Hòa hợp hòa giải

doithoaionline.wordpress.com
Bông Lau-thuymyrfi
Posted on 22/05/2023

Post by Sơn râu 25 Nov 2024

…Ngoài trời nắng ấm và cây cối xanh tươi. Hãy tận hưởng từng giây phút bình yên đang đi qua vì ngày mai hỏng biết sẽ ra sao.
Lái xe tới thăm khu thương xá Eden của cộng đồng người Việt tị nạn ở tiểu bang Virginia. Bước vào một tiệm phở quen thuộc mười mấy năm qua. Tiệm phở này ngày xưa có tên là “Phở Xe Lửa”. Của một bác người Bắc 54, trước kia làm luật sư ở Sài Gòn. Sau 30-04-75 ổng qua Mỹ tị nạn và mở tiệm phở này. Trong tiệm của bác có một tủ sách khổng lồ trưng bày đủ loại sách tiếng Việt như một biểu tượng văn hóa Việt Nam.
Tiệm phở của ổng khá đông khách. Những khi có dịp về chơi chàng xạ thủ nhí ngày ấy thường kéo ghế ngồi một mình trong góc ăn phở và vểnh tai thỏ lắng nghe mấy ông tiền bối cao thủ của miền Nam ngày xưa quây quần ngồi đánh cờ tướng, hay kể những câu chuyện sôi nổi của quê hương ngày nào.
Tiệm phở Xe Lửa sau đó bán lại cho một người chủ trẻ người miền Nam. Tiệm của anh ấy mới đầu ế tưởng sập tiệm rồi vì khách của ông luật sư người Bắc hỏng tới nữa. Nhưng tên xạ thủ nhí vẫn tiếp tục tới như con ngựa quen đường cũ. Thấy phở vẫn ngon. Có lẽ hỏng có khả năng nhận xét một tô phở ngon hay dở. Dễ nuôi mà ha ha.
Cách trang trí của tiệm phở đổi chủ này mới đầu trống rỗng nghèo nàn thấy mà thương. Khi ấy khách chỉ lèo tèo có mấy người. Tủ sách và bàn cờ tướng của mấy lão tiền bối Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa. Một biểu tượng thân thương đã đi vào quên lãng. Mấy năm trước hỏi thăm thì được biết ông luật sư người Bắc sau khi bán tiệm phở để về hưu. Rồi ông lâm trọng bịnh và qua đời.

Giờ đây tiệm phở này như hồi sinh như một phép lạ với một hình ảnh khác. Tiệm được trang trí tân thời, thẩm mỹ sạch sẽ, và bán thêm nhiều món ăn Việt Nam khác. Khách đa số là người trẻ gốc Mỹ trắng, châu Mỹ La Tinh, và thế hệ người Việt trẻ lớn lên ở Mỹ.
Chiều thứ Bảy, xạ thủ đẩy cửa bước vào tiệm phở xưa. Ba giờ chiều nên tiệm chỉ có vài thực khách Mỹ trắng. Họ nói rất nhỏ chỉ đủ nghe và nhường không gian yên tĩnh cho tiếng nhạc hòa tấu của đờn piano réo rắt dìu dặt êm dịu. Nhưng xạ thủ vẫn nhớ cách đây mười mấy năm, ở ngay đây là âm vang tiếng cười rổn rảng thống khoái của thế hệ trước. Giờ đây họ đã yên nghỉ nơi chốn vô hình.
Phở Xe Lửa ngày xưa chỉ có phở bò. Còn phở tiệm đầu thai này có thêm phở gà nên xạ thủ rất thích. Họ có làm phở gà trắng và đen nên mình gọi trộn cả hai thứ luôn. Khi ăn vào hỏng thấy khác nhau gì ráo trọi, chỉ màu sắc là đẹp thôi.
Không nhớ lần cuối được ăn phở là khi nào. Tối thiểu cũng là 6 tháng rồi vì công việc bận rộn miệt mài. Đâu có thời gian nhởn nhơ tung tăng đi xực phở như hôm nay.
Ăn xong đi bộ qua tiệm Hương Bình mua mấy cái gỏi cuốn và một cái bánh chưng nhỏ đem về cất trong tủ lạnh để dành bữa khác đói thì ăn. Tiệm Hương Bình hình như của người Huế nên họ làm đồ ăn miền Trung rất ngon. Đặc biệt bánh nậm chấm nước mắm hết sẩy. Chỉ phiền là lá chuối lột mệt nghỉ cho tới khi thấy lát bánh nậm mỏng dánh bên trong thì hai tay mỏi vì phải lột lá chuối lâu quá hu hu.
Trước khi ra về, lấy điện thoại ra chụp hai cái cột cờ Mỹ – Việt có tháp đồng hồ phía sau là biểu tượng của chợ Bến Thành Sài Gòn thân yêu.
Người Việt khi bỏ nước ra đi năm 1975 họ đã qua giai đoạn sống chết đau thương mất mát kinh hoàng. Giờ đây họ đã an cư lạc nghiệp ở một quê hương mới. Có thể họ không có những món ăn và cuộc sống đậm đà tình bà con láng giềng như hồi còn ở quê nhà, vì người tị nạn sống phân tán và địa lý xa xôi cách trở. Nhưng sự tự do đang có mới là điều đáng trân trọng.
Một số nhà “trí thức” gốc Cộng Sản vẫn rêu rao chiêu bài “hòa hợp hòa giải dân tộc”, “xóa bỏ hận thù” bla bla bla. Giai đoạn đó đã đi qua lâu rồi, cơ hội đó không còn nữa. Hãy để yên cho chúng tui sống theo cách của chúng tui. Quý zị sống theo cách của quý zị. Vì hỏng còn gì để hòa hợp hòa giải nữa cả.
Khi nào cảm thấy thèm vài món ăn Việt Nam hay thèm được nói vài câu tiếng Việt thì lái xe tới Thương xá Eden này là đủ. Nhiều người Bắc 54 ở miền Nam sau biến cố 30-4-75 vẫn chưa muốn đặt chưn về đất Bắc thì sao. Người Cộng Sản hãy cố gắng hòa hợp hòa giải với chính đồng bào của họ trong nước trước đi, trước khi họ mơ tưởng tới làm hòa với người tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài.

BÔNG LAU 21.05.2023

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến
Post by Sơn râu 25 Nov 2024

PHẦN I: QUÊ NGƯỜI

  1. Hương Vị Ngày Xưa
    Hồi ông bà Tâm quyết định dọn ra ở riêng, đối với ba anh em Hùng, Hương, Hạnh là cả một biến cố. Họ họp mặt nhau trong một buổi gặp gỡ riêng để bàn cãi sôi nổi. Hạnh, cô em gái út lên tiếng trách móc:
  • Anh chị đối xử thế nào để đến nỗi bố mẹ phải ra ở riêng?
    Hùng vò đầu bứt tai:
  • Tao có làm gì đâu. Suốt ngày đi làm, chuyện gì xẩy ra ở nhà tao đâu có biết.
    Hương nhìn anh bằng cặp mắt vừa buồn vừa giận:
  • Làm gì mà anh chẳng thể biết. Có điều tại anh mũ ni che tai, không muốn biết đấy thôi.
    Hùng đáp lại bằng một giọng yếu sìu:
  • Ừ, thì cũng chỉ toàn là chuyện đụng độ vặt vãnh trong nhà với chị ấy, chứ có cái gì lớn lao đâu.
    Hạnh chộp ngay lấy, mở to đôi mắt nhìn về phía anh và nói lớn:
  • Vấn đề là ở chỗ ấy. Tính khí của bố mẹ thế nào, anh không biết sao. Lẽ ra, anh phải để tâm tới và phải có lời khuyên nhủ chị ấy về cung cách cư xử với bố mẹ. Ðằng này anh cứ ngậm tăm không nói, như thể anh cũng đồng ý về những điều chị ấy làm, hèn gì mà chị ấy chẳng làm tới.
    Hùng bắt đầu nổi cáu:
  • Mày ngon sao không mời bố mẹ về ở đi. Nói như thánh thán. Ðến lúc đụng độ với chồng, với con rồi mới thấy hoàn cảnh khó khăn của tao.
    Hương thở dài:
  • Hoàn cảnh của tụi em, anh đã thấy rồi. Cái Hạnh thì lấy chồng nghèo, chúng nó chui rúc trong một căn apartment, làm sao mời bố mẹ ở chung được. Còn em thì ở chung với gia đình nhà chồng. Mời bố mẹ về sao tiện. Chỉ có anh nhà cao cửa rộng, lại vợ chồng son, bố mẹ không ở với anh chị thì ở với ai?
    Hùng đáp:
  • Thì tao vẫn năn nỉ mời bố mẹ ở chung chớ có ý kiến gì đâu. Chuyện ra ở riêng là ý muốn của bố mẹ thôi.
    Hạnh không muốn nói gì thêm nữa. Nàng chỉ nhìn anh bằng đôi mắt trách móc. Trong khi ấy, Hương cũng nhún vai, lẳng lặng quay đi chỗ khác, lòng tràn ngập những nỗi buồn phiền. Ðiều này khiến cho Hùng càng cảm thấy nhột nhạt và tìm lời biện bạch:
  • Chúng mày không ở hoàn cảnh của tao nên không thông cảm được. Này nhé, nhà mới, thảm mới, màn cửa, cái nào cái ấy trắng tinh khôi. Ngày nào chị ấy cũng phải dành rất nhiều thì giờ để chăm sóc từng ly từng tí. Thế mà bố cứ hút thuốc, phun khói như ống bễ lò rèn thì làm gì nhà không bị ám khói, đượm mùi. Nếu tụi bay ở địa vị của chị ấy thì tụi bay tính sao?
    Hương không trả lời trực tiếp câu hỏi của anh, nhưng lại tố thêm:
  • Em còn nghe nói chị ấy đòi giới hạn khu vực đi lại trong nhà để thảm trắng khỏi bị dơ. Có đúng không?
    Hùng đáp:
  • Cũng lại là một nỗi khổ tâm của tao nữa! Ai cũng biết mẹ là người ham xốc vác, làm lụng, suốt ngày cụ bì bõm ở vườn sau cuốc đất trồng rau, làm gì chân tay không dính đầy bùn. Với bộ thảm nhung trắng như tuyết đó, và với chân tay đó, làm sao không có chuyện đụng độ. Mà tao ở giữa tao làm gì được?
    Câu chuyện đi tới chỗ hoàn toàn bế tắc, chẳng ai nhìn ra được phương cách gì để giải quyết, nên cả ba chỉ ngồi thừ người ra, vẻ mặt của ai cũng đều rầu rĩ. Người nào cũng cảm thấy trong lòng buồn bã, xót xa và cùng nhớ lại thời kỳ tràn đầy hạnh phúc ngày xưa.

° ° °

Chỉ hơn năm năm trước đây thôi, khi chưa có ai lập gia đình và tất cả còn cắp sách đến trường thì bố mẹ con cái quây quần sống với nhau thật là vui vẻ. Ông Tâm hồi đó còn nhiều sức khỏe, lại cũng có công ăn việc làm tốt đẹp nên vẫn coi như cột trụ của gia đình. Bọn anh em Hùng, sống đời sinh viên, vừa đi học, vừa đi làm, tiền bạc góp chung lại thuê một căn nhà để mọi người cùng quây quần với nhau. Bà Tâm thì ở nhà lo hết mọi chuyện kể cả giặt giũ, nấu ăn cho cả nhà. Bầu không khí ấm cúng ngày xưa ở quê nhà lại được phục hồi trọn vẹn trong vòng tay yêu thương của tất cả mọi người.
Vui nhất là những bữa ăn do bà Tâm nấu nướng. Nhờ vật dụng, rau cỏ ở đây thức gì cũng có nên bà đã nấu những món quen thuộc của gia đình, với hương vị như gói trọn cả một thời thơ ấu của mấy anh em. Món canh dưa mà Hạnh luôn tấm tắc “tuyệt cú mèo”, món cà-ri mà Hương nhận định “chỉ có mẹ nấu mới đặc biệt như vậy, ăn vào là biết ngay”. Còn nhiều món khác nữa, cũng đã đi vào khẩu vị của gia đình như làm sống lại cả một thời yên ấm đã qua.
Thế rồi ngày vui qua mau. Hương lấy chồng trước tiên. Rồi đến Hạnh. Anh Hùng kiên trì thêm vài năm nữa, tốt nghiệp đại học, làm lương cao, tậu nhà mới, rồi lấy vợ. Bầu không khí đoàn tụ, thương yêu cứ như những làn sương mỏng tan dần theo ánh nắng của mặt trời đang lên.
Buổi gặp gỡ bàn thảo chẳng đi đến một kết quả gì. Thôi thì đành buông xuôi và mỗi người đành che giấu trong lòng một niềm chua xót riêng tư.
Ông bà Tâm từ ngày ấy dọn ra ở riêng tại một khu chung cư nghèo nàn. Tuy ở vào tuổi sấp sỉ sáu mươi, nhưng ông cũng còn lái được xe chạy đây, chạy đó. Bạn bè của ông giúp đỡ tận tình, người mách việc này, kẻ giới thiệu việc kia nhưng không việc nào được lâu bền. Có người thấy tình cảnh khó khăn của ông bà, đã cất lời khuyên giải:

  • Mỗi thời, mỗi nơi có một phong tục, một cách sống. Ông bà giận con cái làm gì cho mệt thân.
    Ông Tâm chỉ mỉm cười:
  • Tôi đã nói với các ông nhiều lần rồi mà vẫn không chịu tin. Chúng tôi tự ý ra ở riêng chính là vì quan tâm đến chúng nó. Ở xứ này, tự do cá nhân là điều quan trọng hàng đầu. Mình không muốn làm cho đời sống riêng tư của chúng nó bị xáo trộn.
    Cái ông vừa mới trước đây cất lời khuyên giải bỗng đã nổi sùng một cách mau chóng hơn ai hết. Ông ta vặc lên ngay:
  • Tự do gì bằng bố mẹ của mình.Tôi lấy làm lạ cho cái xứ sở gọi là tuyệt đỉnh văn minh này.
    Ông Tâm cười:
  • Mỗi thời, mỗi nơi một phong tục. Ngẫm nghĩ ra, ông còn dễ nổi nóng hơn tôi. Nhưng mà ông ơi, phải tự biết mình và phải cảm thông thôi.
    Rồi ông giảng giải:
  • Theo tôi thấy, phong tục ta ngày xưa, các bậc làm cha mẹ tự đặt cái tôi của mình lên quá cao. Trong quan hệ bố mẹ – con cái, chỉ có bố mẹ là uy quyền tuyệt đối, con cái không có chỗ để len chân vào.
    Ông bạn kia nhún vai:
  • Cái đó thì cũng đúng thôi. Ðã làm con thì phải biết công lao dưỡng dục, sinh thành của bố mẹ chứ.
  • Ðành rằng thế. Nhưng nhìn vấn đề như vậy vẫn chỉ có tính cách kể công mà không xem trọng cái quan hệ giữa người với người. Tôi cho rằng cái quan niệm đề cao tuyệt đối một con người, lại dẹp bỏ dứt khoát một con người khác, là quan niệm kể công, hẹp hòi. Cái đó phải sửa!
    Ông bạn cười khẩy:
  • Ái chà! Ông lại còn đòi sửa sai cả phong tục, tập quán của tổ tiên, ông bà cơ đấy. Tôi không ngờ ông lại còn tự do hơn cả Mỹ nữa.
    Ông Tâm vẫn mỉm cười, giọng tiếp tục nhỏ nhẹ:
  • Ông bà của mình cũng có nhiều cái sai phải sửa lại chứ. Ông thử tính coi, hầu hết các vị làm bố, đều nhìn con cái như một lũ nô lệ dưới quyền. Hơi một chút là phật lòng. Hơi một chút là tự ái nổi lên đùng đùng. Thậm chí nhiều người còn sẵn sàng lôi con cái ra xỉ vả, đánh đập để thỏa cơn giận dữ của mình. Làm như chỉ mỗi một mình mình là có nhân vị, không đứa nào được đụng đến, trong khi nhân vị của chúng nó thì mình cứ coi như không.
    Ông bạn mỉa mai:
  • Thế là, theo ông, bố mẹ bây giờ, ở đây chẳng có quyền hành gì hết cả à?
  • Có chứ sao không ! Nhưng sống là thỏa hiệp chứ không phải trấn áp.Thỏa hiệp không xong thì tự mình tách ra, cho khỏe cả hai bên. Chúng nó cũng có những hạnh phúc riêng phải duy trì, có những vấn đề riêng mình không thể lấy quyền làm cha mẹ mà tước đoạt đi được.

° ° °

Dĩ nhiên, vấn đề còn phải được bàn cãi rất nhiều, nhưng ông Tâm coi như đã lựa chọn cho mình một quan niệm sống, và điều này, ông lại được bà hoàn toàn chia sẻ. Chính vì thế, cả hai ông bà không thấy khổ tâm khi phải tách rời khỏi cuộc sống chung đụng với con cái. Ðời sống ở đây, có quá nhiều điều phải bận tâm nhất là về mặt ổn định kinh tế. Cả hai ông bà đã lăn lưng ra bương trải để có thể tồn tại trong tư thế độc lập. Có thời gian, ông đi cắt cỏ, làm vườn. Rồi đổi qua nghề gác dan, lái xe giao hàng. Còn bà thì vẫn ở nhà nấu nướng, coi sóc nhà cửa và kiếm phụ thêm bằng nghề xâu dây cườm cho một cửa tiệm bán đồ nữ trang, trang trí. Mỗi sợi dây cườm có khoảng hai trăm hột, cứ xâu năm hột mầu này lại đổi sang năm hột mầu khác.Xâu xong phải kiểm lại không được hột nào thiếu, hay là dư. Xâu tới xâu lui, lại mò mẫm đếm đếm, kiểm kiểm, cũng phải mất nửa giờ mới xong một sợi và được trả công hai mươi lăm xu. Mỗi ngày ngồi cặm cụi như thế, bà cũng kiếm thêm được vài đồng tiền chợ. Những đồng tiền ít ỏi nhưng đem lại cho bà nguồn vui và niềm tự hào.
Những ngày gần đây, đột nhiên ông thông báo:

  • Tôi đã nhận đi bỏ báo hàng ngày. Có mệt hơn một chút nhưng tiền bạc khá hơn.
    Bà Tâm nghe xong dẫy nẩy lên:
  • Làm sao ông gánh vác nổi chuyện đó. Ông có biết rằng mỗi tờ báo ở đây nặng bao nhiêu không. Từ kí-lô rưỡi đến hai kí đó ông. Sức của ông làm sao ông liệng nổi.
    Ông Tâm co ruỗi cánh tay của mình như ướm thử rồi nói:
  • Báo kí rưỡi, hai kí là báo ra ngày Chủ nhật thôi. Còn ngày thường thì đâu đến thế.
    Nhưng bà vẫn cương quyết:
  • Nhưng ngày gì thì gì, cũng không hợp với sức khỏe của ông. Tôi đã biết nhiều người đi bỏ báo, họ lái xe trên đường phố, vẫn ngồi ở đó mà liệng tờ báo băng qua lề đường vào đến tận cửa. Khoảng cách xa thật là xa. Không có sức khỏe không thể làm được.
    Thấy ông tần ngần, bà đề nghị:
  • Hay là để tôi đi với ông. Ông chỉ việc lái xe, còn tôi cầm báo chạy vô đặt tại chỗ. Thế là khỏi phải ném, phải liệng.
    Ông Tâm dẫy nẩy lên:
  • Thôi bà đừng có vẽ chuyện. Bà phải biết, muốn có báo giao, phải đi từ một, hai giờ sáng để xếp hàng, lãnh báo, rồi cột dây. Hôm trời mưa còn phải thuồn báo vô bao ny lông cho khỏi ướt. Ba, bốn giờ sáng mới có đủ báo đem giao. Làm việc như thế sức nào bà kham.
    Bà Tâm mỉm cười:
  • Thì tôi chỉ phụ với ông ở phần giao báo thôi. Ông lãnh xong đâu đấy, tạt qua nhà đón tôi lên xe. Tôi sẽ đi để báo tại chỗ cho ông. Có gì đâu mà mệt.
    Ông Tâm không có cách nào từ chối, đành ưng thuận.
    Thế là mỗi buổi sáng, cả hai ông bà ngồi trên chiếc xe cũ kỹ, chạy khắp các đường phố. Tới mỗi nhà, bà lanh lẹ mở cửa xe, đem tờ báo chạy tọt qua lề đường và đặt ở ngay trên ngưỡng cửa. Ông vẫn để xe nổ máy, ngừng chờ, mắt theo dõi bước chân thoăn thoắt của bà chạy trên nền xi măng. Trong đầu của ông, bà luôn luôn hiện ra hình ảnh một người bạn đường tuyệt vời, chia xẻ với ông mọi điều, lúc vui vẻ cũng như khi buồn rầu, khi sung túc cũng như trong nghèo khó, lúc ốm đau cũng như khi khỏe mạnh. Trong những trạng huống ấy, bà đã thực hiện một cách triền miên và cụ thể lời rao giảng của cha xứ ngày nào cách đây hơn ba chục năm trong lễ hôn phối của hai ông bà. Ông luôn luôn tự nhủ, ông là một người may mắn. Hôn nhân chẳng phải là một điều dựa trên sự may rủi hay sao? Ông nhận thấy, hồi này, trong tâm tưởng, ông thường hay ôn lại những tháng ngày của thời kỳ hai người còn son trẻ. Hình ảnh của bà hiện ra trong ý nghĩ của ông bao giờ cũng là một người khả ái, dịu dàng, lúc nào cũng tận tụy, gắn bó, chia xẻ với ông trong bất kỳ tình huống nào. Lòng ông cảm thấy xúc động, bồi hồi xen lẫn với cảm giác yên ổn, mãn nguyện như nhận thấy mình đã đi qua gần hết mọi quãng đường đời mà không thấy có điều gì phải tiếc nuối cả. Ðiều này khiến cho ông gìn giữ được niềm lạc quan trong đời sống cho dù rất vất vả, cực nhọc. Hơn thế nữa, ông còn cố gắng che giấu hoàn cảnh cực nhọc của mình để các con của ông khỏi buồn lòng. Cái Hương, cái Hạnh thường xuyên điện thoại hỏi thăm bố mẹ. Bao giờ ông cũng trấn an chúng nó bằng những tiếng cười ròn rã:
  • Bố mẹ lúc nào cũng thấy vui vẻ, thoải mái, đừng có lo!
    Cũng có nhiều lần cả hai chạy đến dấm dúi cho mẹ những tờ giấy bạc. Nhưng bao giờ bà cũng dẫy nẩy lên:
  • Thôi cứ giữ lấy mà lo cho chồng cho con. Chừng nào cần, tao hỏi.
    Sự quả quyết của bà khiến cho cả hai cùng cảm thấy yên lòng. Trong thực tế, họ cũng không biết rõ bố mẹ đã làm những gì để sinh sống ngoài ý niệm mơ hồ rằng bố quen thuộc nhiều bạn bè, nên có nhiều cơ hội để sẵn sàng có đủ mọi loại công việc, trong khi ấy, mẹ thì cặm cụi ngồi xâu chuỗi cườm kiếm thêm, kể ra cũng nhàn nhã, không lấy gì làm vất vả.
    Cho đến một hôm, ông Tâm cảm thấy mình khó nhỏm dậy được vào lúc một giờ sáng. Nằm ở giường bên kia, bà Tâm đã lên tiếng nhắc chồng đến hai ba lần:
  • Một giờ rồi đấy ông.
    Bà thấy ông cựa quậy, giở mình, nhưng rồi vẫn êm ru. Trong cơn nửa thức, nửa ngủ bà nghĩ ngợi lơ mơ, nhưng rồi bà chợt choàng dậy vì một cơn hốt hoảng từ đâu chợt ùa đến xâm chiếm trọn vẹn đầu óc của bà. Bà nghĩ đến ông, đến tuổi tác của ông, đến sức khỏe của ông có nhiều sút giảm thấy rõ sau những ngày tháng mò mẫm dậy từ lúc nửa khuya về sáng. Hôm nay ông không trở dậy đúng giờ là một điều bất bình thường. Bà bỗng thấy xương sống của mình lạnh buốt. Bà vội nhào qua bên giường của ông, cất giọng thất thanh:
  • Ông làm sao thế?
    Lại có tiếng của ông Tâm cựa mình. Bây giờ thì ông có vẻ tỉnh táo hơn. Ông nghển đầu lên, vừa thò tay bật nút đèn vừa cố nhoẻn một nụ cười trấn an:
  • Có gì đâu! Có gì đâu!
    Bàn tay của bà quờ quạng nắm được cánh tay của ông. Bà nhìn thẳng vào mắt ông như vận dụng bao nhiêu năm kinh nghiệm sống chung của mình để tìm hiểu xem thực sự chuyện gì đã xẩy ra cho ông. Ông Tâm lại nói:
  • Tôi chỉ hơi mệt mệt một tị. Bà đừng có lo.
    Rồi ông cố gắng ngồi dậy. Chân tay của ông cử động được dễ dàng, nhưng sao trái tim của ông thắt lại. Một cơ bắp nào đó đang co rút khiến cho một vẻ đau đớn thảng thốt vụt hiện ra trên nét mặt rúm ró của ông. Ông lại nằm vật xuống và bây giờ thì bà không còn giữ được bình tĩnh nữa rồi. Bà hối hả ngồi xuống,vực ông dậy,lòng tràn ngập lo âu, tiếng nói của bà đã ríu lại:
  • Ông làm sao thế? Ông cảm thấy thế nào?
    Ông Tâm yên lặng không trả lời. Ông còn đang bận tâm nghe ngóng xem cái cơ bắp trong tim mình vận hành ra sao. Nó đã rút lại khiến cho ngực của ông nóng ran lên, và đem lại cho ông cái cảm giác cực kỳ đau đớn. Ông nhắm nghiền mắt lại, vận dụng khả năng chống trả của mình, để ráng chịu đựng cơn đau. Ông nghĩ chuyện gì tới rồi nó cũng sẽ tới. Ông không có điều gì phải tiếc nuối cho cuộc đời đã có quá nhiều đắng cay vất vả của ông. Một lúc sau, bỗng ông cảm thấy như cơn đau đã giảm cường độ. Hình như có đường gân nào đó đang rãn trở ra. Nó rãn đến đâu, ông cảm thấy dễ chịu đến đó và lồng ngực của ông trở lại ấm áp như bình thường. Một cảm giác dễ chịu chạy lan từ thân mình xuống tới tận các đầu ngón chân. Ông vui vẻ nhe răng cười:
  • Có gì đâu! Tôi thấy dễ chịu rồi.
    Vừa nói ông vừa ngồi thẳng dậy. Cử chỉ của ông nhanh nhẹn như bình thường. Ông gỡ cánh tay của bà ra và nhẩy xuống khỏi giường. Mắt ông liếc qua chiếc đồng hồ để trên mặt bàn. Hai chiếc kim đã chỉ gần một giờ ba mươi. Vậy là ông đã bị chậm trễ mất hơn mười lăm phút. Cũng không hề hấn gì. Chỉ đóng gói các tờ báo lẹ chân, lẹ tay hơn một chút là đâu lại vào đó. Rồi ông lại sửa soạn như thường lệ và rồ xe ra đi.
    Ông không thể biết rằng sau khi ông đi thì bà cũng không ngủ lại được nữa. Trong thâm tâm của bà đã lộ ra một ý nghĩ quyết liệt: phải chấm dứt cái nghề bỏ báo vất vả này cho ông càng sớm càng tốt. Áo cơm là vấn đề thiết thân thật, nhưng cũng không thể vì nó hy sinh toàn bộ sức khỏe của mình trong khi vẫn còn những đường lối khác để cứu vãn.
    Bà đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, bỏ thì giờ chạy đôn chạy đáo để thăm dò trong đám bạn bè quen thuộc. Rồi vài ngày sau, bà báo tin với ông là bà đã tìm ra được một công việc mới. Ði coi nhà, nấu nướng và giữ em cho gia đình một cặp vợ chồng trẻ. Lương lậu không đủ chi trả tất cả mọi chi tiêu, nhưng cũng bù đắp được lỗ hổng một khi ông bỏ việc. Và bà yêu cầu chấm dứt việc đi giao báo hàng ngày. Ông giơ tay lên ôm đầu, giọng đầy xót xa:
  • Ðã đến nỗi nào mà bà đã phải làm như thế.
    Bà nghiêm khắc nhìn ông như bà đang nắm giữ trong tay tất cả mọi uy quyền. Cái quyền được bảo vệ sức khỏe cho ông. Giọng của bà chắc nịch:
  • Không còn đường nào khác! Ông phải nghe lời tôi. Vả chăng ông đã chẳng thường nói chẳng có nghề nào lương thiện mà mình không thể làm. Giữ em cho người ta chứ có gì đâu mà ông phải băn khoăn.
    Biết tính của bà mỗi khi ứngxử tùy theo từng hoàn cảnh, ông đành nhún vai buông xuôi.
    Thế là từ hôm ấy, bà để ông lái xe đưa bà đi làm lúc gần tám giờ, buổi chiều ông tới đón vào lúc bẩy giờ. Một tuần sáu ngày, trừ ngày Chủ nhật. Bọn cái Hương, cái Hạnh có gọi điện thoại đến hỏi thăm, bà dặn ông trả lời:
  • Mẹ đi làm ở xưởng may. Lương bổng khá mà cũng không vất vả gì nhiều.
    Mà quả thực, coi vậy chứ bà cũng không đến nỗi phải lao lực trong khi làm việc. Ðôi vợ chồng trẻ cùng có công ăn việc làm. Họ giao cho bà trông đứa bé mới vừa tròn ba tháng. Thằng bé ngoan ngoãn, tới giờ là bú sữa bình, bú xong thì nằm chơi trên chiếc giường đu đưa có gắn loại máy phát ra những bản nhạc êm dịu, nhẹ nhàng. Bản nhạc bao giờ cũng ru đứa bé vào giấc ngủ say sưa. Nhờ thế bà có dư thì giờ để dọn dẹp nhà cửa và chuẩn bị bữa cơm chiều. Khi đôi vợ chồng trẻ trở về thì mọi sự đã gọn gàng đâu vào đấy. Cơm nước cũng sẵn sàng. Món ăn rất vừa miệng khiến nhiều lần cô vợ buột miệng khen ngon. Ðến nỗi có lần nàng đề nghị với bà:
  • Cháu thỉnh thoảng có mời bạn bè ăn uống vào tối thứ Bẩy. Những bữa đó, nhờ bác nấu nướng thêm đũa thêm bát giùm cho.
    Rồi như sợ bà cảm thấy công việc trở nên vất vả hơn, nàng giải thích tiếp:
  • Nấu cơm thường thôi chứ không bầy vẽ gì cả. Bởi nếu bầy vẽ thì cháu đã mời họ đi ăn tiệm. Ðằng này, chúng cháu chỉ gặp nhau hàn huyên trong không khí gia đình.
    Bà Tâm vui vẻ nhận lời ngay:
  • Thế thì được. Không phải tôi ngại vất vả, nhưng tổ chức tiệc tùng thì tôi nấu nướng không rành, sợ dở không ăn được. Chứ còn cơm thường thì đâu có sao.
    Rồi bà kê ra một loạt những món ăn hàng ngày để tùy nghi lựa chọn.
    Một ngày thứ Bẩy sau đó, bà bầy biện tươm tất một bàn ăn có tới tám người. Hai bát canh dưa nghi ngút khói đặt giữa những đĩa rau xà lách xanh tươi xen lẫn với những đĩa thịt kho nhừ, và thịt bò xào lẫn với những miếng khóm vàng tươi.
    Người chủ nhà tiễn bà ra cửa lúc giờ về, đã nắm lấy tay bà cất giọng đầy cảm kích:
  • Bác sửa soạn cho cháu thế này là chu đáo quá rồi. Tối nay chúng cháu tha hồ được vui.
    Bà nhìn người vợ trẻ với ánh mắt đầy hân hoan. Bao giờ bà cũng tìm thấy niềm vui trong việc làm hài lòng người khác. Lúc ngồi trong xe trên đường về nhà, bà vui vẻ kể chuyện cho chồng nghe về công việc trong ngày của mình.
    Cả buổi tối thứ Bẩy hôm đó, bà luôn luôn thấy lòng nhẹ nhõm, thanh thản. Bà có cảm giác như mình vừa hoàn thành một công việc trọng đại: cất được cái gánh nặng nề vất vả để gìn giữ sức khỏe cho chồng.
    Duy có điều, nếu bà hình dung được những gì đã xẩy ra trong buổi tối hôm đó thì chắc niềm vui của bà không được trọn vẹn như thế. Bởi vì, trong đám bạn bè của đôi vợ chồng trẻ tụ tập hôm đó, lại có cả sự hiện diện của Hạnh và Hương.
    Lúc ngồi vào bàn ăn, mùi canh dưa bốc khói tỏa lên, làm cả hai xuýt xoa vừa nói với nhau, vừa nói với tất cả mọi người:
  • Trời ơi! Tuyệt cú mèo! Ðã lâu lắm không được ngửi thấy mùi canh dưa.
    Rồi Hạnh múc một muỗng nhỏ đưa lên môi nếm thử. Hương vị của muỗng canh làm đầu lưỡi của nàng tê đi và đồng thời làm thức dậy trong ý nghĩ của nàng những cảm giác xôn xao, quen thuộc. Hình như chứa ở sau cái vị bùi bùi, ngậy ngậy, chua chua là hình ảnh của khuôn mặt đầm đìa mồ hôi của mẹ nàng thấp thoáng sau nồi canh đang nghi ngút bốc khói. Rồi đâu đây, rộn rã vẳng lên những tiếng cười, không phải là tiếng cười của Hùng, của Hạnh, của Hương bây giờ mà là của cả ba người trong quãng thời thơ ấu ngày xưa, sau một ngày chạy nhẩy rông dài đầu làng cuối xóm, lòng dạ đói meo, tất cả cùng kéo nhau về tìm mẹ ở trong bếp để ríu rít đòi ăn. Mùi canh dưa y hệt như thế này, đã tỏa lan trong căn bếp chật chội, có mái thấp và những sợi mồ hóng rủ xuống từ những cái đà bằng tre nứa bắc ngang. Mẹ như một bà tiên hiền hậu, hai mắt long lanh, hai má của mẹ đỏ hồng. Mẹ cười như nắng tỏa lúc ban mai:
  • Các con đi rửa tay chân rồi ăn cơm. Mọi thứ sẵn sàng hết cả rồi.
    Lũ nhỏ chạy túa đi, như một bầy chim nhỏ vui tươi, ríu rít vì được che chở, được yêu thương, chăm sóc.
    Trong khoảnh khắc, lòng Hạnh chùng xuống và nàng cảm thấy mùi canh dưa bây giờ đang tỏa ngát chẳng những ở bầu không khí chung quanh mà còn tràn ngập cả trong tâm hồn của nàng. Nàng liếc sang phía chị Hương và nhận ra ngay chị ấy hình như cũng đang trải qua một cơn xúc động. Nhưng rồi bất chợt, có tiếng của Hằng, cô bạn chủ nhà trẻ tuổi vang lên, đầy vẻ mãn nguyện:
  • Các bồ đã thấy canh dưa tuyệt cú mèo không. Của bà Tâm, người làm mà chúng tôi mới mượn được đấy! Bà này nấu ăn phải nói là số một!
    Tai của Hạnh ù lên. Nàng không còn nghe thấy được tiếng xôn xao của các bạn bè khác đang thi nhau phát biểu ý kiến về những món ăn trên bàn. Nàng có cảm giác như bất chợt có một bàn tay lạnh lùng, tàn nhẫn nào xoè ra, nắm lấy trái tim của mình rồi xiết lại. Cơn đau ùa đến bất chợt làm Hạnh thót người lại, những nét nhăn nhúm chợt hiện ra trên khuôn mặt xanh xao và yếu đuối của nàng, và bỗng nhiên những giọt nước mắt chợt trào ra, chan hòa trên bờ mi làm khung cảnh sáng rỡ ở chung quanh bỗng nhiên trở nên nhòe nhoẹt. Ngồi chết sững ở đó, Hạnh không cất lên được một lời nào, nàng cũng không thể suy nghĩ thêm được một ý nghĩ nào khác ngoài sự nhận thức mơ hồ rằng chị Hương cũng đang đứng dậy. Một tay chị ấy xô cái ghế để lấy lối ra. Một tay giơ chiếc khăn ăn lên che kín gần cả khuôn mặt. Hình như chị ấy đang hối hả đi tìm chỗ có phòng rửa mặt.

California, 25/6/94

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 25 Nov 2024

PHẦN I: QUÊ NGƯỜI

  1. Bông Hồng Nào Cho Mẹ
    Giang sơn của cụ Giáo Thìn bây giờ chỉ thu vào đúng hai khoảnh nhỏ: một dẻo đất hẹp chạy dọc theo bờ tường của cái garage và một vùng trí nhớ lãng đãng với một mớ kỷ niệm xô bồ, không thứ tự, dấu hiệu của sự tàn phai trước tuổi già.
    Về cái dẻo đất hẹp thì phải nói rằng đó là kết quả của một công trình chăm sóc tuyệt hảo. Bề ngang đâu được thước hai, bề dọc cỡ độ bẩy thước, cụ Thìn đã đổ gần như tất cả thời giờ trong một ngày của mình vào đó để vun sới. Có ba cây ớt, một khoảnh ngò, một khoảnh hẹ, răm bẩy gốc tía tô, chừng mươi gốc húng và một nhúm hành ta. Đủ lệ bộ cho một đĩa rau thơm vào cái hôm mà cả nhà muốn ăn món bò nhúng giấm hay món gỏi cuốn chấm mắm nêm. Đó là những dịp duy nhất mà cả nhà lên tiếng khen bà cụ do công trình tưới bón, chăm sóc của bà. Tuấn nói:
  • Tụi bay còn cứ chê “mom” trồng trọt lẩm cẩm làm gì nữa đi. Sao bảo mấy thứ đó chạy ào ra chợ là có, đâu có thấy đứa nào vác xác ra chợ đâu!
    Thuý nhìn anh bĩu môi:
  • Tụi này đã không đi thì sao anh không đi đi, ở đó mà nói.
    Thu họa theo:
  • Nói cho hay, anh mà không chuẩn bị cơm nước chợ búa trước, tới chừng lấy chị Hương xong rồi ở đó mà chờ cái cảnh cơm bưng nước rót.
    Tuấn cãi lại:
  • Tao chờ chứ sao không? Tao lấy vợ Việt Nam chớ đâu có phải lấy vợ Mỹ!
    Thu trợn mắt nhìn anh:
  • À, thế ra cứ lấy vợ Việt Nam là bắt vợ làm “mọi” cho mình đấy có phải không? Xí! Còn lâu!
  • Thì mày hỏi mẹ coi. Tứ đức tam tòng, công dung ngôn hạnh là những thứ hàng đầu của con gái, phải không mẹ?
    Bà cụ nhìn mấy đứa con không trả lời. Bà chẳng còn cái thói quen lên tiếng phát biểu ý kiến riêng của mình từ ngày qua đây. Mọi thứ chung quanh đối với bà đều trở nên choáng ngợp, vuột tầm tay, bứt rời mọi thứ kinh nghiệm sống mà bà đã thu lượm được trong suốt gần cả một đời người. Nghĩa là đứng trước điều gì ở đây bà cũng đều bỡ ngỡ, rụt rè, nói ra cái gì là sai lầm cái đó, rút cục lại bà chỉ như một thứ trẻ nít trong nhà đi đâu cũng phải có người dẫn đi, làm gì cũng phải hỏi ý kiến con cái mà có những điều cả lũ đã xúm lại giải thích nhưng bà vẫn ù ù cạc cạc, chẳng hiểu mô tê gì hết ráo.
    Từ ngày thằng Tuấn kiếm được việc làm, nó đổi cái ti-vi cũ để thay bằng một cái mới tinh. Tuấn dặn mẹ:
  • Cái này có remote control. Mẹ muốn coi thì đừng có rờ mó gì vào những cái nút ở ti-vi cả. Họ đã set up đầy đủ hết rồi. Chỉ cần ngồi ở salon mà nhấn vào những cái nút ở trên cái này thôi.
    Tuấn ấn vào tay bà cụ cái remote control. Bà miễn cưỡng đón lấy nó bằng tất cả sự rụt rè, tưởng như bàn tay của mình mà đụng vào đâu lầm chỗ thì nó sẽ giở chứng hư ngay lập tức. Tuấn tiếp tục giảng giải:
  • Cái này là nút on, cái này là nút off, cái này là volume tiếng to nhỏ, cái channel này là để đổi đài, cái mute này lúc đang xem mà có điện thoại, mình muốn cho âm thanh nó tạm im đi thì chỉ nhấn khẽ vào…
    Đầu óc của bà Thìn cứ bấn loạn cả lên và cuối cùng bà dúi trả vào tay Tuấn:
  • Thôi! Rắc rối quá, tao chịu!
    Rồi bà tần ngần:
  • Mấy lại tao đâu có thiết gì ti-vi. Nó nói nhăng nói cuội, tao có hiểu ất giáp gì đâu!
    Tuấn nằn nì:
  • Thì mẹ nghe nhạc.
  • Ôi! Cái thứ nhạc cứ như đấm vào tai, càng nghe càng nhức đầu.
    Rút cục, thú giải trí của bà chỉ còn là mấy cuộn băng cải lương mà bà đã nghe đi nghe lại nhiều lần trên cái máy cassette tuy cũ sì nhưng được cái nó đơn giản, dễ sử dụng. Chỉ có điều không phải lúc nào bà muốn nghe thì nghe. Con Thuý còn đỡ, chớ con Thu mà thấy mẹ vặn cải lương khi có mặt nó thì bao giờ nó cũng nhằn:
  • Thôi tắt đi bớt đi một chút cho đỡ nhức đầu. Nhạc lải nhải thế mà mẹ nghe mãi được.
    Có lúc Tuấn cảm thấy bất nhẫn, phải gắt lên:
  • Thì mẹ có mỗi cái thú nghe cải lương mày phải để cho mẹ nghe chứ.
    Thu cãi lại:
  • Thiếu gì lúc mẹ có thể nghe được. Chờ cả nhà đi học đã, rồi mẹ tha hồ nghe.
    Dĩ nhiên rằng bà Thìn chẳng bao giờ muốn chính mình trở thành cái duyên cớ để anh em nó hục hặc với nhau, nên bà thò tay nhấn cái nút trên máy để cho cuộn băng ngưng lại. Bà nhìn các con bằng đôi mắt buồn thảm rồi mở cửa ra đứng ở phía sau. Qua một cái sân cỏ nhỏ là một dẫy bờ tường chắn ngang tầm mắt. Dẫy tường quét bằng mầu vôi hồng sậm, dưới ánh nắng chói chang của mặt trời tháng Sáu, bà thấy nhức mắt. Bà lại nghĩ đến cái giang sơn nhỏ bé của mình. Khu vườn nhỏ, một thước hai bề ngang, bẩy thước bề dài có hẹ, có húng, có ngò, có tía tô. Mấy tuần lễ trước gặp cụ Cả Phong ở ngoài chợ. Cụ có hứa sẽ bứng cho bà mấy rễ rau rớp cá khi nào bà tới chơi. Bà hoan hỉ báo tin cho lũ con ở nhà với lời đề nghị rụt rè:
  • Bữa nào rảnh có đứa nào lái xe chở mẹ tới lấy rau rớp cá về trồng.
    Thuý nhún vai, lè lưỡi:
  • Eo ơi! Rau rớp cá thì con chào thua. Chỉ nghĩ tới là đã muốn sỉu rồi!
    Thu nói:
  • Me too! Rau gì mà mùi tanh thấy ớn!
    Lại đến lượt Tuấn phải can thiệp vào:
  • Tuỳ goût mỗi người chứ. Rau rớp cá có biết bao nhiêu người thích ăn. Tụi bay không ăn nhưng mẹ ăn. Cứ lái xe đưa mẹ tới xin về để mẹ trồng.
    Thuý nói:
  • Tuần này em có hẹn! Thứ Bẩy phải tới phụ đằng con Liên làm sinh nhật của nó. Chủ nhật thì bạn của anh có party, mời cả em đấy thôi.
    Tuấn quay sang Thu:
  • Vậy con Thu đưa mẹ đi. Weekend này mày làm gì?
    Thu hỏi ngay lại:
  • Thế còn anh làm gì?
    Tuấn trừng mắt nhìn em thì mặt con nhỏ cũng vênh đáp lại. Thế là bà giáo Thìn lại vội vã xen vào hoà giải:
  • Chẳng tuần này thì tuần sau. Đâu có vội.
    Nhưng cái tuần sau đó đã trôi qua cả tháng nay rồi mà bà thì vẫn chưa có dịp ghé lại được đằng cụ Cả Phong. Câu chuyện rau rớp cá chỉ thoáng qua trong giây lát rồi mọi người đã quên đi, trừ bà Giáo.
    Hồi còn ở quê nhà, bà là người nghiện ăn trầu, xỉa thuốc vào hạng nặng. Khi còn sinh thời, ông Giáo ưu ái trồng riêng ở vườn sau trong căn nhà khang trang ở Sài Gòn cho bà một giàn trầu không leo kín cả một mái liếp. Có lẽ trong cái vùng trí nhớ lãng đãng của bà, hình ảnh sâu đậm nhất đối với bà không chỉ là kỷ niệm của một thời còn nghiện trầu và được ăn trầu mà còn là sự gợi nhớ lại tất cả tấm lòng yêu thương mà ông Giáo đã dành cho bà. Khi ông Giáo mất đi, giàn trầu vẫn xanh tốt, nhiều hôm ra hái trầu bà đã đứng nép ở sau giàn cây mà khóc sụt sùi một mình. Đó là một trong những giây phút bà nhớ ông nhất. Đến lúc vô nhà, mắt của bà còn đỏ hoe.
    Hồi đó Thu mới lên năm, cái Thuý lên tám và thằng Tuấn thì mười hai. Tất cả còn bé dại và bà đã dành tất cả quãng đời còn lại của mình để yêu thương và chăm sóc chúng nó. Khi lớn lên được một tí, cái Thu và cái Thuý tranh nhau học têm trầu cho mẹ. Nhìn những bàn tay xinh xinh bụ bẫm của hai đứa trịnh trọng xếp từng nếp trên lá trầu để hoàn tất những miếng trầu méo mó, xô lệch bà cảm thấy lòng hết sức thoải mái và yên vui.
    Nhưng từ ngày qua tới đây, cả hai đứa đều đồng thanh đề nghị mẹ phải bỏ cái thói quen nhai trầu. Thu giải thích:
  • Ăn trầu ở bên này không được đâu. Mồm miệng đỏ lòm, người ta cho mình là savage!
    Thuý phụ thêm:
  • Đấy, mẹ coi đàn bà cả nước Mỹ này đâu có ai nhai trầu. Mẹ mà ra phố nhai trầu, cả bàn dân thiên hạ sẽ xúm lại ngó mẹ cho mà coi!
    Tuấn tuy cảm thông với mẹ hơn nhưng cũng phải đồng tình với các em:
  • Thôi để chúng nó mua chewing-gum cho mẹ nhai đỡ buồn mồm. Cái Thu chiều nay đi học về tạt qua đâu đó mua cho mẹ loại chewing-gum có quế đó, mẹ dễ ăn.
    Lần đầu tiên Thu không phản đối gì ông anh về đề nghị đó cả. Có lẽ vì nhiệm vụ tiêu diệt cái thói quen nhai trầu của bà giáo là một nhiệm vụ trọng đại mà tất cả mọi người trong nhà đều phải xúm lại, góp công sức vào để quật ngã nó. Cho nên Thu sốt sắng khuân về đủ loại kẹo cao su, thứ dẹp và dài có, thứ viên vuông vuông mầu trắng có và dĩ nhiên có cả loại Dentyl mùi quế mà Tuấn đã đề nghị nữa. Bà giáo thấy con mua tốn tiền đã dẫy nẩy lên:
  • Làm gì mà mày khuân về lắm như thế. Bỏ thì bỏ chớ việc gì phải nhai kẹo cao su.
    Rồi bà nói tiếp, giọng buồn buồn:
  • Nhập gia cũng phải tuỳ tục chứ.
    Quả nhiên bà Giáo bỏ đứt cái thói quen ăn trầu. Bà cũng chẳng cần dùng đến một chiếc kẹo nào do Thu mua về. Thói quen ấy của bà có thể đã bị tiêu diệt nhưng giàn trầu không xanh um trong trí nhớ của bà thì chẳng bao giờ bà có thể quên. Những hôm cả nhà đi vắng hết, bà ngồi thu lu trên bộ salon ở phòng khách nhìn ra khung cửa kính sáng loà. Thân hình còm cõi của bà co gọn trên chiếc sofa rộng thênh thang trông lạc lõng và cô đơn như một con mèo già. Mái tóc của bà mới đó có vài năm đã bạc trắng ra. Bà giương cặp mắt hấp háy nhìn ra sân sau, lòng thì nghĩ như mình đang ngồi trong căn phòng khách nhỏ bé ở Sài Gòn nhìn ra khoảnh vườn có giàn trầu không leo lên những tấm nan tre do chính bàn tay của ông Giáo đã dựng lên. Bà nghe như ở phía bên kia bờ tường có tiếng động cơ xích lô máy chạy qua con đường bên hông chợ. Bà cũng như nghe thấy cả tiếng ồn ào ồn ào từ cái máy nước công cộng, tiếng hàng quà rong rao lảnh lót, có cả tiếng con tầu từ Biên Hoà chạy qua cổng xe lửa vang lên xậm xịch. Quê hương thật đã xa tít mù và chỉ còn tồn tại trong cái khoảng trí nhớ lãng đãng của bà.
    Những ngày mới qua Mỹ, lúc bốn mẹ con ngồi ăn cơm với nhau, mỗi người thi nhau nhắc chuyện dĩ vãng. Kỷ niệm cũ với ông Giáo. Kỷ niệm cũ với Sài Gòn, trường học, đường phố, bà con, bạn bè. Lâu dần, rút cục chỉ còn có mỗi bà giáo là thích nghe và thích kể về chuyện quê nhà. Mà những dịp này thì cũng hiếm hoi dần đi. Bữa cơm trong nhà không còn là một cái gì gọi là sinh hoạt thường nhật. Buổi trưa, lũ trẻ ăn ở trong trường. Đến chiều, mỗi đứa về một giờ giấc. Thu về sớm nhất, háu ăn nhất, lao vào bếp nấu một tô súp rau (loại súp bán sẵn trong những cái túi bằng nhựa) và một vài lát sandwiches. Bà giáo kêu ca:
  • Ăn cái gì nhẹ thôi. Để đến tối cả nhà cùng ngồi ăn đông đủ.
    Cùng ngồi ăn đông đủ ! Đó là niềm hạnh phúc và ước mơ nhỏ bé cuối cùng của bà trong căn nhà này. Nhưng trong thực tế, thật khó mà kiếm được dịp cả nhà ngồi chung với nhau, trừ một hai bữa trong những ngày cuối tuần. Khi Tuấn về đến nhà thì Thu và Thuý đã rút vô phòng riêng, đóng kín cửa lại. Bà giáo thì ngồi thiu thiu trên ghế chờ con về. Mâm cơm nguội lạnh đã bầy sẵn. Có dưa muối. Có thịt kho. Có canh cải hay nước rau rền. Tuấn ngồi vào bàn, nể mẹ sới được lưng bát cơm. Sau đó, chàng ăn tiếp một tô mì gói. Tuấn có thể ăn mì gói kinh niên mà không bao giờ ngán. Những hôm ăn một mình, Tuấn bưng nguyên cả tô mì ra ngồi ở salon, vừa ăn vừa coi ti-vi.
    Thành ra nồi cơm trắng phau, tuy sốt rẻo như thế mà bao giờ cũng ế. Cơm ế, không đời nào bà giáo đem đổ đi. Bà đem cất tủ lạnh để sáng hôm sau hâm lại làm bữa trưa cho mình. Nhiều hôm bà đổ thêm nước vào để nấu thành cháo. Riết rồi bà cũng mặc nhiên trở thành một người kinh niên ăn cháo, âu nó cũng thích hợp với hai hàm răng cũng đã bắt đầu lung lay của bà.
    Trong cuộc đời của bà Giáo, bà sợ hãi nhất là hai tiếng “đổ đi” ngay cả khi còn ở Sài Gòn vào thời kỳ bà đang giầu có, sung túc nhất. Các con của bà luôn luôn được nghe câu nói : “Phí của giời, mười đời không có”, bà làm như lúc nào cũng có con mắt của Trời, Phật ngó vào khi bà lỡ đánh rơi vài hạt cơm hay rúm gạo. Cho nên cái gì dư thừa, bao giờ bà cũng cất vô tủ lạnh, từ một chén mắm ăn giở cho đến đĩa đầu tôm rang mặn hay những mẩu vụn vặt của một nồi cá kho. Có lần Thuý phải kêu lên:
  • Mẹ suốt đời ăn đồ thiu. Coi chừng mắc bệnh, kính chả bõ phiền. Mà ở bên này đồ ăn thiếu gì!
    Bà Giáo cãi lại:
  • Mẹ mày! Thiu đâu mà thiu!
    Thu cũng bực bội chen vào:
  • Không thiu thì cũng đun đi đun lại cả tuần. Mẹ không đổ đi thì con đổ cho mà coi.
    Và Thu làm thật. Chờ lúc bà Giáo lúi húi ở vườn sau, Thu dọn sạch banh cái tủ lạnh. Ít lắm thì Thu cũng lôi ra được nửa xoong cháo, một tô cơm nguội, một đĩa cải sào, một chén mắm ruốc kho và một lưng niêu nhỏ chứa cái gì “đen sì sì’ thịt không ra thịt, mỡ không ra mỡ lại lẫn lộn cả mấy cọng râu tôm.
    Nhưng rồi chỉ tuần lễ sau, mọi sự đâu lại vào đấy. Chán rồi, tất cả đều để mặc cho bà tự do ăn uống theo ý mình, giống như Thu thì thích súp rau, Thuý thì thích bún thịt nướng, còn Tuấn thì thích ôm tô mì mì gói ra ngồi ở salon trước ti-vi. Ăn xong, đứa nào về phòng của đứa đó.
    Trong căn nhà của xã hội Mỹ có những cánh cửa phòng khi đóng lại thì kín như bưng đã là cái hình ảnh khủng khiếp nhất đối với tâm trạng của bà Giáo. Khi bầy con của bà rút vô phòng rồi thì bà không biết chúng nó đang làm gì ở trong đó, hay nhỡ có chuyện gì không may xẩy ra đối với chúng nó?
    Đứng ở ngoài hành lang thấp thoáng ánh đèn vàng vọt héo úa, bà với chúng nó tuy thật gần nhau về khoảng cách nhưng tâm tình thì thật đã xa cách nghìn trùng, đến nỗi bà nhiều khi có cảm giác như những cánh cửa phòng vô tri kia đã cắt lìa bà ra khỏi cuộc đời của chúng nó. Nào chúng nó có biết rằng rất nhiều hôm mủi lòng, bà đã tựa đầu vào vách gỗ để sùi sụt khóc mùi.
    Hồi ngày xưa, bà có thể nắm vững tình hình sinh hoạt hằng ngày của từng đứa. Về quần áo, mỗi đứa có bộ nào, chiếc quần nào của Tuấn có vết mạng, cái áo nào của Thuý hay Thu sứt chỉ hay được đơm lại khuy, vết sước trên tay Thu khởi sự từ bao giờ và nó đã được chữa trị ra sao, hôm nào thì liền da, bong vẩy, thậm chí đến từng cái răng lược bị gẫy, cái quai dép bong keo hay chiếc khăn tay bị ố mầu mực tím, nhất nhất bà Giáo đều nắm vững như tất cả những thứ đó nằm trên đường chỉ tay của bà.
    Bây giờ thì bà rất hiếm hoi có dịp được bước chân vô phòng của cả mấy đứa. Muốn kêu đứa nào, bà phải đứng ngoài gõ cửa. Nhiều hôm cái Thu hay Thuý chỉ hé một chút xíu cánh cửa gỗ rồi thò đầu ra, trao đổi vài câu ngắn ngủi với bà rồi lại khép sập lại. Bà thấy rõ các con đã vượt xa tầm tay của bà. Mỗi đứa đều có thế giới riêng của mình kể cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
    Một lần Tuấn bị đau nằm liệt trên giường ba ngày liền.
    Ôi thôi, bà Giáo thấy mình linh hoạt hẳn lên. Bà lăng xăng nấu cháo nóng, thái củ hành, vắt nước cam, giặt khăn nước lạnh, pha sữa hộp, quơ đồ cũ của Tuấn mang giặt và đem phơi. Bà tự do ra vô căn phòng của Tuấn mà không cần gõ cửa. Bà lại có thể ngồi hàng giờ ở cuối chân giường của Tuấn, lâu lâu lại sờ đầu, sờ chân, kéo mép chăn, căng mép vạt trải giường và nghe ngóng từng hơi thở khó khăn nặng nề của Tuấn.
    Nhưng sự bận rộn đầy yêu thương và hạnh phúc đó của bà cũng chỉ kéo dài được ba ngày. Sau hôm Tuấn khỏi bệnh và đã đi làm được ngày đầu, buổi tối bà Giáo tiến lại cánh cửa của phòng Tuấn với dáng điệu rụt rè. Rồi bà ngập ngừng gõ nhẹ lên phiến gỗ. Tuấn hỏi vọng ra:
  • Ai đó?
  • Mẹ đây!
  • Có việc gì không hả mẹ?
  • Không! Mẹ hỏi thăm xem hôm nay con khá hơn chưa?
    Giọng Tuấn đáp to: “Khoẻ như voi rồi, mẹ khỏi lo!”
    Bà Giáo đứng tần ngần một lát rồi quay ra. Trong lòng bà dâng lên một niềm vui nghe con khỏi bệnh nhưng đồng thời cũng xen vào đó là cảm giác tiếc nuối, nôn nao như bà vừa bị đánh mất một cái gì thân thương khó tả.
    Bà lại ra ngồi ở trên ghế salon, thu mình lại như một con mèo già ốm yếu, già nua. Phía bên kia cánh cửa kính là khoảng trời sâu hun hút điểm mấy vì sao thưa. Bà nghe văng vẳng hình như có âm thanh của những bản nhạc vọng lại từ rất xa phát ra từ những cánh cửa phòng đóng kín mít của các con bà.
    Bà chợt thấy hối hận ngay với ý nghĩ điên rồ vừa chợt nẩy ra trong đầu:
    ” Con Thu, con Thuý sao chẳng bao giờ thấy chúng nó ốm đau cả!”
  • California, Mùa Vu Lan – 1983

Tha phương cầu thực

hung-viet.org
Huy Phương / VOA
13 Tháng Sáu 2017

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

Người ta định nghĩa “tha phương cầu thực” là đi nơi khác (ngoài quê hương) để kiếm ăn (mưu sinh!) Sau tháng 4-1975, chính quyến mới ở Việt Nam thường cho những người bỏ nước ra đi, đến một quốc gia khác sinh sống là để kiếm “bơ thừa sữa cặn,” vì miếng cơm manh áo, là những người “ tha phương cầu thực.”
Không ai hãnh diện phải bỏ quê hương, làng mạc, mồ mả tổ tiên để di cư sang xứ khác vì cơm áo. Một đất nước vì chính kiến khiến người ta phải bỏ nước ra đi, một đất nước không giữ chân được người dân làm ăn sinh sống trên quê hương mình mà phải bỏ xứ kiếm ăn, là một đất nước có những nhà lãnh đạo tồi.
Thử nhìn lại đất nước chúng ta ngày hôm nay, một xứ nông nghiệp mà lâm vào tình cảnh, đến mùa lúa, không có người canh tác. Hầu hết nông dân đều đã bỏ xứ ra đi tìm nơi khác, nghề khác để làm ăn. Chính quyền trước cảnh đất ruộng bỏ hoang đã hứa sẽ cung cấp giống lúa tốt, chịu mặn, nhưng con số nông dân chịu một nắng hai sương cấy cày không còn lại bao nhiêu. Ông Đặng Thanh Quang, phó chủ tịch huyện Trần Đề, Sóc Trăng kêu gọi cha mẹ, vợ con những người bỏ xứ hãy vận động họ quay về làm đất cho kịp vụ lúa mới…
Hồi tháng 9-2016, Ngân Hàng Thế Giới (WB) công bố bản “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2016,” cho thấy, cơn sốt nông dân bỏ ruộng đồng, từ nông thôn ra thành thị giờ đã trở nên trầm trọng. Không chỉ nông dân ở miền Bắc, miền Trung là những nơi khí hậu không thuận lợi cho nông nghiệp, mà còn cả nông dân từ đồng bằng sông Cửu Long, nơi từ xưa được gọi là vựa lúa Đông Nam Á.
Theo cuộc tổng điều tra dân số của VN, từ năm 2009-2014, mặc dầu có 97,000 người từ nơi khác đến đồng bằng Cửu Long, nhưng từ 1984-89 đã có 92,000 người, năm 1994-99 có 230,000 người, năm 2004-2009 có 733,000 người, năm 2009-2014 có 544,909 bỏ vựa lúa Cửu Long để đi xứ khác mưu sinh, kiếm ăn. Tính ra trong vòng 30 năm, hơn 1 triệu rưỡi người đã bỏ xứ sở của mình, một nơi có tiếng là mảnh đất mầu mỡ, trù phú nhất Việt Nam để đi tha phương cầu thực. Trong mười tháng đầu năm 2016, tại Cà Mau có 26,000 bỏ xứ đi nơi khác làm thuê, Kiên Giang con số này là 20,000, Sóc Trăng là 10,000 người.
Đó là chuyện những nông dân của khu vực đồng nằng sông Cửu Long, còn ngư dân vùng biển của quê hương lại lâm vào cảnh tệ hại hơn. Họ không còn đánh bắt được trong vùng biển quê hương, một phần biển đã nhiễm độc, một phần ra khơi thì bị tàu lạ (Trung Cộng) xua đuổi đánh dập, bắt bớ, nên đành phải làm những ngư dân đánh cá bất hợp pháp trong vùng biển của các nước láng giềng.

Từ tháng 1-2013 đến tháng 3- 2017, đã có 134 tàu với hơn 1,000 ngư dân của tỉnh Bà Rịa (Xuyên Mộc – Long Điền) bị nước ngoài bắt giữ do xâm phạm vùng biển đánh bắt hải sản trái phép; trong đó, 132 tàu với 997 ngư dân bị Indonesia bắt giữ; hai tàu khác do Malaysia bắt giữ. Malaysia tố cáo lãnh hải của họ bị các tàu cá Việt Nam xâm phạm nhiều nhất. Dựa trên số liệu các vụ bắt giữ của nhà chức trách Malaysia trên Biển Đông, Bộ trưởng đặc trách an ninh quốc gia Shahidan Kassim ngày 8/4 cho hay trong tổng số 273 vụ bắt giữ từ năm 2010 tới tháng 2 năm nay, các tàu cá Việt Nam chiếm phần lớn. Gần đây, ngư dân Việt Nam lại lân la đến Papua New Guinea và vùng biển Úc Châu để bắt trộm hải sâm, một số đã bị bắt tù và phạt tiền, khiến đại diện Bộ Nông Nghiệp Việt Nam phải sang Port Moresby, thủ đô của PNG để ký cam kết hứa ngăn chận ngư dân xứ mình đến trộm hải sâm ở đây nữa!

Các ngư dân Việt Nam bị Malaysia bắt giữ trong các cuộc tuần tra ngày 10/3 và 11/3. (Ảnh: NST). Ảnh chụp màn hình trang web vnexpress.net

Biển Đông bị Trung Cộng khống chế, ngư dân Việt phải tha phương vào vùng biển cá nước khác kiếm ăn, lớp bị bắt, lớp bị giết, lớp bị săn đuổi, lớp bị bắn chìm.
Ngư dân miền Trung vốn tay chài tay lưới, sống với nghề biển lâu năm, nay trở thành công nhân “xuất khẩu” bất đắc dĩ, nôm na là bỏ nghề, lưu lạc đi làm thuê xứ người.
Xã Cương Gián (huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) 20 năm trước, khi chưa có phong trào ra nước ngoài làm thuê (xuất khẩu lao động) thì xã này cũng như hầu hết đất ven biển miền Trung khác, lam lũ quanh năm, nhưng không đủ ăn, đói nghèo, cơ cực. Ngày nay nhờ đám tha phương cầu thực, làm thuê tận Nam Hàn, đường làng sạch sẽ, nhà cửa cất lên san sát, khang trang không thua gì nơi phố thị.
Chúng ta cứ tưởng tượng một xã ven biển, tính tới tháng 3-2016, đã có tới gần 2.700 người đang đi làm thuê ở Nam Hàn, Nhật Bản, Úc, Đài Loan…làng xóm mới được “đỏ da thắm thịt” như hôm nay!
Cũng như thế, Cương Gián, xã Đô Thành (huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) giàu có bậc nhất xứ Nghệ nhờ nguồn thu từ tha phương. Xã hiện có khoảng 2.000 người đi làm ăn ở các nước như Nam Hàn, Đức, Nga, Thái Lan, Lào… Nhờ nguồn ngoại tệ gửi về từ nước ngoài mà đến nay, xã có trên 1.000 nhà dân xây nhà lầu trị giá cả triệu đô la, trong đó có nhiều gia đình có xe hơi.
Hiện nay nhà nước có chính sách đào tạo cho ngư dân trong độ tuổi từ 18 đến 35, để đưa sang Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc làm thuê. Nhưng muốn đi sang các nước này, phải tốn kém một khoản chi phí khá lớn, số ngư dân không có tiền chạy “xuất khẩu” đã tìm cách trốn qua Tàu, làm thuê, như làm bánh kẹo, ở các nhà máy chế biến nhựa, nông sản và một số công trình xây dựng khu vực biên giới Việt Hoa.
Ở trong nước thì dân vào đến tận miền Nam, Vũng Tàu, Biên Hoà để làm ăn, vào biển Ninh Chữ để làm thuê, ai thuê gì làm nấy.
Với những ngư dân Quảng Bình nói riêng và miền Trung nói chung, một khi biển chết, tương lai chết dần chết mòn theo, kéo theo nhiều nhóm ngành nghề khác đành phải ly hương kiếm ăn. Từ sau Tết, mỗi ngày hàng nghìn người dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình làm thủ tục đi du lịch nước ngoài như Lào, Thái Lan, nhưng thực tế là đi tìm kế sinh nhai. Đây là khu vực giáp với các tỉnh miền Trung, chỉ cần đi xe hơi hơn nửa ngày trời là sang đến Lào và qua sông Mekong làm thủ tục nhập cảnh là được vào đất Thái Lan.
Ngày nay số người cầu thực ở Lào không ít, người sang Lào làm ăn cho biết: “Đi làm ở Lào, Thái là được gần nhà hơn, thủ tục không rắc rối, không tốn tiền vé máy bay!” Sở lao động Thương binh Nghệ An cho biết, lượng người làm hộ chiếu, giấy thông hành tăng đột biến, vào những ngày cao điểm có thể tới 1,200-1,300 người một này.
Một điều xót xa là ngày càng có nhiều học sinh ở các xã Lộc Sơn và Lộc Bổn (huyện Phú Lộc-Thừa Thiên) bỏ học để theo người thân sang Lào làm thuê, mà nhà trường và chính quyền không thể ngăn chặn… Nhiều năm trở lại đây, năm nào trường cũng có 30-40 học sinh bỏ học khiến cho các lớp học ngày càng trống vắng, số học sinh toàn trường giảm đáng kể.
Tỉnh Kiên Giang thì số nông dân rời quê đi làm ăn ngoài tỉnh tăng khá nhiều, chủ yếu do mất mùa bởi hạn hán và nước ngập mặn thời gian qua. Tại huyện An Biên, năm 2015, cả huyện có khoảng 6.000 lao động đi làm ngoài, trong 4 tháng đầu năm nay con số này đã tăng lên 1.400 người. Dân phải rời quê kéo cả nhà đi Saigon, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, thậm chí lên tận Tây nguyên làm thuê kiếm sống!
“Tha phương cầu thực” trở thành phổ biến vì những gia đình có thành viên tha phương thấy mình ra khỏi được cảnh bần cùng, đói rách.
Khổ một nỗi, đất nước nghèo đến nỗi người Việt Nam phải đi móc túi tha phương tận bên đất Nhật, bên Thái Lan.
Việt Nam thích làm cường quốc, thì lần này được gọi là cường quốc “tha phương cầu thực,” quốc sách là bỏ làng làm thuê, ở mướn lần hồi kiếm ăn.

Huy Phương – VOA

“Sống Trên Đời”

ongvove.wordpress.com
Huy Phương
Post on 15 Nov 2011
Post by Sơn râu 24 Nov 2024

Một cựu quân nhân Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, nguyên sĩ quan tùy viên Hải Quân tại Ðại Sứ Quán Mỹ, Hà Nội, đã có ý hướng muốn thuyết phục người Việt Nam, nơi xứ sở ông đã phục vụ trước đây, thay đổi một nếp sống văn hóa, là từ bỏ thói quen… ăn thịt chó.
Ông Robert Lucius kể lại cảm giác đầu tiên của ông, năm 2006, trong một chuyến đi phát dụng cụ y tế ở Lai Châu, đã nhìn thấy những con chó bị nhốt trong rọ trên một chiếc xe gắn máy đem đến lò thịt, với những đôi mắt sợ hãi, tuyệt vọng. Vào lúc ấy, ông không làm gì được và về sau vẫn ân hận về sự “hèn nhát” của mình. Hình ảnh những đôi mắt bầy chó ấy ám ảnh ông, khiến ông từ bỏ việc ăn thịt và chọn việc ăn chay. Từ Việt Nam trở về, ông Lucius đã thành lập một tổ chức bất vụ lợi phát động việc đối xử tử tế với loài vật, đào tạo những thanh niên đi nói chuyện tại những nơi đông người, nhất là trong giới sinh viên chuyện phải suy nghĩ lại về việc xem chó là loại súc vật cung cấp thịt cho loài người, và việc giết chó làm thịt được xem như là một hành động độc ác tàn nhẫn.
Ở các nước Á Châu, chúng ta xem việc ăn thịt chó là bình thường như ăn thịt heo, thịt bò vậy, nhưng dưới mắt người Tây Phương, đây là một việc hết sức quái đản, dã man, mọi rợ. Chính bản thân tôi đã có phen ngượng chín người, vào cuối năm 1966, khi ở giữa một lớp học sinh tiểu học Mỹ, bối rối vì không thể không trả lời câu hỏi của một bé gái ngây thơ mới lên 8 tuổi: “Có phải người Việt Nam các ông ăn thịt chó không?” Có hay không? Và phải giải thích ra làm sao?

Trông một ông lính VNCH mang hia, đội mão, bề ngoài cũng không khác mấy anh lính Mỹ, nhưng cái câu hỏi của cô bé kia có lẽ đã khiến cho các em có cha, anh đang phục vụ tại Việt Nam nghĩ rằng thân nhân họ đang chiến đấu tại một đất nước không mấy văn minh, vì ở đó người ta… ăn thịt chó.
Cứ nghĩ đến hình ảnh một con “pet” cưng được bồng bế, quấn quýt bên con người, biết mừng rỡ, xúc cảm, trung thành, cùng ăn, ngủ với con người, được vuốt ve hôn hít, được chăm sóc thuốc men khi đau ốm, được chôn cất tử tế khi chết; với hình ảnh một con chó mới bị đập đầu bằng cái búa tạ, bị cắt tiết, giội nước sôi, cạo lông, thui vàng rộm, còn nhe răng, được treo lểnh nghểnh trên mấy cái móc sắt ở cửa hàng thịt chó ở Hà Nội hay Ngã Ba Ông Tạ, Saigon mà thấy kinh hãi.

Ông Jason Picard, một người Mỹ, kể chuyện, sau một thời gian đi du lịch ở Việt Nam về đã thú nhận với bố mẹ là đã có lần ăn thịt chó. Lúc ấy bà mẹ đang ngồi trên sàn nhà chơi với con chó nhỏ tên KC. Mẹ ông và cả con KC đã nhìn ông với vẻ mặt khiếp sợ và ghê gớm như nhìn một kẻ sát nhân. Sau một giây phút bối rối, bà mẹ bảo ông với giọng kiên quyết:
“Jason, con lại đây và xin lỗi con KC ngay đi…”
Tranh luận chuyện chính trị, tôn giáo đã là điều khó. Nói chuyện tôn giáo bây giờ có khi oan mạng, nói chuyện chính trị thế nào cũng có cãi vã, nhưng chớ có đụng vào văn hóa. Chính ông Lucius, người mở chiến dịch chống việc ăn thịt chó, cũng đã coi mình như một tên “đế quốc văn hóa,” dám làm chuyện xâm lược, đòi thay đổi văn hóa của dân tộc khác. Này ông! Mỹ ăn “hot dog” được thì tôi chén “dồi chó” có sao đâu? Chớ có đụng vào “văn hóa” của chúng tôi! Ðối với dân tộc Việt Nam, chuyện ăn thịt chó là thứ văn hóa muôn đời rồi, mùi chả chó, rựa mận đã thơm ngát cả khu rừng văn học dân gian làm sao dứt bỏ được:

– “Sống trên đời ăn miếng dồi chó, Chết xuống âm phủ biết có hay không?
– “Làm trai biết đánh tổ tôm, uống rượu thịt chó, ngâm nôm Thúy Kiều”
– “Một trăm con chó, Một lọ mắm tôm, Một ôm rau húng, Một thúng rau răm.”
Dân khoái thịt chó thường ca tụng đặc tính của thịt chó không thua gì người ta quảng cáo dược thảo hiện nay: “Không độc, bổ tỳ, bổ thận, trợ dương…” nghe mà ham. Không biết mùi vị thịt con chó trắng với thịt chó đen có khác nhau không chứ theo các vị sành chó thì: “Nhứt bạch, nhì hoàng, tam khoang, tứ đốm.” Có thật không, hay đây cũng chỉ là những lời bốc phét, như câu nói “ăn thịt chó ba ngày, xỉa răng vẫn còn… thơm?”
Một vài nước ở Châu Á như Nam Hàn, Trung Quốc có những vùng các nông dân nuôi chó trong nông trại để lấy thịt như nuôi, bò, cừu dê, heo, gà vịt. Họ còn nhập cảng giống từ phương Tây để có con giống lớn nhiều thịt. Các trại chủ Trung Quốc đã học hỏi cách nuôi “chó thịt” từ người Ðại Hàn và thú nhận rằng nuôi chó lợi gấp ba lần nuôi gà vịt và gấp bốn lần lợi tức nuôi heo. Ở thủ đô Seoul (Nam Hàn) có cả một “phố thịt chó.” Trong thời gian diễn ra Thế Vận Hội Seoul 1980 và World Cup năm 2002, chính quyền phải cho đóng cửa các nhà hàng thịt chó để tránh những cái nhìn thiếu thiện cảm của người phương Tây đối với dân tộc này. Nhiều người Ðại Hàn cũng đã cho rằng cách làm thịt chó bằng lối treo ngược con chó lên và đánh cho đến chết, để thịt chó được mềm mại và có mùi thơm hơn là quá dã man, nên đã thuyết phục chính phủ ban những biện pháp để ngăn chận lối làm chó độc ác, tàn bạo này.
Một người Nam Hàn hiện đang sống tại Hòa Lan cũng đã cho biết quốc gia này cũng có xuất cảng chó sang Nam Hàn và việc người Hàn ăn thịt chó sẽ làm hoen ố hình ảnh của Ðại Hàn khiến người ta sẽ kỳ thị và ghét người Ðại Hàn hơn. Vào tháng 4 năm 2000, tổ chức Hiệp Hội Quốc Tế Bảo Vệ Súc Vật tại Thụy Sĩ đã kêu gọi chính phủ ngăn cấm việc xuất cảng chó sang các xứ Á Châu, đặc biệt là Tàu, Việt Nam và Ðại Hàn, là những nước có văn hóa… “sống trên đời.”

Lòng dồi nướng luộc rựa mận xáo măng… chao ôi… chậc chậc…
Không thể xem thịt chó như là thịt rùa, thịt rắn, thịt vịt hay thịt heo. Chúng ta lại không thể xem loài chó cũng như các động vật vì nó có trí khôn và tình cảm, những ai đã từng nuôi chó đều biết đến điều đó. Loài chó khôn ngoan và biểu lộ sự đau đớn khác thường khi chúng biết sắp bị con người đem ra giết. Người Tây phương gọi chó bạn của con người (man’s best friend), trung thành và đáng tin cậy. Vì vậy người mù đã dùng chó để dẫn đường, cảnh sát đã dùng chó để tìm ma túy, truy lùng dấu tích tội phạm và để cứu người kẹt trong lửa, vùi dưới tuyết hay dưới sông. Con chó còn biết đi săn giúp người hay giúp giữ đàn cừu, kể cả việc bảo vệ cừu khỏi nanh vuốt của bầy sói.
Con chó biết mừng rỡ khi thấy chủ về nhà, dù đó là người lính viễn chinh xa nhà đã nhiều năm, con chó biết bảo vệ khi chủ bị tấn công, con chó nằm yên trên thềm nhà cũ, không ăn uống và chết theo người chủ. Con chó có nhiều đức tính mà con người đôi khi chưa làm được. Thế giới đặt câu hỏi, vậy mà vì sao, trên trái đất này lại có những người Tàu, người Việt, người Ðại Hàn, người Cambodia lại có thể đập đầu, giội nước sôi, thui vàng, banh thây những con vật “bạn người” ấy chỉ vì miếng ăn. Hơn nữa miếng ăn này cũng không phải miếng ăn cứu đói như ly sữa, khúc bánh mì, chén cơm hay củ khoai, mà chỉ vì cái văn hóa khoái khẩu, đàn đúm (chưa thấy ai ngồi ăn thịt chó một mình), rượu chè (không ai ăn thịt chó mà uống nước lã).
Tuy vậy người Việt Nam vẫn chưa có ai mở nông trại nuôi “chó thịt” cho sinh sản, vỗ béo rồi đem đi bán hay bỏ mối cho các nhà hàng thịt chó đang mọc lên nhan nhản, nhiều nhất là tại Hà Nội, đất ngàn năm văn vật. Cũng vì Việt Nam chưa có trại nuôi chó thịt quy mô, nên ở miền Bắc, quá nhiều người còn mê ăn món chó, mà số thịt không đủ “cung,” nói nôm na là không đủ chó bán. Do vậy, mấy năm nay, nghề trộm chó nở rộ khắp nơi, một bọn người chuyên lùng sục bắt chó từ của người khác đem về bán cho các cửa hàng thịt. Ðể bảo vệ chó của mình, dân chúng đã đoàn kết, tự làm bản án, phục kích và giết những kẻ trộm chó một cách độc ác không nương tay như đánh chết tại chỗ, đổ xăng thiêu xác họ hay nhẹ là đốt xe của bọn trộm.
Con chó đổi một mạng người, tình cảnh ấy chỉ thấy trong xã hội đương thời ở miền Bắc, mà chẳng qua cũng vì miếng ăn tồi tàn (Xem bài tham khảo từ các báo)
Theo thống kê có 5 triệu/47 triệu, người Ðại Hàn ăn thịt chó, không biết trong 85 triệu người Việt Nam, có bao nhiêu triệu người ăn món “mộc tồn?” Ít nhất cũng có ba triệu người ra hải ngoại không còn có cơ hội ăn thịt chó, và có thể không còn thích ăn món “cờ tây” này nữa, vì vậy tôi tin rằng văn hóa… ẩm thực cũng có thể thay đổi. Thay đổi để theo kịp đà văn minh, tiến bộ, thay đổi để cho chúng ta khỏi mang tiếng là những người đến từ một xứ sở còn thói quen dã man là… ăn thịt chó.
Dzô… dzô… dzô… chăm phần chăm… dzô!

Huy Phương

Di vật!

vietbao.com
Đoàn Xuân Thu
10/06/2019

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

Chiếc nhẫn và sợi dây chuyền: di vật thời Đức Quốc Xã!
Danh từ Hán Việt. Di là còn lại, vật là đồ vật. Như vậy ‘di vật’ là: đồ vật của người đã khuất để lại.
Mới đây, Viện Bảo Tàng, ‘the Auschwitz Birkenau State Museum’ của Ba Lan, trong bộ sưu tập gồm 12 ngàn vừa tách, tô, dĩa của những tù nhân người Do Thái bị giết hại tại những Trại Tập Trung của Đức Quốc Xã từ năm 1940 đến năm 1945, tình cờ phát hiện ra một chiếc nhẫn và một sợi dây chuyền bằng vàng của một phụ nữ vô danh, được giấu dưới đáy giả của một cái tách. Người ta dùng X Ray mới phát hiện hai di vật bi thảm nầy còn nằm trong đó.
Ai là chủ nhân? Không có manh mối nào để lần ra được hết, chỉ biết rằng số nữ trang nầy đã được chế tác tại Ba Lan từ năm 1921 đến năm 1931.
Chủ nhân chiếc tách nầy đã biết việc Đức Quốc Xã trục xuất họ ra khỏi nhà, cho phép mang theo hành lý, tư trang (dĩ nhiên chúng thừa biết nạn nhân sẽ mang theo những món đồ có giá trị nhứt). Chúng sẽ giết người rồi cướp của; nghĩa là họ biết chắc chắn sẽ chết nhưng vẫn hy vọng là giấu kỹ những vật nầy đi (không cho nó lọt vào tay kẻ cướp), thì dù mình đã bị giết chết, nó vẫn còn là một chứng tích cho tương lai.
Câu hỏi đặt ra là: Viện Bảo Tàng có nên giữ lại để trưng bày hay tìm kiếm cho được thân nhân người đã mất để trao lại cho họ? Nhưng biết ai đâu mà tìm, thì thôi coi như di vật của người đã chết tức tưởi vì Phát xít trở thành kỷ vật cho cả đời sau vậy.
Từ di vật đối với Viện Bảo Tàng nó trở thành kỷ vật, tức vật kỷ niệm của những gia đình đã bị mất người thân. Nó gợi lại một trang sử bi thảm của Thế chiến thứ hai!
Thuở đó, từ khắp các nước châu Âu bị Đức chiếm đóng, nhiều đoàn tàu hỏa đưa người Do Thái đến Trại Tập Trung Auschwitz, cách thủ đô Warszawa của Ba Lan 286 km. Đoàn tù nhân Do Thái khốn khổ nầy, sau khi xuống tàu, được lịnh đứng sang bên phải nghĩa là họ đã được chọn làm tù nhân lao động khổ sai, sống một đời nô lệ, còn tệ hơn súc vật!
Ngày lao động khổ sai bắt đầu từ 4: 30 sáng, kéo dài 12 tiếng để phục vụ cho guồng máy chiến tranh khổng lồ của Đức Quốc Xã. Cứ năm người xếp thành một tổ. Áo tù kẻ sọc, số tù xăm trên cánh tay, không đồ lót, mang những đôi giày gỗ kích cỡ không phù hợp, không tất, đến lao động quần quật tại khu khai thác sỏi và bãi gỗ. Buổi sáng tù nhân được đồ uống nóng, nhưng không có đồ ăn; bữa trưa là một tô canh rau lỏng bỏng không thịt, và buổi tối là một lát bánh mì mốc. Thực phẩm ăn mỗi ngày cung cấp không quá 700 calo nên rất nhiều người đã chết vì đói khát và bệnh tật.
Đó là ăn; còn ngủ thì từ 800 đến 1,000 người nhồi nhét trong những gian phòng như chuồng nhốt súc vật. Không thể nào duỗi người hoàn toàn, chân của người này đặt lên đầu, cổ hay ngực của người kia.
Đám tù nhân được lịnh đứng qua bên trái, vì có của nhưng không có sức lao động (đa phần là phụ nữ, trẻ con và người già) thì xấu số hơn, bị bọn SS giết hàng loạt trong phòng hơi ngạt để cướp của!
Theo lịnh của bọn sĩ quan SS, các nạn nhân cởi bỏ quần áo ở phòng ngoài đi tắm rửa để tẩy trừ chấy rận mà không biết rằng mình đang bước vào phòng hơi ngạt, được ngụy trang như phòng tắm. Khi những cánh cửa đóng chặt lại, bọn lính SS đổ Zyklon B, một loại thuốc trừ sâu cực độc, vào phòng qua các lỗ thông trên mái hoặc lỗ hổng trên tường.
Các nạn nhân ngoắc ngoải chết trong vòng 20 phút. Bên ngoài có thể nghe thấy những tiếng la hét, kêu khóc ầm ĩ dù đã bị những bức tường bê tông dày ngăn bớt. Nhằm làm giảm thiểu tiếng kêu khóc, hai động cơ xe gắn máy đặt gần đó được rồ hết ga; tuy vậy vẫn có thể nghe thấy những tiếng la hét thảm thiết rồi lịm tắt dần.
Xong, lính SS đeo mặt nạ phòng độc vào phòng, lôi các thi thể ra. Kính mắt, đồ trang sức, tóc, và răng vàng của nạn nhân bị cướp đi. Nhiều tên lính và sĩ quan SS của trại đã ăn cắp bớt tài sản của tù nhân bị tịch thu.
Xác chết bị đem đi đốt trong các lò thiêu gần đó; tro cốt thì bị chôn vùi, vứt xuống sông hoặc dùng làm phân bón để hòng che giấu tội ác man rợ nầy.
Dân Do Thái ở Châu Âu khoảng 11 triệu người, đã có khoảng 6 triệu người bị giết trong thảm sát Holocaust. Auschwitz, đã trở thành một biểu tượng chính của Holocaust, là di sản của thế giới!
Vâng những di vật đó không chỉ là vật kỷ niệm mà còn là một vật chứng tố cáo tội ác diệt chủng của bọn Phát xít trước lương tâm của toàn nhân loại.

  1. Poncho: di vật thời chinh chiến!
    Trở về với chiến tranh Việt Nam, chúng ta, những người lính thua trận, cũng chịu một phần số bi thảm không kém dân Do Thái, cũng có những di vật là vật chứng về một thời điêu linh của dân tộc.
    Trước năm 1975, hầu như cả thế hệ thanh niên miền Nam, đến 18 tuổi, kẻ trước người sau, lần lượt rời ghế nhà trường để khoác lên mình áo lính.
    Trong những quân trang, quân dụng còn sót lại sau cuộc chiến tàn khốc nầy không thể không kể tới tấm ‘poncho’ màu ô-liu, dùng để đi mưa.
    Khi vượt sông, người lính dùng tấm poncho gói tất cả ba lô, quân trang quân dụng, cột túm lại để trở thành cái phao mà vượt qua dòng nước.
    Tấm poncho còn thay thế chiếc mền đắp trong đêm khuya lạnh lẽo giữa núi non trùng điệp hay vùng đồng không mông quạnh.
    Cần hứng nước để uống, người lính đào một cái hố, phủ poncho lên trên cho lõm xuống, tạo thành một cái giếng cạn để hứng những giọt sương đêm, nếu gặp may, một cơn mưa bất ngờ nào chợt đến để hứng nước.
    Nhưng poncho còn là di vật đau buồn nhứt của đời lính, khi nó được dùng làm tấm vải liệm, gói thân người chiến sĩ bỏ mình trên bãi chiến trường ác liệt vừa tan khói súng.
    Lon ‘Gô”: di vật thời tù cải tạo!
    Sữa Guigoz của Hòa Lan được nhập vào Việt Nam những năm 60.
    Có hai loại sữa Guigoz, loại trắng cho trẻ sơ sinh, và loại màu vàng cho một tuổi trở đi. Loại sữa bột nầy đựng trong chiếc lon nhôm, dung tích 0.75 lít, đường kính 8cm, cao 15cm, thân hộp có nổi sọc ngang để cầm không bị tuột.
    Vì lon làm bằng nhôm nên rất nhẹ, không bị rỉ sét, nắp lon Guigoz đậy rất kín, bền chắc, khó móp méo, hư hỏng nên được các bà nội trợ giữ lon không lại để đựng đường, muối, tiêu, hành, tỏi, ớt hay các thức ăn khô.
    Khi chồng, con hay người yêu đi lính, chiếc lon Guigoz nầy được vợ, má hay em yêu dùng để đựng cá, thịt chà bông, tép rang, mắm ruốc sả xào thịt ba rọi cho những người thân yêu của mình ăn giặm thêm, ngoài cá mối hay thịt heo nái dai như giẻ rách ở nhà bàn của quân trường.
    Tàn cuộc chiến, những người lính sa cơ bị bắt đi tù cải tạo suốt từ Nam ra Bắc thì chiếc lon Guigoz nầy cũng bị ở tù theo.
    Cái tên Guigoz của một thời thanh bình cũ cũng tàn, phai mất chữ ‘Gui’ chỉ còn lại lon goz (‘gô’), là vật bất ly thân của những phận tù không biết được ngày ra.
    Muốn múc nước từ giếng lên thì dùng lon ‘gô’ làm gàu. Sáng thức dậy dùng lon ‘gô’ làm ca đựng nước súc miệng. Dùng lon ‘gô’ làm ấm đun nước sôi lên bỏ vào mấy hạt bo bo hay bắp đã rang cháy khét để thay thế nước trà.
    Lon gô nầy ngoài nấu nước, nấu cơm, luộc măng rừng, luộc rau, luộc khoai mì, còn dùng để đựng một nắm rau tàu bay, một con cóc, nhái, ễnh ương, bù tọt, hay bất cứ con gì động đậy, để chiều về còn có cái ăn thêm cho đỡ đói.
    Ngày ra trại, người lính thất trận ngày xưa, chung thủy mang theo hành trang của mình cũng là lon ‘gô’ dù bây giờ đã sau bao năm tù rạc, lon ‘gô’ đã móp méo như cuộc đời của chính chúng ta.
    Đó là di vật một thời bị đày ải, bị lăng nhục, bị trả thù cho đến chết, mà người lính chúng ta may mắn vẫn còn sống sót qua cuộc biển dâu nầy không thể nào quên.
    Vâng, cái poncho thời chinh chiến, cái lon ‘gô’ thời tù cải tạo, những di vật đó dù bây giờ không ai trong chúng ta cần tới nữa! Nhưng di vật không phải là vật vô tri, vô giác, vô hồn… mà nó vô giá! Nó nhắc nhớ chúng ta đã một thời làm lính trận!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Ma men!

vietbao.com
Đoàn Xuân Thu
09/06/2019

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

“Hai tay nâng chén rượu đào. Không uống thì tiếc uống vào thì say!” Tui hằng trộm nghe rằng: 7 nhà văn Mỹ đoạt giải Nobel Văn chương thì có 5 người ghiền rượu, một trong số đó ghiền nặng.
Còn hồi xưa ở bên Tàu, Vương Hàn (687-735): Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi. Dục ẩm tì bà mã thượng thôi. Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi?”
Nên tui thường tự hỏi rằng muốn viết văn hay làm thơ cho nổi tiếng như mấy ổng, điều kiện tiên quyết là phải ghiền rượu hay chăng?
Khám phá ra cái bí quyết ấy, tui bắt đầu nhậu; để coi cái ‘văn nghiệp’ của mình có nhờ sự trợ giúp của chén rượu đào mà lảo đảo đi cẳng không vào văn học sử hay không?
Rượu là một chuyện dài đi theo nhân loại hoài mà chưa có hồi kết trừ phi thiên hạ chết hết.
Thời hái lượm, ăn lông ở lỗ là nhân loại đã có rượu rồi. Chẳng qua trái cây nào có chứa đường, ăn thừa mứa dư dả, để lâu men trong không khí rơi vào chuyển hóa đường thành rượu.
Rồi mấy con khỉ đột, đười ươi uống, vô cùng khoan khoái, nhảy nhót chí chóe tưng bừng nên tổ tiên mình mới bắt chước đó chớ. Chính vì vậy mà ngày nay trông mấy chàng say múa may như là khỉ vậy vì bắt nguồn từ độ ấy đó đa.
Ghiền cần rượu như cần thức ăn, nước uống. Thèm rượu kinh khủng, phải uống vài ly cho đỡ nhớ. Nếu không cảm thấy trong mình bực bội, khó chịu, ợ khan, đổ mồ hôi, cơ thể run rẩy, ngáp lên ngáp xuống như thầy bói lúc lên đồng.
Sáng ngồi kiểu nước lụt trên cái ghế đẩu, một tô xí quách và một xị đế. Con chó Bích La (tức ba lít) ngồi nhóng mỏ chờ cục xương. Cầm cái ly hột mít quất nhẹ cái trót; húp miếng nước ‘súp’ có rắc hành lá và bỏ tiêu là mồ hôi tươm ra, hai tay nó hết run hè!
Người ta gọi á phiện là ‘ma túy’ và rượu là ‘ma men’. Toàn là ‘ma’ hết ráo.Không uống thì bị mất ngủ, nếu chợp mắt được thì gặp ‘ma’; thấy toàn ác mộng, thấy toàn là hổ, báo, sư tử, quỷ dữ, quái vật, chuột cống, rắn độc, nhện độc, hay gián bò kín đất.
Tai thì nghe thấy la hét, nhạo báng, dọa nạt, buộc tội mình! Thấy sâu bọ bò khắp người và có chỗ đau như bị chó cắn, xung quanh đều mờ mờ ảo ảo.
Quất vài ly tới một xị là mặt hồng hồng sáng trong trong tất cả các triệu chứng trên đều biến mất. Thiệt là thần dược, có tên là: Sakê của Nhựt, Mao Đài của Tàu hay Whiskey của Tô Cách Lan hoặc Tequilla của Mexico, rượu đế của quê mình!
Năm dài chày tháng thì gan ruột, đồ lòng tiêu tùng ráo trọi. Tùm lum bịnh. Ghiền rượu là một cách tự vận, chết từ từ nhưng chết chắc.
Giống như quý anh mình, tui sợ chết, bỏ em yêu lại cho thằng khác nuôi nên tui tính thôi nghỉ nhậu thì mấy chiến hữu của tui nhào vô can gián quyết liệt, thuyết phục tui là: “Nam vô tửu như kỳ vô phong!” Không nhậu bạn bè chê chú mầy là “Đồ gà mái”!
Rồi cũng trộm nghe. Uống vừa phải, không gây tác hại. Vừa phải là một lon bia hay một ly vang, hoặc một ly rượu mạnh, có tác dụng tích cực, ăn ngon hơn, hơi vui vẻ với má bầy trẻ. Vì “Một là những lúc ngà ngà. Hai là những lúc đi xa mới về!” nên tui lại nhậu nữa!
Tuy nhiên hai chuyện mất mặt bầu cua nầy của bạn nhậu cũng làm tui khá phân vân giữa ngả ba đường nên nhậu nữa hay thôi?
Chẳng qua anh bạn nhâu của tui đi làm ăn xa mới về, chị làm món đồ nhậu cho anh sương sương, khui chai sâm banh ướp lạnh. Người cạn một ly rồi dìu nhau vào phòng, tính đàn lại bản tình ca sau bao ngày xa vắng!
Thằng cu, mới 4 tuổi, thấy Tía Má mình người “lỳ một lam” sao vui hết biết, bèn tự ý rót cho mình một ly. Cha đã nhe! Chua chua ngọt ngọt mà có sủi bọt như “Coca Cola!” Cạn ly, đi lảo đảo, đụng bàn ghế ngã rầm rầm.
“Ối giời ơi! Ai cứu con tui? Sao thằng nhỏ sùi bọt mép, mắt trợn trắng trợn vọc nè Trời?!”
Thiệt là một kinh nghiệm rất kinh hoàng!
Rồi anh bạn nhậu, một chiến hữu khác, sau một chầu bí tỉ bèn lết về nhà. Say quá mà nên leo đại lên giường quánh cho mầy một giấc mà không để ý: “Ủa bữa nay hình như em yêu hơi ‘sổ sữa’? Rượu đưa con buồn ngủ lên bờ. Mùng ai có trống cho “qua” ngủ nhờ một đêm. Chuyện đâu có gì lớn hè?”
Vậy mà sáng bửng, còn mơ màng giấc điệp bỗng nhe tiếng la bài hãi, bị gọi giựt dậy. Chưa kịp đưa tay lên dụi mắt thì đã bị ăn một đạp, lăn xuống đất. Con sư tử Hà Đông tức con vợ nhà của ‘ảnh’ làm dữ mặc bà con lối xóm chạy tới xem.
Em “single mum” nói: “Tối qua, mệt nên em đi ngủ sớm, khi tỉnh giấc thì thấy thằng chả nằm ngáy kho kho trên giường. Quá hốt hoảng nên em hô hoán lên. Chớ “giả” say quắc cần câu rồi thì còn cần câu nào mà đi câu cá.”
Vậy mà con Sư tử Hà Đông nghe không lọt lỗ tai, kết tội “ảnh” là cái ruộng đó hoang hóa lâu ngày chẳng qua ông mượn rượu để làm nư. Có sẵn không xài mà đi mượn đỡ của ai đâu. Thiệt là nhục!
Tui cũng thấy nhục lây với anh bạn nhậu nầy quá! Xỉn rồi, còn vỏn vẹn cái tư cách cũng vụt vô sót rác hè nên tui tính nói ‘bái bai’ với ông thần Lưu Linh để làm người tử tế! Nhưng khổ nỗi, lóng rày cứ cuối tuần là quý độc giả thương mến thương thường hú tui đi nhậu.
Em yêu buồn bực lắm nên nói tui đi khám bác sĩ để tìm kiếm sự giúp đỡ bởi em nghĩ tui đã bị ghiền rượu quá xá quà xa rồi!“Ghiền rượu có thể chữa được bằng thuốc, bằng tâm lý. Nhưng quan trọng nhứt là tùy thuộc ý chí của anh có thực tâm muốn xa lánh thần Lưu Linh hay không?”
Em lải nhải hoài nghe nhức cả lỗ tai nên tui phải đành chiều em đến bác sĩ gia đình để khám. Mới gặp mặt tui, ổng mừng hết biết, nói: “Ông nhà báo chờ tui đóng cửa phòng mạch rồi hai đứa mình lại “pub” làm vài ly trước đã rồi mình nói chuyện sau nhe!”
Lâu lâu được Bác sĩ mời đi nhậu, hãnh diện hổng hết, từ chối sao đành.
Ngà ngà say, tui lảo đảo về nhà thì nghe em yêu lải nhải giảng “moral” vầy nè:“Đời tui ghét nhứt là hút thuốc và uống rượu. Ghét của nào Trời trao của nấy. Tui sẽ thôi; không ở với anh nữa. Tui về ở với Má tui!”
Tui tính bỏ rượu rồi đó chớ. Nghe vậy, tui bèn lục ra một chai rượu quý, Johnny Walker’s, Ông già chống gậy, nhãn xanh; bấy lâu nay giấu trong kẹt tủ ra nhậu, để mừng ngày được trả tự do!
Cheers! Mong em yêu đừng nửa chừng đổi ý nhe!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne.

Cù lao Quốc Gia!

vietbao.com
Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

Từ thuở đứt phim, ‘đứng hình’, vết thương vẫn còn đang rỉ máu. Quê người tạm dung đã mấy chục năm mà tui vẫn coi là xứ lạ! Xứ lạ mà may gặp được người quen là mừng lắm đó!
Cách đây mấy bữa, trên Facebook, từ bên Sài Gòn nhỏ, quận Cam, bên Mỹ có một em gọi qua; xưng tên là ‘Chi Lan’, (cành hoa lan trắng), rồi hỏi: “Thầy còn nhớ em hông?”
Ủa, tui đã ‘giã’ trường xưa theo tiếng gọi lên đường vượt biển mấy chục năm nay; đã rời xa phấn bảng quá xá là lâu mà đột nhiên bây giờ lại có ai gọi tui là thầy; làm gợi nhớ cái thuở ‘giáo chức, dứt cháo’; ‘thầy giáo tháo giày’ vậy cà?
Vài ngàn em học trò mà đứa nào mình cũng nói nhớ hết ráo là mình nói láo. Nói láo với ai còn có thể châm chước được; chớ với học trò cũ gọi mình là ‘Thầy’, dẫu mình đã nghỉ dạy lâu, thì đâu có được hè.
Nói nào ngay, em học trò năm cũ nầy, phải kể thêm một vài kỷ niệm nào đó, tui mới nhớ được. Chẳng hạn như thầy đã từng đến nhậu rượu đế với Tía em, ăn canh chua bông sua đũa do chính tay em ‘Chi Lan’ nấu là tui nhớ liền hè. (Chu choa! Ông phụ huynh học sinh Ba Tèo (tên xấu hoắc) lại đặt tên ‘tác phẩm’ của mình một loài hoa rất đẹp?)


“Nhà em ở cù lao Quốc Gia đó!” Nghe tới cái địa danh nầy là kỷ niệm ngày xưa ta bé ta vui lại hiện về làm tui buồn trong kỷ niệm.
Cù lao, cái địa danh hồi xưa bà con mình xài hà rầm. Như cù lao Ông Chưởng, cù lao Rồng, cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh trên sông Tiền. Còn trên sông Hậu là cù lao Quốc Gia, cù lao Dung và biết bao cơ man cù lao khác.
Bà con mình ai cũng biết dòng sông Mekong phát xuất từ chỗ cao thiệt là cao, trên cao nguyên Tây Tạng vượt qua biết bao nhiêu ghềnh thác. Cuối cùng sông ra tới biển, nước chảy rề rề chậm lại; kết quả bùn lắng tụ lâu ngày, để sông kia bên lở bên bồi hay gom lại nổi lên thành cù lao ở giữa sông.
Cách đây khoảng 150 năm, cù lao Quốc Gia thuộc địa phận làng Kế Sách, tổng Định Khánh, tỉnh Sóc Trăng. Mặt đất rất thấp, toàn là bãi bùn, cỏ dại, dây leo, cây bần và cây tạp cùng thú hoang và chim muông sinh sống.
Rồi những người đầu tiên đến khai phá đất hoang, bao bờ, trồng rẫy trên đất cù lao phì nhiêu màu mỡ. Làm ăn khấm khá nên bà con kéo đến sinh cơ, lập nghiệp ngày một đông hơn.
Từ việc trồng rẫy lúc ban đầu, bà con bắt đầu trồng thêm các loại cây ăn trái như: chuối, dừa, cam, quýt, bưởi, rồi sau đó thêm xoài, nhãn, chôm chôm, sầu riêng, sa-pô-chê, mãng cầu, măng cụt. Bà con mình dùng ghe lớn chở trái cây lên chợ Cầu Ông Lãnh, Sài Gòn bán đắt như tôm tươi, vì trái cây miệt cồn phân phướng tự nhiên nên giòn, ngọt, thơm ngon.


Sau nầy cù lao Quốc Gia đổi tên thành cồn Mỹ Phước. Theo không ảnh trên cao nhìn xuống, cồn có hình trái xoan với hai đầu thắt lại, đoạn giữa phình ra với chiều rộng trên 500m, dài khoảng 5km, chỉ hơn 1000 mẫu được bao bọc bằng những thân đê vững chãi. Đường sá trên cồn đều đã được trải bê tông.
Bà con xứ khác mà muốn đến cồn Mỹ Phước nầy thăm mấy người đẹp miền sông nước chơi thì đi theo đường nào hè?
Có hai cách: đường lộ và đường sông. Đường lộ phát xuất từ Cần Thơ theo Quốc lộ 4 tới ngã ba An Trạch, quẹo trái chạy thêm 12 cây số là đến quận Kế Sách. Từ Kế Sách đi thêm 10 cây số nữa đến xã Nhơn Mỹ, rồi đi đò qua sông là đến cồn Mỹ Phước.
Bây giờ thì từ Cần Thơ theo quốc lộ Nam sông Hậu đi khoảng 40km đến Nhơn Mỹ, xuống phà khoảng 10 phút là đến cồn Mỹ Phước. Còn đường sông, hồi xưa là tui xuống đò Ngọc Diệp ở bến Ninh Kiều, theo dòng sông Hậu khoảng 50 cây số là đến cù lao Quốc Gia. Ngồi trên mui đò trời nước bao la chừng 4 tiếng đồng hồ là anh về quê em để nhậu chơi với Tía của em.


Sau tháng Tư, năm 75, nhiều thầy giáo của phe ta rất là chịu chơi, chơi tới cùng, dứt áo ra đi mà không hề ngoảnh lại.
Có phụ huynh hỏi thầy:“Bộ không được lưu dung hay sao mà Thầy bỏ nghề giáo?”“Không tôi tự nguyện! Tôi thà ‘mất dạy’ để giữ cái tư cách nghề giáo cao quý của mình, chớ không chỉ vì cái đồng lương chết đói, tháng được 60 đồng, gạo 13 ký, thịt mỡ nửa ký để bán rẻ cái lương tâm chức nghiệp.”
Nói nào ngay, tui cũng muốn hành xử một cách anh hùng mã thượng như bậc đàn anh đáng kính nầy nhưng không được. Thầy còn có ruộng đất để cày, còn tui một cục đất chọi chim cũng không thì nghỉ dạy rồi mình biết về đâu, làm gì mà sống? Đành chịu nhục của người thất thế, sanh bất phùng thời, gặp buổi trời ơi, đành ráng ‘đu’ được ngày nào hay ngày nấy. Dẫu vậy nhưng đâu có được yên thân; nhứt là mấy thầy giáo đã từng đi lính, là sĩ quan biệt phái hay mấy cô có chồng là sĩ quan đang bị bắt ở tù cải tạo.
Sinh viên đang học ở trường Luật hay Văn Khoa gì đó bị lùa qua Sư Phạm học sáu tháng để về thay thế các thầy cô cũ. Trong số nầy, tui biết chắc là sẽ tới phiên mình. Nó đuổi, tui đi và đi luôn!


“Tiệc tiễn hành anh, em thết đãi.Cá sặt rằn khô, xoài thanh ca. Rắc chút đường, thêm vài lát ớt. Uống đã đời đi lắm đắng cay!”
Khô cá sặc rằn nướng chin, gỡ bỏ xương lấy thịt xé ra từng miếng nhỏ. Trái xoài thanh ca, cà rốt, hành tím xắt mỏng trộn với, tỏi, ớt chan nước mắm với đường.
Trộn đều rồi gắp một đũa đưa vô miệng, nhai khẽ khàng, nhai nhẹ nhàng nhưng cũng nghe hai hàm răng rít lên rau ráu. Chơi thêm nửa hớp rượu nếp trong ly hột mít sủi bọt tăm em cất tại nhà. Thiệt là quá đã cái ‘tâm can tì phế thận’!
Sau ngần ấy năm tha hương, đêm nay đốt lò hương cũ, sao nhớ vô cùng cái món gỏi khô cá sặt vốn của nhà nghèo, của vùng quê xa ngai ngái, của ngày xưa ấy! Dẫu đốt đuốc mà tìm cũng không thể nào thấy đâu bán trên toàn nước Úc.
Vì biến loạn, phải bỏ xứ đi nhưng cũng như bà con mình, trên cái lưỡi vẫn mang theo cái vị quê nhà; và cái tâm cứ vấn vương hoài cái hồn cố thổ.
Thế nên: “Thầy còn nhớ em hông? Nhớ nhiều quá xá đi chớ!”

Đoàn Xuân Thu
Melbourne.

Ghế thoát hiểm máy bay F-16

doithoaionline.wordpress.com
Posted on 02/10/2022 by Doi Thoai
bonglau-ThuyMyRFI

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

Chúng ta đừng quên năm 2014, khi thiết giáp Nga húc sập cổng doanh trại quân sự của Ukraine ở bán đảo Crimea và tràn vào, thì hàng loạt binh sĩ Ukraine đầu hàng mà không bắn một phát súng nào. Sau biến cố đó thì tình báo CIA và MI6 của Anh Quốc bắt đầu nhập cuộc, Biệt Kích Mỹ và SAS của Anh huấn luyện, cung cấp một số võ khí tối tân cho Ukraine để chống lại phiến quân ly khai ở miền đông do Liên Bang Nga giựt dây.
Dĩ nhiên sự thành công của quân đội Ukraine ngày hôm nay căn bản vẫn là lòng yêu nước, nhưng không thể thiếu yếu tố quan trọng là các thành phần lãnh đạo can trường ở thượng tầng. Một yếu tố then chốt để Ukraine vẫn còn đứng vững cho tới ngày hôm nay là nhờ Hoa Kỳ và NATO tiếp tục yểm trợ. Một phần là do viện trợ kinh tế – nhân đạo của Mỹ để xã hội Ukraine không bị sụp đổ. Phần còn lại quyết định sự thành công trên chiến trường là nhờ võ khí tối tân.
Nếu Tổng Thống Joe Biden tích cực hơn trong vấn đề cung cấp võ khí tối tân trong thời gian Nga chuẩn bị xâm chiếm Ukraine vào tháng Hai vừa qua, thì sự thiệt hại của Ukraine ngày hôm nay không lớn lao như đã thấy. Nhưng số lượng khiêm tốn của hỏa tiễn phòng không Stinger và Javelin mà Hoa Kỳ đã cung cấp cho Ukraine thời gian ấy đã bẻ gãy mũi tiến công của các đạo quân Nga, và thủ đô Kiev không thất thủ.
Vào thời điểm tháng Hai, tháng Ba vừa qua cả thế giới bàng hoàng trầm trồ ngưỡng mộ hỏa tiễn Javelin của Hoa Kỳ, và danh từ “cua rang muối” hoan hỉ tràn ngập trong các cộng đồng người Việt yêu tự do.
Nhưng mọi người còn sẽ ngạc nhiên hơn là tất cả đồ chơi Hoa Kỳ viện trợ cho Ukraine đều là đồ cổ cả. Một số lớn đã đến tuổi phải phế thải như thiết vận xa M113, xe quân sự Humvee, xe mở đường rà mìn v.v…
Hỏa tiễn phòng không Stinger là phát minh của Hoa Kỳ cách đây nửa thế kỷ 1967, và đã gây tiếng vang nơi “mồ chôn máy bay Liên Xô ở A Phú Hãn” vào thập niên 80.
Hỏa tiễn “đột nóc” chống chiến xa Javelin là phát minh năm 1996 cách đây 26 năm. Javelin được sử dụng ở chiến trường Iraq nhưng không gây tiếng vang đáng kể, vì thời gian ấy thiết giáp và máy bay Mỹ chủ động bắn hạ các loại cơ giới của nhà độc tài Saddam Hussein.
Hỏa tiễn Javelin được bộ binh Hoa Kỳ sử dụng một cách phí phạm ở chiến trường A Phú Hãn. Binh sĩ Mỹ dùng Javelin để bắn sập các công sự phòng thủ của du kích Taliban vì lý do các súng đại bác không giựt và hỏa tiễn chống chiến xa như AT-4 bắn không tới và không chính xác bằng.
Các giàn phóng hỏa tiễn lưu động M270 MLRS và M142 HIMARS gây kinh hoàng cho quân xâm lược Nga cũng toàn là đồ cổ, mặc dù có được nâng cấp cải tiến nhiều lần.
M270 MLRS là phát minh cổ điển có từ năm 1983 cách đây 4 thập kỷ. M142 HIMARS trẻ hơn chào đời năm 2012. Cả hai loại giàn phóng này được pháo binh Hoa Kỳ dùng để pháo kích vào quân du kích ở Iraq và A Phú Hãn. Ở Syria, M142 HIMARS được dùng để yểm trợ du kích quân đồng minh của Hoa Kỳ giao tranh với khủng bố IS vào năm 2016. Đồ chơi tối tân mà để dùng chọi với quân du kích mang súng AK-47 nên thế giới đã chưa biết hết khả năng ghê gớm của nó.
Hỏa tiễn diệt radar AGM-88 HARM làm tê liệt phòng không Nga, gây xôn xao dư luận mấy tuần trước cũng là phát minh cổ lổ sĩ của Hoa Kỳ cách đây 37 năm (1985).
Nếu google tìm hiểu vị trí cường quốc về quân sự thì khoảng 8/10 phân tích nói Liên Bang Nga là cường quốc quân sự thứ hai sau Hoa Kỳ. China là thứ ba. Mọi người thừa biết kỹ thuật quân sự của Trung Cộng đa số là ăn cắp của Nga và Mỹ. Ít ra quân đội Nga còn có kinh nhiệm tác chiến 10 năm ở A Phú Hãn, ở Cộng Hòa Chechnya nhiều năm qua nhiều giai đoạn, ở Syria v.v… China chỉ có một ít kinh nghiệm chiến đấu với Việt Nam ở biên giới năm 1979, nhưng đó không phải là một chiến tranh có kỹ thuật điên tử tối tân. Lo sợ China khống chế thế giới về kinh tế thì đúng, nhưng về quân sự là hơi quá đáng.
Là người Việt dù là có quốc tịch Mỹ, Ukraine, hay Việt Nam. Chúng ta có quyền hãnh diện đôi chút vì các món đồ chơi cổ điển nhưng tối tân này có một phần chất xám dân tộc. Nó đang gây tan tác hốt hoảng cho quân xâm lược, và làm các chế độ độc tài nơm nớp lo sợ.
Hỏa tiễn Javelin của công ty Texas Instruments và Lockheed Martin, Stinger của General Dynamics, M270 MLRS và M142 HIMARS cũng của Lockheed Martin, AGM-88 HARM của Northrop Grumman và Texas Instruments v.v…Các đại công ty chế tạo đồ chơi cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, nơi có hàng chục ngàn kỹ sư và công nhân Việt Nam phục vụ. Họ là con em của các gia đình tị nạn đã bỏ nước ra đi từ năm 1975. Họ đã đến đất nước này bằng đôi tay trắng, và đã không ăn bám mà cống hiến tim óc cho một thế giới tự do.
Sinh viên gốc tị nạn rất giỏi. Đa số con nhà nghèo vì cha mẹ dù trước kia ở miền Nam có làm quan to, nhưng khi mất nước qua Mỹ tất cả đều phải lam lũ cực nhọc để nuôi con cái ăn học nên người. Cho nên sinh viên Việt Nam tương đối ít ăn chơi phung phí. Vì tiền đâu mà vung vít?
Một năm trước khi ra trường, các anh chị em sinh viên có điểm cao thì được các đại công ty rần rần tới phỏng vấn để hốt đi. Một số thích phiêu lưu đi vào quân ngũ. Nhưng cá tính đơn giản bình dị của đại đa số vẫn không thay đổi.
Cách đây một số năm khi đi chợ Việt Nam, bỗng một anh to cao tóc húi cua chận kẻ hèn này lại và la lớn tiếng Việt: “Á, anh… nhớ em hong?”. Đang phân vân bối rối vì hỏng biết hắn là ai dù thấy nụ cười quen quen, thì hắn huyên thuyên kể lể: “Em là H nè, con ông K. Ba em hay nhắc anh lắm…”. À thì ra là thằng… ngày nào. Mà ngày xưa sao thấy ốm tong mà? Giờ ăn zì mà đô con zậy?
“Em mới bên Iraq dìa”… Ủa, “ông” làm zì bên đó?”. Thì ra giờ hắn là Trung Tá chỉ huy một đơn vị Lục Quân Hoa Kỳ ở Trung Đông. Nó là sinh viên thuộc lớp đàn em. Ngày xưa họp mặt nó chỉ ngồi cười cười hiền lành nghe mấy thằng lớn đầu điên khùng hay xúi bậy.
Những người bạn xưa lớn nhỏ vẫn bình dị không kiêu căng, dù đã có chức phận địa vị. Đọc tin báo chí thấy có người là Trung Tá, Đại Tá, phi công tác chiến ở Trung Đông. Nghe mà mừng và cảm động cho những người bạn xưa đã mất liên lạc bao nhiêu năm.
Ngày mới ra trường có quen một người con gái Việt Nam học ở một đại học tư danh tiến. Đại học tư có tiếng tăm rất khó vào và chỉ dành cho con nhà giàu hay sinh viên xuất sắc được học bổng toàn phần, chớ sinh viên gốc tị nạn thì gia đình lấy tiền đâu ra mà trả.
Quen mấy năm mà chỉ gặp đi chơi với nhau có hai lần vì không ở gần nhau. Lần đầu rủ cô ấy đi ăn cơm có kéo thêm một anh bạn từng học cùng trường đi chung cho zui vì thấy anh bạn ở một mình cũng tội.
Ăn xong đưa cô ấy về lại nội trú của đại học. Cô ấy vừa chào từ giã quay vào tòa nhà cổ kính thì anh bạn Bắc kỳ khó chịu hay để ý chi tiết phê bình chấm điểm liền, ngay bên ngoài tòa nội trú chớ hỏng đợi tới một chỗ kín đáo hơn: “Ông kiếm đâu ra mà hay vậy. Coi được lắm đấy”. Nghe rất nhột cái lỗ nhĩ. Cứ như là sắp lấy nhau zậy hả tía non. Ráng mà lo lấy thân đi kìa, đừng xen vào chiện người khác nè.
Lần thứ hai, sau khi cô ấy đã ra trường, có mời cô ta đi ăn phở một mình ở một quán bình dân. Cô ấy nhỏ nhẹ và ít nói. Mẫu người nhỏ nhắn xinh xắn không trang điểm. Chỉ mặc cái quần jean và áo sơ mi đơn giản.
Ăn phở xong thì lái xe đưa cô bạn về chung cư của cổ. Theo phép lịch sự và luật an toàn thì phải đi tháp tùng với người phụ nữ cho tới cửa để phòng mấy thằng điên xông ra làm bậy. Tự nhiên cũng bước theo chưn cô ấy vào trong nhà luôn cho biết.
Trong nhà của một tòa chung cư khang trang nhưng đơn sơ hỏng có gì cả. Không có cả ghế xa lông để ngồi. Trong phòng khách chỉ có một bàn làm việc. Cô ấy ngồi trên ghế trước cái bàn, còn ông khách đứng xớ rớ chầu rìa bên cạnh.
Trên bàn thấy mấy chồng giấy có kẻ ca rô của kỹ sư (engineer graph paper) có viết những phương trình toán học chi chít. Hỏi cô ấy đang học tới nữa hả? Cô cho biết vừa học xong thêm cái thạc sĩ về kỹ sư điện.

Ban ngày đi làm, ban đêm học thêm lấy thạc sĩ một cách dễ dàng. 23 tuổi, kỹ sư của đại công ty General Dynamics, đảm trách cải tiến nâng cấp ghế thoát hiểm của máy bay chiến đấu F-16. Người con gái nhỏ nhắn đơn sơ nhưng có bộ óc tuyệt vời.
Chưa tới 11 giờ đêm mà thấy cô bạn méo miệng ngáp buồn ngủ. Cô ấy lịch sự hỏng muốn đuổi khách, và khách cũng hơi biết điều nên chào từ giã sau khi đứng khá mỏi chưn.
Đó là lần cuối gặp nhau vì mỗi người có một con đường để đi. Có những con đường gian nan bên kia chân trời.
Có một lần ở Washington DC, bỗng nghe thoang thoảng trong không trung có tiếng máy bay phản lực. Nheo mắt chăm chú tìm kiếm trong bầu trời xanh ngắt, thì thấy hai hình dáng nhỏ xíu màu xám của hai chiếc máy bay một lớn một nhỏ đang nối đuôi sát nhau ở cao độ 15 hay 20 ngàn bộ. Chăm chú nhìn kỹ thì đó là chiếc KC-135 đang tiếp tế nhiên liệu cho chiếc F-16. Có thể máy bay của Không Đoàn 113 Vệ Binh Quốc Gia đang hành quân tuần tra bầu trời thủ đô.
Bỗng xao xuyến nhớ đến những người bạn xưa. Máy bay chiến đấu F-16 của Không Quân Hoa Kỳ đang lỗi thời và sẽ được F-35 thay thế. Tin tức cho biết chính phủ Hoa Kỳ đang nghiên cứu, và có thể viện trợ những chiếc máy bay huyền thoại lừng danh này cho Ukraine. Trong nó có mang chất xám của người bạn ngày nào.

BÔNG LAU 02.10.2022

Đồ chơi mới cho Ukraine

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 06/02/2023 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 24 Nov 2024

Trong gói viện trợ trị giá 2,2 tỉ đô la mà Hoa Kỳ vừa mới gởi cho Ukraine tuần này, có một loại đồ chơi mới nhứt chưa bao giờ được sử dụng trên chiến trường nào cả. Ngoài ra, tổng số giá trị viện trợ của Hoa Kỳ cho Ukraine từ tháng Hai năm ngoái đến giờ là 29 tỉ đô la.
Đồ chơi mới ấy là “Bom có đường kính nhỏ được phóng đi từ mặt đất” – Ground Launched Small Diameter Bomb (GLSDB).
Đây là một trái bom GBU-39 nặng 250 cân Anh có cánh xòe ra, được hỏa tiễn M-26 đẩy đi xa 150 km và có thể trúng mục tiêu trong vòng 1 mét. Đồ chơi này do hãng Boeing và Saab sản xuất năm 2016. Nguyên thủy của bom GBU-39 thì đã được sử dụng trước đây do máy bay thả.

Hỏa tiễn-bom GLSDB có thể được phóng đi từ những giàn phóng lưu động M142 HIMARS và M270 MLRS mà Ukraine đã có mấy chục chiếc. Hỏa tiễn tầm xa nhứt mà Ukraine hiện có là M142 và M270, chỉ bắn tới 90 km mà đã làm quân xâm lược Nga xiểng liểng điêu đứng rồi.

Với tầm xa gần gấp đôi của M142 HIMARS và M270 MLRS và độ chính xác đường kính 1 mét, Hỏa tiễn-bom GLSDB có thể rờ gáy quân Nga trên tất cả vùng bị chiếm ở miền đông Ukraine (Donbas, Zaporizhzhia và Kherson), và một phần bán đảo Crimea. Các kho hậu cần, bộ chỉ huy, và các tuyến đường tiếp tế của quân Nga sẽ là mục tiêu của GLSDB trong những ngày sắp tới.

Hoa Kỳ còn có những loại hỏa tiễn lớn hơn nặng 500 cân Anh có tầm xa 300 km và 500 km, có thể được phóng đi từ các giàn lưu động M-142 và M-270. Hy vọng Ukraine sớm nhận được các loại đó để tiêu diệt các an toàn khu của địch quân và sớm chấm dứt chiến tranh.

BÔNG LAU 04.02.2023