This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
dongsongcu.wordpress.com Bông Lau Posted on January 5, 2025 by dongsongcu
Post by Sơn râu 19 Jan 2025
Ngủ ngồi quên trên ghế trong phòng làm việc, bỗng choàng tỉnh khi nghe tiếng nổ bục bục bục nơi xa. Định thần nhìn kỹ đồng hồ thì thấy đúng 12 giờ đêm. À có lẽ đó là tiếng pháo hay tiếng súng của ai đang bắn đón mừng giao thừa chăng? Chạy xuống cầu thang, qua dãy nhà vệ sinh rồi chạy lên cầu thang tầng 2 thì thấy có hai người lính một nam một nữ mặc thường phục đeo súng ngắn đứng ở lan can hành lang, nhìn về một thành phố nơi xa đang có bắn pháo bông. Họ lấy điện thoại đưa lên quay phim. Xạ thủ đứng im lặng nhìn thành phố có ánh đèn lấp lánh nơi xa mà nhớ về thành phố yêu dấu của mình bên kia biển đang 4 giờ chiều. Chắc bên ấy có nắng vàng đang chói sáng rực rỡ. Ôi những cây cỏ sau vườn và những con chim yêu thương đang chờ đợi người chủ quay về chốn xưa. Nơi đây chỉ có cát sỏi và bụi xám vàng bao phủ khắp nơi. Bỗng nhớ ra tại sao mình không lấy điện thoại để quay phim cảnh bắn pháo bông nơi xa ở chân trời nhỉ. Hai người lính này đang quay phim kia mà. Giao thừa đang mừng năm mới chắc không ai nỡ bắt bớ kỷ luật những người đang quay phim trong căn cứ. Chạy về phòng lấy cái điện thoại xong hối hả chạy xuống rồi lên dãy có lan can nhìn ra xa nơi chân trời nơi thành phố đang đón giao thừa. Khi bấm nút điện thoại mở máy quay phim thì viên pháo bông cuối cùng bắn lên nền trời nơi xa, tỏa ra một bông hoa lấp lánh màu đỏ và xanh lá cây rất đẹp. Thiệt ra thấy pháo bông cả ngàn lần rồi, nhưng đây là lần đầu tiên thấy pháo bông từ một căn cứ địa Trung Đông. Im lặng và bóng đêm trở lại trong nền trời đêm đen lạnh buốt có lác đác những cụm mây xám. Mình đứng tần ngần im lặng nhìn về nơi thành phố ấy và cảm thấy tiếc vì đã trở lại trễ, không quay được cảnh bắn pháo bông. Sẽ không có dịp nào khác nữa đâu Trung Đông ơi. Chĩa điện thoại xuống chụp vài tấm hình cái huy hiệu của Sư đoàn 10 Sơn Cước ai sơn trên bức tường chống pháo kích “T wall”. Ngoài phi đạo có tiếng máy bay rú lên rồi một chiếc C130 taxi đi ngang qua, đèn đỏ trên trên thân máy bay chớp tắt. Anh phi công này khi cất cánh là năm 2024 và khi anh đáp là năm 2025. Chắc lính của Sư đoàn Sơn Cước tiếp tục đến. Cả ngày hôm nay trực thăng võ trang Apache bay rầm trời làm phòng làm việc của mình rung chuyển. Thôi đi ngủ vì ngày mai mùng một vẫn phải làm việc và chuẩn bị thuyết trình lúc 10 giờ.
Đón giao thừa một phiên gác đêm Chào xuân đến súng xa vang rền Xác hoa tàn rơi trên báng súng Ngỡ rằng pháo tung bay Ngờ đâu hoa lá rơi Bấy nhiêu tình là bao nước sông Trời thương nhớ cũng vương mây hồng Trách chi người đem thân giúp nước Đôi lần nhớ bâng khuâng Gượng cười hái hoa xuân Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh Mơ rằng đây mái nhà tranh Mà ước chiếc bánh ngày xuân Cùng hương khói vương niềm thương Chốn biên thùy này xuân tới chi Tình lính chiến khác chi bao người Nếu xuân về tang thương khắp lối Thương này khó cho vơi Thì đừng đến xuân ơi
Cô Thanh Tâm đang chuẩn bị mọi thứ chu toàn trước giờ chiếu phim
Ngày 30 tháng Tư năm 1975, miền Nam Việt-Nam bị cưỡng chiếm bởi những người cộng sản đến từ phương Bắc. Những người may mắn và nhanh chân đã kịp di tản trên những chuyến bay cuối cùng trước ngày Sài-Gòn hấp hối. Hàng trăm ngàn quân, cán, chính còn kẹt lại bị lùa vào những trại tù nơi những vùng sơn lam chướng khí và chịu đựng những đòn thù hủy hoại tuổi thanh xuân. Vì không thể chấp nhận chế độ cộng sản hà khắc, hằng triệu người đã liều mình đi tìm tự do trên những chiếc ghe mong manh, bé nhỏ. Từ sự kiện lịch sử đó, cuốn phim tài liệu “Thuyền Nhân: hành trình 50 năm” của đạo diễn Thanh Tâm, do Ethnic Channels Group và Lunar Village Production sản xuất với một phần tài trợ của chính phủ Gia-Nã-Đại (Canada Media Fund) được ráo riết thực hiện trong khoảng thời gian 2 năm và ra mắt lần đầu tiên ở Toronto từ mùa Xuân năm 2024. Những câu chuyện có thật cùng với những nạn nhân may mắn thoát chết trên đường vượt biển đã lần lượt kể lại những tháng ngày giông bão mà họ đã trải qua. “Tự do hay là chết” là tâm nguyện của người ra đi không hẹn được ngày về và cũng không thể nào biết được tương lai mình rồi sẽ về đâu. Những tâm sự đau thương, tủi nhục được giữ kín mấy chục năm trời giờ đây được phơi bày trước ống kính, không phải kể lể mà muốn nhắc nhở cho thế hệ mai sau, vì sao người Việt-Nam phải lưu vong và có mặt trên khắp mặt địa cầu. Ra đi là chấp nhận hy sinh và mất mát nhưng mấy ai ngờ được rằng nước mắt của người vượt biển không làm cho nước biển mặn hơn nhưng máu của người Việt-Nam sẽ không bao giờ phôi phai trong màu nước biển. Hòn đảo quỷ Ko Kra còn vang vọng những tiếng thét hãi hùng của nhóm thuyền nhân tội nghiệp. Bãi biển Tha Sala vẫn còn nhuốm máu đồng bào mình với những cái chết oan khuất trên đường đi vượt biển. Chúa, Phật ở trên cao còn phải nghẹn ngào rơi lệ trước cảnh máu lệ chan hoà bởi những bàn tay man rợ của bọn người đầy thú tính. Đường đi không đến, ước mộng không thành vì những nhân chứng không bao giờ tới được bến bờ đã gửi thân vào lòng biển lạnh hay không may qua đời nơi các trại tị nạn.
Trong phút giây thập tử nhất sinh, trong số họ gặp được những tấm lòng bác ái cùng những bàn tay nhân đạo đã vươn ra và cứu vớt kịp thời. Trên đất mới, người tị nạn bắt đầu xây dựng lại cuộc đời và theo thời gian cuộc sống đã âm thầm bén rễ. Cây xanh đơm trái, chồi quế trổ thêm bông. Thế hệ con cái rồi đến cháu nội, ngoại được sanh ra và lớn lên trong bầu không khí tự do. Dù dễ dàng hội nhập giữa xã hội nhưng các em, cháu thuộc thế hệ sau này, nào ai biết được tại sao mình khác màu da, gương mặt mà lại ở tận chốn này. Thắc mắc đó cũng là câu hỏi của người bản xứ nhưng ai sẽ là người đứng ra giải thích những khúc mắc giữa cuộc sống vô cùng vội vã này. Hơn thế nữa, nhiều người tị nạn năm xưa vì cuộc sống bộn bề đã quên rồi những ngày trốn chạy và lênh đênh trên biển. Vịnh Thái-Lan, tháng 9.1981 Trong ý nghĩ đó, đạo diễn Thanh Tâm đã thực hiện cuốn phim “Thuyền Nhân: hành trình 50 năm” với hy vọng truyền đạt cho thế hệ tương lai, cũng như người dân bản xứ thông hiểu hơn về những người tị nạn gốc Việt. Sự hy sinh của những người vượt biển, vượt biên trên đường tìm tự do cần phải được nhắc nhở và trân trọng. Dù không muốn khơi gợi lại nỗi niềm đau thương một thời đã phai phôi theo ngày tháng, cũng như không dấy lên niềm hận thù nhưng hệ lụy này không thể tái diễn lần nữa trong lịch sử của dân tộc Việt-Nam và hơn bao giờ hết, nguyên nhân của nó cần phải xóa bỏ vĩnh viễn. Sau đợt ra mắt ở các thành phố đông người Việt cư ngụ ở Gia-Nã-Đại, phim được tiếp tục trình chiếu ở Hoa-Kỳ, Úc Châu rồi đến Âu Châu. Buổi chiếu phim nào cũng thu hút đông đảo khán giả tham dự và lấp kín khán phòng dù thời tiết nắng mưa bất chợt hay giữa khi Xuân tàn, Hạ tới. Đó là một món quà yêu thương vô giá dành cho cô đạo diễn xinh đẹp đã bỏ nhiều tâm sức, thời gian, tiền của và hy sinh hạnh phúc cá nhân để thực hiện cuốn phim mang tính thời sự đầy nhân ái này. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, cuộc sống nơi quê nhà dẫu đã ít nhiều thay đổi nhưng người dân vẫn đắm chìm trong nỗi niềm tuyệt vọng và tìm mọi cách để thoát khỏi cuộc sống u ám, lầm than. Chiến tranh dù đã rất xa nhưng hòa bình chưa về trong ánh mắt trẻ thơ hay trên môi trầu của ngoại. Người đi xa vẫn nhớ thương về chốn cũ và thầm hỏi trời cao, ai đã gây ra thảm cảnh chia ly khiến cho thuyền ghe lạc hướng, dòng nước buồn đã đục một màu sông.
baotreonline.com Phương Tôn Post on June 1st, 2024
Post by Sơn râu 2 Jan 2025
Bức ảnh “Nỗi đau không thể xóa nhòa” vừa được chọn là bức ảnh báo chí của năm 2024 của Mohammed Salem đã gây xúc động mạnh mẽ và đoạt giải thưởng danh giá World Press Photo Award của năm 2024. Vào ngày 17.5. 2023, nhiếp ảnh gia Mohammed Salem đã chụp được hình ảnh người phụ nữ Palestine Inas Abu Maamar, 36 tuổi, đang ôm chặt xác của cháu gái Saly, 5 tuổi, đã thiệt mạng trong một cuộc không kích của Israel tại bệnh viện Nasser ở Chan Yunis, thuộc miền Nam Dải Gaza. Bức ảnh của Mohammed Salem đã khắc họa một cách chân thực nỗi đau vô bờ bến mà người dân Gaza phải gánh chịu do cuộc xung đột giữa Israel và quân khủng bố Hamas. Đây là một hình ảnh làm lay động lòng người, minh họa một cách sinh động cho thảm họa nhân đạo ở Dải Gaza. Ban giám khảo của World Press Photo đã ca ngợi bức ảnh là “cái nhìn sâu sắc đầy cảm động về nỗi đau vô bờ bến” và đánh giá cao khả năng của Salem trong việc “bắt trọn cảm xúc mãnh liệt của khoảnh khắc này.” Bức ảnh của Mohammed Salem, đoạt giải World Press Photo Award 2024, là một tác phẩm đầy sức mạnh và cảm xúc. Bức ảnh này không chỉ là một cách thể hiện nghệ thuật tuyệt vời, nhưng thật ra, nó là một lời nhắc nhở cay đắng, đau đớn và chân thật vào cảnh tàn khốc của chiến tranh, về những hậu quả của chiến tranh và bạo lực đối với những người vô tội, gợi lại nỗi đau không thể diễn tả của một phụ nữ đang ôm xác một đứa bé, được bọc kín toàn thân trong một tấm khăn trắng. Người phụ nữ trong bức ảnh che mặt mình, nhưng vẫn không che được nỗi đau trong lòng. Cánh tay của cô ôm chặt xác của đứa bé như là một hành động, tuyệt vọng và đau buồn. Tấm khăn trắng vừa bọc kín toàn bộ cơ thể của đứa bé, như một lời giãi bày sự vô vọng và vô dụng. Không chỉ là một cảnh tượng, bức ảnh này là một lời nhắc nhở về sự đau khổ của hàng triệu người phụ nữ và trẻ em trên khắp thế giới, những người chịu đựng nhiều năm chiến tranh, bạo lực và khủng bố. Bức ảnh “Nỗi đau không thể xóa nhòa” của Mohammed Salem là một lời cảnh báo, một lời kêu gọi về sự nhân ái và sự hiểu biết. Nó gợi lên sự đau khổ mà con người gánh chịu và hy vọng sẽ làm dậy sóng ý thức cộng đồng về tình trạng khủng hoảng nhân đạo đang diễn ra khắp nơi. Bức ảnh của Mohammed Salem đã thu hút sự chú ý trên toàn thế giới, gây ra những cảm xúc mạnh mẽ, đã khơi dậy những cuộc thảo luận và tranh luận về xung đột Gaza. Đây là chứng minh quan trọng cho thảm kịch nhân đạo đang diễn ra ở Dải Gaza và là lời nhắc nhở về sự cần thiết cấp bách của một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột. Nó là một lời nhắc nhở cay đắng về sự vô nghĩa của chiến tranh và bạo lực. Bức ảnh này không chỉ là nghệ thuật mà còn là một lời kêu gọi hòa bình và sự hiểu biết lẫn nhau trong thế giới đầy xung đột ngày nay.
Sân Mỹ Đình cỏ nát đau phẫn hận, giày đinh Mã Lai dẫm tơi bời hằn dấu ấn 4-2. Quanh khán đài biết bao con mắt nhoè lệ, nước mắt nhỏ bé mãi ngỡ mình Phù đổng thiên vương. Mười một niềm hy vọng như trái cây chưa bao giờ đủ chín, mưa mùa này xong lại ngóng tới mùa nắng kia. Cái bánh vẽ cùng nhau ăn tới ngán cần cổ, bốn ngàn năm văn hiến đẻ ra bầy cừu quanh quẩn, muốn ra lề sợ tiếng còi thổi việt vị thót tim. Bao nhà dăng nhà thờ ăn cơm chúa múa tối ngày đổ mồ hôi ra sức bình luận, ngay sân nhà tớ không chịu ngậm đắng nuốt cay cái kết cục kia. Dàn xếp tỉ số? Hàng phòng ngự bán độ? Sao thằng hậu vệ ấy lại đá phản vào lưới mình? Trống đánh xuôi kèn thổi ngược rậm rật chưa hả cơn giận, bùm xùm lôi chuyện thi hoa hậu ra vạch lá tìm sâu. Vương miện ấy nên đội vào đầu cô á hậu, bà con cô bác ai cũng nhất trí chuyện hiển nhiên. Ban giám khảo chả sáng mắt sáng lòng một ly ông cụ, vin vô lý do gì ra quyết định bù trất xôi hỏng bỏng không. Vòng một vòng hai vòng ba quen thẩm định, mấy vòng khuất tất còn lại xin cho em được ngó lơ. Mắt quáng gà em sợ nhìn còng số tám, mấy anh đừng nói chuyện chính chị chính em nơi đây (cho em nhờ). Xưa có ông tiến sĩ ra đề toán cho mấy em bậc tiểu học: “Trên con tàu chở 35 con cừu, rớt xuống biển mất 6 con. Đố em vị thuyền trưởng bao nhiêu tuổi?” Cắn bút, gãi đầu bức tóc, thiếu điều chực khóc. Bổ đề hóc búa còn hơn móc họng người ta. Mấy em đầu xanh vô tội có bị bức xúc không? Toán mí lại đố. Thà ngôn như cụ Bùi Giáng có phải là sướng rêm: “Một hôm đếm một ra ba, một lần đếm một mà ra bốn lù”. Mấy em “rường cột quốc gia” mang trang giấy trắng về nhà hỏi bố mẹ già tuổi những mong vấn đề được thông thoáng. Phụ huynh lão làng hành nghề chạy xe ôm chửi: Mày đừng cắp sách tới trường nữa, vô học để suốt ngày chạy bay tóc trán ngoài đường giống tao thì có chết thằng đại gia nào đâu? Lại có ông bố mới được trắng án, nhìn đề toán mà người thẫn thờ: Con ạ, cái này chắc có mưu mẹo chi đây. Bản thân ông thầy e cũng bó tay khi gặp phải. Thà mà hoán đổi một vài tiểu tiết thì hoạ may bố có ngay một đáp án. Ví dụ: Trên con tàu chở ông Lập sinh năm 1956 còn có 35 công an vừa chìm vừa nổi. Đố em ông Bọ Lập bị tù bao nhiêu năm? Nước mắt rơi trên sân Mỹ Đình, ngay cả tận Sài-gòn một đôi kẻ cũng khóc khi trước đó hồ hởi quần tụ ở nhà Thanh niên ngó lên màn hình trực tiếp trận thi đấu. Khóc, chuyện dễ hiểu. Vì đau lòng, vì bị phụ bạc, vì bị cướp giật niềm tin, vì thất vọng, vì ngộ ra cái tầm vóc nhược tiểu mình mang, vì tiếng nói mình, qua bộ môn túc cầu, chẳng thể phóng đi xa được. Khóc, mặt khác, còn là biểu tượng cho sự hân hoan, cho niềm vui đoàn tụ, cho hạnh phúc của kẻ chiến thắng minh bạch, cho một cảm thông đậm tình người. Giọt lệ lúc ấy sẽ biến mất cái vị mặn muôn thuở của nó, ngoa ngôn để bảo nó ngọt tựa đường mía lau. Đau đớn cho người Việt, bi kịch nằm ở chỗ, nước mắt họ luôn mặn chát. Từ khi thôi còn tiếng súng huynh đệ tương tàn, chưa bao giờ người Việt biết khóc cho một thứ hạnh phúc đúng nghĩa. Và bi kịch khác, thảm thương hơn nhiều, đáng nguyền rủa hơn hết là cái tâm cảm khó hiểu của người Việt, dường như không biết đổ lệ cho những hoàn cảnh xét ra cần phải sẻ chia. Ngoài thông tin hết blogger Người Lót Gạch lại tới Quê Choa bị bắt, lại phải nhìn ảnh quặn lòng cô Nguyễn Hoàng Vi bị công an thuê người hành hung thô bạo giữa phố phường ban ngày ban mặt. Đau cho Nguyễn Hoàng Vi là thế giới cô chung đụng chỉ sản sinh ra hai hạng: Đầu trâu mặt ngựa và một bọn vô cảm. Nhìn sự tự do, quyền đi lại của con người bị chà đạp đến mức đó, e Chúa treo xác khô trên thập tự giá cũng phải ứa huyết lệ. Tự dưng nhớ câu thơ của Phùng Cung: “lâu lắm gặp em em chỉ khóc quay đi bước – héo áo – gầy gió – va – nón – cũ”. Và Bùi Giáng: “khóc em duy nhất tình đầu đã đầy đủ quá sức người của anh”. Người ta có thể cảm thông những hàng lệ ứa, người ta có thể thông hiểu sự vô ngôn, và người ta chờ đợi một động thái nhằm chuyển tải niềm hy vọng từ vũng tối. Mùa lễ Giáng Sinh lại thêm một lần về, đứng kề cận. Còn biết nói gì hơn, đành lẫn trốn vào hào quang đầy ảo tưởng của nhiệm màu. Tin vào một chuyện lạ. Xin mạn phép nhắn riêng tới cô blogger mãi hứng chịu những trận đòn thù, lời nói nổi tiếng của Marilyn Monroe: “She was a girl who knew how to be happy even when she was sad. And that’s important”. Cầu Chúa ban phước lành cho những người bảo vệ sự thật mãi bị hành hung bằng ngàn lẻ một phương cách. Bạo quyền không từ nan trấn lột và dân oan chẳng ngại ngần đưa cổ vào tròng. Amen. Hồ Đình Nghiêm
Khi nhìn thấy bức ảnh cậu bé Aylan Kurdi 3 tuổi người Syria bị đắm tàu xác tấp vào bờ biển Thổ, có rất nhiều người xúc động, lây lan niềm đau và muốn trải lòng chia sẻ qua nhiều hình thức. Mình đọc lắm thơ văn “ăn theo” tai ương ấy, nhưng chỉ nhặt ra được một đốm sáng nổi bật, đó là lời phát biểu ngắn gọn của hoạ sĩ Ghalia Al: “Chúng ta đặt cậu bé vào giấc ngủ và đến lúc mọi người thức dậy”. Trên trang Sáng Tạo, bao giờ mình cũng tìm đọc, trước tiên, phần mục “Sổ tay thường dân” của người ký tên Tưởng Năng Tiến. Với mình, việc làm cần cù của người thường dân chuyên viết sổ tay nọ là một hành động gần như lay gọi những kẻ lỡ ngủ say. Hãy bừng tỉnh, hãy ngồi dậy dụi mắt, thoát khỏi chiêm bao u mê mộng mị. Hãy can đảm chút xíu, dù sự thật bạn phải đối mặt hơi bị tàn nhẫn, hơi bị bất ưng, hơi bị bó tay. Bác Tiến e tuổi đã quá lục thập, việc bác làm xưa nay hiếm! Chính vì hiếm hoi, chính vì lẻ bóng trên đường, nên mình mặn và mết hình ảnh Độc cô cầu bại của bác ấy quá đỗi.
Cái hấp lực của “Sổ tay thường dân” có, do bởi người viết luôn thuật lại chuyện thật người thật, “chuyện thường ngày ở huyện” rồi chen cài sau đó chút cảm nhận “đặc thù” của một thường dân giàu đầu óc hài hước. Ớn chè đậu (chữ của Tưởng Năng Tiến) nếu đọc tin (khó tin) trong nước, nhưng người ta vẫn ưa ăn chè đậu nếu đầu bếp là bác Tiến bỏ công đứng canh me củi lửa, này cho chút đường nọ cho chút nước cốt dừa. Hôm qua phả vào chút muối ngày mốt thả ít lát gừng, đậu nhừ thì nhấc ra khỏi lò kẻo cháy khét… hổng chừng… má nó khi! Ở hải ngoại, duy mỗi mình Tưởng Năng Tiến là sở đắc riêng thứ khí hậu ấy. Giọng kể rất duyên dáng, đến nỗi qua khỏi nụ cười vừa nở, môi lại phải chịu héo đi vì chút đắng lòng chợt hiện. Bao giờ cũng vậy, người viết Tưởng Năng Tiến chẳng đành tâm dồn bạn đọc vào nỗi phẫn uất. Bác ấy độ lượng pha trò nhằm hoá giải chút bức bối của sự việc trần trụi ác đức bất nhơn trên những dòng tin mà nhà nước “vô tư” loan tải. Hãy nghe bác ấy “thật thà khai báo”: Uý trời/đất, quỉ/thần ơi! Nói gì mà nghe thấy ghê vậy, cha nội? Tôi thề danh dự là mình chả hề có chút “tâm địa đen tối” nào ráo trọi. Tui bỏ đi, đi lâu (và chắc đi luôn) chỉ vì vài ba chuyện nhỏ xíu hà… Chuyện nhỏ thì vô số, đếm không xuể. Thay vì “nói có sách mách có chứng” mình xin trình bày qua dạng chuyện tếu, hòng vơi nhẹ “tâm tư” mí lị “bức xúc”: – Hội họp vấn đề nghiêm trọng gì mà ầm ĩ thế? – Họ chỉ phân vân không biết nên sửa đường sá cho tốt rồi phạt các tài xế về tội phóng xe nhanh, hay cứ để nguyên như vậy rồi phạt họ về tội làm to các ổ gà ra. Bác Tiến sẽ bình luận: vụ này chắc chắn sẽ lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và (e) sẽ lôi thôi lớn. Có thể, nhưng cũng chưa chắc. Người Việt vốn giỏi vận dụng chất xám: Một cầu thủ phải đi khám bác sĩ vì một va chạm trên sân cỏ khiến bị chấn thương ở mặt. Bác sĩ bảo: Mắt anh bị rất nặng, có thể trở thành lé. – Chúa ơi! Lé mắt. Thế là sự nghiệp bóng đá của tôi tiêu tùng rồi! – Chưa đâu, chớ bi quan. Anh vẫn có thể làm trọng tài mà! Cuối đời, tôi mới biết ra một điều vô cùng quan trọng và thú vị là nhân loại (không ít kẻ) chỉ mơ ước được làm… người Việt. Vậy mà tôi lại dại dột vượt biên, rồi đi biền biệt mất tăm- suốt mấy mươi năm- và chả hề bao giờ ngoảnh lại… Hai kẻ vừa mãn hạn tù rủ nhau vào nhà hàng ăn mừng. Đang ăn, một người trông thấy bàn bên cạnh có người đàn ông đang vò đầu bức tóc. – Này, anh đừng nhìn ông ta mãi như thế. Ông ấy chỉ mất bóp tiền thôi mà. – Sao anh biết? – Thì chúng mình cũng cần phải thanh toán bữa ăn này chứ lị! Nói gần nói xa chả qua nói thiệt là em chả dại đâu: “Đường thì xa, vé tầu thì đắt, thủ tục nhập cảnh thì lôi thôi rườm rà, và lỡ mà kẹt luôn thì… chết mẹ!” Công an bắt được một tên trộm có số má. Vào tù, hắn hỏi cai ngục: Sao cửa sổ ở đây có tới 2 lớp song sắt vậy? – Ừa, để bảo đảm, cho chắc chắn hơn. – Thật vớ vẩn. Có đứa nào muốn vào đây ăn trộm chứ. Rõ khùng! Bác Tưởng Năng Tiến nói bác là dân vượt biên. Mình cũng xêm xêm, nôm na là cá mè một lứa. Bác nói chả hề ngoảnh lại bao giờ, mình cũng rứa. Mình tính “tranh thủ” về thăm khúc ruột ngàn dặm một bận “cho bỏ những ngày cơ cực” mà nghe bác ngôn kiểu đó cũng thấy ớn chè đậu. Lỡ mà kẹt luôn thì rõ là chết mẹ. Và rõ khùng. Ngày xưa tốn cả chục lạng vàng, tù tội hai ba tráo mới vác được mạng cùi chạy ra ngoài biên ải để khóc xấu mặt nam nhi. Kinh qua vấn nạn ấy mi lấy tư cách chi để bây chừ thậm thụt đơm bông một giấc mộng đoàn viên? Bỏ đi tám. Người yêu cũ hở? Bồ còn nhớ cái Hĩm không? Em sắp làm kỷ niệm đám cưới sắt đấy. – Nó lấy chồng bao nhiêu năm rồi? Sao lại gọi là sắt? – Ừa, đã hai mươi năm và vì vợ chồng chúng nó chỉ ăn toàn đồ hộp! Cái Hĩm hiện ở Sài-gòn. Hĩm than, mưa một trộ dội xuống biến “Hòn ngọc Viễn đông” thành hòn ngập vỗng điên. A hèm, rõ là khóc một dòng sông! Sao anh không về bên em? Sự cố này… tam thập lục kế tịnh khẩu như bình là thượng sách! Hĩm ạ, anh rất tâm tư, bị anh ham đọc những gì mà đồng chí Tưởng Năng Tiến truyền đạt. Nói ngay tình, anh cũng sợ… chết mẹ! Thủng thẳng anh sẽ tẳn mẳn cắt xén “Sổ tay thường dân” gửi về cho “cánh hoa thời loạn” xem. “Hãy nên để cho anh tìm gặp giấc ngủ và đến lúc mọi người bên ấy cần thức dậy”. Đừng bi quan. Đừng lập ngôn: Sau cơn mưa trời lại tối! Hồ Đình Nghiêm
Cựu thợ lái máy bay chuồn chuồn ở Căn Cứ KQ Phù Cát Phương Toàn
Post by Sơn râu 29 Dec 2024
Nghe nói ngày trước, khi tuyển một khóa sinh Không Quân, ngoài phần khám y khoa, còn có mục khảo sát về thẩm mỹ ngoại hình. Chẳng biết tin này có thiệt hay không, nhưng năm 1969 không còn thấy áp dụng nữa. KQ lúc này không còn ròng rã là những đấng hào hoa đẹp trai, mà đã lẫn lộn vào đó là vài khuôn mặt không mấy rạng rỡ. Nhân cơ hội này, Tú, Lương và tôi đã trà trộn vào thành phần “Thượng lưu của quân đội”. Diễn tả lại dung mạo của thằng Tú, không gì điển hình hơn là nhắc lại câu nói của niên trưởng ngày huấn nhục ở Trung Tâm Huấn Luyện Nha Trang: -Không hiểu ban tuyển mộ KQ mù cả hay sao mà ông lại lọt được vào đây! Thật ra thằng Tú không đến nỗi xấu, nó chỉ bị rỗ hoa, miệng lúc nào cũng toe ra cười như cái loa của Tổng Lãnh Thiên thần Mi ca e. Nó nhỏ con nhưng có đặc tính là hễ giận ai thì hay nói: -Ông vặn cổ mày bây giờ. Hỗn danh nó là thằng Hố Lai, tuy nhà nó ở Sài Gòn. Phần tôi không biết căn cứ vào sách tướng số nào, mà thằng Tú nói tôi là thằng lừa thầy phản bạn, tiểu nhân và ra đời đụng đâu thua đó. Thằng Lương thì ngược lại, nó to con, da ngăm đen và có gương mặt rất nông dân chân chính, nên bọn tôi gọi nó là Võ Tòng Sát Tẩu. Con gái nhìn thấy nó cứ phải len lén quay đi chỗ khác, vì sợ nó tán nhầm. Ba đứa chúng tôi thi nhau làm lung lay cái huyền thoại hào hoa của quân chủng. Nhập khóa 69A ở Nha Trang, Lương lớn nhất nên được tôn là sư huynh. Có một niên trưởng rất hắc ám tên là Thái hay phạt thậm vô lý nên Lương ra lệnh cho tụi tôi: -Tao đặt tên cho thằng Thái là Dúi, nhưng tụi mày chỉ nên kêu nó là Dúi thôi chứ kêu Thái Dúi, nó biết nó phạt cho thì toé khói. Tính Lương rất vui, một bữa kia nó thấy thằng Liên đang lau súng để gác đặc công gài chất nổ trong barrack (chắc mọi người còn nhớ năm 1969 VC đã dùng plastic nổ doanh trại Trường HSQ Đồng đế làm chết rất nhiều khóa sinh) nó đến gần nhỏ nhẹ hỏi: -Ê Leng, ke đẹ leng béng nghe bèng bèng hỉ” (Ê Liên, cây đại liên bắn nghe bằng bằng hả) Liên gốc người Quảng Nam nên nổi tam bành, xách súng đuổi Lương chạy vòng vòng trong barrack, miệng liên tục chửi: -Tau béng xí mẹ thèng Béc Kỳ. (Hình như nó nói: Tao bắn thấy mẹ thằng Bắc Kỳ) làm náo loạn cả Phi đội. Mãn khóa quân sự trở về Tân Sơn Nhất (TSN), thi xếp lớp Anh ngữ, Lương học lớp 1100, tức lớp Anh ngữ vỡ lòng. Tôi rất ngạc nhiên vì trước khi sang KQ, Lương đã là Trung sĩ Thông Dịch Viên, nhưng nó tâm sự: -Làm Thông Dịch Viên dễ hơn là học Anh Văn để du học. Hồi tao đi theo toán Dân Sự Vụ vô làng nọ để khám bệnh, phát thuốc cho dân chúng, có một bà khai bị bịnh mất ngủ, tao không biết dịch thế nào, nghĩ mãi mới ra câu; “Xi nô xì líp. Xi nít áp bờ rin.” Không biết thằng cha BS Mỹ có hiểu tao nói “She no sleep. She needs apirin” không mà nó cũng phát cho bà ta một bốc thuốc. Thấm thoát mấy tháng ở trường Sinh ngữ cũng qua mau, cả ba thằng chúng tôi lại gặp nhau ở Lackland, San Antonio, Texas. Không biết thằng Lương kiếm ở đâu ra mà nhiều “bùa” lắm. Hôm trước khi thi test, nó mò xuống phòng tôi rồi bảo: -Mày nhớ kỹ câu này “Có con chó cái cắn bạn đau chẳng ai đền. Bốn anh công an đi bên đường đỡ cho bạn”. Tôi cũng chưa hiểu công dụng của lá bùa thì nó giải thích thêm: -Cứ theo mẫu tự câu bùa mà khoanh vào. Có con chó cái nghĩa là bốn câu đầu là c, c, c và c; cắn bạn đau chẳng ai đền là c, b, d, c, a và d. Quả thật bùa của nó rất linh, hôm đó tôi được 20/20. Lương xuống BX (Base Exchange) mua sắm, nó muốn mua một bộ đồ ngủ để mặc buổi tối. Ông nông dân này muốn đóng vai phú hộ trưởng giả ngày xưa. Nó ôm về một bịch ni-lông trên đó đề rõ ràng chữ Pijama, nhưng mở ra thì cái quần cụt ngang đầu gối và cái áo cổ trái tim! Lương mặc vô trông rất cũn cỡn, nó chữa thẹn bằng câu khen: “Hết xẩy” rồi uốn éo đi tới đi lui như một tên GAY chính hiệu. Đến nay hơn 30 năm đã trôi qua mà tôi vẫn còn hình dung được cái dung nhan Uất Trì Cung của nó rất tương phản với bộ đồ ngủ, mà tôi cứ ngờ ngợ là dành cho đàn bà. Lương ở khu GOẠP trong căn cứ (WAF: Woman Air Force) nhưng hầu như tuần nào nó cũng đón xe bus lên chỗ chúng tôi ở, những lúc này là lúc bạn bè tâm sự nhiều nhất, và cũng là lúc nó chọc thằng Tú nhiều nhất. Nó hỏi: -Ê Hố Lai (Hố Nai) nghe nói ông cố nội mày ở gần nhà bà hàng xóm ông thầy đồ phải không? Thằng Tú không hiểu nó muốn nói gì, nhưng cũng vặn lại: -Ừ rồi sao? -Vậy chắc mày rành điển tích lắm. Mày có biết ông Lê Quý Đôn than rằng “Phi công nghèo lắm ai ơi. Áo thời thiếu nút quần thời thiếu lưng” không? -Xạo vừa vừa thôi bố, thời đó làm gì đã có máy bay. Lương gân cổ lên: -Thằng nhãi ranh, nói có sách mách có chứng đây này. Ông Lê Quý Đôn có nói: Phi trí bất hưng. Phi công bất phú. Phi nông bất ổn. Phi thương bất hoạt Phi công bất phú không phải lái máy bay nghèo mạt rệp là gì. Thời gian du học sung sướng trôi qua nhanh, chúng tôi đều tốt nghiệp rồi về nước nhưng mỗi đứa một nơi. Lương ra Nha Trang lái A37; Tú lái trực thăng ở Phù Cát còn tôi Biên Hòa. Hôm Lương về Sài Gòn rủ tôi xuống xứ Bùi Thái thăm thằng Trinh, bạn cùng khóa 69A nhưng sau thiếu sức khỏe phi hành nên đổi ra Bộ Binh. Lương nghe đồn là kế bên nhà Trinh có ông bán bánh mì bị ma bắt. Câu chuyện thật hoang đường nhưng sự kiện thì rất khó giải thích theo khoa học. Khi chúng tôi đến Bùi Thái thì ông bán bánh mì vẫn còn nằm trong buồng, đầu tóc rụng trọc lóc. Người nhà kể trước đây ông vẫn lên chợ Thủ Đức lúc ba bốn giờ sáng lấy bánh mì về bán rong. Hôm ấy như thường lệ ông chở một sọt đầy bánh mì đem về, khi chạy ngang Nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa thì có người gọi lại mua cả sọt. Ông nhìn mặt quen quen nhưng không nhận ra là ai. Mừng vì hôm nay được nghỉ sớm, ông ngủ một giấc nữa rồi ngồi dậy móc tiền ra đếm thì hỡi ơi, toàn là tiền vàng mã, loại để cúng người chết. Lúc này ông mới sực nhớ lại khuôn mặt người mua bánh lúc sớm, đúng y như bức tượng Thương Tiếc mà ông vẫn thấy mỗi ngày khi chạy ngang qua nghĩa trang! Ông Bánh Mì hồn phi phách lạc, ông ốm luôn và mấy hôm sau thì tóc rụng sạch. Lương trầm ngâm nói: -Nghĩa Trang Quân Đội linh lắm. Nếu có chết, tao thích nằm ở đó hơn là nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Vài tuần sau trong lúc ngồi hớt tóc, tôi đọc báo thấy phân ưu kín cả trang cuối, đọc kỹ thì ra đó là thằng Tú, vừa gãy cánh ở Phù Mỹ, Qui Nhơn. Tôi lặng người, thương tiếc một đứa bạn thân vừa hy sinh cho dân tộc. Năm 1973 Lương đang bay A37 ở Nha Trang thì chuyển về phi đoàn F5 Biên Hòa. Nó tâm sự là tuổi mình cũng đã lớn, gia đình muốn nó “có nơi có chốn để gửi tấm thân”, nên lập gia đình với một người mà Lương mô tả là hết xẩy. Khoảng hơn năm sau, có đứa con trai đầu lòng nó khoe với tôi: -Tao đặt tên con là Vũ, chữ vũ là mạnh, là mưa, là… nhiều nghĩa lắm. Tôi chọc nó: -Ừ “Vũ ỷ mạnh, Vũ ra Vũ múa. Vũ gặp mưa Vũ ướt hết lông”. Lần cuối cùng tôi gặp Lương ở quán cà phê của phi đoàn nó, hôm đó nó đang trực hành quân. Tôi hẹn hai ngày nữa gặp nhau ở nhà Lương ngoài Tân Mai nhậu chơi. Vài hôm sau, khoảng 5g chiều tôi từ Sài Gòn ra Biên Hòa, vừa quẹo vào con hẻm nhỏ thì thấy chị của Lương. Tôi chưa kịp hỏi thì chị òa lên khóc: -Thằng Lương nó đi hai ngày rồi không về. Tôi tưởng nó biệt phái vùng khác nên nói: -Biệt phái ít ngày rồi về chứ có gì đâu mà khóc. -Không phải cậu ạ. Người ta nói nó nhảy dù khi máy bay bị bắn rớt. Đoán là đã có chuyện khẩn cấp nên tôi hỏi vài câu rồi vọt vô phi đoàn, thấy Phi vụ lệnh có chiếc sẽ đi rescue chiếc F5 bị rớt tôi tình nguyện đi liền. Khi chúng tôi đáp ở Bộ Tư Lệnh QĐIII để nhận tin tức của Quân Báo, thì vị Thiếu tá Trưởng phòng nói: -Thôi anh về đi. Tin nhận được là tụi Trung Đoàn 24 Chiến xa BV đã bắt được phi công rồi! Tôi trở về phi trường, lấy xe chạy ra nhà Lương thì chỉ gặp cô Mừng, cháu gái của Lương đang coi nhà. Tôi cũng không biết báo tin thế nào cho ổn nên xã giao vài câu rồi ra sạp báo đầu đường mua tờ Tuổi Ngọc, trở lại đưa cho cô bé, trong đó có kẹp tờ giấy ghi vài dòng: “Cậu Lương đã bị VC bắt. Báo cho ba má cháu biết”. Hôm ấy đứa con trai của Lương mới được 20 ngày. Đời phi công, có lẽ khổ tâm nhất là lúc đi báo cho thân nhân biết bạn bè mình gẫy cánh. Có một lần tôi phải ra Biên Hòa báo tin là thi hài Đại úy Hoài đã tìm thấy ở Hạ Lào. Tôi cứ đinh ninh rằng gia đình ông đã biết Đại úy Hoài chết trước đó cả tuần lễ. Thực ra BTL/KQ chỉ báo là ông bị mất tích vì chưa lấy được xác. Khi tôi báo tin xong, cô em gái Hoài la lên: -Má ơi, anh Hoài chết thật rồi. Cô ngã ra bất tỉnh. Cả nhà vang tiếng khóc. Khi tôi đổi ra Phù Cát, nghe đồn là SĐ25BB có thấy một xác chết lâu ngày ở trong rừng, còn mặc đồ bay, tôi cứ ngờ ngợ, không biết có phải là xác của Lương không. Năm 1978 sau khi đi tù về, tôi bị quản chế nên thường bị công an gọi tập trung lên Huyện, gặp một người trông quen lắm, anh ta gọi tôi: -Ê Toàn, tao là Hà Diên Tuynh bạn học ngày xưa đây. Có phải mày quen thân với thằng Lương lái F5 không? Thì ra trước đây tôi cũng tưởng thằng Tuynh đi BB tử trận ở Bù Na gần Đồng Xoài. Tôi ngạc nhiên sao thằng này lại biết Lương. Nó kéo tôi ra xa xa rồi kể: -Tao bị bắt làm tù binh rồi bị đưa ra Bắc, nhốt chung một chỗ với thằng Lương lâu lắm. Khi biết nó là pilot, tao mới hỏi nó có biết mày không, thì ra tụi mày là bạn cùng khóa. Thằng Lương gan cóc tía, mấy tay quản giáo đì nó lắm vì nó là “Lãnh tụ” trong tù của bọn tao đó. Cũng vì vậy mà hiện nay nó vẫn còn bị tù ngoài bắc đấy. Hôm tao về có ghé nhà nó đưa thư. Tôi mừng khi nhận được tin này, nhưng cũng buồn cho số phận hẩm hiu của Lương, sau bao nhiêu năm tù tội mà vẫn chưa được thả cho về. Tỵ nạn tại Mỹ, một lần trong giấc mơ tôi gặp lại Lương. Nó ôn chuyện cũ với tôi, về những lần đánh xe tăng vào Mùa Hè Đỏ lửa, về chuyện nó ốp thằng Trung (Nguyễn Thành Trung thả bom Dinh Độc Lập) khi bắt gặp thằng này đi trượt patin ở Bình Triệu mà mặc đồ bay. Tôi mất liên lạc với gia đình Lương đã lâu, nhưng vẫn mường tượng bạn mình đã chết trong tù. Tôi mong mỏi có ngày nào đó được tin xác thực của Lương. Vào đầu tháng giêng năm 2004, Email của Khóa 69A có bản tin nói rằng ít tháng trước khi mất nước, tại núi Bà Đen Tây Ninh, có một phi công trực thăng thuộc khóa 69A đã cứu được Phan Huy Bách cùng khóa với mình (Bách là con của cựu Thủ Tướng Phan Huy Quát) khi chiếc A37 bị bắn rơi và Bách kịp bung dù. Còn hai phi công nữa cũng lái A37 thì bị VC bắt, trong đó có Trần Văn Lương, tự Lương Răng Vàng. Tôi trả lời email trên là Lương Răng Vàng không rớt tại núi Bà Đen; Lương cũng không còn lái A37 nữa mà vào năm 74 nó đang lái F5 và rớt khi đang lái loại máy bay này, chứ không phải mãi đến năm 75 mới bị bắn rơi với chiếc A37. Ít lâu sau, Nguyễn Tài Cơ cho tin đích xác: Lương đã chết trong một trại tù miền bắc. Hoàng Gia Viễn bạn học cùng khóa T28 với Lương còn cho biết chị Lương đang sống ở Washington và cho số phone để anh em liên lạc. Cuối cùng tôi đã liên lạc được với chị Lương. Hiện nay chị đang sống với người em tại Seattle. Cháu Vũ đã học thành tài và đang làm việc ở California. Chị cho tôi biết kể từ khi Lương bị bắt, gia đình không được một tin tức gì, cho mãi đến sau ngày mất nước mới nhận được tin chồng còn sống và bị giam ở ngoài bắc. Qua bao nhiêu khổ ải chị mới tìm ra chỗ trại giam, lúc này Lương đã bị bịnh thật nặng, chỉ còn da bọc xương, bạn bè phải cõng ra chỗ thăm nuôi. Trở về Sài Gòn, chị vội vã mua thuốc men để ra thăm lần nữa, nhưng không kịp nữa rồi, có người được thả về tới báo tin anh Lương đã nằm xuống vĩnh viễn ngay vào ngày kỷ niệm hôn nhật của hai người, tại một vùng đất có tên là trại Đô Lương, Nghệ Tĩnh, có ám số là AH 118 NT K2. Chị Lương đã nhiều lần cố gắng tìm hài cốt của chồng nhưng chưa kết quả. Chị hy vọng một ngày rất gần sẽ kiếm được mộ phần của chồng để di chuyển về miền Nam. Vậy là hơn 30 năm, chúng tôi đã nhận tin tức chính xác về Lương, đêm hôm đó tôi ngủ mơ gặp lại nó đang đứng cười, không nhận ra hai đứa đang ở đâu, nhưng cả hai đều vui vẻ lắm. Nơi cõi thiên thai nào đó có phải Lương đang hài lòng vì cuối cùng, toàn thể các bạn đồng khóa cũng đã biết số phận của Lương, tuy buồn thương nhưng cũng thật dũng cảm, một cánh đại bàng đã gãy cánh nơi chiến trường, sa vào tay địch, vẫn ngửng cao đầu lên đến ngày cuối của cuộc đời. Lương, anh hồn mày nơi vĩnh hằng xin về với chúng tao, cả khóa 69A họp mặt lần thứ 40 kể từ ngày bọn mình quen nhau, để tưởng nhớ đến mày, thằng Tú, thằng Toản, thằng Sương… và nhiều đứa bạn khác đã nằm xuống cho quê hương mình. Bọn tao đã liên lạc được với gia đình mày. Xin chúc mừng con mày, không hổ danh là con một phi công, cháu Vũ đã thành đạt nơi xứ người, tiếng Anh hẳn là lưu loát không còn phải nói “Xi nô xì líp” như mày ngày nọ. Vợ mày, chị Lương đã ở vậy thờ chồng nuôi con khôn lớn từ ngày mày nằm xuống, cho dù lúc ấy tuổi mới ngoài hai mươi. Hãy cùng chúng tao cầu nguyện cho quê hương mình mau quang phục, để chúng tao và những người thân của mày có dịp về lại Việt Nam, đón rước thi hài đại bàng gãy cánh trở về, cùng với hài cốt của những đồng đội đã bị tứ tán mọi nơi về an táng tại Nghĩa Trang Quân Đội, nơi mày từng ao ước được nằm bên cạnh những chiến hữu chung một màu cờ.
Phương Toàn
Chú thích: * – vì trong web site này đã có bài viết mang chung tựa đề “Đại Bàng gẫy cánh” nên BKT thêm chữ F5 để phân biệt. –BKT.
Đôi dòng: Để tri ân những chiến sỉ ngành An ninh tình báo đã âm thầm chiến đấu và âm thầm hy sinh cho sự nghiệp bảo vệ tổ quốc, ngăn chận Cộng Sản xâm lược suốt cuộc chiến giữ nước trong giai đoạn 1954 – 1975. Đây là một chiến công có thật, tuy nhiên một số tên, nhân vật đã được thay đổi vì lý do an toàn cho bao người còn ở lại. Dù đã 36 năm qua, nhưng trong tâm trí chúng tôi, cứ tưởng vừa xảy ra vào ngày nào đó mới đây…Và còn biết bao công tác mà chưa hay không được kể ra đây, đành phải vùi chôn theo bánh xe thời gian đang quay… rất nhanh! Riêng tặng hai bạn CTM và CTT thuộc trung tâm Thẩn Vấn tỉnh Bình Thuận.
Khi vừa mới rời nhà người chị bà con trên đường Trần-Hưng-Đạo Chợ Lớn, linh tính báo cho Hai Hóa biết có một điều gì đó không được ổn lắm trong lần thăm viếng nầy. Đã ngụy trang đế có nhân dạng như một ông già nông dân từ vùng quê lên thủ đô Saì Gòn có việc riêng tư, Hai Hóa ăn mặc thật giản dị, với chòm râu cằn màu muối tiêu, lưa thưa, tuy nhiên phía sau cặp kính lão rẻ tiền là một cặp mắt sáng lanh lợi. Đã nhiều lần, ông ta đến thăm gia đình người chị bà con nầy, mục đích là để xin ít tiền lo cho chi phí gia đình gồm vợ và hai cô con gái, đã trưởng thành. Hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, vì là nạn nhân của một trận pháo kích của Cộng Sản trong dịp Tổng công kích Tết Mậu Thân, nhà cửa bị cháy và đổ nát, tài sản khiêm tốn của gia đình bị hủy hoại hoàn toàn. Cá nhân Hai Hóa bị mảnh pháo kích gây thương tích nặng nơi cánh tay, phải nằm bịnh viện Gia Định gần cả tháng trời mới bình phục. Sau biến cố tang thương nầy, gia đình ông ta phải sống bằng sự giúp đở của chính phủ qua chương trình cứu trợ nạn nhân chiến cuộc, cũng như nhờ vã vào lòng hảo tâm của họ hàng, như người chị bà con mà ông vừa đến để xin một ít tiền trang trải trong cuộc sống những ngày tới. Ngoái nhìn lại phía sau một lần nữa để chắc chắn là không có điều gì khả nghi. Hai Hóa rảo bước nhanh về hướng trạm xe buýt gần ngôi nhà mà Ông ta vừa từ giã. Đầu óc suy nghĩ mông lung về gia đình đang tạm trú tại nhà một người quen ở ngã ba Bình Triệu để chăm sóc khu vườn tược của người chủ nhà tại đây với số tiền thù lao khiêm tốn, vợ Ông buôn bán một sạp trái cây tạm bợ, ven quốc lộ 13, nơi tập trung nhiều xe khách chạy đường Sài Gòn – Bình Dương, cũng như xe be chở gổ rừng từ vùng Phước Long, Bình Long về Sài Gòn. Cô con gái út nay đã 16 tuổi, phụ với mẹ buôn bán, trông coi gian hàng sau giờ học. Riêng cô con gái lớn 19 tuổi, đã lập gia đình với một người lính Địa Phương Quân, cũng sinh sống gần nơi Ông tạm trú. Hai Hóa thường lo lắng về cuộc hôn nhân của cô con gái lớn nầy, vì mặc dù cả hai vợ chồng Ông đều không muốn con gái mình lập gia đình với người con rể nầy, nhưng tình yêu đã kết hợp đôi trẻ ngoài ý nuốn của cha mẹ. Cuộc sống gia đình coi như tạm ổn định, nhưng bản thân Hai Hóa vẫn còn nhiều điều lo nghĩ, suy tinh cho tương lai của bản thân cũng như của gia đình. Đang suy nghĩ mông lung bổng Hai Hóa nghe có ai đó vổ vào vai mình, vừa chào hỏi bâng quơ:
Mạnh gỉỏi không ông bạn, lâu quá không gặp. Đang lúng túng và quá bất ngờ vì không biết người chào mình là ai, thì bổng xuất hiện một người thứ hai kè bên hông trái, tức là hai người lạ mặt kẹp Ông ta vào giữa, cùng lúc ấy một trong hai người nầy xuất trình sự vụ lệnh cho biết cả hai là nhân viên an ninh và yêu cầu Ông làm theo lệnh của họ. Ngay lúc đó có một chiếc xe taxi chạy trờ tới mở cửa, Hai Hóa bị đẩy vào xe ngồi giữa hai nhân viên an ninh đó. Ông ta được cho đeo một cặp kính mát tròng kính đã được che kín để người mang không nhìn được lộ trình của chiếc xe. Chiếc xe taxi chạy hướng về trụ sở Bộ Tư Lệnh CSQG, phía sau là hai xe Honda với nhân viên chạy bọc hậu. Hai Hóa ngồi bất động giữa hai nhân viên an ninh, đầu óc Ông ta quay cuồng với nhiều câu hỏi mà không có câu trả lời nào cho đúng. Đây không phải là lần đầu tiên Ông ta đến nhà bà chị nầy, tại sao? Tại sao mà tin tức của ta bị lộ? Vào lúc nào bị lộ? Ông ta cố tìm câu trả lời thich đáng để đối phó với tình thế trước mắt. Ông ta nghĩ đến vợ con mình, đến tương lai đang chờ đợi gia đình mình… trước khi nghỉ đến tổ chức mà Ông ta đang phục vụ, bởi những gì đã xảy ra trong thời gian sau cuộc Tổng tấn công dịp Tết Mậu Thân, một phần nào đã ảnh hưởng đến tình cảm, suy nghĩ của Ông cũng như của vợ và hai đứa con thân yêu. Khoảng cuối năm 1966 khi đang công tác tại nông trường trồng mía tỉnh Thanh Hóa, lệnh từ cấp trung ương buộc Hai Hóa về Hà Nội trình diện tại Ủy Ban Thống Nhất nhận nhiệm vụ mới. Là một Cán Bộ miền Nam tập kết nên chuyện trình diện tại cơ quan nói trên cũng không làm cho Hai Hóa suy nghỉ gì nhiều, bởi đây là một tổ chức của đảng để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến bộ phận Miền Nam. Nhưng thực tế lại rất bất ngờ đối với Hai Hóa, bởi vì sau đó Ông ta lại làm việc với Cán Bộ Cục Nghiên Cứu, cơ quan phụ trách tình báo và quân báo lúc bấy giờ. Thì ra là Đảng đã có chủ trương đưa Ông ta trở vào miền nam hoạt động trong mạng lưới tình báo chiến lược nhằm móc nối với thân nhân là một sỉ quan cao cấp đang phục vụ tại cục An Ninh Quân Đội của chính phủ VNCH, cùng một mục tiêu khác nữa là cựu Bộ Trưởng Nộ Vụ, người nầy mặc dù đã không còn phục vụ cho chính phủ nhưng có quan hệ chặc chẽ với với các nhân vật cao cấp của Tòa Đại Sứ Mỹ. Nhân vật nầy cũng là người có họ hàng với Hai Hóa. Sau lần gặp gỡ với Cán Bộ Cục Nghiên Cứu để nhận nhiệm vụ tại Miền Nam, Hai Hóa được bố trí ngụ tại một ngôi nhà an toàn tại Hà Nội, được hướng dẩn chuyên môn về cách thức hoạt động mật hơn hai tháng, được cung cấp các loại giấy tờ tùy thân giả mạo do chuyên viên của Cộng Sản Đông Đức thực hiện với lý lịch ngụy tạo, được hướng dẩn kỹ lưỡng về cung cách sinh hoạt của xã hội Miền Nam, nhứt là ở địa bàn thành phố Sài Gòn. Trước khi lên đường xâm nhập Miền Nam bằng đường mòn Hồ Chí Minh. Cục nghiên Cứu đã tổ chức một buổi tiệc tiễn đưa Hai Hóa với nhưng lời lẻ động viên, khích lệ để hoàn thành tốt công tác giao phó. Hai Hóa đã phấn khởi lên đường với lời thề hứa sẽ tranh thủ móc nối được hai mục tiêu mà tổ chức đã chấm định. Trung thành với lý tưởng của đảng Cộng Sản mà đương sự đã có hai mươi năm phục vụ. Viễn cảnh được trở về Miền Nam hoạt động đồng nghĩa với việc gặp lại người vợ và hai cô con gái mà đương sự đã để lại nơi quê nhà vào năm 1954 để lên đường tập kết ra Miền Bắc theo sự bố trí của đảng. Hai Hóa đã lên đường xâm nhập vào Miền Nam với tâm trạng phấn khích sẽ gặp lại vợ con tại quê hương tỉnh Vĩnh Long thân yêu của mình sau bao năm xa cách. Chuyến đi trải qua nhiều nguy hiểm tưởng chừng như không thể tiếp tục vì bị máy bay B52 thả bom đánh phá liên tục, một phần bị bịnh sốt rét làm chậm trể cuộc hành trình, nhưng cuối cùng rồi Hai Hóa cũng vào được đến Miền Nam, trình diện tại phòng tình báo chiến lược thuộc Cục R để được hướng dẩn thêm về phương thức hoạt động, cách thức liên lạc, báo cáo. Sau đó đương sự liên lạc được với vợ con hiện đang cư ngụ tại tỉnh Vĩnh Long, và thời gian ngắn sau đó đưa cả gia đình lên ngụ tại một căn nhà thuê tại khu vực Hàng Xanh, Thị Nghè sinh sống bằng cách buôn bán trái cây để làm ngụy thức cho hoạt động mật của mình. Hai Hóa sau đó đã tìm đến nhà người chú bà con là một sĩ quan đang làm việc tại Cục An Ninh Quân Đội lấy lý do thăm viếng để tìm hiểu về công việc hiện tại của người nầy. Đương sự dùng ngụy tích là một hồi chánh viên vì viên sĩ quan nầy biết đương sự đã hoạt động cho Việt Cộng và đã tập kết ra miền bắc vào năm 1954. Sau nhiều lần đến thăm gặp vị sĩ quan nầy để tìm hiểu thăm dò tình cảm qua liên hệ gia đình, Hai Hóa đã đặt thẳng vấn đề móc nối xây dựng người bà con nầy để hoạt động cho Cộng Sản. Trái với mong đợi của đương sự, vị sĩ quan nầy đã từ chối thẳng thừng và đuổi Hai Hóa về, không cho đương sự đến nhà gặp gỡ nữa. Tuy nhiên vì nặng tình cảm gia đình nên vị sĩ quan nầy đã không có biện pháp nào đối với Hai Hóa. Về đối tượng thứ hai là vị cựu Bộ Trưởng Nội Vụ thì Hai Hóa cũng tìm cách tiếp cận nhiều lần, nhưng đương sự chưa dám mở lời tranh thủ. Một phần vì trình độ học thức quá chênh lệch giữa hai người, phần quan trọng nữa là lập trường của vị nầy chống Cộng quyết liệt, khó cho đương sự đặt vấn đề hầu móc nối cho tổ chức. Đã một vài lần Hai Hóa được giao liên hướng dẫn vào mật khu Suối Sâu thuộc quận Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh để sinh hoạt họăc báo cáo công tác với cán bộ của Phòng Tình Báo Chiến Lược Miền Nam. Đương sự cũng đã bị phê bình là công tác chưa có tiến triển gì đáng kể trong thời gian qua. Trong đợt Tổng Công Kích dịp Tết Mậu Thân của Cộng Sản vào Thủ Đô Sài Gòn nhà của Hai Hóa bị trúng đạn pháo kích của Cộng Sản. Phần đương sự bị mảnh đạn pháo trúng nhằm cánh tay bị thương nặng phải điều trị tại Bệnh viện Gia dịnh một thời gian, do đó đương sự mất liên lạc với tổ chức. Vì nhà cửa bị hư hại, đổ nát bởi đạn pháo kích của Cộng Sản nên gia đình đương sự được sự giúp đở của một người bà con xa cho tá túc tại nhà của người nầy nằm gần khu nhà thờ Fatima ở ngã ba Bình Triệu, phía Quốc Lộ 13 hướng đi về Bình Dương. Vợ chồng Hai Hóa có một sạp bán nước và trái cây ven quốc lộ để làm kế sinh nhai, vì khu vực nầy rất tấp nập xe đò chở khách và xe be chở gổ. Sau khi đã tạm ổn định, Hai Hóa tìm cách liên lạc với tổ chức là Phòng Tình Báo Chiến Lược Miền Nam bằng cách đến các khớp hẹn chính thức và dự bị hy vọng sẽ gặp lại người giao liên đã từng gặp đương sự trước đây. Tuy nhiên, việc làm nầy không có kết quả. Trong những lần đi tìm kiếm giao liên, đương sự vì cuộc sống túng quẩn nên cũng đã từng ghé ngang nhà người chị bà con tại Chợ Lớn để nhờ sự trợ giúp tài chánh cho gia đình, vì bà chị nầy cũng biết tình cảnh của đương sự. Chính vì liên hệ với gia đình bà chị nầy mà tung tích của Hai Hóa đã bị mật báo viên của Khối Đặc Biệt phát hiện, đưa đến việc câu lưu Hai Hóa. Trong thời gian bị giữ tại Khối Cảnh Sát Đặc Biệt để khai báo về quá trình hoạt động của đương sự, đặt biệt là giai đoạn xâm nhập vào miền nam để hoạt động cho Phòng Tình Bảo Chiến Lược, Hai Hóa đã tỏ ra thành khẩn cộng tác. Sau nhiều lần thử thách, động viên đương sự với sự đóng góp của vợ và hai con, Khối Đặt Biệt đã tranh thủ được Hai Hóa cộng tác để tìm cách xâm nhập vào Phòng Tình Báo Chiến Lược Miền Nam, một tổ chức tình báo quan trọng của Cộng Sản mà trong hai năm 1969, 1970 Khối Đặt Biệt đã đánh phá một số Cụm trực thuộc tổ chức nầy, câu lưu một số cán bộ như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thúy, Trần Ngọc Hiền v v… Kế hoạch xâm nhập mang ngụy danh “Thượng Đỉnh” được khai triển với tình báo viên Hai Hóa, nguyên là Thượng Úy của Cộng Sản, đã là một cuộc đấu trí ngoạn mục giữa Khối Cảnh Sát Đặt Biệt và Cục Nghiên Cứu của Cộng Sản Bắc Việt, cơ quan phụ trách tình báo và quân báo lúc bấy giờ của Miền Bắc. Khoảng sáu tháng sau ngày nhận lời hợp tác với Khối Cảnh Sát Đặc Biệt, Hai Hóa đã phát hiện được một cán bộ Cộng Sản từ Miền Bắc xâm nhập vào hoạt động trong lãnh thổ VNCH. Đương sự báo cáo đã từng gặp người cán bộ nầy khi còn công tác tại miền Bắc, qua sự giới thiệu của một người bà con. Người cán bộ nầy tên gọi là Đạt, là một kỷ sư, dạy học tại trường Bách Khoa Hà Nội, vợ của đương sự cũng là một giáo sư dạy cùng trường. Hai Hóa đã tình cờ nhìn thấy Kỷ Sư Đạt đi bộ trên đường Phan Thanh Giản gần Bệnh Viện Bình Dân. Một toán nhân viên hoạt vụ của Cảnh Sát Đặc Biệt được bố trí hưuớng dẩn Hai Hóa đi công tác tại khu vực bệnh viện để phát hiện mục tiêu là Kỷ Sư Đạt. Khoảng chừng một tháng sau công tác đã có kết quả, mục tiêu đã được phát hiện. Theo dõi đương sự được biết nơi cư ngụ là căn phố thuộc xã Phú Nhuận, thỉnh thoảng có đến có đến một ngôi biệt thự gần Bệnh Viện Bình Dân và một văn phòng trắc địa tai đường Nguyễn Huệ thuộc quận I Sài Gòn. Kết quả mật tra được biết đương sự xử dụng giấy tờ tùy thân giả mạo mang tên Phạm Đức, có tên trong tờ khai gia đình tại ngôi nhà ở Phú Nhuận. Sau một thời gian bố trí theo dỏi mục tiêu Phạm Đức để tìm hiểu thêm một số chi tiết cần thiết khác, Khối Đặc Biệt quyết định bí mật câu lưu đương sự để khai thác tin tức về tổ chức cũng như nhân sự liên hệ hoạt động với đương sự. Kết quả đưa đến việc bắt giữ thêm một số người có liên hệ, đặt biệt là tịch thu được một số tài liệu, mật mã đang được Cục Nghiên Cứu Bắc Việt xử dụng cho những hoạt động tình báo trong miền Nam. Đây là mật mã hiện đại nhất của Cộng Sản mà lần đầu tiên cơ quan an ninh của VNCH tịch thu được. Phạm Đức là một cán bộ tình báo chiến lược hoạt động đơn tuyến trực thuộc Cục Nghiên Cứu của Cộng Sản Bắc Việt. Đương sự đã xâm nhập vào Niềm Nam bằng đường biển, do tàu giao thông của Cục Nghiên Cứu chuyên chở từ hải cảng thành phố Vinh ra hải phận quốc tế hướng về phía nam để rồi sau đó cập vào bến ở bải biển Nha Trang. Vì các tàu nầy được ngụy trang là tàu đánh cá, có được sự yểm trợ của hải quân Liên Bang Sô Viết đang hoạt động trong vùng biển Thái Bình Dương, nên việc xâm nhập vào hải phận của VNCH thường được thực hiện thành công. Đó là lý do tình báo của Cộng Sản Bắc Việt thời gian sau nầy thường xử dụng đường biển để đưa người xâm nhập vào Miền Nam, cũng như đón cán bộ trở về Miền Bắc sinh hoạt, báo cáo công tác… Loại tàu xử dụng công tác giao thông liên lạc nầy được Cộng Sản thuê đóng tại Phan Rí, dùng loại máy Yamaha của Nhật có công xuất mạnh mà các tàu đánh cá thường dùng vào thời điểm này nên đã dể dàng trà trộn vào dòng ghe thuyền đánh cá của Miền Nam để hoạt động đưa đón cán bộ tình báo đang hoạt động tại lảnh thổ VNCH. Nhiệm vụ của Phạm Đức là xâm nhập vào giới trí thức của Việt Nam để gây dựng cơ sở hầu khi có giải pháp chính trị cho chế độ Miền Nam thì Cộng Sản đã có sẳn một lượng trí thức thiên tả để xử dụng sau khi ký kết được Hiệp Định Ba Lê. Sở dĩ Cộng Sản xử dụng Phạm Đức vì anh ruột của đương sự là một nhạc sỉ nổi tiếng tại Miền Nam đang dạy tại Trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn, có một quá trình cộng tác với Hội Việt Kiều yêu nước tại Paris khi đương sự còn theo học âm nhạc tại Pháp. Gia đình của Đức thuộc vào loại khá giả, học thức, có quan hệ rộng rãi trong giới thượng lưu của Sài Gòn lúc bấy giò. Bên cạnh các yếu tố thuận lợi cho trí thức vận, Cộng Sản còn nhắm vào mối liên hệ gia đình của Phạm Đức với một thành viên trong phái đoàn VNCH đang dự hội nghị bốn bên tại Paris, để có thể thu thập tin tức về đường lối chủ trương chiến lược của Chính Phủ VNCH tại bàn hội nghị. Sở dỉ Cộng Sản chú trọng vào công tác chính trị nầy là vì sau khi thất bại trong cuộc tổng tấn công vào Miền Nam dịp Tết Mậu Thân, Cộng Sản nhận thấy khó giành thắng lợi bằng giải pháp quân sự nên chuẩn bị cho một giải pháp chính trị sau khi hiệp định Paris được ký kết. Theo lời khai của Phạm Đức với Khối Cảnh sát Đặc Biệt, thì sau khi vào Sài Gòn hoạt động được một thời gian thì Cục Nghiên Cứu Bắc Việt chỉ thị cho đương sự theo giao liên đi từ Sài Gòn ra Nha Trang để được tàu giao liên đưa trở ra Miền Bắc báo cáo công tác cũng như để được hướng dẩn thêm về nghiệp vụ. Đương sự cũng được gặp gỡ vợ con trong dịp nầy, nhưng được dặn dò là không được tiết lộ bất cứ điều gì liên quan đến công tác tại Miền Nam. Sau đó đương sự lại được tàu giao thông, liên lạc đưa trở lại Miền Nam nhưng đổ bộ lên một địa điểm ở bãi biển Phan Rí và đón xe vào lại Sài Gòn. Là một điệp viên hoạt động đơn tuyến do đó đương sự nhận chỉ thị trực tiếp từ cơ quan đầu não chỉ huy tình báo của Cộng Sản Bắc Việt lúc bấy giờ là Cục Nghiên Cứu, qua hệ thống ngắn, theo giờ giấc đã quy định trước. Các điện văn gởi cho Phạm Đức đều được mã hóa và phải cần có đến 3 chìa khóa mới mở được. Để chuyển báo cáo về cho Cục Nghiên Cứu Bắc Việt thì Đức dùng mực hóa học để viết và giao cho giao liên mang về căn cứ cũ để chuyển đi. Do đã tịch thu được toàn bộ tài liệu mật mã tại nhà Phạm Đức nên Khối Đặc Biệt đã thu được tất cả điện văn từ Miền Bắc gởi vào cho Đức để chỉ thị công tác cho đương sự. Khoảng chừng ba tháng sau ngày câu lưu Đức, Khối Đặc Biệt chận bắt được một bức điện văn gởi cho Đức, nội dung thông báo ngày giờ, địa điểm, ám tín hiệu và mật khẩu để nhận nhau tại khớp hẹn chính thức và dự bị cho Đức đi gặp giao liên của Cục Nghiên Cứu. Cả hai khớp hẹn nầy sẽ thực hiện trong cùng một ngày, khớp hẹn chính thức vào buổi sáng tại một địa điểm thuộc Chợ Lớn, khớp hẹn dự bị vào buổi chiều tại một địa điểm thuộc Quận I của Sài Gòn. Mặc dù trong quá trình làm việc với Phạm Đức, Khối Đặc Biệt đã phần nào cảm hóa, tranh thủ sự hợp tác của đương sự nên đã tịch thu được tài liệu mật mã cũng như mực hóa học mà đương sự đã cất dấu tại một số vị trí rất khó phát hiện trong nhà nơi Đức đang tạm trú. Những đánh giá về sự thành khẩn của đương sự vẫn còn hạn chế, do đó vẫn còn có thêm những thử thách sau này để xác định đương sự đã chuyển hướng hay chưa và với một mức độ nào đó… Kế hoạch được phát thảo đầu tiên là tranh thủ Đức để đương sự đi gặp giao liên, vì có thể người giao liên nầy đã từng gặp Đức trước đây. Tuy nhiên như đã nhận xét về sự thành khẩn hợp tác của đương sự vẫn còn hạn chế, do đó kế hoạch đi gặp giao liên được thực hiện bởi một nam nhân viên của Khối Đặc Biệt đóng vai Phạm Đức. Người nhân viên nầy có nhân dạng hao hao giống Đức, được trang bị máy thu phát vô tuyến để cơ quan có thể theo dõi và ghi nhận nội dung cuộc tiếp xúc với giao liên và chỉ xuất hiện ở khớp hẹn dự bị để gặp người giao liên mà thôi. Riêng tại khớp hẹn chính thức cơ quan đã bố trí một toán hoạt vụ để quan sát, phát hiện mục tiêu tình nghi là giao liên, bí mật chụp ảnh các đương sự cho Đức nhận diện xem đương sự có lần nào tiếp xúc với người giao liên nầy. Kết quả cho thấy trong số những người tình nghi là giao liên bị chụp ảnh không có ai là người quen với Đức. Đúng mgày giờ theo quy ước đã định, người nhân viên đóng vai Phạm Đức đã tiếp xúc được với một người nữ giao liên, giao một báo cáo viết bằng mực hóa học sau khi đã mã hóa cũng như nhận một chiếc gương nhỏ hình tròn dùng để soi mặt từ giao liên, trong đó có chứa tài liệu. Việc trao đổi tài liệu nầy diển ra trong một quán nước gần địa điểm tiếp xúc. Nội dung cuộc tiếp xúc được cơ quan kiểm thính, ghi âm cùng chụp ảnh mục tiêu. Trước khi chia tay, một câu nói của người nữ giao liên nầy khi nhận xét rằng Phạm Đức có vẻ mập (nói đến người đóng vai Phạm Đức), đã tạo nên nghi vấn là có thể người nữ giao liên nầy đã từng gặp Phạm Đức trước đây. Do đó một quyết định tức khắc từ thượng cấp, ra lệnh cho bí mật câu lưu người nữ giao liên nầy để khai thác tin tức liên hệ. Sau khi làm việc sơ khởi với người giao liên nầy, khai thác nội dung tài liệu mà Cục Nghiên Cứu gởi vào cho Phạm Đức do người giao liên vừa chuyển giao, Khối Đặc Biệt quyết định khống chế, tranh thủ người nầy để hoạt động cho Khối bằng cách trả tự do cho y thị với điều kiện y thị phải cộng tác với Khối Đặc Biệt để xâm nhập vào tổ chức Tình Báo Chiến Lược đang dùng y thị làm giao liên. Để khống chế y thị hoat động công tác Khối Đặc Biệt đã tạm thời đưa con gái của y thị đang làm việt tại một quán kem ở tỉnh Quảng Ngải, vào Sài Gòn tạm trú dưới sự giám sát của Biệt Đội Thiên Nga để học nghề và tạo công ăn việc làm cho cô gái nầy. Một chuyến phi cơ đặc biệt chở người nữ giao liên tên Nguyễn Thị Gái cùng toán nhân viên hoạt vụ của Khối Đạc Biệt bay ra tỉnh Quảng Ngải để bí mật đón đứa con gái của bà Gái đưa vào Sài Gòn trong ngày, đồng thời giới thiệu bà nầy với cơ quan F/ Đặc Biệt tỉnh Quảng Ngải để y thị liên lạc sau nầy khi cần thiết. Bà Gái sẽ trở về Quận Mộ Đức với một báo cáo đã mã hóa, viết bằng mực hóa học mà Khối Cảnh Sát Đặc Biệt mạo danh Đức phát thảo để gởi cho Cục Nghiên Cứu Bắc Việt, báo cáo các công tác mà Đức đã làm trong thời gian vừa qua. Mọi việc đã diển tiến đúng như dự liệu của Khối Cảnh Sát Đặc Biệt. Khoảng hai tháng sau ngày xử dụng nữ giao liên Nguyễn Thị Gái, Cục Nghiên Cứu Bắc Việt đã đánh một điện văn gởi cho Phạm Đức yêu cầu đương sự ra Nha Trang để tiếp xúc với giao liên, ngày giờ, địa điểm tiếp xúc chính và dự bị tại thị xã Nha Trang cùng ám tín hiệu và mật khẩu được chỉ thị trong bức điện nầy. Một kế hoạch được phát thảo để lại xử dụng người nhân viên của Khối Đặc Biệt đóng vai Phạm Đức để đi gặp giao liên tại Nha Trang ở nơi khớp hẹn dự bị tại đường Độc Lập thị xã Nha Trang. Toán hoạt vụ của Khối Đặc Biệt sẽ theo dỏi giao liên sau khi đương sự chia tay với Phạm Đức giả để phát hiện liên hệ của đương sự. Một toán công tác của Khối Đặc Biệt đã được hướng dẩn tường tận mọi tình huống có thể xảy ra trong lúc theo dỏi mục tiêu nầy, có thể xảy ra bằng đường bộ, đường hàng không hoặc đường thủy. Cơ quan E Đặc Biệt của Bộ Chỉ Huy CSQG Khu 2 là đơn vị yểm trợ chủ yếu cho công tác nầy. Một tuần lễ trước ngày gặp giao liên, một toán công tác của Khối Đặc Biệt đã đáp chuyến phi cơ dành riêng cho công tác nầy đi Nha Trang, chở theo can phạm Phạm Đức nhằm mục đích nhận diện các mục tiêu tình nghi là giao liên được bí mật chụp ảnh tại khớp hẹn chính thức. Chiếc phi cơ vận tải nầy cũng chở theo phương tiện xe cộ cho công tác theo dỏi, cũng như có cả một xe “van” được ngụy trang cho công tác tình báo kỹ thuật như chụp ảnh, kiểm thính và ghi âm cuộc tiếp xúc với giao liên. Mọi công tác chuẩn bị được nghiên cứu từng chi tiết, bộ phận hoạt vụ được đi quan sát thực địa để nắm vững được tình hình khu vực hoạt động, cách thức ngụy trang để tránh bị lộ diện. Một căn phòng ngủ tại một khách sạn đối diện với địa điểm tiếp xúc ở khớp hẹn chính thức được thuê mướn để từ đó có thể dể dàng quan sát, chụp ảnh các mục tiêu tình nghi là giao liên xuất hiện tại khớp hẹn nầy. Nhân viên hoạt vụ đã phát hiện một người đàn ông trung niên có mặt tại khớp hẹn nầy, tình nghi là giao liên qua cử chỉ thái độ của đương sự.. Hình ảnh của đương sự được bí mật chụp, để đưa cho can phạm Phạm Đức nhận diện xem có phải là người quen đã từng gặp mặt trước đây không, tuy nhiên Đức cho biết đây là người lạ mặt. Do đó việc bố trí cho Phạm Đức giả đi gặp giao liên tại khớp hẹn dự bị không có trở ngại và kế hoạch được xúc tiến như đã định. Người đàn ông trung niên bị phát hiện vào buổi sáng nơi khớp hẹn chính thức lại xuất hiện tại khớp hẹn dự bị vào buổi chiều, đến trao đổi ám tín hiệu và mật khẩu với Phạm Đức giả và sau đó yêu cầu Phạm Đức giả đi với hắn ta, cách xa một khoảng cách ngắn để không mất dấu. Nội dung cuộc tiếp xúc được kiểm thính, ghi âm và chụp ảnh một cách bí mật. Cả hai sau đó lên một chiếc xe Lambretta 3 bánh chở khách chạy về hướng biển, xuống xe tại bải Chụt, toán hoạt vụ của Khối Cảnh Sát Đặc Biệt vẫn bám sát với một khoảng cách an toàn. Tại đây người giao liên dùng tay ra dấu cho một chiếc tàu đánh cá đang đậu ngoài bờ biển, rồi từ trong đám đông tàu đánh cá có một chiếc thuyền thúng do một người đàn ông chèo vào phía bờ, hướng về chổ người giao liên và Phạm Đức giả đang đứng. Nhân viên đóng giả vai Phạm Đức vội hỏi người giao liên:
Chúng ta đi đâu vậy ? Lúc nầy người giao liên quay sang đáp:
Chúng tôi nhận lệnh của thủ trưởng đưa đồng chí ra Hà Nội. Việc nầy thật bất ngờ ngoài dự liệu của cơ quan trách nhiệm điều khiển công tác, bởi trước đó không lâu, Phạm Đức đã được giao liên đón đưa ra miền Bắc để sinh hoạt và bồi dưỡng nghiệp vụ tình báo, do đó lần gặp nầy nhân viên đóng vai can phạm Phạm Đức chỉ được hướng dẩn gặp giao liên dể trao và nhận tài liệu, báo cáo. Tuy bị bất ngờ trước tình huống nầy nhưng người nhân viên hoạt vụ già dặn kinh nghiệm đã giữ được sự bình tĩnh và nói với giao liên là không có chuẩn bị việc đi ra Miền Bắc vì nghĩ đây là cuộc gặp gỡ định kỳ để giao tài liệu, do dó yêu cầu cho anh trở lại khách sạn đang tạm ngụ để lấy đồ đạc cá nhân. Sau một thoáng ngần ngừ, tay giao liên đồng ý và hối thúc Phạm Đức giả mau trở lại để lên đường. Phạm Đức giả quay bước trở ra đường lộ, tiếp xúc với sỉ quan chỉ huy công tác cùng với toán hoạt vụ đang bám sát mục tiêu. Dù nội dung cuộc tiếp xúc giữa người giao liên và Phạm Đức giả được kiểm thính, nhưng vị sỉ quan trách nhiệm vẫn lắng nghe người nhân viên đóng vai can phạm Phạm Đức báo cáo để đối chiếu với những gì đã nghe được qua hệ thống kiểm thính. Sau khi thảo luận, đánh giá tình hình diển tiếng của công tác vị sỉ quan trách nhiệm đã đi đến quyết định câu lưu chiếc tàu giao liên ngụy trang là tàu đánh cá cùng toàn thể thuyền viên gồm có 6 người kể cả người giao liên đã lên bờ đi gặp Phạm Đức giả. Tất cả toán giao liên nầy được đưa về tạm giữ tại E/ Đặc Biệt Bộ Chỉ Huy CSQG Khu 2 ở Nha Trang và sau đó được máy bay chở về Khối Đặc Biệt ở Sài Gòn để khai thác tin tức. Trong việc bắt giữ chiếc tàu giao liên Khối Cảnh Sát Đặc Biệt đã đánh lừa Cục Nghiên Cứu Miền Bắc sau đó bằng cách đã tung tin trên hệ thống phát thanh của đài Sài Gòn một bản tin ngụy tạo về một cơn gió lốc xảy ra ngoài khơi bờ biển Nha Trang đã làm chìm một số tàu đánh cá, thiệt hại một số nhân mạng, vào đúng ngày câu lưu chiếc tàu giao liên. Do đó khoảng hơn một tháng sau, Cục Nghiên Cứu lại đánh một bản tin gởi cho Phạm Đức yêu cầu đi gặp giao liên tại một địa điểm trong Chợ Lớn, có qui định ngày giờ ám tín hiệu, mật khẩu để nhận nhau. Cuộc đấu trí giữa Cục Nghiên Cứu Bắc Việt và Khối Cảnh Sát Đặc Biệt vẫn tiếp diển và công tác nầy chỉ ngưng sau khi Khối Cảnh Sát Đặc Biệt câu lưu anh của can phạm Phạm Đức, tức là nhạc sỉ Phạm Trọng với tội danh cung cấp và yểm trợ phương tiện cho cán bộ Cộng Sản hoạt động. Tin tức bắt giữ người nhạc sỉ nầy sau đó được báo chí Sài Gòn đưa tin qua tiết lộ của gia đình đương sự. Về phần tình báo viên Hai Hóa với công tác xâm nhập vào Phòng Tình Báo Chiến Lược Miền Nam của Trung Ương Cục vẫn tiếp tục khai triển, chờ cơ hội nối lại liên lạc với tổ chức nầy. Trên phương diện chuyên môn, đây là thành công đáng kể của Khối Cảnh Sát Đặc Biệt trong cuộc chiến chống Cộng Sản xâm lược và những chiến công thầm lặng như kể trên đã góp phần đáng kể trong công việc bảo vệ Miền Nam Việt Nam từ năm 1954 đến 30- 4- 1975. Xin được thắp một nén hương để tưởng niệm và tri ân những chiến sỉ và đồng bào Miền Nam đã âm thầm ngã gục để bảo vệ tổ quốc thân yêu.
Nghĩ với Trần Quang Lộc Những đổi thay khốc liệt sau cuộc chiến 75 đã đưa đẩy một nhóm bạn bè chúng tôi gần gũi, siêng năng gặp gỡ nhau hơn những ngày tháng trước đó. Một ngày của mùa hè 1978, đi với anh Nguyễn Đình Toàn đến nhà chúng tôi ở cư xá Thanh Đa là Trần Quang Lộc trạc tuổi hai mươi tám, ba mươi, với cây guitar trên vai. Nghiêu Đề và tôi luôn vồn vã, thân thiện rất nhanh với bạn mới gặp, nhất là lại có thêm cây đàn. Ham vui như chúng tôi, sự thân thiện sau đó đã tăng lên gấp bội. Trần Quang Lộc sáng tác chưa nhiều nhưng nhạc rất đặc biệt, anh hát nhạc mình với chất giọng bàng bạc của miền Trung. Tiếng hát mà Duy Trác thường nói: “không ai hát nhạc Trần Quang Lộc hay và đau bằng chính TQ Lộc”
“Em ơi cho tôi ngủ đậu Tôi không có nhà Tôi đây không quen ngủ vội Xin em thức Với tình tôi…” [Nhạc TQLộc]
Sau 75, TrầnQLộc lang thang từ một miền Trung xa xôi vô Saigon sống lang bạt không cửa nhà, hộ khẩu… Nhạc đã như vẽ ra một đời sống rất thật của anh. Anh viết ra những cay đắng, những đổi thay cam go, của một quê hương hoàn toàn mất trắng… Thanh Đa, chúng tôi sống trên một chung cư lầu ba, nơi mà mỗi sáng nhìn dòng sông với mặt trời soi rọi rất đẹp của bình minh, tôi vẫn cảm nhận ra chút dịu dàng, cho dù đời sống lúc nào cũng như một chảo lửa đốt cháy hết sự sống của cả một quê hương. Sông Thanh Đa có chiếc ghe của bà Mười đưa khách từ làng báo chí qua lại. Với chiếc ghe nhỏ xíu đó, chị Nguyễn Thị Thụy Vũ và Anh Nguyễn Đình Toàn đến chơi Thanh Đa thường hơn. Mỗi lần chị đứng bên kia sông réo gọi, anh Toàn đưa tay vẫy… Chúng tôi luôn có với nhau những bữa cơm rất tội nghiệp, với một tô canh thôi, và tôi thường phải giải thích với chị Thụy Vũ: “Thấy chị qua em đã thêm nước vô cho nó nhiều”. Anh Toàn hỏi thêm trước khi cầm muỗng: “thêm nước thì hiểu được, nhưng rồi chúng ta có cần nấu lại không?” Vậy đó thôi mà cười tung toé. Những đêm trăng, chúng tôi xuống hết chiếc ghe nhỏ với cây guitar của Trần Quang Lộc hát hò tới nửa đêm. Nhạc Nguyễn Đình Toàn được hát bởi Khoa, bạn của Trần Quang Lộc. Duy Trác không bao giờ hát… dưới ghe, nên anh Toàn, Khoa, Lộc và tôi thay nhau hát. Hát say mê dưới trăng sáng mơ màng trên sông, hiu hiu chút gió và tiếng khua nước của ghe chèo… Bóng trăng có khi bị che khuất bởi những tàn cây ven sông, và bóng tối như đã ôm ấp tiếng hát nghìn trùng của chúng tôi, trải dài những âm vang dặt dìu xuôi theo dòng nước. Không phải chỉ có đêm trăng, chúng tôi ngồi với nhau bất cứ ngày nào có thể. Sau 1975, chúng tôi đã sống vội sống vàng, sống cứ như ngày mai trái đất này sẽ vỡ đôi, sẽ sắp sửa biến mất… Có những đêm Thanh Đa cúp điện, sự tối tăm được lập loè sáng bởi những đốm thuốc trên môi bằng hữu. Ngồi nghe TQLộc hát trong những đêm không đèn đóm, mà tâm can ai cũng như lửa như than (Đào Trường Phúc cường điệu goi là “Đêm Lửa”).
“Trông dáng em ngồi Tôi chợt hiểu rằng Chung quanh ta, còn nhiều khốn khó Em cũng như tôi Gắng chờ và ráng đợi Một ngày thật bình yên Bước vào thành phố mới…” [TQLộc]
Sau những ngày lang bạt khắp Saigon, cuối cùng TQLộc đã thuê được một căn nhà sàn. Nơi đây nhiều tuyệt tác của anh đã ra đời, một số cũng được phổ từ thơ của anh A. Khuê. Khởi sắc hơn, anh được một fan hâm mộ, giúp anh có một quán cà phê trong con hẻm đường PhanThanh Giản. Vậy là bạn bè có một chỗ để uống cà phê và vui chơi. Nguyễn Trọng Khôi ôm đàn hát thường xuyên vì TQLộc còn rộn ràng với châm rót cafe cho bằng hữu . Lâu lâu Khánh Trường cũng tới “quậy” cho vui với bạn bè… Nhưng chỉ sau vài tháng TQLộc phải tuyên bố dẹp tiệm vì quán xá bị lỗ vốn nặng nề. Mất nơi tụ họp, bạn bè kéo hết ra Thanh Đa. Thời gian này Nghiêu Đề đang cùng Nguyễn Lâm và Hồ Hữu Thủ vẽ sơn mài cho một Dealer bán tranh ra ngoại quốc. Cuộc sống đã có chút dư giả, tôi đã bỏ đi thói quen phải “thêm nước vô nồi canh” trong những bữa cơm cùng bè bạn. Buổi tiệc “sang trọng” đầu tiên là Noel năm 1980. Anh Nghiêu Đề mua về một con ngỗng. Nhìn thấy nó bự quá chừng mà tôi sợ hãi và lúng túng. Thêm vào đó tôi nấu nướng chẳng ra làm sao, nên chị Thụy Vũ được cầu cứu tới giúp. Chị nấu nó suốt ba tiếng sửa soạn cho buổi trưa nhưng không ai ăn được vì chưa mềm. Tôi tiếp tục bếp núc thêm hai giờ nữa, bây giờ phải gọi là bữa tối. Vậy mà thiên hạ vẫn phải đói meo vì con ngỗng một trăm tuổi này không sao nhai nổi. Đến mười giờ thì nhóm bạn nữa tới, thôi cứ coi như tiệc nửa đêm, đúng nghĩa của Noel. Và sau chín tiếng nấu đi nấu lại với mười tám người chúng tôi, Mr. “Con Ngỗng trăm năm” đã rất ngon miệng… TQLộc nằm trong nhóm bạn đến sau cùng. Có thêm anh, Noel đã được kéo dài cho tới sáng.
“Lạy mẹ tàn phai Mảnh trăng mẹ cài Ru con kỳ diệu Hồn mẹ chia hai…” [TQLộc]
***********
Loay hoay mà giấy tờ ODP của gia đình cũng đã hoàn tất, chúng tôi sẽ rời VN trong sáu tháng tới. Đó là những ngày của 1984. Chia tay sẽ rất buồn, lại còn biết trước tới sáu tháng. Nên trong những lúc quây quần mà đã nghe thấm đẫm nhiều vấn vương. NĐToàn cay đắng: “Nghiêu Đề và tôi ra đi đã mang theo luôn cái “Sân khấu” của bạn bè”.
“…Còn bao giờ nữa tôi về Vui trên sông trăng Đêm hè, những khuya Có ai về Bến sông buồn Nhắn hỏi dùm ta dòng sông vắng Còn nhớ những người đã bỏ đi hay không Trăng ơi, Trăng đi rồi có về không? Cho hồn ta theo với…” [Nhạc NĐToàn 1984] *
Năm 1999 tôi trở lại Saigon Chị Vũ với tôi và TQLộc lang thang cà phê khắp mọi vỉa hè thành phố. Chúng tôi ngậm ngùi nhắc lại những kỷ niệm và sự mất tăm của nhiều gương mặt cũ. Nhớ nhất vẫn là Nghiêu Đề, người vừa mới bỏ cuộc chơi. Tôi thua chi Thuỵ Vũ nhiều tuổi, là một “bạn nhỏ xíu” của chị. Không hiểu sao tôi là người chị chọn để kể hết về những trầm luân lê thê, mãi vẫn chưa hết của đời chị. Qua những lần tôi từ CA về thăm chị ở Lộc Ninh, hay chị lên gặp tôi ở Saigon Lần cuối cùng tôi trở lại VN năm 2018. TQLộc nhiệt tình ra đón tại ngã ba Bà Rịa – Vũng Tàu. Ngôi nhà anh chị ở bên một khu vườn nhiều cây xanh, đẹp và êm đềm. Chút điều không vui vì anh đang đau yếu. Đây là lần duy nhất sau bốn mươi năm bè bạn, tôi và TQLộc không ngồi bên một cây guitar. Lần đầu tiên anh đã không hát khi ngồi với tôi, và cũng sẽ chẳng còn bao giờ nữa… Nhà anh chị đang ở cũng là một Studio thu âm, nhỏ thôi, nhưng cũng vừa vặn để anh xoay sở giúp gia đình. Chợt anh nghĩ ra một ý rất ngộ nghĩnh: Anh muốn thâu vài bài ngày xưa tôi hay hát với bạn bè. Serenade, Sombre Dimanche… Với ý kiến đó, chúng tôi ngồi để “Thâu Lại Ký Ức”
Đọc lại văn mình chắc không khó bằng nghe lại tiếng mình hát. Tôi đã chẳng bao giờ nghe CD Trần Quang Lộc đã thâu và đề tặng. Hôm qua nghe tin anh ra đi, tôi ngồi café ở một quán nhỏ. Nhìn xa tắp là ngọn núi có chút nắng chiều sắp tàn. Tôi đang ngồi nghe tôi hát, kỷ niệm vật vờ, trôi nổi… Serenade. Chút nắng sắp tàn mà sao tôi thấy như tôi đang bị nung nấu cho tan chảy. Hãy tan thành nước lũ, trôi dạt về lại dòng sông xưa nơi chúng tôi đùa vui cùng những mùa trăng cũ… Tôi nghe mình hát mà tưởng như ai đang nói những lời chia xa, những ngậm ngùi cách biệt
“…Dù một ngày đời sẽ vỡ tan rồi Người về cuối chân trời…” (Schubert, Phạm Duy)
CD anh tặng sau ba năm mới trở thành kỷ vật. Buổi chiều cuối cùng chúng tôi ngồi trước hiên nhà. Cũng với một chút nắng, gió lao xao và tiếng Violin vút cao của Sombre Dimanche. Tôi biết mình vẫn cứ lẽo đẽo tìm theo những rêu phong của ngày tháng cũ. Mà cũng chẳng phải riêng mình tôi. Khi anh NĐToàn báo tin về TQLộc, thơ thẩn nhiều điều rồi anh lại nói với tôi một câu cũ kỹ, một thông điệp mà anh đã nhắc đi nhắc lại suốt ba mươi năm “Tưởng tượng những ngày tháng nghiệt ngã đó, chúng ta không có một đám để rong chơi như thế, thì chắc là đã chết hết lâu rồi” Viết một chút về những đẹp ngời của bốn mươi năm dài. Hình ảnh hay nhất mà bạn bè khó quên về TQLộc là dáng anh ngồi nghiêng, có chút gì đó rất cô liêu, ôm đàn hát ra những bất trắc, khốn khó và bi thảm của chính mình.
“… Đêm không trăng Mổ ngực chơi, giữa tuyệt cùng Đau thân thể Thiên đường, thiên đường ơi Mỏi bước chân vui Bóng ta đi lặng lẽ, Trong những đêm dài…” [Thơ Nguyễn Hữu Định, nhạc TQLộc]
vannghe.free.fr Đỗ Hoàng Diệu Post by Sơn râu 29 Dec 2024
Tôi có bàn tay nhỏ nhắn và mềm mại hiếm thấy. Bàn tay không thay đổi theo mùa hay béo gầy cơ thể. Thụ bảo bàn tay tôi không tuổi tác trọng lượng. Hồi hai mươi tuổi, mới ra trường nằm nhà ba tháng, chỉ ăn và ngủ, cơ thể trồi lên những múi thịt, nhưng bàn tay tôi vẫn mảnh dẻ. Thụ hay mân mê bàn tay tôi. Bàn tay thể hiện tâm hồn con người, dù em mập đến mấy ngón tay em vẫn chỉ là cọng cỏ chao lượn dưới gió xuân. Tôi đưa ngón dài nhất mơn quanh môi chồng. Cọng cỏ thường dai, chỉ liềm sắc mới cắt nổi anh biết không? Mắt Thụ cụp xuống tìm câu trả lời. Có khi chỉ một con kiến cũng làm ngọn cỏ tan gãy. Có thể. Tôi chìa bàn tay ra trước nắng, nhìn như nhìn bàn tay một kẻ khác. Giông gió, bão lũ, nắng hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn với năm ngón ngắn dài, làn da mỏng tanh không trọng lượng. Chỉ có tôi hiểu vì sao bàn tay tôi tách rời ra khỏi thể xác mình. Chỉ có tôi hiểu vì sao tôi hay trốn những vách dựng loang loáng một chiếc bóng. Thụ không hiểu. Chính tôi đôi khi cũng thấy mình là lạ. Quê Thụ cách thành phố khoảng ba giờ tàu hoả. Tôi không ngờ đồng quê khác biệt đến thế. Một vùng đất vẫn giữ được nét cổ xưa hiếm hoi thời cuộc. Ngồi trên tàu Thụ dặn dò tôi kỹ lưỡng về những nghi lễ phải làm trong ngày giỗ cha. Chồng tôi mồ côi cha từ năm lên chín. Căn nhà mái ngói vốn là nhà gỗ ba gian được bao tường ẩn náu phía đáy làng. Đằng sau ngôi nhà, phơi mình trong nắng, ruộng ngô đang ra bắp xanh mướt. Kéo dài tầm mắt một chút, ẩn hiện giữa đám ngô, bãi tha ma thênh thang còn giữ nguyên được mồ mả đắp đất cỏ mọc xanh tươi tốt. Lần về trước bận bịu khách khứa tôi đã chẳng có thời gian đẩy đưa con mắt. Thụ bảo lần này phải ở lâu lâu một chút cho mẹ chồng tôi vui. Tôi dạ vâng ngoan ngoãn. Thụ véo mũi tôi: sao trên giường em chẳng ngoan hiền như thế cho anh được yên thân? Tôi lơ đãng trước câu nói đầy hàm ý. Tôi không thể ngoan hiền. Tôi hay chồm lên người Thụ nuốt lấy anh vồ vập. Tôi ưa kéo Thụ lên chà xát. Tôi bắt đôi tay Thụ bóp nắn liên tục. Tôi muốn đã cơn khát thèm từ buổi trưa ấy, một buổi trưa nắng bình thường như bất kỳ một ngày hè nào nhưng với tôi là bỏng rát, là bước ngoặt. Tôi cất giữ bí mật riêng mình. Thụ nào biết. Thụ cứ hay van xin tôi đừng hực lên như hổ cái. Tôi chẳng thể đặng đừng. Anh bị tôi co rút lôi đi. Đôi lúc thấy anh kinh khiếp tôi đành phải dè dặt. Nhưng rồi đến cơn khát tôi vung vấp hết. Mỗi sáng thức giấc trông Thụ thật tội nghiệp. Bàn thờ nhà chồng tôi to dài quá cỡ. Chưa bao giờ tôi nhìn chiếc bàn thờ nào lớn như vậy. Có rất nhiều bát nhang và những bức trướng chữ Tàu. Mẹ chồng tôi nói bâng quơ mà tựa căn dặn: “Nhà ta mỗi năm cúng mười sáu đám giỗ. Sau này anh Thụ cúng tôi nữa là mười bảy, sẽ vất vả đấy.” Tưởng tượng ra viễn cảnh mỗi năm còng lưng làm cơm cúng mười bảy đám giỗ cho đến ngày Thụ qua đời, tôi không khỏi ngao ngán. Khi Thụ quần áo tề chỉnh chắp hai tay trước ngực khấu đầu làm lễ, rèm vải hai bên bàn thờ lay động lươn lướt, màu đỏ nhức nhối trong nhang khói. Nép mình cúi đầu cùng mấy phụ nữ trong góc nhà, tôi cố giỏng tai xem chồng mình đang khấn những gì. Nhưng chỉ là ập è âm thanh xin xít nơi đầu lưỡi. Thụ không nói mà cũng không hát. Tựa tiếng kêu của loài bò sát. Tôi nhướng trí tưởng tượng phong phú của mình xem qua lời khấn của Thụ những ai đang về. Hồi sáng hai vợ chồng ra nghĩa địa dọn dẹp khu mồ mả tôi mới biết tổ tiên nhà Thụ cũng nhiều oan khuất. Mười một ngôi mộ dàn trải xưa cũ trong vùng đất trũng sâu dáng hình thung lũng. Thụ nói sau cơn động đất tự nhiên khu mộ nhà mình thụt xuống thành trũng như vậy và một ngôi mộ thì biến mất. Tôi băn khoăn về chuyện mười sáu đám giỗ sao chỉ mười một mộ phần? Giọng Thụ có vẻ buồn, tay anh đưa liềm cắt cỏ chuẩn xác. “Cô em gái bố do hận tình nên trẫm mình xuống sông sâu năm vừa tròn mười tám không tìm thấy xác. Hai ông cố trẻ làm thầy phù thủy đi khắp nơi cùng chốn rồi không quay trở về, nhà lấy ngày hai ông bỏ đi làm ngày giỗ. Hai ông khác, một liệt sĩ Điện Biên, một liệt sĩ đường 9 Nam Lào, xương hốt về bằng đầu đũa chôn chung một mộ.” Thụ im lặng đột ngột, tiếng liềm xén cỏ mạnh hơn. “Thế còn một ngôi mộ nữa đâu anh?” “Ông nội bị đấu tố hồi cải cách ruộng đất chết thảm trên tổ kiến lửa. Sáng mai bà nội chỉ tìm thấy vài cọng tóc ở nơi cột trói, xác không biết đi đường nào.” Giọng chồng tôi nghèn ngẹn. Tôi thấy lạnh sống lưng. Tưởng như cũ xưa nào vừa lướt qua mình. Bây giờ quỳ trước bàn thờ tôi cũng lạnh sống lưng. Lẫn trong âm hưởng xin xít buồn thảm khấn vái của Thụ một tiếng nhẹ như gió lướt lụa bay trơn lọn. Đã có lần tôi nghe đâu đó rắn là loài vật linh thiêng dẫn dắt người chết về trần. Tôi ngẩng phắt lên thanh đà treo ngang bàn thờ. Thanh gỗ bóng nhẵn không vết bụi, trống rỗng. Cô em chồng cấu mạnh. “Chị cúi đầu xuống đi, anh tôi không dạy chị à?” Khi đầu tôi lại cúi xuống, một cái gì láng nhẫy bay qua. Linh cảm đôi khi chỉ là linh cảm nhiều khi. Và Thụ đứng lên húng hắng báo hiệu. Chồng tôi đã cúng xong. Cỗ được dọn xuống trong tiếng đũa lanh canh lũ trẻ háu đói. Suốt cả bữa ăn trong đầu tôi cứ lảng vảng hình ảnh mười sáu bóng ma tổ tiên theo lời khấn của Thụ trườn về, bay về thế nào. Thảng hoặc lại lành lạnh buôn buốt như gió cũ xưa nào lượt qua mình. Những cây nhang cháy hết cuộn thành vòng đầy ắp bát hương to màu đồng và những bát hương nhỏ màu trắng vẽ long phượng. Ai đó reo vui: “Hương cháy đẹp quá, nhà này năm nay chắc nhiều may mắn.” Mẹ chồng tôi thỏa mãn. “Anh chị Thụ thể nào chẳng sinh một thằng cháu đích tôn nay mai.” Thụ tay cầm cánh gà xoay xuống tôi đỏ mặt. Tôi thừa biết anh nghĩ hổ cái như tôi sẽ nhanh chóng kết nhuỵ sinh hổ nhỏ cho nhà anh nay mai. Đàn bà như tôi có lẽ sinh năm một, anh chẳng từng nói thế. Miệng tôi cười mà lòng trống trải. Ông trẻ mặt xanh men rượu ngoắc cánh tay xuống mâm dưới, tôi để ý đàn ông nhà Thụ tay thường dài chạm gối. Có lần tôi đùa Thụ tay dài như tay vượn, anh sa sầm nét mặt. Em chẳng biết gì cả, những người tay dài thường dòng dõi đế vương, thiên tử. Có lẽ ông tổ anh từng là vua chúa vương giả Trung Hoa gặp nạn nên chạy loạn sang đây. Tôi thấy Thụ thật ngây thơ nhưng không dám nói. Dòng họ nào ở miền bắc này mà không chạy loạn hay đội trên đầu xứ Trung Hoa? “Nhân thể cháu dâu trưởng thắp nén nhang lên bàn thờ khấn xin cha thằng Thụ phù hộ cho sớm sớm được thằng cu. Cha chồng cô mất vào ngày trồng, linh thiêng lắm.” Tôi không biết ngày trồng ông trẻ nói là ngày gì nhưng đoán chắc rất thiêng. Len lén luồn qua mâm trên, kính cẩn lấy ba nén nhang châm lửa cắm lên bát hương đặt cạnh khung ảnh một người đàn ông trung niên có hàm răng hơi nhô với tia nhìn sắc lạnh, tôi khấn lạy ba lần. Vừa thụt lùi vừa liếc trộm khung ảnh cha chồng, ống chân tôi đau tấy lan dần. Một khắc, tôi nghĩ đến ám dấu cơ thể biết báo hiệu trước những chuyện bất thường. Chưa kịp định thần, bỗng dưng mái tóc, thân thể tôi nóng hực và tiếng cô út hét lên: “Bát hương cháy rồi.” Thụ xô ngã tôi, quỳ mọp trước bàn thờ dập đầu lia lịa. Bát hương ngùn ngụt cháy. Tôi hoảng loạn nghĩ thế nào tia lửa cũng lan rộng thiêu cháy bàn thờ, thiêu cháy ngôi nhà, thiêu cháy bãi ngô, đốt rụi mồ mả. Tôi muốn tìm xô xách nước dập lửa nhưng chân tay tôi cứng đơ tựa khúc gỗ, cơn đau nhức oại oằn trí não. Giọng nói đon đả mẹ chồng cất lên như vệt điện chạy dọc sống lưng. “Mời các bác, các ông xơi tiếp. Tôi nghĩ ông nhà tôi hoá bát hương vui mừng đón cháu đích tôn đấy.” Mọi người ồ lên đồng thanh. Nhưng cái liếc xéo của bà về phía tôi lại đầy cay nghiệt. Bát hương cháy tận gốc, tro dầy lên hình thù ngôi mả mới đắp. Tôi biết ngôi mả mới đắp bằng tro nung này sẽ thiêu cháy cuộc đời tôi nay mai. Thụ nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc. Da thịt tôi rần rần kiến bò. Cảm giác ơn ớn, trơn lọn bóng nhẫy. Tám giờ tối bãi ngô ngủ im. Thụ im lặng kéo tôi vào nhà. Sau buổi chiều hoá bát hương tro đắp hình ngôi mộ, Thụ nhìn tôi khang khác. Tôi chỉ cảm nhận khang khác trong một trực giác mơ hồ không bằng chứng. “Anh chị Thụ vào buồng mà ngủ. Trong ấy ban đêm chuột hay thọc mạch, dém màn vào chiếu cho chặt kẻo nó vào giường.” Sống lưng tôi dựng đứng. Viễn cảnh một bầy chuột chui vào giường bò lên thân thể khi tôi đang say giấc chẳng lãng mạn yên bình đồng quê chút nào. Tôi đưa bàn tay thon mảnh của mình ghì chặt Thụ, anh nhăn mặt nhìn tôi, bắt gặp ánh mắt thảng thốt của vợ, anh thẽ thọt nhìn mẹ: “Mẹ cứ ngủ trong buồng với con Thắm để vợ chồng con ngủ ngoài này. Ban đêm gió máy mẹ không nên ngủ trên phản. Với lại con hay dậy đi ra đi vào sợ mẹ mất giấc.” Mẹ chồng tôi loét quét đôi guốc vào buồng. Âm thanh roạc ngắn từng cơn. Con Thắm sang làng bên chưa về. Thụ bỏ tôi đứng trước cửa ra nằm chườn lên tấm phản kê gian ngoài cùng. Trước mặt tôi, bàn thờ chính giữa đã to giờ trương lên kỳ lạ. Hình ảnh nó phình nở trong đầu tôi. Bức màn đỏ lừ loang rộng. Hốt hoảng tôi chạy nhào vào Thụ. Chiếc quạt tai voi Liên Xô không rào rỉ sét ọc ạch quay tiếng một. Người Thụ đẫm mồ hôi. Giọng anh đừng đững. “Em ngủ đi đừng làm ồn, mẹ không nghỉ ngơi được.” Thụ là lạ thế nào. Thường ngày chưa bao giờ Thụ lên giường trước mười hai giờ khuya. Một lần Thụ bị ốm, tôi bắt anh ngủ sớm, anh nói đấy là cực hình. Sao Thụ có thể ngủ vào tám giờ tối hôm nay? Tôi tỏ vẻ quan tâm. “Anh có nóng không, em quay quạt lại chỗ anh nhé?” “Anh nằm phản thấy mát rượi, mấy phút nữa là ngáy, ngủ đi em.” Thụ lại đùa. Từ ngày làm vợ Thụ tôi nào nghe anh ngáy nửa giây? Chiếc áo ba lỗ trắng tinh trên lưng Thụ xoay về tôi vẻ cấm đoán. Tôi cười thầm sự cẩn thận ngăn ngừa của anh. Cửa giả mở toang, bàn thờ linh thiêng ngay cạnh, mẹ chồng có thể đi ra đi vào bất cứ khi nào. Dù thèm chồng đến mấy tôi cũng phải gò mình trong bộ đồ ngủ kín đáo mà hậm hực. Tôi cũng không buồn thắc mắc về việc trái khoáy khi anh nói mát rượi mà người cứ đầm đìa mồ hôi. Thụ giờ khắc này sao quá đỗi xa lạ, không còn là Thụ buổi chiều đổ bóng xuống mình tôi. Anh lặng câm yên vị trong ngôi nhà bao tường cũ kỹ. Còn tôi lại muốn vách tường nhà anh rạn nứt để tôi cùng Thụ trốn ra ngoài. Ba cánh quạt tai voi vẫn ì ạch quay rít. Trước lúc thiếp đi tôi mơ hồ nghe lại cái giọng ngột ngạt, nhừa nhựa ập è xin xít nơi đầu lưỡi lúc Thụ cúng lễ. Rồi tôi rơi vào mê man. Loang loáng bãi ngô im lìm hứng sương không gió nào thãng thột. Trăng khuya phổng đứng chiếu ánh sáng sữa đục. Thoắt một cái, bóng tối ngập oà. Tôi thấy mình bừng tỉnh. Cảm nhận không khí ngột ngạt, hãm bức, chật chội vây quanh. Môi miệng khát cháy, toàn thân căng cứng. Nực nồng, oi bức như sắp đổ cơn giông. Ba cánh quạt tai voi ngừng phắt xê dịch. Không một tiếng gió nhưng tấm màn đỏ che bàn thờ cứ chốc chốc lay động khẽ khàng, chỉ mình nó đang chuyển động đỏ lừ trong thời gian lẫn không gian ngưng bặt. Tôi sợ, tôi muốn quay sang ôm Thụ để anh che chở cho mình. Song tôi không thể nào cử động, màu áo ba lỗ trắng tinh chồng tôi nằm sát ngay cạnh như trêu ngươi mà tôi chẳng thể nào nhúc nhích. Không khí mỗi lúc một ẩm thấp, nực nồng khoá cứng lấy tôi trên mặt phản. Tiếng ho đứt đoạn từ trong căn buồng mẹ chồng lôi tôi khỏi đêm đen. Tứ chi rã rời, đầu váng vất, mồ hôi tôi rịn rạn dính bết. Bộ đồ ngủ tự nhiên mở khuy trễ nải lạ lùng. Tôi nhìn hàng cúc nhàu nát lạ lẫm, giống Thụ vừa vò nát chiếc áo và tôi vừa bận lên mình chưa kịp cài khuy. Cạnh tôi, Thụ vẫn ngủ im bằng bặt, ngoan hiền trẻ thơ, đôi má phụng phịu ninh nính. Tôi đâm nghi hoặc, kín đáo luồn tay xuống dưới. Chất lỏng đẫm ướt sền sệt ngầy ngậy mông đùi, thấm nhầy chiếc quần lót mỏng. Thụ trở mình ú ớ giữa giấc mơ. Tôi hoang mang nhìn chồng, cơ thể anh vẫn đầm đìa mồ hôi. Ngày gặp Thụ tôi không còn con gái. Cơ thể săn chắc mượt mà vun đầy hai mươi rúc lên hồi còi dài khi chiếc bóng của anh đổ ập xuống mình. Một buổi chiều, bóng tôi lọt thỏm giữa bốn vách nhà rông trong khuôn viên Bảo tàng Dân Tộc. Bàn chân ai lào xào sỏi đá sau lưng. Náu lặng tôi giữa hồi còi không ngừng rúc lên thúc bách trong da thịt. Chiếc bóng chồm lên chút nữa. Vách nhà rông nuốt chửng ngực tôi nhoi nhói từng hồi còi riết róng. Tôi chăm chú nhìn chiếc bóng đang hắt thẫm mảng sỏi đến gần, chiếc bóng như tạo ra tiếng động trên sỏi bị đè nghiến. Nghe có vẻ khác thường nhưng tôi tin chiếc bóng có thể đè nghiến được cả thế gian này, riêng gì sỏi đá. Chỉ có tôi mới biết điều ấy. Tôi muốn chạy trốn, khi trước mặt bóng đen lừng lững dịch chuyển. Giọng nói cất lên trước lúc cổ họng tôi bật ra tiếng kêu. “Em bị chói mắt phải không?” Gương mặt người đàn ông phúng phính hiện ra dưới chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ làm yên hoảng hốt trong tôi. Lúc anh đưa tay sửa vành mũ, tôi nhận ra cánh tay anh dài chạm gối. Tôi biết gương mặt này, cánh tay này, giọng nói này sẽ đóng đinh vào giữa vùng khuất lấp của mình. Vách nhà rông oặn ẹo vặn mình nứt khe. Tôi sẽ chui qua khe nứt ấy, tay tôi sẽ dắt anh cùng đi, chỉ cho anh thấy tôi thuộc về anh từ thuở nào. Anh rồi sẽ ngoan ngoãn nhập vào tôi như một gẫy gập định mệnh. Nhập vào tôi -hẫng hụt tôi- ngạc nhiên anh đêm tân hôn sau đó chẳng là bao. Làm sao để Thụ hiểu vì chính tôi cũng chỉ là người mù trong cõi tối tăm? Một cõi không Thụ, không mặt trời, không cả âm thanh giữa buổi trưa kỳ lạ. Tôi khám phá ra những chiếc bóng trên tường không chỉ đơn thuần là những chiếc bóng. Chúng cũng sống động như thân thể tôi khát thèm một vực thẳm. Chúng vờn vượt trên da thịt non tơ hứng háo của tôi. Về sau tôi biết mình đã đánh mất điều quý giá nhất buổi trưa hôm ấy. Chúng đã cướp mất cuộc đời con gái khi vừa chớm đến, khi tôi vừa mới biết xỏ tay thành thạo vào chiếc su chiêng. Chúng cho tôi biết nỗi sợ hãi khôn cùng, sự ngừng đập trái tim. Và cả khát thèm, chờ trông suốt những năm thiếu nữ khi chúng không còn quay lại. Mọi người nói tôi bị bóng đè, chẳng có gì đáng sợ. Tôi không thể ngờ đó chỉ là số phận. Thứ số phận đã đẩy đưa cho tôi gặp Thụ và làm vợ anh vội vàng, giống một linh ứng mà cơ thể tôi đã ám hiệu rúc còi. Sau đám giỗ, chúng tôi đáp tàu trở lên thành phố. Trên đường về, Thụ luồn tay vào vùng ngực hồng hào của vợ xoa xoa bầu vú, miệng lấm lét cười. Tôi rất thích cử chỉ này của Thụ. Cả điệu cười tươi của anh. Dưới quê Thụ không cười với tôi như vậy, lúc nào cũng ra vẻ lạnh lùng. “Vợ tôi thoát nạn nhà quê rồi, tiểu thư thôi không phải nằm phản mồ hôi nhễ nhại như đêm qua. Sướng nhé.” Tôi không sướng, không thoát nạn như Thụ tưởng. Cảm giác như tiếc, như nhớ chiếc phản và bàn thờ với màn đỏ che đậy. Cảm giác lạ lùng mà chính tôi cũng không hiểu. Tôi vẫn không thể nào giải thích được những gì đã xảy ra trên tấm phản. Lẫn lộn tất cả. Nhưng có điều chắc chắn tôi không mơ cũng như Thụ không hề đụng chạm vào người vợ. Ban sáng anh đã giãy lên như đỉa phải vôi khi tôi dọ hỏi. “Về quê có một buổi không được làm hổ cái với anh mà em đã cuồng lên rồi tơ tưởng lung tung. Em thật là..!”. Tôi lại mơn nhẹ ngón tay dịu dàng của mình lên môi chồng. Như thế anh sẽ không còn giận dỗi. Bàn tay tôi thật kỳ diệu. Năm ngón ngắn dài với làn da mỏng tanh, như bàn tay của một người khác, có thể làm mọi việc mà tôi không có khả năng. Giá thân thể tôi cũng không trọng lượng như bàn tay đang xoè ra trước mặt. Giá thân thể tôi không có những đòi hỏi cảm xúc như bàn tay đang giơ lên trước nắng. Nhưng bàn tay ấy, của tôi hay của ai, chẳng thể nào phá tan được sự hoài nghi bí mật. Cảm giác trưa hè ngốt ngát năm nao đang trở lại. Chiếc bàn thờ to dài quá cỡ, tấm phản láng bóng thời gian, thung lũng mười một ngôi mộ, tiếng ho khúng khắng trong căn buồng mẹ chồng có liên quan gì đến nỗi hãi sợ mà kích động hứng háo đang chảy xuyên suốt huyết mạch đàn bà trong tôi? Gương mặt Thụ ngó lơ những cánh đồng. Tôi nhìn Thụ đăm đăm. Mùi đất ràn rạt trên cần cổ anh. Tôi nghiện cái mùi ngai ngái trên ngực Thụ mỗi khi nằm sấp trên mình anh hôn tẩn mẩn đầu lưỡi có vị cỏ đắng. Bất giác tôi lại nghĩ đến cái đầu lưỡi đã phát thứ tiếng động ập è xin xít khi Thụ khấn vái. Trở về thành phố, thân thể Thụ trở lại khô ráo thôi đầm đìa mồ hôi. Mỗi bận Thụ cởi trần, tôi ngắm tấm lưng anh nâu om khô ran tựa một mảnh ngói. Khô đến nỗi giá tôi đặt nụ hôn lên lưng anh khi ấy, đôi môi tôi sẽ bốc hơi khô cháy trong khoảnh khắc. Giống như thân thể Thụ đã trút hết nước ở vùng quê hoặc cái buổi tối Thụ nhễ nhại mồ hôi chưa bao giờ xảy đến. Chồng tôi trở lại làm một người đàn ông ưa nghịch ngợm, hay mân mê bàn tay vợ rồi khen dù mập ốm em vẫn giữ được bàn tay của một thiếu nữ. Tôi sung sướng mỗi khi nghe Thụ khen bàn tay mình không thay đổi. Thi thoảng tôi cũng nghĩ đến cái bàn thờ đỏ quạch và tự hỏi có phải mình nằm mơ? Đôi lúc thắc mắc khiến tôi mất ngủ. Nhiều lúc tôi nhíu mắt trước gương tự hỏi mình là ai và cố tìm một trả lời. Thụ trả lời thay tôi bằng cách bồng ẳm tôi lên giường biến tôi thành hổ cái, đánh thức những rực rào của hai bầu ngực tôi liên tục rúc lên những hồi còi dài. Tôi kẹp cứng Thụ không cho anh xổng thoát về với bãi tha ma. Tôi chỉ giật thót mình sau vung vấp nhận ra bãi tha ma vẫn còn ở đó. Đám giỗ ông nội Thụ sau đấy một tháng. Hai vợ chồng lại thu xếp nhảy tàu lụi hụi về ngôi nhà mái ngói ba gian chất chứa bí mật dòng dõi đế vương. Thụ im lặng suốt quãng đường, mắt trống trải khi tàu vào ga. Tôi nghe tiếng rao bán hàng rong vọng lại thập thòm lẫn tiếng nghiến đường ray. Tâm trạng tôi lẫn lộn. Mơ hồ kinh sợ, mơ hồ mong chờ. Sau cúng lễ, y như lần trước, Thụ đi ngủ sớm. Tôi níu kéo. “Đêm nay anh ôm em ngủ được không? Hôm trước em thấy sợ.” “Em lại tính giở trò gì đây? Trời thiêu lửa mà ôm nhau ngủ?” Giọng Thụ cục cằn, ánh mắt liếc xéo chẳng mấy yêu thương. Tôi trơ hẫng trước thái độ của chồng, ở thành phố Thụ chưa khi nào nói với tôi bằng giọng như vậy. Ngón tay tôi rụt vội. Hình như làn da mỏng tanh bị bỏng. Mẹ chồng tôi không mấy vồn vã. Bỏm bẻm trầu cau, gương mặt tôi tối, bà vấn lại khăn trên đầu, mắt nhìn đâu đâu. Làm như mẹ chồng tôi cố tình thức khuya để canh chừng con dâu. Tôi ngó ngón cái tím bầm của mẹ chồng rồi lại ngó lên bàn thờ, vẫn ngôi mộ bằng tro nung và những tấm hình phủ mặt. Tôi cẩn thận đi tắm trước khi lên phản. Phòng tắm tuềnh toàng được quây chiếu lệ bởi những tàu dừa, dưới ánh trăng non vệt ra hình thù kỳ quái. Lớp trăng non lướt mỏng đến tấm phản soi lờ mờ gương mặt Thụ. Trong bóng tối nhìn gương mặt chồng có nét an bình đủ đầy, tôi bớt sợ. Mẹ chồng tôi đã tắt nến. Cơn buồn ngủ đến thản nhiên, một cách thanh bình tựa như nỗi hãi sợ và thân thể tôi là hai tách biệt không liên hệ. Tôi ríu mắt chìm ỉm vào giấc ngủ. Thức giấc, tôi thấy mình khát cháy cổ họng. Làn môi khét khô căng rạn và mồ hôi lấm tấm trên trán, tôi nghĩ mình bị sốt. Người tôi ơn ởn. Mặt phản ẩm rít. Ngoài sân cửa nhà mở toang và ánh trăng vẫn đang rọi những mảng sáng cuối cùng. Đúng lúc tôi chống tay định nhỏm dậy thì tấm màn đỏ nhúc nhích và tứ chi nặng trĩu. Từ sau tấm màn đỏ, những chiếc bóng bay ra lũ lượt tích tụ thành mảng đen lớn. Trái tim tôi muốn nhảy dựng khỏi lồng ngực, tôi nhắm chặt hai mắt trong kinh sợ tột cùng, nhưng vẫn cảm giác rõ rệt trước mặt khối đen đang lẩn nhẩn về phía mình. Tựa quả đất đang nặng nề đè nghiến tấm phản. Trời ơi, tôi phải gọi Thụ, mảng áo trắng ba lỗ chồng tôi loá rực như con mắt anh mở thao láo trong đen đặc ám mờ. Chỉ cần khẽ nhích cánh tay là tôi có thể đụng vào Thụ nhờ anh cứu giúp. Hình như chồng tôi còn thức, hai tròng trắng ươn ướt trừng trừng. Anh nằm ngửa, hai tay xếp trước bụng ngay ngắn như một xác chết mở mắt. Một thoáng tôi nghĩ chồng tôi đang nhìn lên trần. Một lúc tôi nghe hơi thở Thụ đều đều vung vãi. Làm sao anh lại có thể ngủ ngon đến vậy? Chưa bao giờ tôi ghét cái khuôn mặt phinh phính bình lặng của Thụ như lúc này, anh bỏ mặc tôi đơn độc, nhoài nhã. Khí quyển mỗi phút một nực nồng, rít ẩm, ngột ngạt. Thời gian như bất tận, tôi không dám ngoái lại nhìn mảng đen đã rất gần, chỉ tích tắc nữa sẽ ập xuống mình. Tay chân tê cứng mà lạ thay, hai con ngươi tôi mở to chưa từng thấy, sáng xuyên thủng màn đêm, đến nỗi tôi nhìn được cả những sợi lông mi của chính mình đang vòng cung lên vầng trán căng rát, xót rạn mồ hôi. Dường như Thụ vừa dịch lưng. Anh lăn sát vào tôi hơn, một chút nữa thôi là anh chạm vào người tôi, nhưng Thụ bất động ở ranh giới ma mãnh ấy, bây giờ tôi nhìn rõ hai mắt anh không nhắm tý nào, thậm chí mở to hơn thường ngày. Mảng đen đã thôi uốn lượn trên mền vải, nó thò hẳn vào lùng sục từng bộ phận thân thể tôi. Bàn tay lần rờ trọn đường viền môi, nắn từng chiếc răng xinh xắn, hệt như khi Thụ trườn lên tôi thổi khúc dạo đầu. Đến hai núm vú bàn tay đang lạnh lẽo chợt nóng rẫy. Mỗi ngón thiêu rụi tôi như lửa. Màn đen rẫy rùng khi có tiếng giầy rón rén trên sân gạch và bóng áo cánh khen khét mùi đàn ông hiện ra. Cô út về tới. Bàn tay vẫn lẩn nhẩn nơi êm ái mượt mà làn da bụng con gái. Tôi đinh ninh em chồng mình sẽ nhìn thấy, sẽ tri hô lên và mọi người nhào tới hất mảng đen, chặt bàn tay vô liêm sỉ khỏi người mình. Nhưng Thắm chỉ trân trân ngưỡng cửa nhìn ngắm, hai hàm răng bít chặt, bước những bước ngắn vội vào buồng. Tôi nghe tiếng cười đắc ý sát gần. Bàn tay bắt đầu mạnh bạo hơn gỡ lớp vải kết mồ hôi, bóc tách thuần thục. Mồ hôi tướp ướt đùi non, rãi rà rề xuống mặt phản trơn rít. Rồi khi bàn tay túm trọn lụa nhiễu đen óng, mảng đen bỗng tan loãng hiện rõ hình dáng một con người nghênh ngáo. Tôi hiểu mình phải im lặng, im lặng trong sợ hãi tột tận đời người. Khói đen tan biến hết. Tôi hét lên, tôi thấy mình hét lên một tiếng sập trời khi lờ mờ nhận ra đường nét trên gương mặt đang đè mình. Tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô đanh ác đầy quen thuộc. Chưa kịp định thần, chiếc quần tôi đã bị kéo phăng bằng một động tác như ảo thuật. Mồ hôi rìn rịn bức bối hai đùi, đúng khi tôi cảm được sự cương cứng thúc lên bụng thì cánh cửa buồng mở toang và mẹ chồng tôi hiện ra với chiếc bật lửa. Tôi muốn vùng chạy khỏi nỗi nhục nhã ê chề. Bóng đen vẫn nhịch, từng phân nhịch xuống. Đôi mắt mẹ chồng nhìn vào phản làm tôi hãi hùng hơn tất cả những gì đang chịu đựng. Tia nhìn sòng sọc, hằn học, cay nghiệt bổ tát mỗi phân vuông cơ thể tôi loã lồ. Ánh mắt ấy như muốn thiêu cháy mỗi sợi lông măng hình hài tôi. Cố vùng vẫy, cằn đạp thoát cái nhìn của bà, tôi quên cả bóng đen đang nhinh nhích đã gần kề cửa sông con gái. Bóng tối tan chảy, lửa bùng lên loang khét tấm màn đỏ. Mẹ chồng tôi phẩy lia phẩy lịa nắm nhang khắp bàn thờ như điên dại. Bóng đen rít lên một tiếng man rợ xoẹt ngang lửa nhang. Bụng tôi kéo một vật gì dài cứng thép. Hụt hẫng rơi tòm tôi xuống đâu đâu. Tôi thấy có làn gió thổi mát sợi tóc, những làn gió làm ngả rạp bãi ngô lao xao. Dưới ánh sáng nhập nhoàng bó nhang toả khói, mẹ chồng tôi lê bước chậm chạp về buồng. Và Thụ khịt khịt mũi đạp chân vào đùi trần của vợ. “Sao nửa đêm ai lại thắp nhang thế này?” Lưng Thụ thẳng đứng như bị điện giật khi anh mở mắt. “Em.. em.. em cởi truồng?” Đập mạnh cánh tay xuống phản trong nỗi cứu sinh, tôi choàng tỉnh, biết mình vẫn nguyên vẹn hình hài. Kéo quần lên, tôi quay lưng lại Thụ không giải thích một lời. Giấc ngủ đến ngon tuyệt diệu trong đời. Tôi không biết mắt Thụ hằn lên những tia đỏ dại cuồng. Tôi thức sớm không phải bởi tiếng gà gáy, không bởi ánh nắng chói loá xuyên tấm liếp cứa da cứa thịt. Tôi thức dậy bởi giọng nói mỉa mai kéo dài đu đượi chua đôi môi hóng hớt của Thắm xỉa xuống tấm phản, đầy tiêu ớt cay xé đã làm tôi choàng tỉnh. “Làm dâu thời buổi này kể ra cũng sướng thật.” Lảng ánh mắt của Thắm, tôi thấy mẹ chồng đang ngồi ngoài hè, trông bà nhỏ thó như một đứa trẻ. Bà ngó lơ vườn tược cây cối trong im lặng lâng láo của loài rắn. Im lặng u ám như đêm qua mẹ chồng tôi không thấy con dâu cởi truồng tênh hênh trên mặt phản, đã không phẩy lia lịa bó nhang trước bàn thờ. Dưới bếp Thụ quần đùi bên rổ khoai lang tím. Anh ngừng nhai nhìn tôi không biểu lộ cảm xúc nào. Đôi mắt Thụ vô hồn, tròng mắt anh quạnh quẽ rờn rợn. “Đêm qua anh ngủ có ngon không?” Tôi hỏi gắng gượng. Dường như tôi không hỏi Thụ, nhưng tự vấn chính mình. Tôi không biết chồng mình có nhìn thấy những gì đêm qua trên tấm phản, có nghe tiếng hét mà tôi đã thét lên? Thụ vẫn nhai, khoai lang thì đâu cần nhai nhiều thế, hở Thụ? Miệng anh nhều nhào chất bột chẳng đẹp chút nào. “Em dậy muộn quá đấy.” Thụ không trả lời tôi. Câu nói của anh tôi biết hiểu thế nào. Tôi phải tự trả lời cho nghi hoặc của mình, phải tự mình chèo chống qua vùng lũ xoáy. Nhưng tôi biết hỏi ai, tìm ai bây giờ? Bàn tay thon ơi, bàn tay diệu kỳ ơi, bàn tay có biết không, trả lời tôi đi. Tôi thay áo quần, bỏ ra bộ đồ ẩm rít mồ hôi nhàu nhĩ, quần lót đặc quánh thứ chất nhầy ngà tôi chẳng biết gọi tên. Khi trở lên nhà, mẹ chồng tôi không còn ngồi trước hiên. Cả Thụ và cô Thắm cũng lảng lờ nơi nào. Tôi bỗng thấy mình như được cởi dây trói vô hình. Bàn tay ngón dài sáng nay càng thanh tao lạ lùng. Không xui khiến, nó kéo roạc tấm màn đỏ trước bàn thờ, tựa muốn cho tôi thấy điều gì. Quả thực chưa bao giờ tôi nhìn kỹ bàn thờ tổ tiên nhà Thụ. Bây giờ đập ngay vào mắt tôi là hai huân chương liệt sĩ, một Điện Biên, một đường 9 Nam Lào. Hai tấm ảnh truyền thần dương cặp mắt dài dại song vẫn là tia nhìn lạnh lẽo đầy hãnh tiến. Thụ chưa kể tôi nghe về những tấm huân chương này bao giờ. Sống lưng tôi lại ởn sốt. Những đôi mắt đang chằm chằm hắt tia nhìn sắc lạnh lên thân thể. Đôi mắt liếc xéo của những người đàn ông dòng dõi đế vương chết rồi vẫn đội lên đầu xứ sở Trung Hoa. Tôi quay lưng trước đôi mắt đêm qua đã vờn rượt lên tấm thân nóng ẩm kích động đàn bà của mình. Tôi chạy ra sân, chạy xuyên cánh đồng ngô đã vàng trĩu, bóng nhẫy những quả bắp căng rửng hạt tròn. Gió đượm mùi đất ẩm, mùi khô quánh trộn với nước sông tù hãm miết hơi dần dật vừa vuốt ve vừa sờ soạn chiếc áo cánh thêu cành hoa đỏ đậm vắt ngang hai bầu ngực tôi đang thở gấp. Bên trong chúng chẳng có gì mà vẫn bị kềm hãm. Tôi muốn thân thể tôi được giải phóng, tôi muốn bầu ngực mình núng nẩy tự nhiên reo hát. Chúng đang kêu lớn lên rằng đêm qua trí óc tôi không mơ, chúng đã bị vầy vò, bị liếm láp, bị nát nghiền. Tia nhìn xéo sắc lạnh, hàm răng hơi nhô của những tấm hình trên mộ bia thản nhiên, tráo trơ hãnh tiến một cách bình lặng. Bình thường như tôi đã bị cưỡng hiếp. Nhưng sao tôi không chống cự? Phải chăng tôi đồng loã, phải chăng tôi đã ưỡn người lên chờ đón? Phải chăng vòng quay đã được sắp đặt từ buổi trưa ngốt ngát bất thường tuổi thơ đến buổi chiều Bảo tàng Dân Tộc Thụ đổ bóng xuống đời tôi? Nhưng suốt những năm thiếu nữ tôi đã mong chờ, tôi đã khát cháy, giờ đây nó hiện hình sao tôi hoang mang? Vòng quay số phận cuộc đời tôi không phải vòng quay yêu thương. Tôi là ai, từ đâu đến? Tổ tiên đế vương Trung Hoa tay dài chạm gối nhà Thụ muốn gì? Bãi tha ma thênh thang trước mặt. Gió sớm từ sông rì rào đổ thốc qua quần bò áo cánh đen. Thân xác tôi buôn buốt, nhưng nhức từng cơn, nhưng là sự nhưng nhức kích động, hỏi đòi và đau đớn. Tôi sợ chính mình. Cành hoa thẫm đỏ vắt ngang hai bầu ngực vẫn chỉ chực vểnh lên đĩ thoả. Nó đang mơn trớn, dỗ dành hoang đàng. Thung lũng mồ mả mười một ngôi mộ đẫm rượt sương đêm. Những cọng cỏ chà cứa vào chân tôi hay chân tôi lướt lên chúng mời mọc? Mười một ngôi mộ yên bình, sự yên bình thái quá một u mê. Tôi muốn những ngôi mộ nứt đất chui ra từng bóng ma, từng oan hồn liệt sĩ xéo sắc, tay dài chạm gối. Tôi nghĩ mình sẽ không sợ hãi. Tôi muốn họ trả lời tôi họ muốn gì ở đứa con gái nhiều xúc cảm này và có gan hãy hãm hiếp tôi giữa ban ngày ban mặt. Vẫn chỉ là im lặng. Má tôi nóng hực, miệng tôi lại khát cháy. Giật tung hàng khuy áo, cành hoa đỏ thẫm đứt đôi, tôi xoay vòng quanh mười một ngôi mộ. Vú tôi rứng tràn không khí. Vú tôi là đời sống, là hơi thở, là khí quyển. Mồ mả là quá khứ, là huân chương, là tổ quốc. Tôi chạy giữa bãi tha ma thênh thang hoang dại. Tôi múa điệu múa da thịt tươi tốt, thách thức thần linh, thách thức âm hồn dòng dõi Trung Hoa nhà Thụ. Tôi tung tăng thể xác, đôi bầu vú tự do khiêu khích cho đến lúc bàn tay xa lạ có năm ngón thuôn mềm đưa lên cài lại hàng khuy áo ngay ngắn. Tôi đứng nhìn bàn tay của chính mình như nhìn bàn tay của một kẻ chất phác quả quyết giắt tay tôi lầm lũi trở về. Có phải bàn tay của kẻ nào đó còn dính vào cườm tay tôi đã hiểu không thể nào chống cự nổi chiếc bàn thờ to dài quá cỡ với tấm màn đỏ nhức nhối chất chứa cả một quá khứ phi phàm? Thụ mang ánh nhìn lạnh lẽo trên suốt chuyến tàu xuôi về thành phố. Tôi có cảm giác anh giống một pho tượng ai đặt cạnh mình. Anh náu lặng, làn da chỗ đỏ ửng chỗ nhợt nhạt. Những cánh đồng trơ hoác gốc rạ chạy tăm tắp trong nhập nhoạng hoàng hôn. Tôi không dám nhìn thẳng mặt chồng, chỉ len lén chăm chú lên đôi tay Thụ dường như dài hơn, bất động hơn, khoanh vòng nhiều hơn trước vùng ngực phẳng. Tôi muốn tự mình mân mê bầu vú, để tìm lại cử chỉ âu yếm của chồng. Nhưng tàu cứ tiếp tục rì rì, nhởn nhơ trên con đường dài trơ trẽn. Tôi muốn Thụ hét lên, chửi rủa thành lời những gì đang khoét rỗng đầu anh. Không còn nghi ngờ gì, Thụ đã nhìn thấy cảnh đêm qua, Thụ biết tất cả. Nhưng sao anh không cứu tôi, anh không thiêu cháy bóng đen man rợ bảo vệ vợ mình. Hay Thụ đồng loã, bán tôi cho những bài vị liệt sĩ khát đói? Tôi đâm hận anh vô cùng. Hận lây sang những ngày sau đó khi đã yên ấm nơi thị thành náo nhiệt, khi chiếc bàn thờ bỏ mặc bụi phủ nhà quê. Mà không là giận nữa, một nỗi hoài nghi thường trực ngày đêm. Cuộc sống vợ chồng dần dà ngường ngượng. Thụ vẫn chăm chút tôi nhưng sự chăm chút đượm mùi sầu thảm. Chẳng còn lửa cháy, chẳng còn nồng nàn. Tôi thôi không hực lên hổ cái mỗi đêm trên người Thụ. Tôi không vồ nuốt lấy anh, hối hả rúc mặt vào trong nách anh tìm hương vách nhà rông của buổi trưa nào ở Bảo tàng Dân Tộc. Thụ cũng chẳng mấy mặn mà chuyện ái ân. Bàn tay anh thôi vuốt ve bóp nắn. Tôi cũng thôi cắn đầu lưỡi Thụ có mùi cỏ đắng. Mỗi sáng sớm thức giấc, tôi không còn cảm giác tội nghiệp nào cho Thụ. Và anh cũng không còn véo mũi tôi cảnh cáo đêm qua. Chúng tôi lặng im, không la hét, không dọ hỏi để tìm nguyên nhân, không một giải thích nào. Ngầm hiểu với nhau. Như đã cài trong đầu tôi và Thụ chuyện phải xảy ra để mà chấp nhận. Đời sống bình lặng, trong bình lặng giấu giếm giằng xé với những mẩu đối thoại đều đều như kinh nhật tụng. “Hôm nay anh đi làm mệt lắm không?”… “Em trông mắt anh trũng sâu, đừng gắng sức nữa.”… Nhưng thân thể tôi thì không im lặng. Đêm khuya, khi đèn đường nguội lạnh, cạnh mình Thụ xoay lưng thin thít thì làn da tôi lại hực hội khát thèm. Tôi thấy vú tôi nở ra trong đêm tối, nở lớn như một đoá vạn thọ bất chợt bung cánh, to bằng một cái bát. Thân thể tôi giống một quả mít tố nữ ngậy thơm đợi bổ đôi. Lẫn trong thao thức, tôi nhớ tấm huân chương liệt sĩ Điện Biên lấp lánh, huân chương Đường 9 Nam Lào sáng choang động đậy. Đùi tôi thèm được rát rẫy mồ hôi, bụng thèm cảm giác cứng cáp quệt ngang đâm vào. Tôi biết như thế là tội lỗi, nhưng rồi lại tự nhủ đó là một thứ tội tổ tông mà chẳng ai có quyền chê trách. Tôi biết phải chấp nhận để tồn tại. Tôi yêu Thụ và anh cũng yêu tôi thực lòng. Sống trên đời ai chẳng có nỗi khổ, đâu riêng gì vợ chồng tôi. Nhưng rồi giỗ tổ lại đến và tôi không thể giấu diếm khoác lên mình bộ mặt bình lặng được nữa. Thụ cũng vậy, sau sự việc, đôi má anh hóp sâu chẳng còn phúng phính. Ngày oi nồng khi hai vợ chồng nhìn tờ lịch, thu xếp cặm cụi về quê. Nếu là những lần trước, tôi sẽ liến thoắng hỏi Thụ giỗ ai mà về. Giờ đây như một lẽ thường tình, tôi chẳng cần phải hỏi. Một năm mười sáu đám giỗ, cứ thế mà ngược tàu. Tôi lại mơ hồ kinh sợ, mơ hồ mong chờ, phập phồng theo tiếng nghiến đường ray với bãi tha ma chập chùng. Mọi chuyện vẫn diễn ra như bất kỳ đám giỗ nào nhà Thụ với nhang khói, với âm thanh khấn vái xin xít, ập è nơi đầu lưỡi Thụ. Chỉ khác một điều, lần cúng giỗ này vào buổi trưa. Mẹ chồng tôi bảo các cụ báo mộng cho bà làm như thế. Tất nhiên các cụ đã nói thì phải nghe. Ai nào dám cãi nửa lời. Còn nhớ ngày cưới, mẹ Thụ gọi tôi ra góc riêng, giọng bà nhỏ quá mức mà làm tôi run rẩy. “Chị về làm dâu trưởng nhà này trách nhiệm nặng nề. Lấy chồng theo thói nhà chồng, mọi thứ đều có lễ nghi, trên dưới, cứ thế mà làm. Chị làm khác sẽ rước hoạ vào thân, tôi nói trước.” Hân hoan hạnh phúc tôi quên mất giọng nói sắc ngọt của mẹ chồng hôm ấy. Trưa nay nó vọng rõ mồn một, thấu tim óc đứa con gái đang nuôi những vực thẳm khổng lồ trong mình chẳng khác nền trời không xanh lồng lộng cũng đang nuôi những tảng mây tối sáng lừ đừ. Thụ đi nhanh qua khoảng sân rát nắng, phịch lưng xuống phản nặng nề. “Sáng nay dậy sớm đi tàu mệt quá, nghỉ trưa cho lại sức. Em thần người ra đấy làm gì, nghỉ đi.” Thụ nói với tôi bực bõ. Làm như tôi cản trở gia tộc anh chuyện gì đó, làm như tôi chưa phục tòng khuôn phép gia đình anh đúng mức hay tôi phá đám giỗ nhà này. Tôi băn khoăn thắc mắc vì sao Thụ phải đổi giọng mỗi khi có sự hiện diện của chiếc bàn thờ? Thụ nói với tôi hay xin phép mẹ? Anh không nhìn tôi mà cũng chẳng nhìn mẹ đang ngấp nghé cửa buồng. Anh nhìn tấm màn đỏ bất động đang rang lửa. Bao nhiêu nhang thắp lúc nãy cháy cằn, tàn tro giữ nguyên dựng đứng như hình chĩa ngọn chông, trơ khấc tàn bạo. Thốt nhiên tôi muốn sập màn che giấu. Nhang cháy không cuộn thành vòng, không có điều tốt. Tia liếc xéo từ căn buồng mẹ chồng tôi bùng rát khuôn mặt, tôi ngoái đầu, chỉ là hai cánh cửa khép im lìm. Dạo này mẹ Thụ không còn nhìn thẳng mặt tôi nữa. Những cái liếc xéo lởm chởm nguyền rủa của bà hơn một hôn mê, một thôi miên hoà lẫn tiếng xoong chảo cô út vùng vằng ném đập ngoài giếng dìm xuống nước chìm ỉm trong nhiệt độ tăng cao và chiếc quạt tai voi xoay lấc láo. Tôi ỉm mình trong bỏng rát chật chội, hãm bức mê man. Tôi nói thầm nhà quê là thế ấy, lập đi lập lại cho đến khi giấc ngủ đến, rồi vô cớ thức giấc. Lại khát. Thụ dang rộng tay, một chân gác lên đùi tôi như kềm giữ. Ngạc nhiên chưa! Thụ không có thói quen này. Vừa lúc tôi gượng mình vươn vai thì lặng phắc đất trời. Trong tư thế ưỡn ngửa, tôi trơ cứng bất động. Đám mây nằng nặng trôi qua khoảnh sân làm tối sầm gian nhà, tối sầm bức màn đỏ tôi đã kéo che những nén nhang cháy quằn quại. Sau bức màn đỏ, bóng đen thản nhiên bước ra. Lần này hiện rõ hình hài con người. Tôi không còn sợ hãi mà nghênh mặt ngắm nhìn. Nó mang trong mình dáng hình của một lão già Trung Quốc nào đó đầy quyền uy chập chờn trên cái nền lát gạch tàu. Lão Tàu xa xăm, bí ẩn, vừa đen tối vừa có sức hút lạ kỳ, quyến rũ khác thường, vừa giông giống bố chồng tôi. Tôi chăm chăm theo dõi mà vẫn phân định bên ngoài mây xám đã quệt qua khoảng sân, hắt thứ ánh sáng âm âm xuống lũ cây cối, và chỉ cách vài thước, mặt trời đang hực nắng nhựa đường. Cơn khát gắt gỏng nhức nhối trong cuống họng làm mặt mũi tay chân tôi chìm sâu trong nỗi hoảng loạn của thể xác dù phần trí não vẫn tỉnh táo. Khát mỗi sợi tóc. Khát từng nếp gấp làn da. Khát mỗi đốt xương. Khát từ hàng mày. Khát xuống viền môi. Khát trên đồi cao vươn ưỡn. Khát xuống thảo nguyên dang rộng. Khát như chờ đợi bóng đen nhịch nhịch, đến gần tưới nước. Mồ hôi tướp xót mi mắt. Mồ hôi rịn rạn da thịt đùi non. Nhỏ giọt giọt xuống mặt phản đen bóng. Phản này Thụ nói có từ lâu lắm, dễ đã bảy tám đời ngủ nghê, ăn uống, sinh con đẻ cái và khâm liệm. Tấm phản mang quá khứ của gia đình Thụ, xa xôi, chất chồng. Còn tôi, hiện tại, một đứa con dâu đĩ thoả đang ưỡn ngửa căng rát đón chờ. Bóng đen đã đứng ở khoảng giữa hai chân tôi tách rộng. Từng đường nét trên gương mặt lạnh lùng không hề xa lạ hiện rõ. Sao mà giống Thụ đến thế. Rõ ràng là Thụ. Chân Thụ đã rơi khỏi đùi tôi tự lúc nào giống thả cho tôi tự do đối mặt bóng đè. Anh vẫn nằm nghiêng, quay hai con mắt nửa nhắm nửa mở, như muốn chứng kiến. Lúc đôi tay quờ xuống rà rẫm, tôi biết trước chiếc bóng muốn gì, thứ mà mọi đàn bà trên thế gian khi nằm ngửa đều biết. Tôi dang rộng chân lúc nghe tiếng ho buồng trong dội lại. Tiếng ho càng lớn tôi càng dang rộng chân như muốn thách thức. Chính tôi cũng không hiểu vì sao mình có thể dang chân trong lúc tứ chi bất động, muốn vùng dậy mà không được. Cơ thể tôi không vâng phục trí não nhưng vâng phục thèm khát của cái bàn thờ. Những tiếng ho đứt rời, cằn cộc, tiếp tục cay thét, làm như mẹ chồng tôi muốn biểu lộ ganh ghét với chỗ tôi đang nằm. Hai bàn tay thả xuống mạnh bạo, riết róng, hơi thở dập dồn. Nó luồn sâu bóp từng mạch máu chảy sôi huyết quản con gái đôi mươi. Gương mặt sà sát vùng cổ như muốn hút sức sống tôi căng rứng. Rồi lồng ngực bỏng rát, tôi vỡ vụn. Nó đang banh trái tim tôi ra. Tôi hét, tôi vùng vẫy, tôi van xin, hổn hển, oằn oại rên rỉ. Ông muốn gì ở tôi. Tôi biết phận dâu con, tôi sẽ làm tròn bổn phận. Mỗi năm tôi sẽ làm cơm cúng mười sáu đám giỗ. Tôi sẽ dọn sạch thung lũng mồ mả, sẽ lau bóng nhoáng bàn thờ. Sẽ sinh mười một đứa cháu trai cho ông. Bóng đen tảng lờ. Hai bàn tay bạo lực hung hãn khoét sâu, ngoáy vòng. Tôi điên đảo, đau đớn, nộ cuồng rồi tôi cười gằn thỏa mãn với ý nghĩ mẹ chồng tôi cũng đã nằm trên tấm phản này cũng đã dang chân cho nó ngoáy vòng. Sáng tối lẫn lộn. Tôi nhắm mắt cho trăm đời dòng dõi đế vương quần thảo, cho đến lúc đỉnh đầu nhức buốt, tôi bật nức nở man dại. Tiếng ho buồng trong lúc ấy hộc từng cơn xé phổi. Gần như Thụ bị bắn tung vào góc nhà, tôi có cảm giác thế, đôi mắt anh trừng trừng căm hận. Tiếng càu nhàu của Thụ cắt đứt giấc ngủ tôi mề mệt. “Em thấy tháng sao không mang băng vệ sinh? Con gái mà đoảng quá. Mau dậy thay áo quần, lau chùi tấm phản đi.” Vẫn bàn tay mảnh dẻ đập xuống phản giúp tôi dậy. Tôi nhìn Thụ rười rượi uất ức. Anh mở mắt, anh chứng kiến, anh vờ như không có chuyện gì. Anh cũng không còn để ý chu kỳ của vợ. Tôi chỉ vừa sạch vài ngày làm sao thấy tháng? Vả lại thứ máu loang áo Thụ, thứ máu đen đặc mặt phản, thứ máu quện bệt đùi tôi không phải máu đàn bà mỗi tháng. Mà là máu tươi chảy róc từ vết thương rách toác bị đâm sâu hung bạo. Mọi người bảo tôi bị bóng đè, nhưng bóng đè chỉ là giấc mơ khi đang ngủ, còn tôi rã rời, hai đùi nhớp nháp máu trộn nước con gái. “Em còn ngồi ỳ ra đấy, làm nhanh lên, mẹ dậy bây giờ?” Thụ chưa hết câu thì cửa buồng kẹt mở. Khuôn mặt mẹ chồng tôi đỏ gắt, tay lóc xóc quạt nan. Dừng cái nhìn nơi mảng áo đỏ con trai, nơi mặt phản ướt đen, bà ngẩng đầu bước thẳng đến bàn thờ kéo roạc tấm màn đỏ sang bên, châm lửa đốt nhang. Trưa chuyển về chiều, không ngọn gió nào chạy loạn. Tôi ngồi chết lặng. Vợ anh bị hiếp nhưng Thụ chỉ sợ mẹ dậy. Thụ tốc áo qua đầu ra giếng dội ào ào như muốn dội chất hờn căm trên mình anh hay muốn rửa ráy những dơ bẩn thay cho vợ. Tắm xong, anh trở thành một người khác. Chúng tôi không đủ sức lực, can đảm mang trên mình bộ mặt bình thản thường nhật cố dối lừa bản thân được nữa. Thụ ít nói hẳn đi, gần như là im lặng. Hiếm hoi mới thấy nụ cười của anh, có chăng là trong một vài lần xã giao bắt buộc. Đôi má anh hóp, ngày một sâu hơn. Tôi thường lén nhìn chồng, nhưng Thụ đã vĩnh viễn không còn sờ nắn bàn tay tôi mà khen ốm mập, ngắn dài. Ngôi nhà của chúng tôi ở thành phố giống một am thờ. Đôi khi tôi hận anh. Vì lấy anh tôi mới về căn nhà xưa cũ đó, mới nằm trên tấm phản ấy, mới ra nỗi đoạ đầy bây giờ. Nhưng Thụ không còn nhìn thẳng mặt tôi. Hình như anh không muốn nhìn bất cứ cái gì, không muốn nghe bất cứ điều gì. Có bận, tôi bắt gặp anh ngồi câm điếc trong buồng tắm cả buổi chiều, ánh mắt vô hồn. Tôi thương chồng và thương chính mình. Thụ đau đớn một tôi đau đớn mười. Tôi là đứa hư hỏng. Tôi biết mình bị hãm hiếp trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng, trước mặt chồng, nhưng tôi lại bồn chồn, mong nhớ, thậm chí khát thèm cảm giác ấy. Tôi đạp quẫy, nội chiến, tâm linh héo rũ. Tôi thay rèm cửa màu đỏ, khăn trải giường màu đỏ, bao gối màu đỏ, cố trang trí căn nhà hao hao giống một trang thờ với nhiều tấm màn đỏ. Thụ không phản ứng gì. Đêm này qua đêm khác, khi tấm rèm cửa trong ngôi nhà thành phố bắt đầu phai màu nhức nhối, tôi và Thụ lại ngược tàu về ngôi nhà mang nhiều oan khuất. Trước hôm đi tôi bị lên một chiếc nhọt ở chỗ thật tai hại. Nó nằm gần cái đàn bà ê ẩm, đỏ tấy. Thụ thấy tôi nhăn nhó tỏ vẻ thông cảm, anh bảo tôi nếu đau quá không về cũng được, anh sẽ thưa lại với mẹ. Nhưng tôi đời nào bằng lòng, đời nào để chiếc phản trống trơn mình Thụ đêm dài. Chỗ của tôi là ở đấy. Không hiểu sao tôi thấy mình khoẻ mạnh, háo hức lạ thường. Tôi ngượng ngùng tự thừa nhận với mình nghiện mười sáu đám giỗ, mười một ngôi mộ, tấm phản đen bóng, cả tiếng ho cục thét buồng trong. Tôi phê cảm giác khát cháy, nhào nhoẽ mồ hôi. Chiếc bóng đen đúa làm tôi mê hoặc, xô đẩy tôi trong gầm thét cuộn trào. Thụ đau đáu trước thái độ phấn khích của tôi, dường như anh biết từ trước tôi sẽ phản ứng ra sao. Nhìn mặt anh lạnh lẽo, tôi hiểu. Cẩn thận, Thụ bắt tôi trần truồng dạng chân, chống tay trong phòng tắm, ghé sát cặp kính cận xem xét. Tôi sướng run lên vì cử chỉ thân mật này của chồng. Từ ngày ở quê lên, chưa khi nào anh ân cần đến thế. Tôi thầm cảm ơn chiếc nhọt, biết đâu nhờ nó, tất cả sẽ thay đổi. Ngón tay anh ve vuốt dịu dàng, người tôi mềm nhũn. Nhưng anh dịu dàng lâu quá, dịu dàng tôi không chịu nổi. Tôi muốn anh bóp nát, bục vỡ, tan oà chiếc nhọt. Một lần chồng vợ đã đời để quên hết. Ngón cái của Thụ cứ chờm hỡm trước cánh cửa dang rộng ẩm sâu. Tự nhiên tôi muốn buông một câu chửi thề, chửi thề một lần trong đời. Cánh cửa tự động cài khoá. Sao Thụ không cứ thế mà làm? Cứ thế cắm phập xuống. Cứ thế khoan sâu. Sao cứ chờm hỡm đấy mà dịu với chả dàng? Tôi bật khóc, nghĩ rằng nỗ lực cứu sông, cứu thuyền thế là hết. Nhưng khi đêm xuống trên tấm phản, tôi nằm sấp, cánh cửa lại mở tanh bành. Sông ngập nước. Tỳ ép mắt mũi xuống mặt phản, tôi không ngờ bóng đen nhanh đến vậy. Không rà rẫm xoa xuê, không hít hà rờ ngửi. Vừa kịp hiện ra sau tấm màn đỏ đã thẳng thừng cắm trên cắm dưới vào lòng sông. Lần đầu tiên tôi không khát nước. Gẫy gập, cắt khúc tôi trong cơn xoáy liệt. Bốc cao, phịch hạ, chèn lấp, tọng đầy, thả hút mê man. Thân thể tôi ngầy ngậy, nước tràn miệng. Lần đầu tiên tôi hưởng thú đau đớn mà thoả mãn. Tiếng ho ngừng lặng sau cao trào. Thụ ấm ớ giữa cơn mê lãng nhoẹt nào, trừng trừng mở mắt, bọt mép nhoè môi. Lúc cử động được chân tay tôi thấy mình hẫng nhẹ. Có gì khang khác. Sực nhớ tới mụn nhọt tôi đưa tay xuống dưới. Trời ơi. Xẹp nhép. Khô cong. Không còn mủ vàng, không còn đau tấy. Lao mình ra sân, dưới ánh trăng già tôi gào thét điên dại với hai hàm răng nghiến chặt. Trăng lạnh tanh, vàng võ. Tôi quỵ gục hoàn toàn. Tôi thương tôi và tôi ghét tôi. Tôi đã đồng loã, đã kiễng chân lên rên rỉ rồi sau đấy lại nghĩ mình bị hãm hiếp, lại căm oán bóng đen tổ tiên nhà Thụ. Rồi lại mong chờ, lại hứng háo thèm thuồng. Bóng đen ấy hiểu tôi thích gì, nó tràn lấp dục vọng trong tôi và đẩy Thụ xa cách. Hai bàn tay tôi dưới trăng xanh trắng, bấu chặt, xiết nhau. Tôi hiểu những ám dấu của cơ thể, hiểu mười ngón tay kỳ diệu đang mưu tính điều gì. Bàn tay da mỏng tanh của tôi bắt đầu động đậy. Bàn tay diệu kỳ không trọng lượng và cũng không chấp nhận, không đồng loã, không thoả hiệp mọi chuyện. Nó muốn tôi thoát khỏi mê man. Những ngón dài trắng xanh đầy kiên quyết tỳ ép ngòi bút trên tờ giấy. Nó thúc bách tôi phải ly hôn với Thụ. Bàn tay ký lên trang giấy, nhưng thân thể tôi ù lỳ không nhúc nhích, không muốn cử động mà ngồi yên vít chắc vào mặt phản, nhất quyết không đi đâu. Thân thể tôi đã u mê trong nhang khói bấy lâu, cưỡng lại bàn tay với tất cả sức lực của nhung nhớ những phập mạnh, đâm sâu. Bàn tay mảnh dẻ cầm bút, bất lực với tự do đã nắm được ở đầu ngón tay nhưng bị trọng lượng thân thể buộc trói. Rồi máu không còn nhỏ xuống chân tôi nữa. Cơ thể thoả mãn trong im lặng. Cái thai trong bụng tôi, không phải của Thụ, không của bất kỳ người đàn ông nào cứ lớn dần. Thụ thay đổi, xoay sang vỗ về, chăm sóc vợ từng ly từng tý. Anh thường xoa xoa bụng vợ, thường xuyên nhìn lên vách như anh muốn báo cáo với những chiếc bóng đang canh chừng cẩn mật, tiến trình tăng trưởng của đứa bé. Con tôi sẽ tiếp nối truyền thống Trung Quốc, sẽ tiếp tục thờ cúng bóng tối, sẽ tiếp tục banh dạng trên phản cho các liệt sĩ thoả mãn. Nếu là bé trai, con trai tôi sẽ bảo vệ cái bàn thờ, nếu là bé gái, con gái tôi sẽ tiếp tục hiến dâng cho những tấm huân chương. Tôi đã khinh ghét cái thai, đã tính đến chuyện giết nó đi nhưng ý nghĩ chỉ thoáng qua nhanh như một cơn gió độc làm nổi gai khắp cùng châu thân. Tôi thương giọt máu của mình.Tôi thương đứa bé vô tội cũng bất lực như tôi đã bất lực, đã khép mình làm bổn phận sinh nở, di truyền một quyền lực. Mỗi ngày tôi ra ngồi trước sân, đưa bàn tay nhẹ hẫng ra trước mắt, ngắm xem làn da mỏng tanh đang óng ánh dưới nắng, rồi lấy bàn tay ấy vuốt ve đứa trẻ đang quẫy nhè nhẹ, thấy yêu thương vô hạn hòn máu tôi đang mang trong mình, yêu thương tràn lấp tâm hồn đến chẳng nói thành lời. Không biết có người mẹ nào yêu thương bào thai của cha chồng cấy vào bụng như tôi? Không biết có người mẹ nào yêu thương di sản của tăm tối như tôi? Thi thoảng tôi cũng nhìn lên vách, đoán tìm những chiếc bóng mà tôi biết đang rình rập sau bức tường, đã lao xuống mình tôi cướp mất phần trinh trắng tuổi thơ một buổi trưa hè nào và sẽ còn lao xuống cướp nốt thai nhi tôi đang mang. Thi thoảng tôi nói với những oan hồn chuyên hành nghề bòng đè, tôi đã sẵn sàng và con tôi cũng sẵn sàng, chúng tôi sẵn sàng như những người nghèo sẵn sàng bán máu. Chúng tôi không biết chọn lựa vì cơ thể chúng tôi đòi hỏi những nhục cảm mà bóng tối ban phát. Chúng tôi bất lực, chỉ còn những ước mơ mà không chiếc bóng nào có thể tước đoạt. Tôi đưa tay mình ra sáng. Nắng lung linh trên năm ngón dài ngắn thanh tao lạ thường. Chiến tranh, giông gió, bão lũ, hán hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàn tay vẫn nguyên vẹn. Tôi đinh ninh điều ấy. Con tôi sẽ có bàn tay của mẹ. Một bàn tay không béo gầy, không trọng lượng, chỉ có làn da mỏng tanh nhưng biết níu giữ tự do cho dù bị thân thể buộc trói. Nắng tắt, mà bàn tay vẫn óng ánh diệu kỳ.
baotreonline.com Tim Nguyễn Post on November 17th, 2021
Post by Sơn râu 26 Dec 2024
Ngày Cựu Chiến Binh Veterans Day 11 tháng 11. Xin hãy dành chút thời gian tưởng niệm những chiến sĩ năm xưa đã chiến đấu và hy sinh trên khắp các chiến trường, trong đó có chiến trường Việt Nam và Afghanistan. Mùa này, tuyết đã bắt đầu rơi tại nhiều nơi ở Bắc Âu. Và tuyết cũng đã phủ trắng những cánh đồng ở Flanders, nước Bỉ. Cho dù là thế, nhưng rồi tuyết sẽ tan, và mùa Xuân trở lại. Chẳng bao lâu nữa, hoa poppies đỏ và vàng rực sẽ nở rộ trên những rẻo cỏ ven đường của vùng Dallas này. Cũng như vào những ngày đầu Xuân của năm 1915 trên những cánh đồng Flanders: Trên những cánh đồng của xứ Flanders. hoa poppies nở dập dờn. giữa những mộ bia. từng hàng từng hàng đánh dấu nơi chúng tôi yên nghỉ. và trên bầu trời kia những con sơn ca vẫn dũng cảm cất tiếng hót, và bay qua tiếng hót chìm trong tiếng thét gầm của tiếng chiến trận dưới kia Như vậy đó, những bông hoa poppies nở trên cánh đồng Bắc Âu và trong bài thơ In Flanders Fields của Trung Tá Y Sĩ John McCrae. Ðể rồi từ đó hoa poppies trở thành biểu tượng của lòng tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh trên mọi miền của quả địa cầu. Trong ý nghĩa đó, nước Mỹ kỷ niệm ngày Veterans Day, đúng vào hôm 11 tháng 11. Vào ngày này có những nghi lễ đặc biệt diễn ra tại nghĩa trang Arlington National Cemetery ở Virginia, với hai phút im lặng tưởng niệm rồi đặt vòng hoa trên mồ các tử sĩ của Thế Chiến I, Thế Chiến II và Chiến Tranh Triều Tiên. Mặt khác, trong một buổi lễ ở Washington DC, cũng sẽ có vòng hoa tưởng niệm những chiến sĩ đã hy sinh trong Chiến Tranh Việt Nam.
Cánh đồng hoa poppies – nguồn brainerddispatch.com Như thế đó, như ta đã biết, Ngày Cựu Chiến Binh có xuất xứ từ Ngày Ðình Chiến 11 tháng 11 năm 1918. Ngày ấy, tiếng súng ngừng im trên các chiến trường Châu Âu và lớp lớp những người lính hân hoan trở về đoàn tụ với gia đình. Nâng chén uống mừng ta sống sót / Giữa chừng bất giác lệ tuôn rơi… (thơ Tô Thùy Yên) Vâng, quả thật trong nỗi vui mừng được sống sót trở về còn có những giọt lệ xót thương cho những đồng đội đã ngã xuống. Một trong những người đã chết trên trận địa nước Pháp là Trung Tá Quân Y John McCrae tác giả bài thơ In Flanders Fields trích dẫn trên. Hoặc như người ông của Dough McKay ở Massachusetts đã chết trong những tháng cuối cùng của Thế Chiến I ở nước Pháp. Theo lời Dough, trong những thư từ người ông để lại có bài thơ In Flanders Fields đầy xúc cảm viết về những bông hoa poppies màu đỏ nở rộ một cách bất ngờ trên những cánh đồng ở trận địa Flanders của nước Bỉ. Những bông hoa poppies màu đỏ ấy như một điềm báo tốt lành, rằng chiến tranh rồi sẽ đi qua, bão tố chết chóc rồi sẽ đi qua, để cho hy vọng nở hoa trên mặt đất của con người. Tất nhiên, bài thơ về hoa poppies của Trung Tá John McCrae và bài thơ tìm thấy trong những lá thư người ông của Dough McKay để lại là một. Nhưng không hiểu người ông của Dough có phải là Trung Tá McCrae không, vì cả hai đều được ghi nhận là đã hy sinh ở chiến trường nước Pháp trong Thế Chiến I. Ngày Veterans Day lại trở về. Ðó cũng là ngày Remembrance Day của Gia Nã Ðại và Ngày Armistice Day của Châu Âu. Trên hành tinh của con người, nhiều cuộc chiến tranh đã đi qua – Thế Chiến I rồi Thế Chiến II rồi Chiến Tranh Triều Tiên và Chiến Tranh Việt Nam. Và rồi… Những cuộc chiến tranh dần dịu lửa Người về nghe câu chuyện dòng sông Reo vui ấm nước bên đồng cỏ Uống chén trà thơm. thức đợi trăng (thơ NXT) Nhiều cuộc chiến tranh đã đi qua nhưng những cuộc chiến tranh khác lại bùng ra – như trước đây ở Afghanistan và ở Iraq. Như vậy có nghĩa là lớp lớp chiến sĩ, như sóng trường giang, kế tiếp nhau – hết lớp này đến lớp khác – lao vào chiến trận và dũng cảm hy sinh để cho cuộc sống nói chung được an lành và những giá trị của con người được bảo đảm. Cho nên, cần khẳng định một điều: con người có thể lãng quên nhiều thứ, nhưng không bao giờ được quên xương máu và những hy sinh của các chiến sĩ đã cống hiến cho tổ quốc của mình và nhân loại. Với những người Việt ly hương ở đây, ngày Veterans Day cũng là ngày của chúng ta, những người đã sống trong chiến tranh, đi qua chiến tranh và giờ đây đang nhớ lại những anh em bạn bè đã thất lạc nhau, trên trần gian và dưới lòng đất. Chúng ta sẽ không bao giờ quên. Ðồng thời chúng ta cũng rất tự hào rằng đã có mặt, đã chiến đấu trong cuộc chiến tranh vừa qua trên đất nước mình, cũng như giờ đây con em chúng ta đang chiến đấu trong quân đội Hoa Kỳ ở khắp các chiến trường. Chính vì vậy, ngày Veterans Day là ngày của niềm hãnh diện, biết ơn và lòng tưởng nhớ…
Sau chiến tranh. những người lính trở về. Chúng ta nhớ lại khung cảnh của cuốn phim La Dernière Fois Que J’ai Vu Paris có Van Johnson và Elizabeth Taylor đóng vai chính. Ðó là sau Thế Chiến 2, trên quảng trường của Paris. Dân chúng nô nức kéo nhau ra đường đón những người lính từ các mặt trận trở về. Nụ cười và lệ mừng vui đổ ra trong ngày ấy. Và người ta hôn nhau, bất kể quen lạ. Chính trong khung cảnh đó, một cuộc tình nở ra, giữa một cựu chiến binh Mỹ (nguyên là nhà văn) và người thiếu nữ Paris kiều diễm. Nhưng rồi, như mọi chuyện tốt đẹp giữa đời, kết cục của nó là đổ vỡ. Người thiếu nữ chết và nhà văn cựu chiến binh về Mỹ, để rồi nhiều năm sau trở lại, đứng trên cầu nhớ về Paris ngày giải phóng và cô gái mình đã yêu thời trẻ. Vâng, sau chiến tranh. những người lính trở về. Có khi còn chiến tranh nhưng người lính cũng trở về, vì thương tích hoặc hết hạn kỳ phục vụ. Như người lính tên Mike trong cuốn phim The Deer Hunter (Kẻ Săn Hươu). Mike trở về nhưng không ai nhận ra anh. Hay nói đúng hơn, anh trở về như một kẻ xa lạ. Cái giấc mơ Mỹ ngày nào không thuộc về anh nữa, anh không còn đất đứng trong cái thực tại ấy nữa. Rốt cuộc, anh trở lại “chiến trường xưa” để tìm các bạn của mình, và gặp lại họ ở… cõi âm.
Sau chiến tranh, những người lính trở về. Những người lính của chúng ta, thương thay, như người lính Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, chia tay nhau dưới cơn mưa rừng cao su An Lộc, để rồi trở về “gặm một khối căm hờn” trong căn nhà đèn không thắp sáng. Hay những người lính của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh chiến đấu ở giờ thứ 25, và rồi rã ngũ trở về, một thời gian ngắn sau bị dồn vào trại Cải Tạo. Hay như người lính của Lâm Chương. Sau chiến tranh, đi tù cải tạo về, anh lên rừng trồng bắp trồng lúa, sống cùng vượn khỉ. (Lên Rừng Thăm Bạn) Hoặc giả như Võ Hoàng, bạn thân của Tưởng Năng Tiến, đã từ Mỹ trở về, lao vào một cuộc chiến mới, thầm lặng và cô đơn, rồi chết ở rừng núi Thái Lan. Như tôi như anh, bây giờ ở đây, có khi nhìn hoàng hôn rớm máu ở chân trời mà lòng đau quặn thắt. Ngày Veterans Day xin hãy tưởng nhớ tất cả những chiến sĩ đã hy sinh chiến đấu cho chúng ta ngày hôm nay. TN
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.