Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 16 Nov 2024

  1. Nhập gia tùy tục nhập giang tùy khúc
    Trước khi kể chuyện “cô đào hát có phép thần thông”, tôi xin giới thiệu bối cảnh lịch sử của câu chuyện.
    Nghệ sĩ cải lương theo đoàn hát đi lưu diễn khắp các miền đất nước, luôn luôn ghi nhớ câu tục ngữ: “Nhập gia tùy tục, Nhập giang tùy khúc”. Ghe chài của đoàn hát lúc di chuyển được tàu máy dầu kéo nhưng người tài công của ghe chài bao giờ cũng phải túc trực bên bánh lái ghe để có thể lái ghe chài theo luồng nước, tránh các đụn cát, các gò cát dưới lòng sông. Phải biết chỗ nông hay sâu, chỗ nào ghe chài của đoàn hát cập bến được. Về từng địa phương nơi đoàn hát đến, nghệ sĩ phải được ông quản lý của đoàn hát cho biết luật lệ của địa phương. Nơi nào cấm đến, cấm chụp ảnh, những điều cấm kỵ không được nói đến. Các anh Hề diễu thì phải tránh nói những gì mà các nhà chức trách ở địa phương có thể ngộ nhận là đoàn hát nói xiêng nói xỏ họ. Vì vậy, trong những năm 1946 đến năm 1954, thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, các gánh hát có hai người chịu trách nhiệm quản lý: một chánh và một phó. Người chánh đi xin phép, mướn rạp, mướn phòng ngủ hay nhà nghỉ cho đào kép, mướn xe tải hay tàu kéo thì người phó lo công việc quản lý, giao thiệp với nhà chức trách địa phương, nơi đoàn hát đang trình diễn. Hoặc ngược lại, người phó quản lý đi lo bến mới, bãi diễn hay mướn rạp hát thì người quản lý chánh lo thủ trại. Và lần nào đi xin phép hát, mướn rạp, dán những tờ áp phích quảng cáo trước và dò hỏi tình hình của địa phương, ý thích của khán giả, người quản lý của đoàn hát đi trước có quyền chi tiêu rộng rãi và được ở lại tại địa phương mới đó vài ngày. Đoàn hát doanh thu thành hay bại, được an ninh hay không là nhờ ở tài ngoại giao của ông Quản lý.
    Ngày nay, các bạn trẻ nghĩ là luật lệ trong một nước, một tỉnh thành hay quận ly thì đã được nhà cầm quyền ban bố bằng Hiến Pháp hoặc bằng các sắc luật; bất cứ địa phương nào trong một nước cũng đều phải áp dụng luật pháp đó giống như nhau, người Quản lý của gánh hát đâu có cần phải dọ biết những luật lệ, tập tục riêng của từng địa phương.
    Sự thật thì không phải vậy! Từ năm 1946 đến năm 1954, thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, mỗi địa phương có một lãnh chúa, mỗi ông lãnh chúa có quyền lực riêng mà chánh quyền trung ương cũng phải vị nễ, không can thiệp được dù cho quyền địa phương đó trái với những gì đã được quy định bằng sắc luật hoặc nghị định của chánh quyền trung ương.
    Có những vùng của Việt Minh kiểm soát, có những vùng “xôi đậu”, ban ngày của Quốc Gia, ban đêm của V.M. Có những vùng do quân đội Pháp chiếm đóng, và ngay trong các vùng nầy lại có các bót do lính của các Giáo Phái trấn giữ với sự cho phép của nhà cầm quyền Pháp.
    Đoàn hát cải lương của chúng tôi khi lưu diễn ở các tỉnh miền Đông thì đã phải chịu điêu đứng khi đến Tây Ninh vì gặp các “ngài” chỉ huy của các bót Cao Đài ở các xã Cẩm Giang, Bến Xúc, Suối Đá… Chúng tôi về miền Tây hát, tuy được doanh thu cao vì dân miền Tây rất thích coi hát cải lương, nhưng đoàn hát cũng “trầy vi tróc vãy” với những bót do lính Hòa Hảo trú đóng. Những vùng Hòa Hảo lại do nhiều ông Tướng chỉ huy khác nhau nên cũng có nhiều luật lệ khác nhau.
    Còn nhớ… những năm 1950 đến năm 1954… các đơn vị lính Hòa Hảo do ông Lâm Thành Nguyên thống lãnh, chiếm đóng từ Châu Đốc dài tới biên giới Cao Miên. Các đơn vị do ông Nguyễn Trung Trực chỉ huy thì đóng các bót ở các xã thuộc tỉnh Long Xuyên chạy dài tới chợ mới Long Xuyên. Xuống khỏi Long Xuyên một chút là Vàm Cống, chạy dài tới ngã ba Rạch Giá – Cần Thơ – Long Xuyên thì thuộc về phạm vi thế lực của các đơn vị Hòa Hảo dưới quyền chỉ huy của ông Lê Quang Liêm. Vùng Thốt Nốt – Ô Môn thuộc quyền ông Ba Cụt. Vùng Bình Thũy – Cái Vồn đi Cần Thơ thuộc quyền của ông thiếu tướng Năm Lửa. Lúc đó còn có những đơn vị lớn mang danh là bộ đội 40, 41, 42 Hòa Hảo… và ở vùng Cai Lậy – Chùa Phật Đá, Thủ Thừa có đơn vị quân lính của Hòa Hảo 12 phái…
    Sau năm 1954, 1955, bộ đội Quốc Gia chỉ có tiểu đoàn 15 trú đóng tại Long Xuyên. Trước đó thì ngoài quân đội của Pháp (lính Lê Dương, Maroc, Senégalais, lính Việt Partisan, lính 11 Ric…) chánh quyền địa phương còn có các Ban Hội Tề, sau gọi là Hội đồng xã nắm quyền hành chánh ở các vùng nầy cũng phải là người thuộc Giáo Phái. Vì vậy các gánh hát cải lương sau khi xin phép hát ở tòa Hành Chánh cấp Tỉnh, cấp Quận, phải trình giấy tờ, sổ ghi tên tuổi các diễn viên và công nhân sân khấu cho sở Cảnh Sát rồi còn phải tới trình giấy tờ với các bót Hòa Hảo trú đóng trong vùng, sau đó mới tới trình với hành chánh xã.
    Mỗi lần đi xin phép hát, trình sổ nhân sự của đoàn hát thì người Quản Lý đoàn hát luôn luôn phải biếu nhiều thiệp mời xem hát. Đoàn hát phải để dành ra ít nhứt là 4 hàng ghế thương hạng, 4 hàng ghế đầu, sát với mặt tiền sân khấu cho các vị quan quyền và gia đình xem hát.
    Năam 1951, tôi đang đi gánh hát Tiếng Chuông của ông Bầu Cang. Anh Ba Tẹt, bầu gánh hát Ánh Sáng thương lượng với ông Bầu Cang, mượn tôi qua gánh Ánh Sáng giúp việc Quản Lý khi đoàn nầy hát các vùng Ô Môn, Bình Thủy, Cái Vồn ở Cần Thơ. Tôi gia nhập vô làng hia mão mới có ba năm, chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghề hát và nghề quản lý gánh hát, nhưng tôi biết tiếng Tây và có học thức chút đỉnh nên việc giao thiệp với đồn bót, xin phép hát, kiểm duyệt tuồng tôi làm việc có phần dễ dàng hơn những anh em khác.
    Gánh Ánh Sáng – Bầu Tập chuyên hát cương, hát tuồng Tàu, tuồng kiếm hiệp của soạn giả Mộng Vân, nhưng khi hát ở các bến Ô Môn, Bình Thủy, bắc Vàm Cống thì Anh Ba Tẹt và chị Nguyệt Yến bày thêm hát tuồng Phong Thần, Bàng Quyên – Tôn Tẩn, Trụ Vương – Đắc Kỷ, Hỏa thiêu Bá Lạc Đài. Chị Nguyệt Yến nói lớp tuồng, phân vai, hát và ca cương các đoạn tuồng chính yếu, tôi ghi chép và đưa cho anh em học hát. Buổi sáng đọc tuồng, ráp sơ sịa, tối hát. Vậy mà khán giả khen tuồng hay, nghệ sĩ đẹp và hát giỏi.
    Khi sắp qua hát ở quận Cái Vồn, tôi biết bà Năm (vợ ông tướng Năm Lửa) sùng bái nhân vật Phàn Lê Huê nên tôi nói với anh Ba Tẹt và chị Nguyệt Yến chuẫn bị các tuồng theo truyện Tàu: Tiết Đinh San chinh tây, gồm có các lớp tuồng hay nhất như Thần Nữ dâng Ngũ Linh Kỳ, Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê, Phàn Lê Huê phá Hồng Thủy Trận, Phàn Lê Huê phá Âm Dương trận. Tuồng diễn cương thì dễ dàng đối với các nghệ sĩ đoàn Ánh Sáng – Bầu Tập, có khó chăng là phải làm sao cho các nhân vật như Lê Sơn Thánh Mẩu, Phàn Lê Huê, Tần Hớn bay được trên sân khấu. Ngoài ra, việc các vì tiên phe Triệt Giáo và Phàn Lê Huê đấu phép, phá trận Hồng Thủy phải hấp dẫn như đấu phép thật, hô phong hoán vũ phải có mưa gió ào ào như bão tố, phải có sét giăng, sấm nổ, lửa cháy rần rần…
    Đoàn Ánh Sáng – Bầu Tập chuyên hát tuồng kiếm hiệp, đấu boa nha (poignard) nhảy cửa sổ, ca vọng cổ, phựt đèn màu, nên phong cảnh vẻ các ngôi nhà đều có cửa sổ thật rộng, để khi kép hát phóng mình bay qua cửa sổ thì bên trong có bốn anh dàn cảnh, cầm bốn góc mền căng ra hứng để cho anh kép không té xuống sàn sân khấu, dập mũi, bể đầu. Những màn đấu súng thì dùng pháo châm điện cho nổ, nhưng khi hát có các màn đấu phép thì phải cho nổ trên sân khấu, khi liệng phép ra thì phép nổ, nháng lửa hoặc xẹt xẹt như sét đánh những khi có mưa giông. Phàn Lê Huê bay thì phải bay từ góc sân khấu nầy xẹt lên nóc sân khấu phía bên kia, bay một đường dài mới thật là hấp dẫn. Vì những kỹ thuật, xảo thuật mới đó đoàn hát không có nên ông bầu Ba Tẹt và chị Nguyệt Yến nhờ tôi đứng ra lo liệu các phương tiện xảo thuật cho tuồng hát vì chị Nguyệt Yến sẽ vào vai Phàn Lê Huê.
    Tôi có người anh bà con làm đại úy an ninh phi trường Tân Sơn Nhứt nên tôi về Saigon nhờ anh mua dùm tôi giây cáp máy bay, thứ giây bằng thép, nhỏ như đầu đủa ăn nhưng có thể treo một vật nặng hằng mấy trăm ký lô. Với loại giây cáp bằng thép nầy thì khi người nghệ sĩ được kéo lên cho bay thì không sợ bị đứt giây té xuống, và nhất là vì nó làm bằng thép, giây nhỏ nên dù khán giả ngồi sát gần sân khấu, với đèn đuốc đủ màu xanh, đỏ, khi chớp khi tắt, khán giả không thể nào thấy sợi giây kéo nên cứ tưởng là người bay thật. Tôi lại đến các tiệm thuốc Bắc mua diêm trắng và hồng hoàng để về chế pháo đập. Diêm trắng thay cho chất Chlorate de potasse, cà nhuyễn, hồng hoàng cũng cà nhuyễn, trộn với bột than, ba thứ trộn đều, gói trong một lớp giấy với vài viên đá sỏi khi liệng xuống đất, ba chất thuốc cọ xát nhau, phát hỏa, nổ một tiếng thật lớn với ánh sáng xanh lè lóe mắt. Tuồng tích và mọi phương tiện xảo thuật được chuẩn bị đầy đủ thì đoàn hát được Ban Trị Sự Hòa Hảo ở Cái Vồn mua dàn, đưa đoàn về hát ở chợ quận.

Phàn Lê Huê và đoàn nữ binh trên đường phố
Tôi còn nhớ đoàn hát Ánh Sáng qua Cái Vồn hát vào những ngày đầu tháng 5 năm 1951. Lúc đó ở Cái Vồn đang có lễ lớn:
Lễ kỷ niệm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ tế thiên cáo địa thành lập Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo ngày 18 tháng S năm 1939.
Trên các ngã ba ngã tư các trục lộ chính trong quận đều có đặt bàn thờ với khung ảnh Đức Huỳnh Giáo Chủ. Trên con lộ đất dọc theo bờ sông, cứ cách một cây số, có dựng một cái chòi cao, trên đó có để bức ảnh lớn của Huỳnh Giáo Chủ, mặt hướng ra bờ sông.
Trong phố chợ, trước mỗi nhà, đều có một bàn ông Thiên, có thắp nhang khói ngui ngút. Ông Thiếu Tướng Năm Lửa ngồi trên khán đài, duyệt binh, phía sau lưng ông và ở hai bên tả, hữu, có mấy lớp lính đứng hộ vệ. Lính mặc quân phục đen, đội bê-rê đen, súng có lưỡi lê tuốt trần, khung cảnh coi rất là uy nghi oai dũng. Dân gọi nịnh ông là ông Tướng Soái.
Ba đại đội đi diễn hành trước khán đài, mang súng tiểu liên stell, súng mút và có cả mã tấu. Đoàn quân đi diễn binh tuy bước đi không đều nhưng thái độ rất nghiêm trang. Sau đoàn lính diễn binh là bàn thờ lớn với lư hương, đầy đủ nhang, đèn và khung hình Đức Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ. Theo sau bàn thờ là nữ tướng Phàn Lê Huê (do bà phu nhơn thiếu tướng đảm trách). Bà mặc y phục như trong tuồng hát, trước ngực có một bông hường bằng vải thật lớn, trên mão có hai lông trĩ cao, dài như các viên nữ tướng Đoàn Hồng Ngọc hay Phàn Lê Huê trong tuồng hát. Bà vừa đi diễn binh vừa múa song kiếm. Phía sau bà là một đoàn nữ binh, mặc quần lãnh đen, chân quấn xà cạp sọc đen trắng, mặc áo có in bông hoa thật lớn. Thắt lưng bằng khăn màu nâu sậm, cột hai dãi khăn bỏ thòng phía trái, đầu thì chít khăn võ sinh màu nâu, có gắn một bông hoa vàng phía trái. Các nữ binh cũng cầm song kiếm, bước đi rập ràng, oai dũng.
Khi bàn thờ Đức Huỳnh Giào Chủ được khiêng đi ngang khán đài, ông Tướng Soái đứng lên, đưa tay chào theo kiểu nhà binh Pháp. Lính cận vệ đứng sau lưng cũng bồng súng chào, tay xòe ra ngang ngực, lòng bàn tay úp xuống đất.
Các nghệ sĩ chúng tôi đêm đó sẽ hát tuồng Phàn Lê Huê phá Hồng Thủy trận, nhưng ngay buổi sáng đi coi lễ, đã được thấy bà thiếu tướng Phàn Lê Huê đi diễn binh, nên ai nấy đều lo sợ, không biết đêm hát tối nay, bà Phàn Lê Huê ngồi xem hát có bằng lòng cô Phàn Lê Huê trên sân khấu hay không?

Đào hát biết phép thần thông.
Bà Tướng Soái phu nhơn đi xem hát cải lương, ngồi ghế bành trên bục cao, kế bên có một cái bàn nhỏ để cái giỏ trầu. Sau lưng của bà có bốn cô nữ vệ binh mang kiếm theo hầu. Hai anh lính mang súng mút đứng gác gần cửa ra vô của rạp hát. Khán giả thì ngồi sau lưng của bà Tướng, đông tới mức là không có ai có thể đi tới hay đi lui gì được.
Ông bầu Ba Tẹt muốn lấy lòng Bà Tướng Soái nên tuồng Phàn Lê Huê phá Hồng Thủy trận diễn thành ba màn: Màn một hát lớp “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”, Màn hai diễn cảnh “Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng”, Màn ba cảnh “phá trận Hồng Thủy” của nguyên soái Phàn Lê Huê.
Cô Nguyệt Yến, cô đào đẹp nhất, ca hay nhất và bộ múa võ cũng đẹp hạng nhất được chọn đóng vai Nguyên Soái Phàn Lê Huê. Cô Nguyệt Yến có một nước da trắng như bông bưởi, môi đỏ tự nhiên, má hồng, mắt sáng long lanh, tiếng nói nghe thanh tao dịu ngọt. Chỉ cần nói chuyện với cô một lúc là bọn mày râu sẽ mê mẫn tâm thần. Xem cô hát, xem cô múa võ, nghe cô ca thì bọn con trai dám bán nhà bán ruộng để tự nguyện xin theo cô mà hầu hạ.
Kép Thiện Tâm thủ vai Tiết Đinh San. Kép Thiện Tâm cao ráo, đẹp trai, ca vọng cổ rất mùi. Hề Vân Trình đóng vai Tần Hớn (kép bay) và Ba Tẹt vai Đậu Nhứt Hổ, tướng biết độn thổ. Các vai tiên Triệt Giáo thì do các kép Năm Chuồng (kép chuyên môn nhảy cửa sổ), Bảy Quí, Mười Trinh (kép chuyên đánh võ) thủ diễn.
Ngay trong màn đầu, nữ tướng Phàn Lê Huê vâng lời thầy là Lê Sơn Thánh Mẩu, hiến dâng thành Hàn Giang Quận để đầu Đường và kết hôn với Tiết Đinh San, nhưng Tiết Đinh San lầm cho là nữ tướng họ Phàn mê tài sắc của Đường Tướng mới phản chúa và trái ý cha nên sau đêm tân hôn, Tiết Đinh San đuổi Lê Huê đi.
Phàn Lê Huê vì tuân theo lời dạy của ân sư Lê Sơn Thánh Mẩu, đầu Đường trào là thuận theo ý trời nên tuy bị chồng ruồng rẫy, nàng vẫn cam chịu thiệt thòi. Trong lớp tuồng nầy cô Nguyệt Yến đã ca hai câu vọng cổ thật là hay:
(nối lối)
Chăn gối hững hờ chăn gối lẻ
Phấn hương lợt lạt phấn hương tàn, |
Bao nhiêu thương nhớ bao nhiêu lệ,
Mộng ước thôi rồi chịu vỡ tan.
(câu 5 vọng cổ):
Thất thểu lên yên bụi mờ theo vó ngựa, mưa lạnh hoàng hôn ướt đẫm nhung bào, ta chẳng biết giọt mưa rơi hay hay lệ thắm tuôn trào… ôi, “tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ, cô chu nhất hệ cố viên tâm”, Gió ngàn ơi hãy dứt tiếng bi than, ta trở lại Hàn Giang với cõi lòng đà tan nát, thân hoa trôi bèo dạt lệ Hàn Giang đượm chảy bao lần.
(câu 6 vọng cổ):
Hàn Giang ôi, ta bỡ ngỡ quay về thăm cảnh cũ sao hoa lá vẫn tiêu điều rũ rượi như chế nhạo kẻ bị chồng phụ bạc đuổi xô, Tim ta đau như cơn gió đầu thu, lệ ta nhỏ như giọt mưa rơi kẻ lá. Hàn Giang ôi, hãy khóc lên đi một cuộc tình tan vỡ cho tim ta nhẹ mối ưu phiền, ta sống giữa Hàn Giang với chuỗi ngày khổ đau câm lặng, để nghiền ngẫm hai chữ ân tình đã khiến cho mình cam chịu cảnh cô đơn.
Dưới khán phòng có nhiều khán giả khóc rấm rức, tôi đứng bên cánh gà nhìn xuống, thấy bà Tướng cũng lấy khăn lau nước mắt, một cô nữ binh têm sẫn trầu dâng cho bả, bà lấy trầu nhai lia như muốn nhai xương tên Tiết Đinh San cho hả dạ. Bà xĩa thuốc thật mạnh như cố nén cái giận trong lòng.
Đến lớp tuồng Tiết Nhơn Quí bị vây khổn trong trận Hồng Thủy, quân sư Từ Mậu Công phái Tiết Đinh San về Hàn Gia Quận, cầu Phàn Lê Huê phát binh đi cứu cha chồng và Hồng Thủy trận, Phàn Lê Huê không nhận lời khiến cho Đinh San phải chịu nhục, tam bộ nhất bái, đi ba bước phải lạy một lạy, lạy dài từ dinh Đường cho tới quận Hàn Giang.
Khi Tiết Đinh San lạy một lạy, ca một câu, bước ba bước, lạy thêm một lạy, khán giả khoái quá, vỗ tay la: “Cho cái thằng chồng ngu lạy cho u đầu sứt trán nó đi, đừng thèm phá trận, đừng thèm cứu cha của cái thằng ngu đó”.
Tôi nghe tiếng tu hít thổi rét… rét và anh lính la: “Mấy người im lặng cho Bà coi hát”.
Bà Tướng cười hề hề:
– Kệ nó. Cho tụi nó chưởi cái thằng chồng ngu.
Phàn Lê Huê chỉ nhận lời phá trận khi được trao binh quyền và làm lễ đăng đàn bái tướng. Màn bỏ xuống trong sự vỗ tay hoan hô nhiệt liệt của khán giả.
Màn Hai lớp “Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng”, là một hoạt cảnh múa kiếm thật đẹp của Phàn Lê Huê, Tiết Đinh San quỳ dâng ấn tín Nguyên soái và Thượng phương bảo kiếm của vua Đường. Phàn Lê Huê bái nhận ấn tín, truyền lịnh cho Tiết Đinh San làm Nhất lộ tiên phuông, Tần Hớn và Đậu Nhứt Hổ: Tả, Hữu Nhị vị tướng quân. Sau đó Nguyên soái Phàn Lê Huê đứng lên, vung cây gươm Thượng phương bảo kiếm hét lớn “Truyền tấn binh”. Trống và phèng la đổ liên hồi, tiếng trống như sấm động, dục tiến quân. Quân sĩ trong đoàn hát múa cờ, múa kiếm chạy ngang qua sân khấu.
Khi Phàn Lê Huê trên sân khấu hô tiến binh, chúng tôi bỗng thấy hàng loạt phụ nữ khán giả phía dưới khán phòng đứng thẳng người, đồng loạt vung tay chỉ về phía trước, hét lớn: “Tiến”… ” Tiến”. Tiếng thét tiến quân đầy khí thế của khán giả làm cho chúng tôi rùng mình, rởn óc!
Anh Ba Tẹt bầu gánh hát chạy kiếm tôi, tôi cũng đang định tìm anh để bàn chuyện hát màn “phá trận”. Trước khí thế hăng say của khán giả, nữ binh của Bà Tướng Soái Năm Lửa, chúng tôi cùng có một ý nghĩ là cái màn “phá trận” phải hát cho thật là “Xôm”, nghĩa là màn đấu phép thì phải cho pháo điện và pháo đập nổ liên hồi, có sét đánh, có chớp giăng như trời long đất lở. Bao nhiêu pháo đập làm sẵn dành cho ba xuất hát được đem ra, phát cho các diễn viên đứng hai bên cánh gà, để nhờ liệng vô “trận” từng chập. Pháo châm ngòi điện cũng được anh thợ đèn gắn thêm sau các bục đá giả trên sân khấu.
Màn ba là Trận Hồng Thủy, ánh sáng một bên đỏ, một bên xanh. Bên đỏ có một dàn quạt máy ba cái, đóng trong thùng cây, bên ngoài vẻ hình một tảng đá, trước quạt máy có dán rất nhiều giấy kiếng màu đỏ, cắt theo chiều dài. Khi không bật điện thì giấy đỏ nằm rạp xuống sàn sân khấu, khán giả không thấy. Khi bật điện, quạt máy chạy càng lúc càng mạnh, giấy kiếng đỏ thổi bay cuồn cuộn tới trước, cộng với ánh sáng sân khấu phía đó đỏ rực lên sẽ tạo ra ảo giác cho khán giả thấy là lửa đang cháy phừng phực. Phía đèn xanh cũng một dàn quạt máy như vậy, có khác là bên thủy trận thì giấy kiếng xanh và đèn xanh. Khi có bật điện lên thì giấy kiếng được thổi ra, bay ào ào như hình ảnh của những ngọn sóng vỗ nước cuốn.
Màn ba, màn nhung vừa kéo lên, chúng tôi đã nghe tiếng vỗ tay thật lớn, thật lâu của khán giả, báo hiệu là họ đang nóng lòng chờ coi Phàn Lê Huê phá trận. Tôi nhìn xuống khán phòng thì thấy bà Tướng Soái Năm Lửa đã hết nhai trầu, bà ngồi thẳng thớm trên ghế bành như hình vẽ của các nữ tướng Trưng, Triệu trên lưng voi, tay bà cầm cây quạt giấy như nắm thanh kiếm…
Tiết Nhơn Quí bị vây trong trận hồng thủy, mỗi khi ông múa phương thiên họa kích xông ra thì lửa cháy, nước cuốn, tên bắn như mưa. Tiết Nhơn Quí bị thương, ca bài xàng xê lớp xề, tự thán e rằng sẽ bỏ mạng sa tràng tại vùng đất Phiên nầy. Bỗng ông nghe tiếng quân reo tở mở, Tiết Đinh San tiên phuông xông vô trận. Cả hai cha con họ Tiết đánh với hai vị địa tiên Triệt Giáo, bị phép tiên đánh té ngồi dưới đất, hai vị tiên biến mất. Trong ánh sáng khi chớp lòa khi mờ sáng, tạo ra ảo giác mơ hồ, Tiết Đinh San ca vọng cổ, báo cho cha biết là hắn đã cầu được Phàn Lê Huê đăng đàn bái tướng, Phàn Lê Huê sẽ phá trận. Đinh San đi tiên phuông, tưởng là sẽ phá được trận cứu cha nhưng không ngờ trận Hồng Thủy quá ác, Đinh San cũng bị vây trong trận như cha.
Lại nghe tiếng reo hò tở mỡ, nguyên soái Phàn Lê Huê múa song kiếm, đánh lui hai vì tiên Triệt Giáo, xông vô trận. Bọn Triệt Giáo hóa phép, lửa cháy đỏ trời, nước dâng sóng vỗ, bọn quỷ đầu trâu mặt ngựa xông vào đâm chém. Phàn Lê Huê đứng trên tảng đá giữa trận, rút cây cờ Ngũ Linh mang trên lưng ra, vũ lộng thần oai, hô biến, hô giáng. Khi Phàn Lê Huê vung cao Ngũ Linh Kỳ, múa quanh mình thì anh thợ đèn bật contact cho các vĩ pháo điện nổ khi bên đông, khi bên tây, khi sau lưng bọn Triệt Giáo khiến cho chúng nó phải nhảy nai. Lá cờ Ngũ Linh được một ngọn đèn than 1000 watts chiếu, đèn có kiếng màu vàng bên ngoài nên ánh sáng màu vàng chói ngời như ánh hào quang. Ngọn lửa đỏ bên Hỏa trận khi bùng sáng khi chợp tắt, ngọn thủy triều xanh bên Thủy Trận cũng chập chờn như cả hai màu đỏ xanh của Hồng Thủy Trận bị ánh đạo vàng trên Ngũ Linh Kỳ đánh bại.
Bên trong các nghệ sĩ đứng bên cánh gà theo hướng cờ phất, theo giọng biến… biến… của nguyên soái Phàn Lê Huê mà quăng các viên pháo đập xuống sàn sân khấu. Pháo nổ chát chúa kèm theo ánh lửa xanh lè chớp sáng, bọn đầu trâu mặt ngựa xông vô, bị tiếng nổ và lửa phép của Lê Huê, té nhào trở ra, song chúng nó lại nhào vô hò hét. Tiếng trống tiếng nhạc, tiếng nổ chát chúa và ánh điện xẹt xẹt như sấm động sét giăng, tiếng quân la tiến .. .tiến, tiếng hô giáng giáng của Phàn Lê Huê làm cho trận đánh càng thêm gay cấn, hào hùng.
Về phía khán giả, tôi nhìn xuống thấy Bà Tướng cầm cây quạt giấy khi chỉ bên đông, khi múa bên tây, miệng lẩm bẩm như đọc thần chú. Bà cũng mê say như đang phá trận Hồng Thủy. Bỗng một thanh niên tóc xỏa ngang vai, mặc y phục màu nâu sậm, chạy ra ngoài lấy cây cờ màu già có hình bánh xe tạo hóa và một bông sen ngay chính giữa lá cờ. Anh mang cờ lên sân khấu, qùy một chân dưới bục đá có Phàn Lê Huê đứng phía trên, anh phất phất ngọn cờ Hòa Hảo. Bốn nữ vệ binh của Bà Tướng cũng nhảy lên sân khấu, múa kiếm quanh mình, các cô đứng bảo vệ lá cờ Hòa Hảo. Phàn Lê Huê vẫn múa lá cờ Ngũ Linh Kỳ. Tôi và anh ba Tẹt sợ mấy cây kiếm thiệt của mấy cô nữ vệ binh gây thương tích cho các anh em trong đoàn hát nên hô các anh đứng trong cánh gà liệng hết pháo nổ vô sân khấu, đồng thời hét lớn, nhắc tuồng:
” Tụi bấy chết hết đi.”
Bọn đầu trâu mặt ngựa và hai vị tiên Triệt Giáo ngã ngang ra chết, lui vô hậu trường. Pháo đập nổ liên hồi, khói pháo mịt mù, khét lẹt. Các cô nữ binh và anh cầm cờ Hòa hảo bị cháy xém vài chỗ trên áo quần. Phàn Lê Huê bay cái rẹt lên phía trên nóc sân khấu. Màn bỏ xuống trong tiếng vỗ tay cuồng nhiệt của khán giả.
Chúng tôi vén màn, hộ tống bốn cô và anh chàng dũng sĩ áo lam, cầm cờ Hòa Hảo xuống phía trước sân khấu, gặp Bà Tướng. Bà hài lòng, khen:
“Mấy con giỏi lắm Bà sẽ thưởng cho mấy con”.
Bốn cô và một cậu vừa xông trận, chấp tay cúi đầu cảm tạ.
Bà thấy tôi đứng đó, Bà phán một câu:
– Chú biện tuồng vô kêu cô đào có phép thần thông ra bà bảo.
Tôi dạ một tiếng, chạy bay vô hậu trường.
Cô đào Nguyệt Yến đã được tháo giây bay, đứng giữa sân khấu, thở vì mệt và vì ngộp khói thuốc pháo , chưa thay y phục hát, tôi tới bảo:
– Bà Tướng kêu chị ra gặp bả kìa.
Chị Nguyệt Yến, anh Ba Tẹt còn mặc y phục hát, theo tôi ra khán phòng. Bà Tướng nựng mặt, vuốt bàn tay của Phàn Lê Huê – Nguyệt Yến, bà nói:
– Cô biết phép thần thông, biết múa kiếm, giỏi lắm. Cô ở lại đây dạy cho đám nữ binh của Bà đi. Đừng đi theo ghe hát nữa, cực lắm. Vậy hén? Ngày mai cô vô dinh của Bà ở, Bà lo hết cho cô. Ngày mai nghen.
Bà nói xong rồi, không cần nghe trả lời là cô đào hát có ưng chịu hay không, bà ra cửa, leo lên xe jeep. Xe chạy, Bà còn khoát khoát tay chào Phàn Lê Huê trong rạp hát.
Đêm hát thành công quá sức tưởng tượng. Doanh thu mấy ngày qua cũng rất cao và Bà Tướng còn tặng thêm một số tiền cho cô đào đóng vai Phàn Lê Huê, lẽ ra thì chúng tôi vui mừng, nhưng sau đêm vãn hát đó, chúng tôi không tài nào ngủ được. Bà Tướng muốn Phàn Lê Huê Nguyệt Yến ở lại dạy phép thuật và song kiếm cho đám nữ binh của Bà. Bà cũng muốn học bay như Phàn Lê Huê đã bay trên sân khấu. Chuyện hát giả trên sân khấu mà Bà Tướng tưởng “Cô đào có phép thần thông thiệt”.
Ngay vừa hừng sáng, chúng tôi cùng nhau trốn về Cần Thơ rồi đón xe về Saigon ngay. Đồ đạc và ghe hát để cho anh em dàn cảnh đưa về sau. Bà Tướng thấy chúng tôi không đến trình diện, chắc Bà cũng hiểu ra là lệnh của Bà cũng khó mà thực hiện nên Bà không truy cứu. Riêng đoàn hát Ánh Sáng thì mấy năm sau không dám về miệt Hậu Giang để hát nữa.
Một chuyện nhớ đời của giới nghệ sĩ cải lương trong mấy mùa chinh chiến.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 16 Nov 2024

  1. Một thời để nhớ: đào hát biết phép thần thông
    Mùa đông năm nay trời lạnh buốt hơn các năm trước. Không biết có đúng như vậy hay không, hay là tại tôi già rồi, sức khỏe suy giảm nên mới có cái cảm giác năm nay lạnh hơn năm rồi. Mỗi sáng khi thức giấc, tôi nhìn màn ảnh truyền hình, theo dõi mục thời tiết, lúc nào cũng thấy dưới 20 độ âm, bèn chép miệng than:
    “Ôi! ở cái xứ lạnh tình nồng nầy, cái lạnh thì không mời không gọi cũng theo tuyết mà bay mịt trời mịt đất, lạnh buốt từ trong xương lạnh ra, còn tình nồng thì tìm ở đâu ra? Mấy ông văn sĩ, nhạc sĩ bày đặt nói “xứ lạnh tình nồng” để giúp cho mình một chút tự kỷ ám thị, một chút hy vọng hão huyền, chớ bộ dễ mà có được cái thứ tình nồng để chống lại cái lạnh dưới 20 độ âm sao?”
    Vợ tôi đang đọc báo, nghe tôi than, cô ta cười:
    – Anh cứ than già hoài, coi chừng mà rủng chí, hết phương viết lách nữa. Mà… mà…anh muốn cái “tình nồng” gì? Hơn tám mươi tuổi rồi ông ơi…
    Tôi chống chế:
    – Thì… nói về chuyện văn chương nghe mà chơi, chớ còn tình tự gì nữa đâu mà “khóc với cười…”(tôi vô tình buộc miệng ca một câu nhạc của Vũ Thành An mà tôi quên mất tên bản nhạc đó)
    Vợ tôi im lặng thật lâu, nhìn tôi như muốn xẽ chia tâm sự, rồi như chợt nhớ tới cái lạnh dai dẳng của mùa đông năm nay, vợ tôi biểu đồng tình với tôi:
    – Đúng vậy! Năm nay lạnh hơn mấy năm rồi. Phải chi em có phép thần thông, em sẽ hóa cho anh một cái mặt trời mùa hạ, sáng tối mọc lên và lăn xuống gần ngôi nhà của mình, để cho anh được sưởi ấm, để cho anh tưởng như mình đang còn ở Việt Nam, đang cái thời mà anh vừa hai mươi tuổi!
    Tôi khoái chí, bật cười to:
    – Anh 20 tuổi thì em mới 18 tuổi! Đúng là cái tuổi thần tiên, đầy ước mơ, hy vọng và những sầu mộng vu vơ!
    Tôi bỗng cao hứng, ngâm nho nhỏ mấy câu thơ:
    Có một nàng con gái,
    Vừa đến tuổi mộng mơ
    Hoa ân tình chớm nở
    Đã mang sầu vào thơ.
    Ngồi thường đếm là rụng
    Đón gió chiều thướt tha
    Gởi hồn mộng theo gió.
    Bay vội đến trăng ngà.
    Ôm niềm đau tuổi nhỏ
    Nước mắt đi vào đời
    Bằng điệu buồn mười tám,
    Nghe tình yêu xa xôi…
    Vợ tôi muốn kéo tôi ra khỏi mộng mơ nên nhắc khéo:
    – 18 gì mà 18, em đã 81 tuổi rồi, dầu cho có phép thần thông, đảo ngược được hai con số 81 thành l8 thì em cũng không thể trở thành cô gái 18 tuổi đâu.
    Tôi phát la lên: “Có rồi… có rồi… Cám ơn em…!
    Tôi chạy lại bật contact máy computer.
    Vợ tôi hỏi:
    – Có chuyện gì mà anh la: “Có rồi? Có rồi?”
    – Có đề tài để viết báo rồi. Em vừa nói tới ba tiếng “Phép Thần Thông”, gợi cho anh nhớ chuyện “cô đào hát có phép thần thông”. Chuyện có thật một trăm phần trăm, một kỷ niệm nhớ đời của các nghệ sĩ cải lương trong thời kỳ chiến tranh Việt Pháp.
    Tôi vừa trả lời, vừa chăm chú vào máy vi tính và trong đầu óc của tôi ba chữ “Phép Thần Thông”! ngời sáng như một viên ngọc quý.

Tháng 11. hoa poppy tưởng niệm

baotreonline.com
Dương Hùng
Post on December 2nd, 2023

Post by Sơn râu 14 Nov 2024

Hàng năm Quân đoàn Hoàng gia Anh tổ chức Lễ hội tưởng niệm tại Royal Albert Hall – nguồn britishlegion.org.uk

Những ngày này, trên các đường phố của Vương Quốc Anh (UK), bạn dễ dàng nhận ra trên áo những người qua đường xuất hiện thêm một bông hoa đỏ thắm. Đó là poppy (hoa anh túc) , những bông hoa cứ đầu tháng 11 hàng năm lại “nở” khắp các ngả đường và trong lòng người dân UK, nhắc họ không quên quá khứ đau thương từ những cuộc chiến tranh và trân trọng giây phút thanh bình hiện tại.
Armistice Day (Ngày Đình Chiến) được kỷ niệm vào ngày 11 tháng 11 hàng năm, kể từ sau khi Chiến tranh thế giới I kết thúc. Tại một vài thành phố ở UK, khi đồng hồ điểm 11 giờ sáng ngày 11/11, toàn bộ các hoạt động, bao gồm cả phương tiện giao thông, sẽ ngừng lại trong vòng 2 phút. Bởi vào thời khắc đó của năm 1918, các nước đồng minh và quân đội Đức tuyên bố ngừng cuộc chiến. Armistice Day vì thế có ý nghĩa đặc biệt thiêng liêng đối với người UK. Một lễ tưởng niệm quy mô quốc gia được tổ chức vào buổi tối ngày 11 tháng 11 hàng năm (gọi là Festival of Remembrance), và được tường thuật trực tiếp. Một trong những nghi thức quan trọng và xúc động trong buổi lễ này là hàng trăm ngàn cánh hoa đỏ được thả rơi, mỗi cánh hoa là một người lính đã mất trong 2 Thế chiến (mình không chắc lắm về số lượng cánh hoa). Năm nay, lễ tưởng niệm được tổ chức tại Royal Albert Hall (London).
Xuất phát từ Armistice Day, ngày Chủ Nhật gần nhất với ngày 11/11 hàng năm được chọn làm ngày Remembrance Sunday. Không chỉ tưởng niệm những người đã hy sinh trong 2 Thế chiến, Remembrance Sunday còn hướng về những cuộc chiến sau năm 1945 có quân đội UK tham dự, những người hy sinh trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ nhân dân và quốc gia, gồm cả cảnh sát, lính cứu hỏa … Vào ngày này, một buổi lễ long trọng khác được tổ chức với sự có mặt của Hoàng gia, Chính phủ, quân đội, các cựu binh và gia đình. Mọi năm, Nữ hoàng đều đặt vòng hoa tại Cenotaph – đài tưởng niệm chiến tranh ở Whitehall, London. Năm nay, lần đầu tiên Vua Charles thay mặt Nữ hoàng thực hiện nghi thức này. Cùng với đó, tất cả nhà thờ ở UK cũng làm lễ tưởng niệm.
Gần 100 năm qua, màu hoa đỏ cứ đều đặn xuất hiện trên áo những người dân UK mỗi khi tháng 11 đến, để gợi nhớ những tang thương của chiến tranh. Màu đỏ chỉ đơn giản là màu của máu. Chiến tranh chẳng đem lại gì ngoài máu. Những bông poppy được lấy cảm hứng từ bài thơ “In Flanders Fields” của trung tá quân Y John McCrae – được sáng tác trong Chiến tranh thế giới I. Ngày đó, poppy mọc đầy trên những cánh đồng ở Flanders, nơi những người lính hành quân qua, và nằm lại.

Hoa poppy trên mộ chiến sĩ
DH- theo Mind the Gap

Johnny Hallyday và hai cô bé mồ côi

baotreonline.com
Dương Hùng
Post on October 28th, 2023

Post by Sơn râu 14 Nov 2024

Ca sĩ Johnny Hallyday -người từ giã cuộc đời cách đây 6 năm được cả nước Pháp tiễn đưa- xuất thân trong nghèo khổ, hồi nhỏ bị cha mẹ bỏ rơi và đã vươn lên trong tiếng hát tuyệt vời trở thành thần tượng ca nhạc của thế giới. Năm 2004 Johnny và vợ là Laeticia đã đến Việt Nam để nhận một em bé trong viện mồ côi làm con nuôi. Vài năm sau hai vợ chồng lại sang Việt Nam nhận thêm một bé gái nữa. Cả hai bé, tên là Jade và Joy, được cha mẹ nuôi rất mực yêu thương

Joy và chị gái Jade được vợ chồng Johnny Hallyday nhận nuôi
Cảm động xiết bao khi chúng ta được nhìn thấy tấm ảnh chụp Johnny và vợ ôm hai bé trong vòng tay. Những nụ hôn chứa bao tình cảm đã nói lên tình nhân ái chứa chan. Chính Johnny tâm sự cùng báo chí: “Vous ne savez pas à quel points j’aime ces deux petites filles”-Bạn không biết là tôi thương yêu hai đứa bé này ngần nào. Quả thật hai bé đã được cha và mẹ nuôi rất mực yêu thương chăm sóc. Những ngày hạnh phúc ấy, Jade và Joy cũng đã được cùng cha mẹ nuôi vui hưởng nắng ấm của đảo Saint-Barthélemy trong vùng biển Caraibes. Trong tang lễ Johnny ngày 8 tháng 12. 2017 ta thấy hai bé Jade và Joy nức nở khóc thương cha và được mẹ Laeticia ôm trong vòng tay. Hình ảnh hai cô bé VN bên cạnh quan tài danh ca Johnny Hallyday được 15 triệu khán giả trông thấy qua trực tiếp truyền hình. Hai cô bé ngày nào trong viện mồ côi ở VN được Johnny và vợ nhận làm con, đã thoát cảnh nghèo khổ nhờ một tấm lòng nhân ái vô bờ bến. Jade và Joy rồi đây sẽ được thừa hưởng tài sản Johnny (ước lượng khoảng 100 triệu € và hàng năm được chia tiền bản quyền 1000 bài hát của cha) ngang hàng với 2 người con trước David và Laura vì luật thừa kế của Pháp không phân biệt con nuôi và con ruột.

Câu chuyện về ca sĩ Johnny Hallyday và hai cô bé Lọ Lem VN gợi lên trong lòng người viết nhiều cảm hứng. A, thế giới này vẫn còn những con người và những tấm lòng. Để thấy cuộc đời vẫn đẹp và còn hy vọng. Người với người sống để yêu nhau.

Jade và em gái Joy hiện nay
DH – theo tin Internet

Chiếc tuần duyên JA722A xấu số

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 08/01/2024

Post by Sơn râu 14 Nov 2024

BBC đăng lại cuốn băng thâu âm cuộc đàm thoại vô tuyến của đài kiểm soát phi trường quốc tế Haneda, Tokyo với chiếc Airbus A350 Hàng không Japan Airlines (JAL) có phiên hiệu là “JAL516”, và chiếc máy bay Tuần duyên Nhật De Havilland DHC-8 hai động cơ cánh quạt bán phản lực do Canada chế tạo có phiên hiệu là “JA722A”.
Cuộc đàm thoại vô tuyến giữa các máy bay với đài kiểm soát bằng Anh ngữ, để các phi công các chuyến bay quốc tế theo dõi diễn tiến không lưu rộn rịp khi nào thì đến phiên mình cất cánh hay được đáp. Phi trường quốc tế Haneda – Tokyo được coi là một trong những phi trường nhộn nhịp nhứt trên thế giới.

17:43:02 pm: Hàng không JAL516 gọi đài Haneda: “Đài Tokyo, đây JAL516, lô 18”.

17:43:02 pm: “JAL516, đây Đài Tokyo. Chào buổi tối (good evening). Phi đạo 34R. Cứ tiếp tục đến gần. Gió hướng 320/vận tốc 7 knots. Chúng tôi có một máy bay cất cánh”. (Ghi chú: có hai phi đạo số 34 song song, một bên trái là L và một bên phải là R, đáp lộn là tiêu tùng).

17:43:12 pm: “JAL516 tiếp tục đến gần phi đạo 34R”. Hàng không JAL516 lặp lại thông báo của đài Tokyo vì luật không lưu bắt các phi công lặp lại để chứng minh đã hiểu.

17:44:56 pm: Đài kiểm soát Tokyo: “JAL516 được phép đáp (clear to land) phi đạo 34R. Gió 310/7”. Phi công nào cũng hớn hở khi nghe “clear to land”. Điều kiện gió ở đây hầu như hoàn hảo vì gió ngược chiều gần như song song với phi đạo hướng 340.

17:45:01 pm: Hàng không JAL516 lặp lại trong 5 giây: “Được phép đáp 34R, đây JAL516”.

Mười giây sau đó, chiếc máy bay Tuần duyên “JA722A” định mệnh gọi đài kiểm soát Tokyo.

17:45:11 pm: “Đài kiểm soát, đây JA722A”.

17:45:11 pm: “A722A. Đây là đài Tokyo. Chào buổi tối. Số 1. Bạn hãy taxi đến điểm đợi C5”.

17:45:19 pm: Máy bay Tuần duyên lặp lại 8 giây sau như đã hiểu: “Taxi đến điểm đợi C5. Đây A722A số 1. Cám ơn bạn”.
Tuy nhiên chiếc Tuần duyên A722A số 1 đã không đậu đợi ở C5 mà cất cánh ở phi đạo 34R đang có chiếc Hàng không JAL516 sắp sửa chạm bánh đáp. ĐÙNG. Hai chiếc đụng nhau và bốc cháy. Chiếc Tuần duyên A722A số 1 có phi hành đoàn 6 người chỉ có phi công trưởng sống sót và bị thương nặng. Toàn thể 379 người trên chiếc Hàng không JAL516 thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Sẽ có bài viết riêng về sự thoát chết kỳ diệu này.
Viên phi công sống sót của chiếc Tuần duyên A722A sau đó cãi là đã được lịnh cất cánh. Ủa, zậy ai đã lặp lại là đến đợi ở C5? Hay là lặp lại như con vẹt mà hỏng hiểu ý nghĩa. Hay zừa mới tu Sake xong? Cuộc điều tra đang tiến hành. Một số chuyên gia hàng không cho rằng đó là sự cẩu thả thiếu chuyên nghiệp của phi công chiếc Tuần duyên A722A.
Xạ thủ ít khi nào dám bén mảng đến các phi trường quốc tế thuộc loại A hay B vì mức độ không lưu nơi ấy tấp nập như đi chợ. Nhân viên đài kiểm soát ở các phi trường ấy nói nhanh như gió và toàn nói vắn tắt với các ký hiệu nên khó hiểu và khó nhớ để lặp lại. Họ nói nhanh và vắn tắt vì có quá nhiều máy bay đang đợi đáp và cất cánh. Ông phi công chiếc Tuần duyên A722A là nhà binh nên hỏng kinh nghiệm bằng phi công hàng không thường có mấy chục ngàn giờ bay và rất thông thuộc thể thức đáp ở các phi trường quốc tế.
Mỗi lần xạ thủ có việc đến phi trường quốc tế thì ráng bay hai thằng. Sau khi đáp, một thằng taxi, còn thằng kia vừa nói chuyện với đài kiểm soát vừa lật lia lịa cuốn sách bản đồ chỉ đường phi đạo và đường taxi chằng chịt như mạng nhện. Đi lạng quạng lạc đường thì sẽ bị mấy chiếc airline bự như chiếc hàng không mẫu hạm nó cán dẹp lép như khô mực. Khi được đài kiểm soát cho phép băng qua một phi đạo rộng thênh thang, xạ thủ luôn luôn nhìn trái phải để chắc chắn hỏng thấy chiếc nào sắp đáp. Và khi băng qua vẫn cẩn thận thông báo “760 đang băng qua phi đạo” vì sợ bị cán ẩu chết lãng xẹt.
Có một lần nhớ đời khi bay đến một phi trường lớn ban đêm. Lắng nghe trong vô tuyến thấy đài kiểm soát đang nói chuyện ào ào với cả chục chiếc máy bay. Xạ thủ nghe lộn vì volume vặn nhỏ: “760 clear to land (được phép đáp)”. Mình lặp lại “760 clear to land” thì nghe anh nhân viên đài kiểm soát hốt hoảng lớn tiếng “760 anh không được phép đáp”.
Thường thì nhân viên đài kiểm soát không lưu ít khi lớn tiếng mà rất lịch sự, luôn luôn chúc buổi sáng, buổi chiều, buổi tối, hay chào tạm biệt “Good night”. Thì ra anh ta cho phép một chiếc máy bay có số đuôi gần giống 760 nên tưởng mình được phép đáp. Anh ta hốt hoảng là đúng vì nếu đáp ẩu hai chiếc hun nhau thì rất là phiền. Mình xin lỗi rồi ngậm tịt mõm lại vì quê quá trời.

BÔNG LAU 07.01.2024

Chấn thương tâm lý

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 01/11/2024

Post by Sơn râu 14 Nov 2024

Những người trở về từ chiến tranh không ít thì nhiều bị ảnh hưởng tâm lý tiêu cực. Tiếng Anh gọi là posttraumatic stress disorder (PTSD) có nghĩa là “Sự rối loạn căng thẳng sau khi bị chấn thương tâm lý”.
Xạ thủ làm việc trong các chương trình chống khủng bố. Mặc dù hỏng phải cầm súng bắn giết ai, nhưng công việc lao tâm phải suy nghĩ nhiều về những tên khủng bố IS tàn bạo trong suốt mấy tháng qua, và không ngờ mình ít nhiều đã bị ảnh hưởng xấu về tâm lý.
Hôm qua đi khám bác sĩ tổng quát. Anh bác sĩ quen bắt tay vỗ vai mình mừng rỡ nói chào mừng anh trở về và cám ơn sự phục vụ của anh. Các phần khám nghiệm thể lực tốt đẹp. Huyết áp 121, phổi thở trong suốt không bị nghẹt. Bác sĩ ấn vào bụng và nói tốt. Máu và nước tiểu thì 3 ngày nữa mới có kết quả.
Đến phần khám máu chảy lên não thì có vấn đề. Xạ thủ mặc cái áo ấm thể thao sweater có in tên của một địa danh ở Trung Đông và một lá cờ Mỹ to tướng. Đo lượng máu chảy về não bộ thì họ dùng máy siêu âm ultrasound dí cái cục thăm dò vào động mạch cổ để bắn sóng.
Cô chuyên viên kỹ thuật ultrasound là một phụ nữ Trung Đông trùm khăn đen chỉ chừa cặp mắt. Hỏng biết có phải lá cờ Mỹ và tên địa danh Trung Đông trên áo xạ thủ mặc làm cặp mắt cô ấy nhíu lại và giọng nói hơi xẵng không thân thiện. Cách phát âm của cổ rất nặng và khăn trùm mặt càng làm khó nghe và khó hiểu hơn vì thế cổ càng thêm bực mình chăng.
Khi nhìn khăn màu đen trùm đầu cổ chỉ chừa cặp mắt bỗng làm hình ảnh mấy tên khủng bố hiện về trong tâm tư. Cổ để cái gối dưới cổ rồi gằn giọng biểu nhìn về phía bên kia. Xong cổ dùng ngón tay ấn lên cổ tìm động mạch. Tự nhiên mình sợ hãi và hơi hốt hoảng. Cắt động mạch cổ thì chỉ vài phút sau là chết.
Mình cố quay đầu lại coi cổ làm gì. Tay trái xạ thủ không bị vướng còn tay phải nằm bên dưới nách cổ. Khi đó bỗng ao ước mang súng ngắn trong người nhưng chỉ có hai bàn tay không. Nên tính toán thiệt nhanh để tự vệ nếu cổ có hành động cắt cổ mình. Bàn tay trái sẽ vung lên nắm chóp khăn trùm đầu cổ kéo xuống thiệt mạnh, bàn tay phải đâm mạnh vào nách cổ rồi chặt vào cần cổ….
Từng giây phút trôi qua căng thẳng và xạ thủ có cảm giác sợ chết, sợ bị giết và sẵn sàng phản ứng. Nằm ngửa cổ nghe cái máy siêu âm phát ra âm thanh ồm ồm do máu đang chạy về não. Mỗi nhịp tim là tiếng ồm ồm đó trở thành ầm ì vang dội. Đó là sự sống của mình. Cám ơn thượng đế.
Lát sau cổ dịu giọng nói mọi thứ tốt đẹp, anh có chơi thể thao hong, vì máu chảy rất tốt.
Thủ tục khám động mạch hoàn tất. Cổ in mấy tờ giấy có những con số để nộp cho bác sĩ và nói anh có thể rời phòng này. Bất giác xạ thủ rờ tay lên cổ mình và thoáng bâng khuâng nhớ rất nhiều lần mình có ám ảnh bị khủng bố IS bắt làm tù binh, và cuộc hành hình bắt đầu bằng cách cắt cổ. Đó là một cuộc chiến tàn bạo, và những người còn sống đã mang thương tích lặng lẽ trong tâm hồn.

BÔNG LAU 01.11.2024

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 14 Nov 2024

  1. Chương 2
    Buổi tối tôi trở về Nhà hát Tây. Tôi về hơi muộn. Nhiều gia đình đã tắt đèn ngủ yên. Tôi tưởng sẽ phải kiếm hai tờ báo làm chiếu mà nghĩ lưng. Chị Phượng đã tặng tôi một sự ngạc nhiên. Chiếc hghế bố buông màn kê sát ” khu đất ” nhà chị không có người bên trong. Chỉ thấy một miếng giấy gắn bằng kim gút. Tôi tò mò tới gần, coi xem giấy viết gì.
    Cậu Trương Chi,
    Cậu có thể ngũ đỡ trên ghế bố này, Sao cậu về trễ thế? Cậu ăn cơm chưa? Muỗi Sàigòn khiếp lắm đó, cậu đừng để tay sát màn. Cái màn có chổ rách, mai tôi nhờ con Ngọc nó vá lại. Chúc cậu ngủ ngon.
    Chị Phượng chu đáo quá. Tôi vén màn, chiu vào nằm. Có gối. Gối bọc vải trắng thơm ngát mùi nước hoa. Tôi nghĩ không phải mùi nước hoa. Mà là mùi hương tóc của Ngọc, con bé nằm sấp trên ghế bố buổi sáng. Nàng đã gối đầu chiếc gối này. Tôi vội nằm úp để hít hà mùi htuyệt diệu đó.Nàng đẹp chắc nàng sạch sẽ. Nàng sạch sẽ chắc đầu nàng không có chấy. Tôi mong đầu nàng có chấy đực lạc loài trên gối và phiêu lưu vào mái tóc tôi. Con chấy đực sẽ tương tư con chấy cái. Ngày nào đó, khi đầu tôi kề sát đầu nàng, con chấy đực xa người yêu sẽ gặp con chấy cái. Và hai con chấy kể chuyện thương nhờ nhau. Chúng nó sẽ khóc. Dĩ nhiên, nước mắt hai con chấy sẽ làm xanh mướt tóc hai đứa chúng tôi. Nàng và tôi. Chấy cũng có nước mắt, chớ bộ. Nhưng chìỉ là mơ ước. Chiếc gối trắng tinh, thơm ngát mùi hương tóc của người con gái trinh trắng không thể là nơi lạc lõng của loài chấy. Tôi vừa “chơi” điệp ngữ trắng.Nguyễn Bính dạy tôi đó.
    Sáng nay vô số lá vàng rơi
    Người gái trinh kia đã chết rồi
    Có một chiếc xe màu trắng đục
    Hai con ngựa trắngbước hàng đôi
    Đem theo một chiếc quan tài trắng
    Và những bông hoa trắng lạnh người
    Theo gót những người khăn áo trắng
    Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.
    Đừng nhé, con bé nằm sấp trên ghế bố, con bé tên Ngọc, đừng bao giờ em là người trinh nữ trong thơ Nguyễn Bính. Để sáng mai, Sài gòn bừng nắng và Nhà Hát Tây ồn ào, tôi còn được nhìn cô em nằm sấp trên ghế bố, dù mắt cô em dính hai cục ghèn to bằng con ruồi. Tôi sẽ “ôm giấc mơ anh lái đò”
    Năm xưa chở chiếc thuyền này
    Cho cô sang bãi tước đay chiều chiều
    Để tôi mơ mãi mơ nhiều
    Trước đây xe võng nhuộm điều ta đi
    Tưng bừng vua mở khoa thi
    Tôi đỗ quan Trạng, vinh quy về làng
    Võng anh đi trước võng nàng
    Cà hai chiếc võng cùng sang một đò
    Đồn rằng đám cưới cô to
    Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
    Nhà gái ăn chín nghìn cau
    Tiền cheo tiền cưới chừng đâu chín nghìn
    Lang thang tôi dạm bán thuyền
    Có người giả chín quan tiền lại thôi.
    Phải, tôi cũng là thứ lái đò. Kẻ lãng tữ anh dũng đi di cư một mình thật đấy, xong di cư với ước vọng làm cu ly đồn điền cao su. Kẻ lãng tử được chị Phượng ca ngợi ” có tâm hồn nghệ sĩ “thật đấy song mới học đến bài tập số 14 của cuốn phương pháp đánh đàn lục huyền cầm Y Pha Nho của Carulli. Anh lái đò của Nguyễn Bính còn có cái thuyền để dạm bán. Chứ tôi, tôi chả có quái gì. Em Ngọc, em gái nằm sấp trên ghế bố! Em là bến kho Năm, Em là hoa khuê các lộng lẫy, anh là bướm giang hồ đói rách.
    Bao giờ bến mới gặp đò
    Hoa khuê các, bướm giang hồ gặp nhau.
    Tôi tự nhủ: Đừng tưởng bở, người ta thương hại mày đó, Vũ Văn Long ạ! Con chấy đực trên đầu mày chỉ có thể gặp con chấy cái trên đầu con gái ông cai cu ly đồn điền cao su là cùng. Và tôi vội nằm ngữa nhìn lên đình màn mờ mờ trắng. Có điếu Ryby Queen, thứ tương tư thảo đặc biệt Sài gòn, đã bẹp dúm. Tôi bèn vê tròn, bật que diêm, châm thuốc, bắt chân chữ ngũ, hút những hơi dài. Ra cái điều” nhớ nhà châm điếu thuốc”. Thuốc lá dể sinh mơ mộng. Tôi lại mơ mộng, một trái mộng no tròn và huyền ảo như ca dao.
    Ước gì em hóa dưa hồng
    Để cho anh bế anh bồng anh mang
    Ước gì em hoá dưa gang
    Để cho anh bế anh mang anh bồng
    Thôi, em cứ là dưa, anh là bù nhìn coi dưa đã thỏa mơ mộng. Ngày mai anh “chuyển bến ” rồi. Tôi khe khẽ hát: Còn đêm nay nữa, ta nằm nhờ em, Ngước mắt trông màn, ngày mai đã xa rồi, gặp hên lắm thì anh đóng cai.
    Cai cu ly! Xin phép nhạc sĩ Đoàn chuẫn tôi đặt lời cho hợp tình cảnh thê lương của tôi. Hát xong tôi tủi thân quá. Ông cụ thân sinh ra tôi vào Nam kỳ hách hơn tôi nhiều. Ông theo các gánh cải lương, chụp hình chung với Năm Châu, Bảy Nhiêu, Phùng Há và dư tiền trồng những hai chiếc răng vàng. Ông cụ thân sinh ra tôi mới là người tâm hồn nghệ sĩ; Còn tôi, bị hiểu lầm. Chị Phượng tưởng tôi có tâm hồn nghệ sĩ nên đã cho tôi ngũ nhờ trên ghế bố. Và cô Ngọc thì cho mượn gối vừa hứa vá lại chỗ rách ở màn. Tại sao người ta thèm ” di cư ” cả cái màn rách? Thôi đúng quá, cái màn này dành riêng để quý vị con sen, cậu nhỏ sử dụng. Người ta hạ tôi xuống hàng cậu nhỏ, dù cậu nhỏ đã vô Pháp tịch : Philippe Nhỏ. Tôi hiểu, tại tôi nói thật là tôi sẽ ghi tên làm cu ly đồn điền cao su. Với con gái, nhất là con gái đẹp, ta chớ dại nói thật, chui khỏi màn. Và tôi hung hăng xuống lầu dưới, chi một đồng bạc Đông Dương xé đôi, vào cầu tiêu…nghĩ kế. Ở đây, đèn điện sáng choang. Tôi rút sổ tay, lấy bút ghi vài dòng như sau:
    Chị Phượng kính mến.
    Cám ơn chị đã cho chỗ ngũ tốt. Em nghĩ, người nghệ sĩ như em cần phải lấy sương gió làm nhà, nước mây làm bạn thì tâm hồn nó mới thơ thới hân hoan. Người nghệ sĩ như em cần phải làm mục tiêu tấn công của muỗi Sài gòn. Muỗi nó đốt em, em mới chịu khó thức đuổi muỗi và làm thơ, viết văn. Nói để chị rõ em đã ghi tên làm cu ly đồn điền ở Hớn Quản. Em muốn viết cuốn tiểu thuyết tranh đấu, xã hội. Em là cu ly trá hình. Đêm nay chị biết em ngủ đâu chưa? Em ngủ dưới gầm cầu Mống bên Khánh Hội.Người nghệ sĩ chân chính là người chê bỏ giường ấm đệm êm.

Em
Trương Chi.
Viết xong, tôi bằng lòng tôi quá. Em Ngọc sẽ mê mệt tôi. Em sẽ nhờ tôi làm thơ đăng vào giai phẫm cuối năm ở trường em… Điều này hơi kẹt. Ta sẽ xào xáo thơ Huy Cận, Nguyễn Bính, sợ gì. Tôi cút lên lầu, bước cách ba bậc thang một bước. Rồi, len lén cơ hồ gió thu về sớm mơn man trên má cô gái dậy thì, tôi gài bức thư “nghệ sĩ” của tôi vào màn. Nghĩ sao, tôi lại gỡ ra, gài bức thư của chị Phượng và đặt bức thư của tôi trên chiếc gối thơm mùi hương tóc. Và tôi phú lỉnh xuống lầu dưới, kiếm chổ ngủ. Sáng sau, tôi bỏ đi. Sài gòn là thành phố lý tưởng của những kẻ dông dài. Bởi vì khá đông rạp chiếu bóng thường trực. Tôi lang thang vỉa hè, đếm các thùng rác, các cột đèn, mua khúc bánh mì ba tê dài ơi là dài để chờ đúng tám giờ chui vô Long Thuận. Hồi đó, chưa có coca, cola hộp. Thành thử, mười hai giờ, tôi bò ra nốc ba ly nước mía căng bụng, mất thêm năm đồng cái vé và… vô nữa để ngũ. Ngũ chán lại coi Roy Rogers cưỡi ngựa, bắn súng hay Janey Powell nhí nhảnh hát. Đến mười một giờ đêm mới chui ra, kiếm mì ăn vài tô và trở về Nhà Hát Tây. Trời ơi, tôi cảm động ghê quá. Ghế bố đã kê sẵn, màn đã buông? Và chị Phượng, và cô Ngọc đang ngồi thì thầm chuyện trò dưới ngọn đèn bóng nhỏ. Xã hội Nhà Hát Tây là xã hội thừa điện. Điện nhà nước ủnh hộ, dân di cư thả ccửa xài. Thấy tôi, chị Phượng đứng dậy, bước khẽ, tới gần tôi, vỗ vai tôi, trách móc:

  • Cậu làm tôi lo quá. Con Ngọc cũng lo.
    Tôi sung sướng không thể diển tả được. Chưa kịp nói gì, chị Phượng đã nài nỉ:
  • Cậu đừng đi đồn điền Hớn Quản, cậu Long nhé:
    Tôi mỉm cười, giả vờ khinh bạc:
  • Long, bút hiệu Trương Chi.
    Chị Phượng đập nhẹ vào lưng tôi:
  • Cậu Trương Chi
    Tôi đáp:
  • Vâng, thưa chị, em không đi đồn điền nữa. Và đêm nay em sẽ ngũ trên ghế bố của chị.
    Chị Phương hoan hỉ khoe:
  • Con Ngọc nó vá lại những chỗ rách rồi.
    Tôi làm bộ cay đắng:
  • Đời em ví như xăm xe đạp, thủng be bét, vá sống, vá chín nhiều lần.
    Tôi không hiểu tại sao tôi có thể thở ra cái giọng chán chường một cách nhanh chóng đến thế. Chắc là nhờ khúc bánh mì dài, nhờ những ly nước mía, nhờ những giấc ngũ chập chờn trong rạp chiếu bóng Long Thuận. Sau hết, nhờ rửa mặt bằng nước máy ở một ngã tư . Ngày xưa còn bé của tôi đã mất, thực sự mất rồi. Tôi chưa lớn hơn, chưa khôn hơn sau một cuộc tình trên găn gác số 13 phố Ngô Thời Nhiệm, Hà Nội. Tôi vẫn chỉ là con mèo mù. Mèo mù luôn luôn vớ cá rán. Khúc cá rán mới nhất của con mèo mù Vũ Văn Long là em Ngọc, Như thuở nào, cá rán của mèo mù là hai em gái Hà Nội. Không, tôi đã khôn ra chút xíu. Tôi biết câu đào theo phương pháp câu cá của Nguyễn Thịnh, Trương Chi Vũ văn Long biết dùng khổ nhục kế để lơn đào. Giá Nguyễn Thịnh có mặt ở miền Nam, nó sẽ bái phục tôi.
  • Cậu nói gì, tôi không hiểu cậu Long.
  • Bút hiệu Trương Chi!
  • Cậu Trương Chi.
  • Xăm xe đạp, người Sài gòn gọi là cái ruột xe, vá chín là vá ép đó chị.Em giống cái màn rách, cần vá lại.
    Cảm khái, tôi nhại hai câu ca dao:
    Áo anh rách chỉ đường tà.
    Người yêu chưa có, mẹ già ở quê.
    Bấy giờ, chưa xuất hiện cái “ạc gô” về quê. Chứ không, tôi đã phết hai tiếng về quê. Và tôi giả vờ chớp mắt. Chó ngáp phải ruồi mà có tí nước mắt ứa ra, em Ngọc sẻ cảm động rơi lệ. Thì thôi, tôi bèn nhận mình là em của thi sĩ Nguyễn Bính, lưu lạc phương Nam. Mẹ già đã ra người thiên cổ, cha già khuất núi từ khuya. Còn một mình tôi sống nhăn răng. Mình tôi, trời bắt làm thi sĩ. Em Ngọc sẽ hỏi thăm cuộc đời thi sĩ của tôi. Tôi thề sẽ quên những vần thơ bồng bế của Xuân Diệu. Tôi sẽ chỉ đọc thơ Vũ Hoàng Chương. Nào là “Lũ chúng tôi lạc loài dăm bảy đứa. Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh”. Nào là “Nhớ thuở chưa có ta đường đi thênh thang. Kịp tới khi có ta chông gai mông mênh “Nào là” Gối vải mộng phong hầu, Vinh quang đường lối khép. Thẹn trước thương về sau. Đời tàn trong ngõ hẹp.” Nếu cần, tôi sẽ làm vài câu thơ hễ nhớ thương thì đầy vơi mà thương nhớ thì vơi đầy. Sợ gì nhỉ?
    Chị Phượng nghe tôi đọc ca dao phóng tác, tưởng áo tôi rách thật, thở dài:
  • Cậu nghệ sĩ quá đấy mà. Để mai bảo con Ngọc khâu giùm cho.
  • Sợ cô ấy chê?
  • Nó mến cậu lắm.
    Vậy thì đêm nay, nhờ chị Phương và em Ngọc ngủ ngon, ngáy pho pho, tôi sẽ lục hết áo, xé rách hết chỉ đường tà. Nhưng hơi kẹt ở chỗ cái va ly quần áo của tôi gửi chị Phượng giữ. Tôi chợ nhớ trong valy còn có bàn chải, thuốc đánh răng. Vội vàng móc điếu Ruby Queen mua lẻ, vuốt phẳng phiu rồi bật que diêm mồi thuốc.
  • Thưa chị…
  • Gì đó cậu Trương Chi?
  • Những người hút thuốc lá miệng đều hôi.
  • Đâu có, miệng cậu thơm mà…
    Ôi, nếu người khen miệng tôi thơm là em Ngọc, con bé đang ngồi ở kia, hóng chuyện, tôi sẽ anh dũng hỏi:
  • Làm sao em biết miệng anh thơm?
    Em Ngọc sẽ đáp:
  • Vì em đã hôn anh!
    Tôi mới giả đò ngạc nhiên:
  • Em hôn anh hôm nào?
    Em ngọc sẽ nũng nịu:
  • Em hôn anh bây giờ…
    Và em hôn phớt lên môi tôi như Jane Powwell mới lớn hôn lên môi người yêu. Tôi chỉ thích những chiếc hôn nhẹ. Tiếc quá, người khen miệng nghệ sĩ cả ngày không đánh răng chỉ là chị Phượng.
  • Cậu Trương Chi.
  • Dạ.
  • Cậu không có bà con nào di cư à?
  • Không chị ạ! Thi sĩ Nguyễn Bính rồi văn sĩ Thanh Nam, văn sĩ Hoàng hải Thuỷ, ngày trước, vào Nam có một mình. Vào mà không muốn ra. Đời người nghệ sĩ đã ra đi là kể như “Lỡ bước sang ngang”. Đấy, chị coi, Nguyễn Bính tâm sự” Nhưng mà khăn gói gió đưa. Lại về Hà Nội thì chưa muốn về “
    Tôi hiên ngang nói về Nguyễn Bính, Thanh Nam, Hoàng hải Thuỷ. Cứ làm như mình đang là nghệ sĩ thực thụ. Chị Phượng và em Ngọc đâu biết tôi chỉ là nghệ sĩ giả định, đang hy vọng là nghệ sĩ nhiệm chức.
  • Ít ra, cậu phải có một người bạn chứ?
  • Dạ, có một thằng.
  • Cũng nghệ sĩ?
  • Thằng này cả quỷnh, nó thích làm thư ký, tên nó là Đặng xuân Côn.
    Tôi hạ ông bạn vàng Đặng xuân Côn đo ván ngay. Nhỡ nó xuất hiện – nó sắp về Nhà Hát Tây sống với tôi – em Ngọc thấy nó sáng giá hơn tôi (điều này chắc quá, nó chơi lục huyền cầm Hạ uy Di hay không chịu nổi, chép nhạc đẹp, đã học lớp sáng tác với cụ Duyệt ở Âm nhạc Học Xá gần hồ Thuyền Cuông, Hà Nội ), nghệ sĩ hơn tôi, em mê nó thì tôi bị ra rìa. Nó đo ván rồi tôi còn dựng nó dậy đấm một cú sái phép:
  • Nước Việt Nam ta có bốn triệu thằng thư ký, một triệu tỷ phú, năm triệu cu ly, hai triệu tiến sĩ, cử nhân nhưng chỉ có một trăm nghệ sĩ. Và nghệ sĩ lang thang đói rách vì đời dệt những áng thơ lâm ly, viết những pho sách ướt át lại chỉ có dăm ba anh.
  • Cậu không nên đi lang thang, cậu Trương Chi.
    Chị Phượng ngây thơ quá. Không đi lang thang kiếm việc thì sẽ đói meo và sẽ lên đồn điền Hớn Quản để gặp con gái ông cai cu ly kết duyên Tấn tần à? Khoản tiền cuỗm của ông cụ thân sinh cộng với tiền phát mại chiếc xe đạp ở chợ trời Hà Nội gần hết rồi. Trương Chi cổ tích chèo thuyền dài tay, tung lưới cong lưng, đâu giống Trương Chi của ông Văn Cao: “Ngồi đây ta gõ ván thuyền ta ca trái đất còn riêng ta” Trái đất của những kẻ thất nghiệp chỉ có giun với dế. Tôi chợt hối hận là tôi đã ba hoa chích choè quá đà. Nói theo lời dạy của ông thầy Việt văn lớp đệ tam Nguyễn Uyển Diễm, chồng nữ sĩ Mộng Sơ ( ông thi sĩ Nguyễn Vỹ nhận nhằng là người yêu của mình, người ta đã sang ngang, ông vẫn viết văn diễn tả tình hờ và để tặng om sòm khiến giáo sư Nguyễn Uyễn Diễm cáu sườn, lôi bài Sương rơi ra hài hước với học trò ) thì tôi đã nhập đề bài luận rất hoa hoè hoa sói. Thầy Nguyễn Uyễn Diễm, chủ trương nhà xuất bản Vỡ Đất, đã giới thiệu Trại Tân của Hoàng Công Khanh, thí dụ một câu nhập đề hoa hoè hoa sói cho một bài luận có chủ đề ” vay tiền” như sau:
    “Sáng sớm hôm nay tôi đi ra. Tôi đi trên con đê Yên Phụ, hơi gió lạnh từ mặt sông thổi lên và bầu trời những vì sao còn lấp lánh. Tôi đi dến nhà anh – Mấy câu này nói rất lớn và bay bướm, đến câu cuối, ghé sát tai người bạn, nói khẽ -“Anh cho tôi vay vài trăm!”!
    Thầy Uyển Diểm nói:
  • Taị sao không nói ngay là vợ tôi đau nặng, con tôi đói sữa, anh cho tôi vay tí tiền còm?
  • Tại saotôi không nói thật tôi sắp đói rách? Tại sao tôi bày đặt chuyện nghệ sĩ, gừng sĩ,tỏi sĩ, hành sĩ để sửa soạn gặp rắc rối? Có lẽ, bỡi lẽ, bởi tôi mơ mộng, Bởi tôi làm nghệ sĩ? Có lẽ, bỡi thằng bạn cũ Nguyễn Thịnh đã tiếp máu nghệ sĩ của nó cho tôi, bỡi tôi học hành lem nhem, chả biết bấu víu vào nghề ngỗng gì để có tí tiếng tăm, để các em gái văn nghệ cảm phục và để to lời hô hoán ” Tôi làm văn học nghệ thuật ” ! Thỉnh thoảng, được một vài tờ báo phỏng vấn, tôi sẽ huênh hoang : “Thưa bạn, sự nghiệp văn hoá của tôi gốm có những bài thơ đã trên nhật báo Tiếng Chuông và dăm cuốn sách toán học lớp tư sắp xuất bản ” Hách chán. Hách hơn mấy chiếc răng vàng và vài câu vọng cổ của ông cụ thân sinh ra tôi.
  • Cậu Trương Chi!
  • Dạ.
  • Cậu nghe lời chị nói không?
    Chị Phương đã xưng ” chị ” với tôi. Tôi đưa tay bóp trán:
  • Thưa chị, xin chị để em suy nghĩ.
  • Cậu suy nghĩ gì nữa, Chị coi cậu như em chị. Chị sắp đi dạy học rồi, có thể lo cho cậu. Cần gì lang thang, cậu cứ ở đây mà sáng tác văn nghệ.
    Sáng tác văn nghệ à? Nguy quá. Tôi sẽ sáng tác cái gì?Biết cái gì mà sáng tác. Tôi trót nói phét, bây giờ kẹt cứng. Muỗi Nhà Hát Tây xúm vào đốt tôi. Tôi không thèm đuổi. Tôi đang bối rối. Chắc tôi phải cút khỏi xã hội Nhà Hát Tây.
  • Thưa chị…
  • Cậu đừng nghĩ vẩn vơ.
  • Người nghệ sĩ cần tự lập. Vả chăng, thưa chị, sáng tác văn nghệ khó vô cùng. Người nghệ sĩ cầm bút viết văn mà không gặp cảm hứng, tức ” yên sĩ phi lý thuần ” cứ hì hục viết thật chẳng khác chi ông già khuân tảng đá trong cuốn Quốc văn giáo khoa thư lớp dự bị.
  • Tìm cảm hứng lâu không?
  • Hàng năm. Có khi hàng đời. Viết văn xuất bản bừa bải như thiên hạ mới tí tuổi đầu đã là tác giã ba mươi mấy cuốn sách thì văn đó vất đi. Em nghĩ, một là đi làm cu ly đồn điền, hai là cả đời chỉ cần một cái truyện ngắn.
  • Chị sẽ lo cho cậu suốt đời.
  • Không được.
  • Tại sao?
  • Chị phải đi lấy chồng chứ. Thôi,chị hãy để mặc em với giấc mộng văn nghệ của em.
    Tôi muốn hút thêm một điếu Ruby Queen nữa. Nhưng chả còn điếu nào. Tôi giả vờ che miệng ngáp. Chị Phượng giục tôi đi ngũ.
  • Mai chị sẽ nói chuyện tiếp với cậu. à, sáng mai cậu muốn ăn gì?
    Tôi đáp:
  • Người nghệ sĩ chỉ cần một tách cà phê đen.
    Chị Phượng nói:
  • Sớm mai con Ngọc sẽ pha cà phê cho cậu uống
    Tôi dở trò “tác diệu”, cố làm cho “con Ngọc” nghe rõ:
  • Một tách cà phê đen, đặc, không đường.
    Chị Phượng vỗ vai tôi:
  • Thôi ngủ đi, Trương Chi!
    Chị về “nhà chị”. Tôi thèm một điếu Ruby Queen. Thèm một gói. Tôi có thể thức suốt đêm nay, đốt thuốc lá, ngồi đập muỗi và nghe hơi thở của em Ngọc. Nếu nàng có tật nghiến răng ken két, ngáy pho pho thì càng tốt. Nàng sẽ nghiến răng ken két, sẽ ngáy pho pho và tôi vẩn lạc vào con đường tình sữ. Tôi đứng nhìn hai chị em Phượng thầm thì với nhau. Chắc hẳn chị Phượng đang nói với cô Ngọc về tôi, về mẫu nghệ sĩ phi thường, một nhà văn dự định cả đời chỉ viết một cái chuyện ngắn. Khi ngọn đèn nhà chị Phượng tắt và khi em Ngọc chìm trong bóng đêm của gác ba Nhà Hát Tây là lúc tôi vén màn chui lên ghế bố. Tôi chỉ tụt đôi giày. Bộ quần áo giang hồ của tôi đã nhuốm đầy nắng bụi Sài Gòn ; Và đôi bí tất thì thơm nồng mùi nghệ sĩ.
    Tôi nằm duỗi chân thoải mái trên ghế bố. Lần đầu tiên tôi được nằm ghế bố. Chiếc gối thơm mùi thơm hôm qua, mùi hương tóc của em Ngọc. Tôi lại ước ao có con chấy cái phiêu lưu. Tôi muốn thức trắng đêm. Nhưng tội gì mà thức? Vả chăng, “thức trắng đêm kể chuyện tâm tư” đã được các ông nhạc sĩ trình toà và giữ độc quyền. Người nghệ sĩ phi thường như tôi, cần ngủ. Và tôi đã ngủ say sưa, ngủ” không chiêm bao, ngủ quên cả chờ nghe em Ngọc ngáy pho pho và nghiến răng ken két.

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 14 Nov 2024

Vậy đó, bỗng nhiên mà họ lớn
Tuổi hai mươi đến có ai ngờ
Một hôm trận gió tình yêu lại
Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thơ
HUY CẬN

Ngoài truyện
Bây giờ, Sài gòn chỉ còn những chiếc xe ô tô buýt già nua trông thật tội nghiệp mà anh thường gặp, mỗi buổi chiều, đậu ở bên đây công trường Nữ Vương Hòa Bình nhìnn sang bên kia Bưu Điện. Những chiếc xe hết thời xuân sắc, được dùng riêng vào việc chuyên chở công chức, những người đã từ cuộc đời thơ mộng và đang vất vả leo dốc vật chất. Tự nhiên, anh thương xe buýt như thương đời mình. Bến xe xưa đã mất. Bến lòng xưa của anh cũng đã mất. Anh mơ hồ thấy một chuyến buýt xanh vụt qua tâm tưởng. Mười sáu năm rồi đấy. Những người em gái thuở ” tuổi hai mươi đến ” của anh đều đã lần lượt đi lấy chồng. Nói theo Hàn mặc tử, họ đã ” theo chồng bỏ cuộc chơi “. Và em, em là người bỏ cuộc chơi muộn màng nhất.Anh vừa biết ngày cưới em trên một nhật báo. Em còn nhớ bến xe ô tô buýt xanh ở đường Aviateur Garros? Em còn nhớ những chuyến xe chiều về đường Eyriaud des Vezgnes? Xe buýt xanh đã chết. Những chiếc xe buýt nhỏ bé chở chúng ta vào tình yêu chẳng bao giờ sống lại. Họa chăng nó sống lại ở hồn anh.
Anh đứng đây, như kẻ lạc lõng trong chiến khu kỷ niệm. Nắng vàng nhuộm giàn hoa leo trước cửa nhà em đương nhuộm vàng chín tương tư. Thương nhớ muôn vàn. Anh thương những chiếc xe ô tô buýt già nua. Đến kiếp nào ô tô buýt mới được vui nỗi vui đợi đón của những cô nữ sinh. Đến kiếp nào anh mới được thập thò dưới gốc cây gần cổng trường con gái, chờ chuông reo tan học để nghe trái tim mình rộn rã, bồi hồi
Em không quên chứ, những buổi chiều vàng niên thiếu? Em thường ra sau hết. Anh ngơ ngác nhìn em. Rồi em e thẹn mỉm cười. Và thong thả bước ngược con đường về học Đã yêu nhau nhưng vẫn ngượng. Anh đi sau em, cách cả mấy thước đường. Tại sao, hồi đó, chúng mình dể xấu hổ thế, em nhỉ ? Anh theo em băng qua vườn Bờ Rô tới bến xe buýt xanh. Hai đứa leo lên xe, ngồi cạnh nhau, mỗi đứa mua một vé. Làm như xa lạ lắm. Xe buýt xanh chở mình xuôi con đường mình vừa đi ngược. Gần đến nhà em, anh vội giúi vào tay em một phong thư và nhận lại của em một phong thư. Chả nói câu nào. Nói hết bằng thư rồi. Và chiều nào cũng giống chiều nào, không tẻ nhạt. Buổi sáng chưa hết anh đã mong buổi trưa. Buổi trưa sắp hết anh đã tưởng chiều tới.
Những buổi chiều rực rỡ ấy đã xa rồi.
Xa như dĩ vãng. Anh đang đứng đây, đứng trước một cổng trường. Không phải đứng chờ một tà áo Trưng Vương, nên anh không rụt rè xầu hổ. Dường như, bây giờ, những cậu con trai đứng chờ người yêu ở trước cổng trường con gái không còn rụt rè, xấu hổ giống anh và bạn bè anh thuở ” tuổi hai mươi đến “. Mỗi thời đại có một cách tỏ tình. Cách tỏ tình của chúng mình, ngày xưa, thơ mộng và lãng mạng tuyệt vời, em nhỉ ? Anh đứng trước một cổng trường đón con trai anh học về. Như chiếc xe buýt già nua, anh không thể đưa một cô học trò nào về nhà mà phải đưa con anh. Anh đã thật sự giã từ cuộc đời thơ mộng và đang vất vả leo dốc vật chất. Mọi người đều có một lần biệt ly bùi ngùi đó. Chỉ bất hạnh khi sợi khói tương tư vướng vào mắt, người ta không nhớ nổi kỷ niệm đầu đời.
Khói của chiếc xe buýt già làm cay mắt anh.Anh mơ hồ nghe tiếng gió êm đềm mười sáu năm qua luồn vào tâm tưởng. Anh đứng im lặng giữa chiến khu kỷ niệm. Để ngơ ngẩn vời trông một tà áo tiểu thư.

  1. Chương 1
    Có những buổi chiều, một mình ngồi trên chiếc xích đu ngoài sân, tôi đã say mê ngắm đàn gà tre của đứa con trai đầu lòng. Mấy chú gà trống vừa biết gáy. Tiếng gáy cũn cỡn, hụt hơi nghe buồn cười và khó chịu. Như thể tiếng nói cậu trai mười ba vỡ giọng. Mấy chú gà trống tre điệu bộ lắm. Nhảy lên cành cây thấp nhất, vỗ cánh lia lịa, cố rướn cổ mình cao hơn, nhắm tít mắt rồi mới chịu gáy. Mấy chú gáy liên miên, gáy biễu diễn cho những nàng gà mái cũng vừa tập gại mỏ và bỏ rơi thời con nít ” nhiếp nhiếp “. Bây giờ, mấy chú không thèm ăn chung, ăn tranh với gà mái. Nịnh đầm ra phết. Mỗi khi kiếm được con sâu, các chú mỗ lia lịa ” tích tích tích ” rối rít mời mọc gà mái. Và chẳng biết phải làm gì sau những lần tán tỉnh vu vơ.
    Những chú gà trống ấy trông thật ngô nghê, ngớ ngẩn và dể thương. Đó là hình ảnh ngày mới lớn của bất cứ cậu trai nào thuở trước. Đứng nhất, đó là hình ảnh của tôi, của Quỳnh, của Nhân, của Thủy, của Côn ngót hai mươi năm qua ngày mà con đường Phan thanh Giản có ngôi trường con gái còn mang tên Le Grand De La Liraye. Ngày đó thật tuyệt diệu. Nếu cho đổi cả đời lấy một đoạn đầu đời thanh niên của tôi, tôi bằng lòng ngay. Bởi vì, đoạn đầu đời thanh niên của tôi không bao giờ tôi trở về được dù trở về bằng chuyến xe chất đầy ký ức. Xuân Diệu diễn tả không hề sai : Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn. Nếu tuổi trẻ chẳng đôi lần thắm lại. Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi. Nên bâng khuâng thương tiếc cả đất trời… Tuổi trẻ của tôi đã úa héo rồi. Cánh hoa nồng hương đã kết thành quả sầu chát đắng. Tôi vẫn tưởng nhớ mùi hương tuổi trẻ. Mùi hương dẫn đường cho tôi về tìm lại tên mình khắc trên nhiều thân cây trước cổng một trường con gái cùng với tên người yêu dấu như những viên sỏi đánh dấu của thằng bé Tí Hon.
    Cuộc đời không giống truyện cổ tích. Cuộc đời tôi càng không giống cổ tích. Những viên sỏi đánh dấu đường về của thằng bé Tí Hon còn nguyên. Chẳng ai ngữa tay nhặt liệng đi. Ngay cả những mẫu bánh vo tròn thay đá sỏi, những con chim đói nhất cũng không nỡ sà xuống nuốt mất. Những cơn gió độc của cuộc đời đã hầm hè nhau thổi tan bao mộng ước của tôi. Chắc gió độc sẽ thổi loãng mùi hương dẫn đường. Và tôi không tài nào đậu nỗi trên đất kỹ niệm một đời người. Tôi chỉ còn có thể là đà bay. Bằng đôi cánh tưởng nhớ.
    Bây giờ, Đặng trí Hoàn tập tành làm thơ, viết văn với bút hiệu Hoài Hương. Bấy giờ, có hãng nước mắm Hoài Hương. Và cậu học trò nghèo, tóc rối bồng bềnh nghệ sĩ đi cái xe đạp không chuông, không phanh, không đèn, mỗi lần dạo phố phải vác xe lên vai xuống ba tầng Nhà Hát Tây, thường bị mỉa mai là thi sĩ Nước Mắm Hoài Hương. Bấy giờ, Đỗ Tiến Đức chân chỉ hạt bột đã viết báo Ban Mai lấy tiền tiêu vặt. Bấy giờ, Dương Kiền ” đóng đô ” tại sân khấu ; Bấy giờ, em Hải, tóc cắt ngang vai, thổi cơm trọ cho học trò Chu văn An ở chân cầu thang bé tí xíu, nhan sắc dưới điểm trung bình. Bấy giờ, Vũ Khắc Niệm giống con sơn thử, ăn xong lại ngủ, ngủ quên ngày tháng… Bấy giờ Đặng Trí Hoàn đã thành Hà Huyền Chi, thi sĩ, văn sĩ, tài tử điện ảnh. Bấy giờ, Đỗ Tiến Đức đã thành Phó đốc sự hành chánh, giám đốc Trung Tâm quốc Gia Điện Ảnh tác giả Má Hồng được giải thưởng văn chương tổng thống. Bấy giờ Dương Kiền đã thành luật sư, kịch tác gia. Bấy giờ, em Hải đen đã thành ca sĩ Diệu Anh và đã tự tữ..Bấy giờ, Vũ Khắc Niếm đã thành y sĩ và đã xuất bản sách y học… Còn Đỗ Quý Tường đã chết cho quê hương. Còn Đỗ Quý Toàn đã thành nhà mô phạm lý tưởng, nhà thơ nổi danh, nhà báo khét tiếng. Không thể kễ hết những nhân vật Nhà Hát Tây.
    Tôi làm lấy đời tôi, bắt đầu, từ Nhà hát Tây; Cũng từ Nhà Hát Tây, tôi biết yêu, biết xốn xang, rung động. Tôi thích cái xã hội Nhà Hát Tây vô cùng. Này là Y Vân cặp bạn với Từ Lang, mỗi sáng sớm, xách cây lục huyền cầm Y pha Nho đáp xe xích lô máy lên Phủ Đặc Ủy Di Cư đường Trần Hưng Đạo rồi, ở đây hai danh tài leo lên chiếc xe Dodge số VN ra bến tàu Sài gòn. Công việc ca hát giúp vui của đôi song ca Nhá Hát Tây là, mỗi đợt đồng bào di cư trên tàu Mỹ lũ lượt kéo xuống nhận vài hộp sửa, vài thước vải, bảy trăm đồng bạc thì ghé miệng sát micro ca bài ca duy nhất:
    -Ngày trở về, anh bước lê trên quảng đường đê, đến bên lũy tre, nắng vàng hoe Đồng bào di cư nghe Y Vân hát xong, bèn lên xe đi về Ba Bèo mịt mù bụi, Cái Sắn xa lơ xa lắc. Tôi ở cạnh gia đình Y Vân trên lầu chót của Nhà Hát Tây. Một lần, bà cụ thân sinh ra Y Vân giận Y Vân cái gì chẳng rõ, tôi thấy cụ đập tan cái thùng bát đĩa cổ mang tự Bắc vô Nam. Vài năm sau, Y Vân xuất bản nhạc phẩm Tình Mẹ, chắc là để đền tội. Tình Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào…

Ai ngờ đâu, chàng ca sĩ Tổng Ủy Di Cư chuyên hát đón tiếp đồng bào di cư ở bến tàu lại thành nhạc sĩ lừng danh. Còn bạn chàng đặc biệt hơn : Tu tủ tù tu, đố mấy thằng tù… Này là nghệ sĩ bán sắn. Lúc này anh ở đâu ?Tôi vẫn thiếu nợ anh ba đồng sắn và bốn cái trứng vịt luộc Nghệ sĩ bán sắn chiếm đất cắm dùi tại chân cầu thang lầu nhì. Anh là Tàu lai.Nghề của anh không phải nghề buôn thúng bán bưng. Người Tàu vốn thực tế và biết cách phớt tỉnh. Chưa kiếm được hiệu kim hoàn nào cần thợ đạp bơm chân, vợ chồng anh ” mở tiệm”bán sắn luộc, trứng vịt luộc, chuối… ở ngay chân cầu thang. Anh có cây phong cầm. Những hôm danh tài Y Vân nghỉ sở, Y Vân thường ngồi kéo đàn để nghệ sĩ bán sắn nhe hàm răng dăm ba cái răng vàng cười tình và gật đầu bán thiếu sắn, trứng vịt luộc cho tôi khi tôi bị bà cả đọi hành hạ chịu hết nổi. Này là Nhân, Quỳnh, Thủy, Công. Bốn nhân vật gần gũi tôi nhất. Những ngày vui của tôi là những ngày vui của họ. Và Ngọc, Tâm, Trinh, Hòa nữa chứ. Thiếu các nàng thì thiếu mất áo tiểu thư để ngơ ngẩn vời trông.
Đêm đầu tiên tôi nhập xã hội Nhà Hát Tây y hệt một cụ cả quỷnh dời lũy tre xanh lên thành phố. Xe tiếp cư đưa tôi từ phi trường Tân Sơn Nhất về Sài gòn. Đến cửa Nhà Hát Tây, người nhà nước đẩy tôi xuống, chỉ vô ngôi nhà đồ sộ:

  • Đó, cậu tạm cư ở đó. Chờ thời gian định cư xa hơn.Tôi xách va ly bước lên những bậc cửa Nhà Hát Tây. Tại sao tôi vào Sài gòn một mình? Phải viết một cuốn mới diễn tả đầy đủ lý do dế mèn phiêu lưu ký của tôi. Bố tôi, ngày xưa đã từng là tay giang hồ. Ông vô Sài Gòn, theo một gánh cải lương. Khi ông bố giang hồ của tôi biết mình không trở thành Tư Chơi, Năm Châu, ông đành vĩnh biệt xứ Nam Kỳ hiền hậu. Ông trở về Bắc kỳ với hai cái răng vàng mới toanh và bộ bà ba lụa Lèo. Tôi hiểu bố tôi thương Nam kỳ lắm. Những buổi chiều hết nắng, ông thường ngồi trước bật cửa, ôm cây lục huyền cầm, dạo vài khúc lấy hứng rồi ca Nàng thu đã về rồi…Ông bắt chước hệt giọng miền Nam, Nàng thu đã dzề rồi. Đó là những lúc ông tương tư Nam kỳ. Tôi không vô Sài gòn để tập ca vọng cổ. Cũng chẳng vô vì lý do chính trị, cách mạng. Cứ hiểu tôi có nhiều máu ” dế mèn “trong cơ thể. Nhưng xách va ly bước lên những bậc cửa Nhà Hát Tây, máu giang hồ bỗng hết muốn chảy về tim.
    Tâm sự tôi giống tâm sự anh chàng du tử của bài hát. Lời du tử. Tôi lầm nhầm : Chiều nay biết về nơi đâu. Dừng chân ta ngắm cảnh bao la sầu… Mặc dù, cảnh Sài gòn chập tối thật ngoạn mụa, xích lô máy chạy vùng vít. Tắc xi lái phom phom.Thú thật, Sàigòn quyến rũ tôi nhờ xích lô máy. Tôi bèn anh dũng xách valy bước vào. Tầng dưới kín chỗ. Dân di cư chiếm đất Nhà Hát Tây như dân di cư Âu châu chiếm đất miền Tây nước Mỹ. Màn giăng lu bù. Gia đình nọ cách gia đình kia bằng cái ri đô vải. Ai đến sớm, Chiếm đất rộng, bầy biện bếp núc, lu nước và kê cả giường! Tầng một hết chỗ, tôi lên tầng hai.Rồi tầng ba, Và cũng chỉ có quyền trải tờ báo, gối đầu lên va ly, nằm đỡ một đêm ở sát rìa, rất dể rơi xuống tầng dưới nếu ngủ mê lăn một vòng. Tôi không có tài tả cảnh. Đại khái, tôi đã cư ngụ tại chỗ quý vị ký giả ngồi dự thính các phiên hợp Hạ Viện.
    Chỗ ấy, ngày xưa, người ta chê làm lan can. Nên đi qua đã ngại, huống hồ nằm ngủ. Vậy mà tôi đã nằm ngủ bình yên, đầy mộng mị.
    Sáng hôm sau, khi tôi đang say sưa ngáy pho pho thì một bàn tay đập nhẹ lên người tôi. Và giọng nói nhẹ nhàng:
  • Này cậu, này cậu, dậy đi!
    Tôi mở mắt. Tôi chẳng còn nhớ mắt tôi nhiều ghèn hay ít và hai bên mép có hai vệt ke trắng không. Phải thật thà chứ. Nam phương hoàng hậu hay người đẹp Joséphine nằm ngủ, nếu ta nhìn thấy quý bà ấy chảy rãi, ta sẽ mất hết sự ngưỡng mộ. Tôi có thể tin là khuôn mặt ban mai của tôi không đến nổi tệ. Người gọi tôi, chết chửa, là con gái. Tôi bèn vùng dậy. Người con gái nắm chặt cánh tay tôi:
  • Kheo khéo kẻo cậu rơi xuống tầng dưới
    Tôi kheo khéo liền. Người con gái hỏi tôi:
  • Cậu mới di cư à?
    Tôi đáp:
  • Vâng.
    Người con gái ngó tôi một cách thương hại:
  • Cậu phải mua cái ghế bố. Tối nay ngủ xích vô trong. Tôi dẹp gọn đồ đạc của nhà tôi để cậu kê ghế. Đêm ngủ, sáng gấp ghế, tôi cất giùm cho.
    Tôi nói một câu ngớ ngẩn:
  • Rồi ban ngày nằm đâu?
    Tự nhiên, tôi đâm ra ngượng vì vừa chợt thấy một con bé nằm sấp trên ghế bố, hai tay khuỷu tay chống, đầu ngẩng cao, đương mở to đôi mắt tròn, đen lay láy nhìn tôi. Tôi đóan con bé là em người con gái vừa cứu tôi… thoát chết. Tôi rút khăn, lau vội lớp mồ hôi nhờn trên mặt:
  • Vâng, vâng…
    Người con gái tưới nước vào cục than hồng bối rối của tôi:
  • Hay là cậu ngủ với thằng em trai tôi nhé? Nó bằng tuổi cậu;
    Tôi lắc đầu:
  • Thưa chị, em sẽ mua cái ghế bố.
    Người con gái hỏi câu hỏi tôi đã hỏi nàng:
  • Rồi ban ngày cậu ở đâu?
    Tôi nhún vai rất điệu. Cho con bé đang theo dõi tôi biết tôi là kẻ lãng tử.
  • Dạ, thưa chị, em đi tìm nơi tuyển mộ cu ly đồn điền cao su.
    Người con gái mỉm cười:
  • Cậu vui vẻ quá.
    Nàng tưởng tôi đùa bỡn. Ỡ nhà, tôi là thằng đoảng vị. Con trai đầu lòng thường đoảng. Mẹ tôi hễ sai việc gì mà tôi làm không nên thân, bà hay phàn nàn:
  • Giá mày là con gái thì tao đỡ vất vả.
    Còn bố tôi luôn luôn phán:
  • Ra khỏi nhà, mày chỉ còn nước đi ăm mày.
    Tôi không thể làm nghề ” cốc ” được. Nhưng rất có thể làm cu ly đồn điền. Một cu ly đồn điền giàu tưởng tượng Mấy năm trọ học ở Hà Nội, tôi chẳng học hành gì cả. Ngoài những giờ lêu lỏng trong vườn Bách Thú, trên bờ hồ Trúc Bạch, bơi thuyền lướt mặt hồ Tây, lang thang con đường đền Láng và nằm dài học thuộc lòng thơ Nguyễn Bính trên cỏ mướt Voi Phục, tôi còn Âm Nhạc Học Xá của cụ Duyệt tập dương cầm. Không xoay đâu ra dương cầm, tôi đã vẽ phiếm đàn trên mặt bàn và ngồi cả giờ đập tay xuống gỗ. Như thế nản lắm. Tôi bèn xoay sang lục huyền cầm Y pha Nho và nhận ông nhạc sĩ xí trai với cái tên chả nghệ sĩ tí ti ông cụ là Tạ Tấn làm sư phụ.Ông này ưa sáng tác nhạc chung với ông Nguyển Túc. Nhạc hai ông cũng lẳng lơ, trữ tình ra phết. Nhưng Tạ Tấn và Nguyễn túc nghe nó kém đi mất tám mươi phần trăm thơ mộng Ông Tạ Tấn dạy tôi lục huyền cầm Y pha Nho theo phương pháp Carulli. Tôi mất bộn tiền và búng bài số 14 nhanh như gió. Nhờ đó, khi tôi về Thái Bình ” mừng giải phóng ” lên sân khấu ngoài trời biểu diển tài nghệ, bộ đội và nhân dân vỗ tay hàng chục phút. Ông văn công Trần Hoàn, tác giả bài Sơn nữ ca, giới thiệu tôi và bảo tôi vừa trình bày một bản nhạc cách mạng Nga sô vĩ đại ! Bài tập số 14 đấy. Tôi nhắc một kỷ niệm buồn cười để khoe rằng tôi biết chơi lục huyền cầm Y pha Nho. Khi tôi trốn nhà đi phiêu lưu, tôi không nhớ mang hình ảnh của bố mẹ và các em tôi mà chỉ nhớ mang cuốn sách của Carulli. Tôi nghĩ là, ngoài những giờ cạo mũ cao su, tôi sẽ ngồi dưới gốc cây cao su, tập đàn.
    Biết đâu đấy, con gái yêu của chủ đồn điền cao su chẳng mê tiếng đàn tôi. Tôi sẽ, như một anh trai si tình Ý đại Lợi, ôm cây đàn mandoline, đứng dưới cửa sổ nhà nàng nghêu ngao:
  • Đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt, với bao tiếng tơ xót thương… Vì cuộc tình đã chết một đêm nao.> Nàng sẽ yêu tôi, sẽ tương tư phát ốm. Bố nàng gọi tôi, phát cho tôi chân thư ký. Rồi nàng gặp mặt, thấy tôi không xí giai như anh Trương Chi, nàng đòi lấy tôi làm chồng thì sướng quá. Tôi thường tự hào là đứa mơ mộng nhất thế giới. Có lần, bị xe hộ tống thổi tu hít và bóp còi ấm ỹ đuổi tôi dạt sang một bên đường để xe VIP chạy. Tôi liếc mắt ngó trộm.Thấy phu nhân thủ tướng đang soi gương điểm phấn. Bèn mơ mộng làm tổng thống. Tôi mơ mộng một ông nghị sĩ sáng giá của Hiệp chủng quốc giả đò là Mỹ kiều lục lộ, ăn mặc lem nhem dạo phố thăm dân Việt Nam cho biết sự tình. Ông nghị sĩ Mỹ bị tên đặc công Cộng sản chận đường, dí súng vào gáy. Tôi đi qua phố vắng vẻ đó, nhào lại, hạ tên Cộng sản, đoạt súng nghiêng mình tặng khẩu K.54 cho ông nghị sĩ Mỹ. Ông này ôm lấy tôi khóc, cám ơn và biếu tôi hai ngàn đô la. Mấy năm sau, ông ta ứng cử tổng thống Mỹ và đắc cử, Ông tổng thống Mỹ nhớ ân nhân cũa ông và ông sẽ đưa tôi lên làm tổng thống Việt Nam bầu cử đàng hoàng. Tôi sẽ ngồi xe Mercedes sáu cửa, cắm cờ và trước xe tôi đi là hàng trăm mô tô hộ tống, sau xe tôi đi là hàng trăm tu bin. Tôi cương quyết yêu cầu hãng xe Ford chế giùm tôi hai loại kèn. Một loại bóp inh ỏi phát câu “Tổng thống rất thương đồng bào”, một loại bóp nghe inh ỏi phát câu “Đồng bào xê ra cho tổng thống đi” Và tôi mút cà rem cây một cách thơ thới hân hoan.
    Đó là giấc mơ khi tôi đã thành thân. Còn giờ đây, trước mặt người đẹp, tôi chỉ mơ làm cu ly đồn điền đẹp giai, đàn hay, hát ngọt và được con gái ông chủ đồn điền mê mệt.
  • Thưa chị, em nói thật.
    Người con gái bĩu môi:
  • Cậu mà làm cu ly đồn điền cao su thì cả nước này chết đói hết… à, tên cậu là gì nhỉ?
    Tôi ngượng ngập đáp:
  • Long. Vũ Mộng Long, bút hiệu Trương Chi!
    Người con gái cười thành tiếng:
  • Cậu khéo khôi hài. Chắccậu hát hay lắm phải không?
    Tôi đã ngồi dậy từ lúc nào chẳng hay, khẽ nhún vai kiểu cách:
  • Ở Hà Nội em đã dự thi tuyễn lựa ca sĩ do Đài phát Thanh tổ chức. Nếu không có Duy Trác, em đã được vào chung kết. ” Thằng ” Duy Trác nó át giọng em, nên em bị loại.
    Người con gái long lanh đôi mắt ra cái điều tội nghiệp tôi. Con bé nằm sấp trên ghế bố lắng tai nghe cuộc đối thoại làm quen.
  • Tên tôi là Phượng. Cậu biết đánh đàn à?
    Tôi cố nói lớn:
  • Em chơi guitare Espagnole (Tây ban Nha), chơi classique (cổ điển), chị ạ!
    Sở dĩ tôi chêm vài tí tiếng Tây là cốt để con bé đang theo dõi tôi phục tôi. Dân này cũng học sinh, chứ bộ. Tôi nói tiếp:
  • Mai mốt, nếu ở Sài gòn có thi ca sĩ, em sẽ ghi tên và hy vọng trở thành danh ca như Quách Đàm, Duy Trác, Anh Ngọc. Thưa chị, em anh dũng di cư một mình, em là thứ “xeo mết men” của cuộc đời.
    Lại sủa tí tiếng Anh. Phượng khen tôi:
  • Trông cậu là tôi biết cậu có tâm hồn nghệ sĩ.
    Tôi vội khoe nhặn:
  • Vâng, thưa chị, em mang trong huyết quản dòng máu nghệ sĩ. Bố em gắn mấy cái răng vàng, chơi đàn vọng cổ và từng vô Nam theo các gánh cải lương. lên đồng ở các đền thờ đức thánh Trần. Bố em còn biết kéo nhị và gẩy đàn bầu.
    Chị Phượng che miệng cười. Con bé nằm sấp trên ghế bố cũng mỉm cười. Tôi thấy ” không khí ” thân mật rất thuận lợi cho tôi. Bèn bạo dạn hỏi:
  • Thưa chị, em muốn rửa mặt, đánh răng.
    Chị Phượng — như vậy, trong bước đường lưu lạc của tôi, tự nhiên, có người chị đỡ đầu, khỏi mất công đăng báo những giòng ai oán:
    -Lãng tử, mười chín tuổi,cô đơn, yêu nhạc Hoàng thi Thơ, mến mộ giọng hát Ngọc Cầm và Nguyễn Hữu Thiết, khoái coi phim Ấn độ, huyết quản đầy máu
    ” dế mèn phiêu lưu ký ” muốn tìm người chị để an ủi những lúc bao tử lép xẹp, hứa trả lời mọi thư, ưu tiên cho thư nào gửi tem
    Bảo tôi xuống dưới nhà, trả người gác gian một đồng là tắm gội thả cửa. Tôi gửi chị Phượng cái va ly, xuống dưới nhà.
    Rồi tôi sung sướng gọi chiếc xe xích lô máy, sang Khánh Hội tìm thằng bạn nối khố đã vào Nam trước tôi. Nó ở đường Hớc Tô. Tây về nước từ khuya, tôi sợ viết sai, phiên âm tiếng Việt cho tiện. Thú thật, tôi khoan khoái vô tả. Tôi sẽ không bao giờ làm cu ly đồn điền cao su. Tôi là một nghệ sĩ. Em bé nằm sấp trên ghế bố yêu dấu, anh có tâm hồn nghệ sĩ, anh đã tập tới bài số 14 cuốc sách dạy chơi lục huyền cầm Y pha Nho củ

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 14 Nov 2024

  1. Nghệ sĩ Tám Vân bị quỷ ám trên sân khấu
    Trong tuồng Gió Ngược Chiều, nghệ sĩ Tám Vân thủ vai Duy Bạt, gia nhân của quận công Gia Lữ Tế, vốn là một gã giang hồ có tài thao lược, có tài thuyết phục người khác. Gia Lữ Tế âm mưu, tạo cho Duy Bạt một địa vị mới và một cái tên mới thuộc giòng họ quý tộc: gã gia nhân Duy Bạt trở thành quận công Gia Lữ Sanh. Gia Lữ Tế buộc Duy Bạt dùng cái thân phận giả “quận công Gia Lữ Sanh” chinh phục hoàng hậu Mã Nhi Nương Bửu (do Kim Lan thủ trước kia, đêm nay do Tương Lai thế vai) để rồi sau đó Gia Lữ Tế vạch trần cái phận tôi đòi của Gia Lữ Sanh (Duy Bạt) làm nhục HoàngHậu vì Hoàng Hậu đã từ chối tình yêu của hắn ta.
    Lớp tuồng Gia Lữ Sanh (Duy Bạt) chui ống lò sưởi vô phòng của Gia Lữ Sanh, đang đói, thấy có rượu và gà quay bày sẵn trên bàn, lòng mừng khấp khởi. Lớp nầy Tám Vân (Duy Bạt) diễn tả cái háu ăn, đói khát của một gã đầy tớ ăn vụng khi vắng chủ nhà rất là hay, làm cho khán giả cười từng chặp… từng chặp…
    Vì chủ trương của anh Năm Châu là sân khấu phải “Thật” và “Đẹp”, nên trong lò sưởi phải có một bao nylon đựng phấn đen để khi Duy Bạt chui từ trong lò sưởi ra thì làm bay mù mịt khói đen như bụi khói trong lò sưởi. Trên bàn phải có chai rượu chát đỏ (rượu thật chớ không phải nước pha màu giả rượu), một dĩa có một con gà rôti, nĩa, muỗng…v…v…để Duy Bạt ăn uống thật, tạo ra những trận cười cho khán giả vì cách ăn vụn, háu ăn và diễn tả tâm trạng nuốt vô mắc nghẹn của Duy Bạt khi nghe Gia Lữ Tế bày âm mưu hại Hoàng Hậu.
    Nếu đoàn hát diễn ở một địa điểm nào khác thì chắc là chuyện “tai nạn nghề nghiệp” của Tám Vân không xảy ra, nhưng diễn ở Chợ Bà thì không một ai trong đoàn hát lường trước được một trở ngại bất ngờ đã khiến cho đoàn hát phải lận đận lao đao.
    Nhắc lại, ở Chợ Bà toàn thể dân chúng ở xã nầy đều ăn chay trường nên ở Chợ Bà không bao giờ có bán thịt heo, thịt gà hay cá tôm. Trong thôn xóm cũng không có ai nuôi gia cầm, dưới sông rạch không có người đi giăng câu bắt cá. Khi hát tuồng Gió Ngược Chiều thì phải có một con gà rôti trong lớp Duy Bạt ăn vụng trong nhà Gia Lữ Tế, làm sao mà có một con gà rôti? Anh Bảy Nhiêu đóng vai Gia Lữ Tế, Tám Vân, vai Duy Bạt, cả hai đều yêu cầu ông Tám Kiết Quản lý của đoàn hát phải cho người qua chợ Cần Thơ mua về một con gà rôti để hát đúng theo chủ trương “sân khấu Thật và Đẹp” của anh Năm Châu.
    Tất nhiên là ông Tám Kiết đồng ý, ông đưa tiền cho anh Hai Màn, anh xếp dàn cảnh để cho người qua chợ Cần Thơ mua.
    Anh Hai Màn thấy cái gương của chị Đầm tẩm khậu bị ăn năm roi giữa chợ nên không dám đi mua gà quay mà giao cho anh Gia, người phụ trách đồ giữa đi mua dùm.
    Anh Gia ghiền thuốc phiện, thấy có cơ hội ăn xén ăn bớt được để có tiền hút nên anh ta nhận lời đi mua. Thay vì mua nguyên một con gà rôti và một chai rượu chát một lít thì anh Gia mua hai cái đùi gà rôti và một chai rượu chát nửa lít. Anh gói lá chuối bọc hai cái đùi gà rôti, để chai rượu và gà trong túi xách, anh kiếm chỗ hút và để cái túi xách dưới đất gần chỗ anh đang “phê”.
    Gần tám giờ tối, chuyến đò chót vừa cặp bến mới thấy anh Gia cầm cái túi xách chạy thật mau vô cửa sau rạp hát.
    Anh Hai Màn xếp dàn cảnh đón anh Gia lại hỏi:” Sao mậy?”.
    Anh Gia gật đầu nói: “Yên chí! Yên Chí!”
    Tám Vân nhướng chân mày hỏi: “Chắc không?” Anh Gia quả quyết: “Trăm phần trăm!”
    Tám Vân xoa xoa hai tay, cười với tôi: “Tối nay Nguyễn Phương mày coi tao ăn thịt gà trước mặt ông Tướng, coi mấy chả ra lịnh cấm ăn mặn có được không? Duy Bạt nầy có đặc ân của quận công Gia Lữ Tế, phải ăn gà và uống rượu chát thì mới đúng theo tuồng. Hát cho ông Tướng coi thì phải làm đúng theo tuồng, làm trật, Quan Lớn rầy là hát nhận lớp đó!” Tám Vân khoái chí cười khà khà.
    Tôi quan sát thái độ của anh em trong đoàn hát, tôi thấy đa số đều hể hả khi biết tối nay đoàn hát có một người dám ăn mặn trước mặt ông Tướng của địa phương, một nơi mà chỉ cần hỏi mua thịt gà như chị tẩm khậu của đoàn thì đã bị đánh năm roi giữa chợ. Đây cũng là một tâm lý thông thường của người Việt mình, khi bị ức hiếp, kẻ thế cô không phương chống trả bằng vũ lực thì thường dùng lối nói móc lò, nói xiên nói xéo, nói chuyện tiếu lâm với nội dung kiêu ngạo kẻ lộng quyền, để cười cho bõ ghét.
    Anh Gia để cái túi xách có hai cái đùi gà rôti và chai rượu chát dưới đất, sau tấm đề co vì sợ nếu để trên bàn, gió đưa mùi đùi gà rôti bay tới mũi của Quan Lớn thì chắc chắn là sẽ bị ăn đòn.
    Tuồng hát đêm nay mở màn đúng giờ vì ông Thiếu Tướng đến đúng giờ. Các diễn viên đều hết sức trổ tài ca, diễn, hai anh cận vệ theo dõi nét mặt xem hát của ông Tướng để thổi còi ra lịnh cho khán giả dân chúng cười hoặc vỗ tay hùa theo Quan Lớn, tiếng tu hít đêm nay được thổi nhiều hơn vì Quan Lớn cười và vỗ tay nhiều hơn.
    Tuồng diễn tới lớp Hoàng Hậu Mã Nhi Nương Bửu (đào Tương Lai) mắng quận công Gia Lữ Tế (kép Bảy Nhiêu) vô lễ khi ông tỏ tình với nàng, mắng xong Hoàng Hậu bỏ ra về không một lời từ giã. Gia Lữ Tế hét lớn một tiếng, thề sẽ trả thù mối nhục nầy thì đèn sân khấu tắt hết để chuyển qua cảnh “hầm đá bí mật của quận công Gia Lữ Tế”, nơi diễn ra âm mưu hãm hại Hoàng Hậu.
    Trong bóng tối dày đặc, các anh dàn cảnh chạy ra đổi phông “Hầm đá”, có lò sưởi lớn, vách lò sưởi ăn thông vô hậu trường sân khấu để cho Duy Bạt (Tám Vân) từ trong nhảy ra như vừa mới chui qua ống khói của lò sưởi. Trong bóng tối, anh Gia cũng chạy ra để trên bàn một chai rượu chát đã khui sẵn, hai đùi gà rôti trên dĩa, một cái nĩa và dao theo quy định của đạo diễn.
    Sân khấu sáng đèn, Duy Bạt (Tám Vân) dậm chân một cái rầm thật lớn tiếng, rồi từ trong lò sưởi lăn ra sân khấu, bụi đen bay mờ mịt, làm như anh từ trên lỗ thông hơi của lò sưởi té xuống. Duy Bạt đứng lên, mặt mày, áo quần dính bụi đen bê bết, quan sát chung quanh hầm bí mật rồi bật cười khan:
    – Quận Công xây cái hầm bí mật nầy để bàn bạc những âm mưu đen tối nên ngõ ra ngõ vô buộc mình phải chui từ lỗ thông hơi của lò sưởi xuống. Nếu ông ta đốt lửa, mình tọt xuống đây thì nhứt định sẽ trở thành con heo quay ngay.
    Nói tới đây, Duy Bạt (Tám Vân) nghểnh mũi đánh hơi, ngửi xấy có mùi rượu thịt, khoái quá, cười to: “Hà…hà… có rượu, có thịt đây… Phải tận hưởng ngay, kẻo uổng phí của trời!”
    Tám Vân chụp chai rượu, mở nút, ngậm miệng chai, tu một hơi dài, khè một tiếng khoan khoái, anh đặt chai rượu xuống bàn, hai bàn tay chụp lấy hai cái đùi gà, đưa lên miệng cắn, nhai ngấu nghiến…
    Anh chị em diễn viên và dàn cảnh đứng trong cánh gà, nhìn Tám Vân ăn đùi gà ở giữa sân khấu, thấy mà phát thèm, tôi nhìn xuống phòng khán giả theo dõi coi phản ứng của ông Tướng và của các ông trong Ban Trị Sự H.H ra sao trước việc có người dám ăn mặn trước mắt mình, nhưng anh Tám Vân bỗng hét lên một tiếng thật lớn rồi quăng hai cái đùi gà rô ti xuống ngay dưới dàn đờn tân nhạc phía trước sân khấu. Tám Vân vừa la vừa phủi miệng lia lịa:
    “Trời ơi…đau quá, Cứu tôi, đau quá…”
    Phía dưới dàn nhạc, anh em nhạc sĩ cũng nhảy lên, tay phủi lia lịa:
    “Trời ơi, kiến lửa… kiến lửa…:
    Tám Vân bị kiếng lửa cắn lưỡi, cắn môi, cắn mặt, anh ta càng phủi, kiến lửa càng chui tọt vào cổ áo, cắn mình mẩy tay chân.
    Anh Tám Kiết, quản lý đoàn la lớn: “Bỏ màn…bỏ màn xuống”.
    Cả khán phòng ồn ào, lộn xộn… Tám Kiết kêu dàn nhạc tấu lên nhưng anh em trong dàn nhạc cũng bận phủi kiến lửa do hai cái đùi gà của anh Tám Vân quăng xuống lúc nãy nên cũng không chơi nhạc được.
    Bỏ màn xuống xong, anh em phụ cởi bộ y phục Quận Công của Duy Bạt – Tám Vân để phủi kiến lửa. Chị Hai Nữ lấy “dầu cù là con cọp” xức môi, xức mặt và mình mẩy cho Tám Vân.
    Tám Vân còn lè lưỡi phun phèo phèo vì kiến lửa cắn đau quá xá. Vì xức dầu cù là trên môi nhiều quá, phần bị kiếng lửa cắn trên mặt, trên mí mắt nên mặt và môi của Tám Vân sưng vù lên, không thể tiếp tục hát được nữa.
    Người mua dàn hát vô nói: “Quan Lớn hỏi tại sao không hát nữa?”
    Tám Kiết phải bước ra trước màn, cầm micro, nói:
    – Bẩm Quan Lớn, kép Tám Vân bị.
    Nói đến đây, anh nhớ lịnh cấm không cho ăn thịt, sợ nói kiến lửa trên đùi gà cắn Tám Vân sưng môi sưng mặt thì đoàn hát sẽ bị phạt vì dám ăn mặn) anh nói trớ:
    – Dạ, bẩm Quan Lớn, kép Tám Vân bị “Quỷ ám” nên sưng mặt sưng môi không thể ca hát được nữa.
    Không giải thích thì còn đỡ, nhưng giải thích bằng cách nói là Tám Vân bị Quỷ Ám nên anh Tám Kiết bị Ban Trị Sự cho cảnh sát tới còng tay.
    Họ nói: “Nơi đây là Thánh Địa, đất của Đức Thầy, đất của Phật. Quỷ ở đâu mà dám tới đây? Anh Tám Kiết muốn xuyên tạc cái gì mà dám nói là có quỷ ở đất nầy”?
    Toàn khán phòng nhốn nháo, bàn tán. Anh chị em trong đoàn hát cũng hoảng sợ, nếu anh Tám Kiết, quản lý của đoàn hát bị bắt, bị ghép tội nói xấu vùng đất thiêng liêng của Đức Thầy thì phen nầy gánh hát có thể bị rã gánh.
    Chị Hai Nữ đẩy tôi ra trước sân khấu, chị nói: “Chú Ba, chú ra nói đi.”
    Tôi bị xô ra sân khấu, chưa biết nói gì, tôi thấy ông khán giả Thiếu Tướng ngồi trên cái bục cao giữa khán phòng, tôi bỗng nẩy ra ý nói nịnh ông ta vài câu rồi sẽ kiếm cớ gỡ tội cho anh Tám Kiết.
    Tôi cầm micro hai tay, chấp tay cúi mình chào như vái Phật trước bàn thờ, tôi nói:
    – Bẩm Quan Lớn, xin Quan Lớn thông cảm mà hỉ xã cho lỗi lầm của Ban hát chúng tôi. Lần đầu tiên Ban hát chúng tôi hân hạnh có một vị khán giả là Quan Lớn, vừa cao sang danh vọng, vừa là người biết thưởng thức nghệ thuật nên chúng tôi không dám “nhận lớp” tuồng, không dám hát thiếu để mang tội với Quan Lớn. Nguyên trong tuồng có cảnh Duy Bạt ăn đùi gà, vì đây là cái gút tuồng để cho Gia Lữ Tế buộc cho Duy Bạt phải theo âm mưu của ông ta mà ám hại Hoàng hậu. Nếu bỏ lớp ăn đùi gà thì là nhận lớp tuồng, có lỗi với Quan Lớn và quí khán giả mà ở nơi Thánh Đia thì chúng tôi cũng ăn chay. Có cái đùi gà là vì lúc hát bên rạp hát Minh Châu Cần Thơ còn lại, anh dàn cảnh lấy cất trong giỏ xách, để hơ hỏng nên bị kiến bu. Nếu bỏ thì không có đồ để hát, vì lúc nãy tắt đèn đổi cảnh, anh ta sơ suất không thấy là có kiến bu trên đùi gà nên mới xảy ra cớ sự. Chúng tôi nghĩ đây cũng là một sự trừng phạt của Đức Thầy, đoàn hát đến Thánh Địa thì phải tuân thủ theo mọi quy định, nếu có khó khăn gì thì phải thỉnh xin ý kiến của Quan Lớn. Quan Lớn dạy sao, đoàn hát làm vậy thì đâu có chuyện gì xảy ra. Xin Quan Lớn thương mà tha thứ cho Ban hát chúng tôi nhờ.
    Quan Lớn gật đầu:
    – Được, cái thằng nầy ăn nói thật thà. Quan Lớn tha cho. Bây kiếm thằng khác đóng thế tuồng cái thằng bị kiến cắn. Hát tiếp cho tao với bà con coi.
    Tôi mừng quá, xá lia:
    – Dạ! cám ơn Quan Lớn… cám ơn Quan Lớn.
    Anh Tám Kiết được tha ra, thoát khỏi cái còng số tám, anh vô hậu trường, nói nhỏ với tôi:
    – Hồi nãy nghe anh nói, tôi sợ anh cũng bị còng như tôi.
    Tôi hỏi:
    -Tại sao? Tôi nói gì sai sao?
    Anh Tám Kiết nói:
    – Tôi sợ anh nói kiến “lửa” cắn Tám Vân, anh phạm húy, nói tới tên của ông Tướng Năm Lửa thì tôi với anh có cái màn là bỏ xác tại đây.
    May quá, tôi không nói phạm húy, không nói tới tên của ông Tướng, có lẽ là nhờ Tổ Nghiệp độ, chớ quả thật là tôi không hề để ý tới việc có thể vô tình nói tới tên ông ta.
    Vãn hát, chúng tôi rất buồn, thắm thía nghĩ tới cái thân của người nghệ sĩ đi hát trong thời buổi có chiến tranh, vùng nào có lãnh chúa nầy, cái mạng của người dân đen rẻ như bèo.
    Tám Vân, Tám Kiết và tôi ngồi phía sau rạp hát, nhìn dòng sông Hậu Giang chảy lờ đờ…Bên kia sông là Cần Thơ, ở đó như ở quê nhà… Bên nầy sông là Cái Vồn, mà sao cảm thấy như lạc lõng ở một cái nước nào xa xôi dịu vợi.
    Tám Vân bỗng nhớ mấy vần thơ Hoàng Hạc Lâu của thi sĩ Thôi Hạo đời Đường, anh ngâm nho nhỏ:
    “Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
    Yên Ba giang thượng sử nhân sầu!”
    Tôi tiếp lời anh:
    “Quê hương khuất bóng hoàng hôn,
    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!”
    Đêm nay ngồi bên dòng sông quê hương, nhìn lượng sóng nhấp nhô nhẹ đưa giề lục bình bập bềnh trôi trôi giữa dòng, cả ba chúng tôi cứ ngỡ mình lạc lõng ở xứ lạ quê người, buồn không kể xiết!

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 14 Nov 2024

  1. Nhập gia tùy tục
    Sau đêm diễn đầu tiên ở rạp Chợ Bà, anh Năm Châu và chị Kim Lan bỏ về Sàigòn. Anh Năm Châu và chị Kim Lan rất bực mình vì phải hát cho ông Tướng coi mà từng màn từng lớp bị tiếng tu hít của hai anh lính hầu cận cắt vụn ra bằng những cái lịnh rất quái gở. Nghệ sĩ chúng tôi cũng bực mình nhưng bù lại cũng có điều vui là anh hề Tám Lắm và nghệ sĩ Tám Vân bàn với nhau là sẽ đưa hình tượng “nịnh thần” của hai anh lính cận vệ lên sân khấu để cho khán giả cười chê, (khi hát ở địa phương khác thì mới dám đưa chuyện hai anh lính nịnh đó mà diễu) còn lúc hát ở Chợ Bà Cái Vồn thì nhất thiết mọi việc đều phải tuân thủ răm rắp theo quy định của địa phương.
    Nhập gia tùy tục, bài học mà nghệ sĩ cải lương đi hát lo diễn luôn luôn phải ghi nhớ. Hát ở Chợ Bà, địa phương qui định là toàn đoàn phải ăn chay như người địa phương thì đoàn hát phải ăn chay.
    Hôm sau đoàn hát quảng cáo sẽ hát tuồng Gió Ngược Chiều của soạn giả Nguyễn Thành Châu (phóng tác theo kịch Ru Blas của Pháp).
    Đa số diễn viên và nhơn viên của đoàn hát đều xuống đò máy để qua chợ Cần Thơ, 6 giờ chiều họ sẽ theo đò máy trở qua Chợ Bà để tối hát. Sở dĩ các nghệ sĩ qua tỉnh Cần Thơ và ở suốt ngày, chờ tối mới về là vì anh em không thể ăn chay với tương, rau; ăn chay như vậy thì mau đói bụng, tối hát không được, mà khi vãn hát cũng không mua được thức ăn khuya. Họ qua Cần Thơ ăn cơm quán, khi về mua thêm bánh mì thịt hoặc thịt heo quay, họ dấu thật kỹ trong các lon guigoz, bề ngoài bọc mấy cái bao nylon cho mùi thịt không bay ra ngoài chờ khi vãn hát, khán giả về hết, trong rạp chỉ còn người trong đoàn hát thì họ mới bày ra ăn.
    Nghệ sĩ Tám Vân đóng vai Duy Bạt thay cho anh Năm Châu nên ở lại trong rạp, học lại vai tuồng để tối hát.
    Nghệ sĩ Tám Vân tên thật là Lê Văn Tám, sanh năm 1924, em ruột của quái kiệt Hề Ba Vân (Lê Long Vân), quê ở quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Thuở nhỏ anh Lê Văn Tám học trường Trung học Mỹ Tho, tới năm thứ ba, bỏ học đi theo anh Ba Vân gia nhập đoàn Đại Phước Cương ra Hà Nội hát, anh Lê Văn Tám được ông bầu Cương đặt cho nghệ danh là Tám Vân. Khi hát ở Hà Nội, anh Tám Vân mê cô đào hát Bích Châu của đoàn Kim Chung tại rạp hát Quảng Lạc nên bỏ đoàn Đại Phước Cương theo đoàn Kim Chung với cô Bích Châu đi hát ở nước Lào rồi sang Thái Lan cho tới năm 1952, anh Tám Vân và chị Bích Châu mới trở về Saigon, gia nhập đoàn Việt Kịch Năm Châu.
    Tám Vân lúc nây là một kép đẹp trai, ca vọng cổ rất mùi, bài bản cổ nhạc nào anh ca cũng hay, đúng điệu. Anh thường thế vai anh Năm Châu, thủ vai kép chánh, đóng cặp với chị Kim Cúc (người chiến binh trong tuồng Người Mặt Cháy). Tám Vân thủ vai Duy Bạt trong tuồng Gió Ngược Chiều, đóng cặp với nữ nghệ sĩ Kim Lan (vai hoàng hậu Mã Nhi Nương Bửu), vai Hàm Lệ trong tuồng Hàm Lệ, Thái Tử nước Đan Mạch đóng cặp với Kim Lan (vai A Phượng Ly), vai Ngô Phù Sai trong tuồng Tây Thi, Gái nước Việt (Kim Lan trong vai Tây Thi). Anh Tám Vân chẳng những hát được những vai kép mùi mà anh còn chịu ảnh hưởng của anh Ba Vân nên Tám Vân có khả năng đóng các vai hề, vai lẳng trên sân khấu.
    Nhắc lại khi anh Năm Châu và chị Kim Lan bỏ về Saigon sau đêm hát tuồng “Tây Thi, gái nước Việt” thì Tám Vân và nữ nghệ sĩ Tương Lai (con của Hai Vân, anh ruột Tám Vân) phải hát thế các vai tuồng của anh Năm Châu và chị Kim Lan.
    Lệ thường trong các gánh hát thì người thế vai cho kép chánh, đào chánh đều được hưởng những tiện nghi dành cho vai tuồng đó, cho đào kép chánh đó. Ví dụ: Chỗ ở của đào kép chánh trong rạp hát hay ở khách sạn được xắp xếp gần sân khấu nhứt, sạch sẽ khang trang nhứt, có đầy đủ tiện nghi như có ổ cắm điện riêng để gắn quạt máy hay réchaud nấu nước. Trong tuồng hát, những gì cần thiết để diễn xuất mà đào kép chánh trước quen dùng để hát tuồng đó thì đào kép thế vai tuồng cũng được hưởng như vậy. Ví dụ trong tuồng có uống rượu chát thiệt, ăn gà rôti thì kép thế vai sẽ được dùng rượu thiệt chớ không phải nước trà pha màu cho giống như rượu chát…
    Chính vì được dùng những thứ thiệt như vừa kể nên nghệ sĩ Tám Vân mới bị một tai nạn nghề nghiệp mà trước đó trên sân khấu cải lương chưa hề có xảy ra.