chân. Hắn nghĩ tới cảnh sát, các toán cấp cứu. Bọn chúng đâu cả rồi?

Một mảnh tường bể vừa được ném đi, Neubauer bỗng cảm thấy một cái gì mới nhìn thì trông giống như một khuôn mặt nhưng nhìn kỹ hơn thì là một đống bầy nhầy. Không thể gọi là khuôn mặt vì cái mũi đã bị thụt vào, hai con mắt chỉ là hai lỗ trũng đầy đất cát và cái miệng chẳng còn vành môi cũng mất hết răng, sở dĩ còn nhận ra được vì phía trên đống bầy nhầy đó là một mớ tóc bê bết máu. Đống bầy nhầy cũng đang ứa máu.Neubauer nấc nghẹn rồi ói ra. Xúc xích, khoai tây, bánh ngọt và cà-phê từ miệng hắn tuôn ra òng ộc gần chỗ cái đầu xẹp lép. Hắn cố bấu víu vào một vật gì nhưng chẳng có gì để bấu víu cả. Hắn xoay người đi và tiếp tục nôn ra.

– Cái gì vậy?

Có tiếng hỏi phía sau hắn và một người bước tới với cái xuổng trong tay. Neubauer vừa nôn oẹ vừa chỉ vào cái đầu dưới đám gạch vun.

Cái đầu lay động nhẹ. Có cái gì co giựt trên đống thịt bầy nhầy. Neubauer lại mửa thốc ra. Người vừa tới nhảy xô vào, móc đất cát ra khỏi mũi của cái đầu rồi tiếp tục móc những gì ra khỏi nơi mà ông ta nghĩ là cái miệng.

Máu tuôn ra mạnh hơn từ khuôn mặt dập nát. Cái miệng bắt đầu cử động, những ngón tay ngọ nguậy và cái đầu lắc lư, lắc lư vài giây rồi dừng lại. Người có cái xuổng đứng lên, hắn chùi hai bàn tay vào một tấm màn lụa kẹt trong đống gạch.

– Chết rồi. Còn ai nữa không?

– Không rõ.

– Ông ở nhà này hả?

– Không.

Người có cái xuổng chỉ tay vào cái đầu:

– Thân nhân hả?

– Không phải.

Nhìn vào bãi đồ ăn Neubauer vừa mửa ra, người đàn ông lượm cái xuổng lên rồi nhún vai. Dường như ông ta không mấy có thiện cảm với một sĩ quan cao cấp SS. Neubauer cảm thấy xấu hổ, vội vàng quay mặt rồi trèo qua đống gạch vụn…

Phải mất gần cả tiếng đống hồ, Neubauer mới tới đường Friedrichs. Quãng đường này không bị bom. Hắn khấp khởi mừng thầm. Nếu những dãy nhà ở con đường đằng kia không bị tàn phá thì cao ốc cho thuê của hắn cũng còn nguyên vẹn.

Con đường kế tiếp vẫn yên lành. Một con đường nữa không có dấu vết bom đạn. Hắn bắt đầu đi mau. Nếu hai căn nhà đầu đường sắp tới không có gì xảy ra thì chắc chắn là cao ốc của hắn cũng không sao. Quả đúng là hai ngôi nhà đầu đường vẫn còn nguyên, nhưng chỉ có ngôi nhà thứ ba là đã biến thành gạch vụn.

Neubauer bỗng thấy cổ họng như bị ai siết nghẹt. Những quả bom dường như đã rơi vô cùng chính xác. Các tầng trên của cao ốc đều hoàn toàn sụp đổ. Trọn một góc lầu bị bắn tung lên sang bên kia đường, trúng vào một hiệu buôn đồ cổ. Sức va chạm làm cho một số cổ vật tại đó văng tung tóe ra mặt đường, trong số này có một pho tượng Phật. Pho tượng vẫn ngồi ngay ngắn, hai tay đặt lên đùi, miệng cười hiền dịu, mắt nhìn thẳng vào cảnh điêu tàn Tây Phương.

Neubauer cảm thấy muốn khóc. Hắn nhìn dài theo con đường, nhiều nhà vẫn còn nguyên. Hắn nghĩ, tại sao tai họa không tới đó? Tại sao tai họa chỉ đến với mình thôi? Với một kẻ yêu nước, một người chồng tốt, người cha có lương tâm?

Hắn đi vòng qua. Tất cả các cửa kính của tiệm may đều bị thổi tung, mảnh vụn nát ngấu dưới bước giày. Tấm bảng “y phục đúng thời trang của phụ nữ Đức” đổ nghiêng xuống. Hắn khom mình bước vào trong. Hắn ngửi thấy mùi khét nhưng, không thấy có gì đang cháy. Hình nộm làm mẫu nằm lăn lóc trên mặt sàn. Một số nằm ngửa ra, váy bị tốc cao, chân dở hỏng, một số khúc nằm sấp, mông và lưng lủng bấy. Một hình mẫu khác bị rách toạt cả y phục chỉ còn đôi bao tay. Trong góc phòng, một hình mẫu nữa bị gãy mất một chân, thân dựa vào tường, đầu vẫn đội nón với màn che mặt. Tất cả trong những bộ thế khác nhau, đều mỉm cười duyên dáng… khiến cảnh tượng trở thành thô bỉ lạ lùng.

Hết cả rồi, Neubauer tự nhủ. Hết cả. Selma sẽ nghĩ gì? Công lý ở đâu? Hắn thở dài chán nản và bỏ đi ra. Bỗng nhiêu hắn thoáng thấy bóng người vừa nghe tiếng chân tới gần vội vàng bỏ chạy. Phản ứng tự nhiên, hắn hô to:

– Đứng lại! Nếu không, tôi bắn!

Cái bóng dừng chân hiện thành một người thấp bé, nghèo nàn.

– Lại đây!

Người đàn ông sợ sệt tới gần. Và Neubauer hơi giựt mình khi nhận ra kẻ đối diện. Đó là người chủ cũ của cao ốc. Giọng Neubauer hơi lạc đi:

– Blank! Có phải ông không?

– Thưa Đại tá, phải.

– Ông tới đây làm gì?

Hắn đã lấy lại giọng cứng cỏi. Blank lắp bắp:

– Thưa, tôi… tôi…

– Tới đâu? Tới làm gì?

Blank cuống cuồng chỉ vu vơ vào đống gạch vụn. Neubauer trợn mắt:

– Để chứng kiến cho thỏa mãn, hả?

Blank lùi lại một bước :

– Không, không. Không phải đâu, Đại tá. Tôi thấy thảm hại quá!

– Ừ thảm hại quá. Sao ông không cười đi?

– Dạ, tôi không dám vậy đâu…

Nhìn bộ điệu thiểu não của Blank, Neubauer nghiến răng:

– Ông còn may mắn hơn, phải không? Tôi đã trả tiền ông sòng phẳng, đúng vậy không?

– Dạ, đúng vậy.

– Ông lấy tiền mặt, còn tôi thì lấy gạch vụn.

– Dạ thưa Đại tá, tôi thành thật… chia buồn.

Neubauer nhìn ra khoảng không. Hắn bỗng có ý nghĩ so sánh. Đống gạch vụn này còn đáng giá hơn khoản tiền mà hắn đã trả cho Blank để mua lại cao ốc. Hắn chỉ mua có 5.000 Marks trong khi lợi tức hằng tháng lên tới 20.000 Marks. Hết rồi.

– Sao tay ông bị tàn tật vậy?

– Dạ, chẳng sao cả. Mấy năm trước tôi bị ngã té.

Neubauer nhìn Blank với ánh mắt dò xét. Một ý nghĩ thoáng dậy. Ý nghĩ ấy đã đến với hắn lần đầu tiên khi báo quán của hắn sụp đổ tan tành. Hắn cố xua nó đi nhưng nó vẫn lì lợm tới. Có thể một ngày nào đó, gia đình Blank phục hồi không? Con người đứng trước hắn không có vẻ gì thù hận cả, chỉ là một kẻ bất lực. Những đống gạch đá chung quanh hắn cũng thế. Chúng chẳng có vẻ gì là chiến thắng cả. Hắn nhớ tới những lời tiên đoán tàn nhẫn của vợ hắn. Không kể tới những bài báo. Quân Nga đã tới gần Bá Linh. Vùng Ruhr bị phong tỏa. Đó là sự thật.

Hắn bỗng đổi giọng:

– Blank, có phải tôi vẫn đối xử tử tế với ông không?

– Dạ, rất tử tế.

– Và nhân đạo.

– Dạ, rất nhân đạo. Tôi luôn luôn nhớ ơn.

– Tốt lắm. Ông hãy nhớ điều đó. Chính tôi đã gánh thay cho ông nhiều bất hạnh.

Blank bỗng cảm thấy ớn lạnh. Theo kinh nghiệm thì khi nào bọn SS tỏ ra dịu dàng, đó chính là lúc chúng sắp sửa giở trò độc ác. Weber cũng đã từng tỏ ra như thế nhưng ngay sau đó hắn móc mất một mắt của ông ta. Blank tự mắng là đã điên cuồng rời khỏi chỗ núp để nhìn lại ngôi nhà cũ.

Neubauer nhìn thấy nét bối rối của Blank, hắn chụp lấy cơ hội:

– Ông đã được trả tự do, chắc phải biết là nhờ ai chớ?

– Dạ, thưa cám ơn Đại tá.

Blank thừa hiểu là mình được tự do không phải nhờ Neubauer và Neubauer cũng hiểu là Blank biết thế. Tuy nhiên, hắn vẫn nói vậy. Hắn lấy từ trong túi một điếu xì-gà trao cho Blank:

– Đây, ông cầm lấy. Hãy nhớ là bao giờ tôi cũng rất tử tế với…

Blank không hút thuốc nữa. Kể từ khi bị Weber dùng đầu thuốc cháy đỏ chăm vào da thịt, ông ta đâm sợ mùi khói thuốc. Dầu vậy, ông ta vẫn phải trịnh trọng đón nhận.

– Cảm ơn, Đại tá tốt quá.Neubauer nhìn quanh. Không ai thấy hắn đã đứng nói chuyện với một người Do Thái. Hắn tiếp tục suy nghĩ nhưng có mùi gì là lạ khiến hắn lưu ý. Đúng là mùi của một vật gì đó đang ngún cháy. Hắn đi mau về nhà may. Lửa đã bốc ngọn bên trong. Hắn chạy trở về chỗ cũ gọi to:

– Blank! Blank! Ông ở đâu?

Và không thấy Blank đâu cả, hắn kêu lên:

– Lửa cháy! Lửa cháy!

Chẳng một ma nào tới. Thành phố bốc cháy quá nhiều nơi và Đội Cứu hỏa đã bất lực từ lâu. Hắn chạy trở vào, nhảy qua cửa sổ, chụp lấy một bành vải, cố sức lôi ra ngoài. Nhưng lửa đã bén gần tới tay, lửa bùng lên quanh đó, hắn chỉ còn đủ thì giờ để thoát thân.

Từ phía sau đống gạch đá đổ nát bên kia đường một đầu người nhô lên. Con mắt còn lại của Max Blank ngời sáng chiếu theo phía sau Neubauer. Lần đầu tiên từ nhiều năm, ông ta mỉm cười. Vừa cười người Do Thái vừa vò nát điếu xì-gà với những ngón tay cong vẹo vì trước đây đã bị tra tấn dã man.

Ngự bình

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 20/10/2017 

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Ngự bình là gì? Tôi ngó đứa cháu xa quê đã lâu. Chừng năm phút sau tôi mới có được câu trả lời. Nghĩa là ngồi trên chữ an lành, tao đồ vậy. Nghĩa là tên gọi một ngọn núi có chút tiếng tăm ở Huế.

Chúng tôi đang ngồi dưới chân nó, đang tìm chút an vui bằng cách thụ hưởng cà phê cà pháo trong quán nhỏ bên đường. Đời đẻ ra một bọn người chuyên làm chuyện “động trời”, tiếng đập đá từ bên sườn núi mãi vang vọng, chát chúa, đinh tai. Bụi không ngừng lân la tới bên thềm, đang từ tốn phủ mờ những chiếc xe gắn máy dựng ngang dọc.
Đứa cháu nói trong khoảng cách tiếng búa lơi tay. Có phải là núi Ngự Bình trước tròn sau méo không? Ừ, thì nghe họ bảo thế, chứ bản thân tao mãi loanh quanh bên dưới nên chưa từng thấy qua. Bây giờ thì e đã méo toàn tập. Đứa cháu bật lửa mồi cho tôi điếu thuốc thứ ba, tôi ham hút bởi nó đậm đà cách gì. Dù sao thì nó được sản xuất ở Mỹ mà thằng cháu cất công mang về, chêm cho cứng hành trang. Dù cho diện mạo bao thuốc có bị làm xấu tới cỡ nào đi chăng nữa, những hàng chữ hăm doạ về sự giảm thọ hoặc mầm bệnh mà Hoa Đà bó tay, nó vẫn không vơi phẩm chất để khi ém khói, kẻ muốn say nhìn thấy ra: Ồ, cuộc đời hao tâm tổn trí này vẫn còn sót lại một niềm hoan lạc. Khói thuốc khiến người ta mơ màng, một đôi khi phải cay mắt. Thằng cháu nhìn màu nắng chừng dịu lại, nhưng vẫn nheo mắt: Họ dùng toàn những dụng cụ thô sơ, không thích hợp cho lao động nặng. Họ đục núi lấy đá để làm chi rứa? Tôi lại mất hai phút để nghĩ ngợi. Để làm mộ bia khắc tên người chết, những thứ vụn vặt thì đục đẻo thành chày, cối hoặc vòng trang sức. Có khi chế biến ra hòn non bộ đặt trên chậu cá cảnh. Nói chung là tạo thành những sản phẩm hét giá phỏng tay. Nếu nó đừng nặng, mày mua mang về bên ấy làm quà thì cũng có chút ý nghĩa, hô tán loạn rằng đem được cả hòn vọng phu sang, quý hơn cả cục đá lấy từ bức tường ô nhục ở đông Bá Linh.

Hôm qua hai đứa đã đi quanh quất, nhìn ngó và định vị được chỗ nằm sụt lở của anh Khoái, nên bây chừ đợi trời mát chút đỉnh thằng cháu hối lên đó thắp nhang cho ấm áp mộ phần ông già nó. Hắn tử tế hơn cả tôi tưởng, bỏ tiền sắm sửa đủ bộ sậu dành cho buổi cúng kiếng, tâm thành tưởng niệm người cha khuất mặt đã bảy năm lặng lẽ nằm chắp tay dưới ba tấc đất. Nguyên nhân khiến ba nó đang sống chuyển qua từ trần thì tôi đã viết một lá thư dài miên man kể mọi ngọn ngành gửi sang, nên giờ đây thằng cháu chỉ lợn cợn duy một điều: Căn nhà ông già ngó thảm quá, chắc phải chỉnh trang tu bổ lại, nếu cần mua một tảng đá để khắc tên tuổi ổng mà dựng trồng, làm dấu một địa chỉ thường trú. Hết vái lạy người chết vô tri, hắn xoay mặt qua thân bằng quyến thuộc đơn côi là tôi để uỷ thác trăm sự. Tôi biết hắn nhiều tiền, Việt kiều nào mà chẳng vậy; nhưng tôi ngạc nhiên cớ sao thằng con hiếu thảo lại móc ví moi ra năm trăm đô giao tận tay ở nơi thanh thiên bạch nhật? Chắc hẵng là muốn ba nó chứng giám và nếu lỡ giao trứng cho ác thì có ngày ác sẽ bị hồn oan hiện về vặn cổ?

Tôi ngồi nhổ cỏ lượm rác quanh quất. Đợi nhang tàn, thằng cháu thở dài: Thôi, coi như cũng đã tạm ổn, nhẹ người đôi chút. Bây chừ thì chúng ta nên kiếm một quán nhậu để làm buổi hậu tạ những gian khó mà bấy lâu chú từng nai lưng dãi dầu. Đây là lúc chúng ta nên say, biết mấy khi tái diễn cảnh sum họp. Tôi có hơi mủi lòng, tôi biết hắn không phải thuộc dạng Việt kiều hồi hộp. Dù gì hắn cũng là cháu tôi, hắn ngon cơm, hắn chẳng nói cuội lần nào. Đói kém như tôi mới bày đặt tráo trở, ngó một thành hai, lòng nhiều toan tính.

Tôi đèo chở hắn trên xe gắn máy về lại phố sẫm màu hôn hoàng. Nghe đến chữ đi nhậu, bản thân chiếc xe tay ga bạc màu sơn luôn ho hen tự nhiên bốc lên, tốc độ gần với ngựa chứng, ngựa hoang. Ăn dầm ở dề tại cố đô đến mụ người, thú thiệt tôi mô hiểu “con ngựa Thượng tứ” là cái chi chi. Lại nghe họ quở “đồ con yêu bánh nậm”. Bù trất, thấy cũng như chộ! Nhưng mà bấy chầy tôi rất thèm món bánh nậm, nếu nó ám chỉ tới vùng miền kín đáo nơi hạ thể người phụ nữ. Hang hùm ở trong thơ, khó mó tay; mà cũng rít tay nếu sờ qua trong thi phú nữ sĩ. Đường Hồ Xuân Hương có quán nhậu nổi tiếng, nhưng xô bồ hỗn tạp. Vì thế tôi chạy một lèo lên tuốt Kim Long nhà vườn luôn cách khoảng mùi khói xông thơm. Nó kín đáo đã đành, địa danh ấy thì nức tiếng chuyện sở hữu gái đẹp. Ngày xưa Trẫm liều Trẫm đi cũng vì cầm lòng không đậu với gái mỹ miều. Chiếu chỉ của hoàng thượng để lại, ắt Việt kiều lang bạt cần quá bộ mà chứng thực xem tiền nhân có ngoa ngôn?

Chưa khi nào tôi ăn ngon miệng đến nhường ấy, rồi đổ bia liên tu vào mồm nữa chứ. Vô tư nhậu cho bõ những ngày cơ cực. Đi với kẻ đỏ da thắm thịt áo quần bảnh bao như cháu ngoan của chú thì rất dễ say để quên đường về. Đời có mấy thuở và đời đúng là một giấc chiêm bao. Thằng cháu coi mòi nhậu hổng nổi, dung nạp thêm e sợ cảnh bắt chó ăn chè, nôm na là nôn mửa là quàng xiên say xỉn. Nó kêu tính tiền rồi một hai bắt tôi thồ về nhà nghỉ. Trái khoáy giờ giấc, chưa hạp phong thổ gió máy hay sao á mà tự dưng nghe người mau oải quá. Hắn nói. Điệu này về chắc nằm lăn quay đổ đèn chẳng biết trời cao đất dày. Chưa dứt, còn lè nhè thêm, đôi lúc mình tàn tệ lắm, có muốn làm đại trượng phu nào có dễ gì. Chú nghiệm thấy đúng không? Đúng, đúng đứt đuôi con nòng nọc. Là chân lý chứ chẳng đùa. Sông có khúc người có lúc, hiện tại thì đang đục màu bùn.

Tôi thồ hắn về nơi đăng ký tạm trú phía bên kia sông. Nhà nghỉ Màu Hồng tương đối sạch sẽ và an toàn, ít khi xẩy ra sự cố trộm cắp. Tây ba lô vô ra cũng nhằm chứng thực được ít nhiều cảm tình cho Màu Hồng. Hắn chọn chỗ này là hợp lý, bởi Việt kiều với Tây ba lô cũng một nghĩa như nhau. Việt kiều về tham quan nơi gian nhà tôi tránh giông bão đã nhướng mày nhăn mũi thiếu đường phát ngôn: Ăn ở gì mất vệ sinh quá, chừng ấy tuổi rồi mà chưa vào bệnh viện âu cũng do phước đức ông bà để lại. Bộ tịch ấy ngầm chứng minh là có cho tiền hắn cũng không dám ngủ lại. Khi đó tôi đã thanh minh thanh nga xuống sáu câu: Mày xa quê lâu rồi, vậy còn nhớ câu “Tiền nhà khó như gió vào nhà trống”? Hắn bắt bẻ, vậy chớ nỡ đành lòng quên câu “Đói cho sạch rách cho thơm” sao?

Tôi quàng vai hắn dắt lên phòng, dặn dò. Đóng cửa cài then cẩn thận, nhớ để điện thoại di động bên gối nằm, ngủ cho ngon một giấc rồi sớm mai tao lại rước đi cà phê, tính tiếp những việc cần thanh thoả. Hắn quen miệng: Bye, good night. Tôi quay lưng, thò tay vào túi quần kiểm soát lại số tiền quá lớn mà hắn trao ban chiều. Cũng là một thói quen dù chẳng mấy khi cái túi ấy chứa đựng được những gì gọi là giá trị hiện kim. Xuống tới năm bậc cấp bắt gặp nụ cười của cô gái ngồi ngay quầy tiếp tân. Màn hình máy điện toán hắt ánh sáng vào cặp gương cận, phía sau chừng như mắt cô long lanh cũng biết cười. Em hỏi anh giai cái này tí, được không ạ? Tôi bước lại gần, bốn năm chai bia chưa làm chân cẳng tôi ngại ngần. Cô gái nhìn quanh, vuông phòng chẳng có ai và tấm lưng tôi, hình như đã che lấp cái camera ưa quan sát việc làm của cô thư ký. Đêm khuya thanh vắng, nếu anh muốn thư giãn, em sẵn có ba con nai đang lạc lối, giá rất mềm. Lời cô vừa thốt giống như một chai bia có nồng độ cao, chảy tới đâu nghe nóng máu tới đó. Cô nắm ở tay ba tấm hình, giới thiệu: Em Xinh, em Mộng, em Mơ, thảy vừa đôi tám. Cũng chưa quen việc nầy lắm đâu, bởi ở ngoài vừa vào tới mà nhỡ chuyến tầu xuôi Nam, qua đêm cũng chỉ nhằm đắp đổi chút phí tổn đường dài. Mộng đẹp nhất so với Mơ Xinh. Tôi nhủ thầm, có chút hao hao như cô gái phục vụ ở quán nhậu trên Kim Long mỹ miều, hương thơm xao động, rạo rực. Nếu anh đã thuận lòng, cứ việc vào phòng số 5, em gọi điện mất chừng chục phút. Giá mềm là sao? Tôi hỏi. Dạ, tuỳ đi tầu nhanh hay tầu chậm ạ. Phương án một hay phương án hai. Nếu là hai thì tính luôn phòng anh giả cho Mộng đúng một triệu ạ. Đảm bảo anh sẽ hài lòng. Em làm ở đây, đâu dám dối gạt anh, chỉ xin vui vẻ cả làng, êm thắm hợp đồng. Không chừng mà tới tai anh Việt kiều ấy nghe được sẽ hoan hỉ góp phần mua vui, đêm dài thôi lắm mộng.

Tôi lên phòng số 5. Tôi cởi hết áo quần, chêm cục tiền dưới gối, nằm ngửa thân trên giường nệm nghe máu huyết nhộn nhạo việc tuần hoàn. Hai tay kê đầu, tự nhiên nghe tiếng đục đá bụi mờ. Ừ, một tấm bia mộ. Ừ, bồi đắp một căn nhà trông cho tươm tất. Ừ, việc ấy từ từ tính sau. Dầu gì thì anh ta đã nhắm mắt xuôi tay, lãnh cảm với cuộc đời đầy oan nghiệt. Tôi còn sống nhăn đây này, xin cho tôi được tẩm bổ chút mùi vị đàn bà để có chết, hắn sẽ nhắm được hai con mắt. Đồ trời đánh thánh đâm, tao sẽ vặn cổ mày! Có tiếng gõ cửa nhẹ tựa mèo cào. Mộng bước vào cười e thẹn khi nhìn ra một thằng người chuẩn bị hô xung phong. Tôi vẹo cổ ngắm Mộng, điện nước đầy đủ dù em chưa thoát y. Tôi sẽ chăm đục để núi ấy thôi trước tròn sau méo. Muốn em ngự trên người anh hay sao? Ơ, tuỳ ở em cả, cho tha hồ bóc lột bọn địa chủ. Mộng phá lên cười: Đồ thực dân ác ôn!

Hồ Đình Nghiêm

Ngôn từ

sangtao.org

Posted on 30/12/2015 

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Mình yêu bài thơ “Tình Ca Ban Mai” của Chế Lan Viên. Chỉ bốn câu:

Em đi như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
Em về tựa mai về
Rừng non xanh lộc biếc.

Cũng Chế Lan Viên, tác giả “xâm mình” viết ra hai câu:

Bác Mao nào ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là bác Mao.

Lục bát, chỉ mười bốn chữ nhưng đủ sức tác hại khiến rừng non phải trơ cành, chim cũng như em phải cúi đầu ra đi trong chập choạng bóng tà dương thôi hứa hẹn một quay đầu tái ngộ. Ca dao mình từng xướng: Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng hẳn còn trơ trơ. Nôm na: Lời nói, chữ viết là con dao hai lưỡi. Một ngày kia anh sẽ phải nắm lấy cái đằng lưỡi bén ngọt của dao. Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Lựa lời, trong muôn một chẳng hề là hành động cúi gập người. Liêm sĩ của kẻ làm văn học nghệ thuật chứng minh qua hình ảnh: Ngòi bút anh có từng bị uốn cong? Vua Duy Tân lập ngôn: Tay dơ thì lấy nước mà rửa, nước dơ thì lấy gì mà kì cọ đây! Hậu thế, chẳng biết Chế Lan Viên tìm đâu phương thức nan giải để rửa đôi tay lỡ nhúng chàm.

Trước mỗi một năm cùng tháng tận, vào đáy năm (chữ của Mai Thảo) những trang mạng trong nước thường đúc kết những câu nói ấm ớ của các vị lãnh đạo các ban ngành và nhặt ra 10 tuyên bố ấn tượng nhất. Chẳng hạn như: “Cha lãnh đạo mà người con cũng làm lãnh đạo, đó là hạnh phúc của dân tộc”. Chẳng hạn lời phó thủ tướng: “Nếu chúng ta không giáo dục cho con cháu rưng rưng khi hát quốc ca thì đất nước không thể giàu mạnh được”. Vân vân và vê vê. Chắc quý vị ấy chưa từng biết một bí mật mà thời xa xưa “vị cha già dân tộc” đã vui miệng phán: “As for me, I prefer to smell French shit for five years, rather than Chinese shit for the rest of my life”. Ta thà ngửi cứt Tây năm năm còn hơn ngửi cứt Tàu cả đời. Hồ Chí Minh (theo Norman Sherry trích từ Hồ sơ Ngũ Giác Đài).

Mình thà làm đứa ngu muội suốt đời còn hơn sao chép ngọn ngành tới 10 điều của các “ngài” tai to mặt lớn chẳng cùng đẳng cấp, mình không cách gì tranh đấu để cho xứng tầm với tư duy thời đại. Một tấm thực đơn in lem nhem thấm đẫm dầu mỡ xì dầu nước mắm có trong quán ăn e dễ đọc trôi hơn. Là vịt nghe sấm, thôi thì chỉ biết cóp nhặt lại ở đây các phát ngôn ấn tượng tự cổ chí kim của bọn đế quốc ta bà thế giới e hợp sức mình hơn và tin là quý vị cũng dễ nuốt trôi, khỏi mắc nghẹn cần cổ. Năm hết tết tới lòng dạ nào đem ám khí ra ném vung vãi chơi ác với hiền hữu.

Ấn tượng đầu tiên là một bé gái chỉ 6 tuổi định nghĩa chữ Love (chữ mà bản thân mình suốt đời vẫn loay hoay chưa quán triệt được): “Tình yêu là khi bạn bị rụng mất đôi ba cái răng sữa nhưng bạn không ngại ngùng mở rộng miệng cười bởi bạn hiểu những người bạn kia vẫn luôn thương bạn cho dù bạn thiếu hụt một vài.” Có không dưới 1000 người đọc lấy làm khoái trá. 300 bình luận và nổi trội là lời: “Baby don’t hurt me! No more!”

Lời cuối của Alexander: “Hãy vùi lấp thi thể ta nhưng chừa lấy đôi bàn tay, để nó lộ ra khỏi mặt đất và khi thế giới trông thấy, chúng sẽ hiểu: Kẻ từng chinh phạt thế gian này đã ra đi với hai bàn tay trắng”.

“Kẻ chết thường nhận được nhiều hoa hơn người sống, bởi vì niềm ăn năn luôn mạnh mẽ hơn lòng biết ơn”. Nhật ký Anne Frank.

“Đôi khi con người không hề đổi thay, chỉ do bởi cái mặt nạ họ rơi xuống”. Vô Danh.

“Hôn nhân là cuộc chiến duy nhất mà trong đó hai kẻ thù ngủ chung với nhau”. Tommy Lee Jones.

“Sự tử tế của người Canada giống như dầu hoả đối với Ả Rập Saudi và có khi phần còn lại của thế giới nên học hỏi”. Eric Weiner.

“Tôi có sợ khủng bố đâu nào, vì tôi đã lấy vợ được hai năm rồi còn gì!” Rudi Giullami.

“Miệng lưỡi của tha nhân có thể cho bạn thưởng thức được tấm lòng của hắn ta”. Ibnal-Qayyim.

“Đừng đọc câu chuyện của kẻ thành đạt, bạn chỉ nhặt được một thông điệp. Hãy đọc những thứ nói về thất bại, nó luôn trao bạn những ý tưởng nhằm tránh lỗi lầm”. Khuyết danh.

“Ý tưởng cũng giống như râu ria vậy. Đàn ông không có nó cho tới khi họ trưởng thành”. Voltaire.

“Tôi chẳng thích loạn ngôn về thiên đường hay địa ngục. Bạn thấy đó, những người tôi quen biết đều có mặt ở hai nơi”. Mark Twain.

“Tất cả những đứa bé đều là nghệ sĩ. Vấn đề là liệu chúng còn giữ được tới khi lớn khôn”. Pablo Picasso.

“Lương tâm tội lỗi cần sự thú nhận. Tác phẩm nghệ thuật là một sự thú nhận”. Albert Camus.

“Trên sân khấu tôi làm tình với hai mươi lăm ngàn khán giả, và rồi tôi đơn côi khi trở về nhà”. Janis Joplin.

“Tôi thánh thiện, nhưng không là thiên thần. Tôi tội lỗi, nhưng chẳng là ác quỉ. Tôi là cô gái bé bỏng trong thế giới mông lung này chỉ thử tìm cho mình một người để thương yêu”. Marilyn Monroe.

“…tuy vậy tôi lại thích nấu ăn, có lẽ tại vì công việc này nghiêng về hướng “phá huỷ cấu trúc” của đồ vật.” Haruki Murakami.

“Giúp một kẻ đang gặp hoạn nạn, hắn sẽ nhớ tới bạn khi hắn bị xui xẻo lần thứ hai”. Vô danh.

“Có nhiều cách nhận định về sex. Tôi không cần phải ở trong phòng ngủ khoe bày đường cong thân thể. Để tỏ ra mình sexy tôi có thể đứng nhón chân dưới cây để bứt rời một trái táo, hay lặng lẽ đứng yên trong mưa”. Audrey Hepburn.

“Tôi thích đi trong mưa, bởi khi đó chẳng một ai nhìn ra tôi đang khóc”. Charlie Chaplin.

“Đôi khi bạn phải chết đi đôi lần trước khi bạn thực sự sống với cuộc đời”. Bukowski.

“Nếu bạn muốn thứ bạn chưa hề có, hãy làm những việc mà bạn chưa từng hoàn thành”. Khuyết danh.

“Tranh cãi với một kẻ ngốc sẽ chứng minh rằng có hai kẻ ngốc”. Doris M. Smith.

“Khi bạn lập lại sự lầm lỗi, nó chẳng còn là lỗi lầm nữa mà đó chính là một quyết định”. Paulo Coelho.

Mình ngốc, tự nhận thế, bởi mình không hiểu cớ sao tập đoàn lãnh đạo Việt Nam mãi đi từ sai lầm này sang lầm lạc khác. Phải chăng họ chủ trương, quyết định ra thứ đường lối như vậy?

Mới đọc phải một bản tin (nguồn: Việt báo) mà con mắt U-50 vốn chập choạng bỗng chốc tù mù lu câm: “Một vị Thiếu tướng quân đội CSVN khi đi tới khu nghỉ ngơi ven biển Đà Nẵng đã bị cấm cửa không cho vào. Hỏi lý do, nhân viên bảo vệ đáp gọn: Vùng này đã bán đất cho người Trung Quốc, họ ra chỉ thị, khách sạn nầy chỉ dành riêng cho người ngoại quốc! Thiếu tướng Trần Minh Hùng, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 5 than: Tôi đang mặc quân phục mà còn vậy huống chi thường dân!

Ngay trên quê hương mình mà chân cẳng tù túng kiểu đó, liệu có nên bắc chước bác chui xuống tàu bọn thực dân xin gióp rửa chén, khổ nhục kế đặng tìm đường kíu nước? Võ tướng cũng mang họ Trần nhưng chắc hẳn ông chẳng liên hệ máu mủ bà con xa láng giềng gần với Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng … gì sất.

Thôi thì muốn yên thân ta nên nghe theo lời chủ tịch Sang phán: “Vấn đề chủ quyền năm nay không xong thì năm tới, mười năm này không xong thì mười năm sau”.

Thôi thì giở sách xưa ra đọc: “Sự giận dữ cũng tựa như mình uống thuốc độc mà mong kẻ khác chết”.

Thôi đành cay mắt mà nhớ lời Bùi Giáng:

“Khóc em duy nhất tình đầu
đã đầy đủ quá sức người của anh”.

Hồ Đình Nghiêm

Ngộ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 4/5/2016

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Tôi đoán không lầm (?), chữ Ngộ là đặc sản của dân miền Nam. Giống như ở Huế chẳng thấy mọc cây Sầu riêng (?). Người trong Nam họ nói: Ngộ quá hén! Thì đứa sinh (sanh) ở Huế như tôi buộc phải hiểu: Lạ hè! Ngộ còn đại diện cho Vui mắt, Thích thú… Đi xa hơn, thoát khỏi tính cách địa phương, chữ Ngộ ấy lại hàm chứa ý nghĩa khác, giả như ngộ độc (thực phẩm) hoặc “bây giờ tôi đã ngộ ra”. Ngộ này có liên hệ tới sự giác ngộ? Thức tỉnh.
Người miền Trung ít ai dùng chữ ngộ, ở Sài Gòn mà nghe tới răng, rứa thì biết ngay “chuyên viên âm thanh” kia là đứa ở ngoải mới di tản (d)vào. Và họ bình luận: Nói nghe ngộ hén, thử nói lợi nghe coi! Chèn đét ơi, em nói gì mà qua hổng nghe ra! (Thiệt đã cái lỗ tai!).

Vì thế người Hà Nội (xa xưa) được các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá là cách phát âm rất chuẩn mực, ít phạm lỗi. Đúng, chẳng ai chối cãi, nhưng răng rứa với ngộ hén, với mèn đét ơi thì luôn chứa đầy chất duyên dáng nó ngầm mang. Nó biểu trưng nét văn hoá đặc thù của từng cố quận. “Em về có hỏi răng ri rứa, nhắm mắt đưa chân có bận liều” (B.G). Tôi đang dấn liều để noái về thứ tôi chưa thông, chưa ngộ ra: Ngôn ngữ vùng miền.

Thử lan man thêm. Trong Nam có một chữ thậm đắc địa: Cà chớn. Nhớ lại năm 1975, kẻ bị phỏng dái đã dùng chữ ấy áp đặt cho mấy chú bộ đội. Bên thắng cuộc hỏi: Cà chớn là gì? Đứa láu cá hơi bị sợ, lấp liếm: Nghĩa của nó ám chỉ tới hàng độc, rất ấn tượng. Mấy chú tai bèo dép râu huênh hoang: Ối, tưởng gì! Ngoài ta thiếu gì đồ cà chớn!

Rất cà chớn nếu giờ này hỏi: Chú biết cô Trần Thị Lam không? Ai cơ? Cái Nam ngoài ta thiếu gì! Nói vậy mà hổng phải vậy đâu nghen. Cô Trần Thị Lam (chớ phát âm Lam thành Nam và ngược lại, khói lam chiều lại bảo khói nam chiều) quê ở Hà Tĩnh, sinh năm 1973 và là thạc sĩ đấy bố ạ. Thế cơ à? Vậy thì tớ đéo biết. Đồ cà chớn!

Mang tên cô Trần Thị Lam ra đây hẳn có lý do. Lý do nằm ở một chữ Ngộ. Cô là tác giả bài thơ “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” đang được truyền lan rộng rãi trên “mặt trận văn hoá”. Có không ít người mãi tâm đắc ngợi ca bởi bài thơ hiện hữu sau vụ việc thuỷ triều đỏ làm cá chết (tạm tin là vậy đi nghen cô ba). Tôi chẳng có ý bàn tới chuyện hay, dở chất trong bài thơ gần là tiếng than van, một cái thở dài trước bi kịch. Tôi chỉ hoài nghi, người Hà Tĩnh có quen sử dụng chữ ngộ chăng? Tôi đồ rằng cô Tổ trưởng tổ Ngữ văn muốn gửi lòng tới, mong người trong Nam đón nghe chút bợn lòng trước hoàn cảnh khắc nghiệt mà cô đang “ngộ” ra trên đất cô dung thân. Khi cô dùng tiếng nói địa phương “Đất nước mềnh ngó lạ rứa đó phải không en?” thì cái hồn bài thơ đã chuyển tới một khí hậu khác.

Vì thế, theo tôi chữ sáng giá nhất trong bài thơ chỉ cô lại ở chữ ngộ. Như đã thưa ở trên, chữ ngộ có nhiều ẩn nghĩa. Mắc cười cũng ngộ. Lạ kỳ cũng ngộ. Quái gỡ cũng ngộ. Trúng độc cũng ngộ. Nhìn thấu suốt cũng ngộ. Tất cả có thể áp đặt lên đất nước mình, anh thấy không, chẳng sai trật chút nào cả. Chung cuộc, chữ ngộ này mang giá trị của thứ khôi hài đen. Vui tới độ muốn khóc.

Nhịp thơ đi rất bình thản, vẽ ra những sự kiện có thật và trình bày nó mà không gợn chút hằn học. Một sự cam chịu đi tới cuối đường để đụng phải dấu hỏi hoành tráng. Hỏi là hỏi vậy thôi chứ “em” nào ngộ ra ngày mai trời có sáng? Giản dị chẳng gào kêu, rất nữ tính. Không giận dỗi như nhà thơ Đỗ Trung Quân (đại để như) Suốt đời làm thơ tôi chỉ viết được bài thơ ngắn: ĐM. Thơ chỉ đê với em mờ. Ngộ hén!

Bây giờ tôi ngộ ra, có khi một bài thơ hay chỉ gom đủ ba yếu tố: Thành thật, dung dị và hoàn cảnh tác động nên. Đừng nói là người ở trong Nam, người Huế như tôi nếu được tiếp cận chuyện trò cùng người Hà Tĩnh e có khi phải vấp sai lạc, ú ớ chẳng thông hiểu chuyện nghe. Yêu một người khác vùng đất mình sinh trưởng, chuyện ấy có nhiêu khê?

Nghe đồn, sau khi đưa bài thơ rất ngộ ấy lên Facebook, cô Lam đã gặp khá là rắc rối căng thẳng chuyện đe nẹt trù dập. Chỉ một bài thơ chẳng có gì khiếp đảm cho lắm mà tác giả phải chịu đánh đổi những hàm oan. Tôi không khen bài thơ, tôi chỉ ngợi ca thái độ can đảm của cô khi chịu đối đầu với tất cả những gì rất cà chớn ở chốn đó. Trù dập một bài thơ, liệu cô Lam còn lòng dạ nào viết tiếp những chữ Ngộ khác.

Trú thân phương xa, mong cô ở chốn lạ ấy ngộ ra mọi lẽ và giả như tôi có hiểu sai vấn đề, xin cô đừng Ngộ nhận. Mong lắm thay!

Hồ Đình Nghiêm

Rạch Giá thuở lên 10!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Rạch Giá nằm ven biển, có 2 con dòng nước ăn thông với nhau và chạy gần như song song, một là rạch Vàm Trư, hai là Sông Kiên, sông Cái Lớn, bắt nguồn từ rạch Cái Lớn, U Minh Thượng, quận Long Mỹ, tỉnh Chương Thiện, khi vào xã Vĩnh Thắng, quận Gò Quao, tỉnh Kiên Giang (quê của soạn giả tuồng cải lương nổi tiếng Hà Triều chung với Hoa Phượng người Núi Sập, tỉnh An Giang), rạch rộng dần ra thành sông. Từ đây, dòng sông chảy theo hướng Tây Bắc, ôm lấy một cù lao, trên đó mọc nhiều cây giá (cùng họ với mắm, đước) rồi trổ ra biển.

Thấy mặt đặt tên, những người đến trước đã đặt tên cho khu vực này là ‘Cù lao Giá’, con rạch bám riết cù lao là rạch Cây Giá. Rồi tỉnh lỵ Rạch Giá thành lập trên đất cù lao nầy.

Từ Rạch Sỏi về tỉnh lỵ Rạch Giá, có cái cổng Tam Quan. Phía trên cổng có hàng chữ “CHÂU THÀNH RẠCH GIÁ”; chiều ngược lại có hàng chữ ‘TỔ QUỐC TRÊN HẾT”.

Muốn vào tới trung tâm tỉnh lỵ Rạch Giá ngày xưa đó, bà con mình phải đi qua hai chiếc cầu quay.

(Nhắc tới cầu quay, tui lại nhớ tới Mỹ Tho, thị xã quê mình. Khoảng 1890, Tây xây cây cầu đầu tiên bắc qua kinh Bảo Định để thay thế cho những cây cầu tre thô sơ hay những chiếc đò ngang nhỏ bé.

Cầu quay Mỹ Tho theo thiết kế của ông Gustave Eiffel, tác giả của tháp Eiffel, một thắng cảnh kiến trúc lừng danh tại thủ đô Paris, nước Pháp.

Thời thực dân chiếm đóng nước ta, Tây xây cầu xe lửa Bến Lức, cầu xe lửa Tân An (bắc qua sông Vàm Cỏ Tây và Vàm Cỏ Đông) ở trong Nam; cầu Hàm Rồng Bắc Trung bộ, thuộc tỉnh Thanh Hóa (bắc qua sông Mã xa rồi Tây tiến ơi); cầu Long Biên, gần Hà Nội (bắc qua sông Hồng). Tây gọi là cầu Doumer, theo tên  Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (Mà dân mình khi kêu tên cầu như một tiếng chửi thề quân cướp nước).

Cầu Quay Mỹ tho được xây dựng năm 1890

Cầu quay, thoạt kỳ thủy, hoàn toàn làm bằng sắt thép vì thế giới chưa chế ra bê tông cốt sắt.  Để cho tàu bè lưu thông qua lại, hai đoạn của nhịp giữa tách ra và được kéo lên cao như hình mái nhà; xong hạ xuống, hai nhịp lại ráp vào nhau cho xe cộ và người bộ hành qua lại.

Dĩ nhiên tàu bè qua lại dòng sông nầy phải chờ tới giờ công nhân dùng tay quay hệ thống ròng rọc để kéo hai đầu nhịp cầu lên cao, mở ra.

Cầu quay nhà lồng chợ Rạch Giá bắt ngang sông Kiên, nối liền khu thương mãi với khu hành chánh cũng vận hành y như thế.

Riêng cầu quay Vàm Trư, trước khi vào tới nội ô Rạch Giá, thì khi quay nhịp cầu, nó chơi kiểu khác, thụt vào đất liền, dòng rạch thông thoáng để tàu bè chạy tới, chạy lui.

Tháng Sáu năm 1960, tui mới được 9 tuổi, thì thân phụ tui đổi từ quận Cái Bè, tỉnh Định Tường về làm Trưởng ty Bưu Điện Rạch Giá. Coi như được thăng chức vì từ quận lên tỉnh.

(Tỉnh Rạch Giá lớn nhứt về diện tích miền đồng bằng sông Cửu Long, dẫu vậy tỉnh lỵ lại nhỏ; nhỏ nhưng trù phú; vì vừa có rừng vừa có biển. Năm 1960 Đại tá Hoàng Văn Lạc, làm Tỉnh trưởng; ông nầy lon lá hơi to; thường chỉ cấp bậc Thiếu tá mà thôi. Còn ông Phó hành chánh là Nguyễn Văn Nam.  Hai ông nầy là ‘xếp’ của thân phụ tui, theo hàng ngang. Còn theo hàng dọc, Ty Bưu Điện trực thuộc Nha Bưu Điện Nam Phần đóng tại thủ đô Sài Gòn.)

Ngày dọn đi, ông quận trưởng Cái Bè Nguyễn Bá Cẩn (sau làm tới Thủ tướng cuối cùng của chế độ Sai Gon) cho xăng và tài xế để chở ba, má với 6 anh em tôi, cùng con chó Ki Ki (của ông quận đoàn trưởng Công Dân vụ quận Cái Bè cho lại trước khi ông lên đường đi Mộc Hóa, tỉnh Kiến Tường để đáo nhậm nhiệm sở mới) trên một chiếc xe bán tải (pick-up) Citroen trực chỉ qua Bắc Mỹ Thuận, Bắc Vàm Cống. Khởi hành từ 8 giờ sáng, chạy hoài chạy hủy, tới 4 giờ chiều mới tới Bưu Điện Rạch Giá nằm ở số 2 đường Tự Đức.

Ông ngoại tui từ quê theo tiếp con gái, con rể để dọn nhà. Tới nơi mệt quá, nằm lăn ra ngủ. Được một lát, miệng ú ớ la, rồi choàng tỉnh, mặt xanh lè, xanh lét. Ông ngoại tui gặp ‘quỷ’; vì đang nằm ngủ có một ông mặt đằng đằng sát khí đến, kéo giò hỏi: “Chú em là ai? Sao lại dám đến đây?” Má tui thuật lại chớ tui không dám đặt chuyện đâu nhe, thưa quý bà con.

Chắc vì tin tưởng có người khuất mày, khuất mặt như vậy nên thân mẫu tui rất siêng đi chùa. Mỗi lần rằm lớn, má đều dắt tui lên chùa Tam Bảo, hay gặp thầy Thành, dạy tui lớp Nhứt trường tiều học tỉnh ly Rạch Giá, mặc áo dà, chắp hai tay lâm râm đọc kinh Phật. (Lúc đó ông Mã Sanh Long làm Trưởng ty Tiểu học).

Rằm tháng Bảy, cúng cô hồn các đảng, thì đi chùa Thập Phương. Trên vách tường có vẽ mấy cái hình quỷ sứ cưa hai người ra đem nấu dầu; hình người ngồi trên bàn chông đầu đội chậu máu, những hình phạt tàn khốc cho kẻ làm ác ở thế gian. Coi ghê lắm. Lúc má kêu vào ngồi bàn đàng hoàng ăn cơm chay, tui no ngang hông hè, nuốt hổng vô, bèn buông đũa ra thơ thẩn phía sau chùa kế một dòng kinh. Cảnh vật coi êm đềm, u tịch. Trước cổng chùa, có một chú tiểu ngồi vắt vẻo bên cạnh cái thúng, thí cô hồn, ném xuống nào là mía, bắp, khoai mì, khoai lang luộc, bánh tét, bánh ít… Có cả tiền cắc, tiền giấy, nhiều nhứt là 5 đồng. Đứa cô hồn nào giựt được khoái chí, la inh ỏi. Nhỏ tuổi, nhỏ con, giựt không lại đám cô hồn sống nầy, đành chịu thua, tui làm khán giả đứng coi chơi. (Có lẽ từ đó, học được bài học nầy, lớn lên ra đời thấy thiên hạ giành danh, giành lợi, giành gái, la chí chóe; tui chỉ lặng lẽ chuồn êm. Vì trong cái vòng danh lợi cong cong đó mình không đủ sức).

Cầu quay gần nhà lồng chợ Rạch Giá ngày xưa.

Ngang Bưu Điện, cũng ở trên đường Tự Đức, số 1, bên tay trái, là công quán. Lâu lâu gánh cải lương về hát ở rạp Đồng Thinh bên chợ là mấy ông kép chánh đến trọ ở đây. Trong đó có danh ca Minh Chí, vua xàng xê, hát cho đoàn Minh Chí Việt Hùng.

Thuở ấy là thằng nhóc mới 9, 10 tuổi thôi nhưng rành sáu câu như vậy vì Tía tui ngoài làm cho Bưu Điện, còn có thêm nghề tay trái là ký giả kịch trường nên mấy đoàn hát về Rạch Giá, soạn giả Bạch Diệp Minh Nguyên hay gởi thiệp mời và Tía tui luôn dẫn tui theo coi chơi.

Ngoài ra Rạch Giá còn hai rạp hát chiếu bóng là rạp Hòa Lạc và rạp Châu Văn ở đường Phó Cơ Điều gần bến xe đi Sài Gòn.

Nhớ Noel năm 1961, rạp Châu Văn chiếu phim Nhựt Bổn “Quỷ đồng đen”, mặc áo giáp sắt đi nhát con nít. Coi phim xong về ngủ nằm mơ thấy ‘quỷ’ không hè.

Rạp Châu Văn bề thế, nhiều ghế ngồi hơn rạp Đồng Thinh nên đại ban nào cỡ Thủ Đô của ông bầu Ba Bản, chủ hãng dĩa Hoành Sơn, về mướn, hát tuồng dã sử ‘Tiếng trống sang canh’ của soạn giả Thu An.

Vai chánh vua Lê Long Việt do vua vọng cổ Út Trà Ôn đóng, mặc hoàng bào bị em mình, hôn quân Lê Long Đỉnh, rượt phải chạy tuốt vô rừng. Sương xuống lạnh, tuyết (bằng bông gòn) thả xuống rơi rơi, chơi luôn 6 câu vọng cổ muồi rệu nên ăn khách tợn. Ngoài ra còn có người khổng lồ cao tới 2 mét 2 (tên là Nguyễn Văn Dữ quê ở Ba Tri, Bến Tre) theo xe ngựa đi phát quảng cáo, kích thích sự tò mò của bà con mình nên càng ăn khách tợn hơn nữa.

Nhắc tới Rạch Giá là phải nhắc tới nhà lồng chợ, nơi bán cái gì cũng ngon hết ráo. Mà nổi tiếng nhứt là bún cá nên có câu rằng: “Lần đầu ăn tô bún cá. Chạy dìa Rạch Giá bỏ má theo em!”

Tấm tắc khen, ca tụng bún cá Rạch Giá của người em xứ Kiên Giang như vậy là đụng la phông rồi. Bún cá ngon, ham ăn đến nỗi thành thằng con bất hiếu.

Giống như  mấy đứa con nít khác, cùng tuổi, thèm đường, hảo ngọt (giờ già khú đế rồi tui vẫn còn ‘hảo ngọt’) khoái ăn bánh bao ngọt của tiệm cà phê Quách Xái bên hông chợ, giá 2 đồng một cái.

Nhưng ba tui lại thích ăn sáng bằng bắp với xôi. Bắp giã, hột bắp xay sơ sài rồi đem hầm, trắng nõn, ăn với dừa rám nạo, rắc đường với lại muối mè. Ngoài ra còn xôi nước dừa, xôi nghệ. Vừa ngon vừa rẻ cũng chỉ tốn 2 đồng. Mấy đứa em tui thì khoái bánh bò, bánh da lợn, bánh tằm nước cốt dừa.

Còn cái xe bán mì hủ tiếu ở đường Phó Cơ Điều nữa chớ. Nhớ một hôm, tui ngủ sớm, giựt mình dậy, nhà vắng hoe; mới hay ba má dắt đám em mìmh qua đó ăn hủ tiếu mì.

Tui bèn lấy chiếc xe máy (hồi xưa gọi là xe máy nhưng không có gắn cái máy nào hết, tức xe đạp bây giờ) chạy theo. Chiếc xe đạp đòn dông cao, tui lại lùn beo, đâu đủ thước tấc để ngồi lên yên xe mà chạy. Bèn thọt cái chân ngang qua cái khung hình tam giác, đạp cà ẹo, cà ẹo nhưng vẫn chạy vo vo như người ta làm xiếc.

Qua cầu Cá chợ Rạch Giá quẹo tay trái chạy dọc bờ sông, xe đạp cán cục đá, tui té xuống, dộng đầu xuống mặt lộ nghe cái cốp. Tới nơi, được má cho ăn tô hủ tiếu mì lớn, ngon hết biết, mà vẫn còn hoa mắt, đầu vẫn quay mòng mòng.

Tối hôm đó về, nửa khuya lên cơn sốt, tui ói hết tô mì ra gối. Mở mắt nhìn lên, thấy má tui đang chườm nước đá lên cái trán nóng sâm sấp của mình.

Sau nầy lớn lên mới biết là tui bị té nặng đến nỗi chấn thương đầu, chưa nứt sọ để đi chầu ông bà ông vải đã là may. Chắc ông Trời bắt tui phải sống trên cõi đời ô trọc nầy mà trả cho xong nợ tiền kiếp cho con vợ của tui sau nầy.

Ôi! Nếu có kiếp sau, Diêm Vương hỏi: “Ê đầu thai trở về dương thế, chú mầy có muốn sống sướng như Tổng thống Mỹ Donald Trump tối ngày ăn cho no mập rồi đi nói dóc hay không?”

“Dạ không! Chỉ xin Diêm Vương cho tui được tiếp tục làm con của má tui thế thôi!”

Cầu Vàm Trư. Rạch Giá.

đoàn xuân thu.

melbourne

Tô bún nước lèo

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

September 20th, 2024

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Cao Miên là Cam Bốt (từ tiếng Pháp Cambodge). Tiếng Hán, Cao Miên chỉ nước và sắc tộc Khmer. Phụ nữ Miên mặc váy ‘sampot’, quấn ngang hông và giắt về một phía, gấu váy cao trên cổ chân. Áo ‘wên’, áo ‘srây’ hoặc áo ‘tằm wong’ (tầm vong) là loại áo dài vải màu đen. Áo có kiểu dáng rộng và dài qua đầu gối, bít tà và cổ xẻ phía trước để khi mặc người ta phải chui đầu vào. Khăn ‘Kama’ là khăn rằn; nhuộm vải bằng quả mạc nưa, có màu đen tuyền, bóng và lâu phai. Loại hình carô, màu đỏ hoặc màu xanh trên nền hình chữ nhật hoặc vuông màu trắng, rất đẹp và bền. Kama được sử dụng để lau mặt, làm khăn choàng, khăn tắm, quấn đầu, thắt lưng, làm bao đựng vật dụng đi đường và làm võng cho em bé nằm. Là một sắc dân sống trên đất Việt từ hạ bán thế kỷ 17, người Miên đa phần theo Phật giáo phái Tiểu thừa. Họ cất chùa rất nguy nga, rất lớn ở khắp nơi. Sân chùa có trồng nhiều cây thốt nốt.

Sách ‘Người Việt Gốc Miên’ do Lê Hương biên soạn, dày 276 trang được nhà xuất bản Văn Đàn ấn hành lần thứ nhất năm 1969. Quyển sách sưu tầm những tài liệu về dân số, sinh hoạt xã hội, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, kinh tế của người Khmer tại Sài Gòn, Tây Ninh và các tỉnh miền Tây như: Sóc Trăng, Trà Vinh, Châu Đốc.

Hồi xưa VNCH, người Việt kêu người Miên, cũng như kêu người Thượng, là đồng bào thiểu số. Vua Miên, dân Miên, chùa Miên, sóc Miên. Khóc tiếng Miên. Nói tiếng Miên (không ai hiểu) một cách tỉnh bơ. Nhưng người Miên thì rành 6 câu vọng cổ cả Việt lẫn tiếng Tiều.  Sau tháng Tư, năm 1975, CS kêu Miên là đồng bào dân tộc Khmer. Xài chữ ‘Miên’ là kỳ thị! CS nói chuyện tào lao bá láp.

Khăn Kama – nguồn wikipedia.org

Miền Nam mưa nắng hai mùa. Ngoài ra, cái gì rộ lên thì người dân gọi là mùa: như mùa lúa, mùa cá… Mùa cá thì bà con mình bắt cá bằng lú, chà, nơm, rổ. Lú là túi hình phễu, chiều dài chừng 3 mét. làm từ ni long hoặc lưới gân và vành nhựa. Có 1 đến 2 hom để giữ cá tôm không thoát ra. Khi đặt, miệng lú nằm ngược dòng nước để tôm cá lội vào. Lờ làm bằng ruột tre, mảnh hơn lộp, dùng để đánh bắt cá nhỏ như cá chốt, cá sặc. Người dân chất những nhành cây thành từng đống dưới sông, rạch, gọi là chà để ‘dụ’ cá, tôm vào trú ẩn. Sau 30 – 45 ngày, chà được dỡ lên để bắt cá. Nơm làm bằng tre vót nhẵn, đầu nhọn hướng xuống phần miệng nơm. Miệng dưới lớn bằng miệng thúng, ở trên được túm lại bằng miệng tô. Rổ xúc cá lòng tong: Dùng để đánh bắt cá lòng tong và cá sặc. Người dân đuổi cá vào một góc, bụi cỏ, gốc năn, lác bằng cách dùng tay tạt nước hoặc cây đập.

Cá lớn làm khô. Cá nhỏ làm mắm. Người Việt làm mắm lóc, mắm sặc… Người Miên làm mắm bò hóc. Cá lóc ngộp, đánh vảy, lấy chỉ máu trên xương sống, rửa sạch, ngâm nước một ngày một đêm. Dùng sống dao dần cá cho đều, cho muối hột vô trộn đều. Ủ trong khạp đậy kín, dùng đá dằn lên. Sau đó, cho cá vào keo thủy tinh, đậy lên, dùng nẹp tre gài cho chặt. Nước muối đổ lên trên mặt cá rồi đem phơi nắng. Được khoảng 3 tháng, mắm đem chưng, chiên, nấu canh bồ ngót với bắp chuối bào cùng nấm rơm và cá lóc hoặc tép. Hoặc nấu mắm kho, bún nước lèo. Muốn ăn mắm sống phải để ngấu từ một năm trở lên, càng lâu mắm ngon. Ăn mắm sống với ớt hiểm, trái bần chua, chuối chát trái cần thăng xắt mỏng. (Cần Thăng tiếng Miên tên là Krasang hoặc Krasaing, cỡ trái quýt, vỏ dày, màu xanh, khi chín màu vàng nâu).

Tui nhớ tháng Mười âm lịch là mùa sầu đâu thay lá, ra những chùm bông nở trắng. Miệt núi Sam (Châu Đốc, An Giang), bà con mình làm làm gỏi sầu đâu bằng khô cá lóc, cá sặc rằn nướng xé nhỏ hay với tép, sú, thịt ba rọi luộc xắt miếng vừa ăn cùng với rau răm, lá sầu đâu

Bún nước lèo Sóc Trăng – nguồn vnexpress.com

Trung tuần tháng Tám âm lịch, lúa chín rộ, vàng đồng. Mùa gặt, ruộng được tháo nước chảy ra các kinh, rạch. Người Miên dùng ‘sà-nen’, ‘chà-ngom’, đan bằng tre, chặn đường nước chảy ra hoặc dùng lưới nhuyễn kéo dọc theo các bờ kinh. để bắt tép bạc, còn gọi là tép riu, nhỏ. Chê ai không thế lực mà làm tàng, bà con mình nói: “Nó là đồ tép riu!”. Tép riu khoảng 30–50 mm, có màu xanh nhạt hoặc trắng, trong suốt, vỏ mỏng, sống bám vào các nhánh rong và rêu trong mương vườn, nên còn được gọi là tép mòng.

Tép mòng (tép biển) là loài tôm nhỏ, sống ở vùng nước lợ và ven biển, làm mắm ruốc và mắm tôm. Tép mòng kho, rang, lăn bột chiên hoặc luộc ăn với bánh tráng, rau sống. Tép mòng nhiều, ăn không hết, bà con mình làm mắm tép, mắm bò-ót.

Ngoài ra còn có: tép muỗi, vì chúng quá nhỏ. Tép rong, tép đồng, vì sống ở ngoài đồng ruộng. Tép bầu, tép bạc đất lớn hơn hai loại trên làm nhưn bánh xèo, nấu canh chua, rim với nước cốt dừa, hay làm tép chà bông.

Còn rau rác thì hành lá làm mỡ hành ăn khoai lang luộc hoặc trong canh, xào, hấp. Hẹ nấu canh hẹ với tàu hủ, ăn hủ tiếu, mì. Ngò rí và ngò tàu, tía tô xào chung với thịt hoặc ăn với cháo nóng để giải cảm.

Con gái Miên da hơi mốc, tóc dầy, mông, ngực nở, có hai má lúm đồng tiền, duyên ngầm, đẹp não nùng nên “khnhom sralanh anak” (là anh khoái em lắm)! He he.

Em có gánh bún nước lèo bán trong nhà lồng chợ quận Kế Sách, Sóc Trăng. Con mắm xé nhỏ, bỏ xương, cho vào cối quết; nấu sôi, lược lấy nước, sau đó cho thêm cá lóc, thịt heo, sả bằm nhỏ vào nồi nước lèo. Là giáo chức gốc sĩ quan biệt phái, VC vô tui bị ‘mất dạy’. Sáng sáng, em làm cho tui một tô bún nước lèo, cho tui một ly xây chừng chẩu (cà phê đen tới giữa ly, gọi là chệt đẻo, rồi rót rượu đế vào). Bù lại, tui bưng bún cho khách và rửa tô cho em. No đủ được chừng năm; tui ra biển tới tận bây giờ. Quê người, bùi ngùi tui nhớ tới tô bún nước lèo của em ngày cũ.

ĐXT

Tiền Đồn

Thế Uyên

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Phần 6.

Vũ tháo nốt đầu võng thứ hai, vo tròn tất cả nhét vào túi đeo lưng. Toán lính đã thu xếp xong trong những tiếng thì thào thật khẽ. Chàng đeo túi lên lưng, ngồi xuống thềm đất, lật ngửa mũ úp mặt vào châm thuốc. Ra tiến lại:

“Đi hướng nào, chuẩn uý?”

“Cho anh em ra sát lộ đợi tôi”.

Những người lính bước khẽ men sát vách tường, cố ẩn mình dưới khoảng bóng tối ngắn do mái hiên tạo ra. Chái nhà bắt đầu hoang vắng, hiệu thính viên ngồi xổm cạnh mái, nhẫn nại chờ đợi, hai cánh tay đặt trên đầu gối duỗi thẳng xuôi về phía trước. Hai người lính gác giặc phía sau xuất hiện, lần mò kiếm túi đeo lưng dựng ở một góc cột. Vũ nghiêng người về hiệu thính viên:

“Báo cho họ biết mình bắt đầu di chuyển. Sẽ băng qua lộ”.

Chàng đứng dậy, mở bi-đông đưa lên miệng uống một ngụm dài. Mặt lộ như không có một hạt bụi, chàng quỳ lên lắng nghe và quan sát một lần chót: Không có gì ngoài các ngôi chùa tối đen, ánh trăng và cây cỏ. Chàng vẫy tay, tiểu đội 1 chồm lên, các khối đen lăn khuất bên kia bờ đất. Hoàn toàn im lìm ngoài một phảng phất âm thanh địch đào đường thật xa. Chàng vẫy tay, tiểu đội còn lại leo vội lên mặt lộ, chạy lao người về trước. Khi tới gần sát lề đường bên kia, một luồng gió đêm ướp mùi đồng nội ào tới làm chàng dừng lại trong một khoảnh khắc, hít một hơi dài. Cơn buồn ngủ day dứt từ khi trời bắt đầu tối tan biến hẳn, chàng thoải mái và gần như vui vẻ khi cho quân đi sâu vào trong xã. Men theo bóng tối của mái hiên, của rặng cây, của bờ rào, đôi lúc xoạc chân bước qua một hàng rào quá cao, đôi khi dừng lại đứng im hay phân tán vào bờ bụi khi có tiếng động bất thường. Bóng tối, kiếm bóng tối, men theo bóng tối, chàng cố gắng giữ cho toán quân đừng quá xa đừng quá gần con lộ mặt nhựa thẫm màu. Tiếng cuốc bổ vào mặt đường cứng bắt đầu nghe rõ từng nhát, rồi tiếng người nói lao xao. Chàng giơ tay, toán quân đứng sững, tản mát vào các vũng tối chung quanh, khẩu trung liên thò một cái mũi ra ánh trăng rồi biến đi ngay. Trên lộ, đám người hỗn độn lập lờ đang như những con kiến đen bu quanh một cái mô đắp ngang đã cao gần đầu gối. Chàng ngồi dựa vào một thân cây, muốn mỉm cười khi thấy đã ước tính đúng: địch không đặt một tổ báo động nào phía này. Ra bò tới sát cạnh:

“Tụi chúng làm ăn hung quá ta! Kêu pháo binh thụt cho chúng mấy trái cho chừa đi. Bọn mình được phép mà…”

Vũ ngần ngại. Có quá nhiều đàn bà trong đám người kia. Nhưng Ra có lý của hắn, bắn vài trái đạn nổ vào đúng cái đám đen đang lúi húi kia, có thể cả chục người dân tan xác nhưng có lợi từ đó về sau, dân sẽ có cớ để từ chối với các cán bộ ẩn hiện về đêm. Dân sẽ có thể nói: “Đắp mô! Lính nguỵ chúng gọi phi pháo túi bụi ngay!”. Một tiếng đàn bà cất lên cao vút, chàng lắng nghe nhưng không hiểu rõ câu nói, nhưng chú tâm ấy làm chàng hết ngần ngừ: Chàng sẽ không gọi pháo binh dù để chỉ bắn trái khói hay chiếu sáng doạ nạt, cũng không gọi 81 của đồn. Chàng quyết định ngắn ngủi, sẽ bò lại thực gần, lựa cho được vài tên cán bộ cho một băng, kèm vài trái lựu đạn ném xa xa, rồi rút.

Đám đông người quần áo đen sẽ cuống quít chạy ùa tứ phía, những con kiến đen bu quanh miếng đường bị bất chợt lay động bởi một ngón tay của chàng hồi nhỏ. Vũ chợt nhận ra mình đang mỉm cười với một hình ảnh cũ và hình như thích thú với dự định sẽ làm. Ra trườn như một con thằn lằn không đuôi đầu ngóc lên khỏi bụi cây thấp ven con đường đất nhỏ. Cái đầu đội mũ sắt tròn nhô lên, cứng ngắc. Hắn sẽ trở lại đây bây giờ, hắn sẽ góp ý kiến và chàng chờ đợi cái giọng thì thào quen thuộc trong bao đêm. Ý thức phải chờ đợi làm bàn tay tự động đưa lên túi áo lấy thuốc. Chàng ngồi bệt xuống cỏ hai đầu gối giữ chiếc mũ, đưa bàn tay có bật lửa vào trong, bậm chặt môi kê đầu điếu thuốc lên vành bật lửa, mắt theo dõi một đường cuốc sáng loáng trên mặt lộ. Ánh lửa vụt loé lên đồng thời với tiếng ma sát bị chìm trong tiếng cuốc va mặt nhựa. Chàng hút mạnh vài hơi liền, nhìn vệt đỏ từ một góc lan dần đầu điếu thuốc trong lòng chiếc mũ. Giọng thì thào quen thuộc đã cất lên:

“Chỉ có bốn tên mang cạc-bin hay Mas 36 quanh chỗ đắp mô. Xa hơn chung quanh thì không biết, chuẩn uý tính sao?”

Chàng im lặng cúi đầu vào lòng mũ, hút một hơi dài. Khi hắn hỏi tính sao là hắn sắp đề nghị, chàng chờ đợi.

“Đừng gọi pháo binh, chuẩn uý. Lỡ gặp phải gà chết nó câu đúng một trái nổ vào giữa cái đám kia, chết cả đống! Rồi mai dân kéo lên quận mít-tinh tùm lum thì mình kẹt”.

“Anh quên Tư tưởng Kinh kỳ cho phép bắn”.

“Phép hay không phép cũng thế thôi. Cứ có mít-tinh khiếu nại là chuẩn uý lãnh củ. Lúc đó chẳng ông nào nhận đã ra cái lệnh đó đâu… Khẩu lệnh mà, lấy gì làm bằng…”

Chàng lại cúi đầu vào trong mũ, hút một hơi dài và một lần nữa chờ đợi cái giọng thì thào cũ kỹ.

“Tôi ở quân đội gần mười lăm năm rồi, chuẩn uý”.

Giọng nói nhỏ hơn trước nhưng không chứa đựng một mỉa mai hay chua xót. Nó chỉ là nhận định một sự kiện… thế thôi, kinh nghiệm hơn của mười năm quân ngũ. Chàng lẳng lặng đưa cả mũ lẫn điếu thuốc bên trong sang phía cái đầu tròn của con thằn lằn không đuôi. Mùi thuốc bốc lên, chàng cúi xuống toan nói nhưng vội ngừng khi bàn tay người hạ sĩ quan đập vội lên mũi giày. Một tiếng người đi nhẹ chân, chàng không kịp làm gì hơn là cầm khẩu súng lên, bóng người đã hiện ra ngay khúc quanh của con đường. Vòm lá cây che khuất ánh trăng làm chàng không nhìn thấy gì hơn là hình dạng một người mặc đồ đen, chàng tính toán rất nhanh, ngồi im phải ngồi im cho các đường nét lẫn vào bụi cây thấp chung quanh, hắn sẽ không thấy hắn sẽ đi qua. Nhưng bóng đen đã ngập ngừng dừng lại mặt hướng về phía trước có quãng đường không lá cây đầy ánh trăng. Hắn định làm gì đây, hắn biết rồi chăng, mũi súng đã hướng đúng chiều và ngón tay đặt hơi nặng lên cò. Bóng đen đứng hẳn lại quay về phía chàng, ngón tay toan siết cò vội vụt buông ra khi thấy bóng đen không vũ khí và hai bàn tay vừa lần xuống cạp quần vừa tiến lại. Con thằn lằn không đuôi bung người lên chụp lấy bóng đen vào lúc chàng nhận ra đó là một người đàn bà. Vài tiếng kêu ú ớ lọt qua kẽ ngón tay Ra úp chặt, nhưng hai bàn chân vung lên đập thình thịch xuống đất. Chàng rút vội lưỡi lê, nhào nắm đè lên hai đùi, ép chặt cứng xuống đất, một khoảng trắng nhỏ thoáng chiếu rõ đôi mắt sợ hãi. Lưỡi lê mài sáng đưa lên trước đôi mắt mở lớn, người đàn bà vụt ngưng kháng cự. Giọng Ra nghe rõ từng tiếng:

“Nằm im nghe không… Chúng tôi chỉ giữ chị tới sáng mai là cùng cho khỏi lộ vị trí. Bảo im là im, bảo gì làm nấy sẽ được về với chồng con. Số chị xui, đi tiểu không đúng chỗ… Năm! Kiếm cái dây mày”.

Hai binh sĩ đã trườn người tới. Chàng ngồi dậy đút lưỡi lê vào bao, một bên tay còn hằn cảm giác êm của chiếc đùi rộng ấm. Các tiếng động trên phía lộ vẫn nguyên vẹn, đàn kiến đen vẫn tiếp tục bu quanh miếng mồi, chàng yên tâm đặt súng dựa vào một bên vai, tìm cách châm điếu thuốc mới. Một mùi khai nồng thoáng bốc lên đồng thời với ý thức một cảm giác ẩm ướt giữa một kẽ tay. Chàng tự dưng muốn ớn khi Ra trườn trở lại vị trí cũ, làu nhàu nho nhỏ:

“Mụ ta sợ quá đái đầm đìa cả ra… Khai quá sức! Chuẩn uý cho mồi điếu thuốc…”

Chàng chậm rãi chùi tay vào quần, xoay người lại. Người đàn bà hai tay kéo lên trên đầu đã bị trói xong, miệng bịt ngang bằng một chiếc khăn thẫm màu, chiếc quần vì vùng vẫy đã tụt trệ dưới rốn. Chàng ngắm khoảng da thịt để hở bồng bềnh trắng nhờ nhờ, và khi bắt gặp thân thể mình đang chịu tác động rõ rệt về tình dục, chàng toan quay đi. Nhưng một khoảng đen thẫm vuông vắn nằm áp cạnh sườn người đàn bà làm chàng chú ý và gọi Ra khe khẽ:

“Anh ra lấy cái túi kia. Coi có cái gì mà mụ ta cất kỹ quá”.

Người đàn bà vùng vẫy cố kháng cự nhưng một lưỡi lê đã giơ lên khua ngang đe doạ. Chiếc túi trút ra có một xấp giấy. Vũ cầm lên mở ra, lựa một khoảng trăng lớn lọt qua lá cây, đọc vội vàng những hàng chữ. Chàng đặt xấp giấy xuống cỏ, một cán bộ giao liên địch, chàng đã xét đoán lầm, không phải một người dân đi đào đường muốn đi cầu tình cờ tạt vào đây. Ra thì thào:

“Cái gì, chuẩn uý?”

“Một cán bộ giao liên”.

“À! Thảo nào nó kháng cự hung quá”.

“Anh hỏi nó xem tụi chủ lực đang ở đâu. May ra nó biết”.

“Phải hù nó mới được, chuẩn uý! Thứ này thứ dữ mà”.

“Cũng được…”

Câu trả lời sau cùng hạ thấp xuống miễn cưỡng. Chàng không ưa chứng kiến cảnh hù nó mới được, cái mà khi còn học trong quân trường, huấn luyện viên gọi là thẩm vấn tù binh tại chiến trường. Chàng biết như thế sau một lần thấy một tù binh không chịu khai bị bắt ngồi trên một vũng nước đã nẩy bắn người ngã ngửa ra phía sau khi một binh sĩ dí sợi dây điện có nối với một máy truyền tin. Luồng điện quá yếu không tạo một hậu quả gì hơn là một hoảng sợ cho một kẻ đang hoang mang sau khi đã chiến đấu, bị bắt và lo âu cho thân phận mình nằm trong chờ đợi nhiều bất trắc. Hù cho nó sợ, chàng không ưa chứng kiến và thường đi chỗ khác ngồi hút thuốc. Một cần thiết khó chịu như nhu cầu bài tiết nôn nao trong người. Nhưng bây giờ chàng không thể lảng tránh, đây không phải là sân đồn yên ổn có góc cho chàng ngồi hút thuốc. Không thể quay mặt đi khỏi vệt nhờ nhờ trắng và bồng bềnh khuất vào mép quần, không thể từ chối vai trò của mình bởi vì chính chàng đã tham dự vào việc bắt trói kẻ địch đồng thời là sinh vật cái có khoảng da thịt muốn loang trắng thêm trong bóng tối dưới lớp lá cây. Chiếc khăn bịt miệng bị giật tung sang một bên, một loáng lưỡi lê giơ lên, chậm chạp đặt nằm ngang tầm chiếc cổ người đàn bà hai tay bị trói kéo ngược lên phía trên.

“Nói đi! Đại đội của tên Hải hiện ở đâu? Muốn nói hay là muốn cắt tiết!”

Người cán bộ im lặng, chàng nhìn về phía lộ, đàn kiến đen cần cù, chàng cúi xuống lòng mũ hút một hơi thuốc.

“Nói mau! Tưởng bọn tui giỡn hả? Dân biệt kích đây, biệt kích không có hỏi tới câu thứ ba!”

Năm móc túi giơ lên trước mặt người cán bộ địch chiếc phù hiệu thêu hình chiếc sọ người hai xương trắng trên nền đen, phù hiệu hắn xin từ một toán biệt kích đã có lần tới giải vây cho đại đội chàng bằng một mũi dùi tiến quân có những ngôi nhà tranh bị đốt cháy.

“Nói mau! Không nói hả! Năm, mổ bụng nó ra mày”.

Mũi lưỡi lê nhọn thôi hướng vào cổ, quay chúc xuống lách dưới vải. Người cán bộ thốt kêu tiếng nhỏ nghẹn tắc dưới bàn tay Ra vụt úp lên miệng, chiếc áo đã bị rách đứt hết cúc, màu trắng vải vụt trải rộng như chói sáng.

“Hỏi lần chót, đại đội tên Hải hiện ở đâu? Còn bướng hả? Năm!”

Ngọn lưỡi lê lướt xuống phía dưới đe doạ. Người cán bộ giao liên hốt hoảng gật gật đầu. Ra cúi đầu xuống gần sát miệng người đàn bà thì thào liên tiếp. Vũ duỗi thẳng hai chân xua đuổi cảm giác gây gấy khó chịu dọc sống lưng, cảm giác của một âm thanh do lưỡi dao sắc cạo mạnh vào ống nứa xanh, của ước muốn như một sợ hãi đầu lưỡi lê sẽ chúc xuống thật sự xuyên qua lớp vải.

“Chuẩn uý! Nó bảo đại đội tên Hải đóng bên kia lộ cách chỗ đào đường chừng ba trăm thước”.

“Đóng thế nào? Định làm gì?”

“Nó không biết bởi vì được phép ghé qua thăm nhà từ chập tối. Rồi từ nhà đi liên lạc thẳng tới đây. Nó nói…”

Chàng chợt nhận rõ một bàn tay, không, nhiều bàn tay đang bò, những con vật đen thẫm bám trên ngực người đàn bà. Viên hạ sĩ quan ngừng thì thào, người đàn bà nằm im chịu đựng, không một cử động, không một âm thanh phản kháng. Cảm giác gây gấy lại xuất hiện, Ra im lặng chờ đợi, các con vật đen di chuyển mau hơn, vội vã. Chàng ngập ngừng, đó là một kẻ địch, đêm tối và tiếng súng, đêm tối hoả châu và những giọt mồ hôi những bất trắc của nỗi chết. Những con vật đen vụt ngưng di chuyển, những cái đầu binh sĩ hướng về chàng chờ đợi. Giới hạn chót đã đến, chàng biết rõ như thế, chàng chỉ cần ngồi im thêm một phút nữa, những bản năng sẽ được tung ra quanh khoảng ẩm ướt nước tiểu với chàng ngồi đó chứng kiến để rồi tan cuộc, họ cũng như chàng không còn gì hơn là nỗi tuyệt vọng với chính mình và một đam mê vớt vát với đời sống của những người lính.

Chàng chống báng súng quỳ một chân lên, các con vật đen biến mất. Chàng nói chậm chạp :

“Anh Ra mặc lại quần áo cho bả tử tế. Bịt miệng cho khỏi kêu rồi cho nằm sau bờ rào. Bảo đừng có chú nào lộn xộn nữa”.

Người hạ sĩ quan quỳ lên theo, hình như mỉm cười trước khi di chuyển thi hành lệnh. Chàng hiểu nụ cười phỏng đoán ấy. Chàng đã ra lệnh thừa, bây giờ không thể còn có lộn xộn nào nữa. Giới hạn chót chàng đã không vượt qua, người chỉ huy đã dừng lại bên tiền đồn của tuyệt vọng, tất cả sẽ dừng lại, chàng đã ngăn chặn mình ở lại bên này biên giới, một cưỡng ép tự ý không đạo lý trên thế gian nào hiện diện. Chàng trở lại ngồi vị trí cũ nhìn về phía lộ, đám người vẫn bao quanh mô đất đã cao hơn đầu gối. Khi đưa tay lên túi móc bao thuốc, chàng bắt đầu lại nghe thấy tiếng cuốc xẻng trộn vài tiếng nói và một con chó sủa ở một nơi xa phía sau. Khói thuốc toả trong miệng khô cứng, bàn tay kéo bi-đông thật nhẹ khỏi bao vải, dòng nước mát bám vào thành thực quản êm dịu, vài giọt chảy ra ngoài dọc cổ rồi mất hút ở một khoảng nào trên ngực. Chàng thoải mái nói nhỏ khi Ra và hiệu thính viên chúi đầu lại gần:

“Tôi sẽ đi với thằng Năm và Sao bò lại sát chỗ tụi nó đang đào. Sẽ tìm cách hạ vài tên kích rồi ném một lựu đạn cho dân sợ chạy. Anh cho cả trung đội dàn theo đường mương kia. Nếu tên Hải đóng đúng chỗ mụ cán bộ nói, chúng sẽ nhào sang làm mồi cho trung liên. Để kéo trung liên như thường lệ, khẩu của thằng Bảy để hẳn lên gốc cây dừa yểm trợ cho tôi rút”.

Không gian vụt tối hẳn đi, chàng ngừng nói nhìn lên, đám mây bay ngang mặt trăng có những viền một thứ màu xám trong. Chàng cúi đầu xuống nói với hiệu thính viên :

“Khi nghe thấy tiếng lựu đạn tôi ném, gọi về đồn báo cáo mình kích tụi đắp mả Hồ Chí Minh. Chỉ xin pháo binh bắn bên kia lộ một trăm khi nào anh thấy tụi nó tràn sang cả đại đội…”

Ra giọng lo ngại:

“Sao chuẩn uý không xin pháo binh ngay khi chúng nó bắt đầu xuất hiện? Đợi biết rõ là C. của chủ lực, đâu còn kịp”.

Chàng im lặng đưa chiếc mũ lên tận ngang mặt hút thuốc, Ra nhìn sang bên kia lộ, hắn hiểu chưa, những ngôi nhà tranh san sát nhiều lớp đến tận bìa rừng cao-su, Ra quay đầu lại không nói gì, hắn đã hiểu rồi, mọi sự phải là như thế, không còn cách nào hơn. Những người dân chỉ có thể chết trong lương tâm thanh thản của hắn, của chàng, của những người lính nằm từng vũng đen dưới ánh trăng nếu xác họ sẽ lẫn với xác địch. Còn chàng, hình như hắn vừa thở dài chịu đựng, còn những người lính của chàng có chết, bao giờ cũng là chết trong lương tâm thanh thản của mọi người, tất cả mọi người. Hai binh sĩ được chỉ định đi cùng đã tháo túi đeo lưng, bỏ mũ sắt, cài lựu đạn lên túi áo. Khi gỡ túi đeo lưng đưa cho hiệu thính viên, chàng cúi xuống, như một an ủi, nói thêm vào tai người phụ tá:

“Nếu không chặn nổi tụi chúng, anh cho trung đội phân tán vào các ruộng mía đợi sáng rút về đồn”.

“Còn ông Hy?”

“Ai biết được đại đội đóng chỗ nào lúc này”.

Chàng quỳ lên, cài hẳn lựu đạn vào phía sau lưng cho khỏi vướng khi bò.

“Chuẩn uý…”

“Cái gì nữa, anh Ra?”

Người hạ sĩ quan vụt im bặt, cúi mặt xuống. Chàng chợt hiểu, hắn không còn gì để nói thêm về chiến trận, hắn chỉ còn điều để nói riêng với chàng như những người lính nói với bạn thân nhất của mình, những lời giản dị như chúc mày may mắn, gặp hên nghe mày, liệu mà giữ nguyên bộ đồ nghề về cho vợ nó mừng nghe… Nhưng hắn không thể dùng những câu như thế, chàng đã giữ thái độ quá tách biệt từ quá lâu rồi và bây giờ thì đã quá muộn. Chàng để bàn tay lên vai Ra, hắn ngẩng đầu lên những nét mặt hiện rõ dưới ánh trăng, chàng toan nói một điều gì để hắn hiểu thứ tình tựa như lòng biết ơn và lưu luyến nho nhỏ, nhưng sau cùng chàng chỉ hỏi một câu trước khi lom khom cùng hai người lính băng qua con đường đất:

“Trăng còn ba tiếng nữa lặn phải không?…”

° ° °

Người đàn ông làm việc hối hả, lưng bị ép mạnh vào một nếp gấp của chiếu đau tê dần, chị toan nói toan di chuyển người sang phía bên nhưng những cử động bấu víu cương quyết của Hải là mọi ý định mềm rũ xuống, vô dụng. Chỉ còn cách chịu đựng, tiếp tục chịu đựng. Một giọt nước đọng kẽ mắt từ lúc nào bây giờ vì một cử động mạnh của người đàn ông, bật tung từ má chảy buồn buồn xuống thái dương. Hải thở hổn hển ngay sát cạnh làm những sợi tóc rung động phá vỡ giọt nước li ti bám vào vành tai, chị chợt nhận đồng thời cảm giác giọt nước vỡ tan và cơn khóc đã ngừng. Nỗi tuyệt vọng có từ lúc hoả châu bùng sáng không còn nữa, Hải đó rồi, Hải như bóng đêm, là bóng đêm đã tới và chị chẳng còn có thể làm gì hơn là theo đà đẩy mà nằm ngửa chịu đựng. Chị chậm chạp mở mắt, một chiếc lá nào đó theo gió lay động cho mặt trăng thấp thoáng trên kia. Hắn vội vã hơn, thế là sắp xong rồi. Chị toan nói, mong hắn nói nhưng không gian vẫn chỉ là tiếng gió và tiếng lá khô lạo xạo vỡ nát thêm dưới chiếu, chị muốn nghe cái gì khác hơn là tiếng thở mỗi lúc thêm đứt quãng. Mong ước đến tuyệt vọng, nhưng hắn không cần nói, Ba có nói, có hỏi han trong lúc… nhưng Ba là chồng, Ba có thương có yêu. Nhưng Ba đâu rồi, Ba ở đâu? Ý nghĩ rằng Ba đang hì hục đào đường, lưng trán đùi mồ hôi ướt bám dưới ánh trăng ngoài kia làm chị nghẹn ngào, muốn vùng lên. Nhưng Hải đã đến cực điểm, Hải không còn là gì hơn một áp lực tua tủa dồn chị xuống vết chiếu hằn đau cứng, hắn là một con vật dằng dai ngấu nghiến miếng mồi để không cần nói không cần phải thốt ra tiếng kêu, bất cứ tiếng kêu loại nào để chị bớt niềm tủi thân. Chị bắt đầu khóc thành tiếng nho nhỏ, giọt nước bám vào mi làm nhòe méo mó và rung rinh mặt trăng bên trên kia, sau lớp lá. Hải rũ liệt khoảnh khắc, lăn sang một bên ngồi dậy. Hắn không nói và chị tiếp tục để nước ứa ra làm mờ mắt mình. Hắn im lặng, hắn đang lục túi áo kiếm thuốc lá, chị không cần ngó cũng biết hắn sắp hút thuốc, đàn ông nào cũng đến thế, đàn ông nào cũng là mùi thuốc bốc lên khét lẹt, đàn ông nào cũng đến thế, cũng đến chỉ là cái thân thể uể oải dựa tường, dựa vách dựa cột dựa thành đất lạnh của chiếc hầm. Bây giờ chị hiểu thật rõ tại sao sau ngày bị Tây cưỡng, má hay khóc một mình với những giọt nước rớt trên tro nóng trong bếp. Cái hành động ấy chẳng nghĩa chi hết cho thân thể, một vài gáo nước là không còn dấu vết. Nhưng còn bên trong thì đầy thương tích, người đàn bà là đàn bà cho một người đàn ông, như thế mới thấy được là chính mình.

Tiếng trẻ khóc làm chị bừng tỉnh, toan ngồi dậy. Không phải tiếng thằng Bé. Người đàn ông giơ chân cản, chị gạt sang một bên:

“Để tui vô! Bấy nhiêu chưa đủ…”

“Đã ăn nhằm vào đâu”.

Tiếng nói của người đàn ông làm chị vụt tìm lại sức lực. Hắn đã nói, hắn không còn là khối đen tua tủa, không còn là tiếng thở hổn hển làm rũ liệt tan tành ý muốn chống cự. Bây giờ hắn là Hải, chính Hải. Chị không còn sợ hãi nhưng tự hỏi còn có thể làm được chi nữa không hay là để rồi và những lúc vắng người ngồi khóc cho nước mắt rớt trên tro tạo những tiếng xèo an ủi sau cùng. Bây giờ chị thấy ngại ngùng cho cả việc thực hiện dự định đã có lúc ngồi trên thềm hiên: cùng Ba lên tỉnh hay cùng Ba vượt sông vào sâu bên kia đều đòi hỏi những nỗ lực những cố gắng mà chị thấy không còn hy vọng có được. Thôi đành để chìm luôn, thôi thì Tía và quyền lực ban ngày phá ụ san đường mồ hôi chảy ròng dưới nắng, thôi thì Hải và vùng thầm lặng đe doạ tua tủa đau cứng người những giọt mồ hôi dán vào da đào đường đắp mộ ban đêm…

° ° °

Vũ ngừng bò, lật nghiêng người thò tay vào túi quần lấy bật lửa bỏ vào túi áo cho khỏi vướng. Con lộ đã gần lắm rồi, tiếng cuốc nghe rõ từng nhát tách biệt. Chàng nhô đầu thật chậm khỏi bờ ruộng, đám kiến đen đã trở thành đám người hỗn độn làm việc với những vết sáng loang loáng của kim khí mài phản chiếu ánh trăng. Một vài câu nói đứt khúc tung tới, chàng quan sát tìm kiếm những du kích nhưng những cử động nhoà tất cả vào một khối đen hỗn độn, quều quào. Ánh trăng yếu đi, chàng ngẩng lên, đám mây xám đang bay tới che dần mặt trăng, chàng ước chừng chiều dài và tốc độ bay của đám mây rồi nhắm mắt lại, đếm thì thầm như bao đêm nằm thao thức trên chiếc võng treo dưới hàng hiên, trong rừng, bờ bụi, tẩn mẩn tính thời gian che khuất mặt trăng của từng đám mây lớn nhỏ. Chàng tiếp tục đếm, năm sáu, bảy, nên mua vải màu gì làm quà cho Bích ngày mai, ni-lông không nhàu nhưng bây giờ ít người mặc, tám chín, mười, đàn bà kỳ cục chỉ thích theo mốt, mười một mười hai mười ba, còn đẹp hay xấu không quan hệ, mười bốn mười lăm, xuống xe đi mua liền cho có vẻ quà, mười sáu mười bảy, đàn bà thích nhận quà dù là của chồng, mười tám mười chín hai mươi, đám mây chắc qua rồi, chàng mở mắt từ từ. Một kẻ cầm súng đứng bên này lộ, một người nữa đứng trên mặt đường đang đốc thúc đám dân này làm việc, một kẻ nữa đang vén quần đái trên bờ ruộng. Tên thứ tư đâu, tên du kích thứ tư đâu… Chàng cố quan sát, cố tìm. Hay Ra đã nhìn lầm một người dân nào. Chàng quay đầu lại, phía sau toàn ruộng phẳng và bờ cây gần nhất cũng tít phía xa. Nếu cần phải rút, chỉ còn cách chạy ngược trở lại con đường đất cũ, ven xã. Chàng thở dài trước khi trườn sang bên trái thì thào vào tai một người lính đi cùng:

“Hai anh cố hạ hai tên đứng phía này… Kia kìa, một đứa đứng gác gần phía này, một đứa vừa đi tiểu xong đang ngồi xuống hút thuốc đó, chếch ngay bên phải cái cây, thấy chưa? Còn tên đang thúc dân, để tôi lại gần thanh toán. Nhớ chỉ nhắm sẵn thôi, khi nào thấy tôi bắn hãy bắn. Hết kẹp là rút thật mau, đừng đợi tôi”.

Chàng lăn tròn người sang phía bên kia bờ ruộng, mùi rạ ẩm bốc lên thấp thoáng mùi bùn và mùi cỏ. Phải bò thật chậm, chúng có thể nhìn ra từ khoảng cách này, mắt chúng quen bóng tối. Một cục đất nào đó bị cùi chỏ chạm lăn đi mấy vòng, chàng bất động nín thở. Trên lộ, các hoạt động vẫn bình thường, chàng nghe rõ từng câu nói của đám đông nhưng không hiểu nghĩa, từ đây tới lộ còn hơn trăm thước, không hy vọng gì bắn trúng trong thứ ánh sáng này. Liệu còn có thể lại gần hơn nữa không, chàng ngần ngại nhìn khoảng trống trước mặt, nhìn đám đông. Hình như tên du kích vừa lớn tiếng, chàng vội lắng nghe nhưng không kịp. Những mẩu âm thanh bẻ vụn vì gió không sao chắp nối được trong trí. Chàng tự dưng thực sự muốn giết tên du kích, muốn như một ao ước, một nhu cầu không thực hiện ngay sẽ làm ray rứt khó chịu. Trăng hoàn toàn ra khỏi mây, chiếu sáng trước mặt một khoảng trũng có bụi cây nhỏ thấp chơ vơ. Chàng trườn thật từ từ, súng để ngang trên hai cánh tay, một đầu gối một cùi chỏ đưa lên, những âm thanh sột soạt khe khẽ dưới người, một đầu gối đưa lên nữa, mong chỗ trũng đừng có nước, nếu không… Gần lộ lắm rồi, chàng vòng tay ra phía sau lấy lựu đạn, vành chỗ trũng đã hiện rõ, tên du kích đã để lộ chiếc bao đựng đạn phồng căng nơi thắt lưng. Hắn không nghi ngờ, hắn khinh địch, nếu không đã phải nhìn ra. Chàng khẽ để thân hình tụt theo thành dốc chỗ trũng, mùi cỏ ẩm ướt bốc lên sực nức. Không có nước, may quá không có nước ở dưới… Mồ hôi đẫm đùi kéo vải quần dán vào da, chỗ nào cũng mồ hôi nhưng bây giờ chàng mới nhận thấy chúng. Áp sát người vào bờ cỏ, chàng nhận thấy tên du kích đang cúi xuống chỉ trỏ. Ở khoảng cách này, hắn sẽ chết chắc chắn. Không thể thoát được, không thể thoát nổi. Chàng đặt quả lựu đạn xuống, ngoáy mạnh trôn vào cỏ cho khỏi lăn, mở nút bao vải kéo bi-đông ra thật khẽ. Liệu chúng đã nghi ngờ gì chưa, tiếng nút nhựa xoay khẽ, chàng đưa bi-đông lên, thò lưỡi vào miệng bình dẫn nước vào miệng. Những giọt nước mát mẻ và một thoáng gió hạ thấp làm se mồ hôi thành những điểm lành lạnh. Mùi cỏ ngái ẩm ướt mỗi lúc thêm dày đặc làm ý chí nhão nát buông thả tứ chi, tâm hồn vào giấc ngủ. Chỗ trũng trở thành ấm cúng quen thuộc nhanh chóng và mùi cỏ như rủ rê vào một vùng an toàn. Mi mắt hơn cụp xuống, chàng nhận biết cái cử động nhỏ bé ấy của thân thể. Mình mệt rồi, mình mệt mất rồi, mùi cỏ quá dễ chịu, quá êm đềm. Nhưng còn nhiều việc phải làm, nhiều việc phải làm…

Chàng đặt trái lựu đạn đứng thẳng bên trái bụi cây. Tên Năm hẳn đã đưa nòng súng theo từng di chuyển của gã du kích phía trái, nhưng hắn và Sao đều mang tiểu liên khó chính xác ngay từ những viên đạn đầu với khoảng cách ấy. Chàng quyết định sẽ ném lựu đạn vào phía đó ngay sát lộ, vừa không chết dân vừa hạ tên du kích. Ném bằng tay trái để có đủ năm giây cho tay phải bắn hạ tên chỉ huy trên lộ. Năm giây là đủ ngắm và bóp cò, chàng thì thào ý nghĩ của mình như để tự nhắc nhở. Năm giây trước khi mọi sự tan hoang với tiếng lựu đạn. Chàng cố suy nghĩ, cố ước tính xem cái gì sẽ xảy ra sau khi bóp cò và đàn kiến chạy tứ tung. Hy đóng đâu, gần phía đồn hay xa hơn, cách lộ ba trăm hay năm trăm, đại đội tên Hải hiện làm gì, rình mò nơi đâu, chàng không biết những điều ấy, không thể biết gì thêm, hiệu thính viên có nhận thêm tin tức cũng đến thế thôi bởi vì chỗ trũng là không gian cách biệt, khoảnh khắc an bình giả tạo mà chiều dài chiều ngắn tuỳ thuộc chính mình, chàng ngẩng đầu lên nhìn bao quát tìm một đám mây thấp, nó kia rồi, không lớn lắm, đang bay lừ lừ. Lớn chừng đó đủ rồi, đủ che khuất ánh trăng cho chàng chạy ngược trở lại chỗ trung đội nằm trong ven con đường đất. Đám mây gần hơn rồi, gần hơn nữa rồi, một thoáng mỏng đã đi ngang phía dưới mặt trăng. Chàng đặt khẩu súng nằm dài trên cỏ, rút chốt an toàn lựu đạn, mắt theo dõi hình dáng người du kích trên lộ. Hắn đang đi dọc mô đất, trà trộn vào dân, làm sao bắn được, trăng sắp bị che khuất, ra đi mày ra khỏi đám dân đi mày, đám mấy sắp tới ra đi mày… Hắn đứng lại, làm gì thế này, được rồi đó, đi nhanh lên chút nữa, còn ba người dân nữa, còn hai người… Chàng đột nhiên nghe rõ một tiếng cười, một câu nói: “Ba! Mần đi cho rồi còn về… mần vợ”. Bóng đen tên Ba quay đầu văng tục, chàng nheo mắt cố tìm đường ngắm đúng, đầu ruồi lờ mờ làm mỏi mắt nhưng mũi súng đã vào giữa bụng tên du kích. Bây giờ chỉ còn chờ đám mây, nó còn bao nhiêu đường phải đi tới trăng, bàn tay phải đã hơi cứng lại vì ghì chặt đúng vị trí, mây tới chưa… Không gian vụt u ám, chàng ném lựu đạn không nhìn theo nó đi tới đâu, cúi vội xuống cầm súng. Trước khi bóp cò một thời gian vô nghĩa, chàng thoáng nhận ra người dân tên Ba lao người vào đánh một kẻ kế bên làm che khuất tên du kích. Nhưng ngón tay đã bóp cò, Ba lảo đảo, chàng rủa một tiếng quỳ lên, tên du kích nghiêng người về phía trước lấy đà chạy, chạy đâu, chàng bóp cò liên tiếp, chạy đâu cho kịp mày… Tiếng lựu đạn nổ vang dội, chạy đâu nổi, chàng bóp cò, cái gã Ba nào đó đã đổ xuống, tên du kích gắng gượng ôm bụng, lắc lư cố bước, ngã chúi xuống. Trước khi xoay người nhảy ra khỏi chỗ trũng, chàng còn kịp thấy hắn đổ sấp xuống lộ và những người dân nhốn nháo. Đàn kiến đen, chàng co chân nhảy qua một bờ ruộng, đúng đàn kiến bị ngón tay chọc vào mồi đang xôn xao, con đường đất kia rồi…

Tiền Đồn

Thế Uyên

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Phần 5.

Một bóng đen bật diêm châm thuốc, ánh sáng bùng ra soi sáng khoảnh khắc nòng súng dài lớn ngóc lên cao. Yên lại gần, một tiếng nói từ dưới hố sau một tiếng ho khan:

“Hết báo động chưa, thiếu uý?”

“Anh em có thể lên được rồi. Ông Mạnh cho thêm 300 nữa, kiểm soát lại bọt nước cho kỹ…”

Chiếc đèn bấm mở trong tiếng tách ngắn, Định thoáng nhận ra khuôn mặt viên thượng sĩ già áp sát bộ máy ngắm và đôi giày cao cổ đi vội chưa cột dây của Yên trên thành hố.

“Xong rồi, thiếu uý. Sẵn sàng bắn”.

Vùng ánh sáng vụt tắt, hố súng cối trở thành một khoảng trũng đen. Viên thượng sĩ vươn vai mệt mỏi, hỏi Yên:

“Đêm nay chắc chuẩn uý Vũ đi kích hướng đó?”

“Đúng ổng”.

Yên đặt tay lên vai Định kéo lại sát vách đồn, chỉ ra đồng trống và cây cầu đúc lờ mờ trắng dưới ánh trăng:

“Anh chàng Vũ chắc đêm nay đóng xa lắm. Mỗi khi đi kích bị lộ như vừa rồi, hắn hay kéo quân đi xa lắc để lừa địch”.

Định hỏi:

“Tôi tưởng đó là một chiến thuật hay chớ?”

“Hay là cái chắc. Trung đội hắn đụng địch nhiều nhất nhưng thiệt hại ít nhất từ hồi tiểu đoàn về đây giữ khúc đường máu lửa này”.

Một bóng người lại gần Yên:

“Có công điện hoả tốc của tiểu khu, thiếu uý!”

Định theo Yên rời vũng trũng đen chập chờn những đốm lửa đỏ đầu thuốc. Ánh đèn măng-sông chập chờn xanh chói mắt, một binh sĩ cởi trần đứng trên ghế đẩu đang cố gắng giữ chiếc đèn khỏi chao đi trong khi bơm, Định dừng lại, quay ra sân ngồi chỗ cũ, đưa mắt kiếm ly rượu. Chàng đưa lên miệng uống, đá tan hết làm loãng rượu, nhạt nhẽo. Tiểu đoàn phó cầm chai giơ lên, viên cố vấn lắc đầu, tiểu đoàn trưởng im lặng, đặt tay úp lên ly. Định rướn người đưa ly tới, ánh sáng xanh từ phía trong rọi ra làm rượu như có màu nước lã, chàng hỏi:

“Không biết còn đá không nhỉ?”

Cận đẩy chiếc ly ra mép bàn:

“Hết rồi. Anh lấy đá của tôi cũng được…”

Định uống một ngụm lớn, người lính trong nhà bơm xong đèn, cúi xuống bê cái ghế đặt trả sát bàn. Định ngửa đầu ra phía sau lắng nghe hơi rượu bốc nóng trong cơ thể, vẩn vơ tự hỏi hình ảnh vừa ghi nhận có nguồn gốc quen thuộc từ thời kỳ nào. Có tiếng đá va thành ly khẽ và thanh cũng một tiếng ho, chàng đã tìm ra và nhớ lại hình ảnh người thanh niên con chủ quán ven bãi cát Nước Ngọt, nơi Nha Cao đẳng quân sự lập trại thực tập cho sinh viên. Cũng thứ ánh sáng xanh và tiếng bơm dầu ngắn và khô khan. Người đàn bà thường gánh những chai nước ngọt ướp đá theo các đại đội ra bãi tập đang ngồi ở bàn gần quầy cười đùa cùng các sinh viên áo trận bỏ ngoài quần. Chàng chăm chú nhìn bộ ngực căng dưới lớp vải mỏng, ngó cặp mắt long lanh ướt của người đàn bà đang cười với những lời bông đùa đã bắt đầu tục tĩu của những thanh niên ngồi quanh. Một bàn chân đàn ông rời khỏi chiếc dép khe khẽ di chuyển dưới gầm bàn làm chàng chú ý theo dõi, bàn chân đã đến sát ghế người đàn bà, cọ vào bắp chân trắng, thiếu phụ vẫn cười cầm một nhánh tỏi khô ném đùa về phía chủ quán. Bàn chân đưa dần lên phía trên, hai ngón mở rộng, chàng chợt nín thở, các ngón vụt quặp vào đùi, thiếu phụ la lên một tiếng ngắn, cầm nắm lá vỏ ném vào kẻ ngồi đối diện. Tiếng cười búng ra ồn ào, chàng cúi xuống nhìn ly cà-phê vơi một nửa nguội lạnh, cố trấn áp sự thèm muốn giao hợp đang biểu lộ mãnh liệt từ khi chàng đoán biết thiếu phụ đang cười nói phía bên kia đang ở trong cùng tình trạng: đôi mắt ướt nước dưới ánh đèn, tiếng cười, phản ứng trước những câu bờm xơm nửa kín nửa hở của những gã con trai đã xa nơi có đàn bà hơn mười hôm. Còn chàng, nỗi thèm muốn đã khởi đầu và day dứt từ khi ngắm thiếu nữ con chỉ huy trưởng trại từ dưới nước chạy lên, vải áo tắm quá mỏng, nước chảy dọc ngực xuống giữa hai chân, nhỏ từng vết nâu cách nhau không đều khi nàng qua gần nơi chàng nằm dài phơi nắng. Tiếng sóng đổ bỗng nghe rõ hơn sau quán lẫn tiếng ầm ĩ đều đều của máy phát điện trong trại bên kia lộ, đám sinh viên gọi chủ quán tính tiền để có thể thu xếp đi ngủ trước giờ tắt điện. Thiếu phụ đứng dậy vươn vai ngáp không lấy tay che miệng, khẽ cười khi thấy chàng nhìn. Khi người đàn bà ra khỏi quán đi về phía sau, chàng đặt vội ba đồng xuống bàn cạnh ly, đứng dậy đi theo, không toan tính, không dự mưu, một cử chỉ tự nhiên của một vật đực đang thèm cái. Bóng đen tiến xuống một vũng sâu dưới chân đụn cát, ngồi thụt xuống trong tư thế bài tiết. Chàng rón rén đến gần và phá lên cười khi nghe thấy tiếng nước va mạnh trên cát khô. Không một lời trao đổi, nàng theo chàng lên sườn đụng cát, im lặng ưng thuận nằm xuống sườn dốc thoai thoải sau một bụi cây cằn cỗi. Khi chàng nằm lên thân thể nóng ấm, một sinh viên chơi một bản tình ca Tây phương trên đỉnh đụn cát, tiếng phong cầm lẫn tiếng ca phụ hoạ không đều của những sinh viên thức khuy vang xuống phía dưới làm chàng ngưng cử động lắng nghe và chợt nhớ ra rằng buổi sáng gác phiên chót, chàng đã ngồi nhìn ra bãi biển kê giấy trên gạch viết thư cho người yêu: “… gió rừng buổi sớm từ núi ra làm anh thấy lạnh, ngẩng đầu lên thấy trời còn sao anh thấy yêu em vô cùng…”

Chàng ngẩng đầu theo chiếc ăng-ten siêu tần nhìn vào bầu trời trước khi cầm ly rượu lên uống một ngụm dài: trời ít sao và trăng sáng quá. Chàng cố gắng nhớ lại tên người yêu ở thời kỳ ấy nhưng không tìm ra, chàng chỉ hồi tưởng được, khi đã thoả mãn nằm lăn càng bên cạnh người đàn bà trên sườn dốc thoai thoải, tiếng phong cầm nhỏ dần về phía trại và trên đỉnh đụn cát có một kẻ nào đái, nước va xối xả nghe rõ trong nền âm thanh ầm ì của sóng đổ vào bờ cát.

“Đại uý! Tiểu khu cho biết theo nguồn tin B2, một đơn vị địch khoảng tiểu đoàn xuất hiện ở số nhà này lúc mười chín giờ…”

Yên ngừng nói, quỳ một chân xuống kê bản đồ lên đầu gối, cầm bút chì mở vạch một chữ thập. Viên cố vấn nghiêng người gần sát đầu tiểu đoàn trưởng, chăm chú nhìn. Yên nói tiếp:

“Giả thuyết của tiểu khu là chúng chuyển quân chứ không định đánh ấp Bưng đâu. Nhưng cũng nên đề phòng. Có gọi Hy mang đại đội về đồn không, đại uý?”

“Để coi đã… Mang cái đèn ra đây! Hy nó đóng đâu, đây hả? Còn trung đội đi kích… Sao Vũ đi xa thế, Hy nó yểm trợ sao nổi… Sao anh không cho tôi biết?”

“Dạ, tưởng không quan trọng. Vũ vẫn có cái tính ấy, lộ hướng đi là hắn chọn điểm kích khác ngay để khỏi bị đánh úp. Vả lại tôi cho 81 bố trí sẵn yểm trợ trực tiếp không qua Hy rồi”.

Tiểu đoàn phó quay lại nhìn Định, nói:

“Đêm nay tôi tin thế nào cũng có lộn xộn lớn”.

“Tại sao, đại uý?”

“Anh không cảm thấy sao? Mọi người đều có vẻ đứng ngồi không yên. Lính cũng vậy, chúng thức cả dù không biết rõ tình hình”.

Định nhìn ra sân, những đốm lửa đỏ lập lòe trên bờ tường, trong sân, các bóng đen mập mờ ẩn hiện. Đột nhiên loạt tiếng súng cá nhân nổ khá gần, sau chợ bên kia lộ, chàng đứng dậy cùng mọi người. Những bóng đen di chuyển nhanh trong sân, thỉnh thoảng một đôi giày một báng súng lọt vào vùng ánh sáng. Tiếng súng vụt ngừng, đột ngột như đã xuất hiện, Vận quay lại hỏi tiểu đoàn phó:

“Toán thám báo của Vinh phải không, đại uý?”

“Chắc thế. Họ sắp rút về đồn ngay bây giờ, tôi phải ra xem sao”.

Định vội vã:

“Đại uý đợi một chút, để tôi lấy súng đi cùng”.

Trong khi chờ đợi người lính kéo ngựa kẽm gai sang một bên mở lối, tiểu đoàn phó đái vào hàng rào, nói không quay đầu lại:

“Anh chưa biết thiếu uý Vinh phải không? Hắn ở tỉnh về lúc chiều, mang tụi thám báo đi liền… Mày có đèn đó không Kỳ? Chạy vào lấy ngay cho tao!”

Định can thiệp:

“Khỏi cần đại uý, tôi có mang đèn của tôi theo rồi”.

“Đèn kiểu dân chính hả, thôi cũng được, đi cho rồi”.

Sân chợ loáng thoáng vết đèn từ trong các căn nhà hắt ra, một con mèo mắt xanh leo dưới ánh trăng im lặng ngó đoàn người di chuyển sát các vách nhà. Có tiếng chó sủa nhiều và dữ dội đằng xa, một bóng đen nhô khỏi bóng tối, nòng súng thoáng hiện ánh trăng. Câu hỏi thì thào:

“Ai đó? À, đại uý”.

“Toán thám báo về chưa?”

“Chưa thấy gì, đại uý. Tổ báo động đang cố liên lạc”.

Định theo người lính vào rạp hát bỏ hoang cuối chợ. Tổ báo động im lìm ngồi sau hai cánh cửa ngách làm chàng trong một khoảnh khắc tưởng họ là những vệt vách lở trên tường. Mùi phân người khô mốc và mùi nước tiểu phảng phất lẫn với tiếng hiệu thính viên thì thào ở chân bục gạch:

“Sử gọi Địa nghe không trả lời… Sử gọi Địa nghe không trả lời… Đứt liên lạc từ lúc có tiếng súng, đại uý”.

“Anh cố đi. Anh Định theo tôi!”

Quỳ sau gốc cây, chàng cố gắng quan sát. Dãy tre, lớp rào găng phản chiếu ánh trăng nhưng bên dưới sát đất là vùng bóng tối dày đặc. Tiếng chó lại sủa nhiều nhưng nhỏ dần về phía cây cầu đúc. Chàng ngồi đó đã lâu hay chóng, bao nhiêu phút bao nhiêu giờ, chàng không biết. Thời gian như bị tiêu huỷ trong thứ ánh trăng trắng xoá trên tất cả, cành lá, đất, ngọn cỏ, chàng và những vùng bóng tối. Đầu rỗng không, không cảm nghĩ, không dĩ vãng, chỉ phảng phất một tình tự an bình mỏng manh do sự hiện diện của khẩu súng lên đạn mở an toàn trong tay và viên đại uý già sắp đến ngày về hưu phía sau. Có tiếng lá khô gãy nhẹ, chàng quay lại, bóng đen đã cúi xuống ghé đầu giữa hai người:

“Liên lạc được rồi, đại uý. Thám báo đụng địch, một đứa con bị thương. Họ về phía bên chợ, yêu cầu hiệu đèn liên tiếp.

“Đèn, anh Định!”

“Mật hiệu, đại uý?”

“Hai ngắn, một dài… Tốp, tốp đã!”

Viên đại uý dùng cả hai tay úp chụp lấy đèn, càu nhàu nho nhỏ:

“Để ánh sáng toé tùm lum như thế tụi chúng trông thấy cho ăn phóng lựu bây giờ… Hướng về bên phải chút nữa, được rồi, ngay chỗ nhà nhô ra đó… Mai anh nhớ kiếm đèn quân đội mà dùng”.

Ánh trăng phía trước quá sáng làm Định cố gắng nhìn nhưng không thấy ánh đèn nào, chàng chú ý điều khiển nhịp điệu đóng mở, một dài một ngắn, một dài. Một lần hai lần ba lần, tay chàng bắt đầu tê đi vì tì quá mạnh trên bàn tay nắm chặt chiếc đèn, nhưng trước mặt, dưới vùng ánh sáng của ngọn tre, lá dừa, vùng bóng tối vẫn im lìm dày đặc. Một hơi thuốc cay thoảng qua mũi, chàng quay lại nhận ra hiệu thính viên tổ báo động đã mang máy ra từ bao giờ, bàn tay đang khum lại trước mặt hút thuốc. Chàng cầm điếu thuốc ra hiệu, người lính hạ tay gần sát đất, đốm lửa đỏ xuất hiện. Khi cúi xuống châm nối, chàng thoáng nhận ra tiểu đoàn phó đang ghé miệng sát ống liên hợp, hàm răng lộ ra như một vệt trắng. Một tiếng huýt sáo rì rào lẫn âm điện tử, vệt trắng biến đi, lại xuất hiện:

“Đèn mau! Họ về đó”.

Chàng đặt vội điếu thuốc xuống đất, cầm đèn. Từ vùng bóng tối, hai vệt sáng loé lên rất nhanh, chàng cố hướng đúng đèn trong tay về điểm đó, một ngắn một ngắn một dài… Các bóng đen lờ mờ lẩn khuất sau các gốc cây, chái nhà trở thành có hình dạng rõ rệt hơn. Chàng đứng dậy, toán người đã đến gần, mùi mồ hôi nồng mặn xông vào mũi. Tiếng tiểu đoàn phó:

“Vinh hả? Đứa nào bị?”

“Thằng Sàn… Vào đùi”.

Mùi phân mốc trong nhà bỏ hoang lại bốc lên làm chàng rút bao thuốc ra, tiến sát vách bật lửa châm hút. Một bàn tay mạnh dạn ấn lên vai chàng:

“Cho tao một điều mày. Mẹ kiếp! Từ tối tới giờ chưa được hơi nào! Thèm hơn thèm l… đĩ”.

Ánh sáng bên ngoài hắt vào làm chàng nhận ra nét mặt Vinh, đôi mắt thoáng lấp lánh. Chàng chìa bao thuốc, nói nhỏ:

“Tôi là chuẩn uý Định, lính mới…”

“À, tốt”.

“Vất vả chứ anh?”

“Đ.m. tụi chúng! Toát mồ hôi ra mới làm được hai con, lấy được hai carbine chó đẻ!”

Người lính bị thương rên lên một tiếng khi được đặt lên băng-ca, nhắm vội mắt lại khi di chuyển ra khoảng sân chợ sáng ngời ánh trăng. Định búng mẩu thuốc lên thật cao, chàng theo dõi vòng cung đỏ tận cùng bằng một chùm lửa nhỏ tung toé trên đất và khi ngẩng đầu lên nhìn quanh, chiếc băng-ca và tổ thám báo đã lẫn vào hàng rào đồn, tổ báo động đã trở lại chìm vào vùng bóng tối trong rạp hát. Vinh cười khe khẽ:

“Nhớ vợ rồi sao lính mới?”

“Làm gì đến nỗi thế”.

“Hăng nhỉ! Trong đồn còn rượu không, lính mới?”

“Còn. Nhưng hết đá, hết sô-đa”.

“Sẽ có ngay, đi với moa!”

Bóng đen của chàng đổ nghiêng dần về một bên khi đi về phía quán cà-phê, tiếng giày va xuống gạch và một luồng gió luồn qua hàng cột chợ làm chàng thoáng tưởng đang đi trong sân nhà hồi nhỏ. Hình như tất cả là an bình từ lâu, vẫn vĩnh viễn an bình như thế, ánh trăng không bị mây che xoá nhoà tiếng súng, tiếng rên và những bóng đen im lìm khiêng cáng, làm tan biến lớp kẽm gai và men rượu khắc khoải trong người. Nhưng Vinh đã tạo ra tiếng động kỳ cục, phá quấy. Tiếng hắn giả như thều thào giữa những tiếng đập cửa bằng nắm tay:

“Chủ quán mở cửa… Bớ chủ quán! Anh em Giải phóng quân đến thu thuế đây!”

Một khung chữ nhật sáng xanh hiện ra trên đất, người Tàu thò đầu rụt rè rồi cười:

“Thiếu uý làm tôi hết cả hồn!”

“Bộ tưởng các đồng chí thật sao? Tết Công-gô tụi chúng mới dám tới đây. Còn la-de, còn đá, còn đế không? Có cái gì cho cái đó, mẹ kiếp khát quá là khát. Làm một ly, lính mới!… À, cái tên này tửu lượng khá. Có thể coi ban hai thay mỗ gia được khi mỗ gia quy tiên… Này Siu cô nương, tên lính mới này trường túc hơn tôi, bỏ tôi đi lấy hắn lời hơn…”

Người con gái lại bĩu môi không trả lời. Vinh phá lên cười, đưa ly bia lên uống một hơi dài. Định chăm chú nhìn, dáng điệu, lời nói của người mới quen, ánh đèn măng-sông, quán cửa khép kín, đôi môi bĩu… đã đưa chàng một trạng thái khoái cảm ngắn hạn của một không gian trong đó mọi tương quan nhân loại mang một hình thức và mức độ mới. Vinh đặt ly xuống bàn, đưa vạt áo bà ba đen chùi ngang miệng, một cán dao thoáng hiện bên cạnh sườn. Định giơ tay:

“Anh có con dao đẹp nhỉ, cho coi chút”.

Một mảng sáng bạc bám những vệt nâu phồng cao cứng, mùi máu tanh và mặn bốc lên. Vinh cười:

“Quên cha nó mất không chùi dao rồi!”

“Lúc nãy tôi nghe tiếng súng…”

“Bọn này quật ngã hai tên tại chỗ. Vừa mới nhào lên lấy súng thì tụi chúng nhau nhau ở phía sau. Một tên bị thương chưa chết, moa phải cho một đường dao vào bụng nó mới chịu buông súng ra nằm chịu trận. Đ. m. tụi nó, quý súng hơn quý cả l… nữa. Úi, xin lỗi Siu cô nương. Lỡ miệng chút xíu mà. Thôi, xin cô nương lượng thứ, xin cho kẻ hèn này chai la-de nữa, cố kiếm giùm chai có trái khóm… Mẹ kiếp, khát quá. Có lẽ moa làm ăn cái vụ ấy đêm qua kỹ quá nên đêm hay khát nước… Này lính mới, dân tò te có thấy khát cái “dụ” ấy không? Có hả, tốt. Uống hết ly này một hơi đi… Tốt, tửu lượng khá, có thể đóng tới lon chuẩn tá sau này”.

Vinh dựa đầu vào tường cười, quàng tay lên vai chủ quán níu ngồi xuống ghế bên:

“Chủ nhân uống với mỗ một ly chứ. Đừng lo! Giới nghiêm tám giờ là cho thiên hạ đẻ nhiều con, đâu có giới nghiêm cho tên chưa vợ này… Tốt, tửu lượng khá, sau này có thể giàu bằng chú Hoả, mua một góc Chợ Lớn lập cung A phòng được lắm… Cứ yên trí, chưa say đâu, còn lâu mới say. Cho kẻ hèn xin chai nữa đi, Siu cô nương. Chai trái khóm nữa hả? Tốt, uống đi lính mới… Sống ở dương gian Diêm vương phán hỏi rằng chi đó? La-de… Uống đi lính mới”.

Định uống một hơi dài, nhìn Vinh qua màu vàng của chiếc ly, linh cảm từ toàn thể câu nói, dáng điệu kia đều chứa chất một thứ yêu cái chết và sự sống pha trộn cuồng nhiệt rối bời, một mức cuồng nhiệt như mê hoặc bằng ma tuý quyến rũ làm chàng ước ao nhưng y trước chẳng bao giờ có được. Chàng là kẻ đi tìm, Vinh là cái hắn tìm nhưng không biết. Hắn may mắn hay chàng may mắn?

“Anh ghét cộng lắm sao mà đánh nhau hăng vậy, anh Vinh?”

Vinh ho sặc sụa ngồi bật dậy, xoay hẳn mặt lại nhìn:

“Bộ lính mới say rồi sao mà ăn nói kỳ cục vậy? Mẹ kiếp! Đánh cộng sản có chính nghĩa chứ, ít ra cũng để có thể uống la-de tuỳ hứng, tán gái tuỳ thích, thất tình tự do, thất nghiệp tuỳ ý. Ngày xưa moa đi lính vì thế đó. Mẹ kiếp, bây giờ chúng nó… be bét ra chính nghĩa rồi. Đợi đến Tết Marocco moa mới chiến đấu cho chúng nó chuyển ngân, xây buyn-đinh ăn hút, mẹ kiếp!”

“Thế anh đang làm cái gì thế?”

“Uống một ly nữa, lính mới! Cho bớt ngu đi… Hễ chiến đấu là phải chiến đấu cho cái gì mới được sao, lính mới? Uống một hơi cho hết cái ly này đi cho bớt ngu. Được rồi đó, có tí rượu vào trông cái mặt cũng khá ra. Rồi, tốt… Bây giờ thử nói một câu nào thông minh nghe coi!”

“Hiếp gái cảm tưởng ra sao, bồ?”

Vinh vỗ vai chủ quán cười, liếc thiếu nữ vùng vằng đứng dậy đi vào trong.

“Lính mới khá đó, tấn tới! Xin lỗi Siu cô nương lần nữa… Cô nương kiếm giùm cho một chai nữa. Yên trí, chai chót mà…”

Vinh đưa chai lên miệng tu, người chủ quán lúi húi gói viên đá đầy mạt cưa vào trong tờ giấy dầu. Tiếng đèn măng-sông kêu vo vo êm đềm, Định lắng nghe nỗi thích thú mới đến chưa bao lâu đang từ tốn ra đi buồn nản như bàn tay che miệng ngáp của người con gái lai phía trong. Vinh đặt chai xuống bàn, tiếng va mạnh, khô khan. Có tiếng gọi từ đồn:

“Thiếu uý! Thiếu uý Vinh!”

Vinh đứng dậy, cầm chai rượu đứng dậy ra mở cửa:

“Làm cái gì mà la vậy, ông nội?”

“Thiếu uý vô ngay, đại uý kêu…”

Định cầm viên đá bọc trong giấy bằng tay trái, tay phải cầm súng, cố đeo lên vai. Chàng nhắm mắt lại một thời gian cho quen bóng tối, nhìn thấy một con chó đang đứng sững giữa lộ, rồi nhận ra ánh trăng đang lấp lánh trên cột nước tiểu của Vinh đang chúc xuống mặt nhựa đường.

“Hãy đái giữa lộ dưới trăng một phát, lính mới! Bảo đảm đái như thế xong đỡ nhớ vợ… Mà toa có vợ chưa nhỉ! Có rồi hả, tốt! Thôi đi vô”.

Sau một tiếng hắng giọng, Vinh giả giọng người say ngâm thơ trong khi hai người len lỏi giữa lớp rào kẽm gai tràn đầy vệt trăng:

“Quan to súng ngắn bề rề, Thần l… ám ảnh cũng mê mẩn đời… Này lính mới, có biết ai là tác giả hai câu thơ nổi danh ấy không? Ca dao à, bậy! Bác Hồ làm câu trên, cụ Diệm làm câu dưới. Nhan đề là thơ Thống nhất, toa không tin là toa ngu, ngu ngang hàng với các tướng sáu sao và các binh ba cành cạch… như toa chẳng hạn… Mẹ kiếp, thằng Yên nó làm cái gì thế này!”

Một tiếng nổ lớn, tiếng đạn réo mạnh và ngắn, một khối sáng toả ra hạ xuống từ từ. Cây cầu xi-măng hiện ra rõ từng nhịp, mặt nhựa trắng xanh. Định dừng lại cạnh hố súng cối, hỏi:

“Bắn chiếu sáng làm gì, anh Yên?”

“Hy nó yêu cầu. Chắc có chuyện rắc rối”.

Giọng trung uý già ở một góc tối xen vào:

“Chắc lộ vị trí đóng quân rồi”.

° ° °

Vũ vẫy vội tay, cùng toán quân nằm ép sát xuống cỏ, bất động trong làn ánh sáng chói của đạn chiếu sáng đang từ từ hạ xuống. Chàng lo lắng không hiểu trung đội bị lộ hình dạng hay chưa và cảm thấy rõ dù địch đã biết, chàng cũng sẽ không muốn đổi hướng tiến quân: đã mười giờ đêm và cơn buồn ngủ như một nỗi chán chường đã tới. Nguồn sáng đã hạ thấp rồi khuất sau rặng cây bên kia, mùi cỏ ngái lẫn mùi đất còn ẩm xông lên nhè nhẹ làm chàng như kiệt sức, muốn nằm luôn đó thiếp đi trong trăng sao. Toán quân vẫn bố trí sát bờ đất, những vệt đen rải rác bất động chạy dài về phía sau, chàng thì thào: “Mệt rồi, mệt cả rồi, mùi cỏ mùi đất đã bốc lên…” Tiếng chó cắn bắt đầu vang lên dữ dội phía làng bên kia quốc lộ, chàng chậm chạp suy tính: như vậy có thể địch đã len vào giữa trung đội và đồn, và đến nơi đây, dù Hy có đóng đúng vị trí ấn định trước, cũng không thể yểm trợ 60. Chỉ còn 81 của đồn. Mùi cỏ lại bốc lên, đậm đà hơn trong tiếng một con dế bắt đầu kêu ở gần. Một bóng đen bò sát lại gần, giọng Ra thì thào:

“Tại sao đồn bắn chiếu sáng, chuẩn uý?”

“Không biết nữa. Anh nghe tiếng chó…”

“Tụi chúng đó… Chắc chúng đi đông, tiếng chó sủa nghe dài lắm. Kích ở đây thôi chuẩn uý, đi quá xa rồi”.

Chàng không trả lời, quỳ lên thật chậm nhìn chung quanh, cố gắng xác định thật đúng vị trí. Sắp đến ven sông rồi, con lộ đã bắt đầu nhô cao uốn cong về cây cầu sắt nhỏ, chàng xoay người chậm chạp nhìn ngược về phía đồn, bắt đầu nhận ra phía xa khúc đường hay bị cắt đắp mô với những vệt sáng cắt ngang mặt lộ. Giọng Ra lo ngại:

“Đêm nay thế nào tụi chúng cũng đắp mô nữa”.

“Đắp thì chẳng ngán… Anh có tin chúng định làm ăn dữ đêm nay không?”

Viên hạ sĩ quan không trả lời làm chàng muốn mỉm cười: Hắn vẫn có cái lối đó, không bao giờ dám nói thành lời nỗi nguy hiểm đang đe doạ, nỗi nguy hắn ý thức được bằng trực giác của một lính già hơn mười lăm năm quân ngũ. Chàng ngồi xuống, mùi cỏ lại xao xuyến bứt rứt.

“Anh cho hai đứa lại đi với hạ sĩ Sao tới khu nhà kia xem có đóng quân được không. Nhớ dặn chúng ra khỏi chỗ trũng này phải chịu khó bò cho tới chỗ bụi cây cho chắc ăn”.

“Mình đóng ở đây sao, chuẩn uý?”

Chàng không trả lời, khẽ kéo tay Ra ra dấu thi hành lệnh. Tiếng chó sủa nghe rõ hơn. Tại gió hay tại địch sắp lại gần. Chàng lại quỳ lên áp sát người vào bờ cỏ, cố giữ khỏi thò đầu cao hơn lớp cỏ ven lộ, nghe ngóng. Tiếng chó vẫn ở khu ấy, lúc to lúc nhỏ theo gió mạnh yếu. Ra đã trả lời, chúc đầu xuống rãnh bật lửa châm thuốc, lẳng lặng châm nối điếu thuốc nữa trước khi khum tay che đầu ngọn lửa đưa lên. Chàng tiếp nhận điếu thuốc một cách thoải mái bởi vì không còn muốn ngửi thấy mùi cỏ lẫn hơi đất nữa, không còn muốn ngửi tiếp nỗi xao xuyến, nhớ mong vô định đang dâng lên như muốn tan lẫn với chàng trong ánh trăng. Ra nói nho nhỏ:

“Mai chuẩn uý đi phép rồi về trao trung đội cho chuẩn uý…?”

“Chuẩn uý Định”.

“Ông ta thế nào?”

“Có vẻ được nhưng chưa có kinh nghiệm chiến trường… Nhưng rồi sẽ quen”.

“Chuẩn uý như vậy ở với trung đội đến sáu tháng rồi”.

Câu nói chẳng có gì, thật giản dị nhưng làm chàng hơi xúc động vì đoán ra sau chuỗi âm thanh thì thào ấy của người phụ tá một buồn bã phỏng đoán. Ở nơi đây, mọi sự đều là thù nghịch, kể cả bờ đất rặng cây, những người lính sát vào nhau hơn như để tìm một hơi ấm loài người. Họ chỉ còn có thể, chàng chỉ còn có thể… Một tình tự ấm áp làm chàng thân thiết hơn với người đang cùng hút thuốc để rồi chợt nhận ra đến bây giờ sắp thuyên chuyển, chàng vẫn chưa biết gì về người phụ tá trừ điểm xuất xứ từ biệt động quân. Chàng hỏi:

“Quên chưa bao giờ hỏi anh tại sao lại bỏ biệt động quân sang đây”.

“Chuyện xui, chuẩn uý. Hồi đó tôi coi ban I cho tiểu đoàn trưởng, đại uý San chuẩn uý biết không? Thích đánh đêm như chuẩn uý, ổng có một cây carbine cưa cò để bắn ra-phan. Bữa đó sau khi chất xác tụi chúng, đến hai mươi cái thây, ổng xách súng đến gần, lấy báng súng ấn vào xác tên đại đội trưởng cho tỉnh trưởng coi. Súng cướp cò làm ổng lãnh cả một băng vào bụng, chết lãng nhách tại chỗ”.

Điếu thuốc đã cháy gần hết, hơi nóng toả vào ngón, chàng móc túi lấy điếu khác, chúi đầu xuống sát cỏ châm nối.

“Hồi ấy tôi giữ tiền cho ổng. Lúc có tiểu đoàn trưởng mới, tính sổ bàn giao thiếu năm chục ngàn. Thế là tôi bị bắt… Mỗi lúc ổng lấy tiền, có biên giấy tờ gì đâu… Bây giờ ổng chết rồi, lấy ai mà chứng minh tiền đi đâu”.

“Anh có bị tù không?”

“Không, chuẩn uý. Bị phạt ba chục củ rồi đi thẳng đến sư đoàn này…”

Không gian tự dưng nhạt nét đi hẳn, chàng ngẩng đầu lên nhìn, một đám mây lớn đang kéo ngang che lấp mặt trăng. Có tiếng ho khẽ của một người vẳng lại từ phía xa, chàng tự hỏi không biết Ra tiêu lạm bao nhiêu cùng viên đại uý đã chết. Chàng toan nói ý nghĩ này nhưng rồi thôi, câu hỏi thoát ra miệng hướng về vấn đề khác:

“Anh có vợ không mà chưa bao giờ thấy đến thăm?”

“Có, nhưng nó bỏ tôi sau vụ lủng củng đó. Nó ham tiền lắm, chắc bây giờ nó đi lấy Mỹ rồi”.

Thế là đủ rồi, đừng hỏi thêm gì nữa, chàng tự nhủ không nên tìm rõ một điều nếu có hiểu nếu có biết cũng không ích gì. Mai đã đi phép… Bóng đen đã sát lại, ngồi xuống cạnh thì thào:

“Chỗ đó đóng được chuẩn uý… Có một mặt dựa vào lộ”.

“Sao anh đi lâu thế?”

“Tại thằng Năm chuẩn uý. Nó nghe thấy tiếng sột soạt trong bờ rào, cả bọn nằm cả đám nghe ngóng. Hoá ra con heo bự!”

Ra quỳ lên, đeo lại túi đeo lưng, hỏi nhỏ:

“Cho trung đội đi chuẩn uý”.

Mùi cỏ lại bốc lên, hình như có lẫn với hơi đất bắt đầu lạnh của ban đêm. Chàng hơi cúi xuống như để tìm tòi, nỗi xao xuyến bâng quơ vẫn còn lẩn khuất làm chàng như muốn lưu luyến nơi này, khoảng đất trũng tình cờ khuất gió và đầy cỏ mướt với tiếng con dế vẫn tiếp tục kêu ri rỉ ở gần. Không gian trống rỗng chung quanh, thoải mái và an toàn nhưng chàng đã chống tay ngồi dậy, xốc lại túi đeo lưng. Tháng này trời hay mưa nửa đêm về sáng và chỗ trũng này sẽ ngập nước, phải từ bỏ nó dù có mùi cỏ ngái và mùi đất đã bắt đầu lạnh sương. Trước khi bước lên bờ đất, chàng ngẩng đầu lên nhìn trăng tròn phía trên cao, máy móc tự hỏi đêm nay trăng lặn lúc mấy giờ.

Dãy nhà viên hạ sĩ đã chọn là một vị trí đóng quân xấu, chàng nhất định như vậy nhưng không muốn đi xa hơn. Trung đội dồn cục ở một chái lớn lủng củng nông cụ. Không còn cách nào hơn, trăng đã quá sáng và mỏi mệt dày đặc. Chiếc võng đã căng ra giữa hai chiếc cột sát sàn nhà, bóng tối bao phủ cả khu đất đóng quân làm chàng dễ chịu hơn: dù sao cũng chỉ còn lo hướng địch từ phía cây cầu đúc tiến lại. Hiệu thính viên mang máy lại gần, ngồi thụp xuống tháo khăn quàng cổ đưa vào ngực lau mồ hôi.

“Đống đa dặn chuẩn uý cẩn thận, địch về đông đêm nay rồi”.

Chàng im lặng lắng nghe tiếng đầu thuốc cháy rì rào nho nhỏ thật gần, tự dưng bứt rứt băn khoăn không biết nên ngủ để cả giày hay không. Để giày hay cởi ra, để hay cởi, nào có gì đâu nhưng tại sao vẫn chưa thể quyết định. Chàng bực dọc ngồi dậy, thò tay vào túi lấy thuốc nhưng chợt sững người bất động lắng nghe. Có tiếng thì thào sột soạt ở gần, chàng khẽ xoay đầu, định hướng tiếng động. Từ trong nhà, từ bên kia vách gỗ, chắc có người còn thức. Không có gì đáng nghi, chàng ngả người lên võng, duỗi thẳng hai chân gác lên cột lắng nghe một điệu nhạc để nhỏ từ máy phát thanh trong nhà vẳng ra. Chắc dân ở trong chưa biết có quân đóng sát phía sau, dự đoán này làm chàng yên tâm hơn, tự dưng quyết định dứt khoát về vấn đề giày: chàng sẽ ngủ với chúng. Có thế thôi, thật giản dị, cớ sao chàng đã băn khoăn bứt rứt khi nãy, tưởng như là một vấn đề khẩn cấp sống còn. Mình mệt rồi, chàng tự nhủ trước khi lắng nghe và nhận biết bản nhạc đang từ bên kia vách lọt ra êm đềm. Từ trong tâm, một giọng nói thầm những lời của bản nhạc nói về mong muốn của một người đàn ông muốn người yêu xích lại gần nữa để cùng nhớ lại một đêm nào vắng người. Trong một khoảng thời gian, chàng chìm hẳn trong chuỗi âm thanh dìu dặt nhỏ bé ấy, quên đi mùi cỏ ngái đất lạnh, nỗi xao xuyến vô định. Từ đâu đây xuất hiện nỗi ao ước như một buồn rầu được vào nằm bên kia vách, những lớp gỗ ngăn chặn những bóng tối những khoảng sáng của không gian bất trắc đêm ngày. Ước muốn phi lý, ý nghĩ phi lý nhưng chúng có đó và tồn tại dai dẳng bởi vì chính chàng đang bắt đầu muốn nuôi dưỡng chúng không buồn tìm hiểu tại sao. Bỗng dưng thật nhẹ, chúng tan biến đi, mùi cỏ mùi đất, nỗi xao xuyến và cả nỗi ao ước như một buồn rầu. Chuỗi âm thanh trải dài, loãng ra một nền nhạt trên đó một nguồn sáng mới xuất hiện chói chang. Nguồn sáng nào, chàng vụt buông hai chân xuống đất rồi nhỏm dậy, tiếng loa vụt nghe rõ hơn, Ra cúi xuống thì thào:

“Hình như chúng đang gọi đại đội mình”.

Chàng xoay đầu cố nhận ra những lời nói khi tỏ khi mờ, nhưng không thành công. Hiệu thính viên đã mở máy nhưng ngoài những âm điện tử rì rào, Hy im lặng, đồn im lặng. Chàng mở bi-đông uống một ngụm dài, cầm súng đứng dậy:

“Ra phía lộ xem sao, anh Ra”.

Khỏi vách nhà, sân đất như sáng bừng vì ánh trăng làm chàng ngần ngại. Có thể địch đã ở gần và đang đi tìm trung đội chàng, có thể là thế có thể không. Chàng vụt lao qua sân, chúi vào bóng tối che chở của một cây lớn. Tiếng loa nghe rõ hơn. Ra thì thào :

“Bọn chúng đang kêu ông Hy về hàng…”

“Im đã…”

Chàng từ từ đứng dậy tựa sát vào gốc cây, lắng nghe. Hình như loa vừa nhắc đến tên chàng. Viên hạ sĩ quan khẽ hích vào vai:

“Chúng đang gọi cả chuẩn uý. Chúng tưởng trung đội mình hôm nay đi cùng đại đội”.

Tiếng chó đột nhiên tru lên phía sau. Chàng vụt quay lại, hạ súng ngang. Không có gì cả, chắc chó đơn độc sủa trăng.

Chàng tiếp tục lắng nghe, quan sát. Các cảm quan mở rộng dò xét đến mức nhức nhối và khối xương thịt của chàng như muốn chìm lẫn vào thân cây, bờ đất chung quanh. Toàn thân, từ tế bào li ti, từ sợi tình tự vô danh trong sâu thẳm tâm hồn, đang âm thầm cồn cào đòi hỏi một khoảnh khắc tách khỏi thứ không gian bất trắc đau mỏi này. Chúng và chàng đều mệt quá rồi, tất cả muốn nằm xuống nghỉ ngơi, tan lẫn trong khoảng trũng ốc đảo có mùi cỏ ngái bốc lên lẫn hơi còn ấm của đất ven con lộ như một vệt trắng mất hút phía xa trong thứ ánh trăng trắng xoá đến vĩnh cửu ở chân trời đất. Chàng cố gắng suy luận để tìm đến một cảm giác an ninh nhưng vô ích. Một tiếng chó tru đơn độc không là một dấu hiệu báo nguy cho trung đội, nhưng viên đạn chiếu sáng vô cớ của đồn, vụ chạm súng với tổ báo động địch, con bò lỗ chỗ vết đạn đứng run lẩy bẩy trong chuồng bên cạnh người đàn bà ngồi khóc không rung đôi vai không hở một âm thanh và bây giờ mùi cỏ ngái kỳ diệu với tiếng loa gọi tên lúc chìm lúc nổi. Chàng đặt một tay lên vai Ra ấn khẽ ra lệnh ở nguyên vị trí trước khi đặt gót chân lên đất thật êm đi vòng quanh khu nhà. Chàng cẩn thận né từng vết trăng lớn lọt qua cành lá, tai và mắt như mở rộng và căng ra nghe ngóng. Người lính gác giặc phía bên kia bất động trong đám chuối đến nỗi chàng chỉ nhận ra vị trí của hắn nhờ đường nét thẳng và thước thợ của khẩu tiểu liên. Người lính tiếp tục đứng im khi chàng đến bên cạnh. Khu vườn bên kia rậm rạp, nhô cao thấp như một nghĩa địa nhỏ, hai dãy nhà song song có đầu hồi gần sát nơi người lính gác. Chàng thất vọng: địa thế này như một tử địa. Địch có thể đến gần đến độ dùng lựu đạn ném tay mà lính gác giặc vẫn có thể chưa thấy. Hơn nữa, nếu địch tới đóng, chỉ còn cách cố thủ tử chiến: mặt lộ quá cao để có thể băng qua rút chạy an toàn. Chàng thì thào:

“Nếu chúng đến, sẽ đến phía này. Anh có lựu đạn không, Năm?… Có địch, ném lựu đạn trước khi bắn. Dặn cả người phiên sau như thế”.

Chàng ngồi xuống thềm cạnh võng, úp ngược mũ trên đùi, áp mặt vào châm thuốc hút, những giọt mồ hôi trút từ thái dương vào kẽ mắt cay sè làm chàng vội ngẩng lên trước khi kịp để cho ngọn lửa đốt cháy đầu điếu thuốc. Những giọt mồ hôi nhờn trơn dưới vải áo bắt đầu bay dần mát mẻ theo mỗi hơi thuốc hít vào trong lồng ngực. Chàng lần tay cởi cúc áo, kéo túi nhựa đựng bản đồ ra đặt xuống. Thềm đất mát lạnh dưới mông, chàng bắt đầu thấy dễ chịu và thoải mái trong ý thức sáng suốt nhờ thứ cảm giác này chỉ là tạm bợ và không tồn tại lâu hơn đời sống điếu thuốc đang tự tiêu huỷ âm ỉ trong lòng bàn tay úp kín. Lưng chàng lần theo chiếc cột gỗ, tìm vị trí vững chắc và êm ái nhất. Tâm hồn như dịu bớt đi, bớt cồn cào. Chàng nhắm mắt lại an nghỉ. Tiếng nhiều con dế kêu rên rỉ xa gần, tiếng rõ nét một con mối tắc lưỡi trên đầu cột. Đột nhiên, như không vì một lý do xác đáng nào, đứa trẻ bên kia vách vụt cất tiếng khóc nức nở tiếp theo ngay bằng tiếng ru của người mẹ. Chàng không làm một cử động, một chú ý nhỏ vào vùng âm thanh mới tung ra bên kia vách gỗ, nhưng những chữ đều đặn vẫn tạo ra các ý niệm nối dần lại như chịu gắn bó bằng ma lực, bất chợt như húc tung một vách ngăn, làm chàng xúc động và chìm trở lại một đêm trăng đã lâu, chàng bị đau tai nhức nhối và chỉ ngủ thiếp đi sau khi được mẹ bế ra sân cho gối đầu lên đùi và ru khe khẽ bằng cái giọng đang tiếp tục ngân lên bên kia bức vách sau lưng. Xúc động biến thể dần như màu sắc trong kính vạn hoa nhưng đủ tác động làm tâm hồn hỗn tạp ngân vang và không vì một nguyên do nào hay vì giọng ru con ngái ngủ cổ xưa kia, chàng đang tự dưng muốn khóc. Để trấn tĩnh, để đàn áp xúc động đang muốn đưa mình trở về trạng thái trẻ nhỏ có thể khóc ngon lành vì những cớ vô lý đối với tâm hồn người lớn, chàng ngồi thẳng dậy, mở mắt nhìn và cố ghi nhận những đường nét tối sáng chung quanh. Hiệu thính viên chưa ngủ, trên đầu còn đội mũ nhựa còn cái ống liên hợp lủng lẳng làm như hắn có cái tai dài dị thường trong bóng tối của chái nhà. Chậm chạp và lần lượt chàng nhận ra những chiếc võng khác rải rác với các chân tay thòi ra quều quào. Chưa ai ngủ cả, chưa ai ngủ được. Nỗi bất trắc đã ngự trị dày đặc và nặng trĩu. Chàng ngừng mắt khá lâu ở khẩu trung liên trước khi một ý nghĩ hình thành làm trong bụng thoáng có một co thắt đau đớn: dù xạ thủ đã lựa vị trí tốt nhất, trung liên chỉ có một thị trường không quá hai mươi thước. Không thể bắn kịp hết một băng và phóng lựu không thể khai hoả nếu địch xung phong bằng mã tấu. Trận chiến chỉ kéo dài năm phút và chấm dứt bằng mười bảy kẻ của trung đội cô đơn này gục xuống thềm đất nhiều rác rưởi không tên. Các suy luận về tình hình máy móc kế tiếp nhau làm lý trí chàng thức tỉnh dần, nỗi xúc động không còn dấu vết tới độ bây giờ, trong khi đút bản đồ vào ngực áo, chàng tự hỏi tại sao chỉ có vậy thôi sao nước mắt lại dồn ứ lên như muốn trào ra. Tiếng ru con vẫn tồn tại bên kia vách nhưng rời rạc và thấp dần, chàng lắng nghe và cố nhận dạng câu ca dao cổ cho đến khi những âm thanh sau cùng chết đi trong giấc ngủ của người đàn bà. Chàng đưa bàn tay khum sát xuống đất quệt mạnh cho tắt đầu điếu thuốc, cầm súng đứng dậy men theo bóng tối của hàng hiên nhỏ, tiến ra phía lộ.

Ra vẫn đứng nguyên tại vị trí cũ, thân thể ép lẫn vào thân cây. Hắn cầm vai người chỉ huy xoay hướng về phía đồn:

“Chuẩn uý nghe thấy tiếng chi không?”

Chàng lắng nghe, cố gắng nghe, nghiêng hẳn đầu nhưng không thấy gì ngoài tiếng dế đều đặn và một thoáng gió trên ngọn cây. Chàng quỳ xuống, trườn mình sát lộ, tì cằm vào cánh tay giữ súng, chờ đợi cho tai thuần trong không gian bao quanh. Bây giờ tiếng kim khí va chạm vào nhau và va vào mặt nhựa cứng nghe rõ rệt. Hình như còn lẫn cả tiếng người nói trên một giọng cao. Ra ghé sát tai, nói đứt đoạn:

“Chúng đang bắt dân… đào đường…”

“Gần đồn quá, gần đồn hơn đây… Tại sao đêm nay chúng làm ồn dữ vậy”.

Tại sao ồn ào đến độ cố ý như vậy? Chàng hồi tưởng rất nhanh một đêm cùng Vinh và toán thám báo tới ấp Bưng rình địch: đám dân bị xua ra khỏi nhà đào đất lấp cửa ấp nằm trên quốc lộ đã làm việc mệt mỏi, chăm chỉ nhưng im lìm sợ sệt. Không một tiếng nói và mỗi nhát cuốc nhát thuổng bổ vào lòng đất đều hình như được kìm giữ ghì níu tiếng vang lại. Đêm nay chúng gọi loa, bắt dân vào ngay gần vị trí đóng quân của Hy, chắc chắn âm mưu gì đây. Tại sao đêm đó lại theo Vinh? Uống nhiều cà-phê quá ngủ không được? Vì cớ gì đồn lại cho bắn chiếu sáng khá lâu sau khi trung đội chạm súng trong khi hiệu thính viên nhất định cả quyết không nghe thấy Hy yêu cầu. Chúng âm mưu gì đây, nhằm lừa Hy, chàng hay đồn… âm mưu gì, âm mưu gì… Không phải tại cà-phê uống nhiều, buổi chiều uống có một ly nhỏ, lại với sữa. Chắc chúng xua dân ồn ào đắp ụ làm nghi binh cầm chân Hy và đồn để dồn quân đánh úp ấp Bưng? Chàng vụt tìm ra nguyên do đã tạo ra vụ đi theo Vinh đêm ấy: ngày hôm sau chàng được đi phép dài hạn như lần này và từ buổi tối bức bí tình dục cuồn cuộn thôi thúc, chàng không muốn xuất tinh lúc ngủ trong khi chỉ còn nửa ngày nữa, Bích và chiếc háng nở tròn trịa sẽ vào tầm sử dụng… Chàng bực dọc ngồi thẳng dậy xoay người dựa lưng vào lộ, cố gắng tập trung tư tưởng suy nghĩ về địch, cố gắng ngăn chặn một thứ như một tâm hồn thứ hai như một con sông ngầm miên man lôi cuốn chàng vào không gian thời gian có Bích, có Vinh, có nỗi tình dục dồn ép cần phải kìm giữ, dập tắt đi thêm vài giờ. Chàng níu kéo vội vã một mệnh đề, ghìm lại bám chặt lấy để tập trung tư tưởng. Địch cố ý lộ hình tích để âm mưu gì. Âm mưu gì, âm mưu gì… Chắc từng ấy rùm beng không phải để diệt trung đội lẻ loi này bởi vì… Hình như có tiếng loa, không phải, tiếng cười hay hát của một người đàn bà xen lẫn với tiếng cuốc va chói thanh trên mặt nhựa, ồn ào quá khả nghi. Thứ nhất bởi vì đã dẫn quân trở về gần đồn sau khi chạm súng, thứ hai bởi vì, con sông ngầm vụt trồi lên làm toàn thân chàng hồi tưởng phút khoái cảm trên người Bích trong ngày nghỉ phép sau đêm theo Vinh tới ấp Bưng. Chàng vội cúi xuống vặt mạnh một cọng cỏ may, cố gắng thu lại tư tưởng suy nghĩ tiếp, thứ hai bởi vì không lẽ bày trò mất công như vậy chỉ để diệt mười bảy kẻ của trung đội chàng. Bây giờ phải làm gì đây, chàng vụt nhận ra cái giống vương vãi quân đang… Chàng vội đổi thế ngồi, răng cắn đứt đôi cọng cỏ, vị nhựa ứa ra tê tê đầu lưỡi. Phải quyết định ở lại hay rút về trước khi quá muộn. Không thể ở nguyên, vị trí tử địa nếu bị tấn công. Rút lui? Rút ra sao đây, địch chắc chắn đang án ngữ trên đường về và đang có âm mưu…

Vinh đã nói xong, rời khỏi ghế gần tiểu đoàn trưởng, lại bàn cầm chiếc ly, hất nước thừa xuống đất, cầm chai rượu lên soi trước ánh đèn măng-sông. Mọi người hình như đồng ý im lặng để ước tính tình hình, Định vụt chỉ còn nghe thấy tiếng đèn kêu như một loại muỗi lớn, tiếng lưỡi lê người lính tạp dịch đang chặt đá, tiếng Vận nho nhỏ dịch những lời báo cáo của Vận cho viên cố vấn và sau cùng tiếng chai rượu va vào miệng chiếc ly Vinh đang cầm ở tay. Định ngẩng lên, gặp mắt Vinh đang nhìn chàng như châm chọc:

“Làm một ly whisky nữa chăng, lính mới! Không phải tối nào cũng được uống rượu của quan đại Mỹ đâu… Ly toa đây hả?”

Tiểu đoàn phó tắt đèn pin đặt thẳng đứng trên bản đồ trải trên chiếc ghế, quay lại nói:

“Tôi đề nghị cho Hy tới dẹp chỗ chúng đang đào đường đắp mả già Hồ. Bảo hắn bắn chỉ thiên cũng được chứ gì! Vừa không chết dân, vừa tránh được xài xễ của Tư tưởng Kinh kỳ sáng mai nếu có mấy cái mô lù lù cách đồn chưa hơn một cây số…”

Viên trung uý già từ thành đồn gọi vào:

“Tụi chúng đang đốt cả đuốc kia… Hỗn thật! Thụt cho tụi chúng mấy quả 81 cho được việc!”

Tiểu đoàn trưởng nói:

“Nếu tụi chúng đang muốn nhử Hy vào đấy? Sập bẫy!”

Yên ngẩng đầu khỏi bản đồ:

“Cũng có thể chúng định cầm chân Hy và đồn để đánh ấp Bưng. Nếu đúng như vậy bọn mình hết xoay xở”.

Định hỏi tiểu đoàn phó:

“Ở đây tổng cộng có bao nhiêu quân, đại uý?”

“Đại đội Hy và chừng tám chục trong đồn”.

“Hai đại đội kia đóng đâu, sao không gọi về, đại uý?”

“Gọi làm sao! Họ đóng hai đồn bên phải bên trái cách đây ít nhất bảy cây số đường chim bay. Liên lạc bằng siêu tần số còn chưa xong, nói chi chuyện gọi về”.

Định tính nhẩm số quân trong ngoài và nghĩ đến hơn mười cây số quốc lộ ngoằn ngoèo dưới ánh trăng phải giữ mỗi đêm. Chàng nhớ lại vẻ mệt mỏi của Hy, của Hiệu, của Vũ với chiếc mũ sắt lật ngửa xoay nhè nhẹ trên ghế bố lúc chiều. Họ đang làm gì trong bóng trăng ngoài kia, sự hiện diện của họ bây giờ đối với chàng không còn là gì hơn là một chữ thập xanh trên bản đồ cần phải di chuyển đến một góc ô vuông nào đó. Những hiện hữu trừu tượng bởi vì dù cố gắng, chàng vẫn không hình dung được những người lính, những bóng đen vô danh của Hy, của Vũ với chiếc mũ sắt lật ngửa quay nhè nhẹ đang lang thang trong vùng bóng sáng và tối ngoài tường đồn. Cảm giác lạnh buốt của thành chiếc ly từ đâu vụt áp vào má làm chàng giật mình ngẩng lên, bàn tay tự động đỡ lấy ly rượu Vinh đưa tới:

“Uống đi lính mới… Uống hơi dài vào… Nữa. Được rồi đó, mẹ kiếp, trông cái mặt nhớ vợ dễ ghét quá. Mẹ kiếp!… Vâng đại uý, tôi đoan chắc hai thằng tôi giết thuộc tổ báo động của chủ lực tụi chúng bởi vì thứ nhất chỗ chạm súng là nơi tập trung quân lý tưởng của địch vùng này, từ đó chúng tiến về Bắc bình Du-lu hay ấp Bưng đều nguỵ trang được lại quá đông dân ở không sợ ta pháo kích, thứ hai là tôi vừa nhào lên lấy súng, chúng đã đông đảo tứ bế. Chắc chắn là đại đội của tên Hải kéo về”.

Định hỏi tiểu đoàn phó:

“Hải là ai, đại uý?”

“Quận uỷ hay huyện uỷ của tụi chúng tại đây”.

“Ta biết rõ hết tên tụi chỉ huy bọn chúng không, đại uý? Trong phạm vi tỉnh này…”

“Biết chớ sao không”.

Vinh quay lại, lắc viên đá leng keng trong chiếc ly:

“Bọn chúng biết bọn mình còn kỹ hơn. Như toa lính mới tới chẳng hạn, thường toa hay ị vào lúc nào, có thích đái giữa lộ trong trăng, nhớ vợ nhiều vào thanh thiên bạch nhật hay vào lúc canh ba gà gáy o o, ban điều nghiên của tụi chúng chỉ ba ngày nữa là biết đủ. Mẹ kiếp, đấm đá ở đây chẳng khác gì chơi cờ người! Lính mới muốn sống mà về với vợ, phải luôn luôn tự coi mình như quân ngoại quốc tới vùng này”.

“Anh nói tôi không hiểu”.

“Sao toa thông minh mà lại chậm hiểu như vậy! Như thế có nghĩa là trừ khi có hành quân lớn, toa đừng có tin bất cứ thằng dân nào ở đây, kể cả cái lão ba Tàu bán quán ngoài kia lẫn con bé bị khai thông từ khuya mà cứ giả bộ trinh nữ, mẹ kiếp! Sốt cả ruột”.

Tiểu đoàn phó cầm chiếc ly giơ lên:

“Anh Vinh, cho tôi một chút rượu… Thôi, ít thôi… Không phải dân ở đây theo Cộng cả đâu. Nhưng họ phải một cổ hai tròng mới sống được. Đóng thuế hai bên, nghe lệnh hai bên”.

Xuân từ phòng truyền tin phía trong bước ra sân vội vã, tay cầm mẩu giấy đưa cho Yên:

“Vũ vừa liên lạc, đại uý. Hắn đóng tại đây nhưng nói không thể ở đó qua đêm được. Sẽ đưa trung đội tới điểm này trong nửa giờ nữa”.

Yên đã vạch xong mũi tên xanh trên mặt nhựa bản đồ, giơ lên:

“Hắn định băng qua lộ và rút về đóng gần trường học, đại uý”.

Tiểu đoàn trưởng cúi xuống, nét mặt nhăn nhó:

“Rắc rối quá cái tên này! Coi nào, lộ trình này làm hắn phải ép sát lộ ngay đúng chỗ tụi chúng đang đào tường”.

Vận nói:

“Ngoài một trăm mét là ruộng trống chỗ đó”.

Tiểu đoàn trưởng đứng ngẩng đầu nhìn Vinh đang giả như im lặng không nghe thấy gì như để dò hỏi một ý kiến rồi quay lại cáu kỉnh la lớn vào phía trong:

“Mang cái C.10 đang liên lạc ra đây! Gọi Vũ cho tôi hỏi”.

Định tẩn mẩn nhìn theo một giọt mồ hôi đang lăn trên sống lưng hiệu thính viên khom người đặt chiếc máy cạnh bàn, giọt nước óng ánh, bẹp dúm và xấu xí trên nước da sạm nâu. Trong khoảnh khắc, chiếc lưng nhỏ và trắng mịn của Linh hiện ra, uốn cong chập chờn rồi vụt biến đi và chàng tiếp tục thấy giọt mồ hôi đang phồng lớn hơn lăn vào trong cạp quần người lính bây giờ đã ngồi xổm trên sân, miệng mấp máy liên tiếp trên ống liên hợp:

“Vĩnh ba Vĩnh ba, đây Thanh gọi Vĩnh ba nghe không trả lời… Tôi nghe anh rất nhỏ, tôi nghe anh rất nhỏ nghe không trả lời”.

Hiệu thính viên im lặng nghe, ngước nhìn tiểu đoàn trưởng, đổi giọng:

“Họ đang chuẩn bị để di chuyển, đại uý”.

“Gọi thẩm quyền cho tôi nói chuyện”.

“Vĩnh ba Vĩnh ba, thẩm quyền của Thanh muốn nói với thẩm quyền Vĩnh ba nghe không trả lời…”

Một tiếng diêm bật nổi lên làm Định thấy thèm thuốc. Chàng rút một điếu và khi đặt lên môi, chàng nhận ra những người chung quanh đều đã hút và những đốm lửa đỏ lập lòe rải rác đến tường đồn, hố súng cối, trên lô-cốt đại liên. Những làn khói cuộn vòng tròn rõ từng khúc cong và bị cắt ngang mất hút ngay mái ngói ngăn chặn ánh đèn. Có những cử động, di chuyển chậm chạp hướng về phía tiểu đoàn trưởng đang im lặng, mắt như lạc hướng, tay ép mạnh ống liên hợp vào tai như muốn làm hằn những âm thanh từ xa về. Chàng nhận ra sự quy tụ sát cánh ấy cùng một lúc với nỗi ước mong được nghe hiểu nửa câu nói sau của Vũ đã bị tiếng xe làm mất lúc trời sập tối, nửa câu nói có thể là sau cùng của người ấy, bây giờ như ở một nơi thật xa đối với chàng.

Tiểu đoàn trưởng đã đưa trả máy cho hiệu thính viên, đứng dậy kiếm chiếc ly uống dở dang của mình trên bàn:

“Còn đá không, cho một ly nửa đây, Bảy!… Mười phút nữa Vũ sẽ di chuyển sát quốc lộ bên trái. Hắn nói sẽ quan sát và báo cáo về chỗ địch đương bắt dân phá đường… Hy đã cho đại đội về chỗ khúc quanh gần ngã ba rồi phải không?… Anh Xuân báo cho Hy biết ngay và bảo chuẩn bị tác chiến, Vũ có thể sẽ bị kẹt. 81 ưu tiên cho Hy! Anh Yên liên lạc pháo binh xin ưu tiên sẵn, cho toạ độ bên trái chỗ đào ụ ba trăm thước. Vũ nói sẽ có thể cần hoả lực pháo binh, hắn sẽ áp sát lộ tối đa, nhiều hy vọng đụng… Vinh! Thám báo ra sao?”

“Tôi cho ba tên đi rồi. Chắc đã tới ngôi miếu sau nhà hát… Không cho đi nhiều hơn được, đại uý. Tên Sần bị thương rồi, còn mấy tên kia để chốc nữa còn đi với tôi. Không đại uý, các tổ báo động không thấy báo cáo, chắc tụi Cộng không sát lại đồn… Tư tưởng Kinh kỳ không cho được tin mới nào cả… Vâng, tôi sẽ phối kiểm tất cả ngay”.

Các cử động và di chuyển bây giờ phân tán làm nhiều hướng, vội vã và im lặng. Định nhìn quanh quẩn và sau cùng nhận ra quanh bàn chỉ còn tiểu đoàn trưởng, viên cố vấn, hiệu thính viên đang lúi húi cạnh máy và viên trung uý già vừa rời thành đồn tiến lại. Chàng đứng dậy lại chiếc cột lấy khẩu súng, hiệu thính viên từ buồng truyền tin thò đầu ra nói lớn:

“Đại uý! Ông Hy cho biết có địch xuất hiện phía gần ngôi chùa, chưa rõ quân số”.

Chàng nghiêng người vào buồng đầy dụng cụ và dây ngang dọc, Xuân ngẩng đầu lên cười, đưa ống liên hợp lên:

“Nghe coi! Như thế này sẽ lộn xộn là cái chắc”.

Định đeo súng lên vai, cầm ống lắng nghe và nhận ra chính giọng Hy đang gọi trung đội Vũ một cách hối hả: “Vĩnh ba bắt đầu Du-lu cải cách chưa, Vĩnh ba bắt đầu Du-lu cải cách chưa…”

Định rời buồng ra cửa đồn. Các binh sĩ ngồi rải rác dưới ánh trăng, nói chuyện rì rào. Chàng nhận ra tiểu đoàn phó đang tì hai cánh tay trên mặt bức tường gạch thấp :

“Đại uý có tin chắc đêm nay có đánh lớn không?”

“Một tiếng nữa là cùng, khi trung đội đi kích rút về qua chỗ địch đang đắp đường. Tụi chúng không thể ngờ toán kích lại ở hướng đó… Hơn nữa, cứ mỗi lần Vũ dẫn quân đi là y như có chuyện, không lớn thì nhỏ… Anh cứ đợi xem tôi nói có đúng không. Cho tôi điếu thuốc… thuốc đen hả. Tốt quá! Từ hồi thoát chết ở Điện Biên Phủ, tôi chỉ ghiền thứ này… Đúng đấy anh, Vũ, Vinh ban 2 và Đắc đại đội trưởng đại đội 2 hiện đóng ở Tân Đông là những sĩ quan khá của tiểu đoàn. Riêng Vũ, hắn chưa để mất một binh sĩ nào từ hồi đến đây. Lính bảo nhau hắn không có tướng sát quân nên chịu lắm.

“Tôi có cảm tưởng Vũ đêm nay không còn may mắn cũ”.

Định lắng nghe câu nói của mình đang rơi vào khoảng không, nhận ra nó cầu kỳ và trịnh trọng kỳ dị. Viên đại uý già lặng im hút thuốc làm xuất hiện trong chàng nỗi lo ngại vẩn vơ đồng thời với ao ước muốn được hiểu nửa câu nói sau cùng của Vũ đã mất hút vĩnh viễn trong tiếng động cơ của một chiếc xe vô định tình cờ chạy qua. Chàng tháo khẩu súng khỏi vai, đặt nằm ngang trên thành tường. Bên kia lộ, mái chợ lợp tôn tưng bừng ánh sáng trăng. Một con mèo lững thững đi, bóng chập chờn lướt từng khoảng đều rồi mất tăm tích đột nhiên vào vùng bóng tối phía dưới. Hai dãy nhà song song chạy dài hai bên chợ, các ngọn đèn chai treo lơ lửng trong khối bóng tối mái hiên, những đốm vàng mờ nhạt hiện diện như không để soi sáng bất cứ cái gì khác ngoài chính mình. Con mèo uyển chuyển từ một vũng tối bước ra đứng sững, chàng tì cằm lên cánh tay, chăm chú quan sát con vật nhỏ, tự hỏi nó không biết có phải vừa lững thững đi trên mái chợ hay không.

Khối sáng bùng trên cao, vàng nhạt bao phủ không gian nhưng chị vẫn ngồi bất động trên thềm. Có tiếng người gọi con thất thanh từ một nhà nào làm một thói quen thức tỉnh chị, muốn đưa chị vọt vào trong nhà ôm con nhào xuống hầm. Nhưng cơ thể vẫn lặng thinh, tê dại, rũ rượi và nhờn trơn trên nền đất có khí lạnh thấm ướt át qua vải quần. Hải chưa chết như người ta đồn, Hải đã trở lại như những bàn tay sờ soạng lục lạo với khối nặng co quắp sức mạnh trên da thịt… Khối sáng vàng sát xuống ngang các ngọn cây, những bóng đen dài ngắn lộn xộn của cành lá nhào dài như lao vào mái hiên. Không có tiếng nổ, không có tiếng súng nào tiếp theo cả. Khu đồn tiếp tục nín im. Nguồn sáng vàng sát xuống đất một nơi nào bên kia, ánh trăng hiện ra nhàn nhạt rồi trở sáng trắng tràn đầy trong sân, trên tóc, trên toàn thân đang tê dại, nhờn trong chờ đợi… Chị chờ đợi, không thể làm gì khác hơn là chờ đợi cái mà rõ ràng, thật rõ ràng chị không hề mong ước hay thích thú. Nó sẽ đến, Hải sẽ đến, tất cả sẽ đến không thể tránh được, mạnh mẽ vô cùng, đến nỗi không thể làm gì hơn là gục xuống, là ngửa ra, tứ chi rã rời không còn sai khiến nổi. Một luồng gió luồn từ phía sau tới làm mát da lưng, mang theo thấp thoáng âm thanh lộn xộn của những kẻ đang đào đường đắp ụ. Chị bừng tỉnh, thì thào: Đi chỗ khác, vào nhà bồng thằng nhỏ đi chỗ khác. Ra vườn, vào ruộng mía… Hắn sẽ không thể nào tìm ra trong đêm. Ngày mai trời sáng, chị là của Ba, của Tía, của một thứ quyền lực khác nhưng trong đó chị còn có thể cử động, la hét, chối từ. Chối từ kể cả Ba. Chị vội vã đứng dậy, quay lưng lại thứ ánh trăng níu kéo, tê liệt. Chưa bước tới bực cửa, vải quần lớp nhớp dán dinh dính vào da làm chị ngừng lại nghe ngóng: cảm giác nhơ nhớp thật rõ rệt, nhắc nhở Ba, mùi thuốc khét và nỗi ràng buộc vào kẻ khác. Hình như một dòng chất lỏng, nhiều dòng đặc sệt bò dài trên người, phủ từng vết nhơ nhớp, thứ nhơ nhớp làm chị không còn muốn nghĩ muốn làm gì ngoài hơn là gục xuống, buông thả tứ chi chịu đón những cái không tránh được, không tẩy xoá được của một vết chàm in hằn trong quá khứ. Thử vùng ra kháng cự, lẩn vào bóng tối vườn mía bụi chuối, liệu rồi có ích chi hơn là kéo dài nỗi chờ đợi thêm một ngày. Đêm mai, trời tối chưa tàn điếu thuốc Ba hút sau bữa cơm chiều, Hải và quyền lực ấy trở lại như thế vững chãi nguyên vẹn.

Cả khoảng không gian Tía xông vào Hải đấm đá túi bụi ven sông bừng sáng lên, chị nhắm mắt thở dài. Từ buổi đó, Hải đi vào bóng đêm và trở thành quyền lực âm thầm có những lời nói dịu ngọt nhưng sắc lạnh đến ghê người, Tía trở về trong vùng quyền lực của ban ngày, của gã trưởng đồn dân vệ gườm gườm lẫn những tiếng la thảm thiết của ai đó, của chị, của những giấy tờ, những đoàn xe chạy ầm ì trên lộ, những trái hoả châu sáng loà át ánh trăng và những viên đạn đại bác rớt ầm ì rung chuyển mặt đất. Chị đã không hề chọn lựa chi hết, không biết mình còn có quyền chọn lựa nữa hay không. Chị ở yên với ngày đêm theo nhau qua, để sống và sợ sệt, để chịu cuộc đời mình dù nó tới với nỗi đau đớn liên tiếp khi những gã trong đồn gườm gườm xáp lại hay nỗi rã rời, mất mát tứ chi trên lá khô khi Hải trở lại quều quào sức mạnh và ham muốn… Ba đâu, Ba ở đâu… Chị mở mắt thật chậm, Ba đang đào đường đắp mô trong bóng tối bóng trăng và mồ hôi tầm tã, Ba đang phá mô san đường trong ánh nắng chói gắt và mồ hôi tầm tã. Ba ở đây ngay bên cạnh, Ba ở đâu ngoài xa, cũng đến vậy mà thôi, Ba không là gì cả, không là gì hết trong ánh sáng và bóng tối. Ba và những người như Ba như chị là của lúc nhá nhem, là của một khoảnh khắc ngủ với nhau vội vàng ngắn như thứ sung sướng ấy của cơ thể. Chị đột nhiên lắng nghe, hình như đứa nhỏ vừa khóc trong nhà. Không phải, nó chỉ cựa mình ú ớ rồi im. Có tiếng một con muỗi từ trong nhà bay vụt qua tai, chị nghe rõ tiếng vi vu ngắn của đôi cánh vô hình đồng thời với một quyết định giản dị: đi tắm cho sạch, thay quần áo mới, đợi Ba về cùng bàn. Phải chọn lựa, chọn lựa đi là hơn, đi băng qua sông vào sâu trong khu, vùng quyền lực của bóng tối, nơi chị có thể nhìn thẳng Hải, gạt những bàn tay rờ rẫm sang một bên. Hay bồng con cùng Ba bỏ xã lên tỉnh, vào hẳn vùng quyền lực ban ngày nơi chị có thể đùa giỡn với nỗi thèm muốn của Tía, của nhiều người, không e ngại còn có những đôi mắt gườm gườm sát lại gần… Phải đi tắm đã, những dòngg đặc sệt hình như bò rì rầm trên bắp chân, nhớp nháp quện vải quần dán vào da thịt. Chị giơ tay giật chiếc áo và chiếc quần phơi trên giây dưới mái hiên, băng qua sân đến vại nước. Chị co một chân lên, lấy hai ngón tay quắp chiếc quần vừa tụt ra thả vào chậu giặt, thoáng một chút xấu hổ khi nhìn thấy phần đen thẫm giữa thân mình. Một luồng gió từ phía lộ thổi tới làm ánh trăng như thành làn chất lỏng mỏng tang và dịu mát trên da. Gáo nước đầu tiên lạnh buốt, chị dội rụt rè cho cơ thể quen dần, nghe ngóng nước róc rách trong các khe ngách. Đột nhiên một niềm xấu hổ ở đâu tới làm chị cuống quít kỳ cọ dù biết chắc rằng trong xã không còn một người đàn ông nào, chị dội liền ba gáo cho trôi hết lớp bọt lấp lánh ánh trăng trên ngực thẳng cứng căng tức sữa. Phải cho thằng nhỏ bú gấp… Chị xỏ chân vào guốc, lại gần cọc móc quần áo lấy khăn bông lau những giọt nước đọng trên người. Một làn gió nhẹ phớt va vào lưng và một mùi thuốc lá âm ấm phảng phất. Chị giật mình vùng quay lại, rùng mình. Một người đàn ông đứng dựa vào cây hương hút thuốc tự bao giờ, đầu lửa đỏ lập lòe không đủ soi sáng khuôn mặt khuất ánh trăng dưới vành chiếc mũ. Người cứng ra bất động, Hải đấy, hai tay buông xuôi theo chiếc khăn bông rũ một khối trắng trên đất, Hải trở về đứng kia từ bao giờ, chị không còn có thể làm một cử động nào dù chỉ là kéo chiếc khăn lên che vùng tủi hổ. Đốm lửa đỏ sáng loé lên rồi rớt xuống đất cùng chiếc mũ, người đàn ông rời cây hương tiến lại, bàn tay nóng bỏng rám sạm bám vào vai kéo lại. Bây giờ chị nhìn thấy rõ nét mặt người tình cũ, gầy guộc và khắc khổ, trong đôi mắt phản chiếu ánh trăng loáng lên thứ đam mê cuống quít như của Tía, của Ba. Từng cử động của bàn tay bắt đầu lướt trên da lưng, dò xét, mạnh dạn dần, bắt đầu lục lạo. Chị thốt lên: Đừng! Cái gì đừng, còn có thể đừng được không, chị tuyệt vọng muốn oà lên khóc khi Hải rời xa vài bước tháo chiếc chiếu phơi vắt trên bụi cây và những giọt nước mắt nóng rớt trên da ngực khi người đàn ông đẩy nằm xuống chiếc chiếu đã trải một nửa dưới bụi chuối lốm đốm từng vệt ánh trăng.