Sàigòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Google photo

12. Chương 12 23 giờ 20. Khí thế cách mạng tăng cường độ. Nhân dân chuẩn bị mít tinh, biểu tình sáng mai từ đêm nay. Đường phố đã nghẹt người, tiếng loa vẫn réo gọi nhân dân đừng quên bổn phận chào mừng cách mạng thành công. Chai rượu thứ hai của chúng tôi còn quá nửa. Tôi khó hiểu tại sao đêm nay tôi không say, dù mệt mỏi, dù ăn ít và uống quá nhiều. Bây giờ, tôi quyết định ra phố xem diễn tiến cách mạng 30-4-75 có giống cách mạng 19-8-45.
Phải thành thật nói rằng, hai mươi năm sống ở Sài gòn, tôi chưa hề thấy đêm nào Sài gòn cuồng nhiệt như đêm nay. Y hệt đêm 19-8-45 ở thị xã Thái Bình của tôi, năm tôi mười tuổi. Dân tộc Việt Nam luôn luôn khao khát cách mạng vì luôn luôn thèm khát hạnh phúc. Chúng ta đã lạm phát cách mạng, lạm phát chủ nghĩa. Mà chúng ta vẫn thiếu hạnh phúc, thứ hạnh phúc đơn sơ đủ làm con người gần gũi con người, đủ để tình tự kết đan tình tự. Khi con người bước gần biên giới của tuyệt vọng, nó sẽ thấy áng lên từ bên kia ánh sáng hy vọng. Bởi thế, cách mạng này hư đốn, chúng ta hy vọng cách mạng khác. Cách mạng khác hư đốn, chúng ta lại hy vọng cách mạng sắp xẩy ra. Nhân dân Sài gòn đang cuồng nhiệt đón chào cách mạng vô sản, sẽ nguội lạnh vài tháng sau. Có thể vài tuần sau. Tôi đoan quyết. Vì tôi đã kinh qua một lần cách mạng tháng 8. Cách mạng tháng 8 ở đêm 30-4 này còn khoác hào quang mười năm kháng chiến chống Pháp giành độc lập, được khoác thêm hào quang 20 năm chống Mỹ cứu nước.
Người ta không nhìn thấy thiên đường, dĩ nhiên. Người ta chỉ nhìn rõ trần gian, nơi người ta đang sống đọa đầy và, dù không biết địa ngục ra sao, người ta vẫn ví trần gian của người ta như địa ngục. Và người ta mơ ước thiên đường. Nếu thiên đường cộng sản, thiên đường xã hội chủ nghĩa miền Bắc Việt Nam được mặc khải như một thiên đường hoang lạnh, ở đó, con người bị tước đoạt quyền làm người, con người biến thành nô lệ thảm hại của thứ chủ nhân ông mới, điêu ngoa và bóc lột tận tình là Đảng, con người sống vô vọng trong đói khổ, ngu dốt, héo hắt, tàn tạ thì chẳng ai mơ ước thiên đường cả. Mặc khải một thiên đường bánh vẽ, đồng thời, phải hiện thực cái trần gian cho nó rực rỡ ý nghĩa làm người và no đầy hạnh phúc con người khao khát. Tiếc thay, cả hai điều đều không có. Và đó là tội ác của Mỹ và đám tướng lãnh thống trị cầy cáo. Kết quả là đêm nay, 30-4-75, dân Sài gòn như những con phù du dưới ánh đèn cực mạnh của chủ nghĩa cộng sản lạc hậu. Thiên đường cộng sản sẽ được người Sài gòn khám phá vào ngày mai. Nó sẽ rỗng tuếch, mốc meo, trơ trẽn, bịp bợm. Người ta sẽ ủ ê, cay đắng, não nề. Và người ta lại lặng thinh ôm ấp niềm hy vọng cách mạng mới. Rồi vẫn thế. Và nghìn năm dân tộc này sẽ tăm tối, sẽ chẳng biết hạnh phúc là cái gì! Thống trách gì đây? Chúng ta khan hiếm lãnh tụ lương thiện? Hay đất nước chúng ta chỉ có lãnh tụ bù nhìn, chỉ có lãnh tụ thích làm tôi mọi cho ngoại bang, chỉ có những thằng hề rẻ tiền múa may trò yêu nước bệ rạc?
Ánh sáng của đèn Mỹ trên những trụ đèn bằng cây Mỹ đem từ Mỹ sang đã soi rõ mầu cờ vô sản đêm Sài gòn đau thương. Tư bản và vô sản cần liên kết. Như môi và răng. Thiếu tư bản, vô sản mất đối tượng đấu tranh. Thiếu vô sản, tư bản hết chính nghĩa khai phóng tự do, dân chủ. Cho nên, tư bản không bao giờ muốn diệt vô sản và ngược lại. Hoa kỳ không thích hại Liên xô. Liên xô không thích hại Hoa kỳ. Cả hai kết hợp để hại các nước nhỏ chậm tiến. Nỗi thê lương nhất của thời đại, khốn nạn nhất của thời đại chúng ta là các nước nhỏ chậm tiến đã xâu xé nội bộ, nhân danh cả tư bản lẫn vô sản. Việt Nam là biểu tượng thê lương và khốn nạn. Hai mươi năm huynh đệ tương tàn để nghìn năm khó ngóc đầu dậy. Bao giờ mới lấp hết hố bom Mỹ? Bao giờ rừng mới hồi sinh tan thuốc khai quang Mỹ? Bao giờ mới trả nợ hết hỏa tiễn Liên xô? Bao giờ mới hết xuất khẩu nô lệ sang Sibérie, sang Đông âu? Không bao giờ cả. Những nước chậm tiến trên thế giới mãi mãi phải nghèo khổ. Để sáng danh chủ nghĩa vô sản. Và để sáng danh cả chủ nghĩa tư bản. Những nước chậm tiến trên thế giới lại mãi mãi cần phải có chiến tranh. Để Hoa kỳ và Liên xô đọ vũ khí mới. Thế thì ánh đèn tư bản soi rõ mầu cờ vô sản là chuyện đương nhiên. Liệu nó có soi sáng lương tri nhân loại? Liệu nó có soi sáng lương tri dân tộc Hoa kỳ?
Tiếng loa phóng thanh “giải phóng” ý nghĩ của tôi, bắt tôi trở về thực tại. Ngày mai, 1-5, còn là ngày Lao Động quốc tế nữa. Người Mỹ đã chọn ngày lành tháng tốt để tặng cộng sản Việt Nam. Và bài hát rất xưa lại vang vọng đêm nay:
          Ngoài kia lời non nước
          đang nhắc ta
          mau nhắc cao giống nòi
          yêu mến muôn giống người
          Ngoài kia công nhân ơi
          quốc tế đang giơ tay đón chào bầy con đoàn kết
          từng nhớ những phút chiến thắng
          tiền phong đua tranh bao năm
          lầm than đau thương trong khốn cùng
          Giải phóng thống nhất đất nước
          Việt Nam ra công chen vai
          cùng thế giới mới sống chung
          tranh đấu cuối cùng là đời sống
          với giang sơn
          công nhân Việt Nam chiến đấu
          cùng sống tập đoàn toàn thế giới công khai
          và kiến thiết xã hội ngày mai
          Lúc đế quốc đang sắp tan rã dần
          Ta tiền phong tiến tới
          Sức chiến đấu đi xuống miền Đông Nam
          Lúc đế quốc đã tàn…
Tham vọng của cộng sản Việt Nam là nuốt gọn các nước Đông Nam Á. Họ không ngần ngại bộc lộ tham vọng này. Sớm hay muộn thôi, cộng sản sẽ thôn tính Thái Lan, Mã Lai… “Tiền đồn chống cộng của Đông Nam á” đã bị san bằng. Cộng sản đã nuốt miền Nam, họ sẽ nuốt Đông Nam á. Có khi lại là điều hay. Bởi vì, lúc ấy, sự phản công của các nước Đông Nam á sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho người Việt Nam giải thoát quê hương mình khỏi ách cộng sản. Nhân loại rất nên nếm mùi cộng sản. Chưa nếm mùi cộng sản, nhân loại vẫn ham… làm dáng cộng sản và tưởng rằng cộng sản là đồ trang trí cho vui mắt đời sống. Bài hát Công nhân Việt Nam dạo đầu cho cuộc mít-tinh, biểu tình ngày mai, 1-5, vừa chào mừng cách mạng thành công vừa chào mừng Lao Động quốc tế thành công thật hợp tình, hợp cảnh. Đảng cộng sản Việt Nam vẫn núp trong áo Đảng Lao Động Việt Nam. Tôi muốn bài hát bay vút sang Thái Lan, Mã Lai, Tân Gia Ba… Nhưng nó tắt ngủm, nhường cho bài Đảng Lao Động Việt Nam.
          Đảng Lao Động Việt Nam
          Đảng của chúng ta
          vì giai cấp cần lao
          Đảng mưu giải phóng nước nhà
          Đảng chúng ta là mặt trời
          Hồ Chí Minh là mặt trời
          dìu dắt cho muôn lớp người vùng lên…
Hai đứa tôi đến một góc phố. ở đây, một chị cán bộ giép râu được bảo vệ bởi thanh niên Cờ Đỏ đang “phổ biến” những bài ca ngợi Bác cho các em nhi đồng. Các em yêu cầu chị hát bài ca cách mạng. Chị cao giọng:
          Như bao cô gái ở trên non
          Cô gái sông Ba đầu búi tóc thon
          Tay vót chông miệng hát không nghỉ
          Như bao cô gái ở trên non
          Như bao cô gái ở Tây Nguyên
          Ai nhanh tay vót bằng tay em
          Chim hót không hay bằng tiếng hát em
          Mỗi mũi chông nhọn hoắt căm thù
          Xuyên thây quân cướp nào vô đây
          xuyên thây quân cướp nào vô đây
          Còn giặc Mỹ cọp beo
          Khi còn giặc Mỹ cọp beo
          Em chưa ngừng tay vót chông rào làng
          Nhưng nay mai giặc chạy rồi
          Tre rừng ta làm nhà làm chòi cao
          Ê, chân ta đi chưa mỏi
          Trời trong xanh
          Em còn vót chông rào làng nữa
          Ê quân xâm lăng nào vô đây
          Chờ bọn bay
          Diệt bọn bay…
Các em nhi đồng vỗ tay hoan hô. Chị cán bộ tuyên văn giáo dục tiếp các em nhi đồng Sài gòn những bài ngắn thù hận giặc Mỹ, thù hận đế quốc. Không có gì lạ cả. Tháng 7-1954, tôi đã thấy ở những góc phố thị xã quê hương tôi, các chị cán bộ tuyên văn giáo dục các em nhi đồng thù hận giặc Pháp, thù hận đế quốc, thù hận địa chủ, ca ngợi Bác Hồ, Bác Mao, ca ngợi Liên xô, Trung quốc Thù hận “trồng” từ 1954, tiếp tục “trồng” đến 1975, và vô tận, theo chủ trương “trồng người” của ông Hồ Chí Minh. Tôi biết, từ chập tối ở các góc phố, ở các khu phố, cán bộ tuyên truyền văn hóa của cộng sản đã tụ tập thiếu niên, nhi đồng để dạy những bài ca cách mạng cho rộn ràng cách mạng sáng mai. Về điểm này, cộng sản rất “nghề”. Trẻ con mau thuộc bài và hăng say hát. Tôi chợt nghĩ thân phận tôi. Tôi quả là không khá. Riêng bài thơ Em bé của tôi đăng trên tạp chí Chỉ Đạo năm 1960 đã đủ gây hệ lụy cho tôi rồi.
          Hôm nay em đi học
          Mắt ngời ánh hào quang
          Những vì sao mới mọc
          Thắp lửa rực huy hoàng
          Trang vỡ lòng thầy dậy
          Đánh vẫn chữ Việt Nam
          Con đi nước con đấy
          Đẹp tự bốn nghìn năm
          Tay mềm tô nét viết
          Xanh mướt nghĩa yêu thương
          Chao ơi là tha thiết
          Mộng ước gửi ngàn phương
          Tiếng em mùa xuân ấm
          Bài quê hương loài người
          Không biên thùy ngăn cấm
          Không ai khóc cuộc đời
          Và mãi hồn thơ ấy
          Cây hạnh phúc muôn thu
          Xin đừng ai nỡ dạy
          Em tôi nói căm thù
Tôi đã chống chủ trương “trồng người” của ông Hồ Chí Minh, của cộng sản. Họ dạy tuổi thơ thù hận, tôi dạy tuổi thơ thương yêu. Cả đời tôi, tôi loay hoay giáo dục tuổi thơ không thù hận. Rốt cuộc, thù hận hai phía trút xuống đầu tôi. Cộng sản không tha, quốc gia không dung là vậy

Google photo

Tôi muốn đi xa thêm. Nhưng chỗ nào cũng thế, Sài gòn đêm nay. Với cộng sản là rập khuôn. Một cảnh tượng là triệu cảnh tượng. Giống nhau như khuôn đúc. Một khẩu hiệu là triệu khẩu hiệu. Không được thiếu. Không được thừa. Những kẻ thiếu sáng tạo mà cứ đòi “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc” nghĩ thật buồn cười.
– Về chứ Long?
– Về thì về.
– Chẳng có gì khác hơn 19-8-1945.
– Giống hệt 1954.
– Thế mà nó thắng?
Đặng Xuân Côn thở dài. “Thế mà nó thắng”, bốn tiếng nghe sao não nùng, ai oán? Hai đứa tôi trở về nhà, tiếp tục cuộc rượu. “Cõi đời ngoảnh mặt quên xa tiếc”, tôi không nghĩ gì chuyện ngoài phố, chuyện ngày mai nữa. “Ngày mai ra sao rồi hãy hay”. Chúa Jésus đã dạy: “Ngày mai để cho ngày mai lo”.
– Long ạ. Tao cho rằng nó đã thắng, nó không cần hủy diệt bọn nhà văn đâu.
– Ông không hiểu cộng sản. Và ông càng không hiểu hệ lụy văn chương. Văn chương nó gắn liền với tư tưởng. Con người làm văn chương tư tưởng sẽ chết nhưng văn chương tư tưởng của nó tồn tại và ảnh hưởng mãi mãi. Cộng sản không tha bất cứ nhà văn nào chống đối tư tưởng của họ, trừ bọn nhà văn huê tình, rỗng tuếch… Uống đi và đừng lo cho tôi. Tôi được sống với ông trọn hôm nay là đáng sống rồi. Nếu tôi phải ân hận là tôi chưa hề làm cho ông vui lần nào. ông hy sinh cho tôi đủ thứ mà tôi không biết nhường cho ông đứa con gái, hồi chúng ta ba đào ở Nhà Hát Tây.
– Quên chuyện ấy đi!
– Làm sao mà quên? Ông thất tình ngã xước máu chân! Tôi nên thanh thỏa chuyện này trước khi tôi chết hay là tôi quằn quại trong ngục tù.
– Mày sẽ gặp hư vô?
– Mong lắm.
Hai đứa tôi cụng ly. Tưởng chừng, ngày xưa còn bé, Vũ và Côn uống những ly xi-rô Grenadine thơm phức ở đầu cầu Bo. Chúng tôi chơi với nhau từ tiểu học trường Monguillot. Nhật đảo chính Pháp, có chúng tôi chứng kiến. Chúng tôi chứng kiến Nhật chặt đứt tay người Việt Nam đói khổ ăn cắp thóc nuôi ngựa Nhật. Chúng tôi chứng kiến Nhật treo dộng đầu người xuống, trên cây cao. Rồi chúng tôi đi đếm xác người chết đói, đi ăn mày cơm gạo cứu đói. Chúng tôi chứng kiến cách mạng 19-8. Ký ức của chúng tôi còn nguyên vẹn Tầu phù tước khí giới Nhật, tiêu thổ kháng chiến, chiến tranh, di cư… Và hôm nay, giải phóng Chúng tôi đã trải dài đời mình theo những biến cố chập chùng của đất nước. Đã hết chưa? Côn chưa muốn hết. Nó đã dựa lưng vào ghế, mắt lim dim ngủ, tay còn cầm ly rượu.

° ° °

Tôi không biết danh sĩ thời xưa đã mấy ai, chờ chết một ngày dài nhất đời mình, một ngày dài nhất của dân tộc mình, của thời đại mình. Hình như chẳng có ai. Thời của người xưa hiền như người xưa. Nên, “một ngày dài ghê” mới chỉ là “ba thu cộng lại”. Thời của người xưa đơn giản như người xưa. Nên, người xưa thản nhiên chờ đợi cái chết cơ hồ đợi chờ cuộc phiêu du vào hư vô. Người xưa không bị tưởng tượng cách chết, kiểu chết tính bằng co rút của tế bào, tính bằng héo khô của mạch máu, tính bằng rời rạc của nhịp tim. Ngày dài nhất của thời đại chúng ta là hai mươi năm cộng lại. Ròng rã hai mươi năm phiền muộn, chiến tranh, tang tóc, sinh ly, tử biệt. Chúng ta có ngày dài nhất lấy máu mà đo, đem nước mắt mà lường vì chúng ta được Hoa kỳ khai phóng tự do, dân chủ. Ngày dài nhất của chúng ta nghẹn ngào hơn bất cứ ngày dài nhất nào của loài người, từ khai thiên lập địa. Bởi nó là ngày dài nhất báo hiệu những ngày dài nhất, những vô tận ngày dài nhất, nhục nhằn nhất, cay đắng nhất, oan khiên nhất trên quê hương chúng ta. Muốn đo lường chính xác, và muốn cực tả niềm đau, phải dùng giây kẽm gai viện trợ Mỹ mà kéo chiều dài của ngày dài nhất. Hiểu tại sao chứ? à, giây kẽm gai viện trợ Mỹ không kịp di tản sẽ rào quanh nhà tù, trại tập trung cộng sản. Danh sĩ thời xưa thiếu hẳn cảm giác hứng đòn ý thức hệ. Người thời xưa không thèm nhìn mỏ Con ó, không thèm ngắm móng Con Gấu. Người thời nay bất hạnh hơn, bị Con ó mổ mù mắt, bị Con Gấu cào bấy tim. Để chờ chết một ngày dài nhất.
Còn hệ lụy văn chương của danh sĩ thời xưa thế nào? Mới chỉ nghe kiêu sĩ Cao Bá Quát lên đoạn đầu đài. Nhưng kiêu sĩ Cao Bá Quát bay đầu đâu phải tại văn chương – tư tưởng? Cái kiêu bước thêm vài bước thành cái cuồng. Cái cuồng biến thể sang ngông. Và họ Cao làm loạn tiêu sầu. Rượu chưa đủ là thế. Văn học sử chép lời giăng giối của Cao Bá Quát:
          Ba hồi chuông dục: Đù cha kiếp

          Một nhát gươm vung: Đéo mẹ đời
Tôi không nghĩ rằng khẩu khí của Cao Bá Quát bình thường vậy. Kẻ nghịch thiên Cao Bá Quát đếm xỉa chi cái kiếp, cái đời. ông đã chửi cái thế, cái thời. Theo tôi, ngạo nghễ bước lên đoạn đầu đài, Cao Bá Quát đã sang sảng:
          Ba hồi chuông dục: Đù cha thế
          Một nhát gươm vung: Đéo mẹ thời
Đấy mới là Cao Bá Quát. Há Ngô Thời Nhiệm chẳng đem thời thế trả miếng Đặng Trần Thường đó sao? Dẫu gì chăng nữa, Cao Bá Quát không hề bị bức tử vì văn chương – tư tưởng mình. Danh sĩ thời xưa hạnh phúc gấp bội danh sĩ bây giờ. Lan Khai bị nhốt vào rọ ngâm nước. Khái Hưng bị dìm dưới sông. Phan Khôi bị cô lập chết mòn. Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Thụy An nằm tù, Nhân Văn Giai Phẩm đi cải tạo…. Tôi hiểu thân phận tôi sẽ ra sao, sắp ra sao.
Nhưng tôi bằng lòng thân phận tôi, tự hào thân phận tôi. Tôi chống cộng sản tự nguyện. Mười lăm năm cầm bút của tôi, tôi không hề điếm nhục ngửa tay nhận tiền của Mỹ, của các chế độ Sài gòn để làm công việc đánh đĩ văn chương – tư tưởng. Tôi chống cộng sản và vì lý tưởng chống cộng sản, tôi chống luôn cả chính sách xấc xược của Mỹ áp đặt lên số phận dân tộc tôi, chống luôn cả tập đoàn thống trị bù nhìn và bè lũ điếu đóm, chống luôn bọn tham nhũng thối nát, bất tài, vô tướng, chống luôn đám hề chính trị rẻ tiền. Nói tóm lại, tôi chống tất cả những gì nuôi dưỡng cộng sản và làm sáng chính nghĩa cộng sản. Theo tôi, những bất công xã hội, những đàn áp phát-xít đã dồn dân chúng miền Nam vào con đường cùng. Dân chúng xa quốc gia, gần cộng sản là bởi lãnh đạo quốc gia ngu dốt. Tôi chống cả đảng phái hèn mạt lẫn những kẻ đội lốt tôn giáo lãnh đoạn chính trường. Người ta bảo tôi có lắm kẻ thù. Tôi không tin. Tôi đã viết 50 tác phẩm văn chương. Độc giả của tôi nuôi dưỡng tôi tận tình, cống hiến tôi đời sống vật chất dư dả. Tôi tự hào là một nhà văn chuyên nghiệp nhiều độc giả nhất nước, nhiều độc giả tuổi trẻ nhất nước. Những kẻ coi tôi là kẻ thù là những kẻ không được tôi xếp vào hạng kẻ thù của tôi Họ ở dưới kẻ thù của tôi vô số bậc. Còn những kẻ đố kỵ tài năng của tôi, cay cú với lòng yêu mến của độc giả của tôi dành cho tôi là những kẻ luôn luôn đứng sau tôi, xa tít tắp. Họ rất đáng tội nghiệp và cần được khích lệ như những người có triển vọng ở tương lai. Tôi cô đơn sáng tạo. cô đơn chiến đấu và cô đơn chết. Nhân danh điều thiện, người thiện chống việc ác, kẻ ác tôi chết. Tôi chưa biết cộng sản bức tử tôi kiểu nào.
Tôi bỗng có một nỗi sợ hãi mới, sợ hãi hơn cả sợ hãi chết trầm. Là cộng sản không quăng tôi vô biển máu hay bắt tôi chết mòn trong tù ngục. Nếu cộng sản không thèm trả thù tôi, không thèm đếm xỉa đến tôi, tôi sẽ bị sống nhục nhã. Vì văn chương, tư tưởng của tôi chẳng giá trị tí nào. Và con người tôi cũng vô giá trị. Tôi sẽ cúi gầm mặt ở bất cứ nơi đâu trên trái đất. Tôi hết dám chống cộng sản, trừ khi tôi là đứa vô liêm sỉ.
Nỗi sợ hãi mới đã giúp tôi thản nhiên chờ đợi đao phủ và hình cụ của nó.

° ° °

24 giờ rồi. Tôi đã trải qua một ngày dài nhất trong đời tôi, một ngày mà nhiều đời người không có. Văn hào Walter Scott viết: “Không ai đủ giầu để mua lại dĩ vãng đích thực của mình”. ở đâu đó, ngoài nước Việt Nam, sẽ có một người Việt Nam tiếc rẻ: “Tôi là tỷ phú, thừa mứa tất cả, chỉ thiếu một Sài gòn, ngày dài nhất”. Và đó, bất hạnh trong hạnh phúc. Tôi đầy đủ ngày dài nhất ở Sài gòn. Và, cũng đó, hạnh phúc trong bất hạnh.

Phụ lục

NHỮNG ĐOẠN VIẾT NGẮN VỀ QUÊ HƯƠNG
(Trong vidéo Giọt Nước Mắt Cho Quê Hương)
Trung Tâm Thúy Nga Paris sản xuất
Thù hận dân tộc khởi sự từ cây cầu định mệnh này. Nước mắt quê hương bắt nguồn từ dòng sông oan nghiệt này. Lịch sử nào cũng có những thời của chiến tranh và những thời của hòa bình. Thời của chiến tranh mười năm vừa qua trên giang sơn gấm vóc Việt Nam. Nó vừa qua bằng những giọt lệ. Không phải là giọt lệ reo vui hòa bình mà là giọt lệ bẽ bàng phân chia tổ quốc. Một lần huyền thoại Lạc Long Quân – âu Cơ. Một lần Thập nhị sứ quân làm đau đớn ý nghĩa đồng bào. Một lần sông Gianh buồn tủi. Và, bây giờ, sông Bến Hải ô nhục. Vẫn một dòng sông biểu tượng của xa rời tình tự, của đứt khúc anh em, nhưng hôm nay, dòng sông ngầu đỏ ý thức hệ. Thù hận dân tộc có xuất xứ rõ nét bằng ý thức hệ, bằng chủ nghĩa hoàn toàn xa lạ với dân tộc chúng ta. Thì mặc kệ nó thôi, cái vĩnh cửu của Việt Nam là cần thiết. Tổ tiên chúng ta đã biết ngậm thống khổ, đã can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh, đã kiên nhẫn chiến đấu cho sự tồn tại vĩnh cửu của Việt Nam. Cuối cùng, sông Gianh chỉ còn là hồi tưởng một thời ta xa nhau, một thời tình yêu héo úa, một thời hạnh phúc ngẩn ngơ. Chúng ta cũng biết ngậm thống khổ, cũng biết can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh, cũng biết kiên nhẫn xây dựng lại một miền quê hương đổ vỡ sau hòa bình què cụt. Để lấp sông Bến Hải. Để con người gần gũi con người. Để anh yêu em, nhớ em như ca dao đã dạy chúng ta yêu nhau, nhớ nhau. Thế thì miền Nam thân yêu, cái nôi đời êm ái, đã ru chúng ta niềm hy vọng, đã phả vào hồn chúng ta nỗi ước mơ làm lại quê hương, làm đẹp quê hương, làm đoàn tụ quê hương, làm rực rỡ quê hương. Chúng ta tiếp nối kinh nghiệm của tiền nhân; ý chí của tiền nhân, dũng cảm của tiền nhân, vượt lên mọi thống khổ, vượt lên mọi thù hận. Để Việt Nam mãi mãi ngạo nghễ dưới mặt trời. Và, vậy đó sự phồn vinh bắt đầu ở miền Nam, ý nghĩa rạng ngời của đời sống bắt đầu ở miền Nam. Chúng ta sáng tạo một thời yêu thương thay đổi một thời thù hận. Chúng ta bắt nòng súng nở hoa thơm ngát hương nhân ái. Chúng ta bắt đạn câm. Chúng ta bắt tạo hóa mỉm cười độ lượng. Rồi, như tiền nhân, bằng trái tim bồi hồi, xao xuyến những giấc mơ xanh; bằng những nốt nhạc nhẩy múa trên môi: “Việt Nam, Việt Nam nghe tự vào đời… Việt Nam không đòi xương máu… Tự do, công bình, bác ái muôn đời…” Chúng ta đã có miền Nam, nơi đồn trú của tình tự dân tộc, của lãng mạn dân tộc, của cao thượng dân tộc, của thi ca chan chứa tình người, của tiểu thuyết tràn trề nhân bản, của âm nhạc đưa hồn lên cao. Để tô thắm triết lý Rồng Tiên, để keo sơn cái còn vĩnh viễn của Việt Nam. Chúng ta đã quên thở dài. Chúng ta cất tiếng hát…
Buồn thay, chúng ta chưa được hát no đầy giọng ca, chưa được hát đẫy đà nốt nhạc thì cây cầu định mệnh kia cựa quậy, dòng sông oan nghiệt nọ nổi sóng, thứ sóng tham vọng của chủ nghĩa cộng sản xâm lược. Những giọt nước mắt Việt Nam bắt đầu ứa ra từ miền Bắc. Rồi những giọt nước mắt chẩy dài theo tuổi nhỏ quắt queo đeo trên lưng cái hiện tại ê chề miệt mài bước đường vô định, theo dân hiền bị cưỡng bức chuyên chở đau thương mà lê chân dọc lối mòn vô vọng. Nước mắt cùng máu rướm chân không thấm vào lòng đất quê hương. Nước mắt trên vai phụ nữ dân công gồng gánh. Nước mắt lên thác xuống ghềnh. Nước mắt nhục nhằn của thân phận Việt Nam đã làm cỏ rừng xúc động, đã làm đá suối nghẹn ngào. Họ thiếu trái tim nên họ không ái ngại đất lún. Họ thiếu con mắt nên họ không thương xót trẻ thơ vác súng đạn băng rừng, vượt núi. Và họ gây chiến tranh. Súng đã nổ. Đạn cộng sản khiến ứa máu thanh bình của chúng ta. Bây giờ là nước mắt miền Nam. Nước mắt của chết chóc, của thương tích, của sợ hãi. Nước mắt của mẹ già. Nước mắt của em bé. Nước mắt của tất cả. Phải làm những giọt nước mắt ngừng chẩy. Phải ngăn chặn chiến tranh. Tuổi trẻ miền Nam giã từ gia đình đi lo việc cứu nước, giữ nước…

° ° °

Tổ quốc gọi, tuổi trẻ lên đường. Vất bỏ lại những phù phiếm vật chất và chấp nhận cuộc đời gian nan. Bởi vì, đã là lính, đã tình nguyện vào nơi gió cát. Những vầng trán kiêu hãnh ngẩng cao: Danh dự, Trách nhiệm, Tổ quốc Vinh quang bao giờ cũng phải trả giá bằng nhiệt tình và lòng tự phụ. Nhiệt tình là phóng thẳng lên phía quân thù, là chỉ biết tiến không biết lùi, là chỉ biết thắng không biết bại, là thèm sống vinh và sợ chết nhục. Tự phụ là vừa chiến đấu bảo vệ non sông ngoài tiền tuyến vừa bảo vệ hạnh phúc cho đồng bào ở hậu phương.
Hãy hồn nhiên, em bé! Hãy nhẩy múa, hát hò, reo vui Em đừng thèm nghĩ đến chiến tranh, em bé nhé?

Google photo

Chiến tranh là ác quỷ. Đã có anh diệt ác quỷ. Em bé thiên thần ơi, mãi mãi là mắt ngọc, tóc ngọc, môi ngọc, lời ngọc, hồn ngọc. Để anh nhẹ bước chiến chinh. Người lính Việt Nam cộng hòa tuyệt vời. Chẳng còn ngôn ngữ nào cao quý hơn để vinh danh lính của chúng ta, những con người biết sống, biết chiến đấu và biết chết. Hơn cả hào hùng, lính của chúng ta lãng mạn nhất loài người, chấp nhận chiến đấu cho sự sống còn của dân tộc và cả cho tình yêu của mọi người. Nói rõ rệt, lính của chúng ta chiến đấu để làm rực rỡ ý nghĩa của Cái Thật, Cái Tốt, Cái Đẹp của con người. Đó là những người lính đi chiến đấu vì con người, vì tình người, vì đạo nghĩa Việt Nam, vì tình tự Việt Nam, vì những cái tồn tại vĩnh cửu của Việt Nam. Yên vui hậu phương, đó là mềm vui của người lính sa trường, đó là lý do chắc tay súng và ngắm đúng kẻ thù. Không có thứ huy chương nào xứng đáng cho sự hy sinh của người lính Việt Nam cộng hòa cả. Chắc chắn, họ không chiến đấu vì huy chương. Lý tưởng chiến đấu của họ chỉ được nhìn thấy khi chúng ta chứng kiến họ đứng giữa biên giới sống chết. Họ sống vì cái sống của mọi người. Họ chết cũng vì cái sống của mọi người. Người lính đã quên cả sự sống lẫn sự chết của mình. Và ngay cả lúc đứng giữa biên giới của sống chết, người lính Việt Nam cộng hòa vẫn còn thừa niềm xúc động để nhỏ nước mắt xót thương đồng bào mình trong điêu linh, tang tóc của chinh chiến. Có lẽ, chúng ta đã vô tình không chịu hỏi lính của chúng ta nghĩ gì. Vậy thì anh làm ơn trả lời đồng bào anh, anh đã nghĩ gì, người lính?

° ° °

Không, anh còn khiêm tốn lắm, người lính Việt Nam cộng hòa. Đề đồng bào anh nghĩ về anh, nghĩ về lính lãng mạn, hào hùng mà biểu tượng là người lính nhẩy dù Nguyễn Đình Bảo. Quân sử việt Nam đã trân trọng viết bằng son thắm những trang chính xác về thiên thần mũ đỏ. Chẳng thể thiếu sót tên tuổi và chiến tích vang động đất trời của chiến sĩ dù. Hơn cả chính sử, ngoại sử, huyền sử, tiểu thuyết dã sử còn đưa lính mũ đỏ vào trong những lớp sương mầu thần thoại. Hãy hỏi những con chim đậu trên giây điện xem chúng có ngậm nhạc ngợi ca Nguyễn văn Đương, Nguyễn Đình Bảo. Hãy hỏi kẻ thù xem họ có nghiêng mình trước sự dũng cảm của những người lính dù ở lại Charlie. Cho phép tôi được nhỏ một giọt nước mắt muộn màng tưởng mộ những người lính dù đã đi vào lịch sử.

° ° °

Chiến tranh là trò chơi thô bỉ. Không ai thích chơi trò chơi của chiến tranh cả. Con người sinh ra không phải để săn đuổi giết nhau. Chúng ta không chơi chiến tranh, chúng ta chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Vì thế, nước mắt còn ứa ra tội nghiệp cho tuổi trẻ miền Bắc bị cộng sản tước đoạt linh hồn đích thật Việt Nam để nhồi nhét vào đầu óc họ cái lý tưởng phi nhân bản, phi dân tộc, cái lý tưởng giải phóng bịp bợm của chủ nghĩa mù, của chế độ điếc, của lãnh tụ ngu. Hãy nhìn những người bộ đội “sinh Bắc, tử Nam”? Hãy nhìn họ, hãy suy nghĩ về cái chết của họ, sẽ có một lời kết án nghiêm khắc chủ nghĩa cộng sản. Cộng sản cứ đẩy họ vào một chiến thắng ảo tưởng. Bộ đội miền Bắc cứ chết thảm, cứ thua nhục… Bằng súng đạn, hỏa tiễn của Liên xô, Trung quốc, cộng sản Việt Nam đã cầy nát quê hương miền Nam của người Việt Nam, đã sát hại người Việt Nam. Rõ ràng, cộng sản Việt Nam vì cái chủ nghĩa quốc tế vô sản mà phản bội quốc gia. Chính nghĩa quốc gia thuộc về chúng ta, của chúng ta. Chính nghĩa ấy đã được người lính Việt Nam thắp sáng ở khắp chiến trường. Nơi nào người lính Cộng Hòa đến, nơi ấy cộng sản thảm bại. Nơi nào cờ vàng chiến thắng tung bay, nơi ấy tự do, thanh bình, no ấm. “Việt Nam không đòi xương máu”. Chúng ta đòi hòa bình để xây dựng đất nước chúng ta phồn thịnh, dân tộc chúng ta hạnh phúc, thương yêu. đoàn tụ. Nhưng cộng sản điên cuồng “thề phanh thây, uống máu” chúng ta, chúng ta cần dạy dỗ họ những bài học nhân bản, để họ trở về con người đầy đủ nhân tính, để hủy diệt thú tính của họ. Chúng ta không thèm mơ ước chiến lợi phẩm tính bằng xác T-54, bằng AK, bằng B-40. Chúng ta mơ ước những cánh đồng lúa chín, những nhà máy phun khói, những chuyến tầu đến đi, những mái trường rộn rã tiếng chim non ca hót. Chúng ta không gây chiến mà chúng ta phải tham chiến. Và vì chiến tranh, chúng ta mất mát khá nhiều. Nước mắt vẫn rơi theo máu rơi. Những giọt nước mắt cay đắng nhất vẫn là những giọt nước mắt của người vợ lính đi nhận xác chồng tử trận.

° ° °

Đã bao nhiêu người vợ lính mắt đẫm lệ đi nhận xác chồng? Đã bao nhiêu người vợ lính tìm thấy xác chồng và chẳng biết xác chồng mình ở đâu? Tôi lại xin được nhỏ giọt nước mắt muộn màng ngưỡng mộ chinh phụ của thời đại tôi. Và không thể nào tha thứ cho cộng sản. Chủ nghĩa hèn mạt của họ, thêm một lần, chứng tỏ sự phi dân tộc của họ. Họ đã xúc phạm đến cả những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Họ đã dẫm giép râu lên phong tục, tập quán ngàn đời của người Việt Nam. Cộng sản không khước từ một cơ hội nào để bắt máu chẩy, để đòi nước mắt rơi, để chém giết. Cộng sản đem chiến tranh vào thành phố. B-40 của họ đã thụt cháy bàn thờ tổ tiên của chúng ta ngày Tết. Họ đã bắn đạn AK nát phong bao mừng tuổi trẻ thơ. Đạn tội ác của cộng sản thay pháo đốt mừng xuân. Bầy thú dữ vô thành phố. Những gì đã xảy ra? Đi hỏi thùng rác đầu đường, thùng rác cũng phẫn nộ vì bị găm đạn cộng sản. Đi hỏi con chó rên rỉ dưới chân cột đèn, con chó cũng phẫn nộ vì bị găm đạn cộng sản. Đừng hỏi người. Đừng hỏi. Hãy nhìn khói bốc mù trời thành phố. Hãy nghe đạn nổ kinh hoàng. Hãy ngắm những khuôn mặt sợ hãi. Và những giọt nước mắt đêm xuân… Và rồi sẽ có một định nghĩa về những giọt nước mắt.
Đánh đâu thua đấy, càng đánh càng thua. Cộng sản đã phải trả giá chua cay cho vụ Mậu Thân đến nỗi Hồ Chí Minh phẫn mà chết. Cộng sản lại tiếp tục trả giá chua cay cho mùa hè đỏ lửa. Họ đã phiêu lưu vào chiến tranh một cách dại dột. Họ không thể ngờ họ đã phải đương đầu với anh hùng miền Nam. Mỗi người lính Cộng hòa là một hào kiệt, một tráng sĩ… Sa lầy quân sự ở chiến trường miền Nam vì tham vọng xâm lăng, cộng sản đã bóc lột đến giọt mồ hôi lao động cuối cùng của dân miền Bắc. “Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng”, dân miền Bắc đã phải dân công thủy lợi phục vụ chế độ bạo tàn hơn cả nô lệ thời thực dân. Phẩm cách con người hầu như bị tước đoạt hết và quyền sống thì chẳng còn. Vì “giải phóng miền Nam” mà dân miền Bắc đói khổ, ngu dốt, lạc hậu. Bộ đội đã mượn xuống tuổi 16? 16 tuổi phải cầm súng lao vào chỗ chết. Cái ưu việt của chủ nghĩa, cái nôi của loài người, cái đỉnh cao trí tuệ cộng sản ở những chiếc xe đạp thồ đá, thồ cây…

° ° °

Nhưng mà giọt nước mắt cho Việt Nam bẽ bàng nhất, thê lương nhất thì lại ở đây, ở ngay nước Mỹ. Những kẻ phản chiến đã để lương tri của họ ngủ vùi trong một thời mê sảng. âu châu văn minh, âu châu của công bình, bác ái đã nhắm mắt lại toa rập với những kẻ phản chiến một chiều. Buồn cho âu châu ấy, âu châu của trí tuệ âu châu biết phán xét đã quên trí tuệ cựu lục địa, bám gót bọn chăn bò Mỹ để lên án bom đạn Mỹ và giả vở không đếm xỉa hỏa tiễn Liên xô, đại bác Trung quốc. Rốt cuộc, âu châu và Hoa Kỳ đều bị đám khố rách cộng sản huyễn hoặc một cách đáng thương hại. Thế trận thay đổi bằng sự trợ giúp đắc lực của phản chiến Mỹ, báo chí Mỹ, truyền thông Mỹ và âu châu. Chúng ta khó tin sự phản tỉnh. Bởi vì, cá sấu chưa cười khi nhai nghiến con mồi. Bởi vì, nỗi khổ của dân tộc chúng ta vẫn còn sáng giá cho bọn làm dáng tiến bộ, làm dáng hòa bình…

° ° °

Nỗi khổ của dân tộc chúng ta còn là đường rầy oan nghiệt cho chuyến tầu hữu nghị phản phúc của nước lớn nghiến nát thô bạo. Bom Mỹ, hỏa tiễn Liên xô, đại bác Trung quốc đã tàn phá đất nước chúng ta hai mươi năm. Nhân danh ai, nhân danh cái gì? Lái buôn súng đạn, phù thủy chủ nghĩa đem thân phận tổ quốc chúng ta, đem xương máu dân tộc chúng ta mua bán, đổi chác? Chẳng có gì cao quý để nhân danh cả, ngoài quyền lợi tư bản và quyền lợi cộng sản. Những tâm hồn tư bản bần tiện, những tâm hồn cộng sản bần tiện, những tâm hồn bá quyền bần tiện, bọn đấu thầu chiến tranh lại lột lưỡi đấu thầu hòa bình. Mỏ con ó cứ nhọn. Móng vuốt con gấu cứ sắc ác điểu và ác thú ôm nhau hôn, ôm nhau khiêu vũ trên bãi tha ma. Cùng với sự phản phúc của tư bản, sự bẻ gẫy lương tâm của thế giới tự do, nước mắt Việt Nam ứa ra cho một chia lìa đòi đoạn…

° ° °

Chúng ta lại ra đi. Lần này chúng ta bỏ tổ quốc ra đi. Làm sao có thể đo được mức độ nước mắt Việt Nam tuôn rơi cho một chuyến đi não nề? Nước mắt chia lìa tình tự dân tộc, hai mươi năm trước bắt nguồn từ dòng sông Bến Hải. Bây giờ, nó bắt nguồn từ dòng sông nào? Có lẽ, người Việt Nam sẽ đặt cho dòng sông ấy một cái tên. Phải, một cái tên. Để nhớ. Để kể cho con cháu nghe. Tên nó là Phản Bội. Thế thì nước mắt chia lìa tình tự dân tộc, hai mươi năm sau, bắt nguồn từ dòng sông Phản Bội. Hai mươi năm hai lần người Việt Nam sống đời du mục, thân phận du mục của thời đại đông đầy chó sói chủ nghĩa, cá sấu ý thức hệ. Lần thứ nhất, chúng ta tỵ nạn trên quê hương chúng ta. Lần thứ hai, chúng ta tỵ nạn ở những nơi chốn nào trên trái đất? Ôi, di cư? Ôi, di tản? Di tản ê chề gấp bội di cư. Hai mươi năm, tưởng chừng mới hôm qua. Mới hôm qua 1954…

° ° °

Người Mỹ nói “lịch sử đã sang trang ‘? Chúng ta phải hiểu họ chẳng còn thiết tha gì tới lý tưởng khai phóng tự do, dân chủ nữa. Con thò lò nào cũng có sáu mặt lương tâm. Và nó có thể thản nhiên cắn gẫy bất cứ thứ lương tâm nào không có lợi cho nó. Nhìn lại di cư 1954 để so sánh di tản 1975, chúng ta mới vỡ lẽ. Nước Pháp thua trận vẫn còn chinh phục được lòng biết ơn của chúng ta, vì họ đưa chúng ta vào Nam tử tế, họ xứng đáng văn minh và nhiều văn hóa. Nước Mỹ thua trận là thua hết. Họ thiếu văn hóa. Tinh thần trọc phú bần tiện Mỹ thể hiện rõ rệt ở cuộc di tản 1975 tại Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở sài gòn. Họ cam kết bảo vệ tự do, dân chủ miền Nam, họ đem danh dự tiệp Chủng Quốc Hoa kỳ làm lời hứa. Rồi họ phản phúc. Chúng ta thật sự hiểu lòng dạ Hoa kỳ từ lúc Gerald Ford tuyên bố: “Lịch sử đã sang trang.” Sự sang trang của lịch sử hoa kỳ ngoạn mục nhất, đối với họ, là cảnh tượng người Việt Nam đi tìm tự do một mình bằng thuyền gỗ lênh đênh trên đại dương. Bây giờ, thuyền nhân Việt Nam dũng cảm hơn dân tộc Mỹ, hơn loài người. Thuyền nhân Việt Nam vinh danh Tự Do cao quý Thuyền nhân Việt Nam đã mở mắt cho thế giới hoan lạc, ích kỷ bằng những giọt nước mắt khó quên của một thời đại mê sảng. Chẳng hiểu bọn phản chiến Mỹ ngu xuẩn, tôi mọi không công cho cộng sản có dám căng mắt nhận diện thuyền nhân Việt Nam ở địa danh buồn bã Poulau Bidong, Poulau Tengah, Sikew, Palawan, Song- kla… Hãy nhìn kỹ, thế giới thiển cận và trí tuệ những kẻ lên án chiến tranh Việt Nam tại âu châu, Mỹ châu và úc châu! Hãy nhìn kỹ xem những người trải dài thân phận mình suốt cuộc chiến hai mươi năm có phải là những người hiếu chiến, có phải là những người gây chiến, có phải là tội phạm chiến tranh? Không, người Việt Nam đấy, người Việt Nam nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản, của chủ nghĩa tư bản, của hỏa tiễn Liên xô, của bom đạn Hoa kỳ, của sự tráo trở, bịp bợm hèn mạt của các nước lớn đấy. Lý tưởng tự do dân chủ của Mỹ, lý tưởng cách mạng giải phóng của Liên xô đã bị người Việt Nam yêu quê hương mình tha thiết phải bỏ quê hương, bỏ sự nghiệp ngàn đời của tổ tiên để lại mà sống kiếp lưu đầy. Và những giọt nước mắt Việt Nam lưu vong ứa ra. Những giọt ngọc Việt Nam đánh dấu mốc đường oan của nhân loại. Em yêu dấu, hãy để những giọt nước mắt Việt Nam vang vọng đất trời…
          Giọt nước mắt nhục nhằn
          trên xiềng gông chung thân
          Giọt nước mắt đợi chờ mòn nỗi đá ôm con
          Giọt nước mắt thê lương
          Giọt nước mắt quê hương
          nghe buốt răng sâu, cây thù lá hờn…
          Giọt nước mắt chẩy dài
          theo thuyền nhân lênh đênh
          Giọt nước mắt nghẹn ngào
          biển ướp muối khô tim
          Giọt nước mắt oan khiên
          Giọt nước mốt cô đơn
          ngơ ngác hỡi em quê người đảo điên
          Giọt nước mắt lung linh màu nàng ngoan
          hong tâm sự nát tan
          mai em mình lớn khôn
          ôi giọt nước mắt cho những thân phận sốt se
          cho những tâm hồn tái tê
          cho những con người não nề…
          Giọt nước mắt tỏ tình thương ngàn xua hư vô
          Giọt nước mất tội nghiệp còn thế giới hoang vu
          Giọt nước mắt tâm tư
          Giọt nước mắt ươm mơ
          rơi xuống em ơi. xanh ngọc vàng tơ…
Phải lắm, em ạ, chúng ta chẳng cần những giọt nước mắt thế giới xót thương chúng ta. Chúng ta nhỏ nước mắt xót thương chúng ta và xót thương thế giới. Anh muốn giọt nước mắt của em, giọt nước mắt thuần khiết Việt Nam của em, nhỏ xuống làm lay động cái bóng tối u mê phủ kín lương tri của loài người. Hãy khóc, em ơi, bởi vì, những giọt nước mắt sẽ làm anh em mình khônlớn, sẽ làm anh em Việt Nam mình khôn lớn. Chúng ta cần thiết khôn lớn bằng những giọt nước mắt thống khổ. Để làm lại quê hương Việt Nam mai này. Chúng ta đi không phải ở lại. Chúng ta đi để về, sẽ về, phải về. Thiên đường đích thực là quê hương chúng ta, là Việt Nam yêu dấu, chỉ là Việt Nam thôi. Mọi nơi khác đều là cõi tạm và đều trống vắng. Vậy thì, anh rất sợ nước mắt không còn long lanh trong mắt em. Khi ấy, em đã quên nỗi khổ. Và em quên nỗi khổ, anh quên nỗi khổ, anh em mình không thể trở về Việt Nam được. Thế nên, những giọt nước mắt lưu vong sẽ nhắc nhở chúng ta một thời bơ vơ trên những thiên đường lạnh buốt. Giọt nước mắt hôm qua nhỏ xuống vuốt ve nỗi khổ. Giọt nước mắt hôm nay nhỏ xuống nuôi dưỡng nỗi khổ. Chúng ta quên nỗi khổ, ta quên luôn quê hương ta, dân tộc ta. Em yêu dấu, anh muốn tâm sự:
          Giả sử ngày mai em về Sài gòn
          em sẽ mang gì cho quê hương?
          Em có còn gì cho quê hương?
          sau nhiều năm biệt xứ
          sau nhiều năm quá khứ nhầu úa?
          Giả sử ngày mai em về Sài gòn
          Em có còn là em nữa không?
          Em có còn ngọt ngào suối trong
          Em còn thuộc ca dao,
          còn giữ áo cho nhau thuở nào?
          Sợ em đã quên mùi hoàng lan đêm xuân
          quên hương cau, thông vàng, bụi phấn
          Dậu hoàng cúc thu dạt dào nỗi mình xưa
          nhớ chăng em. thềm trưa mây mưa?
          ôi giả sử ngày mai em về Sài gòn
          Em thành người xa lạ quê hương
          Em thành người đường quen xóa bóng
          Linh hồn em lạnh cóng
          Em vừa hay đã mất Sài gòn
Thế thì những giọt nước mắt lưu vong sẽ soi sáng nỗi khổ Việt Nam, em ơi! Nỗi khổ ấy ở quê nhà, nỗi khổ ấy ở quê người. Nỗi khổ ấy chỉ hết khi những giọt nước mắt vỡ ra thắp rực một hạnh phúc vĩnh cửu. Đó là ngày anh em mình hồi hương. Em, ngày mai sẽ đến. Anh em mình về Việt Nam như loài én báo hiệu mùa xuân trên khắp đất nước. Đêm đen của chủ nghĩa cộng sản tuyệt tích. Chúng ta đã xóa nó rồi.

° ° °

Tiếng khóc Việt Nam vút lên trời. Trăng ngậm ngùi. Tiếng khóc Việt Nam phóng ra biển. Biển xao xuyến. Mẹ già nằm đó. Mẹ đợi chờ định cư mòn mỏi. Mẹ chết. Linh hồn mẹ lại vượt biển về quê hương. Đất quê hương sẽ ấm hồn mẹ. Mẹ đã đến Sài gòn bồi hồi như đêm vĩnh biệt thành phố ấy.

Google photo

Nhưng Sài gòn ra sao? Nước mắt vẫn cần cho thành phố bất hạnh đó. Một thi sĩ viết:
          Sài gòn trong nhà gửi nỗi buồn
          Ra sân, ra ngõ trống, đời trơn
          Ra phường, ra phố, ra tăm tắp
          Nơi những đề lao giữa núi rừng

          Sài gòn trong nhà mẹ ngóng con
          Mắt sông cát lấp đã rêu cồn
          Miệng thầm kinh nguyện lòng nghi hoặc
          Ôi mãi cầu xin vẫn mỏi mòn
          Sài gòn trong nhà vợ nhớ chồng
          Nhớ khùng, nhớ dại, nhớ lung tung
          Nhớ nhiều, nhớ mãi. không quên nhớ
          Buổi tối tay anh bị siết còng
          Sài gòn trong nhà con đợi cha
          Năm sáu mùa xuân bố vắng nhà
          Bao giờ bố mới về đây bố
          Con lớn khôn rồi biết xót xa
          Sài gòn trong nhà đầy ưu phiền
          Rất hài hoà cảnh tượng chìm đen
          Tủ giường. bàn ghế, nồi, xoong, chảo
          Cùng với người chung một nỗi niềm
          Sài gòn trong nhà vắng như tờ
          Lâu lâu giọt nhỏ vọng hồn xua
          Chú thạch thùng quen thôi tặc lưỡi
          Và con nhện cũng chán giăng tơ
          Sài gòn trong nhà, Sài gòn ơi
          Hãy thinh không nhé, hãy trùng khơi
          Hãy im lặng đến thời lên tiếng
          Vì tiếng em cao vọng tuyệt vời
Sài gòn trong nhà buồn bã, Sài gòn ngoài phố ủ ê. Khuôn mặt chính xác của phồn vinh không giả tạo của xã hội chủ nghĩa đã phơi bày rõ rệt dưới ống kính trung thực của Tây phương. Nó là phần thưởng cao quý của những kẻ đòi hòa bình tức khắc ở Việt Nam. Hòa bình rồi đó. Hòa bình lâu rồi đó. Người đổi đời sống với ma ở nghĩa địa. Người lượm từng chiếc túi ny-lông dơ bẩn rửa sạch để bán kiếm tiền mua gạo chợ đen. Hòa bình rồi đó. Thù hận khởi sự, nhân quyền bị chà đạp, nhà tù mở rộng cửa lùa con người vô tội vào. Hòa bình rồi đó, một hòa bình rỗng tuếch, đói khổ. Thiên đường bánh vẽ cộng sản lộ nguyên hình. Cách mạng cai trị bằng chính sách gạo.
          Ngày xưa roi điện thì còn
          Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương
Vẫn thứ roi gạo phũ phàng đã quất nát bao tử dân miền Bắc, lại quất ê chề bao tử dân miền Nam. Ông Hồ Chí Minh hứa hẹn: “Đánh xong giặc Mỹ ta sẽ xây dựng lại bằng mười năm xưa.” Chẳng phải thế đâu, chẳng bao giờ có xây dựng mà chỉ có băng hoại, băng hoại đến cả tình người. Con người tưởng đã được đoàn tụ trong khốn cùng, vẫn bị cưỡng bức ra đi. Lưu đầy tại quê nhà? Đi đâu? Những miền tù ngục ngụy trang kinh tế mới. Phấn cách mạng, son giải phóng đã nham nhở trên mặt hề chế độ cộng sản. Người Việt Nam lại đi, lại đói khổ, lại lếch thếch, lại bơ vơ. Và đó là định nghĩa tự do, hạnh phúc của Việt Nam dân chủ cộng hòa biến thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những ai còn ảo tưởng cộng sản nữa đây? Hãy nghe dân gian lên tiếng:
          Từ khi ta có Bác Hồ
          Nhân dân chẳng được ăn no ngày nào…
Mãi mà là khó khăn, là con người oằn vai, cong lưng thay trâu bò trong một xã hội tô son khẩu hiệu “Xã hội cộng sản không còn người bóc lột người”. Cái xã hội tồi tệ đó, lãnh tụ ăn đặc táo và dân chúng ăn khoai mì, ngô, gạo hẩm ròng rã ba chục năm và sẽ ngàn năm…
          Ai sinh ra cái củ mì
          Hỏi: Để làm gì? Đáp: Để mà ăn
          Nước nhà mãi mãi khó khăn
          Dân mình mãi mãi phải ăn củ mì
Con người bị nô lệ hóa, bị bóc lột tận cùng sức lao động, bị đói khổ, bệnh hoạn. Vậy mà chế độ cứ trơ trẽn khoác lác “Lao động là vinh quang”. Vậy mà Tố Hữu cứ nịnh hót Hồ Chí Minh:
          Tự do cho mỗi đời nô lệ
          Sữa của em thơ, lụa tặng già
Sữa nào tặng em thơ? Lụa nào tặng cụ già? Cụ già nằm rên rỉ trên nền đất trong căn nhà ọp ẹp vùng kinh tế mới. Em thơ vừa nhay vú mẹ vừa khóc vì mẹ ăn khoai mì vú làm sao căng sữa? Đảng thay người bóc lột người. Và người lam lũ, khốn nạn gấp trăm lần người dưới ách thống trị thực dân, đế quốc. Người đã có cách mạng, vẫn lao động thi đua với trâu bò. Người đã bị cưỡng bức “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa” tồi tệ.
Và đây là Cung Thiếu Nhi của xã hội chủ nghĩa ấy, là trường học dạy bài “trồng người” của ông Hồ Chí Minh. Ở Cung Thiếu Nhi, ở Nhà Trẻ, ở Mẫu Giáo, ở Tiểu Học cộng sản, tuổi thơ đập đá mưu sinh, đập nát hồn nhiên hoa bướm. Tuổi thơ vừa đập đá vừa hát:
          Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng
          Lời Bác nay thành chiến thắng huy hoàng
          Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông
          Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến
          đã thành công…
Kháng chiến đã thành công. Và hạnh phúc của tuổi thơ là đập đá. Em bé Sài gòn ơi, ngưng đập đá một chút, được không? Người chị dân công phẫn nộ, quắc mắt diều hâu chống đối cộng sản bóc lột sức lao động ơi, ngưng phẫn nộ một chút, được không? Em gái Trưng Vương, Gia Long, Lê Văn Duyệt ơi, ngưng cấy lúa một chút được không? Cho tôi hỏi:
– Sài gòn vui không em?
Và chúng ta đã nghe câu trả lời:
– Sài gòn chỉ vui khi các anh về.

° ° °

Các anh sẽ về. Quân ta sẽ về. Súng đạn sắp theo người về giải thoát dân tộc. Chúng ta có quyền hồi tưởng những chiến thắng Pleime, Bastogne, Bình Long, Kontum, Quy Nhơn, Quảng Trị, Đồng Tháp… Chúng ta có quyền nghĩ tới ngày động đất niềm vui. Bởi vì, chúng ta ra đi chiến đấu cho tự do, không đi tìm tự do. Bởi vì, chúng ta ra đi ngậm thống khổ và còn long lanh những giọt nước mắt, không đi tìm hoan lạc và những trận cười vô nghĩa. Đau khổ làm chúng ta khôn lớn, làm hy vọng phục quốc của chúng ta mọc mầm. Nước mắt làm chúng ta không quên nhục nhằn mất nước và tưới xanh hy vọng của chúng ta. Chúng ta sẽ về như những người lính Cộng hòa năm xưa đã về thủ đô Sài gòn sau mỗi vinh quang chiến thắng. Vùng trời quê hương ta sẽ rộn ràng câu ca nhân ái:
             Việt Nam không đòi xương máu
             Việt Nam kêu gọi thương nhau
             Việt Nam đi xây đáp yên vui dài lâu
Bấy giờ, em ơi, giọt nước mắt cho Việt Nam đoàn tụ, hạnh phúc, thương yêu…

10-1987

NHỮNG ĐOẠN VIẾT NGẮN VỀ SÀI GÒN, VỀ VIỆT NAM
(Trong vidéo Giã Biệt Sàigòn )
Trung Tâm Thúy Nga, Paris, sản xuất

Còn nhớ Sài gòn không? Thành phố tóc gẫy chia ly, thành phố mắt mờ giã biệt một cuối tháng tư lạc tay thù. Còn nhớ Sài gòn không” Những tháng nhung xanh cũ, những ngày lụa đào xưa, thành phố ấy, Sài gòn yêu dấu, mặt trời thắp sáng ước mơ, ánh trăng soi rõ kỷ niệm. Mỗi vỉa hè là một giải chiêm bao. Mỗi đoạn đường là một cơn hạnh phúc. Đã thấm niềm tưởng tiếc rồi đó, sau mười năm lưu lạc. Có chỗ nào tuyệt diệu hơn Sài gòn? Thành phố ấm quanh năm. Thành phố lá tương tư nhạc gió. Những đêm mưa, bụi khói khóc hư vô. Cổ tích ướp hơi thơ. Tình ái ngát hương thu nghìn cũ. Sài gòn dệt thơ làm nắng. Giữa tim hạ đã là xuân lãng đãng huyền thoại trong lối lụa Tú Xương, trên nền gấm Huyền Trân. Chỉ cần một câu vọng cổ, đã xao xuyến hồn già. Chỉ cần bước chân giao mùa, đã xanh mắt trẻ thơ, hồng môi thiếu nữ. Ơi thiếu nữ Sài gòn, những cô gái áo dài tha thướt phố phường, những cô gái áo ngắn gọn gàng công xưởng, những cô gái đồng phục nhịp nhàng trên đường xây dựng và bảo vệ quê hương, những cô gái Việt rộn ràng tiếng trống Mê Linh, miệt mài vó ngựa Bùi thị Xuân…
Vó ngựa lại một phen tung bụi mịt mù đất nước. Chiến tranh xâm lăng từ phương Bắc tràn xuống. Như tất cả tuổi trẻ thành phố, nông thôn, những chàng trai Sài gòn xếp bút nghiên theo việc đao cung, tạm biệt phồn hoa để dấn thân bảo vệ non sông. Mỗi tấc đất quê hương ông cha gửi lại đều ký thác bằng mồ hôi, nước mắt và máu. Thì chiến đấu giành lại từng tấc đất lọt vào tay quân thù cũng phải đổ mồ hôi, nước mắt và máu. Tuổi trẻ Việt Nam đã kiêu hùng, vẫn kiêu hùng, mãi mãi kiêu hùng. Sự kiêu hùng ấy đã làm nên những chiến thắng Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa…lại làm nên những chiến thắng Bình Long, Kontum, Quảng Trị… Tuổi trẻ Sài gòn đã vinh dự đóng góp xương máu cho những trang sử đấu tranh của giống nòi…

° ° °

Trái tim dân tộc đã nhiều lần rạn nứt phân chia đòi đoạn. Hôm nay, thêm lần nữa, trái tim dân tộc rướm máu. Những sợi máu vương đây đó. Trên nỗi đau. Trên niềm nhớ. Niềm nhớ có tên và niềm nhớ không tên. Sài gòn là một niềm nhớ không tên. Có nhớ Sài gòn không? Có nhớ niềm nhớ không tên, niềm nhớ ray rứt, niềm nhớ gặm nhắm thớ thịt ta từng phút, từng giây. Có nhớ cổng trường xưa anh chờ đón em về chiều thu muộn? Có nhớ con đường cũ lá me mưa xanh mướt ái ân? Sài gòn, niềm nhớ nhung trên những vệt sọn môi, trong ánh mắt và trong hơi thở. Sài gòn, niềm nhớ nhung trong hạnh phúc và trong đau khổ. Ở tuổi non và ở tuổi già. Ở xuân hồng sắp sang và thu biếc đã qua. Ở hôm nay ta sống và ngày mai ta chết. Ở nghìn dặm kẻ chân mây mù mịt. Ở tấc gang người cuối phố đầu phường. Ở sớm công viên ngọn cỏ ngậm sương. Ở chiều bùng binh đèn mầu phố sắc…

° ° °

Từ một niềm nhớ không tên, Sài gòn đã thành nỗi đau có tên. Hãy hình tưởng, Sài gòn, người tình chung của ta, lạc vào tay thù. Hoa lạc tay thù có ố gương? Khi manh áo của loài chồn tinh phủ lên tên Sài gòn, thành phố của ta bị lột da. Như chính ta bị lột da vậy. Và đó là nỗi đau mưng mủ trong mỗi trái tim chúng ta. Những con đường hoa mộng cũ, bây giờ, hằn lên những thù hận, thống khổ, thê lương, ngậm ngùi. Nụ cười hôm qua là giọt lệ hôm nay. Hy vọng hôm qua là tuyệt vọng hôm nay. Đời sống đầy rẫy những đe dọa ban ngày, những hãi hùng ban đêm. “Nếu cột đèn biết đi, cột đèn sẽ vượt biển tìm tự do”. Ai đã nói giùm tâm sự cột đèn Sài gòn? Dân tộc Việt Nam hiền hòa và luôn luôn bất hạnh, nào ngờ, sau một đổi đời nghiệt ngã, lại hóa ra thuyền nhân khốn khổ lênh đênh trên mặt đại dương chập chùng hệ lụy. Đất đưa người ra biển. Biển dẫn người về đâu? Về đâu và sẽ ra sao tháng năm biệt xứ xanh xao phiền muộn. Đất đưa người ra biển nhưng đất không chia xẻ với người thảm cảnh phiêu lưu.

Biển dẫn người về đâu, dẫn về đâu, biển cũng chẳng hiểu nổi sự đói khát, niềm sợ hãi của người ra khơi. Thế đó, nhân loại có từ nỗi đau rõ rệt tên tuổi của chúng ta một danh từ nạm vàng tủi nhục: Thuyền nhân…
Bỏ quê hương ra đi, để lại Sài gòn héo hắt trong tay thù. Còn nhớ Sài gòn không? Nghĩ gì về Sài gòn bây giờ? Sài gòn bây giờ ra sao? Đừng hỏi mưa, hỏi nắng. Mưa và nắng cũng buồn bã trốn khỏi thành phố rồi. Hãy hỏi mẹ lang thang góc phố. Hãy hỏi cha thất thểu đầu đường. Hãy hỏi chị ngồi lê chợ trời. Hãy hỏi em chầu chực bán máu đỏ đong gạo đen. Son phấn hoàng hôn những vỉa hè cơm áo. Nước mắt đêm khuya những cay đắng phận người. Sài gòn bây giờ như vậy. Đến vỏ cây già cũng bị lột đến ngọn cao. Đến muông thú Bách Thảo cũng gầy mòn, chết đói. Vẻ kiêu sa dĩ vãng là bệ rạc hiện tại. Bàn tay ngọc thiếu nữ Sài gòn đã kềnh càng ghẻ lở vì nước phèn thủy lợi cưỡng bức. Đôi mắt xanh em nhỏ đã trắng rã vì khoai sắn triền miên. Sài gòn ra đường không áo dài. Sài gòn ra đường không cười nói, líu lo. Cúi xuống là ngục tù, trại tập trung. Nhìn lên là công an độc ác. Thời tiết Sài gòn bây giờ ngậm đầy khắc khoải. Không khí Sài gòn bây giờ dằng dặc ngậm ngùi. Sài gòn bây giờ ở trong nhà với những phiền muộn, thở dài, với những giọt nước mắt âm thầm nhỏ xuống miếng đời buồn tênh, ngao ngán…

° ° °

Nhưng có phải xa Sài gòn là lên thiên đàng hạnh phúc không? Hãy hình tưởng trùng dương nổi giận vô duyên cớ nuốt gọn thuyền nhân. Hãy hình tưởng sóng gió phũ phàng vùi dập thuyền nhân. Hãy hình tưởng hải tặc tàn bạo cưỡng hiếp, giết chóc thuyền nhân. Và, sau chót, hãy nhìn thật lâu, thật kỹ ngày tháng chờ đợi phát chẩn ân huệ định cư ở các trại tỵ nạn, gọi là Quán trọ trước cổng thiên đường. Hãy nhìn rõ ràng những bước chân em bé lên ba, lên năm, trên cát bỏng oan khiên quê người. Rồi sẽ hiểu tại sao “Tôi biết tôi sẽ buồn”. Chừng đó lòng hoài hương bừng bừng sống dậy, thuyền nhân ao ước một ngày về cùng Sài gòn gấm vóc ngày xưa…

° ° °

Đâu riêng gì Sài gòn phá sản hôm nay. Quê hương ta, khắp nơi, đều bị phá sản, của cải và tình nghĩa, từ lá cờ hừng hực máu thù hận tanh hôi ngạo nghễ tung bay. Hà Nội đã rạc rài hơn ba chục năm rồi. Thiên đàng của đám người ảo tưởng và phản bội chỉ là thứ thiên đàng bánh vẽ Xã hội chủ nghĩa bước giật lùi. Không còn ai chết đói mà chỉ còn những ai đói rách triền miên. Đất nghìn năm văn vật, người sống bằng tiêu chuẩn vật, vật và người đồng hóa, vật và người chung một tâm sự và bị bóc lột như nhau. Những kẻ khố rách đi giải phóng những kẻ áo lành. Rốt cuộc, Sài gòn tăm tối, đoạ đầy, thê thảm ngang hàng Hà Nội. Hãy quan sát Hà Nội, thủ đô của “phẩm cách con người”, “đỉnh cao trí tuệ và tiến bộ”. Hãy tìm cho Hà Nội một định nghĩa chính xác về hạnh phúc. Vậy đó, những hình ảnh sống động và đích thực của Hà Nội và đang của Sài gòn dưới mầu cờ kiêu ngạo ngu xuẩn và sắt máu căm hờn. Vinh hoa của Sài gòn đã bị đẩy ra vỉa hè. Người mẹ ngồi cau mày trong nắng sớm. Người cha đứng nhăn nhó dưới mưa chiều. Gửi gì về cho Sài gòn? Một an ủi, một mơ ước hay một hứa hẹn? Thành phố, cây cỏ, nắng mưa, chim muông, người vật, vỉa hè, góc quán, gửi gì về? Gửi gì về?
Gửi gì về cho vừa đủ một quê hương bỏ lại, một quê hương chất ngất sầu đau? Gửi gì về cho ruộng đồng bát ngát, cho sông nước mênh mông? Gửi gì về cho con kinh mới đào, cho con lạch vừa khơi? Gửi gì về cho bờ xa, cho bãi rộng? Gửi gì về cho đồi thấp, cho núi cao? Gửi gì về cho rừng sâu, cho biển thẳm. Gửi gì về cho lúa vào sữa, cho heo may giải đồng? Gửi gì về cho hoa bưởi, hoa cau? Gửi gì về cho sầu riêng, măng cụt? Gửi gì về cho câu hò lan tỏa, cho điệu ru ấm nồng? Gửi gì về cho đường thơm tình tự, cho ngói đình ái ân, cho nhịp cầu thương nhớ? Gửi gì về? Gửi gì về? ôi quê hương, chỉ khi khuất xa gần như vĩnh biệt, ta mới biết tương tư mùi rơm mới, mùi khói đốt đồng, mùi hoa hèn, mùi cỏ dại. Và ta mới thấy cái đơn giản nhất, cái bình thường nhất đều đã bùi ngùi nhất trên khói sóng hoàng hôn. Không có nơi nào đẹp hơn quê hương ta. Gửi gì về? Cho gửi một mơ ước trở lại.

° ° °

Mơ ước trở lại thắp sáng hồi tưởng. Và bằng hồi tưởng ta về với quê hương ta. Vùng biển ta đó. Từ cao nhìn xuống. Nha Trang cát trắng với cầu Bóng huyền thoại. Rừng đồi ta đó. Đà Lạt nên thơ. Này hồ Than Thở. Nọ rừng ái ân. Ta vào trường Võ Bị tìm lại dấu chân cũ, hình bóng xưa của những chàng trai “vốn giòng hào kiệt”. Những chàng trai ấy, bây giờ, ở đâu. Hẳn nhiên, nhiều người đã “áo bào thay chiếu anh về đất”, về tận lòng đất Việt Nam. Để Việt Nam ngạo nghễ muôn đời Nhiều người đã ra đi, mang theo tâm sự Đặng Dung, chỉ mong sớm về giải thoát non sông kẻo chết già. Ta rời trường Võ Bị Quốc Gia sang trường Yersin chứa chan kỷ niệm. Ngôi trường còn đó, buồn bã với cảnh ngộ đổi lốt thay tên. Ngôi trường tự nhiên mơ mộng, một ngày nào, học trò cũ về làm xôn xao dĩ vãng. Hồi tưởng cho ta đôi cánh tự do bay. Một thoáng vỗ của hồi tưởng, ta đã ra công trường Hòa Bình của Đà Lạt mờ cao. Rồi ta lại bay qua đồi, vào thăm viện Đại Học Đà Lạt kiếm chút an ủi hiện tại hiu hắt. Và ta về, ta về cùng nắng ấm Sài gòn. Con đò đưa khách sang Thủ Thiêm. Cột cờ Thủ Ngữ khóc thầm vì vắng bóng lá cờ vàng sọc đỏ thân yêu. Bến Bạch Đằng đó. Phố Tự Do kia. Tiếng còi tầu nào réo gọi chuyện viễn du. Đợt sóng nào nhắc nhở vạt hoàng hôn sông khói. ôi, Sài gòn, một miếng Sài gòn thôi, đã đủ lòng ta ấm áp phương xa. Tưởng chừng hồn ta đang là đà trên Sài gòn. Hồn ta là phố phường cũ, là dinh thự xưa. Tự nhiên, ta muốn thầm thì với Sài gòn: “Em, Sài gòn ra sao? Còn nguyên màu áo, còn nuôi chiêm bao, còn chờ đợi nhau? Em, đường thương lối nhớ, cỏ cây quá khứ, nhạc chim lời gió, nước mắt mây mưa, đã mất gì chưa”? Đừng, đừng mất gì cả, bởi vì ta vẫn mơ một ngày về.

° ° °

Hưng vong là luật chung của muôn đời. Dâu biển đã xẩy ra cho cả tư tưởng, nói chi một triều đại, một chế độ hay một chủ nghĩa. Một thi sĩ đã định nghĩa cái không bao giờ có dâu biển, không bao giờ chết:
          Ai cũng chết cả rồi
          Cái còn vĩnh viễn là người Việt Nam
          Một thi sĩ khác định nghĩa thêm cái không bao giờ mất:
          Me ơi, tha thiết lắm rồi
          Mất gì không mất tình người Việt Nam
Người Việt Nam vĩnh viễn. Tình Việt Nam vĩnh cửu. Đã không mất con người thì không bao giờ mất quê hương. Và những kỷ niệm thuộc về quê hương cũng không mất. Còn đó, Sài gòn với Nhà Thờ Đức Bà, với Thảo Cầm Viên, với Bảo Tàng Viện, với Lăng ông Bà Chiểu. Còn đó, Huế với bầy phượng vĩ đỏ ối mùa hè rắc rơi sắc máu trên lối Huế cổ kính, thầm lặng. Còn đó, Huế với lăng tẩm, điện đài. Còn đó, Huế với “dấu xưa xe ngựa” với “nền cũ lâu đài”. Còn đó, linh hồn tiền nhân bảng lảng trên lớp rêu phong, trên những thềm bậc vang bóng một thời. Hỡi tiền nhân bất hủ, có phải người không chết, người chỉ Tĩnh Tâm dưới hồ sen. Và ý nghĩa sống của người vẫn vàng thắm nhụy sen, vẫn thơm ngát hoa sen. Ta thèm rung một hồi chuông Thiên Mụ gọi về những xao xuyến Huế ở mỗi hàng cây, mỗi viên gạch, mỗi bờ tường, mỗi mái ngói, mỗi vạc đỉnh, mỗi hoa lăn của một triều đại đã khuất lấp ngậm ngùi. Còn đó, Huế với sông Hương núi Ngự, với cầu Trường Tiền, cầu Bạch Hổ. Còn đó, Huế với những lá đò dìu nhẹ trên mặt nước bình yên. Còn đó, Huế với giòng An Cựu “nắng đục mưa trong” và những con thuyền đêm đêm chở đầy trăng xuôi về Vĩ Dạ.
          Sao em không về thăm thôn Vĩ
          Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
          Vườn ai mướt quá. xanh như ngọc
          Lá trúc che ngang mặt chữ điền
          Gió theo lối gió mây đường mây
          Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay
          Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
          Có chở trăng về kịp tối nay
          Mơ khách đường xa khách đường xa
          Áo em trắng quá nhìn không ra
          Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
          Ai biết tình ai có mặn mà
Còn đó, Huế, còn nguyên đó, bờ sông với những cô nàng giặt chiếu, với những nụ cười thật đẹp, thật thơ. Còn đó sân trường Đồng Khánh bướm trắng tung bay. Còn đó cổng Viện Đại Học giấc mơ xanh thắm. Còn đó, còn nguyên đó, khi ta về Còn đó, Hà nội với hồ Tây, hồ Trúc Bạch, với con đường Cổ Ngư thơ mộng thuở học trò. Còn đó đền Quan Thánh. Còn đó đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc, hồ Gươm, tháp Rùa. Còn đó khu Giảng Võ Văn Miếu, chùa Một Cột. Còn đó 36 phố phường…
Còn quê hương Việt Nam. Còn nguyên vẹn. Nếu ta đừng quên và đừng bao giờ đánh mất tình người Việt Nam, dù đi đến cuối đường oan biệt xứ. Mãi mãi Việt Nam. Mãi mãi Việt Nam…


Sàigòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Google photo

11. Chương 11

22 giờ 30. Tiếng loa réo gọi tham dự mít tinh chào mừng cách mạng thành công sáng sớm mai làm rung cửa kính. Côn đề nghị bật đèn. Tôi đồng ý. ánh sáng ngập căn phòng. Tàn thuốc lá bừa bãi trên bàn xa-lông. Chúng tôi đã uống cạn chai rượu thứ nhất. Thiếu úy Bảo và trung sĩ Thân thấm mệt. Tôi dục hai thằng em kết nghĩa đi ngủ.
– Các em yên tâm, không có chết chóc gì cả, không có biển máu. Một nhà cách mạng chính cống đã quả quyết với anh rằng, cách mạng đại xá, đại đại xá.
– Sao lúc nãy anh không chịu nói? Bảo hỏi.
– Anh thử xem em can đảm đến đâu. Tôi đáp.
Bảo và Thân đi ngủ. Còn Côn với tôi. Chai rượu thứ hai được khui.
– Mày vừa nói gặp nhà cách mạng chính cống.
– Ừ.
– Ai đó?
– Phan Kim Thịnh.
– Thằng ấy?
– Nó chơi giép râu, nón tai bèo.
– Nó nằm vùng?
– Thứ rắn độc. ông đừng ngạc nhiên, nếu chúng ta không chết, sẽ có dịp nhìn rõ những thằng nằm vùng trong mọi lãnh vực. Và chúng ta sẽ há hốc mồm.
– Tại sao?
– Vì toàn những đạo đức gia khổ hạnh và chống cộng hơn cả người chống cộng hung hăng nhất.
– Nó nói cộng sản đại xá à?
– Ừ.
– Mày tin nó?
– Tin mẹ gì, tôi trấn an cu Bảo.
– Tao nghĩ nó đại xá thật.
– Ông nghĩ thì cứ nghĩ. Cộng sản nó làm gì, mình đâu đoán nổi. Nó bảo không là có, có là không. Nó qua mặt cả thế giới.
– Long?
– Đừng hỏi thêm nữa. Uống rượu đi.
– Tao mở ti-vi nhé?
– Chớ.
– Xem nó nói gì chứ?
– Nó khoe nó đánh Mỹ cút, Ngụy nhào.
– BBC vậy?
– Nó tường thuật cộng sản vào Sài gòn.
– VOA?
– Nó khen Việt cộng.
– Hay là mày với tao ra cổng ngắm nhân gian?
– Không. Ông làm ơn mở cửa cho khói thuốc tan loãng giùm.
Cửa mở. Khí thế cách mạng bên ngoài ùa vào nhà tôi “Nhân dân” ca hát, hô khẩu hiệu vang trời. “Nhân dân” không ngủ đêm nay. Họ không ngủ trong bóng tôi. Và họ khóc. Sao 30-4 dài thế? Với tôi, nó dài hơn cả đời tôi. Côn lại khép cửa. Chúng tôi uống rượu, hút thuốc chờ sáng. Đêm qua tôi đã chờ sáng. Đêm nay tôi vẫn chờ sáng. Tôi chẳng bao giờ ngu dại tin rằng cộng sản tha tôi. Ngày Chu Tử bị ám sát, tôi viết bài Nỗi cô đơn của người cầm bút đọc tại Viện âm nhạc và kịch nghệ quốc gia là tôi đã tiên đoán thân phận của tôi. Rồi tôi viết thêm bài nữa, đăng trên Sống*. Khẳng định tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Đến cuốn Tháng giêng ngon như một cặp môi gần xuất bản tháng 2-1975, tôi miệt thị cộng sản là bọn trả thù vặt và nói rõ, “đời sẽ có kẻ gọi ta là phản động.” Thế thì cộng sản phải trả thù tôi. Họ không trả thù tôi là họ thiếu lô-gích, họ hết là cộng sản. Cộng sản không tha tôi, đã đành. Nhưng tại sao quốc gia không dung tôi? Cái thứ gọi là quốc gia mà biểu tượng là Nguyễn văn Thiệu, Đặng văn Quang không được tôi xếp hạng quốc gia chân chính. Người quốc gia chân chính chưa hề nắm quyền bính tối cao. Tôi hằng coi Hà Nội như phỉ quyền, Sài gòn như ngụy quyền. Tôi thiết tha tranh đấu để có một chính quyền trên quê hương tôi. Muốn thế, cuộc chiến đấu của tôi phải loại bỏ phỉ quyền tôi tớ của Liên xô và ngụy quyền tôi tớ của Hoa kỳ. Và đích thị tôi là kẻ cộng sản không tha, quốc gia không dung. Họa may, quốc gia chân chính sẽ dung tôi. Tôi hy vọng thế.
Nhiều bằng hữu bảo tôi là kẻ nghịch thiên. Tôi không chối cãi. Tôi xác định thái độ nghịch thiên của tôi:
          Thản nhiên ngước mặt ngạo trời
          Trong cơn hồng thủy vẫn cười ngả nghiêng
          Kể từ đời tắt lửa thiêng >
          Nỗi ta đối địa nghịch thiên mộng cuồng
          Chém ngang độc nhất vô song
          Tìm ra cái lẽ vô cùng thênh thang
          Hỡi ơi tai đục trần gian
          Sao nghe nổi máu cung đàn bão mưa
          Hỡi ơi mắt trắng cõi thừa
          Sao nhìn nổi ngọc trên thơ tỏ tình
          Chung thân can tội nghịch thiên
          Còn say cuồng mộng thản nhiên ngạo trời
Tên nghịch thiên ngồi uống rượu với bạn thơ ấu chờ sáng và chờ chết. Nó kiểm điểm nó. à, nó đã có 50 tác phẩm văn chương, 200 số báo Tuổi Ngọc, hơn 10 ngàn bài báo. Cộng sản không tha, quốc gia không dung nó nhưng đã có đứa nào bén gót nó?
– Này Côn.
– Gì?
– Người ta sẽ hâm mộ Con Thúy.
– Tại sao?
– Vì người ta sẽ thấy sau 30-4-75, giống hệt sau 19-8-45. Tôi đã viết về son phấn cách mạng nhạt nhòa.
– Mày nói đúng.
– Này Côn?
– Gì?
– Ông sẽ thoát biển máu. Tôi, có thể, sẽ thoát biển máu nhưng tù rục xương. Tôi muốn noi gương nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh.
– Sao?
– Khi tôi chết, đừng ai khóc. Cả ông nữa. Hãy cười, cười, cười?
Côn nín thinh. Giây lát, nó lảng qua chuyện khác.
– Mày biết ông Nguyễn Mạnh Côn làm quân sư cho tướng Vĩnh Lộc không?
Tôi ngạc nhiên xuýt rơi ly rượu:
– Thật à?
– Thật.
– Hèn chi Chậm bước tiên phong, muộn chiến trường. Chắc chắn, ông Vĩnh Lộc phải đợi ông Côn hút đủ cữ rồi mới hiến kế. Hóa cho nên, ông Vĩnh Lộc lên ti vi tối qua sốt ruột dữ.

Google photo

Tôi nhớ cuối triều đại Ngô Đình Diệm, anh Nguyễn Mạnh Côn ra ứng cử dân biểu đơn vị quận 3, Sài gòn. Tôi cho anh ta vay tiền bán tập truyện Hoa thiên lý và đi a-lô vận động giúp anh ta. Hôm ra mắt cử tri ở trường tiểu học Chí Hòa, anh Côn là người nói thứ nhì, sau Huỳnh Thành Vị. Tốt quá. Vì họ Huỳnh mở màn cho anh Côn. Tôi ngồi đợi anh hút no thuốc phiện rồi mới rửa mặt, đánh răng. Rồi chở Vespa, đưa anh lên địa điểm. Chúng tôi tới, cử tri về gần hết. Vì anh đến trễ, nói sau cùng?
– Ông Ngô Đình Nhu xưa muốn cất nhắc ông Côn, chỉ chê tội nghiện.
– Nay ông Vĩnh Lộc xài. Vận nước đã hết. Tôi chờ chết là hợp lẽ trời.
Bèn nốc cạn ly:
– Đời nhà Thanh, dân Tầu mới hít tô phe bạo. Mừng cho Lưu Bang và mừng cho Lưu Bị. Vì Trương Lương, Tiêu Hà, Khổng Minh không đong thóc! Ông Vĩnh Lộc đồng hóa văn nghệ với quân sự. Hỏng, hỏng! Tại hạ có lời chê điểm này.
Đặng Xuân Côn dứt cuộc:
– Bây giờ, quân sư đang nằm “đong”, tân Tổng tham mưu trưởng đi đâu không rõ, “nhân dân” hồ hởi phấn khởi và nhân dân ôm nhau khóc trong bóng tối.

° ° °

23 giờ. Không biết mấy giờ ở Guam? Bằng hữu văn nghệ của tôi đã đến đảo Guam chưa, hay còn lênh đênh ngoài khơi, trên hạm đội số 7? Tôi chợt nghĩ tới những người Việt Nam yêu tự do, chấp nhận báng súng của “lính thủy đánh bộ” Mỹ, dắt díu nhau leo lên nóc tòa đại sứ Mỹ rồi, sau 8 giờ 30, lủi thủi bước xuống, lếch thếch trở về. Những người Việt Nam thiếu may mắn di tản đang làm gì giờ phút này? Chắc chắn, họ đang sợ hãi, đang khóc và đang thèm được chết ngon lành. Đêm qua là đêm không ngủ của tôi. Đêm nay là đêm không ngủ của Sài gòn, của cả miền Nam. Không ngủ ngoài đường. Không ngủ trong nhà. Hoặc dẫu ngủ, chỉ là những giấc ngủ chập chờn như tên một tác phẩm của Nhật Tiến. Trong những giấc ngủ chập chờn, con người thấy chập chờn những huyệt sâu chôn sống tập thể, những mã tấu vung chặt ngang thây, những băng đạn ria phọt suối máu… Và tôi, không ngủ để hình tưởng một cái cần xé chứa tảng đá và tôi ràng giây kẽm gai kín nắp liệng xuống khúc sông nào đó. Tôi chết từng giây. Tôi biết tôi chết. Tôi sặc sụa. Tôi đau đớn. Tôi giẫy dụa. Trước đó, tôi phải đứng trước đám đông phán quan y hệt tên da trắng đứng trong vòng vây của dân da đỏ, phải tự thú mình có tội với Đảng, với Cách mạng, với Nhân dân? Tôi được phép mở to mắt để nhìn đám đông phán quan của thời đại tôi Chỉ có vài tên cộng sản chính thống. Còn rặt nhân dân bị cưỡng bức hận thù. à, trong đám nhân dân bị cưỡng bức hận thù, có vài đứa theo chủ nghĩa dậu đổ bìm leo. Những đứa này to mồm nhất, nỏ họng nhất. Chúng nó xỉa xói tôi, kết tội tôi, ném đá trúng thân thể tôi. Chúng nó vớ được cơ hội ngàn năm một thuở để tuyết hận thua kém tôi mọi mặt. Cỏ hèn vươn vai chống đại thụ. Tôi sợ hãi chứ. Nhưng không sợ hãi bọn dậu đổ bìm leo. Tôi xón đái ra quần. Tôi nghĩ những giọt nước tiểu của tôi dành cho bọn dậu đổ bìm leo ở khắp nơi trên trái đất Tôi đã tưới mát cỏ hèn. Đại thụ đã ban phước cho cỏ hèn. Hãy nhận phước ấy, cỏ hèn? Hãy nhận và đừng ân hận sự hóa kiếp. Bởi vì, cây cỏ luân hồi vẫn cỏ cây. Chỉ có con người, con người công chính và việc làm công nghĩa mới được phục sinh rạng rỡ. Và mãi mãi là con người.
– Long!
– Gì?
– Nếu ngày mai mày chưa chết?
– Thì ngày mốt.
– Nếu không có biển máu?
– Thì chết mòn trong tù ngục.
– Mày chấp nhận chết mòn?
– Tại sao?
– Vì tôi mong gặp hư vô.
– Hư vô là con mẹ gì?
– Là mềm bí ẩn của đời sống. Niềm bí ẩn này chỉ tìm gặp trong ngục tù, thống khổ và cô đơn.
– Mày sảng chưa?
– Còn rất tỉnh để sợ chết, dẫu chết cách nào, kiểu nào.
– Nghĩa là mày thèm sống.
– Dĩ nhiên.

– Sống mòn và chết mòn?
– Tôi vừa nẩy ý tưởng mới. Tôi muốn tìm hạnh phúc trong bất hạnh.
– Mày lãng mạn.
– Luôn luôn lãng mạn. Lãng mạn đến chết.
Hai đứa tôi cụng ly. Bên ngoài, đường phố xôn xao tiếng nói, rầm rập bước chân. Tôi không còn tin rằng nhân dân bị cưỡng bức ra đường hoan hô cách mạng thành công nữa. Nhân dân nghèo khổ đã thật tình và nhiệt tình hoan hô cách mạng. Tội nghiệp nhân dân! Nếu họ đã đọc Con Thúy của tôi. Đừng trách móc nhân dân. Nhân dân là thế. “Bạc như dân” mà! Nhân dân oán ghét chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm và nhân dân hoan hô cách mạng 1-11-1963. Cách mạng của lũ thoán nghịch không đem lại hạnh phúc cho nhân dân trong vòng ba tháng, nhân dân lại oán ghét và hoan hô đảo chính, chỉnh lý. Dưới chế độ quân phiệt Nguyễn văn Thiệu, tham thũng ngập ứ, thối nát tận óc, bất công đầy rẫy, đàn áp không thương xót, nhân dân thù hận và mong đợi tân cách mang. Nhân dân lại hoan hô như đã hoan hô. Và rồi, ba tháng sau thôi, nhân dân sẽ ủ ê với cách mạng vô sản. Kể từ dân tộc Việt Nam làm quen cách mạng, chưa bao giờ niềm vui kéo dài quá ba tháng. Rốt cuộc, cái dân tộc hẩm hiu này không thiết đoái hoài tương lai nữa. Tương lai tồi tệ hơn hiện tại và nghiệt ngã hơn dĩ vãng.
– Long?
– Gì?
– Lúc mày đi mua rượu, thằng Tự chạy ngang qua cổng nhà mình.
– Nó là lính thủy sao không theo tầu mà chạy?
– Phải thi hành sứ mạng đến tận 9 giờ. Vả nữa, vợ con nó còn nằm nhà.
– Sứ mạng gì?
– Gài mìn đánh sập cầu Đồng Nai ngăn chặn xe tăng cộng sản vào Sài gòn.
– Cầu không sập?
– Tại sao?

Những Người Lính Thủy Việt Nam Cộng Hòa Nhân Bản
Những người lính thủy được chỉ huy can đảm giao cho sứ mạng đánh sập cầu Đồng Nai trên xa lộ Biên Hòa để ngăn chặn xe tăng cộng sản tiến vào Sài gòn đã hoàn tất nhiệm vụ lúc 9 giờ ngày 30-4- 1975. Cả tấn TNT gài kín gầm cầu, bọc kín chân cầu. Xe tăng cộng sản từ Long Khánh bò vô, bị quân dân Tam Hiệp đón đánh. Trận chiến hào hùng và lãng mạn này kết thúc mau lẹ nhưng đã làm chậm bước tiến của cộng sản. Xa lộ lúc ấy, hai bên cầu Đồng Nai, nườm nượp dân chúng chạy giặc và đông đầy binh sĩ tan hàng. Dân chúng Sài gòn chạy xuôi. Dân chúng Biên Hòa chạy ngược. Cầu Đồng Nai nghẹt người và xe cộ. Cùng với ông già, bà lão, thanh niên, phụ nữ, nhi đồng, những anh lính thủy giữ trọng trách đánh sập cầu còn nhìn rõ xe tăng cộng sản, bộ đội miền Bắc. Sức công phá của TNT gài dưới cầu sẽ làm tung bay cốt sắt xi-măng, phạm vi một cây số vuông. Và dân chúng sẽ bị chết, bị thương vô kể.
Những người lính thủy quay giang dinh, lao nhanh về căn cứ. Cầu Đồng Nai không bị đánh sập. Nếu là Mỹ, cây cầu sẽ bị đánh sập. Nếu là cộng sản, cây cầu sẽ bị đánh sập Cứu cánh biện minh cho phương tiện. Nhưng với Việt Nam, cây cầu không bị đánh sập. Hình như nhận loại chưa biết chuyện này. Chúng ta thua trận, còn vì tình thương và lòng nhân đạo nữa.

Sàigòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Photo edit by Sơn râu

10. Chương 10

21 giờ. Tôi đứng vỉa hè Công Lý số chẵn nhìn sang nhà tôi. Đặng Xuân Côn đợi tôi trước cổng. Con đường Công Lý như con đường Hai Bà Trưng, như tất cả những con đường của Sài gòn, cuồn cuộn sóng người. Người người, lớp lớp. Phải nói lớp lớp người, lớp lớp cờ, lớp lớp khẩu hiệu. Không phải là sự sách động ngoạn mục của cộng sản đâu. Cũng không phải là sự tình nguyện hoan hô cách mạng vô sản đâu. Mà chỉ là lời hăm doạ biển máu của người Mỹ vất lại, trước khi họ cuốn cờ cút chạy. Người Mỹ thí quân dân ta khá nhiều. Người Mỹ bỏ ngỏ Mậu Thân cho cộng sản tiêu diệt quân dân ta, cho những nấm mồ chôn sống tập thể ở Huế. Người Mỹ đẩy quân ta sang Hạ Lào cho một chiến trường đợi sẵn của cộng sản để quân ta thảm bại. Người Mỹ oanh kích tự do như khai phóng tự do, dân chủ xuống những vùng nông thôn khó kiểm soát an ninh. Người Mỹ thả bom CBU thí nghiệm lương tâm dân tộc Mỹ và lương tâm nhân loại. Chẳng có phản ứng gì? Người Mỹ dọa biển máu, tặng cộng sản một cuộc tiếp rước linh đình của dân miền Nam. Và, một số người Việt Nam lý luận rằng, nhờ Mỹ dọa biển máu mà cộng sản không dám chơi biển máu. Người ta không chịu hiểu rằng thời đại của tàn sát đã cáo chung. Biển máu của Mỹ chỉ nhắm mục đích khiến chúng ta sợ hãi tìm lối thoát thân để quên hết chuyện kết đoàn chiến đấu ngăn chặn cộng sản. Và rồi, vì sợ hãi biển máu, dân Sài gòn cam đành ra đường phố hoan hô cộng sản. Chẳng còn nỗi đau đớn nào hơn nỗi đau đớn mỉm cười hoan hô cộng sản trong cảnh huống rụng rời sợ hãi. Con người có khôn lớn chút nào từ nỗi đau đớn này không nhỉ?
Tôi cố lách băng qua đường. Không còn chỗ cho xe đạp lưu thông nữa. Cũng không thấy bóng dáng bộ đội miền Bắc và giải phóng quân miền Nam trong người người, lớp lớp. Toàn là dân Sài gòn. Đủ mọi thành phần. Cỏ đuôi chó và bọn nằm vùng, tay đeo băng đỏ, điều khiển an ninh, trật tự. Tôi vất vả lắm mới len tới cổng nhà mình, hai chai rượu còn nguyên. ‘
– Mày đi lâu thế? Côn hỏi.
– Gặp thằng Thế Phong, ăn tô mì, uống chai bia. Tôi đáp.
– Bình yên.
– Bình yên cái gì?
– Chưa có dấu hiệu hỏi thăm mày.
– Đêm nay sẽ có.
Tôi nhìn hai lá cờ giấy dán trên hai cánh cổng sắt, ngao ngán:
– Ai dán cờ?
Côn thở dài:
– Cu Tý và con Ki.
Côn nói:
– Thằng Bảo và thằng Thân đang núp ở trong nhà.
Bảo và Thân là hai đứa em kết nghĩa của tôi. Bảo, thiếu úy bộ binh. Thân, trung sĩ thủy quân lục chiến. Chúng tôi vào nhà. Thảm cảnh đầu tiên trong nhà tôi lúc 21 giờ 10 phút là vợ tôi cầm lá cờ quốc gia, lá cờ vàng ba sọc đỏ đứng khóc. Tay vợ tôi run rẩy. Nàng nức nở:
– Làm sao bố?.
– Cái gì?
– Cái cờ.
– Em gấp lại, cất vào tủ quần áo.
– Nhỡ nó xét nhà?.
– Thế thì em xé đi, đốt đi, liệng ra đường.
– Không được.
– Vậy gấp lại, cất đi.
Giữa lúc đó, thiếu úy Bảo từ trong buồng bước ra, ôm chặt lấy tôi:
– Em lạy anh, anh cứu em, anh cứu em…
Tôi xoa lưng người em kết nghĩa:
– Anh không cứu nổi anh, cứu em sao được.
– Vậy em trốn đâu?
– Em cứ ở đây với anh rồi cùng chết với anh.
Tôi trấn an Bảo:
– Cả nước sắp chết. Anh em mình sống với ai. Có rượu đây, anh em mình ngồi uống chờ chết.
Trung sĩ Thân đã lò dò ra:
– Anh nói đúng.
Tôi lắc đầu:
– Anh sai lớn. Đáng lẽ các em phải bám sát bọn tướng lãnh đào ngũ mà chạy. Thì giờ này các em đang ở đảo Guam tội nghiệp anh. Nhưng các em đã can đảm chiến đấu đến phút chót, cũng nên can đảm đến phút chết. Ai mà không sợ chết, song nếu biết mình phải chết, hãy chọn thái độ chết. Đừng chết sảng.
Bảo hỏi:
– Anh nói mình thoát chết?
Tôi đáp:
– Anh nói mình chờ chết. Người khôn ngoan là người biết chờ đợi.
Vợ tôi đã gấp xong lá cờ. Tôi bảo nàng dọn cơm cho anh em tôi rồi đưa trẻ con vào hết trong phòng ngủ. Gia đình Đặng Xuân Côn ở lại với chúng tôi. ăn qua loa cho xong bữa, bốn chúng tôi rời bàn ăn tới xa-lông uống rượu, hút thuốc lá. Dù đã đóng chặt cửa, âm thanh hỗn loạn bên ngoài vẫn lọt vào. Chúng tôi uống Cognac không đá, không soda. Tôi đã tắt đèn để khỏi nhìn nhau. Đốm lửa đỏ đầu điếu thuốc, mỗi khi rít, chẳng đủ soi rõ khuôn mặt méo mó của từng người. Im lặng trong chúng tôi Tôi nghĩ đến Bảo. Nó không cha mẹ, không anh em như tôi. Nó tìm tôi bằng tiểu thuyết của tôi, yêu tôi như yêu nhân vật chú Nghị ở Con sáo của em tôi và ông Nghị thầy tuồng ở Mây mùa thu. Năm 1968, khi tôi viết về một ca khúc chống phản chiến Mỹ của một nhạc sĩ Mỹ, Bảo thích lắm. Bài hát thịnh hành ở Mỹ thời đó, có đoạn:
          Bố yêu nước Mỹ như yêu con
          Nếu con xé bỏ thẻ quân dịch
          Con đã xé bỏ nước mỹ
          và con đã xé bỏ tình yêu của bố cho con….
Năm 1971, vì không chấp nhận thái độ phản chiến trốn lính của bọn sinh viên thân cộng, cũng bầy trò đốt lệnh trưng binh, Bảo bỏ ngang đại học tình nguyện nhập ngũ. Nó thích làm lính chiến. Bao nhiêu tuổi trẻ miền Nam đã như Bảo và đã, hôm nay, vất bỏ quân trang, quân dụng, võ khí, chạy về nhà tìm chỗ nấp? Tôi nghĩ đến Thân. Nó kết nghĩa anh em với tôi vì mê nhân vật Trần Đại ở Điệu ru nước mắt. Thân đăng lính thủy quân lục chiến, chọn quốc gia làm lý tưởng. Nó yêu lý tưởng quốc gia đến nỗi xâm ở cánh tay mình hai chữ Sát cộng trên da thịt mình. Tôi nghĩ đến những người lính hiên ngang và chung thủy của quân lực Việt Nam cộng hòa, đã phẫn nộ buông súng, lột bỏ chiến bào chạy về nhà mình như những kẻ chiến bại thê thảm. Những con người không biết sợ chết ngoài sa trường ấy, giờ này, đang ngồi núp xó nhà, rên rỉ vết thương tươi rói. Và nước mắt của mẹ họ, của vợ họ, của con họ tưới xuống vết thương làm xót xa thêm. Người ta sẽ diễn tả thế nào về những tiếng khóc, tiếng rên rỉ trong bóng tối của kẻ thua trận và thân nhân họ? Ai đã được nghe những tiếng khóc và tiếng rên rỉ đó? Chưa đủ não lòng, tiếng loa bên ngoài còn vọng vào, réo gọi, răn đe. “Ngày mai, 1 tháng 5, mọi người, mọi nhà, bất kể ai, phải tập họp ở khu phố để đi mít-tinh chào mừng cách mạng thành công”! Này người may mắn di tản trước 30-4-1975, người suy nghĩ gì về tiếng khóc, tiếng rên rỉ, và tiếng loa réo gọi? Này, người tướng đào ngũ trước 30-4-1975, người suy nghĩ gì về tiếng khóc, tiếng rên rỉ và tiếng loa réo gọi? Này, người chính khách, người nghị sĩ, người dân biểu, người trí thức khoa bảng may mắn di tản trước 30-4-1975, người suy nghĩ gì về tiếng khóc, tiếng rên rỉ và tiếng loa réo gọi? Vết thương vẫn còn tươi rói. Xin hãy để chúng tôi ngồi liếm vết thương trong cô đơn. Xin đừng rắc muối, vắt chanh xuống vết thương của chúng tôi bằng những hô hoán vô tích sự. Người ta chỉ biết chiến đấu, chỉ dám chiến đấu với điều kiện tiên quyết:
          Chửa khi nào quên táo bạo
          Chửa khi nào quên hát, quên đau
Những kẻ đào ngũ, đào nhiệm, chạy trốn là những kẻ chưa một lần táo bạo để quên, chưa một lần hát, chưa một lần dám thử đau đớn. Thì chiến đấu của họ chỉ là chiến đấu giả. Tổ quốc và dân tộc Việt Nam triền miên bất hạnh đã chán chường những cuộc chiến đấu giả. Hãy chiến đấu thật? Bằng không dám thì nên im lặng. Để tiếng khóc, tiếng rên rỉ và tiếng loa réo gọi nguyên vẹn cảm xúc và phẫn nộ.

TƯỞNG TƯỢNG RA TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM XÂM TAY HAI CHỮ SÁT CỘNG
Anh ta ngồi trước bếp than. Con dao nung trong đó. Người lính Việt Nam đã lột bỏ chiến bào, quăng vũ khí, liệng quân trang xuống vỉa hè sau lệnh đầu hàng của Dương văn Minh. Anh ta trở về nhà mình lúc hoàng hôn thoi thóp. Mẹ anh ta ôm anh ta khóc tức tưởi.
– Thua trận hả, con?
Người lính nghẹn ngào:
– Vâng, thua trận!.
– Rồi có sao không?
– Con chưa biết!
Người lính buồn bã, mệt mỏi. Anh ta không thể giải thích cho mẹ hiểu anh không hề thua trận, quân đội Việt Nam cộng hòa không hề thua trận. Mỹ thua trận giả vờ. Bọn tướng lãnh ngu dốt thua trận thật. Lũ thống trị tham nhũng thua trận thật. Chúng nó cút và đào ngũ, đào nhiệm cả rồi. Chỉ còn anh và chiến hữu anh chiến đấu tới giây phút cuối cùng. Anh đầu hàng theo lệnh của Tổng tư lệnh quân lực Dương văn Minh. Vì anh là lính tôn trọng kỷ luật. Mẹ anh an ủi anh rồi để anh một mình ngồi góc phòng ve vuốt vết thương đời.
Người lính mân mê cánh tay mình. Anh ta quyết định xuống bếp nhóm than. Và nung con dao. ánh lửa soi rõ hai chữ Sát cộng trên da thịt anh. Nó nổi bật như chữ đắp. Anh nhìn hai chữ Sát cộng, ôn lại chuyện hai mươi năm…

° ° °

Người Mỹ hiện diện ở Việt Nam với chiêu bài khai phóng tự đo, dân chủ cho một dân tộc kém mở mang. Đó là chiêu thức đầu tiên của ngụy quân tử Hoa-kỳ trong chính sách tân biên cương. Theo tiếng trống thúc dục của Kennedy, tuổi trẻ Việt Nam phấn khởi xây dựng đất nước mình. Muốn hưởng tự do, dân chủ phải bảo vệ tự do, dân chủ. Chống cộng sản được nâng lên hàng quốc sách. Lý tưởng quốc gia là chống cộng sản. Đơn giản lắm. Ngụy quân tử Hoa-kỳ tung ra các khẩu hiệu phó thác sự nghiệp chống cộng cho Nam Việt Nam. “Nam Việt Nam là thành trì bảo vệ tự do của Đông Nam Á.” “Nam Việt Nam là tiền đồn bảo vệ thế giới tự do”… Nghe sướng tai. Chủ tịch Liên minh á Châu chống cộng là người Việt Nam. Dân Việt Nam nức lòng chống cộng cho Thái Lan, Mã Lai hòa bình và mở mang đất nước, phát triển kinh tế. Ngụy quân tử Hoa-kỳ sát hại anh em Ngô Đình Diệm để sự nghiệp chống cộng vẻ vang hơn. Quân Mỹ sang ầm ầm. Chiến tranh leo thang. Nông thôn mất gần hết. Bắc tiến xôm tụ. Bắc phạt inh ỏi. Người lính Việt Nam chỉ biết tổ quốc mình, dân tộc mình, không thèm hiểu âm mưu của ngụy quân tử Hoa-kỳ và đám tướng lãnh thống trị cầy cáo. Noi gương người xưa xâm lên tay hai chữ Sát thát, anh ta cũng xâm lên tay hai chữ Sát cộng, thề vì nước vì dân tiêu diệt cộng sản để bảo vệ tự do, dân chủ và hạnh phúc cho giống nòi. Trung thành với lý tưởng quốc gia, người lính đã xông pha vào chiến trận, coi cái chết tựa lông hồng.

Photo edit by Sơn râu

Con dao đã đỏ. Người lính nhấc ra. Anh ta định đốt da thịt để tiêu hủy hai chữ Sát cộng. Nghĩ sao, anh ta lại đút con dao vào bếp. Anh ta tự hỏi: Có ông tổng thống Mỹ nào đã xâm tay hai chữ Sát cộng; có ông nghị sĩ, dân biểu diều hâu nào đã xâm tay hai chữ Sát cộng (Tôi có thể trả lời anh ta rằng không). Anh ta lại tự hỏi: Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Cao văn Viên, Đặng văn Quang, Trần Thiện Khiêm và các tướng lãnh có xâm tay hai chữ Sát cộng không nhỉ? (Tôi có thể trả lời anh ta rằng không). Người lính phân vân một lúc rồi lẩm bẩm:
– Mẹ kiếp, mình chống cộng thật. Chúng nó chống cộng giả vờ!
Người lính Việt Nam cộng hòa anh dũng rút con dao đã nung đỏ ra. Anh ta nhúng con dao vào chậu nước. Tiếng xèo kéo dài. Nước sủi bọt. Anh ta đứng dậy, đứng thẳng. Anh ta mân mê hai chữ Sát cộng. Đôi mắt rực sáng, anh ta sảng khoái:
– Dẫu sao, mình vẫn chống cộng, mãi mãi chống cộng. Ta cần cho kẻ thù nhìn rõ Sát cộng trên tay ta.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

18. Chương Mười tám

Chỉ còn một toán tù lo dọn dẹp trong thị trấn. Họ đã phải đào xới các đống gạch đá đổ nát để moi thây người và tìm thấy thêm mười tám xác nữa. Bây giờ họ đang trên đường về trại.

Họ đi ngang qua thị trấn. Bọn SS không cần dè dặt nữa. Thay vì dẫn tù đi vòng như trước kia, chúng cứ chọn con đường ngắn nhất. Còn gì phải dè dặt khi đâu đâu cũng hoang tàn như nhau cả.

Phố xá tiêu điều. Nhà cửa sụp đổ. Có cái bị hất tung từ bên này sang bên kia đường. Một chiếc dương cầm bể nát nằm giữa đường, một phần bị vùi xuống gạch ngói. Vài phím đàn còn nguyên, một lũ trẻ tranh nhau bấm. Chúng cố đánh mò bản nhạc Horst Wessel nhưng không làm sao đủ điệu, cửa hiệu bánh mì bay mất nóc nhưng vẫn có một đám đông xếp hàng dài chờ tới phiên mua. Người nào người nấy đều dính đầy bụi bẩn, mắt lờ đờ. Toán tù đi ngang qua. Bọn SS hô lệnh siết chặt hàng. Mùi bánh thơm ấm tỏa ra nhưng vẫn không lấn áp nổi mùi hôi thúi của những xác chết còn vùi lấp đâu đó và mùi khói khét lẹt.

Toán tù bắt đầu đi vào trung tâm thành phố. Họ đi qua một cây cầu chưa bị bom phá sập. Ở đầu cầu, một tượng đá mất cả đầu lẫn tay. Tại một công trường gần đó, pho tượng Hoàng đế Frederick Đệ nhị lật nhào, trông như nhà vua giỏi tài điều binh khiển tướng ấy đang cỡi ngựa chạy lên trời. Cánh tay duỗi thẳng tới của ông, lúc này đang chỉ lên những đám mây chậm chạp bay qua.

Một đoàn thiếu niên mặc đồng phục đang đi trên đường với đội ngũ chỉnh tề. Tất cả đều khỏe mạnh và sống động. Thấy đoàn tù đi tới chúng bước cả lên lề đường. Tù nhân cúi đầu đi giữa lộ. Có tiếng thì thầm trong đám thiếu niên. Đứa lớn nhất trong bọn khoảng mười lăm tuổi. Thình lình thằng bé này đưa một cánh tay lên và cả bọn đồng thanh hô lớn:

– Quân phản bội Tổ quốc!

Tiếng hô của bọn trẻ nghe trong thanh. Chúng lại hô tiếp:

– Đồ Do Thái trâu chó! Quân phản nghịch!

Cả một quãng đường rền vang tiếng mắng chửi.

Chim chóc trên cây dường như cũng lắng nghe. Một cánh cửa sổ mở ra. Đám trẻ lại gào lên. Thình lình thằng bé 15 tuổi bước xuống đường, móc khẩu súng lục ra, tiến tới sát một người tù đi hàng ngoài, nổ một phát ngay giữa mặt người này.

– Bớt được một con chó!

Thằng bé thản nhiên nói rồi quay về chỗ cũ bảo các bạn:

– Tiếc là hết đạn rồi, nếu không là còn bắn vài đứa nữa.

Người tù xấu số ngã nhào bên rãnh nước, máu đọng vũng quanh đầu. Hắn chưa chết hẳn. Hắn cố chống tay ngồi lên, quay nhìn bọn trẻ trên lề đường. Máu ướt đỏ cả mặt – một khuôn mặt già nua bịnh hoạn. Thằng bé vừa nổ súng vẫn lạnh lùng nhìn trả lại nạn nhân của nó. Cuối cùng, cái đầu đẫm máu gục xuống tay sụm theo và toàn thân bất động. Một thằng bé trong bọn, nói giọng sợ hãi:

– Ghê quá! Helmuth.

Hai người lính SS chạy ào tới.

– Cái gì vậy? Bộ muốn làm gì cũng được sao?

Thằng bé tên Helmuth dùng tay gạt tóc lên khỏi trán:

– Bớt được một tên phản nghịch.

Người lính SS quắc mắt:

– Công việc của tụi này cứ để tụi này lo.

Helmuth cũng trừng mắt:

– Thật vậy à?

Tên lính SS thứ hai nói với đồng đội:

– Thôi, đừng dây dưa nữa.

Và hắn quay lại toán tù ra lệnh :

– Đi mau! Mau lên. Bốn đứa đi sau cùng khiêng cái thây!

Toán tù tiếp tục đi. Một gã SS đi ngang qua Helmnth nói:

– Coi bộ ngon lành, hả?

Thằng bé đáp thật tự nhiên:

– Tôi là ma sói.

Các bạn nó nhìn nó với vẻ thán phục. Cánh cửa sổ lúc nãy đóng sầm lại. Thằng bé Helmuth hô to :

– Hitler muôn năm!

Gã SS vừa nói chuyện với nó hô theo:

– Hitler muôn năm!

Đám trẻ lai xếp thành hàng. Helmuth ra lệnh:

– Hát lên!

Chúng nó bắt đầu đi. Từ xa, âm thanh trẻ trung của chúng vang dội lại:

“Khi máu Do Thái nhuộm đỏ con dao.

Tất cả đều tốt đẹp gấp hai lần”

Thiếu niên đoàn Hitler chỉ được dạy có thế thôi.

Selma vẫn nói giọng đều đều:

– Bruno, hãy nghĩ kỹ lại. Phải lo liệu bây giờ, nếu không thì trễ hết. Hãy bán những thứ gì còn bán được. Đất cát, vườn hoa, căn nhà này… cứ bán với giả nào cũng được.

Neubauer lắc đầu chán nản :

– Tiền? Lấy tiền để làm gì? Nếu những lời tiên đoán của bà đều đúng cả thì có tiền cũng chẳng ích gì. Bộ bà quên vụ lạm phát kinh khủng sau Thế Chiến Thứ Nhất à? Một triệu chỉ bằng một đồng. Chỉ có bất động sản là còn giá trị.

– Nhưng làm sao bỏ túi được bất động sản?

Bà ta đi lại một chiếc tủ nhỏ, mở khóa và lấy hộp nữ trang ra. Trong hộp có nhiều đồ vật bằng vàng và mấy hột kim cương.

– Đây, tôi đã sắm những món này mà không cho ông biết với tiền riêng của tôi và tiền tiết kiệm. Tôi bán hết các cổ phần rồi. Các xí nghiệp đều bị hủy diệt cả thì để cổ phần làm gì. Chỉ có những món này là còn giá trị và đem đi được.

– Đem đi theo! Đem đi theo! Bà làm như mình là những tội nhân phải chạy trốn!

Người đàn bà bỏ trả các món nữ trang vào hộp:

– Khi mình cầm quyền, mình muốn làm gì cũng được. Bây giờ tới phiên những người khác cầm quyên, họ cũng vậy. Ông đã nghĩ tới chưa?

Neubauer nhảy dựng lên :

– Nếu cứ nghe theo bà chắc ai cũng phải tự treo cổ lên cả. Vợ của người ta luôn luôn hiểu chồng, an ủi chồng, săn sóc chồng… còn bà! Hết tiên đoán điềm dữ rồi gào thét cho là đại họa sắp tới. Ngày cũng như đêm. Bán! Bán! Đại họa! Đại họa!

Selma chẳng để tâm. Bà ta ung dung trở lại tủ cất hộp nữ trang vào:

– Hột xoàn. Hột xoàn tốt thế này hay hơn nữa còn đáng giá gấp mấy lần những bất động sản ra tro của ông. Hột xoàn có thể giấu được trong nếp áo. Nuốt vào bụng cũng được chớ có đâu như những cao ốc của ông.

Neubauer nhìn chăm bẳm vào mặt vợ:

– Bà nói vậy mà nghe được à? Nói như bọn Do Thái chỉ biết có tiền để rồi bị cắt họng.

Selma cũng nhìn lại chồng. Nhìn từ đầu xuống chân, nhìn bộ râu mũi, bộ quân phục, khẩu súng, đôi giày.

– Ông hãy nhớ là tiền tệ bị phong tỏa trong nước Đức kể từ năm 1931. Chính vì vậy mà nhiều người Do Thái đã không trốn đi được. Và các ông bắt giam hay giết họ. Cũng được đi. Nhưng bây già ông muốn ở lại để rồi tới phiên họ bắt giữ các ông để trả thù.

Neubauer nhìn quanh:

– Bà phải giữ mồm giữ miệng! Con ở đâu? Có ai nghe là chết cả lũ. Tòa án Nhân Dân không thương xót ai cả. Chỉ một lời tố cáo là đủ rồi.

– Con ở nghỉ bữa nay. Tại sao họ không thể làm những gì mà các ông đã làm đối với người khác?

– Ai? Bọn Do Thái à?

Neubauer cười lớn. Hắn liên tưởng tới Blank, tới hình ảnh ông ta bị Weber tra tấn.

– Tôi không nói mấy người Do Thái. Còn người Anh, người Mỹ.

Neubauer tiếp tục cười:

– Anh, Mỹ hả? Lại càng chẳng đáng lo. Vấn đề chánh trị nội bộ tại các trại giam không phải là việc họ bận tâm. Với họ chỉ có vấn đề quân sự thuần túy thôi và chánh trị nước ngoài. Bà không hiểu nổi sao?

– Không.

– Họ sống trong chế độ dân chủ. Họ sẽ xử sự với chúng ta đứng đắn nếu họ thắng… vấn đề còn phải đặt lại. Họ xử sự theo đúng quân cách. Chúng ta thua trận trong sự vẻ vang. Với người Nga thì có lẽ khác hơn. Nhưng họ lại ở tít phía Đông.

– Rồi ông sẽ thấy. Cứ ở lại đi.

– Được, rồi tôi sẽ thấy. Tôi sẽ ở lại. Nếu đi, bà chỉ cho tôi biết còn nơi nào để đi nữa.

– Có hột xoàn, mình có thể đi Thụy Sĩ mấy năm trước…

Neubauer đập tay xuống bàn làm chai bia run bần bật:

– Có thể! Có thể! Sao bà không nói rõ là bằng cách nào? Bà muốn mình đánh cắp một phi cơ rồi hay qua biên giới hả? Vô lý!

– Không cần phải có phi cơ. Mình có thể đi nghỉ phép vài chuyến. Đem theo vòng vàng và hột xoàn. Hai, ba, bốn chuyến đi phép, mỗi lần để lại một ít. Một số người đã làm như vậy.

Neubauer đi về phía cửa, mở ra nhìn bên ngoài rồi đóng lại. Hắn quay vào :

– Bà có biết nói như vậy là sao không? Phản bội cao độ! Bà có thể bị bắn tại chỗ nếu có người nghe.

Selma nhìn thẳng vào mắt chồng:

– À…? Có phải đó là cung cách của một anh hùng trong giờ phút chót không? Ông muốn loại trừ một người vợ nguy hiểm cho ông hả?

Neubauer không chịu nổi cái nhìn đó. Hắn đi qua đi lại. Một lúc sau, hắn đổi giọng:

– Selma, cãi nhau có ích gì? Minh phải họp lực nhau, tỏ ra hiểu biết hơn. Chẳng còn cách nào khác hơn là cứ ở lại. Tôi không thể chạy trốn được. Mà chạy trốn ở đâu? Trốn trong một nước Đức chưa bị chiếm đóng? Gestapo sẽ tìm ra ngay. Trốn về phía người Nga? Không. Chạy về phía người Anh, người Mỹ? Cũng không được. Tôi đã suy nghĩ kỹ lắm rồi.

– Phải.

Neubauer ngạc nhiên

– Bà hiểu ra rồi hả? Có thật không? Tôi đã chứng minh rõ ràng chớ?

– Phải.

Hắn nhìn vợ với ánh mắt dò xét. Hắn không tin lại thành công dễ dàng như thế. Selma nghĩ thầm… chứng minh! Chứng minh cái gì? Thần thánh bằng đất. Họ chỉ tin những gì họ muốn tin. Tự nhiên bà nhìn chồng nửa thương hại, nửa oán ghét. Neubauer lại dịu dàng:

– Selma…

Bà vợ cắt ngang :

– Bruno, tôi chỉ yêu cầu ông một điều cuối cùng…

Neubauer nghi ngại:

– Sao?

– Sang tên căn nhà này với cao ốc trúng bom lại cho Freya. Ông nhờ luật sư làm thủ tục ngay đi.

– Chi vậy?

– Không phải sang tên luôn. Tạm thời lúc này thôi. Nếu mọi việc tốt đẹp, mình làm giấy lại.

– Bà nói sao? Có phải là người ta sẽ kiếm chuyện với tôi không?

Selma lặng thinh. Một lần nữa, bà ta nhìn chồng với ánh mắt ghét, thương lẫn lộn. Neubauer nói:

– Bọn tôi là quân nhân mà hễ quân nhân thì chỉ có việc tuân lệnh cấp trên. Lệnh là lệnh, mọi người đều biết thế.

Hắn vươn vai :

– Chính đức Quốc trưởng chỉ huy. Chúng ta phải tuân hành. Đức Quốc trưởng chịu hết trách nhiệm. Chính Người đã tuyên bố như thế nhiều lần. Có phải vậy không?

Selma cố nhẫn nhịn:

– Phải. Thôi, ông đi gặp luật sư đi. Làm ngay thủ tục sang nhượng cho Freya.

Neubauer không có ý định làm theo ý vợ nhưng vẫn gật đầu:

– Được rồi. Tôi đi đây.

Hắn vỗ vỗ vào lưng vợ :

– Cứ để đó tôi lo. Mọi việc từ trước tới nay vẫn tôi lo mà.

Hắn bước ra. Selma tới bên cửa sổ nhìn chồng lên xe. Lệnh! Lệnh của cấp trên! Bà ta nghĩ… cái gì cũng chỉ có lệnh và lệnh…

509 lắng nghe. Hắn nhận ra giọng nói. Cẩn thận hắn bò lần tới đống xác người núp nghe.

Hắn được Lewinsky báo trước là đêm nay sẽ có một yếu nhân từ trại lao tác sang bên này lẩn tránh vài đêm. Tuy nhiên, giữ đúng nguyên tắc tổ chức mật, Lewinsky không nói đó là ai.

Người tù mới sang đang giảng giải với một số tù nhân Tiểu trại về ngày tàn sắp đến nơi của chế độ Quốc Xã và hướng dẫn họ theo một hướng chính trị tương lai. Giọng ông ta trầm nhưng rõ.

Đợi cho người tù mới nói xong, 509 đứng lên từ từ đi tới. Ở đó đang có Lewinsky, Goldstein, Berger và kẻ vừa nói chuyện. 509 gọi:

– Werner…

Người tù lúc nãy cố nhìn vào bóng tối:

– Bạn là ai?

509 cố đứng thật thẳng và bước tới gần hơn:

– Tôi cứ tưởng là bạn đã chết!

Werner nhìn sát vào:

– A! Roller! Bạn vẫn còn sống hả? Tôi cứ tưởng bạn đã chết từ lâu!

509 đáp gọn:

– Nếu căn cứ theo số khai tử thì tôi đã chết.

Lewinsky nói chen vào:

– Đây là 509.

Werner gật gù:

– À thì ra bạn là 509. Công việc của chúng ta càng dễ dàng hơn. Tôi cũng đã chết theo kiểu bạn.

Cả hai nhìn nhau đăm đăm. Đây không phải là chuyện mới lạ. Trong cảnh tù ngục, người ta thường gặp lại những người quen tưởng là đã chết. Nhưng 509 và Werner có khác hơn vì họ đã từng quen biết nhau từ thời chưa bị bắt giam. Họ là ban thân nhưng sau đó lại lạnh nhạt với nhau vì bất đồng chánh kiến. Một lúc sau, 509 hỏi:

– Bạn ở lại lao xá 22, hả? Lao xá 20 vẫn còn chỗ.

– Cảm ơn, tôi có thể tạm trú ở lao xá 22. Bây giờ tên đại diện Handke chết rồi chắc bạn không còn lo ngại mấy.

Meyerhof dường như không chịu ngồi yên:

– Phải trả thù! Trả thù cho tất cả, cho từng người chết một! Trả thù cho từng hành động tàn ác của chúng! Mắt đền mắt, răng đền răng!

Mọi người ngạc nhiên nhìn lên. Mặt Meyerhof nhăn nhíu, nắm tay hắn siết chặt và nện xuống mặt đất sau mỗi tiếng “trả thù”. Sulzbacher hỏi:

– Sao thế, Meyerhof?

Meyerhof hỏi vặn lại:

– Còn tất cả các bạn, sao thế?

Lebenthal vẫn đùa được:

– Hắn nổi cơn. Bệnh mởi vừa hết, hắn muốn làm anh hùng. Sáu năm trước thì nhút nhát đến nỗi không dám há mỏ ra… rồi thoát chết nhờ may mắn, hắn trở thành đại lực sĩ Samson Meyerhof.

Rosen nói lẩm bẩm:

– Tôi không ưa trả thù. Chỉ muốn rời khỏi nơi đây thôi.

– Sao? Bạn muốn tất cả bọn SS an toàn vì những gì chúng đã gây ra cho tụi mình sao?

– Không cần biết việc đó. Tôi chỉ muốn được tự do. Tự do là đủ.

Meyerhof lườm Rosen:

– Bạn có biết mình là cái gì không?

Berger đứng lên:

– Thôi, Meyerhof. Không một kẻ nào trong bọn mình là cái gì cả. Sau này tự khắc sẽ biết. Bây giờ làm sao biết được? Chỉ còn biết chờ đợi và hy vọng. Nếu cần thì cầu nguyện.

Ông ta kéo cái áo ngắn kỵ binh choàng lên vai rồi nằm xuống. Ông lão Ahasyer ra vẻ trầm tư :

– Trả thù! Có lắm thứ cần phải trả thù. Sự trả thù này kéo theo sự trả thù khác. Tốt hơn hết là làm thế nào cho những việc như thế này đừng tái diễn.

Chân trời bỗng lóe sáng. Bucher rướn người lên:

– Cái gì vậy?

Có tiếng rầm rì kéo dài. Sulzbacher giải thích:

– Không phải oanh tạc. Lại sắp có mưa bão.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

17. Chương Mười bảy

Buổi sáng, sương mù dầy đặc. Chòi canh và bờ rào không còn nhìn thấy được. Trong một lúc nào đó, người ta có cảm tưởng là trại tập trung không còn nữa… sương mù đã biến những vòng rào ngục tù thành một vùng tự do mềm mại nhưng cũng đầy cạm bẫy.

Thình lình có tiếng còi báo động và sau đó là những tiếng nổ không rõ ở hướng nào.

Tù nhân ở lao xá 22 mệt mỏi ngồi xổm trên ván giường và dài theo các lối đi. Họ chẳng ngủ được bao nhiêu lại yếu lả vì đói. Họ chẳng để ý mấy đến cuộc oanh tạc. Chuyện đó đã trở thành quen thuộc với họ mấy lúc sau này. Tuy nhiên, họ không khỏi hốt hoảng khi đột nhiên có một tiếng nổ mãnh liệt quá gần.

Cả lao xá rung chuyển như bị động đất. Các cánh cửa rung lên phần phật. Có tiếng người hô hoán :

– Họ ném bom mình! Họ ném bom mình, để tôi chạy ra!

Hỗn loạn diễn ra. Họ bò từ trên giường xuống, họ bò từ dưới đất ra, họ dẫm lên nhau, xô đẩy nhau, ngã té rồi lại tiếp tục bò ra cửa.

Tiếng cao xạ nổ giòn và tiếng bom long trời lở đất làm chìm lấp những tiếng kêu la của tù nhân. Những cái miệng há toang nhưng không nghe được tiếng biến họ thành những người câm.

Tiếng nổ kế tiếp làm rung chuyển đất. Cơn kinh hoàng lên tới tột độ. Hỗn loạn thật sự diễn ra. Berger cố thét to:

– Đóng cửa lại.

Nhưng trễ mất. Cánh cửa đã bị hất tung ra và hàng lô tù chạy biến vào sương mù. Hàng lô khác theo sau. Nhóm Lão Làng ngồi thu hình trong góc. Berger lại cố la to:

– Đừng ra ngoài! Lính canh nổ súng!

Chẳng một ai nghe theo. Lewinsky không thể ngồi yên:

– Nằm xuống!

Mặc dầu có sự đe dọa trở lại của Handke, hắn vẫn lẻn sang lao xá 22 và ngủ đêm tại đó. Dầu sao, ở Tiểu trại cũng an toàn cho hắn hơn. Hôm trước, bốn người tù chánh trị mang tên H và K đứng đầu đã bị bọn SS bắt tại trại lao tác và đưa ngay xuống lò thiêu. Lewinsky không thể chờ chúng bắt tới chữ L. Hắn lại quát lớn :

– Nằm sát xuống mặt đất! Chúng nó bắn bây giờ!

Bên ngoài, có tiểng súng nổ.

– Tụi nó bắn rồi đó! Nằm sát xuống, mau! Súng máy còn nguy hiểm hơn bom!

Nhưng Lewinsky đã lầm. Sau tiếng nổ của trái bom thứ ba các họng súng máy đều ngưng bặt. Bọn lính canh đã vội vàng bỏ các chòi gác. Lewinsky bò ra cửa, hắn hét vào tai Berger:

– Hết nguy hiểm rồi! Bọn SS chạy trốn cả.

– Mình có nên ở trong này không?

– Ra ngoài đi! Ở trong rủi bị cháy là chết thiêu.

Meyerhof hăng hái :

– Ra ngoài mau! Nếu hàng rào trúng bom, tụi mình đào tẩu!

– Im! Đồ ngu! Vẫn còn mặc đồ tù làm sao chạy thoát.

Họ tuôn ra cửa. Lewinsky la lên:

– Hãy ở sát bên nhau!

Và hắn nắm cổ áo Meyerhof:

– Nếu bạn làm bậy, tôi bẻ cổ ngay, hiểu chưa? Hiểu chưa? Tôi bẻ gãy cổ thật đó.

Berger can thiệp:

– Buông hắn ra! Để tôi coi chừng cho!

Họ nằm mọp bên cạnh lao xá. Họ chờ nghe tiếng bom kế tiếp, nhưng chỉ có tiếng cao xạ không thôi. Vài giây sau có tiếng súng trường nổ gần hơn. Sulzbacher hỏi:

– Sao gần quá vậy?

Lebenthal ngóc đầu lên:

– Có lẽ căn cứ của bọn SS bị trúng bom và Weber với Neubauer chết rồi.

Rosen cãi:

– Chuyện đó khó xảy ra. Nhiều lắm là chỉ vài trại quân trúng bom.

Lebenthal bỗng phát giác:

– Lewinsky đâu rồi?

Berger nhìn quanh:

– Hắn mới ở đây mà. Hắn đi đâu, Meyerhof?

– Không biết.

– Chắc hắn lên ra xa để dò xét.

Họ cố lắng tai, chờ đợi. Tinh thần mọi ngườỉ đều căng thẳng. Một phát súng đơn độc vang lên gần đó.

– Chắc có người chạy trốn bị chúng bắn.

– Biết đâu. Chắc không phải.

Không ai muốn như thế cả. Nếu có tù vượt trại thì cả trại phải đứng hàng giờ trên sân điểm danh cho tới khi tù nhân kia được đem về dầu còn sống hay đã chết. Sau đó là sẽ có thêm mươi người bị treo cổ và cả trại bị lục soát.

Tiếng súng cao xạ đã ngừng lại. Trong sự yên lặng bất thần họ nghe rõ ràng tiếng chân chạy rầm rập và tiếng quát tháo của bọn SS. Lebenthal đưa ý kiến:

– Mình nên vào trong là hơn.

Tất cả bò vào lao xá. Lebenthal nói một mình:

– Chắc bọn SS không bị trúng bom…

Một người khác nói như mơ ngủ:

– Hay là lính Mỹ đã tới rồi.

Lebenthal như tức tối điều gì:

– Câm miệng lại!

Bây giờ, đã vào cả bên trong, họ bỗng sợ hơn lên. Họ ngồi im nghe ngóng. Ít phút sau, có tiếng chân người bước nặng nề hơn tiếng chân của những người tù đói lả. Tiếng chân trong sương mù dừng lại trước lao xá. Lewinsky thò đầu vào:

– Berger, 509 đang ở đâu?

– Lao xá 20. Chi vậy?

– Ra đây tôi nói cái này.

Berger bước tới cửa. Lewinsky nói mau:

– Bảo với 509 là khỏi lo nữa. Thằng Handke chết rồi.

– Chết à? Trúng bom hả?

– Không phải. Chết thôi.

– Nhưng tại sao chết? Lính bắn lầm nó hả?

– Nó chết trong sương mù. Chỉ cần biết thế đủ rồi. Vấn đề chánh là nó không còn nữa. Sự nguy hiểm đã đi qua.

Berger chợt hiểu ra, hơi lo ngại:

– Nếu phát súng nổ gần chúng nó sẽ tìm ra dấu vết.

– Không có phát súng nào cả. Cùng chết với nó còn có hai tên hung ác nữa. Một trong hai tên đó ở lao xá của tôi.

Hiệu còi chấm dứt báo động rú lên. Sương mù bắt đầu loãng ra, dường như đã bị tiếng còi xé toang. Các tháp canh lần lần trông thấy rõ. Một tù nhân lại gần cửa khẽ bảo:

– Coi chừng! Vào trong đi, Lewinsky!

Họ đóng cửa lại. Nhưng cửa lại bị mở ra. Một người thò đầu vào:

– Có Lewinsky ở đây không?

– Có đây, chi vậy?

– Ra mau, có tin.

Lewinsky chạy ra, biến vào trong sương. Berger hỏi:

– Lebenthal đâu?

– Hắn qua dãy 20 báo tin cho 509.

Lewinsky trở lại. Berger hỏi:

– Có tin gì lạ không?

– Có. Mình ra ngoài này.

Vừa đi theo Lewinsky, Berger vừa hỏi:

– Chuyện quan trọng hả?

Lewinsky cười. Mặt mũi lấm tấm ướt sương.

– Một số trại SS trúng bom. Nhiều đứa chết và bị thương. Chưa biết con số chính xác. Lao xá cũng bị nạn lây. Kho võ khí và phòng quân trang cũng thiệt hại ít nhiều.

Hắn nhìn cẩn thận vào sương mù và nói tiếp:

– Chúng tôi có một món đồ cần phải giấu. Có thể là đêm nay.

– Đưa ngay cho tôi đi.

Lewinsky trao cho Berger một gói gì khá nặng. Hắn nói nho nhỏ :

– Mới lấy từ kho võ khí. Giấu ngay đi. Tôi sẽ có một gói nữa. Giấu dưới giường của 509. Ai ngủ chỗ đó?

– Ahasver, Karel và Lebenthal.

– Tốt lắm. Họ làm việc thật nhanh. Họ ra tay ngay khi quả bom vừa nổ tung trên kho võ khí. Bọn SS không có ở đó. Còn một số nữa nhưng tụi này phải phân tán ra.

– Nếu bọn SS khám phá ra sự mất mát?

– Có thể như thể. Bởi vậy, chúng tôi không để một món gì ở trại lao tác. Lúc nãy, họ còn toan tính phóng hỏa cả kho võ khí.

– Các bạn đáng phục lắm.

Lewinsky gật gù với dáng điệu hài lòng:

– Thôi, mình lo cất giấu đi. Chúng tôi không thể lấy nhiều hơn vì bọn SS trở lại sớm quá. Chúng nó tưởng hàng rào đã bị phá vỡ nên cứ gặp ai bắn nấy, sợ cả trại vượt ra. Hiện thời bọn chúng đã bình tĩnh đôi chút.

Một giờ sau, mặt trời chói sáng. Trời trong xanh và hiền dịu. Cây cối tươi mát như vừa tắm gội xong.

Buổi trưa, lao xá 22 được tin có tới 27 người bị bắn. Mười hai tù nhân chết và 28 người bị thương tại lao xá 1 vì mảnh bom. Về phần bọn SS có 10 đứa chết trong số có một sĩ quan mật vụ Gestapo.

509 trở lại lao xá 22. Berger hỏi:

– Giấy chuyển nhượng tiền Thụy Sĩ cho Handke chẳng biết ra sao? Nếu bọn chúng bắt gặp thì nguy quá. Mình quên mất điều đó!

509 móc túi lấy một mảnh giấy ra:

– Lewinsky biết chuyện này nên lo liệu cả. Hắn nhờ một trật tự viên trong tổ chức lấy lại ngay sau khi Handke chết.

Berger thở ra nhẹ nhõm:

– Xé ngay đi. Lewinsky được việc quá. Chắc mình sẽ bình yên được ít lâu.

– Cái đó còn tùy ai sẽ là người thay thế Handke.

Trên vòm trời của trại đột nhiên có một đàn chim én vần vũ. Chúng bay như thế một lúc lâu, thỉnh thoảng sà xuống gần tới mái trại. Ông lão Ahasver nói:

– Đây là lần đầu tiên, tôi nhìn thấy chim chóc ở trại.

Bucher góp ý kiến:

– Chắc chúng nó tìm nơi làm tổ.

– Có thể lắm vì các gác chuông nhà thờ đều không còn nữa.

Lebenthal nhìn theo đàn chim bay lượn trên sân trại:

– À, chúng từ Phi châu tới để làm tổ ở đây. Đây là nơi ẩn trú của muôn loài!

– Có gì đâu, chúng không tìm được chỗ ở tại một thành phố đang bốc cháy.

Ông lão Ahasver ra vẻ trầm tư:

– Chắc có nhiều thành phố khác cũng đang cháy. Những thành phố lớn và quan trọng hơn.

– Đáng thương cho nước Đức!

– Cái gì?

– Tôi bảo là nước Đức đáng thương.

Lebenthal trừng mắt:

– Trời ơi! Các bạn có nghe thấy không?

Berger thản nhiên:

– Đó là sự thật.

Sáng tới chiều, trời luôn luôn ấm áp. Khốn nỗi là Tiểu trại không được phát buổi ăn tối. Không khí vẫn ấm áp. Thành phố bên dưới vẫn còn nhiều nơi cháy sáng.

Berger nằm dài bên cạnh 509.

– Thế nào cũng có mưa bão.

– Có lẽ thế.

Quanh đôi mắt người tù bác sĩ, mồ hôi đượm ướt. Ông ta từ từ quay đầu sang nơi khác trong khi một giòng máu ứa ra từ khóe miệng. Thoạt tiên, 509 cho đó là một cử chỉ tự nhiên nhưng có một cái gì đó như linh tính khiến hắn ngồi lên:

– Berger, sao vậy? Berger!

Berger trở mình rồi nằm im.

– Chẳng có gì cả.

– Thổ huyết hả?

– Không.

– Vậy chớ gì?

– Đau bao tử.

Nhổ một ngụm máu ra, ông ta thều thào:

– Không đáng ngại.

– Sao lại không. Làm gì bây giờ? Nói mau đi!

– Chẳng làm gì cả. Cứ để tôi nằm yên.

– Hay để tôi đem bạn vào trong. Nhóm tụi mình sẽ ném chúng nó ra và lấy cho bạn nguyên một cái giường.

– Đừng. Cứ để tôi nằm yên ở đây.

Tự nhiên 509 cảm thấy tuyệt vọng. Hắn đã từng nhìn tận mắt vô số người chết và chính hắn cũng suýt chết nhiều lần đến nỗi tưởng chẳng còn bao giờ xúc động trước cảnh chết chóc cả. Thế mà, đây là lần đầu tiên trong đời hắn nghe đau nhói. Hắn sợ mất người bạn thân nhất trong đời hắn. Mọi hy vọng trong hắn bỗng biến tan. Berger đang nhìn hắn với một nụ cười nhưng hắn cứ thấy trước mắt hình ảnh ông ta nằm chết bên bờ lộ.

– Chắc chắn mấy anh em còn có chút ít gì để ăn! Hay là mình nhờ Lebenthal đi tìm thuốc?

Berger chậm chạp đưa một cánh tay lên ngăn cản:

– Không cần ăn. Cứ tin tôi. Chừng nào cần gì tôi sẽ nói. Bây giờ thì không. Tôi bảo là đau bao tử mà.

Người tù bác sĩ nhắm mắt lại.

Sau tiếng còi báo giờ ngủ của toàn trại, Lewinsky lẻn sang chỗ 509. Qua một vài phút nói chuyện vu vơ, thình lình Lewinsky hỏi:

– Trông bạn có vẻ khác người, lúc trước bạn làm gì? Tôi muốn nói về nghề nghiệp.

– Chủ bút.

Vừa buột miệng xong, 509 ngạc nhiên và có cảm tưởng như không phải chính mình đã nói. Lewinsky thoáng hiện nét hài lòng. 509 hỏi:

– Bạn có được tin tức gì mới không?

Lewinsky ném một cái nhìn dò xét rồi ngồi xích lại:

– Trong vòng hai tuần nữa có thể có một cuộc chiếm trại.

509 giựt mình:

– Bạn nói sao?

– Chiếm trại. Trong hai tuần nữa.

– Bạn muốn nói tới chuyện giải thoát?

– Phải. Chúng tôi phải chiếm trại khi bọn SS rút đi.

– Chúng tôi? Gồm những ai?

Lewinsky ngập ngừng:

– Bộ máy điều hành mới của trại. Đã tổ chức xong rồi. Phải nghĩ tới việc duy trì trật tự, tiếp tế… hàng ngàn người không thể phân tán ngay một lúc.

– Nhưng các bạn làm cách nào?

– Chúng tôi sẽ có người hỗ trợ. Nguời Anh, người Mỹ đến giải phóng mình chỉ là những đơn vị chiến đấu. Họ không có người điều hành trại. Phần này, chúng ta phải tự lo liệu lấy. Dĩ nhiên là với sự giúp đỡ của họ.

509 bỗng chú ý tới cái đầu của Lewinsky in trên nền trời xám. Một cái đầu tròn và chai cứng. Hắn nói một mình:

– Kể cũng lạ. Bây giờ chúng ta lại phải nhờ tới kẻ thù giải phóng giùm…

Berger trở mình :

– Không ngờ lại ngủ được một giấc. Bây giờ thấy khỏe rồi. Đau bao tử chớ chẳng có gì khác.

– Không phải bao tử đâu. Tôi chưa bao giờ nghe nói đau bao tử mà thổ huyết.

Mắt Berger đột nhiên mở lớn ra:

– Tôi vừa nằm mơ hết sức lạ. Tới bây giờ vẫn thấy rõ như thật. Tôi thấy đang làm việc trong phòng giải phẫu. Ánh đèn sáng choang…

Ông ta nhìn vào bóng đêm.

509 vỗ về:

– Lewinsky vừa cho biết là chỉ trong vòng hai tuần nữa mình sẽ được giải thoát.

Berger vẫn nằm yên như không nghe 509 nói.

– Tôi đang giải phẫu. Phải, đang giải phẫu dạ dày. Tôi vừa cầm dụng cụ lên thì chợt nhận ra không biết phải làm gì nữa. Quên tất cả. Mồ hôi tuôn ra như tắm. Người bệnh nằm đó, đã mổ ra một đường dài… mà tôi lại không biết phải làm sao. Tôi quên hết cả. Thật là kinh khủng.

– Thôi, bỏ đi. Đó chỉ là ác mộng. Tôi cũng thường nằm mơ những giấc mơ quái đản như thế.

Berger nhìn đăm đăm lên nền trời.

– Mười năm. Mười năm chẳng làm gì cho nghề nghiệp. Từ trước tới nay tôi chưa hề nghĩ tới điều đó. Chắc có lẽ bây giờ đã quên nhiều. Ngay bây giờ cũng thế, tôi không hiểu phải làm gì khi thực hiện một cuộc giải phẫu. Chỉ nhớ lờ mờ thôi.

– Trong ký ức thì không rõ chớ khi bắt tay vào việc là nhớ ra ngay. Cũng như ngôn ngữ hay đi xe đạp vậy.

– Kỹ thuật không vững chắc nữa. Thủ thuật. Sự chính xác. Phải có thói quen. Mười năm chẳng làm việc thì lấy đâu ra sự quen tay. Mười năm đó, bao nhiêu điều mới lạ được phát minh. Tôi có biết thêm tí gì đâu. Già rồi… già quá rồi và suy nhược.

509 như bị lôi cuốn:

– Mà lạ thật. Cũng mới lúc nãy tôi chợt nghĩ tới nghề nghiệp. Lewinsky hỏi nên tôi nhớ ra. Hắn tiên đoán là mình sẽ được tự do trong vòng hai tuần nữa. Bạn có tin không?

Berger lắc đầu lơ đãng:

– Thời gian còn có nghĩa gì? Thường cứ là vô tận. Bạn nói hai tuần khiến mình không thể đừng tự hỏi: Chuyện gì đã xảy ra trong mười năm qua?

Thành phố vẫn còn cháy sáng. Hàng đợt khói cuồn cuộn bốc lên. Xa về phía chân trời, có hai nơi lửa đang cháy… những thành phố bị ném bom.

Màn trời đêm bỗng bị xé toạc bởi một luồng chớp, tiếp theo sau là tiếng sấm âm vang từ xa tới. 509 bảo :

– Mình vào trong đi. Bạn còn đứng lên nổi không?

Văn Hải Ngoại Sau 1975

Trương Vũ – Mưa Ướt Vị Thành

vandoanviet.wordpress.com

Trương Vũ

Post on 12 Aug 2018

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Kỳ 60

Tên thật: Trương Hồng Sơn.

Trước 1975, dạy toán và đặc trách Sinh Viên Vụ tại Đại Học Duyên Hải, Nha Trang. Vượt biển và định cư tại Hoa Kỳ từ 1976.

Cử Nhân Giáo Khoa và học Đệ Tam Cấp Toán, Đại Học Sài Gòn. Thạc Sĩ Vật Lý Hạt Nhân, University of Pennsylvania. Thạc Sĩ Kỹ Sư Điện (Truyền Thông) và Tiến Sĩ Khoa Học (Điện trong Kỹ Thuật Không Gian), The George Washington University. Chuyên gia nghiên cứu cho NASA tại Trung Tâm Không Gian Goddard từ 1980 cho đến khi nghỉ hưu năm 2006. Đóng góp quan trọng nhất thuộc lãnh vực nghiên cứu và phát triển kỹ thuật xác định quỹ đạo (Orbit Determination) và phi hành tự động cho phi thuyền (Autonomous Spacecraft Navigation). Đăng tải nhiều công trình nghiên cứu với tư cách tác giả chính về vật lý và kỹ thuật không gian.

Ngoài công việc chính ở NASA, đóng góp vào một số sinh hoạt văn học ở hải ngoại. Đồng Chủ Biên tuyển tập văn chương chiến tranh The Other Side of Heaven (do Curbstone Press xuất bản năm 1995). Nguyên đồng chủ biên tập san Việt Học The Vietnam Reviewcủa đại học Yale (1996-1998). Nguyên chủ bút tạp chí Đối Thoại, California (1993-1994). Hợp tác, đóng góp bài vở cho một số tạp chí văn chương (giấy và mạng) như Văn Học, Hợp Lưu, Văn, Talawas, Tiền Vệ, Da Màu, Tương Tri, các blog như Phạm Cao Hoàng, Phố Văn, Trần Thị Nguyệt Mai,…

Về hội họa, ngoài các lớp học rải rác tại đại học và tư nhân, phần chính là tự học. Tham dự một số triển lãm tại Hoa Kỳ.

Hiện cư ngụ với gia đình tại tiểu bang Maryland, chú tâm vào chuyện vẽ và viết.

Cách đây hơn 20 năm, tôi bắt đầu tham dự khá thường xuyên vào các sinh hoạt văn học ở hải ngoại, trong suốt một thời gian khá dài kể cả lúc còn làm việc toàn thời gian ở NASA trước khi về hưu: hợp tác với Wayne Karlin để thực hiện tuyển tập văn chương chiến tranh The Other Side of Heaven; hợp tác với giáo sư Huỳnh Sanh Thông của đại học Yale cho tập san Việt học The Vietnam Review; viết bài và hợp tác với một số tạp chí văn học Việt Nam ở hải ngoại; thuyết trình ở một số hội thảo về văn học, v.v. Sự tham dự tương đối năng động vào những sinh hoạt đó có vẻ như bất bình thường, vì văn học là một lãnh vực tôi không hề được đào tạo ở trình độ cao. Mà, ngay cả ở trung học, bạn bè đều biết tôi là một đứa học trò rất tầm thường về môn văn. Từ bé tới lớn, tôi chưa bao giờ có ý nghĩ trở thành một nhà văn hay một giáo sư văn chương.

Một hôm, trong một hội thảo hè dành cho các nhà văn trẻ tổ chức ở đại học St. Mary thuộc tiểu bang Maryland, một nhà văn trao đổi với tôi về trường hợp của cô. Cô mê văn chương, viết rất nhiều truyện ngắn, đang vật lộn với đời sống và phấn đấu với chính mình để xem có nên tiếp tục sống toàn phần cho văn chương và bán phần cho sinh kế, hay ngược lại. Cô muốn tôi lấy kinh nghiệm cá nhân để giúp cô ý kiến. Rất tiếc, hôm đó tôi chẳng giúp gì được vì chẳng có kinh nghiệm nào về chuyện này. Câu trả lời của tôi khá mông lung. Văn chương có giữ một vị trí đặc biệt trong đời sống của tôi thật nhưng không phải để tôi trở thành nhà văn, mặc dầu đôi khi, do những gì tôi đã viết ra, nhiều người trong văn giới gọi tôi là nhà văn. Tuy nhiên, nhân câu chuyện trên, tôi thấy cần viết một bài về đề tài này, về cái vị trí của văn chương trong đời sống của mình, để từ kinh nghiệm riêng chia sẻ được gì với người khác. Đặc biệt, tôi muốn chia sẻ với những bạn trẻ giống như tôi trước đây, không được đào luyện tốt về văn chương ở trường ốc và sống với những ngành nghề gần như trái ngược. Tôi xin viết một cách tản mạn, và tản mạn từ những chuyện rất riêng tư.

Tôi tin mỗi người trong chúng ta đều mang trong tim mình những dấu ấn, những tì vết gây ra từ một biến cố trong đời, một chấn động mạnh hay có thể chỉ là một hình ảnh đến rất nhanh, như một nụ cười, một giọt nước mắt, … Để rồi, sau đó, vào một lúc rất bất chợt, con tim nhói lên, cái cách vui buồn thương ghét trong cuộc đời bỗng thay đổi. Một bài thơ, một cuốn sách đã đọc vào một lúc nào đó cũng có thể làm nên chuyện như vậy.

Tôi xuất thân là một thầy giáo toán, được gọi nhập ngũ khi có lệnh tổng động viên lúc chiến tranh ở miền Nam trở nên tàn khốc. Sau hơn hai năm, được biệt phái trở về dạy học lại. Cách sống của tôi thay đổi hẳn. Đời sống trong quân ngũ có làm tôi thay đổi thật, nhưng ảnh hưởng lớn nhất thật ra là từ một bài thơ, của một nhà thơ sống cách đây hơn ngàn năm ở một nơi xa lắm.

Cách đây gần 50 năm, sau khi tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi đi trình diện đơn vị ở một hải đảo xa. Tôi nhớ, đó là một buổi sáng mưa nhẹ hột. Trên đường đi đến đơn vị, tôi và một người bạn cùng khóa mang ba lô đi bộ lên một ngọn đồi, trên đó có một quán ăn nhỏ. Chúng tôi vào quán uống cà-phê, ngồi khá lâu vì mưa bắt đầu nặng hột. Đơn vị ở cách đó không xa nhưng qua mưa không nhìn thấy. Cả hai châm thuốc hút, rồi bỗng nhiên, tôi nhớ tới một bài thơ của Vương Duy. Tôi đọc lên. Bạn tôi chỉ mỉm cười, im lặng, phà khói thuốc, rồi lãng đãng nhìn những giọt mưa rơi từ mái tôn xuống bậc thềm. Năm đó, dù đã dạy học một thời gian trước khi động viên, tôi chỉ mới vừa qua tuổi 26. Bạn tôi, cũng cùng tuổi và cả hai đều đã có gia đình. Tôi nhớ rất rõ bản tiếng Hán, Vị Thành Khúc (渭城曲), của Vương Duy:

渭城朝雨浥輕塵,Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần

客舍青青柳色新。Khách xa thanh thanh liễu sắc tân

勸君更盡一杯酒,Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu

西出陽關無故人。Tây xuất Dương Quan vô cố nhân

Và, cả bản dịch của Ngô Tất Tố:

Trời mai mưa ướt Vị Thành

Xanh xanh trước quán mấy nhành liễu non

Khuyên chàng hãy cạn chén son

Dương Quan đến đó không còn ai quen

Đây chắc không phải là bài thơ hay nhất của Vương Duy và càng không phải là bài thơ hay nhất của Đường Thi. Chắc cũng không có bao nhiêu bạn đọc cảm xúc gì nhiều khi đọc bài này. Nhưng, với tôi, khi đọc lên tôi xúc động. Tôi biết tôi đã đọc nó lần đầu tiên từ cuốn Đại Cương Văn Học Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, lâu lắm rồi, khi còn ở trung học, trong căn nhà cũ gần bờ biển Nha Trang, nơi tôi đã sống suốt tuổi thơ. Bài thơ đó, thời gian đó, không gian đó, với những xúc cảm của lúc đó, tưởng quên đi, nhưng không. Cũng từ đó, tôi đọc nhiều sáng tác văn học hơn mỗi khi rảnh và nhớ lại nhiều bài thơ đã học và đã quên.

Ở hải đảo có một thời gian tôi làm sĩ quan tuần tra. Tôi nhớ, một buổi tối, mưa tầm tã, khi hết phiên trực, tôi ghé vào lều của một ông thượng sĩ già, xin cà-phê uống. Ở đó, người sĩ quan trực kế tiếp, MDT, cũng đang ngồi uống cà phê. MDT trước khi nhập ngũ đã dạy Pháp văn ở Huế. Trong khi trò chuyện, bỗng nhiên T nói về những tiểu thuyết Pháp đang ăn khách như Bonjour Tristesse, Un Certain Sourire,… của Francoise Sagan, rồi quay trở lại nói về những tác phẩm học ở thời trung học, những tác phẩm của Alphonse Daudet hay Anatole France, rồi Nguyễn Du của ngày xưa, rồi Bùi Giáng của ngày nay, rồi quay sang nói về Sartre, về Camus, v.v. Chúng tôi nói say sưa, ông thượng sĩ già châm thêm cà-phê, lặng lẽ nghe và thỉnh thoảng nở nụ cười độ lượng. Trước khi chia tay và bắt đầu phiên trực của mình, T nói với tôi: “Tụi mình… à la recherche de la jeunesse perdue!” Tôi cũng thấy mình già đi thật. Bây giờ, mỗi lần nghĩ lại, thấy… tếu tếu. Tuy nhiên, những câu chuyện theo kiểu câu chuyện trong lều của ông thượng sĩ già đó, đã giúp tôi rất nhiều để những ngày tháng nơi hải đảo bớt đi cái nhớ nhà, cái lo sợ, cái nhàm chán, và dù hễ mở miệng là thích nói về cái tuổi trẻ đã mất, nhưng chính vào thời gian đó, từ những câu chuyện văn chương đó, tôi thấy cái tuổi trẻ thật sự của mình bắt đầu bừng lên một sức sống mãnh liệt. Tôi nghĩ đến những ngày tháng tới, khi không còn chinh chiến, hay khi được trở về với đời sống thường dân, tôi sẽ sống khác, nhìn cuộc đời cách khác. Và, quả thật, khi về lại, tôi vẫn tiếp tục dạy toán, nhưng tôi có khác.

Trên sách vở, trong nghiên cứu, toán học và văn học có một lằn ranh rõ rệt, nhưng trong mỗi con người, lằn ranh đó có thể rất mờ nhạt. Khi tìm hiểu về cuộc đời các nhà toán học, tôi có ấn tượng nhất về một thiên tài mà cuộc đời ngắn ngủi của ông có thể là đối tượng tuyệt vời cho một tác phẩm văn chương. Một thiên tài đã sống tận cùng cho sự đam mê về toán học, về những lý tưởng nhân bản, và về chất lãng mạn trong tình người và tình yêu. Tôi muốn nói về Evariste Galois. Ông sinh ngày 25 tháng 10 năm 1811 ở Bourg-la-Reine, Pháp. Năm 14 tuổi ông đã bắt đầu có những ý niệm mới và nghiêm chỉnh trong toán học. Đến năm 19 tuổi ông đã công bố những công trình quan trọng làm nền tảng cho “Lý Thuyết Galois” và “Lý Thuyết Nhóm” trong đại số trừu tượng (abstract algebra). Trong lúc chăm chú vào những phát kiến toán học, ông vẫn tham gia vào chính trị Pháp, tranh đấu cho nền cộng hòa Pháp, đi đầu trong cuộc biểu tình chống đối vua Louis Phillipe. Bị bắt và bị xử sáu tháng tù. Trong tù, ông ngồi viết tiếp những công trình toán học. Tháng 4, 1832, ông ra khỏi tù. Qua tháng sau, để bênh vực danh dự của người yêu, Stephanie-Felicie du Motel, ông chấp nhận tham dự một cuộc đấu súng. Năm ngày trước cuộc đấu, ông viết thư cho một người bạn, tâm sự về mối tình này. Đêm trước khi đấu, biết rằng mình sẽ chết, ông thức suốt đêm để hoàn tất những công trình toán học còn dở dang. Sáng sớm hôm sau, ông bị bắn ở bụng, mọi người bỏ đi, để ông nằm một mình ở đấu trường. Đến 10 giờ, một nông dân nhìn thấy đưa đến bệnh viện gần đó. Chỉ có người em trai, Alfred, được thông báo. Câu cuối cùng ông nói với em: “Đừng khóc, Alfred! Anh cần sự can đảm để chết ở tuối hai mươi.”

Một trăm bốn mươi năm sau, ở Nha Trang, tôi bắt đầu dạy sinh viên Lý Thuyết Nhóm của Galois. Chương trình trung học Pháp đưa Lý Thuyết Nhóm vào năm cuối của ban toán trước đó vài năm. Chương trình trung học Việt thì chưa.

Tôi không phải là một thiên tài như Galois, dĩ nhiên, nhưng toán học ảnh hưởng vào đời sống tôi rất nhiều. Những hiểu biết cơ bản về toán học cũng đã giúp tôi không ít khi đi vào các chuyên môn khác như vật lý hạt nhân, như kỹ sư điện hay như kỹ thuật không gian mà sau này tôi phải sống với nó một thời gian khá dài. Tuy nhiên, điều tôi muốn chia sẻ ở đây với các bạn trẻ là tinh thần toán học, nhất là, thói quen tìm giải đáp cho những nghi vấn, đã giúp tôi đến với văn chương thi vị hơn. Xin kể một câu chuyện. Thời còn ở trung học, tôi được đọc bản tiếng Việt một tác phẩm của Leo Tolstoi, nhan đề Một Bản Đàn, do nhà văn Trương Bảo Sơn chuyển ngữ, có lẽ từ một bản tiếng Pháp. Tôi đọc say mê. Tác phẩm xây dựng trên thảm kịch của một cặp vợ chồng. Vì nghi ngờ vợ mình có tình ý với một ông thầy dạy nhạc, một nhà quý tộc giàu có nổi cơn ghen giết vợ. Một truyện dài rất hay. Rất thích nhưng tôi luôn tự hỏi tại sao nhà văn Trương Bảo Sơn lại đặt nhan đề tiếng Việt là Một Bản Đàn; vì, sau này, sau khi được đọc bản dịch tiếng Pháp La Sonate à Kreutzer, tôi ngờ rằng Tolstoi rất có cố ý khi lấy tên một bản sonate của Beethoven, “Bản Sonate cho Kreutzer”, làm nhan đề cho cuốn tiểu thuyết. Nó phải là bản sonate đó chớ không phải một bản đàn nào cũng được. Ý của Tolstoi, theo tôi, là chính bản nhạc đó, bản sonate đó của Beethoven, đã đóng góp vào thảm kịch. Nhưng, tôi không chắc lắm, vì không biết gì về bản sonate này.

Hơn hai mươi năm sau, khi sống ở Philadelphia, một hôm có dịp vào thư viện thành phố. Tình cờ, thấy bản tiếng Anh, The Kreutzer Sonata, tôi nhớ lại cái nghi vấn ngày nào. Tôi vào phòng thính âm, xin được nghe bản sonate này. Bản “sonate cho Kreutzer” được Beethoven soạn cho dương cầm và vĩ cầm. Bản tôi được nghe do Arthur Rubinstein và Henryk Szerying trình tấu. Rubinstein phụ trách dương cầm, Szerying vĩ cầm. Tôi nghe đi nghe lại nhiều lần. Tiếng dương cầm hòa với tiếng vĩ cầm một cách tài tình, réo rắt, tha thiết, làm ruột gan người nghe thắt lại. Tôi hình dung ra buổi hòa nhạc trong ngôi nhà vị quý tộc. Tôi tưởng tượng ra cảnh ông quý tộc ngồi nhìn vợ mình với ông thầy dạy nhạc say sưa trình tấu, như không cần biết có ai xung quanh. Ông quý tộc giàu có nhưng trong người ông không có bao nhiêu chất âm nhạc, chất thi ca. Ông nhìn cảnh vợ ông (chơi dương cầm) với ông thầy (chơi vĩ cầm) để hết tâm hồn vào bản nhạc. Tiếng nhạc quyện lẫn vào nhau da diết mãnh liệt. Ông hình dung ra một cảnh khác. Ruột gan ông bấn lên nhưng ông ghìm lại. Sau buổi trình tấu, ông vẫn giữ cung cách của một quý tộc, cười nói khen ngợi vợ. Một thời gian ngắn sau đó, thảm kịch xảy ra.

Cách đây ba năm, tôi lên Amazon tìm mua CD bản The Kreutzer Sonata cũng do Rubinstein và Szerying trình tấu để nghe lại. Tôi tin rằng tôi hiểu được ý của Tolstoi khi chọn bản sonate này làm nhan đề cho cuốn tiểu thuyết. Tôi tin rằng cái nghi vấn của tôi đúng. Nhưng, thật ra, đúng hay sai không quan trọng. Quan trọng là chính cái nghi vấn đó đã cuối cùng mang đến tôi một niềm vui, một may mắn, được thưởng thức một bản sonate tuyệt vời. Riêng đối với nhà văn Trương Bảo Sơn, dù tôi vẫn không đồng ý với ông về cách đặt tên cho bản dịch cuốn tiếu thuyết, tôi luôn kính trọng ông, và rất cám ơn ông đã đem đến cho lớp trẻ chúng tôi vào thời đó một món ăn tinh thần rất có giá trị của Leo Tolstoi.

Leo Tolstoi và Fyodor Dostoyevsky là những tên tuổi lớn của văn học cổ điển Nga, và của cả nhân loại. Ngoài hai nhà văn này, sự hiểu biết của tôi về văn học Nga vào thời còn đi học rất giới hạn. Về sau, do tình cờ, tôi đọc Anton Chekhov qua các bản dịch tiếng Anh và thích tác giả này, đặc biệt các kịch phẩm của ông như Three Sisters (Ba Chị Em), The Cherry Orchard (Vườn Anh Đào)… Do thích vở Three Sisters nên khi biết vở này được trình diễn tại một kịch viện nhỏ, The Studio Theatre, tôi đến xem. Nhân vật chính trong kịch là một gia đình có ba chị em và một em trai. Thời trẻ họ sống ở Moscow khi ông cha chỉ huy một lữ đoàn ở đó, cho đến khi ông về hưu cách đó mười một năm. Sau đó họ mất cả cha lẫn mẹ. Giấc mơ của ba chị em là một ngày nào đó họ sẽ về lại Moscow. Nhiều tình tiết và bi kịch được dựng lên từ đó. Lời lẽ trong vở kịch trình diễn ở The Studio Theatre hơi khác trong bản dịch tiếng Anh trong sách một chút. Tối hôm đó, sau khi dự vở kịch xong, về lại nhà, nghĩ lại vở kịch, tôi nhớ nhất câu nói và cách nói của người đóng vai Irina (cô em út) nói với Olga (cô chị cả): “Chị Olga, em sẽ lấy Nam Tước, em sẽ về Moscow. Tụi mình sẽ về Moscow.” Và rồi, tôi nghĩ đến một buổi tối ở giảng đường của trường Đại Học Duyên Hải trên đường Yersin, Nha Trang. Tối hôm đó, bạn tôi, giáo sư Bửu Ý, thuyết trình một đề tài đặc biệt: “Văn Chương Trên Giấy, Văn Chương Trên Sàn Gỗ.” Trong phần thuyết trình, một sinh viên Việt Hán, Dương Đề, được Bửu Ý chọn lên trình bày vài diễn xuất ngắn. Những câu nói trong phần diễn xuất của Dương Đề luôn chấm dứt bằng câu “Ngày mai tôi sẽ về Sài Gòn.” Bao nhiêu năm đã trôi qua, tôi vẫn còn nhớ khá rõ dáng điệu của Dương Đề khi vừa đi vừa nói câu đó trên sân khấu. Bửu Ý là một học giả nổi tiếng, dạy văn chương Pháp ở Đại Học Huế, và cũng là một kịch tác gia. Kịch phẩm Sương Hồng và Tuyệt Địa của Bửu Ý đã được xuất bản và trình diễn ở Sài Gòn trước 1975. Bửu Ý được mời phụ trách tín chỉ nhiệm ý về kịch nghệ cho sinh viên Duyên Hải và cùng với thầy Bửu Phi giúp sinh viên thực hiện một vở kịch cho đại học. Sau 1975, Bửu Ý có thời gian làm chủ nhiệm ban Văn Chương Pháp ở Đại Học Huế, nhiều lần được mời sang giảng dạy ở Pháp. Anh cũng được tưởng thưởng một huy chương cao quý của Pháp do chính đại sứ Pháp tại Việt Nam đích thân trao tặng. Tuy nhiên, sau này tôi không thấy Bửu Ý còn dính dấp gì đến kịch nghệ. Vở kịch năm xưa chắc chắn không thế nào được tái bản. “Văn chương trên sàn gỗ” cùng với trường Đại Học Duyên Hải đã hoàn toàn đi vào quá khứ.

Nhiều thứ đã đi vào quá khứ nhưng vẫn để lại những dấu vết sâu đậm trong tim mình. Tôi muốn nói về một câu chuyện thật, được kể lại để làm nền cho tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu trên sông Drina) của nhà văn Nam Tư (Yugoslavia) Ivo Andric’, người đoạt giải thưởng văn chương Nobel 1961. Tác phẩm lấy bối cảnh của thành phố Visegrad của Bosnia từ thế kỷ 16 trở về sau. Đây là nơi thường xuyên chứng kiến những tranh chấp tàn bạo giữa hai đế chế Thổ và Áo-Hung, và cũng là tranh chấp giữa Hồi Giáo với Thiên Chúa Giáo (gồm Công Giáo và Chính Thống Giáo) liên tục suốt 400 năm. Để ngăn chận sự phát triển của Thiên Chúa Giáo, người Thổ tổ chức bắt cóc những đứa con nít thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, thường là những gia đình nghèo, đưa sang vùng cai trị của Thổ, bên kia sông Drina. Những đứa bé này được cải sang đạo Hồi và lớn lên như người Thổ. Rất nhiều bà mẹ đưa con đi chợ với mình, quay nhìn lại không thấy con đâu, rượt theo kẻ cướp cho đến bờ sông Drina, dừng lại, ngơ ngác nhìn theo chiếc phà chở con qua sông. Lúc đó, phà là phương tiện duy nhất để qua sông. Bên kia là vùng cai trị của đế quốc Thổ.

Thời gian đầu ở Mỹ, cả gia đình tôi còn lại Việt Nam. Hình ảnh những bà mẹ đứng ngơ ngác bên này sông Drina luôn ám ảnh. Có nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy dẫn các con đi chơi, đang ngồi ăn uống vui vẻ, chợt nhìn lại không thấy con mình đâu. Tôi thức dậy, tim còn nhói. Mãi sau này, bao nhiêu năm sau khi đã đoàn tụ đầy đủ với gia đình, những giấc chiêm bao như vậy thỉnh thoảng vẫn hiện ra. Tôi đồng cảm với cái nhói tim của ông Tể Tướng Thổ, Mehmed-pasa Sokolovic’. Một trong những đứa bé bị bắt qua sông Drina như đã nói trên đây được một gia đình quyền quí Thổ nhận làm con nuôi, đổi đạo, đổi tên. Lớn lên, nhờ tài năng, thăng lần lên đến bậc thang cuối cùng của danh vọng, giúp đế quốc Thổ bành trướng tận Trung Âu, giữ chức Tể Tướng (First Grand Vizier) cho Thổ. Với ông Tể Tướng Thổ, chuyện đứa bé bị bắt đưa qua sông ngày nào tưởng đã hoàn toàn đi vào quá khứ. Nhưng không, có người nói là ông thường bị những cơn nhói tim. Vào một lúc như vậy, có lẽ, ông làm một quyết định lớn là cho xây một chiếc cầu qua sông Drina. Xây từ năm 1566 nhưng mãi đến 5 năm sau mới hoàn tất. Và, từ đó, cây cầu cũng như con sông tiếp tục chứng kiến bao đổi thay, bao bi hài kịch của cuộc đời, và cả bao tàn phá lẫn xây dựng.

Ở trên, tôi có nói về buổi thuyết trình của Bửu Ý trong một giảng đường của Đại Học Duyên Hải. Cũng chính trong giảng đường đó, một người bạn khác, nhà thơ Huy Tưởng, đã trình bày một đề tài về Thi Ca. Tôi xin kể lại đây câu chuyện mở đầu của Huy Tưởng. Có một ông thần, một buổi tối đẹp trời ông bay qua một con sông, nhìn xuống thấy một người con gái đang tắm dưới ánh trăng. Ông đoán đó là một hình ảnh đẹp và ông muốn biết nó thực sự đẹp như thế nào, ông muốn tận hưởng nó. Ông phải đến gần. Sợ gây tiếng động mạnh làm cô gái hoảng sợ, ông biến thành một con chuột, nhẹ nhàng đến gần cô gái. Tuy nhiên, là chuột thì cái ham thích chỉ là những rác rưới trên bờ sông, nó không màng gì đến cô gái, nó không thấy cô gái đẹp chỗ nào. Thất bại. Ông biến ra nhiều hóa thân khác. Có hóa thân là một vị hoàng đế trẻ đẹp, quyền uy. Nhưng, khi thấy cô gái, vị hoàng để chỉ muốn ra lệnh đưa nạp cô vào cung. Thất bại. Và, nhiều thất bại tiếp theo. Cuối cùng, ông quyết định biến thành một thi sĩ. Người thi sĩ thấy được cái hồn nhiên, thanh thoát của cô gái, và cái đẹp tuyệt vời của sự quyện lẫn giữa thân xác mịn màng với trăng vàng long lanh trên mặt nước. Ông thành công.

Huy Tưởng! Bạn đang ngồi đâu đó, nếu có đọc những dòng chữ này xin đừng cười. Dĩ nhiên là tôi… cương. Bao nhiêu năm tháng đã qua rồi, làm sao tôi nhớ cho đúng hết những gì bạn nói. Nhưng, tôi tin là tôi không sai ý. Dầu sao, tôi cũng chỉ muốn mượn câu chuyện này để nói đôi lời với các bạn trẻ. Hãy đem văn chương vào đời sống. Dù có làm thơ hay viết văn hay không, hãy đến với cuộc đời bằng tâm hồn của một thi sĩ. Bạn sẽ thấy cuộc đời đẹp hơn. Bạn sẽ thấy con người đẹp hơn. Dĩ nhiên, bạn vẫn có thể làm thơ hay viết văn mà lại không đến với cuộc đời bằng tâm hồn một thi sĩ. Nhưng, đó là câu chuyện khác.

Khi nhắc đến thành phố Visegrad, nơi có cây cầu được xây qua sông Drina, tôi nhớ đến cái thành phố tôi đã sống suốt tuổi thơ. Như nhiều người, tôi thỉnh thoảng vẫn có một ước mơ biết là không thể có, là có lại cái tuổi trẻ của mình. Của những ngày mà ba má tôi còn, tất cả anh chị em tôi còn, và cái hồn nhiên của tôi còn. Chỉ là mơ ước, dĩ nhiên! May mắn là bên cạnh những cái không còn đó, có những cái vẫn còn. Những con sông chảy qua thành phố, và biển. Từ một con sông chảy ra biển, một sớm nào tôi đã theo đó mà ra khơi. Tôi đã hò hẹn với con sông, với biển, và với bao nhiêu người là tôi sẽ trở lại. Và, tôi đã gặp lại rất nhiều trong số đó. Tôi nhớ mấy câu thơ của một người bạn Nha Trang của tôi, nhà thơ Hải Phương:

Cám ơn biển

biển trùng khơi con sóng vỗ

trăm nhánh sông hò hẹn chuyến đò qua

…

Trương Vũ

Maryland, cuối tháng 7 năm 2017

Ðiêu Thuyền

vandoanviet.wordpress.com

Miêng

Post on 3 Aug 2018

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Văn Hải Ngoại Sau 1975

Kỳ 58

Chị bước đi với bước chân chơi vơi vô hồn. Cũng không phải lần đầu trong đời hai chân đong đưa chị vào nỗi u mê vô định,  nhưng lần này thì quả thực chẳng khác chiếc lá khô để cơn gió mặc tình cuốn đi lơ lửng, ngập ngừng.

Thỉnh thoảng một bác xích lô tấp tới gần, cô hai ơi xích lô cô hai. Chị đủ bình tĩnh mỉm cười đáp lễ. Cái mỉm cười của một Ðiêu Thuyền sắc nước hương trời nhưng chưa bao giờ làm xiêu lòng Lữ Bố – Lữ Bố của chị. A, Lữ-Bố-của-em! Chị khựng lại giữa trời Sài Gòn nắng chang chang tháng sáu, tay đưa lên đầu, vẻ sững sờ như bất chợt vừa khám phá ra điều gì. Chị nhíu mày kêu lên, mắt reo vui:

– Thì ra là tại anh chớ ai? Anh đã cướp đi mất tiếng hát của em rồi chớ còn tại sao nữa?

Tay tự động buông xách, chị ngồi bệt xuống đường bắt đầu làm điệu bộ hát. Không ai nghe gì nhưng cứ nhìn chị trong tư thế đó thì người đi đường quay lại cười, bảo điên. Phải, điên. Hồi mười sáu tuổi hát văn nghệ cho xã, bạn cũng bảo điên sao mà chịu đóng nhiều màn như vậy, mất bao nhiêu ngày giờ tập dượt. Nhưng khi khán giả ra về, người đàn ông đứng tuổi chờ chị trước cổng trường, bảo:

– Cháu gái, cháu có giọng ca rất hay. Nếu gua mở gánh hát, cháu làm đào chánh chịu hông?

Chị tròn mắt nhìn, không nghĩ đến chuyện trả lời. Ðó là cái mộng vẫn nuôi từ hồi mới biết hát tập tành. Ông cười:

– Ðừng lo, có cái cháu thiếu tập dợt kỹ thực thôi. Rồi gua sẽ chỉ thêm cho cháu.

Chị về mừng rỡ khoe với mẹ và cười vang vang. Mẹ bảo:

– Cái con này, cười gì mà cứ như con điên vậy. Bao giờ ổng lập gánh hát thiệt hẵng hay chớ chưa gì mà đã cỡn lên.

Ông là nghệ sĩ già về vườn, nói là làm. Gọi gánh hát nghe cho sang chớ chỉ có ông già ôm cây đờn kìm, anh kép trẻ cũng chẳng hay ho gì hơn chị, và ông ta thôi. Tuồng Con Tấm Con Cám anh kép trẻ hoá trang thành con gái làm đứa em độc ác hành hạ chị. Tuồng Trầu Cau thì ông già dồi thật nhiều phấn lấp các rãnh nhăn nheo, làm ông anh hoài công đi tìm người yêu và em trai. Tuồng Phạm Công Cúc Hoa thì ông cạo nhẵn râu đóng vai bà mẹ, ngồi bắt chấy cho hai con trên nấm mộ chính mình. Và tuồng Thạch Sanh Lý Thông ông cố vẽ cặp mắt đã sụp cho rõ to với vẻ dữ dằn đanh ác, mặc dầu chưa ai biết Lý Thông thật có bộ mặt thế nào… Bộ bốn nương vào nhau mà sống. Hát hết đình này miễu nọ, nào có tốn tiền thuê rạp. Cảnh chiến trường thì bẻ vài nhánh cây dắt lên, cảnh khuê phòng thì dùng tấm chăn của ông già đã mòn rã tự muôn đời. Vậy mà cũng có người coi, cũng được thiên hạ vỗ tay và cuộc đời vẫn tiếp tục. Chị cũng tậu được mấy cái áo lụa nội hoá đủ màu, tạm thay đổi cho các vai chị đóng. Mà nào có ai đòi hỏi chi nhiều!

Họ đi gần hết xóm làng miền Nam để hát. Cũng vẫn chừng đó tuồng hát đi hát lại. Ðược một năm, bạn anh kép trẻ là lính ở Huế về thăm nhà. Mấy hôm đó trời mưa tầm tã, các đường làng lầy lội nên gánh hát tạm nghỉ vì không ai đi xem. Nhưng nếu có khán giả, diễn viên cũng không đủ hơi sức gào thi với gió. Anh kép trẻ rủ bạn lính đến tán gẫu. Chuyện lính có gì để kể ngoài đời sống phong trần quân nhân và các trận đánh nhau. Và làm sao chuyện tày trời như Tết Mậu Thân ở Huế mà một người lính từ đó trở về lại không lấy làm cái tin sốt dẻo nhất. Kể nhiều chuyện xong, anh lính bảo:

– Ðu mẹ, tui có kể tới tháng sau thì cũng hổng tả hết cái ác độc, cái rùng rợn của tụi nó được. Mấy ông bà là nghệ sĩ thì diễn tả mới hết ý chớ tui nói thì nhằm nhò gì. Nhai đi nhai lại chi hoài ba cái tuồng cũ chán thấy mẹ!

Phải! Phải! Hai ông kép hì hục hơn tuần lễ soạn ra tuồng mới. Ông kép già chỉ vào mặt anh kép trẻ:

– Thằng sĩ guan ngụy ác ôn kia, mày đã tới ngày đền nợ máu nhân dân rồi.

– Ðồ Việt cộng khát máu…

Nhưng ông đâu để anh nói hết lời rủa sả quân miền Bắc, ông bắn anh kép trẻ sĩ quan. Gọi “sĩ quan” cho cái chết của anh xứng đáng với viên đạn bộ đội mà tiếng nổ là do ông đờn kìm tạo ra, chớ trên cổ áo bộ đồ lính anh bạn cho, đâu có lon lá gì. Sau đó thì xác chết lăn vào trong, đội lên đầu cái mũ bộ đội đan bằng tre sơn xanh chạy ra, và cùng với người vừa giết mình xăng xái đào hố chôn tập thể hàng loạt người. Ðêm đó chị bận nhiều áo, mỗi lần chạy vô là cởi bớt một lớp rồi chạy ra, như thể người đàn bà khác đang kêu gào cảnh thân nhân bị nạn. Cuối cùng tóc xoã tung, ràn rụa nước mắt, chị chạy hẳn xuống đám khán giả, chạy tuốt ra khỏi cổng đình. Tiếng vỗ tay vang lên như sấm:

– Hoan hô! Hoan hô cô Diệu!

Bẵng đi mấy năm không nghe tin tức gì của anh bạn lính. Ðùng  cái, năm bảy hai anh trở về Nam. Cái hàm chỉ lính quèn mà cái mạng lại to, to hơn rất nhiều ông tá, ông úy. Trải bao truân chuyên, anh vẫn còn đủ tay chân chạy về thăm mẹ, thăm bè bạn xóm giềng. Anh lại kể về mùa hè đỏ lửa, về con đường Quốc lộ số 1 đầy xác người nằm tênh hênh cho ruồi nhặng đậu, về những thân thể nhầy nhụa máu me cố lê lết từng tấc đường, về những bàn chân còn sống chạy như qủy ám, về những đứa bé đi lang thang thất thểu chẳng khác ma Hời, về những trẻ sơ sinh ngậm hoài vú mẹ hãy còn dính trên thân thể quánh máu…

Lại tuồng khác ra đời. Lại những lời đanh thép tàn mạt anh kép trẻ sĩ quan nhổ vào mặt ông kép già Việt cộng, và lần này thì anh ta bắn chết ông kép già. Nhưng ông kép già Việt cộng kiên trì với ý chí quyết giải phóng miền Nam, nếu chưa xong thì không chịu chết, ông đờn kìm phải tạo ba tiếng nổ chát chúa, ông mới chịu ngã gục thực sự! Kết quả là ba năm sau, chính cái anh đạp xe ba gác chở hàng trong xóm, ngày nào vẫn đi xem tuồng say sưa, vẫn vỗ tay hăng hái, bây giờ dẫn công an khu vực từ Bắc vào, tới còng tay hai người kép hát.

– Ði, các anh vào trại mà hát với hỏng.

Người đứng xem chật ngõ. Ai đó thậm thụt nói:

– Uả, họ có làm gì đâu, họ chỉ hát thôi mà?

Anh công an cười gằn, giọng vẫn đều nhưng rất lạnh:

– Chỉ hát thôi chớ làm nên trò trống gì. An nhàn thế sao không muốn yên, lại hát điều bậy bạ phỉ báng cách mạng?

Ngày ấy cũng như bây giờ, chị không khóc. Ðã khóc quá nhiều trong các tuồng chị đóng. Chị đứng sững, mắt mở to nhưng không thấy gì, hai tay đưa lên rồi hạ xuống, môi mím chặt. Dưới cái nắng chói chang mùa hạ, mắt đua với ánh mặt trời túa đom đóm vì uất, vì bất lực. Nhưng chị chỉ lặng lẽ nhìn theo, quên cả khấn Trời Phật phù hộ cho họ mau về, để đứa con trong bụng khi chào đời không những có cha mà còn có ông ngoại nữa.

Chị về quê với mẹ. Ngày qua ngày, túi tiền dành dụm teo đi và bụng căng ra, chị vẫn một mình. Rồi thằng con ra đời, vẫn một mình, vẫn chờ đợi, chờ đợi mỏi mòn như thiếu phụ Nam Xương. Thằng nhỏ bụ bẫm một hôm nóng sốt, bà bác sĩ trưởng trạm y tế ngoài Bắc vào, bảo nó bị lao. Bà chích hai ngày hai mũi thuốc, vào cái mông da mỏng như giấy quyến. Ba tháng sau chị tê dại thấy chân con mình cứ teo tóp ngày một ngày hai…

Ông đờn kìm tới tìm chị:

– Diệu à, hay là chú cháu mình ra chợ, tao đờn mày ca kiếm tiềng.

Chị không hát nổi. Chị không quen hát một mình. Với lại giọng chị cứ lạc đi, không ăn nhịp nữa. Chị mua bộ bài ra ngồi ké túp lều người bạn hàng xén ngoài chợ, bói. Những ngày mưa gió không hát, ông kép già thường bày chị:

– Cứ con rô là có tinh tức, tinh dui hay buồng còn tì con gì đi theo. Con bích là cầm chắc trong tay chiệng rắc rối buồng phiềng. Con chuồng là tiềng mới dô hay sắp dô. Cứ nói sắp dô cho bà con sướng. Họ có nói dô rồi thì nói nó còn lấp ló ngoài cửa, chờ dô nữa. Còn con cơ thì do chữ Tây mà ra, là con tim, là có chiệng yêu đương tình cảm gì đây.

Rồi ông cười khà khà:

– Bói cho ai, tao cứ trông mặc mà bắc hình dong, mừ lần chắc mẫm hết chính. Hồi đó trong đàng, ngay cả ông bà bầu cũng tinh goẻ tao bói. Mẹ, cái thời dàng son thiệc!

Nhờ ông truyền cái “thời-dàng-son” đó, chị cũng đủ nuôi con qua ngày. Nhưng chẳng bao lâu thì công an lại cấm, bảo gieo rắc mê tín dị đoan, nếu còn tiếp tục sẽ bắt đi cải tạo, cạo rửa cho sạch cái đầu u mê nhớp nhúa đi. Chị đành gởi thằng bé nhờ bà ngoại trông nom, lên Sài gòn đất rộng mênh mông không ai kiểm soát xuể thì hy vọng có thể sống bằng nghề này được…

Chị quỳ xuống trước mặt Lữ Bố. Bàn tay mặt cầm ly rượu với ngón út cong lên như cánh ngọc lan. Tay từ từ nâng ly rượu lên khỏi đầu một chút – cánh tay không được thẳng, phải giữ dáng điệu cái gì cũng cong cong, thật mềm mại, thật đàn bà, thật ỡm ờ, thật gợi cảm, thật quyến rũ và thật đài các. Tay trái theo câu hát vẽ thành nửa vòng tròn, từ dưới đưa lên rồi dừng lại kề bàn tay mặt, trong tư thế dâng rượu bằng cả hai tay, trang trọng, phục tùng. Ðôi mắt mà cách hoá trang làm cho thêm to, thêm xếch, thêm tình tứ đẩy đưa thì liếc xéo Lữ Bố, vừa lẳng lơ, vừa âu yếm, vừa ra vẻ e ấp thẹn thùng.

Bao nhiêu tuồng đã diễn rồi, bao nhiêu vai tiểu thư công chúa đã thủ rồi, nhưng chỉ có màn này, màn Lữ Bố Hí Ðiêu Thuyền, là chị ăn ý nhất. Chị đóng vai đó nổi bật, tuyệt vời, cực kỳ thành công mãn nguyện. Chị sống trong Ðiêu Thuyền và là Ðiêu Thuyền, để chuốc rượu nồng cho Lữ Bố. Chị cũng thích tiểu thư Mỵ Nương, ẻo lả trong căn bịnh tương tư để khi gặp Trương Chi thì vỡ mộng, truyền bịnh lại cho chàng chèo đò khốn khổ ấy. Chị cũng thích công chúa Mỵ Châu, trong đêm thướt tha chạy với cái áo choàng trắng trong suốt tơ trời, với mái tóc xổ tung, khi gặp vua cha  nũng nịu dỗi “Con tìm phụ vương đi nơi nơi. Vì sao cha yêu trán hoen sầu? Phải chăng vì thành xây không…”. Ô, không mê lắm. Ðã rứt hết lông ngỗng chiếc  áo ngự hàn để đánh dấu đường đi, nhưng Trọng Thủy tìm không ra, vì chị không gặp… Không gặp anh ấy  đâu cả, trừ ở Lữ Bố Hí Ðiêu Thuyền…

Người đi đường bắt đầu để ý. Họ dìu chị vào ngồi dưới bóng râm nói với nhau:

– Tội nghiệp, bây giờ sao lắm người quẫn trí quá!

Chị gật đầu, đưa tay sờ soạng vừa tìm vừa hỏi:

– Bà coi chuyện gì?

Người ta nhìn nhau ái ngại. Nhớ rồi, cặp vợ chồng ấy sang trọng, anh chồng ít nói. Khi quẻ bài lật ra, chị nhìn họ chăm chăm chẳng biết nói gì. Vì nó lạ quá. Ai tới bói bài cũng với một ước mơ giản dị là đi xa, coi cho biết tới nơi tới chốn bình yên không. Cơn sốt đi. Ai cũng muốn, ai cũng liều, cầm bằng đánh cá mạng người. Nhiều người cũng vì đi mà sạt nghiệp trắng tay. Nhiều người cũng vì đi mà gia đình tan nát. Nhiều người cũng vì đi mà làm mồi cho cá biển. Nhiều người cũng vì đi mà đem thân nô lệ xứ người… Rồi họ lọc lừa gạt gẫm nhau, tán tận. Ban đầu gạt người dưng, rồi tới gạt người quen và cuối cùng gạt người thân. Ai vẫn thường nói Việt Nam ta không có thói quen đi xa, không bao giờ muốn rời khỏi lũy tre làng?

Nhưng cặp này không coi để đi xa. Chung quanh anh có rất nhiều bè bạn, nhưng lúc nào lật ra cũng có con xì bích. Con bích là cầm chắc trong tay chiệng rắc rối buồng phiềng. Chị nói:

– Hôm nay bài không lên. Thôi mời ông bà bữa khác trở lại.

Người ta lại nhìn nhau, lại bàn tán không biết có nên đưa chị đi nhà thương không. Vài người lắc đầu vẻ thương hại, bỏ đi. Cặp vợ chồng sang trọng ấy cũng bỏ đi. Họ vừa tới cửa, không biết cái gì xui giục, chị bỗng dưng cất giọng:

– Ðờn kêu tích tịch tình tang, Ai đem công chúa lên thang mà dìa!

Lạ! Chị giật mình vì cái ngân nga của chính giọng mình. Vậy mà bao lâu nay cất tiếng không lên! Hai vợ chồng kia cùng quay lại. Rồi chị theo họ, ông bà bầu gánh hát lớn ở Sài gòn. Và từ đó, chị sống đổi đời, không thấp thỏm nay căn gác này mai căn gác nọ trốn công an vì tội gieo rắc mê tín dị đoan nữa.

Chị tập dượt chăm chỉ, hết lòng. Buổi trình diễn đầu tiên run lập cập từ đầu đến chân bởi chỉ quen bầu không khí thoáng giữa trời  sân đình sân miễu, với tiếng ồn ào la ó con nít. Bây giờ sân khấu thênh thang kín bưng và khán giả im phắc, nghiêm chỉnh đợi chờ. Khi tấm màn nhung đỏ sẫm trịnh trọng kéo lên, chị khép nhẹ mi, tự nhủ thầm không thể lùi lại phía sau. Trước mặt không phải nét mặt thuần hậu lo âu của bà mẹ tiểu thư Mỵ Nương, mà là khuôn mặt võ vàng mẹ già chờ từng ngày đồng bạc chị gởi về.

My Nương uyển chuyển như sương khói, hờ hững trễ tràng như mây trời, mềm mại tươi thắm như nụ hoa vừa nở, ẻo lả thướt tha trong chiếc áo lụa xanh đến ngồi ở cửa sổ chờ nghe tiếng hát Trương Chi. Cô gái hầu sửa lại cái trâm trên tóc nàng và quạt nhẹ – nhẹ tới nỗi cứ như thể nếu quạt mạnh hơn sẽ làm bay mất My Nương. Mi nàng hơi sụp xuống, che dấu ánh mắt u buồn như đêm đông. Tay nàng mềm nhũn nuột nà như  bún, e ấp ôm lấy vai như thể muốn níu giữ chính mình. Rồi mông lung nhìn qua cửa sổ là đám đông khán giả, nàng cất tiếng than não nùng, day dắc buồn và truyền cảm đến rợn người… Nếu quả thật nỗi buồn là vẻ đẹp sang cả nhất mà hoá công chỉ dành riêng cho đàn bà, thì rõ ràng mối u tình của My Nương đã được bộc lộ một cách cực kỳ quý phái, làm não lòng người. Tiếng vỗ tay vang lên sấm nổ. Và từ đó, tai chị quen với lời ca tụng. Từ đó, mắt  quen nhìn tên mình viết trên áp phích nhan nhản khắp đường.

Ông bầu vẫn ít nói. Nếu có dịp mở miệng thì luôn luôn kèm theo  câu “thà chết trẻ hơn sống già vô ích”. Và anh có biệt danh ông “thà chết trẻ”. Ngoài lúc đóng tuồng, anh có cuộc sống khép kín hoàn toàn. Vãn hát là cùng vợ ra về ngay, có khi vội vã còn cả son phấn hoá trang. Với chị, anh giữ khoảng cách đúng mực giữa đàn ông đàn bà, giữa nữ diễn viên và ông chủ. Gặp nhau anh chỉ mỉm cười, chào thật ngắn rồi thôi, như thể họ chưa bao giờ quen nhau, chưa bao giờ chị là Ðiêu Thuyền ngồi trên đùi anh là Lữ Bố. Bà chủ bầu thì lúc nào cũng bặt thiệp, duyên dáng và tốt bụng với tất cả mọi người. Bà quán xuyến hết mọi việc, từ việc trả lương cho diễn viên, người làm, tới việc ra hầu toà như có lần anh hề làm reo đòi tăng lương không thì nghỉ. Bà thản nhiên thay thế màn hề bằng màn tân nhạc. Anh hề mất việc khơi khơi, kiện. Ra toà, bà bầu bình tĩnh nền nã đoan trang mệnh phụ, nhìn thẳng vào ông chánh án, mỉm cười:

– Tôi phận đàn bà mà nếu không cứng rắn thì mạnh ai nấy làm reo, làm sao tôi điều khiển nổi gánh hát cả ba bốn chục người?

Nhưng rồi một lần, chỉ một lần thôi mà sẽ đánh dấu trong em trọn đời. Lữ Bố đưa quạt che cho quan Tư Ðồ không thấy là chàng đang âu yếm hôn Ðiêu Thuyền. Mặt anh kề sát mặt em, mắt anh mỉm cười. Em hoảng hốt tự hỏi làm sao có thể gần nhau đến vậy. Và tâm hồn em dãn ra, cái kỳ diệu ấy thấm lịm vào người. Em nhắm mắt lại, giữ hoài hình ảnh đôi mắt anh cười thật sát bên em. Mắt anh nói quá chừng làm em bối rối không hiểu hết thứ ngôn ngữ riêng tư của nó – một thứ ngôn ngữ kín đáo, đằm thắm, nồng nàn. Nó reo vui trong mắt anh làm em nín thở, chìm đắm nỗi u mê ngan ngát tuyệt vời . Anh gần em quá, gần em quá chừng. Không gì có thể gần hơn như vậy nữa. Nó vừa khiến em sợ, vừa làm em hân hoan vô tả. Môt mùi hạnh phúc tinh thuần làm em nao lòng. Hình như trái đất ngừng quay, sao em choáng váng. Hình như vũ trụ ngừng thở, nên em như chết ngộp. Lúc đó em quên hết đất trời. Em cũng quên mất hình ảnh mẹ tiều tụy vừa nhóm lửa vừa trông chừng thằng cháu ngoại lê lết dưới sàn. Em cũng quên mất là nó không bao giờ bước đi được với đôi chân tàn tật…

– Lại làm bộ điệu như đang đóng tuồng. Bà con có nghe cổ hát gì không? Sao cổ nói thì ra tiếng mà hát thì lại không ra? Nè cô, cô muốn nói cái gì?

Em muốn nói cái gì? Về chuyện gì kia? Về cái đêm kinh hoàng  tài xế anh hớt hải trở lại rạp, báo tin cho cả đoàn biết là anh vừa bị công an bắn hạ? Họ nói khám phá trong nhà anh chị có vũ khí và truyền đơn chống chính quyền. Chống chính quyền! Anh ơi, nghe ghê gớm quá. Anh có làm chuyện đó thật sao? Nhưng anh chống cự làm gì cho họ bắn anh tức tưởi  vậy chớ?

– Nè cô, nhà cô ở đâu để tui đưa cô về giùm?

A, nhớ ra rồi. Nhà chị ở rạp hát. Nhưng ngay cái đêm hãi hùng ấy thì mọi thứ đều bị niêm phong. Bà chủ vào tù. Thế là mảnh đời riêng tư của họ đã gắn liền với số phận chung của bao sinh mạng. Ðoàn hát tan rã, mỗi người một nơi, nín thở, nghe ngóng. Ðám tang của ông bầu bị cấm tổ chức rình rang, nhưng mấy ông bà nghệ sĩ mà, cứ họ chường mặt ra đường là cả khối người mê hát đi theo. Thành ra thiên hạ vì lòng ái mộ tò mò đi theo người chết đã đông, đi xem người sống còn đông hơn nữa. Nhiều kẻ sụt sùi. Xe tang nhích từng bước. Nhiều con đường tắc nghẽn. Nhân đám tang này, người ta xầm xì bàn tán về cái chết nữ nghệ sĩ Thanh Nga trước đó không lâu.

Rồi bà bầu đoàn khác mời chị, đầu tiên là Lữ Bố Hí Ðiêu Thuyền. Cũng hay, đời chị lúc nào cũng có người mời đóng tuồng. Hai tay nâng ly rượu ngang mày, giọng chị thánh thót ngân nga:

– Trước kính dâng một chén tửu hoàng, xin miễn chấp phận hèn bồ liễu…

Chữ “trước kính” chị lên thật cao, sau đó giọng xuống dần và tới chữ “hoàng” thì phải xuống thật thấp. Chữ “chấp” chị lại lên thật cao để chữ “hèn bồ” xuống thấp rồi giọng lại rướn cao lên ở chữ “liễu” với giọng rung rung kéo dài vô tận.

Nhưng còn tệ hơn mấy hôm dượt thử với anh kép đoàn này, bởi dù với tất cả điêu luyện hồi giờ, giọng chị vẫn không thoát ra khỏi cổ. Chị chỉ nghe loáng thoáng vài tiếng đứt quãng. Lữ Bố và Quan Tư Ðồ đều trợn mắt nhìn, che quạt nhíu mày bảo hát to lên. Chị lại hát, vận hết sức mình. Họ lại nhăn mặt. Một tiếng huýt sáo. Rồi nhiều tiếng huýt sáo vang lên từ phía khán giả. Tấm màn nhung bàng hoàng hạ xuống. Tiếng la nho nhỏ, tiếng chân chạy tới kéo chị dậy. Chỉ còn  là cái xác, chị ngẩn ngơ không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Bởi vì anh ơi, người Lữ Bố mới đó không phải là anh. Có cái gì trong em chối từ những ve vuốt ấy. Ðôi mắt anh ta cũng nhìn sát bên em nhưng không cười, nó câm nín, vô hồn, em không nghe lời nào và em dửng dưng không cảm xúc.

Nhưng em đâu biết mình đón nhận cái nhìn đó nơi anh lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng? Vãn tuồng, trong khi anh ra về vội vã hơn mọi ngày thì em vẫn ngồi uể oải bên cánh gà, nhìn mông lung xuống rạp vắng teo. Từng hàng lưng ghế chẳng khác những tấm bia mộ lạnh lẽo chạy dài, chạy dài ra mãi. Rạp hát thênh thang buồn như nghĩa trang. Em ngồi đó, lặng lẽ nâng niu ánh mắt cười của anh, nó mới mẻ quá làm em vẫn còn choáng váng, nó thân ái quá làm em lịm người, nó đẹp quá làm em sững sờ. Và anh ơi, nó là của anh dành cho em, cho riêng em thôi!

Chợt một nỗi phiền muộn không tên, một nỗi bồn chồn vô cớ, một cảm giác hụt hẫng ngột ngạt xen lẫn với niềm hạnh phúc đứt quãng xâm chiếm em. Em vẫn còn trong bộ áo Ðiêu Thuyền. Rồi em nghe cái tin khủng khiếp ấy. Vậy em là Ðiêu Thuyền nhận hạnh phúc và bất hạnh từ anh. Ðầu óc em ráo hoảnh, đặc cứng trước hung tin đó. Em không tin vào tai mình, em không tin chú tài xế của anh, em không tin ai cả, nhưng em biết là anh thực sự xa em nghìn trùng. Những quẻ bài sau này bói một mình cho anh, nghĩ tới anh, em thấy có chiếc quan tài… Vậy mà trong đầu óc chằng chịt buồn phiền, chưa bao giờ em  nghĩ rằng ngày nào đó, trên cõi đời này lại không còn có anh, và như vậy thì cũng không còn có em nữa – bởi vì làm sao người ta sống mà không có tình yêu tiếp sức? Thà chết trẻ…

Thiên hạ rầm rập chạy tới bên em. Có người la lên giựt tóc mai cho cổ tỉnh. Ba, chạy đi lấy cho chị hộp cù là. Họ muốn lột quần áo em ra, em ráng thều thào đừng… đừng… để Ðiêu … Ơ thì Ðiêu Thiềng điêu bè gì cũng được, mà cũng phải cởi bớt ra ở cổ cho dễ thở chớ, hổng thấy đang xỉu hay sao. Em muốn gượng ngồi dậy, muốn nói là em đâu có xỉu. Việc gì mà xỉu? Chỉ tại trên tóc Ðiêu Thuyền đủ thứ trâm cài lược dắt làm đầu em nặng quá chao đi, chao đi… Anh ơi, đầu em nặng quá, nặng quá, em không chịu nổi sức nặng… không chịu nổi…

Không biết sau khi mắc kế liên hoàn của quan Tư Ðồ, cuộc đời Lữ Bố ra sao. Còn anh thì đã bỏ em rồi, bỏ em mãi mãi. Anh thật xa, thật xa, xa em quá chừng – nhưng ánh mắt anh ở lại, vẫn còn đó, vẫn theo em ngọt ngào. Nó sẽ theo em hoài hoài, khi em cười hay khi em khóc, trên sân khấu đời cũng như sân khấu tuồng. Ôi kỳ diệu thay là cái cười của mắt!

Bây giờ thì ngồi sát lại em thêm chút nữa đi anh, và nhìn em, và cười với em nữa đi… Ðó, như vậy, để em dâng cho Lữ Bố của em một ly rượu nồng. Ðây, uống đi anh, uống cho hạnh phúc ngắn ngủi của em, uống cho nỗi buồn trầm mặc của em. Và uống đi anh, cho giọt yêu đương hiếm muộn tựa giọt cam lồ nuôi em bớt khổ ải nhọc nhằn với cuộc đời còn lại…

Người tò mò đứng xem càng lúc càng đông. Xe hơi cũng dừng lại làm giao thông bị nghẽn một khúc đường. Chị mỉm cười nhìn mọi người – nụ cười của một Ðiêu Thuyền sắc nước hương trời. Và chị qùy xuống, tay phải làm như cầm ly rượu, với ngón út cong lên như cánh ngọc lan, tay trái vẽ nửa vòng tròn từ dưới đưa lên rồi tựa kề tay mặt. Mắt lim dim mơ màng liếc xéo đưa tình, chị cất tiếng – và lạ chưa, người ta nghe giọng chị ngân nga lảnh lót, truyền cảm đến rợn người:

– Trước kính dâng một chén tửu hoàng, xin miễn chấp phận hèn bồ liễu…

Bỗng người đứng xem kêu lên:

– Trời ơi Ðiêu Thuyền chớ ai! Nữ nghệ sĩ Diệu Lan chớ ai!

Vài người ứa nước mắt:

– Trời cao đất dày ơi, sao cổ lại nên nông nỗi này trời?

Và không hẹn, mọi người đồng thanh kêu lên:

– Ðiêu Thuyền! Ðiêu Thuyền!

Chị nhìn lên ngơ ngác, thức dậy sau một cơn mơ. Nắng Sài gòn chang chang tháng sáu bỗng tối sầm lại, vài giọt thánh thót rơi, ban đầu còn ngập ngừng rồi bỗng túa ào ra. Nhưng không phải trời mưa. Mà là Ðiêu Thuyền bật khóc.

MIÊNG

Paris, Juillet 1994

Văn Hải Ngoại Sau 1975 – Miêng

vandoanviet.wordpress.com

Post on 23 Jul 2018

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Kỳ 57

Miêng là người cầm bút từ trước năm 1975, đã đoạt giải nhất truyện ngắn do tuần báo “Hoa tình thương” tổ chức năm 1972, và tập truyện ngắn đầu tiên “Đôi mắt” được xuất bản ở Sài Gòn năm 1973. Năm 1999, ở Pháp, Miêng cho ra mắt một Tuyển tập truyện ngắn.

Ngoài việc sáng tác, Miêng còn có một sở thích khác: dịch thuật, và đã có một Tuyển tập truyện dịch xuất bản năm 2001, gồm những tác giả nổi tiếng thuộc Á Châu: Hwang Sun-Won, Shiga Naoya; Phi châu: Naoum Nabil; Mỹ châu: O’ Henry, Fernando Ainsa; Âu châu: Tchekhov, Alberto Moravia, Milan Kundera, Jim Phelan.

(theo https://lieutruongvietvadoc.wordpress.com/2016/)

Mấy đoạn tự bạch & dư luận về tác phẩm

Hỏi:  Tại sao chị chọn viết văn thay vì làm thơ? Sự thành công đã mang lại gì cho bản thân chị?

Trả lời:  Về quan hệ văn-thơ, chúng tôi có người bạn đã lập thuyết rằng người ta viết văn vì không làm thơ được. Không biết điều đó có đúng cho mọi người không, và đúng tới mức nào. Riêng tôi thì có thử làm thơ nhưng không hài lòng, rồi bỏ luôn, và không tha thiết trau dồi thể loại này. Có lẽ vì tôi vẫn bị lôi cuốn bởi nghệ thuật kể chuyện hơn là dũa mài ngôn ngữ. Còn sự thành công? Nếu có, nó đã mở đường dẫn đến cho tôi những người bạn mới. Tôi rất trân trọng điều này bởi vì hình như sống nơi xứ người, tình bạn có hệ số gấp đôi. Và cùng lúc, nó cũng mở cửa tâm hồn bạn bè qua những câu hỏi họ đặt ra từ những truyện tôi viết, giúp chúng tôi hiểu nhau và gần gũi nhau hơn. Về những sáng tác của mình, nói hãnh diện thì hơi quá, nhưng tôi có hài lòng. Khi viết, trước hết là viết cho mình, không bao giờ tôi đặt câu hỏi viết làm gì, viết cho ai. Viết ra, có người đọc, có người chia sẻ, “mua vui cũng được một vài trống canh” là thấy mình cũng đã mang lại chút đỉnh gì cho đời sống hàng ngày rồi. Ở đây, nếu thích phóng đại thì có thể nói rằng mỗi một ngón đàn, cây cọ, cây bút… đều như một bông hoa hương sắc khác nhau, tất cả tạo nên vườn hoa cho mọi người thưởng ngoạn trong phút giây nhàn hạ. Mà vườn hoa có phong phú thì mới mong tìm ra vài loại kỳ hoa dị thảo. Tôi rất mong mỏi điều này cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại, không chỉ thu hẹp trong lãnh vực văn chương nghệ thuật, mà nói chung trong mọi lãnh vực.

Hỏi: Truyện ngắn “Ai Thương” đã lột trần tình yêu với một giọng văn đau đớn nhưng trong trầm tĩnh. Chị nghĩ thế nào về tình yêu? Về sự phản bội trong tình yêu? Về sự thất vọng trong tình yêu mà nhân vật chính phải chuyển hướng tình cảm qua người đồng phái tính?

Trả lời: Tôi không có khuynh hướng lập thuyết và rất sợ lập thuyết, bởi vì tất cả các lý thuyết đều có giới hạn, đều đơn giản hoá cuộc đời nhiều lắm. Không ai chối cãi là tình yêu, nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, đều rất quan trọng; đối với một số người, tình yêu nghĩa hẹp lại còn quan trọng tới nỗi nó chi phối, đưa đẩy và quyết định hết thảy mọi điều. Dầu vậy không phải hoàn cảnh nào cũng giống hoàn cảnh nào, và mỗi người có cách ứng xử khác nhau. Ví dụ khi thất tình, người có thể đi tu, người có thể tự tử, người có thể hận đời đến nỗi trả thù lên bất kỳ một người nào khác. Ngược lại, cũng có người bản lĩnh hơn,… “điểm phấn tô son lại, ngạo với nhân gian một nụ cười”. Truyện ngắn Ai Thương, tôi chỉ muốn diễn tả một cô gái không quyết đoán, cứ để cuộc đời đẩy đưa bằng những bước tình cờ. Cô “theo” người đàn ông thứ nhất vượt biên, cô “gặp” người đàn ông thứ nhì bảnh trai, mắt ướt môi mọng, cô “bẽn lẽn” với người đàn bà và làm theo lời ngoại dặn: “Ai nói thương thì theo nó đi, đừng hòng ai mang trầu rượu…”. Tôi không hề tỏ ý rằng vì bị bỏ rơi mà cô phải chuyển hướng tình cảm qua người đồng phái tính, cũng không cản đường nếu lúc đó cô gặp và yêu một người đàn ông khác. Tôi nghĩ là không có quy luật, mà chỉ có những trường hợp cá biệt thôi.

* * *

Tôi chưa bao giờ tự cảm thấy mình là một “nhà văn”, mà chỉ là một người “kể chuyện” thôi. Cho nên nhà văn thiệt thì không biết họ viết thế nào, về phần tôi thì muốn viết cứ ngồi vào máy, không suy tính phải “cẩn thận, chừng mực” gì cả. Nếu tôi được tiếng ‘cẩn thận chừng mực’thì chắc tại tôi không quen viết dông dài.

Mỗi lần ngồi xuống để viết – và nhất là viết ra được cái gì – là một thú vị vô biên! Nhà tôi là độc giả đầu tiên. Mỗi lần viết xong, tôi nhờ nhà tôi in ra đọc và phê bình. Có khi viết xong mà không biết đặt tên gì, lại nhờ nhà tôi đặt giùm, và khi nghe phán “truyện được” thì tôi thấy yên tâm, vì “nhân vật” này thuộc loại “khó chịu”, nếu phán ‘được’ thì mừng như ngày xưa nhận “imprimatur”! Và ít nhất trong số độc giả chê cũng sẽ bớt đi một mạng !

…Tôi vẫn thường nói văn tôi già và nhà quê, nên ai cũng thấy “bánh quả bàng”chớ không phải bánh sâm banh. Xin cảm ơn qúy anh đã khen tôi “tài tình”. Còn về “bí quyết” thì tôi “không làm văn”, tôi cứ viết giản dị, nghĩ sao viết vậy, như nói, mà dĩ nhiên không cà lăm cà lặp. Tôi không cố ý trau chuốt. Tôi nghĩ truyện ngắn thì phải có vẻ như thật, phải rõ ràng và ngắn gọn.

“Nhà văn có thể vừa là bà tiên mà cũng vừa là phù thủy được không? bởi vì mới ở dòng đầu họ viết thật ngọt ngào, thật gắn bó yêu thương, nhưng ngay những dòng kế đó thì họ lại viết thật phũ phàng cay đăng ?” (Triều Hoa Đại)

Nếu đúng là “nhà văn” thì tôi nghĩ chắc được. Một diễn viên giỏi là người thủ được nhiều vai, và vai nào cũng xuất sắc. Nhưng “nhà văn” kiểu đó thì là nhà-văn-nhà-nghề rồi. Trong khi chỉ là “người viết” hay “nhà văn nghiệp dư”, để tình cảm dẫn dắt thì tôi vẫn tin “văn là người”, ít nhiều gì nó cũng phản ánh tâm hồn mình trong cách viết.

Ngày nay chẳng thiếu gì tác giả vẫn cho rằng tiểu thuyết chính nó là một quái vật trong văn chương nếu người ta không rút tiả được cái gì cho cuộc sống…, kiểu ‘văn dĩ tải đạo’ bên mình thuở xưa. Trong Cái Giếng tôi muốn nói một sự thực là nhiều người ngay cứ thường bị rủi ro bất hạnh, không hẳn cứ ở hiền là gặp lành. Nếu Cái Giếng làm độc giả thấy được điều đó thì tôi cho là mình thành công rồi

TRIỀU HOA ĐẠI 

thực hiện

***

TRÁI TIM CỦA MIÊNG

VÀ NỖI BẤT HẠNH

CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ

Ðến với Miêng, người đọc bắt gặp ngay cái tâm bão của bà: dựng lại những bất hạnh của người phụ nữ trươc dông cuồng của thời cuộc, trước sóng gió của lòng người. Tại sao không là hạnh phúc, mà lại là những nỗi bất hạnh, những bi kịch lớn? Bước vào từng truyện ngắn, người đọc sẽ tìm được câu trả lời cho chính mình.

Ðã có nhiều chục ngàn trang sách để viết về phái nam trong thời chiến, sau cuộc chiến, và trên xứ người. Số trang sách dành cho những người phụ nữ cùng thời, quả có hiếm, nếu không muốn nói là quá ít ỏi. Thiếu bình đẳng chăng? Thật ra không phải thế. Có lẽ những gì mà người đàn ông trải qua, thường dễ nhận biết. Còn ở người phụ nữ, nỗi đau dai dẳng không kém nhưng âm thầm hơn. Vết thương của họ cũng sưng tấy lên với đổi dời của thời cuộc, với bi đát của quê hương. Bản tính của người phụ nữ là chịu đựng, nên cái đau của họ ít lộ ra bên ngoài. Nhưng cũng có lẽ, đi sâu vào tâm lý người phụ nữ, chạm với niềm thống khổ tận cùng của họ, đòi hỏi một sự kiên nhẫn và một cảm thông lớn, rất lớn. Vì vậy không có nhiều tác phẩm viết về cái “đau” của họ. Chưa bao giờ có một tập hợp nhiều mảnh đời khác nhau, mà mỗi mảnh đời là một bi kịch, một bất hạnh lớn, như ở Miêng. Bà không những chỉ chụp lại những bức tranh thời thế, mà bà đã thổi vào đó những hơi thở ấm của cuộc đời, trái tim bà cùng đập những nhịp chậm, nhanh ở những giây phút bình thường hay căng thẳng cùng nhân vật, vì thế đã tạo nên những truyện ngắn đầy sức sống. Qua những truyện ngắn của bà, ngoài một tấm lòng, người đọc còn thấy ánh lên những nét tài hoa. Chân dung của những bà cụ, những người mẹ già, hiện đều và rất rõ nét trong truyện của Miêng. Mà tại sao lại phải kể chuyện về các cụ? Tôi nghĩ, đó cũng chính là câu hỏi đã chất vấn và thôi thúc Miêng trong nhiều khoảng thời gian khác nhau. Có thể đã lặp đi, lặp lại nhiều lần. Theo vòng quay của một đời người: sinh-lão-bệnh-tử, thì các cụ đã bước vào giai đoạn: lão, bệnh. Và dĩ nhiên, chuyện gần đất xa trời chỉ là chuyện phải đến, và có thể đến bất cứ lúc nào. Hình ảnh hôm nay của các cụ cũng là hình ảnh của chúng ta trong những năm dài sắp đến. Ðó chính là những tấm gương, sống thực nhất, rõ ràng nhất của cuộc đời. Mà cuộc đời vốn đa dạng, nên hình ảnh các cụ đã được Miêng vẽ lại dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Mỗi bức chân dung chứa đựng những ưu tư, những dằn vặt, những ám ảnh, những dồn nén, những cô đơn, những dông tố, v.v., và tất cả những điều vừa nói, đã gom lại làm thành những cơn sóng dữ, phủ lên cuộc đời của họ. Rồi các cụ, lan rộng sang những người phụ nữ trẻ, từ trong nước, ra đến từng ngóc ngách bên ngoài hình cong chữ S. Ở bất cứ một nơi nào, người đọc cũng bắt gặp những nỗi bất hạnh nghiệt ngã của họ.

Người phụ nữ không chỉ đối diện với những con sóng bạc đầu của lịch sử, mà họ còn phải chịu đựng những nghịch cảnh bắt nguồn từ những tập quán lâu đời của xã hội. Rõ ràng nhất và sống động nhất là hình ảnh của chị Thảo trong truyện ngắn Hiếu Thảo. Ở đây, khi bậc cha mẹ quyết định hết mọi thứ cho con cái, điều vẫn thấy trong gia đình người Á đông, dù rằng con cái đã trưởng thành, đã tạo ra những bi kịch lớn cho con mình. Khi con cái không thể quyết định theo ý mình, kết quả là họ chỉ như một chiếc bóng đeo đuổi bên cạnh thế hệ trước. Ðời họ tiếp nối từ sự lỡ làng này đến những mất mát nọ. Như chị Thảo trong truyện, khi ở tuổi yêu đương thì cha mẹ từ chối lời cầu hôn của người yêu vì không môn đăng hộ đối. Khi bước vào lớp tuổi “lỡ cỡ”, cha mẹ lại một lần nữa tự quyết định lấy cho chị “Mày muốn thì cứ đi, chứ sống nhờ vào rể là tao không đi”. Khi đến đường cùng thì “Bây giờ nếu có thằng nào muốn dẫn con Thảo đi ngoại quốc, tao cũng cho đi. Người Miên cũng được” (trang 104). Cuộc đời đâu phải ai cũng ngồi đó mà chờ đợi chị Thảo. Vì thế, chị với mẹ mình như hình với bóng. Khi bà cụ mất đi, đời chị không còn gì nữa, con người hoá điên rồ. “Chị Thảo chà xát phiến đá trên mộ mẹ với tất cả sức lực của chị. Chị chà với vẻ khẩn trương, miệng lẩm bẩm người ta bảo chà khô mới bóng, người ta bảo chà khô mới bóng. Chị có hình ảnh của người đang lên đồng. Mặt võ vàng, buồn rười rượi, mắt ráo hoảnh khô cứng trước cái nhìn lúc nào cũng ngơ ngác vô định, nhưng miệng luôn luôn mấp máy nói chuyện với ai. Trông chị như miếng giẻ khô nhúng nước” (trang 101).

Ðây là một bi kịch lớn của người Á đông, và nhất là người Việt Nam.

Nhìn qua lăng kính cuộc đời, trước hết, Miêng sống và thở với nhân vật của bà trong những giai đoạn khắc nghiệt của đất nước. Giữa những gọng kìm lịch sử, họ là những người kém may mắn để phải đối đầu với bão dông. Bão dông không chỉ ở thời cuộc, mà còn nằm trong lòng người. Khi bão dông gây ra bởi những người cùng một màu da, thì sức kinh phá của nó khó mà tưởng tượng nổi. Hậu quả của nó là những vết sẹo ngàn đời trong tâm khảm của những người phụ nữ Việt Nam.

Thứ đến, Miêng không chỉ dựng nên bi kịch, bà còn đưa ra một thách đố lớn: làm sao giải quyết được những tồn đọng ngàn năm, những lớp rễ xơ cứng đã dính chặt vào ý nghĩ của người Việt chúng ta. Dù rằng bà không viết ra từng lời, từng chữ rạch ròi như vậy, nhưng người đọc vẫn thấy được điều này nằm giữa những dòng chữ của bà. Dĩ nhiên, mỗi người có một cách đối diện và giải quyết khác nhau, còn nhà văn, mục đích duy nhất của họ là gợi lại, mở ra những thách đố này cho cuộc đời, cho mỗi người đọc. Thách đố này không phải chỉ cho một thế hệ, mà cho nhiều thế hệ nối tiếp nhau.

Nhìn qua lăng kính nghệ thuật, Miêng là một tác phẩm đẹp, rất đẹp.

Ở những truyện thật ngắn, Miêng dựng nên những cốt truyện đơn giản nhưng kết thúc bất ngờ. Nỗi bất ngờ kéo người đọc trở về với thực tại. Sống với thực tại, chứ không ngủ mê trong tiểu thuyết. Bởi cuộc đời luôn là một chuỗi thay đổi bất ngờ. Chính vì thế, không dễ dàng đoán được suy nghĩ, tâm trạng, hay hành động của người chung quanh, có khi là người thân quen của mình. Ở kết cục bất ngờ, truyện ngắn như đẩy một cánh cửa, mở ra một chiều hướng khác, tạo nên những bầu không khí mới, khắc một dấu ấn đáng nhớ trong lòng độc giả.

Ở truyện ngắn Ai Thương, dấu chấm hết hạ xuống đã kéo theo sự ngạc nhiên mang không khí vui vui, thì ngược lại ở truyện Biển, kết cuộc đầy cảm động. Ðiều bất ngờ là người đàn ông trút hơi thở trong tay một người đàn bà xa lạ, mà trong cơn đồng thiếp ông cứ tưởng là vợ mình. Ở truyện Trăng Trối, cái so le của cuộc đời, tạo nên sự trộn lẫn vừa cay đắng bờ môi, vừa cười ra nước mắt.

Miêng sắp xếp bất ngờ trong một hoàn cảnh không thể ngờ được một cách hoàn hảo. Ôi, cay đắng của cuộc đời.

Một truyện thật ngắn, chứa hết những tấm lòng, mang đủ những ước mơ, sống lại những hạnh phúc. Nhiều ý tưởng được cài đặt khéo léo. Nếu không là một dày dạn từng trải, một tinh tế và cảm thông, một góp nhặt và đãi lọc, chắc chắn không bao giờ dựng được.

Dù là bi kịch nhỏ trong đơn vị gia đình hay bi kịch lớn bên ngoài xã hội, Miêng đều đi đến gần như tận cùng những đổ vỡ, đau thương. Ðằng sau những bi kịch đớn đau, cuối đường những bất hạnh nghiệt ngã, bà muốn gõ cánh cửa bình an và mở ra những niềm hạnh phúc. Bởi bất hạnh càng lớn, niềm hạnh phúc mới được nhận chân càng rõ. Khổ đau có trùng trùng, niềm an lạc mới thực sự được nghiệm ra trong đời sống thường nhật. Và những người đang tận hưởng những an lạc, những hạnh phúc này, chính là chúng ta: những độc giả của bà.

ÐOÀN NHÃ VĂN

12/1999.

Ý KIẾN VỀ MIÊNG

Cuốn truyện khá hay. Tac giả khá lão luyện trong kỹ thuật dựng truyện, sắp xếp tình tiết, xây dựng nhân vật, và vẽ ra một bối cảnh rộng lớn của kiếp nhân sinh. Hai mươi một truyện ngắn trong tuyển tập này như một bản hùng ca vừa bi tráng vừa ai oán, vừa thiết tha, mà khi gấp cuốn sách lại, âm hưởng của nó vẫn vang vọng trong lòng người đọc.

Miêng viết cẩn thận. Mỗi câu chuyện đều được bắt đầu và kết thúc trong chừng mực, vừa đủ. Tác giả không giải thích lê thê cũng như không bí hiểm trong cách dùng chữ đặt câu. Và điểm mà tôi thích nhất trong toàn bộ tuyển tập của Miêng là cái nhìn vừa trang trọng và vừa giễu cợt của tác giả trước một vấn đề, một sự kiện, hoặc bất cứ một nhân vật nào. Và hình như tác giả cũng không ngần ngại khi đưa ra những chủ đề có tính taboo dàối với người Việt chúng ta như đồng tình luyến ái và loạn luân. Mà thật ra, đấy là những vấn đề đã tồn tại và sẽ còn tồn tại mãi trong kiếp con người.

Ngoại trừ một số ít truyện có chút vui nhộn, hầu hết không khí trong tuyển tập này bao trùm một màu đen tang tóc, buồn thảm. Cái chết và nỗi điên loạn như luôn luôn ám ảnh những nhân vật của Miêng. Và cho dù nhân vật đã chết, số phận vẫn chưa buông tha những người còn sống sót. Bà mẹ trong “Hy Sinh”, nhân vật chính trong “Lạc”, và chị Thảo trong “Hiếu Thảo” là ba nhân vật phải gánh chịu ảnh hưởng trực tiếp của những nhân vật đã chết. Mỗi người một vẻ. Nhưng rút cuộc, chính cái chết này mới bắt đầu nói lên ý nghĩa (hoặc vô nghĩa) của cuộc sống những người còn lại.

Ðọc Miêng, tôi còn có cảm tưởng tác giả như muốn chứng minh một điều gì không thể chứng minh được. Người con trai trong “Hiếu Thảo” muốn giêt Mẹ để chứng minh rằng chị Thảo sẽ bớt khổ hơn nếu Mẹ chết. Nhưng kết quả hoàn toàn trái ngược. Mẹ chết đã để lại trong chị Thảo một nỗi trống vắng thênh thang. Và cũng vì mất Mẹ, chị Thảo không còn tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống nữa. Cuộc đời của chị xưa nay gắn bó với Mẹ. Chị với Mẹ tuy hai mà một. Số phận người này níu kéo số phận người kia. Trong “Hiếu Thảo”, hình ảnh hai ông bà cụ và một cô gái già có nét gì đó vừa cô đơn vừa sầu thảm. Có lẽ cuộc đời của chị Thảo sẽ khác hơn, có ý nghĩa hơn nếu hai cụ không đòi hỏi ở chị nhiều quá. Bi kịch của chị Thảo, của O Hậu, của cặp tình nhân có lẽ rất phổ biến trong các gia đình Việt Nam.

Nói chung, cái độc đáo của Miêng là sự tinh tế, thông minh, và sâu sắc khi viết về mọi vấn đề trong thời đại của chúng ta.

HOÀNG ÐỖ

Spokane, Washington,

10-1999

Cái đặc sắc đầu tiên của Miêng là những truyện thật ngắn. Như Biển chẳng hạn, không đầy ba trang, mà nhốt cả cái mênh mông dữ dằn của biển cả, cái thảm cảnh vô bờ của một chiếc ghe vượt biên bị chìm, cái ám ảnh cho đến phút lìa đời của người còn sống sót… Đọc xong thấy như một ngọn roi vừa vút qua tâm hồn.

Nhưng Miêng cũng gồm những chuyện bình thường, tác giả bộc lộ một cái duyên khác, dí dỏm, nghịch ngầm, trong ý tưởng, trong ngôn từ. Chính ngôn từ tạo nên sắc thái rất riêng biệt của Miêng, như chất chua quyến rũ trong một thứ trái cây ngọt.

Người ta còn nhận thấy qua nhiều truyện, tác giả có tham vọng đi thám hiểm vào cái vùng bí hiểm là tâm lý, là đời sống nội tâm, từ những phản ứng cụ thể của con người xã hội đến những nhân vật sống với ảo giác của riêng mình. Tác giả rình mò, chộp bắt được những mảnh sự thật lâu lâu mới trồi lên từ đáy vô thức  hiện trên màn ảnh của ý thức. Và bối cảnh chung cho hầu như tất cả mọi truyện, dù là xảy ra ở Việt Nam hay ở nước ngoài: sự đau khổ của Việt Nam. Người ta có thể nhìn thấy dấu ấn ấy trên khắp tác phẩm của Miêng, như một cái bóng đi theo tác giả hoài hoài, dù cho khung cảnh câu chuyện được dựng ở bất cứ phương trời nào.

PHẠM XUÂN ĐÀI

1999

VỀ LỐI VIẾT CỦA MIÊNG

Giống như những người viết cùng thế hệ mình, Miêng có lối viết chừng mực, trầm tĩnh, đơn giản.  Chị không vặn vẹo chữ nghĩa bắt chúng làm trò phù thủy. Chị cũng không trấn áp bạn đọc bằng những thủ pháp gây sững sờ. Chị viết truyện như một đạo diễn tài năng và tự tin, nắm vững bí quyết của nghề đến nỗi truyện cứ diễn tiến trôi chảy tự nhiên, cho đến một lúc bất ngờ nhất, từ trong tự nhiên, bi kịch xuất đầu lộ diện, và đời sống tưởng là bình thường mới trở lại chân tướng uyên nguyên đầy bất thường của nó.

Trong những truyện ngắn dài, Miêng có tài sắp xếp các chi tiết để câu chuyện có được hai ưu điểm rất ít người viết văn đạt được cùng lúc: sự lôi cuốn hấp dẫn nhờ tình tiết và sự tinh tế trong tâm lý và tư tưởng.

Thử đọc một truyện tiêu biểu thuộc loại này: truyện Nhân chứng.

Tình tiết câu chuyện vô cùng rắc rối, phức tạp. Một phụ nữ thuộc tầng lớp trí thức ở Pháp ngoại tình với chồng người bạn thân của mình. Người đàn ông ngoại tình kia lại lăng nhăng với một phụ nữ trẻ hơn, tệ hơn nữa, lập mưu giết vợ để thong dong chung sống với người phụ nữ trẻ đó. Vụ án mạng chắc chắn đã làm rúng động dư luận, nhất là khi người đàn bà ngoại tình ra trước toà thú nhận mình ngoại tình để cho hung thủ được trắng án, dù biết trước thú nhận như thế chồng con sẽ  xa lánh. Gia đình tan nát, nhân vật chính tìm gặp tình nhân, bắt gặp anh ta đang ân ái với người khác. Tuyệt vọng, nhân vật chính tự trầm ở sông Seine.

Cái kết của truyện cũng giống như cái kết bi thảm trong tiểu thuyết Anna Karénine của Léon Tolstoï…. Trong mỗi chi tiết, mỗi câu, đều hàm chứa một bi kịch lớn; nhưng điều đó không hề khiến cho truyện nặng nề. Không khí truyện của Miêng rất gần với không khí truyện dài của Faulkner, và truyện ngắn của Tennessee Williams (ít người biết tới truyện ngắn của kịch tác gia này, chỉ biết những vỡ kịch của ông). Nhưng hình thức truyện ngắn của Miêng lại giản dị và nhiều chất thơ, giống như những huyền truyện của nhà văn Ý Dino Buzzati.

Nhưng theo tôi, tài năng của Miêng thể hiện rõ nhất ở những truyện thật ngắn. Tác giả có biệt tài nén những ngọn sóng ngầm, những điên loạn bi đát vào trong  một lớp vỏ “tưởng như êm ả bình thường”. Trong những truyện này, chất bi đát được gói kín khéo léo, để chờ đến vài câu chót, khói thuốc nổ ấy bùng lên trước mắt độc giả. Ðọc những truyện thật ngắn này của Miêng, tôi có cảm tưởng đang nghe một điệu nhạc blue của một nhạc công da đen: anh thổi saxophone diễn tả nỗi cơ cực của những người nô lệ cùng màu da với anh, và đến chỗ thống thiết nhất, anh lấy tay bịt miệng kèn lại. Âm thanh uất nghẹn càng khiến bi kịch nô lệ thống thiết hơn. Truyện thật ngắn Biển là thành công trọn vẹn của Miêng trong thể loại này.

Nguyễn Nam Trân đã rất tinh nhạy khi nhận ra được không khí đầy “âm thanh và cuồng nộ” trong văn của Miêng. Nguyễn Nam Trân viết: “Yêu, ghét, đam mê, phản bội, thoái hoá, biến chất… hay lẩn trốn vào trong cơn điên dại như lẩn trốn vào cõi tĩnh lặng của con mắt một trận bão. Ðiên dại, hôn mê, khắc khoải là bầu không khí bao trùm lên một nỗi đau thời thế”.

Không khí ấy thật hiếm hoi trong văn nghiệp các nhà văn nữ Việt Nam xưa nay.

NGUYỄN MỘNG GIÁC

1999

Nguồn: http://amvc.free.fr/Damvc/Mieng/AiThuong/TuBach.htm

Hoàng ĐỗNguyễn Mộng GiácPhạm Xuân ĐàiTriều Hoa ĐạiĐoàn Nhã Văn

Tiền Đồn

Thế Uyên

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Phần 7.

Chị lắng nghe nhưng tiếng súng đã im sau tiếng nổ lớn. Hải nói đúng, hắn còn ở đây, thở hổn hển, gấp rút. Hắn, chính uỷ chủ lực, mọi người thường thì thào e ngại khi nhắc đến tên trong đêm tối còn đang ở đây bấu víu cuống quít trên thân thể này. Làm sao mà có đánh lớn… Đột nhiên chị phá lên cười, chị không còn sợ hắn chút nào, dù chỉ một chút. Hắn không còn là chi hơn, vĩnh viễn chỉ còn là anh chàng Hải hấp tấp đòi hỏi mỗi khi ngồi cạnh chị những ngày đã lâu. Chị chợt nhớ lại trọn vẹn nét mặt tức giận của hắn khi lao vào Tía dưới rặng dừa ven sông để rồi cả hai té nhào xuống nước. Chị tiếp tục cười, hai tay úp lên lưng nhờn trơn mồ hôi của Hải, vuốt nhẹ trìu mến. Hắn là người tình của mình, thôi hết sợ bóng tối… Mai kia, không, ngay trưa mai thôi, thêm Tía cho hết sợ ánh sáng ban ngày. Như vậy để khỏi lo rời bỏ căn nhà, khu vườn, như vậy để khỏi… Một người tình đã là nhiều, bây giờ toan tính những hai. Hơn hết rồi, hơn hết trơn rồi. Chị phá lên cười lớn nhưng bị tắc ngẫng vì miệng Hải chồm lên úp chặt. Nỗi khoái cảm thoáng hiện và đã bị dẹp bỏ ban nãy đã trồi lên, lần này mạnh mẽ, chắc chắn. Chị hốt hoảng, cố tìm cách gạt đi, dẹp đi. Hai tay rời lưng Hải, quơ kiếm lá khô trên đất, vô ích, nó vẫn dâng lên, chị cố mở mắt cố tìm lại mặt trăng trên lớp lá, nhưng khuôn mặt hắn với mái tóc xoã đã che lấp. Nó vẫn tràn lên từ tất cả làm thân thể run rẩy, chị cố gắng gập chiếc lá khô bằng hai ngón tay làm hai, làm bốn. Chị muốn đuổi nó, chị có lẽ chỉ muốn nhận nó từ Ba, từ cuộc đời của khoảnh khắc sẫm tối mỗi ngày mà thôi. Tại sao, chị muốn biết tại sao lại muốn như thế, chiếc lá đã được gập làm tư, hình như chị thấy một bức vách một con lạch không muốn vượt qua bởi vì bên kia sẽ là nó, toàn nó, đến từ Hải, từ Tía, từ nhiều đàn ông khác nữa, biết là bao nhiêu về sau trong cuộc đời chịu nhận cả ngày, đêm lẫn lúc nhá nhem, cả Tía, Hải và Ba, cả khoảng chiều tắt nắng lúc tới trăng mới nhú. Chị cố tìm hiểu coi sẽ mất mát chi trong cái đời sống như thế bên kia bức vách, con lạch, chị tìm không ra nhưng vẫn cố chống cự lại nó đang dâng tràn ngập từng phần nhỏ nhất trong người. Nó sắp chiếm nốt cái đầu đang băn khoăn, chị cố mở mắt tìm trăng, tìm một tia ánh trăng thôi nhưng không nổi, không biết vì khuôn mặt Hải che khuất hay đôi con mắt không chịu mở, không chịu nhìn chi khác hơn là về nó. Chị cố dùng những ngón tay xé chiếc lá trong tay làm hai mảnh, có tiếng kèn tiếng súng tiếng la hét từ phía lộ nhưng chị không chú ý, hai ngón tay ba ngón tay cố xé chiếc lá, rách một khe nhỏ rồi. Liệu mình có khóc trong bếp một mình, tiếng súng tiếp tục nổ nhưng…

Yên vội ngẩng đầu khỏi bản đồ hấp tấp nói với tiểu đoàn trưởng:

“Đại uý! Bắn đạn nổ như Vĩnh ba muốn, e chết dân… Mấy khóm nhà ngay đây!”

Định vẩn vơ nhìn chiếc ly rượu trong tay tiểu đoàn trưởng đang nghiêng đầu ghé sát bản đồ lẩm bẩm:

“Cách đó hai trăm thôi à! … Được, tên Sinh bắn khá lắm, không sao”.

“Sinh đổi đi tuần trước rồi, đại uý. Pháo đội trưởng mới ra trường, phải cho hắn khoảng cách an toàn ít ra cũng ba trăm trở lên, đại uý”.

“Thôi, cứ cho bắn đi. Làm sao hơn…”

Vinh la lớn vào phòng truyền tin:

“Mẹ kiếp! Bảo nó bắn lẹ lên! Bộ đợi đến Tết Ma-rốc hả”.

… Hải vụt chồm lên kêu những tiếng ngắn, hắn kêu hay mình kêu, chị nghe thấy nhiều tiếng nổ lớn rung chuyển mặt đất, các tiếng kêu của hắn của chị hoà lẫn tiếng nổ, chị là nó rồi, những ngón tay vụt buông chiếc lá đang xé dở, vụt bấu vào lưng nó nhờn trơn. Đất rung chuyển mạnh hơn hay nó đang làm chị rung… Không cần, không cần không còn chi, muốn tới đâu thì tới, với nó, nó đấy đủ rồi. Một tiếng ầm vang dội, một rung động dữ dội toàn thân làm chị bấu víu bằng tất cả ngón chân bàn tay từng đợt tóc lấy khối nhờn đang giãy giụa hoà tiếng kêu vào từng hơi thở của chị đang hình như bị tung lên cao, giằng xé trong đám lá có mặt trăng vỡ nát tan tành.

Tiếng trung uý già từ thành đồn gọi vào rơi từng chữ trong sân đồn im lặng như những viên đất lở từ thành giếng làm Định khó chịu:

“Pháo binh đã thôi bắn”.

Các âm thanh rớt lõm bõm làm chàng ao ước có cái lon to hơn để có thể la dữ tợn: Trung uý câm cái mõm lại cho tôi nhờ. Nhưng Vinh đã làu nhàu:

“Bộ người ta điếc cả sao mà phải nói. Mẹ kiếp!”

Sau tiếng nguyền rủa của Vinh, các sĩ quan quanh bàn không ai nói, tiếp tục hút thuốc, châm thuốc. Bây giờ chàng không cần phải hỏi phải đoán, cũng biết không còn lợi ích gì, Hy với hơn bốn mươi người lính cũng chẳng làm được gì, cho Vũ, cho những người lính của Vũ. Chàng không ngạc nhiên, dù một mẫu ngạc nhiên nhỏ, khi nghe từ phía cột vọng ra tiếng Hy cố gắng tìm liên lạc với Vũ. Vĩnh ba không trả lời, Vĩnh ba câm nín, Vĩnh ba chìm tan vào những khoảng không gian sáng tối mờ lẫn chập chờn bên kia tường đồn. Một chiếc xe chạy qua lại tái hiện, tồn tại và linh hoạt với chàng hơn, đến nỗi chàng có cảm tưởng chỉ cần thêm một làn khói xe khen khét nữa, Vũ sẽ hiện ra với khẩu súng chúc mũi xuống cỏ và dáng điệu mệt mỏi thả cái mũ sắt lật ngửa quay tròn im lặng trên chiếc ghế bố có nắng chiều soi tới. Một tiếng nổ chói tai một vùng trời bừng sáng vàng vọt. Tiểu đoàn trưởng cáu kỉnh la:

“Bắn chiếu sáng làm con c… gì vậy?”

Tiếng Yên từ ụ súng cối:

“Hy vừa yêu cầu, đại uý! Hắn xin để quan sát”.

Khối sáng từ từ trôi thấp về phía sông. Chàng nhìn theo và bắt gặp bàn tay Vinh đang đặt chiếc ly vàng óng ánh hoả châu xuống bàn, tự dưng chẳng vì cớ gì hay vì đáy ly vàng óng đáp xuống mặt gỗ không gây tiếng động, chàng thấy Vũ chết rồi, chết hẳn rồi ở một nơi đâu đó bên kia. Chàng đặt chiếc ly cầm trong tay không biết từ lúc nào xuống, thật chậm không gây tiếng va chạm với mặt bàn, nhìn ánh vàng của hoả châu yếu dần trên thành thuỷ tinh trong. Đầu óc rỗng không.

Tiếng Vinh dữ dội, cáu kỉnh :

“Xin tất cả im một chút cho tôi nhờ”.

Chàng giật mình quay lại. Vinh quỳ cạnh chiếc C.10, đang đun mạnh cần ăng-ten dài của máy lên cao hết mức. Các âm thanh rè rè tiếng gọi về của Hy biến đi và bây giờ chàng nghe rõ tiếng kêu nhỏ của đèn măng-sông phía trong. Vinh ngồi bệt dưới đất, cầm ống liên hợp gọi Vũ bằng những câu liên tiếp giống nhau trên cùng một nhịp điệu. Vĩnh ba nghe tôi không trả lời… Viên trung uý già rời tường đồn trở lại ngồi cạnh bàn, những tiếng đá tiếng ly lanh canh khe khẽ như tiếng nói của nỗi chờ đợi tuyệt vọng dai dẳng. Yên ngồi xếp bằng trên đất, tấm bản đồ vẫn trải rộng trên mặt ghế và bút chì mở nằm chênh vênh thòi một cái đầu ra khoảng không. Yên không làm gì cả, lơ đãng nhìn Vinh dưới cần ăng-ten mỏng cong vật vờ. Hắn lơ đãng nhìn, như chàng, như tất cả các sĩ quan trong đồn.

Vào một lúc nào đó chàng không rõ, Vinh đã đổi lối gọi. Bây giờ hắn gọi Vũ bằng tên thực và những lời văng tục. Vũ, Vũ mày nghe tao không trả lời… Mẹ kiếp, mày ở cái xó nào vậy. Mày chết chưa mà không thèm nói. Vũ, Vũ mày nghe tao không trả lời. Chàng quay mặt đi thôi nhìn Vinh, Yên cúi gầm xuống bản đồ, ngọn bút chì mở khoanh đi khoanh lại một vòng tròn trên mặt nhựa. Tiểu đoàn trưởng lắc lư trên ghế xích đu, Vận đưa một ngón tay vạch ngang dọc một hình bất động vô định trên mặt bàn. Không ai nhìn Vinh. Nỗ lực liên lạc với Vũ của Vinh đã trở thành cá nhân và riêng tư giữa một người với một người khác, một cố gắng thân mật của riêng hai người trong tương quan nhân loại riêng làm những kẻ với một người khác thành ở ngoài cuộc và muốn quay đi như trước cảnh một người đàn ông một người đàn bà yêu nhau hôn nhau sau những thời gian xa cách dài. Chàng rút điếu thuốc châm hút, để bao thuốc lên bàn, những bàn tay xuất hiện đưa bao thuốc di chuyển từng chặng dài ngắn bất thường.

Vinh đột nhiên ngồi nhỏm dậy, một tay giơ lên chỉ về phía cột. Yên gọi lớn vào phòng truyền tin:

“Vặn hết cỡ mau lên”.

Tiếng Vũ nghe rõ, giọng thì thào đứt khúc nhưng điềm tĩnh:

“… báo cáo địch xung phong cả chủ lực qua lộ và phân tán ngay khi pháo binh bắn… Vĩnh ba mất chừng ba bốn đứa cháu… còn lại chém về vào ruộng mía. Địch… mất chắc ba du kích ở lộ, sau đó… nhiều hơn nhưng không thể biết… Thẩm quyền Vĩnh… ba đau ngực nặng một mình ở…”

Sau một tiếng nấc, tiếng Vũ tắt ngẵng. Vinh hấp tấp:

“Mày ở đâu Vũ, nghe tao không trả lời, mày đang ở chỗ nào cố gắng trả lời…”

Tiếng Vũ tái hiện, chậm chạp:

“Vinh đấy hả… trăng sáng quá, mày có rượu không mang ra đây… Mai tao đi phép rồi”.

“Mày ở đâu trả lời, Vũ ở đâu trả lời… nghe tao không trả lời”.

“… Nghe rõ. Có tiếng chó sủa, hình như tiếng con chó hàng xóm nhà tao. Mày có nghe thấy chứ Vinh, ném cho nó viên đá để tụi nhóc còn ngủ…”

Tiếng Vũ lộn lộn rồi im bặt. Vinh cố thử liên lạc vài lần không được, ném trả ống liên hợp cho hiệu thính viên cởi trần bên cạnh máy, đứng dậy xốc lại quần áo.

“Thằng Vũ nó mê sảng rồi… Lính mới làm ơn cho điếu thuốc… Thôi ta đi kiếm hắn, đại uý?”

“Cũng được… nhưng đi thế nào?”

Vinh lại gần bản đồ, quỳ xuống cầm bút chì vạch một đường cong trên mặt nhựa.

“Tôi sẽ đi với hai tên thám báo băng sông theo lộ trình này tới toạ độ sau cùng được báo cáo. Hắn bị thương như thế chắc không thể chạy xa… Xuân! Mày cho tao mượn cái C.6, cái của tao trục trặc từ hồi chiều rồi. Mẹ kiếp, bọn hậu cứ tân trang máy như cục c…!”

“Anh Vinh, cho tôi đi với anh được không?”

Vinh quay lại phía tiểu đoàn trưởng:

“Lính mới muốn đi, Đại bàng cho không?”

“Muốn đi thì cứ đi”.

“Cám ơn, đại uý”.

Chàng nhìn theo Vinh rón rén men theo rặng chuối cho tới khi hắn tan lẫn vào bóng tối ven sông. Ngón tay bị xước vì bò qua hàng rào kẽm gai nhức nhối và xót vì mồ hôi, chàng đưa lên miệng mút. Vị mặn nồng của máu làm chàng thèm hút một điếu thuốc nhưng không biết làm sao che ngọn lửa khỏi loé ra. Hai người lính đi cùng ngồi bất động trong bóng tối làm chàng từ bỏ dự định châm thuốc trong lòng chiếc mũ. Trên lô-cốt của đồn phía xa, một đốm lửa đỏ loé sáng thật nhỏ bình an làm chàng thèm thuốc hơn và hiểu rằng sự an toàn của mỗi người chỉ có giá trị tương đối và khoảnh khắc. Bây giờ chàng khá yên tâm bởi vì sau lưng là vách nhà, hai bên hai người lính súng cầm tay. Nhưng không thể yên tâm như nửa giờ trước bên trong dãy tường đồn. Và có trở về thành phố, nỗi an bình cũng không dài hạn hơn, những nỗi lo âu mới xuất hiện, có thể là chẳng nghĩa lý gì so với hoàn cảnh ngay lúc này, nhưng tác động của chúng vào tâm hồn vẫn có cùng thứ cường độ. Không thể nào thoát ra được nỗi lo âu làm người, chỉ trừ phi không còn là người như những vị tu thiền đã đạt tới biên giới giữa sự sống và cái chết. Và với cái chết, an bình vĩnh cửu tới chưa? Nếu có linh hồn tồn tại sau khi thể xác tiêu tan, an bình cũng chỉ tới nếu linh hồn là ù lì vô tri vô giác như hòn đá. Sau cái chết anh còn tin có gì nữa không, còn gì nữa không… Bởi vì như thế dễ sống và dễ chết hơn, như anh thường nói… Chàng nhắm mắt lại cho khỏi nhìn ánh trăng như ngân lên thì thào thổn thức những câu nói của Linh đêm trước. Nhưng quá muộn, Linh đã có đó, hiện hữu rồi với giọt nước đọng sáng lớn dần nơi khoé mắt, lăn xuống tan vỡ từng vết sáng mảnh mai tắt dần trong mái tóc xoã phủ trên lòng chàng. Anh nói thật đi anh! Sau cái chết anh còn tin có gì nữa không, còn gì nữa không… Chàng mở mắt lên nhìn mặt trăng và thấy mình như vừa già hẳn đi, hình ảnh Linh, tiếng thì thào tha thiết của nàng bay bổng lên cao, tan biến trong lớp mây đang lừ lừ trôi với những viên sáng bạc óng ả. Chàng không muốn làm một níu kéo nào để giữ lại, Linh đã trở về với nàng để lại vĩnh viễn nhìn nhau qua một tiếp cận thế thôi, dù hai môi có áp vào nhau, thân thể có đan kết rít rít tuyệt vọng với cả mười ngón tay mười ngón chân. Chàng thì thào, anh yêu em Linh, anh yêu em cho những khoảnh khắc ẩn hiện bất ngờ trong cuộc đời này. Anh yêu em với cái chết như dâng thêm mỗi chút sau từng động tác làm tình, từng hơi thở trao đổi qua những làn môi khép kín. Anh yêu em như sự đi tìm một người đang hấp hối, có thể chết rồi có thể chưa ở một góc vườn, lùm cây đầy bóng tối, có thể chết rồi có thể chưa chết đang áp miệng vào ống liên hợp thì thào về một tiếng chó sủa bóng tối bên hàng xóm.

Một tiếng huýt sáo nhỏ, một tiếng cao hơn trả lời, Vinh xuất hiện sau một bụi cây, chàng ngửi thấy mùi mồ hôi nồng nặc trước khi nhìn rõ mặt bạn có chiếc miệng mấp máy:

“Phía đó cũng đếch có dấu vết gì hết… Đã liên lạc lại với tên Vũ chưa, lính mới?”

“Tôi chưa mở máy từ lúc rời đồn”.

“Mẹ kiếp, học cái quân trường nào ra mà giống nhau thế! Phải mở máy thường trực…”

Chàng cúi xuống cầm máy lên, vặn chiếc núm. Vẫn chỉ là sự câm nín của dàn âm thanh điện tử đều đều. Chàng gọi nho nhỏ như ngái ngủ, gọi như gọi Linh, như gọi nỗi già nua đã đến.

“Định gọi Vũ, Định gọi Vũ… Anh nghe tôi không trả lời…”

Anh không trả lời, Vũ không trả lời, nỗi già nua ngái ngủ đã đến, chàng tiếp tục gọi cho đến khi nghe tiếng Vinh bật lửa trong lòng mũ và ngửi thấy mùi khói thuốc ấm áp. Chàng toan đặt máy xuống tìm thuốc hút, nhưng tiếng Vũ đã văng vẳng, không hỏi han. Tiếng Vũ đã biến đi trong lớp âm thanh rì rào của máy. Chàng cúi xuống châm nối điếu thuốc vào đầu lửa đỏ trong lòng chiếc mũ của Vinh trước khi thì thào :

“Vũ hắn vừa mới nói xong lại im rồi”.

“Sao không hỏi hắn xem hắn nằm đâu!”

“Tôi tin rằng hắn không còn nghe hiểu bọn mình nữa… Hắn đang nói tới một ông lớn cắt băng khánh thành một cái gì đó…”

“Gì nữa?”

“Hắn nói sẽ mua vải chứ không mua ni-lông, hắn nói tới một đứa bé ngủ gật trước một ngọn đèn dầu nhỏ để ở bậc thềm. Chỉ có thế”.

Vinh lặng im quay mặt đi, hướng về phía đồn thấp thoáng những khối đen cạnh gãy nét trước khi cầm súng đứng dậy, dáng điệu tuyệt vọng trong từng cử động nhỏ. Chàng cầm máy đứng lên theo, ánh trăng thoáng ùa vào tóc vào mặt khi bước sang thềm hiên bên kia. Vinh im lặng đi đầu, không còn lẫn tránh ánh trăng, hắn buồn hắn tuyệt vọng rồi. Chàng thoáng ngần ngại khi nhận ra cả toán đang tiến về phía quốc lộ có đắp ụ, như thế có thể bị cả địch lẫn tàn quân tản mát của Vũ bắn nếu cứ tiếp tục phơi người dưới ánh trăng. Nhưng rồi chàng nín thinh, lầm lũi bước theo Vinh, bởi vì Vũ vừa cất tiếng uể oải bâng quơ… Sao con bò bị mấy vết đạn như thế mà không té… Nó còn run rẩy… bà ấy ngồi khóc. Chàng đưa tay kéo lưng Vinh, thì thào:

“Vũ vừa nói đến con bò bị trúng đạn còn đứng được. Chắc hắn đang nằm gần một chuồng bò”.

“Biết chuồng bò nào… Có cả đống chuồng bò… Cứ tới chỗ đụng độ rồi đi xoáy trôn ốc mở rộng, hy vọng sẽ thấy… Báo cho Đại bàng và thằng Hy là đừng có bắn lộn xộn”.

Định thì thào theo lời Vinh vào máy vô tuyến… Nghe tôi không trả lời, Vĩnh nghe tôi không, Thanh nghe tôi không trả lời. Chúng tôi tiến tới… Đừng bắn gì kể cả chiếu sáng, nghe tôi không, nghe tôi không… Chàng tiếp tục liên lạc với những câu như chỉ để nói với chính mình, đầu vì cố áp vào máy làm tai đau ê ẩm, ánh trăng chói chang xoá mờ các vết lồi lõm làm chàng loạng choạng bước hụt như mê sảng… Nghe tôi không trả lời, chúng tôi vào chiến trường… Vài cái xác, không thấy gì không thấy gì. Có vết pháo binh cày nát… Qua các âm thanh rì rào trao đổi, hình như có tiếng Vũ đôi khi xen kẽ, có phải hắn không, chàng tập trung hết sức vào tai làm mắt như không còn nhìn thấy gì hơn là những khoảng trăng loang loáng. Vũ lại im rồi và chàng không kịp nhận hiểu điều gì, hắn còn sống, ở một góc tối nào đó. Chàng hụt cẳng ngả chúi xuống một lỗ đạn do trọng pháo đào lên. Vinh quay lại đứng nhìn. Ánh trăng làm toàn thân hắn như bất động trên thành hố. Chàng thì thào gọi:

“Dừng lại nghỉ một chút đã, anh Vinh. Đi cà rờ hoài…”

Vinh lẳng lặng tụt xuống cùng hai người lính, bật lửa châm hút. Ánh sáng loé lên thoáng làm hiện những khuôn mặt bóng nhẫy mồ hôi. Chàng hỏi:

“Mấy giờ rồi, anh Vinh?”

“Hai giờ mười”.

Mới có hai giờ mười… chàng hơi ngạc nhiên. Mới hai giờ mười của đêm. Chàng ngả người vào thành hố, tựa gáy lên chiếc mũ vải lật ngược, làn khói từ điếu thuốc bốc lên cuộn từng vòng cong rõ nét dưới ánh trăng. Ngón tay Linh nghịch ngợm giơ lên cố đưa xuyên qua những vòng khói, ngón tay trỏ tròn như của đứa trẻ làm chàng muốn hé miệng ngậm lấy, ngậm nhấm như một loài chuột bạch. Mới hai giờ mười của đêm thôi Linh, chàng nghiêng đầu sang một bên, tì má vào máy cho thoải mái, tiếp tục hút thuốc và lắng nghe những giọt mồ hôi thấm dần vào vải áo quần… Tiếng Vũ lại cất lên, nhưng chàng thôi ngạc nhiên, hắn chưa chết hay chết rồi chàng cũng không thấy liên quan tới cái giọng yếu đuối, bâng quơ, đứt đoạn vang bên tai. Chàng còn Linh, vừa còn có Linh trong vòng khói thuốc vẫn tiếp tục cuồn cuộn bốc lên. Giọng của Vũ liên tục hơn, bàn về một cuốn phim đang chiếu, phim gì? Về một người đàn bà mặc áo tắm có chữ ký ngay vào chỗ đó, và một người mang tên Bích, kéo dài một căn phòng. Chàng quỳ lên, vẫn giữ máy áp bên tai, áp người vào thành hố, thò đầu ra ngoài. Gió đồng nội thổi mát lạnh da mặt làm trăng như thẩm thấu qua làn da. Có tiếng đàn bà khóc văng vẳng, ở trong máy hay từ khu xóm kia… Linh đã đi rồi, ngón tay trỏ đã cụp xuống đâu mất, tiếng Vũ văng vẳng về một nỗi ấm áp đang lan tràn toàn thân. Vinh đột nhiên quay lại hỏi:

“Vũ còn nói?”

“Còn… Yếu lắm. Hắn đang thấy ấm áp lan tràn”.

“Chắc máu đang trào ra lần chót”.

Giọng Vinh bình thản như nói tới một làn bọt rượu bia thừa thãi đang trào ra khỏi ly sau một lần rót mạnh. Chàng ngạc nhiên toan quay sang nhìn mặt bạn nhưng Vũ đã cất tiếng, hổn hển về một trái lựu đạn, lựu đạn gì, lựu đạn khói. Chàng gọi nhỏ:

“Vinh! Vũ hắn đang nói tới một trái lựu đạn khói… Giọng hắn yếu…”

Vinh đã đột ngột giật chiếc máy, đưa lên miệng, nói vội vã gấp rút, như cầu xin:

“Vũ mày nghe tao đây, mày cố nghe tao đây… Mày rút chốt nó đi, rút chốt nó đi… Nghe tao, cố rút chốt an toàn cho tao nhờ…”

Chàng nhớ lại hình ảnh trái lựu đạn khói màu xám nhạt móc ở sau máy C.10 của hiệu thính viên trung đội Vũ và chợt hiểu nỗi thiết tha như cầu xin của Vinh về một chốt an toàn… Chỉ còn hy vọng Vũ hiểu được lời nói, khói sẽ bốc lên cao đánh dấu nơi mà chàng đã lang thang từ bao lâu, loạng choạng trên những hố mô của đồng ruộng để đi tìm. Nhưng Vinh đã buông máy xuống, ngồi im. Không còn hy vọng. Hắn chết rồi. Thế là hắn chết rồi, chàng thì thào nhận xét đó như để tìm tòi một nỗi ngạc nhiên hay một xúc cảm nhưng tâm hồn im lìm. Chàng cố nghĩ cố nhớ đến Linh nhưng tâm hồn vẫn trơ trụi. Linh cũng đã từ bỏ, đã trở về với các khoảng đen xám của những bức hình trong ví. Chỉ còn nỗi im lìm và trơ trụi vẩn vơ trong làn khói tiếp tục cuộn từng vòng trắng nhạt mờ ảo trên hai người lính như khói đen chờ đợi lệnh trong hố.

Chàng uể oải cầm máy lên, lơ đãng áp tai vào máy không chủ đích… Nhưng vẫn còn Vũ, tiếng Vũ nói về cỏ thơm bốc lên, còn tiếng Vũ tha thiết gọi cỏ, cỏ đâu rồi, mùi cỏ thơm quá, cỏ đâu… Đột nhiên Vinh chồm dậy nhảy ra khỏi hố. Từ phía xóm làng một làn khói bốc lên, mở rộng êm ả và trắng mịn. Chàng vội vã xốc lại súng trên vai, cầm máy chạy theo Vinh, tiếng giày va lớn trên đất, ồn ào. Làn khói theo gió tạt ngang vào mắt cay xé, chàng chạy vòng căn nhà sang phía bên kia trong khi hình dáng đen thẫm của Vinh tan biến vào trong vùng khói toả. Trái lựu đạn xòe lửa phụt khói một đầu vụt tung lên cao, chàng bắt đầu thấp thoáng nhìn thấy bóng Vinh dưới khoảng trũng. Gió từ ngoài cánh đồng qua hàng chuối xơ xác làm tan dần khối khói thành lớp sương mù nhè nhẹ quanh quẩn các gốc cây. Chàng lại gần mép hố, Vinh đứng bất động mũi súng chúc xuống và Vũ nằm dài theo thành chỗ trũng, chiếc máy vô tuyến trên lưng như đè bẹp mặt úp xuống tờ tuần báo bìa lờ mờ hình một người đàn bà mặc áo tắm. Một cánh tay giơ lên như muốn cào sâu vào lớp cỏ dày đặc trên bờ khoảng trũng.

Chàng nhảy xuống, cúi gọi:

“Anh Vũ!”

Giọng Vinh cộc cằn dữ tợn chặn ngang:

“Mẹ kiếp! Nó chết từ khuya rồi, còn gọi cái con c… gì nữa. Sao ngu thế, sao ngu thế…”

Chàng tiếp tục gọi tên Vũ một lần nữa như không nghe thấy tiếng nguyền rủa nghẹn ngào của Vinh, chàng không còn nghe hiểu bất cứ cái gì ngoài nỗi chết nằm đó im lịm, trơ trọi vẩn vơ trong làn khói còn đọng mờ trắng trong lòng khoảng trũng.

° ° °

Chàng tiếp tục ly cà phê sữa trên mặt bàn, nắng buổi sớm bắt đầu ùa vào cửa quán làm chất sữa trong ly mỡ màng hẳn lên. Chàng tì cằm lên tay cúi nhìn làn khói xanh xám bốc từ đầu điếu thuốc, thấy yêu chất sữa dưới nắng, yêu chậm chạp và tha thiết trong một luyến tiếc cũ kỹ khoảnh khắc tương tự của ngày hôm qua nhưng không còn Linh, bàn tay nào của Linh trên thành ghế bên, không còn dấu vết nào của nàng, không còn hình ảnh đôi giày cao gót trắng có một chiếc nơ nhỏ cứng hay một phần bàn chân lộ khỏi giày với lớp lông tơ óng ả dưới nắng.

Tiếng Hy cất lên xe lẫn tiếng ồn ào của khu chợ đang họp ngay trước đồn bên này quốc lộ:

“Anh đang cầm cái gì thế, anh Định?”

Chàng ngẩng lên nhìn khuôn mặt mệt mỏi thiếu ngủ của người chỉ huy mới, mỉm cười giơ bàn tay lên với một chiếc vòng sắt lồng lỏng lẻo quanh một ngón tay:

“Chốt an toàn lựu đạn khói của Vũ đêm qua…”

Hy duỗi thẳng hai chân tránh không đụng vào khẩu súng dựng mép bàn, nhìn ra ngoài quốc lộ có những người lính ngồi rải rác bên lề cạnh những chiếc mũ sắt để ngửa.

Hy nói:

“Anh cũng xui… Mới đến đã lãnh một đêm vất vả”.

Có tiếng gọi từ phía đồn, Hy vẫy tay ra dấu đã nghe thấy, quay đầu lại hỏi:

“Đại bàng gọi vào họp… Anh đã có địa bàn và bản đồ chưa?”

“Tôi đã lấy của Vũ…”

Chàng toan nói thêm đã thừa hưởng cả chiếc võng ni-lông của Vũ, lưỡi lê của Vũ, tờ báo của Vũ… khi trở về đồn lúc trăng gần xuống thấp ngang lô-cốt đại liên. Nhưng chàng im lặng, cũng như đã lặng im cùng Vinh và hai người lính khênh xác Vũ về đồn, cũng như đã lặng im khi ngồi vẩn vơ nhìn những người khác thay quần áo cho cái xác cứng ngắc và ngọn đèn dầu lù mù được thắp lên leo lét cạnh chân người lính canh xác.

° ° °

Tiểu đoàn trưởng buông bút chì nằm ngang trên bản đồ, ngẩng đầu lên hỏi Hy:

“Như vậy anh bị mất bốn con không kể Vũ?”

“Vâng, nhưng phải loại thêm hai đứa bị thương”.

“Tôi tăng cường cho anh năm đứa của đại đội chỉ huy… Cứ tạm như thế. Anh để cho anh Định coi trung một và làm đại đội phó luôn?”

“Vâng”.

“Cứ tạm như thế là được rồi. Thôi, hai anh cho mở đường đi cho sớm sủa”.

Hy đứng dậy gấp bản đồ bỏ vào ngực áo. Chàng đứng dậy theo, đeo súng lên vai. Nắng chiếu vào sâu trong thềm đất, soi rõ những vết mọt nơi chân cột gỗ. Tiểu đoàn trưởng cất tiếng gọi khi chàng đã ra sân đồn:

“Anh Định! Anh đi bên phải đường phải không?… Có tin nhận được sáng nay là tên Hải đã tử trận đêm qua nhưng Vinh đã kiếm các xác địch mà không thấy. Anh đi tới chỗ đắp mô, cho trung đội vào xã coi xem trong những người chết trong đó có tên Hải không? Đại diện xã có ở đó rồi, anh kiếm hắn hỏi và nhờ nhận diện luôn…”

Chàng tiếp tục đưa mắt nhìn bao quát phía trước và bên phải, lục lọi soi xét từng căn nhà, bụi cây. Bây giờ nhìn cảnh vật, tôi không còn thấy đẹp hay xấu… Một hàng dừa chỉ có nghĩa là chỗ đó có nước, một bờ tre là nơi phục kích tốt cho địch, con đường quang đãng chỉ có nghĩa là dám bị bắn sẻ. Vũ có lý, đã có lý trừ một điểm, chàng vẫn còn thấy cảnh là đẹp dưới nắng vàng lóng lánh trên những vết sương đầu ngọn cỏ, phản chiếu lung linh trên những lạch nước nhỏ phẳng lặng an bình. Những người lính dàn hàng ngang không đều, ẩn hiện với các bờ rào, dãy nhà mái tranh ẩm xám vẫn không làm chàng chìm đắm vào chiến cuộc. Chàng ý thức như thế đồng thời với yếu tố chỉ cần một tiếng súng, một tiếng đạn réo, chàng sẽ nhào sát đất để Vũ có lý hoàn toàn. Một toán quân của Hy đã leo lên mặt lộ cùng một số người dân im lặng vác cuốc. Chàng dừng lại nhìn những nhát cuốc đầu tiên cắm ngập vào mô đất nằm ngang.

° ° °

Đám đông tản ra các gốc cây khu vườn khi chàng tiến lại gần người đàn ông đeo súng đội mũ nhựa đang đứng cúi đầu nhìn đống chiếu bê bết máu khô cứng. Những khoảng đất bị cày tung loang lổ trắng lẫn với cánh lá gãy tơi tả, rải rác đầy vườn, bắn lên tận thềm căn nhà nóc bị bay mất một phần mái rạ. Chàng giơ tay ra hiệu, toán quân dừng lại tản mát vào các nhà chung quanh. Không một ai nói gì, tất cả hướng mắt về phía chàng, theo dõi từng bước đi dẫn tới người đàn ông và đống chiếu. Chàng hỏi:

“Anh là Tía, đại diện xã phải không?”

“Dạ”.

“Cái gì đây?”

“Bị chết đêm qua, chuẩn uý”.

Chàng cúi xuống cầm mép chiếu mở ra, quan sát thoáng qua và vội buông ngay xuống khi nhận ra đó là thân xác trần truồng của một người đàn ông và một người đàn bà, một đàn bà chắc thân hình đẹp khi còn sống và nguyên vẹn. Chàng đeo súng lên vai, lấy thuốc ra châm hút và nói:

“Vợ chồng này được chết như thế này cũng còn hên lắm”.

“Không phải vợ chồng, chuẩn uý. Chồng chị này là thằng Ba bị chết ở chỗ đắp mô lúc có đụng độ đêm qua…”

Một tình sử đặc biệt rồi hay một vụ ngoại tình tầm thường mà một trái trọng pháo vô danh đã phanh phui một cách vô ích, chàng nghĩ thêm, một cách hoàn toàn vô ích, không còn ai thuộc về ai để khóc lóc hay nghiến răng căm tức. Chàng tự dưng muốn lật chiếu lên coi lại người đàn bà một lần nữa, nhưng đổi ý trước thái độ như kỳ dị của đại diện xã. Chàng hỏi:

“Anh chắc bà con với chị này?”

Tía im lặng một khoảnh khắc như không nghe thấy, không ngẩng đầu lên trả lời:

“Tôi sẽ lo chôn cất cho họ, chuẩn uý”.

“Anh có biết người đàn ông này không?”

“Không, chuẩn uý”.

Không còn việc gì, không còn việc gì ở đây nữa, chàng giơ tay ra hiệu cho trung đội tiếp tục di chuyển. Chợt nhớ tới lệnh chót của tiểu đoàn trưởng, chàng hỏi:

“Nghe nói tên Hải bị chết trong xã đêm qua, anh có tìm thấy xác hắn không?”

“Không thấy, chuẩn uý. Chắc chúng đem theo luôn rồi”.

Giọng người đại diện xã bổng ngập ngừng như có một nghẹn ngào phảng phất.

Khi tháo súng trên vai xuống cầm tay, chàng hình như thấy có một điều bí ẩn, một nỗi đớn đau thầm kín hiện diện đâu đây. Hình như mắt đại diện xã có nước mắt ứa ra kẽ mắt, có phải là thế không hay chỉ là một ảo giác do ánh nắng buổi sớm và vũng nước phản chiếu từ gốc cây kế cận tạo ra. Hắn bà con thế nào với người đàn bà đã chết mà phải… chàng toan hỏi nhưng Tía đã mấp máy môi, một bí ẩn sắp xuất hiện hay lại thêm một ảo giác của một đêm không ngủ vừa qua. Chàng chờ đợi, nhưng Tía đã từ bỏ câu nói đã dâng lên bờ môi, đầu đã cúi xuống nhìn báng súng xoáy tròn vào đám cỏ xơ xác dính bết máu khô đen. Không còn gì cả, không còn có gì xuất hiện thêm nữa để nói để bàn, chàng búng mẩu thuốc vào vũng nước nơi gốc cây, nghe một tiếng xèo tắt ngấm khi đã quay người bước theo toán quân đã đi khuất tới người chót sau bờ rào phía trước.

° ° °

Tiếng chim sẻ ríu rít trên mấy ngọn dừa làm chàng lơ đãng ngẩng đầu lên tìm kiếm. Tiếng hót ồn ào hơn nhưng chàng không thấy hình dáng một con chim nhỏ sau lớp lá dày đặc. Chàng ngồi xuống thềm hiên đất mát lạnh, nhìn đứa bé cởi truồng cầm bát cơm đứng ngơ ngác ngó những người lính đang phân tán quanh nhà. Dòng nước mát trong bi-đông làm chàng thoải mái, tiếng chim sẻ như lớn hơn, ồn ào hơn. Chàng quay lại nói với hiệu thính viên ngồi dựa vào vách gỗ căn nhà phía sau:

“Anh báo cáo tiểu đoàn đã mở đường xong… Đang đóng ở vị trí đã định. Báo cáo Đại bàng là đã gặp đại diện xã, không có xác tên Hải trong xã. Có vậy thôi…”

Chàng dựa đầu vào cột, thấy buồn ngủ trong không khí trong mát và tiếng rì rào của âm thanh điện tử từ chiếc máy vô tuyến phía sau. Chàng thiếp đi một khoảnh khắc với khẩu súng kẹp giữa hai đùi, tiếng động cơ lớn dần phía sau, chàng nghe rõ trước khi hiểu ra đó có thể là đoàn xe của đồn. Chàng cầm súng đeo lên vai, châm một điếu thuốc, bước ra sân dẫn lên quốc lộ. Đoàn xe đã xuất hiện, chiếc GMC chở một tiểu đội lính hộ tống súng chĩa sang hai bên ầm ì vụt qua, những người lính trên xe nhìn chàng như không trông thấy. Hai chiếc Jeep tản thương kín mít lướt qua, nhỏ dần trong đám bụi lờ mờ. Ván chiếc cầu gỗ vang lách cách ầm ĩ từng đợt và khi tiếng động cơ đã thu lại như một tiếng phi cơ ở chân trời, chàng chợt nghĩ không hiểu xác Vũ đặt trong xe nào. Trong xe nào? Chàng muốn biết trong xe nào, chàng kiễng chân cố gắng nhìn thật xa. Đoàn xe đã khuất sau một khúc quanh. Một xúc cảm không căn cớ dâng lên làm chàng khó thở, không còn thể biết xác nằm đâu, cũng như bức thư nhỏ gửi Vũ mang về cho Linh đã mất hút vĩnh viễn như câu nói của hắn chìm vào tiếng động cơ một chiếc xe vô định chạy ngang. Chàng đứng ngẩn ngơ giữa lộ nhìn về phía cây cầu gỗ bắt ngang con lạch đầy nắng êm đềm như không chảy uốn quanh sau dãy dừa nước mọc từ bùn nâu. Hai tiếng súng từ một nơi nào bên kia vang dội, chàng quay lại nhìn quanh dò xét. Trung đội phó từ một hàng hiên bước ra, nói lớn:

“Toán mở đường của đồn trên báo cho biết đoàn xe đã qua khu vực họ vô sự…”

Chàng rời mặt lộ, trở lại sân đất, nói:

“Trả lời họ đi”.

Một người lính rời gốc dừa sần sùi, giơ súng lên bắn. Hai tiếng nổ vang dội, tan biến đi ngay. Chàng ngồi xuống thềm hiên chỗ cũ, hơi đất mát lạnh, cảm thấy mình cần hút ngay một điếu thuốc. Khi tựa đầu vào cột thở làn khói bay lên cuồn cuộn trong nắng, chàng chợt nhận ra đàn chim sẻ đã thôi hót trên những ngọn cây dừa lá đan kết dày đặc.

Tháng 1 năm 1967

Sàigòn Ngày Dài Nhất

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 12 Oct 2024

Google photo edit by Sơn râu

9. Chương 9

19 giờ. Bóng tối trùm thành phố. Đèn đường chưa lên. Đạn vẫn nhằm ông Trời mà bắn. Tôi đi trong cái âm u của Sài gòn lịm chết. Hình tưởng một nghĩa địa hoang vắng? Sài gòn ở đó. Tiếng đạn bắn chỉ thiên cơ hồ tiếng nứt vỡ của hàng triệu trái tim. Rồi tiếng đạn ngưng hẳn. Dân chúng bỏ chạy tán loạn. Bộ đội miền Bắc và quân giải phóng xuất hiện trên các vỉa hè. Mạnh phe nào phe ấy nhặt nhạnh “chiến lợi phẩm”. Bộ đội miền Bắc chú trọng quân trang, quân dụng nhiều hơn võ khí. Chắc chắn, họ thèm quân trang, quân dụng của lính ta. Họ liệng “chiến lợi phẩm” lên mô-lô-tô-va. Quân giải phóng chú trọng vũ khí. Họ thu lượm vội vàng và phương tiện chuyên chở là xe ba bánh đạp và gắn máy. Đường phố, lúc này, đầy người. Chỉ còn xe quân sự của cộng sản qua lại Cộng sản nằm vùng đã sách động quần chúng xuống đường làm mùa vui giải phóng. Tôi thấy dọc phố Công Lý, cờ mới đã treo nhiều. Quả thực, tôi không nhận ra mầu cờ nữa. Vì bóng tối. Vì mắt tôi mờ. Tai tôi cũng đã điếc, chẳng thể nghe nổi tiếng hoan hô xem chừng đã cuồng nhiệt. Nhạc cộng sản muốn lấp vùng trời Sài gòn.
          Hãy chọc mắt tôi mù
          để khỏi nhìn người Babylone
          Hãy đâm thủng tai tôi
          để khỏi nghe nhạc Babylone
          Hãy cắt lưỡi tôi
          để khỏi hát nhạc Babylone…
Tôi không nhớ rõ có phải là Thánh vịnh trong Cựu ước. Mười tuổi, tôi đã nghe:
          Nhanh bước nhanh nhi đồng

          theo cờ đỏ sao vàng…
Mười chín tuổi tôi đã nghe:
          Quê hương chúng ta
          xanh ngát cánh đồng bao la
          Noi gương Trung quốc, Liên xô ta xây cuộc đời
          Quê hương chúng ta
          toàn dân trường kỳ kháng chiến
          Tiến bước dưới cờ Malenkov vinh quang
Bốn mươi tuổi, tôi lại nghe:
          Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng
          Lời Bác nay thành chiến thắng huy hoàng
          Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông
          Ba mươi năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công
          Việt Nam
          Hồ Chí Minh
          Việt Nam
          Hồ Chí Minh…
Lần thứ nhất, nghe nhạc, tôi còn bé. Lần thứ hai, nghe nhạc cộng sản, tôi bỏ vào Sài gòn. Lần thứ ba tôi mắc kẹt lại Sài gòn để bị nghe nhạc cộng sản. Mà không dám đâm thủng lỗ tai! Ai đã dám đâm thủng lỗ tai? Ai đã dám cắt lưỡi? Có lẽ, người ta đang lột lưỡi để hát nhạc kẻ thù cho ngọt ngào.* Tôi nghĩ kẻ viết Thánh vịnh hay Thánh thi đã không chọc mắt mình, đâm thủng tai mình, cắt lưỡi mình. Tôi thì không đủ can đảm đó. Mà tôi cần sáng mắt, thính tai. Chưa hiểu số phận mình ra sao trong biển máu, nhưng tôi cứ mơ mộng những tác phẩm lớn của đồng nghiệp của tôi về một Sài gòn, ngày dài nhất

° ° °

– Long ạ!..
– Gì?
– Hay là mày để tao về nhà trước xem có chuyện gì xẩy ra không đã.
– Chuyện gì?
Tôi nói tiếp:
– Nếu xảy ra chuyện gì, tôi sống vô ích.
Đặng Xuân Côn gạt đi:
– Mày có ích lắm. Ít ra, xuất bản trọn bộ Vẻ buồn tỉnh lỵ.
– Tôi và ông cùng về.
– Suy nghĩ kỹ đi.
– Tôi vững tin.
– Cộng sản?
– Không. Người Sài gòn không thích biển máu. Người vô sản Sài gòn không thích biển máu. Người Sài gòn sẽ khước từ học tập căm thù. ông thấy rồi đó, chưa có villa nào trên đường Công Lý bị người vô sản hay là nhân dân xông vào đập phá, cướp của, giết người. Ngay cả cái bảng “coi chừng chó dữ” cũng vẫn còn nguyên vẹn. Đó là một dấu hiệu, ông hiểu chứ?
– Sao?
– Sài gòn vẫn là Sài gòn. Chúng ta không mất Sài gòn bởi vì Sài gòn chế ngự mọi thù hận. Bằng thù hận, mọi sự đổ vỡ. Sự đổ vỡ thê thảm nhất là đổ vỡ tình người. Còn chế độ vỡ đổ, chả nghĩa lý gì cả. Thù hận đạp đổ tất cả nhưng thù hận không xây dựng lại tất cả những gì nó đạp đổ. Thù hận không chinh phục nổi lòng người.
– Mày sẽ viết về cái đó?
– Tôi đã viết từ lâu. Tư tưởng của tôi đã gây nhiều hệ lụy cho tôi, sẽ còn gây nhiều nữa, nếu tôi sống sót sau cơn hồng thủy 30-4.
– Mày phải sống sót.
– Cám ơn ông, tôi mong được sống sót.
Hai chúng tôi đi sát bên nhau, như thuở mười tuổi, chúng tôi đã đi sát bên nhau trong buổi tối thị xã miền Bắc đầy xác chết đói.
– Long!
– Để tao về trước.
– Tôi đi đâu?
– Mày ghé sang Tân Định xem có “bắt” được vài chai Cognac không.
– Rồi sao?
– Tao đợi mày ở cổng. Hễ không thấy tao, mày vù lẹ.
– Vù đâu?
– Long Xuyên.
– Tôi đi mua rượu và tôi cứ về, dù ông không đợi tôi ngoài cổng.
Chúng tôi chia tay. Vỉa hè Tân Định không còn những đống quân trang, quân dụng, võ khí nữa. Mà thay bằng những lái buôn cờ. Nhà máy nào sản xuất cờ cộng sản nhanh thế? Cờ đảng, cờ “tổ quốc”, cờ mặt trận. Chắc chắn Chợ Lớn đã “chế tạo” từ lâu. Dân chúng sợ hãi cộng sản, chen chúc nhau mua cờ mới. Tôi cố tình quan sát những người mua cờ. Khuôn mặt người nào, người nấy ủ ê. Cảnh tượng này không lọt vào ống kính điện ảnh cộng sản đã đành, còn không lọt vào ống kính điện ảnh Tây phương. Tại sao vậy? Dễ hiểu thôi, Tây phương luôn luôn mù. Có thể, họ còn giả vờ mù đề không thích nhìn một người đàn bà mà chồng “thua trận” đang nằm rên rỉ trong phòng kín ở nhà, phải ra phố xếp hàng mua cờ của kẻ chiến thắng? Tôi không biết vợ con tôi đã “sắm” cờ mới và nhà tôi đã treo cờ mới chưa?

° ° ° 19 giờ 30. Thành phố lên đèn. Đèn phố giúp tôi nhìn rõ một thay đổi mới của Sài gòn, 9 tiếng đồng hồ sau lệnh đầu hàng. Sự sang trọng của Sài gòn đã vội vàng dấu biến. Dân chúng ra đường ăn mặc tiều tụy. Đàn bà, con gái không áo dài, không son phấn, không sơn móng tay hoặc là đã rửa móng tay sơn. Nhiều bà, nhiều cô sợ hãi móng tay dài nhọn hoắt là lười biếng lao động, sẽ bị dùng kìm rút đi, đã nhanh nhẹn cắt móng tay. Đàn ông con trai, áo bỏ ngoài quần, lê giép Nhật made in Chợ Lớn. Xe Honda hết lạng bay bướm. Xe đạp chạy êm đềm. Khu Tân Định nhẫy nhụa những bài ca cách mạng tiết ra từ những cái loa gắn chung quanh chợ. Nhưng mà những kẻ gây khí thế cách mạng ồn ào, những kẻ cách mạng hơn cách mạng, vẫn chỉ là cỏ đuôi chó và sư đoàn 304. Rất lẹ, cỏ đuôi chó đã kết hợp thành những đội ngũ vác cờ, mang khẩu hiệu diễn hành.
– Long, Long….
Tôi ngó vào tiệm mì cạnh rạp Kinh Thành. Người vừa gọi tên cúng cơm của tôi là Thế Phong, tác giả Nửa đường đi xuống, một trong những phản đồ của Văn Nghệ chủ quan viễn kiến môn phái Nguyễn Đức Quỳnh. Thế Phong vẫy tay ra dáng bí mật. Tôi bước vô tiệm.
– May còn tiệm chú Ba mở cửa. Thế Phong nói.
Tôi ngồi xuống ghê. Thế Phong mời mọc:
– Ăn một tô nhé?
Tôi gật đầu. Cần thiết ăn một tô mì vịt trước khi bị ném vào biển máu. Tôi cũng thấm đói rồi.
– Mày không lọt lưới à? Mỹ bỏ rơi à?
– Ừ. Còn mày?
– Xêm xêm. Tao “đào ngũ’ từ đêm qua. Tụi nó pháo kích khiếp quá, không vào “sở” được.
Trung sĩ văn nghệ không quân Thế Phong vẫn thích khôi hài. Tác giả Tôi đi dân vệ Mỹ nhấp ngụm bia:
– Mày đi đâu qua đây?.
– Xem Sài gòn đổi cờ và định ghé mua rượu về uống đợi chết.
– Không chết đâu.
– Tại sao?
– Không có biển máu nhưng chúng ta sẽ chết dần chết mòn, chết như cây cỏ, chết chẳng ai thèm biết.
– Nửa đường đi xuống!
– Đi xuống địa ngục.
– Vậy đó. Bố Quỳnh đã không sai.
– Nhưng mày thì là phản đồ Văn Nghệ chủ quan viễn kiến.
– Đồng ý. Bố Quỳnh đã tiên đoán Sài gòn sẽ bị đổi thành Hochiminhgrad.
– Tao cũng tiên đoán, sau ông Quỳnh. – Trong Sa mạc tuổi trẻ?
– Đúng. Tao đã viết, rồi sẽ có ngày, bừng mắt dậy, chúng ta thấy cờ đỏ sao vàng treo trên nóc Việt Nam quốc tự, trên nóc chùa ấn Quang, trên nóc Hạ Viện, trên nóc nhà thờ Đức Bà…
– Tiếc rằng ông Quỳnh không còn sống.

Google photo edit by Sơn râu

Nguyễn Đức Quỳnh, nhà văn, nhà lập thuyết, kiện tướng của nhóm Hàn Thuyên, đồng chí đệ tứ quốc tế của Trương Tửu. Cuộc đời bôn ba hải ngoại của ông không thua gì Hồ Chí Minh. Kiến thức của ông thì Hồ Chí Minh khó mà sánh nổi. Nhưng ông là con người thiếu may mắn với lịch sử. Rốt cuộc, tác giả những Thằng Kình, Thằng cu So, Con Phượng cam đành sống những ngày còn lại ở miền Nam với bút hiệu Hoài Đồng Vọng và lập Đàm trường chủ trương nền văn nghệ chủ quan viễn kiến. Những khuôn mặt văn nghệ lớn của hai mươi năm văn nghệ Sài gòn đều đã ghé Đàm trường. ông có thiện ý giúp những người văn nghệ trẻ tiến xa. Và ông đã cho họ mang hia bẩy dặm. Thế Phong là người được ông ví như Marxime Gorki. Đáng lẽ, Thế Phong phải kiên nhẫn học hỏi và cố gắng sáng tạo cho bằng Gorki. Thì anh ta lại đem cái kỳ vọng của Nguyễn Đức Quỳnh nơi anh ta làm một sự tự mãn. Anh ta công kích vung vít. Cuối cùng, anh ta công kích luôn cả ông Nguyễn Đức Quỳnh.
– Bây giờ mày mới thương ông Quỳnh?
Thế Phong gật đầu, đôi mắt chớp nhanh:
– Tài của tao bất cập ý ông ấy. Ông Quỳnh là phù thủy cự phách mà tạo chỉ là âm binh hạng tồi. Tất cả bị tẩu hỏa nhập ma.
– Trừ một tên.
– Đứa nào.
– Lý Đại Nguyên.
– A, đúng đấy. Nó khá đủ mọi nghĩa, mọi mặt.
Thế Phong nằng nặc đòi trả tiền mì, tiền bia. Lúc chia tay tôi, anh ta nói một câu buồn bã:
– Tao và mày không biết thằng nào về đất trước. Vậy vĩnh biệt mày, Duyên Anh?
Dứt câu, Thế Phong bước nhanh. Anh ta khuất vào đám đông hoan hô giải phóng. Tưởng chừng người bạn văn nghệ của tôi đi vào cõi chết, tôi nghe lòng tôi những tiếng rạn nứt hãi hùng. Đứng ngẩn ngơ cả mấy phút tôi mới lết đi. Tôi đi đâu trong nỗi khôn cùng tịch mịch của đất nước tôi? Thế mà tôi vẫn cứ đi, tôi cứ đi. Đường phố đã đông nghẹt người. Xe cộ không chạy nổi. Người và cờ. Tự nhiên, trời lất phất mưa. Tôi chợt nhớ mấy câu thơ của Trần Dần:
          Tôi đi không thấy phố, thấy nhà
          chỉ thấy mưa sa
          trên nền cờ đỏ
Mấy câu thơ này rất hợp với tâm trạng của tôi chiều 30 tháng 4. Tôi đi, không thấy gì cả, ngoài cờ đỏ sao vàng, cờ trên đỏ dưới xanh giữa sao vàng dưới ánh đèn hiu hắt và trong bụi mưa ảm đạm. Tôi đi, không nghe thấy gì cả, ngoài tiếng hoan hô cách mạng điên cuồng. Tôi đi giữa cảnh đổi đời oan nghiệt. Ai đã đi như tôi? Ai đã thấy như tôi? Ai đã nghe như tôi? Nếu người ta đã thấy đã nghe như tôi, người ta sẽ thay đổi hẳn nhân sinh quan khi người ta thoát biển máu, luân lạc phương trời nào đó ngoài nước Việt Nam. Nhưng người ta không thấy, không nghe như tôi đã thấy, đã nghe. Nên cái nhân sinh quan đáng lẽ cần phải được hủy diệt thì nó.lại rực rỡ ánh sáng bần tiện. Và dưới ánh sáng bần tiện ấy, những người tưởng mình hạnh phúc đã trở thành những kẻ bất hạnh nhất. Bất hạnh và nhỏ bé thêm. Đó là những con người không dám thoát ly cái quan niệm sống ích kỷ, thủ lợi, hám hư danh, đố kỵ, gian dối… Ngay cả một số người bị kẹt lại Sài gòn, đã thấy, đã nghe như tôi – những người văn nghệ và tự nhận mình văn nghệ – cũng vẫn loay hoay trong cái nhân sinh quan cũ, thứ nhân sinh quan trải trên chiếu rách ăn mày. Và, hôm nay, trốn thoát sang Hoa Kỳ, họ vẫn thi triển nhân sinh quan hôi hám cũ và cộng thêm tính chất lưu manh họ tiếp thu của cộng sản Nếu Như văn úy là tên đã biết khai thác cái miệng của mình để thành dân biểu to mồm – tuy rất rỗng và ngu dốt – của chế độ Nguyễn văn Thiệu thì, ít ra, sau nó, khối kẻ đã làm sáng danh nó bằng cái miệng lớn hơn khỏa lấp thiên hạ. Để phô diễn “tài năng” chính trị, văn hóa. Hình như, ít ai suy nghĩ về hai tiếng đổi đời của cộng sản. Vậy thì một mình tôi đi…
          Không thấy phố, thấy nhà
          chỉ thấy mưa sa
          trên nền cờ đỏ…

° ° °

Rồi tôi cũng mua được hai chai Courvoisier. Trên đường về nhà, bất ngờ tôi gặp Phan Kim Thịnh, chủ nhiệm tạp chí Văn Học. Xuất thân của ông chủ nhiệm họ Phan từ chân tùy phái của tạp chí Quê Hương. Tạp chí Quê Hương do ông Nguyễn Cao Hách đứng tên chủ nhiệm, quy tụ nhiều trí thức khoa bảng khuất thân chế độ Ngô Đình Diệm. Tạp chí Quê Hương nhận tài trợ của Sở nghiên cứu chính trị. Phan Kim Thịnh là mật vụ thứ yếu của Sở nghiên cứu chính trị được biệt phái “nằm” ở Quê Hương, giữ chức loong toong khiêm tốn để theo rõi sinh hoạt của tòa soạn Quê Hương. Thời ông Diệm, các nhật báo đều có người của Sở nghiên cứu chính trị “nằm” cả. Các “người” này, đa số là nhà văn, nhà báo có danh. Do đó, dưới chế độ ông Diệm không có nạn “tự ý đục bỏ” và “tịch thu bừa bãi”. Riêng tạp chí Quê Hương, Sở nghiên cứu chính trị đã tỏ ra khôn ngoan, chỉ “cài” chân tùy phái sai vặt. Khoảng năm 1962, tùy phái Phan Kim Thịnh rầm rộ quảng cáo tạp chí Văn Học do ông ta làm chủ nhiệm. Xuất bản báo có nghị định của nhà nước vào thời kỳ này rất khó. Phan Kim Thịnh đã “vượt” khó, vì là người của Sở nghiên cứu chính trị. Với chủ bút Dương Kiền, mấy số đầu Văn Học thật giá trị. Về sau, Dương Kiền thành luật sư, bỏ chức chủ bút. Văn Học xuống dốc từ chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Năm 1968, Phan Kim Thịnh sang Gia Định làm phụ tá cho cò Tùy ở Ty cảnh sát. Tạp chí Văn Học ra số đực, số cái.
Phan Kim Thịnh luôn luôn để lộ sự hèn mọn của mình khi ông ta tiếp xúc với các nhà văn, nhà báo. Bà cụ thân sinh của ông quét dọn sân trường Régina Mundi. Ông thân sinh của ông bán hình Chúa, tượng Chúa, sâu chuỗi, sách kinh ở cửa nhà thờ Đức Bà. ông ta sống như những người cần cù làm ăn và ai cũng hiểu ông ta là mật vụ trốn lính. Bất ngờ, tối nay, tôi gặp chủ nhiệm Văn Học trên vỉa hè Hai Bà Trưng. ông ta mặc bộ quần áo xuềnh xoàng, chân diện giép râu, đầu đội nón tai bèo, vai đeo cái xặc cột vải Phan Kim Thịnh vỗ vai tôi:
– Đi đâu đấy, ông Duyên Anh?
Tôi không trả lời mà hỏi:
– Thay đổi lẹ thế?
Phan Kim Thịnh cười:
– Rồi sẽ thay đổi hết.,
Nhìn hai chai rượu kẹp nách tôi, ông ta nói:
– Uống tiêu sầu à?
Tôi đáp:
– Uống mừng cách mạng.
Tôi hất đầu:
– Mua mũ và giép ở đâu vậy?
Phan Kim Thịnh nhún vai:
– Ông về nhà ông uống rượu đi. Nhớ đừng say sưa. Sáng mai gặp nhau ở Trung tâm Văn Bút.
– Tôi sợ khó gặp ông.
– Tại sao?
– Vì tôi sắp bị liệng vào biển máu.
– Ai bảo thế?
– Mỹ.
– Mỹ cút rồi. Cách mạng đại xá, đại đại xá. Tôi quả quyết không một nhà văn, nhà báo nào bị trả nợ máu cả. Rồi Huy Cận sẽ đến tận nhà ông tìm ông.
– Ông lấy tư cách gì mà quả quyết?
– A, à… Khó nói lắm. Thôi, chia tay nhé!
Phan Kim Thịnh rảo bước. Tôi ngơ ngác. Chưa bao giờ tôi đánh giá Phan Kim Thịnh là một tên nằm vùng. Trời ơi, chúng ta đã có Phan Kim Thịnh nằm ở Sở nghiên cứu chính trị và Huỳnh văn Trọng nằm ở Dinh Độc Lập?

Google photo edit by Sơn râu

CHÂN DUNG MỘT TÊN NẰM VÙNG THƯỢNG THẶNG
Vũ Hạnh là một tên nằm vùng bị cháy. Vì cả nước đều rõ. Chỉ riêng linh mục Thanh Lãng không thèm rõ, không thích rõ nên ông ta mới cứu Vũ Hạnh ra khỏi Tổng nha cảnh sát quốc gia, cam kết với ông Nguyễn văn Thiệu và cho Vũ Hạnh làm việc tại Trung tâm Văn Bút Việt Nam, đường Đoàn thị Điểm. Trước khi bị cháy, Vũ Hạnh hoạt động ra sao?
Nó chỉ viết truyện đường rừng. Từ Mùa xuân trên đỉnh non cao đến Lửa rừng của nó, toàn là truyện vô tội vạ Nó tinh quái, biết ngụy trang bằng cách miêu tả những nhân vật vô sản của nó như hạng người bần tiện. Chưa hề thấy Vũ Hạnh đề cao một nhân vật vô sản chính thống nào trong sách của nó cả. Đi từng bước, Vũ Hạnh viết ngôi trường đi xuống rồi Con chó liêm sỉ, nó hơi hơi lộ văn chương hiện thực xã hội chủ nghĩa nhưng không mấy ai chú ý. Vì nó viết không hấp dẫn, ít người đọc nó. Vũ Hạnh không có tài lôi cuốn độc giả. Hà Nội đã sai lầm xử dụng nó và tưởng nó có thể thao túng văn nghệ Sài gòn. Thất bại sáng tác, Hà Nội chỉ thị Vũ Hạnh phê bình văn học. Nó dùng tạp chí Bách Khoa, phê bình văn nghệ với bút hiệu Phương Thảo. Cô Phương Thảo dịch sách Người Việt cao quý của nhà văn Y đại lợi. Rõ ràng dụng ý đạo đức dân tộc của nó. Nó đã thành công ngay khi nó phê bình một bà vợ ông chủ đồn điền ở Blao hám danh nhà văn. Bà này (tôi quên tên rồi) xuất bản tập truyện ngắn. Bất hạnh cho bà ta là có một truyện “thuổng” nguyên con của Vũ Hạnh. Cô Phương Thảo khám phá ra. Bà nhà văn chủ đồn điền đành “cáo lỗi”. Từ đó, văn học Việt Nam mất một tài năng. Vì bà nhà văn “đạo văn ‘ không bao giờ viết nữa. Tất cả những bài phê bình văn nghệ của Vũ Hạnh đều đặt nặng vấn đề đạo đức văn chương, thứ đạo đức giả hình mác xít. Vũ Hạnh nhắm đối tượng mà phê bình.
Những năm 65, 66, 67, là những năm cực thịnh của nhật báo Sống và Chu Tử. Báo Sống chống cộng rất hỗn và rất ngoạn mục. Báo Sống nhiều độc giả nhất nước. Báo Sống lố bịch hóa lãnh tụ cộng sản. Báo Sống bảo “Hồ chủ tịch làm thơ như cục kít”. Đảng cộng sản điên lên, chỉ thị cho Vũ Hạnh nhằm những điềm vô luân trong tiểu thuyết của Chu Tử mà đánh. Vũ Hạnh đánh luôn Lê Xuyên về phương diện dâm đãng. Đảng cộng sản lầm lẫn tai hại. Là đụng vào… báo phiệt, đụng vào thần tượng. Kết quả, Vũ Hạnh bị cháy, hết dở trò, kéo theo sự lộ hình của Lương thịt chó nằm ở Đài phát thanh Sài gòn và hai tờ báo thân cộng bị đóng cửa.
Thái Bạch là tên nằm vùng bị cháy. Ít ai dám nghĩ Thái Bạch nằm vùng, trừ ông tướng Nguyễn Ngọc Loan. Cảnh sát đặc biệt bắt nhốt Thái Bạch. Chủ nhiệm nhật báo Xây Dựng là linh mục (lại linh mục?) Nguyễn Quang Lãm xin ông tướng Loan thả Thái Bạch ra. Ông tướng Loan nể tình linh mục Lãm bèn thả Thái Bạch ra.
Ít ai dám nghĩ Thái Bạch nằm vùng. Tại sao thế? Vì vóc dáng và diện mạo của nó như con gà mái ướt. Nó mặc quần ống thấp ống cao, môi dề ra, mắt lơ láo. Nó “chuyên trị” ca dao miền Nam và luận cổ suy kim. Tôi làm việc chung với nó khá lâu ở toà soạn Xây Dựng mà cũng không biết nó nằm vùng. Ngày nó bị bắt, tôi tưởng nó bị bắt oan. Ngày nó được tha, tôi ngồi ăn ở quán Ngọc Hương, đường Gia Long, thấy nó thất thểu trên vỉa hè.
Tôi gọi nó lại:
– Thái Bạch!
Nó vào quán.
– Anh đi đâu vậy?
– Đi đòi tiền nhuận bút.
– Ăn uống cái gì đã.
– Tôi phải đi ngay, vì nó thất hẹn ba lần rồi, lần này bảo trả nhưng bắt đến đúng giờ.
– Bao nhiêu?
– Có tám trăm.
Thái Bạch nghèo nàn và thường tỏ ra hèn hạ.
– Ngồi xuống ăn một đĩa bánh cuốn, rồi tôi tặng anh một ngàn.
Thái Bạch ngoan ngoãn ăn bánh cuốn, ngoan ngoãn nhận một ngàn. Sau 30-4 một tuần lễ, văn nghệ sĩ phải đăng ký địa chỉ ở Tòa đại sứ Đại Hàn, đường Nguyễn Du. Tôi gặp Thái Bạch đeo súng lục, ngời bàn giấy oai vệ lắm. Nó đã quên đĩa bánh cuốn và ngàn bạc của tôi. Nó không còn tỏ ra hèn hạ nữa. Nó đã là… cách mạng! Bấy giờ tôi mới biết nó nằm vùng.
Những thằng nằm vùng lõa lồ như Thế Nguyên, Lữ Phương, Nguyễn Trọng Văn, không có gì đáng nguy hiểm cả. Vì chúng nó chỉ biết đi về một phía và húc đầu vào một phía. Thằng nằm vùng tôi sắp kể là thằng nằm vùng thượng thặng. Nó là biểu tượng của bọn cộng sản nằm vùng nên tôi không nêu đích danh. Có thể, nó vừa mới ăn phở với bạn ở California, vừa uống bia với bạn ở Stuttgart, vừa nhâm nhi cà phê với bạn ở Paris. Cũng có thể, nó vừa phẫn nộ, rất phẫn nộ chuyện bạn bị chụp mũ cộng sản và xui bạn nộp đơn kiện kẻ chụp mũ bạn. Và, rất có thể, nó đang điều khiển một cơ sở truyền thông chửi cộng sản vung xích chó. Tại sao kỳ vậy? A, xin bạn nhớ giùm câu này “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Đó là bí kíp… nằm vùng?
Thằng nằm vùng này, ta tạm đặt tên nó là Biểu Tượng, hành tung bí mật lắm. Biểu Tượng không thèm biết trường Bộ Binh Thủ Đức, dù nó tốt nghiệp đại học. Người ta mơ hồ hiểu rằng nó làm việc cho CIA. Hôm nay, ta gặp nó ra vào Juspao, ngày mai, ta gặp nó lởn vởn trong sân Usis. Khi nó tới Ấn Quang, khi nó lui Việt Nam quốc tự Buổi sáng nó ở báo đối lập, buổi chiều nó ở báo thân chính quyền. Nó quen với linh mục Hoàng Quỳnh, quen luôn thượng toạ Trí Quang. Sinh hoạt phát triển học đường, nó dính một tí. Du ca nó dính một tí. Phong trào bài trừ tham nhũng, nó dính một tí. Nó giao du đủ mặt nghệ sĩ lớn, nhỏ, đủ ngành sáng tác, trình diễn. Chẳng ai biết chỗ làm cố định của nó và lương bổng của nó. Bề ngoài, nó sống giản dị, không mất lòng ai, không hề tham vọng làm lớn. Nó thường ngồi đấu láo với Phạm Xuân Ẩn, Ngô Công Đức, Võ Long Triều và cả Cao Dao, Chu Tử, Mặc Thu, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hạnh…
Biểu Tượng chống Mỹ, chống Cộng hơn bất cứ ai chống Mỹ, chống Cộng. Đạo đức của nó vút lên Bắc đẩu. Tinh thần dân tộc của nó nặng như Thái sơn. Nó hoan hô tất cả những người chống Cộng quá khích, cổ võ Mặt trận kháng chiến HCM, khích lệ người quốc gia chụp mũ cộng sản lên đầu người quốc gia rồi xui kẻ bị chụp mũ kiện cáo. Đòn kiện ép-phê mạnh. Người quốc gia hết dám tố cáo cộng sản. Đòn chụp mũ cũng ép-phê mạnh. Hai tiếng cộng sản bị vô hiệu hóa. Riết rồi cộng sản chính cống và quốc gia bị chụp mũ cộng sản bình đẵng và hóa nhàm. Biểu Tượng rất ngại chức vụ. Nó sợ chường mặt. Nó khoái làm con bài chưa chia, con bài còn nằm trong bó bài bầy bán ở tiệm chạp phô. Nếu Biểu Tượng nuôi tham vọng thì tham vọng của nó là quy tụ các danh sĩ dưới trướng nó. Nó sẽ ban phát cơ hội tiến thân rồi đẩy danh sĩ vào quỹ đạo của nó.
Như Thái Bạch chỉ nói về ca dao miền Nam, chỉ luận cổ suy kim; như Vũ Hạnh chỉ viết truyện đường rừng, chỉ phê bình đạo đức văn chương; như Thế Nguyên chỉ đặt vấn đề lương thiện của người cầm bút, Biểu Tượng khoái viết về Nguyễn Du, Nguyễn Trãi y hệt cộng sản Hà Nội hăng say ca ngợi Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, làm như là quốc gia không biết đến sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du, Nguyễn Trãi. Có kẻ nói: Cộng sản bốc Nguyễn Trãi lên chín tầng mây, thiếu một điều quật mả Nguyễn Trãi, dựng ngài đứng dậy, thấy tay trái ngài cầm Gia huấn ca, tay phải ngài cầm Lê-nin toàn tập! Biểu Tượng ca ngợi Nguyễn Trái, Nguyễn Du theo “chỉ đạo” của cộng sản. Nó dân tộc quá. Ai bảo nó cộng sản nằm vùng, nó sẽ kiện. Hoặc nó lôi CIA ra hù.
Này anh Biểu Tượng và các anh Biểu Tượng? Người quốc gia không mù, không điếc, không câm và không biết sợ hãi. Trần Dần đã viết:
          Tôi chửa khi nào quên táo bạo
          Chửa khi nào quên hát, quên đau
Chúng tôi cũng thế. Sở dĩ tôi chưa đánh anh là vì anh chưa dở trò cụ thể. Vậy đó. Anh đừng quên chúng tôi đã nhận diện anh.