Chim Hót Trong Lồng

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 4 Nov 2024

HUYỀN TRÂN xuất bản 1966
truyện viết theo thể Nhật ký
(đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)

  1. Chương 1
    1.Chủ Nhật, ngày 16 tháng 11…
    Má ơi,
    Thế là hôm nay má không đến con rồi. Con bắt đền má đấy. Cả buổi tối hôm qua con gấp áo ở đầu giường, con đi ngủ rồi mà còn nghĩ đến má. Con cũng nằm mơ thấy má dẫn con đi nhặt lá đa ở trên hồ, nhưng không phải hồ Gươm đâu má ạ. Cái hồ mà lại có khói mờ mờ ở trên mặt nước. Con thì mặc cái váy đầm xanh mà má mới mua cho con. Còn má thì bận quần đen, áo đen. Má đánh môi son làm ai cũng nhìn. Con đang mơ thì Ma soeur Félicité đến đánh thứùc con dậy. Bà mắng con đi ngủ mà không buông màn. Con tiếc quá, định nằm mơ nữa thì ngủ quên đi mất. Đến sáng hôm nay thì con chờ má hết hơi. Con bắt đền má đấy. Ở ngoài cổng trường bao nhiêu là người đến đón. Sáng nay lành lạnh nên đứng ở trong hiên nhìn ra có nhiều màu áo lắm má ạ. Có một bà mặc áo vét xanh, mà da cũng trắng như má, đứng ôm cái gì ở ngực. Con tưởng là má, nhưng đến lúc mọi người vào sân trương rồi thì hóa ra không phải.
    Lũ bạn chúng con tìm được ba má chúng nó, nên hét vang lên rồi chạy nhắng nhít ở trên sân sỏi. Còn con thì cứ nhớn nhác nhìn bà này bà kia, mà chẳng có ai là má cả. Ma soeur Félicité đi tìm hộ con cũng không thấy má. Đến lúc người ta ra hết rồi thì chỉ còn lại mỗi một mình con. Con đứng ở giữa sân nhìn theo mọi người. .Con tức má ghê lắm. Nước mắt con chạy vòng quanh, rồi con ngồi ở ghế đá mà khóc. Soeur Félicité lau nước mắt cho con. Bà ấy dỗ dành mà con vẫn thấy buồn, thấy ghét má. Cả một tuần có một ngày Chủ Nhật, mà má lại không đến tìm con. Ma soeur rủ con lên phòng nhưng con vẫn ngồi ở đấy. Con nhìn những chiếc lá bàng đỏ ối rơi ở trên sân sỏi mà nhớ đến giấc mơ đêm hôm qua. Hôm nay con cũng bận váy đầm xanh mặc áo len trắng. À, dép của con đứt một quai rồi má ạ. Nếu hôm nay mà được ra thì sẽ đem khâu được. Hôm Thứ Năm chơi nhẩy dây ở ngoài sân con bị trẹo chân vì cái quai dép ấy đấy. Nhưng không làm sao má ạ. Con khỏi ngay, chỉ hơi đau đau thôi. Hôm nay má không vào thì con còn phải lê một tuần nữa. Tuần sau đấy má nhé, tuần sau má phải vào với con không thì con khóc đến chiều, đến mai nữa không biết chừng.
    Mấy hôm nay hơi rét má nhỉ. Đêm nằm má có lạnh không? Cái cửa sổ có kính vỡ má đã bịt đi chưa? Ở đây, hôm Thứ Sáu các Ma soeur cũng phát thêm chăn rồi. Buổi tối lúc tắt đèn, con rúc vào chăn ấm mà nghĩ đến má thì thích lắm. Giá bấy giờ mà được nằm với má, ôm cổ má mà ngủ thì còn thích bằng mấy. Nhưng bao giờ má lại cho con ngủ với má. Con chỉ cần ngủ với má một tuần một lần vào tối Chủ Nhật thôi. Thế mà dạo này má cũng không cho. Con ghét má rồi. Má hay bắt con về trường từ chiều tối hôm trước, làm con sợ cái buồng vắng vẻ này lắm. Những ngày khác còn vui vui, chứ tối hôm ấy thì chỉ có một mình con. Như thế là chẳng có tối hôm nào con được nằm rúc vào nách má cả. Tại sao thế má? Con đoán là tại tối hôm ấy đang ngủ với con, má bỏ ra đi đến gần sáng, rồi con cứ hỏi mãi má phải không má? Nếu đúng như thế thì con hứa sẽ không hỏi má đi đâu nữa. Má cứ đi, nhưng má cho con ngủ với má mỗi tuần một lần là con bằng lòng rồi. Con không sợ ma nữa. Con không bắt đền má nữa, nhé má nhé. Tuần sau nhé, tuần sau má cho con ở lại nhà một tối nhé. Con nhớ cái mùi thơm thơm ở cổ má, con nhớ làn da mịn mịn ở tay má vuốt vào lưng con. Con cũng gãi lưng cho má. Mẹ con mình nằm với nhau như thế có phải là sướng hơn không.
    À, tuần này con nhiều bon point lắm má ạ. Soeur Lucie khen này, soeur Antoine cũng khen này, con nhất về dictée, về vocabulaire, còn géographie thì con được thứ ba. Thế là má nợ con một buổi đi chơi chùa đấy nhé. Tuần này con cũng mới học được kiểu thêu point de chainette. Nếu má mua vải cho con thì con viền và thêu mù xoa cho má. Còn hộp thuốc ho thì con đưa các soeur rồi. Mỗi ngày Ma soeur cho con uống hai viên. Uống ba hôm thì khỏi. Má đừng buồn nhé. Ở trong này ấm bằng mấy ở nhà. Vì chỗ nào cũng có cửa kính, không có gió đâu má ạ. Con chỉ lo cho má thôi. Nếu má giầu thì má thuê nhà khác. Ở đây ghét nhất là phải lội bùn những hôm trời mưa. Mà lại còn buồn nữa. Má ở một mình như thế chắc má cũng nhớ con lắm má nhỉ. Còn con thì khỏi phải nói. Lúc nào con cũng nhớ má. Con chỉ mong cho chóng đến ngày Chủ Nhật để về với má.
    Lần sau thì má phải vào với con. Con cứ đứng chờ má ở ngoài sân. Nếu má lại không tới thì con cứ đứng cho chết cóng thì thôi đấy. Lá thư này đến mai thì con gửi đi. Con sẽ chờ đến khi cổng trường mở cho mọi người trở về thì con chạy tọt ra thùng thư chỗ cột đèn mà bỏ vào đấy. Con không có tem nhưng mặc kệ cho má bị phạt. Ai bảo má không yêu con gái, má không nhớ con gái của má.
    Con hôn má thật nhiều đấy má nhé.

Hạnh

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 4 Nov 2024

  1. Phần 14
    Tân Phú Trung – Hóc Môn
    “trận đánh ven đô” Vào khoảng cuối tháng 1 năm 1974, Việt cộng đưa một đơn vị thuộc Tiểu Đoàn 9, Trung Đoàn 173, Sư Đoàn 7, đánh chiếm và đóng chốt trên Quốc Lộ 1, cách ngã ba Tân Phú Trung và Hương Lộ 2 chừng 500 mét, kéo dài gần tới khu vực định cư của đồng bào Việt từ Campuchia chạy về lại Miền Nam, sau vụ Lonol “cáp duồn” ở Xứ Chùa Tháp.
    Suốt một tuần qua, giao thông bế tắc, xe hơi từ Saigon đi Tây Ninh, hay ngược lại, đã không qua lại được, vì Việt cộng đóng chốt. Việt cộng lùng sục, bắt giết các Viên Chức Xã Ấp, tước khí giới Nhân dân Tự vệ, quấy phá cuộc sống yên lành của người dân quê ở khu vực nầy.
    Địch đóng chốt trải dài hai bên Quốc Lộ 1. Về phía tay phải, hướng từ Saigon lên, nơi đây có nhiều nhà cửa, vườn tược, chúng chỉ đặt một vài chốt. Phía đối diện, dân cư thưa thớt, địa thế lại trống vắng, khó khăn cho địch trà trộn, ẩn núp và di chuyển thì chúng đào công sự, rải chốt dọc theo Quốc Lộ. Cách dàn quân bố trí ngụy trang có kế hoạch bài bản để đánh lừa chúng ta, làm cho phía ta lầm tưởng nghĩ rằng, địch từ hướng Đông Bắc, tức hướng sông Saigon. Củ Chi, địch thường huênh hoang là “đất thép thành đồng” là nơi chúng ẩn náu. Từ vùng đất thép nầy, chúng có thể vượt sông Saigon, bên kia sông ăn thông với vùng Rạch Bắp, Bến Cát, xa hơn là Dầu Tiếng của Tỉnh Bình Dương, đó là những căn cứ địa, mật khu của chúng, nơi trong ngôn ngữ chiến tranh, gọi là vùng “Tam Giác sắt” của giặc cộng. Nhưng thật sự trái ngược.
    Đơn vị Việt cộng bố trí chốt hầu hết bên trái Quốc Lộ 1, trang bị nhiều loại vũ khí nặng, bao gồm Đại Liên, Trung Liên, có hầm tác xạ súng cối 82 ly, đồng thời thiết lập một mạng lưới liên lạc bằng điện thoại chằng chịt khắp nơi, giữa các chốt, đang đóng bao quanh toàn Xã Tân Phú Trung. Bọn chúng dương Đông kích Tây, tập trung hỏa lực về hướng trái trục lộ, và đồng loạt sử dụng các loại vũ khí nầy, để chống trả lại các cuộc tấn công của Quân Đội VNCH. Điều nầy đã cho thấy, địch đang hoạt động nơi đây, thuộc Bộ Đội chính qui cộng sản Bắc Việt xâm lược, không phải là Dân Quân địa phương.
    Vùng nầy, thuộc trách nhiệm của Sư Đoàn 25 Bộ Binh. Các đơn vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân Quận Củ Chi, dù am tường, thông thuộc địa thế, cũng không làm gì được chúng. Tiếp sau đó Sư Đoàn 25 Bộ Binh đã đưa thêm hai Đại Đội đến giải tỏa, cũng chịu bó tay.
    Chiến thuật đóng chốt của Việt cộng, gây rất nhiều khó khăn cho ta. Nhổ một chốt chỉ có vài ba tên địch, không bao giờ là việc dễ dàng, nếu Binh Sĩ của ta không can trường, mưu trí hay đã từng được tôi luyện trên các trận địa.
    Các đơn vị không được cái tiếng là thiện chiến nếu không sử dụng Pháo Binh, không yểm để tác xạ, oanh kích, thì khó mà thành công khi tấn công vào các chốt của địch. Mọi hỏa lực yểm trợ bằng phi pháo, không thể xử dụng ở đây, khu vực dân cư đang sinh sống. Cấp Chỉ Huy tuyệt đối tránh gây thương vong và thiệt hại về nhân mạng, nhà cửa, tài sản của dân chúng.
    Nếu cứ để tình trạng giao thông bị trì trệ lâu dài trên Quốc Lộ 1, chỉ cách Sài Gòn chừng 16 cây số, sẽ tạo nên tâm lý bất an chung cho quần chúng tại Thủ Đô. Hơn nữa đây cũng là trục lộ xuyên Á chính, thông thương với các nước láng giềng Cambodia, Thailand, Myanma, không thể để bọn Việt cộng tự tung tự tác, cắt đứt, chận đứng con đường huyết mạch này một cách công khai, trắng trợn như thế.
    Vậy là, cuối cùng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III phải điều Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, đơn vị khắc tinh của Việt cộng vào trận.
    Biệt Đội 813 do Đại Úy Nguyễn Văn Hải chỉ huy, Biệt Đội 814 do tôi chỉ huy cùng Biệt Đội Thám Sát do Đại Úy Lưu Huyên chỉ huy, được quân xa vận chuyển từ Biên Hòa, đến đổ quân ngay trên Quốc Lộ 1, cách ngã ba Tân Phú Trung chừng 300 mét, và cách chổ địch đóng chốt trên 2 cây số. Bộ Chỉ Huy Hành Quân đặt ngay trong một khu nhà vườn kiên cố, bên cạnh Quốc Lộ 1. Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng, đích thân chỉ huy trận đánh, sau khi đã bay bao vùng quan sát trận địa.
    Khi trời bắt đầu sập tối. Đại Tá cho lệnh Biệt Đội 813 tiến lên bên cánh trái, trải quân ém rộng sâu vào mặt sau Khu Dân cư, xa Quốc Lộ chừng 500 mét, bố trí phòng thủ, chờ lệnh. Biệt Đội 814 tiến lên bên phía phải, khoảng giữa Quốc Lộ 1 và Hương Lộ 2, cũng mở rộng tuyến phòng thủ vào các khu vườn, nhà ở của dân chúng, ém quân chờ lệnh.
    Đến nửa đêm, theo đúng kế hoạch, Biệt Đội Thám Sát, lợi dụng bóng tối, đưa các Toán, men theo nương rẫy, vườn, nhà ở của dân để tiến lên tiếp cận các vị trí chốt, nhất cử nhất động, tránh bị để địch phát hiện, xong tìm chỗ ngụy trang, ẩn núp kín đáo qua đêm, chờ quan sát và phát hiện vị trí của địch.
    Qua hôm sau, Biệt Đội 813 và 814 được lệnh song hành nghi binh giả tấn công địch. Súng bắt đầu đồng loạt khai hỏa, nổ ran, nhưng Binh Sĩ đều nằm im tại chỗ, không xung phong vào vị trí địch. Địch tưởng đang đứng trước nguy cơ bị tấn công, đã trồi đầu lên khỏi hầm hố, bắn trả dữ dội, nhưng chẳng kết quả gì cả. Đây chỉ là một mưu lược chiến thuật có tính cách để đánh lừa địch quân.
    Suốt ngày này, hai Biệt Đội, tổ chức nhiều đợt tấn công giả vào vị trí của địch quân, làm cho chúng phải đặt trong tình trạng đối phó, không ngơi nghỉ.
    Và, mỗi khi địch phản công, tức là chúng lạy ông con ở bụi nầy, các Toán Thám Sát ẩn núp trong đêm, dễ dàng phát hiện và xác địch các chốt của địch. Có nghĩa là địch đã hoàn toàn bất lợi vì đã để lộ vị trí.
    Thế là, gần nửa đêm, các Toán Thám Sát nhổ chốt bắt đầu chuẩn bị khởi sự hành động, và hai Biệt Đội sẽ theo sau yểm trợ và bao vây chận đứng đường rút chạy của địch. Chiến thuật nhổ chốt có tính toán này là sáng kiến độc đáo của Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng.
    Bất cứ ở một trận chiến nào, hễ mỗi khi tác xạ yểm trợ bằng Súng Cối 60 ly, 81 ly, hay Pháo Binh, thì dù địch hay ta, nghe tiếng depart (tiếng nổ đạn đi), đều phải ẩn núp xuống hầm hố, giao thông hào, chờ cho dứt tiếng đạn đi và phát nổ ở một vài nơi nào đó, mới trồi đầu lên, sẵn sàng nghênh chiến trước mọi cuộc tấn công của đối phương. Đây là mấu chốt để phát kiến sở năng diệt chốt của các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù.
    Nếu không tính toán, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ trong việc sử dụng pháo cối để lừa địch, có khi lại trở thành nguy hiểm cho Binh Sĩ của ta mà không nhổ được chốt địch.
    Đây là một sự hiệp đồng chuẩn xác, thuần thục giữa các Tổ Súng Cối và các Toán Thám Sát nhổ chốt.
    Mỗi lần, Tổ Súng Cối cho bắn 10 quả, giả định như thế, chỉ có quả thứ nhứt đến quả thứ bảy là có đạn nổ. Từ quả thứ 8 đến quả thứ 10 là đạn lép, chỉ có bắn đi mà không có đạn nổ.
    Các Toán Thám Sát phá chốt, chờ đến hết quả thứ bảy, thì nhanh chân tiến lên gần các vị trí chốt của địch. Trong khi đó, địch vẫn chưa trồi đầu lên khỏi miệng hố vì còn nghe tiếng đạn đi. Ngay khi địch đang chờ đạn nổ thì Toán phá chốt đã đến tận nơi, tông lựu đạn vào công sự. Địch ở bên trong khó toàn tính mạng.
    Cứ như thế, các Toán Thám Sát diệt chốt, sau khi thanh toán xong một chốt, Toán phá chốt và Tổ Súng Cối lại tiếp tục hiệp đồng để diệt chốt kế tiếp. Đến khi trời vừa hừng đông thì các chốt của địch dọc hai bên Quốc Lộ 1 cũng vừa diệt xong. Quân ta bắt sống được 2 tù binh, một là Y sĩ và một khai là Giáo Viên, quê ở Bắc Việt, những tên còn lại may mắn sống sót, thì bán sống bán chết, chạy về hướng đất thép, sâu vào phía trong khu vực Củ Chi, bọn chúng gặp phải các Trung Đội của Biệt Đội 814 án ngữ, chờ sẵn tiêu diệt, số đông còn lại rút chạy bán mạng về vùng Đức Hòa, Hậu Nghĩa, thì chúng rước lấy thảm họa chua cay vì đã lọt vào trận địa của một Thiết Đoàn M.113 đang bố trí mai phục, và gần cả một Tiểu Đoàn địch quân đã bị Thiết Giáp xóa sổ, tịch thu rất nhiều chiến lợi phẩm.
    Tuy vậy, không phải thành công nào cũng được suông sẽ, thuận lợi mọi điều. Trong các lần đột kích phá chốt kế tiếp, địch đã liên lạc báo động cho đồng bọn, nên đã chống trả và đã gây thương tích cho Thiếu Úy Nguyễn Văn Xuân, Toán Trưởng Biệt Đội Thám Sát, Trung sĩ Châu Can, Hạ sĩ Hoàng Biệt Đội 814 và 13 Binh sĩ cả hai Biệt Đội Thám Sát và Biệt Đội 813.
    Ngay buổi sáng hôm đó, Quốc Lộ 1, đoạn đường từ ngã ba Tân Phú Trung đến Củ Chi đã được khai thông. Hàng loạt xe cộ từ hai hướng bị tắt nghẽn bấy lâu đã chạy qua chạy lại, bóp còi inh ỏi như thay lời chào mừng. Thỉnh thoảng vài xe đò, dân chúng ngồi bên trong đưa tay vẫy vẫy, hoan hô chúng tôi, có người thò tay ra ngoài, cho ngón cái chỉ lên trời như biểu hiện một lời khen tặng các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù là “Number One” đấy.
    Cũng trong ngày, Chính Quyền Xã Tân Phú Trung và Quận Củ Chi, cùng một số Dân chúng đã đến thăm viếng, ủy lạo các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù.

Sẵn sàng lâm trận

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 4 Nov 2024

  1. Phần 13
    Xóm Đạo Tha La
    “Trảng Bàng – Tây Ninh” …“Tha La vắng vì Tha La đã biết,
    Thương giống nòi, đau đất nước lầm than.”
    (Vũ Anh Khanh)
    Từ khi còn trẻ, tôi bị ám ảnh không ít về bài thơ “Hận Tha La” và mấy bài hát viết về Xóm Đạo nầy, một Xóm Đạo mà tôi, cũng như nhiều người chưa một lần đến đó.
    Xóm Đạo đó phải là rất dễ thương, như Vũ Anh Khanh diễn tả trong Bài Thơ vậy không? Ở Miền Nam thân yêu nầy, trái ngọt cây lành đâu chẳng có. Cũng không ít lần, các Mẹ, các Dì, các Chị đem đến biếu tặng những người lính xông pha trận mạc như chúng tôi, đánh đuổi giặc cộng, đem thanh bình an vui đến cho họ.
    Cái trách nhiệm của một công dân đối với Đất Nước là điều người dân Tha La Xóm Đạo đã làm, khiến tôi phải ngưỡng mộ họ:
    … “Quì cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy
    Lạy Đức Thánh Cha,
    Lạy Đức Thánh Mẹ,
    Lạy Đức Thánh Thần.
    Chúng con xin về cõi tục làm dân”….
    Chỉ làm dân, nhưng là người dân yêu nước. Đơn giản chỉ có vậy, như chúng tôi đang hành quân, tìm giặc, đánh đuổi chúng, đem lại an vui cho người dân vậy. Giữa chúng tôi và người dân Tha La Xóm Đạo có một sự đồng cảm, yêu Quê Hương mình, chiến đấu cho Quê Hương mình. Và… tôi hẹn với lòng sẽ làm một viễn khách “…về thăm một dạo, giữa mùa nắng vàng hanh”, để xem “Nắng hạ vàng, ngàn hoa gạo rưng rưng” và“..nghe mùa đổi gió, nhớ quanh quanh”.
    &
    Và rồi tôi đến thật, nhưng với súng đạn đeo bên mình.
    Cuối tháng 3 năm 1973, Hiệp Định Paris chưa ráo mực, Việt cộng đã vi phạm giành dân lấn đất khắp nơi, trên toàn Lãnh Thổ Miền Nam Việt Nam. Điển hình là khu vực Xóm Đạo Tha La, Quận Trảng Bàng.
    Quận Trảng Bàng nằm về hướng Tây Bắc Sài Gòn vào khoảng 40 kilômét. Xóm Đạo Tha La, thuộc Xã An Hòa, cách Chi Khu Trảng Bàng chừng 4 kilômét về hướng Tây.
    Từ mật khu Ba Thu, Việt cộng vượt sông Vàm Cỏ, tiến vào bao vây Xóm Đạo Tha La, chiếm cứ Nhà Thờ, giết Cha Xứ và một số giáo dân. Bọn chúng trù tính, sẽ dùng Tha La làm bàn đạp, tung quân đánh vào Chi Khu Trảng Bàng, cắt đứt Quốc Lộ 1, nối liền Sài Gòn với Tỉnh Tây Ninh.
    Tiểu Khu Trưởng Hậu Nghĩa, Đại Tá Mã Sanh Nhơn, đã đưa một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân đến tăng cường, giải tỏa áp lực địch nhưng bất thành. Địch mỗi ngày mỗi tung hoành, gây nhiều thiệt hại về nhân mạng, tài sản cho họ Đạo nói riêng và cho quần chúng trong khu vực nói chung.
    Trước tình hình mỗi ngày mỗi leo thang của Việt cộng, trước ngoan cố không tuân phục lệnh ngưng bắn của bọn chúng, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đã phải điều động Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, đến thanh toán dứt điểm đám cộng quân này.
    Trung Tá Nguyễn Văn Lân, Sĩ Quan Phụ Tá Chỉ Huy Trưởng, chỉ huy ba Đại Đội: Đại Đội Thám Sát của Đại Úy Lưu Huyên, Đại Đội 2 của Trung Úy Nguyễn Ngọc Ánh và Đại Đội 4 của tôi, đã khẩn cấp lên đường, trực chỉ Quận Trảng Bàng.
    Tại Trung tâm Hành Quân Chi Khu Quận Trảng Bàng. Trung Tá Ngô, Quận Trưởng đã thuyết trình đầy đủ, chi tiết về tình hình địch, bạn trong phạm vi trách nhiệm của Quận, và đặc biệt riêng tại địa phận Xóm Đạo Tha La.
    Địch áp dụng đóng chốt trong nhà dân. Đánh chốt đã là căng, lại là chốt trong Nhà Thờ, trong nhà dân, lại căng hơn. Rồi cũng nhổ chốt được, dễ thôi. Tôi tin tưởng ở tôi, ở cấp Chỉ Huy và Binh Sĩ của tôi.
    Trung Tá Lân, đã họp chúng tôi để bàn thảo kế hoạch, phân chia nhiệm vụ và vùng trách nhiệm cho ba Đại Đội. Và tất nhiên, để đối phó với kiền chốt của giặc cộng, Trung Tá Lân cũng đã chỉ thị cho chúng tôi phải triệt để áp dụng chiến thuật du kích đánh đêm sở trường. Và đúng giờ “G” trong đêm nay xuất phát.
    Đại Đội Thám Sát sẽ từ hướng Chợ Trảng Bàng, di chuyển theo hướng Tây, cặp theo Hương Lộ để truy diệt các chốt địch ở Chợ Xã An Hòa, ở Ấp Lò Rèn, sau đó sẽ tiếp tục thanh toán các chốt của Việt cộng ở mặt sau Nhà Thờ, rồi bố trí quân phòng thủ, án ngữ, bọc hậu tại hướng Tây Nam sông Vàm Cỏ, để chận đứng đường tăng viện hay tháo chạy của giặc cộng, đồng thời phối hợp cùng Đại Đội 4 để tấn công giải tỏa Nhà Thờ Tha La.
    Đại Đội 2 là lực lượng trừ bị, sẽ đóng quân rải theo Quốc Lộ 1 và phòng thủ cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân. Đại Đội 4 do tôi chỉ huy, sẽ di chuyển về hướng đi Tây Ninh khoảng 3 kilômét, gần Xã Gia Bình, từ vị trí này Đại Đội 4 sẽ tiến quân từ Bắc xuống Nam, theo con đường đất, chạy trên một đám ruộng khô, rộng hơn một mẫu, để tiến vào địa phận Tha La.
    Vượt khỏi đám ruộng khô, gặp một ngã ba đường mòn nằm ở mé trái, chạy dọc theo đường mòn có một số nhà dân ở rải rác, thông với nhau bằng nhiều đường mòn nhỏ, dẫn từ nhà nầy qua nhà khác.
    Qua ngã ba, con đường đất nở rộng hơn, xe hơi có thể di chuyển dễ dàng. Đường được trải bằng một lớp đất đỏ pha với sỏi cát, những bụi tre tầm vông được trồng san sát nhau hai bên đường. Con đường nầy là lối đi vào Xóm Đạo Tha La, khoảng cách độ chừng trên 3 cây số. Dân chúng trong vùng vẫn sinh hoạt bình thường, có lẽ địch chưa chiếm đến nơi đây. Đại Đội dừng lại đóng quân, chờ đêm xuống sẽ hành động theo đúng kế hoạch.
    Sau khi Binh Sĩ bố trí phòng thủ xong, tôi vào thăm một nhà dân, nằm thụt sâu bên trong ngã ba đường. Ngôi nhà tuy cũ, nhưng kiểu nhà xưa kiên cố, cột gỗ, mái ngói. Bây giờ không biết sao, nhưng có lẽ trước đây, khi chưa có giặc, gia đình nầy cũng thuộc vào thành phần khá giả. Trong chuyện trò trao đổi, mới biết đây là nhà họ “Ngô Đình…”. Tò mò, tôi hỏi:
    – “Bác có bà con gì với Tổng Thống Ngô Đình Diệm quê ở ngoài Huế không?”

Ông già cười:
– “Không có. Tổng Thống là người có Đạo còn Tôi người Lương”.
Bất chợt, tôi nhìn vào gian giữa nhà. Trên Bàn Thờ đang thắp đèn và đốt nhang.
Ông cụ có con trai trưởng đã đi lính Cộng Hòa, người con gái út tên Sơn, đang là Giáo Viên của Trường Tiểu Học Trảng Bàng, vẫn đi dạy hàng ngày. Cô thứ hai, đã lập gia đình có 4 người con, ở ngôi nhà bên cạnh. Chồng Chị, Anh Ba Tài, có chiếc xe Daihatsu chở khách, chạy đường Trảng Bàng – Tây Ninh.
Ông cụ còn cho biết, sau khi đánh chiếm địa phận và Nhà Thờ Tha La, bọn Việt cộng thường hoạt động về đêm, chúng phối hợp cùng bọn du kích địa phương để chống trả lại quân ta. Tiểu Khu, Chi Khu đã đưa quân vào đánh mấy lần, nhưng không diệt được. Nếu không có chiến tranh, xóm nhà nầy yên vui, thanh bình lắm.
Sáng hôm sau, tôi họp các Trung Đội Trưởng, tổng kết lại tình hình một đêm qua và đưa ra kế hoạch sắp tới. Tôi ra lệnh mỗi Trung Đội, cho tung một hai lính giả trang thường dân, đi vào khu vực nhà dân trong Xóm Đạo, tìm hiểu, quan sát những con đường xóm, nhà dân, vườn tược v.v… Sau trưa, chúng tôi lại họp, bàn định phương thức hành động, ưu tiên phải tiêu diệt các tổ trinh sát Việt cộng, bọn dân quân du kích, nằm bên ngoài Nhà Thờ, trong địa phận Giáo Xứ.
Đêm đó, Đại Đội kín đáo tiến sâu vào Xóm Đạo Tha La thêm một cây số, mở rộng vòng đai đóng quân phòng thủ, rồi cho lệnh các Trung Đội tổ chức phục kích trên các đường mòn, các điểm tình nghi, bắt sống tù binh, để khai thác tin tức, nắm vững địch tình.
Kết quả 2 tên Việt cộng đã bị bắt sống. Chúng từ hướng Nhà Thờ đi ra, Trung Sĩ Bự và Hạ sĩ Ân thuộc Trung Đội 3 của Chuẩn Úy Tuyền, đã nhảy ra, và bằng với một thế võ Vovinam đã quật ngã, bắt trói chúng một cách mau lẹ. Khai thác tại chỗ, bọn chúng cho biết hiện có một Đại Đội đang chiếm giữ Xóm Đạo Tha La, chúng bố trí hai Trung Đội ở hai gian nhà ở sân sau Nhà Thờ, một Trung Đội lưu động, còn một Trung Đội thì phòng thủ ngay trong Nhà Thờ, chúng đặt một cây Trung Liên nồi, hướng về con đường đất, không có bọn nào ẩn núp trong nhà dân, ngoài trừ đám du kích địa phương.
Con đường xâm nhập của chúng ở phía sông Vàm Cỏ, từ mật khu Ba Thu. Con đường nầy nếu kéo ra thì dài lắm. Mật khu Ba Thu tiếp nối với vùng Mõ Vẹt, bên kia biên giới Việt Miên. Về phía Đông, chúng có thể tiến về vùng Lương Hòa, Tỉnh Long An. Trong trận đánh Tết Mậu Thân, từ mật khu Ba Thu, Việt cộng xâm nhập Phú Lâm, phía Nam Saigon.
Nắm vững các thông tin do địch cung cấp, ngay trong đêm, tôi điều động Thiếu Úy Lại Đình Hợi, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, Chuẩn Úy Nguyễn Ngọc Lân, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 và Chuẩn Úy Thanh, Trung Đội Trưởng Trung Đội 4, đưa quân đến bố trí trên những con đường Xóm, hướng ra bờ ruộng phía sông Vàm Cỏ, trong các Xóm Ấp để phục kích tiêu diệt đám cộng quân còn lại.
Địch trúng kế chúng tôi. Chúng lọt ngay vào các vị trí phục kích, 4 tên du kích bị bắn hạ, thêm 2 tên bị thương, số còn lại khoảng bốn năm tên, bán sống bán chết, chạy thục mạng, ngược ra hướng Rạch Vàm Trảng.
Về hướng tiến quân Đại Đội Thám Sát, sau khi thanh toán các chốt chặn của Việt cộng nằm về hướng Tây Bắc Chợ An Hòa, Đại Đội tiêp tục tấn công vào Ấp Lò Rèn, trong lần đọ trận này Đại Úy Đại Đội Trưởng Lưu Huyên, Thiếu Úy Hoàng, Trưởng Toán Thám Sát và 6 Binh sĩ đã bị trọng thương bởi đạn B.40, về phía bọn địch, chúng để lại 10 xác chết tại hiện trường, tịch thu được 5 súng AK, 2 cây B.40 và 1 trung liên nồi.
Trung Tá Lân đã điều Đại Đội 2 lên thay Đại Đội Thám Sát, Đại Đội 2 đã rải quân phòng thủ ở mặt hông sau của Nhà Thờ Tha La. Tại đây Đại Đội 2 cũng áp dụng chiến thuật phục kích đêm, hạ sát tại chỗ 2 tên cán binh cộng sản, bắt sống được 2 tên, số còn lại cũng đã tháo chạy về hướng Sông Vàm Cỏ Đông.
Chặt đứt xong xuôi các dây mơ rễ má. Bây giờ là đến số phận những tên “sanh bắc tử nam” đang chiếm cứ trong Nhà Thờ. Hai Đại Đội cùng hợp đồng tác chiến. Đại Đội 2 là lực lượng yểm trợ và tiếp ứng, rải quân bao quanh mặt sau địa phận Nhà Thờ. Đại Đội 4 là lực lượng tấn công, sẽ lợi dụng đêm tối, đưa các Toán Thám Sát, men theo các lùm cây, bụi tre, tiến sát đến chân tường Nhà Thờ, ẩn núp quan sát, chờ lệnh. Các Trung Đội chia làm hai cánh, từ từ tiến lên trong các khu vườn nhà dân, để đến nằm án ngữ ở con đường ngay trước mặt Nhà Thờ. Đúng 2 giờ sáng, các Trung Đội bắt đầu khai hỏa, Việt cộng từ trong Nhà Thờ, từ hai gian nhà sau nổ súng bắn trả. Các Toán Thám sát phát hiện vị trí địch, đã bò đến tung lựu đạn triệt hạ. Sau hơn nửa giờ giao tranh. hơn một chục tên trong Nhà Thờ và hai gian nhà sau không còn cựa quậy, 8 tên bị thương xin đầu hàng, một số rút lui về phía nhà dân, sau lưng Nhà Thờ, nhưng cũng đã bị Đại Đội 2 án ngữ ở đó hạ sát và bắt sống.
Chúng tôi đem lại thanh bình cho Xóm Đạo. Tôi nhớ lại bài thơ của Vũ Anh Khanh:
“Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm Xóm Đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh …”
Giờ đây, hết giặc, Khách không về thăm mà lại ra đi. Ngày chia tay, vị Linh Mục và Giáo dân Tha La Xóm Đạo đã phối hợp cùng Trường Tiểu Học Trảng Bàng, với Cô Giáo Tươi và Cô Giáo Sơn, con Ông Cụ nhà họ Ngô Đình phụ trách tổ chức ủy lạo, tặng qùa cùng văn nghệ ca múa, do chính hai Cô và các học trò đồng trình diễn.
&
Một năm sau, trên chiến trường Miền Đông Nam Phần, tại rừng Tân Uyên, vào một buổi chiều mưa, dừng quân bên bờ Sông Bé, cạnh con đường mòn dẫn vào Chiến Khu D, tôi bỗng nhớ về Cô Giáo Tươi của Trường Tiểu Học Trảng Bàng ngày ấy. Trong ba lô, tôi vẫn còn giữ kín những lá thư Cô đã viết cho tôi.
Bao tháng năm lăn lộn trên chiến trường, thư đã cũ, giấy đã ngã sang màu vàng. Tôi bâng khuâng hồi nhớ những ngày ở Tha La Xóm Đạo, tôi lấy thư ra xem và rồi mấy câu thơ tôi từng yêu thích mấy năm trước lại hiện về:
“Đường mòn trơn ướt đất hành quân.
Nhưng không ướt những trang thư,
Của người em gởi người anh chiến sĩ.
Trong đêm dải chiến địa,
Buồn trong những chiều mưa.
Những chiều mưa đau tủi giận hờn….”
Đau tủi, giận hờn….?
Tươi ơi! Cho tôi gởi một lời tạ lỗi và xin hãy quên tôi!!


“Tha La Xóm Đạo”
Đây “Tha La xóm đạo”
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
– Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.
– Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón
– Xin thưa, tôi lạc bước!
Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nghìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nhìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi
– Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
– Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ người hiu quạnh.
Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
Đang đón mây xa khách bỗng ngại ngần,
– Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
– “Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than.”
Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
Rồi… cởi trả áo tu.
Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
Rồi… nhẹ bước trở về trần…
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
Rung lành lạnh ngân trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi!
Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ.
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ,
Lá rừng cao vàng rụng lá rừng bay.
Giờ khách đi Tha La nhắn câu này…
Khi hết giặc khách hãy về đây nhé!!
Hãy về thăm xóm đạo,
Có trái ngọt cây lành,
Tha La dâng ngàn hoa gạo.
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên hiền thương áo trắng,
Nghe trời đổi gió nhớ quanh quanh.

Vũ Anh Khanh

Nhà Thờ Tha La đã chỉnh trang

Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 4 Nov 2024

Chương 32

CHIẾN DỊCH ĐÔNG TIẾN II LẦN 2

Kết Thúc Ngày 28/8/1987

Tin Dữ: Cái Chết Của Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh.

Toàn Ban Lãnh Đạo Mặt Trận Tự Sát!!!

Danh Sách Kháng Chiến Quân Hy Sinh – Bi ̣Bắt Làm Tù Binh.

CHIẾN DỊCH ĐÔNG TIẾN III

Đào Bá Kế Chı̉ Huy Chiến Dịch Với Bı́ Danh Trần Quang Đô.

(Viết vào đầu tháng 2/2006).
Chiến Dịch Đông Tiến II Lần 2 Kết Thúc Ngày 28/8/1987.

Tin Dữ: Cái Chết Của Chủ Tich Hoàng Cơ Minh.

https://drive.google.com/file/d/1rar8Ehqp2X3JSwKBFENvC8CY8CqwDYbo/view

Phan Thanh Giản

petruskyaus.net

thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 2 Nov 2024

Mất lục tỉnh Nam Kỳ

chén thuốc đắng

Người đi

vào miên viễn.

Anh mất miền nam

anh lên đường vượt biển

nước non nầy bỏ lại để ai lo?

Nước mất nhà tan

tan hàng!

thôi không còn cố gắng.

Xao xác lạc bầy

kẻ lưu đày ra bắc;

người thây nổi biển đông.

Mình ta, quê người

cõi lòng

tan nát

khi nghe em hát

ru con

Cây đa trốc gốc trôi rồi

em xa người nghĩa đứng ngồi không an.

đoàn xuân thu

Phà Cần Thơ!

petruskyaus.net

thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 2 Nov 2024

Vậy là xong!

Chỉ còn con sông!

Chiếc phà xưa đã đi vào lịch sử!

Xưa anh đi vượt biên;

Em dõi qua Cầu Bắc!

Ruột thắt với lòng đau!

Là dàu dàu kỷ niệm!

Không còn phà!

Không còn mỏ bàn đò!

Không còn cả ponton!

Không còn đèn pha… mù mù tối

Không còn ai bước vội,

Cho kịp chuyến phà đêm!

Cầu Bắc xưa sẽ nằm trong ký ức

Xa xứ về: chiếc phà cũ giờ đâu?

***

Không còn người nghệ sĩ mù trên chiếc phà năm cũ

Cây đàn ghi ta phím lõm và cái nhịp song lang!

Không còn “Xuân nầy con không về!”

Cần Thơ cất cầu nhưng rầu cho chiếc Bắc!

Đôi bờ sông!

Xa cách mặt,

Ruột thắt với lòng đau!

Một tiếng kêu máu trào cổ họng!

Không còn phà làm sao tui sống?

“Thân đui mù! Giờ tui hát ai nghe?”

 đoàn xuân thu.

melbourne.

Ăn và nhậu

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

August 5th, 2021

Post by Sơn râu 2 Nov 2024

Lời Giới Thiệu:

HẠNH PHÚC TRONG TAY là một chuyên mục mới của Trẻ, do anh Đặng Hiếu Sinh phụ trách, nơi những thao thức, những kinh nghiệm về hạnh phúc gia đình, hạnh phúc đời người được chia sẻ để mỗi người tự tìm ra chiếc chìa khóa hạnh phúc cho chính mình.

Cơn dịch Covid vừa giảm sút, các sinh hoạt cộng đồng vừa rục rịch chuyển mình, thì đám bạn cũ đã ới nhau họp mặt. Lâu ngày không được gặp gỡ, “lời qua, tiếng lại” đủ mọi đề tài, nên không khí ngày “khai trương” có vẻ sôi nổi khi anh Liệt và anh Nghiêm tranh luận về vấn đề Ăn và Nhậu. Anh Nghiêm nói:

– Nếu trong bữa tiệc mà không có món xôi, thì tôi không xem đó là tiệc.

Cũng như vậy, nếu ai mời tôi uống rượu mà không có vị ngọt, thì đó không phải là rượu!

Anh Liệt trợn mắt hỏi:

– Vậy ly đó là gì?

Anh Nghiêm trả lời với giọng cà giựt:

– Tôi đâu có uống mà biết. Không hiểu tại sao người ta có thể bỏ tiền mua cái thứ vừa cay, vừa đắng mà uống lấy uống để, đến nỗi say khướt, lăn quay.

– Anh mới là lạ. Sống hơn nửa đời người, nhất là tại cái xứ sở rượu bia tràn ngập nầy mà cho rằng, chỉ có loại rượu ngọt dành cho phụ nữ mới là rượu thì quả là đáng ngạc nhiên. Chắc anh cũng biết câu “Nam vô tửu như kỳ vô phong”. Ha! Ha! vậy là đời anh không hề có gió.

Anh Nghiêm nhăn mũi hỏi lại:

– Vậy “gió” của anh có phải “gió” kiểu này không?

Một ly nhâm nhi tình bạn

Hai ly uống cạn lòng sầu

Ba ly mũi chảy đầy râu

Bốn ly ngồi đâu gục đó

Năm ly cho chó ăn chè

Sáu ly vợ đè cạo gió (*)

Cả bàn cười rộ lên. Anh Trần xen vào:

– Chuyện rượu… “xưa rồi Diễm”. Mời hai ông nghe cụ Trần Tế Xương nói nè:

“Một trà, một rượu, một đàn bà,

Ba thứ lăng nhăng nó quấy ta.

Chừa được thứ nào hay thứ ấy,

Có chăng chừa rượu với chừa trà!

Anh Nghiêm xua tay, lắc đầu:

– Trà thì tôi không thích, rượu thì nhâm nhi chút rượu ngọt mà anh Liệt cho rằng không phải rượu. Còn món thứ ba là đàn bà, mà đàn bà là mẹ của con tôi, có muốn chừa cũng không được.

– Nãy giờ, chúng ta nói về uống mà chưa nói về ăn. Nhất là người Việt chúng ta, cái gì cũng bắt đầu bằng chữ ăn, như ăn nói, ăn tiệc, ăn gian, ăn hối lộ… ngồi lại ghi chép cả ngày cũng chưa hết chữ ăn theo nghĩa dân gian. Tóm lại, cái thú ăn là một hoạt động gắn liền với con người. Chẳng những ăn để sống, mà còn tác dụng đến hạnh phúc mỗi người. Có người ăn không thiếu món gì, có người lại kỵ món Tây, món Tàu, có người lại phải kiêng cữ vì cao mỡ, cao máu, cao đường, như tôi đây. Còn anh Liệt thì sao?

– Tôi là dân nhậu, nên ăn xả láng. Nhưng phải là thức ăn Việt Nam. Mỗi lần đi chơi xa, việc đầu tiên là tôi phải tìm nhà hàng Việt, chứ nhà hàng Mỹ hay “fast food” là tôi không chơi. Phải là cơm, phở, mì, hay món ăn Tàu cũng được. Tôi khổ sở khi phải  ăn cưới ở khách sạn sang trọng. Cứ nhìn dĩa steak, cá salmon, hay gà, bài trí đẹp đẽ trước mặt là ngán tới cổ, nên chỉ khều khều chút bánh mì bơ dằn bụng cho cái bao tử khỏi làm reo, chứ thật ra trong lòng cứ lẩn quẩn niềm “khao khát”, phải chi có một tô phở  thì ngon biết bao!

– Tôi kể anh nghe chuyện anh bạn tôi về cái vụ ăn nhé. Tháng Sáu vừa qua, khi tụi nhỏ nghỉ hè, chúng tôi cùng đi Universal Resort Orlando. Buổi tối đầu tiên, hai gia đình vào nhà hàng Mỹ ăn tối. Trong thực đơn có món steak nổi tiếng, mọi người ai cũng muốn ăn, chỉ có anh bạn tôi – giống như anh – cứ muốn thức ăn Việt hay Tàu thôi. Anh ấy nói, không thích và cũng chưa bao giờ ăn thức ăn Mỹ, nhưng con anh nằn nì “Bố phải thử một lần cho biết”. Anh ấy nhìn dĩa steak chẳng chút thú vị, nhưng chiều con, nên miễn cưỡng cho miếng thịt thơm lừng vào miệng, nhai chầm chậm, từng miếng, từng miếng một, chăm chú lắng nghe, đầu gật gù nhè nhẹ khi nhắm chút rượu đỏ. Buồn cười là cả bàn hồi hộp theo dõi, như đang xem một đoạn phim hấp dẫn. Và thật bất ngờ khi anh đưa cao ngón tay cái để cho điểm. Ăn xong, anh nói với vợ “Vậy là anh đã lãng phí bốn mươi lăm năm, vì không chịu thưởng thức món tuyệt chiêu này. Từ đây về sau, nhất định anh sẽ thử mọi món ăn khác, chứ không phải duy nhất là cơm và phở”.

Tranh Bảo Huân

Bạn thân mến,

Qua câu chuyện Ăn và Nhậu trên, ta cũng không thể cho rằng, không biết thưởng thức một món ăn ngon hay không biết uống rượu là đã hoang phí đời sống mình, đánh mất một niềm hạnh phúc. Bởi vì, mỗi người có  một quan niệm sống khác nhau về ăn, nhậu. Chẳng hạn, nhìn một người tu hành chỉ biết ăn chay, uống nước lã,  có ai dám cho rằng người ấy không hạnh  phúc?. Nói đến phe có  tinh thần ăn uống, người ta hay lý luận  “Ăn để sống. Muốn sống phải ăn. Muốn ăn được thì phải ngon. Không ngon thì không ăn được. Mà không ăn được thì hết sống.

Như vậy, muốn sống được thì phải ăn ngon”. Chính vì thế những người khỏe mạnh, yêu đời, luôn là những người ăn ngon. Một người làm việc vất vả, hay mệt mỏi sau chuyến đi dài mà được bữa ăn ngon (cảm giác giống người bạn mà anh Nghiêm kể lại về bữa ăn tối trong chuyến du lịch, khi khám phá món ăn mới) sẽ tốt biết bao cho sức khỏe và tinh thần. Ngược lại, anh Liệt thì buồn bã, gượng gạo trên bàn tiệc sang trọng.

Theo một nhận định về thức ăn được đăng tải trên Net “Mạnh dạn bước ra khỏi ranh giới an toàn và sẵn sàng thử nghiệm các món ngon vật lạ cũng là cách tận hưởng cuộc sống. Khi đi du lịch đến một vùng đất mới với món ăn thức uống hoàn toàn xa lạ, bạn hãy chăm chỉ tìm hiểu và cho phép mình nếm thử tất cả các món ăn đặc sản. Kiến thức ẩm thực của bạn sẽ ngày càng phong phú và bạn sẽ tận hưởng được thú vui ăn uống ở bất kỳ nơi nào bạn đến”.

Bàn về Rượu, có lẽ cụ Trần Tế Xương đã từng khổ sở vì “nát rượu”, nên mới muốn chừa. Ðúng vậy, không biết bao nhiêu người vì nghiện rượu mà hư cả cuộc đời – nhất là ở Việt Nam – và đó cũng là lý do khiến dư luận lên án rượu. Ðó là mặt xấu của uống rượu bia. Nhưng thật ra, rượu bia cũng góp phần tích cực trong cuộc sống con người. Ðối với một số nước Tây Phương, rượu bia là nguồn lợi kinh tế đáng kể. Ðối với quan hệ bạn bè, xã giao, thì câu nói “Miếng trầu là đầu câu chuyện”  dường như đã lạc hậu. Bây giờ thì “ bàn nhậu mới dễ tậu bạn bè”. Chắc bạn cũng từng kinh nghiệm, một bàn tiệc “trước lạ, sau… rất mau quen”, sẽ xôm tụ với những tiếng cười rôm rả, khi mọi người cùng nâng ly với nhau. Trong khi một bàn tiệc, dù đã quen nhau trước, nhưng rồi sẽ lặng lẽ tan hàng nhanh, sau một hồi không ai cụng ai – vì chỉ có nước lạnh và nước ngọt!.

Ðôi điều lan man cho vui, chứ như anh Nghiêm, không có xôi và rượu ngọt, thì xem như ăn cơm nhà, cũng đâu có hại gì ai. Còn anh Liệt phải uống thứ rượu cay, vì “biết uống thứ nầy mới là đàn ông, như cờ phải có gió mới tung bay”. Nghĩ cũng hay, miễn lá cờ đừng bay mất bỏ cột cờ trơ trọi nghe anh bạn!.

(*) Sưu tầm trên Net

Hầm Mộ

hopluu.net

30 Tháng Mười Một 2014

Đỗ Hoàng Diệu

Post by Sơn râu 2 Nov 2024

Nhà văn Đỗ Hoàng Diệu

LTS: Nhà văn Đỗ Hoàng Diệu trở lại với bạn đọc bằng tác phẩm “Hầm Mộ” sau một thời gian khá lâu từ tập truyện “Bóng Đè” được xuất bản tại Việt Nam. Chúng tôi hân hạnh được gởi đến quí bạn đọc và văn hữu trích đoạn tác phẩm “Hầm Mộ” của Đỗ Hoàng Diệu.

Tạp Chí Hợp Lưu

      Ngày mưa tháng tám. Cơn nước lên. Thành phố úng chìm, lún lụn. Đôi trai gái chụm trên chiếc giường kê cao, cười rức rức. Hình như giữa màn nước mênh mông dưới chân họ, có điều kỳ lạ. Hai đôi mắt cứ đắm đuối nhìn màn nước đương nhích cao từng phân , rồi lại nhìn nhau.

–         Anh ước mưa mãi mưa mã, thành biển cả. Anh và em là con thuyền…

Tiếng chàng trai trầm như tiếng mưa rơi giữa trời không gió.

–         Con thuyền to thế, biết trốn vào đâu nếu bố mẹ em về?

Chàng trai miết môi mình vào làn da cô gái trong khi vẫn cười, đôi mắt chói niềm vui.

–         Thuyền tình yêu chứ có phải thuyền buôn lậu đâu mà sợ, em

ơi…Hay em, hay chúng mình biến nó thành con thuyền khác đi, con thuyền hạnh phúc, con thuyền vợ chồng….

Giọng chàng trai ngạt đi. Hơi thở cố nén, dồn dập dồn dập.  Màn nước dưới chân giường  lay động lay động, lan tỏa lan tỏa. Cô gái vươn đôi cánh mềm, ôm riết thương yêu. Trời ơi, ngọt ngào! Tình yêu ơi, người đã ở đâu ngàn năm qua, bỏ tôi cô độc tuổi thơ dài náu lặng? Tình yêu ơi, có thật người đã đến, có thật người đang ở bên tôi? Tình yêu ơi, người sẽ để người đàn ông này hiện thân trong tôi suốt cuộc đời còn lại của tôi nhé? Người hứa đi, hứa đi. Người không hứa ư? Người sẽ lại để tôi cầm tù mình dưới hố thẳm sâu hoắc không cửa thoáng ư? Người bắt đầu tách chúng tôi ra ư, người đang làm ư? Ôi, bụng tôi lạnh, bụng anh lạnh. Làm sao, làm sao…

     Cô gái thét lên, cô tưởng mình có thể thét lên. Nhưng âm thanh hoảng loạn đó trở thành tiếng rú chẹt cứng cổ họng. Chàng trai rơi tay khỏi da mềm người yêu, tia nhìn ngắc cứng như người vừa bị bắn trúng tim.

     Thủng thẳng, từ khe trống giữa cặp tình nhân, trườn ra con rắn. Màu gì, to hay nhỏ, độc mức nào? Cặp tình nhân không biết, không ai biết. May chăng màn nước dưới chân giường mà  rắn đang chậm bơi, chậm vẫy, chậm tiến hòa vào biển đen đương nuốt chửng  thủ đô ngàn năm kinh kỳ có thể biết. Song, nước không biết nói, nước chưa bao giờ cất tiếng trên thành phố này.

      Cô gái tái nhợt. Chàng trai buông thở dài. Không nhìn nhau, không đối thoại. Họ không nghĩ về nhau. Nhưng họ đương cùng chung hồi tưởng. Những ngày đã qua, những lúc sắp hòa vào nhau, bỗng cứ vụn vỡ. Lần đầu tiên, tại căn phòng thuê trống hoác gió mùa của người bạn cùng lớp, cô gái đón nụ hôn đầu đời. Giây phút ấy, hình ảnh người mẹ câm lặng và căn nhà thừa nỗi buồn chìm sâu đáy vực. Mây trắng chui qua mái ngói hở nói với cô hạnh phúc. Trời xanh ghé qua khuôn cửa lỗ chỗ mối mọt thì thầm tình yêu. Lũ chuột cũng ríu rít lít chít gửi chúc mừng. Đúng lúc bàn tay chàng trai mê muội lần tới bầu vú nhỏ thanh tân, đôi thạch sùng quấn nhau rơi trúng mặt cô gái. Hét không đủ làm tan nỗi sợ, cô cắn nát vai anh. Lần trong khu nghĩ dưỡng miền sơn cước, mọi thứ thật hoàn hảo. Đêm thanh bình, hương núi rát hồn, hương rừng êm da. Đèn ngủ dịu dàng, môi cô gái dịu dàng, làn da cô dịu dàng. Người yêu cô say, người yêu cô mê, người yêu cô muội, người yêu cô chìm lút yêu đương. Áo vén, quần rơi, lòng tình nhân  cháy lửa. Bỗng rừng nổi gió, đêm đạp trời. Sấm oang suối, rền sông. Chàng trai ôm người yêu, run rẩy. Nỗi run kinh hoảng. Sáng hôm sau, khắp khu nghĩ dưỡng bàn tán về trận cuồng đêm trước. Họ nói kỳ lạ kỳ lạ, sấm chớp, gió mưa đổ xuống chỉ vẻn vẹn năm phút.

      Chàng trai buồn, cô gái mơ ác mộng suốt chuyến xe trở về.

      Mưa tan ra rồi ngưng dần. Tiếng í ới xuyên khắp thành phố. Đôi trai gái bứt khỏi nghĩ suy. Chàng trai áp mặt vào làn da tinh khôi người tình, “mưa tạnh rồi, thuyền không lật, mọi chuyện sẽ yên ả, phải không em?” Cô gái nhoẻn miệng. Người yêu cô, anh chàng kiến trúc sư đẹp trai, hay dùng  ẩn dụ, nói lời hoa nhã. Chẳng ai tin cả bố lẫn mẹ anh đều mù chữ.

                                                   *

       Tối cùng ngày, trong điện thoại, giọng nói không còn trầm tĩnh, chàng trai cũng thôi dùng ẩn dụ:

–         Bố anh trở bệnh nặng, muốn gặp em.

Trong vài giây, não cô phình ra choán hết bóng đêm.

–         Bố anh biết em?

–         Vì em là người anh yêu, vì anh sẽ cưới em.

Sau câu trả lời, mọi tế bào kháng cự trong cô gái đồng loạt từ trần. Một khắc nào đêm đó, dăm phân tử ngọ nguậy phân vân. Nhưng mưa đổ thác, cuốn chìm.

    Chuyến tàu tờ mờ chở đầy ngái ngủ. Sớm oải nhão mặt người. Linh hồn ngủ sâu giữa những khuôn mặt xám tái, chỉ thân xác lắc lư điệu buồn. Co ro cuối toa tầu, cả hai im lặng. Lần đầu cô đi tàu, cùng người đàn ông yêu cô, mà chẳng hề xúc động.  Mãi khi đoàn tàu rúc còi trườn vào ga Nam Định, cô mới bật lên, thức linh hồn và giọng nói:

–         Mưa à? Chúng ta không có ô…

–         Đi taxi em à. Nhà anh cách thành phố 30 cây, quê lắm.

Chàng trai bóp khẽ tay cô. Một luồng điện chạy qua. Môi cô gái hồng lên. Suốt mấy chục phút trên taxi, qua nhà thờ, qua tu viện, qua những cánh đồng nhợt nhạt chờ cấy, qua nghĩa địa, qua trường học … đôi môi cô vẫn hồng.

       Khuôn mặt ông già trên tấm phản quét rụi màu hồng khỏi môi, khỏi máu, khỏi đời cô. Khuôn mặt của mưa ngâu tháng bảy, rét tháng hai, nắng tháng sáu trong phiên chợ cá cuối ngày. Rệp xuống, tay lạnh, chân run, cô mất luôn giọng nói nơi bậc thềm ngôi nhà mái ngói xám rêu. Cô không để ý, đôi mắt ông già trợn ngược và bọt mép trắng xùi. Cô không nghe tiếng rú đột ngột tắt lịm. Cô không thấy chàng trai hoảng hốt nắm tay cô, nắm tay cha, đôi vai khuỵu rã. Cô không biết những người đàn bà luống cuống chạy tới, ôm mặt rỉ than. Nghĩ mình đã chết, cô buông tay.

      Chẳng tính được bao lâu, linh hồn cô trở về. Căn nhà sặc hương khói. Mà không át nổi khai nồng của trầu không giã nát trộn nước tiểu dây dính khắp thân thể. Nhà quê nào chẳng làm thế với người ngất xỉu. Mẹ thành phố, mẹ cũng vài lần áp dụng. Hằn vào tuổi thơ ngoài ngôi nhà im tiếng, chiếc giường rung động, người đàn ông chồng mẹ… có vệt dài cho nước tiểu trộn trầu không. Mất vài phút, cô nhận ra chiếc giường xỉn, gối nhàu cũ, chiếu lạnh tanh. Và dù xung quanh sầm tối, cô vẫn hiểu đang ban ngày. Nhiều lần, anh thầm thì. Em biết không, quê anh như chiếc nhà mồ vĩ đại. Người lang thang câm lặng. Da xanh. Môi thâm. Áo nâu. Mùa đông lạnh xé thịt mùa xuân ẩm rách tim. Vậy là chuyến tàu sáng đã chở cô về hầm mộ. Khẳng định suy nghĩ của cô, những âm thanh cưa xẻ, đập gõ đồng loạt vang lên lèn chặt không gian. Thêm vài tiếng chó già tru tựa nhị kèn đám ma. Gặp nhau lần thứ hai, anh thú thật với cô làng anh có nghề truyền thống đóng quan tài. Cô chặn cơn co thắt dạ dày, mở to mắt. “Theo em, đó là nghề cao quý”.

     Nước bắt đầu ngấm vào tận chân giường và các bức tường. Cô gái quờ quạng từng ý nghĩ trong thân xác oải mệt. Mùa xuân chết tiệt. Não cô buông thở dài. Một chút ánh sáng le vào như lân tinh chấp chới nghĩa địa đêm mưa. Cô ghét mùa xuân. Cái mùa khắp miền Bắc rỉ nước. Cái mùa bên ngoài da rít bên trong hồn biếng lười. Những thơ văn về mùa xuân làm cô căm thù.  Toàn dối trá! Mắt mẹ mỉm cười. “Đừng chứa chấp bất kỳ lòng hận thù nào trong người, cho dù chỉ là vài ngôn từ rỗng, con gái!” Mẹ chưa bao giờ cười bằng miệng.

       Tiếng cánh cửa mọt rệu rắc rắc. Tiếng bước chân hổn hển. Bước chân anh. Cô gái cố nhỏm lên khỏi đống chăn nhăn và song sắt nước tiểu trầu không. 

–         Mẹ ơi, con lên trạm xá nhưng không thấy ai trực. Con gọi cấp cứu nhưng người ta từ chối chạy về quê. Mẹ huy động người đi, chúng ta dùng cáng. Ơ, mẹ quỳ trước bàn thờ làm gì? Khấn vái làm sao cứu nổi người! Mẹ giúp con, con cần nhiều người, mẹ ra sân gọi to lên.

Âm thanh xương khớp mỏi mệt gượng dậy. Mẹ anh, cô đã nhìn trên ảnh, luôn cúi xuống khuôn mặt gầy, đôi mắt sợ sệt tựa việc mình đứng cạnh chồng con chụp hình là tội lỗi. Cô gái rùng mình. Từ chuyến tàu sớm đến bây giờ bao lâu? Mình bất tỉnh bao lâu? Sao cảm giác triệu năm trôi qua, sao mình như đang trong hang đá khổng lồ ẩm rêu thời đồ đá? Cô bật dậy dớn dác:

–         Anh ơi, anh ơi…

Với đúng hai bước, chàng trai đã nhào đến chiếc giường nơi gian áp chái. Chân tay xoắn xuýt che giấu vui mừng. Em tỉnh rồi, lạy Chúa, em tỉnh rồi. Cảm ơn Người. Chắp hai bàn tay vào nhau, anh ngước qua kẽ hở viên ngói vỡ, ngó thiên đàng. Sau này, cô gái mới biết, đó là lần đầu tiên và duy nhất chàng trai làm dấu thánh, cầu nguyện Chúa, dù gia đình anh công giáo nhiều đời.

       Khoảng hai tiếng sau, mặt trời le lói. Chiếc sân gạch xanh rêu hưng hửng. Dùng cả hai tay gỡ tóc rối, cô gái ngồi trên bậc thềm ơ hờ. Bố anh vừa tỉnh lại sau hôn mê. Ông gọi đứa con trai độc nhất lại giường. Chỉ mình anh. Co rúm tất cả nếp nhăn trên người vào manh chăn vàng ố, đôi mắt đen sâu hoắm cúi gằm, bí mật quá khứ nhả ra bằng âm sắc địa phương.

     ” Con bé anh dẫn về nhà sáng nay giống hệt cô gái ấy. Anh hiểu bố không? Anh hiểu không? Giống hệt cô gái tội thương ấy. Bao nhiêu năm, bố không quên được đôi mắt cô ta. Quái lạ lắm. Có lửa cháy. Sáng như lưỡi dao thép. Hai lưỡi dao ấy trừng lên dọa khi con đực của bố chuẩn bị hộc lên thỏa mãn. Nhưng bố làm sao dừng lại. Trời sập cũng thế, mẹ anh chết cũng thế mà thôi…Con ơi, quả báo rồi. Trời xui quỷ khiến anh gặp con bé ở đâu? Anh đã ăn nằm với nó chưa? Xin người cứu vớt, con lạy xin người. Hay bố đang bị ảo giác? Trên đời đầy người giống người. Anh gọi cô ấy vào đây, bố muốn nhìn lại. Mà thôi, đừng, đừng, bố xin anh. Bố không thể nhìn đôi mắt ấy thêm lần nữa. Ban nãy, bố ngất xỉu.. Lần này, có thể nó giết bố, rồi anh thành mồ côi. Ừ, mà tôi đáng chết, chết cũng được rồi. Tiếc gì.”

       Mây trùm kín ngôi làng. Hầm mộ khổng lồ lại âm u. Trước mắt chàng trai, đỉnh tháp nhà thờ rơi gãy. Mảng vôi nào đó bay luồn vào anh, khiến thân thể  nóng, bốc hơi khỏi mùa xuân ẩm nồng.

        Chuyến nhập nhoạng đưa chàng trai và cô gái trở về. Tàu mệt nhọc lăn theo sắp đặt. Chỉ khoảng dăm người trong khoang về ga cuối, ngồi gà gật. Thành ra những tiếng giằng xé, xô đẩy trong não đôi trai gái nghe rõ mồn một.

        Đâu đó qua Phủ Lý, cô gái quyết định làm bể không khí đang mỗi lúc càng hôi mốc, hấp hối.

–         Anh lo cho bố lắm phải không? Ông bệnh gì?

Không  thay đổi vị trí, giọng chàng trai nhẹ lẫn trong tiếng xập xình:

–         Em chẳng biết gì ư?

–         Biết gì cơ? Em đâu phải bác sĩ.

Lần lẹ, cô đưa bàn tay lần tìm người yêu. Như cách xa cả đại dương, như trong đen đặc nguyên thủy, như  ngàn năm thất lạc. Bất ngờ, chàng trai lia sang cô đôi  mắt hoảng dại, giật nảy:

–         Bệnh thú! Em biết không? Bênh thú! Em biết chứ, em không biết, em biết? Em đừng biết…

Ánh mắt dịu lại rồi ngây thẫn, mông lung. Cô gái thu mình đến mức nhỏ nhất, nghĩ đến hầm mộ vĩ đại với thanh âm đục đẽo quan tài.

       Biết, không biết, biết gì…Tàu lầm lụi ê chề suốt hành trình tới đích.

       Nhiều ngày sau đó, họ không gặp nhau. Nhiều ngày đó, cô gái chìm trong nỗi muộn sầu biết, không biết, biết gì. Và nỗi nhớ.

       Một ngày sau nhiều ngày, chàng trai tìm cô gái. Anh xanh rộc như c lá tre rách. Anh nói nhớ và đau. Rồi anh hỏi cặn kẽ về cha mẹ cô. Rồi anh lẩm bẩm mãi: phải, không phải, biết đâu không phải, có ba con thú, những ba con cơ mà…       

       Trong hầu hết giấc mơ cô gái, đều chập chờn ngày ôi mốc  mùa xuân năm đó. Kể cả sự việc được coi là vô cùng khủng khiếp xảy ra khoảng hai tháng sau cũng không thể xóa nhòa, không thể hoán đổi vị trí cái ngày ôi mốc ấy. Cô không hiểu, không tìm cách lý giải. Càng không nói với ai. Ban ngày, nó lặn sâu giữa thớ thịt mạch máu với sách vở máy tính áo quần. Đêm xuống, mưa phùn mùa xuân tiếng đập búa quan tài trong ngôi mộ khổng lồ đồng bằng Bắc bộ ùn ùn đến, thức giấc cô. Cô chỉ mười tám tuổi.

        Sự việc được cho là vô cùng khủng khiếp xảy ra đúng sinh nhật lần thứ mười tám của cô gái. Giọng chàng trai đổ âm u qua điện thoại: “ Bố anh đi rồi. Câu nói cuối cùng của ông là muốn em về đưa tang…” Một chút e ngại thoảng qua rồi tan theo đợt gió tới từ biển khơi.

       Khác lần trước, cô một mình, bắt xe đò xuống ngôi làng truyền thống quan tài. Đám ma buồn giống đám ma. Người ta thì thào vợ chưa cưới của thằng con trưởng trẻ mà phải phép. Chàng trai khô gầy như cây thánh giá trên đỉnh nhà thờ. Ái ngại, cô giấu nước mắt vào vành khăn tang. Người ta xé khăn tang cho cô, theo nguyện ước người quá cố. Cô không hiểu, không cần hiểu, cứ thế choàng lên đầu.

       Cơn mưa ào ào rắc xuống khi nhà thờ điểm chuông, thời khắc khâm liệm. Than khóc chìm trong mưa. Cô gái đứng sau người đàn bà chỉ còn khung xương nổi gồ trên nhúm da nhăn, vợ người quá cố. Dường như bao nhiêu tuổi trẻ, xác thân, yêu thương, bổn phận đến giờ phút này bà đã trút hết. Kể cả cái xác trắng đang được vẩy nước thánh kia, bà cũng ơ hờ. Đôi mắt bà nói thế, khi bắt gặp cái nhìn lén của cô. Ánh mắt khiến cô bỏng dạ dày, chậm vài nhịp tim, quên tang ma cùng căn cớ chiếc khăn tang cô mang trên đầu. Tiếng chuông ngưng, trả cô về căn phòng nhỏ mù mịt hương  ngây ngây tiếng khóc. Mảnh chăn công phượng từ từ lật xuống, khuôn mặt chủ nhân tang ma nghiêng về cô gái chảy nước miếng. Những bàn tay thò vô xốc lấy tử thi. Chuông lại dồn dập đánh, khóc lại đồng loạt vang. Tiếng khoan cắt quan tài cũng hối hả vang vang khắp làng. Bỗng ai đó hét lên, ai đó dẫm vào chân cô bỏ chạy. Cô mở mắt đúng lúc những bàn tay khâm liệm quờ lối thoát thân. Thây ma rơi uỵch xuống đất, trên vùng hạ bộ vắt vẻo con rắn cạp nia đương hung hãn kéo cắn lớp vải liệm. Trong tích tắc, con rắn sặc sỡ đã  làm phơi ra bộ phận đàn ông đen sì, co dúm của tử thi. Rồi rắn điềm nhiên đớp ngoạm xâu xé.

       Người nào đó giật cánh tay cô gái lôi đi trước lúc cô ngất lịm.                                            

      Tôi không đứng lên nổi, thốt nên lời ngay cả khi tiếng gọi nạt của bà Thùy to hơn còi xe cứu hỏa.

–         Phi, cô sao thế? Sao tái xanh tái xám thế này? Đọc cái gì mà ra nông nỗi này hả trời… Xem nào, tôi mang đốt hết.

      Một Phi chứ ngàn Phi cũng không tưởng tượng ra mình vừa xem một cuộn phim kinh dị ám ảnh cỡ nào. Ý nghĩ ấy làm tôi đột nhiên cười khùng khục. Chỉ tội bà Thùy, đực ra, trợn tròn, chép miệng:

–         Rõ khổ, cứ như bị ma làm…

–         Người làm cô ạ. Tất cả do con người làm. Con người làm những việc mà quỷ ma cũng phải quay mình. Cô đừng cất, đừng đốt tập tài liệu của cháu, cô đọc đi. Thử xem cô dám đọc không nào…

Bà Thùy giãy lên, vứt tập giấy xuống sàn, lau lau tay như chẳng may vừa đụng phải người phong cùi. Bỗng dưng tôi khỏe lạ thường. Phải chăng, trời muốn tôi theo tận cùng, vén hết bức màn bí mật của câu chuyện mà ai đó đã tin tưởng giao phó cho tôi? Tôi biết, tôi biết cô gái chàng trai ấy, tôi tin mình đã gặp họ, nhưng ở đâu bao giờ thì trí óc mò mãi vẫn lạc  giữa sương mù. 

     Đường đến tòa án cũng đặc quánh sương mù. Gương mặt anh thương binh thường trực tái xạm ác tính như quả bom lơ lửng giữa biển trắng nhờ. Sự so sánh nhẫn tâm bộc ra, tôi không kịp cản. May mắn, chưa cất lên tiếng, chưa biên thành văn. Trên mảnh đất này, mảnh đất lắm người nhiều thánh, sóng ngầm chăng dây khắp hang cùng.

     Bất động hơn cả tử thi đông lạnh, chị tạc tượng trước vành móng ngựa. Vành móng ngựa đầy mạng nhện. Tôi đi vào, nguồi xuống chiếc bàn khập khềnh chân thấp chân cao thoang thoảng mùi cứt chuột đặt tấm bảng luật sư. Ánh mắt chị hướng về phía tôi trong vài giây, ánh mắt hươu cao cổ bị giam trong chuồng gà. Rồi khuôn mặt phúc hậu khẽ cười. Tôi để ý, trên vầng trán rộng của chị có vệt đỏ tấy hình tròn như ai đó đã lấy đồng xu nung đỏ áp vô. Rồi chủ tọa phiên tòa nói nói, đọc đọc, hỏi hỏi. Cầm tờ giấy gạch chi chít đầu dòng bảo vệ quyền lợi cho Lan Lăng đặt xuống bàn, tôi nhìn về phía dành cho gia đình bị hại. Duy nhất một bóng người. Nhỏ xanh, còm dính vào manh áo nâu bạc phếch. Bà cựa quậy liên hồi trên chiếc ghế băng dài, bàn tay nhăn nheo cứ sờ hết túi áo này sang túi áo khác. Vành khăn tang trên mái đầu bạc sạ xuống, che hết mắt. Tôi định ra hiệu cho bà rằng tôi đã đến, rằng bà nên ngồi yên bình tĩnh. Bỗng cái giọng đều đều của vị chủ tọa dừng lại, và một giọng to, khỏe, vang cất lên dội vào từng viên gạch trong căn phòng.

–         Dạ thưa quý tòa, bị cáo đúng là Võ Ly Phượng, người đã hắt a xít vào mặt Lan Lăng, tức Thị Hưởng ngày trăng tròn tháng Thìn năm ngoái.

     Phòng xử án câm lặng. Mọi tia nhìn chết cứng trên mắt, mọi lời nói tê điếng dưới môi. Võ Ly Phượng, lần đầu tiên tôi biết tên thật của chị, người vợ giám đốc đã gửi cho tôi lá thư kỳ lạ nhằm ngày rằm. Lại ngày trăng tròn. Bất giác tôi nghĩ đến câu chuyện tình kỳ lạ ai đó đã để trên bàn giấy văn phòng, ai đó muốn tôi đọc, câu chuyện của người con trai sinh ra từ ngôi làng truyền thống đóng quan tài và cô gái lớn lên bằng những giấc mơ. Họ cũng có liên hệ nhiều với những ngày trăng tròn. Và cả tôi, đêm nào trăng tròn cũng hoang mang những giấc mơ dị thường.

    Cuối cùng, chủ tọa cất nên lời, cảnh cáo bị cáo Võ Ly Phượng phải trả lời thẳng và ngắn gọn câu hỏi của hội đồng xét xử, không tự ý phát ngôn bừa bãi. Lại một thôi một hồi đọc đọc nói nói, cũng đến phiên tôi.

    “Thưa hội đồng xét xử,

    Thưa toàn thể quý vị có mặt tại phòng xử án hôm nay,

     Thân chủ tôi, cô Lan Lăng, tức Thị Hưởng bị tạt axit, tổn hại 62%  sức khỏe, báo chí nói nhiều mấy tháng qua, cáo trạng cũng vừa hùng hồn đọc rõ. Và thân chủ tôi đột ngột qua đời tại nhà riêng tháng trước, cho đến nay vẫn chưa tìm ra nguyên nhân, quý vị cũng đã biết.

    Bị cáo, người phụ nữ đứng trước vành móng ngựa kia, người vợ bị phụ  tình là thủ phạm gây ra vụ án, sự thật đã mười mươi. Trong vụ án này, cơ quan điều tra và các viên chức tố tụng làm việc có vẻ công tâm, nên chắc chắn đã đúng người đúng tội.

     Lúc này đây, tôi muốn quý vị nhìn thật kỹ người đàn bà có khuôn mặt phúc hậu mà chúng ta gọi là bị cáo. Chị đã yêu chồng đến quên bản thân mình, chị đã tôn thờ chồng như một vị thánh, toàn tâm toàn ý chăm lo cho gia đình yên ấm. Rồi Lan Lăng, người bị hại của chúng ta xuất hiện, với tư cách bồ nhí ông chồng. Xấu chàng hổ ai, như bao người vợ Việt cam chịu khác, chị âm thầm chịu đựng, vùi những cơn ghen vào máu, nén chặt nơi thẳm sâu. Nhưng trớ trêu, số phận đã cài sẵn ngã rẽ cuộc đời nhiều người bằng chiều tối ấy. Xui khiến chị gặp Lan Lăng cùng một chàng trai trẻ ríu rít yêu đương, xui khiến Lăng mạt sát chị, xui khiến chị nhận ra chính chồng mình cũng đang bị Lăng lừa. Để rồi chai axit oan nghiệt đã đổ xuống, tóe ra khuôn mặt mỹ miều của Lăng.

     Chị có tội, rõ ràng chị có tội. Rồi đây có thể phải trả giá bằng nhiều đêm co ro sau song sắt nhà tù. Nhưng cái tội lớn nhất của chị là đã ngây thơ, đã không nhận ra xã hội này không còn giống văn chương, không còn những nhân vật tốt đẹp chị say mê. Tất cả đều thay đổi, từ bà bán bánh cuốn làm nhân bánh bằng thịt chuột đến anh công an giao thông lấy tiền hối lộ nhanh như ảo thuật, từ mẹ bán con đến quan bán nước,  từ con trộm cắp đến chồng ngoại tình… trong bầu trời u xám, ngột ngạt khói bụi và nọc độc.

    Còn Lan Lăng, người con gái sinh ra bởi bà mẹ quê mùa nhân hậu, lên thành phố ăn học kiếm công danh đã về với đất. Không biết vì sao cô ra đi, không biết linh hồn cô có được đến thiên đàng, không biết trước khi nhắm mắt cô có nguôi căm thù? Chúng ta cùng cầu nguyện cho cô.

     Quả thực, tôi đứng đây với tư cách luật sư cho người bị hại, nhưng không thể hùng hồn đưa ra luận cứ vạch tội bị cáo. Cho dù linh hồn Lăng có oán thán tôi, có tung sét quét bão hãm hại, tôi cũng vẫn đề nghị quý tòa xem xét giảm tội cho bị cáo hôm nay.”

        Chẳng biết bằng cách nào, mông tôi đặt được xuống ghế.

      Cô này hết muốn hành nghề rồi. Ông thẩm phán liên tục đập búa mà cô ta vẫn nói như lên đồng. Tôi thấy mắt cô ta màu đỏ, giống như ma ấy. Phen này người nhà bị hại thể nào cũng có chuyện để động chân động tay với luật sư đây. Dưng mà có thấy ai đâu, trừ mỗi bà già nhỏ thó kia. Bà ta lại chăm chú nghe cô ta nói, gật đầu như nuốt lấy từng lời, không tỏ vẻ gì tức giận, hình như còn sụt sịt khóc, thế là thế nào…

       Hai bàn chân tôi lạnh toát. Cái lạnh từ từ lan lên khiến xương khớp nhói tê. Tôi đảo mắt kiếm lối ra ngoài, gặp trúng cái nhìn lạ lùng của bị cáo. Đó là ánh mắt sáng nhất, ấm nhất nhưng cũng ma mị nhất tôi từng thấy. Nó khiến đôi chân tôi bỗng nhiên ấm sực như lúc nó đột ngột lạnh ngắt. Và trí não  minh bạch vô cùng. Như thể ai đó vừa khai mở toàn bộ huyệt đạo trên cơ thể tôi.        

        Nhiều ngày sau, tôi cứ băn khoăn không biết có nên kể cảm giác kỳ lạ trong phiên tòa hôm ấy cho người thân hay đồng nghiệp nghe hay không. Tất nhiên, báo chí cũng làm ầm lên bài nói dở hơi của tôi. Và tất nhiên, tôi đã thuật chính xác từng từ mà người mẹ tội nghiệp của Lan Lăng vừa run vừa nói tại tòa cho nhiều bạn bè làm ai cũng buồn lặng.        

       “Kính thưa toàn thể các bác. Em là đồ bỏ đi vì không biết dạy con. Cho em được cúi đầu xin toàn thể các bác thứ tội vì Nguyễn Thị Hưởng là con em. Ra thủ đô ăn học, những tưởng thành người, ai dè đi cướp chồng người ta, rồi đổi họ sang tên. Nói thật, em chưa bao giờ dạy cháu cái chuyện ấy. Ai dạy? Bác nào biết trả lời em, em sẽ móc họng nó ra, bàn tay từng đào hàng tạ củ mài trên rừng này kinh hơn axit nhiều. Em nói thật, em thương cái nhà chị bị cáo kia nhiều. Em xin lỗi chị, vì con Hưởng mà chị gông cùm tù tội. Xin các bác quan tòa tha cho chị ấy, cho người ta về với chồng con. Em cũng xin Đảng rồi Nhà nước rồi Bác Hồ tha tội, em biết đẻ mà khôngbiết dạy con, để ra nông nỗi này. Dưng mà cháu nó cũng không còn, nên các bác đừng oán trách thêm tội. Ông trời có mắt hết. Tóm lại, các bác bảo cho phép em  nói, nói gì thì nói, em muốn các bác tha cho nhà cái chị kia, là em thỏa lòng.”

Trước khi quệt vội nước mắt, bà chắp tay vái khắp phòng xử. Lặng phắc, vài con ruồi bay đi bay lại chơi đùa cùng đám mạng nhện trước vành móng ngựa. Rồi bị cáo bật khóc nức nở. Tiếng khóc như chuông nhà nguyện kết thúc buổi hành lễ. Tim tôi nhói từng nhịp. Đám đông vỡ ra. Tự bao giờ, người mẹ tội nghiệp đã đứng cạnh tôi. Bà ôm vai tôi, cọ cọ bàn tay thô nháp lạnh lẽo. Tay bà là tay người tuyệt vọng, tay người sắp đi xa mãi mãi. Cháu giỏi lắm. Có cái này bác gửi cháu, khi nào rỗi thì xem thế nào, thư con Hưởng viết trước hôm đi. Thế nhé, cố gắng để người ta tha tội cho chị kia cháu nhé. Tờ giấy nằm gọn trong túi áo tôi, bà biến mất. Ba mươi phút sau, tòa tuyên án 18 tháng tù cho hưởng án treo. Bà ở đâu, chẳng biết có thỏa lòng? Chỉ thấy chiều đột ngột tắt nắng và cơn giông ầm ập đổ. Chiếc loa phường đương ông ổng ca Hà Nội cháy khói lửa ngập trời, Hà Nội ầm ầm rung…phát ra tiếng xẹt ghê rợn rồi ngưng bặt. Hôm sau, báo mạng đưa tin sét đánh tan chiếc loa công suất lớn làm hai cảnh sát giao thông chạy xe  máy ngang qua tử vong. Mảng sân mốc trước phòng xử án trắng phều nước, vãi tung sấm sét. Một bầy rắn ngũ sắc chẳng biết từ đâu xuất hiện, nối đuôi  vòng tròn nhảy múa hân hoan trước sự thất kinh của con người.

     Sau này, vài người trong số họ khẳng định với tôi đó là thần thánh hiện hình. Vài người chắc chắn mắt họ bị quáng gà, thực ra chỉ là cầu vồng phản chiếu. Một người thì thầm tận mắt thấy bóng người con gái vận đồ liệm rất giống Lan Lăng hóa thành bầy rắn chạy khắp tòa án tìm kiếm bị cáo.

      Tôi chăm chăm nghĩ tới lá thư Lan Lăng mà bà mẹ nhét vào túi áo. Mà không nhận ra, nó đã biến mất như có phép. Tận mãi sau, mãi sau này, lại đột ngột bay vào ngôi nhà hoa sen giải tỏa nhiều nghi ngờ. Nhưng đó là chuyện mãi sau, mãi sau này. 

                                            *                       

          Mùa chuyển sang thu. Ngoại ô thôi nóng. Mấy hôm liền, cứ hoàng hôn, khói sương lại phủ kín hà thành. Do môi trường, do thời tiết, do nông dân đốt rơm rạ, ầm ĩ lời giải thích. Tôi vùi đầu vào mấy cuốn sách, tận hưởng lễ quốc khánh trong chăn đệm và huyễn tưởng thiên đàng. Tối mồng một, bạn trai cũ thuở tóc dài xinh tươi liên lạc mời ăn tối. Chần chừ một chút, rồi cũng xúng xính váy hoa giày trắng lên đường. Hóa ra chàng đã thành đại gia, hóa ra mới ly hôn, hóa ra có ý định nối lại tình xưa, cho dù người xưa thân xác đã xộc xệch và trí não lẩn thẩn đủ chuyện dị thường. Làm luật sư ở Việt Nam vừa nghèo vừa nguy hiểm, em bỏ quách đi, đến tập đoàn anh phụ trách mảng truyền thông, thỏa sức vẫy vùng. Cảm ơn nhã ý muốn giúp rồng ra khơi, tôi phóng về nhà bố mẹ. Tối om, chắc ông bà vào Bờ Hồ vui hưởng bầu không khí huyên náo hội hè. Dựng xe trước cổng, không dưng, tôi ngồi khóc ngon lành. Vì người cũ, vì dòng sông ven đô năm xưa đã bị đô thị vùi lấp, vì nghề luật sư bạc bẽo, vì giáo sư, vì Quy, vì Lan Lăng, vì câu chuyện kỳ lạ đôi uyên ương làng đóng quan tài, vì người đàn bà viết bức thư ngày trăng tròn, hay tại vòng tròn linh thiêng đã bỏ rơi tôi? Tôi đi trước khi bàn tay tìm được chìa khóa nhà. Đi hay về? Ngôi nhà hình hoa sen, những giấc mơ chồng chéo vảy rắn, chẳng ai đợi ta về. Chẳng ai đợi một cô gái ngoài ba mươi chuyên sống dựa vào linh cảm và ngủ mơ.

        Có người đợi tôi. Trong bóng tối, cánh cổng mở ra cùng lúc với giọng nói trầm khàn:

–         Tôi đoán thể nào cô cũng về sớm. Chỉ có bầy con nít và người cao tuổi mới mò ra đường cười nói ngày này.

–         Cháu đã bảo cô đừng xưng hộ xa lạ như thế với cháu nữa. Mà đêm tối, cô không đi chơi thì nằm nhà xem ti vi, sao lại đến đây, rồi không bật đèn gì cả…

Chẳng nói chẳng rằng, bà dành lấy chiếc xe máy, dong thẳng vào sân, dựng xuống, đi đâu đó vào trong rồi quay ra với chiếc đèn bão, quà tặng đặc biệt từ giáo sư một năm trước. Trời không gió, chụp đèn lặng phắc vô duyên.

–         Khi tôi đến đây thì đã mất điện, cứ tối om hết cả lên cô ạ.

Cơn giận đến một cách vô lý, với vận tốc chóng mặt trườn khắp mạch máu.

–         Lại cô cô tôi tôi, cháu vừa mới nói xong. Sống với cháu mà xa lạ như vậy, cô nên tìm người khác đi. Mệt mỏi lắm rồi…

Bóng tối khẽ lay theo quầng sáng chiếc đèn bão. Bóng tối khiến tôi không nhìn rõ nét mặt bà Thùy, nhưng thoáng nghe sự chuyển động khóe môi. Mươi giây sau, bà cất tiếng, giọng bà nhẹ và sâu như giếng hoang giữa đại ngàn.

–         Nếu cô biết tôi là ai, tôi muốn gì, cô rồi nghĩ khác…

     Bất giác, sống lưng tôi buốt. Ám dấu cơ thể báo hiệu mỗi khi có chuyện không lành. Im lặng khủng khiếp. Giờ này mọi ngày, côn trùng ếch nhái thường ngân khắp vườn. Đêm lạ lùng, không một nhành sao, không một tiếng động. Như thể toàn thế gian đã trống câm. Nhưng còn trăng, trăng đâu rồi?

–         Âm lịch hôm nay ngày mấy, cô Thùy biết không?

Hình như bà Thùy giật mình, quầng sáng đèn bão loang đi lổ lại mảnh sân gạch.

–         Mồng hai, ngày Tỵ .

     Mồng hai, trăng khuyết. Ngày Tỵ, rắn ăn chay. Còn tôi muốn yên bình.

      Nhưng đêm ấy rồi sẽ là một trong những đêm trí não tôi cuồng nộ nhất.

      Ánh đèn bão im lìm, chết chóc. Những viên gạch đỏ lát nền bờ hè u ám. Tôi phải cho cô biết sự thật. Rồi cô sẽ ghét tôi, sẽ căm thù tôi. Sự thật không dễ nghe chút nào đâu. Tôi ghét cô, tôi hận cô, tôi căm thù cô, tôi muốn cô tàn phế, tôi muốn cô đau khổ, tôi muốn giết cô.

Loang đèn vẫn đóng khung nơi sân gạch.

     Giữa tôi và cô không chỉ là mối quan hệ bà chủ người làm. Chúng ta mật thiết hơn thế nhiều.

Quá rõ. Tôi luôn xem bà là người mẹ thứ hai của mình. Luôn nghĩ sẽ thương yêu, chăm sóc bà như con gái.

      Con tôi chết rồi. Nó mất trong vòng tay tôi, cũng một đêm tối và lặng thế này. Nó chết, môi vẫn cười, má vẫn đỏ, nước mắt ngập hai tai. Chưa tròn hai tuổi. Nó chết vì không tiền mua thuốc, vì không có một người cha  chăm lo.

Thật vô tâm, yêu quý bà nhưng tôi chưa hiểu rõ hoàn cảnh người mẹ thứ hai của mình lại nhiều đau thương như vậy

     Con gái tôi, đứa con gái bé bỏng tội nghiệp của tôi giống cô như đúc, kể cả nốt ruồi đỏ giữa lưng. Cô lớn cô xinh đẹp cô luật sư, nó thì nhỏ nó thì ốm nó thì bay đi.

Cơn rung đột ngột tới đẩy nhịp tim thành dữ dội, tôi ôm ngực chờ đón nỗi hoảng sợ nào đó đang chạy đến.

–         Vì thế mà cô thương cháu, chăm lo cho cháu, phải không cô?

–         Không, tôi căm thù, căm thù cả họ nhà cô.

      Chao đèn liệng tứ tung.  Không nhìn rõ khuôn mặt bà, nhưng tôi nghe nhiều nước mắt đang chảy. Mặc cho bà nói gì, mặc cho chuyện gì khủng khiếp tới mức nào, tôi vẫn sán lại gần. Vì bà đang khóc, vì tôi yêu thương bà. Khựng người trong vài giây, rồi bà nắm giật tôi lôi chạy. Chưa định thần, tôi đã thấy mình ở cạnh bụi tre bên hồ sen. Trong bóng tối, những lá mùa thu ủ dột nín câm trên mặt hồ. Con bé hai tuổi mà cái gì cũng biết, ngày nào cũng thỏ thẻ: mẹ ơi, con dẫn mẹ lên mặt trăng chơi nhé! Thế mà nó đi một mình, nó bỏ đi, nó không cho tôi đi cùng. Các người đã đẩy nó đi, rồi nhơn nhơn sống như một bầy thú. Quỳ xuống, bà Thùy dùng cả hai tay, dùng cả tấm lưng cào đám đất. Vẫn tịnh không một chút gió hay một tiếng côn trùng. Chỉ có tiếng đôi bàn tay cào xé đất và tiếng nước mắt điên cuồng rơi. Tôi đứng, bóng tối bủa vây, nỗi sợ hãi bao quanh, bỗng dưng thèm bầy rắn từ giấc mơ đêm nào xổ ra, quây kín, cuộn mình vào lòng đất. Ôi, thánh thần ơi, đây rồi, bàn chân saú ngón, hình hài con tôi. Nhìn đi, ghé sát đôi mắt tăm tối của cô vào, nhìn đứa con tội nghiệp của tôi mà các người ruồng bỏ đi. Tôi ngã dúi xuống vùng ánh sáng mà chiếc đèn bão hắt xuống. Trên bàn tay người đàn bà, hình hài một bàn chân bé xíu có sáu ngón hiện ra. Tôi chực đổ quỵ, nhưng bà Thùy đã vứt cây đèn bão, đỡ ngang lưng. Nhìn rõ chưa, nhìn rõ rồi chứ? Nắm đi, sờ đi, hít đi, ôm đi. Em cô đấy, em gái cô đấy. Đây nữa này. Đầu này, tay này, chân  kia…Nếu còn sống, nó sẽ là 25, nó sẽ xinh, sẽ bác sĩ, sẽ nhà văn. Mà không, chỉ cần nó là con tôi, người mẹ này chỉ cần thế thôi, các người hiểu không? Nỗi sợ hãi chật căng lồng ngực. Tôi lao đến ôm choàng người đàn bà, ôm choàng cả những mẩu xương bà đang ghì chặt. Bóng tối khẽ rung lên rồi lịm tắt. Đột ngột hiện ra góc chân trời một vầng trăng khuyết.

      Bụi tre già, lá sen rủ, trăng chưa tròn, côn trùng ngủ, bên nắm xương trẻ thơ, giọng người mẹ âm âm như vọng lên từ bốn ngàn năm. Con gái tôi cũng chính là con gái bố cô. Em cô đấy, cô Phi à, đứa em gái hai tuổi đang ở mặt trăng. Bây giờ thì cô hiểu tại sao tôi lại đến ngôi nhà hoa sen âm u này. Em gái? Con gái bố cô? Hài cốt táng góc vườn từ bao giờ? Người đàn bà nhân hậu cô gặp trước cổng ngày dọn đến ngôi nhà hoa sen không phải ngẫu nhiên? Bỗng nhiên trào lên sự giận dữ điên cuồng. Dối lừa, dối lừa! Tôi bật dậy. Đột nhiên côn trùng đồng loạt rên rỉ. Tiếng hét phát ra, rít thành gió:

–         Bà đi đi, đi ngay, đi khỏi cuộc đời tôi ngay.

Đêm đó, tôi gửi linh hồn cho mảnh trăng khuyết rồi lịm trong giấc ngủ mê mệt. Giấc ngủ dài kéo tới tận chiều hôm sau. 

       Điện thoại cầm tay reo ầm ĩ khi tôi đương giằng co có nên mang theo câu chuyện bí ẩn về đôi trai gái ở ngôi làng truyền thống quan tài theo hay không. Đi đâu đó vài ngày. Tôi dùng từ man trá với chính mình. Không dám nói thẳng : tôi mệt mỏi, tôi bế tắc, tôi trốn chạy. Khỏi hồ sen chỉ còn lá úa, khỏi chi chít hang rắn bốc mùi khắm ướt, khỏi bộ xương bàn chân sáu ngón, khỏi hàng cây biết đi, khỏi ngôi nhà thiu buồn hiếm tiếng cười.

       Chuông lại dồn dập từng hồi, chiếc điện thoại rung bần bật như người hen lên cơn khò khứ. Số lạ hoắc. Giọng người đàn bà chậm, nhỏ, trầm và buồn báo tin xấu.

–         Cô là mẹ Quy. Con gái cô đang nguy kịch, một mực đòi gặp cháu.

Giọng nói buồn tới mức khiến tôi liên tưởng đến một cỗ quan tài màu nâu trong căn nhà trống hoác. Ba mươi phút sau, tôi có mặt ở nhà Quy. Sương mù vây kín sáng mai, vây đặc ngõ nhỏ. Khác mường tượng của tôi suốt quãng đường đi, ngôi nhà không bấn loạn người thân chạy ra chạy vào. Duy nhất người đàn ông trung niên mảnh khảnh đang thắp nhang lẩm nhẩm khấn vái và người đàn bà  da trắng xanh, mắt sâu buồn như huyệt mộ ghì ôm Quy trên giường. Quy vằng ra, cầm bàn tay tôi đặt lên mái tóc em, thảng thốt:

–         Hiện hình rồi. Em được chọn. Em không thể chối từ.

Tôi vỗ lưng thiếu nữ rất mực dịu dàng, cất giọng mà không nhìn vào mắt em, nói với em mà tựa với chính mình.

–         Bình tĩnh nào,  em thân yêu. Em khỏe mạnh, em xinh đẹp, em

 thông minh, rồi mọi chuyện sẽ qua.

       Người đàn bà đưa đôi bàn tay gầy chỉ vào đầu Quy ra dấu. Tới lúc này, tôi mới hiểu. Mái tóc suôn mượt tôi đã từng nhìn thấy lúc này xù lên, đóng thành từng mảng như tổ chim, phần đuôi tóc vểnh lên giống hệt chiếc đuôi con ngựa ốm già. Thấy tôi có ý đưa mắt tìm lược, người mẹ cúi đầu.

–         Lược thần cũng không chải nổi đâu. Sau một đêm ngủ dậy,

 tự dưng con bé thành thế này. Bốn hôm rồi. Lúc con bé thiếp đi do thuốc ngủ, cô đã cố dùng kéo cắt nhưng kéo bị gãy. Họa lớn cháu ơi.

       Vớ vẩn. Tôi buột thành tiếng, quay ngang quay dọc khắp căn nhà tìm lược. Nhà nhỏ, không khí hoang lạnh. Chiếc lược nhựa tím gãy choang xuống nền gạch xám, nói với tôi không phải chuyện vớ vẩn. Như người lên cơn, tôi kéo em vào phòng tắm, gội đầu cho em. Nước làm những mảng tóc cứng hơn, đanh lại. Quy im lặng trước sự điên cuồng của tôi. Khi nắng đâm thủng màn sương, le lói rọi vào khu vườn, tôi mới thật sự mở mắt, mới thật sự thấy rằng mái tóc Quy là chuyện không bình thường. Tôi đứng lên khi đầu ngõ, chiếc loa phường bỗng dưng è ẹ bản nhạc Diệt phát xít. Hình như sắp đến ngày kỷ niệm gì đó. Bàn tay Quy lạnh hơn miếng vải liệm.

–         Em phải đi bệnh viện. Bác sĩ sẽ tìm ra căn nguyên, rồi sẽ ổn.

–         Chị vẫn không hiểu gì ư? Hiện hình rồi, thời khắc đã đến.

Ngày thành bóng tối, đêm tuôn sáng ngời. Ám dấu, bị khắc ám dấu, trời đày, người hãm hại, chết hết!

       Quy gầm vang buổi sáng, đẩy tôi ra cửa. Người mẹ ngẩng khuôn mặt buồn hơn trăng già, tiễn khách. Diệt phát xít đang cháy phừng phừng ngập trời khói lửa bỗng dưng đứt phựt, giúp tôi thoát hôn mê, đi như chạy khỏi ngõ phố.

      Ông anh xỉn người trong áo choàng trắng, tay rót nước, miệng liên tục ngáp, nhìn em họ như nhìn bệnh nhân. Tôi miêu tả mái tóc Quy với mức độ chuẩn xác nhất có thể. Viện trưởng viện tâm thần, tiến sĩ tâm lí nổi tiếng ngừng ngáp, mắt sáng trưng.

–         Mười tám tuổi à? Trường hợp trẻ nhất cũng nên. Cô cho anh ghi địa chỉ, nhân thân để anh tìm hiểu, nghiên cứu nhé.

Nhận ra sự sốt ruột và khó chịu nơi tôi, ông anh họ bác sĩ tâm thần tín đồ lên đồng trầm giọng xuống.

–         Nếu đúng như cô miêu tả thì đấy là hiện tượng tóc kết. Cho

 đến nay khoa học chưa lý giải được. Các cụ nói  thế là người bị trời đày. Có cố cắt đi, tóc cũng sẽ mọc lại rất nhanh và vẫn rối xoắn thành vẩy rồng như vậy. Không những thế, cắt tóc, bệnh nhân chắc chắn sẽ ốm nặng, có khi nguy hiểm đến tính mạng. Hai năm trước, một bệnh nhân 35 tuổi tóc kết đã chết sau khi chồng cầm dao cạo trọc đầu. Cái này trời làm, chỉ có trời mới có thuốc chữa.

        Nắng gắt hành lang Viện tâm thần, trưa một ngày thu chói. Não tôi gật gừ cơn hen suy nghĩ.

        Khi tôi quay lại ngôi nhà, Quy đang ngủ. Khuôn mặt hình ô van xanh xao, nhỏ thó giữa những mớ tóc ken búi bùng xùng lạ đời. Tôi nghĩ đến những điều em nói về người đàn ông bận áo choàng tím ở lần gặp đầu tiên, về con ngươi mắt màu tím của em, thấy toàn bộ thần kinh căng ra như dàn nhạc giao hưởng chuẩn bị trình tấu. Người mẹ tội nghiệp cho biết đã phải cho em dùng thuốc an thần. Thuốc an thần mang đến em giấc ngủ vài giờ, thuốc nào chữa mệnh trời? Ngồi cuối chân giường, nước mắt người mẹ rơi, chan cùng sự bất lực của tôi, khiến buổi chiều nhanh tắt nắng. Không thấy cảnh nhộn nhịp vào ra thường thấy trong gia đình có người gặp nạn, tôi sực nhớ anh trai Quy, thanh niên tên Tỉnh đã đến văn phòng luật sư hôm nào.

–         Trong lúc này, nên có nhiều người thân thiết bên cạnh, Quy sẽ an bình hơn. Cô nên gọi cho Tỉnh, cháu nghĩ cậu ấy rất thương yêu và lo lắng cho em gái.

–         Tỉnh nào? Anh nào? Cháu nói ai thế?

 Thiếu phụ chồm lên, bấu chặt vai tôi. Một luồng điện chạy khắp mô cơ, khẳng định suy đoán bấy lâu tôi hồ nghi. Bàn tay người  mẹ tiếp tục hốt hoảng xoáy hỏi. Tôi đánh liều phịa chuyện giải thích:

–         Theo cháu biết thì Tỉnh là bạn học của Quy ở trường, rất thân thiết.

       Thiếu phụ buông tay, nói trong tiếng thở dài: 

–         Cháu không nói thật. Quy chẳng có bạn nào tên Tỉnh. Thôi, bao chuyện trên trời đã rớt xuống gia đình này, thêm chút nữa cho thành bãi tha ma.

       Tiếng thở dài chìm lặng xuống, ánh mắt người mẹ tan hoang như mắt ma vừa rời cõi sống. Cô đưa hai bàn tay gầy dài ôm lấy những búi tóc trời đày của con, thì thầm:

–         Trời đã chọn sai người. Người thực sự đã chọn sai.

        Bằng bước chân tối nặng, người mẹ tiễn tôi ra. Quy vẫn say ngủ giữa điệu ru u mê của hóa chất. Lần đầu tiên trong đời, tôi chắp tay cầu nguyện đấng tối cao cứu giúp con người. Cứu Quy, cứu tôi, hay Lan Lăng hay người đàn bà viết lá thư ngày trăng tròn? Có lẽ toàn bộ loài người.

                                              *

      Trước khi giấc mơ giáo sư và những người đàn bà tái diễn, tôi đã có câu trả lời cho hoài nghi về mối tình kỳ lạ của đôi trai gái trong câu chuyện ai đó quẳng vào đời tôi.

       “Đông năm ấy sớm và lạnh ngoài tưởng tượng. Ngôi nhà nhỏ chỉ còn hai mẹ con. Mẹ nói chồng mình công tác nước ngoài dài hạn, tự nguyện xin đi, nghe đâu xứ Lào. Nghĩ mẹ con rồi ríu rít chuyện trò, rồi nắng chiếu toang mảnh màn u ám. Ngờ đâu đèn trong nhà tối hơn, ánh mắt tối hơn, im lặng sâu hơn. Cô gái vùi trong thư viện ngoài giờ lên giảng đường. Vẫn suy nghĩ mãi những điều kỳ dị trong ngày xuân ôi mốc, vẫn băn khoăn hoài những điều chàng trai lẩm nhẩm giờ phút bên nhau. Trên tất cả, cô nhớ anh điên dại. Cô không biết, trong chàng trai, cô chiếm chỗ, cô xuyên cọc câu rút.

       Cuối mùa xuân, lòng cô gái nở bùng thương nhớ, tim chàng trai gãy cành tương tư. Mong muốn gặp nhau như vết thương hở cần khâu như ngày ba tháng tám cần gạo, hối thúc mãnh liệt. Anh tìm cô hay cô kiếm anh, hai ngày một lần hay một ngày ba lần, chẳng khiến họ bớt nhớ bớt thương. Ôm cô trong tay, chàng trai ôm cả niềm vui lẫn nỗi buồn, quá khứ lẫn hiện tại. Giữa vòng tay anh, cô vừa hạnh phúc vừa hoang mang như tổ chim cạnh hang rắn. Điều khiến cô băn khoăn là mỗi khi rung cảm lên cao, chàng trai lại vùng dậy biến mất. Vì cô không nghe được lời người cha trút bỏ vào con trai trên chiếc giường đóng bằng gỗ vụn  ngày xuân ấy. Vì tình yêu, cô dọn dẹp sạch sẽ  những hoài nghi những lời anh lảm nhảm trên chuyến tàu, trên vành môi ngắt quãng cơn hôn bạo cuồng.

       Cũng đến lúc, chàng trai đập nát lời người bố bất hạnh trối trăng bằng lý lẽ thông thường: thời khắc đó ông không tỉnh táo! Chàng đưa hết u mê gạt đi mọi luân giáo, lễ đời. Chàng lao vào, ngiến cô như chiếc máy cưa hạ cây non. Cô dọn sạch nghĩ suy, mở toang mình đón anh. Sông nổi ngầu cuồng phong yêu đương, thuyền hiên ngang thẳng bến.

       Đúng khi chàng trai ấn xuống, cô gái vươn lên, thì con hổ mang bành chòng chọc nhìn rồi lao xuống. Trợn trừng, cô bất tỉnh. Tỉnh ra, thấy mình vẫn con gái.

       Để rồi ba ngày sau, vào tối mùa xuân cuối cùng trên đất rồng thiêng, trong ngôi nhà trắng lò sưởi lửa bập bùng, cô bị cưỡng bức trở thành đàn bà bởi người đàn ông cô thường gọi giáo sư.”

       Trời ơi! Quy ơi, Tỉnh ơi! Tập giấy rớt khỏi tay tôi đập xuống nền gạch đỏ. Tiếng rơi nặng tựa tiếng búa ngàn năm nện mồ quá khứ.

       Ngôi nhà ngoại ô trống hoác mình tôi.

                                              *

        Cả làng ven đô, chẳng ai biết lai lịch ngôi nhà  hình hoa sen lún sâu bên bụi tre vĩ đại kèo kẹt suốt ngày đêm. Có người già nói nhà đó hơn trăm tuổi, vốn là nơi thờ tự của dòng họ Nguyễn cao sang. Bà thầy bói chân thọt nhưng mắt sáng lại bảo hình như trước đây căn nhà là nơi che giấu những tiểu thư trâm anh thế phiệt chửa hoang. Con họ sinh ra, người hầu dìm xuống ao hoặc ném vào hang rắn. Vài cô cậu sành internet thì chắc chắn rằng tài liệu này chứng minh khu đất đó ngày xưa là nghĩa địa tử tội, tài liệu kia cho rằng từng xuất hiện nhiều bóng ma đi lại suốt thế kỷ hai mươi trong khu vườn.

        Toàn bộ người thân không ai biết nguyên do Phi chuyển đến ngôi nhà đầy truyền thuyết.

        Ừ nhỉ, sao tôi lại bỏ dòng sông tuổi thơ, bỏ vòng tròn linh thiêng, bỏ giọng trầm của bố và cười duyên của mẹ về nơi này? Phải chăng vì cây biết đi, trăng biết buồn, gạch nâu biết kể chuyện xưa? Em biết mình là ai không? Bà hoàng. Em phải ở nơi thần thánh đã chọn. Bà hoàng ư? Ông đã lừa phỉnh tôi. Chẳng có thần thánh nào, chính ông đẩy tôi đến rắc rối u mê. Bộ xương hài nhi chân sáu ngón, người đàn bà nhân hậu tình cờ gặp trước cổng tôi yêu như mẹ thứ hai, ai sắp đặt ai khiến xui? Lại ông ư, giáo sư thuộc lòng tuyển tập Lê-nin?

        Anh tài taxi liếc gương chiếu hậu, mở miệng định tò mò điều gì lại thôi. Có lẽ anh ta lo đang chở khách tâm thần. Đầu đêm, tôi đuổi giấc ngủ đi để nghĩ về Quy, đến câu chuyện bất hạnh của em, nghĩ làm sao có thể giúp em mang cho em một chút niềm vui. Phần đêm còn lại, giáo sư cùng Lan Lăng, Cúc, Quy và chính tôi diễn vở kịch dài chiêm bao. Sáng sớm, còn mỗi linh hồn ở lại, dáng hình tuổi trẻ biến bay.

        Bố giơ tay đỡ tôi ngay bậc thềm, Đẩy bố ra, tôi lọt thỏm giữa vòng tròn linh thiêng, rơi xuống mọi tủi hờn. Mẹ lắc đầu, thì thầm rất êm :  “Ổn rồi, con gái của mẹ, con gái bé nhỏ của mẹ. Nước mắt sẽ mang đi mọi phiền lo. Con về nhà, con đã về nhà…”

       Con về nhà vì con muốn sự thật, muốn bí mật đang bị cất giữ. Bố bàng hoàng giữa sô- fa mận chín, giọng thôi trầm. Tôi nghe giữa lời thú tội những run rẩy không ngừng.

      ” Gặp mẹ, bố quên hết nhân gian, bố quên mất bố đang có một người đàn bà. Bố cho rằng thứ gọi là tình yêu mình từng trải qua thực ra hoàn toàn dối lừa. Cô ấy chửi bới, van xin, đấm đá cào xé giằng co bố. Nhưng mẹ con đặc biệt tới mức phả ra sương khói che mờ hết nhân gian. Cô ấy giữ ghi đông xe đạp bố giữa đường, hét tường: em có thai, em đang mang giọt máu của anh trong người, bố nghĩ trò gian dối, trò lừa đảo. Ba mươi lăm năm qua, thảng hoặc đôi lần bố vẩn vơ về tiếng hét buổi trưa hôm ấy, về giọt máu nào có thể đang trú ngụ đâu đó. Rồi tự gạt đi, an ủi rằng nếu năm ấy cô ấy thật sự có thai, đã tiếp tục làm phiền đeo bám, không để yên cho bố lấy mẹ con. Ai ngờ…Con nói bàn chân của con bé sáu ngón? Không lẫn vào đâu được. Con gái ơi, vừa sinh ra, hai bàn chân con cũng mỗi bên sáu ngón. Bác sĩ đã phẫu thuật cắt bỏ ngón thừa ba ngày sau khi con ra đời. Nghiệp chướng thật rồi.”

      Ông vẫn nói, nhưng tôi không còn nghe thấy gì. Nhìn xuống đôi bàn chân, tôi vẽ ngón chân thứ sáu bằng máu lấy ra từ cuống tim. Quả tim đập loạn nhịp. Mười ngón chân tấy đau. Tôi đã mất một phần thân thể mà bấy nhiêu  năm không hay. Tôi không cần đẹp, tôi không quan tâm thiên hạ dè bỉu quái thai. Các người là ai, là ai mà có quyền xẻo thịt cắt xương tôi?

      Hình như bố ngừng nói. Ông lay vai con cứ như nó vừa tắt thở.

–         Phi! Con gái, con sao thế? Con giận bố mẹ vì hơn bấy nhiêu

 năm giấu con chuyện bàn chân phải không? Con ơi, nói để làm gì! Ích lợi gì! Chỉ là dị tật nhỏ…

–         Dị tật nhỏ? Cắt bỏ là xong? Không ai có quyền lấy của con

 những thứ tạo hóa đã tặng cho con. Không ai có quyền tước mất của con quyền được biết chuyện đã xảy ra. Giả dối! Bố không chỉ giả dối, bố lừa đảo, bố bội bạc!

       Hai bàn chân bám chắc nền gạch sậm, trước bàn thờ, tôi tóe máu. Bố níu tôi, cánh tay ông giá lạnh.

–         Nói nhỏ thôi, bố xin con, mẹ đi chợ sắp về. Con có thể chửi

 bố, đánh bố, từ bố nhưng đừng để mẹ biết. Mẹ sẽ không chịu nổi.

      Ông đâu biết chợ đã tan, cửa đã mở, người đã vào, chuyện đã nghe và lòng đã chết.

                                                      * 

       Gần ba tuần sau cái chết lạ dị của Lăng, thi thể cô mới được trả lại cho gia đình. Tang lễ cử hành ngay ngày kế tiếp. Bà cụ thuật lại lời cơ quan điều tra đúng giọng nhân viên pháp y trước giờ khâm liệm. Đã tiến hành phân tích rất kỹ toàn bộ tử thi, song không tìm ra nguyên nhân. Có một chất rất lạ trong tim, đưa qua đưa lại đủ các xét nghiệm, máy móc vẫn không biết là gì, nên bỏ lọ gửi ra nước ngoài nhờ Tây xem hộ rồi. Có tiếng cười ồ. Tôi quay mặt đi. Người chết dù là kẻ sát nhân, dù thọ đến hai trăm tuổi cũng không muốn tiếng cười trong  ngày tống biệt.

        Chiều không nắng, chỉ gió lảnh tảnh vài cơn, kiểu gió báo hiệu thu đến hồi hấp hối. Phòng tang lễ lèo tèo dăm người đợi chờ. Bà cụ không khóc, nhưng giọng nói đầy nước mắt.

–         Sự cùng mới phải đốt con Hưởng, cháu à. Dù gì bác cũng

 không muốn thấy nó bị thiêu rụi như đám rác. Con bác đẻ ra, nhưng tính cách thì ở đâu đến. Câu nói “ không bao giờ về xứ nhà quê, ngay cả khi chết”, nó hét lên trong phòng cấp cứu Viện bỏng đêm hôm bị tạt a xít thế mà linh nghiệm.

       Đôi mắt người mẹ vô hạn buồn đắng. Chiều hôm trước, bà cùng ba người họ hàng đến nhà xác nhận con trên một chiếc xe thuê trước cổng bệnh viện giá bằng con bò béo nhất làng. Cơ quan điều tra, rồi pháp y đọc cái này cái nọ, đưa giấy này giấy kia, vỗ nắm lưng tay chúc lên đường may mắn. Ba người tiến đến nâng cô cử nhân báo chí xinh đẹp nhất làng lên, thi hài không nhúc nhích. Năm người rồi bảy rồi mười, họ hàng thêm công an thêm bác sĩ thêm bảo vệ, xác chết vẫn ỳ cứng. Gã tài xế mặt đỏ phừng định nổ máy xe chờ sẵn , loay hoay một hồi máy cứ trơ trơ. Lại nghe tiếng rin rít xìn xịt âm âm u u đâu đó, mặt đỏ chuyển da xanh, gã chắp tay lạy tứ tung. “ Thôi, xin lỗi cụ, xin lỗi cô, xin lỗi các bác, em cắt chuyến này, em không đi nữa. Nó cứ thế nào ấy…” Anh này anh kia trao đổi gì đó với bà cụ, bà cụ im lặng, bà cụ nuốt nước mắt vào đầu, bà cụ gật đầu. Anh này anh kia rút di động gọi, nói nói vung vung hất hất tay chân, mươi phút sau cười hệch. “ Xong rồi cụ ạ, người ta bố trí chiều mai có thể đón xác để hỏa táng ở Văn Điển. Cụ yên tâm nhé.”

        Chết rồi, nó vẫn nhất quyết nằm lỳ thủ đô, lạ thế mới là lạ chứ. Bà cụ vừa dứt lời, hai người đẩy tử thi ra khâm liệm. Kể cả hai nhân viên nhà xác, tất cả tám người, thêm Lăng, chín mạng trong  một chiều tịch mịch. Những manh áo sờn và đôi mắt hốc. Những giọng địa phương và móng tay đen. Thứ nhà quê, sinh thời Lăng chối bỏ. Không giám đốc đại gia xe hơi lộn bóng đón đưa, không người tình trẻ trai quần hiệu áo hàng, không bạn không bè không cả thiên nhiên. Lăng nằm, vẫn kiêu hãnh dáng dài tay thuôn dưới lần vải liệm. Son phấn che không hết tàn dư a xít.

      Nắm quan tài vừa sập xuống thì chị tới. Người phụ nữ mang khuôn mặt trăng tròn, người vợ bị dối lừa, tội phạm án vừa tuyên hai  ngày.  Vòng hoa tang nuột nà từng cánh, như thể chính bàn tay búp măng của chị đã lựa, đã kết, đã yêu thương. Hai nhân viên khâm liệm hết phận sự đã vào trong. Năm người còn lại ngác ngác ngơ ngơ, hết nhìn cỗ quan tài, nhìn khách, lại nhìn nhau, rồi nhìn tôi cầu cứu. Cứ như thể tiên vừa giáng thế. Tôi miễn cưỡng thành ban đón tiếp lễ tang.

–         Cảm ơn chị đã đến chia buồn. 

Mỉm cười thay lời đáp, đôi môi không son phấn tấy vàng chiều

 thu hanh. Chị bước tới bà cụ. Lạ lùng, đôi tay đen gầy người mẹ mất con mở ra. Ai dám nghĩ chị chính là kẻ không đội trời chung với con gái bà, ai dám nghĩ chính chị đã tung a xít hủy hoại dung nhan đứa con gái độc nhất của bà. Không ai thấy nước mắt trên mặt chị, nhưng tấm lưng ấy cứ rung lên bần bật. Chắc là rất lạnh. Lạnh vì tử khí hay run trước lòng bao dung con người, mình chị biết. Cỗ quan tài lòe loẹt chạm khắc hắt vàng những đôi  mắt nhà quê mệt buồn ngơ ngác.

       Bà cụ vỗ bàn tay xương lên vai chị mấy lần khi người phụ trách tang lễ lạnh lùng tuyên bố lễ viếng bắt đầu. Căn phòng trống trơn người, lặng câm than khóc, không bóng người đến nói câu tiếc thương ly biệt. Từ từ, những cơn gió đến, lá bay quẩn từng chòm, lạc cả vào di ảnh. Một cô gái đẹp, nhân viên hàng ảnh Nguyên Cầu chẳng cần chỉnh sửa nét nào.

       Chị cắm nén nhang một cách chăm chú, như thể người ta cấy kim cương lên trán. Rồi sẽ sàng, chị bước vòng quanh cỗ quan tài, ngó xuống. Gió theo bước chân chị, thổi ngạt lòng nhân. Từ sau lưng, tôi không biết nét mặt chị, đôi mắt chị khi nhìn Lăng qua tấm kính  ra sao. Chỉ thấy cổ chị gập xuống hồi lâu, rồi tí tách giọt giọt rớt xuống, rồi tiếng ối thốt lên như búa đóng đinh hòm. Tôi tỉnh cơn mộng gió, lao đến. Dưới mặt kính nhòe nước mắt người đàn bà trăng rằm, khuôn mặt Lăng không còn dấu tích bất cứ vết sẹo nào. Đôi má căng hồng trêu ngươi thời gian, trêu ngươi chất cường toan, trêu ngươi chết chóc. Thở dài trong lúc mỉm cười, bà cụ vái lia vái lịa bốn bề. Gió cứ xoay từng hồi, lá cứ đứt từng cụm, không gian rách nỗi buồn, mùa thu nát lê thê. Bà cụ đội vành khăn trắng ra khỏi phòng tang lễ, ngồi hé bậc thềm, khóc. Lần đầu tiên, tôi chứng kiến mẹ Lăng rơi lệ. Vì nỗi đau mất con, vì cơn ly biệt không người đưa tiễn, vì sự kỳ diệu xóa hết xấu xa trên làn da con gái, hay thương cảm chính mình? Chẳng điếu văn thành lời. Bà nhà quê, không biết chữ và không biết dối lừa.

       Phòng vĩnh biệt đài hóa thân hoàn vũ đón Lăng bằng giọt nắng cuối cùng xiên ngang di ảnh. Mắt xếch, môi mọng, răng đều, cô gái cười đĩ thõa. Ai đã chọn tấm hình kia làm di ảnh, quả đúng ý nguyện Lăng. Muốn mê muội đàn ông ngay cả khi đã chết.

       Giọng người đàn ông kéo bẹt từng âm tiết, gieo vô căn phòng nhiều thảm thương giả tạo: “ Hôm nay, chúng ta có mặt tại đây để tiễn biệt một người con gái xinh đẹp, một người con hiếu thảo của cha mẹ, một người trí thức có ích trong xã hội. Xin tất cả đi vòng quanh quan tài nhìn mặt người thân lần cuối cùng.” Đi sau, tôi nhìn đôi vai còm người mẹ xệ xuống. Khẽ đẩy bàn tay của tôi khỏi lưng, bà quay lại khẽ cười trấn an. Ánh mắt, trời ơi, đôi mắt bà khong phải mắt người sống, Đó là đôi mắt của người vừa chết. Chỉ toàn bóng tối. Trân trân chọc xuyên tấm kính, bà phả đêm đen, thứ đêm đen chứa chất tiếc nuối, tủi hờn, thương đau, câm lặng vào khuôn mặt đứa con gái yểu mệnh. Rồi người mẹ vĩ đại quỵ ngã. Ngoài sân, những tiếng rít lạ lùng như tiếng gió hấp hối chuyền vào. Lưng tôi lạnh cong, ẩy đôi chân về phía hồ sen đầu nghĩa địa. Vọng theo giọng nói bèn bẹt giả tạo tiếc thương: “ chắc lại lũ rắn đú đởn ấy mà, cứ gái đẹp chết trẻ là lại thế…” Trước  mắt tôi, trên mặt hồ sen dăm ba lá héo, bầy rắn kết hàng ngóc đầu hát vang. Chúng không đú đởn. Bỗng dàn đồng ca đột ngột im lặng chúi đầu, như thể bị điều khiển, như thể ai đó đã ra lệnh cho chúng. Tôi quay phắt mình. Bóng đàn ông cao lớn diện vest trắng xẹt ngang cổng nghĩa trang. Giáo sư! Tiếng hét gọi của tôi nghẹn lút cổ họng. Đường vắng, gió lặng, cây im, hồ sủi bọt. Hình như hoa mắt, hình như chóng mặt, hình như cơn mê hoang.

        Nhưng chưa hết cơn mê. Khi dúm người thân  bế bà cụ lùi khỏi quan tài và hai nhân viên hành nghề thiêu xác tiến đến, cơn mê lại tiếp diễn. Bàn tay người đàn ông định sập miếng kính nảy lên như bị chém, cùng lúc tiếng hét xé ra. Tấm khăn trắng choàng quanh đầu Lăng bung mở, lộ nhô khuôn mặt nham nhở vết cắn kỳ dị với hai hàm răng nhọn hoắt há ra cùng đôi mắt mở to trừng trộ cuộc đời.

                                                       *

         Hai năm hay hai mươi tháng, ta không nhìn đến ngươi, nhật ký thân yêu ơi. Ta biết trao gửi gì vào em, khi mà thế giới của ta như bụi cây khổng lồ đầy gai và dây leo bám. Khi mà ta đương sống những ngày kỳ lạ. Hay ta tưởng đấy là những ngày kỳ lạ, biết đâu toàn cõi người trên đất nước này, trong xã hội này, thế gian này cũng thế, cũng như ta.

       Chiều nay, đồng nghiệp trẻ tuổi nhất văn phòng, mới vừa tắm văn minh và quá khứ Paris hoa lệ trở về, thì thầm rằng đôi mắt ta tràn đầy trống rỗng. Anh ta cân được trống rỗng, như ta từng đếm được giọt mưa. Ta nghi ngờ. Câu nói ấy đầy rẫy trong tiểu thuyết ái tình. Anh ta là con vẹt gại mỏ kêu theo, vì anh ta muốn cùng ta lên giường. Bao lâu, nửa năm, mười tháng? Ta chay tịnh. Lời ve vãn tựa mùi cơm khê. Ta lãnh cảm? Không, hơn bao giờ, bầu vú ta vểnh cong mái đình chờ sương sớm. Hơn bao giờ, làn da ta mịn trơn đòi ve vuốt. Hơn bao giờ, dòng sông ta dữ ngầu khao khát. Nhưng khao khát ai, đợi chờ ai, ta lạc lối đường tim. Tim ta giờ nhảy  nhót điệu vũ hoảng cuồng. Ta mộng ta mơ hay sự thật? Ôi, người ta tìm là ma là quỷ hay tưởng ước xa xôi?

      Bà Thùy đi, mới hai ngày, khu vườn hoang phế. Cây thôi chạy hoang cùng gió, ao ngưng sáng ngời trăng. Người đàn bà tưởng hiền thật như vạn triệu phụ nữ gốc nguồn lúa nước, lại hóa khó lường. Ừ thì bà yêu bố, bà hận bố, bà hận cả con gái của người bà hận. Nhưng bộ xương có hai bàn chân sáu ngón, hình hài con gái thiêng liêng, sao bà nỡ đào lên mà đem chôn giấu góc vườn ta?Lẽ nào bà không muốn vật báu đời mình mồ yên mả đẹp, lẽ nào bà cho rằng bộ xương đó sẽ nghiến nát được đời ta? Không, đôi mắt dịu dàng ấy, nụ cười đôn hậu ấy không thể sản sinh mưu mô. Kẻ nào khác xui khiến, kẻ nào khác đủ quái phép đã ra chiêu?

        Rồi Lăng, ôi cô gái khốn khổ! Đẹp thế, có người mẹ vĩ đại thế, yên lành  nông thôn  có lẽ sẽ hưởng yên ấm trọn đời. Thị thành mà làm gì. Ô nhiễm từ môi trường cho tới tâm hồn. Phải chi em đem nhan sắc ấy trao người đàn ông tử tế, rồi sinh con đẻ cái, rồi công chức ba cọc ba đồng cúi mặt một đời, sẽ nhiều ngợi khen. Giả hoặc em thành Trà hoa nữ hay Thúy Kiều đường đường buôn hương bán sắc vẫn nhận yêu thương từ đời. Em học đòi, em lai căng, em thách thức cái dương gian tối mực nặng mùi mắm thối làm chi… Chất cường toan ấy hủy hoại nhan sắc em, nhưng tiếng em vẫn giọng kim khí gầm gào. Vì sao em chết, cái gì đã giết em? Em không thể trả lời, bầy rắn nổi lên ao sen trước nơi tiêu đốt em hát ca vĩnh biệt mới lạ lùng làm sao. Và giáo sư, người đã đến Viện Bỏng gặp em, người đã đến đài hóa thân chiều thu tang ma em…Ôi, bóng tối nhấn chìm trí não ta! Ôi, giáo sư, người là thánh thần hay quỷ ma?

      Rắn, rắn khắp nơi, rắn đang đan rọ ta. Rắn như búi tóc kết kỳ dị đang xơ xác cuộc đời Quy. Ta đã nghĩ tóc rối thì có lược, người tốt thì yên lành. Làm gì lại có thứ tóc đến dao kéo cũng chẳng thể cắt gọt. Rắn bện vòng, rắn xâu xé hết não bộ ta, rắn chui luồn mỗi mạch máu đường gân. Quy ơi, chị thế này làm sao còn giúp được em. Chị không phải, không thể và không xứng là luật sư. Xã hội này chỉ cần bóng tối và rắn. Rắn và bóng tối, em hiểu không, gian xảo chui luồn, ác độc đập trước mặt quẫy sau lưng, mà Quy nhỏ bé chỉ biết chống đỡ bằng tròng mắt tím, mà chị mang danh luật sư chỉ ngồi đây nhai  gặm nghi hoặc. Có thật chính người ấy, chính giáo sư lụa trắng đã làm điều ô nhục với em? Rồi ma đưa đường, thánh chỉ lối thế nào lại chính ta đại diện cho em trước công lý. Sợi dây nào, búi tóc nào, ổ rắn nào đang dẫn dắt linh hồn ta. Đâu đâu cũng rắn, đâu đâu cũng giáo sư. Ông ta định âm mưu gì? Ta chỉ là một cô gái mộng du kinh niên, chọn ta rồi sẽ hỏng đại sự có ngày. Buông tha em đi, giáo sư, giáo sư thần thánh. Em sẽ lau chùi mọi dấu vết ô uế trong ngôi nhà trắng, em sẽ quét hết giọng nói còn sót lại bên tai, em sẽ thiêu hủy ngôi nhà hoa sen- xác rắn và cây cối dị thường. Em sẽ, em chắc chắn đốt tan trăng già trăng khuyết ngày gió ngày nồm. Ông tin đi, ánh sáng vẫn sót lại vài loang trong ngực em, sâm cầm vài con vẫn vỗ cánh đêm rằm.

       Có tiếng chim lợn vỗ cánh bay qua rớt xuống vài tiếng xấu. Em nhớ, một lần sau ái ân, lông mày ông bỗng hồng đỏ giao khít vào nhau. Ông nói khẽ rằng thần tượng của ông là chim lợn, giai điệu bất hủ ngân rền tim ông là tiếng kêu chim lợn.

  Chương Bảy:                      LỘT   

 Sáu giờ, đêm hãy còn nấn ná. Ngõ nhỏ chìm ìm, cứ như thể tất

 cả đã viên tịch. Chàng trai thộc vào với vận tốc tuấn mã trường đua, độc mỗi chiếc quần đùi thùng thình khí lạnh. Nhoáng cái, cánh cổng ngôi nhà cuối ngõ đã bật tung. Bên trong vẫn không động tĩnh. Nhoáng cái nữa, chàng trai đã quỳ xuống bên đầu giường, nơi Quy đang chìm sâu  cơn ngủ thuốc an thần. Chăn tím gối tím, cô gái lút giữa sắc màu con đường thần chết thường quá giang. Chàng trai đưa cánh tay trầy xước vén chăn. Khoảnh khắc bàn tay Quy lộ ra, chàng trai bỗng run bắn. Vừa lúc một con mèo đen từ xà ngang đu xuống, giương đôi mắt xanh chiếu thẳng vào thân hình gầy trơ xương sườn người lạ. Quy dựng ngược dậy như xác chết đụng linh miêu. Tròng mắt em ngập tím. Miệng em mở to hơn hồ Gươm, tiếng thét em vang hơn hùng ca Người Hà Nội:

–         Anh Tỉnh! Anh Tỉnh! Cứu em, cứu em!

       Bóng tối bừng  giấc. Đêm dài chạy vội về những rặng núi cao.  Ngõ nhỏ thoát hôn mê. Nhà nhỏ động đậy dập dồn.

–         Tiếng búa vẫn đập quan tài, đoàn tàu cứ đứt lìa từng khúc…

Anh ơi, chặt đầu em đi.

       Tỉnh định vòng tay ôm Quy, bỗng khựng lại giây lát, ánh mắt chợt vàng như sao quốc kỳ. Rồi từ từ khuỵa xuống, chàng trai ôm mặt nấc từng cơn, thổn thức.

–         Quy ơi, em ơi, anh hại em rồi. Xin lỗi em, xin lỗi em…

       Cô gái rướn lên, ý muốn ôm chàng trai vào lòng. Giây phút đôi tay Quy dang ra, mắt Quy thôi lịm tím. Bỗng chàng trai ngoặt đầu, cẫng nhảy, rú liên hồi.

–         Chớ đụng vào tôi. Rắn! Rắn sẽ đến. Trốn đi. Tao sẽ tìm ra

 mày, tên giáo sư khốn kiếp. Hiếp, hiếp lòi bánh mỳ đen Liên Xô, hiếp đứt Vạn lý trường thành trong bụng ngươi. Giết, giết, giết hết lũ đè người.

       Thân thể Tỉnh không còn mảnh vải. Quần đùi trắng tuột rơi khỏi bộ xương khốc khô phiền não. Mèo đen dửng dưng chạy lại, cắp manh quần  đội lên đầu, múa quay múa cuồng quanh gian phòng ngập ban mai.

        Bên cánh cửa phai tro, người mẹ lạnh ngắt. Trận cuồng phong ập về. Đứa con trai điên dại trần truồng kia giống hệt kẻ ấy, kẻ cuối cùng đã hộc khoái và hộc khóc trên người bà mười chín năm trước. Thế là hoàn toàn đông, thế là mãi mãi xám, thế là vỡ rụi những nguyện cầu.

       Điện thoại rung nháo nhào khi tôi đang đọc lần thứ hai ngàn kinh Tân Ước. Thành thói quen, mỗi khi mất tinh thần, mỗi lúc đời loạn, tôi lại ôm cuốn sách nhỏ vào lòng trước khi ngủ và sau khi thức giấc. Tôi nhận ra ngay giọng nói điềm tĩnh đến lạ lùng, báo tin buồn hoảng. Tội nghiệp Quy. Vừa tìm lại lại một chút an bình sau cả tuần sờ đầu hỏi tóc  rồi mê man thuốc an thần. Tội nghiệp Tỉnh, chẳng có tội tình gì, bao ngày gặm nhấm hoài nghi một sự thật đã rành rành đến nông nỗi dại điên. Tôi khâm phục chàng trai, bởi nếu là mình, tôi đã điên ngay từ cái ngày mùa xuân ôi mốc ở cái làng truyền thống đóng quan tài của anh, hay trên đoàn tàu chở đầy chán chường về thành phố hôm sau. Nắng nhảy, nắng rót tràn sớm mai, báo hiệu ngày cuối cùng ấm áp trước khi gió mùa lạnh trườn qua. Thế mà trong căn nhà nhỏ, góc ngõ nhỏ, trên chiếc giường nhỏ, cô gái nhỏ chỉ còn bóng tối bủa vây.

        Đúng bảy phút, tôi sửa soạn xong, chiếc xe máy  nặng trịch bao suy nghĩ lao khỏi cổng,  đẩy tôi về hướng Hà Đông, nơi cô gái nhỏ và chàng trai và người mẹ đương gào lên hay thì thầm sao thượng đế chẳng nhân từ. Khu vườn hoa sen chưa khuất tầm mắt, điện thoại lại nhoảng lên, rung cháy đùi. Lần này, cứ như thể ai đó cần cấp cứu. Nhưng không, giọng mẹ không chỉ xa mà yếu chùng cả  đường truyền sóng. Giọng nói người mà ngày chỉ còn bóng tối bao trùm.

–         Mẹ đã nghe, mẹ đã biết. Bàn chân sáu ngón, như con. Trùng

 hợp lạ kỳ. Đấng tối cao, người thấu hiểu tất cả phải không con gái. Mẹ ra đi, mẹ muốn đi, mẹ phải ra đi. Sông đang chờ mẹ, dòng sông mẹ con mình quý yêu hơn tất thảy. Sông không phụ người, sống sẽ gột rũ mọi đớn đau cho mẹ, sông sẽ trôi mẹ vào đại dương, nơi bốn bề thinh lặng. Mẹ sẽ nghỉ, thật sự thiếp đi. Hạnh phúc nào hơn thế. Đêm qua, hàng vạn con rắn đến tìm mẹ. Những loài rắn chưa bao giờ mẹ thấy. Chúng công kênh mẹ, dịu mềm đỡ mẹ lên, bay tới thiên đường. Không còn ai con người làm bạn mẹ nữa, giả dối hết rồi. Mẹ đã gửi linh hồn cho rắn, con đừng trách than.

       Tôi không hiểu sức lực nào níu giữ mình nghe hết bấy nhiêu lời mẹ. Chỉ khi chiếc điện thoại giận dữ gào đinh tai vì bị ngắt, tôi mới nghĩ mẹ không còn trên phôn. Chiếc xe máy rồ ga quay ngược, tới ngôi nhà vòng tròn linh thiêng, tới ngôi nhà mà tất cả yêu kính đang bị thất vọng nhấn chìm. Nắng ánh lên như lưỡi dao khổng lồ sắc lẹm. Chém rụi một ngày đẹp. 

      Nắng loang đầy phòng. Không gió mà dải khăn hồng trên khung cửa bay lượn phất phơ. Những dòng chữ theo đôi bàn tay hằn nếp thời gian song hãy còn thon thả tuôn tràn trang giấy. Khuôn mặt bà đầm đìa nước  mắt, đôi mắt bà đầm đìa luyến thương. Vì bà biết, đây là lần cuối bà mượn câu chữ gửi niềm yêu tới đứa con gái duy nhất của mình. Và linh cảm, thứ bảo bối của một tâm hồn đa cảm cũng cho bà biết điều gi đó u mê đang đợi ngoài kia.

       “Một lần dì nhìn con rồi nhìn mẹ rồi nhìn mông lung thở dài. Ấy là năm con tròn tuổi mười ba. Trên bãi biển Sầm Sơn. Áo tắm vàng rực bó thân thể thiếu nữ chực rách bung. Mẹ hiểu vì sao dì thở dài. Vì con quá đẹp. Mười ba tuổi, con gái không nên mang thân hình nõn nà nhường vậy. Bãi biển đầy cáo già,  đoàn tàu rặt dê xồm,  quảng trường vô số ngáo ộp. Tất cả đều đói khát. Con thì ngây thơ. Mẹ không thở dài, mẹ nín thở. Không khí oằn ngược khỏi buồng phổi và trái tim mẹ ngập hoang tưởng. Hoang tưởng về một tương lai kỳ dị cho con gái, hoang tưởng cầu xin đấng tối cao nào đó buông tha con khỏi danh sách đa đoan. Mẹ đâu ngờ rằng, trên bãi biển ngời nắng mùa hè năm ấy, đấng tối cao đã chính thức chấm con. Cho hành trình tăm tối, đến miền rắn bảy màu cùng những chiếc lưỡi lụa ủ hôn mê.

       Cũng trong cơn hoang tưởng ấy, một khắc mẹ mơ sóng bạc đầu chồm lên nuốt con gái vào sâu thẳm. Đại dương sẽ nuốt luôn mọi gai nhọn hố độc mà cuộc đời dành sẵn đợi con. Như thế, con khỏi đớn đau. Như thế, biển thêm phép màu linh thiêng. Con gái mẹ vẫy vùng với rong rêu tuyệt mỹ, con gái mẹ lặn sâu vào bất tận… Đến tận ngày hôm nay, mẹ vẫn lặp đi lặp lại giấc mơ ác độc ấy. Cứ sau mỗi cơn mê, mẹ lại hành hạ mình vì nghĩ suy ác độc, dù chỉ là cơn mê.

        Nhưng giá như, sóng bạc đầu đã đến mùa hè mười ba tuổi tròn căng ấy, đã chẳng có ác mộng hai năm sau. Dòng sông đã không ngầu bọt hung dữ giữa mùa khô, bộ mặt dài tái của viên bác sĩ khô gầy đã chẳng lòng thòng xỉ vả trên khuôn vàng thước ngọc con yêu. Con gái mẹ mang thai. Trưa vắng, bầy gà mái gáy vang bãi  ngô. Chúng hát rằng nhà ai con gái chửa hoang, nào chị  nào em ta cùng cạo đầu cùng bôi vôi.  Lũ rắn cuốn vòng thân ngô, rít ran bài ca hội hè. Đàng điếm đi đàng điếm đi, xảo trá nào xảo trá nào, tấu nhạc lên tấu nhạc lên… Con ngước mặt song song bầu trời tránh trả lời lai lịch người bố thai nhi. Con không cúi đầu. Nhưng môi con rách dằm vết cắn, đầu con ngả xuôi nhẫn nhục lúc viên bác sĩ mang bộ mặt ngựa ốm sào sạo cạo thân thể ngọc ngà. Tay y cào, mắt y nuốt, miệng y nhả hơi cay. Hư hỏng, hư hỏng, tý tuổi đầu! Mà thằng ấy đâu, sao không vác mặt đến xem. Dạng rộng ra nữa, rên nỗi gì. Này thì sướng cho lắm vào này! Y  ném choang chiếc thìa khổng lồ lòng thòng nhau rốn máu me xuống khay, nhếch nụ cười viên mãn. Mẹ rơi nỗi đau xuống tận cùng, cầm bàn tay con giá lạnh. Rồi con giằng khỏi tay mẹ, rồi con bật lên, đôi mắt thành lò lửa có thể thiêu rụi Vạn lý trường thành trong khoảnh khắc. Cất giọng, con gầm lên, đến sư tử cũng e dè. Sao nào?Tôi đàn bà, tôi yêu, tôi hứng chí trao thân, tôi chịu trách nhiệm tương lai mình. Ông có dám chối đã không thèm thuồng con gái đẹp như tôi không? Ông có chiếc lưỡi biết nhiếc mà không có cái đầu biết thế nào là mất nhân tâm. Viên bác sĩ dựng ngược quay đi. Mẹ rụng rời. Trời ơi, con gái mẹ, con gái mười lăm. Không phải đến lúc ấy, mẹ mới biết con gớm ghê. Tạo hóa nặn hình hài, nhưng mẹ nở yêu thương. Thuở con nằm nôi, mẹ đã linh cảm rồi đây con sẽ nhiều lạ dị. Song mười lăm, mẹ vẫn muốn bế con trên đùi hát ru lời ca con cò đồng lúa, chứ không phải cùng con căn phòng trắng lạnh và khay nong bơm thìa nạo hút ác tàn.

       Nhiều năm sau, con mới nói với mẹ về người đàn ông làm chấm dứt đời con gái tuổi mười lăm. Anh ta có tuổi, có vợ và hai con. Anh ta trí thức, anh ta lãng mạn, anh ta say đắm rồi anh ta hèn. Con đổ mái tóc xuống dòng sông, khẽ thầm thì: “cuốn đi, cuốn đi những nông nổi, nông nổi…”. Dòng sông miệt mài trôi, dòng sông không trả lời. Mẹ tối sầm. Dưới lòng sông, đôi giao long cuốn xoay nhau, rên rít khoái nhục, thè lưỡi quật đuôi bảo con gái ngươi chỉ là đứa đớn hèn. Đớn hèn ư? Tổ tiên ơi, người đã nhầm. Con gái con trên đầu mang vòng Nho giáo dưới chân đeo cùm mác- xít. Sơ khai, người chỉ tấm thân ngà lăn theo nhục cảm yêu đương tự do, người làm sao hiểu…

      Năm ấy, năm con hai lăm, trời bão mưa liên miên. Vòng tròn linh thiêng của con ít khi khô ráo. Giữa những cơn mưa, con đi suốt đi hoài. Rồi trước trận cuộng phong được cho là lớn nhất thế kỷ vài ngày, con đi luôn. Trời sầm xám, không khí sặc hôi tanh. Cánh tay con ôm mẹ thơm gầy. Giọng con nhẹ như gió tháng Tư. Tự do, con cần tự do mẹ ạ. Con cần thoát khỏi vòng tròn tuổi thơ, xa hơi mẹ. Con muốn lớn, con mong mình lớn. Mẹ quặn ruột. Vì một người đàn ông phải không? Không hẳn…Giọng con chìm trong sấm. Con cũng không biết có phải tình yêu. Tràn ngập con là phiêu lưu và thách thức. Mắt con tuột khỏi mẹ, chạy rông mùa khó, loang loáng dại cuồng.

Dòng Sông Hủi

hopluu.net

Đỗ Hoàng Diệu

26 Tháng Chín 2008

Post by Sơn râu 2 Nov 2024

LTS: Sau Bóng Đè, Dòng Sông Hủi là truyện ngắn mới nhất của Đỗ Hoàng Diệu được viết với một thông điệp mạnh mẽ hiếm thấy. Không ẩn dụ bí hiểm, nhưng bạch hoá khả năng tẩy xoá ký ức cá nhân của hệ thống chỉ bất lực trước ánh trăng của toàn nhân loại. Lấy bối cảnh xung khắc giữa thiên nhiên với đô thị, Dòng Sông Hủi đặt câu hỏi về chứng bệnh nan y của xã hội, có thật vô phương cứu chữa?

Chồng tôi hành nghề kỳ quặc: Kiểm tra trí nhớ của con người. Lấy anh tôi mới khám phá, anh thường xuyên theo dõi những giấc mơ của mình. “Em có thai phải không?” Sau tháng đầu tiên Công đã dọ hỏi. Tôi lắc đầu tươi tỉnh. Giấc mơ đêm khuya còn sáng hồng bụ bẫm bắp chân hài nhi. Tôi biết chắc tôi chưa có mang, nhưng làm sao Công biết tôi đã nằm mơ thấy đứa trẻ? Sáu tháng hạnh phúc trôi qua như gió hắt mặt hồ.

Sau này, mỗi lần nghe tiếng còi xe cấp cứu, tôi lại rùng mình nhớ tới vẻ mặt khủng khiếp của Công. Buổi chiều nước hồ Gươm áp sát các gốc sấu, Công bước thẳng vào nhà. Đôi mắt Công nhỏ nhưng ngầu lửa, quét lên tấm hình cưới. Cô dâu trong hình giương vầng trán ngây thơ hãy còn khóc e thẹn cúi nhìn xuống phòng khách. Nơi ấy, tôi đứng run rẩy sau lần váy ngủ. Công vẫn quét lửa lên tấm hình cưới, hai bàn tay day day vào nhau tính toán. Rồi bất thần, anh xô ngã tôi xuống thảm. Trước khi tôi kịp ngẩng đầu lên, chiếc váy đã bị bàn tay lạnh lẽo kéo hất. Công lột quần lót vợ tỉ mỉ, nhướng mắt soi mói sợi chỉ may trên vải sa tanh hồng. Mắt Công ngó chăm chăm giữa hai đùi tôi. Từng cọng cỏ cây hoa lá óng ánh cố xù lên chống đỡ. Nhưng cỏ cây mềm quá, mượt quá, không nhấc nổi thân mình, đành yên lặng chịu đựng người đàn ông coi chúng là vật sở hữu. Khi Công tách chúng ra từng cọng xem xét tỷ mẩn, tiếng còi xe cấp cứu hụ rền những tán cây. Giọng Công cất lên khi còi xe cấp cứu đã xa.

“Sao cô ở nhà mặc váy ngủ vào giờ này? Ngoài sân có vệt bánh xe máy không phải chiếc Spacy của cô.”

Ơn trời, không có chuyện gì hệ trọng. Tôi trả lời:

“Em nhức đầu, chóng mặt nên xin nghỉ làm sớm. Về nhà chỉ kịp vớ chiếc váy ngủ quàng vào người rồi lăn ra giường đến khi nghe tiếng anh mở cổng.”

Khuôn mặt Công giãn ra đột ngột. Như vừa chằng qua đấy một niềm tin, một tín hiệu vui mừng, lại như mầm phôi tội ác. Khuôn mặt, tôi đã nhiều lần trông thấy, thường là nửa đêm khi Công nhận điện thoại ai đó rồi lao ra khỏi giường, vuốt má tôi và ra đi. Ra đi vì công tác kiểm thính lương tri của đồng loại. Chồng tôi làm cái nghề thật kỳ cục. Bây giờ, khuôn mặt ấy ghé sát vào tai tôi, thì thầm:

“Em có thai phải không?”

Tôi lắc đầu như một đứa trẻ. Một đứa trẻ già nua. Công thẳng lưng, khoác áo, bước từng bước chắc nịch khỏi nhà. Sau tiếng Cô rồi tiếng Em là tiếng xe máy làm toạc gió chiều. Công lại đi theo dõi một bộ nhớ khác hay một vụ việc khác. Cho dù vụ việc tôi tự nhiên bỏ sở về nhà giữa ban ngày, diện váy ngủ, đầu tóc rối vẫn còn chưa rõ ràng. Tôi biết Công sẽ ghi vào hồ sơ trong bộ nhớ lạnh lùng của anh, chờ khi đủ chứng cớ. Vầng trán cô dâu trong hình cưới lại thêm nếp nhăn. Nếp nhăn mà khi quyết định kết hôn với một điều tra viên, tôi không lường trước. Tôi nghĩ Công sẽ bảo vệ cho tôi yên ấm suốt đời, đâu ngờ mình lại trở thành một vụ án. Công chưa bao giờ tin tôi. Anh vừa lột váy vợ, sờ nắn, ngửi tìm dấu vết một tội phạm. Hành động của anh ghì chết tàn tích yêu đương cuối cùng. Nhiều ngày sau, tôi mới biết vùng kín của mình đã thành hiện trường của một vụ án nghiêm trọng.

Ngoài trời gió mạnh hơn. Phả qua cánh cửa từng cơn buốt rát mái tóc. Vầng trán cô dâu trong tấm hình nhăn rút lại. Từng khối thủy chung rớt khỏi người tôi. Những cây non nổi loạn, trút hờn trút giận lên tâm trí tôi sôi cháy. Tôi mong có một vụ việc thật rắc rối, để Công sẽ không về đêm nay. Tôi cười tiếng cười thủy tinh nứt nẻ, tôi hát khúc hát tự do trong phòng tắm đầy hương thơm. Như để trả thù sự nghi ngờ, truy nã của chồng bao ngày qua, như để cho Công thấy tôi không sợ Công, không sợ cơn gió đang tốc xoáy mặt hồ ngoài kia.

Tôi sẽ không bao giờ sợ Công nữa. Công hành nghề thanh lý trí nhớ người khác, nhưng tôi là vợ của anh, là người đàn bà đầu gối tay ấp bao nhiêu đêm, sao Công cũng gờm gờm nhìn tôi dò xét mỗi buổi chiều? Công mang về nhiều chiếc phong bì đựng tiền màu xanh, nói đấy là bổng lộc. Tôi không được giữ chúng, anh cất trong đáy tủ, hàng tuần đưa cho vợ một số tiền nhất định, làm như anh sợ tôi mang tiền của anh đi cho. Mỗi chiếc áo tôi mua, mỗi đôi giầy tôi sắm đều phải lấy hoá đơn, điều mà người Hà Nội ít ai làm. Công sẽ xăm xoi từng chữ số trên mỗi tờ hoá đơn ấy. Chồng tôi, tôi biết gọi anh là gì? Tôi nằm im lẩm nhẩm bao điều vô nghĩa.

Vẫn là đêm trăng sáng. Trăng đảo điên gãy gập trên dòng sông hung dữ. Từng gương mặt trăng lặn ngụp giữa dòng nước réo gầm. Khuôn vàng chao đảo nhìn tôi mời gọi, ánh sáng phát ra tiếng cười khanh khách. Khuôn vàng độc ác đẩy đưa ánh mắt cằn cộc của Công, đẩy đưa cả gò má Trí tựa vai tôi hôm nào. Trí cầm tay tôi, hắt hơi thở thơm mùi nắng, mùi sữa tươi lên làn da tôi đang thèm một giọt sữa. “Thân thể em là một nhành hoa sắc màu rực rỡ ngào ngạt hương thơm”. Tiếng Trí sát gần vành tai, mùi thân thể nồng ngái từ người chàng làm tôi muốn khuỵu xuống. Nước mát, bàn chân tôi chạm trên lóng lánh trăng vàng. Tôi đạp mạnh, rõ ràng là nước, đang quấn lấy đôi bàn chân mảnh dẻ của mình. Đôi bàn chân mà ai cũng nghĩ là mẹ đã bó cho tôi khi còn thơ. Bởi bàn chân tôi bé tí từ gót đến ngón chân. Nhưng sao chân tôi lại không chạm đáy, chỉ nhẹ hẫng bay trên mặt nước. Hình như tôi đang dẫm lên khuôn trăng, đạp oằn dòng xoáy. Tôi nhìn xuống, có gương mặt chồng tôi với đôi mắt him híp nhìn không chớp vào một con cá đang mắc bẫy. Đôi mắt Công cũng im lìm như dáng ngồi của Trí dưới đáy sông. Sau lưng Công, Trí đang múa Lào. Bước chân oẻ ợt và bàn tay xoè mở vụng về. Đôi chân tôi lướt tới gần Trí, tôi đạp chân mạnh hơn để Công nghe tiếng, để Công quay lại. Tôi muốn chồng tôi nhìn thấy vợ mình hôn một người đàn ông khác đắm đuối dưới lòng sông. Bàn chân nhỏ bé đạp mạnh hơn nữa, có tiếng rớt vỡ. Dòng sông hung dữ cùng vầng trăng biến mất. Chiếc đèn ngủ vỡ tan, một vài mảnh nhọn cắm vào gan bàn chân tôi nhói buốt. Đôi bàn chân ướt và chiếc váy ngủ lạnh ngắt. Tôi chồm dậy bật đèn sáng trưng. Công không về, có lẽ bộ nhớ anh điều tra ít vấn đề nên anh mất hàng giờ tìm tội ác. Bên ngoài cửa kính, mặt hồ u ám giống một vực thẳm đen ngòm. Tôi lặng lẽ kéo rèm. Cúi xuống nhặt mảnh vỡ của chiếc đèn ngủ, tôi bỗng nhận ra vết ướt trên mặt thảm, dấu bàn chân nhỏ như bàn chân một đứa trẻ.

*

Trí không múa điệu múa xứ Lào dưới lòng sông trong giấc mộng của tôi nữa. Trí múa trên da thịt tôi những ngày sau. Người đàn ông trắng trẻo, hình thức hấp dẫn luôn tán tỉnh, săn đón tôi với tác phong đặc biệt lịch sự, đôi mắt lúc nào cũng thông thái mê dại. Chàng là nơi tôi trao trút giấc mơ. Là nơi tôi trốn chạy tiếng còi hụ xe cấp cứu vang rền, vọng đổ căn nhà nép sát hồ Gươm. Căn nhà sóng có thể chồm lên nuốt chửng bất cứ khi nào. Mà năm nay, gió mùa về mạnh sắp sửa quật ngã gốc sấu trăm tuổi, quật ngã căn nhà mang hình dáng hiện trường. Trong tiếng gió, tôi nghe có tiếng máu chảy, tiếng oan hồn rên xiết, tiếng của những sinh linh oan uổng mà Công từng xét hỏi. Lâu lâu, nhất là ban đêm, khi Công mang đôi mắt him híp đi rồi, gió quất vào da tôi qua khe cửa nhỏ, cất giọng u u: “Chồng cô bị bệnh! Chồng cô bị bệnh!” Những khi ấy, tôi sợ hãi vô cùng, sợ gió và sợ cả Công.

Hình ảnh chồng tôi với ánh nhìn vừa như thảng thốt lại vừa tức giận mỗi bận tôi nhắc anh về chuyện lấy nhau đã ba năm mà vẫn chưa có con làm buốt nhức từng đọt xương, gặm đau thân thể tôi. Tôi đã lén đi bác sĩ làm đủ những xét nghiệm cần thiết. Bộ phận sinh sản của tôi hoàn toàn bình thường. Công không làm tình nhiều, nhưng mỗi bận thường rất lâu, và ào ạt xối xả bắn sâu tận cùng. Đến phút cuối, anh luôn nghiến chặt răng. Tôi đinh ninh trong dòng nước đục ấy chắc chắn có những tinh trùng đang bơi lội hung hãn, dữ dằn như ánh mắt của Công. Chẳng vì lý do nào tôi lại không thụ thai được. Có lần tôi nửa đùa nửa thật: “Tinh trùng của anh cũng đã bị thanh lý bộ nhớ nên chẳng còn biết gậm trứng”. Anh gầm gừ trong cuống họng như tiếng rít của loài thú. Tôi còn lại trơ trơ một nỗi buồn, một nỗi hoài nghi và một thân thể dẻo thơm. Tôi muốn một bờ vai, muốn một lời nói dịu dàng xoa thương xoa yêu, xoa đi tiếng gừ của Công đã làm tôi run rẩy. Bao giờ Trí cũng đến thật đúng lúc. Điện thoại của Trí thường vào lúc tôi hoảng sợ nhất. Quấn mình trong áo ấm, khăn len, tôi ào đến chỗ hẹn với chàng. Bước chạy của tôi lẫn trong gió rít như cuộc rượt đuổi. Thân thể Trí mát rượi, trơn bóng. Chàng mơn man tôi bằng hơi thở đầy kích động, thì thầm những lời thông thái, cho đến khi tôi chín nhừ đi, không còn sức chống đỡ, chàng mới sôi sục đi vào. Tôi bấu riết làn da trơn mịn của chàng, đu người nấc nghẹn. Thường khi xong xuôi, tôi có thói quen mặc lại áo quần cho Trí. Những khi ấy, tôi thấy chàng in một đứa bé, thôi hùng hổ thúc giục liên hồi mà bẽn lẽn nhìn những vết thít hai bàn tay mình. Tôi đưa môi cắn nhẹ một lời xin lỗi. Chàng cười dịu dàng: “Cả cơ thể của em in chặt anh, em có hôn ngàn lần cũng không xoá hết được đâu”. Miệng tôi giả vờ cong lên hờn dỗi: “Những vết xước lâu dần thành vết loét, anh sẽ giống người bị bệnh hủi, lúc ấy còn dám yêu em nữa không?” Chàng bịt miệng tôi bằng một nụ hôn đắm đuối. Nhưng hình ảnh làn da Trí không còn trơn mịn mà đen cháy từng vùng lở loét tự nhiên lởn vởn trong đầu tôi. Đến nỗi, những lần sau gặp chàng, việc đầu tiên là tôi bắt chàng cởi áo đứng như một pho tượng để tôi khám xét những vết cào do tôi gây ra có còn không. Để rồi một giờ sau, tôi lại tặng chàng những vệt móng tay sung sướng tươi nguyên.

Công càng ngày càng vắng nhà nhiều hơn. Đã thành thói quen, việc đầu tiên khi về, chưa kịp cởi áo khoác là anh tụt váy tôi kiểm tra. Mà nào còn sót lại gì. Thân thể tôi vẫn vẹn nguyên, mùi người vẫn nồng ấm, thứ mùi mà Công bảo, vì nó, anh cưới tôi làm vợ. Cỏ cây hoa lá mầu mỡ tươi xanh. Hiện trường vụ án của anh không hề xáo trộn cho đến lúc anh vội vàng nhưng kiểu cách nằm sấp lên tôi. Trong ánh đèn ngủ mờ mờ, đôi mắt anh in hai vệt dài nhòm ngó. Khi ân ái cùng vợ, đôi mắt anh không bao giờ nhắm. Tôi thường thoi thóp với ý nghĩ hân hoan mình đã lừa được điều tra viên giỏi nhất. Đôi khi, bàn tay tôi cố tình cấu rách lưng Công, để cho da thịt anh lở loét, để anh thành hủi. Công không biết, anh nói tôi đã làm anh thoả mãn. Công không hay biết việc tôi cố ý cấu rách người anh. Mà tôi cũng không thể nào đoán chắc. Đôi mắt híp của Công không biểu lộ cảm xúc bao giờ. Tôi cũng không thể hiểu vì sao tôi lại quyết định làm vợ một người đàn ông có đôi mắt như vậy.

Càng ngày tôi càng có cảm giác căn nhà ven hồ của vợ chồng tôi sắp rớt xuống đáy thẳm. Giấc mơ về dòng sông hung dữ và mặt trăng vàng kỳ quái vẫn hiện diện thường xuyên trong giấc ngủ của tôi. Chúng đến những đêm Công đi công tác, những đêm gió mạnh hắt tróc mặt hồ. Nửa đêm tôi hay choàng tỉnh bởi giấc mơ, và dấu của bàn chân nhỏ bé vẫn ướt thành một hàng đều trên thảm. Tấm thảm màu nâu Tây rất đẹp mà người ta tặng Công khi chúng tôi xây nhà. Cho đến một hôm, khi tôi rời chỗ hẹn với Trí, trở về căn nhà ảm đạm, bàn tay vẫn còn mát lạnh bởi làn da của chàng, thình lình Công xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Tựa như anh bay đến trước mặt tôi mà không hề phát ra tiếng động. Chiếc bóng anh ma quái. Cặp mắt anh băng giá. Mặt nước hồ lặng lờ đêm tối. Bàn chân tôi đã nhỏ, bây giờ càng nhỏ hơn, cơ hồ không mang nổi cơ thể thanh xuân. Công lạnh lẽo cất tiếng:

“Cô đi lại dáng đi vừa rồi của cô từ phố Hàng Dâm về đây cho tôi xem.”

Tôi ngẩng mặt nhìn chồng, có một luồng dũng khí chạy xuyên người. Tôi không phải là mồi theo dõi của Công, tôi không sợ.

“Em đi dạo quanh hồ. Em không ra phố Hàng Dâm.”

“Linh hồn của cô đi dạo quanh hồ, còn thể xác cô đến phố Hàng Dâm. Cô tưởng tôi không đọc thấy à?”

Giọng cười của Công vang lên ha hả. Bàn chân tôi không thể nào nâng đỡ nổi thân xác bấn loạn và tiếng cười loảng xoảng kim loại va đập. Tôi vừa quên mất Công có khả năng đọc thấu bộ nhớ kẻ khác. Từng mạch máu, đường gân trồi ngược, xanh xám, hoảng sợ. Dường như gót chân tôi thu bé hơn nữa và dần tan rã trong tiếng cười của Công. Dòng dũng khí khi nãy lặn sâu vào da thịt co quắp. Bất thần, tiếng cười ngưng bặt đột ngột như khi mới cất lên. Tôi chóng mặt lảo đảo. Cảm thấy cổ tay bị giằng mạnh. Lúc định thần được, thân mình tôi nằm soãi trên mặt thảm phòng khách. Công bật tất cả các bóng đèn có trong nhà, thứ ánh sáng ngạo ngược, thông minh nhưng dửng dưng tàn độc. Công ngồi trên ghế, ngó tôi bằng cặp mắt không có tròng đen. Tôi lấy tay che mặt, che thứ ánh sáng bệnh hoạn, thứ ánh sáng trắng đuỗng, nghê ngáo, thản nhiên. Có một tâm thế sẵn sàng hứng chịu, có một tâm thế bất cần, tâm thế khi tôi không còn tôn trọng người mình đã từng yêu thương nhất đang lan truyền dòng máu. Tiếng mở ngăn kéo sột soạt cũng không làm tôi thắc mắc. Chỉ đến khi một luồng ánh sáng mới quét rát mặt, tôi mới vội vàng dựng ngược. Một tay Công cầm chiếc đèn pin, một tay lần mở cúc quần tôi. Không vội vàng, mỗi cử chỉ của Công điềm tĩnh, ngón tay vờ mai mỉa. Bên ngoài gió đã ngừng, tôi chẳng còn trông thấy vực thẳm mặt hồ sau cửa kính. Tất cả đã biến mất trong sự đe doạ của ánh sáng loá rực mà Công vừa khơi nhóm. Tôi bỗng sợ hãi, tôi muốn kêu cứu. Tôi muốn mở cửa để trông thấy cành sấu già. Tôi muốn dẫm chân lên miệng vực thẳm mà gió lạnh và đêm tối đã đào ngoài kia. Bàn tay của Công, ánh mắt của Công là của ai, không phải của chồng tôi. Trong giây phút, tôi thấy luồng gió vô hình bay qua, luồng gió tối sẫm như màu suy nghĩ của Công. Tối xám như tâm hồn dị dạng của chồng tôi bây giờ. Tôi mím chặt môi, ghì hai hàm răng vào nhau sát sạt, không thể nào lý giải được tại sao tôi lại làm vợ một người đàn ông có đôi mắt híp sùm sụp và một linh hồn đen đúa bị gặm nhấm bởi triệu dò xét nghi ngờ. Mùa đông, ngày giữa đông, đêm giữa buổi mà mồ hôi tôi tuôn túa ướt đầm.

Chiếc đèn pin trong tay Công bắt đầu soi từ ngực.

“Da dẻ cô thần kỳ thật đấy, mới cắn nhau với thằng trí thức ấy cách đây mấy phút mà không để lại vết tích nào. Hay là tay nó bị liệt? Hay là anh chị vật lộn bằng mắt?”

Giọng nói như kim châm, gằn gừ theo ánh sáng chiếc đèn pin rà soát khắp hang cùng ngõ hẻm. Tôi hụt mình trong tê dại. Công biết tất cả, biết dáng hình thông thái của Trí, biết chỗ chúng tôi hò hẹn, biết vợ anh đã cày bừa trên cánh đồng luyến ái cùng một người đàn ông khác.

“Cô mất bao nhiêu phút đứng dưới vòi sen mà tịnh không còn dấu vết nào? Cả thảy cô chỉ ở trong căn nhà ấy một tiếng, vậy chẳng nhẽ thằng ấy nó chỉ làm được mười phút? Trong khi tôi mất cả tiếng thì cô van xin! Cô thật ngu ngốc, không biết hưởng.”

Tôi vùng mạnh hai chân. Tôi muốn đạp tan tành lời nói thô bạo mai mỉa của Công, tôi muốn đốt cháy chúng thành than. Tôi muốn cởi phăng áo, dướn ngực vào mặt Công. Tôi muốn tri hô: “Tinh trùng của anh loãng như nước máy! Linh hồn anh là linh hồn của một con hủi!”. Đôi bàn chân nhỏ tí buông bỏ tôi ngã vật ra như một xác chết. Công ngừng tay, ném toang chiếc đèn pin, lặng lẽ tắt hết các bóng đèn và lặng lẽ ra khỏi nhà. Đôi mắt tôi lại nhìn được qua tấm kính mặt nước hồ và những đợt gió ùa tràn ngọn sấu. Có lẽ gió thoát ra từ tấm thân tôi.

*

Vài ngày sau, khi tôi đang tắm, một viên đá không hiểu từ đâu xộc đến làm vỡ kính, gió và mưa thốc thẳng vào thân thể tôi bỏ ngỏ. Cơn mưa đá bất thường giữa mùa đông. Tôi không biết rằng cơn mưa lạ lùng, trái ngược ấy cũng kéo theo những điều trái ngược cho cuộc sống của mình thời gian sau. Mà không hẳn là trái ngược, có thể gọi một sự cứu rỗi, một luồng ánh sáng lạ soi thấu bản năng ban sơ của tôi. Nhưng đó là chuyện của những ngày sau. Còn sau khi run rẩy choàng mình trong áo len dày sụ, tôi đang lóng ngóng tìm cách che chắn chỗ kính bị vỡ, thì chuông điện thoại reo. Trí gọi. Đôi bàn chân tôi run mạnh, lạnh theo gió bấc thổi dần lên người.

“Sao em lại tránh gặp anh? Bất cứ chuyện gì xảy ra anh vẫn sẽ ở bên em, bảo vệ em. Anh chẳng đã nói đời này, kiếp này em phải ở bên anh suốt đời đó sao, nếu không anh sẽ thương nhớ những vết tay của em mà thành con hủi.”

Tự nhiên tôi phát lên cười vì lời nói bay bướm tựa đọc diễn văn của Trí. Chàng làm như tôi chưa là một người đàn bà ngoài ba mươi đã kết hôn ba năm. Trí xem tôi như một cô nữ sinh trung học hết sức ngây thơ. Nghe tôi cười, giọng Trí tự nhiên buồn bã.

“Hình như có chuyện xảy ra cho em, hay em không được khoẻ? Anh cảm thấy lo lắng, em đừng cười như thế nữa.”

Giọng Trí buồn thật, tôi cảm được người chàng đang chùng xuống và nhão ra. Lúc nãy tôi đã cười trên nỗi thương nhớ thực lòng của Trí, lẽ nào sống chồng vợ với Công, tôi đã nhiễm căn bệnh không cảm xúc nghiệt ngã? Tôi phải gặp Trí để chuộc lại lỗi lầm từ điệu cười độc ác mà tôi nỡ bật ra ban nãy. Mặc kệ Công đã biết tất cả, mặc kệ mối nguy hiểm có thể sẽ ập xuống đôi bàn chân mong manh của mình, giọng tôi lạc đi vì thở gấp.

“Em đến, em sẽ đến, chúng mình gặp nhau ngay bây giờ anh nhé.”

Rồi đúng như thường lệ khi tôi mặc lại từng mảnh áo quần cho Trí, khung cửa kính vỡ toang chát chúa. Tôi nhắm chặt hai mắt quờ quạng, miệng bật gọi mẹ thảng thốt. Tôi không giải thích được tại sao tự nhiên cửa kính phòng tắm nhà tôi và cửa kính phòng ngủ nhà Trí đều vô cớ bị hòn đá làm bể toác. Có điều gì đó không bình thường. Dù cơn mưa đá trái mùa ngạo ngược giữa đông đang trút hối hả, gió đập vào rào điên dại, nhưng hai ô cửa kính bị vỡ vẫn là điều hoài nghi. Tôi đưa tay ôm mặt, tựa như một niềm xấu hổ khi nghĩ đến việc mình bị lây căn bệnh nghi ngờ từ Công. Và cũng chính lúc ấy, tôi biết lòng bàn tay mình đang chảy máu vì đụng nhằm miểng kính vỡ. Trí đã tự mình mặc xong áo quần, cũng như tôi ban chiều, chàng tìm cách che lại ô cửa vỡ, ngăn gió mưa bên ngoài vẫn gầm rít từng cơn. Trong ánh đèn ngủ màu tím, thân thể tôi trắng tái. Trí không nhìn thấy máu trong lòng bàn tay tôi, vẫn không ngừng chảy. Tôi đành phả tay vào miệng, bước khỏi giường tìm áo quần mà trong cơn say, tôi vung vãi đâu đó trong căn phòng. Tôi cũng không biết mình dùng miệng mút máu ở bàn tay hay dùng tay bịt miệng khỏi phát ra tiếng nấc. Khi Trí loay hoay che đậy xong mảng kính bị vỡ toác, chàng quay mặt về phía tôi, máu đã tràn qua bàn tay rớt giọt xuống nền. Tôi thấy mình được bế lên, được cưng nựng, được băng bó. Trí vừa làm, vừa xuýt xoa.

Nhưng khi Trí mở cánh cổng để tôi cầm chiếc ô màu đỏ bước khỏi căn nhà, lòng tôi chùng xuống mãi mãi. Chùng đến nỗi, nó không bao giờ còn nấc lên nổi trong căn nhà ấy, với người đàn ông da dẻ mát rượi ấy, hay với người đàn ông choàng áo mưa màu xám đang đứng dưới gốc cây cổ thụ, trước cổng nhà Trí. Trước cổng ngôi nhà tôi vừa say đắm, vừa hoan lạc, vừa phạm tội, cơn gió độc đã thực sự thổi xuống đời tôi. Chính tôi đã tự mời nó đến, tôi không thể đổ tội cho bất cứ một thứ số phận nào. Người đàn ông choàng tấm áo mưa màu xám, dù đứng từ xa, dù gió mưa phả từng cơn quất ngang quất dọc mịt mùng, tôi vẫn nhận ra là Công. Bởi đôi mắt nhỏ him híp đang phát ra một vùng lửa rực hờn. Vũng lửa màu đen, tối, tàn khốc, man rợ. Vùng chạy khỏi cánh cổng, cả tôi lẫn chiếc ô đỏ tơi bời trong mưa gió. Tôi bỏ lại sau lưng hai người đàn ông. Cả hai đã biết rõ từng phân vuông, đường lõm, lông măng cơ thể tôi. Trong lúc này, bỗng dưng tôi kinh hãi cả hai. Công thì đã đành một nhẽ, tự dưng tôi kinh hãi luôn cả Trí, người đàn ông luôn chiều chuộng tôi với tình cảm sướt mướt. Tôi biết linh cảm của mình luôn luôn đúng. Bước chạy càng nhanh hơn. Đôi bàn chân của một đứa bé tôi mang dưới người toạc từng miếng đau đớn.

*

Con tàu đi về hướng Nam, mải miết. Tôi không rõ mình đã đi qua bao nhiêu ga lớn nhỏ, bao nhiêu người bán hàn rong đã mời mua bánh trái. Chỉ biết, giờ đây, khi tôi thức giấc với cặp mắt tươi sáng vốn có, tàu đang chuẩn bị xuyên qua hầm đèo Hải Vân. Tôi vừa trải qua giấc ngủ mề mệt trăm giờ. Ngay cả khi tôi xách va li lầm lũi bước ra ga, tôi cũng không còn thức. Chỉ biết tôi cần phải đi khỏi thành phố, xa mặt hồ nước đen, xa gốc cây sấu già nua lá cành tàn tạ, xa bản hoà âm tiếng hụ còi xe cấp cứu lẫn với âm thanh gió rít. Không ai đưa tiễn tôi. Khi tôi bước chân khỏi cánh cổng mầu nâu, gió ngừng bặt. Nước hồ lặng im, buồn rười rượi. Vắng lặng quá đỗi. Vắng lặng như tâm hồn tôi. Trái tim không còn chỗ để đau, trí não không còn chỗ để suy nghĩ. Tôi không biết tất cả thế giới này khi bước chân khỏi cánh cổng. Không biết vì đã biết quá rõ ràng. Sự thực mà tôi không thể tin, không thể đối diện. Khuôn mặt vốn sáng sủa, thông minh của Trí mới thảm hại làm sao. Đầu cúi thấp, Trí trông chẳng hơn gì một con chó mới bị đánh đòn.

“Em đừng đến gặp anh nữa. Anh sợ lắm, anh muốn yên lành.”

Giây phút ấy, tôi đã định gào lên. Sao mới hôm qua Trí còn nói dù có bất cứ chuyện gì chàng cũng sẽ ở bên tôi mãi mãi. Sao Trí không dám nhìn thẳng vào mắt tôi như khi ân ái, như khi nằm trên mình tôi xuýt xoa hư hử mỗi đường nét gợi tình? Nhưng rồi tôi vẫn còn một chút tỉnh táo. Lời nói, chỉ là lời nói mà thôi. Nếu trên đời, ai cũng giữ lời hứa, làm gì có nhiều bất hạnh đến thế, làm gì có nhiều người tự vẫn đến thế. Sự im lặng nặng nề bao trùm hai cốc nước, bao trùm cả quán nước. Trí không một lần ngẩng lên nhìn vào mắt tôi, cũng không giải thích một lời. Làn da Trí tím tái, đen đúa, thâm sì. Tôi thoáng rùng mình. Tôi nhìn xuyên qua làn da lục bục nổ của Trí, một đám vi trùng đang len lách, ngoi ngóp len vào trái tim chàng. Làn da đùi của tôi hình như cũng lụp bụp sùi lên từng hạt giống trời mưa bong bóng. Đôi bàn chân Trí co rúm, tôi gắng gượng đứng dậy đừng khuỵu ngã. Trí không nói ra song tôi mường tượng rõ ràng chuyện gì đã xảy ra. Thái độ hèn nhát, cùi gằm mặt của Trí lúc này không làm tôi ngạc nhiên đến phải kêu gào. Không còn nghi ngờ gì, chồng tôi, người chồng làm cái nghề kỳ cục đã gieo rắc vi trùng cho Trí. Tôi nhìn thấy chúng ngo ngoe trong cái đầu cúi gằm của Trí, trong ánh mắt len lét, trong làn da bỗng dưng nhăn nhúm. Đôi mắt to sáng của Trí giờ đây sùm sụp, hin hít, không khác mắt Công là mấy. Chẳng có gì ngạc nhiên, bởi Công đi đến đâu, sẽ làm người khác lây nhiễm tính cách kỳ cục đến đấy. Tôi còn nhớ hồi mới kết hôn, có một chuyện làm tôi thắc mắc mãi, cho đến sau này, hơn một năm chung sống với Công, tôi mới tìm được câu trả lời. Tôi thích ăn ngô luộc, những bắp ngô nếp non tươi mởn, cắn phập tứa nước. Người đàn ông nhà quê bán ngô luộc quen lệ cứ tối đến lại đứng rao trước cổng nhà. Bất thần buổi tối hôm ấy, Công đứng lại nói chuyện với ông ta rất lâu khi vừa về tới. Khi tôi nghe tiếng to tiếng nhỏ chạy ra, người đàn ông nhà quê đã đạp xe đi khuất. Chiếc thùng đựng ngô luộc của ông ta tự nhiên dị dạng kỳ lạ. Cả chiếc áo bộ đội sờn cũ ông ta mặc cũng biến ảo trước mắt tôi. Hai ngày sau, vô tình gặp ngoài cổng chợ, ông ta cười hềnh hệch. Khi đưa ngô, cố tình đụng tay vào sườn áo tôi và còn thách giá với cái giọng mưu mô đáng ghét, cái giọng không phải của người nhà quê. Sau này thì tôi hiểu được chuyện ấy, và lúc này, tôi lại càng hiểu rõ hơn. Trí từ từ đứng dậy, đôi mắt vẫn cúi cụp, cất tiếng như vịt đực:

“Thôi, anh về đây, em nhớ là từ nay chúng ta nếu có vô tình gặp nhau cũng xem như chưa bao giờ quen biết nhé.”

Dáng đi của Trí khom khom co rúm xa dần trước mắt, tôi thốt nhiên buông một tiếng thở dài bất tận. Nó như tiếng khóc tôi đã bật ra vào buổi sáng cùng ngày. Tiếng khóc không bật ra từ miệng mà thét lên từ tâm hồn thương tổn, từ nỗi hoảng loạn đã có sẵn rất lâu. “Từ hôm nay cô bắt đầu ở nhà. Để làm tự kiểm. Đến khi nào cô trở thành người đàn bà ngoan, cô mới được bước chân ra ngoài xã hội.” Tôi khóc, tôi khóc như điên dại, và tôi bước chân ra khỏi nhà. Tôi không thể ở nhà để trở thành cổ máy, vả lại Công không thể ra lệnh cho tôi theo kiểu như vậy. Cho dù tôi có lỗi đã không chung thủy với anh. Nhưng một ngời chồng như Công không đáng được hưởng sự chung thủy cao đẹp. Tôi không nghĩ mình là người đàn bà hư hỏng. Tôi cần tình yêu, tôi cần sống đời sống của con người. Tôi muốn bỏ tất cả, tôi sẽ sống với Trí. Nhưng rồi dáng đi khom né của Trí là cơn gió độc đưa tôi vào trạng thái mê man. Và bây giờ, tôi tỉnh giấc trên một khoang tàu đang xuôi Nam, cạnh chiếc va li im lặng.

Tàu xuyên hầm đèo Hải Vân, tôi lại mơ màng ngủ. Tôi có linh cảm, bên kia, ánh sáng đang chờ đợi tôi, chờ đợi để tưới thấm đẫm trái tim bị thương tổn nhưng vẫn thịch đập mê cuồng. Tôi hay có những linh cảm kỳ lạ. Đoàn tàu chuẩn bị thoát khỏi hang đen, vùng ánh sáng chói loà phía trước hắt tới tấp.

*

Sau này tôi vẫn không thể lý giải đợc tại sao mình xuống tàu ở ga Quy Nhơn rồi đáp xe lên vùng đất đỏ cao nguyên. Cũng vậy, tôi không thể lý giải vì sao mình bước chân lên thượng nguồn con sông Ba một đêm trăng sáng trắng núi rừng, tôi không hề có bất cứ toan tính nào. Làm sao tôi có thể ước đoán, có thể toan tính là tôi sẽ gặp người đàn ông ấy. Lại là một người đàn ông, cuộc đời tôi trợt dài theo những người đàn ông.

Người đàn ông hiện ra rõ ràng hình dáng. Hai cườm tay lui khui, ngúc ngoắc bấu xé, vằng đập thân thể cường tráng nhưng tan hoang nhiều chỗ lỡ nham nhở. Một cườm tay hơ hoác, một cườm tay chỉ còn hai ngón đeo lúc loác đang quờ quạng cấu xé man dại. Cường độ tiếng hét lên cao mãi, tôi có cảm giác nó xuyên qua, vọng thấu cánh rừng nguyên sơ, về nơi đâu đó xa lắm. Về nơi tạo hoá, thượng đế đã nặn ra con người và cũng nặn tặng cho con người nỗi khổ đau. Tiếng hét thấu đến tận cùng. Tôi bước đến thật gần, người Thợng vẫn không hay biết. Dường như sự đau đớn cùng cực là tất cả đối với ông ta lúc này. Tiếng thét câm bặt. Tôi bỗng hãi sợ vô cùng. Máu ngừng chảy, từng đường gân lòi ngược da thịt. Tiếng kêu bật khỏi miệng tôi run rẩy. Hai bàn chân tôi là cái đuôi con thạch sùng bị lìa đứt. Tôi bay trong bóng tối nhờ nhờ và dòng sông trở nên đen ngòm trồi trật cuộn xoáy bên mình. Thời gian đứng im. Tôi dỏng tai nghe ngóng. Tiếng động rất gần và tiếng nói mơ hồ, tựa lời cưng nựng, lại tựa giọng gầm gừ đe doạ. Rồi mây đen cũng trôi qua, vầng trăng lại rắc ánh sáng tràn trề. Hình ảnh đầu tiên là một đôi mắt. Hai tròng đen thăm thẳm u hoài toả ra thứ ánh sáng mà ở thành phố tôi chưa bao giờ trông thấy. Trìu mến. Và chân thật. Phút chốc, tất cả nỗi hãi sợ ban nãy bay biến, dòng sông bỗng trở nên khắn khít, hiền hoà, trong dìu dịu trăng vàng, lung lay vạt cỏ reo hát. Thiên nhiên thanh bình tuyệt đối, sự thanh bình mà chỉ tình người mới có thể mang đến. Bao nhiêu nỗi buồn, sự uẩn ức trong tôi dãn ra đột ngột. Lòng tôi như một nương ngô nẩy bắp tươi tốt sau cơn mưa rừng hối hả. Người đàn ông vẫn nhìn tôi trìu mến. Dưới ánh sáng của vầng trăng đêm, bây giờ tôi ngó kỹ, làn da nâu bóng và trên hết, đôi mắt to đen bất tận. Cái nhìn của một con người. Không phải đôi mắt sưng him híp nghi ngờ của Công, không phải đôi mắt ướt nhẹp ươn hèn của Trí. Lạ thay, tôi không còn sợ đôi cánh tay bị bào nhẵn của ông ta như ban nãy, hai cườm tay trống rỗng chỉ còn trơ lại vài ngón quơ quạng, tự cấu xé thân mình rách bươm toé máu.

“Chào chú. Tôi mới ở ngoài Bắc vào đây. Phong cảnh vùng này đẹp quá.”

Đuôi mắt người đàn ông khẽ rung lên vài nhịp, rung nhẹ như dây đàn vô hình.

“Chú tên gì, nhà chú có gần đây không? Sao khi nãy chú hét ghê thế? Có phải chú bệnh hủi không?”

Sau này trở lại, ông nói cho tôi biết về sự đau đớn cùng cực thể xác mỗi đêm trăng sáng của những người Thượng bị hủi, tôi mới biết tại sao ông lại múa máy dưới trăng và hét lên thảm khốc đến vậy. Mới hiểu tại sao khi tôi hỏi câu hỏi ngu ngốc ấy, ánh mắt ông đã bỏ chạy bằng bước chạy rối rít dây leo. Một ngày, tôi đem thắc mắc của mình trút vào đôi mắt người đàn ông:

“Trăng sáng chiếu vào vết thương sẽ bị đau đớn hơn, sao chú lại ra giữa rừng núi nơi ánh trăng soi rọi mà hứng chịu? Người như chú rất sợ nước, sao chú lại đến gần sông Ba đêm trăng sáng?”

Đuôi mắt ông hằn in nhiều rãnh nhăn. Miệng ông thoáng một nụ cười. Cũng có thể do tôi hoa mắt, chứ khuôn mặt ông vẫn buồn vàng như màu hoa quỳ trơ trơ nở trên đồi cao. Đôi cánh tay thương tích, lở loét được buộc chặt bởi miếng vải màu nâu đưa đi đưa lại mũi dao xỉn cũ. Tôi không thể hiểu làm sao chỉ với bàn tay còn hai ngón, ông lại có thể tỉ mẩn vót nan và đan được những chiếc gùi chắc chắn nhường vậy. Nhìn ông làm, tôi cứ nghĩ ông vót nan không phải bằng cách thông thường nhưng bằng trái tim, niềm tin của chính mình. Mỗi vệt dao đưa là một hơi thở hắt đi muộn phiền, đẩy dội ngược âm u của núi rừng. Tôi lấy một que nan cạo cạo lên cánh tay mình, ông giằng lấy thảng thốt:

“Đừng đụng vào. Không tốt đâu.”

Giọng nói nặng như hơi thuốc rê, nghe như tán cây rừng đang rì rào trên núi cao trước mặt, như hương hoa quỳ nồng đậm. Không chủ ngữ, nhưng tôi nghe thân thiết biết chừng nào. Tôi hiểu, ông không muốn tôi đụng vào những thứ ông đã cầm, ông lo lắng cho tôi. Cũng như ông đã ngăn không cho tôi bước lên nhà sàn, nhưng tôi đã nhìn ông bằng cặp mắt van lơn, khẩn khoản của loài nai rừng. Ông không thể chối từ, đành ý tứ ngồi xa.

“Chú chưa trả lời tôi sao chú lại tự đầy đoạ mình vào đêm trăng sáng.”

Ông vót nan tre mạnh hơn. Mắt ông nhìn vào cánh rừng trước mặt. Trong đôi mắt chứa đựng thống khổ tận cùng.

“Tắm trăng để cái đau nhiều hơn. Gần nước để cái ngứa tận tim.”

Người đàn ông nhìn tôi ân cần, ánh mắt như muốn nói ông chịu đựng nỗi đau cho con cái có cái ăn, cái mặc từ những gùi nan bán lấy tiền này. Tôi muốn hét lên: Người đáng phải chịu bất hạnh như vậy không phải là ông. Nếu trên đời có Chúa, có Phật, có Giàng, người tốt được gặp điều tốt thì kẻ phải chịu nỗi cào xé thân xác không phải là ông. Phải là những kẻ giả dối, lừa đảo, ma quái, mặt xanh nanh vàng dưới thành phố, phải là Công, phải là hàng triệu người đang dối trá dưới kia. Tự dưng nước mắt tôi chảy tràn gò má, tự dưng tôi mang mặc cảm xấu hổ. Xấu hổ vì là vợ Công, vợ một người đàn ông chuyên rình rập những tâm hồn. Tôi chạy xiêu vẹo xuống những bậc thang chông chênh của nhà sàn, nước mắt nhỏ ướt đầm các phiến gỗ. Được một quãng, tôi bắt gặp một toán người Kinh ăn mặc lịch sự chặn đường. Cô gái có mái tóc nhuộm vàng, nước hoa thơm lừng khiến tôi bỗng muốn nôn oẹ.

“Chị mới đến buôn người hủi phải không? Chắc là sợ quá nên mặt mũi tái xanh tái xám. Sao chị bạo gan thế, dám đi một mình, nhỡ bọn hủi nó lấy hết tiền, hãm hiếp thì sao?”

Hai mắt tôi đỏ như hai tròng lửa, tôi muốn bóp chết đứa con gái thị thành vừa ăn nói nhăng cuội. Cánh rừng trước mặt thấm đẫm màu mắt to buồn. Tôi vùng chạy nhanh hơn, bàn chân nhỏ bé tứa máu. Tôi cũng chỉ là một người Kinh như đứa con gái kia. Tất cả chúng tôi ở thị thành đều như thế. Tôi cũng ưa ăn ngon, mặc đẹp, cũng đã sợ hãi những người Thượng hiếp mình… Cứ thế, tôi chạy hối hả về thành phố, về căn nhà gạch Tây sát ven hồ.

*

“Cô nghĩ cuộc sống bên ngoài ngôi nhà này tự do lắm ư? Cô tưởng rời tôi ra là cô sẽ thành ngay một người tốt được ư? Cô sẽ phải ở bên cạnh tôi suốt cuộc đời, bởi vì cô đã làm vợ tôi, đã chia thân xác cô với tôi. Cơ thể của cô là cơ thể của tôi. Cô ghi nhớ kỹ điều đó để mà nghiền ngẫm.”

Tiếng vợ được đôi môi mỏng quẹt của Công kéo dài lỏng thỏng như một miếng bánh nếp. Khi tôi từ Tây Nguyên trở về, màu gạch Tây của căn nhà đã hoá đỏ sậm, màu cánh phù du. Chỉ có tôi mới hiểu màu phù du trông thế nào. Hồ Gươm câm lặng, gió bị suy hô hấp, không khí như một nồi cháo đặc. Mà tôi chẳng bao giờ thích cháo. Tôi cũng trở nên câm lặng như nước hồ. Câm lặng thản nhiên trước bóng gió mạt sát của chồng. Tôi cũng chẳng còn cảm giác gì khi Công lột quần lót kiểm tra mỗi tối. Cây sấu già nhìn tôi cong queo, khô héo. Tôi nhắm mắt chịu cho trí óc được thanh lý sạch sẽ. Thấy tôi câm nín, Công tỏ ra hài lòng, cho đấy là sự phục tùng khuôn phép. Tôi biết mình không phục tùng khuôn phép nào và cũng không nổi loạn đập phá. Tôi biết tôi cần tồn tại. Đêm đêm, khi Công vắng nhà, tôi ngồi bên cửa sổ ngắm mặt hồ đen tối rồi nhìn ngắm ngôi nhà trống hoác. Căn nhà có trí nhớ không? Hiện diện bao đời mà không hề có dấu vết người sống? Khi Công cho xây thêm lầu, chắc hẳn anh cũng đã điều tra tịch biên tất cả quá khứ của từng viên gạch. Tôi nằm ngửa giữa lòng giường không có kỷ niệm, giấc mơ dòng sông với khuôn trăng vàng không còn in trên trần. Dấu chân của đứa bé cũng không còn làm ướt mặt thảm mỗi đêm. Tôi đã không còn thức trong khi ngủ. Tôi đang biến thành vật vô tri như Công muốn.

Rồi lại đến ngày rằm, trăng dại vàng hồ nước. Tôi ngồi trong bóng tối nhìn ra mặt hồ nhớ quay quắt trăng rừng. Hình ảnh người đàn ông có làn da thương tích, tơi tả múa may dưới trăng và hét lên tiếng hét thống khổ hiện ra từ từ. Giống như Công không thể thanh lý những hình ảnh của buôn Thượng, từ những căn nhà sàn đến cả tấm biển cắm trước buôn hoen rỉ vì mưa cao nguyên cảnh báo người Kinh hãy tránh xa. Công không đủ sức xoá Làng Hủi trong trí nhớ của tôi còn sáng ánh trăng đại ngàn.

Công về nhà giữa lúc trí nhớ tôi đang phục hồi. Công nhận ra ngay tức khắc. Như một con thú, chồng tôi vật tôi như vật một con mồi. Đôi mắt chỉ còn là hai vệt đỏ lục lọi da thịt tôi tan nát. Không cởi tất, cứ thế Công chồng lên tôi, chọc sâu tàn nhẫn. Tôi càng đẩy Công ra, Công càng cứa như dao đâm. Không phải đâm mà anh đang chích vào người tôi những con trùng làm công tác hủy hoại bộ nhớ. Tôi nín lặng, mặc cho Công quay lộn, mài dũa. Tôi kháng cự bằng cách nghĩ đến gương mặt khổ đau của người đàn ông Thượng. Tôi thấy rõ trí nhớ tôi tan vữa dần dần sau mỗi cú thọc sâu của Công, chỉ có buôn Hủi, làng Hủi, và người đàn ông Thượng tồn tại. Khi Công chấm dứt, tôi không còn nhớ gì hết, kể cả mười móng tay vừa cấu nát lưng Công. Tôi nhìn chúng xa lạ không hiểu đã xảy ra chuyện gì ban nãy. Ngoài kia, ánh trăng đại ngàn vẫn ngời ngợi lung linh bên trên những con người thành phố thơm nức, sạch sẽ nhưng không trí nhớ. Tôi quyết định ra đi.

*

Ngày tôi quay lại căn nhà sàn heo hút nằm giữa đại ngàn, nơi dòng sông Ba hung dữ nhưng nồng nàn đi qua, người đàn ông Thượng lộ rõ vẻ ngạc nhiên. Trong đôi mắt to u mặc như mênh mông Biển Hồ, có một chút vui mừng thầm lặng. Ông ngừng tay đan lát, nhìn tôi trầm ngâm:

“Sớm mai mà trời chưa nắng. Đường sá hơi bẩn, mùa khô mà đường lại bẩn… Cây rừng bị kẻ xấu đốn nhiều quá. Cánh rừng bên kia sông Ba, cánh rừng ngày xưa săn được con mang to nhất bây giờ trọc trụi. Người giày đen không biết giữ rừng…”

Những lời ngúc ngoắc không ra đầu ra đũa của ông làm tôi nhớ chuyện trên đường vào đây đã gặp mấy xe chở gỗ ngang nhiên chạy tung đất đỏ về xuôi. Tay tài xế thò bộ mặt đỏ gắt ỡm ờ trêu chọc tôi mấy câu tục tĩu. Nhưng đấy là chuyện của người Kinh, bây giờ tôi chỉ muốn được ngồi cạnh ông, được nhìn ông dùng hai cùi tay sứt sẹo đan những chiếc gùi, được nhìn vào đôi mắt to đen của ông, được hưởng cảm giác thanh bình của thiên nhiên, không còn lo sợ đôi mắt hìm hịp soi xét của Công. Bắt gặp ánh mắt đầy khắc khoải của tôi, ông thôi đi lại lăng xăng bằng đôi chân khập khiễng bị rụng hết ngón. Ông ngồi xuống bậu cửa, lại húi húi với bó nan tre, chừa ra một khoảng cách nhất định giữa tôi và ông. Lòng tôi tràn lên cảm xúc gần gụi không ngờ, một cảm giác ấm áp, an lành. Tôi ước có thể chia cho ông những ngón tay của mình, chia chung với ông những ngón chân của tôi, giúp ông làm người lành lặn, để ông lại vào rừng săn con mang con hoẵng, để ông trông coi những cánh rừng hùng vỹ khỏi bao kẻ giày đen đốn ngã. Ngồi trên bậc nhà sàn giữa núi rừng trong lành, tôi thấy mình trở lại nguyên hình một đứa trẻ. Rõ ràng đôi chân tôi không còn quá nhỏ nữa mà đã cân đối với hình hài. Tôi đang thun lại thành một đứa bé trong sáng, đang được một con người yêu thương. Tôi ngồi bên ông dưới nền trời nhiều mây, gió lạnh làm tôi khẽ rùng mình. Nghe tiếng ho của tôi, ông dừng tay, quay lại. Chao ôi, cái nhìn của ông, chỉ có thể là cái nhìn của con người mang tâm hồn rộng mở nhất. Trong đôi mắt ông, tôi thấy sự lo lắng của mẹ khi tôi ốm, nỗi buồn của cha khi tôi bị gãy chân vì tai nạn xe máy, cùng tất cả những tình thương tôi từng được hưởng. Ông nhìn quanh gian nhà sàn tìm chiếc chăn len. Nhưng rồi ông quay mặt đi ngay tức khắc, gương mặt ông buồn đến chao lòng. Ông không dám đưa cho tôi chiếc chăn len ông đã đắp. Ông không muốn lây bệnh cho tôi. Tấm lưng của ông rung lên, và chính ông bật ra những tiếng ho đau đớn, bất lực, tưởng như bật máu tươi rách nát vòm họng. Chúng tôi cứ thế yên lặng xao xuyến suốt buổi sáng. Ông không hỏi, không nghi ngờ, không dò xét điều gì. Lâu lâu, ông liếc nhìn tôi. Trong đuôi mắt ông, tôi thấy có nụ cười, thật hiền. Dường như ông hiểu được mọi điều trong lòng tôi. Đến trưa, nắng lên muộn màng, ông cất tiếng phá tan yên lặng:

“Chắc là đói bụng. Để tôi luộc bắp.”

Tôi chợt ngã người nắm lấy cánh tay ông. Tôi không muốn mất giây phút này. Cánh tay ông hốt hoảng rụt vội, đôi mắt ông thảng thốt nỗi lo sợ. Tôi giữ chặt không cho ông chạy, hơi ấm từ cánh tay ông lan toả cơ thể tôi. Không phải làn da trơn trợt mát rượi của Trí, hay thô nhám của Công, nhưng là làn da dịu ngọt. Tôi đưa hai bàn tay mười ngón lành lặn của mình vuốt ve bàn tay ông. Ông không vùng ra nữa, mà nhìn tôi nửa van xin buông tha, nửa xúc động. Cứ thế, tôi nắm tay ông, quên mất ông đang mang căn bệnh trầm kha, bị cả xã hội này xa lánh, tôi không còn nhớ cây sấu già bên ngôi nhà gạch Tây. Tôi chỉ còn biết có yêu thương, chỉ còn biết bên ngoài, nơi cánh rừng nguyên sơ, bầy chim đang hoan ca vang trời. Sau buổi sáng ấy, ông tặng tôi một bó hoa quỳ vàng ươm.

Trí óc non nớt của một ngời đàn bà sống bằng tình cảm như tôi không lường được việc Công đang có mặt trên cao nguyên. Người chồng làm cái nghề kỳ cục của tôi đâu phải kẻ ngu đần. Tôi đồ rằng những con trùng ăn sâu, chui nhủi trong trí não, nhằn nhai trái tim Công cũng mang đôi mắt him híp, sùm sụp như chủ nhân của chúng. Không thể phủ nhận chồng tôi là một người đàn ông thông minh và tinh nhạy. Tinh nhạy để biết được vì sao tôi đang ở cao nguyên, thông minh để chỉ cần một vài chi tiết, Công ngọn ngành hết đường đi nước bước của tôi. Chẳng khó khăn chút nào với một người chuyên theo dõi trí não kẻ khác. Cảm xúc cuộn phăng đi, tôi không lường trước những việc có thể xảy ra, cho đến khi chồng tôi xuất hiện ngay tại căn nhà sàn vào buổi sáng hoa quỳ đang óng ánh. Sơ mi là trắng kệch cỡm tương phản với màu đất, Công bất thần hiện ra trên bậc thang gỗ với ánh mắt nghiệp vụ.

“Cô vui thú quá phải không nào?”

Bất động bên ôm hoa quỳ vàng rực rỡ, thân mình tôi hoá đá. Lạ quá, vui quá, đối với Công là một trò chơi, còn với tôi, là tất cả. Ôm hoa quỳ hái trong sương sớm tôi mang đến ngôi nhà sàn nhỏ bé này cùng chắp với hoa qùy của người đàn ông. Tôi muốn gầy một mùa xuân chưa hề có dưới phố.

“Cô khai báo cho tôi biết cô làm cái gì ở đây?”

Không còn là tiếng nói của chồng tôi nữa mà là giọng hỏi của một điều tra viên. Chân tay tôi bỗng líu ríu. Gió sắp rít gào, mưa giông sắp đổ. Trước mắt tôi hiện ra những giọt mưa đá lạ lùng hôm nào giữa lòng thành phố trong ngày mùa đông. Tôi ớn lạnh, tôi cần phải đi, cần phải tìm chỗ ẩn náu. Tôi chạy xuống những bậc thang căn nhà sàn không nghe tiếng gọi của người đàn ông Thượng. Tiếng thét đớn đau bên bờ sông Ba đêm trăng sáng sắp được lưu trữ trong hồ sơ các bộ nhớ cần thanh lý của chồng tôi. Rồi ông sẽ thành như Trí, như gã bán ngô luộc.

Tôi chạy vào đất đỏ, tôi chạy vào cây lá, tôi chạy dẫm lên cõi u mê mênh mang hoảng sợ cho đến khi một rừng hoa quỳ vàng ươm phủ kín.

“Giết mày, đâm chết mày như đâm con mang. Lột da đầu mày làm mũ đội. Róc xương mày nấu cao uống. Mày là đồ khốn nạn, mày là bọn giày đen bẩn thỉu!” Rừng vang lên những lời tục tằn, lá phát những lời thô lỗ của ông xua đuổi. “Mày, chính mày đã mang thằng giày đen bẩn thỉu đến đây làm bẩn thỉu mảnh đất của tao, bẩn thỉu cánh rừng của tao, bẩn thỉu dòng sông của tao.” Tôi ngã xấp trong tiếng kêu hoảng hốt của hoa qùy. Tai tôi u u. Tai tôi mang bệnh. Mắt tôi mang bệnh. Căn nhà sàn mang bệnh. Có đúng là ông không, người đàn ông tôi đã gặp hôm nào bên dòng sông Ba, người đàn ông đã nhìn tôi bằng cặp mắt xót xa âu lo, đã rơi nước mắt khi tôi cầm tay? Chồng tôi đã biến ông thành một người thành thị. Không, không thể như vậy được. Từng bông quỳ vẫn hắt ra thứ ánh sáng lóng lánh. Gió lao xao, chúng như xâu xé mình tôi. Tự nhiên các đốt ngón chân tôi râm ran ngứa. Đưa tay gãi đến đâu, cái ngứa càng lặn sâu vào da, tôi càng rồ người lên đến đấy. Thân thể tôi phong hủi rồ dại và hoa quỳ thôi vàng trong mắt.

“Nhai lá đắp cho anh ta bớt đau.”

Ông vẫn ngồi đó đan lát. Bàn tay cụt đốt quặp vốc lá rừng chìa tới trước. Công đang lăn lộn trên đất. Tôi nhìn kỹ Công không hề có vết tích của hành hung nhưng anh oằn oại mắt trợn ngược. Khắp mình Công không nổi sẩy, không lên ban nhưng anh cũng rồ dại y như tôi ban nãy. Tôi vụt hiểu, Công đang phát chứng hủi vô hình của người Kinh.

Tôi không sợ nữa. Tôi trở lại vì tin vào tâm hồn trong sáng của người Thượng. Tôi muốn nói Công không có khả năng tẩy xoá ánh trăng đại ngàn, ánh trăng được toàn nhân loại trông thấy. Nhưng ông đã đưa tôi nắm lá.

“Nhai đắp cho anh ta bớt đau.”

Mùi hoa qùy bỗng dậy trong miệng tôi. Chất diệp lục tố của từng chiếc lá đắng mà ngọt ngào. Những chiếc lá tan trong máu huyết tôi vừa thanh sạch với mùi thơm tho như khắp châu thân tôi đang đơm nhụy, vừa kết những bông hoa vàng. Tôi cúi xuống bên Công. Tôi ngồi xuống cạnh chồng giữa một nền trời thinh không bát ngát hương quỳ.