Chuyện Bé Phượng

vietmessenger.com
Nhật Tiến
NGÀY NAY xuất bản 1964

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

  1. Chương 7
    Chiều hôm ấy Thanh ôm bọc quần áo trở lại văn phòng. Nhưng nàng chỉ gặp bà Cécile. Bà ta đọc lướt cái đơn xin ra của nàng rồi hỏi:
  • Chị nghĩ kỹ rồi đấy chứ?
    Thanh thở dài:
  • Thưa ma soeur vâng.
  • Chị đã tính đi làm gì chưa?
  • Thưa ma soeur con chưa tính được gì cả.
  • Không hề gì. Đây là thư giới thiệu của mẹ bề trên với các cha bên nhà thờ. Và trong khi chờ đợi một việc làm thích hợp, mẹ bề trên giúp chị một món tiền.
    Thanh hờ hững cầm chiếc phong bì nhét vào bọc áo. Hai người im lặng nhìn nhau. Một lát Thanh chào từ giã rồi quay ra. Bà Cécile nhìn theo nàng cho đến khi cái bóng áo trắng khuất sau nhung rặng cây Sấu um tùm. Một lát bà xếp lá đơn của Thanh vào ngăn kéo và lấy ra một quyển sổ cái. Bà lật tìm nhiều trang đề dò từng tên một.
    Những dòng chữ lướt qua dưới ngón tay búp măng thon dài. Chợt bà dừng lại ở một hàng gần cuối. Nguyễn thị Đan Thanh. Tên ấy sẽ bị gạch bỏ dưới hàng ghi chú: tự ý xin ra.

Chim Hót Trong Lồng

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

  1. Chương 14 – Chương cuối
    Lễ giao thừa.

Má ơi má,
Năm mới con và Gigi chúc má mau chóng khỏi bệnh để về với chúng con. Con sẽ đến đón má ra khỏi căn buồng chỉ có tường vôi trắng và chăn màn trắng. Con sẽ đỡ má đi xuống những bực cầu thang bằng gỗ. Còn Gigi thì sẽ phải ra gọi xe và mặc cả về nhà. Cửa nhà ta sẽ không khóa như bây giờ nữa. Con sẽ mở những cửa sổ để cho nắng mùa Xuân sưởi ấm cái giường của má. Lọ hoa để mốc ở trên bàn salon được cắm hoa hồng màu đỏ và bàn sẽ trải bằng khăn màu xanh. Má sẽ ngồi dựa lưng ở trên giường mà dưỡng sức. Con sẽ đi đun nước lá thơm cho má gội đầu. Gigi thì cắm bàn là là lại những cái áo nhầu nát ở nhà thương. Ba mẹ con sẽ hát ở trong phòng tất cả những bài mà từ lâu không hát. Con sẽ trèo lên ghế để quét màng nhện bám ở trên tường. Gigi bé không giữ được chân ghế thì phải ra lên dây cót cái đồng hồ báo thức mà đã từ lâu không chạy.
Má sẽ không ho nữa. Má sẽ chải đầu, đánh phấn, rồi mặc áo đẹp. Má sẽ dẫn chúng con lên phố mua kẹo và mứt. Mình sẽ ăn Tết lại với nhau. Má sẽ mừøng tuổi cho Gigi một đồng, cho con hai đồng thật mới. Hai chị em sẽ tết thành hai con bướm màu xanh đem cài ở trên tóc. Rồi con và Gigi cùng khoanh tay để mừng tuổi má. Má đừng mua pháo vì Gigi không biết bịt tai. Má chỉ mua một cành đào có hoa màu đỏ, có lộc non màu xanh đem về cắm ở giữa nhà. Con sẽ cho Gigi đánh đu ở trên ấy. Đến tối nếu trời mưa thì mình đóng cửa và thắp đèn sáng. Má phải mặc áo len trước khi lên giường vì trời sẽ lạnh. Con sẽ kể chuyện ở trường cho má nghe, sẽ đem sách vở cho má kiểm soát. Lúc ấy thì chắc Gigi đã ngủ ở trên cành đào.
Mồng một Tết – 8 tháng 2…
Con bế Gigi vào nhà thương với bác Tuyết. Chúng con ngồi ở trên toa tàu điện. Gigi háo hức đứng giơ tay ra nhìn cánh đồng cỏ màu xanh. Một tay con ôm nó, một tay con cầm gói bánh chưng. Quà Tết của má đó má, bác Tuyết mang về từ sáng sớm lúc quá giao thừa.
Bác ấy mừng tuổi cho con mười đồng. Gigi chẳng được gì cả. Nhưng rồi con chia với nó. Cả buổi sáng hôm nay hai đứa náo nức sửa soạn đi vào thăm má. Gigi bận áo choàng xanh, ở trong có váy đỏ và sơ mi trắng. Còn con thì không có áo nhung má ạ. Má khóa cửa ở nhà mất rồi. Nhưng con không cần, con mặc jupe màu cà phê rang với áo len hoàng yến cũng đẹp rồi. Lúc ra đến cửa thì có ông bạn bác Tuyết đến chơi. Ông ấy hỏi:

  • Con ai?
    Bác Tuyết bảo:
  • Con gái Lệ Hà đấy.
    Ông ấy hôn vào môi con rồi mừng tuổi cho con năm đồng. Nhưng con ghét ghét là. Con chỉ muốn có một mình má hôn con thôi, phải không má?
    Xe điện đi ở trong mưa bụi bay. Gigi đứng ở cửa toa nên tóc của nó bám những hạt nước long lanh. Bác Tuyết thở khói thuốc lá vào trong gió. Hai người đàn bà ngồi ở bên cạnh mừng tuổi nhau bằng những miếng trầu. Thằng bé con mặc quần áo dạ tím cứ ngắm mãi Gigi. Tay nó cầm khẩu súng làm Gigi hết hồn. Con giấu Gigi vào trong áo. Cu cậu tẽn tò quay ra bắn lốp đốp vào đùi mẹ nó. Mẹ nó kêu lên:
  • Con giai! Con giai!…
    Lúc tàu đỗ, con bế Gigi chạy trước. Con nhớ lối từ sân sỏi lên hành lang. Con gọi má ngay từ đầu cửa sổ. Có những người ốm nhìn ra. Nhưng con chỉ trông thấy cái bảng số ở trên cửa phòng của má. Con chạy vào trong ấy. Chắc Gigi cũng đang reo lên:
  • Má ơi, má!
    Nhưng căn buồng của má bỏ không. Cái giường của má trống không. Con không nhìn thấy guốc của má nữa. Con ném gói bánh chưng lên tấm lò so không có đệm, rồi ôm mặt khóc òa lên. Lúc ấy Gigi ngã xuống nền đá hoa trắng. Nó ngủ ngay mất rồi, nên chỉ có một mình con. Con chạy lại cửa sổ, con mở những ngăn tủ, nhưng chẳng chỗ nào còn lại di vật của má. Má ơi, má bỏ con rồi, má bỏ con thật rồi. Con chạy về phía người nữ y tá trẻ lúc ấy đang bế Gigi, và đứng nhìn con.
    Con kêu nức nở:
  • Má em đâu, má em đâu rồi?
    Chị ấy khóc. Chị ấy ôm lấy đầu con. Những giọt nước mắt của hai người chan hòa cả những nét phấn hồâng hồng ở trên mặt chị. Rồi chị ấy nói:
  • Má em mất từ hồi giao thừa đêm qua. Có chị vuốt mắt cho má.
    Con khóc thét lên. Con không đứng ở trong vòng tay của chị nữa. Con chạy ra cửa gọi má vang lên ở khắp dãy hành lang. Con vào phòng số 5, số 6, số 7. Ở phòng nào con cũng khóc hỏi người ta:
  • Má em đâu rồi? Má em đâu rồi?
    Chẳng có ai trả lời con cả. Người ta chỉ giương những cặp mắt sâu và ướt át nhìn con.
    Con đứng ở cửa sổ mà khóc. Má ơi, sao má lại bỏ chúng con bơ vơ một mình. Sao má không trở về nhà gội đầu bằng lá hương nhu, mặc quần áo mới và ngồi mà xem Gigi đánh đu ở trên cành đào. Má ơi má, má đi mà không nói gì. Má đi mà không hôn con gái má. Má đi mà không cho chúng con được nhìn lại một lần. Bây giờ chúng con đem bánh chưng vào cho má, nói chuyện với má thì má chẳng còn nằm đây. Guốc má đâu rồi? Áo má đâu rồi? Chăn màn của má, ai đã mang đi? Đêm hôm qua con còn nghĩ đến má, còn hy vọng được gặp má. Sáng hôm nay còn hớn hở sửa soạn đi đón má. Má ơi, sao đau đớn thế, sao khổ sở thế? Má bỏ chúng con mà đi được thật hay sao?
    Đêm hôm qua con còn mơ thấy má. Còn tưởng rằng hai má con sẽ lại gặp nhau. Ai ngờ trong lúc ấy thì má chết một mình. Chẳng có ai ở gần má. Chẳng có ai rót nước cho má. Chẳng có ai để má cười, má nói. Mẹ con đến phút cuối cùng cũng chẳng được trông thấy nhau. Má làm gì nên tội mà chết đau đớn như thế? Những lời cầu nguyện của con cho má không ăn thua gì. Con ghét Chúa, Chúa thật bất công. Hay là ông ấy chẳng biết cái gì cả.
    Má đã toàn mình mà không được che chở. Một đời má, má chỉ nghĩ đến con gái, chỉ thương có một mình con gái, chỉ vì con gái mà má phải vất vả. Thế mà bây giờ, con chưa làm gì cho má cả. Chưa báo hiếu được gì đối với má. Má bỏ con đi rồi thì con còn hát với ai, còn đánh đàn cho ai. Con chẳng còn ai để mà trông ngóng tới ngày Chủ Nhật. Bây giờ thì hôm nào cũng chỉ như hôm nào mà thôi. Sẽ mãi mãi chúng con không còn được đứng ở gốc cây bàng trong sân trường đón má, vẫy má, hét má từ trong mái hiên nhà trường. Đường phố sẽ chẳng bao giờ còn có bóng dáng ba mẹ con chúng mình đi ở dưới lùm cây, ngồi ở trên ghế đá, nhặt những viên sỏi trắng đem ra rửa ở máy nước vườn hoa.
    Má ơi, hết rồi, hết thật rồi. Mùa lạnh sẽ không còn có ai mua áo cho con, chọn áo cho con. Mùa lạnh sẽ không còn có ai viết thư căn dặn rằng con phải uống dầu cá và sirop. Làm gì có tiền mà mua sirop nữa hở má. Con khóc cho má, khóc cho mình và cho Gigi. Chẳng có sự gì làm con đau đớn như thế. Khi ấy bác Tuyết đã lên hết cầu thang. Con bảo rằng:
  • Bác ơi, má chết rồi!
    Bác ấy ném cái ví xuống đất rồi khóc to lên:
  • Hà ơi, mày khinh chúng tao, mày ghét chúng tao, mày bỏ đi thế là mày thoát rồi…
    Nhiều người mở cửa phòng ra đứng xem. Chị y tá dẫn hai bác cháu xuống nhà xác. Con gặp má rồi. Má nằm ở đấy. Má không cười. Má không nói. Má không nhìn chúng con. Mắt má nhắm nghiền như người ngủ say. Da mặt má trắng xanh. Môi má mím chặt. Má mặc cái áo len cộc tay màu xanh hoa lý. Chung quanh má chỉ có bóng tối, có tường vôi, có mùi ẩm thấp ở chân tướng, có hơi lạnh lẽo của những người chết. Con ôm lấy má, khóc ở trên ngực má, hôn ở trên cổ má, cào xé lên người má. Bác Tuyết giằng con ra và bế xốc con lên hai cánh tay. Bác ấy vừa đi vừa khóc ở dưới lùm cây trong bệnh viện. Tiếng khóc của con cũng vang lên vọng vào những cửa sổ mở rộng. Có những người mặc quần áo trắng đứng nhìn ra, những người đang đẩy xe băng-ca đứng dừng lại. Họ nói với nhau:
  • Tội nghiệp nó! Tội nghiệp nó!
    Nhưng con không nhìn ai cả. Con ném Gigi xuống thảm cỏ. Chị y tá phải cúi xuống nhặt lên. Con gục đầu vào cổ bác Tuyết nức nở như chưa bao giờ con nức nở như thế. Bên tai con văng vẳng có tiếng má gọi con gái má.
    Có tiếng pháo đầu xuân nổ giòn ở một phía rất xa, và có cả tiếng những ngươi nằm rên trong những căn phòng lạnh lẽo.
    Mưa bụi vẫn bay ở lưng chừng trời…
    Mồng hai Tết – 9 tháng 2…
    Quan tài của má để ở trên chiếc xe hai ngựa. Đôi ngựa kéo chiếc xe đi trong mưa bay buổi chiều. Trên nắp quan tài có bát cơm và quả trứng. Bát cơm ấy, quả trứng ấy là lần đầu tiên con làm cho má. Bác Tuyết tặng má một vòng hoa đỏ. Tất cả thật là thảm thương. Đám ma của má chỉ có bốn người: người đánh xe, bác Tuyết, con và Gigi. Chiếc xe đi chậm chậm ở trên đường phố hàng Bột. Chiều mồng hai Tết có những người áo xanh, áo đỏ đi ở dưới hàng hiên. Pháo nổ ở những cửa hiệu. Đáng lẽ pháo nổ thì vui nhưng bây giờ lại càng buồn. Con để Gigi ngồi ở trên ván gỗ. Tội nghiệp Gigi vẫn cười. Chỉ có con và bác Tuyết là khóc. Chỉ có hai người là khóc trong buổi chiều hôm nay. Chắc linh hồn má cũng nức nở ở trên những cánh hoa, ở trong lần khăn liệm trắng, ở trong linh hồn bé nhỏ của chúng con.
    Má ơi má, hôm qua ngủ con lại nằm mơ thấy má. Má ngồi gỡ đầu ở trong nhà xác. Má cười với con. Má vuốt tóc con. Rồi má đi ra đứng ở ngoài hiên. Má ho rũ rượi. Máu má thấm đỏ cả cái áo choàng trắng. Người ta trói má lại, bắt má trở về cái bàn đá, bắt má nằm ngủ ở trong ánh nến màu vàng. Má khóc. Nhưng mắt má nhắm dần dần. Má gọi mơ hồ:
  • Hạnh ơi, Hạnh ơi!
    Con nắm lấy tay má. Tay má lạnh như tay vịn bằng sắt ở trên tàu điện. Cổ má không còn mùi thơm. Má không nói nữa, không khóc nữa, không thở gì nữa. Má không nghe thấy con gọi, mà chỉ thấy bác Tuyết kêu lên:
  • Hà ơi, Hà ơi!
    Rồi cả mấy người cùng khóc. Tỉnh dậy con tưởng mình đang nằm trong lòng má. Nhưng không phải. Chỉ có bác Tuyết nằm ôm con ngủ. Con úp đầu vào ngực bác khóc thút thít hỏi:
  • Má cháu đâu rồi, má cháu đâu rồi?
    Bác ấy thở dài không đáp. Rồi bác ấy kể chuyện về má, về ba. Con không có ba, phải không má. Ba bỏ má từ ngày con lên một. Má làm gái điếm nuôi con. Nhưng con không ghét má, khinh má đâu. Má vẫn là mẹ hiền từ và đáng kính của con. Má vẫn là tấm gương chói sáng dẫn dắt con đi, con sẽ nhớ lòng hy sinh và tận tụy của má vì con, con sẽ nhớ mãi những lời dạy bảo hiền từ của má. Hình ảnh của má vẫn mãi mãi là hình ảnh thân yêu nhất của lòng con. Má chết đi rồi nhưng không bao giờ con quên má. Những ngày ở bên má là những ngày êm đẹp nhất của đời con.
    Bác Tuyết nói một lúc thì nằm yên rồi ngủ. Nhưng con thì trở dậy. Gigi vẫn ngồi mở mắt ở trên nóc tủ. Con bế Gigi vào lòng mà ru Gigi. Một lát, con đặt Gigi nằm ở trong mền, và con nghĩ đến má, đến những việc đã vừa xẩy ra…
    Má ơi má.
    Nghĩa địa chỉ có năm người. Hai người cuốc đất, bác Tuyết, con và Gigi. Cây cỏ ủ rũ trong sương mù. Đất đỏ ẩm thấp lấp lên quan tài trắng của má. Quả trứng cũng rơi xuống hố. Quả trứng được nằm với má. Con bế Gigi đứng ở trên này. Đất đỏ ngăn cách mẹ con chúng mình. Từ nay ai còn được trông thấy má. Ai còn được nghe má nói, má cười. Đường phố không còn hình bóng má nữa. Trong đám những ba, má đi đón trẻ con ở trường vào sáng Chủ Nhật, từ nay sẽ không còn có má. Con không còn mong ai để mà khóc ở trên ghế đá. Chủ Nhật chị em con sẽ ngủ muộn hơn, không dậy sớm, không đánh giày, không xếp quần áo. Vì chúng con mất má rồi. Má nằm một mình ở đây, dưới làn đất lấp kín. Má chỉ còn đi chơi với những người ngủ ở những ngôi mộ chung quanh. Buổi tối má ngủ ở đấy, không có đèn sáng, không có chăn bông, không có cửa sổ để đóng. Nhưng nếu má hiện về thì má ngồi ở trên ghế, ở bên cạnh con, nghe con hát những bài ở trường, con ru Gigi ngủ ở trong màn trắng. Rồi má lau nước mắt cho con, những dòng nước mắt khóc vì nhớ má.
    Bác Tuyết cắm một bó hương lên mộ má.
    Chung quanh bó hương là vòng hoa. Vòng hoa có những chữ “Hà ơi, mình khóc cho nhau”. Mắt bác Tuyết ràn rụa, bác nói trong tiếng gió thổi từ trên những cành cây cao.
  • Hà ơi, linh hồn có khôn thiêng thì phù hộ cho con gái.
    Hai người phu đã vác cuốc đi về trên con đường nhựa ướt nước mưa. Con bế Gigi đứng bên cạnh nấm mồ mới đắp. Má của chúng con nằm ở dưới ấy. Con gọi má ở trong ý nghĩ. Rồi con nói thầm với Gigi:
  • Gigi ơi Gigi, má không về nữa rồi.
    Chắc má nhìn theo chúng con lúc chúng con lủi thủi đi về. Chung quanh thật là im lặng. Chỉ có những mô đất ngơ ngác nhìn nhau không nói. Chỉ có những cây cỏ rì rào và tiếng những giọt nước lóng lánh rơi từ ở trên cao. Ngoài đồng có gió thổi về lạnh ngăn ngắt. Môi bác Tuyết tái ngắt, môi con và Gigi cũng tái. Bác Tuyết châm thuốc hút, thở ra khói màu xanh. Không có ai nói với ai. Nhưng thật ra là con đang nói với má. Con gọi má như lần nào ôm lấy cổ má ở trong chăn ấm. Con hát cho má nghe như lần nào má ngồi đan áo ở cửa sổ. Nhưng không biết má có nghe thấy gì không. Hay là má chỉ ngồi ở trên những cánh hoa, nhìn theo con gái má mà nức nở một mình?
    Mồng tám Tết – 16 tháng 2…
    Má ơi,
    Sau khi bà Félicité đưa cho bác Tuyết xem thư của má, thì bác Tuyết sửa soạn quần áo cho con về trường. Bác ấy cầm lấy tay con mà nói như khóc:
  • Mẹ cháu nghĩ cũng phải, cháu chẳng nên ở với bác làm gì.
    Con bế Gigi đứng chào bác. Bác tháo ở quyển album ra một tấm ảnh của má. Con xin thêm một tấm ảnh của bác. Bác cho và hôn lên mắt con. Bác tiễn con ra cửa. Bà Félicité đứng chờ ở bên cạnh ô tô của nhà trường. Con hôn bác lúc ô tô mở máy. Xe chạy rồi mà bác còn đứng vẫy mãi. Bác mặc quần dài trắng, áo lụa trắng. Bóng dáng bác nhỏ dần ở trong đường phố có ánh nắng đầu xuân. Bà Félicité ôm lấy con và Gigi mà nói:
  • Tội nghiệp, tội nghiệp! Con tôi!
    Con gục đầu vào khuôn mặt dịu dàng của bà. Bà cũng hiền từ như má, hay cười như má. Nhưng bây giờ thì bà long lanh những giọt nước mắt.
    Con trở về sân trường, nhớ đến những buổi sáng má mặc quần đen, áo đen, đứng vẫy con ở dưới gốc cây. Những hòn sỏi trắng tháng trước còn reo lên ở dưới gót giày của má. Hai mẹ con hay ôm nhau ở đúng chỗ này. Bây giờ thì chỉ có một mình con. Con đã sống những giờ im lặng ở trong lớp học. Những giờ im lặng bắc ghế ngồi ở cửa sổ nhìn ra vườn có nắng mùa xuân. Ban đêm con ôm Gigi nằm ở trong chăn ấm. Chúng con nghĩ đến má luôn luôn, nhớ đến má nhưng chẳng còn bao giờ có hy vọng để gặp má.
    Ma soeur Félicité nhận đỡ đầu cho con. Bà dẫn con đi học đàn piano ở bên nhà dòng. Phút đầu tiên ấn ngón tay trên phím trắng, con rưng rưng mà nghĩ rằng má không còn ở trên đời, không còn ngồi ở trên giường, có ánh trăng chiếu vào sàn đá, để nghe con đánh đànvà hát cho má nghe như má hằng ao ước. Bà Félicité dạy con hát với những lời ngọt ngào. Bà cho phép Gigi được ngồi bên cạnh bản nhạc. Nó nhìn con. Hai chị em cùng mỉm cười. Nếu có má ở đấy, chắc má phải sung sướng mà hôn lên mắt chúng con.
    Nhưng bây giờ thì má đã nằm ở ngoài nghĩa địa, ở trong quan tài trắng. Không biết má còn nhìn thấy chúng con hay không?
    Những buổi sáng, buổi chiều, hay buổi tối, sau giờ học và giờ ăn, bà Félicité giảng Kinh Thánh cho con nghe. Con yêu tiếng nói dịu dàng của bà, yêu cặp mắt đen và hiền từ, yêu cả nụ cười êm dịu của bà hay nở trên môi.
    Có những đêm con nằm ở trong bóng tối khóc nhớ má một mình. Nhưng Ma soeur đã đến bên giường sờ tay lên bộ mặt chan hòa nước mắt của con. Bà bế con trở dậy, và đi đến bàn thờ Đức Mẹ. Bà nói qua tai con:
  • Con cầu nguyện cho má đi. Má có linh hồn. Linh hồn của má sẽ được tới gần chân Chúa. Con quì xuống ở bên cạnh bà. Có ánh nến leo lét cháy trong bóng tối. Có tiếng cầu kinh văng vẳng từ những dãy hành lang, con nghĩ đến má, đến những buổi chiều mùa thu đi nhặt lá bàng ở trên đường Cột Cờ, đến nhữõng buổi tối mùa đông hai mẹ con ôm lấy nhau ngủ ở trong hơi ấm, đến buổi sáng Chủ Nhật có nắng vàng tươi, má dẫn con đi ngắm những cửa hàng ở trên phố.
    Tất cả đều đã qua đi như một giấc mộng. Trong bóng tối im lìm, bà Félicité lấy khăn chấm lên những giọt nước mắt long lanh trên má con và hỏi dịu dàng:
  • Con nghĩ gì thế?
  • Thưa, con nghĩ đến má của chúng con.
  • Vậy con hãy cầu nguyện cho má đi. Má chắc chắn sẽ được lên Thiên đàng.
    Lạy Chúa, xin Chúa hãy vì má, hãy vì nỗi lòng đớn đau và tinh khiết của má mà đưa má về nơi thanh cao như lúc này con đang thành tâm tha thiết nguyện cầu cho má…
    Nhật Tiến
    3-9-1959

Chim Hót Trong Lồng

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

  1. Chương 13
    Chủ Nhật, 8 tháng 2…

Má ơi,
Sắp giao thừa rồi đấy má. Búp bê Gigi nằm ngủ ở trên giường. Bác Tuyết mới đi lúc mười một giờ đêm. Còn có một mình con ngồi viết thư cho má đây. Con kể chuyện hồi trưa cho má nghe. Lúc hai giờ chiều nay có bốn người đàn ông vào chơi với bác Tuyết. Con lại phải ôm Gigi ra đứng ở đầu hè. Họ mở rượu ra uống với nhau, cười nói om sòm. Một lát bác Tuyết ra cho con mười đồng bảo để mà tiêu Tết. Con không biết mua cái gì nhưng cũng đi ra cổng. Có một bà cụ già ngồi bán nước ở ngay xế cửa gọi con vào mà hỏi:

  • Họ đuổi mày đi phải không?
    Con hỏi lại:
  • Sao bà cụ biết? Bà ấy đáp:
  • Thì làm đĩ mà.
    Má ơi má, con biết rồi, bà ấy nói cho con biết rồi. Má không thể giấu gì được với con đâu. Tại sao má lại bắt con ở chung với đồ đĩ như thế. Tại sao má không cho con ở gần với má. Con ghét bác Tuyết là phải. Con bế Gigi quay trở lại nhà vứt tờ giấy bạc vào khe cửa rồi hai chị em ra ngồi khóc ở đầu ngõ.
    Lúc ấy má có biết không, má có sốt ruột không. Con gái má chỉ muốn vào ngay với má, và gọi má không biết bao nhiêu lần. Sao má để con khổ như thế. Ai bắt tội má con mình mà bỗng đâu mấy mẹ con phải bơ vơ ở nhà người ta.
    Gigi cũng đòi vào với má. Con bế nó đi hỏi thăm lối đến nhà thương. Nhưng ai cũng bảo xa lắm, phải có người dẫn đi mới được. Cho nên hai chị em cứ lang thang mãi ở ngoài phố. Con đi từ nhà bác Tuyết lên tận hàng Bông, hàng Gai, Bờ Hồ. Buổi chiều chỉ có mưa bụi nên chỉ ướt đầu Gigi một ít. Nếu có cả má đi thì con đã vui sướng nhảy lò cò theo má rồi. Nhưng chỉ có mỗi một mình hai đứa. Con bồng Gigi ở tay trái, cầm khăn trắng che mưa ở tay phải. Bùn ở đường phố bắn lên ướt bẩn cả đôi bít tất trắng mà má mới mua cho con. Hôm nay rét lắm má ạ. Gió thổi làm hai chị em lạnh cứng cả mặt. Nhưng con không sợ rét. Con ra đứng ở Bờ Hồ để nhớ đến má.
    Những tuần lễ trước má cũng đứng ở chỗ ấy với con. Má bứt những ngọn cỏ rồi thả cho nó trôi ở trên mặt nước. Má kể chuyện con rùa to bằng tấm phản thỉnh thoảng lại nổi lên ở ngoài tháp. Những hôm ấy có nắng chiếu nhấp nháy ở trên mặt nước, có mây trắng trôi ở trên trời. Má hỏi con đám mây ở trên nóc nhà Thủy- tọa hình con gì. Con bảo là hình con chó có cái vòi ở bụng. Má cắn con một cái vào má đau như là kìm cặp ấy. Má có nhớ không?
    Bây giờ thì má không có ở đây mà cắn con nữa rồi. Chỉ có Gigi đứng ở trên một viên ngói đỏ. Gigi nhìn ra mặt hồ. Hai tay nó giơ ra vẫy những con chim bay ở trong sương mù buổi chiều. Tội nghiệp Gigi vẫn cười. Gigi không biết khóc để mà khóc cái bơ vơ của hai chị em. Nếu có một đồng thì con đã bế nó lên xe điện. Chắc những xe điện cũng chạy về phía nhà thương của má chứ má nhỉ. Nhưng vì không có tiền nên con chỉ nhìn theo những cái toa màu đỏ đi vào dưới lùm cây. Áo len của con và áo choàng của Gigi đã lóng lánh nước mưa rồi má ạ, nên con nhấc Gigi đi vào dưới một mái hiên. Hai chị em đứng nghe pháo tép nổ đì đẹt ở những cái cột đèn. Bọn trẻ con chơi pháo vui quá. Chúng nó cười ở dưới những cái mũ béret. Chúng nó cho cả pháo vào cái ống bơ rồi làm nổ tung lên cao đôm đốp. Một đứa tinh nghịch vứt cái pháo vào chân con, tiếng nổ mạnh quá làm cả con và Gigi cùng giật mình. Con vội giận dỗi bỏ chỗ ấy mà bế Gigi đi trở về. Càng về tối, đường càng thưa người. Cửa hàng người ta đóng hết cả rồi. Con bảo với Gigi rằng: “Thôi, thế là hôm nay chị em mình không được ăn Tết thật. Nhưng Gigi đừng vòi, má buồn đấy”. Gigi ngoan, Gigi vẫn cười má ạ. Nhưng con thì khóc rấm rứt một mình. Con nhớ má quá. Con chẳng cần ăn Tết đâu, nhưng chỉ cần được rúc vào nách má thôi.
    Má ơi, chúng con về đến nhà thì khách của bác Tuyết cũng đi rồi. Bác ấy nằm hút thuốc lá ở trên nệm trắng. Bác ấy hỏi con:
  • Sao bác cho tiền mày lại không lấy?
    Con đáp:
  • Tại vì bác làm đĩ.
    Bác ấy choàng dậy, chỉ điếu thuốc lá về phía con mà mắng:
  • Cha tiên sư nhà mày chứ, tao làm đĩ thì con mẹ mày làm cái gì? Con kia, ai dạy mày ăn nói thế?
    Con khóc òa lên, vừa tủi thân vừa thương má. Sao bác ấy khinh má thế. Sao bác ấy không biết rằng má được ông chủ sở kính trọng mời má đi cả ô tô đẹp mà hôm nào con gặp.
    Lần này trở đi má đừng chơi với bác Tuyết nữa. Trong quyển album của bác ấy, má đã chụp nhiều ảnh với nhiều bạn của má mà chẳng ai đẹp như má, sang trọng như má cả. Họ chỉ là những người như bác Tuyết thôi má.
    Má chơi với con với Gigi còn hơn. Nhé má nhé Má hứa với con gái yêu của má đi nào. Kỳ sau má về nhà thì con đóng cửa lại không cho bác Tuyết vào nữa. Đừng thèm chơi với đồ làm đĩ má ạ. Má có nghe lời con không?
    Yêu má và nhớ má
    Hạnh và Gigi
    11 giờ kém 5
    T.B. – Đến giao thừa thì con sẽ khai bút để chúc tụng má. Rồi hôm vào thăm má con đưa cho má xem thư này một thể. Gặp má mỗi lần được có mười lăm phút nên chả nói được gì cả. Bệnh má là bệnh gì mà bác Tuyết bảo sợ lây hả má?

Những Người Tôi Gặp Gỡ

vvnm.vietbao.com
13/11/2019
Nguyễn Văn Tới

Post by Sơn râu 10 Nov 2024

Tác giả từng nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2018. Là một cựu tù cải tạo vượt ngục và là người lái tầu vượt biển, ơng định cư tại Mỹ từ 1990, hiện làm việc theo một hợp đồng dân sự với quân đội Mỹ, từng tình nguyện tới chiến trường Trung Đông và Châu Phi. Năm nay, với bài viết về nghề phi công không người lái, (ngồi dưới đất điều khiển cái máy bay trên trời), ông nhận thêm giải vinh danh tác giả, thường được gọi đùa là giải á hậu. Đây là bài mới nhất của Ông.


Cuối cùng rồi tôi cũng trở về nhà sau mấy tháng làm việc ở Philippines. Niềm vui theo tôi suốt chuyến bay, nôn nao những cảm giác ngày về gặp gia đình vợ con, được sống cạnh những người mình yêu thương trong bầu không khí ấm cúng của một mái nhà. Ai có đi xa mới mong ngày về, ai có bôn ba, chinh chiến xứ người mới thấy nhớ da diết mảnh đất quê hương.
Quê hương tôi bây giờ là nước Mỹ, không có những bờ tre xanh rợp bóng mát uốn lượn theo những con đường đất quanh co, nhỏ bé, hiền hòa, không còn những ruộng lúa xanh mướt đầy bông đang trổ đòng đòng, nhưng nó vẫn là quê hương của tôi, nơi có gia đình, những người thân yêu, và những người bạn của tôi.
Trở về lần này tôi có thêm niềm vui sẽ gặp gỡ những người bạn mới trong nhóm Việt Bút và ông bà chủ nhiệm Việt Báo nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca mà tôi vẫn yêu mến, kính phục từ những ngày còn trong nước, những ngày còn nằm ấp trong “hotel Chí Hòa”.
Tôi mới gia nhập một nhóm bạn bè có chung một đam mê viết văn không chuyên, không sống bằng ngòi bút, nhưng chúng tôi là những người không quên cội nguồn, muốn con cháu kế thừa tiếng nói, giữ gìn văn hóa và bản sắc quê hương: chúng tôi Viết Về Nước Mỹ. Chúng tôi gồm đủ mọi thành phần, từ mọi ngã của cuộc đời, không phân biệt già trẻ, thành lập hội Việt Bút với chủ đích gặp gỡ, trao đổi để cùng nhau đi lên. Tôi là thành viên mới nhất được mời vào, qua email, với bao chào đón thân tình, ấm áp, mà ngay từ giây phút đầu tôi đã cảm nhận được như là một gia đình thứ hai.
Hình như định mệnh cứ bắt tôi phải xa nhà từ những ngày còn bé lắm. Năm 12 tuổi, tôi phải kéo cái vali cao gần bằng mình để vào học nội trú ở một tỉnh thành khác. Lớn lên trong thời thổ tả sau năm 1975, hết tù tội đến bị săn lùng bởi chính quyền cộng sản, khiến tôi trốn chui nhủi không được gần gia đình. Qua đến Mỹ, tôi hay đi làm xa nhà, xa gia đình thân yêu của tôi, ra khỏi nước Mỹ, đi đến các nơi dầu sôi lửa bỏng nên tôi thường gặp gỡ nhiều bạn bè mới khác văn hóa, khác tiếng nói. Nhưng những người đồng chủng mà tôi gọi là bạn, họ là những người có cùng điệu ru của mẹ, cùng giòng Lạc Việt, đem lại một sự gần gũi thân tình, và dễ đồng cảm hơn.
Tôi dừng chân đến miền Nam California, nơi đa số thành viên Việt Bút đang sinh sống. Khi hay tin, họ tổ chức một buổi họp mặt bỏ túi ở một nhà hàng Việt Nam, khu Little Saigon. Trong không khí ấm cúng, thân tình, mọi người giang tay chào đón tôi vào căn nhà Việt Bút. Thật xúc động tay bắt mặt mừng như đã từng biết nhau từ lâu lắm.
Những người đến tham dự, hầu hết họ sống gần khu Little Saigon, là những người đã lo liệu tổ chức buổi tiệc thân mật này. Còn những thành viên khác ở xa hơn về phía Bắc, người vì công việc, tuy không đến được, nhưng đều gởi lời thăm hỏi và muốn “coi mắt” chàng lính mới tò te mà đôi chân có cánh, hay xa nhà đi vào chốn khói lửa (không phải nhà bếp nhé) này là ai?
Người tôi gặp đầu tiên là anh P., phu quân của chị A.K., một thành viên VB. Hôm nay chị đang trên đường “giang hồ hành hiệp” nơi vùng đất của các Lạt Ma, nên sư mẫu nhờ sư phò đi thay mình. Anh đến sớm tọa thiền trên một băng ghế trước nhà hàng, nhìn giòng đời và giòng người trôi qua với một phong thái nhàn nhã, ung dung như thoát tục mà trên môi lúc nào cũng có một nụ cười không bao giờ tắt. Một thần thái như thế, chắc công lực anh cũng phải luyện đến cỡ thượng thừa trong “võ lâm”.
Người thứ hai là tiểu gia đình dễ thương của A T., một cô gái trẻ xinh xắn với 2 đứa con nhỏ vui đùa ríu rít đẹp như những thiên thần: cháu A V. và A P. chạy nhảy khắp nơi khiến người mẹ trẻ theo cũng muốn hụt hơi. Ông xã cô đang bận việc sẽ tới sau. Cô vừa đoạt giải Vinh Danh Tác Giả năm nay, chương trình Viết Về Nước Mỹ năm thứ 20, thường gọi là giải Á Hậu.
Một cây viết trẻ tiềm ẩn nhiều tài năng với văn phong nhẹ nhàng, trôi chảy, cô đem những mùa hè ấu thơ quê nhà hòa vào mùa hè nắng California với lối viết lôi cuốn người đọc qua nhiều chủ đề đa dạng. Cô cũng là người rất nhiệt tình tổ chức buổi tiệc hôm nay, không có cô, sẽ không có buổi gặp mặt hôm nay. Năng lực và nhiệt tình của cô là chất keo gắn kết mọi người lại với nhau. Vô tình tôi biết được chúng tôi cũng là đồng hương, đồng khói với nhau, miệt quê ở Sóc Trăng.
Rồi mọi người cũng lục tục kéo đến ngồi đầy 1 bàn thật là dài. Đầu bàn là vợ chồng anh chị N.B. và CMH. Anh là một nhạc sỹ tài hoa, một người viết văn, một MC đa tài, một người có tấm lòng với quê hương đất nước trong nhiều sinh hoạt văn nghệ trong cộng đồng như câu lạc bộ Tình Nghệ Sỹ. Anh còn dẫn dắt, dạy dỗ các em thiếu nhi sinh hoạt văn nghệ để các em gìn vàng giữ ngọc một phần văn hóa Việt Nam.
Tôi nghe nói nhiều về anh, hôm nay mới gặp mặt anh chị. Thật là một đôi Uyên Ương tâm đầu ý hợp. Anh đi đâu, làm gì đều có chị giúp sức; chị là hậu phương vững chắc cho anh trong khi “ra trận”. Chúng ta rất cần những người có tấm lòng như anh chị trong cái xã hội mà hầu hết mọi người đều bận rộn với cơm áo hằng ngày. Anh chị cũng là linh hồn của buổi gặp gỡ hôm nay. Nói về anh chị, tôi nhớ đến một câu thơ lục bát trong văn chương dân gian Việt Nam:
Đi đâu cho thiếp đi cùng.
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
Nghề chính của anh là Nha sỹ. Nhưng bạn bè thương mến hay đùa rằng anh chuyên “nhổ răng không đau”, còn răng đau thì … không nhổ. Nghe thế mới biết không phải ai cũng được ưu ái phong lên hàng “hiển thánh”như vậy. Tôi bắt đầu chú ý và theo dõi những hoạt động của cộng đồng người Việt ở thủ đô tỵ nạn từ khi tham gia chương trình VVNM, tôi phải nhìn nhận rằng phải là người có cái tâm sâu nặng với văn hóa Việt Nam lắm, anh mới có thể chia tam xẻ tứ, một mình mà ăn cơm nhà vác tù và người, một lúc rất nhiều việc vô vị lợi như vậy.
Đối diện là anh “Quờ Quạng” vì anh nổi tiếng với tật ăn ngay nói thẳng. Bất cứ ai viết văn mà xài chữ không đúng, loại chữ mà chính quyền trong nước vay mượn từ tiếng Trung Cộng hay xài bừa bãi không cần biết đúng hay sai như “cờ lờ mờ vờ”; lạng quạng là gặp quờ quạng “tú đờ suỵt”, không phân biệt già trẻ lớn bé gì ráo. Tướng tá to con, râu ria rậm rạp, coi dữ dằn mà hiền khô, vui tính. Mới nhìn tưởng nhỏ tuổi, thật ra đã lên hàng trưởng lão hơn 6 bó và đang hưởng thú điền viên ở Florida.
Ngồi kế vợ chồng anh CMH là anh chị T. mà mọi người ưu ái gọi là chú Tưng. Anh mới bị đứt “giây chằng” cách đây không lâu, cánh tay còn phải đeo sợi giây, đau đến phát khóc tiếng… Huế, may mà không khóc tiếng lạ, mà anh cũng dành thời gian đến để chào đón thằng em lính mới. Anh rất vui tính, là cây cười trong mọi tình huống khiến mọi người vui lây. Ngồi đối diện với anh mà tôi cũng cười muốn tưng lên, trong khi bà xã anh thì hiền hậu, ít nói, ngồi kế bên với đôi mắt biết cười, hiền lành của cô gái xứ Thần Kinh.
Một thành viên khác từng đoạt giải Vinh Danh Tác Phẩm năm thứ 19 vùa qua là chị N. K., chị tháp tùng vợ chồng tôi đến buổi gặp mặt để ủng hộ tinh thần đứa em. Chị là một người viết từ năm 2014 với rất nhiều bài hay và chân thực về cuộc sống thăng trầm của những người Việt ở thủ phủ tỵ nạn miền Nam California. Những bài viết của chị là bức chân dung rõ nét nhất của cuộc sống buồn vui trên đất Mỹ.
Một cô gái xinh đẹp, tài năng, linh động, tháo vác, và trẻ tuổi khác cũng từng đạt giải chung kết trong nhiều năm về trước: Cô T.N.. Qua Mỹ năm 15 tuổi, cô chẳng những không quên tiếng Việt mà còn “Diếc tiếng Diệc” trôi chảy, vững vàng như một người trưởng thành đã sống rất lâu ở Việt Nam. Cũng như A.T., cô này cũng được sự ủng hộ không điều kiện của “chàng” và cậu con trai cưng. Nhờ cô, buổi gặp mặt như sôi động hẳn lên.
Trong bài viết “Chuyện của cây Vông”, bài đã đưa tên tuổi cô đến gần với bạn đọc, tôi thấy trong đó lãng đãng tuổi thơ của tôi và của nhiều người qua những lời văn như kể chuyện đó; cảm được sự mất mát nhẹ nhàng mà thấm thía của một cô bé khi chơi vơi giữa một chốn hai quê, mà vẫn chất ngất đầy tình tự của quê hương bỏ lại.
Mọi người đều vui vẻ chào đón tôi vào căn nhà Việt Bút với một tình cảm tràn đầy và ấm áp như một người con từ xa trở về. Chúng tôi rất xúc động mà không biết phải nói gì. Tôi không biết nói gì, chỉ cảm nhận sâu xa tấm chân tình đó. Xin cảm ơn mọi người, cả những người không đến được vì xa xôi, nhưng vẫn theo dơi buổi gặp gỡ từ xa.
Một vinh dự và niềm vui lớn nữa khi tôi được nhà thơ Trần Dạ Từ và hiền thê của ông, nhà văn Nhã Ca, cùng toàn ban biên tập tòa soạn Việt Báo, ông chủ bút Phan Tấn Hải, chào đón thân tình như người nhà. Số là năm nay, trong ngày trao giải thưởng năm thứ 20 của chương trình VVNM, tôi hân hạnh là một người trúng giải vào tháng 8 vừa qua, nhưng vì không về kịp, tôi xin được hội kiến ông bà sau chuyến công tác trở về từ nước ngoài.
Ông bà tiếp tôi trong một căn phòng nhỏ, ấm cúng, có trầm hương đốt lên, có rất nhiều tượng Phật và không gian như đậm đầy chất Thiền. Ông tự tay pha trà xanh đãi tôi trong mấy cái chén nhỏ rất xinh bằng đất nung làm tôi cảm động vô cùng vì tôi vốn là một tín đồ của trà đạo. Dù xa nhà thường xuyên, lúc nào trong ba lô tôi cũng có đem theo trà xanh Nhật Bản ưa thích của tôi.
Nhớ ngày còn nằm còng queo trong khám Chí Hòa, có lẽ tôi là người tù trẻ nhất phòng, nhà văn Hoàng Hải Thủy có thì thầm kể tôi nghe về sự kiên cường của anh Từ và chị Nhã (như mọi người vẫn thân mật gọi như thế). Trong khi anh bị tù, chị ở ngoài vất vả nuôi con mà vẫn âm thầm nuôi dấu nhà văn MT ở trên gác. Thời buổi khốn khổ đó, nếu cộng sản biết được thì chị ấy sẽ bị “đi mút mùa Lệ Thủy” không có ngày về. Nhìn chị Nhã bằng xương bằng thịt trước mắt, nếu không biết, tôi không thể nào tin đây là người phụ nữ dịu dàng, mềm mỏng mà bất khuất hiên ngang không bị bẻ cong vì cường quyền.Trong tôi dâng lên một sự kính phục người phụ nữ nhỏ bé và thuần hậu, trong bộ trang phục nâu sòng của một thiền giả này.
Ngày đó, qua song sắt, thấy chim bay lượn trong bầu trời tự do ngoài kia, tôi thầm ước khi ra khỏi nơi này, tôi sẽ kiếm gặp anh chị. Hôm nay, tôi được ngồi bên, nắm tay anh chị, trò chuyện như trong gia đình. Tôi cũng có duyên gặp cả cô Hòa Bình, con gái của anh chị, một trong những cô bé khốn khổ ngày đó, cũng như tôi, lớn lên trong cái trại súc vật khổng lồ ấy (Của George Orwell), nay là một cô gái xinh đẹp, trưởng thành, và giỏi giang. Mộng ước của tôi vừa thành sự thật trên vùng đất tự do này.
Trong cuộc sống một đời người, những người bạn gặp gỡ, giao tiếp, cùng chí hướng, những người được gọi là bạn bè là những người không thể thiếu được và là những người ảnh hưởng lên cuộc sống của bạn rất nhiều. Ngạn ngữ Âu, Mỹ có câu: “Show me who your friends are and I’ll tell you who you are?” Hãy chỉ cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người như thế nào.
Bạn bè là gương phản chiếu nhân cách của bạn, là người bạn chọn để gặp gỡ, cùng nhau trò chuyện, và cùng nhau cảm nhận được thế giới chung quanh mình. Với tôi, bạn bè là những người thân thiết, cùng một niềm đam mê mà còn là những chỗ dựa về tinh thần khi tâm hồn tôi kiệt sức, lao đao trên đường đời.
Hơn nữa, những người bạn lớn tuổi, những tiền bối, họ là những tấm gương cho bạn soi, những bài học, những kinh nghiệm sống cho bạn theo. Nếu bạn biết trân quý những người bạn tốt, dù ở đâu, trong hay ngoài nước, bạn sẽ dễ dàng lớn lên thành NGƯỜI, những người có ích cho xã hội. Nhất là trong cuộc sống trên quê hương này của chúng ta, những người đang viết thêm những trang sử văn hóa vẻ vang về cội nguồn Việt Nam trên nước Mỹ.

Nguyễn Văn Tới.

Người Đàn Bà Bí Ẩn Nhà Đường Hewes

vvnm.vietbao.com
Quân Nguyễn
22/11/2006

Post by Sơn râu 10 Nov 2024

Tác giả Quân Nguyễn cùng vợ con đến Mỹ năm 1987, ông trở lại trường học, tốt nghiệp cao học về Sociology tại CSUF, đệ tam đẳng huyền đai Tae Kwon Do, hiện làm state parole officer ở Santa Ana, và là cư dân Anaheim, CA. Bài mới lần này của ông là chuyện ma ở My.

Sau hơn năm năm sống khá êm đềm trong căn apartment hai phòng bệ rạc trên đường Maple, thuộc thành phố Orange, nơi hai đứa con nhỏ của tôi được sinh ra, vợ chồng tôi đi đến quyết định là đã đến lúc phải dọn đi nơi khác. Dãy apartment đó có sáu căn nhà một tầng mặt đường. Căn thứ nhất ngay góc ngã tư, nhà tôi là căn thứ hai. Ở cuối dãy có một phòng để máy giặt máy xấy, loại máy bỏ tiền cắc vô mà dùng, dành cho bà con trong toàn dãy xử dụng. Dạo gần đây, căn phòng này bị đập khóa, đêm nào cũng có người vào “ị” ba bốn bãi thù lù thật dơ dáy trên nền, nhưng lại đái vào…máy xấy! Khi gia đình tôi mới dọn vào, thì hàng xóm còn có vài gia đình Mỹ, nay thì họ đã dọn đi từ lâu, chỉ còn lại toàn bà con Mễ và gia đình tôi mà thôi. Ông bà Mỹ già kế bên dọn đi sau khi xe của họ đậu trên đường trước nhà bị … đẩy một bánh lên lề ban đêm bởi một ông xay rượu “hit and run” nào đó! Đêm nào, cũng có một vài xe đậu ngoài đường bị đập kiếng, chiếc xe van Aerostar của tôi cũng không tránh khỏi số phận đó! Lại có đêm đang ngủ, tôi phải lăn xuống đất mò mẫm tìm điện thoại trong bóng đêm để gọi 911, vì “gang” Mễ bắn rầm rầm trước cửa nhà …còn cái “alley” đằng sau dãy apartment, thì đêm nào chó cũng xủa tới gần sáng vì bọn mua bán “drug” ước hẹn nhau giao dịch ở đó!
Ngày ấy, tôi còn làm nghề thẩy báo cho tờ Register, và vừa chuyển lên trường CSUF từ Fullerton College. Thế rồi, sau hơn một tháng tích cực tìm nhà cho thuê trên báo, tháng hai năm 93, gia đình tôi dọn vào một căn nhà hai phòng ở đường Hewes, cũng thuộc thành phố Orange. Đây là một căn nhà nhỏ khá cũ kỹ xây từ thập niên 40, và là căn thứ ba, cuối cùng, bên tay phải trong một con hẻm cụt. Đối diện cũng có ba căn xây y hệt, có điều hai căn đầu hẻm thì mặt tiền nhìn ra mặt đường, chỉ có cửa garage của họ thì nằm bên trong đầu hẻm. Nhà tôi một bên thì sát vách với cái garage cho hai xe, với cửa hông trổ ra sân cỏ sau nhà, trong garage lại có chỗ cho máy giặt máy xấy thật tiện. Hông nhà bên kia còn có một lối đi nhỏ thông từ sân trước ra sân sau nơi có một giàn bông giấy lớn thật xinh đẹp. Trước nhà là cái sân cỏ nhỏ với một cây dâu ta cổ thụ cành lá xum xuê quanh năm rất thơ mộng, nhưng đến mùa hè thì rụng đầy trái dâu ta nho nhỏ mầu đen, rất dơ và có ruồi!
Vợ chồng tôi rất hài lòng với căn nhà này, vì trong “xóm” thật ra chỉ còn có bốn gia đình, hai căn đầu hẻm thích đậu xe của họ ngoài đường trước nhà, garage thì chỉ để chứa đồ đạc, nên không mấy khi họ đi vào hẻm mà gặp gỡ những người trong “xóm”. Căn thứ hai bên dãy của tôi là gia đình bác Ba, có hai vợ chồng già sống với anh con út và cô con dâu mới. Đối diện nhà bác Ba là gia đình môt anh người Phi làm nghề đưa thơ nhưng có vợ Mễ và một thằng con nhỏ lên hai. Còn đối diện nhà tôi là cặp vợ chồng Mỹ, có đứa con gái mười bốn hay lén lút đứng hút thuốc sau hàng rào sân trước nhà nó (cũng là sân trước nhà tôi, ngăn bởi cái hàng rào đó).
Lối xóm chỉ có mấy gia đình đều biết rõ nhau, nên người lạ mặt chẳng có lý do gì bén mảng vào khu này cả, cho nên cuộc sống ở đó riêng biệt, an toàn, và hai đứa con nhỏ của tôi có thể chơi loanh quanh bứt bông trước nhà hoặc đạp xe đạp ba bánh của nó từ sân trước vô garage rồi ra sân sau mà tụi tôi chẳng phải lo lắng gì hết. Để bà xã khỏi phải ra “Bolsa” mỗi cuối tuần giặt xấy quần áo như lúc còn ở apartment, tôi lập tức lên Sears mua ngay một cặp máy giặt xấy về gắn trong garage liền, tha hồ mà giặt lúc nào cũng được. Tôi cũng mua ở Sears một bàn bi da lỗ về để trong garage cho cha con chơi với nhau lúc rảnh. Còn xe của tôi thì đậu trên sân trước garage vẫn còn rộng chán mà chả lo bị trộm cắp gì nữa.
Nhà thì có hai phòng ngủ kế bên nhau, nằm ở cuối một lối đi hẹp ở giữa, dẫn ra phòng khách. Một bên của lối đi là nhà tắm. Kế phòng khách là một phòng ăn nhỏ. Đằng sau tường phòng khách là nhà bếp, thông với nhau bằng một cánh cửa.
Năm ấy đứa con gái lớn của tôi chưa đầy mười sáu tuổi, còn hai đứa nhỏ thì một thằng lên bốn, đứa gái út mới bẩy tháng. Tôi chọn căn phòng ngủ có cửa sổ nhìn ra sân trước nơi có cây dâu ta để dễ bề quan sát phía trước nhà khi cần, còn đứa con gái lớn thì được căn phòng có cửa sổ nhìn ra sân cỏ sau vườn.
Đời sống ở đó êm đềm, thoải mái, và yên ổn rất nhiều so với lúc còn ở thuê apartment. Vợ chồng tôi cuối tuần nào cũng kêu bè bạn nghèo lại chơi, để nướng sườn Đại Hàn, uống bia trò truyện tâm tình với nhau ở vườn sau nhà, trong khi lũ con còn nhỏ lon ton quấn quít chơi loanh quanh. Ngày ấy tôi còn thẩy báo kiếm ăn, và đêm đêm ngồi học ở cái bàn tròn trong nhà bếp đèn tuýp sáng choang đến hai ba giờ sáng … Cuộc đời còn nghèo khó nhưng hạnh phúc lắm …
Thế rồi, khoảng hai tháng sau đó, một đêm, tôi đang miệt mài vật lộn với bốn “chapter” của môn “U. S. Corrections” ở bàn nhà bếp cho cái “test” sáng mai lúc chín giờ, định bụng sẽ học xong vào khoảng bốn giờ sáng rồi thì đi nằm vài tiếng cũng khỏe. Bỗng nhiên, tôi bị giật thót người, vì trong đêm thanh vắng, bỗng có tiếng TV lao xao trong phòng khách tối thui! Tôi nghĩ chắc mình vì tập trung đầu óc vào sách nhiều quá thành ra tai bị … lùng bùng rồi, hay là TV nhà hàng xóm chăng” Nhưng nhìn lên chiếc đồng hồ tròn trên tường nhà bếp, kim đồng hồ chỉ đúng phóc ba giờ sáng, chẳng lẽ có người còn coi TV vào giờ này sao… Tôi bèn đứng bật dậy định bụng sẽ bước ra phòng khách, vén cái màn cửa sổ lớn nhìn ra ngoài xem nhà hàng xóm nào còn coi TV giờ này mà vặn lớn vậy!
Rồi thì, vừa bước chân tới cái cửa mà ngăn nhà bếp với phòng khách, tôi phải khựng lại ngay lập tức … Trời đất, có một người đàn bà trong chiếc áo ngủ trắng toát, đang ngồi vắt vẻo, chân tréo lên nhau, trên thành ghế bên phải của cái “sofa” bự kê sát ngay cái cửa sổ lớn phòng khách, còn cái TV 25″ của tôi thì đang đổi đài liên tục, từ đài có hình với tiếng đến đài “off air” chỉ toàn lấm chấm li ti và âm thanh rè rè! Tôi biết ngay mình đã … gặp ma rồi, thế mà đành đứng chết trân chẳng làm sao nhúc nhích gì được, cỡ 10 giây là ít. May thay, người đàn bà đó bỗng từ từ mờ đi rồi tan biến luôn tại chỗ!
Chẳng biết nghĩ làm sao, mà tôi lại quay người bước trở vào nhà bếp, rồi ngồi phệt xuống chiếc ghế bàn học mà thở phì phò gần mười phút vì tim đập thình thịch không làm sao kềm chế được! Người đàn bà đó, vì ngồi nghiêng một bên trên thành ghế, nhưng nhờ ánh sáng hắt ra từ TV, tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt bên trái của nàng. Đó là một người đàn bà da trắng tuổi từ 25 tới 30, vóc dáng cỡ 5 4, 130 lbs (làm gì có ma nào nặng vậy, lại méo mó nghề nghiệp nữa rồi), có khuôn mặt xinh đẹp và vóc dáng kiêu kỳ của nàng Winona Rider trong film “Bram Stoker s Dracula” mà tôi chỉ được xem vài năm sau đó…
Tôi chẳng dám tắt đèn bếp, cũng chẳng dám ló mặt ra phòng khách để tắt cái TV đang kêu rè rè vì đang bị chỉnh trúng ngay đài “off air” nhằm lúc … “nàng” bỏ đi (xin gọi tên “nàng” là “Winona” cho tiện). Bước nhanh về phòng ngủ với vợ con, tôi thao thức gần tới sáng mới thiếp đi một lát cho tới khi vợ đánh thức dậy kêu đi học. Không muốn vợ con sợ, tôi chẳng hó hé một câu …
Đêm sau, tôi ngồi học ở bếp mà lòng cứ thấp thỏm, chẳng học được gì hết, vừa gần 12 giờ đêm là chui vô giường rồi. Thao thức một chút rồi cũng ngủ quên hồi nào không biết. Đêm ấy, bà xã tôi và tôi phải choàng tỉnh và ngồi bật dậy cùng lúc vì làm như có ai đang đập cửa rầm rầm liên tục ở nhà trước … Chẳng kịp đắn đo suy nghĩ gì hết, tôi phóng mình xuống đất chạy ào ra phòng khách, thì chỉ thấy cái xe đua màu đỏ chạy bằng “remote control” của thằng con trai tôi … đang liên tục de lại lấy đà, rồi lủi hết ga thẳng vô tường từ hồi nào! Tôi chỉ còn có nước chụp nó lại, rồi mở bụng tháo pin ra. Trở lại phòng ngủ, vừa bực bội vừa khó ngủ lại, cho rằng chiếc xe đua của thằng nhỏ bị “mát” điện rồi chạy mà thôi, thì bỗng nhiên cây đàn “Mandolin” đồ chơi của thằng con để đâu đó trong phòng ăn bỗng …kêu tưng tưng một chập! Hai vợ chồng tôi im thin thít chẳng dám nhúc nhích, nhưng tôi vẫn quyết chẳng hé môi với vợ về nàng “Winona” gặp trong phòng khách đêm trước. Nhìn đồng hồ bàn, chỉ mới ba giờ lẻ năm sáng!
Hai đêm kế, tôi ngồi học mà cứ thấp thỏm nhìn đồng hồ từng chập, và cuối cùng quyết định gấp sách đi ngủ vào lúc hai rưỡi sáng, vì biết rằng ba giờ sáng là giờ … của “nàng”, vậy thì mình tốt hơn đã trùm mền trong giường rồi! Khoảng ba giờ sáng đêm thứ nhì, vợ chồng tôi bị đánh thức dậy vì đứa con gái lớn ôm mền mở cửa phòng bước vào, vừa khóc vừa nói rằng có bà mặc áo ngủ trắng dở mền che mặt của nó lên, rồi kê sát mặt bà ta vào mặt nó và la lên, “Boo!”
Vợ chồng tôi chẳng biết làm sao, vì trên giường đã có bốn người rồi, đành cho nó nằm dưới đất cạnh giường. Chưa hết, năm phút sau thằng “robot” đồ chơi của thằng con tôi bắt đầu … lên tiếng từng câu một, đâu đó trong phòng khách! Thằng “robot” màu vàng này, cao bằng cái bình thủy của Tầu, có chín cái nút vuông khác mầu kế nhau, nằm ngay ngắn trước ngực. Mỗi nút, khi ấn vào, mắt thằng “robot” sẽ chớp đèn lia lịa, đồng thời nó sẽ nói một câu tiếng Anh ngắn ngủi khác nhau, từ chào đón đến hỏi thăm. Tuy nhiên, thằng “robot” cũng có một nút tròn “On/Off” ngay lỗ tai trái của nó. Nếu muốn ấn chín cái nút vuông trước ngực cho nó nói, trước tiên phải ấn nút “On/Off” trước, và sau năm phút nếu không “chơi” với nó nữa, thì nó tự động “Off” để tiết kiệm pin. Tôi hiểu rằng phải có ngón tay ai ấn vô tai thằng “robot” trước khi ấn vô bụng nó thì nó mới nói, nhưng đành nằm im nghe nó nói được đủ … ba câu giữa đêm khuya thanh vắng!
Đêm kế, vợ chồng tôi vừa thuyết phục vừa bắt đứa con gái lớn phải ngủ trên giường trong phòng của nó, vì thật là vô lý nếu nó cứ phải nằm duới đất trong phòng bố mẹ, mà nếu nói ra nguyên do tại sao thì lại làm em nó sợ! Để cho nó an tâm, tôi để hai cửa phòng ngủ mở toang gần như có thể nhìn thấy nhau. Lại đúng ba giờ sáng, vợ chồng tôi phải choàng dậy vì tiếng radio ồn ào lải nhải trong phòng con gái! Tôi chạy qua phòng nó, bật đèn lên thì thấy nó nằm co quắp trên giường, trùm mền kín mít từ đầu tới chân, nhưng chắc chẳng thể nào ngủ được vì sợ lắm! Chiếc radio cassette nhỏ dài, màu xanh dương hiệu Sanyo của nó trên bàn học chẳng ai đụng tới mà đang nói oang oang lao xao đài AM. Tôi thò tay tắt cái radio đi, tắt đèn buồng, rồi trở về phòng. Chừng mười phút sau, tôi nghe tiếng cái quạt máy đứng trong phòng của nó, dựng gần cửa ra vào, quay vù vù với số lớn, rồi thì nghe một cái “rầm” thiệt lớn … cái quạt bị xô đổ xuống đất thiệt mạnh! Đêm đó, vợ chồng tôi, và chắc chắn là đứa con gái lớn, chẳng ai ngủ được …
Sáng sớm hôm sau, nghe đứa con gái kể rằng, người đàn bà trong cái áo ngủ trắng toát đó đi vào phòng nó từ cái cửa sổ nhìn ra sau vườn. Bà ta chắp tay sau đít đi tới đi lui trong phòng để coi những tấm “post” lớn với hình các ca sĩ Mỹ, mà con gái tôi dán đầy trên tường trong phòng của nó (teenager mà!), và sờ mó đồ đạc trong phòng hết cái này đến cái khác, vì nó tuy trùm mền kín mít, nhưng vẫn hí mắt nhìn ra coi tình hình nếu xấu thì vùng dậy chạy…
Vừa tội nghiệp cho đứa con gái, vừa lo buồn vì không biết phải làm sao, vợ chồng tôi đã có lúc bàn đến chuyện dọn ra! Bà xã tôi bèn sang nhà bác Ba hàng xóm để xin ý kiến người lớn xem sao. Vợ chồng bác khuyên bà xã tôi về cúng cho “nó” đi. Tuy nhiên, vợ chồng tôi thà dọn ra chứ không cúng ma quỉ. Vậy thì, sẵn nhà thờ Phật, vợ chồng tôi bèn nhang khói liên tục ba ngày đêm hết lòng cầu xin cho nàng “Winona” được giúp đỡ mà siêu thoát …
Một tuần liền, nàng “Winona” của tôi không trở lại… Tôi vẫn để mở cửa buồng ngủ mỗi đêm cho con gái đừng sợ, nhưng không có gì xảy ra hết. Một sáng, đứa con gái kể cho vợ chồng tôi nghe, đêm trước nó thấy bà ta đứng ngay trước cửa buồng, tươi cười nhìn về phía giường nó, rồi biến mất …
Thế rồi, gia đình tôi sống đầy hạnh phúc ở đó thêm ba năm nữa, cho đến khi tôi được cái “job” counselor trong tù, đủ khả năng dọn ra để mua căn nhà ở Anaheim.
Đã mười ba năm rồi, từ ngày tôi gặp nàng “Winona” xinh đẹp mà hơi … quậy đó (người với … ma đẹp nào mà chẳng quậy!), tôi vẫn luôn nghĩ đến nàng. Tôi tin rằng nàng chắc phải cỡ tuổi mẹ tôi bây giờ nếu nàng còn sống, mà thà chết đi khi còn trẻ đẹp như vậy vẫn hơn… Tuy nhiên, theo tôi, người sống có nơi của người sống, và người chết cũng có chỗ của họ. Vậy thì lý do gì “Winona” đã không về chốn của nàng, và với một khoảng thời gian khá dài từ ngày nàng qua đời, có thể từ 1940, 1950, 1960… cha mẹ, chồng con, anh chị em của nàng, chắc hẳn chẳng còn mấy ai trên đời này, hoặc đã già “khú đế” rồi, vậy thì vì sao nàng vẫn vấn vương”
Còn mấy ông “Probation Officer, Parole Officer” của Department of … Hell Security” đang ngồi ăn phở uống cà phê sữa đá ở đâu mà không lo đi tìm… dẫn nàng về, hay là thấy nàng quá đẹp nên … du di ngó lơ sao đây”
Tôi ước mơ, trong một nghiệp kiếp nào đó, sẽ được nhìn thấy nàng lẫn nữa, vẫn trong chiếc áo trắng tinh nhưng với cặp cánh thiên thần, nhẹ nhàng thanh thoát giữa bầu trời sao lấp lánh…
Ôi! Nàng Winona của tôi!

Giáng sinh này của họ…

vvnm.vietbao.com
23/12/2023
Phan

Post by Sơn râu 10 Nov 2024

Tranh Paul Klee

Tác giả là nhà báo quen biết trong nhóm chủ biên một số tuần báo, tạp chí tại Dallas. Ông dự Viết Về Nước Mỹ từ 2006, đã nhận Giải Danh Dự, thêm Giải Á Khôi, Vinh Danh Tác Giả VVNM 2016, và chính thức nhận giải Chung Kết Tác Giả Tác Phẩm 2018.


Giáng sinh đã về từ hôm lễ Tạ ơn vì năm nào cũng vậy, những người lo việc làm đẹp khu nhà ở họ rất siêng năng trồng hoa theo mùa ngoài cổng vào khu nhà, họ cũng hứng thú giăng đèn Giáng sinh từ trước lễ Tạ ơn, và mãi tới sau tết tây, sang năm mới rồi họ mới tháo giỡ đèn Giáng sinh. Những người bạn đến chơi nhà, ai cũng nói tôi may mắn vì mua được căn nhà trong khu đóng tiền H.O.A hằng tháng không oan uổng. Đúng là có những khu nhà ở, phải đóng tiền H.O.A nhưng người ta chẳng làm gì ngoài việc thu tiền hằng tháng.
Ngược lại tôi thích sống ở ngôi nhà cũ hơn căn nhà mới này vì khu nhà cũ cũng đóng tiền H.O.A nhưng có cái công viên trước nhà, người ta cũng chăm sóc khá kỹ nên sạch sẽ, khang trang, có chỗ cho con nít chơi không sợ xe cộ ngoài đường là quan trọng nhất vì người lái xe bây giờ thường bất cẩn với trẻ con khi lái vô xóm nhà ở vì cái điện thoại thông minh trong xe họ. Tôi đặc biệt thích ngôi nhà cũ trong khu nhà cũ vì làm gì cũng dễ hơn ở khu nhà mới này. Sinh hoạt gia đình ở ngôi nhà cũ thật êm đềm mỗi cuối tuần. Sáng thứ bảy thức dậy, tôi thường cà phê một mình, đọc báo, xem tin tức trên truyền hình cho đến khi trời thật sáng mới đi lo bữa sáng cho cả nhà vì trẻ con đi học phải dậy sớm nên cuối tuần để cho chúng ngủ cho đã, bà xã cũng thích ngủ nướng sáng cuối tuần nên để yên cho mọi người trong nhà ngủ là văn minh.
Sau bữa ăn sáng cả nhà như bột chiên trứng là món cả nhà đều thích, ăn mỗi tuần cũng được cái món bình dân mà ngon miệng ấy, chỉ ngại chiên nó văng dầu, phải lau chùi bếp hơi cực. Tuần sau đổi món trứng ốp la ăn với bánh mì lon mua ở chợ Walmart, ham hộp cũng ngon luôn vì chê thì đói ráng chịu. Đời sống cứ êm đềm trôi như đời sống quen thân. Sau đó tôi đi rửa xe, tán dóc với hàng xóm cũng rửa xe, mượn qua mượn lại dụng cụ rửa xe, giới thiệu với nhau xài thử máy hút bụi xe đời mới… bảo đảm hàng Trung quốc. Hàng xóm không khác gì bên Việt nam, chỉ khác là bên đây nói tiếng Anh, mới qua còn ngại miệng nhưng ở một thời gian là đứt dây thần kinh thẹn, nói Mỹ không hiểu thì vô nhà lấy tự điển điện tử ra là hiểu hết. Cha mẹ ơi, hồi đó đi làm cả tuần lãnh lương có hai trăm bạc, trừ thuế còn trăm tám. Vậy mà cái tự điển điện tử mới ra, có năm trăm từ tiếng Anh trong đó thôi mà bán ba trăm bạc.
Rửa xong hai cái xe, lau chùi, hút bụi bên trong sạch đẹp như xe mới thì đã trưa. Trong nhà bà xã cũng đã xong bữa trưa hấp dẫn hơn ngày thường đi làm với hộp cơm, thịt kho trứng. Trưa thứ bảy thường là món phở hay hủ tiếu Nam vang, mì hoành thánh hay bánh canh giò heo…món nào cũng ngon hơn ngoài tiệm và được ăn thoả thích thì thôi. Cuộc sống êm đềm như đời sống quen thân. Ăn trưa xong thì chở cả nhà đi chơi, mua sắm nếu gặp được quần áo, giày dép, đồ gia dụng đại hạ giá. Thường thì tôi lang thang ở những gian hàng bán máy chụp hình, máy nghe nhạc, hai đứa nhỏ ở khu bán đồ chơi điện tử, bà xã loanh quanh khu quần áo với đồ nhà bếp. Tuần nào cũng đi shopping nên không vội mua mà cứ đợi đến hạ giá trên năm mươi phần trăm mới suy nghĩ thôi chứ cũng chưa chắc mua đâu. Khó ai tin nổi tôi từng mua được đồ hạ giá một trăm phần trăm! Lúc ấy, giá thị trường tôi biết là cái quần khaki hiệu Docker tôi mặc đi làm ngoài chợ bán $37 cộng thuế. Sao cửa hàng này lại ghi bảng 100% off? Sao không nói cho không đi cho rồi? Vào trong mới biết! Họ đóng cửa tiệm nên bán 100% off, nhưng họ tính thuế 8.25% trên giá gốc là $37 đồng. Nghĩa là mỗi cái quần giá gốc $37 đồng nhưng chỉ phải trả $3.53 tiền thuế là đem về nhà. Sướng thật.
Chiều thứ bảy trở về nhà thì tôi ra tay nướng thịt, đầu bếp này bao nướng đủ loại thịt, nướng đủ kiểu từ Âu sang Á theo yêu cầu thực khách. Trong nhà, bà xã làm mấy món ăn kèm. Xong việc sẽ có vợ chồng con cái người bạn làm chung đến chơi để cùng ăn nhậu vì ngày mai chủ nhật thì gia đình tôi sẽ đổ bộ sang nhà anh ta. Mấy bà trong bếp muốn nấu món gì xin cứ tự nhiên, đám con nít muốn chơi game trong nhà hay ra sân chơi banh, đi hồ bơi đều được tự do. Còn qúy ông chúng tôi đóng đô ở garage với cái tivi to đùng và những trận banh cà na từ sáng tới tối. Cuộc sống êm đềm trôi như đời sống quen thân cho đến khi những đứa trẻ lớn lên nên thôi cùng cha mẹ đi chợ trời xa hay đi nông trại xa xa ngoài thành phố để mua hẳn một con bê về mấy nhà chia nhau ăn, cũng là đi chơi dã ngoại để mở rộng tầm mắt.
Cuộc sống êm đềm quá nên trôi tuột mất đám nhỏ, chúng lớn hồi nào không nhớ nữa. Từng đứa có xe riêng, từng đứa đi học xa, chúng chỉ còn giống nhau là đứa nào cũng ít về nhà theo thời đi học xa; chúng hết xếp hàng trước xe cà rem để mỗi đứa được một cây mà không quan tâm đến chuyện chú hay bác nào đó trả tiền cho cả đám.
Mấy cây sồi ngoài công viên trước nhà đã thành cây cổ thụ, lớp trẻ ngày nào đã tung cánh bay xa, những người hàng xóm ngày nào trẻ trung, hoạt bát đã thành những người có tuổi chậm chạp, im lặng nhiều hơn ồn ào xưa cũ trong khu nhà xuống cấp, đường xá nứt nẻ vì rễ cây, xe đậu ngoài đường không còn bóng loáng như xưa vì ít rửa và lau chùi như phong trào ngày nọ…
Tôi dọn về căn nhà mới mới đó đã mười năm. Mười năm không thoải mái vì ở khu nhà này không được rửa xe ngoài sân nhà, muốn cất cái kho ngoài sân sau để chứa những thứ ít xài cũng phải xin phép, phải có bản vẽ trưng ra, phải đúng yêu cầu an toàn họ mới cấp phép. Nhưng cất xong chưa chắc được xài vì họ sẽ xuống xem xét kỹ lưỡng trước khi cho sử dụng, và thường là bắt làm lại vì không đạt yêu cầu an toàn. Thật là khó ở, nhưng rồi cũng quen với cảnh quan thoáng đãng, không phải ai muốn làm gì làm với căn nhà của mình vì hàng xóm sẽ không ưng khi họ nghĩa là mình làm xấu cảnh quan khu nhà ở, ảnh hưởng đến giá trị căn nhà của họ.
Chưa hết những khó khăn của khu nhà chưa giàu đã chảnh, bụi bông hồng lên cao mấp mé bảng số nhà mà không cắt tiả là có giấy dán cửa ngay, “không cắt tiả thì họ sẽ cho người đến cắt tiả bụi bông hồng và tính tiền…” Rồi cửa garage tróc sơn họ cũng bắt sơn lại cho khang trang khu nhà ở. Sân đậu xe nứt nẻ cũng phải làm lại sân mới, không có tiền làm thì họ giới thiệu cho một công ty làm sân đậu xe trả góp. Thậm chí màu sơn nếu muốn thay đổi cũng phải báo trước với họ chứ không được tự ý đổi màu sơn. Điều này thì tôi hưởng ứng vì khu nhà cũ, mấy anh châu Phi mới qua với mấy anh Mễ tự do sơn nhà theo màu họ thích nên trong xóm nhà có những căn nhà màu mè như cái chuồng chim bồ câu. Đúng là làm mất giá trị chung của khu nhà ở. Những gia đình người châu Á nói chung, trồng mướp, khổ hoa và cho bò lên bờ rào. Mới nhìn thấy trái quê ta trên bờ rào Mỹ thì xúc động thật, nhưng thu tàn, đông đến, giàn mướp xác xơ nhìn xấu tệ nên họ không cho trồng dây leo bò trên bờ rào cũng phải. Tôi còn dại dột ôm một con gà nòi về nhà để sáng mai đi cáp độ chơi với bạn bè có nuôi gà đá. Mới sáng ra đã có giấy dán ngoài cửa, “Không được phép nuôi gia cầm ở sân sau. Phải giải quyết trước chín giờ sáng, nếu không thành phố đến bắt gà và phạt vạ…” Thì ra hàng xóm đã gọi cảnh sát từ gà gáy lúc hừng đông.
Mười năm không phải là ngắn dù cũng không phải là thời gian quá dài. Tôi vẫn đi về căn nhà có nhiều điều ưng ý và cũng có nhiều điều không ưng ý như diện mạo khu nhà ở có mức độ xuống cấp tương đối chậm do bảo quản kỹ. Những người không ưng ý sự khó khăn ở khu nhà này đã dọn đi nên chỉ còn lại những gia đình cùng sỡ thích là khu nhà ở phải khang trang, sạch sẽ và không ồn ào…
Vấn đề còn lại của riêng tôi là những người hàng xóm, họ không bình dân và dễ dãi như những người hàng xóm ở căn nhà cũ. Có lẽ người nghèo, sống chung trong xóm nghèo nên dễ thông cảm cho nhau hơn những người giàu không muốn có một người nghèo sống trong khu nhà của họ, như mọi nhà toàn đi xe đắt tiền nên cái xe tôi làm mất giá trị khu xóm không bằng; nhà nào cũng thuê công ty cắt cỏ còn tôi tự cắt cỏ nhà tôi. Họ nhìn tôi như coi phim kinh dị.
Người hàng xóm sát nách với tôi, nhà anh ta cũng có cây sồi cao lớn như nhà tôi. Mỗi năm hai lần, anh ta mướn công ty chăm sóc cây trồng đến chăm sóc cây sồi nhà anh ta. Chừng mười người Mỹ, ăn mặc như lính biệt kích Mỹ với trang bị quá hớp nào là mặt nạ, đèn pin trên nón bảo hộ, dao ngắn dao dài, cưa lớn cưa nhỏ, cưa máy cưa tay, dây thừng cuộn lớn cuỗn nhỏ đủ kiều… đủ thứ đồ nghề đeo lủnh lẳng trên người. Đi bốn năm xe như lính đổ bộ. Xe đầu có đèn quay như xe cảnh sát, rồi xe có thang thùng đưa người lên cao để cắt cây, đến xe xay cành cây ra thành bột, đến xe chở bột cây đã xay, đến xe lính thổi, hốt, quét rác cũng bốn năm ông Mỹ đen to lớn hơn công việc đòi hỏi gấp trăm lần.
Họ đổ bộ như lính Mỹ vậy, máy móc triển khai như sắp đánh lớn, nhưng cuối cùng cả nhóm chỉ cắt tiả chừng một ôm tay cành con trên cao. Họ giải thích làm như vậy nắng mới chiếu hết được tất cả mọi lá cây có trên cây sồi cao vời vợi. Họ bón vào gốc cây một bao phân làm cho xanh lá. Rồi rút quân với hoá đơn tính tiền là một ngàn bốn trăm đô la.
Người hàng xóm hỏi tôi sao không làm như anh ta vì cây sồi nhà tôi giống cây sồi nhà anh ta. Tôi trả lời thật nên mất lòng: Nhà bạn cất trước nhà tôi hai năm, cây sồi nhà bạn trồng trước nhà tôi cũng hai năm, nhưng cây sồi nhà tôi cao hơn cây sồi nhà bạn tới bốn feet nên tôi thấy không cần tốn tiền.
Đâu ngờ anh ta là người để bụng nên từ đó tôi làm gì anh ta cũng gọi cảnh sát. Tôi đốt báo anh ta gọi cảnh sát là tôi đốt rác sau nhà, anh ta sợ khói làn hư hại nhà anh ta. Tôi về muộn, quên đóng cửa garage, anh ta cũng gọi cảnh sát. Đó lá chơi xỏ lá hàng xóm vì lý do về muộn mà quên đóng cửa garage thì chín phần bởi say xỉn. Vậy cảnh sát đến nhà bắt nguội tội uống rượu lái xe cũng được vì không lái thì làm sao về nhà, chẳng qua cảnh sát không gặp ngoài đường thôi…
Tôi biết ý dịnh của anh ta chứ sao không, anh ta không muốn thấy tôi trong khu nhà này, chỉ đơn giản thế thôi. Tôi cũng không nói được là anh ta kỳ thị tôi vì việc anh làm chỉ là an toàn cho khu xóm, sự quan tâm đến người hàng xóm tôi… thì sao nói là kỳ thị được.
Nhưng người đang làm, trời đang nhìn. Câu trăn trối của cựu thủ tướng Trung cộng Lý Khắc Cường trước khi về hưu đã dẫn đến cái chết khó hiểu của ông khi chưa tới bảy mươi tuổi. Ngẫm nghĩ thấy hay về lòng dạ hại người không có kết quả tốt, rồi đây kết cục của ông Tập không chừng còn thê thảm hơn ông Lý. Người hàng xóm giàu có của tôi đang sống với vợ và hai con tốt đẹp, anh dường như có hết những thứ người khác mong muốn như nhà to, xe đẹp, du thuyền, vợ đẹp con ngoan… Bỗng mê anh chàng cao lớn, đẹp trai làm thợ bảo trì cho công ty T-Mobile đến nhà anh hàng xóm để sửa internet. Vậy là anh ta sử dụng sự giàu có của mình lôi kéo anh thợ T-Mobile về ở chung. Vợ con anh ta dọn ra, dọn đi đâu không biết, nhưng không hề thấy trở về.
Hai người đàn ông sống với nhau trong căn nhà lớn, ai nhìn vào cũng thấy sự giàu có của họ vì anh thợ thôi đi làm. Hai người cứ liên tục đi chơi xa, đi chơi gần, hưởng thụ cuộc sống dư của lắm tiền với xe mới, du thuyền thay như thay áo…
Người thợ T-Mobile có cảm tình với tôi vì gặp nhau ở chỗ bán đồ câu cá BassPro trong thành phố. Anh ta vui mừng biết tôi cũng đi câu cá, anh mời tôi hôm nào đi câu đêm, đi câu thuyền với hai người họ. Tía tôi cũng không dám đi với hai người đàn ông nổi tiếng trong khu nhà ở này là cặp đồng tính so le vì anh thợ quá đẹp trai, cao lớn và trẻ trung. Trong khi anh hàng xóm của tôi đã già, lùn, và mập không cần thiết…
Tôi với anh thợ hễ gặp nhau là chào hỏi, nói chuyện thời tiết và chuyện câu cá. Còn anh chủ nhà mập và lùn thì không. Mặt anh ta cứ chảy chì khi gặp tôi, mấy lần chào hỏi khi chạm mặt nhưng anh không vui trả lời nên tôi cóc chào anh ta nữa. Cũng chẳng có gì hối hận khi sự nhỏ nhen của anh ta hiển lộ. Một hôm tôi đi làm về, thấy anh thợ nhà bên có vẻ đợi tôi để cho tôi hay một việc gì đó! Tôi không đóng cửa garage để vào nhà như mọi khi mà bước sang nhà hàng xóm. Anh ta cho tôi xem bức ảnh trong điện thoại của anh ta đã chụp ống khói nhà tôi với chừng mười con sóc ngồi xếp hàng. Anh nói với tôi: “Bạn phải kêu người tới diệt lũ sóc này vì chúng lọt vào được trong trần nhà bạn thì chúng sẽ cắn đứt dây điện, dây internet của bạn trên trần nhà. Bạn có cần tôi giúp bạn không?”
Tôi trả lời không vì không thấy sóc vô trần nhà, chúng chỉ ở bên ngoài ống khói thôi. Nhưng người tốt đã tự đi mua thuốc về xịt trên trần nhà cho tôi để phòng hờ lũ sóc xâm nhập. Tôi cảm ơn, xin gởi lại tiền mua thuốc xịt anh ta cũng không lấy. Nhưng anh mập chờ cơ hội gặp riêng tôi, không có anh đẹp trai đi cùng mới nói, “Anh nên tự lo liệu nhà anh, xin đừng làm phiền bạn tôi vì anh ta dị ứng với thuốc diệt côn trùng. Hôm nọ giúp anh xịt thuốc trừ sóc, anh ta đã bệnh hết mấy ngày…”
Tôi cảm ơn cũng hơi sốc, “Cảm ơn anh cho hay. Cảm ơn anh đã không gọi cảnh sát…”
Vậy mà họ mời tôi dự đám cưới của họ vào Giáng sinh này. Anh đẹp trai mời tôi thì đúng hơn vì anh mập không ưa tôi từ đầu. Mới đó mà họ đã sống với nhau được bảy năm. Nay anh mập muốn danh chánh ngôn thuận, rõ ràng giấy trắng mực đen là vợ chồng! Có lẽ anh mập trong vai vợ đã đến lúc thấy mình quá già và ít đẹp nên sợ anh chồng đẹp trai bỏ rơi nên tổ chức đám cưới. Chả hiểu để làm gì mảnh giấy kết hôn đồng tính, nhưng làm sao biết được lòng người, nhiều khi mình trân qúy cái vô nghĩa với người khác cũng là chuyện thường. Nhưng đi dự cái đám cưới đồng tính thì tôi chưa từng. Và có lẽ đến chín mươi chín phần trăm là không đi, chỉ gởi cho họ món quà chúc mừng đã là hết can đảm mà tôi có được.
Giáng sinh này của họ, hai người đàn ông đưa nhau về vùng biển ấm nào đó trên địa cầu để hưởng tuần trăng mật khi người vai chồng đã qua thời kỳ phong độ nhất của một gã đẹp trai, người vai vợ đã bạc đầu, lù mù cái kính lão dắt chó đi ngoài, xăm xoi hàng xóm xem có cần gọi cảnh sát hay không? Hạnh phúc trong lòng người nhưng con người cứ đi tìm hạnh phúc nên khổ đau tiếp diễn không hồi kết.
Chúc Giáng sinh vui vẻ thôi chứ biết nói gì với thời đại nhiều chuyện không tưởng bây giờ…

Phan

Duyên Kiếp: Người Đàn Bà Tuyệt Vời

vvnm.vietbao.com
21/11/2006
Quân Nguyễn

Post by Sơn râu 10 Nov 2024

Tác giả Quân Nguyễn cùng vợ con đến Mỹ năm 1987, ông trở lại trường học, tốt nghiệp cao học về Sociology tại CSUF, đệ tam đẳng huyền đai Tae Kwon Do, hiện làm state parole officer ở Santa Ana, và là cư dân Anaheim, CA.
Nàng sinh ra dưới một ngôi sao… cà nhổng!
Năm lên sáu, theo má tung tăng tới trường buổi học đầu tiên với cái cặp mới tinh và bình mực tím, có quai trên nắp để móc ngón tay vào mà cầm. Đến lớp, bình mực chỉ còn có…cái nắp tòng teng!
Buổi học thứ hai, nàng nhảy chồm lên bàn để dơ tay lên khi cô giáo hỏi, “Ai biết hai cộng hai là mấy…”
Năm lên mười, đang học lớp năm, nàng thầm yêu trộm nhớ một anh học trò dễ thương cùng lớp, con ông quét dọn… sân trường!
Năm lên mười ba, một ngày mưa dầm dề, có bà thầy bói dạo ế khách ghé nhà nàng xin xem bói, và chỉ xin được trả công bằng…ăn bữa cơm. Có năm chị em, mỗi người được bà “bói” cho nghe một phận, riêng nàng, bà ta “phán” rằng, “Con nhỏ này khỉ khọn lắm, sau lấy chồng cảnh sát đây…”
Nghe lóm được chuyện này, có anh hàng xóm tên T, từ lâu thầm nhớ trộm yêu nàng từ ngày nàng còn thơ, lật đật bỏ học để đi đăng lính cảnh sát dù chưa tới tuổi quân dịch, với ước mơ rằng biết đâu nhờ nghe lén được duyên kiếp của nàng, mà rồi sau…sẽ lấy được nàng!
Năm nàng mười chín tuổi, đất nước điêu tàn, nhà nhà đói khổ vì giặc Cộng khốn kiếp. Cha mẹ nghèo, anh chị em lại đông, nàng vừa tình cờ quen được một anh trai trẻ “thất cơ lỡ vận” là cha mẹ ép gả liền! Chỉ tội cho anh cảnh sát quèn lối xóm, chỉ vì nàng mà bị Việt Cộng bắt đi “kinh tế mới” rồi chẳng bao lâu sau, chết bệnh ở đó!
Mẹ chồng nàng vốn người Bắc di cư, từ ngày lên làm mẹ chồng bất đắc dĩ, bỗng trở nên khắc nghiệt vô lối, chẳng chút thương xót đứa con dâu mới người Nam, mà làm đủ trò để khổ sở nàng…Quá khổ đau, nàng xin trở về nhà lại nhưng cha nàng không cho, chồng nàng lại mù quáng nghe mẹ hết lời. Tuyệt vọng, nàng bèn nói vài lời gửi gắm đứa con gái nhỏ 18 tháng của mình cho ông chú chồng kế bên nhà, rồi uống thuốc ngủ tự tử. Chồng nàng vội móc cổ họng cho nàng ói ra, nàng ngủ li bì hai ba ngày nhưng không chết! Chồng nàng chợt tỉnh ngộ, bèn làm đơn xin được cấp nhà tập thể của xí nghiệp để dọn ra. Thấy vậy, mẹ chồng nàng đành nhượng bộ, xin vợ chồng nàng ở lại thêm một thời gian…
Mồng ba tết năm Kỷ Mùi (1979), có hai người ban gái cùng xí nghiêp đến nhà rủ nàng đi coi bói năm mới. Họ nói nghe đâu có ông thầy bói nuôi “Ngải” ở hẻm đền Thánh “An Tôn” ngay ngã ba Ông Tạ, coi hay lắm. Nàng liền xin phép mẹ chồng rồi đặt đứa con gái nhỏ ngồi lên chiếc ghế trẻ con gắn trên xe đạp, ngay trước bụng nàng, rồi cùng hai cô bạn, mỗi người một chiếc xe đạp mà đi. Nhà ông thầy bói trong hẻm sâu hun hút, trên tường phòng khách có treo một khung ảnh lớn trong có nhiều ảnh nhỏ chụp đen trắng chụp cảnh ông ta đang nằm, ngồi ở nhà và cả khi đang đạp…xích lô.
Từ ngày nghe ai xúi bẩy nuôi hàng chục chậu bông nho nhỏ trong phòng khách, chẳng đẹp đẽ gì hết, lại phải cho nó “ăn” trứng gà mỗi ngày…thì ông coi bói đông khách lắm, chả cần thuê xích lô đi đạp dạo kiếm ăn nữa. Ông ta chỉ cần đốt nhang, lâm râm khấn vái, rồi cầm tay khách hàng cho có lệ, chứ lời nói cứ từ trong miệng tự nhiên “phun” ra, mà rồi sau đó ông ta chẳng nhớ mình nói gì ráo trọi! Khi xem cô bạn thứ nhất, ông ta nói rằng, “Cô này vụng về chẳng biết làm ăn gì hết, mai mốt chỉ ở nhà giữ con…Chồng thì còn đang đi học, sau này ra trường phải đổi đi làm rất xa…” (Cô ta vừa lấy một anh sinh viên trường Nông Lâm Súc, ít năm sau anh ta ra trường, được cử đi làm “chuyên gia” Việt Cộng ở một nhà máy chế biến gỗ bên Lào, vì tốt nghiệp kỹ sư lâm nghiệp…Biết “làm ăn”, về sau anh ta trở nên giàu có, nhưng cứ mỗi sáu tháng mới về nhà một lần!)
Xem cô thứ hai, ông thầy ngải nói, “Cô này sẽ lấy chồng bộ đội, sau làm phòng tổ chức coi sóc sổ sách lý lịch công nhân đây…(Nghe như mở cờ trong bụng, vì cô này là đoàn viên thanh niên, đang ngấp nghé kiếm anh bộ đội chuyển ngành nào đó để dễ tiến thân vào Đảng mà…làm giàu cho lẹ! Sau đó ít lâu, cô ta cũng “vồ” được một anh bộ đội Bắc Kỳ chuyển ngành hạng tép riu, nhưng nhờ vậy mà có Đảng, rồi thì do khéo lòn cúi, lâu rồi cũng thành trưởng phòng tổ chức của một xí nghiệp!)
Đến phiên nàng, đứa con gái nhỏ của nàng dù mới chập chững biết đi, cũng cứ nhất định phủi tay ông thầy bói ra, không cho cầm tay mẹ nó. Thế rồi, ông cũng nói xong, “Cái cô này với bà mẹ chồng đang lục đục lắm đây, nhưng mà không còn bao lâu nữa đâu…Số cô sẽ được đi nhiều nước…Chồng là người dong dỏng cao, da trắng, đeo súng như quân nhân, nhưng không phải bộ đội…”
Trên đường về, hai cô bạn cười nói không thôi, khen ông thầy ngải hết lời, vì họ cảm thấy mình “muốn gì được nấy”, mới nghe sơ sơ cũng thấy đúng phóc rồi! Có điều về chuyện của nàng thì họ chê là…sai bét! Họ chẳng biết gì về chuyện mẹ chồng nàng, nhưng theo họ, mới “giải phóng” chưa đầy ba năm…mà nói rằng số nàng được đi…nhiều nước, nghe sao vô lý quá…Đi Nga hay đi Tầu” Thêm nữa, thằng chồng “bá vơ, trói gà không chặt” của nàng, ai mà không thấy, làm gì mà lại quân nhân với súng ống, nghe nói nó lính “Ngụy” hồi đó thì có…Đúng là đoán…tầm phào! Nàng cũng hoàn toàn đồng ý vậy, thì coi bói cho vui cũng đâu có sao, đâu có tốn bao nhiêu tiền mà lo…
Thế rồi, khi mẹ chồng nàng nghe kể lại câu,”…không còn bao lâu nữa đâu…”, thì bà cũng muốn đi coi bói cái ông thầy ngải đó liền, vì bà ta đang toan tính chuyện vượt biên từ lâu mà chẳng thấy tới đâu hết…
Vậy mà, chưa kịp được nàng dẫn đi gặp ông thầy ngải, thì chỉ vài tháng sau, bà và thằng em út của chồng nàng, vượt biên thành công đến Nam Dương cái rụp…
Tám năm sau, vợ chồng nàng và đứa con gái nay đã lên mười, lên đường sang Mỹ, qua sự bảo lãnh của mẹ chồng nàng.. . .
Cuối cùng, cái gì phải đến, sẽ đến. Nàng bây giờ, nếu không…cà nhổng suốt ngày ở nhà, thì chắc phải đang bận “shopping” đâu đó trên chiếc Honda “Pilot” 2007. Lại chỉ thích đeo có “diamond” mà thôi! Tây Tàu gì nàng cũng đã đi ráo. Cũng may, nhờ nàng, mà thằng chồng nàng bây giờ cũng được…đeo súng như lính, vì nó là…”Cop” Mỹ.
Nàng, người đàn bà tuyệt vời, thích… cà nhổng đó, là…vợ tôi!

Buồn vui đời nghệ sĩ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 10 Nov 2024

  1. Phần 4: Người trồng cây si Gia Long
    Yêu một cô nữ sinh Gia Long, tôi nghĩ đó là một chuyện bình thường của một chàng trai tốt số, đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu và có phước là được quen biết cô nữ sinh Gia Long. Nhưng chuyện yêu đương như vậy không bình thường đối với người nghệ sĩ, nhất là trong cái thời kỳ mà dân mình còn nặng thành kiến : nghệ sĩ là xướng ca vô loại. Người nghệ sĩ cải lương mà nói tới chuyện yêu một cô nữ sinh Gia Long là nói tới chuyện của người muốn với tay hái sao trời. Ây vậy mà có lúc tôi mang tiếng là người trồng cây si Gia Long, người muốn hái sao trời!
    Chuyện là vầy…
    Năm 1943, tôi làm việc ở Sở Bưu Điện Saigon. Vì quê tôi ở Mỹ Tho nên mấy năm nay, tôi ở nhà của cậu tôi (Bazar Hồ Hữu Đức) ở đường Bonard gần chợ Bến Thành để tiện đi làm việc. Con gái út của cậu tôi, em Hồ Ngọc Lâm học năm thứ hai trường nữ trung học Gia Long. Vì em Lâm học ngoại trú nên cậu tôi có mướn xe xích lô đạp đưa rước em đi học mỗi ngày. Một hôm anh xích lô bịnh bất ngờ, cậu nhờ tôi chở cho em đi học.
    Tưởng trường nữ trung học Gia Long ở đâu xa, không ngờ đó là trường áo tím ngày xưa. Hồi đó trường có một cái tên Pháp: Collège des Jeunes Filles Annamites. Hỏng hiểu sao và từ bao giờ, trường có tên mới : Trường nữ trung học Gia Long. Và các cô áo tím ngày xưa được thay bằng những cô áo trắng, cũng đẹp như tiên, cũng xinh như mộng.

Tôi đưa rước em Lâm đi học chỉ được vài hôm thôi. Khi anh phu xích lô đạp hết bịnh là tôi bị mất đi cái công việc đưa rước lý thú đó.Tuy nhiên mỗi khi đi đến Sở làm tôi vẫn đạp xe đạp chạy ngang trường, nhìn các cô học sinh vô cổng trường rồi tôi mới đạp xe thật mau chạy về Sở làm. Buổi chiều đến giờ tan học, tôi không có phận sự đón rước ai nhưng tôi cũng tới trước cổng trường, dựng xe đạp, đứng trông ngóng như chờ đón ai!
Một cây si bắt đầu mọc trước cửa trường Gia Long bên cạnh những cây sao trên vệ đường.
Có lần em Lâm thấy tôi đứng trước cổng trường, về nhà em hỏi tôi đứng đó chờ đợi ai? Tôi dối là tôi theo anh Thoại, đón em gái của Thoại… thật ra thì tôi trồng cây si trước cổng trường là vì tôi muốn nhìn thấy mặt cô S. bạn học đồng lớp với em Lâm.
Cô S. thường đến nhà chơi với em Lâm, có khi thì ở lại ăn cơm trưa, có khi thì cùng với Lâm đi xem ciné ở rạp Eden. Cô S. xem tôi như một người anh nên chuyện trò vui vẻ tự nhiên, còn tôi thì không biết là từ bao giờ, tôi cảm thấy lúng ta lúng túng… mất tự nhiên trước mặt S.
Cô nàng nước da trắng như tuyết, má hồng, môi mộng, đôi mắt thơ ngây, tiếng cười trong suốt như pha lê… S. rất dễ thương, nói năng dịu dàng, những khi đi chơi hay dạo chợ Bến Thành với Lâm, khi về nhà cô S. thường có một món quà nhỏ cho tôi, khi thì một trái ổi xá lị, khi thì một bịt chè đậu trắng hoặc bánh lọt nước dừa.
Có một lần, đi ngang phòng của tôi, S. thấy sách vở, áo quần của tôi vất bừa bãi, S. vào thu xếp dùm. Khi đó thì tôi đang đánh Ping Pong với Thái và Hoanh, anh của Lâm ở trên lầu ba. Tôi nghe tiếng Lâm nói:
– Kệ ảnh đi, mầy dọn dẹp sạch sẽ bữa nay, ngày mai cũng y như vậy hè. Ba tao la ảnh hoài, chứng nào tật nấy, ảnh đi làm về, khi rảnh thì đi đánh Ping Pong hoặc tắm piscine, chớ ảnh hỏng có rớ tới ba cái vụ quét dọn chỗ ở của ảnh đâu”
– Thì tiện tay, tôi giúp ảnh thôi! – S. nhỏ nhẹ trả lời.
Tôi nhường cho Hoanh và Thái đánh banh với nhau, trở về phòng của tôi thì S. và Lâm đã rủ nhau đi xem ciné rồi. Tôi nghe thoang thoảng mùi nước hoa Revlon còn phảng phất đâu đây, tôi nghe xao xuyến trong lòng…
Tôi bắt đầu dệt mộng, học đàn mando… học hát bài Thiên Thai… mơ tới suối Ngọc Tuyền, mộng thấy nàng tiên áo trắng. Mỗi sáng, mỗi chiều tôi đi ngang cổng trường nhìn những tà áo dài trắng lả lướt mà tưởng chừng các nàng tiên nữ áo trắng lượn bay… tôi muốn chiêm ngưỡng vị thiên thần áo trắng của tôi.
Cô S. vẫn thường đến chơi với em Lâm, vẫn tự nhiên mỗi khi gặp tôi và có lẽ cô không biết là tôi đã yêu cô. Tôi chép một bài thơ hay, bài Tình Tuyệt Vọng của Arvers do Khá Hưng dịch, ghép vào một trang sách mà tôi cố tình để bừa bãi trên bàn. Tôi lánh mặt lên ở trên lầu ba.
Cô S. và Lâm về, cô nhìn vô phòng của tôi, tôi nghe tiếng cô cằn nhằn: “Lại nữa rồi…Sạch sẽ ngăn nắp chỉ được một hai ngày thôi, chứng nào tật nấy đúng như Lâm nói”.
– Ý! có bài thơ kìa…(Lâm cầm thơ, nói) để tao đọc.
Tình Tuyệt Vọng.
Lòng ta chôn một khối tình
Tình trong giây phút mà thành thiên thâu
Tình tuyệt vọng, mối thảm sầu,
Mà người gieo thảm như hầu không hay
Hỡi ôi, người đó, ta đây,
Sao ta thui thủi đêm ngày chiếc thân?
Dẫu ta đi trọn đường trần,
Chuyện riêng dễ dám một lần hé môi
Người dù ngọc nói hoa cười,
Nhìn ta như thể nhìn người không quen.
Đường đời lặng lẽ bước tiên
Ngờ đâu chân đạp lên trên khối tình
Một niềm tiết liệt đoan trinh
Xem thơ nào biết có mình ở trong,
Lạnh lùng lòng sẽ hỏi lòng :
” Người đâu tả ở mấy dòng thơ đây? ”
Cả hai cô cùng cười, khen thơ hay nhưng không hỏi vì sao có bài thơ để ở đó. Sau đó vài hôm thì S. không đến chơi với Lâm nữa. Tôi nhiều lần đến cổng trường, cũng những tà áo trắng mỗi buổi tan học túa ra các nẻo đường như những cánh bướm trắng, những nàng tiên áo trắng, chỉ có nàng tiên áo trắng của riêng tôi thì biền biệt chẳng thấy tăm dạng ở đâu. Tôi như một kẻ mất hồn…
Tháng 9 năm 1945, Saigon sôi sục với những cuộc xuống đường… Saigon ầm vang những lời ca hát trên hè phố của Thanh Niên Tiền Phong…Tôi cũng bị cuốn hút vào vòng lũ của những chàng thanh niên ” nóp với giáo mang ngang vai… ”
Năm 1947, tôi trở về làm việc nơi nhiệm sở cũ và mướn nhà ở đường hẻm Cá Hấp, tôi không ở nhà của cậu tôi nữa vì cậu đã sang Bazar cho chủ khác. Về Saigon tôi mới biết là em Lâm đã mất trong trận chống càn ở cù lao Quới Sơn hồi cuối năm 1946. Cô S. thì vẫn vắng bặt bóng chim tăm cá.
Những chiều tan Sở làm, tôi tránh không đi về ngang trước cổng trường Gia Long vì tôi sợ phải nhìn thấy những tà áo trắng quyến rũ ngày xưa mà lòng thêm thương thêm nhớ…
Để tìm quên, chiều chiều tôi ra place Cuniac, uống bia hơi rồi ghé lại rạp Thành Xương coi hát hoặc chuyện trò với các bạn nghệ sĩ mới quen. Một khung trời mới hiện ra trước mắt tôi : cuộc sống rày đây mai đó của người nghệ sĩ hấp dẫn và nhiều hứa hẹn hơn là cuộc sống bình lặng nhàm chán của một viên công chức bực trung.
Thế là tôi xách va ly theo gánh hát với các bạn nghệ sĩ như một cô gái cuốn gói theo người yêu, bất kể tới những bất trắc sẽ gặp phải trên đường đời.( 1948)
Vô đoàn hát, tôi làm một công việc bá nghệ : là quản lý, tôi thay mặt chủ bầu và nghệ sĩ để tiếp xúc với các cấp chánh quyền sở tại, nơi đoàn hát đang trình diễn hay sẽ đến. Tôi có học về điện và máy móc nên tôi trở thành sư phụ của các anh chuyên viên ánh sáng của gánh hát, tôi giúp cho các anh làm ra các máy chiếu làm mây, làm nước trên sân khấu. Tôi dạy cho các nghệ sĩ học chữ quốc ngữ, dạy cho họ tập đọc, tập viết để học tuồng dễ dàng hơn. Tôi chép tuồng để đem đi kiểm duyệt. Tôi bắt đầu học hát và tập soạn tuồng hát, tóm lại, ai cần tôi làm giúp điều gì thì tôi sắn sàng giúp, không nệ hà gì
Nhờ vậy mà tôi được cảm tình của mọi thành viên trong gánh hát. Thêm nữa, tiền lương của tôi trong gánh hát khá cao, tôi lại chưa có vợ, tánh tình hiền hậu dễ thương nên nhiều cô đào trẻ chưa chồng trong gánh hát vây quanh tôi, muốn bắt tôi làm chủ trái tim của một người trong bọn họ. Họ săn đón, vồn vã, có người chăm lo cho tôi từng bữa ăn, giấc ngủ. Có người giành giặt ủi áo quần, có người rủ đi du ngoạn mỗi khi đến hát ở các vùng có danh lam thắng cảnh.
Nói về nhan sắc thì cô nào cũng đẹp, ca hay, hát giỏi, ánh mắt liếc bén như dao, nụ cười ru hồn khách mộ điệu. Họ sống tự do, thoải mái, dễ tiếp xúc, dễ làm quen, nếu tôi muốn lập gia đình, chỉ cần tôi có một nụ cười đồng lõa hay một cái gật đầu nghiêm chỉnh là tôi chấm dứt đi những ước mơ và hy vọng của riêng tôi để mà ghép cuộc đời mình với cuộc sống của một cô đào hát nào đó.
Tôi chưa có sự nghiệp, chưa có danh vọng trong giới sân khấu, tôi muốn học đòi theo các bậc thầy Năm Châu, Tư Chơi, Năm Nở trong lãnh vực sáng tác, vì vậy tôi muốn được yên thân, muốn thoát khỏi cuộc bao vây quấy rầy của các cô đào thân mến đó nên tôi tuyên bố là tôi có một người yêu vốn là nữ sinh Gia Long. Chờ khi nào cô học tốt nghiệp xong và tôi thành công được một tác phẩm trên sân khấu thì chúng tôi sẽ làm lễ thành hôn.
Một hôm, các bạn nghệ sĩ Tám Cao, Trường Xuân, Tuấn Sĩ, hề Lòng và cô đào chánh Ngọc An cùng với tôi uống bia nói chuyện tâm tình trên bãi biển Nha Trang, Ngọc An hỏi tôi:
– Anh Phương có vợ thiệt rồi, phải không?
– Phải, chúng tôi đã hứa hôn với nhau, tuy chưa cưới nhưng nhứt dịnh rồi sẽ cưới.
Ngọc An ngập ngừng hỏi: “Chị ấy đẹp lắm, phải không?”
Tôi không trả lời mà chỉ nhìn ra ngoài biển khơi, khe khẽ ngâm mấy câu thơ Thanh Bình Điệu của thi hào Lý Bạch:
” Vân tưởng y thường, hoa tưởng dung,
– Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi quần ngọc, sơn đầu kiến,
– Hội hướng Dao – Đài nguyệt hạ phùng”
Trường Xuân bưng ly rượu lên, uống một hơi cạn ly, lầm bầm :
–Trông đám mây tưởng là xiêm áo nàng, trông đóa hoa, tưởng là vẻ mặt nàng, à anh Phương đúng là người trồng cây si Gia Long..
Nhờ có lá bùa “Si Gia Long” dán trên quả tim mà ông thần tình ái không đến quyến rũ tôi nữa, các cô đào đẹp của đoàn hát không còn gọi tôi tên Phương mà đổi lại là anh Si, chàng Si!
Cho tới một hôm đoàn hát bán dàn, hát ở quận Cần Giờ nhân dịp lễ cúng Kỳ Yên, cúng vía Ông (Cá ông), tôi nhớ là khoảng tháng 10 năm 1949, lễ cúng Kỳ Yên (cầu an), xuân thu nhị kỳ, xuân cầu, thu báo, nên Hội đồng Xã rước Ban hát bội Vĩnh Xuân ra hát ba thứ San Hậu để khai chầu và sau đó thì gánh hát Tiếng Chuông của bầu Cang hát tiếp bốn đêm tuồng đồ, tuồng truyện cho dân chúng trong huyện Cần Giờ xem chơi nhân dịp cả huyện ăn mừng trúng mùa cá tôm.
Tôi theo ghe hát của Ban hát bội Vĩnh Xuân ra Cần Giờ trước để sắp đặt chỗ ăn ở cho các nghệ sĩ đoàn hát Tiếng Chuông, vì vậy tôi được dịp xem hát đầy đủ cả ba thứ San Hậu. Có thể nói là trong các thập niên 1960, 1970 và sau này không có gánh hát nào hát đủ ba thứ San Hậu như Ban hát Vĩnh Xuân hồi đó đã hát.
Tôi nghĩ cũng nên nhắc lại ba thứ hát của tuồng San Hậu:
Thứ nhứt:
Phàn Viên Ngoại tống cung ái nữ,
Tạ Thiên Lăng soán nghiệp Tề Vương.
Thứ nhì:
Giận Tạ Tặc, Phàn Công chém sứ,
Lạc Kim Lân, bà thứ lìa con.
Thứ ba:
Tạ Nguyệt Kiểu xuống tóc xuất gia,
Tề Đông Cung đuổi tà phục nghiệp.
Nghệ sĩ hát bội Vĩnh Xuân Ban hát thật là hay, khi Ban hát lui ghe trở về Saigon, ở bến tàu Cần Giờ còn đứng đông nghẹt những khán giả đến tiễn đưa. Có người đem cá khô, mắm, tôm khô tặng cho cô đào Ba Út vì cô đã diễn vai Tạ Nguyệt Kiểu rất là xuất sắc. Dân Cần Giờ còn muốn xem hát bội nhưng vì Hội Đồng Xã đã mua dàn gánh Tiếng Chuông hát tiếp mấy đêm sau nên dân chúng yêu cầu đoàn Tiếng Chuông hát tuồng Tầu như Ban hát bội Vĩnh Xuân.
Đoàn hát Tiếng Chuông vừa đến Cần Giờ, các công nhân sân khấu còn đang lo treo phông màn và ổn định chỗ ăn ở cho đào kép hát thì Hội đồng Xã và ông Chấp Sự mời ông Bầu gánh hát, biện tuồng (tức là soạn giả) và cặp đào kép chánh tới trụ sở. Cô đào Ngọc An không đi, Trường Xuân, Tám Cao, ông bầu Cang và tôi đến hầu chuyện với các ông ấy.
Ông Chấp Sự mở lời khi thấy chúng tôi đến:
– Bà con ở đây muốn xem hát tuồng Tàu. Tôi biết là mấy chú chỉ có tuồng kiếm hiệp như tuồng Trộm Mắt Phật, tuồng Ali Ba Ba và 40 tên cướp, tuồng Cánh Buồm đen. Hội đồng Xã muốn mấy chú hát cương tuồng Quan Công đại chiến Uất Trì Cung. Hát đánh đao, đánh thương, đánh võ nhào lộn cho hay. Ca hát bản Tàu. Hội Đồng Xã sẽ trả thêm tiền mua dàn hát cho mấy chú. Mấy chú liệu có làm được hông?
Ông Bầu Cang đứng gãi đầu gãi tai, ra chiều có điều khó nói. Trường Xuân khoanh tay thưa:
– Bẩm Ngài, hát cương thì tụi tui cũng có thể hát cương, nhưng mà tuồng nầy thì thiệt là khó, hỏng biết phải sắp xếp làm sao mới cương được.
Lúc còn đang nói dang ca thì ông “ách”, chỉ huy trưởng đồn lính Bạt Ti Dăng tại chợ huyện, tới chơi, ông “ách” xen vô nói: “Ừ! Cho thằng kép mặt đỏ đánh với thằng kép mặt đen. Quan Công đánh với Uất Trì Cung được, chớ sao bây nói hỏng được?”
Tôi làm tài khôn, nói:
– Bẩm quan lớn, Quan Công thuộc về đời Hán, còn Uất Trì Cung sanh vào đời Đường. Hán với Đường cách nhau mấy trăm năm, làm sao mà cho hai ông đó gặp nhau, đánh với nhau cho được?.
Ông Chấp Sự nhìn tôi có vẻ ngạc nhiên:
– Vậy là chú nầy cũng có học thức đây. Chú biết chuyện lịch sử Tàu nhiều hông?
– Dạ, bẩm quan, tôi có đọc truyện Tàu, hỏng biết có đúng sử không, nhưng mà tích hát truyện Tàu, tôi nhớ cũng nhiều.
– Vậy thì Tiết Nhơn Quí… ơ, Tiết Nhơn Quí xử dụng võ khí gì?
Tôi nhanh miệng trả lời:
– Dạ bẩm quan, thiên phương họa kích, Tiết Nhơn Quí xử dụng thiên phương họa kích, mặc bạch giáp bạch bào, cỡi con ngựa Thiên lý mã Thoại Long Cu…
Ông Chấp Sự:
– Ừ! Lữ Bố cũng dùng cây thiên phương họa kích, cũng mặc bạch giáp bạch bào, vậy tụi bây hát tuồng Tiết Nhơn Quí đại chiến với Lữ Bố. Cho hai thằng mặt trắng đánh với nhau, cả hai cùng sử dụng cây thiên phương họa kích, để coi thằng nào giỏi hơn thằng nào.
Tôi biết là không ổn rồi, mấy ông chức việc nầy muốn phá bĩnh đoàn hát đây. Tôi bèn bán cái qua cho ông Bầu Cang để ổng thu xếp:
– Ông Bầu, ba cái vụ tuồng tích ông rành hơn tụi tui. Ống sắp xếp sao thì anh em hát làm vậy.
Ông bầu Cang gãi đầu gãi tai, ấp úng nói:
– Dạ bẩm quan, Lữ Bố đời Hán, Tiết Nhơn Quý đời Đường, cách nhau mấy trăm năm cũng như Quan Công với Uất Trì Cung, hỏng lẽ cho người sanh ra trong đời Hán hiện hồn về đánh với người sanh ra trong đời Đường sao? Dạ, dân chúng coi hát tuồng Tàu nhiều quá, họ hiểu lịch sử Tàu, mình hát sai thì họ không thèm coi hát của đoàn tui nữa thì rã gánh đó, thưa ngài.
Ông Ách Một cười ngất:
-Thôi! hát tuồng Tàu chi cho nó mệt, phải nhớ thời Hán hay thời Sở lôi thôi lắm. Tụi bây hát tuồng sử Việt Nam đi. Tao nghe nói hồi xưa Gia Long tẩu quốc, ổng chạy ra cù lao Phú Quốc hay Côn đảo, ổng có trú binh lại ở cửa Cần Giờ nầy. Tụi bây hát mấy thứ Gia Long tẩu quốc hay phục quốc gì cũng được.
Bầu Cang lại gãi đầu gãi tai, ấp úng:
– Chà… chà… Ông Chấp Sự:
– Hỏng lẽ tụi bây hỏng biết sử Việt Nam? Tao muốn tuồng Gia Long phục quốc, vua Gia Long đánh với bà Bùi Thị Xuân. Bùi Thị Xuân cho vẻ mặt rằn, mặt xanh nanh bạc như bà Chung Vô Diệm, vì nghe nói bà nầy dữ lắm. Vua Gia Long đánh thắng nhưng nhờ quân Tây Tà, vậy cho Gia Long mặt xanh chàm… Vậy được hông ông Bầu?
Bầu Cang lại gãi đầu gãi tai…. Ông Ách Một:
– Bộ đầu của ông bầu gánh có chí hay sao mà ông cứ gãi đầu gãi tai hoài vậy?
– Dạ, hỏng phải! Vì quan lớn muốn hát tuồng Gia Long đại chiến Bùi Thị Xuân, tôi hỏng biết trong Sử Việt có trận đánh đó hay không, và hỏng biết là nếu có thì họ đánh ở đâu, đánh trên bờ hay dưới nước, đánh trên rừng hay đánh chiếm thành trì, vậy nên tôi gãi đầu suy nghĩ..
Bầu Cang bỗng phát la lớn lên:
– Dạ, có rồi… Có rồi, trong đoàn hát của tôi có một anh Si Gia Long, nhứt định anh ấy biết sự tích của vua Gia Long.
Ông Chấp Sự:
– Vậy thì hay quá, mời anh đó tới đây, mau đi ông bầu.
Khi tôi nghe ông bầu nói tới người si Gia Long là tôi thấy không xong rồi, có muốn lánh mặt cũng không kịp. Ông bầu chỉ tôi rồi giới thiệu:
– Anh thầy tuồng nầy là người si Gia Long đó.
– Vậy sao! Anh học Pétrus niên khóa nào? – ông Ách Một hỏi tôi.
– Dạ, bẩm quan, tôi không có học Pétrus. Tôi học trường Bá Nghệ. Mà tại sao quan nghĩ là tôi học trường Pétrus? (Tôi lấy làm lạ vì câu hỏi tôi đó).
– Bởi vì ông bầu nói là anh Si Gia Long. Hồi đó, anh em tụi tui có câu: “Pétrus, quan ông, Gia Long, quan bà”. Tôi học Pétrus nè, nhưng tôi đâu có vợ Gia Long. Vợ tôi là cô chủ bán mắm ở chợ huyện nầy đây…
Ông Ách Một nói tới đó, bỗng đổi giọng, hỏi tôi:” Mà sao ông vua đó ốm quá vậy?”
– Dạ, bẩm quan, quan nói ông vua nào ốm quá?.” Trường Xuân xen vô “đỡ đạn” cho tôi.
– Thì ông vua Gia Long chớ còn ông vua nào nữa. Làm vua mà chỉ còn “da” với “lông” thôi thì chưa phải là vua ốm sao?
Tám Cao thày lay xen vô:
– Dạ, Gia Long nầy là G.I.A Gia chớ không phải dờ a da. I,I. .. xin lỗi quan, quan học Pétrus là quan giỏi chữ nghĩa hơn tụi tui rồi. .. Xin quan thứ lỗi cho.
Ông Chấp Sự ngồi vuốt râu, cười mím chi, bây giờ mới nói:

– Hỏng phải qua muốn làm khó dễ mấy em. Qua muốn có một tuồng Gia Long tẩu quốc, để nói cái ông vua đó bị Tây Sơn đánh thua, chạy ra biển. Gặp ông Long Cung thái tử dưới biển trồi lên, vua Gia Long sợ quá, mới hối lộ Long Cung Thái Tử bằng cách là liệng bà thứ phi Phi Yến cho Long Cung thái tử làm vợ. Vì vậy mà khi quân Tây Sơn cưỡi thuyền đuổi theo, Long Cung Thái tử mới nổi sóng nhận chìm ghe thuyền của Tây Sơn, cứu vua Gia Long và cho một con cá kình ngư là con cá ông, đỡ thuyền của vua vô bến Cần Giờ. Rồi bây dăm mắm thêm muối chi đó cho có vẻ lâm ly bi đát để có chỗ ca vọng cổ. .. Dân ở đây cúng Kỳ Yên có cúng Cá ông đó, bây hát tuồng nầy là người ta thích lắm đó. Sao được hông? Tuồng viết ra thành bổn hay hát cương cũng được, cứ cho đánh kiếm, cho bắn súng thần công, cho Long Cung Thái Tử hóa phép, cho rồng vàng hiện lên hộ thể cho vua Gia Long…
Ông Ách Một nói:
– Sao, anh Si Gia Long, chuyện tuồng Gia Long tẩu quốc như vậy, viết ra được hay không?
– Dạ, bẩm quan, tôi hết si Gia Long rồi. Tôi hết dám Si Gia Long rồi.
– Tại sao?”
– Dạ, mang tiếng si Gia Long mà hỏng biết gì về lịch sử Gia Long hết, cái nầy người ta nghe, người ta cười tôi. Còn cái chuyện tuồng mà quan lớn vừa vẽ ra đó, dạ khó lắm. Tuồng Tàu, tuồng Tây, mình có viết sai thì dân coi hát cũng bỏ qua cho, sai là sai cái sử của thằng Tây, thằng Tàu, cũng không quan trọng gì tới người Việt Nam mình. Còn như sử Việt Nam mà mình viết sai thì a.. . thì.. . Dạ, bẩm quan, kỳ nầy về Saigon, tôi nhứt định sẽ nghiên cứu kỹ lịch sử Việt Nam, tôi sẽ viết những tuồng sử Việt Nam cho đàng hoàng. Còn kỳ nầy, thì xin quan tha cho.
Ông Chấp Sự cười hề hà:
– Thôi, thử bụng mấy chú thôi. Được rồi! Chuyện cả ngàn năm của người Tàu, mấy chú rành ông này mặt mày ra sao, tánh tình như thế nào, chuyện tình yêu gì của họ, mấy chú cũng rành rẽ quá. Vậy thì mấy chú cũng nên ráng mà hiểu chút đỉnh lịch sử của mình. Dân mình biết rành chuyện Tàu vì mấy chú hát tuồng Tàu. Nếu mấy chú hát tuồng sử Việt thì người dân mình cũng hiểu chuyện sử của mình. Phải vậy không?
Tôi thấy thấm thía vô cùng vì câu nói đó, những chuyện truyền thuyết như chuyện con cá ông “độ ” ghe tàu khi có gió to sóng lớn, chuyện bà thứ phi Phi Yến của vua Gia Long bị bỏ rơi lại trên Côn đào, chuyện những trận đánh oanh liệt của bà Bùi Thị Xuân, nói chung chuyện của những nhân vật anh hùng trong lịch sử Việt Nam, tôi không biết rành rẽ, vậy mà tôi biết Tào Tháo mặt mốc râu rìa, Quan Công mặt đỏ sử dụng cây Thanh Long Yến Nguyệt đao, Lưu Bị hay khóc, Khổng Minh biết toán quẻ âm dương…
Gần sáu chục năm trôi qua, nhớ lại chuyện xưa, tôi tự thấy tôi mơ hồ trong cuộc sống… Yêu một cô nữ sinh Gia Long nhưng tôi lại mơ hồ về thân thế và cuộc sống của cô ấy. Chỉ biết S. rất đẹp, rất dịu dàng, ăn nói có duyên, có nhiều nữ tính. Hình ảnh tà áo dài trắng thướt tha như cánh chim én mang mùa xuân lại cho lòng tôi là hình ảnh duy nhứt đã theo tôi suốt mấy chục năm dài phiêu bạt giang hồ.
Si Gia Long mà tôi cũng không biết tại sao người ta lấy tên của một ông vua đặt tên cho một trường nữ trung học? Tôi không hề hỏi “tại sao” trước những khúc mắc của cuộc đời. Mà có phải là người ta dùng tên vua Gia Long để đặt tên cho trường đó không?
Nhờ có chuyện Si Gia Long mà tôi học được một bài học đáng nhớ trong đời : làm nghề gì thì cũng phải ráng mà học cho thông suốt cái nghề đó. Và nhất là đừng quên cội nguồn, viết tuồng Tàu, tuồng Tây mà quên đi cái nguồn gốc Việt Nam của mình. Nghĩ cũng đáng tự trách mình lắm chứ.
“Si Gia Long” một chuyện đáng nhớ đời của một kẻ lang thang hay mơ mộng như tôi.

Buồn vui đời nghệ sĩ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương
Posted on June 3, 2021 by Lê Thy

Post by Sơn râu 10 Nov 2024

Phần 3:
Chọn nghệ danh của nghệ sĩ cải lương
Sau lần đi “coi mắt” vợ, bị nhà gái chê vì tưởng lầm tôi là kép hát cải lương, tôi trở về Saìgòn làm việc, trong bụng định là không bao giờ tôi đặt chân trở lại cái quận Cao Lãnh nữa, một miền quê trù phú, dân chúng hiền lành nhưng dường như nơi đó không có chỗ nào để dung chứa tôi.
Là một thanh niên học hành đỗ đạt, khi ra trường thì được làm việc ngay cho nhà nước, tôi tự hào là mình cũng đẹp trai, không say mê tứ đổ tường, một thanh niên có hoài bão, có tương lai, vậy mà tại sao con gái Cao Lãnh lại chê tôi? Tại sao?
Lòng tự ái bị tổn thương, tôi tự trách là vì tôi không nghe lời ngăn cản của má tôi, theo ông bầu gánh hát Tiến Hóa đi Mỹ Trà, lại còn phụ với ổng đánh trống khua chiêng, rải chương trình của đoàn hát, trong khi mà bên nhà gái còn nặng thành kiến với kép hát, cho là xướng ca vô loại, nên họ từ chối không gả con gái của họ cho tôi. Nhưng tại sao họ không điều tra kỹ? Tại sao họ không tin lời giới thiệu của Dì tôi? Mà dầu cho tôi là kép hát cải lương thật thì có gì là xấu đâu? Nghề hát cải lương cũng là một nghề lương thiện, phải đổ mồ hôi, phải lao tâm nhọc trí đem nguồn vui lại cho khán giả thì mới được khán giả trả thù lao cho. Không phải đi cướp giựt hay lường gạt người khác để thủ lợi, tại sao người ta có thành kiến, coi nghệ sĩ như là những người hư hỏng, những người đứng bên lề của xã hội. Tôi thắc mắc trong lòng nên tôi quyết tâm tìm hiểu cuộc đời và tâm tình của nghệ sĩ để tự giải tỏa những ẩn ức của mình.
Trước đây khi tan sở làm, tôi thường đi đến ga xe điện Cuniac, ngồi ở kiosque bán bia, uống một hai ly bia hơi rồi mới về nhà nghỉ, gần tám giờ tối tôi mới ăn cơm, nhưng từ cái ngày tôi cưới vợ hụt ở Cao Lãnh về, tan sở làm là tôi đến bar Lệ Hoa trước rạp hát Thành Xương để uống bia và quan sát các nghệ sĩ của đoàn hát đang hát tại rạp đó. Cô chủ quán tưởng tôi si cô hầu bàn nên gạ chuyện mối mai nhưng tôi lắc đầu cười trừ nên họ đoán là tôi mê một cô đào hát cải lương nào đó.
– Thầy có thể cho biết là thầy muốn làm quen với ai trong gánh hát nầy không? Tôi quen với nhiều đào, kép hát nên tôi có thể giới thiệu cho thầy.
Bà chủ quán muốn tấn ơn với người khách rượu… Tôi nói tôi muốn quen với một cô đào hát… Khi nhắc tới đào hát, tôi chợt nhớ đến đôi mắt rất buồn của cô Quyên trong ngày tôi đi coi mắt cô ở xã An Bình. Thuận miệng tôi đọc luôn mấy câu thơ:

Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng.
Em là gái trong khung cửa
Anh là mây bốn phương trời
Anh theo cánh gió chơi vơi
Em vẫn nằm trong nhung lụa. (Lưu Trọng Lư)

Bà chủ quán vỗ tay cười lớn rồi nói: “Tôi biết là ai rồi! Cô Lệ Thơ! Cô Lệ Thơ có đôi mắt rất buồn, đôi mắt ngây thơ và lúc nào cũng như đẫm lệ nên các anh ký giả mới tặng cho cô nghệ danh là Lệ Thơ.”
Bà nhìn thấy cô Lệ Thơ đứng trước cửa rạp hát, bà gọi lớn:
– Lệ Thơ… Lệ Thơ! Có thầy nầy muốn kiếm cô nè.
Nữ nghệ sĩ Lệ Thơ bước tới kéo ghế ngồi đối diện với tôi:
– Thầy kiếm tôi có chuyện gì?

Nghệ sĩ Tám Cao
Nghệ sĩ Tám Cao cũng bước hỏi: “Chuyện gì vậy em?” Rồi anh day qua hỏi tôi: “Thầy kiếm vợ tôi chi vậy?”
– Trời đất! Tôi đâu có kiếm vợ anh… mà tôi cũng chưa hề quen biết hay nói chuyện gì với chị … Tôi đang thất tình, bà chủ quán hỏi tôi, tôi nói tôi nhớ một cô gái có đôi mắt buồn. Vậy rồi bà chủ quán kêu chị Lệ Thơ lại, nói đôi mắt của chị lúc nào cũng như đẫm lệ… Cái chữ Lệ đó ám ảnh tôi, tôi chưa biết phải ăn nói làm sao với “chỉ” thì anh đến…
– Bây giờ thì thầy biết phải nói gì rồi chứ?
– Biết… Biết… Bà chủ quán… Cho hai chai bia… tôm khô, củ kiệu, đậu phộng rang … Mời anh… mời chị cạn ly, tụi mình kết bạn, vậy được hông?
– Thầy cũng nhanh trí, mau miệng… và chịu chơi! tụi nầy đùa với thầy thôi…
– Trước hết, xin anh tha cho tôi cái tiếng kêu thầy đó đi. Tôi tên Phương…anh chị cứ kêu là thằng Phương là được rồi…
Trong lúc nhậu lai rai, tôi kể lại cái chuyện tôi đi coi mắt vợ và bị bên nhà gái chê. Tôi nhớ cô Quyên, cô gái có đôi mắt buồn đó và tôi đặt tên cô ta là Lệ Quyên. Bà chủ quán Lệ Hoa mới kêu chị Lệ Thơ lại để phá tôi…
Anh Tám Cao cười, nói:
– Nếu anh muốn kiếm một cô nào có tên bắt đầu từ chữ Lệ thì trong gánh hát Tiếng Chuông của ông Bầu Cang nầy cũng có cả chục người tên Lệ…
– Có cả chục người tên Lệ?
– Phải! Cả chục! Tôi kể anh nghe: Lệ Thơ là vợ tôi đây, đào lẳng. Có Lệ Hoa, Lệ Uyển, là đào ca. Thúy Lệ đào độc. Lệ Tuyền, Lệ Thẳm, Lệ Mi, Lệ Hoa, Mỹ Lệ và Ngọc Lệ là vũ nữ và đào con…
– Hỏng lẽ hết tên để đặt…sao người nào cũng kèm theo một cái tên Lệ đó vậy…
– Trong đoàn hát, thường là các nghệ sĩ đàn em lấy tên chữ đầu của người thầy hay nghệ sĩ đàn anh mà họ muốn bắt chước theo lối hát hay giọng ca để mà đặt thành chữ đầu của tên họ. Ví dụ mấy đứa có tên chữ Lệ vừa kể nó là đệ tử của Lệ Thơ.
Tôi tên Tám Cao, tôi học theo cách ca luyến láy của nghệ sĩ Tư Thanh Tao, nên được đặt tên là Thanh Cao, sau đó có các nghệ sĩ danh ca như Thanh Sơn, Thanh Ngàn, Thanh Minh, Thanh Tùng, Thanh Lệ, Thanh Tuyền, Thanh Trúc…Thanh Việt, Thanh Thanh vì họ ca vọng cổ có hơi giống anh Thanh Tao và tôi. Nói một cách nôm na là những người có tên Thanh đứng đầu là cùng chung một lò nghệ sĩ, một kỹ thuật ca….
– Anh nói tôi hiểu rồi, như nghệ sĩ Út Trà Ôn thì có các nghệ sĩ học theo lối ca của ảnh là nghệ sĩ Út Hiền, Út Hậu, Út Thôi, Út Trà Vinh, Út Bạch Lan…Nghệ sĩ Kim Chưởng thì có các đệ tử là Kim Nga, Kim Hoàng, Kim Ngân, Kim Ngà, Kim Ngọc, Kim Luông, Kim Lành, Kim Cương…Nhưng theo tôi nghĩ thì có thể tìm những tên khác nghe hay hơn, lạ hơn là rập khuôn với nhau một chữ đầu.
Tám Cao vỗ vai tôi rồi lựa lời nói:
– Anh không phải là người trong nghề nên không hiểu việc chọn chữ đầu của tên nghệ sĩ nó rất là quan trọng. Nó biểu lộ một tinh thần Tôn Sư Trọng Đạo, Uống Nước Nhớ Nguồn. Người sau học của người đi trước cách ca, cách luyến láy, cách diễn nên dùng cái tên chữ lót của thầy làm tên chữ lót của mình để tỏ lòng biết ơn, để biểu lộ ý muốn theo con đường nghệ thuật của thầy, chớ không phải vì nghèo chữ, thiếu văn chương, không thể tìm cho mình một cái tên nào khác lạ hơn là tên người thầy của mình.
Câu nói của anh Thanh Cao làm cho tôi phải suy nghĩ. Những người nghệ sĩ tuy họ sống một cuộc đời phiêu bạt, không biết trước ngày mai sẽ no ấm hay thiếu thốn nhưng họ là những người có lòng với nhau, biết đùm bọc lẫn nhau và có một tinh thần biết nghĩa biết ân, biết tôn sư trọng đạo. Đó là cái tính quần thể đáng quý, biểu lộ tình thương yêu và quy củ tôn ti trật tự trong đoàn hát, truyền thống đạo đức của những phường, hội, làng, xã Việt Nam. Nếu đem so sánh với cuộc sống xô bồ xô bộn của một số người đang tìm cách triệt hạ lẫn nhau để mà dành đất sống thì tư cách của người nghệ sĩ đáng được đánh giá cao hơn một bậc.
Chị Tám Cao tức nữ nghệ sĩ Lệ Thơ từ nãy giờ uống bia, lên tiếng hỏi tôi:
– Tại sao anh Phương chú ý tới nghệ danh của nghệ sĩ?”
– Vì nghệ danh của nghệ sĩ đẹp, nghe hay hay hơn tên của một người dân bình thường. Bây giờ nghe anh Tám Cao nói tôi mới biết những chữ đầu tên của nghệ sĩ giống nhau vì họ tự nhận là cùng một lò nghệ sĩ, hát giống nhau, ca giống nhau, nhưng…
– Nhưng sao? Anh Phương chắc còn nhiều băn khoăn thắc mắc, cứ nói ra đi. Bữa nay vợ chồng tôi không có tuồng, anh Tuấn Sĩ hát thế cho tôi… tụi mình nói chuyện tào lao chơi tới khuya cũng được.
Tôi kêu thêm bia và mời hai anh chị dùng cơm đĩa với tôi tại Bar Lệ Hoa. Trong khi dùng bữa, tôi có chỗ không hiểu về việc tự chọn nghệ danh của nghệ sĩ. Tôi hỏi anh Tám Cao:
– Tại sao những người nghệ sĩ tiền phong thì tên có kèm theo một cái thứ như tên bình thường của người dân. Ví dụ: nghệ sĩ Năm Châu, Tư Chơi, Ba Vân, Hai Nữ, Bảy Phùng Há, Sáu Ngọc Sương, Tư Thanh Tùng, Bảy Nam, Năm Kim Thoa, Ba Hui, Tám Lắm, Mười Biểu, Năm Sadec, Năm Đồ, cô Tư Châu, …vân …vân…Các nghệ sĩ tiền phong có nhiều người học giỏi như các anh Năm Châu, Năm Nở, Tư Chơi, Bảy Nhiêu, các ông đó viết tuồng hay, sao mấy ổng không đặt cho mình một nghệ danh như các nghệ sĩ sau nầy mà chỉ khiêm tốn để cái thứ trước tên của mình thôi, nghe như tên một người nông dân Hai Thời, Ba Thế nào đó vậy?
Thấy ông Bầu Cang từ phòng bán vé ra, anh Tám Cao mời ông cùng ngồi uống bia với chúng tôi. Anh Tám Cao nói:
– Muốn biết về các nghệ sĩ lớp trước thì anh Phương nên hỏi ông Bầu vì ông là người lịch duyệt hơn tôi, ông vào nghề cải lương trước hơn tôi.
Tôi mời ông Bầu Cang uống bia hơi nhưng ông từ chối, nói uống bia hơi không tốt, no hơi lớn bụng. Ông kêu một ly cà phê đen không đường, đổ vô một cốc rượu rhum. Bữa nay gánh hát Tiếng Chuông đông nghẹt khách nên ông Bầu Cang rất vui, sẵn sàng trả lời những câu hỏi của tôi.
Ông nói:
– Tôi là nhạc sĩ đàn kìm, đờn cho gánh hát Đại Phước Cương sau đó tôi đi gánh hát Phụng Hảo và “đụng” nhà tôi là nữ nghệ sĩ Năm Phát, đào lẳng, chị ruột của nữ nghệ sĩ Sáu Nết, đào mùi cùng hát chung trong gánh hát Phụng Hảo.
Như anh Phương biết đó: tôi tên Ba Cang, vợ tôi, Năm Phát, em vợ tôi, Sáu Nết, những nhạc sĩ trong đoàn của tôi hay ở các đoàn khác mà tôi quen biết cũng đều có cái tên bắt đầu bằng cái thứ của mình trong gia đình như:

  • Các nhạc sĩ đờn kìm Sáu Tửng, Ba Chột, Bảy Phải, Ba Xây, Năm Vĩnh, Năm Cơ, Bảy Hàm, Bảy Trạch, Năm Khạp;
  • Các nhạc sĩ đàn cò và thổi ống tiêu: Tư Huyện, Hai Phát, Chín Trích, Sáu Xíu, Năm Bửu;
  • Các nhạc sĩ đàn tranh và guitare phím lõm: Tư Còn, Sáu Quí, Bảy Bá, Bảy Quới…:
  • Các nhạc sĩ đàn violon, violoncelle có Tư Hiệu, Tư Thưởng, Hai Long, Hai Thơm.
    Có cái thằng Văn Vĩ đàn guitare… hỏng biết tại sao nó xọt cái chữ Văn vô trước cái tên của nó. Nó thứ hai, lẽ ra là kêu thằng Hai Vĩ…
    Ông Ba Cang cho biết nhiều nhạc sĩ dùng cái thứ của mình đứng trước cái tên do cha sanh mẹ đẻ đặt cho chớ ông không giải thích tại sao.
    Sau nầy khi tôi gia nhập vô làng hia mão, tôi đem cái thắc mắc đó để hỏi anh Năm Châu thì anh Năm giải thích:
    “Cái thời của tụi tôi mà các bạn trẻ bây giờ gọi là nghệ sĩ tiền phong. Cái thời đó thì chưa ai biết tự mình nên chọn tên gì để làm nghệ danh. Tên là do ông Bầu gánh hát đặt ra để dễ quảng cáo cho tuồng hát và gánh hát. Tôi tên Nguyễn Thành Châu, ông bầu gánh lúc đó là thầy Năm Tú đặt cho tôi tên Năm Châu vì tôi thứ năm trong gia đình. Anh Trần Hữu Trang thành tên Tư Trang; Huỳnh Năng Nhiêu thành tên Bảy Nhiêu; Lê Văn Cao thành Bảy Cao; Lư Hòa Nghĩa thành Năm Nghĩa; Lê Văn Vân thành Ba Vân, Lê Hoài Nở thành Năm Nở…Nguyễn Phương Danh thành Tám Danh…”
    Tôi hỏi về tên của các cô đào hát, anh Năm Châu có nói một số trường hợp ngoại lệ như:
    “Cô Phùng Há, gọi là Bảy Phùng Há vì cô là người Tàu lai, cái tên Phùng Há là âm cái tên Phụng Hảo; cô Kim Thoa là người Tiều lai nên cũng gọi là Năm Kim Thoa; cô Tư Thanh Tùng thì khi mới đầu ông Bầu Ngọc Cương gọi là Tư Tùng nhưng khi nói mau, nghe như là tiêu tùng” nên ông thêm cái chữ Thanh đằng trước thành ra tên Tư Thanh Tùng. Đa số vẫn là kềm cái thứ trong gia đình đứng trước cái tên như cô Ba Đắc, cô Năm Cần Thơ, cô Ba Trà Vinh, cô Ba Bến Tre, cô Sáu Nết, Hai Nữ, Sau Ngọc Sương, Ba Hui, Sáu Trâm, Tư Sạng, Năm Đặng, Năm Phỉ, Bảy Nam, Mười Truyền, Chín Bia, Năm Đồ, Bảy Sự, Tư Châu, …”
    Anh Năm Châu có nhắc lại một giai thoại về anh Ba Du. Anh Ba Du tên thật là Phan Văn Hai, lúc đầu lấy tên là Ba Hai (anh thứ Ba, tên Hai). Khi đoàn hát Phước Cương hát ở rạp Quảng Lạc Hà Nội năm 1938, ông bầu Cương có mướn hai anh võ sĩ Tư Xum và Sáu Mẹo gác cửa để ngăn cản bọn du côn không cho vô coi hát cọp hay tới gây rối đoàn hát.
    Hồi đó, lính mã tà người Việt (tức là cảnh sát) rất ngại việc va chạm tới bọn du côn chuyên đâm thuê chém mướn. Lính mã tà thường ngoảnh mặt làm ngơ trước hành động côn đồ của bọn nầy để khỏi chuốc rắc rối vào mình. Lính Biện Tây và Biện Chà cũng vậy, nên đoàn hát nào cũng có mướn người biết võ nghệ gác cửa rạp hát để bảo vệ việc làm ăn của mình và sự an toàn cho nghệ sĩ. Khi đoàn hát Phước Cương hát ở rạp Quảng Lạc, bọn du côn ở ngã Tư Sở tới quấy phá, chúng bị hai võ sĩ Tư Xum và Sáu Mẹo đánh cho một trận bể đầu sứt trán. Chúng tìm cách trả thù bằng cách đón đường đánh nghệ sĩ.
    Bữa đó hai nghệ sĩ Ba Hai và Năm Thiên nghe đồn ở ngã tư Khâm Thiên có hát cô đầu, nhân được nghỉ hát (vì hai anh không có vai hát trong đêm đó), hai anh kêu xe kéo chở đến Khâm Thiên chơi cho biết. Bọn du đãng biết tin, chận xe kéo lại, kiếm chuyện gây gổ. Hai anh tự xưng tên là kép hát Ba Hai và Năm Thiên vì tưởng là bọn du côn kiếm lầm người không ngờ là du đãng tính đánh nghệ sĩ để trả thù nên khi anh Ba Hai kể tên mình, chúng nó cho là anh muốn làm cha chúng nó (Ba Hai) và thằng kia muốn làm trời (tên Năm Thiên) nên chúng nó để thẹo cho hết hát.
    Nghệ sĩ Ba Hai và Năm Thiên khi đi chơi riêng rẽ thì đề phòng, sợ bị du đãng hành hung nên hai anh mang mình võ khí phòng thân. Võ khí của hai anh là chiếc vớ laine đựng hàng trăm đồng xu, cột chặt lại thành như một quả chùy đồng. Khi tự vệ thì anh cầm chiếc vớ, quật mạnh quả chùy vào mặt, vào đầu địch thủ. Hai anh Ba Hai và Năm Thiên giỏi võ từng lên đấu võ đài ở Sàigòn nên khi có võ khí đặc biệt trong tay và lợi dụng cái thế bất ngờ, đã đánh bể đầu sáu tên du côn. Tên kéo xe cũng là đồng bọn của đám du côn đó nên cũng một chùy vào mặt, đổ máu mũi.
    Năm Thiên giựt xe kéo, nhảy lên xe ngồi, Ba Hai kéo chạy trốn và hai anh luân phiên nhau, kẻ ngồi người kéo, chạy gần tới rạp Quảng Lạc mới bỏ chiếc xe kéo bên vệ đường chạy về đoàn hát.
    Người chủ của chiếc xe kéo thưa với bót Tây là người của gánh hát đã cướp chiếc xe và đánh bể đầu anh kéo xe, hai người Biện Tây đến rạp hát xét kiếm chiếc xe kéo nhưng không thấy.
    Ông Bầu Nguyễn Phước Cương có đi du học ở Pháp nhiều năm và anh Năm Châu cũng giỏi tiếng Pháp nên hai anh nới chuyện với hai người Biện Tây, kể rõ sự khuấy phá an ninh trật tự của bọn du đãng. Hai anh cho biết tất cả diễn viên của đoàn đều có mặt hát trên sân khấu, không có người nào đi ra khỏi rạp hát, việc thưa người của gánh hát cướp xe chỉ là phao vu thôi. Khi xét không thấy có tang vật và những người trong gánh hát chứng minh được là họ có mặt tại rạp hát, không có ở hiện trường khi xảy ra vụ mất chiếc xe kéo và quan trọng hơn hết là bọn Biện Tây thấy ông Bầu Cương và Năm Châu nói tiếng Pháp quá giỏi nên không xét tới lời thưa gởi của chủ chiếc xe kéo và anh kéo xe.
    Từ đó, bọn du côn không dám tới quấy phá đoàn hát nữa.
    Sau chuyến lưu diễn ở Hà Nội về, ông bầu Cương đổi tên Phan Văn Hai thành tên Ba Du, nghĩa là Ba (cha) của mấy thằng du côn.
    Ông Bầu Cang cũng kể cho tôi nghe chuyện liên quan tới việc đặt tên nghệ sĩ. Ông có theo gánh hát đi hát ở Hà Nội, Thái Nguyên, Huế, Nha Trang, Đàlạt, Buôn Mê Thuột, ở xứ Lào và Cao Miên, ông có ý thức quan sát nên nhận xét những chuyện trong các gánh hát rất là tinh tế.
    Ông Bầu Cang nói là nghệ sĩ Bắc Kỳ đặt tên của họ hay hơn nghệ sĩ Nam Kỳ. Từ những năm 1920 đến năm 1935, nghệ sĩ cải lương ở miền Nam đặt nghệ danh cho mình bằng cách dùng tên thiệt, kèm theo cái thứ trong gia đình. Dầu là do ông Bầu gánh đặt tên cho hay là nghệ sĩ tự chọn tên mình thì cũng theo cái thể thức vừa kể. Do đó, ngày nay khi nhắc lại các nghệ sĩ tiền phong thì chúng ta nhớ đến các tên như Năm Châu, Tư Chơi, Bảy Nhiêu, Sáu Nết, Ba Trà Vinh, Năm Cần Thơ, Năm Phỉ, Bảy Phùng Há, Ba Hui, Năm Kim Thoa, Bảy Nam, Mười Truyền, Chín Bia, Hai Vân, Ba Vân, Tám Vân, Năm Nở, Tư Xe, Ba Du, Tám Danh, Tám Củi, Ba Thâu, Tám Mẹo…
    Tên của nghệ sĩ nghe mộc mạc như tên của các tay công tử, các anh chị bự thời đó: Vua cờ bạc Sáu Ngọ, Hắc công tử Ba Qui, Bạch công tử Hai Phước (tức Phước Georges), cậu Hai Miên, thầy Sáu Trọng… các tay du côn anh chị đứng bến Ba Thẹo, Sáu Búa, Hai Mỏ lết, Tư Xe, Ba Chăn Cà Mum…vân… vân…
    Cũng trong thời gian nầy thì nghệ sĩ cải lương ở miền Bắc (đông nhất là ở Hà Nội) có các tên đẹp như nữ nghệ sĩ: Ái Liên, Kim Chung, Bích Hợp, Bích Thuận, Bích Châu, Khánh Hợi, Túy Định, Ánh Tuyết, Mộng Điệp, Thúy Liễu, Ánh Tuệ, Anh Thư… Các nam nghệ sĩ có tên Huỳnh Thái, Anh Đệ, Sĩ Hùng, Tuấn Sửu, Phúc Lai, Thành Hội, Mộng Long, Ngọc Thạch, Mộng Hùng, Sĩ Tiến…
    Cũng theo lời kể của ông Bầu Ba Cang gánh hát Tiếng Chuông, năm 1921, ở Thốt Nốt, tỉnh Long Xuyên có ông Bầu Vương Có, người Tiều Lai lập gánh hát cải lương Tập Ích Ban.
    Ông Vương Có mời soạn giả Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền làm thầy tuồng (cung cấp tuồng tích và dạy cho nghệ sĩ hát, ca). Tổ chức gánh hát theo lối hát Tiều, tên đào kép là do ông Vương Có và thầy Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền đặt cho, mới nghe tên tưởng như là những nghệ nhân Trung Hoa:
  • Nghệ sĩ Bảy Nhiêu được đặt tên là Lâm Sinh,
  • Tư Thới tên Dương Hòa,
  • Năm Chuông đổi thành Đại Hồng,
  • Năm Hí đổi thành Song Hỉ,
  • Sáu Tị thành Tần Vân,
  • Sáu Trâm thành Ngọc Xoa,
  • Hai Hiển thành Kiều My,
  • Ba Vinh thành Kiều Loan…
  • Sáu Trâm thành Ngọc Xoa (là người vợ đầu tiên của anh Năm Châu).
    Từ năm 1954 đến năm 1970, thời kỳ hoàng kim của sân khấu cải lương, nhờ ảnh hưởng của một nền văn hóa mới và báo chí thời đại, nghệ sĩ đã biết chọn cho mình một nghệ danh đẹp, không còn kềm cái thứ kế bên tên cúng cơm của mình. Những tên mới như Hữu Phước, Hùng Cường, Thành Được, Út Trà Ôn, Văn Hường, Út Hiền, Út Hậu, Minh Vương, Minh Phụng, Minh Cảnh, Bạch Tuyết, Thanh Nga, Ngọc Giàu, Hồng Nga, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Kim Ngọc, Kim Hoa, Thanh Hằng, Thanh Ngân, Hoàng Giang, Kim Giác, Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Minh Chí, Ánh Hoa… những tên nghệ sĩ mới gắn liền với giọng ca đặc sắc và lối diễn xuất tinh tế đã trở thành thần tượng của khán giả mộ điệu.
    Sau năm 1970, những nghệ sĩ mới lên, nhại theo kỹ thuật ca của các danh ca đàn anh, đàn chị nên họ chọn cho mình một nghệ danh có ba chữ mà chữ tên đầu gắn liền với tên của nghệ sĩ danh ca mà họ ưa thích. Chúng ta thấy có các tên: Thanh Thanh Hoa, Thanh Thanh Nga, Thanh Thanh Tâm, Thanh Kim Huệ, Dũng Thanh Lâm, Dũng Minh Sang, Dũng Minh Tuyết, Kiều Mai Lý, Kiều Lệ Mai, Kiều Lệ Tâm, Kiều Phượng Loan, Kiều Trúc Phượng, Minh Minh Vương, Minh Minh Cảnh, Minh Minh Tâm, Phương Trúc Bình, Phương Hồng Thủy, Phương Hồng Hạnh, Kim Tử Long, Kim Tiểu Long, Hoài Trúc Phương, Lý Cẩm Hồng, Kim Lệ Thủy, Tất My Loan, Trương Ánh Loan.
    Nghệ sĩ Thanh Cao thấy tôi lắng nghe ông Bầu Cang kể về các nghệ danh của nghệ sĩ, xen vào nói:
    – Anh Phương nếu theo ghe hát như tụi tui, anh cũng phải chọn cho anh một cái tên nghệ sĩ nghe cho nó hay, biết đâu sau này tên nghệ sĩ của anh sẽ được hậu thế nhắc nhở.
    Tôi bật cười lớn:
    – Anh khéo suy nghĩ viễn vông! Phải có giọng ca, phải có sắc vóc đẹp, phải có một tâm hồn nghệ sĩ thì mới có hy vọng trở thành nghệ sĩ. Tôi rất ái mộ nghệ sĩ, tôi thấy thích nghe kể chuyện nghệ sĩ vì mỗi một câu chuyện là một giai thoại vui hay buồn, tuy nhiên từ cái ý thích đó, muốn trở thành nghệ sĩ thì còn một khoảng cách rất xa… rất là xa…
    Tuy tôi nói vậy nhưng trong thâm tâm, tôi bắt đầu dệt mộng, tự phác họa cho mình một bước đường tương lai trong giới nghệ sĩ sân khấu cải lương. Những khung trời mới rộng mở trước mắt tôi. Những con người rực sáng ánh hào quang danh vọng dưới ánh đèn sân khấu đêm đêm quyến rũ tôi, tôi quên mất cái việc tôi đi cưới vợ hụt chỉ vì bị cái thành kiến xướng ca vô loại. Tôi kết bạn với những nghệ sĩ sân khấu để tìm hiểu họ, để sống với tâm tư và nguyện vọng của một người nghệ sĩ. Ngoài các anh Ba Cang, Thanh Cao, Trường Xuân, tôi kết bạn với Thành Tôn, Hữu Thoại, tôi theo làm quen với anh Minh Tơ, chị Tư Châu, cô Năm
    Đồ

Từng bước… từng bước, tôi bị lạc vào “mê cung” đầy ánh hào quang và sắc màu rực rỡ của sân khấu cải lương.

Chuyện Bé Phượng

vietmessenger.com
Nhật Tiến
NGÀY NAY xuất bản 1964

Post by Sơn râu 10 Nov 2024

  1. Chương 6
    Bà Cécile chạy đi đầu theo sau là bà phước Hạnh, rồi đến bà Juliette. Con Dung vẫn lăn ra ở mặt hè, gang mồm lên khóc. Bà Phước Hạnh quát lên:
  • Nào, nào! Có muốn phá rối ở đây thì cứ khóc như thế nữa di.
    Con Dung nín bặt và nhỏm ngay dậy. Cặp mắt của nó ráo hoảnh nhưng nó vẫn làm ra bộ mình vừa phải chịu đựng một sự gì ghê gớm lắm. Bà Juliette nói:
  • Làm sao? Có chuyện gì xảy ra ở đây?
    Dung đáp:
  • Tự nhiên chị Thanh xuống đổ cho con là đồ ăn cắp, rồi chị ấy đánh con.
    Bà Juliette lôi tay con bé đi về phía cuối phòng. Bọn trẻ con ngồi hết cả dậy nhốn nháo. Bà Hạnh nói:
  • Thanh! Con mất cái gì?
    Thanh vẫn khóc và không ngẩng lên. Con Dung trả lời:
  • Thưa ma soeur chị ấy mất một quyển truyện. Quyển truyện giấu ở trong phòng xép để đồ.
    Bà Hạnh nhăn mặt:
  • Hừ, chuyện lạ thực đấy! Tôi chưa hề thấy một kẻ nào lại hoang phí đến độ thích vứt sách vào nhà để đồ hơn là cho vào tủ kính. Ai đã lấy ra như vậy?
  • Con không lấy! Con bắt được. Con định mang lên trình ma soeur thì chị ấy xuống đổ cho con là đồ ăn cắp.
    Vừa nói nó vừa tót lên giường, lật cái nệm và moi ra quyển sách. Cả ba bà phước cùng xúm lại. Bà Juliette lật ra đọc trước rồi bà chợt bắn người lên như chạm phải một con rắn độc. Bà vội vàng buông cho quyển sách cho rơi trên bàn tay của bà Phước Hạnh. Bà Hạnh liếc qua rồi cũng kêu lên:
  • Á… à…. bây giờ tôi mới hiểu bọn các chị ngoan ngoãn đến mực nào đấy!
    Còn bà Cécile thì lại nhún vai theo thói quen cố hữu:
  • Tại sao thế? Tại sao lại đến thế được nhỉ?
    Sau đó cả ba bà cùng quay lại nhìn Thanh như nhìn một con quái vật. Một lát, bà Juliette sau khi nuốt nước miếng ba bốn lần, mới cố gắng nói:
  • Chị Thanh! Đi rửa mặt rồi lên phòng giấy ngay lập tức.
    Nói xong bà quay gót đi ra giữa phòng. Bọn nhỏ lố nhố nhỏm hết cả lên làm cơn giận của bà như tăng lên. Bà quát lớn:
  • Nằm hết cả xuống hay là muốn treo cổ lên xà nhà!…
    Bọn trẻ như một đàn chuột túa hết về chỗ của mình. Căn phòng đang ồn ào đột nhiên yên tĩnh một cách lạ lùng. Chỉ có tiếng nấc của chị Thanh và tiếng gót giày lao xao của các bà phước đi về phía cửa phòng.,.
    Một lát sau Thanh bước vào phòng làm việc của bà phước Nhân, vẻ mặt của nàng cố làm ra vẻ bình tĩnh. Nàng giơ tay lên vuốt những sợi tóc dính nước mắt ở trên trán và má. Nàng nhìn các bà phước bằng cặp mắt thản nhiên, và chờ đợi.
    Nhưng lúc bà Nhân lấy ở ngăn kéo ra cuốn truyện tình nhảm nhí thì mặt Thanh đỏ bừng lên. Nàng vụt thấy rối loạn và không chịu dựng nổi những cái nhìn soi mói của các bà phước. Bà Nhân nói:
  • Cuốn này có phải của con không?
    Thanh im lặng, gật đầu. Bà Nhân tiếp:
  • Con lấy ở đâu ra?
  • Thưa mẹ, con mượn được.
  • Mượn của ai?
  • Thưa mẹ… một người quen ở trên phố.
  • Con ra phố vào lúc nào?
  • Thưa mẹ… một vài lần, con không nhớ.
    Bà Nhân quay về phía bà Hạnh:
  • Không biết nhiệm vụ của chị Thanh là làm những gì nhỉ?
    Bà Hạnh nhanh nhẩu:
  • Thưa mẹ bề trên, buổi sáng đi học lớp của bà Madeleine, buổi chiều pha sữa và thay lót cho trẻ ở salle số 9, sau đó tưới vườn và dạy hát cho lũ trẻ.
    Bà Nhân dịu dàng:
  • Mẹ không thấy một giờ nào rảnh rỗi để con bỏ đi ra ngoài phố cả. Mà có soeur nào được chị Thanh tới xin phép ra ngoài không đấy?
    Cảc bà phước đều đồng thanh:
  • Thưa mẹ, không!
    Bà Nhân nhìn Thanh khẽ nhếch một nụ cười. Bà Cécile hơi nhún vai quay đi. Còn bà Hạnh thì tiếp theo:
  • Thế nào, chị Thanh? Hình như tôi không nhớ nhầm về giờ giấc làm việc của chị đấy chứ?
  • Thưa ma soeur vâng.
  • Vậy chị hãy cho mẹ bề trên biết, bằng cách nào quyển sách đã lọt được vào đây?
  • Thưa mẹ soeur con không nhớ, con không thể trả lời được.
  • Phải rồi, chúng tôi cũng thông cảm được những cái «không thể» của chị. Vậy chắc chị cũng không thể kể lại cho mọi người nghe nội dung cuốn sách này thế nào phải không?
    Thanh mím môi.
  • Thưa ma soeur vâng.
  • Cũng được, không sao! Muốn kể lại hay không là quyền tự do của chị. Sự gò ép, bắt vào khuôn khổ đối với các chị chắc là bất công và vô lý….
    Thanh nức nở:
  • Thưa ma soeur… đừng… xin đừng buộc con vào những ý nghĩ như thế…
    Bà Hạnh đứng dậy, đổi giọng:
  • Tôi thật không hiểu các chị. Ở đằng sau lưng, các chị muốn tự do và đã tự do lộng quyền. Thế mà lúc nói ra cho các chị hiểu thì các chị dẫy nẩy lên như chúng tôi đã buộc tội oan cho các chị. Tôi tưởng ít nhất các chị cũng phải có can đảm thú nhận việc mình đã làm chứ.
    Bà Félicité vội đứng lên nói:
  • Thưa mẹ bề trên, chị Thanh đã tỏ vẻ nhận lỗi. Như thế con tưởng là đã đủ để cho chị ấy suy nghĩ về hành động của mình…
    Rồi bà quay lại phía Thanh dịu dàng:
  • Con hãy xác định với mẹ bề trên và các soeur như thế đi.
    Thanh nhìn bà ta bằng cặp mắt biết ơn rồi nói:
  • Thưa mẹ con nhận hết tội lỗi của con đã làm. Mẹ bề trên và các soeur hãy trừng phạt thẳng tay, nhưng xin đừng hỏi con bằng những lời như thế nữa.
    Bà Hạnh liếc nhìn bà Félicité rồi nhún vai đi ra cửa phòng. Tới ngưỡng cửa, bà quay về phía bà Nhân nói:
  • Thưa mẹ bề trên xin mẹ cho chúng con biết sẽ phải tuyên bố với lũ trẻ về việc này ra sao đây?
    Bà Nhân nói:
  • Hãy đừng tuyên bố gì cả! Ta muốn chị Thanh hãy tự xét xử lấy mình.
    Bà Félicité la lên:
  • Thưa mẹ… như thế không giải quyết được vấn đề gì cả. Chúng ta không nên bỏ rơi những kẻ đã đi lầm đường.
    Nhưng bà Nhân đã nhìn bà Félicité bằng cặp mắt nghiêm khắc, đoạn bà quay về phía Thanh nói:
  • Ta không trừng phạt chị nào cả vì các chị đã lớn và biết suy nghĩ. Nhưng ta cũng nhắc nhở cho con thấy rằng trách nhiệm giáo dục hàng mấy trăm con người của các soeur thật khó khăn và nặng nề. Chỉ một gương xấu của một cá nhân gây ra cũng đủ ảnh hưởng vô cùng tai hại đến những người khác. Bởi thế con nên hiểu rằng ta cũng không thể thiên vị một người để bỏ rơi tất cả những người khác đấy chứ?
    Thanh òa lên khóc. Nàng gật đầu nhiều lần mà không thốt nên được một lời nào. Bà Nhân đứng dậy, ấn cuốn sách vào tay nàng và tiếp :
  • Vậy thật là dễ dàng và ổn thỏa. Bây giờ con có thể giữ lại quyển truyện này mà không làm phiền một ai cả.
    Thanh cầm lấy và khóc to hơn. Bà Félicité thất sắc, đứng dậy tiến ra cửa phòng. Những bà khác cũng lặng lẽ đứng lên theo. Còn bà Phước Nhân thì thong thả lấy vạt áo lên lau cặp kính. Trong khi ấy Thanh vứt quyển sách xuống nền đá hoa và ngồi xuống ghế lấy hai tay ôm mặt. Quyển sách nằm văng ra ở ngay chân bàn. Những trang giấy cũ kỹ bị lật hẳn ra, phơi mình dưới vệt nắng chói chang đang xuyên qua từ khung cửa.