This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Loufoque? Vous avez dit Loufoque? Chập điện? Bạn đã kêu Chập điện? là tên một vở hài kịch của Laure Mandraud diễn trong hí viện Charivari Théâtre tại Tours năm 2016. Loufoque mà tự điển dịch là “phát điên”, “crazy”, “zani” còn là một phong cách văn học. Có thể thêm “tang bồng”, “tưng tửng” vào trong nghĩa của từ này. Nhưng phong cách truyện Loufoque là như thế nào? Chỉ cần đọc Người Thuận Tai Trái..!
Trần Thị Ngh., tác giả chuyện tình mê đắm ẩm ướt mồ hôi trong không gian hẹp của Nhà Có Cửa Khóa Trái cống hiến một văn bản thoắt thoắt ý nghĩ, lùng bùng âm thanh mà chỉ một người đàn bà thông minh-ương ngạnh và thuận tai trái mới có thể nghe thấy… Một tuyệt phẩm của trào lộng.
Trần Vũ
Sau khi tự tử vài lần vì tò mò, tôi quyết định thôi không chơi nữa, lấy chồng. Chàng là một quý tử, con trai duy nhất của một bà đỡ ở vậy nuôi con trong khi chồng theo cách mạng ra Bắc. Chàng là kỳ vọng, niềm hãnh diện, nguồn an ủi duy nhất của bà mẹ độc thân. Tôi gặp chàng ở Ðại Học trong khi cả hai đang theo khóa báo chí. Dễ thôi, mình sẽ “tút” nó lại, từ cách ăn mặc đến kiểu tóc cắt. Mình sẽ tập cho nó quen nghe thay vì nói. Nó hơi mập ư? Cũng dễ. Cho nó ăn chay một thời gian theo cái kiểu Ăn cơm ba chén lưng lưng, uống nước cầm chừng để bụng thương em. Tôi tự nhủ. Vậy là đám hỏi. Là sinh viên ở tỉnh, chàng trọ trên một căn gác nhỏ trong hẻm sâu của đường TMG. Vào mọi lúc trong ngày, mùi nước sông xộc lên tới óc. Trong khi tôi dị ứng với mọi loại mùi và màu của cuộc sống, chàng tỉnh bơ. Cha này ngon. Tôi thầm khen. Nhưng sau đám hỏi, ngoài giờ đi học chàng lảng vảng ngay trong nhà tôi, tối ở quên dìa. Phải có tôn ti trật tự chứ, mẹ tôi gầm lên. Chàng ngoan ngoãn nằm tòn teng trên cái võng treo ngay bên dưới phòng tôi. Ðêm nghe tiếng kẽo kẹt của dây võng cạ vào khoen sắt, tôi nổi điên. Vừa thôi cha. Chẳng những mùi, màu mà cả tiếng động nữa. Tôi dị ứng hầu như với tất cả những cái gọi là dấu hiệu của sự sống. Ðám cưới được quyết định sáu tháng sau đó. Hơi lâu so với mức chịu đựng tiếng võng kẽo kẹt. Chàng bắt đầu ở rể. Ngay đêm tân hôn chàng khóc. Sao vậy? Nhớ má. Tôi dỗ dành, ngủ đi mai tôi đưa ông về nhà trọ thăm bà già. Sau khi rước dâu về chính nhà cô dâu, bà cụ còn ở nấn ná chơi vài hôm, ở trọ trên căn gác thuê của chàng. Chắc hẳn đời chàng đang qua một khúc quanh. Còn đời tôi? Trước đó chúng tôi không có hẹn hò, sau đó không có tuần trăng mật. Ðời con gái đêm tân hôn phải dỗ nín đời trai. Tôi “tút” lại chàng như đã tự hứa. Một tí ria mép trên cái mặt có nước da quá trắng, cho có vẻ đàn ông; thêm ba phân tóc cho có vẻ nghệ sĩ. Tôi chọn mua vải quần tây, áo sơ mi, thêm cả giày vớ thắt lưng da và ví đựng tiền. Có một điều tôi không chỉnh lại được: chàng ngáy. Tôi thao thức đêm này sang đêm khác, mắt có quầng, da xanh lè, tay nổi gân. Chắc ốm nghén, mẹ tôi nhận xét. Không đâu, đời nào! Tôi chưa sẵn sàng để có con. Chàng ngáy như sấm và tôi nằm phân tích những tiết điệu trầm bổng nhặt khoan của tiếng ngáy, phối thành một bè cho đại hồ cầm, một bè cho vĩ cầm, có cả một bộ gõ cho tiếng nổ lóc bóc giữa hai bè. Ít lâu sau đám cưới, chúng tôi ra trường. Chàng quyết định đưa tôi về Trung giới thiệu với bà con bên họ nhà chồng, đồng thời hy vọng không khí miền biển sẽ giúp tôi hồi phục sức khỏe. Trong khi bạn bè người thân của tôi trầm trồ cái vẻ ngoài bắt mắt của chàng. Một D’Artagnan thứ thiệt sau khi đã được “tút” lại (chỉ thiếu ngựa và thanh kiếm) và chê tôi ốm đói suy kiệt như Cosette của Những Kẻ Khốn Khổ thì họ hàng phía bên gia đình chàng kêu thất thanh khi trông thấy bộ râu tóc bầy hầy của chàng. Họ cũng nhìn tôi như một kẻ có khả năng gây ra nạn tuyệt chủng. Tôi sống trong không khí hình sự của một tập thể tỉnh nhỏ, loay hoay không biết làm gì để đối phó với bối cảnh mới. Bao lâu? Chàng nói, cứ tập thích nghi đã. Chàng có vẻ tự tin hơn trong quần thể của chính chàng. Mùi. Mùi gió biển trộn lẫn trong mùi phân heo Yorkshire. Mùi nước giếng có lẫn cát. Mùi ruồi nhặng trên tấm thớt gỗ. Tôi mở hé cửa sổ nhìn mấy con heo đứng hàng dọc thò đầu ra từ các ô chuồng. Ðể đi ra nhà tắm ở cuối sân sau, phải len qua hàng chục cái mõm heo dài thòn, nghe tiếng thở hàm hồ của lũ mắc dịch. Tôi văng tục. Không còn lối nào để tránh. Lối đi nhỏ lót gạch tàu nằm giữa một vựa nước mắm và chuồng heo. Tôi nhịn tắm, nhịn đi vệ sinh trừ phi thật cần thiết. Mùa gieo giống, chàng trả tiền cho chủ một bầy heo nọc ở xóm bên. Con heo đực chạy xộc qua cổng, bon bon theo hẻm nhỏ bên hông nhà, da đỏ hừng hực, mép lòng thòng rớt rải trắng sẹt. Tôi rình. Nhưng bỏ cuộc. Tự nhiên nhớ tới những lúc ở nhà, thỉnh thoảng mẹ tôi mua nhầm thịt heo hôi, bà giải thích: heo nái hoặc heo nọc. Tại sao hôi? Ờ thì… Tôi ói một hơi. Một lũ heo con ra đời sau đó. Trông cũng loi nhoi, vui. Tôi thỏ thẻ hỏi xin. – Cho một con đi Chàng lừ mắt ngạc nhiên – Thích heo rồi ư? Tôi tha thiết – Cho một con đi mà. – Rồi ngập ngừng – để đá cho nó đã. Chàng nuốt đánh ực sự giận dữ. Mùi. Cá biển không biết từ đâu được đưa về đổ vào các thùng phuy trong vựa. Tanh trong dăm ba ngày rồi thối. Từng giọt, từng giọt cá tẩm muối nhỉ ra từ ống dẫn nhỏ, hổ phách đậm đặc. Xung quanh miệng thùng hứng, một lũ dòi. Tôi bỏ cơm một tuần. Chắc ốm nghén, mẹ chồng tôi nhận xét. Chưa đâu. Tôi chưa sẵn sàng mà. Tôi quơ tay đuổi lũ ruồi bu kín đen trên tấm thớt tròn, thè lưỡi lừa mấy hạt cát lẫn trong nước bọt, đưa mắt nhìn vòng vèo. Tại sao cái màn màu xanh da trời cài vô cái của màu vàng chanh? Tại sao cùng một lúc ba tấm lịch tháng cười toe toét ba mỹ nhân đứng ẹo, tay cầm hoa? Trong phòng khách tại sao có kê một cái giường? Tại sao hoa bụt đỏ trộn lộn với hoa vạn thọ màu cam? Tại sao D’Artagnan mặc áo sọc ca-rô trắng đen với quần tây màu gạch cua, mang dép cao su xanh? Tại sao cạo râu? Tôi lắng nghe tiếng dép chàng lẹt xẹt trên cái lối đi lót gạch tàu. D’Artagnan đang cho heo ăn. Tiếng gió lùa qua khe cửa lá sách đuổi đong đưa cái gàu múc nước bằng thiếc máng ẩu trên cái cần ngang trên miệng giếng. Tôi đếm những giọt nước mắm nhỉ lẫn trong tiếng thở phì phò của Yorkshire và tiếng ngáy của chàng Ngự-Lâm-Pháo-Thủ. – Bế dùm cái ống dẫn nước mắm được không; để mai cho nó chảy ào một lần luôn. Chàng gầm gừ.
– Khùng hả? Ngủ đi cho rồi. Ngủ thì ngủ. Tôi nằm nghiêng ngó trừng trừng vào bóng tối. Trong quần thể này, tôi thua. Chàng hiện nguyên hình một nông dân có bằng cấp, một đứa con hiếu thảo, một tay chăn nuôi với quy mô lớn, một chàng tuổi trẻ thành đạt trong tỉnh nhỏ. Chàng kinh doanh nước mắm nhỉ và heo Yorkshire. Tôi nhớ màu trắng ngà trên phím đàn ở nhà hết sức. Nhớ muốn chết nốt Si điếc khi đánh Fugues của Bach. Chắc nó cũng còn điếc. Nhớ chính tôi với cái đầu niểng về bên phải lắng nghe tay trái bắt chéo đánh bè cao trong khi tay phải quần phần trầm thành một dòng nặng và buồn. Trước khi về Trung tôi có viết một bức thư dài cho Piano, bỏ trong thùng đàn hẹn ngày về. Nửa đêm tôi bật hát một làn khói trắng, ru đời vào quên lãng… Rồi ngồi dậy lần ra phòng khách hút thuốc, nhìn say đắm ba mỹ nhân trong ánh sáng nhá nhem của ngọn đèn đường tạt qua mấy cái bông gió trên đầu tường. Tại sao ẹo? Tại sao cầm hoa nylon? Chàng lần ra theo. Khùng hả? Chàng im lặng ngồi chờ, ngáp. Tôi quay trở vô giường nằm ép nghiêng phía bên phải lắng nghe những dấu hiệu của sự sống bằng lỗ tai còn lại. Lình xình một hồi, chàng quyết định đưa tôi về vườn. Một căn nhà lọt thỏm giữa vườn cây ăn trái. Một căn phòng nhỏ mới xây thêm cho tân lang và tân giai nhân. Nhà tắm ở đầu này vườn, bên cạnh một giếng nước. Lại nước giếng. Miền biển mà. Nhà vệ sinh ở đầu kia vườn. Trước nhà là một hồ cá hình chữ nhật có thành cao bằng xi măng, lớn bằng cái huyệt dành cho ba bốn người chôn tập thể. Tôi nghĩ, được, có nhiều màu xanh lá cây, không có hoa. Mẹ chàng ở một mình trong căn nhà này. Chàng rao: – Người này sợ heo, không ăn cá, cữ nước mắm. Bà mẹ chồng rượt bắt gà, nấu cháo cho con dâu ăn. Vẫn ruồi. Một tập đoàn ruồi quây quần bu kín tấm thớt tròn. Một cái quơ tay, đàn ruồi bay lên. Tôi ói cháo gà ở một gốc cây chuối. Họ tử tế thiệt. Trong quần thể này chàng quẫy như cá gặp nước, việc tôi quy hàng về Trung là một thắng lợi phía họ, bởi vậy họ vô cùng tử tế. Nhưng chắc phải vậy không? Những ngày hôm sau tôi luôn thấy bóng bà mẹ chồng ngoài cửa sổ. Hai con mắt lấp ló giữa những song sắt nằm ngang. Chẳng lẽ đóng luôn cửa sổ? Mỗi lần chàng vào phòng hơi lâu bà gọi. – Khâu ơi Khâu! (Chàng tên Khôi) Cứ như vậy, tôi luôn cảm thấy bị rình. Một bữa, loáng thoáng qua cành lá của vườn cây tôi nghĩ là mình thấy hai mẹ con D’Artagnan đang tắm chung bên cái giếng. Tự nhủ hoài là lầm, lầm. Họ xối nước cho nhau. Tiếng gàu va vào thành giếng, tiếng nước ào mạnh rồi chảy vòng theo cơ thể. Chắc là tưởng tượng thôi. Tôi không dám mon men đến gần, chỉ đứng thập thò sau cây dừa như ăn trộm. Tôi sẽ có con ư? Không biết. Nhưng tưởng tượng đứa nhỏ được sinh ra lớn lên trong khung cảnh này, cũng được. Trẻ con thành phố bây giờ đâu có biết cái thú làng quê. Nhưng cũng tưởng tượng coi, một bữa nào đó nó bập bẹ nói. – Bà nậu, hái cho tui trái ẩu! Rồi ba bốn người tắm chung. Chắc chết. Nó làm sao phát âm chuẩn vần ôi. Thử tưởng tượng một câu cảm thán.
– Âu! Lâu thâu quá! Tôi phá ra cười, chảy cả nước mắt. Cứ mỗi lần chàng ra cái nhà ở phố để chăm lũ heo, tôi khoái chí ngồi trong phòng nghĩ ngợi lung tung. Cũng tìm đôi mắt điệp viên qua mấy khe cửa. Không có. Tôi viết thư cho piano, hẹn: chờ nhé! Ban đầu nó chỉ hơi nghễnh ngãng rồi ít lâu sau điếc đặc. Tôi tự hỏi hay là tại mình thường nằm nghiêng bên phải. Bịt kín riết nó phải ù. Thật kỳ lạ. Hai lỗ tai giống hai cái loa trong máy cassette. Một bên toàn nghe trống ình ình cạch cạch, một bên thì nốt lõng, cao. Có bữa hai chúng tôi đã thay sẵn áo quần chuẩn bị ra chợ, chợt thấy bà mẹ chồng gào lên một câu gì đó, môi run giật, chắc là “tông” mí. Tôi hỏi. – Có chuyện gì vậy? Chàng hỏi trả. – Bộ điếc hả? Sau đó thì tôi biết là bà không bằng lòng cho D’Artagnan đưa vợ đi chợ khi đám dứa chưa được bứng xong. Lúc bà thở phì phì, khàn giọng, tôi nghe mồn một. – Ðồ con bất hiếu, coi vợ bằng bà. Tao sinh được mày thì tao cũng có quyền giết mày… Bà ngân chữ m…à…y…thêm ba nhịp nữa. Hàng nút áo sơ mi của chàng bị bà giật phăng. Hai người giằng co một hồi. Bà lên “tông” mắng ngắt quãng, hoặc là do tai tôi nghe vậy. Toàn là dấu huyền và dấu nặng. – Mày…vợ…nào…mày còn là…mầy… được quyền… Những dấu sắc, hỏi, ngã, không dấu đều lặn mất tăm vào tai phải. Tôi lẩn thẩn giải mã. – Mày nể vợ, lúc nào mày còn là con tao mày không được quyền…. Dám trúng lắm à. Bỗng nhiên hai người buông nhau ra, rồi D’Artagnan đi lừ lừ xuống bếp mang lên con dao phay. Bây giờ thì chàng ngự lâm chỉ còn thiếu con ngựa. Có hiếu thiệt. Bà cụ bảo lấy con dao cho bà đoạn chi tình mẫu tử. Không dám chém đâu. Nhưng không, bà hươi dao lên. Tôi nhảy bổ vào giữa, sau đó thấy mình bị xô ngược. Không biết đứa nào xô. Ðầu táng vào cây mận rồi khúc xạ vào thành xi măng của hồ cá. Một tay bịt tai, không nhớ tai nào, tay còn lại vuốt mặt thấy máu. Vẫn còn nghe rần rần. A thì ra đã bịt nhầm tai phải. Tôi bò vô phòng. Yên lặng một chút rồi nghe tiếng sụt sịt. Tôi rình qua tấm màn (cũng màu xanh da trời mắc lửng lơ trên khung cửa màu vàng chanh). Họ đang ôm nhau khóc, con dao nằm dưới đất. Ha! Tôi cười như hiệp sĩ sau khi tuốt kiếm. Mình là cái gì trong nhà này? Ðêm nằm tửng tửng, ban ngày đi ra đi vô chờ có bầu. – Âu! Lâu thâu quá! Tôi ở đây để duy trì dòng họ Nguyễn nhà chàng? Cho tuyệt chủng cho chết, tôi lầm bầm. Dạo sau này tôi hay chửi thề. Mình chửi mình nghe khỏi cần lỗ tai. Tôi cuốn gói dông về Nam. Chào piano! Sau một hồi ụa mửa không vì màu sắc, mùi vị hay tiếng động nào, tôi biết mình có bầu. D’Artagnan vào Nam ra Trung theo đường con thoi, nhưng nhịp đi thưa dần. Chàng mệt. Tôi vượt cạn một mình. Một bé gái đẹp như mơ. Chắc là Tây thuần chủng rồi. D’Artagnan lấy Cosette mà. Tôi trở thành cá mập, chỉ bơi vòng quanh một đích nhắm. Khỏi thắc mắc người đi qua đời tôi không nhớ gì sao người. Tôi dạy đàn nuôi con, với cái xe nôi để sát chỗ ngồi dạy. Nó ngó niểng sang phía mẹ nghe đàn. Sợ con điếc tôi đẩy xe ra xa. Nó niểng theo. Tôi đổi vị trí xe để con nhỏ không phải niểng mãi một bên. Bốn tuổi nó đã phổ nhạc tiếng chó sủa Fa-Fa. Tiếng rao ve chai sol-si-sol. Chai bán hôn? Cũng có giọng rao xôi đô thăng, chè đậu mi giáng. Nó nhận biết hết. Lỗ tai cực kỳ âm nhạc. Tôi khoái hết biết. Nó bắt đầu học đàn khi chưa biết chữ. Dù chỉ còn tai trái, tôi nghe được hết trong đầu những bài nhạc nó chơi. Mozart nằm trên giường bệnh gần chầu trời vẫn nghe ra tiếng rầm rập của một đạo binh ma. Beethoven điếc đặc còn nghe được tiếng gõ cửa của định mệnh trong Hòa Tấu khúc số năm. Păm.pằm.pằm. Quá đã.
TTNgh., tháng giêng 98
(*) Truyện ngắn này có bản in đầu tiên trên tập san Hợp Lưu
(**) Tranh sơn dầu của Trần Thị Ngh với chân dung tác giả trên tạp chí Văn trước 75.
Donald J. Taylor, Sergeant Major (Retired), U.S. Army Special Forces Project Delta Recon Team Leader, July 1968 – July 1970
Vũ Đình Hiếu
Post by Sơn râu 27 Oct 2024
Bộ chỉ huy B-52, hành quân Delta, dưới quyền chỉ huy của liên đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ có nhiệm vụ đưa các toán biệt kích xâm nhập khu vực địch kiểm soát để lấy tin tức. Những tin tức về đơn vị địch rất quan trọng cho các đơn vị Hoa Kỳ, VNCH soạn thảo kế hoạch hành quân, dựa trên những tin tức về quân số, hỏa lực và vị trí của đơn vị địch.
Nói cách khác, các toán biệt kích Delta có nhiệm vụ tìm dấu vết của địch, nhận diện đơn vị, quân số, hỏa lực của địch, nhưng không cần thiết phải tấn công địch quân. Tuy nhiên, nhiệm vụ cho các toán biệt kích theo thứ tự ưu tiên: nếu có thể bắt sống tù binh đem về khai thác. Còn chuyện tấn công đơn vị địch là một điều ngu xuẫn, tự sát. Làm sao đưa một toán biệt kích sáu người đi tấn công một đơn vị cấp tiểu đoàn của địch.
Khi xâm nhập vùng hành quân, các biệt kích phải luôn luôn nghĩ rằng, có sự hiện diện của quân địch, đâu đó trong khu vực hành quân. Thỉnh thoảng vẫn có trường hợp, toán biệt kích Delta được đưa vào vùng hành quân mà địch đã di chuyển đi nơi khác, hoặc không có bóng dáng địch hay họ chưa hề đặt chân đến khu vực này. Khi một toán biệt kích Delta xâm nhập vùng hành quân không có dấu vết của địch, trường hợp này gọi là “Hố Cạn”.
Gặp trường hợp hiếm hoi này, toán biệt kích ra vào khu vực hành quân thoải mái, như đi nghỉ phép. Tuy nhiên cũng có những trường hợp “động ổ” như câu chuyện sau đây. Một kỷ niệm khó quên về “Hố Cạn” trong thời gian làm trưởng toán biệt kích Delta.
BOM DAISY CUTTER
Khoảng giữa tháng Mười Một năm 1968, hành quân Delta được di chuyển từ căn cứ hành quân tiền phương (FOB) An Hòa, của TQLC/HK ngoài vùng I chiến thuật, bay thẳng về vùng 3, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương mới bên cạnh phi đạo trại LLĐB Đồng Xoài. Không được nghỉ ngơi giữa hai cuộc hành quân, tuy nhiên chúng tôi được cấp chỉ huy an ủi, cho biết cuộc hành quân chỉ kéo dài đến khoảng 20 tháng Mười Hai. Chỉ để lại đơn vị trông nom, bảo vệ căn cứ cùng với yểm trợ, còn tất cả sẽ được đưa về Nha Trang mừng lễ Giáng Sinh, và năm mới. Nhưng thực tế, năm 1968, cuộc hành quân Delta kéo dài qua năm 1969.
Một tuần trước lễ Giáng Sinh, chúng tôi sửa soạn về Nha Trang như cấp chỉ huy đã hứa. Bỗng được lệnh vào trung tâm hành quân (TOC) để nghe thuyết trình và nhận lệnh. Khu vực hành quân được trao cho toán biệt kích chúng tôi rộng 10×10 cây số vuông, rừng lá rậm rạp nơi phiá đông thị trấn An Lộc, tỉnh Bình Long. Tin tức tình báo cho biết có nhiều trại đóng quân cấp đại đội, tiểu đoàn của địch trong khu vực hành quân. Ngay sau đó, tôi đi bay với thiếu tá Không Quân Roscoe trên chiếc máy bay quan sát O-1 (FAC bird-dog), thám thính khu vực hành quân chọn bãi đáp (điểm xâm nhập, triệt xuất toán biệt kích).
Bay thám thính trong một khu vực rừng rậm rạp, rộng lớn 10×10 cây số không phải là điều dễ làm. Cuối cùng hai chúng tôi đồng ý, khu vực thám sát là khu vực nằm giữa hai nhánh sông nhỏ và tiếp theo tìm điạ điểm xâm nhập. Tôi để ý đến một khoảng trống nơi góc tây bắc và hỏi thiếu tá Roscoe, sao lại có khoảng đất trống đó, và được trả lời đó là hố bom Daisy Cutter. Tôi đã đọc bài viết về loại bom BLU-82B “Daisy Cutter”, đến hôm đó mới được chứng kiến.
Hố bom này rộng lớn hơn những hố bom mà tôi đã nhìn thấy trước đây. Quả bom tạo nên một khoảng trống, đường kính rộng khoảng 200 thước và rất tròn, phủ cát trắng nổi bật lên giữa một rừng cây lá mầu xanh thẫm. Theo tài liệu đăng trên báo Stars and Stripes, bom Daisy Cutter là một qủa bom to, nổ khi còn cách mặt đất khoảng vài bộ. Khi nổ sẽ giết hết cây cỏ, cả lớp đất mầu mỡ trên mặt đất trong vùng ảnh hưởng, tạo nên khoảng đất trống có thể đáp được bốn, năm chiếc trực thăng. Nhìn thấy rõ ràng từ trên không, hình tròn mầu trắng như có ai dùng kéo cắt ra từ một khoảng cỏ xanh, nên mới có tên “Daisy Cutter”. Tôi có thể chọn một bãi đất trống khác để xâm nhập, nhưng tính hiếu kỳ, tôi muốn đến tận chỗ để quan sát nên chọn đó làm điểm xâm nhập. Điều này sẽ làm tôi hối hận.
Tôi hỏi thiếu tá Roscoe thêm về bom Daisy Cutter, nhưng ông ta không biết gì thêm, chỉ nói đã gặp một phi công C-130 thả loại bom này, và viên phi công trả lời rằng rất sợ khi phải bay thả bom Daisy Cutter. Quả bom được lăn ra cửa sau phi cơ, rơi xuống bằng dù dưới cao độ 6000 bộ, đủ thời gian cho chiếc C-130 bay ra khỏi khu vực thả bom. Trường hợp, nếu dù không mở, qủa bom chứa 13000 cân Anh thuốc nổ mạnh, rơi xuống nhanh hơn có thể gây nguy hiểm cho chiếc phi cơ C-130 cùng phi hành đoàn.
Về đến căn cứ hành quân tiền phương Đồng Xoài, tôi hỏi vị sĩ quan S-2 (an ninh, tình báo tác chiến) về hố bom Daisy Cutter đó, nhưng ông ta cũng không biết, và cũng không có tin tức nào khác về một đơn vị nào đó đã đi hành quân ngang qua khu vực hố bom.
Chiều ngày hôm sau, toán biệt kích của tôi chuẩn bị hành trang, vào trung tâm hành quân nghe thuyết trình lần cuối, rồi ra đi trước khi trời xập tối. Chiếc máy bay thám thính FAC, lên vùng trước, cho lệnh chiếc UH-1 đưa toán biệt kích vào bãi đáp “Mẹ của những bãi đáp” rộng lớn. Như thường lệ, toán biệt khi khi nhẩy ra khỏi trực thăng, chạy vào rừng tìm chỗ ẩn náu, nhưng xung quanh bãi đáp “Daisy Cutter” này không có rừng, chỉ có những khúc gỗ, thân cây đổ ngổn ngang, cao đến 50 bộ như một bức tường bằng gỗ.
Trong những tia nắng cuối cùng của một ngày, chúng tôi nhìn xung quanh bãi cát trắng, bức tường gỗ bao quanh toán biệt kích Delta. Người nào cũng kinh ngạc, sức nổ của qủa bom đốn ngã những cây cao, rồi đẩy dạt ra xung quanh, tạo thành bức tường gỗ cao 50 bộ, với bề dầy 50 thước.
Toán biệt kích chỉ còn cách leo ra khỏi bức tường trước khi trời tối hẳn, nếu không sẽ phải ngủ trong bãi đáp “Daisy Cutter”, điểm xâm nhập, là điều nguy hiểm không lường được. Chúng tôi đi vòng theo chu vi bãi đáp, tìm một chỗ chắc chắn, (vì là những khúc đỗ chồng lên nhau, cùng với đất cát…) để leo ra. Nhưng trời xập tối nhanh chóng và toán biệt kích phải ngủ lại bên trong hố bom Daisy Cutter.
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đi tìm chỗ để leo ra, đi hết một vòng, trở về chỗ khởi điểm vẫn tìm không ra. Bức tường chỉ là những khúc gỗ chồng chất lên nhau, với sức nặng con người cùng với ba lô, súng đạn, leo lên cao sợ những khúc gỗ ở dưới bị chuyển động và bức tường sẽ xập xuống, có thể bị cây đè chết hoặc gẫy tay, gẫy chân. Vài người đã thử leo lên, được vài bước vội tụt xuống vì bức tường không chắc chắn.
Đến giữa buổi sáng, khoảng 10 giờ, toán biệt kích vẫn còn nằm trong “lòng chảo”, chuyện leo lên bức tường gỗ rất nguy hiểm. Còn nguy hiểm hơn nếu địch quân khám phá ra vị trí toán biệt kích. Chúng tôi tiếp tục đi vòng tìm một chỗ tương đối chắc chắn, rồi người lính biệt kích đi đầu (point man, đã có nhiều kinh nghiệm) leo lên trước. Anh ta leo lên tới đầu bức tường, đảo mắt nhìn quanh rồi tụt xuống thật nhanh báo cáo, bên ngoài hố bom Daisy Cutter có một binh trạm bỏ hoang của địch, nhưng không chắc chắn địch quân đã thực sự bỏ đi hết.
Đứng trước tình trạng, không còn cách nào khác, tôi ra lệnh cho người đi đầu leo trở lên quan sát binh trạm của địch. Nửa tiếng đồng hồ sau, anh ta ra dấu hiệu an toàn, không thấy bóng dáng địch quân, toán biệt kích Delta mới leo lên từng người một, thoát ra ngoài “lòng chảo”.
Ra đến bên ngoài, toán biệt kích tập họp lại, di chuyển thận trọng, lục soát căn cứ đã bỏ hoang của địch. Trong căn cứ, có khoảng mười căn hầm, đều bị xập do quả bom Daisy Cutter tàn phá, nhưng chúng tôi không thể đoán được, địch có trong căn cứ lúc thả bom và có bao nhiêu tên bị chết vì qủa bom. Trong ngày hôm đó, chúng tôi thám sát binh trạm của địch và khu vực xung quanh hố bom và tìm thấy vài trạm canh phòng, tiền đồn nhỏ cho binh trạm của địch. Điều này đưa đến kết luận, quả bom Daisy Cutter được thả để tiêu diệt chỗ đóng quân của địch chứ không phải để làm bãi đáp trực thăng đổ quân. Và binh trạm giữa cánh rừng già này có thể chứa một đơn vị địch cấp tiểu đoàn.
Những ngày kế tiếp chúng tôi di chuyển trong khu vực hành quân đã định trước, nhưng không tìm ra dấu vết hoạt động mới của địch quân. Có lẽ chúng đã quá khiếp sợ vì sức tàn phá của quả bom Daisy Cutter.
Sau khi được trực thăng vào đón, đưa về căn cứ hành quân tiền phương. Sau phần thuyết trình, báo cáo, cả toán biệt kích kéo nhau vào căn lều uống bia. Pat Walters, toán phó tươi cười khi nghĩ lại chuyện toán biệt kích bị kẹt trong “lòng chảo”. Tất cả cùng cười, xin cám ơn Thượng Đế, cám ơn trời đất đã cho toán biệt kích chúng tôi một “hố cạn” vào cuối năm như một món quà Giáng Sinh. Nhưng tôi tự nhủ, lần sau phải “né” hố bom Daisy Cutter.
CHẤT ĐỘC DA CAM (AGENT ORANGE)
Trong tháng Hai năm 1970, hành quân Delta di chuyển lên Phước Long, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương nơi phi đạo trại LLĐB Bunard. Đến căn cứ hành quân ít lâu, toán biệt kích của tôi được nghe thuyết trình hành quân dò thám một khu vực mà cây cối đã bị khai quang, hủy diệt bằng chất độc da cam từ những năm 1966, 1967.
Trước khi khu rừng bị khai quang, tỉnh Phước Long có những cánh rừng rậm rạp, bao la, bát ngát. Dưới những tàn cây rậm rạp địch quân xây nhiều căn cứ, binh trạm và hệ thống đường mòn để chuyển quân, vũ khí, đồ tiếp liệu từ Miên sang. Cũng vì vậy, nhiều cánh rừng đã bị phi cơ Hoa Kỳ rải thuốc độc Da Cam, khai quang cho phi cơ quan sát theo dõi, tìm kiếm những cuộc chuyển quân của địch. Nhưng đến bây giờ (1970), nhiều cánh rừng, cây cỏ đã phục hồi trở lại, gây khó khăn cho phi cơ quan sát. Và nhiệm vụ cho toán của tôi xem xét những con đường mòn để biết địch có xử dụng lại hay không. Nhiệm vụ có vẻ đơn giản, rõ ràng nhưng lại không thực sự… đơn giản như chúng tôi tiên đoán.
Cũng như lần trước, sau buổi thuyết trình, tôi phải đi bay trên chiếc máy bay thám thính O-1 để thám sát khu vực hành quân, tìm bãi đáp chính, bãi đáp phụ cho toán biệt kích xâm nhập. Tôi đã từng tuần tiễu khu vực này trước đó, khoảng năm 1966, 1967, cùng với một đại đội Dân Sự Chiến Đấu. Lúc đó khu rừng đã bị khai quang nên tôi có cảm tưởng như mình đã quen thuộc khu vực hành quân. Nhưng không dè những gì mình trông thấy trong chuyến bay hôm đó.
Chúng tôi bay trên cao độ 2000 bộ, khu vực hành quân nơi cuối đường chân trời. Một mầu xám ảm đạm thay vì mầu xanh của lá cây. Chiếc máy bay quan sát “Bird Dog” bay vào, tôi nhận thức rằng, cả một vùng rừng núi hùng vĩ không còn, những cây gỗ tốt, chắc chắn cao 200, 250 bộ, thân cây to, với đường kính 15, 20 bộ đứng sừng sững, hiên ngang. mặc dầu đã chết ba bốn năm qua. Những cây cổ thụ đã trơ trụi hết lá, chỉ còn trơ lại những cành khô, như những bộ xương với những cánh tay dài lên bầu trời.
Khoảng bốn năm về trước, tôi đã cùng người Thượng trong lực lượng Dân Sự Chiến Đấu làm bá chủ những khu rừng này. Gần như chúng tôi cũng là một phần của khu rừng, cũng như chim chóc, cỏ cây, và những loài động vật khác. Một đại đội DSCĐ người Thượng đi chuyển ngang qua khu rừng, gặp trái cây ăn được họ hái ăn, nhưng ăn tại chỗ chứ không đem về. Họ sống hòa hợp với thiên nhiên chứ không phá hoại. Trên thực tế, những cây cổ thụ to lớn đó được họ tôn thờ như những vị thần linh. Tôi băn khoăn, không biết những người Thượng đơn sơ, mộc mạc nghĩ sao, khi chúng ta đã hủy diệt thiên nhiên, những vị thần của họ.
Đại đội DSCĐ người Thượng là một gia đình lớn, một gia đình nối dài của họ. Người nắm quyền đại đội trưởng cũng như ông nội, những người con trai của ông ta sẽ là những trung đội trưởng… Thường họ là những chiến sĩ can đảm, thợ săn giỏi. Người Thượng làm nhiệm vụ hướng đạo (đi đầu), tìm dấu vết rất “chuyên nghiệp”, mà không cần phải qua một khóa huấn luyện, trường, lớp nào. Họ đi rừng rất giỏi và rất trung thành với người Hoa Kỳ.
Một kỷ niệm khó quên, tôi được chứng kiến sự can đảm của một đứa trẻ người Thượng mười ba tuổi. Tôi không nhớ tên, vác khẩu trung liên Bar nên đặt tên Barman (người xử dụng trung liên Bar). Barman vác khẩu súng, to lớn hơn người, cũng lội rừng vượt suối như mọi người. Chuyện đau lòng, đứt ruột khi phải chứng kiến, người trung đội trưởng DSCĐ cũng là cha của Barman, bế xác con đem về cho mẹ nó.
Mỗi lần có giao tranh lớn, ngôi làng Thượng như trải qua trận “đại thiên tai”, khi chúng tôi đem xác cha, chồng, anh em, con của họ về. Những người đàn bà Thượng sẽ khóc than, kéo dài mấy ngày, cho đến khi khô cạn nước mắt. Đành rằng, trận chiến nào cũng có những mất mát và chúng ta phải chấp nhận, tuy nhiên nhìn những bà mẹ ôm xác con… thật không đành.
Trong khu vực hành quân, trước đó cũng là căn cứ điạ của công trường (sư đoàn) 9 VC, có những căn cứ, trạm binh của các trung đoàn 271, 272, và 273. Trong chuyến bay thám thính này tôi tự hỏi, không biết họ còn đó không?
Tôi chọn một điểm xâm nhập trong một bãi cỏ tranh, trực thăng đáp dễ dàng vì cánh rừng đã chết. Một điểm triệt xuất, nơi hướng bắc khu vực hành quân. Tôi dự trù chuyến hành quân sẽ kéo dài bốn ngày và toán biệt kích sẽ di chuyển đến bãi đáp trực thăng để triệt xuất. Khu vực hành quân xâm nhập nằm nơi phiá bắc tỉnh Phước Long, có nhiều dẫy đồi nhỏ và những con suối con. Ngoài vấn đề chính là địch quân, còn vấn đề nước uống cũng là một điều đáng để ý. Lúc đó đang giữa mùa hè, dưới sức nóng oi bức của miền nhiệt đới, vác ba lô trèo đèo lội suối, một người lính cần uống hơn ba lít nước mỗi ngày. Không biết những giòng suối nhỏ vẫn có nước hay đã cạn trong mùa hè.
Do đó toán biệt kích vẫn phải tìm chỗ lấy nước hàng ngày. Thiếu nước, con người kiệt sức nhanh chóng. Mỗi biệt kích quân, đem theo sáu bi đông nước và họ sẽ uống hết trong một ngày lội trong rừng. Hành quân biệt kích trong mùa hè, vấn đề quan trọng nhất là tìm nước, sau đó mới là địch quân. Chỗ lấy nước cũng là tử điạ, vì địch quân cũng phải ra suối lấy nước.
Khi quay trở về căn cứ hành quân Bunard, tôi thuyết trình cho toán biệt kích. Toán của tôi gồm có sáu người: toán phó là trung sĩ nhất Terrence (Terry) W. Pardee, nhưng anh ta đã hết thời gian phục vụ, về Hoa Kỳ, trở lại đời sống dân sự. Trung sĩ nhất William R. (Grit) Pomeroy Jr. vừa mới bổ sung cho toán biệt kích và đây là chuyến đi đầu tiên của anh ta vào “Hố Cạn”. Grit ở với toán cho đến khi hành quân Delta kết thúc (bị giải tán) vào tháng Bẩy năm sau. Bill Pomeroy có tên gọi thân mật (nick name) là Grit vì anh đến từ Alabama, giọng nói miền nam Hoa Kỳ.
Chuyến hành quân xâm nhập này hơi đặc biệt, ba ngày sau chúng tôi mới lên trực thăng đi xâm nhập. Bãi đáp tôi chọn rộng rãi, trực thăng có thể xà xuống còn cách mặt đất khoảng sáu bộ và toán biệt kích nhẩy ra. Chúng tôi vừa chạy vừa bò trong đám cỏ tranh cao hơn đầu người, đến một bụi cây khô lớn cách bãi đáp khoảng 100 thước. Trời sẽ tối nhanh chóng, toán biệt kích chui vào trong bụi bố trí thành một vòng tròn 360 độ, ngủ qua đêm.
Một điều tôi để ý, khi toán biệt kích chạy từ bãi đáp trực thăng đến bụi rậm, không nghe tiếng chim hót, hay những âm thanh khác của thú vật như khỉ, côn trùng, của núi rừng. Một bầu không khí im lặng của tử thần. Bỗng dưng, một tràng súng nổ, phát ra từ một khẩu súng cách đó khoảng vài trăm phút (rõ ràng tiếng súng, không thể sai được). Toán biệt kích báo động ngay tức khắc và cố gắng giải đoán… chuyện gì xẩy ra. Chúng tôi là những “người bạn” duy nhất trong khu vực, một tên VC hay lính Bắc Việt nào đó là tác giả của loạt súng chỉ thiên… chỉ địa!
Vài phút sau, thêm một loạt súng nổ và kết thúc bằng tiếng nổ lựu đạn, nhưng lần này phát ra từ hướng ngược chiều với lần trước. Chúng tôi nghĩ rằng hai toán địch ở hai nơi khác nhau đang chơi… trò gì đây! Rồi một tràng súng nổ nữa nhưng cách xa hơn. Chúng tôi suy luận rằng, địch quân nghe tiếng trực thăng, biết có thể có biệt kích xâm nhập, chúng chia ra nhiều tiểu đội nhỏ đi lùng. Thỉnh thoảng bắn báo hiệu cho nhau và thử phản ứng của toán biệt kích.
Đêm hôm đó, địch quân dò tìm toán biệt kích suốt đêm, nằm trong bụi chúng tôi không một ai ngủ được, thỉnh thoảng cứ nghe một tràng tiếng súng tiểu liên và kết thúc bằng tiếng lựu đạn nổ. Đến sáng sớm hôm sau, toán biệt kích chuẩn bị chui ra khỏi bụi rậm, lên đường, chợt nghe tiếng răng rắc như tiếng cây kho gẫy và một tiếng rầm, tiếp theo là bụi tung lên. Ra khỏi bụi rậm, chúng tôi chứng kiến cảnh một khu rừng chết, những cây to lớn đã chết khô, bị mối ăn, thỉnh thoảng lại ngã xuống.
Cả toán biệt kích bố trí quan sát khu rừng chết, những thân cây to lớn đổ xuống, lăn đè lên làm gẫy những cành khô, gây ra một chuỗi nổ nhỏ như tiếng súng, và đến khi lăn chạm vào một gốc cây lớn khác mới ngừng lại gây nên một tiếng lớn như lựu đạn.
Có lẽ cả đêm qua, toán biệt kích phải nghe những âm thanh này. Địch quân cũng sợ chết vì cây đè, chẳng chẳng có đơn vị địch nào dám vào trong khu rừng này “làm ăn”. Tôi ra lệnh cho cả toán di chuyển ra khỏi khu rừng chết trở lại nơi bãi đáp trực thăng.
Chúng tôi ngồi gần bãi đáp trực thăng suy nghĩ về lệnh hành quân. Mặt trời từ từ lên cao, chúng tôi phải thay đổi kế hoạch thám sát. Theo đúng lệnh hành quân cho toán biệt kích, chúng tôi phải dò thám những con đường mòn trong khu vực. Biết rằng đó là khu rừng chết, nhưng vẫn phải tuân lệnh. Chắc chắn địch quân đã biết rõ tình trạng của khu rừng như chúng tôi mới biết.
Biết rằng rất nguy hiểm, có thể bị cây gẫy, rơi đè chết nếu vào bên trong tìm những con đường mòn, tôi vẫn không muốn gọi máy về căn cứ hành quân tiền phương xin triệt xuất. Tôi ra lệnh cho toán biệt kích di chuyển trên cỏ tranh, dọc theo bìa rừng. Đi như vậy không có gì che chở cho toán biệt kích, nhưng đi bên trong… cũng chết. Vả lại đám VC cũng không dại gì chui vào trong khu rừng chết, đầy rẫy cây khô, cành khô, rơi xuống lúc nào không biết.
Toán biệt kích tiếp tục di chuyển dọc theo bìa rừng lên hướng bắc, cho đến khi gặp một giòng suối để lấy nước. Sau khi mọi người lấy đủ sáu bi đông nước, tôi xem lại bản đồ, biết rằng cách đó khoảng 100 thước, có một con đường mòn. Chúng tôi không theo những điều đã được huấn luyện trước đây, cứ chạy thẳng một mạch đến con đường mòn. Mà thực vậy, tên địch nào dám mò vào khu rừng chết này, không thấy dấu vết có người đi lại trên đường mòn. Chúng tôi chụp vài tấm ảnh, một tấm có cây cổ thụ thật to gẫy đổ trên đường, để đem về. Xong việc, đã có đủ tài liệu, bằng chứng, chúng tôi chạy ra khỏi khu rừng đến bãi cỏ tranh bên cạnh giòng suối.
Đêm đó chúng tôi bố trí ngủ đêm tại một vị trí gần giòng suối, và cả đêm lại nghe tiếng cây gẫy đổ như đêm trước. Sáng hôm sau, tôi gọi lên chiếc máy bay quan sát FAC, yêu cầu tiếp vận về căn cứ hành quân tiền phương Bunard, chúng tôi đã xong nhiệm vụ sớm hơn dự trù và yêu cầu triệt xuất. Đó cũng là một chuyến hành quân xâm nhập vào “Hố Cạn”. Chúng tôi mong gặp VC thứ thiệt thay vì những gì đã gặp trong khu rừng chết.
THUNG LŨNG CỦA TÔI
Trong tháng Ba 1970, hành quân Delta vẫn còn trên căn cứ hành quân tiền phương Bunard, thám sát những khu vực dọc theo giòng sông Đồng Nai. Toán biệt kích của tôi được trao cho nhiệm vụ thám sát những nhánh sông nhỏ, nơi chân những rặng núi sát vùng trách nhiệm của quân đoàn II, vùng 2 chiến thuật. Khu vực hành quân xâm nhập này nằm xa nhất của tầm bay của loại trực thăng đổ quân UH-1, và toán biệt kích do tôi chỉ huy là toán đầu tiên phải xâm nhậm, dò thám khu vực xa xôi đó.
Những chuyến xâm nhập trước đó, toán của tôi thường được trao cho trách nhiệm dò thám những khu vực dọc theo biên giới Việt-Miên. Trong phần thuyết trình hành quân cho chuyến xâm nhập mới này, tôi được cho biết, có một đơn vị cấp lớn của địch đóng quân trong khu vực và toán biệt kích có nhiệm vụ nhận diện đơn vị này.
Sau khi nghe thuyết trình, tôi cùng với phi công O-1 bay thám sát khu vực hành quân và tìm bãi đáp đê xâm nhập, triệt xuất. Trên đường đến mục tiêu, chúng tôi bay trên cao độ 2000 bộ. Khi đến không phận mục tiêu, từ trên cao nhìn xuống, tim tôi muốn ngừng đập. Dưới đáy thung lũng, nơi những nhánh sông nhỏ sẽ đổ vào sông Đồng nai, có bề rộng 15 cây số và cả vùng thung lũng có chiều dài khoảng 40 cây số và những vách núi dựng đứng hai bên. Khu vực thám sát quá rộng, và điều tôi để ý nhất là có nhiều đường mòn chạy từ trên những sườn núi xuống thung lũng. Cả khu vực được những cánh rừng nhiệt đới, cây cối rậm rạp che phủ. Những con đường mòn chạy từ trên xuống theo hướng bắc nam dọc theo thung lũng và ngang dọc từ đông sang tây, và có dấu hiệu địch quân xử dụng, di chuyển rất thường trên những con đường mòn.
Kể từ lần xâm nhập vào thung lũng A Shau, tôi không thể nhầm được, những con đường mòn này phải cỡ cấp sư đoàn của địch di chuyển mới bị nén xuống như thế. Nếu ai có hỏi, sau khi chiến khu C bị khai quang, quân VC, Bắc Việt di chuyển đi đâu, thì hôm nay tôi đã tìm thấy câu trở lời. Tôi yêu cầu phi công lái chiếc máy bay thám thính O-1 bay thấp một vòng để tôi quan sát cho kỹ hơn, nhưng anh ta “lạnh cẳng”, từ chối, trả lời địch quân đầy trong thung lũng.
Tôi chọn bãi đáp xâm nhập là một khoảng đất trống, có một con đường mòn chạy ngang qua, nơi tận cùng phiá đông rặng núi làm thành thung lũng. Tôi chọn điểm xâm nhập này để trực thăng đưa toán biệt kích vào mà không phải bay ngang qua khu vực thung lũng, an toàn hơn. Thêm nữa, chuyến xâm nhập này tôi định “vào” vùng khi tia nắng đầu tiên thay vì lúc hoàng hôn như những lần trước.
Trở về căn cứ hành quân tiền phương Bunard, tôi thuyết trình lại cho toán viên. Sau khi kể rõ những điều mắt tôi trông thấy, cả toán biệt kích xanh mặt, không dè toán biệt kích bọn tôi lãnh nhiệm vụ xâm nhập vùng “Thung lũng Tử Thần”. Lần này chúng tôi chuẩn bị đem theo thật nhiều đạn dược, mìn Claymore và lựu đạn… để chiến đấu. Và đem theo ít lương thực hơn những chuyến đi trước. Phải lo chuyện tìm đường sống trước nhất. Trung sĩ nhất William R. “Grit” Pomeroy Jr., toán phó, nên dành thì giờ cầu nguyện, nên chúng tôi đi ngủ sớm.
Yêu cầu ra đi trước rạng đông được chấp thuận và toán biệt kích lên đường vào buối sáng sớm hôm sau, khi trời vẫn còn tối. Chiếc trực thăng chở chúng tôi tách khỏi đội hình, khi ra khỏi căn cứ hành quân khoảng mười cây số, sau đó bay dọc theo sông Đồng Nai lên bãi đáp. Khi qua khỏi rặng núi nơi hướng đông, phi công trông thấy bãi đáp và thả xuống toán biệt kích.
Trực thăng vừa là là xuống, tôi đã phóng ra khỏi phi cơ chạy vào bià rừng và dẫm lên ngay một bãi phân voi, ngập đến đầu gối. Cả toán biệt kích chạy đến bìa rừng, chúng tôi bố trí quan sát con đường mòn, vừa ngạc nhiên bớt lo âu. Cả bãi đáp lẫn con đường mòn đều có dấu vết của loài voi, phân của chúng vương vãi tùm lum, khắp nơi trên con đường mòn. Thì ra con đường mòn này không phải do người tạo nên, đi lại mà chủ nhân ông của con đường là một đàn voi rừng… và như vậy mấy ông Vi Xi (VC) cũng phải tránh né khu vực này, kiếm chỗ khác “làm ăn”. Cả đôi ta, địch và bạn, “tránh voi chẳng xấu mặt nào”.
Đã có nhiều váo cáo trước đây, địch quân xử dụng voi để chở đồ tiếp vận, những chiến cụ nặng, nên chúng tôi vẫn phải cẩn thận, có địch trong khu vực. Toán biệt kích thận trọng di chuyển sâu vào trong rừng, khu vực thung lũng. Không bao lâu, chúng tôi biết rằng, không có dấu vết địch quân trong khu vực hành quân, dò thám. Và cũng không có dấu vết chứng tỏ có sự xuất hiện của loài người trước khi toán biệt kích đặt chân đến. Những đàn khỉ, vượn, chim chóc chưa từng có kinh nghiệm về loài người, chưa biết sợ, nhìn toán biệt kích dò xét. Chúng tôi nghe được tiếng động, tiếng kêu của đàn voi di chuyển đi xa chúng tôi. Những con voi đánh hơi người lạ xâm nhập vào giang sơn của chúng thật tài tình. Chúng tôi không thể đoán được đàn voi có bao nhiêu con, nhưng chắc phải nhiều lắm, mới đủ khả năng “xây dựng” những con đường mòn trong khu vực thung lũng.
Đến buổi chiều hôm đầu tiên xâm nhập, chúng tôi mới gặp “Người của núi rừng” (Forest People). Tôi đã nghe nói về họ từ những binh sĩ Thượng và LLĐB/VN nhưng đây là lần đầu tiên mới được gặp. Một lần trước đây khi còn chỉ huy một đại đội DSCĐ hoạt động trong khu vực đông bắc tỉnh Bình Long. Lúc đó vào mùa khô, những giòng suối nhỏ đã cạn nước, chỉ có một con suối có nước, nằm sâu trong cánh rừng rậm. Để giữ an ninh, tôi chỉ cho mỗi tiểu đội một người đại diện đi xuống suối lấy nước, phần còn lại bố trí phòng thủ.
Vài phút sau, có những tiếng la hét từ dưới suối vọng lên, rồi những người đi lấy nước, xách những bi đông không quay trở về. Tôi hỏi và được binh sĩ người Thượng trả lời “Con suối thuộc quyền sở hữu ‘Người của núi rừng’, họ không cho phép lấy nước và mình phải ra khỏi khu vực này”. Câu trả lời, tôi không hiểu nổi, nhưng các DSCĐ có vẻ rất “nể nang” họ.
“Người của núi rừng” bỗng xuất hiện trong khu vực hành quân xâm nhập của toán biệt kích, họ ở trên cây, và xung quanh chúng tôi. Chúng tôi không nghe được sự di chuyển của họ… tự nhiên xuất hiện. Họ xuất hiện nhanh chóng, chúng tôi không biết được có bao nhiêu người. Rồi một con đực to lớn nhất nhẩy từ trên cây xuống, đến gần toán biệt kích quan sát. “Người của núi rừng” cao khoảng năm bộ (không tới 1m60), hai cánh tay dài, lông lá trông như đười ươi, khỉ đột, có lẽ cùng họ với loài khỉ đột cam (Orangutan, sống ở Indonesia). Con này nhe nanh gầm gừ như muốn nói, toán biệt kích nên cuốn gói ra khỏi giang sơn của chúng, rồi cả đàn biến mất nhanh chóng như lúc xuất hiện.
Toán biệt kích tiếp tục di chuyển êm thấm đến ngày triệt xuất. Trong cánh rừng có nhiều thú lạ, một nơi chưa có loài người đặt chân đến. Khu vực hành quân xâm nhập của chúng tôi là một “Hố Cạn”, không có bóng dáng địch quân. Xin cảm ơn Thượng Đế một lần nữa. Toán biệt kích như lạc vào thiên thai, rất tiếc phải về sớm vì chúng tôi chỉ mang theo ít đồ ăn. “Thung lũng Tử Thần” trở thành “Thung lũng của tôi”.
Sau khi chúng tôi quay về, hành quân Delta chấm dứt hoạt động trên căn cứ hành quân Bunard. Tất cả được đưa về Nha Trang nghỉ ngơi ít hôm trước khi được không vận ra ngoài vùng 1 chiến thuật, thiết lập căn cứ hành quân Mai Lộc.
Toán biệt kích chúng tôi đã đem về tin tức, không có bóng dáng VC, quân đội Bắc Việt trong khu vực “Thung lũng của tôi”, và họ không phải là chủ nhân, xây dựng những con đường mòn trong khu vực.
Năm 1975, những đoàn xe chuyển quân của quân đội Bắc Việt về hướng Saigon cũng không đi ngang qua, tàn phá “Thung lũng của tôi”. Sau này, một tờ báo ở Hoa Kỳ có bài viết cho biết tìm thấy một giống tê giác lạ trong khu vực thung lũng gần sông Đồng Nai. Tôi xem lại tấm bản đồ cũ… Và đúng ý chang, trong “Thung lũng của tôi”. Khu vực thung lũng này bây giờ có tên là Nam Cát Tiên, một khu rừng nguyên sinh, được chính quyền bảo vệ.
MỘT CHUYẾN ĐI DẠO TRONG RỪNG
Trong tháng Tư năm 1970, hành quân Delta “dọn nhà” ra khỏi Bunard, về Nha Trang nghỉ ngơi và trong tháng Năm, di chuyển ra Quảng Trị, thiết lập căn cứ hành quân tiền phương bên ngoài trại Lực Lượng Đặc Biệt Mai Lộc. Nhiệm vụ cho hành quân Delta ngoài vùng 1 lần này, thám sát khu vực biên giới Lào-Việt, từ vùng phi quân sự về hướng nam đến căn cứ Khe Sanh.
Trại LLĐB Mai Lộc là tiền đồn xa nhất về phiá bắc VNCH, “Địch quân có thể ném đá vào căn cứ thay cho đạn pháo kích”. Đây cũng là chuyến hành quân Delta thứ hai xử dụng căn cứ hành quân tiền phương Mai Lộc, và các toán biệt kích đều biết rằng, khu vực hành quân mới này không phải “dễ ăn”. Có rất nhiều đơn vị Bắc Việt trong khu vực hành quân, và nhiệm vụ cho các toán biệt kích Delta, đi tìm và nhận diện các đơn vị này trong mỗi chuyến hành quân xâm nhập kéo dài năm ngày. Cứ mỗi lần toán biệt kích xâm nhập vào khu vực Khe Sanh, Lang Vei đều rất có thể sẽ phải triệt xuất khẩn cấp.
Sau khi đến Mai Lộc ít lâu, toán biệt kích của tôi được mời vào trung tâm hành quân nghe thuyết trình và nhận lệnh. Khu vực hành quân xâm nhập được giao phó cho toán biệt kích nhìn trên bản đồ trông có vẻ rất gay go. Khu vực này sát biên giới Lào-Việt, phiá nam trại LLĐB bỏ hoang Lang Vei, tây nam căn cứ cũng bỏ hoang, trại LLĐB và căn cứ Khe Sanh của TQLC/HK. Và nằm dưới con đường 616 chạy từ bên Lào qua phần đất Việt Nam.
Đường 616 là một nhánh tẽ ra từ hệ thống đường mòn HCM trên đất Lào, để quân đội Bắc Việt chuyển quân, chiến cụ, đồ trang bị tiếp vận vào tỉnh Quảng Trị. Địch quân xử dụng con đường này rất thường xuyên, những toán biệt kích Delta xâm nhập trước đây đã báo cáo, trông thấy xe cộ của địch di chuyển trên đường 616 tại nhiều toạ độ. Toán biệt kích của tôi sẽ xâm nhập vào khu vực có hình dáng “Lưỡi câu” do giòng sông Tchépone uốn quanh rặng núi Cơ Rốc, cao hơn 1000 bộ trên đất Lào.
Chỉ cần nhìn khu vực hành quân trên bản đồ, tôi có linh cảm “chuyện lớn” sắp xẩy ra. Toán biệt kích đã được sĩ quan ban 2 thuyết trình, nói rằng trong khu vực có sự hiện diện của nhiều đơn vị Bắc Việt, cùng với các binh trạm, kho tiếp vận. Nhiệm vụ chính cho toán biệt kích, tìm các kho tiếp vận dấu kín trong rừng già của địch và chứa những “món hàng” nào? Nhận nhiệm vụ tôi biết ngay, chuyến đi này sẽ rất nguy hiểm hay “trời thương”.
Sau đó tôi đi bay thám sát khu vực hành quân, điểm xâm nhập, triệt xuất. Đúng như trên bản đồ hành quân, từ trên máy bay thám thính FAC nhìn xuống, khu vực xâm nhập trông như hình lưỡi câu do dòng sông Tchépone uốn cong. Ba mặt bao quanh “lưỡi câu” thuộc về nước Lào, mặt còn lại thuộc về Việt Nam và có rất nhiều hố bom, lỗ chỗ ở dưới, chứng tỏ khu vực này đã bị oanh kích nặng nề. Tôi chọn được một điểm xâm nhập là một hố bom ngay bên cạnh khu vực xâm nhập, điểm triệt xuất dưới chân ngọn núi Cơ Rốc.
Phi công lái chiếc O-2 cũng xác nhận với tôi, khu vực xâm nhập “rất nóng” (nguy hiểm) và toán biệt kích có cơ hội chạm địch ngay tại nơi bãi đáp xâm nhập. Chúng tôi quyết định xâm nhập vào lúc trời vừa sáng và được chấp thuận. Trong lúc chờ đợi, cả toán biết kích thực tập “tao ngộ” chiến, đề phòng trường hợp chạm súng bất ngời với địch quân. Tiếp theo là kiểm soát lại ba lô hành trang cho chuyến “công tác” đặc biệt này. Và toán biệt kích lên đường vào sáng sớm ngày hôm sau, khi ánh mặt trời chưa lên cao.
Trực thăng đưa toán biệt kích vào bãi đáp dễ dàng, khi còn cách mặt đất khoảng sáu bộ, chúng tôi nhẩy ra khỏi trực thăng chạy nhanh vào bờ rừng, gom lại và bắt đầu di chuyển. Vào bên trong chúng tôi gặp ngay một hàng rào làm bằng tre cao đến bụng, lúc đó mới biết bãi đáp trực thăng xâm nhập là một khu vườn canh tác của một đơn vị hậu cần Bắc Việt và một qủa bom 500 cân Anh, không quân Hoa Kỳ đã phá hủy khu vườn.
Toán biệt kích đi sâu vào khoảng năm mươi thước, khám phá ra được một binh trạm cấp đại đội đã bỏ hoang của địch. Trong căn cứ bí mật có khoảng mười dẫy nhà sàn, có mái che, có thể chứa mười người, hầm trú ẩn tránh bom. Binh trạm này có lẽ được dùng làm nơi nghỉ chân cho các đơn vị Bắc Việt di chuyển ngang qua, không thấy có hệ thống phòng thủ, chiến đấu, giao thông hào. Quan sát những cây cỏ hoang, giây leo mọc lên khắp nơi, chúng tôi đoán rằng địch đã bỏ hoang căn cứ này hơn sáu tháng.
Từ trong binh trạm này có hai đường mòn, một dẫn đến đường 616, ngã kia đi về hướng tây nam. Cũng như binh trạm, cả hai đường mòn đều đã không xử dụng từ lâu, cỏ dại đã lan lên trên đường. Toán biệt kích di chuyển song song, dọc theo con đường mòn cho đến khi ra khỏi khu vực dò thám nhưng chẳng thấy gì khác thường. Chúng tôi quay trở lại binh trạm và theo con đường mòn kia, đi về hướng tây nam. Cũng chẳng tìm thấy gì, chúng tôi hơi ngạc nhiên, không lẽ lại vào một “Hố Cạn”.
Trên lộ trình di chuyển về hướng tây nam, chúng tôi đến một ngã rẽ, trái phải dẫn đến khu chứa hàng, những nhà kho nơi địch quân xây những sàn lớn kích thước 10×20 bộ, cao hơn mặt đất 3 bộ. Chúng tôi lục soát xung quanh, tìm thấy khoảng hai mươi kho hàng trống rỗng, có lẽ địch quân đã di chuyển đi chỗ khác. Cả ngày lục soát khu vực chỉ thấy căn cứ, kho hàng đã bỏ hoang, chúng tôi nghĩ rằng địch quân đã di chuyển đi nơi khác.
Qua ngày hôm sau, toán biệt kích di chuyển về hướng biên giới Lào Việt để triệt xuất. Ra khỏi khu vực binh trạm bỏ hoang, chúng tôi di chuyển trong thung lũng dưới những ngọn đồi, bóng cây rậm rạp của khu rừng nhiệt đới. Tôi dự trù cứ tiếp tục di chuyển cho đến khi gặp giòng sông Tchépone cắt ngang, đó cũng là đường biên giới Việt Lào.
Đến cuối ngày thứ hai, bốn quân nhân LLĐB/VN trong toán, tin rằng chúng tôi đã được Thượng Đế ban cho một “Hố Cạn” và bắt đầu lơ là. Tôi phải cho họ biết, mới được nửa đoạn đường, vẫn phải cẩn thận.
Đến sáng ngày thứ tư, toán biệt kích thức dậy trong một buổi sáng yên bình, khu rừng yên tĩnh. Chúng tôi di chuyển đến bãi đáp để được triệt xuất, ngọn núi Cơ Rốc sừng sững như thách đố. Đến gần trưa, chúng tôi đến một giòng suối cắt ngang lộ trình di chuyển.
Chợt từ phiá bên kia bờ suối, tôi trông thấy ba người lính Bắc Việt cũng đang đi xuống suối. Tôi định nổ súng nhưng chần chừ, chờ Grit vì ba địch quân nằm trong hướng bắn của anh ta. Grit đang dấu mình trong đám cỏ tranh ngay sát bờ suối. Tôi định quạt một băng, nhưng sợ có viên trúng Grit, nên kiên nhẫn nằm chờ.
Rồi ba tên lính Bắc Việt đột nhiên quay trở lại, hình như bọn chúng đang đi săn trong giang sơn của chúng nên rất tự tin đến độ thản nhiên. Trong khi đó, trung sĩ William R. “Grit” Pomeroy Jr. “đang làm gi?”. Tôi giận điên lên… nhưng sau này tôi được biết, Grit là một người rất nặng vấn đề tín ngưỡng. Sau khi trở về Hoa Kỳ, anh ta theo học trong một trưòng “dòng”, tốt nghiệp về Thần Học, trở lại quân đội làm tuyên úy. Grit vẫn nhớ đồng đội, xin làm việc trong binh chủng LLĐB.
Trên chuyến trực thăng triệt xuất về căn cứ hành quân tiền phương Mai Lộc, chúng tôi được biết hành quân Delta sẽ chấm dứt và tất cả sẽ di chuyển về Nha Trang để được phân phối ra các đơn vị khác. Đó cũng là chuyến hành quân xâm nhập cuối cùng của tôi trong hành quân Delta.
“Trời nhập nhoạng tối. Toán lính Bắc Việt ngày càng đến gần hơn, vừa chĩa súng bắn chúng tôi, vừa nhắm lên chiếc trực thăng Kingbee mà nhả đạn xối xả.”
Cuốn “Across the Fence – The Secret War in Vietnam” của tác giả John Stryker Meyer, thuộc lực lượng đặc biệt SOG Hoa Kỳ, kể lại thời gian chiến đấu cùng VNCH. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
“Sáu và Hiệp bắn cản đường cho chúng tôi bò về hướng trực thăng trong tuyệt vọng. Phải mất hơn 10 phút chúng tôi mới đi hết được 9 mét cuối, đến gần được đến chiếc Kingbee đang bay lởn vởn cách mặt đất chừng 3 mét.”
“Kiểm nhanh lại vũ khí, tôi thấy mình chỉ còn một quả lựu đạn, một lựu đạn khói và hai băng đạn 15 viên. Nếu không thoát được, thì quả lựu đạn cuối cùng này tôi sẽ dành cho chính mình, vì tôi không thể chấp nhận số phận một tù binh, nhất là sau khi toán trinh sát ‘Idaho’ đã giết biết bao nhiêu là lính Bắc Việt. Nếu phải rút chốt để tự kết liễu đời mình, tôi sẽ cố gắng gây tổn thất tối đa cho kẻ địch.” “Cuối cùng chúng tôi cũng đứng được ngay dưới bụng chiếc Kingbee. Wolken tiến lên, đứng đối mặt với tôi, lưng quay về đầu máy bay. Khi Davidson đến gần, Wolken và tôi nắm lấy anh rồi ném vào chiếc trực thăng vẫn đang bay là đà. Tiếp đó, chúng tôi đẩy Hiệp và Sáu vào. Vừa lọt vào bụng Kingbee, họ nhào ngay cạnh thủ xạ đang đứng cạnh cửa sổ máy bay, tiếp lấy vũ khí, nhắm vào đám lính Bắc Việt phía dưới mà xả đạn. Phước tiến đến, Wolken và tôi túm lấy rồi ném Phước vào trong.” “Từ dưới đất ngước lên, tôi kinh ngạc khi thấy nét mặt người đại úy phi công Việt Nam tên Thịnh thật bình tĩnh, thản nhiên, như không hề thấy sự hỗn loạn phía dưới, và đám lính Bắc Việt đuổi sắp đến nơi. Chúng tôi đã chạm địch cả giờ đồng hồ, ai cũng nhếch nhác bẩn thỉu, mồ hôi vã như tắm, và gần như kiệt sức, thân máy bay mang đầy vết đạn, thế mà trông Thịnh vẫn bình chân như vại, như anh đang đón chúng tôi đi một cuộc du ngoạn. Hình ảnh này đã khắc ghi như in trong tâm trí tôi cho đến nhiều năm sau. Tôi nhớ đã thầm phục là không hiểu sao ngay trong khi lửa đạn đang trút xuống như mưa, cái chết gần trong gang tấc, mà Thịnh vẫn có thể vững vàng, thản nhiên, chăm chú điều khiển máy bay như thế.” “Cuối cùng thì chỉ còn Wolken và tôi ở dưới đất. Vì là chỉ huy, Wolken là người cuối cùng được lên máy bay. Wolken vừa đẩy tôi vào, thì một lằn đạn nữa bắn gần đến rát cả màng tang. Tôi cúi rập người, nắm lấy chiếc áo khoác ngoài của Wolken và cố nhấc thân hình nặng hơn 100 kg của anh kéo vào khoang máy bay với mình. Bóng tối chợt ập xuống. Tôi nhả nguyên một băng đạn về hướng lính Bắc Việt đang bám theo sát nút.” “Không để phí một giây, đại úy phi công, tên Thịnh, đưa chiếc Kingbee bay vụt lên, trong khi Hiệp và Sáu chăm chú bắn từ cửa sổ bên trái, Phước và Davidson bắn xuống từ bên phải, Wolken và tôi nhả những băng đạn cuối cùng vào bóng hàng chục, không, hàng trăm, bóng quân lính Bắc Việt nhấp nhô bên dưới.” “Tôi ném lựu đạn khói vào kẻ thù. Khói trắng bay lên làm sáng một vùng rừng xanh thẳm phía sau và những lằn đạn lửa dọc ngang chi chít bầu trời trông như một cây Giáng Sinh thắp đèn rực rỡ. Wolken và Hiệp la lên mỗi khi nghe một tràng đạn bắn vào, rồi chỉ vào những lỗ thủng chi chít trên thân máy bay. Tôi như không nghe thấy gì nữa vì tai đã ù đi. Rồi máy bay vút đi, bỏ lại đám lính Bắc Việt lố nhố phía dưới.” “Khi chiếc Kingbee chở chúng tôi biến vào đám mây, tôi cảm thấy lạnh. Hơi lạnh như lời chào mừng chiến thắng. Không có tiệc liên hoan, không có lời reo hò cổ vũ, cũng không có vòng tay thân nhân đón người sống sót trở về. Vẫn chỉ có Ðại Úy Thịnh vẫn chăm chú điều khiển chiếc Kingbee, nhưng hình như có một nụ cười mỉm rất mong manh trên môi anh. Không biết Thịnh mừng vì điệp vụ thành công, hay mừng là chúng tôi lại một lần nữa thoát chết.” “Tôi nhìn trái lựu đạn cuối cùng trong tay mình, và rùng mình nghĩ nếu Thịnh không kịp đưa chúng tôi thoát hiểm, thì tôi đã ôm trái lựu đạn này và rút chốt. Thoát chết, có nghĩa là sáng mai lại nhìn thêm được một bình minh nữa, lại không biết có phải đó là bình minh cuối cùng trong đời mình không, và lại bắt đầu một điệp vụ mới.” Ðó là vài đoạn trong cuốn “Across the Fence – The Secret War in Vietnam” của tác giả John Stryker Meyer, thuộc lực lượng đặc biệt SOG (Studies & Observation Group) Hoa Kỳ, kể lại thời gian cùng những người lính Việt Nam Cộng Hòa trong đội “Idaho,” một nhóm trinh sát sáu người (Mỹ và Việt Nam) cùng nhau vào sinh ra tử với nhiệm vụ len lỏi qua Cambodia, Lào và Bắc Việt, để theo dõi hành tung của lính Bắc Việt dọc đường mòn Hồ Chí Minh. Trong cuốn sách dài hơn 300 trang, tác giả John Stryker Meyer kể lại một cách rất sống động sự nguy hiểm, đau đớn, giận dữ, tình huynh đệ và hoạt động bí mật của những người lính biệt kích Hoa Kỳ và Việt Nam trong thời gian từ năm 1968 đến 1970. Với lối kể chuyện thật xuất sắc qua những chi tiết rõ ràng, và cách viết tỉ mỉ, tác giả đưa người đọc vào trận chiến, cùng ông sống những giây phút nghẹt thở, trái tim đập thình thình trong lồng ngực vì hồi hộp, lo sợ. Trong cuộc chiến bí mật này, John và những đồng đội biệt kích Lôi Hổ Việt Nam, là những anh hùng không tên tuổi, những chiến sĩ vô danh, không mặc quân phục, không đeo số quân, và nếu rủi ro phải hy sinh, xác họ trở thành những tử thi vô chủ. Họ sống sót vì tận tụy với nghĩa vụ, vì can đảm và hy sinh để bảo vệ nhau, và bằng những khả năng không học ở trường lớp. Trong phần đề tặng (dedication) của cuốn sách, tác giả John Meyer cho biết ông viết cuốn sách này để riêng tặng cho thành viên các đội trinh sát thuộc lực lượng biệt kích Lôi Hổ SOG Hoa Kỳ và Việt Nam, những phi đoàn yểm trợ, đặc biệt là phi đoàn 219, đã ngày đêm sát cánh với ông và đồng đội, lăn lóc dưới đất, phía bên kia hàng rào, trong cuộc chiến bí mật của Mỹ. Trong “Across the Fence – The Secret War in Vietnam,” tác giả John Meyer không chỉ tả lại một cách tỉ mỉ và sống động một cuộc chiến khốc liệt, mà còn bầy tỏ cảm tình và sự trân quý dành cho những đồng đội Việt Nam, mà ông cho là can đảm, kiêu hùng và gan dạ. Ðọc “Across the Fence – The Secret War in Vietnam” để hiểu, để thương, để không bao giờ lãng quên những người anh dũng bỏ mình trong cuộc chiến, và để hãnh diện về những người lính VNCH, đặc biệt là nhóm biệt kích Lôi Hổ và phi đoàn 219.
(BLOG CHUYỆN BIỆT KÍCH MINH THÍCH LẮM CHỨ, VÌ NÓ GỢI CHO MÌNH NHỮNG KỶ NIỆM NGÀY XƯA…MÀ KHÓ AI CÓ TÂM TƯ GIỐNG MÌNH…TRONG PD 219 CÓ RẤT NHIỀU ANH EM, CHƯA HIỂU VÀ KHÔNG BIẾT NHIỀU VỀ NKT…VÌ THỜI GIAN PHỤC VỤ TRONG PHI ĐOÀN QUÁ NGẮN, CÒN MINH TỪ NHỮNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP PHI ĐOÀN, CHO ĐẾN NGÀY ĐỨT FILM…VÀ CÓ RẤT NHIỀU TÂM HUYẾT VỚI TẤT CẢ ANH EM NKT & 219 NÊN KỶ NIỆM KHÓ PHAI...)
BẮN GIẾT TRÊN ĐẤT LÀO
John “Tilt” Stryker Meyer, One Zero of Spike Team Idaho
Nhiệm vụ cho toán biệt kích Idaho rất rõ ràng, nhưng sự thật không đơn giản như thế. Đầu tháng Mưòi Một năm 1968, những toán biệt kích SOG trên căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB-1, Phú Bài) đều nếm mùi “bầm dập”. Những toán biệt kích SOG trong hành quân “Prairie Fire” (Cánh Đồng Lửa) trên đất Lào đều công nhận… rất khó xâm nhập.
Quân đội Bắc Việt đã tổ chức, huấn luyện thêm các đơn vị “săn biệt kích”, và đưa thêm vào đất Lào nhiều đại bác phòng không 37 ly bắn trực thăng rất công hiệu. Ngoài ra địch quân cho người canh gác những chỗ trực thăng có thể đáp để thả biệt kích xâm nhập. Tuy nhiên, sĩ quan hành quân (S-3) trên những căn cứ hành quân tiền phương vẫn phải tìm cách đưa những toán biệt kích SOG xâm nhập khu vực hành quân Prairie Fire, để lấy tin tức.
Tin tức tình báo cho biết, quân đội Bắc Việt có hơn 40000 quân bảo vệ hệ thống đường mòn HCM trên đất Lào. Địch quân xử dụng những con đường bí mật này, xuyên qua rừng núi, đưa quân cùng với đồ trang bị, tiếp vận vào miền nam Việt Nam.
Quân đội Bắc Việt càng ngày càng gia tăng sự hiện diện của họ trên đất Lào, do đó giới chức trong Saigon cũng muốn lấy được những tin tức chính xác về các hoạt động của địch trên đất Lào. Trên căn cứ hành quân tiền phương Phú Bài, vài ngày trước khi toán biệt kích Idaho bốc thăm trúng mục tiêu “Echo 8”, toán Idaho đã nổi tiếng về kỷ lục “bắn giết” trên nhiều bãi đáp để xâm nhập. Nhiều nhất trong các toán biệt kích.
Phá kỷ lục, chưa ai để ý đến con số, đó là những kinh nghiệm rất nản chí và nguy hiểm. Là người trưởng toán biệt kích, buổi sáng tôi sẽ đi bay thám sát mục tiêu trên chiếc phi cơ thám thính O-1 “Covey”, nếu đủ thời gian, tôi sẽ chọn bãi đáp để xâm nhập, bãi chính, bãi phụ, bãi phụ 2, v.v… Sau đó toán biệt kích SOG sẽ lên trực thăng H-34 “Kingbees”, phi đoàn 219 Không Quân Việt Nam biệt phái làm việc cho đơn vị SOG, bay đến bãi đáp chính, rồi bị địch bắn ngay tại bãi đáp, phải bay đến bãi đáp phụ… cũng bị địch bắn lên… Thêm một điều nữa, từ căn cứ hành quân tiền phương đến khu vực hành quân Prairie Fire xa, nên phải bay về Phú Bài (FOB-1) lấy thêm nhiên liệu, ăn trưa, rồi bay trở lại Prairie Fire… và cứ thế.
Sau bốn ngày liên tục “bắn giết ngay trên bãi đáp”, toán biệt kích Idaho đã chán ngấy. Trong ngày thứ tư, toán biệt kích đã bị “xua đuổi” trên các bãi đáp cả buổi sáng, phải bay về căn cứ hành quân tiền phương Phú Bài. Trong khi chúng tôi đang ăn trưa, sĩ quan hành quân S-3 đến cho biết một mục tiêu khác “Echo-8”. Sau khi nhận lệnh hành quân mới, tôi đi tìm phi công “Covey” báo tin cho anh ta, trung sĩ nhất Robert J. “Spider” Parks.
Lúc đó “Spider” đang đấu láo, đùa giỡn với các bạn trong câu lạc bộ. Khi tôi báo tin mục tiêu mới “Echo-8”, nụ cười biến mất trên khuôn mặt Parks, lên tiếng báo động “Nhớ chuyện gì đã xẩy ra cho Lane không! Cẩn thận, địch quân đang chờ đợi. Đến bây giờ vẫn chưa biết, chuyện gì đã xẩy ra cho anh ta”.
Lane đây là trung sĩ nhất Glenn Lane, năm 1968 anh ta là trưởng toán biệt kích Idaho, xâm nhập vào mục tiêu Whisky-2 cách Echo-8 vài cây số. Sau khi vào mục tiêu, người hiệu thính viên báo cáo là mọi chuyện êm xuôi (OK!). Không ngờ đó cũng là những lời báo cáo cuối cùng của toán biệt kích SOG. Liên tiếp, hai, ba ngày sau, phi cơ thám thính “Covey” bay bao vùng đi tìm, cố gắng liên lạc với toán biệt kích, nhưng không ai lên máy truyền tin trả lời. Bỗng dưng toán biệt kích Idaho biến mất.
Tiếp theo, Bộ Chỉ Huy Bắc (CCN) cho toán biệt kích Oregon nhẩy vào với nhiệm vụ “Bright Light” (tìm kiếm, giải cứu, thâu hồi tử thi). Các toán biệt kích SOG (Hoa Kỳ) trong Bộ Chỉ Huy Bắc thường có tên những tiểu bang ở Hoa Kỳ: Idaho, Oregeon… Các toán trên Bộ Chỉ Huy Trung (CCC) có tên là những dụng cụ như: Hammer, Sickle… Các biệt kích trong nhiệm vụ “Bright Light” trang bị hỏa lực mạnh mẽ, để đối đầu với địch quân. Họ không đem theo đồ ăn, vì không phải “nằm vùng” để dò thám. Nhiệm vụ “Bright Light” rất rõ ràng, đi tìm các quân nhân (xác) Hoa Kỳ và đem về. Toán biệt kích Oregon nhẩy vào bị quân đội Bắc Việt tấn công dữ dội. Khi trực thăng vào cứu được toán Oregon đem về, người nào cũng bị thương.
Không một ai nghe nói đến toán biệt kích Idaho. Hai tuần lễ sau, “Spider” được trao cho nhiệm vụ 1-0 (One-Zero, trưởng toán), toán biệt kích Idaho mới xây dựng lại, còn tôi trở thành 1-2 (One-Two) nhân viên truyền tin. Trong năm 1968, đơn vị SOG bị tổn thất nhiều, đến tháng Mười Một, “Spider” được lái máy bay thám thính “Covey”, còn tôi lên làm trưởng toán (1-0) biệt kích Idaho.
Nghe lời báo động của “Spider”, tôi nhắc lại cho toán viên trong toán biệt kích. Cặp mắt của biệt kích quân tên Sáu mở to ra khi tôi chỉ tay vào mục tiêu trên tấm bản đồ “Number Ten, hạng bét, nguy hiểm”. Sáu là biệt kích quân trong toán Idaho dưới thời Lane, nhưng may mắn không đi chuyến định mệnh đó. Ăn bữa trưa xong, chúng tôi lên chiếc trực thăng “Kingbees” bay về hướng tây. Sự mất tích của Lane cùng toán biệt kích Idaho vẫn còn ám ảnh trong đầu tôi.
Trên đường đến mục tiêu, “Spider” báo cho tôi biết, tìm được một bãi đáp trên sườn núi. (phi cơ thám thính thường bay vào vùng trước để quan sát, “Spider” đã từng là cựu trưởng toán biệt kích Idaho). Mặc dầu đã lên làm trưởng toán biệt kích (1-0), nhưng tôi vẫn theo thói quen, mang máy truyền tin cho toán Idaho. Nhiều nhân viên truyền tin thiếu kinh nghiệm đã “điều không” lầm vào quân bạn.
Tôi ngồi ngay cửa trực thăng để nhìn xuống quan sát, Shore ngồi bên cạnh. Khi viên phi công “Kingbees” trông thấy bãi đáp, anh ta “thả rơi” chiếc trực thăng già nua H-34 xuống từ trên cao, như đầu một con ngỗng gục chết.
Khi còn cách mặt đất khoảng 100 thước, viên phi công mới điều khiển chiếc trực thăng ngừng lại rồi đáp xuống. Toán biệt kích Idaho nhanh chóng nhẩy ra, tôi quan sát xung quanh bãi đáp xem có mìn bẫy! trong khi Shore đảo mắt quan sát hàng cây cao xung quanh bãi đáp trực thăng. Lần đầu tiên trong bốn ngày qua, chúng tôi mới xuống đất mà không bị tiếng súng địch xua đuổi cũng như mìn bẫy.
Trước mặt là khu rừng thưa, có vẻ trống trải, tôi ra lệnh cho toán biệt kích dàn hàng ngang, di chuyển lên núi. Sáu nhắc nhở mọi người phải xóa dấu chân của mình, vì không có ai đi sau lưng. Thay vì di chuyển chậm trong cánh rừng rậm rạp, tôi cho lệnh tiến nhanh lên đỉnh núi, rồi báo cho chiếc “Covey” biết toán biệt kích OK.
Bình thường, khi nhận được tín hiệu “OK”, chiếc phi cơ quan sát “Covey” (FAC) lặng lẽ rời khu vực hành quân xâm nhập. Nhưng “Spider” đã từng là trưởng toán Idaho nên cho chúng tôi một “đặc ân”. Anh ta cho biết, bay đến khu vực xâm nhậm của một toán biệt kích khác, phát xuất từ Mai Lộc (Quảng Trị), khoảng một tiếng đồng hồ sẽ quay trở lại, nếu toán Idaho “OK” lần nữa mới thực sự bay về căn cứ hành quân tiền phương Phú Bài. Để bảo mật cho toán biệt kích, vấn đề liên lạc truyền tin phải được giữ tối thiểu, “OK” thường là bấm vào combinet máy PRC-25 hai cái thật nhanh.
Tôi muốn tránh xa bãi đáp trực thăng thật nhanh. Cả toán biệt kích dàn hàng ngang, cứ thế leo núi khoảng một tiếng đồng hồ, rồi mới trở về đội hình bình thường, một hàng dọc. Cho đến lúc đó, chúng tôi vẫn chưa ngừng lại nghỉ mệt, và phải leo núi nên người nào cũng “thở dốc”. Đỉnh núi vẫn còn xa, tôi hy vọng lên đến nơi sẽ nghỉ ngơi và đóng quân đêm.
Toán biệt kích di chuyển được khoảng 1:25 phút, Sơn là người dẫn đầu, Sáu kế tiếp, ngừng lại ra thủ hiệu, có con đường mòn trước mặt. Cả toán biệt kích dừng lại, cũng là dịp để lấy lại hơi thở, trong khi Sơn và Sáu bò lên phiá trên quan sát.
Vài phút sau, Sáu quay trở lại báo cáo. Một tin vui, có lính Bắc Việt đi “tà tà” trên lộ trình hướng đông-tây ngang con đường, trang bị tiểu liên AK-47. Anh ta nói với người thông ngôn Hiệp là có lẽ địch quân chưa biết có toán biệt kích xâm nhập (thái độ tà tà). Tin xấu là “con đường mòn” rất rộng như xa lộ, hai xe Molotova có thể chạy ngược chiều cùng lúc.
Phiá bên kia đường có nhiều trụ căng dây điện thoại. Tôi muốn cả toán biệt kích băng qua bên kia đường thật nhanh. Sáu di chuyển qua hướng đông, tôi qua hướng tây, giữ an ninh cho mọi người băng qua đường. Mọi chuyện diễn ra êm xuôi, tôi ra lệnh cho toán biệt kích tiếp tục di chuyển lên trên khoảng 100 thước. Sáu leo lên một trụ căng dây điện thoại đặt máy nghe lén, Shore, Sơn và Tuấn đi xuống đặt mìn bẫy trên con đường. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ cho nổ ba qủa mìn Claymore trên con đường để giết nhiều địch quân, một miếng C4 plastic đặt trong hàng cây cách con đường khoảng 6 bộ, sức nổ đủ mạnh làm những những tên sống sót bất tỉnh (muốn bắt sống tù binh).
Đơn vị MACV-SOG đã hứa, toán biệt kích nào bắt sống được tù binh đem về sẽ được thưởng tiền và năm ngày phép ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Tôi và Shore ngồi mơ mộng đến những ngày nghỉ phép, trong khi Sáu và Hiệp lo nhiệm vụ để ý máy nghe lén điện thoại. Chúng tôi ngồi trên một độ cao lưng chừng núi, quan sát con đường ở dưới, chợt một toán quân Bắc Việt đang đi trên con đường, trong đó có sĩ quan. Họ bước đi rất thản nhiên, không biết đang bị một toán biệt kích theo dõi, với ý định bắt sống một người.
Lúc đó trên bầu trời, phi cơ thám thính “Covey” đã quay trở lại, tôi vui mừng báo cho “Spider” biết, gọi “Kingbees” chuẩn bị và cho biết giờ giấc việc tác xạ tập trung trên bãi đáp chính, vì chúng tôi hy vọng sẽ đem về tù binh… Rồi chuyện kế tiếp diễn ra không như ý. Từ trên chiếc “Covey”, “Spide” trông thấy trên mặt đất có điều gì đang xẩy ra, báo động.
– Không được di chuyển! Không cử động! Nín thở! Đánh rắm cũng không được. Đừng làm gì cả!
Trước khi tôi tôi kịp hỏi, có chuyện gì! “Spider” nói tiếp.
– Tôi đang bay cao 10000 bộ, không trông thấy bạn, không thấy cả ngọn núi. Giữ bình tĩnh và đừng làm gì cả. Tránh nổ súng, cho đến khi trời quang đãng.
Lúc đó trời bỗng trở nên tối, nhiều đám mây từ đâu bay đến che phủ bầu trời. Mọi người trong toán biệt kích Idaho nghe tiếng xe tăng (tanks) của địch di chuyển nơi hướng bắc, và tiếng chó sủa nơi hướng bãi đáp trực thăng. Rồi dường như địch quân báo động, lính Bắc Việt đang đi tà tà trên đường, bắt đầu chạy.
Thêm một tiểu đội lính Bắc Việt di chuyển ngang qua, rồi rẽ về hướng tây. Tôi nhớ lại toán biệt kích Idaho do Lane chỉ huy trước đây, những lời dặn dò của “Spider”. Không được di chuyển, đừng làm gì cả!
Vài phút sau, tôi nghe một tiếng súng bắn báo hiệu về hướng toán biệt kích đang bố trí. Tiếng súng của người lính Bắc Việt nào đó đang đi lùng chúng tôi, và có lẽ con chó đã đánh hơi được toán biệt kích. Tôi bắt buộc phải cho toán biệt kích di chuyển, càng xa càng tốt.
Tôi ra lệnh bỏ cuộc phục kích, cắt dây mìn Claymore. Tôi dặn Sáu tiếp tục để ý máy nghe lén, rồi kéo xuống, thâu hồi trước khi di chuyển. Tiếng xe tăng địch lúc nẫy nơi hướng bắc, bây giờ đổi qua hướng tây, tôi ra lệnh cho toán biệt kích đi theo hướng đông. Trước khi di chuyển, Cầu rắc thật nhiều hạt tiêu nơi toán biệt kích bố trí để “gây khó khăn” cho mũi con chó săn.
Chúng tôi tiếp tục theo sườn núi đi về hướng đông, đi mãi vẫn chưa hết ngọn núi hùng vĩ. Đến khoảng 6:00 giờ chiều, chúng tôi băng qua một thác nước nhỏ trên núi đổ xuống. Đi được khoảng mười lăm phút nữa, toán biệt kích tạm dừng lại nghỉ lấy sức. Vì trời nhiều mây nên bắt đầu tối, nhưng Sáu với hơn 5 năm trong đơn vị SOG, nói vẫn phải tiếp tục di chuyển.
Khi trời tối hẳn, toán biệt kích Idaho đã hết “xíu quách”, vừa ướt vừa đói. “Spider” cho biết, thời tiết trở nên xấu hơn. Tiếp tục đi, chúng tôi nghe tiếng động cơ xe vận tải Molotova của quân đội Bắc Việt nơi hướng nam, trên con đường chúng tôi định tổ chức phục kích, bắt sống tù binh. Sáu leo lên một cây cao quan sát, rồi trở xuống báo cáo. Xe Molotova chở lính Bắc Việt đến đúng chỗ toán biệt kích định phục kích, rồi dàn hàng ngang tiến lên với đèn đóm đi lùng toán biệt kích mà họ biết đang ở trong khu vực.
Chúng tôi chia ca ăn cơm tối thật nhanh rồi tìm chỗ bố trí ngủ qua đêm. Đến khoảng 1:30 phút sáng, Sáu đánh thức cả toán biệt kích dậy, anh ta trông thấy lính Bắc Việt cầm đèn đang di chuyển vế hướng toán biệt kích. Nhưng sau đó, những ngọn đèn hết dầu và toán lính Bắc Việt phải quay trở về.
Khi tia nắng đầu tiên của buổi bình minh nhô lên, toán biệt kích Idaho di chuyển theo hướng đông bắc lên đỉnh núi. Leo núi cả ngày, tôi có cảm tưởng ngọn núi này lớn nhất trên mặt đất. Khi lên đến đỉnh núi, lúc đó đã hết nắng, trời bắt đầu tối. Chân tay người nào cũng rã rời, tôi mở máy, liên lạc với “Bat Cat”, danh hiệu chiếc phi cơ chỉ huy, bay bao vùng hành quân Prairie Fire 24 tiếng đồng hồ trong ngày. Tôi báo cho “Bat Cat” biết, chúng tôi sẽ nằm trên đỉnh núi cả ngày nếu thời tiết không trở nên tốt hơn. Sau đó tôi gửi tín hiệu “OK” cho “Spider”.
Đến 7:00 giờ sáng hôm sau, tôi ra lệnh cho Sáu và Sơn đi tìm dấu vết chiến xa của địch mà toán biệt kích nghe được hôm mới xâm nhập, Shore và Tuấn đi tìm suối để lấy nước uống cho cả toán.
Sơn và Sáu đi mấy tiếng đồ hồ, quay trở lại báo cáo, trông thấy toán đi tìm dấu vết biệt kích và nghe tiếng chó sủa. Toán biệt kích phải di chuyển, trước sau gì, chó cũng đánh hơi được toán biệt kích xâm nhập. Muời phút sau, chúng tôi di chuyển xuống phiá nam của ngọn núi. Đi xuống được khoảng 1000 thước, toán biệt kích đổi hướng đi theo hướng tây. Chúng tôi đi băng qua nhiều con đường mòn mới xây không có trên bản đồ, nhưng đã được xử dụng qua lại rất thường, mặt đường đất bị nén xuống. Khi trời bắt đầu tối, toán biệt kích Idaho đến một triền núi, có nhiều tảng đá lớn, rất tốt cho vấn đề phòng thủ nên bố trí đóng quân đêm.
Sáng hôm sau, “Covey” đã lên bao vùng sớm, tôi báo cáo và yêu cầu được triệt xuất càng sớm càng tốt. Sáu leo lên một cây cao, dùng gương (kính) soi để “Covey” xác định điểm đứng chính xác của toán biệt kích. Từ trên cao “Spider” chỉ điểm cho chúng tôi một bãi đất trống, có thể làm bãi đáp cho cuộc triệt xuất.
Khoảng 30 phút sau, “Spider” báo tin cho chúng tôi biết, thời tiết đã quang đãng nên sĩ quan hành quân S-3 trên căn cứ hành quân tiền phương Phú Bài ra lệnh, thả thêm một toán biệt kích khác vào vùng trước khi triệt xuất toán Idaho. Chúng tôi phải chờ…
Toán biệt kích di chuyển, tìm ra bãi đáp khoảng 9:00 giờ sáng, và bố trí chờ được triệt xuất. Tôi được biết, lúc đó có một toán biệt kích hoạt động trong vùng Pairie Fire chạm địch, bị tổn thất và được ưu tiên triệt xuất khẩn cấp. Trong khi đó toán biệt kích SOG thứ hai đã xâm nhập vào mục tiêu “Echo-8” thay cho chúng tôi.
Khoảng 11:00 giờ trưa, toán biệt kích kia đã được triệt xuất, “Spider” quay trở lại làm việc với toán biệt kích Idaho. Đó là lần đầu tiên, chúng tôi được trực thăng thuộc sư đoàn 101 Nhẩy Dù Hoa Kỳ vào “bốc” đưa về căn cứ hành quân tiền phương Phú Bài.
Về đến Phú Bài, tôi được một vị thiếu tá trong ban hành quân S-3 “nhai” (chew, xài xể), cho là tôi chết nhát, chưa gì đã hoảng hốt. Tôi phân bua về toán biệt kích của Lane trước đây, về tiếng chó sủa… Ông ta không cần biết, ra lệnh cho toán biệt kích Idaho chuẩn bị cho chuyến xâm nhập ngày hôm sau tại một mục tiêu khác. Có lẽ ông thiếu tá S-3 này điên khùng, hay là ông ta thuộc về phe địch. Tôi tin rằng ông ta chưa từng trông thấy một người lính Bắc Việt. Ngày hôm sau, toán biệt kích Idaho tái diễn chuyện “bắn giết trên bãi đáp” năm lần.
1. Giải tỏa Đài Phát Thanh Nha Trang và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận.
Tết Mậu Thân (1968), tôi không về phép ở Huế thăm gia đình, đang ở với đơn vị tại Nha Trang. Tôi ra trường chưa được một năm; một năm là thời hạn để thăng Thiếu Úy; còn mang lon Chuẩn uý, “lon” trẻ nhất Quân Đội Việt Nam Cọng Hòa, câu tôi thường nói đùa. Vả lại, tuổi tôi lúc ấy mới quá 20, cũng còn là sĩ quan trẻ. Tôi đang làm Trung Đội Trưởng Trung Đội 3 thuộc Đại Đội 1. Không về phép thì tôi… đi chơi.
Không có lệnh cắm trại hay báo động gì cả. Những ai trong đơn vị có nhiệm vụ trực gác thì cứ… “ở nhà”. Tôi rủ Thiếu Úy Nguyễn Ích Đoan, Thiếu Úy Đặng Thiện Chẩn phóng xe Honda đi uống càfé, nghe nhạc, một cái “gout” của đám sĩ quan trẻ của chúng tôi thời kỳ ấy.
Chúng tôi đang ngồi trong Quán Bar số 5, kế bờ biển Nha Trang, uống càfé vừa nghe nhạc, mắt thì nhìn ra ngoài biển khơi. Đêm ba mươi, không trăng, biển đen một màu buồn thăm thẳm.
Tới nửa đêm, ngay giờ Giao Thừa, pháo nổ ran tứ phía. Nghe pháo, mọi người ai cũng vui, đón mừng một Năm mới. Lòng tôi rạo rực như ngày nào của tuổi ấu thơ. Tuy nhiên, tôi nghe tiếng pháo nổ hơi lạ, không phải là tiếng đì đùng như tôi đã từng nghe. Pháo nổ hơi lâu, có ai đó trong quán nhận xét:
– “Năm nay pháo nổ dữ, không chừng làm ăn khá!”
Anh ta vừa dứt câu thì tôi thấy trên đường trước Quán Bar, đồng bào xôn xao, chạy lui chạy tới. Có tiếng la to: “Việt cộng tấn công!”
Nghe thế, tôi đứng lên đi ra đường thăm dò. Đồng Bào bây giờ chạy dáo dác đã đông lắm. Có tiếng la, tiếng khóc. Tôi bực mình, nói thầm: “Mấy thằng Việt cộng chó đẻ thật! Ngày vui của dân chúng mà nó cũng không tha. Tổ Quốc đã không yên với chúng. Tổ Tiên cũng không yên với chúng.”
Lúc đó, Đoan và Chẩn cũng rời quán ra đứng bên tôi hốt hoảng nói: – “Trở về Doanh Trại gấp! Về gấp!!!”
Mặc dù chưa có lệnh báo động, nhưng vì linh tính và trực giác của những người lính tác chiến, chúng tôi vội vã lên xe phóng nhanh. Huấn thị là mệnh lệnh chung, bất di bất dịch của Đơn Vị Trưởng đã được ban hành. Quân Nhân thuộc cấp phải tuyệt đối tuân hành: Phải tự động trở về ngay doanh trại mỗi khi có biến động xảy ra chung quanh khu vực đơn vị trú phòng.
Trở lại đơn vị, tôi thấy hầu hết quân nhân các cấp tề tựu đông đủ. Trung Úy Nguyễn Thanh Liêm, Đại Đội Trưởng ra lệnh cho các Trung Đội Trưởng kiểm điểm quân số, báo cáo binh lính đã về đầy đủ chưa? Tôi tập họp, điểm danh, không thiếu một ai. Tôi đoán biết với tình hình bất ổn này, Đại Đội phải ứng chiến hành quân, tôi ra lệnh Trung Đội Phó Nồng A Si cho anh em chuẩn bị nón sắt, vũ khí, và kiểm soát đạn dược. Và đúng như dự đoán, lệnh cấm trại, túc trực chuẩn bị tác chiến được ban hành khẩn cấp trong toàn bộ các đơn vị trú đóng tại Thị Xã Nha Trang.
Khoảng 3 giờ sáng, Đại Đội Trưởng Liêm báo cho biết: Việt cộng đã đánh chiếm Đài Phát Thanh Nha Trang và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận. Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta có lệnh tái chiếm, ưu tiên là Đài Phát Thanh, không cho địch dùng đài để tuyên truyền. Cũng may, mặc dù chiếm được Đài Phát Thanh, nhưng, “mấy thằng mọi” nầy chẳng biết gì về máy móc để mở ra mà dùng. Nhưng lỡ mà chúng nó chộp được một kỹ thuật viên nào đó của đài, dí súng vào đầu anh ta, buộc anh ta mở đài cho bọn chúng nói thì “mệt cầm canh” chớ chẳng chơi. Vì vậy, khi Đại Đội 1 Biệt Cách Dù, được tăng cường cho Trung Tâm Hành Quân Delta đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Phan Văn Huấn. Sau khi được Thiếu Tá Huấn phân phối nhiệm vụ và khu vực trách nhiệm, Đại Đội 1 khai triển đội hình, di hành tiếp cận Đài Phát Thanh, cách doanh trại chúng tôi khoảng chừng cây số, theo đội hình hàng dọc, len lỏi hai bên phố và khu nhà dân chúng, cố tránh không để địch phát hiện.
Trên đường không một bóng người. Dân chúng phần đông trốn hết ở trong nhà, đóng cửa, tắt đèn, im thin thít. Vậy là một Giao Thừa đầy súng đạn, làm mất đi niềm vui sum họp mọi gia đình trong Lễ Tết Nguyên Đán năm nay. Bỗng tôi tự nhủ thầm: “Yên tâm đi! Bà con ơi! Tôi đang trên đường đến tiêu diệt chúng nó đây!” Rồi tôi lại chợt nghĩ tới Thành Phố Huế của tôi: “Không biết bây giờ ngoài nớ ra răng? Có bị cùng chung tình cảnh như Nha Trang bây giờ không?” Và một câu thơ, câu hò nào đó mà thầy giáo đã đọc cho nghe từ thuở thiếu thời: “Quê hương chừng lạnh lắm! “Quê hương tôi nghèo lắm ai ơi! Mùa Đông thiếu áo, lụt thời thiếu ăn”. Tôi nghĩ tới cái lạnh của Huế. Tôi đâu có ngờ Huế của tôi cũng chết chóc và tang thương như tôi biết sau nầy.
Đài Phát Thanh nằm trên đường Phước Hải phía bên trái, trước mặt bên kia đường là bức tường thành cao, kiên cố của Quân Lao Nha Trang. Con đường này chạy dài đâm ngang đường rầy xe lửa, đường Nhà Thờ và ngang qua trước mặt Đồn Quân Cảnh và Quân Vụ Thị Trấn Nha Trang, rồi tiếp giáp đoạn cuối đường Độc Lập hướng đi lên Diên Khánh. Phía sau lưng Đài Phát Thanh là một vùng trũng, ruộng và sình lầy, chạy kéo dài tới vùng núi mật khu Đồng Bò.
Quân cộng sản đã chiếm hết toàn bộ Đài Phát Thanh, cả Trung Tâm chính và các Trạm Phát Tuyến phụ nằm chung quanh, nhưng chúng vẫn chưa xử dụng đài để phát thanh được.
Trung Tâm Hành Quân Delta và Đại Đội 1 Biệt Cách Dù, được Thiếu Tá Phan Văn Huấn chia làm 2 mặt tấn công vào Đài Phát Thanh. Từ phía trái của Đài, Đại Đội Trưởng Liêm đưa Trung Đội 1 của Thiếu Úy Đoan và Trung Đội 2 của Thiều Úy Chẩn, tiến sâu theo đường Phước Hải len qua trong một số nhà dân để bám sát tường thành Đài Phát Thanh, Trung Đội 3 do tôi chỉ huy cùng Trung Đội 4 của Chuẩn Úy Tài, men theo các bờ ruộng, bò sát lên theo hướng Đông Bắc để tiếp cận hàng rào và bức tường đàng sau Đài.
Về mặt địa hình, chúng tôi gặp phải những khó khăn, nhất là hàng rào quanh Đài Phát Thanh, ngoài hai ba lớp rào kẽm gai là một bờ tường cao. Việt cộng núp ở phía trong các cao điểm của trụ sở và các lô cốt kiên cố có sẵn trong Đài để quan sát và bắn vào chúng tôi. Trong khi chúng tôi thì quá trống trải, chỉ nhờ vào bóng đêm và sử dụng các bờ ruộng để che chắn.
Đại Đội 1 Biệt Cách Dù “quờn” với bọn chúng tới trời sáng. Bây giờ thì dễ quan sát hơn. Ngoài những lợi thế như đã kể trên, bọn Việt cọng còn núp trên các vọng gác tác xạ Trung Liên nồi và B.40, gây trọng thương nhiều Binh Sĩ trong đó có Chuẩn Úy Tài Trung Đội Trưởng Trung Đội 4, Thượng Sĩ Hoàng Thường Vụ, và 4 Binh Sĩ tử thương. Mãi đến gần trưa, Tiểu Đội vũ khí nặng đã sử dụng một lượng khối chất nổ để phá vỡ bức tường thành, các Trung Đội dùng Súng Cối, Súng Phóng Lựu, Garant, Carbin và Trung Liên Bar FM, tác xạ vào các công sự, các ổ kháng cự của địch. Sau đó các Trung Đội, từ hai hướng đã đồng loạt khai hỏa xung phong chiếm lại hầu hết các Trụ sở, Văn phòng trong khu vực phía Nam của Đài, có 6 tên Việt cộng buông súng đầu hàng, một số tháo chạy về hướng mật khu Đồng Bò, nhưng đã bị bắn chết trên đồng ruộng khô, cách bờ rào phía sau Đài Phát Thanh chừng 50 mét. Trong lúc đó các Toán Thám Sát Delta đã sử dụng sở trường, thâm nhập từ hướng Tây Bắc men theo tường sau của Quân Lao và nhà cửa của dân chúng để bò lên tiêu diệt các ổ kháng cự nằm trong các Trạm Phát Tuyến phụ, hai tên xạ thủ buông súng đầu hàng. Và ổ kháng cự ngoan cố cuối cùng của Việt cọng ở trụ sở Trung Tâm Phát Thanh chính cũng đã bị cácToán Thám Sát Delta triệt hạ, bắt sống thêm bốn tên khác. Đến khoảng 3 giờ chiều, Thám Sát Delta và Đại Đội 1 Biệt Cách Dù, dưới sự chỉ huy của Thiếu Tá Phan Văn Huấn, đã hoàn toàn lấy lại Đài Phát Thanh. Chương trình phát thanh tái hoạt động sau đó không lâu, để đồng bào được yên lòng.
Nằm trong thời điểm này, các Đại đội 2, 3, 4, 5 của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù cũng đang tấn công vào Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận đóng ở cuối đường Độc Lập, bên trái hướng Đông Đông Bắc là Chợ Đầm và khu dân cư Phương Sài, bên phải hướng Đông Đông Nam giáp Tiểu Khu Khánh Hòa, và đàng sau chính Đông là biển Nha Trang. Thiếu Tá Lê Như Tú, Tiểu Đoàn Trưởng đã lệnh cho Trung Úy Bùi Ngọc Bích, Đại Đội Trưởng, đưa Đại Đội 5 đến giải tỏa áp lực địch ở Khu Mã Vòng, và kế đến là Tòa Án Nha Trang. Nhưng khi tiến đánh khu vực Tòa Án, vì tường thành ở đây cao và vững chắc, địch ở bên trong có lợi thế, nên đã chống cự mãnh liệt, gây thương tích nặng cho Trung Úy Bùi Ngọc Bích. Sau đó Đại Đội 4 do Trung Úy Nguyễn Văn Tùng chỉ huy được điều động đến thay thế đã thanh toán xong mục tiêu. Tờ mờ sáng Mồng 1 Tết, Thiếu Tá Lê Như Tú đưa Đại Đội 4 phối hợp với Đại Đội 3 do Trung Úy Trần Hoạt Thành chỉ huy làm nỗ lực chính, tấn công vào mặt cổng chính diện của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, Đại Đội 2 của Trung Úy Trần Duy Bình, yểm trợ hỏa lực và Đại Đội 5 làm lực lượng trừ bị, án ngữ mặt Tiểu Khu Khánh Hòa.
Cuối cùng sau một ngày giao tranh khốc liệt, Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù đã tái chiếm Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, tiêu diệt 50 tên giặc cộng, 30 tên bị trọng thương và bị bắt sống. Riêng bên Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù cũng bị tổn thất nặng nề. Thiếu Tá Lê Như Tú, Tiểu Đoàn Trưởng, bị trọng thương phải đưa đến Quân Y Viện Nguyễn Huệ cứu cấp, sau một tháng chữa trị Thiếu Tá Lê Như Tú đã vĩnh viễn ra đi, Trung Úy Nguyễn Văn Tùng Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 đã bị tử thương, Đại Úy Tiểu Đoàn Phó Nguyễn Quang Vinh, Trung Úy Trần Hoạt Thành, Đại Đội Trưởng Đại Đội 3, Trung Úy Nguyễn Văn Giỏi, Đại Đội Phó Đại Đội 2 và hơn 30 Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ đã bị thương nặng. Tuy nhiên, đánh đổi lại Thành Phố Nha Trang đã hoàn toàn an bình, mọi sinh hoạt đã trở lại bình thường như trước đây.
2.Truy kích địch tại “Mật khu Đồng Bò”
Việt cộng rút chạy rồi, chúng tôi phải truy kích, phải tiêu diệt sạch bọn chúng, để cho đồng bào được yên. Chúng không thể chạy ra biển, cũng không thể ra Bắc hay vào Nam. Chỉ có một con đường: mật khu Đồng Bò nằm phía Tây Nha Trang, cách khoảng 5 cây số, tính theo đường chim bay.
Thật ra, đây không phải là một mật khu theo ý nghĩa thông thường, mặc dù nơi nầy cây cối rậm rạp, núi cao, vách đá, di chuyển rất khó khăn. Đây là nơi Việt cộng tập trung ém quân sau khi chúng chuyển quân từ các khu vực Suối Dầu ven Thị Trấn Thành (Diên Khánh) vào mật khu Tô Hạp (mật khu Tô Hạp nằm trong dãy núi chạy dọc theo bên phải Quốc Lộ 1 hướng vào Nha Trang, nối liền với mật khu Đồng Bò). Chưa bao giờ bọn Việt cộng đụng độ với các Toán Thám Sát Delta hay các Đại Đội Biệt Cách Dù ở mật khu nầy. Bọn chúng biết thân, không chống nỗi khi Quân Đội ta phản công vào đây bằng hỏa tập phi pháo, nên chúng không đóng quân ở đây, mà chỉ tận dụng núi non hiểm trở để chôn dấu vũ khí, nghỉ chân hay thỉnh thoảng thiết lập những dàn phóng hỏa tiễn có định giờ để pháo vào Phi Trường, các căn cứ Quân Sự của ta sau khi bọn chúng đã cao bay xa chạy mà thôi.
Trong các cuộc hành quân truy lùng địch cấp Đại Đội, hay nhảy Toán Thám sát Delta, tôi đã vào ra mật khu Đồng Bò không ít năm hay sáu lần, mỗi lần một tuần lễ. Băng rừng, leo núi dãi dầu, đầm đìa mồ hôi, mà chẳng thấy mặt mũi chúng nó ở đâu hết.
Tuy vậy, sau khi Việt cộng tấn công vào Đài Phát Thanh và Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận thất bại, bọn chúng đã rút về ẩn náu trong mật khu Đồng Bò. Khi Đại Đội chúng tôi nhảy vào truy kích đã chạm trán đám tàn quân này, đồng thời phát hiện trong một hốc đá, được lót bằng nhiều lá cây rừng, một số tên bị thương tích được bọn chúng mang về đây băng bó. Ngay ngày hôm đó, các thương binh Việt cộng đã được Trực Thăng chúng ta đến bốc đưa về chữa trị tại Quân Y Viện Nguyễn Huệ và tất cả về sau đều tự nguyện hồi chánh trở về với chính nghĩa Quốc Gia.
Nghỉ ngơi, dưỡng quân khoảng chừng hơn nửa tháng, Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Hành Quân Delta được không vận ra Phi Trường Phú Bài, Huế. Lại được về quê, nhưng có chắc gặp được Mẹ mình hay không nữa? Tôi ra đi đã hơn hai năm rồi. Hẳn nhiên không mấy ai khi ăn trái chuối “ba hương” mà không nhớ đến Người Mẹ thân yêu của mình!!
“Khắp bốn phương trời từng đoàn người trai về đây. Dưới mái quân trường hăng say gắng sức đua tài. Dù ngàn hiểm nguy quyết chí. Một lòng thề luôn nêu danh “Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức” hùng anh”. (Thủ Đức Hành Khúc)
Còn khoảng một tháng trước khi tốt nghiệp, tình trạng Khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức của tôi khá vui, rộn rịp. Nó tương tự như học sinh sắp nghỉ hè, “lòng nôn nao khó ngủ”. Quả thật, ở đây không phải nghỉ hè mà ra trường. Ra trường? Đi đâu? Đơn vị nào? Xa hay gần và xa bạn bè, bạn cùng khóa thì sao đây? Thời gian Quân Trường 9 tháng, tuy ngắn ngủi mà tình cảm thì dài, “Từ Nam Quan Cà Mau, từ sông sâu miền cao”. Đó là lời một bài hát của mấy cô Cục Chính Huấn, nhưng cũng là con đường chúng tôi sắp đi tới. Nam Quan thì không chắc, nhưng Cà Mau thì chắc chắn có người sẽ không còn xa lạ gì!
Tôi thì nhất quyết rồi, không Quân Nhu, không Quân Cụ nào hết, “thần tượng” đã có sẵn trong tâm trí. Lính cho ra lính, không thể lính văn phòng, không thể lính tuần tiễu, mà phải là lính đánh từ trên đầu giặc đánh xuống. Đánh như thế chỉ là Không Quân, Nhảy Dù, nên trong đầu tôi đã chọn Nhảy Dù, không phải vì người ta nói: “Thiên Thần Mũ Đỏ” mà chỉ là vì đánh cho ra đánh, đánh cho địch phải chạy dài. Đơn giản chỉ có vậy thôi.
Nhưng, cũng có những điều khó ngờ trước được, còn khoảng một tuần là mãn khóa, tôi lại thay đổi ý định…
Hôm đó, ở Hội Trường, bốn năm chiếc bàn của các binh chủng: Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Biệt Động Quân (BĐQ), Nhảy Dù, Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) đang đón chào Sinh Viên Sĩ Quan đến ghi danh tình nguyện. Bàn nào bàn nấy đông người, đang chen chúc, hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Tôi đứng ở bàn Nhảy Dù mà tôi đã ghi tên từ trước để tìm hiểu ít nhiều về binh chủng hào hùng nổi danh này.
Bỗng chợt, tôi nhìn thấy một “thần tượng mới” xuất hiện, mũ nồi xanh, ba bông mai ngụy trang màu đen, áo bông rằn ri xanh đỏ màu huyết dụ, “cao bồi” hai súng “ru-lô” hai bên hông, vai mang cây “six-trent seize”, giày “bốt đờ-xô” cao cổ, nhưng từ đầu gối trở xuống còn ướt mèm. Tôi ngạc nhiên bước đến cạnh hỏi:
– “Đại Úy ở Binh Chủng nào? Đi đâu mà ướt vậy?”
– “Tôi ở Binh Chủng LLĐB, mới nhảy ở mật khu Đồng Xoài, vừa triệt xuất; nghe tin Khóa 24 Thủ Đức ra trường, vội lái xe đến đây để tuyển chọn các tân Sĩ Quan về cho Binh Chủng”.
Tôi thấy tướng dáng ông Đại Úy ngon lành quá, đúng là mẫu người lý tưởng của tôi, nên tôi quyết định bỏ Dù chọn Lực Lượng Đặc Biệt. Tôi hỏi:
– “Tôi chọn Dù rồi bây giờ chuyển qua bên nầy được không?
– “Em cứ ký giấy đi, có người lo cho em”. Ông Đại Úy giải thích.
Thế là tôi tình nguyện đầu quân về Binh Chủng LLĐB.
Giữa trung tuần tháng 7 năm 1967, lễ Mãn Khoá 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức được tổ chức trọng thể tại Vũ Đình Trường, Thủ Khoa là nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan.
“Tang bồng hồ thỉ, phỉ chí nam nhi” là từ đây.
Những Chuẩn Úy “măng sữa” chọn Binh Chủng LLĐB nhận giấy nghỉ phép 10 ngày, cùng với Sự Vụ Lệnh trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB ở Thành Phố biển Nha Trang.
Trình diện Bộ Tư lệnh LLĐB xong, tôi và một số bạn đồng khóa được bổ sung về phục vụ tại Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù (tên cũ). Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Lê Như Tú. Bộ Chỉ Huy đóng tại Trại Hoàng Diệu, nằm sát Trại Tây Kết của Quân Chủng Hải Quân, trên đường về Chụt, trước mặt là đại dương một màu xanh biếc, ngày đêm vang vọng tiếng sóng vỗ rì rào. Từ Tiểu Đoàn, tôi được bổ nhiệm tạm thời chức vụ Trung Đội Trưởng Trung Đội 3, Đại Đội 1. Đại Đội Trưởng là Trung Úy Nguyễn Thanh Liêm, ông nầy tướng cao to dềnh dàng. Nơi đồn trú Đại Đội 1 nằm chung với Đại Đội 2, trong Trại Nguyễn Văn Tân, bản doanh của Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta, trên đường Phước Hải nối dài, đi về hướng Quân Lao.
Khoảng ba tháng sau tôi theo học khóa Nhảy Dù ở Trung Tâm Huấn Luyện Động Ba Thìn của Binh Chủng tại Cam Ranh. Mãn Khóa trở về đơn vị, thì nhận lệnh ba lô, áo giáp, súng đạn đầy đủ cấp số, chuẩn bị lên đường quân hành xa.
Đây là lần thứ tư, sau các cuộc hành quân truy lùng địch ở mật khu Đồng Bò, Tô Hạp, Plei Djereng, mà tôi đã và sẽ trực tiếp tham dự.
Lần Đầu Tiên Gặp Anh Ngô Chı́ Dũng một thành viên sáng lập tổ chức người Việt tự do ở Nhật Bản vào tháng 11/1975 và nhạc sı̃ Trần Thiện Khải tức Trần Khánh.
Soạn giả Viễn Châu (1924-2016) tên thật là Huỳnh Trí Bá và là con thứ sáu trong gia đình nên thường được gọi là Bảy Bá. Giới hâm mộ cải lương cũng biết đến một nhạc sĩ Bảy Bá với ngón đờn tranh tuyệt diệu gieo rắc bao nỗi sầu thương. Với niềm đam mê nghệ thuật đờn ca tài tử từ thuở thiếu niên, ông mày mò những ngón đờn học lóm theo các dĩa hát cũng như những nhóm đờn ca tài tử ở quê nhà. Đến năm 19 tuổi, tài năng phát tiết, ông đã thành thạo các loại đờn tranh, vĩ cầm và guitar. Giữa thập niên 40, ông bỏ nhà đi theo gánh hát và tập tành viết tuồng cải lương. Năm 1950, khán giả bắt đầu biết đến tên tuổi soạn giả Viễn Châu qua vở tuồng cải lương “Nát cánh hoa rừng” được dàn dựng trên sân khấu Việt Kịch của nghệ sĩ Năm Châu. Ông là soạn giả thường trực của nhiều đại ban cải lương ở đô thành Sài-Gòn với rất nhiều soạn phẩm nổi tiếng và được nhiều tầng lớp khán giả mến chuộng.
Ông cũng là người đã khai sanh ra thể loại “tân cổ giao duyên” và “đo ni, đóng giày” cho từng giọng ca qua nét bút tài hoa với nguồn văn chương lai láng. Nhạc phẩm “Chàng là ai” của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết là bài “tân cổ giao duyên” đầu tiên được soạn giả Viễn Châu viết lời vọng cổ với sự trình bày duyên dáng của nghệ sĩ Lệ Thủy. Nhắc đến soạn giả Viễn Châu, người nghe từ thành thị đến thôn quê đều biết đến bài ca vọng cổ lừng danh “Tình anh bán chiếu” qua giọng ca của “vua vọng cổ” Út Trà Ôn.
Soạn giả Viễn Châu
Bài “Dạ cổ hoài lang” của nhạc sĩ Sáu Lầu được viết theo “nhịp đôi” và ra đời vào những năm đầu của thế kỷ hai mươi. Trải qua bao biến thiên và thăng trầm của thời cuộc, bản vọng cổ ngày nay đã phát triển thành ba mươi hai nhịp với sáu câu “muồi rệu”. Từ hơn 7 thập niên qua, biết bao bài ca vọng cổ của những soạn giả hữu danh, gọi nôm na là “sáu câu vọng cổ”, đã ra đời và được chắp cánh bởi lớp nghệ sĩ tài danh với làn hơi “nhung căng, lụa trải”.
Một trong rất nhiều bài ca vọng cổ được yêu chuộng thời đó và mãi đến bây giờ là “Tình anh bán chiếu” của soạn giả Viễn Châu, tức nhạc sĩ đờn tranh Bảy Bá. Lời bài ca mộc mạc, chân phương, giàu cảm xúc và được tác giả gởi gắm qua nghệ thuật “diễn xuất trong ca ngâm” của vua vọng cổ Út Trà Ôn trên làn sóng điện hay qua băng, dĩa nhựa. Bài ca vọng cổ “Tình anh bán chiếu” được lan xa từ những rạp hát sang trọng nơi thành đô hay những xóm chợ bình dân cho đến những làng quê xa xôi hẻo lánh, hầu như ai cũng biết và thuộc nằm lòng sáu câu vọng cổ tiếng tăm này.
Chiếc ghe bán chiếu từ dưới miệt Cà-Mau vừa cắm sào trên bờ kinh Ngã Bảy, và được dân địa phương chiếu cố tận tình. Những tấm chiếu bông xinh xắn đã được lựa chọn kỹ lưỡng từ cọng lác, sợi gai và được đan dệt với bàn tay khéo léo của những người thợ cần mẫn, yêu nghề.
Một người phụ nữ trẻ đẹp, duyên dáng ngỏ ý muốn đặt đôi chiếu bông và ân cần mời anh bán chiếu ghé ngang nhà, vào tận chốn “loan phòng” để đo ni tấc của chiếc giường gõ đỏ. Năm hôm sau, khi anh sắp sửa lui ghe, cô còn đứng trên bến sông và dặn dò kỹ lưỡng. Cô nào biết được, anh đã có cảm tình với cô từ buổi đầu tiên gặp gỡ và âm thầm nuôi nấng một mối tình đơn phương sau lần cất ghe rời bến. Khi chiếc áo bông hường của cô đã khuất dạng sau mấy lùm tre, anh quyến luyến ngóng theo cái dáng hình thon thả ấy.
Bốn tháng sau, khi ghe chiếu vừa tới vàm sông, anh hớn hở vác đôi chiếu bông lên xóm Rẫy và cố gắng bước nhanh để kịp đến nhà người trong mộng. Đến nơi thì cửa nhà đã được khóa kín và sau trước không thấy bóng một ai ra vào. Khi cất tiếng hỏi thăm thì xóm giềng mới cho anh biết, cô chủ đã rời bỏ quê nhà và theo chồng về một nơi khác. Chiếc áo nhuộm bùn của anh thấm đẫm mồ hôi và nước mắt của kẻ si tình cứ âm thầm tuôn chảy trên môi, trên má. Đôi chiếu bông trên vai bỗng trở nên nặng nề hơn bao giờ hết. Chân anh bước liêu xiêu như một thân xác không hồn. Tiếng đờn kìm văng vẳng trên bến sông, lòng anh sắt se như một buổi chiều đông thê thảm. Anh trách thầm cô chủ nhỏ, sao ra đi mà không nói một lời từ giã và oán than cái nghề bán chiếu bạc bẽo, “tô điểm loan phòng cho những gái còn xuân”. Giờ đây, anh và đôi chiếu kia đang cùng chung một số phận, nằm trơ vơ dưới khoang ghe lạnh lẽo. Anh nhổ sào rời bến mà tâm tư trĩu nặng một nỗi u buồn. Con sông Phụng-Hiệp chảy ra bảy ngã, nhưng lòng anh vẫn thương hoài cô gái mỹ miều trên dòng kinh Ngã Bảy dẫu cho mai đây, con sông sâu có lỡ, có bồi.
Hình bìa bài ca “Tình anh bán chiếu” với nghệ sĩ Út Trà Ôn
“Người ta đã có đôi rồi
Chiếu chăn đâu ấm bằng người tình chung
Để mình vác cặp chiếu bông
Chờ đợi chi nữa uổng công đợi chờ”
– Lời bài ca mượt mà, trau chuốt và hát thiệt là sướng miệng!
Bao năm rồi, Tám tui vẫn thường nghe những câu nói na ná như vậy từ rất nhiều khán, thính giả mê đắm, mê đuối cải lương từ nơi phố thị phồn hoa cho tới vùng nông thôn hẻo lánh. Nhưng Tám tui lại có suy nghĩ khác. Anh chàng bán chiếu này hơi bị “lấn cấn” trong lãnh vực tình cảm. “Người ta” chỉ gọi anh vào nhà, nhờ đo ni tấc chiếc giường, đặt hàng, dặn dò anh làm cho kỹ lưỡng và.. chấm hết! Cô gái ấy có tỏ tình hay hứa hẹn lời nào với anh đâu mà anh lại đèo bồng ao ước chuyện lứa đôi! Anh đã mơ tưởng hão huyền, giống như người xưa thường bảo “đũa mốc mà chòi mâm son” hay Trương Chi đem lòng mơ tưởng Mỵ Nương. Mấy chữ “môn đăng hộ đối” vẫn hằn trong suy nghĩ của người dân xứ mình thì đó chỉ là duyên bèo nước tao ngộ chứ chẳng bao giờ được nên nợ vợ chồng!
Giấc mơ đã tan như những giọt sương mai trên nhánh cây ngọn cỏ, anh bán chiếu lui ghe trở về nguyên quán. Tám tui mong sao anh được tỉnh cơn mơ, về quê an thân lập nghiệp và hạnh phúc trọn đời với vợ hiền, con khôn. Mấy lời quê dông dài lượm lặt, Tám tui chỉ muốn góp một vài tiếng trống mua vui và mong mỏi được mọi giới thông cảm và chấp nhận.
Trẻ giới thiệu bài viết của tác giả Tám Vạn để tưởng nhớ một nghệ sĩ lớn của cải lương miền Nam.
Lớn lên ở ngôi trường trung học Mỹ-Tho và từng bước trưởng thành nơi trường Lasan Taberd ở Sài-Gòn, cậu học trò Nguyễn Thành Châu đã không tiếp tục con đường học vấn để trở thành “ông thông, ông ký” mà rẽ lối và bước sang ngôi nhà nghệ thuật. Giống như khi người ta đang yêu, con tim họ thường có lý lẽ riêng của nó. Dấn thân theo cải lương từ lòng đam mê và miệt mài học hỏi trên nhiều sân khấu khác nhau cộng thêm năng khiếu bẩm sinh, với nghệ danh Năm Châu, ông đã thành danh khi tuổi đời còn rất trẻ. Trên sân khấu cải lương, ông là một nghệ sĩ giỏi nghề, soạn giả kiêm đạo diễn (thầy tuồng) tài ba. Nơi trường Quốc gia Âm nhạc và kịch nghệ đào tạo các thế hệ đi sau, ông là một giáo chức mẫu mực. Lấn sang lĩnh vực điện ảnh, ông đã dàn dựng nhiều cuốn phim có số doanh thu đáng kể trong vai trò viết truyện phim, làm đạo diễn. Trước làn sóng phim ngoại quốc du nhập ồ ạt vào Sài-Gòn, ông đã tiên phong lập ra đội ngũ chuyển âm Việt ngữ đầu tiên.
Theo ông, cải lương phải được phát triển và cách tân theo chiều hướng “thật và đẹp”. Nghệ sĩ phải biết đọc chữ quốc ngữ để hiểu và cảm thông với tâm trạng nhân vật trong vở hát thì nét diễn xuất mới được thăng hoa trên sàn gỗ. Ông đã góp công lớn lao khi áp dụng thành công lối trình diễn theo phong cách ca kịch ở các nước phương Tây vào sân khấu cải lương miền Nam ở những năm đầu phôi thai. Khán giả đến với sân khấu ca kịch Năm Châu là tầng lớp khán giả “trí thức” vì họ muốn thưởng thức nghệ thuật một cách cầu toàn chứ không chỉ mua vui qua một vài trống canh.
Từ những vở hát dựa theo các bộ truyện Phong Thần, Tam quốc diễn nghĩa, Bàng Quý Phi, Mộc Quế Anh, “Trường hận” (Tình sử Dương Quý Phi) đến những câu chuyện bên trời Tây như “Gió ngược chiều”, “Bằng hữu binh nhung” (Ba chàng lính ngự lâm), “Thái tử Hàm Lệ” (Hamlet), “Tơ vương đến thác” (Trà hoa nữ) v.v. được ông mang về dàn dựng sống động nơi sân khấu quê nhà. Tuồng xã hội đương đại cũng được quan tâm đáng kể với những vở tuồng như “Men rượu hương tình”, “Sân khấu về khuya”, “Vợ và tình”… Lối ca diễn “thật và đẹp” của ông đã tạo dựng thành danh một lớp nghệ sĩ thượng thặng cho nền ca kịch và đồng thời làm nên tên tuổi Nguyễn Thành Châu, con chim đầu đàn của sân khấu cải lương miền Nam thuở còn thịnh trị.
Nhưng dòng sông cũng như dòng đời có bao giờ được phẳng lặng êm trôi. Cơn hồng thủy vụt đến và cuốn trôi đi những ước mơ, hoài bão. Nước mất nhà tan, ông và biết bao đồng nghiệp phải oằn mình để tồn tại và nhất là để được tiếp tục sống với nỗi đam mê nghệ thuật.
Không chỉ những soạn phẩm mới bị phê bình từng lời ca, xét duyệt từng câu đối thoại, thậm chí “không được cấp giấy phép trình diễn” mà những vở tuồng vang bóng một thời cũng bị cấm đoán triệt để. Vở hát “Sân khấu về khuya” là một soạn phẩm hiện thực đầy kịch tính với văn phong thật đẹp, lời ca, lời đối thoại trong sáng mà ông đã “khổ công ngồi moi tim óc”. Qua vở tuồng, tác giả không đồng tình với cách chìu theo thị hiếu sa đà, dễ dãi của nghệ sĩ và gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh người làm nghệ thuật.
“Trong mọi sự giả dối của nghệ thuật không có sự giả dối nào bẩn thỉu cho bằng khai thác nghệ thuật để trục lợi cho bản thân trong khi nghệ thuật đang nguy khốn”. (*)
Sau năm 1975, “Sân khấu về khuya” bị lên án “đậm màu tiểu tư sản” và nhân vật Lĩnh Nam trong tuồng bị dán nhãn là “tên điếm đàng đội lốt văn nghệ”. Không riêng tác giả Nguyễn Thành Châu bị “kết tội” mà sân khấu ca kịch phương Nam cũng bị trù dập và chà đạp đến phũ phàng. Sau gần nửa thế kỷ “chiến thắng”, nghệ thuật ca kịch đã trì trệ không thể phát triển và bộ môn cải lương được ra đời hồi đầu thế kỷ thứ hai mươi đã bị bức tử vào những năm cuối thế kỷ …
“Kiếp người ta ngắn ngủi,
nhất là mang nặng nghiệp phấn son.
Có tình, có cảm cứ đem cho,
cho mãi, cho mãi đến khi
mắt khô hết lệ thì đời buồn tênh” (*)
Vở tuồng Sân Khấu Về Khuya – Thanh Nga, Ngọc Giàu, Thành Được
Những tâm huyết của ông bị cướp mất và ngôi nhà nghệ thuật bao năm gầy dựng bị nhấn chìm bởi cơn giông bão. Vì mang số kiếp con tằm nên đến thác ông vẫn còn vương vấn những sợi tơ tình nghệ thuật long lanh.
Thương binh Nguyễn Ngọc Anh trên chiếc ghe nhỏ. (Hình: Nghy Thanh cung cấp)
Từ một tin nhắn của họa sĩ Dương Phước Luyến, Houston
“Chiều về Thanh Hà, thấy một người đang lui cúi trong con đò nhỏ. Mình ngừng lại khi nhìn thấy người ấy cụt chân. Loay hoay cả 30 phút để lót đầu gối thật nhiều giẻ vụn để mang chiếc chân gỗ, rồi cố bò lên bờ, dáng đi ‘quân trường’ hiên ngang qua đường vào một quán nhỏ cạnh đó. À thì ra anh lên bờ đi ăn với miếng chả trứng, chén xì dầu và tô cơm nhỏ. Lân la trò chuyện, mình mới biết anh là thương phế binh vì đạp trúng mìn khi hành quân ở Sa Huỳnh vào đầu năm 1975, được đưa về quân y viện Duy Tân ở Đà Nẵng cắt chân, vết thương chưa kịp lành thì bị đuổi ra đường khi Đà Nẵng có chủ mới. May sao cũng lết ra tới được Huế, tìm về quê nhà ở Thanh Hà, được bà con cưu mang đùm bọc. Ngày ngày trên chiếc xe đạp cà tàng, anh lặn lội đi bán vé số kiếm cái ăn, bữa nào bán hết 100 cái vé số mới có chén cơm. Đêm về sống trên chiếc đò nhỏ bề ngang chưa đầy 1m mà không khỏi bị ám ảnh về những cơn lũ lớn… Nghe chuyện, tôi phải lấy kính đen đeo lên để che vội cặp mắt của mình các bạn của tôi ơi.”
Người thương binh đơn độc
Người thương binh này suốt 41 năm này sống cu ky một mình, không vợ con, họ hàng thân thuộc. Anh không biết đến thế giới bên ngoài, không có hộ khẩu cũng chẳng có “chứng minh nhân dân,” như một người sống ngoài lề xã hội. Anh cũng chẳng có đến một ngòi bút hay một mảnh giấy, không bao giờ biết tới một tờ báo, hay Internet là gì, nên cũng chẳng biết đến ai mà cầu cứu hay bày tỏ tâm sự. Nếu một ngày nọ không được hoạ sĩ Dương Phước Luyến đi ngang qua đây.
Câu chuyện đã 41 năm dài.
Binh II Nguyễn Ngọc Anh, số quân 67/205069, sinh năm 1947, quân nhân thuộc Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 6, Sư Đoàn 2BB, đã tham gia các cuộc hành quân của đơn vị qua các chiến trường Mộ Đức, Tam Quan, Bồng Sơn, Sa Huỳnh. Vào Tháng Hai, 1975, tại chiến trường Nghĩa Hành, Quảng Ngãi, một quả mìn của Việt Cộng đã cắt đứt bàn chân phải của anh và anh được đưa về bệnh viện Quảng Ngãi để giải phẫu và điều trị. Sau chín ngày, anh được chuyển về quân y Vvện Duy Tân, Đà Nẵng, điều trị tiếp thì biến cố 30 Tháng Tư, 1975 xảy ra. Tháng Ba, 1975, Việt Cộng vào Đà Nẵng chiếm quân y viện, tất cả thương binh VNCH đều bị đuổi ra đường, lê lết tìm đường về với gia đình.
Mấy năm nay không còn ai cho anh một chỗ trú ngụ, hiện nay anh Nguyễn Ngọc Anh đang sống trên một chiếc ghe nhỏ làm bằng tôn, bề ngang chưa đầy 1m, bề dài 3m, neo sát con đường đi về ngã Bao Vinh, Huế. Mỗi ngày anh ôm bờ leo lên cái xe đạp cũ, không phải để đạp bằng hai chân như người bình thường, mà dùng một chân để “chọi,” đi kiếm sống. Bán vé số là cái nghề cứu tinh cho những kẻ khốn khổ như anh để có thể kiếm được bữa cơm hàng ngày.
Chiếc ghe nhỏ của anh chỉ cần một cơn lốc nhỏ cũng đủ nhận chìm. Nếu nước sông cạn, ông Anh khó có thể leo lên bờ, nếu nước sông dâng cao hay bão lụt thì chiếc ghe của ông có thể bị nhận chìm. Thương binh Nguyễn Ngọc Anh cần lên bờ, có một chiếc xe lăn hay xe lắc để kiếm sống.
Hiện nay ký giả Nghy Thanh ở Houston và một số bạn bè đang giúp đỡ cho thương binh Nguyễn Ngọc Anh có một cái điện thoại, từ đó anh có thể liên lạc được với những ân nhân, hay các dịch vụ giúp gửi tiền đến anh.
Trong hoàn cảnh này, quý ân nhân có thể giúp thương binh Nguyễn Ngọc Anh qua địa chỉ của Hội HO Cứu Trợ TPB/VNCH, PO Box 25554, Santa Ana, CA.92799. Phần Memo xin ghi: TB Nguyễn Ngọc Anh – Huế.
*Bà Võ Thị Hoà, điện thoại 097 526 2293, ngụ xóm 3, thôn Quảng Thành, làng Thanh Hà, quận Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế, là người có thể gọi ông Anh từ đò lên nói chuyện.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.