This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chương 5 Bốn năm đứa xúm xít lại quanh ba cái giường sắt kê sát vào nhau. Con Dung bò nhoài ra chính giữa. Cằm nó tì lên trang giấy màu vàng úa của quyển sách cũ kỹ. Miệng nó leo lẻo đọc: « Lúc Khang nhỏm dậy thì Trang tấm tức khóc »… Con Huyền chen vào:
Mày đọc nhẩy cóc rồi, tại sao tự nhiên Trang lại khóc? Dung tức giận:
Mày mở mắt lành, banh mắt méo ra mà coi xem tao có đọc nhẩy cóc không?
Thế thì tại sao tự nhiên Trang lại khóc cơ chứ? Hồng nóng nghe nên giảng hòa:
Chắc là tại chúng nó đánh nhau. Để yên nó đọc tiếp cho mà nghe thi mới hiểu được. Dung tiếp:
Lúc Khang nhỏm dậy thì Trang tấm ức khóc. Khang bẽn lẽn kéo chiếc mền mỏng lên tới ngực nàng rồi cất giọng nài nỉ: “Đừng khóc đi em. Anh yêu em. Anh yêu em trọn đời. Chúng mình sẽ làm lễ cưới “. Con Huyền đắc chí:
Tao nói có sai đâu. Chúng nó vẫn yêu nhau mà. Nhưng tại làm sao cô Trang lại khóc cơ chứ? Con Dung tức mình:
Thôi mày im mồm đi. Không muốn nghe thì đi chỗ khác. Rồi nó đọc tiếp: “Nghe Khang nói, Trang lại càng khóc to hơn. Nàng có cảm giác như mình vừa mất đi một cái gì quý giá nhất trên đời. Mặc dầu nàng biết Khang không phải như trăm ngàn kẻ khác quất ngựa truy phong sau khi phá hoại cuộc đời của người con gái…” Có tiếng kẹt cửa ở bên ngoài làm cả bọn bật dậy. Con Dung dúi ngay quyển sách xuống nệm giường giả vờ nhắm mắt ngủ. Nhưng đó là tiếng guốc của chị Thanh đang lách vào. Chị ấy đứng ở đầu phòng nói to:
Có em nào nom thấy quyền sách của chị bọc giấy báo ở trong phòng xép để đồ không? Con Dung thò chân sang chí Phượng một cái rồi nói to:
Quyển sách gì cơ hở chị?
À… quyển…. một quyển sách học…
Thế thì chúng em không biết. Bọn chúng em không bao giờ vô phòng xép làm gì cả.
Em nói dối, chị gặp em nhiều lần lảng vảng ở đấy. Dung cãi:
Em lảng vảng nhưng em không vào. Không bao giờ em vào cả vì các Ma Soeur dặn rằng trong ấy có ma.
Ma Soeur nào dặn em như thế?
Em quên mất rồi!
Vậy để chị đi hỏi xem Ma Soeur nào lại tin có ma như vậy. Những người tu hành không bao giờ sợ ma cả. Dung lấp liếm:
Có lẽ em nhầm. Có lẽ em trông thấy chứ không ai nói gì cả.
Em trông thấy ma hồi nào? Con Dung độc ác:
Rất nhiều lần. Em thấy nó lúi húi ở gầm tủ. Em sẽ đi mách Ma Soeur điều ấy. Thanh tiến sát lại gần nó làm nó ngồi phắt dậy, nép vào một góc giường. Mặt nó vênh váo, khiêu khích. Nhưng chị Thanh không làm gì nó cả. Chị ngồi xuống một bên mép giường dịu dàng nói:
Chị van Dung, Dung trả cho chị cuốn sách ấy đi.
Sách nào của chị mới được chứ?
Cuốn sách mà chị bỏ quên dưới phòng xép ấy.
Thế thì em không biết.
Dung trả chị rồi muốn gì chị cũng cho.
Em không muốn gì cả và cũng không hề lấy sách của chị. Em lấy làm gì mới được cơ chứ?
Cho chị đổi vậy. Chị đổi cho Dung lấy một xấp ảnh tô màu thật đẹp.
Em không cần ảnh, mà em cũng không có có gì để đổi cho chị cả,
Có, em có cuốn sách, chị chỉ cần cuốn sách ấy thôi. Con Dung vặc lên:
Thôi chị đừng nói nữa. Chị đừng vu oan giá họa. Em không phải là đồ ăn cắp. Cổ họng Thanh ứ lên. Nàng biết nước mắt của nàng sắp trào ra. Nhưng nàng cố gượng cười, dịu dàng nói:
Thì ai bảo em là ăn cắp. Chị nói rằng em có bắt được thì cho chị xin.
Em chẳng bắt được gì hết. Bây giờ Phượng mói vụt cất tiếng:
Có, Dung có bắt được. Hãy trả lại cho chị Thanh đi Dung. Con Dung la lên:
Đồ nói dối! Quỷ sứ sẽ vặn lưỡi mày ra. Tao không biết cuốn sách học nào cả. Tao chỉ thấy có cuốn tiểu thuyết thôi. Mặt chị Thanh tươi lên, chị nói hớn hở:
Phải rồi! Đúng rồi đấy. Đó là cuốn tiểu thuyết của chị. Hãy cho chị xin. Dung nằm quay ngoắt vào phía trong tường:
Em không biết! Em sẽ mang trả lại cho ma soeur! Thanh nghẹn ngào:
Tại sao lại trả cho ma soeur. Chị đã nói là của chị rồi mà.
Chị lên trên ấy mà hỏi. Em đã đem trả từ lâu rồi. Thanh nén không được nữa. Nàng xô thẳng lại phía con Dung và tát xéo ngay vào mặt nó. Bị tát bất ngờ, con bé gào lên khóc. Hai chân nó đạp lên nệm giường, hai tay nó cào cấu lên mặt và lên người chị Thanh rồi nó tụt ngay xuống đất chạy ra phía cửa la hét om sòm:
Đồ bắt nạt! Đồ ăn hiếp! Phá giấc ngủ trưa của người ta. Bọn trẻ trong phòng nhỏm dậy nhốn nháo. Có đứa khôn hồn trèo tuốt lên giường giả vờ ngủ nhưng hé mắt nhìn ra. Trong khi ấy chị Thanh gục xuống nệm giường khóc lên rưng rức.
Má ơi má, Sao má không cho con ở gần bên má. Sao má lại bắt con ở trong cái nhà này. Con không yêu bà bạn của má. Nếu trường không đóng cửa nghỉ Tết thì con đã về ở với chị Hai còn hơn. Bác Tuyết kê cho con một cái ghế vải ở cạnh bàn ăn cơm. Con nằm ngủ với Gigi không có màn. Nhưng con không cần, con chả ở đây lâu đâu má. Cái phòng này chật lắm. Chỉ có mỗi một cái giường Hồng-kông kê ở sát tường. Rồi đến một cái bàn ăn và một cái tủ gương. Giường của con thì chỉ lúc ngủ mới kê ra thôi, nên cả ngày con chỉ bế Gigi ngồi ở ghế nhìn ra trời mưa mà nhớ má. Năm nay nhà không ăn Tết má nhỉ. Má ốm thế thì làm sao mà dẫn con lên phố mua cành đào và bánh chưng như năm ngoái. Tội nghiệp Gigi, Tết năm nay Gigi cũng chẳng có gì cả. Con bắc ghế ra ngồi với Gigi ở ngưỡng cửa xem những thằng bé khiêng những lọ cá vàng, còn má chúng nó thì ngồi trên xe xích lô chở những chậu quất đi vào trong ngõ. Có đứa được mua hàng chục bánh pháo. Chúng nó thi nhau vừa ôm, vừa cãi cọ om sòm. Chắc ăn Tết ở đây thì tha hồ mà nghe pháo nổ. Con sẽ ôm chặt Gigi vào lòng cho nó khỏi giật mình má ạ. Trời mưa bụi mấy hôm nay. Ngõ nhà bác Tuyết cũng hơi lội thôi. Nhưng bác ấy không đi đâu cả. Hình như bác ấy ghét Tết nên không mua sắm một thứ gì. Cả ngày bác ấy chỉ ngồi hút thuốc lá xem báo ở cửa sổ. Thỉnh thoảng có khách đến chơi thì bác ấy đuổi con và Gigi ra ngoài rồi đóng cửa lại. Con và Gigi đứng nép ở dưới mái hiên. Những lúc ấy con chỉ muốn đi về với má. Nhưng nhà thương má nằm ở tận Cống Vọng nên xa quá. Hai chị em đi lạc thì chết. Má nằm ở nhà thương má có nhớ con không? Má có nghĩ đến hồi Tết năm ngoái cũng bằng giờ này con đánh đu ở trên tay má mà đi trên phố xem chợ Tết không? Trời cũng có mưa như thế này, nhưng con với má cùng mặc áo mưa cả. Má mua cam, mua táo này, cả hạt dưa và mứt nữa. Tay má ôm những gói hàng, còn con thì cầm cành đào mà má mua của cái bà cụ già toét mắt đó má! Trước khi về má còn dẫn con đi xem hoa cúc nở ở dãy hàng hoa nữa. Cúc vàng như mầu áo của má. Có cả thủy tiên nữa. Hồi ấy chưa có Gigi má nhỉ. Năm nay thì chẳng còn có gì cả. Tại má ho nên mất cả vui. Ông khách của bác Tuyết ở chơi lâu quá, nên mỏi chân hai chị em ra ngồi ở đầu thềm. Con kể cả chuyện Tết cho Gigi nghe:
“Gigi mới đẻ ở bên Tây về nên Gigi không biết Tết thế nào cả. Mọi khi Tết chỉ có má với chị thôi. Mồng Một Tết má mặc áo nhung lam, đeo kiềng vàng, còn chị thì không mặc váy xấu xí thế này đâu. Chị mặc quần dài lụa trắng, áo nhung đỏ. Chị cũng đánh môi son như má. Má còn tết nơ hình con bướm trên đầu chị nữa. Bao giờ mình ăn Tết thì chị may cho Gigi quần áo đẹp như thế. Nhưng cấm đái dầm cơ. Mặc quần thì nó vướng hơn là mặc váy. Sáng Mồng Một má sẽ mừng tuổi cho cả hai đứa. Gigi một đồng, chị hai đồng. Phải để dành nghe không. Nếu đi ăn kẹo nhảm thì đau bụng đấy. Mà nhà thiếu gì kẹo. Kẹo này, mứt này, hạt dưa này, bụng Gigi bé thế này thì chỉ ăn một viên kẹo trứng chim cũng đủ rồi…”. Má ạ, hai chị em ngồi kể chuyện với nhau cho đến khi trời sâm sẩm tối. Ông khách đã ra về, còn bác Tuyết đi tắm ở đằng sau. Con trở vào viết thư cho má đến bây giờ đây. Hôm nay con với Gigi bỏ cơm má ạ. Người con như gây gây sốt. Từ sáng chỉ ăn có mỗi một bát xôi mà vẫn thấy no. Nếu mà ở nhà thì má nấu cháo cho con. Cháo mà có lẫn thịt lợn băm ấy má nhỉ. Nhưng thôi, con cũng chả đói lắm đâu má ạ. Bây giờ giá có ai bảo con ước gì thì con chỉ ước được vào thăm má thôi. Suốt mấy ngày nay đều buồn quá. Con tưởng như là ở trên đời này chỉ có mỗi một mình con và Gigi. Chị Hai về quê ăn Tết. Bà Félicité cũng đóng cửa trường. Má nằm một mình má ở trong nhà thương. Có mỗi một bác Tuyết thì con lại ghét bác ấy. Những lúc buồn con chỉ biết ra ngồi nhìn trời mưa xem những cái bong bóng nổi ở chân thềm. Hôm nay là hai mươi tám Tết rồi đó má. Má chóng khỏi đi rồi về với con, nghe má.
Má ơi, Con vừa mới đi thăm má về đây. Con bế Gigi đứng ở đầu giường má mà má không hay. Nước mắt của con ướt cả ngực má. Mặt má xanh như tàu lá. Áo má hãy còn nhiều giọt máu. Môi má mím chặt. Má không nói. Má không cười. Tóc má cũng không chải gì cả. Má ngất đi nên má không biết có chúng con. Con mặc váy vàng, sơ mi trắng. Gigi bận áo choàng màu xanh. Hai chị em ngồi bên cạnh má nắm lấy tay má. Tay má lạnh và gầy. Má thở không đều. Cổ má khò khè như mắc một đồng xu. Chân má quay về phía kính cửa. Má không nhìn ra ngoài cửa kính. Trời hôm nay bớt rét nhưng có nhiều mây. Cây bàng ở cạnh cửa sổ rụng hết lá rồi. Sao má không dậy để con hát cho má nghe. Để cho Gigi hỏi thăm má. Mọi lần mấy mẹ con gặp nhau thì má giang hai tay ra, ôm lấy lưng con gái, cho con gái hôn vào cổ thơm thơm của má. Lần này má không nói gì cả, má không mở mắt. Má ngủ từ bao giờ, má đi nằm từ lúc nào. Ai mang má vào nhà thương này hả má. Cái ví của má người ta vẫn để ở đầu giường. Có những lá thư của con và Gigi. Nhưng không có một lá thư nào của ba cả. Ba không đến thăm má. Bấy giờ bên cạnh má chỉ có bà Félicité, một người nữ khán hộ, con và Gigi. Người nữ khán hộ bảo má nôn ra máu ở ngoài đường rồi bè bạn của má mang vào đây. Đấy, tại má không uống sirop nên má mới bị như thế. Tối má cũng không mặc áo ấm. Má lại hay đi về đêm. Lần này má bỏ sở của má mà làm chỗ khác đi. Má giỏi như thế thì thiếu gì chỗ má làm được nhàn hơn. Buổi sáng hôm nay con chờ nhưng má không đến. Con ôm Gigi đứng khóc ở gốc cây bàng. Bọn con Hương thì theo bố mẹ chúng nó về từ lúc bảy giờ. Mãi đến gần tám giờ thì Ma soeur mới cho gọi con lên văn phòng. Ở đấy có bà bạn của má mặc áo màu nâu. Bà ấy xin dẫn con đi thăm má. Nhưng bà Félicité dẫn con đi. Nếu không có ai đứng ở đây thì con đã đánh thức má cho Gigi chào má. Nhưng không ai cho làm thế cả. Có phải cả đêm hôm qua má khóc không? Khóc ghê lắm phải không. Má không giấu con được nữa đâu. Những lá thư của con chẳng có cái nào không nhòe nước mắt cả. Nếu con biết má khóc vì thư của con như thế thì con đã không viết cho má. Má ơi, chắc lúc này thì má đã tỉnh rồi. Nhưng con gái má không còn đấy nữa. Con gái má đang ngồi viết thư cho má đây. Đáng lẽ con đòi ở lại với má, để kéo chăn cho má, đóng cửa cho má, rót nước và pha sữa cho má uống, nhưng bà Félicité không cho con ở lại. Bà ấy bảo phải để má nằm tĩnh dưỡng. Con khóc mà thương má. Gigi mà khóc được thì nó cũng khóc. Nó ngồi ở cạnh gối của má. Đầu nó bẹp, nhưng nó cũng biết là má ốm. Con kéo cái tay nó lại gần má để cho nó được sờ vào trán má, mắt má, môi má. Con cũng hôn vào môi má mà má không hay. Má ngủ say quá. Má mệt lắm phải không? Hôm nay má đi đâu má lại bị như thế. Má có thương con không? Má có giận con không? Con hứa là từ nay không bắt đền má, không ghét má gì nữa. Má chịu khó uống thuốc để cho chóng khỏi. Rồi má lại dẫn con và Gigi đi chơi. Chúng mình lại xuống ngồi ở trên cỏ xem thuyền buồm màu trắng đi ở trên hồ. Chúng mình lại đi xem người ta câu cá ở trong chùa Trấn Quốc. Buổi sáng Chủ Nhật con sẽ làm cơm cho má ăn. Con biết thổi cơm rồi. Con nhất định lần này thì cơm không khê nữa đâu má. Con sẽ đi chợ với má mua thịt bò về làm bifteck, và chiên với khoai tây. Gigi sẽ lại ngồi ở trên cái hộp sữa cạnh bàn để xem con với má ăn cơm. Nếu má có mệt thì con bón cho má. Má chỉ việc ngồi há to mồm ra thôi, nhé má. Buổi sáng con mới được ngồi ở bên má có mười lăm phút thì Ma soeur đã bắt đi về. Con đứng ở bên cạnh cái thành giường bằng sắt. Gigi thì đứng giơ tay ở trên cái nệm trắng. Cả hai đứa cùng nhìn má một lần nữa. Hơi thở của mávẫn khò khè. Má vẫn không cười và chào chúng con như những lần trước. Má không hôn lên mắt con và lên mái tóc của Gigi. Nhưng con thì vẫn hôn má. Con hít mãi cái cổ có mùi dầu cù-là của má. Lúc con hôn má con khóc lúc nào mà không biết. Nước mắt của con lại rỏ xuống mặt má. Nếu má liếm môi mà thấy mặn mặn thì đúng là nước mắt của con đấy má. Bà Félicité lấy khăn lau nước mắt cho con. Một tay bà ấy bế Gigi, một tay bà ấy dắt con đi ở trên dãy hành lang của bệnh viện. Những cánh cửa sổ mở rộng trông xuống cái vườn có cây và sân sỏi. Ở dưới ấy có nhiều người mặc quần áo trắng khiêng những cái băng-ca trên đặt người ốm. Con quay trở lại định nhìn má một lần nữa. Nhưng cánh cửa phòng đã khép kín. Má nằm một mình ở bên trong. Không có con và không có Gigi. Nghĩ đến nỗi buồn của má con lại đòi ở lại. Nhưng bà Félicité không cho. Bà ấy hứa với con rằng mai, kia thì má khỏi. Má lại về căn buồng hẹp có những khung kính vỡ của má. Thật thế đấy má nhé. Má phải về để Chủ Nhật mấy mẹ con lại nằm với nhau ở trong chăn. Con lại kể chuyện học đàn cho má nghe và gãi lưng cho má. Má cứ chịu khó uống thuốc đi và đừng khóc nữa nhé má.
baotreonline.com Du Uyên February 23rd, 2024 Post by Sơn râu 8 Nov 2024
Tranh Bảo Huân
Sự khác nhau giữa văn hóa, xã hội, con người giữa hai miền Bắc-Nam trong nước từ ngàn xưa tới ngày nay vẫn rõ rệt, vì vậy mà tranh cãi giữa hai “thế lực” Bắc-Nam chưa bao giờ ngưng. Có điều phe Nam kỳ thường đông hơn vì trong phe này có nhiều người Bắc sống lâu trong Nam (thậm chí không muốn về Bắc sống) hoặc không thích cách miền Bắc “tiến hóa”. Gốc của tựa đề bài viết (Ăn năn – mặc kệ) được tôi nghĩ ra khi đọc được câu “ăn Bắc mặc Nam” (tôi chú ý câu “ăn Bắc mặc Nam” vì câu này đang là đầu đề gây tranh cãi trên mạng xã hội trong nước gần đây). Nói “ăn năn – mặc kệ” là vì riêng tôi thấy trên mạng xã hội một phần đông người miền Bắc ngày nay hay mặc cảm nên hay đi gây sự, vì vậy mà nên ăn năn thay vì ăn … phở. Bởi đa phần các bài viết về phở (cụ thể là phở ở miền Nam) đều được viết bởi người Bắc và toàn là chê, bỉ bôi “phở này chả chuẩn vị phở Bắc”. Người miền Nam thì thích mặc kệ hơn là mặc cả, mặc cảm, bởi vậy ngoài việc hơi hờn phở ngoài Bắc hơi nhiều “mì chính” (bột ngọt) và cách phục vụ chưa được thân thiện như miền Nam, thì đa số người Nam khi ăn phở ở miền Bắc hay ăn phở Bắc ở Nam xong đều trả tiền, rồi … về, không ai ngồi biên bài viết chê “phở này chả chuẩn vị phở Nam”. Cũng nhờ có những tranh cãi mới về việc ăn phở, tôi cũng biết được câu gốc sâu xa của câu “ăn Bắc mặc Nam” là “ăn Bắc, mặc Kinh” – có người giải Bắc là vùng Kinh Bắc, tức là Bắc Ninh, còn Kinh là Kinh thành, Kinh đô Thăng Long còn gọi là Kẻ Chợ, họ giải thích, người vùng Kinh Bắc (Bắc) ăn uống ngon, còn người ở Kinh đô (Thăng Long, Kẻ Chợ) thì mặc đẹp. Có người lại đồn rằng Bắc đây là miền Bắc, còn Kinh là Kinh đô nhưng là Kinh đô xứ Huế, và đại khái cũng giải thích là người miền Bắc nấu nướng ăn uống thường ngon, còn người ở Kinh đô Huế thì thường mặc đẹp… Tóm lại là ban đầu, câu trên không có chút Nam kỳ nào. Về ý nghĩa: Có người cho là câu “ăn Bắc mặc Nam” là khen người Bắc giỏi trong việc ăn uống, bày mâm cao cỗ đầy đẹp mắt, còn người Nam ăn uống xuề xòa, dễ dàng. Khen người Nam ăn mặc bắt kịp xu hướng, người Bắc chỉ có nón cối, vét tông, đầm thun tàu … Tuy nhiên, cũng có người nói “ăn Bắc mặc Nam” để phê phán ẩn ý, chê người Bắc thì ăn uống cầu kỳ kiểu cách, mâm cao cỗ đầy trước mặt bàn dân thiên hạ trọng sĩ diện, có khi đóng cửa lại ăn rau luộc chấm mắm. Trong khi người Nam ăn đơn giản, nghe như hoang dã như nướng trui, nướng mọi, rau sống, cá kho … Về mặc, chê người Nam ỷ thổ nhưỡng ôn hoà nên ăn mặc phóng khoáng, trong khi miền Bắc váy đụp nâu sồng che chắn kín kẽ vì sợ bắt bẻ lễ nghi … Nói chung đừng ăn kiểu cách như người Bắc, đừng mặc lộ liễu như người Nam.
Phở Bắc thường nhiều hành, không có rau sống giá trụng – Nguồn hình: Hà Nhật Tân
Tác giả phuongngugia viết: “Xứ Nam kỳ là vùng đất bảo hộ, cách sinh hoạt của người Nam vốn chưa căn bản hình thành cái riêng nên lai tạp nhiều bởi lối sống của các vùng miền khác, nhất là bị ảnh hưởng bởi các chú chệt cùng bầu đoàn thê tử tha hương… Xứ Bắc kỳ (TONKIN) thì bị ảnh hưởng lễ giáo nên cách sinh hoạt nhất là trang phục của phụ nữ hầu hết đều mang bản sắc truyền thống. Xã hội xứ Nam kỳ (Cochinchina) thì có vẻ giống như các vùng đất thuộc địa khác, vì Saigon có quá đông người nhiều quốc tịch nhập cư, đông nhứt là người Hoa từng sinh sống có khi đã vài đời nên tui thấy Saigon hồi đầu thế kỷ 20 giống như thành phố Thượng Hải của Trung Hoa. Xã hội phương Tây phát triển thì thời trang ăn mặc của các chân dài mẫu quốc đương nhiên ảnh hưởng lớn đến các bà các cô xứ Cochinchina, dân Nam kỳ vốn không có tục theo lối của dân Bắc kỳ nhuộm răng đen xấu hỉnh, vậy thì đờn bà con gái ra đường đâu cứ phải áo nâu váy chụp, tại sao không áo đầm Tây, sườn xám Thượng Hải khoe đùi khoe đường cong thân thể cho các đấng mày râu điên đảo? Dân vùng đất phương Nam vốn là con cháu những người “đi trước mở đường máu” (Tìm đọc cuốn Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam) xưa, họ vốn ăn ngay nói thẳng, trong cách ăn mặc thì xấu che tốt khoe, xã hội miền Nam khi đó chắc phải hưng thạnh lắm, khi xã hội phát triển thì văn hóa được nâng cao bởi vậy mới xuất hiện các cô đào lừng danh Năm Phỉ, Phùng Há. Sau năm 1954, trong khi miền Nam vẫn tiếp tục phát triển thì miền Bắc tìm quay về lối xưa xây dựng chủ nghĩa cộng đồng người nguyên thủy, riêng về ăn mặc thì đàn ông buộc phải từ bỏ cà vạt vét tông com pờ lê sang trọng lịch lãm, đàn bà con gái thì bị cấm mặc áo dài tha thướt quốc hồn quốc túy mà tất cả đồng loạt buộc phải chưng diện với duy nhứt bộ đồ đại cán của anh lớn Mao Trạch Đông vĩ đại muôn năm.
Phở Sài Gòn “phóng khoáng” như thời tiết – Nguồn hình: My Nguyen Năm bảy lăm, dân Saigon mở hé cửa nhà mà lén dòm mấy ảnh nắm tay vợ con từ trong rừng lơ láo rách rưới dơ dáy da xanh lè nghênh ngang ra nắm chánh quyền, họ còn thấy gia đình các cán bộ miền Bắc người ngợm ốm nhách vì thiếu ăn từ Hà Nội dắt díu nhau lôi thôi lếch thếch vô tiếp quản… Thế là chỉ sau thời gian ngắn, “Hòn ngọc Viễn Đông” trở thành cục đất khô cằn sỏi đá. Vậy đó, theo tui thì câu thành ngữ “Ăn Bắc mặc Nam” phải được hình thành trong bối cảnh xã hội Cochinchina khoảng vài 3 thập niên đầu thế kỷ 20, mong bá tánh vốn người Nam đừng vì thiếu hiểu biết lòe mình lòe người mà tự hào vô căn nữa nghen.” – Hết trích. Hay như tác giả Hà Nhật Tân: “Mấy rày thấy xôn xao vụ tô phở. Cái ông nhà báo HN gì đó tuyên bố “Hà Nội chỉ cần quán không tên đầu ngõ cũng đủ chất lượng chấp hết Sài Gòn.” Còn ông nhà văn Nguyễn Đình Bổn “đập” lại: “Hà Nội có gì đáng để gọi là ẩm thực đâu? Đói vàng cả mắt. Nay mới no đủ chút cái giọng đã tanh tanh rồi!”. Phễu tui không bàn về phở. Mà bàn về vụ “ăn Bắc mặc Nam”. Có ý kiến đại khái là phải ăn Bắc, đồ ăn Bắc ngon; nhưng trước 1954, còn sau này thì dở. Đó là một ý kiến vừa đúng vừa sai. Đúng là, đồ ăn ở Bắc đúng là trước đây ngon hơn bây giờ. Cái này có thể giải thích bằng thuyết “hoá thạch văn hoá ngoại biên” của ngành Văn hoá học: văn hoá từ trung tâm, do biến động mà lan toả đến các vùng ngoại biên và “hoá thạch” ở đó. Và văn hoá ẩm thực cũng theo đoàn người di cư, để lại cái trung tâm trống rỗng. Thế nên ở Chợ Lớn vẫn còn nhiều món thời phản Thanh phục Minh, trong khi ở Trung Hoa đại lục nó đã biến mất. Tương tự như thế món bún heo giả cầy đồng bào Bắc 54 lại “chuẩn” hơn ở HN. Đương nhiên cơm tấm ở Cali thì nó đúng vị ban sơ hơn cơm tấm ở TPHCM hiện nay. Bla… bla…
Nam kỳ biết mặc kệ nên luôn phồn vinh, nô nức yến oanh, kinh tế dồi dào… – Nguồn hình: Tiểu Tân/dttc.sggp.org.vn Thành ra cái món phở cũng không ngoại lệ. Còn gì đáng lưu giữ hơn văn hoá khi bắt buộc phải ly hương? Những đoàn người phải bỏ quê cha đất tổ đó còn gì quý hơn cái văn hoá của họ? Cho nên phở Saigon, hay thậm chí là ở Cali, Paris … ngon hơn ở HN, Nam Định … là có cái lý của nó. Có muốn cũng không bác bỏ được. Ấy là cái đúng, tức là trước 1954 đồ ăn ở Bắc ngon hơn bây giờ. Nhất là sau 30 năm miền Bắc đói vàng mắt (hậu quả của lối quản lý XHCN). Ở một XH mà miếng thịt ôi bằng 2 ngón tay cũng phải xếp hàng – thì lấy đâu ra cái no mà có nền-ẩm-thực-đặc-sắc-như-tuyên-truyền trong gần nửa thế kỷ??!! Còn nói nó sai là ở chỗ: thật ra, các món HN nói riêng và miền Bắc trước 1954 thì cũng vầy vậy, chẳng có gì đặc sắc. Dân dã thì “cơm tám giò chả” là hết mức. Cỗ bàn thì chỉ vòng đi vòng lại có vài món: xôi gấc, gà luộc, giò chả, nem, miến măng… là cũng “đụng nóc”. Có vào sách vở như “Các món ngon HN” mà nhà văn Vũ Bằng miêu tả thì cũng chỉ là cầu kỳ mà chẳng đặc sắc. (Người viết bài này là dân Bắc “2 nút”, cũng lăn lóc đủ các tỉnh từ vùng cao đến xứ biển, từ Bắc vào Nam hồi còn làm báo (những năm 2000s), cho nên cũng không đến nỗi ếch ngồi đáy giếng mà viết.)
Riêng ở VN, không chạy xe ở Nam lẫn Bắc (cho an toàn) – Nguồn hình: Facebook Quay lại vấn đề, thế thì câu “ăn Bắc mặc Nam” là sai sao? Nó đúng. Chỉ là người ta hiểu sai mà thôi. Đầu tiên là nói về “mặc”. Miền Nam chỉ có 2 mùa, mưa và nắng. Cho nên ăn mặc đơn giản. Suốt năm chỉ cần vài bộ đồ là đủ. Trong khi miền Bắc có 4 mùa, áo quần cũng có tới 4 loại. Áo mùa đông thì không mặc cho mùa hè. Áo mùa thu thì khác với áo mùa xuân. Cho nên miền Bắc về ăn mặc rất phong phú, phương Nam không thể bằng được. Còn ăn? Hãy quên câu “đồ ăn ở Bắc ngon hơn” [miền Nam] đi. Bởi lẽ phương Nam từ khi mở đất đã là nơi hội tụ ít nhất 3 nền ẩm thực lớn nhất nhì thế giới, đó là Việt, Hoa và Khmer. Còn miền Bắc thì không. Từ xưa đã vậy, còn 50 năm gần đây thì đói nghèo (từ 1990 tới nay mới thoát đói thôi). Cho nên đừng so sánh, nó buồn cười. Như vậy, câu “ăn Bắc mặc Nam” là câu chê đó. Ăn Bắc thì là dở, mặc Nam thì là đơn điệu.” – Hết trích. Cũng là tác giả Hà Nhật Tân, 2 ngày sau: “Ngộ thiệt. Tôi mới viết bài viết vui vui “chê” rằng “ăn Bắc thì là dở, mặc Nam thì là đơn điệu” – thì toàn dân miền ngoài nhảy vô chửi bới, trong khi người ở miền Nam hổng nói gì. Bi nhiêu thôi đã nói lên tất cả. Đừng hỏi tại sao bị kỳ thị.” – Hết trích. Bản thân Du Uyên đi nhiều chuyện vòng vòng, cóp nhặt lời hay ý cà rỡn mời quý độc giả, chứ xưa giờ chỉ ăn Nam và mặc Nam, cùng lắm là ăn phở và mặc … kệ, không dám chê hay khen ai. Mình người miền Nam, nói giọng Nam, thương người Nam. DU
baotreonline.com Đinh Yên Thảo December 16th, 2021
Post by Sơn râu 8 Nov 2024
Dịch vụ cho mướn nhà Airbnb ra đời năm 2007 sau khi hai thanh niên trẻ tại San Francisco đã cho 3 người khách phương xa ngụ tạm qua đêm trong căn chung cư nhỏ bé của mình. Ý tưởng và mô hình độc đáo này đã đưa Airbnb trở thành một tập đoàn và dịch vụ vài chục tỉ đô la hiện nay, đang hiện diện tại trên 100 ngàn thành phố lớn nhỏ của hơn 220 quốc gia trên thế giới và đã đón chào hơn một tỉ du khách. Mùa lễ này ắt cũng là dịp để nhắc lại câu chuyện của Airbnb.
nguồn ideal Tháng 10 năm 2007, hai người bạn đồng môn tại trường thiết kế mỹ thuật Rhode Island là Brian Chesky và Joe Gebbia cùng dọn về San Francisco và chia chung phòng trọ. Những thanh niên trẻ này bỏ việc để dọn về San Francisco với ý nghĩ sẽ trở thành những hướng dẫn viên về kiến trúc và mỹ thuật cho du khách tại San Francisco ắt sẽ là một điều thú vị. Tuy nhiên giá thuê nhà quá đắt đỏ và cũng đã thiếu tiền nhà cả tháng trời buộc họ phải nghĩ đến cách kiếm thêm ít tiền để phụ vào tiền thuê nhà. Với một hội nghị lớn sẽ diễn ra tại San Francisco, khách tham dự đổ về sẽ gây thiếu phòng khách sạn và làm tăng giá cho những du khách bình thường khác. Cả hai bàn với nhau sẽ mua thêm vài tấm nệm hơi trải trong phòng khách của mình và cho khách phương xa không tìm được phòng và muốn tiết kiệm chút ít thuê ngụ qua đêm. Quảng cáo đưa lên và đêm đầu tiên đã có 3 khách đặt chỗ với giá vài chục đô mỗi người. Ý tưởng kinh doanh độc đáo của một tập đoàn bạc tỉ đã ra đời như vậy.
Brian Chesky và Joe Gebbia – nguồn giantartists.com Cả hai mời thêm một người bạn tốt nghiệp điện toán tại Harvard là Nathan Blecharczyk, cũng sinh ra trong một gia đình di dân gốc Ba Lan như Brian về tham gia thiết kế kỹ thuật và cùng mở hãng. Ý tưởng và kế hoạch kinh doanh đã có, họ sẽ quảng cáo dịch vụ ngủ nệm hơi và được phục vụ điểm tâm. Air Bed and Breakfast (Nệm hơi và điểm tâm) là cái tên nguyên thủy dành cho những người muốn chia phòng với giá phải chăng cùng chủ nhà thay vì ngụ tại khách sạn đã rút lại còn Airbnb hiện nay. Trang mạng cũng đã được thiết kế, nhưng họ cần vốn như bất cứ nhà khởi nghiệp nào. San Francisco là vùng đất của những nhà đầu tư cùng cơ hội của những nhà khởi nghiệp. Nhưng cả 15 nhà đầu tư mà họ đi gặp thì 8 người từ chối thẳng thừng và những người còn lại thì làm ngơ. Ðơn giản là những nhà đầu tư không nghĩ rằng việc cho thuê nệm hơi trong phòng khách nhà ai đó có thể làm được gì trước một kỹ nghệ khách sạn truyền thống hùng mạnh. Airbnb quảng bá vài ba lần cũng không ai chú ý. Cả năm trời sau mới có người đầu tư 20 ngàn đô la. Không có con đường khởi đầu nào dễ dàng và sự thành công chỉ đến với người không bỏ cuộc, phương châm tưởng như sáo ngữ nhưng vốn là điều căn bản cho bất cứ con đường lập nghiệp nào.
Joe Gebbia, Brian Chesky và Nathan Blecharczyk – nguồn inc.com Nợ nần và thiếu hụt nhưng bù lại, bắt đầu có những chủ nhà tham gia vào mạng Airbnb và các du khách trẻ thuê mướn nhiều hơn trước ý tưởng mới lạ và tiết kiệm này. Thêm một năm nữa, họ mới được một hãng đầu tư bỏ vốn cho vài trăm ngàn đô để tiếp tục công việc. Sau 4 năm thành lập, những nhà sáng lập ở độ tuổi dưới 30 lúc này đã vui mừng đánh dấu đêm thuê thứ một triệu của mình dù vấn đề tài chánh vẫn còn nhiều khó khăn. Nhưng kể từ đó, các nhà đầu tư đã bắt đầu nhận ra tiềm năng của một ý tưởng và mô hình sáng tạo của Airbnb. Con đường dẫn đến thành công của Airbnb là điều tất nhiên với ý chí và sự quyết tâm như vậy. Ðiều đáng khen ngợi hơn dành cho những nhà sáng lập của Airbnb là khi đã thành công, họ đã chia sẻ những cơ may của mình cho xã hội và người khác rất nhiều. Airbnb từng cho phép các nạn nhân các vụ thiên tai được trú ngụ tạm thời tại các nhà trong mạng lưới của họ. Trong đại dịch vừa qua, họ cũng cung cấp nơi ở miễn phí cho các nhân viên tuyến đầu cần chỗ cư ngụ vì muốn tránh lây nhiễm cho người thân. Và trong chiến dịch giúp người tị nạn Afghanistan, Airbnb lại cho người tị nạn tạm trú trong các căn nhà của mình. Cả ba nhà sáng lập đều tham gia vào chương trình từ thiện The Giving Pledge, một chương trình cam kết hiến tặng gia sản do tỉ phú Waren Buffet và Bill Gates sáng lập.
Airbnb đề nghị tạm trú miễn phí cho 20,000 người tị nạn Afghanistan – nguồn upworthy.com Việc mướn nhà qua Airbnb hiện nay đã khá phổ biến và không còn là chia phòng hay ở chung với chủ nhà như lúc khởi đầu. Du khách có thể mướn trọn một căn nhà cho đến những biệt thự hàng chục ngàn đô tại nhiều quốc gia khác nhau. Người mướn nhà vào trang mạng của Airbnb hay qua app điện thoại để chọn nơi cần mướn, diện tích cùng các tiện nghi và giá cả mong muốn, chúng sẽ hiện ra nhiều chọn lựa để thuê nhà. Các thông tin giao tiếp, hướng dẫn với chủ nhà sẽ được gởi qua email hay ngay trên app điện thoại. Nhiều du khách thích mướn nhà qua Airbnb, nhất là trong các cuộc họp mặt đại gia đình hay bạn bè đông đúc, ngay cả khi không tiết kiệm bằng qua khách sạn vì họ có sự tự do và đầy đủ tiện nghi, nấu nướng ngay tại nhà cho thuê. Một lưu ý cho khách muốn mướn Airbnb là nên đọc kỹ các đánh giá của những khách đã từng mướn căn nhà đó trước đây để hiểu thêm về chủ nhà. Có những chủ nhà hiếu khách, dễ dãi và có những chủ nhà đưa ra các quy định, giới hạn khó khăn hơn. Những chủ nhà muốn tham gia cho mướn nhà, một phần hay toàn bộ căn nhà qua Airbnb cũng dễ dàng. Mở tài khoản và đăng thông tin hình ảnh căn bản về căn nhà, ấn định thời gian và luật lệ cho mướn, so sánh và định giá cho mướn. Airbnb sẽ có những chủ nhà kinh nghiệm (super host) giúp cố vấn thêm và cho biết các luật lệ địa phương cần tuân thủ. Thu nhập sẽ tùy theo địa điểm, diện tích và tiện nghi của căn nhà, nhưng hiện nay mức thu nhập trung bình các chủ nhà tham gia Airbnb là khoảng gần 10 ngàn đô la. Không phải khách mướn nhà nào cũng có trách nhiệm và biết giữ gìn nhà mướn nên Airbnb có chương trình bảo hiểm miễn phí cho chủ nhà với mỗi trách nhiệm lên đến một triệu đô la, nếu có tai nạn xảy ra trong nhà hay tài sản bị thiệt hại. Hành trình của Airbnb trong hơn 10 năm qua đã đưa các nhà sáng lập trẻ của Airbnb trở thành những tỉ phú trẻ và hàng tỉ du khách khắp thế giới đã sử dụng cho đến nay. Tâm lý sợ thất bại và “ăn chắc mặc bền” sẽ khó lòng tạo ra được những nhà doanh nghiệp cách mạng như những người đứng đầu Airbnb. Câu chuyện về những người thành công luôn thú vị và có những bài học như vậy.
baovecovang2012.wordpress.com Nguyễn Phương Posted on June 3, 2021 by Lê Thy
Post by Sơn râu 8 Nov 2024
Nghệ sĩ trên các nẻo đường lang thang Đã sang thu, trời chiều lạnh, tối xuống mau, tôi vẫn ngồi trầm ngâm ngoài vườn sau nhà, mắt lơ đãng nhìn theo con sóc nhỏ đang nhảy chuyền từng cành cây nầy qua cành cây khác. Lá cây đã sẫm một màu đen theo bóng đêm, nếu con sóc không nhảy nữa thì tôi cũng không phân biệt được bóng hình của nó giữa tàn lá rậm rạp. Bỗng một ánh sáng vàng chập choạng soi mờ mờ cảnh vật, tôi nghe vợ tôi lên tiếng: – Trời sụp tối. Sao anh không vô nhà. Ngồi ngoài trời dễ bị cảm lạnh đó.Vợ tôi cầm cây đèn cầy lớn bước ra vườn kiếm tôi. – Em đứng yên đó, rồi đưa ngọn đèn lên cao…lên cao chút nữa… Khỏi đầu…giữ ngọn đèn ở tầm cao khỏi đầu một chút. Vợ tôi chưa biết tại sao tôi bảo vậy nhưng vẫn làm theo ý của tôi. Nhờ có ánh đèn, tôi nhìn lên nhánh cây thấy con sóc cũng đang nhìn ánh đèn, đôi mắt nó long lanh. Con sóc đứng yên một chút, nghển đầu lên, nghiêng qua, nghiêng lại như cố vảnh tai lên để lắng nghe động tĩnh, rồi nó vụt nhảy qua nhánh cây khác. Tôi nói như la lên: – Em rọi theo…rọi đèn theo… coi con sóc nó đã nhảy đi đâu? – Nó nhảy đi mất rồi! Đêm tối, nó cũng phải đi kiếm chỗ để ngủ chớ…Mà… mà anh nhìn theo con sóc để làm gì? – Hồi nãy con sóc nằm im như ôm sát nhánh cây. Khi có ánh đèn của em soi tới, nó ngẩng đầu lên như một nghệ sĩ trên sân khấu vừa được ngọn đèn màu rọi sáng… Nó bừng tỉnh, cất cao đầu lên, đôi mắt long lanh..Nó làm cho anh nhớ đến ánh mắt của người nữ diễn viên dưới ánh đèn màu… Thật là quyến rũ, thật là mê ly, truyền cảm.. – Khổ thật, xa sân khấu hơn mười lăm năm rồi, vậy mà anh vẫn không quên…Đi…đi vô nhà với em, ở ngoài trời sương lạnh lắm. Vợ tôi nắm tay tôi, hai chúng tôi lặng lẽ đi bên nhau. Vô trong nhà rồi, vợ tôi định thổi tắt ngọn đèn cầy vì đã có ánh đèn điện sáng choang, nhưng tôi bảo vợ tôi tắt đèn điện, tôi thích ánh sáng vàng nhạt của ngọn đèn cầy. – Anh… anh vẫn nhớ tới đôi mắt của … của nữ diễn viên nào? Tôi bật cười: -Anh đã hơn tám mươi rồi, đâu còn nhớ đến một đôi mắt riêng biệt nào. Ánh mắt của một nữ diễn viên trên sân khấu, bấy nhiêu đó cũng đủ để mà nhớ đời rồi. Em nhìn vô mắt của anh, em thấy gì không? Vợ tôi nhìn kỹ vô mắt tôi, một lúc sau nói nhỏ: – Thấy! Em thấy bóng của em, cũng như mấy mươi năm trước, trong ánh mắt đằm thắm của anh! Anh…anh thử nhìn vô mắt em, anh thấy gì không? – Nhìn vào mắt em, anh thấy… thấy một người, mái đầu đốm bạc, và những nếp nhăn hằn sâu trên khóe mắt… – Không… không phải bóng anh vì anh không già như vậy đâu… – Anh chưa nói hết…Mái tóc bạc và những nếp nhăn trên ánh mắt là của diễn viên Ngũ Tử Tư trong tuồng Tây Thi Gái nước Việt… Hình ảnh kỷ niệm của đêm hát mà hai chúng mình mới gặp nhau và yêu nhau hơn năm mươi năm về trước. Nhìn vào mắt em, anh thấy hiện lên những kỷ niệm của chúng mình gắn liền với biết bao kỷ niệm của các nghệ sĩ thân thương dưới vòm trời nghệ thuật. – Hôm nay sao anh lạ vậy? Sao lại nhắc những chuyện xưa? – Có lẽ vì ánh nến chập choạng trên vòm lá khiến cho anh nhớ lại những đêm hát chầu cúng kỳ yên ở các làng mạc xa xôi… Lâu lắm rồi… khoảng năm 1943, cách nay hơn 60 năm…
Hồi đó, tôi vừa tốt nghiệp Bách khoa kỹ nghệ thì nhà trường phân bổ cho tôi vô làm việc ở Sở Bưu Điện Saigon. Tôi được nghỉ phép ba tháng trước khi nhận nhiệm sở nên tôi về quê tôi ở MỹTho, thăm gia đình và để gặp gỡ các bạn học cũ thời trung, tiểu học. Nhưng chỉ mới được một tuần lễ là tôi muốn trở về Saigon ngay vì ở dưới tỉnh lẻ, không khí thật là yên tĩnh, buồn bã. Má tôi muốn cưới vợ cho tôi ở dưới tỉnh để khi nào tôi lên Saigon làm việc thì tôi để vợ tôi ở lại quê nhà để giúp má tôi trong việc mua bán, trông nom vựa bán trái cây ở chợ Mỹ Tho. Như vậy thì hàng tuần tôi phải trở về MỹTho chớ không có thể đi biền biệt như những năm qua. Hồi đó, trong thập niên 1930, 1940, việc dựng vợ gả chồng ở các tỉnh lẻ thường là do cha mẹ định đoạt qua lời giới thiệu của các ông mai bà mai. Má tôi muốn tôi cùng đi với bà về quận Cao Lãnh để coi mắt vợ vì Dì ruột của tôi có vựa mua bán trái cây ở chợ Cao Lãnh, bà ưng ý một cô gái ở xã An Bình nên bà muốn hỏi cưới cô gái đó cho tôi. Tôi là đứa con dễ dạy trong gia đình. Má tôi muốn tôi cưới vợ ở dưới tỉnh thì tôi vâng lời, theo bà đi “coi mắt” cô vợ tương lai, sẵn dịp tôi đi thăm Dì Tư của tôi ở quận Cao Lãnh, như vậy vui hơn là ở loay hoay hoài trong cái tỉnh Mỹ Tho quá quen thuộc. Đi coi mắt vợ! Bây giờ nghĩ lại thiệt là mắc cỡ, thiệt là kỳ cục. Đi đò máy từ tỉnh Sa Đéc, đò qua vàm Cái Tôm… đò chạy dọc theo cù lao An Tịnh một đoạn khá xa, hai bên bờ sông vườn tược xum xuê, tôi thấy lác đác vài ngôi nhà mái ngói đỏ, còn lại là nhiều nhà tranh vách lá. Tôi không biết nhà của cô vợ tương lai của tôi, ở nhà ngói hay nhà lá? Dầu sao thì trước mắt tôi là cả một vùng quê trù phú, vườn cây trái nối tiếp nhau tưởng chừng như không bao giờ dứt ở hai bên bờ sông khiến cho tôi mơ màng dệt mộng. Cô vợ chưa cưới của tôi phải là con gái cưng của một nhà địa chủ, phú nông, dư ăn dư để. Người con gái đó nhất định là sẽ thùy mị, dễ thương; nước da nhứt định sẽ trắng mịn, môi đỏ như son vì tiếng đồn là con gái Cao Lãnh, Sa Đéc, Vĩnh Long đẹp nhứt xứ! Tiếng nói của cô nàng chắc chắn sẽ êm tai như mình được nghe giọng hò câu hát… Gia đình bên vợ tương lai của tôi chắc chắn sẽ hãnh diện với bà con hàng xóm vì con gái của ông bà được một thầy ký từ Saigon xuống “coi mắt ” để xin cưới! Tôi đang suy tính coi nên ăn mặc như thế nào, cử chỉ nói năng ra làm sao khi lần đầu tiên đến nhà gái, để tỏ là mình có học, sang trọng, lịch lãm… Tôi dự tính những câu nói đầu tiên khi tôi gặp người con gái xa lạ mà chỉ qua lời mai mối của Dì tôi, bỗng trở thành thân yêu, trở thành người bạn trăm năm của tôi… Bỗng tôi nghe tiếng người cười nói xôn xao…Tiếng rồ lớn của chiếc đò máy cắt đứt dòng suy tư mơ mộng của tôi. Đò từ từ cặp bến, trên cầu tàu, có nhiều người đến đón rước thân nhân hoặc để nhận hàng hóa. Dì Tư của tôi và mấy bà bạn đứng trên cầu tàu đã nhìn thấy má tôi và tôi. Dì vẫy tay kêu rối rít. Tôi là người nhanh nhẹn, nếu bình thường khi gặp Dì tôi ra đón ở bến tàu, tôi lập tức nhảy lên bờ, chạy ngay lại để mừng Dì tôi. Nhưng lần nầy, tôi đi coi mắt vợ, có thể có người bên nhà gái ra bến tàu coi mắt chàng rể tương lai, nên tôi phải thận trọng, đi đứng chững chạc, không tỏ ra hấp tấp, có thể khiến cho bên nhà gái sẽ chê cười tôi. Tuy nhiên tôi cũng liếc mắt quan sát những cô gái đứng gần bên Dì tôi, thầm suy đoán coi cô nào sẽ là người chủ nợ trăm năm của đời mình? Gái Cao Lãnh đẹp thiệt! Cô nào cũng nước da trắng hồng, miệng cười rất có duyên, đôi mắt long lanh sáng, nhìn mình như muốn tâm sự điều gì… Tôi ngơ ngẩn.. , thấy cô nào cũng đáng yêu hết, hõng biết là nên chọn cô nào! Ý, tôi chợt nhớ ra là Dì Tư tôi đã chọn vợ cho tôi, ở xã An Bình, không phải là một trong những cô nầy đâu. Chợ Cao Lãnh náo nhiệt, người mua kẻ bán đông vui, ít xe cộ trên đường phố nhưng dưới bến sông thì ghe xuồng đông ken như là một khu chợ nổi giống như bến sông Ông Lãnh trên Saigon. Tôi tò mò quan sát sinh hoạt của cái quận ly bé nhỏ nhưng rất yên tĩnh hiền hòa mà trong một tương lai không xa, đây sẽ là quê hương bên vợ của tôi. Tôi lặng lẽ đi sau lưng má tôi. Bà và Dì của tôi bận tâm nói chuyện về những bạn hàng mua bán, những mối lái hàng trái cây và thuốc rê Cao Lãnh, có lẽ hai bà đã quên mất việc tôi đi “coi mắt” vợ ở một cái vùng thôn quê cách Saigon xa lơ xa lắc này. Nhà của Dì tôi ở xa chợ Cao Lãnh, phải đi qua cầu đúc rồi đi theo con đường đá xanh hướng về xã Tân An, Hòa An. Sát bờ bên trái là những vườn cây xoài tượng, vườn cam, vườn cây vú sữa; phía bên phải, dọc theo bờ sông có một hàng cây bông gòn. Dì tôi thấy tôi nhìn quanh quẩn quan sát, bà sợ tôi chê vùng thôn quê quá yên tĩnh này, bà nói : -Về nhà nghỉ ngơi cơm nước xong, tối nay Dì dẫn ra chợ coi hát cải lương. Có gánh hát Tiến Hóa…(tới đây, Dì tôi day qua hỏi má tôi) Chị Ba, chị có nhớ thầy giáo Trương Gia Kỳ Sanh không? Cái ông thầy giáo ở đối diện với căn phố của thầy Hài đó, qua khỏi cầu quây một đỗi, nhà của thầy Kỳ Sanh ở gần tiệm chụp hình Vinh Ký đó, nhớ chưa? – Nhớ, mà Dì nhắc tới ông giáo Sanh chi vậy? – Thì ông Trương Gia Kỳ Sanh là Bầu của gánh hát Tiến Hóa, hôm gánh hát mới dọn đến, em đi chợ có gặp ổng, ổng nhận ra em là người cùng quê cùng xóm ở tỉnh Mỹ Tho, ổng mừng lắm, nói chuyện huyên thuyên… Rồi ổng mời đi coi hát… Mời là mời miệng vậy thôi, chớ em cũng phải mua hết hai cái vé thượng hạng, tám cắc một vé chớ hõng phải rẻ đâu.’ Nhắc tới ông Trương Gia Kỳ Sanh, tôi liền nhớ tới ông thầy giáo vui tánh nầy. Ông Sanh dạy lớp nhứt A trước thầy Chợ, sau đó là thầy Khịa. Khi thầy Khịa được thăng lên làm Giám đốc trường Tiểu học Mỹ Tho thì thầy Sanh đã nghỉ dạy học. Thầy có một người vợ kế là đào hát, cô Năm Nam, đào võ, nổi tiếng qua vai Triệu Tử Long trong tuồng Lưu Bị cầu hôn Giang Tả. Thầy giáo Trương Gia Kỳ Sanh lại là một soạn giả cải lương nổi tiếng, bút hiệu Trúc Viên, thầy còn là kép hát chuyên thủ vai Lưu Bị, Khổng Minh tức là những kép văn, mặt trắng. Thầy giáo Sanh mê cải lương, bỏ tiền ra lập gánh hát Tiến Hóa, mời Út Trà Ôn về làm kép chánh. Diễn viên nam có Văn Ngân, Paul Tấn, Ba Du, Tám Mẹo, diễn viên nữ có Năm Nam, Ba Liên, Hai Hỷ, Năm Bé, Ngọc Sương, Sáu Nguyệt… Gánh hát Tiến Hóa chuyên hát tuồng Tàu :
Quan Công phục Huê Dung Đạo,
Lưu Bị Cầu Hôn Giang Tả,
Khổng Minh thiệt chiến quần nho,
Quan Công phò nhị tẩu,
Từ Thứ qui Tào,
Trương Phi thủ Cổ thành,
Tam khí Châu Do,… nên khi hát ở các tỉnh Hậu Giang, đoàn hát Tiến Hóa rất là ăn khách. Các Ban Triều Châu, Quảng Đông ở Chợ Lớn công nhận đoàn hát Tiến Hóa hát tuồng Tàu (đời Tam Quốc) rất là hay nên họ tặng cho đoàn hát một tấm trướng thêu bốn chữ “Toàn Hảo Chi Ban” mà Bầu gánh hát Trương Gia Kỳ Sanh đi hát ở đâu cũng đem treo tấm trướng Toàn Hảo Chi Ban đó trước cửa rạp hát. Má tôi nói: – Coi kia… cái thằng… nghe nói cho coi hát cải lương thì cặp mắt của nó sáng rỡ… Bên nhà gái hẹn thứ bảy này mới mời má con mình với Dì Tư và mấy bà bạn tới dùng cơm. Họ nói là nhân dịp cúng giỗ, nhưng đó là tạo một dịp cho con coi mắt con Quyên… Má với Dì phải dặn con khi tới đó thì phải làm sao, nói năng như thế nào, thưa gởi những ai… Má tôi còn nói gì thêm nhiều nữa, nhưng tôi chỉ nhớ là cô đó tên Quyên… Cái tên nghe hay quá, con người nhứt định là phải đẹp! Từ giờ cho đến thứ bảy là còn ba ngày nữa, tôi sẽ có dịp đi rong chơi trong thôn xóm và có dịp coi hát cải lương, sau đó tôi sẽ tính tới chuyện đi coi mắt vợ. Hồi học trường Tiểu học MỹTho, tôi học lớp của thầy Sanh dạy. Những ngày cuối tháng, thầy biểu tôi vô nhà thầy cộng sổ điểm của cả lớp nên thầy thương tôi lắm. Bây giờ bất ngờ hai thầy trò gặp lại nhau ở một quận lỵ xa xôi nầy, nhứt định thầy sẽ mừng rỡ và tôi sẽ được coi hát cọp thoải mái. Cơm nước vừa xong, tôi nghe tiếng trống đánh ròn rã từ trên phố chợ di chuyển dần xuống xóm nhà của Dì tôi, tôi chạy ra trước cửa xem… Gánh hát đi rao bảng, rải chương trình đêm hát. (programme). Họ mướn một chiếc xe lôi đạp trên chợ, chở hai người trong đoàn hát ngồi đánh trống và chập chỏa, xe lôi chạy dọc theo bờ sông, qua các xóm để rải chương trình quảng cáo tuồng hát. Họ quăng từng nắm chương trình lên cao cho tung bay theo gió. Những tờ chương trình đủ màu bay lượn như những cánh bướm. Trẻ nhỏ trong thôn xóm chạy theo lượm, reo hò, dành giựt, không khí thật là vui. Tôi cũng chạy ra lượm một tờ. Má tôi biểu đọc tờ chương trình cho bà nghe, tôi nói: – Tối nay hát tuồng Tam Khí Châu Do, con phải ra mua vé liền thì mới có chỗ tốt. Con sẽ về liền, nghe má. Nói rồi tôi đi liền vì tôi sợ Dì tôi ngăn cản. Tôi muốn gặp thầy Sanh, muốn đi dạo phố chợ một mình, hưởng một chút tự do trước khi phải sống gò bó theo phong thái phải có của một anh chàng trai đi coi mắt vợ. Tôi gặp thầy giáo Sanh, ông bầu gánh hát Tiến Hóa tại tiệm cà phê bên hông chợ. Ông ngạc nhiên không hiểu sao tôi lại lò mò tới cái quận nhỏ nầy vì ông biết là nhà của tôi ở MỹTho. Ồng dẫn tôi vô gánh hát, giới thiệu tôi với vợ ông, cô đào chánh Năm Nam và các nghệ sĩ Út Trà Ôn, Văn Ngân, Ngọc Thạch, Ba Du, Ba Liên, Tám Mẹo… Các nghệ sĩ nói chuyện tự nhiên, vui vẻ. Họ xa Saigon đi hát ở miền lục tỉnh cũng khá lâu rồi nên nhớ Saigon, họ hỏi đủ thứ chuyện. Còn tôi thì tò mò muốn biết cuộc đời phiêu bạt rày đây mai đó của người nghệ sĩ như thế nào nên chúng tôi nói chuyện với nhau tưởng chừng không bao giờ dứt chuyện. Kép Văn Ngân( lớn hơn tôi hai tuổi) dẫn tôi ra sân khấu coi. Sân khấu được dựng trong nhà lồng chợ, người ta kê tám cái thùng dầu hắc làm cột, ở trên lót đà cây và ván. Thùng dầu hắc thì mượn của Ty Công Chánh sở tại, họ đang tráng nhựa con đường sau nhà thương, hướng đi về Đình Trung xã Mỹ Trà. Ván và cây thì mướn của nhà vựa bán cây tràm và đưng lợp nhà ở sát bờ sông. Vì mái chợ cao chưa tới ba thước nên tấm phông vẽ đền vua phải cuốn lại mất một phần ba cảnh, mới nhìn tưởng như cung điện của nhà vua cao ngút tới mây xanh. Đèn hai bên cánh gà đựng trong hai cái máng cây, như mấy cái máng đựng cám cho heo ăn nhưng nhỏ hơn và được dựng đứng. Mỗi máng có tám bóng đèn, mỗi bóng một trăm watts, hai bóng bịt giấy kiếng đỏ, hai bóng bịt giấy kiếng xanh, bốn bóng trắng. Cánh gà dùng vải xanh che thay cho các tấm cánh gà vẽ cột rồng vì cánh gà của đoàn hát đóng cao quá, đem vô chợ để trên sân khấu không được. Dì tôi thấy tôi đi lâu quá không về, bà ra chợ kiếm. Tôi nói mua được hai vé hát ở hàng đầu để cho má với Dì coi, tôi vô hậu trường chơi với các nghệ sĩ và ông bầu Sanh. Dì tôi cầm giấy hát trở về nhà. Những anh làm dàn cảnh của gánh hát bắt đầu quét dọn chợ, rửa chợ, sắp đặt các ghế xếp có dán số sau lưng theo như plan bán vé hát. Phía sau chừa khoảng gần 5 thước từ vách sát cửa vô rạp tới sát hàng ghế hạng nhì để cho khán giả hạng ba, hạng mua vé đứng. Một số anh em dàn cảnh khác đang che những tấm “cà tăng” quanh nhà lồng chợ để biến cái chợ quận trở thành một rạp hát. Ngay cửa dành cho khán giả vô coi hát, có một cái bàn nhỏ để bán vé cho những người tới mua vé trễ. Sáu giờ chiều là người trong đoàn hát ra đánh trống, đánh chập chỏa rất là xôm như trống múa lân để quảng cáo. Khán giả ở trong các xẻo sâu, trong mương Điều, ở xã Hòa An, Tân An đã lục tục kéo ra chợ, chờ coi hát. Trước rạp hát, nhiều tiệm bày bàn ghế ra để bán cà phê, nước đá, nước ngọt, bánh trái. Có nhiều gánh bán cháo cá, hủ tiếu, bánh canh, chè.. Người đến mỗi lúc một đông, ồn ào, náo nhiệt, không khí vui như một ngày hội trong quận. Ở quận Cao Lãnh, trong thập niên 1940, nhà đèn chạy bằng dầu mazout nên chỉ đủ cung cấp điện cho nhà thương, dinh ông quận, một số nhà dân có đóng tiền dùng đèn điện. Đèn đường thì có một số ít ngọn, chỉ sáng một màu vàng mù mờ. Các tiệm quán bán đêm thường phải thắp thêm đèn tọa đăng hoặc đèn măng-xông. Tới 10giờ đêm thì nhà đèn cúp điện trong các nhà dân, chỉ còn cung cấp cho dinh quận, bót gác, nhà thương và một số đèn đường. Khi gánh hát tới mướn chợ che cà- tăng để hát thì mỗi đêm hát, ông Bầu gánh phải trả 50 đồng tiền điện, hai trăm đồng tiền mướn chợ, mướn ghế xếp và tiền mướn cảnh sát giữ trật tự. Đèn điện chỉ được dùng trong hậu trường để nghệ sĩ hóa trang và trên sân khấu khi nghệ sĩ hát. Vì vậy gánh hát phải đốt thêm hai ngọn đèn măng- xông để trước cửa và một ngọn măng-xông khác trong khán phòng. Khi nào bắt đầu hát thì sẽ tắt cây đèn trong khán phòng. Đêm đó hát tuồng Tam Khí Châu Do: *Ông Bầu Sanh (tức soạn giả Trúc Viên) thủ vai Khổng Minh cầu đông phong, *Út Trà Ôn vai Lưu Bị, *Ba Du vai Châu Do, *Văn Ngân vai Tôn Quyền, *Cô Năm Nam giả trai thủ vai Triệu Tử Long, *Cô Ba Liên vợ của anh Ba Du thủ vai Ngô Quốc Thái… Toàn là những nghệ sĩ tài danh, ca, ngâm, diễn xuất đều quá hay. Khán giả vỗ tay từng chập.. Đến lớp Khổng Minh cầu được gió đông, nhờ Triệu Tử Long cướp thuyền Ngô để trở về với Luu Bị, đề đốc Châu Do đưa binh truy nã, định bắt giết Khổng Minh nhưng Khổng Minh đã đi thoát rồi, Châu Do tức quá, hộc máu… Lớp nầy Ba Du diễn xuất thần, vừa hộc máu ra thì bị cúp điện! Trong rạp hát tối đen, tiếng mọi người bàn tán, la ó thật lớn. Cảnh sát thổi tu hít và la lớn lên : – Yêu cầu mọi người ngồi yên. Xin trật tự và im lặng. Nhiều người vẫn nói xôn xao. Có người cho là vì đoàn hát không mời nhân viên nhà đèn coi hát nên bị họ phá. Có người nói là gánh hát không đóng tiền điện nên bị cúp… Ông Bầu Sanh vẫn còn mang mặt hóa trang vai Khổng Minh, cầm một cây đèn cầy đốt sáng, khoát màn hát, bước ra giữa mặt tiền sân khấu. Khán giả im lặng. Ông Khổng Minh tằng hắng một tiếng rồi nói : – Bổn bang xin cáo lỗi cùng quí khán giả, bổn bang có đóng tiền đèn cho nhà điện…ủa, nhà điện cho tiền đèn… ý mà nhà đèn nói máy chạy quá sức nên bị lột dên…Bây giờ tối thui, còn một lớp tuồng thiệt hay nữa, xin cho bổn bang đốt đèn cầy hát tiếp cho quí khán giả coi chơi cho đủ lớp tuồng…. Ông Bang Xù, chủ chành lúa và nhà máy xay lúa, đứng lên nói lớn: – Hà, nị hát lèn cầy, ai mà thấy? Ngộ cho nị mượn mấy cây đèn măng-xông để hát. Chịu thì ngộ biểu mấy đứa nhỏ chạy về nhà lem tới. – Dạ, cám ơn ông chủ. – Hầy ông chủ cái gì? Ngộ: ông Bang. – Dạ, cám ơn ông Bang… Ông Bầu Sanh lui vô, biểu anh em chờ đèn, hát tiếp. Tôi nghe anh Ba Du kêu trời: “Trời ơi, hát tiếp thì tôi làm sao mà ói máu nữa được ? Hết máu trong bụng rồi…” – Thì mầy để một chén máu sẵn trên cái bàn, mầy ca hát, tức tối la lên rồi quay người lại che, đừng cho khán giả thấy, mầy bưng chén máu, hớp một hớp thật nhiều rồi quay ra phía khán giả mà ói máu…Ông Bầu Sanh nói như ra lịnh. Ba Du cằn nhằn: Ừ thì phải làm vậy, chớ làm sao bây giờ? Bốn cái đèn măng-xông được mang tới. Ông bầu biểu đem một cái đèn măng-xông để bên hông sân khấu chỗ dàn đờn để cho nghệ sĩ hóa trang, thay đổi xiêm y và cho nhạc sĩ thấy đường để đánh trống, đệm nhạc. Còn ba cái đèn kia thì mấy anh dàn cảnh bắc thang treo lên cao trước sân khấu. Như vậy thì sân khấu sáng bạch mà phòng khán giả cũng sáng trưng. Màn kéo lên hát tiếp. Ba Du – Châu Do ra vuốt râu, trợn mắt, hét lớn: – Ta đã để cho Khổng Minh bôn đào. Tức ôi cha chả là tức..” Ba Du – Châu Do vuốt râu, đấm ngực, quay vô trong, lấy mình che mắt khán giả, hớp một hớp nước pha đỏ, rồi quay ra, phun phèo phèo. Vậy mà khán giả cũng khoái, vỗ tay khen ào ào… Đêm đó vãn hát, ngồi ăn cháo, ông Bầu nói: – Ngày mai phải đi chạy rạp. Ở đây nhà đèn phá nữa thì hết hát. Dám rã gánh hát lắm à… Mai nầy tôi sẽ đi An Bình, kiếm mướn đình hay chợ. – Thầy cho tôi theo với. Tôi muốn biết xã An Bình hay xã Mỹ Trà. Ông đồng ý, dặn tôi ngày mai trễ lắm là 9 giờ sáng phải có mặt tại quán cà phê trong chợ để cùng đi xã An Bình. Sáng hôm sau, tôi nói với Má tôi và Dì là tôi có bạn học ở xã Bình Hàng Trung, chúng tôi gặp nhau ở rạp hát hồi hôm, bạn tôi mời lại nhà bạn chơi, chiều tối tôi về. Má tôi không muốn cho tôi đi nhưng bà Dì nói là cứ để cho tôi đi chơi với bạn. Bà hy vọng tôi sẽ thích sống ở miệt vườn này và như vậy thì việc bà chọn vợ cho tôi ở xã An Bình cũng sẽ được thuận lợi hơn. Ông Bầu chờ tôi trước chợ, thấy tôi đến đúng hẹn, ông bèn dẫn tôi và anh Tám dàn cảnh ra chợ ăn hủ tiếu, uống cà phê rồi lại bến xe lôi. Xe của ông đã mướn sẵn, có để một cái trống, chập chỏa, một xấp giấy áp phích và chương trình đủ màu, in quảng cáo tuồng hát. Tôi hỏi: – Bộ thầy đi rao bảng để hát hay sao mà mang theo trống với nhiều tờ chương trình vậy? – Không! Nếu mướn được chỗ hát thì mình dán áp phích và rải chương trình quảng cáo luôn. Phải chở theo cho nó tiện. Nếu không có địa điểm hát thì ngày mai mình rời qua rạp Sa Đéc”. Tôi nghe ông Bầu nói vậy là tôi không muốn đi theo ổng vì nếu mướn được đình hay chợ để hát, ổng đánh trống, rao bảng, tôi ngồi chung xe lôi đó, rủi mà bên nhà vợ chưa cưới của tôi nhìn thấy tôi, đến khi tôi đi coi mắt vợ thì rắc rối lắm. Nhưng ông Bầu đâu có biết tâm sự của tôi, ổng kêu tôi lên ngồi gần bên ổng, để anh Tám ngồi phía càng xe, rồi ổng bảo anh đạp xe lôi cho xe chạy. Ông nói thêm cho tôi yên lòng: – Mầy đi theo tao chơi, chừng không thích thì mầy lội bộ về. Không có xa lắm đâu. Xe chạy được một đoạn đường, ông nói: – Con lộ đá phía sau nhà thương Cao Lãnh chạy thẳng qua cầu sắt là tới Đình Trung. Ở đó quẹo trái là có con lộ đất lớn đi về xã Mỹ Ngãi, cũng đông dân cư lắm. Đi thẳng có một con đường lộ băng qua đồng ruộng, độ một cây số là tới xã An Bình. Tại xã An Bình có một con lộ đất rộng lớn đi qua xã Mỹ Thọ, rồi thẳng một đường đi qua các xã Bình Hàng Trung, Bình Hàng Tây, Mỹ Long, Mỹ Hiệp. Sức trai như mầy, đi một hơi qua ba, bốn xã chừng vài tiếng đồng hồ, hỏng có lạc đường đâu mà mầy sợ. Mầy có đem tiền theo trong túi không? Nè, tao cho một đồng bạc, dằn túi. Dọc đường có bán bánh ú, bánh tét, có bán cam, bưởi, dừa xiêm… không sợ đói khát. Mầy theo tao một lát cùng ngồi xe lôi mà về. Chừng như mầy chờ tao ở Ban Hội Tề lâu quá thì mầy thả bộ đi chơi đâu đó rồi lội bộ trở chợ quận. Mầy nhớ đường chớ? Tôi không muốn lấy nhưng ổng đã nhét tiền vô trong túi của tôi, tôi không tiện trả lại ngay vì sợ làm phật ý của ổng. Tôi thầm tính trong bụng, khi qua tới xã An Bình, tôi mượn cớ đi loanh quanh xem cảnh vật rồi tôi đi bộ trở về Cao Lãnh. Như vậy dầu cho ông đánh trống hay hát bội trên xe lôi thì cũng chẳng có can dự gì tới tôi. Tới Đình Trung, ông nói: – Nếu hát được ở xã Mỹ Trà thì hay lắm. Người ở Chợ Cao Lãnh qua coi cũng được mà ở xã Mỹ Ngãi hay xã An Bình qua coi cũng tiện đường về. Lúc nầy có trăng sáng, lại chưa phải lúc gặt lúa hay tới mùa cam quít nên dân chúng rảnh rang, họ sẽ đi coi hát đông lắm. Tụi bây chờ tao nghe hông?” Nói rồi ông nhảy xuống xe, đi thẳng lại Nhà việc của Ban Hội Tề xã Mỹ Trà. Anh đạp xe lôi tự giới thiệu tên là Sáu Hộ, anh dẫn anh Tám và tôi lại ngồi trong nhà mát. Anh Sáu Hộ lấy ra một cái túi nhỏ đựng thuốc rê, mời tôi với anh Tám mỗi người vấn một điếu, hút thử. Anh Sáu vừa vấn thuốc vừa nói: – Thuốc rê Xiêm mẳng của Xã Tân An, Hòa An nổi tiếng là thuốc lá ngon số dách. Lá thuốc được xắt thật nhuyễn, màu thuốc vàng tươi. Lấy tay rờ thì bánh thuốc êm mịn như nhung, hơi rít rít tay một chút vì nhựa thuốc. Đốt hút thì tàn thuốc trắng phau, mùi thuốc nặng mà êm chớ không hét như thuốc Gò Vấp. Hút một điếu thuốc rê Xiêm mẳng của xã Tân An, Hòa An rất ngon, đã ghiền hơn là hút nguyên một gói thuốc lá Bách Tô (Bastos) hay thuốc Mélia vàng. Tôi cũng hút thử một điếu thuốc rê Xiêm mẳng, phải công nhận là thuốc ngon, hơi nặng mà êm dịu, hút đã ghiền như lời anh Sáu Hộ giới thiệu. Chúng tôi hút chưa tàn điếu thuốc thì ông Bầu Sanh từ nhà việc của Ban Hội Tề xã bước ra, tay cầm tờ giấy có đóng mộc đỏ chói. Ông cười hề hề: – Xong rồi… Có giấy phép đây. Phương, mầy phụ với tao dán áp phích, lựa chỗ nào dân chúng hay qua lại để họ thấy. Không cần biết chữ, không cần đọc tựa tuồng, ho thấy áp phích của tao có vẻ hai cái mặt nạ “khóc cười” là họ biết có gánh hát tới. Tám, mầy đánh trống, anh đạp xe lôi chở thằng Tám chạy qua xã An Bình rải chương trình quảng cáo rồi quành về đây rước tôi với thằng Phương. Tôi khỏi phải đi theo xe lôi có đánh trống quảng cáo là tôi yên lòng vì khỏi phải qua xã An Bình với anh Tám, tôi không sợ gặp những người bên nhà gái. Ở xã Mỹ Trà, chỉ dán vài tờ áp phích phụ với ông Bầu, xong rồi tôi thả bộ tà tà đi qua xã An Bình rồi lội bộ về Cao Lãnh. Khi tôi với ông Bầu Sanh tới dán áp phích trên cột nhà mát Đình Trung, có ba cô gái thật đẹp, mặc áo bà ba bông màu sắc trang nhã, đi đến. Các cô hiếu kỳ, ghé lại coi mấy tấm áp phích. Một trong ba cô hỏi ông Bầu: – Chú ơi chú, gánh hát hát ở Mỹ Trà mấy bữa? Có dọn qua hát ở An Bình, Mỹ Thọ hay Bình Hàng Trung không hả chú? – Chỗ nào có rạp hát, có đình, chợ, hát được thì gánh hát của chúng tôi đến hát. Tối nay chúng tôi sẽ hát ở Mỹ Trà, mời các cô đến xem.. – Ông ơi, cho con nhỏ nầy nó theo gánh hát với, nó biết đờn ạt-mô-nhum đó (loại đàn phong cầm dùng trong nhà thờ Thiên chúa) – Chị kỳ quá hè… Bác ơi, chỉ nói đùa để ghẹo cháu đó. Cháu đờn trong nhà thờ cho Ban đồng nhi ca, đờn cho gánh hát sao được. Cô bé biết đờn ạt-mô-nhum, đẹp như một con búp bê Nhựt Bổn. Đôi mắt sáng long lanh, chân mày cong lá liểu, môi đỏ như son, nước da trắng hồng và mịn như tơ nhung. Tiếng nói của cô rất trong, rất êm. Chỉ mới nhìn thấy ánh mắt, nụ cười và nghe giọng nói dịu dàng êm đềm của cô bé, trong lòng tôi đã xao xuyến, đã ước mơ… Tôi nói: – Cô đẹp quá! Nếu cô theo gánh hát, không cần đờn, không cần ca, chỉ cần cô bước ra sân khấu nở một nụ cười, khán giả nhìn cô sẽ sững sờ, sẽ chóa mắt như nhìn thấy một ngọn đèn ngàn nến…. – Thiệt vậy hả anh? – Cô gái hồn nhiên hỏi tôi. – Thiêt!.. Thiệt… Tôi nhìn cô nãy giờ mà tôi… tôi có cảm giác lâng lâng như đang ở trên mây… hồn vía phiêu bạt dật dờ đâu mất… – Anh nói chuyện nghe vui quá. Anh là kép hát hả? Anh đóng vai gì. Cô bạn của cô gái xen lời, tôi chưa biết trả lời làm sao thì ông Bâu Sanh đỡ lời: – Anh nầy làm thầy ký trên Saigon, học trò cũ của tôi ở trường Mỹ Tho. Anh xuống thăm tôi. Anh cũng chưa theo gánh hát. Nếu ảnh theo thì tôi cho ảnh làm Vua. Các cô cùng cười: – Ông Vua… Làm Vua…hay quá… Anh Tám và anh Sáu Hộ về tới. Tiếng trống đánh rộn rã như thúc dục, như gọi mời. Trẻ nhỏ trong các xóm túa ra, quây quần bên chiếc xe lôi. Ông Bầu lên cầm chập chỏa, hòa với nhịp trống của anh Tám. Tôi cũng cao hứng lên ngồi kế bên, lấy từng xấp chương trình tung cao lên như những đàn bướm bay lượn chập chờn. Các trẻ nhỏ đua nhau lượm chương trình. Xe chạy qua cầu sắt trở về Cao Lãnh. Tôi đưa tay vẫy chào ba cô gái mới gặp bên đường. Các cô cũng cười, vẫy tay đưa tiễn. Xe chạy một đoạn khá xa, tôi chợt nhớ: – Hồi nãy quên hỏi tên của ba cô, quên hỏi địa chỉ. Ông Bầu cười xòa: – Nếu trò theo gánh hát, phải cần có một quyển sổ dày như cuốn dictionnaire thì mới ghi đủ tên những cô gái đẹp gặp trên đường lưu diễn. Đêm hát ở xã Mỹ Trà, tôi không có đi xem, không biết ba cô gái gặp bên đường buổi sáng đó có đi coi hát hay không. Tôi nhớ hoài giọng nói, nụ cười và đôi mắt đẹp của cô bé. Ngày thứ bảy, ngày tôi đi coi mắt vợ đã tới. Tôi mặc bộ âu phục bằng vải Tussor, thắt cà vạt, đi giày da Italie đúng mode. Cùng đi với hai má con tôi, Dì Tư và vợ chồng mấy bà bạn của Dì, khăn đóng áo dài nghiêm chỉnh. Đoàn bên nhà trai đi qua xã An Bình trên hai chiếc xe thổ mộ. Tôi ôm cặp rượu Rhum, Dì tôi và bạn cầm mấy hộp bánh và một cái quả tráp đựng mứt. Xe qua tới xã An Bình, chạy qua khỏi nhà thờ An Bình, tôi thấy mấy ngôi nhà ngói cất gần nhau trong một vuôn vườn rộng. Đó là nhà của gia đình cô gái mà Dì tôi muốn hỏi cưới cho tôi. Xuống xe, qua vòm cổng bằng cây bông dăm bụp, chúng tôi đi độ hơn mười thước nữa mới tới nhà. Tôi thấy lố nhố nhiều người nhìn ra, chỉ chỏ, tôi lúng túng, chân bước không còn được tự nhiên. Vô tới nhà, tôi chấp tay xá ông bà, cha mẹ của cô gái. Được giới thiệu người nào, tôi cũng chấp tay xá xá… Dì tôi và những bạn bè của Dì là bạn thân của gia đình cô gái đó nên gặp nhau vui vẻ, nói chuyện thân mật. Tôi đảo mắt nhìn quanh, bỗng như bị sét đánh ngang đầu, tôi lùng bùng trong lổ tai, choáng váng. Trời ơi, cái con nhỏ đẹp mà tôi gặp bên xã Mỹ Trà mà tôi không tiếc lời khen hôm trước, đó là cô Quyên, người mà Dì tôi muốn hỏi cưới cho tôi. Gia đình của cô Quyên chỉ có hai chị em. Chị lớn tên Láng, có chồng là anh Hậu, thương buôn. Cô Quyên mới có 18 tuổi, ở nhà giúp mẹ dệt khăn, dệt vải, những ngày chúa nhựt, ngày lễ thì đi đàn phong cầm trong nhà thờ cho Ban đồng nhi hát thánh ca. Cô Quyên nhìn sững tôi, tôi cũng không biết là phải đào một cái lỗ nào dưới đất để mà chui trốn. Tôi có cảm tưởng đôi mắt của cô nhìn tôi rất buồn, trách cứ là tôi dối trá. Đi theo gánh hát làm Vua mà nói là thầy ký trên Saigon! Ở thôn quê, người ta thích coi hát, nhưng nếu có con theo hát bội thì “mẹ liều con hư”. Vậy đó, lần đầu tiên đi coi mắt vợ, bị nhà gái chê, hỏng cưới được vợ chỉ vì ham vui theo chơi với các bạn trong gánh hát. Năm sáu năm sau tôi cưới được vợ tôi và chung sống hơn năm mươi năm, tôi vẫn sống cuộc đời nghệ sĩ… lang thang, nhưng nhờ có tình yêu và nhờ nơi gia đình bên vợ và vợ tôi không có thành kiến với cải lương. Riêng tôi thì khi có ánh nến chập choạng, tôi nhớ tới ánh mắt của cô Quyên, giống như ánh mắt của những diễn viên tài danh như Phùng Há, Năm Phỉ, Thanh Nga, Lệ Thủy… những ánh mắt long lanh gợi những trận bão lòng trong tôi.
baovecovang2012.wordpress.com Nguyễn Phương Posted on June 3, 2021 by Lê Thy
Post by Sơn râu 8 Nov 2024
Thay lời tựa Viết hồi ký Buồn Vui đời Nghệ Sĩ, tôi ghi lại những kỷ niệm của một thời mà tôi lang thang trên bước đường nghệ thuật sân khấu. Trong những kỷ niệm đó, « tôi » – «cái tôi » chỉ là một phần cá thể rất nhỏ của tôi, hòa nhập với cả một tập thể nghệ sĩ để cùng làm chứng nhân của một thời điểm mà xã hội Việt Nam còn có ý khinh bạc đối với người nghệ sĩ, xem họ như những kẻ xướng ca vô loại. Vì vậy, trong tập hồi ký nầy, chuyện của các bạn nghệ sĩ đồng nghiệp của tôi chiếm một số trang quan trọng, tôi là người chứng kiến và cũng là người cùng chung số phận, cùng chia xẻ với các bạn đó những nỗi vinh, nhục của nghề hát cải lương. Thời điểm đó lại là lúc đất nước Việt Nam đang trải qua hai cuộc chiến tranh sắt máu (1945-1975 và sau 1975), sinh mạng của những người dân bình thường bị xem như cỏ rác. Sinh mạng của người nghệ sĩ lại còn bị rẻ rúng hơn nữa. Qua các chuyện: “Những tập tục lạ đời”, “Đào hát biết hóa phép thần thông”, “Nghệ sĩ Tám Vân …”, quí độc giả sẽ thấy được những phi lý của những kẻ đã lạm dụng quyền thế để hành hạ, đàn áp nghệ sĩ. Tuy nhiên qua câu chuyện bị áp chế vô lý đó, người nghệ sĩ vẫn giữ được cái tâm bình thản để vượt qua, để tồn tại và để toàn tâm toàn ý cống hiến nghệ thuật ca hát, góp phần làm đẹp cho đời và làm vui lòng khán giả ái mộ. Qua những trang hồi ký Buồn Vui đời Nghệ Sĩ, tôi muốn giới thiệu với quí độc giả sự khổ tâm rèn luyện nghề nghiệp của các nghệ sĩ, những khó khăn, tai nạn trên bước đường lưu diễn, những cuộc sống cực khổ đói khát mà có một thời trước đây, người ta đã ban cho các nghệ sĩ cải lương cái tên: «Những kẻ ăn quán ngủ đình ». Tuy nhiên trong cuộc sống rày đây mai đó, với một tương lai bất định, người nghệ sĩ cải lương được một niềm an ủi khích lệ lớn lao, đó là trước hết và trên hết mọi sự, người nghệ sĩ đã sống với nhau bằng một tâm hồn chân thật, tương thân tương ái. Họ biết tôn sư trọng đạo. Họ tìm vui và chia vui với nhau trong câu ca, điệu hát, trong câu hò Đồng Tháp hay trong bài ca vọng cổ Bạc Liêu. Cái đẹp của văn chương, cái quyến rũ của làn điệu cổ nhạc dân tộc, các câu chuyện tình vẹn thủy toàn chung của các vở tuồng đã nâng cao tâm hồn người nghệ sĩ để họ chấp nhận những lao khổ nhọc nhằn về phần mình mà được đi khắp các miền đất nước để gieo rắc những bông hoa tư tưởng đẹp, những điệu hát câu hò thắm đượm tình tự dân tộc. Các nghệ sĩ mà tôi có dịp nhắc qua trong những trang hồi ký nầy, đối với tôi, là những bạn thâm giao đã cùng tôi chia ngọt xẻ bùi, đã giúp tôi không ít trên đường sự nghiệp sáng tác của tôi. Tôi viết để nhớ lại các bạn và cảm ơn các bạn. Thêm nữa, một người không phải là nghệ sĩ nhưng người ấy đã theo tôi lang thang trên các nẻo đường nghệ thuật hơn năm mươi sáu năm liên tục, đã cùng tôi chia xẻ vui buồn, cùng gánh vác khó khăn nặng nhọc và là chỗ dựa tinh thần và tình cảm của tôi, giúp tôi yên tâm, phấn đấu không ngừng trên con đường sự nghiệp sân khấu mà tôi đã chọn. Người đó là vợ tôi : bà Nguyễn thị Ba, một cái tên bình dị như con số 3 bình thường, nhưng đó là con số “hên” của cuộc đời Nguyễn Phương. Những chuyện Buồn Vui đời Nghệ sĩ trong quyển sách này có sự chia xẻ và dự phần của vợ tôi. Xin cảm ơn vợ tôi và các con tôi. Xin trân trọng kính dâng lên quí sư phụ của tôi, các ông Năm Châu, Năm Nở, Thành Tôn những kỷ niệm của một thời Nguyễn Phương theo các thầy học nghiệp. Montréal, mùa Xuân 2005. Soạn giả Nguyễn Phương
vietmessenger.com Nhật Tiến NGÀY NAY xuất bản 1964
Post by Sơn râu 8 Nov 2024
Chương 4 Thanh bước vội lên những bậc xi măng ở cửa salle số 4. Tiếng trẻ con oa oa khóc đập vào những tấm kính trong suốt khiến căn phòng trở nên ồn ào, đinh tai nhức óc. Nàng tiến qua những cái nôi bằng gỗ sơn cùng một màu xanh nhạt. Ở trong mỗi chiếc lại có những đứa bé nằm khoa chân múa tay trên những cái tã trắng. Có đứa đã biết lật xấp và đang bò lồm cồm. Có đứa đang níu lấy thành gỗ để thò tay sang với món đồ chơi ở chiếc nôi bên kia; có đứa nằm phơi cái bụng thật lớn che lấp cả cái ngực lép kẹp đang mệt nhọc thở từng nhịp mạnh và ngắn. Trước mặt tất cả chúng nó là những cái dây thòng xuống từ một chiếc xà ngang. Ở đầu mỗi chiếc dây có buộc bình sữa hoặc đã bú cạn, hoặc bỏ giở đang đu đưa trên đầu chúng nó. Một thằng bé thò tay lên với nhưng trượt đi trượt lại mấy lần khiến nó òa lên khóc. Một đứa nằm sát ở nôi bên cạnh đang chập chờn ngủ chợt choàng dậy cũng òa lên khóc theo. Tất cả căn phòng rộng có chừng năm sáu chục chiếc nôi như thế, tạo thành một bầu không khi ồn ào nhộn nhịp suốt ngày. Lúc đó, Hương đang thay lót cho một con bé ở cuối phỏng. Dáng điệu của nàng nhanh nhẹn và gọn gàng như một bà mẹ đã nhiều năm kinh nghiệm. Thanh tiến lại gần và nói nhỏ vào tai bạn:
Quyển truyện chị cho em mượn đã mất rồi! Hương giật bắn người lên, hốt hoảng:
Thôi chết … Thanh tiếp:
Em để ở dưới gậm tủ trong căn phòng xép chứa đồ cũ. Vừa xuống tìm lại thì không thấy nữa. Hương khổ sở nói:
Phải tìm cho ra mới được không thì chết cả lũ. Chị đã hỏi hết mọi người chưa? Thanh đáp:
Tất cả bọn mình đều không ai biết hết.
Cả lũ trẻ nữa chứ? Mặt Thanh vụt tươi lên. Nàng hấp tấp:
Ừ nhỉ, còn lũ trẻ nữa mà em không nghĩ ra. Để em chạy đi hỏi. Nàng không kịp từ giã bạn và tất tả đi ra. Một thằng bé nhìn theo nàng khóc thét lên, đòi bế. Thanh quay lại nhét vào mồm nó một cái núm vú bằng cao su. Nhưng tay nó đã túm được vạt áo của nàng rồi giữ chặt lấy. Thanh mỉm cười hiền hậu giơ hai tay bồng đứa bé lên. Nó nín bặt và nép đầu vào ngực nàng. Thanh với lấy một cái lúc lắc bằng nhựa đem lắc trước mặt nó. Đứa bé toét miệng ra cười. Hưong nói:
Thôi liệu mà đi đi, chị mà ẵm nó thì hết ngày. Thanh nựng nịu:
Em chịu khó ngồi xuống đây nhé. Chị đi một lát thôi. Đứa bé không chịu, bấu cứng lấy người Thanh. Cử chỉ ấy làm Thanh bối rối. Nàng nhìn Hương cầu cứu. Hương thu gọn cái nôi trước mặt mình rồi bước lại. Đứa bé được chuyền qua tay Hương. Nó lại ôm lấy Hương như không muốn rời ra. Đối với tất cả bọn chúng nó thì ai bế cũng được, miễn là khỏi phải nằm hàng nửa ngày trong một cái nôi chật chội.
vietmessenger.com Nhật Tiến NGÀY NAY xuất bản 1964
Post by Sơn râu 8 Nov 2024
Chương 3 Bởi vì cái tính của con Dung như thế, nên khi thấy nó gọi đến tên mình, Phượng ngần ngại không muốn lại gần. Nhưng Phượng chưa kịp có ý định gì thì Dung đã xồ đến liến thoắng:
Phượng, mày có thích đọc chuyện a-la-đanh và cây đèn thần không? Phượng nói:
Tao thích nhưng không đọc đâu. Mày lại ăn trộm ở đâu ra phải không?
Mốc sì, tao chẳng thèm ăn trộm đâu hết, tao bắt được ở trong nhà để đồ. Vừa nói nó vừa dúi cho Phượng một cuốn sách nhầu nát làm Phượng dẫy nẩy lên, lùi lại. Dung hét:
Cho ngay vào bụng không lại chết đòn với các bà ấy bây giờ. Phượng nói:
Tao không xem. Tao không cần đâu. Mặc kệ mày. Nhưng con Dung đã tốc ngay áo của Phượng lên, ấn ngay cuốn sách vào cạp quần rồi bỏ chạy. Phượng thất thanh gọi:
Dung! Dung!…. Nhưng con bé đã biến mất sau những bồn hoa bên cạnh bể nước rồi. Vào đến lớp học, Phượng phải tuột xuống gậm bàn để cho cuốn sách vào cặp. Con Bích ngồi bên cạnh tò mò hỏi:
Quyển gì thế?
Aladin và cây đèn thần. Con Bích thích quá, nhón người lên:
Ở đâu ra thế? Chuyện ấy nghe chị Giang kể, hay phải biết! Phượng cấu vào đùi nó làm nó sợ hãi ngồi ngay người lên. Cả hai bắt gặp cái nhìn sắc như dao của bà Juliette. Bà ta chỉ ngay cái thước về phía Phượng rồi nói:
Phượng! Ta đang giảng đến cái gì đấy? Phượng đứng dậy:
Thưa ma soeur, ma soeur đang nói về cách dùng ba ngôi ….. Bà Juliette hơi tức mình về sự thông minh của nó. Theo ý bà, đáng lẽ nó phải nhận hai thước kẻ về tội lơ đãng. Bây giờ bà quay cái thước về con Bích làm nó rúm lại. Miệng bà nhếch một nụ cười khoái chí. Bà có cảm giác như đã chộp đúng kẻ phạm tội, mà nó không chối cãi được. Bà nói:
Bích hãy nhắc lại…. Con Bích rụt rè đứng dậy. Mặt nó xám như chàm đổ. Phượng nom thấy rõ thân hình nhỏ bé của nó run lên bần bật. Có tiếng bà Juliette quát:
Nhắc đi. Con Bích run lên:
Thưa ma soeur, ba ngôi là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần…. Cả lớp phá lên cười, còn mặt bà Juliette thì đỏ lên rần rần. Bà ta vội đập cái thước lên mặt bàn rồi săm săm đi xuống. Cả lớp đổ dồn mắt về phía Bích. Nó bị xách tai kéo lên bảng như người ta xách cổ một con gà. Rồi bà Juliette lấy cái thước kẻ khều tay xinh xắn của nó bắt xòe ra đằng trước. Nó nghiến răng chờ. Nhưng lần này bà Juliette lại phát minh ra kiểu phạt mới. Bà ta nghiêm nghị nhìn những khuôn mặt chờ đợi của lũ trẻ trong lớp, một lát bà mới chỉ đứa thứ nhất ngồi ở đầu bàn:
Nhắc lại cho nó nghe. Hồng! Hồng đứng dậy:
Thưa ma soeur, ba ngôi số ít là je, tu, il như trong verbe Être thì là je suis, tu es, il est. Còn số nhiều thì là nous sommes, vous êtes, ils sont.
Lên đánh cho nó một thước để làm gương. Con Hồng rụt rè đón lấy cái thước ở tay bà rồi tiến lại phía con Bích. Bà Juliette nói:
Đứa nào đánh không đau thì đứa đó phải chịu gấp đôi. Con Hồng nghiến răng, quất xuống lòng bàn tay của con Bích một cách thực mạnh. Người con Bích lạng đi. Mặt nó đỏ rừ, nước mắt của nó ràn rụa. Bà Juliette nhìn Hồng một cách bằng lòng. Bà ta chỉ một đứa tiếp theo:
Nhắc lại cho nó nghe Tám! Con Tám rụt rè đứng lên:
Thưa ma soeur, je suis, tu es, il est, nous sommes, vous êtes, ils sont.
Lên đánh cho nó một thước để làm gương. Con Tám đánh rồi im lặng đi xuống. Trong lớp học bao phủ một bầu không khí nặng nề, ghê gớm. Nhưng giọng bà Juliette vẫn lạnh lùng.
Nhắc lại cho nó nghe, Hảo! Hảo đứng dậy:
Thưa ma soeur, je suis, tu es, il est, nous sommes, vous êtes, ils sont.
Lên đánh cho nó một thước để làm gương. Con Bích chịu đựng đến lần thứ sáu thì òa lên khóc. Nó xòe hai bàn tay đỏ rừ ra trước mặt bà Juliette vừa mếu máo vừa xin. Lớp học đang im lặng bỗng trở nên nhốn nháo khiến bà Juliette phải đập cái thước lên bảng hét lớn:
Silence!…. Trật tự trở lại ngay khi ấy và bà ta nhìn con Bích bằng cặp mắt ghét bỏ. Một lát bà nói:
Ra quỳ ở trước cửa và cho chịu nốt đến ngày mai! Giờ tan học bọn trẻ khoái chí hét lên ở ngoài sân sỏi:
Ba ngôi! Ba ngôi trong verbe Être là Đức Chúa Cha, đức Chúa Con và đức Chúa Thánh Thần! Ôi giê-su-ma lạy chúa tôi. Trong khi ấy Phượng thương xót nắm lấy hai tay của con Bích thủ thỉ:
Đáng lẽ tao không nên trả lời bà ấy như thế. Tao phải nói đang chia verbe être thì mới phải.
HUYỀN TRÂN xuất bản 1966 truyện viết theo thể Nhật ký (đã xuất bản 16 lần ở VN và 2 lần ở Hoa Kỳ)
Chương 10 Thứ hai, 19 tháng 1… Thưa má, Lá thư mà má sai con gửi cho bà Félicité ngay tối hôm qua nhưng con không đưa được, vì bà ấy đi vắng. Con nhớ lời má không được mở ra xem, và đem cất ở dưới gối. Nhưng đến tối thì bọn con Hương đã lôi ra xem với nhau từ lúc nào. Khi chúng nó trả con thì con mới biết. Chúng nó hỏi con:
Má mày làm sao lại phải van xin bà ấy như thế. Má mày làm sao mà lại khóc nhòe cả thư đến như thế. Con chỉ biết khóc mà không biết trả lời thế nào. Con cũng không đọc thư ấy của má vì con vâng lời má. Má thật khó hiểu. Má khổ như thế mà má không nói cho con biết. Má không yêu con nên mới giấu con như thế. Con trao lại cho Ma soeur Félicité rồi. Nhưng tại sao má khóc. Ai đánh má, ai mắng má? Con không chơi với má nữa đâu. Sao hôm qua má chẳng nói gì với con? À, thôi con nghĩ ra rồi, lúc buổi trưa nằm ngủ với má, má hôn con rồi má khóc. Thế mà má lại bảo rằng có con muỗi mát bay vào mắt má. Má khóc thật hở má. Má buồn lắm phải không má. Thôi, con không học nữa đâu. Má đón con về đi. Con ở nhà với má, nói chuyện với má cho má vui. Học như thế này thì chán lắm má ạ. Đáng kiếp cho bọn con Hương, lúc con đưa thư cho Ma soeur Félicité rồi con mách chúng nó. Bà ấy bắt chúng nó quì gối suốt cả buổi trưa ở ngoài hiên. Chúng nó ghét con lắm. Chúng nó không làm docteur, và cô giáo cho Gigi nữa. Tội nghiệp Gigi quá. Má ơi, má viết cái gì cho Ma soeur thế. Hay là ông chủ sở của má mắng má, hay là ba ghét má rồi. Con thì con ghét ông ấy, không thèm nhắc đến ông ấy nữa. Chẳng bao giờ ông ấy viết cho con chữ nào. Má ơi, má đừng khóc nữa. Má đã ho mà lại còn buồn thế thì rồi ốm đấy. Má có thương con và Gigi không? Hạnh và Gigi
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.