This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Phần 3 Những Đường Bay Đầu Tiên Tiểu Đoàn được chuyển vận từ Long An bằng tàu FOM theo sông Vàm Cỏ Tây, đến ngã ba nơi gặp sông Vàm Cỏ Đông, theo nhánh sông này đi ngược về phía Bến Lức. Tàu đi trong giòng sông đầy sương mù, trời chưa có nắng, nước sông mênh mông. Tôi ra đứng ở mũi tàu, gió thổi lộng, những buồn bực của tháng ngày hậu cứ như trôi đi, những tháng ngày dạy lính, quân phong, quân kỹ, mệt mỏi như cơn buồn ngủ trong trưa nắng. Đến khoảng xã Long Sơn, quận Cần Đước tàu đổi hướng cập vào bờ, lính ùa lên… Bỏ bờ mẫu lội ngang ruộng mà lên, coi chừng mìn… Lấy đà từ sàn tàu tôi nhảy lên đám lau sậy, dừa nước ngổn ngang. Bám được vào một bờ đất leo lên. Giàn đội hình hàng ngang, trung đội tiến lên khoảng hai trăm thước, dừng lại bố trí đợi đại đội lên sau. Cởi nón sắt ngồi xuống trên một mô đất nhìn ra xa, ruộng miền Nam thật đẹp, màu xanh dài bất tận, lúa khỏe mạnh, thơm nồng nàn… Chẳng bù với miền Trung, quê hương tôi, không có đất, chỉ có cát, cát mệt mỏi và cằn cỗi, không phải những bờ cát vàng đẹp đẽ cuả bãi biển trưởng giả, cát của quê tôi xám xịt, loang lỗ đây đó dăm ba cụm xương rồng, về mùa hạ gió Nam thổi luồng như đốt lửa, con trốt lớn chạy dài lừng lững như bóng ma. Tiểu đoàn chia làm hai cánh quân đi song song với con lộ đất đỏ. Tuyệt đối không được đi trên bờ ruộng. Cứ nghe hoài hoài một lời dặn dò.
Du kích vùng này nổi tiếng gài mìn, thiếu uý thấy gì lạ thì đừng đụng vào.
Tao biết rồi, mày lo cái thân mày trước đi. Đến giờ này tụi lính vẫn xem tôi như là một “mặt mới” đợi có dịp để lên mặt rành rẽ. Tôi kiểm soát lại hướng đi bằng địa bàn và bản đồ, kêu anh Trung sĩ trung đội phó: -Trước mặt khoảng năm cây số có cái đồn phải không? Tôi nói trống rỗng, vì nếu dùng tiếng mày tao thì tội nghiệp cho y, nhưng nếu gọi anh hay ông thì y lại coi thường. Nhà binh mệt nhọc thế đấy!
Vâng, có đồn Long Sơn.
Đồn còn người giữ không?
Nghe nói hình như còn và vừa bị đánh nên tiểu đoàn mình đi hành quân vùng này để truy kích. Đúng là một loại lính cũ, luôn luôn dóng tai lên để rình rập nghe ngóng tất cả, ẩn dấu sau một nét mặt lầm lì không nói. Tôi tưởng câu hỏi cốt để gây thêm tự tín, hóa thành một đòn phản. Viên trung sĩ đi ra xa, mặt thoáng vẻ hài lòng.
Anh ra coi lại thằng vác đại liên, phía trái mình không có quân bạn. – Tôi nói với. Khoảng bốn giờ chiều, đoàn quân đi ngang đồn Long Sơn, những người lính Nghĩa quân đứng trong hàng rào nhìn ra ngơ ngác. Họ nhìn toán quân chúng tôi như điều mới lạ đến từ nơi đầy ánh sáng. Bao nhiêu lâu sống trong chiếc đồn trơ trọi này, họ đã thành những kẻ thật xa với thế giới bình thường. Chiếc đồn chỉ cách quốc lộ hơn mười cây số đường chim bay còn thê thảm như thế, huống gì những tiền đồn ở cao nguyên, ở cuối cùng một cửa biển thì như thế nào? Tôi đâm ra hằn học với tự tin ngạo mạn của lính tôi. Đóng quân đêm. Tôi nghĩ mênh mang. Chiến tranh là vô ích như thế, từ một nơi xa xăm đến để chết, ăn, ngủ trên một vùng đất lạ. Nhớ đến tấm ảnh trong cuốn Guerre Morte… Một anh lính Pháp ngồi đun nước với lời chú: “Jean ne fait rien dans la guerre, subitement, il mort”. Tôi chỉ ở qua một ngày trong chiến tranh, và như vậy còn rất lâu mới có kết thúc. Những ngày sau tiếp tục. Long Sơn rẽ phải, lên đông bắc là Rạch Kiến, phố chợ hoang vắng, chiếc cầu bắc qua con kinh bị đốt cháy sáu ngày trước còn loang lỗ vết than. Có một tiệm bán nước ngọt với đá, tôi uống một hơi ba ly, không biết là chanh muối, sirop hay cái gì… Chỉ biết đây là nước đá.
Làm sao người ta mua nước đá được?
Người ta mua từ Cần Giuộc, Cần Giuộc đi Chợ Lớn rất dễ dàng. Người lính đứng bên cạnh tôi trả lời. Cần Giuộc, một địa danh nghe lạ hoắc. Miền Nam này thật lạ lùng, một nơi chốn đầy dẫy chết chóc vẫn có những quán cóc bán đồ nhậu, sạp bán báo, khốn nỗi chỉ bán toàn loại báo hạng bét, trang trong nói chuyện đào kép cải lương. Tuy vậy, tôi cũng mua một tờ xếp vào túi quần, chút thành phố có ở trong đây. Một tuần đi qua không có gì, biến cố duy nhất mỗi ngày là binh sĩ đi Khinh binh thường vướng phải mìn. Việt Cộng thật tinh quái, họ gài mìn vô cùng khôn khéo, dò biết lính đơn vị tôi không đi trên bờ ruộng nên mìn được gài ngay trong bụi rậm ở bìa làng rồi giăng dây thật dài. Lính vào làng phải dàn hàng ngang để dễ dàng khi xung phong tất nhiên phải vướng dây bẫy. Được an uỉ, mìn là loại nội hóa do du kích chế tạo chẳng làm chết được ai. Số thương binh được di tản không có người nào bị nặng. Mỗi lần có tiếng nổ ở đầu hàng quân, binh sĩ ở đàng sau tỉnh bơ, la lối ầm ĩ…
Rồi một con đã đi!
Đ..m..Lại một thằng được ăn Tết ở nhà. Người thương binh được di tản lui về đàng sau, ngang qua đồng bạn khi bị trêu chọc còn há mồm để chửi lại.
Bị vào chân mà về “chọi” là rút gân nghe con, ráng bảo bà xã nhịn đi.
Mẹ mày… – Lời nói buồn cười xóa tan vẻ bi thảm của dòng máu đang chảy. Đôi khi tôi cũng muốn bị nhẹ một phát vào chân. Nhảy dù gì đi ngang dọc hoài, chán bỏ mẹ! Ngày thứ tám của cuộc hành quân, khi tiểu đoàn tiến qua rạch Long Sơn, chiếc cầu bằng sắt đã bị giựt sập. Đại đội 72 đi đầu chỉ định một trung đội tiến sát bờ sông để tìm phương tiện vượt sông. Ầm, một tiếng nổ thật lớn, cột nước bắn cao lên hơn mười thước, có tiếng súng bờ bên kia bắn qua, súng Việt Cộng. Lần đầu tiên tôi nghe tiếng súng của đối phương… Cắc… cù… Tiếng đạn rít trong gió. Tôi thoáng một giây sợ hãi cứ tưởng chừng như viên đạn như vô tình đang bay về hướng mình. Và phản ứng thật tự nhiên: Thấp hẳn người xuống. Lẽ tất nhiên tôi không đến độ nằm bẹp xuống nhưng rõ ràng có một phản ứng không báo trước kéo thân thế thấp xuống, nhỏ lại. Nhỏ hơn nữa… Súng của Việt Cộng tiếp tục nỗ dọc theo con đường chúng tôi đang di chuyển.
Trung đội bố trí phía tay phải.- Tôi hét lớn. Toàn thể trung đội nhào xuống một chiếc rạch nhỏ trông sang cánh đồng. Tôi yên tâm vì đã đứng được trong lòng đất. Đất vật che chở cho con người trong những giờ phút nguy nan. Chạm phải bờ cỏ ướt, tôi có cảm giác như ôm một vật thân yêu. Cảm giác này sau này trong những giờ phút ngặt nghèo nhất, tôi được thấy lại. Mỗi lần vào được trong một chiếc hầm, tôi cảm thấy tự tin hẳn lên, tin tưởng mình có thể sống sót được trong hết mọi hoàn cảnh. Một nhân vật của Georghiu trong ” La second chance ” khi biết mình sắp chết trước họng súng của bọn sát nhân đã có lực sống mãnh liệt: Tự dùng tay để đào cho mình một chỗ trú ẩn, chết khi tay còn giữ nắm đất! Đất cao cả và nhiệm màu bao nhiêu. Trận đụng độ kéo dài chừng nửa giờ, du kích tháo chạy, chúng tôi vẫn chưa qua sông, tôi đi về phía đại đội chỉ huy. Bác sĩ Đạm đang băng bó cho thương binh, một xác chết được gói vào poncho, cột chặt bởi hai vòng băng cứu thương, gọn gàng và im lìm. Lần đầu tiên tôi đứng gần thây ma… Người chết trong chiến tranh đấy. Trở về chỗ bố trí của trung đội, thấy cần thiết một điếu thuốc hơn bao giờ hết. Đêm xuống, hào hứng của những ngày đầu hành quân không còn nữa. Tôi chưa quen với đời sống hung bạo và nhàm chán này. Những người lính xung quanh sau khi căng võng nằm phì phèo điếu thuốc mãn nguyện trong im lặng. Tôi chưa quen với điếu thuốc và niềm lặng lẽ cô đơn đó, tôi còn là thanh niên đang lớn, cần có bè bạn, cần người để tâm sự, những tâm sự tầm thường, những vụn vặt tình cảm… Ở đây không có bạn, trong không khí lặng lẽ đầy đe dọa, tôi cô đơn như cây nhỏ trong chiều mưa. Mười lăm ngày qua, nhận được lệnh đi học lớp Rừng Núi Sình Lầy ở Dục Mỹ, một lớp học hành hạ thể xác và đầy đọa tinh thần con người. Lúc ở trong trường tôi đã qua trung tâm này trong ba tuần lễ, đã biết thế nào là một lớp học kéo dài trong cực nhọc với thời gian hai mươi giờ trong một ngày. Nhưng đối với hoàn cảnh bây giờ, tôi không đủ kiên nhẫn để kéo dài sức chịu đựng trong loại hành quân này. Sao cũng được, miễn là đi khỏi vùng đồng ruộng đã bắt đầu quen thuộc. Khi chiếc xe qua cầu Gò Đen thấy Sài Gòn hiện ở xa, đột nhiên tôi muốn đập phá một cái gì… Về đến hậu cứ, đúng cung cách của một tên lính, tôi đi đến khu gái điếm ở cuối phố, âu đó cũng là một thói quen. Tôi cần tập nhiều thói quen của đời sống này. Trên chiếc xe đi về Sài Gòn, tự nhiên thấy già – già hẳn đi…
Người Tù Cuối Năm Khi lão thủ trưởng về tới đơn vị thì trời đã xế chiều. Hôm nay ba mươi Tết, các cơ quan đều nghỉ việc nên truớc cổng trụ sở không còn diễn ra cái khung cảnh ồn ào, hỗn độn của đám dân chúng chờ đợi để xin giấy tờ. Việc canh phòng cũng lơi là hẳn đi. Trên chiếc chòi đóng bằng gỗ thùng sữa tùm hụp như chiếc chuồng chim, lão thấy một nhân viên của mình đang ngồi hút thuốc trong tư thế chiếc ghế ngồi bị đưa ngả cả về đằng sau để cho lưng anh ta dựa được hoàn toàn lên vách gỗ. Điều này làm anh ta không nhìn thấy vị thủ trưởng của mình vừa đạp xe tớí. Mãi tới lúc lão ta xuống xe và đã dắt chiếc xe đeo lỉnh kỉnh đủ thứ túi, giỏ, gói đồ cồng kềnh đi qua cánh cổng làm bằng sườn gỗ và những sợi kẽm gai thì anh chàng gác trên chòi canh mới bật dậy, giọng nói hốt hoảng hẳn lên:
Thưa thủ trưởng, thủ trưởng đã về. . . Lão ngước mắt nhìn lên. Ánh mắt đầy nghiêm khắc, nhưng miệng lão vẫn nở một nụ cười làm ra vẻ hiền lành, dễ thương tương phản hẳn vớí tia nhìn lạnh buốt như lưỡi dao mới mài sắc. Lão nói với thủ hạ một câu, bằng một giọng chọn lựa đủ để anh ta không đoán ra được là lão đã xuề xòa bỏ qua hay vẫn còn để tâm tới sự canh phòng lơi là của mình:
Mọi sự tốt cả đấy nhỉ? Anh lính công an vội vã xoắn xuýt:
Thưa thủ trưởng mọi sự tốt cả. Trừ có mỗi một vụ ngày hôm qua. . . Anh ta chưa kịp nói hết câu thì lão đã đi ngang qua mặt, chẳng ra vẻ ngạc nhiên hay chú ý gì tới lời báo cáo bất thường này. Hình như lão ta không cho anh cái dịp để xuề xòa cái tội đã canh gác trong tư thế “ngồi trên ghế mà dựa cả lưng vào vách gỗ đề nhìn trời”. Lão lầm lũi dắt cái xe đi qua một khoảng sân cỏ nhỏ. Mặt tiền của trụ sở cơ quan đóng im ỉm nhưng ở phía trong vọng ra những tiếng cười nói ồn ào. Lão đi vòng ra phía sau và qua khung cửa sổ, lão nghe thấy tiếng reo hò lẫn những tiếng chửi thề tục tĩu. Lão dựng chiếc xe ở đầu hè, cố tạo ra tiếng động rổn rảng bởi chiếc bàn đạp cọ sát trên sàn xi măng để gây sự chú ý của mọi người. Lão không muốn khi mình sắp bước vào văn phòng mà mọi người trong đó không ai hay biết gì cả, nhất là trong cái hoàn cảnh tất cả đều đang bệ rạc chúi đầu vào canh bạc. Sự đánh tiếng của lão có ngay kết quả, vì hình như trong đám nhân viên đang sát phạt, vẫn có kẻ thỉnh thoảng liếc ra sân dòm chừng. Tiếng động do lão gây ra lập tức làm cho tiếng ồn ào bỗng nhiên im bặt. Lão bước những bước thật chậm về phía cửa phòng và cảm thấy hài lòng về sự im lặng tuyệt đối ở chung quanh mình. Điều đó có nghĩa là lão vẫn nắm trọn vẹn quyền uy ở đây, loại quyền uy luôn luôn gắn theo một mục tiêu là tạo ra cái cảm giác khiếp sợ bao trùm trên tất cả mọi người. Rồi lão bước chân vào phòng. Kẻ đứng ngay phía ngoài là một nhân viên trẻ. Anh ta mớí được đổi về đây không đầy hai tháng. Trong mọi trường hợp, anh ta luôn luôn chứng tỏ là một kẻ cuồng tín nhưng lại rất non tay nghề ở chỗ dễ hốt hoảng, dễ bốí rối. Cho nên mới vừa chỉ chạm vào ánh mắt sắc lẻm của lão, là Vinh, tên anh ta, đã vội vàng nói bằng một giọng ấp úng:
Thưa Thủ trưởng. ..hôm nay cuối năm. . Rồi mặt Vinh đỏ rần lên. Anh ta không thể tìm thêm được lời nào để tiếp nối câu nói của mình. Ngay lúc đó, ở góc phòng có giọng nói quen thuộc của Hào cất lên:
Thủ trưởng đã về. Anh em đang vui tất niên. Nếu không mệt xin mời thủ trưởng nhập cuộc với anh em. Lão đưa mắt về phía cuối phòng. Lão thấy Hào đang cởi trần và trên tay còn cầm mấy quân bài. Trong đám thủ hạ, Hào là kẻ vững chãi nhất. Gã có một đức tin mãnh liệt. Điều này nhiều lúc biến gã thành một kẻ cứng đầu, nhưng đồng thời cũng là một nhân viên ưu tú, góp phần đắc lực trong mọi công tác điều hành ở đây. Tuy nhiên về một phương diện nào đó, đối với thủ trưởng, gã lã một tên đáng ngại. Tận tụy và hay rình mò. Đó là đặc điểm của những kẻ đứng chung trong cùng một ngành, làm chung một cơ quan, chia sẻ chung một mối quan tâm hay một công tác được giao phó. Thái độ ngang nhiên của Hào đáng để cho lão ngừng lại một giây. Lão nhìn thẳng về phía Hào. Lão cố tạo cho mình một vẻ ngạo nghễ, ở ánh mắt, ở nụ cười chỉ nhếch ra không tới một nửa vành môi, bờ vai của lão cũng vuông thẳng lại. Rồi lão cất tiếng khoan thai, pha một chút bỡn cợt nhưng nhiều phần là quyền uy:
Nhập cuộc với các đồng chí thì sẵn sàng rồi. Nhưng đừng vì ham vui mà mất cảnh giác đấy nhé. Trong sinh hoạt thân thiết, ngoài nhiệm vụ hằng ngày, khi dùng tới tiếng “đồng chí” với nhau thì đó là lúc bắt đầu có vấn đề. Ai cũng thấy vậy. Và lão đã sử dụng tiếng xưng hô đó để bầy tỏ sự bất như ý của mình. Rồi không chờ cho Hào có dịp nói thêm một câu nào khác, lão lầm lũi quay lưng trở ra. Mấy nhân viên đang đứng gần đó vội vă lùi giật lại mặc dù lối đi còn rộng rãi. Lão trở về bàn giấy của mình trong một căn phòng ở cuối dẫy hành lang. Khi lão kéo ghế ngồi xuống trước đống hồ sơ ngổn ngang trên mặt bàn thì Hào cũng đã vội vã theo vào. Bây giờ hắn đã mặc thêm chiếc áo sơ mi tươm tất. Sự bỏ cuộc chơi đang ồn ào của gã để tớí trình diện mình ngay khiến lão thấy cơn bực tức dịu lại. Lão nhoẻn ngay một nụ cười hoàn toàn dễ dãi rồi nói với gã bằng một giọng cởi mở, thân thiết:
Sao chú Hào? Tết nhất rồi, nhớ nhà không? Hào vui vẻ:
Em mới nhận được thư của bà cụ hồi chiều. Cụ nhận được gói quà em gửi về rồi. Thôi, thà để tiền mua thêm cái bồi dưỡng cho nhà còn hơn là dẫn thân về, có đồng nào chạy vào tiền xe đi đường hết. Lão mỉm cười:
Hà..hà…Chớ không phải vì cô Tâm bên quán hàng trước cổng cơ quan mà chú chịu bỏ mấy ngày phép để ăn Tết ở đây hả? Mặt Hào đỏ bừng lên. Gã tỏ ra luống cuống thấy rõ. Hiển nhiên là cấp chỉ huy của gã đã nhìn thấu đến tận tim đen của mình. Điều này làm lão thủ trưởng càng thêm hài lòng vì lão đã nắm trúng nhược điểm của gã nhân viên dưới quyền. Chỉ một sự vướng mắc này thôi thì lão cũng đã có dư điều kiện để vo tròn bóp méo con người của Hào như một món đồ chơi trong tay rồi. Lão đổi giọng nghiêm chỉnh:
Chú trẻ, chưa vợ thì có quyền tìm hiểu. Nhưng chớ có nhẹ dạ để mất cảnh giác đấy nhé. Rồi lão chuyển ngay qua đề tài khác:
Bây giờ chú báo cáo cho tôi cái vụ xẩy ra hôm qua coi. Hào giật nẩy người lên. Gã thực sự thán phục cấp chỉ huy của mình về cái tài ma xó này. Lão ta về đây chưa đầy mười phút đồng hồ, lại chưa tiếp xúc với ai, chính gã là người đầu tiên đến chào lão, thế mà lão đã “nắm được tình hình” thì thần sầu quỷ khốc thật ! Hào cứ ngẩn mặt ra mất đến mấy giây rồi mới sực tỉnh và nói vội vã: -Trình thủ trưởng, vụ này không xẩy ra trong phạm vi trách nhiệm của mình. Việc phát giác chiếc tầu trốn ra nước ngoài là ở khu vực của bên các đồng chí Vĩnh Hậu. Lúc bị phát giác, bọn phản động chạy phân tán khắp mọi chỗ. Đồng Văn có, Minh Thuận có. Thuận Hiệp cũng có. Riêng khu vực của mình thì chúng em chỉ bắt được một tên mà chúng em đánh giá là chủ chốt. Bản báo cáo đầy đủ nội vụ em đã thảo và đệ trình trong hồ sơ trên bàn của thủ trưởng rồi.
Chú thông báo vụ này đi những đâu rồi?
Chưa! Em chờ lệnh thủ trưởng! Mặt lão thoáng một vẻ hài lòng. Dĩ nhiên trước sau gì thì hồ sơ cũng được chuyển đi, nhưng lão không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ một yếu tố sơ xuất nào có thể tránh trước để có thể được rộng rãi hơn trong cung cách giải quyết vấn đề. Yếu tố chủ động bao giờ cũng là điều kiện tuyệt hảo trong mọi công tác. Lão vẫy tay cho Hào lui ra rồi tiến lại bàn mở tập hồ sơ ra coi. Hào đã báo cáo khá đầy đủ, từ bản tự khai của người tù cho đến lý lịch của đương sự, bản phúc trình nội vụ của Hào cùng biên bản về những tang vật tịch thu được. Mải nghiền ngẫm đến hơn nửa giờ sau lão mớí đặt tập hồ sơ xuống bàn. Những chi tiết ghi trong tập hồ sơ quả thực đã lôi cuốn lão một cách mãnh liệt đến nỗi lão quên bẵng cả mọi cảnh vật chung quanh, lúc này thì nắng đã xuống thấp ở lùm cây phía bên ngoài cửa sổ và xa xa thỉnh thoảng vẫn có tiếng pháo đì đẹt vọng lại mang hương vị phảng phất cái rộn ràng của một ngày giáp tết. Trong khoảnh khắc, lão đã quên đi tất cả hiện tại để đắm hồn mình vào dĩ vãng xa xăm với những nhân danh, địa danh ghi trong tập hồ sơ trên bàn mà hàng mấy chục năm qua, lão không có dịp được nghe nhắc lại. Những tên người tên đất năm xưa xen lẫn với mớ kỷ niệm hỗn độn, mơ hồ tưởng như đã xóa nhòa trong dĩ vãng nhưng nay vụt trỗi dậy như hiện lên qua những hàng chữ đã lôi kéo lão trở về những ngày của thời kỳ đầu cách mạng. Lão vội vã đứng bật dậy và toan tìm xuống phòng tạm giam tù nhân. Nhưng bản tính trầm tĩnh đã khiến lão tự kiềm chế được ngay hành động vội vã của mình. Cả một đời lăn lộn trong đấu tranh nhiều khi vào sinh ra tử, nếu lão có leo lên được tới chức vụ bây giờ thì phần lớn cũng là nhờ ở cái sự biết tự kiềm chế đó.
Vì thế, lão chỉ tiến ra phía cửa sổ và móc túi lấy bao thuốc lá châm một điếu để cho cái đầu tự do lan man suy nghĩ. Bên ngoài, trời đang bảng lảng nắng chiều in một mầu vàng úa lên những ngôi gò thấp có những bụi cây um tùm xào xạc tiếng lá xen lẫn tiếng chim. Cho đến cái giây phút đó lão mới chợt ngạc nhiên nhận ra rằng ở đây sao giống với khung cảnh thôn cũ ngày xưa của lão đến thế, vậy mà suốt thời gian qua do bận rộn nên lão không hề nhận ra. Bây giờ thì lão phó mặc cho dòng tâm tưởng của mình trôi về dĩ vãng với hình ảnh của con sông hiền từ chẩy qua xóm làng, có những cánh đồng xanh bát ngát với những mái tranh lô nhô sau những bụi tre già, những thân cau thẳng tắp nhô lên bầu trời mầu xanh lơ và những đụn rơm cao ngất ngưởng mọc lên sau những vụ mùa. Chính ở đó đã xẩy ra cái bi kịch đầu đời của lão và cũng chính từ nơi đó, lão đã bỏ ra đi mang theo trong lòng tất cả mối hận thù của một con người bị đàn áp dưới bạo lực. Rồi hơn ba mươi năm trôi qua, trong khoảnh khắc, cái khởi sự và cái hiện thời bỗng nhiên trùng hợp nhau, ở đây, tại cái đồn công an hẻo lánh này qua tập hồ sơ báo cáo về một tên tù, một nhân vật mà lão không bao giờ quên, từ dáng dấp của hắn cho đến ánh mắt cuối cùng mà hắn đã nhìn lão trước khi mỗi người nổi trôi theo một ngả khác nhau trên đường đời. Lão đi làm cách mạng, với tất cả sự say mê lúc khởi đầu nhưng sau đó cũng dần dà phai nhạt, nhất là sau những năm dài chứng kiến những cuộc đấu tố kinh hoàng ở miền Bắc. Lão cũng nhận biết được sự đổi thay ấy trong tâm tư của mình, nhưng cuộc sống vẫn lôi lão đi như một khúc gỗ trôi theo dòng. Hôm nay, ở đây, nơi cái đồn công an hẻo lánh này, bỗng nhiên lão thấy như chưa bao giờ lão thấm thía với chính lòng mình như trong giây phút này, cái giây phút khởi đi từ lúc lão miệt mài nghiền ngẫm bản báo cáo do Hào đã để trên bàn. Những nhân danh, địa danh ghi gói trong đó chợt lôi lão trở về dĩ vãng ngày xưa và đặt lão trong khoảnh khắc vào vị thế của một con người sống cùng một lúc tới hai hoàn cảnh : Một kẻ bắt đầu ra đi và một kẻ đã đi gần như tận cùng của con đường cách mạng. Nhìn lại thành quả, lão thấy xã hội chung quanh hầu như chẳng thay đổi gì. Con người chung quanh lão vẫn lầm than cơ cực. Công cuộc đấu tranh giai cấp làm nẩy sinh một giai cấp mới có đầy đủ bản tính bóc lột của chính cái giai cấp mà nó vừa đạp đổ! Nói cho ngay, cái nhận thức kinh khủng này chỉ gậm nhấm lão một cách âm ỉ và chẳng thường xuyên. Bởi vì một phần là lão quá bận rộn trong công tác, phần khác là do chính lão muốn giập tắt nó ngay vì lão tự nghiêm khắc cho mình là đã lệch lạc mất cảnh giác, mất lập trường. Nhưng vào buổi chiều hôm nay, một buổi chiều cuối năm có những tiếng pháo đì đẹt từ xa vọng lại hầu như mang đến cho lão một sự hối thúc muốn quay trở lại những hình ảnh ngày xưa. Lão quăng điếu thuốc đang hút giở qua khung cửa sổ rồi mở cửa phòng tiến ra hành lang, đi về phía phòng tạm giam. Viên cảnh vệ đang ngồi trên ghế, trông thấy lão vội vàng đứng day. Lão cất tiếng hỏi:
Yên ổn cả chứ?
Trình Thủ trưởng, mọi sự bình thường. Lão kéo tấm vải bạt che kín bên ngoài phòng giam để nhìn qua những song gỗ. Lão trông thấy người tù cuối năm đang nằm co quắp tại một góc chật hẹp, ẩm thấp, nhờ nhờ ánh sáng. Chiếc áo sơ mi hắn mặc trên người đã rách bươm để phô ra một mảng lưng bầm giập và đọng nhiều vết máu. Chợt lão thủ trưởng hơi nhăn mặt lại. Hình như lão bắt gặp lại cái hình ảnh bầm máu của chính mình hồi hơn ba mươi năm về trước. Tay lão bấu chặt lấy một tấm song gỗ. Lão gần như thò cả nửa mặt của mình qua khe song để cố nhìn người tù cho thật rõ. Nhưng ông ta vẫn im lặng nằm ở đấy, không ngước lên, cũng chẳng quay ra nhìn. Trầm ngâm giây lát, lão thủ trưởng quay lại nói với viên cảnh vệ:
Thằng này nguy hiểm đây. Phải coi chừng! Nói rồi lão tất tả đi lên phòng. Lão sai một đàn em mang tất cả mọi thứ vặt vãnh quà bánh, thực phẩm Tết mà lão mua được ở trên thành phố đem ra bầy la liệt lên mặt bàn. Ngoài mấy món đồ dùng lặt vặt như bàn chải răng, xà phòng, dao cạo râu, khăn mặt, vài cuốn sách mới xuất bản, còn kỳ dư toàn là đồ ăn Tết. Có mứt. Có rượu. Có bánh chưng, lạp xưởng và nhiều đồ hộp linh tinh khác đủ để khao cả cái đồn nhỏ bé này một bữa thịnh soạn. Lão gọi Hào vô để ban chỉ thị:
Thông cảm với các chú vất vả quanh năm,1ại tình nguyện không xin phép về quê ăn Tết, tôi khao các chú một bữa tất niên! Cái tin ấy loan ra làm bầu không khí trong đơn vị rộn ràng hẳn lên. Hào nhanh nhẩu lãnh nhiệm vụ điều động mọi công việc cần làm: nấu nướng, kê dọn, trang hoàng…Đúng là chuẩn bị một bữa đại tiệc! Tối hôm ấy, hàng rào ngăn cách giữa mọi người hầu như mặc nhiên được hủy bỏ (Tết nhất có khác, đồng chí ‘Thủ trưởng dễ dãi hẳn ra). Nhất là khi có rượu vào. Hai chai của Thủ trưởng đem ra, cả đơn vị có hơn chục người chỉ rót vài vòng là cạn queo. Hào gãi tai xin phép Thủ trưởng cho “vượt chỉ tiêu” một bữa. Thủ trưởng ngần ngại giây lâu rồi miễn cưỡng gật đầu. Thế là có ít nhất hơn một nửa số người hiện diện đã cùng ùa lên, chạy vội vã về phòng riêng. Họ đem bầy ra đủ loại rượu mà nếu chẳng có dịp này thì không bao giờ lão thủ trưởng lại biết được rằng nhân viên của mình đã đổ đốn ra như thế. Nhưng tết nhất mà ! Mọi sự xuề xòa hết. Bởi chính lão cũng uống, lão cũng say ngà ngà. Lão cũng đùa giỡn vui vẻ như chưa bao giờ ở đây có ai thấy lão đùa giỡn vui vẻ đến thế. Đến giữa buổi tiệc, lão đem vấn đề người tù ra nói với đám nhân viên:
Tóm được thằng này tôi phải ghi công các chú. Nó đối với tôi có nhiều nợ máu đấy! Vừa nói lão vừa cởi phăng chiếc áo đang mặc trên người và xoay lưng về phía đèn sáng. Chờ cho mọi người đã đủ kinh ngạc và thắc mắc về những vết sẹo sần sùi, nhăn nhúm rải rác trên khắp lưng của mình, lão mới nói tiếp:
Đòn thù của cường hào ác bá làng tôi đấy! Cũng một ngày cuối năm như thế này vào thời tiền cách mạng, tôi bị chúng nó trói vào thân cau, vừa đánh đòn vừa dội nước sôi. Sẹo đấy. Sẹo nước sôi đấy. Rồi lão lại tụt chiếc dép ở chân trái ra và giơ cái cẳng của mình lên cao cho mọi người nhìn thấy:
Chưa hết đâu ! Các chú có thấy vết sẹo cắt ngang gót chân đấy không? Tôi còn bị chúng nó cắt gân, mà kẻ cầm dao chính là thằng này! Vừa nói lão vừa chỉ về phía phòng tạm giam. Ngay lúc đó có tiếng ly đập bể và có tiếng hét to:
Cắt tiết nó đi! Tiếp theo là những tiếng ồn ào, tiếng rủa xả, tiếng văng tục làm bầu không khí tự nhiên sôi sục cả lên. Lão Thủ trưởng giơ ly rượu lên và cất giọng bình thản:
Thôi ! Rồi đâu sẽ có đó. Ta chẳng nên để cái loại người đó làm mất vui buổi tiệc tất niên hôm nay. Nào, mời các chú nâng ly. Hôm nay đặc biệt cho các chú thả dàn. Nhưng chỉ một hôm nay thôi đấy nhé ! Mọi người quên ngay câu chuyện bi thảm vừa qua và trở về với những ly rượu tràn đầy trước mặt. Ly này cạn, ly khác đã rót đầy. Rượu vào lời ra, bầu không khí ồn ào, vui vẻ đúng như một ngày Tết. Khi tàn tiệc, đồng hồ đã chỉ gần mười hai giờ khuya. Trong phòng chỉ còn lác đác một vài người là còn ngồi vững. Những kẻ khác thì đã gục ngay tại chỗ hay lê lết nằm đâu đó trong các góc phòng, ngoài hành lang hay trên những chiếc võng mắc rải rác ở phía sau khu vực kê bàn làm việc. Lão Thủ trưởng cũng say khướt. Lão được hai tên đàn em xốc lên và dìu về phòng. Mà hai cái anh này cũng chẳng tỉnh táo gì hơn. Bộ ba dính chùm lấy nhau như một chùm sung, chập choạng đi mãi mới hết chiếc hành lang có ánh đèn héo úa vàng vọt. Khi tới phòng, lão Thủ trưởng cố cất lên tiếng cám ơn bằng một giọng say líu lưỡi rồi nhào vào phòng. Hình như lão ngã dúi xuống tại một góc nào đó trong căn phòng, kéo theo một cái ghế ngã đổ. Nhưng điều này chẳng khiến cho hai tên đàn em quan tâm. Họ cũng chuệnh choạng đi về phía dẫy phòng ngủ dành cho các nhân viên. Một anh lên tiếng hát. Giọng hát ồ ề cất lên chỉ được vài ba câu rồi tắt ngóm. Hình như anh ta cũng đã ngã gục đâu đó trên đường mò về giường ngủ của mình. Cả căn trại trước đây đầy tiếng la lối, cười nói om sòm nay chìm hoàn toàn trong sự yên tĩnh lạ kỳ. Rải rác đâu đó lâu lâu có tiếng nói mê, có tiếng cựa mình, đạp rẫy lung tung. Cũng có chỗ lại vang lên tiếng ngáy đứt đoạn. Rồi tiếng pháo giao thừa ở nhiều nơi bắt đầu vọng về. Trước còn thưa thớt, sau trở nên râm ran, rộn rã. Năm cũ đã qua. Một năm mớí bắt đầu. Đời sống cơ cực của mọi người không chắc có thay đổi gì nhưng con người vào cái giờ phút thiêng liêng giữa đêm trừ tịch vẫn nhen nhúm một niềm hy vọng mới, dù là đang ở ngoài đời sống hay đã nằm sau những trấn song của nhà tù. Nguời tù ở đây cũng vậy. Tiếng pháo giao thừa đã làm cho ông ta tỉnh dậy sau một cơn ác mộng dài. Hơi ẩm từ sàn đất đưa lên khiến ông ta thấy đầu óc của mình dịu lại. Ông nhấc thử chân tay của mình. Nó vẫn cựa quậy theo sự điều khiển của ông, điều đó khiến ông yên tâm phân nào. Nó đã không bị hề hấn sau những trận đòn mà ông chịu đựng từ hôm trước. Hơn một ngày đã trôi qua kể từ khi ông bị bắt giữ mà ông thấy nó dài như một thế kỷ. Ông nghĩ đến gia đình, đến bạn bè, đến những người đồng hành trong một chuyến đi hoàn toàn đổ vỡ. Ông cố không muốn nghĩ tới họ nhiều hơn, vì ông biết trong hoàn cảnh này ông cần dành những tàn lực còn lại cho những chuyện khác quan hệ hơn. Chẳng hạn sự tỉnh táo trong những lời khai báo. Điều gì nói ra được. Điều gì nói ra không được. Lời khai nào có lợi. Lời khai nào dẫn tới hậu quả làm sụp đổ cả một hệ thống những dữ kiện mà ông đã dựng lên qua lời khai báo để tạo cho mình cái vị thế không có gì nguy hiểm trước những cặp mắt soi mói của kẻ lấy cung. Tiếng pháo giao thừa làm ông tỉnh táo hơn lên. Ông lết lại phía cửa phòng. Cũng là những tấm song gỗ chắc nịch được che kín mít bởi lớp vải bạt căng từ phía bên ngoài. Ông không nhìn thấy gì nhưng cố vểnh tai lên nghe ngóng. Bốn phía chung quanh hoàn toàn yên tĩnh gây cho ông cái cảm giác biệt lập hẳn với thế giới bên ngoài. Ông mường tượng qua song gỗ là dẫy hành lang, con đường ông đã quen thuộc khi bị dẫn giải một đôi lần lúc lên phòng thẩm vấn. Bên kia đầu hành lang là dẫy nhà làm trụ sở nơi làm việc của cơ quan. Rồi qua một cái sân đất. Rồi đến hàng rào kẽm gai. Và sau cùng là con đường lộ nhỏ, biên giới giữa đời sống bên ngoài và nhà tù. Bỗng trong cái tĩnh mịch đến ghê rợn của căn phòng giam nhỏ hẹp chợt vọng lại tiếng chân người. Ông ghé sát tai vào song gỗ để nghe ngóng cho rõ hơn. Ông nghe thấy tiếng chân đi về phía phòng giam của mình. Rồi tiếng chân dừng lại ngay trước cửa phòng. Có tiếng sột soạt của lớp vải bạt che bị kéo lên. Và ánh sáng héo úa của ngọn đèn trước cửa hắt qua song gỗ làm ông hơi nheo mắt lại. Nhưng rồi ông thấy ngay một người đang đứng ở đó, mặt quay vào. Có tiếng cất lên nhỏ nhẹ nhưng rõ ràng, rành mạch, tiếng của lão Thủ trưởng:
Ông Nguyễn Phú Định! Người tù, ông Nguyễn Phú Định, hơi giật mình mở to mắt lên nhìn kỹ kẻ mới đến. Nhưng trong đầu óc bồng bềnh tan loãng của mình, ông không nhận ra được ai ngoài khuôn mặt xa lạ của một kẻ đã bước qua tuổi già với những nếp nhăn ở trán ẩn dưới mái tóc đã ngả mầu đốm bạc. Lão Thủ trưởng nói tiếp:
Ông không nhận ra tôi đâu, kẻ ba mươi sáu năm trước đã bị chính ông cầm dao cắt gân chân. Ông còn nhớ chứ? Đầu óc của ông Định bỗng lóe lên một kỷ niệm như một tia chớp sáng lòa. Ông nhìn sững kẻ đối diện. Thời gian đã xóa nhòa hình ảnh quen thuộc đã chìm sâu trong quá khứ. Ông không còn tìm thấy ở nhân vật này hình bóng chàng thanh niên năm xưa, tóc tai rũ rượi, mặt mũi bầm tím, quần áo rách nát bị trói giật hai tay ra phía đằng sau lưng, vòng qua thân của một cây cau. Anh ta đã lẻn vào trong vườn nhà ông Lý trưởng trong làng, đã leo lên cây cau để bẻ trộm một buồng cau to nhất, đẹp nhất mà ông Lý dự định sẽ dùng tới trong lễ ăn hỏi của con trai ông. Đang bẻ trộm thì anh ta bị phát giác. Ông Lý vác tù và ra thổi inh ỏi và tráng đinh trong làng đổ xô tới. Anh ta bị trói ngay lại dưới chính thân cau mà mình đã trèo lên. Cuộc hành hạ một kẻ nghèo đói, khốn cùng kéo dài suốt từ sáng cho đến chiều. Đánh đập. Chửi rủa. Dội nước sôi vào lưng và sau cùng như vẫn còn giận vì mất buồng cau đẹp nhất dành cho ngày lễ trọng, ông Lý lạnh lùng phán: -Cắt gân chân của nó cho chừa cái thói đi ăn trộm! Công việc hãi hùng này ông Lý truyền cho Định cũng là một tráng đinh, phải thi hành. Định cầm con dao sắc như nước của ông Lý giao cho mà người cứ như lên cơn sốt. Trong đời, anh đã từng cắt tiết gà, thậm chí có nhiều lần thọc cả huyết heo nhưng điều đó không làm cho anh có can đảm gì hơn khi phải cắt gân một con người. Chỉ cần nghĩ tới thôi, anh đã bủn rủn tay chân rồi. Nhưng lệnh là lệnh, anh không có quyền chối từ. Anh cầm con dao với tất cả sự run rẩy mà chỉ có anh tự nhận biết. Trời xẩm tối, ông Lý ra lệnh đốt đuốc lên để soi sáng cho cuộc bạo hình. Ánh lửa bập bùng soi lên từng khuôn mặt dữ tợn của đám tráng đinh đang in những cái bóng chập chờn trong tiếng kêu than rền rĩ của tội nhân, tạo thành một bầu không khí ma quái, ghê rợn như một khung cảnh địa ngục đang nhâu nhâu một bầy quỷ sứ. Ðịnh vô cùng ngại ngần, nhưng cuối cùng cũng phải sấn tới. Anh ta đứng trấn ngay trước mặt tội nhân để che lấp mọi người. Rồi anh ta nhìn thẳng vào đôi mắt cầu cứu, van lơn của gã ăn trộm. Suốt nhiều năm sau đó, mỗi khi nhớ lại, ông Định cũng chẳng bao giờ quên được cái ánh mắt khẩn cầu, tuyệt vọng của một kẻ đang bị dẫn tới đường cùng. Còn chính nạn nhân, tức lão Thủ trưởng bây giờ, mỗi khi nhớ lại cái giây phút hãi hùng đó, lão cũng không thể quên được ánh mắt của kẻ cầm dao trước mặt. Trong ánh lửa bập bùng, tia nhìn của gã tráng đinh tên Định không mang vẻ gì gọi là hung ác, bạo tàn mà ngược lại nó bao hàm một nỗi cảm thông, thương xót. Định nháy mắt với tên trộm, hươi con dao lên, và lợi dụng đang còn sấp bóng, gã bấu lên vai tên trộm như ngầm có ý ra hiệu. Thế rồi cuộc hành hình xẩy ra theo đúng ý muốn của viên Lý trưởng. Định đã nhấc cẳng chân trái của tội nhân lên, nhắm đường gân ở gót mà cứa mấy đường dao. Máu phụt ra chan hòa và tội nhân hét lên kinh hoàng đau đớn. Gã đã bị cắt đứt gân chân. Gã không còn lết đi được. Người ta đã khiêng gã đem vứt ở ngoài cổng làng. Ai cũng nghĩ rằng sẽ không còn bao giờ gã còn cơ hội bén mảng tới đây để leo trèo những cây cau, vì chân của gã bị tàn phế. Trừ người trong cuộc ! Quả thật Định đã áp dụng kỹ thuật chọc tiết heo của mình vào cuộc bạo hình. Đường dao của anh trông dữ dằn như thế nhưng chỉ làm đổ máu ở bên ngoài. Gã ăn trộm hôm ấy, chờ đêm khuya không còn ai, đã nhỏm dậy bỏ làng đi mất biệt. Hơn ba mươi năm trời trôi qua, bây giờ hai nhân vật ấy lại đối diện nhau nhưng vị thế đã đảo lại, tên tội nhân đã trở thành người quyền thế và kẻ kia thì đứng sau những song gỗ của phòng giam tù. Có tiếng của lão Thủ trưởng cất lên:
Ông Định. Hơn ba mươi năm rồi, bây giờ tôi mới có dịp nói lên lời cám ơn ông. Bàn tay của lão chìa ra và ông Định cũng thò tay ra nắm lấy. Lòng ông rưng rưng cảm động. Ông thấm thía về hai chữ tình người, dù là giữa những con người đến từ hai phía. Cuối cùng, bao giờ tình người cũng vượt lên trên được tất cả, trên áp bức, trên cường quyền, trên căm thù bạo lực. Trong hơn một phần tư thế kỷ vừa qua, con người đã vận dụng bạo lực, căm thù để mong giải quyết những vấn đề của xã hội. Thời gian đã đủ dài để ai cũng thấy rằng bạo lực hay căm thù chỉ làm đổ vỡ thêm những gì vốn đã hoang tàn, rách nát. Đã lâu lắm, lão Thủ trưởng vẫn từng gậm nhấm những ý nghĩ dằn vặt này. Nhưng chưa bao giờ lão có cơ hội để bứt phá cái định kiến vốn đã in hằn trong tâm khảm của lão. Như một giọt nước nhỏ vào một cái ly đã tràn đầy, cuộc gặp gỡ ngắn ngủi giữa lão và người tù đã khiến lão thừa đủ năng lực để giải phóng chính mình. Đêm hôm ấy, ông Định thong thả ra đường cái để đón xe trở về Sài Gòn. Và sáng hôm sau, đúng Mồng Một Tết, tại cái đồn công an nhỏ bé ấy, viên Thủ trưởng đã gieo một cơn phẫn nộ sấm sét lên đầu đám nhân viên thuộc cấp của mình về tội nhậu nhẹt say sưa đã làm sổng mất người tù cuối năm. Một kẻ có nợ máu. Một tên tù tối nguy hiểm.
Tay Ngà Ở mỗi một loại tuổi tác, con người đều có một loại tâm lý tình cảm riêng biệt. Nó đánh dấu từng thời kỳ trong cả chuỗi thời gian của một đời người. Nó ghi sâu trong tâm não con người những hình ảnh, những ý nghĩ, những cảnh vật nhiều khi rất tầm thường và thoáng qua, nhưng đã để lại trong tâm hồn con người một ấn tượng thật dai dẳng, thật sâu sắc, tưởng dẩu cho đến chết cũng vẫn chẳng phai mờ. Hồi ba mươi năm trước, Lữ chỉ là một cậu học trò mười bốn tuổi. Nhà Lữ ở cuối một con hẻm nhỏ ở Hà Nội. Đầu hẻm thông ra một đường phố lớn, con đường này chạy dọc theo ven một cái hồ chung quanh trồng toàn những cây liễu quanh năm rủ bóng xuống mặt hồ phẳng lặng. Về mùa hạ, sen dưới hồ mọc lan ra, che lấp bóng liễu, nhưng lại có nhiều bông sen màu hồng tía lô nhô giữa những lớp lá xanh ngắt. Mỗi buổi chiều, khi cắp sách đi học về, Lữ thường đứng ở một góc hồ, dựa lưng vào thân liễu để nhìn ra xa, phía có những chiếc thuyền thúng nhỏ len lách qua những tàu lá sen của những người chuyên làm nghề ướp trà. Hương sen ngào ngạt trong gió nhẹ buổi chiều. Lữ thích bầu không khí của khu vực này vào lúc trời vừa tắt nắng, bốn bề êm ả lạ thuờng, cái âm thanh duy nhất mà Lữ đứng ở đó nghe được là tiếng mái chèo vọc xuống mặt nước và tiếng mạn thuyền cọ sát lên những tàu lá sen nghe thành những tiếng kêu sột soạt. Mẹ Lữ thì bao giờ cũng cấm Lữ thọc chân xuống nước hồ. Lữ giữ đúng lời khuyên răn đó nhưng chả bao giờ bà biết được rằng đã nhiều lần Lữ đã được bác Nguyên cho leo lên thuyền thúng để ra mãi tít tận ngoài xa, ở đó con thuyền nhỏ xíu như chìm khuất sau những bông sen tỏa hương ngào ngạt. Bác Nguyên làm nghề ướp trà. Bác đã ngoài năm mươi nhưng rất vui tính. Dầu Lữ chỉ là cậu bé chưa đến tuổi mười lăm, nhưng bác chuyện trò với Lữ như một đồng hành. Bác thích nói hơn là nghe Lữ nói. Bác nói đủ thứ chuyện. Khi nào cao hứng bác còn ngâm Kiều và giảng Kiều cho Lữ nghe mặc dù trong đầu óc non nớt của Lữ, Lữ chỉ loáng thoáng hiểu rằng Kiều là một truyện bằng thơ, có nhiều người đọc, nhiều người khen và nhiều người thuộc lòng. Một lần bác ngắt một cọng sen giơ lên cho Lữ thấy, rồi bác bẻ cọng sen làm đôi và kéo ra thật dài. Những sợi tơ mỏng manh óng ả từ bên trong ruột dính vào nhau, cứ kéo nhau tuôn ra giống những sợi tơ tằm dài tưởng như bất tận. Bác Nguyên cất giọng ngâm:
Tiếc thay chút nghĩa cũ càng Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng. Cụ Nguyễn Du ví von thật tuyệt. Xa nhau rồi nhưng tình nghĩa suốt đời còn vương vấn như cái ngó sen này tuy tách rời nhau ra nhưng những sợi tơ hãy còn dính lại. Sự đời đâu có giản dị phải không? Hình ảnh cái ngó sen còn vương những sợi tơ óng ả và hai câu thơ do bác Nguyên đọc đã trở thành một ấn tượng trong đầu Lữ trong suốt những năm lưu lạc sau này. Rồi cũng như bác Nguyên đã từng cao hứng, chính Lữ cũng đã nhiều lần ngâm lại hai câu bất hủ trong Kiều: Tiếc thay chút nghĩa cũ càng Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng. Sợi tơ vương đầu tiên trong tâm hồn của Lữ vào thuở mười bốn, mười lăm cũng là một chuyện hi hữu đáng nói. Thuở ấy Lữ quen Ngọc trong một lớp luyện thi của thầy Nguyễn Vạn Tòng. Ngọc là một cô bé kém Lữ một tuổi. Xinh xắn. Ngây thơ. Ít hờn dỗi và hay nhường nhịn. Ngọc học chăm chỉ nhưng không xuất sắc. Ba tháng hè miệt mài với sách vở. Lữ đỗ vào Chu Văn An. Ngọc rớt không được vô Trưng Vương nên ra học tư ở trường Thánh Mẫu. Tuy nhiên tình bạn không vì thế mà gián đoạn, một phần vì nhà Ngọc ở ngay con đường lớn nhìn ra mặt hồ, hôm nào Lữ cũng phải đi ngang qua cổng nhà Ngọc mới rẽ được vô con hẻm nhỏ để trở về nhà. Một phần khác, tính tình Ngọc dễ thương, hồn nhiên, hễ gặp Lữ là tíu tít nói đủ thứ chuyện, nhất là kể từ khi Ngọc xin được vô học ở trường Thánh Mẫu. Ngọc khoe những tập sách mới, khoe bài ở trường, kể chuyện về các “ma soeur”, về các sinh hoạt đặc biệt ở trường, ở lớp, có nhiều hôm, Ngọc còn bắt Lữ gà giùm bài tập cả Toán, cả Luận văn của Ngọc nữa. Căn nhà của Ngọc là một ngôi biệt thự nhỏ, chung quanh trồng toàn hoa lan. Vào mùa hạ, búp lan rụng trắng cả cái sân sỏi nhỏ dẫn lên những bậc thềm cao. Hương lan thoang thoảng ở khắp mọi chỗ. Nhất là khi Lữ ngồi coi sách vở hoặc giảng giải lại bài cho Ngọc ở căn phòng nhỏ nhìn ra vườn sau, mùi hoa lan tràn ngập căn phòng lát đá hoa trắng nuốt tạo nên một cảm giác vô cùng êm dịu và mát mẻ. Nhưng điều mà Lữ ghi nhớ nhất về căn nhà của Ngọc không phải là mùi hoa lan, mà lại là âm thanh của tiếng đàn. Tiếng đàn ấy Lữ nghe được ngay từ khi bước qua cánh cổng sắt lớn ở ngoài đường. Mới đầu chỉ là những âm điệu bay thoảng qua trong gió nhẹ từ mặt hồ thổi vào, nhưng khi bước lên những bậc tam cấp để vào trong nhà thì tiếng đàn ấy trở nên tràn ngập ở mọi chỗ, nhẹ nhàng, thánh thót như đưa con người vào một thế giới khác khiến cho Lữ vụt quên cả cảnh tượng liễu rủ trên mặt hồ, quên những búp lan tỏa hương nằm rải rác trên sân sỏi nhỏ và quên luôn cả người bạn gái đang lăng xăng mở những cánh cửa sổ để cho gió mát lùa thêm vào căn phòng quét vôi màu xanh êm dịu. Mãi đến lúc Ngọc cất tiếng nhỏ nhẹ bên tai thì Lữ mới bừng tỉnh. Ngọc nói:
Tiếng đàn của chị Thu đấy. Chị Thu tốt nghiệp ưu hạng về dương cầm của trường Quốc Gia Âm Nhạc. Vừa nói, Ngọc vừa kéo tay Lữ đi qua căn phòng khách rộng thênh thang. Bây giờ thì Lữ thấy chị Thu đang ngồi trước phím đàn. Chị bận chiếc áo lụa màu xanh hồ thủy. Mái tóc óng ả của chị có một màu đen như hạt huyền và được cột ngang bằng một sơi dây nơ màu đỏ thắm. Chị ngồi quay lưng về phía lối đi nên Lữ không nhìn rõ mặt chị. Nhưng chỉ cần đi qua phía sau, Lữ cũng đã nhìn thấy được đôi bàn tay của chị đang lướt nhẹ trên phím đàn. Từ thưở bé lớn lên, và mãi mãi sau này trong suốt cuộc đời trôi nổi, Lữ cũng không còn tìm thấy ở một người nào khác có đôi bàn tay đẹp hơn như thế. Trước hết là vẻ mềm mại, quí phái của nó. Nó như được sinh ra để dành cho những phím đàn. Những phím đàn dù đã được giữ gìn, lau chùi hết sức cẩn thận để còn giữ nguyên được màu trắng tinh khiết của lúc ban đầu thì mầu trắng ấy cũng vẫn bị lu mờ trước làn da óng ả, mịn màng như màu sữa trên những ngón tay thật thuôn và thật dài của chị. Những ngón tay mềm mại óng ả, tuy để mộc mạc đơn sơ nhưng rõ ra là một công trình chau chuốt của tạo hóa. Âm thanh từ đó phát ra những tiếng thánh thót như mỗi lần đầu ngón tay của chị chạy tới đâu thì ở đó nở ra một bông hoa thần diệu đan kết lại thành một chuỗi lời thì thầm, lảnh lót như tiếng nước suối chẩy róc rách giữa một khu rừng đầy hoa thơm chưa từng có ai đặt chân tới. Trong khi những ngón tay như những đốt ngọc di chuyển trên phím đàn thì hai cổ tay của chị lại có dáng vẻ như đang bất động. Một chiếc vòng huyền ở cổ tay bên trái ôm khít lấy làn da mịn màng của chị nó khiến cho người nhìn có cảm giác chiếc vòng và cổ tay đều rất tròn, rất khít như định mệnh gắn bó đều đã an bài cho cả hai thứ. Không thể còn chiếc cổ tay nào vừa vặn và thích hợp hơn với chiếc vòng đã lên nước sáng ngời đó. Trong một khoảng khắc vừa đủ bước chân qua phòng khách để đi vào căn phòng học xinh xắn của Ngọc ở kế bên đó, Lữ đã bị đôi tay ngà của chị thu hút. Lữ quên mất Ngọc đang nhí nhảnh ở bên mình. Lữ quên cả nhiệm vụ của mình hôm ấy là chuẩn bị cho Ngọc ôn bài trong kỳ thi lục cá nguyệt sắp tới. Lữ quên ngay cả chính mình. Chỉ còn đôi tay ngà và những âm thanh thánh thót. Đôi tay đã lởn vởn trong đầu óc của Lữ trên đường về, trong giấc ngủ, những giờ ở lớp, những buổi đứng dựa lưng ở góc liễu nhìn ra bờ hồ tràn ngập những bông sen màu hồng tía. Đầu óc của Lữ từ hôm đó trở nên thẫn thờ một cách lãng mạn. Lữ chưa đến tuổi để có một tình yêu đúng nghĩa, nhưng Lữ đã có một hình ảnh để tôn thờ. Hình ảnh vỏn vẹn chỉ là đôi bàn tay trắng nuốt thoăn thoắt trên phím đàn. Có thể đó là một trạng thái kỳ cục, nhưng ở tuổi nào, con người chẳng có một loại tình cảm kỳ cục riêng biệt như thế. Cho nên Lữ đã bị mê hoặc hoàn toàn bởi hình ảnh đôi bàn tay chỉ vừa đột ngột hiện đến trước mắt nhưng đã ghi dấu ấn trong tâm hồn suốt cả một đời người. Lữ coi đôi tay của chị Thu như một biểu tượng cao quí. Lữ vui sướng với biểu tượng đó những khi Lữ làm được điều gì tốt đẹp và Lữ cảm thấy khổ sở, đau đớn với nó khi mình chót phạm phải lỗi lầm. Trong khi ấy, đối với chị Thu, Lữ luôn luôn giữ lòng tôn kính. Một thời gian sau đó, Lữ đã trở thành người quen của cả gia đình. Lữ lui tới căn biệt thự xinh xắn đó như một người con, một người em bé nhỏ. Chị Thu, những khi không bận học hành trong phòng riêng, hoặc không ngồi chơi những bản nhạc cổ điển trước phím đàn thì chị cũng ra trước hàng hiên, ngồi dưới bóng những tàng cây ngọc lan đang tỏa hương thơm ngát để góp lời trò chuyện với Lữ, với Ngọc. Có lần chị nắm cả bàn tay dịu mát của chị vào tay Lữ để biểu lộ một cảm tình thân thuộc. Nhưng chẳng bao giờ chị hiểu được rằng chính đôi bàn tay đó đã được tâm hồn của một thằng bé như Lữ hết sức tôn thờ. Lữ chưa đạt đến đủ số tuổi để đánh giá sắc đẹp của chị. Lữ cũng chưa đủ số tuổi để quan tâm đến ngay chính vấn đề đó. Lữ chỉ biết rằng chị có một vành môi đỏ thắm như son và hai hàm răng đều đặn như những hạt lựu. Mắt chị thật to. Mỗi lần chị biểu lộ sự ngạc nhiên, Lữ nhìn thấy những hàng lông mi cong vút dựng lên qua khóe mắt đen mướt và mịn như nhung. Dĩ nhiên là chị Thu phải đẹp. Nhưng Lữ không quan tâm đến sắc đẹp của chị bằng đôi bàn tay trắng nuột với những ngón tay dài óng ả. Và dù chỉ như thế, nó vẫn là một thứ tình yêu, có nhớ nhung, có giận hờn, có ghen tức, nhất là khi Lữ thấy chị Thu nắm tay vị hôn phu của chị, anh Hoàng, đi trên con đường quanh hồ dưới bóng liễu rủ và trong những làn gió nhẹ thoang thoảng đưa vào bờ hương vị ngào ngạt của những bông sen đang ở vào thời kỳ nở rộ. Hai người như một đôi chim nhỏ đem đến cho khung cảnh tĩnh mịch ở đây thêm hương vị đậm đà. Một người cao dong dỏng, mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ, vầng trán thông minh, cương nghị với tính tình hào sảng, nồng nhiệt và đam mê tột cùng. Còn một người thì nhỏ nhắn, dịu dàng, hiền hậu, tâm hồn vị tha, cao quí. Họ thật đẹp đôi, không còn gì xứng đáng với nhau hơn. Mọi sự tuyệt hảo trong ý nghĩ của Lữ, trừ hình ảnh bàn tay của chị Thu nằm gọn trong bàn tay của anh Hoàng làm Lữ cảm thấy bực bội, ghen tức vẩn vơ. Tuy nhiên điều đó không làm cho Lữ ghét bỏ anh Hoàng mà trái lại tính tình dễ mến, cởi mở của anh đã khiến cho Lữ gần gũi với anh hơn. Hôm được tin anh bị gọi động viên, cả chị Thu lẫn Ngọc đều khóc. Còn Lữ thì cũng rưng rưng, không phải vì tình thương giữa Lữ và anh Hoàng nhưng chính sự đau khổ của chị Thu làm Lữ thổn thức. Khi anh đi rồi, chị Thu bỏ đánh đàn hàng mấy tuần lễ. Mãi đến lúc nhận được lá thư đầu tiên của anh gửi ra mang dấu bưu điện S.P (Secteur Postal, hồi đó còn xài tiếng Pháp, tức Khu Bưu Chính hay KBC sau này) của trường Võ Bị Đà Lạt ở trong Nam, chị mới lấy lại được nụ cười tươi trẻ mọi ngày. Rồi chị lại ngồi trước phím đàn. Chị dạo đi dạo lại nhiều lần bản Tristesse của Chopin. Tiếng đàn nghe thê lương tha thiết, rã rượi. Một năm sau đó thì đất nước chia đôi. Anh Hoàng chưa thấy trở về. Gia đình chị Thu quyết định ở lại. Còn Lữ thì theo gia đình xuống Hải Phòng, lên tàu há mồm xuôi Nam. Trước hôm khởi hành, Lữ đến chào chị Thu và từ giã Ngọc. Ngọc không nói một câu nào suốt từ lúc Lữ đến cho tới lúc Lữ ra về. Cho tới lúc đó, Lữ mới thấy tâm hồn già dặn của Ngọc. Cô bé biết chọn lựa cung cách không nói gì để nói lên tất cả, kể cả sự bất lực không xoay ngược lại được tình cảnh xa cách, chia lìa. Còn Lữ cảm thấy bạo dạn hơn mọi ngày. Lữ yêu cầu chị Thu đánh đàn cho mình nghe lần cuối. Tình cờ chị Thu hôm đó lại mặc chiếc áo lụa màu xanh hồ thủy. Vẫn những búp tay thuôn dài. Vẫn chiếc vòng huyền sáng ngời ôm khít lấy cổ tay tròn trịa và trắng ngần. Chị ngồi ở đó, quay lưng về Lữ. Chị đánh bản Tristesse của Chopin. Bản nhạc làm Lữ nước mắt ròng ròng. Lúc quay lại thấy Lữ khóc, chị cũng khóc theo. Có thể chị nhớ tới anh Hoàng. Có thể chị xúc động vì giây phút vĩnh biệt với đứa em bé nhỏ mà chị biết sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại. Chị giơ bàn tay lên vuốt má Lữ. Những giọt nước mắt nóng hổi rơi thánh thót trên làn da mịn màng ấm áp của chị. Đó là hình ảnh cuối cùng mà Lữ ghi nhớ mãi mãi sau ngày rời Hà Nội. Gần ba mươi năm trời lặng lẽ trôi qua. Đời sống bận rộn khỏa lấp dần những kỷ niệm cũ. Trong đầu óc của Lữ, hình ảnh của chị Thu đã dần phai mờ, nhưng sự xúc động về đôi tay ngà của chị thì vẫn còn nguyên vẹn. Trong giao dịch hàng ngày, dù hàng mấy chục năm trời đã trôi qua, cứ mỗi lần bắt gặp một đôi bàn tay đẹp là Lữ vụt sống lại y nguyên cái cảm giác củ, cảm giác ngây ngất đứng ở trong căn phòng quét vôi màu xanh, thoang thoảng hương lan, có chị Thu bận áo lụa hồ thủy ngồi trước những phím đàn với những ngón tay ngà. Rồi bốn năm sau ngày miền Nam sụp đổ, Lữ có cơ hội trở về chốn cũ. Ngày đầu tiên đặt chân lên Hà Nội, Lữ đã lần mò trở lại ven hồ xưa. Căn biệt thự còn đó nhưng nay trở thành trụ sở của một cơ quan. Dáng liễu vẫn còn nhưng những tàn lá sen xanh mướt thì đã biến mất. Gió buổi chiều đưa lên mùi nồng nồng của làn nước trong xanh trên mặt hồ, hương sen thơm ngào ngạt nay không còn nữa. Lữ nhớ đến bác Nguyên và càng thấm thía giọng ngâm hai câu thơ Kiều của bác ngày nào: Tiếc thay chút nghĩa cũ càng Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng. Quả thực tình cảm của Lữ về cảnh cũ người xưa thì vẫn còn nguyên vẹn, như hai cọng sen ngày nào bị bác Nguyên ngắt rời mà vẫn còn dính kết bởi những sợi tơ vương. Phải mất gần một tháng, sau những dò hỏi tìm kiếm, Lữ mới lần mò tới được căn nhà của chị Thu ở khu tập thể Kim Liên. Hai người đối diện nhau, nhìn nhau, cùng ngỡ ngàng, cùng xa lạ. Làm sao chị Thu có thể tìm lại hình ảnh một cậu bé học trò, tuổi mười lăm ở một người đàn ông đã trải nhiều phong sương và đổi thay của đời sống. Cũng như chị Thu trước mặt, nếu không được cho biết trước là chính chỗ ấy là nhà của chị, thì Lữ cũng không thể tin rằng mình đã tìm gặp lại được người xưa với mái tóc óng ả có giải lụa đỏ cột ngang đầu, đôi mắt đen mướt, mịn như nhung có những hàng mi cong vút. Ba mươi năm qua rồi. Thời gian tuy có tàn phá nhưng Lữ không thể tưởng tượng mức độ tàn phá lại ghê gớm đến thế. Lữ nói bùi ngùi:
Chị còn nhớ anh Hoàng không? Khuôn mặt cằn cỗi của chị bỗng thoáng một vẻ xúc động. Lữ tiếp:
Anh ấy đã bị đưa ra Bắc học tập cải tạo. Nghe nói có hồi ở Lào Cai. Lữ tưởng sẽ nói được với chị rất nhiều, nhưng mới chỉ có bấy nhiêu lời, Lữ đã cạn ý. Ba mươi năm chia lìa, hai người chỉ trao đổi được với nhau ngần ấy. Còn biết nói gì thêm trong hoàn cảnh đó. Họ như ở hai thế giới khác nhau, cách biệt cả về dĩ vãng, về kỷ niệm, về môi trường sống hàng ngày. Không còn gì để mà hàn thuyên, tâm sự.Trong đầu óc của Lữ, mọi sự đều trống rỗng, chai lì. Chàng bối rối. Ngỡ ngàng. Và trong khoảnh khắc, bỗng Lữ như vẳng nghe thấy tiếng đàn, tiếng đàn năm xưa với những âm thanh thánh thót, rã rượi của bài Tristesse. Chàng ấp úng, nhỏ nhẹ:
Chị còn tiếp tục chơi đàn dương cầm nữa hay không? Chị Thu chợt nở một nụ cười héo hắt. Chị xòe đôi bàn tay ra trước mặt Lữ. Hai bàn tay sần sùi, nhăn nhúm và mang một vẻ chai cứng, khô queo. Chị nói một hơi:
Hai năm sau khi chú rời Hà Nội thì tôi bỏ dương cầm. Lý do: Chế độ mới cần đề cao tinh thần lao động trong mọi tầng lớp quần chúng, kể cả những nghệ sĩ chơi đàn. Tôi không bị cấm đánh đàn nhưng tôi cũng bị bắt buộc phải lao động để kiếm sống bằng đủ cách, kẻ cả có khi phải cầm thêm cái cuốc. Cơn tàn phá đối với một bàn tay chỉ trong vòng một tháng là thấy rõ. Những ngón tay chai cứng lại. Nốt nhạc trở nên lạc lõng, sớn sác như tâm hồn lạc lõng, sớn sác của toàn thể con người. Tôi thấy rõ xã hội này không cần đến những bàn tay như bàn tay của tôi. Họ xếp nghệ thuật vào hàng thứ yếu. Huyền thoại về đôi tay ngà, ám ảnh cuộc đời của Lữ trong suốt ba mươi năm trong khoảnh khắc sụp đổ kể từ giây phút đó.
Sáng nay trở lạnh, nhiệt độ xuống. Thu năm này khác lạ, lá vàng thưa bị mưa gió lặt lìa rơi mau. Nhựa đường ẩm thấp, rít rát, màu đen khởi thuỷ đã nhạt chìm, thất sắc bởi xác lá. Sáng nay mở computer, không hay nó yểu mệnh tắt thở tự hôm qua. Ôi quá khứ! Ôi ngày sang trang! Rút ra rồi lại cắm dây vào ổ điện. Sao thế nhỉ? Loay hoay khởi động, tuyệt không rên lên một tiếng như thở hắt thường hằng của kẻ mệnh bạc khuất núi. Hãy vọng lời trăn trối đi chứ. Im re, cái câm lặng đầy đe doạ. Vật tới vật lui, mơn trớn vuốt ve và đùng đùng nổi giận đập đít đánh đầu. Vẫn trơ trơ mắt thị, màn hình đen đúa thứ sắc màu đáng phàn nàn. Lu câm! Chết thì chôn nhưng ta chẳng đành tâm bởi lòng ngươi đã thu cất của ta nhiều thứ quá, những thứ mà có tài thánh ta cũng không đủ sức để đong lại một tràn đầy tợ trước đây. Ta là con chim cần cù tha nhặt rơm rác về, mỗi khi một ít. Kiến tha lâu đầy tổ, mà giờ đây… Mây trắng vần vũ ngang Côte-des-Neiges dốc dựng gió chướng. Và gió gây nỗi phân lìa tác tan. Ca dao có câu than van, vẽ tới hình ảnh cái giếng, cái gàu, sợi dây. Mình đang thừ người ngồi tiếc nuối mọi thứ chứ không riêng “ai dè giếng cạn tiếc hoài sợi dây”. Tiếc, dằn vặt như đã từng ăn không ngon ngủ chẳng yên. Như vác mạng không đi vượt biển để cho bao tài sản vô giá kỷ niệm bị bỏ lại sau lưng, vùi dập. Một lá thư tình, một tấm ảnh đen trắng rỗ mặt… Làm sao tìm nhặt đủ đầy thứ xương cốt trôi sông lạc chợ nọ? Ngày cũ nhạt nhoà trôi trong trí óc đang phôi pha. Sáng nay trời rét đậm, nhưng quá trưa thì có luồng nhiệt lượng do cậu con út dầm mưa mang về. Nó thầm lặng bắt xe lên phố, vào cửa hàng đặc sản và mang về tặng mình một cái MacBook Air. Ôi chao, giây phút này ắt chỉ có ngôn ngữ trong Tam Quốc diễn nghĩa mới lạm bàn đủ tâm tư: Sinh ra ta là cha mẹ ta, mà người hiểu ta chính là con vậy! Nó chí tình bày vẽ cho mình cách thức sử dụng bởi Trái Táo có duy một lập trình riêng, thậm đơn giản mà cũng thậm rắc rối. Bổn hiệu không “đụng hàng” với ta bà những thương hiệu khác. Vọc “em” đi, rồi sẽ mát tay. Mình xoa tay, đưa mười ngón mày mò để làm quen với “trái cấm” mỏng lét, nhẹ tênh. Cho tôi đi lại từ đầu, này chương hồi mới ví dầu ù ơ. Máy phát tín hiệu, thông báo có email hiện trên góc màn hình. Mở hộp thư, Trường Giang ở Burke, Virginia gửi đôi lời góp ý về những lỗi lầm mà mình lỡ mắc phải có trong một bài viết. Trường Giang, master Oragami (nghệ thuật xếp giấy tạo hình) sông dài vẫn hằng theo dõi văn chương để nhận định hư thực. Nếu bạn là người viết, bạn nên có những người đứng thầm lặng trong bóng tối như vậy, sẵn lòng đưa tư liệu dẫn chứng. Và bạn, với sự khiêm cung cần thiết, bạn phải đưa tay sờ vào sau ót để thốt ra hai chữ Cám Ơn. Cám ơn dòng sông bên kia biên giới đã chia sớt để chảy về chút lưu lượng cần thiết hòng bồi đắp cái sạt lở, dẫu muộn màng. Cớ sự? Duyên do là vì mình đã trích dẫn lầm lạc, râu ông nọ cắm cằm ông kia. Mình đã đóng đinh bài thơ “Kẻ Ở” vào cột Quang Dũng. Xin ái ngại để thưa rằng, e ngoài mình ra cũng có lắm “đồng minh” đi vào vùng oanh kích tự do. “Hôm nay về viện Bảo tàng, cũng là công tác cách màng giao cho”. Để tránh thứ “đường xưa lối cũ” ấy, mình xin trở về La Mã trả nợ César. Xin bạch hoá rằng bài thơ mà ngay cả Bùi Giáng cũng hằng ngợi ca nọ có tên là “Dặm Về”, tác giả là Nguyễn Đình Tiên làm vào năm 1945. Đây là bổn chính:
DẶM VỀ Mai chị về em gửi gì không? Mai chị về nhớ má em hồng Đường đi không gió lòng sao lạnh? Bụi vượt ngang đầu mong nhớ mong Quê chị về xa tít dặm xa Rừng thu chiều xao xác canh gà Sương buông khắp lối đường muôn ngả Ngựa lạc cành hoang qua lướt qua Ngựa chị dừng bên thác trong veo Lòng chị buồn khi nắng qua đèo Nơi đây lá rạt vương chân ngựa Hươu chạy theo đàn theo ngó theo Rừng đêm nhoà bóng nhớ hoang mang Ngựa chị vừa qua thác sao vàng Sao trôi đáy nước rơi chân ngựa Buồn dựng đôi mi ngàn lại ngàn. Nguyễn Đình Tiên. Mình đọc, phát hiện một vài chữ khác biệt so với “Kẻ Ở” ngộ nhận của Quang Dũng. Chẳng hạn mình vẫn quen nghe “Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong”. Chẳng hạn “Sương giăng khắp lối..” Chẳng hạn “Nơi đây lá giạt…” Chẳng hạn “Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng”. Dù sao, chính thực hay dị bản vẫn tồn đọng vào trong nó, vẫn chất chứa những hình ảnh làm bài thơ có sức truyền cảm dập dồn của một lượng sóng dễ tràn bờ. Bạn nhớ cho sự hiện hữu của con số ghi bên dưới: 1945. Min-nớp-xăng tám hoánh. Lâu ba đời vương. Vậy mà sao mình chẳng nhìn ra rêu phong rã mục hoang phế đền đài tịch liêu. Như thể bài thơ vừa chấm câu đêm qua, chưa ráo mực. Mình không dùng chữ mới. Tựu trung nó dường chẳng có tuổi tác. Đọc lên, tuy đã 2013, nhưng vẫn thẩm thấu, vẫn còn đó hương rượu nồng, chếnh choáng. Người ta bảo, tất cả những thứ rượu cổ, càng ủ trong hầm kho càng lâu càng phát tiết thứ dung dịch dễ say lòng người. Viết tới đây, mình hình dung mình đang nhập vai một tay bồi bàn, khăn trắng xếp thẳng nếp vắt ở tay. Tay xoay nhãn hiệu chai rượu ra trước mặt thực khách, khom mình một cách bài bản: Sản xuất năm 1945, thưa ông. Và rồi rót chảy tràn ly, sóng sánh. Khách khó tính sẽ nâng ly, đưa lên mũi chao đảo ngửi qua trước khi nhấm nháp. Ngon dở, nhạt nhẽo hay nồng đậm là tuỳ vào tạng khách. Bồi hết nhiệm vụ, quay lưng. Cám ơn Trường Giang đã gửi cho thông tin. Như thế, sự sửa sai ấy là vị khách đầu tiên đạp đất căn nhà mới mua của mình. Mới, bộ nhớ trinh nguyên chưa thu cất dữ kiện hoặc nhu liệu nào cả. Tinh khôi, trang vở trắng. Vì vậy, mình tự hứa lòng, bận sau hãy cẩn trọng khi muốn trích dẫn thơ văn của một ai. “Má kề nòng súng thẳng đơ. Tay thuông chị cứ bóp cò, sướng chưa?” Hai câu này thì hẳn phải hàm hồ xếp vào danh mục Bút Tre. Và bạn ạ, có những vụ việc ta không nên vô tư mãi bóp cò được. Hãy nhắm cẩn thận để đường bay của viên đạn tới trúng đích. Hãy cố tránh sai sót trước khi buông dấu chấm. Mình xin ngưng. Nếu lại sai sót thì xin bạn vị tình: Ôi, thằng chả đang ham duyên mới đó mà. Nó vọc chưa quen tay đó mà. Trách móc chi cho cái máy nó mát dây xôi hỏng bỏng không. Cành cây ốm yếu trước cửa sổ phòng mình chỉ còn sót đôi ba chiếc lá vàng. Gió ơi, lạy trời gió đừng ngang qua. Hồ Đình Nghiêm
Ca sĩ Hà Thanh (1939-2014) – Hỡi mẫu thân Hà Thanh, mẫu thân tên thật là gì? – Tên thật của tao là Lục Hà. – Hỡi mẫu thân Lục Hà! Lúc mẫu thân đẻ con ra đời, mẫu thân cảm thấy thế nào? – Tao cảm thấy rất đau lòng. – Tại sao đau lòng? – Vừa mới sinh mày ra đời, mày đã già nua đến thế, làm sao tao còn có thể ẵm mày vào lòng cho mày bú, hử con! Bùi Giáng là tác giả những đối thoại trên, người có công dựng nên triết thuyết Vui-thôi-mà. Nhân vật chính được thi sĩ bẩm thưa mẫu thân là ca sĩ Hà Thanh. Bùi Giáng, Hà Thanh có liên hệ xa gần ở mặt văn chương, tình cảm với nhà văn Mai Thảo. Người từng sát vai ngồi uống rượu, nói mông lung cho tôi nghe về người thiếu nữ có nhan sắc, có tiếng hát mượt mà. Chữ duyên nợ thoáng qua và câu chuyện chấm dứt bằng dấu chấm choáng váng: Xứ Huế của cậu nhà quê bỏ mẹ! Tôi, đứa nhà quê nhăn răng cười. Nghiêm chỉnh cười. Tử tế cười. Bùi Giáng đã ngậm cười nơi chín suối. Mai Thảo đã khuất núi. Hà Thanh vừa tới cõi vĩnh hằng. Trước đó đôi ba ngày, giữa hoạt cảnh bàng giao cũ mới, bên cột mốc 2013-2014 tinh khôi là Việt Dzũng bất ngờ làm cánh diều rơi cho vực thẳm buồn thêm (TCS). Việt Dzũng của ai oán nát lòng: “Gửi về cho cha vài viên thuốc ngủ, cha ru cuộc đời trong tử tù chung thân”. “Tiểu đội ta những ai còn, ai mất? Không ai còn ai mất, chỉ chết cả mà thôi”. Nhà thơ Hoàng Cầm từng điểm danh để đáp trả là tiếng hú vô vọng, trần trụi của chữ Tử. Không ai cầm lòng cho đậu trước một cái chết. Nó thế thân cho thứ định luật, bất biến. Vẫn xót dạ, dù biết sự thật là sắc xám (A. Gide). Tuệ Sỹ nói: “Đá mòn phơi nẻo tà dương nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi”. Bùi Giáng nói: “Đất hoa khóc vĩnh biệt người, ngàn cây cố quận đôi lời sương thu”. Đinh Hùng nói: “Thương nhau gói trọn hồn trong áo, mất nhau từ trong tà lụa bay”. Nguyễn Bắc Sơn nói: “Một mai anh chết tự nhiên, mỉm cười thương tiếc cõi miền nhân gian”. Tới Tú Xương, nghe được lời an ủi, uỷ lạo tinh thần: “Ông khóc làm chi thế hỡi ông? cười lên một tiếng có hơn không? người ta sống được bao nhiêu nả mà nỡ ăn vòi với hoá công!” Bùi Giáng bổ túc, thậm hóm hỉnh: “Một lời chẳng nghĩa là bao, dẫu lời không tiếng lẽ nào không nghe?” Tuệ Sỹ viết: “Anh đi mãi/ thềm rêu vơi mỏng. bởi nắng mòn/ cỏ dại ven sông”. Phạm Công Thiện viết: “Nhà thơ là một chuyến tàu xa mọi người đều tới muộn sân ga”. Christian Bobin viết: “J’ecris depuis que tu me lis, les mots ont en retard sur nos vies”. Tuyệt! Cái chết là một chuyến đi, khép đóng một chu kỳ tựa lá rụng về cội. Ông Bảo Sinh khôi hài: “Cuối cùng tất cả chúng ta, đều lên nóc tủ ngắm gà khoả thân”. Ông Winston Churchill đốc thúc: “If you’re going through hell, keep going!” Được rồi. Đi chớ, có sao đâu. No star where! (What the Hell…) Dù nghe tới địa ngục lòng những nhuốm ngậm ngùi! Cảnh quang trong bài thơ TA VỀ của thi sĩ Tô Thuỳ Yên cũng gợn thứ tranh sáng tranh tối của địa ngục: “Chỉ có thế. Trời câm đất nín, Đời im lìm đóng váng xanh xao. …….. Ai gọi ai đi ngoài quãng vắng? Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?” Khi chưa giỏi chân về miền cực lạc (hay cực khủng?). Khi đang sắp hàng chầu chực (tợ Black Friday) tới phiên nhận chén cháo lú for free biếu không, xin còn được thưa thốt đôi điều: Cám ơn tên tuổi của quý vị mà tôi lỡ “làm phiền” nhắc tới trong bài viết này. Nhờ quý vị mà trần gian này còn có cớ để hát khúc hoan ca, tôn vinh một vẻ đẹp hằng cửu của nghệ thuật. Xin nguyện cầu “mẫu thân Hà Thanh” thanh thản quay lưng khi cánh cửa đời vùa sập đóng, thảng thốt. Những ngày cuối năm âm lịch, gió tuyết Montréal lạnh căm, tôi ngồi sưởi lòng bởi tiếng hát chị dịu dàng, xa vắng. Cảnh sắc một Huế- không- nhà- quê hiện ra, choáng ngộp, ngập nặng lòng tôi. Vĩnh biệt chị! Hồ Đình Nghiêm
baotreonline.com Đoàn Xuân Thu November 15th, 2024
Post by Sơn râu 25 Nov 2024
Là con của George Washington Duryea (1835-1883) và Louisa Melvina Turner (1841-1932), Charles Duryea, người anh, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1861 tại Canton, Illinois. Frank Duryea, người em, chào đời ngày 8 tháng 10 năm 1869 tại nông trại Washburn, Illinois. Charles Duryea nổi tiếng với những thiết kế độc đáo trong ngành xe đạp, trong khi Frank Duryea là người thực hiện và hoàn thiện các thiết kế của Charles cho xe cơ giới. Năm 1893, hai anh em đã chế tạo thành công chiếc xe cơ giới chạy bằng xăng đầu tiên tại Hoa Kỳ. Vào ngày 22 tháng 9 năm 1893, Frank Duryea đã cầm lái chiếc Duryea thực hiện chuyến đi thành công đầu tiên, cách phố của ông 600 yard tại Springfield, Massachusetts. Ban đầu, hai anh em hợp tác rất ăn ý. Vào tháng 9 năm 1895, hai anh em đã thành lập công ty sản xuất xe cơ giới đầu tiên tại Hoa Kỳ, đặt tên là: Duryea Motor Wagon Company. Vào Ngày Lễ Tạ Ơn năm đó, trong một pha quảng cáo tuyệt vời, Frank Duryea đã giành chiến thắng trong cuộc đua ô tô đầu tiên của đất nước, cuộc đua Chicago Times-Herald từ Chicago đến Evanston. Cuộc đua diễn ra bất chấp một trận bão tuyết lớn khiến đường sá gần như không thể đi qua; tuy nhiên, Frank vẫn hoàn thành vòng đua dài 50 dặm trong hơn 10 giờ một chút. Công ty Duryea Motor Wagon đã sản xuất và bán ra 13 chiếc xe cơ giới, nhưng sau đó công ty đã phải đóng cửa do khó khăn tài chính. Charles và Frank cũng có những quan điểm khác nhau về hướng đi của công ty. Charles muốn tập trung vào việc phát triển và sản xuất xe cơ giới, trong khi Frank có xu hướng thận trọng hơn về tài chính và quản lý. Những mâu thuẫn này đã dẫn đến việc hai anh em tách ra và không còn hợp tác với nhau nữa. Kể từ đó, đã có rất nhiều bất đồng qua lại giữa hai anh em ruột thịt, ai mới thực là người phát minh ra Motor Wagon? Charles Edgar Duryea mất ngày 28 tháng 9 năm 1938, tại Philadelphia, Pennsylvania. Nói cho công bình thì Charles Edgar Duryea là người nảy ra ý tưởng, là kiến trúc sư.
J. Frank Duryea và Charles Duryea trong chiếc xe mà họ đồng chế ở Illinois, năm 1895 – photo Corbis
Nói cho công bình thì người em Frank Duryea là kỹ sư xây dựng chế ra chiếc xe. Nhưng cho đến lúc qua đời vào ngày 15 tháng 2 năm 1967, tại Saybrook, Connecticut. Frank Duryea vẫn khăng khăng rằng chiếc xe là sáng chế của riêng mình. Cuộc tranh cãi giữa Charles và Frank Duryea đã thu hút sự chú ý của công luận Hoa Kỳ, đặc biệt là trong giới công nghiệp và báo chí. Một số người ủng hộ Charles vì ông là người có ý tưởng và thiết kế ban đầu, trong khi những người khác ủng hộ Frank vì ông là người thực hiện và hoàn thiện các thiết kế đó. Một số chuyên gia cho rằng, nếu hai anh em có thể giải quyết mâu thuẫn và tiếp tục hợp tác, họ có thể đạt được nhiều thành tựu hơn nữa. Sự chia rẽ đã làm giảm đi tiềm năng phát triển của họ và ảnh hưởng đến sự phát triển của công ty Duryea Motor Wagon. Đọc lại Quốc văn giáo khoa thư của các vị Lệ Thần Trần Trọng Kim, Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận dạy ta chuyện 3 anh em họ Điền, lớn lên đã có gia đình riêng, bàn nhau chia tài sản của cha mẹ để lại, ganh nhau từng món một. Đến cái cây cổ thụ trước nhà, không ai chịu nhường ai, cuối cùng phải thỏa thuận đốn hạ cây xuống, xẻ gỗ chia đều cho cả 3 người. Buổi sáng nọ, ra sân, nhìn thấy cây héo rũ, chết khô, người anh Cả sững sờ hồi lâu rồi ôm gốc cây khóc nức nở. Hai người em thấy vậy lấy làm lạ, hỏi cái cây đáng giá bao nhiêu mà sao anh khóc to như vậy? Người anh ôn tồn trả lời rằng, cái cây từ một gốc sinh ra, từ đó sinh ra cành, nhánh, như cha mẹ sinh ra anh em mình vậy. Chắc nó nghe được anh em ta định xẻ nhánh, xẻ cành gây ra cảnh chia lìa anh em, nó buồn, nó chết. Nay anh em ta cũng như cái cây đó, không biết thương nhau, tranh giành quyền lợi rồi chia lìa nhau, nghĩ như vậy mà anh khóc. Hai người em nghe đến đó, tỉnh ngộ, ôm người anh cùng khóc, từ đó không nghĩ đến sự tranh giành, chia lìa với nhau nữa.
Wilbur và Orville Wright Quan điểm của người viết là anh em thương yêu nhau hợp tác được là tốt. Khi không toàn tâm, toàn ý có suy nghĩ khác nhau thì tách riêng ra, đường ai nấy đi. Anh em ruột thịt chỉ vì chút danh lợi là gà nhà bôi mặt đá nhau thì kỳ quá? May mắn thay, người Mỹ, dẫu quen sống thực dụng, cũng có anh em đối xử với nhau rất tốt. Chuyện rằng: Wilbur và Orville Wright là hai anh em người Mỹ, từ khi còn nhỏ đã có niềm đam mê với việc bay lượn. Cha của họ, Milton Wright, đã tặng cho con mình một chiếc trực thăng nhỏ chạy bằng dây cao su, khơi dậy niềm đam mê này. Hai anh em theo dõi sát sao công trình của nhà tiên phong hàng không người Đức Otto Lilienthal, Wilbur Wright thường là người dẫn đầu trong các giai đoạn đầu của dự án, trong khi Orville Wright tham gia sâu hơn vào các giai đoạn sau. Họ luôn làm việc cùng nhau, chia sẻ ý tưởng và cùng giải quyết các vấn đề kỹ thuật. Hai anh em đã đối mặt với nhiều thất bại và khó khăn, nhưng họ luôn kiên trì và không ngừng cải tiến thiết kế của mình. Họ chọn Kitty Hawk, North Carolina, do điều kiện gió thuận lợi làm nơi thử nghiệm. Ngày 17 tháng 12 năm 1903, Wilbur và Orville đã thực hiện chuyến bay có động cơ đầu tiên thành công với chiếc ‘Wright Flyer’ kéo dài 12 giây và bay được khoảng 37 mét. Sự kiên trì này đã giúp họ đạt được thành công cuối cùng. Wilbur và Orville Wright đã để lại một di sản to lớn trong lịch sử hàng không. Họ đặt nền móng cho ngành công nghiệp hàng không hiện đại. Anh em với nhau, huynh đệ như thủ túc, anh em như thể tay chân mới được chớ. Kết luận về phát minh, chúng ta ngưỡng mộ anh em nhà Duryea chế tạo xe hơi chạy bằng xăng. Chúng ta ngưỡng mộ anh em nhà Wright chế tạo máy bay. Về tình anh em, chúng ta ‘chê’ anh em nhà Duryea. Chúng ta ‘khen’ anh em nhà Wright.
Phần 2 Đến Đơn Vị Mới Ném chiếc va ly vào lòng xe GMC, tôi hì hục leo lên trước những cái nhìn soi bói của mấy người lính.
Mẹ kiếp, lính tráng gì mất dạy thế này, ít ra mình cũng là sĩ quan mà nó coi như cục đất thó. Tôi nghĩ thầm trong bụng. Lên được xe,sửa lại thế ngồi thật chững chạc, lột chiếc nón đỏ nhét vào ngực, tôi lướt mắt một vòng nhìn đám lính ngồi trước mặt. Những đôi mắt đều lãng tránh. Một anh lính nhỏ bé từ chiếc băng đối diện lân la qua hỏi chuyện:
Thiếu Uý mới ra trường?
Ừ.
Thiếu Uý trẻ quá?
Trẻ là làm sao? Trẻ quá không đi lính được à?
Dạ. – Người lính bối rối cười cười. Tôi nhìn xuống bộ kaki vàng đang mặc, so sánh với màu vải ngụy trang tác chiến hoa của họ, thấy một xa cách. Xe chạy ra xa lộ hướng về Biên Hòa. Tôi đi trình diện đơn vị mới, Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù. Thế là lính thực thụ rồi, không còn là lính cậu nữa, đã đến lúc trả nợ áo cơm cho nhà binh. Toàn thể khung cảnh chung quanh có vẻ lạ lùng. Từ một chỗ đông bạn bè cùng lứa tuổi, doanh trại đẹp đẽ to rộng, tất cả đời sống ngay thẳng, trang trọng và trẻ trung. Bây giờ tôi đến đây, xách chiếc va ly đi giữa hai hàng lính Nhảy dù, áo quần mới trông vào đã ghê, mặt mũi anh nào anh nấy đen như một đôi giày bị lấm bùn. Khi thấy tôi đi qua, mọi người nhìn soi bói chế riễu.
Đ…m… Trông như thằng con nít! Chết rồi, lính đã đánh giá mình như vậy thì chỉ huy thế nào được. Tôi cố đi nhanh hơn, đến chỗ văn phòng Tiểu đoàn trưởng. Trình diện xong, về đại đội trình diện Đại đội trưởng. Giờ cơm, lại một màn giới thiệu với toàn thể sĩ quan tiểu đoàn. Bỏ bố rồi! Chẳng có anh nào bằng cỡ tuổi, anh trẻ nhất coi bộ lớn hơn bốn, năm tuổi với vẻ nghiêm nghị. Sống thế nào được trong thế giới lạ lùng này, biết bao giờ mới tạo thành thói quen?! Ôi cái đơn vị mới gây cho tôi mệt nhọc biết bao! Buổi chiều, vài sĩ quan rủ tôi ra Biên Hòa chơi, tôi chui vào chiếc xe của bác sĩ Đạm đi cho biết. Thành phố nhỏ bằng hộp quẹt cả toán không biết đi đâu, đồng ý vào quán rượu ở gần ga. Đến chai bia thứ ba tôi không còn biết gì nữa, có cánh tay nâng tôi ra xe… Thành phố nhỏ bé, xôn xao chuyển động. Tôi thò đầu ra khỏi cửa nôn tung tóe, nắng làm nhức cả mắt. Khi về đến phòng ngủ, chiếc giường sắt mới lãnh chỉ dựng được hai chân, tôi ném tấm nệm dơ như đống rác lên đó rồi ngã xuống trong cơn say, nhưng biết lòng mình đang phiền muộn. Chiều nay là thứ bảy, tôi đã ở được bảy giờ trong đơn vị mới, cởi áo bước ra hiên, doanh trại vắng vẻ lá cao su rơi xào xạc, người lính kèn thổi bài kèn hết việc, bóng hắn đổ dài trên sân cờ. Tôi cô đơn lạ lùng.
Lời mở đầu. Theo lời dặn của C— Anh cố vấn văn chương— Tôi phải viết một cái tựa thật hách, ngắn, cô đọng và hay ho không chịu được… Nhưng viết thế nào để có thể gọi là ” hách”? Thôi, tôi mở đầu bằng cách bày tỏ nguyên do đồng thời đề biện hộ cho những dòng viết ở những trang sau. Đến cái tuổi này lẽ tất nhiên tôi chẳng hy vọng gì nơi văn chương nữa, cũng không thể ước mơ nhờ cái ngõ văn chương để kiếm một chút danh gia. Hơn nữa, danh vọng của một người viết văn ở Việt Nam cũng chẳng lấy gì làm sáng sủa. Bao nhiêu năm làm văn nghệ, cũ như Lê Văn Trương, Đinh Hùng, mới như Quách Thoại, đến khi chết đi thì cũng chẳng còn gì – Thế Phong đó – anh chàng làm văn nghệ như một gã tiền phong, “Nửa đường đi xuống” phải đóng bộ ka-ki độ nhật qua ngày với tờ báo của Không Quân. Thế nên tôi chẳng hy vọng gì ở cái “nghề của chàng” nữa. Nhưng vẫn muốn viết, viết như một “nhu cầu”, nói cho có vẻ thiết tha. Tôi đâu phải là hoàng tử văn chương ngoại hạng, xem chuyện viết lách như một công việc nghiêm trang giữa người và thế giới bí ẩn của chữ nghĩa, viết đối với tôi đúng ra chỉ là một cách thoát hơi – Viết để khỏi ấm ức bực mình. Sau tám năm ở lính, thời gian thoải mái thật hiếm hoi, những phiền toái có duyên cớ hay không, chính danh hay ẩn dấu hình như chực sẵn ở trong người, có cơ hội sẽ dấy lên như giông bão. Đôi khi tôi thấy thật yêu cái nghề này, nó tạo cho con người tính kiên nhẫn, lòng vị tha, chế ngự những hèn mọn của mình. Nhưng cũng có lúc tôi thấy nó thật tệ, không có một nghề nghiệp nào ù lì, cứng đọng và thụ động bằng ” đi lính “, chỉ cần thừa hành trong một giới hạn thật sít sao, thế là đủ. Có nhiều lúc tôi muốn ném tung hết tôn ti trật tự, bộ quần áo trên người để thong dong giang hồ một chuyến tự do, nhưng đồng thời cũng vừa khám phá, đang bị buộc chặt, đã quen với đời sống này. Thật khó khăn khi phải nói chuyện với một anh dân sự, hình như tôi và hắn ta ở hai thế giới thật khác xa nhau. Tôi cũng muốn viết về đời sống lính với những con người thật lạ. Năm 1966, có gã lính thật trẻ ở đại đội tôi, hắn ta thấp bé da xanh mướt ốm yếu, nhưng uống rượu kinh khiếp, hai lít rượu đế hắn uống tỉnh bơ, hình như rượu không tạo nên phản ứng nào trong người. Ngoài cuộc rượu, y bình lặng kín đáo như một con ốc. Một hôm đứng gác, sẵn súng ở tay, hắn bắn vào đầu tự vận. Tôi không biết nỗi thất vọng kinh khủng nào trong đầu một thằng bé 19 tuổi. Đức ” điên ” Biệt động quân, quan Ba, Tiểu đoàn phó, đi hành quân mang khẩu M.79 chạy trước hàng lính, về Sài Gòn đi chơi, mặc một chiếc áo bà ba đen, dưới quần lính, chân mang dép Nhật, trang bị thêm một con dao đi rừng. Tôi không hiểu nó nhìn đời thế nào qua cặp kính trắng dày cộm khi trên người trang bị với phụ tùng như thế. Đại khái ở lính có những loại người ” bất bình thường ” như vậy, và trong đám bất bình thường trên lại chen lẫn vài kẻ bình thường thật kỳ quái. Thiên, anh chàng đi theo tôi trong hai năm, một ngày chỉ nói khoảng hai mươi tiếng: dạ, vâng… Thế là hết. Nó ở xa, tôi gọi đến vỡ phổi không tiếng trả lời, lát sau lặng lẽ đi đến. ” Tao kêu mày có nghe không?..”. ” Dạ có “. ” Thế sao mày không trả lời? “. Thiên bóp bóp hai bàn tay đứng im. Thấy những người lính khác bắt gà, nó cũng bắt một con treo trên ba-lô, đi một đoạn vắng người, thả chạy, xong làm dấu Thánh giá đọc kinh. Đi lính tôi có nhiều “thế” sống thật đặc biệt. Chiều 29 Tết năm 1963 ở chân đèo Rọ Tượng, Khánh Hòa, căn cứ Lầy, trời rét như cắt ruột, mưa phùn bay mù mịt, chúng tôi đứng trong nước sình ngập đến ngực, lạnh, đói, đã gần năm ngày liên tiếp mình mẩy không bao giờ được khô. Dân chúng đi từ Ninh Hòa về Nha Trang tưởng chúng tôi là tù binh, ném bánh ú từ trên xe xuống cho, một vài bà già chấm nước mắt khóc vì thương hại. Nhưng chúng tôi vẫn vui như tết, Năng và tôi nhặt bánh ú ngồi ăn ngon lành, cả hai đứa đều là những ” Tân Sĩ Quan ” vừa quỳ xuống đứng dậy cách đây một tháng để lãnh nhiệm vụ gánh vác non sông! Chúng tôi hãnh diện với nỗi cực khổ của mỗi phút chịu đựng, lòng không một chút ta thán… Nhưng lúc gặp nhau ở Sài Gòn, hai thằng đem nhà binh ra nạo đến sát ván không chút nể nang. Bình Giã đói và khát hai ngày đến nỗi lính phải hút nước ở rễ cây, có tên uống phải rễ cây độc đứng tim chết. Kéo quân ra Phù Mỹ, uống một nón sắt nước ruộng nhưng lòng không phiền hà. Mười chín tháng Ba 1965 kéo về Sài Gòn đóng ở Đài phát thanh, cô-ca lạnh mát nuốt vào khó khăn không làm dịu được nỗi oi ả ở trong lòng. Chính vì những cảnh đời đa đoan này mà tôi phải viết. Không viết thì phí đi, bạn bè bảo tôi như vậy. Thế là tôi viết, và đến bây giờ coi như xong, nhưng chắc rằng chưa đủ. Xem lại chợt thấy bùi ngùi và thương thân. Bao năm tháng tột cùng của cực khổ và gian nan, đầy dẫy tủi nhục để viết được chừng này? Thấy mình tội nghiệp lạ lùng. Rồi kết quả ra sao? Coi chừng lại bị đụng chạm, lôi thôi với chính phủ thì thật là khốn nạn! Người lính đánh máy hộ cảnh cáo. Trong thời gian sau này, thường thường những giấc mơ của tôi cuối cùng dẫn đến một chủ đề – Nước. Tôi mơ thấytrời mưa, mơ thấy được tắm trong dòng suối, được vùng vẫy trong sông lớn. Kỳ cục hơn có hôm tôi mơ bị mắc cạn trong cống rãnh. Về mặt sinh lý người ta bảo đó là hiện tượng yếu thận, tâm lý bảo đấy là ý định muốn giải thoát— Có thể đúng như vậy, vì tôi đang yếu thận đồng thời luôn luôn có cảm giác “lạ” với đời sống này. Tôi không coi những ngày đang sống là sống thực. Sống bây giờ là sống gởi, cõi mơ ước nào đó mới là quê hương thật. Nhưng đúng chỉ là mơ ước, vì còn một nơi chốn nào khác ngoài cuộc đời ngặt nghèo này— Chỉ còn một cõi trong tôi. Nhưng thôi, “tác phẩm” khi đã xong có phần đời của nó – hai mươi sáu tuổi – tám năm lính để lại gia tài trăm trang giấy! Có một vị đắng ở đầu lưỡi. Nhưng nói cùng ai? Tôi cũng trốn tôi trong câu hỏi này. Tuy nhiên khi viết xong, đọc lại thấy vừa lòng nhưng đồng thời một vài ý nghĩ thật lạ xảy đến. Những ý nghĩ trong chiều mưa, mưa thật lớn trên đồi cao, gió thật mạnh, doanh trại vắng vẻ như bãi tha ma. Ngồi một mình nhìn ra khoảng không gian xám đặc… Con chim sẻ trốn mưa bay vào phòng đậu trên thành giường, sù lông rũ nước kêu lên những tiếng nhỏ thật cô đơn. Tôi cũng như con chim nhỏ trong chiều mưa này. Và từ đó thấy trong lòng những tình lạ thật thiết tha, hồn hậu như của những ngày vừa mới lớn. Tôi thấy những điều viết quá hằn học, nhiều thù hận và độc đoán. Trước tiên đối với người Mỹ. Những sự kiện gần đây, cảnh hai phi hành gia bước chập choạng trên mặt trăng. Những bước đi đầu tiên của con người trên một hành tinh khác. Lẽ tất nhiên tôi không a dua theo một phong trào để hoan nghinh sự thành công của Apollo 11, đã từ lâu tôi không xem trọng thí nghiệm này. Chỉ có cảm phục khi nghĩ đến những công tác khoa học tinh vi và chính xác để ráp nối phi thuyền mẹ với Nguyệt xa, tiếng nói của những phi hành gia được chuyền thẳng về trái đất rõ mồm một. Trước thành công như trên làm sao tôi không hoan nghênh? Nhưng tổng quát tôi vẫn không thán phục, kết quả cũng không có gì cụ thể để giúp ích cho một khối dân khốn cùng nằm dài trên hai cõi Á, Phi. Trong khổ cực của quê hương này tôi không thể nào quá ngưỡng mộ thành công ở trời xa. Nhưng tôi chịu nhất là thái độ phóng khoáng, cử chỉ hào hiệp của người Mỹ trong vụ này, họ đã hãnh diện dưới danh nghĩa — Một sự tiến bộ của nhân loại. Sự rộng rãi này làm cho tôi kính phục. Ngoài ra một hôm có việc cần phải vào bệnh viện 3 Dã chiến Hoa Kỳ, thấy một anh lính Mỹ đẩy chiếc xe trên có một anh khác bị thương ở chân, anh chàng đẩy xe cũng là thương binh, gầy ốm, tóc vàng hoe mọc dài xuống gáy, mang đôi kính cận thị dày cộm, nét mặt hồn nhiên và treœ thơ. Và tôi đã nghĩ rằng khuôn mặt trẻo thơ đó, nếu đem biến thành đối tượng cho những nhận xét hằn học đầy thù nghịch của tôi thật đáng tội nghiệp. Chiến tranh đã kéo y qua đất nước này, chịu đựng những khổ cực vượt ra ngoài ý niệm của người Mỹ, nay bị thương đôi mắt vẫn còn trong sáng và trẻ thơ — Dấu hiệu của tâm hồn chưa bị vấy bẩn bởi cuộc chiến này. Nhìn sự ngây thơ trung thực đó, nghĩ đến những phán đoán của mình quả độc đoán và quá độ. Gần hai năm nay, mỗi ngày phải uống tám viên Nevrosvitamin 4 để làm dịu xuống những bứt rứt hiện thành phản ứng không kìm hãm… Thiếu những viên thuốc đỏ đó, người tôi như nung trên một lò lửa đang đỏ, đầu óc muốn nổ tung, chân tay ít nhất phải đập phá một vật gì, tôi sợ tiếng động và chốn đông người một cách bất thường. Nhưng hai tháng sau này tôi bỏ được nhu cầu uống thuốc đó, suốt ngày đánh trần nằm trên bãi cỏ trước phòng ngủ, doanh trại hậu cứ hoang vắng một cách dễ chịu, phía xa những ngọn đồi Tăng Nhơn Phú chạy dài bình yên. Trong sự bình yên này, đọc lại những điều đã viết quá trớn, thấy ân oán giang hồ, đụng chạm đến nhiều giới. Tôi muốn đưa cuốn sách cho những người nhỏ tuổi đọc, để dò xem phản ứng của những người chưa bị ảnh hửơng cuả chiến tranh, nhưng ngần ngại vì thấy những điều mình viết không trong sáng. Lẽ tất nhiên một cuốn bút ký không thể nào nằm dưới kìm kẹp của ý thức luân lý bình thường được, hơn nữa bút ký về cuộc chiến tranh nhọc nhằn. Nhưng nhìn thấy toàn bộ những điều đã viết chỉ có một nỗi hằn học, uất hận nên tự hỏi rằng có quá đáng hay không? Thấy đàn trẻ đi thi tú tài, nhớ lại mười năm trước cũng ở trong nguồn trong sáng đó, thế tại sao có những đổi thay tàn bạo và quá đáng như kia? Tôi lại gặp Banh, người bạn cũ ở Đà Nẵng, gặp Banh để nhớ lại một cái Tết thật tang thương, hai mươi chín Tết không thức ăn – hai mươi chín tết – thời gian thật khó thể đi kiếm một bữa cơm. Banh đạp xe trên hai mươi cây số về làng quê Quảng Nam xin mươi quả trứng vịt, và hai đứa đã đón xuân bằng những quả trứng trong suốt ba ngày Tết. Gặp Banh để nhớ rằng trong những ngày khốn khó đó, tôi vẫn luôn luôn thắp sáng cho mình ngọn lửa hy vọng và những tình cảm tốt đẹp. Những sự kiện kể trên gây cho tôi cảm giác ngại ngùng khi đọc lại những điều ghi được của tám năm binh lửa. Không lẽ suốt đoạn đời này tôi chỉ có khốn khó và thù hận thôi sao? Từ đó phát sinh ra những ý hướng chối bỏ, như dấu chàm của một niềm tuỉ hổ, và ao ước được thấy điều mình viết mang niềm vui hồn nhiên trong sáng. Nhưng tám năm lính của tôi niềm vui quả thật ít, ít đến tội nghiệp khi đem so sánh với nhọc nhằn đằng đẵng. Tám năm, thời gian gần bằng đoạn đời của gã nông phu Johann Moritz lang thang qua các trại tù của giai đoạn Âu Châu máu lửa, nhưng trước và sau tám năm đó, anh bạn Lỗ còn có những ngày vui hy vọng. Tôi có gì vui trước tám năm này và hy vọng nào về một Việt Nam hậu chiến. Nhưng thôi, có nói hoài thì cũng chỉ kéo dài thêm lời than thở hèn mọn. Điều mong ước là được xóa đi những hằn học và thù hận. Sự đụng chạm nếu có ở một vài đối tượng nào đó thì xin nghĩ rằng đây chỉ là những ý nghĩ của một người muốn chân thật với mình trong hoàn cảnh khắt khe. Lỗi không phải là ở sự thành thật đó. Đây là lỗi của một cảnh đời. Tội của những người trong chúng ta đã bất lực trước định mệnh, để bị cuốn trôi hết tình người — Thôi, đây là tội trong mỗi chúng ta.
10 tháng 9 năm 1969 Long Bình Việt Nam
SAU TÁM NĂM Ở LÍNH
Tiếng Việt quả thần diệu, có những chữ thật đơn sơ cũng đủ sức để tạo thành hình ảnh linh động. Những chữ với âm thanh tầm thường khô cứng như tiếng gõ vô nghĩa trên mặt bàn của một bàn tay nhàn rỗi, trong giây phút trống rỗng. “ở lính” nghe buồn buồn, nhạt nhạt, vô nghĩa nhưng chất chứa chịu đựng ngặt nghèo lặng lẽ. Tôi đã ở lính tám năm, sau thời gian đằng đẵng đó những danh từ to lớn như đầu quân, gia nhập quân đội, người chiến binh, đời quân ngũ hay thời thượng vụng về như tuổi lính, tuổi chiến trường đối với tôi vô duyên như sau lần ân ái ngượng ngùng. Tôi ở lính tám năm, năm nay hai mươi sáu, đi lính năm mười tám. Suốt tám năm của thời lớn lên tôi đem tặng hết cho quân đội, và không phaỉ đến bây giờ vì thất vọng, chán nản do công danh không toại ý, cuộc sống bị ép buộc không đúng như mơ ước nên cay cú hằn học với nhà binh. Không như vậy, tôi đi lính năm mười tám tuổi vào học trường tình nguyện ra làm ông quan Một. Chẳng có ai lôi kéo tôi vào trường ấy, tôi tự động hăng hái, hãnh diện để trở thành một sinh viên sĩ quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừng thông, hương nhựa thông toả đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng… Chuyển quân đi trong sương đêm, giữa mây mù, ánh lửa mục tiêu đêm đông trong hốc núi hoang vắng, thế giới mạo hiểm giang hồ của Jack London phảng phất đâu đây. Tôi say mê, thích thú với những khám phá mới mẻ đó. Nắng cao nguyên những ngày cuối năm vàng tươi rực rỡ, đứng ở đồi nhìn xuống hồ suối Vàng trong vắt yên lặng… Người như muốn tan vỡ thành muôn ngàn mảnh nhỏ theo cơn gió bay chập chờn qua vùng đồi trùng điệp và loãng tan đi cùng nước hồ xanh ngắt. Cũng phải nói thật những ngày đầu đời lính của tôi đầy trong sáng và đẹp đẽ. Trong sáng như giấc mơ của tuổi mười chín, giấc mơ mù mờ giăng cánh chim trắng bay chậm rãi qua rừng thông… Nhưng đời sống nhà binh không hẳn chỉ vậy, nó còn có sĩ quan cán bộ, nghi lễ, có đủ những phiền toái hỗn độn mà đời sống dân sự không ai nghĩ ra được; nên khung trời đầy sương mù bí ẩn ngoài khung của sổ hiện ra như một thách thức đối với đời sống kìm kẹp của tôi hiện tại. Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về phía thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tươœng như có một tiếng gọi của đời sống ở bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhở thúc giục, một đời sống thực sự tôi không có. Từ khung cửa sổ nhìn những giàn đồi im lặng thấp thoáng giữa thung lũng sương mù và đằng xa ánh đèn xanh vườn Bích Câu ma quái, diễm ảo, tôi thấy rõ trong tôi nỗi cô đơn khủng khiếp hiện hình sừng sững. Những lúc ấy tôi thấy được con người thật của mình, một gã trai trẻ, vô định hướng. Những cười đùa ban ngày, những buổi học, bữa ăn tập thể không ảnh hưởng gì đến con người trong tôi. Không thể có được một ý niệm về chuyên môn quân sự mà bằng tất cả mọi cách nhà trường cố nhét vào trong đầu óc. Đội hình tác chiến, cung cách chỉ huy, chi tiết kỹ thuật về vũ khí trôi qua trí não mơ hồ như một cơn gió nhẹ. Hai năm sống ở mái trường đó như một cơn phiếm du. Chỉ thật thắm thiết rung động khi nửa đêm về sáng dưới ánh đèn pha vọng gác kho đạn tôi khám phá được thế giới của cây cỏ đang thở, đang lớn lên. Những giây phút khoảng năm giờ sáng, sau phiên gác, nhìn xuống phòng sĩ quan trực, người lính kèn im lặng đưa lên môi thổi hồi kèn báo thức. Và không gì hơn suốt ngày chủ nhật một mình một ngựa chạy như bay vào hướng đồn Daksard. Con đường đỏ còn ướt sương đêm, trời chưa tan hẳn mù, ngựa phi như gió cuốn, ngựa đi vào trong một vùng mù đặc, rừng thông chuyển động ào ào, cả trời cao nguyên tan biến chập chờn theo vó ngựa. Kết quả sau hai năm ăn nhờ chánh phủ tôi được trở thành ông quan một, ra trường đi binh chủng hung hãn nhất. Tôi biến thành một người lính thực thụ, trận lớn, trận nhỏ, chiến dịch hai tháng, ba tháng, dài ngắn, từ Sài Gòn ra Bến Hải, tôi đi đủ. Những địa danh xa xôi bất kỳ một xó xỉnh hẻm hóc nào của miền Nam này tôi cũng có thể biết rõ một cách tường tận. Từ những miền nổi tiếng như Khe Sanh, Cồn Tiên đến những làng nhỏ từ cửa Việt đi ra – Diêm Hà Trung, Diêm Hà Nam – cái làng nhỏ cuối thung lũng sông Kim Sơn, làng Hà Tây, đèo ông Hổ đổ xuống Phù Củ ra Phù Ly, Phù Cát thẳng đến biển là núi Lồi, đầm Trà Ổ, xuống phía Nam, đầm Nước Ngọt. Lên đến Pleiku, trực thăng vận xuống phía Nam biên giới Lào-Việt, đầu ngọn sông Ia-Drang… Đâu đâu tôi cũng đến. Năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận cho sự góp mặt ở chiến cuộc, góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu là không ở ngoài, không chạy trốn trong khi bạn bè những người cùng trang lứa đang tham dự, đang ngã chết. Dù chết bên này hay bên kia, chết trong thù hận hay chết tình cờ. Những người đi tìm cái chết để biện giải cho đời sống. Tôi tham dự vào cuộc hành trình khốn nạn này. Giải thích này làm tôi yên ổn. Cũng trong những tháng năm đằng đẵng gian khổ ấy, tôi khám phá ra được hạnh phúc của đời người. Hạnh phúc thật sự không có, chỉ có những hạnh phúc tương đối và giản dị. Hạnh phúc là bếp lửa thật nóng, bữa cơm có canh, một mái lều tranh không dột, căng được chiếc võng, uống ly cà phê, đọc tờ báo, sau năm ngày vượt ba mươi cây số đường rừng, rừng thật dầy không thấy trời, trong rét cóng của miền Trung vào những ngày cuối năm. Hạnh phúc nồng nhiệt khi trở về nhà trong đêm khuya gõ cửa, vợ ra đón với con nhỏ ba tháng, kể từ ngày sinh chưa được nhìn bố. Hạnh phúc là cái gì chắc chắn, nắm được ở trong tay khi cánh cửa chiếc phi cơ đóng lại và thân thể được nhấc lên trong độ cao, nhìn lại thành phố Huế đang âm ỉ cháy. Đấy – đời lính – đã dạy cho tôi biết được giá trị của những sung sướng tầm thường đó. Chỉ có thế mà tôi phải trả giá trong tám năm thật dài với tận cùng của khổ cực và căng thẳng. Nhưng đến hôm nay, bước vào năm thứ mười hai đời lính tôi lại rơi vào sự khủng hoảng của những năm đầu tiên. Nỗi khủng hỏang tàn tệ tội nghiệp gấp vạn lần trước. Thời gian ở quân trường, tôi còn có thế giới kỳ ảo thiên nhiên, những ngày mới ra đơn vị, tôi tham dự để biện minh thái độ dấn thân, lao vào lửa đạn không thắc mắc, không ngần ngại — Tôi dấn thân để tìm kiếm niềm an ủi do tham dự hết lòng, đồng thời còn có điều khôn ngoan đã tìm ra những hạnh phúc tương đối — Loại thực phẩm trần gian hợp với khẩu vị. Nhưng đến những tháng ngày hôm nay thì qủa thực tôi bất lực. Bất lực để giaœi thích cho chính bản thân, sự có mặt tham dự trong dòng đời hỗn loạn và mệt nhọc này. Những chốn trú ẩn xưa bị phá vỡ tan hoang, nếu không nói đến những phản ứng trái ngược đã xảy ra. Trên đường đi đến Lái Thiêu, vườn dừa xanh ngắt, hoa huệ trắng tỏa hương thơm ngát không gợi nên một thiên nhiên an lành mơ mộng nhưng trái lại như một đối tượng đang phải chịu sự tàn phá sắp tới của chiến tranh; một đối tượng đau đớn của thiên nhiên không được thụ hửơng sắp sửa bị tiêu hủy. Những ngày dài hành quân không gây chịu thích thú, không tạo mới lạ, chỉ còn lại chịu đựng… Chịu đựng im lìm trong một niềm bất mãn đến ngộp thở. Tám năm lính, tôi hai mươi sáu tuổi, số tuổi gần ba mươi, không bạn bè, xa bằng hữu, số tuổi cuả nỗi cô đơn kinh khiếp biến con người hững hờ, tàn ác như một lát dao. Tôi hai mươi sáu tuổi để thấy rõ cái mặc cảm phạm tội trước kia chỉ là một ảo tưởng xa xỉ của tuổi mới lớn, ảo tưởng về trách nhiệm con người đối với nhau. Tôi hai mươi sáu tuổi đủ để nhận rõ rằng: Hạnh phúc quả là một vật ít ỏi tương đối, nhưng nếu mua bằng giá của đời sống mình thì thật vô lý. Đành rằng sống chẳng là một cái gì rực rỡ nhưng nếu đánh giá đời sống bằng khổ cực và cái chết thì thật là một việc rồ dại và ngu xuẩn. Như vậy tôi hai mươi sáu tuổi có được gì? Tôi có được một cái nhìn thông suốt hết cả. Nói như thế có vẻ tự kiêu và lố bịch. Nhưng nếu trung thực hơn: Sau tám năm ở lính, tôi hết còn là vùng đất để nghiệm và chịu ảnh hưởng. Tám năm ở lính để biết mình là một cánh chim tự do nhưng đã bị chặt cánh. Chính thương tích này làm sáng tỏ khả năng tự do bi đát của đời người. Gần đây báo Sống tục bản dưới hình thức báo Công Chúng có đặt câu hỏi: Người thời đại nghĩ gì? Trong đó có nêu lên chi tiết ai là thần tượng cho tuổi trẻ hôm nay? Tôi hai mươi sáu không trẻ lắm nhưng chưa già, cố tìm cho mình một thần tượng? Không có, làm gì có thần tượng cho tuổi trẻ khốn khổ của tôi. Làm sao tôi có được một thần tượng sau tám năm đằng đẵng đầy thù nghịch và ngặt nghèo. Người ta chỉ tìm được thần tượng khi lòng còn rung động. Bây giờ tôi có rung động nào trong tâm hồn? Năm vừa rồi đi đưa đám tang những thằng bạn thân, chỉ thấy trong lòng một thoáng bâng khuâng, chả bù trước đây tôi ôm xác của Phương, của Dũng chạy như điên trên sườn đồi nước mắt chảy dài trên má. Chiều trở về chỗ đóng quân nhìn chiếc võng của người chết tưởng chừng như thân thể sụp xuống tan đi trong vũng phiền buồn. Bây giờ tôi làm sao khóc được, làm sao để phẫn nộ, để nhớ thương, để mong ước. Thần tượng bây giờ là gì? Lãnh tụ? Lãnh tụ cỡ nào? Nhìn ảnh phó Tổng Thống Humphrey trong báo US News & Report cùng những câu trả lời của ông ta trong thời kỳ tranh cử Tổng Thống. Cái mồm nhỏ, trán hói, vẻ trai trẻ gỉa vờ khi xắn quần chạy trên bãi biển thấy ngượng ngùng đến khó chịu. Hay loại chính khách local?! Ô thần tượng cái khổ nào ở thứ lãnh tụ và chính khách hạng nhì này… Hay là Mao Trạch Đông? Không được nốt, cái mặt ị, đôi mắt ti hí, cuốn sách nhỏ chỉ hú hồn được thanh niên ở các nước Tây phương. Tôi cố tìm suốt một dãy các danh nhân còn sống hay đã chết để tìm cho được một người để ngưỡng mộ. Churchill? Cũng không được, đọc Mémoire của ông ta, cuốn L’Étau se referme không chịu được thái độ bất nhân đối với Nam Tư. Đến Exodux thì người Anh, ôi cũng là lũ thực dân. Nhớ đến lần hành quân ở Long Khánh thì Úc hay Anh cũng vậy, cũng là God save our King. Chả ra cái thống thế gì. Thế thì hết. Hết tiệt cái thế kỷ thần tượng, vì nếu qủa thật còn một chút thần tượng nào vất tưởng ở trên hành tinh này thì Jackie đã không xóa tan hình ảnh ông chồng rực rỡ để đi theo ông thương gia có phòng tắm lót vàng. Sống bên cạnh một thần tượng còn cho thần tượng đó “de” thì huống gì tôi, một kẻ da vàng xa xứ của ông thì ngưỡng mộ gì ông được, hở ông Kennedy. Đó là chưa kể đến nỗi hằn học mà ông Bob Kennedy để lại trong lòng những người lính Việt Nam. Hay thần tượng ỏ một anh nhược tiểu? Ché Guévara cũng không được. Đây chỉ là một loại James Bond cộng với Trần Độ mà thôi. Tóm lại thần tượng tất cả đều bị chôn chặt, bị cuốn hút, bị xóa tên, chỉ còn lại một vài thần tượng què quặt trên óc não bệnh hoạn, yếu đuối của một số người chưa sống đủ, thần tượng của những kẻ nổi loạn thành phố, những kẻ mang tâm trạng “bão tố trong cốc nước” những gã Mỹ con tóc dài, hippy, biểu tình chống đối trước trường Sĩ Quan Trừ Bị Hoa Kỳ. Sau tám năm ở lính, tôi mệt mỏi vô ngần.
dongsongcu.wordpress.com bonglau-ThuyMyRFI Posted on 01/04/2023 by Doi Thoai
Post by Sơn râu 25 Nov 2024
Vụ xả súng hôm sáng thứ Hai 27/03 ở trường mẫu giáo – tiểu học Cơ Đốc Giáo Covenant Presbyterian Church ở Nashville, Tennessee, vô hình chung bỗng trở thành một mô hình phòng thủ kiểu mẫu cho các trường học ở Hoa Kỳ hay bị những kẻ điên loạn xâm nhập xả súng tàn sát. Đáng lý ra số người bị tàn sát ở trường Cơ Đốc Giáo Covenant cao hơn nhiều, nhưng vì nhà trường đã được thực tập “lockdown” khóa kín trong trường hợp có biến. Khi cảnh sát ập đến thì đã có một người phụ nữ có lẽ là nhân viên của trường đứng đợi. Bà ấy mau lẹ tường trình những gì xảy ra bên trong, và cho cảnh sát biết là hung thủ đang ở tầng 2. Khi cảnh sát tiến tới cửa ra vào, thì có một người đàn ông thắt cà vạt đen, có lẽ cũng là nhân viên của trường đứng núp bên cạnh cửa, đưa cho cảnh sát chìa khóa để mở cửa. Bên trong còi báo động vang rền và đèn báo động chớp chớp. Hành lang hoang vắng vì các thầy cô và học trò được huấn luyện phải rút vào các lớp học, khóa kỹ cửa và chất bàn ghế ở cửa làm chướng ngại vật. Được biết hung thủ xả súng là Audrey Hale đã bắn vào cửa của một số lớp học, nhưng cô ta đã không vào được và người núp bên trong lớp không ai bị trúng đạn. Kỳ công thứ hai là nhờ các cảnh sát viên can đảm và chuyên nghiệp của thành phố Nashville, tiểu bang Tennessee. Khi “khẩn phái viên” dispatcher của tổng đài 911 nhận được cú phone cầu cứu lúc 10 giờ 13 phút sáng. Chừng 5 phút sau cảnh sát đã có mặt bên ngoài trường. Và hung thủ xả súng Audrey Hale bị cảnh sát bắn chết lúc 10 giờ 24 phút sáng. Tức là chỉ 11 phút ngắn ngủi sau cú gọi số cấp cứu 911.
Coi lại cuốn phim của máy thu hình gắn trên ngực áo của hai cảnh sát viên Rex Engelbert và Michael Collazo, chúng ta được thấy sự chuyên nghiệp và can đảm của họ. Rex Engelbert là người hùng của cuộc xả súng bi thảm này. Anh cớm này thuộc loại khổng lồ, nặng 102 kg và cao 1.85 mét, từng chơi banh cà na ở trung học Chicago. Rex Engelbert tốt nghiệp đại học University of Dayton, Ohio, với văn bằng cử nhân về tư pháp hình sự (criminal justice). Hôn thê của Engelbert cũng là một cô giáo của một trường đạo. Rex Engelbert mới gia nhập cảnh sát Nashville (MNPD) 4 năm và được cho là nhanh nhẹn, quyết tâm, và lễ phép. Tuy chỉ có 4 năm kinh nghiệm trong nghề cảnh sát, nhưng quan sát đoạn phim của máy thu hình cá nhân mới thấy anh cớm này quả cảm, mưu lược, và chủ động. Anh mở cốp xe lấy một khẩu M4/AR-15 xịn gắn nhiều đồ phụ tùng mắc tiền. Engelbert lên đạn mạnh bạo cái xoạch bằng tay trái, đúng sách vở. Anh không tiến thẳng vào cửa ra vào mà tiến từ bên góc qua, vì hỏng muốn ăn kẹo đồng từ trong bắn ra. Hỏng biết anh Rex Engelbert làm chức gì mà hét lên như cấp chỉ huy “Cho tôi 3 người. Hãy lấy 3 người… nào tiến vào”. “Give me 3. Let’s get 3…. Let’s go”. Có tiếng một cảnh sát viên ở xa cũng hét lớn “thêm một người nữa” “one more”. Toán xung kích 5 người không thập thò sợ hãi mà tỉnh táo dũng mãnh, vừa tiến vào trong vừa hô lớn: “Cảnh sát Nashville (MNPD)”. Giống một cuộc thực tập bắn đạn mã tử hỏng có người chết, nên không có sự sợ hãi. Chỉ có ông cầm súng shotgun tiến chậm rì nên cứ bị đẩy lên phía trước, giống như đi đầu làm bia đỡ đạn. Trên đường tiến quân, các cảnh sát viên phải “clear” khám kỹ các phòng hai bên hành lang, vì không muốn bị phục kích từ sau lưng khi họ đi qua. Sau khi đi qua, họ thường để lại một cảnh sát viên để bảo vệ phía sau lưng. Rex Engelbert rất cảnh giác và thông minh khi bước vào mỗi căn phòng. Anh nhắc đồng đội “đi với tôi, đi với tôi”. With me, with me. Không ai ngu bước vào phòng một mình mà không có người bắn che nếu bị phục kích. Khi rẽ phải qua một hành lang khác, Rex Engelbert hô lớn “che bên trái”, cover left. Tức là quẹo phải nhưng phải biết bảo vệ sau lưng bên trái. Anh giống một trung đội trưởng đang điều động binh sĩ tiến quân vào vùng đất địch. Coi rất đã. Các cảnh sát này biết cách điều động và phối hợp nhịp nhàng. Nhưng nhìn mấy ngón tay của Rex Engelbert mới thấy anh ta sử dụng cây M4/AR-15 rất thành thạo. Súng luôn luôn được khóa an toàn để không gây tai nạn bắn vào đồng đội. Khi bước vào mỗi căn phòng, ngón tay cái của anh đặt lên khóa an toàn sẵn sàng bật qua vị trí “nóng” để khai hỏa, còn không vẫn khóa. Đây là cách huấn luyện của quân trường Mỹ, sau mỗi loạt đạn là xạ thủ phải bật cần qua vị trí khóa an toàn ngay. Một điều may mắn khác là khi các cảnh sát viên tiến lên tầng 2, thì hung thủ Audrey Hale đang đứng một mình bên khung cửa sổ lớn, và cô ấy nổ nhiều phát súng. Không biết có phải Audrey Hale đang bắn xuống bãi đậu xe hay bắn ra hành lang mà cảnh sát đang tiến lại gần. Những tiếng súng ấy đã làm lộ vị trí của cô, và các cảnh sát viên chạy nước rút về hướng phát ra tiếng súng. Một cái nghề rất hiểm nghèo là phải chạy về phía tiếng súng nổ thay vì chạy xa khỏi sự đe dọa. Gần vị trí của hung thủ, thì đã có lố nhố bốn năm cảnh sát viên đang đứng ngập ngừng, có lẽ họ thuộc toán 2 tiến vào trường bằng một ngõ khác. Rex Engelbert đã không đứng lại với các đồng đội ấy, anh tiếp tục tiến mau đến vị trí của Audrey Hale. Một cảnh sát viên phất tay ra dấu cho Engelbert qua mặt mình, như là “nó đang ở trong đó đó”. Rex Engelbert vượt nhanh qua cửa đôi, tiến vào một khu đại sảnh mở rộng có khung cửa sổ lớn. Audrey Hale, kẻ vừa mới xả súng giết 6 người đang đứng đó. Rex Engelbert mở khóa an toàn bình tĩnh bắn 4 phát 5,56 mm rồi bật cần đóng khóa an toàn lại, như một cuộc thực tập ngoài sân bắn vào các mục tiêu giấy: 3 phát kẹo đồng vào ngực và một phát ân huệ vào gáo dừa. Bóng của Audrey Hale gục xuống trong cuốn phim lúc 3 giờ 24 phút.
Audrey Hale vẫn còn nhúc nhích quằn quại trên nền nhà. Các cảnh sát viên khác tiến mau tới kẻ xả súng. Họ không nhận tù binh còn sống. Cảnh sát viên Michael Collazo. Một cựu quân nhân binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Từng là nhân viên cứu thương của toán giải cứu con tin SWAT, phục vụ ở sở Cảnh sát Nashville (MNPD) 9 năm. Michael Collazo nói lớn nhắc một đồng đội đang cầm súng shotgun đi ngay bên cạnh phải tránh xa họng súng của anh: “coi chừng, coi chừng” (watch out, watch out). Như người máy lạnh lùng, Michael Collazo bắn kẻ xả súng đang quằn quại thêm 4 phát bằng khẩu Glock Gen 5 MOS xịn có gắn đèn pha và máy nhắm chấm đỏ rất chính xác. Cánh tay của Audrey Hale vẫn còn nhúc nhích nhưng không còn nhiều. Cô ấy bị bắn bồi như một con chó dại cần phải bị tiêu diệt. Các cảnh sát viên bao vây kẻ xả súng đang nằm sóng soài. Họ làm đúng thủ tục bài bản là phải vô hiệu hóa một tội phạm nguy hiểm. Michael Collazo hét lớn “không được nhúc nhích, không được nhúc nhích” (stop moving). Rồi có tiếng hô lớn tiếp theo “bỏ tay ra khỏi súng, bỏ tay ra khỏi súng”, get you hands away from the gun… Michael Collazo cúi xuống giục khẩu súng của Audrey Hale khỏi tầm tay của cô ấy rồi báo cáo bằng máy vô tuyến “kẻ tình nghi đã gục ngã, kẻ tình nghi đã gục ngã”. Tình cảnh của Audrey Hale rất đáng thương vì đã không hội nhập được với một xã hội vốn được coi là có nhiều tình người so với nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nhưng số phận của những kẻ xả súng giết người vô tội là phải vậy. Không có gì là quá đáng so với những sinh mạng mà Audrey Hale đã cướp đi. Cảnh sát Trưởng Nashville (MNPD) John Drake, một người da đen lạnh lùng tuyên bố trong cuộc họp báo: “Chúng tôi sẽ không bao giờ chờ đợi để tiến vào ngăn chặn sự đe dọa, nhứt là khi nó liên quan với con em của chúng tôi”. We will never wait to make entry and to go in and to stop a threat especially when it deals with our children. John Drake hàm ý so sánh tới trường hợp xả súng ở một trường học ở Uvalde, Texas mà một thằng điên xông vào bắn chết 21 người gồm có giáo viên và nhiều học trò. Có cả trăm cảnh sát đủ loại lố nhố chờ đợi từ trong ra ngoài suốt 77 phút vì một ông cảnh sát trưởng da đen ở đó muốn có thời gian để đàm phán với một thằng điên. Giống như bi giờ có ai muốn đàm phán với gã điên Vladimir Putin hong ta?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.