Kharkiv, đêm ở vùng hỏa tuyến

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 19/09/2022 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 27 Nov 2024

Bước xuống sân ga xe lửa ở tỉnh Kharkiv, giữa dòng người Ukraine im lặng mệt mỏi và lo âu. Mấy anh lính Ukraine đeo súng AK-74 tò mò nhìn.
Có lẽ họ tưởng mình là một anh lính bắn tỉa của Quân Đoàn Lê Dương Quốc Tế đến tham chiến, vì vác một lần 3 cái ba lô, vai đeo cái bao màu đen dài bên trong đựng 3 càng của máy quay phim hạng nặng hay máy hình có ống zoom khổng lồ.
Cô “giao liên” Ukraine xinh đẹp tóc vàng đứng đợi ở sân ga. Cô tủm tỉm cười nói “Welcome to Kharkiv” – chào mừng đã tới Kharkiv. Mình cười trả lời “Không tệ lắm như mọi người tưởng”. Tuy lần đầu tiên gặp mặt cô ấy nhưng đã làm việc qua email mấy tháng nên rất thân tình. Nhứt là trong bối cảnh chiến tranh hiện nay.
Cô chở về một cái khách sạn nhỏ kín đáo, ở một khu vực vắng lạnh không người. Gần đó một tòa nhà đổ nát vì trúng hỏa tiễn hành trình từ bên kia biên giới bắn qua. Lên tam cấp gõ cửa thì thấy khóa kín. Tấm bảng khách sạn bên cạnh có một lỗ đạn toác hoác. Trên cửa dán miếng giấy đề chữ Ukraine “Chúng tôi đóng cửa vì chiến tranh”.
May là có cô giao liên đi bên cạnh, nếu không mình chẳng biết tờ giấy dán trên cửa nói gì. Đưa số điện thoại khách sạn cho cô ấy gọi thì hỏng ai trả lời. Có lẽ họ đã tản cư về một nơi an toàn xa xôi rồi. Trời đang tối và giờ giới nghiêm sắp đến. Hỏng lẽ tối nay bị hốt về một trại lính rồi ngủ trên ghế bố sao ta?
Sau mấy cú phôn khẩn cấp, cô giao liên thông báo đã kiếm được một khách sạn nhỏ cho “đồng chí thủ trưởng” rồi. Mình hơi lo ngại “Khách sạn này của người Nga hay của người Ukraine?”. Cô Ukraine cười cái anh cán ngố mới từ Mỹ đến và trấn an “Anh đừng sợ. Bọn kiều dân Nga trốn hết rồi. Hotel này của người Ukraine”.
Cô chở đến một khu vực có thần khí hơn chớ hỏng sặc mùi tử khí như cái khách sạn đã đóng cửa. Bên kia đường dưới tầng hầm có bán pizza tới 8 giờ tối.
Ông chủ khách sạn mặc quần cụt áo thun mang dép mở cửa ra đón. Ổng hướng dẫn đi coi phòng. Khách sạn có 3 tầng. Dĩ nhiên hổng ai ngu mà ở trên tầng 3, vì nếu hỏa tiễn Nga rót vào chạm nổ thì nằm trên tầng cao nhứt sẽ chết trước. Trên nóc của tầng 3 đã bị trúng bom chùm (cluster bomb) hai lần.
Tầng trệt an toàn nhưng phòng nhỏ và tối hù nên mình chê. Các phòng ở tầng 2 lớn và sáng hơn. Một phòng cửa sổ kiếng có lỗ đạn to như trái ổi nên mình cũng chê. Một phòng khác nguyên cái giàn đèn chùm “chandelier” từ trần nhà rớt xuống vì hỏa tiễn hành trình nổ quá gần. Còn một phòng ở cuối hành lang là lành lặn nhứt nên mình “chọn mặt gởi vàng”.
Khách sạn hỏng có nhân viên phục vụ dọn phòng hay ăn sáng nên đừng có mơ mộng hão huyền. Thanh toán ngay bằng đô la chớ hỏng có thẻ tín dụng gì ráo. Có nghĩa là sẽ không có dấu tích gì để lại, nếu khách bỗng nhiên bị người lạ dí súng và biến mất trong đêm khuya.

Khách sạn chỉ có mình là người nước ngoài duy nhứt. Có hai người đàn ông Ukraine lạ mặt cũng ở đó nhưng đi vắng mấy ngày hôm ấy. Có lẽ họ là quân nhân hay mật vụ Ukraine thì phải.
Ông chủ chỉ đường xuống tầng hầm trong trường hợp bị pháo kích. Dưới hầm có đầy đủ các chai nước và internet để liên lạc với thế giới bên ngoài. Ổng cho biết bọn Nga sẽ pháo kích khoảng 10 giờ đêm và 4 giờ sáng. Hỏa tiễn sẽ nổ cách khoảng một hay hai phút. Và chúng sẽ bắn loạn tứ tung chớ hỏng nhắm vào một mục tiêu nào cả. Xui thì trúng ráng chịu ha ha.
Ông chủ lấy tiền xong rồi khóa cửa ra đi. Cô giao liên cũng từ giã về nhà cổ. Mình dìa phòng khóa cửa lại, ở trơ trọi một mình trong tòa nhà kiên cố tuổi gần 100 năm. Đồ chơi hỏng có gì ngoài một con dao găm nhỏ trong ba lô. Hy zọng gián điệp và Biệt Kích Nga hỏng gõ cửa hỏi thăm sức khỏe.
Ông chủ nói tụi Nga sẽ pháo kích lúc 10 giờ tối và 4 giờ sáng, nên mình canh điện thoại báo thức lúc 4 giờ sáng để sẵn sàng. Nhưng sự thiệt lại khác vì hỏa tiễn nổ bất chợt suốt đêm. Có khi oành một cái rồi im bặt. Có khi oành oành oành hai ba trái liên tục.
Còi báo động thì dỏm. Có khi còi hụ vang rền trong đêm thiệt ghê rợn, làm ngồi hóng quài nhưng hỏng có hỏa tiễn nào bay đến. Có khi hỏa tiễn oành oành mấy trái rồi thì còi mới hụ. Mèn ơi, tin vào cái còi mắc dịch này thì giảm tuổi thọ quá.
Mình được phát một cái nón chống đạn và áo giáp Made in Ukraine. Nón chống đạn thì hỏng biết công hiệu cỡ nào, nhưng là điều đầu tiên phải làm là úp nó lên cái gáo dừa kính mến khi nghe còi hụ, sau đó mới mặc áo giáp.
Áo giáp thì nặng mấy lần áo giáp Mỹ. Phía trong chỉ có hai miếng thép dầy cộm. Được biết là thép được chế tạo đặc biệt để chống đạn. Nhưng thép dùng chống miểng đạn thì OK, chớ chống viên đạn có vận tốc cao như 5.56 mm của M-16 thì khi bắn trúng tấm thép viên đạn sẽ nổ tung tỏa các mảnh nhỏ li ti tàn phá thân thể ngoài khu vực áo giáp.
Áo giáp của quân đội Hoa Kỳ nhẹ và mềm dễ mặc hơn. Bên trong có miếng sành mềm hơn thép, nên khi bị bắn trúng viên đạn dính vào chớ hổng nổ tung. Phần còn lại của áo giáp Mỹ là hợp chất Kevlar gồm có những lớp sợi synthetic fiber đan lại với nhau, mềm mại và nhẹ nhưng chống được miểng đạn pháo kích và súng ngắn.
Cả đêm còi hụ và hỏa tiễn nổ ì đùng. Cứ đội nón và mặc giáp ra zô bắt mệt. Nên lúc sau làm biếng quá cứ để vậy luôn, hai tấm thép đè lên ngực và lưng hơi khó thở. Bàn làm việc lại kê trước cái cửa sổ thiệt lớn, nên phải che màn lại để không cho ánh sáng lọt ra ngoài gây chú ý là đang có người ở. Màn kéo trước cửa kiếng còn để ngăn không cho mảnh kiếng bể bắn vào cơ thể, nếu hỏa tiễn nổ bên ngoài.

Duy có cặp cẳng là rất tiếc hổng thể e ấp kín đáo che giấu như người thiếu nữ thẹn thùng, vì đang mặc xà lỏn áo thun ngồi làm việc lúc 3 giờ sáng ở vùng giới tuyến.
Trân trọng giới thiệu cặp cẳng huyền thoại đã một thời thu hút mấy em sinh viên Mẽo lúc còn tuổi đôi mươi. Chúng thon mũm mĩm chớ hổng cục mịch gân guốc có nhiều thẹo sần sùi lồi lõm như bi giờ. Có một buổi chiều nắng vàng rực rỡ. Đang mặc quần ngắn áo thun chạy bộ vòng quanh khuôn viên đại học bao la. Bỗng có hai em sinh viên tóc vàng mắt xanh lái xế hộp đi ngang. Một em thò đầu ra hét lớn “Tôi thích chân của anh” (I like your legs). Hét xong cả hai em yêu cười ré lên rồi rồ ga phóng đi mất tiêu mà quên ngừng lại đưa số điện thoại.
Hỏng biết là bị chọc quê hay được chú ý thiệt, nhưng tiếng hét đó đã làm chàng trai ngẩn ngơ thẹn thùng hỏng ít và nhớ quài cho đến bi giờ. Cái cẳng huyền thoại năm xưa giờ trần xì ngồi cô độc trong đêm khuya, đợi pháo nổ ở vùng hỏa tuyến Ukraine.

BÔNG LAU 18.09.2022 (Tựa bài do Thụy My đặt)

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com
Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 27 Nov 2024

Phần 6
Một Chịu Đựng Lặng Lẽ
Chúng tôi rời Sài Gòn trong thở dài nhẹ nhõm, một tháng ở Thủ Đô đủ để tạo thành sụp đổ tan hoang trong lòng, đủ thấy rõ sự phản bội của hậu phương, một hậu phương lừa đảo trên máu và nước mắt của người lính. Một tháng đủ để chúng tôi hiểu ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy thù hận và dục vọng… Một tháng “vỡ mặt” lính non cũng như lính già. Chúng tôi bây giờ biết rõ: Máu và đời sống của mình đã đổ ra cho một xã hội lừa lọc. Thủ Đô! Tôi đi xa không luyến tiếc. Quá đủ những con đường Sài Gòn đêm vắng vẻ, dây kẽm gai chằng chịt, lựa đạn cay xót xa nước mắt. Đã quá đủ với Sài Gòn những buổi trưa nóng như thiêu đốt, áo giáp, nón sắt, mặt nạ, người lính đứng cô đơn trong sỉ nhục căm thù của đám đông nhân danh Tổ Quốc và Thượng Đế… Sài Gòn, chúng tôi thù ghét và ghê tởm Thủ đô đục ngầu phản bội và thù hận. Tôi ao ước một cơn hồng thủy sẽ cuốn trôi thành phố sau lưng, một cơn hồng thủy xóa hết dấu tích nhơ bẩn mà Thủ đô đã bôi lên khuôn mặt bi thảm của quê hương. Tôi ao ước được quên một thành phố tên gọi Sài Gòn.
Xe chạy ra khỏi thành phố hướng về Tây Ninh. Trời xanh, không khí thoáng đãng, tôi thèm được đi xa. Đến Hóc Môn, đoàn xe dừng lại để lính nhảy xuống mua các thứ lặt vặt cần thiết cho cuộc hành quân. Sau hai tháng căng thẳng trong sự chết và bạo động, người lính bây giờ được thả xuống giữa quận lÿ sầm uất chất phác. Họ thỏai mái dễ chịu như trở về thế giới quen biết. Chúng tôi phải trả nợ nghiệp lính bằng năm ngày hành quân trước khi trở về hậu cứ. Từ Hóc Môn đoàn xe đi dọc theo liên tỉnh lộ 15 hướng về phía bắc, xe chạy trong cánh đồng mênh mông, sau hơn một tháng bị nhốt chặt trong thành phố ầm ĩ nay được thả ra cùng đất trời rộng rãi, lòng tôi mở ra như cơn gió reo. Đến ấp Đông Nhất cách Hóc Môn mười cây số, dừng lại xuống xe. Một tiểu đoàn bộ binh đã có mặt từ trước đợi chúng tôi. Hai tiểu đoàn sẽ xuất phát từ đây, xâm nhập theo con đường liên tỉnh hướng tây-bắc để giải tỏa áp lực địch tại vùng Bến Cỏ. Hai đơn vị đã dàn xong đội hình, lấy con đường làm chuẩn, tiểu đoàn bạn bên trái, chúng tôi bên phải, mục tiêu là làng Paris Tân Qui, nơi gặp gỡ của đường liên tỉnh 15 và hương lộ nối từ Ấp Nhà Việc với Củ Chi. Đại đội 74 dẫn đầu, đại đội chúng tôi đi chót, trung đội tôi đi cuối cùng. Mười phút đã qua, chúng tôi vẫn chưa di chuyển được thước đất nào, rảnh rỗi tôi lấy khẩu cầm ra thổi, tiếng trầm bỗng loang xa trên cánh đồng chơi vơi như cánh chim nhàn hạ… Bỗng súng nổ, một tràng ngắn, tiếp theo những tràng đại liên ròn rã ở phía đầu tiểu đoàn bộ binh. Cuộc chạm súng kéo dài khoảng mười phút, địch chỉ muốn trì hoãn bước tiến đoàn quân để chạy trốn. Mười hai giờ trưa đến Paris Tân Qui, làng nhỏ bao bọc chung quanh bởi rừng cây cao su xanh ngắt. Địa danh thật đặc biệt, không hiểu do sự nhầm lẫn của người lập bản đồ hay do một anh Tây nào đó trong lúc nghịch ngợm đem tên của Thủ đô ánh sáng đặt cho làng nhỏ này. Tiếp tục tiến quân lên Bến Cỏ, quận lÿ đặt cuối đường liên tỉnh, bên kia suối Bến Nây. Cầu đã bị giựt sập, tiểu đoàn dừng lại bố trí quân dọc theo đường đá đỏ. Đại đội 72 đi đầu cho một vài khinh binh qua dò đường. Trời ủ giông, nắng quái mây mù, con đường vắng như một nỗi thê lương… Nếu không có chiến tranh, từ đây về Sài Gòn chỉ khoảng nửa giờ xe đò, những con đường nhỏ này là mạch máu của miền Nam nối liền Thủ đô với thôn xóm trù phú. Ruộng ở đây không bát ngát bằng những tỉnh ở miền Tây, nhưng mạnh và tươi tốt. Nhìn đồng lúa mới thấy rõ sức chịu đựng dẻo dai triền miên của dân tộc. Nhớ bài chính tả của mười hai năm trước — Đồng lúa mới… Tôi đến một vùng quê, kề bên trận địa, cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông phu cần mẫn, nhìn vào thôn xóm không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm… Sáng mai thức dậy, đố ai biết có những gì thay đổi, cánh đồng vắng vẻ ngày hôm qua nay đã xanh rì ngọn mạ… Bài chính tả của lớp nhì biến thành bài học thuộc lòng. Ông giáo cuả tỉnh nhỏ, thầy Tiến, trường Hoàng Diệu, dáng người mập mạp, nhưng bỗng nhiên khuôn mặt hóa nên linh động khi giảng nghĩa cho lũ học sinh nhỏ, sức chịu đựng nỗi kiên nhẫn của những người nông phu, đêm trở về trên cánh đồng vắng, cắm những cây mạ xanh trong lòng đất còn mùi thuốc súng… Cánh đồng ở đây cũng loáng nước, mái tranh thôn xóm tiêu điều xơ xác, nhưng thân lúa xanh vẫn mọc lên phơi phới. Tôi rung động trong niềm cảm phục quê hương, những người nông dân Việt Nam cuối tận cùng của khổ cực luôn luôn thắp sáng cho mình hy vọng. Nhớ đến bàng hoàng dáng dấp của thầy tỉnh lẻ, một ông giáo bình thường nhưng đã gieo vào hồn tôi những rung cảm kỳ diệu khi bằng giọng nói của người dân xứ Quảng với quê mùa mộc mạc, thầy Tiến vẽ trong đầu óc trẻ thơ một hình ảnh lặng lẽ nhưng hào hùng của dân tộc. Cảm giác này cũng tương tự như khi đọc Sơn Nam với những câu ca dao… Ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu… Cảm ơn đời trong tuổi nhỏ đã có người tặng cho những đóa hoa dịu dàng, những lời ca ngợi quê hương. Người Đại Hàn tượng trưng cho dân tộc của một đóa hoa, Trung Hoa, Nhật Bản lấy biểu tượng ở mặt trời… Tôi ao ước được trông lại biểu tượng cây lúa của dân tộc. Cây lúa bình thường đầy kiên nhẫn.
Ba người khinh binh đi đầu tiến ra được giữa cầu, cầu bị gãy, họ phải bò theo những thanh sắt, một loạt đạn từ bờ bên kia bắn vụt qua. Đạn chạm vào thành cầu long cong, một người lính lảo đảo rơi xuống, hai người kia vội vàng chụp lấy bò trở về. Súng cối của tiểu đoàn bắn về phía có tiếng nổ năm trái… Ba người khinh binh khác được đề cử qua cầu, dưới sự yểm trợ của súng cối 60 và 81 (1) trong lúc súng cối tạm ngưng vì tháo đạn chưa kịp, Việt Cộng ở bên kia bờ lại bắn qua tới tấp.
Hai người lính ở sau bò lại, chỉ một người qua được bên kia bờ. Không thể làm im được toán Việt cộng bên kia bằng súng cối, mặc dù chúng chỉ ước chừng một tiểu đội, nhưng hầm hố kiên cố đạn súng cối chính xác đến đâu cũng không phá hủy được. Hơn nữa số đạn mang theo giới hạn. Bộ chỉ huy tiểu đoàn quyết định gọi máy bay đến oanh tạc đồng thời đề phòng trường hợp địch tập trung đông. Ba Skyraider (2) bay một vòng để chỉ định mục tiêu. Khói trắng vừa bốc lên khỏi lũy tre, chiến đấu cơ hạ thấp độ cao đâm thẳng xuống, cả một khu bìa làng bị cầy tung đất khói và lửa bốc thành những chiếc nấm lớn. Năm giờ chiều, người chót của tiểu đoàn mới qua hết con suối, ngôi làng con âm ỉ cháy, mùi lá tươi bị đốt nồng nặc. Chúng tôi đóng quân đêm tại đây, cứ điểm Bến Cỏ nằm sau lưng không đầy một cây số. Ngày mai chúng tôi sẽ vào đấy giao tiếp với một tiểu đoàn Biệt động quân bị cô lập suốt sáu tháng nay.
Bảy giờ sáng, tiểu đoàn bắt đầu di chuyển, đoạn đường xuyên qua làng mạc dày đặc vườn cây ăn trái và nhà cửa. Đường liên tỉnh 15 chạy từ Hốc Môn đến Bến Cỏ chia làm hai nhánh, một đường chạy lên hướng bắc gặp bờ sông Sài Gòn, từ đây chạy song song với con sông lên đến vùng Bến Súc rồi ra Trãng Bàng. Một nhánh ngắn hơn từ Bến Cỏ chạy ra Củ Chi. Bốn cứ điểm Bến Cỏ – Bến Súc -Trãng Bàng – Củ Chi tạo thành khu tứ giác mật khu Hố Bò nằm song song với mật khu Bời Lời ở bờ phía bắc sông Sài Gòn. Cứ điểm Bến Cỏ như một cái nút chận đường xâm nhập của địch về Gia Định nên từ lâu địch đã vây kín và pháo kích vào hằng ngày. Chúng tôi tiến quân thật dè dặt, một đơn vị bạn trước đây đã bị phục kích ngay tại khu làng này khi muốn “bắt tay” (1) với đơn vị trong đồn, hôm đó pháo binh và phi cơ không thể can thiệp được, trong khi địch có đủ công sự phòng thủ và giao thông hào dày đặc trên lộ trình vào cứ điểm. Hai đại đội đi đầu không dám đi trên đường vì sợ mìn, khi đi qua các khu vườn mọi người đều ngán ngẩm, địa đạo và giao thông hào đào chi chít, nếu địch phục kích chúng tôi tại đây thì khó lòng chống trả. Vòng rào dây kẽm gai và cột dây trời của đồn hiện ra trong tàn cây xanh. Thật thận trọng, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho từng đại đội một tiến vào hàng rào phòng thủ, hai người lính Biệt động quân ra mở cổng… Cứ điểm gồm có hai phần, chiếc đồn chính nằm ở phía trái của con đường, bộ chỉ huy tiểu đoàn Biệt động quân đóng chung với một đại đội Địa phương quân tại đây; đồn là một loại bót nhỏ của lính Pháp để lại, tường gạch rêu phong ba tháp canh trơ trọi đứng ba góc, chung quanh đồn là tuyến phòng thủ của ba đại đội tác chiến, những người lính Biệt động quân đào hầm ở ngay trên tuyến phòng thủ. Đối diện chiếc đồn là ngôi chợ nhỏ, hai bên đường nhà thường dân san sát vào nhau, phần lớn cửa đóng, người dân đã di cư về Bình Dương hay Sài Gòn. Có những danh từ nghe thoạt tiên rất vô nghĩa, nhưng nếu với hoàn cảnh, không khí thì thích hợp, những chữ nghĩa khô khan kia hóa nên linh động hẳn ra như một nốt nhạc. Ở đây, Bến Cỏ không thể có một tên gọi nào thích hợp bằng “phố chợ”, không thể gọi là quận lỵ, thị trấn, cũng không hẳn là một cứ điểm đúng nghĩa danh từ quân sự… Một tiểu đoàn lính bao một đám dân, con đường, ngôi chợ, hai dãy nhà cửa, cây bàng xanh tươi bóng mát, vài quán hàng bán những thức lặt vặt. Bến Cỏ không có nét trẻ trung, vui vẻ của những phiên chợ thôn quê, đây không khí tang thương, khắc khoải như một bệnh nhân bị gậm mòn dần bởi chứng nan y. Chúng tôi ra đóng quân ở phía đông của cứ điểm. Những buổi sáng lính thường vào uống cà-phê ở chiếc quán dưới gốc cây bàng, những người lính ngồi đối diện với nhau lặng lẽ. Con đường vắng hoe lác đác dăm chiếc lá khô, điểm sinh động duy nhất là quán hủ tiếu của một người Tàu. Người Trung Hoa trong hoàn cảnh nào cũng đứng đầu bởi sức chịu đựng, nhưng người Việt cũng đâu kém. Chúng tôi đóng quân được hai ngày, tình hình im lặng, im lặng ngột ngạt trước trận đánh. Cứ điểm đã bị bao vây suốt sáu tháng, quân số phòng thủ của tiểu đoàn Biệt động quân bây giờ chỉ còn hơn hai trăm. Việt Cộng đào hào thông hào đến sát hàng rào phòng thủ, chúng không tấn công chỉ bắc loa chửi, bắn sẻ, pháo kích… Chiến thuật này đã làm tiêu hao quân số của đơn vị bạn. Cách hay nhất là đề phòng, nhưng ai có thể kéo dài tình trạng đề phòng trong sáu tháng. Ngồi uống nước, nghe tiếng súng cối cuả địch, nhảy xuống hố không kịp thế là bị thương. Gác ở chòi canh, tuần tiễu ra khỏi hàng rào một trăm thước, khinh binh coi như đã treo đời mình trên một đường dây mỏng manh. Giao thông hào đào sát vào con đường từ đồn đi ra, tỏa chi chít khắp nơi, kín đáo chắc chắn. Người khinh binh làm sao biết được mũi súng ở hướng nào nhắm vào mình! Sáu tháng, những người lính Biệt động quân bây giờ trở nên dửng dưng, họ đã đến chót cùng chịu đựng. Ngay đến chúng tôi, những người mới tới, bằng bao nhiêu cẩn thận cũng không tránh khỏi thiệt hại. Đang nói chuyện với nhau trong vòng phòng thủ, một viên đạn bất chợt bay đến, binh nhất Phòng của đại đội 72 ngã xuống chết không ngờ. Viên đạn xuyên thủng bàng quang chấm dứt đời kẻ bạc phước trong vòng một phút. Từ chỗ đóng quân vào chợ, đoạn đường không quá ba trăm thước, nhưng cũng không an toàn. Bất cứ lúc nào, khi toán giữ đường không cẩn thận là có kẻ ngã gục bị bắn sẻ. Việt cộng rình rập chúng tôi – đêm nay? ngày mai? – Chúng tôi chờ đợi phút hồi hộp đó. Đóng quân được bốn ngày, chúng tôi nhận được lệnh rút ra ngã Củ Chi, vẫn lấy con đường liên tỉnh 15 làm chuẩn, tiểu đoàn chúng tôi đi bên phải, tiểu đoàn bộ binh đi bên trái. Lộ trình rút ra xuyên qua khu đồn điền cao su Fihoc, hành lang xâm nhập vào mật khu Hố Bò. Chúng tôi không biết những người bạn Biệt động sẽ ra sao, họ ở lại chờ một tiểu đoàn khác đến thay thế, hay tiếp tục để nhận một cái chết mòn mỏi chậm chạp? Có thể các vị chỉ huy ở cấp lớn đã nghĩ rằng: Chúng tôi đã có mặt bên ngoài trong bốn ngày vô sự vậy là áp lực địch được giải toả, bây giờ họ đang có những vấn đề to lớn khác cần phải giải quyết ở Sài Gòn trong đường Trần Quốc Tỏan, ở Đài phát thanh. Thôi, tiểu đoàn Biệt động quân, các bạn hãy ở lại và tiếp tục như sáu tháng đã qua. Sáu tháng chỉ thèm một cục nước đá, phần đời của các bạn như vậy đã được định. Tôi nghĩ đến chiếc bánh mì và nải chuối cuả một mụ nạ giòng đem đến tặng cho lính ở Đài phát thanh để tri ân quân đội giúp đỡ đạo pháp…
Bảy giờ, hai tiểu đoàn song song rút ra. Đại đội tôi cùng đại đội 73 đi đầu tiểu đoàn. Đại đội 73 đi phía tay mặt tôi, Toàn “đen” dẫn đầu, tôi nói với Đỗ, anh chàng “Eddie Constantin”:

  • Thằng Toàn đi đầu thế nào cũng đụng.
    Có thể lắm, mặt nó có cô hồn… Vừa di chuyển được ba mươi thước một loạt đạn nổ ròn rã trước mặt. Hạ sĩ Thặng khinh binh đi trước tôi ngã xuống, hai viên đạn bẻ gãy khẩu AR 15 đồng thời làm cườm tay anh gãy đôi. Việt cộng thật ra nhắm vào tôi vì cầm tấm bản đồ, nhưng Thặng vừa qua mặt nên lãnh lấy, hai viên đạn đáng lẽ ra đâm thủng cơ thể tôi… Một thoáng rùng mình, đạn bắn thấp, nếu không gãy chân thì cũng thủng bàng quang. Tôi nhớ đến cái chết của thằng Phòng hai ngày trước, chút xíu nữa thì mạng tôi cũng xong rồi! Vết thương của Thặng không nặng lắm, cây súng đã đỡ lấy hai viên đạn, cả anh và tôi đều may mắn. Tăng Màn Tài, trung đội phó khẽ nói với tôi:
  • Thiếu uý, hôm nay đụng a, sáng nay tôi nấu cơm không chín.
    Tôi cười không nói, nhưng lòng đầy lo ngại… Cánh quân chúng tôi và bộ binh tiếp tục di chuyển về phía Bến Mương. Mười giờ – binh nhất Niên – khinh binh đi trước tôi đột nhiên nhảy hẳn qua một bên, bắn một loạt súng…
  • Cái gì vậy?
  • Thiếu uý, em thấy trước mặt có người!
  • Việt cộng đó, coi chừng.
    Buổi sáng lúc xuất quân đã có người dân đến báo: Việt cộng ở khu rừng cao su rất đông, đào hầm để đợi chúng tôi. Tiểu đoàn trưởng quyết định chấp nhận trận đánh, cả chúng tôi và bộ binh đều sẵn sàng tác xạ khi di chuyển. Niên hét lớn:
  • Đưa tay lên, tiến tới.
    Trong lá xanh hiện ra một người mặc quân phục màu xanh đeo ba-lô mặt mày ngơ ngác. Y là một binh sĩ của tiểu đoàn bộ binh, chúng tôi không biết tại sao anh ta đi lạc và không có súng. Chúng tôi giao cho ban 2 tiểu đoàn để điều tra. Chính trong những giờ phút dừng lại để bắt giữ người lính kia, sau này tôi mới biết đã cứu mạng cho toàn thể trung đội tôi. Vì trong khi chúng tôi dừng lại, đại đội 73 phía tay phải vẫn tiến tới để bắt gặp con đường mòn cách đó trăm thước và chính trong lúc này thì trận đánh bắt đầu, phía tiểu đoàn bộ binh và đại đội 73 súng đại liên nổ ròn rã không dứt, chúng tôi vội vã dàn hàng ngang chờ đợi.
    Đạn bay trong không khí về phía chúng tôi, lá cao su trên đầu bị bắn tung bay xào xạc, đạn ghim vào thân cây nghe phầm phập, có tiếng hô xung phong nhưng không thấy bóng dáng của địch. Đại đội trưởng tôi hét lớn trong máy:
  • Bên bộ binh và 73 đều đụng nặng, anh có chịu nổi không?
  • Báo cáo tôi vô sự.
  • Coi chừng, tụi nó đánh độn thổ! Bộ binh bị phục kích rồi đấy.
    Mười lăm phút sau, đại đội 73 từ bên cánh phải rút về phía chúng tôi. Toàn bị thương, người nhăn nhó đau đớn, hắn phều phào…
  • Mày coi chừng, tụi nó sắp xung phong vào đấy.
  • Tao đâu có thấy gì?
    Một rừng lá cây chuyển động trước mặt, vài bóng dáng áo đen thấp thoáng. Trung đội tôi và Kỳ đồng loạt khai hỏa, năm mươi cây súng bắn ra một lượt, khói hơi thuốc súng bay nồng nặc. Chúng tôi tiến quân từ từ lên sau mỗi đợt tác xạ. Tôi giật nẩy mình, một hàng giao thông hào mới đào, lá cây ngụy trang còn xanh tươi, vỏ đạn rơi đầy ở trên mỗi miệng hầm, đúng là một phép mầu… Việt cộng đã đào hầm hố để phục kích chúng tôi, may nhờ người lính bị bắt nên trung đội tôi đã dừng lại và vô tình tránh được cái bẫy đang chờ. Bây giờ mới hiểu tại sao có loạt đạn bắn về phía chúng tôi nhưng không có địch xuất hiện. Việt cộng sau khi đã chận đầu tiểu đoàn bộ binh và chúng tôi, vòng ra đàng sau đánh tạt vào hông phải của tiểu đoàn nơi đại đội chỉ huy và 74. Mặt trước của chúng tôi và 73 tạm yên, tôi cho lính chiếm hết dãy giao thông hào, một vài xác Việt cộng chết trong vị thế đang chạy, họ thuộc lính chính quy trang bị đầy đủ súng đạn nhưng không mang gạo. Đúng là tụi nó sửa soạn sẵn để đợi chúng mình… Lính xì xào bàn tán. Phía sau chúng tôi bây giờ súng nổ mạnh, 57 của tiểu đoàn bắn ra liên tiếp, đạn nổ tiếp theo liền tiếng départ chứng tỏ địch rất gần hàng quân. Tôi nghe rõ tiếng hô xung phong của hai bên chen lẫn tiếng chửi thề… Toàn từ dưới chạy lên…
  • Mẹ kiếp, bị thương nằm cũng không yên, tụi nó tới sát rồi mày ạ!
  • Ông xui quá ông ơi, đi đâu là đụng đó. Ông tới chỗ nào cũng có máu chảy…
  • Mẹ mày – Nó chửi thề phản đối.
    Đúng như vậy, đi chiến đấu mới thấy có may rủi không lường. Có những cái chết thật gần, nhưng tránh khỏi, đồng thời có những cái chết thật bất ngờ, tự nhiên đến không dấu hiệu. Tôi đâm tin vào định mệnh, về một sức mạnh siêu hình chi phối đời sống con người. Như cái chết của thằng Phòng hai ngày trước. Buổi chiều chúng tôi đang ngồi nói chuyện gẫu với nhau, nó từ đâu lại ngồi đối diện với tôi. Chính ngay lúc đó, một viên đạn vu vơ từ ngoài hành rào phòng thủ bắn vào, nó chết trong khi đang mở miệng định nói. Cái chết ấy đã làm tôi thấy rõ đời sống nhỏ nhoi, bèo bọt của kiếp người. Sống đó, chết đó, nào ai biết… Cũng như trường hợp hôm nay, nếu không bắt gặp người lính bộ binh, chắc chắn tôi và hai khinh binh đi đầu sẽ hứng hết đoạn đạn đầu tiên khi địch khai hỏa. Và nếu tôi có chết đi, thì có gì thay đổi? Tôi không có gia đình, không thân thích. Cái chết chỉ là bọt sóng nhỏ vỡ tan trong đại dương…
    Địch định cắt đôi tiểu đoàn chúng tôi, nên chúng tấn công thật mãnh liệt vào đoạn giữa, đại đội chỉ huy phải chống lại vô cùng vất vả, 74 đi chót lại bị cầm chân nên không thể kéo lên gỉai toả áp lực địch được. Tiểu đoàn trưởng phải gọi pháo binh bắn thật gần tuyến chiến đấu… Gunship được gọi đến tăng cường. Đại uý Ánh, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn trong khi đứng quan sát để hướng dẫn phi cơ bị một viên đạn vỡ tan lồng ngực. Tin ông chết làm mọi người bàng hoàng, ông được cảm tình của hầu hết mọi người vì tánh tình hòa nhã, riêng tôi, những lần trước khi phải trình diện tiểu đoàn trửơng để nhận lệnh phạt thường phải gặp ông, trong những giây phút nặng nề đó, lời nói nhẹ nhàng của ông như một an ủi làm nhẹ đi nhiều phiền muộn. Tôi không biết ông nhiều, nhưng nhớ đến những buổi chiều, ông đứng ở bờ sông Biên Hòa trông cô đơn và lặng lẽ lạ lùng. Đại tá Tư lệnh và Bác sĩ Y sĩ trưởng sư đoàn đáp máy bay xuống trận địa còn nồng mùi thuốc súng. Tôi thấy nét mặt cuả bác sĩ Của cau hẳn lại khi ông đến gần xác đại uý Ánh. Tiểu đoàn tiếp tục di chuyển đến cầu Bến Mương bên kia là bãi nhảy Củ Chi, cầu bị sập binh sĩ phải qua từng người một. Trung đội tôi ở lại cuối cùng để bảo vệ tiểu đoàn qua cầu. Trời ngã về chiều và khi chúng tôi nhận được lệnh rút đi thì địch từ mé làng xung quanh bắt đầu bắn ra. Những viên đạn đỏ vạch từng đường đài trong bầu trời thẫm màu, biết chắc rằng chúng chỉ bắn phá quấy chứ không thể tấn công vào chúng tôi được. Khẩu đại liên của trung đội qua cầu được đặt trên một mô đất nhắm về phía làng, cứ chỗ nào nháng lưả là người xạ thủ bắn lại phía đó. Trận đánh như trò chơi, Việt cộng trong làng chõ loa ra chưỉ bới, tôi đứng trên mô đất khum tay làm loa chửi lại. May mắn trong suốt cuộc hành quân làm tôi tin tửơng vào mình hơn bao giờ hết. Quả thật vậy, khi trung đội qua hết con suối trời tối hẳn, Việt cộng từ trong làng chạy ra lố nhố… Chúng tôi vừa bắn vừa chạy lùi về phía Củ Chi. Bãi nhảy dù bát ngát phủ đầy lá đậu phọng, trung đội chạy nhanh để đuổi kịp toán quân đi đầu, ai nấy đều vui vẻ vì cho rằng đã được may mắn. Khi ra đến đường ba người lính trút ba-lô ra, ba-lô bị đạn xuyên thủng lỗ chỗ.
  • Đ.m hên đếch chịu được, đạn trúng giờ nào mà không hay!
  • Nhờ cái hên của ông thiếu uý đó mày.
    Tôi leo lên xe ngồi, trời tối đen ở bên ngoài, trong lòng xe muỗi vo ve nhưng không buồn cử động để đuổi đi. Đời sống người lính qủa thật tội nghiệp, trong tận cùng nguy biến họ luôn tạo cho mình hy vọng dựa vào một may mắn mỏng manh… Bao giờ hết may mắn đó sự chết ắt gần kề chạm phải. Đời sống của chúng tôi đó, trên biên giới sự sống, cái chết.

Tháng 9-1964. Bến Cỏ, Bình Dương

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com
Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 27 Nov 2024

Phần 5
Trong Cơn Bi Phẫn
Hai gã thiếu niên đi hàng đầu căng biểu ngữ: “Hoan hô Quân đội”. Hai gã khác mang một biểu ngữ màu vàng: “Cương quyết bảo vệ Đạo pháp”. Đám đông ước khỏang hơn trăm người, phần đông là thanh thiếu niên dưới hai mươi tuổi một số ít đàn bà lớn tuổi, thấp thoáng vài chiếc áo vàng. Trung đội tôi dàn hàng ngang ở ngã ba Trần Quốc Toản – Cao Thắng, đợi đám đông tiến tới. Cách chúng tôi khỏang trăm thước, đám biểu tình dừng lại, một tên trẻ tuổi tách ra khỏi đám đông, tay cầm một lá cờ Phật Giáo tiến về phía chúng tôi, gã bắt đầu nói… Tôi không nghe rõ, chỉ loáng thoáng mấy danh từ: Độc tài, đạo pháp, dân chủ hỗn độn va chạm nhau… Xong, gã nâng cao lá cờ… Đám đông hoan hô ầm ĩ, im lặng trơ trẽn đè nặng. Gã thiếu niên nói tiếp thêm một hồi. Một chiếc áo vàng từ trong đám đông tách ra đến đứng cạnh. Tay ông tu sĩ có chiếc cờ nhỏ, y nâng cao, hai tay dang rộng hình chữ V, kiểu võ sĩ lên đài chào khán gỉa… Tôi không nghe được lời ông ta nói gì, vì chú ý đến đám đông. Bọn thanh niên biểu tình phần đông mang dép, quần ống hẹp, áo bỏ ngoài, hai ba gã đứng hàng đầu tóc dài xùm xụp, mồm đang nhai bánh mì, có một vài ả con gái tay còn ôm cặp, ý hẳn đang đi học… Nhưng linh động hơn hết là hai chị đàn bà, quần đen áo bông, lồng lộn xỉa xói mỗi tay cầm một chiếc gậy, một ả đang chửi ngừng lại, chạy vào cái máy nước uống một hơi xong lại nhảy ra tiếp tục tru tréo…

Một chiếc xe cảnh sát màu xanh đỗ ở sau lưng chúng tôi, tiếp theo hai GMC chở đầy cảnh sát dã chiến. Chúng tôi lùi đàng sau, nhường chỗ cho cảnh sát, những chuyên viên chống biểu tình dàn đội hình mau lẹ, máy phóng thanh kêu gọi đám đông giải tán. Có tiếng la ó đả đảo từ đám đông, một vài người bắt đầu ném gạch đá. Lời kêu gọi chót không thành, cảnh sát dã chiến tấn công, gạch đá, khói lựu đạn cay bốc lên. Cảnh sát dã chiến tiến tới, đám biểu tình lui lại rút về Viện Hóa Đạo cố thủ. Trên đường vắng lăn lóc hỗn độn guốc, cặp, nón lá, dép, trơ trẽn và buồn cười. Toán CSDC lên xe rút đi, nhường lại khỏang đường cho chúng tôi, hàng rào kẽm gai mới được thành lập ngay trước cổng Viện Hóa Đạo. Chúng tôi dàn hàng ngang đứng trong nắng, gió và chuỗi giông bão chửi rủa phẫn nộ của bọn người đứng sau hàng rào kẽm gai. Một tên mặt choắt như mặt chuột chỉ tay vào tôi:

  • Đ.m… mày ăn tiền của Mỹ bao nhiêu? Tụi mày nếu chết không có địa ngục nào trừng phạt cho hết, cha mẹ mày cho ăn học để mày đem đạn súng giết thầy!!

Máu nóng bốc lên muốn nổ tung trí não, tôi đưa tay vào túi nơi đựng băng đạn vừa tháo ra khỏi súng, ước gì tôi có được một liều lĩnh. Nó sẽ chết… Nhưng khi tay chạm phải thỏi kim khí mát lạnh đó, tôi thả ra, vì bây giờ, nếu phẫn nộ được bùng cháy, thì không phải riêng tôi mà một trung đội hai mươi bốn người cũng sẽ bùng lên như ngọn đuốc. Chúng tôi chưa kịp rửa đôi giày lấm bùn của chiến trận ngày hôm qua, áo quần mặt mũi còn nguyên dấu vết của bốn ngày hành quân. Vết cháy ở áo thằng Ty tải đạn trung liên, máu ở mặt thằng Thái và tôi, gã trai trẻ nuôi dưỡng thật nhiều hiền hòa trong lòng, ngày hôm qua vừa được chứng kiến những cái chết tức tưởi của một gia đình. Chỉ mới ngày hôm qua. Không thể được, tôi phải nén xuống, phải cất dấu hết giận dữ đang bùng lên như giông bão. Thôi, đi lính để còn lãnh chịu đựng. Nỗi chịu đựng không bờ bến.

Đoàn biểu tình lại ùa ra, bây giờ dẫn đầu bởi một tu sĩ mang kiếng mát màu xanh nhạt. Đến trước chúng tôi, ông ta ngồi xuống niệm Phật, đám đông làm theo, phần đông không ngồi kiết già được, phải ngồi chồm hổm. Tôi gặp lại tên ăn bánh mì lúc nãy, một tay chấp lên ngực, tay kia đưa mồm để gỡ mẩu bánh dính ở kẽ răng!!! Tụng kinh xong, ông tu sĩ đứng dậy đến sát bên tôi yêu cầu mở lối cho đám biểu tình. Tôi lắc đầu. Ông ta năn nỉ. Không được. Mấy bà già người Bắc van xin kêu la khóc lóc, chửi bới để phụ họa… Đàng sau chiếc mặt nạ chống hơi ngạt, tôi nghĩ thầm: Nếu được giết người trong một lần ở trong đời, tôi sẽ chọn lúc này. Đám đông chửi bới bằng những tiếng tục tằn thô lỗ nhất chen với tiếng niệm Phật… Danh hiệu của Đức Thích Ca chen lẫn với rác rưởi của trần gian. Ôi khốn khổ cho tôn giáo của tôi. Tôi nhớ cái chết tự thiêu của bà chị ở Ninh Hòa. Ai bóp nghẹt hơi thở tôi lúc này. Đám đông bắt đầu hỗn loạn muốn đè bẹp lên chúng tôi, một viên đá từ đám đông bay đến đánh mạnh vào ngực của Hạ sĩ Long, tên này la lên một tiếng đau đớn – bất ngờ – hắn đánh báng súng vào ngay mặt một gã thiếu niên đang nhảy choi choi trước mặt. Tôi ném liền trái lựu đạn khói, cơn phẫn nộ bị nén suốt ngày bùng lên như lửa đỏ, báng súng carbine đả ngang một vòng trước mặt, có tiếng rú đau đớn. Tôi la lớn… Đánh nữa, đánh cho chết. Một báng súng ngược lại… Xương người chạm vào chất gỗ cứng vỡ dòn trong một niềm thỏa thuê. Trung đội tôi như trong cơn điên của thù hận và phẫn nộ, những người lính lao vào trong đám đông… Tôi ném thêm một qủa lựu đạn khói. Chạy! Chúng tôi chạy ngược về phía ngã ba Cao Thắng, Trần Quốc Tỏan, khi về đến chỗ đại đội, cởi chiếc mặt nạ… Mắt tôi đỏ hoe, tôi khóc hay lựu đạn làm chảy nước mắt. Ai biết được, nhưng lòng tôi đang là một biển buồn phiền. Làm sao tôi biết được trong ngày mãn khóa, đời sống sẵn dành cho người lính ngần này tàn bạo và tủi hổ; nhìn lại những người lính chung quanh, bây giờ họ thật gần gũi, thân thiết. Sau chiến tranh, người lính thấy lạ với hết mọi người của đời sống bên ngoài, họ chỉ còn ngục tù tự nguyện của tập thể để làm thế giới cho tâm hồn phá sản. Tôi đã cột chặt vào thế giới hung bạo, phiền muộn này, tôi đã thành một người lính, nêm cứng với những người lính khác…

  • Thiếu uý cho em chạy về nhà một lát – Một người lính trong trung đội đến gần tôi nói nhỏ.
  • Lúc này biểu tình lộn xộn, đi đường có việc gì làm sao tìm ra được.
  • Không có đâu thiếu uý, nghe radio “nhạc đảo chánh” là em biết liền.
  • Ừ, khi nào có “nhạc đảo chánh” thì về.

Tháng 9-1964. Sài Gòn.

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 27 Nov 2024

Phần 2 – Quê nhà

  1. Chặng Đường Cuối
    Cả hai người đều ăn mặc quần áo bộ đội. Một anh trẻ tuổi và một gã trung niên. Anh trẻ tuổi, mới chạc khoảng ngoài hai mươi, đầu hớt ngắn, chải gọn ghẽ, quần áo phẳng phiu, mầu nhuộm của vải kaki còn nguyên vẹn nước hồ mới. Trên người anh chỉ có ngôi sao quân hàm là cũ kỹ, đã bong sơn, ngôi sao màu đỏ chói gắn ở hai bên trên ve cổ áo.
    Gã trung niên thì có vẻ xuề xòa hơn. Quần màu xanh đậm, áo mầu lá úa, cả hai đều đã bạc mầu. Gã không đeo một loại quân hàm nào cả nhưng cử chỉ lại đủng đỉnh, chững chạc hơn là cái anh trẻ trẻ kia nhỉều. Ông chủ quán cà phê đang ngồi ngáp vặt bên chiếc tủ kính cũ kỹ đựng những bao thuốc lá bán lẻ, thấy hai người bước vào vội vã đon đả:
  • Chào Thiếu Tướng. Mời Thiếu Tướng vô uống cà phê.
    Gã trung niên đột nhiên phá lên cười. Gã quay ngay sang người bạn đồng hành, giơ tay vỗ lên lưng anh ta nghe bồm bộp rồi nói:
  • Sướng nhé! Thế là từ sáng, cậu được phong lên Tướng cả thẩy ba lần rồi.
    Mặt ông chủ quán nghệt ra. Ông ta ngó một lúc cả hai người với một vẻ vừa bỡ ngỡ vừa sượng sùng. Gã trung niên lên tiếng giải thich:
  • Quân hàm của chúng tôi không giống bọn ngụy quân, ngụy quyền đâu. Các đồng chí trong Quân Đội Nhân Dân ở cấp binh nhì mang một sao, binh nhất hai sao. Hạ sĩ quan thì vừa có sao vừa có vạch. Cấp sĩ quan thì chỉ có vạch mà thôi. Một vạch là Thiếu Úy, hai vạch là Trung Úy, ba vạch là Thượng Úy….
    Ông Hưng, chủ quán làm bộ ngạc nhiên:
  • Ủa! Lại có cả chức Thượng Úy nữa cơ à.
    Bây giờ thì tiếng anh binh nhì đeo ngôi sao đỏ lên tiếng giải thích:
  • Có chứ. Thượng rồi mới lên Đại. Thượng Úy rồi mới lên Đại Úy. Thượng Tá rồi mới lên Đại Tá.
    Ông Hưng giả bộ lè lưỡi:
    -Thế thì leo lên được tới chức Đại Tá Quân Đội Nhân dân cũng mệt lắm nhỉ!
    Anh binh nhì quay sang nhìn gã trung niên rồi cất giọng nịnh khéo:
  • Sao lại không mệt ! Chả nói gì xa xôi, nội cứ leo lên được tới quân hàm Đại úy của Thủ Trưởng tôi đây thì chiến công phải đã nhớ không hết rồi.
    Ông Hưng lại “à” lên một tiếng nữa rồi quay sang phía gã trung niên đổi giọng trịnh trọng:
  • Thưa chào Đại Úy!
    Mặt gã trung niên hơi thoáng một vẻ hài lòng. Gã chọn một cái ghế thấp sát vách, ngồi quay mặt ra phía ngoài để có thể dòm chừng luôn được cả hai cái xe đạp dựng ở ngay bên ngưỡng cửa ra vào. Có đủ loại đồ đạc lỉnh kỉnh cột chung quanh hai cái xe đó, nào khung xe, nào vành bánh, nào túi gói, nào tay nải. Đó là chưa kể hai cái ba lô to kềnh mà cả hai người đã ngả xuống dựa nó vô vách gỗ. Trong lúc lúi húi pha cà phê, ông Hưng có ý lắng nghe câu chuyện trao đổi giữa hai người:
  • Kỳ này về mà đời sống không cải thiện, Thủ trưởng dời vào trong này đi.
  • Để coi sao đã !
  • Bên địa phương của Thủ Trưởng thế nào thì không biết, chứ ở nhiều nơi, bộ đội phục viên rồi chẳng được phân biệt đối xử gì hết.
    Rồi vẫn cái giọng của anh trẻ trẻ:
    -Thủ trưởng có nhớ Trung Úy Lộc bên quân khu Bảy không? Giải ngũ hơn ba năm nay rồi bây giờ đứng bán quần áo cũ ở chợ trời. Dân buôn chui chính tông đấy.
    Gã Đại Úy thốt lên:
  • Thằng ấy nhảm!
  • Làm sao hơn được. Chiến công, thành tích đâu có liên hệ gì tới sản xuất. Muốn sản xuất thì phải có tay nghề. Đi lính mười năm, toàn bắn súng, tay nghề ở đâu ra?
  • Thì cũng phải có công việc văn phòng dành cho các đồng chí ấy chứ. Trong lãnh vực điều hành, có thiếu gì cương vị chỉ cần có mỗi một bộ óc suy nghĩ, xếp đặt mọi công việc hợp lý theo khoa học kỹ thuật.
    Tiếng anh lính trẻ cười rích lên:
  • Những chỗ như thế mà còn chen được chân vào, em xin đi bằng đầu.
  • Chú đừng lo ! Đất nước mình đã hòa bình, thống nhất rồi. Có bao nhiêu là lãnh vực mới sẽ mở ra thu hút các loại lực lượng lao động. Chỉ sợ mình không đủ nhận thức để cung ứng hết mà thôi.
    Anh lính trẻ đổi giọng an ủi:
  • Thì em cũng tin tưởng như vậy. Mấy năm trước khác, còn bây giờ có khác. Với lại những người có khả năng như Thủ trưởng, thiếu gì nơi cần dùng. Bỏ rẻ ra Thủ trưởng cũng được giao trách vụ Chủ nhiệm một cái Hợp Tác Xã.
  • Chủ nhiệm Hợp Tác xã thì chẳng tới phiên mình đâu. Nhưng làm gì trong Hợp Tác Xã cũng được. Tôi thích cái không khí thoải mái ở Hợp Tác xã hơn là ngồi ở các cơ quan.
  • Thế thì mèng ra Thủ trưởng cũng phải là Bí Thư Chi Bộ. Có được chỗ tốt rồi, Thủ trưởng cũng nên tính chuyện lập lại gia đình đi thôi….
    Buột miệng xong câu nói, anh lính trẻ biết mình lỡ lời nên vội vàng im thít lại. Vẻ mặt của anh thoáng một nét sợ hãi. Anh biết rõ Thủ trưởng của mình thù ghét những kẻ nào khơi lại hoàn cảnh gia đình bi đát mà ông ta đã trải qua. Khi bước chân ra đi, cả làng xóm tiễn chân linh đình. Người vợ trẻ sụt sùi trong chiếc khăn tay đẫm lệ. Ngoảnh đi ngoảnh lại, mới có vài năm, cô ả tót đi lấy một anh chồng khác, địa vị cao, nhiệm sở công tác tốt, đời sống thấy cải thiện hẳn ra. Chuyện này địa phương bưng bít mất mấy năm sau gã đàn ông mới hay biết.
    Nhưng ai làm gì được trong thời buổi chiến tranh này. May mà gã chưa có con. Gả chỉ còn có một bà mẹ già, bà mẹ mà gã đi lính hơn mười năm chưa có dịp gửi về tặng được lấy một mảnh vải để may áo, trừ những lá thư gửi về kể lể đủ loại chiến công. Hồi bị thương nằm ở quân y viện và bị cưa xoẹt mất hai ngón tay, gã vẫn mơ đến một ngày phục viên để về chăm lo cho mẹ. Bây giờ thì ước mơ ấy sắp hoàn thành. Chuyến về này là chặng chót của cuộc đời quân ngũ của gã. Gã cũng ký luôn cho anh lính trẻ một cái giấy nghỉ phép để chuyến ra có bạn đồng hành. Thằng nhỏ nhanh nhẩu dễ thương, học lực cũng quá tốt, lớp 10 rồi chớ đâu phải ít.
    Lúc bưng hai ly cà phê ra cho hai người, ông Hưng mới nhận ra bàn tay thiếu ngón của gã đàn ông trung niên. Gã không che đậy, không giấu giếm chỗ làn da bị rúm ró, sần sùi. Ở thời buổi này, thương tích là một thứ mà ai cũng muốn phô ra để chứng tỏ công lao đóng góp của mình. Nó cũng giống như những bà cán bộ mới ở rừng về, cố làm ra vẻ mệt mỏi hơn, lừ đừ hơn, trời chưa trở gió đã khoác một chiếc áo len mỏng, cộng thêm với chiếc khăn rằn ri quàng kín quanh cổ. Chỉ cần thoáng trông là ngườì ta như đã thấy hết được cả cái quá trình gian khổ chui rúc nhiều năm dưới hầm hố, ăn uống kham khổ, thiếu thốn, chịu đựng, cái hình ảnh này hoàn toàn tương phản với hình ảnh phây phây, nõn nà, tràn đầy sức sống của những thiếu nữ, phụ nữ Sài Gòn, những bà, những cô mà cho tới lúc này vẫn chưa biết mùi ăn độn là gì do hoàn cảnh kinh tế riêng tư vẫn còn phong phú, dồi dào.
    Thí dụ như Hồng là một. Hồng ào vào quán cà phê của ông Hưng mang theo một mùi nước hoa thơm ngào ngạt. Nước da của nàng trắng như trứng gà bóc. Nàng bận một chiếc quần lụa thâm óng ả và mềm đến độ mỗi lần cất bước, lớp lụa in rõ cả hình dáng đôi chân thon và dài. Chiếc áo cánh mầu mỡ gà, cổ thêu ren tỉ mỉ bó sát lấy thân hình tròn lẳn mang lại cho nàng một vẻ sinh lực hết sức tràn đầy, nhất là ở bộ ngực cao che giấu sau lớp áo phin mỏng được thêu thùa bằng những cánh hoa xếp đặt rất ỡm ờ, khéo léo.
    Nhận ra khách quen của mình, ông Hưng cất giọng đon đả:
  • Chào cô Hồng. Sao bữa nay khá không?
    Hồng trả lời lại câu hỏi bằng cách bưng mấy ngón tay thon dài có tô những móng lấp lánh ánh bạc kêu thành tiếng đánh “tách” một cái rồi nhoẻn một nụ cười. Hai hàm răng của nàng đều và trắng bóng. Mới chỉ biểu diễn có thế thôi nhưng Hồng đã thực sự làm ngây ngất tất cả mọi người hiện diện. Cổ họng gã trung niên tự nhiên se khô lại. Anh lính trẻ trẻ thì vừa giương tròn đôi mắt lén nhìn vừa đưa lưỡi ra liếm mép. Ông Hưng luống tuổi đến như thế mà ánh mắt lúc này cũng thấy đĩ hẳn ra. Ông cất tiếng hỏi:
  • Thuốc lá bữa rầy lên giá chút đỉnh. Có lấy không?
    Hồng lẳng lặng móc ở cái ví xinh xinh ra một cuồn giấy bạc và đặt lên bàn tờ giấy năm chục đồng còn mới tinh. Ông Hưng mở tủ tính lấy ra một gói Salem và thối lại năm đồng bạc lẻ.
    Chỉ thiếu một chút nữa là anh lính trẻ xuýt xoa bật lên thành lời. Hút một gói thuốc mà chi ra tới bốn mươii lăm đồng. Bốn mươi lăm đồng là chín tháng lương lính của anh. Không biết cái thứ thuốc lá này có nạm vàng, nạm bạc gì ở trong mà sao nó đắt thế. Lúc Hồng mở gói thuốc ra châm một điếu, mũi của anh lính trẻ hơi hỉnh lên. Anh cũng có ý hít thử xem cái khói thuốc đắt đỏ ấy thì mùi vị nó ra làm sao. Và anh tự nghỉ thơm thì có thơm thật nhưng đốt một cái nhấp nháy mà văng nguyên một lúc cả chín tháng lương thì vô lý quá. Còn Hồng thì như đo lường được cái mức độ ảnh hưởng về sự hiện diện của mình nên nàng cử động rất khoan thai, dềnh dàng. Vẻ mặt của nàng đầy chất tự mãn của một người đàn bà đẹp vẫn thường được tất cả mọi người chung quanh chiêm ngưỡng. Chợt ông Hưng lên tiếng giới thiệu một cách bâng quơ:
    -Đại Úy đây sắp về Bắc. Cô Hồng có món hàng gì mới giới thiệu được thì giới thiệu đi.
    Hồng được lời xoay mình hẳn lại phía đối diện hai người và nhìn gã trung niên với cặp mắt tìm hiểu đánh giá. Lúc gã ngẩng đầu lên thì Hồng liền nhoẻn một nụ cười. Rồi không chờ cho gã lên tiếng, Hồng tiến lại phía bàn gỗ thấp, kéo ngay một chiếc ngồi và vô đề một cách ngon ơ như mọi sự ở trên đời này đều ngon ơ dễ dàng như vậy cả:
  • A ! Anh Đại úy hả? Để tôi đề nghị với anh chuyện này kiếm ít tiền đem về Bắc xài chơi.
    Câu chuyện của nàng là một áp phe còn đang nóng hổi. Nàng nói là nàng có một người bạn buôn bán chung. Buôn bán cái gì nàng chẳng tiết lộ, nhưng chỉ biết cô bạn hàng mới buổi chiều hôm nay bị bọn Phường Đội Phường 10 hốt luôn cả hàng họ lẫn người đem về tạm giam ở trụ sở. Nàng cong cớn:
  • Tụi nó bắt oan con người ta. Lại đòi tịch thu cả hàng hóa. Cách mạng cách mung gì mà ăn hiếp bà con lao động theo kiểu đó. Lộng còn hơn mấy ông trời con nữa.
    Rồi nàng đề nghị:
  • Vụ này dễ ợt. Chỉ cần Đại úy ghé qua, nhận cô ta là em để xin thả về. “Chúng em” xin biếu Đại úy hai nghìn đem về Bắc mua quà cho các cháu.
    Anh lính trẻ nghe nói liền món tiền khổng lồ hai nghìn bạc thì chịu quá, cứ nhấp nhổm như muốn thúc giục Thủ Tướng của mình chơi càn một vố. Dính dấp vô vụ này bỏ rẻ ra anh ta cũng ké được vài ba trăm. Mà đâu có gì là khó. Mấy thằng Phường đội, thứ lính bán chính quy nom thấy quân hàm Đại úy là chết khiếp. Nói ngọt trước. Hù sau. Nhấp nhấy trong mười lăm phút sơi ngon hai nghìn, thật là tiền ở trên trời rơi xuống.
    Ấy thế mà gã Thủ Trưởng khờ khạo của hắn lại lắc đầu mới chết cha con nhà người ta chớ. Gã đàn ông trung niên nghe Hồng nói xong mới cất tiếng:
  • Tôi muốn giúp cô lắm nhưng không thể được đâu. Các đồng chí bên ấy nếu có phải bắt là họ có lý do chính đáng.
    Hồng nổi đóa lên, đổi giọng chanh chua ngay:
  • Chính đáng cái con mẹ gì. Người ta buôn bán thì cũng đổ mồ hôi sôi máu họng mới kiếm ra lời chớ đi ăn cướp của ai. Làm sao không dưng đi bắt cả người lẫn hàng họ của người ta.
    Nghĩ một giây rồi nàng tiếp:
    -Thôi dứt khoát ba nghìn đấy. Ba nghìn đem được nguyên vẹn cả người lẫn hàng trở về. Mà Đại úy có mất công khó gì đâu.
    Gã Đại Úy vẫn lắc đầu:
  • Không được! Tôi không thể dính dấp vô chuyện này được.
    Đến lúc này thì Hồng thực sự nổi giận. Nàng rít một hơi thuốc lá, thổi phà ngay về phía trước mặt làm cho làn khói bay tỏa ra mù mịt rồi đứng phắt dậy. Cử chỉ này làm cho anh lính trẻ tiếc ngơ ngẩn như rõ ràng nhìn thấy ba nghìn bạc vừa vuột ra khỏi bàn tay mình. Anh ta đâm tức mình với gã Đại úy. Lúc Hồng bước ra khỏi tiệm rồi, anh ta cất giọng bực tức, vẻ trọng nể lúc trước mất hẳn đi:
  • Chuyện nhỏ như thế sao mình không làm. Ba nghìn bạc chứ đâu có phải chuyện chơi.
    Gã Thủ trưởng nghiêm nét mặt lại:
  • Chú đừng có ham tiền mà mất cảnh giác. Chuyện chót lọt thì không sao, nhưng đổ bể ra là tiêu tùng sự nghiệp cách mạng.Tôi chả dại.
    Bầu không khí giữa hai người tự nhiên đâm ra nặng nề hẳn ra. Gã đàn ông thì xoay xoay ly cà phê đã nguội ngắt của mình và nghĩ đến chức vụ Bí Thư Chi Bộ trong một Hợp Tác Xã mà gã hy vọng khi trở về, cả làng xã sẽ mời gã đến để trịnh trọng đưa ra một lời đề bạt. Chiến công của gã, thương tích của gã với hàng xấp giấy ban khen chẳng là một vinh dự cho cả xã hay sao.
    Còn anh lính trẻ thì vẫn không quên được hình ảnh của một xấp tiền mới dẫn đến quá nhanh mà tan biến đi cũng hết sức dể dàng. Hắn rủa thầm trong lòng về sự ngờ nghệch của gã Thủ trưởng. Hắn nghĩ rằng cứ đi về làng xóm đi rồi biết bộ đội phục viên được đối xử ra sao. Có khả năng, có sức khỏe còn đỡ. Bị thương tích, bị tàn tật là thấy cuộc đời như cái mền rách ngay. Chế độ này là chế độ vắt chanh bỏ vỏ mà. Câu nói này không phải là của hắn nghĩ ra nhưng chính hắn đã nghe thấy hồi còn ở làng, chưa đi nhập ngũ.
    Một anh phế binh đã đứng ở cửa trụ sở cơ quan hành chính xã lớn tiếng thóa mạ như thế. Chẳng ai muốn phản ứng gì cả vì anh ta là một phế binh. Nhưng cũng chẳng ai có thể làm gì cho anh được khi mà tất cả cũng đang đều gặp khó khăn. Hình ảnh của anh vẫn còn như mới trong đầu óc của người lính trẻ. Và hắn nghĩ rằng rồi đây Thủ trưởng của hắn cũng gặp cùng một hoàn cảnh như thế mà thôi. Vậy mà có tới ba nghìn làm vốn liếng thủ cẳng, gã lại chê thì có tức không.
    Một lát sau, cả hai người đều đứng dậy. Gã đàn ông trung niên móc túi trả tiền cho nhà hàng. Đồng hồ mới chỉ gần chín giờ nhưng cả hai đều đồng ý nên ra ga sớm cho kịp chuyến tàu Thống Nhất khởi hành lúc mười giờ. Ông Hưng nói với theo một câu:
  • Chúc Đại Úy về Bắc bình yên nhé. Khi nào có dịp vô Nam nhớ ghé lại đây uống cà phê.
    Bóng dáng cồng kềnh của hai chiếc xe đạp chất đầy đồ đạc trong khoảnh khắc hòa lẫn vào khung cảnh ồn ào, đông đúc của thành phố. Ông Hưng quên ngay mọi chuyện vừa xẩy ra vì những nhân vật, những tâm tình, những hoàn cảnh tương tự như thế vẫn xẩy ra hàng ngày ở đây. Bóng dáng của cán bộ, bộ đội, hình ảnh của những chiếc xe đạp cũ kỹ, những chiếc ba lô, túi sà cột, những khuôn mặt xanh xao với nước da bì bì, tái tái, những chiếc áo cánh mầu trắng hay xanh lơ, chiếc quần thâm ngắn cũn cỡn và cái nón cối hay mũ tai bèo cùng những đôi dép râu hay dép xăng đan thô kệch, tất cả đã hòa vào vẻ nguy nga tráng lệ của thành phố này một cách gượng gạo khiến cho cảnh vật đều nhuộm một mầu sắc quen thuộc, cũ kỹ đến độ nhàm chán.
    Tuy nhiên, lâu lâu thì cũng có một vài biến cố bất ngờ, giống như một hòn sỏi nhỏ ném xuống mặt nước của một cái ao tù. Như trường hợp của gã đàn ông trung niên mang cấp bậc Đại úy là một thí dụ. Gã đang ở trên đường phục viên. Gã đang ươm một giấc mơ giản dị là sẽ được đề bạt một chân gì đó trong một Hợp Tác Xã để khởi đầu cho cuộc đời phục viên của gã. Và gần gũi nhất là niềm vui lần đầu được trao về tận tay bà mẹ già những món quà mà trước đó cả hàng chục năm, gã chưa có dịp mua được cho bà đến một vuông vải may áo.
    Vậy mà chỉ trong khoảnh khắc niềm vui và ước mơ của gã bỗng tan tành ra mây khói.
    Vào khoảng hơn mười giờ, tầu Thống Nhất đã khởi hành trước đó đã hơn hai mươi phút mà gã vẫn còn hiện diện trong thành phố này. Gã chạy đôn đáo đây đó như một thằng điên. Gã lớn tiếng mạt sát mấy cậu Công an bên Cục Đường Sắt hết lời. Gã chửi Mỹ chửi Ngụy như điên. Nhưng rồi rốt cục gã cũng lại phải phóng về tiệm cà phê của ông Hưng vừa nói vừa thở hổn hển:
  • Cô Hồng đâu? Cô Hồng đâu ?
    Ông Hưng ngạc nhiên nhìn thân hình tơi tả của gã. Quần áo thì xốc xếch. Đầu tóc thì rối bù. Vẻ mặt tái xanh tái xám một cách vô cùng thê thảm. Đến lúc gã la lối tiếp thêm thì ông Hưng mới vỡ lẽ ra:
  • Tiên sư nó! Tiên sư cả lò nhà chúng nó. Mới ngoảnh đi ngoảnh lại mà nó đã lấy mất cái xe đạp đầy hàng của tôi rồi. Thế có chết tôi không. Thế thì làm sao tôi dám vác mặt về thăm nhà, thăm mẹ tôi đây…Giời ơi là giời…
    Chỉ thiếu điều gã ta bật lên tiếng khóc. Gã cố giữ cho cơn nghẹn ngào khỏi trào ra khóe mắt. Tuy nhiên giọng của gã cũng đã thấy lạc đi, mất vẻ bình thường. Gã nói tiếp:
  • Ông làm ơn dẫn tôi đi gặp cô Hồng lúc nãy. Tôi bằng lòng đi bảo lãnh cho người bạn của Cô ấy ra. Phải kiếm ít tiền bù vào cái chỗ bị mất cắp chứ…
    Ông Hưng luôn mồm chép miệng về cơn sui sẻo của gã. Cấp này dân chúng đói khát nên lắm kẻ sinh làm càn. Nhất là ở nhà ga. Trộm cắp ở đó như rươi, có thiếu gì cảnh mấy anh bộ đội ngủ lại qua đêm để chờ giờ tầu chạy, sáng sớm ra bỗng thấy mình bị lột sạch!
    Ông Hưng hỏi:
  • Thế còn chuyến tàu Thống Nhất hôm nay ra sao?
  • Tôi bán vé lại cho người khác rồi!
  • Vậy là Đại úy còn thời giờ để sắp xếp công việc.Vào giờ này thì chịu không thể kiếm đâu ra được cô Hồng đâu. Mời Đại úy sáng mai trở lại. Tôi sẽ dẫn Đại úy ra chợ trời. Tôi biết chỗ của cô ấy hay lui tới với bạn hàng.
    Không có cách nào hơn, gã trung niên đành phải trở lại nhà ga. Đêm hôm đó, gã nằm ngủ ngoài trời để có dịp trằn trọc suy gẫm về con đường mà gã đã trải qua trong suốt bao nhiêu năm. Mọi sự đều hầu như trọn vẹn trừ sự mất mát một cô vợ trẻ và hai ngón của bàn tay trái.
    Bây giờ gã đang ở trên chặng đường cuối. Chặng ngắn ngủi nhất, chỉ dài không quá ba ngày tàu chạy, tưởng sẽ trôi qua dễ dàng nhất, ấy thế mà lại đẩy gã vào tình thế kẹt cứng. Suốt đêm gã đã ngủ một giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị. Có lúc gã thấy mình vẫn còn đang ở nhà, chưa biết mùi vị đời lính, bên cạnh gã vẫn còn nhí nhảnh tiếng nói của người vợ trẻ. Có lúc gã lại thấy hình ảnh của Hồng hiện ra choáng lộn che kín tất cả tâm tư, tình cảm của gã. Rồi gã lại thấy mình bị lột lon nhục nhã giữa bao nhiêu là con mắt châm chọc của bạn bè đồng ngũ.
    Khi tỉnh dậy, trời mới mờ mờ sáng. Gã ghé vô một quán cà phê ở đầu đường, ngồi nhâm nhi suy nghĩ về những việc sắp tới của mình. Cuối cùng gã tặc lưỡi đứng dậy. Chẳng có đồng chí nào có thể giúp được gã qua cơn khó khăn này. Gã đánh liều nhắm mắt mà đưa chân.
    Mãi tới gần xế trưa gã mới được ông Hưng dẫn tới gặp được Hồng. Nàng đang ngồi trên một chiếc ghế Salon bằng mây kê ở phía sau một căn hàng quán ở giữa khu chợ trời. Trước mặt nàng la liệt những bát và đĩa. Chắc nàng mới vừa ăn điểm tâm xong. Nàng vẫn giữ cái cốt cách đủng đỉnh ngày hôm qua. Khi hai người ghé vào, nàng không đứng dậy. Cũng chẳng có thêm lấy một chiếc ghế nữa để mời khách ngồi. Nàng không quan tâm đến chuyện đó mà chỉ mở bóp lấy ra thỏi son môi. Nàng vừa thoa son vừa nghe ông Hưng trình bày tự sự. Một lát, nàng nhìn gã đàn ông trung niên rồi buông lời chỏng lỏn:
  • Anh khờ bỏ mẹ! Cờ đến tay cho phất mà không chịu phất. Sáng hôm nay tụi Phường Đội nó giải con bé lên công an Thành rồi. Có họa ông Lê Duẩn nhà anh nhúng tay vào thì mới gỡ được!
    Gã đàn ông nghệt mặt hẳn ra. Thêm một lần thứ hai, niềm hy vọng của gã bị tan tành ra mây khói. Trông gã thất sắc một cách thiểu não. Cứ cung cách này thì đến một cái vé tàu ra Bắc gã cũng sẽ chẳng còn đủ tiền mà mua. Ông Hưng thấy thế thương hại vội nói vun vào:
  • Thì chẳng vụ này có vụ khác, cô thì thiếu gì cơ hội có thể giúp cho đồng chí ấy.
    Gã đàn ông cũng tiếp lời:
  • Tôi không cần gì nhiều. Chỉ mong kiếm cho đủ số bị lấy mất rồi trở về.
    Hồng lại nhìn gã từ đầu đến chân như đánh giá. Rồi nàng hỏi:
  • Giấy tờ anh còn đủ cả chứ ?
    Gã nhanh nhẩu gật đầu.
  • Đưa tôi coi!
    Thế là có một màn chớ trêu, một cô gái Ngụy mở ra kiểm soát đủ loại giấy tờ của một ông sĩ quan cách mạng đứng xớ rớ trước mặt. Vừa coi Hồng vừa tra hỏi như người thẩm vấn: “Cái này là giấy gì? Con dấu này ở đâu? Của ai? Cấp bậc gì? v…v…” Cuối cùng nàng buông một câu làm cho cả gã đàn ông lẫn ông Hưng thở phào nhẹ nhõm:
  • Được đấy ! Sẽ có việc cho anh làm. Vài ba vố dư tiền về Bắc tậu nhà.
    Sau lần gặp gỡ đó, hai người toan tính gì với nhau, ông Hưng không quan tâm tới. Ông trở về với quán cà phê bình dân của mình. Bẵng đi tới hơn hai tháng sau, bỗng nhiên ông gặp lại người khách có tuổi trung niên của mình. Gã ta trông trẻ người lại và linh động hoạt bát hẳn ra. Bộ quân phục bây giờ đã được thay thế bằng một cái quần Jean và chiếc áo sơ mi trắng toát. Chỉ còn có mỗi bên bàn tay trái với ba ngón tay là dấu tích cũ còn sót lại. Bây giờ gã đã lái được xe Honda đàng hoàng. Hồng ngồi vắt vẻo ở đàng sau. Trông nàng vẫn đầy vẻ kiêu sa một cách bệnh hoạn với điếu thuốc không ngừng cháy giữa những ngón tay thon dài có chải chuốt bằng lớp sơn mầu ánh bạc. Ông Hưng mỉm cười hỏi kháy:
  • Đủ tiền ra Bắc chưa, ông Đại úy?
    Gã đàn ông nhoẻn miệng cười không đáp. Làm sao gã có thể dám thổ lộ ra rằng đối tượng của gã theo đuổi bây giờ không chỉ còn là hai nghìn bạc ít ỏi mà chính là cô gái nõn nà đang đứng trước mặt. Một mục tiêu lúc nào cũng đẹp phây phây như thế hẳn sẽ còn cần nhiều khổ công để chinh phục. Đường về miền Bắc vì thế vẫn còn xa xôi, thăm thẳm mịt mù…..

California, tháng 12,1983

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 27 Nov 2024

Phần 2 – Quê nhà

  1. Một Chuyến Đi
    Giữa năm 1979, Quý nạp đơn xin một cái giấy phép về thăm gia đình ở Hà Nội. Đơn xin của Quý, ngoài sự kể khổ về hoàn cảnh xa cách mẹ ruột của mình vừa tròn 25 năm chưa có dịp gặp lại, Quý còn đính kèm một xấp hồ sơ để tăng cường lý do chính đáng xin đi thăm mẹ của mình:
  • Một tờ giấy của Hợp Tác Xã Tân Lập sản xuất mành mành trúc xuất khẩu, chứng nhận Quý hiện đang phục vụ tại cơ sở này với những lời nhận xét thuận lợi cho lý lịch của người được cấp. Tờ giấy này Quý “mua” của anh thư ký văn phòng thường trực Hợp Tác Xã với giá 50 đồng. Giấy in là thứ thật, con dấu cũng thật, chỉ có chữ ký là giả mạo và dĩ nhiên là không lưu trữ trong hồ sơ lưu.
  • Một bản sao tờ điện tín do chị của chàng đánh từ Hà Nội vào, nội dung vỏn vẹn có 5 chữ: Mẹ hấp hối – Ra ngay!
  • Một bản sao giấy nhập bệnh viện Hữu Nghị, của ai đó do chị của chàng gửi vào, nhưng Quý đã dùng mực tẩy hiệu Phương Mai bôi xóa tên cũ, điền tên của mẹ mình vô, thay đổi ngày tháng cho thích hợp, rồi photocopy lại, “y như thật”.
  • Một giấy bảo đảm hành vi chính trị cho em ruột của mình, do chính bà chị của chàng, một cán bộ công tác ở Khu Tập Thể Hoa Quả, đứng tên bảo lãnh, bên cạnh có triện son và chữ ký của Thủ Trưởng cơ quan nơi bà làm việc. Tờ giấy này là thứ thiệt, một trăm phần trăm không giả mạo, hoặc giả thử chị của Quý có dùng bùa phép gì để có được con dấu và chữ ký đó không thì Quý không được rõ.
  • Cuối cùng là tờ giấy phép được nghỉ hai tuần lễ với lý do về thăm mẹ do Chủ Tịch Hợp Tác Xã mành mành trúc cấp với hàng chữ in sẵn “yêu cầu các cơ quan, đoàn thể dành mọi sự dễ dàng cho đương sự trên đường di chuyển”. Tờ này dĩ nhiên cũng ma nốt, nhưng Quý chỉ phải trả thêm có hai mươi lăm đồng vì đã mua món thứ nhất (kể trên) với giá năm chục rồi. Mua nhiều, giá phải bớt là lẽ đương nhiên.
    Năm loại giấy tờ kể trên, kèm theo với lá đơn kể khổ cũng ngót nghét hai trang giấy kín mít những chữ, Quý đem nạp ở Trụ sở Công an Phường. Mất non nửa buổi xếp hàng chờ đợi, lúc tới phiên mình, đồng chí Công an ngồi ở bàn giấy liếc qua tập hồ sơ rồi phán gọn một câu:
  • Cái này đồng chí phải liên hệ với bên Công an khu vực trước đã. Khu vực trước, Phường sau. Cũng như Phường trước, Quận sau. Đó là thủ tục hành chánh.
    Thế là Quý lủi thủi xách hồ sơ ra về, lòng tự trách mình việc giản dị có thế mà nghĩ không ra! Chiều hôm đó, Quý tới văn phòng của đồng chí công an khu phố. Vừa may, anh ta đang sắp sửa chuẩn bị đi đâu đó. Quý làm bộ hớt hải:
  • Mẹ tôi hấp hối, tôi làm đơn xin phép về thăm. Xin đồng chí giúp giùm.Gã công an có vẻ mặt khó đăm đăm, nhìn Quý như đánh giá, rồi cầm xấp hồ sơ trên tay lật qua, lật lại xem xét. Tim của Quý đạp liên hồi, lòng cầu trời khấn Phật cho cái của ác ôn côn đồ này thò tay ký đại một phát cho nó xong. Nhưng mặt Quý nghệt ngay ra khi nghe gã ta buông sõng một câu:
  • Về lấy chữ ký của Tổ trưởng dân phố rồi hãy mang lên đây.
    Thiếu một chút nữa thì Quý vỗ đùi đến đét một cái để biểu lộ một cơn vừa sực tỉnh cơn mơ. Mẹ kiếp, có thế mà lại vẫn không nghĩ ra. Đầu mối của mọi sinh hoạt bây giờ là phải khởi đi từ thằng cha Tổ trưởng dân phố, không biết Quý lú lẫn thế nào mà quên béng ngay đi cái nhân vật hệ trọng đó. Thế là mất toi mất gần một ngày, vừa chầu chực, thấp thỏm vừa chẳng nên cơm cháo gì. Quý cuộn ngay sấp hồ sơ lại và tất tả đi ra. Tuy vô tình nhưng Quý đã biểu lộ trước mặt gã Công an khu vực cái thái độ bồn chồn lo lắng của một kẻ vừa nhận được tin hãi hùng: “Mẹ hấp hối. Ra ngay!”
    Đến chiều tối, Quý rình mãi mới thấy được lão Phong, Tổ trưởng dân phố đi đâu đó trở về. Trên tay lão còn cầm một chồng vở nom như vở học trò. Đó là những cuốn sổ ghi mua chất đốt gồm than, củi và dầu hôi của bà con trong phố gom lại. Như vậy là Quý biết tháng này dầu hôi vừa mới về. Mỗi đầu người trong gia đình được mua hai lít. Lão Phong có sáng kiến nếu là than, củi thì bà con tự động ra xếp hàng ở Hợp Tác Xã để mua cho phần mình. Nhưng còn dầu hôi, lão đề nghị tập trung tất cả sổ chất đốt lại để lão đi mua giùm một lần rồỉ đem về phân phối cho từng hộ. Bà con hoan nghênh hết mình vì đỡ được cái “khâu” xếp hàng dài thòng, chen lấn, cãi lộn ở ngoài Hợp Tác Xã mỗi khi có dầu về. Nay thì chỉ còn xách chai đến nhà ông Tổ trưởng dân phố để lãnh nữa thôi, bề gì thì cũng nhàn hạ hơn.
    Thành ra khi tới ngày phân phối dầu, nhà của lão Phong chật ních những người. Bà con đứng ngồi lển nghển từ nhà trong ra hè, từ hè ra sân, từ sân ra ngõ. Được cái bà con quen nhau cả nên không có màn chen lấn. Có dịp ngồi chung với nhau một cách không phải chính thức như đi hội họp, mọi người thi nhau “phát biểu”, chuyện nở như gạo rang, toan là thứ chuyện như nhà ai đi rồi, nhà ai đi bị đổ bể, chuyện đóng tiền, chuyện mua thuyền, mua máy nói gần như công khai.
    Chỉ có bên trong căn nhà của lão Phong là mới thấy có tiếng cãi cọ xảy ra. Bà này than chai dầu đong vơi, bà kia đòi đong thêm chút đỉnh nữa và trong cái đám ồn ào đó, tiếng của lão Phong la to hơn hết. Lão luôn mồm cằn nhằn đứa con gái lớn là mắt mũi cứ trợn ngược lên, không chú ý vào việc đong dầu để nó sánh ra, “mất mẹ nó mấy lon thì đem đầu lâu của tao ra mà thường à!”
    Tuy bị mắng nhiếc như thế, nhưng phải nhận rằng con gái của lão rất khéo tay. Dầu lãnh ở Hợp Tác Xã chất đốt theo sổ sách thì đủ số, nhưng lần nào sau khi phân phối xong xuôi, lão Phong cũng dư ra được cả chục lít, có khi hơn. Đó là lý do lão tình nguyện đi lãnh dầu về cho bà con, chẳng quản ngại vất vả, khiêng vác và “cái nhà thì bầy hầy ra sau mỗi lần phân phối xong một đợt dầu”.
    Đó là chưa kể về mặt tinh thần, lão có quyền làm báo cáo tình hình công tác với một đoạn văn nghe rất kêu như sau: “với tinh thần phát huy sáng kiến làm gia tăng hiệu năng công tác phục vụ nhân dân lao động và phát huy tinh thần làm chủ tập thể của bà con nhân dân trong khu phố, trong cương vị của Tổ trưởng dân phố tôi đã tình nguyện đi lãnh dầu về phân phối cho toàn thể mọi hộ trong phạm vi trách nhiệm của minh, tiết kiệm được cho khu phố hàng trăm giờ lao động lãng phí khi đứng xếp hàng, đồng thời đảm bảo được việc giải quyết tốt các khâu lãnh hàng, chuyên chở và phân phối, vừa nhanh, vừa gọn, vừa công bằng, lại gây được uy tín của cán bộ phục vụ đối với tập thể nhân dân lao động.”
    Cho nên, khi đã hiểu rõ căn cơ của công tác phân phối dầu vĩ đại đó, thì Quý thất vọng ra mặt khi thấy lão Phong trở về nhà với một đống sổ học trò dùng làm sổ chất đốt trên tay. Chẳng những không có hy vọng gì được lão giải quyết cho ngay lá đơn của mình, dù là trời sập đi nữa chứ đứng nói cái điện tín chỉ vỏn vẹn có 5 chữ chẳng ăn nhập gì tới lão ta cả “Mẹ hấp hối. Ra ngay !”
    Thế là Quý đành ôm sắp hồ sơ trở về nhà với lòng đầy hậm hực vì đã mất toi một ngày vất vả mà không đi đến đâu cả.
    Mãi hôm sau, Quý mới vồ được lão Phong lần thứ nhì ở ngay trong sân nhà lão. Hình như lão đang có chuyện gì vui, nên lão đón tiếp chàng với vẻ mặt rất niềm nở. Quý trao cho lão tập hồ sơ và tả oán ngày:
  • Bà cụ thân sinh của tôi nguy quá, không biết cụ “về” lúc nào. Nhờ cụ lo giùm.
    Lão Phong mời Quý vô nhà và hai người ngồi đối diện nhau trước bàn làn việc của lão. Trong ánh đèn dầu tù mù của một tối bị cúp điện, lão mở tập giấy của Quý ra đọc cẩn thận từng chữ từng dòng. Cuối cùng lão phát biểu:
  • Anh viết đơn kín mít thế này thì chỗ đâu tôi ký? Chỗ đâu Công an Khu vực ký? chỗ Công an Phường ký? Rồi còn Uỷ ban Nhân dân Phường, Uỷ ban Nhân dân Quận, mỗi nơi một ý kiến nhận xét trước khi chuyển lên Thành uỷ. Thành uỷ có chấp thuận thì mới chuyển qua Công an Thành làm giấy phép cho anh. Cầu là cả ba trang giấy để trống chưa chắc đã đủ, nói chi đến tờ đơn kể khổ tùm lum tà la thế này, chữ nghĩa chen chúc nhau đến con kiến chen cũng không lọt nữa.
    Quý sùng quá, văng lên một câu:
  • Mẹ kiếp! Tôi đâu có biết!
    Lão Phong cười khẩy:
  • Không biết thì tôi nói cho biết rồi đó! “Đem về” làm lại đi. Những đoạn văn mầu mè này cắt cha nó đi cho rồi, ai thì giờ đâu mà đọc.
    Bị phê bình gay gắt ngay cả đến nhưng câu văn diễn tả tình mẫu tử mà lão cho là mầu mè, Quý đỏ mặt tía tai lên như vừa bị lão choang ngay vào đúng tấm lòng hiếu thảo của minh, chàng tức giận chộp ngay lấy lá đơn, bóp nghiến lại. Lão Phong thấy bất ổn, vội vàng đấu dịu:
  • Tôi nói thiệt đó chớ không phải làm khó dễ anh đâu. Anh chịu khó viết lại rồi đem tới, tôi ký ngay cho. Đây này, đơn thì chỉ viết gọn một trang thôi. Còn từ trang sau, anh chia thành nhiều khoảng trắng ghi vài chữ như: ý kiến của Tổ trưởng Dân phố, ý kiến của Công an Khu vực, ý kiến của công an Phường,…
    Quý thấy không có lý do gì để hục hặc với lão cả, nên lẳng lặng cuộn tập hồ sơ đem về, sau khi từ biệt lão bằng môt nụ cười méo sệu.
    Hôm sau, chàng trở lại với một lá đơn mới được thảo ra theo như lời chỉ dẫn của lão. Lão giữ lời hứa, nắn nót viết một câu ngay dưới phần để dành cho lão: “Đề nghị cấp trên cứu xét hoàn cảnh của đương sự!”.
    Rồi lão ký trịnh trọng như tên lão được ký trên một tờ giấy bạc. Sau cùng, lão lấy ra con dấu đỏ in ở dưới chữ ký. Con dấu chỉ có ba chữ vỏn vẹn: Nguyễn Thông Phong bằng kiểu chữ in mập, cỡ 10 theo con mắt chuyên nghiệp của người biết về ngành in. Ở cương vị tổ dân phố, lão không có quyền đóng dấu mộc. Mà ký suông mà không có cái gì đỏ đỏ đi kèm nó “hèn” quá, lão bèn phát huy sáng kiến là đóng cái tên mình vào. Bề gì nó cũng còn có vẻ “hành chánh” hơn là trống trơn không có gì cả.
    Qua được cửa khẩu đầu tỉên, Quý mừng húm, hấp tấp cám ơn lão rồi tất tả đi ngay ra văn phòng của đồng chí công an khu vực.
    Hôm nay gặp may, Quý không phải chờ một ai cả, mặc dầu bình thường thì tới giờ đó, thế nào cũng phải chờ it ra là năm, ba người, toàn những bà, những cô bán rong ngồi vỉa hè không có phép bị lôi về năn nỉ ỉ ôi cả giờ mới xong được một vụ.
    Sợ gã Công an quên mình, Quý nhắc:
  • Trình đồng chí hôm qua tôi đã tới và được đồng chí chỉ thị đem về lấy ý kiến của Tố dân phố. Hôm nay, tôi xin đem lại để đồng chí duyệt xét.
    Gã công an lại nhìn vào mặt Quý như soi mói. Rồi gã lại mở xấp hồ sơ ra coi từng tờ. Thời gian trôi qua nặng nề như có ai lấy đá đè lên ngực Quý. Sau cùng, gã lên tiếng hỏi:
  • Đồng chí làm ở Hợp Tác Xã Tân Lập được bao lâu?
    Quý thấy lạnh lạnh ở xương sống, nhưng chàng cố giữ vẻ thản nhiên:
  • Dạ, mới hơn hai tháng.
    Gã cau mày:
    -Thâm niên có hai tháng mà sao giấy phép ký cho nghỉ dài quá vậy. Hai tuần phải không?
    Mặt Quý hơi xanh lại. Chàng cảm thấy cổ họng đang se khô đi. Chàng vẫn cố giữ vẻ thản nhiên:
  • Dạ, đây là trường hợp cá biệt. Mẹ tôi hấp hối. Tôi dè chừng bà cụ mất thì còn thì giờ ở lại làm đám tang.
    Gã công an quay sang câu hỏi khác, hoàn toàn không ăn nhập gì đến câu hỏi trước cả (và đấy là nghề của chàng):
  • Đồng chí nói là 25 năm rồi chưa gặp mẹ hả?
  • Dạ, phải!
  • Vậy là đồng chí vô Nam từ năm 54?
    Quý choáng người, giọng chàng ấp úng hẳn ra:
  • Dạ, hồi ấy tôi còn bé quá. Chưa có ý thức chính trị gì.
  • Bé sao rời mẹ mà ra đi?
  • Dạ, bạn nó rủ!
    Gã công an cười khẩy:
  • Nó rủ là đi càn đấy, có phải không?
  • Dạ, đúng. Đi càn! Đi Nam cho biết đây biết đó.
  • Vậy thì “anh” đã biết những gì?
    Quý rủa thầm trong bụng rằng không đâu mình mở đường cho hươu chạy. Nhưng đã cùng đường rồi thì cũng phải đánh liều chứ biết tính sao. Chàng đáp cầm chừng:
  • Dạ, thì cũng biết đây, biết đó. Biết sông Sài Gòn, biết chợ Mỹ Tho….
  • Tôi nói là về mặt chính trị, xã hội kia!
  • Dạ, tôi bận sinh kế quá nên chỉ lo làm ăn. Nhưng đại khái thì cũng là một xã hội um sùm, đủ loại giàu nghèo lẫn lộn…loạn xà ngầu….
    Nói xong mấy tiếng vô thưởng, vô phạt như ‘‘um sùm, loạn xà ngầu” Quý có vẻ tự tin ở khả năng chống đỡ của mình hơn. Chàng lấy lại được thế chủ động cho mình bằng cách không để cho gả công an nói trước nữa:
  • Trình đồng chí, bà cụ tôi nguy cấp lắm. Xin đồng chí giúp đỡ để tôi gặp lại mẹ một lần chót.
    Gã nhìn Quý thêm một lúc nữa. Sau cùng, gã buông một câu mà Quý thấy nhẹ cả người:
  • Tôi ký ở đây, nhưng không bảo đảm là anh có được phép hay không. Còn phải qua Phường, qua Quận rồi lên Thành nữa. Đi trong miền Nam từ Huế trở vào thì dễ, Quận ký được. Còn qua khỏi Huế thì phải cấp Thành cứu xét.
  • Dạ, cứ xin đồng chí phê cho mấy chữ là quý rồi. Tôi tin tưởng ở cấp trên cũng sẽ cứu xét dễ dàng vì lý do của tôi chính đáng. Mẹ hấp hối, con không ra thăm sao đành!
    Thế là đồng chí công an khu vực áp cho Quý một cái triện son đỏ chói kèm theo một chữ ký cũng rất trịnh trọng. Lời phê bình cũng khôn tổ, chỉ là một lời trung trung, vô thưởng vô phạt: “Kính chuyển để cấp trên cứu xét.”
    Qua được cái cầu thứ nhì, Quý lật đật ôm hồ sơ lên văn phòng Công an Phường. Ở đây, sau khi chờ đợi diện kiến được đồng chí Công an Phường, Quý được nghe phán một câu:
  • Để hồ sơ đây, năm ngày nữa quay lại!
    Quý buột miệng kêu lên:
  • Thưa, mẹ tôi đang hấp hối!
    Gã Công an Phường có vẻ mặt khó chịu còn gấp mười lần tên công an khu vực, cau mặt nhìn Quý.
  • Hối thì hối cũng phải cứu xét chớ, giải quyết ngay sao được.
    Biết rnình đụng phải một tảng băng lạnh lẽo, không có tình người, Quý đành lủi thủi ra về. Bây giờ lòng chàng mới nẩy ra một mối lo âu mới. Giấy tờ của Hợp Tác Xã là giấy tờ ma. Nếu nó mà kiểm tra ra thì chẳng còn cái dại nào hơn cái dại nào, không dưng tự mình đem đút đầu vô rọ. Nhưng Quý lại an ủi ngay rằng không liều như thế thì làm sao chàng đi thăm được mẹ, người mẹ mà kể từ năm 1954, Quý chưa hề được gặp lại. Nỗi lo âu làm Quý không trở về nhà ngay mà đạp xe đi tìm anh thư ký văn phòng Hợp Tác Xã, người đã thu được của chàng hơn bẩy chục bạc để cấp cho hai tờ giấy ma. Quý gặp anh ta ở ngay quán cà phê trước cửa xí nghiệp. Chàng thì thào:
  • Hồ sơ tôi nạp cho Công an Phường rồi. Nó giữ lại cứu xét tới năm ngày lận!
    Anh ta thản nhiên:
  • Nó xét thì cứ để nó xét chớ sao? Giấy của tôi là giấy thật mà! Cả con dấu cũng là con dấu thật nữa!
  • Nhưng sợ nó điều tra về xí nghiệp, hỏi ra không có tên mình thì chết.
  • Ô! Hơi đâu mà chúng nó đi làm chuyện đó. Bộ anh tưởng cả cuộc đời của nó chỉ để dành ra lo có một cái hồ sơ của anh thôi à?
    Quý thấy yên bụng hơn, nhưng chàng vẫn nêu ra những khó khăn để được nghe giải thích và điều này sẽ khiến chàng được tin tưởng thêm hơn. Chàng nói:
  • Đâu có mất bao nhiêu thì giờ. Nó chỉ cần nhấc điện thoại lên.
  • Thì cho nó nhấc!
    Quý trợn mắt lên:
  • Nó mà nhấc thì chết mẹ tôi rồi!
    Anh thư ký cười khanh khách:
  • Sao mà chết! Bộ anh tưởng nếu anh chết thì tôi không chết theo à. Tôi phải có lý do để bảo vệ cho chính tôi nữa chớ.
    Lý luận này khiến Quý nhẹ bớt đến tám chín phần lo âu. Nhưng chàng cũng gặng:
  • Biết vậy rồi, nhưng anh làm gì được?
  • Thì nó phôn đến, tôi trả lời. Tôi ngồi văn phòng chớ ai?
  • Nhỡ lúc anh đi vắng thì sao?
  • Thì có người thay!
  • Thế là bể cha nó mánh rồi!
    Anh thư ký vỗ đánh độp lên vai Quý một cái khá đau rồi cười giả lả:
  • Thôi đi bố ơi, bố cứ về ngủ cho kỹ ! Bộ đã làm chuyện động trời mà người ta không ăn chia với ai cả sao? Bẩy chịt của bố con được xài có hai mươi lăm tì thôi đó.
    Quý vỡ lẽ ra, mặt tươi lên như hoa. Chàng cám ơn anh ta rối rít rồi nhanh nhẩu ra về.
    Quả nhiên năm ngày sau trở lại công an Phường, Quý nhận thêm được cái dấu đỏ chói. Ở đó người ta dặn chàng đem qua nộp cho Ủy ban Nhân dân Quận để thông qua ý kiến của Quận ủy. Từ Quận Ủy hồ sơ sẽ được chuyển thẳng lên Thành để xin cứu xét chớ Quý không phải đi tới, đi lui chuyển nạp hồ sơ nữa. Tuy nhiên chính vì lý do đó mà ở Quận người ta không cho Quý cái hẹn nào đích xác cả, ngoài câu nói:
  • Lâu lâu ghé qua đây để hỏi cho biết tình hình hồ sơ của anh được cứu xét đến đâu rồi.
    Quý gặng hỏi:
  • Nhưng nhắm chừng bao lâu có thể xong được. Mẹ tôi đang hấp hối.
    Cái lý do Quý nêu ra hình như chẳng ăn thua gì tới người nhận hồ sơ, nên gã ta thản nhiên nói:
  • Nhanh nhất thì cũng một tháng, không thì tháng rưỡi!
    Chẳng làm được gì khác hơn, Quý đành để hồ sơ lại và ra về.
    Đúng một tháng và bốn ngày sau, Quý cầm được tờ giấy phép trên tay. Nơi đi là thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đến là Hà Nội. Phương tiện di chuyển là tự túc. Lý do là thăm mẹ hấp hối. Lời dặn kèm theo là khi tới nơi phải trình diện ngay cơ quan Công an sở tại để lấy dấu đến và dấu đi. Cuối cùng, đúng như ở Phường họ đã cho hay, cái giấy phép của Quý quả thực do công an Thành phố cấp cho thật.
    Có được tờ giấy trên tay, Quý bắt đầu tính tớí chuyện mua vé di chuyển. Đi được phản lực Illyuchine l8 là nhất, nhưng vé chỉ bán cho cán bộ công an đi công tác hay nếu thừa chỗ thì dành bán cho cán bộ nghỉ phép. Quý không phải là cán bộ. Cái thứ nhân viên hạng bét của Hợp Tác Xã thì chỉ là diện nhân dân, dù là loại nhân dân có công ăn việc làm hẳn hoi chứ không phải loại nhân dân cặn bả, theo kiểu con phe, móc ngoặc, chợ trời, hay trốn từ vùng kinh tế mới về không có hộ khẩu.
    Những loại như Quý thì chỉ ra Bắc được bằng tuyến xe hỏa hay bằng tầu biển Thống Nhất. Đi tầu biển thì nhanh hơn xe lửa được một ngày, nhưng mỗi tuần chỉ có đâu một, hai chuyến và Quý cũng sợ say sóng nữa. Đi xe hỏa thì chậm hơn nhưng ngày nào cũng có chuyến ra vô. Hành trình từ Nam ra Bắc mất hai ngày rưỡi nếu không có gì trục trặc giữa đường. Điều này hơi khó xẩy ra, vì tuyến đường sắt hoàn tất từ năm 1976, trong tinh thần mỗi địa phương thi đua hoàn tất một khúc, làm nhanh, làm ẩu, làm không có kỹ thuật nên càng về sau này chỉ cần có nước lũ ào một chút là cả khúc đường trôi đi, đất, đá, đường sắt tả tơi mỗi chỗ một mảnh. Dĩ nhiên, tàu chạy tới đó thì phải ngừng lại để chờ sửa chữa. Nếu phải chữa lâu thì có ô tô tiếp vận, chở hành khách đi qua khu vực hư hỏng để đợi tầu ở chặng kế tiếp.
    Nhưng ô tô thì ít hàng khách thì đông, lại phải có màn dấm dúi để được nhận là diện khẩn cấp có quyền ưu tiên. Quý dự trù là bỏ rẻ cũng phải mất một tuần để ra tới nơi kể từ khi bắt đầu đi xếp hàng mua vé.
    Theo kinh nghiệm của những bà đã ra Bắc thăm chồng học tập thì Quý ra ga Bình Triệu xếp hàng từ mười hai giờ khuya hôm trước. Gọi là xếp hàng thôi, chứ thật sự là tới cửa guichet trải chiếu ra mà nằm. Ai nằm trước là có chỗ trước. Ai chậm chân để đúng 8 giờ sáng hôm sau, giờ mở cửa mới tới thì kể như không còn chỗ mà chen vô. Cả khu vực rải rác quanh nhà ga trông y như một cái chợ người. Chiếu, mền giải san sát trên khắp lối đi. Người đông như nêm cối có người ngồi bó gối, có người nằm vật trên đống đồ đạc lủng củng, có người ngồi thu lu trên những chiếc thùng giấy buộc chằng chịt đủ thứ nồi niêu, rổ bát đĩa, khung xe đạp, có người ‘‘xi’’ con tại chỗ vì rời đi là mất đồ mất đất đứng, mất lượt mình.
    Chen vào đó là đủ loại hàng quà, hàng bánh, hàng nước trà đá, hàng thuốc lá lẻ do những cô bé, cậu bé đạp tướỉ lên mọi chỗ mà đi, mồm rao, mắt láo liên dòm chừng xem có ai gọi tới. Mỗi khi có khách vẫy là bổ nhào lại, lách qua ba bốn cái chiếu, đạp qua hàng rẫy thùng đồ. Tiếng người la, tiếng trẻ con khóc, tiếng nạt nộ chửi rủa tất cả tạo thành một bầu không khí hỗn loạn, ồn ào từ sáng đến khuya, từ khuya đến chiều chẳng lúc nào người bớt đi, vì đợt này đi, đợt kia tới, hành khách ở Sài Gòn đã đông, lại còn đám ở lục tỉnh kéo lên ăn rầm nằm rề năm bẩy ngày liền mới mua được cái vé nữa. Đó là chưa kể toàn bộ cái không khí náo nhiệt đó còn được tẩm đẫm bằng một loại mùi khẳn khẳn, nồng nặc kết hợp bởi mùi hôi, mùi quần áo lâu không giặt, mùi đầu tóc bê bết bụi và cát, cả những mùi khó phân biệt của những vỏ trái cây, vỏ lá bánh, và đủ loại rác rưởi khác vứt tùm lum la liệt ở khắp mọi nơi.
    Đấy mới chỉ là giai đoạn nằm chờ. Cho đến khi cánh cửa guichet được mở ra vào lúc 8 giờ thì quang cảnh hỗn loạn mới thực sự được diễn ra. Người ta phải đánh võ để dành một chỗ đứng gần ánh mặt trời. Kẻ sấn tới, người chen lui, lắm anh chơi càn leo tuốt lên thùng đồ cao nhất rồì đu qua cổ, qua vai những người chung quanh để nhào lên trước. Các bà, các cô chửi toáng lên vì bị lợi dụng thời cơ. Có anh phát hiện bị rút mất bóp tầm phơi la làng lên như đang bị chọc tiết. Những cái cùi chỏ được vung ra. Những cái túm tóc, túm áo, kéo vai, kéo cổ thuộc đủ ngón võ được sử dụng. Trong khi ấy tiếng micro vừa rít lên từng hồi phóng ra những tiếng vừa chói tai, vừa buốt óc kêu gọi các đồng bào, đồng chí giữ trật tự để thể hiện tác phong con người mới xã hội chủ nghĩa.
    Lọt được vào tới cửa guichet là kể như xong được màn đầu của vấn đề mua vé. Ở đây, chưa có bán vé mà mới chỉ là lấy được con dấu “đăng ký” của phòng Công an thuộc tuyến đường sắt. Đồng chí công an chỉ hé cái cửa cho đương sự thò được đúng cái bàn tay để lùa vào đó tấm giấy phép đi đường. Sau khi xem xét kỹ lưỡng, nếu thấy hợp pháp, đồng chí đó sẽ áp cho hai cái triện son. Một triện ghi dòng chữ: Đã “đăng ký”.Và một triện tròn, dấu hiệu của cơ quan.
    Không qua thủ tục này thì không được mua vé, ở đâu cũng vậy, dù là đi ô tô, đi xe lửa, đi tầu biển hay là máy bay. Trên nguyên tắc, lấy xong dấu của Công an thì có quyền đi mua vé. Nhưng muốn mua vé thì lại phải xách chiếu đi ngủ thêm một đêm y như lần trước nữa vì chỗ guichet bán vé, người đứng chờ cũng đã chật như nêm cối rồi. Họ là những người đã xin được con dấu của phòng công an trước đó một ngày. Như vậy nếu thủ tục mua vé xuôi rót, không có chuyện gì trục trặc xẩy ra thì mỗi hành khách cũng phải mất vô đó hai đêm và hai ngày. Đạt được cái điều đó phải kể là kỷ lục về mau mắn. Nhiều người đã phải mất tám ngày mới mua nổi cái vé, vì lý do hôm có tầu chạy xuôi rót thì chen không vô lọt guichet, tới hôm nhào càn được tới guichet thì Cục Đường Sắt báo tin đường lở ở khúc Tam Kỳ, chuyến tầu phải đình hoãn. Mà hễ tầu đã hoãn một chuyến là y như rằng có chuyện dồn cục lại, người đã đông càng thêm đông.
    Nhưng dù khó khăn thế nào thì Quý cũng phải vượt qua, vì đó là con đường duy nhất để chàng có thể tìm được về thăm mẹ sau một phần tư thế kỷ phân ly. Cầm được cái vé to bằng hai ngón tay, in mầu xanh trên loại carton dầy, Quý tự hào rằng mình đã làm được một kỳ công, mặc dù mặt chàng xọp đi thấy rõ, hai con mắt quầng thâm lại như hai lỗ đáo. Bây giờ là lúc chàng có thể nghĩ tới việc chuẩn bị hành trang để chờ tới đêm mai lên tầu, chủ yếu là vấn đề quà cáp, lựa chọn thứ gì đem ra tới nơi mẹ chàng có thể bán ra được giá. Trong đầu, Quý đã có một danh sách đủ loại để mua: Kim may, chỉ thêu, bật lửa, khóa đồng, phẩm nhuộm, cau khô, căm xe đạp, áo len, váy đầm con nít…..thôi thì đủ loại, chỉ sợ không có tiền và có sức mà mang đi.
    Mãi tới xế chiều hôm đó, Quý mới đạp xe trở về nhà, trên tay lái đằng trước, porte-bagage đằng sau khệ nệ đủ loại đùm và túi xách. Hai mươi lăm năm mới có một lần, Quý dốc hết vốn liếng để về thăm nhà một chuyến. Biết sau khi ra lần này rồi có khi nào có dịp mà đi lần nữa?
    Khi tới nhà, Quý đã thấy một tờ điện tín gài sẵn ở cánh cửa. Chàng ghếch xe vội vã lên bờ tường và mở ra đọc. Nội dung vỏn vẹn có sáu chữ: “Mẹ hấp hối thật. Ra ngay!”
    Quý cảm thấy choáng váng khi nhận được cái tin mới nhất này. Bây giờ nó là thứ thật chứ không phải trò đùa như hai tháng rưỡi trước đây. Nghĩ đến cả một công trình sắp đặt để có một chuyến đi, Quý không ngờ rằng bao nhiêu lo toan của mình nay đã đắc dụng, kịp thời một cách không thể có gì kịp thời, hoàn hảo hơn. Chàng sẽ ra ngay ngày mai đúng như lờỉ trong điện tín yêu cầu. Nghĩ đến cái vé còn nằm lọt thỏm trong túi áo, Quý chợt mỉm cười tự mãn.
    Có lẽ ở trên đời này chỉ có Quý là kẻ duy nhất đã có thể cười được khi nhận được tin mẹ mình đang thực sự hấp hối!

Santa Ana tháng 6,1983

Phòng BREAK

vvnm.vietbao.com
01/01/2019
Nguyễn Bích Thủy

Post by Sơn râu 26 Nov 2024

Mừng năm mới 2019, mời gặp lại một tác giả thân quen. Tác giả đã nhận giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2014. Cô sinh năm 1962, tốt nghiệp Đại Học Mỹ Thuật năm 1988 khoa Đồ Họa tại Việt Nam, từng làm công việc thiết kế sáng tạo trong ngành quảng cáo. Cô đến Mỹ tháng 4 năm 2000, hiện là cư dân Waxahachie, Texas, trong một thành phố ít người Việt cư trú. Sau đây là bài viết mới của tác giả.


Gần mười chín năm qua cuộc đời tôi đã gắn liền với cái phòng Break của hãng với biết bao buồn vui không sao kể hết cho được!
Nếu còn sống và làm việc tại Việt Nam thì chắc tôi không làm sao biết được cái phòng nghỉ giải lao ở Mỹ là như thế nào.
Thuở còn là sinh viên của trường Mỹ Thuật ở Việt Nam sau 1975, tôi đã từng có dịp “đi thực tế” tại các nhà máy nên cũng hiểu được ít nhiều các sinh hoạt trong phòng ăn của công nhân vào thời bao cấp ở Việt Nam. Nhưng lúc đó tôi chỉ là một người khách chỉ đến “ở trọ” vài tháng nên không thể nào sống trọn vẹn với cái cảm giác “nghỉ break” sau những giờ làm việc mệt nhoài của họ! Tôi chỉ biết Căn-Tin (từ chỉ phòng ăn ở các hãng xưởng) là nơi mà những người công nhân đến đây để được phục vụ một bữa cơm miễn phí mà thường chỉ là “canh toàn quốc” và “thịt mỡ bao la”!
Sau đó tôi ra trường được phân công về một Xí Nghiệp Bao Bì Giấy ở gần nhà, mỗi buổi trưa tôi thường đạp xe về ăn cơm của mẹ nấu nên cũng không cảm nhận được hết về cái “phòng Break” tại đây! Cho mãi đến 1993 tôi đã xin được những công việc khác tại Quận Nhất, Quận Ba và cuối cùng là làm việc tại tầng 14 của một cao ốc ngay trung tâm Sàigòn trên đường Nguyễn Huệ. Đây là một văn phòng đại diện của một Công ty Quảng Cáo của Nhật với lối thiết kế hết sức trang nhã nhưng lại không có phòng Break cho nhân viên! Đến giờ nghỉ trưa Sếp thì được tài xế đón đến các nhà hàng sang trọng để dùng bữa, còn bọn chúng tôi thì thường rủ nhau đi kiếm gì để “bỏ bụng”!
Chung quanh chỗ tôi làm có rất nhiều quán xá, nhà hàng phục vụ bữa cơm trưa cho nhân-viên-văn-phòng. Các bạn đồng nghiệp của tôi cũng thường hay “săn lùng” các hàng quán nổi tiếng gần đó để cả đám kéo đến ăn vào giờ nghỉ trưa. Hơn hai mươi năm về trước ở Việt Nam không nghe ai nói đến gạo giả, thịt độc, rau cải bị phun thuốc trừ sâu như bây giờ nên bọn chúng tôi cứ thoải mái ăn uống ở bên ngoài!
*
Tôi đến Mỹ chỉ vài tháng sau là đi làm cho đúng một cái hãng đến bây giờ, nhưng lại ở hai nơi khác nhau, do chuyển công tác từ PA xuống TX!
Hãng tôi có khoảng gần 1.000 người tại chi nhánh Dallas-Texas, nơi tôi đang làm việc, cộng thêm khoảng hơn 10.000 nhân viên ở khắp nơi trong và ngoài nước Mỹ như: Anh quốc, Argentina, Brasil, Mexico, Canada… Công việc ở nơi nào cũng giống nhau nhưng phòng Break ở mỗi nơi thì có khác! Khác vì con người, vì không gian và cả thời gian!
Nếu phòng Break ở trên miền Bắc đa phần là Mỹ trắng chiếm 80% thì ở miền Nam này người Mễ chiếm trên 50%, Mỹ đen là 20%, phần còn lại là Mỹ trắng và dân nhập cư từ các nước khác đến! Hãng tôi sản xuất những những mặt hàng phục vụ cho các tiệm bán thức ăn nhanh trên khắp nước Mỹ như: McDonald, Chick Fil A, Wingstop, Jack In The Box, Whataburger, Sonic… Các sản phẩm ly, chén, hộp… cũng được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như: foam, nhựa, giấy và khá đa dạng về kích cỡ. Có nhiều cái ly to đến 60oz “cả làng” uống mới hết, nhưng cũng có loại chén nhỏ xíu chỉ 4oz vừa đủ để chứa các nước chấm trong các nhà hàng. Về màu sắc thì vô cùng bắt mắt, nhiều sản phẩm của Sonic hay McDonald rất phong phú mẫu mã vì họ thay đổi chiến lược theo từng mùa! Bên cạnh đấy rất nhiều người Mỹ có nhu cầu tiệc tùng, họp mặt vào cuối tuần nhưng lại không thích rửa chén bát nhiều nên tại: Sams, Costco, Walmart, Target, HEB, Kroger, Dollar General … cũng đã có bán đầy những mặt hàng kể trên! Chúng trông cũng khá đẹp và phù hợp với túi tiền của mọi tầng lớp trong xã hội. Trong vài năm gần đây hãng tôi đã mua lại toàn bộ nhà xưởng, thương hiệu của một đối thủ cạnh tranh trên thị trường và đã trở thành “gã khổng lồ” đứng hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất bao bì đựng thức ăn nhanh tại Mỹ.
Cũng chính vì sự đa dụng và phổ biến kể trên nên hãng tôi ngày một phát triển không ngừng! Tại chi nhánh này, khi mới thành lập vào năm 1972, họ chỉ sản xuất mẫu ly trơn để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân. Sau đó hãng đã cho ra đời những sản phẩm ly in đầu tiên để làm phong phú cho mặt hàng của mình. Vào cuối năm 2004 họ có hai khu sản xuất và 42 máy in ly và tính đến thời điểm hiện nay là ba khu sản xuất và 74 máy cùng những dãy nhà kho thật đồ sộ không sao tính xuể!
Hãng tôi đã trở thành một nơi thu hút nhiều lao động nhất trong vùng và những khu vực phụ cận. Có người chỉ lái xe khoảng 3 hay 4 phút nhưng cũng có kẻ phải vượt qua một đoạn đường dài cả 30 đến 40 phút hay hơn nữa mới đến hãng. Điều thú vị nhất là hãng tôi có nhiều đại gia đình cùng làm việc chung bao gồm: hai vợ chồng và cha mẹ, anh chị em, của cả hai bên vợ lẫn chồng; cũng không ít trường hợp nhiều gia đình có ba thế hệ cùng làm chung tại đây. Do vậy, mỗi ngày đi làm họ sẽ có cơ hội gặp người thân của mình ngay tại phòng Break! Điều này đối với tôi thật sự không biết là nên vui hay nên buồn?! Thêm một điều khác cũng không biết nên buồn hay nên vui là cách đây hơn một thập niên giờ break thường ồn ào như cái chợ, do ai cũng có khuynh hướng muốn nói nhiều để “xả stress” sau những giờ phút tập trung làm việc; còn hiện nay thì thường im lặng như tờ vì ai cũng bận “chat” với “friend” của mình mà chẳng còn buồn để ý đến mọi người chung quanh! Tình đồng nghiệp có lẽ vì thế cũng nhạt dần trong thời đại @!
Hãng tôi không trả lương cao như nhiều nơi khác nhưng chúng tôi “tương đối đủ sống”, cộng thêm quỹ 401K và những khoản phúc lợi xã hội khác thì cũng “tương đối ổn”. Trong cuộc sống khó khăn hiện nay, để tìm cho mình một nơi làm việc với những điều kiện như trên chắc cũng… “tương đối không dễ”! Do vậy mà có nhiều người sau khi nghỉ việc, dọn sang tiểu bang khác hay xin được job khác nhưng vài năm sau tôi thấy họ “xuất hiện” trở lại trong phòng Break! Yếu tố tích cực nhất là hãng tôi còn có “tương đối khá” overtime! Theo quy định trong hãng mấy năm trước mỗi người có thể làm phụ trội tối đa 24 tiếng/tuần, nhưng sau này để bảo đảm sức khỏe và an toàn lao động cho nhân viên nên họ giảm xuống còn 20 tiếng/tuần. Với ngần ấy giờ nhân lên gấp một rưỡi thì đó là một khoảng “tương đối không nhỏ” đối với những ai đang cần tiền để trang trải cuộc sống!
Mặt khác hãng tôi cũng có thêm lịch làm việc 12 tiếng vào cuối tuần từ 7:30am – 7:30pm và 7:30pm – 7:30am. Nhiều gia đình đơn chiếc nên các bà nội trợ phải ở nhà chăm con cho chồng đi làm nên đã chọn giải pháp này để có thể làm full-time với full-benefit. Giới sinh viên, cũng đặc biệt thích lịch làm việc cuối tuần vì vừa có thu nhập vừa có Bảo Hiểm Sức Khỏe. Còn vào mùa hè các học sinh thường chọn “Summer job” để kiếm tiền tiêu xài cho cả năm học mà không phải xin cha mẹ!
Nhưng công việc không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió” cả đâu! Hãng chúng tôi đã trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 cũng khá cam go và nhiều thử thách nhưng điều may mắn nhất là hãng tôi không nằm trong “danh sách đen” của nhiều doanh nghiệp bị phá sản tại Mỹ. Tuy nhiên, lúc bấy giờ do kinh tế bị tuột dốc nên nhà nhà đều thắt lưng buộc bụng, bớt tiêu xài, bớt tiệc tùng; vì thế mà đơn đặt hàng đã bị cắt giảm đáng kể! Kết quả là chúng tôi lãnh lương không đủ 40 tiếng một tuần! Mỗi ngày vô phòng Break mọi người đều nhìn nhau với ánh mắt đầy nặng trĩu lo âu! Cũng may mà gam màu u ám đó đã nhanh chóng đi qua khi nền kinh tế của Hoa Kỳ được khôi phục trở lại!

*
Phòng Break còn là nơi mà người ta hay tụ tập lại để ca thán về những luật lệ mới đưa ra ngày càng khắt khe nhằm mục đích nâng cao an toàn lao động và vệ sinh thực phẩm! Thoạt tiên không ai đồng tình, nhưng chỉ sau một vài ngày thì đâu lại vào đấy: phải thi hành thôi! Vì đó không chỉ là lợi ích của cộng đồng mà còn là sinh kế nữa. Nhưng! Cũng có đôi khi quy định mới đưa ra rất ư là “bất khả thi” ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân viên thì sẽ bị mọi người phản đối kịch liệt. Các Sếp phải báo cáo về “Tổng hành dinh” để kịp thời điều chỉnh lại cho hợp lý. Thế mới biết “Ý dân là ý Trời” thật không sai!!!
Phòng Break của hãng chúng tôi thường tổ chức những buổi tiệc mừng Thanksgiving, Christmas và những buổi trao thưởng cho nhân viên nào hóa trang ấn tượng nhất trong lễ hội Halloween hàng năm! Thêm vào đó là những buổi bán thức ăn gây quỹ giúp đỡ cộng đồng cũng diễn ra khá thường xuyên tại đây. Cách vài tuần là chúng tôi lại có những buổi tiệc kỷ niệm 20, 25, 25, 30, 35 thậm chí là 40 năm cho những ai đã có thâm niên phục vụ hãng. Nhiều người đã về hưu, nhiều người vẫn tiếp tục làm việc và có rất nhiều người đang nộp đơn chờ cứu xét để xin vào! Chúng tôi như những người diễn viên đến đây để diễn những vai tuồng lớn nhỏ khác nhau, dài ngắn khác nhau, hay dở khác nhau…. nhưng dù lớn hay nhỏ, dù ngắn hay dài, dù hay hay dở thì đến một ngày chúng tôi cũng phải ra đi để nhường sàn diễn lại cho lớp trẻ. Cứ như thế, cái phòng Break này chưa bao giờ ngừng nghỉ trong suốt gần 45 năm qua!!
Phòng Break còn là “nhân chứng” cho biết bao chuyện tình trong hãng! Họ quen nhau tại đây, yêu nhau, cưới nhau rồi có con với nhau để mỗi ngày cùng đến, cùng về, cùng cho một kết cục có hậu!
Nhưng cũng có lắm cuộc tình đầy nước mắt: họ quen nhau, cưới nhau chia tay nhau rồi lại đi tiếp với người khác cũng ngay trong hãng! Cái chỗ mà ngày nào chàng và nàng hay ngồi trao cho nhau những nụ hôn, những ánh mắt đầy yêu thương giờ đã có người khác thay thế. Anh chồng cũ vẫn phải ngày ngày chứng kiến vợ của mình trong tay kẻ khác ngay cái chỗ của-mình-hồi-đó mà không khỏi đắng lòng! Rồi thì chuyện những người bạn thân, mới hôm qua tưởng như là tri kỷ nhưng hôm nay đã thành người xa lạ như không hề quen biết!
Phòng Break như là một xã hội thu nhỏ với biết bao thế thái nhân tình vẫn liên tục xảy ra từng ngày!
Tôi vẫn nhớ mãi về Ricky, một người thợ máy “lão làng” của hãng, ông độ khoảng ngoài 60 nhưng trông già hơn tuổi rất nhiều! Ricky nằm trong đội ngũ thợ bảo trì và lắp ráp nên không phải lo việc sửa máy, chỉ khi nào máy in bị “nằm liệt” do các thợ máy khác đã “bó tay” thì Sếp mới gọi ông giúp. Đó là những lần ít ỏi mà chúng tôi có dịp trau đổi với nhau và cũng thật hiếm hoi để thấy được những nụ cười hiền lành của ông! Tôi được biết Ricky sống một mình, đứa con trai duy nhất còn đang phục vụ trong quân ngũ nên ông chỉ biết tìm vui bên chú chó cưng của mình. Ricky không chỉ nổi tiếng là một thợ máy giỏi mà còn là một người sống hết sức có trách nhiệm; vào những ngày nghỉ nếu máy hư không ai sửa được, nhưng hãng cần giao hàng gấp thì ông sẵn sàng vào giúp! Trong mắt của chúng tôi Ricky không khác gì một vị “cứu tinh” nên ai cũng yêu mến ông!
Rồi một hôm đi làm tôi đọc được mẫu tin “Cáo phó” dán tại phòng Break thông báo Ricky đã qua đời mà không khỏi bàng hoàng! Mới cách đó vài tuần tôi còn thấy ông đây mà! Mọi người cho biết những ngày cuối cùng mặc dù đang chiến đấu với bệnh tật nhưng ông vẫn cố đi làm để giúp hãng lắp ráp cho xong các công đoạn cuối cùng của một máy in! Ngày đến tiễn Ricky, nhìn ông trong cái video clip tôi thật xúc động làm sao! Những hình ảnh cứ quay đi quay lại như kể về câu chuyện đời của cậu bé Ricky: từ lúc bụ bẫm mới sinh cho đến lúc tuổi biết đi, biết chạy trông thật kháu khỉnh; rồi khi lớn lên ở tuổi thiếu niên Ricky đã trở thành một chàng trai với mái tóc nâu dài lãng tử với chiếc quần hippie ống loe của thập niên 70! Tôi cũng thấy được những ngày vui đầm ấm của Ricky bên gia đình, vợ con và những năm tháng tuổi già cô đơn bên con chó trung thành của ông mà không khỏi nghẹn lời! Kiếp người sao thật phù du và ngắn ngủi! Ricky đang nằm kia, trông thật thanh thản và bình an! Giờ đây ông không còn phải bận tâm về những chuyện vui buồn của thế gian và nhất là không còn phải lo cho những cái máy ở hãng có chạy tốt hay không nữa!!!
Tôi đã thì thầm:

  • Tạm biệt Ricky! Chúa luôn chờ đón ông ở cửa thiên đàng!
    Mãi mãi tôi sẽ không bao giờ quên được người đồng nghiệp đáng kính của mình!!!
    *
    Từ cái phòng Break này tôi đã hiểu hơn về cái đất nước và những con người đang sống chung quanh mình. Ai cũng bảo nước Mỹ là cực thịnh, là phồn vinh nhưng đâu ai ngờ nhiều người Mỹ cho đến già cũng chỉ ở nhà thuê hay cả đời họ chưa một lần nào biết đi máy bay là gì và có không ít người chưa từng đặt chân ra khỏi tiểu bang Texas này!!! Ai nào biết được có những bà mẹ đơn thân trong hãng tôi luôn cật lực làm overtime để kiếm tiền lo cho đàn con nheo nhóc không cha của mình. Ai nào thấu hiểu cho hoàn cảnh của rất nhiều người chung quanh tôi đang “đi cày” mỗi ngày để có tiền gửi về lo cho gia đình họ ở một đất nước xa xôi nào đó trên bề mặt quả địa cầu này! Từ đó, tôi thấy thương tôi, thương họ và thương cho những ai đang tất tả ngược xuôi để mưu cầu miếng ăn biết là bao nhiêu!!!
    Cuộc đời tôi đã trôi qua cái phòng Break của hãng suốt gần 19 năm và nếu không có gì thay đổi tôi sẽ còn gắn bó thêm 11 năm nữa tại nơi này. Mỗi ngày tôi đến đây trung bình tổng cộng từ 45 – 50 phút cho ba lần nghỉ break; đây là thời gian để tôi nghỉ ngơi, ăn uống, đọc sách, xem TV hay trò chuyện cùng mọi người! Nhìn quanh, tôi thấy nhiều người ngày nào còn tràn đầy sức sống mà giờ đây đi đứng đã xiêu vẹo. Bạn già hay hỏi thăm nhau để biết tin người này đang trong Viện dưỡng lão, người kia đang nằm nhà điều trị, người nọ đã về với Chúa! Ngồi cạnh tôi là nhỏ Dianna ngày nào xinh tươi như hoa hậu mà giờ lúc nào cũng “đầu bù tóc rối” luôn bận bịu chuyện chồng con. Bà Tina ngồi đàng kia, chân tay thường xuyên bị đau nhức vậy mà vẫn còn tiếp tục làm việc dù tuổi đã ngoài 70 và bà luôn than rằng ở nhà một mình chắc sẽ bị chết vì buồn mất! Hai cậu con trai của Bob nhớ hôm nào còn bé xíu, hay theo cha mẹ chúng đi chợ Walmart mà giờ đã thành đồng nghiệp của tôi! Lớp trẻ ở Mỹ bây giờ thực tế lắm, nhiều người vừa mới tốt nghiệp trung học xong đã xin vào hãng tôi làm ngay vì họ chưa định hướng được tương lai cho mình. Chính vì vậy mà có lần đến đại học MIT (Massachusetts Institute of Technology) và Harvard tôi đã không khỏi ngạc nhiên khi thấy trong khuôn viên của trường đa số là sinh viên Châu Á!? Quả thật vậy, theo đài BBC cho biết trong năm học 2017 số sinh viên gốc Á tại hai ngôi trường danh giá nhất hành tinh này đã chiếm 22.2% trong khi gốc Phi là 14, 6%; gốc Tây Ban Nha, Châu Mỹ La Tinh là 11% và người Mỹ trắng chỉ còn là 2,5%!!!
    Cuộc đời quả là kỳ diệu đã đưa tôi từ nửa vòng trái đất đến đây để mỗi ngày tôi có dịp học hỏi từ những con người không cùng màu da và tiếng nói với mình về biết bao điều! Tôi học nơi họ tính tha thứ, buông bỏ và sự tương trợ lẫn nhau không phân biệt màu da hay chủng tộc. Một vài lần trong lúc làm việc tôi và cô nọ, bà kia có nhiều mâu thuẫn; chúng tôi đi ra đi vào không nói chuyện với nhau nhưng đến vài hôm sau thì họ quên mất, gặp tôi cứ “say hello” cười nói tỉnh bơ như chưa hề có chuyện gì xảy ra; trong khi đó tôi vẫn còn khư khư “ôm” cục giận trong lòng. Trông thật chẳng giống ai! Từ đó tôi quyết định “quẳng” hết mọi bức bối sau giờ làm việc, để mỗi ngày tôi có thể vừa ngồi nhâm nhi cà-phê trong phòng Break vừa xem TV và thỉnh thoảng cười một mình. Thế có phải hạnh phúc hơn không?!
    Tôi bây giờ đã khác với tôi của gần hai thập niên xưa rất nhiều! Từ một người suy nghĩ nhanh, làm việc nhanh giờ đây tôi đã biết sống chậm lại! Suy nghĩ chậm do tôi đã biết lắng nghe nhiều hơn và làm việc chậm lại do cơ thể đã “đồng điệu” với tuổi tác! Mỗi ngày đến đây tôi ngắm nhìn mọi người và nhìn lại chính mình! Tôi thấy tôi và họ chỉ khác nhau về màu da, màu tóc, màu mắt và tiếng nói; nhưng tất cả chúng tôi đều như đang trôi theo cái dòng đời từ từ chảy về phía trước. Tuyệt nhiên, không một ai có thể dừng lại hay lội ngược dòng được! Chắc chắn một ngày kia chúng tôi rồi cũng sẽ trôi đến cái bờ bến riêng của mình, chỉ là nhanh hay chậm, sớm hay muộn mà thôi! Và ở cái bến bờ sẽ đến đó biết có vui hay buồn, hạnh phúc hay khổ đau hơn cái nơi mà chúng tôi vừa mới bỏ lại sau lưng hay không? Đó hoàn toàn là một ẩn số, không ai có thể tiên đoán được! Do vậy, tôi vẫn luôn tự khuyên mình hãy tập suy nghĩ tích cực, làm những việc tích cực để được sống có ý nghĩa hơn trong đoạn đường không còn dài nữa của đời mình!
    Tôi đã lấy nước Mỹ làm quê hương thứ hai, lấy công việc làm niềm vui, lấy đồng nghiệp làm bạn bè và lấy cái phòng Break này làm một đại gia đình tại hãng của mình. Nếu một ngày nào phải xa rời nó, chắc tôi sẽ nhớ vô cùng!
    Nguyễn Bích Thủy

Cho Nó Giống Mỹ

vvnm.vietbao.com
Bùi Ngọc Quang

Post by Sơn râu 26 Nov 2024

Người viết sinh năm 1958, từ năm 1978- 1982: giáo viên cấp II Trường Quốc Việt, Quận 6, dạy môn Họa. Năm 1988, định cư tại San Jose, Bắc California, Tốt nghiệp AA & AS từ trường Đại học Cộng Đồng Mission Valley College, CA. Công việc đang làm: Technician cho hãng Nectex Microware RF Hitec Inc. ở Santa Clara, CA.
Lần đầu tham dự Viết Về Nước Mỹ, tác giả Bùi Ngọc Quang cho thấy ông có sức viết mạnh mẽ khác thường: một hơi, gửi luôn… 11 bài.
Sau đây là bài thứ nhất.
*
Tôi rời khỏi Việt Nam trước anh, nhưng lại đặt chân đến Mỹ sau anh. Số là vì tôi thuộc diện tỵ nạn phải qua Phi học sáu tháng. Còn anh thuộc diện di dân, đi thẳng từ phi trường Tân Sơn Nhất đến BangKok, Thái Lan, rồi từ Thái Lan sau khi quá cảnh 1 tuần, anh đổi chuyến bay đến phi trường San Francisco, nước Mỹ.
Lúc đầu, khi tôi quen anh, tôi chỉ biết qua lời anh kể là anh đi vượt biên cùng chung với 1 đứa em gái nhỏ. Cha mẹ thì còn ở lại Việt Nam (…) Tôi đâm ra thương cảm hoàn cảnh của anh từ đó, và tình yêu bắt nguồn lúc nào tôi cũng chẳng rõ… Chỉ biết là đến bây giờ tôi đã là vợ của anh, và những tháng ngày hiện tại này là những chuổi ngày hạnh phúc nhất mà tôi được sống bên anh…
Cái duyên của tôi đưa đẩy, chẳng qua là nhờ cô bạn gái thường hay đi lễ chùa Đức Viên hằng tuần với tôi, làm mai. Một hôm sau khi tan lễ, cô ta rủ tôi về nhà chơi, và kể lại một câu chuyện tình cờ: “Chị Nguyệt à, để em giới thiệu cho chị 1 ông bạn này nhe, muốn gặp, sáng mai chủ nhật chị tới nhà em đi, đúng 9 giờ. O.K.”. Tôi gật đầu , ứ ừ cho qua chuyện; kể cũng ngộ, bởi vì từ ngày tôi sang Mỹ đến nay, đã hơn 8 tháng rồi, cứ mỗi buổi tối đi học ESL ở ngôi trường anh ngữ ban đêm gần nhà, là như 1 điệp khúc buồn chán: mở sách, tập đọc câu, đứng lên vấn đáp qua lại, rồi hết giờ, về… Có ai đâu để mà to nhỏ thì thầm, lớn rồi còn bé gì nữa, trên 30 rồi đấng phu quân đâu chẳng thấy, người trong mộng đâu, sao tìm hoài chẳng ra… Vậy mà khi còn ở Việt Nam trước lúc sang Mỹ, tôi có đi xem bói… thì ông thầy mù lại phán: “Cô có tin vui, được đi xa, lại tìm được người vừa ý, sang năm đều hỉ sự.”
Đúng như lời hứa, tôi đến nhà Thủy ( tên của cô bạn gái ở chùa Đức Viên- Thủy thua tôi 2 tuổi, thường gọi tôi là chị xưng em).

  • Chị ở nhà, em ra chợ một chút, nhớ có ai đến tìm, chị nhắn ở lại chơi, đợi em.
  • Ủa, còn cái vụ ông anh nào đó, đâu”
  • Thì em nói, đợi em.
    Khi Thủy đi rồi, tôi ngồi ở bộ salon, lật vài tờ báo lên xem, được một đỗi 10, 15 phút, thì chuông nhà reng.
    Tôi ra mở cửa, ngỡ là Thủy về hoặc ai đó, nhưng lại là một anh thanh niên tuổi độ khoảng 30, mang kiếng cận, trông có vẻ trí thức, hơi gầy ,cao…
  • Dạ,cho tôi hỏi thăm có cô Thủy ở nhà không, chị”
  • Thủy mới vừa ra chợ, mời anh vào nhà chơi.
  • Dạ, thưa… chị là”
  • Tôi là bạn của Thủy. Còn anh”
  • Tôi có cái hẹn lúc 9 giờ sáng nay với Thủy. Đến để nói về chuyện share phòng…
  • Ồ… vậy hả” Tôi không nghe Thủy nói. Mà anh qua Mỹ lâu chưa”
  • Thưa… tôi qua đây được 5 tháng.
  • Lúc trước ở Việt Nam, anh ở đâu”
  • Tôi ở Sàigòn, Quận 5, còn chị”
  • Tôi cũng ở Sàigòn, Quận 1.
  • Mà, xin lỗi… anh tên gì, để tiện việc xưng hô”
  • Tôi tên Quang.
  • À, chẳng hay anh Quang lúc ở Sàigòn anh làm nghề gì”
  • Tôi đi dạy cấp II, học trò lớp 6, lớp 7, môn Họa. Xin lỗi, còn chị”
  • Tôi thì cấp I.
  • Uûa, chị cũng nhà giáo à. Dạy cấp I, vậy chị học ở trường Trung học Sư -phạm ra”
  • Đúng, mà sao anh biết”
  • Vì thời đó ai dạy cấp I đều phải trải qua khóa đào tạo từ trường đó. À, mà chị có biết Bùi thị Thanh không”
  • Thanh nào “
  • Cô Thanh dáng mập mập, hơi hô hô đó!
  • À, mà sao anh biết “
  • Cô Thanh đó, ở trường tôi, cổ dạy môn Văn. Tôi có nghe nói cổ học từ trường Sư-phạm đó ra và nhờ phấn đấu từ đoàn viên lên, nên được Ban giáo dục đề bạt cho dạy cấp II.
    *
    Sau này khi nhớ lại buổi gặp gở đầu tiên đó, tuy thật bất ngờ nhưng đầy thú vị. Thú vị bởi lẽ tôi quá đỗi ngạc nhiên là cả 2 chúng tôi đều theo nghành dạy học- tuy không một chút mãnh mai nào quen biết- nhưng chỉ có cái tên Bùi thị Thanh mà cả hai đều biết, lại trở thành là chất xúc tác mạnh hơn cục nam châm hút chúng tôi quyện chặt lại thành một- như là hai chúng tôi đã quen biết với nhau từ kiếp nào, và từ dạo đó tôi bắt đầu quan tâm đến anh.
    Khi quen thân với nhau rồi, tôi mới biết anh qua Mỹ là do ba của anh bảo lãnh, vì đi theo diện di dân nên anh không được hưởng một quy chế nào của chính phủ. Anh tâm sự với tôi: “Đáng lý gia đình qua Mỹ từ đầu năm 1982- vậy mà do trục trặc hồ sơ giấy tờ- trì hoãn kéo dài mãi tới năm 1988, thì gia đình anh mới đoàn tụ được. Tưởng đoàn tụ là hạnh phúc, nào ngờ bên này ba anh lằng nhằng thêm một bà nữa, má anh tự ái, bắt tụi anh phải lo mướn phòng ra riêng để ở, anh thấy ba anh làm vậy không đúng. Tức mình quá, má con anh phải ra ở riêng. Cái dạo mà anh quen em cũng là lúc anh định share phòng nhà của Thủy, nhưng vì phòng hơi chật, nên anh lưỡng lự thôi, phải đi mướn apartment cho rộng. Ba anh , ổng chẳng giúp được gì, ngoài việc cho tiền mướn 1 tháng đầu, và ổng giữ lại 2 đứa em của anh (nhỏ em gái út 14 tuổi và cậu em trai 16 tuổi) để ổng take care. Còn má anh, anh , và hai em gái kế phải ra ở riêng. Chiếc xe mà anh đang chạy, là của ổng cho. Vậy đó, xong … Má anh nói ổng là một người chồng bội bạc, còn tụi anh thì nói ổng là một người cha hết xài. Những ngày tháng đầu khi anh đặt chân tới Mỹ với nhiều sự bực bội trộn lẫn với những hậm hực như thế đó! Có lần ngồi trò chuyện với má anh, anh nói:”Hồi còn ở Việt Nam, má thường cho ổng là thần tượng. Bây giờ qua được đây rồi, cho má sáng mắt”. Rồi cũng may cho anh, có 1 ông bác (bạn của ba anh), thấy trong hãng cần thợ assembler, nên ổng xin đơn về điền, và giúp anh vào làm với mức lương tối thiểu (5 đô 1 giờ). Hai người em gái của anh cũng vậy. Lần lượt rồi cũng tìm được việc làm. Mấy má con anh lo xoay sở, rồi cũng qua ngày đoạn tháng. Dạo thời gian này, là anh quen với em từ hôm ghé nhà Thủy, chắc em còn nhớ!”.
    Đúng, tôi nhớ, tôi nhớ lúc đó và những ngày cuối tuần tiếp theo, là những buổi hẹn đi ăn sáng hay đi dạo trong khu shopping gần nhà, trong những lần như thế, thường là chúng tôi hay hỏi chuyện nhau về công việc làm trong hãng, về sở thích của nhau, và những mơ ước gì cho tương lai. Anh cụ thể hơn tôi: “Anh muốn đi vào College học lại. Vì còn vài tháng nữa là đúng 1 năm, anh có thể ghi danh được, với tiền lệ phí đóng cho mỗi unit rất hạ”.
    *
    Đâu phải lúc nào tôi cũng làm thinh nghe anh nói. Có khi tôi lên tiếng: “Anh thì lúc nào cũng nói chị của em, còn chị của anh thì sao””
    “Sorry em nhé, anh thì không có chị, anh chỉ có ba; em có quyền nói: nào là “ba của anh” đi, anh hùa theo hết mình”. Tôi theo thuyết nhà Phật, hay đi chùa, nên nghe tới chữ Ba chữ Mẹ là tôi nói liền: “Anh phải cám ơn ba của anh mới phải. Vì ổng có công mang anh qua đây. Lý do gì mà anh lúc nào cũng hậm hực với ổng.”
    “Phải rồi, anh phải cám ơn ổng chứ. Cám ơn ổng đã bảo lãnh anh sang đây. Cám ơn nước Mỹ đã cho anh thấy thiên đàng. Chỉ tiếc là anh qua trể, “sanh sau đẻ muộn”… cho nên job thơm dân 75 đi trước hưởng hết rồi, còn lại job “cùi” để cho mấy kẻ qua sau như anh lãnh “thẹo”.”
    ” Mấy job như chạy bàn, cắt cỏ, clean phòng, assembler, vân vân là job “cùi” đối với anh hay sao” Anh nghĩ vậy mà cũng nghĩ””
    Tôi tự giải thích: “Thật anh gàn có khác!”
    *
    Những năm đầu, chúng tôi quen nhau và những cuộc cãi vã xung quanh mấy đề tài ấy cứ nổ dòn như pháo Tết. Có gây với anh nhiều, tôi lại càng thương cảm anh thêm. Anh nói: “Người Việt mình kỳ lắm, hể hội tụ đông lại là “nổ”. Trong “line” của anh toàn là thợ- lương minimum- mà cả ngày cứ ông Đại úy này, ông Trung úy kia, cứ kể toàn chuyện trước 75 . Có 1 ông Trung sĩ cảnh sát mới vào làm ( ở tiểu bang khác sang ), ổng tưởng không ai biết về quá khứ của ổng. Ổng “nổ” ổng là “Đại úy” cảnh sát chìm. Được 1 thời gian, xui cho ổng, có 1 ông nào đó quen biết ổng trước, vào làm chung. Thì ra là “Đại úy” dõm. Nhưng nhiều người đã quen miệng rồi, cứ thế mà gọi ông “Đại úy” hoài, làm ổng nhột, ổng giã lã: “Thôi mà, tha cho tôi đi mà!”. Em thấy có tức cười không” À, em còn nhớ không” Hồi có cái party ở nhà chị Khanh, chị ruột của em đó, dân 75 mà, hội tụ toàn dân đi trước 30-4-75 không. Bạn cũ của chỉ mà. Lúc đó em rủ anh tới. Cũng tụ 5 tụ 3, tay cầm bia, tay cầm cuốn chả giò hoặc bò bía. Mấy tay đó “nổ” kinh khủng, kể chuyện qua đảo Guam rồi nhập cư vào Mỹ, toàn là kỷ niệm đáng nhớ để đời khó quên không. Đến anh, họ hỏi anh lúc đó làm gì” ở đâu” Kỳ này, tới anh, không phải là “nổ” mà là chuyện thiệt. Anh nói ông già của tui đi ngày 29-4-75 với Chuẩn tướng Trần đình Thọ trưởng phòng 3 (phòng hành quân) ở Bộ Tổng tham mưu Saigon. Còn gia đình tui thì ngày 1-5-75 chạy về Rạch Giá để lo tìm đường vượt biển, loay hoay ở đó 2 ngày, tới tối ngày 3-5-75 đi xuống ghe nhỏ để ra tàu lớn thì bị bắt, và bị giải về khám lớn Rạch Giá. Vài ngày sau, thì mấy phòng giam ở khám đường đó đầy nhóc người vượt biển bị bắt: toàn là quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa không, trong đó có ông Chuẩn tướng Thiết Giáp Trần Quang Khôi. Mà bác Khôi lại ở cùng phòng số 2 với bọn tù vượt biên của tôi nữa, vả lại bác Khôi lại nghe chuyện gia đình tôi, có kèm theo tên của ông Chuẩn tướng Trần Đình Thọ. Bác Khôi vẩy tôi lại hỏi: “Này cháu, bác là bạn học cùng khóa với bác Trần Đình Thọ. Chẳng hay, ba cháu làm cấp bậc gì” “Tôi nói tên ba tôi là ông Bùi Quang Huy cấp bậc Trung tá làm dưới quyền của bác Thọ”. Và dạo đó, buổi cơm nào trong ngày, tôi cũng được bác Khôi cho ngồi cùng mâm để ăn chung…” Anh nói một hơi, dân 75 bạn của chị Khanh, à há lia lịa. Vậy hả” Vậy hả”
    Cái đó là chuyện thiệt 100%, nếu mà chuyến đi vượt biên đó anh không bị bắt, thì chắc giờ này cũng B.S. hay Master rồi. Chứ đâu như bây giờ sáng đi làm, chiều tối đi học, kiếm cái A.S. Degree cũng tróc vẩy chầy da. Chứ đừng nói tới những điều cao sang quá tầm tay với.
    *
    Rồi sau cái vụ party đó, trò chuyện qua lại, trao đổi số phone lẫn nhau, em còn nhớ vợ chồng anh Thành không” Là bạn thân của chị em đó. Nói là khi nào hãng của ảnh “open”, ảnh sẽ lôi anh vào làm, vì anh ấy là kỷ sư. Chờ hoài không thấy, để giử mối giao tình trong thời gian nhờ vả, anh gọi phone hẹn ảnh cuối tuần anh sẽ mang đồ nhậu tới nhà ảnh để lai rai… Ảnh lại “pager” cho một vài người bạn nữa. Thế là “chè tam rượu tứ”. Anh lại một phen nghe giá nhà cao thấp toàn bạc triệu, vùng ở trên đồi thì mắc hơn vùng ở miệt dưới…họ thường gọi là “nhà trên núi”. Anh ngồi nghe mà thấy mình lạc lõng, cứ sực nhớ hoài bao khu xóm lao động nghèo ở Sai gòn, hằng dãy nhà ván gỗ mái tôn xiêu vẹo dọc sông Thị nghè, thấy mà ngậm ngùi cho hai mảnh đời trái ngược; hết chuyện nhà, rồi lại tới chuyện xe, xe thì phải xe đời mới, loại “grand new”, giá “out door” ra khỏi cửa “total” từ 50 ngàn tới 70 ngàn là chuyện thường, làm anh liên tưởng tới kẻ mới sang kiếm một chiếc xe 500, 700 đô để chạy, làm phương tiện di chuyển, có khi 3,4 giờ sáng dậy thật sớm để nhận thêm job bỏ báo, rồi tranh thủ cho xong việc, để kịp vào hãng cho đúng giờ để bấm “time card”, ngồi làm mãi miết hết 8 tiếng một ngày, đến chiều tối ăn vội ly mì gói ở “căn-tin” nhà trường, chốc chốc lại liếc xuống cườm tay xem giờ để canh cho vừa đúng, khi đặt chân tới lớp là cũng vừa lúc vị thầy giáo, hay cô giáo cũng xách cặp bước vào để dồng thanh say “Hi” mở đầu cho tiết học…
    Ở đây, địa vị cao, nhà sang, xe mới, thuốc lá thơm, bia bổ, mồi ngon… là một nhúm người bỏ nước ra đi di tản trước ngày 30-4-75, đại diện cho cộng đồng người Việt ở hải ngoại đang phô trương những gặt hái với bằng cấp cao, tài sản lớn là thước đo để định được giá trị thành công của họ hay sao”!
    Anh chếnh choáng không phải vì hơi men, mà vì cái hào nhoáng xa hoa lạ lẫm của họ, hỏi vợ con của họ, sao có màu tóc không đen mà lại vàng; tại nhuộm, hỏi vì sao lại nhuộm, trả lời cho nó giống Mỹ…
    “Giống Mỹ”, suốt đời chỉ là “giống Mỹ”, chứ không bao giờ là Mỹ. Ở nhà của Mỹ, cách trưng bày theo lối Mỹ, nhưng sao lại thấy có mùi hương của nhang trên kệ có bức di ảnh của ông bà, được trả lời: để nhớ nguồn gốc tổ tiên. Đi xe hơi Mỹ, có heat vào mùa Đông, có air condition vào mùa Hè, nhưng sao lại thấy có hình của Đức Phật Bà, hỏi, được trả lời: để phù hộ cho tai qua nạn khỏi.
    Anh lại mơ màng thấy hơi men bốc lên đầu, rồi liên tưởng đến… trong các hãng xưởng hay các công ty lớn luôn luôn có một cái trần nhà bằng thủy tinh trong suốt lơ lửng trên đầu những người khác giống Mỹ không cho họ vượt lên những địa vị điều khiển ngang hàng với Mỹ; và rồi anh ngờ ngợ nghe văng vẳng bên tai những câu chuyện của dân 75 : “Con của tôi nó được sinh ra và lớn lên tại Mỹ, nói tiếng Mỹ tự nhiên như tiếng mẹ đẻ, hoạt bát và không có gợn một chút giọng nước ngoài nào. Dĩ nhiên con tôi là công dân Mỹ, là người Mỹ.” Đúng, con cái của họ là công dân Mỹ, là những người Mỹ, nhưng đôi khi vẫn có người hỏi chúng: “Cháu là người nước nào” Cháu nói tiếng Mỹ hay quá !” Bởi lẽ người ta hỏi chúng như thế là vì chúng không có và sẽ không bao giờ có ngoại hình của một người Mỹ chính thống.
    *
    Đó là những gì mà từ lúc tôi quen anh, và đến mãi sau này khi quyết định lấy anh làm chồng, mặc dầu đôi lúc gia đình tôi, nhất là bà chị của tôi, có phần nào ngăn cản. Tôi hiểu ý của chỉ muốn tôi lập gia đình với mấy người bạn còn độc thân bên ông xã của chỉ, dân có tiền của, địa vị…, với những hình ảnh chào mời lạ lẫm: “Em phải mặc những cái aó đầm 300 đô này đi dự dạ hội đang bán ở cửa hàng Nordtrom mới hạp với màu da của em.” hay: “Căn nhà không tuổi này: 3 phòng ngủ, 2 phòng tắm, sân sau thật rộng có hồ bơi… sẽ là của em.”; nhưng tôi lại chối từ, chối từ để nhận một sự cảm thông chân thật từ những người cùng cảnh ngộ qua sau, đầm ấm tình tự quê hương, như một thứ tình nghèo quê mùa chân chất… với những câu mà tôi sẽ được nghe khi làm vợ của anh, anh sẽ nói như ru tôi vào mộng: “Em à, mặc cái áo dài này để đi Chùa lễ Phật vào ngày mùng 1 Tết là hạp với em nhất. Em mang từ Việt Nam sang phải không” Vậy mà bây giờ vẫn còn vừa quá!” hay: “Căn mobile home này cũng đâu thua gì căn nhà house, mình vừa ở nó, vừa nhớ lại những căn nhà sàn của người Thượng ở vùng cao nguyên Đàlạt, em nhé!”
    Bùi Ngọc Quang

Đập mấy con muỗi

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 24/10/2022 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 26 Nov 2024

Trong mấy tuần qua Ukraine bị đàn muỗi HESA Shahed 136 do Iran chế tạo tấn công tơi bời vào các cơ sở hạ tầng dân sự như nhà máy điện biến thế, làm mất điện, mất khả năng sưởi ấm cho dân chúng khi mùa đông đang tới.
Đàn muỗi drone quái ác này tuy không giết nhiều người, nhưng gây khó khăn vô cùng cho cuộc sống của người dân Ukraine. Đây là sách lược khủng bố mới của Vladimir Putin với hy vọng làm đồng minh Châu Âu mỏi mệt, làm chính quyền Ukraine thối chí để ngồi vào bàn đàm phán nhượng bộ. Đây cũng là dấu hiệu Putin chưa dám xài đồ chơi hạch tâm trong lúc này, vì muỗi Shahed 136 lợi hại hơn.
Tuy nhiên muỗi Shahed 136 chỉ làm dân chúng Ukraine thêm điên tiết, và chưa thấy có dấu hiệu họ muốn chính phủ đầu hàng hay nhượng bộ. Ngược lại đàn muỗi Shahed 136 hoàn toàn không có ảnh hưởng gì tới cuộc phản công của quân đội Ukraine ở các tuyến đầu.
Hôm kia các đơn vị hành chánh bù nhìn của thành phố lớn duy nhứt Kherson mà Liên Bang Nga chiếm được từ ngày đầu xâm lược, đã được lịnh “di tản”. Họ chỉ gài lại một số đơn vị bộ binh để chống cự qua mỗi khu phố. Chống cự để được chở về quê hương trong những toa xe lửa kín mít có máy lạnh mát rượi, hay trương cờ trắng hồi chánh để có tiền thưởng và định cư ở quốc gia thứ ba văn minh, thì tời gian gần sẽ trả lời.
Phần đàn muỗi Shahed 136 vo ve, theo các chuyên gia quân sự thì có rất nhiều phương cách để làm chúng ngừng chích. Phương cách cấp thời cổ điển sẵn có khắp nơi là dùng súng AK hoặc bất cứ súng liên thanh có đạn lớn như trung liên đại liên bắn tưới lên trời sẽ trúng, vì muỗi Shahed 136 chỉ bay ở cao độ thấp chừng trăm mét với vận tốc chậm, và cũng dễ phát hiện vì chúng rất ồn.
Khí giới lợi hại nhứt hiện nay là hỏa tiễn Stinger được các xạ thủ Ukraine đứng trên nóc các cao ốc phóng đi, và Stinger có khả năng tiêu diệt con muỗi Shahed 136 ở khoảng cách rất xa và ở góc độ khó bắn nhứt. Tuy nhiên mỗi hỏa tiễn Stinger trị giá trên 100 ngàn đô la và muỗi Shahed 136 thì chỉ có 20 ngàn đô. Nếu bủn xỉn tiếc tiền đừng bắn và để muỗi Shahed 136 lao xuống một nhà đèn thì phí tổn sẽ cao hơn 100 ngàn đô la nhiều lần.

Có nhiều cuộc bàn cãi và lần này Hoa Kỳ có thể thử đồ chơi mới ở chiến trường Ukraine, nếu so với các đồ chơi cổ điển như các giàn phóng M142, M270, pháo M777 v.v…
Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ mới có hệ thống điện tử để nướng drone và hỏa tiễn hành trình mà chi phí sử dụng rẻ hơn nhiều so với các loại hỏa tiễn phòng không. Đó là LMADIS, viết tắt của Light Marine Air Defense Integrated System, hay Hệ Thống Phòng Không Nhẹ Tích Hợp của Thủy Quân Lục Chiến.
Hệ thống LMADIS này mới ra lò năm 2019 và đã bắn hạ một máy bay drone của Iran vào tháng 7 năm 2019, khi con muỗi Trung Đông này lân la đến thăm trái phép một tàu đổ bộ của Thủy Quân Lục Chiến.

LMADIS gồm có hai bộ phận. Một xe chỉ huy và một xe trang bị các bộ phận cảm biến. Bộ phận cảm biến có hai phần chính. Một bộ phận truy lùng “muỗi lạ” thu nhận tín hiệu của nó rồi phân loại tần số liên lạc của muỗi. Sau khi biết được tần số thì bộ phận nướng BBQ sẽ bắn ra một tần số tương tự có công suất cao làm cháy rụi mạch điện của muỗi. Muỗi sẽ lăn đùng ra tắt thở.
Hệ Thống Phòng Không Nhẹ Tích Hợp này tốt hơn hệ thống tia laser vì hỏng cần nhắm chính xác vào mục tiêu. Tuy nhiên LMADIS có nhược điểm là ít công hiệu đối với loại muỗi tự động dùng GPS bay đến mục tiêu mà không có tần số liên lạc với người điều khiển nó. Hệ thống này còn gây nhiễu loạn tần số vô tuyến của máy bay bạn hoạt động gần đó.

Một phát minh diệt drone khác của phòng thí nghiệm Không Quân Hoa Kỳ sắp hoàn tất, đó là hệ thống THOR, viết tắt của Tactical High Power Operational Responder, tạm dịch là Hệ Thống Chống Trả Chiến Thuật Toàn Năng.
THOR được chế tạo để tiêu diệt nguyên cả đàn muỗi đông đảo rẻ tiền nhưng nguy hiểm đang vo ve bay tới (swarm). Hệ thống này dùng điện từ (electromagnetic), như vi sóng (microwaves) có công suất rất cao. Chỉ cần xẹt ra một luồng vi sóng cao thế có vận tốc ánh sáng là cả đàn “muỗi lạ” sẽ rớt lộp bộp xuống đất.

Hệ thống THOR được thiết kế gọn trong một thùng “conex” dài, và chỉ cần một chiếc máy bay vận tải C-130 là có thể chở được. Hỏng biết bao giờ Ukraine mới nhận được THOR. Các khoa học gia chắc cũng đang muốn thử đồ chơi của mình để cải tiến cho nó hoàn hảo hơn. Ukraine cũng đã tuyên bố rồi. Nếu Hoa Kỳ muốn thử đồ chơi mới thì xin kính mời quá bộ.
Ngoài các đồ chơi điện tử để diệt muỗi. Ukraine đã dùng phương cách cổ điển để đập muỗi. Vệ tinh tình báo Tây phương đã chấm tọa độ nơi một đàn muỗi cất cánh, và có tin là Biệt Kích hay du kích kháng chiến Ukraine gì đó đã đến tận sào huyệt tiêu diệt trọn ổ.
Hôm qua có tin Liên Bang Nga đã ra lịnh cho mấy thằng cố zấn Iran phải lập tức rời bán đảo Crimea vì tính mạng của cố zấn hỏng được bảo đảm. Cố zấn Iran đến Crimea để dạy cho Nga ngố cách phóng muỗi Shahed 136.

BÔNG LAU 23.10.2022

Bốn người bạn quốc tế ra đi bên nhau

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 26/07/2022 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 26 Nov 2024

Ngày 18 tháng Bảy có bốn binh sĩ thuộc Quân Đoàn Lê Dương Ukraine (Foreign Legion) đã tử trận ở Donbas. Đó là Emile-Antoine Roy-Sirois (Canada), Edvard Selander Patrignani (Thụy Điển), Luke Lucyszyn (Hoa Kỳ) và Bryan Young (Hoa Kỳ).
Họ thuộc một toán Biệt Kích có kinh nghiệm chiến trường Iraq và Afghanistan nên được lựa chọn làm nhiêm vụ bố trí gần ngôi làng Hryhorivka cách 2 dặm về hướng đông bắc của Siversk – Donetsk để tiếp viện một đơn vị Ukraine đang bị vây. Toán quân tiếp cứu lập một vị trí chiến đấu và khai hỏa vào một khe núi nơi quân Nga đang vượt sông.
Nhiệm vụ của họ đã thành công. Tuy nhiên ở giai đoạn cuối của cuộc hành quân, toán Biệt Kích Lê Dương bị 6 xe tăng, 4 xe thiết giáp và khoảng 70 lính Nga tấn công. Luke Lucyszyn bị thương. Ba người còn lại băng bó và tải thương Luke. Nhưng đạn đại bác của xe tăng địch đã giết 4 người.
Emile-Antoine Roy-Sirois, Edvard Selander Patrignani, Luke Lucyszyn và Bryan Young có đời sống êm ấm bên gia đình ở những quê hương sung túc tiện nghi. Nhưng họ để lại tất cả sau lưng để tham gia một cuộc chiến tàn khốc. Không phải vì tiền mà vì lý tưởng tự do.
Chỉ huy trưởng của toán binh sĩ quốc tế này là một vị Đại Tá Ukraine tên Ruslan Miroshnichenko. Ruslan cho biết ông rất vinh dự được làm cấp chỉ huy các binh sĩ ngoại quốc này.

Vị Đại Tá cho biết Bryan Young 51 tuổi là một cựu quân nhân rất giỏi, biết tất cả và có nụ cười khích lệ mọi người. Bryan đã từng bị thương khi khi chiến đấu trong đơn vị Lục Quân Hoa Kỳ. Bryan đã tuyên thệ phải chiến đấu cho nền tự do nên anh đã nhập cuộc khi Nga xâm chiếm Ukraine. Luke Lucyszyn là người Mỹ gốc Ukraine mới 31 tuổi. Có vợ và hai con nhỏ ở tiểu bang New Jersey. Luke đến Ukraine tháng Tư rồi và bắt đầu với công tác cứu thương. Anh liên lạc về nhà và yêu cầu hàng xóm tiếp tế quân trang quân dụng như các áo vét chiến thuật bởi vì họ thiếu thốn đủ mọi phương diện. Luke là một cảnh sát viên ở Mỹ.

Emile-Antoine Roy-Sirois công dân Canada nhưng đã là cựu quân nhân có nhiều kinh nghiệm của Quân Chủng Lê Dương Pháp. Còn Edvard Selander Patrignani là Trung Úy của quân đội trừ bị Thụy Điển. Edvard còn là kinh tế gia kiêm triết học.
Đại Tá Ruslan Miroshnichenko cho biết đã rất đau đớn khi mất đi những chàng trai bình thản này. Nói theo ngôn ngữ trìu mến của quân đội, Đại Tá cho biết đang lo thu xếp để những người em trai của ông (my boys) sớm hồi hương.

Đặc biệt trong hình của Bryan Young với bộ râu dài của ông già Noel. Anh ẵm một chú mèo nhỏ với nụ cười nhân hậu. Một hình khác của Bryan Young vác trên vai một khẩu đại liên M240L. Đây là khẩu đại liên được biến cải mới nhứt của Quân Lực Hoa Kỳ. Nó ngắn và nhẹ hơn nhiều so với các đời cũ của M240. Sự kiện này cho thấy Hoa Kỳ đã cung cấp cho Ukraine những võ khí tối hảo từ giàn phóng lưu động M142 cho đến khẩu súng cộng đồng M240L.

Nhưng chiến tranh không chừa một ai cả. Cho dù họ có thiệt nhiều kinh nghiệm chiến trường và trang bị võ khí tối tân của phương Tây. Và bốn người bạn đồng đội này cùng ra đi bên nhau như lúc họ chiến đấu bên nhau. Tính đến nay có khoảng 6 công dân Hoa Kỳ nói riêng và khoảng 200 binh sĩ quốc tế đã ngã gục ở chiến trường Ukraine vì hai chữ Tự Do.

BÔNG LAU 25.07.2022

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com
Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 26 Nov 2024

Phần 4
Người Chết Dưới Chân Chúa
Sông Tiền Giang mênh mông như bể, chiếc phà lớn chuyên chất ba GMC, vài chiếc xe du lịch, bềnh bồng mang chúng tôi qua sông lẫn với đám hành khách áo quần màu sắc. Họ dồn về một phía, nhìn lũ người gươm đao thật xa cách. Tôi ngồi trên mui tàu thả từng mẩu giấy vụn xuống dòng nước, trí não lãng đãng như bọt sóng.
Đoàn xe rời quốc lộ 4 rẽ về phía phải theo con đường đỏ hướng phi trường Trúc Giang. Qua ngôi trường tiểu học quận, một dẫy quan tài sắp lớp, mùi thây chết bốc lên ngây ngấy. Biệt động quân – tiểu đoàn 41… Nghe nói hình như Tiểu đoàn trửơng hay Tiểu đoàn phó bị chết. Lính ở trên xe xì xầm bàn tán với vẻ thản nhiên. Họ không biết chiến trận đã đến hồi khốc liệt, nên chiến đoàn Dù gồm tiểu đoàn chúng tôi và một tiểu đoàn bạn đã có mặt tại vùng hành quân từ ngày trước. Đến phi trường nơi đặt bộ chỉ huy của khu chiến thuật Tiền Giang, trung tâm hành quân của cuộc hành quân, chúng tôi được lệnh ngủ tại đây để chờ ngày mai trực thăng vận vào vùng hành quân. Tôi chưa được dự trận lớn, nên không có ý niệm về những gay go sắp đến trong ngày mai, bình thản ngủ một giấc yên lặng với kết luận: Trực thăng vận đối với Nhảy dù chỉ là trò đùa, không có gì mới lạ.
Ngày 22, 8 giờ hai pháo đội đặt ở phi trường hướng súng về bãi đáp nhả đạn liên hồi để dọn bãi. Lấy cái chết của phe địch để làm an toàn cho phe mình, luật của chiến tranh quả tàn khốc. Tiếng súng dọn bãi vừa dứt, ba mươi chiếc trực thăng đồng bốc lên một lượt mang hai đại đội 71 và 72 vào trận địa.
Báo cáo xuống bãi tốt, bình yên. Phần còn lại của tiểu đoàn được trực thăng vận tiếp theo. Toàn bộ tiểu đoàn đã xuống đủ, hai đại đội 71 và 73 dẫn đầu đơn vị, di chuyển được mười lăm phút. Súng nổ! Đụng rồi! Đụng rồi… Lính dáo dác, máy truyền tin chuyển lệnh nghe loạn xạ. Phía trước tiểu đoàn súng nổ lẫn lộn, tiếng khô và cứng của ta, sắt nhọn của địch… Đại đội 72 rút lên bố trí về phía phải của đại đội 73. Lệnh cho đại đội chúng tôi lên thật nhanh. Ngang qua chỗ đứng của Thiếu tá tiểu đoàn trưởng, một tiếng nổ thật lớn nháng lửa ngay trước mặt, quả đạn 57 ly nổ ngay khi ra khỏi nòng, người phụ xạ thủ bắn tung ra đằng sau, một bàn tay bị đứt. Ông tiểu đoàn trưởg hét lớn qua màu khói… Trung đội anh chạy ra cái nhà tranh…
Như vậy là đụng độ lớn, người bị thương nằm la liệt ở dưới các rãnh dừa nước. Toàn đang đứng trong một giao thông hào chỉ trỏ quát tháo. Phía tay trái nơi xa có tiếng lựu đạn nổ và tiếng hô xung phong. Trung đội tôi ép phải, hướng tiến bây giờ thẳng góc với các con kinh nhỏ, nên chúng tôi chỉ có thể nhảy từng bước thật dài trên bờ kinh, một cái nhảy hụt tôi rơi vào đường mương cùng với hai người khinh binh. Bám cỏ bò lên, xác hai tên Việt cộng nằm tênh hênh, một xác bị banh nát ngực, xác kia nằm sấp, không rõ… Người chết, lần đầu tiên tôi chạm phải – một thây chết của đối phương.

  • Lên đi tụi mày, thằng nào trốn đàng sau tao bắn gãy giò…
    Tôi quát tháo cũng ra gì, mấy người lính đi chậm dớn dác tìm lối qua rạch. Họ không nhảy qua được vì mang đồ quá nặng.
  • Đ.m… Nhảy qua được không? Thường ngày sao liến xáo quá cỡ, hôm nay lại chậm như rùa.
    Tôi chửi mắng om sòm. Trung đội đến bờ làng dừng lại bố trí trông ra cánh đồng trống. Ngồi dựa vào một gốc dừa, tôi thấy mệt vì phải quát tháo quá nhiều, nhớ lại lời chửi tục. Tôi đã thành một người lạ nào đấy. Địch từ phía trái chạy vọt qua, bóng áo đen ẩn hiện đàng sau rặng dừa xanh bên kia cánh đồng. Bắn! Bắn! Trung đội tôi khai hỏa ròn rã. Một vài bóng áo đen ngã xuống. Hơi thuốc súng, hơi bùn lầy, máu người chết xông lên ngây ngấy.
    Sáu giờ chiều, tiếng súng phía bên trái, hướng đại đội 71 hoàn toàn chấm dứt, trực thăng tải thương bắt đầu đến, khói màu xanh làm dấu bãi đáp bốc lên mờ mịt làm đặc không gian đang ngã vào đêm, rừng dừa màu xanh thẩm lại. Tiếng súng vu vơ của địch bắn lên máy bay khi tháo lui. Tôi ngồi dựa gốc dừa, mệt mỏi đến tột độ, một tên lính mò lại bên cạnh.
  • Thiếu uý ăn cháo gà?
  • Cháo gà?
  • Dạ, em bắt được, nó còn ấp trứng…
  • Thôi mày cho tao quả trứng, tao ăn cháo không nổi.
    Khi lính trong trung đội xịt xoạt ăn cháo, tôi đi lui về phía xác hai tên Việt cộng. Tên nằm sấp bây giờ lật ngược lại, có lẽ đấy là cử động cuối cùng của nó trước khi chết. Tôi đặt tay lên da người chết lạnh tanh. Đêm xuống, chúng tôi trải poncho nằm trên bờ rạch, không cởi giày, địch có ý tấn công lại nên phải đề phòng.
    Tiểu đoàn tiếp tục truy kích, hôm nay đại đội tôi đi đầu, trung đội tôi dẫn đầu đại đội, chúng tôi đi dọc một con kinh lớn, rừng dừa xanh ngút tầm mắt, thôn xóm trù phú nhưng không một bóng người. Chúng tôi dè dặt từng bước đi.
  • Hầm có dấu chân người! Tản rộng ra chung quanh, một người đến xem mà thôi
    -Tôi ra lệnh.
  • Ai ở dưới, đi lên!… Im lặng…
  • Lên không tao ném lựu đạn xuống! Thiếu uý, cho em ném lựu đạn xuống. Tên lính hỏi ý kiến.
  • Không, mày bắn xuống mà thôi.
    Tên lính lanh lẹ bắn xuống một tràn thompson, có tiếng rên khe khẽ.
  • Lên không bắn nữa. Đưa tay lên trước…
    Tôi nín thở, một chiếc đầu bạc phơ từ từ nhô lên khỏi miệng hầm, ông lão bế một bà lão lên theo. Vừa ra khỏi hầm ông lão chấp tay xá bốn hướng xụt xùi khóc lóc, bà lão nằm vật xuống, ở đầu có một vết thương.
    Đến buổi trưa, tôi hoàn toàn kiệt lực như một mũi tên rơi xuống cuối đường bay. Hình ảnh hai mái tóc bạc nhô lên từ miệng hầm, nét mặt hốt hỏang của hai tên địch chưa quá mười sáu tuổi lôi lên từ một đám bèo, một tên còn đang ngậm một búng cơm… Những hình ảnh đó bây giờ cộng thêm cảnh chết cuả hai vợ chồng và ba đứa con ở trước mắt tôi. Họ chết từ ngày hôm kia, khi địch đặt bộ chỉ huy ở khu nhà thờ, người chồng là ông Từ giữ nhà thờ đã đem cả gia đình vào trốn dưới cái bệ thờ Chúa.
    Tượng Chúa ngã nghiêng, tượng Thiên Thần vỡ tung tóe, hai bàn tay trắng bằng đất nung lăn lóc trên sàn nhà. Khi tôi cúi xuống nhặt hai bàn tay này thì khám phá ra năm xác chết trên. Họ chết ngồi, hai vợ chồng ngồi sát nhau ôm ba người con trước ngực. Họ chết vì bị sức ép nên thân thể vẫn còn nguyên vẹn, nét mặt in vẽ hốt hỏang. Tôi ra lệnh kéo xác họ ra sân.
    Giáo đường bây giờ im vắng, tượng Chúa linh động trong vị thế nghiêng ngã, nắng ở ngoài không rọi vào, không khí nặng nề lạnh ngắt… Tôi ngồi xuống trên chiếc ghế, hỏi thầm…
  • Thượng-Đế, Ngài có thật đấy chăng?
    Khi tôi bước ra đàng sau nhà thờ, qua khu nhà ở của những người chết, một chiếc áo tím chắc hẳn của cô gái còn phơi phới bay trong gió… Nhìn ra xa, xác cô gái nằm thẳng trên sàn gạch, nắng thật sáng rọi lên rực rỡ. Người tôi ai cắm một lưỡi dao oan nghiệt vào tim, thật buồn. Tôi loay hoay đốt một điếu thuốc. Cái chết qủa bi thảm, nhưng hình ảnh của cô gái nằm chết khi chiếc áo còn bay trong gió vang vang nơi trí não tôi như một tiếng kêu thê thảm không dứt âm. Hai ông bà cụ già, tên Việt cộng trẻ, người cha và người mẹ, họ đã sống, đã chết dù sao cũng có chủ đích, có chọn lựa, cũng đã qua gần hết cảnh sống. Cô gái chết bất ngờ không báo trước, yêu đời như màu tươi của chiếc áo. Tôi choáng váng ngộp thở, người lao đao trong một niềm giận dỗi phiền muộn không cùng.
    Đụng lớn, tiểu đoàn lấy được một lô súng đạn, thừa thắng truy kích địch để lùa chúng về quốc lộ 4. Bên trái là sông Tiền Giang, Tiểu đoàn 3 nhẩy dù bên phải làm thành phần chận bít. Tiểu đoàn tôi lùa địch từ đông sang tây. Việt cộng phân tán thành từng toán nhỏ để chạy trốn. Ba đại đội tác chiến được xử dụng để lục soát không chừa một hốc nhỏ. Việt cộng được moi lên từ các ao bèo, bờ lúa, đụn rơm, cuộc truy kích vừa khôi hài vừa hào hứng như trò chơi. Tôi lầm lì đi giữa hàng quân, trận đánh ngày hôm qua, một đêm mất ngủ, cái chết hàng loạt của Việt cộng, những thây ma tênh hênh lăn lóc, tất cả đổ ào xuống một lượt trên tâm hồn hồn nhiên — Tôi ngất ngư như lần đầu tiên uống rượu nhưng đây là cơn say đen. Xua quân đi vào một vườn dừa rộng, tiểu đội bên trái, tiểu đội bên phải, lục soát dọc theo hai con rạch nhỏ bao quanh khu vườn. Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám…Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác. Thằng bé theo tôi cùng cùng tên hiệu thính viên lẻn ngay vào bếp kiếm thức ăn. Tôi đi đến trước chị đàn bà…
  • Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?
    Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai.
  • Của chị đây hả? – Vẫn im lặng. Nỗi im lặng ngột ngạt, lạ lùng.
  • Con mẹ này điên rồi thiếu uý, chắc sợ quá hóa điên.
    Tên hiệu thính viên thì thầm sau lưng tôi, mắt nó sáng lên khi nhìn vào những miếng vàng chói trên giấy…
  • Vàng, chắc cũng hơn một lượng, lấy đi thiếu uý… Ê! Đi đi.
    Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.
  • Chị kia quay lại đây tôi trả cái này… – Tôi nói vọng theo.
    Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú. Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẳng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:
  • Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ… – Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực… Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi… Không lấy vàng và bắt đứng lại!! Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này… Thê thảm cho tôi, cho những người lính chung quanh vì lính chúng tôi có thể tàn bạo khỏanh khắc, tham lam lén lút nhưng chúng tôi đâu phải là một thứ lính tẩy trên quê hương — Người ngoại cuộc với những tàn phá kinh tởm do chiến tranh này gây nên. Chúng tôi có lòng nào hưởng cảm giác trên xác thân của một người đàn bà Việt Nam trong cơn vỡ nát kinh hoàng thống khổ… Khổ lắm, người đàn bà của tỉnh Kiến Hòa đâu biết chúng tôi không bao giờ muốn huênh hoang, hung bạo trong vườn xanh bóng mát này, chúng tôi đâu có muốn tạo những ngọn lửa oan uổng thiêu đốt căn nhà bình yên như giấc mơ của chị. Và những mảnh vàng đó, thân thể chị đây ai có can đảm để giang tay cướp phá và xâm phạm! Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo bật tung, muốn lau nước mắt trên mặt chị nhưng chân tay cứng ngắt hổ thẹn. Và chị nữa, người đàn bà quê thật tội nghiệp, cảnh sống nào đã đưa chị vào cơn sợ hãi mê muội để dẫn dắt những ngón tay cởi tung hàng nút áo, sẵn sàng hiến thân cho một tên lính trẻ, tuổi chỉ bằng em út, trong khi nước mắt chan hòa trên khuôn mặt đôn hậu tràn kinh hãi.
    Quân rút ra khỏi làng, chị đàn bà đi theo chúng tôi, vẫn với những bước đi ngượng ngập cứng nhắc, vẫn đôi mắt nhìn vào khỏang trống không cảm giác. Người đàn bà Việt Nam bước đi trong ngỡ ngàng với hạnh phúc khốn nạn: Hạnh phúc đến chót sau những thống nhục rời rã. Hạnh phúc lạ lùng như chiêm bao thấy thân thể chưa bị xúc phạm!
    Quân rút ra gần đến quốc lộ, con sông bên trái đầy thuyền, hỗn độn dòng người chen chúc. Dân của vùng hành quân trốn ra từ ngày trước, tiếng người kêu la vang dội một khỏang sông, họ hỏi thăm tình trạng nhà cửa, người thân thích, người kẹt trong vùng hành quân. Tiếng khóc vang rân… Trời ơi, nhà ông Năm bị chết hết cả rồi bà con cô bác ơi! Tiếng kêu thê thảm như một kẻ đắm đò…
  • Lai! Mày đó Lai ơi! – Bà già dưới sông mồm kêu tay ngoắc chị đàn bà theo chúng tôi. Chị ta dừng lại như để nhớ một dĩ vãng, như nhớ một khỏang sống đã đi qua… – Lai! Lai ơi, má đây con…- Chị đàn bà đứng lại xoay người về phía dòng sông… Má! Má!
    Tôi thấy đôi môi run rẩy thì thầm: Nhà cháy rồi! Nhà cháy rồi! Chị ta đi lần ra phía bờ sông, cũng với những bước chân của người mất hồn, bóng áo trắng nổi hẳn trên đám dừa xanh.
    Tôi cúi đầu đi thẳng, mắng mấy người lính đứng tần ngần nhìn theo người đàn bà: Tiên sư, đi lẹ còn qua phà sớm. Lòng ngập một niềm ăn năn kỳ lạ.
    Chiếc phà đưa tiểu đoàn chúng tôi về Mỹ Tho. Dân chúng ra đứng nhìn cảm phục. Đóng quân ở sân vận động, tôi đi lên chiếc cầu hướng về phía Gò Công, dòng nước đen thấp thoáng ánh đèn chảy siết dưới chân cầu đục ngầu như tâm hồn. Đêm tỉnh lẻ đỏm dáng tội nghiệp, tôi đi lang thang, thật lạ ngay với chính mình, gặp Bang ở Biệt động quân, anh chàng nhỏ người nhưng ồn ào nhất trong số mười lăm anh khóa 15 Thủ Đức về Biệt động quân. Bang đãi tôi cơm, tôi chỉ uống được chai bia, xong chúng tôi đi coi ciné, phim The Sun Also Rise, phục Hemingway thì có khi đọc sách, nhưng phim dửng dưng, nhạt nhẽo. Tôi đi về trong đêm khuya, thành phố ngủ sớm, chiếc lá khô bay trước mặt như tà áo của cô gái. Tội nghiệp thay cho một tuổi trẻ, tôi cũng đáng tội nghiệp nữa. Ngày mai chúng tôi về Sài Gòn, ao ước được cởi áo nhà binh trong vài ngày, nhưng đó chỉ là ao ước vì chúng tôi biết rằng Sài Gòn đang có biến động, Phật giáo và Công giáo xua tín đồ ra đường phố. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là phẫn nộ khi về đến Sài Gòn đóng ở Tổng Nha Cảnh Sát, lãnh một cái mặt nạ để sẵn sàng dẹp biểu tình.

Tháng 8-1964. Kiến Hòa