Nhớ vùng chiến tranh

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 24/10/2024

Post by Sơn râu 28 Nov 2024

Ngồi trên máy bay C130 gần cả đêm. Đến 2 giờ sáng máy bay đáp xuống một căn cứ. Mình đứng ở cửa tiễn cô Đại úy West Point đồng nghiệp. Cổ phải xuống căn cứ này. Xạ thủ đưa trái đấm lên, cổ cũng đưa trái đấm và hai trái đấm cụng vào nhau, cổ mỉm cười. Đó là cách từ biệt mạnh mẽ nơi đây. Máy bay lại cất cánh mang theo một tốp lính hồi hương.
Đêm hôm trước ngồi ở phòng làm việc tới 2 giờ sáng và nghe tiếng lục cục ở phòng kế. Khi ra về đi ngang thấy một phòng còn đèn sáng, mình thò đầu vào nhìn coi còn ai ở trong phòng. Thấy không có ai nên xạ thủ tắt đèn đóng cửa rồi ra về.
Sáng hôm sau có người cho biết là cô Đại úy vào trong một phòng làm việc đóng cửa lại và nằm ngủ trên nền nhà hỏng có mền gối gì trơn trọi. Đúng là trâu bò. Dễ nể thiệt. Mình quên hỏng dặn cô ta là ở đây có chuột chạy qua lại trên sàn nhà ban đêm hic.
Bỗng ân hận là nếu biết thiếu phòng thì xạ thủ sẽ nhường phòng cho cô ấy. Phòng có hai giường và giường kia trống vì anh bạn cùng phòng đã đi công tác xa. Nhưng luật không cho phép nam nữ ngủ chung một phòng. Thái độ đẹp nhứt là thằng đàn ông nên nhường phòng cho cô gái. Nhưng đây là quân đội, cô Đại úy phải ngủ dưới đất còn gã xạ thủ có chức cao hơn thì được ngủ trên giường.
Máy bay C130 đáp xuống một căn cứ quân sự ở một quốc gia Trung Đông đồng minh mật thiết của Hoa Kỳ. Đây là một nước giàu có. Đàn ông ở nước này hỏng phải làm việc vì chính phủ bán dầu lửa rồi phát tiền cho dân chúng sống một cuộc đời no ấm và họ thuê nhân công từ những quốc gia nghèo khó làm hết tất cả các công việc. Mình khinh bỉ tụi nhà giàu sống trên những đồng tiền không phải do mồ hôi nước mắt của họ tạo ra.
Vừa từ vùng chiến tranh trở lại một xứ tạm gọi là văn minh, xạ thủ cảm thấy bỡ ngỡ. Mình vào phòng với anh em binh sĩ của nhiều đơn vị bay chung trên chiếc C130, để nghe mấy cô nữ quân nhân xinh xắn thuyết trình thủ tục hội nhập đời sống ở căn cứ này. Điền mấy cái đơn “nhập trại” rồi ra ngoài đợi xe đến đón.

Đến 5 giờ sáng thì có một anh Trung sĩ da đen làm việc trong bộ phận hậu cần và đưa rước S4 đến đón. Anh này mấy ngày trước nhắn tin thông báo xạ thủ các chuyến bay và nói năng rất lễ độ, lúc nào cũng gọi mình là Sir. Nhưng xạ thủ gọi ảnh là người anh em Brother cho thân thiện. Ảnh hỏi Sir cảm thấy trong người thế nào. Xạ thủ nói pha trò cho zui. Nói tui rất zui khi vừa mới rời khỏi cái shithole ở vùng chiến tranh. Shithole là cái gì đó tồi tệ nhứt mà hỏng ai muốn tới. Anh Trung sĩ cười ha hả và nói quân đội nên gởi mấy đứa mới qua Trung Đông đến mấy cái shithole đó vài tuần để tụi nó bớt cằn nhằn đòi hỏi đủ thứ khi mới tới ha ha.
Về tới nơi tạm trú và đợi một anh Trung sĩ S4 khác đem chìa khóa phòng và giấy tờ đễ xạ thủ ký nhận phòng.
Nhận được phòng rồi thì gặp các nhân viên đi làm sớm ghé qua chào hỏi. Họ thấy mặt mũi xạ thủ bơ phờ râu ria xồm xoàm lâu ngày hỏng cạo nên thương hại. Hỏi muốn ăn gì họ sẽ lo cho. Mình xin kiếu để về coi cái phòng tổ ấm trong những ngày tạm trú nơi đây.
Trong phòng có TV bật lên coi chương trình của Mỹ lần đầu tiên sau 5 tháng. Cái giường rộng mênh mông, tấm ra và áo gối sạch sẽ thơm tho. Chạy vào phòng vệ sinh chỉ cách 4 mét thấy bồn tắm lung linh dưới ánh đèn. Tự nhiên tủi thân nhung nhớ căn phòng nhỏ ọp ẹp trong vùng chiến tranh 5 tháng qua. Nhớ giấc ngủ vội vàng trăn trở trong tiếng nổ của đạn pháo binh bắn từ C130. Nhớ còi báo động rùng rợn và loa phóng thanh rổn rảng loan báo hỏa tiễn hay drone đang bay tới, và những tiếng chân chạy rầm rập hô hoán vào hầm vào hầm mau lên…

BÔNG LAU 23.10.2024

Người hành khách chung thủy

doithoaionline.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 25/03/2023 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 28 Nov 2024

Năm 2017 xạ thủ Bông Lau đi Hà Thành để tìm mua tranh sơn dầu. Nơi bán tranh là một đại lý môi giới bán giùm tranh cho các họa sĩ và họ lấy huê hồng, dĩ nhiên là không ít. Còn họa sĩ thì lúc nào cũng nghèo.
Cửa hàng bán tranh ấy tọa lạc ở Phố Cổ, hàng ngàn tranh sơn dầu lớn nhỏ dựng đứng lớp lớp dọc hai bên tường của bốn năm tầng gác xép. Đi lựa tranh mất thời gian và công phu. Đôi khi phân vân vì thấy bức nào cũng đẹp nên phải đi đâu đó chơi rồi quay lại quyết định.
Mười mấy bức tranh sơn dầu lựa đợt “bán kết” được dựng riêng ra để ông khách khó tánh có thời gian suy nghĩ cho phần “chung kết”. Tiêu chuẩn của sự chọn lựa phải là sự hỗn hợp của lối vẽ trừu tượng và tả chân về con người và thành phố Việt Nam. Nhưng nếu có một chi tiết nhỏ trên tranh vẽ xác định khung cảnh ấy là Việt Nam là sẽ bị loại bỏ ngay. Ông khách muốn bạn bè của mình khi nhìn vào bức tranh sẽ hỏi đây là đâu, hay người trong tranh là dân tộc nào.
Kỳ lạ một điều là các bức tranh tuy được lựa chọn từ những tầng gác khác nhau, và người bán tranh đã ngạc nhiên cho biết anh xạ thủ đã lựa các bức sơn dầu ấy cùng một họa sĩ. Có phải những nét vẽ mạnh bạo khác thường ấy đã cuốn hút và đó là cái duyên mua nhiều tranh của một họa sĩ.
Cuối cùng cũng chọn được ba hay bốn bức. Tấm lớn nhứt có kích thước 1,2 m x 1,5 m. Đại lý bán tranh cẩn thận bọc plastic và cuộn các bức tranh lại, rồi bỏ vào một ống bằng giấy các-tông lớn và dài như một nòng pháo 105 mm.
Đem các nòng pháo ấy từ Hà Nội vào Sài Gòn qua Hàng Không Việt Nam đã khó rồi. Nhưng cái nòng đại bác ấy đem lên máy bay để về lại nước Hoa Kỳ thì hỏng đơn giản chút nào.

Tình cờ chuyến đi ấy xạ thủ đặt vé của hãng ANA (All Nippon Airways). Ở quầy kiểm soát vé và gởi hành lý, nhân viên Việt Nam làm cho hãng ANA hỏng biết xử trí sao vì sợ cái nòng pháo sẽ bị hư hại nếu cho lên băng dây chuyền rồi chất vào hầm máy bay. Họ hỏi ý kiến quản lý, rồi quyết định bán cái vấn đề nan giải cho các tiếp viên phi hành ở cửa vào máy bay.
Thế là anh xạ thủ được phép vác cái nòng pháo 105 ly đến nơi chờ lên máy bay. Khi đến cổng chờ và đang đứng xớ rớ với cái nòng pháo cao hơn đầu người, thì một cô tiếp viên phi hành người Nhật nhỏ nhẹ dễ thương tiến đến. Có lẽ đã được thông báo trước, nên cô ấy mời chàng xạ thủ đến ngồi ở dãy ghế dành riêng cho người già và phế nhân sát cổng hành lang vào máy bay.
Ngồi vào hàng ghế dành cho người già và tàn tật đã thấy nhột rồi. Cô tiếp viên phi hành người Nhật lại quỳ bên cạnh làm tên xạ thủ cộc cằn chỉ quen bắn đại liên và hò hét, thấy lòng mình nhũn ra như một con thỏ đế rụt rè.
Có lẽ đó là cung cách lễ phép của phụ nữ Nhật. Họ không đứng rồi nhìn xuống nói chuyện với hành khách đang ngồi mà quỳ gối xuống thấp hơn để tỏ sự kính trọng. Giống phong cách quý phái cổ điển của Âu Châu là khi có khách quý đến phòng tiệc thì mọi người đứng lên.
Cô tiếp viên Nhật hỏi bên trong nòng pháo có những thứ gì. Xạ thủ nói cho cô Nhật biết bên trong có những bức tranh sơn dầu mà tôi rất quý. Hình như khi nói những bức tranh quý thì cô ấy rất chú ý.
Khi đến giờ lên máy bay, cô tiếp viên lịch sự xinh xắn ấy đến mời chàng xạ thủ vào máy bay đầu tiên. Trời ơi, mua vé “economy ticket” dành cho dân nhà nghèo lúc nào lên máy bay cũng cầm cờ đỏ đi sau cùng. Bi giờ được ngồi ghế dành cho người già và lên máy bay trước đám kinh doanh đại gia. Sao mà long trọng quá zậy nè.
Vào trong khoang máy bay thì các cô tiếp viên Nhật đã được thông báo trước, nên họ đón lấy cái nòng pháo rồi dựng trong một kho nhỏ chứa hành lý của tiếp viên phi hành. Thì ra họ đã biết cách giải quyết hành khách với hành lý cồng kềnh bất thường như nòng pháo. Để nó vác cái nòng đại bác đi sau quơ qua quơ lại trúng người khác thì nguy to.

Về đến nhà xạ thủ viết thơ cho hãng ANA miêu tả cách xử thế tử tế ân cần – kindness của người nữ tiếp viên hàng không trong chuyến bay ấy và hứa sẽ trở thành một người hành khách thủy chung.
Cách đây không lâu, trong một chuyến đi Việt Nam xạ thủ bị dính Covid nên bị kẹt lại Việt Nam hơn một tuần. Khi bị dương tính Covid và không được phép lên máy bay thì thấy cả một sự đảo lộn lo âu canh cánh trong lòng, vì trách nhiệm và công việc phải đảm trách ở nhà. Đi lâu quá thì ai sẽ làm việc cho mình.
Tuy nhiên hãng ANA có văn phòng ở Sài Gòn và một cô gái Việt Nam tên T cũng nhỏ nhẹ ân cần như các cô tiếp viên hàng không ANA. T nói ANA có quy chế nhân đạo dành cho hành khách nên T sẽ đặt vé máy bay miễn phí để anh về lại Mỹ.

Sau khi về nhà chàng xạ thủ lại viết thơ cho sếp của cô T ở văn phòng ANA Sài Gòn, miêu tả sự tích cực giúp đỡ hành khách đang gặp khó khăn của cô ấy. Khi người nào làm điều gì tốt cho mình thì phải biết cám ơn. Không chỉ cám ơn cô ấy mà phải cám ơn sếp của cô ta nữa. Lá thơ cám ơn ấy sẽ giúp ích cô ấy tiến thân trong sự nghiệp và ít ra sẽ làm cô ấy sung sướng khi biết nỗ lực của mình không phải là điều vô ích.
Trong một chuyến bay khác, xạ thủ đang ngồi coi xi nê thì một cô tiếp viên ANA bước đến, trân trọng đưa bằng hai tay một gói nylon lớn hơn bàn tay chút xíu. Nhìn cái gói phân vân hỏng biết chiện gì. Bỗng giựt mình hết hồn vì thói quen bảo mật đã bị bật mí hu hu. Chúng tôi biết anh xạ thủ là ai nhé. Thì ra đó là gói quà mừng sinh nhựt của hàng không ANA. Cô tiếp viên mỉm cười cúi đầu chào và bước đi, để lại thoáng bâng khuâng trong lòng của một người chỉ biết rạo rực với đồ chơi nóng.
Ngồi miên man suy nghĩ về sự nhân văn của con người. Gói quà sinh nhựt ấy phản ảnh sự quý trọng khách hàng của một đại công ty. Làm điều này không khó vì hãng hàng không biết ngày sanh tháng đẻ của hành khách. Chỉ cần một sự cố gắng tối thiểu là làm một gói quà nhỏ trị giá một hay hai đô la, và một người tiếp viên khả ái trao tặng với một nụ cười. Hành động tưởng màu mè dư thừa nhưng có thể nắm được trái tim của nhiều hành khách. Và hành khách xạ thủ này đã là thủy chung từ lâu lắm rồi, từ năm 2017 khi vác nòng pháo 105 lên máy bay.
Cảm giác thiệt dễ chịu và hạnh phúc khi con người biết trân trọng lẫn nhau, dù được lãnh lương để làm những điều ấy. Xạ thủ đã không vội vàng cất gói quà sinh nhật ấy đi mà cầm nó trên tay và đặt trên đùi của mình để chờ đợi bày tỏ sự biết ơn. Một lát sau cô tiếp viên đã trao quà đi ngang, cô thấy anh xạ thủ vẫn còn cầm gói quà sinh nhật nên mỉm cười cúi đầu chào. Cô vỗ nhẹ hai tay vào nhau ra dấu chúc mừng sinh nhật anh. Xạ thủ đáp trả “Arigato” – Cám ơn.

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 28 Nov 2024

Phần 8
Để Tập Làm Người
Chiều hôm nay là chiều mồng năm Tết, tiểu đoàn chúng tôi được rời khỏi cái nóng như thiêu như đốt của Sài Gòn… Không có chút không khí của mùa xuân, thành phố đang sôi sục xuống đường, biểu tình, đảo chánh. Máy bay xuống phi trường Vũng Tàu trong ánh nắng dịu dàng của đầu xuân và bên kia là biển. Bao lâu rồi mới thấy lại cây dương liễu, cát trắng và mùi gió biển. Cảnh sắc và mùi vị của tuổi thơ sau thời gian dài xa cách. Tối giao thừa vừa qua là một giao thừa hạnh phúc nhất cuả thời gian dài mười năm trong tuổi lớn… Những giao thừa năm xưa, đêm khuya gió lạnh trên đỉnh Hải Vân… Mây phủ kín lưng đèo và tôi co quắp trong một khoang xe vận tải dơ dáy chết máy nằm cạnh sườn núi với cô đơn của kẻ không nhà. Bẩy giao thừa qua chém trong đời tôi những lát dao để gây nhức nhối, để suốt đời nhớ mãi, như một vết chàm khắc sắc vào xương. Nhưng giao thừa vừa rồi thật đầy đủ, bạn bè, em gái tôi và tình yêu của một cô gái nhỏ, bánh mứt, tiếng cười giọng nói vang đầy căn phòng trọ. Cám ơn tất cả, tôi đi đây, bỏ lại năm ngày ứng chiến tại Sài Gòn. Tôi mang hết cả niềm vui của một đêm giao thừa hạnh phúc theo suốt mùa xuân.
Bốn giờ sáng, quân xuất phát từ Phù Mỹ tiến vào mật khu Hắc Dịch. Trung đội tôi dẫn đầu đại đội, đại đội dẫn dầu tiểu đoàn. Lính làu nhàu:

  • Trung đội từ ngày có mặt thiếu uý về đến bây giờ cứ phải đi đầu hoài!
  • Tao muốn thế đâu, đi đầu ngán thấy mẹ chứ thích quái gì, nhưng gắng đi mấy cha…
    Rừng già, đi không khó, quân tiến nhanh như đi trên khoảng trống. Trước mặt chúng tôi hai tiểu đoàn 5 và 6 Nhảy dù đang được trực thăng vận để kìm Việt cộng lại. Chúng tôi có nhiệm vụ làm thành phần chận bít, không cho Việt cộng chạy thoát ra hướng quốc lộ 15. Mặt trời lên cao, rừng bắt đầu nóng, lớp cỏ tranh bị cháy rải tro dày lên mặt đất, bước chân người lính quấy những lớp bụi đen nghịt, mồ hôi chảy đầm đìa dính theo từng lớp tro lem luốc, ngứa ngáy không chịu được.
  • Anh cố coi thử có con suối nào không? – Đại đội trưởng liên lạc trong máy ra lệnh tôi.
  • Bản đồ tôi loại 1/100.000 nhỏ quá chẳng thấy có con suối nào cả, địa thế cũng không có vết suối…
  • Bảo mấy thằng con giữ nước coi chừng kẹt nước…
    Đến chiều cả tiểu đoàn kiệt sức, nước không có, phải di chuyển gần mười cây số đường rừng, lính bãi hoãi tửơng như xô nhẹ cũng đủ ngã. Lệnh cho đóng quân đêm. Chẳng cần làm lều, bố trí trung đội xong, tôi nằm vật xuống đất, mệt, đói và khát nước đến muốn ngất. Có chút cơm nắm mang theo nhưng không dám ăn vì không có nước, bi đông còn một tí nước, tôi uống từng ngụm nhỏ chỉ vừa đủ ướt môi. Bên kia, hai tiểu đoàn 5 và 6 đụng địch, chúng tôi nghe rõ tiếng súng nổ từng hồi, súng của ta lẫn Việt cộng, trực thăng võ trang được gọi đến, tiếng động cơ cùng tiếng súng vang đầy khung trời.
  • Thiếu uý, ăn cơm không? – Thái, thằng bé theo làm cho tôi, chìa một lon cơm nóng…
  • Ở đâu mày có được?
  • Em nấu buổi chiều, lấy nước từ rễ cây .- Tôi nhai từng miếng cơm nhỏ sợ tan biến thật nhanh ở trong mồm…
  • Liệu Việt cộng có đánh vào tiểu đoàn mình không thiếu uý?
  • Nó đánh mình mới có hy vọng rút ra được, nếu không cứ nằm thế này thì chết khát.
  • Em cũng nghĩ như vậy…
    Đêm mùa khô, trời đầy sao, sau khi có mấy muỗng cơm nóng với ngụm nước nhỏ tôi tỉnh người, đốt điếu thuốc gối đầu vào nón sắt ghé tai vào máy truyền tin xem chừng các toán phục kích… Bên phía hai tiểu đoàn bạn trận đánh mỗi lúc một ác liệt, chưa bao giờ tôi thấy Gunship đánh trận đêm nhiều đến như thế.
    Quân rút ra đi như một lũ ma đói, hai ngày hai đêm thiếu nước và mất ngủ, mọi người phờ phạc trông thấy. Trung đội tôi đáng lẽ dẫn đầu trở ra lại phải đi chót tiểu đoàn, đại đội 73 đi đầu, trung đội của Toàn vừa đi được hai mươi thước đạp phải một trái lựu đạn, hai chết, hai bị thương. Mấy thằng lính của trung đội tôi cười như mếu. May quá, mình đi đầu là chết rồi! Tôi cũng nhủ thầm mình có số mạng…
    Người trước đi, tôi đi theo chẳng cần đội hình, ý tứ gì nữa, hai ngày vừa qua có được bốn muỗng cơm, người tôi không còn một sức lực nào nữa… Tôi dặn lính:
  • Tụi mày cứ theo trung đội trước mà đi, sát vào nhau đừng để lạc.
    Đầu gục xuống, súng vác trên vai, tôi thở không những bằng mũi mà cả bằng chiếc mồm há thật lớn, chiếc lưỡi căng phồng, nhức nhối và đôi môi khô không còn chút cảm giác. Tro rừng, đất bụi bám đầy mặt mũi, bay đầy vào mồm, không còn tí nước bọt nào để nhổ ra, tôi đưa tay vào mồm chà trên lưỡi từng tảng tro đen! Quốc lộ 15 đây rồi, có thửa ruộng nhỏ bên đường, tôi úp chiếc mặt vào dòng nước đục ngầu phủ lớp bùn non… Uống! Uống! Như loài thú hoang trên sa mạc. Ngày hôm nay mới mồng tám Tết.
    Về đóng quân ở quận Đất Đỏ, trong vườn cây vú sữa xanh tươi bóng mát. Tôi căng võng đọc sách, cho lính đi mua gà về nhậu với rượu đế, ngà ngà say suốt ngày. Nắng như thêu hoa trên áo, những ngày thật bình yên. Nhưng đêm thì thao thức không ngủ được, những hôm trời trăng sáng đem lính đi phục kích nằm trong rừng tiêu, cây tiêu dưới bóng trăng lạnh trông như những bóng ngườikhổng lồ. Vẻ đẹp của khu vườn chứa đầy bí ẩn kinh dị. Chim heo bay qua kêu từng tiếng thật ai oán và tôi nhớ em, tình yêu đã mất. Ôi tôi đã xa em từ tháng Bảy năm 1964 đến giờ… Xa em quá lâu rồi đấy hở? Sao lòng tôi vẫn thao thức nhớ thương đến độ điên cuồng. Cả ngàn đời em cũng không biết được tình yêu đó.
    Ngày 19 tháng Hai một giờ sáng tiểu đoàn nhận lệnh trở về Sài Gòn, cho lính lên xe trong đêm tối, lính yên lặng không kinh ngạc. Có quái gì đâu, những trò hề này chúng tôi đã quá quen! Đảo chánh, chỉnh lý hay cái gì đi nữa cũng chỉ vậy thôi, chúng tôi vô can, đứng ngoài.
  • Đ.m… Về Sài gòn lại đứng đường, gác chợ nữa như thằng ăn mày.
    Tiếng chửi thề rơi vào im lặng, mọi người còn ngái ngủ. Sáu giờ sáng vượt cầu Phan Thanh Gỉan, xuống xe, quân tiến vào Đài phát thanh. Đại đội tôi có nhiệm vụ dẫn đầu… À, chuyến này tôi làm “cách mạng” thực sự rồi. Những chiến sĩ can trường đã đánh bật quân phiến loạn ra khỏi Đài phát thanh trong buổi sáng hôm nay! Mẹ đời, coi chừng Đài phát thanh lại gọi đích danh tôi để ca ngợi không chừng… Tiến vô, thôi đánh trong thành phố với người anh em một lần cho biết. Trung đội tôi chạy luồn vào con đường nhỏ để đâm ra đường Phan Đình Phùng… Đến ngã ba, nơi rẽ tay trái hướng Đài phát thanh, hai tên khinh binh chạy đằng trước tôi thối lui lại…
  • Thiết giáp! Thiết giáp! Thiếu uý khoan ra đã…
  • Đ.m… Tao đâu có ngu, đạn 12 ly 7 đụng vào là hết chữa, chết cái này lãng xẹt đếch có tuyên dương công trạng được.
    Tôi báo cáo với đại đội trưởng tình hình rồi xin mượn khẩu SKZ 57 ly. Tôi hỏi ông ta:
  • Bây giờ tôi khai hỏa xông thẳng vào Đài phát thanh hay sao?
  • Bậy! Bậy! Chết bây giờ, xông con c… Đợi đó để tôi hỏi ý kiến tiểu đoàn…- Ông ta trả lời như thét.
    Lệnh cuối cùng: Không được khai hỏa trước, chỉ sẵn sàng tìm cách vào Đài phát thanh và chiếm mấy cái xe thiết giáp một cách yên thấm…
  • Sao làm vậy được? Xe nó bằng sắt chứ phải bằng giấy đâu mà tôi lấy khơi khơi? – Tôi phản đối đại đội trửơng.
  • Tôi không biết, lệnh trên người ta kêu xuống như vậy.
    Tôi chửi thề với mấy thằng lính…
  • Đ.m… Muốn đảo chánh thì tới đây mà chiếm Đài phát thanh, mắc mớ gì kéo tụi mình vào.
    Tôi bò sát chân tường, liếc về phía Đài phát thanh để quan sát: Hai chiếc thiết giáp đậu im lìm chỉa súng về phía chúng tôi một cách đáng ngại, cửa các pháo tháp đóng kín chứng tỏ ở trong đó đang sẵn sàng… Những cửa sổ trên lầu Đài phát thanh lấp ló họng súng và những chiếc áo xanh của lính bộ binh. Tôi bò lui báo cáo với đại đội trưởng:
  • Lên không được! Cả tiểu đoàn có lên cũng chết nữa chứ đừng nói một trung đội tôi.
  • Anh cố làm sao vào trong đài đi!
    Tôi mở máy phân bua với mấy thằng lính:
  • Đại uý bảo gắng vào đài, thằng nào muốn làm ca sĩ thì thử liều đi! – Mấy tên lính lắc đầu cười méo mó…
    Tôi bò ra ngã ba một lần nữa, bây giờ cửa của hai chiếc thiết giáp đã mở, mấy anh lính thiết giáp leo lên ngồi im lìm… Tôi bớt ngại, tháo chiếc khăn đỏ ở cổ ra phất phất mấy cái, mấy anh lính bộ binh từ trên đài đưa tay phất lại. Lính thiết giáp thì thầm hỏi ý kiến nhau. Tôi lấy tay chỉ vào người tỏ ý muốn vào đài, mấy anh thiết giáp gật đầu. Tôi chỉ vào chiếc xe và lấy tay đánh vào đầu tỏ ý sợ bị bắn, mấy anh trên xe cười rộ ngoắc tôi vào trong, tôi đứng dậy đi về phía mấy chiếc xe, mồm cười thật tươi…
  • Sao không có gì chứ bạn?
    Tôi hỏi mấy người lính ngồi ở pháo tháp. Có mẹ gì đâu, tự nhiên bắt giữ Đài phát thanh thì giữ chứ biết gì? Tôi ngoắc tay ra dấu cho trung đội tôi chạy vào đài, lính vừa chạy vừa kháo chuyện cứ y như trẻ con chạy đua. Lúc vào đến trong đài, lính tôi và lính bộ binh đang ngồi nói chuyện với nhau, mấy người lính rờ vào lớp giấy chống tiếng động tại phòng ghi âm tò mò một cách khôi hài; có đứa dựng nắp chiếc piano lên đánh như điên… Cái phòng này để tụi ca sĩ hát radô đấy mày… Mày ca cải lương tao coi chơi. Lính đùa như phá. Bên phòng kia, một anh đang ngồi viết bản tin mới nhất chắc thế nào cũng có câu: “Quân cách mạng đã chiếm lại Đài phát thanh…”
    Tôi đi vào tiệm phở trước cửa đài, có mấy người lính thiết giáp ngồi ăn ở trong đó, chúng tôi cười với nhau.
  • Vừa rồi tôi cứ sợ các bạn bắn tôi chứ.- Bắn ông làm quái gì, đang đi hành quân bỗng nhiên được lệnh về giữ Đài phát thanh chứ biết khỉ gì đâu.- Các ông ở đâu đến? – Dưới Mỹ Tho… – Tôi cũng vừa ở Bà Rịa về, chẳng ra con mẹ gì cả! – Ừ. – Người lính thiết giáp ghếch đôi giày đầy bùn lên mặt ghế đánh rầm.
    Tôi bước chân ra khỏi quán phở, nói nhỏ với thằng lính:
  • Ở đây hình như có chỗ chơi bời, mày kiếm thử xem.
    Thấp thoáng trước thềm đài một lô sĩ quan cao cấp đang đứng nói chuyện hân hoan.
    Đột nhiên tất cả những ồn ào lắng xuống, tôi như bị bao cứng bởi một nỗi buồn rầu, giận dỗi vô cớ… Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, nào ai biết được? Sĩ quan trẻ đầy tương lai!

Tháng 2-1965. Sài gòn.

Dấu Binh Lửa

vietmessenger.com
Phan Nhật Nam
Post by Sơn râu 28 Nov 2024

Phần 7
Nỗi Sợ Không Cùng
Tiểu đoàn đợi tại Bình Dương suốt cả ngày, lính vui đùa trong các quán nước, người tôi nặng như đá đeo, nằm lì một chỗ. Gặp Tánh khóa 17, rủ thêm hai anh Hợp và Ký kéo nhau vào ăn cơm ở ngôi nhà cạnh đường, bữa cơm không hẹn trước hóa ra ngon. Trong câu chuyện của giây phút này thì nghe tin Vũ chết. Cuộc hành quân của chúng tôi nằm trong khuôn khổ một chiến dịch lớn, xử dụng ba tiểu đoàn Nhảy dù và một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến để làm giảm áp lực địch phía đông bắc tỉnh lỵ Bình Dương, phần đất của quận Bến Cát. Tiểu đoàn của Vũ đi trước chúng tôi hai ngày, từ ngày N-2 (1) của cuộc hành quân, đến lượt tiểu đoàn chúng tôi và tiểu đoàn 4 Thủy quân lục chiến vào trận, lực lượng sẽ lục soát từ bắc xuống nam dọc theo sông Thị Tính nằm song song với quốc lộ 13… Vũ, người sĩ quan Thủ khoa khóa tôi, ở cùng phòng với nhau, anh thuộc loại người đứng đắn, cẩn thận, dễ gây lòng tin cho kẻ khác, người sinh ra để chỉ huy hoặc chịu chỉ huy, trong khi tôi là một lông bông không nghiêm nghị. Năm thứ hai Vũ trở thành sinh viên sĩ quan Liên đoàn trửơng, tôi kẻ đứng gần chót trong số 191 người cùng khóa. Cái hố cách biệt giữa tôi và Vũ từ đó xa hẳn ra mặc dù vẫn ở chung đại đội. Nhưng nghe tin Vũ chết, những gần gũi năm đầu tiên trở lại mênh mang, đêm Giao thừa đầu tiên xa nhà Vũ nướng hai cái lạp xưởng, mùi thơm bay đầy phòng, tôi phải lấy chăn trùm lấy Vũ cùng chiếc réchaud vì sợ khóa đàn anh bắt gặp. Đêm đó, lần đầu tiên trong hai tháng gần nhau Vũ mới nói cho tôi biết một vài chi tiết của đời anh. Người con gái thường đến thăm anh không phải là em gái, nhưng là fiancée. Vũ thật kín đáo.
Tin Vũ chết đưa lại như cơn gió độc, tôi bỏ dỡ bữa cơm ra đứng cạnh quốc lộ, nghĩ thầm… Bao giờ đến lượt mình? Tiểu đoàn Vũ còn có Trang và Lô, không hiểu có gì xảy ra cho chúng nó không?
Sáu giờ chiều, đoàn xe khởi hành, đoạn đường Bình Dương — Bến Cát hơn hai mươi cây số nhưng đầy hiểm nghèo. Trời tối, xe để đèn mắt mèo, tốc độ hạn chế mười cây số một giờ, con đường bị đào xới nát bấy, chiếc GMC di chuyển khó khăn. Quốc lộ 13, con số xui xẻo, đoạn đường khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh trước cũng như bây giờ, con đường nằm ngang chiến khu D, những mật khu kiên cố Bầu Bàng, Bời Lời, vùng trú quân an toàn để từ đấy địch xâm nhập và uy hiếp xuống hai tỉnh Gia Định, Biên Hòa. Trời tối hẳn, đoàn xe phải dừng lại chờ thiết giáp hộ tống lên dẫn đường và phá mô. Tôi không sợ phục kích nhưng sợ mìn, vũ khí khốc hại với sức tàn phá khủng khiếp. Việt cộng vùng Bình Dương, Bến Cát, nói chung toàn miền Đông nổi tiếng về tài đánh địa đạo và gài mìn. Việt cộng ở Long An cũng thiện nghệ trong việc gài bẫy, nhưng ở đấy bẫy chỉ gài bằng lựu đạn nội hóa hoặc mìn muỗi. Vùng này địch đã biến chế các trái đạn súng cối 81 ly, 82 ly thành những trái mìn chống chiến xa vô cùng công hiệu. Quốc lộ 13 con đường mang số của sự chết đã đóng trọn nghĩa đó. Xe hàng từ Ban Mê Thuộc về chất đống ở Chơn Thành, hoặc đi từ Sài Gòn thì đợi ở Bình Dương hằng hai ba ngày bao giờ có chuyến mở đường mới dám tháp tùng theo.
Xe bắt đầu chuyển bánh nhận được lệnh ở trong máy truyền tin: Có quân bạn đóng dọc đường để an ninh lộ trình. Lệnh gây tin tửơng cho mọi người, tuy vậy xe vẫn để đèn mắt mèo; tôi hút điếu thuốc lá đầu tiên cho chuyến đi. Những lúc thế này thuốc lá thật cần thiết, ngồi trong đêm, chiếc xe chạy với một nhịp buồn nặng, không nhìn thấy một điều gì, rừng cao su hai bên đường thăm thẳm… Người sống trong một khung cảnh chết, ngọn lửa đầu điếu thuốc thật linh động; nhìn nó như dấu vết của một phần thân thể đang sống, đang mở ra. Yêu vô ngần. Bây giờ mới biết tại sao phần đông lính đều hút thuốc nếu không nói là hầu hết. Đi lính là nhập vào một sinh hoạt ồn ào nhưng mênh mông cô đơn, điếu thuốc như một người bạn âm thầm. Tôi đã đi qua con đường này vào tháng Bảy trong trạng thái kiệt quệ tinh thần, bây giờ những ray rứt ngày cũ đã hết, nhưng thoáng đâu đây dấu tích mệt mỏi của những ngày phung phí tinh thần, ngày cần kề cái chết khi bị Việt cộng ra đón đường xét giấy, tôi đã bình tĩnh dửng dưng lừa bịp những tên Việt cộng, trong khi trong người đầy giấy tờ và tang vật của nhà binh. Sẽ không còn một lần liều lĩnh nào như vậy trong đời nữa, em biết chăng? Đến Bến Cát lúc mười một giờ đêm, ngủ ngay trên quốc lộ, trãi poncho xuống mặt nhựa, cởi chiếc giày cho dễ chịu, thầy trò tôi nằm lên, thao thức không ngủ được. Đêm mùa khô của miền Nam trời trong vắt, sao sáng rực và một ít lạnh, lạnh của miền cao nguyên thổi về. Giá rét se sắt như kỷ niệm.
Ngày hai mươi ba tháng mười một, bốn giờ sáng trời đầy sương mù, thức dậy không thể ngủ tiếp được, mặt nhựa khô cứng lạnh ngắt, hơi lạnh của rừng núi, cuả mặt đất bốc lên tê cóng. Tôi đã tỉnh giấc từ lúc hai giờ sáng, một đêm thiếu ngủ người hóa thành phờ phạc. Cũng ngày này, năm trước, tôi ra trường.

  • Mẹ, “nó” kêu mình lên hành quân mà không cho ngủ trong quận, lại đút ra ngoài đường nằm, nó coi mình như chó.
    Tên lính chửi thề vu vơ, không biết “nó” ám chỉ những ai.
    Bảy giờ, vượt tuyến xuất phát, tiểu đoàn 4 Thủy quân lục chiến đi bên trái, tiểu đoàn chúng tôi đi bên phải, mục tiêu là khu vực giới hạn bởi hai con sông, Sài Gòn ở phía đông, Thị Tính ở phía tây. Phía bắc là khu đồn điền Alimot, Bussy. Tám giờ, đường đi bắt đầu khó, bản đồ chỉ là rừng thưa, nhưng thực tế cây bắt đầu lớn, cây chỉ cao trên dưới ba thước lớn bằng cổ chân nhưng đan sát vào nhau, rậm rạp chỉ đủ để một thân người lách đi rất khó khăn. Dao đi rừng không xử dụng được. Có hàng ngàn cánh rừng chúng tôi đã đi qua, nhưng loại rừng quái quỉ bé nhỏ này thật quá khó chịu, lấy hướng địa bàn, hai khinh binh đi đầu cúi khom mình bò qua các hàng cây, tôi bò tiếp theo… Một giờ qua, chiếc cổ tưởng chừng như muốn gãy đôi, cành cây đánh vào nón sắt nghe đến ù đầu. Tiến quân về hướng đông, xong vòng xuống hướng nam, đêm nay đóng quân ở đồn điền ông Thịnh. Trời đã chiều, dừng quân ăn cơm tối, bảy giờ tiếp tục đi, lấy lá rừng có chất lân tinh dán vào lưng người trước, người sau nương theo. Quân tiến ra khu đồn điền cao su lối đi rộng rãi. Đi thế này thì bao nhiêu chẳng được, địch cũng thế thôi, sở dĩ họ có được sức dẻo dai chịu đựng vì có cái thế, hoàn cảnh để nương vào… Tôi nghĩ lan man trong bóng tối.
    So sánh với nỗi khổ cực phải di chuyển trong một khu rừng rậm không lối đi lúc ban ngày với cuộc chuyển quân ban đêm như thế này thì thật không thấm vào đâu. Việt cộng có thể di chuyển hằng hai mươi, ba mươi cây số một đêm không có gì lạ vì họ được đi trong bóng mát, trên đường mòn có cán bộ giao liên hướng dẫn. Đến khu đồn điền, bố trí quân, trãi ngay poncho xuống đất, khỏi làm lều… Ngủ cái đã. Từ bốn giờ sáng đến giờ, phải luôn luôn đứng hoặc đi nên khi vừa đặt lưng xuống đất tôi ngủ thiếp.
    Ầm… Ầm… Hai tiếng nổ chát chúa, lửa lóe sáng rực. Pháo kích! Pháo kích! Tôi lăn xuống chiếc hố, nằm im chờ đợi. Tất cả trở lại im lặng, không phải pháo kích. Việt cộng ném lựu đạn. Một trung đội thuộc đại đội 74 đóng sát bìa làng đã chui vào trong mấy chiếc chòi để nấu cơm, Việt cộng ẩn trong hầm bí mật tung lựu đạn ra để thoát chạy. Bác sĩ tiểu đoàn được đưa đến tận chỗ, hai chết, mười chín bị thương. Thật xui xẻo, chưa làm ăn gì được đã mất toi một trung đội.
    Ngày hôm sau, tiểu đoàn bỏ lại khu đồn điền, tiếp tục đi vào hướng đông, phía rừng rậm. Biết được tình hình, chỉ là du kích đồng thời để tiến quân nhanh hơn. Tiểu đoàn trưởng quyết định chia hai cánh quân. Đại đội tôi đi đầu một cánh, trung đội lại đi đầu. Thêm một ngày phải đi kiểu bò như cua còng nữa, lính càu nhàu. Buổi chiều, đoàn quân lại đâm xuống hướng nam để tìm chỗ đóng quân. Ra làng rồi đấy phải coi chừng. Tôi dặn dò mấy người khinh binh đi đầu, hai trái lựu đạn tối hôm qua làm tôi e ngại, tình cảnh này chứng tỏ địch đã bám sát chúng tôi. Nếu có lực lượng lớn, chúng đã đụng với chúng tôi từ trong rừng, đây chỉ là du kích cố bám sát để làm tiêu hao phá quấy lực lượng hành quân. Khu làng trước mặt hiện ra trống trải tôi thở hơi khoan khoái, ném nón sắt xuống đất, quay chiếc cổ tê mỏi một cách khó nhọc.
  • Ra đến làng, coi chừng mìn và lựu đạn nghe các ông, Việt cộng vùng này là vua gài mìn đấy.
    Tôi dặn thêm mấy lượt rồi dè dặt cho ba khinh binh tiến ra làng trước. Phía bên trái, đại đội 74 cũng cho một toán ra thám sát. Tôi thấy mấy người lính của đại đội này thấp thoáng trong tàng cây. Tiếng cuả thằng Chắc “tây lai” bô bô, một tiếng nổ kinh khiếp khói bốc lên đen nghịt.
  • Chết tôi rồi! Thằng Chắc kêu thất thanh.
  • Mìn gài trên cây, kêu y tá. – Thiếu uý Đông kêu rối rít.
  • Y tá theo nó cũng bị thương rồi!
    Tôi nhìn lên cành cây, bây giờ nơi nào đối với tôi cũng đầy mìn bẫy, tay chảy ướt mồ hôi, chân như muốn tê dại…Tôi ngồi im bất động. Mìn, thứ khí giới vô hồn đó làm tôi nghẹt thở, đối diện với một họng súng, một tên địch tôi có thể xem thường vì dù sao còn chủ động, đối phó được nhưng đây là mìn và lựu đạn, vũ khi ti tiện vô hồn được che dấu thật kỹ càng và sẵn sàng để nổ tung. Tôi thấy sợ, sợ thật sự, sợ cho chính mình, cho những người lính dưới quyền. Tôi ao ước được đụng độ, đụng ngay ở bìa rừng này, bất kể lực lượng địch bao nhiêu cũng được, nhưng hãy cho tôi một người trông thấy được; tôi sợ vẻ im lìm ngặt nghèo bí mật của trái mìn.
    Trời tối, lệnh tắt hết lửa, toàn thể tiểu đoàn chìm xuống im lặng không tiếng động. Ở cánh trái chúng tôi bây giờ có tiếng người và ánh lửa, tiểu đoàn 4 Thủy quân lục chiến ra đến vùng đóng quân. Thình lình những tiếng bục, bục, vang dội từ phía nam… Đúng là súng của địch bắt đầu bắn. Tiếng đạn rít trong không khí bay qua đầu chúng tôi. Chờ đợi, đạn nổ phía đóng quân của tiểu đoàn bạn. Pháo kích, pháo kích… Binh sĩ xì xào chạy xuống hầm. Đừng hoảng. Tôi bấm vào máy truyền tin liên lạc với hai toán tiền đồn ra lệnh đề phòng và trực máy. Tôi nằm yên trong hố, thân cây chuối trên miệng hầm lúc bây giờ qủa thật quá mỏng manh, ao ước một gốc cổ thụ, một cây đa che chở. Sợ, hai bàn tay ướt đẫm mồ hôi. Tôi biết mình đang sợ hãi. Cảm giác buổi chiều khi nghe tiếng mìn nổ trở lại, tôi tưởng chừng như trong bụi chuối, góc nhà có một tên địch đang lẫn trốn, chờ đợi thời cơ hỗn loạn sẽ nhảy ra, trái lựu đạn sẽ nổ về phía tôi… Đấy là một sợ hãi vô lý, tôi biết vậy, nhưng thật chính là mục đích của địch trong chiến thuật tiêu hao dần lực lượng của đối phương. Theo dõi, bắn sẻ, gài mìn, đặt bẫy trên hướng tiến quân, đột kích vào vị trí đóng quân đêm, pháo kích, đó là những phương cách có hiệu qủa nhất để làm tan hoang tinh thần cũng như sức chiến đấu của một đoàn quân. Tôi nghe rõ những tiếng départ của súng cối địch từ xa, khô gọn và tàn ác như lưỡi dao chém xuống thớt. Nổ ở đây? Hay chỗ kia? Địch có điều chỉnh không? Chúng có rõ tiểu đoàn chúng tôi đông ở đây không? Sau mỗi tiếng départ tôi chờ đợi tiếng nổ của trái đạn với căng thẳng đun nóng trí não. Tôi thở dài nhẹ nhõm mỗi khi nghe được tiếng nổ ở phía xa, phía đơn vị bạn. Tàn ác, ích kỷ? Có thể là như thế, nhưng tôi không thể nào chịu đựng được giây phút trống rỗng khi qủa đạn đang bay, tôi ao ước được đụng độ, để giữa tiếng đạn nổ, hơi thuốc súng tôi có thể di động giữa cái sống và cái chết với ý niệm có tự do được chọn lựa. Trong chờ đợi cuả quả nổ đã biến tôi co cứng khiếp sợ hèn mọn. Ai không hèn mọn khi bó tay trước một cái chết không tự do.
    Pháo binh từ Bến Cát phản pháo chính xác làm im súng cối địch, trực thăng đến, di tản thương binh, ánh đèn đỏ của chiếc máy bay lập lòe trong đêm ma quái, tôi nghĩ đến tên Việt cộng bắn súng cối vừa rồi nếu giờ này chưa chết vì đạn pháo binh chắc hẳn hắn đang hãnh diện vì kết quả vừa thu được. Chiến tranh quả thật tàn bạo, lấy cái chết cuả những người mình không thù oán làm thành quả cho bản thân. Tôi không ngủ, mong trời mau sáng để được rút ra quốc lộ 13. Cuộc hành quân này ngắn sao tôi thấy mệt mỏi vô hạn, có lẽ vì ba đêm thiếu ngủ hay thần kinh bị căng thẳng bởi cơn khiếp sợ chờ đợi. Buổi trưa khi tiểu đoàn qua mặt tiểu đoàn 4/ TQLC, đơn vị nòng cốt của ngày 1-11-63. Ở tiểu đoàn này tôi không có bạn thân, chỉ biết có mấy anh ở khóa trước làm đại đội trưởng, trong số sĩ quan tôi chú ý một thiếu uý, người cao cân đối, khuôn mặt đều đặn và nhất là đôi mắt xao xuyến. Vào tháng mười hai, tiểu đoàn 4/TQLC đụng nặng ở Bình Gĩa, không hiểu bạn ấy có sống sót hay không? Đã bao nhiêu lâu, một buổi chiều ở Biên Hòa tôi thấy anh buồn bã và u uất. Trong đời tôi hay bị xúc động bởi những nguyên nhân bất chợt, nên sau này bao nhiêu tháng năm qua tôi vẫn nhớ đến đôi mắt thăm thẳm của người lính không quen đó… Người bạn không quen ấy có còn không trong chiến tranh?
    Tiểu đoàn vượt sông Thị Tính trong buổi chiều, đi trên chiếc phà của Công binh vừa lắp xong thấy bóng mình lung linh vỡ tung trên dòng nước, bềnh bồng như một kiếp người mỏng manh. Quốc lộ 13, xe chờ sẵn, một đại đội của sư đoàn 5 bộ binh giữ an ninh bãi lên xe. Tôi thấy họ thật tội nghiệp trong khi nhìn chúng tôi lên xe.
  • Các anh bây giờ về Sài Gòn, vui há? – Lính chúng tôi gật đầu hãnh diện…
  • Mấy anh thật sướng, đi hành quân ở đâu nhưng cũng được về nhà ở thành phố, chúng tôi ngủ bờ ngủ bụi suốt cả năm…
    Xe chạy, chúng tôi vẫy tay chào, nhìn những bàn tay đưa lên chào lại băn khoăn. Dọc đường lính đơn vị bạn giữ an ninh lộ trình, có người đưa tay lên vẫy chúng tôi. Tội nghiệp, họ vẫy chào thành phố chúng tôi sắp đến. Thành phố – Thủ đô… Những nhọt bẩn ung mủ trên quê hương đối với lính sao vẫn còn quyến rũ.
    Xe chạy qua tỉnh B, nhìn con đường hẻm dẫn vào nhà em, lòng thoáng thấy cay đắng như vết thương chưa khép ngâm xuống nước biển mặn.

Tháng 11-1964. Bến Cát, Bình Dương

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 28 Nov 2024

Phần 2 – Quê nhà

  1. Chân Dung Người Nữ Diễn Viên
    Hồi nhỏ, khi còn cắp sách đi học ở lớp nhất trường Hàng Vôi, ngày nào tôi cũng có dịp đi qua nhiều khu phố tráng lệ ở Hà Nội. Tôi học lớp chiều và hay đi học sớm vì có thói quen la cà chỗ này, chỗ kia.
    Qua phố Hàng Trống, tôi hay đứng tại tòa báo Giang Sơn hay Liên Hiệp để đọc những tiểu thuyết in từng kỳ trên tờ báo ra trong ngày, được tòa soạn treo trước cửa ở khu cho người qua lại xem tự do. Qua phố Hàng Khay, tôi hay đứng lại ở khu chợ Hoa ven bờ hồ ngắm nhìn những bông hồng, bông cúc hay glaïeul phô những mầu sắc rực rỡ trên những nền đá xanh biếc. Nhưng điều mà tôi ghi nhớ sâu xa nhất vẫn là bức hình chân dung được trưng bầy tại một tiệm ảnh có tên là Dung Photo ở ngay trên Phố Bờ Hồ.
    Tôi không phải là loại người say mê nghệ thuật chụp ảnh. Tôi cũng không quan tâm đến những bức hình chụp phong cảnh hay tĩnh vật trưng bầy ở hai bên tủ kính lồng trong những khung cảnh đẹp đẻ mỹ thuật.
    Tôi chỉ chú ý, hay nói đúng hơn bị thu hút bởi mỗi một tấm chân dung chụp hình một thiếu nữ. Nàng là ai, tên là gì, tôi chẳng đủ số tuổi mơ mộng để quan tâm nhưng thực sự tôi đã bị lôi cuốn bởi đôi mắt đó, vầng trán đó, mái tóc đó và nụ cười đó. Người thiếu nữ trong hình còn rất trẻ, chỉ trạc khoảng mười lăm, hay mười sáu, cái số tuổi chưa làm cho đôi mắt trong veo kia vương vấn một nét buồn, cho nụ cười kia vẫn còn mang đầy vẻ hồn nhiên, vô tư và duyên dáng như những búp hồng mới nở?
    Hôm đầu tiên bức ảnh chân dung được bầy ra trong tủ kính, tôi đã chiêm ngưỡng một cách sững sờ?. Rồi kể từ đó, không ngày nào đi qua mà tôi lại không đứng lại, nhìn, ngắm, ghi gói từng chân tóc, từng kẽ mày, từng những nốt đen lốm đốm trên giấy ảnh ở vành môi của nàng, ở khóe mắt của nàng, ở hàm răng trắng nuốt có một cái răng khểnh rất xinh, rất nghịch ngợm và đầy vẻ hồn nhiên, vô tư của nàng.
    Thời gian si mê bức chân dung ấy kéo dài có đến trên bốn năm. Bốn năm trời trôi qua, bức ảnh ấy vẫn còn tồn tại ở đó, trong khung kính sáng lòa, ở vị trí chính giữa, thuận tiện cho khách qua lại bên đường ghé lại nhìn ngắm và hầu như chủ nhân của tiệm Dung Photo cũng đắc ý với tác phẩm của mình nên không chịu thay đổi đi mặc dầu những hình ảnh phong cảnh khác cứ vài tháng lại được thay đổi một lần.
    Tôi thầm cám ơn ông ta lắm, vì như thế, tôi vẫn còn có dịp hàng ngày nhìn ngắm hình ảnh con người trong mộng của tôi. Rồi sau đó, tôi đã ngồi lên ghế nhà trường bậc trung học. Tôi đã đến số tuổi để mộng mơ. Và trong những phút giây lan man suy nghĩ về những cơn xao động mong manh trỗi dậy trong tâm hồn, tôi vẫn thấy thấp thoáng chân dung của nàng. Tôi đã đặt cho nàng cái tên giản dị nhưng đầy đủ ý nghĩa đối với tôi là “Dung Photo”, lấy ngay tên của tiệm ảnh đã sáng tạo ra bức chân dung của nàng.
    Một năm trước ngày có hiệp định chia cắt, anh bạn cùng lớp với tôi bỗng một hôm nêu ra một phát giác hết sức động trời:
  • Tớ biết địa chỉ ‘‘Dung Photo’’ của cậu rồi!
    Tôi giật nẩy người lên như chưa bao giờ bị hứng chịu một cơn chấn động mạnh mẽ đến thế. Thấy mặt tôi hơi biến sắc, Hòa, người bạn của tôi vỗ vai cười:
  • Bộ cậu yêu thật đấy à?
    Tôi đỏ mặt lên, cố biện minh:
  • Bậy nào! Người ta ít ra cũng hơn mình hai, ba tuổi. Mấy lại đã gặp nhau bao giờ mà yêu với đương.
    Hòa thì thào tiết lộ:
  • Năm nay cô ấy đúng mườỉ chín! Sắp lên xe hoa về nhà chồng đấy! Cậu có muốn biết tên thật là gì không?
    Tôi vội vã giơ tay cản lại, như muốn chối bỏ tất cả những điều gì do anh bạn đã tiết lộ.
  • Khỏi cần! Khỏi cần! Với tôi bao giờ nàng cũng chỉ có một tên là “Dung Photo”.
    Tôi nói mà thấy như giọng của mình nghẹn lại. Sự nghẹn ngào này không giấu nổi ánh mắt tinh tế của Hòa, cho nên anh ta biết ý xoay câu chuyện qua một đề tài khác. Tôi cho như vậy là hơn, vì thực sự ngay lúc đó, tôi không có đủ can đảm để nghe rõ hơn về những chi tiết quanh nàng. Còn có gì nữa đâu khi nàng sắp lên xe hoa về nhà chồng.
    Một tuần lễ sau ngày tiết lộ của Hòa, tiệm Dung Photo cất bức ảnh chân dung đi, không trưng bầy ra nữa. Có thể nó đã được mua lại bởi người chồng chưa cưới của nàng. Mối tình si mê viển vông của tôi bị cắt đứt phũ phàng nhưng chính điều đó lại càng để lại trong lòng tôi những vết thương khó lành.
    Cả khu phố Bờ Hồ như hoang sơ hẳn đi vì thiếu vắng bức chân dung của nàng. Tôi mất thói quen đạp xe nhàn tản trên đường phố lúc về chiều mà không lần nào lại không ghé qua Dung Photo để nhìn ngắm ánh mắt, nụ cười của người thiếu nữ ấy. Gọi là tôi thất tình thì không đúng vì tôi chưa bao giờ được gặp nàng, nhưng những phút nhớ nhung, xao động đã gậm nhấm, làm tôi đã thổ lộ tâm sự của mình trên hàng xấp nhật ký viết riêng cho mình đọc.
    Tới tháng Bẩy năm 1954, trước khi giã từ Hà nội để vô Nam, tôi đến chào từ biệt Hòa tại nhà anh ta ở phố Đường Thành. Hòa tiếp tôi ở trên chiếc ghế xích đu đặt ở sân ngoài. Ngồi tại đó, tôi có thể nghe tiếng những âm thanh cười nói phát ra từ phòng khách phía trên, qua một khung cửa sổ mở rộng. Có giọng nói của đàn ông xen với tiếng trả lời ấm áp, rộn rã của thiếu nữ. Hòa chỉ tay về phía ấy và nháy mắt với tôi:
  • Dung Photo đấy! Bà ấy sắp trở thành chị dâu của tôi.
    A! Thêm một điều mới lạ nữa mà bây giờ tôi mới phát giác ra. Tôi đã từng biết Dung Photo sắp đi lấy chồng, nhưng tôi không thể ngờ được rằng nàng lại sắp lấy anh ruột người bạn cùng lớp của tôi. Chẳng phải Hòa giấu giếm gì nhưng một phần vì tôi không muốn hỏi tiếp tới sau câu chuyện bữa nọ đã xảy ra, phần khác, Hòa đã trông thấy phút nghẹn ngào của tôi qua ánh mắt, qua giọng trả lời đầy xúc động của tôi khi được tin Dung Photo sắp đi lấy chồng.
    Nhưng bây giờ thì tôi không còn nhiều thời gian để quan tâm đến những chi tiết ấy nữa. Tôi sắp xa Hà nội. Tôi sắp dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới với một viễn ảnh nhiều khích động, nôn nóng và dĩ nhiên là hoàn toàn mới lạ đi với tuổi trẻ ham bay nhẩy như tôi. Cho nên, tôi vẫn giữ được vẻ thản nhiên khi được Hòa cho biết Dung Photo sắp trở thành chị dâu của anh ta. Tôi biết rõ tôi đang chuẩn bị để dời xa thành phố này. Trả lại nơi đây cơn mơ mộng viển vông của thời thơ ấu. Trả lại phố phường những ngày đạp xe đi dưới bóng mát của những lùm cây đầy ắp âm thanh xao động buổi sáng sớm cũng như lúc xế chiều. Tôi sắp xa tất cả, kể cả người đẹp mà tôi đã từng ấp ủ bóng dáng của nàng qua bức hình ở tiệm Dung Photo với những đêm trằn trọc thao thức, với những trang nhật ký kéo dài liên miên, bất tận hết tập vở này đến tập vở khác.
    Lúc tôi sắp sửa ra về thì Dung Photo cũng từ phía nhà trên đi ra cổng. Ngồi ở trên ghế xích đu, qua những cành ngọc lan ngả là là xuống sân sỏi nhỏ, tôi thấy nàng nhí nhảnh đi bên cạnh người chồng chưa cưới, anh Hùng, mà tôi đã có nhiều lần gặp gỡ nói chuyện bâng quơ.
    Nàng có mái tóc đẹp hơn cả trong hình, bởi ở tấm hình, tôi chỉ được nhìn thấy phía đàng trước, và tấm hình đen trắng chẳng thể diễn tả được cái vẻ bồng bềnh như mây khói của cả một làn tóc mây dài có màu đen như mun, có dáng óng ả như một mối tơ thả xuống hai bờ vai thon gọn ghẽ trong chiếc áo dài đơn sơ mầu tím Huế của nàng. Lúc nàng quay lại nói với Hòa, tim tôi thắt lại vì hình ảnh lộng lẫy của nàng. Dung Photo quả là có sắc đẹp trên cả những hình ảnh mà tôi vẫn từng ấp ủ.
    Dù là lần đầu tiên tôi gặp nàng, nhưng hầu như tôi có cảm giác gặp lại một người thân quen. Tôi đã chẳng có bốn năm dài đằng đẵng mỗi ngày chiêm ngưỡng nàng trong bức ảnh chân dung là gì. Nhưng nàng chẳng thể biết được tôi là ai lúc đó. Nàng nhìn tôi với cặp mắt hững hờ. Tia nhìn chẳng kéo dài quá một giây đồng hồ mong manh. Làm sao nàng có thể hiểu được trên cõi đời này lại có một kẻ đã dành cho nàng bao nhiêu tâm tư và thì giờ đến như thế.

° ° °

Sau bữa đó, là gần ba mươi năm dài chia xa. Tôi không còn được nghe tin tức gì về Hòa, về anh Hùng cũng như về đám cưới của nàng sắp được cử hành. Cuộc sống mới của tôi ở miền Nam cũng có những lôi cuốn mãnh liệt. Hà Nội lùi xa dần trong trí nhớ của tôi.
Những hình bóng cũ, những kỷ niệm cũ, những tâm tình mơ mộng cũ lâu ngày đã bị chìm khuất sau lớp bụi mỗi lúc một dầy thêm của thời gian, của những va chạm trong cuộc sống, của những biến cố mà con người phải trực diện từng ngày trong một đất nước có chiến tranh. Mãi tới đầu năm 1978, khi gặp lại Hòa, từ miền Bắc vô Sài Gòn, mọi thứ cũ càng trong quá khứ mới có dịp trỗi dậy.
Chúng tôi, sau những phút e dè khởi đầu, đã có thể hàn huyên với nhau đủ thứ chuyện, dĩ nhiên câu chuyện về đời sống của người đẹp năm xưa không thể không đề cập đến. Sau dây là lời kể lại của Hòa:

  • Sau khi cậu đi Nam rồi, những ngày đầu của sự tiếp thu Hà Nội là những ngày sôi động nhất. Tuổi trẻ thành phố ùa xuống đường cuồng nhiệt như thác lũ đầu mùa. Với tất cả thiện chí và nhiệt thành, cộng thêm cả yếu tố ham vui, ham hoạt động, họ đã đón nhận thể chế mới như một cơ hội làm lại xứ sở sau những năm tháng dài ngủ quên dưới chế độ thuộc địa của Pháp. Chín mươi chín phần trăm đều không biết Cộng sản là gì ngoại trừ một thiểu số thanh niên nhậy cảm như anh Hùng. Điều này đã trở thành một cái hố ngăn cách khởi đầu giữa anh Hùng và chị ‘‘Dung Photo’’. Chị ấy đẹp lại có khiếu văn nghệ, hát hay, đàn giỏi, nên tham gia đủ loại chương trình trình diễn. Trong khi ấy, anh Hùng khép kín mình lại để làm thơ, viết văn mà không bao giờ đăng báo cả. Đám cưới đã dự tính của hai người trên căn bản đó đã bị đình hoãn, rồi mâu thuẫn sâu sắc ngày một gia tăng đến độ phải hủy bỏ. Một thời gian sau, anh Hùng tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đóng góp rất hăng hái cho tờ Nhân Vă n rồi tờ Đất Mới của sinh viên, trong khi ấy chị Dung Photo đã có người yêu mới, một cán bộ Văn công cao cấp, có Đảng tịch và dĩ nhiên là già hơn chị ấy ít ra là mười lăm tuổi.
    Trước ngày lên xe hoa về nhà chồng, chị ấy có gặp anh Hùng một lần cuối. Cố gắng cuối cùng của chị là mong cứu vãn tình thế nguy hiểm của anh Hùng trước khi quá trễ. Chị tiết lộ cho anh Hùng hay rằng Đảng Ủy đang chuẩn bị đánh lớn, đánh quyết liệt vào đầu não cũng như những dây mơ rễ má của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Ngoài lý do “không còn đường nào khác”, chị ấy còn cố lay chuyển tư tưởng của anh Hùng:
    -Anh không thấy đất nước đã đổi mới rồi sao? Độc Lập là ước mơ của toàn thể mọi người. Bây giờ không còn là lúc để ngồi đặt vấn đề mà là thực sự bắt tay vào công cuộc xây dựng đất nước. Dĩ nhiên, một đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ thì ở lãnh vực nào mà không có sai sót. Chúng ta, nhân danh tuổi trẻ, sẽ nỗ lực sửa chữa những sai sót ấy. Tương lai, vận mệnh của quê hương này ở chúng ta. Thế thì còn có điều gì nữa mà anh ngần ngại?
    Anh Hùng chỉ lẳng lặng ngồi nghe mà không phát biểu một lời nào. Thực sự lòng anh vô cùng chua xót khi nhìn thấy người yêu như một cánh chim hăm hở, muốn vụt cất cánh bay lên trời cao mà không biết, hay không muốn biết bầu trời đang vần vũ những cơn bão tố.
    Dung Photo có lý tưởng của nàng. Ôi cái lý tưởng của tuổi trẻ bao giờ chẳng được vun đắp bằng những nhiệt tình sôi nổi nhiều hơn là những lý luận dài dòng.
    Nửa năm sau đó, chị đi lấy chồng cùng lúc với biến cố anh Hùng bị bắt đem đi cải tạo tập trung.
    Hôm công an ùa vào nhà khám xét, căn phòng của anh bị tìm bới tung tóe cả lên. Họ mang đi rất nhiều bản thảo, giấy tờ, và cả những tờ báo anh viết dầy đặc những lời ghi chú lên đó nữa.
    Hòa kể đến đây thì chậm rãi rút ở túi ra một bức hình. Vừa thoáng nhìn, tôi đã la lên:
  • Hình của Dung Photo.
    Hòa gật đầu:
  • Đúng rồi! Bản chính, tấm lớn lồng kính mà ngày xưa cậu đã từng chiêm ngưỡng bốn năm liền thì anh Hùng đã trả lại cho chị ấy từ ngày hai người hết liên hệ với nhau. Duy còn có tấm được rửa ra cỡ nhỏ này thì anh ấy không hiểu vô tình hay cố ý giữ lại trong ô kéo, mãi đến lúc công an lục lọi nó mới rơi ra và tôi đã giữ lại sau khi anh ấy bị dẫn giải đi. Không bao giờ anh tôi còn có dịp nhìn lại bức hình này bởi anh ấy đã chết trong lao tù ở Việt Bắc.
    Kể đến đó, khuôn mặt xanh xao của Hòa chợt như dắn đanh lại. Tôi thấy ánh mắt của anh gợn lên những tia sáng đục ngầu và long lanh như ngấn lệ. Tôn trọng giây phút cảm xúc chợt đến trong tâm tình của người bạn cũ, tôi lẳng lặng cầm bức hình lên ngắm nghía.
    Cả một dĩ vãng xa vời tưởng đã chìm khuất trong lớp bụi chồng chất của thời gian nay đột nhiên sống dậy một cách vô cùng mãnh liệt. Tôi như thấy lại tâm tình của tôi năm mười bẩy tuổi. Tôi như vừa đã đứng ở đó, ngày hôm qua, tay còn dắt chiếc xe đạp cũ mầu xanh, đứng say mê nhìn ngắm bức chân dung lộng lẫy bầy trong tủ kính của tiệm Dung Photo ở trên đường phố Bờ Hồ.
    Vậy mà hơn một phần tư thế kỷ đã trôi qua. Thời gian thì khoảnh khắc mà tang thương, dâu bể đã chồng chất biết bao nhiêu là nỗi niềm.
    Đêm hôm ấy, Hòa lưu lại nhà tôi để còn tiếp tục tâm sự. Tôi thấy rõ những khoảng cách biệt, ngỡ ngàng giữa tôi và Hòa cứ ngày một thu ngắn lại. Thì ra dù đã được tôi luyện, nhào nặn dưới chế độ Cộng sản đến bao nhiêu năm, hầu như mỗi con người miền Bắc đều còn ấp ủ một mối tâm tình riêng biệt, đào rất sâu, chôn rất chặt, và nó chỉ bung ra một cách hiếm hoi khi có dịp.
    Tôi được nghe Hòa kể tiếp:
  • Chị Hồng….ấy quên, “Dung Photo” của cậu chứ, sau này trở thành một diễn viên nổi tiếng ở miền Bắc. Chị ấy chuyên thủ những vai trò có tính chất khích động tuổi trẻ, làm sống dậy trong tâm hồn tuổi trẻ cái ý thức phục vụ xây dựng trên căn bản nuôi dưỡng sự căm thù. Tôi hiểu rằng chị chỉ là một hòn bột nằm trong tay nhào nặn của người chồng làm văn công ở cấp cao. Chính ông ta viết kịch, hoặc dịch kịch bản từ Trung Quốc hay Liên Xô, rồi cũng chính ông ta đạo diễn cho chị để đặc tả những xen, cảnh mà tình huống mâu thuẫn lên cao nhất, căng nhất.
    Sự thành công tột bực của chị đã phủ một hào quang đến nỗi làm cho chính chị bị chóa mắt. Chị ấy có ảo tưởng như mình là một biểu tượng của tuổi trẻ tiến bộ trong một xã hội cũ kỹ đang chuyển mình tiến lên một vận hội mới. Chị ấy say sưa đả phá những động lực làm trì trệ con đường xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Trước còn ở trên sân khấu, sau lan ra cả đến cuộc đời thực tế mà nạn nhân bị chĩa mũi dùi đầu tiên chính là người chồng già nua, nhiều tuổi Đảng của chị.
    Ông ta đâu có phải là ông thánh. Chẳng có ai là thánh trên cõi đời này kể cả mấy ông trùm nằm trong Trung Ương Đảng. Nói cho rõ hơn, nhiều anh cắc ké cũng muốn hủ hóa nhưng làm gì có điều kiện. Phần lớn đã biến thành những mẫu người gan lì, chịu đựng, nhưng trong thâm tâm vẫn ẩn náu một niềm mơ ước được bung ra như một vẩy sét nằm trong những thanh thép đã được trui rèn. Các ông cán bộ cấp cao thì đời sống hẳn phải khác hơn người. Họ được chế độ đặc biệt ưu đãi. Họ có cái thẩm quyền xét đoán, phê phán người khác mà ngược lại, không ai có quyền thắc mắc gì về những hành vi, về đời sống thực của họ cả.
    Quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa chỉ là một cái bánh vẽ trang trí cho bộ mặt của chế độ, trong khi ấy, kẻ làm chủ đích thực lại nằm trong tay một giai cấp mới đã hình thành, giai cấp có đảng tịch nắm quyền chi phối tư tưởng của mọi người. Chồng của chị Hồng là một thành viên của giai cấp ấy.
    Ông ta, khi xuất hiện trước đám đông trước các kẻ cộng tác liên hệ đến nhiệm vụ, thì đã mang một bộ mặt hết sức lý tưởng. Và nhân danh cái lý tưởng ấy, ông thôi thúc giới trẻ lăn xả vào đóng góp. Nhưng ngược lại, ở đời sống riêng tư, rõ ràng là ông ấy đang thụ hưởng ngay chính trên những thành quả do mọi người đem lại. Hơn ai hết, trong cương vị của một người sống ngay kề cận, Hồng đã nhận thức được cái thực tế bẽ bàng và chua xót này.
    Một lần, trong bữa cơm, vừa bưng bát lên ông ta đã buông xuống và chê gạo hẩm không ăn. Hồng nói rằng trong hoàn cảnh mọi người còn đang thiếu thốn, không ai có quyền đòi hỏi hưởng thụ nhiều hơn. Ông ta đã chỉ vào mặt của Hồng, tác sác:
  • Cô hãy lột cái vỏ diễn viên tuồng tích trên sân khấu ấy đi khi trở về sinh hoạt trong đời sống gia đình.
    Hồng cảm thấy bị xúc phạm nặng nề sau câu nói trắng trợn ấy. Lần đầu tiên nàng thấy thấm thía sâu xa về vai trò con bù nhìn bị giật dây cho đóng trò của mình, trong khi ấy nàng vẫn tưởng mình đang ra sức phục vụ cho một lý tưởng tốt đẹp đáng tôn thờ:
    Một lần khác, sau một mùa kịch thành công sôi nổi, Hồng đã nhận được rất nhiều thư từ của khán giả gửi về ngợi khen. Đặc biệt có một lá thư chỉ viết vỏn vẹn vài câu nhưng chứa đựng cả một sức nặng đủ khiến cho Hồng choáng váng. Lá thư được gởi từ một nữ công nhân trẻ:
  • Chị trình diễn hay lắm. Tài năng của chị đã lôi cuốn cả một Thế hệ tuổi trẻ như tôi. Tôi tin chị đến độ lấy hình ảnh mẩu mực, lấy lời nói của chị làm châm ngôn hành động. Và tôi đã lao đầu một cách mù quáng vào mọi công tác, mọi chiến dịch nhằm xây dựng xã hội, cái xã hội mà ở đó tôi đã bị bứng ra khỏi truyền thống gia đình, ra khỏi bàn tay thương yêu của cha mẹ. Rồi chị có biết số phận của những con thiêu thân như tôi hiện nay đang làm gì không? Thưa chị, tôi vừa đang là công nhân cho một hợp tác xã vừa phải đi làm một con điếm mới đủ nuôi thân!”
    Hồng đã giấu lá thư không cho chồng biết, bởi nàng đã thấy rõ, cho đến lúc này, ông ta không còn là người có thể chia sẻ được với Hồng trong những cơn giông tố của tâm hồn bắt nguồn từ những nguyên nhân mà ông ta không thể nào cảm thông được.
    Sau lần đó, Hồng thoát được ra khỏi cơn mơ chỉ sống trong hào quang của những nhân vật do chính nàng thủ diễn. Nàng khỏi sự quan tâm đến đời sống của mọi người chung quanh. Nàng hay lén đi lang thang trên những con đường quanh co, có khi là ở trong thành phố đông đúc chật hẹp, có khi là ở vùng ngoại ô với những mái nhà xiêu, vách nát. Nàng đã nhìn thấy những mảnh đời tối tăm, cực nhọc. Nàng đã thấy những khuôn mặt bạc nhược của những con người: bị thiếu thốn đủ thứ nhưng lại bị những chiến dịch, tuyên truyền, những khẩu hiệu, những nghị quyết, những đợt học tập ngắn hạn, dài hạn thôi thúc tối đa. Những nhận thức mới này đã đánh một đòn nặng lên cân não của Hồng đến độ nó có ảnh hưởng mãnh liệt trên khả năng trình diễn của nàng.
    Chồng nàng là người trước tiên nhìn ra cái nhược điểm đó. Ông ta mang đầy vẻ bồn chồn của một kẻ dồn hết vốn liếng vào việc nuôi dưỡng một con ngựa mà nay nó bắt đầu giở chứng không chịu dồn hết sức lực ra bốn vó trong mỗi cuộc đua. Điều này đã nhiều lần gây ra những xô xát, cãi cọ sau mỗi buổi trình diễn, trước thì còn ở nhà riêng, trong sinh hoạt gia đình riêng tư, sau nó bùng nổ ngay cả trên sân khấu.
    Lần ấy là một buổi diễn tập cuối cùng trước khi vở kịch khai diễn trước quần chúng, có sự tham dự của nhiều cán bộ cao cấp của nhiều ban ngành thuộc bộ môn sân khấu. Vở kịch bị cắt ngang nhiều lần bởi những nhận xét của ông chồng đạo diễn:
  • Chỗ này em chưa đặc tả hết phẩm chất của người nữ công nhân trong chế độ ta. Hãy nghĩ đến sự căm thù của một tầng lớp bị bóc lột tới tận xương tủy. Hãy dồn sự căm thù vào một câu nói. Câu nói ấy ngắn ngũi thôi nhưng nó là biểu tượng của một nhận thức đã chín mùi, đã tới bước nhẩy vọt, bùng vỡ….
    Hồng nhẫn nại trong cơn mệt mỏi tận cùng của mình. Nàng nhắm mắt lại để tập trung ý chí và khêu gợi niềm hận thù. Nhưng vô ích! Như một sợi cao su đã bị căng ra nhiều lần, tới giây phút đó, sức đàn hồi chỉ còn là một cái gì nhão nhoẹt. Nàng thấy thấm thía về những nỗi xót xa, ê chề mà từ lâu nàng đã từng có cái cảm giác như nó đã hiện diện, gậm nhấm trong vùng sâu thẳm của tâm tư của mình. Nếu ngay phút này nàng được yên nghỉ, được nằm úp mặt vô trong tấm chăn để khóc vùi thì có lẽ nàng sẽ trấn át được cơn giao động đang làm cho óc nàng căng thẳng như muốn nổ tung ra.
    Nhưng thực sự thì nàng đang đứng ở đây, trên bục gỗ sân khấu, dưới ánh sáng của những ngọn đèn chói lòa, dưới cặp mắt soi mói của những diễn viên, những công nhân phục vụ sân khấu, những cán bộ văn hóa chỉ đạo và nhất là tiếng nói cứ mỗi lúc một gay gắt của chồng nàng vang dội bên tai:
  • Tập trung….căm thù…..nhẩy vọt…..bùng vỡ!
    Những âm thanh chát chúa ấy nhóm lên trong lòng nàng sức phản kháng cứ mỗi lúc một gia tăng. Nàng phẫn nộ nhìn xuống dưới sân khấu. Cái lũ ngồi bệ vệ, lom lom dòm ngó từng điệu bộ theo dõi từng cử chỉ, đôn đốc, phê bình, chỉ trích từng câu nói, từng cách lên giọng xuống giọng mà những bản mặt của họ, những bản mặt hưởng thụ, phè phỡn hoàn toàn mâu thuẫn với những điều họ bắt nàng làm, buộc nàng phải đặc tả, lại có thể đòi hỏi, yêu sách đối với những người như nàng ư!
    Nàng mơ ước một xã hội công bằng thật đấy, nàng khích động tuổi trẻ xây dựng một tương lai đầy xán lạn mới thật đấy, nhưng nhất định không phải là đi chung một mục đích, một con đường như lũ người đầy quyền hành và ham hưởng thụ này. Trong cuộc đờì, nếu có những giây phút đặc biệt nghiêm trọng, đặc biệt thiêng liêng, đặc biệt mầu nhiệm có thể làm cho con người như sực tỉnh một cơn mơ, đầu óc tràn ngập ánh sáng của sự minh triết để có thể vụt nhận thức thấu suốt được cả một chặng dài mê lộ mà mình vừa trải qua thì đúng giây phút đó đã vừa xẩy đến với nàng.
    Nó soi rọi cho nàng thấy hoàn cảnh của những con người lầm than cơ cực dưới xã hội mới. Nó chỉ rõ cho nàng thấy cái công trình ra sức đóng góp bằng tất cả tài năng và nhiệt tình của tuổi trẻ như nàng, chỉ là những cố gắng vun đắp cho một đẳng cấp phong kiến mới. Giá trị của nàng do đó chỉ là một con bù nhìn bị giật dây cử động hay một hòn bột được nhào nặn tùy theo cung cách, ý muốn của những kẻ có quyền hành.
    Thế là trong một giây phút bất ngờ nhất, nàng như có một động lực sâu thẳm, chất chứa, xúc tích từ bao nhiêu năm nay bật lên như sức bật của một cái lò so, khiến cho nàng có thừa đủ ý chí và sức mạnh để chật cái khăn quàng, (một y phục hóa trang của diễn viên) ra khỏi cổ và ném nó xuống đất. Rồi mắt nàng long lên với vẻ căm hờn nhìn chồng lúc đó đang đứng rất gần.
    Phúc, tên chồng của nàng, thừa đủ bén nhậy để thấy sự bất thường đang xẩy đến trong tâm tư, tình cảm của vợ mình. Ông ta nhào lại phía Hồng vừa nói to để lấp liếm, nhưng dụng ý là để che giấu hình ảnh chống đối của Hồng trước đám cán bộ ngồi ngay ở hàng ghế đầu quan sát buổi diễn tập:
  • Em cố gắng nhiều quá nên kiệt sức rồi. Thôi! Tôi đề nghị các đồng chí tạm nghỉ giải lao.
    Vừa nói ông ta vừa dùng toàn lực để đẩy nàng về phía sau sân khấu. Hồng rợn lên vì cái cảm giác như bị xô bởi cái sức lực mang động cơ của sự hận thù. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, bởi cơn bất kham chợt đến của Hồng có thể gây đổ vỡ trên nhiều mặt: Đoàn kịch nghệ, kịch bản, những buổi trình diễn đã dự liệu và trên tất cả là chính địa vị cũng như uy tín của chồng nàng.
    Ngần ấy yếu tố đã đủ để Phúc xô Hồng dưới sức nặng của hai cánh tay và với sự căm ghét tận cùng. Hồng hơn ai hết cảm nhận rõ điều đó. Bởi nhiều năm qua, Phúc chưa bao giờ phản ứng quyết liệt đến như thế, và cũng bởi vì chưa bao giờ Hồng đã giở chứng một cách bất kham ngay trên sân khấu của buổi tập.
    Phúc xô Hồng về phía cửa phòng hóa trang của diễn viên. Ông ta đẩy mạnh nàng vô trong, rồi đóng thật mạnh cánh cửa lại. Với hai bàn tay đầy móng sắc, ông ta bấu chặt lấy hai bờ vai của Hồng, trì nặng xuống bằng cả sức nặng của thân hình và bằng tia nhìn đỏ ngầu vì cơn xúc động, giận dữ. Rồi ông ta rít lên qua những kẽ răng nghiến chặt:
  • Cô làm cái gì thế? Muốn phá hoại hả?
    Hồng không đáp mà chỉ cố vùng vẫy. Hơn bao giờ hết, nàng thấy thực tế đang xẩy ra ứng đúng vào cuộc sống của một nữ diễn viên như nàng. Nghĩa là nàng đã bị bủa vây bởi hàng rào của bạo lực. Bạo lực không phải chỉ ở hôm nay, phút này mới có nhưng nó đã hiện diện từ lâu dưới hình thức bàn tay sắt được bọc nhung. Bao lâu nay nàng cảm thấy làn nhung êm ái, mềm mại là bởi vì nàng chỉ đã tuân phục một cách tuyệt đối. Tình thế đổi khác khi nàng nổi chứng bất kham.. Và sự phản ứng của chế độ, mà đại diện gần gũi là chồng nàng cũng đổi khác một cách nhậm lẹ, phũ phàng.
    Nghĩ đến những đòn thù mà chế độ trước đây đã đưa ra với biết bao nhiêu con người, Hồng thực sự hoảng sợ. Cơn hoảng sợ ùa đến nhanh chóng không kém, nó gây cho nàng cảm giác buốt nhói ở sống lưng. Nhưng chỉ ít giây sau nó cũng bị nàng nhận chìm xuống bằng những hình ảnh của xã hội lầm than cơ cực bên ngoài, bằng lá thư của người nữ khán giả vừa làm công nhân vừa làm điếm mới đủ nuôi thân.
    Những thứ đó không phải hôm nay bây giờ mới có, mà thực sự nó đã âm thầm hiện diện trong tâm tưởng của nàng, giống như những cơn xoáy nước có sức âm thầm bền bỉ có thể làm sụp đổ cả một cây cầu.
    Nàng vẫn thường tự nhủ rằng mình cố gắng đến tối đa trong mọi nhiệm vụ hàng ngày đâu phải để chỉ phuc vụ cho một tầng lớp giai cấp mới đã thành hình và đang cấu kết với nhau một cách bền chặt. Nhưng rồi càng ngày thực tế càng cho thấy rõ ràng tuổi trẻ và lòng nhiệt thành đã bị lợi dụng một cách triệt để và tinh vi. Hồng không muốn tiếp tục để bị khai thác như những con bù nhìn chỉ biết cử động khi bị giật dây.
    Nàng gằn giọng nói với Phúc:
  • Anh buông tôi ra! Đối với tôi, từ nay là chấm dứt.
  • Chấm dứt cái gì?
  • Mọi nhân vật kịch cỡm và những ý đồ gian xảo của anh xây dựng trên những nhân vật ấy.
  • Cô mất cảnh giác và sai lập trường một cách nghiêm trọng rồi.
  • Thì đã sao!
  • Cô không lường được hết mọi hậu quả về thái độ điên rồ của cô đâu!
    Hồng vụt nổi giận. Nàng có cảm giác kinh tởm bộ mặt của Phúc đến cùng cực. Nàng hét to lên mà hẳn tất cả mọi người ở bên ngoài cũng đều nghe thấy:
  • Anh đừng có dọa dẫm tôi. Tôi chấp nhận hết. Thà hậu quả xẩy ra thế nào thì cũng còn hơn là tôi tiếp tục con đường trình diễn nhớp nhúa này. Anh cút đi! Anh cút đi!
    Phúc xô nàng ngã xuống nền gạch và đi ra như một con hổ dữ! Ông ta đóng sầm cánh cửa phòng lại, mạnh đến nỗi mấy tấm gương treo trên tường bị xao động mạnh, và có một tấm bị rớt xuống sàn gieo lên tiếng vỡ loảng xoảng.
    Mọi người đổ xô vào phòng, nhưng không ai lại gần Hồng cả. Họ thực sự e ngại trước vẻ mặt đầy tính chất khác thường của Hồng. Lúc nàng bước ra, cả bọn giạt ra cả hai bên. Hồng không nhìn ai nhưng có cảm giác như cả trăm con mắt đang dồn về phía mình. Khi bước qua dẫy ghế đầu, nàng nghe thấy giọng của Phúc cố gắng phân trần:
  • Tôi xin lỗi các đồng chí! Dù cô ấy là ai, tôi cũng sẽ có biện pháp thích đáng.
    Đột nhiên Hồng lấy lại được sự bình tĩnh đến độ chính nàng cũng không hiểu được sức mạnh nào đã đem lại cho nàng cái phẩm chất ấy. Có thể là sự khinh bỉ! Có thể là cơn phẫn nộ, sự oán ghét, lòng căm thù, những tình cảm nàng đã được nuôi dưỡng, dạy dỗ nhưng không phải để trút lên đầu những con người ưu tú như những người nữ công nhân, như Hùng, như những ngòi bút trong phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, mà chính là dành cho những cán bộ văn công cấp cao như lũ người trước đây vẫn còn có quyền phán xét và được nàng để cho phán xét.
    Hồng quay lại đám người lố nhố để mỉm một nụ cười ngạo nghễ. Nàng không biết Phúc sẽ áp dụng những biện pháp thích nghi nào, nhưng điều đó có gì đáng quan tâm khi nàng đã tự giải phóng chính mình.
    Đã từ lâu lắm, hôm nay nàng mới nhớ lại hình bóng của anh Hùng với tràn ngập nỗi xót xa như bị sát muối ở trong lòng.

° ° °

Sau bữa đó, Hồng đã không trở về nhà mà đạp xe về tạm trú ở nhà mẹ của nàng ở mãi khu cư xá tập thể Giảng Võ. Những gì đã xẩy đến cho nàng, chính Hòa cũng không được biết. Hòa chỉ đã kể thêm:

  • Lần cuối cùng tôi gặp lại chị Hồng là lần tôi đi công tác trên vùng những đồi trà ở Phú Thọ cách đây vừa đúng năm năm. Chị ấy đã lập gia đình với một bộ đội phục viên đã cụt một chân trong mặt trận chống Pháp ở Điện Biên Phủ. Hai người có vẻ hòa hợp với nhau. Anh ấy thản nhiên ngồi nghe chị kể lại cho tôi nghe tất cả những chi tiết mà tôi vừa thuật lại. Sau cùng, anh ấy chỉ nói thêm:
  • Tôi bị loại ra khỏi vòng chiến từ sau năm 1954.Tôi không can dự gì vào với thời cuộc ngoài công tác phục vụ sản xuất những sọt trà. Thiên nhiên đem lại cho chúng tôi đôi chút hơi hướng của sự tự do, và điều này khiến cho chúng tôi bớt ngộp thở. Chú nghĩ mà coi, ở cái xã hội này, sân khấu đã lan ra cả đời sống. Còn có ai trong cái xã hội này mà không là một diễn viên đang thủ lấy vai trò của mình.

Tháng 4, 1985

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 28 Nov 2024

Phần 2 – Quê nhà

  1. Những Vết Chân Trâu
    Hôm được Tổ Sản Xuất phân công bừa mảnh ruộng có bốn sào ở cạnh con ngòi chạy qua cổng Quán, Vịnh mừng rơn. Nghĩ ra còn nhẹ tội hơn là gánh đất về cho Hợp tác xã làm gạch nung.
    Nhưng điều mà không bao giờ Vịnh nghĩ tới là cái thái độ lừ đừ bất thường của con trâu. Đã đành rằng nó là một con trâu già. Đã đành rằng nó gầy nhom và yếu sức hơn hết thẩy mười bốn con trâu khác của Hợp tác xã Nông nghiệp có tên là “3 Tháng 2” này. Nhưng làm thân trâu mà lại ngại ngần chuyện cầy bừa thì là điều không thể chấp nhận được. Cho nên Vịnh sử dụng tối đa ngọn roi tre để quất lên làn da mốc thếch của nó, vừa làm bộ hung hăng giận dữ vừa hò hét tưởng đến khan cả cổ họng.
    Trời nắng cháy làm mồ hôi bốc ra che mờ cả ánh mắt của Vịnh. Nước bùn lệt sệt ở dưới chân được hun nóng từ buổi sáng bây giờ trở nên bóng nhẫy. Vậy mà con trâu vẫn cứ bước chậm rì.
    Vịnh biết là nó mệt mỏi. Vịnh nghe rõ cả tiếng thở phì phò của nó qua cái miệng há hốc ra, lòng thòng những rớt rãi. Cả đến cái khung xương của nó cũng như gồ lên dưới làn da tong teo đến độ Vịnh có thể đếm được từng chiếc xương sườn. Hình như đã có lần lão Thược cảnh báo mọi người về sự khai thác sức lao động mức của con trâu. Cầy. Bừa. Kéo gỗ. Thồ hàng. Chở gạch. Và cả việc lôi cần cán máy cán, ép bên lò nung nữa. Lão phát biểu công khai trong các buổi họp chung:
  • Phải dưỡng sức trâu thì nó mới phục vụ được lâu dài. O ép nó quá mức, tới lúc nó quỵ rồi mới cho mà biết ….
    Lão nói vậy vì chỉ nghĩ đến con trâu, một tài sản hiếm quý của Hợp Tác Xã. Con trâu mà se mình thì còn đáng sợ hơn con người bị nhiễm cảm. Nguời nhiễm cảm thì chỉ ít bữa đâu lại vào đó, chứ trâu se mình dám làm cả bầy ngã quỵ.
    Nhưng thiện ý của lão lại bị gã Bí thư bẻ queo đi. Hôm họp riêng chi bộ, chỉ có vài tay chân thân tín, gã đặt vấn đề :
  • Lão Thược phát ngôn như vậy là sao? Lão ám chỉ cái gì thế? Ai o ép ai? Ai làm cái gì mà lão cho là o ép quá mức? Lại còn nói ” Rồi cho mà biết !”Ái chà chà! Bộ tính nổi loạn đấy chắc?
    Một tay cán bộ chợt bật lên:
  • Cực kỳ phản động!
    Thế là từ bữa đó, lão Thược bị lãnh đạo nhìn bằng một con mắt khác, mặc dù mọi người dân thường trong cái Hợp tác xã này ai cũng đều biết rằng cái thứ như lão Thược thì có gan gì mà dám nổi loạn. Nhưng thôi. Kệ lão. Ai có thân thì người nấy lo. Thứ nhất ngồi lỳ. Thứ nhì đồng ý. Cái kinh nghiệm sống ấy, ai mà chả rõ.
    Sự việc ấy lâu ngày rồi cũng tạm êm. Lão Thược không dấn thêm vào một sai sót nào mới cả, mà ngược lại, cả hai vợ chồng đều sẵn sàng đảm nhận bất cứ công tác nào được giao phó. Rồi lại tới vụ thằng con của lão đăng ký nghĩa vụ quân sự. Thế là lão đã trở thành “bố anh bộ đội” rồi còn gì.
    Vì thế, dù cảnh giác cách nào thì Hội đồng Liên tịch trong Hợp tác xã cũng không thể từ chối ban phát một tấm giấy khen cho vợ chồng lão. Lão trịnh trọng dán tấm giấy “Gia đình Tiên tiến” ấy lên vách gỗ. Đó là thành quả lao động của những ngày bì bõm dưới đồng sâu hay oằn lưng vác gạch. Một thời gian sau, lão được cất nhắc lên làm Tổ trưởng sản xuất bên lò nung gạch. Vợ lão thì tham gia Hội Phụ lão, chẳng biết làm cái gì, quanh năm đi họp chẳng phát biểu được câu nào, chỉ thấy luôn tay nâng cái giải yếm lên lau đôi mắt toét nhèm và khi biểu quyết thì mụ cũng giơ cánh tay lên cao hơn chút đỉnh.
    Đùng một cái, có văn thư của Quận Ủy gửi xuống truy lùng thằng con lão Thược can tội đào ngũ ! Cả làng nhao lên là thằng đó ăn phải bả phồn vinh giả tạo trong Sài Gòn nên quên phứt nhiệm vụ quốc tế vô sản đáng lẽ phải xung phong sang Kampuchia trợ giúp nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nhưng cái quân có gan tầy trời như thế, đã đào ngũ trong Sè Goòng rồi thì nó dại gì lại quay về quê cũ để lực lượng an ninh ở đây mất công sục sạo, truy lùng. Hẳn bây giờ thì nó đã tan biến vào đâu đó trong cái xã hội bầy hầy, đầy rẫy tàn dư phản động ở trong Nam kia kìa.
    Tuy nhiên các đồng chí Công an xã cũng như lực lượng Dân phòng đã chấp hành nghiêm chỉnh và rất tận tình văn thư của Quận Ủy. Họ súng ống, gậy gộc ùa vào nhà lão Thược như đi bắt giặc. Nhà cửa của lão thì sộc sệch, tuyênh toang, có cái gì mà có thể giấu giếm được. Ấy vậy mà cả đám cũng xông xáo, đi tới đi lui, đục, cậy cả giờ, và chủ yếu là hoạnh hoẹ:
  • Nó mới mò về đêm qua phải không? Lão giấu nó ở đâu?
  • Gia đình tiên tiến con mẹ gì mà có thằng đào ngũ.
  • Xé cái bằng khen đi. Phen này thì Hợp tác xã mất mẹ nó điểm thi đua.
    Mụ Thược càng nghe càng tu lên khóc, giọng mụ cứ kéo dài ra nghe thê thảm:
  • Ới con ơi ! Con bỏ mẹ mà đi đâu thế hả con….
    Riêng lão Thược thì ngồi bó gối ở dưới chân một cây cột nhà, lầm lì chẳng nói chẳng rằng. Trong thâm tâm, lão giận thằng con lắm. Nó tìm cách an thân đã đành, nhưng gieo tai hoạ tầy trời cho cả bố lẫn mẹ. Lão thấy trước những gì rồi sẽ xẩy ra cho cái gia đình này. Ít lắm thì cũng mất chức, mất việc, rồi bị cô lập trong mọi sinh hoạt thường ngày. Cũng phải thôi. Người ta phải làm dữ để dằn mặt bọn trai trẻ thuộc những gia đình khác, hãy nhìn vô đó mà làm gương chứ.
    Quả nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, hai vợ chồng lão bỗng nhiên trở thành hai kẻ tội đồ sống bên lề xã hội. Ra đường, gặp người quen chào hỏi, ai cũng giả bộ làm ngơ ngoảnh mặt quay đi. Một vài người còn đôi chút tình nghĩa thì ném cho một cái nhìn chia sẻ cảm thông nhưng rồi cũng hốt hoảng làm bộ ngó quanh, len lét như sợ hãi có cặp mắt nào đang theo dõi hành vi của mình.
    Nhưng cái đáng sợ hơn cả là biện pháp cắt hộ khẩu, ngưng tem phiếu. Còn tem phiếu thì còn được mua nhu yếu phẩm theo giá chính thức. Không tem phiếu thì kể như đã bị gạt ra khỏi mâm cơm chung của toàn xã hội dù cái mâm chỉ được bầy biện những khoai cùng sắn, quanh năm chỉ được ăn một hai bữa cơm tuyền có thêm vài miếng thịt vào dịp tết nhất hay dịp liên hoan mừng những ngày lễ lớn.
    Lão Thược phải đôn đáo chạy qua tận xã bên xin làm đổi công cho những nhà có máu mặt. Vợ lão thì lặn lội vô tận đồng sâu, lội bì bõm từ sáng đến chiều mò cua bắt ốc để kiếm thêm bất cứ chút gì có thể ăn được. Cả hai bây giờ nom thảm hại như những con ma vùi. Điều này khiến đồng chí Bí thư Chi bộ cười vẻ đắc ý và nói như nhắc nhở bà con:
  • Đó là hậu quả của những tên phản lại đường lối, chính sách của Đảng. Tất yếu là như vậy thôi!!

° ° °

Vào đúng cái lúc mà Vịnh loay hoay với con trâu già dưới thửa ruộng quánh bùn thì vợ lão Thược cũng lõm bõm ở con ngòi với cái giỏ ốc đeo bên lưng. Mụ ta nghe rõ tiếng thằng Vịnh chửi rủa con trâu. Mụ cũng thấy rõ bàn tay của gã múa lên chiếc roi làm bằng đọt tre non và đập liên hồi lên cái khung xương còm cõi của con vật. Bước chân của nó tuy thế lại vẫn ngày càng chậm rì. Cho đến một lúc thì nó run lên bần bật. Nó làm như không còn đủ sức để rút một cẳng chân ra khỏi lớp nước sền sệt bùn. Cái bừa thì trì lại. Nước bỏng rẫy dưới chân làm Vịnh muốn nổi cơn điên lên thêm. Gã quất lên con vật tưởng đến bật máu ở một bên gò xương hông.
Nhưng con vật bây giờ thì đã hoàn toàn khựng lại. Nó đổ mồ hôi đầm đìa. Cổ nó vươn lên. Mặt nó ngửa ra. Rồi nó thốt lên một tiếng kêu như một tiếng rống nhỏ rồi cả thân mình còm cõi của nó quỵ xuống. Con trâu đã hoàn toàn gục ngã trên thửa ruộng như một người lính can trường gục ngã trên chiến địa. Sự kiện bất ngờ làm Vịnh phát hoảng lên. Gã sững sờ nhìn con trâu nằm tênh hênh trên thửa ruộng mà chân tay của gã như quíu lại. Rồi bỗng gã vứt cái roi tre xuống cạnh con trâu và cất tiếng la bảì hải:

  • Ối các đồng chí ôi!! Ối các đồng chí ôi! Ra mà coi con trâu nó chết rồi này…
    Vừa la gã vừa co giò chạy lên mặt lộ. Gã bắt gặp ngay cặp mắt mở to thao láo của vợ lão Thược lúc ấy cũng mang đầy vẻ sững sờ. Con trâu tội nghiệp này đối với vợ chồng lão cũng như thể một người thân quen. Mụ biết rõ gốc gác của nó từ ngày nó mới sinh ra, đã ở những nhà nào, chủ là ai. Mụ cũng biết trên đầu của nó có bao nhiêu cái khoáy, sừng của nó có bao nhiêu khoanh vòng, và ngay cả tính nết của nó nữa. Vậy mà bây giờ nó chết!
    Trong tình cảnh tứ cố vô thân chẳng còn ai, họ hàng thân quen nay đã ruồng bỏ, mụ Thược chợt thấy rằng chỉ có mỗi con trâu này là kẻ thân thiết gần gũi. Nó đâu có nhìn mụ bằng đôi mắt hằn học, rẻ khinh kể từ ngày thằng con trai của mụ dại dột đi đào ngũ. Nó cũng đâu có ngoảnh mặt quay đi mỗi khi mụ đến gần nó thân mật, vỗ về. Thế là tự nhiên mụ tu lên khóc như khóc một người thân, thân đúng nghĩa chứ chẳng phải ví von một cách quá lời.
    Cái tin sét đánh của Vịnh chạy về hớt hải tung ra chỉ một thoáng là loan truyền khắp Hợp tác xã. Mọi người bỏ cả công việc để đổ xô về phía cổng Quán. Rõ ra là một con trâu quý giá hơn một con nguời. Trong chiến tranh, ở đây có bao nhiêu là người chết, nhưng có cái chết nào lại gây ra một sự khích động mạnh mẽ như thế cái chết của con trâu này đâu. Rõ nhất là ở nơi ông Chủ nhiệm Hợp tác xã. Người ông to béo, phục phịch. Chỉ thấy ông đi, người ta đã thấy mệt, huống hồ lại chạy. Vậy mà bữa nay ông chạy. Lại chạy nhanh khiến bọn trẻ con ùa theo cũng muốn hụt hơi.
    Khi tới nơi, ông thở như con bò rống. Mặt của ông đỏ gay. Đôi mắt của ông long lên giận dữ. Ông vung cái gậy tre trong tay, vừa vụt vào khoảng không vừa tác xác nói với cả đám đông đang bu chung quanh ông bên bờ ruộng:
  • Đứa nào lo cái việc cắt cỏ cho trâu ở Tổ 4 đây? Tổ sư chúng mày ham chơi rồi bỏ trâu đói, làm sao nó không quỵ. Ông sẽ lột mẹ hết khăn quàng đỏ cho chúng mày chừa thói ham chơi…
    Trên nguyên tắc, nói như vậy là ông đụng đến danh dự đoàn thể. Phải như kẻ khác mà phát ngôn như thế thì vấn đề sẽ xé ra to không biết tới đâu. Nhưng đồng chí Bí thư chi bộ cũng đang chia sẻ sự giận dữ ấy với ông, chỉ khác cái cung cách phát biểu. Một đằng thì lu loa, chửi rủa om sòm, một đằng thì mặt cứ tím đi, cặp môi bậm sịt lại. Vả chăng lũ nhi đồng quàng khăn đỏ thì cũng đều là con cháu trong nhà cả, nghe ông quát cả bọn đã sợ chết rúm lại rồi, hơi sức đâu mà đặt vấn đề danh dự đoàn thể. Mấy đứa nhỏ đứng ở vòng ngoài ghé tai vào nhau xì xào:
  • Tuần này đến phiên đội nào chăn trâu Tổ 4? Phải đội thằng Năng không?
  • Không! Đội thằng Quý. Mà tao thấy tụi thằng Quý kéo nhau đi bắt cua trên đồng Ông Súng.
    Một đứa hớt lẻo, nói to giọng cốt để ông Chủ nhiệm ở xa nghe thấy:
  • Kỳ này tới phiên đội thằng Quý cắt cỏ.
    Ông Chủ nhiệm quay phắt lại. Ông nhìn thằng nhỏ mới phát ngôn như túm lấy được bằng cớ hiển nhiên. Ông định tuôn ra một hồi chửi rủa, đào mả cha, mả ông thằng Quý lên, nhưng ông kịp bụm miệng ngay lại vì phát hiện ra thằng Quý là con ông Uỷ viên An ninh. Vuốt mặt còn nể mũi, huống chi lại là thứ dữ. Vì vậy ông chỉ khua cái gậy thêm một vòng nữa rồi nói bâng quơ:
  • Thằng nào thì thằng, kỳ này tao phạt hết. Giấy khen có ký rồi tao cũng dẹp hết.
    Nói rồi ông quay sang đám thanh niên ra lệnh khiêng con trâu lên bờ đường.
    Mọi người phát hiện ra rằng con trâu chưa chết. Nó chỉ bị kiệt sức đó thôi. Ông Chủ nhiệm hợp tác xã nhỉnh mặt lên được một tí và ông hơi hối tiếc là mình đã quá nặng lời. Ông liền đổi giọng dễ nghe hơn:
  • Nó đói đấy thôi. Cho nó nghỉ ngơi dưỡng sức, bồi dưỡng rơm cỏ đầy đủ là khoẻ ra ngay.
    Thế là con trâu được một dịp không phải lao động mà không nhân danh một ngày lễ lớn nào. Tuy nhiên lời nhận xét của ông Chủ nhiệm đã chẳng đúng như những điều mà ông mong mỏi. Kể từ lúc khiêng con trâu về chuồng, là nó nằm liệt luôn. Nó không đói. Cả một sọt cỏ xanh mơn mởn đem kề vô miệng mà trâu không hề nhếch mép. Nó chỉ như một con quay đắp hết đà, chẳng mấy chốc sẽ quỵ xuống và không bao giờ còn gượng dậy được nữa. Bây giờ thì nó nằm xuội lơ ở một góc chuồng, giương đôi mắt đục lờ nhìn ra phía ngoài một cách đờ đẫn. Ở hai bên mép, những dòng bọt trắng xoá cứ sùi ra, mỗi lúc một nhiều. Đồng chí Phó Chủ tịch buông sõng một câu:
  • Đem thịt quách đi thôi!
    Mấy người quanh năm ước mơ một miếng thịt không giấu được vui mừng, nhẩy reo lên ngay:
  • Phải đó! Phải đó! Thịt đi thôi. Làm ngay còn được ăn trâu lành, chờ ít bữa là hoá trâu toi đó!
    Ý kiến vừa nêu ra làm ai nấy đều thích mê. Ngàn năm một thuở mới có một bữa thịt ngoài tiêu chuẩn. Vả chăng trâu già cỡ đó, có chạy chữa cách mấy cũng chẳng còn khai thác ở nó được thêm chút lao động nào. Tuy nhiên, trâu vừa ngã xuống, Hợp tác xã còn phải đương đầu với khó khăn mới do cái chết của nó gây ra, chuyện chưa giải quyết mà lại bàn đem trâu ra làm thịt thì có vẻ thiếu tinh thần trách nhiệm quá. Cho nên ông Chủ nhiệm không muốn nêu ý kiến biểu đồng tình ngay.
    Tối hôm đó, ông triệu tập một phiên họp Liên tịch để bàn chuyện bù đắp chỗ khuyết của con trâu. Có người phát biểu:
  • Không có trâu thì kể như một số phần vụ bị tê liệt, mà Hợp tác xã ta đang ở vào thời điểm các công việc đang căng nhất. Đề nghị xuất quỹ ra mua một con trâu khác.
    Ý kiến này lập tức bị ông Chủ nhiệm bác bỏ với lý do: “Nếu giải quyết vấn đề mà giản dị như thế thì ai cần triệu tập phiên họp liên tịch làm gì “. Thật ra trong thâm tâm, ông không muốn quỹ bị hao hụt đi một đồng xu trời ơi đất hỡi nào. Nó còn phải được vun đắp thêm để Hợp tác xã có thể mua được một chiếc xe con, tức là xe hơi loại nhỏ. Ông vẫn luôn luôn bầy tỏ ý kiến rằng cái xe con là vô cùng quan trọng với Hợp tác xã. Bởi có nó, ông mới rộng cẳng chạy đây chạy đó, nay Tỉnh, mai Quận, liên hệ với các Ban, Ngành, các cơ quan để mậu dịch mua bán các loại sản phẩm, các mặt hàng tiêu dùng nào hột giống, nào phân bón, nào xăng dầu….Ông làm như cái xe con để ông sử dụng giống như một cái chìa khoá có thể cứ mở cánh cửa ra là được cung ứng đủ mọi thứ.
    Bên phía phụ nữ thì bàn thảo lạc đề với ý kiến đề nghị mua một dàn máy bơm thay thế cho hệ thống gầu giai, gầu sòng vừa chậm chạp vừa phải bổ sung một lực lượng lao động đông đảo cho việc tát nước. Đồng chí ấy giải thích:
  • Chúng ta đang ở vào thời đại khoa học kỹ thuật tiên tiến, do đó phải biết vận dụng phương tiện khoa học kỹ thuật vào công tác sản xuất.
    Nhưng có kẻ bàn ngang:
  • Đồng ý là có khoa học kỹ thuật thì cũng tốt thôi. Nhưng đồng chí cũng nên nhớ rằng sức người mà quyết tâm thì sỏi đá cũng biến thành cơm đấy nhé!
    Chị phụ nữ nói dỗi:
  • Thế thì đồng chí kéo cầy thay trâu đi. Rồi cũng sẽ có cơm như lúc còn trâu vậy.
    Câu nói này thốt nhiên làm bừng lên trong đầu óc mọi người một sáng kiến nghe khá tuyệt vời: “Kéo cầy thay trâu”. Ông Chủ nhiệm vỗ đùi đánh đét một cái rồi reo lên:
  • Đồng chí Tài bên Công đoàn nói đúng đấy. Ta mà quyết tâm thì chẳng khó khăn nào không thể vượt qua. Sỏi đá cũng biến thành cơm mà. Như vụ con trâu đang gây khó cho ta về lực lượng lao động. Bộ nó chết rồi là chúng ta khoanh tay nhìn hết cả sao ? Đề nghị các đồng chí thảo luận về cái giải pháp tạm lấy sức người thay trâu.
    Chị phụ nữ trợn mắt lên nhìn:
  • Nghĩa là người kéo cầy thay trâu?
  • Có sao đâu! Trước đây trong chiến tranh, nhiều Hợp tác xã Nông nghiệp đã phát huy cái sáng kiến này để tranh thủ thêm công tác sản xuất và giải quyết được những thiếu thốn khó khăn trước mặt.
    Chẳng ai có thể cãi được với lập luận khắc phục khó khăn theo kiểu đó, nhưng buổi họp lại bế tắc ở chỗ ai là kẻ chịu đứng ra làm trâu để đi kéo cầy đây? Bên cánh phụ nữ thì dứt khoát là không rồi. Không thể buộc cho họ cái nhiệm vụ khó khăn cần nhiều sức lực đó, dù từ lâu họ vẫn bênh vực quan niệm phụ nữ phải bình quyền. Bình gì thì bình, các khó khăn phải để bên Thanh niên gánh vác trước. Mà bọn thanh niên thì cứng đầu. Thích thì làm. O ép quá, chúng nó phá đám thì Hợp tác xã chỉ có con đường phá sản. Dầu vậy, ông Chủ nhiệm cũng động viên một cách vớt vát không che giấu được sự khẩn khoản:
  • Thôi để bên các đồng chí Thanh niên họp riêng với nhau đề cử người luân phiên, mỗi người một buổi cầy thay trâu. Mong các đồng chí thể hiện tinh thần: “Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”.
    Anh đại diện Chi đoàn Thanh niên biết ngay đang đụng phải một vấn đề hóc búa. Anh biết rõ chẳng có tên thanh niên nào chịu đứng ra làm trâu kéo cầy. Không phải vì không có sức vóc, nhưng đã làm trâu rồi thì còn đâu thể diện mà đi tán gái. Nó sẽ không gọi tên thực mình ra mà lại cứ kêu “anh Trâu” thì có mà độn thổ! Đó là nguyên do chính, ai cũng nghĩ tới mà ai cũng chẳng dám nêu ra.
    Quả nhiên, sau tới hai buổi họp Chi đoàn và dùng đủ mọi biện pháp động viên vẫn chẳng có ai chịu đứng ra xung phong hết. Trong khi ấy, Vịnh bám sát tình hình sức khoẻ của con trâu để báo cáo thường xuyên từng giờ từng phút, như thể “Nó hết ngóc được cái đầu rồi”, “Nó bắt đầu ngáp mỗi lúc một nhiều”, “Hai chân nó bắt đầu rẫy rẫy”. Và cứ mỗi lần loan một tin như thế, gã lại kèm theo một câu:
  • Thịt đi thôi, kẻo lại hoá trâu toi!
    Qua ngày hôm sau nữa, bỗng mọi người thấy bóng dáng của lão Thược đứng khúm núm trong phòng làm việc của ông Chủ nhiệm Hợp tác xã. Có cả sự hiện diện của đồng chí Bí thư Chi bộ. Ngàn năm một thuở lão Thược mới có cơ hội xin “đái tội lập công”, dù tội của lão chỉ là cái tội có một đứa con dám bạo gan đi đào ngũ.
    Lão cũng tự biết mình cũng chẳng mạnh khoẻ gì hơn con trâu lúc này, nhưng còn nước còn tát. Sau gần một năm trời sống bên lề xã hội, lão đã quá hãi hùng với bầu không khí bị xóm làng cô lập và bị nhà nước cúp mất hộ khẩu. Nghĩa là bị chặt đến tận gốc rễ về cả phương diện vật chất lẫn tinh thần. Như vậy thì có xá gì cái chuyện đưa vai ra kéo cái cầy thay chỗ cho con trâu. Lão khẩn khoản nói:
  • Trình với hai đồng chí, tôi tuy già nhưng sức lực còn dẻo dai lắm, dư kéo một cái cầy. Vả chăng lại còn có con mụ vợ tôi nó phụ một tay nữa. Mụ tiếng thế mà dai như đỉa ấy.
    Vừa nói lão vừa ngước mắt nhìn ra ngoài. Qua cánh cửa sổ mở rộng, cả đồng chí Bí thư lẫn ông Chủ nhiệm Hợp tác xã đều cùng nhìn thấy mụ Thược đang ngồi bó gối thu lu ở một gốc cây trong sân trụ sở. Bên cạnh mụ còn có một cái giỏ cua. Mụ ngồi so ro như một con mèo ốm, đôi mắt đăm đăm nhìn ra phía bên kia hàng rào trên một khoảng sân rộng mênh mông có nhiều bóng người lố nhố đi lại khuân vác những chồng gạch mầu máu bầm mới được chuyền ra khỏi lò nung. Tuy từ đây tới đó còn cách nhau một khoảng xa nhưng mụ vẫn có thể nhận biết được hình dáng của những người quen thuộc. Lão Ấu. Mụ San. Mụ Hào. Lão Hối. Và cả những đứa trẻ mười một, mười hai. Họ đang khuân những viên gạch từ trong khu vực lò đem ra xếp thành hàng dài ở trên sân đất nom như những con kiến đang tha những vật liệu đem về làm tổ.
    Tất cả họp thành một xã hội, cái xã hội lam lũ, nghèo nàn mà trong đó con người đang bị vắt cho tới lúc sức cùng, lực kiệt. Nhưng tuy vậy chỗ đó vẫn còn là ước mơ mong được đạt tới của vợ chồng lão Thược bây giờ.
    Gần một năm nay mụ chưa được sờ lại tờ tem phiếu, mẩu này là gạo, mẩu kia là muối, là dầu, là củi, là sợi chỉ, cây kim, lâu lâu còn có ký đường, vuông vải. Cũng đã lâu lắm mụ cũng không được cái hân hạnh chen chúc xếp hàng, vật lộn, cãi vã nhau ở trước cửa hàng mậu dịch, có hôm thì dưới trời mưa rảrích, có ngày dưới nắng chang chang, chung quanh bốc sặc lên mùi nồng nặc chua loen loét của đủ loại mồ hôi.
    Những hôm lội lõm bõm mò cua ở dưới đồng sâu, mụ cầu Trời khấn Phật cho thằng con ham chơi của mụ lang thang đâu đó rồi sẽ có ngày sẽ lại quay về. Bất quá đi tù, nhưng còn mẹ còn con. Rồi mãn hạn tù, nhà nước khoan dung, nhà lại có hộ khẩu, tem phiếu. Mụ nghĩ đến tem phiếu như nghĩ đến một ước mơ thật xa vời.
    Có hiểu được tâm tình của mụ lúc này thì mới thấy được hiện bây giờ mụ đang nôn nóng biết bao. Thỉnh thoảng mụ lại liếc về phía cửa sổ văn phòng để ngóng chờ tin vui của lão Thược. Mụ ngồi đấy chờ chồng với tất cả nỗi băn khoăn, hồi hộp của một kẻ tội đồ chờ đợi phiên toà sắp tuyên ra một bản án.
    Cho đến lúc có bóng của lão Thược xuất hiện ở ngoài khung cửa chỗ văn phòng của ông Chủ nhiệm Hợp Tác Xã thì mụ vội vã đứng bật dậy, giương cả hai cặp mắt lên nhìn. Mụ thấy lão Thược đang nhe hàm răng móm mém ra cười.
    Thôi thế là Trời Phật đã chứng giám cho lời cầu xin chân thành của mụ rồi. Mụ thấy lão Thược đi xộc về phía mụ. Chân lão bước thoăn thoắt. Hai bàn tay của lão múa lên. Lão lên tiếng thật to, giọng đầy vẻ vui mừng:
    Bà ơi! Các ông ấy chấp thuận rồi! Mình sẽ được thế chỗ của con trâu!

Một Thời Đang Qua

vietmessenger.com
Nhật Tiến

Post by Sơn râu 28 Nov 2024

Phần 2 – Quê nhà

  1. Cái Túi Bùa
    Không hiểu bằng một cách nào đó, bà cụ Tám, hồi còn trẻ đã lặn lội tới tận Miếu Ba Cô ở làng Vĩnh Tràng, huyện Đất Đỏ, tỉnh Sơn Tây để xin cho được một dúm hạt rành rành có mầu đỏ rực như màu son và một mảnh giấy xuyến chỉ trên có vẽ nhằng nhịt những dấu bùa và hình bát quái. Tất cả những thứ đó được bỏ vào một cái túi nhỏ bằng hai đốt ngón tay may bằng gấm Tầu và có một sợi dây đeo bện bằng thứ sợi chỉ tơ vàng óng.
    Bà cụ Tám gọi đó là bùa hộ mệnh do Ba Cô ban phát, và Ba Cô chỉ ban phát cho những kẻ nhất tâm kính lễ với một lòng tin tưởng tuyệt đối vào khả năng của sức mạnh siêu hình. Cụ Tám hồi đó dụng công lặn lội như vậy là để cho chồng được luôn luôn bình an dù Ông Tám có vì nhiệm vụ mà phải xông pha mũi tên hòn đạn.
    Hôm tiễn chồng đi theo chiến dịch trên miền Thượng Lào trong cuộc chiến tranh chống Pháp, Cụ Tám thân hành quàng cái túi gấm kể trên vào cổ chồng và ân cần dặn dò:
  • Mình cứ an tâm mà đi lo việc nước. Việc nuôi con đã có em lo. Điều hết sức cẩn trọng mà mình phải ghi nhớ, là đừng bao giờ dời ra khỏi túi bùa hộ mệnh này. Ba Cô linh ứng lắm. Ba Cô sẽ theo dõi, che chở phù hộ cho mình trước bất cứ mũi tên hòn đạn nào.
    Ông Tám mỉm cười, cúi thấp đầu xuống để cho vợ choàng qua cổ mình sợi dây bện bằng chỉ tơ mềm mại. Trong thâm tâm, ông chẳng tin tưởng gì về chuyện dị đoan, nhưng chiều vợ, để cho bà Tám được an lòng cũng chẳng mất mát gì.
    Sau bữa chia tay đó, ông Tám vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại. Đúng hai năm, bốn tháng, mười sáu ngày (bàTám đếm từng ngày như thế theo dõi từng bước chân đi của chồng yêu dấu), Ủy Ban Hành Chánh xã cử người đến thông báo cho bà được hay tin dữ. Ông Tám mất ở vùng Thượng Lào. Không mất ở chiến trường nhưng mất trong quân y viện. Bệnh sốt rét ngã nước. Người ta cũng trao lại cho bà Tám đầy đủ những đồ vật dụng của Ông Tám còn sở hữu lúc ông chết: một cái ví da nhầu nát, một mớ giấy chứng minh thư, giấy đi công tác, giấy ban khen, vài ngàn bạc tiền Hồ, một cây bút máy nội hóa và cả cái túi bùa.
    Bà Tám thương chồng khóc ngất đi. Bà u sầu, ủ dột suốt mấy năm liền không khuây khỏa. Tuy nhiên lòng tin cậy của bà đối với Miếu Ba Cô vẫn không hề suy suyển. Ông Tám đâu có chết vì bom đạn. Ông chết vì bệnh sốt rét rừng. Bùa của Cô cho, biết đâu đã chẳng che chở an toàn cho ông trong biết bao nhiêu lần xông pha nơi trận mạc. Bà Tám do đó, vẫn một lòng cung kính chiếc túi nhỏ may bằng gấm Tầu, bên trong có những hạt rành rành đỏ như màu son và một mảnh giấy xuyến chỉ vẽ bùa nhằng nhịt.
    Tháng sáu năm 1965, thằng Đĩnh, đứa con trai độc nhất của ông bà Tám, được lệnh đi B. Đi B là đi vô chiến trường miền Nam. Bây giờ thì bà Tám đã bước vào tuổi già. Mái tóc trên đầu bà đã ngả mầu muối tiêu, làn da cằn cõi sần sùi, khuôn mặt hom hem, xanh xám vì những khổ nhọc của đời sống, những nỗi lo âu phiền muộn hàng ngày và cả vì sự lao động cực nhọc mà yếu kém bồi dưỡng nữa. Cho nên hình ảnh tiễn chồng đi ra chiến trường gần hai mươi năm trước, đã chuyển sang đứa con đầu của bà. Vợ Đĩnh tay khoác tay nải, tay dắt đứa con trai đứng bịn rịn mãi với chồng ở trước sân ga Hàng Cỏ.
    Nàng có vẻ cứng dắn và điềm đạm hơn là chính cụ Tám đã đứng khóc sụt sùi đưa chồng đi chiến dịch hồi những năm trước. Hai vợ chồng nắm chặt tay nhau, nhưng không nói nhiều lời. Hầu như cả thế hệ phụ nữ ở thập niên 60 này đã quá quen thuộc với bầu không khí chiến tranh, thương tích, bệnh tật, và cả sự chia ly. Tất cả những thứ đó nghiễm nhiên là một sản phẩm tất yếu của chế độ mà khi một đứa trẻ sinh ra, lớn lên đã tự phải thích nghi , thấm nhuần cung cách sinh hoạt trong một môi trường đã hiện diện sẵn sàng những thứ như thế.
    Cung cách biểu lộ tình cảm của bà Tám thì có khác hơn. Bà đứng lùi lại ở phía sau vợ Đĩnh một chút để cho chúng nó được tự do than thở dù chỉ là than thở qua ánh mắt nhìn nhau mà không thốt nên lời. Lòng cụ Tám thổn thức như sau bao nhiêu năm kể từ khi chồng chết, chưa bao giờ cụ thổn thức đến như thế. Cụ gợi nhớ đến ông Tám ngày xưa, cũng súng sính trong bộ quân phục màu vải Ka Ki xanh còn gần nguyên nếp hồ, cũng ánh mắt gần như nhạt nhòa vì bị che phủ bởi một màng lệ mà ông cố dằn xuống không cho nó trào ra . Điều đó làm cho cổ họng của ông như muốn tắc nghẽn lại và hai cánh mũi trở nên phập phồng.
    Thằng Đĩnh bây giờ cũng giống y chang ông Tám hồi đó. Môi nó mấp máy như muốn nói thật nhiều mà rút cục chẳng chọn được nên lời. Nó chỉ biết hết nắm tay vợ thật chặt rồi lại cúi xuống hôn thằng con trai, thằng Hải, năm ấy cũng chỉ vào lứa tuổi lên ba, lên bốn.
    Mãi tới lúc còi xe lửa rúc lên một hồi, vợ Đĩnh mới chịu lui ra một bên để cho mẹ chồng từ giã con trai. Bà cụ Tám ôm lấy vai con khóc nức nở và bây giờ bà mới nhận ra rằng số phận của bà quả là hẩm hiu: một đời người mà chịu tới cảnh hai lần tiễn chồng rồi tiễn con ra mặt trận. Bà thổn thức lấy ở trong hầu bao ra cái túi gấm nhỏ. Đạo bùa linh thiêng của Miễu Ba Cô. Bà cũng quàng lên cổ thằng Đĩnh cái túi ấy với đầy đủ những lời dặn dò như bà đã từng dặn dò ông Tám ngày trước:
  • Ba Cô linh ứng lắm. Ba Cô sẽ theo dõi, phù hộ cho trước mũi tên hòn đạn.
    Thằng Đĩnh tuy lòng ảo não mà cũng phải bật cười lên:
  • Mẹ còn duy tâm quá. Chế độ ta là chế độ duy vật mà mẹ.
    Bà Tám phát bẳn lên:
  • Tâm, vật cái con mẹ mày. Đừng có báng bổ, Cô vật chết. Cứ đeo liền vào cổ cho mẹ yên lòng.
    Đĩnh chiều mẹ cúi đầu xuống và bà cụ lại một lần nữa choàng sợi dây tơ vàng óng qua cổ đứa con trai.
    Lần ra đi ấy là lần cuối cùng Đĩnh đoàn tụ đông đủ với người thân. Tin tức những người đi B vào thời kỳ đó rất mù mờ bởi chính sách của nhà nước là không bao giờ thông báo danh sách những tử sĩ ngoài chiến trường cho gia đình vì sợ tổn hại đến tinh thần chiến đấu của quần chúng.
    Rút cục dư âm của Đĩnh vang vọng lại chỉ còn là những tấm phiếu mua hàng theo giá chính thức, những buổi mít tinh tuyên dương tập thể tất cả những gia đình có con em bộ đội đi B được tổ chức vào những dịp vận động những đợt mới tham gia nghĩa vụ quân sự, và sau cùng là những giấy khen, giấy chứng nhận “Gia đình Cách Mạng”qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp chống Mỹ.
    Bà cụ Tám chỉ thực sự biết tin con trai của mình đã không còn nữa khi một bạn đồng đội của Đĩnh đã trở thành phế binh, được trở về. Anh ta tên là Thái, cũng trạc tuổi với Đĩnh và bị cưa mất một giò trong chiến dịch Đông Xuân thực hiện ở mãi trên miệt Pleiku, Kontum gì đó.
    Đĩnh đã bỏ mình trong một trận đánh lớn, theo lời Thái kể lại, không phải vì bom, vì đạn, vì lưỡi lê hay dáo mác mà vì những xe tăng địch cầy nát cả một khu vực bên trong có những hầm hố ẩn núp. Thái cõng cái thân bầy nhầy máu me của bạn lê qua những đồi cỏ tranh um tùm và tới được một cánh rừng an toàn bên ngoài trận địa. Đĩnh đã chết sau đó ít phút, nhưng cũng còn đủ thì giờ gửi gấm những vật dụng cá nhân và địa chỉ của gia đình ở ngoài Bắc. Trong số những vật dụng đó có cả cái túi bùa may bằng gấm Tầu, bên trong có những hạt rành rành màu đỏ như son và một mảnh giấy xuyến chỉ vẽ những hình bát quái.
    Cái túi bùa ấy, bà Tám thu hồi lại vẫn với một lòng thành kính, tin tưởng:
  • Nó đâu có chết bom, chết đạn. Nó chết vì bị xe tăng cán. Âu cũng là bạc số.
    Cái chết của Đĩnh đem lại cho số thu nhập của gia đình thêm được năm đồng mỗi tháng. Tiền liệt sĩ đấy! Mà cũng chầy vẩy ra mới có, vì một đằng, Ủy Ban Nhân Dân Xã cứ chối bai bải là thằng Đĩnh còn đang chiến đấu anh dũng ngoài chiến trường, một đằng vợ Đĩnh cứ nhất quyết là chồng của chị đã hy sinh dưới làn xích sắt của xe tăng địch. Nhưng rồi cuộc tranh chấp cũng đi tới kết quả “tốt đẹp” cho gia đình cụ Tám. Chứng cớ rành rành ra đấy, ai mà ngoan cố chối cãi cho được. Chẳng lẽ khi không, vợ Đĩnh có được mớ giấy tờ tùy thân của chồng. Chẳng lẽ đến chiếc khăn tay do chính vợ Đĩnh thêu cho chồng một tuần lễ trước khi Đĩnh đi B bây giờ lại còn nằm trong tay vợ Đĩnh. Trên có bút tích của Đĩnh ghi đủ thứ địa danh mà Đĩnh đã đi qua. Đảng ủy cuối cùng phải thua cuộc, tổ chức lễ truy điệu um sùm cho liệt sĩ Đĩnh, người bộ đội anh hùng đã nêu cao truyền thống anh dũng bất khuất của nhân dân làng xã.
    Trong cuộc tranh chấp không tiền khoáng hậu kể trên (với một bên nhất thiết đòi hỏi được xác nhận là chồng, con đã chết, một bên khẳng định đương sự vẫn hiên ngang, mạnh khoẻ ngoài trận địa, và bên thắng cuộc dù thương xót chồng con cách nào hẳn cũng vẫn phải mỉm một nụ cười hoan hỉ, thoả mãn), chỉ có một kẻ duy nhất hỗ trợ ngầm cho kẻ thế cô.
    Đó là đồng chí Tài, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Xã. Tài chưa vợ, nhưng cảm ngầm sắc đẹp gái một con trông mòn con mắt của vợ Đĩnh. Chỉ có cái mác đi B của Đĩnh là còn khiến cho Tài phải kiêng dè. Nay thì cánh cửa đã mở rộng. Liên hệ tình cảm với một thiếu phụ trẻ đã góa chồng đâu phải là một sự hủ hóa. Hơn hai năm sau, vợ Đĩnh bước đi bước nữa để thằng Hải lại cho bà cụ Tám nuôi với nguyên vẹn tiền tử tuất dành cho liệt sĩ và những tấm phiếu mua hàng giá chính thức được ban phát vào những dịp lễ lớn.
    Những thứ đó coi vậy chứ chỉ là những hương hoa, không đủ bù đắp cho một nhà dù vỏn vẹn có hai miệng ăn. Bà cụ Tám phải đôn đáo chạy chỗ này, đắp chỗ kia. Niềm an ủi duy nhất của bà là “cái thằng Hải, càng lớn càng giống bố như đúc”.
    Đầu năm 1980, nhà nước mở chiến dịch đi Khu Kinh Tế Mới ở Pleiku, Kontum, cụ Tám chẳng biết những chỗ đó là ở đâu nhưng đã cảm thấy gần gũi, thân thiết ngay với những địa danh đó.Thằng Đĩnh đã chẳng hy sinh trên chiến trường Pleiku, Kon tum là gì. Một ngày đầu tháng chín, bà cháu líu ríu theo đoàn người xếp hàng chờ lên xe lửa để xuôi Nam.
    Vùng định cư rõ ra là rừng xanh, núi đỏ, nhưng nhìn đâu bà cụ cũng thấy hơi hướng của thằng con trai. Biết đâu thằng Đĩnh đã chẳng đi qua khu rừng này, ngọn đồi này, con suối này. Biết đâu xác thằng Đĩnh đã chẳng chôn vùi đâu đó quanh quẩn nơi đây, những cây sồi già hay cạnh những gốc cây cao su mà nhân dân vùng kinh tế mới đem trồng.
    “Nhìn hàng cây cao su thẳng tắp như đội ngũ tuổi trẻ của tổ quốc Việt Nam quang vinh, chúng ta không thể không hãnh diện về những đóng góp của nhân dân xã ta trong công cuộc góp phần xây dựng tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa.
    Đó là lời mở đầu văn hoa của đồng chí Chủ Tịch xã Tân Lập trong buổi mít tinh phát động phong trào thanh niên thi hành nghĩa vụ quân sự.
    Trong danh sách đợt đầu, thằng Hải đã có tên đi. Có cả tên mấy đứa bạn thân của Hải nữa. Mấy hôm trước ngày phải trình diện, chúng nó tụ tập nhau ở ngoài quán nước, bàn cãi công khai. Trí nói:
  • Kampuchia là cái xứ chó chết nào? Tại sao mình lại phải đi đánh nhau ở đó?
    Phú mỉa mai:
  • Xứ nào thì xứ, vấn đề là ở chỗ chiến tranh đã trở thành nghề của các cấp lãnh đạo ta. Tao tự hỏi nếu không tiến hành chiến tranh thì các ông ấy sẽ chẳng biết phải làm cái gì.
    Hải tự nhiên nổi giận. Nó văng tục một câu rồi nói tiếp:
  • Chúng nó toan tính làm cái gì thì kệ mẹ chúng nó. Nhưng tuổi trẻ của tao phải khác với tuổi trẻ của ông nội tao, của bố tao. Tao không muốn tiếp tục trở thành những tay sai, những quân chốt thí muôn năm hết đời này qua đời khác mà chỉ để cho chính chúng nó hưởng thôi…..
    Thằng Hưng, đứa lớn nhất trong bọn, luôn luôn bao giờ cũng trầm tĩnh và đĩnh đạc hơn. Nó vỗ vai Hải một cái nhẹ rồi nói nhỏ:
  • Muốn gì thì muốn nhưng phát ngôn bừa bãi không phải là cung cách tốt để giải quyết vấn đề. Nếu tụi mày không chịu giữ gìn lời ăn, tiếng nói thì tao bỏ!
    Hải chịu là thằng Hưng có lý. Nó mỉm cười đổi giọng châm biếm:
  • Nói gì thì nói chứ tuổi trẻ chúng ta bao giờ chẳng là đội ngũ tiên phong trong công cuộc chiến đấu và bảo vệ tổ quốc Xã Hội Chủ Nghĩa.
    Một đứa chen vào:
  • Và nghĩa vụ quốc tế vô sản nữa chứ!
    Cả bọn cũng cười rộ rồi đứng lên giải tán. Hải lững thững đi về nhà. Lòng ngổn ngang với những ý tưởng khích động trong đầu. Nó chưa thể hình dung đoạn đường sắp phải trải qua nhưng trái tim của nó đã đập rộn ràng với câu nói của Hưng thì thào trong buổi hội ý hôm nào:
  • Từ Kampuchia vượt qua Thái Lan không xa lắm đâu. Nhiều lắm là hai ngày băng rừng…
    Buổi sáng hôm chia tay đi trình diện, bà cụ Tám ôm lấy Hải khóc nức nở. Hải cũng ôm lấy thân hình còm cõi, nhỏ thó của bà nước mắt rưng rưng. Bà Tám nói:
  • Con đi bình an và nhớ trở về với bà nhé.
    Đây là lần thứ ba trong cuộc đời khốn khổ bà đã thốt lên những lời não lòng ấy, chiến tranh chết chóc, chia ly, mọi thứ hầu như không hề thay đổi trong suốt gần một nửa thế kỷ vừa qua. Duy chỉ có thân hình của bà là đã hoàn toàn suy sụp. Bà đứng trên hai chân đang run lẩy bẩy. Bàn tay nhăn nheo sờ soạng lên cổ lên vai của đứa cháu nội để cố quàng qua đầu nó chiếc túi bùa may băng một dây chỉ bện bằng những sợi tơ vàng óng. Bà thều thào:
  • Đừng dời ra con nhé. Ba Cô sẽ phù hộ cho con…
    Thằng Hải cúi thấp đầu xuống (như ông nội nó, như bố Đĩnh đã từng cúi xuống) để nhận cái hành động mang nặng những ân tình sâu xa của người đàn bà một đời khốn khổ.
    Tự nhiên nước mắt của Hải trào ra, đồng thời lòng nó dâng lên một niềm bi phẫn. Nó thầm thì qua tai bà nội:
    ─ Cháu không biết đến bao giờ mới trở lại được với bà. Nhưng cháu tin chắc rằng đến đời của cháu sẽ là đời cuối cũng mà bà phải trông cậy vào cả túi bùa của Ba Cô. Phải như thế không bà ?
    Bà cụ Tám xiết chặt lấy cháu hơn nữa, áp đôi má còn nóng hổi nhưng giọt lệ lên ngực áo của Hải và gật đầu lia lịa.

Thiếu

sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted on 26/12/2013
Post by Sơn râu 27 Nov 2024

Bạn văn Hồ Đình Nghiêm và Song Thao

Nhà văn Song Thao, chủ nhân quán MỘT, vừa dọn ra cho thực khách món TẠ. Anh là người hào sảng, rộng lượng, bởi thức ăn anh mang tới luôn ê hề. Xe lửa mà chi cho tủi, bát dùng trong quán Một size nhỏ nhất đã là Airbus 330 siêu khủng rồi! Bê nặng cả tay, sóng sánh hương liệu đổ tràn.
Gia vị bao giờ cũng đề huề cân lượng. Mặn ngọt cay chua nồng đậm, tuy tuỳ tiện nếm nêm nhưng ăn thậm vừa miệng, đủ để xuýt xoa. Củi lửa riu riu để qua đêm, bình minh thì vừa chín tới, hoàn tất. Hoặc có khi đun ngày thì đêm nhừ rục. Trái khuấy giờ giấc nhưng chưa hề khét khê hư bột hỏng đường. Ưa chay có chay nhưng thực đơn “bổn quán” lại “mặn” món mặn hơn. Chút chút cho vui cuộc đời vốn quá tải khổ hạnh. Nhạc trong quán vừa trỗi lên: “Cười lên đi em ơi, cười để giấu những dòng lệ rơi…”
Bản tính chủ quán: Vui vẻ, hào phóng, rộng rãi. Nhưng món TẠ vừa bày hàng xem chừng vấp phải một chữ: Thiếu. Thiếu hai chữ: TRUNG SƠN. Nói nhỏ với nhau chơi vậy thôi, chứ để lọt vào tai chủ quán thì bận sau khó ngồi đồng, ghi sổ.
Chúng tớ nợ ông chủ quán ấy nhiều lắm cơ! Ăn hàng tuần mà chả chịu giả tiền, cứ tìm cách phắn. Xin nguỵ biện, mất lòng trước được lòng sau, rằng thì là chỉ nợ món ăn tinh thần thôi mà, quán ảo thôi mà, vui thôi mà. Và thời này bọn ăn cháo đá bát thì đông hơn cả quân Nguyên, cứ đầy dẫy ra thế kia. Khổ thế!
Nói chủ nhân hơi bị hào sảng là vì vậy. Con tằm cứ chuyên cần nhả tơ và tơ thì mãi bay giữa đời rộng. Vô vị lợi, chỉ gửi đời chút hương. Tôi khóc tôi cười theo dòng chữ của ông và như thế, nguỵ biện cách mấy thì tôi cũng đã ít nhiều vay nợ ông. Đang lòng không an dạ không vui mà va vào ngọn gió Phiếm để phát sinh một nụ cười, dù rưng rức thầm lén, thì nụ cười chợt mở kia há chẳng phải thế cho một tri ân bất khả bày tỏ? Cười là liều thuốc bổ, ai kia từng cười khi đọc “cẩm nang giảm bệnh” của bác sĩ Một Chữ thì đích thị kẻ ấy đã được chữa miễn phí. Sảng khoái mở mang kiến thức mà chẳng tranh thủ ghi danh bổ túc văn hoá, không đóng lệ phí bôi trơn phong bì, nâng cấp trình độ mà nỏ tốn tiền mua bằng giả… Còn đòi chi hơn?
“… nguyên cái chuyện được… già đã là một cái phúc. Phải tạ ơn trời đất trước khi tạ ơn chính phủ tháng tháng gửi tiền nuôi báo cô…” Dí dỏm! Bài TẠ viết nhiều tới những điều cần phải tạ ơn và trước khi buông dấu chấm, nhà văn than: “Tạ, cho tới lúc tạ từ cuộc đời, cũng vẫn không đủ!”
Làm sao đủ được, thế nên mới lòi ra bài “Thiếu” này. Thiếu, có lẽ vì tế nhị, chạm vùng nhạy cảm, nhà văn chẳng đụng tới, nhắc khéo tới món nợ mà chúng ta vẫn chưa tìm ra cơ hội tạ ơn ông. Vậy thì, lây chút tinh thần Phiếm của ông, xin được cạo sửa: “tạ ơn trời đất trao cho lòng yêu chuộng thơ văn trước khi tạ ơn ông Song Thao hàng tuần viết bài cho người đọc báo (cô).”
Đọc báo mạng thấy có ông Tây đưa câu hỏi: “How do u write 25 December 2013 in 5 letters without using numbers?”
Câu trả lời, có thể là: TODAY.
Hôm nay, ngày Giáng Sinh, xin chúc toàn thể quý bạn đọc Sáng Tạo hưởng được mùa lễ an lành, sức khoẻ. Không viết dòng chữ trên sẽ vấp phải 5 mẫu tự: THIẾU.
Cuối năm, làm bản tự kiểm điểm, thấy ra mình vô tâm sơ suất tạo nhiều lỗi lầm, mang nhiều món nợ. Mượn chữ Tạ của nhà văn Song Thao để dông dài thêm: Xin niệm tình tha thứ cho. Xin được tạ lỗi. Đa tạ. Có còn thiếu chăng, người ưa hát hỏng: “Ơn em thơ dại từ trời, theo ta xuống biển vớt đời ta trôi. Ơn em dáng mỏng mưa vời, theo ta lên núi về đồi yêu thương. Tạ ơn em… tạ ơn em…”?
Hồ Đình Nghiêm

Tập làm văn

sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted on 8/01/2014

Post by Sơn râu 27 Nov 2024

Xuất hiện lần đầu trên blog Tễu, sau đó vì muốn cười vui ở những ngày đầu năm, “Những bài tập làm văn của học trò cấp 1, cấp 2” lần lượt hiển thị ở các trang mạng cá nhân khác.
Trong hơn 10 bài tập mà Tễu có công sưu tập, tôi chú ý tới hai “ngôi sao sáng”. Nói theo ngôn ngữ trong facebook: Tớ rất like, he he he. Đáng iu wá mờ.
– Giải thích câu thành ngữ “Anh em như thể tay chân”.
Bài làm của sao một: Anh em như thể tay chân nghĩa là khi “chân” đau thì “tay” băng bó cho “chân”; còn nếu “tay” đau thì “chân” đưa “tay” đi bệnh viện.
– Em hãy tả hình ảnh một chú thương binh.
Bài làm của sao hai: Gần nhà em có một chú thương binh, chú đã bị thương 2 lần. Một lần ở Buôn Mê Thuột và một lần ở đùi.
Tôi không học trường Sư phạm, có nghĩa là tôi chẳng thể làm giáo viên, nhưng giả thử được làm thầy giáo để chấm điểm hai bài luận văn nêu trên, hẳn là tôi ú ớ chẳng tìm ra một nấc điểm thích hợp. Không lẽ tôi cho 8 điểm trên 10, rồi phê bằng bút đỏ hàng chữ: Hồn nhiên và trong sáng quá, cái cách mà trò nhìn ngắm và đưa ra được một nhận xét làm chính thầy cần phải học hỏi ở trò. Rất sáng tạo!
Không lẽ tôi rụt rè, lần khân khi cho 7/10? Có lý nào tôi ái ngại khi viết: Cám ơn sự thẳng thắng của trò đã trao cho tập thể người lớn mù loà chúng tôi hiểu về vẻ đẹp tinh ròng thuần khiết tuổi thơ mang.
Không lẽ người ta bắt nhốt tôi tù ngục khi tôi rất hoan hỉ tâm đắc câu chuyện này: Cậu bảo vệ hộc tốc vào trình báo thủ trưởng cơ quan: Thưa ngài, có một ông ăn mặc sang trọng đề đạt ý kiến rất muốn gặp ngài. Thằng ấy nói những gì khác? Dạ, ông ta cho biết ngài là bạn học cũ của ông ta. Mày huy động anh em ra bắt nhốt cái thằng gian dối ấy ngay. Cả đời tao có đi học đâu mà bảo là có bạn học chung trường chung lớp. Láo lếu!
Thủ trưởng không chịu đi học. Tội nghiệp thay! Nếu tranh thủ mài đít trên ghế nhà trường, số phận bắt ngồi giữa hai “ngôi sao” môn văn ấy, thì có thể chúng tớ đã có được một vị lãnh đạo quang minh lỗi lạc.
Đàn anh của hai trò cực giỏi môn luận văn kia có thể là Phạm Quốc Đạt, học lớp 11, người từng viết đơn xin nghỉ học như sau:
Gửi ban Giám hiệu trường ta
Cùng cô chủ nhiệm chính là cô Nhung
Hôm nay em viết đơn này
Kính xin được nghỉ một ngày dưỡng thương
Em tuy vẫn nhớ lớp trường
Nhưng mà sức khoẻ khó lường mới nguy
Suốt đêm em sốt li bì
Trán nay nóng hổi yếu suy quá chừng
Việc học chắc phải tạm ngừng
Để còn điều trị kẻo chừng thăng thiên!
Bài ghi em sẽ chép liền
Em xin lỗi đã làm phiền thầy cô!
Nếu tôi là một trong những giáo viên có dạy dỗ cậu học trò “bệnh hoạn” này tôi sẽ “thương cho roi cho vọt”: Em coi tui là cái giống gì? Khi rẻ cũng chừng mực nào đấy thôi. Cái này mà gọi là đơn từ à? Em muốn dạy giáo viên cách “tập làm thơ” đó ru? Nóng giận sẽ chóng qua, tôi sẽ “ghét cho ngọt cho bùi”: Thú thật với em khi đọc đơn em viết, tôi rất choáng. Tất cả giáo viên chúng tôi đã có một buổi họp đột xuất và thống nhất vụ việc, đề cử người trông coi bộ môn văn nên chú tâm tới trường hợp em, về cái căn cơ văn nghệ có trong máu thịt em. Chúng tôi biểu quyết rằng, chỉ viết ra một lá đơn xin nghỉ học ngắn ngủi, em đã khiến những ai có âm mưu bỏ tiền ra chạy chức xin một cái ghế trong hội nhà văn phải suy đi nghĩ lại. Chẳng biết ta có làm nên cơm cháo gì không?
Một cậu học sinh tan trường về, người cha chận đón ngay cổng: Này, thế thầy có biết là bố đã giúp con làm bài ở nhà không? Chắc thầy biết bố ạ, bởi thầy nói rằng không thể một người mà gây ra nhiều lỗi lầm như vậy!
Chẳng hiểu do đâu, ai tạo ra lầm lỗi để khiến cậu buồn tay viết nên lá thư tạ từ, lời lẽ cô đọng, tuyệt bút:
“Con xin lỗi…
Nhưng con không thể chịu được nữa rồi!
Con sẽ ra đi,
Đi xa khỏi đây.
Con xin lỗi vì không thể trả ơn bố mẹ.
Con đi đây…
Nhưng con ở quán net nếu bố mẹ nghĩ lại.”
Môn tập làm văn có quan trọng không? Chưa ai thử đặt dấu hỏi đó cho hai ông thầy Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng cả. Và hệ quả là chúng em cứ mãi đón nhận những trang văn đầy lỗi chính tả, tối nghĩa, ngây ngô và lạc đề có trong toàn bộ những buổi nói chuyện của hai ông thầy.
Một chi tiết lý thú về nhà thơ Pushkin mãi truyền tụng đến hôm nay: Một cô gái trẻ đẹp đến xin chữ ký nhà thơ, Pushkin không đáp ứng nhu cầu, ngược lại đã làm nguyên một bài thơ để tặng cô gái, với tựa đề “Tên tôi có gợi lại gì cho em?” (năm 1830).
Tôi rất lấy làm tiếc là đã không tài nào biết được danh tính của hai nhà văn nhí kia. Nếu biết, tên của các em gợi cho tôi nhiều cảm xúc, vui buồn tâm trạng khó viết thành câu văn. Ngoài ra, tôi cũng dành cảm tình cho một em vô danh khác khi em tả về chiếc xe mô tô: “Gần nhà em có một chú tên Khánh, nhà chú có một chiếc xe mô tô. Hằng ngày chú thường xách xe ra đi chợ. Mỗi lần bước lên xe chú hụ ga thật lớn. Bởi thế mỗi lần chú hụ ga là mẹ em bảo: Thằng trời đánh!”
Tôi rất thích câu mà nhà văn André Gide từng nói: “Bởi vì bạn khác tôi nên tôi yêu bạn, yêu bạn ở những chỗ bạn khác tôi”. Tôi vẫn ngồi vào bàn tập làm văn hàng ngày, bởi vì tôi luôn nghe theo cách chỉ bày của học giả Nguyễn Hiến Lê. Tình cờ đọc phải những bài tập của các bạn mà người ta phát tán rộng rãi trên internet, thú thật là tôi đã phá ra cười. Cám ơn món quà vô giá ấy. Tôi không giống bạn, vì vậy bạn đã làm tôi yêu. Khi đã phải lòng, tôi thành tâm mong cho các bạn học giỏi. Tôi gửi tới các bạn lời phát biểu của Stendhal: “Người viết văn luôn cần tới sự can đảm, tựa như lòng can đảm của một chiến sĩ”.
Ôi, những chiến sĩ bé nhỏ ở vùng trời u ám!
Hồ Đình Nghiêm

Ngồi trên lưng cọp

doithoaionline.wordpress.com
Bông Lau
Posted on 14/06/2023 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 27 Nov 2024

Áp lực quân sự của Nga, Iran, China, và khủng bố IS ở Bắc Syria tiếp tục đè nặng lên vùng trách nhiệm của 900 binh sĩ Hoa Kỳ – mà đa số là Biệt Kích của liên binh chủng, cùng mấy trăm nhân viên dân sự chuyên viên kỹ thuật và tình báo.
Hôm qua trong một phi vụ chở Biệt Kích, một trực thăng MH-47 Chinook bị trục trặc kỹ thuật rớt khi đáp khẩn cấp “crash landing” ở Bắc Syria làm 22 Biệt Kích Delta Mỹ bị thương. Có 10 người bị thương nặng được di tản ngay về quân y viện của Hoa Kỳ ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. Rất may không có ai tử thương.
Biệt Kích Delta Force là viết tắt của Biệt Đội Tác Chiến Lực Lượng Đặc Biệt Số 1 – Delta (1st SFOD-D) – The 1st Special Forces Operational Detachment–Delta. Đây là đơn bị Biệt Kích ưu tú và bí mật nhứt của Quân Lực Hoa Kỳ. Họ nhận lịnh trực tiếp từ Tổng Thống và Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ.

Thành viên Delta Force được tuyển chọn từ những binh sĩ ưu tú của Lực Lượng Đặc Biệt nón béret xanh và Biệt Động Quân. Đôi khi Biệt Kích của các binh chủng khác như Không Quân và Hải Quân cũng được tuyển chọn.
Nhiệm vụ của các thành viên Delta là đột kích giải thoát con tin, bắt sống hay giết các phần tử khủng bố quan trọng “High-Value Target (HVT)”, hoặc công tác trinh sát sau phòng tuyến địch. Bắc Syria giờ đây là bàn đạp để Biệt Kích Mỹ xuất phát bay đi đột kích tiêu diệt quân khủng bố trong vùng.

Tuy nhiên các căn cứ Biệt Kích Hoa Kỳ ở Bắc Syria đã trở thành cái gai mà Iran, Nga, và China muốn nhổ để dành vùng ảnh hưởng cho phe độc tài.
Hồi tháng Ba vừa rồi, một nhóm phiến quân do Iran giựt dây, dùng máy bay không người lái của Iran oanh kích một căn cứ của Hoa Kỳ làm một người Mỹ tử thương và sáu người khác bị thương.

China cũng rất sốt sắng muốn trục xuất Hoa Kỳ ra khỏi khu vực để tranh dành vùng ảnh hưởng nhứt là họ rất thèm các mỏ dầu lửa trong khu vực Bắc Syria. China thỏa thuận giúp Iran chế tạo hỏa tiễn siêu thanh – hypersonic missile nhanh hơn tiếng động mấy chục lần. Hoa Kỳ có bố trí mấy giàn hỏa tiễn Patriot ở Iraq nhưng không biết đã bố trí ở Bắc Syria chưa?

Do Thái cũng vừa thành lập một đơn vị tình báo đặc trách kế hoạch tấn công các nhà máy chế tạo bom nguyên tử của Iran. Lò lửa Trung Đông đang âm ỉ cháy và có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.
Một nhân vật mà chế độ tôn giáo cuồng tín Iran rất gờm đó là nhà độc tài Saddam Hussein. Khi Saddam còn sanh tiền thì Iran không có làm tàng như bi giờ, vì bị quân của Saddam quánh cho tơi tả. Thuyết cân bằng cán cân quân sự của các thế lực sẽ không cho phép ai lên ngôi chúa tể là đúng.Nhưng Hoa Kỳ đã hạ bệ Saddam Hussein vốn từng là bạn và được xúi quánh Iran. Chỉ vì một sự hiểu lầm, tưởng Hoa Kỳ bật đèn xanh nên Saddam xâm lăng Kuwait. Sau khi Saddam bị treo cổ thì các loại tội đồ bạo tàn nhứt nhân loại như Al-Qaeda, IS, Gấu Nga, Tàu Cộng ùa Trung Đông và tìm cách giết người Mỹ.

Vì thế muốn lật đổ hay bỏ rơi ai thì hãy suy nghĩ cho kỹ cho sâu xa nhé. Hoa Kỳ đã lỡ cỡi trên lưng con cọp Trung Đông rồi và không thể leo xuống hay rút quân chạy làng được. Bài học lật đổ Tổng Thống Diệm và bỏ rơi Tổng Thống Thiệu đã cho phép China khống chế toàn vùng, và Việt Nam vẫn lẹt đẹt là một quốc gia Cộng Sản nhược tiểu nghèo hèn, đi đâu cũng bị coi thường, dù dân số gần 100 triệu.

Hai mươi hai Biệt Kích Delta ưu tú bị thương khi chiếc MH-47 Chinook rớt xuống cũng bình thường, không có gì kinh hoàng lắm. Nhưng bản tin này nhắc nhở mọi người rằng các Biệt Kích này đang cỡi trên lưng con cọp. Có thể nhiều người của họ sẽ phải hy sinh để hậu phương của chúng ta không bị khủng bố gài bom giết người vô tội.

BÔNG LAU 14.06.2023