Bài ca vọng-cổ

baotreonline.com
Tiểu Tử
November 8th, 2024

Post by Sơn râu 13 Nov 2024

Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ như quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khoé môi, mái tóc đã ngả bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước “Cách mạng thành công’’ và tôi của bây giờ – nghĩa là chỉ sau có mấy năm sống dưới chế độ gọi là ưu việt – thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi … tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!
Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’ivoire (Phi Châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu tôi cho Công ty Đường mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa!
Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v.v. Vì vậy, tôi hơi … ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia …
Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800km! Vùng này toàn rừng là rừng. Không phải là rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mươi, mười lăm thước … coi khô khốc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng, nhưng đồi không cao và trũng không sâu …
Nhà nước phá rừng trồng mía. Rừng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v.v. nằm cách nhau cỡ vài cây số.

CHỢ HOA- Tranh sơn dầu của tác giả Tiểu Tử – Hãy hòa nhập vào hồn Việt Nam trong những chiếc áo bà ba, áo dài, cây dù màu, cái nón lá, lòng thảnh thơi khoác tay nhau đi trong nắng trong hoa … để thấy chỉ có quê hương là đẹp hơn cả (Lời tác giả)

Muốn về thủ đô Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần 30 cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến.
Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đất đỏ, mỗi lần máy bay bay lên đáp xuống là bụi bay … đỏ trời!
Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi “làm lại cuộc đời’’ ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhứt làm việc chung với Tây trắng (chỉ có 5 người) và Tây đen (đông vô số kể). Ở đây, thiên hạ gọi tôi là “le chinoise’’ – thằng Tàu – Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi … nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.
… Một hôm, sau hơn 8 tháng “ở rừng’’, tôi được gọi về Abidjan để họp (Đây là lần đầu tiên được về thủ đô!). Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa.
Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:
– Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi tôi mới về.
Ở xứ đen, họ dùng từ “Patron’’ để gọi ông chủ, ông sếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v.v. Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết!
Tôi nói:
– Về đi! Đâu cần phải đợi!
Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng toát:
– Tại Patron không biết chớ ở đây lâu lâu họ lại hủy chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.
Rồi hắn đi ra xe. Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh: hành khách khá đông, nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-ly v.v. Không phải họ không biết gởi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gửi đã đủ số ký-lô dành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ … xách tay, cho dầu là nhiều món vừa nặng vừa cồng kềnh!
Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngả người trên lưng ghế, lim dim …
Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy’’. Rồi lại nhắm mắt lim dim … Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò’’: “Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng … đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều…’’
Đúng rồi! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngoài kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá ! Người đen đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển … họ cũng ít dùng nữa.
Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là loại võng nhà binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:
– Bonjour!
Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói “Bonjour’’. Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:
– Anh hát cái gì vậy?
Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp_
– Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là le chinoise làm việc cho hãng đường ở Borotou không?
Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:
– Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.
Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:
– Trời ơi! … Bác là người Việt Nam hả?
Rồi hắn vỗ lên ngực:
– Con cũng là người Việt Nam nè!
Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ’’ đến cái xứ “khỉ ho cò gáy’’ này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt …
Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:
– Trời ơi!… Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!… Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt … con mừng “hết lớn’’ bác à!
Rồi hắn kéo tôi lại võng:
– Bác nằm đi! Nằm đi!
Hắn lại đống gạch “bờ-lóc’’ gần đấy lấy 2, 3 viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:
– Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu đợi tới bây giờ …
Hắn móc gói thuốc, rút lòi ra một điếu, rồi đưa mời tôi:
– Mời bác hút với con một điếu.
Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “cái gì’’ rất Việt Nam.
Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:
– Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?
Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:
– Của ông ngoại con cho đó! Ổng cho, hồi ổng còn sống lận.
Rồi hắn bật cười:
– Hồi đó ổng gọi con bằng “thằng Lọ Nồi’’.
Ngừng một chút rồi tiếp:
– Vậy mà ổng thương con lắm à bác!
Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm … Tôi nói:
– Vậy là cháu lai Việt Nam à?
– Dạ. Má con quê ở Nha Trang.
– Rồi má cháu bây giờ ở đâu?
Giọng của hắn như nghẹn lại:
– Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi Việt cộng vô năm 1975.
– Còn ba của cháu?
– Ổng hiện ở Paris. Tụi này nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!
Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt Nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ này, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi môi dầy…
Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:
– Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!
Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:
– Có chớ bác. Con có lai chớ bác.
Hắn xoè hai tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:
– Bên ni của con là nằm ở bên ngoài đây nè.
Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:
– Còn bên ngoại của con, nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.
Bỗng giọng hắn nghẹn lại:
– Con lai Việt Nam chớ bác!
Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt tôi, một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vói tay vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:
– Ô! Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy…
Hắn mỉm cười:
– Ở đây người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?
Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:
– Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người giống mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh này, thiệt là Trời còn thương con quá!
Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng…
Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:
– Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài “Đường về quê ngoại’’ đó bác.
– Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.
Giọng nói của hắn bỗng như hăng lên:
– Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.
– Bác cũng vậy.
Tôi nói, mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau…
Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:
– Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.
Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:
– Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết “Jean le vietnamien’’ hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.
Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ, rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:
– Ghé con nghe bác… Ghé con …
Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật gật đầu, vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con …
Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi vội vã quay đi, lầm lũi bước nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho “thằng Jean le vietnamien’’. Hồi nãy, nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ …
…Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “thằng Jean’’ rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!
Bây giờ, viết lại chuyện thằng Jean mà tôi tự hỏi:
“Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam?’’
“Và có được bao nhiêu người còn mang mểnh trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nằm nguyên trong đó?’’.

TT

ĐẠI ĐỘI 3 MIKE FORCE

8/11/1966 – 12/11/1966
Clyde J. Sincere Jr., Commander, II Corps MF October ’66 – May ‘67

Post by Sơn râu 13 Nov 2024

Bối cảnh: trong thời gian tháng Mười Một năm 1966, lực lượng Xung Kích Mike Force trên quân đoàn II gồm có ba toán A LLĐB/HK, A-217, A-218, và A-219. Sau đó, thêm một toán A LLĐB được bổ xung để thành lập bộ chỉ huy B LLĐB, B-20. Lực lượng xung kích Mike Force co trên 1000 quân DSCĐ, đa số thuộc sắc dân Jarai và Rhade, một số ít thuộc các bộ lạc người Koho, Sedang, và các bộ lạc người Thượng khác trên vùng cao nguyên. Đạo quân DSCĐ này được sự chỉ huy của quân nhân Mũ Xanh, LLĐB/HK trong các toán A. Trong thời gian tôi phục vụ, không có quân nhân LLĐB/VN được chỉ định vào chức vụ chỉ huy.
Tài liệu này ghi lại các hoạt động của đại đội 3 xung kích Mike Force, Mike Force quân đoàn II, trong chuyến hành quân phối hợp với các đơn vị Bộ Binh thuộc sư đoàn 4 BB/HK trong thời gian từ ngày 8 đến ngày 12 tháng Mười Một năm 1966 trong khu vực gần biên giới Việt-Miên và nơi phiá bắc thung lũng Plei Trap.
Vào khoảng ngày 6 tháng Mười Một năm 1966, tôi được lệnh trình diện trung tá Eleazer “Lee” Parmly IV, chỉ huy trưởng, bộ chỉ huy B, liên đoàn 5 LLĐB/HK trên Pleiku. Lúc trình diện, trung tá Parmly chỉ thị cho tôi, chuẩn bị một đại đội xung kích Mike Force để tham dự hành quân phối hợp với hai đại đội Dân Sự Chiến Đấu, lấy từ trại LLĐB Dức Cơ, và Plei Djereng. Lực lượng DSCĐ hoạt động độc lập trong khu vực trách nhiệm của họ, thăm dò mục tiêu, tìm địch quân cho các cuộc hành quân “Lùng và Diệt” do sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ tổ chức trong khu vực phiá bắc trại LLĐB Plei Djereng, phiá nam sông Sa Thay, lên đến khu vực tam biên.
Tôi chọn đại đội 3 xung kích Mike Force dưới quyền chỉ huy của trung úy Robert C. Jacobelly, đại diện lực lượng xung kích Mike Force trên quân đoàn II tham dự cuộc hành quân. Đại đội 1 Mike Force dưới quyền chỉ huy của trung úy Larry Dring, vừa lên thay trung úy Neal Y. Pickett, thuyên chuyển qua đơn vị LLĐB khác. Đại đội 1 sẽ làm trừ bị, ứng chiến nhận lệnh trực tiếp từ trung tá Parmly, chỉ huy trưởng B-20 LLĐB, hoặc đại tá Francis Kelly, chỉ huy trưởng liên đoàn 5 LLĐB/HK.
Ngoài ra còn đại đội 2 xung kích Mike Force dưới quyền trung úy Gilbert Jenkins, sẽ trở về hậu cứ ngày 9 tháng Mười Một, sau chuyến hành quân Blackjack 21 (Lực Lượng Du Kích Lưu Động 777) trong thời gian từ ngày 9 tháng Mười đến 9 tháng Mười Một năm 1966. Một sự trùng hợp, khu vực hành quân của Blackjack 21 cũng là khu vực hành quân được trao phó cho đại đội 3 xung kích Mike Force trong ngày 8 tháng Mười Một.
Trong hành quân Blackjack 21, đại đội 2 xung kích Mike Force đặt dưới quyền chỉ huy của đại úy James Fenlon, do chính đại tá Kelly chọn lựa mặc dầu tôi phản đối. Đại đội 4 xung kích Mike Force dưới quyền chỉ huy của trung úy Andrew Irzyk, vẫn còn trong thời gian tuyển mộ, tổ chức, huấn luyện, chưa sẵn sàng tham dự hành quân.
Sáng ngày 8 tháng Mười Một năm 1966, đại đội 3 xung kích Mike Force gồm có trung đội trinh sát, bốn trung đội kinh binh được trực thăng vận từ căn cứ ở Pleiku đến bãi đáp Lane gần biên giới Miên, đã được một đại đội thuộc sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ an ninh. Đại đội 3 Mike Force dưới quyền chỉ huy của trung úy Jacobelly, còn có thêm trung sĩ nhất Frank Huff, Robert Ramsey và trung sĩ Danny Panfil.
Đại đội xung kích Mike Force được lệnh lục soát khu vực hướng bắc, cách biệt với hai đại đội Dân Sự Chiến Đấu (Plei Djereng và Đức Cơ). Trong lúc thuyết trình kế hoạch hành quân cho vị chỉ huy trưởng, trung tá Parmly cố vấn, nên cho thêm mấy quân nhân Mũ Xanh tham dự cuộc hành quân. Tôi quyết định đi theo đại đội 3 Mike Force cùng với thượng sĩ Frank Quinn. Các trực thăng UH1-D để đưa đại độỉ 3 Mike Force vào vùng hành quân không đủ nên phải bay nhiều chuyến, kết qủa trễ ba tiếng đồng hồ như dự trù.
Sau đó đại đội Mike Force di chuyển lên hướng đông bắc. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, toán quân tiền phương, đụng nhằm một đơn vị phòng không của địch đang lập vị trí đặt súng. Trông thấy lính Mike Force, địch quân phát hoảng bỏ súng chạy, có lẽ chúng nghĩ rằng trực thăng sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ đang chở quân, đồ tiếp liệu đến vùng hành quân, không ngờ quân LLĐB. Nghe tiếng súng nổ, sĩ quan chỉ huy đại đội 3 Mike Force, “Jake” Jacobelly cùng với tôi chạy lên, và Jake bị một vết thương nhẹ nơi cánh tay, đó cũng là tổn thất duy nhất của đại đội Mike Force. Một điều đáng chú ý là Danny Panfil bắn chết một người lính Bắc Việt rất to con, rất có thể là cố vấn Trung Cộng. Đại đội Mike Force tịch thâu hai khẩu đại liên phòng không 12.7 ly cùng với 35 ba lô (cả một trung đội phòng không).
Jake xin trực thăng chở ba lô tịch thâu được về bộ tư lệnh sư đoàn 4 BB, để phòng 2 sư đoàn điều tra thêm tin tức về địch quân. Hai khẩu đại liên phòng không 12.7 ly, Jake muốn giữ lại vì đó là chiến công của đơn vị và sẽ được thưởng. Tuy nhiên đại đội Mike Force vẫn phải tiếp tục di chuyển, lục soát, đem theo hai khẩu súng tịch thu của địch cùng với những thùng đạn là một gánh nặng cho binh sĩ, nên cuối cùng phải xin trực thăng đến đem đi.
Lần này trực thăng Jake báo cáo về bộ chỉ huy B-20 LLĐB, xin một trực thăng đến một khoảng trống trên đường tiến quân của đại đội Mike Force chở hai khẩu súng phòng không cùng đạn dược về Pleiku. Tiếp tục tiến quân, lục soát, đại đội 3 Mike Force tìm thấy một căn cứ đóng quân bỏ trống cấp trung đoàn của quân đội Bắc Việt, với những dẫy nhà làm bằng tre, dưới những tàn cây rậm rạp, che kín mặt đất. Căn cứ đóng quân của địch có nhà ăn, nhà ngủ, khu huấn luyện. Jake ra lệnh phá hủy căn cứ của địch, trước khi rời khu vực, vào sáng ngày hôm sau. (đại đội 3 xung kích Mike Force tặng đại tá Frances Kelly một khẩu 12.7 ly, được trưng bầy trong bộ chỉ huy liên đoàn 5 LLĐB/HK ở Nha Trang. Vị chỉ huy trưởng cuối cùng là đại tá Mike Healy, đem khẩu súng về Hoa Kỳ. Hiện tại khẩu đại liên phòng không 12.7 ly của quân đội Bắc Việt do đại đội 3 xung kích Mike Force tịch thâu ngày 8 tháng Mười Một năm 1966 được trưng bầy bên ngoài viện bảo tàng Chiến Tranh Đặc Biệt John F. Kennedy, vị tổng thống Hoa Kỳ xây dựng đạo quân Mũ xanh LLĐB Hoa Kỳ).
Sáng sớm ngày 9 tháng Mười Một, đơn vị Mike Force tiếp tục tiến quân theo lộ trình bắc, tây bắc dọc theo con đường vừa mới khám phá, đủ rộng để xe vận tải Molotova di chuyển. Tôi đi theo trung đội có nhiệm vụ “khuân vác” hai khẩu đại liên phòng không 12.7 ly đến bãi đáp trực thăng để đem về Pleiku.
Mọi chuyện diễn ra êm xuôi, sau đó tôi đi theo đại đội 3 Mike Force. Jake xử dụng toán trinh sát đi đầu trục tiến quân. Khu vực đoàn quân đang di chuyển, có vẻ trống trải vì con đường di chuyển của địch, nhưng đến buổi trưa, đoàn quân vào trong một khu rừng với cành lá rậm rạp, âm u. Jake không rõ vị trí chính xác của đơn vị, nên cùng với Frank Huff, và Bob Ramsey dắt theo một trung đội hộ tống đi tìm một khoảng đất trống để xác định điểm đứng.
Họ lên một sườn núi nằm hai bên con đường mòn. Trong khi Jake đang xử dụng bản đồ, điạ bàn để xác định điểm đứng, một binh sĩ báo động, có vài tên địch đang di chuyển trên một con đường mòn nhỏ hướng tây bắc, về hướng trung đội Mike Force. Cả trung đội Mike Force báo động, nằm im chờ đợi. Khi mấy tên địch đến một thân cây đổ, nằm vắt ngang một giòng suối, trung đội Mike Force nổ súng, mấy tên lính Bắc Việt chưa kịp bắn trả lại một viên.
Jake cùng với DSCĐ ra lục soát, họ tìm thấy dấu vết có người chạy thoát. Toán quân trải rộng ra tìm thấy người lính Bắc Việt nằm chết trong rừng cách chỗ bị “phục kích” khoảng 50 thước. Trung đội Mike Force thâu nhặt chiến lợi phẩm rồi quay trở về đại đội. Trong khoảng thời gian đó, nhiều tổ báo động cho biết những toán quân nhỏ của địch xuất hiện tại nhiều nơi. Jake ra lệnh cho đại đội dừng quân lập tuyến phòng thủ đêm. (Sau này tài liệu tịch thu được trong trận đánh giữa tiểu đoàn 1/12, sư đoàn 4 BB Hoa Kỳ cho biết, trung đoàn 88 Bắc Việt được lệnh tránh đụng độ với các đơn vị DSCĐ người Thượng. Họ đợi lính bộ binh Hoa Kỳ vào trận điạ mới tấn công. Và kết quả đêm ngày 10 tháng Mười Một, trung đoàn 88 Bắc Việt tấn công tiểu đoàn 1/12 dưới quyền trung tá J. “Dick” Lay. Tài liệu cũng cho biết cấp chỉ huy trung đoàn 88 xử dụng hơn một tiểu đoàn tấn công các đại đội DSCĐ do LLĐB/HK chỉ huy ngày 11/11/1966).
Sáng sớm ngày 10, đại đội 3 xung kích Mike Force tiếp tục tiến quân về hướng tây, biên giới Việt-Miên. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, toán quân đi đầu báo động, nghe tiếng người nói phiá trước, và cả đại đội tản ra hai bên, phục kích. Sáu người lính Bắc Việt đầu hàng, rồi bỏ chạy, bị bắn chết tại chỗ ba tên, một bị thương nhưng chạy thoát, hai bị bắt sống.
Sau đó, đại đội Mike Force di chuyển đến một khu vực trên bản đồ có tên là “Pali Wali Dry Lake Bed”, biên giới giữa hai quốc gia Việt, Miên. Đó là một hồ cạn nước, và Jake quyết định cho đại đội lập tuyến phòng thủ đêm bên bờ phiá đông. Một trung đội được lệnh lên nằm tiền đồn cách tuyến phòng thủ đại đội 200 thước. Tôi xin trực thăng về Pleiku và đem theo hai tù binh bắt được lúc ban chiều.
Trong khi đại đội Mike Force lập tuyến phòng thủ đêm bên bờ hướng tây của hồ cạn, Bob Ramsey, Frank Huff cùng với trung đội trinh sát đi thám sát phiá bên kia hồ, trên phần đất Miên. Họ khám phá ra nhiều con đường mòn, được xử dụng rất thường xuyên. Trong lúc thám sát khu vực, họ có linh cảm những toán trinh sát của địch cũng đang theo dõi các hoạt động của đại đội Mike Force.
Lúc trở về, Bob báo cáo những điều này lên cho Jake, và anh ta ra lệnh cho cả đại đội sẵn sàng ứng chiến. Trung úy chỉ huy đại đội Mike Force cũng tin rằng địch quân đang chuẩn bị… chuyện gì đó. Để tránh bị theo dõi và để cho địch bối rối, Jake đợi cho đến lúc gần tối mới xắp xếp vị trí đóng quân đêm. Đồng thời ra lệnh cho Bob và Frank đem một trung đội qua bên kia bờ hồ cạn, góc tây bắc nơi giao điểm của nhiều con đường mòn, làm tiền đồn.
Ra đến vị trí nằm tiền đồn, Bob mới nhận thấy có nhiều con đường rộng lớn chứ không phải đường mòn. Anh ta ra lệnh cho binh sĩ Thượng đặt mìn Claymore, căn dặn phải làm gì khi bị tấn công, đường rút lui về đại đội. Bên này Jake chuẩn bị yếu tố tác xạ cho pháo binh 175 ly yểm trợ nhưng được cho biết, vị trí đóng quân của đại đội Mike Force đã ra ngoài tầm bắn đại bác 175 ly.
Khoảng sáu giờ sáng hôm sau, trung đội tiền đồn báo động. Bob ra chỗ người lính Thương canh gác, trông thấy rõ ràng, đoàn quân Bắc Việt đang di chuyển đến vị trí đóng quân của trung đội tiền đồn. Binh sĩ người Thượng khai hỏa quá sớm làm lính Bắc Việt nổi điên. Toán lính tiền phương Bắc Việt khựng lại rồi biến mất. Frank Huff lập tức báo cáo cho Jake và xin pháo binh yểm trợ, nhưng được trả lời không có vì đơn vị đã ra khỏi tầm bắn đại bác 175 ly.
Chỉ vài phút sau, quân đội Bắc Việt bắt đầu tấn công trung đội tiền đồn. Bob báo cáo lên cho Jake và được lệnh rút lui trở lại bên này bờ hồ cạn cùng với đại đội. Bob bắn một viên đạn mầu (flare, hỏa pháo) lên ra lệnh cho trung đội băng qua hồ cạn trở về phiá bên kia. Trong lúc rút lui, một binh sĩ bị trúng đạn nơi chân, nhưng vẫn qua được.
Lúc đó súng đạn nổ vang khu rừng. Địch quân tấn công vào tuyến phòng thủ của đại đội Mike Force, và phi cơ quan sát FAC cùng với khu trục cơ A1 đang bao vùng. Loại phi cơ cánh quạt từ thời đệ nhị thế chiến yểm trợ “cận phòng” rất hiệu quả, vì tốc độ bay chậm và thời gian “bao vùng” lâu hơn. Quân Bắc Việt đã mở ba đợt tấn công vào tuyến phòng thủ đại đội Mike Force nhưng bị đẩy lui. Quân bạn đã có tổn thất, thương vong. Chiếc FAC yêu cầu ném khói mầu đánh dấu bạn và địch để điều động thêm mấy phi tuần phản lực lên yểm trợ.
Jake cùng với một binh sĩ Thượng bò lên tuyến đầu để ném qủa lựu đạn khói. Anh ta trông thấy đông đảo lính Bắc Việt, và khi vừa tung quả lựu đạn khói ra, súng của địch lại nổ liên hồi, một viên trúng Jake, bị thương nặng nhưng vẫn còn tỉnh táo. Jake được Bob gọi thêm Danny Pamfil lên tiếp tay, lôi Jake vào bên trong phòng tuyến. Danny băng bó cho Jake rồi cuốn poncho để giữ ấm thân thể trong khi chờ trực thăng đến di tản. Trong khi đó Frank Huff thay Jake liên lạc với FAC để điều chỉnh trận oanh kích.
Cùng lúc đó, một trực thăng chở Clyde cùng với đồ tiếp tế vào cho đại đội Mike Force. Chiếc trực thăng trúng nhiều đạn súng trường, Clyde vội vàng nhẩy ra khỏi chiếc trực thăng khi còn cách mặt đất khoảng 12 bộ, nhặt khẩu M-16 lên rồi chạy biến vào trong rừng. Bob nhớ lại lời Danny nói với anh ta “Cục cứt! anh ta (Clyde) chạy lạc hướng!”.
Danny và Frank Quinn được chọn để đi tìm Clyde. Chỉ một lúc sau họ đem về được Clyde và Clyde tạm thời lên nắm quyền chỉ huy đại đội Mike Force. Đồng thời quân đội Bắc Việt cũng rút lui.
Theo lời Clyde kể lại, sáng sớm ngày 11, một người vào trong phòng của anh cho biết, Jake cùng với đại đội 3 Mike Force bị một đơn vị cấp lớn chính quy Bắc Việt tấn công. Clyde chạy vào bộ chỉ huy B LLĐB, yêu cầu cho một trực thăng đưa anh ta vào trận điạ. Thật may, lúc đó có thiếu tá Al Cartwright, một phi công thâm niên trong phi đoàn trực thăng 281, biệt phái cho liên đoàn 5 LLĐB/HK và B-20 LLĐB đang có mặt và ông ta sẵn sàng chở Clyde cùng với đạn dược đem tiếp tế cho đại đội 3 Mike Force.
Trong lúc đang bận rộn chất những thùng đạn lên trực thăng, trung úy Paul Hess, phụ tá trưởng ban 4 (tiếp liệu) cũng muốn đi theo. Tôi đồng ý và anh ta lên ngồi cạnh trung sĩ Hank Leonard, xạ thủ đại liên M-60 cửa bên phải. Tôi nói sơ qua hướng bay cho thiếu tá Cartwright biết, hồ cạn mà trực thăng xuống đón tôi chiều qua.
Khi đến gần mục tiêu, Cartwright liên lạc với đại đội Mike Force và nhận được dấu hiệu khói vàng. Tuy nhiên lúc đó, đại đội Mike Force đã bị địch tấn công từ sáng phải lui về phiá sau, nên chiếc trực thăng đã bay quá đà. Chiếc trực thăng trúng nhiều đạn đại liên phòng không, cả hai Hess và Leonard đều chết ngay tức khắc. Viên phi công phụ cũng bị thương, và có lẽ cả người xạ thủ đại liên cửa bên trái cũng vậy. Thiếu tá Cartwright nói với tôi, phải bay lên cao, do đó tôi thủ khẩu M-16 nhẩy ra khỏi chiếc trực thăng…
Trong khi đó, thiếu tá Cartwright khó khăn lắm mới lái được chiếc trực thăng trúng nhiều đạn bay về Pleiku. Ông ta cũng báo cáo tình hình chiến trường đang xẩy ra dưới đất, giữa đại đội 3 xung kích Mike Force và quân đội Bắc Việt.
Đại úy Clyde Sincere nắm quyền chỉ huy đại đội Mike Force, sau khi duyệt xét lại tình hình, ông ta yêu cầu tiếp tế đạn dược. Đó cũng là một vấn đề, LLĐB/HK xử dụng M-16, binh sĩ Thượng đa số được trang bị Carbine M-1, vài khẩu M-2, hai trung liên BAR, hai đại liên 30 và mấy khẩu phóng lựu M-79. Tôi (đ/úy Clyde) yêu cầu tăng viện và được trả lời, một đại đội bộ binh thuộc sư đoàn 4 sắp vào vùng hành quân.
Khoảng 2:00 giờ chiều, khu trục A1 Skyraider lên thả bom Napalm xung quanh tuyến phòng thủ đại đội Mike Force để cho địch quân phải tránh ra xa. Khoảng hai tiếng đồng hồ sau, chỉ huy phó B-20 LLĐB ngồi trên trực thăng chở đạn bay vào. Kinh nghiệm chuyến trực thăng trước do thiếu tá Cartwright lái, viên phi công “lạnh cẳng”, đạp những thùng đạn xuống từ trên độ cao 500 bộ, nhưng tất cả đều không bị hư hại (thùng đạn bị vỡ).
Mấy tiếng đồng hồ sau, quân Mike Force có thể nghe tiếng đoàn trực thăng đưa đại đội bộ binh vào bãi đáp trực thăng ngay trên mặt hồ cạn. Có thêm quân tiếp viện, vấn đề phòng thủ trở nên vững chắc, bảo đảm hơn. Các thương binh đại đội 3 xung kích Mike Force được trực thăng tản thương đến đem đi, trong đó có Jake đã nằm kẹt trong chiến trường gần tám tiếng đồng hồ. Chúng tôi yêu cầu trực thăng di tản những binh sĩ Thượng tử trận, bị thương, nhưng coi bộ mấy ông phi công Lục Quân không thèm để ý đến người Thượng. Họ trả lời để “từ từ”, lo cho người Hoa Kỳ trước, làm tôi nổi nóng, lớn tiếng phản đối. (mấy tay này chưa từng sống, làm việc với người Thượng như LLĐB).
Cho chắc ăn, để đám phi công khỏi “dọt” luôn, tôi ra lệnh cho Frank Quinn, Frank Huff, và Danny Pamfil lên mỗi người một trực thăng chở thương binh người Thượng về Pleiku. Cả ba LLĐB/HK cũng được lệnh ở lại Pleiku để lo an ủi thương binh, phụ giúp gia đình tử sĩ trong việc chôn cất những quân nhân người Thượng. Bob Ramsey cùng với tôi phối hợp với đại đội B, tiểu đoàn 1/12, sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ và phần còn lại của đại đội 3 xung kích Mike Force.
Trung đoàn 88 Bắc Việt đã rút lui khỏi trận điạ. Bộ binh cùng với chúng tôi đi thâu dọn chiến trường. Chúng tôi đào một hố lớn chôn xác 58 binh sĩ Bắc Việt nơi phiá nam hồ cạn. Chúng tôi tịch thâu được nhiều vũ khí đủ loại trong đó có hai khẩu súng ngắn (K-54) do Nga Sô chế tạo. Hai khẩu súng ngắn này lấy được từ hai xác chết có lẽ của viên tiểu đoàn trưởng và sĩ quan hành quân Bắc Việt. Tôi cho Danny Pamfil một khẩu vì anh ta chiến đấu can đảm, còn khẩu kia, tôi cho Jake đang nằm trong bệnh viện. Tôi nghĩ rằng, trong những ngày sắp tới, có thể tịch thâu thêm khẩu súng ngắn (K-54) nữa… nhưng dịp may đó không bao giờ trở lại với tôi.
Sáng ngày 12 tháng Mười Một, đại đội bộ binh cùng với đại đội Mike Force di chuyển về gần nơi đóng quân tiểu đoàn 1/12. Lúc đó, trung úy Larry Dring cùng với đại đội 1 xung kích Mike Force đã được trực thăng vận đưa vào vùng hành quân. Đại đội này sẽ tăng phái cho Bộ Binh cho đến khi cuộc hành quân kết thúc vào đầu tuần tháng Mười Hai. Đại đội 3 Mike Force sẽ được đưa về Pleiku nghỉ dưỡng quân và bổ xung, chấm dứt nhiệm vụ trong chiến đoàn đặc nhiệm Prong.
Dallas, TX.
vđh

Chiến dịch Thunder Cloud

Dr. Warren W. Williams
Dịch giả Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 13 Nov 2024

    Chiến dịch Thunder Cloud là một hoạt động bí mật, trong Hành Quân 35 (Ngoại Biên) của đơn vị SOG. Người Hoa Kỳ dụ dỗ, tuyển mộ, huấn luyện những tù, hàng binh Bắc Việt để làm việc cho họ, chống lại miền bắc. Tôi là cấp chỉ huy đầu tiên (tình nguyện) và được vị chỉ huy trưởng đơn vị SOG bổ nhiệm chính thức. Tôi đã bắt đầu làm việc, tổ chức chương trình Thunder Cloud từ con số không.
    Tất cả những thanh niên (quân nhân) đẹp trai, tôi tuyển mộ đều là những cựu binh sĩ trong quân đội Bắc Việt. Chúng tôi tổ chức họ ra làm bốn toán ba người, mặc quân phục lính Bắc Việt, với đầy đủ vũ khí, trang bị, y hệt một người lính trong đơn vị chính quy từ miền bắc vào. Chúng tôi tạo cho họ một “vỏ bọc” (câu chuyện), và giấy tờ giả mạo để xác nhận sự hiện diện của họ trong khu vực hoạt động mà chúng tôi trao phó cho họ. Chúng tôi cho họ đem theo (che dấu, ngụy trang) máy truyền tin, máy chụp ảnh, bản đồ và quyển sổ nhỏ để ghi chép.
    Sau đó, họ được trực thăng đưa vào khu vực hoạt động ấn định trước. Từ đó, họ sẽ lội bộ trong rừng hay trên đường mòn, cho đến khi gặp quân địch (lính Bắc Việt). Lúc đó họ sẽ tìm cách làm quen, ngủ tạm qua đêm (đang trên đường đi công tác) trong một binh trạm của địch. Những tin tức họ góp nhặt được, đem về rất đặc biệt và có giá trị. Đến lúc triệt xuất đem họ về (chuyện này hơi gay cấn), chúng tôi phải có ba hoặc bốn kế hoạch phòng hờ.
    Trong những chuyến “xâm nhập” đầu tiên, tôi băn khoăn, có thể tin được những cựu chiến binh Bắc Việt này không? Nếu có điều gì sơ xẩy, tôi là kẻ đứng trong vũng bùn.
    Mấy ông bạn civil cũ của tôi chắc cũng ngạc nhiên, trường hợp ngoại lệ... không theo một “tần số” làm việc nào cả, khi đưa mấy ông cán binh Bắc Việt về Saigon thử máy polygraph (nói thật). Tôi xin Không Quân một chuyến bay đặc biệt chở mấy anh lính Bắc Việt vào Saigon, họ ngạc nhiên, thích thú khi được nhìn thấy tận mắt sự đồ sộ, rộng lớn của thành phố Saigon.
    Trong những chuyến đưa họ xâm nhập vào khu vực, hoặc triệt xuất, tôi thường ngồi trên trực thăng H-34 phụ, bay theo (chase) do phi hành đoàn Việt Nam lái, biệt phái cho đơn vị SOG, có danh hiệu là “King Bee” (phi đoàn 219). Trong những chuyến triệt xuất, chúng tôi sẽ liên lạc với toán “Thunder Cloud” trước, rồi trực thăng bay vòng vòng cho đến khi nhìn thấy toán ở duới. Những lúc đó rất nguy hiểm, vì đang ở trong lòng địch, trên đất Lào hoặc Cambodia. Trực thăng đã ăn đạn nhiều lần, do lính Bắc Việt trông thấy bắn lên máy bay.
    Không một người nào trong toán “Thunder Cloud” biết tiếng Anh, tôi cũng không muốn dậy cho họ, để họ vẫn còn nét nguyên thủy của người lính Bắc Việt, từ miền bắc vào trong nam. Sau khi đã nhìn thấy toán “Thunder Cloud”, viên phi công Việt Nam sẽ bay hướng dẫn họ di chuyển đến một hố bom, một cù lao giữa giòng suối, giòng sông, hay một điểm nào đó mà trực thăng đáp xuống được. Lúc đó tôi phải đứng ngay cửa, đưa tay lên vỗ vai người xạ thủ đại liên để trấn an anh ta, đừng bắn lầm. Toán “Thunder Cloud” giống... y chang, mà thực sự là vậy! Và ngay cả chính tôi cũng phải nhìn thật gần mới nhận ra được anh lính Bắc Việt nào “của mình”.
    Họ là những người trẻ, rất can đảm... Tôi nghĩ rằng, đó là một “hân hạnh” được làm việc với họ. Chúng tôi thâu thập được nhiều tin tức rất quan trọng, rất có giá trị về các đơn vị chính quy Bắc Việt xâm nhập vào miền nam. Khi tôi trở về Hoa Kỳ, chúng tôi đang huấn luyện cho họ về kỹ thuật điều chỉnh phi cơ oanh kích, không rõ đã đi đến đâu!
    Trong thời gian điều khiển chương trình “Thunder Cloud”, tôi có một người hạ sĩ quan phụ tá, trung sĩ Ken Greenwood, vừa mới từ trần trong căn cứ Fort Bragg (BCH LĐ5/LLĐB/HK). Tôi và Ken có nhiều kỷ niệm, anh ta là một quân nhân LLĐB xuất sắc.

Dallas, TX.
vđh

Cấp chỉ huy thương lính

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 10/11/2024

Post by Sơn râu 13 Nov 2024

Một Trung tướng Mỹ 3 sao đang kiểm soát lại quân trang của một Biệt kích người Nùng, dân tộc thiểu số gốc Tàu, được nổi tiếng là gan dạ và trung thành. Biệt kích người Nùng thường nhảy toán vào đất địch với Lực lượng Đặc biệt Beret xanh Mỹ.
Thủ tục kiểm soát lại đồ nghề của binh sĩ trước khi ra trận là truyền thống của quân đội Mỹ. Người kiểm soát thường là trưởng toán hay chỉ huy trưởng lớn lắm là cấp Tá. Trong hình này chúng ta thấy một Trung tướng 3 sao, tức là một “mặt trời” thứ dữ.
Tại sao Trung tướng lại làm công việc của cấp Úy hay Tá. Tại vì “mặt trời” biết thương lính, biết quý trọng mạng sống của binh sĩ mình.
Đây là hành động thương yêu lo lắng của một vị Chỉ huy trưởng tối cao, một “đại bàng”, thân chinh kiểm soát lại ba lô và súng đạn của một Biệt kích Nùng trước khi họ lên máy bay trực thăng nhảy toán và có thể họ sẽ không bao trở về nữa.
Người Biệt kích Nùng trang bị AK47 có nhiệm vụ đáp lễ đối phương trước tiên với tiếng nổ cùa đạn AK, vì sẽ không làm địch báo động khẩn cấp nếu họ nghe tiếng nổ của súng AR15 ngắn nòng mà một người lính Biệt kích Mỹ đang cầm đứng bên cạnh.
Biệt kích thời chiến tranh Việt Nam thường dùng các bao đựng bi đông để đựng các băng đạn và lựu đạn, vì lấy các băng đạn và lựu đạn từ các bao bi đông ra mau hơn nếu các vật này được chứa trong các bao đựng đạn truyền thống.
Ghi chú: Thời này vấn đề an toàn chưa khắt khe như hiện nay vì các nòng súng thời ấy được tự do chĩa vào bụng lẫn nhau rất thoải mái và ngón tay xạ thủ hầu như đã chạm lên cò súng ha ha.

BÔNG LAU 10.11.2024

Cám ơn

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 17/09/2024

Post by Sơn râu 13 Nov 2024

Hôm nay thứ Hai hỏng phải làm gì nữa ngoài việc chạy lui tới mấy căn trailer để giặt đồ dơ. Những bộ đồ phủ bụi đất vàng sa mạc Trung Đông.
Điện đàm vắn tắt với bộ chỉ huy báo cáo công tác đã hoàn tất mỹ mãn, “Mission Accomplished”. Mấy xếp chúc mừng và cám ơn đồng chí xạ thủ đã hoàn thành xứ mạng. Mấy sếp biểu nghỉ mệt đi “take it easy”.
Mình thích lịch sự kiểu Mỹ này, chưa biết làm có đúng hong nhưng trước tiên là họ cám ơn khen tặng trước để động viên tinh thần chiến sĩ. Mà cũng chẳng làm gì nhiều trong đoạn đường gian khổ vừa qua. Ngồi trong xe thiết giáp bốn năm tiếng đồng hồ đến chán, ngủ gục mấy lần. Đoàn thiết giáp hùng hậu mười mấy chiếc súng đại liên lớn nhỏ tua tủa chĩa ra bốn hướng. Trên xe họ còn chất thêm đủ loại hỏa tiễn mà mình không thể tiết lộ.

Các anh em Biệt Kích Không Quân USAF Spec Ops trang bị máy liên lạc tối tân có laptop để điều động các phi tuần chiến đấu cơ bay yểm trợ đoàn convoy. Các anh em Biệt Kích Medic mang theo một bịnh viện dã chiến nho nhỏ kể cả máu tươi để sẵn sàng tiếp máu cho người bị thương. Các xe rà mìn đi đầu, có máy móc làm vô hiệu hóa chất nổ hay mìn IED. Mình trong toán VIP đi gần sau cùng.
Trong điều kiện tiền hô hậu ủng đó mình rất an tâm, mà còn lo ngại giùm cho số phận của mấy anh khủng bố chơi dại núp lùm phục kích, chắc sẽ nát như tương trước hỏa lực khủng của đoàn convoy và máy bay yểm trợ.
Trong một khoảnh khắc nào đó khi ngồi suy tư trong xe thiết giáp, mình chợt nghĩ đến nếu đoàn xe bị phục kích và chẳng may xạ thủ này tử trận. Nhưng rất khó vì đang ngồi trong các loại xe thiết giáp MATV, JLTV v.v… được chế tạo để chống mìn. Trừ phi trái mìn là trái bom 500 lbs nổ dưới lườn xe. Cho nên cũng có cầu nguyện nhẹ nhàng nhưng không sợ hãi. “Xin cho tôi được trở về với bạn bè và người thân”. Chỉ zậy thôi chớ không điếng hồn kêu God như lúc máy bay chui vào mây mù giông bão trong một đêm khuya cách đây một năm. Nhưng nếu phải ra đi như tất cả mọi người phải ra đi một lần trong đời. Thì xin chọn giây phút này. Tự nhiên lòng thấy nhẹ tênh.
Trọng tâm của công tác chỉ là một phiên họp với một số chức sắc địa phương. Xin đừng hỏi ở đâu và họp về chuyện gì. Địa điểm họp được thiết giáp bố trí thành một vòng tròn để bảo vệ và máy bay chiến đấu của Không Quân Mỹ sẽ xuất hiện ngay tức khắc trên không phận nếu bị địch tấn công.
Khi chia tay các chức sắc mình đã tỏ ra vô cùng lễ độ theo phong tục Trung Đông, tức là để bàn tay phải lên trái tim mình và cúi người nói cám ơn. Phải lễ độ vì các nhân vật này này là đồng minh của Hoa Kỳ. Đó chính là giây phút “vinh quang” của một công dân Mỹ gốc Việt đang làm tròn nhiệm zụ cho một đất nước đã cưu mang mình.

Xin cám ơn một số bạn Facebook đã cầu nguyện cho chuyến công tác của xạ thủ được thành công. Xin sẽ mở, gọi sẽ được, tìm sẽ gặp, và tình nguyện những công việc nguy hiểm cho cuộc sống yên zui của người khác, là một việc làm có ý nghĩa mà Tân Ước đã phán. Đợi trực thăng đến bốc đưa về một căn cứ mẹ lớn hơn, tiện nghi hơn, nhưng vẫn ở dưới vòm trời của hỏa tiễn và máy bay drone của phiến quân thân Iran…

BÔNG LAU 16.09.2024

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 13 Nov 2024

  1. Địa phương nào lãnh chúa nấy, cải lương khổ vẫn hoàn khổ
    Năm 1952… Miệt Hậu Giang gạo trắng nước trong, sông sâu nước chảy, đất phù sa màu mỡ, người dân sống sung túc hiền hòa. Dù lúc ấy chiến tranh Việt Pháp vẫn còn ác liệt trên các chiến trường trong toàn quốc, nhưng chỉ riêng ở miền Tây, miệt Hậu Giang, người ta có cảm giác như thần chiến tranh không nỡ hủy hoại màu xanh của những cây lành trái ngọt ở nơi nầy. Chợ búa người mua kẻ bán đông vui, đúng là mảnh đất lý tưởng cho các đoàn hát cải lương sinh sống.
    Tôi theo đoàn hát Việt Kịch Năm Châu hát ở rạp Minh Châu tại tỉnh Cần Thơ. Tuồng Tây Thi Gái Nước Việt rất ăn khách nên nhiều nhà chức trách huyện và xã phái đại diện đến mua dàn hát, đưa Đoàn về hát ở địa phương mình để gây quỹ. Ban Trị Sự Hòa Hảo ở Chợ Bà thuộc quận Cái Vồn mua dàn với một giá cao nhất nên đoàn Việt Kịch Năm Châu qua hát sau khi rời rạp Minh Châu.
    Chợ Bà, quận Cái Vồn ở bên kia bờ sông Hậu, cách tỉnh ly Cần Thơ vài cây số. Sở dĩ địa phương nầy và ngôi chợ mang tên “Chợ Bà” là vì do bà Thiếu Tướng Năm Lửa bỏ tiền ra xây cất và tài trợ cho mọi hoạt động của Ban Trị Sự Hòa Hảo địa phương.
    Ba chiếc đò máy lớn chở diễn viên, nhơn viên và đồ đạc cảnh trí, âm thanh, ánh sáng của Đoàn hát cặp bến trước ngôi “Chợ Bà”. Chúng tôi lên bờ, đi thả bộ về rạp hát phía trong xóm sau chợ. Dọc bờ sông, tôi thấy có đôi ba ngôi nhà lợp ngói, còn kỳ dư là những nhà lợp lá, cất theo kiểu ba căn hai chái, vách ván bổ kho, nhà nào nhà nấy khang trang rộng rãi. Mỗi nhà đều có một bàn thờ ông Thiên đặt ở ngoài sân, ngay trước cửa nhà. Dân chúng đều mặc áo bà ba màu dà, màu nâu sậm. Đàn ông đều có búi tóc và để râu dài. Nét mặt trang nghiêm, mọi người dân ở đây đều không có vẻ cỡi mở vui vẻ như dân chúng ở bên thành phố Cần Thơ.
    Chúng tôi đang lo sắp đặt phông, màn, đèn và âm thanh trong rạp thì tin tức từ chợ về cho anh em biết là chị Đầm, (thân mẫu của nghệ sĩ Nam Hùng, tẩm khậu nấu ăn của đoàn hát) bị Ban quản trị Chợ Bà bắt nằm dài giữa chợ, đánh năm roi. Anh em dàn cảnh và nghệ sĩ nổi nóng, tính kéo ra chợ để trả đũa cho chị Đầm, anh em không muốn ở lại hát ở cái nơi mà người ta khinh thường, hà hiếp nghệ sĩ; nhưng ông Tám Kiết, Quản lý của đoàn yêu cầu anh em chờ ông ra chợ, bảo lãnh chị Đầm về để biết rõ sự thật ra sao rồi sẽ có thái độ.
    Anh Tám Kiết ra chợ, bảo lãnh chị Đầm về. Anh em mới biết là trong cả xã vùng Chợ Bà, mọi người đều ăn chay. Chị Đầm ra chợ kiếm mua thịt heo, gà, vịt, cá để về nấu cơm cho anh em trong gánh hát ăn, như vậy là phạm tội sát sanh và trái với tập tục của địa phương. Ban Quản Trị chợ đánh chị năm roi để răn dạy và làm gương cho mọi người đang mua bán ở chợ.
    Anh em nhôn nhao phản đối, không muốn ở lại hát, kêu ông Quản lý trả tiền mua dàn, kéo nhau trở về tỉnh Cần Thơ.
    Ông Tám Kiết nói:
    – Làm như vậy là thỏa được lòng tự trọng của các anh nhưng như vậy thì sẽ rã gánh hát, vì nghệ sĩ đi về Cần Thơ thì dễ vì có thể đi đò như người hành khách bình thường, còn phông màn, máy móc âm thanh, dàn đèn projecteur thì đâu có thể dùng đò máy của Ban Trị Sự H.H để chở ra khỏi nơi nầy. Họ mướn đoàn về đây hát cho ông Bà Thiếu Tướng coi, mình bỏ đi là đụng chạm tới ông Thiếu Tướng. Thời buổi chiến tranh, rã gánh là cái chuyện nhỏ, nếu họ bắt giam mình lại, nói là Việt Minh phá hoại thì mình chỉ còn có một cửa tử mà thôi, không ai có thể cứu mình và cũng không khiếu nại nhờ quyền lực của nơi nào khác để cứu mình. Nhứt câu nhịn, chín câu lành!
    Ông Tám Kiết căn dặn thêm về phương cách sống trong vùng Chợ Bà Cái Vồn trong năm ngày đoàn hát bán dàn:
    – Thứ nhứt, không được đi la cà trong thôn xóm vì người dân có đạo Hòa Hảo ở đây rất nghi ky những người lạ mặt, Chợ Bà là một vùng chống Việt Minh. Ai đi vô các thôn xóm xa có thể bị bắt cóc, bị mất tích mà Đoàn hát không biết khiếu nại với ai.
    – Thứ hai, không đi mua bán gì ở chợ hay trong các tiệm quán.
    – Thứ ba, khi vãn hát rồi thì ăn cháo của bà tẩm khậu nấu, ăn xong là về chỗ ngủ, không được đi ra khỏi rạp, không được thức khuya đờn ca.
    – Thứ tư, nếu có ai đến gạ nói chuyện hay hỏi han về nhận xét đối với đia phương thì các nghệ sĩ không được tự do phát biểu mà phải báo ngay cho Ban Quản Lý của đoàn hát để Ban Quản Lý tiếp chuyện với họ.
    Các nghệ sĩ trong đoàn đều có gặp phải những chuyện độc tài độc đoán của các lãnh chúa địa phương nên thông cảm với lời dặn dò của Ông Quản Lý Tám Kiết; ai nấy lo thu xếp chỗ ở, chỗ làm tuồng của mình và không tiếp chuyện với những khán giả hiếu kỳ đang kéo tới rạp hát để xem mặt đào kép.
    Đêm diễn đầu tiên đoàn hát tuồng Tây Thi Gái Nước Việt.

Kim Cúc – Bảy Nhiêu – Kim Lan
Nghệ sĩ Năm Châu thủ vai vua Ngô Phù Sai, Kim Lan thủ vai Tây Thi, Bảy Nhiêu vai Ngũ Tử Tư, Văn Lang thủ vai Phạm Lãi… Đây là thành phần diễn viên mạnh nhất của đoàn đưa ra trong đêm hát đầu tiên ở rạp hát Chợ Bà vì chúng tôi được báo cho biết là Thiếu Tướng Ông Năm sẽ đến xem hát. (Ông Năm là gọi theo người địa phương vì họ kiêng không dám gọi tên).
Người ta đã dẹp bớt bốn hàng ghế, chừa chỗ để một cái bục cao, trên bục đó để một cái ghế bành bằng mây đan, một cái bàn, trên bàn có một cây quạt máy nhỏ, một chai rượu Whisky và một cái ly. Đó là chỗ danh dự dành cho Quan Lớn Thiếu Tướng ngồi coi hát.
8 giờ 30 tối rồi mà đoàn hát vẫn chưa được phép mở màn hát dù cho khán giả đã vô đầy rạp và các nghệ sĩ đều đã hóa trang xong, mũ mãng đàng hoàng. Anh Năm Châu rất bực bội vì anh là người làm việc luôn luôn đúng giờ. Khi hát ở Sàigòn, đúng 8 giờ tối, giờ mở màn hát thì dù trời đang mưa to gió lớn, khán giả vô rạp mới độ mươi người, nghĩa là nếu đứng trên sân khấu nhìn xuống thì sẽ thấy cái rạp trống trơn, anh Năm Châu cũng ra lịnh rung chuông, mở màn hát đúng theo giờ đã quảng cáo.
Bỗng có nhiều tiếng tu hít thổi “rét.. .rét..” chói tai từ ngoài xa, tiếng tu hít chạy thật nhanh tới trước rạp… mọi người được báo là xe jeep của Quan Lớn đã tới. Rồi tiếng tu hít thổi nghe chát chúa trong rạp kèm theo tiếng của hai anh lính cận vệ thay phiên nhau hô lớn: “Quan Lớn đã tới… Mấy người đứng dậy chào Quan Lớn…” Tất cả khán giả đồng loạt đứng lên và họ chỉ ngồi xuống khi Ông Năm yên vị trong cái ghế bành trên bục cao.
Ông Tám Kiết, Quản Lý đoàn hát chạy lại hỏi nhỏ anh lính cận vệ, tôi thấy anh cận vệ gật đầu, khoát tay, ông Tám Kiết liền chạy bay vô hậu trường, kế đó là chuông reo báo giờ trình diễn.
Mặc đầu bực mình vì hát trễ nhưng anh Năm Châu, chị Kim Lan và ông Bảy Nhiêu hát rất hay lớp Tây Thi mê hoặc Ngô Phù Sai và lớp Ngũ Tử Tư can gián vua.
Quan Lớn Ông Năm cười sặc sụa khi nghệ sĩ Tám Lắm trong vai Bá Chủng, một tên nịnh thần vuốt ve xu nịnh theo ông vua, anh ta bị Ngũ Tử Tư mắng.
Anh lính cận vệ đứng gần Quan Lớn, anh không xem hát mà anh theo dõi thái độ xem hát của Quan Lớn để ra lịnh cho khán giả phải hùa theo. Tiếng tu hít thổi bất ngờ trong rạp hát kèm theo tiếng hô lớn và kéo dài ra của anh cận vệ: “Quan Lớn cười… Sao mấy người không cười?”
Khán giả ré lên cười như một cái máy cười được bấm nút cho khởi động.
Tiếng tu hít lại nổi lên: “Quan Lớn nín rồi, sao mấy người cười hoài vậy?”
Khán giả lại im re…
Các nghệ sĩ trong đoàn thích thú với cái trò hề của anh lính cận vệ. Ông Tướng ngồi xem hát rất oai phong kia chắc là cũng thích thú khi cái vui buồn của ông ta được theo tiếng tu hít và lời hô lớn của anh cận vệ mà truyền ra khởi động cả rạp hát làm theo. Chỉ có anh Năm Châu là nhăn mặt nhíu mày, buồn khổ… Anh cằn nhằn:
– Trời ơi, người ta coi hát như vầy bằng như người ta chửi cha nghệ thuật!
Tiếng tu hít lại nổi lên: “Quan Lớn vỗ tay, sao mấy người không vỗ tay? “Tiếng vỗ tay của toàn thể khán giả trong rạp hát lại nổ rang như pháo Tết.
Trong rạp hát bỗng chia thành hai không gian: một không gian trên sân khấu dành cho các nghệ sĩ diễn tuồng và một không gian khác ở dưới khán phòng dành cho hai anh lính cận vệ và khán giả hoạt động theo tiếng lịnh của tu hít, diễn cho thỏa mãn cái tính hách dịch kiêu kỳ của ông Tướng.
Màn một chấm dứt bằng cảnh Hỏa thiêu Cô Tô Đài, vua Ngô Phù Sai – Năm Châu chết chới với trong biển lửa. Tôi thấy ông vua Ngô Phù Sai Năm Châu chới với, hai tay như bơi bơi trong biển lửa, nhưng một nụ cười thoáng hiện trên môi của anh Năm Châu khiến cho tôi ngầm hiểu là anh rất sung sướng được chấm dứt vai hát của anh trong lúc nầy. Anh không còn bận lòng tức giận vì người xem hát không phải là một người thật sự ái mộ cải lương, mà là một người không biết thưởng thức nghệ thuật.
Màn nhung vừa hạ xuống, anh Năm Châu mau mau vô buồng, thay đổi y trang, rửa mặt rồi bước ra sau rạp khá xa để khỏi phải nghe tiếng tu hít và tiếng hô hoán của hai anh lính cận vệ. Anh cũng không muốn nghe những tiếng đờn và câu ca bị xé vụn ra vì cái tiếng tu hít điên rồ đó.
Màn hai bắt đầu… cũng cảnh chiến trường còn ngùn ngụt khói lửa, giữa lớp lớp quân sĩ phơi thây, nàng Tây Thi Kim Lan ca một lớp Văn Thiên Tường rất là hay, nói lên nỗi lòng của một người con gái, tuy đã hoàn thành sứ mạng diệt thù nhưng rồi cuộc đời của nàng cũng phải tan nát như một mảnh vụn của Cô Tô Đài. Giữa lúc Tây Thi tuyệt vọng thì Phạm Lãi đến kịp để cứu Tây Thi, sau bao nhiêu đau khổ chia lìa, hai người yêu cũ gặp lại nhau, họ dìu nhau đi tìm một hải đảo hoang vu để xây hạnh phúc và để tránh cuộc sống nhung lụa vàng son nhưng phải lệ thuộc dưới quyền của một nhà vua đầ tham vọng. Nghệ sĩ Văn Lang và nữ nghệ sĩ Kim Lan thực là xứng đào xứng kép, thinh sắc lưỡng toàn, điệu bộ diễn xuất và giọng ca quyến rũ mê hồn đã làm cho khán giả say mê theo dõi.
Bỗng có tiếng một cây gậy đập mạnh và nhịp liên hồi trên bàn. Nghệ sĩ trên sân khấu ngưng bặt tiếng ca, ngỡ ngàng nhìn về phía vị khán giả Quan Lớn kia vì chính ông Thiếu Tướng dộng liên tục cây baton xuống bục cây. Khán giả cũng im lặng, hướng mắt nhìn về vị khán giả khó tính đó.
Anh lính hầu cận vẫn là người truyền lại lịnh của Quan Lớn.
Anh thổi một tiếng tu hít như vị trọng tài thổi phạt trên sân bóng đá rồi tằng hắng một tiếng, lớn giọng truyền:
– Quan Lớn nói Quan Lớn muốn coi lại cái lớp tuồng hồi nãy, cái lớp Ngô Phù Sai dê Tây Thi rồi bị chết trong Cô Tô Đài. Bỏ cái màn hát nầy đi. Hát lại màn trước cho Quan coi. “
Màn nhung buông xuống giữa sự ngơ ngác và tức giận của nghệ sĩ.
Ông Tám Kiết, Quản lý của đoàn chạy ra thưa:
– Bẩm Quan Lớn, màn một hết nên anh kép hát đã bôi mặt, thay y trang đi kiếm thức ăn khuya rồi….
– Biểu nó vô vẽ mặt lại, tao chỉ muốn coi lớp Hỏa thiêu Cô Tô Đài thôi…- Ông Năm phán một câu tỉnh bơ rồi ngồi nhịp nhịp cây baton.
Ông Quản lý của gánh hát thừa biết là nếu muốn ăn đòn thì đứng đó mà nói dang ca. Còn khôn hồn thì vô buồng biểu chúng nó vẽ mặt hát lại cái lớp tuồng mà Quan Lớn muốn coi. Anh Tám Kiết dạ một tiếng yếu xìu rồi vô buồng. Anh thừa biết là anh Năm Châu nhứt định sẽ không diễn lại cái lớp tuồng Hỏa thiêu Cô Tô Đài nên anh bảo anh Tám Vân vẽ mặt, đóng thế vai vua Ngô Phù Sai của anh Năm Châu.

Chuông báo hiệu khởi đầu, màn nhung kéo lên, sau khi đoàn vũ nữ và Tây Thi múa hát trên Cô Tô Đài, Vua Ngô Phù Sai say rượu, tròng ghẹo Tây Thi. Nghệ sĩ Tám Vân từng đóng vai Ngô Phù Sai thế cho anh Năm Châu những khi anh Năm Châu không theo đoàn đi hát ở các tỉnh nên Tám Vân thuộc làu làu vai tuồng. Giọng ca, điệu bộ cũng điêu luyện không kém. Thông thường thì đến đoạn Ngũ Tử Tư vào can gián Ngô Phù Sai thì khán giả vỗ tay từng chập sau mỗi câu nói của Ngũ Tử Tư, nhưng không ngờ khi anh Bảy Nhiêu vừa xuất hiện thì thay cho tiếng vỗ tay là tiếng tu hít thổi lên nghe đinh tai điếc óc. Giọng hét lớn và kéo dài của anh Cận Vệ nối sau tiếng tu hít:
– Quan Lớn hỏi thằng vua hồi nãy sao mập quá, thằng nầy sao ốm quá vậy? Kêu ông Bầu ra cho Quan Lớn biểu…ông Bầu đâu?”
Ông Tám Kiết chạy ra, thưa:
– Bẩm Quan Lớn, Anh kép đóng vai Vua hồi nãy bị mập quá nên hát mau mệt, anh ta bị ngất xỉu rồi nên chúng tôi phải thay ông Vua ốm hơn một chút, nhưng vua nầy hát cũng hay lắm, Quan Lớn!
Quan Lớn dọng cây baton xuống bục cây, nói sẵng:
– Dẹp! Thằng vua đó hát hỏng được nữa thì tụi bây bỏ màn nghỉ đi. Quan Lớn không coi hát nữa. “
Ông Thiếu Tướng nói xong, ông đứng dậy, bỏ ra về. Các lính cận vệ thổi tu hít dẹp đường. Ông Tướng đi rồi, khán cũng lục đục kéo ra ngoài, trong rạp số khán giả còn lại không tới nửa rạp. Đoàn vẫn phải tiếp tục hát cho tới hết tuồng, khán giả tiếc tiền mua vé hát nên ráng coi cho hết tuồng, diễn viên diễn như để trả nợ.
Đêm đó, anh Năm Châu và chị Kim Lan báo cho biết là ngày mai hai người đó sẽ về Saigon, Tám Vân thế vai của Năm Châu, nữ nghệ sĩ Tương Lai thế vai của Kim Lan.
Những ngày kế tiếp, các nghệ sĩ còn ở lại đoàn hát còn phải chịu nhiều luật lệ oái oăm hơn nữa của vị lãnh chúa địa phương.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 13 Nov 2024

Trại lính ngày xưa

  1. Tập tục lạ đời trên đường lưu diễn
    Chúng ta đang ở vào đầu thế kỷ 21, khi các bạn trẻ nghe tôi nhắc lại những tập tục lạ đời của các thập niên 1940, 1950 trong những địa phương mà đoàn hát cải lương của chúng tôi đặt chân đến hát, chắc chắn là các bạn trẻ sẽ ngạc nhiên, thậm chí có người không thể tin là chuyện đó có thể xảy ra. Nhưng những ông bạn nào từ 60 tuổi trở lên, có trải qua cơn binh lửa ở quê hương thì chắc chắn là sẽ nhớ đến một xã hội nhiễu nhương, đầy biến động trong thời kỳ có chiến tranh Pháp – Việt.
    Hồi đó, cuối năm 1947, đoàn cải lương Tiếng Chuông của ông Bầu Cang được một người mua dàn hát, đưa đoàn đi lưu diễn ở các tỉnh miền Đông, trạm đầu tiên đoàn Tiếng Chuông hát ở quận Gò Dầu Hạ, sau đó chuyển qua hát ở tỉnh lỵ Tây Ninh. Ông Bầu mướn một chiếc xe đò để chở đào kép, một xe camion chở cảnh trí, dàn máy âm thanh, dàn đèn và các nhơn viên dàn cảnh.
    Xe của đoàn hát rời khỏi rạp hát Thành Xương ở trung tâm thành phố Sàigòn, khi xe qua khỏi ngã ba Bà Quẹo, chúng tôi đã cảm thấy bầu không khí chiến tranh ngột ngạt đến khó thở. Đoàn xe phải di chuyển chậm chạp vì nhiều đoạn đường bị VM đào phá, có những đoạn đường thường bị du kích phục kích bắn sẻ nên nhiều xe đò và xe hàng phải dừng lại, chờ cho quân đội Pháp và 1ính Bạt-Ti-Dăng dùng xe nồi đồng (xe bọc thép) đi mở đường. Khi nào nhà binh Pháp thấy bảo đảm được sự an toàn mới cho các xe của dân sự chạy. Xe của đoàn hát Tiếng Chuông cũng phải theo đoàn Convoi đó mà di chuyển. Mỗi khi xe đến một trạm kiểm soát, tất cả những hành khách phải xuống xe, đi từng người một vào bót gác, trình giấy Thẻ Xanh (laisser-passer) của nhà cầm quyền Pháp cấp. Ai không có Thẻ Xanh thì bị bắt nhốt lại trong bót vì bị tình nghi là Việt Minh.
    Từ quận Gò Dầu Hạ đến các quận huyện thuộc tỉnh Tây Ninh thì quân đội Pháp đóng đồn lớn trong Quận, trong Tỉnh, họ giao việc hành quân tuần tiểu và kiểm soát cho quân đội Cao Đài phụ trách, cho nên đoàn cải lương Tiếng Chuông gặp rắc rối vì không biết những tập tục riêng của địa phương.
    Từ Gò Dầu Hạ đi đến tỉnh Tây Ninh, xe của đoàn hát phải ghé qua trạm kiểm soát của quân đội Cao Đài tại xã Cẩm Giang. Vì có nhiều xe đò và xe hàng tới trước nên đoàn hát chúng tôi phải xếp hàng chờ tới phiên của mình. Tôi và các nghệ sĩ Tám Cao, Tuấn Sĩ, Trường Xuân xuống xe, lại xe bán nước mía bên vệ đường để uống nước mía giải khát. Tôi quan sát thấy hành khách vào bót kiểm soát, trình giấy tờ xong ra xe coi bộ cũng dễ dàng, chớ không có chi rắc rối. Đồng bào trong xã Cẩm Giang, nhiều người mặc áo dài trắng, quần trắng, đàn ông có để búi tóc như đàn bà, khác hẳn lối trang phục của người dân Sàigòn. Nét mặt của họ có vẻ thuần hậu, chất phác. Theo lời của chị bán nước mía thì Bộ Tư Lịnh quân đội Cao Đài đóng ở xã Cẩm Giang nên đạo hữu Cao Đài tập trung về đây sinh sống rất là đông đảo. Việc mua bán làm ăn dễ dàng, dân chúng sung túc. Nếu đoàn hát đến xã Cẩm Giang hát thì chắc chắn là sẽ rất đông khách. Chúng tôi nói chuyến đi lưu diễn nầy là do người mua dàn hát, họ đưa đoàn hát tới vùng nào thì đoàn hát phải tới đó hát, khi nào hết hợp đồng bán dàn hát, bận trở về, chúng tôi sẽ xin phép hát ở Cẩm Giang.
    Đến lượt xe của đoàn hát phải vào trình giấy tờ, anh sớp phơ vô trình giấy, xong rồi anh ra ngồi bên tay lái xe. Kế đó anh lơ xe, vô… anh cũng bình yên ra khỏi bót. Tới phiên ông Bầu Cang… ông vô bót trình giấy tờ nhưng sao lâu quá không thấy ông trở ra. Chúng tôi phát lo trong bụng. Nghệ sĩ Tám Cao được gọi vô trình Thẻ Xanh, anh Tám Cao cũng kẹt trong bót như ông Bầu Cang. Tiếp đó là Trường Xuân, rồi tới Tuấn Sĩ, rồi tới phiên tôi…
    – “Laisser-passer” của anh đâu? – Ông Trung úy, xếp đồn hỏi tôi.
    – Bẩm quan lớn, đây là laisser-passer của tôi.
    Tôi trình Thẻ Xanh của tôi do Tỉnh Trưởng Gia Định cấp cho tôi. Ông Xếp bót trợn mắt ngó tôi, tôi chột dạ nhìn quanh, tôi thấy ông Bầu Cang, các anh Tám Cao, Tuấn Sĩ, Trường Xuân bị bắt ngồi bệt xuống đất, mặt mày xanh lè, cắt không còn một hột máu! Tôi cũng phát run…
    – Anh tên gì? – Ông xếp bót gằn giọng, hỏi tôi.
    – Bẩm quan lớn..
    – Im! Khỏi nói nữa. Lại kia ngồi với mấy thằng mới bị bắt đó…
    – Bẩm Quan lớn, chúng tôi ở đoàn hát, có giấy tờ hợp lệ, không hiểu chúng tôi phạm tội gì, xin Quan lớn dạy cho chúng tôi biết…
    – Anh kêu tôi một tiếng Quan Lớn nữa là tôi đập ông năm roi đó. Các anh nói là người đi đoàn hát, đi nhiều nơi nhiều chỗ rồi sao các anh không biết tập tục của địa phương? Anh làm nghề chi trong gánh hát?
    – Dạ, bẩm…ơ..o… soạn giả.
    – Còn mấy thằng mới bị bắt đó?
    – Dạ bẩm… ông Bầu với mấy anh kép hát…
    – Có thằng nào biết đờn không?
    – Dạ, có nhạc sĩ ở ngoải chưa vô trình giấy tờ.
    – Mầy ra kêu thằng đờn vô, biểu nó đem theo cây đờn. Mau, chậm là tao nẹt cho mấy roi đó.”
    – Dạ!
    Tôi bất mãn trong bụng nhưng trong thời chiến tranh, vùng nào cũng có những người chúa tể của vùng đó, chọc giận họ “feu” mình cái rầm là theo ông bà ngậm hờn dưới chính suối. Tôi tự bảo “Nhứt câu nhịn, chín câu lành”.
    Tôi ra xe, kêu anh Năm Khạp, nhạc sĩ đờn kìm của đoàn vô. Anh Năm Khạp khi di chuyển trên xe thì bao giờ anh cũng cầm theo cây đờn kìm, vật báu mà anh quý không thua gì tánh mạng của anh.
    – Mầy là nhạc sĩ hả? Giấy tờ đâu?
    – Bẩm quan lớn.
    – Im, lại ngồi với mấy thằng kia. Cái thằng soạn giả cũng vậy! Đem nhốt vô khám hết!
    Thấy chúng tôi ngơ ngác không hiểu là mình bị phạm tội gì, ông xếp bót nói thêm:
    – Các anh nên nhớ, trong vùng kiểm soát của quân đội Cao Đài, khi nói chuyện với các cấp chỉ huy thì các anh phải nói là thưa Ngài, bẩm Ngài. Cái tiếng quan lớn là của Hòa Hảo họ dùng, chúng tôi không dùng.
    Lính ra bảo đoàn hát ngồi chờ rồi cho các xe phía sau vô trình giấy tờ. Các xe xếp hàng sau xe của chúng tôi đều được qua trót lọt vì họ thường qua lại vùng nầy, nên họ biết phải bẩm ngài, thưa ngài. Còn gánh hát chúng tôi xưa nay hát ở các tỉnh Tiền Giang, Hậu Giang, quen cái tiếng Bẩm Quan lớn nên mới phải chịu khổ ở cái xã Cẩm Giang nầy.
    Ông xếp bót xuống khám giam, đưa cho chúng tôi quyển sách Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, ông nói:
    – Mấy anh đọc cuốn kinh sách nầy rồi viết bài hát ca ngợi Pháp Chánh Truyền là căn bản Giáo Lý của Cao Đài Giáo là tôi sẽ thả các anh ra.
    Chúng tôi tức giận vì bị người ta lạm quyền vô cớ bắt giam nhưng cũng biết rằng chúng tôi không thể đi thưa gởi hay khiếu nại với ai để xét xử cái hành động bất công nầy. Muốn ra khỏi khám giam thì chỉ có một việc duy nhứt phải làm là viết một bài ca ca ngợi Giáo Lý Đạo và nhờ kép Tám Cao ca lên cho vui lòng Xếp.
    Nói thì dễ, nhưng viết một bài ca ca ngợi Giáo Lý của một Đạo giáo đâu có phải là một chuyện dễ làm. Tôi là soạn giả của đoàn hát nên ông Bầu Cang trao cho tôi trách nhiệm rắc rối nầy. Tôi đọc đi đọc lại quyển kinh, chỉ nhớ có mấy chữ đầu của câu kinh thứ nhứt của bài Niệm Hương: Đạo Gốc Bởi Lòng Thành Tín Hiệp…
    Kép độc Trường Xuân cằn nhằn:
    – Ông Bầu bán dàn hát làm chi cho người ta đưa mình vô cái chỗ chết. Kinh kệ như vầy, có đọc chừng cả tháng cũng chưa chắc gì biết cái Giáo Lý của Đạo ra làm sao, làm cách nào mà trong khoảnh khắc lại có thể viết thành bài ca cho được?
    Bầu Cang:
    – Mầy đừng có cằn nhằn, làm rối trí anh Nguyễn Phương. Để anh kiếm cách gỡ rối cho mình.
    Tôi nói:
    – Hồi nãy ông Xếp hăm đánh tôi năm roi. Bây giờ tôi viết tầm bậy thì ông ta sẽ quất tôi mười roi đó.
    Tuấn Sĩ nói:
    – Thôi, tụi mình năm người bị bắt nhốt ở đây, mình ra xin Ngài đánh mỗi người hai roi, khi ra khỏi khám thì mình quay xe về Sàigòn, xuống miệt Hậu Giang hát cho êm chuyện. Đi hát ở các vùng nầy, có cho ăn vàng, tôi cũng không ham.
    Tám Cao xúi tôi dựa theo bài Niệm Hương, viết thành hai câu vọng cổ. Tôi nghĩ là nếu viết như vậy mà anh Tám Cao ca không đàng hoàng, ông Xếp tưởng mình có ý nhạo báng thì kẻ phải “ăn đạn đồng” chinh là thằng soạn giả viết bài đó, chớ có ai vô đây mà chịu chết thay cho tôi?
    Cái ý nghĩ bị giết chết bỗng làm lóe lên trong óc tôi câu giảng kinh trong sách là năm Mậu Thìn (1928) Thầy (Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế) có lên Cơ giảng về Bất Sát Sanh và Vô Vi Tâm Pháp. Do đó tôi dùng mấy câu kệ nầy để viết bài ca để nhắc khéo ông Xếp là Thầy đã dạy là không được giết người (bất sát sanh). Hy vọng là ông Xếp là bậc chân Trung Ương, ông ta phải nghe lời dạy của Cao Đài Tiên Ông mà tha cho chúng tôi.
    Tôi mở đầu bốn câu kinh Niệm Hương, chỉ thêm một chữ Lòng vô chữ Hò, để cho dễ vô vọng cổ và trong lòng câu vọng cổ thì tôi dùng ý của các bài giảng về Bất Sát Sanh và Vô Vi Tâm Pháp để mà viết. Bài vọng cổ đó như sau
    Nói lối vô vọng cổ:
    Đạo Gốc Bởi Lòng Thành Tín Hiệp,
    Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra
    Mùi hương lư ngọc bay xa,
    Kính thành cầu nguyện Tiên Gia. ..
    vô Vọng cổ:
    … Chứng cho lòng.. Cao Đài xuất thế cứu trần gian, Mạt pháp chúng sanh chịu khổ nàn… Cái sống của chúng sanh, chẳng khác nào một nhành hoa trong cội, đủ tháng đủ ngày thì mới trổ bông sanh trái. Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp, nếu ai giết mạng sống đều chịu quả báo không sai vì làm trái với lòng hiếu sanh của Thầy đã phân cho khắp Càn Khôn Thế Giới.
    Câu 2
    ….Vạn năng còn ngủ say chưa tỉnh khiến cho bước đời vô định phiêu lưu nên mới vương khổ lụy tâm thần… Lục căn giao động triền miên, Lục trần lôi cuốn hồn thiêng mê lầm. … Nào ai biết giả tâm sanh mộng, nào ai biết biển động sóng gào, Biển đời sóng gió lao xao, Biển tâm thanh tịnh muôn màu hiệp chơn.
    Sứ mạng Cao Đài buổi trước tiên
    Vô Vi Tâm Pháp độ người hiền
    Tam Kỳ Mạt Hạ Khai Chân Lý,
    Dẫn dắt người phàm có thiện duyên.
    Nghệ sĩ Tám Cao học thuộc lòng hai câu vọng cổ của tôi vừa viết, anh ngân nga ca, nhạc sĩ Năm Khạp dạo đờn hòa theo, rồi Tám Cao ca lớn lên. Khám đường giam giữ chúng tôi bỗng trở thành một nơi hòa ca cổ nhạc, tiếng ca ngọt lịm của nghệ sĩ Tám Cao hòa theo tiếng đờn trầm ấm của nhạc sĩ Năm Khạp thu hút sự chú ý của ông Xếp bót.
    Ông đến nghe và bảo Tám Cao ca lại hai lần. Các binh sĩ Cao Đài trong đồn cũng đến nghe. Mọi người khen hay duy chỉ có ông Xếp bót là trầm ngâm suy nghĩ. Ông thả chúng tôi ra và nói:
    – Các anh đi hát thì phải biết các tập tục của địa phương. Bây giờ là thời buổi có chiến tranh, các anh ăn nói không giống người địa phương, tất nhiên là chúng tôi phải nghi ky, phải đề phòng, các anh đừng phiền.
    – Dạ, bẩm Ngài dạy rất phải, chúng tôi rất cám ơn sự rộng lượng của Ngài.
    Ông Bầu Cang nói nịnh một câu rồi kéo chúng tôi mau mau ra khỏi đồn lính. Xe của đoàn hát vẫn còn đó, các anh chị em nghệ sĩ ngồi bên vệ đường rầu rĩ đợi chờ. Không một ai bỏ trở về Saigon hay đi vô tỉnh Tây Ninh khi chưa biết rõ số phận của những bạn đồng nghiệp bị bắt. Khi thấy chúng tôi được thả ra, tất cả các bạn vỗ tay reo mừng, họ chạy đến ôm chúng tôi, tíu tít hỏi han sức khỏe, sợ chúng tôi bị lính trong đồn đánh đập.
    Thật là cảm động, một kỷ niệm khó quên của đời người nghệ sĩ lang thang.

Bài ca vọng-cổ

baotreonline.com
Tiểu Tử
November 8th, 2024

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Tôi vượt biên một mình rồi định cư ở Pháp. Năm đó tôi mới 49 tuổi, vậy mà đi tìm việc làm đến đâu người ta cũng chê là tôi già! Vì vậy, một hôm, khi chải tóc, tôi nhìn kỹ tôi trong gương. Tôi bỗng thấy ở đó có một người có vẻ như quen nhưng thật ra thì rất lạ: mắt sâu, má hóp, mặt đầy nếp nhăn trên trán, ở đuôi mắt, ở khoé môi, mái tóc đã ngả bạc cắt tỉa thô sơ như tự tay cắt lấy. Từ bao lâu nay tôi không để ý, bây giờ soi gương vì bị chê già, tôi mới thấy rằng tôi của hồi trước “Cách mạng thành công’’ và tôi của bây giờ – nghĩa là chỉ sau có mấy năm sống dưới chế độ gọi là ưu việt – thật không giống nhau chút nào hết. Tôi già thiệt, già trước tuổi. Cho nên, tôi nhìn tôi không ra. Từ đó, mỗi ngày tôi … tập nhìn tôi một lần, nhìn kỹ, cho quen mắt!
Một người bạn làm việc lâu năm ở Côte d’ivoire (Phi Châu) hay tin tôi đã qua Pháp và vẫn còn thất nghiệp, bèn giới thiệu tôi cho Công ty Đường mía của Nhà nước. Không biết anh ta nói thế nào mà họ nhận tôi ngay, còn gửi cho tôi vé máy bay nữa!
Xưa nay, tôi chưa từng quen một người da đen gốc Phi Châu nào hết. Và chỉ có vài khái niệm thô sơ về vùng Phi Châu da đen như là: ở đó nóng lắm, đất đai còn nhiều nơi hoang vu, dân chúng thì da đen thùi lùi, tối ngày chỉ thích vỗ trống, thích nhảy tưng tưng v.v. Vì vậy, tôi hơi … ngán. Nhưng cuối cùng rồi tôi quyết định qua xứ da đen để làm việc, danh dự hơn là ở lại Pháp để tháng tháng vác mặt Việt Nam đi xin trợ cấp đầu nọ, đầu kia …
Nơi tôi làm việc tên là Borotou, một cái làng nằm cách thủ đô Abidjan gần 800km! Vùng này toàn rừng là rừng. Không phải là rừng rậm rì cây cao chớn chở như ở Việt Nam. Rừng ở đây cây thấp lưa thưa, thấp thấp cỡ mươi, mười lăm thước … coi khô khốc. Không có núi non, chỉ có một vài đồi trũng, nhưng đồi không cao và trũng không sâu …
Nhà nước phá rừng trồng mía. Rừng mía ngút ngàn! Nằm ở trung tâm là khu nhà máy, khu cơ giới, khu hành chánh, khu cư xá v.v. nằm cách nhau cỡ vài cây số.

CHỢ HOA- Tranh sơn dầu của tác giả Tiểu Tử – Hãy hòa nhập vào hồn Việt Nam trong những chiếc áo bà ba, áo dài, cây dù màu, cái nón lá, lòng thảnh thơi khoác tay nhau đi trong nắng trong hoa … để thấy chỉ có quê hương là đẹp hơn cả (Lời tác giả)

Muốn về thủ đô Abidjan, phải lái xe hơi chạy theo đường mòn xuyên rừng gần 30 cây số mới ra tới đường cái tráng nhựa. Từ đó chạy đi Touba, một quận nhỏ với đông đảo dân cư. Từ đây, lấy máy bay Air Afrique về Abidjan, mỗi ngày chỉ có một chuyến.
Phi trường Touba nhỏ xíu, chỉ có một nhà ga xây cất sơ sài và một phi đạo làm bằng đất đỏ, mỗi lần máy bay bay lên đáp xuống là bụi bay … đỏ trời!
Tôi hơi dài dòng ở đây để thấy tôi đi “làm lại cuộc đời’’ ở một nơi hoang vu hẻo lánh mà cảnh trí thì chẳng có gì hấp dẫn hết! Thêm vào đó, tôi là người Á Đông duy nhứt làm việc chung với Tây trắng (chỉ có 5 người) và Tây đen (đông vô số kể). Ở đây, thiên hạ gọi tôi là “le chinoise’’ – thằng Tàu – Suốt ngày, suốt tháng tôi chỉ nói có tiếng Pháp. Cho nên, lâu lâu thèm quá, tôi soi gương rồi … nói chuyện với tôi bằng tiếng Việt, trông giống như thằng khùng! Chưa bao giờ tôi thấy tôi cô đơn bằng những lúc tôi đối diện tôi trong gương như vậy.
… Một hôm, sau hơn 8 tháng “ở rừng’’, tôi được gọi về Abidjan để họp (Đây là lần đầu tiên được về thủ đô!). Anh tài xế đen đưa tôi ra Touba. Chúng tôi đến phi trường lối một giờ trưa.
Sau khi phụ tôi gởi hành lý, anh tài xế nói:
– Tôi ra ngủ trưa ở trong xe. Chừng Patron (ông chủ) đi được rồi tôi mới về.
Ở xứ đen, họ dùng từ “Patron’’ để gọi ông chủ, ông sếp, người có địa vị, có tiền, người mà họ nể nang v.v. Nghe quen rồi, chẳng có gì chói lỗ tai hết!
Tôi nói:
– Về đi! Đâu cần phải đợi!
Hắn nhăn răng cười, đưa hàm răng trắng toát:
– Tại Patron không biết chớ ở đây lâu lâu họ lại hủy chuyến bay vào giờ chót, nói tại máy bay ăn-banh ở đâu đó. Máy bay cũng như xe hơi vậy, ai biết lúc nào nó nằm đường.
Rồi hắn đi ra xe. Tôi ngồi xuống một phô-tơi, nhìn quanh: hành khách khá đông, nhiều người ngồi với một số hành lý như thùng cạc-tông, bao bị, va-ly v.v. Không phải họ không biết gởi hành lý, nhưng vì những gì họ đã gửi đã đủ số ký-lô dành cho mỗi hành khách, nên số còn lại họ … xách tay, cho dầu là nhiều món vừa nặng vừa cồng kềnh!
Không khí nóng bức. Mấy cái quạt trần quay vù vù, cộng thêm mấy cây quạt đứng xoay qua xoay lại, vậy mà cũng không đủ mát. Thiên hạ ngủ gà ngủ gật, tôi cũng ngả người trên lưng ghế, lim dim …
Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe có ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài, nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy’’. Rồi lại nhắm mắt lim dim … Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò’’: “Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng … đang vươn lên ngọn khói… á… lam… à… chiều…’’
Đúng rồi! Không phải ở trong đầu tôi, mà rõ ràng có ai ca vọng cổ ngoài kia. Tôi nhìn ra hướng đó, thấy xa xa dưới lùm cây dại có một người đen nằm võng. Và chỉ có người đó thôi. Lạ quá ! Người đen đâu có nằm võng. Tập quán của họ là nằm một loại ghế dài bằng gỗ cong cong. Ngay như loại ghế bố thường thấy nằm dưới mấy cây dù to ở bãi biển … họ cũng ít dùng nữa.
Tò mò, tôi bước ra đi về hướng đó để xem là ai vừa ca vọng cổ lại vừa nằm võng đong đưa. Thì ra là một anh đen còn trẻ, còn cái võng là loại võng nhà binh của quân đội Việt Nam Cộng Hòa hồi xưa. Tôi nói bằng tiếng Pháp:
– Bonjour!
Anh ngừng ca, ngồi dậy nhìn tôi mỉm cười, rồi cũng nói “Bonjour’’. Tôi hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp:
– Anh hát cái gì vậy?
Hắn đứng lên, vừa bước về phía tôi vừa trả lời bằng tiếng Pháp_
– Một bài ca của Việt Nam. Còn ông? Có phải ông là le chinoise làm việc cho hãng đường ở Borotou không?
Tôi trả lời, vẫn bằng tiếng Pháp:
– Đúng và sai! Đúng là tôi làm việc ở Borotou. Còn sai là vì tôi không phải là người Tàu. Tôi là người Việt Nam.
Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:
– Trời ơi! … Bác là người Việt Nam hả?
Rồi hắn vỗ lên ngực:
– Con cũng là người Việt Nam nè!
Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ’’ đến cái xứ “khỉ ho cò gáy’’ này mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt …
Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:
– Trời ơi!… Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!… Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt … con mừng “hết lớn’’ bác à!
Rồi hắn kéo tôi lại võng:
– Bác nằm đi! Nằm đi!
Hắn lại đống gạch “bờ-lóc’’ gần đấy lấy 2, 3 viên kê bên cạnh võng rồi ngồi lên đó, miệng vẫn không ngừng nói:
– Con nghe thiên hạ nói ở Borotou có một người Tàu. Con đâu dè là bác. Nếu biết vậy con đã phóng Honda vô trỏng kiếm bác rồi! Đâu đợi tới bây giờ …
Hắn móc gói thuốc, rút lòi ra một điếu, rồi đưa mời tôi:
– Mời bác hút với con một điếu.
Hắn đưa gói thuốc về phía tôi, mời bằng hai tay. Một cử chỉ mà từ lâu tôi không còn nhìn thấy. Một cử chỉ nói lên sự kính trọng người trưởng thượng. Tôi thấy ở đó một “cái gì’’ rất Việt Nam.
Tôi rút điếu thuốc để lên môi. Hắn chẹt quẹt máy, đưa ngọn lửa lên đầu điếu thuốc, một tay che che như trời đang có gió. Tôi bập thuốc rồi ngạc nhiên nhìn xuống cái quẹt máy. Hắn nhăn răng cười:
– Bộ bác nhìn ra nó rồi hả?
Tôi vừa nhả khói thuốc vừa gật đầu. Đó là loại quẹt máy Việt Nam, nho nhỏ, dẹp lép, đầu đít có nét cong cong. Muốn quẹt phải lấy hẳn cái nắp ra chớ nó không dính vào thân ống quẹt bằng một bản lề nhỏ như những quẹt máy ngoại quốc. Hắn cầm ống quẹt, vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:
– Của ông ngoại con cho đó! Ổng cho, hồi ổng còn sống lận.
Rồi hắn bật cười:
– Hồi đó ổng gọi con bằng “thằng Lọ Nồi’’.
Ngừng một chút rồi tiếp:
– Vậy mà ổng thương con lắm à bác!
Hắn đốt điếu thuốc, hít một hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Nhìn cách nhả khói của hắn tôi biết hắn đang sống lại bằng nhiều kỷ niệm … Tôi nói:
– Vậy là cháu lai Việt Nam à?
– Dạ. Má con quê ở Nha Trang.
– Rồi má cháu bây giờ ở đâu?
Giọng của hắn như nghẹn lại:
– Má con chết rồi. Chết ở Nha Trang hồi Việt cộng vô năm 1975.
– Còn ba của cháu?
– Ổng hiện ở Paris. Tụi này nhờ có dân Tây nên sau 1975 được hồi hương. Con đi quân dịch cho Pháp xong rồi, về đây ở với bà nội. Con sanh ra và lớn lên ở Sài Gòn, về đây, buồn thúi ruột thúi gan luôn!
Tôi nhìn hắn một lúc, cố tìm ra một nét Việt Nam trên con người hắn. Thật tình, hắn không có nét gì lai hết. Hắn lớn con, nước da không đến nỗi đen thùi lùi như phần đông dân chúng ở xứ này, nhưng vẫn không có được cái màu cà phê lợt lợt để thấy có chút gì khác khác. Tóc xoắn sát da đầu, mắt lồi môi dầy…
Tôi chợt nói, nói một cách máy móc:
– Thấy cháu chẳng có lai chút nào hết!
Hắn nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nghiêm trang:
– Có chớ bác. Con có lai chớ bác.
Hắn xoè hai tay đưa ra phía trước, lật qua lật lại:
– Bên ni của con là nằm ở bên ngoài đây nè.
Rồi hắn để một tay lên ngực, vỗ nhè nhẹ về phía trái tim:
– Còn bên ngoại của con, nó nằm ở bên trong. Ở đây, ở đây nè bác.
Bỗng giọng hắn nghẹn lại:
– Con lai Việt Nam chớ bác!
Trong khoảnh khắc, tôi xúc động đến quên mất màu da đen của hắn, mà chỉ thấy trước mặt tôi, một thanh niên Việt Nam, Việt Nam từ cử chỉ tới lời lẽ nói năng. Tôi vói tay vỗ nhẹ lên vai hắn mấy cái, gật đầu nói:
– Ô! Bác thấy. Bây giờ thì bác thấy…
Hắn mỉm cười:
– Ở đây người ta nói con không giống ai hết, bởi vì con hành động cư xử, nói năng không giống họ. Bà nội con cũng nói như vậy nữa! Còn con thì mỗi lần con nhìn trong kiếng, con vẫn nhận ra con là người Việt Nam. Bác coi có khổ không?
Rồi nó nhìn tôi, một chút trìu mến dâng lên trong ánh mắt:
– Bây giờ con gặp bác rồi, con thấy không còn cô đơn nữa. Gặp một người giống mình, ở cái xó xa xôi hẻo lánh này, thiệt là Trời còn thương con quá!
Tôi im lặng nghe hắn nói, nhìn hắn nói mà có cảm tưởng như hắn đang nói cho cả hai: cho hắn và cho tôi. Bởi vì cả hai cùng một tâm trạng…
Hắn vẫn nói, như hắn thèm nói từ lâu:
– Nhớ Sài Gòn quá nên con hay ca vọng cổ cho đỡ buồn. Hồi nãy bác lại đây là lúc con đang ca bài “Đường về quê ngoại’’ đó bác.
– Bác không biết ca, nhưng bác rất thích nghe vọng cổ.
Giọng nói của hắn bỗng như hăng lên:
– Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy, không có gì nhắc cho con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết.
– Bác cũng vậy.
Tôi nói, mà thầm phục sự hiểu biết của hắn. Và tôi thấy rất vui mừng có một người như vậy để chuyện trò từ đây về sau…
Có tiếng máy bay đang đánh một vòng trên trời. Chúng tôi cùng đứng lên, hắn nói:
– Nó tới rồi đó. Con phải sửa soạn xe trắc-tơ và rờ-mọt để lấy hành lý. Con làm việc cho hãng Air Afrique, bác à.
Rồi hắn nắm tay tôi lắc mạnh:
– Thôi, bác đi mạnh giỏi. Con tên là Jean. Ở đây ai cũng biết “Jean le vietnamien’’ hết. Chừng về bác ghé con chơi, nghen.
Bỗng, hắn ôm chầm lấy tôi siết nhẹ, rồi giữ như vậy không biết bao nhiêu lâu. Tôi nghe giọng hắn lạc đi:
– Ghé con nghe bác… Ghé con …
Tôi không còn nói được gì hết. Chỉ vừa gật gật đầu, vừa vỗ vỗ vào lưng hắn như vỗ lưng một người con …
Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má của hắn ướt nước mắt. Tôi vội vã quay đi, lầm lũi bước nhanh về nhà ga mà nghĩ thương cho “thằng Jean le vietnamien’’. Hồi nãy, nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ …
…Trên máy bay, tôi miên man nghĩ đến “thằng Jean’’ rồi tự hứa sẽ gặp lại nó thường. Để cho nó bớt cô đơn. Và cũng để cho tôi bớt cô đơn nữa!
Bây giờ, viết lại chuyện thằng Jean mà tôi tự hỏi:
“Trong vô số người Việt Nam lưu vong hôm nay, còn được bao nhiêu người khi nhìn trong gương vẫn nhận ra mình là người Việt Nam?’’
“Và có được bao nhiêu người còn mang mểnh trong lòng bài ca vọng cổ, để thấy hình ảnh quê hương vẫn còn nằm nguyên trong đó?’’.

TT

Bức tường biên giới

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 22/12/2023

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Tuần này mỗi ngày có khoảng 10 ngàn người nhập cư bất hợp pháp tràn vào nước Mỹ. Tức là gần một sư đoàn của công dân thế giới xâm lăng biên giới Hoa Kỳ mỗi ngày.
Họ thuộc đủ loại quốc tịch như Châu Mỹ La Tinh, Châu Á, Châu Phi, Trung Đông v.v…
Từ khi Tổng thống Joe Biden lên cầm quyền thì có khoảng 3,8 triệu dân nhập cư lậu được cho phép tràn vào biên giới Hoa Kỳ. Có khoảng trên 500 ngàn người khác lén lút tràn qua biên giới mà không bị phát hiện. Cộng vào đó mỗi năm Hoa Kỳ chính thức cấp visa cho khoảng 600 ngàn người định cư hợp pháp.

Khi dân nhập cư lậu tràn qua biên giới thì trước tiên sẽ là gánh nặng cho các tiểu bang dọc biên giới Hoa Kỳ, vì các tiểu bang này có trách nhiệm phải nuôi ăn và chăm sóc sức khỏe và an sinh của dân nhập cư lậu.
Thống đốc của tiểu bang Texas có sáng kiến lạ là thuê máy bay và xe đò chở dân nhập cư lậu đổ bộ họ xuống các thành phố cấp tiến ở phía Bắc như Chicago, vì các thành phố này đã tuyên bố nơi ấy là an toàn khu của dân nhập cư lậu. Kết quả là chính quyền của các thành phố cấp tiến phía bắc giãy nãy phản đối kịch liệt và đòi kiện Texas đã đổ bộ bất hợp pháp dân nhập cư lậu lên thành phố của họ. Ủa, đã tuyên bố là nơi an toàn khu của dân nhập cư lậu giờ đổi ý kiến rồi nè.
Mấy bức tường biên giới của Tòa Đại Sứ và Lãnh Sự Hoa Kỳ cũng có hàng dài công dân Việt Nam sắp hàng xin visa nhập nội Hoa Kỳ hợp pháp. Ai bị rớt phỏng vấn thì vẫn còn cơ hội ở biên giới phía nam nhe bà con. Chúc may mắn và hẹn gặp ở nước giãy chết có nhiều vụ xả súng thiệt ớn.

BÔNG LAU 22.12.2023

Bắt bớ ở xứ giãy chết

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 05/01/2024

Post by Sơn râu 12 Nov 2024

Nhân vụ công an Vi Xi bắt cóc anh Phan Vân Bách ở Hà Nội trong mấy tuần qua, chúng ta thử soi vào hệ thống pháp lý – thể thức câu lưu nghi can của đế quốc giãy chết ác ôn, để thấy được những điểm dị biệt với thiên đường xã hội chủ nghĩa.
Ghi chú: Ở xứ giãy chết cho dù người phạm tội bị bắt quả tang giết người thì vẫn phải kêu họ là nghi can, cho tới khi nào ra tòa và bị kết tội thì mới gọi là tội phạm. Ở xứ thiên đường, chỉ cần nói xấu chế độ là đương nhiên trở thành tội phạm trước khi ra tòa.
Luật ở Mỹ có những đặc thù riêng và có thể khác với các quốc gia dân chủ pháp quyền trên thế giới. Đa số các tiểu bang, cảnh sát chỉ có quyền bắt giữ nghi can không lâu hơn 72 tiếng đồng hồ để công tố viên thiết lập hồ sơ kết tội dựa vào báo cáo của cảnh sát.
Hồ sơ buộc tội sẽ được gởi ngay đến quan tòa để tòa án quyết định nghi can được thả ngay sau khi đóng tiền thế chân đợi ngày ra tòa, hay nếu nghi can quá nguy hiểm thì quan tòa ra lịnh giam luôn cho tới ngày ra tòa. Quan tòa cũng sẽ được nghe phía luật sư biện hộ thuyết phục yêu cầu được đóng tiền thế chân để thân chủ ra về.
Nếu nghi can giàu có thì tự bỏ tiền ra để đóng tiền thế chân để tại ngoại hầu tra. Nếu nghi can nghèo thì sẽ có những công ty gọi là “Bail Bond company” đóng tiền thế chân giùm, rồi sau đó nghi can sẽ đi cày trả nợ với tiền lời cắt cổ, hoặc nếu nghi bỏ trốn thì công ty đóng tiền thế chân đó sẽ tịch thu tài sản của nghi can.
Những công ty Bail Bond này còn có thám tử riêng làm công việc lùng bắt các nghi can bỏ trốn mà hỏng chịu hầu tòa. Các thám tử này trang bị đồ chơi tận răng rất ngầu gọi là “Bounty hunter” hay là thợ săn người có tiền thưởng. Giồng hệt thời Viễn Tây có những chàng cao bồi làm nghề bắt quân gian để lấy tiền thưởng. Hollywood có làm những cuốn phim hành động về “Bounty hunter” coi rất phê.
Trước khi ra tòa nghi can phải hầu tòa lần đầu gọi là “hearing”, để quan tòa “lắng nghe” nội vụ sơ khởi từ phía công tố viên và luật sư biện hộ, rồi mới quyết định sẽ có một phiên tòa chính thức có bồi thẩm đoàn xét xử. Trước khi hầu tòa sơ khởi “hearing”, công tố viên và luật sư biện hộ gặp nhau để duyệt xét nội vụ trước khi “lâm chiến”.
Đôi khi có những luật sư biện hộ giỏi, thuyết phục công tố viên là cảnh sát đã bắt lầm và không có đủ chứng cớ. Nếu tiến hành xét xử thì phía công tố viên cũng thua thôi. Có trường hợp công tố viên thấy trước đó là một vụ bắt bớ tào lao sẽ không thắng được, nên quyết định hủy bỏ vụ án mà không cần có phiên “hearing”. Cả công tố viên và luật sư biện hộ lúc nào cũng muốn khi lâm chiến là phải thắng, vì nếu thua quài thì mất uy tín, hỏng ai thèm thuê.
Hệ thống pháp lý Mỹ cũng không hoàn hảo. Có những trường hợp luật sư biện hộ dở và công tố viên giỏi, làm nghi can lãnh án oan hay quá nặng. Có những trường hợp luật sư biện hộ giỏi và công tố viên quờ quạng khiến nghi can được trắng án, như trường hợp anh O. J. Simpson, giết chết bạn gái và bồ của bạn gái nhưng vẫn hỏng bị kết tội và trắng án.
Ở Mỹ quan tòa không có quyền kết án mà chỉ làm trọng tài trong phiên tòa. Bồi thẩm đoàn phải nhất trí kết tội (Unanimity in jury verdicts) thì nghi can mới trở thành tội phạm và thọ án. Chỉ cần một người trong bồi thẩm đoàn không đồng ý kết tội là nghi can trắng án. Cho nên ở tù ở Mỹ rất khó. Ở xứ thiên đường vinh quang cũng ở tù rất khó vì nghi can có gốc bự sẽ nhờ luật sư biện hộ “chạy án”, thông đồng hối lộ quan tòa để được nhẹ hay trắng án. Xứ thiên đường thiệt sướng nè.
Khi cảnh sát bắt người ở Mỹ, câu đầu tiên cảnh sát nói là “Bạn có quyền im lặng từ chối trả lời” ; và nghi can có quyền đòi hỏi một luật sư biện hộ ngay tức khắc để luật sư trả lời các câu hỏi của cảnh sát cho thân chủ mình. Nếu nghi can nghèo không có tiền thì chính quyền phải cung cấp luật sư biện hộ miễn phí. Ở Mỹ, cảnh sát không có quyền bắt bớ người rồi tự tiện hỏi cung riêng một mình, để tránh tình trạng lạm dụng quyền thế vu khống hại người vô tội.
Cảnh sát Mỹ rất dzữ, nếu người bị bắt chống cự với hung khí thì đa phần sẽ bị ăn kẹo đồng trong chớp mắt. Tuy nhiên quyền hạn của cảnh sát Mỹ hỏng có nhiều như quyền sinh sát của công an Vi Xi. Ở Mỹ chưa bao giờ có vụ nghi can treo cổ tự tử trong bót cảnh sát, hoặc cảnh sát Mỹ bắt nghi can rồi vài ngày sau gọi gia đình lên nhận xác thân nhân có đầy dấu vết bầm dập tím thẫm do những cuộc tra tấn dã man.
Hỏng những cảnh sát Mỹ hỏng có nhiều quyền lực mà nhiều khi còn sai lầm nữa. Có những vụ người dân gọi cảnh sát Mỹ đến câu lưu hay tịch thu súng của người có triệu chứng bị điên. Cảnh sát đến tiếp xúc nghi can rồi bỏ đi vì hỏng muốn bắt lầm người. Sau đó nghi can điên thiệt và xả súng giết người hàng loạt, và gây tai tiếng nhiều cho cảnh sát là quá ù lì và nhân nhượng.
Có những trường hợp khác thì cảnh sát Mỹ quá tích cực nếu không nói là hiếu chiến nên mạnh tay nựng gây thương tích cho long thể của nghi can. Có khi lỡ tay làm nghi can viên tịch thì báo chí làm um sùm trời đất, kết quả là viên cảnh sát mạnh tay đó đi nằm nhà đá dài hạn, và chính quyền địa phương phải đền hàng triệu đô la cho nghi can bị cảnh sát nựng mạnh tay.
Nói chung làm công an ở xứ thiên đường vinh quang rất sướng và có nhiều quyền lực hơn cảnh sát Mỹ Đế, vốn dễ chết và dễ đi nằm nhà đá nếu sai lầm. Tiền bạc của công an Vi Xi lại rủng rỉnh đầy túi nữa nên nhiều người ao ước được hành nghề công an. Các cô gái đẹp rất thích có chồng làm công an Vi Xi vì sẽ có một đời sống phú quý trong nhung lụa, thậm chí có hy vọng xây được biệt phủ nữa.

BÔNG LAU 05.01.2024