This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Bà con mình, sau 75 còn kẹt lại trong nước như tui, chắc cũng có ít nhứt là một lần nghe bài “Tình đồng chí” do văn công CS Quốc Hương già chát hát ra rả trên Ðài Phát thanh.
Ðại khái là hai đứa theo Việt Minh. Một đứa quê nước mặn đồng chua, áo rách vai. Ðứa kia ở miền đất cày trên sỏi đá, quần có hai mảnh vá. Tối ngủ đắp chung một cái chăn, cười ‘hí hí’ như ngựa vì đã quá!
(Cái vụ đắp chung chăn thành đôi tri kỷ nầy, tui tin là có thiệt. Vì ông nhà văn Tô Hoài đã từng thú nhận là mình đã từng đắp chung chăn và đã từng quá đã với ông nhà thơ Xuân Diệu, vốn thuộc thành phần thứ ba).
Còn cái vụ tình đồng chí dóc tổ như Bế Văn Ðàn lấy vai làm giá súng, Tô Vĩnh Diện dùng thân chèn pháo, Phan Ðình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai để cho đồng chí mình tiến lên giết giặc là chuyện tầm xàm bá láp. Mấy chả chôm của Stalin, trùm CS Liên Xô. Chỉ cần làm giấy khai sinh lại, thay tên Nga bằng tên Việt là xong.
Tui đâu có khùng mà tin mấy thằng ba xạo! Tui tin lời của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. “Ðừng tin những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm!”.
Chớ trong cái chế độ CS ác nhân, bản chất là giành quyền, giành chức để giành ăn! Hở ra là chúng thịt lẫn nhau không một chút nương tay thì làm cái quái gì có cái tình đồng chí?
o O o
Chuyện thanh trừng đồng chí CS với nhau nó khởi từ thời mồ ma của Stalin lận. Chuyện rằng: Kostrikov sinh ngày 27, tháng Ba, năm 1886. Nhà nghèo, Kostrikov có tới 7 anh em. 4 đứa chết khi hãy còn niên thiếu. Miron, cha của Kostrikov, là một tên nghiện rượu bê tha đã bỏ gia đình từ năm 1890 (tương tự như cha của Stalin cũng nghiện rượu. Sao cha của mấy lãnh tụ đảng CS Liên Xô, Cu Ba, Triều Tiên ngay cả Việt Nam… cũng nhậu li bì, xích xác hết ráo vậy hở trời? Nhậu lu bù như vậy hèn chi con đẻ ra bị điên về quyền lực ráo trọi).
Yekaterina, mẹ của Kostrikov chết vì bịnh lao năm 1893. Kostrikov vô Trại Mồ côi. Năm 1901, nhờ học bổng của các nhà hảo tâm, Kostrikov tốt nghiệp kỹ sư ở Kazan. Năm 1904, Kostrikov thù đời thời thơ ấu nên theo CS, đổi tên thành Kirov cho đồng đảng dễ nhớ, dễ hoan hô giống như Stalin vậy. Sau cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Kirov tham gia vào cuộc nội chiến tới năm 1920. Kirov tàn ác, khát máu không thua gì Stalin. Hắn đã tự tay xử bắn một nhà tư sản Nga về tội tẩu tán tài sản. Tổng cộng hơn 4000 dân Nga bị kết tội phản động, bị Kirov ra lịnh hành hình.
Cho dù chánh sách nông trường tập thể của Stalin đề ra bị thất bại thảm hại khiến hơn 7 triệu người chết đói; nhưng Kirov vẫn nhiệt tình ủng hộ Stalin. Stalin tưởng thưởng cho lòng trung thành của Kirov bằng chức Bí thơ Thành ủy Leningrad.
Kirov sống xa hoa và là một tay mạnh rượu, uống như hũ chìm. Hắn ăn nói bỗ bã; chửi thề ngay trước công chúng nên được các đồng chí đại biểu đảng ta ưa thích hơn là phải sống hầm hè, sống khắc khổ kiểu Stalin.
Năm 1934, uy tín trong đảng CS Liên Xô ngày một tăng, Kirov được bầu vào Trung ương đảng với một số phiếu rất cao, cao hơn cả Stalin. Ðiều nầy làm Stalin phật ý. Chuyện gì tới là phải tới! Stalin ra lịnh cho Trùm Mật vụ Yagoda tiến hành việc mưu sát Kirov để diệt trừ hậu hoạ.
Leonid Nikolayev, một đảng viên CS bị khai trừ. Nikolayev đem lòng thù hận, nói với người bạn thân là muốn giết tên cầm đầu đảng bộ đã tước đảng tịch của y. Hậu quả là thất nghiệp, vợ con phải nheo nhóc, y thân tàn ma dại. Tên bạn quý nầy đi mật báo. Và bọn Mật vụ đã chọn Nikolayev làm sát thủ. Nikolayev được cho tiền, được cấp cho một khẩu súng lục 7.62 mm. Chiều ngày mùng một, tháng Chạp, năm 1934, Nikolayev thản nhiên lận súng lên lầu ba, văn phòng Thành ủy Leningrad mà không bị nhân viên an ninh nào chặn lại. Kirov đang bước vào hành lang, vượt qua Nikolayev để quẹo vào lối khác; Nikolayev liền rút khẩu súng lục giấu trong người ra, bắn vào phía sau ót của Kirov (kiểu xử tử).
Ra tòa, Nikolayev thú nhận là giết Kirov theo lệnh của bọn Phát xít Ðức quốc xã của Hitler. Nikolayev bị xử bắn đêm 29, tháng Chạp, năm 1934. Tất cả mọi người liên quan dù ít hay nhiều đến cuộc ám sát nầy đều bị Stalin ra lịnh xử bắn để xóa tan hết mọi dấu vết. Sát nhân diệt khẩu! Mẹ, anh, chị, em, bà con nội ngoại của Nikolayev đều bị xử tử hoặc phải đi đày. Giống như tru di tam tộc thời phong kiến bên Tàu.
Ðích thân Stalin là một trong những người khiêng quan tài Kirov đi chôn! Tình đồng chí trong chế độ CS là như thế đấy!
Vụ án Kirov đã được Stalin lợi dụng làm cái cớ để thanh trừng toàn bộ hệ thống đảng CS Liên Xô. Hồng quân Liên Xô có 103 tướng thì 81 bị xử tử. Có 93 trên tổng số 139 Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Liên Xô bị xử bắn. Chừng một phần ba trong số 3 triệu đảng viên ở Liên Xô bị giết trong giai đoạn 1934-1938.
Kirov
o O o
Trời cao có mắt. Ác giả ác báo! 19 năm sau tới phiên Stalin chết lặng lẽ nhưng không kém phần bi thảm.
Ngày 28, tháng 2, năm 1953, Stalin và Malenkov, Molotov, Beria, và Khrushchev tụ bè tụ đảng với nhau uống rượu. Mãi tới 4 giờ sáng hôm sau, tức ngày mùng 1, tháng Ba, Stalin bò vào phòng ngủ. Stalin nghiêm ngặt lịnh rằng không ai được làm phiền. Không một tiếng động nào được nghe thấy trong suốt cả ngày. Cuối cùng Trùm Mật vụ Liên Xô Beria đến. Y thấy Stalin mặc quần pyjama và áo sơ mi nằm ngoẻo củ từ trên sàn nhà do xuất huyết não. Joseph Stalin được bác sĩ chứng nhận qua đời lúc 9:50 tối, ngày mùng 5, tháng Ba năm 1953, thọ 74 tuổi.
Xác Stalin được ướp và trưng bày trong Lăng Lenin và Stalin. Cho đến năm 1961, đồng chí Nikita Khrushchev là người khiêng quan tài Stalin với Georgy Malenkov, Vyacheslav Molotov và Lavrentiy Beria ra lịnh, xác Stalin phải đi chỗ khác mà nằm.
Sau khi an táng Stalin xong, Nina nói với chồng là Beria rằng: “Vị trí của anh bây giờ còn bấp bênh hơn cả khi Stalin còn sống.”
Quả nhiên, chỉ vài tháng sau, vào tháng 6 năm 1953, Beria bị xử tử theo lệnh của các đồng chí một thời thân thiết với mình trong Bộ Chính trị.
o O o
Còn người dân Nga bình thường khi nghe tin vui, bèn “hồ hởi, phấn khởi”, khóc vì mừng. Họ giẫm đạp lên nhau đến chết tới cả ngàn người chỉ để tới Quảng trường Ðỏ coi Stalin chết thiệt hay chưa. Vì thằng Ðế quốc Mỹ đã từng nói: “The only good communist is a dead communist” (Tay cộng sản tuyệt vời nhất là tay cộng sản đã chết”. Còn nó chưa chịu chết thì sao? Thì trù cho nó chết chớ sao! Nên có chuyện rằng: “Một cụ bà phải đợi tới 2 tiếng đồng hồ mới được lên xe bus. Xe bus đầy nhóc hành khách! Mãi một lúc lâu bà cụ mới chen được vào, bèn cảm thán: “Xin tạ ơn Thượng đế!”. Viên tài xế xe bus nghe vậy, bèn sửa lưng: “Má ơi! Không nên nói thế! Má phải nói là: Xin tạ ơn đồng chí Stalin!”.
Bà cụ bèn đáp lại: “Xin đồng chí lái xe tha lỗi cho già! Từ rày về sau già sẽ nói y như đồng chí đã dạy bảo! Nhưng lỡ ngày nào đó đồng chí Stalin từ trần thì già phải nói làm sao?”
“À! Lúc đó thì má nói: Xin tạ ơn Thượng đế!”.
o O o
Cái tình đồng chí khốn nạn, cạn tàu ráo máng đó từ Nga nó lây sang Tàu, sang Bắc Triều Tiên. Mao Trạch Ðông giết Lưu Thiếu Kỳ, giết cả Lâm Bưu, hai đồng chí cật ruột với Mao thời Vạn lý trường chinh! Cắc ké như Kim Jong-un của CS Bắc Hàn giết ngay cả Jang Song-thaek, chồng của cô ruột, Kim Jong-nam, anh cùng cha, khác mẹ.
Tình ruột thịt, bà con mà còn đối xử với nhau tàn nhẫn đến thế thì cái tình đồng chí trong chế độ CS có ‘cà ram’ nào đâu mà kể!
Tui biết anh ta khi tham gia vào chiến dịch X1, chiến dịch đánh tư sản đầu tiên của chính quyền Cộng Sản tại miền Nam sau 1975. Tui hồi đó thất nghiệp dài cồ, chẳng làm chi ra tiền, đói nhăn răng, cơm chẳng có mà ăn, bán hết áo quần, giày dép rồi tới sách báo, đến lúc chẳng còn gì để bán, nên khi được gợi ý tham gia có cơm ăn là ghi tên ngay. Bọn tui bị tập trung vào tối 9.9.1975, xe đưa đến trường Pétrus Ký. Ngồi chờ dài cổ mà không biết tập trung để làm gì? Đến nửa đêm thì được chia thành từng nhóm nhỏ, có xe chở đi. Nhóm của tui có tui với Lượng là gốc sinh viên Đại học Vạn Hạnh, bổ sung thêm một tên ở Đại Học Khoa Học tên Trung, thêm hai người nữa đến giờ chẳng nhớ tên. Tổ trưởng của toán là anh ta, một sĩ quan quân đội Bắc Việt. Anh ta nói tiếng Bắc giọng nhà quê, tụi tui nghe tiếng được tiếng mất. Lại thêm có nhiều từ nghe hơi lạ tai như khắc phục, tranh thủ, phấn đấu…nên nhiều khi tụi tui đoán ra yêu cầu của anh ta mà thực hiện. Tổ của tụi tui đóng quân ở trên lầu của một khách sạn của người Hoa ở đường Đồng Khánh, nhiệm vụ giữ một điện đài liên lạc, nhưng cũng ít khi thấy có ai gọi hoặc nhắn nhủ chi. Công việc chẳng có gì, chỉ quanh quẩn trong phòng, rồi chia nhau đi lang thang mấy căn phố đìu hiu, những hàng quán chắc hẳn ngày xưa rất nhộn nhịp. Anh bộ đội chỉ huy của tụi tui thấy cái gì cũng lạ, nhìn cái gì cũng thắc mắc. Nhiều hôm anh đứng ở balcon, mắt cứ ngước nhìn những toà nhà cao tầng và bảo với tụi tui, sao họ có thể xây được những cái nhà cao và to thế. Có lần tui đi ra phố Lê Lợi, mua về mấy ổ bánh mì thịt với paté, mời anh ta ăn, anh ăn mà miệng cứ xuýt xoa họ làm bằng thứ gì sao nó ngon quá vậy! Thật ra bánh mì lúc đó chẳng còn ngon như bánh hồi trước 75 vì thực phẩm đã bắt đầu khan hiếm rồi, dù bộ đội mới chiếm Sài Gòn hơn bốn tháng. Nói tóm lại là anh ta hoàn toàn xa lạ với những sản phẩm và cuộc sống văn minh của Sài Gòn. Anh bảo từ bé đến ngày đi bộ đội vào Nam, anh chỉ ở quê, mò cua bắt ốc, nhiều khi không đủ gạo mà ăn, độn khoai sắn, có lúc độn rau, sống rất thiếu thốn. Thịt bò, thịt heo là những món ăn mơ ước chỉ có ngày Tết hay ngày kỵ giỗ mới có một miếng trơn mồm. Anh chỉ mong đủ lớn để được vào bộ đội, có cơm ăn. Chiều chiều anh hay rủ tui đi ngắm hàng hóa, anh nhìn những món hàng với ánh mắt khát khao, thèm thuồng. Anh nói với tui là anh mê nhất đồng hồ không người lái có hai cừa sổ và cái đài có band hát nhạc. Anh thổ lộ là muốn mua quà gởi về cho bố mẹ và các em ngoài ấy mà chẳng có tiền. Anh ta thật thà, không có bệnh nổ như những anh bộ đội miền Bắc khác, nên tụi tui cũng có chút cảm tình. Tình cảm này xuất phát từ lòng thương hại nhiều hơn, dù anh đang là kẻ chiến thắng và đang là người chỉ huy tụi tui.
Một hôm phòng chúng tôi xuất hiện một tù nhân. Ông ta người Hoa, dáng to lớn, bị trói thúc ké vào một chiếc ghế. Nghe thoang thoáng ông ta là một tay tư sản giàu lắm ở Chợ Lớn, khai báo tài sản chưa đầy đủ nên bị bắt tạm giam để điều tra tiếp. Thế là tụi tui trở thành những tên lính canh, thay phiên nhau canh gác với khẩu súng carbine của nhân dân tự vệ. Đêm đó, tui được phân công gác từ 12 giờ đêm đến 2 giờ sáng, tui ngồi canh mà mắt cứ díu lại, chập chờn. Bỗng có tiếng gọi khẽ: Nị à, nị à…. Tui choàng ngay dậy, ông Tàu gật gật đầu, có vẻ muốn nói gì với tui. Tui ngần ngừ đi lại, ông ta nói nhỏ: “Nị cởi trói cho ngộ, rồi mở cửa sổ. Ngộ thoát được sẽ gởi cho nị 5 lượng vàng, bảo đảm sẽ có người đưa tận tay nị.” Thấy tui có vẻ không tin, ông ta nói tiếp, giọng cầu khẩn: “Tin ngộ đi, ở Chợ Lớn này ai cũng biết tên ngộ, ngộ không nói láo đâu, mở trói cho ngộ, ngày mai sẽ có người mang vàng trao tận tay nị” Thời điểm đó, đối với tui, vàng chẳng có giá trị gì, mà thật ra tui cũng chẳng biết trị giá của nó thì đúng hơn. Hơn nữa, tui vốn nhát gan, nên sợ nếu tên này trốn, chắc tui phải lãnh đủ. Nghe nói mấy ông cộng sản này kỉ luật nghiêm lắm, nên tui càng sợ. Tui lắc đầu, đưa tay ngang cổ, ra dấu cắt đầu, sợ lắm. Ông nhìn tui, thất vọng…
Người gác kế tui là anh ta, anh sĩ quan Việt cộng. Tui về giường nằm mà cứ nghĩ về ông Tàu, tự hỏi từ lầu ba này mà ông ta nhảy xuống thì không chết cũng què, sao ông ta tính chuyện gan trời vậy. Lan man nghĩ thế thôi, tui đi vào giấc ngủ lúc nào chẳng biết. Đang say ngủ thì bỗng tui nghe một tiếng rầm như vật gì bị rớt, hốt hoảng choàng dậy, tui thấy cửa sổ mở toang, ông Tàu biến đâu mất, anh ta thì đang loay hoay với cây súng, lên đạn lốp cốp rồi mới hô lớn: Đứng lại, đứng lại không tao bắn… Thế rồi anh chìa súng ra cửa sổ, chĩa súng lên trời bắn một tràng, rồi mới chạy xuống cầu thang. Tụi tui tỉnh ngủ hẳn, lật đật chạy theo anh. Xuống đến sân, thấy một chiếc xe hơi rồ máy chạy như bay ra đường….
Tui không biết anh ta có bị cấp trên kỉ luật gì không, hôm sau vẫn thấy anh ta sinh hoạt bình thường, cũng chẳng nhắc gì tới vụ ông Tàu trốn thoát. Thế nhưng trong lòng tôi vẫn dấy lên một nỗi nghi ngờ, tui tin chính anh là kẻ cởi trói và mở cửa cho tù nhân trốn thoát. Nghi vậy thôi, nhưng tui chẳng kể với ai.
Mấy bữa sau, vào buổi chiều, anh ta ôm về một cái máy radio cassette, tay đeo một chiếc đồng hồ Seiko. Nhìn những vật này, tui càng tin chắc anh ta chính là người giúp ông Tàu trốn chạy. Suốt ngày anh ra cứ loay hoay với chiếc máy và cái đồng hồ. Mấy thằng tui hướng dẫn cách sử dụng máy cassette, dạy anh ta cách lấy giờ, cách chuyển lịch cho đồng hồ. Bày đủ cách mà anh ta chẳng nhở gì, chỉ có nút tắt mở, bấm play, bấm chuyển band qua lại, từng đó thôi mà anh ta cứ mãi quên, không nhớ. Cứ mỗi lần mở máy là một lần hỏi. Bực mình quá, tụi tui bảo trong đầu anh chứa gì mà sao anh ngu thế. Anh ta chỉ cười, phô hết hàm răng hô rồi bẽn lẽn: “Thì tại tớ vốn nhà quê mà…” Thấy tội nghiệp, tụi tui lại bày cho anh.
Hơn tháng sau thì tổ chúng tôi giải tán, ai về nhà nấy. Ở chung nhau gần hai tháng, nhưng thật sự chẳng gắn bó gì với nhau lắm, vì trong mỗi người đều mang mỗi tâm trạng khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, toan tính khác nhau, nên cũng chẳng có tiễn đưa, tan hàng trong lặng lẽ.
********* *********
Năm 1998, công ty tui mở thêm một nhà máy in và một xưởng chế bản điện tử, xin giấy phép khó khăn, phải ra tận Hà Nội. Tui là giám đốc nên lãnh trách nhiệm ra ngoài đó để vận động kiếm cho được tờ giấy phép. Người phụ trách ký giấy cho tui là một cán bộ cấp cục trưởng của Bộ Văn Hoá. Tay này rất quan cách, ăn nói, đi đứng rất bệ vệ, ra dáng lãnh đạo lắm. Dù đã có thư gởi gắm, có ngay phong bì lần gặp đầu tiên nhưng y cứ chần chừ, chưa chịu ký. Mời đi ăn mấy lần mà ông quan này vẫn chưa nhận lời, sau phải nhờ qua một quan lớn khác, y mới chịu đi. Vào tiệc, y gọi món rất sành sỏi, gọi rượu toàn thứ cao cấp, chứng tỏ y là dân chơi thứ thiệt. Khi ăn, y còn dạy cho cả bàn là ăn bào ngư phải ăn như thế này, rùa vàng, vi cá phải ăn như thế kia, ăn món nào với rượu nào, y biểu diễn khui rượu, rót rượu rất nhuần nhuyễn, cả bàn há mỏ ra nghe, tui chỉ cười nhạt. Y nói nhiều, nhưng chẳng ăn gì, mời mãi cũng chỉ động đũa đôi ba miếng gọi là, y bảo nhà hàng này làm món ăn chưa đúng điệu, mặc dù bữa tiệc đó tui phải thanh toán cả đống tiền. Vì tờ giấy phép đó, tui phải bám ở Hà Nội suốt gần ba tuần lễ. Và ngày nào cũng nhậu nhẹt, ăn chơi. Càng tiếp cận ông quan này, tui cứ ngờ ngợ, thấy có nét hao hao một người nào đó mà mình đã gặp trong đời. Nghĩ mãi mà chẳng nhớ ra. Cuối cùng thì tôi cũng nhận được tờ giấy phép, đổi lại, tui cũng hao khá bộn. Ngày cuối trước khi về lại Sài Gòn, tui được y chiếu cố mời về nhà nhậu như để trả lễ, vì theo y, không đâu nhậu ngon bằng ở nhà y, có đầu bếp riêng, thức ăn nhập khẩu tươi ngon, có rượu xịn, và hơn hết, theo lời y khoe, ở Hà Nội này, không có nhà hàng nào có dàn máy nghe nhạc so sánh được với dàn máy của y.
Nhà y không lớn lắm, nhưng nằm trên con đường đẹp với những hàng cây. Nhà nhỏ, nhưng trang trí toàn những vật đắt tiền. Sập gụ, tủ chè, tượng đứng, tượng ngồi, đồ sứ, ngà voi, ngọc xanh, ngọc đỏ lủ khủ. Tui choáng với tủ đồng hồ đeo tay của y, toàn thứ dữ: Patek Philippe, Omega Constellation, Jaeger Lecoultre, Constantin, Piguet, Longines…nhưng đúng như y nói, dàn máy nghe nhạc của y mới sợ, to đùng, sáng lóa, chắc phải vài trăm ngàn đô. Làm quan giàu thật. Dàn máy khủng đặt trên chiếc tủ bằng gỗ quý, chạm trổ tinh vi, đánh verni màu nâu nhạt trông rất đẹp. Trên chiếc loa lớn đen tuyền có một khung ảnh bằng vàng cũng chạm trổ khá cầu kỳ. Trong ảnh là hình của một anh bộ đội, đàng sau lưng là chợ Bến Thành, tấm hình đã úa màu thời gian, nhìn không hợp lắm với cái khung. Thoáng nhìn hình, tôi nhận ra ngay khuôn mặt của người sĩ quan chỉ huy tụi tui hồi đi chiến dịch X1. Hàm răng hô, khuôn mặt hiền hiền, ngu ngu. Tui buột miệng: Hình ai đây anh? Y cười rổn rảng: “Tớ đấy, chụp hồi mới giải phóng Sài Gòn, nhìn khác quá, phải không? Hồi đấy chẳng còn giữ được tấm hình nào, chỉ còn duy nhất tấm này. Kỷ niệm đấy, quý lắm đấy!” Tui suýt kêu lên, nhận người quen cũ, nhưng kịp dừng lại. Thời gian đã đổi thay, cuộc đời đã đổi thay, vị trí cũng đổi thay, liệu y còn nhớ thời kỳ đó không? Hay y cố tình quên đi rồi, nhắc lại thật tình là không có lợi. Nhưng tui cứ băn khoăn mãi là y làm cách nào mà có được sự thay đổi lạ lùng quá xá vậy. Tui hình dung lại khuôn mặt của anh ta, nhớ lại ánh mắt thèm thuồng của anh ta trước những hàng hoá của Sài Gòn, sự nhẫn nhịn của anh ta khi tụi tui bảo anh ngu vì dạy mãi mà vẫn không sử dụng được cái máy cassette. Cuộc đời chuyển biến kinh thật, đúng là đổi đời. Thấy tui đứng ngẩn ngơ trước dàn máy, anh nói lớn:” Sao? Dàn máy ngon chứ? Âm thanh tuyệt hảo. Mở ra nghe đi rồi sẽ thấy. Ông nhấn nút đi, nút trắng đấy”. Tui nhìn hàng nút, thấy nút nào cũng lấp lánh, nút nào cũng một màu nên lưỡng lự chưa biết phải nhấn nút nào thì lại nghe y với một giọng đầy quyền lực pha chút chế giễu: “Thôi vào ngồi nhậu đi ông nội, sao mà nhà quê thế, đến cái nút mà cũng không biết bấm”
Tui tự nhủ, hoá ra cuộc đời là một vòng tròn, luân chuyển thế vai nhau. Saigon. Tháng 4.2015 DODUYNGOC
Tui không ngờ gặp lại hắn và thật lòng tui cũng chẳng muốn gặp hắn tí nào. Nhưng sáng nay tui đã gặp hắn. Sáng nay anh bạn gọi ra cà phê ở đường Nguyễn Huệ, quán Ciao. Đến giờ hẹn, anh bạn vẫn chưa thấy đến. Tui lấy điện thoại ra đọc mấy tin buổi sáng. Đang chăm chú vào màn hình thì có tay ai đặt trên vai tui bóp nhẹ. Tui xoay lại thì bắt gặp một khuôn mặt vừa quen vừa lạ. Quen vì khuôn mặt ấy có những nét nhắc tui về một người bạn. Lạ vì khuôn mặt ấy lại có những nét lạ lẫm. Đó là một khuôn mặt bệnh hoạn, má hóp, da vàng ệch, đôi mắt trũng sâu, thâm quầng, tóc trên đầu chỉ còn lơ thơ mà bạc trắng. Bàn tay đặt trên vai tui khẳng khiu, những ngón dài với màu da thâm thâm đen của người bệnh gan nặng. Anh ta cười, nụ cười nhăn nhúm lộ hàm răng rụng gần hết. Giọng anh khào khào, thì thào: Nhớ tao không? Huỳnh ở Văn khoa, nhớ không?
Huỳnh, Lê Văn Huỳnh. Sao quên được. Những năm cuối thập niên sáu mươi thế kỷ trước, ở đường Trương Minh Giảng Sài Gòn. Trong những căn nhà tạm bợ ở bờ kênh Nhiêu Lộc. Dưới là dòng kênh nước đen, bùn lầy và rác rến. Không khí lúc nào cũng có mùi, mùi của ao tù và xác chết lâu ngày của những con vật, mùi của chất thải đổ ra. Tụi tui, những sinh viên nghèo từ ngoài Trung vô đi học, tạm thuê căn phòng nhỏ ở đấy sống tạm. Bốn thằng trong căn phòng mười mấy thước vuông được dựng bằng gỗ tạp, có chỗ phẻn tre và trên đầu là tấm tôn rỉ, mùa nóng thì hầm hập như lò thiêu xác, mưa thì dột tứ tung. Bữa đói, bữa no. Sống nhờ cơm ở câu lạc bộ ở Đại Học Vạn Hạnh, giá rẻ. Đói nữa thì lê thân xuống cơm xã hội ở đường Trần Quốc Toản( bây giờ là đường Ba tháng Hai). Hết tiền thì vô Đại học xá Minh Mạng ăn ké. Chỉ mong có miếng cơm qua ngày. Thằng nào cũng gầy gò và xanh mướt. Tui và Huỳnh thuê chung phòng. Hắn dân Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Còn tui dân Đà Nẵng. Hắn và tui cùng học Văn Khoa. Tui học Ban Triết. Còn hắn học Ban Sử Địa. Hai thằng đều là con hoang, tức là chẳng có ai nuôi, hàng tháng chẳng được diễm phúc lãnh măng-đa người nhà gởi tiền. Bởi vậy hai thằng sống thiếu trước hụt sau, nhiều bữa đói vàng mắt.
Có một dạo tui xin được hai cái phiếu cấp bánh mì của tổ chức Caritas, một cơ quan từ thiện của Công giáo. Bánh mì ở đấy rất ngon, làm bằng bột mì viện trợ của Mỹ. Ổ bánh mì dài ngoằng, ăn được nửa ổ là no vật vã. Thế mà mỗi phiếu lại được phát mỗi ngày hai ổ. Tui giữ một phiếu, tui đưa cho Huỳnh một phiếu. Sáng sáng, hai thằng ra chỗ bô rác dốc cầu đường Trương Minh Giảng chờ xe buýt đi qua quận tư lãnh bánh mì. Hôm nào có tiền thì kiếm ghế ngồi. Bữa nào cháy túi thì lên cửa trước lẻn ra cửa sau trốn vé. Lãnh được bốn ổ bánh, hai thằng bán lại cho xe bánh mì quen. Hôm thì lấy tiền mua gạo nấu hoặc đi cơm quán vỉa hè. Có hôm thì đổi đồ ăn, lúc thì mấy miếng thịt, khi thì mấy cái trứng. Cũng được một thời gian. Sau đấy, tui tìm được việc làm trong một toà báo, còn Huỳnh thì biến đâu mất tăm. Nghe đồn hắn vô bưng. Tui biết hắn hoạt động cho Việt cộng lâu rồi, nhưng chẳng quan tâm vì tui nghĩ mỗi thằng có mỗi lý tưởng riêng, mục đích riêng để sống.
Tui được một học bổng du học. Một thời gian dài cũng chẳng liên lạc với bạn bè cũ. Đi rồi trở về. Rồi biến cố tháng 4.75. Một thời gian sau nghe tin Huỳnh khi vào bưng được đưa ra Bắc rồi đi học ở Nga vì ba hắn cũng là dân miền Nam tập kết đang giữ một chức vụ khá lớn trong chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau đó cũng nghe tin hắn về nước và đang ngồi vào một cái ghế kha khá ở một sở của thành phố này. Nhưng tui cũng không có dịp gặp.
Những năm tám mấy chín mươi, tui mê chơi tennis lắm. Suốt ngày vác vợt đi khắp sân của thành phố. Sáng sớm thì ở sân Phan Đình Phùng. Trưa thì chạy vào sân Đường sắt hoặc Lê thị Riêng. Chiều thì vào sân Dinh Độc Lập hoặc sân Quốc gia Hành chánh. Và tui gặp lại hắn ở sân Quốc gia Hành chánh. Hắn cũng đi đánh tennis với người bạn trong nhóm tui, một cán bộ của quận 10. Chắc hắn có chức vụ khá lớn bởi tui thấy ai cũng có vẻ nể hắn, đồng thời hắn lại có hai cậu phục vụ lúc nào cũng sẵn sàng chăm sóc lúc cái khăn, khi chai nước. Hắn bây giờ hồng hào, bệ vệ, mập mạp với cái bụng đã phệ. Hai thằng gặp nhau mừng lắm, huyên thuyên đủ chuyện. Nhưng khi tui nhắc đến giai đoạn hai thằng đi xe buýt lậu vé qua quận tư xin bánh mì Caritas thì hắn chối. Hắn dứt khoát là không có chuyện đó, hắn cãi cho bằng được không có là không. Bực quá, tui bảo: Thế thì tui xin lỗi, tui nhận nhầm người rồi. Và tui bỏ đi về trước sự ngạc nhiên của hắn. Tui đi và không ngoái đầu lại và cả tuần sau tui không đến sân đó nữa vì ngại sẽ gặp lại hắn. Khi tui trở lại sân, anh bạn cán bộ đánh chung nhóm bảo rằng hôm đó hắn ngạc nhiên và bực mình vì thái độ của tui. Tui cũng chẳng giải thích gì. Và cũng qua anh bạn đấy, tui biết hắn đang giữ chức Vụ trưởng của một bộ nào đấy, đặc trách phía Nam. Vợ hắn là con gái rượu của một thứ trưởng. Nghĩa là hắn đang làm quan lớn và lẽ dĩ nhiên là hắn rất giàu. Nhưng tui không chịu được những kẻ chối bỏ quá khứ. Ai lại không có thời khó khăn. Sao phải tránh né nó khi đã thành đạt và giàu sang? Kể từ đó, tui quên luôn hắn.
Hôm nay tui lại gặp hắn, đã mấy chục năm rồi chẳng liên lạc, chẳng tin tức. Bây giờ gặp lại hắn, thân thể tiều tuỵ, bệnh hoạn. Tự nhiên tui thấy thương hắn. Hắn bảo hắn ung thư gan giai đoạn cuối, thời gian sống chẳng còn bao nhiêu nữa dù đã qua Sing, sang Nhật, đến Mỹ chữa nhưng mọi nơi đều đã bó tay. Hắn xin lỗi tui vụ hắn chối chuyện đi xin bánh mì trong quá khứ. Hắn bảo lúc đó đông người, hắn đang là sếp bự nên không thể chấp nhận chuyện ấy, sợ mất mặt với đàn em. Thôi thì dù sao cũng là bạn bè ở thuở hàn vi, hơn nữa hắn đang bệnh sắp chết, tui cũng chẳng sân si, giận hờn chi nữa nên hai thằng ngồi nói lại rất nhiều kỷ niệm. Hắn cầm tay tui, nắm chặt và hắn khóc. Hắn đang nghĩ đến cái chết, hắn đang tiếc nuối cuộc sống. Tui cũng chẳng biết nói với hắn gì nữa. Mỗi người mỗi số phận. Sống chết là quy luật của đời sống, ai tránh được đâu. Tui bảo hắn cứ bình tĩnh, an nhiên cho đến phút cuối. Lo âu, bi quan càng dễ suy sụp hơn. Thấy hắn khóc, tui cũng không cầm được nước mắt.
Trưa nay, chạy xe về nhà, lòng tui nặng trĩu khi nghĩ đến cái chết của hắn trong nay mai. Thế là một người bạn nữa chuẩn bị ra đi. Tui không còn giận hắn nữa. Có một thời hắn chối bỏ quá khứ nhưng bây giờ hắn phải chấp nhận tương lai. Một tương lai tối thui trong nấm mộ. 22.9.2018 DODUYNGOC
Hình chụp ngày 26/12/1983, nhân Lễ Bế Mạc Đông Tiến được coi là khởi sự từ ngày 1/6/1981 với mục tiêu bắt tay với trong nước qua các toán mở đường, được tổ chức tại căn cứ 88.
Michelle Võ, một người con gái Mỹ gốc Việt 32 tuổi, tốt nghiệp trường trung học Independence, San Jose, lên đại học; rồi đi làm bình thường như những người con gái khác trên đất Mỹ, lại là một trong số 58 người bị bắn chết vào tối Chủ Nhật, ngày 1, tháng Mười, năm 2017, tại Las Vegas, tiểu bang Neveda, Hoa Kỳ.
Một tay súng cuồng điên, từ hai cửa sổ của hai phòng trên tầng 32, khách sạn Mandalay Bay Casino bắn xối xả suốt 11 phút vào buổi trình diễn nhạc đồng quê trên một sân khấu lộ thiên, chỉ cách chỗ hung thủ siết cò súng khoảng chừng 400 m.
Con ác quỷ đội lốt người, Richard Paddock, 64 tuổi, đã biến nơi những người trẻ tuổi đang vô tư thưởng thức ca nhạc thành một pháp trường, hành quyết bằng cách xử bắn, nhắm vào 22 ngàn khán giả vô tội; sau đó đã tự sát khi Cảnh sát Las Vegas đã đến ngay trước cửa phòng của hắn.
Đây là cuộc tàn sát, giết người hàng loạt, kinh hoàng nhứt trong lịch sử hiện đại của Hoa Kỳ, làm ít nhất 58 người thiệt mạng và 527 người bị thương.Lúc đó là 10 giờ 08 phút tối, Kody Robertson và Michelle Võ, hai người bạn mới quen, ngước lên trời để xem pháo hoa khi nghe tiếng nổ.
Nhưng tiếp liền là một tràng súng liên thanh bắn bừa bãi từ cửa sổ tầng 32 tại tòa cao ốc phức hợp khách sạn với sòng bài Mandalay Bay.
Tiếng súng kêu ‘pop-pop’ liên hồi. Jason Aldean, ca sĩ đang trình diễn, màn cuối cùng đêm diễn, chạy khỏi sân khấu, tìm chỗ ẩn nấp.
Hàng chục ngàn khán giả kinh hoàng, tìm cách trốn chạy.
Đau đớn thay, một viên đạn oan nghiệt xuyên qua bên trái ngực, phía trái tim của Michelle Võ.
“Cô ấy bị trúng đạn và tôi quay lại và nhìn thấy cô ấy ngã ngay xuống đất,” Robertson nhớ lại. “Cô ấy đang đứng sát bên tôi, có thể chưa tới một mét.”
“Michelle, Michelle!” Robertson hét lên khi anh và một thanh niên khác thay phiên làm hô hấp nhân tạo trên cơ thể đã bất động của Võ.
“Tỉnh dậy! Tỉnh dậy đi!”
Robertson dùng thân mình như một cái khiên để chắn đạn, cuối cùng khi tiếng súng dường như ngừng lại, anh cùng với một thanh niên khác khiêng Michelle ra khỏi hiện trường. Cả hai dừng lại để núp, mỗi lần tiếng súng vang lên trở lại.
Mark Jay và Lindsay Padgett đã biến chiếc xe tải của họ thành một chiếc xe cứu thương chạy vào bệnh viện, khi thấy nhiều người bị thương nằm la liệt khắp nơi cần cấp cứu.
Kody Robertson đặt Michelle Võ xuống trên sàn xe, sau đó chạy về ngược về phía sân khấu.
***
Trở lại bên trong, những xác người nằm nghiêng nghiêng, mặt cúi xuống mặt đất! Robertson nhìn thấy những người trốn phía sau các quầy bán thức ăn, thức uống. Những ghế ngồi đầy những máu.
Giữa những tràng đạn liên hồi như tiếng trống, Robertson và những người cứu nạn khác đang chạy từ người này sang người khác, kéo các thân thể người đang nhuốm máu đến nơi an toàn.
Người vợ hét vào người chồng đang nằm bất động để mong anh thức dậy!
Và một người chồng khác cúi xuống đầu vợ mình cố làm hô hấp nhân tạo.
Rồi Robertson tìm được bóp của Michelle, trên mặt đất, gần chỗ họ đã đứng. Cái điện thoại di động của cô ấy không còn nằm trong đó!
Anh ấy gọi cái số điện thoại mà Michelle Võ đã cho anh ấy trước đó; cuối cùng có ai đó trả lời.
Một nhóm khán giả khác đã tìm thấy chiếc điện thoại khi chạy ra khỏi lối ra. Robertson đã đến nhận lại nó tại Planet Hollywood.
Đến thời điểm đó, điện thoại của Võ đầy những tin nhắn, mà anh không thể mở được vì không có mật mã!
Một nhân viên lễ hội âm nhạc cho biết Desert Springs là bệnh viện gần nhất, vì vậy Robertson đi bộ, trên đường vừa đi, vừa nhắn tin cho gia đình và bạn bè của mình để họ biết rằng mình vẫn bình an.
Đã 3 giờ sáng, trước khi đến nơi, bệnh viện đã nội bất xuất ngoại bất nhập. Không ai được phép vào, và ít thông tin được đưa ra.
Máu đẫm trên chiếc quần jeans và trên cả cánh tay anh, đã bắt đầu khô.
Rồi điện thoại di động của Võ vang lên. “Xin vui lòng cho tôi biết cô ấy không mệnh hề gì!” Jeremiah Hawkins, 37 tuổi, người anh rể của Võ, cầu xin qua điện thoại.
Robertson trả lời những gì anh biết: “Cô đã bị bắn vào ngực và đưa đến bệnh viện. Tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm cho đến khi tìm thấy cô ấy!”.
Robertson đã thề hứa và giữ lời cho tới phút cuối cùng.
Robertson đã chờ hơn một tiếng đồng hồ trước khi được phép vào bệnh viện từng người một. Cầm bóp của Michelle Võ trên tay, anh chạy tới một cảnh sát viên ngay bên trong lối vào.
“Trong danh sách, ông có tên một người phụ nữ, dáng vẻ Á Châu, cao khoảng 1m 6, có một hình xăm hoa lớn trên lưng, tên là Michelle? Cô ấy không có bất kỳ giấy tùy thân nào; vì tôi đang giữ bóp của cô ấy!”
Viên cảnh sát kiểm tra. Võ không có ở đó.
Robertson gọi tất cả các bệnh viện khác mà anh có thể tìm thấy tên. Không ai trong số họ có tên cô ấy.
Anh ta đã gọi cho đường dây thông tin do Cảnh sát Las Vegas thiết lập, ít nhất 60 lần. Cũng không có tin tức gì!
Vẫn quanh quẩn trong hành lang của Desert Springs, anh gọi lại Hawkins và nói rằng mình vẫn không biết được gì nhiều.
Cuối cùng, nhân viên bệnh viện nói với Robertson rằng anh phải rời đi. Anh bắt đầu đi bộ bốn dặm để trở về Luxor, nơi anh ở.
Anh tự hỏi mình khi đi. “Cô ấy đứng cách tôi chừng nửa mét. Tôi may mắn ư? Người trúng đạn đã có thể là tôi. Đó phải là tôi mới phải! ”
Một ngàn dặm về phía bắc, tiểu bang Washington, Hawkins vẫn liên tục gọi. Một bác sĩ chỉ cách loại bỏ từng nơi cấp cứu một; để cuối cùng có thể tìm ra được Michelle Võ, em vợ của mình!
Có hai trung tâm cấp cứu người bị thương lớn ở Las Vegas, và các nhân viên tại một trung tâm cho biết họ không còn một nạn nhân nào chưa xác định được danh tánh. Thế thì Võ chắc phải ở bên trung tâm còn lại.
“Tôi sợ hãi rằng Kody sẽ không bắt điện thoại, hoặc Kody sẽ rời khỏi, sẽ bỏ chúng tôi để đi nơi nào đó”- Hawkins nhớ lại.
“Tôi đã gọi điện cho mỗi bệnh viện, cho mỗi phòng phẫu thuật, và mỗi lần tôi gọi cho Kody, anh ấy trả lời. Mỗi tin nhắn, anh trả lời. Mỗi khi chúng tôi cần anh ấy để làm điều gì đó, anh ấy đã làm nó ngay.”
Cuộc gọi đến Robertson khoảng 5 giờ sáng, sau khi trở lại Luxor, anh vẫn mặc chiếc quần jeans và áo sơ mi đẫm máu từ buổi ca nhạc.
“Anh đã thử gọi đến bệnh viện Sunrise chưa?”– Hawkins hỏi.
Robertson cởi đôi ủng, mang giày tennis và lên xe buýt. Vài phút sau, anh đến Trung tâm cấp cứu Sunrise, mô tả nhân dạng của Võ cho nhân viên phòng nhận bịnh: “Cao khoảng 1 m 6. Á châu. Tóc đen. Có một hình xăm hoa lớn trên lưng!”
“Có thể cô ấy ở đây”, nhân viên bệnh viện nói với Robertson, rồi hướng dẫn anh đến một căn phòng dành cho các gia đình và bạn bè của những người mất tích đến tìm kiếm.
Các bác sĩ, nhân viên bệnh viện và cảnh sát đi vào và đi ra với những thông tin mới nhất! Mỗi 20 phút một lần, một gia đình nhận được tin tức. Thường là tin xấu.
Từ buổi sáng sớm kéo dài đến trưa, niềm cảm xúc trên khuôn mặt của hơn ba chục người vẫn còn chờ đợi, đã nhường chỗ cho những ánh nhìn đau đớn.
Một số bước đi. Một số khác run rẩy. Vài người lâm râm cầu nguyện.
Tin tức đến vào khoảng 11 giờ sáng. Hai bác sĩ và một nhân viên bệnh viện đã dẫn Robertson tới một căn phòng nhỏ.
“Michelle không qua khỏi,” một trong những bác sĩ nói. “Các vết thương nặng quá. Cô ấy đã không qua khỏi.”
Robertson gọi Hawkins, nói rằng anh nên ngồi xuống, và sau đó bật loa điện thoại lên để viên bác sĩ nói lại lần nữa. “Cô ấy đã không qua khỏi!”
Rồi Kody Robertson từ từ bước ra khỏi cửa trước bệnh viện, mắt đẫm đầy lệ!
Những người đang chờ bên ngoài bệnh viện, các thân nhân của những người bị thương cũng như người dân địa phương ôm chặt lấy anh!
Một ông đến để hỏi xem Robertson có ổn không? Một người khác đứng dậy và cầu nguyện.
Trong một khoảnh khắc, anh cảm thấy được an ủi. Chẳng bao lâu, cảm giác đó tan đi như cơn gió thoảng!
“Như ai đó đánh vào đầu tôi,” Robertson nói. “Tôi thực sự không còn muốn nói chuyện với bất cứ một ai nữa.”
Anh nhìn xuống điện thoại, màn hình vẫn còn vấy máu. Robertson bắt đầu đi bộ như một kẻ không hồn, suốt 4 dặm rưỡi, về lại Luxor.
***
Đúng ra phải bay về lại vào sáng thứ hai, nhưng Robertson vẫn ở lại Las Vegas.
Người quản lý tiệm bán phụ tùng xe hơi ở Ohio, nơi anh làm việc đã cho anh tất cả thời gian mà anh cần.
Hãnh hàng không Southwest Airlines cho phép anh thay đổi lịch bay vào chuyến bay sau đó.
Khách sạn Luxor cho thêm thời gian anh ở lại phòng của mình.
Khách sạn Luxor cũng giữ phòng của Võ để thân nhân trong gia đình có thời gian đến, để lấy đồ đạc của cô.
Gia đình của Michelle Võ đã hạ cánh xuống sân bay vào chiều Thứ Hai, một người chị, anh rể, một vài người bạn, nhanh chóng đến phòng 11375, nơi Robertson đang ở.
Diane Hawkins, 40 tuổi, chị ruột của Võ, tin rằng Robertson đã không bỏ rơi em gái mình, cũng như gia đình vẫn đang cố sức tìm kiếm cô.
“Anh ấy đã không để Michelle Võ chết một mình, chết trong nỗi cô đơn.”
Họ cảm ơn anh vì sự giúp đỡ của anh và lời thề hứa vẫn giữ đến phút cuối của anh.
Họ nhắc về một Michelle Võ tràn đầy sức sống và lạc quan yêu đời!
Khi đến lượt anh, Robertson kể lại một trong những câu chuyện duy nhất của anh từ ngày đầu tiên mà anh nghĩ sẽ bắt đầu một tình bạn lâu dài!
Anh kể Michelle Võ đã lấy điện thoại của mình để cho anh xem những bức ảnh của cả hai người chị của cô, đẹp huy hoàng trong áo cưới.
Đối với Kody Robertson cảm giác lần đầu tiên bây giờ là mãi mãi.
Và rồi cùng nhau, họ mang Michelle Võ về trong tâm khảm.
Đọc bài viết cảm động trên The Washington Post, ai cũng rơi nước mắt!
Trong cái tàn nhẫn, dã tâm của tên thủ ác Richard Paddock; nước Mỹ vẫn còn thấm đẫm một tình người.
Xin chia sớt nỗi đau khôn cùng của gia đình, bạn bè của Michelle Võ.
Với Kody Robertson, chúng tôi xin cúi đầu để cám ơn ông!
Hoàng Hải Thủy sinh 1933 tại Hà Đông và mất ngày 6 tháng 12 năm 2020 tại Hoa Thịnh Đốn.
Bút hiệu: Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn.
Đã xuất bản: Vũ Nữ Sài Gòn, Tây Đực Tây Cái, Chiếc Hôn Tử Biệt (tái bản với tên Đêm Vĩnh Biệt), Nổ Như Tạc Đạn, Yêu Lắm Cắn Đau, Bạn và Vợ, Môi Thắm Nửa Đời, Người Vợ Mất Trí, Định Mệnh Đã An Bài, Kiều Giang (phóng tác từ tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Bronte), Gái Trọ, Đỉnh Gió Hú (phóng tác từ Wuthering Heights), Như Chuyện Thần Tiên (Scoprion Reef), Điệp Viên 007 Thầy Nô (phóng tác từ Dr. No), Máu Đen Vàng Đỏ (phóng tác) v.v.
Hoàng Hải Thủy.
Sài Gòn, Thủ Đô Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, có đặc điểm là “không người Việt nào biết cái tên Sài Gòn từ đâu mà ra, tại sao Sài Gòn lại có tên là Sài Gòn, Sài Gòn nghĩa là gì?” Nhiều người tìm hiểu nguồn gốc cái tên Sài Gòn, nhiều người giải nghĩa cái tên Sài Gòn, nhưng cho đến nay tất cả đều chỉ là giả thuyết — người cho Sài Gòn xuất từ cái tên Sai Pregor: Rừng Gòn của người Miên, người bảo Sài Gòn do tiếng Tây Cống: đất dâng cho Tây, của người Tầu, tiếng Tầu là Đề ngạn — giả thuyết nào cũng khập khiễng, không có giả thuyết nào đáng tin.
Sau khi Thực dân Pháp đến, nước ta mới có Sài Gòn. Người Pháp lập Thành phố Sài Gòn năm 1865. Chỉ mới 150 năm ta có Sài Gòn, lịch sử Việt đã mù mờ về cái tên Sài Gòn, nói chi đến vài trăm năm nữa. Nghìn năm sau sẽ không bao giờ người Việt Nam biết Sài Gòn nghĩa là gì, tại sao lại có tên Sài Gòn.
Đặc điểm thứ hai của Sài Gòn là tên những đường phố Sài Gòn, thoạt đầu, đều do người Pháp đặt. Trước năm 1956, 1 triệu người Sài Gòn thì 1 triệu 574,890 người không biết những cái tên Charner, Bonard, Galliéni, Paul Blanchy, Colonel Boudonnet, Colonel Grimaud, Général Lizé, Kitchener, Jaureguiberry là ai, từng làm gì ở Sài Gòn, sống chết hồi nào. Tất cả những tên đường phố Sài Gòn — từ ngày có Sài Gòn đến Tháng 3, 1955 — đều là những tên người lạ hoắc.
Ngày 22 Tháng Ba, năm 1955 Chính phủ Ngô Đình Diệm — khi ấy ông Ngô Đình Diệm còn là Thủ Tướng — làm cuộc đổi tên những đường phố Sài Gòn. Một Ủy ban lo việc đổi tên đường được thành lập ở Tòa Đô Chính Sài Gòn, thời ông Đô Trưởng Nguyễn Phú Hải. Tôi không biết thành viên ủy ban ấy là những ai, ai là Chủ tịch, tôi thấy ủy ban làm việc thật hay, lấy tên những danh nhân đặt tên cho những đường phố Sài Gòn thật đúng, công bằng, gần như không có thiếu sót, không có khuyết điểm nào đáng kể. Sẽ có nhiều trang SÀI GÒN VANG BÓNG viết về những tên đường Sài Gòn Xưa.
Việc đổi tên đường Sài Gòn là việc làm nói lên chuyện Sài Gòn trở thành thành phố của người dân Việt Nam. Trước năm 1956, Sài Gòn, với những tên đường toàn tên người Pháp, là của người Pháp. Nói cách khác, nhẹ hơn, trước năm 1956 người Pháp làm chủ Sài Gòn, từ năm 1956 Sài Gòn là của người Việt, Sài Gòn là thành phố của người Sài Gòn.
Từ Tháng Ba năm 1955, Sài Gòn có những đường Hai Bà Trưng, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Lai, Lê Thánh Tôn, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Huyền Trân Công Chúa, Nguyễn Du, Tản Đà, Tú Xương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Cao Vân, Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, Cao Thắng, Đinh Công Tráng, Đồ Chiểu, Nguyễn Thái Học, Ký Con, Cô Giang, Cô Bắc, Bùi Thị Xuân, Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, Sương Nguyệt Anh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng, Tiểu La. Nhiều nữa, không thể kể hết trong một trang báo. Từ năm 1956 đến năm 1975, ta hỏi 1 triệu người Sài Gòn thì có 999,999 người biết những danh nhân được đặt tên đường đó là ai, từng làm gì cho đất nước, cho dân tộc; dân Sài Gòn quen biết, yêu kính những danh nhân ấy.
Thế rồi bọn Bắc Cộng vào Sài Gòn. Bắt chước bọn Nga Cộng đổi tên thành phố Saint Peterburg ra Leningrad, bọn Bắc Cộng đổi tên Sài Gòn ra tên Hồ Chí Minh, chúng đưa một lô tên Việt Cộng lên những bảng tên đường Sài Gòn. Tình trạng người Sài Gòn xa lạ với những tên người–tên đường những năm 1930, 1940, 1950 lại xảy ra sau năm 1975.
Sau năm 1975, nếu ta hỏi 1 triệu người dân Sài Gòn:
– Võ thị Sáu, Mạc thị Bưởi, Nguyễn thị Minh Khai, Lê thị Hồng Gấm, Nơ trang Long. Hoàng văn Thụ, Huỳnh văn Bánh, Nguyễn văn Đậu là ai?
Sẽ có 1 triệu 999,999 người Sài Gòn trả lời:
– Những thằng cha cà chớn, những con mẹ cà cháo. Tôi đâu có biết chúng là ai! Tôi chỉ biết chúng là bọn Việt Cộng.
Tôi vừa kể 3 đặc điểm của Sài Gòn:
Không ai biết tên Sài Gòn từ đâu ra, Sài Gòn nghĩa là gì.
Trong 25 năm, hai lần Sài Gòn đổi tên đường: lần 1 năm 1955, lần 2 năm 1975.
Hai lần, thời Pháp bảo hộ, và thời Bắc Cộng đàn áp, bóc lột, người Sài Gòn không biết những nhân vật được đặt tên đường là ai, từng làm gì.
Hôm nay tôi chọn trong thành phố Sài Gòn trước 1975 hai đường:
Đường Lý Trần Quán, Tân Định, tên Pháp trước năm 1956 là đường Barbier.
Đường Lê Quí Đôn, Quận 3, tên Pháp trước năm 1956 là đường Barbé.
Mời quí vị đọc chuyện đời tư của hai nhân vật Lý Trần Quán, Barbé.
Năm xửa, năm xưa…
Chiều nay ở xứ người, nhớ lại, cứ tưởng như chiều hôm qua…
Rời cửa chợ Tân Định, tôi đi trên đường Trần Văn Thạch bên chợ. Bác sĩ Trần Văn Thạch bị Việt Minh, tên trước năm 1960 của bọn Việt Cộng ác ôn, bắn chết ở Sài Gòn năm 1945. Mãi đến năm 2007 ở Hoa Kỳ, nhờ Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu kể trong hồi ký của ông, tôi mới biết tên Việt Cộng Trần văn Giầu là tên giết ông Trần Văn Thạch. Thi sĩ Đinh Hùng ở đường Trần Văn Thạch từ năm 1956 đến sau ngày ông qua đời năm 1968, bà vợ ông dọn nhà sang ở bên Khánh Hội. Trước năm 1955 tên tiếng Pháp của đường Trần Văn Thạch, Tân Định, là đường Vassoigne.
Trên đường Trần Văn Thạch, qua rạp Xi-nê Moderne, tôi đến đường Lý Trần Quán, đường này từ đường Hiền Vương — tên tiếng Pháp là Mayer — đến đường Trần Văn Thạch, tên tiếng Pháp của đường Lý Trần Quán là đường Barbier.
Đây là chuyện về nhân vật Lý Trần Quán được ghi trong tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí:
Năm Bính Ngọ, quân Tây Sơn đánh vào thành Thăng Long. Đoan Nam Vương Trịnh Khải chạy lên Sơn Tây, bị bắt, dùng dao đâm cổ tự tử. Lý Trần Quán có can dự vào việc chúa Trịnh Khải bị bắt. Trước khi kể chuyện Lý Trần Quán-Trịnh Khải, tôi viết về tiếng “Chúa” trong ngôn ngữ Việt ta.
Người Tầu có hai tiếng “đế” và “vương”, ta theo người Tầu, dùng hai tiếng “đế, vương”, nhưng ta chỉ có một tiếng “vua” để gọi cả hai tiếng “đế, vương”; như đời Trần Vua là Hoàng Đế phong cho ông Trần Quốc Tuấn là Hưng Đạo Vương, đời Nguyễn Vua Tự Đức là Đại Nam Hoàng Đế, phong tước Vương cho các ông Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương. Tôi chắc tiếng “Chúa” có trong ngôn ngữ nước ta từ đời Vua Lê, Chúa Trịnh. Vua Lê phong “Vương” cho các ông Tể Tướng họ Trịnh, dân không thể gọi Vua Lê là Vua mà cũng gọi các ông tước Vương họ Trịnh là Vua, nên dân gọi các ông Trịnh Vương là Chúa. “Chúa” là tiếng Việt của tiếng “Chủ”. “Thiên Chủ — Chủ Trời — ta gọi là Thiên Chúa, Chủ nhật: Chúa nhật, Chủ Công — nôm na là Ông Chủ — các ông Việt dịch truyện Tam Quốc Chí gọi là “Chúa Công”. Tiếng Chúa có nhiều quyền uy hơn tiếng Chủ. “Vắng Chúa nhà, gà mọc đuôi tôm” nguyên là “Vắng chủ nhà, gà mọc đuôi tôm”. “Vắng Chúa nhà” nghe hay hơn là “Vắng Chủ nhà”. Như “Ăn cơm Chúa, múa tối ngày, Bà Chúa đứt tay, ăn mày đổ ruột, Chồng Chúa, vợ tôi, Nợ như Chúa Chổm, Trạng chết Chúa cũng ra ma. Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn.”
Cùng trường hợp đó, người Tầu có trâu và bò nhưng chỉ có một tiếng “ngưu” để gọi cả trâu và bò. Vì vậy người Tầu có tiếng thanh ngưu, thủy ngưu: ngưu xanh, ngưu nước để gọi trâu, có hoàng ngưu: ngưu vàng để gọi bò, bò lông mầu vàng.
Đoan Nam Vương Trịnh Khải bỏ kinh đô Thăng Long, chạy lên Sơn Tây, Chúa không còn quân đội, chỉ còn một số người theo hầu. Lý Trần Quán đang giữ một chức quan ở Sơn Tây, ra đón Chúa, rồi sai một học trò của ông là Nguyễn Trang bảo vệ Chúa, đưa Chúa đi trốn. Ông không cho Nguyễn Trang biết người ông sai hắn đưa đi là Đoan Nam Vương. Trang bắt Chúa Trịnh giao cho quân Tây Sơn.
Hoàng Lê Nhất Thống Chí. Truyện Sử. Ngô Gia Văn Phái viết.
Quán từ biệt Chúa, trở về nhà riêng. Còn Trang thì cùng bọn thủ hạ đi bảo vệ Đoan Nam Vương, nhưng Trang lại đưa Chúa về nhà riêng của hắn, tra hỏi Chúa:
– Ông là Đoan Nam Vương thì nói thực đi. Ông giấu tôi, có chuyện gì xảy ra, đừng trách tôi.
Chúa nói:
– Sao anh lại đoán xằng như vậy? Ta là quan Tham Tụng Bùi Huy Bích.
Trang nói:
– Ông đừng nói dối. Cái bộ điệu Chúa tôi nửa kín, nửa hở của các ông tôi thấy rồi. Ông mà không phải là Đoan Nam Vương thì còn là ai nữa. Chuyện đế vương còn mất là chuyện thường, tôi khuyên ông nên chịu hàng đi, cho đỡ khổ thân, trước sau gì ông cũng bị bắt.
Chúa nổi giận:
– Ta là Đại Nguyên Soái Đoan Nam Vương. Ta chết là do mệnh trời. Mày muốn làm gì thì làm.
Trang cho người đi báo với quân Tây Sơn. Tất cả những người đi theo Chúa đều bị bắt giữ.
Quán nghe tin có biến, đến chỗ Chúa bị giam giữ, quỳ lạy, rập đầu xuống đất, nói:
– Làm Chúa đến nỗi này là tội của tôi.
Chúa Trịnh an ủi:
– Khanh nào có tội gì.
Quán lạy rồi lui ra, nói với Trang:
– Chúa là Chúa chung của mọi người. Chúa là Chúa của ta mà cũng là Chúa của anh, ta là thầy học của anh, ta từng dạy anh vua tôi nghĩa lớn, sao anh nỡ phản Chúa?
Trang nói:
– Tại sao ông không cho tôi biết ông ấy là Đoan Nam Vương, nếu ông nói, tôi có thể từ chối việc ông bảo tôi làm. Nếu tôi đưa ông ấy trốn thoát, người Tây Sơn biết chuyện, đời nào họ để cho tôi được sống? Khi ấy ông có thể giảng nghĩa vua tôi để cứu tôi khỏi chết không? Sợ Chúa, sợ Thầy không bằng sợ Giặc, yêu Chúa không bằng yêu thân mình. Ông đừng nói lôi thôi.
Khi Chúa bị Trang giải đi, Quán quỳ bên đường, lạy, khóc, kêu lớn:
– Trời ơi! Tôi giết Chúa tôi!
Chúa đứng lại, nói lời an ủi:
– Lòng trung của khanh “cô” đã biết, khanh đừng tự oán như thế.
Trên đường đi, trời nắng, Chúa Trịnh được cho vào ngồi nghỉ trong một quán nước bên đường. Chúa vớ được con dao của nhà hàng, cầm dao đâm vào cổ. Trang giằng được dao. Vết thương không lớn, Chúa dùng ngón tay móc cho vết thương lớn ra. Một lúc sau, Chúa đòi uống nước lạnh. Trang lấy nước cho Chúa uống. Chúa uống xong là gục xuống chết. Trang khiêng xác Chúa đến nộp cho quân Tây Sơn. Xác Chúa bị phơi ở cửa Tuyên Vũ thành Thăng Long cho mọi người thấy. Ngày Chúa Trịnh Khải chết là ngày 26 Tháng Sáu năm Bính Ngọ, 1786.
Quán đưa tiễn Chúa đến Hạ Lôi, ông ở lại đó mà không về nhà. Ông nói với ông chủ nhà trọ:
– Bề tôi mà làm hại vua, tội đáng chết. Nếu tôi không chết, không lấy gì tỏ được lòng tôi với Trời Đất. Nhờ ông giúp tôi: mua cho tôi một cỗ quan tài, mười vuông vải trắng, để tôi làm theo cái chí của tôi.
Chủ nhà hết sức can ngăn, Quán nói:
– Tôi đã muốn chết thì không thiếu gì cách chết. Ông nên giúp cho tôi được chết đường hoàng, sạch, đẹp. Tôi chịu ơn ông.
Biết không thể ngăn Quán, chủ nhà đành làm theo lời Quán. Quán nhờ người đào cái huyệt, cho quan tài xuống huyệt, xé vải trắng làm khăn và dây lưng. Quán chít khăn trắng, thắt dây lưng, quỳ hướng về phía Nam, lạy hai lạy, rồi xuống huyệt, nằm vào quan tài, bảo chủ nhà đậy nắp lại rồi lấp đất.
Đã nằm trong quan tài, Quán nói lời cuối:
– Tôi có câu này, ông nói giùm với con cháu tôi:
Tam niên chí hiếu dĩ hoàn.
Thập phần chi trung vị tận.
Nhờ ông bảo con cháu tôi viết hai câu ấy mà thờ tôi.
Lại nói:
– Đa tạ ông chủ. Vĩnh biệt ông.
Chủ nhà và 5, 6 người nhà cùng sụp lạy Quán trước huyệt, rồi đậy nắp áo quan, lấp đất. Hôm ấy là ngày 29 Tháng Sáu năm Bính Ngọ, 1786, sau khi Chúa Trịnh Khải chết hai ngày.
Lý Trần Quán người làng Văn Canh, huyện Từ Liêm, đỗ tiến sĩ khóa Bính Tuất, 1766, tính nết giản dị, chất phác, rất hiếu thảo. Trong khi chịu tang mẹ, Quán làm lều ở bên mồ 3 năm liền, không ăn thịt cá, thân xác gầy rạc, chỉ còn da bọc xương.
Ông thường nói:
– Những việc ta làm trong đời ta chỉ có 3 năm chịu tang là gần với đạo làm người.
Tam niên chí hiếu dĩ hoàn.
Thập phần chi trung vị tận.
Đạo hiếu 3 năm đã trọn.
Chữ trung mười phần chưa xong.
Đấy là chuyện ông Lý Trần Quán, người có tên đường ở khu Tân Định, Sài Gòn. Ông chết vì Chúa Trịnh, ông không chết vì nước. Cái chết của ông có màu sắc Quân Tử Tầu. Qua mấy ngàn năm lịch sử phong kiến Tầu, có nhiều ông Quân Tử Tầu chết những cái chết nếu không lảng nhách thì cũng lảng xẹt. Nhưng vì những cái chết lảng ấy tên tuổi các ông được ghi trong lịch sử. Xong không thấy có ông Quân Tử Tầu nào chết cái chết ly kỳ như ông Quân Tử Việt Lý Trần Quán.
Còn sống, tự vào nằm trong quan tài, cho người lấp đất, chịu ngạt thở cho đến chết. Khó lắm. Ai làm được như thế? Chỉ có ông Việt Nam Lý Trần Quán. Trung với Chúa là trung với Vua, đời xưa trung với vua là trung với nước, trung với dân. Người đời sau kính trọng ông Lý Trần Quán vì lòng trung của ông, lấy tên ông đặt tên đường. Giặc Cộng vào Sài Gòn, bỏ tên đường Lý Trần Quán, thay vào đó là cái tên Mụ Việt Cộng Thạch thị Thanh, người Miên.
Với tôi, đường Lý Trần Quán mãi mãi là đường Lý Trần Quán, năm 1954 tôi hai mươi tuổi, tôi và người yêu đến đường Barbier ăn Chả Cá Sơn Hải, ăn phở, ăn miến gà Nhà hàng Ngọc Sơn; năm 1970 tôi bốn mươi tuổi, tôi và vợ tôi đến đường Lý Trần Quán ăn Chả Cá Sơn Hải, — Ông chủ tiệm Sơn Hải tôi quên tên, từng làm Steward Air France, Sơn Hải Chả Cá còn có món Ốc Hấp Lá Gừng đặc biệt Bắc Kỳ tuyệt cú mèo, và món Miến Cua, Cháo Cua; Chả Cá chân chính là phải có Cà Cuống, Bà Chủ Sơn Hải tự tay dùng compte-goutte rỏ từng giọt Cà Cuống vào chén mắm tôm ở bàn ăn trước mặt khách, Cà Cuống Chả Cá Sơn Hải là Cà Cuống Chính Cống, Thiên Nhiên, Thiên Tạo, được tính tiền từng giọt — Ngày nào Sài Gòn trở lại là Sài Gòn, người Việt sẽ gỡ bảng tên đường Thạch thị Thanh quẳng vào hố rác cùng với bảng tên Thành phố Hồ chí Minh, ngày ấy người Việt lại treo lên bảng tên đường Lý Trần Quán.
Mời quý vị đọc tiểu truyện về Đại Úy Pháp Barbé, người có tên đường ở Sài Gòn; năm 1956 đường Barbé trở thành đường Lê Quí Đôn. Đường Lê Quí Đôn từ đường Hồng Thập Tự sang đường Hiền Vương, chạy sau Trường Nữ Học Marie Curie; Vila số 8 đường Lê Quí Đôn năm 1975 là Nhà USIS — United States Information Service — Sở Thông Tin Hoa Kỳ. Lúc 5 giờ chiều ngày 29 Tháng Tư, 1975, người anh em cùng vợ với tôi là Hoàng Hải Thủy cùng vợ con anh ra khỏi Nhà USIS; anh đưa vợ con anh đến đấy chờ người Mỹ đưa đi khỏi Sài Gòn, nhưng, chuyện xưa quá dzồi, đã kể nhiều lần..
Tiểu truyện Đại Uý Barbé là một chuyện tình. Đây có thể là Cuộc Tình Pháp Việt Thứ Nhất trong Lịch Sử Việt Nam. Một chuyện Tình Bi Thảm — viết hoa 3 chữ T, B, T — Chuyện xảy ra năm 1860, quân Pháp mới chiếm Sài Gòn — khi ấy Sài Gòn chưa có tên là Sài Gòn — vùng này hoang vắng, toàn gò rạch và cây cỏ như rừng. Quân Pháp đóng trong mấy cái chùa của ta ở khu trung tâm về sau là những đường Hồng Thập Tự, Tự Do, Nguyễn Huệ, quân ta đóng ở vùng Kỳ Hòa, tức vùng sau này là Nhà Tù Chí Hòa, chợ Hòa Hưng, Trường Đua Phú Thọ. Đại Úy Barbé đóng quân trong chùa Khải Tường, chùa này năm xưa ấy ở khoảng đầu đường Lê Quí Đôn, gần đường Hồng Thập Tự.
Một hôm dẫn lính đi tuần ở ven sông. Đại Úy Barbé thấy một bè chuối trôi sông, trên bè có một người đàn ông Việt, một thiếu phụ Việt, cả hai cùng bị trói. Bè chuối rạt vào bờ sông, Đại Úy Barbé cho lính mang hai người từ bè chuối lên bờ, người đàn ông đã chết, người thiếu phụ hấp hối. Ông cho lính khiêng thiếu phụ về đồn, tức về chùa Khải Tường, nhờ y sĩ Pháp cứu cấp.
Thiếu phụ bị thả bè chuối trôi sông thoát chết. Chuyện truyền khẩu trong dân gian kể Nàng tên là Thị Ba, có nhan sắc, bị ép làm vợ một ông Lãnh binh Việt Nam. Trước khi làm vợ ông Lãnh binh, nàng có người yêu. Có chồng rồi nàng và người tình vẫn lén gặp nhau, họ bị ông Lãnh rình, bắt lúc họ đang tình tự, ông Lãnh trói họ, cho họ lên bè chuối, thả trôi sông cho chết.
Bè chuối trôi sông là một hình phạt ngày xưa: người có tội bị lột quần áo, trói tay chân, nằm trên bè chuối thả trôi trên sông. Bè chuối làm bằng những thân cây chuối. Thường là những cặp nam nữ can tội gian dâm bị trừng phạt bằng cách cho lên bè chuối, thả bè trôi sông, chịu nắng đói, khát mà chết.
Thị Ba được y sĩ Pháp cứu thoát chết, nàng sống trong đồn Khải Tường của quân Pháp. Đại Úy Barbé yêu nàng. Một thời gian sau nàng xin Đại Úy cho nàng về thăm nhà, Đại Úy cho nàng đi. Ông như phát điên khi được tin người ông yêu bị quân Việt Nam bắt. Ông ân hận vì ông đã cho phép nàng ra khỏi đồn. Ông tung người đi tìm xem nàng bị giam ở đâu để đến cứu nàng.
Một chiều gần tối, có người đến đồn báo Thị Ba trốn khỏi nơi giam giữ, đi về đồn Khải Tường nhưng bị quân Việt bắt lại ngay tại một chỗ gần đồn. Được tin, Đại Úy Barbé một mình, một súng, nhảy lên ngựa, phi đến chỗ ông được cho biết là nơi người yêu của ông đang bị giữ. Từ đồn Khải Tường, Đại Úy tới khoảng về sau là Công Trường Dân Chủ, Ngã Sáu Hiền Vương- Yên Đổ — Trần Quốc Toản- Lê Văn Duyệt thì lọt vào ổ phục kích. Quân Việt xông ra dùng giáo, mác đâm ông chết. Sáng hôm sau lính Pháp mới tìm thấy xác ông.
Chuyện dân gian không cho biết về sau số phận người thiếu phụ Việt tên là Thị Ba ra sao, chỉ biết chuyện Đại Úy Barbé bị quân Việt giết chết là chuyện thật. Chính quyền Pháp đặt tên con đường có Chùa Khải Tường-Đồn Lính Pháp là Đường Barbé. Chùa Khải Tường, cùng 2, 3 chùa khác trong vùng, sau đó bị phá.
Năm 1955 đường Barbé đổi thành đường Lê Quí Đôn. Năm 2008, một người Việt Nam tị nạn cộng sản, sống đời biệt xứ ở Hoa Kỳ, viết lại chuyện ông Lý Trần Quán, chuyện tình Pháp Việt Barbé-Thị Ba, trong tập hoài niệm tên là SÀI GÒN VANG BÓNG.
Cho đến bây giờ nhiều khán giả hâm mộ vẫn tin Alain Delon từng đánh trận Điện Biên Phủ. «Binh nghiệp» thật sự của nam tài tử này có hơi khác.
Ngày 23 tháng 1-1953 Alain Delon chính thức gia nhập Hải quân Pháp, theo học khóa huấn luyện thủy thủ tại Centre de Formation de la Marine (CFM) ở Pont-Réan cách Paris 364 km phía nam thành phố Rennes. Khóa huấn luyện này tập huấn chèo thuyền trong kênh đào, điều khiển các sà-lan và xuồng máy, đi biển và tập bắn. Alain Delon được chỉ định làm xạ thủ trung liên (Fusil Mitrailleur).
Sau đó Alain Delon theo học khóa truyền tin của Hải quân ở École des Transmissions des Bormettes, tại La Londe-les-Maures gần Hyères cách Paris 866 km ở cực nam nước Pháp. Rồi sang Đông Dương.
Thời gian giữa hai khóa học có một tuần phép, khóa đào tạo thủy thủ kéo dài 4 tháng và khóa truyền tin 3 tháng vì phải học mã hóa, giải mã các công điện cũng như quy ước truyền tin hàng hải giữa các thương thuyền và các chiến hạm. Sau đó thêm hai tuần từ biệt gia đình trước khi lên đường.
Claudia Cardinale và Alain Delon ở Alger trong phim Les Centurions quay năm 1966
Xuất phát từ cảng Marseille đi xuyên Địa Trung Hải rồi vượt kênh đào Suez xuống Hồng Hải trổ ra Ấn Độ Dương trước khi vòng qua eo biển Malacca để cập bến Vũng Tàu, thông thường các dương vận hạm mất 1 tháng hải hành, ít nhất 25 ngày. Do vậy Alain Delon không thể đến Sàigòn trước cuối năm 1953.
Là tân binh chưa phục vụ trên các thuyền chiến nên Alain Delon tùng sự tại Đại đội Phòng Vệ Quân Xưởng CPAS (Compagnie de Protection de l’Arsenal de Saïgon), với nhiệm vụ canh gác Hải Quân Công Xưởng Bason gần bến Bạch Đằng.
Sau này vào năm 1966 Alain Delon thủ vai chính trong phim Les Centurions (Lost Command) với nam tài tử gạo cội Anthony Quinn và cô đào núi lửa Claudia Cardinale. Ở đầu phim, Alain Delon là một đại úy nhảy dù thuộc Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa bị bắt ở Điện Biên Phủ cùng với Anthony Quinn sắm vai trung tá Marcel Bigeard. Sau đó Alain Delon tiếp tục là viên đại úy có mối tình với Claudia Cardinale ở Alger trong chiến tranh Algérie. Chính phim này gây hiểu lầm là Alain Delon đã đánh trận Điện Biên. Trong thực tế không có đơn vị thủy quân nào của Hải quân Pháp ở Điện Biên Phủ. Alain Delon là thủy thủ (Matelot), không phải thủy binh (Infanterie de Marine), cũng không phải Thủy quân Lục chiến (Fusilliers Marins). Thủy binh Pháp trên các Hải đoàn Xung phong DINASSAUT (Division Navale d’Assaut – về sau VNCH đổi thành Giang Đoàn) không hành quân trên miệt thượng du Bắc-Việt.
Một cảnh trong phim Les Centurions khi Alain Delon bị Việt Minh bắt làm tù binh ở Điện Biên Phủ
Như thế suốt thời gian ở Việt Nam, Alain Delon không tác chiến. Nhiệm vụ chính là gác cổng và đôi khi trực máy ban đêm. Chính những đêm này Alain Delon đánh cắp pin và cơ phận máy truyền tin đem bán ngoài Chợ Cũ. Một hôm cao hứng, Alain Delon lấy trộm xe jeep của sĩ quan để dạo phố nhưng không may bị quân cảnh rượt và đâm xuống mương làm gãy trục bánh trước. Alain Delon cầm lái, nhận hết tội thay cho các đồng đội trên xe nên bị xem chủ mưu. Bị giam rồi giải giao về quân cảng Toulon năm 1955. Chính tại đây Phòng 1 Quân số quyết định tước bằng truyền tin và trục xuất Alain Delon ra khỏi binh chủng.
Ngày 1 tháng 5-1956 là ngày Alain Delon rời quân ngũ chứ không phải ngày rời Việt Nam. Sinh nhật thứ 20 của Alain Delon là ở Toulon không ở Sàigòn. Nhìn chung Alain Delon đi lính hơn 3 năm và ở Sàigòn hơn 1 năm. Tuy vào quân lao vài tháng dưới hình thức kỷ luật nội bộ nhưng không phải ra tòa án binh và không có án tù.
Sau đó Alain Delon lang thang ở Marseille, thuê phòng trọ trong cùng hành lang với hoa hậu Ai Cập là Dalida khi đó chưa là ca sĩ nổi tiếng.Một năm sau, phim Quand La Femme S’en Mêle (Send a Woman When The Devil Fails) trình chiếu với Alain Delon trên màn bạc.
Những ngày này, năm Bảy Lăm, tháng Ba; “Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh”.
Đơn vị tôi là một tiểu đoàn Địa Phương Quân (TĐ 497/ ĐP Tiểu Khu Châu Đốc), vẫn trấn đóng trên ngọn 554 thuộc núi Dài, Thất Sơn, Châu Đốc. Bộ Chỉ Huy đặt tại Ba Xoài.
Tháng Ba, nắng và gió đẹp lạ lùng. Tôi vẫn thỉnh thoảng cùng vài người lính kéo nhau xuống chợ Ba Xoài uống café. Ở đây chỉ là một sóc Miên nghèo nàn khô khan, nên quán café duy nhất trong xóm chân núi này cũng chỉ bán cho lính trong Tiểu Đoàn, hay nói đúng hơn, chỉ bán cho đám lính trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn và Đại đội Chỉ Huy. 3 đại đội khác không ở gần chợ Ba Xoài.
Ly café đắng nghét, những chiếc cốc cáu bẩn, bụi bặm. Con đường trước quán là một con đường đất duy nhất nối liền những sóc Miên sống ven chân núi Dài, chạy qua xã Ba Chúc, thuộc quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc. Ba Chúc, nơi bây giờ vẫn lưu giữ hàng trăm sọ người khi giặc đỏ Pol Pot tràn qua tàn sát dân làng. Con đường bụi mù như bất cứ con đường đất nào trên quê hương nghèo khổ và chiến tranh mỗi khi một chiếc xe chạy qua hay một cơn gió tốc đến.
Ngồi đây có lẽ không phải để thưởng thức café mà chỉ là ru cơn thèm khát về những chiếc quán xinh xắn nơi thị xã với dàn máy Akai hiện đại thời bấy giờ, với những tình khúc TCS, “Tình ngỡ đã quên đi nhưng tình bỗng lại về, người ngỡ đã đi xa nhưng người vẫn quanh đây. Ôi áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều như từng cơn gió lộng…….” hay “Mưa vẫn hay mưa trên từng tháp cổ, buổi chiều ngồi ngóng những chuyến xe qua …”
Vâng tôi ở đây mà hồn ở đâu đâu. Ngồi quán chân núi nhớ quán thị thành. Như ngồi quán bây giờ nhớ quán năm xưa. Hồn không cùng với xác, mà hồn bay bổng, tìm về nơi đâu?
Tháng này, mùa mưa đã đi qua. Không còn cái thú nghe mưa trên đá núi cây xanh. Những ngày qua, mưa không xuống núi được, đành ngồi trong lều uống café nghe mưa lốp đốp trên mái poncho. Những lúc đó, mưa, nghe như từ vạn thuở, và gió, như từ vạn kiếp thổi giá buốt lòng những chàng trai phải rời xa phố thị, đi đến mọi miền đất nước, sống kham khổ chỉ vì sự an ninh của lãnh thổ, vì chiến đấu cho một nền hoà bình của phân nửa nước Việt Nam. Một thời, không đi đến tận cùng vinh quang, nhưng là một thời đầy ý nghĩa.
Tháng Ba, thật ra là tháng bắt đầu cho những biến chuyển lịch sử, để rồi từ đó kéo theo vận mệnh vô cùng khốn khổ của cả một miền Nam. Tháng Ba, mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh, đâu ai ngờ chỉ hơn một tháng sau, cả một quân đội sụp đổ.
Những người lính, những người trai gần như quên mình, cận kề cái chết, nhưng hồn vẫn phiêu bồng, hồn nhiên chiến đấu mà dấu thù hận chưa hề làm thành nếp gấp trong tâm hồn họ như những chiến binh Bắc Việt được trang bị bằng máu lửa hận thù người anh em của họ trong Nam.
Tháng Ba, những người bạn tôi ở mọi nơi trên thế giới, có lẽ đang bắt đầu những hoài niệm về một giai đoạn biến chuyển, để rồi sau đó, tháng Tư, đẩy chúng ta tan tác như một bầy chim trong cơn giông bão.
Chúng ta vẫn còn được sống sót trong khi đó bao người đã bỏ mình dọc những con đường di tản mà lớp lớp thân xác đã rã mục dưới nắng mưa. Những đứa trẻ lạc mất cha mẹ. Những người vợ mất chồng mất con dưới họng súng AK vô tình và lạnh lùng đáng sợ. Những tinh hoa đất nước chôn đời mình trong các trại tập trung cải tạo, kinh tế mới, dưới lòng biển sâu… Chúng ta vẫn còn bao may mắn.
Mời những bạn tôi, một ly café, uống cho những hoài niệm, cả vui lẫn buồn.
Tháng Ba, có đôi ngày vẫn se sắt lạnh, nhưng Tháng Ba là đã chớm vào Xuân. Cây Đào sau vườn đã đơm hoa tươi thắm. Những cánh hoa thật mong manh, dịu dàng. Tháng Ba, mất Huế, Đà Nẵng. Nhớ lại hồi ký Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân Huy mà lòng quặn thắt. Tôi đã đọc trên báo địa phương đăng lại tập hồi ký đầy máu và nước mắt này của Cao Xuân Huy. Đọc một lần và không bao giờ dám nhìn đến lần nữa, bởi những bi thảm không thể tưởng tượng. Bàng hoàng, tê tái cõi lòng! Không ngờ cuộc di tản của Quân và dân miền Trung trong Tháng Ba Bảy Lăm đầy bi kịch như vậy. Thương cho thân phận con người, đau quay quắt cho một quân đội đã một thời anh dũng. Kinh tởm chiến tranh! Kinh tởm những kẻ đã gây ra cuộc chiến vô cùng không cần thiết dưới chiêu bài hoàn toàn ngụy lý. Từ đó, cứ mỗi Tháng Tư, báo chí hay đăng lại những bài viết, tường thuật về cuộc chiến đang hồi kết thúc năm 75, tôi không còn dám đọc nữa.
… Tháng Ba, mọi sinh hoạt vẫn bình thường ở Miền Tây. Những tà áo trắng vẫn tung bay trong nắng xuân, trong sân trường Nữ Trung Học Châu Đốc. Ghe thuyền vẫn tấp nập trên bến sông trước Bưu điện thị xã. Chợ vẫn đông đảo, sầm uất, người người vẫn bình thản làm ăn buôn bán.
Và tôi, vẫn an nhiên tự tại cùng đơn vị trấn đóng trên ngọn 554. Vẫn mỗi sáng cùng vài ba người lính thân cận bày café nước trà trên những mặt đá còn lạnh hơi đêm. Lính tráng chẳng ai thèm theo dõi thời sự. Huế mất, Đà Nẵng mất mà tôi và những người lính chẳng ai buồn biết tới. Chỉ biết rằng nếu vị trí phòng thủ của mình bị tấn công, thì chống trả để tồn tại. Suy nghĩ đơn giản của một người lính là như vậy.
Tháng Ba, những cụm mây trắng lờ lững trên bầu trời trong xanh. Buổi sáng chim vẫn hót líu lo trên cành cây cao. Những cô con gái Miên ở sóc Ba Xoài vẫn thỉnh thoảng lên núi lấy củi. Họ đi thành toán 5, 7 người nói cười vui vẻ, cũng e thẹn mắc cỡ khi bị các anh lính trêu ghẹo. Họ cũng như những người lính trấn thủ chúng tôi, không ai quan tâm tới Miền Trung đang hấp hối, và hàng trăm ngàn người di tản vào Sàigòn. Sàigòn thì xa quá với Thất Sơn. Xa quá với vùng biên giới có những cánh đồng ngút mắt, với rừng tràm bạt ngàn. Người dân nghèo ở đây, có khi còn chưa bao giờ đặt chân tới Ninh Kiều Cần Thơ, nói chi Sàigòn, nói chi Huế, Đà Nẵng.
Chiến tranh có từ khi mình chưa chào đời, và mình cũng là người nhập cuộc cuộc chơi máu lửa đó, thì chuyện bom đạn có chi là lạ thường. Người lính quả thật cũng xem thường những chuyện mặt trận này đánh, mặt trận kia tan.
Nhưng người lính thật chẳng ngờ chuyện thường tình của chiến tranh đó đã có ngày kết thúc sau đó một tháng. Một kết thúc đầy bi phẫn.
Tháng Ba, những ngày nắng đẹp, cây lá xanh tươi. Những người lính thay phiên nhau xin dù vài ngày về thăm vợ con. Quê nhà của họ cũng chẳng đâu xa, ở ngay trong tỉnh. Họ xuống núi rồi từ chân núi, băng qua cánh đồng nhỏ có những mô đất, có những bụi rậm xen lẫn với những cây thốt nốt vươn cao. Men theo bờ ruộng, ra tới đường lộ đất, sẽ có xe Honda ôm chạy về tới nhà. Nếu xa hơn, họ có thể đón xe đò Chi Lăng -Châu Đốc để về thị xã, rồi họ qua phà Châu Giang về Tân Châu, Hoà Hảo …. Tôi yêu họ, những người thanh niên nông dân hiền hòa. Họ, có người đã có vợ con, cũng mơ một mái ấm gia đình hạnh phúc, nhưng vì chiến tranh, họ phải gia nhập quân đội. Tuy nhiên họ cố chọn một con đường dễ đi nhất, là đi lính cho địa phương của họ, để tháng tháng họ xin dù về nhà, có khi chỉ 24 giờ để hú hí với vợ trẻ, để nựng nịu con thơ. Tôi thường qua mặt cấp trên, giấu diếm cho họ chuồn về nhà. Đôi khi tôi cũng bị cấp trên quở la vì chuyện này. Nhưng tôi thật sự không buồn phiền.
Đôi khi, được thông báo, tình hình nghiêm trọng, hay có thanh tra, phải từ chối sự xin xỏ của họ, tôi thật cũng không vui. Tôi chỉ là sĩ quan chỉ huy nhỏ nhất, và gần gũi nhất của họ, người chỉ có thẩm quyền cho họ đi phép miệng, nghĩa là không có giấy phép cho họ cầm tay. Nhưng họ cũng chỉ mong có vậy thôi, xin và được trung đội trưởng cho phép kèm theo câu thòng, nhớ trở về đúng hẹn, là họ vui lắm rồi. Còn tôi, không có nhu cầu như họ, tôi thèm về thành phố thị xã chỉ là để đi uống café, nghe nhạc. Thành phố Châu Đốc, thuộc loại đi dăm phút đã về chốn cũ, chỉ có dăm quán café nhạc đáng để ngồi. Tôi và bạn bè cũng là lính, thường đến quán Thanh Hà, bên hông chợ Châu Đốc, ngồi hàng giờ, nghe hết băng nhạc nầy đến băng nhạc khác.Tôi cũng không có thói quen gợi chuyện với cô hàng café xinh xắn kia mà chỉ thích ngồi quay lưng lại quầy nhìn ra đường. Con đường với những chiếc xe lôi đạp, xe lôi gắn máy và người qua lại lúc nào cũng đông đúc. Tôi luôn có cảm giác bình yên, thanh bình. Chiến tranh dường như chưa bao giờ làm thị dân xôn xao. Những tin tức di tản Vùng 2, Đà Nẵng, Huế cũng không làm ai bận tâm. Tôi nhìn về hướng núi Dài Thất Sơn, nơi trung đội của tôi với những người lính thân yêu đang chờ tôi về, thật mịt mờ xa xăm. Những người lính của tôi, không có tôi, dưới quyền của ông trung sĩ trung đội phó, họ vẫn biết phải canh gác như thế nào, tối đến họ biết phải mang mìn Claymore gài chung quanh vị trí phòng thủ ra sao, và sáng ra đi thu gỡ lại như thế nào.
Tháng Ba, về thị xã, tôi lang thang một mình, nhưng không tìm đến T.N. cô nữ sinh vẫn viết thư cho tôi đều đều, vẫn màu mực tím trên giấy học trò, vẫn gọi tôi bằng ông và xưng nhỏ, vẫn ngày hai buổi cắp sách đến Nữ Trung Học Châu Đốc, vẫn tâm sự rằng thỉnh thoảng cô bị thầy ném phấn vì lơ đãng trong khi nghe giảng. Tôi vẫn nhận thư và viết thư cho cô. Đôi khi cô gửi kèm theo thư những con tem vì sợ trên núi tôi không có tem để gửi thư cho cô. Tháng Ba, về thị xã, vào hậu cứ Tiểu Đoàn, tình cờ thấy thư của cô. Thư chưa kịp chuyển vào tiền cứ. Trong thư, kèm theo một cặp hoa mai thêu trên vải, đó là cặp lon thiếu úy cô tặng tôi để may lên cổ áo trận, khi tôi được thăng cấp thiếu úy đương nhiên thực thụ vào Tháng Giêng và quyết định từ Tổng Tham Mưu về từ tháng Hai. Tháng Ba, gần một năm thư từ với nhau, nhưng tôi vẫn chưa bao giờ gặp mặt người nữ sinh đã viết thư mực tím cho tôi. Cô nói trong thư đầu tiên là cô tình cờ thấy tôi đâu đó trên phố, rồi nhìn phù hiệu mà biết được Đơn vị tôi và dĩ nhiên biết được KBC không khó. Trong một lá thư, cô cho biết cô 16 tuổi, học lớp 9 Nữ Trung Học Châu Đốc, ngôi trường rất gần nơi tôi đi, về trong cái thị xã bé nhỏ này.
Tôi vẫn gọi cô là nhỏ, xưng tôi. Nếu tôi muốn biết cô là ai, chỉ việc theo địa chỉ trong thư, cũng rất gần nhà một người bạn tôi, nhưng tôi muốn để dịp đó hoàn toàn cho một tình cờ đưa đẩy. Tôi vẫn đi về cái thành phố thị xã nhỏ bé hiền hoà đáng yêu đó không như một khách lạ, cũng không như một khách quen từ gần 2 năm rồi. Vẫn nhìn chiếc bắc qua lại sông Hậu Giang đưa người qua Tân Châu, Hồng Ngự. Vẫn nhìn cảnh rộn rịp ghe thuyền trên bến sông với tình cảm đậm đà dành cho cư dân miền sông nước. Nhưng tôi không tìm đến em.
“Thành phố đó tôi đi về bao bận
Nhìn Hậu Giang ngày nước lớn nước ròng
Nhưng chinh chiến mấy ai tròn ước hẹn
Em bao giờ mới hiểu được tình sông?”
Có bao giờ em hiểu được, như con sông đi mãi không về, thì tình trong thời chinh chiến, tự ngàn xưa đã cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.
(Bắt đầu viết vào ngày 10/7/2002, trời đang vào mưa ở Nam Vang. Lại một mùa mưa, tôi đếm thử đã tới 10 mùa mưa đến trên xứ chùa tháp bình dị, nghèo nàn tựa như quê hương không xa của tôi!)
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.