Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 31 Oct 2024

Chương 26
GIA NHẬP VIỆT TÂN

Chiến hữu Võ Hoàng (khoanh tròn ở giữa) từ khu chiến về tham dự
Đại Hội Trưởng Cơ Sở ngày 17-19/1/1986 tại Los Angeles, Mỹ.

https://drive.google.com/file/d/1ZdanXop_ecPlCZ9TBrOMme4RxZfcBkhS/view

Tướng Hai

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on May 3rd, 2024

Post by Sơn râu 29 Oct 2024

Sinh tháng Giêng năm 1929 tại Cần Thơ, Chuẩn tướng Trần Văn Hai (1929-1975) Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thay thế Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.

Tướng Hai thương yêu và chăm lo đời sống của người lính dưới quyền hết mực. Đầu năm 1968, là Đại tá Tư lệnh binh chủng Biệt Động Quân, ông đã ra tận Khe Sanh, nhảy xuống chiến trường, lặn lội đến từng chiến hào để khích lệ chiến sĩ Tiểu Ðoàn 37 Biệt Ðộng Quân, dưới những cơn mưa pháo rền trời của quân CSBV.

Trước biến cố 30 tháng 4 năm 1975 khoảng hơn một tuần, đích thân Tổng thống Thiệu cho máy bay riêng xuống rước Chuẩn tướng Trần Văn Hai di tản; nhưng ông thẳng thắn từ chối. Tướng Hai cương quyết ở lại sống chết với binh lính của mình.

Trong ngày cuối cùng, người ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và những người lính dưới quyền trở về với gia đình. Nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại bảo vệ vị chủ tướng của họ. Khoảng xế trưa, một đơn vị VC thận trọng tiến vào Ðồng Tâm và nhỏ nhẹ đề nghị xin được tiếp quản căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn, bên trên có hai cái đế nhỏ gắn lá Cờ Vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, nghiêm nghị đòi hỏi VC phải cử một viên sĩ quan cấp sư đoàn trưởng đến gặp ông. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. Tình hình rất căng thẳng, hai bên giương súng ghìm nhau. Mãi lâu sau mới có một người gõ cửa xin vào rụt rè tự nhận là sư đoàn trưởng. Chuẩn Tướng Hai bất ngờ rút súng lục ra nổ mấy phát vào viên sĩ quan VC. Với khoảng cách rất gần đó, ông có thể giết chết đối phương dễ dàng, nhưng ông chỉ bắn tay này bị thương nhẹ, hắn hoảng sợ chạy ra ngoài. Tướng Hai muốn cho địch biết, rằng muốn chiếm được nước Nam thì họ phải trả một cái giá nào đó. Chiều tối cùng ngày, Chuẩn Tướng Hai đã uống thuốc độc tự sát trong văn phòng tư lệnh.

Chuẩn tướng Trần Văn Hai 

Thân mẫu của Tướng Trần Văn Hai tuổi già tấm lưng còng còm cõi với thời gian, nhưng với lòng thương con như biển, bà đem được thi thể con mình, một vị tướng vừa anh dũng bỏ mình vì tổ quốc để về Gò Vấp mai táng.

Nghẹn ngào trong nước mắt, khóc nước mất nhà tan, bà nhận gói di vật của con bà, một vị tướng vừa tuẫn tiết, từ tay một vị Trung úy sĩ quan tùy viên. Trong di vật đó có một vài vật dụng cá nhân và số tiền 2 tháng lương khiêm nhường của một vị Chuẩn tướng là 70,000 đồng. Là một người con hiếu thảo, trước khi ra đi người còn cố gửi về cho mẹ số tiền ít ỏi đó.

Theo một cuốn sách của một sĩ quan tình báo Hoa Kỳ, phục vụ trong chiến tranh Việt Nam.

Tướng Hai có Sư đoàn 7 QLVNCH ở biên giới Campuchia, ngay dưới Mỏ Vẹt. Sư đoàn của ông là lực lượng Nam Việt Nam duy nhất chống lại quân CSBV ngày càng tăng bên kia biên giới Miên muốn đưa quân tiếp cận thủ đô Sài Gòn.

Từ trái: Chuẩn tướng Trần Văn Hai – Tư lệnh Biệt khu 44-Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng – Tư lệnh Quân đoàn 4 và Chuẩn tướng Nguyễn Khoa Nam. nguồn Flickr

James Parker (đặc vụ liên lạc tình báo CIA Hoa Kỳ tại Quân khu 4) đã gởi phúc trình về Trung ương Tình báo Mỹ tại Langley, Virginia: “Tướng Trần Văn Hai là vị tướng duy nhất của VNCH đã phân tích tình hình chiến sự và tiên đoán đúng 30 tháng 4 năm 1975 là ngày quân CSBV sẽ có mặt tại Sài Gòn. Và sau đó, James Parker được giải thưởng cao quý nhất của tình báo Mỹ năm 1975.

James Parker thuật lại: “Cũng lối vào lần này như lần trước, đi bộ một đoạn dài từ sàn gỗ đến chỗ bàn ghế mái hiên, Tướng Hai lạc vào làn khói thuốc lá lung linh trong căn lều tối. Và cuối cùng, khi bắt đầu nói, ông đứng dậy, và tôi không chắc liệu ông có quyết định bắn tôi hay không, khi ông để bao súng mở ở thắt lưng và tay ông trên báng của khẩu súng lục.

Tôi không nhớ ông ấy đã nói cụ thể tên của Thượng nghị sĩ Church, tôi chỉ không nhớ. Tôi sợ hãi tột độ. Ông ấy xem lại tất cả những gì Church đã nói trong khi tôi không biết ông ấy học tiếng Anh ở đâu? Nhưng ông ấy có khả năng sử dụng ngôn ngữ rất tốt và một trong những lý do ông ấy cho phép tôi đến thăm vài ngày một lần là vì ông ấy thích sử dụng tiếng Anh của mình và tôi là người Mỹ duy nhất đã đến thăm. Ông đã đả kích tôi bằng những bình luận về cách Hoa Kỳ đang thực hiện trách nhiệm của mình trong cuộc chiến chống lại bọn CS Bắc Việt. Ông ấy không ngần ngại, không giữ kẽ trong những bình luận của mình. Tướng Hai buộc tội tôi phải chịu trách nhiệm, bởi vì đối với ông ấy, tôi là đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ.

Sĩ quan CIA James E. Parker Jr., (trái) tại Việt Nam.

James Parker cũng tiết lộ là ông đã bị Tướng Hai chửi như tát nước vào mặt bằng tiếng Anh về việc Mỹ phản bội đồng minh, bán đứng VNCH. Và James Parker đành phải chịu trận ngồi nghe, không dám phản ứng (vì biết Tướng Hai đã chửi đúng). James Parker run sợ vì tưởng Tướng Hai sẽ rút súng bắn chết mình.

Một điều làm cho James Parker bật ngửa, tá hoả tam tinh, lùng bùng lỗ tai là Tướng Hai dùng những từ ngữ tục tĩu nhất của tiếng Anh một cách lưu loát để chửi lãnh đạo nước Mỹ và bảo James hãy chuyển những lời ông chửi đến tai của họ! James thú nhận cũng không biết tướng Hai học ở đâu và hồi nào thứ ngôn ngữ ấy (vì trường Sinh Ngữ Quân Đội đâu có dạy kiểu như vậy)

Trích: “Hai nói tiếng Anh bản ngữ và có thể chửi thề như một thủy thủ Mỹ. Ông có thể sử dụng bom “F” trong ngôn ngữ của chúng tôi – động từ, danh từ, tính từ, trạng từ, liên từ.

Theo cách xưng hô của người Việt khi kính trọng một ai, chúng ta thường gọi cấp bậc cộng với họ tên như: Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam…Người Mỹ kính trọng một ai họ thường gọi cái họ thí dụ: Thống tướng MacArthur (1880 –1964) mặc dù tên ông là Douglas. James Parker gọi General Hai, đôi khi chỉ là ‘Hai’. Gọi như vậy không phải là coi thường mà là kính trọng và yêu mến tướng Hai.

Tướng Hai, ông là vị tướng anh hùng của tất cả chúng tôi là những người lính của ông.

ĐXT

Người tình

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

July 28th, 2022

Post by Sơn râu 29 Oct 2024

Tranh Hồ Đắc Vũ

Tranh Hồ Đắc Vũ

Albert trở về với giấy giải ngũ vì “Thương tật” nhưng tuyệt nhiên không một vết thương trên người hoặc trong người; chỉ biết khi hoàn tất hồ sơ giải ngũ, cô bác sĩ nói “Cả trung đội bị nhiễm hóa chất”.

Lúc ở chiến trường Baghlan, Bắc Afghanistan, anh có nghe phong phanh: Không quân đã thực hiện những nhiệm vụ mật, thả hóa chất triệt tiêu không khí trong các hang đá ngầm của khủng bố Taliban. Ðiều này đã ảnh hưởng tới trung đội viễn thám Ranger của Albert, và chính anh.

-oOo-

Tại khu nhà săn sóc người già Malden.

– Chào ba, con Albert đây.

Ông Donovan chưa già lắm, mới 61 tuổi, nhưng ở một mình, bị bệnh lãng, không ai săn sóc, nên nhân viên lo cho người già đưa ông vô sống ở khu này.

Ông nằm trên giường, đôi mắt đục, thất thần, nhìn vào khoảng không trước mặt, thì thầm:

– Al…b…ert!

– Không có hy vọng gì cho trí nhớ của ông…

Cô y tá nhún vai, tiếp:

– …cả những chuyện bữa nay và xa xưa, có thể ngày khác ông sẽ nhớ, bất thường lắm.

Albert hôn tay ông, xách ba lô ra cửa, cô y tá nói theo:

– Tôi có nghe ông gọi tên anh vài lần.

Melrose không thay đổi gì lắm sau 5 năm anh ra đi, chỉ thêm một ít tiệm ăn nhỏ và vài dãy condo quanh mấy cái hồ, vẫn yên lặng nhẹ nhàng, vẫn những bà già, ông già chậm chạp mua thịt trong siêu thị, tà tà dắt chó băng qua đường, vẫn các cô gái trắng hồng tung tăng tóc đuôi ngựa chạy dọc khu rừng với con đường vòng lên xuống mỗi sáng.

Albert xin ngủ đêm miễn phí tại YMCA, ban ngày tìm việc làm.

6 giờ sáng, anh ghé Home Depot, đợi người ta tới kêu làm việc mỗi ngày, như cắt cỏ, khuân vác, dọn vườn, chuyển hàng, dọn nhà.

Cả tuần nay, anh dọn vườn, trồng hoa, cắt cỏ cho một gia đình người Do Thái.

Ông chủ nhà nói:

– Anh cắt các lùm cây thấp quá, tôi bớt thù lao.

Albert:

– Vợ ông muốn như vậy.

– Nhưng tôi là người trả tiền, tôi bớt anh $20.

– Không sao…

Ông chủ nhà trả $50, Albert bỏ vô túi.

Anh bật cười:

– … nhưng các lùm cây vẫn thấp… như ông!

Anh bỏ đi.

Hôm sau, vẫn các người tìm việc hằng ngày, tụ tập trước Home Depot.

– Hê! Anh cần việc làm.

Cô gái Tàu từ trong chiếc BMW trắng hỏi.

– Tôi?

Albert chỉ vô mình.

– Ừ! Anh.

– Tôi cần làm việc.

– Anh biết làm gì?

– Làm vườn, dọn nhà, khuân vác, lau chùi nhà, cắt cỏ, dắt chó đi chơi… Vệ sĩ, nhân viên an ninh và bắn súng, nếu cần!

Cô Tàu cười thật tươi:

– Ok! Lên xe.

Công việc đầu tiên là lau chùi 2 chiếc xe BMW du lịch và chiếc Mercedes G-550; dọn sạch sẽ tầng hầm 2 phòng ngủ, cắt cỏ chung quanh căn nhà 4,000 feet vuông với vườn cỏ chạy thẳng tới hồ Ell, Melrose.

Cô Tàu ra vườn, đưa 6 lon bia:

– Chắc anh đã mệt, cần nước men, mời.

Cô để bia và cái phong bì trắng xuống bàn:

– Cám ơn, ngày mai tôi cần sơn lại hàng rào và trồng hoa Tulip trước nhà.

– Cám ơn, tôi sẽ tự đến, 8 giờ sáng.

Cô Tàu vô nhà, Albert khui lon bia lạnh, mở phong bì.

Anh cầm 3 tờ $100, áp vô ngực, thở một hơi mạnh: “Ðây là món tiền lớn nhất có được từ khi giải ngũ”.

4 giờ chiều, Albert đã xong việc, anh tưới sơ vườn Tulip.

– Hello!

Cô Tàu hé cửa, gọi:

– Anh vô đây.

1 đĩa sashimi, 1 đĩa sushi, 1 đĩa sò nằm trên quầy bếp.

Cô Tàu:

– Ngồi đi. Anh uống gì?

– Cái gì cũng được.

– Hibiki 17, scotch Nhật?

Cô Tàu lấy chai rượu, rót 2 ly nhỏ.

– Với đá?

Mỗi ly 2 cục đá.

– Tôi thấy anh làm việc quá ngon lành, nên mời chầu rượu. Tôi là Lã Nương, Mỹ gốc Trung Quốc.

Cụng ly, Albert lấy con sò lạnh, gắp miếng cá thu trắng óng mỡ.

– Tôi là Albert, Hạ sĩ, lính bắn tỉa, TQLC Mỹ giải ngũ…

Lã Nương quay lưng bước tới tủ lạnh.

– …26 tuổi, độc thân, Con trai duy nhất của ông Donovan, hiện ở Nhà Dưỡng bệnh người già.

Cô quay lại:

– Tôi biết về anh, nên muốn mướn anh làm việc.

Albert há miệng, bỏ miếng cá trên đũa xuống đĩa.

– Việc gì?

– Tài xế cho tôi và cho công ty nhập cảng hoa từ Mễ Tây Cơ, Trung Mỹ về.

Chiều đó Albert xong chai Hibiki và Lã Nương mời “hái” cái hoa của cô cả buổi tối.

Sáng mai chở Lã Nương đi nhận hoa từ phi trường Logan.

Ðời Albert lên một nấc.

Với số lương ngon lành $6,000 một tháng, mỗi ngày Albert tự đi giao hoa cho 20 tiệm bán hoa trong vùng Massachusetts, đưa Lã Nương đi ăn nhậu, mua hàng hiệu, làm tóc, làm da, mát xa. Lã Nương quen biết, giao thiệp rộng nên thường ghé nhiều nơi thăm hỏi bạn bè và đôi khi Albert ở lại, nhậu qua đêm, vui vẻ “hái” hoa Lã Nương.

Albert đã dành dụm mua được căn condo 2 phòng ngủ nằm dọc bờ hồ Spot ở Melrose. Ngoài những khi làm việc, anh trốn hẳn trong căn condo yên tịnh, nhìn ra bờ hồ với khu rừng bao chung quanh đầy tiếng chim hót.

-oOo-

– Hello ba!

Ông Donovan nắm tay thằng con trai:

– Al… Bert.

– Con đây!

Ông vẫn nhìn vào khoảng không trước mặt, thì thầm:

– Ba muốn nhìn thấy hồ Sunapee, khu rừng thông và căn nhà trong rừng…

– Ðược! con sẽ dành thì giờ chở ba về đó thăm. Ðầu mùa Thu này!

Ông Donovan cười, chảy nước mắt.

Phone.

– Albert! Tôi cần anh sớm ngày mai.

-oOo-

7 giờ sáng ngày mai, Lã Nương không mặc gì trong bộ áo ngủ mỏng, ngồi ở bàn với 2 phần ăn sáng.

– Anh chạy xuống Orlando, Florida, giao mấy thùng hoa cho đám cưới lớn của người bạn Ý.

– Ngay bây giờ?

– Không gấp, ăn sáng xong.

Albert ăn sáng, bộ áo ngủ bày hàng tốn thêm anh 30 phút với cái “hoa” Lã Nương.

– Hello Lã Nương, tôi đã tới nơi.

– Anh đợi đến 7 giờ tối, giao tại nhà hàng đám cưới, tôi sẽ text địa chỉ, chạy thẳng về Georgia, tới địa chỉ này, nhận hoa, sáng mai về. Ok?

Mọi chuyện êm xuôi, Albert đi tới nơi, về tới chốn.

Sáng hôm sau, Albert vừa vô nhà, Lã Nương bước ra, đưa chiếc remote xe hơi.

– Chiếc BMW X3 mới tinh trong nhà xe là của anh.

– !!!

– Ðó là tiền thưởng cho chuyến giao và nhận hàng vừa rồi, hôm nay anh được nghỉ ngơi.

– Cám ơn Lã Nương.

-oOo-

Albert ra nhà xe, lấy chiếc X3, chạy thẳng tới nhà già.

– Tôi có thể đưa ba tôi chạy một vòng, về nhà ăn trưa, và đưa ông trở lại đúng 5 giờ chiều?

Cô y tá cười:

– May cho anh! Ổng đã nhớ lại Albert là đứa con trai duy nhất của mình

Albert chở ba, chạy một vòng Boston, ra tới bờ sông Charles.

– Sông Charles đó ba!

Ông Donovan nheo mắt:

– Ba muốn nhìn thấy hồ Sunapee và căn nhà gỗ mà…

Albert ôm ba:

– Ðược! Con sẽ đưa ba về đó.

Phone:

– Hello! Albert, ngày mai có việc.

Tranh Hồ Đắc Vũ

Cũng đúng 7 giờ sáng ngày mai, cũng 2 phần ăn sáng trong quầy bếp, nhưng Lã Nương mặc bộ đồ da Armani bóng lưỡng.

2 người ăn sáng.

Lã Nương:

– Có việc khó khăn cho tôi.

Albert cắt miếng thịt nguội, bỏ vô đĩa trứng cho Lã Nương, 2 lát thịt heo sấy, miếng thịt Ham dày cho mình.

– Ngày mai mình đi New York, giao 5 thùng hoa khô…

– Hoa khô?

Albert hỏi.

– Hoa đã sấy khô, được làm màu như thật, dùng cho sân khấu, cho nên…

Lã Nương, uống ly cam tươi, tiếp:

– … mình phải tới nhà kho của công ty kịch nghệ Broadway, nằm ngay cảng New York.

Albert nói:

– Thì tôi đưa cô tới.

– Nhưng đây là đám Ý khó tin.

Lã Nương nắm tay Alber:

– Tôi cần anh giúp…

– Thì giúp.

– … Với tài bắn tỉa của anh.

Albert khựng lại:

– Tôi phải làm gì?

Lã Nương nói từng tiếng:

– Tôi và người cận vệ của công ty sẽ tới đó với mấy thùng hàng bằng xe van, anh trốn trong một xe van khác, cách đó 300m, với khẩu súng bắn tỉa nhà nghề Ruger 22LR Black.

Lã Nương chậm lại:

– Nhắm tia hồng ngoại vô ngay trán tên Ý đầu sỏ, là người nhận hàng và chung tiền, sau khi người cận vệ giao hàng…

– Tôi sẽ bắn nó?

Albert hỏi.

Lã Nương cười lạnh:

– Không! Tôi sẽ chỉ cho nó thấy đốm đỏ hồng ngoại ngay trán, nếu nó giở trò…

– Hay!

– Nhưng anh phải bắn ngay nếu nó rút súng. Người cận vệ lo phần còn lại.

Albert suy nghĩ: “Tôi muốn quên đi, không đụng chạm tới vũ khí, mong có cuộc sống bình yên sau mấy năm chiến trận, tôi muốn làm một người bình thường vui với ba mình trong những ngày ngắn ngủi còn lại của ổng nhưng…”

– Ðược! Vì sự tử tế của cô đã dành cho tôi, tôi sẽ giúp cô chuyện này.

Và đúng như kịch bản của Lã Nương.

Nhà kho tối thui, cảng New York.

Thằng Ý Ronaldo:

– Ê Tàu! Bỏ hàng vô chiếc van bên hông tao.

Lã Nương ra hiệu, người cận vệ chuyển 5 thùng hoa khô vô chiếc van.

– Ê, mì Ý! Chung tiền.

Lã Nương chỉ mặt thằng Ý nhóc con:

– Bỏ bao tiền vô chiếc xe bên hông tao.

Thằng cận vệ đen bước tới, bỏ xách tiền vô xe.

Lã Nương la lớn:

– Ê, mì Ý, thấy đốm đỏ trên trán mầy không?

Thằng đen quay qua, nó thấy rõ ràng đốm đỏ trên trán thằng Ý, chỉ tay:

– Ronaldo, Ronaldo! Mẹ, có đốm đỏ ngay trán… Coi chừng, con Tàu chơi thiệt!

Lã Nương:

– Mầy cục cựa là khỏi tốn tiền hớt tóc. Biến đi!

Mọi chuyện êm xuôi.

Tối đó, tại phố Tàu Boston, căn condo trên nóc ngân hàng Shanghai.

Lã Nương và 2 người bạn Tàu từ Hong Kong:

– Chúng tôi cám ơn anh.

Họ rót chai Louis 13, đưa cao.

Cạn ly.

Lã Nương kéo Albert ra ban công.

Cô chỉ tay:

– Albert! Anh thấy cái penthouse trên nóc của tòa nhà kia?

Albert:

– Thấy.

Cô ôm anh.

– Của anh từ bây giờ.

Albert dọn về căn penthouse đẹp, sang như thường thấy trên tạp chí Playboy. Anh hưởng cuộc sống xa hoa, yên ả trên tầng lầu 20, với cái két sắt giấu trong tường dầy $300,000 tiền mặt.

Anh phone:

– Cám ơn Lã Nương.

– Ðó là thù lao cho những gì anh đã giúp em, tối em tới.

Lại một đêm hái “hoa”.

-oOo-

Albert đang ngồi bên ông Donovan. Mấy hôm nay ông vui, khỏe, máu và đường đã xuống mức bình thường, đặc biệt là:

– Albert! Con nhớ căn nhà gỗ…

Albert ngắt lời:

– Có các cửa sổ màu trắng, nằm ở khu rừng thông quanh hồ Sunapee…

Donovan:

– Ba hay chèo chiếc kayak đi câu cá. Mẹ con xông khói những con cá hồi lớn cho mùa Ðông.

– … Và con có món cá hồi sốt tiêu…

– Ba muốn tới đó…

Phone.

– Hello! Albert, có chuyện cần.

– Ok, tới ngay.

Anh quay qua ôm ba.

– Con sẽ đưa ba về thăm hồ Sunapee, căn nhà gỗ… Con có việc bây giờ.

-oOo-

Tại căn penthouse của Albert.

Lã Nương và Wok, tay cận vệ người Trung Quốc, mặt lầm lì, xanh xao như dân chơi thuốc phiện chuyên nghiệp đã ngồi ở bàn. Albert cắt đĩa xúc xích bò, blue cheese, ô liu tươi mang tới, anh lấy chai Glenfiddich 21, rót 3 ly có đá.

Lã Nương:

– Ngày mai, 8 giờ sáng, chúng ta đi nhận 2 thùng hoa ở Paterson, New Jersey.

– … Và tôi làm tuồng bắn tỉa hù tụi nó?

Albert cười, Lã Nương:

– Không! Wok là người bắn tỉa, canh cho tôi và anh tới nhận hàng.

Cô cạn ly rượu, ăn miếng blue cheese.

– Ðó là hầm cầu xe lửa, khu hẻo lánh…

Lã Nương mở túi xách, đưa cho Albert khẩu Ruger SR40c nhỏ gọn:

– Anh xài cái này, sẽ không có chuyện đấu súng như trong phim, vì chúng ta chỉ là những người buôn bán hoa.

– Vậy mang súng theo làm gì?

Albert hỏi.

– Ðây là bọn nông dân Nga, loại đầu trộm đuôi cướp, thấy mình mang tiền mặt, nhiều lúc cướp luôn, tôi đã bị năm trước.

Cô rót 3 ly rượu đầy.

– Anh chỉ mang trong người, đề phòng tụi nó giở trò. Wok cũng vậy, tụi mình lấy hàng bỏ lên xe, mình chạy một mạch tới casino Foxwoods, ăn tối, đánh bài một đêm, sáng mai về Boston. Ok?

Từ Paterson, băng đường rừng, Wok, treo người trên một cây thông cao, cách hầm xe lửa chừng 300m, thủ khẩu bắn tỉa Ruger 22LR Black, Albert và Lã Nương tới chỗ hẹn.

Lã Nương nhá đèn hiệu. Trong hầm, chiếc Land Cruiser chạy chậm ra, ngừng lại. Người đàn ông ốm, mặc bộ quần áo công nhân màu xanh, bước tới khoe 2 tay, chứng tỏ không vũ khí, và không có ai thêm.

– Tôi để hàng trên mui xe, cô mang tiền tới lấy.

Lã Nương mang va ly tiền, Albert đi sau. Cô đặt trên mui xe.

Trong nháy mắt, người đàn ông Nga cúi xuống, rút khẩu shotgun giấu sau lưng chĩa vô mặt Lã Nương. Cô thụp người, Albert phóng qua.

Tiếng bụp khô khan của Ruger 22LR Black thổi bay nắp sọ của gã Nga, máu, não, văng tung tóe, từ cửa sau, khẩu M-18 ló ra, nhả đạn, Lã Nương lăn một vòng, 4 tiếng súng Ruger SR40c của Albert đã tắt đài khẩu M-18, thằng nhóc Nga nằm vắt mình qua thành cửa.

Lã Nương chụp 2 thùng hàng, chạy tới xe, Albert chạy theo, cô bỏ hàng ở ghế sau, la lớn:

– Chạy lẹ!

Albert ngồi vô xe, mở máy, phóng.

Xe ra khỏi khu vực, chạy về Foxwood.

Albert:

– Tôi không nghĩ rằng chúng ta giết địch thủ trong chuyện buôn bán hoa, Lã Nương tôi muốn cô nói rõ chuyện mình làm…

Lã Nương cười:

– Tấp vô bên đường.

Xe ngừng bên đường.

– Chúng tôi buôn bán cần sa, bạch phiến, các loại thuốc ma túy, ngụy trang dưới những thùng hoa, anh muốn biết gì nữa?

Albert thở một hơi dài.

“Tôi không muốn tìm một cái chết tồi tệ khác, ngoài chiến tranh, tôi không muốn tham gia trò chơi này!”

Albert bước tới:

– Lã Nương, đây là lần cuối cùng, tôi không muốn tiếp tục.

– Ðâu có gì nguy hiểm cho anh. Thù lao lớn.

– Xin cám ơn, không! Tôi muốn có công việc bình thường, để sống như một người bình thường.

Mắt Lã Nương rực lên tia sáng kỳ lạ:

– Anh dứt khoát không hợp tác? Ðược, lên xe!

Albert ngồi vô ghế, cài dây belt, bấm máy.

Trong một phần trăm giây, anh không kịp nghe tiếng bụp khô khan của khẩu Ruger 22LR Black bắn tỉa quen thuộc.

Cái đầu của Albert nổ tung như trái dưa hấu.

-oOo-

Lã Nương rót 2 shot Mao Ðài, kéo tay sát thủ Wok ra ban công, cô chỉ tay.

– Wok! Anh thấy cái penthouse trên nóc của tòa nhà kia?

Wok:

– Hầy!

Cô ôm anh:

– Của anh từ bây giờ.

-oOo-

“Albert rước ba mình ra xe.

– Mình chạy lên hồ Sunapee, thăm căn nhà ngày xưa.

Ông Dovan cười rạng rỡ.

– Tuyệt quá Albert! Ba cám ơn con…”

Nhưng…

Albert không bao giờ tới, ông Donovan cũng không bao giờ có dịp nhìn lại hồ Sunapee và căn nhà gỗ trong rừng của mình.

Albert bây giờ là hồn ma bóng quế, sống vất vưởng ngay chỗ ngừng của xa lộ I-84 từ New Jersey về casino Foxwood.

HĐV

Người bạn “tốt”

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Post on October 20th, 2022

Post by Sơn râu 29 Oct 2024

Hello! Chou đây, chiều qua làm mấy chai! Có bê thui tươi, dê nướng ở trại mới mang lên.

Lâm cười trong máy:

– Ngon. Tui mang chai Hibiki 17 cho ấm bụng luôn.

Bác sĩ Chou, gốc Tàu Hồng Kông, nhà bên kia đường, là người bạn hàng xóm, hai năm qua kể từ khi Lâm dọn về thành phố Melrose, làm việc tại Trung tâm điều hòa lưới điện. Chou thường gọi qua cụng ly cuối tuần.

Lâm và Chou cùng 42 tuổi, Lâm đã có vợ 7 năm. Chou thì sống độc thân trong căn nhà thênh thang với khu vườn đầy hoa hồng và con chó nhỏ.

Chou có bạn là chủ nông trại, thường mang bê thui hoặc dê nướng lên tặng vì ân nghĩa cấp cứu bệnh tim cho ông ta.

Chou lấy hộp nhựa lớn, đựng đầy bê thui, mở gói giấy nhôm, lòi ra 10 xiên dê nướng, đặt xuống bàn:

– Lâm, ông trộn bê lại giùm, có gói thính, hành tây, ngò sẵn trên bàn. Tui nướng sơ mấy xiên dê.

Mười phút sau, Lâm khui chai Hibiki, mùi scotch Nhật thơm nồng mũi, rót ra hai ly, bỏ hai cục đá vuông, đưa cho Chou một ly:

– Vô cái mở hàng.

Chiều đầu Thu thật êm, bờ rào gỗ trắng sau vườn chắn ngang vạt nắng, hắt những vạch dài xuống thảm cỏ xanh những vệt sáng như tia laser cắt đều trên vườn bông hồng nhung, thành những sọc ngang tới bức tượng thằng bé cầm cu nổi tiếng của Bỉ bên góc vườn.

Lâm khen:

– Tượng thằng nhỏ tưới bông hồng đẹp quá.

Chou làm ngụm rượu, đứng dậy:

– Năm đó đi du lịch bên Bỉ với cô bạn gái.

– Cũng có bạn gái?

– Hồi xưa.

– Cổ người Ý. Sau khi mang bức tượng cu nhỏ này về nhà thì chia tay vì, thứ nhất, cổ thích mì ống, tui chuyên ăn mì Tàu.

– Còn điều thứ 2?

Chou tần ngần:

-Cổ nói: “Anh bỏ $5,000 mua tượng thằng nhỏ cầm cu, mà không mua cho em cái đồng hồ Cartier có $2,000. Anh keo hơn Super Glue”.

Chou gật gù:

– Cổ nói đúng, tôi mê tượng hơn cô ta. Vậy là sáng hôm sau cô biến đi New York; nghe nói lấy thằng Tàu Trung Quốc buôn bán cần sa, giàu sụ.

Lâm ngồi xuống bàn, rót hai ly rượu, lấy xiên dê nướng:

– Vậy là từ đó thôi luôn, không lấy vợ cho tới giờ?

– Ừa, thằng nhỏ cầm cu làm tui xui luôn, ế triền miên. Ðâu được vợ ngon lành như ông.

Lâm cười nhẹ:

– Cũng không ngon lành gì đâu.

Chou gắp bê thui, kéo ghế:

– Sao không?

– Thì như ông biết đó. Bảy năm rồi mà tụi tui đâu có con.

– À, chuyện này thì xứ Mỹ coi như bình thường. Dân Mỹ vừa làm tình vừa coi football… hiếm con là đúng, còn ông, nên coi lại.

Chou nhún vai, cạn ly rượu, tiếp:

– Bê thui ngon quá. Hồng Kông không có món này. À, bảy năm chưa có con, có bệnh hoạn, trục trặc sinh lý gì không?

– Không.

Tranh Hồ Đắc Vũ

Cuối tuần sau, lễ lao động.

Lâm phone:

– Có món đặc biệt: nem Huế nướng, bún bò. Chiều qua tui.

Bảy giờ, Ngọc – vợ Lâm – sắp xong bàn tiệc nhỏ, ngoài vườn.

– Hello em! Anh Chou qua chơi.

Ngọc quay lại:

– Chào anh, mời.

Chou đặt chai whiskey xanh xuống bàn, Lâm mang ra đĩa nem Huế:

– Bạn dưới Cali gởi tặng. Nem chua Huế chính cống, ăn thử đi.

Chou rót hai ly rượu, cụng, lấy miếng nem Huế nướng, bỏ vô miệng:

– Ngon quá ông. Lần đầu tôi ăn món này, làm miếng nữa được hông?

– Tự nhiên, nhưng đợi chút.

Lâm ra vườn hái hai trái ớt Huế đã chín, đưa cho Chou:

– Kèm thêm miếng này, ngon hơn.

Chou cắn miếng nem, làm miếng ớt:

– Cay quá!

Anh rót ly rượu, bỏ cục đá, nốc một hơi:

– Ngày nào ông cũng ăn ớt cay như vậy?

Lâm gật đầu:

– Một bữa ăn 2 trái.

Chou cười:

– Vậy, tui biết tại sao ông không có con rồi.

– Sao?

Lâm lật đật hỏi, Chou chỉ trái ớt:

– Ăn cay nhiều quá, cũng làm chậm có con. Nhưng ông yên tâm, thứ Hai ra phòng mạch, tui khám, rồi tìm cách điều trị là có con liền. Tướng ông cao to, khỏe mạnh, chắc là trục trặc gì đó thôi.

Lâm vỗ vai Chou:

– Rất cám ơn ông.

Chị Ngọc mang ra 2 tô bún bò thơm phức, để xuống bàn:

– Mời.

Chou vội vàng:

– Cám ơn chị.

Lâm khoe:

– Bả nấu ngon hơn ngoài tiệm nhiều, ông ăn một miếng thử coi.

Chou làm một muỗng, gắp miếng giò heo:

– Ngon quá chị.

Ngọc cười, vô nhà, Chou nói nhỏ với Lâm.

– Chị Ngọc đẹp lại có tướng khỏe mạnh, theo y học thì dễ có con. Khám ông xong, đưa chị ra tui khám luôn. Nếu có gì điều trị cùng một lúc, vài tháng là có con trai.

Lâm rót hai ly rượu, đưa tận tay Chou:

– Ông quá tốt – giọng xúc động – là người bạn quá tốt mà tôi có. Rất cám ơn Chou, cạn ly tình nghĩa này.

Hai người cạn ly. Chou cười khà khà:

– Ly tình nghĩa với tô bún bò quá ngon.

-oOo-

Thứ Hai, Lâm chạy thẳng tới phòng mạch của Chou.

– Ông cởi hết áo quần treo trên móc, nằm xuống bàn.

Chou đặt ống nghe vô ngực Lâm:

– Hít hơi dài, thở ra nhẹ.

Rồi quay qua lưng:

– Hít hơi dài, thở ra nhẹ.

Chou đeo găng tay:

– Giạng chân ra, tui khám chim.

– Quay lưng lại, khám hậu môn.

Chừng 20 phút thì xong.

Chou đưa cho Lâm một chai nhựa nhỏ, có nắp đậy.

– Ông vô phòng tắm làm cho ra tinh trùng vô trong lon này, đậy nắp lại dán băng keo đã có sẵn, mang ra đây, tui sẽ gởi đi khám nghiệm. Ba ngày có kết quả, ông yên tâm về nhà, sẽ phone.

– Tôi phải trả bao nhiêu?

Chou cười, thân mật vỗ vai Lâm:

– Không cắc nào, miễn phí. Bạn tốt mà!

Ba ngày sau.

– Ông làm ăn ra sao?

– Thì kỹ sư điện bình thường.

– Không, chuyện “ấy” kia.

– À, thì ngon lành, đều đều. Lấy nhau 7 năm rồi nên 3 lần một tuần, nhậu xỉn thì nghỉ chơi.

– Ông ra bình thường?

– Ra tưng bừng, phun phèo phèo. Mấy vụ đó không có gì trục trặc.

Chou xuống giọng:

– Còn bà vợ?

– Bả cũng vậy, không có bệnh về sinh lý.

– Không, chuyện “ấy” kìa.

Lâm cười:

– Bảy năm rồi bả không thay đổi: hớn hở, tới cùng và đều đều với tui. Nếu thiếu một lần, lần sau bù.

Chou ngồi thẳng lên, lắc đầu:

– Nhưng… không được rồi.

Lâm chồm tới:

– Không được là sao?

– Là bị suy nhược.

Lâm kéo áo lên:

– Ông thấy bắp thịt bụng, ngực của tui hông?

– Thấy.

Lâm đưa tay:

– Coi bắp thịt tay nè cha.

Anh thả áo xuống.

– Ngày nào tui cũng tập 45 phút, thể dục và đi hai bài quyền dưỡng sinh, ăn ngủ đều đặn… Vậy, suy nhược là sao?

Chou cười:

– Không phải ông. “tụi nó” kia.

– Nó nào?

Chou chỉ tay vô hạ bộ Lâm:

– Ðám tinh trùng của cha

– …

Lâm nhíu mày, Chou tiếp:

– Trong tinh trùng có hai loại, đực và cái, nhưng mấy anh đực mới nhảy vô thì lăn đùng ra chết ngắc vì suy nhược, không có sức chạy; mấy chị cái đang bơi thì bị hụt thở, ngáp ngáp chết chìm vì chất nhờn nhiều độ chua trong nước của vợ anh. Cuối cùng thì chết một lũ, vậy thì làm sao có con?

Lâm ngồi phịch xuống ghế, buột miệng.

– Mẹ, tụi nó chết là tui cũng chết luôn. Làm sao bây giờ?

Chou đứng dậy, khoanh tay:

– Y học mới có thuốc chữa. Tui sẽ cho ông uống thuốc tăng lực cho mấy anh chị tinh trùng, hai tháng là tụi nó sẽ chạy ào ào vô trỏng.

– Cám ơn Chou. Cám ơn người bạn quá tốt.

– Nhưng anh phải tập thể dục thêm gấp đôi, thì mới có kết quả ngon lành.

– Ok.

Chou đưa Lâm ra cửa, anh tằng hắng lấy giọng:

– Anh nói vợ anh, tới đây tôi khám rồi cho thuốc luôn.

Lâm leo lên xe. Chou đứng ngay cửa, nói theo:

-Tất cả miễn phí.

-oOo-

Từ đó.

Lâm đi làm về tới nhà là thay đồ, lái xe đi tập, và tập thêm 45 phút mỗi ngày như bác sĩ Chou dặn. Trong tuần đầu, thì còn bình thường, tới tuần thứ 2, vì tập thêm, nên Lâm mệt. Về tới nhà, tắm, ăn qua loa, làm chai bia, lăn ra ngủ.

Chị Ngọc lay:

– Anh bữa nay là tới ngày ấy rồi.

Lâm phều phào vừa ngủ, vừa nói:

– Theo lời bác sĩ Chou, anh phải dưỡng sức để có con.

– Nhưng phải “ấy” mới có con chớ!

– Nghỉ lần này, tuần tới đi. Anh mệt quá, ngủ, mai còn dậy sớm đi làm.

Chị Ngọc buồn xo, nằm gác tay lên trán, nhìn trần nhà.

Và không phải chỉ lần đó. Bây giờ, thời khóa biểu ấy của hai vợ chồng đã bị anh Lâm thay đổi: hai tuần một lần, nếu khỏe.

Chị Ngọc buồn thiu, tối nào cũng thút thít, anh Lâm giãi bày:

– Anh dưỡng sức để em có con, làm theo lời bác sĩ Chou, chừng vài tháng là xong mà.

Chị Ngọc từ buồn thiu chuyển sang xìu, giống như hụt thở. Tối nào cũng nằm ngủ chèo queo sát mé giường, nhìn Lâm ngáy khò khò.

Ðúng một tháng.

Bác sĩ Chou phone:

– Hello, Lâm, sao? Có làm đúng lời tui dặn không?

– Tất nhiên là có rồi.

– Tốt.

-Thứ Ba này nhớ cho bà vợ qua tui khám luôn.

Ba giờ chiều thứ Ba, tại phòng mạch bác sĩ Chou, cô thư ký bước ra:

– Dạ xin mời bà Ngọc vô gặp bác sĩ.

Ngọc đứng dậy, Chou đã đẩy cửa:

– Chào chị, mời vô.

Chou đóng cửa, cô phụ tá bước ra ngoài:

– Tôi sẽ hỏi chị về chuyện sinh lý cá nhân với chồng. Chị “ấy” bình thường? Ðều đều?

Chị Ngọc đỏ mặt, cúi xuống:

– Dạ. Ấy?

– Chuyện kia đó.

Chị Ngọc ấp úng:

– Dạ bình thường.

– Mỗi lần đều hứng thú? Không đau, không mất hứng?

– Dạ.

– Kinh nguyệt bình thường?

– Dạ, bình thường.

– “Ấy” mấy lần một tuần?

– Ba.

– Chị có muốn nhiều hơn không?

Chị Ngọc càng thêm ấp úng:

– Muốn… nhưng từ bữa khám bịnh tới giờ thì…

Chou hỏi:

– Sao?

– … hai tuần mới có một lần qua loa… – chị Ngọc thở dài – chán chết luôn!

Bác sĩ Chou cười, đứng dậy:

– Chị cởi quần áo ra, nằm lên bàn.

Chou rờ bộ ngực căng cứng của chị Ngọc.

…

Một giờ sau.

Chou mở cửa, chị Ngọc bước ra:

– Ngọc, nhớ khám định kỳ. 3 giờ chiều thứ Ba, tuần tới.

Lâm vẫn hì hục tập thể lực mỗi ngày sau khi đi làm về. Mỗi tháng mới rờ tới vợ hai lần. Chị Ngọc vẫn chèo queo, lép xẹp như con mèo nhúng nước nằm sát cạnh giường hằng đêm và luôn luôn đi khám định kỳ mỗi chiều thứ Ba hàng tuần ở phòng mạch bác sĩ Chou.

-oOo-

3 tháng qua.

Mùa thu đã vàng lá khắp nơi ở Melrose, chiều tối bắt đầu lạnh.

Ðêm cuối tuần, đi làm về, mặc không đủ ấm nên chị Ngọc trúng gió, ói mửa, Lâm đưa đi cấp cứu ở bệnh viện Melrose.

Một giờ sau, cô y tá bước vô, tươi cười:

– Chúc mừng anh! Bà nhà đã có bầu được 1 tháng.

Từ trên giường, Lâm té cái đụi xuống sàn, ú ớ:

– Có bầu? Bầu, bầu…

Anh đứng dậy, lay chị Ngọc đang nằm trên giường:

– Em, có rồi! Em có bầu, có bầu.

Chị Ngọc cười nhẹ, quay mặt vô tường.

Chị Ngọc nghỉ làm, ở nhà lo cho cái bầu. Ngày nào cũng vậy, Lâm đi làm về là ra nhà hàng Tàu ở Malden, mua đủ thứ món ngon, món bổ cho vợ dưỡng thai.

– Em, bữa nay ăn gà ác hầm thuốc Bắc.

– Em, sáng mai em uống canh sâm đuôi bò anh để sẵn trong tủ lạnh.

– Chiều đi làm về anh mua trừu hầm khoai tây ở tiệm Ý cho em, nhớ tập thể dục nhẹ, rồi ngủ trưa.

– Em, nhớ uống thuốc bổ xương cho con nó bự như anh.

– Nè, đi đứng nhè nhẹ em, mang dép, đừng mang giày cao gót.

Và ngày sinh nở tới.

Lâm nghỉ việc, đưa vợ vô bệnh viện.

Cô y tá cho phép anh đứng bên giường chờ vợ sanh.

Lâm ôm mặt khi nghe tiếng khóc oe oe.

Cô y tá bồng đứa con mới chào đời, còn đỏ hỏn, chưa cắt nhau:

– Ðây! Con trai, ông có thể ôm nó vào lòng.

Lâm lúng túng ôm thằng nhỏ, anh sụt sùi khóc.

Chị Ngọc về nhà, khỏe mạnh, thằng nhỏ ăn ngon ngủ yên. Cuối tháng đó, Lâm làm tiệc đầy tháng.

Má Lâm từ Texas bay lên mừng cháu nội.

Bà nắm tay Ngọc:

– Má mừng cho con dâu ngoan, đã cho má đứa cháu nội đích tôn.

Vợ chồng người em từ Canada cũng bay qua:

– Vợ chồng em chúc mừng anh Lâm chị Ngọc sinh con khỏe đẹp.

Hai người bạn Ý cùng làm việc với Lâm tới:

– Chúc mừng hai bạn đã có một hoàng tử.

Bàn tiệc 12 người, Lâm đứng dậy:

– Xin cảm ơn Trời, Phật, cám ơn Ngọc – Lâm đưa tay về phía Ngọc đang bồng con – người vợ yêu mến của tui, đã sinh cho tui đứa con trai đẹp đẽ, khỏe mạnh, là cục vàng của đời tui.

Lâm đưa tay về bác sĩ Chou, ngồi đầu bàn bên kia:

– Cám ơn bác sĩ Chou, một người bạn quá tốt, đã khám bệnh và điều trị cho vợ chồng tôi. Nhờ vậy, vợ chồng tui có được đứa con trai.

Anh bước tới, ôm đứa con từ tay chị Ngọc, mở nón, đưa ra:

– Ðây, bé Lành.

Mọi người vỗ tay, lao xao cười nói khen tặng:

– Giống ổng quá!

– Giống chị Ngọc hơn.

– Trán cao, tướng tốt.

Lâm đưa cao ly rượu:

– Cạn ly!

Mọi người cạn ly, ngồi xuống, bắt đầu ăn nhậu. Nhưng, có một người không cạn ly, không ăn nhậu, cũng không ngồi xuống, kéo tay Lâm vô bếp.

– Vô đây con!

Bà Năm, má Lâm nhìn thẳng vô mặt thằng con trai, nói thật nhỏ:

– Lâm, má sinh con ra mắt to, hai mí đẹp đẽ.

– Dạ.

– Mắt con Ngọc cũng bồ câu, hai mí quá đẹp.

– Dạ đúng!

Bà tằng hắng, nói thật chậm:

– Con không thấy là thằng con trai của con, có cặp mắt một mí, ti hí như hai sợi chỉ…

Bà ngừng lại, nuốt nước miếng:

– … giống y hệt cặp mắt của thằng bác sĩ Chou.

-Hả!

HĐV

Nỗi lòng cha mẹ

baotreonline.con

Huy Phương

Post on 3rd Aug 2019

Post by Sơn râu 29 Oct 2024

Qua báo chí trong nước chúng ta đã biết đến thảm cảnh của cha mẹ muốn cho con đến trường vì không muốn con thất học. Chúng ta đã nghe chuyện về người mẹ phải tự vẫn để lấy tiền phúng điếu cho con đi học, về người bố 10 năm sống trong ống cống để nuôi con đến trường.

Cha mẹ cho con đi trường ngày nay là cả một điều khó khăn cho hoàn cảnh gia đình những người nghèo khó. Nhà trường XHCN đã đẻ ra bao nhiêu chi phí mà cha mẹ học sinh phải ráng đóng đủ để cho con đến trường.

Phụ huynh học sinh một số trường ở Hà Nội vừa  công bố 10 khoản phải đóng cho nhà trường vào đầu năm học, về các khoản chi tưởng cũng nên tường trình ra đây, để bạn đọc thấy cái chuyện vô lý của nó như mua máy điều hòa, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thân thể, quỹ lớp, quỹ trường, may đồng phục, sổ liên lạc điện tử…

Số tiền 543,000 nhà trường ghi là cho 15 tháng bảo hiểm y tế. (Một năm có 12 tháng, tại sao thu bảo hiểm đến 15 tháng? Chưa thấy ai giải thích.) Có những điều khó hiểu như bảo hiểm sức khoẻ với bảo hiểm thân thể khác nhau thế nào? Học sinh phải đóng 180,000 cho một năm tiền “sổ liên lạc điện tử,” vậy sổ liên lạc điện tử là gì? 550,000 đồng tiền mua máy điều hoà không khí, mua máy chiếu (slide projector). Tiền cho 30 giờ học thêm là 300,000. Dụng cụ học sinh như bút chì, thước, mực…học sinh phải đóng mỗi năm 190,000 đồng.

Ở Quảng Bình, Bắc Ninh, phụ huynh phải đóng tiền sắm bàn ghế, con mình mới có chỗ ngồi. Vậy thì ngân khoản giáo dục 82 ngàn tỷ cho năm 2006, gần 225 nghìn tỷ đồng cho giáo dục đào tạo năm 2015 dùng để làm gì?

Thành phố Saigon không thu học phí tiểu học, nhưng thu nhiều khoản khác như:

– Chi phí phục vụ quản lý 1 buổi 25 ngàn/tháng (“Chi phí phục vụ quản lý” là gì? chuyện khó hiểu!)

– 2 buổi bán trú 80 nghìn/tháng,

– Chi phí vệ sinh 5 nghìn /tháng,

– Chi phí xây dựng trường (50 nghìn /tháng),

– Chi phí tổ chức học hai buổi 20 nghìn /tháng,

– Chi phí in đề thi và giấy kiểm tra 5 nghìn /năm

– Chi phí học tăng cường ngoại ngữ 40 nghìn /tháng

Các trường tiểu học ở Quận Thanh Xuân, Hà Nội lại có thêm các mục đóng tiền:

– Chăm sóc bệnh tật 140 nghìn,

– Bảo hiểm y tế, bảo hiểm sức khoẻ 644 nghìn, (có khác gì ở mục trên)

– Tiền học 100 nghìn,

– Tiền nước 12 nghìn,

– Tiền học tiếng Anh 120 nghìn.

– Sách tiếng Anh 120 nghìn.

Xã hội Chủ Nghĩa đã  đẻ ra một chi phí gọi là khoản thu “truyền thống” như quỹ trường, quỹ lớp ghi, nói là tự nguyện nhưng hầu hết phụ huynh đều hiểu đây là chuyện bắt buộc, Thứ tiền truyền thống này hằng năm bị trích ra để mua quà chúc mừng các quan chức nhà mỗi dịp lễ Tết, hay biếu xén cho địa phương theo “truyền thống!” Ngành giáo dục của nước tiên tiến này còn sáng kiến chế ra một thứ đồng phục gọi là “đồng phục vở”.Trước ngày khai giảng, cha mẹ đã mua tập vở cho con đủ dùng nhưng khi nhập học, cô giáo yêu cầu dùng toàn bộ vở in tên trường, mỗi cuốn giá 9,000 đồng. Ai có sáng kiến bắt các em phải dùng tập vở có in logo trường, để nhúng mỏ kiếm chút tiền lời hay huê hồng?

Cuối cùng là hăm dọa của lãnh đạo Sở Giáo dục Hà Nội: “Những trường hợp cố tình không thực hiện đúng quy định, chúng tôi sẽ có biện pháp xử lý nghiêm.”

Nửa năm học, khi phụ huynh học sinh bắt đầu nguôi ngoai về chuyện “tiền trường” thì hiệu trưởng cô giáo lại phát động học sinh “tung tăng hớn hở, em làm kế hoạch nhỏ, lượm giấy trồng cây.” Sau khi vào được miền Nam, Cộng Sản đã du nhập chuyện “làm kế hoạch nhỏ” cho con em miền Nam. Giữa khi bom mìn chưa gỡ hết mà đi lượm lon, tìm sắt vụn thì rất dễ chết, cũng đã có em chết vì bom mìn, không biết có được phong tặng là “liệt sĩ kế hoạch nhỏ” không?

Ngày nay chỉ tiêu học sinh đóng góp cho phong trào kế hoạch nhỏ được ấn định, lớp 1,2,3 từ 2kg giấy sách, báo, tập hoặc 15 lon nước ngọt, bia trở lên, lớp 3, 4, 5 đóng góp từ 4kg giấy sách, báo, tập hoặc 30 lon nước ngọt, bia trở lên. Thông báo này cũng không quên nhắc nhở thi đua: học sinh nào đóng góp từ 20kg sách báo hoặc 150 lon bia trở lên thì đạt danh hiệu “chiến sĩ kế hoạch nhỏ” (cấp quận), học sinh nào đóng góp từ 40kg sách báo hoặc 300 lon bia trở lên thì đạt danh hiệu “dũng sĩ kế hoạch nhỏ” (cấp thành.)

Không ai muốn con mình ra đống rác dơ bẩn, đầy bông băng, kim chích, cầm que tranh giành với trẻ bụi đời để kiếm mấy cái lon nhôm thì tốt hơn là bỏ tiền ra vựa ve chai mua cho đủ chỉ tiêu.

Ở đây mua bao nhiêu cũng có, muốn thành chiến sĩ hay dũng sĩ “kế hoạch nhỏ” đâu có gì khó. Con cái công an phường (chỗ có vựa ve chai) hay các bộ cấp quận, cấp thành là những anh có tiền, có chức thì con em chúng đều là chiến sĩ, dũng sĩ cả! Ve chai được “khăn quàng đỏ” mua từ các bà ve chai, sẽ được nhà trường bán lại cho ve chai, còn số tiền thu được từ các “chiến sĩ” này không biết đi đâu?

Nếu theo thông báo của nhà nước, thì số tiền thu được nhờ các dũng sĩ ve chai, dành để xây nhà máy nhựa Thiếu Niên Tiền Phong tại Hải Phòng, Khách sạn Khăn Quàng Ðỏ hay nhà tưởng niệm anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu. Nếu sự thật như vậy thì nhà nước đã bòn mót cả đến cái tã lót của các em.

Cái đau của chúng ta là ngành công an, cảnh sát ăn bẩn nhưng còn tuỳ tiện, giấu mặt, trong khi ngành giáo dục với thiên chức là “trồng người” thì tự do ăn bẩn có văn bản, có chữ ký và khuôn dấu đỏ bao che.

HP

Orange County, CA.

Những món nợ khó trả

hung-viet.org

Huy Phương

Post on18 Jul 2016

Post by Sơn râu 29 Oct 2024

(Nhân Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH kỳ 10, được tổ chức tại Nam California) Biểu ngữ quảng bá Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH kỳ 10 được treo trên một xe truck trước chợ Hòa Bình, Garden Grove. (Hình: Đỗ Dzũng/Người Việt)
Sau Tháng Tư, 1975, hằng trăm nghìn người thương binh của miền Nam Việt Nam không thể nào che giấu lý lịch với đôi mắt mù, cái chân cụt và quá khứ đã là một người lính có thành tích chiến đấu chống Cộng Sản ngoài mặt trận. Không còn khả năng làm lụng để kiếm miếng cơm nuôi gia đình và chính bản thân mình, những người này còn phải sống trong không khí lạnh lùng, ngờ vực và khinh rẻ của kẻ chiến thắng không có tình người. Chính phủ, quân đội, đơn vị, cấp chỉ huy, đồng đội không còn, gia đình quyến thuộc không đủ sức cưu mang vì chính họ cũng bị nhận chìm tận cùng dưới đáy xã hội.

Trong xã hội mới, những người thương binh VNCH thật sự đã là “những người bị bỏ quên.”

Đã có những hội đoàn, những tổ chức, những nhóm thiện nguyện cứu đói, cứu nghèo, cứu bệnh tật, cứu gái sa chân, cứu trẻ bị bán ra nước ngoài, cứu già thiếu gạo…

Tôi có cảm tưởng những vùng đất cứu trợ trên đã được chính quyền trong nước cho khai quang, có khi còn giữ “an ninh bãi đáp” cho trực thăng đổ người xuống cứu trợ để đỡ tay đỡ chân cho đảng lo việc trấn áp dân chủ, nhân quyền. Trong khi đó, công việc cứu trợ các thương phế binh VNCH trong một xã hội còn đầy mìn bẫy, hầm hố, thù hận, phải tiến hành lén lút, bí mật hay đột kích gây thêm nhiều trở ngại, khó khăn cho cả phía những người hảo tâm và cả những nạn nhân xấu số này.

Thương phế binh, đáng lẽ là những người mà hải ngoại cần phải nhớ trước tiên, từ khi người sinh viên du học ra nước ngoài giữa lúc chiến tranh trở nên tàn khốc, lúc cấp chỉ huy quân đội miền Nam bước chân lên Đệ Thất Hạm Đội hay đảo Guam, từ khi người vượt biển được đặt chân lên đất liền, từ khi người cựu tù được người ra đón ở sân bay, lại là những người bị quên lãng nhất.

Bà Dương Nguyệt Ánh, chuyên viên chất nổ của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, tác giả trái bom “nhiệt áp” đã nói rằng, là một người tỵ nạn chiến tranh, bà “không bao giờ quên được hình ảnh người lính Hoa Kỳ và VNCH đã từng bảo vệ cho bà có một cuộc sống an toàn ở miền Nam trước đây.” Chúng ta cũng hiểu rằng người lính VNCH thiệt thòi hơn cả sau chiến tranh chính là người thương phế binh hôm nay.

Cô Liên Hương, một bác sĩ trong nhóm Huynh Đệ Chi Binh ở San Jose, cũng như chúng ta đã có mặt tại Hoa Kỳ tự do, no ấm hôm nay sau những ngày “tan hàng” đã hoạt động để cứu giúp “những người bị lãng quên,” vì cô nghĩ rằng cô đã mang ơn những người này, người thương phế binh VNCH:

“Tôi viết thư cho anh hôm nay không phải như một người Việt Kiều xa xứ được ưu đãi trong một đời sống an lành và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần đang nghiêng mình xuống với người đồng loại bất hạnh, nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Sài Gòn, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hằng đêm vẫn vọng về từ một chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả một thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó vẫn có biết bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng chiến đấu đơn độc với những giờ phút chót, để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.”

“Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh cho các bạn của anh, những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 30 năm qua, để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ bị xóa nhòa. Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết một phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, và những người Việt tỵ nạn như tôi cũng đã mất hết một nơi chốn dung thân để phải tha hương lưu lạc khắp mọi phương trời. Có một điều ngày hôm nay tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau, để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi và cô độc.”

“Cuối cùng dù tôi không thể gởi nguyên một bài hát về cũng xin cho tôi được tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát ‘You Are My Heroes,’ bởi vì cuối cùng trong cuộc đời này không có điều gì anh hùng và cao thượng hơn là hy sinh cuộc đời mình để cho người khác được quyền sống. Trong mắt tôi mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những con người trai anh hùng một thời chọn cho mình con đường đi và và sống đích thực có ý nghĩa nhất.”

Những dòng chữ trên đây của một người con gái, một đứa em hậu phương cũng như tất cả chúng ta đã mang một món nợ không bao giờ trả nổi, món nợ xương máu mà chúng ta đã nương nhờ, vay mượn từ lúc chúng ta được yên ổn ở hậu phương, rất xa mặt trận, và cả đến lúc chúng ta ngoảnh mặt rời quê hương ra đi. Những năm trước, bức thư này đọc trên đài phát thanh ở Bắc California đã làm rơi lệ hằng nghìn người nghe ở hải ngoại, nhưng rồi cơm áo đa đoan, cuộc sống bề bộn, nhiều lúc chúng ta đã quên hẳn hình ảnh người thương phế binh Việt Nam một cách phụ bạc, nhẫn tâm mà đáng ra phải canh cánh ghi nhớ trong lòng.

Ở hải ngoại từ trước đến nay, những quyên góp giúp đỡ cho thương phế binh được đưa xuống hàng thứ yếu sau những chiến dịch dai dẳng cho người nghèo, cho trẻ thất học, cho chùa chiền, thánh thất, cho mổ mắt vá môi… Nếu có lòng, thì cũng với những hoạt động lẻ tẻ do một nhóm người, một tổ chức quy tụ một số thân hữu giúp cho năm bảy gia đình, hay khá hơn là vài trăm thương binh. Chúng ta chưa có được một ngày dành cho thương binh, một chiến dịch rộng lớn như những ngày chúng ta đóng góp cho quỹ kháng chiến, để rồi cuối cùng sự việc chẳng đi tới đâu, khiến lòng tin của hải ngoại mỗi ngày một suy kiệt.

Ẩn mình từ trong những xóm làng xa xôi sống nhờ trên mảnh đất khô cằn khoai sắn, hay bầm dập giữa phố thị với xấp vé số trên tay, thậm chí còn trở thành kẻ hành khất kêu gọi tình thương của người qua đường đâu đó. Nỗi xót xa, tủi nhục ấy bao giờ tiêu tan được, cũng như những nỗi đau sâu thẳm trong tâm hồn họ không bao giờ hết, trong khi qua thời gian làn da nơi chân tay què cụt đã chai đá, những vết thương đã lành. Lớn hơn hết là những người thương phế binh này đã mang mặc cảm là “người đã bị bỏ quên” trên quê hương, nơi mà thù hận chưa nguôi, đối xử vẫn còn phân biệt như những người lính lạc đơn vị bị bỏ lại trên đất địch.

Ôi những vòng hoa chiến thắng ngày nào, những câu hát từ người em gái hậu phương, những mỹ từ và lời xưng tụng người ta đã dành cho anh. Số phận của người lính thất trận đã đổ nhào thêm lên tấm thân cụt què, yếu đuối. Họ sống cuộc đời cay đắng ấy (nếu còn có thể gọi đó là cuộc đời), có người mới hơn 30 năm, có người đã gần hết cuộc đời, thế giới ngày nay của họ có thể là một chiếc giường tre của người bị bại liệt, trên chiếc xe lăn của người què cụt lê lết hay ốm đau, già nua quanh quẩn trên sân nhà.

Thế giới hôm nay của chúng ta so với đời sống thương phế binh ở quê nhà là thiên đường và địa ngục, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối.

Dù có san sẻ tới mức nào cũng không lấp đầy nỗi thống khổ, dù bù đắp tới mức độ nào cũng không xứng đáng với sự hy sinh.

Huy Phương
Nguồn Người Việt

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net

Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 29 Oct 2024

6. Phần 6

Chiến khu “Ba Lòng”

 (Xâm nhập)

“Đường đi khó, không khó…”

Bài học mạo hiểm ấy ám ảnh tôi không ít kể từ khi Ông Thầy dạy Việt Văn giảng bài học đó năm tôi học lớp Đệ Tứ, tại trường Bồ Đề, Huế.

Thật vậy, ra trường tôi đã chọn Nhảy Dù. Vậy mà thấy ông Đại Úy Lực Lượng Đặc Biệt trông ngon lành quá, tôi lại chọn đơn vị ấy. Từ ngày về Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, cùng phối hợp hành quân với các Toán Thám Sát của Trung Tâm Hành Quân Delta, tôi lại muốn chuyển qua Delta. Là người tháo vát, năng động, mà lại còn ưa thích mạo hiểm, tôi nghĩ ý định này thật quá phù hợp.

Hành quân với Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù, thông thường mỗi cánh quân là cấp Đại Đội. Khi tấn công vào các mục tiêu, Đại Đội mới phân ra cấp Trung Đội để đảm trách vùng trách nhiệm nào đó. Không mấy khi hành quân cấp Tiểu Đội. Ngoại trừ trong biến cố Tết Mậu Thân, tại mặt trận Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị.

Nhảy Toán Delta thì khác, mà lại khác hẳn.

Mỗi Toán Delta chỉ có sáu “ngoe”, tiếng tôi thường nói đùa. Đó cũng là hình ảnh ngo ngoe mấy cái cẳng chân của con cua hay con kiến, con nhện. Sáu người trong Toán, hoạt động hổ tương cùng với nhau: thâm nhập, di chuyển, yểm trợ, cứu cấp khi có biến cố hữu sự, canh gác, đóng quân, phục kích và triệt xuất v.v… nhưng mỗi cá nhân là một sở trường chuyên môn, đã được huấn luyện thuần thục, để dễ dàng thực hiện mọi công tác, nhiệm vụ được giao phó.…

Tất cả là một sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ, hoàn chỉnh. Không có một sự phối hợp nào hoàn hảo hơn, chẳng qua là vì tính mạng. Tính mạng của mỗi người dính chặt với tính mạng của cả sáu người, kể cả 2 anh chàng Mẽo kềnh càng. Mỗi Toán 6 người, Toán nào cũng có 2 chàng là “Biệt Cách Mỹ” (Special Force).

Tôi làm Trưởng Toán 3 Delta. Lệnh lạc trong Toán phải thi hành nghiêm chỉnh, kể cả 2 anh bạn Đồng Minh. Tôi ra lệnh sao, họ làm y vậy.

Hành quân có 2 anh bạn Mỹ có nhiều cái lợi, nhất là mặt yểm trợ, cần thiết để tải thương, rút lui, oanh tạc địch, phá hủy mục tiêu: kho tàng, căn cứ địa..v..v… Họ gọi máy bay tới là có ngay. Nhưng anh nào cũng to lớn dềnh dàng, nên di chuyển trong rừng khó khăn, khó che dấu, dễ bị địch phát hiện. Khi nổ súng họ hay la to, bất lợi. Âm thanh có thể làm cho địch dễ suy đoán “phe ta” đông hay ít. Thỉnh thoảng tôi lưu ý về cá tính nầy, mấy “ổng” nói “OK! OK!” rồi nhe bộ răng trắng ra cười trừ, nhất là mấy anh đen, mặt thì đen mà răng lại trắng nhởn. Tuy nhiên về cá tính tinh thần họ không thua kém gì đồng đội đồng bào của tôi. Không những nhiệt tình mà tận tình với mọi người trong Toán.

Toán 3 Thám Sát của tôi nhận lệnh hành quân, địa điểm nhảy Toán là Mật khu Ba Lòng.

Mật khu Ba Lòng nằm về hướng Tây Nam của Tỉnh Quảng Trị. Hình như tôi nhớ không lầm Ba Lòng, nằm thu gọn giữa hai con sông Thạch Hãn và Đa-Krong, giao nhau ở hướng Tây Tây Nam của Xã Bông-Kho, hướng Tây Tây Bắc là Quốc Lộ số 9. Mật khu Ba Lòng trải dài từ hướng Tây Bắc xuống hướng Đông Nam. Ba Lòng! Sông cạn sâu như thế nào mà gọi là Ba Lòng, một tên gọi nôm na cụ thể hay có ý nghĩa gì khác?

Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, Ba Lòng là một Quận thuộc Tỉnh Quảng Trị. Sau năm 1960, thực hiện ý đồ “chiếu cố miền Nam”, tức là đưa quân xâm lược Miền Nam Việt Nam, Ba Lòng trở thành một trở ngại chiến lược trên con đường xâm nhập vào Nam của Cọng sản Bắc Việt. Vì vậy, Việt cọng cố nhổ cho được khúc xương Ba Lòng nầy. Bấy giờ, sau khi chế độ Đệ Nhất Cọng Hòa sụp đổ, tình hình chính trị tại Saigon bất ổn, lợi dụng cơ hội đó, Việt cọng tấn công dữ dội vào Quận Ba Lòng, khiến Quận phải di tản, rồi xóa sổ, xem như giao Quận miền núi nầy cho Cộng sản tự do hoạt động. Phía Chính Quyền Miền Nam, chỉ còn giữ được Quận Hương Hóa, nhờ Quận nằm hai bên Quốc Lộ 9, con đường chiến lược, chúng ta không thể bỏ đi được.

Toàn bộ Trung Tâm Hành Quân Delta được bốc từ Nha Trang ra Phi Trường Ái Tử (Đông Hà). Từ đó, di chuyển lên Quận Hương Hóa ở phía Cùa, hay còn gọi là Tân Sở, căn cứ kháng chiến của Vua Hàm Nghi ngày trước, khi Nhà Vua chuẩn bị chống nhau với Pháp, mở đầu cuộc kháng chiến lâu dài…

Tin tức từ Phòng 2 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I cho biết có nhiều dấu hiệu hoạt động của Việt cộng trong khu vực mật khu Ba Lòng, Khe Sanh, Lao Bảo. Quân Đoàn cần biết đích xác đơn vị, quân số, mục đích của địch ở các vùng này. Đây là những khu vực chuyển quân, khí tài, lương thực của địch cho chiến trường miền Nam của chúng. Dĩ nhiên là trên đường mòn Hồ Chí Minh. Con đường nầy gặp khó khăn khi chúng phải vượt qua Quốc Lộ 9, là con đường nối từ Đông Hà, qua Cam Lộ, Khe Sanh, Lao Bảo, Pha-Lan, Chépone và chấm dứt ở Savanakhet.

Địch không có cách nào khác, dù sinh tử, Việt cộng phải cố sống cố chết vượt qua đường số 9 để vào chiến trường Miền Nam.

Nhận lệnh từ Trung Tâm Hành Quân xong, cầm trong tay tấm bản đồ, tôi lên trực thăng bay một vòng, quan sát để chọn bãi xâm nhập và triệt xuất trong khu vực Ba Lòng, nơi Toán sẽ hoạt động.

Chiều hôm sau, Toán 3 tôi trở lại Trung Tâm Hành Quân, trong một cái nhà tăng bằng vải dầu, dựng trên một khu đồi trọc, trong phạm vi Chi Khu Hương Hóa. Trước mặt là Trung Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, Trưởng phòng 2, Trưởng phòng 3, và các Toán viên, tôi trình bày kế hoạch hành quân với đầy đủ các chi tiết diễn tiến, thâm nhập, lộ trình, đối phó, mật lệnh, liên lạc, triệt xuất v.v… theo đúng chỉ thị đã được đề ra trong Lệnh Hành Quân và từ Đơn Vị Trưởng. Để thi hành nhiệm vụ, sau khi Toán được Trực Thăng UH.1B thả xuống bãi ở phía Nam vùng hành quân, Toán di chuyển thám sát về hướng Bắc, xong chuyển hướng Tây Bắc, trong chu vi 5 x 10 cây số mỗi bề của vùng mà Toán 3 đảm nhận.

Chỉ Huy Trưởng, các Trưởng Phòng đặt cho tôi một số câu hỏi, để nắm chắc mọi tình huống xảy ra mà Toán 3 có thể ứng phó được v.v…

Buổi trình bày kế hoạch chấm dứt, Toán 3 trở về nghỉ ngơi, kiểm soát lại lương thực, vũ khí, đạn dược để chuẩn bị lên đường ngay chiều tối hôm nay.

Nhu cầu thám sát trong rừng phía Tây của Tỉnh Quảng Trị, không chỉ một mình Toán của tôi đảm nhiệm. Khu vực núi non trùng điệp bên nầy Trường Sơn, bên kia là lãnh thổ Lào, sẽ có các Toán Thám Sát Delta khác nữa, hoạt động ở một số khu vực như: Lao Bảo, Làng Vây, Khe Sanh, với những nhiệm vụ nguy hiểm và hấp dẫn hơn, đó là phục kích bắt sống các cán bộ Việt cọng, không được gây thương vong, để mang về khai thác tin tức. Chúng sẽ cho những tin tức nóng hổi và hấp dẫn về tình hình địch hiện tại, hay địch sẽ thực hiện trong thời gian tới.

Những Toán Thám Sát Delta được giao nhiệm vụ bắt sống địch quân, sau khi phục kích tóm được một tên Việt cọng nào, thì ngay tức khắc, Toán sẽ được trực thăng nhanh chóng vào vùng bốc đưa trở về căn cứ hành quân. Thời gian hoạt động các Toán Thám Sát, vẫn luôn là 7 ngày, nhưng có thể kéo dài hơn hay thu ngắn, tất cả tùy thuộc vào tình hình trận địa, chạm địch, thương vong hay bắt được tù binh.

Với đầy đủ súng đạn, khí tài cần thiết và 7 ngày lương khô, ngay trong chiều nay, Toán tôi được đổ xuống bãi đáp mà tôi đã chọn. Thời điểm đổ quân phải là lúc chiều tàn, khi sương lên nhiều và màn đêm đang từ từ phủ xuống, thời gian đó địch khó quan sát, và theo dõi. Bên cạnh đó, lại có mấy Trực Thăng khác đáp nghi trang thêm một vài nơi, khiến địch, dù có nghi ngờ, cũng không thể phát hiện được nơi chúng tôi đổ bãi.

Đổ bộ xuống bãi, Toán cấp tốc di chuyển theo phương hướng, lộ trình đã được trình bày kế hoạch. Toán tuyệt đối không bao giờ di chuyển trên các con đường mòn, vì để lại nhiều dấu vết, rất dễ bị phục kích và gặp phải nhiều mìn, bẫy. Rừng nhiệt đới, cây rừng to cao, tàng che kín trời. Mặt đất rậm rạp, cây nhỏ, cây mây, cây cọ, cây nứa, che kín, mịt mùng rất khó di chuyển. Toán len lỏi, chậm rãi, vạch lá, men theo sườn rừng, từng bước, từng bước để tránh gây tiếng động.

Sau khi rời xa vị trí xâm nhập, Toán dừng lại tìm chỗ nghỉ quân bên một gốc cổ thụ. Toán bố trí thành một vòng tròn, đầu hướng vào gốc cây, phòng khi đêm tối, bị địch bất ngờ tấn công, thì Toán sẽ phản ứng nhanh chóng về phía trước mà không tác xạ lầm nhau.

Tờ mờ sáng hôm sau, Toán tiếp tục vạch rừng theo hướng đã định mà đi. Cũng chẳng phát hiện được gì. Gần xế chiều, khi đổ xuống một triền núi, thì Toán gặp một con đường mòn chạy từ Tây sang Đông. Dấu tích để lại trên đường cho thấy địch đã có xử dụng. Men theo con đường mòn về hướng Đông, dĩ nhiên vẫn phải đi trong rừng, thêm một đoạn khá dài nữa, Toán lại gặp một con đường mòn lớn rộng khoảng 2 mét, chạy từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam cặp theo sông Đa-Krông. Trên đường cũng thấy dấu tích cũ của xe hơi, hình như đã lâu bọn địch không còn đi trên con đường nầy. Vậy thì chúng xử dụng đường nào? Đường nầy sát biên giới Lào Việt. Hay chúng vạch một đường mới bên phía Lào, khi thấy con đường bên phía nầy đã bị lộ, bị máy bay oanh kích nhiều lần?

Báo cáo mọi phát hiện về Bộ Chỉ Huy, Toán được lệnh tiếp tục di chuyển theo hướng đường mòn nhỏ đi về hướng Đông Đông Bắc. Khu vực hoạt động của Toán, trên phóng đồ hành quân là ở mạn Nam Ba Lòng. Chuyển theo hướng mới, nhìn trên tọa độ bản dồ, Toán tiến gần đến thượng nguồn sông Thạch Hãn và xa hơn là các Thôn Hải Lệ, Tân Lệ và Như Lệ.

Đêm đó, Toán dừng trú quân giữa rừng, lại quay vòng tròn, chia nhau ngủ và canh chờ địch. Sáng dậy, không thấy mặt trời, nhưng hướng Đông trời sáng hơn, chúng tôi lại đi theo hướng cũ . Khoảng trưa, Toán nghe tiếng người nói lao xao, nhưng không rõ âm thanh từng tiếng để biết họ nói gì. Tuy vậy, chúng tôi cũng đoán được đó là tiếng Bắc. Vậy là rõ, Bộ đội Cọng sản miền Bắc xâm lược. Toán dừng lại, núp kín trong rừng, im lặng tuyệt đối, nghe ngóng và quan sát. Không thấy được địch, chỉ nghe tiếng nói của nhiều người, phỏng chừng ít nhất là cấp Trung Đội đến Đại Đội. Tôi vội chuyển công điện báo cáo về Trung Tâm Hành Quân. Lệnh truyền cho Toán bám sát theo dõi địch quân.

Toán lại lên đường, di chuyển theo hướng đi của bọn chúng, đến gần chiều, nắng chưa tắt hẳn, thì Toán thấy địch đang đóng quân giữa rừng. Bọn chúng đang chuẩn bị ăn uống, tôi ngửi được mùi củi cháy. Quan sát kỹ hơn nữa qua ống nhòm, họ có làm bếp. Bếp của họ, có lò nấu đắp kín đất, có ba bốn ống khói mở ra như hình nan quạt. Đầu mỗi nan quạt, khói đang bay lên, nhẹ và loảng. Cách làm bếp như thế nầy là chia khói ra nhiều ngã, làm cho khói loảng đi, tan trong sương, trong không khí, Máy Bay Trinh Sát của ta khó phát hiện được. Đây đúng là một căn cứ tập trung quân của địch.

Tôi khẩn cấp báo cáo tình hình và tọa độ chính xác của địch về Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Ngay sau đó, chúng tôi được lệnh rút xa ra khỏi vị trí địch ít nhất là 1/2 cây số. Trực Thăng và Chiến Đấu Cơ sẽ tới oanh kích địch.

Nửa giờ sau, Toán tôi nghe rõ từng loạt đạn rocket bắn ra từ các trực thăng võ trang, rồi tiếp sau không lâu là những tiếng nổ kinh hoàng do các oanh tạc cơ Skyraider thả bom xuống đầu giặc. Trước bom rơi đạn nổ như vậy, tôi nghĩ khó hy vọng còn một tên Việt cọng nào sống sót. Và đúng như tiên đoán, sáng ngày hôm sau Toán tôi được lệnh trở vào vùng địch đóng quân để quan sát và báo cáo kết quả.

Thật là thảm khốc, cả một khoảng rừng trở thành bình địa, một vài nơi lửa còn bốc cháy âm ỉ, xác địch đếm được khoảng 15 tên, nằm chết ngổn ngang bên những bếp lửa, dưới những gốc cây hay rãi rác trong những hố sâu do bom cày xới. Có thể một số đã chạy thoát vì các dấu vết và các vật dụng rơi rớt của chúng đã để lại trên các lối mòn dẫn vào các hốc núi hay đổ xuống các bờ suối ven rừng.

Trưa hôm đó, Toán được phi cơ quan sát  L.19 bay lên vùng liên lạc, Toán đã sử dụng pano, kính chiếu để phi cơ xác định tọa độ và hướng dẫn đi đến bãi triệt xuất.

Theo hướng máy bay chỉ điểm, Toán đến một bãi tranh trống nằm trên sườn núi, chung quanh dày đặc rừng cây bao phủ. Toán bố trí đội hình và chờ đợi. Và chỉ một khoảng thời gian ngắn sau, một trực thăng UH.1B được sự yểm trợ của hai trực thăng võ trang khác đáp xuống chính xác giữa khoảng trống bãi tranh để bốc Toán đưa trở về lại Căn Cứ Hành Quân, chấm dứt 7 ngày hoạt động trong rừng sâu của Mật khu Ba Lòng.

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net

Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 29 Oct 2024

5. Phần 5

Đồng Xoài

“Em hỏi anh bao giờ trở lại.

Xin trả lời mai mốt anh về

Anh trở về…

có thể bằng chiến thắng Pleime 

hay Đức Cơ, Đồng Xoài – Bình Giả”

 (Linh Phương)

Trận Đồng Xoài xảy ra vào tháng 6 năm 1965, với rất    nhiều thương vong cho cả hai bên hay chỉ về phía Quân Đội VNCH mà thôi, tôi không biết rõ. Tôi cũng không quan tâm về việc người ta phê phán các ông Tướng lo họp hành đảo chánh, làm chính trị, không phản ứng kịp nên trận Đồng Xoài mới có kết quả đau thương như thế. Vào khoảng trung tuần tháng 5 năm 1968, theo nhu cầu của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tâm Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù, được điều động đến Thị Xã Đồng Xoài để tổ chức hành quân truy tìm, phát hiện mọi hoạt động của các đơn vị địch vùng ngoại vi của Thị Xã Đồng Xoài. Tên địa danh này thì tôi đã nghe, nhưng Đồng Xoài nằm ở đâu? Dấu hỏi đó không rời trí tôi.

Nhìn vào bản đồ, từ Thành Phố Bình Dương, Thủ Dầu Một theo Quốc Lộ 13 đi về hướng Bắc, khi gần đến thị trấn Chơn Thành sẽ là chỗ gặp nhau của Quốc Lộ 13 và 14. Quốc Lộ 13, tiếp tục theo hướng Bắc, ngang qua Thị Trấn Chơn Thành, rồi đến Thị Xã Bình Long và xa nữa là Lộc Ninh. Quốc Lộ 14 đi về hướng Đông Đông Bắc, qua Cầu Suối Ngang, rồi đến Thị Xã Đồng Xoài. Từ Thị Xã Đồng Xoài về hướng Tây Bắc là Thị Xã Bình Long, hướng Đông Bắc là Thị Xã Phước Long. Hai bên Quốc Lộ là những khu rừng dày đặc bao phủ. Bao nhiêu xương máu đổ ra nơi nầy? Thế hệ sau, người đời sau có ai khi đi qua nơi nầy sẽ thấy “Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương! ”

Tôi không thể quên Bình Long, nơi tôi đã tham dự một trận đánh “long trời lở đất”, nhưng điều tôi vẫn nhớ hoài là Nghĩa Trang 81 Biệt Cách Dù, nơi tôi đã góp công xây dựng, chiến hữu của tôi vẫn còn nằm lại đó.

Nhìn chung, trong cả hai trận chiến tranh Đông Dương lần thứ nhứt (1945-54), và lần thứ hai (1960-75), miền Đông Nam phần là một chiến trường đẫm máu vì vùng nầy bao gồm: Bình Long, Phước Long, Phước Thành (một tỉnh đã bãi bỏ) có một vị trí chiến lược quan trọng. Vùng nầy cách Sài Gòn không xa, khoảng 100 cây số, tiếp cận với biên giới Việt Miên là con đường xâm nhập bộ đội và vũ khí của cộng sản từ xứ Chùa Tháp qua Việt Nam. Ngay sát trên biên giới nầy là mật khu Bùi Gia Mập.

Vì tính cách chiến lược đó, khoảng đầu năm 1965, một Căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt: Trại Đồng Xoài được thiết lập ở đây. Đây là một nút chặn quan trọng, có nhiệm vụ phát hiện hoạt động của cộng quân. Từ Đồng Xoài, chúng sẽ tấn công Bình Long? Sẽ tấn công Phước Long? Sẽ tiến xuống Trị An? Từ nơi nầy, chúng vượt qua Rừng Lá. Ngay phía Đông Rừng Lá là mật khu Mây Tàu, vùng Xuân Lộc, Long Giao, Phước Tuy, Đất Đỏ, có yên được không?

Quân Đoàn III, với ba Sư Đoàn 5, 18 và 25, không đủ sức “bao giàn” một vùng đất rộng lớn nầy, rừng núi trùng điệp bao phủ. Đằng sau nó, là vùng tiếp vận của ông Hoàng Xứ Miên.

Mặc dù, ngay từ đầu, Việt cộng phá rối, pháo kích, tấn công, cố nhổ cho được Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Xoài, nhưng căn cứ này vẫn đứng vững. Đồng Xoài đóng một vai trò quan trọng trong trận chiến giải tỏa An Lộc, tồn tại đến tháng 4/ 1975.

Việt cộng thường chuyển quân, xuất phát từ Cambodia theo Tỉnh Lộ 748 ngang qua Bù Đốp và Tỉnh Lộ 741 ngang qua Bùi Gia Mập để vào lập căn cứ địa trong Khu Tam Giác của ba Thị Xã: Phước Long, Bình Long và Đồng Xoài. Bọn chúng thường tránh đụng độ với bất cứ đơn vị Quân Đội VNCH nào hoạt động ở đây. Về mặt chiến thuật, không lợi ích cho chúng, dù có thắng lợi chăng nữa. Bọn chúng dùng nơi đây để tăng gia sản xuất, ém quân, điều nghiên chiến trường và đắp mô trên các trục lộ để khủng bố, sát hại đồng bào, cùng ngăn chận sự chuyển vận binh sĩ của các đơn vị trú đóng tại địa phương.

Bốn Đại Đội 1, 2, 3 và 4 của Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù và Trung Tâm Hành Quân Delta được C.130 của Quân Đội Hoa Kỳ chuyển vận đến Đồng Xoài. Từ căn cứ hành quân đóng cạnh một bìa rừng bên trái Quốc Lộ 13 và Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đồng Xoài, các Toán Thám Sát Delta được Trực Thăng UH.1B bốc thả vào hoạt động trong khu vực nằm giữa ba Thị Xã này.

Khi các Toán Thám Sát Delta phát hiện các khu vực trồng sắn, bắp ở dưới các trũng đồi chạy dọc theo các con suối, và một khu nhà ở, nhà kho, thì Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Dù đã đưa Đại Đội 1 và 2 nhảy vào khai thác mục tiêu. Ở đây, Việt cộng đã dựng lên những ngôi nhà dưỡng quân, nuôi quân để chuẩn bị cho chiến trường ở Bình Long, Lộc Ninh hay Phước Long v.v… Bên cạnh các trại dưỡng quân là các nhà kho chứa ngô, khoai, sắn và phần nhiều là gạo. Gạo của Tàu cộng. Và dọc theo vài đường mòn lớn, cứ khoảng vài ba cây số đường rừng thì có một ụ muối, tựa như những gò mối, được lợp và bao phủ chung quanh bằng một loại lá giống như lá cây cọ, gọi là “Lá Trống Quân” để ngụy trang và che mưa rất kín đáo.

Quân Việt cộng ở đây là thành phần thương binh, có nhiệm vụ dưỡng thương và tăng gia sản xuất, cùng một số liên lạc viên trên đường đi đã dừng lại nghỉ quân, bọn chúng cố gắng phản công, bảo vệ kho tàng, nhưng làm sao có thể chống trả lại Biệt Cách Dù?

Ngoài một số tên bỏ mạng bị thương và bị bắt, số còn lại rút về hướng Tây trong vùng rừng núi Long Tân, Phú Riềng. Nhìn những “tên lính sữa” mới thôi bú mẹ, tôi thấy xúc động. Hỡi các Bà Mẹ phía Bắc vĩ tuyến 17, các Mẹ có đau lòng chăng khi những đứa con chưa đủ lớn, đã bị bọn lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ đưa vào miền Nam làm bia đỡ đạn. Không ít những tên bị bắt là thương binh loại nhẹ. Còn những tên bất khiển dụng thì ở đâu? Chỉ một viên đạn AK, bọn lãnh đạo cộng sản bớt đi những vướng bận chiến trường. Tàn bạo như thế là cùng!!!.

Khoảng hai tuần sau đó, Đại Đội 3 và 4 đổ quân xuống mạn Bắc Thị Xã Đồng Xoài, kế cận khu Lương Võ, cũng phát hiện một căn cứ địa có hầm trú ẩn và trạm xá. Tấn công vào đây, sát hại 10 tên địch, và hướng dẫn phi cơ oanh kích, hủy diệt toàn bộ căn cứ này.

Trong thời gian hành quân tại Thị Xã Đồng Xoài, sau lần cùng Đại Đội 4 nhảy vào khai thác mục tiêu, tôi tình nguyện về Trung Tâm Hành Quân Delta do Thiếu Tá Phan Văn Huấn là Chỉ Huy Trưởng. Tại nơi đây, tôi nhảy “thử gió” cùng Toán 1 Thám Sát Delta, Toán Trưởng là Thiếu Úy Phạm Phan Anh, bạn cùng Khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức với tôi.

(Delta Lê Đắc Lực & Phan Anh)

Nhảy thử gió là chuyến thâm nhập Toán lần đầu tiên khi về phục vụ Trung Tâm Hành Quân Delta. Sĩ Quan mới về đơn vị sẽ đi theo thực tập (học nghề) với một cựu Toán Trưởng từng trải. Toán gồm 6 người, 02 là quân nhân Hoa Kỳ và 04 là Việt Nam. Thời gian hoạt động là 7 ngày, nhưng cũng tùy theo nhu cầu, nhiệm vụ, thời gian hoạt động cũng có thể rút ngắn hay gia tăng.

Thông thường chuyến thâm nhập thử gió may ít rủi nhiều, nên trước khi Toán lên đường xâm nhập, thường được các đồng đội tiễn ra tận trực thăng, xiết chặt tay cùng với lời nhắn nhủ rất kinh dị mà chân tình: “Đi nhớ trở về nghe mày!” và tiếp nối là những vẫy tay từ giã, hoặc cũng có thể là vĩnh biệt, cho đến khi trực thăng mất hút trong không gian mờ nhạt của trời chiều.

Sau lần thử gió, tôi đảm nhận Trưởng Toán 3 Thám Sát Delta, và cũng từ đó, trên bước đường quân hành vạn nẽo qua các chức vụ, tôi đã thâm nhập vào các Mật Khu của giặc cọng khắp 03 Vùng Chiến Thuật I, II, III như: Khe Sanh, Ba Lòng, Ashau, Khâm Đức, Ba Tơ, An Lão, Dakto, Tam Biên, Đồng Bò, Tô Hạp, Mõm Chó (Krek), Mây Tào, Đồng Xoài và Chiến Khu D, và cũng đã lập được ít nhiều chiến tích cho Đơn Vị.

Về sau, khi trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù (Ngày 01 Tháng 8 Năm 1970), sau khi Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, như là một truyền thống cố hữu, bất cứ một Sĩ Quan trong Liên Đoàn, được Đại Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, cất nhắc đảm nhận chức vụ Biệt Đội Trưởng, ngoài các chiến công, thì phải, đã, từng đảm nhận các chức vụ Trưởng Toán Thám Sát, Trung Đội Trưởng, Đại Đội Phó, Biệt Đội Phó các Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù. Và cũng xuất phát từ truyền thống này mà hiệu năng tác chiến của Liên Đoàn được nâng cao, mang lại nhiều chiến công hiển hách, lẫy lừng, tạo nên uy danh cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong Quân Sử Quân Lực VNCH và lưu truyền cho hậu thế.

Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 29 Oct 2024

Chương 25
CHIẾN DỊCH ĐÔNG TIẾN I
Tư Lịnh Phó Dương Văn Tư, Quyết Đoàn Trưởng Huỳnh Trọng Hà Chı̉ Huy Chiến Dịch

(Bắt đầu viết vào ngày 14/11/2005).

https://drive.google.com/file/d/1GfL9q2ScpI-Hyqe9z_sckZ66KvA4cCAJ/view