Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net

Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 2 Nov 2024

12. Phần 12

Bến Thế – Bình Dương

Diệt xong giặc thù

“Ngưng bắn da beo”

Hiệp định Paris có hiệu lực lúc 8 giờ sáng ngày 28 tháng 1 năm 1973, chưa đầy nửa năm Việt cộng vi phạm rất nhiều nơi, ở tất cả 4 Vùng Chiến Thuật.

Đây là cuộc ngưng bắn lạ kỳ. Ai ở đâu ở đó, không có ranh giới vạch ra bên nầy bên kia để rút quân lui, thành ra khu vực chiếm lĩnh mỗi bên loang lổ như hình da beo. Người ta gọi “ngưng bắn da beo” là vậy.

Kiểu ngưng bắn như thế nầy chỉ làm lợi cho phe nào muốn vi phạm. Phía ta, thì tôn trọng Hiệp Định đình chiến tuyệt đối, chỉ muốn ở yên cho xong. Đem quân đánh lấn vùng địch đang tạm chiếm, rất nhiều khi không được khen mà lại còn bị “lãnh củ”, bị phạt oan uổng, bị phê phán là lòng nhiệt tình đối với Đất Nước, thể hiện không đúng lúc, không đúng chỗ.

Việt cộng thì khác. Ngay từ đầu, chúng đã có chủ trương vi phạm hiệp định, mục đích là giành dân lấn đất, gây khó khăn cho Chính Phủ và Quân Đội VNCH. Trong cái khó khăn đó, có đơn vị tôi gánh chịu.

Vào ngày 01 tháng 8 năm 1970. Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt giải tán. Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta và Tiểu Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù sát nhập lại trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, Chỉ Huy Trưởng là Trung Tá Phan Văn Huấn.

Trải qua nhiều đại đội, tham dự nhiều mặt trận như: Khe Sanh, Ashau, An Lão, Dakto, Bình Long, trong chức vụ Đại Đội Phó. Cho mãi đến tháng 6 năm 1972, tôi mới được bổ nhiệm là Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 Biệt Cách Nhảy Dù thay thế Đại Úy Đào Minh Hùng.

Kể từ đó, Đại Đội quân hành trên vạn nẽo đường Đất Nước, trước hiểm họa khủng bố, lấn chiếm, xâm lăng của bọn giặc cộng và Mặt trận Giải phóng Miền Nam, một công cụ của bọn chúng.

Mùa Xuân năm 1973, khoảng tháng hai, Đại Đội vừa hành quân truy lùng địch, trong vùng phía Bắc quận Tân Uyên, thuộc Chiến khu D trở về, đang trong thời gian nghỉ dưỡng quân, huấn luyện, đồng thời ứng chiến ở Căn Cứ Hành Quân, đóng tại Trung Tâm Huấn Luyện Quân Khuyển của Quân Đội Hoa Kỳ bỏ lại ở Suối Máu, sát cạnh Phi Trường Biên Hòa về hướng Tây Bắc, thì được lệnh của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn chỉ thị hai Đại Đội 4 và Đại Đội 1 sẵn sàng tham chiến.

Ở Xã Bến Thế, thuộc quận Tân An, tỉnh Bình Dương, Việt cộng đưa quân chiếm cứ và đóng chốt tại các vùng ngoại vi của xã đã một tháng nay.

Bình Dương nằm sát nách Saigon, khoảng 32 cây số, là nơi từ trước đến giờ địch thường tập trung quân ở các vùng Bến Cát, Rạch Bắp, hay trong rừng Cù Mi, để pháo kích, tấn công, uy hiếp Tỉnh nầy và các Quận, Xã ngoại ô Tây Bắc Saigon.

Cùng với ý đồ giành dân lấn đất theo đúng chủ trương của chúng, chúng ngoan cố tấn công, bám trụ xã Bến Thế nầy. Một Tiểu Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 5, cố đánh bật chúng ra mà không được. Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III phải điều động Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân thay thế, cũng không cải thiện được tình hình. Bây giờ tới phiên hai Đại Đội Biệt Cách Nhảy Dù chúng tôi. Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III trình với Bộ Tổng Tham Mưu, yêu cầu đích danh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù hành quân giải tỏa vùng nầy. Vậy là hai Đại Đội 1 của Đại Úy Nguyễn Ích Đoan và 4 của tôi nhận lệnh lên đường.

Đoàn xe GMC chở hai Đại Đội rời Căn cứ Hành Quân ở Suối Máu, hướng về thị xã Bình Dương, xe chạy vượt quá thị xã trên Quốc Lộ 13 chừng 2 cây số, rẽ vào trái, đi ngang qua xã Tương Bình Hiệp, tiếp tục khoảng 2 cây số nữa là cuối đường lộ đất thì đến Chợ Nhỏ, xã Bến Thế.

Đại Đội 4 Biệt Cách Dù tiến quân vào xã Bến Thế Bình Dương

Chợ Nhỏ nằm chắn ngang ngay ngã ba đường. Giữa ngã ba đường có một quán bán hủ tiếu bình dân của Ông Chín Hương, đâu sau lưng quán hủ tiếu là “quán cà-phê vợt” của Chị Ba.

Chợ Nhỏ nằm dưới cái lõm đáy của ngã ba con lộ. Đã gọi là Chợ Nhỏ thì không lớn bao giờ, chợ của Xã. Chợ chỉ nhóm họp từ sáng sớm tới 10 giờ trưa. Tại xã Bến Thế có vào khoảng 9, 10 lò đường thủ công, nên mặt hàng buôn bán, trao đổi chính là đường thẻ, đường cát vàng, ngoài ra là những nhu yếu phẩm và đồ gia dụng.

Từ Chợ Nhỏ, Bến Thế về hướng Tây-Bắc trên 10 cây số là Rạch Bắp, Bến Cát. Đi tuốt lên nữa là Dầu Tiếng, những địa danh, nơi chốn mà Việt cộng thường hoạt động và giao tranh dữ dội với Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa.

Bàn giao tuyến phòng thủ từ một Tiểu Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 5, đang trấn giữ mặt Bắc Chợ Nhỏ. Một sĩ quan nói với tôi: “Mục tiêu này khó nuốt lắm đa, Đại Úy! Bọn chúng cứ ẩn núp trong vườn, ngoài ngõ, chả biết nhiều hay ít, mà hễ tụi này tiến lên là nó bắn rát quá, nên cứ án binh tại chỗ.”

Tôi không có ý kiến vì chưa nắm vững tình hình, không nói hay được.

Dàn trải đại đội thành hàng ngang, kéo dài trên con đường đất nhỏ từ Chợ vào sâu bên trong các lò đường gần giáp mé con rạch về hướng Tây. Vừa đồng loạt vượt tuyến phòng thủ, băng qua các thửa ruộng khô, tiến lên hướng Bắc chừng 100 mét, thì bị bọn chúng quấy rối liền, chúng bắn chóc chóc bằng AK.47, CKC từ khắp các phía.  Hạ Sĩ Chánh khinh binh, bị trúng đạn ở bả vai, không nặng lắm, nhưng phải tải thương. Tôi ra lệnh án binh, đào hầm, phòng thủ tại chỗ.

Để nắm rõ địa thế trong hai khu vực trách nhiệm, sáng hôm sau tôi và Đại Úy Đoan xin trực thăng, bay một vòng quan sát.

Trở về, Đại Úy Đoan và tôi cùng có chung nhận xét: Địa thế trống trải, cây cối vườn tược lưa thưa, nhà dân cách nhau khá xa. Tấn công trực diện vào ban ngày hành dễ lộ, địch có thể phục kích, bắn sẻ. Cách tốt nhứt là áp dụng sở trường đánh đêm. Nói xong hai tiếng đánh đêm, tôi và Đại Úy Đoan nhìn nhau cùng cười, đắc ý.

Trình kế hoạch và xin chỉ thị, được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn chấp thuận. Vậy là, ngay trong đêm nay, không chần chờ, hai Đại Đội hai cánh quân, phía bên Tây, phía bên Đông sẽ xuất phát.

Chờ đêm xuống, tôi đưa bốn Toán Khinh Binh Tiền Sát đi trước, lần từng bước, từng gốc cây, khu vườn, từng nhà, tiến dần lên hướng Bắc, hướng đi lên Bến Cát, Rạch Bắp.

Các Trung Đội tiếp bước đằng sau, khoảng cách luôn luôn là 100 mét, không gần quá, dễ bị động, không xa quá, không phản ứng kịp.

Cứ thế, hai Đại Đội hai mặt, tiến gần suốt đêm, trên cả cây số mà không thấy động tĩnh gì, không thấy địch đâu cả. Tôi suy đoán, có thể ban đêm chúng nó tập trung lại, ban ngày mới bung ra lập chốt.

Gần sáng, Đại Đội đi qua một bờ đất, sát một thửa ruộng khô, rộng chừng một mẫu, có hai dãy tre cao bao kín hai bên. Tre trồng theo từng hàng dài, loại tre thân nhỏ, không phải để làm nhà mà làm cán cuốc, xẻng, cán dao hay gậy gộc, gần giống như tre tầm vông. Tôi cho lệnh các Trung Đội, tản vào hai bên các dãy tre, bố trí nghỉ ngơi, sau một đêm thức ròng từ khi trời mới tối đến giờ.

Nhưng, thật bất ngờ, Trung Sĩ Kờ Phong, Tiểu Đội Trưởng của Trung Đội 2, trong lúc đào hố phòng thủ phía bên trong hai dãy tre, thì bỗng bị tuột chân vào một cái miệng hố, trên mặt phủ đầy rơm rạ. Kinh nghiệm của một người sắc tộc miền thượng du, và là một Chiến Sĩ Biệt Cách Dù lão luyện, Trung sĩ Kờ Phong biết ngay đó là một cái cửa hầm. Kờ Phong la lớn: “Hầm Việt cộng, hầm Việt cộng”. Cùng lúc Kờ Phong trườn ra khỏi hố, chạy tháo lui về phía đồng đội.

Các Trung Đội vẫn giữ nguyên vị trí, khu vực đã phòng thủ, riêng Trung Đội 2 được tôi điều động tiến gần tới mục tiêu. Thiếu Úy Lại Đình Hợi, Trung Đội Trưởng quạt một tràng đạn XM.16 vào miệng hầm rồi quát to: “Có đứa nào bên dưới, lên ngay không thì chết!” Xong, anh ném một quả lựu đạn M.26, tiếp theo là mấy trái lựu đạn khói xuống hầm.

Khoảng chừng năm mười phút sau, từ dưới hầm có tiếng dội lên:

“Tôi hàng! Tôi xin hàng” Vậy là có 6 tên Việt cộng lần lượt trèo lên, trong đám khói màu trắng, đỏ đan quyện vào nhau và lan tỏa dần vào ánh sương mai. Cả 6 tên bị trói lại và hỏi cung ngay tại chỗ.

Căn hầm nằm gọn trong hai hàng tre, dài 20 mét, rộng 4 mét. Lục soát, phát hiện 4 xác chết vì lựu đạn, cạnh đó có kê bốn dãy giường tre, và hai dãy kệ lót bằng phên nứa, chứa đựng một số ít thuốc men và các y cụ. Đây là một Trạm Xá của bọn chúng.

Bằng với sự từng trải chiến trường. Tôi ra lệnh cho Trung Úy Mã Thế Kiệt, Đại Đội Phó cho các Trung Đội bung ra, lục soát dọc theo bên trong hai dãy bụi tre.

Quả nhiên, chúng tôi phát hiện thêm hai hầm khác kế cận, tiêu diệt thêm 4 tên và bắt sống 5 tên, tịch thu một số vũ khí, đạn dược bao gồm: AK.47, CKC, Trung Liên nồi, và vài ba bao gạo, thực phẩm.

     Riêng về Biệt Đội 1 do Đại Úy Nguyễn Ích Đoan chỉ huy, trong phạm vi trách nhiệm, tổ chức phục kích, hạ sát 5 tên giặc cộng giao liên, có lẽ đang trên đường trở lại căn cứ của chúng về hướng Bắc.

Cuộc hành quân nầy không chỉ có hai Đại Đội 4 và 1 đảm nhận, mà còn được thêm một lực lượng nhỏ hợp tác. Đó là Trung Đội Nghĩa Quân do Xã Mộc chỉ huy. Xã Mộc là Xã Trưởng xã Bến Thế, một chiến sĩ sát cộng dữ dội, rất can đảm và hết lòng với Xã Ấp và Đồng Bào.

Phối hợp với Trung Đội Nghĩa Quân gồm hầu hết là dân địa phương, chúng tôi có nhiều điều lợi: Họ rành rẽ địa thế, đường đi nước bước, nắm vững rành rọt nhà nào theo Việt cộng, nhà nào không. Trong số họ, cũng có một vài “Hồi chánh viên”. Họ rất thông thuộc lối đánh và thói quen của địch, nên đã góp nhiều ý kiến hữu dụng đưa đến thành công này.

Sau khi chiến lợi phẩm tịch thu, được chuyển lên mặt đất, trong đó có hai ba thùng thuốc men đủ loại, tôi không khỏi suy nghĩ. Số thuốc nầy phần lớn sản xuất tại Saigon, một vài thứ là thuốc nhập cảng, không thể giao liên mua mà có nhiều được. Giao liên chỉ mua được số lượng lẻ tẻ, ít ỏi, mua nhiều sẽ bị lộ.

Vậy thì thuốc ở đâu mà địch dự trữ ở đây. Ai bán cho địch. Ai đâm sau lưng chúng tôi? Tôi không tàn nhẫn đến mức độ muốn cho bọn địch bị bệnh hay bị thương mà không có thuốc, tôi chỉ nghĩ đến những ai đang sống yên ổn ở Saigon, ở các Thành Phố lớn, vì ham lợi mà bỏ quên những người lính đang xông pha trận chiến hằng ngày hằng đêm như chúng tôi mà thôi.

Coi như chỉ trong vòng hai ngày, hai đêm, hai Đại Đội 814 và 811 diệt sạch gọn đám giặc cộng thổ phỉ đã gây bất an cho xã Bến Thế từ bấy lâu nay. Trên đường rút về Chợ Nhỏ, đồng bào đổ ra đứng hai bên đường hoan hô và tặng nhiều thứ quà bánh, trái cây. Ở đây, không có “cô Học Sinh” thướt tha áo dài trắng, choàng vòng hoa lên cổ, mà chỉ có những “cô Thôn Nữ” áo bà ba vui mừng, vừa đưa tay vẫy chào chúng tôi, vừa cúi đầu mắc cỡ. Tình Quân Dân như người ta thường nói, thể hiện trong dân chúng và chúng tôi một cách rõ ràng. Hòa bình rồi, đồng bào muốn yên ổn làm ăn, không còn muốn súng đạn. Sau những ngày cộng quân lấn đất giành dân, chúng tôi đã đem lại sự an bình cho mọi người.

Sáng hôm sau, trong khuôn viên của Trụ Sở xã Bến Thế, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III, Quân Khu III, với sự tháp tùng của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, đáp Trực Thăng xuống để ban thưởng Huy Chương cho các chiến sĩ Biệt Cách Dù cùng Xã Trưởng Mộc và Trung Đội Nghĩa Quân. Tôi đứng thế nghiêm, chào tay, Trung Tướng Tư Lệnh bước tới gần, gắn lên ngực áo tôi tấm huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nôi Sao Vàng, Trung Tá Vũ Xuân Thông đứng phía sau bên trái nói: – “Thưa Trung Tướng, Đại Úy Lê Đắc Lực mới trình diện Trung Tướng tuần rồi”.

&

“Quậy cũng dữ”

Nguyên nhân và lý do gì mà tôi phải trình diện Trung Tướng Tư Lệnh trong tuần rồi.

Đây là một câu chuyện vui, khó quên trong đời binh nghiệp của tôi. Đó không phải là sự bốc đồng hay là nạn kiêu binh, mà chỉ là một hành động phản kháng trực diện chính đáng trước sự hống hách, lạm quyền quá đáng của các lực lượng thi hành kỷ luật Quân Đội.

Sau khi hành quân từ Chiến Khu D trở về, trong thời gian nghỉ dưỡng quân tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu. Trong một buổi chiều tối, tôi lái xe Jeep chở Biệt Đội Phó Mã Thế Kiệt, vài Sĩ Quan Trung Đội Trưởng và một số Binh Sĩ thuộc hạ, ra Quán Hương Giang ở thành phố Biên Hòa kiếm cái gì nhậu chơi.

Trước Rạp Ciné Biên Hùng, có một con đường dẫn ra ngã ba đường Dốc Sỏi, bên kia đường, ở góc trái là “quán nhậu Hương Giang”.

Chúng tôi vào khoảng 10 người, đang quây quần chung quanh một chiếc bàn tròn lớn, nằm bên ngoài hàng hiên của quán. Rượu ngâm bao tử nhím, đổ vào một chiếc nón sắt, thế rồi cứ thay phiên nhau bưng lên mà uống, mồi thì đã có thịt heo rừng xào lăn, vừa ăn vừa nhậu, vừa trò chuyện, cười đùa râm ran, vui vẻ.

Về khuya, quán vắng, chỉ còn lại bàn nhậu chúng tôi vẫn tiếp tục “chiến đấu”, trên bàn, rượu thì còn mà mồi đã hết. Có ai đó đó tự dưng đề nghị tôi: “Đại Úy, trổ tài thiện xạ cao bồi Tếc xác đi, Đại Úy”.

Hồi ấy, tôi thường mang ở hông phải một khẩu P. 38 ngắn nòng, bên trái một cây dao găm Thái Lan, lưỡi dài gần ba tấc, cán ngà, chạm trổ đầu con báo khá đẹp. Với súng P.38, tôi bắn trúng mục tiêu, không thua tài tử “John Way”, như anh em trong Biệt Đội thường nói đùa.

Hứng chí, tôi gọi chị Hằng, chủ nhân Quán Hương Giang người Xứ Huế cùng quê với tôi, đề nghị:

– “Chị ngó lên Thực Đơn treo trên đó, tôi sẽ bắn, trúng vào món nào, chị cho bưng ra món đó nghe hỉ.”

Chị chủ Quán cười khẽ, gật gật đầu nói: “Đại Úy cứ trổ tài đi, hễ trúng món nào là sẽ dọn ra ngay cho Đại Úy mà”.

Vậy là tôi rút súng ra, đưa lên cao, hướng về “Bảng Thực Đơn” treo trên tường cuối góc phòng, nổ một phát, đạn ghim trúng vào ở dưới hàng chữ: “Gỏi tôm ngó sen chua ngọt”.

Mấy Sĩ Quan và Binh sĩ người vỗ tay, người vỗ bàn hoan hô ầm ĩ, rồi tất cả cùng nâng nón sắt rượu đứng lên hô to:

“Dô, Dô, Dô, Dô …”

Không ngờ, lúc ấy một xe Jeep Quân Cảnh tuần tra đi ngang, nghe súng nổ, họ dừng xe lại, đi vào quán, đến gần bàn nhậu chúng tôi, hỏi giọng có vẻ trịch thượng:

– “Ai vừa mới nổ súng ở đây? Người nào bắn đứng lên!”

Tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, trả lời:

– “Tôi”.

Một Quân Cảnh khác quay nhìn tôi, nói:

– “Cho tôi xem giấy tờ”.

Tôi không trả lời. Anh ta yêu cầu lần thứ hai. Tôi vẫn im lặng. Mấy Binh Sĩ có vẻ hơi khó chịu nên xẵng giọng:

            – “Chúng tôi đang nhậu với mấy Ông Thầy. Các ông đi chỗ khác chơi”.

Thay vì thông cảm, Toán Quân Cảnh ra xe, báo cáo về Quân Trấn. Và chỉ khoảng 15 phút sau một xe Dogde chở một Toán phối hợp tuần tra Biệt Động Quân tới. Họ đứng án ngữ trước đường.

Thấy mất vui, cụt hứng, chúng tôi cầm súng đứng dậy, đi thẳng ra xe, cùng leo hết lên, nổ máy chạy thẳng xuống bờ sông, vòng ngược lên Khu Phố Chợ, đến một quán Cà Phê thì dừng lại, vào quán, kêu cà phê uống. Hai xe Quân Cảnh và Toán Biệt Động Quân tuần tra phối hợp vẫn bám riết sau lưng. Họ cũng dừng lại, vây hai đầu ngõ đường. Trung Sĩ Khưu Công Qúi tức mình nói:

– “Đám này bố láo, đã bỏ đi rồi mà vẫn còn đuổi theo. Để em lo tụi nó cho.”

Nói xong, Trung Sĩ Qúi ra xe, lấy quả mìn Claymore gắn vào ngực, tay cầm con cóc mìn, bước từng bước đi tới trước, xe Jeep chất đầy chúng tôi theo sau. Toán Quân Cảnh đang bao vây trước mặt, thấy thế vội dãn ra hai bên lề đường, Trung sĩ Qúi nhảy vội lên xe, tôi nhấn ga chạy thẳng một lèo để về lại Căn Cứ Suối Máu.

Xe đang chạy ngon trớn, vừa qua khỏi Bệnh Viện Tâm Thần, xã Tân Tiến, bỗng dưng vỏ xe đằng sau bên phải bị bể. Tôi tấp xe ngừng lại trên một vạt cỏ, ở bên trái con đường, mấy đồng đội của tôi, tất cả “xỉn” ngay tại chỗ, không còn biết trời trăng gì nữa.

Xe Tuần tra chở toàn bộ chúng tôi về Đồn Quân Cảnh. Họ mang nhốt các anh em Binh Sĩ, còn các Sĩ Quan được đưa vào nằm bên trong phòng trực. Riêng tôi, làm như có vẻ tỉnh táo, tự mình đi vào phòng Trung Úy Minh, Trưởng Đồn Quân Cảnh, cất giọng xẵng xái hỏi: “Trưởng Đồn đâu? Trưởng Đồn đâu?”

Xong nhìn sang trái, thấy có cái giường trải nệm trắng tinh, đặt đằng sau chiếc bàn làm việc, tôi nằm ngay xuống, nôn tháo ra giường, rồi ngủ thiếp đi, mãi tới lúc Thiếu Tá Biệt Cách Dù Phạm Châu Tài, đến đánh thức để đưa tôi và các Sĩ Quan về lại Căn cứ Hành Quân.

Sáng hôm sau, thức dậy, tôi không nhớ gì về câu chuyện xảy ra tối hôm qua cả, cứ tưởng là vừa trải qua một cơn mộng mị, thế thôi.

Thượng Sĩ Nguyễn Duy Hùng, Thường Vụ bước vào, báo cho tôi biết Đại Tá Chỉ Huy Trưởng vừa gọi máy kêu Đại Úy lên trình diện. Nhìn xuống người mình, thấy hơi “ẹ” cho tôi, quần áo xốc xếch, lôi thôi, dơ dáy… Tôi tỉnh hẳn, vội tắm rửa qua loa, thay bộ hoa bèo thẳng nếp để đi trình diện “Xếp”.

Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn gặp tôi, nghiêm mặt nói:

– “Tối qua quậy dữ! Gây náo động cả Quân Trấn. Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn kêu dẫn chú qua trình diện”.

Đứng chờ ngoài phòng Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn III cũng khá lâu. Tôi được Thiếu Tá Sĩ Quan tùy viên mở cửa gọi tôi vào.

Trung Tướng đang ngồi đằng sau cái bàn rộng, bóng loáng, có để một lá cờ Tướng, nền màu đỏ, viền ren màu vàng và thêu nổi ba ngôi sao cũng màu vàng, một bảng tên khắc Trung Tướng Nguyễn Văn Minh bằng sơn mài, sáng và đẹp.

Tôi bước đến trước mặt bàn, đứng nghiêm, chào tay, nói lớn:

– “Đại Úy Lê Đắc Lực, số quân 65.205…, trình diện Trung Tướng, chờ lệnh”.

Ông Tướng quay ghế, nhìn thẳng mặt tôi, dõng dạc:

– “Kiêu binh! Đại Úy làm náo loạn cả thành phố Biên Hòa tối hôm qua, có biết không?”

Tôi khẽ cúi thấp đầu như là chấp nhận, nhưng vẫn trong tư thế nghiêm, không nhúc nhích, trong lòng lo lắng, nắm chắc 10 ngày trong cấm là chí ít, một dòng mồ hôi từ trên vai chảy dài xuống sau thắt lưng.

Bỗng, tiếng chuông điện thoại trong phòng Trung Tướng reo lên, Ông Tướng vừa nhắc điện thoại lên vừa nói: “Đại Úy trở về lại đơn vị đi, tôi sẽ có biện pháp cho Đại Úy sau”.

Nhưng rồi, không có gì hết. Mấy ngày sau, Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn ra lệnh cho tôi chuẩn bị Đại Đội, ngày mai lên đường, giải tỏa áp lực địch tại xã Bến Thế, quận Tân An, tỉnh Bình Dương. Tôi tự hỏi, có phải đây là lệnh phạt, đẩy đi hành quân, lập công chuộc tội, cho cái tội “quậy”, hay lại “gặp nhau” để tuyên dương công trạng trước Quân Đoàn bằng tấm huy chương “Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng?”

&

Những ngày Đại Đội ở lại gìn giữ an ninh, từ các khu vực xã Bến Thế, đến xã Tương Bình Hiệp. Thỉnh thoảng, tôi thường cùng Xã Mộc uống cà phê, ăn sáng với nhau tại Quán Chị Ba.

Cứ hai ba Tuần Lễ, Xã Mộc lại mời Đại Úy Đoan, tôi và một số Sĩ Quan, Binh Sĩ, nhậu một chầu hết sẩy với các đặc sản đồng quê cùng rượu mía.

Về sau này, trong những lúc nghỉ dưỡng quân, rảnh rỗi, tôi từ Hậu cứ Liên Đoàn, lái xe lên Bến Thế thăm và ăn nhậu chơi với Xã Mộc. Xã Mộc có dịp cũng chạy xe Honda về Biên Hòa, hay Hậu cứ đi nhậu với chúng tôi, “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” mà.

Sau khi Đất Nước lọt vào tay giặc cộng. Đi “tù cải tạo” trở về, nhớ Xã Mộc, tôi lên Bến Thế tìm thăm, nhưng anh không còn nữa.

Tìm hiểu được biết, Việt cộng và bọn du kích địa phương bắt Xã Mộc, đem ra xử trước cái gọi là “tòa án nhân dân”, xong tuyên án tử hình, đem Xã Mộc ra chôn sống giữa Chợ, chỉ chừa cái đầu, rồi cho xe máy cày chạy qua, cán đứt đầu Xã Mộc.

Một số dân lành nơi đây thương kính Xã Mộc, lợi dụng đêm tối, đến đào xác mang đi chôn cất ở một nơi nào đó, không ai biết được.

Với tôi, Xã Mộc vẫn mãi mãi tồn tại trong ký ức.

Diệt xong giặc thù

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net

Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 2 Nov 2024

TQLC cắm Cờ VNCH trên Cổ Thành, Quảng Trị

Phần 11

Cổ thành Quảng Trị

 “Trị-Thiên vùng dậy!”

  “Miền thùy dương … bóng dừa, ngàn thông…”  

48 giờ dưỡng quân tại hậu cứ, ở Ngã Tư An Sương, Hốc Môn, đối với tôi, ra Saigon làm một chầu cà phê ở Mai Hương, Pagode thế là đủ!

Khi chưa kết hôn, 7 ngày phép với tôi là… quá dài. Tới ngày thứ tư, tôi đã bồn chồn, ngày thứ năm, tôi nhớ đồng đội, nhớ đơn vị… Rồi tôi không thể nghỉ phép hết ngày thứ sáu. Tôi về Đơn Vị. Không khí ở đó mặn nồng hơn, vui vẻ hơn. So với những ngày phép ở ngoài, sao nó lạt lẽo, đôi khi vô vị. Đúng vậy! Chẳng có mùi vị gì hết.

Vì vậy, khi người bạn học cũ hỏi tôi: – “Mày mới từ tử địa An Lộc về, bây giờ lại ra Miền Trung, bộ không ngán súng đạn sao?”

– “Bây chừ thì chưa. Bây chừ tao còn thấy đi hành quân với đơn vị, Anh Em, mà lại về Huế nữa, là… vui lắm.”

Với cái vui ấy, tôi cùng Anh Em 81 Biệt Cách Dù lên mấy chiếc C-130 của Quân Đội Mỹ, bay ra Phi Trường Phú Bài ngày 28 tháng 6 năm 1972.

Chúng tôi phải đi gấp vì Lệnh của Tổng Thống đấy.

Hôm Đại Lễ Kỹ Niệm Ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1972, Tổng Thống đọc diễn văn và ra lệnh cho Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, trong vòng 3 tháng, phải chiếm lại Cổ Thành Quảng Trị. Kể từ hôm Tổng Thống ra lệnh, đến ngày chúng tôi lên máy bay, chỉ mới 9 ngày. Ngoài ấy, Tướng Ngô Quang Trưởng đang là Tư Lệnh Chiến Trường, ngoài các đơn vị của Quân Đoàn I, thì các Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến cũng đã có mặt rồi. Không những chúng ta giữ được phòng tuyến sông Mỹ Chánh, mà lại còn đang phản công ra phía Bắc con sông nầy.

Xuống ở Phi Trường Phú Bài, chúng tôi được đưa thẳng ra PK. 17, tức là Đồn Cây Số 17, như dân chúng thường gọi. Đây là căn cứ của Trung Đoàn 3, Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Trung Đoàn đã ra trận, chỉ còn một ít binh sĩ ở lại phòng thủ doanh trại.

Đêm đó, như thường lệ, trước mỗi cuộc hành quân, chúng tôi nhận 7 ngày lương khô, và được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, chỉ thị nhiệm vụ cho từng Đại Đội. Ông đã được vinh thăng đặc cách Đại Tá tại mặt trận Bình Long, An Lộc, cũng như về sau này tất cả Quân Nhân khác trong đơn vị có tham dự tại chiến trường An Lộc, mỗi người đều được thăng một cấp.

Tôi, Đại Đội Trưởng Đại Đội 4, cùng Đại Úy Nguyễn Ích Đoan, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 được lệnh đưa hai đại đội ngày mai lên đường tăng phái cho Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù của Thiếu Tá Lê Văn Mễ. Đơn vị nầy, mới từ Charlie về, bổ sung, tái huấn luyện, ra Quảng Trị hồi đầu tháng 5, ngay sau khi thành phố Quảng Trị bị mất, nay đang hành quân từ phòng tuyến Mỹ Chánh, tiến dọc theo các ngọn đồi sát chân núi Trường Sơn, phía Tây Quốc Lộ 1. Mục tiêu của Tiểu Đoàn 11 Dù là Nhà Thờ La Vang. Tiểu Đoàn 11 Dù đã  hoàn thành  nhiệm vụ.

Đại Đội tôi được quân xa vận chuyển đến gần ngã ba đường vào xã Ưu Điềm, từ đây chúng tôi men theo hai bên Hương Lộ, để di chuyển về hướng Mỹ Chánh, vượt qua cầu Mỹ Chánh vào khoảng trưa, Đại Đội phân làm 2 cánh, tiến ra hướng Bắc, ở hai bên Quốc Lộ mới do Công Binh Mỹ vừa xây xong. Con đường nầy không đi qua Diên Sanh, Phủ Lỵ Hải Lăng cũ. Trong suốt một ngày đường là chúng tôi tới khu vực Đại Lộ kinh hoàng. Một khung cảnh quá khủng khiếp hiện ra trước mắt, đã làm cho máu tôi ứa trào lên. Tại sao Việt cộng tàn ác đến như vậy?

Đó là câu hỏi đầu tiên hiện ra trong trí tôi. Những cái ác mà tôi không thể tưởng tượng nỗi, không thể chịu đựng nỗi, không thể chấp nhận được. Tôi vốn là một Phật Tử mà. Nhưng dù là một Phật Tử, máu tôi không thể không sôi sục dâng trào trước cảnh tượng bất nhân, tàn ác đó.

Trên mặt đường nhựa, xác người nằm la liệt, ngổn ngang. Thây người chết ở mọi tư thế khác nhau, nằm sấp, nằm ngữa, nghiêng. Xác thì chân tay giang ra, xác thì chân hay tay co lại. Xác nầy chồng lên xác kia, dồn đống, có xác một mình co quắp bên lề đường… Cái mất đầu, cái mất tay, mất chân. Có xác đàn ông, có xác đàn bà, có xác trẻ em, có xác không còn nhìn ra là đàn ông hay đàn bà nữa. Không thể nào tả hết được!!!

Đoạn đường Việt cộng giết người nầy, xảy ra ngay ngày Việt cộng chiếm thành phố Quảng Trị, ngày 1 tháng 5 năm 1972 và những ngày sau đó.

Vậy là đồng bào nằm đây đã gần hai tháng. Da thịt đã rữa. Có nơi xương trắng đã bày ra, sọ, tay chân hay xương sườn. Dù Quân Nhân mặc đồ trận hay thường dân, thì đồ trận, áo quần cũng đã phai màu, mục nát. Mái tóc dài của mấy Mẹ, mấy Chị, mấy Cháu đã tróc khỏi sọ não, bay là đà theo từng cơn gió thoảng, trên mặt cát còn xông đầy mùi tử khí.

Họ là những người trốn chạy, dù họ là dân sự hay quân nhân. Họ trốn chạy cộng sản. Họ trốn chạy chiến tranh. Họ trốn chạy tên bay đạn lạc, dù không biết rõ của phe bên nào. Giết chết những người trốn chạy. Vậy là vô nhân đạo, là vô lương tri. Là kẻ giết người, họ đã đi tới chỗ tận cùng của lương tâm.

Trên mặt đường và cả hai bên vệ đường, bên cạnh xác người là lỗ chỗ các hố sâu của đạn súng cối, đại bác, hỏa tiễn mà giặc cộng đã nhẫn tâm rót xuống để giết hại đồng bào, trẻ thơ vô tội.

Đại Lộ kinh hoàng Quảng Trị

Xe cộ nằm dọc theo đường đi, mũi xe hướng về Nam. Xe Quân Đội, xe Dân Sự, xe Hàng, xe đò chở khách. Xe lớn nhỏ đủ các loại. Nhiều chiếc bị cháy, sạm đen, nhiều chiếc bị đạn pháo bắn hư hại một phần hay hoàn toàn. Rải rác đây đó là các loại xe gắn máy, Vespa, Lambretta, Honda, Mobilette và khá nhiều xe đạp. Hầu hết, bị hư, cong vành, bể lốp chỉ còn là đồ phế thải.

Dù là một người lính trận, từng vào sinh ra tử, tôi không dám nhìn kỹ những cái xác ấy. Kinh hoàng quá! Kinh hoàng quá! Tàn ác quá! tàn ác vô cùng tận!!!

Chúng tôi lặng yên di chuyển trong đau buồn và tức giận, vừa sẵn sàng súng đạn để phản công, nếu địch phục kích, lại cũng vừa để tránh địch phát hiện. Chúng sẽ pháo, pháo dồn dập, nếu thấy chúng tôi.

Đêm mùa hè, trời tối chậm. Chúng tôi được lệnh dừng quân, nghỉ qua đêm. Tôi cho lệnh các Trung Đội đào hố cá nhân phòng thủ ở cả bốn hướng, trải rộng dọc theo hai bên Quốc Lộ 1, để tránh tổn thất khi bị địch pháo kích, đồng thời là để phản ứng ngay nếu bị địch tấn công. Tôi và Ban Chỉ Huy Đại Đội đóng cạnh một chiếc xe GMC của phe ta bỏ lại.

Đêm trôi đi trong bóng tối tĩnh mịch, thỉnh thoảng có ngọn gió thổi qua, tôi thấy dễ chịu đôi chút. Nhưng suốt đêm, tôi chỉ chợp mắt từng chặp. Tôi không sợ chết. Nếu thần chết có đến, tôi sẽ chống lại, như cái bản năng sinh tồn của muôn loài muôn vật. Chính tôi đã viết trên tường Đài Tử Sĩ ở An Lộc: “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”.  Nói câu đó, và khắc viết lại câu nói đó của người xưa, tức là tôi đã chấp nhận cái kỷ kiến ấy rồi. Có chi mà tôi phải thắc mắc.

Nhưng những thây người ngổn ngang, đang rửa mục, trên đoạn đường đi qua hồi chiều ám ảnh tôi, làm tôi không ngủ được. Chiến tranh là tàn ác. Những người đi đánh trận như tôi, vì Tổ Quốc, vì Đồng Bào, tôi chấp nhận nó. Nhưng với những người nằm chết kia, tôi thấy tội nghiệp cho họ, hay như câu Mẹ tôi thường nói: “tội vô cùng”. Tội cho họ quá, không làm sao một con người còn có lương tâm, có thể chấp nhận được.

Sáng hôm sau thức dậy, nhìn vô thùng xe, nhìn chung quanh lại đầy rẫy xác người chết khô, nằm co quắp, nằm dọc dài trên thảm cát, bên vệ đường. Thật là quá thương tâm, não ruột. Tôi không kềm chế được nỗi xúc động, hai dòng nước mắt ứa trào.

Đại Đội tiếp tục tiến ra hướng Bắc. Tới một cây cầu, có phải là Cầu Dài như tên dân chúng thường gọi đã bị sụp đổ, chúng tôi phải trầm mình lội nước vượt qua song.

Tôi xem lại bản đồ, bên cạnh Quốc Lộ 1, phía trái hướng Tây, song song với Quốc Lộ là đường Xe Lửa Saigon, Đông Hà. Bên kia đường Xe Lửa là khu đồi hoang, lúp xúp cây dại, cây mua và cây sim. Có lẽ vùng nầy tới mùa hoa nở, hoa mua và hoa sim phủ kín ngọn đồi. Nó giống như những ngọn đồi miền Trung, Bình Trị Thiên hay Thanh Nghệ Tỉnh vậy. Đây là “Những đồi hoa sim, màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt”. Tiếc rằng, tôi là người chiến binh, không có thì giờ lang thang qua những đồi Sim nầy để thấy màu tím của Quê Hương.

Di chuyển thêm chừng cây số nữa, bên trái là một Căn cứ Pháo Binh của Sư Đoàn Dù, tình cờ tôi gặp Chuẩn Úy Hoàng Công Thức, Khóa 25 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, là em một người bạn học cùng xóm, con trai Thầy Hoàng Văn Ngũ, Giáo Sư Sinh Ngữ Trường Trung Học Công Lập Nguyễn Tri Phương, Huế. Anh là Tiền Sát Viên Pháo Binh của Sư Đoàn Nhảy Dù, đang hoạt động vùng nầy.

Sau cùng, Đại Đội tôi cũng đã tiếp cận tuyến phòng thủ của Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù, tôi trình diện Mê Linh, tức là Thiếu Tá Lê Văn Mễ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù. Cùng gặp Mê Linh với tôi sau đó là Đại Úy Nguyễn Ích Đoan, Đại Đội Trường Đại Đội 1 Biệt Cách Dù.

Mê Linh giao nhiệm vụ cho hai Đại Đội Biệt Cách Dù là tái chiếm Nhà Thờ La Vang, tên mới là Vương Cung Thánh Đường La Vang:

– “Đại Đội các anh phải chiếm lại Nhà Thờ nầy, và giữ nó, không cho địch chiếm lại”.

Có nghĩa là Dù đã chiếm nó. Đó là công lao của “Hùng móm”. Nhưng Hùng phải bỏ nó lại đi tiếp xuống để đánh vào thành phố Quảng Trị. Thừa cơ hội đó, Việt cộng chiếm lại mục tiêu nầy.

      Con đường tiến quân của Cộng sản đánh vào Quảng Trị là con đường từ Ba Lòng xuống Như Lệ, Phước Môn, bên hữu ngạn sông Thạch Hãn, theo một con đường bỏ hoang đã lâu, có cái tên cũ là “Đường Bảo Đại”. Nó không giống như “Đường Trần Lệ Xuân” ở Phước Long, con đường đi lấy gỗ rừng, của dân xe be, khai thác gỗ.

Bản Đồ mặt trận Quảng Trị năm 1972

Ở đây, “Đường Bảo Đại” là đường đi săn của Nhà Vua trước năm 1945, khi Ông Vua ham săn bắn nầy còn ngồi trên Ngai Vàng.

Quân Cộng sản, theo con đường này, đưa quân chiếm lại Nhà Thờ La Vang. Nó cũng có nghĩa là khi Tiểu Đoàn 11 Dù từ hướng Tây đánh vào Thành Phố, thì coi như Tiểu Đoàn đưa lưng ra cho địch từ sau đánh tới. Trong ý nghĩa đó, hai Đại Đội Biệt Cách Dù có nhiệm vụ lấy lại Nhà Thờ La Vang, và giữ nó là nhằm mục đích bẻ gảy ý đồ của địch.

Bây giờ chúng tôi lại phải áp dụng chiến thuật sở trường: đánh đêm.

Vị trí giữa địch và ta đã thay đổi. Trước kia, chúng ta ở trong đồn Việt cộng công đồn. Chúng phải đánh ta vào ban đêm, chúng ta khó phát hiện địch. Bây giờ thì chúng ta phải công đồn. Chúng ta cũng đánh đêm, địch không thể phát hiện được ta.

Nhà Thờ La Vang mặt quay về hướng Đông. Đại Đội 1 đánh từ hướng Tây Tây Nam, phía có Hang Đá Đức Mẹ. Đại Đội tôi cũng đánh từ hướng Tây Tây Bắc, phía có con đường đi lên Nhà Thờ Phước Môn ở phía Tây Nhà Thờ La Vang, gần chân núi Trường Sơn hơn.

Trên đường tiến quân vào Quảng Trị

Vào nửa đêm, chúng tôi âm thầm hai cánh quân tiến sát vòng đai Nhà Thờ La Vang, vừa dàn quân lại gặp một trận mưa lớn. Chúng tôi án binh bất động.

Trời vừa sáng, dứt cơn mưa, quan sát các bố phòng của địch, tôi điện báo cho Đại Úy Đoan để phối hợp tác chiến, rồi bắt đầu phát lệnh xung phong, tấn công chớp nhoáng, ào ạt. Địch bị quá bất ngờ, nên một số bị tiêu diệt, một số vất súng đầu hàng, vài ba tên tháo chạy vào bên trong Nhà Thờ dùng B.40, AK.47 chống trả, bị cánh quân hướng Tây Bắc của Đại Đội 4 chúng tôi, ném lựu đạn triệt hạ 20 tên, bắt sống 05 tên.

Chúng tôi 03 tử thương và 12 bị thương. Thu dọn chiến trường xong, Đại Đội 1 được lệnh ở lại bố phòng Nhà Thờ La Vang. Đại Đội tôi tiếp tục tiến về hướng Đông Đông Bắc để thanh toán mục tiêu kế cận: Chi Khu Mai Lĩnh.

Chi Khu Mai Lĩnh, thuộc Quận Mai Lĩnh, tọa lạc trên đoạn đường rẽ, tên thường gọi là Ngã ba Long Hưng, là con đường cũ đi vào Thành Phố, phía ngoài Sân Vận Động Quảng Trị cũ, kế cận Trường Trung Học Nguyễn Hoàng.

Trên con đường tiến quân từ Nhà Thờ La Vang đến Chi Khu Mai Lĩnh, Đại Đội tôi bị tử thương một khinh binh và một Tiểu Đội Trưởng vì đụng chốt Việt cộng tại ngã ba đường La Vang và Quốc Lộ 1. Nhổ chốt là sở trường của Biệt Cách Dù, theo chiến thuật của Đại Tá Huấn. Pháo Binh cho nổ một tràng vào vị trí địch buộc địch phải thụt đầu xuống, núp trong các hố cá nhân. Các viên đạn cuối là đạn lép. Trong khi, nghe tiếng đạn đi, Việt cộng còn núp thì chúng tôi biết đó là đạn lép, không có gì nguy hiểm, liền nhanh chóng áp sát chỗ chúng ẩn núp. Nhờ đó, chúng tôi thanh toán bọn chúng không mấy khó khăn.

Đại Đội tôi cũng áp dụng chiến thuật đánh đêm để tiến chiếm Chi Khu Mai Lĩnh. Đơn vị Việt cộng chốt lại đây không đông, khoảng 15 hay 20 chục tên, chúng nằm trong các công sự có sẵn trong Chi Khu để chống trả. Tin vào hệ thống phòng thủ, chúng không ngờ binh sĩ của Đại Đội tôi, một nửa ém quân bên ngoài, thỉnh thoảng tác xạ Súng Phóng Lựu M.79 vào bên trong Chi Khu, một nửa lợi dụng trời tối đen như mực, bò vào nằm sát bên ngoài công sự. Khi chúng tác xạ chống trả là để lộ mục tiêu, nên bị chúng tôi ném lựu đạn giết chết và làm trọng thương hầu hết.

Ở lại trấn thủ Chi Khu Mai Lĩnh được hai hôm, Đại Đội tôi được lệnh tăng phái cho Tiểu Đoàn 5 Dù, Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Bùi Quyền, Thủ Khoa Khóa 16 Võ Bị Đà Lạt, đang hành quân ở phía Đông Thành Cổ. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đang đóng tại khu vực thôn An Thái, cách Cổ Thành khoảng 3 km về hướng Đông Nam. Trình diện danh tánh, cấp bậc, chức vụ với Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5, Thiếu Tá Bùi Quyền nhìn tôi nói đùa:

– “Tôi thì nhỏ con, Trung Úy Lực thì to con, vậy tôi gọi ông là “Lực đô” nhé. À à… mà “Lực đô” nói lái là “Lộ Đức”, vậy thì Lộ Đức là ám danh đàm thoại vô tuyến tôi đặt cho Trung Úy trong cuộc hành quân này. Trung Úy chịu không?”

Nói xong, Thiếu Tá Quyền cười vui vẻ vì cái sáng kiến độc đáo của Ông. Nhờ Ông, mà cái biệt danh “Lộ Đức” đeo đẳng theo tôi từ đó cho tới bây giờ.

Hôm sau Đại Đội 3 của Đại Úy Phạm Châu Tài cũng được điều động đến tăng cường cho Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù.

Thiếu Tá Bùi Quyền họp các Đại Đội Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và Biệt Cách Dù để ban lệnh hành quân. Ông giao cho tôi nhiệm vụ tấn công chiếm “Nhà Thờ Hạnh Hoa thôn”, thuộc làng Cổ Thành, quận Triệu Phong. Đai Đội 3 là lực lượng trừ bị. Thôn nầy ở bên sông, đẹp như cái tên của nó, nằm trên con đường đất hẹp, từ phía đông Thành Cổ ra tới bờ sông Vĩnh Định.

Thôn Hạnh Hoa có những ngôi nhà cổ, vườn rộng, cây lá xanh tươi, nhiều gốc mai lưu niên, có thể là trồng từ lâu lắm, đã mấy chục đời.

Nhà Thờ Hạnh Hoa nhỏ, đối diện với bên kia đám ruộng nhỏ là Nhà Thờ Trí Bưu cao lớn, có tháp chuông vươn khỏi những ngọn tre làng.

Địch đang chiếm giữ Nhà Thờ.

Đánh trận ở đây, khi thấy địch chiếm Nhà Thờ, tôi thường nhớ lại một câu trong bài hát “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”:

“Từ khi giặc tràn qua Xóm Đạo,

Anh làm chiến sĩ giữ quê hương” 

Vâng, tôi là người Chiến sĩ giữ Quê Hương và tôi đang đuổi giặc ra khỏi xóm quê nầy, mặc dù tôi chẳng có một em nhỏ nào ở đây cả, “để nghe khe khẽ lời em nguyện” mà chỉ có “Luyến thương chan chứa Tình Quê Mẹ” mà thôi.

Hình như quân Cộng sản chỉ quen với chiến thuật tấn công hơn phòng thủ. Nhờ vậy chúng tôi lần nữa xử dụng kỹ thuật đánh đêm.

Tôi bung bốn Trung Đội men theo các nhà dân bị đổ nát, song song tiến sát Nhà Thờ Hạnh Hoa Thôn. Lại một trận mưa rào đổ xuống giúp xóa bớt tiếng động di hành của chúng tôi, nhờ đó mà Đại Đội đã vào chiếm cứ Nhà Thờ không một tiếng súng nổ. Đáng buồn là khi trời hừng sáng, địch đã nổ súng phản công và trong lần đụng độ này, tôi mất người Hiệu Thính Viên mà tôi rất thương mến: Hạ Sĩ Chấn. Anh hy sinh ngay khi đang cầm ống nghe liên lạc báo cáo với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, thì bị một viên đạn bắn trúng đầu.

Vào ngày hôm sau, từ tờ mờ sáng đại bác của Việt cộng tác xạ liên hồi từ hướng Tây vào các vị trí phòng thủ của các đơn vị Nhảy Dù, Đại Đội tôi và rải rác quanh khu vực phía Đông của Cổ Thành.

Vừa ngưng pháo thì Việt cộng bắt đầu mở cuộc tấn công qui mô với một đơn vị cộng quân đông hơn quân số Đại Đội tôi tới khoảng 5 lần.

Bọn chúng từ một ngôi làng ở hướng Bắc Thôn Hạnh Hoa, ồ ạt xung phong biển người tấn công vào Nhà Thờ Tri Bưu và Nhà Thờ Hạnh Hoa. Chúng tôi xử dụng hết hỏa lực của mình để ngăn giặc. Nhưng kỳ lạ chưa? Bọn chúng như điên cuồng, như rồ dại, như uống bùa mê, thuốc lú, hết lớp nầy ngã xuống, lớp sau tiến lên. Lớp sau ngã xuống, lớp sau nữa tiến lên. Không những chúng tôi ngạc nhiên, thấy kỳ lạ mà còn kinh hoảng nữa, tự hỏi: “Sao bọn chúng ngu xuẩn, điên rồ vậy?” Cứ tình trạng nầy, Đại Đội tôi, với quân số ít ỏi, chưa kịp bổ sung sau trận An Lộc, sẽ bị chúng tràn ngập mất thôi. Nhưng cuối cùng, trước hỏa tập TOT của Pháo Binh Dù và Sư Đoàn 1, cùng sự chiến đấu dũng cảm của các Đại Đội Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và Đại Đội 4 chúng tôi. Bọn chúng quay đầu tháo chạy như lũ chuột, bỏ lại trên chiến trường la liệt xác chết của đồng bọn, của những tên giặc cộng cuồng tín, vô thần, mất hết cả lương tri, nhân tính.

       Tôi ngồi nghỉ mệt, lật tấm bản đồ ra xem lại vị trí của mình. Tôi bỗng giật mình khi chợt nhớ câu chuyện của một người bạn cũ kể lại. Tết năm Mậu Thân, Việt cộng dùng con đường nầy để tiến quân đánh vào Thị Xã Quảng Trị. Ngay tại điểm nầy, chỗ tôi đang ngồi: Thôn Hạnh Hoa, Việt cộng đụng phải một Tiểu Đoàn Nhảy Dù và thiệt hại không ít. Nhờ đó mà Quảng Trị được yên hơn Huế là vì vậy.

Nhà Thờ Hạnh Hoa

Hèn chi, Việt cộng cố chiếm lại Nhà Thờ Hạnh Hoa Thôn, là vì nó nằm trên con đường chiến thuật. Mất Nhà Thờ Hạnh Hoa Thôn, là chúng mất con đường tiếp cận với binh lính của chúng đang cố thủ trong Cổ Thành. Giữ được Nhà Thờ Hạnh Hoa Thôn là Đại Đội tôi đã đóng góp sức mình cho công việc tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị.

Tình hình chiến sự ở khu vực cận Cổ Thành vẫn còn sôi động. Súng đạn từ trong bắn ra từ ngoài bắn vào liên tục. Tiểu Đoàn 5 Dù được tăng cường thêm Đại Đội 111 và Đại Đội 2 Trinh Sát Dù, đang nỗ lực tấn công tái chiếm Cổ Thành. Thiếu tá Bùi Quyền ra lệnh cho Đại Đội 3 và Đại Đội 4 Biệt Cách Dù cùng tiến lên chiếm lĩnh Nhà Thờ Trí Bưu, địch phòng thủ tại đây, bảo vệ sườn cánh phải, hướng Bắc của Cổ Thành…

Tôi dẫn Đại Đội thi hành nhiệm vụ. Chẳng còn “thằng cùi” nào trong Nhà Thờ Trí Bưu cả. Bọn chúng đã bị Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù triệt hạ hầu hết trong lần tập kích trước, rút chạy cả rồi.

Ngay nhà dân chúng chung quanh Nhà Thờ, dân thì di tản đã lâu, từ đầu trận đánh. Bây giờ Việt Cộng chẳng còn thằng nào bén mảng đến đây.

Tôi vẫn cho Binh sĩ lục soát kỹ ở Nhà Thờ. Không có gì hết, ngoài một số xác chết của đám “sinh Bắc tử Nam” bị sình thối nằm vương vãi một vài nơi trong và ngoài khuôn viên Nhà Thờ.

Nhưng tôi rất buồn khi nhìn lên Bàn Thờ Thánh. Tượng Chúa Giê Su còn đó, một mình, trên Thập Giá. Cha Xứ và con chiên chạy trốn giặc cộng hết rồi. Cảnh tượng ấy làm cho tôi thấy đau lòng hơn cả câu thơ của Phạm Văn Bình “Chúa buồn trên Thánh Giá. Mắt nhạt nhòa mưa qua! ”.

Tôi không khóc, vốn dĩ từ nhỏ tôi ít khi khóc. Nhưng xúc động thì tình cảm của tôi không thua kém ai, nhất là khi tôi nhìn lên gác chuông Nhà Thờ. Gác chuông đã bị đổ sập, chỉ còn một nữa. Là một Phật Tử, không mấy khi tôi vào quì lạy trong Nhà Thờ để nhìn lên tượng Chúa, nhưng gác chuông Nhà Thờ là một hình ảnh không xa lạ gì với số đông người Việt Nam. Vì vậy, khi nhìn cái gác chuông gãy đổ, lòng tôi xúc động hơn.

Nơi đây không còn tiếng chuông Nhà Thờ nữa, tiếng chuông rộn rã tôi đã từng nghe khi tôi còn tuổi ấu thơ.

Đại Đội được lệnh nằm án ngữ tại Nhà Thờ Trí Bưu, ban đêm bung quân ra bên ngoài để ngăn chặn địch có thể trở lại quấy phá. Trong một lần kích đêm, Tiểu Đội tiền đồn của Trung Sĩ Khưu Công Quí bắn tử thương hai tên cộng mò mẫm đi vào hướng khu nhà đổ nát của dân, chắc là chúng tìm lương thực (?). Không lâu sau đó, Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, ra lệnh Đại Đội 3 và 4 chúng tôi đưa quân về hướng Đông tiếp cận Cổ Thành. Có đơn vị Nhảy Dù đang chờ ở đó.

Từ Nhà Thờ Trí Bưu, Đại Đội đi lom khom, lẩn khuất trong các khu vườn nhà dân, từ vườn nầy qua vườn khác để tránh địch phát hiện. Tới phía ngoài Cổ Thành, trong vị trí bố phòng của các Đại Đội Nhảy Dù, tôi nhìn thấy có một số Binh Sĩ Nhảy Dù tử thương, bị thương đang nằm trên các băng ca chưa kịp di tản.

Ngay vào lúc đó, hàng loạt trái đạn do Pháo Binh tác xạ, rồi tiếp theo sau là các Chiến Đấu Cơ A.37, Skyraider của Không Quân Việt Nam thay nhau oanh tạc, nổ dồn dập, inh ỏi trên Kỳ Đài Cổ Thành Quảng Trị. Bỗng dưng, không rõ từ đâu có hai chiến đấu cơ loại F.5 của Mỹ bay vào khu vực dội bom, nổ lạc hướng về phía phòng thủ của Nhảy Dù, gây nên tổn thất nặng nề về nhân mạng cho Đại Đội 51 và 52 của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù và một ít cho hai Đại Đội Biệt Cách Dù 3 và 4 đang bố phòng kế cận.

Sự kiện nầy làm cho quân số Nhảy Dù hao hụt nhiều hơn. Họ tham gia cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị kể từ đầu tháng 5 cho đến bây giờ, vậy là đã hơn 2 tháng. Hai tháng đánh trận liên miên, ngày đêm không nghỉ, “sức voi” cũng không chịu nỗi, nói chi sức người. Tôi nghĩ thầm mà thấy thương cho các chiến hữu của tôi.

Ngày 27 tháng 7 năm 1972, ba Lữ Đoàn Nhảy Dù và hai Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Dù có lệnh triệt thoái, bàn giao chiến trường cho Thủy Quân Lục Chiến. Vì là lực lượng tăng phái, Đại Đội 3 và 4 Biệt Cách Dù được rút trước. Nhảy Dù còn ở lại, chờ quân bạn tiến lên tiếp nhận phòng tuyến.

Barbara và Helène là hai cao điểm nằm ở thượng nguồn, giữa sông Ba Lòng và sông Nhùng về phía Tây Tỉnh Quảng Trị, gần Trường Sơn. Đỉnh Helène cao hơn, thường bị mây mù bao phủ sớm chiều, nhất là về mùa mưa, mây che mờ mịt. Còn Barbara thì thấp hơn một chút, ít mây mù hơn, thuận tiện công việc quan sát đường chuyển quân của cộng sản quanh mật khu Ba Lòng.

Rút khỏi Quảng Trị, mấy chiếc Chinook bốc thả Đại Đội 1 và Đại Đội 4 xuống Căn cứ Babara, với nhiệm vụ là từ cao điểm này tung các Toán Thám Sát của Đại Đội, thâm nhập vào phía Nam mật khu Ba Lòng để theo dõi, phát hiện sự chuyển, rút quân của địch, mà hướng dẫn Pháo Binh tác xạ và Khu Trục oanh kích.  Căn cứ nầy trước kia là của Quân Đội Mỹ trú đóng. Họ đã rút đi, nay chỉ còn lại những công sự ngầm và hàng rào phòng thủ bao quanh phòng tuyến.

Chiến trường Quảng Trị vẫn còn tiếp diễn. Nhưng có lẽ địch đã núng thế rồi, không còn hy vọng gì giữ Cổ Thành lâu hơn được nữa. Do đó, các Toán Thám Sát báo cáo thấy địch rút quân ra nhiều hơn là đưa quân vào tăng cường cho quân phòng thủ trong Thị Xã. Các Toán Thám Sát nhận lệnh theo dõi và định vị chính xác đường mòn, căn cứ địch. Từ đó, tôi thông báo về Bộ Chỉ Huy để xin Pháo Binh, Phi Cơ tiêu diệt, thiêu hủy.

Cổ Thành Quảng Trị sau trận chiến

Công việc cứ tuần tự như thế cho đến khi nghe tin Chiến Thắng. Sư Đoàn Thủy Quân Lục chiến giương cao ngọn Cờ Vàng ba sọc đỏ của Tổ Quốc Việt Nam trên Cổ Thành Quảng Trị. Hôm ấy là ngày 16 tháng 9 năm 1972 trước kỳ hạn ba tháng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Có một điều, trong suốt gần ba tháng dài cùng phối hợp chiến đấu bên cạnh các Tiểu Đoàn Dù, tôi vẫn không hiểu tại sao Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là một đơn vị tinh nhuệ, chiến đấu can trường, đã mang lại nhiều chiến công hiển hách, mà gần nhất, điển hình nhất là An Lộc, nhưng khi đưa vào chiến trường Quảng Trị lại không là một nỗ lực chính, giao phó riêng một vùng trách nhiệm như hồi Mậu Thân ở Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị, hay vừa qua tại An Lộc, mà lại xé lẻ, riêng rẽ từng Đại Đội, để tăng cường cho các Tiểu Đoàn Dù và đặt dưới quyền điều động, sinh sát của họ mà thôi.

Phải chi với sở trường đánh địch trong thành phố với chiến thuật du kích, đánh đêm tài tình, điêu luyện, với tài chỉ huy mưu lược của Đại Tá Phan Văn Huấn, khi tham chiến tại Quảng Trị mà được hoạt động riêng rẻ chắc chắn Liên Đoàn sẽ lại tái diễn thêm một kỳ công, chiến tích lẫy lừng, để sớm mang lại chiến thắng, rút ngắn thời gian tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị mà Sư Đoàn Dù đã đổ máu không ít.

TQLC cắm Cờ VNCH trên Cổ Thành, Quảng Trị

Thế là tàn một cuộc chiến. Lòng tôi vui mừng vì chúng ta đã chiến thắng, nhưng không khỏi bâng khuâng tự hỏi:

– “Tại sao Cộng Sản Bắc Việt không ở yên ngoài kia mà đem quân xâm lăng chúng ta, gây nên hàng vạn, hàng vạn người “Sinh Bắc tử Nam”. Câu hỏi không dễ trả lời, nhưng có bao nhiêu người khi gây ra một cuộc chiến, nghĩ đến câu: “Nhất tướng công thành, vạn cốt khô!”.  

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù trong đó có Đại Đội 4 Biệt Cách Dù do tôi chỉ huy, một lần nữa đã góp một phần công lao, xương máu, để viết lên thêm một chiến thắng oai hùng, lừng lẫy trong trang Sử Chiến Tích của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để mãi mãi lưu truyền cho Hậu Thế.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Post by Sơn râu 2 Nov 2024

Phần 10

CHIẾN DỊCH ĐÔNG TIẾN II LẦN 2
Hạ Tuần Tháng 7/1987

Chương 31
TÁI XUẤT QUÂN

Chiến Dịch Đông Tiến II Khởi Động Lần 2.

Đội Hı̀nh Chiến Dịch.

Chuyển Quân Đến Bờ Sông Mekong. Vượt Sông Mekong.

Trận Đụng Độ Đầu Tiên.

Trận Đánh Thứ Nhı̀ Gây Thương Vong Cho Hai Phı́a.

Đường Dài Chiến Dịch Lịch Sử Bi Hùng.

(Bắt đầu viết vào ngày rằm trăng tròn sáng vằng vặt, tháng chạp năm

Ất Dậu, nhằm ngày 14/1/2006, chuẩn bi ̣bước qua năm Bı́nh Tuất. Gần 19 năm trời ròng rã, sau khi chiến dịch Đông Tiến II lần 2 kết thúc trong tan tác. Tác giả giờ đây mới có cơ hôi ngồi xuống ghi lai sự kiện này, với thiện ý trı̀nh bày sự thật trước quý đôc giả trong và ngoài nước).

Chiến Dịch Đông Tiến II Khởi Động Lần 2
Đội Hình Chiến Dịch.

https://drive.google.com/file/d/1hMcYVA5ND-cO08hYLdFFbRmEAvAmPR95/view

Hành trình người đi cứu nước

phamhoangtung.blogspot.com

Phạm Hoàng Tùng

Chương 30
CHỜ TÁI XUẤT QUÂN
Sinh Hoạt Thời Kỳ Đóng Quân

Chờ Đông Tiến II Lần 2. Từ Tháng 9/ 1986 Đến Tháng 7/1987.

Ăn Tết Dã Ngoại.

Việc Tử Hı̀nh 2 Kháng Chiến Quân Trần Tuyết Ánh Và A Hứng.
Làm Báo – Viết Văn Trên Núi.
(Bắt đầu viết vào tuần lễ đầu tiên của tháng 1/2006).

https://drive.google.com/file/d/1bZqv0zZGbwiWlGaNfevaBuI9RC-03djZ/view

Dịch vụ thế vai

baotreonline.com

Mạnh Kim

Post on September 4th, 2018

Post by Sơn râu 1 Nov 2024

Chuyện lạ kỳ gì cũng có thể xảy ra ở Nhật. Sau những hiện tượng xã hội như “người tình gối ôm”, Nhật giờ đang bùng nổ dịch vụ cho thuê “người thân”… Không chỉ cho thuê người thân, còn có cả cho thuê người tình, cho thuê người đi đám cưới và thậm chí cho thuê người khóc mướn! 

 Cách đây hai năm (dẫn lại từ phóng sự New Yorker), Kazushige Nishida, cư dân Tokyo ở độ tuổi 60, bắt đầu thuê bán-thời-gian một cô vợ và một con gái. Người vợ thật của ông vừa mất. Sáu tháng trước đó, cô con gái 22 tuổi của họ đã bỏ nhà đi và không bao giờ trở về. Nishida lâm vào tình cảnh cô độc. Mỗi buổi tối đối với ông là cơn ác mộng. Ông cố tìm thú vui khuây khỏa bằng cách tán chuyện với các cô phục vụ quán bar nhưng khi trở về nhà thì nỗi buồn cô đơn lại ập đến. Thế rồi ông nhớ đến một chương trình truyền hình nói về một công ty có tên “Family Romance”, chuyên giúp cho thuê gia đình. Liên lạc “Family Romance”, Nishida “đặt hàng” một cô vợ và một cô con gái để cùng ăn tối. Chi phí là 40,000 yen (khoảng 370 USD).

Cuộc gặp đầu tiên được thực hiện tại một quán café. Cô “con gái” thuê ăn mặc thời trang hơn con gái thật của ông, trong khi người “vợ” thì trông như một phụ nữ trung niên bình thường. Người “vợ” hỏi Nishida các chi tiết về việc bà và cô “con gái” cần làm. Nishida diễn tả lại cách hất đầu vuốt tóc của vợ và cách cô con gái cù nhột vào hông ông. Thế là cô “vợ” và “con gái” diễn đúng như yêu cầu. Người ngoài trông vào cứ nghĩ họ là một gia đình thật. Tiếp đó, Nishida đặt cuộc hẹn thứ hai, lần này tại nhà riêng mình. Bà “vợ” làm món okonomiyaki (tương tự bánh xèo) trong khi Nishida tán phiếm với cô “con gái”. Rồi họ cùng ăn tối và xem tivi. Qua thời gian, quan hệ giữa Nishida và “vợ” cùng “con gái” ngày càng thân. Cô con gái giả thậm chí chỉ vẽ ông cách bày tỏ tình cảm với con gái thật để gọi cô ấy trở về…

Ishii Yuichi, người sáng lập “Family Romance” The Atlantic

Ishii Yuichi, người sáng lập “Family Romance”, cho biết những “diễn viên” của ông luôn có “chiến lược” tích cực để mang lại cái kết có hậu như trường hợp Nishida. Mục tiêu “Family Romance” là “mang lại một xã hội mà không ai còn cần dịch vụ của chúng tôi nữa”. Ba mươi bảy tuổi, sinh ở Tokyo, Ishii Yuichi từng làm người mẫu, diễn viên phụ và cũng kiếm thêm bằng công việc chăm sóc người già. Cách đây 11 năm, một cô bạn của Ishii, vốn là phụ nữ đơn thân, kể với anh rằng cô gặp rắc rối trong việc xin cho con gái mình vào một trường mẫu giáo, nơi nhà trường yêu cầu gia đình học sinh phải có đầy đủ bố mẹ. Thế là Ishii tình nguyện làm bố giả để dự cuộc phỏng vấn ghi tên nhập học. Buổi phỏng vấn thất bại, vì đứa bé gái không biết “đóng kịch”. Tuy nhiên, sự việc khiến Ishii mong muốn “sửa lại bất công” cho những trường hợp tương tự. Anh tìm đến một công ty có tên Hagemashi-tai (có thể dịch là “Tôi muốn làm bạn vui”), được Ryuichi Ichinokawa thành lập năm 2006. Năm năm trước, Ichinokawa đã sốc khi đọc tin về một vụ đâm chết 8 học sinh tại một trường tiểu học ngoại ô Osaka. Ichinokawa lập một website chuyên cố vấn an toàn học đường bằng email rồi sau đó mở dịch vụ cho thuê người thân để giúp bảo vệ học sinh.

Ishii ghi danh làm “diễn viên đóng thế” cho công ty Ichinokawa. Năm 2009, Ishii mở công ty riêng (“Family Romance”). Cá nhân Ishii cũng từng và đang đóng vai người “chồng” cho 100 phụ nữ. Có lúc, Ishii làm “chồng” cho 10 gia đình cùng lúc. Hiện nay, “Family Romance” có khoảng 800 “diễn viên”. Họ sẵn sàng làm người đóng thế người thân tại các tiệc cưới, hội thảo doanh nghiệp hoặc thậm chí đám tang. Có trường hợp trong đó một cô đóng vai “vợ” cho một ông suốt 7 năm, đơn giản vì cô vợ thật của ông ta mập quá khổ nên “không thích hợp” để ông ấy cặp kè bát phố ngoài đường. Cô “diễn viên” này cũng từng được thuê thay thế nhiều bà mẹ mập quá khổ để dự các buổi họp phụ huynh, vì trẻ có bố mẹ mập thường bị bạn bè chế nhạo. Dịch vụ “Family Romance” có đủ dạng khách hàng. Có cô phục vụ quán bar nọ cũng đặt thuê người để anh ta vào quán… yêu cầu gặp cô; có một phụ nữ mù thuê người để giúp chọn… các anh đẹp trai tại buổi khiêu vũ dành cho người độc thân; có một cô mang bầu đã thuê một người “mẹ” để thuyết phục bạn trai chấp nhận đứa bé sắp sinh; có một cậu thanh niên trẻ mướn một người “cha” để “điều đình” với bố mẹ của cô gái đang trót mang thai bởi mình.

Ðó là chưa kể những cô gái thích sống độc thân nhưng bố mẹ cứ ép lấy chồng nên đành phải thuê “bồ” về nhà ra mắt (nếu bố mẹ đòi gặp lại “anh bồ” thì cô con gái trì hoãn nhiều lần rồi sau đó làm bộ rầu rĩ nói rằng cậu ấy xấu tính nên “con cho lên đường rồi”!)… Một trong những kiểu khách hàng đặc biệt của dịch vụ này là các bà các cô thuê người làm bồ để đến xin lỗi ông chồng sau khi chuyện bồ bịch lăng nhăng (với bồ thật) bị phát hiện. Trong những trường hợp này, Ishii sử dụng một “diễn viên” dán hình xăm giả và ăn mặc như dân chơi yakuza. Anh ấy đến nhà cặp vợ chồng kia. Khi ông chồng ra mở cửa, anh ấy quỳ mọp xuống rồi xin lỗi thống thiết. Ông chồng thấy một tên giang hồ xăm trổ thường ít khi làm dữ… Giá cả tùy vào “vai diễn” và thời gian. “Family Romance” tính khoảng 88 USD/giờ cho một “diễn viên” dự tiệc cưới. Họ có thể đóng vai khách giả, đồng nghiệp giả hoặc thậm chí người thân giả. Bố mẹ giả trong tiệc cưới được tính 132 USD/giờ…

Thật ra dịch vụ cho thuê người không phải là hiện tượng xã hội của một nước Nhật hiện đại ngày nay. Năm 1989, bà Satsuki Oiwa, chủ tịch một công ty Tokyo chuyên đào tạo nhân viên, đã bắt đầu mướn trẻ em để thăm các cụ già bị người thân bỏ rơi – một ý tưởng mà bà nghĩ đến, khi nghe nhiều nhân viên công ty nói về việc quá bận rộn không thể đến thăm bố mẹ. Dịch vụ Oiwa lúc ấy được báo chí nói đến nhiều vì nó khơi gợi tinh thần gia đình. Có một cặp vợ chồng thuê “con trai” để đến nghe ông bố kể chuyện. Con trai thật của họ vẫn sống với họ nhưng cậu ấy không bao giờ chịu ngồi nghe bố kể chuyện đời xưa. Cặp vợ chồng già này còn thèm vuốt ve da trẻ con trong khi cháu của họ đã lớn. Thế là họ mướn luôn “con trai”, “con dâu”, và “cháu nội”. Chi phí cho buổi gặp ba tiếng đồng hồ là (tương đương) 1,100 USD. Lại có một cặp trẻ mướn “ông bà” để đến chơi với con mình; hoặc một cậu độc thân mướn “vợ” và “con gái” chỉ để biết cảm giác gia đình có giống như cảnh mình từng xem trên tivi không…

Thật khó có thể nhận xét chính xác dịch vụ “cho mướn tình cảm” trong xã hội Nhật. Có người nói đó là hậu quả của một quốc gia dồn quá nhiều vào phát triển công nghiệp đến mức tình cảm con người khô cằn; có người lại nói điều này cho thấy tinh thần nhân ái của người Nhật luôn đầy tràn và người Nhật luôn trân quý tình người.

MK

Bất tử Lý Tiểu Long

baotreonline.com

Mạnh Kim

December 14th, 2019

Post by Sơn râu 1 Nov 2024

Một hình vẽ Lý Tiểu Long tại đường phố Hong Kong (South China Morning Post)  

Hình ảnh Lý Tiểu Long lại xuất hiện trong bộ phim tài liệu về võ thuật Iron Fists and Kung Fu Kicks được Netflix sản xuất và trình chiếu đầu tháng 12-2019. Lý Tiểu Long cũng được nhắc đến cùng với triết lý võ đạo “Tượng thủy nhất dạng” (Be water) trong cuộc biểu tình đòi dân chủ của người Hong Kong kéo dài nửa năm qua. Hơn bốn thập niên sau khi chết, Lý Tiểu Long vẫn bất tử…

Wall Street Journal cho biết hình ảnh Lý Tiểu Long vẫn đang được khai thác thương mại và mang lại doanh thu khoảng 2.5 triệu USD/năm. Gương mặt góc cạnh đầy nam tính của ngôi sao quá cố này đã được in trên tem nhiều nước thế giới, trong đó có Gambia, Madagascar và Tajikistan. Một bức tượng của ông tại Mostar (Bosnia and Herzegovina) đã trở thành nơi tổ chức các chương trình vì hòa bình từ khi nó được dựng năm 2005. Và tại khu phố Tàu ở Los Angeles, giới chức địa phương xem xét một đề nghị dựng tượng Lý Tiểu Long. Cách đây 9 năm, nhân cột mốc 70 năm ngày sinh ngôi sao võ thuật quá cố này, một chương trình “lễ hội Lý Tiểu Long” đã được Trung Quốc làm rùm beng. Chương trình được đánh dấu bằng việc khánh thành bức tượng đồng Lý Tiểu Long cao nhất thế giới (18.8m) do nghệ nhân điêu khắc lừng danh Tào Sùng Ân thực hiện, đặt tại Lý Tiểu Long Lạc Viên (Thuận Ðức, thuộc Phật Sơn, Quảng Ðông) – nguyên quán của dòng họ Lý.

Chẳng có gì có thể giúp thấy rõ sự bất tử của Lý Tiểu Long bằng việc hình ảnh ông được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong quảng cáo thương mại. Năm 2009, hãng Nike tung ra loại giày Nike Zoom Kobe V Bruce Lee được tiếp thị với ngôi sao bóng rổ Kobe Bryant trong tư thế kung fu. Trước đó một năm, Nokia cũng giới thiệu “dòng điện thoại Lý Tiểu Long” với phiên bản đặc biệt mang hình Lý ở mặt sau điện thoại.

Một trong những hình ảnh quen thuộc nhất của Lý Tiểu Long qua nhiều thế hệ (Golden Harvest)

Riêng tại Trung Quốc, hình ảnh Lý xuất hiện ở vô số sản phẩm, từ kem đánh răng đến thế hệ tivi Viera 3-D mới nhất của Panasonic… Kristopher Storti – luật sư của Bruce Lee Enterprises (nơi chịu trách nhiệm khai thác và bán bản quyền hình ảnh Lý Tiểu Long) – nói rằng công ty mình đang nhắm đến mục tiêu đạt doanh thu hàng năm 5 triệu USD, tương đương với doanh số khai thác thương mại hình ảnh những huyền thoại phương Tây như Steve McQueen và James Dean. Sau khi giành lại được quyền kinh doanh hình ảnh Lý Tiểu Long từ hãng Universal Studios năm 2008, bà Lý Hương Ngưng (Shannon Lee, con gái Lý Tiểu Long) đã ký nhiều hợp đồng sử dụng hình ảnh cha mình, trong đó có thương vụ với Lucky Brand Dungarees Inc, Charter Communications Inc, Greenlight thuộc tập đoàn Corbis Corp (nơi là “đại diện thương mại” của Albert Einstein, Steve McQueen…).

Năm 2013, Lý Tiểu Long từng “sống lại” và quảng cáo cho rượu Johnnie Walker Blue Label. Ðoạn phim quảng cáo quay tại khách sạn Crown Plaza ở Causeway Bay (Hong Kong) với tài tử Danny Chan Kwok-kwan (Trần Quốc Khôn) đóng vai Lý. Không chỉ trong các sản phẩm thương mại, tiểu sử, sự nghiệp võ thuật cũng như điện ảnh của Lý Tiểu Long cũng được tái hiện nhiều lần. Tháng 11-2010, bộ phim Ðại ca Lý Tiểu Long (với các ngôi sao Lương Gia Huy, Chung Lệ Ðề, Trương Triệu Huy, Trịnh Ðan Thụy…) đã ra mắt. Tài tử thủ vai Lý Tiểu Long là Lý Trị Ðình (Aarif Lee, từng nổi đình đám vào đầu năm 2010 với Tuế Nguyệt Thần Thâu).

Nữ minh tinh JuJu Chan (Trần Ngọc Vân), tài tử duy nhất được xem là “nữ Lý Tiểu Long” bởi các vai diễn võ thuật độc đáo của cô (Chan sinh năm 1989, đến Mỹ năm ba tuổi, tốt nghiệp cử nhân toán và khoa học máy tính; thạc sĩ điện ảnh-truyền hình New York University Tisch School of the Arts; võ sĩ Thái cực đạo)

Năm 2011, một vở nhạc kịch về Lý Tiểu Long thậm chí được trình diễn tại sân khấu Broadway. Ðằng sau vở nhạc kịch này là những tên tuổi khổng lồ làng kịch nghệ Mỹ, như nhà sản xuất Stuart Oken (nguyên phó chủ tịch phụ trách bộ phận kịch nghệ của Walt Disney Co, người từng đưa The Lion King lên Broadway); đạo diễn Bartlett Sher (với vở South Pacific từng giành 7 giải Tony năm 2008); kịch tác gia Hoàng Triết Luân (người soạn M Butterfly; từng giành giải Tony); nhạc sĩ David Yazbek… Cần nhắc lại, có hai người hâm mộ từ hai nơi địa điểm thế giới cách nhau hàng ngàn dặm đã gặp nhau trên mạng để cùng soạn một vở nhạc kịch về Lý. Ðó là Hans Ebert (giám đốc điều hành tiếp thị hãng sản xuất nhạc We-Enhance Inc ở Hong Kong; từng là giám đốc điều hành Universal Music và EMI Music) và nhạc sĩ Jon Harrison ở Anh…

Các bộ phim về Lý Tiểu Long đã góp phần làm bất tử huyền thoại này. Một trong những phim gần đây nhất là Upon a Time in Hollywood của đạo diễn Quentin Tarantino, với diễn xuất của tài tử Mike Moh.

Ba năm trước, Birth of the Dragon cũng ra mắt, với tài tử Philip Ng Wan-lung (Ngũ Duẫn Long). Ðây là một trong những phim về tiểu sử Lý Tiểu Long được đánh giá cao (tài tử họ Ngũ sinh tại Hong Kong và cũng là môn sinh của nhiều môn võ thuật trong đó có Vịnh Xuân, Hồng Gia và Thái cực đạo). Năm 2008, Danny Chan Kwok-kwan (Trần Quốc Khôn) đóng vai Lý Tiểu Long trong bộ phim truyền hình 50 tập Huyền thoại Lý Tiểu Long do Ðài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV) sản xuất, miêu tả cuộc đời họ Lý từ lúc thơ ấu đến khi lìa trần…

MK

Westminster, CA.

Năm bộ phim đưa Lý Tiểu Long trở thành huyền thoại: Đường Sơn Đại Huynh (The Big Boss, 1971); Tinh Võ môn (Fist of Fury, 1972); Mãnh long quá giang (Way of the Dragon, 1972); Long tranh hổ đấu (Enter the Drangon, 1973); Tử vong đích du hí (The Game of Death, 1978 – thực hiện sau khi Lý Tiểu Long mất).

Sao rơi vào bất tận

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 13/04/2015 

Post by Sơn râu 1 Nov 2024

“Bây giờ nếu ta chỉ miễn cưỡng lắt lay mà sống, sao bằng ung dung chết cho việc nghĩa”. Đó là câu nói Nguyễn Tri Phương thốt lên cuối đời, vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 tại dinh Tổng đốc Hà Nội, nơi ông được triều đình cử về làm người chỉ huy chống trả những đợt tấn công của người Pháp do Thiếu tá Francis Garnier cầm đầu. Nguyễn Tri Phương bị trọng thương, quân Pháp băng bó, ông dứt ra. Đổ thuốc đút cháo vào miệng, ông phun ra. Nhịn ăn uống, đau buồn vì thành mất, nhắm mắt xuôi tay sống tròn danh hiệu “An Tây dũng tướng” do vua Thiệu Trị ban tặng tự năm xưa (1847).
Nguyễn Tri Phương không cô đơn, cái chết của ông là tấm gương sáng mà Hoàng Diệu đã một lần soi mặt. Kế tục tiền nhân, Hoàng Diệu được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tổng đốc hai tỉnh Hà Nội và Ninh Bình. Ông là người nhìn ra vị thế trọng yếu của thành Hà Nội, trong tờ sớ tâu lên Tự Đức có ghi rõ: “Thành Hà Nội như cuống họng của cả Bắc kỳ. Nếu tan tành sẽ là đất lở khiến các tỉnh miền Bắc sẽ lần lượt mất như ngói bung”. Ngày 26 tháng 3 năm 1882, Đại tá Henry Rivière chỉ huy hơn 600 lính cùng 3 pháo hạm theo sông Hồng tiến đánh Hà Nội. Thành vỡ, Hoàng Diệu đến trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự vẫn. Tâm sự gửi về vua Tự Đức trong tờ di biểu ngỗn ngang tấc lòng: “Tôi học lực thô sơ, trách nhiệm quá lớn, được uỷ thác giữ một phương diện trong khi ba cõi chưa yên. Một kẻ thư sinh vốn chưa quen chính trị, mười năm hoà ước, tin sao được lòng kẻ thù… Đã không tài làm tướng, tham thân sống cũng bằng thừa, thành mất cứu không xong, biết chắc chết không hết tội… Dám rằng trung nghĩa gì đâu, chẳng qua sự thế phải thế! Trung nguyên mà đắm chìm thành đất giặc, sống càng sạn mặt với nhân sĩ kinh kỳ, cô trung quyết sống thác với Thăng Long thành thì xin theo bậc tiên thần họ Nguyễn (Nguyễn Tri Phương) dưới chín suối! Mấy dòng lệ máu, muôn dặm của trời, chỉ mong rực rỡ đôi vầng, xét soi thấu tấc son là đủ!”

Nguyễn Tri Phương tên thật là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên quê làng Chi Long huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên (1800-1873). Hoàng Diệu, tự Quang Viễn hiệu Tĩnh Trai quê làng Xuân Đài huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam (1829-1882). Cái chết của hai vị được sử sách ghi đậm chu toàn sắc son trách nhiệm kẻ sĩ: Tướng tử khi mất thành.

Trang sử xưa có khi rơi rụng những chương hồi, mất dấu vết. Bị thời cuộc đảo điên, bị chiến tranh tàn phá, lý ra đất nước Việt tự thân phải là một cuốn sử có bề dày vượt mặt. Hoặc hiềm khích, do lòng oán hận phân ly, nhìn ngó qua lăng kính khác, chữ bạn và thù vẫn hiện hữu qua một lằn ranh mong manh, mỏng hơn cả một trang giấy. Có những cái chết lẫm liệt bị vùi dập trong thời cuộc tranh tối tranh sáng, có những lên đường ngậm ngùi chẳng một ai thống thiết hát lời tiễn đưa. “Người đi ừ nhỉ người đi thật… tiếng đời xô động tiếng hờn câm”.

Riêng cuối tháng 4 đầu tháng 5 năm 1975, miền Nam cô đơn chịu tổn thất với 6 vết thương lòng, sáu trang sử bất hạnh chẳng thấm mực máu ghi xuống thành lời cho hậu thế “ôn cố tri tân”. Họ nào khác gì Nguyễn Tri Phương? Họ là con cháu ruột rà của Hoàng Diệu.

1. Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, dùng súng tự sát trước cột cờ bộ tư lệnh vào lúc 11 giờ sáng 30 tháng 4. Sinh ngày 22 tháng 8 năm 1933 tại Sơn Tây, hưởng dương 42 tuổi.

2. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4, dùng súng Browning bắn vào màng tang tự sát vào khoảng 7 giờ 30 phút sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975. Sinh ngày 23 tháng 9 năm 1927 tại Đà Nẵng, mất ở Cần Thơ, hưởng dương 48 tuổi.

3. Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó Quân đoàn 4, dùng súng lục tự vận lúc 20 giờ 45 phút tối 30 tháng 4. Sinh ngày 27 tháng 3 năm 1933 ở Hóc Môn, mất ở Cần Thơ, hưởng dương 42 tuổi.

4. Chuẩn tướng Trần Văn Hai, Tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh, tự sát vào đêm 30 tháng 4. Sinh năm 1929 tại Cần Thơ, mất ở Mỹ Tho Định Tường, hưởng dương 46 tuổi.

5. Thiếu tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Quân đoàn 2, quyên sinh bằng thuốc uống quá liều tại nhà riêng. Sinh năm 1929 tại Hà Đông, mất ở Sài Gòn, hưởng dương 46 tuổi.

6. Trung tá Cảnh sát Nguyễn Văn Long, Chánh sở Tư pháp vùng 1 Chiến thuật, dùng súng tự sát vào khoảng 2 giờ trưa ngày 30 tháng 4. Sinh ngày 1 tháng 6 năm 1919 tại Phú Hội, Huế, mất tại Sài Gòn, hưởng dương 56 tuổi.

Thi thể Trung tá Nguyễn Văn Long nằm ngay dưới chân tượng đài hai người lính TQLC dựng trước Hạ viện. Sau đó không lâu, bức tượng kia bị giật sập, bụi mờ khoắn lên giữa bao hoang mang cùng cực, khởi đầu một trang sử đen tối đầy bạo lực.

Khác với tiền nhân, những anh hùng thất chí sanh bất phùng thời ấy đã không nói lên câu vĩnh quyết để nhân gian truyền tụng. Họ câm lặng ra đi. Cái kín tiếng kia có khi lại “vàng son” hơn “dám rằng trung nghĩa gì đâu, chẳng qua sự thế phải thế”. Chỉ dấy lên tiếng súng nổ lẻ loi trước phút giã từ vũ khí, thân thể họ ngã xuống thầm lặng ở giờ thứ 25, chẳng màng tới áo quan với lá cờ phủ kín. Họ không muốn ai kia xía phần vào sinh mệnh, họ tự tay mua lấy chiếc vé lẻ và xa đời, bỏ cái hoạt cảnh bát nháo đang đảo ngược phía sau lưng.

Tháng Tư, hãy thắp riêng cho họ những nén nhang như chúng ta được sinh ra ở miền Nam tử tế. Miền đất đẻ ra Phạm Công Thiện:

“đã đi thì đã đi rồi
thượng phương trùng điệp thấy gì nữa đâu
hạ phương ngày tháng bể dâu
sắc son tình cũ phượng cầu tuý hương”.

Vùng đất sinh ra Bùi Giáng:

“đêm đêm đội nón lên chùa
hỏi thăm phương trượng một mùa mưa Xuân
đường xa kết tập dở chừng
huyền sương hoả tuyết sao trừng trị nhau”.

Nơi nuôi dưỡng Thanh Tâm Tuyền:

“Đầm mình trong hạnh của ẩn mật
mắt hoen nhoà hứng giọt thiên thâu
dò dẫm lối về đêm tối mịt
sông xa núi thẳm quê nhà đâu?”.

Chốn nặn ra Tô Thuỳ Yên:

“gà nửa khuya gáy xô trăng muộn
ai hồ nghi lộn kiếp bên này
con chó khóc tru ngoài địa giới
ngờ ngợ người góc biển chân mây”.

Của Cao Đông Khánh dạt trôi Gia Định Sài Gòn Chợ Lớn:

“tôi một bữa ngồi yên như bàn ghế
nắng rọi trong đầu những trắng bao la
….
em đâu biết, tôi bây giờ, hầu như cây kiểng
…..
tôi sống, cảm giác, ngọn dáo đâm trước ngực”.

Của Hàn Mặc Tử ảo ảnh khói sương:

“một mai kia ở bên khe nước ngọc
với sao sương anh nằm chết như trăng
không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
đến hôn anh và rửa vết thương tâm”.

Và của tất cả những ai, “những người khóc lệ không rơi ngoài tim mình”.

Hồ Đình Nghiêm

Sân cỏ, sân đất, sân si

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 3/07/2014 

Post by Sơn râu 1 Nov 2024

Có thể bạn đã mất ngủ bấy chầy kể từ đầu tháng sáu. Có thể bạn thiếp những giấc chập chờn mộng bất an. Có thể bạn đã hay tin em gái bạn vừa bị bọn khốn nạn, ban ngày ban mặt, cướp giật mất chiếc xe gắn máy, một tài sản lớn, may mà tiền mất tật không mang. Em gái bạn, một trong vô vàn nạn nhân, chỉ khan giọng “bình luận”: Ở quê nhà, world cup là mùa tội phạm leo thang. Mùa hạnh phúc sứt mẻ. Mùa của cải đội nón ra đi. Mùa sôi máu và mùa đổ lệ…

Có thể bạn nhìn thấy lỗi lầm của trọng tài người Nhật, ông Yuichi Nishimura thổi còi và chỉ tay vào chấm phạt đền, cho Brazil ghi bàn thắng đối với tuyển Croatia. Bạn đã nghe lời mỉa mai của huấn luyện viên Niko Kovac nói về tình huống bất khả nọ: Nếu đó là quả phạt đền thì chúng tôi không cần phải chơi đá banh nữa, thay vào đó hãy đổi qua chơi bóng rỗ. Hổ thẹn thay!

FIFA treo đầy biểu ngữ quanh sân cỏ: “Nói không với kỳ thị chủng tộc. Đây là trò chơi rất công bằng”. Có thể bạn biết tỏng cầu thủ Robben giả vờ té ngã trong vòng cấm địa để Netherlands hưởng quả phạt đền mang tới thắng lợi chẳng vẻ vang 2-1 trong trận vòng loại gặp Mexico tám lạng nửa cân.

Có thể bạn biết rõ đã có đến 145 bàn thắng của các đội tính tới những ngày bắt đầu vòng loại 1/16. Bạn tường mười mươi Colombia thiếu mặt Falcao nhưng bù lại có hảo thủ khoác áo số 10 mang tên James Rodriguez vừa đánh bại Uruguay với hai bàn thắng được xem là tuyệt phẩm. Có thể bạn ngẩn ngơ với bản án mà FIFA dành cho tiền đạo 27 tuổi Luis Suarez vì tội cắn vai đối thủ người Ý. Có thể bạn từng chao lòng khi ngó ra những Samurai Blue đứng cúi đầu tỏ ý xin lỗi những cổ động viên xứ Phù tang khi để thua 1-2 trước đội tuyển Côte D’ivoire. Có thể bạn mê mệt cách đi banh thông minh và xông xáo của Alexis Sanchez, áo số 7 tuyển Chile. Có thể bạn hiểu trái banh Brazuca của hãng Adidas dùng cho mùa world cup này là thành quả của nhiều phen thử nghiệm. Cầu thủ đều hài lòng vì banh tới đúng mục tiêu theo dự kiến của người sút nó. Chính xác, chuẩn mực.

Có thể bạn thất vọng ngó dáng đi cắm cúi của Ronaldo sớm rời sân cỏ để về lại xứ Bồ Đào Nha. Trước đó bạn từng nắm bắt thông tin đáng yêu của tiền đạo mang áo số 7. Ronaldo đã chi ra 83.000 đô thanh toán kinh phí phẩu thuật màng óc cho em Erik Ortiz Cruz, người Tây Ban Nha 14 tháng tuổi, dĩ nhiên đã lịch sự xin phép gia đình bệnh nhân trước. Có thể bạn hiểu rõ những thuật ngữ Tiki taka, Pura Vida. Và chẳng hồ nghi khi nhìn nhận sự góp mặt luôn yếu kém của nền football đến từ châu Á mà Nam Hàn và Nhật bản là hai “ông lớn” đứng ra đại diện.

Nói chung, bạn sẽ sôi nổi khi vừa theo dõi trận cầu quốc tế vừa đưa ra những lời bình sâu sắc, hiểu biết. Bạn am tường hầu hết tên tuổi các “siêu sao”, kể cả việc họ xuất thân từ câu lạc bộ nào và lương được trả tính theo bảng Anh là mấy chục triệu mỗi mùa. Bạn biết nhiều thứ, xa vời, bên ngoài lũy tre làng. Nhưng đôi lúc, những thông tin sát nách bạn, đang diễn ra từng sát na thì bạn bù trất. Bạn hồn nhiên gần như một kẻ vô tâm. Bạn không dám mặc áo có in hàng chữ Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam, người ta sẽ cười bạn: Mày sợ cũng có lý do, nhưng từ khi Trung quốc đem dàn khoan vào thì tình hình đã khác rồi. Không chừng lãnh đạo họ còn xúi mày mặc nữa là. Hãy sẵn dịp mà ưỡn ngực ra!

Hỏi Đỗ Thị Minh Hạnh là ai? Có thể bạn đực mặt, ấp úng: Cái tên nghe quen, có phải mang áo số 4 hậu vệ cho đội bóng đá nữ Việt Nam vừa bị đội gái Thái Lan đá cho toe tua, thua bầm dập. Ừ, tơi bời hoa lá nhưng đâu cần phải liên hệ tới bóng đá. Đỗ Thị Minh Hạnh là người được trao giải Quốc Tế Nhân Quyền năm 2011. Sinh năm 1985. Bị bắt vào tháng 2 năm 2010. Kết án 7 năm tù. Được ra trước thời hạn do sự can thiệp của “bọn tư bản giẫy chết”. Cô nằm gai nếm mật đúng 4 năm 4 tháng. Già ngày hơn chu kỳ giáp vòng ngày hội bóng đá thế giới. Bốn năm. Tại sao chừng ấy thời gian của một người con gái son trẻ phải chịu lãng phí sau chấn song ngục tù? Bạn có thể mường tượng tập thể cường quyền Việt Nam là một đội tuyển chưa hề biết xỏ giày. Đi chân đất trên vuông sân đầy cỏ cú và cứt trâu, lỗ hê lỗ hủng. Họ hùng hổ giàn quân mà không theo một bài bản nào cả. Họ đạp đổ tất cả chướng ngại, chẳng quan hoài tới việt vị và bóp cổ thủ môn nếu cần. Tất cả luật rừng được áp dụng ấy nhằm đáp ứng cho khẩu hiệu: Toàn thắng ắt về ta!

Loài người văn minh đã phát hoảng với cách chơi hang động ấy. Họ đồng loạt gióng tiếng: Nếu anh muốn thế giới giúp đỡ, trước tiên anh hãy biểu lộ chút thiện chí, bằng cách xin anh hãy thả hết những tù nhân chính trị hoặc họ chỉ đơn giản là những nhà đấu tranh cho nhân quyền. Đỗ Thị Minh Hạnh vừa ra khỏi chốn lao tù tựa một lô an ủi mà mấy triệu tấm vé số còn lại không cách gì trúng giải nào khác. Quá khứ, khi chủ nghĩa Cộng sản lần lượt cáo chung ở Đông Âu, người Tây phương đã nhận định: “Chủ nghĩa Cộng sán là con đường dài nhất và đẫm máu nhất đi từ chủ nghĩa tư bản đến chủ nghĩa tư bản”. Họ không lạ khi ngó tới dung nhan Cộng sản Việt Nam, có chăng chỉ là thoáng ngờ vực: Sao các anh tối dạ và lạc hậu đến thế! Họ có nên lập lại câu của Oscar Wilde: “Give a man a mask, and he will tell you the truth”?

Ở trong nước, gần đây người ta bàn cãi tới cái đề toán dành cho các em học sinh lớp 2 do nhà giáo ưu tú Phạm Đình Thực (ĐH Sài Gòn) biên soạn:

“Trên tàu có 45 con cừu, 5 con bị rơi xuống nước. Hỏi ông thuyền trưởng bao nhiêu tuổi?”. Bạn đang cười mỉm chi đó phỏng? Hãy hình dung tới những khuôn mặt thiên thần 7, 8 tuổi đang bị đọa đày mài đít ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa. Sao thầy nhẫn tâm chơi ác đến khó tin. Chúng sẽ bức xúc ngậm miệng hến ngồi khoanh tay chờ tiếng chuông (gọi hồn ai) báo hết giờ. Chúng sẽ hối hả về nhà hỏi bố mẹ mong có được một đáp án và dĩ nhiên, tất cả những phụ huynh học sinh đáng thương kia sẽ hổ thẹn thưa với con mình (rường cột quốc gia): Biết chết liền! Nói láo hộc máu.

Thử vi phạm bản quyền để cạo sửa cái đề toán đố ấy một phen: “Sài Gòn có 35.000 người bất đồng chính kiến bị cầm tù, 5 vị được tha. Hỏi bao nhiêu năm nữa thì biến mất bọn người còn đảng còn mình?”. Bạn giải được thứ bổ đề bể đầu ấy chăng? Tôi hỏi bạn vì hai lẽ, thứ nhất trình độ học vấn của bạn ắt hẳn phải hơn lớp 2. Thứ nữa bạn có biệt tài cá độ, đoán đâu trúng đó. Nếu bạn bó tay thì xin hãy nói đại một con số theo như niềm khát khao và mơ ước của bạn, của một người Việt Nam.

Bạn ạ, khi nhìn những khán giả chen vai thích cánh đầy chật trên khán đài, vô số các khuôn mặt bôi son trét phấn cuồng nhiệt gào la, tôi không khỏi chạnh lòng để nghĩ ngợi vu vơ, biết tới khi nào mình được là một con dân thực thụ giống họ, hoà mình vào và “cháy” hết lòng khi cổ vũ hổ trợ đội tuyển nhà đang nhễ nhại chạy mờ người mong rạng ngời màu cờ sắc áo.

Tôi chỉ là một khán thính giả thầm lặng, tầm thường và cô đơn, thẩn thờ ngồi đâu mặt trước màn hình nhỏ. Không kèn không trống, chẳng cờ nỏ quạt. Không nhấp nha nhấp nhổm khua chiên gõ mõ, đầu óc tôi dùng dằng, lai vãng rồi tượng hình hai câu thơ của Thâm Tâm:

“Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn câm”.

Hồ Đình Nghiêm
Ngày hè vắng tiếng ve kêu.

Văn nghệ… văn gừng!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 1 Nov 2024

Rowling, có sự nghiệp văn chương không hề suôn sẻ. Bản thảo tập truyện Harry Potter bị 12 nhà xuất bản từ chối. Cho đến khi được Alice Newton, một bé gái lên 8 tuổi, con một chủ nhà xuất bản, đọc xong chương đầu của tập truyện nầy là khẩn khoản xin thân phụ mình đưa cho chương kế tiếp.

Chủ bút Barry Cunningham, một nhà xuất bản ở London, bèn nhận in, ứng trước cho tác giả 1500 bảng Anh, nhưng kèm với lời khuyên là nên kiếm một việc làm toàn thời vào ban ngày để sống… Vì viết truyện cho thiếu nhi không có tương lai xán lạn gì đâu.

Tháng Sáu, năm 1997, quyển đầu tiên của loạt truyện Harry Potter in chỉ có 1000 cuốn. Phân nửa là để phát về cho các thư viện.

Vậy mà chỉ 8 năm sau, năm 2005, khi quyển Harry Potter thứ sáu được phát hành và chỉ trong 24 giờ đầu tiên, 9 triệu cuốn đã được bán ra.

Cả loạt truyện dài có 4,195 trang nhưng như cây đũa thần thông có phép mầu biến một nhà văn nữ người Anh, đang sống trong cùng khốn thành một tác giả kiếm được trên một tỷ đô la Mỹ.

Thật là vô tiền khoáng hậu! Trước chưa có mà sau nầy chắc cũng hổng có luôn.

Tranh Bảo Huân

***

Nhưng so với nhà văn Anh tỉ phú nầy, thì theo ý tui, nhà thơ Lý Bạch (701-762) thời thịnh Ðường bên Tàu ‘ngon’ hơn nhiều.

Lý-Bạch con nhà giàu nên chỉ ăn và giang hồ khắp chốn để làm thơ. 16 tuổi tiếng tăm đã lừng lẫy. Năm 742, Ðường Minh Hoàng cho vời vào triều đình, phong làm Hàn Lâm. Năm 745, là nhà thơ nên sống lè phè rất thơ, nhậu nhẹt tưng bừng lại bị những kẻ ghen ăn tức ở gièm pha nên buồn tình Lý Bạch từ quan, rũ áo ra đi.

Ðường Minh Hoàng tiễn người đi với rất nhiều vàng bạc (nghe thấy mà ham hè!); nhưng Lý Bạch chỉ muốn cái ‘credit card’, nhậu trước rồi ngân khố triều đình sẽ chi trả sau cho chủ quán.

Ðường Minh Hoàng ‘OK’ nên Lý-Bạch tha hồ uống rượu và đi chơi suốt 10 năm. Cho đến một đêm trên bờ sông Thái-Thạch, huyện Ðang Ðồ, tỉnh An Huy, Lý Bạch nhìn thấy trăng ở dưới đáy nước, đẹp quá, liền nhảy xuống, với ý định vớt trăng lên, nhưng chết đuối.

(Cái giai thoại nầy do những độc giả yêu mến Lý Bạch thêu dệt nên, chớ người khác nói rằng rầu quá… nên ông tự trầm ?!)

Suốt cuộc đời, Lý Bạch làm hơn 20,000 bài thơ. (Một con số đáng kể và đáng nể!) Nhưng ông vứt lung tung, không bận tâm cất giữ bài nào.

Ngày nay trong cõi nhân gian chỉ còn được 1,000 bài thơ hay, do độc giả thuộc lòng truyền từ đời nầy sang đời khác.

Như bài: Tĩnh dạ tư. “Sàng tiền khán nguyệt quang/ Nghi thị địa thượng sương/ Cử đầu vọng minh nguyệt/ Ðê đầu tư cố hương!”

Mà nhà thơ Trần Vấn Lệ dịch là: “Tưởng sương trên đất, hóa ra trăng! Ngước mắt khôn ngăn giọt lệ thầm. Cúi mặt, hỡi ơi lòng dạ nát. Quê nhà biền biệt biết bao năm.”

Chú Ba nào phần số phải rời quê lưu lạc, đọc bài nầy đều khóc hu hu!

***

Buồn thay, so với những nhà văn bên Tây, nhà thơ bên Tàu, những người làm văn nghệ nước ta…chỉ có ăn gừng! Mãi mãi là người đến sau… bét. Như bài thơ Nguyễn Vỹ “Gởi Trương Tửu”: “Bây giờ thời thế vẫn thấy khó/ Nhà văn An-nam khổ như chó!/ Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương/ Rồi nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết/ Mà thương cho tôi, thương cho anh/ Ðã rụng bao nhiêu mái tóc xanh!…”.

Than như vậy mà Nguyễn Vỹ còn bị Tản Ðà rầy rà: “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó? Anh không sợ xấu hổ à?”.

Nguyễn Vỹ đáp lại: “Tôi có ví như thế thì chó xấu hổ, chứ chúng ta xấu hổ cái nỗi gì?”

(Con chó xấu hổ vì hạ nó xuống ngang với nhà văn An Nam. Nghĩa là nhà văn An Nam còn khổ hơn là con chó nữa! Hu hu!)

Nhà văn Nguyễn Vỹ (1912-1971)

Nguyễn Vỹ than viết văn nghèo khổ như vậy nhưng đối xử với bạn văn, bạn thơ tốt lắm. “Có lần tôi được nhuận bút 10 đồng, Trương Tửu lấy 4 đồng đi uống rượu đế và ăn thịt chó. Vũ Trang lấy 4 đồng đi Nam Ðịnh!”

Chiều 30 Tết, năm 1936, ‘vạn bất đắc dĩ’ Nguyễn Vỹ phải viết thư vay ông Nhất Linh Nguyễn Tường Tam 5 đồng, vì biết “trong làng văn hôm nay chỉ có ông có tiền” (dù lúc đó hai người còn chưa… quen biết nhau!)

Nhận được 5 đồng từ Nhất Linh, Nguyễn Vỹ cảm động “Tôi không biết cách nào trả ơn ông Nhất Linh: Tôi đưa tấm bạc rách lên môi, hôn nó”.

Hai mươi năm sau, tại Sài Gòn, Nguyễn Vỹ đã trả Nhất Linh 5 đồng còn thiếu nợ từ thời tiền chiến. Nhất Linh đã đem 5 đồng ấy để hai người cùng nhậu. Sau nầy Nguyễn Vỹ vào Sài Gòn, làm chủ báo Dân Ta, bán nguyệt san Phổ Thông, tuần báo Bông Lúa… ông đối xử với nhà văn nhà thơ, cộng tác viên cũng rất tốt. Chắc ông thừa biết mấy tay làm văn nghệ bây giờ cũng nghĩ y hệt như mình thuở trước đó thôi.

***

Trở lại chuyện sau nầy, những người làm văn nghệ thuộc phe chúng ta may mắn di tản ra được nước ngoài sau 75, cầm bút trở lại.

Ðề tài viết qua cuộc biển dâu nầy phải nói là cực kỳ phong phú. Chuyện tù bị đày ải, chuyện gian nan trên đường vượt biển, chuyện lơ ngơ bước đầu trên đường tị nạn đã được các nhà văn nhà thơ viết ra những tác phẩm đẫm đầy nỗi thống khổ, bi thương, làm lay động biết bao tâm hồn độc giả. Sách in ra được nồng nhiệt đón chào.

Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Sự ra đời của internet, của những trang mạng xã hội, người người làm báo, nhà nhà làm báo.
Báo chợ miễn phí, chủ yếu sống nhờ vào tiền quảng cáo. Bài vở thì phần nhiều lấy trên Internet hoặc nguồn sách báo cũ. Các chủ báo thường lựa bài viết nào thu hút nhiều độc giả cứ việc đăng lại. Tác giả cũng không hơi sức đâu để phàn nàn, khiếu nại chuyện này. Thôi thì bài của mình báo nào thơm thảo cho được chục nào hay chục nấy. Báo nào nghèo quá, chôm in lại, một lời cảm ơn bận quá cũng quên, thì cũng đành chịu thế thôi.

Chẳng còn mấy ai sốt sắng bỏ tiền ra mua một cuốn sách để đọc nữa. Một tác phẩm văn học ra mắt, có lần chỉ vỏn vẹn trên dưới hai chục mạng.

Cộng đồng tị nạn của chúng ta hơn 4 triệu người rải rác khắp năm châu, vốn là một dân tộc yêu chuộng thơ văn, rất thích đọc, nhưng tréo ngoe thay số nhà văn, nhà nhà thơ sống bằng ngòi viết của mình chắc tính chỉ được số trăm…. Hu hu!

Mấy hôm nay có vài bạn văn yêu mến, xúi dại, kêu tui in sách chơi. Sách của mình in ai mà không khoái hè? Nhưng đầu tiên là tiền đâu? Vài ngàn đô đối với nhiều người là chuyện nhỏ nhưng với nhà văn nhà thơ nhà báo cộng lại thành nhà nghèo, nó không nhỏ chút nào.

In ra ế, không ai chịu bỏ tiền ra mua, lỗ là cái chắc. Chất đống trong nhà xe chỉ có mối mọt nó mừng.

Thôi thì lỡ mang cái nghiệp vào thân cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Than thở mà chi khi nghĩ lại đến nhà thơ kiệt xuất Nguyễn Du của nước ta khi xưa viết truyện Kiều lừng danh đến thế mà chỉ lời quê góp nhặt dông dài, mua vui chỉ được một vài trống canh là được. Ðâu nghe Nguyễn Du có tiền nhuận bút gì đâu hè.

Dẫu có độc giả thương tình ‘I can you!’. Nhớ đừng có nghe lời xúi dại mà in sách nhe cha nội, nhưng tui vẫn nhứt định không nghe. Phải in mới được tiếng nhà văn chớ. Ðừng cản tui!

Tui sẽ in với điều kiện là ông Trời cho tối thứ Bảy nầy tui trúng ‘Tattslotto’. Ô hô!

Dà: ‘Văn nghệ là văn gừng là vậy đó quý độc giả ơi!’ Gừng nó cay lắm!

Nhưng tay bưng dĩa muối chấm gừng. Gừng cay muối mặn xin đừng… nghỉ viết nghe bạn văn nghệ của mình ơi!

đoàn xuân thu.

melbourne

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net

Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 1 Nov 2024

10. An Lộc Địa

Đại Đội 3 Biệt Cách Dù reo mừng chiến thắng trên chiến xa địch bị bắn cháy

 “Bình Long Anh Dũng!”

“An Lộc địa sử lưu chiến tích

Biệt Cách Dù vị Quốc vong thân”

1)- “Nhị thức Bộ binh, Thiết giáp”

Với ý đồ cưỡng chiếm Miền Nam của tập đoàn cộngsản Hà Nội. Mùa Hè năm 1972 cộng sản Bắc Việt đưa hai Binh Đoàn, đồng lúc tấn công Tây Nguyên (Kontum) và Khu Phi Quân Sự (Vùng Giới Tuyến). Trước tình thế này, Bộ Tổng Tham Mưu đã phải xử dụng đến lực lượng tổng trừ bị: Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến cho hai chiến trường này.

Bất ngờ, tại Quân Khu III, trong đêm 06 tháng 4 năm 1972, từ bên kia biên giới Campuchia, một Binh Đoàn 50 ngàn quân Việt cọng, bao gồm: 4 Sư Độ Binh, 1 Trung Đoàn Chiến Xa, 1 Trung Đoàn Pháo và Phòng Không hiện đại, bất thần tấn công cường tập, tràn ngập Quận Lỵ Lộc Ninh do Trung Đoàn 9 Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Thiết Đoàn 1 Kỵ Binh trấn giữ.

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh gom tất cả các lực lượng cơ hữu còn lại là Trung Đoàn 7 và 8 Bộ Binh, tăng cường thêm Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân lập tuyến phòng thủ mới tại Thị Xã An Lộc để ngăn chận địch.

Ngày 13 tháng 4 năm 1972, Việt cộngxiết chặt vòng vây, bắt đầu tấn công bộ chiến với nhị thức bộ binh và chiến xa vào An Lộc. Lực lượng phòng thủ tại đây đã quyết chiến, chống trả mãnh liệt, tổn thất nặng nề, không phận đã bị địch quân khống chế, trực thăng tiếp tế và tản thương không thể vào An Lộc được, tình thế vô cùng nguy nan.

Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và Bộ Tổng Tham Mưu nhận định tình hình, cần phải tăng cường gấp cho lực lượng phòng thủ, nếu chậm trể thì An Lộc sẽ thất thủ, và nếu tiền đồn An Lộc lọt vào tay địch thì hai tiếng đồng hồ sau đó chiến xa địch sẽ tới Bình Dương và Thủ Đô Sài Gòn sẽ bị đe dọa. Bộ Tổng Tham Mưu cuối cùng quyết định tung Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù vào tiếp viện.

Trong thời gian này tôi đang theo học Khóa Đại Đội Trưởng tại Trường Sĩ Quan Bộ Binh Thủ Đức, thì được tin trong ngày 16 tháng 4, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã nhảy vào  tiếp viện, tăng cường cho mặt trận  An Lộc và đã bắt tay được với các lực lượng bạn cố thủ, đang trong tình huống hết sức nguy ngập, các tuyến phòng thủ đang bị “thủng” dần.

Sơ Đồ Chiến Trường An Lộc

Theo tin tình báo cho biết, Việt cộngđã cố tình tung 4 Sư Đoàn 5, 7, 9 và Sư Đoàn Bình Long, ngoài ra còn tăng cường một Trung Đoàn Đặc Công, hai Trung Đoàn Pháo và Phòng Không, hai Trung Đoàn Xe Tăng, đây là lần đầu tiên chúng xử dụng xe tăng trên chiến trường Miền Nam, cố chiếm An Lộc trong vòng 5 đến 10 ngày, để ra mắt cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của chúng.

Vừa suy tư về tin tức nóng bỏng này, vừa lo âu cho đơn vị của mình tham gia trận đánh đang xảy ra ác liệt, tôi nôn nóng, băn khoăn vô cùng…Cũng may, một tháng qua mau thì mãn khóa, tôi vội vàng về trình diện Bộ Chỉ Huy hậu cứ đơn vị tại Ngã tư An Sương, Hốc Môn. Toàn bộ các Đại Đội Biệt Cách Dù đã vào chiến trường đã nửa tháng nay rồi, mà không có tôi cùng chiến đấu, cùng chia sẻ gian khổ, nguy nan cùng đồng đội. Yên lòng sao được.

Tôi cùng Thượng sĩ Phạm Văn Cứ cũng vừa đi tập huấn Taekondo trở về, nhận lệnh vào chiến trường ngay ngày hôm sau. Xe Jeep của Liên Đoàn đưa chúng tôi đến Lai Khê nơi Bản Doanh của Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, từ đó Trực Thăng UH.1B đã bốc thả chúng tôi xuống bên ngoài Thị Xã, vùng Xa Cam. Để tránh phòng không của địch, bây giờ chúng sử dụng cao xạ 37 ly (đạn nổ lần hai sau khi trúng mục tiêu), không còn dùng 12.7 như trước kia, Phi Công Việt Nam phải bay thật thấp, sát ngọn cây. Vừa tới bãi đáp ngay giữa Quốc Lộ 13, chúng tôi nhảy liền xuống, cả hai men theo rừng cao su tìm đường vào Đơn Vị, đang trú đóng ở giữa lòng Thành Phố. Lúc ấy trời vừa quá trưa.

Trên đường tiến vào Thành Phố Bình Long, nhà cửa cây cối điêu tàn, xơ xác, một vài nơi lác đác những cột cháy đen còn đang bốc khói. Rãi rác xác địch nằm ngổn ngang, những khuôn mặt măng sữa, chừng độ 14, 15 tuổi. Vượt qua tuyến phòng thủ của Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5 của Đại Tá Mạch Văn Trường, rồi băng qua Công Viên Hoàng Hôn, chúng tôi đã đến Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Đoàn đóng tại một căn phố lầu, bên cạnh Cửa Hàng Tân Hoài Sương, trên Khu Phố đối diện Khu Chợ Bình Long.

Trình diện Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng xong, tôi nhận lệnh làm phụ tá Đại Đội Trưởng Đại Đội 1, Đại Đội Trưởng là Đại Úy Nguyễn Ích Đoan, đang phòng thủ hướng Đông Đông Bắc, bên trái trục lộ chính Quốc Lộ 13, cửa ngõ Thành Phố, hướng đi Lộc Ninh. Bấy giờ thì Lộc Ninh đã bị Việt cộngchiếm giữ mất rồi.

Bọn giặc cộng không thể tiên liệu được là đơn vị Biệt Cách Dù đã nhảy vào Thị Xã An Lộc và đang mở các cuộc đột kích sở trường, thiện chiến để dành lại các phần đất đã lọt vào tay chúng.

Thị Xã An Lộc trở thành bình địa

Các Đại Đội Biệt Cách Dù, phòng ngự ba hướng chính của Thành Phố. Đại Đội 1 giữ hướng Đông Đông Bắc, Đại Đội 3 và 4 bố trí quân dọc theo Khu Nhà Thờ ở hướng Tây và Tây Bắc, Đại Đội 2 là lực lương trừ bị, rải quân phòng thủ ở khu vực chợ về hướng Nam cùng các dãy lầu phố kế cận Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Liên Đoàn.

Tình hình bấy giờ là quân Việt cộngvẫn còn chiếm giữ một số khu vực trong Thành Phố. Chúng đặt chốt trên các đường chính, trong các cao ốc còn sót lại ở hướng Đông Bắc và Tây Bắc, phân chia từng Tổ 3 người để bắn sẻ, hay tác xạ B.40, B.41 ngăn chận các cuộc chuyển quân, tấn công của các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Mặc dù các khu vực hướng Bắc đã lần lượt tái chiếm, nhưng lực lượng địch tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến vẫn cố thủ, chúng dùng đại bác 57 và 75 trực xạ, nhưng cuối cùng với sự yểm trợ hỏa lực của Không Quân Hoa Kỳ và kỷ năng tác xạ súng cối 81 ly chính xác, hiệu quả của Trung Úy Cao Kỳ Sơn và Trung Sĩ Đỗ Đức Thịnh, cùng với lối tác chiến chuyên nghiệp, gan dạ, Biệt Cách Dù đã tiêu diệt toàn bộ bọn chúng ngay trong chiều ngày 18.4.1972. Tuy nhiên Biệt Cách Dù cũng đã phải ngậm ngùi trước sự hy sinh của Chuẩn Úy Nguyễn Quang Khánh và một số đồng đội.

Một phần lớn dân chúng đã thoát ra khỏi Thành Phố, theo QL.13 chạy về hướng Saigon, nhưng đồng bào bị Việt cộng pháo kích sát hại, một số bị chận lại ở Chơn Thành không cho chạy nữa. Đồng bào chết giữa lửa đạn hay sao? cộngsản không quan tâm. Không lý chúng làm Lễ ra mắt “Chính Phủ ma” ở một “Thành Phố ma”, Thành Phố không còn dân, dân chúng đã bỏ chạy hay sao?

Ngày 19 tháng 4 năm 1972, Việt cộngbắt đầu mở cuộc tấn công mới, với ý muốn dứt điểm Thành Phố, kết thúc trận đánh, thực hiện tham vọng giải phóng toàn bộ Thị Xà An Lộc. Chúng đưa Trung Đoàn 141, Trung Đoàn 275 với Đặc công và Chiến xa T.54 yểm trợ tấn công Đồi Gió, chúng áp dụng chiến thuật biển người, nhưng chúng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù do Trung Tá Nguyễn văn Đĩnh chỉ huy, ngoài ra chúng còn pháo kích dồn dập vào ngay Thị Xã và sau đó ào ạt tấn công từ hai hướng Tây và Tây Bắc, nhưng chúng cũng đã bị các Chiến Sĩ 81 Biệt Cách Dù Đại Đội 3, Đại Đội 4 và các Đại Đội Biệt Động Quân phản công triệt hạ nhiều địch quân, thiêu hủy  một số chiến xa, gây thảm bại cho bọn chúng.

Chiến xa địch bị bắn cháy khắp các ngã đường

Đến Ngày 4 tháng 5, một lực lượng địch, không rõ quân số, lợi dụng đêm tối, tấn công vào phòng tuyến của Đại Đội 3 và 4 hầu mong dành lại những khu vực đã bị Biệt Cách Dù tấn chiếm. Suốt một đêm giao tranh, chúng đã bỏ lại nhiều xác chết nằm vương vãi bên ngoài giao thông hào. Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 Đại Úy Đào Minh Hùng, bị trọng thương và sau đó không lâu Đại Đội Phó Trung Úy Nguyễn Khoát Hải, bị mãnh đạn súng cối trúng vào mắt, Trung Tá Phan Văn Huấn đã đưa tôi về đảm nhận chức vụ Đại Đội Trưởng Đại Đội 4 Biệt Cách Dù.

Quân cộngsản áp dụng đúng chiến thuật của Napoléon: “tiền pháo hậu xung”. Trong nửa đêm ngày 10, rạng sáng ngày 11 tháng 5 năm 1972, bọn chúng rót xuống Thành Phố 8 ngàn quả đạn pháo. Với hỏa lực đó không những Thành Phố An Lộc nhỏ xíu thành bình địa, mà tất cả các đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị tiêu diệt. Không một sức đối kháng nào có thể tồn tại.

Mặc dù địch đã pháo xối xả, ác liệt vào Thành Phố chỉ trên 1 cây số vuông, nhằm hủy diệt hoàn toàn binh lực của chúng ta, nhưng bọn chúng đã hoài công, chẳng mang lại được kết qủa hay tổn thất gì đáng kể.

Các lực lượng cố thủ và tăng cường giải tỏa Thị Xã Bình Long, không phòng thủ tập trung trong một khu vực tại trung tâm Thành Phố, mà đóng rãi rác trên một chu vi rộng lớn, với các công sự, hầm hố kiên cố, vững chắc; hơn nửa lực lượng địch và ta lúc đó cũng đang bố trí cận kề, nên địch không thể liều lĩnh hỏa tập để sát thương, gây tổn thất nặng nề luôn cho bọn chúng.

Dứt các đợt pháo, theo hướng dẫn của của du kích địa phương, có cả đặc công và bộ binh tùng thiết, theo đúng chiến thuật “nhị thức bộ binh, thiết giáp”, khoảng hơn 20 xe tăng T.54 của địch tiến vào Thành Phố, theo ba hướng khác nhau. Hướng phòng thủ của các Đại Đội Biệt Cách Dù đã tiên đoán và sẵn sàng chờ địch. Bộ binh, đặc công Việt cộngtiến song song theo xe tăng, chúng vừa đi vừa bắn phá dữ dội.

Bấy giờ, về phía các Đại Đội Biệt Cách Dù phòng ngự, mìn chống tăng thiếu hụt. Một số lớn đã được sử dụng trong các trận đánh trước, công việc tiếp liệu chưa cung ứng kịp. Vả lại, loại mìn chống tăng hiện có, sức công phá còn yếu, chưa đủ để phá hủy toàn bộ xe tăng địch. Trung Tá Phan Văn Huấn đã sáng chế ra một loại mìn chống tăng “thần kỳ”.

Theo lệnh của Ông, các Đại Đội đã xử dụng đạn đại bác 105 ly hay 155 ly không nổ, đút vào đầu viên đạn một thỏi chất nổ TNT, gắn ngòi nổ mìn Claymore vào đấy, xong đặt mìn trên các con đường trước tuyến phòng thủ, chờ xe tăng địch tới đúng vị trí, bấm vào “con cóc”. Sức công phá của loại mìn chống chiến xa tự chế nầy đạt hiệu quả tối đa. Không những xe tăng bất động, bị cháy, mà bộ binh tùng thiết cũng gánh chung số phận và trên đường tạo ra một hố sâu rộng lớn đã làm cản trở đường chuyển vận của các xe tăng bọn chúng.

Nhờ vào sáng kiến này mà hơn 10 chiến xa T.54 của địch đã bị các đơn vị Biệt Cách Dù phá hủy, số chiến xa còn lại đã bị các đơn vị Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Trung Đoàn 8 Bộ Binh, và Địa Phương Quân tác xạ tiêu hủy bằng hỏa tiễn M.72 và XM.202, thây địch chết, bị thương nằm ngổn ngang, la liệt bên các xe tăng địch, trên khắp các ngã đường trong Thị Xã Bình Long, An Lộc.

Trên hướng phòng ngự của Đại Đôi 2, hai chiếc T.54 trúng mìn tan xác tại chỗ, hai chiếc còn lại đằng sau, quay mũi xe bỏ chạy lạc hướng, cũng đã bị các đơn vị Bộ Binh của Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5 triệt hạ. Trước thất bại này, khả năng chiến đấu của chúng không còn, các chiến sĩ Biệt Cách dù đã leo lên đứng trên chiến hào, trên các xe tăng địch hoan hô chiến thắng của mình vang dội cả một vùng trời mù mịt khói lửa, đạn bom.

Đại Đội 3 Biệt Cách Dù reo mừng chiến thắng
trên chiến xa địch bị bắn cháy

  1. Đuổi chuột…

(Đánh chiếm từng nhà)

Địch sau các cuộc tấn công qui mô, áp đảo, chúng không còn khả năng tấn công lớn nữa, vì thế các Đại Đội Biệt Cách Nhảy Dù được lệnh “đuổi chuột từng nhà”, quét sạch địch khỏi Thành Phố. Việt cộngtháo lui, đang ẩn núp trong các nhà dân bỏ hoang, chúng chiếm cứ một vài cao điểm để bắn sẻ vào binh lính chúng ta. Ngoài ra, không ít cán binh Việt cọng, sau khi đơn vị chúng bị đánh tan tác, bị đánh đuổi ra khỏi Thành Phố, chúng bị kẹt lại nên cũng lẩn trốn trong nhà dân, chưa biết cách tấn thối như thế nào. Tuy nhiên, vũ khí chúng vẫn còn trong tay, còn có thể gây nguy hiểm cho binh sĩ của chúng ta.

Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn lệnh cho các Đại Đội Trưởng phải nhanh chóng trừ khử toàn bộ bọn chúng. Sở trường chuyên nghiệp của Biệt Cách Dù bắt đầu đem ra tái sử dụng. Các Toán, chờ trời vừa sụp tối là triển khai đội hình, “đục tường” tiến từ nhà nầy qua nhà khác, tiêu diệt địch từng tên một bằng vũ khí cá nhân là dao găm, lựu đạn. Trong trường hợp nầy, lựu đạn là loại vũ khí đắc dụng nhất, “đục tường” chỉ là một cách nói. Việt cộngbắn phá Thành Phố một cách bừa bãi, không phân biệt mục tiêu quân sự hay nhà ở của dân chúng, nên hầu hết nhà cửa đều bị sập hoặc hư nát. Nhờ vậy, các Chiến sĩ Biệt Cách Dù đã lợi dụng những bức tường nứt đổ, những vách tôn, vách lá rách nát, để tiến từ nhà nầy qua nhà khác. Lần hồi, nội vi Thành Phố không còn bóng dáng địch. Chúng chỉ còn cầm cự vòng ngoài, thỉnh thoảng pháo kích đạn cối vu vơ vào Thành Phố để cầm chừng.

Mục tiêu còn lại cuối cùng là Đồi Đồng Long. Để chuẩn bị cho cuộc tấn công tái chiếm Đồi Đồn Long, trong lúc khai triển đội hình khi đến gần chân đồi với đầy dẫy cây rừng hoang dại, các Chiến Sĩ Đại Đội 2 Biệt Cách Dù đã phát hiện một căn hầm, nằm khuất lấp dưới những tấm ván gỗ và những cỏ cây xác xơ  vì bom đạn,. Các Binh sĩ áp sát đến miệng hầm, họ nghe vài ba tiếng động sột soạt nhỏ phát ra từ bên trong. Rất thận trọng, họ chưa vội nổ súng hay tung lựu đạn mà chỉ phát lời kêu gọi đầu hàng, đồng thời cấp báo ngay về Bộ Chỉ Huy Hành Quân, Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn ra lệnh Đại Úy Sơn cho Binh sĩ quan sát kỹ càng, có thể là địch quân mà cũng có thể là đồng bào, nhưng bất kể họ là ai, với hơn hai tháng chiến trận xảy ra nơi đây, không lương thực, nước uống, thì đâu còn sức đề kháng để chống cự, phải tìm mọi cách đưa họ ra khỏi căn hầm đó. Và thật không thể tưởng tượng được, chỉ vài ba phút sau đó, có hai em bé gái khoảng chừng 6, 7 tuổi bò ra, trên người chỉ còn những mảnh vải rách nát, tả tơi che thân, đất bùn, ghét bẩn bám đen xì trên thân thể khô cằn, còm cỏi, chỉ còn da bọc xương, hai mắt sâu hoắm trên một khuôn mặt hốc hác, ngây dại, thờ thẩn, giọng nói khàn đục, thiểu não, nhìn hai bé chẳng khác gì hai bộ xương biết đi, thật quá đổi thương tâm, đau lòng, không ai có thể cầm được nước mắt.

Trung Tá Chỉ Huy Trưởng đã mang hai bé về Bộ Chỉ Huy Hành Quân và giao cho Ban Quân Y của Bác Sĩ Nguyễn Thành Châu khám nghiệm, chữa trị, chăm sóc cho đến khi hai bé tạm bình phục và hai bé đã kể lại mọi sự việc như sau: “Hai cháu tên là Hà Thị Loan và Hà Thị Nở, con của Trung Sĩ Hà Văn Hiến, phục vụ tại Tiểu Khu. Khi Việt cộng tấn công, pháo kích vào An Lộc, Mẹ cỏng em trai 4 tuổi và đắt hai cháu chạy giặc, thì bất ngờ Mẹ bị trúng đạn pháo chết ngay tại chổ, em trai bị thương nặng ở chân. Chúng cháu liền cỏng em trai chạy xuống ẩn trú trong một cái hầm kế cận chân đồi Đồng Long, trong đêm hôm đó em trai cháu chết, quá khó khăn để chôn cất, nên chúng cháu để xác em trai nằm bên cạnh cho đến thối rửa chỉ còn bộ xương. Chúng cháu trốn ở đó suốt hơn hai tháng, lúc đầu may nhờ có một số cơm gạo sấy của ai bỏ lại đã ăn dần, về sau ăn sống luôn mấy con gà con lạc mẹ đang trốn chung trong hầm. Cạn kiệt lương thực, đói quá ban đêm khi không còn nghe tiếng đạn pháo kích, thì mò ra khỏi hầm kiếm rau cỏ mà ăn. May nhờ đến ngày hôm nay được các bác tìm thấy mà cứu sống các cháu.

Trong năm 1973, Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đã đưa hai cháu Loan và Nở lên Đài Truyền Hình Sài Gòn, để kể lại bao nổi gian khổ, đói khát hãi hùng, kinh hoàng trong hơn hai tháng ẩn trốn ở An Lộc. Đến năm 1974, hai cháu đã được một người Mỹ nhận làm con nuôi, và hiện nay đang định cư tại Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

  1. Tái Chiếm Đồi Đồng Long.

Đến ngày 12 tháng 6 năm 1972. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù được lệnh tái chiếm Đồi Đồng Long. Đây là một trận đánh sinh tử, quyết liệt cuối cùng mà Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đã được cấp trên tin tưởng giao phó. Vận mạng của An Lộc cũng sẽ tùy thuộc vào sự thành bại trong trận huyết chiến này.

Đích thân Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã điều động Đại Đội 2 và Đại Đội 3 chia làm hai cánh, Đại Đội 3 do Đại Úy Phạm Châu Tài chỉ huy, sẽ tiến quân từ hướng Đông và Đại Đội 2 do Đại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy, phối hợp cùng hai Toán Thám Sát do Thiếu Úy Lê Văn Lợi chỉ huy, sẽ tiến quân từ hướng Nam, tất cả lợi dụng vào nửa đêm trời tối, âm thầm, kín đáo bò sát lên đỉnh đồi, nằm ém quân tại chỗ, đợi cho đến khi trời vừa hừng sáng, sau khẩu lệnh xung phong của Đại Úy Sơn, tất cả đã đồng loạt nổ súng xối xả, tấn công vào các pháo tháp, hầm trú ẩn của địch quân, bọn địch dù đông, công sự phòng thủ vững chắc, nhưng quá bất ngờ, không kịp trở tay trước lối đánh thần tốc, táo bạo của Biệt Cách Dù, nên một số đã bị sát hại, số còn lại vừa định thần đã phản ứng chống trả, nhưng không ngăn cản được quyết tâm tái chiếm đồi Đồng Long của các Chiến sĩ Biệt Cách Dù, cuối cùng chúng cũng đã bị tiêu diệt, hay đã phải buông súng đầu hàng.

Hai Toán Thám Sát đã không chậm trễ, khai triển đội hình công hãm và thanh toán cứ điểm cuối cùng của địch trên chóp đỉnh, bốn tên địch quân ngoan cố cầm cự trong tuyệt vọng, để rồi phải phơi thây thảm khốc. Thiếu Úy Lợi và các Toán viên đã mừng rơi nước mắt, cùng cầm Quốc Kỳ Việt Nam CộngHòa cắm xuống ngay trên đỉnh Đồi Đồng Long.

Lá Cờ Vàng ba sọc đỏ lại bắt đầu ngạo nghễ tung bay trước gió, giữa bầu trời một màu trong xanh pha trộn những tia sáng rực rỡ của ánh bình minh, đánh dấu cho một ngày mới, một ngày mà An Lộc, Bình Long đã sạch bóng quân thù, một ngày mà Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III đã ra tuyên bố: “Thành Phố Bình Long, An Lộc đã hoàn toàn được giải tỏa”.

       Trước chiến thắng vang dội, hiển hách của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh khi đến thị sát chiến trường An Lộc, đã thừa lệnh Tổng Thống và Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH, gắn cấp bậc Đại Tá đặc cách tại mặt trận cho Trung Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Cùng lúc đó, Tướng tử thủ Lê Văn Hưng đã không tiếc lời khen ngợi và hầu hết các đơn vị tham chiến tại Bình Long đều vui mừng, bày tỏ lòng cảm phục đối với các Chiến sĩ 81 Biệt Cách Dù đã anh dũng chiến đấu tiêu diệt quân thù, dành lại những phần đất đã lọt vào tay bọn chúng.

  1. Nghĩa Trang

Dĩ nhiên, trong một trận đánh dữ dội nhất nhì trong Lịch sử Chiến tranh Đông Dương, Việt cộng tung hết lực lượng sẵn có ở miền Đông Nam Bộ và các Sư Đoàn thiện chiến của chúng từ Miền Bắc xâm nhập vào chiến trường An Lộc. Bên phía Chính Quyền và Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa quyết tử chiến, giữ không cho giặc chiếm một tất đất nào, nên đã đưa vào mặt trận những Đơn vị Quân Đội nổi danh, thiện chiến, thì sự hy sinh, tổn thất của hầu hết các đơn vị này không phải là ít, trong đó có Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù của chúng tôi.

Với các Chiến Sĩ tử vong tại mặt trận, ban ngày chết bất cứ ở đâu, thì ban đêm đều được đồng đội mang về tập trung chôn cất ở khu đất cạnh Chợ An Lộc, như nghiêm lệnh của Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn. Không thể chôn cất ở một địa điểm nào xa Thành Phố vì tình hình chiến sự bấy giờ không cho phép, Liên Đoàn sử dụng khu đất trống phía trước Chợ An Lộc để an táng những Chiến Sĩ Biệt Cách Dù đã nằm xuống. Việc chôn cất khẩn cấp, giữa lúc giao tranh vẫn đang còn tiếp diễn, dù vậy chúng tôi thực hiện một cách nghiêm chỉnh. Mộ có hàng lối, có đắp nấm và có bia gỗ khắc tạm tên tuổi, v.v…

Về sau này, đích thân tôi được Trung Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn chỉ thị phác thảo họa đồ, điều động một Toán 4 binh sĩ, gồm có Hạ sĩ Sang, Hạ sĩ Trúc (Đại Đội 4), Hạ sĩ 1 Diệp, Binh 1 Ngà (Đại Đội 1) bắt tay vào sửa sang 68 phần mộ, dựng các bia đá có khắc ghi đầy đủ Danh Tánh, Cấp Bậc, Ngày Tháng tử trận và xây dựng khuôn viên bao quanh Nghĩa Trang, mặt chính diện ghi khắc hai câu thơ:“Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” và dựng lập một Đài Tử Sĩ “Tổ Quốc Tri Ơn” bằng gạch, tô ciment, cao 10 ft, bên dưới bệ khắc nổi hai câu thơ:

“An Lộc Địa sử lưu chiến tích.

Biệt Cách Dù vị Quốc vong thân” 

Vật liệu cần thiết cho công việc nầy là xi măng, gạch cát phần lớn là do các Hiệu Buôn trong khu vực Liên Đoàn phòng thủ ủng hộ. Tôi phải kể đến sự đóng góp cao quí của cửa hiệu Tân Hoài Sương đã hết lòng hỗ trợ. Ngoài ra, chúng tôi sử dụng một số xi măng của các Cửa Hiệu đã bị đạn pháo kích của Việt cộngtàn phá, chủ nhân đã di tản.

Về sau chính quyền Tỉnh, theo sự đề nghị của Trung Tá Huấn, đã đền bù cho chủ nhân các thương hiệu nầy, theo chính sách gọi là “bồi thường chiến tranh” của Bộ Xã Hội, Chính Phủ VNCH.

Về hai câu đối ghi ở Đài Tử Sĩ Tổ Quốc Tri Ơn, phát xuất từ hai Câu Thơ của Cô Giáo Pha dạy ở Trường Tiểu Học Thị Xã Bình Long. Cô Pha trúng đạn pháo kích bị thương ở chân, không di chuyển được. Biệt Cách Dù đưa Cô về Trạm Xá Dã Chiến ở cạnh Bộ Chỉ Huy chăm sóc. Khi thương tích đã bớt, đi lại được bằng đôi nạng gỗ do các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù tự chế, hằng ngày cô nhìn qua cửa sổ, thấy chúng tôi dưới làn mưa đạn, mịt mù khói lửa đang cặm cụi chôn cất, đắp mộ, dựng bia cho các đồng đội đã hy sinh. Xúc cảm trước những tử vong cao cả này và với lòng cảm mến, đội ơn sâu xa của một người dân với Quân Đội VNCH nói chung và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù nói riêng, cô đã sáng tác hai câu thơ:

“An Lộc Địa Sử lưu chiến tích,

Biệt Cách Dù vị Quốc vong thân”

Khi tình hình Thị Xã tạm yên. Vào ngày 7 tháng 7 năm 1972, trong chuyến viếng thăm chiến trường An Lộc, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Tổng Trưởng Dân Vận Hoàng Đức Nhã và Tướng tử thủ Lê Văn Hưng đã đến kính cẩn quỳ lạy, niệm hương cầu nguyện và rơi nước mắt trước Đài Tử Sĩ của Nghĩa Trang 81 Biệt Cách Dù.

Sau sự kiện này, Thị Xã An Lộc đã hoàn toàn nằm trong vòng kiểm soát của Quân Lực Việt Nam CộngHòa.

Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù chúng tôi sau 68 ngày chiến đấu đã hy sinh 68 Chiến sĩ và hơn 300 Quân Nhân bị thương tích. Đến ngày 24 tháng 6 năm 1972, Liên Đoàn được lệnh rút khỏi An Lộc, về nghỉ dưỡng quân 2 ngày tại Bộ Chỉ Huy đơn vị ở ngã tư An Sương để bổ sung quân số, trang bị lại đầy đủ vũ khí, quân trang, quân dụng, và 48 tiếng đồng hồ sau đó, ngày 28 tháng 6 năm 1972 lại khăn gói lên đường ra Vùng I hỏa tuyến để tham gia tái chiếm Cổ Thành, Quảng Trị.

Hết “Bình Long Anh Dũng”, bây giờ là “Trị Thiên Vùng Dậy”.