Đường cùng

doithoaionline.wordpress.com
Bông Lau-thuymyrfi
Posted on 26/09/2022

Post by Sơn râu 19 Nov 2024

Hồi tháng Bảy vừa qua, pháo binh Ukraine dùng các giàn hỏa tiễn di động M142 và M270 pháo kích tơi bời vào cây cầu chiến lược Antonovskiy và đập Kakhovka ở Kherson. Sau đó du kích Ukraine đánh phá các kho hậu cần và phi trường quân sự ở bán đảo Crimea phía nam Kherson.
Đến tháng Tám, Hoa Kỳ ồn ào công bố viện trợ Ukraine các xe rà mìn, đại bác tầm ngắn 105 mm và súng không giựt 84 mm v.v… cho bộ binh Ukraine sử dụng trong các cuộc tổng phản công tái chiếm những vùng đất bị Nga chiếm.
Trong thời gian ấy báo chí tiên đoán Ukraine đang chuẩn bị tái chiếm thành phố Kherson. Tuy nhiên có một số chuyên gia quân sự Hoa Kỳ nghi ngờ đây là một kế hoạch nghi binh của Ukraine, vì họ không thấy hoạt động chuyển quân rầm rộ của bộ binh Ukraine ở khu vực Kherson. Ngày 30 tháng Tám người viết có tường trình sự nghi ngờ của các chuyên gia Mỹ như sau:
“Một số phân tích gia nghi ngờ một kế hoạch nghi binh nào đó của Ukraine, như kế hoạch giương đông kích tây. Tức là Hoa Kỳ rầm rộ loan tin hàng nóng cho bộ binh Ukraine tổng phản công, nhưng vẫn chưa thấy sự chuẩn bị những đại đơn vị để tổng phản công. Muốn tổng phản công đánh vào đất địch để tái chiếm thì bộ binh của Ukraine phải đông đảo và hùng hậu hơn quân trú phòng địch.”
Và quả đúng là Ukraine giương nam kích bắc. Các đơn vị bộ binh đông gấp hai lần quân Nga tràn vào các vùng bị quân Nga chiếm đóng ở tỉnh Kharkiv. Quân Nga bỏ chạy trong hoảng loạn, bỏ lại tăng pháo còn nguyên vẹn sau lưng. Quan chạy trước bỏ mặt lính chạy sau. Có nhiều binh sĩ Nga phải cướp xe đạp của thường dân Ukraine để đạp về Nga, hoặc các vùng vẫn còn bị quân ly khai chiếm đóng ở phía đông.
Nghi binh là một chiến thuật cổ điển có từ ngàn xưa. Trong chiến tranh cận đại chúng ta vẫn nhớ kế nghi binh thành công ở chiến tranh vùng Vịnh năm 1990, khi Hoa Kỳ cho các đơn vị Biệt Kích Hải Quân SEAL đột kích các bãi biển Kuwait ở phía nam để cầm chưn các đơn vị tinh nhuệ của nhà độc tài Saddam Hussein, nhưng sau đó đại đơn vị của liên quân ào ạt tiến công qua sa mạc ở phía bắc giải phóng được Kuwait chỉ có mấy ngày.

Một ví dụ đau thương khác của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) về kế nghi binh là trận Ban Mê Thuột tháng Ba năm 1975. Theo cuốn sách Black April: The Fall of South Vietnam, 1973-1975 của tác giả George J. Veith, thì tình báo VNCH ghi nhận được cộng sản Bắc Việt tập trung quân để đánh chiếm Ban Mê Thuột. Nhưng Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Vùng 2 là Phạm Văn Phú lại cho rằng đó là kế nghi binh của Việt Cộng để đánh Komtum, nên không chịu gởi các trung đoàn của Sư Đoàn 23 Bộ Binh về tăng phái cho thành phố này mà vẫn giữ ở Komtum.
Đến khi Việt Cộng đánh thiệt và chiếm được Ban Mê Thuột, thì Tướng Phú có ra lịnh trực thăng vận được một trung đoàn của Sư Đoàn 23 đến bên ngoài Ban Mê Thuột để tiếp cứu. Nhưng cầu không vận của Không Quân VNCH không thể bằng Hoa Kỳ, nhiều trực thăng khổng lồ Chinook bị hư không bay được nên cuộc trực thăng vận diễn ra rất chậm. Cuộc chuyển quân của Sư Đoàn 23 cuối cùng bị hủy bỏ. Mất Ban Mê Thuột là một trong những yếu tố cho sự sụp đổ của miền Nam.
Ở Kharkiv (Ukraine), vấn đề thắc mắc là tại sao các chuyên gia quân sự Hoa Kỳ là những chuyên viên dân sự không có quyền truy cập tin tức trực tiếp của màng lưới tình báo Hoa Kỳ và NATO mà còn tiên đoán được kế hoạch nghi binh của Ukraine. Trong khi đó quân Nga bị “bất ngờ” và bỏ chạy tán loạn.
Người viết tin rằng quân Nga cũng có các phương tiện tình báo để biết phần nào là các đại đơn vị bộ binh của Ukraine không hành quân tiến về Kherson. Bởi vì Nga cũng có vệ tinh không thám, có máy bay quan sát không người lái drone, và hệ thống gián điệp – điềm chỉ viên gài ở các vùng do Ukraine kiểm soát.
Phải chăng tham mưu của quân đội Nga không tin vào tình báo hay các nghi vấn của truyền thông Tây phương nên bị mắc lừa lần nữa. Như hạm đội của họ đã từng bị Hải Quân Nhật được coi là vẫn còn lạc hậu, đánh tan tành không còn manh giáp ở eo Đối Mã năm 1905.
Nhưng chắc chắn một điều là hệ thống chỉ huy của quân đội Nga lỏng lẻo. Binh sĩ Nga ô hợp và vô kỷ luật. Hình ảnh lính Nga là một đám cướp bóc hiếp dâm giết người không gớm tay. Họ ăn cắp cả quần áo của thường dân Ukraine, chớ đừng nói đến máy giặt mắc tiền hơn và vòng vàng nữ trang cất giấu trong nhà dân chúng Ukraine. Không những vậy, lính Nga thường tháo gỡ các bộ phận tối tân trên xe tăng để bán lấy tiền xài. Ăn cắp là một bịnh dịch lan truyền trong xã hội Nga.

Sĩ quan trung cấp Nga từ úy lên đến tá là một đám hèn nhát vô trách nhiệm. Họ bỏ mặc lính của mình, hoặc không thể kiểm soát được vì không có tư cách chỉ huy. Hồi tháng Ba năm nay người viết có tường trình một binh sĩ thiết giáp Nga đã dùng xe tăng cán qua giò Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Yury Medvedev vì bất mãn một cuộc chiến vô nghĩa, và anh ta có nhiều đồng đội bỏ mạng trên chiến trường. Đại Tá Yury Medvedev sau đó được ghi nhận là đã trở về đoàn tụ với bác Lê Nin kính mến vì vết thương quá nặng.
Đó cũng là lý do khiến nhiều Tướng cao cấp Nga bị giết. Bởi vì sĩ quan Nga cấp thấp bất tài và mất tư cách không chỉ huy được lính, do đó Tướng phải ra tuyến đầu để chỉ huy binh sĩ, nên bị lính bắn tỉa và pháo binh Ukraine được tình báo chỉ điểm giết chết.
Khi quân Nga bỏ chạy tán loạn khỏi khu vực tỉnh Kharkiv mấy tuần trước, họ bỏ lại hàng trăm quân xa, xe tăng, thiết giáp đã được đổ xăng đầy bình. Nhiều hầm đạn đại bác và các loại quân cụ còn nguyên vẹn bỏ lại. Đây là dấu hiệu hệ thống chỉ huy của quân Nga đã bị sụp đổ và binh sĩ mất tinh thần không muốn chiến đấu nữa. Thử hỏi nếu các chiến xa bị bỏ lại đó có lính thiết giáp Nga bình tĩnh nạp đạn và ngồi đợi quân Ukraine tiến vào để nổ súng, thì chưa chắc Ukraine có được một chiến thắng huy hoàng như mấy tuần qua.

Theo thống kê thì có khoảng từ 70 – 80% dân Nga ủng hộ Vladimir Putin và cuộc chiến ở Ukraine. Nhưng đây là thành phần dân chúng ở các vùng nông thôn hay các thành phố nhỏ xa xôi, thiếu phương tiện truyền thông internet, dân chúng chỉ biết đọc báo chí nhà nước nên bị mù lòa về nhận thức. Dân chúng Nga ở thủ đô Moscow thì tiến bộ hơn vì có theo dõi tin tức qua mạng xã hội, nên sự chống đối chế độ Putin kịch liệt hơn.
Nhưng khi Vladimir Putin ra lịnh động viên 300 ngàn lính thì dân đen Nga cũng lo sợ và bất mãn. Họ cũng giống như dân Việt mù lòa về chính trị nhưng thích năng nổ và chứng tỏ, tới khi bị bố ráp bắt đi lính ra chiến trường để làm liệt sĩ thì co rúm người lại. Do đó mới có hiện tượng thanh niên và các cụ ông tuổi quân dịch hỗn loạn bỏ nước ra đi. Vé máy bay một chiều qua các nước lân bang tăng lên 11 ngàn đô la thay vì 300 đô.
Theo các nguồn tin thì đàn ông Nga bị ruồng bắt đem lên xe buýt chở đến trại lính để huấn luyện 15 ngày xong tống ra mặt trận. Khí giới tối tân thì bị tiêu tùng gần hết rồi nên giờ họ mở kho lấy đồ chơi cũ thời Liên Xô đem ra trang bị cho lính mới.
Lính tinh nhuệ như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến Nga mà còn bị đánh tan tác thì lính ông cụ được huấn luyện 15 ngày cầm súng của viện bảo tàng sẽ làm được gì. Trong khi đó binh sĩ Ukraine càng ngày càng thiện chiến, kỷ luật và tinh thần yêu nước cao độ. Khí giới của họ được Tây Phương viện trợ mỗi ngày mỗi tối tân hơn.
Một số chuyên gia Đông Âu cho rằng Vladimir Putin ra lịnh động viên 300 ngàn lính chỉ hù dọa gây áp lực để chuẩn bị đàm phán ngưng bắn. Dọa xài đồ chơi hạch tâm chiến lược thì đã được Hoa Kỳ kín đáo nhỏ nhẹ thông báo chớ có chơi dại mà sẽ rước lấy đau thương. Các bạn thân của Putin là Trung Cộng và Ấn Độ cũng tránh xa và “quan ngại”. Người đồng chí trong cuộc chiến xâm lược này là Belarus cũng đã tuyên bố “nên ngưng bắn” và cuộc chiến ở Ukraine là “thảm kịch”. Vladimir Putin đang bị dồn vào đường cùng và cô đơn.
Ít có nhà độc tài nào trên thế giới bỗng trở nên nhu mì hiền lành tôn trọng luật pháp quốc tế. Họ sẽ tiếp tục sống trong ảo tưởng cho đến khi bị giết. Chiếc ngai vàng của Vladimir Putin còn tồn tại chỉ nếu thắng trận. Nếu thua, Vladimir Putin sẽ bị chính lính và dân Nga giết chết để trả thù.

BÔNG LAU 24.09.2022

Đêm không ngủ

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 17/09/2024

Post by Sơn râu 19 Nov 2024

Cả đêm qua coi như hỏng ngủ. Chỉ chập chờn vài chục phút nằm trên ghế bố nhưng ba lô bao hành lý đã chuẩn bị xong xuôi. Đến 2 giờ sáng, ba anh em lồm cồm dậy nai nịt ba lô lên vai. Ì ạch kéo bao hành lý nặng nề đi dưới ánh trăng tròn sáng vằng vặc.
Đến điểm hẹn, được hai chiếc pickup Toyota đón và chở ra bãi đáp trực thăng. Cánh đồng cát trắng được phản chiếu dưới ánh trăng xanh xao mờ ảo lạnh lẽo rờn rợn. Nhiều bóng đen đứng lố nhố chờ đợi. Thêm mấy chiếc pickup Toyota nữa. Xe pickup Toyota rất được Biệt Kích lẫn khủng bố Trung Đông ưa chuộng.
Hai anh Biệt Kích Không Quân USAF Spec Ops trang bị máy truyền tin ăng ten chĩa lên trời, đầu đội nón chống đạn có gắn máy hồng ngoại tuyến. Bóng đen của hai anh Biệt Kích như người ngoài hành tinh. Đôi mắt họ phản chiếu ánh sáng xanh của máy nhìn đêm làm giống như đầu một con quái vật. Các anh đang liên lạc với máy bay.

Rồi có tiếng rì rì của trực thăng. Trăng tròn rất sáng nên hỏng cần máy hồng ngoại tuyến mình cũng thấy hai bóng đen lù lù của hai chiếc Back Hawk và Chinook đang bay đến và chầm chậm hạ cánh.
Anh Trung sĩ trưởng toán đảm trách đưa rước hành khách VIP vỗ vai từng người, và chỉ tay nói bí số của chiếc Chinook. Ba anh em hàng một còng lưng vác ba lô đi về phía hai chiếc trực thăng cánh quạt đang quay tít trong đêm khuya, ở một quốc gia thù địch. Mình chỉ có thoáng nôn nao trong lòng vì mệt mỏi, nhưng thầm nghĩ khung cảnh rất hào hùng, giống trong một phim gián điệp hành động.
Trong toán có anh Trung úy tình báo rất trẻ mà xạ thủ quen thân và coi như em trai. Ngày nào mình cũng rủ vào quán địa phương đãi anh ta ăn chiều. Lương Trung úy có là bao so với lương mình, nên chơi theo kiểu Ziệt Nôm là bao bạn ăn cho nó oai. Hơn nữa một bữa ăn trong quán vùng giới tuyến giá rất thấp nên hỏng có gì để so đo.
Anh Trung úy này giống xạ thủ là rất ghét làm việc ở Bộ Chỉ Huy mà thích ra tuyến đầu. Nên hôm qua anh ta có vẻ hỏng zui vì bị gọi về Bộ Chỉ Huy và họ sẽ cử người khác ra thay thế, vì họ muốn người khác học hỏi kinh nghiệm làm việc ở tiền đồn giới tuyến.
Riêng xạ thủ thì rất muốn rút dìa căn cứ mẹ, vì xong công tác rồi mà nấn ná thêm ngày nào là nhan sắc tàn phai thê thảm, vì điều kiện sống quá ư là thiếu thốn. Da thịt khô rốc héo úa có thêm nhiều nếp nhăn vì nắng cháy và gió bụi. Xạ thủ biết mình vẫn còn chút ít cách sống của một công tử bột và trưởng giả theo kiểu trí thức tiểu tư sản. Đêm ngủ vẫn thích có mấy cái gối để ôm. Ngày phải tắm ba lần và nước có khử trùng uống vào không bị rụng răng hay tiêu chảy.
Khi ngồi ăn với nhau anh Trung úy tâm sự đã từng có người yêu là công dân Nga nhưng bị cấp trên cấm hỏng cho liên lạc nữa, vì sợ cô người yêu là gián điệp gài để thu thập tin tức. Anh Trung úy nói rất yêu cô ta và muốn lấy làm vợ nhưng đành phải tuân lịnh và không liên lạc nữa. Xạ thủ nghe câu chuyện nên rất thương cho một mối tình không đi đến đâu vì ranh giới của hai quốc gia thù địch. Ai đã từng có “Top Secret Clearance” thì sẽ hiểu vấn đề này.

Hai anh em rất thân nhau vì cùng đi chung trong chuyến công tác. Chuẩn bị nhắc nhở nhau trước khi lên đường. Mình cho anh ấy mấy viên thuốc chống tiêu chảy để uống, vì thuốc này mà người hỏng bị tiêu chảy mà uống vào thì tịt ngòi luôn cả ngày. Lý do là đang hành quân bằng thiết giáp mà bị tào tháo rượt là thôi rồi. Đoàn convoy đâu thể ngừng lại để ai đó bước ra ngoài phóng uế. Anh Trung úy nhắc xạ thủ phải ăn ít ngày hôm trước, để nếu bị bắn trúng bụng thì phân không trào ra làm nhiễm trùng nếu không tải thương kịp thời.
Trực thăng Chinook bay cả đêm đáp xuống nhiều căn cứ bốc, thả người, và đổ xăng. Mình ngủ ngồi chập chờn nửa tỉnh nửa mê. Đến 5 giờ sáng thì đáp xuống một căn cứ chuyển tiếp khá lớn. Xạ thủ vác ba lô và hành lý xuống ở tạm nơi đây vài ngày trước khi về lại căn cứ mẹ. Mệt và đói nên đi ngay vào nhà bàn của căn cứ để ăn sáng. Ôi lần đầu tiên sau mấy tuần lễ mới được thấy lại trái chuối và dưa hấu. Chuối ơi xin cưng giúp anh đẩy lùi vĩnh viễn sự nghiêm chọng căng thẳng phía dưới.
Giờ chỉ mong có vài tuần nghỉ phép về lại căn nhà xưa, đi trên vỉa hè xi măng không bị cát bụi sa mạc phủ kín. Gặp lại xóm giềng tay bắt mặt mừng. Thấy lại đàn chim đủ loại sau khu vườn đáng yêu. Biết đâu được một em cẳng dài cho mình bồng lên thử như trong bài hát “24 giờ phép”.
(Hình USAF Spec Ops từ internet)

BÔNG LAU 17.09.2024

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 19 Nov 2024

  1. Chương 10
    Bây giờ, căn nhà nghệ sĩ đón nhận thêm một gã tình si tên là Đỗ trọng Thuỷ, quý tử của ông Đỗ Trọng Quỳnh tức ký giã danh tiếng Hiền Nhân, người giữ mục Tiếng Vang của nhật báo Tia Sáng, nhật báo uy tín nhất Hà Nội do ông Ngô Vân làm chủ nhiệm. Đỗ Trọng Thủy cũng khăn gối quả mướp noi gương phiêu lưu của con dế mèn. Chàng vô Sài gòn một mình, bỏ gia đình thân yêu ở lại và bỏ luôn, cả tương lai sang Nga Xô Viết du học vì ông bô chàng rất được nhà nước Hà Nội trọng dụng, đôn lên hàng chủ nhiệm và gửi qua Nga, qua Tiệp, qua Hung ” thăm dân xã hội chũ nghĩa cho biết sự tình “. Đỗ Trọng Thủy bỏ tương lai, bỏ ông bô đầu hàng Cộng Sản chỉ vì cô học trò trường Trưng Vương không chịu để hoa môi nở giữa mùa ô trọc. Cô sợ phai cả màu trinh lẩn ý trinh nên cô di cư vào Nam. Và Đỗ trọng Thũy bỏ nhà ra đi không phải vì tinh thần chống cộng nặng như cối đá của một triệu đồng bào miền Bắc. Mà chỉ vì cô học trò Trưng Vương tên là Hòa. Đỗ Trọng Thũy là một…. thần đồng yêu đương. Mười bốn tuổi nó đã biết leo cổng trường Chu văn An, tìm đến cổng trường Trưng Vương đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư. Ba lần bị đuổi khỏi Chu Văn An và một lần khỏi Nguyễn Trải, ông Hiền Nhân đành để mặc đứa con lêu lỏng với tình yêu. Nếu em Hoà đã biết nó yêu mình và em mượn thơ Nguyễn Bính:
    Nhà em cách bốn quả đồi
    Cách ba ngọn suối cách đôi cánh rừng
    Nhà em xa cách quá chừng
    Em van anh đấy, anh đừng yêu em.
    Thì nó vẫn leo đồi, lội suối, băng rừng. Nó dám đi xa từ Hà Nội vô Sàigòn để yêu em Hòa cơ mà. Tôi phục nó vô cùng. Đỗ Trọng Thủy tới đây, thơ Sang Độc của tôi bổng sáng giá. Nó ôm đàn khẩy từng tưng và ngâm thơ của tôi sau khi đã dài cổ gửi tâm sự của mình vào thơ Lưu Trọng Lư:
    Ai bảo em là giai nhân
    Cho đời anh đau khổ
    Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
    Cho vương vấn nợ thi nhân.
    Vũ Khắc Niệm thấy chúng tôi yêu ghê quá đâm ra sốt ruột. Chiều chiều, nó thường quần áo chỉnh tề xuống phố. Nó bảo đi tới nhà người yêu. Thực sự, cu cậu tới nhà người quen xem ông anh Vũ văn Tâm ở Nha Trang đã gửi mandat vào chưa. Vũ Khắc Niệm giống hệt thi sĩ Tế Hanh: Anh là kẻ si mê nhưng nhúc nhát. Đụng độ người yêu của tôi nó cũng đỏ bừng đôi tai. à, tôi cần nhắc nhở người yêu xóm Vẹc của tôi. Nàng bắt tôi làm thơ thương nhớ quê hương và hận sầu dòng sông Bến Hải. Nàng bắt tôi viết tùy bút, truyện ngắn tương tư Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… Tôi hì hục thương nhớ quê hương. Văn nghệ Việt Nam hậu chiến phong phú nhờ tình lưu luyến quê hương. Hồi chưa có Hội Nghị Genève, thơ, văn, nhạc dậy mùi ly hương và hẹn về xây dựng lại quê hương đổ nát cùng nối chút duyên xưa với người em gái bé nhỏ. Riêng giòng sông Bến Hải thì không những là nạn Nhân của những pho thơ, biển nhạc. Quý vị nhạc sĩ, thi sĩ đòi lấp sông Bến Hải thật ồn ào, tưởng chừng dòng sông bị lấp đến nơi rồi. Tiếp theo đó, quê hương miền Nam thanh bình, dựng một mùa hoa! Rồi anh ơi, về đi, về đáp theo tiếng gọi chiêu hồi. Cuối cùng, nền văn nghệ Sang Độc hôm nay rạng rỡ nhờ nhạc ngợi ca ái tình đầu đường, xó chợ sau thời gian ca ngợi đời lính chiến phiêu bạt.

Tôi là một nhà văn nghệ có công đóng góp khá nhiều thơ văn thương nhớ quê hương cho người yêu. Đây là áng thơ vĩ đại:
Thái bình ơi!
Sau cơn khói lửa tơi bời
Gia đình tan nát bao người ra đi
Ai buồn giây phút chia ly
Quê hương gắng đôi người đi dẽ về
Ta về ăn bánh đa kê
Chiều chiều chạy nhãy bờ đê thả diều
Mắt em viền vải tây điều
Anh về giải phóng tình yêu tuyệt vời
Hạ hơi hơi, hạ hời hời
Bún riêu bún ốc một đời tương tư.
Nàng khen nhặng xì ngầu. Rất tiếc, bấy giờ chưa xuất hiện thi tài cỡ lớn để nàng so sánh. Giá thi bá Trần Đồng Vọng đã nổi danh với huynh hướng Lông Quặm “đít – dzê rô”! Chiều hôm qua, hai chúng tôi hẹn hò nhau ở cổng trường. Nàng có hai giờ đầu “pẹc ma năng”. Cơm trưa xong, tôi vội băng mình đi trong nắng, vào vườn Bờ Rô, kiếm cái ghế đá nằm chờ.
Buổi chiều ở vườn Bờ Rô thật yên tĩnh. Tôi có thể nghe được những tiếng gào thét của loài ve sầu đòi quyền sống quá mùa hạ. Ve sầu là nhạc sĩ phản chiến, toàn hát điệu buồn. Quý vị ấy sinh ra đời thật vất vả. Leo lên ccây cành thì phải trả một giá rất đắt cho mộng làm người. Và chỉ được sống hết mùa hạ. Ve sầu ở vườn Bờ Rô không muốn chết tập thể khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc. quý vị ấy thèm sống lâu. Bởi vậy, bất cứ lúc nào, vườn Bờ Rô cũng có tiếng kêu của ve sầu. Ấy là những anh chị ve sầu phản kháng luật của Thượng Đế, đòi sống muôn, thuở, đòi gieo nhạc buồn đủ bồn mùa Xuân, hạ, thu, đông. Và lý do đáng khâm phục nhất, chắc chắn là đòi sống để… yêu! Ve sầu đã anh dũng chịu đựng sự đàn áp của Thượng Đế chỉ vì thèm sống để yêu. Tôi cũng noi gương ve sầu, giữa trưa mùa nắng, nằm trên ghế gỗ công viên, làm công việc phục vụ tình yêu. Đáng lẽ tôi phải trở thành thi sĩ khều mặt trời tức là những thi sĩ ngợi ca đại lộ, cột đèn, cửa sổ, xe tăng, mũ sắtn, đạn đồng để có những bài thơ vô trật tự, dòng đầu hai chữ, dòng nhì bảy chữ, dòng ba mười chín chữ, dòng tư một chữ y hệt hàm răng giễu cợt nha sĩ. Nhưng tôi lại trở thành thi sĩ ngả nặng khuynh hướng Sang Độc. Tôi đã nghiêng sang về khuynh hướng Khều Mặt Trời, nhưng thất bại.
Viết hàng ngàn danh từ trenhư vô thức, tâm thức, hình nhi thượng, hình nhi hạ, bản thể, bản ngã, thùy triều, cảm mạo, thương hàn, dịch hạch, phi lý… ra từng mẫu giấy nhỏ, bỏ vào cái lọ. Hễ thi hứng dào dạt, mở nút lọ xóc lia lịa. Mỗi mẫu giấy văng ra là một câu thơ. Hoặc năm bảy mẫu giấy văng ra một lượt cũng là một câu thơ. Tôi không thể thàng công. Đành đeo đuổi khuynh hướng Sang Độc vậy.
Tôi cứ nằm trên ghế gỗ công viên. Mắt mở ccang để khỏi bị ma quỷ quyến rũ. Thời giờ chờ đợi sao mà lâu thế! Thuở chờ đợi, thời gian, ôi rét mướt. Cáu quá, tôi ngồi nhỏm dậy, lôi sổ tay, rút bút Bic, sáng tác một bài thơ Sang Độc:
Trưa nay anh đến vườn Bờ Rô
Ghế gỗ anh nằm giống cá rô
Trên thớt đang chờ dao đánh vẫy
Nhớ em như nhớ nước trong hồ
Em ạ, ve sầu nó cứ kêu
Ve ve không rõ chỉ eo eo
Nó cười chề giễu anh ngu xuẫn
Nó bảo anh rằng chưa biết yêu

Anh bèn chửi nó; Bố nhà anh
Tôi đã di cư mỗi một mình
Bố mẹ tôi coi như đã tịch
Vì em đấy nhé, mắt em xanh

Ve vội vàng khuyên anh một lời
Yêu là khốn khổ đấy ông ơi
Tôi đây gặp kiến vay cơm gạo
Nó mắng tôi đau đớn quá trời

Anh nói yêu là viễn du
Mặc dù ăn chịu quýt lu bù
Quýt làm ngọt lịm tình yêu đó
Bụng đói nhưng hồn no mộng mơ

Ve phục anh ngay tặng món quà
Chàng và nàng hắng giọng song ca
Cứ như Ngọc Cẩm và Hữu Thiết
Ghế gỗ anh nằm bỗng nở hoa.

(Làm trên ghế gỗ vườn Bờ Rô, cảm hứng dào dạt đến nỗi muỗi đốt ngứa đã đời mà không thèm gãi. Buổi trưa nắng hiền, gió ngoan).

TRƯƠNG CHI
(Đoàn trưởng thi nhóm Sang độc)

Hai ca sĩ uyên ương ve sầu hát tặng bài gì, tôi tưởng không cần viết tên. Có thể là Sang Ngang 1, Sang ngang 2, hoặc Tương tư 1, Tương Tư 2, Tương Tư 3 hoặc Thất Tình nhất, Thất Tình Nhị, Thất Tình tam; Thất tình tứ, Thất tình ngũ, Thất tình lục… Cũng có thể là Không, Đừng, Vâng, vân vân. Tôi đọc lại bài thơ bảy lần. Mỗi lần tìm thấy một sự hay ho, nghĩa lý. Nhưng tôi hơi giả dối ở cái câu Làm trên ghế gỗ… Sống ở Nhà Hát Tây khan hiếm nước tắm gội, tôi đã bị vài mụn ghẻ ruồi; vừa làm thơ vừa gãi soàn soạt mà tôi dám nói láo là cảm hứng dào dạt đến nổi muỗi đốt ngứa đã đời mà không thèm gãi thì rất phiền cho văn học sử sau này. Văn học sử căn cứ vào câu trên, đi tìm không gian, thời gian và tâm sự của thi sĩ sẽ viết vung là “thi sĩ Trương Chi yêu si mê đến cái độ nhớ người yêu quên cả muỗi hút máu mình, quên cả đưa ngón tay chấm nước miếng quệt vào chỗ muỗi đốt và quên luôn cả gãi, Trương Chi đích thị là nhà thơ yêu nặng nhất thời đại chúng ta”! Hầu hết các thi sĩ đều thích nói phét. Sáng tác bài thơ dưới ngọn đèn dầu tù mù trên căn gác đứng lên là đụng đầu vào trần mà cứ bảo sáng tác ở gác nghênh phong hay dưới mái trăng non!
Tôi thủ bài thơ Sang Độc “sáng tác tại chỗ” vô túi, hiên ngang cuốc bộ tới cổng trường. Tôi lại tìm gốc cây quen thuộc. Đời thi sĩ vốn đói rách. Thơ lúc nào cũng sẳn mà thuốc lá Ruby Queen thì luôn luôn thiếu. Có vài điếu đốt cho bài thơ mới nhất. Bây giờ, huýt sáo gió bản Tình nghệ sĩ của Đoàn Chuẩn đợi người yêu. Huýt chán chê lại lẩm bẩm hát, tới câu : Pháo nao nhuộm đường thấu chăng tình anh thì nàng xuất hiện. Không phải nàng. Chị Phượng. Nàng đã dặn chị Phượng tôi thường “ăn cơm tháng” ở gốc cây nào. Chị Phượng thộp được tôi ngay…
Tôi hơi hơi thất vọng. Y hệt ông nhóc chơi “năm mười” bị “xí”. Tôi dời gốc cây. Mỉm cười rất lãng tử chiều tà bụng đói.

  • Em đây.
    Và ngớ ngẩn hỏi:
    -Ngọc đâu?
    Chị Phượng đáp:
  • Con Ngọc bị cúm!
    Tôi thẩn thờ. Nếu vào ban đêm, tôi đã nhìn lên trời, hát câu nhạc Mỹ phổ thông:
    The moon is high
    The sky is bleu
    I am here
    Where are you
    Trời xanh
    Trăng cao
    Mình anh nơi đây
    Còn nàng nơi nao.
    Nhưng lúc này trời nắng chang chang. Tôi đành hỏi:
  • Nàng uống thuốc gì?
  • Aspérine.
  • Tại sao nàng không nhai vài chục củ tỏi?
  • Trương Chi nói nhảm!
  • Tỏi chữa bệnh cúm thần sầu vô cùng. Hồi em ở quê nhà, hễ mùa đông là y rằng gà bị cúm, mào đang đỏ bỗng tái ngoét. Giã tỏi nhét vô cái diều của nó, nó khỏi liền, gáy te te, kêu cục tác inh ỏi…
  • Trương Chi cứ thích khôi hài.
    Tôi vò đầu:
  • Nàng cúm hôm kia có phải đỡ tủi cho em không?
    Tôi phân trần:
  • Ăn cơm xong chưa kịp xỉa răng, em đã vội chạy tới vườn Bờ Rô xí ghế. Em chống trả giặc ngủ mãnh liệt, làm bài thơ bất hủ để chờ tặng Ngọc thì Ngọc lại cúm. Nàng cúm hoài, có lẽ, em sẽ… đi xa!
    Cái đòn của tôi là đòn “đi xa”. Hễ tôi dọa “đi xa” thì chị Phượng liền ngăn cản tôi chí tình.
  • Trương Chi!
  • Dạ.
  • Đừng đi xa. Mai mốt con Ngọc hết cúm, sẽ lên thăm cậu.
  • Nhưng tối nay…
  • Sao?
  • Chúng nó cười em thối mũi. Em bảo chúng nó là em và Ngọc sẽ ra bờ sông thủ thỉ chuyện yêu. Nàng cho em ăn thịt thỏ.
  • Nó cúm.
  • Vâng, nàng cúm. Em biết đi đâu bây giờ?
  • Cậu đi xi nê nhé!
  • Thi sĩ đói rách như em, tiền mua giấy chép thơ còn không có, tiền đâu vung phí?
  • Chị đã nghĩ chuyện đó.
    Chị Phượng mở bóp lôi ra một cái phong bì:
  • Chị đền cậu đó, Trương Chi.
    Tôi giả vờ “phẩn”:
  • Em đi sớm về trể vì ái tình cao thượng chứ đâu phải để mong chị… đền!
    Chị Phượng nhăn nhó:
  • Thôi mà, Trương Chi, chị coi cậu như em ruột chị nên mới dám đối xử thân mật. Người nhà rồi, Trương Chi.
    Câu nói thơm tho quá. Tôi bèn chìa tay về lẹ, nhét vội vào túi cho đỡ xấu hổ, Rồi hỏi:
  • Thưa chị, Ngọc có gửi thư từ cho em không?
    Chị lắc đầu:
  • Nó cúm nặng.
    Tôi chán chường:
  • Chắc bút mực cũng cúm.
    Và giễu:
  • Đôi khi ái tình phải cúm, phải thưởng thức tỏi, chị nhỉ?
    Chị Phượng cười. Nếu sau này tôi trở thành Nguyễn Bính hay Trần Quang Dũng thì hỉnh ảnh của chị, nhất định, bàng bạc trong thơ của tôi. Chúng tôi chia tay nhau. Chờ chị Phượng “tít tắp dặm đường”, tôi mới nhẩy bổ tới gốc cây, móc túi lôi cái phong bì ra coi. Có một ngàn. Một ngàn là giàu rồi. Tôi anh dũng bước. Đến một ngã tư, gọi “chiếc xe nhân dân” tục kêu là xích lô máy trong lực lượng công nông thế giới chở tôi lên Sài gòn rồi tới rạp ci nê Vĩnh lợi coi phim Ấn độ, có khúc phim màu Chà Và nhảy múa.
    Rời rạp ci nê Vĩnh Lợi, trời đã bãng lãng bóng hoàng hôn. Tôi lang thang trên vỉa hè Ghé sạp báo coi cọp tuần báo Đời Người. Mắt tôi bỗng sáng lên khi thấy một bài thơ của mình nằm chình ình ở nữa trang báo. Nhưng sáng một tí là vội tối ngay. Bởi vì bài thơ gói ghém nhiều tâm sự, bài thơ đắc ý nhất, bài thơ có nhiều triển vọng đi xa trong tương lai của tôi vẩn nằm bên cạnh cái quảnh cáo thuốc trĩ ! Tệ hại quá xá là ông xếp typo vác cái tít “Ai đau khổ vì bệnh trĩ ” đặt trên đầu bài thơ trữ tình của tôi, còn cái tít bài thơ Tình Sầu thì lại trịnh trọng nằm trên cái quảng cáo mười hai thứ trĩ. Thi ca và bịnh trĩ liên hệ mật thiết ghê ! Tôi có cảm tưởng tuần báo Đời Người muốn mời tôi cộng tác mục vui cười. Hoặc họ muốn ví thơ của tôi với bệnh trĩ. Hoặc dùng thơ của tôi để chữa bệnh trĩ. Vậy thì tôi dấn thân nặng. thi ca đã phục vụ… bệnh trĩ. Hay, ít ra, đọc bài thơ mang cái tựa đề Ai đau khổ vì bệnh trĩ, những người đang đau khổ vì bệnh trĩ có thể nở một nụ cười trên khuôn mặt nhăn nhó.
    Tôi vội mua hai số Đời Người, rồi cút lẹ. Vào cầu tiêu công cộng, tôi xé bài thơ của tôi, xé luôn cả cái tít Ai đau khổ vì bệnh trĩ. Thế là bài thơ… vô đề. Tôi trở về Nhà Hát Tây sau khi đã ăn hai đĩa cơm sườn nướng ở hẻm Casino. Căn nhà êm ấm của tôi đủ mặt những thằng con trai vừa lớn đang đau khổ vì tình yêu. Quỳnh, Nhân, Thủy ngồi thộn mặt. Nhân danh trưởng thi nhóm Sang Độc và người có trách nhiệm đưa bọn này vào tình sử, tôi yêu cầu từng đưá báo cáo thành quả của một buổi chiều đi tán gái. Đây là báo cáo của Quỳnh kèm theo sự chất vấn:
  • Hỏng rồi!
  • Tại sao?
  • Tôi tham lam quá, ” lăng xê lét ” cho hai em một lượt. Không ngờ hai em là bạn tri kỹ của nhau. Hai em khoe thư tình…
  • Rồi sao?
  • Rồi hai em trả lại… tình tôi một lượt. Hai em cười rũ rượi, khuyên tôi nên viết thêm bức thư tình thứ hai.
  • Mày trả lời thế nào?
  • Tôi nói: Thưa nhị vị cô nương, tại hạ sẽ cố gắng!
  • Lỗi tại mày thiếu chung thủy. Ái tình không phải là… đá bóng tròn mà cần cầu thủ phòng hờ.
  • “Ông” khuyên tôi làm gì?
  • Tìm em khác không về chung lối với hai em cười mày, tiếp tục “lăng xê lét”.
    Đây là báo cáo của Nhân:
  • Nàng “cắn câu” rồi, “ông”ạ ! Tôi mạn phép “ông” gửi tặng nàng mấy bài thơ của “ông”. Nàng trả lời cảm động lắm. Anh nàng bảo tôi nên lấy bút hiệu Xuân tóc đỏ. Thế là nghĩa lý gì?
  • Thi sĩ Xuân tóc đỏ là nhà thơ đánh dấu thời đại xe điện chạy vung vít ở Hà Nội. Cũng như nhà văn hào Mark Twain đánh dấu thời đại tầu thủy chạy trên sông Mississi ppi.
  • Vậy là anh nàng mê thơ tôi?
  • Thơ mày à? Ừ, thơ mày…
  • “Ông” khuyên tôi làm gì?
  • Mày tiếp tục xin tiền ông bô mua chuối cho tao ăn khi tao đói rách.
    Cuối cùng, báo cáo thê thảm của Thủy:
  • Chiều nay, em Hòa đối xử thật tàn tệ với tôi. Nàng quay lại, nhổ nước miếng ba lần!
  • Mày phản ứng ra sao?
  • Tôi lặng lẽ rút lui. Số tôi đen quá, đi ngược chiều. Cảnh sát thổi tu hít. Tôi bị lôi về bót, năn nỉ khô cổ mới được tha. Có lẽ tôi phải liều một phen.
  • Mày định tự tử?
  • Không, tôi liều nắm lấy tay nàng. Một lần. Rồi thôi. Tôi sẽ đi kiếm một em bán thuốc lá, cưới em làm vợ.
    Tôi an ủi ba môn đệ bằng cách móc túi lôi ra những tờ giấy một trăm và hai bài thơ xé như cóc gặm:
  • Báo Thẫm Mỹ của văn hào Thanh Nam đăng thơ tao đây này. Bài thơ Vô Đề. Thanh Nam trả tao một ngàn nhuận bút, mời tao đi nhậu nhẹt. Chúng mày tưởng tao không gặp trục trặc kỹ thuật ái tình ư? Chiều nay, em của tao giả vờ cúm. Tao cóc cần. Em cứ việc cúm. Em cúm đã có thơ Sang Độc. Bị ái tình hành hạ thơ mới hay. Chúng ta sẽ trở thành những thi sĩ lừng danh, cứ gọi là gạt ra không hết các em đẹp như tài tử xi nê ái mộ.
    Vỗ vai Thủy, tôi nói:
  • Đừng dại dột lấy em bán thuốc lá nào đó, mày nhé!
    Tôi dẫn cả bọn đi ăn thịt bò khô. Chúng nó quên ngay nỗi buồn. Và chiêm ngưỡng tôi, chiêm ngưỡng thi sĩ có bài thơ bất hũ tựa đề Ai đau khổ vì bệnh trĩ.

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

  1. Chương 9
    Điều khiến tôi cụt mất ba phần tư cảm hứng là những bài thơ nặng chất Sang Độc do chính tôi sáng tác và còn giữ lại bản thảo mà tôi lén lút gửi cho tuần báo Đời Người đã không được đăng, dù chỉ được đăng bên cạnh những cái quảng cáo thuốc trĩ, thuốc lỡ, thuốc ngứa… Tôi không thể có triển vọng đi xa trong tương lai chăng? Tuy thế, căn nhà của chúng tôi vẫn ồn ào, tấp nập. Đặng Xuân Côn đã mua cái lục huyền cầm Y Pha Nho. Trừ những giờ đi sang Khánh Hội với phu bến tàu, nó không thèm đi đâu, không thèm yêu ai, chỉ ôm cây đàn vật lộn với cuốn bài tập dầy cộm của Carulli. Nó múa bài số 30 làm tôi phục lăn. Bài này mà lên biểu diển ở đại Hội Văn Nghệ Giải Phóng tỉnh Thái Bình, chắc chắn, lãnh tụ văn nghệ sẽ giới thiệu nồng nhiệt là một bản nhạc cách mạng Hung Gia Lợi lật đổ phong kiến thối nát! Tôi thường ngồi trên cửa sổ, nhìn sang hảng Boy Landry, ôm đàn nghêu ngao một bản nhạc lãng mạng của Văn An: Tôi nhớ một chiều đơn côi chớm thu. Em đến thăm tôi hoàng hôn khi nắng tàn. Gần nhau đẹp mơ bao duyên dáng. Bên em ngát gió tình thương, mơn man đính ước trầm hương… Bản nhạc rất hay đối với tôi dạo ấy, dù dạo ấy chưa hề xuất hiện những bản nhạc ngợi ca tình yêu đầu đường, xó chợ như dạo này. Nếu ông Văn Anh chịu khó gọt đẽo lời ca thì bản nhạc được xếp vào loại trữ tình trên điễm trung bình. Ông này tả chiều tỉ mỉ quá. Chiều, hoàng hôn, chưa đã. Cần nắng tàn mới diễn tả đủ ý nghĩa của buổi chiều đơn côi. Nhưng mặc kệ. Bản nhạc mình hát lên được tâm sự của mình là tuyệt rồi. Chiều vắng, tình thắm nhớ mãi phút giây bên nhau. Tình tôi đây, người ơi! Chiều xa lòng ta run trong kiếp sống dưới trăng khuya âm thầm bến sầu…. Tôi nghêu ngao đến nỗi con nhà Vũ Khắc Niệm phải lấy bông đút nút hai lỗ tai.
    Nhờ có cây lục huyền cầm Y Pha Nho mà danh tài Y Vân thường ghé chơi. Danh tài của tôi chẳng chịu trổ tài tay đờn miệng ca bản ruột: Ngày trở về anh bước lê, trên quãng đường đê đến bên lũy tre…
    Như chàng đã trình bày ở bến tàu Sài gòn tiếp đón đồng bào di cư. Lại thêm cả danh tài Luyện tạt vô búng bài số 14 cuốn phương pháp Carulli rồi chọe là bản valse của Strauss. Danh tài Đặng Xuân Côn liền búng bài số 30 át giọng. Danh tài Luyện hơi ngượng. Sau này,chàng học điện và đậu kỷ sư. Xã hội Nhà Hát Tây được hân hạnh đóng góp cho xã hội Việt Nam một chuyên viên điện tử. Tiếng tăm những nước mắm Hoài Hương (Hà huyền Chi hôm nay), Đỗ Tiến Đức, Trương Chi… thoát khỏi gác ba Nhà hát Tây, quyến rũ ông phó bô Tăng Ấn. Ông Tăng Ấn là dân Bắc Kỳ cũ. Nguyễn Xuân Nhân đã dẫn dắt ông lại. Thấy chúng tôi đói rách, ông Tăng Ấn nổi máu “thố tử hồ bi”, ông anh dũng thực hiện câu “nhiễu điều phủ lấy giá gương” về nhà thó hai cái sơ mi, một cái quần kaki mang lại… Ông bảo quần áo của khách đặt may rồi… chê lấy. Tưởng bầu thương bí thật tình, tôi dở ra coi. Than ôi, bầu đã xỏ lá kềnh bí ! Áo sơ mi sờn cổ, rộng thùng thình và sặc mùi hôi nách. Quần thì tôi bơi hai chân trong hai ống! Tôi vội biểu diễn màn lau nhà bằng tặng phẩm “viện trợ” của người đồng hương tôi trước mặt ông ta.
    Ông Tăng Ấn sau này trở thành thi sĩ. Khi tôi dời Nhà Hát Tây tới sống bệ rạc trong con ngõ hẽm đường Hai Mươi, đối diện với nhà bà nội “hiện tượng” Khánh Ly và ca sĩ Ngọc Anh, ông ta vẫn bám lấy tôi để thụ huấn nghề thơ Sang Độc. Mỗi tuần, vào thứ năm, ông mầm non phó bô đúng hẹn, đem tiền của cụ via phát tiền mặt, đến thỉnh tôi ra quán cà phê Gió Nam và bắt tôi thưởng thức những pho thơ của ông sáng tác trên cái máy khâu. Tôi bảo ông ta rằng muốn làm văn nghệ thì phải làm cách mạng! Như ông ta, muốn làm cách mạng thì phải bỏ nhà ra đi. Ông ta cám cảnh mẹ ghẻ con chồng, sụt sùi một lát. Ông ta không dẫn tôi đi uống cà phê nữa. Tôi nghe tin ông đã cuỗm ít tiền, một mình một xe mobylette, bỏ nhà giang hồ tận tỉnh Phan Rang. Tới làng Nấu Văn, ông đói quá, bán xe, đáp tàu hỏa hồi hương. Ông ta bèn lấy bút hiệu Nấu Văn ký tên cho hai, ba thi phẩm chống lại khuynh hướng Sang Độc. Tự đó, đời coi ông là thi sĩ Nấu Văn vậy.
    Danh tài Nhà Hát Tây còn nhiều, kể mãi không hết. Mỗi danh tài là một… truyện dài đầy đủ hỉ, nộ, ái, ố. Tôi tưởng chỉ nên nói về những ” quái kiệt ” trong “căn nhà ” của tôi. Trước tiên là Nguyễn Xuân Nhân. Nó chiêm ngưỡng tôi khiếp quá nên tôi tạm nguôi ngoai nỗi buồn… Sang Độc. Tôi đã truyền cho nó cái nghệ thuật tán gái vì nó tưởng tôi đủ thẩm quyền dạy nó. Nhân lầm lẩn. Nhân mù quáng. Bởi thèm yêu. Chứ, làm gì có nghệ thuật hay kỹ thuật tán gái. Nếu tôi nói thật với Nhân rằng, ngay cả tôi đây, dù đã anh dũng có tí người yêu, vẫn chưa hiểu rõ tình yêu, vẫn chưa dám nói với người yêu, nó sẽ thở dài ngao ngán. Và, như thế, tôi không thể nhờ nó rửa bát, lau sàn nhà, mua chịu hột vịt lộn để ngồi trên cửa sổ, ôm đàn ca hát ngất ngây.
  • “Ông” ạ…
    Nhân nói. Tôi hỏi:
  • Cái gì?
    Nó khoe:
  • Tôi mới “chấm” được một em xinh như mộng.
  • Mày có nói phét không thế?
  • Em xinh như mộng mà. Tôi gặp may, “ông”ơi!
    Nhân kể cho tôi nghe trang đầu tình sử của nó. Chiều qua, nó thẽo một em. Trái với thường lệ, nó mượn chiếc xe đạp của Đặng Xuân Côn, dựa dưới gốc cây. Chờ tan học, nó đạp theo em gái trường Trưng Vương mà nó bảo xinh như mộng. Trên đường về nhà, xe đạp của em gái bị tuột xích. Em cố đạp nên xích nó kẹt ớ cái ” ru líp “. Em bèn xuống xe. Nguyễn Xuân Nhân nổi máu hiệp sĩ. Nó cũng xuống xe, vất xe ngã rạp bên lề và nhào tới, xăn tay áo. Cứu nguy cái xích đen thui dầu mở. Làm xong công việc hào hùng đó, Nguyễn Xuân Nhân rút khăn lau tay. Và người đẹp xinh như mộng của nó lên xe đạp vội.
  • Em cám ơn mày chứ?
  • Không.
  • Em nhìn mày cười chứ?
  • Không.
  • Mày có hỏi tên em là gì, học lớp mấy không?
  • Không.
  • Vậy mày làm gì?
  • Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn tà áo em trắng và chân em đạp xe.
  • Mày ngu quá, mày đã làm vuột một cơ hội bằng vàng.
  • “Ông” nói sao?
  • Đáng lẽ mày phải chùi tay vào áo của mày, rồi cúi đầu thật thấp, tự giới thiệu: “Thưa cô nương, tôi là Nguyễn Xuân Nhân, một thi sĩ trong thi nhóm Sang Độc, chiều nay tôi đi tìm ý thơ…,
  • Nàng cười hô hố thì vỡ nợ.
  • Nàng im lặng. Mày phải biết, một trăm con gái vừa lớn là một trăm nàng yêu thơ, ái mộ thi sĩ.
  • Nàng im lặng tôi biết nói chi?
  • Mày chỉ vào áo mày, kiêu hãnh nói: “Thưa cô nương, bài thơ do chính tay tôi sáng tác ngay tại chỗ là bài thơ…. trừu tượng mang ý nghĩa dấu vết kỹ niệm. Tôi viết thơ trừu tượng bằng dầu ở cái xích xe của cô nương”. Sau đó, mày lại lững thững đạp xe thẽo em xem nhà em ở số mấy, đường nào.
    Nhân thộn mặt ra:
  • Tôi ngu quá. Tôi ngu quá. Chiều nay tôi sẽ theo em, “ông” đi yểm trợ tinh thần tôi nhé?
    Tôi lắc đầu:
  • Chiều nay tao bận hẹn hò với người yêu của tao. Mày phải tự lực cánh sinh.
    Lại một chiều vàng của cậu trai vừa lớn Ngiuễn Xuân Nhân. Buổi chiều vàng ấy xẩy ra như thế nào, tôi không biết. Nhưng chập tối? Nguyễn Xuân Nhân trở về, mặt tái mét. Nó vẫy tay kêu tôi xuống dưới nhà, rủ tôi tới công viên đối diện hãng Boy Landry than thở:
  • “Ông” hại tôi rồi!
    Tôi ngạc nhiên:
  • Sao
  • Xuýt tôi bị ăn đòn.
  • Nàng là nữ đô vật à?
  • Không.
  • Thế ai định đánh mày?
  • Anh nàng! Tôi theo nàng đúng sách vở ” ông ” dạy. Vừa tới đầu phố nhà nàng thì có ba thằng, to con lắm, xông ra chận xe tôi.
  • Rồi sao?
  • Một thằng túm áo tôi, giận dữ hỏi: ” Mày gửi thư tình cho em gái tao, hả?”
    Tôi chối dài vì tôi đâu đã bước sang giai đoạn đó. Nó bắt tôi cho coi thẻ học sinh rồi bắt tôi viết thử chữ để nó so sánh. Cuối cùng, nó hỏi tôi “Mày theo em gái tao, hả?” Tôi lại chối dài. Bọn nó cấm tôi qua phố đó. “Ông” ơi, tôi run quá.
    Tôi nói:
  • Chúng nó hiểu lầm chứ tao hại mày cái khổ nào!
    Và cười:
  • Nàng phản ứng ra sao?
    Nhân thở dài:
  • Trái tim tôi đập loạn, tôi không nhìn thấy nàng.
    Tôi an ủi Nhân:
  • Tình yêu đầy chông gai, mày ạ! Yêu khó lắm không dễ như mày tưởng. Ăn thua ở nàng cả. Nàng không tố cáo mày sửa xích xe giùm nàng tức là nàng đã… cảm mày rồi. Đêm nay, nàng sẽ thức trắng đêm thương hại mày.
    Đôi mắt đang ủ ê, bỗng sáng rực, Nhân chộp lấy tay tôi:
  • Thật hả, “ông”?
    Tôi quả quyết:
  • Thật. Nhưng mày cần học làm thơ. Mày lên rửa giúp tao chậu bát đĩa dơ đi, đêm nay tao dạy mày sáng tác thơ Sang Độc.
    Nhân dặn tôi:
  • “Ông” giữ kín vụ này nhé!
    Tôi đã vỡ lòng yêu cho Nhân. Bây giờ, đến lượt dạy “quái kiệt” Quỳnh tập đánh vần yêu. Thằng này chỉ yêu cầu tôi viết giùm một bức thư tình mẫu. Người ta đã xuất bản những cuốn sách dạy viết thư xin việc làm, thư mua bán, thư cám ơn chủ tăng lương, thư ngoại giao và cả thư tình của các vĩ nhân. Nhưng chưa hề cóthấy một cuốn sách dạy viết thư tình. Đó là sự thiếu sót lớn lao cho tình yêu ở đất nước này. Nghĩ thế, không cần bắt bí Quỳnh, sai khiến nó mang ly đến tận chợ Bến Thành mua đậu đỏ bánh lọc về cho tôi thưởng thức, tôi đã viết một bức thư tình mẫu duy nhất trong cuộc đời tôi. Bức thư như vầy:
    Sàigòn ngày….. tháng…… năm 19….

Em…
Em đừng lăn kềnh ra chết sau khi đọc xong bức thư này. Nếu em lăn kềnh ra chết, loài vật sẽ chết theo, cây cối sẽ chết theo, trời đất sẽ sụp đổ và anh, anh cũng sẽ chết theo. Bởi vì, em yêu dấu, em mà lăn kềnh ra chết, cuộc đời sẽ chỉ còn hoàng hôn buồn tẻ. Thơ anh sẽ chẳng biết ca ngợi ai. Em chưa biết anh là thi sĩ trong nhóm Sang Độc à? Thơ là gì? Đó là tinh hoa của văn chương dùng để ca ngợi tình yêu của loài người, của anh và của em. Loài người, cần phải yêu nhau. Nên Chúa mới dạy: Các con hãy yêu nhau. Nên Victor Hugo mới nói: L’homme sans d’amour comme la terre sans soleil. Nên mới có bài hát: Yêu nhau đi chiều hôm tới rồi. Nên Xuân Diệu mới giục giã. Mau đi chứ, vội vàng lên với chứ. Em, em ơi, tình non sắp già rồi. Vân, vân, vân và vân vân.
Em có đôi mắt tuyệt đẹp để anh ca: Đôi mắt huyền ơi, hay chăng tôi yêu mê say nồng nàn. Em có đôi môi mộng chín để anh ngâm: Môi em là một rừng nho, Với tay anh hái hôn cho đã đời. Như thế, em không lăn kềnh ra chết được, Em cũng đừng dại dột xé nát bức thư này sau khi đọc xong. Bởi vì, thư tình là thông điệp của tình ái mà thượng đế bắt anh soạn thảo. Xé nát thư tình, em sẽ bị xuông địa ngục, sẽ ra tòa án Diêm Vương rồi nằm trên bàn chông, rồi leo cầu vòng, xẩy chân ngã là chó ngao sẽ ăn thịt em. Vậy đọc xong bức thư này, em phải ướp nước hoa và tưởng tượng anh, một thi sĩ trong bút nhóm Sang Độc, một kẽ thèm yêu nhưng nhút nhát, anh, một người bộ hành phiêu lãng, đường trần gian xuôi ngược để vui chơi và để yêu em.
Em đừng hỏi tại sao anh yêu em. Tình yêu khó giải nghiã vô cùng. Anh không tài nào diễn tả tình yêu bằng thơ Sang Độc của anh được. Em chỉ hiểu có một lãng tử tài hoa dám nhịn khát, dám cuộc bộ cả đời vì tình yêu. Một kẽ yêu nặng nề và đắm đuối dường ấy mà em thờ ơ, lãnh đạm thì em không mơ mộng tí ti nào. Nếu em rung động, em biết yêu và muốn được yêu, chiều mai, anh sẽ ngồi ở Bùng Binh chợ Bến Thành, hút thuốc lá Ruby Queen, ngó trên tay thuốc lá cháy lụi dần đợi em. Em phải đến đây nhé!
Xin Thượng Đế ban phước lành cho em.

ANH
Tôi giữ lại bản thảo bức thư tình độc nhất vô vị này, chép cho Quỳnh một bản. Đọc xong, nó hả hê. Và công việc của nó là chiêm ngưỡng:

  • “Ông” viết hay hơn… Lê Văn Trương!
    Tôi cười:
  • Đừng bơm tao căng quá, mày.
    Tôi khuyên nhủ môn đệ:
  • Thư này dùng đến muôn đời. Chỉ cần điền ngày, tháng, năm và tên người mà mày muốn yêu. Mày phải coi như bùa yêu ấy. Để đứa nào chép là mày hốc sực.
  • Tôi giữ kín. Nhưng có cần ngồi ở Bùng Binh không?
  • Tùy mày. Nếu thích Vườn Lài, mày hẹn em ở Vườn Lài.
  • Chắc ăn chứ?
  • Chắc.
    Quỳnh đã được bơm cả kí lô hơi hy vọng vào tim phổi. Hy vọng bốc thành mây án ngữ trước tầm mắt nó. Cứ nhìn thấy mây hy vọng là người ta có quyền tin rằng mình đang yêu và sẽ được yêu. Quỳnh hí hửng giấu biến lá thư tình mẫu.
    Tôi nghĩ là nó phải khai thác lá thư tình mẫu này kỹ lưỡng. Ít nhất cũng cả hai mươi tư người con gái lần lượt nằm sau tiếng em ở dòng thứ nhì của lá thư. Quỳnh áp dụng ra sao, tôi không biết. Nhưng Nguyễn Xuân Nhân gạ gẫm tôi viết giùm lá tình mẫu. Tôi chỉ có hai môn đệ tình ái. Tryuền vỏ công cho đứa này thì phải truyền võ công cho đứa kia. Và tôi bèn sao y bản thảo, tặng Nhân lá thư tình mẫu. Tôi dặn nó như đã dặn Quỳnh.
    Hai hôm sau, trong khi tôi đang ôm đàn nghêu ngao bản Tình thắm của ông nhạc sĩ Văn An, diển tả cái sự nhớ một chiều đơn côi chớm thu, em đến thăm anh hoàng hôn nắng tàn thì bà hàng quýt đập cửa lộp bộp (chú ý: Tường và cửa đều làm bằng giấy dầu) bước vô, giậm chân đành đạch. Tôi tưởng bà đòi nợ, nói ngay:
  • Mới trả sáng nay rồi!
    Bà hàng quýt có cô con gái nhan sắc dưới điểm trung bình, hét toáng:
  • Không phải chuyện nợ. Chuyện này cơ!
    Bà vất vào mặt tôi bức thư:
  • Cậu nào trên này dụ dỗ con gái tôi? Có hai mẹ con di cư, cậu ấy định quyến rũ con tôi thì tôi biết sống với ai.
    Và bà hàng quýt khóc. Tôi cầm bức thư đọc lướt. Đó là “tác phẩm ” của tôi, dưới ký tên Thạch Sanh là thi sĩ Sang Độc Lê Như Quỳnh hay Nguyễn Xuân Nhân? Rất may, chàng không ký tên cúng cơm của chàng. Tôi đứng lên, trịnh trọng:
  • Thưa bà hàng quýt, bà đã đọc tờ giấy này chưa?
    Bà hàng quýt đáp:
  • Tôi đâu biết chữ. Lục ở cạp quần con nhỏ, tôi thấy nó giấu kỹ cái của khỉ đó. Hạch hỏi nó, nó bảo của cậu gì trên này rủ nó tối nay ra Bùng Binh chợ Bến Thành.
    Tôi cười:
  • Trên này không có ai Thạch Sanh. Thạch Sanh đang bị Lý Thông nhốt dưới hang. Thưa bà hàng quýt, con gái bà nói dối bà đó. Đây là một tờ giấy nói về ngày rằm tháng bảy sang năm, mặt trời vỡ tan, quái vật xuất hiện ăn thịt mọi người. Ai không muốn bị quái vật ăn thịt phải chép giấy này thành mười bản gửi cho người khác, phải nói dối là thư hẹn hò và phải giấu ở cạp quần.
    Bà hàng quýt có máu dị đoan, tin liền Bà cám ơn tôi rồi xin lỗi rối rít. Lại hứa bán chịu quýt lu bù. Chờ Quỳnh về, tôi hỏi nó:
  • Mày gửi thư tình cho con gái bà hàng quýt, hả? Mày thuê ai đánh máy thế?
    Quỳnh chối phắt:
  • Tôi điên hay sao mà tán quỷ dạ xoa?
    Tôi bắt mọn:
  • May mà mày ký bút hiệu Thạch Sanh đó. Mẹ nó lên đây đòi xé xáx mày.
    Quỳnh thở phào:
  • Hú vía!
    Tôi nói:
  • Đừng hòng giấu tao. Tại sao mày tán con gái bà hàng quýt?
    Nó thú tội:
  • Tôi thí nghiệm mà, ” ông “.
  • Kết quả ra sao?
  • Tự nhiên nó tặng tôi ba trái quýt đường. Nó nhìn tôi say đắm. Thư tình của ông mầu nhiệm thật. Tôi gửi luôn em bán mực nướng, nó cũng ” ca đô ” tôi hai chú mực Bắc Hải! Hề hề, mửng này tôi sẽ gửi cho vài em bán thuốc lá, vài em bán kẹo, vài em bán nước mía là quà vặt tối ngày. Tôi tin chắc các em Trưng Vương sẽ yêu tôi. Tôi sẽ hách như ông.
    Nghe Quỳnh bày tõ niềm hân hoan, tôi sung sướng khôn tả. Tôi bèn tin tưởng ở khuynh hướng Sang Độc của tôi. Thơ văn Sang Độc đã chinh phục được quýt và mực nướng. Trong tương lai, nó sẽ chinh phục được lòng lợn. Và đó là văn nghệ dấn thân, văn nghệ phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp công nông, văn nghệ vị nhân sinh. Con đường văn nghệ của tôi rực rỡ vô cùng. Có vẽ văn nghệ hiện thực xã hội nữa đấy nhé! Tôi vững tin ở sứ mạng văn nghệ phục vụ các em bán quýt, bán mực nướng. Tôi cứ đi lên, đi xa…

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 19 Nov 2024

  1. Nhân vật “điên” trên sân khấu cải lương
    Trên sân khấu cải lương, nhân vật “ĐIÊN” thường được các nghệ sĩ “có tay nghề”, cho là một vai tuồng hết sức khó diễn cho hay, nhưng cũng không ít nghệ sĩ cho là loại vai dễ diễn nhất vì chỉ cần đầu bù tóc rối, mặc quần áo lòe loẹt “hỏng giống ai”, hát hò nghêu ngao hoặc hú la thất thường. Đào điên thì mặt dồi phấn thật trắng, má hường vẽ hai khoanh tròn trên gò má, đầu giắt bông hoa thật lớn, màu đỏ sậm hoặc trắng toát, y phục cũng in bông hoa lớn hoặc có hình vẽ chim cò, tay cầm chổi hay ôm con búp bê, chân đi lạng quạng, miệng hát ru em hay cười the thé…
    Phần lớn các nghệ sĩ này diễn theo các vai “điên” đã được thể hiện trên sân khấu hát bội thuở xa xưa (các thập niên 1920 – 1930), hoặc họ thấy vài người điên vì tình trên đường phố, rồi bắt chước cách ăn mặc, đi đứng, miệng hát lảm nhảm hay hú la để thể hiện vai tuồng điên của mình trên sân khấu.
    Ở Sài Gòn, sau năm 1975, có một cô gái điên rất được nhiều nghệ sĩ cải lương quen biết và đặt cho cô gái điên nầy biệt danh là cô Năm Tu Hít.
    Cô Năm Tu Hít vì lúc nào cô cũng đeo một cái tu hít trước ngực như trọng tài các trận túc cầu hay cảnh sát công lộ. Khi cô tỉnh, cô đọc sách, đọc báo và nói chuyện bằng tiếng Anh, tiếng Pháp rất giỏi vì cô nguyên là một nữ tiếp viên hàng không Việt Nam, có chồng là Thiếu Tá không quân, bị bắt đi học tập cải tạo và chết ở trại tù Hoàng Liên Sơn. Đêm đêm cô thường đi xem hát cải lương ở rạp hát Hưng Đạo. Lúc nào cô cũng mặc bộ y phục bằng hàng, lụa, có in hình những đóa hoa hồng nhung hoặc hoa hướng dương thật lớn, màu rực rỡ và luôn luôn có mang theo tu hít. Khi trên sân khấu, đào, kép đóng những pha mùi mẫn, ca vọng cổ, xáp lại ôm nhau thì cô Năm thổi tu hít thật lớn và hét lên: “Không được ôm! Đứng xa ra!”.
    Khán giả rất bực mình và các anh nhơn viên soát vé phải nhiều lần khuyên can, thậm chí có khi phải tạm thời giữ cái tu hít của cô ta và chỉ trả tu hít lại khi vãn hát.
    Cô ta nói:
    – Tại sao người ta bắt chồng cô ở tù, không cho gần gũi, ôm ấp cô ta? Bất cứ ai, ôm nhau trước mặt cô là cô thổi tu hít, biên phạt như cảnh sát công lộ phạt xe chạy ẩu trên đường phố.
    Khi mọi người hiểu được hoàn cảnh của cô, đều thông cảm cô. Về sau, cô xem hát và vẫn thổi “phạt” những pha đào kép ôm nhau. Khán giả cười, có khi vỗ tay tán thưởng hành động điên nầy của cô Năm Tu Hít.
    Tôi nhắc lại chuyện cô Năm Tu Hít để nói về một nữ nghệ sĩ (tôi xin không nói rõ tên vì đây là một chuyện thuộc về dĩ vãng đáng quên), đoàn cải lương Cửu Long 1 hát ở rạp Hưng Đạo, tuồng “Ai Làm Vua” của soạn giả Hoài Nhân có Vua bị tiếm ngôi, Bà Hoàng Hậu bị nhốt trong lãnh cung. Tên quyền thần vô lãnh cung định cưỡng hiếp bà nhưng khi ấy bà đã điên loạn. Khi tên quyền thần xáp tới, nắm tay bà Hoàng Hậu thì bà nầy giựt tay lại và móc cái tu hít đeo trước ngực thổi: “Dang xa ra! Không được ôm! “.
    Không ngờ đêm đó cũng có cô Năm Tu Hít coi hát, cô khoái quá, leo lên sân khấu, móc tu hít ra, thổi phụ với Hoàng Hậu trong tuồng. Tướng cạnh của Vua lại kéo cô vô cánh gà cho bên ngoài nghệ sĩ hát tiếp. Cô ta ghì lại và thổi tu hít lia chia như nói chuyện đối đáp với anh tướng cạnh. Cô diễn viên đóng vai Hoàng Hậu cũng quên là mình đang hát, tiếp tay cô Năm nói chuyện bằng “tu hít” khiến cho khán giả được một trận cười nghiêng ngả!
    Đoàn hát phải buông màn xuống, xin lỗi khán giả vì “Sự Cố” vừa rồi. Diễn viên đóng vai Hoàng Hậu “điên”, thổi tu hít là định bắt chước cô Năm Tu Hít và theo cô ta lý luận thì người điên thổi tu hít là một “hình tượng mới” có thể đưa lên sân khấu giống như kiểu những người điên gào, thét hay kêu hú như thú rừng.
    Hình tượng bà Hoàng Hậu điên thổi tu hít không được Đoàn hát và khán giả chấp nhận, cô diễn viên có sáng kiến “điên” này: Cô Sáu… được phong tặng danh hiệu cô Sáu Tu Hít. Cô bỏ nghề hát, mở một quán bán bún thịt nướng trong chợ An Đông.
    Trở lại chuyện nhân vật “Điên” trên sân khấu, trong nghệ thuật Hát Bội, không có vai nữ nào “điên thật ” mà chỉ có những vai nữ “giả điên” để qua mặt quân thù như các vai Phương Cơ trong vở Tam Nữ Đồ Vương, vai Xuân Hương trong vở Dương Chấn Tử, vai Kim Liên trong vở Ngũ biến báo phu cừu. Phải diễn sao cho khán giả thấy vai đào đang tỉnh phát điên. Đang buồn, đang lo bỗng phát cười lên hắc hắc, ngó dáo dác, chỉ trỏ mơ hồ rồi hát bài điên như sau: (tuồng “Mao Y Thần Cung”)
    Vui quá lắm… Vui quá lắm
    Để tao chơi… để tao chơi,
    Kìa ngựa xe như nước,
    Nọ áo quần như nêm
    Ợ Ợ…
    Kìa ma trêu trước cửa
    Nọ quỷ lộng sau hè
    Bớ bây ôi… bớ bây ôi,
    Tao sợ lắm… tao sợ lắm…
    Sầu tình, lan huệ đã phai màu,
    Do bởi vì ai khiến dãi dầu?
    Lan huệ buồn duyên, lan huệ héo
    Sông Tương mờ chảy, biết về đâu?
    (Đào điên ôm mặt khóc ngất, rồi lại cười hắc hắc)
    Bài hát điên chỉ tạo cái không khí “điên” để khởi đầu cho diễn viên diễn, khi quanh mình có quân lính bên nghịch thì cô điên tròng ghẹo lính, hát mời rượu rồi lại khóc,… (tuồng Ngũ biến báo phu cừu ) Cô Năm Nhỏ, Cô Năm Đồ, cô Kim Chắc hát những vai điên nầy thật hay, khi thì thấy như điên thật, khi thì thấy lộ rõ dụng ý qua mặt quân canh. Lời tục có câu “Giả dại qua ải” có lẽ bắt nguồn từ các cách hát giả điên qua ải của đào Kim Liên trong tuồng “Ngũ biến báo phu cừu” này chăng? Sau này các cô Thanh Thế, Xuân Yến, Kim Thanh, Ngọc Đáng, đều nổi danh qua các vai đào điên kể trên.
    Tôi còn nhớ nhiều diễn viên thành danh nhờ diễn vai “điên” trên sân khấu cải lương. Người đầu tiên là Út Trà Ôn nổi tiếng là “Danh ca vọng cổ”, rồi được gọi tặng là “Vua Vọng cổ” qua bài vọng cổ “Tôn Tẫn Giả Điên”. Tất nhiên là anh Út Trà Ôn ca rất nhiều bài hay, nhưng bài Tôn Tẫn Giả Điên là bài hát đầu tiên mà khán, thính giả khám phá ra khả năng thiên phú của anh khi anh diễn đạt các bài ca vọng cổ.
    Những người lớn tuổi, thích đọc truyện tàu, chắc còn nhớ “chuyện” Bàng Quyên – Tôn Tẫn”, đôi bạn học đạo cùng thấy là Quỉ Cốc Tiên ông. Tôn Tẫn được thầy truyền dạy Thiên Thư, biết phép hô phong hoán vũ, di sơn đảo hải…
    Bàng Quyên xuống núi trước, lại có tâm địa bất chánh nên không được Quỉ Cốc Tiên dạy phép mầu. Bàng Quyên dùng quyền thế, bắt chặt một bàn chân của Tôn Tẫn rồi giả nhân giả nghĩa hứa sẽ tha nếu Tôn Tẫn chịu chép quyển Thiên Thư truyền dạy lại cho hắn.
    Tôi xin chép lại một số câu của bài Vọng cổ “Tôn Tẫn Giả Điên”, và nói về cách ca của anh Út Trà Ôn:
    1/- Úy trời đất ôi ! Cái nỗi đoạn trường … cũng tại vì tôi quá tin thằng Bàng Quyên là bạn thiết, nên ngày hôm nay tôi mới ra nông nỗi.
    2/- Còn như công cuộc ngày hôm nay đây, bởi tôi không cẩn thận, nên bạn tôi đành chặt đứt một bàn chân tôi.
    3/- Khi mà tôi ở trên non, quyết tu tâm dưỡng tính, luyện thuốc trường sinh, mong thành chánh quả đặng tọa hưởng trên Bồ Đàn.
    4/- Nào hay đâu thằng Bàng Quyên nó lên năn nỉ ỷ ôi, lời ngon tiếng ngọt, nó nói rằng Chúa của nó là một đấng Mình Quân chơn mạng. Nên nó bảo tôi một một hai hai cũng phải xuống mà đầu hàng.
    5/- Trong khi ấy, tôi mới hạ san. Thầy tôi tặng cho tôi một bức cẩm nang, lại căn dặn tôi rằng, hễ mỗi khi lâm nàn thì mở ra xem, đặng liệu chước biến quyền.
    6/- Vậy thì, vọng nguyện tôn sư, khai thơ cứu mạng… ủa sao trong thơ không có điều chi lạ, chỉ có một chữ “Cuồng”.? phải rồi, thầy tôi bảo giả điên đặng có thoát thân.
    Anh Út Trà Ôn giọng rất trầm ấm, làn hơi mạnh bạo, tiếng ngân vang rất xa, khi anh gọi đến thầy: “Ớ này Quỉ Cốc tiên sinh thầy ôi!”, tiếng vút cao như tiếng gọi vong linh của những tay phù thủy khi đăng đàn réo hồn bắt quỷ, nghe nổi gai lạnh xương sống…
    Khi anh ca câu 9:
    9/- Không, không có thể nào ai mà biết tôi đâu. Tôi đây là con của trời, cháu của Phật, tôi là vua, là chúa, là tướng, là quân, là trù phòng tể nhục”.
    Trong một câu vọng cổ có tới 6 tiếng “là”, được anh Út Trà Ôn ca qua mỗi chữ “là” như có đổi âm sắc khác nhau, như khoe khoang, như tâm sự, người nghe cảm giác như người ca có cái vẻ hơi “tửng, tửng”, hơi điên điên, biểu lộ tâm trạng căng thẳng và thay đổi bất thường của nhân vật.
    Sau này, khi tôi làm trưởng Ban Phương Nam, ban cổ nhạc đài phát thanh Quân Đội, tôi có thu thanh lại bài Vọng cổ này để phát thanh, anh Bảy Quới, anh Thành Công, Anh Sáu Thoàng đều có ca thử và các anh công nhận là không thể ca hay hơn anh Út Trà Ôn về bài này.
    Sự thành công của anh Út Trà Ôn khi diễn đạt vai Tôn Tẫn “điên” thì phần diễn xuất điệu bộ, anh chỉ đạt được 3 phần 10 hiệu quả, còn phần ca, làn hơi, giọng ca và cách thể hiện, rõ ràng là anh lôi cuốn được khán giả trọn vẹn.
    Còn một nghệ sĩ thành công khi diễn vai “Điên” trên sân khấu, đó là Hề Ba Vân. Sau vai diễn để đời của anh trong tuồng “Khi Người Điên Biết Yêu”, anh được báo chí và khán giả tặng mỹ hiệu là Quái kiệt Ba Vân.
    Quái kiệt Ba Vân, tên thật là Lê Long Vân, sanh năm 1908, xã An Đức, Huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, đi hát từ năm 1924, gia nhập đoàn Tái Đồng Ban, rồi qua các gánh hát Tân Hí Ban, Quảng Lạc Ban ở Hà Nội (1927), Đoàn Phước Cương, đoàn Thanh Tùng, đoàn Năm Châu, đoàn Phụng Hảo, đoàn Con Tầm, đoàn Việt Kịch Năm Châu (1948), đoàn Năm Phỉ, đoàn Kim Chung Bầu Long, Đoàn Kim Thanh, đoàn Út Bạch Lan Thành Được… (65 năm đi hát).
    Quái kiệt Ba Vân nổi danh khi thủ diễn vai Phê trong vở tuồng “Khi Người Điên Biết Yêu” của soạn giả Trang, Châu, Nở.
    Tôi mê nhân vật Phê từ khi tôi được xem đoàn Việt Kịch Năm Châu trình diễn vở tuồng này năm 1948. Vở hát có tuổi thọ trên 50 năm, khi nhắc lại các vai diễn hay, để đời của các nghệ sĩ tiền phong, tôi tưởng cũng nên tóm tắt lại cốt chuyệr tuồng và vài đặc điểm về ca, diễn của tuồng đó.
    Tóm lược truyện tuồng “Khi Người Điên Biết Yêu” như sau:
    “Một cơn hỏa hoạn tàn phá khu lao động nghèo thuộc xứ mỏ Hòn Gai. Anh thợ máy Bạch cứu được một bé gái mồ côi đem về nuôi dưỡng và đặt tên là Bê.
    Mười sáu năm sau… Vợ Bạch bất hạnh lìa đời. Ông nhờ cô con gái nuôi (Bê) tảo tần buôn bán nên cũng sống yên ổn trong một ngôi nhà khang trang.
    Phê, con ruột của Bạch, tính tình ngông cuồng, thấy Bê có nhan sắc nên muốn lấy làm vợ. Bạch không bằng lòng nên Phê càng “giận trời, giận đất”, không nguôi dục vọng bất thường ấy.
    Bê đã có người yêu là một sinh viên nghèo tên Thi, nàng thường giúp đỡ tiền nong cho Thi ăn học.. Một hôm Bạch vắng nhà, Thi đến từ giã Bê để đi xa tìm cách lập nghiệp. Phê trông thấy, nổi ghen, xách dao hăm dọa Thi.
    Tình cờ Bạch say khướt, về nhà, chứng kiến việc Phê dọa giết Thi. Ông can thiệp, rầy mắng Phê. Phê nổi điên, cự lại với cha; chẳng may trong cuộc giằng co, ông Bạch té sấp, lưỡi dao đâm ngay bụng. Phê đổ cho Thi tội sát nhân.
    Thi bị lưu đày 15 năm, còn Bê vào tù vì tội đồng lõa. Bê thổ huyết, chết trong ngục. Phê hoảng sợ, phát điên, lang thang cùng trời cuối đất.
    20 năm sau, nơi mảnh đất xảy ra vụ án mạng năm xưa, người ta thấy một ngôi chùa được dựng lên. Một hôm, sư trụ trì đang thuyết pháp thì Phê xuất hiện, thóa mạ nhà sư. Thì ra nhà sư ấy chính là Thi, sau khi mãn hạn tù về, người yêu (Bê đã chết, Thi chán ngán sự đời nên đi tu)
    Còn Phê thì bị dày vò tội lỗi đến mức cuồng loạn tâm trí. Sự đối diện giữa lương tri và tội ác, phần lương tri đã thắng. Phê ăn năn và cũng là lúc Phê tàn hơi, mỏn sức, Phê giã biệt cuộc đời trong sự độ lượng của Thi.”
    Ba Vân diễn vai Phê, cái điên của Phê không dữ đội đến mức “đem cả làng Vũ Đại ra mà chửi như Chí Phèo”, Phê điên vì dục vọng bất thành, giằng xé, cắn rứt, rũ rượi đến tột cùng.
    Trong sự tuyệt vọng của một tình yêu câm nín, với nhân tính què quặt, Phê đã đứng ra làm vật cản giữa đôi tình nhân Thi và Bê. Trong lớp diễn này, Phê (Ba Vân) để đầu tóc rối bù, quần áo xốc xếch, trên đầu phủ một nón nỉ cũ rách. Phê mạt sát Thi “dám trộm hoa của tao”, cười sằng sặc, rú lên từng tràng. Mặt của Phê có vẻ ghê rợn và uất ức khi Phê ngửa mặt cười rú với trời, biểu hiện một lý trí đã đi hoang! Nhưng sự đau khổ lúc này chưa phải đã đến tột điểm, Phê, qua diễn xuất của Ba Vân, vẫn còn chút hơi ấm nồng nàn của tình cảm con người. Phê dịu dàng nói với Bê:
    “Em thật là tươi đẹp, là chứa cả những hoa đẹp trong vườn. Em nói anh điên à? Anh điên thật vì… vì em đó Bê à!”
    Phê gục mặt xuống, ngồi phịch xuống băng ghế, hai tay bưng đầu, khóc nức nở.
    Ghê rợn … Ghê rợn, tôi nghĩ là phải dùng tĩnh từ này để nói lên tâm trạng hoảng loạn của Phê qua diễn xuất của Ba Vân.
    Phê điên loạn vì mất đi môi trường đối thoại bình thường cho tâm hồn con người: tình yêu đối với Bê không bao giờ được đáp lại, không thể thuyết phục được sự ưng thuận của cha, không thể làm vật cản giữa Thi và Bê, cái chết của cha và của Bê do chính Phê là thủ phạm, lại là cái cớ để Phê đưa Thi vào tù.
    Khi mà tất cả những người có thể đối thoại bình thường với Phê bị loại trừ thì chỉ còn lại Phê với lương tâm của chính mình, giằng co, ray rứt, hoảng sợ đưa tới điên loạn, điên loạn trong sự cô đơn đến tột cùng.
    Anh Ba Vân đã đến nhà thương Biên Hòa để quan sát thái độ và sự phản ứng của những bệnh nhân mất trí khi họ không bằng lòng. Anh đã được bác sĩ phụ trách bệnh viện chỉ cho biết đây là người điên vì thất tình, kia là người điên vì mất tiền, bị tán gia bại sản. Cũng có những người điên vì uống lậm thuốc, hoặc giận quá hóa điên, vì thù oán hay điên vì bệnh di truyền.
    Anh nghiên cứu và tìm ra cách diễn cho nhân vật Phê, điên vì tình, vì oán hận, vì ăn năn, vì sự trừng phạt của lương tâm. Điên mà vẫn tỉnh trong nội tâm, tỉnh mà vẫn điên như nồi hơi bị ép tới phải nổ bùng: Khó diễn đạt nhưng khi thành công lại là sự thành công lớn của Ba Vân trong nhân vật Phê.
    Qua vai diễn người điên (Phê), anh Ba Vân đã đem: luồng gió mới vào lối diễn xuất theo khuynh hướng tả thực “Một sân khấu Đẹp và Thật” như chủ trương của anh Năm Châu.
    Người điên qua cách diễn của anh Ba Vân đã khắc họa hình tượng một người điên độc đáo, không giống với bất cứ người điên nào khác. Qua cách diễn tả thực, Ba Vân đả phá lối mòn diễn xuất “rập khuôn” như cách học truyền nghề trước đây của Hát Bội và Hát Bội Pha Cải Lương.
    Ba Vân được khán giả và ký giả kịch trường tặng cho mỹ hiệu Quái Kiệt Ba Vân nhờ công sáng tạo phương pháp kết hợp người mẫu có thực trong cuộc sống đời thường với nhân vật trong kịch bản để tạo thành một mẫu người có “tính cách và nhân cách điển hình” của sân khấu cải lương tuồng xã hội
    Anh Ba Vân từ trần năm 1984, an táng tại nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp, hưởng thọ 80 tuổi.
    Trên sân khấu cải lương cũng có những diễn viên thành danh qua một vai “Điên” như Thanh Sang trong vai Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, lúc ở Băng Hỏa Đảo, bị đui mù vì độc châm của Hân Tố Tố, phát điên vì nghĩ không ra bí mật Đồ Long Đao.
    Tạ Tốn đã khống chế Trương Thúy Sơn và định hãm hiếp Hân Tố Tố thì Trương Vô Ky mới được sanh ra, khóc thét lên. Tiếng con nít khóc đã đánh thức lương tri của Tạ Tốn. Ông kịp thời dừng lại trước khi phạm vào một tội ác tày trời.
    Thanh Sang đã diễn tuyệt hay, giữa tình trạng đang điên loạn và bất chợt nghe tiếng trẻ thơ khóc, Tạ Tốn đang dữ dội, bỗng ngơ ngác lắng nghe tiếng u ơ của trẻ thơ, rồi nở nụ cười thánh thiện của một người cha trước đứa con máu thịt vừa mới được sơ sinh.
    Thanh Sang đã diễn rất tinh tế, phản ứng trước tiếng cười trẻ thơ, vai Tạ Tốn lắng nghe và nở một nụ cười đôn hậu, hai nụ cười của trẻ thơ và của người già kết hợp nhau như có sức mạnh của một tia chớp chói sáng giữa trời, soi rọi tâm linh đen tối vì thù hận của Tạ Tốn: trong một cái chớp mắt đã làm nhạt nhòa thù hận giữa Tạ Tốn và Thành Khôn.
    Khán giả hồi hộp theo dõi coi Hân Tố Tố, Thúy Sơn và đứa bé sơ sinh có thoát khỏi cái chết vì sự điên loạn của Tạ Tốn không. Khi nghe tiếng trẻ thơ khóc và nụ cười tuyệt vời nở trên môi lão điên Tạ Tốn, khán giả đã vỗ tay ào ào, như họ trút được nỗi sợ hãi chết chóc nhờ ở nụ cười đúng lúc của Thanh Sang trong vai Tạ Tốn.
    Thanh Sang với nụ cười sáng giá này đã lãnh huy chương vàng giải Thanh Tâm năm 1964.
    Còn rất nhiều diễn viên thành danh nhờ diễn xuất vai “Điên” trên sân khấu cải lương như nghệ sĩ Vinh Sang đoàn Thanh Minh Thanh Nga với vai điên tên Thuyết trong tuồng “Mưa Rừng” của Hà Triều Hoa Phượng.
    Chị Ngọc Nuôi thành công với quá nhiều vai diễn, nhưng khi báo chí nhắc lối diễn xuất trong một vai để đời và rất khó của chị Ngọc Nuôi là nhắc lại khi chị diễn vai bà mẹ điên giết con mà đứa con bị giết là anh Việt Hùng thủ diễn trong tuồng “Chén trà của quỷ” của Nguyễn Phương. Cái điên vì tham tiền, cái điên loạn vì giết lầm con ruột của mình, cái điên vì chợt khám phá ra cuộc đời vô nghĩa khi mình đạt được tham vọng có bạc vàng mà mất cả tình thương, chị Ngọc Nuôi diễn hay đến độ khi chị nâng đầu đứa con (do Việt Hùng thủ diễn) chị kêu hai tiếng “Con ơi”, cả khán phòng bật tiếng khóc theo chị. Nếu chị diễn vai điên nầy “chưa tới” thì khán giả sẽ nhớ hai diễn viên đang đóng vai mẹ và con kia là hai vợ chồng ngoài đời. Tiếng gọi con thay vì gây xúc cảm, sẽ làm bật lên tiếng cười.
    Còn nữa… còn rất nhiều vai điên mà diễn viên khắc họa những nét rất thật, rất xúc cảm, tôi xin phép tạm dừng bút nơi đây vì nghĩ mãi những vai điên, tôi sợ cũng sẽ điên theo!.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 19 Nov 2024

  1. Nghệ sĩ Hồng Nga làm “mưa” trên không
    Trong các trạng hề, nữ quái, danh hài gái hiện nay Hồng Nga và Ngọc Giàu đứng đầu sổ là được nhiều khán giả ái mộ nhất. Cả hai đều thành công lớn trong mọi mặt ca, diễn, diễu trên sân khấu cải lương cũng như ở kịch nói hay phim vidéo.
    Trong cuộc đời đi hát thì Hồng Nga chịu nhiều lao đao lận đận hơn các bạn đồng nghiệp. Hồng Nga theo nghề rất sớm, chị xin theo gánh hát, đã từng làm tì nữ, làm quân hầu, làm vũ nữ rồi học ca, và muốn diễn được chị đã từng làm việc cho các đào hát như thể người ở, giặt quần giặt áo, chăm sóc tủ làm tuồng cho đàn chị để được chỉ bảo vài điệu ca, lối diễn.
    Nhắc đến Hồng Nga, có nhiều vai diễn để đời, nhưng có hai vai mà không ai hát hay hơn Hồng Nga, muốn bắt chước cũng không thể nào bắt chước được.
    Năm 1962, sân khấu cải lương chạy theo tiểu thuyết kiếm hiệp, đưa tuồng chưởng lên sân khấu.
    Nhân vật tuồng kiếm hiệp là những kiếm sĩ cô đơn, khung cảnh chung quanh là mưa gió bão bùng hay sa mạc khô cháy, họ đuổi theo những mối tình vời vợi như ảo ảnh. Khung cảnh lãng mạn trữ tình là những miếng đất dành cho những giọng ca ai oán não nùng. Hồng Nga có giọng ca trời cho, nên khi đoàn Dạ Lý Hương của Bầu Xuân dự định quay phim cải lương kiếm hiệp “Cô Gái Đồ Long” thì Hồng Nga được phân vai Kim Hoa Bà Bà, một vai có ca vọng cổ, phi thân và đánh chưởng.

Bầu Xuân rước thầy Tàu trong nhóm múa lân ở ngang rạp Thủ Đô về dạy đánh kiếm, đánh côn. Hồng Nga vai Kim Hoa Bà Bà, nên xử dụng cây côn đầu rồng, đánh với Hùng Cường (vai Trương Vô Kỵ) Khi tập thử thì không sao, đến khi ra sàn diễn thu hình thu thanh thiệt thì lần nào Hồng Nga cũng múa gậy phang ngang, trúng ống quyển của Hùng Cường. Anh nầy vừa đau vừa giận, bỏ về không thèm thu hình nữa. Bộ phim kéo dài nhiều ngày, đạo diễn Lê Hoàng Hoa và Bầu Xuân kêu trời vì sợ lỗ lã.
Cuối cùng đạo diễn Lê Hoàng Hoa bố trí cho vai Kim Hoa Bà Bà khi gặp Trương Vô Ky thì phóng ám khí rồi phi thân mất dạng. Chỉ gặp Chu Chỉ Nhược (Kim Ngọc thủ vai nầy) thì Hồng Nga Kim Hoa Bà Bà mới ca vọng cổ với Kim Ngọc Chu Chỉ Nhược.
Sắp xếp như vậy thì Hùng Cường chịu quay phim. Khung cảnh được chọn lựa là khu mộ của gia đình chú Hỏa ở đường đi Thủ Đức, nơi đó có nhiều cổ thụ, một nơi có thể căn giây cable để rút cho các tay kiếm sĩ bay, phi thân hoặc đánh chưởng.
Về phần kỹ thuật cột giây bay, cách kéo giây bay, tôi chịu trách nhiệm chỉ cho các anh dàn cảnh làm nên tôi tới điểm diễn trước để kiểm soát và cho một anh dàn cảnh “bay” thử để bảo đảm an toàn. Tới nơi thì tôi thấy Hùng Cường đã tới trước, đang chuyện trò vui vẻ với các anh dàn cảnh. Tôi yên chí là phen nầy sẽ thu hình được các phân đoạn có cảnh bay.
Bầu Xuân, đạo diễn Lê Hoàng Hoa và caméraman Đường Tuấn Ba tới quan sát coi ánh sáng buổi đó khi thu hình thì giây bay có lọt vào ống kính không?
Ông thầy Tàu dạy võ cùng tới một lượt với Kim Ngọc, Hồng Nga, Ngọc Giàu và Thanh Sang. Mọi người đã được hóa trang. Thanh Sang vai Tạ Tốn Kim Mao Sư Vương. Ngọc Giàu vai Triệu Minh.
Chúng tôi còn đứng giữa sân quay, dưới làn giây cable kéo bay vì mọi người cũng muốn quan sát khi bay thì sẽ bay từ đâu tới đâu. Hồng Nga hóa trang xong, đã mang bộ giây bay bên trong làn áo của Kim Hoa Bà Bà.
Anh chín Siểng xếp dàn cảnh đã móc giây cable vô móc sắt trên lưng Hồng Nga. Anh kéo nhẹ nhẹ thử coi giây móc chắc chưa.
Lê Hoàng Hoa đang cầm loa giải thích cho Kim Hoa Bà Bà và Trương Vô Ky nghe lớp đó diễn như thế nào, bất thình lình Hùng Cường la thật lớn: “Bay!”. Mấy anh dàn cảnh tưởng là có lịnh đạo diễn, ba người nắm giây kéo một cái thật mạnh rồi họ chạy xa vô trong để kéo Kim Hoa Bà Bà bay lên cổ thụ.
Hồng Nga đang đứng lắng nghe giải thích của đạo diễn, bỗng bị giựt bay vút lên trời, hết hồn la “Úy chết mẹ tôi rồi.
Cô sợ quá, “Tè” ra ướt quần. Cô bay ngang qua đầu Lê Hoàng Hoa, Bầu Xuân, ông thầy Tàu và các bạn Thanh Sang Ngọc Giàu, Kim Ngọc …
Nước…như mưa, khai mùi ạt-mô-nhắc rưới dài theo giây bay. Mọi người lấy tay che đầu, chạy tán loạn tránh cơn mưa “nước tè” đó.
Hồng Nga khóc ồ ồ trong khi mọi người ôm bụng lăn ra mà cười!
Hùng Cường khoái chí vì chơi Hồng Nga một vố đau, trả được cái thù Hồng Nga phang gậy vô chân anh ta. Hùng Cường còn chạy tới, biểu Bầu Xuân đưa đầu cho anh ta ngửi thử coi có được xức dầu thơm của Hồng Nga không.
Bầu Xuân cái mặt xanh dờn, vừa tức cười vừa tức giận, ông ta không dám cự Hùng cường vì Hùng Cường đang là kép ăn khách nhất của đoàn. Ông nói:
– Hùng Cường lại dỗ Hồng Nga đi, cổ khóc một hồi khan tiếng, hết ca vọng cổ đó.
Hồng Nga vừa khóc vừa cười, nói:
– Để tôi thay cái quần đã rồi quay tiếp. Thằng cha Trương Vô Ky tới là tôi đá. . cái hộc máu.
Đây là vai tuồng “Làm mưa” độc đáo của Hồng Nga mà không ai bắt chước được.

Vai tuồng để đời: Hồng Nga trong vai cố mẫu.
Tôi đã xem Hồng Nga diễn rất nhiều vai trên sân khấu Dạ Lý Hương, trên truyền hình và sau nầy trên các băng video. Hồng Nga là diễn viên “đa năng, đa diện”. Cô đóng các vai đào mùi, đào lẳng, đào độc, mụ mùi, vai Hoàng Hậu, võ tướng đều giỏi. Sau nầy diễn nữ hề, giựt giải “Cù Nèo Vàng”, giải “Những nữ hề hay nhất. Tuy nhiên chỉ có một vai mà chưa ai thay thế bằng, đó là vai bà cố mẫu trong tuồng Dương Vân Nga của Hoa Phượng.
Cốt truyện tuồng lớp đó như sau:
Bà cố mẫu Hồng Nga đang nghe lời xúc xiểm của Đinh Điền, Nguyễn Bặc, sợ Dương Vân Nga trao quyền cho Lê Hoàng, đưa giang sơn cho giòng họ khác. Bà rất tức giận. Tì nữ dâng trà thì Dương Vân Nga tới. Bà cố mẫu (Hồng Nga) từ từ quay lại, bưng tách nước đổ xuống nền đá. Dương Vân Nga sửng sốt.
Bà cố mẫu Hồng Nga nhìn theo những giọt nước vừa đổ xuống, cất giọng lạnh như băng:
“Nước đã đổ rồi, có hốt lại được đâu. Hẳn là con dâu của mẹ cũng nghe qua lời xưa tích cũ. Kìa… nước thấm thềm hoa, nước đi vào lòng đất để tìm lại gốc cũ người xưa. Con ôi, nguồn cội họ Đinh, xuất phát từ nơi mẹ vừa đổ nước. Trên mảnh đất ướt mà mẹ con ta đang đối mặt nhìn nhau. Nơi đây bây giờ cửa cuốn rèm che, chớ trước kia là hang sâu động thẳm, nơi mà người mẹ góa đầu đội mưa nguồn, chân leo dốc vắng, tháng ngày lặng lẽ, thắt lưng buộc bụng lầm lũi nuôi con cho đến khi con khôn lớn nên…
(Vọng cổ)…Người… Chung quanh ta xưa kia hoa lau san sát non ngàn. Nhớ thuở thằng bé bẻ lau làm cờ tập trận. Trâu thả lưng đèo, vắt vẻo tiếng sáo khuya, chỗ nầy xưa kia chỉ là mái tranh nghèo, gió lùa vách núi từng cơn, mẹ góa con côi, sống kiếp mục đồng, học điều nhân nghĩa…”
Lối diễn của Hồng Nga rất cô đọng, súc tích. Sân khấu lặng trang, khán giả nín thở theo từng câu ca, từng hơi thở của Hồng Nga và bị cuốn hút vào cái cổ kính trang nghiêm của một thời lịch sử xa xưa. Tôi thấy sau câu Hồng Nga ca, cả rạp hát bùng nổ những tràng pháo tay như mọi người chợt tỉnh sau một cơn xúc động sâu xa. Tôi nghe lại băng vidéo để ghi lại câu ca nầy của Hồng Nga, tôi vẫn cảm thấy còn xúc động bàng hoàng như đang ngồi giữa rạp hát, lắng nghe giọng ca vàng và điệu hát quyến rũ của Hồng Nga.
Một vai để đời…một vai không ai thay thế được của Hồng Nga.

“Vâng! chúng tôi hãnh diện đã có một cấp chỉ huy như thế!”

baovecovang2012.wordpress.com
(Phạm Tín An Ninh)
Posted on December 4, 2020 by Lê Thy
(Viết để tưởng niệm Đại Tá Nguyễn Bá Thịnh)

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

Đại Tá Nguyễn Bá Thịnh 1973

Sau Tết Mậu Thân, khi vừa đánh thắng nhiều trận lớn, giải tỏa thành phố Phan Thiết trong vòng vây và tiêu diệt toàn bộ đám Cộng quân xâm nhập, đơn vị tôi đón mừng một vị trung đoàn trưởng mới. Ông được Đại Tá Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn xin bổ nhậm và đích thân đưa đến bản doanh của Trung Đoàn tại Sông Mao, để bàn giao với vị tiền nhiệm. Ông đến nhậm chức với duy nhất một cái “xắc ma-ranh” vác trên vai, trông giống như anh chàng tân binh vừa lãnh quân trang ở một quân trường nào đó.
Buổi lễ bàn giao đơn giản nhưng rất trang nghiêm, dưới sự chủ tọa của vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Sau khi tiễn đưa ông cựu trung đoàn trưởng theo ông Tư Lệnh lên trực thăng bay đi, tất cả được lệnh “thao diễn nghỉ” để nghe vị tân Trung Đoàn Trưởng ban chỉ thị:
Điều trước tiên mọi người lưu ý là ông rất nhỏ con, nhưng đôi mắt sáng quắc, có nhiều uy lực, tướng đi nhanh nhẹn. Tóc cắt ngắn ba phân, để lộ từ trên đầu sau vành tai bên trái một vết sẹo láng bóng làm tăng thêm cái uy dũng của một người từng dạn dày trận mạc.
Sau khi được vị trung đoàn phó trình diện hàng quân, ông đi quanh một vòng bắt tay các sĩ quan thuộc bộ chỉ huy trung đoàn và các đơn vị trưởng. Ông đi đứng, bẻ góc, dậm chân, đằng sau quay, và chào hỏi rất đúng quân cách. Bọn tôi không mấy ngạc nhiên vì đã được biết, trước khi thuyên chuyển về đây, ông từng là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn SVSQ của Trường Võ Bị QGVN, một quân trường nổi tiếng tại Vùng Đông Nam Á. Nhưng ngay sau đó ông lại làm chúng tôi ngạc nhiên với câu hỏi đầu tiên của ông:
-Các anh có biết tôi đi lính từ cấp bậc gì không?
-Thiếu úy! – một sĩ quan lên tiếng.
-Sai!
-Trung sĩ! – một sĩ quan khác trả lời.
-Cũng sai!
-Binh nhì – một anh tiểu đoàn trưởng, tốt nghiệp từ Trường Võ Bị, tỏ ra biết ít nhiều về ông.
Nhưng rồi tất cả, từ quan tới lính, đều ngơ ngác khi nghe ông bảo:
-Cũng chưa đúng!
Im lặng một lúc, để gợi thêm sự tò mò, ông lên giọng nói lớn:
-Binh ba!
Rồi tự giải thích:
-Đúng như thế! Binh nghiệp của tôi đi lên từ cấp “binh ba”. Vì khi vào lính nhảy dù, tôi chưa được cho đi đánh nhau mà phải làm hỏa đầu quân, tức là thằng nấu bếp, rồi sau đó làm “ô đô” cho ông đại đội trưởng Đỗ Cao Trí.
Giải thích xong, ông ngẫng mặt lên và cao giọng:
-Tất cả các anh nên hãnh diện là đang có một cấp chỉ huy như thế!
Phải công tâm mà nói, từ khi ông về chỉ huy, Trung Đoàn đã thay đổi khá nhiều, từ cách tổ chức, sinh hoạt tới chiến thuật phòng thủ, hành quân. Nhưng song song với việc tạo cho đơn vị một khí thế mới để vươn lên, trở thành đơn vị ưu tú với nhiều chiến công hiển hách, ông cũng đã để lại rất nhiều giai thoại, mà đến hôm nay, mỗi lần anh em cùng đơn vị xưa có dịp gặp nhau luôn nhắc tới. Ngày xưa, đó chỉ là những mẩu chuyện vui để cùng cười, nhưng bây giờ tất cả trở thành những kỷ niệm mang theo nhiều cảm xúc.
Trước tiên phải công nhận là ông rất liêm khiết, công minh. Ngay cả cái xe jeep của ông cũng đích thân ông ký giấy nhận xăng, và mỗi khi xong công việc, tài xế đưa ông về trước tư thất rồi quay lại đậu trước văn phòng. Vợ con ông không được phép ngồi trên xe, chứ đừng nói đến việc xử dụng. Ông không hề dùng một người lính nào cho gia đình hay trong công việc riêng.
Trong đơn vị có anh Hoàng Văn An, sau khi tốt nghiệp Khóa 20 VB cũng được bổ sung về Trung Đoàn. Anh An là em (thúc bá) của vợ ông. Khi anh An còn là SVSQ thì ông đang là Liên Đoàn Trưởng LĐ/SVSQ. Một lần đi phép về trễ một ngày, anh An bị ông gọi lên văn phòng bảo: “Nếu là SVSQ khác tôi tha, nhưng vì chú là em nên tôi phạt chú 7 ngày trọng cấm!” (Sau này anh An cho biết đó là 7 ngày trọng cấm duy nhất trong hồ sơ quân bạ của anh)
Với các sĩ quan già, ông xưng hô “ông, tôi”, nhưng với mấy thằng sĩ quan trẻ như bọn tôi, ông chỉ gọi “mày” hoặc “chú mày” và xưng “tao” như em út trong nhà. Sau một cuộc hành quân, ông thường mời tất cả sĩ quan thuộc BCH Trung Đoàn và các đơn vị đóng chung quanh, dùng cơm với ông. Điều đặc biệt là đích thân ông đi chợ, lựa và mua cá, mua rau. Món ông thích nhất là cá rô chiên. Được ông mời ăn cơm phải nói là một cực hình. Nhưng không ai có thể vắng mặt bởi ông sẽ điểm danh. Nói là mời nhưng phải xem đó là lệnh. Trong bữa ăn ông thường luận về các món ăn dân giả và cách nấu nướng. Có một lần anh đầu bếp không hiểu ý của ông, đánh vảy, chặt vi mấy con cá rô, chiên vàng xong mang bày lên bàn, bay mùi thơm phức, nhưng rồi bọn tôi bất ngờ tròn mắt, khi ông ném cả đĩa cá vào sọt rác và la cho một trận! Ông bảo, con cá rô mà mất vảy và cái vi thì còn ăn cái gì?
Lâu lâu ông cũng mời một số sĩ quan tham mưu cũng như các tiểu đoàn trưởng đến tư thất của ông dùng cơm. (Tư thất là một villa khá đẹp nằm trong doanh trại do Sư Đoàn 5 của Đại Tá Wòng A Sáng để lại). Các bữa cơm do chính tay vợ chồng ông nấu nướng. Điều làm chúng tôi ái ngại nhất, là phu nhân của ông không được ngồi chung mà là người hầu bàn. Hầu bàn chính hiệu chứ không phải làm cảnh. Bà đứng sau lưng, rót nước, xới cơm vào bát và đưa cả từng tấm giấy lau miệng cho “thực khách”. Bà là một người đàn bà có nhan sắc, phúc hậu và là một “phu nhân” hiếm hoi mà tôi đã gặp trong cuộc đời binh nghiệp. Bà không hề biết (và có lẽ không được quyền biết) bất cứ điều gì của đơn vị. Cả đám sĩ quan bọn tôi ngồi trong bàn ăn, bà không biết cả tên và ai đang giữ chức vụ gì. Chúng tôi rất nể phục bà, nhưng cũng thấy tội nghiệp cho bà. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, giá mà vị “phu nhân” nào cũng như bà thì quân đội và đất nước mình có lẽ đã khá hơn.
Trong bữa ăn, ông cũng thường kể về cuộc đời và binh nghiệp của mình, đôi lúc có chút xúc động nhưng luôn với niềm hãnh diện:
-Các anh biết tại sao tôi nhỏ con như vầy mà được đi lính nhảy dù không?
-Có lẽ trung tá nhanh nhẹn và gan dạ! – một sĩ quan trả lời
Ông cười, xuống giọng:
-Gan dạ cái con khỉ! Quê tôi ở tận Hòa Bình, ngoài Bắc. Lúc nhỏ nhà nghèo. Sau khi học hết bậc tiểu học, tôi phải tạm ở nhà phụ bố ra đồng. Nhà tôi ở gần một cái đồn lính Pháp, lại là một đơn vị Nhảy Dù. Một hôm, ông đại úy đồn trưởng gặp tôi, thấy tôi nói giỏi tiếng Pháp, ông thích thú và quí mến, nên sau đó ông thường ghé lại nhà tôi chơi. Có lần ông hỏi tôi thích cái gì ông sẽ cho. Tôi bảo, tôi chỉ muốn đi lính Nhảy Dù. Vậy mà ông gật đầu ngay. Thế là tôi trở thành thằng lính Nhảy Dù! Sau đó, tôi được bổ sung về đại đội do một sĩ quan Viêt nam làm đại đội trưởng. Đó là Trung Úy Đỗ Cao Trí. Thấy tôi nhóc con, nên ông đại đội trưởng cho tôi vào toán đầu bếp, và sau đó lấy tôi theo làm “ô đô” cho ông. Trong một lần bị phục kích, địch tràn cả vào ban chỉ huy đại đội, tôi xông vào đánh cận chiến, giết chết mấy thằng, giải vây cho ông. Tôi được lên hạ sĩ và trở thành “gạc đờ co” của ổng. Khi lên Đại úy đi làm tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 19 Việt Nam (tiền thân của Tiều Đoàn 6 Nhảy Dù), ông dắt tôi theo làm tiểu đội trưởng thám báo, đánh bao nhiêu trận ngon ơ, được lên hạ sĩ nhất, rồi trung sĩ. Sau này chính ông giới thiệu, để tôi được nhận vào Khóa 9 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
Giống như Tướng Đỗ Cao Trí, ông rất lưu tâm tới hàng hạ sĩ quan (từ cấp bậc hạ sĩ). Ông gần gũi, chăm lo đời sống và thỉnh thoảng tập trung họ lại để nói chuyện, tâm tình, trao đổi kinh nghiệm chiến trường và việc chỉ huy tiểu đội. Ông thường bảo chúng tôi:
-Bọn mày phải nâng đỡ đám hạ sĩ quan này, nhưng cũng phải để ý học hỏi kinh nghiệm của họ. Chính cấp tiểu đội, trung đội mới quyết định chiến trường!
Ông nói tiếng Anh giọng Bắc, không giỏi lắm, bất chấp cả văn phạm, nhưng các cố vấn Mỹ đều hiểu và nể ông ra mặt. Gặp ông là tất cả đứng nghiêm chào. Ông bảo gì họ cũng nghe. Có lần ông nói thẳng với mấy tay cố vấn Mỹ:
-Các anh đến đây là để giúp chúng tôi những gì chúng tôi cần, còn chuyện đánh nhau là chuyện của chúng tôi. Các anh đừng xía vào. Đánh bọn du kích VC mà đánh theo kiểu Mỹ của các anh là hỏng!
Ông ra lệnh tất cả sĩ quan phải nói được tiếng Anh. Không biết phải học. Nói sao cho Mỹ nó hiểu là được. Nhờ vậy mà anh Cố vấn trưởng nghe theo đề nghị của ông, tổ chức ngay một số lớp dạy Anh văn cho tất cả các sĩ quan, đặc biệt về phương pháp đàm thoại và cách liên lạc, hướng dẫn các phi công oanh tạc cơ của Hoa Kỳ.
Bản doanh Sông Mao nằm giữa Phan Rang và Phan Thiết, nhưng đường bộ mất an ninh. Ông muốn mỗi tuần phải có hai chuyến Chinook để chở lính đi phép và cho gia đình binh sĩ được ra phố mua sắm, học hành. Vậy mà chỉ mấy ngày sau là anh Cố vấn trưởng lo xong.
Không biết vì sao Tướng Peers, Tư Lệnh Các Lực Lượng Quân Sự Mỹ tại Cam Ranh, biết thành tích đánh giặc và cả sự liêm khiết của ông, nên lâu lâu ghé lại Trung Đoàn thăm và hàn huyên với ông. Tướng Peers thường đưa ngón tay cái lên nói đùa với bọn tôi: các anh có một ông “boss” rất tuyệt vời!
Đầu năm 1969, trong kế hoạch “tự lực tự cường”, Bộ TTM ban hành chỉ thị, mỗi đơn vị phải thành lập một trại chăn nuôi, Trung Đoàn có một trại chăn nuôi khá lớn, do một vị thiếu úy lớn tuổi (thăng tiến từ cấp binh sĩ) trông coi với hơn 20 lao công đào binh. Trại chăn nuôi thống thuộc Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ.
Một hôm cả BCH Trung Đoàn và các sĩ quan từ cấp đại đội trưởng trở lên, được Ông Tỉnh Trưởng Bình Thuận mời khoản đãi vì Trung Đoàn vừa phối họp với Tiểu Khu trong một chiến dịch bình định, đánh tan các đơn vị Cộng quân hoạt động trong phạm vi của tỉnh. Tất cả tập trung tại Căn cứ Trinh Tường (Trung Đoàn dùng làm hậu trạm) để đi đến tòa tỉnh. Trên đường đi, ông bất ngờ thấy bên vệ đường có một người đang thả heo giống. Ông ra lệnh dừng lại, xuống xe và đứng xem. Bọn tôi rất ngượng ngùng còn ông thì cứ tỉnh bơ quan sát. Cuối cùng ông khen con heo (đực) tốt và ra lệnh cho anh trung úy đại đội trưởng CHCV thương lượng với người chủ để mướn. Sau buổi tiệc ông dùng trực thăng cho anh đại đội trưởng chở con heo và người chủ bay về hậu cứ Sông Mao để gây giống cho trại heo. Chúng tôi có một trận cười đến nôn ruột, và thấy tội nghiệp cho anh đại đội trưởng rất “mô phạm” vì là một giáo sư trung học bị đông viên vào Khóa 16 Thủ Đức. Nhưng sau này trại heo đã thu nhiều lợi nhuận vì sản sinh rất nhiều heo con béo tốt. Được chọn là trại chăn nuôi “kiểu mẫu” của Quân Đoàn II&QK2. Chúng tôi càng kính phục ông hơn.

Tr. Tá Đào Văn Hùng
Vào khoảng giữa năm 1969, Ban Truyền Tin nhận một cuộc điện thoại (qua hệ thống siêu tần số) trực tiếp từ văn phòng Đại Tướng Cao Văn Viên, TTMT, lệnh cho Trung Đoàn, cho xe ra sân bay Sông Mao để đón một vị trung tá, thuyên chuyển đặt thuộc quyền xử dụng của Trung Đoàn. Thấy một việc bất thường, ông Trung Đoàn Trưởng gọi lại, thì được văn phòng TTMT cho biết: “đó là Trung tá Đào Văn Hùng, Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù. Ông uống rượu ngà ngà say, đến tìm Đại Tướng để phản đối về việc xử dụng Nhảy Dù của ông không đúng chỗ. Ông khá thân thiết và được đại tướng Viên trọng nể khi còn ở Nhảy Dù. Thấy ông say và lớn tiếng, Đại Tướng bỏ đi ra ngoài, ông Trung tá Nhảy Dù (có lẽ do say quá) la hét một chặp rồi cởi bộ đồ nhảy dù vất trên bàn bảo trả lại cho Đại Tướng. Đại Tướng giận quá, ra lệnh dùng máy bay riêng của Đại Tướng và cho hai Quân Cảnh “áp tải” ông thẳng ra Sông Mao giao cho Trung Đoàn. Lệnh bổ nhiệm sẽ do Phòng Tổng Quản Trị gởi đến sau. Máy bay đã cất cánh hơn nửa tiếng rồi.”
Ông Trung Đoàn Trưởng vội vàng ra lệnh cho các sĩ quan thuộc BCH tháp tùng ông ra phi trường chào đón Trung tá Hùng, ông cũng cho gọi cả anh lính kèn đi theo. Khi máy bay đáp xuống, Ông và tất cả sĩ quan đứng thành một hàng dọc, đích thân ông chỉ huy dàn chào, có cả kèn thổi “nghênh đón thượng cấp”. Điều đặc biệt làm chúng tôi ngạc nhiên hơn là ông đứng nghiêm trình diện Trung tá Hùng, với cả cấp bậc, số quân, như một tân binh hay một SVSQ trong quân trường:
-Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, số quân 48/300340 trình diện Trung Tá!
Vẫn trong thế đứng nghiêm, ông mời Trung Tá Hùng lên xe ông, còn ông thì đi chung xe với chúng tôi về doanh trại. (Tôi chưa thấy ông lái xe bao giờ). Đến nơi, ông hướng dẫn Trung tá Hùng lên nghỉ ngơi uống nước tại văn phòng Trung đoàn trưởng. Ra lệnh cho anh Đại đội trưởng CHCV sang tư thất của ông, cùng ông đích thân dọn dẹp và dành căn phòng của vợ chồng ông cho Trung tá Hùng. Ông bà dọn sang phòng nhỏ phía sau. Nhưng khi ông sang mời Trung tá Hùng về tư thất, thì Trung tá Hùng quyết liệt từ chối, bảo ông chỉ xin một cái ghế bố và sẽ ở trong Trung Tâm Hành Quân (Trung Đoàn có một TTHQ khá lớn và kiên cố).
Bọn tôi bàn tán với nhau, không ai hiểu cung cách đối xử kỳ lạ của hai ông trung tá. Ông Trung Đoàn trưởng thì lại đứng nghiêm đưa tay chào từ xa, mỗi lần gặp ông Trung tá vừa thuyên chuyển tới đặt dưới quyền chỉ huy của mình. Ngược lại ông Trung tá Nhảy Dù cũng một điều kính thưa, hai điều kính thưa ông Trung tá Trung đoàn trưởng?
Đến chiều, Trung Tá Thịnh ra lệnh cho anh đại đội trưởng ĐĐCH đích thân sang tư thất của ông mang cơm chiều sang cho Trung tá Hùng. Lúc ấy ông gọi chúng tôi lại để dặn dò:
-Các chú mày phải lễ phép và lo lắng thật chu đáo cho Trung Tá Hùng. Ông là ông Thầy của tao. Ngày trước khi ông là đại đội trưởng Nhảy Dù, thì tao là thằng Hạ sĩ 1 mang máy và làm tiểu đội trưởng cho ổng. Ổng đánh giặc khỏi chê, nổi tiếng từ thời Pháp cho đến bây giờ. Mấy thằng Tây, kể cả sĩ quan, mà lôi thôi là bị ông chửi như tát nước vào mặt. Khi Đại Tướng Cao Văn Viên còn trung tá, làm Lữ Đoàn Trưởng Nhảy Dù thì ông Hùng đã là một tiểu đoàn trưởng xuất sắc mà ông Viên rất nể nang.
Ông không giao cho Trung tá Hùng bất cứ công việc gì. Nhiều lần Trung tá Hùng yêu cầu phải giao cho ông một công việc, bất cứ việc gì cũng được. Nhưng ông Trung đoàn trưởng lại đứng nghiêm:
-Xin Trung tá làm cố vấn cho tôi.
Trung tá Hùng lại dậm chân, than phiền:
-Tớ đi lính là để đánh giặc chứ đếch biết làm cố vấn cố véo gì sấc! Trung tá quên tớ là thằng “Cai Hùng” Nhảy Dù à?
Ông Trung đoàn trưởng lại đứng nghiêm:
-Thôi, xin Trung tá thấy thích làm cái gì thì làm!
Cuối cùng Trung tá Hùng nhận một công việc không có trong bản cấp số: Sĩ quan thường trực tại Trung Tâm Hành Quân. Ăn ngủ tại chỗ. Có mặt 24/24!
Kể từ hôm ấy, Trung Tá Thịnh cũng cho kê một cái ghế bố trong TTHQ để ngủ với Trung Tá Hùng.
Một hôm, vào khoảng 2 giờ sáng, Việt Cộng pháo kích vào BCH Trung Đoàn. Nhờ có máy nhắm hồng ngoại tuyến mới được trang bị, một vọng gác phát hiện đặc công xâm nhập vào doanh trại. Ông giao việc điều động cho Trung Tá Hùng, rồi đích thân chỉ huy hai toán Viễn Thám đi lùng, giết hơn 20 tên đặc công bằng lựu đạn và bắt sống 3 tên khác, đang tìm cách chui qua hàng rào phòng thủ. Trung tá Hùng thì leo lên nóc TTHQ lắng nghe tiếng “depart” để xác định vị trí súng cối địch, cho Pháo Binh phản pháo chính xác, sau đó 2 chiếc cobra do cố vấn Mỹ điều động kịp thời đến mục tiêu xạ kích. Đại Đội Trinh Sát được lệnh truy kích, thu được 2 súng cối 82 ly, 2 ống phóng hỏa tiễn và một số súng cá nhân, hơn 15 xác địch còn bỏ lại trận địa. Trận phản công chớp nhoáng và chính xác với thắng lợi hoàn toàn, bên ta vô sự. Đúng là chiến công của hai ông trung tá gốc Nhảy Dù!
Những lúc tâm tình với chúng tôi, Trung Tá Hùng cũng đã hết lời ngợi ca Trung Tá Thịnh. Ông thường bảo:
-Ông Trung đoàn trưởng là một tay đánh giặc rất “lì” và chỉ huy rất “chì” trong binh chủng Nhảy Dù. Trong cấp tá, ông là người có nhiều huy chương nhất, chỉ sau ông Sơn Thương. Hình như trên 20 cái nhành dương liễu, sao vàng sao bạc đếm không hết, còn chiến thương bội tinh thì cũng hơn 10 cái!
Rồi ông đùa:
-Bao nhiêu lần đã tưởng ông đi đứt, nhưng có lẽ nhờ nhỏ con quá nên đạn bắn không trúng!
Khoảng hai tháng sau, chiếc máy bay riêng của Đại Tướng Cao Văn Viên bay trở lại Sông Mao. Lần này thay vì hai anh Quân Cảnh, thì chở theo hai sĩ quan Nhảy Dù để đón Trung tá Đào Văn Hùng về lại Sư Đoàn Dù. Nhưng chỉ sau đó một thời gian, (chính Trung tá Thịnh cho biết), ông bị ra khỏi binh chủng, về một đơn vị bộ binh, rồi bị tai nạn xe hơi nên mù mắt và ngã bệnh đến gần như mất trí nhớ.
Sau này, bọn tôi được biết Trung tá Đào Văn Hùng cũng là một người rất đặc biệt đã tạo nhiều giai thoại trong binh chủng Nhảy Dù. Ông là sĩ quan lớn tuổi và rất thâm niên trong Nhảy Dù, thường thích nhận mình là “Cai Hùng”, như niềm hãnh diện về một thời trai trẻ khi còn là một anh hạ sĩ trong lực lượng nhảy dù Pháp, và người ta đặt thêm cho ông cái tên “Hùng Gà” vì ông rất mê đá gà. Những năm giữa thập niên 1960, ông đã từng là Lữ Đoàn Trưởng có tiếng của Nhảy Dù.
Thời Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh làm trung đoàn trưởng, Tướng Trương Quang Ân là Tư Lệnh Sư Đoàn. Có lẽ vừa là niên đệ từ trường VBLQĐL lại vừa là đàn em trong binh chủng Nhảy Dù, nên ông rất kính nể và luôn đề cao Tướng Ân. Ngày 8.9.1968, khi Tướng Ân bị hy sinh cùng phu nhân trong một tai nạn phi cơ ở Đức Lập, BCH Trung Đoàn đang đóng ở Cà Ná, chỉ huy cuộc hành quân trong vùng ranh giới hai tỉnh Ninh Thuận- Bình Thuận. Khi nghe tin, Trung Tá Thịnh bật khóc và than thở tiếc nuối một vị tướng tài – chuyện rất hiếm hoi đối với một mẫu người cứng cỏi như ông-. Thấy vậy, tôi an ủi:
-Thôi, trung tá đừng buồn tiếc nữa. Một con én đâu có làm được một mùa Xuân!
Ông trợn mắt, nhìn tôi, quát:
-Mày ngu thế! Ít ra trong mùa Xuân cũng còn có được một con én chứ!
Cả bọn chúng tôi bụm miệng cười. Lần đầu tiên nghe ông nói một câu văn hoa như thế!
Nhờ mắng tôi, nên ông hết khóc. Ông rủ tôi và anh trung tá cố vấn Mỹ, gọi mấy chú lính hộ tống, theo ông ra bờ biển phía trước, bên một ghềnh đá, mà ông bảo là vô số cá đang tập trung trú ẩn ở đó. Anh cố vấn Mỹ không tin và hỏi xin ông cho đích thân anh ném thử một trái lựu đạn. Ông lưỡng lự rồi gật đầu. Có lẽ đây là một quyết định ngoại lệ so với bản tính nghiêm khắc cố hữu của ông. Và quả đúng như ông nói, đám lính và cả anh trung tá Mỹ lặn xuống bắt cả mấy trăm ký cá mang về. Sau khi chia cho các tiểu đoàn, ông đích thân chỉ huy làm mấy món cá đãi cả BCH Trung Đoàn, Toán cố vấn Mỹ và Đại Đội Trinh Sát.
Sau ngày Tướng Trương Quang Ân mất, ông tỏ ra chán nãn. Ông được Tướng Đỗ Cao Trí kéo về Quân Đoàn III/ Vùng 3 CT và dự định đề cử giữ chức tỉnh trưởng nào đó. Ông cho bọn tôi biết rồi bảo:
-Tớ có nhiều chữ nghĩa gì đâu mà làm quận với tỉnh. Đi lính là để đánh giặc. Trường Võ Bị có dạy ai đi làm tỉnh trưởng đâu. Tớ vẫn thích nắm trung đoàn.
Hôm rời Trung Đoàn, ông cũng chỉ vác theo một cái “xắc ma-ranh” như hồi ông đến. Tất cả chúng tôi thật cảm động và tiêc nuối khi phải chia tay ông. Một cấp chỉ huy thanh liêm, bình dân, gan dạ. Khi bắt tay tôi, ông khen “ chú mày khá lắm” và rơm rớm nước mắt. Trước đây, không ai nghĩ một người cứng rắn, đanh thép như ông lại giàu tình cảm với đàn em, thuộc cấp mà ông đã giấu kỹ trong lòng.
Sau đó, ông về làm Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 52, thuộc Sư Đoàn 18BB.
Không biết ở đơn vị mới này ông có thay đổi ít nhiều gì không. Tôi chỉ còn nhớ, có lần báo Sóng Thần “đánh” Tướng Trí về một vụ gì đó. Ông lên tiếng hết mình bênh vực và ca ngợi Tướng Trí, bị báo chí mỉa mai gọi ông là “Chuẩn Đại Tá”. Ông chửi thẳng thừng: đám báo chí này bố láo! Chẳng biết tí gì về Tướng Trí, chỉ giỏi nằm nhà khoác lác! Với Tướng Trí thì đừng có giỡn mặt!
Mới biết ông, ai cũng nhìn thấy ở ông sự cứng cỏi, nghiêm khắc, nhưng khi đã thân tình mới biết là ông cũng rất vui, thích đùa cợt. Có lần anh Hoàng Văn An (Khóa 20VB) kể lại: Năm 1970, An đang làm việc tại Sài gòn, được Trung Tá Thịnh cho vợ chồng anh được xử dụng căn cư xá của ông nằm trong Trại Đào Bá Phước, vì đơn vị của anh trú đóng gần nơi này. Một hôm Trung tá Thịnh đến thăm và rủ An đến thăm Tướng Đỗ Cao Trí và ông cụ Đỗ Cao Lụa, thân phụ của Tướng Trí. Ông cụ quý mến Trung Tá Thịnh như là em út trong nhà.
Trên đường đi, Trung tá Thịnh cười, bảo anh An:
-Hôm nay chú mày sẽ được Tướng Trí rót rượu mời đấy!
Biết tính ông anh rể của mình ưa đùa, anh An chỉ cười. Khi bước vào nhà Tướng Trí, chỉ có Cụ Lụa đón chào vui vẻ. Nói chuyện một chặp, Tướng Trí về với đầy đủ quân phục và cấp bậc 3 sao trên cỗ áo. Tướng Trí vừa chào ông cụ và hai người khách, ông cụ bảo:
-Trí! Mày đi rót mấy ly rượu mang đến đây.
Tướng Trí là một đứa con chí hiếu và lễ phép. Rót 3 ly rượu whisky mang đến mời ông cụ cùng cả Trung tá Thịnh và anh An. An mặc thường phục và được Trung tá Thịnh giới thiệu là em vợ. Anh An bắt tay Tướng Trí mà thấy “run” trong lòng.
Trên đường về, ông bảo An:
-Chú mày thấy tao nói có đúng không? Quan ba mà được Tướng Trí bưng rượu mời, sướng nhé!
Một lần, nhân dịp anh cố vấn trưởng bay vào Sài gòn họp, chúng tôi theo trực thăng đáp xuống thăm ông ở Đồi Phượng Vỹ (Doanh Trại Trung Đoàn 52) sau khi ông vừa trở về từ chiến trường Cam Bốt. Ông mời bọn tôi uống rượu. Khoe đây là loại rượu đặc biệt, hảo hạng, có tiền không mua được. Ông kể lại chuyện ông chỉ huy Chiến Đoàn 52, sang hành quân “giải tỏa” Kampong Chàm. Thành phố sầm uất thứ nhì của Cam bốt sau Nam Vang. Khi chiến dịch kết thúc thắng lợi, ông được ông In Tam, thị trưởng (sau này có thời là Thủ Tướng của Cam Bốt) làm lễ đón tiếp ông long trọng như một vị anh hùng. Ông được mời vào dinh thết đãi, trước một đội vũ công toàn là những cô con gái đẹp. Ông thị trưởng InTam bảo nhỏ, ông thích cô nào cứ chọn, ông nghiêm mặt lắc đầu. Ông thị trưởng cho cận vệ mang đến cho ông một xách Samsonite chứa đầy tiền. Ông bảo ông là một cấp chỉ huy của Quân đội VNCH thi hành nhiệm vụ, chứ không phải lính đánh thuê. Cuối cùng để làm vui lòng ông thị trưởng, ông theo xuống hầm rượu và lấy 6 chai rượu hảo hạng.
Ông kể lại rồi cười:
-Thấy gái đẹp và tiền từ trên trời rơi xuống thằng nào chả ham, nhưng lỡ đã đóng vai anh hùng rồi mà đưa tay lấy thì còn ra thể thống gì!
Bọn tôi chọc ông, bảo là “Chef hơi quân tử tàu! Cứ xách cả hai thứ về đây thì bây giờ thầy trò mình lên hương và khắm khá rồi!”. Ông vỗ đùi cười. Lúc này trông ông thấy hiền khô.
Ngày 23.2.1971 nghe tin Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, chúng tôi chắc chắn Trung Tá Thịnh buồn lắm. Không biết ông có khóc và tiếc thương như lúc ông nghe tin Tướng Trương Quang Ân hy sinh gần ba năm trước?
Vào đầu tháng 4.1972, tôi nghe tin ông chỉ huy Chiến Đoàn 52 (-) chỉ có 2 tiểu đoàn và đại đội Trinh Sát, đã rất khôn khéo và dũng cảm điều động phản công một cuộc phục kích qui mô của hơn hai trung đoàn địch tại khu vực Cần Lê (15 cây số Bắc An Lộc). Một cuộc phản công đẫm máu kéo dài gần bốn ngày trên một tuyến phục kích dài hơn ba cây số, mà địch chiếm hoàn toàn ưu thế về cả quân số cũng như địa thế. Cuối cùng Chiến Đoàn của ông đã gây tổn thất nặng nề cho địch và vượt khỏi vòng vây. Vị Trung Tá Cố Vấn Mỹ, tuy bị thương, nhưng không chịu tản thương, ở lại bên cạnh Trung Tá Thịnh, cùng chiến đấu và yểm trợ hết mình. Trên nhiều báo chí, có bình luận về chiến công này và đã dành cho ông nhiều lời khen ngợi: “Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, gốc Nhảy Dù, là cấp chỉ huy tài giỏi, biết linh hoạt ứng phó trong mọi hoàn cảnh và trạng huống, về kỹ thuật lãnh đạo chỉ huy, ông rất được lòng các cấp dưới quyền và toàn thể các Cố vấn Mỹ thật tình kính nể mến thương. Trung Tá Walter D. Ginger, Cố vấn trưởng, dù đã bị thương, nhưng từ chối tản thương, vẫn tình nguyện ở lại sống chết với Trung Tá Thịnh cùng đơn vị bạn đồng minh của mình.”
Tháng 6.1972 ông được đặc cách thăng cấp đại tá và sau đó một thời gian nhận lệnh thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt để làm Tham Mưu Trưởng. Đến cuối năm 1973, ông lại nhận lệnh thuyên chuyển về Trường Chỉ Huy Tham Mưu đảm trách chức vụ Trưởng Khôi Giám Sát Các Lớp. Khi ấy, trường vừa ổn định sau khi từ Đà Lạt chuyển về Long Bình để tiếp nhận một khu doanh trại rất khang trang của Quân Đội Hoa Kỳ giao lại.
Đầu năm 1974, nhân dịp theo học một khóa tham mưu tại Huấn Khu Long Thành, tôi đến thăm ông, và bất ngờ gặp thêm một ông trung đoàn trưởng cũ khác nữa, Đại Tá Trần Quang Tiến. Hai ông ở chung trong một cái bunker (rất đẹp và đầy đủ phương tiện của một sĩ quan cao cấp Mỹ để lại). Ông nhất định tự tay làm cơm đãi tôi. Tôi ái ngại, xin phụ một tay, nhưng ông nghiêm mặt trợn mắt nhìn tôi:
-Mày là khách của chúng tao. Chớ có lộn xộn.
Ông bảo Đại tá Tiến nấu cơm và hái rau (do ông trồng), rồi rủ tôi mang cái vợt đi theo ông ra mấy trụ đèn điện phía trước để bắt con cà cuống. Ông bảo:
– Món này mà thiếu mấy giọt cà cuống là vất đi!
Lúc nào cũng vậy, ông hãnh diện về cái tài nấu nướng còn hơn cả tài đánh giặc và chỉ huy đơn vị của ông.
Đúng là thức ăn ông nấu rất ngon, nhưng ngồi ăn với hai ông Thầy cũ tôi không thoải mái lắm. Nhớ tới ngày xưa, khi ông còn ở Trung Đoàn, mỗi lần được ông mời ăn cơm là bọn tôi cảm thấy như… hết đói!
Ông dặn tôi, cứ cuối tuần lại ở đây chơi với ông. Có hôm ông còn dắt tôi đến chào Tướng Phan Trọng Chinh, Chỉ Huy Trưởng. Đó cũng là lần duy nhất tôi được gặp vị Tướng nổi danh này. Cùng gốc Nhảy Dù, nên Tướng Chinh có vẽ rất thân thiện và quý mến ông.
Một thời gian, sau khi tôi rời khỏi Long Thành trở về đơn vị, thì ông cũng đi lãnh một trách nhiệm mới: Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp.
Năm 2003, nhân dịp từ Bắc Âu sang Cali thăm mấy đứa con đang theo học ở đây, tôi rủ vài thằng bạn cùng đơn vị cũ đến thăm ông. Ông vui lắm. Bây giờ tuổi đã khá cao, người ông trông càng nhỏ lại, nhưng tiếng nói vẫn đanh thép, đôi mắt vẫn sáng quắc, nhanh nhẹn như xưa. Và đặc biệt với phu nhân, ông vẫn tỏ ra uy quyền như lúc trước. Ông gọi bà từ nhà sau lên chào chúng tôi, rồi bảo:
-Bà xuống lo mấy cái mâm nhang đèn, chút nữa đi lễ chùa, để bọn tôi nói chuyện!
Vốn đã nghèo, sang Mỹ ông càng trắng tay. Dù khá lớn tuổi ông vẫn đi làm cho đến khi về hưu. Cũng như ngày xưa khi còn trong lính, bây giờ dù với những công việc rất tầm thường nhưng ông luôn vui vẻ và tận tụy làm tròn trách nhiệm. Với bất cứ ai ông cũng tỏ ra rất tư cách. Hầu hết đồng nghiệp trong sở nghe nói ngày xưa ông từng là đại tá chỉ huy một trung đoàn tác chiến, họ rất nể trọng.
Ông bảo bây giờ ông bà ăn chay. Ông còn mời chúng tôi ngày mai trở lại ông sẽ tự tay nấu mấy món chay đãi bọn tôi. Bọn tôi tin là ông nấu rất ngon, nhưng thấy tội nghiệp ông, nên tìm cách chối từ. Chia tay ông, lòng chúng tôi thấy thật buồn và có chút xót xa, thương cho một con người hiến gần cả một đời cho quân đội, tạo biết bao chiến công và bao lần sống chết với đất nước, để rồi về già vẫn phải vất vả với kiếp tha hương.
Không ngờ đó là lần cuối cùng tôi gặp ông. Ông qua đời sau đó vài tháng, ngày 16.05.2003.
Thời chỉ huy đơn vị chúng tôi, ông là một vị Trung Đoàn Trưởng tốt. Cương trực, liêm khiết, công minh, làm việc hết mình. Ông xem đơn vị như là nhà mình và đám sĩ quan như là em út trong gia đình. Lâu lâu trợn mắt, hò hét la rầy, nhưng rất thương yêu và không hề phạt thuộc cấp. Điều đáng nhớ nhất, là ông để lại cho chúng tôi rất nhiều giai thoại, để bây giờ, mỗi lần có dịp gặp nhau, nhớ tới ông bọn tôi thường kể lại như là những kỷ niệm vui, và cũng thật dễ thương của một thời binh nghiệp.
Nhớ hôm lễ nhậm chức, sau khi tự nhận binh nghiệp của mình đi lên từ cấp bậc “binh ba”, ông bảo: “Các anh nên hãnh diện đang có một người chỉ huy như thế!”
-Thưa vâng! Chúng tôi rất vui và cũng rất hãnh diện đã từng có một ông Thầy như thế.

Phạm Tín An Ninh
(nguồn: phamtinanninh.com)

Những trăn trở tháng Tư

vandoanviet.blogspot.com
Hoài Ziang Duy
Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2019
Phỏng vấn
(Nguyễn Thị Thanh Bình thực hiện)

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

Sau 44 năm không còn tiếng súng đạn pháo, liệu tháng Tư 1975 trong lòng bạn vẫn còn là tháng Tư đen, và mỗi người trong chúng ta dường như đều có mỗi cách riêng để nghĩ về hoặc truy điệu cho Ngày 30/4 chăng? Ví dụ bạn có cảm hứng sáng tác một chút thơ “riêng tư” nào cho tháng Tư như thắp lên nén hương lòng chẳng hạn? Nếu bạn không làm thơ thì bài thơ tháng Tư hay tác phẩm nào khiến bạn xúc động nhất? Đại khái lúc trước tôi rất tâm đắc những linh cảm tiên tri của thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong mấy câu thơ: “Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc bến”, hoặc “Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ”… Coi như là chuyện “thơ thẩn”, vì dường như khi lòng mình chưa quên lãng nguôi ngoai thì người Việt vốn là dân tộc yêu thơ, nên đều muốn được gởi gắm cùng Thơ. Kỳ thực bạn ơi, nếu có một ai đó đang muốn lắng nghe một câu chuyện tháng Tư của bạn như “chuyện bây giờ mới kể”, thì liệu bạn có muốn chia sẻ điều gì cho mốc điểm 30/4 năm nay? Và liệu có bao giờ bạn tự hỏi giang sơn đất nước chúng ta đã quy về một mối, sao điều gì vẫn khiến lòng người ly tán và không thống nhất được?

Hoai Ziang Duy

Bốn câu hỏi cô đặt ra ở đây với tôi vào thời gian sau 44 năm, cũng là lúc lòng người nguội lạnh ở tuổi hoàng hôn. Nhưng chắc một điều là ai đã sống ở miền Nam không thể nào quên 30 tháng Tư, quên nỗi đau ngày mất miền Nam Việt Nam, nhất là khi chế độ mới áp đặt và thực tế xảy ra sau đó, là nỗi thống khổ đọa đày ly tán, gia đình, nhà cửa người thân.
Cho nên vào lúc này, trả lời câu 1:
Năm nay, tôi chỉ viết bài thơ hai câu, chỉ hai câu thôi (trong tập thơ Đứng Tựa Bên Đời xb tháng 4/ 2019)

30-4-75
Đâu ai nghĩ một ngày ta mất nước
Lá cờ thiêng, hồn sông núi đứng ngậm lời
Nếu chỉ một lần cần quay lại cuốn phim Hà Nội vứt bỏ Hiệp Định Đình Chiến Paris, để mang danh nghĩa giải phóng Miền Nam, giữa đôi mắt “quan sát” ráo hoảnh của Liên Hiệp Quốc, liệu bạn còn nhớ cảm giác hụt hẫng mất mát, khi cả nhà cùng mở đài phát thanh nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng kéo cờ trắng buông súng? Cảm giác sững sờ tê điếng ấy nếu có thử hỏi có giông giống cảm giác lặng người bên vỉa hè Sài Gòn chan hòa nắng đẹp tự do của nhà văn Dương Thu Hương, vì chợt nhận ra chiếc mặt nạ tuyên truyền dối trá của cách mạng giải phóng? Thật tình hình ảnh vẫn còn ghi đậm trong tâm trí của bạn về Ngày 30/4 là gì? Bạn có chứng kiến cảnh những người lính VNCH cởi quân phục vất đầy đường, hay đại khái những âu lo tang thương khi “đàn bò vào thành phố” như câu nhạc bất ngờ của Trịnh Công Sơn? Nếu bạn cũng “bất ngờ” thuộc diện “Bên Thắng Cuộc” thì ngày 30/4/1975 bạn có nhớ mình đang làm gì, và khung cảnh, không khí cũng như cảm giác tưng bừng hoa lá như thế nào ở Miền Bắc lúc đó. Đặc biệt khi nghe báo tin trên đài cuộc chiến đấu thần thánh chống Mỹ đã cáo chung và Miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng Miền Nam từ đây anh em một nhà?

Hoài Ziang Duy:
Ở giờ phút với biến cố nầy, với người lính của quân đội miền Nam Việt Nam là sự sỉ nhục, là sự bội phản của đồng minh, từ giới chính trị, và thái độ hèn nhát của tướng Dương Văn Minh ở câu tuyên bố đầu hàng. Tôi nghĩ nước mắt của người lính trong 21 năm ở cuộc chiến, lần đâu tiên khóc ở ngày tháng này.
Tôi trích đoạn đầu của bài thơ viết ở tháng 4 /2003, đăng ở tạp chí Văn Học:

Em à, thế là đã hai mươi tám năm
Như một nỗi tình cờ
Ta buông đời rớt xuống
Nhớ năm xưa, cảm giác bồi hồi
Ta ôm em, ôm con ngày này bật khóc
Đâu có nỗi đau nào
Hơn nỗi đau chung
Như con cá lội ngược dòng
Trong đêm khuya mất hút
Ai chém xuống miền Nam nhát dao tuyệt vọng
Như bài ca vọng cổ não lòng
Hát câu ai oán
Về đâu hai bờ nhân nghiã
Đổi chác máu xương

(Như là như thế sao. Hoài Ziang Duy)
Với chính sách ngu dân, Việt Cộng đã mở những chiến dịch truy lùng truy diệt và thiêu hủy toàn bộ sách vở sách báo của văn hóa, văn học Miền Nam. Họ còn trâng tráo đến độ quy tội đó là thứ văn hóa nô dịch, đồi trụy, phản động. Nghe nói học giả Vương Hồng Sển đã có lần viết thư năn nỉ họ và tuyên bố đòi được chết theo sách, nếu toàn bộ sách quý trong thư phòng của ông bị đốt cháy. Bạn nghĩ gì về “tội ác” cố tình diệt chủng nền văn minh văn hóa của Miền Nam này? Và giả thử bạn cũng là nạn nhân của một tủ sách gia đình đáng quý, liệu bạn xử trí ra sao lúc ấy? Còn nếu bạn đã lên tàu vượt biên hay di tản, thì thử hỏi cuốn sách nào vào thời buổi đó được bạn vội vã trân quý mang theo? Tôi nghe nhà thơ Trần Mộng Tú nói là chỉ kịp vác theo cuốn Truyện Kiều và Chinh Phụ Ngâm thì phải?
Hoài Ziang Duy:
Vào thời điểm này, tôi đã ở trong tù (9 tháng 5/75), không biết chuyện bên ngoài.
Còn chuyện họ đốt sách, đối xử với văn hoá văn chương thế nào đã xảy ra, cũng đúng thôi, vì giai cấp lãnh đạo có học đâu mà hiểu, nào có cho dân biết đến sách vở khoa học kỹ thuật, văn nghệ, xã hội (chình sách ngu dân, bịt mắt). Đó là cái quyền của người chiến thắng, chiếm giữ. Họ huỷ diệt tất cả, để người dân miền Bắc không biết gì hết, che giấu theo tuyên truyền, miền Nam dốt nát, lạc hậu nghèo đói (nhưng thực tế khác hẳn, điều này ai cũng thấy, chưa kể bị miền Nam hoá về mọi phương diện văn hoá xã hội, đời sống tiếp theo, bởi nhu cầu người dân ai cũng cần đời sống văn minh hạnh phúc cho bản thân mình).
Cách đây khoảng hơn một năm, không chỉ trong giới cầm bút mà hầu như đâu đâu cũng nghe người ta bàn tán về một thứ hội nghị gặp gỡ giao lưu kiểu hòa hợp hòa giải dân tộc về văn học văn chương trong và ngoài nước, do chủ tịch Hữu Thỉnh của Hội Nhà văn Việt Nam chủ xướng gọi mời. Hẳn nhiên khi đụng phải phản ứng từ chối mạnh mẽ của nhà văn “quân đội” Phan Nhật Nam, người ta cũng đâm ra muốn đặt lại vai trò liệu nhà văn có thể lãnh nhận sứ mệnh to tát như thế để mở ra những cuộc đại đoàn kết dân tộc? Thật tình hễ nghe người ta “khuyên bảo” về hai chữ đoàn kết, tôi không biết có bao giờ họ muốn dang tay ra đoàn kết với người dân… thật, hay chỉ cốt đoàn kết có tính cách cục bộ trong những đảng viên của Hội Nhà văn Việt Nam với nhau mà thôi? Và như thế bạn nghĩ có phương cách gì để những vết thương được ngừng ung mủ, chảy máu? Thử hỏi làm sao để chúng ta có thể “giải phóng” những uất ức của Ngày Quốc Hận 30/4, và sau 44 năm liệu ai mới thực sự giải phóng ai?
Hoài Ziang Duy:
Tôi không có theo dõi tác giả, tác phẩm trong nước, ngoại trừ có đọc, có biết tên mấy tác giả trên các tạp chí gởi ra ngoài. Tôi không quan tâm đến hội luận, giao lưu văn học, từ trong nước đề xướng, bởi hội nhà văn trong nước cũng chỉ do đảng điều hành, người của đảng chỉ huy.
Tôi không có niềm tin nào hết, chỉ an ủi là “có tán thì có tụ.” Mọi việc hình thành một thể chế chính trị, dân chủ tốt đẹp hơn sau này, tùy thuộc vào mấy anh cả thế giới sắp đặt (trên quyền lợi dân tộc họ trước tiên). Thân phận dân tộc nhược tiểu nước nào cũng phải chịu thua thiệt vậy thôi.

Cám ơn bạn đọc đã theo dõi câu trả lời.

[*] Hoài Ziang Duy là nhà văn quân đội đã xuất hiện trước 75, và thường viết trên các nhật báo ở Sài Gòn như Tiền Tuyến, Sóng Thần… Sau 75, ông cộng tác với khá nhiều tạp chí ở hải ngoại như Văn, Văn Học, Văn Tuyển, Đi Tới, Thư Quán Bản Thảo… Õng cũng là tác giả của truyện ký về một giai đoạn lịch sử của một chứng nhân trong vai trò người lính Miền Nam Việt Nam ‘Còn Không Chốn Quay Về’ xuất bản năm 2017… Ông còn là nhà thơ và mới đây nhất cũng đã in thêm tập thơ mà theo ông ‘giúp cho anh em bạn trẻ, thế hệ sau này hiểu hơn về sự có mặt của mình trên xứ người’. Đó là thi phẩm Đứng Tựa Bên Đời xuất bản tháng 4/2019, nghĩa là ông vẫn tiếp tục cầm bút sau khi buông súng cho đến tận cuộc đời hoàng hôn bóng xế trên miền tạm dung Hoa Kỳ.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 150): Hoài Ziang Duy – Người chôn ký ức

vandoanviet.blogspot.com
Hoài Ziang Duy
Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2019
Post by Sơn râu 18 Nov 2024

Hoài Ziang Duy khởi viết từ năm 1965 cho các báo và tạp chí ở Sài Gòn. Bài vở đã đăng trên các tạp chí: Văn Học, Làng Văn, Hợp Lưu, Văn Tuyền,Thư Quán Bản Thảo, Tân Văn….
Đã xuất bản:

-Ông Tướng Sang Sông (truyện, Alpha xuất bản 1999)
-Lối Đi Dưới Lá Đời Thà Như Mưa (thơ, Thân Hữu xuất bản 2007)
-Bốn Ngàn Năm Chen Lấn (truyện, Thư Quán Bản Thảo xb 2010)
-Còn Không Chốn Quay Về (tự truyện, Thân Hữu xb 2017)
-Đứng Tựa Bên Đời (thơ, Hiện Diện xb 2019)
Image result for “Hoà i Ziang Duy”

Từ ý thơ trong em ta có cõi miền thịt da, đã buộc ông bồi hồi khi làm công việc này. Người đàn ông dáng cao gầy, đang cuốc xuống đất từng nhát. Khu vườn với hàng cây lá rậm, phía sau ngôi nhà lặng lẽ. Lúc này biết ai chia sớt cùng. Năm xưa Tử Nha câu cá chờ thời với sợi dây không lưỡi. Còn ông đang trốn chạy cuộc đời, trốn chạy chính bản thân mình. Những nhát cuốc chém xuống đất hay cuốc xuống lòng ông, cái hố thẳm của người lỡ vận.
Ông hàng xóm đứng kề bên tự lúc nào, từ phần đất nối liền không có rào ngăn cách, đôi khi chỉ chào hỏi qua loa. Lần này ông ta xen vào:
-Mệt rồi, nghỉ chút đi. Đào hố trồng cây à?
-Không. Đào hố chôn người.
-Bác chôn ai thế?
-Nhà tôi.
-Chôn người thật à? Họ đâu cho phép mình làm vậy.
-Mặc tôi.
Ông vẫn cuốc xuống vừa đủ một chỗ nằm. Càng đào sâu, càng nhìn rõ hình ảnh vợ ông. Lần này chắc bà không trở về nữa. Gần năm tháng nay ông đã mỏi mòn vào ra chăm sóc, phải bỏ cả việc làm để đánh đổi cái chi phí chánh phủ trợ cấp trị liệu. Bà nằm đó, ngồi lên để nói chuyện cùng ông, như người bình thường. Từ bình dưỡng khí, hai sợi dây thọc vào mũi. Tim đập, bà còn thở, còn nhìn. Còn được bao lâu, còn được bao ngày để ông nắm níu. Đã thử rút dây ra, bác sĩ làm vậy. Nhưng không ổn. Hỏi ông tính thế nào? Biết sao. Cái chữ biết sao đã làm ông trăn trở biết bao ngày. Khi bà nằm xuống, ông chỉ còn khả năng thiêu thôi. Ông không muốn bà biết điều đó. Cái hố ông đào cho bà nhập thổ. Được vậy để an ủi phần nào. Mấy lần bà cầm lấy tay ông nắm chặt. Muốn nói, muốn gởi gắm một điều gì đó, nhưng ngào nghẹn, không nhớ, không diễn tả được. Tấm lòng thương cảm, cô độc chỉ có mình ông hiểu. Còn được bao ngày! Cái ông hàng xóm vớ vẩn nào hiểu việc ông làm.
-Bác có xin phép được không?
-Phép gì?
-Đã bảo là chôn.
-Đâu cần xác.
Trên đầu tôi cái nón sắt, đã bỏ quên nơi nào đó. Bao lâu rồi không nhớ nữa. Tôi đang trốn chạy chính mình. Mỗi ngày với phần việc trong trường học, nhìn chúng, nhìn tuổi nhỏ. Tôi đang tập nói, tập sống, tập lớn lên ở phần đời còn lại, khác gì một đứa bé ngây thơ. Đừng hỏi chuyện năm xưa, đừng bắt tôi trả lời, chuyện oan khiên đất nước. Là người ai không có quê hương để nhớ thương, ấm lòng. Quê tôi có cây cầu sắt bắc ra sông, không có tên, họ gọi là cầu Quan, chỉ để dành riêng cho quan chức thuộc địa mỗi chiều ra hóng gió, nghe hòa nhạc. Thuở nhỏ chúng tôi lội dưới chân cầu, những khi trống vắng, leo lên. Cái quần xà lỏn trên thân thể gầy còm, đứng tồng ngồng dưới trời thanh gió mát. Nhìn lên trời cao, mơ một ngày công hầu khanh tướng. Tuổi thơ tôi bắt đầu từ đó.
-Bác này. Giọng ông hàng xóm. Thằng con tôi sang trước, bảo bác cũng một thời oanh liệt. Tôi nghĩ mãi vẫn không nhớ được tên bác trước kia. Chỗ hàng xóm, nói thật trông bác cầm cuốc, nguyên tắc đã sai cơ bản. Có ai ngờ một ngày tôi và bác lại trở thành láng giềng thế này. Trước kia là tướng à?
-Có đâu, tôi bỏ chạy mà. Còn ông?
-Tôi bỏ trốn.
-Vậy khác gì, cùng bỏ nước như nhau.
-Trông hố bác đào tôi bắt nhớ, trông bác cuốc lòng tôi thấy đau. Cả đời chỉ một lần dự phần lầm lỡ, cứ ám ảnh mãi không rời.
-Ông cũng đào hố chôn người à?
-Không đâu. Trồng cây vú sữa. Người hàng xóm lắc đầu nói. Chính tôi là người chăm sóc, vun phân tưới nước mỗi ngày, ướp bằng trà sen, hoa nhài, hoa cúc đủ loại, đôi khi bằng cả nước tiểu chính mình để góp phần. Hồi đó ngoài Bắc chỉ có một cây đại diện cho miền Nam bác ạ.
-Tôi thấy đâu phải là ông.
-Ấy. Ông thấy hình Bác à. Chụp để làm cảnh thôi. Chính thật là tôi. Quê nhà tôi, vườn nhà tôi, trồng nhiều loại này, khi tập kết ra Bắc nghĩ rằng nó tuyệt chủng.
-Tuyệt giống chứ.
-Không, họ nói là tuyệt chủng. Nghĩ đến mẹ, tôi náo nức làm công việc này cho người. Dạo ấy họ đồn ngực Thẩm Thúy Hằng tài tử trong Nam to lắm ông ạ. Nghĩ đến trái vú sữa thơm tròn mộng nước, đêm nằm mơ cắn, áp mặt vào, máu nóng rần rật. Sáng ra bải hoải cả người, cung ứng một lần dinh dưỡng cho cây. Họ tôn kính trân trọng, đâu biết giấc thiên thai của mình. Hàm tôi là kỹ sư cây trồng, nghiên cứu giống vú sữa, phục vụ nhân dân đang khát khao loại cây trái hiếm quí này. Sau những công trình đi chuyên, tôi là tướng vú sữa ông ạ. Khi vào Nam, về lại quê nhà, mẹ tôi đã mất. Vườn cây trái vẫn còn đó, tự vươn lên, tự sống cho một chủ thuyết tự do. Tôi nản quá. Ông thua một trận đâu bằng tôi thua cả tâm huyết đi theo. Vú sữa ngoài đó, không đặt kề bên, vẫn thấy nó đèo hơn vú Thẩm Thúy Hằng ông ạ. Chỉ nói thế thôi, ông đừng nghe rạo rực. Ấy đấy, coi chừng ngã.
Hình như tôi vừa ngã xuống thật. Quần áo ướt, lội vào bờ. Lội theo dòng sông thơ ấu để lớn thành người. Những bàn tay níu kéo lên, giữ lại. Họ đặt tôi ngồi yên. Ngoài kia là biển cả, sóng gào. Tôi đang thua cuộc chính mình, không nói gì hơn, nghe lòng chùng xuống ở cuộc tháo chạy áp đặt. Cuối cùng gặp lại nhà tôi ở đảo Guam. Vậy là rời khỏi nước như giấc mơ bất chợt. Cái ân huệ là gặp lại người thân. Vợ chồng nhìn nhau thất vọng. Ông đừng ngạc nhiên khi nghĩ hạnh ngộ là niềm hạnh phúc. Cái tình riêng không lấp nổi sự tan hoang bất ngờ chụp xuống. Có sống, có nhớ lại trong hoàn cảnh bấy giờ ông mới hiểu, ai cũng quên thân, chỉ thấy nỗi đau đớn bị bội phản. Tôi còn gì ngoài một người đàn bà bên tôi ở phần đời còn lại. Nghiệp chiến chinh, bản thân bị mai mỉa bỏ chạy. Áo tôi đang mặc, danh tôi ngày xưa, có gì đáng giữ, khi mà chiếc áo thun của người lính nào đó, được kéo lên thay cho ngọn cờ trắng qui hàng. Tôi đang đứng chỗ nào ông nhỉ? Cái quần xà lỏn tắm sông ở phần dưới, cái áo thun tơi tả bay trên đầu, biểu hiện thành bại. Tôi đu ở giữa phần dây mà sống được chăng.
-Thế bác có viết nhật ký hay hồi tưởng không?
-Miệng đời nói đủ cả, đủ nghe, viết làm gì.
-Nhưng biết họ có nói thật?
-Mình nói, họ có tin là thật, hay chỉ khơi lên cái ảo giác không phải là mình, chính họ hay là bác không chừng.
-Nghe bác nói mà thấy xốn xang. Cả đời tôi sống dưới tàng cây vú sữa, gốc rễ bám vào thân, muốn cởi quần ra đứng đái một phát, chả nhẽ tôi chửi cha sự nghiệp của mình cho mọi người nhìn thấy!?
-Sao ông thích đề cập tới danh từ thân thể thế này. Còn không?
-Không còn nên tôi muốn nhớ. Người ta trông thấy nó nhiều, chứ không là một duy ngã độc tôn. Nó bị bỏ quên tàn nhẫn, quên cả công lao gian khổ hô hào của tôi năm xưa, quên cái gật đầu lịch sự. Sống mà không có quá trình chính trị không ổn được, nhưng bám vào theo, cuối đời chỉ thấy bội bạc.
Cuộc đời không nghĩ một ngày mình đối mặt. Đứng gần bên nhau, nói câu thân thiện, tự do trong cõi lòng bình yên. Chiến trường là cơn đau thương hồng thủy, không có nghĩa thủy chung, đã cuốn hút, trôi đi, bỏ lại sóng ghềnh đá cạn. Cái lớp trơ ra, cô độc buồn bã, chính là lúc tình già bên bờ vực cuộc sống. Em và tôi đã có bao năm, bao ngày gần gũi. Cái hạnh phúc chung thân biết đâu một ngày bất chợt. Năm xưa cái bất ngờ ụp xuống, không đo lường được. Còn bây giờ điều không mong lại đến. Lúc sắp mất đi là lúc sống với hoài niệm, với thứ tha, với phận đời bỏ dở. Tôi không muốn sống mãi với ngày tháng cũ, cầm bằng cái héo hon chỉ trở thành vô nghĩa. Bản thân hiện tại tôi chỉ là trẻ nhỏ, đầu óc như cá lội ngược dòng. Thân thể không dễ phân hai. Em, Tôi là một. Cùng chung sự bảo vệ sống còn. Tôi với Tôi lại là điều khác. Có tệ bạc, có dối trá, có hai tâm hồn trong một con người cũ mới. Tôi muốn đè xuống bỏ quên, vĩnh viễn không nhớ, vậy mà nó vẫn ngoi lên ở phút yếu lòng, làm người hùng của một bi kịch. Phải chăng đó là con người thật của tôi bên người đàn bà, suốt đời muốn em nhìn thấy tôi như một bức chắn chở che dù bên trong là tường đá mục. Cái hạnh phúc làm dáng này chỉ vỏn vẹn trong ngôi nhà, trong yêu thương thân cận. Ngoài ra, tôi là người bị bỏ rơi, thua cuộc.
Những nhát cuốc đào sâu xuống. Em vẫn ngồi đó, chờ mong mỗi ngày tôi đến thăm nom. Lặng lẽ với đôi lời xa vắng mơ hồ. Em đã quên thật ký ức cưu mang từ ngày cái nón lưỡi trai trên đầu tôi lột xuống, cây súng ngắn bị tước đi trước lần đứng nghiêm, người bạn đồng minh chào tôi lần cuối, danh dự sau cùng. Mừng biết mấy khi em quên thật, để từ nay thân phận tôi không dối trá tình cờ.
Ngày đó khi bỏ trường mà đi, mối tình câm của gã con trai mới lớn không quên nổi cô bạn cùng lớp. Suối mơ hoa, cây đàn cũ một mình tập hát, tập yêu lãng mạn lần đầu. Con đường em đi qua. Chiếc áo trắng, vành nón lá che nghiêng không đủ nhìn thấy tôi dại khờ đứng đó. Tôi không nghĩ một ngày nào gặp lại cố nhân, chung cùng ngôi nhà trú ngụ tại một vùng đất miền Trung, chia sẻ niềm nhớ về một quê nhà, khởi đi từ mớ tro tàn nguội lạnh.
Tôi với Ngọc chung cùng đơn vị. Cái hôm sinh hoạt văn nghệ ở lần dưỡng quân, anh thấp thỏm chờ đợi cô vợ mới cưới ra thăm. Tôi đang hát bản Cây đàn bỏ quên, thì Ngọc dẫn cô gái tới. Tôi không nghĩ mình lầm.
-Giới thiệu em. Đại đội phó Tràng.
-Ủa. Anh Tràng.
-Chào chị.
-Tụi em biết nhau à?
-Thân nhau, cùng lớp mà. Anh ấy có biệt danh Tràng cù lần.
Chị vui vẻ cười nói, khép nép bên chồng. Anh Ngọc xen vào.
-Khờ với gái thôi, đánh giặc thì ngon lành, hát hay lắm đó.
Phải. Tôi dại khờ không dám nói yêu em, đối nhau chỉ như một tình bạn. Tôi mặc cảm xấu trai, thấp hèn so với em, đóa hoa Quỳnh thơm ngát một mùi hương. Từ ngôi nhà thuốc tây của gia đình em, từ con đường trường học ra về. Tôi chỉ biết lẽo đẽo theo sau, nói những điều vớ vẩn. Tôi không đủ can đảm nói yêu em, chỉ biết nhìn, biết cười trong thầm lặng. Sao em không hiểu dùm tôi, nói dùm tôi. Em dạn dĩ, em liếng thoắng, mọi điều muôn sự, em dẫn tôi đi xa hơn nỗi ngập ngừng. Bây giờ đây, chốn này em trở thành người đàn bà trẻ tuổi, biết chăn gối mặn nồng. Em trưởng thành hơn, đi xa hơn con đường tình ái. Còn tôi, chỉ như ngày nào. Có chăng tôi lớn khôn trong khói lửa chiến tranh, trên con đường binh nghiệp. Đêm đó, căn phòng anh chị cách nhau bức vách gỗ. Tôi nằm phía bên này nửa đêm thao thức. Lần đầu tiên tôi biết đau, biết chua xót, biết khó chịu, biết bực dọc cho chính bản thân mình, khi mà trí tưởng tôi, từ cõi miền thịt da, biết thầm thì câu mời gọi.
Từ đó chị theo anh Ngọc ở hẳn đơn vị. Hình như có khoảng cách nào đó bứt rời chị ra khỏi gia đình. Tôi không tiện hỏi. Chị tập sống chờ đợi những cuộc hành quân trở về. Chị tập sống khó khăn thiếu thốn hơn trong phương tiện. Rồi cũng qua đi. Tôi có niềm vui giấu kín những lúc chung cùng ngôi nhà.
Em là người đàn bà duy nhất lo cho mọi người, trong đó có tôi. Tôi vẫn kính trọng anh ấy, không thể đi xa hơn, cái gọi là mỗi người một duyên phận. Nhưng lần hồi trong những ngày chung đụng, chuyện kể moi lại ký ức ngày xưa. Quỳnh hiểu tôi thầm lặng yêu Quỳnh biết bao. Không nói ra, nhưng em đối với tôi dịu dàng, thông cảm hơn nỗi muộn màng năm cũ. Tôi tự nghĩ vậy an ủi chính mình. Tôi không còn cù lần, vụng dại như thuở ban đầu. Cả ba chúng tôi thân thiết hơn, cho đến ngày tang tóc đổ xuống.
Lần đó anh đạp mìn, phải cưa cả hai chân. Quỳnh khóc lả bên chồng. Dưới mắt anh, giờ là nỗi tuyệt vọng ở một tương lai mù mịt. Nhìn lấy vợ, nỗi xót xa bất lực chờ đón ở ngày tháng tới. Nhìn lấy tôi, anh nói như một gởi gắm:
-Quỳnh còn quá trẻ, không thể để cô ấy mang nỗi bất hạnh chung thân này, nhất là từ ngày lấy nhau Quỳnh không còn được gia đình chấp nhận. Chốn này đây chỉ có ba chúng ta thân thiết như ruột thịt. Tràng còn có tương lai. Anh tin con đường binh nghiệp của em. Anh muốn gởi gắm Quỳnh, đời sống Quỳnh.
-Đừng nghĩ quẫn. Anh không nói, tôi vẫn lo cho chị mà.
Quỳnh đứng đó. Sau nhiều ngày mất ngủ có vẻ phờ phạc hơn, như người mất hồn. Quỳnh thương anh ấy, mối tình đầu mãnh liệt, hy sinh tất cả, đâu ngờ nỗi nghiệt ngã này. Anh phải sống, dù thế nào anh phải sống. Nhưng không. Anh đi vào giấc ngủ chính anh chọn lựa, bỏ tôi, bỏ Quỳnh. Chỉ còn nước mắt.
Năm đó, Quỳnh hai mươi ba tuổi, thụ thai lần đầu không hay biết.
Rồi cũng qua đi. Bao nhiêu năm nhìn lại. Giờ đây em ngồi đó. Em muốn nghe chuyện xưa, chuyện kể về mối tình cũ đầu đời. Cái hố cách ngăn đã lấp từ lâu, vô hình chung xới lên lúc này.
Trời hôm nay không gió. Hai người đàn ông vẫn lặng im bên nhau. Tóc hoa râm trên vầng trán mỏi. Người hàng xóm hỏi:
-Bác tâm sự gì thế?
-Tôi có nói à. Thế ông nghe gì?
-Đâu có. Người hàng xóm quay trước ngó sau.
-Ông nghe gì phần tôi?
-Không.
-May quá, không ai nghe mình nói thật. Ừ nhỉ. Có thể là tiếng vọng từ phần cuốc này.
-Từ nãy giờ, tôi muốn hỏi thăm lại sợ phiền bác. Mình già cả rồi, dễ lãng tai.
Tôi có nghe, hình như ông hay tôi gì đó. Một trong hai chúng ta có người nói thật. Chúng ta sống dối trá, xa cách như người đầu sông Gianh kẻ cuối sông, rốt lại phần đất giữa vẫn không nối được. Làm hàng xóm phải tốt người, tốt cả bụng dạ. Đất nhà mình không có rào ngăn cách. Dọn sạch đường đi, qua lại dễ hơn. Năm xưa Lưu Bang ngồi trên ngựa mà lấy thiên hạ, chứ đâu trị thiên hạ được. Ông với tôi không phải là Hạng Võ, là tướng công thành nữa, sá gì phải bận tâm. Quên đi. Mình già rồi cứ phải thuộc sách Tàu ông nhỉ, tư tưởng vọng ngoại vịn vào, bao che, rốt lại chỉ như tắm truồng thôi.
-Lần này mình nghe phải không. Cả hai ông buột miệng hỏi.
Ông hàng xóm quay lưng, cười xã giao nhẹ
-Bác không nói gì thì tôi về nghe. Cái hố đấy để mai tôi biếu bác cây trồng.
Người đàn ông dừng tay. Ông nghe tim mình đập mạnh. Đầu ông hơi choáng. Nhìn xuống hố cạn hời. Ông mệt mỏi. Hình ảnh người vợ đầu ấp tay gối đã xa ông mấy tháng trời. Lúc này ông cảm thấy thương bà quá. Đêm một mình, ông ngủ cô độc. Chốn kia bà cũng cô độc. Cả thế giới lẻ loi.
Có hiểu cùng nhau mới an ủi mà sống được. Lúc này ông muốn nhìn thấy bà bằng xương bằng thịt, dù bây giờ bà chỉ nói cùng ông với một tấm lòng. Có còn hơn không. Ông muốn bước đi, nhưng một bên chân hầu như tê cứng. Vết thương chiến tranh năm xưa lại hành hạ. Ông thở dài. Để mai.
Tưởng đã quên. Một ngày như mọi ngày có khác. Trời đang lất phất mưa. Ông hàng xóm nhìn sang. Người đàn ông đứng chống cuốc thờ thẫn.
-Thằng chả làm gì thế nhỉ. Người hàng xóm tự hỏi. Mình đã bảo đừng lấp đất, chờ đưa cây trồng, sao vội thế. Chả lẽ hôm qua mình không có nói à?
Người đàn ông đang lấp từng xẻng đất. Cái chữ để mai đến với ông thật lỡ làng. Ông đang chôn xuống. Ông muốn giữ bà lại, cho vẹn nghĩa, trân trọng cái hạnh phúc chung thân một đời gần gũi. Ông đang chôn phần đời trước của ông, lúc còn chở che bảo vệ. Ông muốn bà mang theo hình ảnh sống còn một thời liệt oanh, trên phần đất quê nhà. Cuộc đời lưu vong, với ông chỉ là bài toán không đáp số, giọng ca lỗi nhịp. Con người phân hai ở ông, ở hai thời điểm, chỉ cần bà hiểu. Mối tình tôi dành cho em là những bù đắp một thời dang dở.
Quãng đời còn lại, tôi chỉ là một đứa trẻ từ trước biết thủy chung.
Là trẻ thơ, tôi không nhớ lúc chết đi Quỳnh bao nhiêu tuổi.

Ký của Đinh Quang Anh Thái

vandoanviet.blogspot.com
Đinh Quang Anh Thái
Thứ Tư, 26 tháng 12, 2018

Kỳ 6
Về một chuyến đi Nga
Calfornia, Tháng Ba 1992

I. AEROFLOT: Một lần cho biết
Trên suốt chuyến bay của hãng Hàng Không Nga Aeroflot từ Paris đến Mockba (Moscow), tôi ngồi cạnh Janna. Menshikova Janna, một cô gái Nga tóc vàng, mắt xanh, nói tiếng Anh lưu loát.
Thật ra tôi chỉ ý thức sự hiện diện của Janna lúc máy bay bình phi. Từ lúc đặt chân vào tới lúc phi cơ cất cánh, tôi mãi sợ. Thảm lót sàn rách nát, có chỗ cộm lên từng cục, nhất là ngay cửa vào, chỗ để mấy xe thức ăn, thảm rách được lấp liếm qua loa như một đống giẻ dơ bẩn khiến tôi suýt vấp ngã. Chưa hết, chỗ để hành lý trên đầu hành khách không có nắp đậy an toàn, nó chỉ là một loại kệ chạy dài gắn vào thân phi cơ.
Lạy Trời, lúc phi cơ đáp, tôi nhủ thầm.
“Ðó là cái giá cậu phải trả cho việc thăm địa ngục, thiên đàng rẻ hơn nhiều,” anh bạn hôm chở tôi đi xin visa và lấy vé tại Paris đã nói với tôi như vậy.
Bẩy trăm tám mươi Mỹ kim vé khứ hồi Paris-Mockba, 250-dollar một đêm tại khách sạn 4 sao Intourist, 40 dollar thủ tục xin visa. Ðặt phòng tại Intourist là điều kiện bắt buộc để xin chiếu khán. Người ta viện cớ công an tại đó làm việc thường trực nên tiện cho việc đóng dấu lưu trú. Một hình thức “đăng ký hộ khẩu.” Hai trăm năm mươi Mỹ kim, vị chi 25 tháng lương của công nhân Nga cho một đêm tại “trái tim” của Liên Xô cũ. Cái giá phải trả cho một người mang quốc tịch của xứ tư bản “giãy chết.”
Chiếc phản lực 2 máy TU151 đầy hành khách, đa số người Nga, một ít người da trắng có lẽ là Mỹ hoặc Pháp, một vài người Nhật. Tôi phân biệt điều này nhờ lối ăn mặc và cách nói chuyện. Người Nga mặc áo lông, áo da, ồn ào, đi lại luôn. Những người khác mặc vest, trao đổi kín đáo.
Không một lời loan báo, phi cơ rú lên từng chập rồi cất cánh.
“Chắc lần đầu anh đi máy bay Nga,” một giọng nữ rót vào tai tôi. Quay sang, cô gái tóc vàng ngắn, mắt xanh, mặc bộ đồ nâu đang nhìn tôi như chế giễu. Trông cô bình thản đến độ tôi phát thẹn với nỗi lo sợ của mình.
“Vâng, sao cô biết?” tôi nhát gừng.
“Gương mặt anh tố cáo điều đó,” cô cười, hơi thở thơm chi lạ, một thứ mùi sữa trộn ít vị đắng của thuốc lá. “Tôi quen rồi,” cô tiếp, “như thế này đối với tôi là nhất. Tôi thường chỉ bay trong nội địa, đây cũng là lần đầu tôi ra khỏi nước và trở về.”
Sau đó tôi biết tên cô là Menshikova Janna, làm về tin học cho một hãng Nga có liên lạc buôn bán với Pháp, và cô trở về sau 3 tuần công tác ở Paris.
Thấy tôi chỉ uống tí café mà không ăn, Janna nhỏ nhẹ, “anh ăn đi, Mockba chẳng có gì đâu.” Nhiều người cũng nói với tôi như thế, thậm chí còn có người khuyên nên mang theo mì gói đủ cho thời gian ở Nga. Thức ăn không đến nỗi tệ, Janna ăn hết phần của cô. “Anh nên nhớ đây là thức ăn mua ở Pháp, lúc bay trở lại từ Mockba, anh sẽ thấy khác hẳn,” cô nói, “tệ hơn nhiều lắm.”
Nhiệt độ trong máy bay mỗi lúc một nóng, tôi có cảm giác ngồi cạnh một lò lửa. Dĩ nhiên cô gái Nga bên cạnh đã là một thứ lửa rồi. Ðúng là chơi dại, mùa Ðông nước Nga đã hại tôi. Trang bị đến tận răng, quần áo trong, quần áo ngoài, chân đi hai đôi tất len, còn lại đi giầy bốt cao cổ, mồ hôi tôi bắt đầu rịn ra ướt cả người.
“Thích chứ anh,” Janna trả lời câu tôi hỏi, “sự thay đổi ở nước tôi là một điều tốt, mọi việc thoải mái hơn trước nhiều, bằng chứng là tôi có thể đi đây đó, ngay cả đi nước ngoài. Kinh tế à, khó khăn hơn trước nhưng chúng tôi chấp nhận. Ông Yeltsin thì tôi nghĩ khó ngồi lâu nếu không ổn định sớm tình hình, giá là ông Gorbachev thì chắc tốt hơn. Tôi tin là nhiều người Nga thích ông Gorbachev hơn.”
“Có bao giờ cô gặp người Việt Nam ở Nga chưa?”
Vô tình, Janna tạt vào mặt tôi, “Có chứ, chẳng có gì tốt đẹp về họ cả. Buôn chui bán lận, gấu ó lẫn nhau là tất cả chuyện về họ.”
Tôi bị thương tổn như chính mình bị chỉ trích. Im lặng một hồi lâu, tôi hỏi Janna, “Cô có biết, tôi cũng là người Việt?”
“Ồ, xin lỗi anh,” Janna lúng túng, “tôi tưởng anh là người Nhật. Ðiều hồi nãy tôi nói không có gì là tuyệt đối. Dĩ nhiên, tôi vẫn tin họ có người tốt.”
Người Nhật! Hai tuần lễ trước ở Tiệp Khắc, một người bản xứ cũng hỏi tôi như thế! Hình như đối với nhiều nước, một người Á Châu thong dong đây đó thì chỉ có nghĩa họ là người Nhật.
Câu chuyện về đồng bào tôi bên Nga vô tình khiến cả hai chúng tôi không ai nói với ai câu nào một hồi lâu. Anh bạn đi cùng không chịu được khói thuốc, ngồi cách tôi sáu hàng ghế đang ngủ ngon lành. Tôi nhìn đồng hồ, 4 giờ 10. Bay 3 tiếng rưỡi, hai thủ đô cách nhau hai múi giờ, phi cơ sẽ đáp lúc 7 giờ Mockba.
“Anh buộc dây lưng vào, phi cơ sắp đáp đấy, chẳng ai nhắc và loan báo đâu,” Janna dịu dàng, “còn điều này nữa, cẩn thận những thứ trên đầu.”
Tôi thầm cám ơn Janna. Phi cơ giảm cao độ, nhiệt độ nóng dữ dội và quả tình, không một lời loan báo, phi cơ đáp. Tôi không tin mắt tôi nữa, ngoại trừ những túi xách lớn vừa khít từ trần phi cơ xuống đến tấm kệ, những túi nhỏ là vật dụng như cặp táp, nón áo đổ ào xuống đầu hành khách. Một vài hàng ghế trống ngã gập về phía trước. Lúng túng đến thảm hại là một người Á Ðông (chắc là người Nhật…?) ngồi cách tôi ba hàng ghế phía trái, anh đang cuống cuồng lượm những tấm hình rớt ra từ một túi nylon đổ xuống từ trên đầu. Những hành khách Nga thì bình thản… như hơi thở thu lượm mọi thứ trên sàn. Janna chìa tay ra bắt tay tôi, dù sao đi nữa, Welcome to Mockba.

II. Intourist Hotel: Có tiền mua tiên… thì được; thực phẩm…thì không
Sau khi đưa passport cho nhân viên khách sạn làm thủ tục “đăng ký” công an, Bằng, Toàn và tôi lên phòng thay quần áo. Nhìn từ cửa sổ tầng 20 của khách sạn, thủ đô Mockba chìm trong tuyết. Ánh đèn vàng bệch của thành phố kèm chút sáng trăng giúp tôi nhận ra vị trí Quảng Trường Ðỏ, lặng lờ, quạnh quẽ cách khách sạn khoảng 200 thước. Như vậy chúng tôi đang ở trung tâm của Mockba.
“Chỉ có café, bia, nước ngọt, không có gì ăn cả,” người phục vụ tại quán ăn của khách sạn tỉnh queo trả lời tôi.
Oh! My God! Cái gì, khách sạn quốc tế 4 sao giữa thủ đô mới 8 giờ 30 tối đã không còn gì ăn. Bằng và tôi ngán ngẩm nghĩ tới 5 ngày còn lại. Thấy quan tài rồi bạn ta ơi!
“Cơ bản là thế đấy anh ạ,” Toàn điềm nhiên như không, “bây giờ ngoài phố cũng chẳng đào đâu ra cái ăn, tối nay ta khắc phục vậy, mai em sẽ làm việc.”
Ba tách café đen nhỏ 11 đô la, tôi lại nhớ tới câu “giá của địa ngục”. Mấy bàn còn lại lác đác người ngoại quốc, hai bàn Á Châu chắc chắn là thương gia Nhật, còn lại là da trắng.
Phải kể là khách sạn đầy… tiên. Tóc vàng có, nâu có, áo da có, áo lông thú có, cô nào cũng đẹp, khêu gợi qua lại như đèn kéo quân.
“Các anh hưởng đêm Mockba nhé,” một trong ba cô vừa sà vào bàn chúng tôi nói, “170 đô la kể cả phòng.”
Mười bảy tháng lương của công nhân Nga, “Tiên” chứ đến… “Thánh” chúng tôi cũng từ chối.
“Hay là các anh muốn xem chỉ tay,” cũng cô lúc nãy, “rẻ thôi 20 đô la.”
Cũng có màn này nữa sao? Quả tình bàn ngay bên cạnh đang có một chàng G.I. chìa tay chắc là để tìm hiểu tương lai…Tổng Thống Bush. Tôi diễu cô gái vừa hỏi, “How to say thanks in Russian?” Cả ba cô ngúng nguẩy bỏ đi một nước.
Ngồi lại một mình, Bằng đi ngủ trước, Toàn hẹn quay trở lại sáng hôm sau, tôi ra quầy mua một lon Heinneken giá 5 đô la. Ðói. Biết vậy tôi đã nghe lời Janna nuốt hết dĩa thức ăn trên phi cơ. Anh G. I. bàn bên đã xong phần bói toán và đang nhai bánh khô. Ðây là thực phẩm mang theo, anh vừa nói vừa nheo mắt với tôi. Tôi cười ruồi cho quên cơn đói.
Ðói nhưng cảm giác an toàn của khách sạn giúp tôi hoàn hồn khi nghĩ lại những chuyện xảy ra tại phi trường Chérémétiévo lúc trước đó.
Làm xong thủ tục nhập cảnh, nghĩa là đóng dấu “thành thật khai báo” vật dụng đem theo và móc hết tiền trong túi cho nhân viên hải quan kiểm tra, Bằng, người bạn đi cùng và tôi xách vali ra cửa. Một đám đông hỗn độn, lố nhố mời chào taxi, hỏi mua bán và đổi đô la. Chúng tôi dứt khoát từ chối hết và lóng ngóng tìm kiếm. Ðây rồi, anh chàng Á Châu này một triệu phần dầu là người Việt ta, bằng chứng là anh ta chẳng cầm tấm bảng viết tên tôi đó sao? Một màn giới thiệu, Toàn, sinh viên tốt nghiệp ngành điện, du học Mockba từ 1981.
“Bây giờ bọn anh mặc em bố trí nhé, không được rời em, tình hình căng lắm.” Tôi suýt phì cười vì lối nói đặc biệt Xã Hội Chủ Nghĩa của Toàn.
Vừa ra tới đường, mặt tôi rát bỏng vì lạnh. Không rõ nhiệt độ bao nhiêu nhưng tôi cóng cả người. Tôi chợt hài lòng vì lúc lên phi cơ đã quyết định không cởi bớt lớp áo ngoài. Trong tích tắc, cả hơn chục người vây quanh chúng tôi. To lớn, bặm trợn, nón và áo lông cũ kỹ, đám người này kỳ kèo đòi đưa chúng tôi về khách sạn với giá 20 đô la. Toàn cố kéo chúng tôi ra khỏi đám người này và dặn, đừng lên xe bọn này, nó sẽ “trấn” anh dọc đường đấy.
Chúng tôi cố đón taxi, một, hai, rồi ba chiếc vừa dừng lại đã vội rú đi ngay. Bọn đầu gấu vây quanh chúng tôi giơ tay hăm dọa nên không tài xế nào dám rước chúng tôi.
Một chiếc dừng lại, tôi vội vàng mở cửa chui vào, chợt thấy Bằng hốt hoảng nhảy dựng về phía sau tay ôm vali che ngực. Thật lẹ, tôi vọt ra khỏi xe quay người lại. Thì ra một trong những tay kỳ nèo chúng tôi nãy giờ đã rút dao găm ra và đâm ngập vào bánh xe phía Bằng đứng. Tội nghiệp người tài xế, không rước được khách lại bị đâm lủng bánh xe, anh ta đang cố lái ra khỏi đám người hung dữ này.
Tên vừa đâm xe bám lấy tôi, “không đi xe tôi thì không xe nào dám đón đâu,” hắn nói.
Tôi bắt đầu sợ, đất lạ không biết xoay sở ra sao. Tôi hỏi Toàn, “báo công an được không?” Toàn trả lời, “ai người ta thèm để ý mà báo, chúng nó ăn chia với nhau hết rồi.” Tôi giành quyền “bố trí” và đưa ra “phương án”: cứ gọi taxi, khi xe dừng là lên ngay khóa cửa trong, bảo tài xế chạy, bánh xe bị đâm thì thay dọc đường, bọn tôi trả thêm tiền.
Phương án diễn ra đúng như dự định, nửa giờ sau có một ông già dừng lại đón chúng tôi. Như một con cắt, chúng tôi đã khóa cửa xe từ bên trong. Bụp! Bánh xe phía tôi ngồi bị đâm, mặc kệ xe cứ thế lao đi. Thế mà, đã thoát đâu, hai chiếc xe của bọn này cúp đầu xe chúng tôi chặn đường, ông tài xế bẻ gắt về bên trái, leo lề và dọt ra khỏi phi trường.
Vừa chạy được khoảng 15 phút, xe phải tấp vào bên đường thay bánh. Hai bên là rừng, tuyết phủ trắng xóa, đường vắng ít xe qua lại. Chợt một chiếc xe ngừng ngay sau chúng tôi, hai người nhảy xuống tiếng Nga lào xào. Tôi xanh mặt, ông già lái xe này mà là người của bọn kia thì đối phó sao đây? May quá, họ lên xe đi tiếp. “yên tâm rồi, bọn họ hỏi đường đó mà,” Toàn nói. Hai mươi phút sau xe tiếp tục lăn bánh, vừa chạy được một quãng tôi thấy bên lề đường, một taxi không hành khách, tài xế đang lui cui thay bánh. Không biết đó có phải là chiếc xe đã đón hụt chúng tôi lúc nãy không, tôi tự hỏi?
Xe dừng lại ở số 3 đại lộ Tverakaia, Intourist đây rồi. Ngoài 300 rúp Toàn trả, tôi dúi vào tay ông tài xế 20 đô la, mắt ông ánh lên vẻ vui sướng. Hai mươi dollars tức là 2,000 rúp bằng lương hai tháng của công nhân Nga, cũng đủ đền bù công ông vất vả.
Ðêm Mockba lạnh lẽo, tôi đói cồn cào. Mockba ơi! Tôi thầm gọi, tôi sẽ nhớ mãi ngày 14 Tháng Hai này.

III. Ốp Búa Liềm: Một khía cạnh sinh hoạt của người Việt trên đất Nga

“Bọn anh đừng nói gì cả nhé, cứ quan sát thôi, mọi việc mặc em bố trí, người Việt buôn bán tại đây rất ngại người lạ dòm ngó. Có ai hỏi thì cứ bảo ở Việt Nam qua du lịch.” Toàn dặn đi dặn lại điều đó trước khi chúng tôi đặt chân tới Ốp Búa Liềm.
Ốp tiếng Nga có nghĩa là ký túc xá dành cho công nhân. Ốp Búa Liềm, tọa lạc trên đường Rustavenli cách trung tâm Mockba 25 phút lái xe, là ký túc xá của công nhân nhà máy Búa Liềm, và cũng là nơi ở của 100 công nhân Việt Nam và khoảng vài chục người khác được gọi là dân “lưu vong” đến đây trú ngụ và buôn bán bất hợp pháp. Bằng cách dùng tiền “đút lót” người quản lý Ốp và công an, những người sống bất hợp pháp này thản nhiên trong việc ra vào ốp.
Theo một bản tin của Sứ Quán Việt Nam tại Nga, kể từ Tháng Mười Hai, 1989, Cộng Sản Việt Nam đưa sang Liên Xô (tên gọi chỉ các nước Cộng Hòa hiện nay độc lập) 103,392 người lao động hợp tác trong đó có 52% là nữ. Sau nhiều đợt bổ sung và đưa về nước, tính đến nay (1992) tổng số người Việt ở Liên Xô còn lại là 52,000 được phân bổ làm việc tại 370 nhà máy, xí nghiệp ở 73 tỉnh, thành phố thuộc Liên Xô. Trong số người nói trên có đến 40,000 làm việc tại 260 xí nghiệp rải rác ở 49 tỉnh thuộc Cộng Hòa Nga. Trước khi Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết sụp đổ, với đồng lương trung bình là 200 rúp một tháng, so với giá thịt heo 1 rouble/1 kg, gạo 0.80/kg, tủ lạnh loại 120 lít/250 rúp, đời sống công nhân Việt Nam ở đây tương đối khá ổn. Sau khi Cộng Hòa Nga tự trị và trở thành một nước trong Cộng Ðồng Thịnh Vượng Chung, lương những người công nhân này thay đổi, 500 rúp một tháng nhưng thịt heo tăng lên 100 rúp/1kg, gạo 40 rúp/1kg, tủ lạnh dung lượng 120 lít/5,000 rúp một cái.
Trở lại sinh hoạt của Ốp Búa Liềm, có thể tóm tắt thế này: đây là nơi sẵn sàng thu mua tất cả mọi mặt hàng xuất xứ từ bất kỳ đâu, kể cả mua hàng tấn hàng của “ai đó” “đánh” từ Việt Nam sang bằng máy bay Aeroflot. Dĩ nhiên người mua thanh toán ngay bằng tiền mặt – “đồng xanh.” Những tiếng lóng chúng tôi nghe người Việt nói với nhau ở Ốp Búa Liềm: Xanh (đô la Mỹ), Ðỏ (vàng), bộ đội (những người Việt sống bất hợp pháp ở Nga), gió béo (áo gió loại lớn), gió gầy (áo gió loại nhỏ), quần bò (quần jean)… về giá cả, một chiếc áo gió béo tại Việt Nam giá khoảng 4 dollars khi “đánh” qua Nga người chủ hàng lời từ 2-3 đô la một cái. Qua tay nhiều trung gian, người tiêu thụ phải mua với giá khoảng 18 đô la tức 1,800 rúp một chiếc. Một bộ đồ ngủ mua tại Việt Nam khoảng 2 đô la, bán tại Nga là 5 đô la. Ngoài ra chúng tôi quan sát thấy nhiều mặt hàng khác như xà bông tắm giặt, đồng hồ điện tử, thuốc lá, cá khô, quần bò được bán sỉ tại đây. Có thể nói Ốp Búa Liềm cũng như các ốp khác, Ốp 5, Ốp Ngọn Cờ,… là một trong những nguồn cung cấp hàng không những cho người Việt mà cả cho người bản xứ tại Nga và các nước Cộng Hòa vùng Baltic. Những ngày ở Nga, tôi nghe nhiều người nói là do buôn bán, có ít nhất năm ba người Việt tài sản lên tới cả triệu Mỹ kim.
Do số người tấp nập ra vào buôn bán, một dịch vụ khác đã được người Việt tại Ốp Búa Liềm “triển khai triệt để”: dịch vụ ăn uống. Ở hành lang, ở cầu thang, chúng ta thấy các tờ giấy dán trên tường với dòng chữ: “phòng 412 có phở, bò, gà,” “phòng 220 có bánh cuốn,” “lầu 3, phòng 309 có bia, rượu, đồ nhậu đủ loại”… Những người buôn hàng ăn này kiếm được khá tiền. Một dĩa bánh cuốn nhỏ 35 rúp, một dĩa xôi đậu xanh 50 rúp, một tô phở (thật ra chỉ là mì sợi) 30 rúp… Ngoài ra chúng tôi còn gặp người bán tiết canh lòng lợn tại các phòng. Buôn bán, ăn nhậu, bài bạc dẫn đến ẩu đả, đâm chém là việc thường xảy ra. Tình trạng nhân viên sứ quán Việt Cộng tại Nga “ô dù” (che chở) “tư túi” (tham nhũng của công) được mô tả là đầy rẫy.
Sáng ngày 15 Tháng Hai, chúng tôi đến Ðôm 5 mà không được phép vào vì đêm trước một công nhân Việt Nam buôn vàng bị chết vì nổ bình hơi lúc phân kim. Ðôm 5 là cư xá của sinh viên Việt Nam thuộc quyền quản trị của Viện Hàn Lâm Nga. Ðôm 5, Ốp Búa Liềm, Ốp Ngọn Cờ đều là nơi buôn bán nổi tiếng của người Việt tại Mockba. Theo lời Toàn, trước kia còn có Ốp Jean chuyên bán quần bò nay đã bị dẹp.

IV. Ở tận sông Hồng em có biết… quê hương Nga hổng có gì ăn
Câu trên là một đoạn trong bài hát của cộng sản được cải lời mà người dân trong nước vẫn hát sau 1975. Quả tình “quê hương Nga” hổng có gì ăn thiệt. Trong suốt thời gian 6 ngày ở Mockba, Toàn, Bằng và tôi khốn khổ tột cùng trong việc tìm cái ăn.
Ngày nào cũng thế, dù ra khỏi thành phố 2 tiếng lái xe, đến giờ trưa chúng tôi vẫn phải quay trở lại trung tâm Mockba kiếm thức ăn. Hoặc Toàn vào Ốp Búa Liềm mua, hoặc ghé McDonald’s, còn nếu muốn ăn quán thì thường phải đi mấy chỗ liền mới tìm được quán mở cửa. Chưa hết, còn phải biết cách “làm việc riêng” nữa, nghĩa là đút tiền thì mới có bàn ngồi (mặc dù bàn còn trống). Quán Peking chẳng hạn, quán lớn nhất Mockba, nếu ngồi khu trả bằng “xanh” thì 20 Mỹ kim một dĩa cơm chiên tôm gà. Cũng y như vậy bên khu trả bằng rúp thì giá là 300 rúp một dĩa tức là 3 đô la. Mà bên nào cũng thế đều phải biết “làm việc riêng.”
Quán Korean ở đường Kalantchiovskaia là tôi không quên được. Cách Quảng Trường Ðỏ một tiếng lái xe, quán này là loại hợp doanh của người Bắc Hàn và Nga. Nhìn ba cái chén được dọn ra tôi đã hết cảm thấy đói. Hai trong ba cái, miệng chén bị bể bằng đầu ngón tay út, lòng chén còn bợn chút bột xà bông rửa. Tôi quyết định ăn bánh bao để khỏi dùng chén. Tôi ăn uống dễ tính vậy mà mới cắn miếng đầu tiên tôi đã vội nhả ra lấy muỗng moi ruột và bỏ vỏ xuống bàn. Bằng hỏi, “tệ lắm hả?” và không muốn “đi vào vết xe” của tôi, Bằng cũng chỉ moi ruột bánh bao ăn.
Tô “phở lạnh” mới kinh. Gọi là phở nhưng thật ra là mì với ít cọng hành và vài lát thịt, còn nước dùng, tôi thề có Trời nó là nước lạnh thuần túy không mắm muối.
Cả Bằng và tôi đều đụng đũa rồi bỏ nguyên tô. Toàn khôn hơn, đã chọn món thịt nướng ngay từ đầu. Chúng tôi bắt chước Toàn gọi hai đĩa thịt nướng. Cũng an ủi phần nào, có còn hơn không. Lúc sau về lại Pháp, Bằng có nói với tôi, tí nữa anh ọc ra giữa bàn khi thử món phở lạnh nhưng đã cố gắng nuốt cơn nôn nao xuống.
Lúc đứng dậy trả tiền, chúng tôi xúc động vô cùng khi thấy một gia đình Nga bốn người đang ngấu nghiến bánh bao ở bàn bên cạnh. Tôi nghĩ, giá họ được thưởng thức bánh bao Bà Cả Cần ở Saigon trước 1975.
McDonald’s thì khác hẳn, rộng rãi, sạch sẽ, nhân viên phục vụ vui vẻ, niềm nở. So sánh giữa một tiệm McDonald’s tại Nga và loại tiệm này tại Mỹ, chúng ta thấy tiệm ở Nga có bốn điểm khác biệt; rộng gấp mười những tiệm bên Mỹ, không có café, ketchup phải trả tiền giá 5 rúp một gói và cuối cùng là, khách ăn xong cứ để mặc mọi thứ trên bàn, người phục vụ sẽ dọn dẹp. Chúng tôi ăn bốn cái Big Mac, bốn ly medium Coke, hai gói French Fries giá 7 đô la. Rẻ bằng một nửa bên Mỹ nhưng sau những ngày đầu tò mò, số người Nga vào McDonald’s giảm hẳn đi vì giá vẫn quá cao so với lương của họ.
Ðọc tới đây chắc có người sẽ tự hỏi, cái ăn kiếm khó thế làm sao dân Nga sống, không lẽ họ sống bằng… khẩu hiệu. Xin thưa, sống được chứ, nhưng với giá bao cấp. Chế độ bao cấp, đại loại là, lương công nhân 1,000 rúp một tháng, gia đình hộ 2 phòng, 50 rúp một tháng tiền nhà, điện ga sưởi 30 rúp, xăng 1 lít/1 rúp (tức 1 Mỹ kim mua được 25 gallon). Số tiền còn lại là mua thực phẩm giá quốc doanh tức phải xếp hàng, 8 rúp một ổ bánh mì, 60 rúp một chai vodka… Riêng về nhà ở, toàn thành phố Mockba chỉ có một loại nhà là chung cư cao 20 tầng, ngoài ra không tìm đâu ra một căn nhà xây riêng rẽ. Tập thể hóa đến thế đúng là “cái nôi của vô sản.”

V. Quảng Trường Ðỏ và phố Arbat
Cả ngày Chủ Nhật 16 Tháng Hai chúng tôi dành để thăm Quảng Trường Ðỏ và phố Arbat.
Trời bão tuyết và nhiệt độ được loan báo là 18 dưới 0 độ C. Vừa ra khỏi taxi, chúng tôi đụng đầu ngay với một đám biểu tình với cờ búa liềm, hình Lênin. Những người này phản đối việc chính phủ Yeltsin dự định dời xác Lênin ra khỏi Quảng Trường Ðỏ. Ðoàn người dễ có đến cả ngàn, tương đối trật tự, vừa tiến vào lăng Lênin vừa hô khẩu hiệu. Tôi nói với Bằng, “diễn tập dân chủ đây, trước kia thì sức mấy, chết với KGB ngay.”
Một bà già Nga 62 tuổi, bà Katarosvic, đề nghị làm hướng dẫn viên cho chúng tôi với giá 50 rúp. Tính ra chỉ có 50 cent Mỹ cho 3 tiếng đồng hồ, bà dẫn chúng tôi xem mộ Peter Đại Đế và con cháu, những kiến trúc cổ của các nhà thờ Chính Thống Giáo Nga, những khẩu đại bác của Nã Phá Luân để lại trong cuộc rút chạy 1812… Riêng lăng Lênin chúng tôi từ chối vào xem, chẳng ích lợi gì cả. Với một giọng Anh rất khó nghe, bà Katarosvic đã vất vả khi phải giải thích cho chúng tôi về các di tích ở quảng trường này. Giống như bao bà mẹ khó tính khác, bà muốn “gìn giữ” chúng tôi như “bảo vệ con ngươi trong mắt mình,” bà dặn đi dặn lại, đừng mua gì ở đây, nón hồng quân, đồ kỷ niệm chúng nó bán đắt lắm và nhất là đừng cho lũ thanh niên bám theo kia thuốc lá, chúng nó không tốt lành gì đâu. Các cô cậu Nga bám theo tôi xin thuốc lá làu bàu tiếng Nga với bà.
Lúc chia tay, tôi biếu bà Katarosvic 400 rúp, bà ngần ngừ có ý không muốn nhận vì số tiền nhiều quá. Tôi nhét vào túi bà rồi leo vội lên xe taxi. Tội nghiệp bà thư ký hành chánh của chính phủ, hai ngày cuối tuần làm thêm như vậy không rõ bà kiếm được bao nhiêu. Tôi cầu chúc cho các bà mẹ Nga cuộc đời sớm sáng sủa.
Rời McDonald’s lúc 3 giờ, chúng tôi mua thêm 2 ly Coke và đi Arbat. Kinh nghiệm mấy ngày nay cho thấy chẳng đào đâu ra được nước uống dọc đường, dù là nước lạnh.
Arbat là một khu phố chuyên bán những đồ vật kỷ niệm cho du khách tọa lạc ngay trung tâm Mockba trên đường Kalinine, người qua lại tấp nập. Tôi nhận ra nhiều loại ngôn ngữ ở đây, Mỹ, Pháp, Đức, Nhật và cả Việt Nam nữa. Riêng những người Việt Nam đến đây hầu như chỉ để bán hàng. Nón lông có huy hiệu hồng quân 10 đô la, quần áo mùa Đông của Hồng Quân 60 đô la, búp bê Nga La Tư 12 con 70 đô la, áo phụ nữ làm bằng lông thú giá từ 160 đến 900 đô la. Một người bạn gái bên Pháp cho tôi biết giá một bộ áo lông như thế tại Paris đắt gấp bốn lần.
Khu Arbat ăn mày đông vô kể. Họ bám theo chúng tôi và chỉ xin… đô la Mỹ thôi. Cho 50 rúp không chịu, nhất định xin bằng được 1 đô la, họ còn kèo nài cả thuốc lá và bật lửa nữa. Toàn đã phải “rủa” tiếng Nga và giằng họ ra chúng tôi mới đi thoát. Tôi ghi nhận thấy hiện tượng bói toán, chỉ tay khá phổ biến ở đây. Hai ba người lính Nga túm tụm quanh một bà xem chỉ tay. Hình ảnh này tôi cũng thấy ở khách sạn Intourist đêm đầu tiên. Cửa hàng mậu dịch quốc doanh gần khu Arbat thì sơ sài. Mặt hàng chỉ có ít quần áo, chén dĩa, vật dụng trong nhà như xà bông, kem đánh răng, thuốc lá. Thuốc lá thì tệ vô cùng, bập được vài hơi lại tắt, mùi khét lẹt. Ngay cửa ra vào, cơ man là người. Đàn ông, con gái, bà già, con nít, những người này tay cầm đôi giày, cái áo, gói thuốc, chai rượu mời chào người qua lại. Trước khi đi kiếm cái ăn (lại cái ăn), chúng tôi ghé ngang International Bar and Shopping mà người bản xứ gọi là cửa hàng ngoại tệ. Ở đây chỉ nhận “xanh” tức đô la Mỹ. Đủ thứ, quần áo, máy móc, bánh kẹo, rượu thuốc lá toàn đồ ngoại. Một hộp bánh ngọt 11 đô la (loại này mua ở Savon tại Mỹ 5 đô la) rượu Remy Martin loại 3/4 lít giá 40 đô la (mua tại Mỹ 28 đô la)… Thấy tôi tò mò quan sát hai người Việt Nam mua máy cassette ở đây, Toàn ghé tai tôi nói nhỏ, “dân Ốp Búa Liềm đấy anh ạ.”
??????????????????
Ra khỏi quán Hà Nội lúc 12 giờ 30 khuya, trời lạnh như cắt từng thớ thịt. Nằm trên đại lộ Profsolozlae (nghĩa là công đoàn) đối diện quán Hà Nội là đài kỷ niệm Hồ Chí Minh. Nó là một tấm đồng tròn đường kính khoảng 3 thước ở giữa khắc khuôn mặt Hồ Chí Minh. Tôi chỉ tay lên đó và hỏi Toàn, “Dân Nga đã giật sập các tượng đài Lênin, họ còn để lại cái bia ở đây làm gì?” “Rồi cũng đến phiên thôi anh ạ,” Toàn đáp. “Toàn nghĩ gì về ông ấy?” tôi tiếp. “Em cũng chẳng ưa đâu anh ạ, anh bảo thời buổi này còn ai tôn sùng lãnh tụ nữa cơ chứ.” Toàn trả lời.
Đón mãi taxi không có, tôi sắp chết rét thì nguyên một chuyến xe bus ngừng lại. Trên xe chỉ có hai bà già Nga ngủ gà ngủ gật. Sau một màn mặc cả với Toàn, tài xế ngoắc tay bảo chúng tôi lên, xe quay ngược lại hướng cũ và đưa chúng tôi về chỗ ở trong khu nhà tập thể của nhân viên Viện Hàn Lâm nơi Toàn làm việc. Hai trăm rúp tức 2 dollars mà được nguyên chiếc xe bus “phục vụ.” Toàn nói với tôi, xe quốc doanh đấy, họ làm “nghiệp dư” kiếm sống.
Quả tình tôi rất ái ngại và cảm thấy có lỗi với bà già lên xe trước bọn tôi, nay phải đi thêm một đoạn nữa. Tôi nói cảm tưởng này với Toàn, Toàn tỉnh như ruồi, nói, hơi đâu mà “thương vay khóc mướn”, bọn Nga chúng nó sống quen thế rồi trong xã hội Cộng Sản.
Sáu ngày với cái lạnh và đói ở Mockba rồi cũng đến lúc chia tay. Bằng và tôi bay về Paris ngày 19 với lời cầu xin mọi việc êm xuôi. Qua cổng hải quan, kỷ niệm chót của chúng tôi tại xứ này là mỗi đứa phải “thông cảm” 20 dollars cho nhân viên di trú kiểm soát thông hành. Nếu không, người “anh em” gây khó dễ thì “làm gì nhau.”
Phi cơ đảo một vòng trên bầu trời Mockba, mới 5 giờ chiều mà trời tối sập.
Thôi nhé, từ giã Mockba. Tôi chợt nhớ Jenna. Cầu chúc xứ sở cô sớm tốt đẹp. Tôi cũng ước mong điều đó cho đất nước tôi, Việt Nam./.