Nghĩ về Mẹ

baotreonline.com

Huy Phương

Post on 16th Aug 2019

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

Tranh Thắm Nguyễn

“Nuôi con mới biết lòng cha mẹ

Về già mới thấy mình bất hiếu!”

Cho đến nay, tôi không nhớ đã viết bao nhiêu bài về mẹ. Phải chăng viết về mẹ là dễ dàng, nghĩ đến mẹ trong ngày Vu Lan báo hiếu khi nhớ đến chuyện ông Mục Kiền Liên xuống địa ngục tìm mẹ, nghĩ đến mẹ trong ngày Hiền Mẫu lưu vong ở Mỹ, hay nghĩ đến mẹ trong buổi xế chiều của đời mình.

Ðề tài về mẹ không bao giờ cạn, và chữ nghĩa trên thế gian này không chuyên chở nổi những tâm tình về mẹ, cũng như 100 bài thơ viết về mẹ, chắc chắn không có câu thơ nào giống câu thơ nào, dù là cả hai đứa con cũng viết về một bà mẹ chung!

Bà nhạc mẫu của tôi mất năm 85 tuổi, trong những giờ phút lâm chung, bà luôn kêu lên những tiếng: “Mạ ơi! Mạ ơi!” và nói với người nhà: “Mạ sắp đi đây, đi gặp bà ngoại!” Báo chí Việt Nam kể chuyện một sĩ quan Cộng Sản bị rơi trực thăng trong một chuyến bay hợp tác đi tìm hài cốt Mỹ. Khi phóng viên báo chí đến nơi, phỏng vấn những người dân làng đã đến nơi cấp cứu những người lâm nạn, hỏi mọi người đã nghe thấy gì, được dân làng kể chuyện một nạn nhân, trong những phút cuối cùng, dù đau đớn bởi vết thương, luôn miệng gọi hai tiếng “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”

Khi một người trong gia đình chúng ta đau nặng hay già yếu trên giường bệnh, bỗng nghe người luôn miệng gọi tiếng “Mẹ ơi!” một cách tha thiết, trìu mến, chúng ta có thể nghĩ rằng, giây phút đó, người sẽ ra đi sắp được gặp lại mẹ ở một cõi bên kia thế giới.

Người đời không thể nào so sánh công ơn mẹ với cha. Dù cha có chân lấm tay bùn, vất vả làm lụng nuôi con cũng không thể nào ví bằng người mẹ nuôi con qua cuống rún, chín tháng mười ngày với tất cả tinh lực rút từ thể xác mình, nhiều khi trôi nổi, xác xơ như người đi biển gặp cơn sóng dữ. Khi con ra đời, mẹ vẫn còn nuôi bằng dòng sữa chảy ra từ ngực mẹ, dù mẹ héo hon, gầy còm ăn không đủ bữa, ngủ không trọn giấc.

Cha là hình ảnh của nghiêm phụ, giáo huấn, răn đe, roi vọt. Mẹ là hình ảnh của từ mẫu, chỉ có những lời nói ngọt ngào, an ủi và tỏ bày bằng những dòng nước mắt, đôi khi chân thật vụng về. Ngày xưa mẹ thường che giấu tội lỗi của con, giấu cha để tránh cho con những trận đòn buốt da con mà xót cho lòng mẹ. Mẹ giấu cha những vết thương trên thân con do đùa nghịch để tránh cho con những lời la mắng. Mẹ giấu luôn những chuyện buồn của những đứa con gái của mẹ, nếu có những lúc buồn rầu, thất vọng.

Không biết hình ảnh người mẹ lớn lao chừng nào trong tâm trí những đứa con, nhưng những đứa con đối với mẹ là tất cả. Mẹ luôn luôn theo dõi, chờ đợi những bước chân của con. “Ðặt con vào dạ là mạ phải lo!” Từ đó, mẹ luôn luôn nghĩ đến bào thai trong bụng mẹ, khi nó đẩy đạp mẹ mừng, khi nó nằm êm, mẹ lo.

Và, suốt cuộc đời mẹ đối với con, tóm gọn trong một chữ “chờ!”

Mẹ chờ mong con đầy tháng đủ ngày ra đời, mong con chóng lớn chập chững bước đi, mong con ngày cắp sách đến trường. Có bà mẹ nào lại không trông con sớm lập gia đình để mẹ có cháu bồng, rồi trông cháu lớn khôn. Con lớn lên, trưởng thành cùng thiên hạ, nhưng dưới mắt và trong tấm lòng mẹ, con chỉ là đứa trẻ ngày nào thuở ấu thơ. Mỗi lúc con trở lại nhà, có món ngon nào con thích thời bé dại mà mẹ không nhớ, vẫn nấu nướng để dành cho con.

Bên cánh cửa này, mỗi ngày, mẹ vẫn chờ con! Nhưng dòng nước chảy xuôi có bao giờ nước nhớ lại nguồn, những dòng sông ra đi trăm hướng, nguồn nước ngày xưa nay đã bạc đầu.

Mẹ chờ con từ phút con nằm trong bụng mẹ, mẹ chờ con cho đến lúc mẹ sắp tàn hơi thở: – “Thằng Hai về chưa?”- “Con Út đâu rồi?”

Rồi mẹ ra đi có an bình không, khi con mẹ có đứa chưa về, dòng đời xuôi ngược trăm hướng, nợ áo cơm trói buộc cuộc đời! Mẹ luôn luôn chờ con, mà con chẳng bao giờ chờ mẹ, có chăng là đôi lần từ thuở xa xưa, đứa bé chờ mẹ trong buổi chợ về, với món quà nhỏ trên tay cho con. Quả con là những sinh vật phụ bạc, chẳng bao giờ nghĩ đến mẹ.

Ðể so sánh mẹ với những gì ngọt ngào trên cuộc đời này, người ta nói đến mẹ “như chuối Bà Hương, như xôi Nếp Một, như đường mía lau.” So sánh lòng mẹ với những gì rộng lớn, bao la ngoài thiên nhiên, người ta nghĩ đến biển cả. So sánh với những gì huyền diệu người ta nghĩ đến hình ảnh Quán Thế Âm hay Ðức Mẹ Maria.

Không, mẹ chỉ là một người đàn bà bình thường, nhỏ nhoi, không muốn so với biển rộng muôn trùng, không có năng lực, dời sông lấp biển. Mẹ chỉ hiện ra bên cánh cửa hay trong khung bếp ám khói của một thời xưa đầy kỷ niệm. Nhưng mẹ là tất cả những gì của những đứa con. Càng nói nhiều về mẹ, chúng ta càng thấy mình là những đứa con bất hiếu!

HP

Ruồi và buồi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 21/12/2015 

Tên anh là Văn Minh, anh sống nơi tập trung nhiều đỉnh cao trí tuệ loài người. Anh mang chai nước ngọt nhãn Number 1 của hãng Tân Hiệp Phát, định rót cho khách thì ngó thấy xác con ruồi ngụp lặn trong chai. Không hổ danh Văn Minh, đầu óc tiến bộ chợt loé sáng chất xám bật ra câu thoại: Hề hề chuyến này ta giàu to!

Văn Minh, 35 tuổi gọi cho công ty TNHH Tân Hiệp Phát trình bày cụ thể vấn nạn và đương sự hét ra cái giá cao ngất mây xanh nếu quý vị muốn vụ việc chìm xuồng. Sau ba ngày ký miệng hiệp định ngưng bắn, hoà đàm ngã ngũ sụt giá đi tới thoả thuận 500 triệu đồng với điều kiện phe hiếu chiến chưa ngứa tay khui mở nắp chai, nôm na là Number 1 vẫn còn trinh.
“Tấm lòng trinh bạch từ nay xin chừa”. Đoạn trường tân thanh có ngôn thế. Văn Minh ôm 500 triệu tiền Minh râu bỏ vào cốp xe thì công an Tiền Giang lộ hình. Còng số 8 là vật bất ly thân của công an, tạm thời rời thắt lưng phóng ra ngoạm lấy cổ tay người Văn Minh. “Khóc đi em, hỡi quê hương yêu dấu”. Lệ đổ trong tim gã mang tội danh cưỡng đoạt tài sản, toà phán: Mày lãnh 7 năm tù cho bỏ tật mánh mung.

Bá tánh than: Tiếng là văn minh mà thằng này dại, tao rêu rao trên mạng “trong nước có ruồi” thì cớ sự e có khác, ấm đít không nhập kho mà có khi tiền vào còn nhiều hơn 500 triệu bèo bọt kia! Thời buổi thông tin điện toán hiện đại mà người văn minh hổng biết lợi dụng sự lợi hại của nó, chớ tội tình chi mà phải vác mặt tới, đưa đầu trần xuất hiện tại hiện trường để thò tay nhận bạc. Giời ạ! Công an xứ ta thì nhiều hơn cả ruồi!

Vào tù giở lịch đếm lá thu bay chẳng biết Văn Minh có gặp “ma cũ” nhập kho trước đó 2 năm. Bạn tù gọi hắn là thằng Cu Đen, chắc hổng phải tên cúng cơm. Đứa mang hỗn danh Cu Đen có dáng vẻ một thư sinh, coi bộ thiệt thà hiền lành củ mỉ cù mì cục vắt thành hòn dễ lân cận khác hẳn bọn tội phạm khoe mình trần xăm trổ long tranh hổ đấu với lại hận đời đen bạc vằn vện tứ tung bát giác. Cu Đen có lối thuật chuyện thành khẩn y như bạn tù vây quanh hắn đều là cán bộ hoá thân. Nó nói, tui không biết thuật hư cấu, chẳng quen dặm muối thêm mắm, có sao nói vậy người ơi. Bạn tù chửi: Đù mẹ mày, thời này trời hổng đãi kẻ khù khờ đâu mậy. Cứ hót mãi thứ điệp khúc ấy làm anh em phải tâm tư. Vì sao bỏ nhà đi bụi vào đây, kể nghe chơi.

Chuyện “đời thường” của Cu Đen: 20 tuổi bỏ quê lên Bình Dương làm đủ thứ nghề, bách nghệ. Phụ thợ hồ, làm thợ mộc đóng quan tài cho chí việc sau cùng: công nhân trong xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng may mặc. Cu Đen thuê căn phòng nhỏ, sống tằn tiện để chắt mót tiền gửi về cho má sống lam lũ dưới quê. Thằng con xa nhà hiếu thảo ấy một hôm tối trời đi tắm về, ngang qua căn hộ bà chủ nhà dòm vô song cửa, ngứa mắt thấy đứa con bà chủ nằm ngủ hớ hênh dang tay dạng chân áo quần đậy đằng che chỗ này lòi chỗ kia. Cậu con trai chưa hề biết nắm tay ai cầm lòng không đậu bèn rắp tâm bỏ công sức đi làm một cái chìa khoá giả. Cu Đen đợi chờ giờ phút chín muồi mới ra tay, tiền bạc hiện kim của cải trong nhà bà chủ có nhiều nhưng Cu Đen chẳng màng tới, hắn chỉ muốn chiếm đoạt duy một vật: Cái ngàn vàng. Đứa con gái chống cự vùng vẫy dữ tợn nhưng đã trễ, du kích Cu Đen đã thâm nhập địa đạo Củ Chi. Nghe động, bà chủ bước xuống từ gác nhỏ bật sáng những ngọn đèn, chốt cửa lại rồi dồn sức hét rống lên. Đứa con gái khai với má nó: Cửa mình con có buồi ướt át nằm trỏng rồi má ơi, hu hu.

Cu Đen bị tó ngay sau đó. Bà chủ nhà dí tay vào mặt nó: Đồ con chó! Đứa con gái thẫn thờ ngồi ngó. Công an bảo khuya khoắt rồi mà mày ưa làm khó, tao còng hai bàn tay vừa máy mó. Cu Đen chấm dứt, chuyện ngang tới đó. Ra hầu toà, Cu Đen bị lãnh 2 năm rưỡi tù vì can tội hái hoa không có sự đồng tình của khổ chủ. Và giờ này, Cu Đen đang ngồi đợi một cái lễ lớn, qua đó người ta ưa phóng thích những đứa có quá trình lao động giỏi biết cải tạo phục hồi chức năng làm người tử tế.

Một thằng tù có bộ mặt gớm ghiếc, thằng nổi tiếng vì câu nói “Nhất đẳng huyền đai không bằng dao phay chém lén”, hắn hất mặt hỏi Cu Đen: Vậy tên thật của mày là gì? Trong chứng minh nhân dân tui ghi: Trần văn Xui. Đù má phải nên kêu mày là Cu Đỏ Văn Hên mới đáng đồng tiền bát gạo. Sao vậy tía? Bị thời đó tao chưa kịp hiếp dâm con bò lạc, thằng nhỏ chưa kịp vào biên ải đã bị tó, tao mang tên cu đen mới đúng.

Trong chai nước ngọt có con ruồi tanh: 7 năm tù. Trong hĩm ngọt có con buồi mặn: 2 năm rưỡi tù. Luật pháp có ghi biên bản hẳn hòi, chớ cãi chày cãi cối, chớ chao đảo lập trường mắc mưu bọn thù địch phản động ưa nói xấu chế độ. Vì vậy tuỳ vào một vài hoàn cảnh, lệ thuộc vào mốc thời điểm nhất định, có khi con ruồi cao giá hơn con buồi.

Người ta không ngạc nhiên khi đọc thấy con số đúc kết sau khi thăm dò: 79% Việt kiều nam đều muốn mang buồi về tắm trong ao nhà. Rẻ như cho và nhỡ lộ hàng, khúc ruột ngàn dặm có ngàn lẻ một kế sách để khỏi phải bị giở lịch tới 2 năm rưỡi như Cu Đen. Ai không nói, nhưng cá nhân Văn Minh có thể đủ tư cách để phán: Xin quý vị Việt kiều đừng biến thân thành ruồi nhố nhăng bay về chơi cha thiên hạ tự nhận mình là đứa yêu nước. Một con ruồi phơi thây trong nước là đã quá đủ rồi. Ruồi gieo máu lửa!

Hồ Đình Nghiêm

Rẻ như bèo

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 6/05/2014

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

Kiều – Tranh của Mai Thứ

30 tháng Tư, trên trang Sáng Tạo, hiển thị bài thơ “Thơ Việt đi về đâu” của Chân Phương, gửi từ Boston. Cuối bài, sau những ngắt đoạn với nhiều dấu hỏi, tác giả kết thúc bằng hàng chữ: “ba mươi chín năm sau ngày thống nhất”.

39 năm. Dài? Ngắn? Nhìn lui, cảnh quang vẵn thuỷ chung ảm đạm, giông bão xác xơ, xám ngoét khung trời mê thiếp chẳng hoen ố chút nắng quái chiều tà. Tác giả vẽ ra một hiện thực mà khi ngó thấy, buộc người đọc băn khoăn: Điều gì đã hãm hại chúng ta, trở nên dửng dưng khi đối mặt với những vấn nạn? Câm lặng bước, chân đi tù túng. Sống chung hoà bình cùng ngược ngạo dù biết đôi khi, phương châm “dĩ hoà vi quý” chẳng hề là lời vàng ngọc.
Martin Luther King từng phát biểu: “Nếu không bay được thì bạn hãy chạy, chạy chẳng xong thì hãy đi, đi hổng nổi thì bò lê bò càng. Dẫu bằng phương cách nào chăng nữa thì bạn cần phải tiến tới trước”. Người Việt hơi bị ù lì? Bất di bất dịch? Trong vạn nỗi bức xúc có vọng lên tiếng than van: Cái dân tộc gì mà khi thua một trận bóng đá thì rồ dại sôi máu tự ái dân tộc đồng thời lại xô đẩy nhau lột truồng ra cho người nước lạ lựa chọn mua về làm vợ, kẻ hầu người hạ hoặc thế cho một món đồ chơi giá rất bèo!

Thơ Việt đi về đâu? “Người về ta chẳng cho về, ta nắm vạt áo ta đề câu thơ”. Tình huống nọ, muốn đi, e phải cởi áo để lại hiện trường. Hoặc cứ liều mạng bước tới mặc cho xiêm y toe tua bạo lực trấn lột rồi về nhà dối mẹ rằng thì là qua cầu va vấp cùng cơ man gió chướng lộng thổi “trút quần phong nhuỵ cho tà huy bay”. Hú hồn!

Thơ Việt đi về đâu? Không về đâu cả, do bận rộn với chữ hiếu oằn thân. Lu bu cõng mẹ lộn vô đụng phải cột nhà cõng mẹ trở ra. Chỉ vậy thôi, loay hoay đã hết ngày. Và đêm về, lặng lẽ ngồi rình bên bụi môn, chờ cho trăng lặn… để gieo sai vần câu lục bát:

“Thu Ba ca ngợi Thu Bồn
Thu Bồn thích chí sờ vai Thu Ba”.

Thơ Việt đi về đâu? Cõng cái công án siêu nặng ấy thử tìm gặp kỹ sư Đỗ Minh Xuân xem ông ấy giả nhời thế nào. Là ai thế? Tai to mặt lớn nào? Ấy, chả nhẽ đồng chí lại chẳng tường tên tuổi Đỗ Minh Xuân? Người có công trạng nhuận sắc, sửa đổi tác phẩm văn học của tiền nhân, in thành sách dưới nhan đề “Truyện Kiều Nguyễn Du với tiếng Việt hiện đại, phổ thông, đại chúng và trong sáng” (NXB Văn Hoá Thông Tin 2012). Ai đó cắc cớ nhẫm tính, rằng “trăm năm trong cõi người ta, đương sự ngứa tay sửa một phần ba” tác phẩm thi ca đồ sộ nọ. Nguyễn Du e chẳng ngậm cười nơi chín suối! Đơn cử một vài:

1. “Lạ gì bỉ sắc tư phong” biến dạng thành “Mỗi người thứ có thứ không”.

2. “Lứa đôi ai dễ đẹp tày Thôi-Trương” sửa thành “Lứa đôi từng thấy những ngày trái ngang”.

3. “Chưa xong điều nghĩ đã dào mạch Tương” hoá thân “Chưa xong điều nghĩ đã chào vừng dương”.

4. “Trộm nghe thơm nức hương lân / Buồng đào nơi tạm khoá xuân hai Kiều”. Câu tám dị bản này có người bình: Nghe như hai Kiều là chân dài liên hệ tới đường dây môi giới bán dâm bị công an phát hiện, nhốt tù nhập kho.

Có đau đớn lòng, khi đọc phải bản tin này: Việt Nam mất 51 năm mới theo kịp Indonesia, 95 năm để theo kịp Thái Lan, 158 năm tụt hậu so với Singapore. (Theo báo cáo của ngân hàng thế giới tính theo mức thu nhập mỗi đầu người năm 2009).

Ông Winston Churchill nhắn nhủ hậu thế: “Bạn không đời nào nhìn ra đích tới nếu bạn cứ phải dừng lại để ném những hòn đá vào mỗi một tiếng chó sủa”. Hãy thử dừng lại để gợn lòng trong giây phút: Vậy chứ những nàng Kiều tân thời từng sắp hàng cởi áo thách đố số mệnh ấy đã đi về đâu? Chốn đó có mồ Đạm Tiên? Có sông Tiền Đường?

Nàng thì dặm khách xa xăm
bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây
vi lô san sát hơi may
một trời thu để riêng ai một người
dặm khuya ngất tạnh mù khơi
thấy trăng mà thẹn những lời non sông.

Đấy là dăm câu trong truyện Kiều chưa bị cạo sửa. Đọc mà chảy nước mắt! Thơ, cũ, mới, siêu thực, hậu hiện đại, đương đại… nói dại mồm thức ấy, nói chung là khó nuốt. Thơ, tự hồi nào tới giờ là món khó chơi nhất trong thập bát bang võ nghệ, vậy mà kỳ ảo thay, Thi-ca-môn luôn đông đảo nhiệt náo cảnh tử sĩ vác lều chõng vô ra. Rậm rật. Loạn ngôn. Chóng mặt. Gióng lời thề: Không thành danh quyết không về ngồi lại bên giòng sông thơ mộng cũ.

Văn xuôi dễ ăn hơn nhiều vậy mà hàng quán ấy ế ẩm thưa dần khách vãng lai. Những đứa chuyên ghi sổ (nợ đời) lần hồi quỵt nợ. Dài quá, làm biếng viết. Lê thê, người đọc e mỏi mắt, chả mặn mà hứng thú lần theo chương hồi từ râu ông nọ chuyển nhượng sang cằm bà kia. Nói chung là lao động vất vả mà chẳng xơi được cái giải gì. Chán ốm!

Mới đây, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có tâm sự: “… Viết thế thôi, viết nữa bọn trẻ nó thấy mình nó ghét… Tuổi tôi giờ là tuổi vứt đi, 65 rồi, giờ ngồi nhà lo dăm ba việc gia đình và trông cháu, tóm lại là chờ chết!”.

Sau đó không lâu, tới phiên Nguyễn Quang Lập cũng quyết định thôi viết. Nhà văn xứ Quảng Bình vừa tròn 58 tuổi, tự nhận “đã quá già”. Già thì nên buông bỏ để rong chơi, nên lánh xa tập thể để mưu cầu hạnh phúc cá nhân, dẫu nhỏ bé cho thứ tự do ấy.

Nhà thơ hầu như chưa thấy ai rảnh để tìm lấy gương tự soi dung mạo. Ta chưa già, chớ ép uổng ta ăn tiền hưu trí. Cứ còn nước còn tát và xin em nhớ cho thơ thẩn vốn là thứ đầm lầy khó bề khô cạn.

ta về ta tắm ao ta
dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

Cái ấy không là thơ thì gọi là gì? Hay là chiêu trò khuyến mãi tiếp thị của một tập đoàn quảng cáo du lịch giá rất mềm. Rằng anh có đi bốn phương ta bà, mỏi gối chồn chân anh mới chứng nghiệm ra: Chẳng có nơi nào đẹp khủng bằng quê hương mình!

Quê hương có triệu người vui có triệu người buồn. Có chín chục triệu linh hồn chưa nhìn ra tự do dân chủ. Và quê hương ấy luôn cấy trồng thứ tinh thần lạc quan: Trong đội ngũ đông đảo chúng ta, tất cả mỗi thành viên đều là một nhà thơ. “Thằng ấy tuy nó là nhà thơ, nhưng mà nó tốt!”.

Nay ở trong thơ nên có thép
Là vàng giả nên tôi sợ lửa reo.

Thơ Việt đi về đâu? Tôi lấy tư cách gì để ngộ ra, hử!

Hồ Đình Nghiêm

Đêm qua trời mưa lớn

Hoàng Mai Đạt

tản mạn

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

Những bông hoa kèn lật úp màu cam vàng dài bằng bàn tay đang rung mạnh trong gió, tung bay như những vạt áo cà sa bé tí cố bám vào cuống cây, chao đảo giữa những tàng lá xanh tươi ngoài khung cửa sổ. Xa hơn bên trên mấy mái nhà hàng xóm, ở tận phương trời tây, những đám mây đen đang cuồn cuộn tiến tới như một đoàn âm binh dáo dác tìm đối tượng. Vài vạt nắng cuối cùng cũng đã trốn đâu mất, để lại một bầu trời xám lạnh. Những tia sáng lóe chớp bất chợt giữa một vùng trời đang tối dần mặc dù mới xế trưa ở phố Bolsa. Giông tố đang tới bên ngoài cửa sổ. Không lâu, những hạt mưa bắt đầu rơi lách tách trên mái hiên, lăn xuống những bông kèn đang run rẩy trong khí lạnh của trời đất đầu mùa xuân.

Trước khi mưa đến, mùa xuân của đời tôi cũng từng mởn xanh màu lúa mạ ở Nha Trang, để rồi rơi rụng theo dòng người di tản rời quê hương đến xứ lạ. Những mùa đông tuyết giá đầu tiên ở xứ người sau năm 1975 của chúng tôi được sưởi ấm qua những bữa tiệc cuối tuần của dăm ba gia đình Việt Nam mới tị nạn ở phố Homestead. Những ly rượu đắng xé cuống họng đến với tôi qua những dịp cụng ly chia sầu với mấy người cựu lính chiến. Khi ấy tôi mới mười-sáu, mười-bảy tuổi, chưa đủ lớn để có thể uống rượu hợp pháp ở trong quán. Vậy mà trong những bữa ăn của nhóm người lưu lạc tôi đã nếm mùi whiskey, ực mấy chai bia đầu đời, những chai Iron City mang tên của thành phố thép Pittsburgh mà chúng tôi đang tạm trú, và những chai Rolling Rock tình cờ mang con số 33, gợi nhớ một hiệu bia nổi tiếng một thời ở Việt Nam trước khi đất nước này tan hoang theo nghiệp dữ từ bao đời trước.

Càng vất vả trong cuộc sống hội nhập với tâm trạng hoang mang của một đời tị nạn, đeo thêm nỗi phẫn uất cho dân tộc ở quê nhà, tôi càng bám vào bia rượu, chạy theo đoàn âm binh của một cơn bão hung thiên ác địa mà ban đầu tôi cho là một liều thuốc an thần cần thiết để tiếp tục sống giữa những bất an. Liều thuốc càng được tăng liều lượng trong những ngày tôi làm việc ở một nhà hàng Tàu do người Việt làm chủ. Như chó sói được vào chuồng nuôi gà, tôi “may mắn” được giao công tác bán bia rượu cho khách vào mỗi cuối tuần. Giữa những ly cho khách thường có thêm một ly cho tôi. Thế là tôi quen dần với men rượu, xem nó như bạn thân từ những ngày chưa rời trung học. Có một đêm khuya lái xe trên đường East Carson dọc theo sông Monongahela từ tiệm The Great Wall trở về nhà, tôi hứng chí ném mạnh một vỏ chai bia ra ngoài cửa xe, nghe tiếng vỡ tan khô dòn của thủy tinh trên mặt đường nhựa cứng. Giữa một cơn say ngầy ngật, tôi biết quá khứ đã tan nát như vỏ chai ở đằng sau lưng mà vẫn thản nhiên cầm tay lái với một tay, nhún vai xem thường màn đêm đang lao tới ở trước mắt.

Chiều đến, mưa trút xuống sân trước mỗi lúc một nhiều và mạnh hơn. Màn nước quất nghiêng xuống bãi cỏ theo từng đợt gió nhào lộn qua khu phố. Trời đất có lúc mịt mờ không thể thấy xa hơn con đường Jennrich ở trước nhà. Cây phong lớn trụi lá bị ướt đẫm một bên thân cây, đứng lặng yên giữa sân như không nao núng trong cơn giông tố. Có lẽ cây đã quen chịu mưa như thế trong hơn nửa thế kỷ. Vậy mà những đầu ngọn cây trên các nhánh nhỏ đang run lật bật, có lúc uốn cong theo chiều gió thổi. Ngôi nhà chìm trong trong âm thanh của tiếng mưa dội đồm độp xuống mái nhà, vang vọng đều đặn trong ống thiếc rỗng thông hơi ở trong bếp, tạt ào ạt vào những bức tường ở chung quanh. Cơn mưa lớn nhất trong năm chỉ mới bắt đầu.

Từ khởi đầu của cơn nghiện rượu thời mới lớn, tôi chìm đắm mỗi lúc một sâu hơn trong hố thẳm tối mù ở đáy ngục mà tưởng mình đang vẫy vùng ngang dọc trên tít tận trời xanh, chịu đựng những cơn đau của dòng đời chảy qua những khúc quanh ác nghiệt. Bia rượu là bạn đồng hành với tôi trên con đường tiến vào bãi tha ma của văn chương. Càng uống tôi càng nghĩ mình cần hơi men, cần những cơn say ngà ngà để có hứng viết hay hơn. Bãi tha ma chữ nghĩa có vô số các thi sĩ, mấy nhà văn say mèm, nằm gục bên những mộ bia in khắc những tác phẩm vĩ đại.

Tuy không sáng tạo lẫy lừng như họ, chắc chắn không, tôi cũng nằm gục sau những đêm chạy theo những cảm xúc vui buồn được tăng cường độ, lộ liễu qua lời nói oang oang, qua hai tay vung vẫy, đôi chân xiêu vẹo. Mấy bài mà tôi cho là hay và ưng ý nhất của tôi thời trước, chắc chắn có, được viết với dăm ba ly rượu ở bên cạnh. Mấy ngón tay ngưng gõ phiếm chữ chỉ để cầm chai bia uống tiếp. Trong hơn ba-mươi năm tôi đã uống bia từng ngày, trừ những lúc bệnh. Vui uống, buồn cũng uống. Gặp bạn uống nhiều, vắng bạn uống lai rai. Nghỉ ở nhà uống, đi chơi xa với gia đình cũng uống. Đã nhiều lúc tôi muốn ngưng, nhưng quyết chí được vài ngày rồi cũng chịu thua, như một võ sĩ hạng ruồi đụng độ một võ sĩ hạng nặng, bị cơn nghiện đánh tơi bời, tóe máu đến nỗi phải bò lê lết mà vẫn năn nỉ xin được uống tiếp.

Đêm xuống, bão tố càng dồn dập hơn, gió thổi nghiêng đổ những chậu cây sau nhà. Mấy thanh phong linh bị đứt dây rơi xuống bãi cỏ lênh láng nước, không còn khua gõ leng keng liên hồi như đã khua trong suốt buổi chiều. Giữa tiếng gió đập rung cửa sổ phòng ngủ, tiếng mưa bắn rào rào lớn dần như sắp phá bể bức tường, âm thanh của một bình bông rơi bể tan tành trên sân đá vang vọng đâu đây trong đêm tối vào lúc hai giờ sáng. Cơn thịnh nộ của trời đất đã lên tới cao điểm.

Như nạn nhân trong một quan hệ bạo hành, tôi vừa bám víu vào rượu như không thể sống thiếu nó, vừa bị nó đánh bầm tím đôi mắt, dập nát đôi môi. Cũng có những lúc tôi thù ghét nó vô cùng, muốn dứt bỏ ngay lập tức. Đó là sau những đêm lái xe về nhà trong một cơn say, để rồi ngày hôm sau bị cơn nhức đầu hành hạ, bị ói mửa quì gục trong phòng vệ sinh, hoàn toàn không nhớ mình đã lái xe như thế nào trên các xa lộ suốt mấy chục cây số mà không bị cảnh sát bắt, không đâm vào cột điện, không húc xe gây tai nạn. Đó là sau những đêm lái xe chở vợ con trong cơn say từ một dạ tiệc, suýt lao xuống đường ở tốc độ mà mình cho là chậm, không hề biết mạng sống của những người thân đang nằm trong đôi tay được điều khiển bởi một bộ óc điên mù.

Nhiều lần tôi nhắc đến bia rượu trong những bài viết trước đây, khen nó như một người bạn thân yêu không thể thiếu trong suốt một cuộc đời phải chịu đựng những nghiệp báo từ kiếp trước. Mặc dù biết người bạn này là một kẻ ác, đến khi nhìn nhận mình thật sự lệ thuộc vào nó, thật tình nghiện rượu, không thể dứt bỏ sau những lần thử thách, tôi dần dần khiếp sợ mà rồi vẫn tiếp tục uống như một nô lệ, đành buông tay sau mấy lần bị đối thủ nặng cân đánh nát thây giữa những hàng dây thừng của sân đấu. Thế nhưng cũng có lúc tên võ sĩ ốm yếu trong tôi vẫn gắng gượng ngồi dậy, như có một sự trợ lực vô hình nào đó từ trong lương tri muốn tôi phải đưa hai tay lên đấu tiếp, phải đánh để thoát ra khỏi hang hùm của tên bạn tàn nhẫn. Mỗi lần té xuống trên bãi máu trong những trận say khướt, tôi càng xấu hổ, muốn vùng lên để chống đỡ cho đến khi có thể đấm lại nó.

Tôi còn nhớ lần té cuối cùng trên vũng máu trong cơn vật vã, giằng co một chết một còn với tên bạn rượu. Đêm thứ Bảy đó chúng tôi ghé nhà của một cặp vợ chồng bạn thân của chúng tôi ở San Jose. Sau một ngày lái xe từ Quận Cam lên miền bắc, trong cơn vui của gần một năm mới gặp lại hai người mà chúng tôi xem như anh chị ruột, tôi uống tì tì hết chai rượu này đến chai rượu khác cất ở trong nhà. Có bao nhiêu rượu anh cứ mang ra cho em uống, hình như tôi có nói như vậy giữa cơn say. Dù là rượu vang, nó dư sức sai khiến tôi sau chai đầu tiên. Dư sức. Trong suốt mấy tiếng đồng hồ của đêm hôm ấy, kéo dài từ tám giờ đêm hôm trước đến hai giờ sáng hôm sau, theo lời kể của vợ, tôi lặp đi lặp lại những lời tranh cãi do chính tôi gây ra và cũng chính tôi lớn tiếng với anh chị, mà nhất là với anh.

Sau một giấc ngủ ngắn, chập chờn ở lữ quán, tôi ghé lại nhà để xin lỗi anh chị trước khi lái xe về Nam California. Trong hàng trăm lần say trước đây, tôi thường ca hát, đùa giỡn, kể chuyện tiếu lâm, hành động phóng túng, hoặc ngồi im lìm, buồn bã như nhà có người chết, thế nhưng tôi chưa bao giờ đánh lộn hoặc cãi cọ với người khác. Vì vậy buổi sáng hôm ấy tôi cảm thấy ân hận vô cùng. Tôi không ngờ mình có thể to tiếng với một người mà tôi rất quí trọng. Con quỉ đã tiến tới giai đoạn chót, sắp thôn tính những gì đẹp nhất còn sót lại trong tâm hồn tôi. Trong lúc dừng xe trên đỉnh của đập nước San Luis Resevoir dọc theo bang lộ 152, giữa một bầu trời trong xanh gió mát, tôi nắm tay vợ, bóp nhẹ như thể muốn được trấn an trước một nỗi sợ khủng khiếp lởn vởn ở trong đầu. Tôi sợ đến một ngày kia, có thể rất gần, con quỉ rượu đội lốt bạn đồng cảm sẽ hiện nguyên hình và sai khiến tôi gây hại cho những người thân yêu, mà nhất là vợ tôi. Nàng đã cùng tôi trải qua những thăng trầm trong mấy chục năm của cuộc sống vợ chồng. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi để cho tên quỉ lộng hành thêm một lần nữa giữa một tiệc rượu? Tuy không nói cho vợ biết, tôi đã quyết tâm bỏ rượu từ buổi sáng Chủ Nhật hôm ấy.

Trời tạnh mưa lúc gần sáng. Đến khi ánh bình minh tỏa ngời một ngày mới, vùng chân trời xa vẫn còn nhiều đám mây xám trôi lãng đãng, mang hơi nước đại dương đến những vùng sa mạc ở  phía đông phố Bolsa. Trên đỉnh cây trước nhà vương vấn vài cụm mây trắng, những cụm mây cuối cùng từ một cơn giông nay sắp thành quá khứ.

Nỗ lực bỏ rượu của tôi còn nhiều thử thách. Dễ nói chứ không dễ làm. Từ một tập khí uống bia mỗi buổi chiều, nay ngưng hoàn toàn thật quá khó. Trong hơn một tuần ngưng uống từ ngày ở San Jose về, tôi thấy bứt rứt mỗi khi chiều xuống. Nhớ cảm giác lành lạnh dễ chịu khi cầm chai trong tay, thèm hớp bia đắng chảy mát xuống cổ, tiếc cảm giác lâng lâng rời xa thực tại. Uống bia cuối một ngày làm việc giúp tôi xả bớt tâm tư u trệ. Sau hơn một tuần tôi uống lại, lần này giảm bớt chỉ còn một chai mỗi ngày, thay vì hai, ba hoặc nhiều hơn như lúc trước. Đó cũng là khoảng thời gian tôi đến chùa thường hơn, thích đọc sách nói về đạo. Có lẽ nhờ vậy mà tôi đã có thêm nghị lực, đẩy dần tên bạn rượu vào một chân tường. Chai bia cuối cùng mà tôi cầm uống ở trong nhà là một chai bia nhập cảng. Phải nói chai bia trắng Hoegaarden từ Bỉ quốc hôm đó ngon tuyệt, đậm đà thơm dịu ở mấy hớp chót. Tôi nói cuối cùng ở nhà là vì tôi còn chừa một khe hở cho những dịp dự tiệc, đến nhà bạn “bị” mời uống bia. Nếu phải chung vui với các bạn thì tôi sẽ uống, nhưng chắc chắn không uống thả giàn như trước. Cũng may dạo này tôi tránh hết bạn bè, nên việc kiêng bia cũng dễ dần.

Công tác hạ cánh là đà xuống một bãi đáp của một lối sống mới vẫn còn gập ghềnh. Sau mấy tháng ngưng uống bia hoàn toàn, tôi vẫn thường hớp một ly rượu vang để giảm dần cơn ghiền chất cồn. Rượu vang đây là những hũ rượu rẻ hiệu Carlo Rossi, Rhine trắng và Sangria đỏ, uống cho đỡ thèm. Đến nay thì tôi sắp cạn sạch một hũ Sangria cuối cùng để rồi từ nay không còn rượu hoặc bia ở trong nhà. Nhớ thời gian phấn đấu chống bia rượu kéo dài trong gần một năm qua, tôi cũng nhận ra đôi điều. Lý thú nhất là càng ăn chay tôi cảm thấy mình càng bớt thèm uống. Hình như bia rượu phải đi kèm với những món thịt thà, ăn nhậu hả hê cho thỏa mãn dục vọng, nên ngày trước tôi – hay đúng hơn là tên bạn rượu trong tôi – khó lòng bỏ qua những bữa tiệc vì nghiện rượu. Nhiều món chay cũng ngon miệng, đậm vị không thua món mặn. Nhưng sao ăn những món chay đó tôi không có cảm giác thèm uống bia. Có lẽ từ lúc tập thói quen uống rượu mấy chục năm trước, tôi ít khi vừa ăn chay mà lại vừa uống rượu, nên hai “tên” đó không trở thành bạn thân. Cũng may. Nay nhờ bạn chay đến thăm thường xuyên hơn, tôi dần dà đánh đuổi được bạn rượu đi nơi khác. Tôi không chắc “hắn” sẽ bỏ đi luôn không đến quấy rầy tôi nữa. Thế nhưng từ ngày quyết tâm bỏ rượu tôi chưa bao giờ thấy tự tin hơn như trong lúc này. Có lẽ tôi đã tìm ra một chỗ vịn tay để đi tiếp mỗi khi cảm thấy yếu đuối, dễ sa ngã nhất.

Nắng lên nhanh như một cô bán hàng mau mắn mời khách ghé mua một món quà trên đường hành hương. Một ngày mới, anh hãy mang theo để tự tìm hướng đi mỗi khi lầm đường. Tôi bước ra cửa để xem mấy chiếc lá xanh non mới trổ lưa thưa trên những nhánh cây phong trước nhà. Vài chiếc lá còn đọng những giọt mưa đêm. Không trung trong mát như đã được thanh lọc hết âm khí. Những tàng cây đằng sau nhà cũng sạch bóng như được gội rửa những lớp bụi để rồi ưỡn khoe mặt lá xanh tươi vươn hứng nắng trời. Giữa mấy nhánh cây lựu đang được lắp đầy lá non, tôi chợt thấy một nụ bông lựu đỏ thắm. Nụ chưa đẹp nhưng là nụ đầu mùa của cây, nở êm ái trong tôi sau một đêm mưa lớn.

Hoàng Mai Đạt

Westminster, ngày 10 tháng 3, 2011

Đạp xe với Thanh Tâm Tuyền

Hoàng Mai Đạt

tản mạn

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

Một buổi chiều nọ, đang ngồi ở trong bếp, tôi bỗng buột miệng, “Chắc phải đạp xe lại. Lâu quá không đạp. Sắp dốt đến nơi rồi. Hay là dốt rồi mà mình chưa biết đó thôi.”

Tôi có tật thỉnh thoảng nói lớn ý nghĩ ở trong đầu, độc thoại như một ông vô gia cư tàng tàng, đứng nói lẩm bẩm một mình ở góc phố, hay một thanh niên tửng tửng, đeo máy nghe điện thoại ở trong tai, cười giỡn với bồ ở bên kia đầu dây. Vợ tôi đang nấu cơm ở trong bếp, nghe tôi nói chữ được chữ không, tưởng chồng lại than vãn về cái bụng đang phình ra như cái trống, không còn thon thả, phẳng lép như mấy năm trước. Nàng khuyên, “Ðạp xe không chắc xẹp bụng đâu. Anh nên tập nằm ngửa, ngồi dậy ép bụng lại. Tập mỗi ngày vài trăm lần thì may ra. Tốt hơn hết anh làm ơn bớt uống bia, bụng sẽ xẹp liền. Lười tập thể dục như anh thì còn lâu bụng mới thon.” Tôi đang sợ mình dốt, vợ lại chê tôi lười, bụng to, còn kể tội uống bia. Chúng tôi đang có khác biệt không thể hòa giải, chắc phải “đường ai nấy đi” thôi.

Chuyện dốt của tôi bắt nguồn từ mấy dòng chữ của ông William Howard Gass mà tôi đọc trên mục điểm sách của báo Los Angeles Times. Nhật báo viết hai bài về tác phẩm của William Gass. Ông được đào tạo trong môn triết học trước khi trở thành một tiểu thuyết gia, được biết nhiều hơn qua những bài khảo luận về văn chương, phê bình những tác phẩm lớn từ cổ chí kim, có công khám phá những tác giả không được chú ý, bị lướt qua trong những bài tổng luận. Nhà khảo luận tóc bạc trắng này đã 82 tuổi (2006), chào đời tại North Dakota, dạy ở Ðại Học Washington tại St. Louis trong nhiều năm. Ông có biệt tài phân tích ý nghĩa, ngữ vựng, cấu trúc của từng câu, từng đoạn văn. Ðối với ông, nhà văn mà ông thích là những ảo thuật gia, viết lên một ca khúc với những khái niệm, vui chơi trong kịch tính và vũ điệu của tư tưởng. Ba bài khảo luận của ông đã thắng giải của Nhóm Bình Luận Sách Quốc Gia. Ông được St. Louis vinh danh với một ngôi sao trên vỉa hè dành cho người mang niềm hãnh diện về cho thành phố, như những tài tử được khắc tên tại Hollywood. Tuy viết rất nhiều – bảy cuốn tiểu thuyết kể cả cuốn Ðường Hầm (The Tunnel) đồ sộ được chuẩn bị trong ba thập niên, và mấy tập khảo luận – ông Gass nói rằng ông viết rất khó khăn, không tuôn tràn dễ dàng như những đoạn văn trôi chảy mà người ta được đọc của ông. Bài viết của nhật báo đã có những lời khen, chê về một tuyển tập khảo luận của ông mang tựa đề Ngôi Ðền Của Chữ Nghĩa (A Temple of Texts). Ông Gass được mô tả viết rất sắc bén, tinh tế, đôi khi khoe tài.

Cũng có lúc ông viết rất nhẹ nhàng, thi vị như đoạn sau đây, nhắc tôi nhớ đến chuyện dốt của bản thân: “Mỗi cuốn sách cũng như một chiếc xe đạp: Bạn du hành tùy vào sức mạnh, tiến tới theo tốc độ của chính mình. Chuyến đi của bạn diễn ra trong sự yên lặng, không gây ô nhiễm, không có ai bị nguy hiểm bởi hành trình của bạn – họ không sợ hãi, bị gây thương tích, hoặc bị giết – và tập thể dục như vậy cũng tốt cho sức khỏe của bạn.”

Dạo này tôi đọc sách rất ít, hiếm khi du hành với một chiếc xe đạp như ý của ông Gass. Mỗi ngày tôi vẫn đọc vài chục bản tin có lúc nóng bỏng, đôi khi nhàm chán, bồi thêm những bài phân tích, tường trình địa ốc khô khốc, luôn lạc quan, hoặc bay bổng như sương khói bên trên mặt thực tế. Ðọc thì nhiều, mà thật sự đọc sách không là bao nhiêu. Ngoài nhiệm vụ cặm cụi viết tin ở đài phát thanh, ăn mặc bảnh bao chờ khách cần dịch vụ địa ốc, hiện thời tôi còn xăn tay áo, gồng tay, đảm trách dịch vụ sửa sắc đẹp cho một căn nhà cũ ở gần Los Angeles. Công việc này chỉ cần một bộ đồ cũ, một chút óc sáng tạo để chế biến vật liệu theo hoàn cảnh, và một điều kiện mà tôi có rất ít – mấy bắp thịt cứng, mạnh để nện búa, vặn mỏ lếch. Tuy chưa là một tay thợ chuyên môn, tôi cũng muốn khoe rằng tôi biết tân trang một mái hiên (theo ý kiến tối hậu của vợ), lát sàn nhà với những miếng nhựa vuông (sắp học thêm nghề lát gạch, cưa bằng máy chứ chẳng phải chơi), sơn nhà, lắp cổng sắt, sửa tủ cabinet ở trong bếp, cộng với dăm ba chuyện lặt vặt khác như tỉa cây, cắt cỏ, khiêng mấy tảng đá (cũng theo lệnh vợ). Làng văn đã có nhiều bác sĩ, kỹ sư kiêm văn sĩ, giờ có thêm một ông thợ viết kiêm thợ mộc chắc cũng không sao, chưa giảm phần quí trọng của thiên chức nhà văn. Giữa những lúc cầm búa đóng đinh, cưa xong một thanh gỗ, hay đang lăn sơn lên tường, có khi tôi ngừng tay, vui thích nghĩ đến một đoạn văn, một câu thơ, một chữ lạ trong bài viết của ai đó bỗng trở về trong trí nhớ, đi lạc dăm ba phút vào thế giới thần tiên của chữ nghĩa, rồi lại thầm tiếc không có thời giờ để đọc sách, nhẩn nha vào một cuộc du hành trong yên lặng như đang đạp xe ở miền bình nguyên của ông Gass.

Thật tình thì không phải cuốn sách nào cũng thú vị, tốt cho sức khỏe. Có những cuốn được viết hình như cốt ý hành hạ, tra tấn, chụp bắt người đọc như người bán xe bám riết vào khách hàng. Lỡ bước vào sách mà không kịp chạy ra là bị bức thở cho đến giòng chữ cuối cùng, đọc xong toát mồ hôi, mất ngủ, hôm sau còn hồi hộp. Vớ phải một cuốn tiểu thuyết dở, bố cục lỏng lẻo cũng giống như ngồi xe đạp không có yên, vừa đau thốn mông vừa ráng đạp cho hết mà không biết đi đâu. Cầm một tập thơ mà ngay mấy bài đầu nghe “sến”, bắt chước thơ người khác, thà quăng xe đạp để cuốc bộ chắc còn khá hơn. Cũng có những cuốn sách chính trị gây ô nhiễm tư tưởng, đọc xong muốn phóng xuống đường để biểu tình, cầm bảng, gây sự với người lạ, đập bàn tranh cãi với người quen. Ðụng vào sách phê bình văn học hay sách triết lý đôi khi như đi lạc vào rừng tối mò, chằng chịt chữ nghĩa, tư tưởng dị thường, phải dắt xe đi từ từ, không thể đạp bừa qua những nhánh rễ nằm la liệt, sắp cựa mình như mãng xà dọa phun chữ độc.

Nói thì nói vậy, đọc sách vẫn là một thú vui, một cuộc hành hương đến một ngôi đền mà từ đó những hành trình khác lại bắt đầu. Càng đi xa càng thấy bầu trời thênh thang, bát ngát hơn, thú vị biết bao. Thế nên mấy bữa nay tôi bồn chồn, cảm thấy muốn đạp xe, trở lại một con đường mà tôi hằng yêu thích, cho dù con đường có lúc quá cô độc, phải “hú dài một tiếng lạnh về hư không” như thiền sư Không Lộ từng thốt lên trên một đỉnh núi. Ðọc sách để quên chuyện cơm áo đang bủa vây ở chung quanh, để rời xa những tin chiến sự đang đè nặng, ám ảnh tâm tư như một con quỉ truyền kiếp, để làm ngơ những đổi thay trên thị trường địa ốc mà tôi phải quay cuồng, hối hả bám theo.

Ở căn nhà cũ đang được thoa son đánh phấn, có lúc tôi đã tạm ngưng ráp một cánh cửa vào khung, ngẩn ngơ đôi phút dõi mắt ra ngoài cửa sổ. Bãi đất trống đằng sau nhà đang xanh tươi như một cánh đồng mùa xuân. Những nhánh cỏ vươn cao, ngả nghiêng theo gió như đồng lúa sắp trổ bông. Từng đợt mưa lạnh đã lũ lượt kéo đến từ bắc Thái Bình Dương trong tháng Ba, giúp cây cỏ trồi xanh, mượt mà sau nhiều tháng bị cháy khô dưới nắng. Sân cỏ mọc hoang dại, trải thảm từ tường nhà đến tận hàng rào, lấp kín những gốc cây mà trên nhánh đang trổ bông. Cây lựu bên hông nhà đã chi chít lá non, bóng ửng trên nền trời trong xanh. Nhìn cỏ cây xanh mát, tung tăng vờn nắng, tôi chợt thấy mình có quá ít thời giờ, lòng khô héo như thiếu một cơn mưa, thèm những dòng văn, những giọt thơ lạnh ướt rơi xuống từ trên thinh không bất tận.

Giữa lúc đang khao khát, cần một cuốn sách để du ngoạn, tôi chợt nghe tin nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đã từ trần tại miền tuyết Minnesota. Ông mất trưa ngày thứ Tư 22 tháng Ba, 2006. Ðêm hôm ấy, sau mấy giờ cưa đóng vang dội trong căn nhà cũ, về lại Bolsa tôi mới đọc thư email, được anh Nguyễn Xuân Hoàng báo tin sự ra đi của nhà thơ. Tôi email lại anh Hoàng ở San Jose, xin những chi tiết về một thi sĩ thuộc thế hệ đàn anh. Trước khi lên giường ngủ đêm hôm ấy, tôi lục lọi trên những kệ sách ở dưới garage, hy vọng tìm được vài tác phẩm của ông. “Thư viện” của tôi chỉ có cuốn tiểu thuyết Một Chủ Nhật Khác của Thanh Tâm Tuyền, và dăm ba cuốn tuyển tập, khảo cứu có nhắc đến ông. Tôi ghi chép vài chi tiết cần thiết – tiểu sử, tác phẩm, ngày sanh, ngày mất, vài câu thơ tiêu biểu, những ý kiến về thơ, văn của ông – chuẩn bị cho một bản tin mà tôi sẽ viết vào sáng hôm sau.

Bản tin trên đài Little Saigon Radio về Thanh Tâm Tuyền vào trưa thứ Năm hôm ấy đã dài gấp đôi so với những bản tin bình thường. Ðó là bản tin quan trọng nhất trong ngày, được tôi đưa lên hàng đầu, bên trên những tin thời sự như bom nổ ở Baghdad, tham nhũng cá độ tại Hà Nội, biểu tình chống thủ tướng bên Bangkok, phản đối luật lao động tận Ba Lê, bão tuyết, sát nhân, và xăng lên giá khắp Hoa Kỳ. Chiến tranh đến rồi đi, rồi lại đến. Một Thanh Tâm Tuyền chỉ đến có một lần, muôn đời không trở lại. Tin Thanh Tâm Tuyền từ trần đã được hầu hết các nhật báo, tuần báo loan tải tại Quận Cam, kể cả mấy tờ lá cải mà những trang quảng cáo thường dày gấp đôi, gấp ba những trang bài. Các đài phát thanh, truyền hình Việt ngữ cũng nhắc đến ông. Mấy nghệ sĩ, ca sĩ liên lạc tổ chức chương trình ở Quận Cam, Houston, tưởng niệm một người cùng thời hoặc từng có sinh hoạt chung với họ. Ở những địa phương đông người Việt khác chắc cũng vậy – San Jose, Seattle, Virginia, Toronto, và lẽ đương nhiên Roseville, một địa phương ở ngoại ô tây bắc St. Paul, nơi ông sống những ngày tháng cuối đời và được an táng ở đó – cũng có một vài sinh hoạt nào đó, trước đám đông hay trong nơi riêng tư giữa vài người bạn đồng điệu, ghi nhận sự mất mát một Thanh Tâm Tuyền trong nền văn chương Việt Nam.

Sự ra đi vĩnh viễn của một người thường khiến chúng ta giật mình, bước ra khỏi cuộc sống hiện tại, khơi lại quãng đời đã qua của người ấy, như thể duyệt lại quá khứ của chính mình. Ðọc những bài báo về ông tôi có một cảm tưởng mà tôi thường bắt gặp ở chính mình tại nhà quàn, trong lễ an táng của một người thân quen: Có đôi điều tôi chưa được biết, muốn biết và sẽ không bao giờ biết về người quá cố. Một khi xác đã nằm trong quan tài, chung quanh thi thể như toát ra một sự huyền bí, một điều bí ẩn, chuyển hóa thân xác thành một người xa lạ nào khác mà bấy lâu nay từng bị che khuất bởi hơi thở của sự sống. Thanh Tâm Tuyền là ai? từng sống như thế nào? sao ông có thể sáng tác những lời thơ, câu văn như vậy?

Như hầu hết mọi người, tôi “đạp xe” rất ít về Thanh Tâm Tuyền, chỉ biết thêm khi cái chết của ông trở thành tin thời sự trong ngày. Các bài báo chép lại tiểu sử của ông từ trong một cuốn sách nào đó được cất giữ trên kệ đã lâu, hoặc chuyền tay từ báo này qua báo khác. Tôi cũng ghi lại đôi điều về ông, lượm lặt từ trong thư viện riêng của tôi, trích từ mấy bài báo chung của mọi người: nhà thơ này tên thật là Dzư Văn Tâm, chào đời năm 1936 tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, di cư vào Nam năm 1954. Tùy theo tài liệu, ông lọt lòng mẹ ngày 13 tháng Ba hoặc ngày 15 tháng Ba. Không nghe ông giải thích về sự khác ngày. Ông từ trần trong tháng Ba, cùng tháng ông đã chào đời. Thanh Tâm Tuyền bị ung thư phổi, nằm trong bệnh viện Regions Hospital tại St. Paul được sáu ngày trước khi khép kín đôi mi, đóng chặt cánh cửa vào tâm hồn ông, không còn “[t]rợn mắt dòm bão trận sinh tử / bủa muôn trùng ánh thép hoa bay” như ông từng khóc kịch tác gia Vũ Khắc Khoan, người cũng qua đời tại miền bão tuyết Minnesota, trong bài “Khóc Muộn Tuyết Ngưu VKK.”

Thanh Tâm Tuyền viết từ năm 18 tuổi, chủ trương tờ Nguyệt San Việt Lửa. Trong khoảng thời gian từ năm 1956 đến năm 1960 ông dấn thân xa hơn vào văn chương, lập tờ Sáng Tạo với những cây bút cự phách một thời như Mai Thảo, Nguyên Sa, Vũ Khắc Khoan, Tô Thùy Yên, Doãn Quốc Sỹ, Quách Thoại, Lý Hoàng Phong, Lữ Hồ, Trần Thanh Hiệp, Thanh Nam, và mấy cây cọ như Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Tạ Tỵ, Duy Thanh. Ðến năm 1960 tờ Sáng Tạo còn có thêm Cung Trầm Tưởng, Thạch Chương, Dương Nghiễm Mậu. Thanh Tâm Tuyền đã nhập ngũ một thời gian, dạy học cho đến khi Cộng Sản chiếm Sài Gòn. Ðâu đó trong năm 1975, ông viết bài thơ “Ngày Ðến”, bùi ngùi nói lên thân phận của một kẻ thuộc phía chiến bại bị đưa đến trại tù cải tạo Long Giao, Long Khánh trong những ngày tháng tàn cuộc chiến.

Tinh mơ xe đến Long Giao
Ðón người đám cỏ tranh cao bên đường
Trông lên đồi núi mờ sương
Mưa bay tất tưởi mưa rong tần ngần
Tiêu điều ngơ ngác trại quân
Ðất lầy bùn đỏ quánh chân ghê người
Ngổn ngang chiến cụ bỏ rơi
Xanh om bờ bụi tả tơi lũy đồn
Nhà hoang vách trống gió luồng,
Vắng tanh nỗi nhớ dập dồn bóng vang
Ngả lưng trên đất mơ màng
Hé trời trôi giạt ngỡ ngàng tấm thân.

Ông bị học tập cải tạo bảy năm, “trôi giạt ngỡ ngàng” đến những trại tù khác từ Yên Báy, Lào Kay, đến Vĩnh Phú. Theo lời của nhà văn Phan Nhật Nam, đăng trên tờ Việt Báo tại Quận Cam, Thanh Tâm Tuyền đã ở tù Cộng Sản rất lâu, thuộc nhóm tù 776, đoàn Hoàng Liên Sơn, bị đưa ra miền Bắc. Sau khi ra tù, ông về Bình Giã, Phước Tuy để làm ruộng, có lúc viết văn gởi ra hải ngoại với bút hiệu Trần Kha. Trong thời gian lao động khổ sai tại trại K5 Tân Lập, Vĩnh Phú, thi sĩ kể tâm trạng của kiếp người ngang với thú vật:

Người nghe tiếng thở phì phờ của trâu
Tiếng tim đập ù tai ngực nhói
Con vật đói và người cũng đói
Bước mộng du theo nắng lên cao.
Hồi hôm trăng lạnh ngời thanh vắng
Ðêm nay rồi bao đêm nữa
người tù sẽ còn thức trắng.

(Thơ Tặng Bạn Ði Cày)

Rời tù năm 1982, ông đoàn tụ với thân nhân tại Minnesota, sống lặng lẽ, âm thầm ở đó cho đến ngày cuối đời. Thanh Tâm Tuyền để lại những tác phẩm: Tôi Không Còn Cô Ðộc (thơ, 1955); Liên Ðêm Mặt Trời Tìm Thấy (thơ, 1964); Khuôn Mặt (truyện, 1964); Bếp Lửa (truyện, 1966); Dọc Ðường (truyện, 1966); Ba Chị Em (kịch, 1967); Cát Lầy (truyện, 1967); Mù Khơi (truyện, 1970); Tiếng Ðộng (truyện, 1970); Tạp Ghi (phiếm luận, 1970); Một Chủ Nhật Khác (truyện, 1975); và Thơ Ở Ðâu Xa (thơ, 1990). Tuy viết hầu hết truyện và tiểu thuyết trong ba thập niên, Thanh Tâm Tuyền đã mở đầu và kết thúc sự nghiệp bằng một tập thơ. Ở trong ông là một thi sĩ, mặc dù ông viết nhiều tiểu thuyết. Truyện của ông có đầy ắp chất thơ, và người ta nhớ đến ông nhiều hơn qua những bài thơ.

Kèm với những bài viết ngắn về tiểu sử, tác phẩm, vài nhật báo đã đăng bức hình của một Thanh Tâm Tuyền rất trẻ, tươi cười trong bộ vét đen, áo sơ-mi trắng có thắt cà vạt đen. Ông có đôi chân mày dài, rậm, đầy nghị lực. Hình được chụp trong ngày cưới của hai người bạn trong văn giới, Thanh Nam và Túy Hồng. Nhìn Thanh Tâm Tuyền cười miệng rộng, tia mắt tình tứ, người ta khó nghĩ ông có những dằn vặt, xâu xé, bức bí, nghẹt thở trong tâm hồn ẩn mật của ông. Trong một bài viết tưởng niệm sự mất mát của nhà thơ, đăng trên nhật báo Người Việt, nữ ca sĩ Quỳnh Giao cho thấy một khía cạnh của Thanh Tâm Tuyền mà hầu hết chúng ta vì thời gian, không gian và vì hoàn cảnh, không có cơ may được biết. Quỳnh Giao viết:

“Nhà thơ Nguyễn Sa là ông thầy Trần Bích Lan duyên dáng, dạy triết mà khiến học trò mê thơ. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền là ông thầy Dzư Văn Tâm khắc khổ, dạy Việt văn mà như là dạy triết. Vào lớp, Thanh Tâm Tuyền ngửng lên trời, dạy văn cho lũ học trò mà như đối thoại với Thượng Ðế. Cái chất duy nhất rất người của ông là mười đầu ngón tay vàng những khói thuốc.”

Tuy thơ của Thanh Tâm Tuyền thường được mô tả khó hiểu, tối tăm, ngột ngạt, người ta cũng phổ được mấy bài thơ của ông, để lại những ca khúc nổi tiếng như “Lệ Ðá Xanh” do Cung Tiến phổ nhạc, “Ðêm Màu Hồng” được nhạc sĩ Phạm Ðình Chương lấy từ bài thơ “Bài Ngợi Ca Tình Yêu”, và bài “Dạ Tâm Khúc” cũng do Phạm Ðình Chương.

Bên cạnh những dữ kiện tìm thấy ở mấy cuốn sách, các bản tin trên nhật báo, tôi cũng đọc được đôi ba đoạn của Nguyễn Hưng Quốc viết về Thanh Tâm Tuyền. Có lẽ không có ai hiểu thơ, cảm thơ, giải thích thơ, viết về thơ sâu sắc, hấp dẫn bằng Nguyễn Hưng Quốc. Nhà phê bình này đã viết về Thanh Tâm Tuyền trong cuốn Thơ, V.V… và V.V…:

“Ở miền Nam, thời kỳ 1954-75, nhiều nhà thơ, đi tiên phong là Thanh Tâm Tuyền, muốn kéo thơ ra khỏi thế giới tưởng tượng thơ mộng và hiền lành của Thơ Mới, muốn ‘phá vỡ những giấc mơ quen thuộc… [để] đưa người ta đi tìm sự thật’. Song, dù sao, Thanh Tâm Tuyền cũng không hề đòi trục xuất tưởng tượng ra khỏi thơ để thơ trở thành một tấm gương soi chiếu hiện thực. Ðiều ông cổ vũ là đổi mới cách tưởng tượng: tưởng tượng, với các nhà Thơ Mới, vốn gắn liền với cảm xúc, thường nhẹ nhàng, như những tiếng ru, dẫn người đọc đi xa, ra khỏi cuộc đời; với Thanh Tâm Tuyền, gắn liền với ý thức, chứa đầy dằn vặt, như những tiếng thét, kéo người ta ra khỏi giấc mơ để đối diện với những đổ vỡ, những hỏa hoạn, những thiên tai ngay chính trong tâm hồn của mình. Tưởng tượng, với các nhà Thơ Mới, nghiêng về khía cạnh thoát ly; với Thanh Tâm Tuyền, nghiêng về khía cạnh nhận thức; với các nhà Thơ Mới, nảy sinh từ đời sống nông thôn, với Thanh Tâm Tuyền, từ đời sống thành thị; với các nhà Thơ Mới, mang màu sắc lãng mạn chủ nghĩa, với Thanh Tâm Tuyền, mang màu sắc hiện đại chủ nghĩa.” (trang 105-106)

Cũng trong cuốn Thơ, V.V… và V.V… xuất bản năm 1996, Nguyễn Hưng Quốc viết ở trang 185: “Trước, nhà thơ tự coi mình như một kẻ có phẩm chất đặc biệt và cao cả, khác hẳn phàm trần, không thể có tri âm giữa trần, nên chỉ trò chuyện với vũ trụ, với trăng sao. Nay, ngược lại, nói như Thanh Tâm Tuyền, ‘người làm thơ… chỉ là tên ăn mày lẩn giữa đám đông khốn cùng với một mẩu tự do còn sót lại.’”

Trước đó, vào năm 1989, Nguyễn Hưng Quốc có viết về Thanh Tâm Tuyền trong cuốn tiểu luận Nghĩ Về Thơ từ trang 54 đến 56:

“Ở miền Nam trước năm 75, dường như nhiều lúc Thanh Tâm Tuyền cũng muốn thăm dò cái cõi tiềm thức ẩn mật trong một số bài thơ đến nay vẫn bị coi là tối tăm. Thử đọc bài thơ số 9 trong chùm ‘Ðêm’ in trong tập Liên Ðêm Mặt Trời Tìm Thấy:

Một giọng trầm đêm
Niềm cô độc sâu
Nét nhạc xanh cung thương đen
Mi mắt trĩu mùa đông cũ
Cái chết bốc hơi
Tiếng kèn rách vô hình dáng
Người con gái áo đen xõa tóc ngất
Hai cánh tay dài quằn quại hai con trăn hiền lành
Không khí nhiễm độc
Ðập vỡ
Quá khứ hỗn xược trên da trống
Ném miểng chai lên mặt trời mù
Nói thầm nói thầm
Mùa rét mướt
Thời gian dần trừ khử
Giọng như hơi cháy dưới sình lầy
Nhát búa hoảng hốt
Tương lai thét đớn đau
Lửa ma trơi vụt tắt
Tiếng cười dữ tợn
Người con gái áo đen
Thổ máu
Cái chết bốc hơi chóng mặt
Nôn xuống chân giận hờn sỏi đá
Ðập vỡ đập vỡ đập vỡ đập vỡ
Niềm cô độc sâu
Giọng trầm đêm hút.

“Bài thơ viết về đêm tối. Trọn vẹn một đêm tối. Từ lúc khởi sự đêm đến lúc tận cùng đêm. Ðêm mưa rơi lâm thâm. Như những tiếng nói thầm. Mưa không đủ lớn để nền trời thành đặc quánh hẳn. Người ta vẫn thấy, mờ thật mờ, trên cao, một vài vì sao thưa thớt như những mảnh chai lấp lánh. Bóng tối được ví với một người con gái. Ðêm xuống: ‘người con gái áo đen xõa tóc ngất’. Rạng đông hừng lên: ‘Người con gái áo đen… thổ máu’. Ðêm bị đồng hóa với cái chết. Ðêm càng sâu, những tiếng nói, tiếng động càng dần dần tắt: ‘Thời gian dần trừ khử. Giọng như hơi cháy dưới sình lầy’. Chỉ còn lại, nặng nề trong những người thao thức, ‘niềm cô độc sâu’.”

Nguyễn Hưng Quốc viết rất lôi cuốn, gợi nhiều ý tưởng, đưa người “đạp xe” đi vun vút từ đầu đến cuối sách của ông một cách tài tình, nhiều sinh khí. Về mặt phê bình thì tôi không thể viết như thế. Cảm được những điều tác giả muốn diễn tả cũng đủ… mệt, hụt hơi, huống hồ phải hiểu và trình bày lại cho người khác cũng hiểu như vậy quả là khó.

Tôi còn nhớ lần đầu tiên viết có mấy chữ về Thanh Tâm Tuyền mà viết cũng không xong, chưa hết ý. Ðến Mỹ năm 1975 ở tuổi mới lớn, mỗi khi giành dụm được một chút tiền, tôi mua mấy dĩa nhạc Mỹ và gởi thư mua sách tiếng Việt từ nơi xa. Dần dần kệ sách của tôi cũng lên vài chục cuốn. Lúc đó tôi quí sách vô cùng, không để sách bừa bãi, chất đống dưới garage như hiện nay. Tủ sách nằm bên cạnh giường (thật sự thì nhà chật, không để sách gần giường thì không còn chỗ nào khác). Bìa của mỗi cuốn sách được tôi dán một lớp giấy plastic trong suốt, giúp cho bìa được bền hơn, sách được thọ hơn mặc dù in bìa mỏng, giấy xoàng.

Một trong những cuốn được tôi nâng niu, cẩn thận bọc bìa là bộ hai cuốn Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta. Mua bộ sách này tiện, được đọc truyện của 45 tác giả mà giá chỉ có $16 đồng, cộng thêm cước phí. Mỗi tác giả không tới 50 xu. Thời đó tôi còn rảnh rang, bạn gái chưa có, còn đi học, đi làm bán-thời-gian, chưa có công việc chính thức, cũng chưa có Internet để chat với ai, nên còn thời giờ để đọc sách. Ðọc xong truyện của mỗi tác giả trị giá 50 xu, tôi thường dùng viết chì để ghi chú vài chữ, giỏi lắm thì được một, hai dòng ý kiến ở cuối trang. Khi biết Thanh Tâm Tuyền đã lìa trần, tôi tìm lại cuốn Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta, tập 2, xem thử mình đã viết gì về truyện của ông ấy.

Ðọc lại mấy dòng chữ viết hơn hai-mươi năm trước cũng giống như xem lại một bức hình, thấy mình tóc tai, quần áo dị hợm, cười ngô nghê mà tưởng đẹp trai, gồ ghề lắm. Ở cuối truyện ngắn “Dọc Ðường” của Thanh Tâm Tuyền, tôi đã viết mấy dòng chữ như sau: “Hay! Tác giả thu hút người đọc từ lúc có người đàn ông lạ kia. Không khí yên lặng rồi từ từ ngột ngạt dần lên như sắp sửa có gì to lớn xảy ra. Thời gian chọn rất mới lạ (đối với những truyện ngắn khác).”

Truyện “Dọc Ðường” kể một người đàn ông đi tìm người em làm việc ở một đồn điền cao su. Ông xuống xe đò lầm địa điểm, chờ xe khác không có, cũng không ai cho ông nương tựa, cho ngủ qua đêm dù chỉ xin ngủ trên sàn đất. Một bà chủ quán, một ông thợ sửa xe biết khẩy đàn, một bà lão tu hành, ai cũng sợ dung chứa một người lạ. Cho dù biết ông nói thật, họ cũng sợ bị liên lụy tại một miền quê đang bao trùm trong không khí chiến tranh.

Lần thứ nhì trong đời tôi được “gặp” Thanh Tâm Tuyền, đạp xe với ông là cuốn tiểu thuyết Một Chủ Nhật Khác. Ðây là truyện tiểu thuyết cuối cùng của ông, xuất bản vào năm 1975, được Văn tái bản tại California năm 1983. Văn là nguyệt san, cơ sở xuất bản của ông Mai Thảo, bạn thân của Thanh Tâm Tuyền. Một Chủ Nhật Khác kể một truyện tình say đắm, vô vọng của Kiệt trong một mùa hè nóng bỏng, hối hả chìm giữa bầu không khí của súng đạn, bom lửa.

Bên ngoài thư viện quá nghèo nàn của tôi, đâu đó tôi tìm được bài thơ “Dạ Khúc” của ông:

“Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hy vọng
Nên anh dìu em đi xa

Ði đi chúng ta đến công viên
Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối
Ôi môi em như mật đắng
Như móng sắc thương đau

Ði đi anh đưa em vào quán rượu
Có một chút Paris
Ðể anh được làm thi sĩ
Hay nửa đêm Hà Nội
Anh là thằng điên khùng
Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới
Chiếc kèn hát mãi than van
Ðiệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng
Tuổi trẻ sao quá buồn
Như con mắt giận dữ
Tuổi trẻ sao quá buồn
Như bàn ghế không bầy

Thôi em hãy đứng dậy
Người bán hàng đã ngủ sau quầy
Anh đưa em đi trốn
Những dày vò ngày mai .”

“Dạ Khúc” có lẽ là bài thơ nổi tiếng nhất, được người ta nhắc đến mỗi khi nói về Thanh Tâm Tuyền. Nếu hiểu tiếng Việt, đọc được thơ của Thanh Tâm Tuyền, chắc nhà tiểu thuyết và phê bình William Gass ở St. Louis cũng thích chí, tấm tắc khen ông là một “ảo thuật gia, viết lên một ca khúc với những khái niệm, vui chơi trong kịch tính và vũ điệu của tư tưởng.” Trong lễ truy niệm trước ngày an táng thi sĩ, người ta được nghe vài trích đoạn trong những tác phẩm của ông. Họ được nhìn thấy trong trí tưởng tượng những vũ điệu của chữ nghĩa, của tình yêu do chính ảo thuật gia Thanh Tâm Tuyền cống hiến.

“Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát / Sớm mai khua thức nhiều nhớ thương.”

Hay

“Tiếng ngàn năm em gọi / Yêu nhau hết một đời.”

Thêm nữa

“Ngày chưa lên gió cuồng trong hắt hủi / Bạn bè chia tay ném bỏ lại cô đơn.”

Chiều hôm ấy cuối tháng Ba, trời đang mưa lớn ở Quận Cam. Ðường Bolsa mờ ẩn dưới mây mưa, chìm lại vào giấc ngủ trong một ngày không có nắng. Sau giờ làm việc ở đài phát thanh, tôi lái xe hấp tấp xuống phố, đội mưa chạy vào một tiệm sách trong sứ mạng kiếm thêm những tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền. Cơn thèm đạp xe với sách đã tràn lên trong tôi. Tiệm Văn Bút nằm trong trung tâm của phố Bolsa. Tôi ngạc nhiên khi nghe chị Mai nói tiệm không có cuốn nào của Thanh Tâm Tuyền, ngoại trừ truyện Tiếng Ðộng. Chị lục lọi một hồi trong kệ sách khuất trong góc tường, cầm ra cho tôi một cuốn sách mỏng, bìa tím. Cuốn Tiếng Ðộng này được chụp lại từ ấn bản trước năm 1975, nét chữ không sắc sảo. Tôi xem giá $6 đồng ở bìa sau, tính lấy tiền trả. Chị Mai xua tay, nhất định tặng sách cho tôi. Thấy chị lắc đầu, nói “Thôi” đến ba lần, tôi đành cầm sách, không biết tính sao cho sòng phẳng với chị ngoài lời “Cám ơn” lúng túng ở trong miệng. Thỉnh thoảng tôi vẫn ghé Văn Bút để đưa sách của tôi cho chị bán. Có lẽ từng đọc bài, biết tôi là một chủ tiệm sách thất bại, viết sách không khá tiền, nên chị tặng cuốn sách, không muốn lấy tiền của một ông nhà văn nghèo? Tôi kẹp sách trong nách, đội mưa chạy ra ngoài xe.

Gần đó, trong khu Phước Lộc Thọ có tiệm sách Văn Khoa. Tôi lại dầm mưa, phóng nhanh mình băng qua bãi đậu xe. Nghe tôi hỏi, anh Tuân lắc đầu, nói tiệm không có cuốn nào của Thanh Tâm Tuyền. Anh thở dài trong lúc ngồi đằng sau quầy nhạc, nói chậm rãi với nét mặt chán chường. Tiệm Văn Khoa có địa điểm tốt nhất so với những tiệm sách khác, nằm gần cửa ra vào của thương xá Phước Lộc Thọ, nơi mà hầu hết người Việt từ khắp nơi từng đặt chân đến nhân dịp đến khu phố Little Saigon. Trời đang mưa, tiệm chỉ có hai ông khách đang đứng thọc tay trong túi quần, vừa liếc nhanh mấy tựa sách vừa nhìn ra ngoài, như chờ tiếng gọi của vợ là dzọt ra đưa bà ấy đi chợ khác, mà tôi – một ông khách đầu ướt, đeo kiếng cận lốm đốm những giọt mưa không biết có thấy đường hay không – lại hỏi sách Thanh Tâm Tuyền thì chủ tiệm thở dài cũng phải.

Từ đường Bolsa, tôi lái xe trong mưa qua đường Brookhurst, ghé tiệm Tự Lực. Tiệm này có nhiều sách nhất trong vùng. Tuy vậy, sau một hồi bấm máy điện toán, cô bán hàng cho biết tiệm chỉ có tập Thơ Ở Ðâu Xa và cuốn Tiếng Ðộng. Chỉ có vậy. Không có Tôi Không Còn Cô Ðộc, Bếp Lửa, hoặc Liên Ðêm Mặt Trời Tìm Thấy. Tôi trả tiền mua Thơ Ở Ðâu Xa, bỏ ý định ghé hai tiệm sách còn lại trong phố Bolsa. Tiệm Tú Quỳnh kỳ cựu, mở cửa từ ngày phố Việt mới hình thành. Tiệm Văn Nghệ mở sau, cũng có nhiều sách. Tuy vậy, tôi không nghĩ hai tiệm này còn cuốn nào khác ngoài Thơ Ở Ðâu Xa và Tiếng Ðộng. Thủ phủ của người Việt tị nạn không còn một tập thơ, một cuốn truyện nào của một người có danh tiếng trong làng văn chương. Ở đây không có thì còn tìm ở đâu? Không riêng gì sách của Thanh Tâm Tuyền, tác phẩm của nhiều thi sĩ khác cũng không chắc còn bày bán tại Quận Cam. Thơ khó bán, ít người mua, tiệm không có đủ chỗ ở trên kệ để chứa hết các tác phẩm. Còn vài lý do chính đáng khác, lót đường cho hành trình hẩm hiu của người làm thơ, đùa với chữ nghĩa.

Tôi ôm hai cuốn sách về nhà, chờ mong một chuyến du hành với Thanh Tâm Tuyền, nôn nao muốn biết thơ ông có còn dằn vặt, trăn trở, lạ thường như mấy chục năm trước. Thơ Ở Ðâu Xa là tác phẩm cuối cùng của Thanh Tâm Tuyền, gồm những bài thơ, đoản văn từ 1975 đến 1990. Ở Thơ Ở Ðâu Xa, tôi tìm thấy sự lắng đọng, chấp nhận, bình an trong tâm hồn ẩn mật của thi sĩ, không còn “khua thức”, không giục dã, hối hả đến nỗi “Anh đưa em đi trốn / Những dày vò ngày mai” mà ông từng trải trong một thời trẻ nhiều khuấy động, đuối hơi bơi tìm hạnh phúc trên một đất nước chìm đắm trong chiến tranh. Tuy tập thơ đầu và tập thơ cuối ra đời cách nhau gần bốn thập niên, tôi vẫn nghe ở ông một nỗi niềm thương nhớ, một nỗi buồn không chỉ riêng có ở tuổi trẻ mà thôi, của những người nhận thức sự cô đơn, phù du trong cuộc sống, trong kiếp người. Tôi đọc đi đọc lại đôi, ba lần bài “Ngã Trên Núi Việt Hồng Ở Yên Báy Khi Ði Vác Nứa”:

“Tuột dốc té nhào trên hẻm núi
Chết điếng toàn thân trong giây lâu
Mưa rơi đều hạt mưa phơi phới
Ngày đang tàn hiu quạnh rừng sâu

Duỗi soải chân tay gối trên nứa
Ngó trời nhá nhem nghe mưa mau
Tưởng chừng thi thể ai thối rữa
Hồn viển vông chẳng chút oán sầu

Mưa giăng tấm lưới trắng dầy khít
Làng xóm dưới núi ở phương nào?
Gió lạnh tái tê bó liệm chặt
Lả thiếp người quên bẵng sước đau

Ðầm mình trong hạnh của ẩn mật
Mắt hoen nhòa hứng giọt thiên thâu
Dò dẫm lối về đêm tối mịt
Sông xa núi thẳm quê nhà đâu?

Tôi cảm nỗi đau thấm thía của thi sĩ. Ông bị té nhào, chết điếng toàn thân ở một nơi hoang vắng, vậy mà trời đất vẫn như vô tình, “rơi đều những hạt mưa phơi phới”, rớt xuống một thân phận hiu quạnh nằm giữa rừng sâu, “mắt hoen nhòa hứng giọt thiên thâu”. Ngoài tựa đề của bài thơ nhắc đến địa danh, gợi ý hoàn cảnh – “Ngã Trên Núi Việt Hồng Ở Yên Báy Khi Ði Vác Nứa” – mười-sáu câu thơ không cho biết thời thế nào đã đưa đẩy ông lâm vào tình trạng phải vác nứa ở trên núi, vác quá nặng đến nỗi bị té nhào, “lả thiếp người quên bẵng sước đau.” Trong bài thơ này cũng như trong suốt tập Thơ Ở Ðâu Xa, người đọc không thấy những dòng chữ nhắc đến việc ông bị đày đọa bảy năm trong các trại tù của Cộng Sản. Thi sĩ không trách mắng, nguyền rủa một chế độ ác độc, cũng không trốn chạy số phận bất hạnh, chỉ ghi nhận hậu quả của nghịch cảnh đối với nội tâm. Ông chấp nhận định mệnh, sẵn sàng “duỗi soải chân tay gối trên nứa”, “đầm mình trong hạnh của ẩn mật”, để rồi tha thứ với “hồn viển vông chẳng chút oán sầu.”

Ðâu đó trong những bài báo, tôi được biết sáu người bạn thân của ông, cũng là những tên tuổi lớn trong giới sáng tác, đã khiêng linh cữu của nhà thơ đến huyệt mộ. Ðó là Cung Tiến, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Cao Ðàm, Nguyễn Ngọc Diễm, Vũ Xuân Châu, và Tô Thùy Yên. Ðặc biệt, chi tiết về tình bạn giữa hai nhà thơ làm tôi chú ý. Nghe tin bạn mất, thi sĩ Tô Thùy Yên đã lái xe suốt đêm, suốt ngày từ Houston, Texas đến Roseville, Minnesota. Hai bạn thơ từng biết nhau gần nửa thế kỷ trước. Trong chuyến đi vội vã, dài hơn 1,200 dặm từ miền nam hướng lên miền bắc, nhà thơ Tô Thùy Yên chắc ít nói, đè nén những cảm xúc, nên ông không thể giằn lại những giòng lệ giàn giụa trước linh cữu của bạn tại một nhà quàn. Trong buổi lễ tưởng niệm, Tô Thùy Yên đã đọc bài thơ “Chia Tay Ải Tây” mà ông từng sáng tác tặng Thanh Tâm Tuyền. Bài thơ đã viết lời từ biệt giữa đôi bạn như được biết từ mấy năm trước: “Mới độ nào chia tay ải Tây / Ði đâu hay chỉ cốt rời đây?”

Nhìn hình ảnh những người bạn buồn bã tiễn đưa Thanh Tâm Tuyền đến nơi an nghỉ thiên thu, tôi mừng thấy ông được may mắn trong tình bạn, đồng thời chợt nghe một thoáng ngậm ngùi cho số phận của những người dâng hiến đời mình cho chữ nghĩa, lùng kiếm một thứ hạnh phúc vô vọng trong văn chương. Người đời, trong đó có tôi, thường chỉ nghĩ đến những người viết, những kẻ sáng tạo, những nhà ảo thuật của chữ nghĩa một khi họ mới qua đời, trở thành tin thời sự. Ðây đó người ta tổ chức chương trình tưởng nhớ trong lúc tình cảm dành cho người quá cố còn đầy ắp, sôi nổi. Dần dà theo thời gian người ta quên mất nhà thơ, như họ từng lãng quên khi thi sĩ còn sống. Nghĩa trang ở Quận Cam đã đón nhận những thi sĩ Mai Thảo, Nguyên Sa, và Nguyễn Tất Nhiên. Mấy ai còn tưởng niệm, còn bước vào tiệm sách hỏi mua thơ của họ?

Trong một ngày bệnh đầu tháng Tư, không thể viết tin với những trận ho sù sụ, không thể đón khách bên văn phòng với giọng nói thều thào, nghẹt mũi, đượm mùi thuốc ho, và chắc chắn không đủ sức lái xe đến căn nhà cũ để cầm mỏ lếch vặn lại ống nước, tôi đành quanh quẩn ở trong nhà, chờ được vợ nhắc uống thuốc, ăn cháo, đắp mền. Không biết người khác bị cảm cúm thì sao, riêng tôi, tôi hay bị khó ngủ, trăn trở vì sốt nóng hoặc ngầy ngậy vì bị thuốc hành, càng nằm lâu trên giường tôi càng cảm thấy đau nhức nhiều hơn, muốn bệnh thêm. Trong những ngày bị bệnh như vậy, tôi thường ngồi yên một chỗ cho đỡ chóng mặt. Ðó cũng là lúc tôi không thể làm gì khác ngoại trừ đọc sách, nếu còn đủ sức để cầm sách trên tay. Lần bệnh này tôi ngồi ở phòng ăn, lần giở cuốn Tiếng Ðộng mới mua chiều mưa hôm nọ.

Chương một mở đầu với dòng chữ: “Tôi biết tôi không thể ngủ trở lại. Cốc cà phê đặc uống buổi tối ngoài quán đã bắt thao thức đến quá nửa đêm. Mỗi lần mất ngủ tôi nghĩ lắm điều kỳ cục. Ðầu óc quay như bộ máy lúc nhanh lúc chậm, quay dưng không chẳng ngừng.”

Truyện tình Tiếng Ðộng bắt đầu như vậy, lăn chuyển bánh xe đưa tôi vào thế giới của Thanh Tâm Tuyền. Tôi như quên cơn bệnh, đạp xe với ông trở về một khung cảnh và thời gian của hơn 30 năm trước. Một cuộc hành hương đầy lý thú, diễn ra trong yên lặng, mỗi lúc một xa hơn bên ngoài một phòng bếp ở phố Bolsa, mỗi lúc một gần hơn đến một ngôi đền của chữ nghĩa, và từ đó tôi lại tiếp tục những chuyến du hành khác trên cõi vĩnh hằng.

Hoàng Mai Đạt

2006

Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

Phần 5

Đài Phát Thanh Việt Nam Kháng Chiến

Chương 19

Đường về căn cứ 83

Chiến Hữu Dương Văn Tư,

Tư Lịnh Phó Lực Lượng Võ Trang Kháng Chiến.

(Bắt đầu viết ngày 17/7/2003.)

https://drive.google.com/file/d/1U0QZVdSdAUYMnhb_Od3OQNFiN7qiNa-E/view

Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

Một lời thề son sắt cùng núi sông.

Chương 18

Lễ tuyên thệ rời căn cứ 81 để về làm việc cho đài phát thanh Việt Nam Kháng Chiến

(Bắt đầu viết vào ngày 14/9/2002).

https://drive.google.com/file/d/1k2ilG95txWGxk8MmvC-JqvXN2ECaKZSa/view

Nội y

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

* Anh em như thủ túc, vợ chồng như y phục. (Ngạn ngữ Trung-hoa).

1.

Ở trang bià hồ sơ nhập viện, người ta ghi chú: Ty, Le Van. 48 tuổi. Phái tính: Nam. Gia cảnh: Độc thân. Địa chỉ nơi cư trú. Số điện thoại nhà và ở sở làm…

Rất nhiều tờ giấy kẹp bên trong: Giấy giới thiệu của các bác sĩ. Giấy chứng thực của trung tâm chuyên khoa phổi. Quang tuyến X. Hình chụp từ CT scan. Kết quả của hai lần thử nghiệm sự hô hấp. Mẫu máu, nước tiểu. Những xét đoán mơ hồ về căn bệnh ung thư… Tóm tắt, hồ sơ ấy có bề dày bằng bản thảo một cuốn tiểu thuyết khoảng hai trăm trang với những diễn tiến đầy rắc rối xảy ra giữa mười nhân vật: Bốn bác sĩ, năm y tá và một bệnh nhân.

– Bệnh nhân Le van Ty.

Một giọng nói cất lên, hơi lấn cấn khi đọc xong ba chữ ghi trên góc trang bià. Hành lang sáng đèn, nền gạch hoa trơn bóng như đang hứng phải nước mưa. Có thể nó làm cho âm thanh được đẩy đi xa. Có thể nó ngầm bảo, ở bệnh viện sự sạch sẽ là điều chính yếu. Máy lạnh không mở, nhưng giá rét từ đâu luôn lãng vãng, thầm lặng thổi qua.

Người đàn ông đứng lên từ hàng ghế đợi. Ba bệnh nhân khác hiếu kì ngó. Rồi họ sẽ được gọi tên. May mắn điểm danh hay thần chết chỉ mặt thì chẳng tài nào đoán được, mặc dù trước đó bác sĩ phẩu thuật đã đưa ra lời bình: “Mức độ nguy hiểm cho việc mổ xẻ khâu may chỉ leo lên tới lằn vạch 37 phần trăm thôi, chớ quan hoài”. Niềm tin vào y khoa hiện đại là thứ mà mọi người phải luôn thủ đắc trong tâm tưởng. Sợ hãi là điều phi lý! Vậy thì 63% còn lại có giúp người ta ngồi yên trên đò? Thuận buồm xuôi gió tới được bến bờ xa xăm? Cái bến bờ hằng xảy ra những hoạt cảnh chẳng lấy gì làm lí thú nhưng ai cũng thiết tha mong muốn đừng vội bỏ cuộc. Miếng cơm manh áo, tình thương yêu và sự bội phản. Từ một người có gia đình bỗng chốc thấy mình trơ trọi giữa xứ lạ. Họ phải học hỏi lại từ đầu những điều ấu trĩ nhất với cuốn cẩm nang: Phải cố gắng để không chết hai lần!

Y tá là người đàn bà có hơi đẩy đà. Bảng tên cài trước ngực lớn, nhô ra hàng chữ: Maria. Bệnh nhân Tỷ đọc thầm: “linh hồn con ớn lạnh!”

– Anh vào phòng kia tắm rửa với thứ dung dịch đựng trong lọ này rồi mặc vào người chiếc áo cột giây này. Trong phòng tắm có máng sẵn cái bao để đựng áo quần anh cởi ra. Họ sẽ chuyển nó lên phòng anh sau. Có hiểu tôi nói không?

– Hiểu.

– Cởi tất cả. Cởi tuốt luốt. Trần như nhộng. Chỉ cho phép mang đôi vớ thôi. OK?

– OK.

– Đưa tay đây.

Maria tròng vào cổ tay Tỷ một vòng nhựa, họ tên và những con số lòng thòng in đầy đủ trên đó, và có lẽ  nó sẽ bám theo Tỷ trên suốt những chặng đường phiêu dạt trong cái bệnh viện mênh mông này. Nó là tấm căn cước tạm thời, chứng thực sự hiện hữu của bệnh nhân Tỷ, chẳng có được sự lựa chọn nào khác.

Phòng tắm hơi nhỏ, cửa khép hờ với ngọn đèn vàng chôn sâu trong tường. Lỗ thoát nước dưới chân và nước còn lai láng chưa kịp bốc hơi. Như thế có nghĩa là một con bệnh nào đó mới vừa rời khỏi chỗ này, ra đi chưa được lâu. Hắn có thổi sáo mồm khi đứng dưới vòi sen không? Chắc chắn không. Đầu óc hắn lưu trữ hình ảnh người thân nào trong gia đình phút giây đó? Điều gì mang tới sức mạnh cho hắn? Bệnh nhân là đàn ông hay đàn bà? Tóc vàng, nâu, đen? Hay muối tiêu tựa Tỷ?

Mất năm phút cho việc tắm táp lẫn thay đổi xiêm y. Tỷ bước ra với chiếc áo kì cục luộm thuộm chẳng che kín lưng. Tựa như tấm khăn choàng mà người thợ hớt tóc thường phủ lên thân chủ trước khi động kéo động tông-đơ: Sao, chơi kiểu gì đây? Trọc, ba phân, hay nuôi dài chỉ tỉa mỏng?

Maria dòm, tỏ vẻ hài lòng.

– Ngồi đó đợi chút, người ta sẽ mang giường tới đẩy anh đi.

Tỷ ngó lên cái thánh giá màu nâu máng trên tường, cố nhìn ra khuôn mặt kẻ chịu đọa đày nhưng mơ hồ một hình khối đọng vào mắt. Tại sao ông ta bị đóng đinh vào thập tự? Tỷ không biết. Tại sao người ta cầm nó trong tay và ma quỉ sợ hãi che mặt khi bị dí cái hình tượng ấy lại gần? Tỷ nào hay. Nó là thứ bùa chú, ít ra gieo được niềm tín cẩn vào tâm hồn những kẻ ngoan đạo. Rồi con sẽ hưởng được phước lành từ ơn Chúa. Amen!

Bệnh nhân Tỷ thuộc tuýp hắc bạch giang hồ, phường ngoại đạo. Gia đình ở cố quận thờ cúng ông bà, mỗi năm làm dăm ba cái giỗ tưởng nhớ người khuất mặt. Và đó là dăm ba lần được ăn ngon khi nhang đèn vừa ngúm tàn nguội lạnh. Khung ảnh đen trắng ố vàng nước thuốc đứng chen vai trên bàn thờ nhìn xuống đám con cháu chen chúc tất bật xuýt xoa. Tỷ nhớ dường như ông bà cha mẹ khi khuất núi đều nhẹ gánh hành trang, họ ra đi không phải vì chứng bệnh ung thư. Họ có tuổi thọ khá cao và những người tới phúng điếu đều nói hệt nhau một câu: “Thôi, vậy là êm đẹp rồi! Giã từ cuộc đời này mà tựa như ngủ quên một giấc chẳng thèm mở mắt gượng dậy. Êm thắm không bút mực nào tả xiết! Tịch lặng như hoa rụng trong vườn khuya”.

Một chiếc giường có bốn bánh xe xuất hiện ở cửa thang máy. Người đẩy giường to lớn, mặc bộ đồ trắng mang giày thể thao Nike cũng màu trắng. Người và giường êm ả thoảng qua như một cơn gió. Ông ta chào bà Maria, nhận xấp giấy tờ kẹp ở bảng gỗ rồi gọi tên Tỷ. Nắng ở ô cửa gương đã giảm bớt sắc lửa. Lá xanh lao xao bên ngoài và Tỷ leo lên giường nằm ôm ấp xấp hồ sơ vừa đặt để trên bụng. Những bóng đèn néon bắt trên trần lùi dần. Tỷ nhắm mắt, cảm giác như ngồi co quắp trên ghe vượt biên ở một đêm nhiều sóng bạc đầu ngoài cửa biển. Sự may mắn của đêm ấy xảy ra đã quá lâu. Lâu đến độ quên mất hình khối của niềm sợ hãi khi đó mỗi lúc muốn hồi tưởng lại. Chòng chành, nghe từng tràng AK47 bắn vãi theo, léo nhéo lời nguyền rủa độc ác. Say sóng, nôn mữa, biến thành một con cá ương. Chỉ có bấy nhiêu là còn lưu giữ vào tiềm thức. Trí nhớ tựa tấm màn nhăn nhàu khép lại, buồn bã với bản án: Những kẻ phản bội tổ quốc!

2.

Màn đêm. Yên lặng. Khung cảnh đã khác trước. Tỷ mở mắt, những gì thu nhận vào nhãn quang đánh động lên não bộ, buộc phải đặt ra câu hỏi: Sự sống, cái chết. Cảnh giới này hoang đường hay hiện thực? Mù mờ, có thể cái miếng nhựa ụp vào miệng mũi truyền dưỡng khí làm hơi nước biến thành một màn sương mỏng vây quanh mặt Tỷ. Những con số xanh đỏ nhảy cách khoảng trên máy đo tim phổi, giây nhợ tiếp nối vào cơ thể đâm thốc tới động mạch tĩnh mạch. Toàn thân không có trọng lượng, tựa nó đã trải ra trên mặt nệm, chìm sâu. Tỷ nhớ lại những bóng đèn vàng bắt nhô ra trước mỗi phòng mổ. Đèn thắp sáng, có nghĩa là đang bận. Tỷ nằm chờ ngoài hành lang, đợi một bóng điện tắt. Y công sẽ mang đồ lỉnh kỉnh vào làm sạch gian phòng ấy trong khi có người tới xem xét lần cuối tập hồ sơ bệnh lý đặt trên bụng Tỷ. Họ ngó vào mặt Tỷ: Mày nói tiếng Pháp hay tiếng Anh? Có đeo răng giả không? Có chiếc răng nào đang lung lay? Rồi không đợi câu trả lời, người ấy tiếp: Mặt xanh dờn thế? Đang sợ té đái phải không? Này, tin moa đi. Ở đây mỗi ngày có khoảng mười lăm ca phẩu thuật và tất cả đều OK. Ông ta đưa bàn tay ra, giả làm con dao đi một đường trên ngực Tỷ: Sẽ như vậy đó, dài khoảng hai mươi lăm phân, họ sẽ lấy cái vật dư thừa nằm trước lá phổi mày. Thắc mắc làm chi cho ốm người!

Lòng Tỷ chẳng gợn niềm lo ngại nào cả. Đáp trả lại bằng nụ cười rộng miệng. Nụ cười mà những chuyên gia đã mất công khảo sát là muốn tươi tỉnh yêu đời như vậy con người phải huy động tới gần một trăm cơ bắp chằng chéo nơi mặt mày. Đời còn dài, cười được phút nào hay phút đó, dẫu có khi tai nghe trách cứ: Cười gì vô duyên vậy?  Cười hở mười cái răng!

3. 

Trời ơi! Oh, my God! Đã xảy ra cớ sự gì?

Đường đột. Tỷ cũng nén một tiếng hô hoán. Sylvie đứng dưới chân giường, như một người của quá vãng bỗng hiện ra, ma đưa lối qủi dẫn đường. Cả hai nhìn nhau, săm soi. Giường có nếp gấp ở giữa, nên Tỷ nằm mà tựa như đang ngồi, chông chênh, lấn cấn, ngượng ngùng. Khoảng cách của hai đứa là cái miếng gỗ bắt cứng vào giường làm mâm đựng thức ăn. Khay nhựa đặt để lên đó. Một hộp sữa loãng 2%. Một hộp nước cam. Khoai tây nghiền, miếng cá hấp, vài cọng đậu đũa luộc chín. Từ một người đứng máy sắp trang cắt xén sách trong nhà in Sylvie giờ này là kẻ mặc đồng phục bệnh viện và cô con gái hai mươi ba tuổi ngồn ngộn sức sống kia vừa mang thức ăn tới cho Tỷ. Chẳng có gì để nói. Phút giây ấy người ta bận hồi tưởng, người ta tự truy cứu lấy những đổi thay và chẳng tài nào họ bới tìm được một đáp số. Phải hỏi lấy nhau thôi, sau khi ngỡ ngàng đã rón rén rời đi. Mái tóc vàng cắt ngắn di chuyển lại gần, những nốt tàn nhan, cánh mũi thon cao, đôi môi hồng có hơi khô:

– Vẫn làm chỗ ấy?

– Vẫn.

– Sao vậy?

– Một hôm thức giấc thấy đau ở ngực. Đi rọi hình thấy ở lòng mình có đeo thêm một trái tim.

– Đừng đùa.

– Ừ. Một cục gì đấy lớn hơn trái chanh. Vậy đó, và họ quyết định lấy nó ra. Bác sĩ án chừng nó nằm trong ấy đã ba bốn năm, tăng trưởng khá nhanh, lấy sớm chừng nào tốt chừng ấy. Còn bạn?

– Boy friend làm y tá ở đây, nó kiếm giúp mình một việc làm ở khu nhà bếp. Tất cả đều tạm bợ. Bạn hiểu không? Tất cả đều chẳng mấy vui.

– Bao lâu rồi?

– Hơn ba tháng. Đi giao thức ăn và thường trực giáp mặt với bệnh nhân. Cuộc đời luôn buồn tẻ. Đúng vậy không?

– I don’t know. Có lẽ phải mang thương tích mới nhận thấy cuộc đời có đôi lúc đáng để sống thở, thụ hưởng.

– Vậy sao? Chưa bao giờ mình dám đặt chân vào khu tâm thần. Một bức tranh màu xám có khi còn nhìn ra vẻ đẹp. Mà thôi, mình phải đi đây. Bạn cần gì xin cứ nói.

– Cám ơn Sylvie.

– Ở khay chứa thức ăn có cây bút chì cùng tờ giấy in sẵn những món ăn. Bạn lựa chọn menu cho ngày mai bằng cách đánh dấu vào mỗi ô. Mai gặp. Take care yourself.

Tỷ muốn bắt tay nhưng khoảng cách chẳng mấy gần. Với người ra không chắc đã được. Vết thương còn nhức buốt. Tựa hồ một lưỡi kiếm đâm vào, chưa rút ra.

– Bai. Ngày mai.

Tỷ nói. Tỷ từng thốt ra những chữ ấy và có khi nó chẳng như ý. Một mai nào đó, Sylvie đã không trở lại. Những ngày tháng cũ, Sylvie đi và cô chẳng ngờ đã để lại ở Tỷ một sự hụt hẫng khó giải thích. Cái khoảng trống mà Tỷ tìm mọi cách cố lấp đầy, nguôi ngoai. Không phải dễ. Tỷ ngờ vực: Đó có phải là tình yêu?

Một bà y tá bước vào, tay cầm bốn năm ly giấy nhỏ đựng thuốc. Những viên thuốc hình dạng không đồng đều, màu sắc khác biệt. Thuốc chống nhiễm trùng, thuốc giảm đau, thuốc hồi phục sức khỏe, thuốc chống táo bón… Bà chờ Tỷ uống hết mới quay lưng rời đi. Một ngày cái việc uống thuốc kia sẽ tái diễn đến ba bốn bận, kể cả canh khuya. Họ nhẹ nhàng đánh thức Tỷ dậy, lấy gối kê lưng thận trọng dìu Tỷ ngồi lên, soi đèn pin, vỗ về như hình ảnh một người mẹ chăm sóc con thơ. Có người còn vạch chiếc áo ra để thăm dò đường kim mũi chỉ may chằng lên vết cắt. Họ ngó xuống dương vật Tỷ, đưa tay rờ thử cái ống gắn vào đấy có bị sút rời không. Tỷ cũng nhìn, cái ống cao su dẫn tới cuối đường là một bình nhựa chứa thứ dung dịch màu xanh pha trộn nước tiểu, lợn cợn máu chảy ngóc ngách qua từng tầng có vạch ngấc đánh số bên ngoài. Nó móc bên thành giường và đi đâu con bệnh phải xách nó theo, lủng lẳng, vật bất ly thân.

– Tốt đẹp cả. Bà y tá thầm thì. Tỷ cho đó là lời trấn an chẳng đúng lúc. Bởi cái bộ phận tiểu tiện của con cháu Adam kia đã biến dạng một cách kỳ cục, đầy thảm hại. Nó hệt cái vòi của chú voi con thu bé đến hết cỡ, mốc thếch và nhăn nhàu. Nó sẽ làm trò cười cho những cô sinh viên y khoa đi thực tập. Và đương nhiên, trong đầu óc mấy em sẽ mọc lên ý nghĩ: Bất hạnh thay nếu chúng ta lấy chồng gặp phải một ông anh “nhược tiểu” kiểu ấy!

Sylvie đã nhìn thấy nó. Nhưng cái động từ ngắm nhìn kia chia ở thì quá khứ, lúc chưa hoạn nạn thân bại danh liệt. Bấy giờ nó râu hùm mày én lưng hai tấc rộng thân mười thước cao. Nó đường bệ, hữu dõng, đích thực là chiếc cày sẵn sàng khai mở những vùng đất hoang để gieo mầm sống xuống. Sylvie biểu nó phải mặc áo và cuối cùng là lưng Tỷ có rất nhiều vết xước hằn in. Cuộc tình diễn ra không lâu, có vẻ tạm bợ. Nhớ về nó là nhớ tới một mặt nệm xộc xệch chăn chiếu, da Sylvie trắng muốt trong bóng mờ và cả hai nằm mơ màng với thứ trạng thái bải hoải một cách dễ chịu. Bye, ngày mai nhé. See you. Và một mai đã không trở lại. Những lúc làm tình quyết liệt, chú tâm, những thứ ấy chẳng khiến người ta đâm quyến luyến nhau sao? Quên biến một cách dễ dàng quá, như kì cọ rửa sạch một vết nhơ vừa bám trên da thịt. Tỷ không hiểu được, nằm mộng cũng chẳng ngờ.

4.

Mặt sau tờ giấy lựa chọn món ăn, Tỷ viết đầy đủ một cái địa chỉ. Tờ giấy vốn nhỏ, lớn gấp đôi bao thuốc lá, nên muốn chú thích thêm nó không còn chỗ để rườm lời. Nó tựa một tờ điện tín ngày xa xưa, thông thường lời nhắn nhủ in trên đó sẽ rất cô đọng. Ví dụ: “Con cần tiền. Gửi gấp cho 5000”. Hoặc: “Mai con về. Chuyến bay AC 1234. Đến lúc 5 giờ”. Hay: “Anh luôn nhớ em. Anh yêu em”.

Sylvie cầm tờ giấy, cô xếp đôi:

– Tôi còn giữ tấm ảnh chụp hai đứa mình đứng trước metro Atwater. Tôi sẽ cho họ xem.

– Em gái tôi rất hiếu khách. Nó học sư phạm ban Anh văn. Nó sẽ mừng vui khi gặp Sylvie, tôi nghĩ thế. Nó sẽ giúp bạn những thứ bạn cần. Đừng ngần ngại.

– Bao giờ xuất viện?

– Ngày mai, có lẽ vậy. Sáng sớm hôm nay bác sĩ đã làm cuộc trắc nghiệm, tôi đi bộ lên xuống xầu thang, vững chải, đạt yêu cầu. Chẳng có gì phàn nàn.

– Hy vọng mọi chuyện đều tốt đẹp.

Sylvie đưa tay sờ soạn vào ngực Tỷ. Ở đó người ta dùng những cái móc bằng kim loại để níu kéo vết mổ cho thực kín miệng. Chính những cái chân rết ấy làm da thịt hai bên phải chịu bầm tím, thoạt trông cứ ngỡ là ở ngực có bắt cái zipper, tiện cho việc đóng mở nhìn ngó vào bên trong. Một cái fermeture lạ đời chẳng sợ “đụng hàng”. Mười ngày sau, y tá sẽ dùng thứ kềm đặc biệt tháo gỡ từng cái ra, chùi thuốc khử trùng rồi cắt đi những gút thắt của sợi chỉ đen đâm tua tủa như râu loài chuột cống.

– Có nên báo cho người nhà bạn biết tình trạng này không?

– Chẳng ích gì. Bên đó con người luôn quần quật với những lo toan, đừng bắt họ phải chất thêm gánh nặng. Sylvie cho họ xem tấm ảnh. Đấy, nó vẫn tươi cười như thế, chẳng mảy may hư hao. Đi bao lâu?

– Hai tuần. Nhưng ở Viet-nam chỉ sáu ngày thôi.

Tỷ nhìn Sylvie. Da dẻ trắng ngần kia sẽ rám nắng miền nhiệt đới. Cô mặc áo thun, quần cụt, chân mang dép và rồi cô sẽ có được một tên gọi: Tây ba-lô. Thế nào đứa em Tỷ cũng dắt cô đi ăn bánh khoái, lên Kim-long thưởng thức món bánh ướt thịt nướng, xuống Gia-hội ăn bánh bột lọc bánh nậm mụ Đỏ. Và để giữ lời hứa, cô sẽ vô Thành-nội, đứng trước ngôi trường cũ của Tỷ để chụp hình. Ngôi trường như mộ huyệt, chôn dùm Tỷ biết bao kỉ niệm êm đềm. Có hồi sinh, hoán đổi được tiền kiếp cũng chẳng tài nào tìm lại nguyên vẹn cảnh sống đẹp đẽ kia. Tỷ tin chắc thế. Mỗi người chỉ có cho riêng mình một gian đoạn đáng sống, và đa phần đó là những ngày của quá khứ xa xăm, tuổi thơ ngây.

– Đủ sức để xuống cafeteria không?

– Sao không? Mình từng lội bộ xuống mua cà phê và journal. Đi lâng lâng như cỡi mây, thú vị lắm.

– Tốt. Tôi mời bạn, như một lời giã từ.

– Đợi tôi thay áo quần. Không lâu đâu.

Sylvie kéo màn vây bọc che lấy chiếc giường. Trong cái túi nylon có đánh số chứa đựng áo quần của bệnh nhân Tỷ, vô tình người ta đã đánh rơi đâu mất chiếc quần lót. Xóc xáo hoài chẳng thấy, cứ mãi loay hoay tìm. Sylvie nhìn cái vật thể bèo nhèo xấu xí của Tỷ. Nó chưa thực sự bình phục, họ giật cái vòi cao su rồi mang cái bình nhựa kì cục ấy đi đã bao lâu? Sao dung nhan cái vật nọ ngó tội nghiệp, có vẻ như bị tấy sưng bỏng rát? Sylvie mặc váy, một chiếc jupe không mấy bó và thật dễ cho cô khi cởi tuột nội y.

– Mặc tạm cái này đi.

Quần lót CK for her, bằng cotton màu xanh da trời. Chẳng có gì dị biệt. Và nó sạch, chắc thế, qua sự tự tin của Sylvie khi cô đưa nó tới tay Tỷ. Tròng vào chân với bàn tay giúp đỡ của khổ chủ. Vừa vặn, ấm áp dù phút đầu cảm thấy chút rợn cảm mọc vội lên da thịt. Tỷ ôm lấy Sylvie, lâu lắm rồi, nhưng Tỷ còn hít được, còn nhận ra thứ hương mùi rất đỗi trung thành từ cơ thể Sylvie. Bệnh viện nghiêm cấm nhân viên làm việc trong đó xức nước hoa, sợ gây dị ứng cho bệnh nhân. Nội quy ấy rất đáng hoan nghênh, cho nên Tỷ ngây ngất mùi da thịt của Sylvie. Nguyên chất, thực thụ, chẳng giả dối lừa gạt bằng mỹ phẩm.

– Tôi đổi ý định.

– Về chuyện gì?

– Tôi muốn đứng lặng như thế này thay vì đi uống cà phê.

– Tùy bạn. Nhưng người ta sẽ kéo màn ra, y tá sẽ mang thuốc vào và chúng ta sẽ thôi không còn được ôm nhau.

Quần jean Tỷ mặc là loại cài nút đồng, những năm khuy. Muốn gài kín Sylvie phải tốn khoảng hai phút và Tỷ đã tiêu khoảng thời gian ngắn kia bằng tất cả sự bồi hồi. Đứng chết trân, mường tượng tới những điều nhảm nhí.

Kéo màn ra, bệnh nhân nằm cạnh giường ngó Tỷ bằng đôi mắt đong đầy sự ganh tị. Thảng hoặc Tỷ thấy vợ ông ta vào thăm, vỗ về ông, đút thức ăn, rót nước, lau mặt, chải tóc, rồi một đôi khi cao hứng bà leo lên giường nằm “kể chuyện đời xưa”. Ông ta thuộc loại đẻ bọc điều, nhưng Tỷ hiểu niềm ganh tị kia phát sinh từ một cuộc so sánh: Ta đã già mất rồi, chẳng cơm cháo gì. Còn hắn? Ờ, với số tuổi đó ngày xưa ta chơi bời chết bỏ bể bỏ!

– Sau kỳ nghỉ hè, bạn còn trở lại làm việc ở đây không?

– Có thể. Chẳng ai biết chuyện ngày mai cả.

– Mỗi ba tháng tôi phải đến tái khám. Mong gặp lại bạn ở những lần ấy.

Sylvie im lặng, cô nắm tay Tỷ dẫn ra hành lang. Một người đàn bà bước đi khi chẳng mặc quần lót. Họ khó chịu hay dễ chịu với cái trống trải nhột nhạt?

– Thích gì ở Viet-nam? Tôi mua mang qua…

– Chẳng thích gì cả.

– Bao lâu rồi? Bạn có về thăm lại lần nào chưa?

– Gần ba mươi năm. Tôi không về. Có quá nhiều thay đổi và kì cục một điều là tôi ghét nhìn những đổi thay.

Cafeteria đông người, chật kín, lố nhố. Tỷ cũng ghét chuyện sắp hàng rồng rắn, chỉ để mua một cốc cà phê.

– Vậy thì thôi, tôi đi. Có thể mai sẽ vào thăm.

Môi Sylvie có hơi khô, như người tập thể hình ở gym đã lâu, như chạy bộ đường trường, như đang gặp vấn nạn lòng dạ rối bời. Muốn nó ướt, cũng dễ. Tỷ đặt môi hôn lên đó. Không lâu, Sylvie cúi đầu:

– Tôi không muốn James nhìn thấy. Anh ta làm việc ở quanh đây.

Ngoài sân chói nắng. Màu tóc vàng của Sylvie phản quang, hoa mắt. Tỷ ôm ngực, nếu cơ thể mọc thêm một trái tim, có lẽ Tỷ sẽ kháng cự đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ nó. Sẽ không vào bệnh viện, sẽ không phẫu thuật cắt bỏ, sẽ đau đớn ôm giữ lấy nó, dẫu nó chứa đựng toàn những mối tình dở dang.

 Hồ Đình Nghiêm

Nhớ anh Đinh Cường, đọc thơ Bùi Giáng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 14/04/2016 

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

Bùi Giáng by dinh cuong

Mỗi năm, đôi ba lần, anh Đinh Cường vẫn thường gửi qua bưu điện cho tôi nhiều tặng phẩm. Tranh, ảnh, sách, báo, tạp chí đa phần phát hành ở trong nước. Anh mất đi, tôi như Cuba bị Mỹ cấm vận, thôi hưởng được nguồn tiếp tế. Nghèo đói và nhớ mong. Cách trở hơn cả biển rộng sông dài.

Trong những bưu phẩm “par avion” gửi hạng nhất có cuốn nặng ký: “Bùi Giáng. Đười Ươi Chân Kinh” do Nhã Nam xuất bản. Đã hơn ba năm chưa thời xong món ăn tinh thần nọ, hôm nay Montréal trở chứng, tháng Tư rồi mà “sầu bữa nọ em đi, tuyết trời Tây có nguôi lãng những gì”. Tuyết nhỏ thôi, lưa thưa và vu vơ, chưa chạm đất đã tan biến vào chốn vô cùng. Và nhìn ngó cái ướt át kia cũng nghe sầu dâng nhỏ giọt. Nguyễn Bính nói “gió mưa là bệnh của trời”. Vậy tuyết? E trời đổ đau, trọng bệnh cỡ ung thư? Nhắc tới bệnh tình, tưởng tới sầu đau tôi buồn tay lôi xuống từ kệ sách oằn thân cuốn Chân Kinh nọ. Chữ đề tặng còn đây, chưa phôi pha mà người gửi cho thì… “ngoảnh mặt tha hồ mây trắng bay”!

Thơ Bùi Giáng với tôi, như một cánh rừng bạt ngàn những ý tứ lạ, xao động đẩy đưa ảnh hình thường là dễ thương:

“Em đi đứng cũng như nằm
ngồi đây trò chuyện trăng rằm chút thôi”.

Hai câu ngắn mà chứa tới 5 động từ: Đi, đứng, nằm, ngồi, trò chuyện. Và em là chủ từ “chỉ một chút thôi”. Không dài lời bởi trăng rằm, tự thân là một hào quang. EM, từ vô lượng kiếp, trước sau vẫn là đề tài mà thi nhân chẳng mỏi mệt để tâm, làm đối tượng. Và chúng ta hiểu do đâu có chữ Nàng Thơ. Nếu sai thì thi ca cất giữ vẻ mong manh rung động lụa là gói đầy nữ tính? Đọc một bài thơ tranh đấu hào hùng ngỗn ngang gươm đao súng đạn, liệu có nên nhắc tới “nàng thơ”? Nàng e lệ không xung kích trước trận tiền. Nàng ở địa phận khác, hậu phương êm đềm chẳng hạn. “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”, vận sự ấy hẳn hạ hồi phân giải. Bất khả kháng hay bất khả thi (ca)? Mọi thứ chỉ là khái niệm. Không nên ôm đồm quá, chẳng nên được voi đòi hai bà Trưng!

Trăng cũng vậy, từ khi nguyệt là trăng, vẻ đẹp dễ hư hao khuất lấp mơ hồ kia e chỉ dùng ví von định vị riêng tới nhan sắc của một nữ nhân.

“nửa vời trăng rộng mông lung
đường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô”.

Đi theo ni cô thì lòng dẹp yên ba đào thôi bị trăng rù quến? Trăng và nữ nhi thường là cặp bài trùng, là người bạn đồng minh không hề tháo chạy? Đặng Dung mài gươm từ tóc xanh cho tới đầu bạc dưới bao mùa trăng thì trăng ấy có khi là hình ảnh đối cực nhằm soi rõ tấc lòng vằng vặc của kẻ sinh bất phùng thời vậy! Chỉ riêng trăng chứng giám cho tâm can này. “Nợ nước chưa xong đầu đã bạc, gươm mài vầng nguyệt đã bao ngày!”

Thi nhân ít khi mang trăng ra để so sánh xướng tụng về một người nữ thập phần cao cả: MẸ. Thiếu sót chăng? Hay trăng rằm xem chừng chưa đủ nội lực để soi rọi tới tình mẫu tử ngời sáng? “Mẹ là người duy nhất bảo bọc bạn 9 tháng trong bụng, 3 năm ôm ấp trong vòng tay và ảnh hình bạn mãi mãi nằm sâu trong trái tim của bà”. Vô đối. (Anh Đinh Cường có làm bốn năm bài thơ tròn trịa ca ngợi Mẹ đầy xúc động, đằm thắm của tấm lòng người con phương xa, trước và sau khi Mẹ mất).

Bùi Giáng có đôi bài nhắc tới mẹ nhưng lộ rõ chất bông đùa cố hữu bởi mẹ ấy chính là mẫu thân Phùng Khánh, là Marilyn Monroe, là Brigitte Bardot… Nhưng dẫu là mẹ nào lời thơ vẫn nghe vuông tròn chút lòng thành đầy nhân ái.

Mẹ về ngủ giấc bình yên
con đi suốt xứ còn điên như thường
nay mai con chết giữa đường
mẹ xin kế tục bồi thường cho con
…
Mẹ càng bất tuyệt nhớ nhung
ngày đêm mẹ khóc vô cùng vì con
chiêm bao mẹ bảo trời tròn
đường mưa xuống nấm mộ con lạnh lùng
con về mộng mị nấu nung
trùng sinh bất chợt vô cùng lại ca
bây giờ con mới chép ra
một dòng thơ cũ chan hoà bấy lâu
…
đường vui con bước hao mòn
trăng thân mẫu rộng bóng tròn xuống vai
…
Mẹ về đứng giữa đầu sân
cuối cùng mẹ bước vô ngần mẹ đi
…
Con về trong cõi người ta
nghe tin sét đánh mẹ đà đi tu.

Rất thành thật, Bùi Giáng thổ lộ điều chẳng lấy gì làm mới:

Mẹ cha thì nhớ thương mình
mình đi thương nhớ người tình xa xôi.

Người tình, chung quy vẫn là bài toán khó hiểu mà người làm thơ suốt đời buộc phải làm rõ vấn nạn nhọc nhằn kia. Là thứ phương trình có nhiều ẩn số và có cả ngàn lẻ một cách giải. Nếu không vậy, thi ca đâu còn chỗ đứng để mang vẻ đẹp huyền ảo đến cho cuộc đời. Một vẻ đẹp chưa bao giờ già nua, một bản giao hưởng, một bài trường ca tôn vinh EM chẳng mỏi mệt. Giận lẫy có, nói bóng nói gió có, làm đày làm láo có, và thậm xưng rối rắm:

Em ở bên trời
Trẫm ở đây
Trẫm sầu hôm sớm
tới hôm mai
làm thơ gửi tặng cho em vậy
Em đáp vài dòng
cho Trẫm hay

Em ở đâu rồi Trẫm nhớ em
Trẫm buồn chẳng biết viết gì thêm
(em có nhớ Trẫm chăng em nhỉ
Trẫm viết dòng nào
cũng rối ren).

Bùi Giáng luôn để lộ chất thi sĩ đáng yêu. Hơn hẳn một vị vua triều Nguyễn đóng đô ở Huế: “Kim Long có gái mỹ miều, Trẫm thương Trẫm nhớ Trẫm liều Trẫm đi”. Ôi mỹ nhân! Sao chơi khó Trẫm đến mức đó! Trẫm dại gái rất mực, sao mình rồng chẳng mang quyền uy mà sai thủ hạ mang kiệu lên Kim Long bắt nàng về cho ta. Nói vậy hoá ra là chơi trò bạo lực cửa quyền mất. Hừ, thơ phú ích gì cho buổi ấy!

Phải dịu dàng, phải tôn vinh, phải thở than, phải ngợi ca. Và nhún nhường: Thú thật là anh cũng có cái quyền trời phú riêng anh, có thể hô phong hoán vũ, có thể biến đổi khí hậu vui buồn bất chợt vẽ trắng tô đen, nhưng em ạ anh muốn ve em bằng cái sở trường của anh, ấy là tán em anh nên bỏ chút ít quỵ luỵ thất điên bát đảo vào lời đường mật đặng quyến dụ bướm ong.

Thưa em từ bữa lạc đàng
đầu hai thứ tóc gió ngành thổi tung
nhớ em miệng đỏ vô cùng
hai môi khép mở một vùng cỏ hoa
nhớ ngang ngửa dưới trăng ngà
lối sương tố vọng canh gà sơ nguyên
nhớ em anh rất có quyền
ngồi trên bãi rộng quàng xiên vẽ hình
bốn bên đổ quán xiêu đình
ba bề đờ đẫn một mình anh đi.

Đặc biệt trong sưu tập “Đười Ươi Chân Kinh” tôi nhặt ra hai bài thơ có vẻ như muốn minh hoạ một thảm trạng lộ hình toàn tập sau thời điểm 1975. Ám tối, đau thương, thất tán qua lời thơ mất đi hẳn tính lạc quan bông lơn thường nhật của thi sĩ. Người ở lại cố quận, kẻ giấn liều đi xa không hẳn sẽ viết ra được chất giọng khôi hài đen, đắng chát như Bùi tiên sinh.

Bài Một

Giã từ cõi mộng điêu linh
tôi về buôn bán với mình phôi pha
– Mình ơi! Tôi gọi là nhà
Nhà ơi! Tôi gọi mình là nhà tôi
Bây giờ xuôi ngược đôi nơi
thôi mình ở lại tôi rời chân đi
Thưa rằng: -Ở cái quái gì
Chàng đi thiếp cũng xin đi với chàng.

Bài Hai

Dậy nhìn bốn phía nhà hoang
Ve trời đất cũ lạc đàng không qua
Từ khi gió phượng hiên tà
Trút bông đỏ xuống hoàng sa lệ kiều
Chim chuyền đổ giọng hoang liêu
Gái nào thiên cổ đã liều dấn thân.

Tôi đi để lại trường xưa!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 25 Oct 2024

“Ôi! Trường ta tang thương! Theo vận nước nhiễu nhương! Bạn bè năm cũ giờ đâu cả? Ðã dạt về đâu mấy nẻo đường?”

Mới đây ông Chủ bút kêu réo um sùm: “Anh Thu ơi! Có bạn học của anh kiếm kìa!” “Ðứa nào vậy cà?” Thì ra Bùi Quang Long, đã đi Mỹ du học từ năm 1970, lúc mới vừa đậu Tú tài hai, tìm lại tui, là thằng bạn đồng song của nó. Ðã 53 năm! Thiệt là chớp mắt! Thiệt là bóng câu qua cửa sổ! Vậy mà bạn học cũ vẫn còn tìm! Thiệt là bùi ngùi cảm động à nhe!

Ôi nhớ xưa! Muốn vào học trường Petrus Ký là đám học trò phải qua một kỳ thi tuyển cũng lắm gian nan! Bốn, năm ngàn sĩ tử, chưa tới 500 đứa còn sống sót.

Bài thi gồm 3 môn: Toán quan trọng nhất, hệ số 3, Văn hệ số 2 và Câu hỏi Thường thức hệ số 1. Bài tủ về môn Toán thường là động tử. Nghĩa là xe chạy. Xe chạy phải hai chiếc, chạy cùng chiều, hoặc chạy ngược chiều. Cho vận tốc mỗi xe rồi tính thời điểm gặp nhau, tính quãng đường hai xe chạy được… đại khái là thế. Cùng chiều, rượt đuổi nhau thì đường dài chia hiệu số hai vận tốc. Còn chạy ngược chiều thì lấy đường dài chia cho tổng số hai vận tốc là ra thời gian hè!

Ðứa nào thông minh giỏi toán, làm trúng hết hai bài, là phẻ re như con bò kéo xe, chỉ có việc ngồi rung đùi, đậu chắc trăm phần trăm. Còn nếu trúng chỉ một bài, còn bài thứ hai trúng lớt lớt như phớt thuốc đỏ thì phải nhờ bài Luận văn hoặc Câu hỏi Thường thức kéo lên cho khỏi xệ. Bài Luận văn thì khó dàng trời mây đi. Mới 11, 12 tuổi đầu mà quý Thầy ra đề thi kêu tụi em bình luận lời của Ngô Tổng thống là mấy em chết cửa tứ (?!)

Năm đó, thằng đậu hạng bét là được 45 điểm cho ba môn. Ðứa đậu hạng nhứt, tức Thủ khoa, được tới 81 điểm, gần gấp đôi thằng đậu hạng bét. Tên nó là Âu Dương Khoát, (không có bà con gạy mơ rể má gì với Tây Độc Âu Dương Phong trong truyện chưởng của Kim Dung hết ráo) sau được xếp vào chung lớp Ðệ thất 5, niên khóa 1963 với tui đó nha!

Nhớ ngày đi dò kết quả, tui và thằng anh chen vào cái bảng điểm, che bằng mắt cáo, đề phòng đứa nào rớt, quạu, xé, là hết coi luôn! Bên trong mắt cáo dán chừng 10 tờ giấy đánh máy danh sách thí sinh trúng tuyển, gồm số ký danh, họ tên, ngày tháng năm sanh, điểm, và thứ hạng của thí sinh.

Biết thân mình học dở ẹc nên tui cắm đầu dò từ dưới dò lên! Chớ đời em nào dám mơ mộng gì đâu?! Dò lần lần lên hoài mà hổng thấy tên mình. Chắc tui trợt vỏ chuối rồi quá? Ai dè thằng anh tui la lên: “Tên mầy nè, 56 điểm, đậu hạng 176! Má mình mừng lắm đó! Mầy mà rớt, Má hổng có tiền cho mầy đi học trường tư đâu!”

Bữa đó, Tía tui dắt hai anh em tui vinh quy bái tổ ở cái xe bán bò vò viên trước rạp hát Ðại Ðồng! Tía móc túi cho năm chục đồng để ‘tân khoa’ ngồi xơi ‘đại yến’!

Mỗi đứa một chén bò vò viên, mỗi chén 5 đồng. Số tiền còn lại, hai anh em dung dăng, dung dẻ, dắt nhau ngược đường Cao Thắng, lên gần tới đường Trần Quý Cáp, rạp Việt Long, để coi phim ‘Ò e Ro Be đánh đu, Tazan nhảy dù, Zoro bắn súng’

Gần tới ngày tựu trường còn được Má dắt ra ông thợ may trong xóm chợ Hai Mươi, góc ngã tư đường Phan Thanh Giản và Cao Thắng, may cho hai cái áo sơ mi tay ngắn và hai cái quần ka ki xanh, và mua cho một đôi dép da của hãng Bata. (Ba Ta chớ hổng phải Ba Tây)  (Vì trường Petrus Ký không cho học trò mang dép Nhựt lẹp xẹp, coi nó hổng có oai!). Ðóng bộ vô trông  rất oách! Vậy là giã từ cái quần xà lỏn, có mang theo ‘hai quả lắc đồng hồ’ bé tí teo, đi học trường Tiểu học Bàn Cờ trong Cư xá Ðô Thành rồi đó nhe. Vô Đệ Thất, là hết bị Má tui cầm chỗi lông gà kêu cúi xuống vì tội để em té u đầu nữa rồi. Tui chuẩn bị làm người lớn!

Và 9, 10 năm sau đó, từ khi tui thôi học, từ khi tui khoác áo trây-di (treillis), lạc về vùng quê Hốc Bà Tó, rồi thiên duyên tiền định gặp em yêu, tức má đám con tui bây giờ, tui từng ‘nổ’ tơi bời với em là: “Ðừng thấy anh dở mà rầu! Ðã từng đi học trường (đứng) đầu Miền Nam đó nhe!” Làm con vợ tui nó há hốc mồm kinh ngạc: vì lẽ tại sao anh yêu trông lù khù mà lại hổng có ngu… như em hằng tưởng?!

Rồi mấy hôm nay, mấy đứa cùng lớp năm xưa, kêu gào bay về họp mặt lớp cũ trường xưa bên Mỹ (chớ hổng phải Mỹ Tho!). Có đứa đề nghị ‘sảng’ là bay về họp mặt ngay tại trường xưa ở đường Cộng Hòa đối diện thành Ô Ma mới được.

Thì đứa khác hổng chịu nói: “Khi nào cái trường mình lấy lại tên P. Trương Vĩnh Ký thì tao về. Bằng không? ‘Nô quê!’ (No way!)!”

Ngô Văn Trí, Liên toán trưởng ngày xưa, chắc khoái chơi và sưu tầm đồ cổ, gởi cho toàn thể đám học trò danh sách lớp Tứ 5, niên khóa1966, bị gián cắn rìa giấy lổm nhổm hết trơn, cộng với hơi ẩm trong không khí làm chữ bằng viết Bic, bút nguyên tử, cũng tèm lem tuốt luốt, nhưng may mắn thay, đeo kiếng lão vô, vẫn còn đọc được! Mai mốt mình lấy lại được tên cái trường xưa, tui sẽ đem cái danh sách nầy lộng kiếng (chớ không phải liệng cống), chưng trong phòng Truyền thống của Trường P. Trương Vĩnh Ký để nhát mấy đứa con nít học sau mình chừng một thế kỷ chơi!

Thầy Chung Hữu Thế

Bồi hồi đọc cái danh sách mà đầu têu là tên Liên toán trưởng Ngô Văn Trí nầy, thì ký ức như một cuồn phim cũ, tưởng đã mờ phai theo năm tháng, lại hiện về khiến tui cũng rưng rưng nước mắt. Nhớ thầy Chung Hữu Thế, dạy Anh văn, lớp Ðệ thất 5, định cư ở Canada, vừa quá vãng! Nhớ Thầy rầy (sau khi mấy ‘thằng’ Mỹ, bên USAID, đến dự giờ dạy Anh Văn của Thầy ra về rồi): “Cái thằng Thu nầy… có chữ ‘young’ mà đọc năm lần bảy lượt cũng không xong!” Em xin cám ơn Thầy đã tế nhị, không nỡ làm quê mặt em với khách đến viếng lớp mình!

Tui nhớ trò châu Minh Nhạn đã bỏ mình trong cuộc chiến khi tuổi mới thanh xuân trong đợt tổng động viên mùa hè đỏ lửa năm 72. Châu Minh Nhạn là người lạc quan, yêu đời, thường ca, nhạc chế, bài “Where do I begin do” của Andy Williams hát trong phim Love Story do Erich Segal viết kịch bản. “Where do I begin. To tell the story of how great a love can be” “Bởi bà già rắc rối, cuộc tình rối rắm, ôi biết nói gì, thì đành nói dối”.

Tranh Bảo Huân

Ôi những người bạn học của một thời niên thiếu, đẹp như hoa mộng đó và sau một cuộc biển dâu nầy mà giờ đứa nào may mắn còn sống sót thì cũng  đều già cả hết rồi. Thế nên dẫu chân Trời góc biển nào đó thì tụi tui cũng phải ráng lò dò hay lò cò bay về mà tề tựu một lần sau chót chớ! Tui sẽ mang theo một chai rượu “ông già chống gậy” (Vì tui cũng đã quá già rồi dù gậy chưa có chống!). Trước là tế tửu quý Thầy Cô ngày cũ, đã quá vãng, sau để rót xuống cho bạn hiền Châu Minh Nhạn, người đã ngã xuống khi tuổi đời vừa mới chớm đôi mươi. “Cụng với tao một ly đi mậy!”

Ôi Trường xưa! Cho tui xin chịu lỗi nhe! Tui nỡ bỏ ra đi cũng vì phần số thế thôi! Dẫu vậy, trong trái tim nầy, ở phần sâu thẳm nhất, vẫn còn những hình ảnh cũ của trường xưa, của bạn bè năm cũ, từ giờ tới chết, cũng không thể nào quên!

DXT – Melbourne