Nhớ Nhớ Quên Quên

tramhuongthuquan.com

Huy Phương

Post on 20/10/2017

Post by Sơn râu 28 Oct 2024

Cái quên làm cho tôi khó chịu và xấu hổ nhất là quên tên bạn bè đang đứng trước mặt mình. Rõ ràng chúng tôi biết nhau quá nhiều, có khi đã sống với nhau qua một thời gian mài đũng quần trên ghế nhà trường, trong đơn vị quân đội hay lăn lóc với nhau trong trại tù. Giá như mà sơ giao thì còn có thể giả lả: “Xin lỗi ông, lâu ngày quá tôi quên mất tên ông,” đằng này quá thân tình, thú thật không biết phải xử trí làm sao, không lẽ cứ “mày mày tao tao” hay “anh anh tôi tôi” mà không gọi được cái tên cho thân mật.

Ðược nhớ lại cái tên mà reo lên một tiếng mừng rỡ, thân tình thì đẹp đẽ, vui sướng biết bao nhiêu. Nói chuyện này ra, cũng có nhiều bạn bè đồng cảnh ngộ đem lòng thương hại, thông cảm với với mình và nếu có người giúp mình trong tình huống khó khăn này, thì chỉ có bà vợ. Nếu có vợ đi bên cạnh thì đành quay sang hỏi nhỏ tên người này. Có khi đang ở ngoài phố, phải điện thoại về nhà hỏi có còn nhớ tên cái ông này, bà nọ, hồi đó, ở đâu tên gì không?

Rõ ràng là đến tuổi này, trí nhớ coi bộ bắt đầu trục trặc, khó có thể phục hồi như người ta có thể phục hồi bu-gi xe gắn máy. Chuyện nhỏ như cái chìa khóa xe, vào nhà không nhớ vứt ở đâu, cái bill điện đến ngày quá hạn trả, lúc lấy ở thùng thư vào thuận tay không biết bỏ nơi nào, mặc dầu ngay cửa ra vào đã có tấm gỗ gắn mấy chùm chìa khóa, hay cái ngăn đựng bill. Chuyện lớn như ngày sinh nhật mẹ vợ, ngày giỗ ông già, hứa cuối tuần này đưa vợ đi công việc. Chuyện lớn hay nhỏ đều phải nhờ cậy đến bộ nhớ của “một nửa kia” của mình là bà vợ nhà, người thân tín đang ở bên cạnh. Các bạn cũng biết đàn bà có khả năng nhớ rất lâu, mà nhớ rất dai, họ có thể dễ dàng giúp bạn trong những trường hợp như thế, nhưng phải khéo léo mà sử dụng đừng bấm nhầm nút mà toi mạng.

Bây giờ đôi khi lái xe ra khỏi nhà, lên freeway rồi mới chợt hỏi, mình đi đâu đây? Ðịnh thần một hồi mới nhớ ra công việc phải làm, nơi mình phải tới. Có khi quên cái cell phone ở nhà, cũng có lúc quên cả ví đựng bằng lái xe, giấy tờ. Buồn lắm, nếu một ngày kia ở chỗ làm việc ra, hay đi đâu đó mà không còn nhớ cả con đường về nhà, thì giờ này làm sao nhớ nỗi “con đường xưa em đi.” Thì ra, lú lẫn, quên trước quên sau cũng là một cái bệnh. Có những cụ già không còn nhận ra con cháu, không nhận ra đêm ngày, không nhận ra mình đã dùng bữa chưa. Ôi tuổi già u ơ như một đứa trẻ nít. Ngay cả người đầu gối tay ấp của mình gần hết cuộc đời cũng không còn nhớ mà lẩn thẩn hỏi:“Ai đây!” Người bị bệnh lú lẫn Alzheimer’s thường quên những điều trong hiện tại mà còn nhớ lại những điều rất xa trong quá khứ, rồi dần dần, trí óc như có một đám mây mù che kín. Tưởng như những khuôn mặt thân yêu, những khổ đau, hạnh phúc ở đời “fade out” như một đoạn phim rồi tan biến hẳn.

Hạnh phúc thay có những điều chúng ta đã quên được như nhiều điều bất hạnh trong quá khứ, nhưng cũng khổ đau cho chúng ta, nếu giờ đây không còn nhớ những gì chúng ta đã từng muốn nhớ mãi. Bi quan thì người ta cho rằng được quên tất cả là một điều hạnh phúc, nhưng nếu chúng ta còn thấy cuộc đời đẹp mà không còn nhớ gì thì cũng tội nghiệp. Hình như những người bị bệnh lãng quên, không cảm thấy buồn mà cũng không thấy vui, cũng không để lộ cảm xúc trên nét mặt, như những triết gia, những nhà tu đã đạt tới ý nghĩa của cuộc đời này, vốn tất cả đều là huyễn ảo, không có thực.

Có nhiều điều chúng ta tưởng mình đã quên, nhưng không? Nó được dìm sâu vào trong tiềm thức, nếu tiềm thức có đáy sâu thì nó ở dưới đó, rồi một ngày kia, trong giấc mơ nó hiện ra. Ðó là những ngày xưa thơ ấu, con đường làng, khuôn mặt của những người thân yêu trong ngày tháng cũ mà trong những lúc bình thường, có muốn nhớ lại cũng không làm sao nhớ nỗi. Có những chuyện muốn quên đi mà không làm sao quên được. Ba mươi lăm năm rồi, nhiều đêm tôi vẫn còn thấy ác mộng, những ngày trong trại tù tuyệt vọng không có ngày về.

Có những biến cố xảy ra trong cuộc đời mà người ta khó có thể quên. Bạn nghĩ gì khi có những cuộc vượt biên hãi hùng đầy máu và nước mắt, mà sự kêu gào khóc than không với được đến Trời, những nỗi đau khổ nghẹn ngào như xuống đến tận cùng Ðịa Ngục. Và cuối cùng, chúng ta đã sống sót để có được ngày hôm nay. Bạn nghĩ gì với những ngày đói khát giữa biển cả mênh mông, trong tình trạng tuyệt vọng phải ăn thịt đồng loại để sống còn, những đêm cầu nguyện để có được một những giọt nước mưa từ trời cao để có thể thấm vào đôi môi khô héo vì nắng cháy giữa biển Ðông. Và cuối cùng chúng ta đã sống sót đến đây, ăn uống dư thừa, đôi khi phải sợ cả thực phẩm, phải kiêng khem. Bạn còn nhớ những ngày chúng ta bỏ nước ra đi trong đêm cuối cùng của cuộc chiến, ở ngoài trận tuyến súng vẫn còn nổ, và người anh em chúng ta đang còn ngã xuống, chưa bao giờ tháo chạy hay biết đầu hàng. Bạn có bao giờ nhớ lại ngày đứng trước hàng quân, nhận lấy tấm huy chương và vòng hoa chiến thắng giữa tiếng kèn khai quân hiệu, trong nhà Vĩnh Biệt, anh em chúng ta, thi thể không còn nguyên vẹn, chưa được chôn cất. Niên trưởng là người tướng lãnh cầm quân, có còn nhớ gì không? Mỗi lần thêm một ngôi sao trên cổ áo thì trong nghĩa trang dài thêm những hàng bia mộ, và những vòng khăn tang đã được quấn lên đầu bao nhiêu mẹ góa, con mồ côi.

Có những điều mới được nói ra hôm qua đây, nay đã trở thành xa lạ, chẳng những như người ta chưa hề nói, mà còn hành động trái ngược hoàn toàn lại những điều đã nói.

Có thể trong cuộc đời có nhiều điều phải quên để mà sống, nhưng cũng có nhiều điều quên có thể trở thành những điều ô nhục không bao giờ rửa sạch, nhiều điều quên của người sống có thể cho linh hồn bao nhiêu người chết oan khuất không được siêu thoát.
“Anh nói với em như rìu chém xuống đá
Như rạ chém xuống đất
Như mật rót vào tai
Bây chừ anh đã nghe ai
Xiêu lòng lạc dạ, chẳng đoái hoài đến em.”
Ðây không phải là quên, mà là phản bội.

Xin tạ lỗi cùng người yêu dấu, bằng hữu xa gần, trong cuộc đời này có nhiều điều muốn quên đi để sống mà quên không được, cũng có nhiều điều rất muốn nhớ mà nhớ mãi không ra.

Lạy Ngài

Hồi chúng tôi còn nhỏ bé tí vẫn nghe người lớn tuổi chung quanh dùng tiếng “Ngài” để gọi Vua Bảo Đại trong những câu như “Ngài ngự ra Bắc”, hay để gọi Thần cây đa cây đề như mỗi lần mẹ tôi xuýt xoa khấn vái một điều gì “trăm lạy Ngài linh thiêng phù hộ…”. Đó là cái thời vừa phong kiến vừa mê tín dị đoan đã qua, bẳng đi đã lâu khoảng chừng ba mươi năm, tôi lại nghe chính miệng người Cộng Sản nói hay dùng trong các văn bản tiếng “Ngài” một cách khá khúm na, khúm núm với các chức vụ như Tổng Thống, hay Đại Sứ nước ngoài. Thật tình đây là bản dịch tiếng Việt nên các Ngài này cũng không được đọc và hiểu chúng gọi mình bằng danh xưng nào, nhưng chủ ý điều này chỉ để cho người dân biết là mình đã trang trọng thế nào đối với những nhân vật ngoại giao quốc tế.

Tiếng Ngài được dùng khi gọi một nhân vật tôn giáo để tỏ lòng tôn kính nghe không chướng tai, nhưng khi dùng cho một nhân vật chính trị nghe có vẻ vướng vất một chút hèn hạ như người đi xin ân huệ. Trước đây trong một chương trình phỏng vấn truyền hình, một ký giả đã có sáng kiến dùng một danh từ đã lâu không ai dùng, để gọi ông Nguyễn Cao Kỳ bằng “Ngài” nghe đã lạ tai, nay lại được biết ông Nguyễn Cao Kỳ lại dùng tiếng “Ngài” để tâng bốc cái ông đối thủ ngày trước, nhỏ tuổi hơn ông là Nguyễn Minh Triết bằng tiếng “Ngài” như lời ông phát biểu trong một bản tin của báo Vieweekly: “Tôi không ngần ngại gọi những nhà lãnh đạo hiện hữu là ngài, vì đó là thủ tục tối thiểu, tôi cũng là một người lãnh đạo quốc gia”.

Thật là mỉa mai và xấu hổ hết chỗ nói! Có ai bắt ông Kỳ phải khúm núm gọi ông Triết bằng Ngài đâu, mà chỉ cần gọi “Ông Chủ Tịch” đúng với chức vụ, cũng như trước đây người ta chỉ cần gọi ông là “Ông Phó Tổng Thống” là đủ. Nếu hồi đó có thằng nào nịnh bợ xin xỏ ông một ân huệ nào mà gãi đầu gãi tai trước mặt ông, gọi là “Ngài Phó Tổng Thống” thì ông đã điên tiết lên mà bợp tai đá đít nó, vì tôi biết tính ông cũng nóng nảy mà ngang ngược lắm, có đời nào đứng yên để nghe lời nịnh bợ trơ trẽn như thế.

Chuyện này làm tôi chợt nhớ đến một chuyện ngụ ngôn La Fontaine, “Thần Chết và Lão Tiều Phu”(La Mort et Le Bucheron). Ông tiều phu khổ quá than thở muốn chết đi cho xong, bèn gọi tên Thần Chết, nhưng khi Thần Chết hiện ra thì ông lại sợ quýnh lên, líu lưỡi gọi Thần Chết là Ngài:“- Nhờ tay Ngài nhắc đỡ (bó củi) lên vai…” (bản dịch rất Việt Nam của học giả Nguyễn Văn Vĩnh). Thường thường khi gọi ai bằng Ngài là lòng ta đã run sợ lắm, kiểu như ông tiều phu ở trên và bà mẹ tôi mỗi lúc con cái trở trời ấm đầu thì ra cái miếu sau nhà hay dưới gốc cây đa mà kêu Ngài lia lịa vì sợ Ngài quở hay Ngài phạt.

Khi một người đứng trước một người, mà giở cái giọng thưa bẩm, gọi người đối diện bằng Ngài thì ta cũng thấy con người đó nhỏ nhoi tội nghiệp chừng nào, chưa nói đến cái tư cách run sợ, khép mình để cầu xin ân huệ của người ấy.

Một chuyện khác là, tôi cũng không hiểu vì sao trong văn thư của Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ở Nha Trang gởi cho Chủ Tịch Nguyễn Minh Triết, đề ngày 7 tháng 7-2007, mà chúng ta đọc được ở hải ngoại, lại viết là: “Cụ Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, rồi lại “Kính thưa Cụ Chủ Tịch”, cuối cùng là “Kính chúc Cụ sức khoẻ”. Chữ Cụ trong văn thư này có cần thiết không? Cụ Triết còn trẻ lắm, chắc chắn là dưới thất thập, cụ Triết lại chưa có râu, gọi cụ ấy bằng cụ chắc cụ ấy buồn hơn là vui.

Theo ngôn ngữ Việt Nam, chữ “Cụ” không dùng cho chức tước mà chỉ dùng để tỏ lòng kính trọng đối với một người già như Cụ Phan Bội Châu, Cụ Nguyễn Hải Thần, Cụ Phan Chu Trinh, hay chưa già như Cụ Ngô đối với dân miền Nam (cụ Ngô về nước chấp chánh mới có 47 tuổi) cụ Hồ đối với dân miền Bắc (được làm là chủ tịch cũng ở tuổi xem-xem), vì người ta không thể gọi là Cụ Tổng Thống hay Cụ Chủ Tịch.

Thời Pháp thuộc, phong kiến, ở thôn quê, vì nỗi sợ hãi đối với những người cầm quyền có thế lực, người dân đen đã dùng tiếng Cụ để gọi các ông Lý Trưởng, Phó Lý như trong chuyện “Tắt Đèn” có nhân vật chị Dậu.

Thị Mịch trong Giông Tố thì van lạy Nghị Hách bằng danh từ “Quan”: “Xin Quan tha cho con!”. Thời Pháp hễ ai có chút Tây học hay tham gia chính quyền đều được gọi bằng Quan như Quan Chánh, Quan Quản kể cả vào nhà thương thì lạy Quan Đốc Tờ, vào trường xin cho con đi học thì lạy Quan Đốc Học. Vì vậy Quan cứ hếch mặt lên, coi đám dân đen như cỏ rác.

Nhiều khi chúng ta chê ngôn ngữ Tây Phương nói về danh xưng, vai vế ai cũng cá mè một lứa “ toi, moi” hay “you, me”, nhưng nói về chữ nghĩa Việt Nam, thì những Cụ, những Ngài, những Quan nghe nhiều khi phát mệt và thường tỏ ra cái tinh thần tôn kính quá đáng, mang đầy mặc cảm tự ti.

Từ khi miền Nam được nếm mùi Cộng Sản, thì danh xưng lại được “cách mạng hoá” triệt để. Cấp trên, cấp dưới gọi nhau như bà con trong nhà, như hồi mới ở trong bưng, mới nghe qua tưởng như bình dân, thân mật lắm. Nhân viên thì gọi Giám Đốc, Trưởng Phòng bằng Bác Năm, Chú Ba… nhưng chú Ba thì cấu mông cháu thư ký, bác Năm thì nhìn nữ nhân viên như Chó sói nhìn “cô bé… quàng khăn đỏ”. Bác Hồ thì “mục hạ vô nhân”, tất cả các ông già bà cả cho tới đàn bà con nít đều một tiếng “Bác Hồ”, hai tiếng “Bác Hồ”, mà chẳng nghe ai than phiền, khiếu nại.

Chúng ta gọi ai bằng Ông, Bà cũng đủ tỏ lòng kính trọng. Người viết sử cũng có thể viết ông Hồ Chí Minh hay ông Ngô Đình Diệm mà không sợ ai nói vô lễ hay xấc xược. Có chăng là ở thái độ tự ty của người gọi và sự tôn xưng quá đáng cho người được gọi. Không biết những nhà “cách mạng vô sản” như Nguyễn Minh Triết nghĩ sao khi được người khác gọi là “Ngài” hay “Cụ”, còn liêm sĩ thì biết ngượng ngùng, không thì mang thêm mặc cảm tự cao tự đại.

Tìm Bạn Tri Âm

Ngày 21 tháng 6 vừa qua, truyền thông Mỹ vừa loan tin cô nữ sinh Katherine Lester, 16 tuổi, “tìm bạn tri âm” qua website đã phải lòng anh chàng người Palestine Abdulad Jinzawi, 20 tuổi. Cô định lên máy bay sang Jesuralem, nhưng đã bị nhà chức trách Hoa Kỳ giữ lại vì lý do an ninh. Nguồn tin cho biết có 87 triệu người vào trang Myspace.com để tìm bạn, trong đó có tới 20 triệu là tuổi choai choai như cô nữ sinh người Mỹ kể trên.
Tại Úc đã có 4,5 triệu người độc thân đã tìm đến việc hẹn hò qua internet. Match.com và RSVP, mỗi website có hơn hai triệu thành viên, và những thành viên này, ngày nay đã có đôi thành vợ thành chồng. Giám đốc điều hành những website này đã cho biết số người tìm bạn tăng rất nhanh trong vòng ba năm trở lại đây. Tuổi kết hôn của một người bình thường là từ 27 đến 29 tuổi, nhưng trong tuổi này, người ta lại quá bận rộn với những công việc sinh kế hằng ngày, ngoài thương trường hay trong công sở, nên ít có cơ hội giao tiếp với người khác phái để tìm hiểu và dẫn nhau tới hôn nhân. Vì vậy internet là cơ hội dễ dàng để những người này vào, trao đổi, tìm hiểu và cuối cùng đồng ý một chỗ hẹn hò. Trong nhiều năm qua, nhiều tội ác đã xẩy ra vì trao đổi trên internet, nhưng đó chỉ là con số nhỏ, nhu cầu trao đổi tìm bạn, tìm người để đi đến hôn nhân trên internet vẫn cần thiết.
Phụ nữ thường ở thế thụ động, nhưng internet chính là nơi để cho quý bà quýù cô chủ động khi đưa hồ sơ mình lên net và sẵn sàng liên lạc với đối tượng nào mà họ thấy thích.
Ngày xưa, cách đây nửa thế kỷ, lúc chưa có internet, và ngay cả bây giờ tại trong và ngoài nước, đối với một số đông còn ít xử dụng tới internet, thì những dòng chữ trên báo vẫn còn quý giá để người ta có cơ hội trao đổi, tìm hiểu và chọn một người tri kỷ hay là một người tình. Kết quả đi đến hôn nhân, đương nhiên cũng có thể có, nhưng với bản tính người Á Ðông, không ai muốn tiết lộ rằng mình lấy chồng hay lấy vợ là do mục “tìm bạn tri âm” trên báo chí.
Tôi nghĩ tờ Thẩm Mỹ là tờ báo đầu tiên ở Saigon, cũng có thể là ở Việt Nam mở ra mục Tìm Bạn Tri Âm, để làm nhịp cầu cho người ta tìm đến nhau bằng thư từ gởi theo lối cổ điển là qua bưu điện. Cho đến nửa thế kỷ sau, ở quê nhà hay ở hải ngoại, tìm bạn vẫn là một nhu cầu cần thiết cho những tâm hồn cô đơn, mặc dầu tiết mục đã đổi qua nhiều tên khác nhau: “Tìm Bạn Tri Kỷ”, “Tìm Nhau Qua Lá Thư Hồng”, “Kết Bạn Thư Tín”…
Ngày trước, không biết có bao nhiêu người trưởng thành phải cần đến mục Tìm Bạn Tri Âm để kiếm cho được một người tri kỷ trong cái quãng đời trống vắng của họ, nhưng cái bọn học sinh trung học chúng tôi thời ấy thằng nào cũng sung sướng có được một vài lá thư xanh xanh từ Saigon, Nha Trang hay từ Vạn Tượng, Nam Vang hồi âm. Vài tuần trước đó, bọn chúng tôi đã cố nắn nót viết một bức thư trên giấy pelure xanh để gởi tới địa chỉ một cô nàng nào đó trên báo Thẩm Mỹ, rồi ngày ngày ngóng chờ người phát thư đi qua nhà gọi tên. Lẽ cố nhiên không bao giờ dám để cho ông bố nghiêm khắc của mình biết chuyện, vì không lo học mà “tìm bạn tri âm”, cũng như không dám khoe với bạn bè. Về phía con gái thì những cô thiếu nữ con nhà giàu, đẹp đẽ, nết na, đã không thiếu những anh chàng đeo đuổi, có khi chưa học xong trung học, đã có người đưa xe hoa tới rước, cần gì phải mất công đi tìm người trong mộng qua tờ báo. Về phía con trai, thì những anh chàng có “3 chữ gi..” thời ấy là những chàng “học… giỏi, nhà… giàu, đẹp…giai” thì đâu cần đi tìm những người chưa biết mặt biết tên, như những chàng trai mơ mộng khác:“Chưa biết tên nàng, biết tuổi nàng,
mà sầu trong dạ đã mang mang”…(Huy Cận)
Ðất nước chúng ta, qua chiến tranh, ly biệt, đổi đời, con người gặp phải những hoàn cảnh đổ vỡ, ngang trái, nhiều người phải chịu cảnh cô đơn, nên trên mặt báo những mục tìm bạn tri âm, tri kỷ lúc nào cũng đông khách. Cũng có những trường hợp nam tìm nam, nữ tìm nữ, những thiếu phụ một lần đổ vỡ, những gái lỡ thời “chưa một lần kết hôn”, muốn tìm bạn trai “để sống nốt cuộc đời còn lại bên nhau”.
Năm 1975, sau khi bỏ nước ra đi, thi sĩ Cao Tần đã chán nản, đau xót kêu lên: “ta làm gì cho hết nửa đời sau?”. Thì đây là câu giải đáp trong mục “Tìm Bạn…”của một nam nhân 52 tuổi “thích dạo biển, dạo sông lúc hoàng hôn”: “ta dìu nhau đi cho hết 1/3 cuộc đời còn lại”, hay là của một single mom 50 tuổi :“nửa cuộc đời còn lại trao hết cho anh!”(nửa cuộc đời còn lại này chúng ta phải hiểu tính từ 50 đến chẵn 100 tuổi, vậy ai là người có lòng, xin đừng ngần ngại nữa!)
Không chỉ những thanh niên, thiếu nữ trung niên, dang dở cuộc đời, chính tuổi già đơn lẻ cũng cần tìm nơi nương tựa cuối đời. Không thiếu những ông cụ lục tuần, hay sắp sửa bước tới tuổi “cổ lai hy”, cũng có những lời nhắn tha thiết “tìm một bạn gái khoảng 50 tuổi nhưng vẫn còn say yêu.”!
Trên những dòng rao người ta tìm thấy một nền văn chương rất là mùi mẫn, ai oán làm xúc động lòng người, như bài thơ sau đây, vần điệu rất vững vàng:- “Sáu mươi xuân lẻ, vẫn đơn côi
Khuya sớm cày thuê trả nợ đời.
Ðất khách tào khang đà gẫy đổ
Quê nhà đơn độc, lệ đầy vơi.
Trần gian, nhi nữ ai tri kỷ
Chắp nối tơ duyên, trọn kiếp người”.
Khó mà tìm được trên các tờ báo tây hay trên internet, một dòng tìm bạn sang cả, đầy tính văn học như vậy, vì mỗi người Việt Nam là một thi sĩ. Ðiều đó thật không ngoa.
Bây giờ không phải chỉ ở hải ngoại tìm nhau, mà thấy nhiều cô gái ở Việt Nam, dư bằng cấp nhưng nuôi giấc mơ “đi lấy chồng xa”, mơ đi Mỹ, hèn chi con gái danh giá của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lấy Việt kiều Mỹ cũng phải. Qua lời rao chúng ta thấy: Ðại Học Ngoại Thương, Cử nhân Ðại Học Tổng Hợp, Cao Ðẳng Nha Khoa, Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Học, đang học Tiến sĩ, giáo sư Ðại Học Saigon- đăng báo ở đây để tìm chồng như lời rao sau đây:-“Tốt nghiệp đại học Anh Văn, ngoan hiền, mơ Mỹ Quốc. Thư đầu nhờ người bác ở Quận Cam chuyển”, -“Cao Ðẳng Nha Khoa Saigon, hiền ngoan, muốn làm quen với các anh có quốc tịch Mỹ, thật lòng muốn về Việt Nam cưới vợ”.
Các cô gái tại quốc nội tìm chồng, không phải trường hợp từng người, mà có những lời rao từng “chùm”, như “chùm thơ”, “chùm tư tưởng” theo ngôn ngữ trong nước: “Sáu cô gái, người miền trung, đang đi học tại Nha Trang, Saigon. Cha mẹ đang ở tỉnh X. Muốn tìm bạn trai, bên này, hợp ý, sẽ tiến tới hôn nhân…”
Ðang đi học xa nhà, mà đã muốn tìm chồng, đề nghị cha mẹ gọi về … đét đít.
Cũng có người ở hải ngoại đăng báo tìm chồng cho “một chùm” con cháu như sau: “Mình mới về Việt Nam thăm nhà, có ba đứa cháu tuổi từ 18 đến 22, hiền ngoan, thùy mị, đang học đại học muốn tìm bạn trai ở Mỹ, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, tuổi tác, miễn là có quốc tịch.”
Năm 1975, nhà nước Cộng Sản đã để cho chảy máu chất xám. Trí thức khoa bảng ùn ùn xuống tàu vượt biển vì không ưa chế độ Cộng Sản, bây giờ vì mơ Mỹ, nhiều cô tốt ghiệp đại học tại Việt Nam lại muốn bỏ nước ra đi theo con đường …tìm chồng. Không khéo lại xẩy ra một cuộc thất thoát chất xám thứ hai.
Ởû Mỹ này người ta bắt đầu sợ mập, nên trong lời rao cô nào cũng cẩn thận ghi hai tiếng “không mập”, còn đàn ông thì lại sợ bị chê lùn, nên anh nào cũng không quên nhắc hai tiếng “cao ráo”. Một anh chàng lại ghi trong lời rao: “Nam, mong tìm được một nàng không ngoài 54, dáng gầy gầy…”.
Những lời rao trên các trang tìm bạn, hay cả trên internet chưa chắc đã là những lời nói thật, có lẽ mọi người đều giảm cái xấu của mình đi một tí và tăng cái tốt của mình thêm lên. Chuyện xưa kể rằng, có một cô gái chẳng may bị vá môi, khi chụp ảnh gởi cho bạn, cô ngậm một đoá hoa hồng, trông “romantic” hết ý! Phía chàng trai, trời bắt có cái lưng gù, chàng gởi cho nàng một bức ảnh đang ngồi trên lưng ngựa đang phi, trông hùng dũng biết bao! Thế mà trên một mục rao tìm bạn, một cô nàng đã dám ghi rõ “dữ và xấu, nên bị chồng bỏ, muốn tìm người thích bị ăn hiếp…”
Có lẽ vì vậy, mà nhiều lời nhắn nhe đã vừa cảnh cáo, vừa năn nỉ : “xin đừng đùa giỡn mà tội nghiệp!”
Khi người đời còn có nhu cầu, thì những mục tìm bạn trên báo chí hay qua mạng vẫn còn cần thiết. Nhiều người lúc nhỏ đi học, ra trường đi làm, chạy theo nghề nghiệp hay có người còn phải lo bổn phận cho gia đình, như nhân vật “Người Anh Cả” trong tác phẩm của Lê Văn Trương, chưa bao giờ nghĩ tới hạnh phúc của cá nhân mình. Lúc nhìn lại, thì ngày tháng quá quạnh hiu mà tình cảnh quá cô độc. Mỗi người mỗi cảnh, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay!” Phải chăng hình phạt dành cho một người tù là sự cô độc, vậy xin những ai đang còn cô đơn khuya sớm một mình, nếu không chịu nỗi sự trống vắng, quạnh hiu xin đừng ngần ngại, vì “lời nhắn không quá 45 chữ, thư làm quen xin dán sẵn tem, kèm theo chi phiếu $5.00, xin gởi về…”
Xin các bạn yên tâm: “sẽ hồi âm, dù thư đến trễ…”

Tiếng Chim Buổi Sớm

Ngày bị đày ra tận Hoàng Liên Sơn, “lán” tù tôi ở bên một dòng suối nhỏ, đầu “lán” có một cây rừng, đến mùa hè hoa nở đỏ. Buổi sáng, tôi thường thức giấc sớm, nghe có con chim lạ đến hót những tiếng líu lo ở trên cành. Tôi nằm yên, quên hết phiền muộn, tận hưởng những âm thanh tuyệt diệu, âm thanh đầu tiên của một ngày. Để sau đó, không bao lâu, là tiếng kẻng tù gắt gỏng nổi lên giữa buổi sớm mai, bắt đầu một ngày lưu đày khốn khổ.

Ai cũng cho rằng khi nằm trên giường thì bắp thịt ta được nghỉ ngơi, nhịp tim đều đặn, hơi thở nhẹ nhàng, giác quan tinh tế hơn, và ta có thể tập trung tinh thần vào những cảm giác hay những ý tưởng của mình một cách tuyệt đối. Ông Lý Lạp Minh, một nhà văn Trung Quốc khuyên ta buổi sáng nên nằm giường mà nghe chim hót, là điều thú vị nhất. Tôi cũng đã hưởng được những giây ấy, mặc dù là ngắn ngủi. Ở thành phố hay thôn quê, đâu cũng có chim, chẳng qua là vì cuộc sống tất bật, chúng ta không để ý đó thôi.
Tôi còn nhớ Saigon, buổi sớm mai, những quãng đường như Hồng Thập Tự với những hàng cây cao đầy bóng mát, luôn luôn ríu rít tiếng chim kêu. Ngày ấy đời còn vui, chim còn đậu đất lành, tiếng động cơ của xe cộ hay tiếng xích lô máy nổ dòn dã cũng không đuổi hết đàn chim phải bay rời xa tổ. Ngày đất nước rã rời, phải lên tàu Sông Hương ra Bắc, những hôm phải vác một con dao lên những đồi tre, qua những cánh rừng, chặt chục cây mương hay kiếm mớ củi, cô đơn lầm lũi giữa làn cây, nghe tiếng chim kêu mới thấy nỗi sầu trong dạ.
Có những tiếng chim chiêm chiếp như tiếng gà con, bồi hồi nhớ đến đàn con còn bé dại ở quê nhà. Có tiếng chim cu gáy xa xa, đáp lại ở đâu đó tiếng đồng loại hoà điệu, nghĩ lại tấm thân cô đơn với nỗi buồn nơi xứ lạ. Rồi tiếng chim rừng khắc khoải “bắt cô trói cột” vẫn thường nghe mỗi trưa nơi rừng Việt Bắc, tiếng kêu kéo dài cho đến lúc nắng quái buổi chiều. Tiếng kêu đanh lại, nghe như gằn từng tiếng, theo đầu óc tưởng tượng của mỗi người với những hoàn cảnh riêng, như lời kêu thống thiết, oán thán, trách móc não nuột. Tiếng chim “bắt cô trói cột” nghe thành “hết cơm tới bột” còn chút khôi hài, đói rã họng “đói cơm đứt ruột” còn nghe lời động viên “khó khăn khắc phục” lập đi lập lại nghe tới nhàm chán. Nghĩ theo lời chim, mường tượng như nỗi than khóc “nhớ con đứt ruột”.
Rồi con chim “cuốc” lầm lũi đâu đó trong khóm lúa, bụi cây, vào cuối xuân hay đầu mùa hè, không hề biết hót mà kêu lên những tiếng khắc khoải, từng tiếng từng tiếng một, nghe ra não nùng, hờn oán của người “mất nước” phải khoanh tay, để “nhớ nước đau lòng con quốc quốc” (Bà Huyện Thanh Quan). Con chim này được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa, là hoá thân của Vua Thục Đế, mất nước khóc đến chảy máu mắt, chết đi hoá thành con chim, cất lên những tiếng kêu não nùng. Tiếng chim “cuốc” nghe xót xa phù hợp tâm trạng người “mất nước” phải xuống tàu đày đi biệt xứ. Nhớ lại câu thơ của Chu Mạnh Trinh:
“Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu
Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.”
Cung miếu triều xưa nay vắng ngắt,
Trăng mờ khắc khoải “cuốc” kêu thâu.
(Tiên Đàm dịch)
Hay của tướng trung liệt Phan Thanh Giản:
“Ải Bắc ngày chờ tin nhạn vắng,
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu!”
Còn loài “chim quyên” khác ta thường thấy là một loài chim nhỏ, có bộ lông óng ánh, nâu pha đốt đỏ, có tiếng hót rất hay, thường vào ban trưa ở trong bụi hay đầu hồi nhà. Nhưng không hiểu tại sao người ta lại đánh giá cao để ví chim quyên cao như người quân tử, quân tử sao mà sa cơ, như “chim quyên xuống đất ăn trùn, anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than”.
Gà là loại cầm, nó không biết hót, nhưng con gà trống có tiếng gáy vào buổi ban trưa làm cho người ta nhớ đến bao nhiêu điều: “hiu hắt gà trưa gáy não nùng”. (Lưu Trong Lư)
Nhà văn Lâm Ngữ Đường thích nghe tiếng kêu của một loại “gà nô” (tiếng Tàu còn gọi là “giá cô”). Nói là giống gà nhưng nó hót như chim. Tiếng hót có bốn âm do, re, mi … âm mi kéo dài hai ba nốt, ngưng hẳn một tí, rồi tiếp theo bằng một nốt thấp hơn. Giống chim này có nhiều ở phía Nam Trung Quốc, hót trễ vì đây là một giống chim dạn dĩ, không sợ giàng thun bọn trẻ, trái lại hầu hết loại chim khác đều hót sớm vì sợ loài người ác độc. Có khi chúng bặt tiếng luôn vì lưới bẫy giăng khắp nơi, ví lưới chim đem ra chợ bán là một nghề mới kiếm cơm.
Tiếng hót của giống gà nô này có ba âm và âm cuối kéo dài, có người nghe là “chè, xôi, chuối … thịt”, âm thịt kéo dài ra, thấp xuống rồi ngưng bặt (theo Nguyễn Hiến Lê). Nghe giống như ý nghĩ mấy ông xôi thịt làng xã ngày trước và ngay cả hôm nay. Giống chim này ở Việt Nam cũng có, thời Tây thuộc tôi có nghe người ta nhại tiếng chim là “père, mère, frère … tout est perdu” (cha mẹ anh em mất cả rồi). Nghe ra ngậm ngùi làm sao, như sau một trận hồng thủy, chiến tranh… như một câu oán than: “cha mẹ già đã khuất núi, quê hương đã thất lạc, mộng ước đã tàn phai …” (Bùi Bích Hà).
Tôi có người bạn già vẫn bị người ta chê là đã vì tự do mà bỏ xứ, sao bây giờ lại giam cầm bao nhiêu loại chim trong khu vườn nhỏ, gây nên cảnh “chim lồng cá chậu”, khuya sớm lo quạt nồng, ấp lạnh, vất vả tấm thân già. Nhưng bù lại, bạn tôi hưởng được cái thú ở đời là mỗi buổi mai thức giấc nằm nướng trên giường nghe tiếng chim khướu hót ngoài hiên. Những buổi sáng đầu mùa hè, tiếng chim sơn ca (chiền chiện) trong ánh sáng mờ mờ của buổi rạng đông đã bắt đầu cất tiếng hót. Những lúc sung sức, ăn uống đầy đủ giọng sơn ca “luyến láy” tuyệt vời, nói theo danh từ làng ca kỹ. Ban trưa, khi trời nắng ấm là lúc những con chim khoen (gọi là vành khuyên vì trên mắt chim có hai vòng khoen trắng) rộn ràng tiếng hót. Buổi tối nếu trong nhà còn đèn sáng, sơn ca vẫn còn cất tiếng, khi có tiếng nhạc ồn ào, thì giống chim khuyên cũng líu lo tưng bừng. Ban trưa nắng, trời ấm nghe tiếng chim cu gù. Những đêm trăng, chúng ta còn nghe tiếng chim “mocking bird” kêu, một loại chim có rất nhiều trên đất Mỹ. Dù là giống chim trời của bốn phương, nhưng giống chim cùng loại đậu ở đâu cũng hót tiếng như nhau, nên người chơi chim còn nghe được chút âm thanh quê hương đâu đó. Hoạ Mi, khướu và những giống chim Á Đông đã theo những người nuôi chim bằng nhiều con đường khác nhau, sang đến miền đất này, để khuya sớm chuyện trò với gia chủ bên tách trà buổi sớm.
Trời đất yêu loài chim nên tạo ra rừng cây, loài người yêu chim thì phát minh ra cái lồng. Ông Trịnh Bản Kiều bên Tàu, ngày xưa khuyên em ông đừng bao giờ nhốt chim trong lồng, vì chúng ta nên dung hoà với thiên nhiên và vui với vạn vật. Ông cho rằng không phải vì không yêu chim mà ông khuyên em đừng nhốt chim trong lồng, nhưng vì có cái đạo yêu chim và nuôi chim. Muốn nuôi chim thì trồng vài trăm cây chung quanh vườn nhà để chim tìm tới làm tổ. Buổi sáng tỉnh giấc, còn trăn trở trên giường mà nghe tiếng chim hót thì còn gì thần tiên bằng. Lúc đã xuống giường, mặc áo, đánh răng súc miệng, uống trà, còn thấy chim vỗ cánh rực rỡ, bay qua bay lại thì cái vui nhìn chim trong lồng đâu có so sánh được.
Ở trên đời này ai cũng ghét giọng con chim cú, nhất là chim cú kêu nửa đêm, để người ta miệt thị là “cú giòm nhà” hay “cú kêu nhà bệnh”. Cũng là loài chim, nhưng chúng lại không có tiếng hót của trời cho, mà chỉ có tiếng kêu như giống ngan ngỗng tầm thường. Một loài chim khác chỉ biết kêu hay nói, là giống vẹt. Chúng mang màu sắc sặc sỡ như xiêm áo của bà đồng cốt, tiếng kêu chát chúa chói tai mà nhiều người vẫn thích do cái tài bắt chước ngọng nghịu tiếng nói của loài người, đó là “nói như vẹt”. Đến thăm nhà nuôi vẹt, nghe tiếng vẹt nói ngộ nghĩnh, chúng ta thường cất tiếng cười hỉ hả, nhưng giống vẹt lại cho đó là tiếng tán thưởng vì giọng nói ngô nghê, sao chép vô nghĩa của nó. Ta có bao nhiêu giọng nói quen thuộc, chúng ta chưa đến nỗi thiếu giọng người, thế mà cũng có người thích giọng vẹt-người.
Những ngày mới đến Mỹ, tôi có nhận thấy ở Mỹ có nhiều bầy quạ đen. Chúng kêu loét choét sau vườn, nhiều khi sà cả bầy xuống sân cỏ. Tôi cho đây là loại chim vô tích sự. Người đời quý màu sắc, mà loài quạ chỉ mỗi màu đen. Người ta thích tiếng hót mà loài quạ chỉ biết kêu. Ai cũng thích sự hiếm quý, mà loài quạ bay đến từng đàn, đuổi đi không hết. Vậy mà nhà thơ Trương Kế của Trung Hoa ngày xưa, nửa đêm nghe tiếng quạ kêu cũng sinh tình làm bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” bất hủ. (Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên…)
Trong khi trái đất này còn quá nhiều loại quạ, vẹt, cú, kên kên… mà chúng ta còn nghe được có tiếng chim hót, hạnh phúc biết bao! Nếu bạn ở trong một vùng vắng tiếng xe, một buổi sớm mai nào đó, thức giấc, nằm yên trên giường, xin im lặng, thử tìm nghe có tiếng con chim nào đến hót trên cành cây ở đầu nhà không?

Huy Phương

Nhìn lại một chặng đường H.O. – Những khoảng sương mù

baotreonline.com

Huy Phương

Post on May 29th, 2020

Post by Sơn râu 28 Oct 2024

Hồi mà những đợt đồng bào tỵ nạn mới sang đây, không làm sao tránh khỏi những khó khăn gặp phải thuở ban đầu, có người đưa ra hình ảnh một chuyến xe đò ngày xưa mà chúng ta thường gặp ở quê nhà. Đó là những chuyến xe không đủ chỗ ngồi cho tất cả mọi người, có người phải đứng, có người phải đu sau bậc cửa lên xuống, lớp trong lớp ngoài.

Hồi mới sang Mỹ có lúc tôi làm nghề tống thơ văn, là người đưa thư, giao hồ sơ, giấy tờ từ chỗ này sang chỗ khác, Mỹ gọi nghề này là “courier”, một trong những nghề hạng bét, lương thấp (cỡ $5.25 thời điểm 1992+ thêm mấy xu cho một mile), vất vả vì mỗi ngày phải chạy trung bình 150 miles. Job này chỉ có part time, vì không ai có thể chịu nổi lái xe liên tục mỗi ngày tám tiếng, không có xe nào chịu đựng nổi thời gian và đoạn đường dài như thế. Chỉ có dân cùng đường mới nhận công việc này. Tôi là thứ “courier” ngân hàng, nghĩa là phải chạy sớm giao giấy tờ từ ngân hàng này sang ngân hàng kia, để nhân viên có thể sắp xếp, sẵn sàng mở cửa lúc 9 hay 10 giờ sáng.

Nhà ở Westminster, tôi phải dậy lúc 4 giờ sáng, lên nhận bao bì để bắt đầu “round” của tôi xuất phát từ hãng chính đặt trụ sở tại đường Mac Arthur, Irvine, lúc 5:00 giờ sáng. Trong vòng bốn tiếng rưỡi đồng hồ, tôi phải  sử dụng hầu hết xa lộ trong Quận Cam và Los Angeles, ghé tám thành phố Orange, Montebello, Commerce, Whittier, Los Angeles, La Habra, Yorba Linda và Garden Grove, về lại Irvine lúc 9:30 sáng. Về mùa Ðông, lúc năm giờ sáng thời tiết rất lạnh và ngoài trời hãy còn tối lắm. Khổ nhất là những khoảng đường sương mù trong buổi sớm mà tôi thường gặp nhất là trên đoạn đường 405 South gần phi trường John Wayne, nó chỉ kéo dài khoảng ba miles nhưng phải đi mất gần nửa giờ đồng hồ. Sương mù lúc ấy dầy đặc đến nỗi chúng ta không thấy gì trong khoảng mười thước trước mặt. Nếu đứng lại là chấp nhận xe đằng sau sẽ húc vào mình, mà lái đi thì không khác gì bịt mắt quờ quạng trong bóng tối. Trường hợp ấy, gần như phải lái chậm, mắt mở to căng thẳng nhìn kỹ xuống mặt đường kẻo xe lấn qua lane khác hay thúc vào đít xe trước. Trên xa lộ cũng không thể nào tấp vào lề để chờ sương tan hay lái vào exit để mong một chỗ sáng sủa hơn, sương mù y như rừng rậm không có lối ra hay biển mênh mông không thấy bến bờ.

Ôi! Cuộc đời của tôi hay của những người bạn thiếu may mắn đã có bao nhiêu lần phải gặp những khoảng sương mù như thế? Hồi mới làm người tị nạn sang Mỹ, hết trợ cấp, việc làm khó kiếm, nhất là đối với những tên già không già mà trẻ không trẻ, thầy lỡ thầy mà thợ lỡ thợ như tôi, lấy đâu ra một công việc vài ba đồng mà lo nhà, lo xe, lo cơm, lo áo. Nếu nằm nhà thì chẳng khác gì cái xe đứng lại trên xa lộ trong trời sương mù, đành phải chạy chầm chậm và mong mỏi cái thời sương mù ấy sớm chấm dứt. Trong cái khoảng sương mù ấy, tôi đã phải bỏ Cali ra đi về miền Ðông giá lạnh để tìm một việc làm đắp đổi, chờ lúc trời quang, mây tạnh mới trở về đây. Trừ những người tốt số, đời của mỗi người có lẽ đều có một khoảng sương mù như thế. Thời gian tù tội, thất nghiệp, phá sản, ly dị, trầm uất… Những người lính giữ nước cũng không mong cuộc đời sáng sủa, trôi chảy, cái khoảng sương mù là quãng đời trong trại tập trung sau khi tan hàng, buông súng. Ðôi khi, lòng chúng ta nhen nhúm lên một ngọn lửa hy vọng rằng “có lẽ ta đâu mãi thế này”, để rồi cuối cùng cũng ra khỏi cái khoảng sương mù đó để bước tới một vùng quang đãng nắng ấm.

Trong những khoảng sương mù, ráng giữ cho lòng kiên nhẫn, bình tĩnh, tự tin và giữ con đường đi thẳng. Trong tình thế này, chúng ta không bao giờ có thể quay trở lại con đường cũ hay vùng bỏ chạy ra khỏi con đường chúng ta đang phải đi. Muốn ra khỏi những khoảng sương mù, chúng ta chỉ còn một lối đi tới và phải luôn luôn giữ con đường thẳng, dù có hết sức nóng lòng, chúng ta cũng không thể đi hay chạy nhanh lên. Hồi mà những đợt đồng bào tỵ nạn mới sang đây, không làm sao tránh khỏi những khó khăn gặp phải thuở ban đầu, có người đưa ra hình ảnh một chuyến xe đò ngày xưa mà chúng ta thường gặp ở quê nhà. Ðó là những chuyến xe không đủ chỗ ngồi cho tất cả mọi người, có người phải đứng, có người phải đu sau bậc cửa lên xuống, lớp trong lớp ngoài. Nhưng chuyến xe chạy qua một vài đoạn đường dài, có kẻ lên người xuống, chúng ta thoạt đầu phải đu ngoài cửa xe, nhưng cuối cùng ai cũng có được một chỗ ngồi trong xe, và chúng ta cũng có một chỗ ngồi như thế.

Hồi mới sang đây, chúng ta đầy lòng lo sợ, không biết rồi mai đây, xứ lạ quê người, sống làm sao đây. Cha mẹ thì không còn trẻ, con cái chưa lớn lên, tất cả đều tạm bợ, chưa có gì ổn định cho cuộc sống. Bây giờ sau bao nhiêu năm, như qua cái khoảng sương mù ấy, như qua cái đoạn đường mà chúng ta phải đeo bên cửa chiếc xe đò ấy, chúng ta thấy gì? Có người trở thành giàu có, thành công trên đất Mỹ vì chúng ta cũng biết rằng đây là “đất cơ hội”, có gia đình con cái chiếm những học vị cao, hãnh diện đi vào dòng chính của nước Mỹ.

Nếu chúng ta đã không giàu có, con cái chúng ta cũng chỉ đỗ đạt làng nhàng, có công việc làm vừa phải, thì chúng ta giờ đây cũng chẳng có gì phải lo lắng gì cho cuộc sống hôm nay. Ðó là cuộc sống ổn định trên xứ người. Ðó là chúng ta đã đi qua những khoảng sương mù ấy, như ngày trước trong câu chuyện tôi kể hầu các bạn ở trên, tôi đã dọ dẫm, lần mò đi trong đám sương mù dày đặc ấy để tôi cũng như các bạn, chúng ta đã có thể tiếp tục chạy trên xa lộ sáng hôm nay với một tốc độ khá cao, mà không còn phải lo sợ, buồn phiền gì nữa.

HP

Orange County, CA.

Nhìn lại chặng đường của một gia đình H.O.

baotreonline.com

Huy Phương

Post 1st May2019

Post by Sơn râu 28 Oct 2024

“Before:” Gia đình H.O. Phan Cảnh Hiến tại phi trường John Wayne, California, năm 1991 với ông Nguyễn Hậu.

Phan Cảnh Hiến, tốt nghiệp khóa 8/72 tại trường Ðồng Ðế Nha Trang năm 1972, được chọn sang Không Quân theo học khóa 24 SQ Bảo Trì và phục vụ tại Liên Ðoàn 42 Bảo Trì Tiếp Vận tại Cần Thơ. Giờ tan hàng, Thiếu Úy Hiến mới 23 tuổi, độc thân, nôn nóng trở lại Huế, nơi gia đình với cha mẹ già mất tin tức từ tháng 3, 1975 khi miền Trung thất thủ. Về đến nhà vào buổi tối thì sáng hôm sau du kích đã ập vào nhà còng tay ông thiếu úy nhốt vào lao xá và mười ngày sau chuyển đến trại “cải tạo” Ái Tử, vì vào thời gian này, sau khi chiếm Huế, cộng sản đã cầm tù tất cả quân cán chính địa phương.

Chỉ với cấp bậc thiếu úy một ngành chuyên môn, Phan Cảnh Hiến đã phải bị tù tập trung 5 năm từ trại Ái Tử, Thừa Thiên, ra Thanh Hóa làm thủy lợi rồi trở về trại tù sắt máu Bình Ðiền.

Ra tù, năm đầu, Phan Cảnh Hiến phải làm nghề “mây, tre, chủi (chổi), đót,” một nghề tay chân mà toàn dân Huế ai cũng phải làm để có mỗi ngày vài lon gạo. Năm sau, Hiến chuyển sang nghề đi buôn trầm, trên danh nghĩa là đi thu mua trầm cho thương nghiệp nhà nước, nhưng lại buôn lậu trầm ra Bắc hay vào Saigon để có lợi tức riêng. Bây giờ, Thừa Thiên đang ở trong vòng cùm “Bình-Trị-Thiên” theo chế độ kinh tế miền Bắc nên cuộc sống khó khăn và con người bị kìm kẹp rất khó thở. Thời gian này, có một thiếu nữ trên đường Ðông Ba đem lòng yêu anh và hai người kết hôn để chín năm sau, đến lúc lên đường đi Mỹ theo diện H.O. hai người đã có được ba con, một gái hai trai. Năm 1982 lúc lấy vợ, Phan Cảnh Hiến chỉ mong mỏi có một mái ấm gia đình, no đói có nhau. Lúc này, ở cửa biển Thuận An, người ta vượt biển ra đi đã nhiều nhưng đối với một người mới ra khỏi nhà tù, nghèo khổ, con còn nhỏ dại, anh chưa hề mơ ước có một ngày nào mình được đặt chân đến Mỹ.

Chương trình nhân đạo của chính phủ Mỹ mở ra từ năm 1990 giúp cho những người tù “cải tạo” trên ba năm được định cư tại Mỹ, mà chúng ta thường gọi là chương trình H.O. đã giúp cho hàng nghìn gia đình tù nhân chính trị VNCH thoát ra cảnh nghèo khổ, bị kỳ thị, vô vọng. Ngày 21 tháng 8 năm 1991, Phan Cảnh Hiến còn nhớ đến ngày ấy như mới hôm qua, sau khi làm thủ tục nhập cảnh tại phi trường Sea-Tac, Seattle, gia đình anh, hai vợ chồng và ba con nhỏ, đổi sang một máy bay nhỏ về phi trường Santa Ana, gần nơi cư ngụ của một người quen.

Tại phi trường, gia đình anh Hiến được một “ông già” tươi cười gọi đúng tên anh, đón tiếp ở chỗ nhận hành lý. Ông già tự giới thiệu là Nguyễn Hậu, “Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị” có nhiệm vụ ra đón gia đình anh về nơi tạm trú. Ðồ đạc, hành lý của gia đình được đưa lên một xe van có khắc hàng chữ tên hội do một người tài xế thiện nguyện, cũng là một H.O. đi trước đảm trách. Những lo lắng từ hôm ở Bangkok lên máy bay hầu như tan biến khi gia đình Phan Cảnh Hiến được đưa về một ngôi nhà 4 phòng do hội thuê, trong đó 3 phòng đã có những gia đình H.O. đến trước. Tuy gia đình 5 người được sắp xếp vào một căn phòng nhỏ, nhưng bếp đã có gạo, nước mắm, mì gói, phòng vệ sinh đã có giấy lau, giường đã có nệm gối, cả cái thùng rác hội cũng không quên sắp sẵn. Ðây là những ngày gia đình người mới đến được ở miễn phí.

Tuy còn lạ giờ giấc thay đổi, nhưng những ngày sau là những ngày bận rộn cho gia đình người mới đến cũng như nhân viên thiện nguyện của Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị. Gia đình anh Nguyễn Cảnh Hiến được đưa đi làm thủ tục lãnh trợ cấp, xin phiếu y tế, chích ngừa, xin số an sinh xã hội, đi chợ mua sắm… nói chung là tất cả công việc cần thiết cho một người mới nhập cư, mà nhiều gia đình “bảo trợ” vì phải đi làm cũng nản lòng nên “bán cái” cho cái hội thiện nguyện này. Ðó là lý do gia đình anh Phan Cảnh Hiến từ một cá nhân bảo trợ được chuyển sang cho hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị. Hai tuần sau gia đình được hội thuê apartment và dọn ra, để dành chỗ cho những gia đình khác mới đến. Rồi các cháu nhỏ bắt đầu đi học, anh có việc làm, chị ở nhà săn sóc các cháu, bếp núc. Rồi đâu đó dần dà ổn định như những người đi xe đò, lúc đầu còn bám ngoài thành xe, ít lâu sau, ai cũng có chỗ ngồi trong xe ổn định. Khi cuộc sống đã tạm yên, anh Phan Cảnh Hiến lại lui tới hội, giúp những người đến sau, lo giấy tờ, hướng dẫn lái xe hay đứng ra bảo trợ những người khác ở Việt Nam sắp sang đang cần một cái “đầu cầu.” Anh Hiến chỉ cho tôi một bộ lư đồng trên bàn thờ của một người bạn H.O.15 do anh bảo trợ, tặng gia đình anh để làm kỷ niệm. Ðó là dấu tích của những người bạn tù đồng hoàn cảnh “người đi trước lo cho người đi sau.”

“After”: Bức ảnh của gia đình này 20 năm sau. Hình do gia đình cung cấp

Năm 1991, đến Mỹ, ba con của anh chị Phan Cảnh Hiến, nhỏ nhất mới 4 tuổi, lớn nhất 7 tuổi. Hai mươi năm sau – 2011 – tức 8 năm về trước,  tuy chỉ một mình anh vất vả từ việc đi đưa pizza, đóng nút trong shop may, làm kho hàng, lúc đó cháu gái đầu đã có Master dạy ở một trường Middle School, cháu thứ hai là chuyên viên điện toán, cháu thứ ba là kỹ sư làm việc cho Boeing, và cháu út đã học lớp 12.

Nhìn lại quãng đường đi qua, anh Phan Cảnh Hiến thấy như một giấc mộng, không ngờ, không hề mong ước. Nếu không có nước Mỹ, không có chương trình H.O. gia đình anh không có được cuộc sống này, các con anh không được học hành như ngày hôm nay.

Anh còn nhớ rõ ngày gia đình anh đặt chân đến phi trường John Wayne với ba đứa con nhỏ gầy yếu, xơ xác, so với những thanh niên hôm nay thành đạt, tươi tắn đầy tương lai trong hai bức ảnh “before” và “after” anh đã trao cho tôi.

Anh không quên Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị, những ngày đầu đã cưu mang, lo lắng cho gia đình anh và gần 2,000 gia đình cựu tù nhân khác trong một quãng đường dài 8 năm hoạt động. Bây giờ ông Nguyễn Hậu đã qua đời, không còn cựu tù nhân chính trị đến Mỹ, không còn Hội Tương Trợ, những gia đình được bảo trợ đã tản mát trên khắp nước Mỹ, nhưng mối ân tình thuở ấy gia đình anh không bao giờ quên.

HP

Orange County, CA

Nhà cho cha mẹ già!

baotreonline.com

Huy Phương

Post 1 Jan 2019

Post by Sơn râu 28 Oct 2024

Ví như bạn còn cha mẹ già mà cha mẹ không có nhà riêng, phải ở chung với mình, thì bạn sẽ sắp xếp ra sao? Dành cho ông bà một phòng trong căn nhà, hay nếu có phương tiện làm riêng cho ông bà một căn nhà nhỏ trong khu vườn.

Một công ty đã đưa ra một dự án làm một căn nhà nhỏ có thể ráp nối được, diện tích bên trong khoảng 30 đến 50m2, có một phòng ngủ, chỗ tiếp khách, một căn bếp nhỏ và phòng tắm. Ngoài ra, căn nhà có tính cách lưu động (mobile home), khi con dọn nhà có thể mang theo ráp nối trong khu vườn mới.

Giá một căn nhà lưu động này khoảng từ $40,000 đến $125,000, tùy theo kích thước và các tiện nghi trong đó. Liệu cha mẹ hay các con có thể bỏ ra số tiền này để có một chỗ ở riêng biệt cho cha mẹ già hay không?

Ðiều này phù hợp với luật lệ California, dựa trên Ðạo Luật AB 2299, có hiệu lực từ đầu năm 2017. Luật cho phép gia chủ xây thêm trong khu vườn một căn nhà nhỏ mà diện tích không quá 50% căn nhà chính, để cho con cái hay cha mẹ ở. Ðối với người Việt ở California thì đây là một luật lệ lý tưởng, khi có thêm phòng cho thuê “có lối đi riêng biệt,” để kiếm thêm thu nhập hằng tháng. Những căn nhà phụ phải dùng các thiết bị tiện ích xài chung điện nước với nhà chính. Chủ nhà  có thể sửa lại một phòng có sẵn — như nhà để xe hay patio, thành chỗ ở phụ, hay là xây mới một căn nhà phụ. Nếu sửa nhà để xe thành chỗ ở thì phải có chỗ đậu xe khác, có thể là bên ngoài hoặc bên trong vườn.

Lúc các con còn nhỏ cha mẹ lo lắng tất cả cho con, “nhà của cha mẹ là nhà của con.” Khi con trưởng thành, cha mẹ có thời gian sống tự do. Nhưng khi cha mẹ già yếu, nếu chưa đủ điều kiện vào nhà dưỡng lão họ sẽ cần một nơi nương tựa gần gũi con để nhờ cậy khi khuya sớm, bệnh tật. Và “bây giờ nhà của con không phải là nhà của cha mẹ!” Như vậy một căn nhà phụ trong khu vườn của con là một nơi ở lý tưởng cho người già. Một nhà địa ốc ở California đã tính toán rằng, “để cha mẹ sống trong nhà dưỡng lão thì chi phí quá cao, nên những căn nhà phụ như thế có thể giúp gia đình duy trì sự sống chung, và cho phép người già giữ sự riêng tư và nhân cách của họ.”

Nói về quan hệ giữa con cái và cha mẹ, trong một lần tiếp xúc với độc giả nhà văn Ðỗ Tiến Ðức đã nói rằng: “Cha mẹ nuôi con là muốn cho con trở thành bác sĩ; con nuôi cha mẹ là để thành… bác tài đưa con mình đi học!” Rồi một mai khi bác tài không còn lái xe được nữa thì đưa bác tài vào nhà già hay để cho bác sống “cách ly!”

Chắc độc giả còn nhớ câu chuyện cụ bà Anna Mae Blessings, 92 tuổi, ở thành phố Fountain Hills, Arizona, nổ súng bắn chết con trai 72 tuổi vì không muốn bị đưa vào nhà dưỡng lão.

Nhưng những bậc cha mẹ Á Ðông chắc không lấy làm vui khi nghe được ý định của con cái là sửa lại cái garage, hay làm một cái nhà phụ riêng biệt trong vườn để cho cha mẹ dọn ra đó ở. Tâm lý người già thường sợ cô đơn, với những buổi tối một mình, bữa cơm một mình, vắng bóng con cháu là một đời sống không vui. Nhiều người cha chịu khó ngày hai buổi đưa đón cháu đi học, những bà mẹ già bận rộn nấu nướng, bới xách cho con cháu nhưng không hề thấy mệt nhọc, vất vả. Bây giờ lại nghe chuyện để cho cha mẹ “được tự do và duy trì được nhân cách” bằng cách cho cha mẹ ra ở riêng, nhưng chính đây là lúc con cái muốn tự do, không còn muốn ở chung với cha mẹ.

Mười lần như một, ở trên đất Mỹ, trong cộng đồng người Việt, khi tôi trông thấy một em nói sõi tiếng Việt, không ngọng, hỏi ra đều là những em bé lớn lên trong một gia đình sống chung với ông bà Nội hay ông bà Ngoại!

Ngày xưa con cái ở với cha mẹ, cha mẹ không bao giờ nề hà con vung vãi, mất trật tự, dơ bẩn. Nhưng cha mẹ già bây giờ ở với con thì bị kết tội trăm điều: nói nhiều, nghễnh ngãng, không ngăn nắp, mất vệ sinh, quên tắt bếp, tắt đèn…

Chắc hẳn, bạn cũng đã biết bao nhiêu hoàn cảnh, con cái thẳng thừng đuổi cha mẹ ra khỏi nhà, không vì cái khó hay hỗn hào của con dâu, thì cũng thương mà thông cảm cho hoàn cảnh của con vì nhà không đủ phòng cho các cháu. Nhưng nếu có một đứa con chịu làm thêm một căn nhà phụ trong vườn, như tôi đã viết ở đầu bài, thì đó còn là điều hạnh phúc.

Tàn cơn binh lửa

quanvan.net

tusachonline.wordpress.com

Lê Đắc Lực

Posted on 2 Nov 2014

Post by Sơn râu 28 Oct 2024

4. Phần 4

Mậu Thân Đợt 2

“Chợ Cây Quéo & Chợ Cây Thị”

“Thị ơi, rụng xuống bị bà,

Bà đem bà ngửi, chớ bà không ăn”

Quả tình tôi quen với Saigon là quen với Mai Hương, Kim Sơn trên đường Lê Lợi, với La Pagode trên đường Nguyễn Huệ, còn với những cái tên nôm na như Chợ Cây Quéo, Chợ Cây Thị ở Gia Định, Gò Vấp thì tôi mù tịt. Cây Thị thì còn biết, trong truyện cổ tích Tấm Cám, còn Cây Quéo là “cây ra răng?”. Tôi hỏi đùa. Không biết thì bây giờ phải biết, mà biết thật kỹ nữa. Sinh mạng của tôi, sinh mạng của binh lính tôi, tùy thuộc vào cái biết ấy. Có lẽ ngày xưa vùng nầy là đất hoang, có nhiều nghĩa địa nhỏ, và một vài Ông Thầy “tránh miền trần tục đến tu đây”. Đến tu nơi đây, nên phải dựng Chùa. Vùng nầy có mấy Ngôi Chùa.

Vì chiến tranh, đồng bào tập trung về đây mà sống, được an toàn hơn. Sau 1954, đồng bào miền Bắc di cư vào rất đông, vùng đồng hoang nầy được biến thành khu nhà ở, chen chúc bên cạnh các mồ mả, trở thành khu bình dân, lao động, nhà tôn, vách lá, nhiều hơn vách gạch.

Việt cộng chia thành từng tổ nhỏ, ba bốn tên, núp trong nhà dân, núp sau các ngôi mộ xây, hay các bia mộ. Vũ khí của chúng là AK.47, CKC, Trung, Đại Liên, B-40, B-41, khá mạnh. Chúng là một bộ phận, cấp Tiểu Đoàn của Trung Đoàn Đồng Nai.

Các đơn vị của Quân Lực VNCH tấn công Trung Đoàn nầy nhiều trận, nhưng chúng vẫn còn mạnh. Lần nầy, đợt 2, Trung Đoàn Đồng Nai có nhiệm vụ tiến chiếm vùng nầy để làm bàn đạp uy hiếp Quận Gò Vấp, tiến lên đường Võ Di Nguy nồi dài, tấn công vào cổng sau Bộ Tổng Tham Mưu, địa điểm sân “Gôn” cũ, Phi Trường Tân Sơn Nhất hay mục tiêu của chúng có thể Cổng số 2 Bộ Tổng Tham Mưu trên đường Võ Tánh (cũ). Tuy nhiên, tới đây thì chúng bị khựng lại, không tiến thêm được nữa, đang bị Quân Đội của ta bao vây.

Con đường xâm nhập của chúng là từ An-Phú Đông qua ngã Bình Lợi, không đi qua Xóm Mới, Ngã Năm Chuồng Chó hay Ngã Ba Chú Ía, những nơi chúng đã thất bại trong đợt 1.

Có hai cái khó khăn cho Quân Đội VNCH khi tái chiếm khu vực nầy:

1)-Chỉ có một số đồng bào chạy thoát, một số bị chúng giữ

lại, làm bia đỡ đạn. Điều nầy là sở trường vô nhân đạo, tàn ác của cộng sản.

2)-Tránh tối đa việc tác xạ vũ khí nặng, làm hư hại nhà cửa của dân. Đó là lệnh của Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô.

Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù dưới quyền Chỉ Huy của Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Nhã, đánh nhau với giặc cộng hơn hai tuần nay ở Ngã Ba Cây Quéo này. Tới hôm nay Tiểu Đoàn được lệnh bàn giao chiến trường cho Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù. Không phải ai đánh giỏi hơn ai, nhưng vấn đề chính yếu là chiến thuật. Với hai khó khăn nêu dẫn ở trên, các đơn vị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân không thể tấn công Việt cộng bằng một lực lượng lớn, qui mô và hùng mạnh.

Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù sở trường đánh giặc bằng du kích chiến, bằng những Toán nhỏ 6 người. Các Đại Đội cũng được sử dụng đánh cấp Tiểu Đội hay Tiểu Đội cọng, có nghĩa là quân số nhiều hơn cấp Tiểu Đội một chút.

Chiến thuật trên, đã được Thiếu Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Hành Quân Delta và Thiếu Tá Trần Phương Quế vừa thay thế Đại Úy Phan Văn Khánh trong chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù. Sau khi bay thám sát vùng trách nhiệm trở về, các vị phổ biến, căn dặn kỹ càng trước khi chúng tôi khởi sự  xuất phát từ Ngã Ba Võ Tánh, Ngô Tùng Châu (tên cũ), tiến dần tới ngã ba vô Chợ  Cây Quéo, bên trái đường Ngô Tùng Châu, rồi tuần tự nhận bàn giao phòng tuyến từ Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù.

Bàn giao xong, chờ màn đêm sập xuống, các Toán Thám Sát Delta, các Tiểu Đội khinh binh lặng lẽ khai triển đội hình, tiến lên theo hướng vùng đã được phân định. Việt cộng từ trong bắn ra từng loạt đạn AK, CKC cầm chừng, các Toán Thám Sát Delta, theo dõi, quan sát hướng chúng tác xạ, từ từ mò mẫm tiến gần chỗ chúng ẩn núp, tung lựu đạn tiêu diệt. Riêng các vị trí đặt Đại và Trung Liên của chúng, các Tiểu Đội, Trung Đội Biệt Cách Dù sau khi xác định chính xác tọa độ mục tiêu, đã gọi điện báo cáo về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn để xin yểm trợ hỏa lực. Trung Úy Trần Duy Bình, Đại Đội Trưởng Đại Đội 2 là “thiên tài súng cối 60 ly”. Được các Toán Thám Sát Delta cung cấp tọa độ vị trí địch, Trung Úy Bình điều chỉnh hướng, tầm bắn và tác xạ chính xác mười quả y chục, đó là nhận xét của hầu hết các Sĩ Quan về tài thiện xạ của ông. Nhờ vậy mà các Đại Đội Biệt Cách Dù xông lên chiếm lại lần lượt các vùng cư dân đã bị Việt cộng chiếm đóng trước đây, đẩy lùi bọn chúng ra khỏi vùng Ngã Ba Cây Quéo. Các trận đụng độ này gây trọng thương cho Chuẩn Úy Trần Anh Phong, Trung Đội Trưởng và 12 Hạ sĩ quan, Binh sĩ. Việt cộng mất dần trận địa, cuối cùng “chém vè” rút quân, băng qua khu dân cư gần Xóm Gà (Ngã Ba Ngô Tùng Châu – Lê Quang Định) về nhập chung với Trung Đoàn Phú Lợi để cố thủ tại khu vực ngã ba Chợ Cây Thị.

(Một góc đường gần Ngả ba Cây Quéo)

Thừa thắng xông lên!

Sau khi tạm thời nghỉ dưỡng quân và trang bị các loại súng XM.16, M.79, Đại Liên 60 cùng đạn dược tại Bệnh Viện Ung Thư, Gia Định, hôm sau Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 được lệnh đến thay Thủy Quân Lục Chiến do Trung Tá Hoàng Tích Thông chỉ huy, ở vùng Ngã Ba Cây Thị. Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến rút ra làm phòng tuyến án ngữ chận hậu.

Tại mặt trận Ngã Ba Cây Thị, Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù trong đó có Trung Đội 3 Đại Đội 1 do tôi chỉ huy chiến đấu rất khó khăn, cam go, vất vả hơn. Việt cộng tập trung toàn bộ lực lượng của hai Trung Đoàn quyết một mất một còn. Trong khu vực nghĩa địa, trong các Chùa chiền, chúng đào giao thông hào, hầm hố, đắp các công sự ở các góc vườn, các ngã tư đường để chận đường tiến công của ta. Các Toán Thám Sát Delta, các Đại Đội Biệt Cách Dù cũng từng bước từng bước tiêu diệt các chốt chặn bằng lựu đạn, bằng kỷ năng tác xạ súng cối điêu luyện của Trung Úy Trần Duy Bình. Rốt cuộc, trước lối đánh đêm “xuất quỷ nhập thần” này, kèm theo ban ngày có các Chiến Xa M.113 và Trực Thăng Gunshift ồ ạt truy kích, để rồi sau suốt một ngày quần thảo, Việt cộng tháo chạy, rút lui về hướng Cầu Bình Lợi, tìm đường trở lại An Phú Đông. Quá xui xẻo cho chúng, chúng gặp ngay Tiểu Đoàn TQLC đang chờ sẵn. Toàn bộ 200 tên giặc cộng không đường thoát, phải buông súng đầu hàng, khoảng 100 tên bỏ xác rải rác trong cả hai khu vực Cây Quéo và Cây Thị. Bên Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù có hơn 20 binh sĩ bị thương và một Sĩ Quan: Thiếu Úy Trần Phụng Tiễn, Khóa 22A Võ Bị Đà Lạt, Trung Đội Trưởng, Đại Đội 2 tử thương vì hỏa tiễn B.40 của địch.

Tên Thượng Tá Hoàng Văn Xướng, chỉ huy mặt trận này, giả dạng thường dân trà trộn trong quần chúng để đào thoát bị nhận diện, bắt sống tại chỗ.

Cũng trong thời gian này, một đơn vị Biệt Động Quân tiến đánh một ổ đặc công đang chiếm giữ phía đầu Cầu Băng-Ky trên Quốc Lộ 1 cũ, đường lên Thủ Đức và hạ sát toàn bộ 8 tên.

Sau hơn tuần lễ, nhờ áp dụng chiến thuật đánh đêm theo lệnh của Thiếu Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Hành Quân Delta, mà các Toán Thám Sát Delta và các Đại Đội 91 Biệt Cách Dù đã nhanh chóng giải tỏa áp lực địch và tái chiếm toàn diện Ngã Ba Cây Quéo và Cây Thị, xóa sổ hoàn toàn Trung Đoàn Đồng Nai và Trung Đoàn Phú Lợi. Đây là một chiến công hiển hách, vang dội làm nức danh Thám Sát Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù. Đồng Bào đứng chật dọc theo hai bên đường để chào đón, hoan nghênh đoàn quân chiến thắng Biệt Cách Dù trên đường lui binh để tiếp tục nhận lãnh nhiệm vụ mới ở khu vực Bình Hưng Hòa, Bà Điểm.

 “Đường trường xa, ta quyết đi cho đến cùng … ….hai…ba……..”

(Nghĩa Trang & Đài Tưởng Niệm Đồng Bào bị
Việt cộng sát hại trong Tết Mậu Thân tại Nha Trang)

Tàn cơn binh lửa

tusachonline.wordpress.com

Post on 1 Nov 2014

Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 28 Oct 2024

3. Phần 3

Mật Khu A-Shau

– Mật Khu A-Shau

“Ả Sầu?” hay “Hổ huyệt?”

 “Bất nhập hổ huyệt

An đắc hổ tử.”

*

Đại Úy Phan Văn Khánh, Tiểu Đoàn Trưởng (thay thế Thiếu Tá Lê Như Tú đã bị tử thương trong biến cố Tết Mậu Thân) sau khi bay một vòng ở Trường Sơn để thám sát chọn bãi đổ quân, trở về đã họp tất cả các Đại Đội Trưởng 1, 2 và 3 để phổ biến kế hoạch hành quân. Ngày hôm sau, hai Phi Đội Trực Thăng UH.1B của Hoa Kỳ lần lượt chuyển đổ ba Đại Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào bãi đáp tại mật khu Ashau.

Ngồi trên Trực Thăng, nhìn núi rừng trùng điệp, tôi bỗng miên mang nhớ đến những thằng bạn cũ hồi còn đi học. Phải chi có tụi nó cùng ở đây để được ngắm nhìn cái vẻ đẹp của Quê Hương. Đẹp từ màu xanh của cây rừng, từ những đám sương mù trắng đục bay là là bên sườn núi, đẹp từ những bãi rừng tranh vàng mượt, sóng sánh theo từng cơn gió thổi qua.

(Đường mòn HCM trong Mật khu Ashau sau khi bị B.52 dội bom)

Đoàn Trực Thăng đảo nửa vòng rồi tuần tự đáp nhanh xuống một bãi tranh trống, cách con đường khoảng 500 mét về hướng Nam. Tôi vội vàng ra lệnh: “Go, Go, Go!”. Tất cả Binh Sĩ lao ra khỏi Trực Thăng, ôm chặt súng phóng thẳng vào sát bìa rừng, bố trí phòng thủ để cho cuộc đổ quân tiếp tục. Thượng Sĩ già người Nùng Nồng A Si, Trung Đội Phó đi kiểm điểm tuyến phòng thủ của binh lính xong báo cáo đủ với tôi. Tôi cho lệnh Trung Đội nằm yên tại vị trí, chú ý quan sát, lắng nghe mọi động tĩnh chung quanh.

Theo lệnh hành quân đã được ban hành, nhiệm vụ của Đai Đội 1, 2, 3 là tổ chức phục kích đoàn xe Molotova của địch, sẽ từ phía Lào, theo đường mòn Hồ Chí Minh đi vào phía lãnh thổ của ta, băng ngang qua thung lũng Ashau, và sẽ di chuyển ra đến gần Lăng Minh Mạng để tiếp vận cho chiến trường Huế. Đoàn xe được một Toán Thám Sát Delta phát hiện, đồng thời cũng được giải đoán qua không ảnh do phòng Quân Báo Quân Đoàn I cung cấp.

Cuộc đổ quân hoàn tất. Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng qua máy PRC.25 lệnh cho các Đại Đội di chuyển thành ba cánh, tiến sâu lên hướng Bắc, tiếp cận đường mòn, cùng phối hợp chặt chẽ với nhau, dàn rộng đội hình, tổ chức phục kích, theo thứ tự Đại Đội 3, Đại Đội 2 và Đại Đội 1 nằm cuối cùng. Sau khi bố trí, giữ im lặng vô tuyến chờ lệnh khai hỏa tấn công.

Rừng nhiệt đới, cây đại thụ cao ngất, ít nhất cũng hai ba tầng lá ở trên, phi cơ rất khó nhìn thấy. Trên mặt đất, không phải chỉ có một đường mòn mà hai ba đường mòn nhỏ kế cận nhau. Xe địch di chuyển đã nhiều, trên mặt đường trải dày đất đá hay các phên tre lót đường để tránh lầy còn hằn in dấu các vết xe lăn. Hai bên lối mòn, các loại cây thấp vẫn um tùm, xen lẫn với dây leo, dây mây chằng chịt, khó di chuyển. Trung Đội tôi được lệnh trải rộng phục kích dọc theo đường mòn, trong những lùm cây rậm rạp đó, địch không tài nào phát hiện được!

Có tiếng máy “Đại Bàng” truyền lệnh cho biết: “Đoàn xe địch đang di chuyển gần đến chúng ta, có khoảng tám chiếc”. Đúng như tin tức của các Toán Thám Sát Delta cung cấp và giải đoán của Trung Tâm Không Ảnh Quân Đoàn I. Trong phạm vi phòng tuyến phục kích của ba Đại Đội, kéo dài khoảng chừng ba đến bốn trăm mét, khi toàn bộ đoàn xe đã vào trọn tuyến phục kích, các Đại Đội phải dồn hết hỏa lực, tấn công tiêu diệt tất cả, khi nghe phát lệnh khai hỏa.

         Địch có vẻ chủ quan, ngồi vắt vẻo trên thành xe, chẳng quan sát, đề phòng gì cả. Tôi nghĩ thầm: “Bọn chúng nó lầm tưởng rằng đây là vùng cấm địa của chúng, quân lính Miền Nam chẳng ai dám vào đây chăng?”

      Trời bắt đầu tối dần, đoàn Molotova đang từ từ lọt hết vào đúng vị trí phục kích, sau khi Đại Úy Tiểu Đoàn Trưởng Phan Văn Khánh, phát lệnh khai hỏa. Các Đại Đội đồng lọat nổ   súng, kèm theo tiếng hô xung phong ầm ĩ vang rền cả một góc trời, phá tan cái âm u, trừ tịch của khu rừng. Trung Đội tôi cùng lúc tác xạ xối xả, nào Đại Liên, Trung Liên, Garant, Carbine, bắn liên tục như   pháo Giao Thừa vào chiếc xe chạy dẫn đầu, làm nó nằm im, lửa bừng cháy bao trùm cả chiếc xe. Tiếng la hét hỗn loạn chen lẫn với tiếng súng nổ phản công của bọn cộng phỉ, tiếng đì đùm của mìn pháo trên các xe kế tiếp đang bốc cháy, tạo nên một âm thanh rùng rợn và hỗn độn. Vài tên địch rơi xầm xuống đất, nằm bất động tại chỗ “chắc không sống nỗi”, tôi chợt nghĩ như thế. Lựu đạn quăng tới tấp, những chiếc Molotova nối đuôi, cùng chịu chung số phận, cũng đã bị các Trung Đội của các Đại Đội 3, 2, 1 xơi tái, hạ gục, hết chiếc nầy đến chiếc khác, lửa hừng hực lan rộng dọc theo con đường, lửa khói bốc cao dữ dội, làm rực sáng và nóng bức cả một khu vực trong rừng đêm.

Sáng hôm sau, kiểm điểm tổng quát trận địa: Bên địch tám chiếc Molotova bị bắn cháy cùng với rất nhiều vũ khí, đạn dược, chiếc chạy dẫn đầu chứa đầy lương thực gạo, muối, lương khô và quân trang quân dụng của bọn chúng cũng bị thiêu rụi hầu hết.

(Đoàn xe Molotova 8 chiếc do Thám Sát Delta phát hiện, đã bị Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù phục kích thiêu hủy toàn bộ tại thung lũng Ashau)

        Lục soát dọc theo khu vực đã tìm thấy 20 xác Cộng phỉ nằm ngỗn ngang dọc hai bên sườn núi, bên ta Đại Đội Trưởng Đại Đội 3 Trung Úy Huỳnh Văn Thanh đã bị bắn một viên đạn AK, còn ghim trong lồng ngực đã được bốc khẩn cấp đến Bệnh Viện Dã Chiến Hoa Kỳ giải phẫu. Trung Đội Trưởng Chuẩn Úy Nguyễn Hiền, Thiếu Úy Trương Út và một số Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ các Đại Đội 1, 2, 3 bị trúng  thương, tất cả đều đã được trực thăng vận chuyển về hậu trạm chữa trị.

Báo cáo tổng kết tình hình chiến trận cho Đại Bàng xong, các Đại Đội được lệnh nhanh chóng rút quân về lại bãi đáp để triệt xuất, đề phòng địch quân ẩn trú quanh đây chắc không phải là ít, chúng sẽ tập trung lực lượng phản kích.

Trên Trực Thăng đang bay về lại Căn cứ Hành quân Phú Bài. Thắng trận, tôi vừa vui vừa ngậm ngùi. Tôi không ưa sự chém giết. Đó là bản tính tôi. Tinh thần của một Phật Tử, truyền thống của dân tộc còn nặng trong tâm tư tôi. Tôi không biện minh. Đó chỉ là một điều tất nhiên mãi mãi tồn tại trong con người của tôi.

A Shau là tiếng Thượng, tiếng của dân tộc Vân Kiều hay Stiêng?. Ả Sầu là tiếng A Shau được Việt hóa! Ả là “cô ả”, là “cô nàng” nào đó. Có cô ả nào sầu vì thương những người lính xông pha núi rừng như chúng tôi trong trận đánh vừa qua??? Tôi thầm nghĩ:

         Đời còn có người thương thì đời còn vui chán!

         Thế nhưng “Nam nhi cổ lai chinh chiến hề”.

Không bao lâu sau đó. Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù, trong đó có Đại Đội 1 chúng tôi do Đại Úy Bùi Cao Thăng chỉ huy, lại lần nữa nhảy vào Mật khu Ashau lần thứ hai.

Trong trận chiến này Tiểu Đoàn đã quần thảo suốt hai ngày đêm với một Trung Đoàn chính qui của cộng quân. Đại Đội 1 trong chiều tối đầu tiên đã bị địch tấn công, vây hãm bất ngờ trên đường di chuyển. Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 Thiếu Úy Đặng Thiện Chẩn, Khóa 22A Võ Bị Đà Lạt đã bị tử thương bởi đạn B.40, Hạ Sĩ I Dục mang máy truyền tin cũng cùng chung số phận, còn tôi bị một mảnh vỏ đạn súng cối cắt vào bắp chân trái. Nhưng không vì thế mà làm sút giảm sức kháng cự, chống trả của đơn vi. Trung Úy Nguyễn Ích Đoan, Đại Đôi Phó đã tả xông hữu đột, sát cánh cùng tôi điều động binh sĩ phản công, chận đứng các đợt xung phong biển người của địch quân. Cuối cùng cũng nhờ được sự tiếp ứng kịp thời của các Đại Đội 2, 4 và 5 cùng sự oanh kích chính xác của các chiến đấu cơ A.37 cộng quân đã phải tháo chạy, bỏ lại hơn 30 xác chết, lăn lóc nhầy nhụa bên những chiếc hố đào vội vã, thoai thoải quanh dốc đồi.

Cuộc đời của một con người đều có số phận. Trong cuộc chiến tranh, đối diện với đầu tên mũi đạn, thập tử nhất sinh, biết ai còn ai mất.

      Và với riêng tôi, trong trận chiến này, đây là lần đầu tiên tôi được nhận lảnh một “Chiến thương Bội tinh” và một Anh Dũng Bội tinh ngôi sao đồng.

***

Từ Ba Tri tới Cabra.

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Oct 2024

Tranh Bảo Huân

Tuồng “Ngao Sò Ốc Hến” của đất Quảng Nam, được soạn giả Năm Châu chuyển thể thành vở cải lương và nghệ sĩ lão thành Ba Vân làm đạo diễn.

Mới đầu, Thành Ðược đóng vai Huyện Trìa, Phượng Liên đóng vai Thị Hến…  Năm 1984, Thành Ðược đi hát bên Tây, nhân cơ hội, ‘dzọt’ luôn qua Mỹ mở nhà hàng. Phượng Liên thì cũng ‘dzọt’ theo chồng, bỏ hai vai nầy lại cho Thanh Ðiền (chồng), Thanh Kim Huệ (vợ) đóng.

Như vậy cũng hay! Vì đóng tới màn Huyện Trìa ve vãn Thị Hến là dê tới bến mà không sợ bị ai lột guốc, leo lên sân khấu, ‘quánh” ghen bất tử.

Sơ lược vở tuồng là: Ốc vào nhà Trùm Sò ăn trộm được một mớ, đem bán rẻ cho Thị Hến, vốn chết chồng, nhưng còn xuân hơ hớ!

Trùm Sò nhờ Lý Trưởng đến xét nhà, bắt được tang vật, liền giải Thị Hến lên Huyện Trìa nhờ phân xử.

Lý Trưởng và Trùm Sò biết làm luật ở chốn công đường nên cúng cho Thầy Ðề, Huyện Trìa một mớ. Nhưng những lễ vật hậu hĩnh nầy đều phải chịu thua cái vốn tự có của Thị Hến.

Không những bị thua kiện, Trùm Sò còn bị Huyện Trìa sai Lệ Cửu, đè ra đét đít vài hèo về tội chơi trèo… dám đi thưa Thị Hến.

Ðám tham quan ô lại nầy xúm giành con Hến, chơi xỏ nhau bằng cách đi méc vợ cả đám… Nên cuối cùng: Lý Trưởng, Thầy Ðề và Huyện Trìa đi ‘khám điền thổ’ Thị Hến chưa đâu vào đâu… thì bị mấy con ‘Sư tử Hà Ðông’ đến nắm đầu, nhéo lỗ tai, giải về chuồng cũ.

Từ tuồng hát nầy, những nhân vật nổi bật bước thẳng vào đời thường với:

‘Ðồ Trùm Sò’, chỉ kẻ có tiền nhưng keo kiệt, vắt chày ra nước, coi đồng tiền ở trên hết ráo.

‘Ðồ Thị Hến’ chỉ em nào ‘đèm đẹp’ mà lại khoái bẹo hình ẹo ẹo, lẳng lơ.

Thầy Ðề, quan lại ỷ có chút xíu quyền lực, trên đội dưới đạp, thấy Thị Hến là đòi ‘cạp’!

Còn quý ông anh mình lén vợ nhà, tính đi tù tí với ai kia thì gọi là: ‘đi khám điền thổ’.

Vụ nầy có tiền lệ rồi! Như: ‘nàng Kiều’ chỉ mấy em chuyên sống làm vợ hết người ta, đến khi chết ngắc làm ma không chồng.

‘Tú Bà’, tức ‘má mì’ thời nay, chuyên kiếm tiền bằng cách đưa người cửa trước rước người cửa sau.

‘Ðồ Sở Khanh’ chỉ kẻ chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.

Nhưng nổi tiếng nhứt là Hoạn Thư, ghen thầy chạy, ghen hết biết trong truyện Kiều của Nguyễn Du.

***

‘Ông Già Ba Tri’ cũng na ná như vậy; dù không đi từ một tác phẩm văn học nào hết mà đi từ một giai thoại về một ông già ở cái đất Ba Tri bước thẳng vào đời.

Ba Tri nằm cuối Cù lao Bảo, giữa hai cửa sông lớn, nơi đến trước nhứt của những lưu dân từ miền Trung, theo ghe bầu vào lập nghiệp trên những giồng đất cao ráo của đất Bến Tre. Chỉ trong vòng hai thế kỷ, bà con mình đã biến Ba Tri, vùng đất hoang vu đầy  thú dữ thành một nơi trù phú trên đất Cù Lao.

Ông Già Ba Tri tên thiệt là Thái Hữu Kiểm, theo ông Nội là Thái Hữu Xưa từ Quảng Ngãi vào Ba Tri khởi nghiệp từ thế kỷ 18. Sống lâu lên lão làng, lại có uy tín, nên bà con gọi ông là Cả Kiểm.

Năm 1806, Cả Kiểm dựng chợ Trong, bên cạnh rạch Ba Tri. Ðường thủy, đường bộ đều thuận tiện nên dân cư vùng lân cận kéo vào chợ Trong mua bán ì xèo, ngày một đông.

Từ hồi có chợ Trong, chợ Ngoài do Xã Hạc lập, đua không lại, bắt đầu ế khách,  vắng như  chùa Bà Ðanh.

Xã Hạc chơi ngặt, cho đắp đập, ngăn không cho ghe thuyền từ sông Hàm Luông vô chợ Trong buôn bán nữa. Chợ ế, dân khóc ròng. Nồi cơm của mình và bà con trong làng, mình làm Cả, nhờ vả vào cái chợ nầy mà buôn bán, mần ăn, sanh sống bấy lâu… nay nó chơi cái kiểu ngăn sông cấm chợ đâu có được hè!

Chữ cũng có câu rằng: “Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay co”. Cả Kiểm kiện lên quan huyện. Huyện quan xử: “Sông bên làng xã nó, nó có quyền đắp đập! Kệ cha nó!” Kiện lên quan Bố Chánh, tỉnh Vĩnh Long, Cả Kiểm lại bị xử thua.

Tức mình, Cả Kiểm cùng hai người bạn nữa là Nguyễn Văn Tới và Lê Văn Lợi, cơm đùm, cơm nắm lội bộ tuốt ra ngoài Huế để đi thưa tới ông Vua.

Ðường sá xa xôi diệu vợi, hơn cả ngàn cây số. Ðồi núi chập chùng, cheo leo, toàn cọp với  beo, vất vả trăm bề tới được kinh đô thì đã mất hết cả nửa năm trời.

Ngày xưa trong Ðại nội, kinh thành Huế, có cái trống Ðăng Văn. ‘Kích cổ đăng văn’ tức đánh trống trình đơn khiếu nại quan địa phương xử như vậy, oan ức cho con dân quá Hoàng thượng ơi!

Vua Minh Mạng, đích thân, truyền chỉ: Hàng tháng, cứ đến ngày 6, 16, 26 thì Tam Tòa (tức Ba Tòa quan lớn như xưa rày bà con mình thường nói): phải mở hội đồng để nhận đơn và xét xử các vụ kiện thưa của bá tánh trong cả nước.

Nghe tiếng trống, một trực thần từ Tam Toà ra nhận đơn, nhưng trước phải trói người đánh trống lại, giao cho lính canh giữ, để phòng khi có sự lợi dụng việc ‘kích cổ đăng văn’ mà vu cáo người ngay! (Nếu vu cáo là nhốt chú mầy luôn!)

Chuyện Ông Già Ba Tri kích cổ đăng văn, khiếu nại, cuối cùng được vua Minh Mạng xem xét, thấu đáo bèn truyền chỉ rằng: (Ðố quan nào dám cãi): “Lòng sông lòng rạch là của chung, không phải của làng này, làng kia nên quan huyện, quan phủ phải cho phá đập để dòng chảy được thông thương.”

Cả Kiểm chiến thắng, dắt đoàn quân chỉ có hai người, quay về dưới nắng hồng. Bà con trong làng reo hò tở mở!

Người dân cả nước nói chung đều thán phục; dù đường đi còn lắm chông gai, Ông Già Ba Tri cũng gỡ chông, lể gai ra mà đi tiếp, quyết vùng lên đấu tranh với bọn tham quan ô lại!

Ðừng sợ đấu tranh rồi không biết tránh đâu hay bị trâu đánh… thì đất nước mình mới mong khá lên được.

***

Nói nào ngay mấy ông già như tui, đầu óc u mê, còn mắc mứu về cách xử  án của mấy tay quan Tòa trong nước, nên vẫn không tin vào nền Tư pháp độc lập của nước Úc ‘Kăng gu ru’.

Cứ khư khư: ‘Vô phước đáo tụng đình’. Rất ngại lôi thôi cò bót! Bị đứa nào như thầy đội hay bọn ‘cáo sồ’ (council) lạm dụng quyền phạt vạ một cách vô lý, rõ ràng là nó hiếp đáp mình, vậy mà vẫn cắn răng mà chịu, chỉ tự an ủi ên là: “Nó hiếp đáp mình như nó hiếp đáp thằng Cha của nó vậy!”

Nhưng thế hệ thứ hai, sanh đẻ tại đây, con cháu mình, nó đâu có chịu. Hiếp đáp nó, nó thưa tới bến.

Chuyện vầy: Lúc 7giờ 23 phút, tối ngày 14 tháng Giêng, năm 2016, trạm xe lửa Liverpool, hai thầy đội Úc nghi ngờ chú em Việt Nam Mít, Hoang Thanh Le, 24 tuổi, người Cabramatta (gọi tắt là Cabra), chôm thẻ giảm giá dành cho người khuyết tật của ai đó, vì trông mặt mà bắt hình dong, chú em còn rất trẻ, ắt là phải khỏe…

Lời qua tiếng lại giữa đôi bên được ghi lại trên điện thoại di động để làm bằng chứng, để chú em nầy trình Tòa, cho thấy Thầy đội quy chụp chú em là ‘smart ass’ (láu cá), và còn hỏi: “Ê! Có bị điếc hay không?”

Thầy đội thách thức: “Cứ đưa lên các mạng truyền thông xã hội đi, rồi trở thành một anh hùng!”

Sau 4 phút 15 giây, bị buộc phải đứng đợi trên sân ga để thầy đội dùng ‘radio’ kiểm tra nhân thân, cuối cùng thì chú em nầy được hai thầy đội cho đi.

Và chú em cũng đi… nhưng đi thưa, đưa sếp trên cùng của hai thầy đội, tức chánh quyền tiểu bang NSW (New South Wales) ra Tòa!

Ông Tòa phán rằng: “Cảnh sát gọi nguyên đơn là ‘smart ass’ (láu cá) là không đúng mực! Việc cầm giữ dù chỉ 4 phút 15 giây nầy là sai!”

Ông Tòa ra lịnh chánh quyền Tiểu bang NSW phải bồi thường cho chú em Việt Nam Mít nầy 3,201 đô la về quyền lợi bị thiệt hại. Như vậy mỗi phút được gần 800 đô! Quá đã!

Từ đó mình rút ra được một bài học là: “Trong một đất nước tự do, có nền tư pháp độc lập, chí công vô tư, mình không làm gì phạm pháp là không sợ đứa nào hết ráo! Ỷ quyền, hiếp đáp dân lành thì mình đi thưa nó tới bến luôn nhe bà con!”

Xưa có thành ngữ: “Ông Già Ba Tri”, giờ bà con mình cũng nên có thành ngữ “Ông Trẻ Cabra”  mới được.

Đoàn Xuân Thu

Melbourne

Nhã Nam

tranvu.free.fr

Trần Vũ

Post by Sơn râu 27 Oct 2024

Chúng tôi về Nhã Nam, quê của Th. Nhã Nam đất hẹp, nhiều cây, sông nước và những rừng người. Th đón tôi ở sân bay, gương mặt anh tầm thường như mọi người tôi không nhận ra. Th là nhà văn, từ khi mở nhà hàng mang tên hoa Tây Bắc anh thôi viết. Trước, tôi ngỡ đã đọc hết truyện Th. Anh có lối viết mỗi câu như nhát mác phạt vào gốc chuối phọt mủ. Th đưa chúng tôi vào hiệu sách. Tôi với chị T loay hoay lựa. Sách của Th tái bản toàn tập, có truyện Mưa Nhã Nam tôi chưa hề đọc. Chị T đẹp, rực rỡ, cười luôn. Chị về Nhã Nam trăm lần chưa chán. Chúng tôi đi uống nước. Thằng bé gạ đánh giầy. Tôi hỏi Th:

– Ðàn ông học vi tính, đàn bà làm điếm, con nít đánh giầy, bán vé số, tương lai ở đâu?

– Niềm tin vào hành động học vi tính, làm điếm, bán vé số.

Th trả lời, lạnh lùng.

Chúng tôi về nhà. Vườn vải nở ngát uốn lên núi Bái Vọng những bông trắng lung lay giống tấm lụa trắng ai giăng trước mắt. Th đăm chiêu. Chị T đi tắm. Có ai gọi điện. Chị T trả lời điện thọai cầm tay qua tiếng nước. Tôi bảo Nhã Nam giống Côn Sơn. Th đáp Nhã Nam là Côn Sơn. Cơm chiều vợ Th dọn lên hai khúc cá chiên xả, canh hến, một đĩa gỏi ngó sen. Vợ Th cũng tầm tầm triệu đàn bà chúng tôi trông thấy lúc sáng. Th giục cầm đủa. Tôi nói đợi chị T. Vợ Th giắt con xuống bếp. Nhã Nam buổi chiều mưa căng qua rừng vải giống lụa ướt máng dài tới núi. Th bảo ở đây ít bữa anh dẫn đi xem Lê Sát chém Liễu Thăng. Giá trong nước hai mươi ngàn một vé. Giá ngoài về gấp ba.

– Tôi cũng người Nhã Nam sao phân biệt?

– Nhã Nam có hạ có thượng, có chiếu trên chiếu dưới, có nhân đạo, vô học và ăn cướp.

Th hút thuốc lào. Khói khét đặc buồng. Anh vừa trí thức vừa bần cố nông, bây giờ rắp ranh tư sản nhà hàng, chỉ còn chút hương hoa Tây Bắc làm giấc mơ.

Mưa lớn. Chị T vẫn chưa ra. Th đi mua đế. Ðế nếp gò Mã Yên, nơi Liễu Thăng bị chém, uống vào như uống tiết tanh, nóng, đắng. Tôi với Th ngồi nhìn mưa Nhã Nam bôi những dấu chân trâu bừa trên đất. Không nơi nào như Nhã Nam ô tô với trâu di chuyển trên cùng đường cái. Thời gian Nhã Nam dài, thư thả, đủ để đếm hết móng trâu và vỏ xe qua đường.

Chị T tắm xong, vẫn điện thoại, vừa cầm máy, vừa chải tóc. Chị thích những cuộc hẹn vu vơ, bất chợt, không mục đích, không quan trọng nhưng nhiều đam mê. Quen lâu, tôi vẫn chưa hiểu chị kiếm gì trong cuộc sống. Th nhìn chị T, đôi mắt đục gần như không trông thấy. Chị ở thế giới khác, không còn là đàn bà Nhã Nam. Th hiểu, cũng hiểu hương hoa Tây Bắc ngữi thấy nhưng không bao giờ nhốt được. Không khí nặng. Th giục tôi cạn ly, bầy bàn trước hiên. Mùi đất pha dầu tắm ở tóc chị T chen mùi đế gò Mã Yên nồng nồng. Mưa lấp núi Bái Vọng rồi rừng vải, đến sân đất nện. Chúng tôi giống ngồi trước mặt ao. Chị T ném một viên sỏi xuống nước, vỡ những bong bóng xoè. Th kéo ghế, tựa cột đà khắc chi chít đại tự.

– Ngày xưa Nguyễn Ứng Long dạy học ở đây.

Th trỏ tấm phản mục kê trong góc.

– Nguyễn Trãi làm thơ chỗ chị ngồi.

Th lại trỏ chị T. Chị cười, vẫn rực rỡ.

– Chỗ tôi và anh ai ngồi?

Tôi gắp khúc cá, nhằn xương. Th nói Mời chị, và cơm:

– Thời điểm nào? Trước hay sau Hồ Quý Ly?

– Trước?

– Cụ Ðán.

– Sau?

– Bọn mất dậy.

Chị T cười ngất. Tôi với Th không cười.

Trời bức. Mưa nhưng vẫn bức. Th ăn một loáng hết thố cơm. Tôi hết chuyện nói, nhìn vơ mấy chữ sơn son thếp vàng khắc đầy vách. Th kể Nguyễn Trãi là một thiên tài. Nhà này lúc trước là một gian thuộc Băng Hồ Gia Trang của cụ Trần Nguyên Ðán, sau chia thành nhiều hộ. Từ khi mở nhà hàng đặc sản sinh lợi, Th mua lại, chữa trang cố bảo trì hồn thiêng sông núi. Anh kể Nguyễn Trãi sinh thời làm thơ xuất thần, không bút, không giấy, chỉ cần nhìn lên vách: chữ hiện như đóng triện son.

– Một trăm bài thơ quốc âm, Nguyễn Trãi nhìn một trăm lần, đời sau không thể xoá.

– Thơ là trí tuệ, không cần lao động tay chân.

Tôi hưởng ứng. Chị T cười rũ.

Th ngâm: “Ðường cùng Nguyễn tịch khóc làm chi”

– Câu này không còn trên vách.

– Tôi tưởng đời sau không thể xoá?

– Không xoá, nhưng chủ trước rỡ bán cho Ðài Loan.

Th lầm bầm.

Tối. Ra về. Th hỏi đi đâu? Tôi nói Uống rượu. Th chặc lưỡi:

– Trong rượu. Ngoài về cũng rượu. Chẳng có gì khác.

– Khác gì? Mình là người Nhã Nam.

Tôi chở chị T bằng xe Cub. Ðường đất trơn, xe chao lạc vào rừng vải loá. Triệu cánh vải vươn như tay thiếu nữ chụp bắt. Tôi tránh xém ngã. Bông trắng rụng nhàu đất. Xe lao xuống chỗ trũng, nước mưa ngập gối bắn hai bên bửng. Chị T níu vai gọi:

– Có thấy mấy cô ven đường?

– Ðâu?

– Lúc nãy xuyên rừng vải.

– Ðây là Nhã Nam.

Chị T cười. Tôi khiển xe, hình dung gương mặt chị, tươi lúc cười, bình thường buồn thắm. Chúng tôi hẹn cùng về Nhã Nam. Lúc ở ngoài, tôi hỏi Chị về Nhã Nam trăm bận không chán? Chị trả lời Rong chơi đâu cũng vậy, về Nhã Nam vui buồn lẫn lộn. Ra khỏi rừng vải, xe Dreams phóng loạn. Tôi tránh lại xém ngã. Chị T la:

– Cẩn thận!

– Không chết đâu!

“Cuộc đời vẫn đẹp sao”, “tình yêu vẫn đẹp sao “, tôi hát. Chị T kêu Quỷ. Th đuổi theo sau. Tiếng máy xe Cub 70 của anh rống. Nhưng chúng tôi đã ra tới phố. Phố Thi Sách, Lê Qúy Ðôn, Nguyễn Du, Ngô Quyền, Phạm Ngũ Lão. Quán Buffalo Blues, Q Bar, Doors Pub, Apocalypse Now, Venus Club…

Xe ghé Guns n’ Roses. Bảo vệ giữ xe, đưa thẻ. Th thôi đuổi. Th hiểu Nhã Nam có thượng có hạ, có trong, ngoài và có những quán bar năm mươi ngàn Nhã Nam một ly. Chúng tôi là Nhã Nam kiều.

Gần sáng có tin Tổng Giám Mục Nhã Nam mất. Ðồn đãi: trước lúc chết ông á khẩu, nhiều giáo dân thương tiếc. Tôi với chị T ra khỏi quán, giáo đường treo cờ rũ. Chúng tôi đi qua phố chết. Cửa hàng đóng kín. Không phải để tang, nhưng vì những giọt sương chưa vở trên tàn phượng. Nhà thờ thả lụa tím. Tượng thánh buộc băng đen. Ðường phố lạnh lẽo. Chị T nói ghé nhà Th. Tôi rủ đi xem Lê Sát chém Liễu Thăng. Chị T trách:

– Chỉ thích những trò hung bạo.

Chị không cười. Xe xuyên rừng vải chưa nở, cánh khép, trắng yếu ớt. Nhà Th trồng một chậu mai chiếu thủy, hương rắc tận chân núi Bái Vọng.Th đợi chúng tôi suốt đêm. Khuôn mặt anh nhầu nát, nhưng đầy kiên nhẫn. Trông thấy chúng tôi, Th đạp máy. Hai xe Cub chạy song song. Chị T mặc jupe, ngồi một bên đong đưa giầy trắng. Gió mát, cây cối im, đường đất đỏ tươi. Xe qua chùa Tư Phúc. Th chỉ:

– Khi Thái Tôn đuổi về lãnh chức quan đề cử, Nguyễn Trãi giữ chùa này.

Anh ngâm: “Anh hùng để hận mấy nghìn năm”.

– Thơ Nguyễn Trãi?

Chị T hỏi. Th gật đầu. Tôi thắc mắc.

– Sao không thấy khắc trên vách?

– Không được phép.

Th cầu nhầu.

Tiếng xe Cub rù rù. Ðường lên ải Chi Lăng khúc khuỷu. Chúng tôi không ngớt trả số. Cảnh sắc thay đổi, mây xám, núi đen, ruộng su hào xanh bật. Mặt ruộng đầy vết xe tải.

– Bọn buôn hàng Trung Quốc mỗi ngày qua đây trăm bận. Th giải thích.

– Có Lê Sát nào chận không?

– Bận xây khách sạn cả rồi.

Anh rú ga phóng lên trước. Qua khỏi đèo đổ dốc, tuột như trôi, tiếng phanh xe hơn tiếng lợn thổ huyết. Chúng tôi trả tiền vào bãi. Hai mươi ngàn vé Nhã Nam. Sáu mươi ngàn vé Nhã Nam kiều.

Nghĩa quân Lam Sơn chật rừng. Giáo mác tủa, cả vùng như cắm chông. Gió lớn. Cờ Quyết Thắng lượn rắn. Lê Thụ vận giáp trụ, người thô, trán ngắn. Lưu Nhân Chú, Lê Linh cởi truồng, mình xăm. Lê Sát múa đại đao xoăn xoắt. Nguyễn Trãi ghìm ngựa trước “Ngõ Thề”. Trãi mặc áo vải tơ tằm, xinh như một thiếu nữ. Chiêng gióng sáu hồi, quân Minh từ Quỷ Môn Quan kéo xuống. Lê Sát thúc ngựa kiệu qua vách núi Hàm Quỷ và Cai Kinh, người ngựa gân guốc vượt lũy. Chinh Lự An Viễn Hầu Liễu Thăng hoa chùy đánh. Lê Sát quầy ngựa, hồi mã thương, đường đao đẹp như ánh lửa.

Lũ trẻ giành nhau thủ cấp, cả bọn lừa đá. Lê Sát lấy găm rạch lườn Liễu Thăng thích gan bỏ vào bình ngâm sẵn rượu thuốc. Chị T nhắm mắt.

Giấc trưa về, đường khô, nắng gắt, tôi với chị băn khoăn:

– Chết thật hay giả?

– Cái chết nào cũng thật, không cái chết nào giả.

Th trả lời, lầm lì. Chị T vẫn còn sợ, tôi khiển xe, chị ôm lưng, tay lạnh ướt. Hương mai chiếu thủy tiết từ núi Bái Vọng nhờ nhợ không đủ lấp mùi tanh. Vợ Th dọn sẵn cơm. Thịt rắn bầm, tiết rắn pha, da rắn chiên dòn, cháo rắn hạt sen. Chị T không dám đụng đủa.

Chiều có tin nhạc sĩ VC chết. Chị T buồn, chúng tôi ra quán. Phố Nguyễn Du đầu đường có hiệu cơm Bà Ðại đắt vì tổng thống Pháp đến ăn chụp hình, cuối đường quán Buffalo chơi nhạc jazz. Chị T nói — Nhã Nam ngoài ăn uống không biết làm gì. Chúng tôi ngồi nghe nhạc. Năm trước về, tôi ấn tượng trở về quá khứ, năm nay bước vào tương lai. Quá khứ hung bạo và tương lai hung bạo. Chị T nhắc chuyện nhạc sĩ VC mất. Hỏi có đi đám? Tôi lắc đầu. Mỗi thế hệ có một cái chết riêng. Chiều xuống nắng nở trên da những đứa bé đánh giầy. “Da nước mưa” như Duras tả trong Người Tình. Chúng tôi kêu phục vụ để nhạc S. Ca sĩ Hn gọi nắng. Tôi với chị T nghe bản nhạc nhiều lần. — Nhã Nam, sống giữa nắng, xúc cảm hết lời nhạc. Hn gọi nắng da diết. Nắng chết trên sông, trên mặt lộ. Chữ chết bất tận.

Chị T về nhà Ns. Tôi bỏ chị ở đường 3 tháng 2.

Nhà Th khuya khoắt. Sương đêm phủ tím vải rừng. Ngôi nhà cụ Ðán tịch mịch. Chậu mai chiếu thủy lạnh biếc. Th biến mất. Ngõ tối. Ðèn chai thắp yếu ớt. Tấm phên rã rời mở ra vườn sau đối núi Bái Vọng. Tôi gọi Th. Tiếng la gào vào núi. Bóng thiếu nữ lướt qua sân. Áo lụa tan như trăng.

Tôi yêu Trãi trăng đêm mười bốn. Mười bốn trăng vừa, tắm sáng mặt khuya. Lưng Trãi thon, thơ hiện như vẽ. Ðêm rừng vải gót nhạc cười nụ soan. Tôi níu gọi:

– Ðề thơ nữa đi.

– Thơ Góc Thành Nam.

Trãi cười, buồn.

“Góc thành nam, lều một gian”

“No nước uống, thiếu cơm ăn”

Trăng tắt. Ðêm rụng. Bài thơ chưa hết lời.

Lúc tôi trở ra phố, nắng ướt vai chị T. Lịch treo tường đề mười hai, nhạc sĩ VC chết mùng mười, tôi ở trong rừng vải suốt hai hôm. Hai hôm không gặp, chị T đi Ðà Nẳng, tắm biển Non Nước, da ngăm, tươi muối. Hai hôm trong rừng vải tôi không biết tin: Ðế quốc bang giao với Nhã Nam. Chị T dẫn tôi đi xem suối bia, khắp Nhã Nam ăn mừng.

Trưa, chúng tôi mướn xe Cá Mập đi Nghệ An. Xe tốc hành, chạy suốt, thuê bao trọn gói. Th cầm lái. Dọc đường hướng dẫn:

Năm Ắt Tỵ Lê Lợi vây thành Nghệ, truy bắt Lý An, Phương Chính. Nghĩa quân đồn trại dọc sông Lam. Ðêm trong đền thờ thần Phổ Hộ làng Trào Khẩu, vương nằm mộng dữ, người lạnh, lưỡi khô, trông thấy sóng gào, gió giật, cờ gẫy, thuyền đắm. Sáng tỉnh giấc, vả mồ hôi, tê chân, tái sắc. Nguyễn Trãi tâu:

– Ðiềm hà bá bắt vợ. Nhưng vương từ Lam Sơn dấy nghĩa, lấy chí nhân thay cường đạo, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, không nên mê tín.

Vương ám ảnh ác mộng, lo bản mệnh, băn khoăn:

– Xưa vua Lý nhờ vợ chồng Vũ Phục nhảy xuống sông Thiên Phù hiến xác thủy thần mà khỏi bệnh đau mắt, có gọi là mê tín?

Nguyễn Trãi câm. Trướng màn tanh.

Xe vô bãi. Du khách chật sông. Tôi với chị T mua vé thượng hạng sát đài. Vương đứng trên đàn cao, lưng ba trượng, mắt quả quyết. Nguyễn Trãi ôm tráp hầu, Trần Nguyên Hãn che lọng. Lê Lễ, Lê Ngân cầm côn bảo vệ. Nghĩa quân tiến qua đài, cờ huyết lộng. Chiêng trống rùng rùng. Gió Bắc đẩy mây, phèng khua. Vương trỏ sông Lam quát:

– Nay ta vì nghiệp bá hiến thiếp. Thề phá thành Ðông Quan phong con trai Phạm Thị Ngọc Trần làm thái tử.

Pháo nổ. Lê Sát chém ngựa hứng máu. Lính lôi Ngọc Trần khỏi trướng. Ngọc Trần trẻ son, mắt liễu, môi dâu, ẵm Nguyên Long lên ba, khóc thảm. Lê Sát quật hèo, lính khoá củi. Nguyên Long gào mẹ. Củi dìm xuống sông Lam, Ngọc Trần dẫy, sóng tung toé. Một mớ tóc bùng nhùng nổi lên mặt nước. Gương mặt chị T tái nhợt.

Ðường về tôi với chị trăn trở, không yên. Trước lúc ngừng xe, Th hỏi: Còn nhiều trò nữa xem không? Chị T đáp Ðủ rồi. Tôi tránh nhìn Th, hình ảnh mớ tóc bùng nhùng trôi mãi trên nước.

Ngày 13, tháng Thân, năm Hợi, tôi trở lại nhà cụ Ðán. Cơn giận cứng mười ngón tay. Tôi chở chị T bị xe buôn củi đụng, bọn ba gác tháo chạy, chị ngã vỡ đầu, xuất huyết não, chở vào Trung Tâm Cấp Cứu Quận Nhất không ai khám, sang bệnh viện Nguyễn Tri Phương chị mê man cấm khẩu, y sĩ trực mắng bệnh nhân không hợp tác. Tôi gây, thuê xe cấp cứu sang Chợ Rẩy. Bệnh viện lớn nhất Nhã Nam bẩn, nghèo nàn, nằm ngồi la liệt. Nh bạn chị T được tin đến viện, đưa tiền bồi dưỡng. Bác sĩ khám nói máu tụ não bắt mỗ. Chị T mê man. Gia đình Nh đi mua máu, nước biển, kim chích, thuốc trụ sinh. Tôi tìm Th.

– Tất cả chỉ là tưởng tượng.

Tôi quát. Th đang ngồi đọc sách, mắt đỏ rực.

– Không ai hư cấu được sự thật.

Anh gằn, nhưng chỉ đứng yên nhìn tôi phá bàn thờ cụ Ðán. Vườn vải nát, núi thấp, mây cụt. Tôi trở lại bệnh viện, chị T vẫn hôn mê, thở ô xy, vết mỗ bầm máu, giường rỉ sét. Tôi đợi ngoài hành lang, thân nhân trực bệnh ngủ cầu thang lê lết xuống sân. Các bà mẹ Nhã Nam khóc thút thít. Nhà thương giống trại hủi.

Tôi rời Nhã Nam cuối tháng Thân. Chị T vẫn nằm viện, tay phải và chân phải chưa cử động. Th tiễn, gương mặt anh tầm thường giống triệu người nhưng tôi vẫn nhận ra. Máy bay lên cao. Tôi đọc lại truyện Th. Mưa Nhã Nam tả Ðề Thám quất ngựa dưới mưa nhiệt đới, khóc nức nở đời người. Ðề Thám khóc vì bán một người đàn bà cho định mệnh khắc nghiệt. Th mở đầu câu chuyện khinh bỉ tất cả:

Tôi sẽ kể chuyện này cho cậu, cậu câm miệng đi, cậu còn trẻ quá, cậu là thằng ngốc. Tôi sẽ kể chuyện này cho cô, vì cô sẽ đi lấy chồng. Lúc ấy toàn những nhọc nhằn thôi, không ai kể chuyện cho cô nghe cả.

Anh kết bằng một câu vô cảm: Tôi kể chuyện này đến đây là hết.

Tôi gấp sách. Máy bay bình phi, ba mươi ngàn bộ. Trên cao, mưa Nhã Nam trong, đẹp như hạt ngọc./.

5/ 8/ 1995

© Copyright Trần Vũ