Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Quận Thủ Thừa mùa nước nổi

  1. Trên đường phiêu bạt chút tình lãng mạn
    Thấy các nghệ sĩ trẻ ngày nay được hưởng cuộc sống đầy đủ tiện nghi, tôi nhớ lại nửa thế kỷ trước đây, nghệ sĩ cải lương chúng tôi đã sống một cuộc đời du mục, rày đây mai đó, vui buồn theo con sông, bến nước, cuối chợ đầu làng. Ấm no hay đói rách nhờ vào khán giả và các Mạnh Thường Quân ở khắp mọi nơi.
    Còn nhớ mùa nước lụt năm 1950…
    Đoàn Tiếng Chuông Bầu Cang hát ở chợ Thủ Thừa, tỉnh Tân An, lúc đó khoảng cuối tháng 10 dương lịch, mùa nước nổi năm đó lớn quá, nước ngập vô tới chợ, ngập luôn trong rạp hát và hầm sân khấu. Trời lại mưa dầm luôn mấy ngày đêm, đoàn hát không hát được.
    Ông Bầu Cang chạy lo tiền cơm cho toàn đoàn ăn, ba ngày đã hụt hơi, ông nói phải về Sàigòn vay nợ rồi sẽ trở xuống mướn xe hay ghe tàu, đưa đoàn trở về Sàigòn. Nhưng ông về Sàigòn không vay được nợ hay vay được mà ông đã nướng hết vô sòng bạc Kim Chung nên ổng trốn luôn, để mặc cho vợ ông, cô Năm Phát (chị ruột của nữ nghệ sĩ tài danh Sáu Ngọc Sương) một mình lèo lái đoàn trong cơn khốn khó. Cô Năm Phát cầm cố nữ trang, chạy ăn từng bữa cho toàn thể nhơn viên trong gánh hát.
    Kép chánh Thanh Cao, đào chánh Ngọc An, kép độc Trường Xuân cũng phải cầm quần, bán áo để qua cơn túng ngặt. Đoàn không thể dời đi bến nào khác được vì nước ngập cả lộ số 4 (đường Sàigòn – Mỹ Tho), nên không mướn được xe tải hay xe hàng. Qua đến ngày thứ 8, mưa dứt hột, nước rút nhiều, trong quận đường xá còn nhiều sình lầy nhưng có thể đi tới đi lui trong phố chợ.
    Bà Năm Phát muốn mướn xe để dời đoàn ra tỉnh Long An, nhưng kép độc Trường Xuân đề nghị ở lại thêm mười ngày để hốt bạc rồi mới dời đi. Kép độc Trường Xuân nổi danh là Thầy Rùa (như Dư Hồng, thầy rùa trong tuồng Lưu Kim Đính sát tứ môn thành), có nhiều sáng kiến, nhiều mưu kế giúp đoàn thoát nguy nhiều lần, nên đề nghị lần nầy của Trường Xuân được mọi người lắng nghe mưu kế kiếm tiền của anh trong cơn thắt ngặt nầy.
    Anh nói:
    – Mấy bữa nay, tôi theo anh em dàn cảnh đi soi ếch, bắt cá để cải thiện bữa ăn, tôi gặp ông chủ tiệm thuốc Bắc ở đầu chợ, ổng nói mấy chú đi soi ếch, bắt cá khuya vậy, nguy hiểm lắm. Dù cho mấy chú lính trên đồn ở đầu cầu thông cảm cho mấy chú đi đêm, không bắt bớ, nhưng thằng Tây xếp bót ở đồn gần sân banh, đêm đêm nó thấy bóng đen là xả súng bắn liền. Mấy chú có thể làm công việc khác, kiếm tiền nhiều hơn để mua cá mắm, sao mấy chú không làm?
    Trường Xuân nói:
    – Tôi chỉ biết hát, mấy anh em nầy chỉ làm dàn cảnh, khuân vác đề co, đâu có nghề nghiệp gì khác.
    Ông cười, nói:
    – Mấy chú theo tôi, tới tiệm thuốc Bắc của tôi là biết liền hết.
    Trường Xuân kể tiếp:
    – Tới tiệm thuốc Bắc, ông biểu vợ ông nấu một nồi cơm lớn, canh chua cá sặc bướm với rau muống, thịt kho hột vịt, cá trê dầm nước mắm gừng cho chúng tôi ăn một bữa no nê. Tôi cẩn thận, vô công bất thọ lộc, hỏi ổng muốn chúng tôi làm gì mà đối xử trọng hậu như vậy? Ông biểu chúng tôi cứ ăn cơm no nê đi, ổng thấy gánh hát nghỉ hát nhiều ngày, anh em phải đi soi ếch, bắt cá, hái rau để có cái ăn, ổng thương nên muốn giúp một bữa ăn ngon thôi. Mấy anh em kia ăn thiệt tình, thật no, thật ngon, còn tôi thì băn khoăn hoài nên dứt bữa ăn, tôi nói:
    – Thực nhơn tài phải cứu nhơn tai, chúng tôi thọ ơn ông rồi, vậy ông cần gì thì nói thiệt với chúng tôi.
    Ông nói:
    – Mấy chú dọn cảnh là bày ra, dẹp vô cảnh trí trên sân khấu. Sẵn nước lụt, tiệm của tôi đầy bùn đất, rác rến mà chúng tôi không có sức để dọn dẹp. Mấy chú giúp dùm như dọn đồ hát trên sân khấu, tôi mua bán được, trả tiền công cho mấy chú, vậy hỏng tốt sao?
    Tôi còn do dự thì anh Sáu Dàn Cảnh nhận lời:
    – Mình giúp cho khán giả ái mộ, cũng là chuyện tốt mà!.
    Nói xong là mấy anh lấy vá, xuổng xúc bùn đất đổ ra ngoài sau hè, còn gánh nước rửa cửa tiệm sạch sẽ.
    Người trong xóm thấy có người trong đoàn hát tới giúp cho tiệm thuốc Bắc, họ khen mấy chú gánh hát tử tế, rồi họ đề nghị là tới giúp họ. Ngoài việc cho ăn cơm nước tử tế, trả tiền công trọng hậu, lại còn cho thêm gạo thóc, cá mắm. Bao gạo mà mấy anh em dàn cảnh đem về cho “thẩm khậu” nấu cơm cho toàn đoàn ăn, đó là của tiệm chạp phô ngoài phố tặng cho đoàn hát khi anh em tôi tới giúp họ vét bùn, sửa sang cửa tiệm.
    Ông chủ rạp hát nghe đồn anh em trong gánh hát giúp dân trong phố dọn dẹp nhà cửa sau cơn nước lụt bèn đến gặp chúng tôi, đề nghị anh em vét bùn, rửa sạch rạp hát của ông, ông cho hát một tuần lễ không lấy tiền mướn rạp, đồng thời ông bao trả tiền mướn máy đèn trong tuần lễ đó, ngoài ra còn cho căng một giây đèn nhiều bóng, chạy dài từ phố chợ vô rạp hát.
    Nên biết là ở quận Thủ Thừa trong những năm 1940, 1950, 1960, đèn trong quận chỉ được thắp sáng từ 6 giờ tối đến 10 giờ. Sau đó nhà đèn chỉ còn cho mấy ngọn đèn đường leo lét, đèn nhà câu trực tiếp của nhà đèn đều bị cúp. Những tiệm nước, tiệm bán ăn khuya phải thắp đèn manchon hoặc đèn dầu lửa.
    Ông chủ rạp hát chịu tốn kém như vậy để nhờ đoàn hát làm cho rạp hát của ông hoạt động trở lại. Vậy là tất cả anh em nghệ sĩ, công nhân sân khấu ra sức rửa cho sạch rạp hát, sàn diễn, hầm sân khấu và cả ghế khán giả.
    Tuần lễ đó, hát đông nghẹt khán giả vì dân trong phố có cảm tình với gánh hát. Tiền mướn rạp khỏi trả, lại hát complet nên lương anh em được gấp đôi, bà Năm Phát và anh em cũng có tiền chuộc lại nữ trang và đồ đạc đã cầm cố trong những ngày lụt lội vừa qua.
    Đêm hát đầu tiên, có cô thôn nữ tên Huệ (dường như là hoa khôi Thủ Thừa), lên sân khấu hò một câu tặng anh em trong gánh hát
    Hò ơ… Qua sông Vàm Cỏ Tây, em nhớ Thủ Thừa trong mùa nước nổi… ờ…ơ. ..
    Đường đi lầy lội,… nước cả mênh mông..
    Nghiêng nghiêng cánh cò soi bóng trên đồng…ờ…
    Thương anh kép hát….ơ…thương anh kép hát, gánh gồng giúp dân ơ….ơ…
    Khán giả vỗ tay hoan hô quá mạng, cô Huệ cúi chào rồi định bước xuống phòng khán giả, Trường Xuân đã hóa trang mặt làm tướng Mông Cổ, chạy ra: “Khoan…khoan! Cho tôi hò một câu đáp lễ.”
    Khán giả thấy ông tướng Mông Cổ hò Đồng Tháp, khoái quá, la lên tán thưởng: “Phải đó…Hò đi… hò đi…”
    Trường Xuân vuốt râu, trợn mắt, ráng gân cổ, hò:
    “Hò ơ… Gió lay lay, hương tràm bay bay thơm mặt nước … ờ…
    Vàm Cỏ Tây xuôi ngược lắm xuồng ghe…ờ…
    Xích lại gần đây anh nói em nghe… ơ…
    Chừng bao lâu nữa…ơ…ơ…chừng bao lâu nữa, em về với anh …ơ…”
    Tiếng anh khàn khàn, người mập, thấp lùn, lại hóa trang Mông Cổ mà hò Đồng Tháp, nghe cũng mùi mẫn, khiến cho khán giả vừa cười vừa vỗ tay hoan hô, có người la lớn: “Chịu hông… Chịu thì theo gánh hát luôn đi…”
    Cô Huệ mắc cỡ, che miệng cười, khoát khoát tay cho mọi người im tiếng, cô hò:
    Hò ơ…Em sẽ thăm anh khi tràm xanh nước nổi ờ…
    Còn chuyện duyên tình…ờ…ơ…xin chớ đợi chuyện trăm năm…ơ…
    Bướm vàng hút nhụy hoa tràm…ơ…bướm vàng hút nhụy hoa tràm, lấy chồng xứ lạ, em không đành xa quê em…ơ…
    Khán giả vỗ tay cổ võ, muốn cuộc hò đối đáp kéo dài, nhưng anh Tám Cao đã cho chuông reo báo giờ biểu diễn.
    Trường Xuân lui vô, màn hát bắt đầu, tướng Mông Cổ Trường Xuân đêm nay hát thật là hay, ca thật là mùi. Anh hy vọng vản hát sẽ gặp lại người đẹp, nhưng đêm đó anh ngồi trước cửa rạp hát với ngọn đèn dầu lù mù, bên chai rượu đế, chờ hoài… chờ hoài… nhưng bặt tin nhàn cá. Người đẹp không muốn lấy chồng xứ lạ nên biến mất trong cái đêm tối mù mờ của một quận ly bé nhỏ xa xôi.
    Mấy hôm sau gánh hát dọn đi, các nghệ sĩ đều vui vì thu nhập cao, vì được khán giả thương mến, chỉ có một người rất buồn, ngồi trên xe mà đôi mắt nhìn chằm chặp vào đám đông khán giả tiễn đưa. Trường Xuân mong thấy lại được nụ cười của cô gái hò đối đáp đêm trước, nhưng không thể nào thấy được.
    Xe qua cầu sắt, rời quận Thủ Thừa một đoạn đường khá xa, sắp đến con lộ số 4, Trường Xuân còn ngẩn ngơ như đã để quên con tim ở lại.
    Nửa thế kỷ đã qua, chút tình lãng mạn ngày xưa vẫn còn đọng lại trong lòng Trường Xuân!

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Những bửa cơm hội trên đường lưu diễn

  1. Long đong kiếp cầm ca, một thời ăn quán ngủ đình
    Xem internet, thấy đăng tin nghệ sĩ Kim Tử Long, Ngọc Huyền đi nước Úc, trình diễn cải lương (trong các quán rượu với những trích đoạn cải lương, chớ không phải hát trọn tuồng trong một rạp hát đàng hoàng ), tôi mừng cho các bạn trẻ ngày nay được đi diễn ở những nơi xa xôi bằng phi cơ. Thật là mau lẹ, tiện lợi.
    Bỗng nhiên tôi nhớ lại chuyện ngày xưa, cách nay hơn nửa thế kỷ…
    Hơn nửa thế kỷ trước, trong những thập niên 1940, gánh hát còn di chuyển bằng ghe. Bầu gánh, đào, kép chánh thì ở trong ghe chài lớn, mỗi người một phòng, có ngăn vách, có trải thảm trên sàn ghe, có bàn, ghế, tủ đựng quần áo hay vật dụng riêng. Diễn viên phụ, kép dàn bao, vệ sĩ, công nhân dàn cảnh thì ở chung một ghe khác, trải chiếu trên sàn ghe, trai thì ngủ tập trung phía trước mũi ghe; gái ngủ trong khoang ghe; dàn cảnh ngủ trên mui ghe. Thông thường di chuyển một hay hai ngày mới đến bến diễn, cơm nước mỗi ngày cho toàn đoàn là do “tẩm khậu” nấu. Khi diễn ở rạp hát thì ông bà Bầu, đào, kép chánh vẫn ở dưới ghe vì họ có phòng riêng, có đầy đủ tiện nghi; các anh chị đào, kép dàn bao, vệ sĩ hay công nhân sân khấu thì lên rạp hát ở. Họ ở dưới hầm rạp hay chờ khi vãn hát thì kéo ghế của khán giả, kê lại làm chỗ ngủ. Tắm rửa, giặt giũ hay vệ sinh là ngay trong rạp hát. Ban ngày nếu không có tập tuồng mới hay phải dượt lại tuồng cũ cho người thế vai thì thường thường anh em thả rong đi chơi. Những nơi có danh lam thắng cảnh như Huế có lăng tẩm, có đại nội, hay ở Nha Trang, Vũng Tàu, Đà Lạt, họ thường kéo nhau đi ngoạn cảnh.
    Dân chúng địa phương thấy đào, kép hát thật là sung sướng, thảnh thơi. Dạo phố thì họ ăn mặc thật đẹp; địa phương nào có món ngon, vật lạ thì dân cải lương có đến ăn thử, thưởng thức.
    Có người không thích du ngoạn, thích rượu chè, bài bạc thì tha hồ say sưa hay sát phạt nhau trong rạp hát. Cảnh sát ít khi vô xét rạp hát nên đào kép không bị bắt vì tội “tứ đổ tường”.
    Người ngoài chỉ thấy khía cạnh cuộc sống tự do, phóng khoáng của họ, chớ ít ai biết được là cuộc đời giang hồ lảng tử của đào, kép hát đã phải chịu gian khổ, chịu sự chèn ép bất công của những kẻ ỹ thế cậy quyền.
    Nếp sống vừa kể trên đây là nếp sống của những nghệ sĩ cải lương các đoàn hát lớn, các đại ban trong những thập niên 1940, 1950. Họ được lảnh lương đầy đủ theo tài năng, theo những xuất hát của Đoàn; việc ăn, ở, di chuyển, tập tuồng và biểu diễn trên sân khấu là do Bầu gánh, Quản Lý và Biện tuồng, Thầy tuồng lo.
    Cuộc sống rày đây mai đó, khi thì biểu diễn ở tỉnh này một tuần lễ rồi dọn đi nơi khác, khi thì ở huyện nọ vài ba hôm là đổi bến diễn; nơi nào có rạp hát, có sân bãi để diễn thì có mặt đoàn hát cải lương ở đó. Đoàn hát là một tổ chức có nề nếp, có tôn ti trật tự nên dù luôn luôn di chuyển, đoàn vẫn hoạt động rất hữu hiệu.

Một thời ăn quán ngủ đình
Ở các đoàn hát nhỏ, trung ban, tiểu ban thì phải nói là cuộc sống của anh em nghệ sĩ rất khó khăn. Người ngoài nhìn vào thì nhiều khi thấy thảm thương cho hoàn cảnh nghèo nàn của các nghệ sĩ đó, nhưng chính bản thân, họ thấy bình thường, đôi khi còn tỏ ra thích thú vì cuộc sống “không giống ai” của người nghệ sĩ.
Năm 1948, tôi theo đoàn cải lương Tiếng Chuông của Bầu Cang. Đó là một đoàn hát trung ban. Khi đi hát bán giàn các vùng xa như ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu thì ông Bầu mướn ghe chài trung, có tàu kéo nhỏ. Khi hát quanh quẩn ở các quận của tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Mỹ Tho hay Bến Tre thì ông Bầu mướn vài ba chiếc đò máy, hoặc nếu có đường lộ thông thương thì ông mướn xe tải, xe đò.
Vận chuyển bằng đò máy hay xe tải nhỏ, anh em trong đoàn hát phải ngồi chen chúc với nhau, đôi khi phải ở trên mui một số người. Khi đến gần bót gác, xe ngừng lại, anh em trên mui xuống đi bộ, qua khỏi bót một đổi, lại lên mui xe mà ngồi.
Có lần, sau đêm diễn ở quận Vũng Liêm, dọn qua chợ Tam Bình, đi đến gần ngả ba lộ tẻ, anh em phải xuống xe đi bộ, qua khỏi bót gác mới lại lên xe. Anh Tám Cao, kép chánh, Trường Xuân, kép độc, ngồi trong xe, cảm giác mệt mỏi, bèn theo các anh dàn cảnh trên mui xe, xuống đi bộ một khoảng đường cho thoải mái. Khi anh em trở lên xe chạy tiếp, đến chợ Tam Bình, xem lại thì không có mặt anh Tám Cao và Trường Xuân. Cả hai khi xuống xe nơi ngả ba lộ tẻ, thấy có gánh bán ốc gạo ở vệ đường, bèn ngồi xuống ăn ốc gạo, uống vài ly rượu đế. Không biết ăn ốc gạo ngon cỡ nào mà hai anh quên cái chuyện phải trở lên xe để đi tiếp. Còn tài xế xe thì chỉ kiểm điểm những người trên mui, hể đủ thì chạy, quên trong xe thiếu hai người. Tám Cao và Trường Xuân không đón xe được, đành phải lội bộ.
Đêm đó hát tuồng “Trộm Mắt Phật”, Trường Xuân đóng vai A Bu, đi cà nhắc vì lội bộ bị phồng chân. Còn Tám Cao thủ vai A La Đanh, thỉnh thoảng bỏ chạy nhanh vô buồng, bỏ mặc cho A Bu hát cương một mình vì Tám Cao ăn ốc gạo, bị Tào Tháo rượt.
Hát ở quận Tam Bình, đoàn hát bao nhà lồng chợ bằng cà-tăng, lấy thùng phuy xăng kê chen lại, gác ván lên làm sân khấu. Tối lại, khi vãn hát, một số đào kép phụ thì ngủ lại trong chợ, số đào kép chánh, kép độc Trường Xuân và ông bà Bầu thì ở trong đình Thuận Hóa gần bờ sông.
Thời buổi này đang còn chiến tranh, lính “Bạt-ti-dăng” dặn là đêm tối, bất cứ ai cũng không được đi ngoài vòng rào đình. Những người ngủ ở trong chợ thì cũng không được đi ra khỏi chợ trước khi trời sáng vì họ sợ Việt Minh lẻn vào gây rối.
Trong đình ẩm ướt, nhiều bụi bặm, mùi mốc đến khó thở, cô đào trẻ đẹp nhứt của đoàn là Ngọc An kêu mấy anh dàn cảnh che bốn tấm panneaux bao quanh ghế bố của cô sát phía vách sau của đình để cô ngủ.
Đêm đó, lính Bạt-Ti-Dăng đi tuần, thấy có bóng người bò bò gần gốc cây da sau đình, lớn tiếng hỏi: “Ai? Đứng lại! Nếu chạy tôi bắn!” Bóng đen vụt chạy vô sau đình, lính bắn một cái đùng, bóng đen phóng vô dàn panneaux che chỗ ngủ của Ngọc An nghe cái rầm. Ngọc An đang ngủ, bị panneaux đè, tưởng bị cướp, phát la lớn: “Bớ mã tà, bớ cảnh sát, cướp! Cướp!”. Bóng đen bụm họng Ngọc An, năn nỉ: “Đừng la! Qua đây nè em!”
Lính rọi đèn pin vô đình, hò hét, quát tháo, bảo ông Bầu bắt người lạ mặt mới chạy vô đình giao cho bót. Ông Bầu cho đốt đèn manchon cho sáng để lính vô xét. Đào kép ngủ trong đình phải ngồi xếp hàng dưới đất để lính với ông Bầu điểm danh. Ồng Bầu phân trần: “Đâu có người nào lạ mặt chạy vô đây!”
Chúng tôi đều biết vắng mặt một người, nhưng vì có lính ở đồn tới xét nên chúng tôi im lặng, không muốn rắc rối. Bỗng chị Tám Cao phát la lớn: “Rồi, tôi biết là thằng nào mới chạy đó. Mấy chú xách đèn theo tôi, đi bắt bợm!”
Tôi kéo tay chị Tám lại, nói: “Chị Tám, bộ chị mớ ngủ hay sao mà nói gì kỳ vậy”?
Chị Tám vẫn la lớn: “Thằng chả! Tôi biết là thằng chả đi o mèo, bị bắt quả tang nên chạy đó, chớ chẳng có ai trồng khoai ở đất này”.
Ông Bầu, lính và chúng tôi theo chị Tám ra sau đình, rọi đèn thấy Tám Cao đang ngồi chung ghế bố với Ngọc An, mền quấn ngang bụng.
Chị Tám la: “Đó! Đó! Tôi nói có sai đâu. Tổ nghiệp ơi Tổ nghiệp! Ngó xuống mà coi! Đã có vợ có con mà còn đèo bòng thêm vợ bé vợ mọn. Tổ nghiệp ơi, coi nó giựt chồng tôi nè Tổ nghiệp.”
Chị Tám ôm mặt khóc bù lu bù loa. Ngọc An cũng khóc, kêu oan. Ông Bầu bảo Tám Cao phải khai thiệt, đừng để rắc rối trong đoàn.
Tám Cao tức quá, nhảy xuống đất, quăng cái mền ra, xây lại: “Đây nè! Một quần đây nè! Tao ăn ốc gạo, bị phá bụng, ra gốc da, tính xổ bầu tâm sự, mấy ổng thấy bóng đen, mới kêu lên là bắn liền, hỏng chạy núp vô đây thì núp ở đâu?”
Ông Bầu với mấy chú lính ôm bụng, cười bò ra. Ngọc An được giải oan, khóc ồ ồ: “Đó! Rồi ai lo giặt mùng, mền, ghế bố cho tôi? Ổng xổ đầy ra đó. Tôi sợ mấy ông lính nên cắn răng mà ngồi chịu trận, vậy mà chị Tám còn chưởi bới tôi nữa. Ngày mai, tôi về Sàigòn, hỏng hát nữa…”
Chị Tám ghen ẩu, mắc cỡ, nói lảng chuyện khác: “Đi! Ông Nội! Đi tắm rửa rồi tôi lấy quần áo cho mà thay. Ngày mai, mướn người ta giặt đồ, đền bù cho Ngọc An.”
Vợ chồng Tám Cao kéo nhau đi ra ao nước trước đình, mấy chú lính biểu xách theo chiếc đèn manchon. Bà Bầu biểu Ngọc An vô ngủ gần bà, ngủ trên cái ghế trường kỹ trước bàn thờ thần Thành Hoàng Bổn Cảnh.
Trường Xuân nheo nheo đôi mắt, nói với tôi bằng một giọng buồn buồn:
– Cái thân mình Ăn Quán Ngủ Đình, trong lúc chiến tranh, rắc rối sơ sơ vầy là có Tổ nghiệp phù hộ cho, chớ nếu không thì phát súng ban nảy làm cho Tám Cao đổ ruột, chớ không phải sợ tới “vãi” ra một quần như vậy đâu.

Chỉ Có trong Giấc Chiêm Bao, Mới Có Đi Ăn Tiệc!
Số diễn viên phụ, các công nhân sân khấu, ngủ tại chợ thì còn nhiều chuyện nhiêu khê.
Vãn hát thì đã hơn 11 giờ khuya, loay hoay rửa mặt, thay đổi xiêm y, ăn uống xong, dọn dẹp để ổn định chỗ ngủ thì cũng hơn 12 giờ. Người nào cũng tranh thủ ngủ ngay vì sau đêm hát quá mệt, họ cần ngủ để lấy lại sức khỏe.
Nhưng mới 5 giờ sáng hôm sau thì người mua kẻ bán ở chợ đã tấp nập, ồn ào. Những ai trong đoàn hát ngủ trong chợ thì giờ chợ nhóm cũng phải thức dậy, dù ngủ chưa đã thèm, họ vẫn phải cuốn mền, xách gối, dẹp mùng, kẻ nào còn buồn ngủ quá thì vô đình, làm thêm một giấc.
Ai có tiền thì lại quán cà phê, làm một cái xây chừng (tức là ly cà phê đen nhỏ).
Trong đoàn có một em vệ sĩ (chuyên đóng quân) tên Sáu, có biệt danh là Sáu Đá, vì em ngủ mê, muốn đánh thức, phải đá đít ít nhứt là sáu cái đá, em mới chịu dậy. Vì biết tật mình mê ngủ, em Sáu Đá lúc dọn tới bến diễn mới là em dành chỗ ngủ trước, trải chiếu, dành phần.
Khi đoàn hát di chuyển bằng ghe thì em ngủ dưới ghe, nơi mà em có thể ngủ tới bao lâu cũng được. Hát đình, hát chợ thì em dành chỗ dưới gầm sân khấu; dù nhóm chợ hay cúng đình, chỗ đó cũng được an toàn, không ai tới đuổi em đi.
Hát ở chợ Tam Bình lần này, em theo xe chở đồ dàn cảnh, xe hư dọc đường nên gần sáu giờ chiều mới đến bến diễn, những chỗ ngủ tốt thì các anh em tới trước đã dành hết rồi, em đành chọn thớt thịt trong chợ làm chỗ ngủ để qua đêm.
Thớt thịt rộng, dài như bộ ván nhỏ, tuy còn hôi mùi thịt mở, nhưng em lấy banderole cũ trải lên, rồi thêm một chiếc chiếu lên trên nữa thì giống như một bộ ván gỏ của nhà giàu, em nằm được thẳng lưng, ngay cẳng, khoái quá, em cười hô hố rồi la lớn: “Bữa nay trẩm ngự giữa long sàng. Quân bây có nhậu thì nói cười nho nhỏ cho trẩm an giấc điệp, nghe không?’
Vài phút sau là nghe tiếng ngáy ồ ồ…Sáu Đá ngủ say mê, tưởng chừng trời long đất lở, em cũng bất cần.
Tối đó, cô Lệ Thắm, vợ của Tuấn Sĩ nấu cháo vịt, đánh tiết canh để vãn hát bán cho anh em trong đoàn. Tuấn Sĩ, Hề Lòng, Văn Bảnh, Thu Cúc rủ tôi ở lại nhà lồng chợ để ăn cháo vịt, nhậu đế và đàn ca rỉ rả chơi, có ông xếp bót và vài chú lính tới nhậu nữa. Tôi không thể từ chối, đành ở nhậu xã láng một đêm, tới sáng vô đình, chun dưới bàn thần để ngủ bù vì ban ngày không có tập tuồng nên không sợ mệt.
Đêm đó, Năm Khạp đờn kìm, Ngọc Sáu đờn cò, Tuấn Sĩ, Hề Lòng, Lệ Thắm, Thu Cúc ca thật là mùi. Ông xếp bót ngứa miệng, cũng ca bản Xuân Tình: “Tống Tửu Đơn Hùng Tín” hơi ca rỗn rãng, chắc nhịp. Khi ông ta kêu “Bớ Trình Giảo Kim!” tụi tôi năm sáu người có mặt, rượu vô ngà ngà rồi nên hè nhau: “Dạ, có đệ đây, hiền hữu có điều chi dạy bảo?”
Ông xếp cao hứng, ca hết bài này tới bài khác. Rồi ổng bảo 1ính ca… Ông nói:
– Tụi bây hát hồi tối rồi, khuya này để gánh bầu Tèo của tụi tao ca. Bây lo ăn cháo, nhậu lai rai, nghe hát nhớ vỗ tay. Tao ca mà hỏng vỗ tay, tao bắt vô bót, tao cạo đầu bây đó.
Cuộc vui không kể giờ giấc. Trong xóm có tiếng gà gáy nhìn ra bốn hướng đường dẫn tới chợ, nhiều ngọn đèn dầu nhấp nháy như sao trời một tối không trăng…Bạn hàng chợ, bưng hay gánh hàng, mỗi người đều phải cầm một cây đèn dầu, đèn cóc hay đèn bão để chứng minh mình là người dân chơn chất làm ăn.
Những chùm ánh sáng vàng le lói đó như bị hút về hướng chợ, càng lúc càng nhiều. Tiếng bạn hàng chợ càng lúc càng ồn ào hơn; chúng tôi thu dọn mùng, mền, chén dĩa, ly nhạo để trả chợ cho người mua kẻ bán.
Trời sáng dần. Tôi nghe tiếng một chú chệt la: “Hầy! Lứ dậy li chứ. Lứ ngủ hoài Úa nàm sao bán thịt? Dậy li! Chả thớt thịt cho Úa. Chời ơi, ngủ hoài, kêu hỏng dậy.”
Tôi biết là Sáu Đá ngủ trên thớt thịt, ông Tàu kêu mà em ngủ say quá, không thức dậy nổi. Hề Lòng nói: “Để tôi đá vô đít nó sáu đá thì nó mới thức dậy”.
Tôi bảo: “Đừng, nếu nó không thức thì tụi mình hè nhau khiêng nó vô đình cho nó ngủ tiếp. Khi nào ngủ đã rồi thì nó dậy, khỏi kêu.”
Lệ Thắm bước tới ra dấu cho chú chệt khỏi nói khỏi la nữa, cô mua một miếng thịt heo quay, cầm thịt heo quay nhử nhử trước mũi, miệng của Sáu Đá. Chúng tôi tới gần coi Lệ Thắm làm gì. Trong thâm tâm, tôi không muốn cho Lệ Thắm đùa như vậy, vì tôi cảm giác như chính mình bị xúc phạm. Tôi cũng “Ăn Cơm Cải Lương “, dân cải lương ngủ đình, ngủ chợ đã là một sự sỉ nhục, phù hợp với cái thành kiến muôn đời “xướng ca vô loài”. Nay đem thịt heo quay thơm phức, nhử trước mũi, nếu trong giấc mơ, Sáu Đá liếm mép, hay cắn đại một cái, có phải là người trong giới mình đi bêu rếu mình không? Tuy nhiên con người soạn giả, tâm hồn một nhà văn trong tôi, lại muốn để yên để xem một con người đói ăn, đói uống, đói ngủ thường trực sẽ phản ứng ra sao trước cái cám dỗ của vật chất, nhất là trong lúc ngủ, nghĩa là trong lúc mình không ý thức được việc làm của mình.
Tiếng cười ồ và tiếng vỗ tay của những người chung quanh cắt đứt giòng tư tưởng của tôi. Em Sáu Đá trong giấc mơ, tưởng đang ăn tiệc, nên em liếm mép, rồi đưa tay cầm miếng thịt heo quay, cắn, nhai một cách ngon lành. Tiếng cười nói ồn ào cộng với vị mặn của thịt heo quay đã đánh thức em. Sáu Đá ngỡ ngàng ngó mọi người, xấu hổ vì ngủ giữa chợ, trước mắt một đám đông, nên lồm cồm ngồi dậy, quơ tay ôm chiếu, mền, banderole, tay kia vẫn cầm miếng thịt heo quay, vừa cắn vừa đi về phía đình như không có chuyện gì xảy ra cả.
Mọi người chứng kiến việc vừa rồi coi như tấn tuồng đã chấm dứt, người mua kẻ bán trở lại với sự bận tâm của họ. Chú chệt bày thịt ra thớt, cầm dùi sắt, mài dao nghe ren rét. Tôi cảm giác như dao cứa vào trái tim của tôi, đau nhói. Tôi đi về phía đình, kêu Sáu Đá lại hỏi:” Tại sao lúc nảy em ăn miếng thịt heo quay đó mà không hỏi là của ai? Em đã thức rồi mà còn giả vờ ngủ để được ăn heo quay, phải vậy không”?
Sáu Đá ngơ ngác, không hiểu tại sao tôi hỏi với vẻ bực tức. Em nói:
– Em nằm mơ, thấy được ăn thịt heo quay nhân ngày giổ Tổ. Vậy đó, em ăn. Chỉ trong dịp giổ Tổ, tụi em mới có thịt heo quay ăn, hỏng phải vậy sao Chú?
Tôi im lặng, đau thắm thía trước cái thực tế phủ phàng của một kiếp nghệ sĩ nghèo.
Sáu Đá vẫn vô tình, bồi thêm một câu:
– Em ngủ hoài muốn nằm chiêm bao. Trong giấc chiêm bao mới được đi ăn tiệc, mới được lên xe xuống ngựa. Nhiều khi thức giấc rồi, em cũng nhắm mắt để nhớ lại trong chiêm bao, mình sung sướng như thế nào.
Tôi bỏ ra bờ sông, ngồi suy nghĩ một mình. Đêm rồi thức trắng đêm vì các bạn và vì ông xếp bót muốn đờn ca tài tử. Bây giờ thấm mệt nhưng tôi không tài nào ngủ được vì câu nói vô tình của em Sáu Đá “Chỉ có trong mơ, em mới hưởng được sự sung sướng “.
Dòng sông nước chảy lờ đờ. Một giề lục bình trôi dật dờ như phiêu lưu vô định, vướng cọc tre, tấp vô bờ. Nước lớn, lục bình trôi vô, nước ròng, lại trôi ra; cuộc đời nghệ sĩ có giống như giề lục bình kia không?
Hơn năm mươi năm sau, tôi có được câu trả lời:“Cuộc đời của mình do bàn tay và khối óc của mình quyết định, chớ không buông xuôi trôi theo con nước như giề lục bình vô tri kia. ”
Chuyện em Sáu Đá đã hơn năm mươi năm qua rồi, nếu ngày nay em còn sống, chắc cũng gần 70 tuổi rồi. Cải lương sau những thập niên 60, 70, có nhiều người được sống sung sướng, có xe hơi, nhà lầu, có danh vọng, được xã hội thương mến và nể phục. Nghệ sĩ cải lương đã có một thời vàng son, nếu nằm trong mơ cũng chưa chắc gì biết hết được.

Chuyện Bé Phượng

vietmessenger.com
Nhật Tiến
NGÀY NAY xuất bản 1964

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

  1. Chương 10-Cuối
    Đến chiều, bà Felicité với hai con mắt sưng mọng tiến vào phòng nói với một vẻ mệt nhọc:
  • Các con có ai tình nguyện muốn đi vào thăm Alice không?
    Cả bọn nhìn về phía Dung như chờ con bé, chưa trả lời. Nhưng Phượng nói ngay:
  • Thưa ma sœur con xin đi.
    Bé Hà nói tiếp:
  • Thưa ma sœur, con nữa.
    Con Hằng định giơ tay thì bị Dung cấu nó một cái thì thào:
  • Đồ mọi đen ấy thì mày bám đít nó để làm gì?
    Con Hằng vội rụt lại. Bà Felicité nhìn quanh một lượt rồi nói với Hà, Phượng:
  • Hai con hãy sửa soạn áo ấm rồi lên bàn giấy. Đêm nay các con ngủ lại với Alice.
    Phượng nhẩy ngay lại phía tủ của mình. Nó moi ra được một cái áo dạ cũ, trong khi Hà tìm được một cái áo len mầu xanh. Chúng nó yên lặng đi qua những cái giường sắt trước các cặp mắt hối tiếc của lũ trẻ. Hằng giận dỗi:
  • Tại mày…Dung ạ. Đáng lẽ tao cũng được đi.
    Nhưng con Dung đã nằm úp nghiêng mặt xuống gối. Sự thực nó cũng tiếc rẻ như thế. Được ra khỏi viện cả ngày lẫn đêm, đứa nào mà không thích?
    Alice nằm thiêm thiếp ở trên giường. Đầu và chân tay nó bị băng che gần kín mít. Phượng chỉ nom thấy có hai lỗ mũi phập phồng và hai vành môi sưng húp lên. Dưới ánh đèn vàng úa, nom nó như một con quỷ mới chui ở mồ lên. Chị Quỳnh ngồi đọc kinh ở phía chân giường. Hai bên má của chị thỉnh thoảng lại có một giọt nước mắt lăn tăn chảy xuống. Bàn tay búp măng của chị thỉnh thoảng lại vỗ nhẹ lên người Alice mỗi khi nó rên rỉ, cựa mình. Bà Felicité ngồi thu mình trong một góc tối. Cặp mắt của bà nhìn không chớp vào bức tường hẹp chắn ngay trước mặt. Miệng bà lầm rầm cầu kinh. Có lúc bà ngẩn người ra rất lâu, cỗ tràng hạt hờ hững chực rơi khỏi bàn tay, và bà nói một mình:
  • Đáng lẽ tôi không được nhắc tới Thu Thu trước mặt nó. Lạy Chúa xin Ngài tha thứ cho kẻ có tội…
    Bỗng nhiên Alice cựa mình. Hai cánh tay trắng toát của nó quờ quạng về đằng trước. Cặp môi của nó mấp máy một cách cố gắng. Nó gọi phều phào:
  • Chị Thu Thu…chị Thu Thu đâu rồi?
    Chị Quỳnh bấm Phượng. Phượng vội để tay lên má Alice và nói:
  • Thu Thu đây.Thu Thu vẫn đang ngồi ở cạnh Alice.
    Alice mỉm cười. Nhưng vành môi của nó bị méo đi nom như mếu. Nó lần tay một lát và nắm được bàn tay Phượng. Nó nói:
  • Thế mà bà Hạnh bảo Thu Thu đi rồi. Em định chạy về tìm chị. Thế rồi em bị…
    Nghỉ một lát nó tiếp tục nói:
  • Nhưng cần gì. Miễn là chị không đi. Chị ngồi ở đâu đây?
    Phượng mếu máo:
  • Ở đây…ngay trước mặt Alice
    Bàn tay Alice lại cố gượng nhác lên. Nó xoa nhè nhẹ lên cánh tay của Phượng rồi nói:
  • Em hết buồn rồi. Em hứa với chị em không chạy như thế nữa đâu. Hôm nào gặp các ma sœur, chị xin tha lỗi cho em. Em hứa…Em chừa…
  • Được rồi, đừng lo Alice ạ. Các sœur sẽ tha thứ cho Alice. Các sœur yêu Alice vô cùng.
  • Chị nói thật không?
  • Thật chứ, ai mà ghét Alic cho được.
    Alice khẽ nhếch một nụ cười:
  • Không phải thế đâu. Em biết. Em không được giống như các chị. Em xấu!
    Phượng bịt tay lên môi Alice:
  • Đừng có nói nhảm. Rồi Alice sẽ thấy rằng không ai ghét Alice cả. Bây giờ chúng ta kể chuyện cho nhau nghe nhé.
    Alice khẽ nhích đầu ra hiệu bằng lòng. Nó tiếp:
  • Chị kể chuyện Hằng Nga đi, chị Thu Thu.
    Phượng vừa lau nước mắt, vừa kể:
  • Ngày xưa có một ông vua hiếm con chỉ sinh được một nàng công chúa xinh thật là xinh…
    Alice vụt bật lên khóc. Lời kể không giống như nó đã từng nghe. Nó nhớ đến những lời bắt đầu câu chuyện mà Thu Thu vẫn kể và nó đã thuộc lòng.
    Tiếng khóc của nó làm Phượng im bặt. Phượng không kể thêm được tiếng nào nữa. Rồi nó cũng bật lên khóc. Nước mắt của nó thấm ướt cả lần băng trắng trên mình Alice. Chợt Alice nín thinh và sờ tay lên má Phượng. Một lát nó nói:
  • Em không khóc nữa rồi. Chị kể nốt cho em nghe đi. Chị là chị gì nhỉ?
    Phượng lau nước mắt rồi nói:
  • Phượng!
    Alice mỉm cười và Phượng bắt đầu kể lại. Giọng của Phượng cũng êm ái và dí dỏm. Nhưng nó cũng không làm cho mặt Alice được tươi hơn. Ngay cả đến đoạn Hoàng tử lạc vào rừng đánh thức công chúa, Alice cũng không còn thấy sung sướng nữa. Nó đã bắt đầu giấc ngủ. Giấc ngủ mà Hằng Nga không bao giờ tỉnh dậy. Bởi vì không có một hoàng tử nào trở lại đánh thức Alice trong ngôi mộ trắng xóa của nó ngoài nghĩa địa.

Chuyện Bé Phượng

vietmessenger.com
Nhật Tiến
NGÀY NAY xuất bản 1964

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

  1. Chương 9
    Mỗi buổi sáng chủ nhật, bọn trẻ mồ côi được dẫn ra vườn hoa ngoài phố một lượt. Bọn chúng nó phải xếp thành một hàng dài. Ba Juliette đi trước dẫn đầu, đám trẻ lũ lượt theo sau. Hai bên hàng ngũ, các chị lớn như chị Quỳnh, chị Giang, chị Thúy luôn luôn đi lên hoặc đi xuống giữ gìn trật tự. Bọn con Dung bao giờ cũng om sòm nhất. Mặc dầu cả bọn được xếp hàng hai cho bớt nói chuyện, nhưng Dung bao giờ cũng thu hút được sự chú ý của mấy dẫy hàng trên cũng như mấy dẫy hàng dưới. Nó làm như chuyện gì nó cũng tỏ, sự gì nó cũng hay. Nó có thể giảng giải cho tất cả nghe những điều gì mà bọn chúng nó thắc mắc khi gặp ngoài phố. Nhưng tất nhiên, phần lớn những điều nó nói đều do nó bịa một cách láo khoét cả.
    Thường thường bọn trẻ được dẫn đến một vườn hoa rộng trong thành phố, có khi tới một xưởng thủ công nghề làm đồ gỗ, thổi chai, làm khuy, gò xoong chảo, cũng có khi chúng nó được nô đùa trong sở bách thú giữa những thảm cỏ rộng và bóng mát của vườn cây.
    Bọn trẻ được chia thành nhiều lớp nhỏ. Có lớp chạy nhảy dưới sự trông nom của các chị lớn, có lớp đi theo bà phước nghe giảng giải cách sống tập đoàn của loài voi, hay cách săn mồi của một con báo. Trong lúc ấy Thu Thu và Alice tha thẩn trên con đường đất nhỏ, đuổi theo những con bướm sặc sỡ chập chờn trên các cụm hoa, hoặc chúng nó lại bó gối ngồi với nhau trên rễ một cây lớn để thủ thỉ chuyện ngày xưa.
    Nhưng rồi có một ngày chủ nhật Thu Thu được các bà phước gọi lên văn phòng trong khi bọn trẻ tiến ra ngoài cổng. Alice ngẩn ngơ nhìn gót chân xinh xắn của bạn lúc rời hàng ngũ đi theo lối lát xi măng tiến lên thềm đá.Thỉnh thoảng Thu Thu lại quay lại vẫy Alice và mỉm cười. Nó không biết cuộc đời của nó đang tới một khúc quanh lớn. Một bà sang trọng tới xin Thu Thu về làm con nuôi. Bà ấy đón Thu Thu bằng một chiếc xe lộng lẫy.Và bà ấy cúng vào quỹ cô nhi một món tiền xứng đáng. Như thế, Thu Thu không có lý do gì từ chối lệnh truyền của các bà phước.
    Nhưng kẻ ở lại mới chính là nạn nhân của những vụ như vậy. Tội nghiệp cho Alice. Nó không biết rằng cái giây phút Thu Thu tuột khỏi tay nó để ra khỏi hàng ngũ là giây phút cuối cùng nó được gần gũi Thu Thu. Nó tin tưởng sau chuyến đi chơi miễn cưỡng ấy trở về nó lại được Thu Thu bênh vực trong những chuyện hà hiếp nhỏ mọn của lũ trẻ, và nhất là lại được Thu Thu kể cho nghe những câu chuyện cổ tích.
    Trong suốt buổi sáng hôm ấy, mặt Alice buồn thỉu buồn thiu. Nụ cười hồn nhiên hàng ngày biến mất trên vành môi dầy tụp của nó. Giữa những tiếng cười vui vẻ, Alice thấy mình trở nên hoàn toàn cô độc. Nó không thích cho ai lại gần ngay cả các chị lớn tỏ lòng thương hại nó bằng cách đề nghị dẫn nó đi quanh vườn hoa và kể chuyện, nó cũng từ chối. Bà Felicité nói với nó:
  • Hãy đứng lên đi nào, Alice!
    Con bé không nghe lời làm mặt bà ấy nhăn lại:
  • Alice, ta bảo đứng dậy!
    Alice miễn cưỡng đứng lên, khuôn mặt của nó vẫn nhìn cắm xuống đất. Bà Felicité đẩy nó ra giữa bãi cỏ rồi nói to:
  • Tất cả cùng chơi trò cò bay, chim bay!
    Bọn trẻ đang reo hò truyền nhau quả bóng vội vàng dừng lại. Chúng nó nhìn hết cả về phía Alice. Con Dung hét:
  • Ê! Mọi đen! Hôm nay không bám đít ai được nữa phải không?
    Bà Hạnh trừng mắt lên nhìn khiến nó vội che tay lên mồm. Nhưng bà Felicité đã tiến lại gần, cốc lên đầu con bé một cái nên thân khiến cả người nó rúm lại. Nó nói liến thoắng:
  • Giê-su ma, thưa ma sœur. Con hứa. Con chừa.
    Nói xong Dung vừa hậm hực nhìn Alice vừa đưa tay lên xoa đầu. Bà Felicité dịu dàng nói:
  • Cho Alice vào giữa, Alice được nói trước. Còn tất cả quây thành vòng tròn.
    Nhưng chỉ có bọn trẻ làm theo lời bà. Còn Alice bắt đầu rươm rướm nước mắt. Bà Filicité phải tiến lại gần nắm lấy tay nó:
  • Nào, vui lên chứ Alice. Không có Thu Thu thì đã làm sao nào?
    Bà Hạnh nói:
  • Hãy quên nó đi! Nó không trở lại nữa đâu. Hôm nay có người xin nó ra rồi.
    Con Alice òa lên khóc rồi vùng chạy. Bà Hạnh hét lên:
  • Đứng lại! Alice! Alice! Đồ dơ dáy cứng đầu.
    Nhưng con bé đã băng người qua những thảm cỏ và tiến ra phía những con đường nhựa lớn. Tất cả mọi người cùng nghe thấy tiếng đụng dữ dội và tiếng phanh xe chát chúa. Mặt bà Felicité xám ngắt như chàm đổ. Còn bà phước Hạnh thì ôm hai tay lên mặt của mình rên rỉ:
  • Giê su…Giê su ma…. lậy chúa tôi..

Những ngày xưa thân ái

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau-thuymyrfi.blogspot.com
Posted on November 7, 2024

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Xe chở chúng tui đến một cái “hangar” làm thủ tục “xuất ngoại” một cách quái dị. Xạ thủ mang thông hành của Bộ Quốc Phòng Mỹ nhưng chẳng ai thèm coi, mà chỉ đòi coi “sự vụ lịnh” (travel order) dài lê thê nói mình sẽ đi đâu.
Mình biết trước là hành lý sẽ bị soi quang tuyến nên mấy con dao găm đẹp mua ở PX cất kỹ trong hành lý, sẽ được bọc lưới cột trong kiện hàng để trên mấy tấm nhôm pallet. Nhưng khi nhân viên rọi quang tuyến thấy đồ chơi lạ nên bắt xạ thủ mở mấy bao hành lý để kiểm tra. Họ thấy mấy con dao găm sáng ngời hào quang. Đám sĩ quan xếp hàng đứng sau lưng mình trố mắt ngạc nhiên vì thấy cha nội Á Châu lù khù lại chơi toàn dao găm có răng cưa.
Mấy anh lính kiểm tra cười toe toét thú vị. Một anh cười cười giải thích: Sir, ông không được cất dao trong hành lý gởi trên pallet mà phải mang trong người. Chèn đét ơi sao lọa rứa nè. Ảnh giải thích thêm là trách nhiệm giữ lấy đồ chơi của mỗi người, vì nếu có thằng nào chán đời nó sẽ chôm dao găm của ông để quyên sinh thì sao. Ờ nghe cũng có lý.
Chiếc C130 chỉ chở có mười mấy hành khách, toàn sĩ quan tá, úy, và hạ sĩ quan, không có lính. Có lẽ họ đi phép xong giờ ra tuyến đầu hay nhận nhiệm sở mới. Họ ngồi im lặng ít nói, vài người nhìn vào điện thoại coi phim và cười cười.

Người đồng môn đi chung với xạ thủ là một cô Đại úy 26 tuổi tốt nghiệp trường Võ Bị West Point. Cô gợi chuyện: Sir, ông có cảm thấy hưng phấn hong? Mình thành thật trả lời mấy tuần trước thì có, nhưng bi giờ thì ưu tư vì hỏng biết sẽ thực hiện công tác như thế nào nữa, khó chớ hỏng phải dễ. Còn cô thì sao? Cô Đại úy tự tin “Tôi cảm thấy háo hức”. Ừa ngựa non háu đá là đây. Lần đầu đi đến nơi có chiến tranh mà. Cô chỉ làm công tác bình thường, còn mình đảm trách công việc khó khăn bí mật hơn.
Máy bay C130 chúi mũi trong đêm tối rồi rú ga rung lên bần bật. Xạ thủ choàng tỉnh. Thì ra ngủ ngồi được khoảng một tiếng vì đêm trước thức khuya thu xếp hành lý. Máy bay chạm bánh trên phi đạo rồi bồng lên rớt xuống lại. Hỏng ai chú ý nhưng xạ thủ biết ngay anh phi công này đáp hỏng giỏi. Máy bay “taxi” một chặp và cửa đuôi kéo lên làm hơi nóng gần 50 độ C ùa vào khoang máy bay.
Anh cơ phi hét lớn trong tiếng gầm thét của 4 động cơ cánh quạt bán phản lực. Ai đi @@@ thì ngồi lại còn những người khác xuống đây. Mười hành khách lục đục mặc lại áo giáp, đội nón chống đạn, rồi ba lô lên vai nhanh nhẹn bước xuống cửa hông máy bay.
Mọi người chạy lúp xúp hàng một tránh xa máy bay. Hơi gió từ bốn động cơ cánh quạt nóng hừng hực trong đêm khuya làm mình lảo đảo. Nếu không nhờ cái áo giáp nón chống đạn và ba lô tổng cộng nặng gần 50 kg thì đã bị gió thổi té rồi. Hàng một người với súng đạn ba lô được thủ lịnh đứng lại đợi.
Một xe forklift rà tới đít chiếc C130 nhanh chóng kéo tấm nhôm pallet ra. Các bao hành lý rớt xuống rải rác hàng dài. Thủ lịnh ban ra, hàng một người chạy tới vác hành lý của mình rồi biến mất trong đêm tối. Chiếc C130 quay mũi ra phi đạo tiếng động cơ gầm rú lên. Không có đèn lập lòe nơi cánh máy bay. Tất cả đều không đèn chìm trong bóng tối để tránh pháo kích.
Xạ thủ nhào đến trước hai bao hành lý và một cái va li của mình. Chết mịa rồi làm sao vác hết ba cái một lần đây nè. Thôi kéo đại cái va li đi trước 50 mét rồi quay lại kéo tiếp hai cái kia. Trong đêm khuya nóng hừng hực 50 độ, mồ hôi toát ra như tắm. Bỗng giây phút ấy mình cảm thấy chùn bước và nhớ nhà. Nhớ giây phút bình yên mỗi buổi chiều đi làm dìa cho chim ăn, châm thêm nước cho chim uống, rồi nằm trên ghế sa lông coi tin tức thời sự trên TV… Những ngày êm đềm mới đó mà nay sao xa xôi cách trở quá.

Rất may một chiếc pick up trờ tới một bà Trung sĩ cao niên MSG nhảy ra, súng ngắn M17 đeo bên hông. Bà nói lớn Welcome Sir. Một anh lính trẻ ngồi phía sau nhảy xuống giúp đẩy mấy bao hành lý lên xe. Em Đại úy West Point đã ngồi sẵn trong xe như một người máy robot.
Theo bà Trung sĩ đi làm thủ tục nhập trại rồi đi lãnh mền gối. Sau đó đi nhận phòng. Xạ thủ được ở phòng riêng. Trong phòng có 2 giường. Một giường để ngủ còn giường kia mình dùng để đồ vật linh tinh lấy từ trong hành lý ra.
Sau khi mọi người ra về rồi, mình ngồi một mình bấm nút máy lạnh thì mới biết máy lạnh bị hư. Nhiệt độ trong phòng khoảng 45 độ C. Gọi bà Trung sĩ báo bả biết là máy lạnh bị hư. Bả hốt hoảng nói sẽ tới ngay để làm thủ đổi qua phòng khác. Xạ thủ nói thôi khuya rồi bà đừng đi nữa cứ ở đó kêu thợ tới sửa giùm tui là OK mà.
Mấy người thợ sửa máy lạnh là quốc tịch Ấn Độ rất chuyên nghiệp và mau lẹ. Trong vòng một tiếng là họ làm máy lạnh hoạt động tạm thời nhưng phải trở lại ngày hôm sau ráp cái máy lạnh mới. Ba giờ sáng máy lạnh chạy rì rì tỏa hơi lạnh mát rượi. Mình mang dép mặc quần short ở trần cổ quấn khăn đi tới nhà tắm cách nơi ngủ khoảng 80 mét. Mỗi bước chân mang dép đi trên đá sỏi và bụi sa mạc là khói bụi bốc lên dơ cả cẳng.
Ban đêm phải dậy mặc quần short mang giày đi bộ 80 mét để đến phòng vệ sinh. Những lần sau thấy phiền quá nên đi bộ đến mấy cái lô cốt hầm chống pháo kích cách phòng ngủ khoảng 20 mét. Đêm khuya nhìn lên trời đêm lấp lánh ánh sao, thấy lù lù cái khinh khí cầu trinh sát trên đó có gắn radar và máy nhìn hồng ngoại tuyến. Chắc nhân ziên trực màn hình báo cáo có thằng ông nội đái bậy nè đồng chí thủ trưởng.
Buổi sáng đi ăn sáng thấy toàn lính tráng mang súng có băng đạn nạp vào sẵn sàng. Có hai loại pháo kích là drone không người lái và hỏa tiễn liên lục địa ICBM. Drone đến thì chui vào hầm nổi. ICBM thì chui xuống hầm đào sâu dưới mặt đất. Đi trên đường nếu nghe loa thông báo hỏa tiễn sắp đến và chuẩn bị ứng phó thì phải nằm xuống bất cứ ở đâu. Đã có nhiều người bị thương và chết ở đây khi phiến quân thân Iran tấn công nhiều tháng trước.
Mình đi bộ trên đường luôn luôn nhìn chung quanh tìm kiếm những ngõ ngách của các khối chướng ngại vật đúc bằng bê tông để sẵn sàng chui vào núp khi nghe báo động. Căn cứ này bao phủ toàn lô cốt có gắn súng máy, ăng ten radar tua tủa. Chiều chiều mấy ổ phòng không đại bác 6 nòng tồ tồ rú lên bắn thực tập rồi khói đen bốc lên bên kia đồi.
Có những lúc mềm yếu nhớ nhà chớ hỏng phải không. Thèm bữa cơm đạm bạc có cá kho tộ, có tô mì Hảo Hảo, và đêm ngủ bình yên hỏng phải thức dậy đi bộ 80 mét làm bụi sa mạc bốc lên bám đầy vào hai chưn…

BÔNG LAU 12.07.2024

Lính lê dương Pháp

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau-thuymy,rfi
Posted on November 9, 2024

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Hôm qua hơi đuối sức nên nghỉ nằm ở phòng viết Facebook cho zui. Ở đây làm ziệc 7 ngày một tuần luôn. Đang mãi mê ziết thì sực nhớ nhà bàn sắp đóng cửa lúc 18 giờ, sau đó thì chỉ còn sandwich.
Thế là gã xạ thủ mặc áo giáp vào ì ạch chạy mau đến nhà ăn. Hỏng ngờ đi lạc nên càng bấn xúc xích. Cuối cùng gặp một đám lính UK nói ngọng, họ chỉ chỗ đến nhà ăn. Mình cám ơn kiểu bình dân học zụ “Thank you, Men”. Lính trẻ nhìn gã trung niên “You are welcome, Sir”. Nơi đây hả miệng ra là toàn là Xơ với Múi…
Vào nhà ăn mới biết hôm đó họ cho ăn bít tết và cả cá hấp nữa. Thấy đám lính trẻ ngồi cầm cục bít tết bằng tay đưa lên cắn rồi xé rồi nhai nhìn hơi ngầu. Tự nhiên mình cũng hưng phấn muốn xơi một miếng bít tết như đám lính trẻ.
Mình ra dấu cho nhân ziên phục zụ bỏ vào hộp khay một cục bít tết nhỏ bằng ba ngón tay để ăn giao hữu với đám lính. Muốn 5 cục cũng đuợc. Anh phục zụ hỏi thêm một lát nữa nhé. Mình trả lời ăn mấy cục này thì sẽ chết sớm đó. Rồi biểu ảnh gắp bỏ vào khay mấy lát cá hấp vì đó là món xạ thủ yêu thích.
Trong căn cứ Mỹ thì mục ăn uống đuợc coi là chu đáo nhứt thế giới. Lính Mỹ bị phát phì vì ăn nhiều. Có ông có bà ăn tráng miệng với một hộp ice cream kem chocolat, hộp kem có đuờng kính 15 cm và chiều cao cũng 15 cm. Đó là chưa kể họ ăn thêm các loại bánh pie rất ngọt có nhiều calori.
Xạ thủ hiện nay theo đuổi một chuơng trình giảm cân bằng cách mỗi ngày chỉ ăn phân nửa số lượng thức ăn bình thuờng. Thấy hai cục xuơng sau vai nhô ra, vì khi mặc áo giáp vào thấy đau phía sau lưng. Tuy nhiên cảm thấy nhẹ nhàng khỏe khoắn. Mình có tài nhịn đói mà vẫn tràn đầy sinh lực. Tụi Mỹ từng đi bắn chung biết rõ khả năng nhịn đói của gã xạ thủ gốc Việt.
Đang ngồi ăn thì thấy một toán lính Lê Dương Pháp (French Foreign Legion) trang bị tận răng rất ngầu. Họ cầm súng truờng tấn công HK416 và đeo súng ngắn Glock17 màu sa mạc. Súng HK416 của Đức chế tạo biến cải từ súng M16/M4 của Mỹ nhưng tốt hơn nhiều, và dĩ nhiên là rất mắc tiền.
Điều đáng ca tụng ở đây là lính Lê Duơng Pháp đẹp như những gã lực sĩ điền kinh. Họ cân đối, vai rộng, ngực nở, bụng thon. Họ ngồi xoay lưng về phía xạ thủ mà thấy tấm lưng cuồn cuộn bắp thịt. Mặt mũi họ cũng cuơng nghị khôi ngô, tóc húi cua gần như trọc lóc làm tăng khí chất võ biền đàn ông. Lính Mỹ so với Lê Duơng Pháp thì sồ sề béo phì – vì ăn sướng mà không tập thể thao nhiều như họ chăng.
Trong căn cứ rất kỵ chuyện chụp hình thấy măt nguời rồi đưa lên mạng. Nên xạ thủ chỉ tải hình lính Lê Duơng Pháp có sẵn trên internet để độc giả coi cho biết. Chỉ khi nào thấy họ cởi giáp ra để ngồi ăn mới thấy cơ bắp của họ mà thôi. Họ cũng thân thiện vì có lần mình hỏi “Các bạn là đơn vị Lê Duơng?” Thì họ cười gật đầu và hỏi lại anh biết nói tiếng Pháp hông?
Lính Lê Dương Pháp rất dữ và đã giúp Hoa Kỳ giết nhiều khủng bố IS ở Trung Đông. Họ cũng làm việc chung với Biệt Kích Mỹ bên Phi Châu. Pháp đóng góp rất nhiều cho cuộc chiến bảo vệ tự do và giá trị của Tây Phuơng. Còn lính NATO nơi đây cũng rất đông nhìn rất zui mắt. Họ đến đây chia sẻ gian nguy với nguời Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố. Bởi vì không quánh nơi đây thì sẽ có ngày 11 tháng Chín như năm nào. Các ông chính khách Mỹ ghét NATO hay Pháp vì họ chưa thấy sự hy sinh gian khổ của các đồng minh Hoa Kỳ ở vùng đất khô cằn sỏi đá hiểm nguy này.
Về phòng lúc khoảng 8 giờ thì… ầm ầm ầm đùng đùng đùng… Hỏng phải là tiếng súng đại bác phòng không liên thanh 6 nòng như mấy hôm truớc. Đây là tiếng trọng pháo cỡ lớn. Hơi lạ vì hỏng nghe loa thông báo là sắp có thực tập bắn đạn thiệt. Mình cẩn thận hé cửa nhìn ra hầm trú ẫn coi có ai chạy zô trỏng hong, nhưng tứ bề lặng như tờ. Nên an tâm trèo lên giường ngồi khỏ Facebook tiếp. Bên ngoài những tiếng nổ của trọng pháo. Có khi phản lực tới thả bom nữa. Trong đêm khuya tiếng nổ từng chập vang vọng như điệu nhạc tử thần dành cho quân khủng bố Hồi Giáo cực đoan.
Mình không sợ chết vì súng đạn, bởi vì khi đi bay một mình trong bầu trời giông tố ban đêm có cảm giác sợ hãi hơn nhiều. Khi chui vào mây chỉ cao hơn các đỉnh núi vài trăm bộ và không khí bị nhiễu loạn “downdraft” hút máy bay xuống. Phải bay bằng phi cụ trong mây mù, nếu hốt hoảng kéo mũi máy bay lên quá lố thì sẽ bị stall rớt cắm đầu xuống núi “Bùm” chết hỏng ai biết vì chưa kịp thông báo với đài ATC. Lúc ấy đã nghĩ tới đấng thiêng liêng nào đó để cầu nguyện mình đuợc sống.
Nhưng chết vì bom đạn sẽ rất mau và sẽ không có nhiều thời gian để lo sợ. Chỉ sợ thành một phế nhân trở về làm khổ những nguời còn sống thôi. Chết thì không sợ nhưng có những cái nho nhỏ nơi đây bực bội gặm nhấm dai dẳng hơn sự chết. Đó là vấn đề vệ sinh. Ở nhà xạ thủ rất kỹ. Nơi làm việc luôn luôn bóng loáng không có bụi hay dấu tay in vì mồ hôi. Nơi đây toàn thể sự vật phủ một lớp bụi sa mạc. Ở nhà mền gối luôn luôn thơm phức mát lạnh. Ở đây khi ngã lưng xuống thấy bụi bốc lên. Ở nhà có bồn tắm riêng không ai ngoài mình.
Trong toilet còn là một thư viện nho nhỏ để mình vừa thư giãn vừa đọc sách mở mang trí tuệ. Nơi đây phòng tắm tập thể, dù nhà thầu cho nhân viên lau chùi nhiều lần trong ngày, nhưng khi xạ thủ buớc vào thấy lính tráng tắm xong nuớc tung toé lai láng nên cảm thấy ghê ghê. Ăn uống cũng tập thể cả toán kéo nhau đi ăn chung vì tình đồng đội. Nhưng xạ thủ thích ngồi ăn cô độc một mình để suy nghĩ thế sự. Ngồi chung với đám đông bô lô bô la mình vẫn cảm thấy cô đơn và thích sự cô đơn ấy.
Cũng tự an ủi rồi sẽ quen đi với cuộc sống tập thể nhưng cũng không muốn mình trở thành một con nguời khác. Ở căn cứ huấn luyện truớc khi đến đây, anh sếp cho mình toại nguyện ra tuyến đầu rồi nói thẳng “Mày là thằng Việt Nam điên”. Nhớ ông sếp ở Washington giúp mình đi Trung Đông vì chán cuộc sống phồn hoa. Ông nói xạ thủ sẽ hạnh phúc bên đó, rồi bắt tay mình nói với cảm xúc “Chúa sẽ ở bên anh”. Rốt cục mình chẳng có happy nơi nào trên trái đất này. Tất cả đều có mặt trái của nó. Hãy sống mỗi ngày với sự chịu đựng và cố gắng đợi chờ một sự tốt đẹp hơn.
Các đồng nghiệp mặc áo giáp mang súng trèo lên xe đi tới nhà bàn. Mình ở lại một mình, đi ăn một mình. Sẽ mặc áo giáp đi bộ trên con đuờng có nhiều lô cốt hầm hố khi giờ ăn sắp hết. Tiếng súng sẽ ầm vang từ bên kia đồi vọng về. Thêm một đêm Trung Đông sẽ đi qua.

BÔNG LAU 13.07.2024

Kinh Kha thời đại

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau-thuymy,rfi
Posted on November 10, 2024

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Mấy hôm nay tự nhiên cảm thấy đuối sức. Người cứ lờ đờ như thiếu năng lượng. Có lẽ một phần vì chỉ ăn hai bữa một ngày và ăn toàn rau đậu cá và trái cây.
Chiều qua muốn gia tăng sinh khí nên thay đổi thực đơn bằng món BBQ bò và cánh gà chiên. Ối chời, nó như ngọn đèn dầu sắp tắt bỗng cháy bùng lên mãnh liệt. Cám ơn cục thịt bò và mấy cái cánh gà kính mến.
Nơi đây bị nhiều áp lực công việc nhứt là công việc sử dụng trí tuệ. Đêm giấc ngủ không trọn ven. Ngủ vội vàng và chập chờn chờ đợi tiếng còi hụ để choàng dậy mặc áo giáp đội nón chống đạn rồi chạy mau vào hầm trước khi hỏa tiễn hay drone bay tới. Sự zui zẻ tình đồng đội và tinh thần hài hước sẽ giúp sống qua những ngày khó khăn.
Ở đây không có môi trường gái gú kiểu trẻ trâu bồ bịch cải lương. Bước ra ngoài nhiệt độ nóng 50 độ muốn nổ mẹ cái gáo dừa thì năng lượng đâu còn nữa để thả thính. Cho nên ai mà đem chuyện yêu đương trai gái với đồng đội thì xạ thủ chỉ muốn văng tục.
Nữ quân nhân Mỹ và đồng minh ở đây rất đông nhưng mình chỉ thấy họ là những bóng mờ chán phèo hỏng có gì quyến rũ, mà cũng hỏng có ai dư năng lượng để ỏng a ỏng ẹo em chả em chả.
Muốn yêu đương thì phải đến những vùng đất lãng mạn có cây cỏ xanh tươi, có những bữa cơm bình yên hỏng phải cởi áo giáp để đồ nghề lăn lóc khắp nơi. Mỗi lần đứng dậy để lấy thêm thức ăn hay rót nước là phải dòm lối đi thiệt kỹ để hỏng đạp lên súng của người khác.
Hôm qua xạ thủ sắp hàng ăn trưa. Thấy một anh lính trẻ da đen đeo khẩu súng trường M4 trước ngực. Cây súng trầy trụa và phủ đầy bụi cát sa mạc. Tự nhiên hỏng kềm hãm được sự ngưỡng mộ. Xạ thủ vỗ vai anh lính “Cây súng bạn phủ đầy bụi ngầu quá, nhìn rất đẹp (tough and pretty)”. Anh lính cười tươi sung sướng và cám ơn. Hỏng phải như quân trường táo bón thấy súng dính bụi là phạt.
Cái thú vị là được ngồi ăn một mình để chiêm ngưỡng những binh sĩ hùng dũng của đủ binh chủng Mỹ và đồng minh. Lòng mình ấm lại và hạnh phúc khi một tiểu đội Lê Dương Pháp quen mặt đi hàng một vào. Chắc họ mới đi công tác dìa. Súng HK416 nòng ngắn đeo trước ngực chĩa xuống đất và áo giáp bó chẽn gồ ghề. Vài anh gật đầu chào. Có người đi ngang cụng cùi chỏ hello. Ở đây không bắt tay kiểu cổ điển long trọng, vì hai bàn tay phải cầm đồ chơi.
Mấy bàn kia thì có toán Biệt Kích Mỹ râu xồm mặc áo thun dân sự. Dưới bụng đeo khẩu Glock19 nhỏ xíu. Ngực của họ nở nang hai bắp tay rắn chắc, cùi chỏ xăm trổ sặc sỡ, mốt thời nay mà. Ngồi trong nhà bàn ngắm hình xăm của ba quân cũng đủ thích rồi. Giống như những tác phẩm hội họa.
Bộ quân phục của binh sĩ Ba Lan rất đẹp. Sẽ có ngày làm quen người anh em Ba Lan để xin một bộ mặc chơi. Binh sĩ Hòa Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Úc, Anh Quốc v.v… Mỗi quốc gia mỗi binh chủng có quân phục khác biệt, giáp nón chống đạn đủ kiểu, và đồ chơi thì đủ loại. Mỗi bữa ăn trong nhà bàn như là những buổi trình diễn thời trang của các Kinh Kha thời đại. Họ lực lưỡng hiên ngang mà lặng lẽ, chớ hỏng lu loa ẻo lả như người thành phố.
Nhiều lần muốn chụp hình các binh sĩ kiêu hùng này nhưng không thể vì họ có thể đang thi hành những công tác bí mật. Đưa điện thoại lên chụp là có thể an ninh đến rờ gáy và hỏi chú mày làm gián điệp cho China hả hic.

BÔNG LAU 01.08.2024

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Kép độc Trường Xuân

  1. Trường Xuân bị phục kích, lặn sông mất tích
    Khi ghe hát vô vàm sông Cà Mau thì trời gần tối, trong khoang ghe mọi người đã ăn cơm rồi, chỉ còn những người trên mui ghe vì bận đờn ca tài tử, hò hát nên chưa ăn. Ông Bầu Cang biểu bà “tẩm khậu” dọn lên mui ghe cho chúng tôi, ông Bầu cũng lên nhậu lai rai. Rượu vào lời ra, có người khen cô Kim đẹp người đẹp nết, giọng tốt hò hay, có kẻ khen ông Bầu có mắt tinh đời, biết người biết của. Trường Xuân nhậu cũng hơi nhiều, nói lè nhè:
    – Bây giờ đang có chiến tranh Việt Pháp, nếu thấy người lạ tới, mình phải đề phòng. Rủi là lính kín phòng nhì tới dò xét, lỡ miệng nói bậy thì bị tù. Nếu bên Việt Minh tới gây cảm tình, móc ngoặc, Tây biết được thì mình cũng không yên.
    Tốt hơn hết là đừng giao thiệp với người lạ. Cẩn tắc vô ưu!
    Ghe đã vô khỏi vàm một đỗi, trời tối đần. Chúng tôi định trở vô khoang ghe thì phía bờ sông bên mặt, một loạt súng nổ chát chúa. Phía bên trái cũng có tiếng nổ từng tràng dài, chúng tôi thấy lửa chớp chớp.
    Trường Xuân la lớn:
    – Bị Việt Minh phục kích rồi, anh em… nhảy xuống sông mau… nhảy.
    Trường Xuân dứt lời phóng ầm xuống sông, bơi hướng vô bờ.
    Hề Lòng, Tuấn Sĩ cũng phóng theo … Ngọc An nói như muốn mếu:
    – Trời ơi… làm sao bây giờ? Tôi không biết lội…
    Tôi nói:
    – Bình tỉnh… mấy cô xuống ghe, núp ở một góc nào đó.. . Chờ coi… sao đã!
    Mấy cô nhảy xuống ghe, bên trong nhiều anh em nhốn nháo, chạy tới chạy lui…
    Phía trước, tàu kéo đứt đỏi, tháo chạy một mình thật mau, bỏ chiếc ghe chài trôi lình bình. Anh tài công lái chiếc ghe chài cũng nhảy xuống sông mất dạng. Ghe còn trớn kéo, bê ngang vô gần bờ. Trên bờ tiếng nổ càng dữ tợn, nhiều loạt… nhiều loạt… Dường như “mặt trận” kéo dài vô phía trong vì hai bờ kinh tiếng nổ như chuyền dài vô chợ. Mọi người nằm sát ván ghe. Ghe tấp vô gần sát bờ, tôi với anh Tám Cao nhảy xuống sông, kêu mấy anh dàn cảnh quăng đỏi ghe xuống rồi phụ với chúng tôi cột mũi ghe vô gốc bần.
    Tiếng nổ vẫn còn, nhưng dường như tiếng nổ chuyển dần khỏi chỗ chúng tôi núp. Đào, kép được từ từ cho lên bờ, nằm phục dưới đất, dưới mương để tránh đạn và chờ coi tình hình ra sao. Ông Bầu, bà Bầu, mấy cô đào chấp tay vái Tổ nghiệp cho tai qua nạn khỏi. Tôi với Tám Cao bò tới chỗ ông Bầu, hỏi ông bây giờ tính sao? Ông run cầm cập, không nói được lời nào. Tiếng cô Ngọc An, giọng run run, răng đánh bò cạp:
    – Em. em lạnh quá! Em sợ quá…
    Tám Cao nói:
    – Im. .đừng la! Coi chừng tụi nó còn phục kích trên đó.. . Để anh ôm em,” úm” em một hồi là hết lạnh.
    Tám Cao nói rồi, bò tới chỗ có tiếng của Ngọc An, bỗng tôi nghe một tiếng “bịch” thật lớn, Tám Cao ngã ngang, la:
    – Ai da! Chết tôi!
    Tôi hỏi:
    – Anh Tám, trúng đạn hả?
    Tiếng vợ Tám Cao, chị Lệ Thơ la bài hải:
    – Đồ già dịch! Tình cảnh vầy mà còn dê được…. thiệt là quá mà…
    Tôi kéo anh Tám Cao theo tôi:
    – Chạy … Anh Tám. Ở đó chị Tám đạp anh mấy đạp nữa đa!
    Chúng tôi lên tới bờ lộ. Bốn phía im phăng phắc. Tám Cao cười hì hì, phân trần:
    – Tôi tính làm phước, ôm cô Ngọc An cho cô ta bớt sợ, ai dè bị con vợ tôi phục kích, nó đạp tôi đau quá mạng.
    Tôi chỉ ánh đèn trong nhà dân:
    – Anh Tám, có nhà còn thức, mình tới đó hỏi coi…
    Chúng tôi tới ngôi nhà còn sáng đèn, chưa kịp lên tiếng, trong nhà đã có người bưng đèn ra, hỏi:
    – Mấy chú là ai? Ở đâu tới đây? Sao mình mẩy, mặt mũi bùn đất không vậy?
    – Dạ, chúng tôi ở dưới ghe hát, bị phục kích, hỏng biết là Tây hay Việt Minh, súng nổ quá trời nên phóng xuống sông lội vô… Bộ… êm rồi hả?
    Tám cao tiếp lời:
    – Hết nghe bắn rồi! Họ rút lui hết rồi sao?
    Chủ nhà lộ vẻ kinh ngạc:
    – Ai bắn? Ai rút? Súng nổ hồi nào? (chợt hiểu ra, ông ta cười ngả nghiêng). Tụi tui đốt pháo đón mừng ghe hát đó mà!
    Tám Cao:
    – Trời ơi, đốt pháo đón mừng ghe hát mà không cho biết trước… Báo hại tụi tui sợ gần chết…
    Tôi nói:
    – Đốt pháo, có tiếng nổ, bộ bà con không sợ Tây nghi có Việt Minh, nó đi ruồng bố sao?
    – Quan ba, chủ quận Cà Mau cho lịnh đốt pháo. Lính bạt-ti-dăng gác ở đầu vàm, thấy ghe hát tới, đốt pháo báo hiệu vô chợ. Dân ở hai bờ sông thấy ghe hát về, họ mừng, sẵn dịp có phép của Quận nên họ cũng đốt pháo đó. Chúng tôi xin mấy cây đuốc, đốt cho sáng, trở ra báo tin cho anh em yên lòng. Chủ nhà cũng rủ vài ba người trong xóm đốt đuốc theo chúng tôi. Đi dọc bờ sông, chúng tôi lớn tiếng kêu, kiếm những anh đã phóng xuống sông. Hề Lòng, Tuấn Sĩ và anh tài công bám theo bánh lái ghe, ngâm mình dưới nước lâu, lạnh run. Hề Lòng cằn nhằn, bị cá lòng tong rỉa, đau quá mạng mà không dám lội đi chỗ khác. Tuấn Sĩ không nói không rằng, leo vô ghe, kiếm rượu uống cho bớt lạnh. Ông Bầu Cang biểu đốt mấy cái đèn măng-xông cho sáng rồi túa đi kiếm Trường Xuân. Kêu hồi lâu không thấy trả lời, vợ Trường Xuân gào khóc rất là thảm thiết. Bé Hoàng Vân, Ngọc An, Lệ Thơ tới an ủi, dìu vợ Trường Xuân vô nhà dân ở gần đó. Chúng tôi chia nhau đi dọc bờ sông. Bầu Cang mượn ghe để cho người chèo qua bờ bên kia kiếm. Bỗng có tiếng anh Sáu dàn cảnh la lớn:
    – Thấy rồi …Thấy rồi… Cái chân của anh Trường Xuân đây nè …
    Anh em xách đèn măng xông chạy tới chỗ anh Sáu dàn cảnh đứng.
    Bầu Cang vừa đi vừa nói lải nhải:
    – Cái gì kỳ vậy? Hỏng có mìn nổ, hỏng có bắn súng, mà sao đứt cái chân, văng tới đó?
    Thì ra anh Trường Xuân núp trong bụi ô rô, ló cái chân ra.
    Chun vô thì dễ, lúc chun ra mới khó. Anh không lên tiếng trả lời vì anh không muốn người ta thấy anh ở trong hoàn cảnh khó coi nầy. Bầu Cang biểu lấy dao, chặt bụi ô rô, kéo anh ra.

Trường Xuân trọc
Mình mẩy bị gai quào rướm máu, Trường Xuân thề không tới cái xứ Cà Mau hát nữa… nhưng thề là để cho đỡ tức, đỡ ngượng thôi, chớ anh ta cũng trở lại Cà Mau nhiều lần để hát. Vì có gì vui hơn là khi gặp được khách tri âm, người đồng điệu, hiểu được và chia xẻ với nghệ sĩ những nỗi niềm cảm xúc trong câu ca điệu hát. Dân Cà Mau ái mộ nghệ sĩ. Nghệ sĩ gánh Tiếng Chuông cũng nhớ suốt đời cái cách đón mừng gánh hát của dân Cà Mau trong thời đất nước còn chiến tranh.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

  1. Phần 5: Tao ngộ trên sông
    Nhắc đến những chuyện vui buồn đời nghệ sĩ, tôi không quên được những ngày đầu khi tôi mới gia nhập “làng hia mão”. Năm 1948, tôi theo gánh hát Tiếng Chuông (Bầu Cang). Hồi đó người ta gọi là “ghe hát”, chớ không gọi là đoàn hát cải lương như bây giờ, vì các gánh hát lưu diễn ở miền Tây phần lớn đều được di chuyển bằng ghe chài, ghe bầu hay đò máy.
    Thời đó, việc giao thông đi lại của nhiều quận, huyện ở miền Tây phải theo sông, rạch hoặc kinh đào, đường bộ ít được mở mang, lại có nhiều cầu nhỏ, cầu khỉ nên xe cộ khó qua lại được. Ghe hát di chuyển theo sông rạch mất rất nhiều thời gian, gặp nhiều trắc trở khó khăn, nhưng cũng có nhiều kỷ niệm rất vui, rất đẹp ở các làng xã ven sông mà ghe hát có dịp ghé bến.
    Tết năm 1948, gánh Tiếng Chuông bán giàn hát ở chợ quận Cà Mau. Ghe hát rời bến Châu Đốc khoảng 3 giờ sáng, đến 5 giờ chiều mà vẫn còn lênh đênh trên sông Cái. Ghe chài di chuyển quá chậm vì tàu kéo nhỏ, máy yếu, lại gặp con nước ngược. Ở dưới ghe một ngày một đêm, mọi người đều cảm thấy tù túng, khó chịu. Một số đào, kép rủ nhau “bày binh bố trận”, sát phạt nhau trong khoang ghe. Tuy là đánh bài ăn thua nhỏ nhưng cũng ồn ào như nhóm chợ chồm hổm.
    Tôi rủ anh Trường Xuân (kép độc), anh Tuấn Sĩ (Kép mùi), Hề Lòng và anh Năm Khạp (đờn kìm) lên mui ghe ngồi chơi để tránh cái ồn ào và nóng bức trong khoang ghe. Gió chiều trên sông nghe mát rượi. Cảm giác thật là khoan khoái, dễ chịu. Tôi ngồi lơ đễnh nhìn hai bờ sông, cây cối xanh tươi. Theo lời anh tài công thì độ 8 giờ tối mới tới vàm vô sông Cà Mau, vậy là khúc sông nầy có thể là gần ranh tỉnh giữa Sóc Trăng và Bạc Liêu. Cây cối xanh um mà tôi thấy dài theo hai bờ sông có thể là vườn cây ăn trái như cây nhãn, hay xoài tượng, xoài cát. Đến Cà Mau thì hai bờ sông có nhiều cây đước, cây mắm hay gốc bần, bên trong xa là đồng đưng, lác, chớ không có vẻ trù phú như nơi mà ghe hát đang được kéo qua. Dòng sông hẹp dần, chúng tôi có thể thấy người đi trên bờ. Anh Năm Khạp cao hứng, lấy đờn kìm ra đờn, Tuấn Sĩ ca vọng cổ. Trường Xuân xuống ghe lấy rượu đế và biểu vợ anh nướng vài con khô cá sặc để nhậu lai rai mới có hứng mà ca. Ông Bầu Cang biểu anh Mười “ampli” đem micro và ampli pile (thứ dùng để quảng cáo) cho chúng tôi dùng vì theo ông, gió sông lồng lộng như vậy, đờn ca gì cũng không nghe được. Các cô đào Ngọc An, Bé Hoàng Vân, Lệ Thơ (vợ kép Tám Cao, hiện nay là soạn giả Thanh Cao) cũng lên mui ghe, chung vui đờn ca tài tử. Tuấn Sĩ ca trước, rồi tới đào Ngọc An, bé Hoàng Vân, chị Lệ Thơ ca vài bài bản nhỏ trong tuồng “Trộm Mắt Phật”. Anh Sáu Xíu lấy đờn cò ra hòa điệu với anh Năm Khạp đờn kìm. Tiếng đờn câu ca được máy ampli phóng lớn, vang vang trên sông, bay đến các ngôi nhà ngói, nhà tranh trên hai bờ sông nên nhiều người bước ra nghe. Vì ghe chài di chuyển chậm, đào kép lại ngồi trên mui ghe, tiếng đờn tiếng ca nghe lồng lộng nên dân chúng càng lúc càng tập trung theo hai bờ sông nghe hát. Bây giờ tôi mới biết thâm ý của ông Bầu Cang: nếu ông bảo đào kép theo ghe ca quảng cáo, chắc là không ai chịu hoặc nếu có chịu thì ông cũng phải trả tiền lương. Còn bày ra cuộc chơi, đào kép vui vẻ dự vào mà việc quảng cáo gánh hát của ông cũng thực hiện được. Khán giả trên bờ vỗ tay khen, các nghệ sĩ hứng chí ca không biết mệt, chỉ có ông Bầu Cang tủm tỉm cười, thỏa mãn, tin tưởng ngày mai ông sẽ tha hồ hốt bạc…

Tao ngộ trên sông: Khởi Nghiệp Của Một Cô Đào.
Có mấy chiếc ghe thương hồ chở cây hoa kiểng, cây quít, cây tắc vô chợ Cà Mau bán dịp Tết, thấy ghe hát đờn ca vui, cũng bớt mái chèo, cặp theo be ghe chài mà nghe ca. Họ còn thưởng tiền và yêu cầu ca những bài mà họ thích. Tuấn Sĩ, Ngọc An được thưởng tiền nhiều nhất, Tuấn sĩ thừa thắng xông lên, làm luôn một bài vọng cổ Ông lái đò:
(nói lối)
.. . Mấy năm qua mấy mùa khói lửa, lão đã chứng kiến biết bao nhiêu cảnh hưng vong của thế sự…
(Vọng cổ)
.. . …thăng trầm,
Nước mắt già nua pha lẫn nước xuôi dòng,
Bất giác lão đưa tay rờ lên mái tóc thì sau cuộc ba đào nó đã trắng như bông.
(thơ Vân Tiên)
Chuyện đời như cánh phù du,
Sớm còn tối mất dạ sầu mà chi,
Sang giàu như áng mây bay
Mới vừa thấy đó phủi tay không còn
Hò.ơ… Nước giữa dòng có khi trong khi đục
Người ở đời có lúc nhục lúc vinh
Gẫm ai vô sự như mình
Đò ngang một chuyến…
Hò.. ơ… Đò ngang một chuyến
mặc tình nắng mưa.
(thơ Vân Tiên)
Thân già gạo chợ nước sông
Khỏe thì đưa khách mệt nằm xả hơi
Sang giàu mặc kẻ đua bơi
Công danh như thể bèo trôi giữa dòng
Ai dại ai khôn gẫm lại vẫn không bằng đời của lão.
Còn trời còn nước còn sông,
Còn cây đa bến cũ còn ông chèo đò.
Khán giả trên bờ vỗ tay và la lớn: “Hay lắm… Ca hay lắm!”
Bỗng dưới ghe thương hồ có một cô gái lên tiếng hỏi:
– Các anh các chị là nghệ sĩ cải lương, ca vọng cổ đương nhiên là hay rồi, các anh các chị dám hò đối đáp với tụi tui hông?
Chúng tôi đang ú ớ, chưa biết tính sao, ông Bầu Cang ngồi trước mũi ghe, nói khích:
– Liệu được hông bây? Hò mà thua, mất mặt “bầu cua” à nghen.
Hề Lòng tự ái:
– Muốn chơi thì chơi luôn. Nè, mời cô leo qua ghe chài, ở đây có mi cờ rô, hò lớn tiếng cho bà con nghe chơi.
Cô gái không đợi mời lần thứ hai, lần ghe nhỏ của cô tới gần chỗ có thể leo lên ghe chài. Tía của cô đỡ dưới chân, Tám Cao và Tuấn Sĩ nắm hai tay, kéo cô lên.
Ai hò trước? Hò “cái gì đây”? Tám Cao, Tuấn Sĩ, Hề Lòng bàn thảo rù rì.
Cô gái cầm micro: Em thử giọng à nghe…
“Tới đây hỏng hát thì hò … Ơ. Hỏng phải con cò …
Hò ơ.Hỏng phải con cò ngóng cổ mà nghe.”
Hề Lòng nói:
-Để tui…
“Hò ơ… Đờn cò lên trục kêu vang,
Qua còn thương bậu… bậu khoan có chồng,
Muốn cho nhơn nghĩa đạo đồng
Qua đây thương bậu…ờ…hơ…
Qua đây thương bậu hơn chồng bậu thương.”
Cô gái hò :
“Hò.ơ. .Em thấy anh, em cũng muốn chào,
Sợ rằng chị Cả…
Sợ rằng chị Cả dắt dao trong mình.”
Hề Lòng :
” Hò ơ… Anh đâu phải mê bông quế mà bỏ phế cái bông lài,
Quế thơm ban ngày, lài ngát ban đêm, ơ…
Hò ơ. .Bông quế lại với bông lài,
Anh quyết bẻ hết, hò ..ơ…
anh quyết bẻ hết, khỏi ai cằn nhằn..ơ…”
Cô gái:
“Hò ơ… Lấy ai, lấy khính chồng người,
Lấy chồng kiểu đó… Hò .ơ…
lấy chồng kiểu đó, lấy chồng cùi sướng hơn.”
Tám Cao thấy Hề Lòng loay hoay, không” nhập đề” được, bèn cứu bồ. Tám Cao hò:
“Hò ơ… Gạo Ba Thắt trắng như bông bưởi
Nước phông tên tiền rưỡi một đôi,
Sài Gòn vui lắm em ơi
Lấy anh về đó…ờ…
lấy anh về đó, một đời sướng thân.”
Tám Cao, danh ca vọng cổ nên giọng rất trong, hơi hò âm vang lảnh lót, cô gái có vẻ có cảm tình, cô gái liếc Tám Cao, đuôi mắt bén như dao.
Cô gái hò:
“Hò .ơ… Bớ người không quen ơi…
Nghe anh than em cũng muốn thương nhiều,
Nhưng hoa đà có chủ, khó chiều dạ anh,
Bình bồng ở giữa Giang Tân,
Bên tình bên nghĩa… Hò..ơ…
Bên tình bên nghĩa, biết thân bên nào? ơ…”
Tám Cao hò:
“Hò ơ… Bớ nầy em ơi,
Nhứt lê, nhì lựu, tam đào,
Bên tình bên nghĩa… Hò .ơ,
Bên tình bên nghĩa, bên nào cũng thân…ơ…”
Tiếng cô gái :
” Hò .ơ. · · Nói vậy mà chơi,
Chớ gió thổi hiu hiu, lục bình trôi riu ríu,
Xin anh đừng bận bịu cái điệu chung tình…ờ…
Con nhạn bay cao khó bắn,
Hò ..ơ… Con cá ở ao quỳnh..
con cá ở ao quỳnh cũng khó câu…ơ… “
Tuấn Sĩ dành micro, nói:
– Cho tôi hò với chớ!
Tuấn Sĩ hò:
“Hò .ơ… Cây trên rừng hóa kiểng,
Cá dưới biển hóa long,
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong,
Anh đi hát lục tỉnh giáp vòng…ờ…
Đến đây trời khiến…hò ..ơ..:
đến đây trời khiến đem lòng thương em…ơ.”
Tiếng cô gái:
” Hò ơ… Má em dặn là…
Gái kiếm chồng nơi giàu sang nương tựa,
Đặng sáng với chiều lên ngựa xuống xe ơ…
Chớ đừng lấy bạn hát theo ghe chài…
Sáng ngồi lườn, tối nằm be,
Để thân con gái má phấn không người chở che…ơ…
Hò ..ơ… Không người chở che, nó cũng uổng đời…ơ…”
Tuấn Sĩ hò:
“Hò.ơ… Em mà chịu lấy anh đây,
Chẳng phải đi cấy đi cày nữa đâu,
Ngồi trong rạp hát ăn trầu,
Ngồi trong rạp hát ăn trầu.
Có hai thế nữ… Hò..ơ…
Có hai thế nữ đứng hầu hai bên…ơ…”
Tiếng cô gái:
“Hò ơ…Tía má em dặn rằng…
Lấy chồng chớ lấy chồng xa,
Lấy chồng kép hát đi ta bà thế gian,
Tưởng là sung sướng tấm thân,
Nay đình mai chợ… Hò.ơ…
Nay đình mai chợ , gian truân cả đời…ơ… “
Trường Xuân nãy giờ im tiếng, bây giờ mới xen vô, hò:
“Hò.ơ… Phải nói gì em mới chịu tin đây?
Đôi ta chẳng được sum vầy
Khác chi cánh nhạn lạc bầy kêu sương .
Nhạn lạc bầy nhạn thương nhạn nhớ,
Anh xa nàng…hò..ơ…
anh xa nàng anh khổ lắm nàng ơi.”
Cô gái chưa kịp hò trả lời thì tía của cô gọi ơi ới:
– Bớ Kim, nước lớn đang chảy xiết vô chợ, con mau xuống ghe chèo riết đi con!
Cô gái còn nuối tiếc cuộc hò đối đáp vui vẻ, chưa kịp về ghe mình thì ông Bầu Cang xuất hiện, cười hề hề, đưa một tấm carte visite của ông và nói:
– Cô Kim, tôi tặng cô tấm carte nầy. Bất kỳ khi nào và bất kỳ ở đâu, khi cô gặp ghe hát Tiếng Chuông thì cô cứ tới phòng vé, chìa tấm carte nầy ra là cô có quyền lấy vé mời xem hát … Bao nhiêu vé cũng được. Cô cứ coi như gánh hát nhà đi. Nhớ nhe, một kỷ niệm tao ngộ trên sông.
Cô gái nhận món quà bất ngờ đó và nói:
– Cám ơn ông Bầu, thế nào em cũng sẽ tới kiến ông Bầu!
Cô Kim trở về ghe của mình, hai tía con nương theo con nước đang đổ mạnh hướng về chợ , chèo ghe xa ghe chài của chúng tôi cho tới khi mất dạng. Trường Xuân bật cười ha hả cái giọng cười bất hủ của anh rồi nói:
– Ông Bầu chơi kiểu cha! Tụi nầy tốn công dọn cỗ, ông ngồi không mà nhào vô đớp một cách ngon lành. Đúng là chơi cái kiểu Papa mà.
Bầu Cang nói: “Bậy! Mầy hay nói bậy nói bạ! Tao đớp cái gì mà mầy nói tao đớp?”
Trường Xuân:
– Thì cô Kim đó! Tụi nầy hò chọc ghẹo, ba bốn đứa hè nhau hò, bao vây cô ta. Cô ta một mình chống đỡ, không theo ai mà cũng không thua ai. Bỗng ông xen vô, đưa một tấm danh thiếp và cô ta đã hẹn: Thế nào em cũng sẽ tới kiếm ông Bầu. Đó, hỏng phải là ông phỏng tay trên của tụi tui sao?
Bầu Cang: “Tao già rồi, răng cỏ đâu mà nói đớp với hỏng đớp? Tụi bây trẻ, thấy gái thì chỉ nghĩ tới cái nọ cái kia… Còn tao đó hả…
Tuấn Sĩ cười mơn:
– Ông không nghĩ cái nọ, cái kia, ông chỉ làm cái kia cái nọ thôi!
Mọi người cười ồ lên vì câu nói ám chỉ của Tuấn Sĩ, nhưng ông Bầu Cang vẫn bình tĩnh, nói như muốn phân bua với bà Năm Phát là vợ của ông đang đứng theo dõi cuộc đùa cợt nãy giờ:
– Tụi bây quên tao là ông Bầu gánh hát, gặp một đứa con gái đẹp, có giọng hò tốt, lại dạn dĩ không sợ ai, không mắc cỡ, tao nghĩ là làm sao để nó theo gánh hát để đào tạo nó thành đào hát. Tao chắc chắn nó sẽ nổi danh không thua ai đâu. Tao cá với tụi bây, cô Kim đó sẽ xin theo học hát ở gánh hát của mình. Tao đưa cho tấm danh thiếp của tao là để cô Kim mạnh dạn tới sân khấu đó.
Đúng như lời tiên đoán của ông Bầu Cang, sau Tết, cô Kim tìm tới ghe hát Tiếng Chuông, xin theo học hát và trở thành cô đào với cái tên: Nữ danh ca KIM ANH. Cô Kim Anh đã một thời lừng danh trên sân khấu Thanh Minh đóng cặp chung với anh Út Trà Ôn.

Chuyện Bé Phượng

vietmessenger.com
Nhật Tiến
NGÀY NAY xuất bản 1964

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

  1. Chương 8
    Nếu phải chọn một đứa xấu nhất trong tất cả bọn mồ côi của Cô Nhi viện này thì ai cũng phải nhắc đến con Alice. Nó lai tây đen. Mái tóc của nó xoắn tít. Mầu hung đỏ. Khuôn mặt của nó to bè, cặp mắt lồi ra, tròn và to như hai con ốc mít. Đôi môi của nó dầy tụp, không đỏ mà cũng không thâm hẳn, nhưng ngả màu tái tái. Tái hơn cả nước da mỡ màng bóng nhẫy mồ hôi ở trên mặt. Lúc Alice cười, nó để lộ ra hai hàm răng trắng nhởn, chiếc to chiếc bé khấp khểnh giữa hai mảng lợi huếch ra, trắng đục và xen mầu hồng hơi nhạt nhạt.
    Ấy vậy mà con Thu Thu lại xoắn lấy Alice nhiều không thể tả được, và cũng chỉ có Thu Thu là nhân vật độc nhất trong đám trẻ hỗn độn này chịu được cái vẻ xấu xí của Alice mà thôi. Trong những giờ ra chơi, mặc dầu quả bóng ném ra từ tay bà Rosalie là của chung tất cả, nhưng bọn con Dung, con Hằng mặc nhiên coi Alice như không có quyền đụng tay vào đấy. Chúng nó rất tức giận mỗi khi thấy Alice toét miệng ra cười và mon men chạy lại quả bóng. Lúc đó con Dung sẽ nháy con Hằng và hai đứa sẽ vừa reo hò vừa giả vờ xô lại. Tất nhiên con Alice không thể nào tránh khỏi một cái ngáng cẳng hay một cái huých ngầm vào mạng sườn. Vì thế mặt Alice đang vui bỗng nhiên sịu lại. Nó đứng ngẩn người trước cặp mắt thù ghét của con Dung đang chòng chọc nhìn vào mặt nó. Còn con Hằng thì dẩu mồm ra nói:
  • Đồ mọi đen! Cút đi!
    Alice buồn bã và xấu hổ giật lùi bước lại. Một lát nó ra ngồi một mình dưới gốc cây. Nhưng tính nó rất hay quên. Chỉ một lát sau, nếu nó nom thấy bọn kia xô nhau la hét om sòm vui vẻ thì nó lại lây ngay cái vui ấy mà toét miệng ra cười.
    Vì nó ngu và chất phác như thế, nên Alice bị bắt nạt rất nhiều lần. Chính một trong những lần ấy mà Thu Thu đã trở nên thân thiết với Alice.
    Hôm đó người ta phát quà cho lũ trẻ trong dịp lễ Trung Thu. Con Dung được một cái đèn xếp và nửa chiếc bánh dẻo. Còn Alice lại được một gói kẹo tây và một cái đèn con cá. Cái đèn đã thích, mà gói kẹo tây đủ mầu sắc bọc bằng giấy bóng đỏ lại càng hấp dẫn hơn. Bởi thế, lần đầu tiên con Dung phải hạ mình nói với Alice:
  • Đổi phần của mày cho tao thì tao sẽ bảo tụi nó chơi với mày…Alice!
    Con Alice trao ngay phần của nó cho Dung. Sự được con Dung chiếu cố đến mình còn sung sướng hơn là được chơi đèn và ăn kẹo. Nhưng Thu Thu đứng bên cạnh đã giằng tay Alice lại và hét lên:
  • Đừng đổi cho nó, Alice! Đồ ăn dỗ!
    Con Dung đỏ mặt ấp úng:
  • Nó bằng lòng đổi cho tao! Mặc kệ nó!
    Thu Thu đáp:
  • Tao không nói với mày. Tao nói với con Alice. Đứa nào đổi tao sẽ mách ma sœur.
    Con Dung tịt mít vùng vằng bỏ đi. Alice nhìn Thu Thu lo lắng:
  • Nó sẽ trả thù cho mà xem.
  • Đừng có sợ. Đã có tao bênh mày.
    Alice liền đưa gói kẹo ra:
  • Cho Thu Thu đấy!
    Thu gạt đi:
  • Tao không lấy đâu. Mày giữ lấy ăn dần.
    Alice nhìn Thu Thu lạ lùng. Rồi hai đứa nắm tay nhau đi dưới ánh trăng chẩy trong vắt như sữa trong vườn cây. Lần đầu tiên Alice cảm thấy mình không trơ trọi. Nó bóc gói kẹo ra mời Thu Thu. Hai đứa vừa ăn kẹo vừa thủ thỉ nói chuyện. Alice nói:
  • Kẹo ngon quá. Chưa bao giờ Alice được ăn thứ kẹo ngon như thế.
    Nhưng thật ra lòng nó muốn nói: “Chưa bao giờ Alice được sung sướng và đầy đủ như thế”. Nó nắm lấy tay Thu Thu và nhìn vào gương mặt xinh xắn của bạn. Thu Thu quay sang nhìn nó mỉm cười. Hôm đó chúng nói chuyện với nhau tới thật khuya.
    Đó là đôi bạn mà Phượng cho là lạ lùng nhất trong Cô Nhi Viện. Hai đứa cặp kè với nhau trong tất cả mọi công việc. Lúc ăn cơm, Thu Thu ngồi bên cạnh Alice. Thu Thu gắp món gì Alice gắp món đó.Thu Thu ghét món giá xào với đậu phụ, Alice cũng ghét theo. Bữa nào có cơm với giá sào thì hai đứa rưới nước mắm ăn với nhau rất vui vẻ. Nhiều khi Alice cảm thấy mình đầy đủ và sung sướng quá nên lo lắng hỏi:
  • Chị Thu Thu ơi, lúc nào chị sắp ghét em thì chị nói nhé.
    Thu Thu mỉm cười:
  • Alice làm gì mà Thu Thu ghét cơ chứ?
    Alice bẽn lẽn nói:
  • Nhưng mà em sợ!
  • Sợ cái gì?
  • Em sợ rồi không còn ai yêu mến em nữa.
    Thu Thu cảm động quàng tay lên cổ Alice. Nó vuốt từng sợ tóc xoăn của bạn và nói:
  • Alice ngoan và không độc ác, Alice hay nhường nhịn mọi người. Alice lại thuộc giáo lý và đọc kinh hằng ngày. Như vậy còn ai ghét Alice được.
    Alice ngập ngừng:
  • Nhưng em xấu xí. Tất cả đều gọi em là mọi đen xấu xí. Xấu xí đáng ghét lắm phải không chị Thu Thu?
    Thu Thu nắm chặt lấy bàn tay cục mịch của bạn rồi nói:
  • Đừng có nghe lời bọn con Dung nói nhảm. Hôm qua ma sœur chẳng giảng rằng con người không phải xấu tốt ở phần hình dáng bên ngoài, mà chính là do ở lòng tin và mến Chúa, và chỉ những kẻ xa rời đức tin và không chịu làm điều thiện để toàn mình mới là xấu xa đáng bị trừng phạt mà thôi.
    Alice sung sướng:
  • Em không cầu mong chúng nó phải phạt. Em chỉ mong chị Thu Thu đừng bao giờ ghét em thôi.
    Thu Thu gật lấy gật để:
  • Không bao giờ. Không bao giờ cả.
    Alice muốn ôm lấy Thu Thu vào lòng mình. Nhưng nó chỉ nhìn cô bé mà cười ứa nước mắt.
    Bản tính của Alice rất kỳ lạ. Nó không hay chóng chán như những đứa trẻ khác. Khi thích thú một câu chuyện hay một đồ chơi gì thì Alice có thể thích thú mãi mãi. Hình như nó cho rằng sự sung sướng đến với nó là rất ít ỏi. Bởi vậy nó mãn nguyện và thấy đầy đủ với những sự sung sướng ấy mà không đòi hỏi gì hơn.
    Trong các câu chuyện kể giữa Thu Thu và Alice, Alice thích nhất câu chuyện ” Hằng Nga ngủ trong rừng”. Alice đã nghe Thu Thu kể đến mấy chục lần mà lần nào nó cũng thấy như là mới được nghe lần thứ nhất. Nó đặt cho Thu Thu nhiều câu hỏi mà nó đã hỏi nhiều lần. Nếu lần nào Thu Thu quên không trả lời được thì nó lại thay Thu Thu để trả lời. Rồi nó cười rúc rích, hai gò má căng lên, hàm lợi hở ra, những chiếc răng trắng nhởn nom huếch hoác.
    Mỗi lần rỗi rãi, Alice lại nài nỉ bạn:
  • Chị Thu Thu ơi, chị kể chuyện đi!
    Thu Thu ngẫm nghĩ:
  • Kể chuyện gì bây giờ?
  • Chuyện Hằng Nga ngủ trong rừng.
    Thế là trong khi chờ Thu Thu cất giọng, Alice sung sướng sửa lại chỗ ngồi cho ngay ngắn, hai tay của nó ôm lấy đầu gối, mắt nó chăm chú nhìn vào cái miệng xinh và có duyên của bạn trong khi miệng nó đã chúm chím để sửa soạn rích lên cười. Bao giờ Thu Thu cũng bắt đầu câu chuyện bằng những câu giống hệt nhau, không thêm, không bớt mà Alice đã nhớ đến thuộc lòng:
  • Ngày xưa có một ông vua mở tiệc ăn mừng cho nàng công chúa mới được sinh ra. Đó là công chúa Hằng Nga mà nhà vua rất quý mến. Vua sai người đi tìm hết thẩy các bà tiên trong xứ đến làm phép lành cho công chúa.
    Alice ngắt lời:
  • Hết thẩy có mấy bà tiên hả chị?
  • Hết thẩy có bẩy bà tiên lành và một bà tiên dữ cùng đến dự tiệc.
    Alice cãi:
  • Bà tiên dữ đến sau chứ?
  • Ừ, phải rồi. Bẩy bà tiên lành đến trước được vua ban cho chén vàng đĩa bạc và dùng yến tiệc trong căn phòng đẹp nhất của lâu đài. Còn bà tiên dữ thì chỉ được những đồ xấu xí…
    Alice không hỏi nữa vì nó bị sức hấp dẫn của câu chuyện thu hút hoàn toàn. Mặt con bé ngẩn ra, môi nó trễ xuống, thỉnh thoảng nó lại mấp máy theo lời kể của Thu Thu. Lúc đến đoạn Hoàng Tử đi săn lạc vào rừng gặp Công Chúa thì nó muốn nhẩy cỡn lên để chia xẻ nỗi sung sướng của người trong cuộc và nó làm như thể chính nó là nàng Công Chúa được phép tiên làm cho hồi sinh vậy.
    Khi câu chuyện chấm dứt, Alice tấm tắc lấy làm tiếc rẻ. Nếu có thể bắt Thu Thu kể lại một lần nữa thì nó vẫn sung sướng và kiên nhẫn ngồi nghe lại một lượt khác từ đầu.
    Vì đó là câu chuyện đã gây cho Alice nhiều kỷ niệm với Thu Thu nhất.
    Vì đó là câu chuyện đã khiến cho Alice tìm thấy ở Thu Thu niềm an ủi sâu sa và tình bạn mà Alice cho là bất diệt.