‘Đừng nghe …’

hung-viet.org

Huy Phương / VOA

22 Tháng Sáu 2017

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Khi Saigon thất thủ, tôi đã được đọc trong cương lĩnh của Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, một loại tay sai bù nhìn của Cộng Sản Bắc Việt, là binh lính miền Nam được cho về quê quán làm ăn. Chơi chữ! binh lính không bao gồm sĩ quan, đảng phái và viên chức hành chánh, nên từ chuẩn uý và cấp chánh sự vụ, nhất là đảng viên ngoài đảng Cộng Sản bị bắt vào các trại tập trung ở tù không bản án, nhanh nhất là một năm, lâu nhất là mười tám năm.

Câu “Cấp uý mang theo lương thực một tuần, cấp tá mang tiền ăn một tháng” lại là một cách chơi chữ nữa của Bắc Việt mà dân tình đôn hậu miền Nam hết sức tin tưởng, xếp hàng trình diện, nôn nóng “học tập” vài ngày cho xong rồi về quê làm ăn.

Trong khi những người cha, chồng đã bị mắc bẫy sập trong những trại “cải tạo” nơi rừng thiêng nước độc, thì ở nhà chính quyền phường, khóm đi từng nhà vận động vợ con họ lên xe đi vùng kinh tế mới cho chồng, cha mau về. Ở trong trại tù, thì cán bộ ngày đêm ra rả, ai học tập cải tạo tốt, lao động tốt thì được cách mạng cứu xét khoan hồng cho về sớm, nhưng những anh về sớm, không phải ruột thịt cỡ trung ương đảng thì cũng phải chung năm bảy “cây” vàng.

Khi cán bộ coi tù nói là sẽ đưa tù đến một nơi an toàn, có đầy đủ phương tiện để việc “học tập” được dễ dàng, thuận lợi hơn, có nghĩa là sẽ lùa tù đến một nơi rừng thiêng nước độc, tù phải tự đi chặt cây cắt lá về dựng chuồng tự nhốt mình, và tự trồng rau, cấy lúa lấy mà ăn.

Nhà tù thỉnh thoảng kiếm một vài anh “học tập, lao động tốt,” một buổi sáng tập họp, kêu gọi trang bị gọn nhẹ, khăn gói lên xe molotova, mập mờ “cách mạng khoan hồng,” cả trại tù nhìn theo nhỏ dãi, ai cũng nghĩ là thả tù về. Thời gian sau, được chuyển đến một trại khác, lại gặp những anh tiến bộ “được tha về” năm trước đang gánh phân, cuốc đất, trồng rau!

Khi trại tù xôn xao có tin sẽ chuyển trại, cai tù đứng trước hàng quân đính chính tin đồn, hứa sống hứa chết với tù nhân, là phải cảnh giác, đánh tan tin chuyển trại, gây hoang mang. Nhưng sáng hôm sau, kẻng đánh, trại cho tù 30 phút để sửa soạn, tập họp lên xe, “khẩn trương chuyển trại!” Tết Mậu Thân, Bắc Việt và CS Miền Nam (Mặt Trận) đều tuyên bố tự nguyện ngừng bắn 7 ngày từ 01h00 sáng giờ Hà Nội ngày 27/1/1968 đến 01h00 sáng giờ Hà Nội ngày 3/2/1968. Việt Nam Cộng hòa và Hoa kỳ cũng sẽ đình chiến trong 48h từ 00h00 ngày 30/1/1968 đến 00h00 ngày 01/02/1968. Nhưng Việt Cộng đã phản bội lệnh đình chiến mở mặt trận đánh vào các thị trấn của miền Nam.

Tết Mậu Thân (Sài Gòn)
Sau khi chiếm được miền Nam, theo Wikipedia, khi kiểm kê tiếp thu, trong kho hầm sắt Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có 1.234 thoi vàng và một số tiền cổ bằng vàng, tức hơn 16 tấn. Toàn bộ tiền và vàng dự trữ trong ngân hàng Bắc Việt tiếp quản nguyên vẹn cùng với đầy đủ hồ sơ sổ sách. Nuốt trọn số tài sản này, Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản chia chác nhau hay trả nợ? nhưng chủ ý loan tin đồn trong quần chúng là Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã mang 16 tấn vàng theo ra ngoại quốc.

Bắc Việt chủ trương ăn cướp trắng trợn, bần cùng hóa dân chúng miền Nam, làm kiệt quệ kinh tế của kẻ thù, bằng ba lần đổi tiền, ngày 22.9.1975, ngày 03/5/1978 và ngày 14.9.1985. Những lần đổi tiền được xem như những cuộc hành quân lớn, bất ngờ và giới nghiêm để siết chặt sự thất thoát.

Không ai có thể tưởng tượng có thêm một lần đổi tiền thứ ba, cướp triệt để, vét tới “cái lai quần” cũng vét (*).

Đồng bào miền Nam rất lo sợ trước chuyện đổi tiền, đổi tiền và còn đổi tiền nữa, nhưng trước sau cường quyền vẫn xoen xoét. Trước ngày đổi tiền lần thứ ba hai ngày, ngày 12-9-1985, báo Tuổi Trẻ đăng tin lớn: “Bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của gian thương,” và chính quyền “lên gân:” “Với sự tăng cường hiệu lực của bộ máy chuyên chính vô sản mọi hậu quả tin đồn phải được thanh toán triệt để.”

Nhưng, đừng nghe những gì Cộng Sản nói!

Sáng sớm ngày 14.09.1985, hệ thống loa phóng thanh phường loan tin đổi tiền thêm một lần nữa. Phan Văn Khải, Chủ tịch UBND thành phố Saigon hô hào: “Đổi tiền là vì lợi ích của nhân dân lao động!” Mới đây báo chí trong nước dành bản tin trang nhất cho vụ Nguyễn Đức Chung. Trong Một vụ tranh chấp đất đai đã xảy ra lâu nay giữa dân chúng địa phương xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội và Tập Đoàn Viễn Thông Quân Đội Viettel trong việc sử dụng số đất thuộc sở hữu của Quân Chủng Phòng Không. Nhân dân Đồng Tâm cho rằng dân chống tham nhũng, chống những kẻ cướp đất nhưng huyện lại đưa lực lượng về đàn áp. Do đó, trung tuần tháng Tư, 2017, người dân xã Đồng Tâm bắt giữ hơn 19 nhân viên của nhà nước, gồm các cán bộ huyện Mỹ Đức và các cảnh sát cơ động để làm con tin. Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND Hà Nội, đã về Đồng Tâm để nói chuyện trực tiếp với dân làng, dân làng nhượng bộ thả tất cả những người bị giam giữ và Nguyễn Đức Chung hứa không truy tố dân sự, bằng một văn bản viết tay.

Nay Cơ Quan Cảnh Sát Điều Tra thuộc Công An Hà Nội (dưới quyền của Nguyễn Đức Chung) ra quyết định khởi tố vụ án hình sự để điều tra hai tội danh trong vụ Đồng Tâm về 2 tội danh: “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” (theo điều 123 bộ luật Hình sự) và “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” (theo điều 143 bộ luật Hình sự). Nguyễn Đức Chung lật lọng, nuốt lời với lời biện minh rằng, bản cam kết không có con dấu!

Hết lời bình luận.

Ông Nguyễn Văn Thiệu đã nói “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói…”

Tôi bắt chước Hồ Chí Minh để nói thêm rằng:“Chân lý ấy không bao giờ thay đổi!”


Huy Phương – VOA

(*)”Còn cái lai quần cũng đánh” (Út Tịch)

‘Cạp đất mà ăn!’

hungviet.org

27 Tháng Hai 2017

Huy Phương

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Nông dân Hưng Yên biểu tình ở Hà Nội đòi lại đất bị cướp.(Google images)

Một cô gái thuộc loại mất nết ở Việt Nam, từng được báo chí tâng bốc là “Nữ Hoàng Nội Y,” có lần tự nhận mình là búp bê trong tủ kính, không giấu diếm chuyện hoàn toàn phụ thuộc tài chính vào bạn trai và thẳng thắn nói với nhà báo: “Yêu mà không có tiền thì cạp đất mà ăn à?”

Trong một xã hội chạy theo đồng tiền, không cần đạo lý và nhiễu nhương như ở Việt Nam hiện nay, câu nói này đã trở nên nổi tiếng. Bằng chứng là vừa qua, trường Đại Học Kinh Tế Sài Gòn trong cuộc thi “Duyên dáng sinh viên kinh tế” (Miss UEH 2015) giám khảo dùng câu nói này để hỏi thí sinh trong phần thi ứng xử: “Thời gian gần đây, có một ‘nghệ sĩ’ từng nói câu ‘không tiền cạp đất mà ăn,’ theo em, câu nói này đúng hay sai? Nó có giống với quan điểm của em không?”

Câu trả lời của cô thí sinh “duyên dáng” này là: “Nếu như ngẫm nghĩ lại một cách kỹ càng hơn thì câu ‘không có tiền cạp đất mà ăn’ lại không đúng. Bởi vì bây giờ, đất cũng không có rẻ đâu thưa quý vị ạ!”

Đúng là đất thời nay không rẻ, và tất cả cán bộ lớn nhỏ của chính quyền Cộng Sản, từ loại “quần rách áo ôm,” sau khi chiếm miền Nam, có thời cơ, đã “cạp đất” mà giàu lên như thổi!

Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh thì nhiều người Việt Nam giàu lên nhờ đất.

Trên thế giới, người ta muốn giàu lên, người ta phải giỏi về quản trị hay người ta phải làm chủ về khoa học công nghệ, người ta phải đóng góp rất lớn về tiến bộ của cộng đồng. Nhưng trong trường hợp của Việt Nam, những người giàu lên ở Việt Nam là những người giàu lên vì đất. Cũng theo ông Doanh, những người siêu giàu ở Việt Nam hiện có vai trò rất quan trọng vì họ “nắm rất nhiều dự án.”

Còn ai “trồng khoai đất này” nữa!

Đó là chuyện đất bây giờ, chúng ta thử trở lại những ngày “bên thắng cuộc” làm chủ Sài Gòn để biết họ hàng nhà chúng “cạp đất” như thế nào?

Đất trong hàng rào Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, từ cổng số 2 đến cổng số 4, trước là đường đi trong nội bộ, nay được cắt rời hẳn ra ngoài vòng rào, và được giới “bộ đội” chia chác cho các các sĩ quan và quân nhân Cộng Sản chiếm và xây nhà riêng, xây lên 2, 3 tầng rất đẹp, chỉ vài năm sau đất và nhà này trở thành vàng.

Ở vùng Lăng Cha Cả, lối vào Bộ Tư Lệnh Không Quân và Bộ Tư Lệnh Nhẩy Dù cũ, con đường rất dài hơn 1 cây số, dọc hai bên đường bị các sĩ quan Cộng Sản chiếm để cất nhà riêng xây nhiều tầng rất lớn. Nhiều cán bộ miền Bắc vào đã chiếm đất dưới chân đài radar Không Quân để xây nhà.

Ở trên đường Tô Hiến Thành, gần Trung Tâm Quản Trị Trung Ương cũ là một khu đất rộng lớn đều bị chiếm và bộ đội chia nhau làm nhà riêng. Ở mặt tiền, cấp chỉ huy Cộng Sản chia cho sĩ quan, cán bộ mỗi người 4 mét chiều rộng và 30 mét chiều sâu, sau đó, nhà nào cũng mở cửa bán hàng, chỗ bán than, củi, gỗ xẻ, gạch ngói, hay quán ăn.

Bên trong khu vực của Trung Tâm Quản Trị Trung Ương, các văn phòng làm việc hay hội trường cũ cũng được chia cho mỗi gia đình quân nhân ở ngoài Bắc vào, mỗi gia đình một, hai căn tùy theo số người, chúng ta có thể đếm số gia đình ngày đó, bằng cách, nhìn vào số antenna TV trên nóc nhà. Dọc đường Tô Hiến Thành, Trung Tâm Quản Trị Trung Ương đến đường Nguyễn Văn Thoại cũ, hai bên đường là những trụ sở của QLVNCH như Quân Tiếp Vụ, Quân Cụ, Chẩn Y Viện Trung Ương và Trung Tâm Miễn Dịch, cư xá sĩ quan và binh sĩ trong Biệt Khu Thủ Đô, đường Lê Văn Duyệt, cũng chịu chung số phận. Những gia đình cư ngụ ở đây đều bị đuổi đi vùng kinh tế mới vì lý do đây là khu quân sự.

Khoảng năm 1990, khi Đại Tướng Đoàn Khuê, thứ trưởng Quốc Phòng, tổng tham mưu trưởng quân đội, vào thăm Sài Gòn, trong một cuộc họp, các sĩ quan Công Sản chiếm đất của Sài Gòn để làm nhà riêng đã thỉnh cầu với ông, lấy lý do là nhiều nhà họ không có tên đường, không có số nhà, có khi không có cả điện nước. Sau một thời gian, các ngôi nhà làm bất hợp pháp này đều được chỉ thị của trưng ương cho đặt tên đường phố, cho số nhà, cho cấp điện nước đầy đủ.

Những kẻ tham nhũng cấu kết với nhau, được chính quyền giúp đỡ, hợp pháp hóa tài sản chiếm công vi tư, có quyền sở hữu và được quyền bán nhà kiếm lời tiền hàng triệu đô la, rồi sau đó lại đi kiếm miếng đất công khác làm nhà, lại vận động với phe đảng để xin hợp thức hóa.

Ở ngoài nhìn vào, ai cũng lầm tưởng đất đai này được các giới chức trách nhiệm của thành phố phân phối, nhưng tất cả đều do thủ trưởng của đơn vị quân khu, sư trưởng, thậm chí là những cấp chỉ huy đơn vị đồn trú nhỏ tự tiện xẻ đất chia cho nhau không qua một lệnh lạc nào. Đó là thái độ của một nhóm người cướp bóc, kiêu binh dùng luật rừng mà không cần qua một quy luật nào cả.

Trong thời gian 10 năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ, nghề xây dựng rất phát đạt, và giá đất quá cao, nên những chủ thầu được cán bộ Cộng Sản chia cho một nửa diện tích đất và họ sẽ xây lại cho chủ đất một căn nhà. Dân miền Nam bỏ nước ra đi khá nhiều, một phần bị đuổi nhà, chiếm đất, đất nhà này để lại cho dân miền Bắc vào chiếm cứ dần dần như tằm ăn dâu.

Đất đai trong vòng rào của phi trường Tân Sơn Nhất, dọc theo con đường đi Bà Quẹo, trước kia là những đồng cỏ mênh mông, giữ độ an toàn ở hai đầu phi đạo, được bộ đội Cộng Sản “tiến chiếm,” phần chia đất cho các quan chức làm nhà, phần mở sân golf dẫn đến tình trạng phi trường Tân Sơn Nhất nghẹt thở, khiến phi cơ không có chỗ đậu, phải bay về ngủ nhờ ở sân bay Cần Thơ.

Mới đây, có lễ ký kết biên bản giữa Bộ Quốc Phòng bàn giao 21 hecta đất cho Bộ Giao Thông Vận Tải để mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất nhưng có báo lại ghi là: “Quân đội cho mượn 21 hecta đất để giảm tắc nghẽn Tân Sơn Nhất” (Zing.vn) Nguồn tin từ trong nước cho biết nhóm lợi ích cấu kết với tướng tá quân đội xóa sổ sân bay Tân Sơn Nhất. Sau khi sân bay Long Thành xây dựng xong, thì 21 ha đất đó phải trả lại cho Bộ Quốc Phòng. Bộ Quốc Phòng là ai, và ai có quyền chia chác để chiếm hữu khu đất phi trường màu mỡ này?

Đảng Cộng Sản đã từng huy động cảnh sát, bộ đội và xã hội đen đến đàn áp dã man những người nông dân nghèo khổ ở ở Phước Long, Thủ Thiêm, Văn Giang, Vụ Bản, Dương Nội hay đất tu viện, nhà chùa đã có sở hữu từ cả nghìn năm nay, để cướp đất công khai mà họ gọi là “thu hồi,” để trao bán lại cho tư bản nước ngoài cũng như trong nước sử dụng với danh nghĩa “Nhà nước đại diện chủ sở hữu.” Đảng kiếm hàng tỷ đô la trên những mảnh đất mà cha ông chúng ta đã đổ mồ hôi, sôi nước mắt để khai khẩn, gầy dựng.

Ở Việt Nam bây giờ ai là người giàu có nếu không là cường quyền, có thế lực vì có đảng, có đất trong tay. Nghĩ cho cùng “cạp đất” mà ăn, hay “cạp đất” mà làm giàu cũng có lý, vì đất là vàng. Mà cũng không phải ai cũng có quyền “cạp” như những người “còn đảng, còn mình” hiện nay nhởn nhơ trên đất nước khốn khổ của chúng ta!

Huy Phương
Nguồn Người Việt

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Chương 2

Người ta đã gỡ miếng vải bịt kín mắt chàng. Đó là sự tiến bộ thứ nhất. Đôi mắt chàng nhức nhối. Chàng chỉ dám hi hí mở từng giây rồi nhắm lại ngay. Phải mất thời gian khá lâu chàng mới có thể nhìn rõ sự vật trong căn phòng tối mò. Tay chàng vẫn đeo còng. Chân chàng vẫn mang xích. Chàng thấy căn phòng có vẻ khác lạ. Chắc ăn, chàng lê chân xích từ cửa đến bức tường đối diện. Quả nhiên, nó dài hơn căn phòng cũ. Vậy là, sau khi đem chàng đi dọa thủ tiêu, người ta đã chuyển chàng tới một địa điểm khác. Bây giờ, chàng cảm giác đói và khát. Nếu đồng hồ là cái dạ dầy thì một ngày đã qua. Vì cảm giác đói, khát nên chàng muốn tiểu tiện. Chàng quan sát căn phòng thượng hảo hạng – một kiểu cachot Leninít – của khách sạn quốc doanh xã hội chủ nghĩa. Không có cầu tiêu. Không có vòi nước. Không có cả lấy một cái xô để tội nhân tiểu tiện, đại tiện. Người cộng sản bủn xỉn đến thế là cùng! Họ chẳng thích tội nhân nằm chiếu. Cachot trống trơn. Tài sản chứa chất trong đó là chàng, cái còng, sợi xích, mùi hôi hám và bầy muỗi đói.
Chàng lê chân xích sát góc tường, dùng hai tay còng chéo sau lưng, khó khăn kéo quần rồi ngồi xuống tiểu tiện. Chàng đã đái lên cái bản chất thô bỉ của cộng sản! Và chàng khoan khoái vô cùng. Người ta mở cửa cachot, đem vào một đĩa cơm vài miếng thịt và trái trứng vịt kho. Tay chàng được mở còng. Chàng đưa tay về phía trước, nâng lên, lấy tay phải nắm cổ tay trái; tay trái nắm cổ tay phải. Chàng dơ cao tay, vươn vai thoải mái.
– Tôi có được phép hỏi thăm vài câu không? Chàng hỏi
– Được. Hỏi đi. Vắn tắt. Người của chế độ đáp.
– Mấy giờ rồi?
– Anh không cần biết thời giờ. Hai bữa cơm là ban ngày. Sau đó là ban đêm. Và vô tận.
– Tôi bị giam ở đâu?
– Việt Nam. Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
– Tôi đi đái ở đâu?
– Đây.
– Đi ỉa?
– Đây luôn.
– Có giấy chùi đít không?
– Không, không có gì cho anh cả. Tôi không đủ khả năng cho anh những thứ anh cần.
– Khả năng của anh là gì?
– Là triệt để tuân hành mệnh lệnh.
– Đêm qua…
– Tôi mới nhận công tác sáng nay. Anh ăn đi, ăn khẩn trương…
Chàng dùng muỗng xúc cơm ăn. Chàng cố ăn thật chậm, nhẩn nha nhai để kéo dài thời gian. Người ta đem thêm vào ca nước lạnh. Ăn uống xong, người ta lại còng tay chàng với tư thế cũ.
– Anh thông cảm – người của chế độ nói – tôi không đủ khả năng đổi thế còng cho anh để nằm.
– Cảm ơn.
– Tôi không làm ra mệnh lệnh nhưng tôi khuyên anh một điều.
– Anh khuyên tôi? Chàng ngạc nhiên.
– Phải, tôi khuyên anh bằng tình cảm con người với con người.
– Được.
– Trong mọi hoàn cảnh, đừng bao giờ anh dại dột tự tử. Tự tử trong bóng tối thật vô ích.
– Tại sao anh biết tôi sẽ tự tử?
– Vì kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhiều người quá sợ hãi chế độ, tưởng rằng sẽ bị tra tấn khiếp đảm nên tự tử. Thực ra, không hề có tra tấn những người như anh.
– Anh biết về tôi?
– Tôi biết nơi đang nhốt anh.
– Tại sao anh khuyên tôi?
– Vì tình người! Anh hiểu chứ, tôi cũng rên xiết khi đau đớn, khóc khi buồn và cười khi vui…
– Nếu tôi tự tử?
– Chẳng bao giờ anh tự tử nổi đâu. Chúng tôi dễ dàng phát hiện ý định tự tử của anh. Anh thừa hiểu, cá nhân công an có thể ngu đần nhưng kỹ thuật và nghệ thuật công an thì, dưới bất cứ chế độ nào cũng đều siêu đẳng cả. Nếu chúng tôi phát hiện được ý định tự tử của anh, trước hết, chân anh bị còng dính tay anh, miệng anh bị nhét một trái chanh và dán kín băng keo. Anh tuyệt thực à? Chúng tôi đè kỹ anh khiến anh hết nhúc nhích và rót sữa vào mồm anh. Đó là phương pháp cơ điện. Y học cộng sản tiến bộ lắm rồi, chúng tôi có hàng trăm cách níu anh ở lại với cuộc đời ngục tù mà anh tình nguyện chọn lựa. Hãy nhớ kỹ, chúng tôi đã có phi hành gia vũ trụ.
– Phạm Tuân?
– Và nhiều người khác nữa.
– Muốn hỏi anh thêm một chút được không?
– Được.
– Cấp bậc anh trong ngành công an?
– Quân hàm?
– Phải.
– Trung sĩ.
– Trung sĩ gì?
– Trung sĩ là đủ.
Người công an mang dĩa cơm thừa và cái ca nhựa ra khỏi cachot. Anh ta khép cửa nhẹ nhàng và bấm ba lần ổ khóa. Chàng ngồi dựa lưng vào chiều ngang bức tường cachot, chân duỗi chưa thẳng đã đụng bức tường đối diện. Qua nửa dĩa cơm và ca nước đầy khiến chàng tỉnh táo. Trong đời chàng, từ thơ ấu tới nay, chưa bao giờ chàng được uống thử nước nào tuyệt diệu bằng ca nước lạnh đầu tiên trong ngục tù. Mỗi hớp nước là mỗi niềm bí ẩn của đời sống. Đó là hạnh phúc trong bất hạnh. Hạnh phúc trọng thể tìm thấy ở một cảnh vui phù ảo, giả tạo. Cũng vậy, tự do, dân chủ, độc lập không thể kiến tạo bằng những hò hét giả vờ, nhưng dấn thân ngụy tạo ở miền hoan lạc nương cậy. Giá trị của người đi chiến đấu là chấp nhận mọi thống khổ và biết tìm sự thống khổ nhưng ý nghĩa cao cả cho mọi ngườI là hình tượng nỗi khao khát tự do của dân tộc. Hình tượng mọi người trong cộng đồng dân tộc sẽ uống từng hớp tự do sau những năm đói quằn quại thê lương. Nỗi thống khổ mời gọi chiến đấu. Kinh qua thống khổ là thắp hào quang chiến đấu. Vậy thì nỗi thống khổ đã soi sáng con đường chiến đấu… Trước hết, nỗi thống khổ mang tính chất tiểu ngã sẽ hòa nhập vào đại ngã. Người đi chiến đấu hiểu rõ tại sao mình phải chiến đấu, vì ai mình chiến đấu, lý tưởng nào thôi thúc mình chiến đấu. Chàng vừa khám phá ra niềm rung động của thống khổ. Chàng như Thạch Sanh bị lấp dưới hang. Nhờ ở dưới hang, chàng có cơ hội soi bóng mình trên mặt nước lung linh, huyền ảo, so lại dây đàn, nay cùng điệu mới hòa nhập hồn mình với hồn nhân gian. Âm điệu, thản thanh của Thạch Sanh được tôi luyện bằng cảm xúc từ oán khổ. Và âm điệu ấy đã thoát lên đời, đã làm xao xuyến ma quỷ, đã dạy những Lý Thông về địa ngục hèn mạt của chúng.
Chàng đang ngồi trong cachot như Thạch Sanh đã ngồi dưới hang sâu thăm thẳm. Chàng đang tìm hạnh phúc trong bất hạnh như Thạch Sanh đã so dây đàn, soi bóng mình, tìm cái tuyệt đối chân thiện mỹ cho cuộc đời. Chàng bằng lòng làm, nghĩ rằng, mỗi ngày oan nghiệt, đời sống sẽ cống hiến thêm cho con người một niềm bí ẩn. Sống để đi đến tận cùng của đời sống tức là sống để thu nhận trời biển oan khiên cho riêng mình. Chưa đủ. Đi đến tận cùng của đời sống để xóa bỏ tất cả oan khiên cho mọi người mới đích thực là lý tưởng. Lý tưởng này không thể tìm thấy ở bọn quen thụ hưởng. Những bọn quen thụ hưởng là những bọn nào? Trước hết là đám ruồi xanh đã bu kín trên cái miệng đỉnh chung tôi mọi cũ. Chúng đã hèn mọn chạy trốn, bỏ cuộc như những tên đào ngũ khốn kiếp. Chúng ngu dại không chịu nằm yên thân phận giống bầy chó ghẻ già nua, ngồi gặm những khúc xương đầy thịt mà chúng ngoạm chặc trên bước đường bôn tẩu. Chúng càng dốt nát không hiểu thời và thế. Thời của chúng đã cáo chung. Thế của chúng đã mất mát. Vậy mà chúng còn muối mặt xưng tước vị cũ, phong cho nhau tước vị mới, tranh giành lãnh đạo, cách chức lẫn nhau, mặc quần áo mới, quấn khăn rằn, trơ trẽn diễn tuồng kháng chiến cứu nước! Chúng lêu bêu xứ người, bất tài vô tướng, làm thầy hay làm thợ cũng chẳng xong, do đó, chúng tương tư quyền bính và phát động cuộc chiến đấu phục hồi dĩ vãng – phục hồi quyền bính của dĩ vãng. Chúng huyền hoặc người nhẹ dạ, khỏa lấp dư luận, dọa nạt người công chính, bôi bác người đối lập. Chúng là lãnh tụ độc quyền giải phóng quê hương, là bầy tướng tá Quảng Lạc diễn chèo, là bọn mà Nguyễn Khuyến đã mỉa mai: Thứ đến là bọn trí thức bất lương, tình nguyện làm đám chạy cờ cho lãnh tụ Quảng Lạc để được chia tiền lạc quyên, xổ số. Bọn này lãnh nhiệm vụ bao vây, ngăn cản những người tài năng vàng mười dám nói sự thật. Những người tài năng dám nói sự thật đều là những người đã quằn quại trong ngục tù cộng sản, thừa thải kinh nghiệm đánh cộng sản và chưa hề làm đày tớ Mỹ. Những người này đã nổi tiếng ở Việt Nam, chúng sợ lưu vong sẽ nổi tiếng hơn, sẽ > hết quyền lãnh đạo của chúng. Và chúng tạo dựng nhiều chuyện khả ố: Chuyện khiếp nhược không dám chống đối các cai tù chăn trâu cắt cỏ, chuyện làm tay sai cho cộng sản trong tù bị chọc thủng mắt, bị liệng xuống giếng, chuyện vượt biên bị liệng xuống biển, chuyện cộng sản gài vượt biên để dễ hoạt động cho cộng sản, vân vân… Bọn trí thức nửa mùa và bất lương này lập hàng rào cô lập người công chính. Chúng sợ người công chính đến với tuổi trẻ thì chúng hóa thành giả hình và nhỡ bị lột quần áo, mọi người sẽ thấy rõ tác phẩm ghẻ lở, què quặt, cóp nhặt của chúng. Và chúng hết nhí nhố. Tội nghiệp chưa? Sau hết là bọn sống ở Pháp ròng rã 30 năm, dài hơn cuộc chiến Việt Nam khốn khổ, chẳng hiểu đất nước mình ra sao mà cứ thích chất vấn những nạn nhân cộng sản. Chúng không chịu sáng tạo, thấy người ta sáng tạo thì chúng ghen ghét, hạch hỏi! Và cũng chỉ đến biết vỗ tay hoan hô tướng tá Quảng Lạc. Đó, những hạng vừa kể trên, dẫu có sống thêm chín kiếp cũng không dám đi đến tận cùng của đời sống để xóa bỏ tất cả oan khiên cho mọi người. Chúng chỉ giỏi bịa đặt, chỉ dám núp trong xó tối phì nọc rắn. Tội nặng nhất của chúng và công ty là lừa gạt niềm tin của mọi người, làm cản trở sự nghiệp tiêu diệt cộng sản giải thoát dân tộc. Chúng làm gì có lý tưỏng. Chúng chỉ có cái miệng lưỡi của
Lý tưởng đi đến tận cùng đời sống để xóa bỏ oan khiên cho dân tộc, giải phóng tổ quốc, tạo dựng hạnh phúc cho giống nòi là lý tưởng của tuổi trẻ hôm nay. Tuổi trẻ hôm nay, tuổi trẻ thế hệ sau 30 tháng 4 năm 1975, có dĩ vãng vằng vặc trăng sao, có hiện tại hừng hực mặt trời. Họ chưa hề thụ hưởng gì của dĩ vãng. Họ cũng chẳng hề có quyền bính gì trong dĩ vãng. Họ chưa hề làm tôi mọi cho một thứ quyền lực quốc tế nào, tư bản hay cộng sản, Mỹ hay Liên xô. Nói cho đúng, tuổi trẻ đã là nạn nhân thảm thương của dĩ vãng, của những quyền lực thao túng quê hương Việt Nam từ 1945. Từ chiêu bài quyến rũ đến cách mạng què cụt 1-11 mấy thế hệ tuổi trẻ đã bị lừa bịp, đã chết không một nấm mồ, đã mang thương tích u mê vì tham vọng của chủ nghĩa và sự khờ khạo của lãng tử quốc gia. Những người tuổi trẻ của Hà Nội 1946 hồn ở đâu bây giờ? Những người tuổi trẻ tuyệt diệu đó, những sinh viên tự vệ thành dũng cảm đem thân mình ngăn xe tăng của thực dân Pháp, còn ai nhớ chiến tích của họ, còn ai tưởng niệm họ? Những người tuổi trẻ lãng mạn cách mạng trong trung đoàn Ký Con, trung đoàn Thủ Đô còn lại ai? Họ đã bị cộng sản trá hình Việt Minh đẩy lên tuyến đầu chết thay cho họ cả rồi. Đến cuối 1950, lịch sử và Đảng sử chỉ ghi chép sự hy sinh cho tổ quốc và nhân dân của những người lính nông dân. Ôi, những người tuổi trẻ thế hệ 1945, những người mà nhà văn Nguyễn Mạnh Côn gọi là những người, những người đã lo ngại Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc trong mơ ước của mình, Nguyễn Ái Quốc là tên cộng sản xảo quyệt, là thứ Lê Chiêu Thống chủ nghĩa phi nhân. Nhiệt tình và lòng tự chủ của tuổi trẻ Việt Nam thế hệ 1945 đã bị cộng sản nướng khét bằng lửa mác xít. Bị nướng ròng rã 10 năm cho một nền độc lập cắt đôi tổ quốc; cho triền miên đói rách, ngu dốt, thanh toán, thủ tiêu, đấu tố, tù đày. Khi có những biến động trong lịch sử, những kẻ tiền phong dấy động là tuổi trẻ và những kẻ bị khai thác tận tình, bị lợi dụng tội nghiệp vẫn chỉ là tuổi trẻ. Bạn còn nhớ những người tuổi trẻ Sàigòn 1955 khởi sự công cuộc chống cộng sản không? Họ đã dấn thân tích cực. Họ đòi. Họ muốn  Họ truy lùng Văn Tiến Dũng giữa Sàigòn. Họ đốt. Họ khai phóng một phong trào. Họ lay động bọn khiếp nhược, tiêu cực. Họ làm sinh động đời sống. Trong họ, nhiều người bị bỏ tù, bị đánh đập, bị bắn mù mắt. Chế độ vững vàng nhờ tinh thần sư tử của họ. Và chế độ bắt bớ, đàn áp họ. Chế độ chỉ ban phát ân huệ cho bọn > Bọn cai thầu trứng mới lớn của ông Ngô Đình Nhu. Bọn cai thầu đang có mặt ở Paris. Bạn muốn biết chúng nó là ai không? Có đứa nhờ thầu tuổi trẻ mà vinh hiển suốt đời. Có đứa mon men mãi cũng leo lên chức Bộ Trưởng. Kinh nghiệm đấu thầu tuổi trẻ của chúng nó là cẩm nang của bọn thầu khoán tuổi trẻ quốc ngoại hôm nay. Kinh nghiệm của cai thầu tuổi trẻ, buồn thay, chỉ là thương đau của dân tộc, là xoáy mòn niềm tin của tuổi trẻ, là phôi pha nhiệt tình, là ngờ vực, là lừng khừng với đời sống. Sau hết, là bọn bon chen trên đường khoa bảng giá áo túi cơm và nổi loạn vô duyên cớ và tích lũy thù hận đàn anh. Chúng thù hận có dịp bung ra, đó là cơ hội rách nát lịch sử. Tuổi trẻ Việt Nam bị trúng một phát tên độc ngóc đầu lên không nổi: Mũi tên USA. Người Mỹ xách động tuổi trẻ tiêu diệt chế độ Ngô Đình Diệm để được suy tôn > Tôn Thất Đính, Đỗ Mậu, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn! Bọn phản nghịch dốt nát biến thành thần tượng của tuổi trẻ. Mỉa mai quá. Sự mỉa mai thấm vào tim phổi tuổi trẻ, sự nổi loạn có duyên cớ khai sinh. Và hậu quả của thức tỉnh là tuổi trẻ triền miên hưởng phi tiển, dùi cui, lựu đạn cay và ngục tù của đám bảo vệ chế độ, đám công an, cảnh sát, đám cò cơm vô liêm sĩ.
Đám ngoài hay đàng trong, tuổi trẻ đã là công cụ của các thứ chế độ, của lãnh tụ đảng phái, của bọn thầu khoán bất lương. Ba mươi năm, tuổi trẻ bị đày ra chiến trường cho những tham vọng khốn kiếp của cộng sản và tư bản và bầy tôi mọi của chúng. Mấy triệu thanh niên đã chết dọc đường mòn Hồ Chí Minh, khe núi Trường Sơn, rừng già Pleime, biển cát Hạ Lào. Trường Chinh, Phạm Văn Đồng vẫn sống. Bọn tướng lãnh Sàigòn vẫn sống. Trong nước, phù thủy gian ác cộng sản lại huyền hoặc tuổi trẻ bằng chiêu bài mới > để lứa tuổi trẻ phơi xác ở Kampuchia lừa tuổi trẻ vào nơi khỉ ho cò gáy để làm,  đi tải đạn ra chiến trường, lừa tuổi trẻ vào ngục tù, trại tập trung để ngăn chặn phản kháng. Ngoài nước, đạo diễn mù lại vỗ về tuổi trẻ, vuốt ve nhiệt tình tuổi trẻ bằng chiêu bài kháng chiến chống cộng sản trình diễn. Ở không gian và thời gian nào thì tuổi trẻ cũng vẫn là những người nặng tình non nước, những người con xứng đáng được tổ quốc tin cậy, những người dám làm lịch sử và không mang công danh địa vị. Họ ví như cây ăn trái hứa hẹn những mùa màng tốt đẹp, vô hạn. Bọn lãnh tụ trá hình, bọn đào ngũ chạy trốn hèn mọn đã là những cây mục chờ ngày gục xuống vĩa đời. Chúng đã nắm quyền bính và vẫn thèm thuồng quyền bính để bảo vệ quyền lợi của chúng, để thao túng, để hống hách. Khi quyền bính bị tuớc đoạt, chúng nắm tương tư quyền bính. Vì ngu dốt, chúng không thể tạo nổi thứ quyền bính tự tạo nên chúng phải bấu víu lấy tước vị tôi mọi cũ trong cái thế nhân dân đã phủ nhận tước vị cũ của chúng. Và chúng diễn trò yêu nước một cách vụng về. Đứa mặc quần áo, quấn khăn rằn của kẻ thù, tự phong chủ tịch. Dựa trên cái quá khứ > vênh vang tự biến mình thành kẻ viết chủ thuyết cho phong trào!
Lịch sử hiện đại chỉ thấy bọn tướng lãnh thoán nghịch, bọn sĩ quan tá, úy làm đảo chính. Chưa hề thấy, trong nhân loại, bọn thú lại đi làm cách mạng. Thú lại là bọn giở chiêu nào nướng chiêu ấy, chế độ nào cũng tốt, cũng đang phục vụ miệng răng yên thân. Cũng chẳng thấy công an cảnh sát làm cách mạng bao giờ! Công an, cảnh sát là công cụ bảo vệ chế độ và lãnh tụ đắc lực và hữu hiệu nhất. Một phong trào, một đoàn thể, một lực lượng nào âm mưu lật đổ chế độ, dù là chế độ độc tài, công an sẽ đàn áp thẳng tay. Tuổi trẻ Việt Nam từ 1963 đến 1975, ở Sàigòn, còn ấm áp những kỷ niệm đàn áp dã man của cảnh sát nổi, cảnh sát chìm, cảnh sát dã chiến. Người nữ sinh viên nào bị đốt núm vú ở Ty Cảnh sát Quận 1? Người nam sinh viên nào hưởng liên tiếp một tuần lễ đòn của thợ đánh người ở trong nha Cảnh sát? Cứ hỏi ông Phạm Văn Liễu, ông Trang Sĩ Tân, một là Tổng Giám đốc Cảnh sát, một là Giám đốc Nha Cảnh sát Đô Thành, sẽ biết rõ thủ đoạn đàn áp sinh viên học sinh Sàigòn xuống đường đòi hỏi tự do, dân chủ. Tuổi trẻ trong nước năm xưa bị nếm dùi cui, phi tiễn tàn bạo của cảnh sát. Một số người nông nổi vì quá căm phẩn đã bỏ vô mật khu theo cộng sản.

Cảnh sát và tinh thần bảo vệ chế độ của họ đã dồn tuổi trẻ vào bước đường cùng, đã giết chết nhiệt tình của tuổi trẻ. Người tuổi trẻ Việt Nam du học lâu năm ở ngoại quốc chưa có kinh nghiệm cay đắng của những người thuộc thế hệ họ. Lòng yêu nước và niềm tin giải phóng dân tộc của họ bị ru ngủ bởi lũ cò mồi. Hình tượng một cậu bé ngây thơ, mặc quần áo Tết, cố len vào đám bầu cua cá cọp. Biết cậu bé ham ăn, cò mồi đánh đâu thắng đấy. Cậu bé móc túi, lôi ra những phong bao lì xì thơm tho, theo cò mồi liệng tiền xuống chiếu bạc. Và cậu bé cháy túi. Chủ sòng và cò mồi chia tiền nhau, chia những đồng tiền của cậu bé non nớt, ham vui!
Tuổi trẻ Việt Nam thường xuyên bị cò mồi chính trị dụ dỗ. Ở Mỹ Châu, ở Úc Châu, ở Âu Châu thiếu gì cò mồi kháng chiến. Ngay ở Paris cũng có thứ cò mồi gớm ghiếc đó. Nó in được bạc giả nên nó tiêu bạc giả vung vít. Nó dùng bạc giả nên nó khỏa lấp người công chính, vu khống người công chính và ngăn các người công chính tới gần tuổi trẻ. Nó giả hình văn nghệ. Nó vô liêm sĩ nhận mình là nhà văn để len lỏi vào cõi văn học nghệ thuật. Tất cả đều đáng bỏ qua, bởi vì, sẽ có ngày mọi người biết nó tiêu bạc giả. Nhưng một điều không thể tha thứ cho nó vì nó nhúng vào tội ác đối với dân tộc, đối với công cuộc kháng chiến giải phóng quê hương chân chính, đích thực là nó đã đưa tuổi trẻ Việt Nam ở Âu Châu vào tay tên trùm cảnh sát, tên trùm đã dày thành tích tra tấn, đàn áp, bỏ tù tuổi trẻ dám chống chế độ độc tài, tham nhũng. Thiếu tuổi trẻ và nhất là tuổi trẻ trí thức, bảng hiệu của Công ty của trùm cảnh sát và đồng bọn không thể làm ăn, chia chác được. Do đó, cò mồi đã xâm nhập tuổi trẻ, khuynh loát tuổi trẻ, biến tuổi trẻ thành những người đi lạc quyên và bán vé xổ số. Nghĩ cũng bẽ bàng khi tuổi trẻ hôm nay suy tôn một kẻ từng đàn áp không thương sót tuổi trẻ hôm qua! Có lẽ người ta muốn tạo dựng một chế độ cảnh sát mới ở Việt Nam mai này?
Đó, chàng đã suy nghiệm thân phận tuổi trẻ Việt Nam. Và, dưới hang sâu thăm thẳm, chàng vừa nhận ra một chân lý: Tuổi trẻ Việt Nam bị làm guốc cho các chế độ, các lãnh tụ thật và giả lâu quá rồi. Guốc mòn, vất đi. Một thế hệ rác rưởi. Thay guốc mới. Thêm một thế hệ mệt mỏi, lạc lỏng. Bây giờ là lúc tuổi trẻ Việt Nam phải làm mũ, nón tự đội lên chính đầu mình mà đi tìm hạnh phúc vinh quang cho dân tộc. Bởi vì, dĩ vãng của tuổi trẻ hôm nay là mặt trăng, hiện tại của tuổi trẻ hôm nay là mặt trời. Tuổi trẻ hôm nay không mảy may mặc cảm tội lỗi nào với dân tộc, với quê hương. Chàng sảng khoái và bất giác, chàng nói lớn: Rồi chàng mỉm cười, lặp lại lời khuyên của người công an: Người cộng sản tua tủa thủ đoạn. Họ sợ chàng tự tử và giả nhân giả nghĩa khuyên chàng đừng dại dột tự tử. Họ sợ chàng chết sẽ đem theo mọi bí ẩn xuống mồ. Người trung sĩ công an, không, chàng không tin y là trung sĩ. Trung sĩ chỉ là bí danh. Y phải là cán bộ trung cấp của Đảng. Chàng nghĩ thầm:  Và chàng nhắm mắt, ngủ một giấc ngon lành.

Một người tên là Trần Văn Bá

vietmessenger.com

Duyên Anh

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Lời đầu

Trần Văn Bá, Tại Sao?
Người bạn tôi, nhà xuất bản Nam Á ở Paris, sau nhiều ngày đêm đứng trước Tòa Đại Sứ của phỉ quyền dưới buốt lạnh của nước Pháp hai mươi năm mới thấy, để đòi hỏi phỉ quyền không được sát hại những người Việt Nam yêu nước, thì bèn có một ưu tư đầy sáng tạo chiến đấu. Anh ta bảo tôi viết một tác phẩm không giống bất cứ một tác phẩm nào tôi đã viết. Nói rõ rệt, bạn tôi yêu cầu tôi viết về Trần Văn Bá như một biểu tượng của tuổi trẻ dấn thân, như một sư tử lãng mạn quốc ngoại, như một người quốc gia chân chính, một người quốc gia đứng trên tất cả những tranh giành quyền bính hôm nay, để vì hạnh phúc của dân tộc mà chiến đấu. Bạn tôi buồn bã trong những “tại sao”. Tại sao chỉ có thần tượng cộng sản mà không có thần tượng quốc gia” Tại sao cứ để cộng sản độc quyền phong người của họ là anh hùng, liệt sĩ? Chúng ta chiến đấu đẹp hơn họ, thần tượng của chúng ta thật hơn họ, rực rỡ hơn họ cả ngàn lần, tại sao tôi chưa được đọc một tác phẩm văn chương nào viết về anh hùng của chúng ta hôm nay? Nhà văn, các anh ở đâu? Các anh đang làm gì? Bạn tôi “tại sao” rồi bạn tôi phân trần: “Như anh, tôi không ở trong một mặt trận, một hội đoàn tranh đấu nào cả, nhưng luôn luôn có bổn phận hỗ trợ bất cứ một mặt trận, một phong trào nào thật sự vì quốc gia, dân tộc. Tôi nghĩ rằng, cuộc chiến đấu chống cộng sản hôm nay, tuổi trẻ đóng vai trò quan trọng và then chốt và cần thiết phải võ trang tư tưởng cho họ lên đường. Anh đã viết Sỏi đá ngậm ngùi, Bầy sư tử lãng mạn và đã bầy tỏ tư tưởng chiến đấu mới mẻ của tuổi trẻ quốc nội, thế hệ trưởng thành sau 30-4-75, anh phải viết thêm về tuổi trẻ quốc ngoại và cuộc chiến đấu cô đơn tuyệt vời của họ. Anh phải lấy cảm hứng từ Trần Văn Bá. Tác phẩm mà tôi thành khẩn yêu cầu anh là sự chứng minh tài năng đích thực của anh, đồng thời, chứng minh khả năng xoay vần thời thế của tư tưởng, khả năng thôi thúc chiến đấu của nghệ thuật. Khó lắm, tôi hiểu và tôi đoan quyết chỉ anh mới tạo dựng nổi một thần tượng tuổi trẻ của dân tộc chứ không của riêng một phe nhóm, một giai cấp nào.”
Khó thật, bởi vì, Trần Văn Bá đã là thần tượng. Và, bởi vì, chỉ được viết Trần Văn Bá như một biểu tượng của tuổi trẻ dấn thân và cuộc chiến đấu của người tuổi trẻ này khởi sự từ lúc bị bịt mắt, còng tay, xích chân đẩy vào quan tài xi măng của ngục tù cộng sản. Trần Văn Bá, quả thật, là mẫu người quốc gia chân chính mà tôi mong mỏi. Tôi sẽ đáp ứng cố gắng đòi hỏi của bạn tôi. Tôi không dám hỗn láo so sánh mình với cổ nhân nhưng, nếu xưa Lão Tử để lãi đời sống Đạo đức kinh chỉ nhằm mục đích tạ lòng bạn tri kỷ thì nay, tôi viết Một người tên là Trần Văn Bá chỉ để tạ lòng bạn tôi và, lợi dụng tấm lòng yêu văn chương ấy, tôi trả lời người cộng sản. Ngoài ra chẳng còn mục đích gì khác, danh cũng như lợi. Tại sao tôi muốn trả lời người cộng sản? Vì thủ thuật của họ khiến tôi chới với. Khi tôi nằm tù, cộng sản và quốc gia giả hình đều thích dìm tôi xuống vực thẳm dơ bẩn để tôi chết nhục. Tôi không ngờ số phận của tôi bớt hẩm hiu nhờ sự can thiệp của Amnesty International. Bằng một trao đổi nào đó, tôi được tạm thích. Tôi đã hỏi tôi ròng rã sáu năm trong ngục thất rằng, mình có làm điều gì nhơ nhuốc không? Và tôi yên tâm. Có phải không dám chống lại những tên công an coi tù tuổi 18, 20 và dốt nát, đần độn, ngọng nghịu là khiếp nhược, hèn hạ không nhỉ? Có phải cho thuốc lá, đường, kẹo bánh những tên công an coi tù thèm khát, những tên xa nhà nghèo khổ, trải dài thời thanh xuân của mình ở rừng già không thân nhân thăm viếng, tặng quà là liếm gót giầy cộng sản? Người ta hằng luận về đối thủ và người ta quên hiểu thế nào là sự khinh khi và lòng trắc ẩn và thương yêu của những ai hằng rêu rao đem thương yêu xóa bỏ hận thù. Nếu anh là nhà văn, nhà thơ, những tên công an xa nhà quý trọng anh, gần gũi anh, nhờ vả anh làm cho chúng những bài thơ nhớ quê, nhớ mẹ hiền, nhớ tình nhân, anh có phải là antenne? Anh đã giúp con người gửi thông điệp tình tự. Vấn đề chưa hẳn giản dị thế. Ngày tôi trở lại Sài Gòn, gặp Đinh Tiến Luyện, nhà văn tuổi trẻ này kể cho tôi nghe một chuyện lạ. Đinh Tiến Luyện có người bạn may mắn chưa là sĩ quan chế độ cũ, lại thuộc thành phần “con em cách mạng” nên được đi học báo chí ở Hà Nội. Ngoài lề học tập báo chí có những buổi mạn đàm văn học nghệ thuật. Các nhà văn Sài Gòn bị lôi ra chửi bới. Riêng tôi, khi được đề cập, giảng viêng phát biểu: “Duyên Anh đã là người của chúng ta!” Tôi đã là người cộng sản sau khi đã là antenne gớm ghiếc. Cộng sản cấm đoán toàn bộ tác phẩm của tôi phổ biến trong dân gian. Cộng sản bỏ tôi vào tù. Cộng sản bêu nhục tôi trên báo, trên vô tuyến truyền hình, trong sách. Rồi cộng sản chơi trò “Thầy Tăng Sâm giết người” một cách tinh vi: “Duyên Anh đã là người của chúng ta,” tên biệt kích văn nghệ số 9 đã là “người của chúng ta!” Thế là tôi mất hết uy tín chống cộng sản, tôi bị lột bỏ tước bị “nhà văn của tuổi trẻ”. Ra khỏi đất nước, trò chơi “Thầy Tăng Sâm giết người” còn bạo hơn. Tôi biến thành mục tiêu công kích của một số người mà cộng sản tin chắc tôi sẽ phản ứng. “Phải làm cho chúng nó chửi thằng Duyên Anh vì thằng Duyên Anh biết nhiều chuyện, biết cách chửi đau đớn. Phải tạo mâu thuẫn giữa chúng nó để có cơ hội chúng nó chửi bới lẫn nhau”. Đó là thủ thuật cộng sản. Thủ thuật ấy đã áp dụng cho đám ma Phạm Duy, cho Lê Xuyên, cho Chu Tử. Người quốc gia bị bọn nằm vùng dẫn vào trò chơi đập nát uy tín những nghệ sĩ quốc gia tài năng.
Tôi đã im lặng từ lâu, không trả đũa những ai bêu nhục tôi. Tôi không thích vào trò chơi bẩn của cộng sản. Đáng lẽ, tôi im lặng mãi mãi. Nhưng, trong số những kẻ bêu nhục tôi lại có vài nhà văn, nhà thơ thiếu trực giác, thiếu kinh nghiệm cộng sản và thừa đố kỵ, tra thù vặt nhỏ mọn. Bất đắc dĩ tôi phải phản công. Không phải đợi đến hôm nay, sau khi cộng sản rỉ tai “Duyên Anh đã là người của chúng ta” tôi mới đánh những người quốc gia giả hình. Tôi đã đánh họ ngay trong thuở họ đầy quyền sinh sát ở quê nhà. Và tôi tiếp tục đánh họ vì họ âm mưu phục hồi quyền bính tôi đòi dĩ vãng, họ lừa gạt niềm tin của lưu dân, họ làm nhơ nhuốc sự nghiệp chống cộng sản giải thát dân tộc. Họ là bọn đào ngũ, bọn thụ hưởng xương máu lính, bọn tội đồ của dân tộc. Họ là bọn trí thức lưu manh. Không bao giờ họ là người quốc gia cả. Họ đã bẩn, không cần bôi bẩn. Tôi lên tiếng để xác định thái độ chống cộng của tôi là không chống cộng với tướng bẩn đào ngũ và tá cớm chạy làng. Tôi chống cộng với những người quốc gia chân chính. Bọn quốc gia giả hình cứ việc bêu nhục tôi. Với những ai là nhà văn, tôi xin được phép nhắc câu nói của văn hào Gabriel Garcia Marquez: “Nghĩa vụ và bổn phận của nhà văn là viết cho hay”. Anh hãy viết cho hay, cho thật hay, tự nhiên, anh sẽ nổi tiếng và anh đẩy tôi vào hoàng hôn quên lãng. Tỏ thái độ với người này người nọ là thừa thãi, là mất thì giờ vô ích. Tỏ thái độ với cộng sản bằng tác phẩm và nếu làm cho tác phẩm có kích thước quốc tế mới là nghĩa vụ của nhà văn Việt Nam. Tôi không trần tình với các anh đâu. Tôi nói những điều tâm cảm. Và tôi sẵng sàng cái thế “một mình một ngựa” như tôi đã “một mình một ngựa”.
Trở lại Một người tên là Trần Văn Bá. Mỗi cuốn sách có một đời sống. Nếu đời sống của cuốn sách mang một ý nghĩa nào đó và đóng góp được một công lao nào đó thì Một người tên là Trần Văn Bá là thành quả của ưu tư sáng tạo chiến đấu của bạn tôi, không bao giờ là tài năng của tôi. Nếu đời sống của cuốn sách tẻ nhạt, không đáp ứng yêu cần của bạn tôi thì đó là bởi tài năng của tôi còn kém cỏi. Và tôi thành thật xin lỗi người đã chết. Với những người tuổi trẻ và độc giả của tôi, tôi đã bầy tỏ một thiện chí mới. Nếu trước đây tôi chỉ tạo dựng thần tượng tiểu thuyết thì hôm nay tôi viết về thần tượng thật, chiến đấu thật, đau khổ thật, lãng mạn thật, cô đơn thật và thật sự vì hạnh phúc, tự do, dân chủ của dân tộc. Làm sáng chói hào quang Trần Văn Bá, hào quang tuổi trẻ Việt Nam để thế giới cảm phục và chia sẻ với cuộc chiến đấu mới của chúng ta là nhiệm vụ của người tuổi trẻ quốc ngoại, nhất là bằng hữu của Bá ở Paris. Bổn phận của tôi đã xong khi ký dưới cuốn sách hai chữ…

Duyên Anh
(Paris, Xuân 1985)

Chương 1

Bóng tối và bóng tối.
Bóng tối từ lúc những mũi tên găm đầy mình mẩy con sư tử sừng sững đứng, đầu ngẩng cao, đôi mắt áng lên những tia kiêu ngạo tuyệt vời trong màng lưới oan nghiệt của thời đại. Chiếc còng lạnh ngắt siết chặt tay chàng. Sợi xích não nùng nghiến hai cổ chân chàng đau buốt. Miếng vải đen thô bạo thắt nút che kín mắt chàng nhức nhối. Người ta ném chàng lên xe. Đường nào chàng qua, lối nào chàng sắp đến , chàng không biết. Chàng nghe rõ tiếng động cơ nổ và, mơ hồ, tiếng thù hận. Mà, tuyệt nhiên, chẳng có tiếng nói của con người, dẫu chỉ là tiếng nói đe dọa, tiếng nói thợ săn đắc ý với bộ da quý sẽ lột. Xe chạy lòng vòng, lúc nhanh, lúc chậm. Cuối cùng thì nó dừng lại. Chàng bị xốc nách đẩy vào một phòng giam. Cánh cửa mà bản lề khô dầu từ từ khép. Ổ khóa bấm tách hai ba lần. rồi im lặng. Chàng, chiếc còng, sợi xích, miếng vải và bóng tối. Thân phận chàng, thân phận Việt Nam như thế, trên mảnh đất đầy phiền muộn này.
Chàng mò mẫm bước về phía trước. Vừa đúng ba bước, chàng đụng vô bức tường. Lặng lẽ, chàng lùi bước chân xích giới hạn và đếm đủ bẩy bước là đụng cánh cửa sắt. Chàng lần ngang như con cua. Nếu tay không bị còng chéo sau lưng, chàng có thể đo chiều rộng của phòng giam dễ dàng hơn. Khỏi cần tính kỷ diện tích dành cho người yêu nước trong xã hội xã hội chủ nghĩa, xã hội thường xuyên được rêu rao là không còn nhà tù và người hành hạ người. Chàng dựa lưng vào cánh cửa rồi tụt dần xuống thành cái thế ngồi điêu đứng của kẻ bị còng tay, chân bị xích, mắt bị bịt. Thoạt đầu, chàng nghĩ chàng bị nhốt ở một cachot của một đề lao nào đó. Nhưng sự im lặng mỗi phút mỗi nhỏ giọt xuống nhỏ giọt xuống tâm cảm chàng khiến chàng ngờ vực và sợ hãi. Không nhất định đây không phải là nhà tù mà là một niềm hiu hắt ngàn năm cách biệt loài người. Chàng thử hét lớn vừa để tỏ niềm phẫn nộ vừa để dọ dẫm tình hình. Vô ích. Tiếng hét của chàng đã chìm vào hiu quạnh thật nhanh và tạo thêm cho sự hiu quạnh những móng vuốt nhọn hoắt. Chàng run rẩy. Chàng toát mồ hôi. Con người luôn luôn bị chế ngự bởi nổi cô đơn và niềm im lặng. Chàng không sợ chết mà sợ không chịu đựng nổi cô đơn và im lặng để được chết đúng ý muốn của mình. Thời đại của chúng ta, thù hận được sáng tạo bởi ý thức hệ cho nên hình phạt của thù hận là giáo điều của chủ nghĩa. Và nó ghê gớm khôn lường. Nó không thèm giết ngay con người bằng viên đạn thủng tim, bằng lưỡi dao thấu phổi mà bằng cung cách truy nã tâm hồn con người, bằng những lời nói thơm nồng tình nghĩa, bằng sự dồn ép con người phải nhận cái thiện thành cái ác, cái đẹp thành cái xấu, cái thật thành cái giả và con người tự giết mình, tự chọn cho mình nỗi chết mòn thê thảm.
Khi chưa nhập cuộc chơi, chàng đã đọc nhiều cuốn hồi kí lao tù, cải tạo của những nạn nhân của chủ nghĩa thoát đời tù được phép ra nước ngoài hay vượt biển trốn ra nước ngoài. Chàng tưởng đỉnh cao của tù ngục cộng sản Việt Nam chỉ là sự phát vãng tù nhân từ Nam ra Bắc; chỉ là sự lao động quần quật , thiếu ăn thiếu mặc; chỉ là sự rên siết đói bát cơm, thèm cục đường. Và gấu ó lẫn nhau bởi những điều ngu xuẩn, hèn mọn. Và bêu xấu, và nhục mạ, và phán xét nhau thiển cận. Chàng đã coi thường những thứ đáy địa ngục ấy. Bây giờ chàng hiểu mới là cửa địa ngục dành riêng cho chàng, cho những kẻ dám chiến đấu và chiến đấu thật sự, hình phạt của thù hận đã hứa hẹn rất nhiều quằn quại tinh thần, ê ẩm thể xác. Tự nhiên chàng thấy lòng tự phụ dấy lên, nóng ran. Chàng gượng nhẹ đứng dậy. Sự run rẩy tiêu tan. Dường như một ngọn gió kỳ lạ lùa vào trái tim chàng làm mồ hôi khô đi. Chàng vươn vai tưởng tượng và thì thầm với cô đơn:> Phải, kẻ thù đã đánh giá chàng đúng mức, đã coi chàng như người đủ khả năng phát động sự đạp đổ một chế độ mà họ vẫn tự hào chế độ của họ vĩnh cửu. Người cộng sản giống hệt người phát xít. Họ kiêu ngạo đến lợm giọng. Họ tự cho họ là ưu việt, chủ nghĩa của họ là cái nôi của loài người và họ khinh thường tất cả. Chỉ có họ mới biết cướp chính quyền. Và khi họ đã cướp được chính quyền, không một kẻ nào, một quyền lực nào dám trực diện đương đầu với họ. Họ độc quyền chính nghĩa, độc quyền cách mạng. Ngoài họ là phản động là ngụy, là những kẻ ngu xuẩn phiêu lưu giữa dòng thác xoáy. Họ ví họ là đại thụ còn chúng ta là cỏ hèn mọc chung quanh gốc đại thụ, nương bóng mát đại thụ. Họ ví họ là đại dương mênh mông và chúng ta là sông lạch hèn mọn. Họ vênh váo đến độ không thèm bắt những ông tướng, những ông tá, những ông bộ trưởng, tổng thống, nghị sĩ, dân biểu của miền Nam mà chỉ ới gọi đi trình diện học tập bằng cái thông cáo khinh người. Và vì những ông tướng, ông tá lũ lượt đi trình diện nên sự học tập của họ được cộng sản giao cho bọn công an tuổi từ 17 tới 30, xuất thân chăn trâu, cắt cỏ. Bọn chăn trâu cắt cỏ của chủ nghĩa ưu việt đã giáo dục quí vị lãnh đạo các cơ cấu của chế độ đối nghịch! Chúng dạy con người tiến bộ bằng cách đẩy đạp lên phẩm chất con người, bằng cách bóc lột sức lao động tối đa của con người, bằng cách bắt con người tôn trọng thứ nội quy trại giam khốn kiếp, bằng cách bóp dạ dày con người và thi ân tình cảm con nuôi! Dã tâm của chủ nghĩa là thế. Thế mà chúng ta vẫn không thích đánh nát chủ nghĩa, chúng ta chỉ quan tâm tới công cụ của chủ nghĩa. Nhiều kẻ khoái chứng tỏ tinh thần bất khuất với đám chăn trâu cắt cỏ để làm anh hùng tù ngục, thứ anh hùng bất trí. Những anh hùng bất trí được truyền tụng, được hoan hô. Nhiều kẻ không khoái chống đối lũ chăn trâu cắt cỏ, không dại dột chết ngu dưới cái lỗ chân bò, cần thiết tồn tại để đánh nát chủ nghĩa thì bị nhục mạ là hèn nhát, đê tiện, khuất phục cộng sản. Sự phán xét tanh tưởi này được phì nọc rắn rết từ những đám chạy trốn chưa hề biết ngục tù và thủ đoạn cộng sản hoặc của đám thư lại khúm núm muốn xóa bỏ sự khúm núm cầu an tù ngục của mình bằng cách vấy dơ lên người khác. Thói thường, người ta ham nghe mà ít ham xét đoán. Nếu người ta chịu xét đoán, người ta chỉ cần nhìn lại dĩ vãng của bầy phán quan rẻ tiền đã để lại Sàigòn, người ta sẽ khinh bỉ, ghê tởm chúng biết chừng nào. Và người ta sẽ hỏi: Tại sao cộng sản đã không bắt một anh tướng tư lệnh vùng như bắt một người tuổi trẻ chiến đấu thật sự? Tại sao cộng sản đã không xử tử một anh tướng, một anh tá, một anh bộ trưởng nào đã chống đối họ 20 năm ròng rã mà chỉ xử tử những người dám phản kháng họ khi cuộc chiến đã tàn, khi người Mỹ đã ? Dễ hiểu thôi, cộng sản chỉ dám kiêu ngạo với những kẻ chạy trốn hèn nhát mà không dám kiêu ngạo với người can đảm đương đầu.
Chàng là biểu tượng của những người can đảm đương đầu, là biểu tượng rạng ngời của tuổi trẻ lưu vong. Do đó, cộng sản đã xếp chàng vào thành phần kẻ thù xứng đáng của họ. Cộng sản có thể thù hận chàng nhưng vẫn kính trọng chàng. Sự kính trọng đã biểu lộ trong cung cách bắt giam. Chàng bỗng thấykhông có gì đáng sợ hãi sự in lặng. Trong im lặng chàng vẫn nhận thức rõ rệt thủ đoạn của kẻ thù. Họ muốn lung lạc tinh thần chàng. Họ muốn làm điên đầu chàng. Họ muốn làm chàng mệt mỏi để tình nguyện > rồi xin họ ban cho cái ân huệ yên ổn chịu tội. Móng vuốt của hiu quạnh đã cào cấu chàng? Không, nó đã lay động tâm hồn chàng, nó đã thắp sáng một đốm lửa mà, dẫu mắt bị bịt kín, chàng vẫn nhìn rõ. Đốm lửa ấy, từ nỗi cô đơn khôn cùng, đã soi sáng trong lòng chàng những ý nghĩ thật chính xác, thật đẹp về con người về cuộc đời của thi sĩ và vẫn tỏ thái độ thờ ơ, vô ơn với thi sĩ. Người đi chiến đấu mang tâm trạng của thi sĩ đi tìm hạnh phúc trong bất hạnh. Chàng quán triệt cái xuất xứ của lý tưởng. Lý tưởng mà chàng bị dè bỉu là không tưởng thuở manh nha. Khi đời sống công nhận không tưởng là lý tưởng, mọi chuyện đều quá muộn màng. Thi sĩ và người chiến đấu đã thành người thiên cổ. Những khám phá của họ, dâng hiến của họ để lại đời sống kế tiếp, phục sinh họ. Những kẻ ngờ vực họ, phẩm bình họ, đố kỵ họ thì trở về cát bụi, trở về kiếp cây cỏ phiền tủi ngàn sau mù mịt.
Chàng đã sống khiêm tốn, sống thật với lòng mình từ khi chàng bước xuống cuộc sống. Tuy nhiên, chàng vẫn chỉ là người và chàng đã có những nhận xét sai lầm về người khác hoặc bị huyền hoặc bởi những phán xét ác ý của nhiều người về người khác. Lúc này, sự im lặng giúp chàng suy nghĩ một câu thơ triết lý của Nguyễn Du.  Hay như chàng, một phút thôi, người ta lên tiếng xin xỏ kẻ thù, hai phút thôi, người ta lên tiếng xin xỏ đầu hàng; ba phút thôi, người ta xin tha chết; qua năm phút, người ta khóc lóc than van. Thế gian đầy rẫy hạng người can đảm chưa qua cầu, không dám qua cầu hay chỉ mới qua thử cầu ngớ ngẩn để khoe khoang gian dối. Những kẻ tự khoe mình can đảm hoặc miệt thị người khác thiếu can đảm đều một lũ hèn nhát. Chàng thèm sống, chàng khao khát sống để phóng ra đời sống bài học thứ nhất về sự cảm thông giữa con người. Thù hận nảy sinh từ biên giới của thiếu cảm thông hay không thích cảm thông. Chỉ ở lúc cùng khốn nhất, thống khổ nhất, con người mới trang trải và mọi người Việt Nam lưu vong phải được trải qua những phút giây hãi hùng như chàng thì mới biết ngồi gần nhau, thương yêu nhau mà mưu đồ đại sự. Bằng không, tất cả chỉ là những dấn thân trình diễn, lạc quyên, thu lợi. Và kèn cựa nhau, đâm giết nhau, thanh toán nhau vô tích sự.
Chàng đi đi lại lại. Vài bước ngắn. Chàng đã nghe tiếng xích sắt kêu. Thế là chàng bớt cô đơn. Nhờ tiếng xích sắt! Chàng suy nghĩ miên man và đã mất hẳn ý niệm không gian, thời gian. Đột nhiên, chàng nghe đạn lên nòng. Tim chàng thót lại. Cánh cửa sắt mở từ từ. Chàng biết, nhờ tiếng ken két của bản lề khô dầu. Một bàn tay thộp cổ áo chàng, lôi chàng ra khỏi phòng giam. Người ta lôi chàng xềnh xệch một lát rồi bế chàng ném lên sàn sạt. Cánh cửa đóng rầm. Động cơ nổ. Chàng bị liệng lên sàn xe.

Chắc chắn, chiếc xe chở tù nguy hiểm, xe bít bùng. Chàng nổi da gà. Chàng sợ chết? Không, chàng sợ chẳng còn tồn tại. Cũng có thể chàng sợ cách chết. Từ chủ nghĩa của Marx-Engels, Lénine đã sáng tạo nhiều lối chết, Staline sáng tạo thêm nhiều kiểu chết và Hồ Chí Minh tổng hợp sáng tạo để có riêng biệt những quy luật chết khốn nạn cho kẻ đối nghịch chế độ. Đừng nói khoác anh không sợ cộng sản đem anh đi thủ tiêu ban đêm! Nó bịt mắt dẫn anh tới cây cầu, bảo anh há miệng ra, đâm lưỡi dao găm xuyên cổ họng anh rồi đẩy anh xuống sông. Phải mất bao nhiêu giây sặc sụa để anh quên đau đớn mà chết? Trong bao nhiêu giây đó anh sợ hãi mức nào? Anh chẳng thể diễn tả nỗi cảm giác sợ hãi của anh đâu. Vì anh đã chết. Nếu nó bảo anh rằng nó sẽ bỏ anh vô cái bao bố với tảng đá nặng, túm chặt miệng bao lại rồi liệng anh xuống sông, anh sẽ ngất xỉu, sẽ làm bất cứ việc gì đê tiện nhất để xin nó tặng anh một viên đạn nát óc. Anh biết cái nong chứ. Nong đan bằng cật tre ấy. Nó khoét một cái lỗ tròn nhỏ hơn cổ anh ở giữa cái nong. Nó đặt cái lỗ tròn lên đầu anh, cố ấn cho tụt xuống khít cổ anh. Anh bị quỳ. Trước ngực anh là cây cột chôn chặt. Sau lưng anh là cây cột như bó giò. Anh hết nhúc nhích. Nó xoay cái nong như xoay bánh xe. Da cổ anh chịu sao nổi cật tre lởm chởm. Cổ anh bị khoét xoay, máu ứa ra. Anh đếm từng giây chết. Anh la hét, rên xiết cho tới khi đầu anh rũ xuống thì cái nong ngưng xoay. Và anh phải đợi cả giờ sau anh mới thật sự chết. Những kiểu thủ tiêu này không thể tìm thấy trên màn ảnh. Bởi cộng sản biết dấu thật kỹ mọi bí quyết man rợ của họ.
Xe chạy một hồi thì ngừng lại. Người ta lôi chàng xuống xe. Gió thổi vù vù, thấm lạnh. Chàng nghe tiếng dế gáy, tiếng côn trùng rỉ rả và đoán chừng mình đang ở một bãi tha ma hoặc giữa cánh đồng trong trại. Súng lại lên đạn. Lần này, họng súng dí sát thái dương chàng. Chàng run sợ. Chàng cố đứng vững. Chàng muốn nói. Nhưng chàng sẽ nói gì trước khi viên đạn xuyên thủng thái dương chàng, phá tung óc chàng tan nát? Không cần lên tiếng với sát nhân. Chàng đứng thẳng chờ đợi. Người ta kéo dài thời gian thủ tiêu để đo cảm giác của chàng. Hình như họng súng và viên đạn sắp khạc ra đã trở thành vô nghĩa. Với chàng. Cảm giác mà người muốn đo lường, bây giờ, là cảm nghĩ, cảm tưởng về những ước mơ dang dở. Chàng thả hồn chàng bay bổng, xa khơi. Khi ước mơ luôn vút, cảm giác sợ hãi tê liệt. Người ta bóp cổ. Chàng không nghe rõ tiếng tách trơ trẽn của chủ nghĩa cộng sản. Ở trong hòm kính, hẳn Hồ Chí Minh đã bẽ bàng vì không chinh phục nổi ước mơ của con người.
Rốt cuộc, người ta lại cho chàng về với căn phòng cũ. Chàng phỏng đoán. Vẫn tuyệt đối im lặng. Cám ơn sự im lặng. Chàng đã tưởng cuộc chiến đấu của chàng bắt đầu từ khi trở lại quê hương. Lúc này, chàng hiểu rõ hơn và khẳng định với chính mình rằng, cuộc chiến đấu của chàng khởi sự từ lúc chàng bị bắt, khởi sự từ lúc tay chàng bị còng, chân chàng bị xích, mắt chàng bị bịt và bị tống vào căn phòng nhỏ hẹp, hôi hám của chủ nghĩa cộng sản. Bước chân chàng đặt lên đường phố Sàigòn là một chứng tỏ dấn thân đích thực, không bao giờ là phô trương phù phiếm. Sự có mặt chưa phải là chiến thắng. Sự chiến thắng ở những ngày sắp tới, ở những tháng năm quằn quại tù ngục mà chàng sẽ kiên nhẫn chịu đựng và ở cái chết của chàng.
Dẫu bị bịt mắt, con sư tử sa cơ, mình mẩy găm đầy tên thù cộng sản, vẫn áng lên những tia kiêu ngạo. Những tia kiêu ngạo xuyên thủng miếng vải đen đấy và sẽ xuyên thủng thành lũy chủ nghĩa phi nhân. Cộng sản đã làm mềm nhũn những trái tim sắt bằng đòn phủ đầu như họ đã áp dụng với chàng. Họ đã chế ngự đầy đủ thành phần xã hội miền Nam. Nhưng họ cam đành thất bại nhục nhã với những người tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-75 trong nước. Và, hôm nay, họ phải đối phó với thế hệ tuổi trẻ sau 30-4-75 ngoài nước. Chàng thầm cám ơn cộng sản, bởi vì, cộng sản đã giúp chàng kinh nghiệm chiến đấu, đã tạo thêm cho chàng lòng can đảm để biết khinh thường thủ đoạn của họ.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

20. Chương Hai mươi

Neubauer sững sờ nhìn lá thơ. Hắn đọc lại đoạn cuối cùng:

“Đó là lý do của sự ra đi. Nếu ông muốn ở lại để bị bắt thì đó là chuyện của riêng ông. Tôi muốn được tự do. Tôi phải lo cho sự tự do của Freya. Hãy nghĩ kỹ rồi theo chúng tôi.

Selma”

Trong thơ có đề địa chỉ một ngôi làng ở vùng Bavière.

Neubauer thờ thẫn nhìn quanh. Hắn không tin đó là sự thật. Vợ con hắn không thể bỏ hắn. Bỏ hắn giữa lúc này… không thể được. Tinh thần cố hữu của người phụ nữ Đức chiến đấu bên cạnh chồng đã mất rồi sao?

Hắn uể oải ngồi lên một chiếc ghế mua từ Ba Lê. Chiếc ghế kêu kèn kẹt. Hắn đứng lên, đá mạnh vào cái ghế rồi ngồi xuống chiếc ghế dài. Đồ vô dụng! Tại sao mình không sắm bàn ghế trang nhã theo kiểu Đức? Hắn nghĩ thầm. Thì ra cũng vì Selma. Chính Selma đã đọc quảng cáo ở đâu đó và nghĩ rằng các loại bàn ghế đóng ở Pháp rất quý và sang trọng. Hắn muốn đá thêm một cái nữa nhưng thôi vì nghĩ tới còn có thể bán được. Nhưng bán cho ai? Ai có thể chịu mua những tác phẩm nghệ thuật giữa lúc súng nổ chung quanh?

Hắn đi vào buồng ngủ, mở tủ áo ra. Những hy vọng mỏng manh bây giờ tắt lịm. Selma đã lấy tất cả đồ đạc theo. Cái hộp nữ trang cũng không còn. Đóng cửa tủ lại, hắn quay nhìn sang bàn trang điểm. Các chai nước hoa vẫn còn ở chỗ cũ. Đó là những món quà hắn đã mang từ Tiệp Khắc về… Selma không mang theo. Không cần thiết bay sợ bể dọc đường?

Hắn bước lại tủ tiền. Tất cả công khố phiếu cũng bị lấy đi. Cả cái hộp thuốc bằng vàng nạm kim cương cũng không còn. Chẳng biết vì sao hắn bỗng nhớ tới hình ảnh trại tập trung. Hắn tự nhủ, dù sao mình cũng là một trong những Chỉ huy trưởng nhân đạo nhất nước. Điều đó ai cũng biết. Mellern không phải là Dachau, là Orianenburg, là Buchenwald… dĩ nhiên không phải là trại thủ tiêu.

Bỏ trốn? Như bọn Do Thái. Không. Do Thái không làm thế. Chúng đoàn kết với nhau. Hắn chợt nhận ra như thế. Hắn đi tìm rượu.

Vừa uống hắn vừa nghĩ lan man. Ngôi nhà trống vắng một cách kỳ lạ dường như bàn ghế tủ giường cũng đi theo với Selma. Tại sao không có con trai? Đó không phải là lỗi của hắn. Hắn thiểu não nhìn quanh. Mình làm gì bây giờ? Tìm mẹ con nó trong ngôi làng bé nhỏ đó? Chắc phải mất một thời gian khá lâu, mẹ con nó mới tới đó. Lảo đảo, hắn bước ra khỏi nhà.

Chiếc Mercedes vẫn đợi hắn.

– Về trại, Alfred.

Xe lăn bánh chăm chậm qua thành phố. Thình lình, hắn đổi ý:

– Thôi, tới ngân hàng đi.

Hắn bước thật mau ra khỏi ngân hàng. Hắn không muốn bị ai nhìn thấy bộ mặt sầu não của hắn. Chỉ trong mấy tháng sau này, Selma đã rút ra hết phân nửa tiền. Hắn hỏi tại sao không thông báo, nhân viên ngân hàng nhún vai bảo đó là trương mục chung.

– Về khu vườn, Alfred.

Vì những chướng ngại trên đường, chiếc xe phải mất nhiều thì giờ mới tới nơi. Ngôi vườn bình lặng phơi mình dưới ánh nắng ban mai. Cây cối và hoa cỏ đều xinh tươi, màu sắc rực rỡ. Chỉ còn thiên nhiên là đáng tin cậy. Chúng vẫn ở đó, vẫn tươi cười không bỏ trốn.

Hắn bước ra chuồng thỏ. Trong những đôi mắt vô tư của loài thú lông mịn này làm gì có bóng dáng của những trương mục ở ngân hàng. Trước đây hắn đã nghĩ tới dùng lông của chúng để làm một cái khăn quàng cho Selma. Ừ, hắn vẫn có lòng tốt đó chớ.

Đột nhiên hắn nghe tiếng ầm ì. Tiếng nổ không đều nhau nhưng nghe rõ hơn lúc nãy. Tự nhiên, những tiếng nổ ầm ì đó như đánh thốc vào người hắn và nỗi lo sợ lại hiện ra. Nhưng bây giờ hắn đơn độc nên không thể tự dối mình bằng cách trấn an kẻ khác. Sự sợ hãi chui tuột vào cổ họng, chạy xuống dạ dầy, trườn lên cổ họng rồi lại tuột xuống dạ dày. Hắn nghĩ thầm, mình chẳng làm gì sái quấy. Chỉ làm phận sự thôi. Mình còn có nhân chứng muốn bao nhiêu người cũng có. Blank cũng là một chứng nhân, mới đây mình biếu hắn một điếu xì-gà thay vì bắt nhốt. Đặt trường hợp là kẻ khác thì người ta đã tịch thu cửa hiệu của hắn chớ đâu có mua lại như mình. Chính miệng Blank đã nhìn nhận như thế. Mình lịch sự, đứng đắn.

Hắn nhìn vơ vẩn. Một dãy cuốc, xuổng với những cán gỗ sơn xanh dựng đứng bên tường… phải chi mình là một nông gia, một chủ quán, một kẻ không ai để ý tới! Cành hoa nặng trĩu kia sao đời sống nó dễ dàng thế, cứ đúng mùa là nở ra, chẳng có trách nhiệm gì. Nhưng một sĩ quan cao cấp như mình phải đi đâu?

Hắn lại liên miên nghĩ… bên này thì người Nga, bên kia là Anh và Mỹ, đi đâu? Nói như Selma thì dễ quá. Chạy trốn quân Mỹ thì gặp quân Nga và chuyện gì sẽ xảy ra rất dễ hiểu. Họ vượt qua Mạc Tư Khoa, Stalingrad… những thành phố bị quân mình tàn phá… không phải để vui chơi.

Mồ hôi hắn vã ra như tắm. Hắn đi ra xe.

– Tới nhà thổ, Alfred.

– Thưa Đại tá, đi đâu?

Hắn bỗng giận dữ:

– Tôi bảo tới nhà thổ, chủ nghe rõ chưa? Hay là đã quên cả ngôn ngữ rồi?

Alfred vẫn bình tĩnh:

– Nhà chứa điếm đã bị đóng cửa lâu rồi, thưa Đại tá. Tình trạng Thiết quân luật.

– Vậy thì lái về trại.

– Anh thấy tình hình ra sao, Weber?

Neubauer cố giữ vẻ thản nhiên nhưng viên sĩ quan Trưởng trại của hắn cũng chẳng vừa:

– Thưa rất tốt đẹp.

– Rất tốt đẹp?

Hắn lục tìm xì-gà nhưng không thấy đâu cả. Hắn càu nhàu nhìn tấm kính cửa sổ bị mảnh bom phá nát mà không thay được. Nhờ lỗ trống đó và nhân lúc hỗn loạn của cuộc không tập, viên thư ký tóc đỏ đã chuyển số thuốc điếu đánh cắp trao cho Lewinsky và Lewinsky đổi số thuốc này để lấy thức ăn đủ hai ngày cho nhóm Lão Làng. Rất may là những chỉ thị mật của hắn ghi trong sổ – những chỉ thị nhân đạo nhưng bị Weber lạm dụng – vẫn còn trong tủ.

Bằng khóe mắt, hắn quan sát Weber. Gã Trại trưởng vẫn bình thản lạ lùng mặc dầu mới đây hắn vẫn còn giết tù không gớm tay.

Neubauer cảm thấy khí lực từ từ phục hồi, có lẽ mạnh gấp đôi. Hắn ra điều thân thiết:

– Rồi chú sẽ làm gì, Weber? Tôi muốn nói là trong thời gian ngắn chờ đợi… nghĩa là trong giai đoạn kẻ thù chiếm đóng… nghĩa là không phải chúng ta bại trận, như lịch sử đã từng chứng minh.

Weber như có vẻ đang cười. Hắn cũng trả lời với giọng thân mật :

– Chúng ta sẽ chỗi dậy… có thể là dưới những danh hiệu khác. Cũng có thể danh hiệu Quốc Xã sẽ biến mất trong nhiều năm. Mỗi người chúng ta sẽ là một đảng viên dân chủ. Điều đó không đáng kể. Riêng tôi, tôi sẽ tìm cách gia nhập lực lượng cảnh sát, dĩ nhiên là với giấy tờ giả. Và công việc lại tiếp tục.

Neubauer cười. Thái độ tự tin của Weber làm hắn vững dạ.

– Cũng là ý kiến hay. Còn tôi? Chú nghĩ sao?

– Trường hợp của Đại tá khác hơn. Đại tá có gia đình. Như thế khó mà đổi tên họ và lẩn tránh.

Lòng tự tin lại biến mất, Neubauer gượng đáp:

– Đúng như vậy. Weber, tôi muốn thị sát trại. Lâu quá, chưa thăm viếng lần nào.

Lúc hắn vừa tới khu sát trùng thì cả Tiểu trại đều hay. Phần lớn võ khí được cất giấu tại đây được Lewinsky và Werner tức tốc chuyển sang trại lao tác. Chỉ một mình 509 còn giữ khẩu súng lục của hắn. Chính hắn yêu cầu như thế.

Khoảng 15 phút sau, qua ngã liên lạc lừ nhà cầu, tin tức cho hay đây không phải là một cuộc viếng trại có mục đích hành phạt mà là một cuộc thị sát thiện ý, không có chuyện lục soát…

Neubauer nghĩ, tại sao chúng không ném bom ở đây? Được vậy thì toàn diện vấn đề kể như đã giải quyết xong.

– Có phải đây là Khu Xót Thương không?

Weber lặp lại:

– Phải, Khu Xót Thương.

Neubauer nhún vai:

– Tốt lắm. Ở đây, mình đâu có cưỡng bách họ làm việc?

– Thưa không.

– Dường như hôi thúi quá. Có thể làm bớt mùi đi không?

– Thưa, họ bị kiết lỵ. Đây là khu vực giải trí của người bệnh.

Neubauer chụp ngay cơ hội:

– Khu người bệnh, phải rồi. Bệnh kiết lỵ nên nặng mùi. Cũng như ở bệnh viện vậy.

Hắn nhìn quanh:

– Họ có được tắm rửa chớ?

– Chúng ta phải ngăn ngừa sự truyền nhiễm nên khu vực này gần như bị cô lập. Phòng tắm ở phía bên kia.

Nghe tới hai tiếng truyền nhiễm, Neubauer dừng đứng lại:

– Mình có đủ quần áo lót cho chúng không? Tôi nghĩ là đồ cũ nên cho đốt đi.

– Thưa, không cần thiết lắm. Chỉ cần khử trùng thôi, vẫn còn khá nhiều quần áo lót trong kho.

Neubauer cảm thấy nhẹ nhõm:

– Tốt. Như vậy cho chúng thêm một ít để thay đổi, lựa đồ sạch sẽ. Cho phát thuốc sát trùng. Ghi sổ tay hộ tôi.

Người tù mập mạp giữ chức đệ nhất đại diện trại ghi ngay vào sổ tay. Neubauer đọc thêm :

– Phải dọn dẹp cho thật sạch sẽ.

– Dạ, thật sạch sẽ.

Người tù đại diện lặp lại như cái máy. Weber cố dằn để khỏi nhíu mày. Neubauer quay hỏi các tù nhân:

– Các người có đủ những gì cần thiết không?

– Thưa Chỉ huy trưởng, đầy đủ lắm.

Đó là câu trả lời mà tù nhân bắt buộc phải thuộc lòng.

– Tốt lắm.

Neubauer lại nhìn quanh lần nữa. Các lao xá cổ lỗ trông như những chiếc quan tài đen. Hắn suy nghĩ và chợt có ý kiến :

– Cần phải có cây cối xanh tươi trồng ở đây. Mình vẫn còn đủ thì giờ. Thêm một luống hoa sát theo bờ tường. Như thế trông mát mắt hơn.

– Vâng.

– Xúc tiến ngay đi. Và cũng cho trồng chút ít cây cối với hoa cỏ ở trại lao tác.

Hắn tưởng như mình là một chủ vườn :

– Cho trồng hoa tím hay ngọc trâm… mà không, ngọc trâm tốt hơn, màu vàng nổi bật hơn.

Hai người tù từ từ quỵ xuống. Không ai dám nâng họ dậy trong khi Neubauer tiếp tục nói:

– Ngọc trâm… mình còn nhiều phải không?

Người tù đại diện đứng nghiêm:

– Thưa Chỉ huy trưởng, ngọc trâm còn nhiều lắm, trổ đầy hoa.

– Tõt lắm. Cho trồng ngay đi. Với lại cho ban nhạc thỉnh thoảng đặt gần chỗ này để những người ở đây thưởng thức đôi chút.

Hắn ra về. Đoàn tùy tùng theo sau. Hắn cảm thấy yên lòng được phần nào. Tù nhân chẳng khiếu nại gì cả. Nhiều năm không hề bị chỉ trích khiến hắn có thói quen nhìn nhận tất cả những gì hắn nghĩ đều đúng hẳn. Hắn còn muốn là tù nhân có thể gặp mặt hắn như hắn đã gặp họ. Họ cũng là người đó chớ, điều mà hắn quên từ lâu.

Lửa yêu thương lửa ngục tù

vietmessenger.com

Erich Maria Remarque

Dịch giả: Vũ Kim Thư
Post by Sơn râu 14 Oct 2024

19. Chương Mười chín

Buổi sáng, trời xám đục.

Sấm chớp đã ngưng nhưng từ các dãy rừng xa vọng lại những tiếng ầm ì không ngớt. Bucher nói trống không:

– Bão gì kỳ lạ thế? Hễ bão tan là chỉ thấy chớp chớ không nghe tiếng sấm.

Rosen góp lời:

– Chắc lại thêm một trận nữa.

– Vùng rừng núi mưa bão thường kéo dài nhiều ngày.

– Nhưng ở đây có ngọn núi nào đâu. Tuốt đằng kia chỉ có một dãy núi nhưng quá thấp.

509 bước vào :

– Các bạn đang bàn chuyện gì đó?

– Đang nói chuyện mưa bão.

– Tại sao lại để ý tới mưa bão?

– Chẳng có gì cả. Chỉ không hiểu tại sao mưa bão đã tan mà vẫn còn sấm sét. Có tiếng sấm mà không có chớp, cũng không có mây mù.

509 nhìn lên trời. Bầu trời xám đục gần như không có mây. Hắn lắng nghe. Hắn muốn bảo là tiếng sấm nhưng chợt ngưng lại, không nói ra. Thái độ hắn bỗng thay đổi. Hắn chú ý nghe với toàn thân bất động.

– Nghe kỹ xem! Không phải là tiếng sấm. Đó là…

509 nói thật chậm và thở nhỏ dường như sợ một cái gì đó sẽ tan biến đi nếu nói lớn ra. Hắn lại lắng nghe. Bucher đứng bên cạnh hắn. Cả hai vừa nhìn nhau vừa cố lắng tai.

Tiếng ầm ì vọng tới lớn hơn rồi chìm xuống. 509 lại nói thật nhỏ:

– Không phải sấm sét. Tôi đã nghe kỹ rồi, đó là tiếng đại bác.

– Sao?

– Tiếng đại bác.

Người này nhìn người kia như dò hỏi, mắt tia niềm hy vọng. Goldstein hỏi lớn :

– Có chuyện gì đó?

Không ai trả lời. Goldstein bực dọc:

– Bộ các bạn biến thành băng cả rồi sao?

Bucher tới gần hắn:

– 509 bảo những tiếng ầm ì mà tụi mình đang nghe là tiếng đại bác. Mặt trận chẳng còn cách mình bao xa.

– Thật sao? Hay là các bạn nằm chiêm bao ban ngày?

– Ai nói điên nói khùng đó?

Goldstein trả đũa ngay:

– Tôi hỏi các hạn có tự làm cho mình điên không?

509 quay lại:

– Không phải vậy đâu.

– Bạn biết chắc chớ?

– Chắc chắn.

– Trời!

Rosen vừa kêu xong đã ôm mặt khóc. 509 tiếp tục nghe.

– Khi gió đổi chiều mình sẽ nghe rõ hơn.

Bucher nôn nóng:

– Ước chừng bao xa?

– Không thể nói chắc. Năm mươi hay sáu mươi cây số là cùng.

– Năm mươi cây số. Đâu có xa.

– Phải, không xa lắm.

Bucher tưởng tượng:

– Chắc họ có chiến xa. Chiến xa đi mau lắm. Nếu chọc thủng trận tuyến, họ có thể tới đây… mấy ngày… có thể chỉ một ngày.

Lebenthal lặp lại:

– Một ngày? Bạn nói gì đó? Một ngày hả?

– Nếu trận tuyến bị phá vỡ. Hôm qua mình có nghe gì đâu. Bây giờ đã nghe thấy. Ngày mai thì gần hơn… rồi mốt hay ngày kia…

Thình lình Lebenthal la lên:

– Thôi! Đừng nói những chuyện đó. Đừng làm cho người ta điên lên!

509 dịu dàng:

– Có thể chỉ vài ngày nữa, Leo.

– Không.

Lebenthal kêu lên rồi ôm đầu với hai bàn tay. 509 nhìn khắp mọi người. Goldslein đứng ngay phía sau hắn mỉm cười:

– Bây giờ tôi cũng nghe rõ rồi.

Mắt hắn mở to và mở to thêm, đen nhánh. Hắn vừa cười vừa múa tay múa chân như khiêu vũ. Hắn vẫn cười ngay trong khi ngã sấp xuống. Lebenthal tỉnh lại:

– Mau, anh ta bất tỉnh rồi. Mở nút áo ra. Để tôi đi lấy nước.

Bốn người đổ xô tới lật ngửa Goldstein ra. Bucher hỏi:

– Có cần tìm Berger không?

– Khoan đã.

509 khom xuống, mở nút áo và nới rộng thắt lưng của Goldslein. Berger cũng vừa tới. Chính Lebenthal đã đi gọi ông ta. 509 trách:

– Đáng lý bạn nên nằm nghỉ cho lại sức.

Berger không đáp, quỳ xuống cạnh Goldstein xem xét. Chưa đầy một phút, ông ta thở ra :

– Chết rồi. Chắc tại bệnh tim bộc phát.

Bucher vớt vát:

– Nhưng hắn cũng đã nghe được tiếng đại bác. Đó là vấn đề chánh.

509 quàng tay qua đôi vai gầy còm của Berger:

– Ephraim, chắc ngày vui đã cận kề rồi.

– Bạn nói gì?

Tự nhiên, 509 cảm thấy khó diễn tả. Hắn chỉ về phía chân trời:

– Họ sắp tới nơi, Ephraim. Mình đã nghe ra tiếng đại bác. Họ đang tiến tới.

Tới trưa, gió bắt đầu đổi hướng. Những tiếng ầm ì nghe rõ hơn.

Tiếng nổ từ xa giống như luồng điện giựt thót hàng ngàn quả tim đơn độc. Các lao xá đều nhốn nháo. Chỉ có một vài toán lao tác được đưa xuống thành phố. Đâu đâu cũng có những khuôn mặt, những cặp mắt sáng quắc thò ra cửa, những hình người, những bộ xương đứng trước cửa, cổ ngóng cao.

Các toán lao tác được canh chừng chặt chẽ gấp đôi. Họ bị dẫn đi vòng thành phố tới Khu Chợ. Bọn SS tỏ ra nóng nảy. Chúng luôn miệng hô lệnh và mắng chửi. Đây là lần đầu tiên tù nhân được đưa vào khu vực Thị Trấn cũ. Họ nhìn tận mắt những cảnh sụp đổ, những ngôi nhà cháy nám. Hầu như chẳng có gì còn lại nguyên vẹn cả. Họ lẳng lặng đi qua, dân chúng lẳng lặng đứng nhìn hoặc quay mặt đi nơi khác. Họ vẫn đi trong hàng ngũ nhưng không còn mặc cảm của tù nhân. Bằng một phương cách huyền bí, họ đã chiến thắng mà không cần có mặt, và những năm bị đày đọa trong tù ngục không còn bị coi như những năm thảm bại mà chính là những năm chiến đấu. Và cuộc chiến đã thắng. Họ vẫn còn sống.

Họ tới khu chợ. Trọn Tòa Thị chánh đổ nát. Họ được phát cuốc xẻng để đào xới đống gạch đá ngổn ngang. Bên trên là mùi cháy khét nhưng bên dưới là mùi thúi của thây người.

Sau hai giờ làm việc không ngừng tay, họ bắt gặp xác người đầu tiên. Trước hết họ chỉ thấy đôi giày bốt. Đó là xác của một sĩ quan Đội trưởng SS.

Muenzer nghiến răng và nói lầm bầm:

– Bây giờ tới phiên bọn sâu bọ. Chúng ta móc xác chết của bọn chúng lên.

Hắn cảm thẩy khỏe hơn thường ngày. Một tên SS tới gần quát tháo:

– Coi chừng! Có người nằm gần đó, bộ đui hả?

Tù nhân đào xới chỗ đó. Một lúc sau, vai và đầu người chết hiện ra. Gã SS nóng nảy:

– Cứ tiếp tục nhưng phải cẩn thận.

Họ lại moi thêm ba cái xác của đảng viên Quốc Xã và khiêng đi nơi khác. Họ cảm thấy thích thú kỳ lạ. Từ trước tới nay, họ chỉ khiêng toàn thi thể của những kẻ đồng cảnh ngộ, bị đánh đập, bị đưa từ chuồng cọp ra, sống hoặc chết và trong những ngày gần đây là những thường dân bị trúng bom. Nhưng bây giờ, lần đầu tiên họ được khiêng xác những kẻ thù.

Gần một tiếng đồng hồ sau, họ moi ra thi thể của Dietz. Viên sĩ quan cao cấp đại diện cho uy quyền Quốc Xã tại thành phố này bị gãy cổ. Đầu hắn gục sát xuống ngực trông như hắn đang muốn cắn lấy cổ họng của chính mình, cả hai cánh tay hắn cũng gãy nát.

Người tù đứng cạnh Muenzer vẫn cắm cúi đào xới nhưng cố nói thật nhỏ:

– Trời có mắt! Quả là trời có mắt!

Một tên SS quát lớn:

– Câm miệng!

Hắn đá vào gối người tù:

– Mày nói gì đó? Tao thấy miệng mày lẩm bẩm.

Người tù đứng dậy. Lúc nãy hắn té lên thi thể Dielz. Hắn trả lời với nét mặt vô hồn:

– Thưa Đội trưởng, tôi vừa nói là nên kiếm một cái cáng để đưa vị sĩ quan cao cấp này ra chớ không thể khiêng như mấy người kia.

– Mày không có quyền nói gì cả! Ở đây chỉ có tụi tao ra lệnh thôi!

– Vâng!

Lại cũng thế, Lewinsky nghĩ thầm. Lại cũng đòi ra lệnh. Bọn nó chỉ biết có vậy thôi.

Tên SS nhìn kỹ Dietz. Vừa trông rõ, hắn vội vàng đứng nghiêm chào rồi tức tốc chạy tìm viên Đội trưởng. Tên Đội trưởng nhìn quanh. Hắn thấy một cánh cửa nằm bên cạnh đống gạch vụn. Hắn quay về phía xác Dietz chào đúng kiểu nhà binh rồi ra lệnh:

– Xới ra, lấy cánh cửa đó để làm cáng!

Muenzer, Lewinsky và hai người nữa bươi tấm cửa ra. Trên mặt cửa có chạm hình Moses – người đã giải thoát dân Do Thái ra khỏi Ai Cập dưới thời vua Pharaon. Họ khiêng thây Dietz đem đặt lên. Hai cánh tay gãy của hắn đong đưa. Tên Đội trưởng hét:

– Cẩn thận. Đồ chó!

Tù nhân làm ra vẻ cẩn thận hơn nhưng mắt họ nhìn vào hình Moses. Họ nghĩ, trước đó đã có những chuyện giống ngày nay. Thánh Moses. Người Do Thái. Vua Pha-ra-ôn. Hồng Hải. Giải thoát.

– Tám người ra khiêng!

Lập tức có tới mười hai người chạy tới. Hắn nhìn chung quanh. Bên kia đường là một ngôi nhà thờ. Hắn định ra lệnh nhưng thôi. Không thể đưa thi thể một đảng viên cao cấp Quốc Xã vào giáo đường. Hắn muốn điện thoại để xin chỉ thị nhưng trạm điện thoại đã bị tiêu hủy. Hắn đành phải làm điều mà hắn ghét và sợ nhất: tự quyết định lấy. Muenzer máy môi. Một tên SS quát lên:

– Nói gì đó? Bước ra mau! Đồ chó!

Muenzer bước ra đứng nghiêm và nói giọng trịnh trọng:

– Thưa ông, tôi có ý kiến là đối với một nhân vật quan trọng mà để bọn tù hôi hám chúng tôi khiêng có lẽ không xứng đáng.

– Đồ chó! Mày nói sao? Chuyện đó ăn nhằm gì tới bọn bây? Ở đây, tụi tao chỉ còn…

Hắn bỗng ngưng nói. Ý kiến của Muenzer không phải là vô lý. Thi thể của Dietz cần phải do chính tay của lính SS khiêng. Nhưng nếu làm như thế, tù chạy mất. Thình lình hắn chợt nhớ ra nơi xứng đáng cho Dietz nằm. Hắn hô lên:

– Khiêng tới bệnh viện!

– Đưa một xác chết vào bệnh viện quả là chuyện khôi hài.

Một chiếc xe Mercedes từ trong chợ phóng ra. Chiếc xe giảm tốc độ để tránh những đống gạch đá, gỗ vụn trên đường. Giữa cảnh hoang tàn thảm hại, hình ảnh chiếc xe sang trọng trông thật thô bỉ, gớm ghiếc.

Chiếc xe vượt qua, một tên SS không dằn được bất mãn:

– Cứt! Đồ cứt!

Dĩ nhiên là hắn không ám chỉ các tù nhân.

Lewinsky lắng nghe. Tiếng ầm ì đằng xa chìm mất trong tiếng máy nổ của chiếc Mercedes. Chiếc xe đi khuất. Tiếng ầm ì lại vang lên như tiếng trống nghẹn ngào đưa tang.

Bucher nhìn lên ngôi nhà trắng trên đồi bên kia. Ngôi nhà không bị thiệt hại bởi bom đạn, đang phơi mình dưới nắng chiều. Hoa anh đào bắt đầu nở trong khu vườn với hai màu trắng, đỏ.

– Bây giờ em tin chưa? Em nghe thấy tiếng đại bác mà. Họ đang tiến tới gần hơn, tiến lên từng giờ một.

Hắn lại nhìn về phía ngôi nhà. Hắn tự đặt một thể thức để tin tưởng: nếu ngôi nhà kia còn nguyên vẹn thì mọi việc sẽ tốt đẹp. Ruth và hắn sẽ được giải thoát và chung sống.

Ruth ngồi thu hình sát hàng rào kẽm:

– Nhưng rồi chúng mình sẽ ở đâu?

– Càng xa nơi này càng tốt.

– Ở đâu?

– Bất cứ nơi nào. Có thể cha anh còn sống.

Bucher không tin hẳn như thế, nhưng vẫn cố tin vì không biết gì cả. 509 biết rõ ràng nhưng không bao giờ tiết lộ với hắn. Ruth nhìn xuống:

– Không một ai trong gia đình em còn sống cả.. Lúc em ở đó, chúng đưa tất cả vào phòng hơi ngạt.

– Biết đâu vẫn có người sống sót. Dầu sao thì vẫn còn em.

– Phải. Họ để cho em sống.

– Gia đình anh có một ngôi nhà ở Osnabruck. Có thể không bị sụp đổ. Lúc chúng nó đến chiếm, ngôi nhà vẫn còn nguyên. Mình có thể về đó.

Ruth lặng thinh. Bucher nhìn sang thấy người yêu đang khóc. Chưa bao giờ thấy Ruth khóc nên hắn tưởng là Ruth bị xúc động khi nhớ tới thân nhân. Hắn hơi sốt ruột:

– Ruth, mình không nên nghĩ nhiều tới quá khứ. Nếu cứ thế làm sao lập lại cuộc đời?

– Không phải vậy đâu.

– Vậy chớ sao em khóc?

Ruth Holland gạt nước mắt với hai bàn tay nắm chặt:

– Anh có muốn biết tại sao bọn nó tha chết cho em không?

Bucher linh cảm điều người yêu sắp nói ra không mấy đẹp:

– Thôi, đừng nói tốt hơn. Nhưng việc đó tùy em. Đối với anh thì chẳng có gì khác lạ đâu.

– Khác lạ chớ. Lúc đó em 17 tuổi và đâu có xấu xí như bây giờ. Chính vì vậy mà chúng nó để em sống.

– À.

Bucher lên tiếng nhưng chẳng hiểu Ruth nói gì. Ruth nhìn sang. Lần đầu tiên Ruth nhận ra người yêu có đôi mắt quá trong. Ruth hỏi:

– Anh có biết em nói gì không?

– Không.

– Chúng để em sống vì chúng cần phụ nữ. Những phụ nữ trẻ cho bọn lính. Cho những người Ukraine chiến đấu bên hàng ngũ Đức. Bây giờ anh hiểu chưa?

Bucher thừ người ra như đang kinh sợ. Ruth nhìn dò xét. Cuối cùng hắn hỏi nhưng mắt nhìn ra nơi khác :

– Nghĩa là chúng đã… làm gì em?

Ruth đã thôi khóc từ lâu:

– Phải. Bọn nó chỉ cần có vậy.

– Không. Không thể như thế.

– Nhưng đó là sự thật.

– Anh muốn nói khác hơn. Anh muốn nói là em không hề muốn thế.

Người nữ tù cười đau xót :

– Nhưng rồi cũng chẳng làm gì được khác hơn.

Bucher quay nhìn vào mặt người yêu một lúc lâu và lắc đầu:

– Không thể như thế được. Em đâu có muốn vậy. Em không hề làm như vậy.

– Nhưng, đó là sự thật. Một sự thật không thể quên.

– Chẳng một ai trong chúng ta biết cái gì đáng quên và điều gì cần nhớ… Có nhiều việc cần phải quên, bằng không chúng ta sẽ chết rục xương ở đây.

Bucher không ngờ mình đang lặp lại ý nghĩ của 509 đêm trước đó. Hắn nuốt nước bọt từng chặp và sau cùng cố gắng nói:

– Em vẫn còn sống. Thế là quá đủ đối với anh.

Ruth buông tay xuống, quay mặt lại như bực tức:

– Anh chẳng hiểu gì hết. Anh còn trẻ con lắm.

– Anh không trẻ con đâu. Những người đang sống trong tù ngục không có ai là trẻ con cả. Ngay đến thằng bé Karel cũng không trẻ con dầu chỉ mới mười một tuổi.

Ruth lắc đầu:

– Em nói với ý nghĩa khác hơn. Bây giờ anh hoàn toàn tin những gì anh nói. Nhưng rồi lời nói sẽ bay đi và những chuyện ô nhục kia trở lại. Với anh và với em. Lúc hồi tưởng lại, làm sao…

Bucher tự hỏi, tại sao Ruth lại nói ra? Đừng nói có phải tốt hơn không. Như vậy mình chẳng bao giờ biết tới thì lấy gì để nhớ ra sau này. Hắn cố chiết giải:

– Anh không hiểu em muốn nói gì. Nhưng anh tin rằng giữa chúng ta có những quy lệ không giống với người thường. Trong những người chúng ta ở đây có một số đã giết người vì không thể làm khác hơn, và những kẻ ấy có bao giờ tự coi là sát nhân đâu… cũng như trường hợp của binh lính ngoài trận tuyến. Đó cũng là hoàn cảnh của chúng ta. Những gì xảy ra cho chúng ta không thể cân đo với nhũng tiêu chuẩn thông thường được.

– Nhưng rồi anh sẽ nghĩ khác đi khi chúng ta rời khỏi nơi này.

Ruth nhìn Bucher với tất cả ưu phiền. Đột nhiên, hắn hiểu tại sao mấy lúc sau này Rath thường tỏ ra sầu muộn. Thì ra cũng có lúc và cũng có người vì một lý do nào đó – như trường hợp Ruth – bỗng sợ ngày được giải thoát. Tự nhiên, một luồng nhiệt lực từ đâu tới khiến Bucher mạnh dạn và vững tin :

– Ruth, bỏ qua chuyện đó đi. Hãy coi như không có. Em đã bị cưỡng bách và em ghê tởm. Chẳng có gì để nhớ. Hãy quên đi!

Uể oải, Ruth thở dài:

– Cứ sau mỗi lần như thế là em nôn mửa. Cố dằn xuống nhưng vẫn mửa ra. Cuối cùng chúng nó không chịu được phải buông tha.

Ruth nghiêng đầu một bên. Mặt người nữ tù xám lợt vì mệt mỏi nhưng ánh mắt đã dịu lại. Bucher nhìn theo những đám mây bay ngang qua ngọn đồi có ngôi nhà trắng. Trong một thoáng, hắn ngạc nhiên vì thấy ngôi nhà còn đó. Với hắn, dường như ngôi nhà đã bị phá hủy bởi một trái bom vô hình. Nhưng nó vẫn còn đó.

Ruth nhìn xuống hai bàn tay xương xẩu của mình và nghĩ tới làn tóc đã úa màu, tới những chiếc răng bị mất mát. Ruth lại nghĩ thêm từ nhiều năm qua Bucher chưa hề nhìn thấy một phụ nữ nào ngoài trại cả. Ruth biết mình nhỏ tuổi hơn người yêu nhưng có cảm tưởng đã già hơn. Những bất hạnh lớn lao vẫn nặng như chì. Ruth lại thở ra:

– Josef, em sẽ cố nghe lời anh, làm theo ý anh.

Người nữ tù quay vào lao xá, tà áo nhầu nát và bẩn thỉu phất phơ quanh đôi chân thon nhỏ. Bucher nhìn theo người yêu và bỗng nhiên cảm thấy giận sôi lên. Hắn tự biết bất lực và cũng tự hiểu là phải tập quên cho quen lần. Phải quên đi mới sống được… như hắn vừa nói với người yêu. Hắn cúi gầm xuống. Một con kiến đang bò trên mặt đất, kéo lê xác một con bọ. Con bọ quá nhỏ nhưng so với con kiến thì quá lớn. Vấn đề tùy thuộc bởi cách nhìn. Phải, cái gì cũng tùy thuộc vào cách nhìn. Chậm chạp hắn đứng lên đi vào lao xá. Hắn cảm thấy không còn chịu đựng được khung trời sáng.

Dựng Nghiệp

vvnm.vietbao.com

31/12/2018

Hồ Nguyễn

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Tác giả đã dự Viết Về Nước Mỹ từ hơn 10 năm trước và mới nhận giải Viết Về Nước Mỹ 2018. Bài đầu tiên của ông là “Kinh 5 Dị Nhân” kể về vùng quê, nơi có hơn 1000 người -phân nửa dân làng- vượt biên mà tới hơn 400 người tử vong- Hiện ông đang là cư dân Orlando, Florida, vùng đất rất quen với bão lụt.  Loạt bài gần đây của ông là chuyện khởi nghiệp trên đất Mỹ. Bài mới, bắt đầu phần “dựng nghiệp”. 
*** 
Biết bao nhiêu chuyện phải làm khi muốn dời nhà từ miền Tây sang Đông với khoảng cách gần 3 ngàn dặm. Trước hết là hoàn tất thủ tục mua căn tiệm bên thành phố Buffalo, tiền đã vậy còn cần thời gian để hoàn tất giấy tờ thủ tục. Sau đó mới trở lại Seattle để bán các cơ sở thương mại bên đó.
Nghe tin tôi di chuyển đi nơi khác, một ông bạn thân bàn rằng: Chuyện làm ăn thì có khi này khi khác, lúc khó lúc dễ, hãy cố chịu đựng để chờ thời cơ mới. Bây giờ cậu bỏ Seattle mà đi xa như vậy thì thật khó thành công!
Mà khó thật.

*

Đầu thế kỷ trước Buffalo là một trong 10 thành phố lớn nhất nước Hoa Kỳ với hơn 1 triệu dân. Rồi không biết vì ảnh hưởng khí hậu hay sự quản lý yếu kém của chính quyền mà dân số cứ sụt giảm dần.
Năm 1999 chỉ còn khoảng 300 ngàn người. Nhà cửa, các cơ sở thương mại bị bỏ trống nhiều. Nhà thờ, trường học cùng chung số phận. Vì vậy tất cả con em các di dân đều được tập trung vào học trường 45, còn có tên gọi là international school. Ở đây có các thầy cô giáo đủ mọi sắc dân, riêng Việt Nam cũng gần chục người.
Nhôi nhai dọn nhà mất vài tháng mọi việc mới xong. Tôi định ngày 1-1-1999 thì khai trương cửa tiệm,  là 99 FAST FOOD RESTAURANT.
Cái thực đơn đầu tiên của chúng tôi có hơn 40 món ăn. Món ăn Việt thì quanh đi quẩn lại cũng bún- cơm- phở làm căn bản, rồi biến chế thay đổi qua lại. Phở thì có:  Tái, nạm, gầu, gân, sách, bò viên… rồi cộng qua cộng lại cũng được cả chục món rồi.. Bún cũng thế, thêm mấy món cơm chiên. Món ăn Nhật thì có mấy món gà, heo, bò…nấu kiểu nướng, rim và xào với các loại rau, mà món nào cũng có loại sauce teriyaki nghe cho nó giống mấy anh Nhật.
Vị trí của tiệm ăn này có thể nói là đắc địa, vừa nằm sát freeway 90 bắt đầu từ Seattle là cực tây lên đến đầu Boston là cực đông, rất tiện đường cho khách xa đi qua. Lại nằm ngày đầu đường Niagara St (số 93) được coi là một trục lộ chính của Buffalo. Quan trọng nhất là đối diện với City Hall, nơi có vài ngàn công- tư chức đến làm việc mỗi ngày. Một điểm nữa là gần trung tâm phố (down town)… Mà có lẽ bất cứ nơi đâu, cứ ở trung tâm phố là chỗ đông người sẽ bán đồ ăn được.
Vậy mà khi tiệm khai trương chẳng có mấy người khách ngoại quốc ghé thăm! Lâu lâu mới có vài người ngồi lại ăn thử. Khách chính hàng ngày chỉ có người Việt, mà dân số Việt Nam ở Buffalo cũng có đâu chừng trên dưới ngàn người mà thôi. Vì vậy muốn sống được chúng tôi phải xin license bán bia (lại bia nữa), cho các chú đồng hương cuối tuần đến vui vẻ.
Rất may, gần downtown có một hãng may khá lớn với mấy trăm công nhân, chuyên may nón cho các đội baseball, cả cho trường Đại học lẫn chuyên nghiệp. Người Đông Nam Á làm công nhân ở đây cả trăm người. Mỗi ngày họ đặt vài ba chục phần và chúng tôi phải đem giao vào buổi trưa.
Rồi chúng tôi cũng mua được nhà. Như trên đã nói, vì dân số Buffalo cứ giảm dần nên, có quá nhiều nhà trống mà ít người ở nên giá nhà rẻ rề, rẻ và cũ. Mặc, ở căn nhà cũ cũng được và chẳng ai muốn sửa chữa nhiều, có chăng cũng đôi chút trông cho sạch sẽ, kín đáo là được.
Căn nhà tôi mua hai tầng, chừng trăm tuổi, phía trên có 2 chung cư, một cái 3 phòng ngủ một cái 2. Phía dưới trước đây là cái chợ rộng chừng 3,000sqf, có các loại tủ lạnh, kệ chất hàng và nhà kho… nay đã đóng cửa. Mua xong tôi dọn dẹp lại phần trên cho các cháu có chỗ chui ra chui vào.
Chỗ ở vừa ổn định, chú tâm hơn vào cửa tiệm. Rồi một chiều cuối tuần bỗng thấy khách tấp nập kéo đến, càng lúc càng đông. Tôi phải gọi thêm người làm đang nghỉ ở nhà ra phụ tiếp mà vẫn không kịp, khách còn xếp hàng dài dài chờ ở ngoài.
Hỏi ra mới biết là bà phóng viên chuyên viết về món ăn ở Buffalo News tên Janise Orken mới có bài tường trình và giới thiệu về món ăn Việt Nam ở nhà hàng của chúng tôi trên tờ báo. Bài viết nhiều chi tiết về gỏi cuốn, chả giò, phở, thịt nướng… còn khen món bún bò xào là món bà ấy thích nhất nữa.
Thực ra sau một thời gian mở cửa, nhiều người đến ăn thử rồi chuyền miệng nhau nên quán mỗi ngày mỗi đông hơn, nhưng chưa bao giờ khách phải xếp hàng.
Cũng từ ngày ấy mỗi buổi trưa chúng tôi phải chuẩn bị giao đồ ăn cho hãng may sớm, để sau đó chuẩn bị cho giờ ăn trưa mỗi ngày vài trăm khách. Hầu hết là luật sư, nhân viên chính phủ ở ngay City Hall và các toà building lớn xung quanh, cứ buổi trưa là họ kéo đến ăn.
Sau này thỉnh thoảng các tờ báo nhỏ ở địa phương như Buffalo Beat cũng đăng các bài viết về món ăn Việt Nam mới xuất hiện như một hình thức nhắc nhở khách hàng. Đến một ngày cô phóng viên của đài truyền hình NBC tại Buffalo ghé quán ăn, order một ly sinh tố bơ, cô uống rồi khen tíu tít, bảo vừa tươi ngon vừa đầy dinh dưỡng (healthy). Hỏi thăm biết nó được làm từ trái bơ tươi, đường, sữa, nước đá… xay chung. Cô đề nghị xin quay phim đưa lên chương trình “Uniqe Food” của đài được trình chiếu mỗi đầu tháng. Trong chương trình ấy lúc quay không chỉ có cách làm ly sinh tố mà nhân cơ hội được lên đài tôi giới thiệu luôn các món ăn khác.
Rồi mạng internet phát triển nhanh chóng, người ta kể chuyện giao lưu trên đó hàng ngày, khen chê đủ mọi chuyện. Quán ăn cũng vậy, ai thích thì khen ai không thích thì chê. Tôi cũng vào google, đọc các lời khen chê của khách hàng, cái nào được khen thì cố làm tốt hơn, lúc bị phê phán chê bai thì phải coi lại, cái nào sửa được thì sửa. món nào đổi được thì đổi, với ước mong khách hàng sẽ hài lòng hơn. Từ đó quán ăn của chúng tôi càng ngày càng đông khách hơn.
Như trên đã nói, tầng dưới của căn nhà chúng tôi đang ở trước đây là cái chợ bị đóng cửa, các thiết bị dù cũ nhưng vẫn còn nằm đó. Tôi gọi thợ đến định giá để tân trang lại, xin phép làm thêm hệ thống bếp nữa rồi mở thành cái chợ Á Đông. Hàng tạp hóa tôi order thẳng từ California của An Hing, Vĩnh Sanh… nên thật rẻ so với các công ty khác tại New York. Chợ chúng tôi lại có cá phi, cá bông lau sống, có thể mua, làm sạch và chiên luôn tại tiệm. Những thành phố đông người Việt, có các siêu thị lớn thì dịch vụ này rất bình thường, nhưng ở Buffalo thì đây là một dịch vụ mới, thức ăn tươi, nóng cung cấp tiện lợi cho không chỉ người Á đông mà các sắc dân khác cũng rất thích.
Buffalo nằm sát biên giới Canada. Từ đây qua Missasuga, Toronto chỉ hơn 1 giờ lái xe. Năm 2001 thì 1 Mỹ kim đổi ra được hơn 1.6 Canada kim, mà một ổ bánh mì thịt ở Canada giá có 1.00; một tô mì vịt, hay cháo cá ở những nhà hàng Tàu có 3.00 – 4.00 mà thôi. Đơn cử một vài thí dụ để biết du khách Mỹ rất thích sang Canada mua sắm, chi tiêu.
Toronto cũng là nơi cư dân Việt-Tàu đông thứ 2 sau California. Đặc biệt về các loại trái cây ở vùng Đông nam Á như: Sầu riêng, vú sữa, na, nhãn, măng cụt, mận chuông… được nhập vào Canada dễ dàng, nên vừa ngon vừa nhiều. Du khách Á châu đến China town của hai thành phố trên rất đông đảo, vừa được ăn đồ ăn rẻ, vừa được thưởng thức nhiều loại cây trái quê mình.
Tuần 2 lần tôi lái xe sang Toronto mua những thứ cần thiết về bán. Xin mách một mẹo nhỏ cho bà con mình khi ghé thăm bên đó, rồi muốn mua chút ít trái cây về làm quà cho người ở nhà, (vì luật lệ ở Mỹ không cho đem trái cây từ nước ngoài vào). Hãy lột hết vỏ rồi bỏ vào các hộp bằng foam, loại đựng đồ ăn to go. Nếu các kiểm soát viên có hỏi thì cứ bảo đó là desert, sẽ cho đi, họ mà thấy còn hình thù trái cây thì tất cả sẽ vào thùng rác.
Ai cũng biết ở Hoa Kỳ thì trên có luật liên bang, mỗi tiểu bang hay thành phố có những bộ luật riêng. Những bộ luật địa phương sẽ không trái với luật liên bang là được. Thí dụ tiêu chuẩn (code) xây nhà của NY sẽ khác với FL, vì NY là xứ lạnh, FL là xứ nóng…
Cũng vậy các hàng hoá về lương thực được bày bán ở NY đôi khi những kiểm soát viên đòi hỏi khắt khe kiểu khác, không giống những tiêu chuẩn ở California. Tôi biết được điều này thì đã muộn. Một năm đôi lần các kiểm soát viên (inspector) ghé thăm, lôi ra nhiều mặt hàng không có con dấu (stamp) của NY rồi phàn nàn không đủ tiêu chuẩn bày bán, yêu cầu lấy xuống khỏi kệ. Rồi càng ngày càng bị chuyện này nhiều hơn, có khi bị phạt tiền nữa.
Tôi tham khảo luật sư rồi khởi kiện. Lý do là hàng hoá đã được kiểm soát bởi chính phủ liên bang khi nhập vào Hoa Kỳ rồi thì không có lý do gì bị từ chối rồi bị phạt tại NY. Đại diện của FDA tại NY không đủ bằng chứng nên bị xử thua kiện. Quan Tòa còn tuyên bố: ông không muốn nhìn thấy việc này xảy ra tại tòa lần nữa. Các giấy phạt bị hủy bỏ. Ông còn mỉm cười bảo tôi: “Chú” cứ về tiếp tục làm ăn.
Độ một tháng sau, trên FDA gửi xuống không phải một người mà 6 người. Họ đi coi từng cái hộp, từng gói bún, quẹt ngón tay tìm bụi… mà tôi gọi là bới lông tìm vết. Những đồ ở Canada mua về thì 1-2-3 vô thùng rác trước. Sau đó hàng tuần có ông hay bà ghé lại trông chừng, áp dụng rất kỹ những tiêu chuẩn của NY. Tôi chán quá nên kêu bán lại hàng hoá rồi đóng cửa chợ. Cái dại lần này là: Dám chống lại các cơ quan công quyền.
Cho chừa cái tật con kiến (đầu đen) mà kiện củ khoai. 
Một ngày đẹp trời vào cuối năm 2002 tôi nhận được thư của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cho biết: Họ sẽ lấy nguyên block đường, trong đó có tiệm ăn của tôi để xây tòa án liên bang tại đó.
Trong số khách hàng ghé tiệm mỗi tuần vài lần có ông Steven là chủ của một tập đoàn luật sư chuyên về địa ốc (The Real Estate Law Firm). Ông và nhóm nhân viên rất thích đồ ăn ở nhà hàng. Trước đây có những việc liên quan đến bất động sản ông đứng ra giúp đỡ mà không tính tiền, chỉ cười bảo: để nhân viên công ty luật của ông đến ăn rồi trừ dần.
Tôi đem việc Federal gửi thư đòi lấy tiệm ra hỏi thì ông trả lời rằng: Hết cách vì đó là luật, chính phủ liên bang họ có quyền trưng mua bất cứ chỗ nào họ muốn. Bây giờ chúng ta chỉ tìm cách bán được giá nào thôi. Ông bảo deal với chính phủ liên bang thì đòi hỏi một luật sư đặc biệt và hứa sẽ giới thiệu cho tôi một công ty luật chuyên trách về vụ này.
Một thời gian ngắn sau liên bang gửi thư trả giá (offer) căn tiệm chúng tôi 125 ngàn, với điều kiện chúng tôi phải có luật sư đại diện, phía chính quyền sẽ không thương lượng (deal) trực tiếp với khổ chủ (owner) huhu.. Trong khi bốn năm trước tôi mua nó 250 ngàn, cộng với tiền sửa chữa và xây dựng thành nhà hàng tốn phi thêm cả trăm ngàn nữa. Rồi bao nhiêu công sức bỏ ra mới có ngày nay, vậy mà…
Khi nghe tin này dư luận xôn xao phản ứng. Hội đồng thành phố Buffalo gửi thư cho Thượng nghị sĩ liên bang Chuck Schumer, đại diện của ông gọi điện thoại trao đổi, sau đó ông gửi một lá thư hứa sẽ can thiệp để việc mua lại tài sản của chúng tôi được công bằng.
Báo Buffalo News, đài truyền hinh cùng loan tin rồi phàn nàn là chính quyền liên bang làm như vậy là không công bằng… Thậm chí có một cha (linh mục) người Mỹ ghé đến tiệm, ông cầm một cái bao thư đưa cho tôi rồi chia sẻ rằng:
– Tôi nghe tin ông bị nạn thật buồn mà không biết làm sao được. Đời linh mục tôi không có nhiều tiền, chỉ có chút đỉnh đây để giúp gia đình ông vượt qua lúc khó khăn này. Tôi trả lời:
– Con cám ơn cha, nhưng chúng con có thể tự lo được. Con nghĩ cứ từ từ rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.
Ngài nhất định gửi cho tôi cái phong bì rồi ra về. Suy nghĩ vài ngày, tôi muốn dùng số tiền 500 đô này gửi về cho cha Chu, một LM gốc Kinh 5 quê tôi, Ngài đang phục vụ một xứ đạo rất nghèo ở Hòn Chông gần cuối nước VN. Tôi ngỏ ý này với cha người Mỹ và Ngài đồng ý. Sau đó cha Chu nhận được và cũng đã biên thư cảm ơn cha Mỹ bên này.
Tập đoàn luật sư Barklay do ông Steven giới thiệu đã liên lạc và đặt điều kiện rằng. Họ sẽ đại diện chúng tôi tranh đấu để lấy được càng nhiều tiền càng tốt. Nhưng bất cứ khoản tiền nào trên 125 ngàn (là giá của chính phủ offer ban đầu) họ sẽ lấy 33%. Tôi không đồng ý và nói lại với ông Steven. Hai người bàn bạc rồi sau đó đổi lại. Barklay Law firm sẽ lấy 15% số tiền từ 125 đến 250 ngàn và 33% nếu đòi được hơn 250 ngàn. Đường nào cũng khốn, cũng khổ, không thấy đường nào lắm mỡ, béo bở!
Tiếp đó tôi mua được cái building ở số 295 đường Niagara St nghĩa là chỉ cách tiệm cũ hai block đường. Chuyện xảy ra như sau:
Chắc nhiều người cũng biết đấu giá là việc mua bán một số mặt hàng mà người sở hữu khó bán trên thị trường, hoặc không chắc chắn được giá trị của tài sản mà mình có, thì họ đem nó giao cho các công ty bán đấu giá. Tiếng anh gọi là Auctioneer. Đây là một dịch vụ mà người đứng làm trung gian mua bán, các Auctioneers kiếm khá nhiều tiền.
Ở Buffalo vì nhà cửa ế ẩm nên công ty Cash Auctioneer còn bán cả các căn nhà mà ngành địa ốc không bán được nữa. Ông Cash là chủ của công ty này, trước đây từng là lính chiến tại Việt Nam, có vợ người Việt và sanh được 2 con. Tôi đi mua đồ auction tại công ty ông nhiều lần nên quen biết.
Lúc ấy khoảng năm 2002, đọc báo thấy công ty Cash Auctioneer sẽ bán đấu giá cái building lớn gần downtown. Tôi đang cần chỗ để di dời nhà hàng của mình nên đến tham dự, nhưng trong lòng không hy vọng sẽ mua được nó, cai building 5 tầng thật lớn nằm trên đường Niagara st ngay lối vào từ freeway 90 là địa điểm tốt, chắc phải trả giá cao lắm mới mua được.
Khi tôi đến nơi đã có khá đông người chờ đợi bên ngoài, sau đó được biết khách hàng và cả ông Cash cũng đang chờ người đại diện bên chủ building đem chìa khóa đến mở cửa,  tiếng anh gọi là preview, coi rồi mới biết mà mua, mà đấu chứ!
Đã qua thời gian ấn định mà chờ hoài không thấy người cầm chìa khóa đến, ông Cash bực bội tuyên bố huỷ bỏ cuộc đấu giá hôm nay.
Mọi người thất vọng lần lượt kéo nhau ra về. Tôi đến khều ông Cash đề nghị:
– Hay là ông bán cho tôi đi?
– Chú em muốn mua hả? Được thôi, chú muốn trả bao nhiêu?
Tôi nhún vai cười:
– Tôi không biết, nhưng phải rẻ.
– 35 ngàn OK? Đồng ý thì theo anh về văn phòng ký giấy tờ.
Mỗi công ty auction có điều lệ (policy) khác nhau, nhưng có một điểm chung là sẽ bán hàng cho người trả giá cao nhất. Khi ký hợp đồng với người bán cũng vậy, người bán phải đồng ý bán cho người trả giá cao nhất, nếu không thì bị phạt, phạt thế nào thì tùy hai bên cam kết lúc ký hợp đồng.
Tôi lái xe theo ông đến văn phòng trên đường Main St cách đó độ 20 phút, trong lòng hồi hộp không biết còn chuyện gì xảy ra nữa không?
Độ tuần lễ sau ông Cash gọi tôi:
– Họ không chịu bán chú em ơi! Nói rẻ quá.
– Rồi sao? Bác. (So, what is next? Brother)
– Chú trả thêm chút nữa được không?
– Nhiêu?
– Thêm 10K nữa, anh sẽ bắt chúng phải bán, nếu không anh hủy hợp đồng và họ phải bồi thường.
– Ok.
Vài ngày sau thì ông Cash gọi cho hay họ đã ký giấy bán. Hãy đem tiền cọc 10% lên bỏ vào escrow rồi kêu luật sư tiến hành thủ tục.
Tôi liên lạc với văn phòng Steven Law Firm và ông Ron Zackem cũng là cựu binh Việt Nam phụ trách case này. Ông hỏi tôi:
– Sao chú mua được giá rẻ vậy? Cái Buiding này theo biểu thuế của thành phố, mỗi năm phải đóng hơn 18 ngàn… tức giá trị của nó phải 6-7 trăm ngàn. Mà giá trị ngoài thị trường lúc nào cũng cao hơn mức định giá của chính phủ?
Hỏi vậy nhưng ông đâu cần câu trả lời, mà tôi cũng ú ớ chả biết trả lời ra sao cho xuôi.
Sau này khi đã hoàn thành giấy chủ quyền, tôi mở cửa đi một vòng. Thì ra chỗ này trước đây là kho lưu trữ các hồ sơ, giấy tờ của thành phố. Bây giờ dân số ít đi, nhu cầu lưu trữ cũng giảm nên công ty chủ di chuyển đi chỗ khác. Bên trong 5 tầng lầu mỗi tầng hơn 10 ngàn sqf, còn nguyên các kệ sắt (shelvers) để xếp hồ sơ. Với hàng ngàn các kệ này thôi nếu phải mua mới cũng tốn cả trăm ngàn.
Một bữa ông Mark là nghị viên thành phố ghé tiệm ăn. Tôi rề đến than thở về tiền thuế nhà đất của cái building này. Tôi mua có bằng đó, định sẽ di dời cái nhà hàng này về chỗ mới, mà sao thành phố tính thuế nhiều vậy. Ông nói:
– Ừ, sao kỳ! Đúng ra thành phố phải giúp chú em chứ. Rồi ông chỉ tôi sang City Hall gặp bà Nancy là nhân viên của ông. Bà ấy sẽ giúp tôi điền đơn, rồi ông ấy sẽ đem ra hội đồng thành phố trong phiên họp tới để giám định, xem xét lại.
Vài tháng sau ông Mark lại đến ăn và cho hay:
– Rồi, bây giờ đã giảm xuống, gia trị cái building (asset value) đó chỉ còn có 250 ngàn thôi.
– Nhưng mà tôi mua nó có 45 ngàn! (Cười cười).
– Hết cỡ rồi chú em. Như vậy mỗi năm chú đóng khoảng 6 ngàn tiền thuế, có 1/3 so với trước đây.
Tôi kêu kiến trúc sư đo đạc, tính toán để dời nhà hàng về đây. Nhưng sau khi achitech vẽ bản blue print thì bên xây dựng đòi cả nửa triệu để biến nó thành nhà hàng. Thấy tốn kém nhiều quá nên tôi lại đi tìm và mua được ở số 3396 đường Bailey một cái building khác nhỏ thôi, lại không có parking, nhưng vì nó là cái nhà hàng cũ nên tiền tân trang sẽ tốn phí ít hơn rất nhiều. Chỗ này theo tôi nghĩ có tiềm năng vì gần cả hai trường đại học North va South Buffalo.
Khi lên xin phép xây dựng tôi đã được sự quan tâm đặc biệt của hội đồng thành phố Buffalo, giám đốc Cơ quan xây dựng (Contruction Dept), giám đốc Sở cứu hỏa (Fire Dept)… Những người này vừa là khách hàng quen biết trong nhà hàng gần City Hall, vừa (có lẽ) cảm thương cho số phận long đong, lận đận của tôi nên chỉ thị cho các nhân viên dưới quyền giúp đỡ tận tình để việc tân trang được dễ dàng và mau chóng.
Đầu tháng 3 năm 2003 tôi khai trương nhà hàng này, trong khi cái nhà hàng trên phố vẫn còn hoạt động đến cuối năm 2003 mới phải giao lại cho chính quyền liên bang.
Khi cả hai nhà hàng hoạt động thì lại vất vả hơn. Phải kiếm thêm người làm, mình thì chạy tới chạy lui hai chỗ. Tiền bán được nhiều hơn chút đỉnh nhưng chi phí cũng nhiều gấp bội nên tính ra tiền lời lại ít đi.
Có điều an ủi là mấy thầy giáo trẻ và các em sinh viên người Á châu đến thăm tiệm ăn, thấy tôi thì chào hỏi chúc mừng: “Congraturation. You made it, man. We will be here everyday”. Mà họ kéo đến ăn gần như mỗi ngày thật.
Chuyện căn nhà  làm  cửa tiệm của tôi bị đòi trưng mua với giá rẻ đơn từ qua lại hoài không xong.
Khoảng tháng 9 năm 2002, BUFFALO SPREE là một nguyệt san khá nổi tiếng, bìa rất nhiều màu và bên trong được in trên giấy láng, phát hành khắp nước Mỹ, có đăng một phần chuyện gia đình tôi.
Có thể câu chuyện của tờ báo ảnh hưởng phần nào đến những người quyết định về giá trị tài sản mà họ sắp trưng mua.
Cuối tháng 10 năm 2003 họ đồng ý trả tôi 250 ngàn. Nếu muốn thêm thì phải đi xuống Albany hầu tòa để được phân xử. Tòa án cách 4 tiếng lái xe. Ông luật sư đề nghị tôi nhận số tiền ấy.
Từ ngày đóng cửa tiệm trên phố, khách trên đó yêu cầu chúng tôi giao (delivery) đồ ăn cho họ, nhưng vì khách dưới này càng ngày càng đông. Một phần mình không giao thì họ cũng vẫn xuống ăn, thay vì trước đây 1 tuần 2 lần còn bây giờ 2 tuần một lần. Thầy cô giáo, các sinh viên, y sĩ ở các bịnh viện, luật sư ở khắp nơi trong thành phố.. đến ăn rất đều. Họ phải đậu xe ở hai bên đường rồi lội bộ đến, có khi đi xa đến ba block đường. Mùa thi tốt nghiệp không chỉ các em sinh viên mà gia đình từ các nơi đến tham dự, tất cả cùng đến thăm quán của chúng tôi.
Phía sau nhà hàng có căn nhà rách nát treo bảng bán. Tôi hỏi mua rồi sửa sơ sơ lại, xong dọn về đó ở. Vợ chồng tôi đi về chỗ làm cho gần gũi, còn các cháu sắp sửa vào đại học đến trường cũng thuận tiện. Tiện nhất là sau mỗi buổi trưa đi bộ về nhà ngơi một giấc trước khi tiếp tục công việc bận rộn vào bữa ăn tối. Điều không tiện là mùa Đông phải chạy máy thổi tuyết từ nhà ra tiệm chừng 50 mét. Một tháng đôi lần lái xe qua Toronto một buổi, ăn uống và mua sắm rồi gần tối chạy về.
Ở Buffalo có thác Niagara Fall là thắng cảnh nổi tiếng, nhưng chỉ vào mùa Hè thôi, mùa Đông vừa lạnh vừa nhiều tuyết đâu có du khách tới nên buồn lắm.
Rồi một hôm có ông khách đến tìm, hỏi mua căn building lớn gần trên phố, cái mà tôi mua được từ auction mấy năm trước. Tôi hỏi:
– Sao bạn biết tôi ở đây?
– Tôi là broker địa ốc kiêm về nhà kho chứa (storage). Tôi phải biết tìm người chủ ở đâu. Hơn nữa nhà hàng 99 FAST FOOD rất nổi tiếng. Muốn tìm là có người chỉ ngay.
Trở lại việc cái building trên phố, tôi trả lời chưa muốn bán. Ông ấy dặn khi nào muốn bán thì gọi cho ông.
Thời gian ngắn sau lại có người gọi hỏi mua. Tôi hẹn cả hai ông dẫn đi coi bên trong rồi về ăn trưa tại nhà hàng và cho biết: Nếu ông nào trả giá cao thì tôi bán. Kết quả:
– Ông gọi sau offer 450 ngàn tiền mặt.
– Ông gọi trước offer 485 ngàn nhưng chỉ có 100 ngàn down payment, phần còn lại sẽ chia làm 10 năm với lãi suất 9.5%. Nhưng phải trả off trong 3 năm. Tôi chọn ông này rồi giao cho ông luật sư Ron Zackem làm thủ tục mua bán và giao kèo nợ nần.
Tháng 10 năm 2006 Buffalo bị một con bão tuyết sớm, gây lụt lội, cúp điện và nhiều thảm họa khác cho vùng này. Xin đọc bài Bão Tuyết ở Buffalo tôi đã tường trình vào năm ấy.
Giáng Sinh năm 2007 chúng tôi đóng cửa tiệm nghỉ Đông và xuôi Nam một chuyến. Cả gia đình đi NY, Washington DC rồi ghé Atlanta và Orlando. Mùa này ở Buffalo thì tuyết rơi lạnh lẽo, đi lại bất tiện khó khăn, vậy mà ở Orlando trời đẹp vì nắng ấm, cây cỏ tốt tươi. Ở khách sạn các cháu xuống hồ bơi tắm cả tiếng không thấy lạnh lẽo gì.
Nhà tôi mắc bịnh suyễn, ở xứ lạnh lâu nay cứ bị tức ngực khó thở hoài. Thế là chúng tôi tìm đường về sống tại Orlando.

Hồ Nguyễn


Chuyện Ma Nhà Thương Mỹ: Âm Dương

vvnm.vietbao.com

Trân Nguyên

03/11/2006

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Trân Nguyen là tác giả đã nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ 2006. Cô sinh năm 1970, cư dân Monterey Park, Nam California, nghề nghiệp:  y tá, siêu âm.  Bài mới lần này là chuyện ma tại một bệnh viện Mỹ ở Los Angeles.

Bước vào thế kỷ 21 rồi, khi mà thế giới khoa học kỹ thuật tân tiến đến độ hầu như giải thích được tất cả mọi sự vật, hiện tượng trên vũ trụ này… mà còn ngồi kể chuyện ma quỉ thì thật là khôi hài! Nhưng nói gì thì nói, trên đời vẫn có những chuyện không ai cắt nghĩa được.

Đó là một tòa building 4 tầng cũ kỹ nằm ngạo nghễ giữa đất trời East Los Angeles tính đến nay đã hơn 100 năm. Vùng đất đó ban đầu đa phần là người Mễ đến lập nghiệp, họ lam lũ và sống bằng nghề tay chân. Một ngày kia có một bác sĩ người Đức đã đến đây,  lập ra bệnh viện này, cứu biết bao nhiêu là người và cùng họ vượt qua bao phen nhọc nhằn, khốn khó.

Trải qua bao nhiêu vật đổi sao dời…bệnh viện STMT vẫn ngất ngưởng hiên ngang giữa trời cao đất rộng. Tuy bề ngoài trông rất là cũ kỹ, nhưng  đó chính là một di sản văn hóa vô cùng quí, ngày nay bên trong hoàn toàn đã được trùng tu với tất cả những thiết bị y khoa tân tiến nhất để đáp ứng nhu cầu mới của con người thời đại…Thế nhưng những câu chuyện hoang đường cổ xưa vẫn mỗi ngày khơi dậy óc tò mò của cư dân vùng này, nhất là với người Việt Nam vốn thích nghe chuyện ma.

Năm đó ra trường tôi về làm việc ở đây, nửa hoang mang nửa hiếu kỳ khi nghe người ta rĩ tai nhau: Bệnh viện này…ma dzữ lắm!! Tôi  làm ca từ 3h chiều đến 11 rưỡi khuya, cái thời khắc mà tòa nhà cứ như lạnh hơn, rợn hơn khi người bệnh đắp chăn đi vào giấc ngủ và cất tiếng thở đều. Chiếc đồng hồ trên tường cứ nghe rõ mồn một tích tắc, tắc tính và vạn vật cứ âm u dưới cái thứ ánh sáng lờ mờ của nhà thương, ai nấy đều gượng nhẹ, lặng lẽ đến đáng sợ…..

Nhà thương này đã cũ kỹ rồi, lại còn lọt tỏm giữa bốn bề nghĩa địa.  Ai đi qua East Los Angeles khoảng giao điểm của freeway 60 và710, từ trên freeway nhìn xuống là thấy ngay những mộ phần của người trung cổ được dựng cao sừng sững. Đó là nơi an nghỉ của những đại gia tộc giàu có ngày xưa, người ta đã cất giữ tro cốt trong một tòa “lâu đài” nho nhỏ, công phu và đầy bí tích. Còn thường dân thì nằm đều đặn, cao thấp, lớn nhỏ rải rác khắp nơi với những tấm bia chống đứng thẳng tắp, khác với lối chôn cất của đa phần người ở đây là tấm bia được đặt dọc trên lối đi,…nên nhìn vào người ta chỉ thấy những quả đồi thơ mộng, rực rỡ hoa hồng dưới ánh nắng mặt trời không hề thấy âm khí của một nghĩa trang. Tôi vốn tính nhát gan, lại làm chung với một bà “thỏ đế” là cô Anh người Việt Nam bên khoa hô hấp. Mới vô làm đã nghe bả bỏ nhỏ:

– Ma dữ lắm Gigi ơi, mà ngay giữa ban ngày ban mặt luôn kìa, con mới vào nên không biết đó thôi, cô làm ở đây hơn 10 năm nên rành quá rồi.

Tui tò mò:

– Mà cô có thấy chưa”

Cổ trợn mắt:

– Thấy chớ sao không thấy. Biết Dr Bansal Ấn Độ không” Buổi trưa “taking a nap” trên giường đàng hoàng, nửa tiếng sau thức dậy “hạ thổ” hồi  nào không biết.

Tôi cắt ngang:

– Chắc ổng trực gác dữ quá, tâm thần suy  nhược nên lẫn lộn đó thôi cô ơi. Bên Mỹ này làm gì có ma.

Cổ chưa chịu thua:

– Không tin hở” Ông Dr Marshak dê sồm kìa, cũng đang ngủ gà ngủ gật nửa đêm trong phòng cấp cứu, bị con Mễ tóc vàng ngồi lên đùi…rồi…sao đó…bị nó hất lăn kềnh xuống đất, mắt kiếng văng ra mấy thước. Ổng la ú ớ “girl, girl lượm giùm cái mắt kiếng,” mà người ta chẳng nhìn thấy ai xung quanh hết cả.

Hai cô cháu đang xầm xì, thì thằng Henry người Phi từ đằng sau “bò”  tới…. Hù một phát thất kinh, biết hai người đang nói chuyện gì. Nó tinh nghịch hỏi:

– Annie (cô Anh) chừng nào tới phiên bà”

Cô Anh chửi:

– Tới phiên mày trước thì có…

Nó phùng mang, trợn má:

– Bộ tui chưa kể với you guys hả” Mới tuần rồi trực đêm nè, gần sáng không có người bệnh, tui tri mền leo lên bàn ngũ. Hai tiếng sau phòng cấp cứu gọi, tui mở mắt thấy mình đang nằm dưới đất, chăn vẫn được đắp cẩn thận, còn cái phone thì cũng được đem xuống đặt cạnh một bên, công nhận con ma này….chu đáo thiệt…nó biết mình đang trực mà, chuyện lạ là tui rờ “lại mình mẩy” chẳng thấy chỗ nào bầm đau hay trầy trụa gì ráo trọi, mới biết mình được “ẳm” xuống nhẹ nhàng lắm, con ma này chắc…con gái!

Nó cười ranh mãnh, thằng Henry này nổi tiếng quỷ quái  mà, nó mà nói thì không biết có mấy phần là thiệt đây (“) chỉ biết là bọn con trai ở nhà thương này biết con gái nhát gan, nên cứ dọa ma suốt ngày, tụi nó còn nói:

– Ma ” Mỹ” có gì đâu mà sợ…đâu có mặc đồ đen xõa tóc, cũng đâu có khóc lóc tỉ tê… chỉ mặc T-shirt, nhe răng cười, rung đùi ngồi ăn hambuger, tụi này gặp hoài …ở trên lầu 2. (“)

Tụi này quái quỉ thiệt, nhưng cũng nhờ tụi nó mà… những đêm trực phòng cấp cứu không còn dật dờ khó qua nữa, nhờ những câu chuyện ma 1001 đêm, kể hoài không chán. Đêm càng thanh vắng, câu chuyện càng ly kỳ, hấp dẫn… Đêm đó, phòng cấp cứu tiếp nhận một ca trợt chân bể đầu vào lúc 3h sáng, bà cụ 80, có lẽ vào phòng vệ sinh lúc nửa đêm. Bà Mỹ đen tay chân, nhỏ thó, co quắp đau đớn, thiệt là tội nghiệp… bác sĩ đề nghị chụp hình chụp hình cast. Scan sọ não. Anh chàng Danilo người Đại Hàn một cây “lí lắc” đứng làm ca đó, tụi tui đứng quanh trợ giúp. Nó nâng đầu bà cụ lên gượng nhẹ, tháo khăn quàng cổ….đưa vào máy scan, luôn miệng xuýt xoa:

– Chịu khó một chút honey, God bless you, God bless me.

Liệu trình hoàn tất, bác sĩ Bansal nhíu mày:

– Không ổn rồi, chấn thương sọ não phải đưa ngay về USC chuẩn bị “đại” giải phẫu (nơi tôi làm không có phương tiện phẫu thuật phức tạp này).

Ambulance hụ còi…Thủ tuc chuyển viện hoàn tất thì đã gần 4h sáng, mọi người mệt lả, Danilo nằm gục trên bàn lơ mơ, thì…..bà cụ quay lại đòi chiếc khăn quàng cổ, mà Danilo đã cởi ra cho bà lúc làm cast scan, vì “ngoài trời lạnh quá!” Anh chàng lật đật ngồi dậy liền…nhưng bà già đã bỏ đi đâu mất.. nó chụp vội cái khăn chạy ào ra cửa tìm nhưng hành lang vắng tanh không một bóng người qua lại. Mệt mỏi, nó lững thững quay vào ngủ tiếp. Tới chừng sáng thức dậy mới hay được, người bệnh đã từ trần trên đường đi….lúc đó…4h thiếu 10 sáng, ngay đúng giờ khắc bà cụ trở về đòi lại chiếc khăn (!”).

Danilo mặt mày tái mét không còn giọt máu, nhưng ai mà biết nó sợ quá hay đêm rồi nó thiếu ngủ. Tên này cũng là tổ sư nói phéc và hay kể chuyện tiếu lâm. Nên ai cũng bán tính bán nghi câu chuyện nó kê.

Trong khoa chỉ có ông xếp người Phi tên Ademin là nghiêm nghị nhất. Ít bao giờ thấy ông bông đùa, nói giỡn nhưng ông rất tốt bụng, hiền hòa và hay làm từ thiện. Một hôm, ông giúp đỡ nhà thờ phát động  chương trình “vì tương lai của những cô nhi hiếu học”  ở bên Philipine, tài liệu hình ảnh, chương trình được soạn thảo rất công phu, nhưng kết quả hoàn toàn ngược lại…. cả ngày trời gặp gỡ, chào hỏi, rao giảng đến phờ cả người, cũng không mấy ai quan tâm, thậm chí họ còn xua đuổi ông. Mệt mỏi ông ngồi phệch xuống ghế đá, băn khoăn suy tính làm sao để đạt được kết quả khả quan nhất… thì có một người bệnh đi đến ngồi xuống bên ông, gương mặt đầy vẻ nhân từ: ông Sarmiento, Steven. Hai người cười với nhau chào hỏi, họ trao đổi với nhau bằng tiếng tagalog và cùng nhau thảo luận về đề tài học vấn của trẻ em Phi  ra chiều tâm đắc lắm. Cuối giờ, ông Sarmiento từ giã trở về phòng, không quên căn dặn ông xếp “Chủ Nhật nhớ đến đúng địa chỉ này ở thành phố San Dimas, sẽ có nhiều người Phi tụ họp ở đó, họ sẽ giúp ông hoàn thành ý nguyện.”

Trời đã tối, ông sếp cũng hấp tấp đi về mà quên hỏi số phòng của người bạn già khả ái kia.

Chủ Nhật, sau khi hát lễ nhà thờ xong, ông hăng hái chở vợ tìm đến địa chỉ kia, quả thật có nhiều người Phi đang tụ họp ở đó, gương mặt ai cũng đầy vẻ thánh thiện và trang nghiêm… Ông đậu xe bên đường chạy lại thăm hỏi đồng hương và trình bày về chương trình cứu trợ cô nhi ở đất nước ông. Kết quả bất ngờ, họ ủng hộ nhiệt liệt ông, họ xiết chặt tay  thân ái cám ơn việc làm tốt của ông, làm ông rất khích lệ đến không cầm được nước mắt.

Trước khi ra về, mọi người tha thiết mời ông sếp và vợ ở lại dùng bữa. Hôm nay người ta “cúng thất” cho một người thầy kính mến vừa mới qua đời tên… Sarmiento.  Đứng trước di ảnh của người quá cố ông sững cả người đến không nói được thành lời, đó chính là người ông vừa gặp tuần trước ở sân bệnh viện và đã mách bảo với ông về địa chỉ này. Và ngày giờ ông gặp cũng đúng vào lúc ông cụ từ giã cõi đời.

*

Chao ôi, người đã đi rồi vẫn còn quyến luyến và lo nghĩ cho nỗi khổ thế gian, cố nấn ná lại làm thêm chút việc cho người, cho đời… thân thể đã buốt lạnh nhưng con tim vẫn con ấm nóng. Vậy thì sao người còn lại ở đời có thể ngoảnh mặt làm ngơ trước những cảnh thương tâm, những con người khốn khó, những cô nhi tội nghiệp”

Ông Sarmiento ra đi chẳng để lại tài sản gì và mai này chúng ta ra đi cũng chẳng mang theo được những gì. Tất cả sẽ trở về với cát bụi cả thôi. Chỉ có linh hồn cao quí là trường tồn mãi mãi.

 Giờ này chắc ông Sarmiento đang khẳng khái, mạnh dạn bước vào nước thiên đàng, bởi những việc làm khi còn sinh thời đã khiến ông thanh thản, không còn vướng mắc gì. Đừng sợ người chết và hãy yêu hơn những người còn sống quanh ta. Vì họ cho ta được những khám phá về thực tại và về chân lý, cho ta mỗi ngày vun trồng đức nhẫn nại, lòng bao dung và niềm hy vọng….

Người chạy xe ôm bến Ninh Kiều

vietbao.com

02/08/2024

Nguyễn Vĩnh Long

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

(Ảnh minh họa – nguồn: internet)

Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn nhẹ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với gia đình người bạn thân ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm… Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cảchương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước. Bến nước Ninh Kiều còn có một đội ngũ đò máy cho khách du lịch thăm viếng chợ nổi Cái Răng, những khu sinh thái nhà vườn và các cù lao, cồn vùng lân cận… Trong tiếng động của nhịp sống chung quanh tôi thấy thật gần gũi, quen thuộc nhưng cũng có chút gì đó ngập ngừng, bỡ ngỡ. Trên đường ồn ào xe máy, dưới sông rộn ràng ghe đò tạo khu công viên bến Ninh Kiều mang hình ảnh đặc trưng của một thành phố đô thị miền tây.

Loáng thoáng đã gần năm mươi năm, tôi trở lại nơi này. Trưa ngày mùng bốn Tết năm 1978 là lần đầu tiên tôi ghé Tây đô. Mùi hương khói tỏa, màu vàng của những chậu cúc và mai vàng vẫn còn cùng khắp những con đường. Bến đò Ninh Kiều thưa thớt, trống vắng vào mấy ngày mùng. Không khí Tết tuy trầm mặc nhưng vẫn phảng phất đâu đó cuộc sống đời thường đang trỗi dậy chung quanh. Tôi tìm đến bến đò đi về thị xã Vị Thanh, để gặp người anh thứ ba của nàng. Như đúng lời hẹn ước, anh ấy đón tôi xuôi dòng kinh xáng Xà No để gặp cô em gái mình trên mảnh đất mà họ đã cùng nhau lớn lên. Khu gia binh ngày nào bây giờ đã giải tỏa chỉ còn khoảng đất trống, lau sậy mọc hoang “giậu đổ bìm leo”. Hai anh em đưa tôi đi qua căn nhà bên dòng kinh xáng, mấy quán cà-phê dọc theo hồ sen nằm giữa lòng thị xã, chợt ngậm ngùi tiếc nuối cho ngày tháng thoáng trôi.            

– “Ông anh đi xe ôm hông?… Tui lấy giá thiệt hữu nghị…”

Tiếng mời hỏi quanh đây, kéo tôi trở về thực tại. Tôi quay lại, người đàn ông khắc khổ đội chiếc nón vải, cười nhe cả hàng răng cái mất cái còn. Tôi chưa kịp lắc đầu từ chối, người đàn ông nói vội:           

– “Cả ngày ế ẩm… ông anh đi một cuốc giúp tui nghen”.
Thật là khó đoán tuổi của người chạy xe ôm. Không trẻ hơn và cũng không quá già hơn tuổi tôi, dù trên khuôn mặt anh in hằn nhiều vết nắng gió bụi đường. Mấy món đồ lưu niệm để chập tối hoặc mai mua cũng còn kịp. Nhưng nhớ lời “căn dặn” nhiều lần của bà xã, “đi đâu phải bằng taxi, nhất định không được đi xe ôm. Rất nguy hiểm”. Nếu biết tôi liều mạng, không “nghe lời” chắc chắn là bà ấy sẽ giam lỏng tôi suốt chuyến đi còn lại. Nhìn ánh mắt, khuôn mặt người đàn ông chạy xe ôm, lòng tôi lại thương cảm. Thôi đành dối vợ lần này, nhưng bây giờ thì tôi chưa biết phải đi đâu? Tôi ngập ngừng, nói thật:
– “Muốn đi giúp anh… Nhưng thiệt tình tui hổng biết đi đâu?”           
– “À… nhìn là biết ông anh là khách du lịch. Để tui chở ông anh đi vòng quanh Cần Thơ cho biết. Tui lấy rẻ 110 thôi”.           
Mắc hay rẻ tôi nào biết, chỉ gật đầu cười. Thoáng ánh vui mừng trong mắt, anh đưa tôi chiếc mũ bảo hiểm. Cũng như anh, chiếc xe không mới cũng không cũ. Người và xe cứ như hai đôi bạn dạn dày mưa nắng của thời gian.           
– “Tui chở ông anh đi đại lộ Hòa Bình, qua tòa nhà ủy ban nhân dân tỉnh, công viên Lưu Hữu Phước. Lòng vòng đường Lý Tự Trọng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Đình Chiểu… rồi mình qua khu dân cư Hưng Phú, nam đô thị mới của thành phố Cần Thơ… cho biết”.           
– “Dạ… Anh cứ chạy tới chỗ nào đẹp, nổi tiếng của Cần Thơ là được… Anh chạy xe ôm lâu chưa dzậy? Vợ con, gia đình anh ở đâu?” Tôi bắt chuyện, khi chiếc xe ôm rời khỏi bến Ninh Kiều.           
– “Chạy xe ôm cũng tầm 10 năm rồi ông anh. Nhà cửa tui ở bên kia Xóm Chài. Hai vợ chồng tui có ba đứa, hai gái một trai. Tụi nó lớn hết rồi…”

Rồi anh chuyển qua giới thiệu cảnh quang hai bên đường. Thành phố Cần Thơ như khoắc lên người chiếc áo mới, vừa lộng lẫy lại vừa vừa lem nhem đến lạ lùng. Những con đường chen chúc con người, xe cộ ngột ngạt mà hầu hết là thế hệ trẻ, dưới tuổi bốn mươi. Chạy lòng vòng một lúc, khi qua khỏi công viên Lưu Hữu Phước, hướng về ty bưu điện thì trời đang nắng bỗng lất phất mưa. Anh hỏi tôi có cần áo mưa không, sẽ dừng lại. Tôi nói không cần, nhưng cảm thấy chừng như anh run nhè nhẹ và sôi bụng. Anh đang đói hoặc ăn quá ít bữa trưa? Nói anh ghé vào quán ăn nào đó dọc đường, tôi làm như mình cũng đói và tìm chút gì lót dạ. Anh liền cho xe vào con đường nhỏ (hình như là Ngô Văn Sở) có nhiều hàng quán dọc bên đường. Tôi mời anh vào ăn chung cho vui, có bạn.

Một dĩa cơm thịt nướng bì trứng và chén canh cải ngọt cho anh, tô bún nước lèo cho tôi. Lúc này thì không còn e ngại nữa, anh ăn thật ngon lành. Tôi nhìn anh rõ hơn, ốm cao và ngoài hàm răng chiếc còn chiếc mất, khuôn mặt anh rắn rỏi đường nét. Tóc nhiều cứng dợn cao, đôi mắt sâu dù có mờ sương gió vẫn còn đó nét sáng rạng chập chùng. Tôi nghĩ, lúc còn trẻ chắc chắn anh rất sáng sủa, đẹp trai.           
– “Rồi vợ con anh làm gì? Mấy cháu có gia đình con cái gì chưa anh?”           
– “Vợ tui trước làm phụ nấu cho nhà hàng, lương cũng khá lắm. Có lần qua phà vấp té, bể xương hông chậu, nay bả đi đướng khó khăn nên nghỉ làm”!

Bên ngoài trời đổ cơn mưa lớn… Anh xuất thân con nhà nghèo ở Xóm Chài, năm lớp 10 phải nghỉ học đi làm phụ giúp gia đình. Gặp chị, vừa đẹp vừa là con gái nhà buôn bán khá giả ở Phụng Hiệp. Hai người yêu nhau thắm thiết. Ba má chị ngăn cấm vì thấy anh nghèo, không tương lai. Nhưng chị quyết tâm một lòng yêu thương anh, về làm dâu Xóm Chài mặc cho gia đình quay lưng từ bỏ… Giọng anh kể ngập ngừng, khó nhọc.           
– “Tui làm mọi nghề, đụng đâu làm đó. Đến nay vẫn chưa lo cho bả được một lần ăn ngon mặc đẹp. Nói thiệt với ông anh, nhiều khi tui hổng dám về nhà nhìn mặt vợ con”.
Tôi thấy đôi mắt anh đượm buồn, sũng nước. Ly trà đá trong tay anh cũng run nhẹ. “Thấy tui làm quần quật, bả đòi đi làm nhưng cả nhà đều cản. Sợ có chuyện lần nữa, tiền đâu lo thuốc thang… Tháng trước bả nhận đan giỏ bện lục bình tại nhà. Hổng bao nhiêu tiền nhưng cũng đở tù túng tay chân…”, mắt anh Nhân (tên anh) dù buồn nhưng tràn ngập yêu thương mỗi lần nhắc đến vợ. Không hiểu sao, tôi muốn được nắm tay và ôm anh với lòng ngưỡng mộ. Có lẽ đã lâu lắm rồi tôi mới nhìn thấy được ánh mắt, được tấm chân tình của tình yêu. Tình yêu thật đẹp và quý giá có thật, đang hiệu hữu trước mặt tôi, của người chạy xe ôm ở bến Ninh Kiều.           
– “Thằng con trai lớn làm thợ hồ chánh công trường, lương hướng rất khá. Mấy năm trước bị đá đè, gãy một chân mặt. May mà người ta thương, vẫn còn cho nó làm bảo vệ. Lương ít ỏi nhưng vẫn hơn thất nghiệp nằm nhà”.
Sợ anh chạnh lòng nhiều hơn, tôi hỏi lãng sang chuyện khác: “mỗi ngày chạy xe ôm anh kiếm được bao nhiêu?”. “Thời taxi đầy đường, trừ xăng dầu tiền bến kiếm được sáu, bảy chục là mừng. Nhằm bữa ế ẩm, chạy xe không còn lỗ cả tiền xăng…”, anh cho biết. Lúc trước anh còn ráng chạy thêm ban đêm, nhưng mấy tháng trở lại đây hổng dám nữa vì nạn cướp bóc hoành hành. Nhiều bạn chạy xe ôm ban đêm, mất tiền mất xe và đôi khi mất cả luôn mạng. Rồi anh tâm sự tiếp về hoàn cảnh gia đình mình:           
– “Đứa con gái kế làm công nhân ở Bình Dương, đủ ăn đủ mặc. Lâu lâu cũng gửi dzề vợ chồng tụi chút đỉnh. Còn con út tui thì lấy chồng xa… Được cái, mấy đứa nó thương vợ chồng tui lắm…”
Bên ngoài trời cũng bớt mưa, tôi hỏi anh thức ăn ở đây có ngon không? Anh cười, “cơm chỗ này là nhứt rồi”! Tôi gọi thêm 3 phần cơm để anh mang về. Anh ngại ngùng từ chối, rồi cũng nhận với lời lúng túng cám ơn.           
– “Chắc ông anh là Việt kiều phải hông?”           
– “Hông… tui là dân buôn bán trà ở Đà Lạt”, tôi đành phải nói dối anh cho qua chuyện.  Điện thoại di động của tôi rung liên hồi trong túi. Chắc bà xã đang gọi, gần năm giờ rồi. Tôi nói anh Nhân chở tôi trở lại bến Ninh Kiều. Trên đường về anh trầm ngâmvà ít nói hơn. Sau cơn mưa không khí những đường phố Cần Thơ trở nên dễ chịu và thơm mùi đất mới. Có lẽ cũng như tôi, anh đang cố sắp xếp lại câu chuyện anh và tôi gặp gỡ, để về kể lại cho vợ con nghe. Rồi chừng như tôi cũng ngồi im lặng phía sau không biết nói gì thêm. Chiếc xe ôm chạy rong ruổi trên những mặt đường, còn tôi và anh đang bên nhau chạy mênh mông trên những mặt đời nghiệt ngã.
Tôi nhắc anh để tôi xuống hơi xa khách sạn, phòng khi bà xã bất ngờ bắt gặp. “Ông anh cho bao nhiêu cũng được… Hổng cần trả cũng hổng sao…”, anh nói lí nhí khi tôi đưa lại chiếc mũ bảo hiểm. Tôi nhìn anh cười nhẹ, rồi móc túi quần gom hết món tiền bà xã đưa tôi dằn túi nhét trọn vào tay anh, “anh Nhân nhớ lấy tiền mua cho chị nhà vài bộ đồ mới cho đẹp nghen”! Anh nhìn tôi ngẩn người. Không để anh khó xữ, tôi định quay đi, thì nghe anh nói nhanh:
– “Dạ, cảm ơn ông anh thiệt nhiều. Nhưng chắc hổng dám lấy tiền mua quần áo đẹp cho bả đâu..!”. Giọng anh nghèn nghẹn, xót xa: “Đứa con gái út, tui nói nó lấy chồng xa… Thiệt ra nó đi lấy chồng Đài Loan, rồi chết vì tai nạn giao thông bên đó. Vợ chồng tui phải chắt mót dành dụm, để trả nợ số tiền mang hài cốt nó về nhà mấy tháng trước…”
Tôi khựng người, chợt nghe trái tim mình như đang bị ai bóp nghẹn. Không dám quay lại nhìn anh, tôi cố bước chân đi thẳng và thấy lòa nhòa công viên màu nắng tắt. Số phận đời người sao cứ như cơn gió thoảng vô tình! 

Rồi anh sẽ qua chiếc phà về bên kia Xóm Chài, với cuộc đời mỏi mòn còn lại. Rồi tôi sẽ trở về bên kia xứ lạ, một đời đầy vơi kiếp sống tha hương. Anh có thể quên tôi, một người khách trên chuyến xe ôm giữa muôn vàn dòng người tất bật. Nhưng chắc chắn tôi sẽ không quên anh, chuyến xe chở cả một trái tim sâu thẳm, một cuộc đời có thật của người đàn ông chạy xe ôm ở bến Ninh Kiều. Buổi chiều như một nốt nhạc trầm buồn, chảy vàng vọt trên dòng sông quê hương tôi muôn thuở…

Durham, North Carolina

Nguyễn Vĩnh Long

María Dos Prazerès

vanviet.info

Gabriel García Márquez

Văn 29 Tháng Mười Hai, 2018

Trần Vũ chuyển ngữ *

Post by Sơn râu 14 Oct 2024

Lời người dịch:

Nổi tiếng với tiểu thuyết Trăm năm cô đơn, sức mạnh của Gabriel García Márquez nằm trong cách xây dựng khí hậu truyện dựa trên một giọng văn miên man, vừa bí mật, đầy êm đềm cùng lúc hoang đường. Trong thể truyện ngắn, Márquez đạt đến sự tinh lọc với những chi tiết được chọn lựa kỹ lưỡng. Ưu điểm chính của María Dos Prazerès nằm trong nhân sinh quan của truyện, vẽ lên một kiếp người phải chung chạ với thần chết đầy hiu quạnh. Kể từ thập niên 2000, Márquez bắt đầu phải nghe những tiếng chuông gọi hồn của giới phê bình: “Tiểu thuyết hiện thực huyền ảo đang giãy chết!” Sang đến đầu thế kỷ 21, đọc lại María Dos Prazerès của nhà văn này, người đọc chỉ có thể đồng ý với tác giả: Con người đang chết mòn mỏi trong đời sống thực tế bây giờ, và thủ pháp huyền ảo cho phép mở rộng biên giới của hư cấu. Khác các nhà văn Hiện sinh, Márquez, thủ lĩnh của trường phái huyễn ảo Nam Mỹ kế thừa Horacio Quiroga, Jorge Luis Borgès, Jorge Icaza không khảo sát mà suy diễn phần không thể chứng minh của con người: phần ảo giác.

Bản dịch Việt ngữ đánh mất một phần cú pháp đặc trưng của Márquez thường xuyên xếp các mệnh đề trong thể phủ định cạnh nhau, nhằm xác quyết một nội dung ngược lại mà khả năng người dịch đã không tái tạo được hết.

***

Nhân viên mai táng đến thật đúng giờ khiến María Dos Prazerès còn khoác áo choàng tắm và đầu gắn các kẹp tóc, chỉ kịp giắt một đoá hồng đỏ lên vành tai để không xuất hiện quá ít quyến rũ như bà đang ấn tượng về chính mình. Bà càng hối tiếc về cách trang phục của mình khi mở cửa trông thấy thay vì một lão chưởng khế u ám, như bà vẫn hình dung về bọn lái buôn của thần chết, lại hiện ra một thanh niên trẻ có vẻ nhút nhát, mặc đồ lớn kẻ ô và thắt cà vạt in hình chim cò sặc sỡ. Cậu trai không choàng áo nỉ dù thành phố Barcelone chỉ vừa chớm xuân mà những trận gió phẩy mưa gây ẩm lạnh còn khó chịu hơn cả mùa đông. María Dos Prazerès đã tiếp nhiều đàn ông ở mọi giờ giấc, cảm thấy hổ thẹn dù hiếm khi bà biết đến xấu hổ. Dù đã bảy mươi sáu xuân xanh và đang sống với niềm tin chắc nịch là thần chết sẽ đến đón bắt mình đi trước Giáng sinh, bà đã tính khép cửa, dợm khẩn cầu nhân viên huyệt đất vui lòng chờ đợi chốc lát, cho bà đủ thời gian thay đổi xiêm y để đón khách đúng cung cách. Nhưng rồi bà lại nghĩ cậu trai có thể nhuốm lạnh trên bậc thềm tăm tối, và bà quyết định mở cửa.

– Tha lỗi cho tôi trong y phục của loài dơi, vì sống ở thành phố Catalogne này năm mươi năm nay, lần đầu tiên tôi chứng kiến một kẻ đến đúng giờ.

Bà phát âm thổ ngữ Catalan tuyệt hảo, với giọng trong pha ngữ điệu xưa, dù phảng phất chút ngữ âm của tiếng Bồ Ðào Nha mẹ đẻ. Tuy đã cao tuổi và đang đeo nhiều kẹp sắt dùng cuốn tóc, bà vẫn giữ được thân thể dong dỏng đầy sống động của những phụ nữ lai đen có bộ tóc cứng và ánh mắt vàng dữ dội, cho dù đã từ rất lâu bà đánh mất hết lòng trắc ẩn dành cho đàn ông. Nhân viên tiếp thị tống táng, hãy còn chói mắt vì ánh sáng bên ngoài, không bình phẩm điều gì mà chỉ cẩn thận chùi chân lên tấm thảm lót ở lối vào trước khi hôn lên tay bà bằng một động tác cung kính.

– Cậu em! Cậu thật sự là một đàn ông mà thiên hạ không còn đẻ ra được nữa! María Dos Prazerès phá ra cười. Tiếng cười của bà reo vui tựa các khánh chuông. Ngồi đi cậu em!

Tuy hãy còn ít kinh nghiệm trong nghề, cậu trai cũng đủ vốn liếng giao tế để biết khách hàng không tiếp đãi nhân viên nhà đòn vào giấc tám giờ sáng, lại càng ít nồng nhiệt nếu đó là một đầm già hết độ lượng, mà thoạt nhìn, mang dáng dấp của một ả điên vừa trốn khỏi Nam Mỹ. Cậu đứng chôn chân ở ngạch cửa không biết phải mở đầu cách nào, trong lúc María Dos Prazerès đi kéo các tấm rèm may bằng nhung xanh dầy. Ánh sáng dịu của tháng Tư vừa đủ soi căn buồng khách được bày biện khá tỉ mỉ gần giống với tủ kính của một hiệu đồ cổ. Các vật dụng hàng ngày, không quá nhiều hay quá ít, mà mỗi vật dường như được đặt vào đúng vị trí tự nhiên với khiếu thẩm mỹ chắc nịch mà sẽ khó lòng tìm thấy ở một ngôi nhà nào khác cũng được chăm sóc kỹ lưỡng đến vậy, ngay cả ở một thành phố cổ xưa và kín đáo như Barcelone.

– Xin lượng thứ, tôi đã nhầm số nhà. Cậu trai lúng túng.

– Ôi dào. Tôi cũng muốn thế, nhưng thần chết không lầm lẫn đâu. Bà phản đối.

Mai táng viên mở ra trên bàn một tập giấy sặc sỡ tựa tấm bản đồ hàng hải, chia làm nhiều ô màu sắc, mỗi ô vẽ đầy các chữ thập có đánh số. María Dos Prazerès hiểu đó là sơ đồ chi tiết của nghĩa trang rộng lớn Montjuich, và bà vụt hồi tưởng lại với một hãi hùng đến từ hố thẳm của thời gian. Thời kỳ ở Manaus [1], dưới những trận mưa rào tháng Mười lũ kiến lửa đã bò lên các mộ chí vô danh và vào trong lăng tẩm những kẻ phiêu lưu mà vòm kính còn quàng vải tang kết bằng sa-tanh. Một buổi sáng, thuở ấu thơ, bà đã chứng kiến vùng Amazone ngập lụt hoá thành một đầm lầy hôi thối, trôi nổi trong sân nhà bà đầy những quan tài rạn nứt lủng lẳng các mẩu vải và vài lọn tóc của những kẻ xấu số. Hồi ức ấy đã khiến bà quyết định chọn lựa, hầu an giấc trong êm đềm, ngọn đồi Montjuich thay vì ở nghĩa địa nhỏ San Gervasio, tuy sát ngay cạnh và quá quen thuộc.

– Tôi muốn một ngôi đất không bao giờ lụt nước. Bà yêu cầu.

– Vậy thì, chỗ này, cậu trai trỏ một vị trí trên sơ đồ bằng cây thước xếp lấy từ túi áo, hình thể giống một cây viết sắt. Không mặt biển nào trên thế gian có thể dâng cao lên đến đây.

Bà tìm phương hướng trên bản đồ giống một bàn cờ hoa hoè, nhìn ra cổng chính với lối vào kề bên ba ngôi mả sát vách, giống y nhau, không tên tuổi, nơi chôn Buenaventura Durruti [2] và hai lãnh tụ phiến quân bị giết trong nội chiến. Hàng đêm, bàn tay của kẻ nào đó viết lại tính danh của người đã chết trên bia mả bằng chì than, cọ sơn, bút kẻ lông mày, bằng cả thuốc móng tay, theo đúng thứ tự và không thiếu một mẫu tự, rồi rạng sáng hôm sau gác dan nghĩa địa lại xoá đi để không ai biết đến tên người nằm dưới đất. María Dos Prazerès đã dự tang lễ hạ huyệt Durruti, đám ma gây xôn xao và buồn bã nhất thành Barcelone, nên bà muốn nằm cạnh vị anh hùng. Nhưng không còn ngôi đất trống nào vô chủ trong nghĩa địa rộng lớn chật cứng cư dân, khan hiếm đến mức bà đành cam chịu những gì khả thể. Với điều kiện, bà nói, nhà quàn không cất tôi vào trong những ngăn kéo bắt đợi suốt năm năm như trong một hộp thư. Nghĩ đến điều cốt tủy, bà thêm:

– Và quan trọng nhất, tôi muốn được chôn nằm.

Quả tình, với chiến dịch ồn ào quảng cáo mua trước trả sau, dư luận đang dấy lên lời đồn các nhà đòn cho đào huyệt đứng để tiết kiệm đất. Với tính chính xác của một diễn văn đã học thuộc lòng, nhân viên tiếp thị an táng giải thích rằng các Công ty Tang lễ truyền thống cố tình lưu truyền lời đồn đãi thiếu ngay thực này nhằm mục đích duy nhất dèm pha việc khuyến mãi sở hữu mộ chí bằng cách trả góp. Cậu trai còn đang biện luận thì ngoài cửa khẽ khua nhẹ ba tiếng động kín đáo. Cậu ngưng lại, ngần ngừ, nhưng María Dos Prazerès đã ra dấu cho cậu hãy tiếp tục.

– Ðừng bận tâm. Noi về đó mà. Bà khuyến khích cậu bằng giọng trầm.

Mai táng viên kết thúc phần thuyết trình và María Dos Prazerès tỏ vẻ hài lòng với các lập luận. Tuy nhiên, trước khi ra mở cửa, bà vẫn muốn tóm lược suy nghĩ đã chín muồi trong lòng mình bằng một tổng hợp sau cùng về các ước muốn thầm kín, hình thành trong nhiều năm kể từ sau trận vỡ đê cổ xưa ở Manaus.

– Ðiều tôi muốn xác quyết, là tôi tìm một ngôi đất để nằm, không sợ lũ lụt và nếu có thể dưới bóng râm của tàng cây vào mùa hè mà không ngại ai đào xới về sau đem tôi vất vào thùng rác.

Bà ra mở cửa cho chú chó xù ướt đầm vì mưa có dáng đi tiu nghỉu khác hẳn cách bày trí của ngôi nhà. Chú chó trở về từ chuyến vi hành sớm mai trong các dẫy nhà lân cận vừa dẫm chân vào đã biểu hiện dấu hiệu hoan hỉ. Chú nhảy chồm lên bàn sủa rân không lý do, và sém một chút là cả bốn cẳng lấm đầy bùn đã vấy bẩn tấm sơ đồ. Ánh mắt của María Dos Prazerès làm nguội tắt nhiệt huyết của chú.

– Noi, trở xuống! Baixa d’ací. Bà quát.

Con vật co rúm, nhìn bà van lơn, và hai giọt nước mắt chảy rõ rệt xuống mũi. María Dos Prazerès quay lại với nhân viên tiếp thị đang bối rối.

– Lạy Chúa! Con chó khóc. Cậu trai bật kêu lên.

– Vì Noi hài lòng trông thấy có người đến đây vào giấc này. Thường khi vào nhà nó lịch lãm hơn tất cả mọi đàn ông, trừ cậu ra. Bà nói bằng giọng trầm.

– Mẹ kiếp! Con chó biết khóc. Cậu trai lặp lại, rồi chợt nhận ra đang khiếm nhã, cậu đỏ mặt xin lỗi. Xin bà lượng thứ, thật khó tin chưa từng thấy, ngay cả trong phim ảnh.

– Giống chó biết hành xử như người, nếu loài người dạy cho chúng. Nhưng chủ chó cứ tận lực giáo huấn những khuôn khổ làm chúng khổ sở, chẳng hạn ăn trong đĩa hay phải bài tiết vào một giờ nhất định vào đúng nơi đúng chỗ. Không ai dạy phép sống tự nhiên mà loài vật ưa thích, như khóc cười. Mà này, hợp đồng của chúng ta đến đâu?

Ðôi bên đã gần như hoàn tất. María Dos Prazerès đành an phận với mùa hè không bóng cây vì nghĩa trang đã dành các bóng râm cho giới quyền chức. Bù lại, các điều kiện vay nợ trở nên vô nghĩa vì bà muốn được hưởng khấu trừ cho trường hợp trả hết phí tổn bằng tiền mặt.

Chỉ sau khi đã ký kết, trong lúc cất khế ước vào cặp da cậu trai mới nhìn ngôi nhà bằng ánh mắt chăm chú. Hơi thở huyền bí toát ra từ nhan sắc của căn phòng bỗng khiến cậu bị dao động. Cậu quay lại ngắm María Dos Prazerès như thể cậu vừa trông thấy bà lần đầu.

– Cho phép tôi đặt một câu hỏi riêng tư. Cậu nhã nhặn.

Bà đưa cậu ra đến cửa.

– Dĩ nhiên, miễn cậu đừng hỏi tuổi tác của tôi.

– Tôi có thói tật đoán nghề nghiệp của khách hàng qua các vật dụng bày trí trong nhà, thành thật mà nói, vào trong nhà này, tôi không sao đoán ra. Bà làm nghề gì?

María Dos Prazerès trả lời bằng một trận cười phá.

– Tôi làm đĩ, cậu em! Bộ tôi hết còn nét đĩ thỏa nữa rồi hay sao?

Cậu trai đỏ mặt.

– Tha lỗi cho tôi.

– Chính tôi mới phải xin tha thứ. Bà giữ lấy cánh tay của khuyến mãi viên tống táng, để tránh cho cậu không va vào cửa gẫy xương. Hãy cẩn thận! Cậu không được té vỡ mặt trước khi chôn cất tôi tử tế.

Cửa vừa đóng, bà ôm lấy chú chó vào lòng, vuốt ve dỗ dành, rồi cất giọng hát mang âm hưởng Châu Phi tuyệt hay của mình hoà vào dàn đồng ca thiếu nhi đang vang lên từ một vườn trẻ kế cận.

***

Ba tháng trước, María Dos Prazerès nằm mơ thấy những tiết lậu khải thị của thần chết, kể từ đó bà cảm thấy gần gũi mật thiết với kẻ cầm lưỡi hái mà bà biết hắn cô đơn vô cùng. Bà đã dự trù phân chia kỹ lưỡng của cải sau khi mất, cả nơi quàn thi thể để bà có thể ra đi ngay lúc này mà không quấy rầy một ai. Bà quyết định nghỉ hưu sau khi góp nhặt từng hào một thành một tài sản mà không phải chắt bóp quá cực khổ, rồi chọn ngôi làng cổ kính quý phái Gracia làm nơi ẩn cư chót cùng trước khi đô thị tỏa lan cướp hết mặt đất. María Dos Prazerès mua một tầng lửng xiêu vẹo bốc mùi cá mòi xông khói với các vách gỗ bị thuốc súng gặm nhấm hãy còn lưu trữ vết tích của một cuộc chiến vô danh không hào quang. Khu chung cư không quản gia trông coi, cũng thiếu nhiều bậc ở cầu thang ẩm thấp tăm tối, dù các tầng đều có người ở. Bà cho xây lại cầu xí và nhà bếp, dán giấy tường điểm hoa rực rỡ, trang sức lại các khung kính và mắc màn nhung. Sau cùng, bà bài trí nội thất bằng các tủ bàn quý giá, xen kẽ các vật dụng thường ngày, những tiểu phẩm mỹ nghệ trên bệ sưởi, các rương hòm chứa đầy lụa và gấm thêu bị đánh cắp từ các ngôi biệt thự bỏ hoang của các gia đình Cộng hòa thảm bại mà bà đã tìm mua từng món một, suốt nhiều năm, với giá rẻ ở các cuộc bán đấu giá chui.

Sợi dây duy nhất còn nối kết María Dos Prazerès với quá khứ xưa cũ là tình bạn với công tước Cardona, đã không bao giờ quên đến thăm bà mỗi thứ sáu cuối tháng, cùng dùng chung bữa tối với những cợt nhả ướt át. Nhưng ngay cả tình bạn thời trẻ này cũng phải ẩn núp kín đáo, vì công tước phải đậu xe gắn huy hiệu hoàng gia ở một khoảng cách khá xa, trước khi lén lút lên tầng lửng như một bóng ma chạy trốn danh dự của cả hai. María Dos Prazerès không biết đến ai khác trong chung cư, ngoài đôi nam nữ có một bé gái lên chín vừa dọn đến ở cùng hành lang. Ðiều khó tin là bà chưa từng chạm mặt người sống trong cầu thang.

Công việc thảo di chúc cho thấy María Dos Prazerès hội nhập vào xã hội nhiều hơn bà tưởng, ít ra với cộng đồng Catalan đầy nghiêm khắc mà danh dự quốc gia đã cắm rễ chung với phẩm hạnh. Bà phân phát đến tận các vật dụng nhỏ nhặt vô nghĩa nhất cho các láng giềng gần nhất. Cuối cùng, tuy không chắc lắm đã hoàn toàn công bình, bà tin đã không bỏ sót bất kỳ ai xứng đáng thừa hưởng. Văn bản kế thừa được soạn một cách nghiêm ngặt xác đáng đến mức vị chưởng khế ở đường del Abrol, từng khoe đã trông thấy tất cả mọi loại chứng thư, đã không tin vào mắt mình khi chứng kiến bà đọc cho thư ký lục sự ghi vào biên bản, danh sách tỉ mỉ từng món của cải mà mỗi thứ được bà gọi tên chuẩn xác trong ngữ âm cổ xưa của vùng Catalan, kèm tên tuổi với địa chỉ nghề nghiệp của kẻ thừa kế được sắp hạng tùy theo vị trí tình cảm chiếm ngự trong lòng bà.

Sau khi tiếp cậu trai huyệt đất, María Dos Prazerès hoà mình vào dòng người đông đảo viếng thăm nghĩa trang mỗi sáng Chúa nhật. Bắt chước các láng giềng mộ phần, bà trồng những khóm hoa nở suốt bốn mùa, tưới nước lên thảm cỏ mới và cắt tỉa bằng kéo làm vườn cho đến khi bãi cỏ trở nên dầy rậm y như thảm lót ở lối vào đại sảnh quận lỵ. Ngôi đất trở nên thân thuộc đến nỗi về sau bà khó lòng hình dung vì sao ban đầu mình lại thấy quá hoang phế.

Chúa nhật đầu tiên đến viếng kim tĩnh, trái tim María Dos Prazerès đã nhảy dựng, khi bà trông thấy ba mộ chí vô danh cách không xa cổng vào. Bà đã không dám dừng gót nhìn ngắm chúng, vì cách vài thước là gã gác dan không bao giờ ngủ của nghĩa địa. Ðến Chúa nhật thứ ba, lợi dụng một khoảnh khắc không ai chú ý, bà thực hiện một trong những giấc mơ lớn nhất của đời mình. Dùng thỏi son môi đỏ thẫm, bà viết lên gạch bia đã mòn nhẵn vì mưa: Durruti. Từ đó, mỗi lần khả dĩ, có khi trên một vách bia, có khi cùng lúc trên cả hai hoặc ba bia mả, bà lặp lại động tác dứt khoát của thỏi son, với trái tim quặn thắt vì hoài niệm.

Vào Chúa nhật cuối tháng Chín, bà dự lễ chôn cất đầu tiên trên đồi. Ba tuần sau, giữa buổi chiều buốt gió, một cô dâu trẻ bị thả xuống lòng huyệt sát cạnh sinh phần của bà. Ðến cuối năm, bảy lô đất đã sõng soài người nằm mà mùa đông phù du trôi qua vẫn chưa muốn tiếp rước bà. Nhưng María Dos Prazerès không hề phiền muộn, rồi với tiết trời ấm dần, cùng với sức nóng tăng dần qua cửa sổ mở tràn vào tiếng động thác lũ của đời sống, bà lấy lại can đảm đã giúp bà sống sót qua bí ẩn của giấc mơ. Công tước Cardona, đi nghỉ mát ở miền núi để tránh những tháng hầm bức, khi trở về, nhận xét bà còn quyến rũ hơn cả thời kỳ tròn chẵn năm mươi xuân thì mà bà đã nổi tiếng tươi trẻ.

Sau nhiều cố gắng, María Dos Prazerès đã làm cho Noi hiểu được chốn cư ngụ cuối cùng của chủ nhân sẽ tọa lạc trên đỉnh đồi rộng lớn nơi có nhiều mộ lập giống nhau. Rồi bà dạy cho chú khóc sướt mướt trước bia đá hãy còn trống ảnh để chú sẽ tiếp tục khóc lóc theo thói quen sau khi bà mất. Bà dắt chú tản bộ nhiều lần từ nhà ra đến nghĩa địa, hướng dẫn cho chú những điểm chuẩn giúp xác định phương hướng để chú khắc ghi vào trí não tuyến đường xe buýt chạy dọc phố Ramblas, cho đến ngày bà cảm thấy chú đã thuần thục, có thể tự tảo mộ lấy một mình.

Ngày Chúa nhật thực tập, vào giấc ba giờ chiều, bà cởi áo gi-lê mùa xuân cho Noi, một phần vì mùa hè đã kề cận, phần khác để Noi ít gây hiếu kỳ, để bà có thể thả chú tự do một mình. Bà nhìn theo Noi chạy lon xon xa dần về phía bóng râm của hè phố, thân sau của chú dường như thẹn thùng mà buồn bã dưới chiếc đuôi nhảy nhót. Bà khổ sở kềm chế ý nguyện được khóc cho chú, cho bà, cho thật nhiều những năm cay đắng đầy ảo vọng, của cả hai, trước lúc chú rẽ vào góc đường Mayor hướng xuống biển. Mười lăm phút sau, bà lấy chuyến xe buýt chạy tuyến Ramblas ở quảng trường Lesseps gần đó, hy vọng sẽ trông thấy chú qua cửa kính mà chú không thấy bà. Rồi bà thoáng bắt gặp Noi giữa các bà mẹ ẵm trẻ ngày Chúa nhật, chú mang dáng vẻ nghiêm trọng, chú tâm, đang đứng đợi đèn đỏ chuyển sang xanh ở ngã tư Paseo de Gracia.

– Chúa ơi, bà thở hắt, trông Noi cô đơn quá!

María Dos Prazerès đợi chú Noi gần hai tiếng dưới mặt trời thô lỗ của nghĩa trang Montjuich. Thỉnh thoảng bà chào vài khách viếng thăm mà bà không thật nhớ mặt vì đã gặp trong một Chúa nhật khá xa, giờ không còn ai vận áo tang hay thương khóc khi phủ hoa lên mình thân nhân đang nằm dưới huyệt. Lát sau, khi tất cả đã ra về, bà nghe vọng lên một tiếng kêu sầu não, thảm thiết, làm dấy động bầy hải âu bay tản, đến khi nhìn thấy một du thuyền sơn trắng rũ cờ Ba-Tây giữa mặt đại dương mênh mông, bà vội khẩn cầu với tất cả lòng thành cho chiếc tàu này hãy đem đến một cánh thư của một ai đó đã hy sinh vì bà trong nhà giam Pernambuco [3]. Quá năm giờ chiều, sớm hơn thời gian trù tính mười hai phút, chú Noi hiện ra trên đồi, chảy nước dãi vì mệt và vì nóng, nhưng điệu bộ chú kiêu hãnh như dáng vẻ của một bé trai vừa thắng cá cược. Ðến khi ấy, bà mới thoát ra khỏi nỗi sợ hãi sâu kín sẽ mãi mãi không bao giờ có một ai tìm đến than khóc trước mộ phần của mình.

***

Sang đến mùa thu năm sau, María Dos Prazerès càng lo lắng vì những điềm gở mà bà chưa biết chú giải, mỗi ngày một nhiều thêm lên, làm nặng trĩu canh cánh trong lòng. Bà tập lại thói quen ra ngồi uống cà phê dưới vừng cây dạ hợp vàng rợp của quảng trường del Reloj. Phủ chùm trong áo dạ, cổ áo gắn đuôi chồn và đội nón nỉ cài hoa nhựa, kiểu nón thật xưa đang trở lại thành thời trang, María Dos Prazerès vận dụng hết bản năng để nghe ngóng động tĩnh của tử thần. Cố gắng làm sáng tỏ chứng trầm uất chết chóc của mình, bà lắng nghe từng câu chuyện của những người nuôi chim ở lề phố Ramblas, đến từng lời thì thầm của các nhân viên đứng bán ở quầy sách, lần đầu tiên không bàn chuyện các đội banh, đến cả nỗi im lặng buồn bã của những thương phế binh hằng ngày vẫn ném các mẩu bánh vụn cho chim câu. Ở khắp mọi nơi bà đều thấy dấu hiệu của thần chết.

Dịp lễ Giáng sinh, các dây đèn ông sao giăng dưới vòm cây dạ hợp tỏa sáng rực rỡ, âm nhạc reo vui hoà vào tiếng cười vang vọng từ các bao lơn, đám đông du khách xa lạ với số phận của thành phố tràn lấn ra sân thềm các quán cà phê, nhưng ngay trong lễ hội dân chúng vẫn cảm nhận áp suất căng thẳng đè nén của thời kỳ trước đảo chánh, lúc phiến quân sắp chiếm cứ đường phố. María Dos Prazerès đã từng sống qua thời kỳ mê đắm cuồng nhiệt này nên khó khăn chế ngự những run rẩy khắc khoải trong lòng mình, và lần đầu tiên, những cơn giật bắn mình vì hoảng sợ đã đánh thức bà vào lúc nửa đêm. Một buổi tối, công an đã bắn chết, ngay dưới cửa sổ phòng bà, một sinh viên đang vẽ lên vách tường giòng chữ Xứ Catalan tự do vĩnh cửu.

– Lạy chúa, bà thốt lên sợ hãi, mọi thứ đang cùng chết với con.

Nỗi âu lo tương tự chỉ xảy đến cho bà thời kỳ ở Manaus, lúc bà hãy còn thật bé, khi trong một phút trước bình minh, tất cả âm thanh của đêm tối vụt dừng lại: Không còn tiếng nước chảy, thời gian chập chờn chao đảo, và bên trên cánh rừng rậm amazone phủ trùm một sự im lặng hố thẳm tựa cái chết. Ở tột cùng của lo sợ, ngày thứ sáu cuối tháng Tư, công tước Cardona xuất hiện, như thường lệ, đến dùng bữa tối với bà.

Những chuyến viếng thăm của Cardona đã trở thành một nghi thức. Công tước đến đúng giờ, giữa giấc bảy và chín giờ tối, đem theo một chai champagne Y Pha Nho cuốn trong tờ nhật trình vừa phát hành vào buổi chiều, để ít ai chú ý, và một hộp chocolat hình trái nấm.

María Dos Prazerès chuẩn bị cho công tước bữa tối thịnh soạn, với mì ống trộn phô mai, gà quay thịt mềm, những món ăn ưa thích của các gia đình thượng lưu Catalan thuở xưa, kèm một đĩa trái cây theo mùa. Trong lúc bà làm bếp, công tước vừa nghe những đoạn ghi âm các vở kịch trào phúng danh tiếng đã từng được diễn ở hí viện Ý, vừa uống từng ngụm nhỏ rượu Bồ đào khai vị cho đến lúc các đĩa hát hoàn toàn kết thúc.

Sau bữa ăn, kéo dài và sôi động, cả hai lại có với nhau một cảnh ân ái quen thuộc đến nhàm chán, mà sau chăn gối đều để lại cho hai người hậu vị của một bi kịch. Ðến lúc ra về, công tước luôn mang cảm giác sợ sệt, khi gần đến nửa đêm, phải luồn nhẹ tờ giấy bạc 25 pesetas dưới gạt tàn trong phòng. 25 pesetas là giá đi khách của María Dos Prazerès khi công tước lên giường lần đầu với bà trong một khách sạn qua đêm ở Paralelo, và giá biểu này là vật duy nhất mà sự hoen rỉ của thời gian không chạm đến.

María Dos Prazerès cũng như Cardona, đã không ai tự đặt cho mình câu hỏi xem tình bạn giữa hai người được tạo dựng từ đâu.Bà nợ ông vài giúp đỡ khiêm nhượng. Ông luôn cho bà những lời khuyên hữu ích giúp quản lý số tiền tiết kiệm, hay dạy cho bà hiểu giá trị thực sự của những cổ vật và cách bảo quản chúng để không ai có thể phát hiện đó là những vật ăn cắp. Ông còn muốn bà phải tự vạch cho mình con đường trở nên một phụ nữ lớn tuổi đoan chính sống giữa phố Garcia, sau khi đã nếm trải cuộc đời trong xóm nhà thổ nơi bà từng bị các đồng nghiệp tuyên bố đã quá lỗi thời so với sở thích của đàn ông hiện đại, và các chủ chứa đã muốn gửi bà đến những khu dưỡng lão dành cho di dân lậu già nua, nơi trẻ em học cách làm tình để đổi lấy 5 pesetas. Bà đã kể cho công tước chuyện mình đã bị mẹ bán vào tuổi mười bốn ở cảng Manaus, và viên trung úy hải quân Thỗ Nhĩ Kỳ đầu tiên đã thụ hưởng bà không chút sót thương trong suốt chuyến vượt Ðại Tây Dương trước khi vất bỏ bà không một đồng xu, không chút hiểu biết về ngôn ngữ bản xứ, thậm chí ngay cả một cái tên trên giấy khai sanh cũng không, giữa khung cảnh sa đọa rực rỡ của khu đĩ Paralelo. Công tước Cardona và María Dos Prazerès đã ý thức khá rõ ràng là cả hai người rất ít những tương đồng, nên họ càng thấy thêm cô đơn những khi gần nhau. Nhưng cả hai, không ai dám cào xước làm rách nét duyên dáng quen thuộc của cuộc sống thường nhật. Phải có một cơn địa chấn tầm cỡ quốc gia để cả hai cùng nhận thức, với một dịu dàng tột đỉnh, họ đã thù ghét nhau đến mức nào, trong suốt ngần ấy năm trời.

Và địa chấn xảy đến. Cardona đang thưởng thức song ca trữ tình La Bohème do hai ca sĩ Licia Albanese và Beniamino Gigli biểu diễn, bất thình lình, tựa một tia chớp ngẫu nhiên, vang đến tai ông bản tin từ đài phát thanh mà María Dos Prazerès đang theo dõi. Ông nhón chân bước đến gần và vểnh tai chăm chú. Tướng Francisco Franco, nhà độc tài muôn thuở của Tây Ban Nha, đã quyết định số phận sau cùng của ba kẻ ly khai xứ Basque bằng bản án tử hình. Công tước thở hắt ra một tiếng dài khoan khoái:

– Cuối cùng chúng cũng bị xử tử. Caudillo là một lãnh tụ anh minh!

María Dos Prazerès dán vào ông đôi mắt tóe lửa của một con rắn hổ mang chúa, bà đóng đinh vào đôi đồng tử thiếu nhiệt huyết đang núp sau gọng kính vàng, bên trên những chiếc răng tham lam, nối dài đôi bàn tay lai tạp với móng của loài thú chỉ quen với bóng tối địa ngục. Gã đàn ông chỉ là vậy.

– À ra thế, cầu xin Chúa nhân từ cho không một ai bị bắn, vì nếu chúng hành quyết một người thì tôi sẽ đổ thuốc độc vào tô súp của ông.

Công tước chợt hoảng sợ.

– María! Tại sao nói như vậy?

– Vì tôi là một con đĩ biết suy nghĩ công bằng.

Công tước Cardona đã không bao giờ trở lại và María Dos Prazerès đoan chắc khúc quanh cuối cùng của cuộc đời mình đã khép lại. Thời gian ngắn trước đây bà hãy còn phẫn nộ khi có ai đó đứng dậy nhường cho mình một chỗ ngồi trên xe buýt, khi có kẻ muốn dìu bà băng qua đường, đỡ lấy cánh tay khi bà bước lên nấc thang, nhưng sau cùng bà đành chấp nhận, ngay cả mong chờ những cử chỉ ấy như một sự cần thiết đáng ghét. Vì vậy, bà đặt mua một tấm bia mả khác, giống những tấm bia dành cho phiến quân, không tên tuổi, không cả ngày tháng năm sinh, và bà bắt đầu lên giường không khóa cửa để Noi có thể ra ngoài báo tin cho mọi người biết nếu tử thần đến rước bà đi trong giấc ngủ.

Một buổi sáng Chúa nhật, trở về từ nghĩa trang, bà bắt gặp ở bậc thềm nhà một bé gái con một cặp vợ chồng sống trong căn hộ đối diện. Bà cùng đi với cô bé đến đầu đường với tình cảm trìu mến của bà cháu, ngắm nhìn cô bé đùa giỡn với Noi như đôi bạn thân thiết. Khi đến quãng trường Plaza del Diamante, bà quyết định mời cô bé một cây kem.

– Cháu có thích nuôi chó không? Bà dọ hỏi.

– Cháu thương chó lắm!

Cô bé ngây thơ trả lời. María Dos Prazerès liền đưa ra ngay lời đề nghị mà bà đã nhẩm bụng từ bấy lâu.

– Nếu ngày nào có chuyện gì xảy đến cho bà thì cháu hãy chăm sóc cho Noi. Bà chỉ có một yêu cầu duy nhất muốn cháu cho phép Noi được tự do mỗi Chúa nhật. Cháu đừng lo lắng vì Noi sẽ biết đường về.

Cô bé thật sự sung sướng. María Dos Prazerès cũng thế, bà trở về nhà vui thích vì đã thực hiện được giấc mơ ấp ủ trong tim mình suốt nhiều năm dài. Nhưng rồi không do chứng mệt mỏi của tuổi già, cũng không phải vì thần chết trễ nải đã ngăn cản bà hoàn thành giấc mơ. Cũng chẳng phải một quyết định cá nhân.Ðời sống đã lấy quyết định thay bà vào một buổi chiều buốt gió cuối năm, lúc tiết trời đột nhiên chuyển đổi khi bà vừa rời khỏi nghĩa trang. Bà đến nghĩa địa để viết lại họ tên của ba người anh hùng trên ba bia đá của ba ngôi mả vô danh, sau đó đi bộ xuống phía trạm chờ xe, bất chợt cơn mưa ập đến như trút nước phủ vây lấy bà từ đầu đến chân. Gần như bà không kịp tìm cho mình một nơi ẩn núp dưới những vừng cây dạ hợp, trong một khu hoàn toàn hoang vắng tựa hồ thuộc về một thành phố nào khác với những cửa hàng đổ nát, những cơ xưởng nhuốm bụi chất đầy những toa hàng hóa khổng lồ, tất cả càng làm cho cơn mưa thêm kinh khiếp. Trong lúc bà đang cố gắng sưởi ấm trong lòng chú chó bé nhỏ ướt sũng nước, María Dos Prazerès nhìn thấy vượt qua trước mắt mình hàng đoàn xe khách đầy ắp người, những chuyến taxi trống, rũ cờ, nhưng mọi người dường như không ai nhìn thấy bà muốn đón xe, với những ngoắc gọi cầu cứu tuyệt vọng. Ðiều kỳ diệu xảy đến thình lình bất ngờ. Một chiếc xe du lịch lộng lẫy mang màu sắc của một ánh thép phản chiếu ráng hoàng hôn lướt qua êm ái nhẹ nhàng trên con đường ngập nước, đột nhiên dừng lại ở ngã tư rồi lùi lại tận nơi bà đang đứng. Khung kính hạ xuống như chạm phải làn hơi thở kỳ diệu của ngọn gió mầu nhiệm và tài xế ngỏ ý muốn đưa bà về nhà.

– Tôi ở xa lắm, nhưng anh sẽ giúp tôi nhiều nếu cho phép tôi quá giang một đoạn đường.

María Dos Prazerès cảm ơn rất chân thành. Lái xe vẫn nằn nì:

– Bà cứ cho biết bà định về đâu.

– Về Garcia. Bà đáp.

– Cùng lộ trình, vậy mời bà lên.

Bên trong xe, ám không khí của tủ thuốc tây cất lâu trong phòng lạnh, cơn mưa đã biến đi chóng vánh như chính cơn mưa đã hoá thân, khiến phố xá chuyển màu làm bà cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới khác rất hạnh phúc, nơi mọi thứ đều đã được sắp đặt an bài. Giống như có phép lạ, chiếc xe lăn bánh dễ dàng trong lúc giao thông vô cùng hỗn độn. María Dos Prazerès hãy còn thiếu tự tin vì sự khốn khổ ban nãy của chính mình và của cả chú chó bé nhỏ đang ngủ yên lành ngoan ngoãn trên gối bà. Bà lên tiếng vì muốn nói một điều gì thật trang trọng:

– Cứ như đang trên một du thuyền. Tôi chưa từng mục kích chiếc xe nào tương tự, ngay cả trong mơ.

– Thực tế chiếc xe này có chủ.

Lái xe đính chính, pha chút xấu hổ. Rồi bộc bạch bằng thổ ngữ castillan: Lương tài xế suốt đời cũng không đủ sắm chiếc xe như vầy.

– Tôi tin anh.

María Dos Prazerès thở dài.

Một cách kín đáo, bà liếc mắt quan sát, nhận thấy lái xe trẻ như một thiếu niên, mái tóc uốn ngắn, gương mặt rám nắng có nét La Mã ánh sắc xanh do phản chiếu từ mặt đồng hồ tốc độ. Bà thấy thanh niên không hẳn đẹp trai nhưng lại có nét quyến rũ đặc biệt, trang phục thanh lịch tuy áo da rẻ tiền đã cũ sờn vì mặc nhiều. Chắc chắn là mẹ của anh chàng này phải hết sức sung sướng mỗi khi nghe tiếng con mình trở về nhà. Duy nhất, đôi bàn tay thô tháp của nông dân tiết lộ không phải chủ xe thực sự.

Bà và lái xe không nói với nhau lời nào nữa trên suốt chặng đường, nhưng María Dos Prazerès tự cảm thấy đến phiên mình bị theo dõi, bị quan sát, qua những cú liếc mắt, làm bà lại thấy thật khổ sở vì cứ phải hiện diện trước mắt đàn ông vào lứa tuổi này. Bà tự thấy mình xấu xí, đáng thương với khăn quàng dành cho kẻ ở đợ mà bà đã phủ lên đầu đầy cẩu thả lúc trời mưa. Cả cái áo khoác phụ nữ kiểu mùa thu mới quê mùa tệ hại, chính vì bà đã không muốn sắm áo mới, vì nghĩ thần chết sắp đến.

Khi đến phố Garcia, những tảng mây đã tan biến, trời ngả tối và các ngõ ngách đã lên đèn. María Dos Prazerès yêu cầu tài xế dừng xe cho bà xuống ở góc đường gần nhất, nhưng anh vẫn nhất quyết đưa bà đến tận trước cửa nhà rồi đậu xe trên lề để bà bước chân xuống mà không bị ướt. Bà buông Noi xuống, cố gắng bước ra khỏi xe với vóc dáng thật nghiêm trang, và khi quay lại để cảm ơn tài xế, bà chợt phát hiện một cái nhìn thật đàn ông làm bà choáng váng. Bà tự chống đỡ trong giây lát, không thật hiểu rõ ai đang nhìn ai, đang chờ đợi gì, chờ đợi từ ai, rồi bất chợt người thanh niên ướm lời, đầy dứt khoát.

– Bà còn đi khách không?

Maria tự cảm thấy nhục nhã.

– Tôi cám ơn anh đã đưa tôi về nhà, nhưng tôi không cho phép anh được quyền giễu cợt.

– Tôi không có lý do gì để giễu cợt ai hết.

Lái xe nói một cách thật kiên quyết vẫn bằng thổ âm castillan.

– Ít nhất cũng còn một phụ nữ giống bà.

María Dos Prazerès đã từng tiếp rất nhiều đàn ông như chàng trai trẻ này, cũng như bà đã từng ngăn trở nhiều đàn ông khác còn trâng tráo hơn thế nữa khi họ quẫn trí muốn tự vận, nhưng trong suốt cuộc đời bà chưa bao giờ phải sợ hãi như lúc này khi cần lấy quyết định. Giọng gã trai không đổi:

– Lên lầu không?

Bà đi xa ra không đóng cửa xe và trả lời cũng bằng thổ âm castillan để đảm bảo được hiểu rõ.

– Hãy làm điều cậu thấy hợp lý.

Bà bước vào tiền sảnh ở tầng trệt của khu chúng cư, được soi sáng bằng ánh đèn đường đang hắt xuống, rồi bước dần lên những bậc cầu thang với tâm trạng dày vò bởi một sự kinh hãi mà bà đã luôn tin tưởng chỉ có thể xảy đến trước lúc chết. Ngay vào lúc bà dừng lại trước cửa căn gác lửng, run rẩy vì lo lắng, lần tìm xâu chìa khoá cất trong túi áo, bà nghe dưới đường vang lên hai tiếng đóng cửa xe liên tiếp. Noi, chạy lên trước, sắp cất tiếng sủa.”Im đi”, bà thều thào, ra lệnh như đang hấp hối. Tức thì, bà nghe thấy tiếng chân bước lên vang vang trên từng bậc cấp đầu tiên đã mòn nhẵn vì quá cũ của cầu thang hư hỏng, sự lo sợ lại trỗi dậy thắt lấy trái tim bà muốn ngừng đập. Chỉ trong một tích tắc đã diễn ra trước mắt María Dos Prazerès giấc mơ khải thị đã làm thay đổi hẳn cuộc đời bà trong suốt ba năm liền, mà bây giờ bà hiểu đã suy diễn sai lầm điềm báo mộng.

– Lạy Chúa vĩnh hằng! bà kêu lên, đầy kinh dị, hoá ra không phải là thần chết!

Cuối cùng rồi bà cũng tìm ra được ổ khóa, lắng nghe khoảng cách giữa các bước chân thâu ngắn, lắng nghe hơi thở mỗi lúc một nóng hổi của gã trai trẻ đang áp sát gần, cũng đang lo sợ như chính bà, bất chợt bà hiểu ra mình hoàn toàn xứng đáng đã chờ đợi trong ngần ấy và ngần ấy và ngần ấy năm trời với từng ấy và từng ấy chịu đựng trong bóng tối cũng chỉ để được sống một phút giây này.

*Truyện ngắn María Dos Prazerès in lần đầu trong tập Doce Cuentos Peregrinos, nxb Mondadori Espana, 1992. Bản dịch Pháp văn cùng tựa trong tập “12 Truyện kể Lãng du” (Douze Contes Vagabonds) do Annie Morvan phiên dịch, nxb Grasset & Fasquelle, 1993.

* Ghi chú của người dịch:

[1] Manaus, thủ phủ của miền Amazone, thuộc Ba Tây.

[2] Léon Buenaventura Durruti y Domingo sinh ngày 14-7-1896 là một trong những gương mặt chính theo chủ nghĩa vô chính phủ, thành lập Liên Minh Ðoàn Kết Los Solidarios, đã tổ chức ám sát bất thành vua Alphonse XIII và đức Hồng Y Juan Soldevilla Y Romero, Durruti tử thương ngày 20-11-1936 tại Madrid trong nội chiến Tây Ban Nha.

[3] Nhà tù nổi tiếng trên đảo Fernando de Noronha, một “Côn đảo” của Ba Tây.

Tranh minh họa của họa sĩ Heitor dos Prazerès, nguồn: Acevor de Arte.

Ảnh minh họa nguồn: Paola Valiente