Ký của Đinh Quang Anh Thái

vandoanviet.blogspot.com
Đinh Quang Anh Thái
Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

Kỳ 5

Đỗ Ngọc Yến, con người bí ẩn
(Tháng Tám 2006)
“Around the World in Eighty Days” (Vòng Quanh Thế Giới Trong 80 Ngày), là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Jules Verne. Nhân vật chính trong chuyện là Phileas Fogg. Tác giả mô tả nhân vật này: “Phileas Fogg, an enigmatic personage, of whom nothing was known but that he was a very polite man, successful man, one of the most perfect gentlemen, and one of the great orators”.
Nếu thay tên nhân vật Phileas Fogg bằng Đỗ Ngọc Yến, thì đoạn văn trên có thể dịch thoát nghĩa: “Đỗ Ngọc Yến là một người bí ẩn. Ông lễ phép, vô cùng lịch lãm, thành công và có tài biện thuyết. Thế thôi, ngoài ra, không ai biết gì hơn về con người này”.
Lễ phép: Anh Đỗ Ngọc Yến là người rất lễ phép, thậm chí có nhiều trường hợp, ngay cả với những người không đáng, anh cũng lễ phép đến độ “đau lòng”. Nhiều người không hiểu, cho rằng anh theo chủ thuyết “hòn bi”, nghĩa là tròn trịa, không muốn làm mích lòng ai. Thực ra, bản chất anh là người lễ phép, hiểu theo nghĩa đẹp nhất của cung cách ứng xử này. Tuy nhiên, lúc cần phải “chém đinh chặt sắt”, anh Yến cũng cương quyết lắm. Nhất là trong những trường hợp cần bảo vệ điều anh cho là đúng.

Lịch lãm: Từ điển của Đào Duy Anh định nghĩa “lịch lãm là hiểu biết rộng, do từng trải”.
Người ta nhận ra ngay sự lịch lãm nơi anh. Anh biết nhiều, nếu không muốn nói là quá nhiều. Mà biết tường tận chứ không phải “cưỡi ngựa xem hoa”. Điều nghịch lý, xét về bằng cấp, bằng cao nhất của anh là… muôn đời sinh viên Văn Khoa. Kiến thức của anh do trường đời bám vào; nhưng anh đọc rất nhiều – một con mọt sách.

Thành công: Không ai phủ nhận được thành công của anh Yến, ít nhất là trong hai lãnh vực mà anh theo đuổi hơn nửa đời người, là hoạt động thanh niên và làm báo. Về sinh hoạt thanh niên, có thành có bại, nhưng anh đóng góp nhiều vô cùng, kể từ những năm còn là học sinh trung học thời thập niên 50 và chỉ từ bỏ khi anh nằm xuống. Trong lãnh vực báo chí, tờ báo Người Việt do anh dày công sáng lập và chăm nom, nay trở thành tờ nhật báo tiếng Việt lớn nhất bên ngoài nước Việt Nam.

Biện thuyết: Anh Yến khó có đối thủ. Khi cần phải trình bày một đề tài, anh phát biểu gãy gọn, mạch lạc, câu chữ được cân nhắc và chọn lựa kỹ càng. Nhưng đó là tài ăn nói thôi. Chứ còn khi viết, anh thường viết những mạch văn dài từ đầu đến cuối câu không hề chấm phẩy. Có lẽ vì thế mà anh ít viết. Tôi cố tìm những bài anh viết, họa hoằn mới thấy một bài, mà phải vất vả vô cùng mới hiểu anh muốn diễn tả điều gì.

Bí ẩn: Khỏi nói. Anh Yến bí ẩn quá đi thôi. Chẳng những bạn, mà thù cũng nghĩ về anh như thế.
Ðỗ Ngọc Yến trong mắt bạn hữu
Một trong những bạn thân của anh Yến là anh Trần Ðại Lộc nhận xét rằng, “Yến lạ lắm. Tôi chơi thân với Yến mấy chục năm, vậy mà vẫn còn mù mờ về tông tích của Yến. Có thể nói, Yến là người bí ẩn nhất của thế kỷ”.
Nhận xét nói trên, anh Lộc nói với tôi vào một đêm mưa trong căn nhà của anh ở Sài Gòn, sau năm 1975. Lúc đó, những người Cộng Sản vừa vào chiếm Sài Gòn, hai anh em tìm đến nhau để kiểm xem, anh em bạn bè, ai đi, ai ở, ai còn, ai mất. Nhắc đến anh Yến lúc đó đã di tản rồi, anh Lộc bảo, có hai người sinh hoạt cùng thời mà anh phục nhất, là Ðỗ Ngọc Yến và Ðỗ Quý Toàn. Vì sao ấy hả, anh Lộc giải thích, vì cả hai người có cái nhìn sâu sắc và viễn kiến, chứ hầu hết các anh em khác – anh Lộc bảo trong đó có cả anh – đều hời hời hợt hợt. Riêng anh Yến, anh Lộc còn nói, “Lạ lắm, học hành không ra làm sao cả, nhưng cái đầu của Yến là cái đầu của một giáo sư đại học, uyên bác, và đã biết điều gì thì biết đến nơi đến chốn.” Sau này, khi gặp lại anh Lộc trên đất Mỹ, anh vẫn nhắc với tôi suy nghĩ đó về anh Yến.
Anh Hà Tường Cát, một người bạn thiết khác của anh Yến thì có lối diễn tả “ghê khiếp” như sau về anh Yến: “Tôi có thể quả quyết rằng Yến không phải là Cộng Sản. Còn bảo Yến là CIA, là KGB, là cái gì khác thì tôi cũng ngờ lắm”. Biết anh Cát, thì hiểu rằng đó chỉ là một cách nói, nhằm cho thấy anh Yến bí ẩn lắm, ngay cả đối với bạn bè.
Nhà văn Mai Thảo lúc sinh thời có lần nhận xét về anh Yến, rằng “Hành tung của Yến thì chỉ có Yến và ông Trời biết, chứ ai mà hiểu nổi”.
Một người khác, anh Ðinh Bá Ái, hiện còn ở quê nhà, có lần nói với tôi, “Yến đi đâu cũng lọt, từ các bộ sở của chính phủ, các hội đoàn thanh niên, thậm chí cả với Nha Cảnh Sát, cũng không gặp vấn đề gì.”
Một lần tôi lên San Jose thăm Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình, nguyên Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, ông Bình nói: “Yến lãnh tiền của Cục Tình Báo do tôi lãnh đạo.”
Với riêng tôi, tôi đã nhiều lần nghe anh “tiên đoán” trước một số việc sẽ xảy ra, mà nhiều việc liên quan đến thời thế. Và y như rằng, sự việc cứ thế tuần tự diễn ra. Tôi từng tự hỏi, làm sao anh biết trước những việc đó. Nhưng rồi để tự tạo an tâm cho mình, tôi cho rằng, cũng do sự lịch lãm của anh mà thôi, chứ không “ghê khiếp” như cách nhận xét của anh Hà Tường Cát.

Ðỗ Ngọc Yến trong mắt thù
Khi đặt bút viết bài này, thoạt đầu, tôi tính đặt tựa bài là “Cộng Sản Hà Nội rất muốn có bộ trống làm bằng da Ðỗ Ngọc Yến”.
Thật thế, tôi có bằng chứng cho thấy, anh Yến mà không nhanh chân vào những ngày cuối của tháng Tư năm 1975, thì chắc chắn anh sẽ bị Cộng Sản… lột da.
Tội gì ư? Tội “làm CIA”.
Tôi còn nhớ, ngay đêm đầu tiên trong lần bị bắt thứ nhất, lúc đó là tháng Tám, 1975, Hai Tải, một sĩ quan công an phụ trách hồ sơ của tôi, đã xấn xổ hỏi tôi về Ðỗ Ngọc Yến. Y quăng vào mặt tôi cuốn Nối Vòng Tay Lớn, tập kỷ yếu ghi lại mọi sinh hoạt của Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội Và Hải Ngoại 1973. Chương trình này do anh Yến làm Ðiều Hợp Trưởng. Lúc đó, tôi mới vừa xong trung học và được giao vai trò Tổng Thư Ký. Hai Tải, thậm chí cả Năm Trà, Phó Giám đốc Công An Thành Phố, tra vấn tôi liên tục về Ðỗ Ngọc Yến. Họ lôi ra những sự kiện mà họ cho là “thành tích chống phá cách mạng của tên tay sai Mỹ – Ngụy, Ðỗ Ngọc Yến” và bắt tôi viết lời khai về mối quan hệ giữa hai người.
Tôi còn nhớ lời Năm Trà chì chiết: “Trong lúc đảng và nhân dân từng bước một giành thắng lợi trong cuộc chiến chống Mỹ, tên đế quốc lâu đời, tên sen đầm già nua của thế giới, thì Ðỗ Ngọc Yến đã làm tay sai cho chúng để tìm cách phá hoại nỗ lực của cách mạng”. Năm Trà còn nói, Ðỗ Ngọc Yến nguy hiểm hơn rất nhiều thành phần khác của chế độ miền Nam, vì “ẩn dưới chiêu bài hoạt động thanh niên sinh viên để chống Cộng.”
Khoảng đầu năm 1976, báo Sài Gòn Giải Phóng của Cộng Sản còn đăng loạt bài “Ðỗ Ngọc Yến là ai?”, trong đó, ngoài những chi tiết thật về vai trò của anh Yến trong phong trào thanh niên miền Nam, còn có những chi tiết dựng đứng, thêu dệt nhằm thuyết phục độc giả tin rằng, Đỗ Ngọc Yến là sản phầm của tình báo Mỹ.
Hai lần bị bắt sau, công an đều hỏi cung tôi rất nhiều về anh Yến.
Cộng Sản nghĩ về anh Yến như thế. Còn một số người Quốc Gia không ưa anh thì cho rằng, anh là Cộng Sản. Có thời, tính mạng anh còn bị đe dọa do một số người vu cho anh “thân” Hà Nội.
‘Ðỗ Yến, cháu Ðỗ Mười’
ây chỉ là chuyện hoàn toàn đùa giỡn, thuần túy là sản phẩm của trí tưởng tượng và do lỗi… tại tôi mọi đàng.
Chả là, lúc Ðỗ Mười vừa lên làm Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, báo Người Dân, xuất bản ở Nam California, có một buổi họp mặt một số anh em trong giới hoạt động để trao đổi với nhau những ưu tư thời cuộc.
Hôm đó, tôi ra vẻ “cực kỳ nghiêm trọng” và bí mật “một cách rất công khai”, nói với những người có mặt trong buổi sinh hoạt, “Này này, chỉ trong nội bộ chúng ta thôi đấy nhé, Ðỗ Ngọc Yến là cháu gọi Ðỗ Mười bằng bác đấy.” Ðợi cho mọi người buông đũa buông chén và hướng về phía mình, tôi tiếp tục, “Ðỗ Mười tên thật là Ðỗ Ngọc Mười, là anh ruột của ba anh Yến. Thời thanh niên, lúc bắt đầu đi theo Cộng Sản, Ðỗ Mười thấy đi làm cách mạng vô sản mà có tên lót ‘Ngọc’ thì có vẻ ‘tư sản’ quá, nên quyết định bỏ chữ Ngọc để chỉ còn là Ðỗ Mười. Còn anh Yến, lúc bấy giờ mới lớn, cũng theo bác Mười, bỏ chữ lót và lấy tên là Ðỗ Yến. Sau này, khi vào Nam, sợ cách gọi Ðỗ Yến có vẻ ‘vô sản’ quá, dễ bị công an nghi ngờ, nên lấy lại tên cũ là Ðỗ Ngọc Yến và dùng cho tới bây giờ.”
Chuyện diễu dở chỉ có vậy và ngay sau đó tôi quên đi. Ai dè, một tuần sau, tờ Việt Nam Hải Ngoại xuất bản ở San Diego do Luật sư Ðinh Thạch Bích chủ biên cho đăng trong mục phiếm luận bài viết “Ðỗ Ngọc Yến là cháu Ðỗ Mười”. Tôi gọi điện thoại hỏi anh Bích, anh cười ngặt nghẽo bảo: “Tớ chọc Yến chút cho vui ấy mà”. Ðúng là “Tướng núi Ðinh Thạch Bích” của thời kháng chiến chống Pháp trong chiến khu núi Bà Ðen của Trình Minh Thế vào những năm 1950.
Mãi sau này, vào năm 1994, một hôm có dịp đi cùng nhà báo lão thành Như Phong Lê Văn Tiến và anh Yến xuống thăm ông “Tướng núi”, anh Ðinh Thạch Bích nói trước mặt mọi người, trong đó có hai anh Lê Văn Thái và Chu Tử Kỳ, rằng: “Tớ đùa tí, Yến đừng để bụng nhé”.
Anh Yến có để bụng hay không, chỉ anh biết. Nhưng trên đường về lại Quận Cam, khi chỉ có ông Như Phong và tôi, anh Yến bảo tôi bằng một thái độ hết sức nhỏ nhẹ: “Kỳ sau Thái đừng đùa như thế nữa nhé”.

Ðánh trống bỏ dùi
Nhiều anh em bạn hữu của anh Yến thường nửa đùa nửa thật, anh Yến là chuyên viên “đánh trống bỏ dùi”, hàm ý chỉ bày trò rồi bỏ mặc mọi việc cho người khác. Thậm chí còn diễu, mỗi lần dọn nhà, anh Yến phải thuê cả một xe vận tải để… chở dùi trống trong garage.

Cũng đúng, và cũng sai.
Đã xảy ra ít nhất vài lần, với tôi là nạn nhân.
Năm 1973, trong một buổi họp của Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội và Hải Ngoại, Ðiều Hợp Trưởng Ðỗ Ngọc Yến yêu cầu tôi làm một biểu đồ sinh hoạt hàng tuần của Văn Phòng để dùng cho buổi họp hôm sau. Hì hục cả ngày mới xong. Vậy mà đến lúc họp, anh Yến không hề đã động gì đến, và tỉnh như “ruồi”, y như không hề nói với tôi điều gì về “kế hoạch thuyết trình” này.
Một lần khác, lúc phong trào cứu người vượt biển lên cao độ, anh Yến bàn luận say sưa với tôi nhiều công tác lắm. Thế rồi đến giờ họp cùng các anh em khác, anh không xuất hiện. Tôi gọi điện thoại đến nhà thì mới biết, anh đang điềm nhiên coi tin tức truyền hình.
Những anh em cùng gắn bó với anh Yến từ thời thanh niên, và nhất là sau này ở hải ngoại, cùng tụ với nhau làm tờ Người Việt đều kinh nghiệm ít nhiều về những lần “đánh trống bỏ dùi” của anh Yến. Thậm chí có người còn nói, Yến thích bàn cứ để cho anh ấy bàn, còn làm thì “forget it”.
Nhiều, còn nhiều chuyện như thế đã xảy ra.
Đó là anh Yến. Nhưng quả đáng tội, đó cũng không hẳn là anh Yến.
Theo nhận xét của tôi, thực ra, anh Yến không hẳn là người đánh trống bỏ dùi. Vì nếu quả là như thế, thì các phong trào thanh niên mà anh có công gầy dựng đã không đạt được những thành quả đáng kể trong mấy chục năm qua, và báo Người Việt không ngày càng phát triển như hiện nay. Anh Yến là người có đầu óc chiến lược. Anh nhìn ra vấn đề và thảo luận với người khác. Còn việc thực hiện, “… not his business”.
Lại nhưng. Nhưng cũng còn tùy. Có những việc anh Yến lao vào và nhất định thắng cho bằng được. Những ngày khó khăn của tờ Người Việt, anh ngày đêm một mình lầm lũi chứng minh cho quyết tâm của anh. Tôi còn nhớ, ít nhất hai lần, anh Yến trách tôi: “Thái hay bỏ cuộc dở chừng, không chịu bám trụ vào một việc gì nhất định”. Lời nhận xét của anh Yến rất đúng, 20 năm qua, tôi lang thang hết từ việc này đến việc nọ, và có lẽ bây giờ mới định được cho mình một công việc đúng theo sở thích.

Đỗ Ngọc Yến
Người phụ nữ sau lưng
Câu nói hầu như ai cũng biết, “sau sự thành công của một người đàn ông, lúc nào cũng có bóng dáng một người phụ nữ”.
Trong trường hợp anh Yến, bóng dáng thấp thoáng đó là chị Loan, vợ anh. Tôi hiếm thấy người nào hiền với chồng như chị Loan. Tôi có thể nói chắc nịch, vào tay người đàn bà khác, anh Yến chắc chết. Tức là chết là cái chắc. Một cách bỗ bã bình dân, “Chỉ có Giời mới chịu nổi ông ấy”.
Còn nhớ một buổi chiều năm 1974. Lúc đó, trụ sở Văn Phòng Liên Lạc Sinh Viên Quốc Nội và Hải Ngoại đã dọn từ đường Tự Do về số 19 Kỳ Ðồng. Hôm đó, tôi có việc phải ghé ngang báo Ðại Dân Tộc để gặp ký giả Mai Phương, bút hiệu của anh Yến. Tôi báo cho anh biết về buổi sinh hoạt sẽ diễn ra tại trụ sở Văn Phòng vào buổi tối. Anh bảo đã lỡ hẹn đưa chị và các cháu đi ăn tối rồi đi coi xinê. Tôi bảo, vậy anh cứ về nhà đi, đừng bận tâm về buổi sinh hoạt.
Vậy mà, chương trình vừa bắt đầu, đã thấy anh lò dò đến. Hôm đó, tất cả anh em cùng tham dự đêm không ngủ tại trụ sở. Sáng hôm sau, mới bảnh mắt, Sài Gòn vừa dứt giới nghiêm thì chị Yến tới tìm. Chị thấy anh Yến phong phanh mỗi chiếc áo may ô, nằm cuộn tròn dưới đất, bên cạnh những anh em khác. Anh Yến bật dậy, lẳng lặng ra về trên chiếc Suzuki màu đỏ.
Một lần khác, ở hải ngoại, vào năm 1994, lúc đó tôi đang sống bằng nghề lái taxi ở Hawaii. Từ “hoang đảo” trở về đất liền chơi, tôi được tin một huynh trưởng thanh niên và bạn thân của anh Yến là anh Trần Ðại Lộc cùng gia đình đang trên đường sang Mỹ định cư, và chuyến bay sẽ xuống Houston, Texas, trong hai ngày tới. Thế là các anh Ðỗ Quý Toàn, Lê Ðình Ðiểu, Hà Tường Cát và tôi mướn xe lái sang Texas đón anh Lộc. Anh Yến thì nằng nặc không đi, vì còn bận việc tờ báo, và bận “vài việc nhà”.
Vậy mà khi chúng tôi ra xe, tỉnh queo, anh leo lên và bảo tôi ghé ngang nhà để anh mang theo “một chiếc áo”. Khi trao cái túi cho anh, chị Loan thản nhiên quá chừng chừng, vì chị đã quá quen với lối sống kiểu đó của anh.
Hơn 30 năm trời quen biết anh chị Yến, tôi chưa hề một lần thấy chị Loan tỏ ra phiền hà, hay có một lời trách móc anh. Ít nhất là trước mặt bạn bè. Trong chỗ riêng tư của hai anh chị, điều này có thể xảy ra. Tôi cho rằng, chị Loan đã đóng góp rất nhiều chọ sự nghiệp của anh Yến. Mà quan trọng nhất là việc nuôi dạy các con.
Từ lúc mới biết và sau đó làm việc với anh Yến, tôi thề có Trời, chẳng bao giờ tôi nghĩ rằng, anh Yến có thời giờ nuôi dạy con cái. Làm báo, sinh hoạt suốt ngày, lại còn bù khú với bạn bè. Giờ đâu dành cho gia đình nữa? Giời ạ!

Tôi hoàn toàn sai.
Các con anh Yến nên người. Các cháu thành công, không những chỉ trong lãnh vực khoa bảng, mà còn ở mặt nhân cách. Các con của anh Yến chị Loan, khi rời quê nhà thì còn quá bé. Vậy mà, khi lớn, mặc dù đã nhập vào dòng chính trên đất Mỹ, các cháu vẫn giữ được nếp nhà.
Cả anh Yến lẫn chị Loan, tôi chưa hề nghe anh chị khoe về các cháu. Có người thì cho rằng, anh Yến ngầm đưa các con vào những vị trí then chốt của tờ Người Việt. Tôi thì nghĩ khác. Các cháu giỏi, và nhất là còn trẻ, các cháu xứng đáng để kế tục con đường mà các bác các chú trong tờ báo đã có công khai phá. Chúng ta chẳng từng tỏ mong ước là phải có thế hệ kế thừa đó sao?

Anh Yến bây giờ không còn nữa.
Tôi tin là dù không nghe nói ra, anh hẳn phải hài lòng vì những nỗ lực và thành quả mà anh đạt được. Những thất bại của anh, tôi chưa có dịp nghe anh tâm sự. Còn về những bí ẩn của đời anh, thì anh đã theo xuống tuyền đài.
Cho nên, bài viết về anh thì dài, nhưng bảo rằng hiểu nhiều về anh thì không hẳn./.

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

  1. Chương 8
    Tôi yêu những buổi chiều chung quanh một ngôi trường con gái. Buổi chiều vàng của niên thiếu? Buổi chiều mà thi sĩ Xuân Tâm đòi đổi hai mai lấy một chiều Buổi chiều chỉ đẹp khi nhuộm vàng nắng yêu Nghĩa là khi ta đón đợi người yêu vào những buổi chiều. Em đến thăm anh một chiều mưa mới thơ mộng. Chứ, một sáng mưa là vất đi. Cho nên, thi ca và âm nhạc của ta rất nhiều buổi chiều. Một nghìn bản nhạc thì có tới chín mươi chín bản vương vấn nắng chiều. Chiều ơi, chiều nay, chiều đi, chiều rơi, chiều bay, chiều tà, chiều buồn, chiều vàng, chiều tím, chiều xưa… vân vân… Với tôi, buổi chiều lý tưởng chỉ là buổi chiều Xuân Tâm, buổi chiều tôi đứng thộn mặt để tìm trong đó ít lời yêu. Cái buổi chiều mơ tưởng nhiều nhất là buổi chiều của cậu con trai vừa lớn thơ thẩn chung quanh ngôi trường con gái. Tôi yêu những buổi chiều đó. Hàng cây, bờ cỏ, bức tường, con đường, vệt nắng đều dễ thương lạ lùng.
    Ngôi trường người yêu của tôi đang ngồi mơ mộng tình yêu là trường Gia Long. Nàng học nhờ trường Trưng Vương di cư học chiều. Gia Long học sáng. Giá thuở vừa lớn của tôi, trường Trưng Vương nằm trên con đường nhỏ bé, yên lặng Nguyễn Bỉnh Khiêm như bây giờ, thì ngay cả cái chuồng khỉ sở thú cũng dể yêu. Tôi sẽ mua bánh mì, lẻn vào sở thú, kiếm một gốc cây nào sạch sẽ, trãi báo ra nằm. Vừa nhìn trời xanh trên ngọn cây cao vừa gặm bánh mì để tưởng nhớ người yêu. Tôi cho như thế là nhất. Ngủ một giấc dài.
    thức dậy lang thang đi chọc khỉ, chòng gấu, đùa voi, bỡn cọp… Nếu cổng trường chưa mở cho đàn bướm trắng bay tản mạn khắp lối về thì tôi còn có thể mua ngô rang, đứng trên cầu mơ, thả từng hạt nhử bầy cá đói. Ở trong sở thú, tôi sẽ khắc thơ Sang độc lên thân cây. Nghĩa là hoa, lá, cành bách thảo sẽ bị Sang Độc hết. Bằng thơ của thi sĩ Trương Chi Tôi sẽ diễn tả một người đi tìm tình yêu qua hang hùm, miệng cọp. Tôi sẽ… rất tiếc.
    Bây giờ, Trưng Vương chỉ là tầm gửi trên Gia Long, chỉ là tu hú… học nhờ trường.
    Hạnh phúc tuyệt vời cho những cậu trai vừa lớn hôm nay có một ngôi trường con gái nằm ở cuối con đường bình yên nhìn sang một khu rừng ái ân tưởng tượng. Một giờ ” pẹc ma năng ” sẽ là ngàn giờ thần tiên. Bước chân trên lớp lá khô, ngoái lại nhìn đôi mắt nai của người yêu sẽ thấy mùa thu Lưu Trọng Lư hiển hiện. Nhưng hạnh phúc đó đã bị phá tan bởi tiếng động cơ Honda, Yamaha, Suzuki… Cậu trai vừa lớn hôm nay thích ồn ào. Cậu gỡ ống hãm thanh, lạng xe qua những ngôi trường con gái. Tiếng nổ nhức tai tình yêu. Lối biểu diển xe dọa cán tình yêu. Và tình yêu trốn chạy. Những buổi chiều ở quanh trường con gái hôm nay không đẹp, không phải là chiều vàng như những buổi chiều ở quanh trường con gái hôm xưa, thuở tôi vừa lớn.
    Thuở tôi vừa lớn, vùng tình yêu không có tiếng động của xe gắn máy. Tôi đi qua đó nhiều lần, lần nào cũng là lần đầu rung động, ngượng ngùng, bẽn lẽn cơ hồ một cô gái đoan trang đi qua một đám đông trai trẻ. Hỡi gốc cây me già ngã tư Phan Thanh Giãn – Bà Huyện Thanh Quan! Còn nhớ cậu trai mười bảy năm trước? Chúng tôi là người tình không chân dung của hàng ngàn học trò con gái. Chúng tôi yêu bất cứ cô nào dù chẳng cô nào yêu chúng tôi. Chúng tôi đuổi theo những tà áo, những màu áo. Yêu thầm lặng. Yêu chẳng dám tỏ tình. Mà vẫn tưởng mình bị ruồng rẫy, phụ bạc. Hỡi cô học trò H.H người tình có chân g của hàng trăm người tình không chân dung. Lúc này, cô đã con bế, con bồng. Cô chả bao giờ biết, yêu cô, có thằng bị bệnh thương hàn chết mất xác. Thằng này là bạn tôi… Khi hai ngón tay nó đưa lên bắt chuồn chuồn, tâm hồn nó sáng suốt vô cùng. Nó giăng giối một câu đe dọa, hãi hùng:
  • Đứa nào yêu em H.H của ông, ông sẽ giết.
    Cô H.H học trò Trưng Vương năm xưa, cô còn nhớ buổi chiều mưa tơi tả ? Làm sao cô nhớ nổi ! Thằng bạn tôi đạp xe theo cô. Đầu không mũ. Mình không áo mưa. Nó xông pha vào mưa gió chỉ để theo cô. Và nó nhuốm bệnh thương hàn, chết vì cô? Ôi, thằng bạn tôi si tình gấp ngàn lần Đoàn Dự. Hàng trăm thằng khác sổ mũi, nhức đầu, cảm cúm, cũng vì cô. Khối thằng bỏ học, sau này trở thành họa sĩ, thi sĩ, văn sĩ, cũng vì cô. Tôi đã cảm khái nhiều quá về những buổi chiều chung quanh một ngôi trường con gái năm xưa.
    Bây giờ, tôi đang đứng trong buổi chiều đó, dưới một gốc me già. Nắng vàng rữc rỡ; Với tôi, nắng chiều không hề vàng úa trong vùng tình yêu. Cách xa tôi hai chục gốc cây, Nhân cũng đứng dưới gốc cây me già. Nó ghếch chân lên thân cây, tay chống cầm ra chiều tư lự. Cách xa Nhân khoảng ngắn là Quỳnh. Còn biết bao cậu trai khác nữa. Họ cùng tâm trạng của chúng tôi. Tôi móc túi, lôi cái thời khóa biểu tình yêu ra lẩm nhẩm đọc: ” Thứ hai, hình học, Đại số, Quốc văn và Quốc văn…” Thứ hai, hôm nay là thứ hai. Chiều nay là chiều thứ hai. Người yêu của tôi sau khi chán nản vòng tròn, phân giác, bán kính, bình phương, pa ra bôn, đơn thức, đa thức, phương trình bậc hai,lại đang chán nản cái chí làm trai của ông già Nguyễn công Trứ trác tuyệt cách mấy cũng vất vã đi so với bài thì nặng khuynh hướng Sang Độc mà nàng sắp nhận được và sẽ len lén đọc. Tôi ước ao ông via của nàng kiểm soát gắt gao. Và nàng đem thơ của tôi vào cầu tiêu, học thuộc lòng, rồi xé vụn, giật nước để nước mang thơ Sang Độc xuống cống trôi ra sông, ra biển và từ biển, thơ Sang Độc sẽ mưa về nguồn. Thơ trôi ra biển, biển mưa về nguồn!
    Dạo này, sinh hoạt của chúng tôi bị xáo trộn bởi tình yêu. Ăn cơm trưa xong, ngủ một giấc dài, Nhân, Quỳnh và tôi thức dậy, tắm táp và xuống phố. Chúng tôi cuốc bộ dọc phố Bonard, xuyên qua chợ Bến thành, qua cửa nhà ga xe lửa, quẹo tay phải, đếm đủ cột đèn đường Trương Công Định, xuyên qua vườn Tao Đàn, men vỉa hè số chẳn đường Đoàn thị Điểm. Đến ngã tư đường Phan Thanh Giản, mỗi đứa chọn một gốc cây mà đóng đồn. Tôi có hai đệ tử tình yêu: Nhân và Quỳnh. Hai thằng theo tôi để học tập yêu đương. Học yêu còn vất vả hơn học vỏ. Nhiều hôm chúng tôi bị con nhà Niệm chơi xỏ, vặn đồng hồ báo thức chậm lại hai tiếng. Lúc chuông reo, chúng tôi thức dậy, tưởng còn sớm, cứ thong thả như cậu Thu đi ở giữa đàng, gặp cậu Xuân gạ đánh khăng ấy. Chừng ngó đồng hồ chợ Bến Thành mới choáng váng. Thế là chạy. Chạy toát mồ hôi. Tới trường, trừơng đã vắng hoe, người yêu tôi về mất rồi. Hôm sau, nàng gửi một bức thư trách móc và tiếc rẻ đêm ấy ngủ thiếu mơ mộng vì không được đọc thơ Sang Độc của thi ssĩ Trương Chi! Tôi dám tự hào rằng, mười bảy năm trước, nếu người ta gửi tôi đi dự giải cuốc bộ hay chạy việt dã ở Thế Vận Hội, tôi sẽ phá kỹ lục thế giới. Không một giãi nào vinh quang bằng giải thưởng của tình yêu. Tôi đã đi nhanh, chạy chậm vì tình yêu, vì một lá thư của người yêu. Nhưng lại rửng rưng với việc làm, nơi làm lương hậu cho một gã thất nghiệp.
    Em đang học cuối cùng. Em chẳng học được gì cả. Tuần trước, tôi tặng em bài thơ mà dưới tên Trương Chi còn mở ngoặc đơn ghi thêm trong bút nhóm Sang Độc rồi khép ngoặc. Bài thơ này có hai câu coi như… sấm ký:
    Năm nay em sẽ trượt
    Vì mải chuyện yêu đương. Tôi tin tưởng người yêu của tôi đang viết tên tôi kín các trong vở nháp. Bỗng nhiên, hồn thơ Sang Độc lai láng, tôi phải nuốt nước bọt ừng ực cho hồn thơ khỏi dâng lên. May mắn thay, vào đúng lúc hồn thơ Sang độc có thể quật ngã tôi thì chuông trường reo. Chung quanh tôi, những người bằng tuổi tôi vội vàng đổi thế đứng. Khuôn mặt họ hớn hở. Chắc trái tim họ đang reo vui. Nhiều cậu rút thuốc lá, bật diêm, hít hà hương khói một cách ngượng ngập. Nhiều cậu đi đi, lại lại, mặt cúi xuống nhìn giày. Những đôi mắt, ôi những đôi mắt của những chàng trai vừa lớn đi tìm tình yêu, sao mà quyến rũ thế! Tình yêu chỉ thơ mộng và chân thành trong những đôi mắt ấy. Cổng trường đã mở rộng. Đàn bướm chưa ùa ra. Nhân bước nhanh tới chỗ tôi.
  • “Ông” ơi, tôi chờ ông ở đâu?
  • Mày về à?
  • Chứ tôi biết đón ai? Một tháng liền đợi tình yêu dưới gốc cây hoài sao? ” Ông ” dạy bí quyết đi!
  • Mày phải kiên nhẩn.
  • Kiên nhẩn một tháng rồi. Tôi sợ bị “ông ” Niệm cười thối mũi.
  • Mày đã ” chấm ” em nào chưa?
  • Rồi.
  • Đẹp không?
  • Nhìn xa thì đẹp, lại gần mới hay em bị rỗ!
  • Thì kiếm em khác và theo em về tận nhà.
    Quỳnh cũng đã chạy lại. Nó hỏi tôi:
  • Mình sẽ nói thế nào để em biết mình yêu em?
    Tôi dạy nó:
  • Như mày làm bài luận ấy. Mở bài là thẽo. Thẽo hoài. Thân bài liếc và cười. Và kết luận là đưa vào tay em một lá thư.
  • Đưa bằng cách nào?
  • Đó là một nghệ thuật.
    Tôi dọa Quỳnh:
  • Không có nghệ thuật đưa thư tình, em liệng ngay tại chổ thì mày chỉ còn nước đợi chờ lấy một con vợ mắt toét, cả ngày ăn quà vặt hoặc là mày cạo trọc đầu đi tu.
    Quỳnh hoảng hốt:
  • Tôi sợ lấy vợ toét lắm, “ông “ơi! ” Ông ” truyền cho tôi một tí nghệ thuật đưa thư tình ” ông ” nhé!
    Tôi hỏi:
  • Thế mày đã biết viết thư tình chưa?
    Nó thộn mặt:
  • Chưa!
  • Đêm nay tao sẽ dạy mày cách viết thư tình, lối viết thư mà ở trường học không ai dám dạy mày.
    Nhân nói:
  • “Ông” dạy cả tôi nữa đấy.
    Tôi anh dũng đáp:
  • Tao sẽ mở “cua” dạy hai đứa. Yên chí rồi chúng mày sẽ có người yêu. Thôi, về chỗ! Cố gắng ” chấm ” mỗi đứa một em rỗ huê hay hàm răng dưới mái Tây Hiên. Chúc chúng mày đoạt thắng lợi.
    Hai môn đệ tình yêu của tôi chuồn lẹ. Bướm trắng đã lục tục ùa ra cổng. Phải đứng dưới một gốc cây trước cổng trường con gái vào một buổi chiều vàng niên thiếu mới cảm được hai câu thơ không hiểu của Nguyễn Bính hay Tạ Ký:
    Không biết là mưa hay nắng đây
    Một đàn bướm trắng nhởn nhơ bay
    Bướm trắng Trưng Vương nhở nhơ bay. Mắt tôi nhảy múa. Nắng nhảy múa. Hồn tôi mát rượi. Mưa xuân rơi nhẹ xuống hồn tôi. tôi đứng đây. Bất động. Hồn đã lìa khỏi xác để nhập vào hồn một cánh bướm trong rừng bướm. Cánh bướm ấy, em Ngọc yêu dấu, em nữ sinh lớp đệ tứ trừơng nữ sinh trung học Trưng Vương, ngôi trường có nhiều em học trò đã làm vỡ tim những chàng trai Hà Nội? đang và còn làm vỡ tim những chàng trai Sài gòn một thuở vừa lớn. Hạnh phúc thay cho học trò Võ Trường Toãn bây giờ. Các cậu có thể đứng trên lầu cao, dựa ngực vào lan can, thả tầm mắt sang nhìn học trò Trưng Vương mà mơ mộng mà tìm đường vào tình sử. Các cậu đừng dại dột xuống đường chống đối. Hãy xuống đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, chỉ xuống đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, chia nhau từng gốc cây, thập thò chờ đón bươm bướm tan hàng. Đại lộ Thống Nhất đẹp và mênh mông. Quên hàng rào kẽm gai, quên các thầy đội xếp. Để tưởng tượng nắng phai dần, đường rộng hai chiếc xe đạp song song chạy bên lề đường. Tà áo tiểu thư bay nhẹ, gói chặt hồn chàng trai vừa lớn. Đi quãng đường là sống một quãng đời đáng sống.
    Em Ngọc ra cuối cùng. Những cô học trò đang yêu bao giờ cũng dùng dằng để ra cuối cùng. Như thế anh và em dể tìm nhau. Nàng giả vờ sửa lại sợi dây thun máng cặp sách trên cái ‘ pọc ba ga ” sau xe. Tôi đã thấy nàng. Nhưng không dám gọi. Làm sao tôi có thể nhìn rõ tôi lúc ấy như nữ sĩ Túy Hồng đã nhìn rõ nữ sĩ trên vách? Tôi nhìn tôi trên vách. Giá gốc cây người ta gắn một chiếc gương? Hay giá có ai lén quay phim cảnh chàng trai vừa lớn diễn tả nỗi xốn xang chờ đợi người yêu trước cổng một ngôi trường rồi chiếu cho tôi xem? Chắc tôi sẽ muốn tự tử. Vì tôi đã đóng thật hay, diễn tả trung thực sự ngớ ngẩn, ngu ngơ, thộn, cả quỷnh của vai trò ngớ ngẩn, ngu ngơ một cách… dể yêu. Ngọc đã phát giác ra gốc cây tôi đứng đợi. Nàng dắt xe trên vỉa hè. Nàng có vẻ khôn ngoan hơn tôi. Chờ nàng tới ngã tư Phan Thanh Giãn – Đoàn thị Điểm, tôi mới dời chỗ đứng. Lúc này tôi biết chân tôi bị tê. Tôi đi cà khật cà khưỡng, mặt nhăn nhó. Rồi tôi phải trả thù mặt đất bằng những cú giậm chân thật lực cho máu tiêu tan. Than ôi, cứ chiều nào cũng đứng đợi em, có thể, tôi mắc bệnh tê thấp ! Khi tôi đến ngã tư, nàng đã dắt xe quẹo tay trái và đã đi tới Tòa Đại Sứ Phi Luật Tân. Tôi vẫn thẽo nàng cách xa hai ba chục thước cơ hồ một chàng trai thẽo một cô nữ sinh nào đó mà chưa được cô ta yêu. Thỉnh thoảng, nàng ngoái nhìn tôi. thì tôi vội ngoái nhìn vớ vẩn. Để thiên hạ khỏi biết tôi theo nàng hay đã yêu nàng.
    Nàng dắt xe qua đường Hiền Vương. Nàng đã đến ngã tư Yên Đổ – Đoàn thị Điểm. Nàng dừng lại ở cây Xăng Shell cố tình đợi tôi. Bấy giờ, nắng đã tắt. Và chiều dâng màu khói hương. Tôi bước nhanh. Khi tôi đủ can đảm đến gần nàng, hai đứa đã đến ngã tư Yên Đổ – Trương Minh Giảng. Nàng ngó trước nhìn sau. Tôi ngó ngang nhìn dọc. Và, nhanh hơn điện, hai lá thư tình rút ra từ lúc nào chẳng hay, đứa nọ trao cho đứa kia. Y hệt hai tên ăn cắp chuyền hàng ấy. Làm xong công việc cao cả và mong đợi ròng rã hai mươi bốn tiếng đồng hồ, nàng lên xe, đạp nhanh về xóm Vẹc. Còn tôi, tôi đứng lặng giây lát, nghĩ tới con đường dài hun hút mà tôi sẽ cuốc bộ từ đây về Nhà Hát Tây. Nếu tôi có vài đồng để đáp xe ô tô buýt xanh nhỉ? Túi tôi chỉ còn năm cắc. Tôi bèn vui ngay vì so với hai môn đệ của tôi, tôi đi với một lá thư tình và về với một lá thư tình chứ chả đến nổi đi không lại về không, ù suông như môn đệ. Tôi phăng phăng bước. Gặp hai môn đệ giữa đường. Tới gần Nhà Hát Lớn, tôi khát nước cháy khô cổ. Hai môn đệ túi rỗng tuếch. Tôi đành gạt hai đứa, lặng lẽ uống năm cắc nước mía để lấy lại phong độ mà ca ngợi tình yêu.
    Đêm ấy, thi sĩ Trương Chi làm được bài thơ theo khuynh hướng Sang Độc xuất sắc nhất. Bài thơ có một “xì tờ rốp” diễn tả ly nước mía năm hào chỉ!

Áo Tiểu Thư

vietmessenger.com
Duyên Anh
NGUYỄN ĐÌNH VƯỢNG xuất bản 1971

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

  1. Chương 7
    Tôi đã tưởng Ngọc vĩnh viễn xa tôi, đã tưởng Mỵ Nương chê Trương Chi rồi. Vì từ cái buổi mai hôm ấy, tôi không còn được gặp Ngọc hay chị Phương. Ca dao Việt Nam có hai câu tuyệt vời:
    Gió mưa là bệnh của trời
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng
    Trời Sàigòn đang mắc bệnh gió mưa. Và tôi, tôi cũng đang mắc bệnh tương tư. Suốt ngày, tôi nằm trên ghế bố. Chán ghế bố tôi lại leo lên cửa sổ khảy đàn miệng, nhìn mưa gió não nề mà ti tỉ câu hát. Em đến thăm anh người em gái, tà áo hương nồng. Mắt huyền trìu mến, sưởi ấm lòng anh… Nhưng em không đến thăm anh. Như thế đã hai tuần lễ. Tôi buồn chẳng thiết nói. Nhân và Quỳnh vẫn phục tôi. Một buổi chiều, Nhân tất tả giật bức tường giấy, cầm tờ báo Đời người khoe nhặng:
  • Nó đăng thơ của “ông” Long! Nó đăng thơ của “ông” Long!
    Quỳnh nhẩy cẫng:
  • Biết mà, “ông” Long đã trở thành thi sĩ!
    Niệm giật mình:
  • Nó đăng thơ hay nhắn tin ở mục hộp thư?
    Nhân dở tờ báo ra, đọc to tướng:
  • Bạn Văn Long (Sài gòn) – Thơ tốt lắm. Có triển vọng đi xa trong tương lai. Đã đăng số này. Gửi tiếp nhé! Chào đẩy mạnh nền văn nghệ chủ quan viễn kiến. Rảnh ghé tòa soạn hay đàm trừơng thảo luận. Tình thân.
    Rồi lật trang cuối cùng:
  • Bài thơ có cái hình vẽ một thiếu nữ giơ nách mỉm cười.
    Niệm giằng tờ báo coi qua. Nó hết khinh thường tôi mà chỉ lẩm bẩm:
  • Lạ thật! Lạ thật! Nó mà làm thơ, lại được đăng.
    Con ông cụ bèn thay đổi lập trường:
  • Lập bút nhóm đi, Long!
    Tôi giả vờ thản nhiên, coi chuyện báo Đời Người đăng thơ mình như không có, mặc dù, lòng tôi mở hội tưng bừng.
    Nhân hững hờ cầm lấy. Y hệt một thi sĩ trứ danh, tôi hỏi:
  • Có lỗi chính tả không đấy?
    Nhân đáp:
  • Không.
    Tôi nhẩn nha châm điếu Ruby Queen, nhả khói rất nghệ sĩ.
  • Bút nhóm hay thi ssĩ văn đoàn?
    Niệm nói:
  • Thi văn đoàn. Tao lấy tên là Thi Văn Đoàn Ly Hương.
    Nhân nói:
  • Bút nhóm Nhà Hát Tây đi!
    Quỳnh nói:
  • Thi Văn Đoàn Áo Thung hay Bí Tất cho nó có vẻ khác đời.
    Đặng Xuân Côn đã coi sự trình bày và chỗ trình bày bài thơ. Nó xỏ ngọt:
  • Theo tao, nếu bầu thằng Long làm chủ tịch thi văn đoàn hoặc bút nhóm, ta nên lấy tên là Bút Nhóm Sang Độc hay Thi Văn Đoàn Hôi Nách!
    Tôi chết lặng. Nhìn kỹ trang cuối tôi mới thấy đề nghị của Côn xác đáng. Cạnh bài thơ của tôi là cái quảng cáo thuốc trị đủ thứ bệnh có vi trùng. Hai chữ sang độc to hơn tít bài thơ Đời Anh. Còn cái hình vẽ trên bài thơ đúng là hình vẽ quảng cáo thuốc hôi nách mà anh nhà in đã… ghen tài tôi, nhét bừa vô. Tôi lảng chuyện:
  • Đùa tí mà. Không thi văn đoàn, bút nhóm gì hết.
    Tôi giả vờ ( luôn luôn giả vờ ) phẫn chí, xé trang báo có đăng bài thơ của tôi, xé cả mẩu thuẩn tin ở mục hộp thư rồi quăng tờ báo đi. Tôi muốn phi tang… sang độc! Và cảnh cáo Đặng Xuân Côn:
  • Liệu hồn.
    Côn cút sang Khánh Hội, vì đã tới giờ làm. Niệm bỏ xuống phố. Còn hai kẻ ái mộ tôi. Chúng nó tâng bốc tôi. Tôi tha hồ nói phét về thơ, thi sĩ, tình yêu… Tôi sai Nhân về nhà kiếm lưỡi dao cạo. Tôi cắt mẫu nhắn tin và bài thơ (loại bỏ hình vẽ thiếu nữ giơ nách mỉm cười) nhét kỹ vào ví. Đêm ấy, tôi lại thức, cố “chế” bài thơ thứ hai. Lại hì hục khuân tảng đá. Không nổi? Cuối cùng, tôi bỏ bài thơ Đời Anh và mẫu nhắn tin, vô phong bì, chờ gửi cho Ngọc. May làm sao, sáng hôm sau chị Phượng lên thăm tôi. Chị chưa kịp chuyển “thông điệp tình yêu”, tôi đã lầm lỳ đưa cho chị cái phong bì đựng một “pho” thơ của tôi và nói:
  • Nhờ chị chuyển tận tay Ngọc. Sau đó là hết.
    Chị Phượng định trao thư tình trên giấy nháp, tôi xua tay:
  • Em không đọc nữa đâu. Thịt thỏ nấu cà ry cay muốn chảy nước mắt, chị ạ!
  • Cậu Long.
  • Bút hiệu Trương Chi, làm thơ ký Văn Long!
  • Cậu Trương Chi tức Văn Long.
  • Dạ.
  • Hôm tựu trường con Ngọc bị sốt.
  • Sốt rét mấy tuần?
  • Ừ.
  • Chị cũng sốt rét?
  • Cậu giận chị à? Thôi chị về vậy…
    Và chị Phượng về? Tôi không ân hận bởi bài thơ Đời Anh của tôi sẽ được em Ngọc thưởng thức và tôi biết chắc em Ngọc còn yêu tôi. Tôi sung sướng khôn cùng. Tình yêu ly kỳ như tôi đã diển tả. Đang muốn làm cu ly đồn điền Hớn Quản ” rừng thì lắm vắt, suối thì sâu “, được yêu, bỏ mộng cu ly liền. Nhưng đang yêu mà bị tình yêu bảo đi chỗ khác chơi, mình bèn ôm mộng… du tử, khăn gói quả mướp ca bài Ra đi khắp nơi xa vời, và mới tới một nơi không nhà cửa, bụng đói, chân mõi đã não nề than vãn Chiều nay biết về nơi đâu, dừng chân ta ngắm cảnh bao la sầu! Tôi vẫn còn sung sướng. Và tôi làm một lúc bảy bài thơ lục bát. Những bài thơ này không thể chép ra đây vì sợ những tâm hồn đố kỵ có thể liệt vào thi văn đoàn Sang Độc.
    Bài thơ và mẫu nhắn tin gửi cho Ngọc “ép phê” quá xá. Hai mươi bốn tiếng đống hồ sau, trong lúc Bút Nhóm Sang Độc, tạm gọi thế, đang quần xà lỏn, áo thung, ngồi thảo luận văn nghệ và cơm áo tại đàm trường, thì có tiếng ngón tay ngượng ngập búng vào tường giấy nghe lộp bộp. Vũ Khắc Niệm càu nhàu:
  • Xê ra cho người ta thảo luận văn nghệ.
    Tiếng lộp bộp vẫn… lộp bộp. Nhân đứng dậy ra “cửa”, vén tường ngó. Nó thụt đầu vào ngay:
  • Ê, có nàng thơ.
    Tôi hơi hồi hộp. Nhưng có thể nàng thơ là con gái bà bán quýt mà tôi mua chịu quýt đã bốn hôm chưa có tiền trả. Tôi bảo Nhân:
  • Hỏi xem, nếu nó đòi tiền quýt thì bảo mai tao trả.
    Con nhà Nhân lại thò đầu ra. Nó “đối thoại” gì với cô con gái bên ngoài, chúng tôi không thèm biết. Tôi vẫn còn ngót nghét trăm bạc, nó thúc nợ quá thì mình nhịn Ruby Queen. Sợ chi. Nếu nó đòi trả nợ bằng thơ lục bát, tôi cũng sẳn sàng. Nhân đã thụt đầu vô. Nó rón rén bước gần tới… đàm trừơng văn nghệ Sang Độc, mặt mày quan trọng, giọng nói run rẩy:
  • Nàng thơ tên Ngọc, nàng bảo muốn gặp “thi sĩ” Văn Long.
    Tôi vụt đứng dậy, ra lệnh:
  • Mặc quần áo nhanh lên!
    Vũ Khắc Niệm cuống cà kê:
  • Ông có mỗi bộ vừa mới giặt, hãy còn ướt.
    Tôi giậm chân:
  • Thì mày mặc quần áo ướt rồi cút xuống nhà.
    Niệm cằn nhằn:
  • Không được.
    Nhân, Quỳnh, Côn đã phá kỹ lục mặc quần áo nhanh nhất thế giới. Niệm vẫn dùng dằng, Nhân nói:
  • Hay “ông” Niệm khoác đỡ cái áo mưa vô.
    Niệm gắt:
  • Trời hôm nay nắng, mày muốn tao làm trò khỉ à?
    Tôi đưa ra giải pháp cấp thời:
  • Thôi, ông lạy mày, mày giả vờ nằm ngủ, quay mặt chỗ khác, lấy chăn đắp kín thân thể.
    Niệm bằng lòng. Và Nhân, Quỳnh, Côn hân hoan rời khỏi căn nhà nghệ sĩ. Và tôi, tôi chỉ lo làm công việc… nghi lễ mà quên mất bổn phận mặc quần áo. Vậy nhưng tôi vẫn tưởng mình đang diện bộ “xì mốc king”. Tôi sắp long trọng ra mời nàg vô thì con nhà Niệm bịt miệng cười. Tôi cáu:
  • Mày phá đám, hả?
  • Ê, đại diện thi văn đoàn Áo Thung hay bút nhóm Quần xà Lỏn?
    Tôi rụng rời. Xuýt nữa là đi đoong mối tình thơ mộng. Bèn vồ lấy áo, hối hả mặc. Mặc xong, sửa soạn tiếp người yêu mới thấy sự hung hăng của mình đã bỏ mình đi đâu mất.
    Tôi đứng thộn mặt. Nhà văn nghệ Trương Chi dấn thân anh dũng, viễn mơ khiếp đãm, không sợ đói rách, lại bắt đầu sợ gặp người yêu những buổi hẹn hò. Tôi bỗng thèm rửa mặt? Vì ngở mặt mình dính vết nhọ. Tôi bỗng thèm đánh răng. Vì ngỡ răng mình còn giắt sợi rau nhỏ. Tôi bỗng thèm gội đầu. Vì ngỡ đầu mình lắm gầu. Tôi thèm và tôi thèm… Nàng đang chờ tôi, có bối rối như tôi? Niệm giục:
  • Ông giả vờ ngủ được chưa?
    Tôi hỏi:
  • Mày ngó tao xem còn thiếu sót gì không?
    Niệm chống tay lên cầm y hệt một thi sĩ nghiệp sắp sửa giao duyên với nàng tiên nâu. Nó phán:
  • Ông sợ mày quên cài nút quần. Kiểm soát lại coi.
    Tôi kiểm soát cái cửa sổ của quần. Niệm khen xỏ:
  • Rất xứng đáng đại diện thi văn đoàn Sang Độc. Mà mày…
  • Gì?
  • Ông không trùm chăn kín đầu đâu.
  • Ông lạy mày đấy. Mày mở mắt để nàng biết là tương lai văn nghệ và tình yêu của ông đi đoong.
  • Tao thề chỉ… ti hí thôi.
  • Không được.
  • Cho tao học tập tình yêu chứ?
  • Tao sẽ dạy mày văn phạm tình yêu. Khi mày chia “véc bờ” đủ “tăng”, đủ “mốt” thì ti hí mày mới hiểu được thế nào là tình yêu. Còn bây giờ, mày mở mắt thao láo, tai mày dẫu đã lấy hết ráy, mày nghe tao nói chuyện với nàng, mày sẽ giống lũ vịt nghe sấm.
    Tôi thừa tư cách bịp Vũ Khắc Niệm. Trước hết, tôi đã có bài đăng cạnh cái quãng cáo Sang Độc, được trang trí bằng hình thiếu nữ giơ ngó nách. Sau hết người yêu mà tôi trót tưởng là con gái bà hàng quýt lên đòi nợ.
    Mày hiểu chưa?
  • Rồi.
  • Yên chí, tao sẽ nhờ nàng giới thiệu cho mày một em Trưng Vương.
  • “Sur” Trưng Vương nhé?
  • “Sur”. Gái hàng Đào di cư chứ không phải nữ sinh Phát Diệm đổi trường. Mày Thái Lọ mà đi chê Bùi Chu. Thôi đắp chăn trùm kín đầu đi.
    Niệm ngoan ngoãn vâng lời. Nó nằm trên sàn gác. Chiếu là mảnh giấy dầu. Chăn thì Mỹ quốc viện trợ, mùi khét lẹt. Tôi rút điếu Ruby Queen, quẹt diêm, hít một hơi đầy để… bình tỉnh. Lại tác điệu ngó điếu thuốc. Cứ như thơ Hồ Dzếnh ấy. Ngó trên tay thuốc lá cháy lui dần. Niệm hé chăn:
  • Đợi gì nữa?
  • Ôn tí “gam me”!
    Tôi quên mất nàng. Không phải vô tình đâu. Tôi bối rối lắm, chẳng biết sẽ phải làm gì khi ngồi bên nhau. Nàng lại búng tường lộp độp. Nàng búng tim tôi. Đau quá, tôi đành cam đảm bước tới gần cửa. Rồi tôi hé cửa. Nàng nhìn tôi. Lần đầu tiên tôi trông rõ đôi mắt nàng, đôi mắt huyền mơ không bị viền vải tây điều. Đôi mắt chứa đầy trách móc. Nàng không hề nói, chỉ mở cặp lôi ra một phong thư dầy cộm đưa cho tôi. Rồi vội vàng quay gót. Tôi hơi mừng. Mừng xong thì buồn. Tôi cần trút nổi buồn vào con nhà Niệm. Tại thằng Niệm hòi han lẩm cẩm, bắt nàng đợi mỏi chân nên nàng giận dỗi bỏ về. Tôi cần trả thù thằng Niệm. Con nhà Niệm ưa khoe nó là học trò của ông Vũ Khắc Khoan. Dân Nguyễn Trải mà. Ông Vũ Khắc Khoan hay truyền nghề kịch cho môn đệ. Thế thì tôi ” chơi ” kịch với Niệm. Tôi không khoác loác, kịch cũng là nghề của tôi. Bèn sáng tác ngay vở kịch đôi trai gái ngồi bên nhau chuyện trò. Tôi độc diễn thủ hai vai, bắt chước giọng con gái mà Niệm sẽ tưởng là Ngọc của tôi.
  • à, em… mời em vào. Bắt em chờ lâu chắc em mỏi chân. Anh sẽ mua dầu Con Hổ thứ thật bóp chân cho em…
  • Ứ ừ…
  • Thôi đừng giận… Tại người bạn của anh bất thần lên cơn sốt rét. Đó, em nhìn coi, anh ta đắp chăn kín mít. Hể anh ta tung chăn ra là ốm đòn, em ạ!
  • Anh chả yêu em tí nào.
  • Anh yêu em ghê lắm, em yêu dấu. Anh đã vì em dệt bài thơ Đời Anh. Anh còn dệt mấy pho thơ ác liệt đánh ngã tất cảthi sĩ hiện đại. Em Yêu dấu ơi, anh báo tin mừng với em, anh được bầu làm chủ tịch bút nhóm Sang Độc!
  • Em rất hãnh diện. Anh tài quá, anh biết làm thơ.
  • Em ngồi gần anh tí nữa. Thế, ngoan lắm. Tóc em thơm mùi hoa lan. Em ạ, anh vừa đánh răng xong…
  • Em về đây.
  • Mới đến đã đòi về..
  • Em phải về. Mai em sẽ đến thăm anh. Em đến thăm anh luôn luôn. Đây, lòng em gói trong này, anh đọc sẽ hiểu em.
  • Em về ngủ ngon nhé!
  • Vâng.
  • Đêm nay cố nằm mơ thấy anh nhé!
  • Vậng.
    Tôi còn “độc thoại” rất kỹ. Và giả vờ mở cửa tiễn nàng. Rồi tôi vào. Thở dài thừơng thượt. Con nhà Niệm đã tung chăn, ngồi dậy. Tôi cố nín cười. Người nó nhễ nhãi mồ hôi. Mặt nó nhễ nhãi mồ hôi. Nó giống một tên bị cãm, đốc tờ bắt uống hai viân aspérine, đắp chăn kín mít, lát dậy uống cốc nước thật nóng, mồ hôi toát ra. Nó phờ phạc trông đáng thương vô cùng. Nó ngẩn ngơ hỏi:
  • Nàng đẹp không?
  • Tuyệt vời.
  • Mày tán gái hay quá.
  • Tao còn uống tình trên môi nàng. tao vuốt tóc, đan chặt tay tao vào tay nàng. Trái tim tao nhẩy valse. Mày thèm có người yêu chứ?
  • Thèm nhỏ rải.
  • Mày nên học “gam me”. Mà mày chỉ mới nghe tao tán nàng, mày chưa được nhìn tao. Thôi, mày đi tắm cho mát.
  • Tao mát rồi.
  • Tình yêu làm mày mát à?
  • Ừ.
  • Biết vậy ông cố giữ nàng lại cho mày bơi ở “pít xin” mồ hôi.
  • Này…
  • Gì?
  • Giọng nàng êm ái ghê.
  • Giọng nói tình yêu mà chẳng êm ái.
  • Ước gì ông được trùm chăn nghe mãi để ông học cách tán của mày.
    Tôi phá ra cười. Cười lăn trên ghế bố. Cười đau bụng. Cười thỏa thích. Niệm hỏi:
  • Mày cười cái gì thế?
    Tôi đáp:
  • Tao thương hại mày.
    Ném cái thư nàng vừa trao tận tay cho Niệm, tôi kiêu hãnh:
  • Cho phép mày đọc đó.
    Niệm trịnh trọng bóc thư, say mê đọc, Nó khoe nhặng:
  • Nàng gửi cho mày cái thời khóa biểu. Hề, hề, ngày nào có giờ “pẹc ma năng” nàng tô màu xanh, và chú thích “anh đón em anh nhé, chúng ta sẽ đi chơi”… Thời khóa biểu tình yêu.
    Tôi nói:
  • Mày rõ chưa? Yêu nhau cũng có thời khóa biểu hẹn hò.
    Nó liếm môi:
  • Nàng bảo chiều qua nàng phải rữa bát, mày ạ!
    Tôi giằng vội thư:
  • Đồ ngu! Thằng nhỏ, xin ra không báo trước thì nàng bị rửa bát một bữa. Ôi, nếu nàng báo tin này, tao sẽ xuống xóm Vẹc rửa chén giùm nàng!
    Suốt ngày hôm đó, Niệm ca ngợi tôi. Nó suy tôn tôi với đám Nhân, Quỳnh. Tôi bỗng trở thành nhân vật quan trông chịu trách nhiệm với lịch sử loài người là dẫn các bạn tôi biết đến cổng trường con gái để các bạn tôi biết đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư. Tôi chưa kể chúng tôi phải thổi cơm lấy ăn liền. Nhiệm vụ của Côn là kiếm tiền, của Niệm là đi chợ, của quỳnh là lau nhà, của tôi là rửa bát. Tôi ngại rửa bát khinh khủng. Nhờ có tí người yêu, các bạn đâm nể nang, thay phiên nhau rửa bát dùm. Tôi chỉ việc làm công việc của thằng chột tình ái dạy bọn mù yêu đương. Nhân danh kẻ có tình yêu và chủ tịch bút nhóm Sang Độc, tôi hành hạ bọn mù thẳng tay. Mỗi bài thơ tôi chế ra, Nhân và Quỳnh hì hục chép. Mỗi lời nói về tình yêu của tôi tung ra, Nhân và Quỳnh coi như lời vàng ý ngọc, hoa thơm cỏ lạ. Và tôi, trời ơi, tôi chưa hề được nói với người yêu của tôi câu nào!

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

18. Hề Thanh Việt đụng độ Hùng Cường trên sân khấu Dạ Lý Hương
Dùng từ “đụng độ” có vẻ không ổn, nhưng tôi chưa chọn được chữ nào sát nghĩa hơn để kể lại câu chuyện thách đố nhau “thi hát” giữa Hùng Cường và Thanh Việt. Đoàn cải lương Dạ Lý Hương có cặp diễn viên ăn khách nhứt ở miền Nam trong những năm từ 1967 đến 1972: đó là Hùng Cường và cải lương chi bảo Bạch Tuyết. Khán giả đến phòng vé, thấy nếu không có quảng cáo tên Hùng Cường và Bạch Tuyết là họ không mua vé xem hát.
Năm 1969, Thanh Việt gia nhập làng cải lương khi mà các chương trình đại nhạc hội đã vắng dần khách xem. Thanh Việt đi hát cải lương, nhưng anh ta học cổ nhạc không vô. Có lẽ vì anh học tắt, học không căn bản, không có thầy chỉ dạy đàng hoàng.
Tuy nhiên với mức độ ăn khách của Thanh Việt trong các chương trình hài hước, các đại nhạc hội cũng đủ cho Bầu Xuân ký contrat với Thanh Việt để anh đóng hề cặp với hề Văn Chung và Bầu Xuân đã không lầm: khán giả mua vé hát, chẳng những đòi có cặp “sóng thần” Hùng Cường Bạch Tuyết, mà họ còn yêu cầu phải có cặp hề Thanh Việt, Văn Chung.
Văn Chung thì giỏi bài bản cổ nhạc, hát cũng rất có duyên, được mệnh danh là hề dê, hề té, vì vai tuồng nào Văn Chung cũng thủ vai “dê , và hát trên sân khấu thì cái tật hay “té” của Văn Chung là một mánh khóe chọc cười đắc dụng nhất của anh.
Hề Thanh Việt thì có duyên chọc cười khỏi phải bàn đến vì anh bước ra sân khấu, chưa hát, chưa nói, chỉ cần nhúc nhích hàm râu là khán giả đã vỗ tay, cười ào ào rồi. Cái yếu của Thanh Việt là hát cải lương mà không biết ca bài ca cổ nhạc.
Khi anh ký contrat với Bầu Xuân thì vở hát đầu tiên của Thanh Việt lại đúng đến phiên tuồng của tôi. (soạn giả thường trực của đoàn được chia phiên nối tiếp nhau cung cấp tuồng hát cho đoàn) Bầu Xuân mời tôi đến dùng cơm chung với ông và Thanh Việt để nhờ tôi giúp cho Thanh Việt cách gì đó để có thể có một vai trong tuồng của tôi.
Thanh Việt mở lời trước:
– Ông thầy biết tôi nhiều vì tôi có diễn nhiều kịch ngắn, hài kịch của ông thầy. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi hát cải lương, nếu vai tuồng của tôi đóng mà có ca vọng cổ hay Nam Xuân, Nam Ai, Văn Thiên Tường, nói chung các bài bản lớn là ông thầy giết tôi đó. Tôi chưa biết ca gì hết. Nhại theo thì được. Ca trong lòng câu thì tàm tạm. Còn ca dứt bản hay vô đầu bản thì tôi ca rớt đó. Ông thầy liệu cách nào giúp tôi, nghen ông thầy.
Tuồng “Kẻ Sợ Tình” của tôi đự định tập kỳ đó thì vai tuồng giao cho Thanh Việt là vai Hề đồng theo kiếm sĩ Hùng Cường; khi tôi viết vở này là định giao vai đó cho Văn Chung nên bài ca cổ nhạc trong tuồng đều nhắm vào Hùng Cường và Văn Chung ca đối đáp nhau, tâm sự với nhau. Bây giờ thay đổi vai tuồng thì Văn Chung phải đóng vai Hề đồng của kiếm sĩ Dũng Thanh Lâm, thù địch của kiếm sĩ Hùng Cường, ca cổ nhạc bài bản lớn, khỏi phải thay đổi.
Vai của Hùng Cường thì các bài ca chỉ bỏ bớt các đoạn Thanh Việt không ca được. Vai tuồng của Thanh Việt thì tôi chỉ viết những bài ca Ú Liu Ú Xáng thay cho các bài bản đã viết để cho Thanh Việt có thể ca cổ nhạc như mọi diễn viên khác. Và cái “hay” không ngờ được là từ đầu tuồng cho đến khi vãn hát, Thanh Việt chỉ ca có một bản duy nhứt là bài Ú Liu Ú Xáng, lời có khác nhau nhưng điệu ca chỉ là một.
Vậy nên sau khi ca lần đầu, các lần sau khi Thanh Việt mở miệng ca là khán giả cười ào ào. Khán giả gọi thân mật Thanh Việt là anh hề Ú Liu Ú Xáng.
Hát ở rạp Quốc Thanh, đêm thứ hai cũng tuồng “Kẻ Sợ Tình”, Thanh Việt tới sớm, ngồi uống cà phê ở quán bà Mười bên hông rạp thì Hùng Cường, Bạch Tuyết và các anh em diễn viên khác đến. Bạch Tuyết cười cười, nói:
– Thanh Việt học ca cổ nhạc đi chớ, cứ Ú Liu Ú Xáng hoài sao, ông?
Thanh Việt vểnh cái hàm râu quặp ra, nói:
– Bạch Tuyết có đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung không? Truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ đó! Lệnh Hồ Xung chỉ có một chiêu kiếm duy nhứt: đó là vô chiêu thắng hữu chiêu. Tôi cũng chỉ có một chiêu “Ú Liu Ú Xáng” để giương danh trên giang hồ thôi “.
Hùng Cường xen vô:
– Tôi cá với Thanh Việt là cái vô chiêu của anh sẽ chém trúng vào cái chân của anh, chớ khó mà đứng trên chốn giang hồ hoài được.
Thanh Việt ngoéo tay, cá với Hùng Cường một chầu bia đãi anh em có mặt trong cuộc hẹn đụng độ này. Thanh Việt nhứt định chỉ ca bài Ú Liu Ú Xáng và khán giả cũng sẽ hoan nghinh cổ võ anh ta như đã cổ võ Hùng Cường khi anh này ca vọng cổ.
Vô tuồng hát, màn đầu, khi Thanh Việt mở miệng sắp ca bài Ú Liu Ú Xáng thì Hùng Cường lanh miệng hơn, ca “cương” bài Ú Liu Ú Xáng đó.
Hùng Cường tập tuồng và hát chung với Thanh Việt nên nhớ ý tuồng. Anh lại có học thức, sáng tác được, nên hát “cương” phải kể là hay và không trật ý tuồng. Tội cho Thanh Việt, chỉ có một chiêu duy nhứt là bài Ú Liu Ú Xáng thì Hùng Cường đã xử dụng rồi.
Thanh Việt ú ớ ca theo, khán giả cười rần rần vì biết là Hùng Cường phá bỉnh Thanh Việt. Vô hậu trường, Hùng Cường nói với Thanh Việt: “Một không!”
Bạch Tuyết hỏi: “Cái gì một không?”
Hùng Cường: “Thì sút vô gôn Thanh Việt một không rồi”.
Thanh Việt cười: “Còn hiệp thứ hai, mới đờ mi tăng mà”
Hùng Cường: “Hiệp hai, anh cũng chỉ có một chiêu đó thôi. Để coi anh làm sao gỡ”.
Đến màn thứ hai, truyện tuồng kể đến đoạn kiếm sĩ Dũng Thanh Lâm bắt nhốt Bạch Tuyết, người yêu của kiếm sĩ Hùng Cường và đánh đuổi anh này phải chạy trốn lên rừng sâu núi thẳm. Hề đồng Thanh Việt khuyên kiếm sĩ Hùng Cường tạm thời ẩn nhẫn, quên chuyện tình yêu để kiếm cách giết kiếm sĩ Dũng Thanh Lâm, sau đó mới cứu Bạch Tuyết.
Lớp này Thanh Việt ca một bài Ú Liu Xáng, sau đó Hùng Cường ngâm thơ Tao Đàn để gác vô vọng cổ. Các bài ca đó như sau đây:
Thanh Việt ca Ú Liu Ú Xáng:
“Cậu ôi! Đói sao quá đói, Nhịn đói đã ba ngày, Nó đuổi theo chém giết, Mình trốn bụi trốn bờ, Bây giờ cậu tính sao? Tiến tới hay rút lui? Phải tính mau tính lẹ, Để tìm cách cứu mợ, Hay là… Hay là cậu cố quên, Để phục hận rồi sẽ hay.”
Hùng Cường diễn, ngâm thơ Tao Đàn để gác vô vọng cổ:
“Tôi không bao giờ quên được, Ôi !Tại sao tôi còn có thể yêu, Để mà thấy cuộc đời đầy uất hận, Giam mình trong hang thẳm, u sầu, vô vọng, Tôi lạc loài… lảo đảo giữa cô đơn, Để mà nghe từng tiếng động của xót thương, Vang trong óc, dội vào tim hiu quạnh.”
Trong cảnh này, Thanh Việt chỉ có một bài ca duy nhứt là bài Ú Liu Ú Xáng kể trên đây thì Hùng Cường cũng mau miệng ca trước. Anh ta chỉ cần bỏ chữ “cậu” để thay vào đó chữ” tôi” hay chữ “mình” thì bài ca không đổi ý nghĩa, chỉ thay “chủ từ” thôi.
Tất nhiên là Thanh Việt phải ú ớ và ra điệu bộ phụ họa theo bài ca; khán giả cười vì thấy Thanh Việt bị Hùng Cường bắt bí.
Đến khi Hùng Cường ngâm thơ để gác vô vọng cổ thì Thanh Việt theo sát một bên, lập lại những chữ chót trong thơ của Hùng Cường, rồi làm ra vẻ cảm thông, mếu máo như muốn khóc mối tình dang dở của nhân vật. Hùng Cường nói: “Tôi không bao giờ quên được.”
Thanh Việt gật gù, nói theo: “Phải! Bộ ngu sao mà quên.”
Hùng Cường tiếp tục: “Ôi! Tại sao tôi có thể yêu, để mà thấy cuộc đời đầy uất hận.”
Thanh Việt cũng gật gù, làm ra vẻ thông cảm với Hùng Cường: “Tại sao yêu mà hận? Ủa cái gì kỳ vậy, tại sao hận mà yêu? Tôi không hiểu!”
Thanh Việt gãi đầu gãi tai làm như suy nghĩ mà nghĩ không ra, cái mặt ngu thật là ngu. Khán giả theo dõi Thanh Việt và cười cái ngơ ngáo của anh hề.
Hùng Cường phải nói lối chậm, ngâm nga, đàn dạo theo mùi mẫn, mới có trớn mà bắt vô ca vọng cổ. Thanh Việt cứ lải nhải, lập lại làm khán giả cười từng chập theo giọng nói và điệu bộ ngu ngơ khù khờ của Thanh Việt, thành ra “không khí” để ca vọng cổ không có. Hùng Cường nói mau, Thanh Việt cũng nói mau.
Cách phá Hùng Cường của Thanh Việt là thay vì ca hết bài ca của đối thủ như Hùng Cường đã ca các bài Ú Liu Ú Xáng thì Thanh Việt không làm như vậy. Anh ta làm theo kiểu “hát Sơn Đông mãi võ”: người mãi võ chánh nói câu đầu, người phụ đánh phèn la vài tiếng rồi lập lại y câu nói trước. Khán giả vỗ tay tán thưởng Thanh Việt, Hùng Cường không cách nào nói lối mùi để vô vọng cổ, tức quá, anh ta la: “Đó, mày hát đi. Tao nghỉ”. Nói xong Hùng Cường bỏ vô hậu trường.
Khán giả phản đối, la ồ một tiếng thật lớn, thật dài. Hùng Cường hoảng hồn, chạy trở ra sân khấu, vì anh ta biết để cho khán giả nổi giận thì tên tuổi của anh sẽ tiêu ma. Hùng Cường nói cương:
“Tôi mới thấy bóng kẻ thù thấp thoáng đàng kia, nên đuổi theo, nhưng không phải. Hề đồng, ngươi ra canh chừng trước cửa hang… Đi xa xa vô trong kia kìa, để cho ta nghỉ ngơi giây lát “.
Hề đồng Thanh Việt dạ một tiếng thật lớn rồi vô hậu trường.
Hùng Cường thấy hết người phá bĩnh, khoan khoái ra hiệu cho dàn đờn rao mùi mẫn để anh ta bắt trớn mà vô vọng cổ. Hùng Cường cất cao giọng:
“Diễm Hương ơi! Có lẽ em đã khóc nhiều đêm trước, anh không còn muốn em khóc những đêm sau… không muốn em còn sống mãi với thương đau, trọn đời cứ khơi sâu dòng lệ để nhớ, đế thương, để sầu, để khổ.. . (Hùng Cường sắp xuống chữ Hò để vô câu vọng cổ)
Thanh Việt từ trong chạy ào trở ra, hét lớn: “Chết… chết rồi cậu ơi,.. tôi … tôi quên hỏi cậu, ra đó canh chừng cái gì?”
Khán giả vỗ tay như pháo nổ, cười nói rân lên. Họ biết Thanh Việt làm cho Hùng Cường không ca vọng cổ được, giống như lúc nãy Hùng Cường đã ca cướp mấy bài ca của Thanh Việt.
Nên nhớ những năm 1966, 1967, 1968, 1969, nhiều gái bán bar, nhiều người bán chợ trời, bán hang P.X. của Mỹ là những khán giả thường trực của các đoàn hát, nhất là hai đoàn Thanh Minh -Thanh Nga và Dạ Lý Hương. Số khán giả này nhiều tiền, thường mua vé thượng hạng và thường có cảm tình hoặc thân thiết với kép hát, với hề. Họ dễ tánh, xem hát cốt mua vui, cười cho thỏa thích. Có tuồng hay, cảm động, họ khóc theo nhân vật tuồng cũng được, mà gặp loại tuồng hài hước thì họ cũng không chê. Vì vậy mà trên sân khấu, Hùng Cường và Thanh Việt phá nhau, họ cười theo như tham gia làm giám khảo cuộc đụng độ của hai tài danh sân khấu. Họ không thèm biết tuồng bị gián đoạn, mất ý nghĩa vì hát cương.
Khổ nhất là soạn giả, không biết hai ông trời này dẫn tuồng của mình đi tới ngõ ngách nào. Hùng Cường day mặt vô trong, xuống nước nhỏ: “Thanh Việt, tao chịu thua, đừng phá nữa”.
Thanh Việt cũng đáp lại nho nhỏ: “Một chầu bia?”
Hùng Cường: “Được!”
Xong anh quay ra, tiếp tục nói lối, ngâm Tao Đàn rồi vô câu vọng cổ mùi mẫn. Khán giả nghe vô chữ Hò, rất êm, rất mùi, họ vỗ tay như sấm nổ.
Mạch tuồng như được nối lại, mọi người quên câu chuyện kép, hề vừa phá nhau. Tôi như để được gánh nặng trên vai xuống đất, yên chí tuồng hát sẽ được diễn tốt đẹp như mấy đêm trước. Tôi ra quán bà Mười bên hông rạp Quốc Thanh, làm một chai bia để giải tỏa cơn mệt tim vì theo dõi cuộc đấu của Hùng Cường và Thanh Việt nãy giờ.

Buồn vui đời nghệ sỹ

baovecovang2012.wordpress.com
Nguyễn Phương

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

  1. Hề Thanh Việt làm thầy pháp bất đắc dĩ
    Trong những thập niên 60, 70, 80, Hề Thanh Việt tuy không mang danh hiệu “Trạng Hề”, hay “Quái Kiệt “, hay” Danh Hề “, nhưng trên bất cứ sân khấu nào có mặt hề Thanh Việt diễn thì dường như khán giả đã quên mất những danh hề, quái kiệt hay các trạng hề khác. Khán giả hoàn toàn hài lòng với tài chọc cười nhẹ nhàng và tế nhị của Thanh Việt. Họ yêu mến Thanh Việt và thân mật gọi Thanh Việt bằng hai tiếng: Hề Râu chỉ vì cái bộ râu “quặp” độc đáo của Thanh Việt.
    Thanh Việt sanh năm 1939, ở Hốc Môn.
    Người ta nghe danh Thanh Việt khoảng năm 1955, 1956, khi các chương trình ca tân nhạc ở các rạp hát bóng Việt Long (đường Cao Thắng) và rạp Văn Cầm (đường qua cầu Chữ Y) được khán giả ưa thích.
    Thời gian này cũng là thời gian mà các ca sĩ như Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết, Trần Văn Trạch, ban hợp ca Thăng Long, ban vũ Trịnh Toàn và nhiều nữ danh ca tân nhạc mở màn cho loại hình sân khấu “Đại nhạc Hội”, góp phần cho sinh hoạt văn nghệ trình diễn ở Sài Gòn ngày thêm phong phú.

Thanh Việt có một người em ruột tên Thanh Sơn, cũng ca tân nhạc, diễn hài nhưng không gặt hái được sự thành công đáng kể nào. Thanh Sơn chuyển qua làm chuyên viên ánh sáng, phụ trách dàn đèn cho sân khấu tân nhạc.
Cả hai anh em Thanh Việt khi gia nhập quân đội Cộng Hòa, đều phục vụ trong tiểu đoàn 40 Chiến tranh Chính trị, dưới quyền điều khiển của thiếu Tá Sinh.
Khi Bộ Tổng Tham Mưu thành lập đoàn Hoa Tình Thương, Thiếu Tá Sinh được thuyên chuyển qua làm chỉ huy trưởng đoàn này thì Thanh Việt, Khả Năng, Phi Thoàn đều được điều động về đơn vị này.
Tôi không nhớ rõ trường hợp nào Thanh Việt gia nhập “Làng Hề”, nguyên do là vì anh khởi nghiệp trong giới “Tân Nhạc”, còn tôi thì trụ trì bên giới cải lương. Cơ duyên đưa đến cho tôi có nhiều dịp viết và tập cho Thanh Việt diễn hài kịch là lúc đoàn cải lương Thanh Minh-Thanh Nga hát thường trực tại rạp Thành Xương, sau đó ở các rạp Nguyễn văn Hảo, Hưng Đạo và Quốc Thanh, Hề Tùng Lâm thường mướn các rạp hát đó đế diễn xuất ban ngày, xuất 9 giờ sáng: Chương Trình Cù Lét.
Tùng Lâm thường nhờ tôi viết hài kịch cho những chương trình “Cù Lét” này . Đó là những năm từ 1960 đến 1966.
Lúc đó Chương trình “Cù Lét” của Tùng Lâm có tới 6 danh hề tân nhạc: Tùng Lâm, Xuân Phát, Khả Năng , Phi Thoàn, Thanh Việt, Thanh Hoài. Về sau có thêm một tay hài nữa tên Tùng Phèn, đệ tử của Tùng Lâm, nhưng Tùng Phèn chỉ có mặt trong một vài chương trình rồi anh biệt tích giang hồ.
Viết hài kịch cho 6 diễn viên hài, người nào cũng phải có chỗ diễn, người nào cũng phải có “ga” để làm bật tung lên những trận cười của khán giả, đó là một chuyện không phải dễ. Và mỗi vai hề phải có một lối chọc cười khác nhau; tuy khác nhau nhưng phải rập ràng, kẻ tung người hứng, phát triển theo cốt chuyện kịch, chớ không phải tùy tiện theo lối hề diễu rẻ tiền, mạnh ai nấy diễn.
Do yêu cầu nghệ thuật diễn hài kể trên, tôi phải nghiên cứu khả năng chọc cười của từng diễn viên để có cách khai thác khác nhau.
Ví dụ Phi Thoàn diễu thì phải nói nhanh, nói đủ thứ chuyện, chọc cười khán giả bằng điệu bộ lăng xăng, nói tía lia, méo mặt, méo mày, đưa tay giả làm lược vuốt tóc, v..v…
Khả Năng thì diễu “tỉnh”, nói năng chậm rãi và biết nhấn mạnh “từ” nào có thể chọc cười khán giả. Khả Năng “to con lớn xác”, nhưng có vẻ khù khờ, ngờ nghệch của một anh nông dân mới lên tỉnh thành. Phong cách đó trái ngược với phong cách của Phi Thoàn. Tôi viết cho hai anh Phi Thoàn – Khả Năng các lớp diễu đối chọi nhau như các cảnh diễn của hai danh hề quốc tế Laurel – Hardy, hai anh hề “Mập”, “Ốm”. Anh ốm (Laurel) thì lanh miệng, láu cá, khôn vặt, tìm cách hiếp đáp anh mập (Hardy). Anh mập ngu ngơ, khù khờ nhưng cuối cùng bao giờ cũng thắng…
Hai danh hề Tùng Lâm – Xuân Phát cũng có cá tánh và sắc vóc khác nhau, đối chọi nhau: Tùng Lâm lùn tịt, Xuân Phát cao lêu nghêu. Tùng Lâm lúc nào nói chuyện cũng có vẻ quạu quọ, như muốn gây lộn, cái mặt vác hất. Xuân Phát nói năng có vẻ trịnh trọng, cười luôn miệng, lúc đối thoại thì có vẻ chăm chú nhưng rồi không hiểu người ta nói gì. Xuân Phát gặp Tùng Lâm thì vồn vã, xum xoe, nhưng không hiểu, không nhớ những gì Tùng Lâm vừa nói nên khiến Tùng Lâm càng quạu quọ, càng trở nên lố bịch. Hai tính cách của hai vai trái ngược nhau, đối chọi nhau, tạo cười cho khán giả.

Đến Thanh Việt và Thanh Hoài, Thanh Hoài có bộ râu mép rất dầy, rất đậm, miệng cười toe toét, nói năng nhừa nhựa, người Bắc nhưng lại thích bắt chước nói giọng Nam, người nghe thấy ngây ngô, tức cười.
Thanh Việt cũng có bộ râu mép rất dầy, rất đậm, cộng thêm bộ râu “quặp” dưới cằm. Thanh Việt có tài làm cho bộ râu nhúc nhích, hoạt động, phối hợp với vẻ mặt diễn tả sự vui, buồn một cách rất hài hước. Chỉ cần nhìn bộ râu của Thanh Việt hoạt động, người ta cũng có thể cười được thoải mái. Cặp mắt của Thanh Việt khi nheo lại ngó ai cũng gợi cho người ta một niềm vui. Giọng nói của Thanh Việt cũng dễ gây cảm tình đối với người nghe.
Tôi nghĩ có lẽ đây là cái duyên trời cho, cái tài chọc cười thiên phú. Tôi từng làm việc chung với Thanh Việt trong nhiều đoàn hát, trong các phim trường, trong các đại nhạc hội hay thu băng, thu hình, tôi tìm hiểu khả năng “hài” của Thanh Việt thì tôi nhận thấy ngoài “cái duyên hài” trời cho, Thanh Việt còn khả năng bắt chước rất tài: bắt chước điệu bộ, nhại giọng nói, và có nhiều sáng tạo bất ngờ.
Tôi còn nhớ cuối năm 1963, thời cuộc ở Sài Gòn có nhiều biến động, lịnh giới nghiêm được ban hành, giới sân khấu cổ nhạc, tân nhạc đều điêu đứng vì không hát được xuất tối, phải chuyển qua hình thức “hát hội”, tập trung nhiều tài danh nghệ sĩ, nhiều tiết mục để câu khách.
Đoàn Thanh Minh-Thanh Nga hát ở rạp Hào Huê, tuồng Đoạn Tuyệt của Duy Lân. Màn đầu có tăng cường ca tân nhạc và một hài kịch ngắn: “Chàng rể hào hoa”, có hề Thanh Việt, Khả Năng, Phi Thoàn, Thành Được và Thanh Nga.
Đến tuồng Đoạn Tuyệt thì có trở ngại bất ngờ là Hề Minh, hề của gánh hát Hương Mùa Thu, vì say rượu, té xe Honda trên đường tới rạp hát nên bà Bầu Thơ phải kiếm người đóng vai thầy pháp thế cho Hề Minh.
Bà Năm Sa Đéc thủ vai bà phán Lợi đề nghị Thanh Việt thế vai thầy pháp và gợi ý nếu Thanh Việt quên thì bà ở kề cận, nhắc tuồng hay hát cương cho qua lớp đó. Miễn là có thầy pháp, hát vài câu, “kêu linh gọi hồn” là xong.
Thanh Việt xưa nay chưa hề đóng vai thầy pháp, không biết câu hát “kêu linh gọi hồn” thành ra tôi là soạn giả thường trực của đoàn hát, tôi phải cấp tốc viết mấy câu cho Thanh Việt học để lát nữa hát. Tôi ngồi gần bàn làm tuồng của Thanh Nga, hí hoáy, viết; Thanh Việt vừa vẽ mặt thầy pháp, vừa học theo từng câu.

Tôi nói:
– Một lát ra sân khấu, mầy vẽ bùa, bắt ấn quyết; khi “hô linh”, mầy nói hỡi hỡi … âm binh thần tướng thì xê tới gần cánh gà, tao nhắc câu nào, mầy hát câu nấy, chớ học bây giờ, sao mà thuộc được?”
Thanh Việt nói:
– Ông thầy ráng ủng hộ tui nghe, xong xuất hát nầy, thầy trò mình đi nhậu.
Bà Năm Sa Đéc nghe, vừa cười vừa nói: “Ê! Mời ông thầy đi nhậu mà quên tui thì một lát tui cũng quên bạn thì đừng có trách nghen!”
Thanh Việt bước lại, bóp bóp vai bà Năm Sa Đéc, nói: “Tội nghiệp con mà Má! Con mua trầu cho Má xơi được hông?”
Ngoài sân khấu, tuồng diễn đến lớp Loan (Thanh Nga) bồng đứa con bị bịnh, đi khám bác sĩ về. Bà Năm Sa Đéc trong vai bà phán Lợi, mẹ chồng bước ra đay nghiến, đòi kêu thầy pháp trị bịnh tà cho cháu nội chớ không cho uống thuốc tây, không cho đi khám bác sĩ. Ngọc Nuôi trong vai Bích, cô em chồng đanh đá, dẫn ông thầy pháp (Thanh Việt) vô, nói:
– Má, con rước ông thầy pháp ở xóm Sáu Lèo tới. Ống nổi tiếng bắt ma, trừ tà, trục hồn, trị bịnh giỏi nhứt ở núi Tà Lơn mới tới đó, má.
Bà Năm Sa Đéc nói mở đường cho thầy pháp Thanh Việt:
– Nè, ông thầy cứ thắp nhang khấn vái, đăng đàn gọi hồn nhập xác, cứ lấy khăn ấn nẹt nẹt vô mình của cháu nội tôi là nó hết bịnh liền. Khỏi phải vẽ bùa, đọc chú chi cho khan tiếng, nghe ông thầy.
Thanh Việt mừng quá, xá xá bà Năm, nói :
– Dạ, tôi làm gấp gấp , lãnh cachet rồi chạy chầu đám khác .
Khán giả nghe thầy pháp nói lãnh cachet, cười rộ lên. Thanh Việt biết mình lỡ lời, làm tĩnh, cầm nắm nhang khói ngui ngút, vẽ bùa bốn phương tám hướng. Bà Năm Sa Đéc muốn trát Thanh Việt, bước ra sát mặt tiền sân khấu, hướng về khán giả như muốn nói phân bua:
– Ông thầy pháp nói lãnh cachet là lãnh cái chi, phải hỏi ổng cho rõ.
Rồi bà hỏi tới tấp :
– Ông thầy nói lãnh cachet là lãnh cái chi vậy hả, ông thầy?
Thanh Việt trong nhất thời chưa biết trả lời sao, thấy bà Năm xớ rớ theo mình, liền nẩy ra sáng kiến:
– Tôi nói nếu bác “Rảnh”, bác xê ra cho tôi cúng kiếng …Bác Rảnh bác xê ra, chớ ai nói lãnh cachet cái gì đâu?
Tôi đứng trong cánh gà , nhắc Thanh Việt : “Ám ma ni bát di hồng!”
Thanh Việt múa khăn ấn đỏ, nẹt nghe rẹt rẹt, rồi lớn tiếng xướng theo lời nhắc của tôi:
“Ám ma ni bát di hồng …
Cấp cấp triệu thỉnh âm binh thần tướng lai đáo…
La Đường La Sát bách vạn thiêng liêng,
Tiền sai lôi tướng , hậu khiển âm binh.
Thính lịnh ngã sai, trừ tà sát quỷ.
Là hỡi… hỡi âm binh ôi… “
Thay vì nói La Đường La Sát bách vạn thiêng liêng, Thanh Việt rống họng la lớn : Bà Năm Sa Đéc bá vạn âm binh …
Khán giả cười ào ào. Bà Năm Sa Đéc nổi khùng, la theo: “Ông thầy cúng cái gì kỳ vậy hả?”. Bà kéo áo ông thầy pháp Thanh Việt.
Thanh Việt la lớn: “Ế, Mâm bô, I ta li nha nô. Ế, Mâm bô”. Giàn tân nhạc dường như đã được Thanh Việt dặn dò trước, tấu một khúc nhạc mambo rất giựt gân. Thanh Việt múa khăn ấn đỏ của thầy pháp, bước nhún nhảy vòng quanh theo nhạc điệu mâm bô, miệng hát cũng nhịp nhàng như người cốt lên đồng:
Truyền chư vị chúng thần,
Tương hồn ma nhập phách,
Hoặc hồn ở đám lau bụi lách,
Hoặc hồn ở các sà nách ba,
Hay hồn tới xóm cây Da xà
Nghe thầy triệu, hồn mau nhập thể, hô nhập …hô nhập..
(nẹt khăn ấn )
Hỡi ơi…hỡi, âm binh thần tướng, hề tụ lãnh lương,
Kép mùi, kép chánh, tướng cạnh, tướng con,
Mợ chài, mợ quý, vũ nữ, vũ công, hề tụ lãnh lương,
Bà Năm Sa Đéc, cũng hề tụ lãnh lương… ơi hỡi …âm binh
Cấp cấp theo lịnh triệu.
(dùng khăn ấn đánh mạnh vào đứa nhỏ)
Khán giả cười ào ào vì Thanh Việt kêu réo mọi người trong gánh hát hề tụ lãnh lương. Anh ta cũng không quên nhắc Bà Năm Sa Đéc tụ lại lãnh lương. Thanh Việt bặm môi, vểnh râu cằm ra phía trước, dùng cặp chân mày và bộ râu gõ nhịp theo điệu nhạc mambo, khiến cho khán giả cười vỡ rạp.
Tuồng “Đoạn Tuyệt” là một vở Bi Kịch, đến lớp này biến thành Hài Kịch, khán giả ghét nhân vật bà mẹ chồng độc ác, ghét cô em chồng đanh đá nên khi ông thầy pháp tới gây rối, chọc tức hai nhân vật trên thì khán giả rất hài lòng, cười khoan khoái.
Bà Năm Sa Đéc không biết làm cách gì để kéo lại cái không khí gay cấn của gia đình giữa mẹ chồng và nàng dâu.
Ông thầy pháp Thanh Việt thấy khán giả cười, càng khoái chí, vễnh râu múa mambo.
Thời may Thanh Nga (vai Loan) chạy ra, giọng thất thanh, thét lớn: “Trời ơi! Con tôi đã chết. Người ta đã giết con tôi “. Thanh Nga ôm xác đứa bé thơ, khóc rống và gào to: “Con ôi…Con đừng chết nghen con “.
Khán phòng bỗng lặng im, Thanh Việt rón rén lui vào hậu trường. Người ta không cười nữa, mà mọi người xúc động nghẹn ngào vì tiếng khóc con của một bà mẹ trẻ, bị cái gia đình phong kiến đẩy vào thảm cảnh đau thương.
Thanh Việt làm thầy pháp bất đắc dĩ nhưng thành công một cách quá sức tưởng tượng của mọi người trong đoàn hát, vậy nên về sau có vai thầy bói, thầy hù, thầy pháp, soạn giả nào cũng muốn giành vai đó cho Thanh Việt.

Đừng chụp hình chung với lá cờ vàng

(Trích từ bài viết “Chuyện kể của một Đức Giám Mục” của Gioan Lê Quang Vinh.)

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

(Trích từ bài viết “Chuyện kể của một Đức Giám Mục” của Gioan Lê Quang Vinh.)

Đức cha Hoàng Đức Oanh, Giám Mục Kontum, có việc đi nước ngoài. Khi đến cơ quan nhà nước nhận hộ chiếu. Cán bộ Cộng sản nói với ngài:
“Ông đi nước ngoài nhớ đừng chụp hình với lá cờ vàng ba sọc đỏ, nếu không là toi đời ông!”
Ngài đáp ngay: “Vậy tôi trả hộ chiếu lại cho các ông, tôi không đi nữa”.
Họ ngạc nhiên hỏi ngài: “Sao vậy?”
Ngài cười: “Chứ nếu đi nước ngoài mà toi đời thì đi làm gì?”.
Rồi ngài nói với các ông ấy: “Này nhé, tôi vào nhà ông, thấy ông để tượng Hồ chí Minh với lá cờ đỏ, tôi có bảo ông đem đặt chỗ khác không? Đến nhà người ta ai mà làm thế. Ở nước ngoài, nơi tôi đến có lá cờ vàng, chẳng lẽ tôi bảo họ đem đi chỗ khác cho tôi ngồi và chụp hình à?”
Ngài nói tiếp, lý luận sắc bén: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây, vậy các ông có ghét Tàu và Tây lắm không? Tôi thấy mấy ông lãnh đạo vẫn đứng chào cờ Trung quốc, chào cờ Pháp, Mỹ đó thôi. Vậy tại sao lá cờ vàng của anh em người Việt mình mà các ông căm ghét đến thế?”
“Còn nữa, hàng năm chúng ta đón bao nhiêu Việt kiều, nhận bao nhiêu tiền họ gửi về, sao lại phải lúc nào cũng căm ghét cờ của họ?”
Ngài nói thêm, như lời tâm sự, nghe rất xúc động: “Năm 1954 gia đình tôi di cư vào Nam. Gia đình tôi sống được và tôi lớn lên, ăn học là dưới lá cờ vàng. Nếu các ông di cư năm ấy thì các ông cũng thế thôi.”
Nghe những lời vô cùng hợp lý như thế, chắc họ bất ngờ và ngượng ngùng lắm nên cuối cùng họ bảo: “Thôi ông cứ đi…”

Chuyện Một Lá Cờ

doithoaionline.wordpress.com
Bông Lau-thuymy,rfi
Posted on September 19, 2023

Post by Sơn râu 18 Nov 2024

Nhiều bạn theo dõi các bài viết của Bông Lau nhiều năm nên biết mình không cuồng và làm to chuyện mấy lá cờ vàng đỏ, vì đó là chính kiến của mỗi người và cũng là thói quen họ đã sống dưới lá cờ ấy. Nhưng.
Năm 2016 trong một chuyến về Việt Nam xạ thủ muốn đi thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa (Việt Nam Cộng Hòa) vì chưa bao giờ đến đó lần nào trong đời.
Trước chuyến đi xạ thủ tìm mua hai lá cờ vàng ba sọc đỏ ở Wahington DC để đem về Việt Nam vì thiết nghĩ những ngôi mộ của tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa cần phải có lá cờ của họ phủ lên. Đó chỉ là nghi thức mà thôi, như tử sĩ miền Bắc thì có cờ đỏ sao vàng đắp lên.
Dĩ nhiên chuyện vào Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa phủ cờ vàng không dễ dàng chút nào, vì có cái thằng làm việc ở cái nhà nhỏ gần cổng ra vào tỏ vẻ khó chịu sau khi thấy xạ thủ xuất trình passport Mỹ.
Sau khi xuất trình giấy tờ xạ thủ đi bộ với anh tài xế taxi thuê đi từ Sài Gòn. Hai anh em đi dạo trong nghĩa trang để tìm những ngôi mộ vô danh hoang phế nhứt và hỏng còn bia mộ xi măng ở trên nữa. Để đắp lá cờ cho người nằm ở dưới đỡ tủi thân.
Khi đi lang thang tìm những ngôi mộ bỏ hoang thì cái thằng làm ở căn nhà đăng ký ở cổng ra vào đi xe gắn máy rề rề qua lại theo dõi, nên cũng hỏng dám kéo cờ vàng trong ba lô ra sợ nó xông tới làm khó dễ hay kêu công an tới bắt. Sau được anh tài xếTaxi tốt bụng tâm sự “Chú em là lính Thủy Quân Lục Chiến (VNCH)”. Rồi ảnh tình nguyện ra đứng ở con đường mòn nghĩa trang để canh cái thằng mắc dịch kia.
Cuối cùng tìm được mấy ngôi mộ hoang phế ở một địa điểm kín đáo để làm lễ. Anh tài xế taxi đứng xa xa với khuôn mặt gay gắt nhìn qua lại quan sát. Xạ thủ đắp hai lá cờ nhỏ lên hai ngôi mộ vô danh rồi lui ra đứng nghiêm chào những người chiến sĩ vô danh. Đơn giản chỉ zậy thôi.
Trên đường dìa Sài Gòn biểu anh taxi thả ở Bình Dương để thăm gia đình mấy đứa em họ. Tụi nó bi giờ là đại gia. Căn nhà đồ xộ mấy tầng có tường xi măng xây chung quanh. Bên trong có mấy chiếc xế xịn. Có mấy căn cho người giúp việc ở phía sau. Con trai tám chín tuổi gì đó thì được tài xế chở lên Sài Gòn học tiếng Anh ở cơ sở tư nhân có uy tín do người nước ngoài dạy.
Đứa em giờ đây là một giám đốc của một nhà máy sản xuất hàng hóa qua Âu Châu và Hoa Kỳ. Có lần mình tới coi cho biết thấy nhà máy có nhiều ống khói cao. Có khu nhà bàn cho nhân viên, có sân đá banh cho nhân công chơi sau giờ làm việc. Khi ấy cũng mừng cho gia đình đứa em đã thành công trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa.
Nhiều năm trước thì gia đình đứa em rất nghèo. Ba nó là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa nên bị bắt đi tù cải tạo vài năm. Mấy đứa con phải đi bán khoai lang dạo sống qua ngày. Rồi dọn lên vùng kinh tế mới. Má nó là một giáo sư trung học tốt nghiệp đại học Sài Gòn trước 1975, khi ấy đã trở thành một nông gia bất đắc dĩ với cày cuốc lam lũ.
Thời gian mấy đứa em bị đói khổ, xạ thủ có nhận được nhiều thơ của tụi nó. Chúng nó rất thông minh và viết thơ rất hay, văn chương lai láng nhẹ nhàng mà thâm sâu. Nó ai oán chửi chế độ theo cách viết của người lễ giáo. Ba nó được thả trở về với gia đình cũng làm thơ đá giò lái Cộng Sản rất hay.
Năm 2013 xạ thủ về thăm Việt Nam và có đến thăm gia đình mấy đứa em. Bàng hoàng thấy gia đình nó giờ đã thay đổi về phương diện vật chất. Có lẽ nhờ trí tuệ nên nó mới trở nên giàu có.
Những bữa ăn trưa như ăn tiệc có cao lương mỹ vị ê hề mà xạ thủ chỉ thích chén cơm rau có canh chan vào với tình cảm gia đình là đủ. Nó lấy ra mấy chai rượu vang hỏi anh thích uống loại nào, làm xạ thủ ngẩn ngơ. Xạ thủ có uống rượu vang khi ăn trưa bao giờ đâu mà biết. Bỗng thấy mình quê mùa nghèo nàn trước những đại gia Việt Nam.
Có vài lần xạ thủ đề cập đến dân oan Văn Giang, các vụ bắt bớ vì chống đối, các phong trào kháng chiến v.v…Ba của tụi nó thẳng tánh nên nói toẹt ổng hỏng thích thay đổi chế độ nữa, vì sợ tình hình xáo trộn sẽ làm mấy đứa con khổ. Ổng giờ đã già, hết làm thơ đấu tranh mà làm thơ về lãnh vực văn hóa. Mấy đứa em họ thì lễ phép dạ thưa anh tối ngày nhưng tránh hỏng bàn tới chuyện chính trị.
Trưa hôm ấy từ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa ghé đợi ăn trưa với gia đình mấy đứa em. Trong khi đợi mấy người giúp việc lăng xăng nấu nướng dưới bếp. Xạ thủ ngồi nói chuyện với đứa em họ và thằng quý tử của nó. Đứa em hỏi anh đi Biên Hòa dìa zui hong?
Xạ thủ kể vào Nghĩa Trang phủ cờ vàng ba sọc đỏ lên mấy ngôi mộ vô danh. Rồi bất chợt lấy ba lô kéo hai lá cờ vàng ra khoe đứa em. Sự việc diễn ra quá bất ngờ và đứa em cũng phản ứng bất ngờ không suy nghĩ. Nó vội vã lấy hai tay che mắt thằng con quý tử như thể lá cờ kia sẽ làm nhiễm độc trí óc non nớt của thằng bé.
Đứa em họ hình như biết mình đã hố trước một người anh bà con bao nhiêu năm lưu lạc từ Mỹ trở về. Nó bẽn lẽn ngượng ngùng giải thích cho cậu quý tử “Cờ của chế độ cũ đó con…”.
Xạ thủ bỗng hiểu lòng người đã đổi thay. Những lá thơ ai oán mơ ước một khung trời tự do năm xưa của nó đã chìm vào quên lãng. Niềm tự hào “gia đình của chúng ta đã xây dựng rất nhiều cho miền Nam” không còn nữa. Đồng tiền vạn năng đã biến đổi con người. Và đó là lần sau cùng xạ thủ thấy và gặp những người bà con ấy.

BÔNG LAU 05.06.2023

Chiến tranh

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 7/08/2024

Không khí chiến tranh bao trùm. Tối qua phiến quân Hồi Giáo cực đoan bắn hỏa tiễn vào một căn cứ của đồng minh ở Iraq làm 7 người Mỹ bị thương. Hôm nay các căn cứ của Hoa Kỳ báo động ở mức độ cao nhứt. Tất cả mọi người bắt buộc luôn luôn phải mặc áo giáp và đội nón chống đạn hic. Hình như lúc tắm, ngủ, thì được miễn ạ.
Cái áo giáp thời nay mặc vào tháo ra rất khó, chớ hỏng dễ dàng như áo giáp thời chiến tranh Việt Nam. Áo giáp thời bây giờ nó nặng gấp bốn năm lần áo giáp thời xưa, vì bên trong có các miếng sành chống đạn 7,62 mm.

Mặc zô phải khệ nệ nâng nó lên cao hơn đầu như tập thể dục, rồi từ từ thả nó xuống để đầu mình chui vào. Mấy lần đầu nặng quá nên xạ thủ thả mẹ nó xuống vai, thì bị mấy miếng dán xé velcro bén như giấy nhám quẹt qua má qua trán xém bay luôn miếng da gáo dừa.
Vì áo giáp và nón chống đạn mới keng lãnh trong kho ra, nên mấy miếng dán xé gai rất bén. Tròng vào người rồi thì phải luồn tay vào phía trong áo giáp trước bụng để gài nịt bấm. Nơi đó lại có mấy miếng dán xé gai velcro phải ịn cho nó dính lại. Đó là lúc hai mu bàn tay bị mấy miếng dán xé cào rách da luôn. Nó hỏng cào thì làm lủng da chảy máu.
Cứ hết lỗ này vừa lành thì bị lủng lỗ khác. Vết thương không nặng vì ngoài da, nhưng nơi đây gió cát bụi mịt mù suốt ngày, nên nếu không băng bó cẩn thận thì vết thương nhẹ có thể bị nhiễm trùng và trở nên trầm trọng.

Hiện nay đang báo động và có nguy cơ bị phiến quân pháo kích thường xuyên hơn, nên xạ thủ trước đây gỡ mấy miếng giáp mềm kevlar bảo vệ phần cổ cho nhẹ và thoáng, giờ gắn lại vì rất muốn sống nè. Hỏa tiễn hay drone sẽ mang tạc đạn bắn ra nhiều miểng. Chỉ cần một miểng nhỏ bằng đầu đũa ghim vào cổ cắt đứt động mạch chính, thì khoảng 15 phút sau sẽ quy tiên. Thôi gắn vào lại cho lành. Mạng sống mình quan trọng hơn trọng lượng của áo giáp và sợ bị nóng vì bí hơi hic.

Mọi người vẫn bình thản chờ đợi một cái gì đó thiệt lớn. Nhà bàn vắng vẻ hơn thường lệ nên cũng buồn. Những người lính còn lại mặc giáp đội nón chống đạn, nhìn càng thêm hùng tráng như các hiệp sĩ thời Trung Cổ. Mình lại gặp mấy anh Lê Dương quen. Nhìn nhau cười gật đầu chào và thầm chúc các bạn mình bình yên trong những ngày giông bão tới.

BÔNG LAU 07.08.2024

Ký của Đinh Quang Anh Thái

vandoanviet.blogspot.com
Đinh Quang Anh Thái
Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2018

Post by Sơn râu 17 Nov 2024

Kỳ 4
Đêm Giao Thừa trên đất Tiệp
(California, 1992)

Trần Ngọc Tuấn gọi tôi là “Người khách mùa Ðông.”
Chả là, ba năm liền, cứ vào những ngày tháng lạnh lẽo nhất của Ðông Âu, tôi lại khăn gói đến chơi với anh em sinh viên và công nhân Việt Nam tại các đất nước vừa thoát khỏi chế độ Cộng Sản. Chẳng cố ý gì cả. Tôi thích giang hồ vặt vào những ngày cuối năm, thế thôi.
Nhà văn Nguyễn Tuân có lần thốt lên, “Ra đi, không nhất thiết phải có nơi để đến, mà ít nhất có nơi để rời bỏ.”
Tôi rời Erlangen vào đúng buổi sáng 30 Tết Ta, năm 1992. Thời gian đó đang là mùa Ðông nước Ðức, tuyết phủ đầy trời. Hai đêm liền hầu như thức trắng với anh chị em tờ Cánh Én. Mắt tôi cay sè. Uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn với Ðỗ Ngọc, Hồ Huy, Hoài Hương cùng nhiều anh em khác và những câu chuyện tâm tình giữa những người trẻ từng thuộc hai miền đất thù nghịch đã làm bật lên nhiều cảm thông lý thú.
Ðỗ Ngọc, bút hiệu Đỗ Quyên, đặc sệt “Bắc 75,” râu quai nón, ăn nói bỗ bã. Hồ Huy, trọ trẹ giọng Quảng Bình, làn da tái xanh như mới chui từ rừng ra. Hoài Hương thì quê Nam Bộ, từng là Thanh Niên Xung Phong, giọng nói có vị ngọt của sông nước Cửu Long.
Mà chả cứ là miền nào, mọi người tìm đến nhau cũng chỉ vì có nhiều điểm chung: quá khứ nhọc nhằn, hiện tại bất trắc và cùng mơ ước tương lai tốt đẹp cho bản thân và cho đất nước đang cách xa nửa vòng trái đất.
Vì thế mới có Cánh Én, một trong những tờ báo của công nhân và sinh viên Việt Nam trên đất Ðức vừa thống nhất. Ðể thông tin và tranh đấu cho Việt Nam dân chủ tự do.
Trong lúc chờ tàu ở sân ga Erlangen, Hoài Hương hỏi, “Sao anh không ở lại đón Giao Thừa với Cánh Én?” Tôi bảo, “Đã hẹn với các bạn Ðiểm Tin Báo Chí và Diễn Ðàn rồi, không thể hủy được.”
Rồi tôi lên tàu, mang theo hình ảnh của anh em Cánh Én với cái túi ni lông của Hoài Hương cho, bên trong có ổ bánh mì và chai nước ngọt.

Trở lại Plzen
Con tàu từ Ðức vào Plzen trên đất Tiệp hôm nay vắng khách. Chỉ một mình tôi với tôi trong cả một toa. Sướng điên người. Nhớ hai lần trước, cũng tuyến đường này, người như nêm, khói thuốc mù mịt, đã thế còn “bia bọt” ầm ĩ nữa chứ. Ðức lẫn Tiệp nổi tiếng bia ngon mà.
Ngoài trời, tuyết trắng xóa. Tôi chợt nhớ đến những cuốn phim về Thế Chiến Thứ Hai, với các toa tàu đầy lính Ðức Quốc Xã chuyển quân và súng đạn đi vào các quốc gia Ðông Âu. Hình ảnh ấy đối với tôi trước đây chỉ xem trong phim ảnh, nhưng hôm nay, chính tôi đang ngồi trên tuyến tàu đó, cũng đi về hướng Ðông Âu.
Năm ngày qua, quây quần với Cánh Én, nghe câu chuyện của từng người, mới thấy sao Việt Nam mình nhiều chuyện buồn đến thế.
Ðỗ Ngọc, Hồ Huy, Hoài Hương, tất tật đều có những ngày tháng nhọc nhằn, đói khát, buồn tủi trước khi rời quê sang xứ người. Nơi đất Ðức, người thì du học, người thì lao động kiếm cơm. Và ai cũng chịu nhiều hắt hủi bất công. Khu cư xá người Việt là nơi để mọi người trở về tìm đến nhau. Có lần tôi hỏi Ðỗ Ngọc mơ gì, Ngọc nói, chỉ mong sao có ngày về lại đất nước mình mà không còn bị đói khổ, trù dập, nhất là được làm báo, được viết lách thả giàn. Nghe Ngọc và tôi nói, Hồ Huy ngồi bên thốt lên, được đến như thế thì hẳn là đất nước đã tự do rồi!

Ông “Góc Ðộ”
Lần đầu tiên tôi vào Tiệp là năm 1990. Lúc đó, đất nước này đang trên đà hồi sinh sau cuộc Cách Mạng Nhung. Tôi đến Tiệp chỉ với mục đích kết bạn với người Việt mình, những người mà hầu hết có quá khứ thuộc về chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa miền Bắc. Tôi còn nhớ tâm trạng xốn xang của mình buổi chiều tối hôm đó. Suýt nữa thì tôi bị rơi lại tại sân ga bốc rỡ hàng Plzen. May mà có một người Tiệp nói được tiếng Anh cản lại, và bảo cho tôi là ga hành khách Plzen ở trạm kế tiếp cơ. Hai trạm cách nhau vài cây số!
Ngô Văn Chính và Trương Tiến Dũng đón tôi ở sân ga. Đôi bên không hề biết mặt nhau. Chúng tôi chỉ hẹn nhau qua trung gian một người bên Ðông Ðức giới thiệu bằng điện thoại.
Chính người nhỏ nhắn, mặt choắt nhọn, cứ mở miệng ra là “góc độ nào đấy”… thì… Vì thế, tôi gọi đùa Chính là “Ông Góc Ðộ.” Còn Dũng thì rõ ra là công tử, quần bò (jean), áo da, tóc tai gọn gàng, duy giọng nói khàn khàn như bị cảm. Sau thủ tục chào hỏi nhận diện, Chính lái chiếc ô tô con đưa tôi ra phố để xem bộ mặt của thành phố lớn hàng nhất nhì nằm về phía Tây của xứ Tiệp. Tôi đưa Dũng 100 đô Mỹ nhờ mua chút đồ nhậu để tối “bù khú.” Dũng bảo, anh định mời cả Plzen ăn tối nay hay sao đấy, vì đồng tiền koruna của Tiệp rẻ lắm, 100 đô thì tiêu thế nào hết được!
Chúng tôi sắm gần đầy xe, nào là bia, thức ăn khô, thuốc lá… Chỉ nước đá là không đào đâu ra. Ông Góc Ðộ bảo, “Góc độ nào đấy thì anh sẽ thấy cách bọn em ướp bia lạnh.” Về tới khu chung cư dành cho công nhân, việc đầu tiên là Chính sắp bia thành từng lớp ở ngay khe cửa sổ để hở. À thì ra đây là chiếc tủ lạnh thiên nhiên của Ông Góc Ðộ. Cực kỳ sáng tạo! Dũng ơi ới thông báo cho anh em biết có khách đến chơi. Khoảng chục người kéo vào, ngồi chật kín căn phòng ngang dọc chỉ đủ để hai cái giường con. Chính làm một màn tự giới thiệu trước, “cơ bản chẳng giấu gì anh, góc độ nào đấy bản thân em là Bí thư Chi bộ đảng tại Plzen, trông coi anh em công nhân Việt Nam lao động tại đây.” Rồi tới Dũng, đoàn viên Ðoàn Thanh Niên Hồ Chí Minh tại Tiệp. Hoàng Quốc Cường, to khỏe, dân tập tạ, thân hình như tài tử xi-nê. Nông Ðình Bửu, dân miền núi. Lan, người miền Nam, đang du học và là em gái ruột của Nguyễn Thái Bình, người sinh viên thân Cộng cướp chiếc máy bay Air Việt Nam và bị bắn chết ở sân bay Tân Sân Nhất năm 1973. Rồi Hà. Rồi Yến. Và lần lượt tới những người khác nữa. Hầu như ai cũng thuộc thành phần gắn bó với chế độ Cộng Sản. Tôi cũng chẳng giấu lý lịch của mình, gia đình di cư 54, bố và các anh là sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa, bản thân bị tù hơn 7 năm vì in báo bí mật chống Cộng Sản sau 75.
Câu chuyện râm ran như pháo Tết. Ông Góc Ðộ hăng nhất. Chàng ta lôi ngay hai số báo đầu tiên của tờ Ðiểm Tin Báo Chí và tờ Diễn Ðàn Praha ra khoe và nói về phong trào dân chủ của anh em Ðông Âu. Nghĩa là không chỉ ở Tiệp, mà còn ở Ðức, Ba Lan, Bulgaria, Nga. Dũng nói, anh Chính đã góp nhiều công trong việc in ấn tờ Ðiểm Tin Báo Chí, nhờ chức Bí Thư Chi Bộ, anh ấy dễ dàng quan hệ với mọi người để từ đó gây phong trào. Dũng sau này trở thành Chủ Tịch Phong Trào Liên Kết Người Việt Tại Ðông Âu.

Cùng sinh viên Tiệp đi biểu tình – “Phủi” đánh “Xù”
Ngay những ngày đầu của cuộc Cách Mạng Nhung, trong hàng ngũ công nhân và sinh viên Tiệp kéo nhau xuống đường biểu tình có cả công nhân và sinh viên Việt Nam. Do làm cùng sở, học cùng trường, nên các anh đi thì chúng tôi đi, chứ ý thức về dân chủ tự do thì chưa có. Thế rồi Cách Mạng thành công. Nhiều sinh viên và công nhân Tiệp trong phong trào đấu tranh bỗng trở thành những người có vai trò trong các công xưởng, trường học. Thế là họ khuyến khích bạn bè người Việt ra báo để thông tin cho đồng bào Việt được biết những diễn biến đang xảy ra, và đồng thời bênh vực “Xù” trước những hành động ác độc của bọn “Phủi.”
Theo lời giải thích của Trương Tiến Dũng, vì thời tiết quá lạnh, người mình mặc quá nhiều lớp áo quần cho ấm, trông ai cũng cứ… xù ra một đống! Thế là cứ gọi nhau bằng Xù. Còn Phủi là cách gọi của người Việt để chỉ bọn du đãng Ðầu Trọc (Skinhead) bản xứ. Khi cuộc Cách Mạng Nhung bùng nổ trên khắp đất nước, bọn Phủi bắt đầu kéo nhau hàng đoàn đi tìm Xù mà đánh. Nhiều chuyện nghe đến hãi hùng. Một anh công nhân đi trên tàu điện bị bọn Phủi dùng một cái đinh dài đóng vào đầu, rồi chúng quăng xác anh ra khỏi toa xe trong lúc tàu đang chạy. Một nữ sinh viên thì bị chúng vây trên tàu, cứ chửi một câu lại bẻ một cánh tay của cô. May mà cô sống sót nhưng phải nằm bệnh viện cả tuần lễ. Tại Ostrava, một thành phố nằm về phía Ðông, gần biên giới Ba Lan, bọn Phủi còn kéo nhau đến vây đánh một chung cư của công nhân Việt Nam. Công nhân rút lên lầu tử thủ, cảnh sát phải đến giải vây.
Sự kỳ thị người Việt (Phủi đánh Xù) kể trên cũng có một phần nguyên nhân của nó. Khoảng 40 ngàn công nhân Việt Nam sang Tiệp lao động, ai cũng lao vào đủ các ngành nghề, kể cả thứ việc mà dân bản xứ chê không làm như đóng giày, may mặc… Sự kiện này làm bực mình dân Tiệp. Rồi vì muốn mua những mặt hàng của Tiệp như vỏ xe đạp, quần áo, máy móc để gởi cho người thân ở quê nhà, công nhân và sinh viên Việt Nam thi nhau đứng sắp hàng từ sáng sớm tới tối tại các cửa hàng quốc doanh, khiến dân Tiệp không len chân vào được. Cứ như lửa đổ thêm dầu, tâm trạng bực tức, nhất là của bọn Phủi, cứ âm ỉ và đã bùng nổ khi xảy ra Cách Mạng Nhung. Bọn chúng hô hoán lên rằng, Xù qua Tiệp cướp việc làm, lấy đi của cải của dân bản xứ. Thế là Xù bị chặn đánh ở các sân ga, các ngõ đường vắng, và ngay cả nơi thị tứ.
Trong bối cảnh ấy, Chính, Dũng, Cường, Bửu, Lan, Hà, Yến là những người khai sinh ra tờ báo đầu tiên của người Việt tại Tiệp: tờ Ðiểm Tin Báo Chí. Thoạt tiên, anh em chỉ có nhu cầu thông tin cho đồng bào về những diễn tiến trên đất Tiệp, bằng cách dịch các bài viết trên báo Tiệp sang Việt ngữ, vì ngoại trừ sinh viên, công nhân người mình hầu hết không thông thạo tiếng bản xứ. Thế thôi, chứ chưa mấy ai có ý thức về nhu cầu đấu tranh dân chủ tự do. Dần dà, đọc báo chí của Tiệp viết về tội ác của Cộng Sản Tiệp, Cộng Sản Nga, về cuộc đàn áp phong trào nổi dậy Mùa Xuân Praha 1968, Ðiểm Tin Báo Chí bắt đầu chuyển thành tờ báo của phong trào dân chủ, tạo nguồn cảm hứng cho các tờ Diễn Ðàn, Thời Mới, Tự Do, Tin Sáng, Cánh Én, Thông Ðiệp Xanh, Thiện Chí… lần lượt ra đời tại các nước Ðông Âu, và Nga.

Bài thơ Bác Hồ
Minh, công nhân, làm việc tại xưởng sản xuất bia ở Plzen. Cô có giọng nói nhẹ và khuôn mặt thật hiền. Hỏi Minh biết gì về “thần tượng Hồ Chí Minh,” cô nhỏ nhẹ: “Em thấy những gì mà người ta nói về ông Hồ thì quả thật ông ấy là bậc Thánh, nhưng Thánh mà sao để đất nước mình nghèo đói đến thế?” Rồi Minh đọc cho tôi chép những vần thơ dân gian về ông Hồ:

Thấy ba lô mất rồi
Mà sao Bác vẫn cười
Trông Bác nghi nghi lắm
Chú bộ đội dấm dẳng
Xin Bác trả đi thôi
Bác Hồ miệng mỉm cười
Dạy bảo chú bộ đội
Nhân danh tình đồng chí
Bác khuyên chú điều này
Nội nhật trong đêm nay
Lấy ngay của thằng khác.

Minh bảo tôi, “Quanh quẩn thế đấy anh ạ, chế độ ta cứ đứa này lấy của đứa kia!” Minh còn tâm sự là sẽ về lại Việt Nam, với hy vọng đem những hiểu biết của mình để góp phần phá vỡ sự bưng bít và u tối của chế độ tại quê nhà.

Quần áo Dù “trông cực máu”
Ấy chết, phải nói ngay kẻo bị hiểu lầm. Công nhân miền Bắc lao động tại Ðông Âu dùng chữ “cực máu” để tả sự tuyệt hảo, number one, hết chỗ chê.
Nông Ðình Bửu lúc nào cũng chỉ mặc chiếc quần của binh chủng Nhảy Dù của Việt Nam Cộng Hòa. Bửu tâm sự, “Em mà ở trong Nam là em chỉ có đi Dù thôi. Thế mới máu anh ạ!” Bửu gốc dân thiểu số miền núi ngoài Bắc, sang Tiệp làm công nhân. Bửu thường bắt giọng cho anh em cùng hát bài “Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân” nhưng sửa lời lại. Câu cuối của bài Bửu hát là “Bác kính yêu đang cùng Bác gái hành quân.” Vui nhất là khi mọi người vừa dứt câu hát, Bửu rú lên “đéo tin thì thôi.” Thế là anh em cùng hát theo “đéo tin thì thôi.” Bửu còn chế giễu lời ông Hồ Chí Minh trong cuốn cassette do Tòa Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại Tiệp bán ra. Trong cuốn tape, giọng ông Hồ dạy dỗ thanh niên năm điều tại một đại hội thanh niên ở Hà Nội. Bửu bình luận, “Lão ấy cực kỳ thô bỉ. Lão dạy thanh niên mà lão có sống như thế đâu.” Rồi Bửu đọc năm điều “Bác dạy” mà Bửu bảo là sáng tác của quần chúng nhân dân:
Nhất Dương Chỉ (một tuyệt kỹ võ công trong truyện kiếm hiệp Kim Dung)
Nhị Thiên Ðường (tên một loại dầu gió sản xuất ở miền Nam)
Tam Tông Miếu (lịch tập, có ghi ngày tháng tốt xấu)
Tứ Ðổ Tường (bốn món ăn chơi)
Ngũ Vị Hương (một loại gia vị để nấu thức ăn)
Bửu căn dặn tôi nhiều lần là về Mỹ, nhớ gởi cho Bửu một bộ quân phục Nhảy Dù để mặc cho nó “máu.” Tôi đã làm điều đó và giao tận tay Bửu trong chuyến đi Tiệp lần thứ nhì.

Từ những sự thực bị bưng bít
Trương Tiến Dũng là người tổ chức cuộc biểu tình đòi trả tự do cho những người đấu tranh tại Việt Nam, điển hình là Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế, Giáo sư Ðoàn Viết Hoạt, Ngục sĩ Nguyễn Chí Thiện… Cuộc biểu tình diễn ra trước Tòa Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại thủ đô Praha vào một đêm tháng Giêng năm 91, quy tụ rất nhiều khuôn mặt trẻ. Ðó là dịp tôi gặp Cù Lần, Lê Thanh Nhàn, Hồ Văn Hải.
Dũng 25 tuổi, học cao học năm cuối ngành kỹ sư điện ở đại học Praha, xuất thân từ gia đình có gốc gác lớn của chế độ. Cả bố lẫn mẹ đều là đảng viên Cộng Sản cấp cao. Dũng kể, lúc chiến tranh chấm dứt trưa 30 Tháng Tư năm 75, Dũng mới 15 tuổi, đang sinh hoạt trong Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản. Năm 78, Dũng được sang Bình Nhưỡng dự Hội Nghị Liên Hoan Thanh Niên Quốc Tế Cộng Sản. Ngồi cạnh một cô trong Ðoàn Thanh Niên Cộng Sản Bắc Hàn, cô hỏi Dũng, xin đồng chí cho biết tình hình chống Mỹ của nhân dân Việt Nam tới đâu rồi? Nghe câu hỏi đó, Dũng suýt nữa té bổ ngửa! Ðã ba năm Việt Nam chấm dứt chiến tranh, Việt Nam đã “thắng Mỹ” từ 1975 rồi, thế mà cái cô Bắc Hàn này còn nêu một câu hỏi động trời như vậy. Trên chuyến bay về lại Hà Nội, Dũng vẫn còn thắc mắc nhưng chưa hình dung nổi chế độ Bắc Hàn đã bưng bít thông tin ghê khiếp đến đâu. Dũng nói, một đoàn viên thanh niên Cộng Sản mà còn bị bịt mắt bịt tai đến vậy thì huống hồ dân chúng.
Năm 1982, Dũng được bố mẹ cho sang Tiệp du học. Về thăm nhà năm 1986, được vào Sài Gòn chơi. Ðó là lần đầu tiên Dũng biết đất nước miền Nam. Dũng bảo, “vào Nam em mới biết là nhiều người đi học tập cải tạo ở ngoài Bắc vẫn chưa được về. Như vậy tức là thông tin mà bọn em nghe được là sai. Nhà nước vẫn nói rằng không hề có chính sách trả thù, và tất cả những người thuộc chế độ cũ được giáo dục ngắn hạn và đã được về nhà.”
Dũng nói bây giờ thì Dũng hiểu cô gái đoàn viên thanh niên Bắc Hàn, vì cả hai đều sinh ra, lớn lên trong hai chế độ giống nhau: bưng bít thông tin!
Dũng hoài nghi chế độ kể từ đó. Dũng còn nói, cũng nhờ đọc báo chí tự do sau Cách Mạng Nhung ở Tiệp mà Dũng biết về cuộc sống xa hoa, sa đọa của các lãnh tụ Cộng Sản Fidel Castro, Staline, Kim Nhật Thành… Dũng ngờ rằng, “Bác Hồ thì cũng thế.” Từ đó Dũng tìm hiểu thêm và vỡ lẽ là bản thân mình và những người cùng thế hệ mình bị chế độ bưng bít, lừa dối. Cho nên Dũng dấn thân tranh đấu và muốn tự do suy nghĩ bằng chính cái đầu của mình.

Chẳng riêng gì Trương Tiến Dũng
Tự do: Niềm khao khát sục sôi này tôi thấy được ở nhiều anh em người Việt Ðông Âu.

Nhớ lại một đêm bù khú ở cư xá sinh viên tại Praha, Nhà văn Trần Ngọc Tuấn nói rằng “Các anh miền Nam bị mang tiếng là thua, nhưng còn hãnh diện là đã chiến đấu cho một lý tưởng đúng, chứ bọn tôi được tiếng là thắng mà khi bừng con mắt dậy, thấy cả đời mình bị chúng nó lừa. Bọn tôi đau hơn các anh chứ. Nói không được nói, viết thì chúng nó cấm. Thế thì sống thế mẹ nào được. Không tự do thì đếch làm gì được.”
Tuấn thế đấy. Bực lên là… văng hết, chả chừa thứ ngôn ngữ nào. Bộ đội mà. Từng đi đánh bọn diệt chủng Khờ Me Ðỏ bên Kampuchia. Đã sống sót trở về thì còn sợ đếch ai nữa. Tuấn nói năng bỗ bã thế chứ viết hay ra phết. Chỉ phải mỗi cái tật lề mề, nên đôi khi làm anh em phát cáu.
Cái tinh thần “không tự do là đếch làm gì được” thể hiện nơi Tuấn và hầu hết anh em người Việt mình ở các nước Cộng Sản cũ bên Ðông Âu. Họ từng sống trong lòng cả hai chế độ Cộng Sản, tại quê nhà và tại những xứ mà họ sang du học, lao động. Họ thấm đòn cái chế độ đó lắm.

Cù Lần
Trần Hồng Hà, bút hiệu Cù Lần, là Tổng Biên Tập tờ Diễn Ðàn Praha, tờ báo quan trọng nhất trong số các báo chí độc lập đầu tiên của phong trào thanh niên-sinh viên Việt tại Ðông Âu ra đời ngay sau Cách Mạng Nhung 1989. Hà được coi như một trong những con chim đầu đàn trong cao trào báo chí phản kháng của người Việt ở Tiệp Khắc, cũng như ở Ðông Âu. Các bài ký, phóng sự, bài dịch và những dòng thơ của Hà nói về cuộc sống của giới thanh niên công nhân xuất khẩu lao động, du học sinh… từng tạo nên nhiều cảm xúc lớn trong lòng bạn đọc. Thiên phóng sự Kẻ Ðào Tẩu của Trần Hồng Hà đã góp mặt trong tuyển tập Hai Mươi Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại do nhà xuất bản Ðại Nam in năm 1995 tại California. Với bút hiệu khác là Hà Minh Thọ, Hà còn dịch sang tiếng Việt cuốn Animal Farm: A Fairy Story của văn hào George Orwell, với tựa tiếng Việt là “Muông Cầm Trại.”
Cù Lần, người trắng trẻo, nho nhã mà rất bộc trực. Cù Lần lãng mạn mà rất tỉnh, tỉnh mà rất thơ. Bên trong con người Cù Lần là cả một ngọn lửa sôi sục những ước mong cho đất nước thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu, độc tài.
Lần cuối cùng tôi chia tay Hồng Hà là một buổi sáng Tháng Hai năm 1992 ở sân ga Praha. Hà chu đáo vô cùng. Ðêm hôm trước hầu như thức trắng với nhau tại ký túc xá Strahov của đại học Praha, nơi Hà đang theo học ngành điện tử, và cũng là nơi anh em làm báo bí mật. Hà lo cho tôi từng chút cái ăn vì sợ tôi đói, từng chút cái mặc vì sợ tôi không chịu nổi thời tiết giá rét ở Tiệp. Gần sáng, Hà giục tôi đi ngủ. Tôi vừa chợp mắt thì Hà đã gọi dậy để chuẩn bị ra ga. Câu cuối trước khi chia tay, Hà hẹn, chắc chắn sẽ có ngày chúng ta đón đưa nhau ở ga Hà Nội, ga Sài Gòn, anh ạ!
Năm 1994, tôi đang kiếm sống bằng nghề lái taxi ở Hawaii thì anh em bên Tiệp báo tin Hà chết.
Người ta tìm thấy Hà treo cổ trong một khu rừng gần Praha. Thoạt đầu có tin nói vì Hà là “con dao phay” của phong trào sinh viên Việt Nam bên Tiệp chống chế độ Hà Nội nên Tòa Đại Sứ Việt Cộng ở Praha ra tay giết Hà. Nhưng sau này, chính Nguyễn Cường và Trương Tiến Dũng nói với tôi, Hà trầm uất quá nên chọn cách ra đi như thế.
Viết những dòng này, tôi thương Hà kinh khủng. Hà làm nhiều thơ. Thơ tình yêu, thơ nói về thân phận đất nước. Sau đây là bài Ðất Nước Tôi, Hà viết tại Praha năm 1990.

Ðất nước tôi
là những ông già
thiết tha
bên vỉa hè lịch sử
nào cô nào cậu
mua giùm xổ số tương lai
Ðất nước tôi
là những chàng trai
trải kiến thức ngồi chờ bơm xe đạp
Thế giới vùn vụt qua trước mặt
IBM ai chở xe thồ!
Ðất nước tôi
ngây ngất những giấc mơ
sao sáng rọi thiên đàng trên trần thế
Nhưng mộng đẹp ai mang ra để
đắp lên mình Tổ Quốc mảnh chăn chiên.
Ðất nước tôi
dàn ngực chịu đạn tên
đổi lấy khúc đầu một phần ba lời Bác dạy
những vết thương vẫn còn sưng tấy
Răng liền môi, răng bập cắn vào môi
Ðất nước tôi
trắng hếu những quả đồi
xương anh em chìa bắt tay “hữu nghị”
Ðất nước tôi xót ngàn năm bị trị
Hỡi ôi dân tộc mất còn
Ðất nước tôi
đất nước những người con
rạch lưỡi rồi tập nói
Suy nghĩ, tâm tư kính chiếu yêu vẫn rọi
Cồm cộp gót giày, mũi Mác mũi Lê
Ðất nước tôi thương nhớ vẫn đi về
Hình mẹ khom lưng trải dài trên bãi cát
Hạt muối mặn chát từ dòng nước mắt
Ðắng vần thơ cho Người
ôi Mẹ Việt Nam ơi!


Ðêm Giao Thừa tại Plzen, hẹn một ngày về

Tiếng hành khách xôn xao ở các toa bên cạnh kéo tôi ra khỏi những miên man kỷ niệm của hai chuyến đi trước. Tàu đến ga Plzen thì đã xế chiều. Lần này thì Dũng và Yến ra đón. Yến nhỏ nhắn như một cái kẹo, nên tôi gọi đùa là Cái Yến. Giọng Dũng oang oang không thèm lý đến thái độ khó chịu ra mặt của những người bản xứ chung quanh. Dũng bảo, Hồ Thanh Hải nó chờ lâu sốt ruột nên đã tếch về trước để lo bia bọt cho anh em mình tối nay.
Không khí đón Giao Thừa sực lên ở khu chung cư của công nhân Việt Nam và các sắc dân khác. Dọc hành lang dẫn đến phòng của Hoàng Quốc Cường, tôi chào hỏi mọi người như một người anh em trong gia đình đi xa trở về làng cũ. Ngoài những khuôn mặt từng quen biết trong hai lần đi trước, còn thêm nhiều người mới. Chính, Tuấn, Bửu, Cường, Lan, Hà đang chuẩn bị bữa cơm cuối năm. Hồ Thanh Hải thì ôm đàn rống lên bài “The Wall” của ban nhạc Pink Floyd. Phải nhận rằng, Hải đúng là một tay lãng tử. Có vợ người Tiệp và một con gái rất kháu khỉnh, thế mà hễ cứ bạn hú một tiếng là Hải tếch ngay khỏi nhà. Chiếc xe hơi cũ kỹ của Hải đã có lần chở tôi suốt từ Praha vào Berlin, đúng lúc Ðông Ðức đang vỡ thành từng mảnh.
Bữa cơm của anh em bên Tiệp bao giờ cũng bắt đầu bằng món canh. Chỉ vì không đào đâu ra chén bát và đũa, nên mãi thành thói quen, mọi người húp canh trước rồi mới xới cơm vào đĩa và dùng muỗng xúc ăn. Nước mắm thì tuyệt đối không có, nên món gì cũng nêm nếm bằng muối hoặc xì dầu mua ở các chợ Tàu. Bây giờ thì khác rồi. Nước mắm tràn lan từ Việt Nam nhập sang. Vì là Tết, bữa cơm có thêm mấy món đặc thù, bánh chưng, dưa muối, mứt. Tuyền là thứ tự biên tự diễn nhưng ngon đáo để.
Bia bọt tràn cung mây. Bà con mình ở Ðông Âu nói chung, Tiệp nói riêng, có lối xưng hô “anh anh chú chú” rất thân tình, y như trong một ngôi làng nhỏ nào đó ở miền Bắc. Ông Góc Ðộ luôn miệng, “Anh bảo chú Dũng thế này, anh bảo chú Cường thế nọ.” Cứ trên nhau một tuổi là có thể anh anh chú chú được rồi.
Tiệc tàn, một số người về lại phòng mình, cũng ở cùng chung cư. Còn lại khoảng chục anh em. Dũng thân tình lắm, nằm khểnh ngay xuống sàn nhà, gác chân lên người tôi. Dũng kể, từ ngày ra báo tới giờ, em bị bố mẹ ở Hà Nội phiền lắm. Vì công an cứ đến nhà hoạnh họe đủ điều, sao không kiểm soát con mà để nó đấu tranh chống Ðảng. Các anh em khác cũng cho biết hoàn cảnh tương tự. Bửu bèn ngôn một câu xanh rờn theo lối dân miền núi, “Đánh bỏ cha chúng nó đi.” Sau này, năm 1997, tôi cũng nghe một câu tương tự từ miệng Yên Phong, lúc tôi sang thăm anh em tờ Thiện Chí xuất bản ở Hannover bên Ðức. Phong là Tổng Biên Tập của Thiện Chí. Yên Phong bảo tôi, “Đánh bỏ mẹ chúng nó chứ sợ gì, chẳng lẽ những tên đã từng là bộ đội như bọn tôi mà sợ mấy cái thằng mả mẹ công an à?”
Gần giờ Giao Thừa, nghĩa là đã sáng Mùng Một Tết tại quê nhà, Dũng nhỏm dậy ra khỏi phòng. Khoảng hơn nửa giờ sau, Dũng trở lại với khuôn mặt bực bội. Dũng bảo, gọi điện thoại về chúc Tết, bố em giáo dục em về nghĩa vụ trung với Ðảng. Em bèn bảo, “Tuổi trẻ của bố có ai khuyên can khi bố đi làm cách mạng không mà bây giờ bố cản con. Và em nói rằng, bố còn nói nữa là con cúp phone. Thế là bố em đưa điện thoại cho mẹ nói chuyện.”
Ðêm Trừ Tịch thật cảm động. Ngay giữa căn phòng chật chội của hộ bốn người là bàn thờ Phật. Tất tật những người có mặt trong phòng đều quần áo tề chỉnh thắp hương cầu khấn. Tôi cũng thắp một nén hương nhớ về Mẹ đã khuất, nhớ về gia đình. Khác với không khí ồn ào của bữa cơm tràn bia bọt lúc chiều, giờ Giao Thừa, chúng tôi uống trà, nói với nhau những kỷ niệm, những mơ ước của mình. Dũng bảo, “Chắc chắn sẽ có ngày về. Anh Thái chưa biết đất Bắc, khi đất nước đổi thay, em sẽ đưa anh đi chơi Hà Nội.” Chỉ mới nghĩ đến ngày ấy lòng tôi đã dấy lên niềm xúc cảm xót xa. Năm 1988, Mẹ tôi mất, tôi đang làm việc tại các trại tị nạn ở Hong Kong. Chỉ cần thêm một giờ bay nữa là tôi đã về để chịu tang Mẹ. Vậy mà có về được đâu.
Sáng chưa bảnh mắt, các phòng đã ồn lên lời chúc tụng. Dù là ngày thường, không phải cuối tuần, bà con mình vẫn hè nhau nghỉ ở nhà, ít nhất là ngày Mùng Một. Tôi ở chơi với anh em cho đến trưa Mùng Hai thì theo Trương Tiến Dũng và Hồ Thanh Hải đi Praha. Trước cửa chung cư, bọn tôi bùi ngùi giã biệt nhau.
Sông núi Việt Nam, hẹn mai ta sum vầy nhé./.

Tết bên Tiệp -Thái để râu trong bữa cơm với anh em bên Tiệp

Tết bên Tiệp -Nông Đình Bửu

Ký của Đinh Quang Anh Thái

vandoanviet.blogspot.com
Đinh Quang Anh Thái
Bác Năm Tường ‘Phi Lạc Náo Chí Hòa’
Hồ Hữu Tường
Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2018

Post by Sơn râu 17 Nov 2024

Hồ Hữu Tường

Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
(Vũ Đình Liên)

Tháng Giêng, 1979, trại giam T 20 Phan Đăng Lưu ồn lên những lời đồn đãi, là Cộng Sản Tàu đang động binh ở vùng biên giới mạn Bắc để đánh Cộng Sản đàn em Việt Nam. Tù nhân trong trại xì xầm bàn tán. Người thì hy vọng tình hình sẽ sớm thay đổi để thoát cảnh tù đày; người thì lo ngại Tàu mà thắng thì đất nước sẽ còn bi đát hơn; người thì dửng dưng phản ảnh tâm trạng chẳng còn trông mong gì nữa.
Dù sao, những tin tức chẳng có gì là chính xác, do người mới bị bắt từ ngoài mang vào, cũng giúp đời tù bớt nhàm chán, phần nào quên đi đói khát, ghẻ lở, nóng bức của phòng giam nêm người như cá mòi sắp lớp trong hộp.

Trong bối cảnh đó, một số tù ở các phòng nhận lệnh chuyển trại.
Một buổi sáng, kẻng vừa điểm, báo hiệu giờ làm việc của trại, công an quản giáo trại giam tay cầm danh sách đến từng phòng đọc tên tù nhân phải chuyển trại. Không khí ồn lên như cái chợ. Tiếng “cục tác” vang từ phòng này sang phòng khác. Hầu như mọi người ai cũng ngoác miệng kêu lên thành tiếng như gà sắp bị đem đi cắt cổ. Tiếng kêu truyền khắp nơi nghe như âm thanh một lò sát sinh.
Chả là tù nhân gọi những lần chuyển trại là “bắt gà.” Hình ảnh người ta thò tay vào chuồng lùa bắt từng con gà đem đi giết lấy thịt gây ra sự hoảng loạn cho loài gia cầm này ra sao, thì cảnh của các phòng giam mỗi khi có lệnh chuyển phòng, hay chuyển trại, cũng y như thế. Người đi ưu tư lo lắng, không biết rồi về đâu; người ở lại buồn bã, không biết ở là tội nặng, hay đi là tội nhẹ.
Từ phòng 5 khu C 2, tôi và một số người nữa bị chuyển sang phòng 2 khu A, nhập cùng tù nhân từ các phòng giam khác. Chuyến chuyển phòng lần này giúp tôi rút ngắn được hình phạt bị còng tay 90 ngày vì tội… đánh ăng ten.
Bước chân vào phòng giam mới, tôi vui mừng vì gặp lại hai bạn tù cùng ở với nhau những tháng trước đó nơi phòng 5 khu C 1, là anh Hồ Chánh và anh Nguyễn Văn Lịch. Chưa kịp bỏ những vật dụng nhếch nhác của đời tù xuống đất, anh Lịch nắm tay tôi kéo về phía góc phòng và giới thiệu với tôi một ông già mà mới nhìn, tôi biết ngay là nhân vật tiếng tăm lừng lẫy: Hồ Hữu Tường. Anh Lịch nói, bác Năm, thằng Thái nè, nó chính là thằng “Giao” mà anh Linh định đưa đến gặp bác Năm lúc chưa bị bắt đó.
Lời giới thiệu của anh Lịch lôi tôi về cái đêm mưa gió tầm tã ở chân cầu Thị Nghè những ngày gần cuối năm 1975. Đêm đó, tôi đạp xe đến một điểm hẹn để cùng anh Linh đi gặp bác Hồ Hữu Tường. Anh Linh, tôi đã có dịp quen khi đi sinh hoạt với Đoàn Văn Công Chí Linh do Nhạc sĩ Viết Chung cầm đầu tại Trung Tâm Huấn Luyện Cán Bộ Quốc Gia Vũng Tàu thời năm 1972. Cái hẹn đêm đó là để tôi tham gia hoạt động trong tổ chức của bác Hồ Hữu Tường. Gặp anh Linh, anh bảo, đêm tối gió mưa thế này mà lò mò đến nhà bác Năm thì không an tâm lắm, vì căn nhà trong ngõ hẻm gần rạp xi nê Đa Kao của bác Năm thường xuyên bị công an theo dõi. Thế là chúng tôi chia tay, anh Linh hẹn tôi một dịp khác.
Trước đêm đó, tôi nhờ Hồng Anh, một người bạn là học trò tiếng Tây Ban Nha của bác Năm để ý dùm mọi động tịnh chung quanh nhà bác, mỗi khi anh đến nhà bác để học. Anh bảo tôi chắc anh cũng phải thôi, không dám đến học nữa, vì mỗi khi ra vào, công an nơi phường bác Năm ở để ý anh kỹ lắm. Hồng Anh bây giờ làm chủ báo một tờ tuần báo rất thành công ở Melbourn bên Úc. Năm 1994, khi tôi sang Úc chơi, gặp lại nhau, Hồng Anh bảo, hú hồn, may mà vượt biên sớm, chứ không thì đã oan mạng vì vụ bác Năm bị bắt.
Bác Năm vóc người hơi thấp, da xanh tái, hàm răng to, chắc và cáu vàng. Hai tai Bác Năm dài, dầy, trông như tai Phật. Bác Năm nhìn tôi xoi mói. Bác bảo, thằng Thái mày ăn cơm chung với bác Năm và hai anh Chánh và Lịch nghe, để bác Năm mày nói chuyện cho nghe.
“Bác Năm mày,” cách nói thân mật, xuề xòa đặc thù của tác giả “Phi Lạc Sang Tàu.”
Bữa ăn chung đầu tiên, nhìn bác Năm đưa tô canh chung của cả bốn người lên húp, tôi thương ông già quá đỗi. Cái tô nứt nẻ, vá chằng vá chịt bằng mủ ny lông, chứa một thứ nước lõng bõng với vài lát bí đỏ nhạt thếch. Tôi nói đùa với bác mà muốn ứa nước mắt, “đời bác Năm te tua y như cái tô phải không bác.” Ông già cười bảo tôi, “người ta gọi bác Năm mày là Hồ Hữu Tù mà, thời nào bác Năm mày cũng đi tù, tù Tây, tù Quốc Gia, tù Cộng Sản.”
Ba ngày ở phòng 2 khu A trước khi chuyển sang trại giam T 30 Chí Hòa, bác Năm đem bàn cờ thế ra luận cho tôi nghe về thời cuộc và kể diễn tiến việc bác và đồng chí bị bắt. Bàn cờ thế là hai bên tướng đỏ đen đã lộ mặt. Bên đen, một con tốt đã qua sông chắn mặt tướng, hai xe đen kè ngang hông tướng đỏ, trong khi chân chiếu của mã đen ngay cung tướng đỏ, nên tướng đỏ hết đường lui. Bên đỏ, chỉ cần một nước chiếu xe nữa là tướng đen đi đời. Tới phiên bên đen tấn công, hai xe đen vỗ vào mặt tướng đỏ, tướng đỏ lần lượt ăn lên, nhưng lại bị chốt đen dí xuống. Tướng đỏ thua, không ăn lên chốt đen được vì lộ mặt tướng đen. Bác Năm giải thích, hai xe đen, một là Việt Nam Cộng Hòa, một là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tướng đỏ là Cộng Sản miền Bắc, còn con tốt đen chính là bác Năm và tổ chức của bác Năm. Bác bảo tôi, Việt Nam Cộng Hòa đã thua ngày 30 Tháng Tư; Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã bị xóa sổ sau khi Cộng Sản miền Bắc vào Nam; những ngày sắp tới, Cộng Sản miền Bắc phải nhượng quyền lại cho tổ chức tên là Việt Nam Độc Lập – Thống Nhất – Trung Lập Đồng Minh Hội, do bác lãnh đạo.
Câu chuyện ly kỳ, hồi hộp như chuyện võ hiệp Kim Dung vậy, nhưng tôi vẫn nghe.
Về việc bác và tổ chức bị bắt, bác cho biết, ngay khi Cộng Sản chiếm miền Nam, bác đã in một tập tài liệu của Việt Nam Độc Lập – Thống Nhất – Trung Lập Đồng Minh Hội, gởi trực tiếp bằng đường bưu điện cho tất cả giới lãnh đạo Đảng Cộng Sản, từ Bộ Chính Trị cho đến các Trung Ương Ủy Viên và Tỉnh Ủy các tỉnh. Trong tài liệu, bác nói rõ về nhu cầu bắt buộc Việt Nam phải trung lập trong bối cảnh tình hình khu vực Á Châu. Ông già khẳng quyết, trung lập là giải pháp duy nhất cho Việt Nam, và bác là người đầu tiên của Việt Nam kiên trì đeo đuổi lập trường này. Nên, một mai khi tình thế bị o ép, Cộng Sản Hà Nội không còn con đường nào khác là chấp nhận trung lập; họ bắt buộc phải cậy nhờ đến bác. Bác còn lôi trong chiếc túi tù bộ quần áo veste cùng đôi giầy đen và nói, vì sợ tình thế biến chuyển mau quá, không kịp về nhà lấy quần áo mặc trong lễ tiếp nhận chính quyền từ tay Cộng Sản, nên bác đã nhờ công an chấp pháp về tận nhà bác mang quần áo giầy vớ cho mình. Chính vì câu chuyện này mà nhiều bạn tù của chúng tôi đã sống với mơ ước có ngày theo chân bác thoát đời tù, giành lấy chính quyền trong vinh quang.
Ba ngày cuối cùng ở trại giam T20, chúng tôi không được phát chiếu, muỗng, chén ăn cơm. Bác Năm bảo, nó hành mình trước khi thả đó. Rạng sáng ngày thứ tư, từng hai người một, chúng tôi bị còng tay đưa ra xe để chuyển trại. Căn cứ vào số lượng thực phẩm là một ổ bánh mì mà công an phát cho mỗi người, tôi đoán là chúng tôi sẽ bị chuyển qua một trại giam nào đó rất gần, chứ nếu chuyển xa thì khẩu phần sẽ từ 3 đến 5 ổ, và được phát cả nước uống nữa. Kinh nghiệm tù giúp tôi đoán thế.
Quả thật, chúng tôi đến trại giam T30 Chí Hòa vào khoảng 9 giờ. Tôi lại may mắn được ở chung với bác Năm cùng hai anh Chánh và Lịch. Tổ cơm chung của bác cháu chúng tôi vẫn thế, vẫn những lần húp canh chung trong một thau nhựa, thức ăn gia đình nuôi thì phải dè sẻn từng tí một, vì không biết lần nuôi kế tiếp sẽ là bao giờ.
Một tuần liền, trại giam không phát chiếu, tô, muỗng, không cho đi tắm. Cái nóng hầm hập làm mồ hôi tù nhễ nhại, phát điên lên vì thèm một gáo nước xối lên người. Bác Năm bảo, tụi nó thử mình trước khi thả đó, ráng chịu đựng, đừng chống đối. Bước sang tuần thứ nhì, đúng chu kỳ một năm vài lần trại giam cho tù ăn thịt heo, mỗi người chỉ được một miếng mỡ thịt bầy nhầy bằng đầu ngón tay cái với vài muỗng nước mỡ mặn chát muối, nhưng cũng đủ làm vui đời tù. Hạnh phúc hơn nữa là còn được phát chiếu, tô, muỗng nhựa, và “sướng cực kỳ” là được đi tắm. Đời sống trại giam bắt đầu vào nhịp bình thường, nghĩa là ngày cơm hai bữa, tuần tắm hai lần, và hầu như không ai còn bị gọi lên văn phòng thẩm vấn nữa, vì chuyển qua Chí Hòa là xem như hồ sơ đã xếp lại, án tù bao nhiêu thì chỉ có… Lê Đức Thọ biết.
Vậy mà bác Năm vẫn lạc quan như thường. Ông già Cái Răng – Cần Thơ này bảo tôi, tụi nó để mình dưỡng sức trước khi thả đó. Đúng là khẩu khí nghịch ngợm, vui tếu, coi trời bằng vung của nhân vật “Thằng mõ làng Cổ Nhuế” (tựa của một trong những tác phẩm của Hồ Hữu Tường.)
Những người tù ở phòng 10 khu BC Chí Hòa vào những tháng đầu của năm 1979 chắc hẳn không quên được hình ảnh bác Năm. Ông già có thói quen, mỗi lần đi tắm, lúc nào cũng lượm lặt đem lên phòng những sợi chỉ tìm thấy chung quanh bể tắm. Bác tỉ mỉ nối các sợi này với nhau và đan thành một cái găng tay với năm ngón lòi ra ngoài. Cái găng xù xì đó bác đeo vào tay phải và dùng để kì cọ thân thể mỗi khi tắm. Tối đến, bác giăng mùng rồi vắt hai bên lên như một cái lều của dân du mục ở sa mạc. Đó là giờ bắt đầu bác đem cờ thế ra chơi, rồi bảo hai đệ tử Chánh và Lịch đi gọi từng người mà bác đã nhắm trước đến “lều vải” để bác luận thời cuộc cho nghe. Khi bác say sưa nói, hai anh Chánh và Lịch kính cẩn lắng nghe, cho dù câu chuyện đêm nào gần như cũng cùng một nội dung: “Bác Năm mày sắp được thả để ra tiếp quản chính quyền.”
Người trẻ trong phòng thì có người vì tin bác tuyệt đối nên chìm đắm trong hy vọng sẽ có ngày “có danh gì với núi sông;” có người thì phân vân lắm, không biết thực hư ra sao. Những người tù thuộc thế hệ ít nhiều đã biết bác Năm thì dửng dưng, thậm chí có người còn nói xa gần rằng bác Năm hoang tưởng, tếu, ngây thơ.
Một kỷ niệm tôi cứ nhớ hoài về bác.
Một buổi trưa, như mọi ngày, sau khi cho tù nhân đã có án làm lao động trong trại lên các phòng lấy thùng đựng cơm, chuẩn bị cho bữa ăn chiều, công an trông coi trại giam khóa các cửa sắt nơi ngăn chia các khu. Hôm đó, không biết lý do gì, hơn một giờ trưa rồi mà trại giam không đánh kẻng báo dứt giờ nghỉ. Trại giam thì không khí vắng lặng như tờ. Bác Năm là người phá tan cái im ắng đó. Bác tỉnh queo phán, tụi nó rút chạy rồi, anh em chuẩn bị phá cửa để về. Rồi bác Năm “triệu tập một buổi họp khẩn” với đám trẻ, bắt đầu phân công thằng này làm việc này, thằng kia làm việc kia để chuẩn bị tiếp quản chính quyền. Bác Năm giao cho tôi nhiệm vụ khi ra tới ngoài phải huy động xe đò chở anh em tù nhân của trại giam đến tập trung ở sân vận động Cộng Hòa, chờ nghe lệnh bác. Tôi còn nhớ, tôi đùa với bác rằng, trong khi chưa phá được cửa phòng giam, anh em cần phải bảo vệ bác vì sợ còn thằng công an nào căm thù, xả súng vào phòng thì chết cả đám. Tôi cùng vài anh em khác đến ngay chỗ chứa các thùng nước của toàn phòng, nơi có bức tường xi măng cao tới đầu gối, rồi cả đám chuyển các thùng nước để có chỗ làm “nơi ẩn trú” cho bác Năm. Tôi vừa làm vừa cười vì biết là mình đùa, còn những anh em khác, tâm trạng ra sao quả tình tôi không rõ. Ba giờ chiều, sinh hoạt toàn trại trở lại bình thường, công an lên mở cửa từng phòng để cho lãnh cơm. Không biết lúc đó ông già Năm của tôi nghĩ gì.
Bác Năm nhiều khi đùa giỡn tếu táo y như nhân vật Phi Lạc trong các bộ chuyện Phi Lạc của bác mà bản chất là “bợm,” “phiêu lưu,” “trào phúng.”
Có lần, bác hỏi: “Thằng Thái, mày có thấy ai có 9 dương vật chưa?” Tôi đã bắt đầu quen với cách bông đùa của ông già Phi Lạc, bèn nói, chắc bác có hả? Ông già cười khoái chí, nhe hàm răng bự tổ chảng và nói, “tối tao cho mày coi.”
Sau bữa cơm tối, Bác Năm gọi tôi tới “lều cỏ” của bác và trật quần xuống cho tôi coi. Mèng ơi, có gì đâu, chỉ là 9 nốt ruồi đỏ, mọc lủng lẳng hơi khác thường ngay tại “bộ phận” của bác. Ông già ghé tai nói, “số tao làm vua đó nghe mày. Mày phải tuyệt đối giữ bí mật, tụi nó biết nó giết tao đó.”
Ra khỏi tù năm 1984, hơn hai tháng sau tôi vượt biên. Ðến Mỹ, tôi có dịp gặp nhiều người cùng thế hệ hoặc là bạn bác Năm. Nghe tôi kể những kỷ niệm trong tù với bác, họ cười và bảo, “Hồ Hữu Tường ‘giả mù sa mưa’ để Cộng Sản nghĩ rằng ông không còn minh mẫn nữa và đánh giá thấp ông; chứ phải nói cho đúng, Hồ Hữu Tường là một trong những trí tuệ lẫy lừng của Việt Nam và từng ngang dọc trong suốt chiều dài lịch sử tranh đấu cận đại của đất nước mình.”
Điển hình là nhận xét của Nhà văn Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng: “Thế hệ tôi biết ông Hồ Hữu Tường qua bộ sách ‘Một Thửa Ngàn Năm’ gồm ‘Phi Lạc Sang Tầu’, ‘Phi Lạc Náo Hoa Kỳ’. Nghe tiếng ông là “Đệ Tứ” từng tốt nghiệp Cao Đẳng Toán (tương đương Thạc Sĩ ngày nay) ở Pháp, hoạt động chung với những vị Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm… Ông từ bỏ Chủ Nghĩa Cộng Sản vào đầu những năm 40, viết thuyết luận về Kinh Tế – Chính Trị, đề xuất một chủ nghĩa dân tộc Việt Nam và chủ trương trung lập như một giải pháp chính trị cho toàn đất nước.
“Phải nói, qua tiểu sử ông, tôi chẳng thể hình dung được con người Hồ Hữu Tường. Cho đến khi đọc được bút ký của Đinh Quang Anh Thái thì Bác Năm mới thành con người có da có thịt, đầy trí tuệ và nhất là có một tấm lòng son sắt với nước non. Từ đó, Bác Năm đối với tôi không chỉ là một Phi Lạc thông minh tếu táo nữa.
“Bác Năm mãi mãi là một tấm gương sáng cho những người còn biết yêu quê cha đất tổ và tin vào một tương lai tươi đẹp.”


Ðêm cuối cùng trước khi bác Năm và hai anh Chánh và Lịch bị chuyển trại, bác bày trò cầu cơ xem mọi việc sẽ ra sao. Từ bé, đây là lần đầu tiên tôi dự cầu cơ. Bác Năm dùng một mảnh gỗ nhỏ lượm được lúc đi tắm vào buổi sáng để làm vật cầu cơ. Tôi thề là không thấy gì lạ hết, nhưng bác bảo cơ linh lắm, cơ đang chạy và cơ nói là sắp có biến chuyển đến nơi rồi. Không khí ban đêm ở trại giam như rờn rợn khi bác nói cơ là vong người chết ngay chỗ bồn chứa nước ở trung tâm trại giam.
Cơ linh thật! Sáng hôm sau, một buổi sáng tháng Sáu 1979, bác Năm và hai đệ tử cật ruột bị bắt cùng vụ là Hồ Chánh và Nguyễn Văn Lịch bị gọi tên chuyển trại cùng một số tù nhân của các phòng giam khác. Giờ phút chia tay, bác Năm nói với tôi, “chắc chắn là tao được thả để tiếp quản chính quyền, kỳ nuôi sắp tới, mày sẽ nhận được quà của bác Năm gái mày, mày nhớ coi kỹ hũ mắm ruốc, sẽ có tin tao gởi vô.”
Ðó là lần cuối tôi nhìn thấy bác Năm Tường. Bác bị chuyển đi lao động ở trại giam Hàm Tân. Sau này, khi được thả ra khỏi trại giam Chí Hòa năm 1984, tôi được tin bác đã mất hai năm trước. Anh em bạn ở trại giam Hàm Tân được thả về nói với tôi là bác Năm bị đau nặng, công an đưa bác về nhà, xe bị lật trên đường, bác được đưa vào nhà thương chữa trị, rồi đưa về nhà. Bác Năm vĩnh viễn ra đi với sự chứng kiến của bác Năm gái. Còn anh Chánh và anh Lịch thì đã hơn 30 năm rồi, không có tin gì nữa.
Bác Năm không còn nữa. Nhiều người cùng tù với bác cũng không còn nữa: Bác Nguyễn Tiến Hỷ, chú Vũ Hữu Bính, bác Thái Lăng Nghiêm, cậu Như Phong Lê Văn Tiến, ông Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân… Anh Nguyễn Ðan Quế thì bị tù nhiều lần nữa vì cương quyết chống lại cường quyền, hiện đang sống ở Sài Gòn nhưng bị quản chế tại gia rất gay gắt. Anh Ðoàn Viết Hoạt thì tị nạn trên đất Mỹ và vẫn nhiệt huyết như ngày nào. Những người nói trên và nhiều người nữa cũng như bác Năm Tường, cả một đời tận tụy mà vẫn chưa nhìn thấy một Việt Nam tươi sáng.
Viết lại những kỷ niệm với Bác Năm, thương bác những ngày nghiệt ngã trong trại giam, bưng chén canh chung lên môi, nuốt cùng bao nỗi cay đắng khổ cực của một phận người suốt đời mưu cầu cái chung cho dân tộc?