San Jose, Làm Lại Từ Đầu Ở Tuổi 50

vvnm.vietbao.com
05/11/2019
Lê Xuân Mỹ

Post by Sơn râu 26 Jan 2025

Tác giả đã nhận Giải Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ 2019. Là con của một sĩ quan tù cải tạo, ông đã góp 3 bài viết xúc động, kể lại việc một mình ra miền Bắc, đạp xe đi tìm cha tại trại tù Vĩnh Phú, vùng biên giới Việt-Hoa


Tháng 6 năm 2000, nhận việc làm tại Kla-Tencor, tôi một mình tôi khăn gói về sống tại San Jose, California. Được mệnh danh là thung lũng điện tử, Silicon Valley là headquarters rất của rất nhiều công ty nỗi tiếng thế giới. Từ, IBM, Google, Apple, Cisco…đến những công ty, hảng xưởng nhỏ hơn. Phải nói là nhiều vô số. Công ăn việc làm nhiều, hot nhất là trong lãnh vực điện tử và máy tính. Lại thêm cái khí hậu ấm áp, người nhập cư nhiều nên giá nhà cao chóng mặt. Gía thuê nhà cũng lên cao ngất ngưởng. Tôi thuê một studio được xây thêm phía sau căn nhà của một người quen. Có cầu tiêu, bếp và lối đi riêng. 700 USD/tháng còn cao hơn giá thuê nguyên một căn nhà 3 phòng ngủ ở Tulsa. Dù sao cũng có chỗ ăn chỗ ở để bắt đầu một cuộc đời mới vào cái tuổi 50.
Không muốn bỏ phí thời gian, không có vợ con bên cạnh, tôi hối hả lao vào công việc. Lần đầu tiên được làm việc trong một công ty lớn tại Mỹ, kỹ thuật hiện đại và mới mẽ, mọi thứ với tôi như trở lại từ điểm khởi đầu. Ôn lại kiến thức đã học, nghiên cứu những bo mạch tân tiến, hoàn thiện vốn liếng tiếng anh…biết bao nhiêu chuyện cần phải làm. Nói là ngày làm việc 8 tiếng, nhưng hầu như ngày nào tôi cũng ở lại công ty đến khuya khi ca làm việc chiều vừa chấm dứt. Nhờ vậy tôi làm quen rất nhanh với môi trường làm việc mới. Cái kiến thức từ những năm tháng đại học, cái thời gian lăn lóc sửa chửa hàng second hand điện tử, khoảng thời gian làm cho các công ty nước ngoài trước khi qua Mỹ đã giúp tôi hội nhập rất nhanh vào công việc. Thật ra công ty càng lớn thì công việc càng dể dàng vì các phần việc được chia nhỏ. Mỗi người chỉ cần thật giỏi trong lãnh vực của mình. Tôi phụ trách phần bo mạch điện tử. Đúng với chuyên môn của một kỹ sư điện tử.
Vào làm rồi mới thấy thằng bạn nói đúng. Xin được việc mới là vấn đề, chứ làm thì không quá khó. Chỉ cần chịu khó học hỏi và siêng năng. Gì chứ cái khoảng cần cù và khéo tay thì người Việt Nam mình là số một. Đã vậy chịu khó cày overtime nên mấy ông xếp rất khoái dân mit làm trong các dây chuyền kỹ thuật lắp ráp và sửa chửa
Hình như cha mẹ đặt tên tôi là Mỹ, nên mọi chuyện từ khi qua Mỹ đều tốt đẹp và may mắn. Tulsa cũng vậy mà San Jose cũng vậy. May mắn lớn nhất khi vào làm việc tại Kla-Tencor chính là được làm việc chung với những người bạn cùng lớp thời đại học. Phải nói là ơn trên đã phù hộ, là ba tôi luôn bênh cạnh đứa con trai đầu. Không thể có một tình cờ nào có thể tốt đẹp hơn khi mà trong bộ phận kỹ thuật của chúng tôi có đến 4 thằng bạn học cùng khoá. Bạn sẽ càng ngạc nhiên hơn khi biết khoá 2 điện tử chúng tôi ra trường 14 đứa, 5 đứa còn kẹt lại quê nhà, trong 9 đứa định cư quê người, hết 4 đứa làm việc cho Kla-Tencor. Đặc biệt hơn là cả 4 đứa cùng làm trong một bộ phận sản xuất. 1 đứa làm thiết kế, một đứa là trưởng dây chuyền sửa mạch, một đứa làm bên hệ thống. Tôi là đứa vào công ty sau cùng, phụ trách những vấn đề liên quan đến mạch điện tử. Toàn phe ta.
Trong công ty tôi, cũng giống như đa số công ty điện tử khác ở Thung Lũng Điện Tử này, có một sự sắp xếp tương tự nhau về nhân sự. Lãnh vực computer đa số toàn dân Ấn Độ, bộ phận thiết kế thường là từ Châu Âu, Trung Hoa, Liên Sô, quản lý thường là Mỹ, riêng ở bộ phận lắp ráp, sửa chửa, chạy máy hầu như toàn người Việt. Tụi tôi hay nói đùa với nhau, nhớ bảo vệ vương quốc của mình, đừng để kẽ địch xâm nhập. Có một Việt Nam nhỏ trong lòng một công ty lớn. Nhờ vậy đở nhớ nhà, đở nhớ quê hương.
Công ty có nhà hàng riêng nhưng nhóm dân tech Vietnam chúng tôi ít khi ăn trưa tại đó. Một phần vì giá mắc, phần vì không hợp khẩu vị. Healthy thì có healthy nhưng cái kiểu ăn gắp từng món như xà lách, thịt gà, bacon, trứng luộc… rồi bỏ vô hộp đem cân tính tiền là không hợp với dân mít tụi tôi rồi. Thế là không hẹn hầu như dân mít tập trung ăn trưa ngay tại phòng ăn của bộ phận sản xuất. Người mì gói, người cơm hộp, người bánh mì…Hâm nóng có microwave, lò nướng. Người hâm cá, kẽ nướng thịt người hâm cơm. Nói thiệt chứ tụi nhân viên nước ngoài ít khi đến phòng ăn của dân tech chúng tôi vào buổi trưa. Nội cái mùi cá kho, thịt kho, đôi khi hoà quyện thêm mùi mắm quê nhà là đủ cho các ông bạn tây mũi lõ chạy dài.
Buổi trưa trong công ty là thời gian vui nhất trong ngày. Như một nước Việt nam thu nhỏ. Đủ mọi thành phần: lắp ráp, kỹ thuật, kỹ sư, thiết kế…. Từ đủ mọi miền đất nước: Nam, Trung, Bắc. Thức ăn đủ mùi đủ vị. Vừa ăn vừa tha hồ bàn chuyện thời sự, chuyện gia đình, chuyện trên trời dưới đất. Ăn xong còn có cà phê, trà nóng. Đứa ra xe, bật máy lạnh ngã lưng, những tay còn ghiền “khói thuốc” rũ nhau ra mấy gốc cây, nhâm nhi vài điếu. Cuối tháng vào tuần lãnh lương, cùng nhau kéo ra nhà hàng tàu ăn trưa. Dĩ nhiên là chia nhau trả tiền theo lối Mỹ, sòng phẳng. Vậy mà vui.
Sau một thời gian làm quen với công việc, tôi quyết định chọn nơi này sẽ là nơi định cư lâu dài.
Thế là đầu hè năm 2001, vợ tôi nghĩ việc, thu xếp nhà cửa, cùng 3 con qua San Jose. Tạm thời, gia đình 5 người cùng ở chung trong căn studio xây thêm đó. Chật chội một tý nhưng xoay xở cũng tạm được. Vợ và con gái ngủ trong phòng riêng, ba cha con chia nhau phòng khách. Cũng phải cùng nhau chịu thương chịu khó, tiết kiệm được một ít tiền rồi mới tính chuyện mua nhà.
Đến đây vào cái thời chồng tách “technician” vợ ly “assembly”, nên kiếm được một việc làm trong ngành kỹ thuật không phải quá khó khăn. Vợ tôi được tuyển vào làm cho hãng 3Com, cũng là một công ty về kỹ thuật lớn. Công việc không khó, biết xử dụng computer để vận hành máy test bo mạch điện tử là được, nhưng rắc rối là làm sao đi đến chỗ làm. Công ty ở xa, vợ tôi lại không dám lái freeway, đi đường trong dài hơn nhưng cũng còn loạng quạng vì không biết đường. Thế là thời gian đầu tôi kiêm nhiệm phần việc lái xe đi trước dẫn đường. Cứ như cho phái đoàn VIP, phải đi lane trong chầm chậm. Kẹt đèn đỏ bà tôi không theo kịp, lại phải tấp vô lề đợi. Phải mất cả tháng mới dám lái xe đi làm một mình.
Nhưng cũng đâu hết khổ, thời đó GPS chưa thịnh hành, mở yahoo in bản đồ chỉ đường đem theo cho khỏi quên. Đến đâu, qụeo trái, quẹo phải nhớ trước. Nhưng đâu có yên cho cái thân già tui, có lần con đường rẽ quen thuộc bị đóng để sửa chửa, thế là phải đi thẳng và…dừng lại vì đường lạ. Lại tạm ngừng công việc chạy ra dẫn đường.
Chuyện lái xe của vợ tôi ở cái thành phố san jose này, nói hoài không hết. Có lần đang đi, bỗng dưng thấy cái đèn báo hết xăng đỏ lên, luýnh quýnh tắp xe vô lề gọi cầu cứu. Tôi bảo, nó báo nhưng em chạy thêm cả 20 miles nửa chưa hết xăng đâu. Vậy mà dứt khoát không dám đi. Có lần không biết đi cái kiểu gì, leo tuốt vào đường ra free way. Thấy xe cộ chạy ào ào, sợ quá tấp vào lề. Báo hại lần đó đang họp với xếp lớn, phải nhờ đến 2 thằng bạn ra đem xe về.
Trong khi việc làm, đi lại được được sắp xếp dần dần vào nề nếp thì chuyện ở lại trở thành một vấn đề lớn.
Mới tạm ổn định được vài tháng, chưa hết mùa hè, chủ nhà thông báo xin tăng tiền nhà. Lý do lúc đầu chỉ một, bây giờ cả gia đình 5 người, điện nước cái gì cũng nhiều hơn. Tôi đồng ý trả thêm nhưng 1200 thì nhiều quá, xin bớt nhưng chủ nhà không chịu. Nói nghe thấy ghét: nếu thấy cao quá thì thôi, cho người khác thuê. Tưởng người quen tình cảm, ai ngờ lại cái kiểu “đồng hương gặp đồng hương, đồng tiền là trên hết”. Chán tình đời, tôi quyết định sẽ dọn đi kịp trước khi hết hè để còn xin trường cho hai cháu nhỏ. Thuê nhà cũng không phải dể. Tìm được căn vừa ý chưa kịp đặt cọc đã có người khác nhảy vô. Có cái như ý muốn thì giá thuê cao quá, có cái giá được được thì nhỏ qua. Có lần tìm được căn nhà 3 phòng vừa ý giá được thì nằm ngay trong khu Mễ, ông hàng xóm là thợ sửa xe, suốt ngày hết nẹt bô đến xã khói, chịu gì nỗi. Đi mòn chân, gần hết hè vẫn chưa tìm được nhà, sốt ruột
Nhưng rồi trời vẫn còn thương, cuối cùng cũng tìm được một căn nhà gần trường trung học Independence. Nhà 4 phòng với giá 1800 một tháng. Với thời giá lúc bây giờ, ai cũng khen rẽ mặc dù tính đi tính lại mất toi gần ½ tháng lương của tôi. Cũng phải cắn răng bấm bụng ký hợp đồng thuê nhà nhưng lòng cứ ấm ức. Cái này ở Tulsa có ma mà thèm ở.
Đúng thật cũng đúng như ông bà mình hay nói, như tiền nào của nấy. Của rẽ là của ôi. Căn nhà đầy gián và nhện, bếp núc củ kỷ. Ổ điện thì sập xệ. Tủ bếp xộc xệch. Căn nhà chuyên để cho thuê nên cửa ngỏ không có cái nào ra hồn. Mới mở miệng than phiền bị chủ nhà phán một câu xanh rờn. Thì nhà tôi như vậy nên mới cho thuê giá đó, ông bà không thuê, có khối người nhảy vào. Đúng là thời của mấy vị chủ nhà giàu. Vậy mà cứ tưởng gặp đồng hương tốt bụng. Lúc xem nhà, cái miệng ngọt như mía lùi: tại thấy ông bà mới qua lại quen với cháu nên lấy rẽ. Đúng là “miệng lưỡi không xương”. Qua sông phải luỵ đò. Không lý mất toi một tháng tiền cọc, thời gian lại cấp bách. Thế là vợ chồng con cái xắn tay, hì hà hì hục clean up, xịt gián diệt chuột. Ông anh tới giúp đóng lại mấy cái cửa tủ, sơn lại vách tường. Thằng bạn cho mượn xe truck, hai chuyến đi về thế là tạm xong việc chuyển nhà.
Trả 1800 cho tiền thuê nhà chưa kể điện nước, bao thứ linh tinh khác kể ra cũng quá căng thẳng, gia đình thu gọn lại ở trong hai phòng ngủ, cho 2 người làm chung công ty share 2 phòng còn lại. Mỗi tháng tiết kiệm cũng được thêm 800. Vậy là ổn. Làm cùng chung cơ quan, nên cũng tiện. Dĩ nhiên có người lạ ở chung cũng có nhiều bất tiện, nhưng để trụ được tại thành phố đắc đỏ này vẫn là ưu tiên số 1.
Những tháng ngày sau đó, mọi chuyện diễn suông sẻ. Chưa bao giờ làm trong lãnh vực kỹ thuật, nhưng vợ tôi cũng đã quen dần với cái cái dây chuyền gắn từng con chip, test từng bo mạch. Đồng lương hai vợ chồng cộng lại cũng chỉ vừa đủ trang trải mọi chi phí của gia đình. Hèn chi mấy thằng bạn nói, lớn thuyền lớn sóng, lương có gấp 3 lần chưa chắc đã có dư như hồi ở thành phố nhà nghèo Tulsa. Suy nghĩ vậy thôi chứ, không mang nợ là OK. Quan trọng là được làm công việc trong ngành nghề mình yêu thích. Bước khởi đầu trên thành phố mới như thế là quá tốt. Bây giờ có biểu về lại, cũng nói không.
Nhưng, lại cái chữ nhưng muôn đời. Mới ở nhà thuê 1 năm, hết hạn hợp đồng, nhà cửa càng ngày càng khan hiếm, chủ nhà đòi tăng tiền thuê. Từ 1800 lên một mạch đến 2400. Năn nĩ lên 2000 thôi, không được. Lại là câu nói của người có tiền. Không thích thì dọn đi cho người khác vào. Hồi đó mình mới qua cũng hiền, chỉ làm hợp đồng qua loa. Cứ nghĩ một cách tình cảm kiểu Việt Nam, đồng hương giúp đở đồng hương đâu có đọc kỹ giấy trắng mực đen ghi rõ chủ nhà có thể lấy lại nhà sau 1 năm.
Thế là lại chạy đôn chạy đáo đi tìm nhà khác. Tìm mãi không ra, định bấm bụng thuê thêm một năm rồi tính sau. Gặp chủ nhà mắc dịch đòi ký hợp đồng 3 năm mới chịu gia hạn. Mua nhà thì lúc đó quá mắc, bán nhà Tulsa đem qua không đủ down payment, đang bí, bỗng nhiên thằng em út cho ý kiến. Hay là mua mobile home. Trả tiền đất nhưng dù sao cũng là nhà của mình. Nó cũng đang ở mobile. Khu tốt, trường học tốt, trả hàng tháng 1000 cộng tiền đất 800. Tổng cộng cũng bằng tiền thuê nhà hiện nay, nhưng khỏi sợ chủ nhà làm khó làm dễ. Nghe cũng có lý, hơn nữa không còn cách nào khác, vậy là mua một căn mobile home củ vùng Sunnyvale giá chưa đến trăm ngàn. Lại dọn nhà lần thứ hai. Bây giờ mới thấm câu hai lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà. Lần đầu chỉ một cái giường queen một sofa. Lần này 3 giường ngủ, sofa, love seat thêm bàn ăn, bàn làm việc, tủ sách… Không biết bao nhiêu là đồ đạc lĩnh ca lĩnh kỉnh. Chỉ mới một năm, đồ đạc không biết từ đâu ra, nhiều quá là nhiều. Cái này đúng là cái bịnh của người Việt mình. Thấy cái gì cũng rẽ cũng tha về. Mới có, củ có, đồ Macys, đồ sale, đồ garage sale. Mạnh ai nấy mua. Vợ mua, con mua, cha mua. Trên đầu tủ, dưới gầm giường. Bình thường nhét đâu đó không thấy, dọn nhà mới lòi ra. Hai chuyến xe Uhaul, thêm 3, 4 chuyến xe truck mượn của thằng em cũng chở chưa hết.
Dọn dẹp cho xong để trả nhà, đem về mobile home chất đại một đống. Mới hết cực nhà củ, qua nhà mới khổ tiếp. Mobile home nhỏ chỉ hai phòng lại không có garage. Chỗ nào chứa cho đủ. Ông anh sửa cái hành lang thành một phòng phía ngoài, dĩ nhiên không có sưởi và máy lạnh, ở tạm cũng được nhưng trước mắt để chứa đồ. May mà mobilehome có cái basement, nơi có cái bánh xe để di chuyển đến để lắp ráp (bởi rứa mới gọi là mobile home), khá rộng. Thế là lại nhét, lại dồn đồ đạc (tiếc của giữ vậy lại vậy thôi chứ chắc là sẽ không bao giờ đem ra sử dụng). Thôi kệ cho yên với bà nhà. Cũng tội cái gì cũng tiếc. Mà không phải chỉ mình vợ tôi đâu nhé, hình như bà nào qua đây cũng y chang. Cả mấy bà Mỹ, bà Mễ cũng vậy. Garage không dùng để xe mà để chứa đồ. Chiếc xe mới cáu cạnh 20-30 ngàn đô để ngoài phơi nắng chơi, trong khi garage thì chứa toàn đồ tạp nham.
Trở lại chuyện nhà. Về ở căn mobile home nhỏ 2 phòng, thế là phải đành lưu luyến chia tay hai ông bạn share phòng. Cũng tiếc cái khoảng tiền 800 đô phụ thêm nhưng đành chịu, không lý cho share cái master bedroom, rồi hai vợ chồng ra hành lang ngủ.
Nhưng, lại chữ nhưng. Mình tuổi con mèo mà sao giống như số con ngựa. Cuộc đời cứ xoay qua xoay lại như chong chóng. Chưa tới hai năm lại thay đổi chổ ở. Vốn là khi mới về Kla-Tencor làm việc, gần công ty có một khu nhà đang xây dựng. Để giúp đở cho những người mới mua nhà lần đầu, builder có để dành bán một số căn townhouse với giá rẽ hơn thị trường để giúp cho người chưa có nhà. Ưu tiên cho những người đang làm việc tại Milpitas, và chỉ cần trả trước 5%. Nghe lời bạn bè tôi cũng nộp đơn nhưng không hy vọng lắm vì chỉ có 2 căn dành cho công ty tôi trong khi số người đủ điều kiện xin mua cả trăm.
Không ngờ tôi là một trong hai người được lá thăm may mắn. Căn nhà 3 phòng mới tinh. Không trả tiền đất nhưng phải trả tiền quản lý HOA, cộng lại vẫn rẽ hơn và tự do không gò bó như ở mobilehome. Không tin cũng phải tin có sự sắp đặt của ơn trên và sự dỏi theo phù hộ của ba tôi.
Thế là năm 2003, một lần nửa tôi lại dọn nhà. Kỳ này rút kinh nghiệm của lần trước, chúng tôi chỉ đem theo những thứ cần dùng. Nhà mới rộng hơn nên cũng đủ chứa các đồ dùng từ nhà cũ. Các vật dụng dưới basement, đã lâu không dùng, đem bán garage sale cũng được cả ngàn bạc mà khỏi phải tốn tiền vận chuyển.
Vừa lo chuyển nhà vừa phải lo chuyển trường cho hai đứa nhỏ. Vất vả nhưng rồi cũng xong. Nhà mới gần công ty nên thuận tiện cho tôi. Đôi khi tôi đi bộ đi làm. Trưa thỉnh thoảng còn chạy về nhà ăn cơm. Căn nhà chưa thật sự là của mình, vẫn còn nợ ngân hàng nhưng dù sao đây vẫn là lần đầu tiên tôi thực hiện được giấc mơ “American dream” trên đất Cali. An cư để lập nghiệp.
Vậy đó rồi thời gian cũng qua mau. Thấm thoát cũng đã 20 năm trên cái thành phố thung lũng này. Các con tôi đều đã tốt nghiệp đại học, có gia đình và có công ăn việc làm lương thiện. Nhà cửa ngày càng đắt đỏ, toàn bộ gia đình chúng tôi vẫn ở chung với nhau trong một căn nhà. Có thể một ngày nào đó sẽ có những đứa tách ra riêng, nhưng cho đến lúc này, 10 người thuộc 4 thế hệ vẫn sống cùng nhau hạnh phúc. Vẫn còn một mẹ già để lo lắng, những đứa cháu để yêu thương và những đứa con để chia sẻ vui buồn. Vẫn còn đó những lo toan của những tháng ngày về hưu, những gập ghềnh trong cuộc đời vẫn sẽ luôn mãi còn, nhưng tôi tin rồi chúng tôi cũng sẽ cùng nhau vượt qua như đã từng vượt qua trong quá khứ.
Khi viết về bài này, tôi muốn chia sẻ với những đứa con và những đứa cháu của tôi về những thăng trầm của cuộc đời tôi. Muốn các cháu hiểu rằng nếu đã trải qua những năm tháng đen tối tại quê nhà thì những khó khan, vất vả tại quê người chỉ là những hạt cát. Để sống lương thiện trong bất kỳ xã hội nào cũng luôn luôn không dễ dàng nhưng nếu để so sánh với cái thời của cha của ông thì con đường của các con, các cháu quá đổi bình yên.
Đã 20 năm trôi qua. Sẽ không ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra cho gia đình tôi nếu ngày đó tôi quyết định ở lại Tulsa. Hạnh phúc hay bất hạnh hơn, vui hay buồn hơn, không thể nào có một câu trả lời chính xác. Nhưng chắc chắn một điều nếu phải bắt đầu trở lại tôi cũng sẽ chọn Silicon Valley này làm nơi khởi nghiệp.

Lê Xuân Mỹ
San Jose tháng 10/2019

Phút Nhìn Lại Mình

vvnm.vietbao.com
04/11/2019
Song Lam

Post by Sơn râu 26 Jan 2025

Tác giả đã nhận giải Danh Dự Viết Về Nước Mỹ 2014. Bà định cư tại Mỹ từ 26 tháng Ba 1992, hiện là cư dân Cherry Hill, New Jersey. Sau đây, thêm một bài viết mới của tác giả.


Nói về mình đã khó rồi, viết về mình lại khó gấp cả chục lần. Người đời thường khắc nghiệt với người khác, nhưng lại rất bao dung với chính mình. Tôi chắc cũng không ngoại lệ.
Chưa biết phải bắt đầu từ đâu để nói về cá nhân mình, tôi đã thấy rung tay trên keyboard. Từ rất lâu, ngạn ngữ Pháp đã từng nói “Cái tôi rất đáng ghét”. Và cũng từ đất nước ngàn đời hoa lệ này, một danh nhân đã nói “Tôi suy nghĩ, vậy có tôi (Je pense, donc je suis)”. Vậy tôi là ai, tại sao lại đến chốn này?
Trong tác phẩm nổi tiếng “Thềm Hoang” của nhà văn Nhật Tiến tôi đã đọc từ thời còn trên ghế nhà trường, nhân vật chính đã thốt lên hai câu làm tan nát hàng triệu trái tim người đọc:
“Ai đưa tôi đến chốn này?
Ban đêm thì tối, ban ngày thì đen!”.
Vì nhân vật này bị mù, nên cuộc đời hoàn toàn đen tối.
Tôi may mắn hơn nhân vật này hàng ngàn lần vì tôi vừa sáng mắt, lại vừa lưu trú ở đất nước văn minh, tự do nhất thế giới này. Nước Mỹ đã giữ gìn, và tạo cơ hội tốt nhất cho gia đình tôi, phút chốc đã gần ba mươi năm.
Vậy thì, tôi xin được bắt đầu từ lúc tôi, và gia đình đặt chân lên đất nước Hoa Kỳ bao dung này. “Đoạn đường chiến binh” trước đó, sau 1975, tôi muốn quên đi dù trong giấc ngủ mơ màng, đôi lúc tôi cũng thoáng chốc miên-man nỗi nhớ.
Bây giờ, tôi đã bước qua tuổi bẩy mươi, mọi thứ ước mơ xin sẵn sàng dừng lại. Tôi là người sung sướng, hạnh phúc hơn hàng triệu người trên thế giới này dù cuộc sống đời thường không giàu có, không địa vị xã hội nào khác. Tôi hơn hẵn người đói rét lầm than, ốm đau bệnh tật ở quê nhà mà. Khi nghĩ đến họ, tôi thấy lòng rưng rưng muốn khóc. Những biệt phủ nguy nga, những buiding chọc trời mọc lên như nấm trong cả nước từ Bắc vào Nam không phải là sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, không phải là đời sống dân mình được nâng cao đâu, mà đó là sự dẫm đạp, xô đuổi, cướp giật từ tay kẻ có quyền thế. Sau lưng những thứ sang cả phù phiếm giả tạo đó là nước mắt, là đói khát, là nỗi cơ cực khốn cùng của dân nghèo thấp cổ, bé miệng. Họ đang sống trong nỗi chết, nơi “bùn lầy, nước đọng”, nơi tận cùng của khổ đau!
Tôi là một phụ nữ ít giống ai, từ khi còn trẻ, rất trẻ. Tôi không có nét e-ấp, dịu dàng, lượt là của người con gái mới lớn. Trái lại, tôi có vẻ ngổ-ngáo, ngang tang mà bây giờ chúng ta gọi là dáng vẻ Tom-boy. Là người Saigon 100%, nhưng tôi không biết nhiều về chốn ăn chơi giải trí cũng như rất giới hạn về sự giao hảo với bạn bè cùng lứa tuổi với mình. Gia đình ba má tôi nghèo đông con, chúng tôi được đi học là may mắn lắm rồi. Được đến trường là bonus của cha mẹ, và việc này cũng là kỳ vọng của họ. Ba tôi là người đàn ông ít học, thủ cựu, nhưng ông có cái nhìn xa về tương lai của bầy con.
Lúc này, khi tôi vừa lớn mười lăm, mười sáu tuổi chiến tranh Nam-Bắc bắt đầu nở rộ với sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ. Người lính viễn chinh mang đến cho Saigon bộ mặt mới, và biết bao gia đình người Việt làm giàu mau chóng nhờ vào những dịch vụ có liên quan với lính Mỹ. Người ta đổ xô tìm việc làm ở P.X (nơi bán hàng hóa cho quân đội Hoa Kỳ), làm tiếp viên quán rượu, làm sở Mỹ..v..v..
Ba tôi nghiêm cấm các chị tôi không được léo hánh đến những chốn đó. Con đường Trịnh Minh Thế Q4 chạy ngang qua Cảng Saigon là nơi tập trung nhiều nhất những Snack Bar, tức quán rượu bán cho Mỹ về đêm. Cứ sáu, bảy giờ tối hai bên con đường lập lòe ánh đèn mầu xanh, đỏ, tím, vàng..nhức mắt, và đông kìn-kịt lính Mỹ, và chiêu đãi viên gái Việt. Vì thế, sau khi miền Nam mất, nạn con lai trùng điệp được mua bán, trao đổi bằng tiền để người giàu có mong có cái ticket đi Mỹ.
Khi rời Saigon theo chồng, mang theo hai đứa con gái sang Mỹ theo diện H.O, tôi bỏ lại sau lưng Saigon tan-tác vì cơm áo gạo tiền, bỏ lại nỗi sợ hãi chưa tan biến hẵn sau gần mười năm lao tù của chồng tôi. Đi. Phải đi. Đi đến một nơi xa lạ, chưa biết cuộc sống thế nào, chỉ có một điều tôi biết rõ đó là sự vượt thoát duy nhất đúng.
Chúng tôi đến New York vào tháng 02/1992 khi đợt tuyết đậm còn in dấu hai bên đường từ phi trường John F. Kennedy về Brooklyn, nhà của người em bạn dì với nhà tôi. Lúc đó những thành phố lớn như New York, Santa Ana, San Diego rất hạn chế nhận người tị nạn như chúng tôi. Nếu không có người bảo trợ (sponsor) chính phủ Mỹ sẽ gửi chúng tôi đến miền xa xôi hẻo lánh hơn, hay những nơi có hội từ thiện của Công giáo, hay Tin Lành..v..v..
Lúc đó, gia đình chúng tôi như mán về rừng, như chim gãy cánh giữa đất trời mênh mông của thành phố triệu ánh đèn đêm New York City. Những tuần lễ đầu thật buồn, ra công viên ngồi ngắm trời đất bơ-vơ, ngóng về nơi xa xôi có gia đình, có anh chị em, có con cháu liu-chiu, lít chít, và nghĩ rằng chắc không bao giờ sẽ trở lại Việt nam.
Như vậy, New York là homeland đầu tiên của chúng tôi ở Mỹ, vì gia đình tôi “lưu lạc giang hồ” nhiều tiểu bang miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Bây giờ trong tâm trí tôi vẫn còn vang vọng tiếng leng-keng của chiếc xe bán kem những chiều hè rực rỡ nắng ấm. Và, không có nỗi nhớ nào cho bằng nỗi nhớ nhà. Các bạn trẻ sẽ nói với tôi rằng nhớ người mình yêu mới tha thiết, day dứt hơn chăng? Tôi thường hay chơi chữ: Người yêu, hay yêu người; người tình, hay tình người, và tôi chọn cách thứ hai.
Bà già hơn bảy mươi tuổi như tôi còn nói chuyện tình yêu trai gái nghe quá kỳ, nhưng why not, tại sao không chứ? Tôi cũng có một tình yêu tuổi trẻ khi tuổi mười tám, hai mươi như bao người, nhưng đôi mắt tôi rộng mở khi đi vào đường tình-ái đó. Tôi coi sự nghiệp, việc học của tôi nặng hơn, vì tôi muốn đền đáp ước muốn của Ba tôi, người nông dân nghèo khổ nuôi con bằng sức lao động vất vả của mình, muốn các con có một tương lai tươi sáng.
Tiếc là Ba tôi đã qua đời ở tuổi sáu mươi ba (1980) khi Saigon còn chông chênh đói khát, và chúng tôi chưa vượt thoát được sự úp chụp khó vùng vẫy của sự nghèo khó, của cơm áo đời thường, của bất công giữa hai làn ranh chính trị bên này, và bên kia.
Cô em út đã nói với tôi:
-Ba đã giúp chúng ta đổi thay giai cấp!
Và rõ ràng là anh em chúng tôi đã là những trí thức Saigon dù sau 1975, bị “bên thắng cuộc” dìm xuống đáy vực.
Bây giờ, lúc cà phê một mình, hay có lúc uống rượu một mình, tôi thấy được chính mình: Dù ba mươi năm qua ở Mỹ, tôi không làm nên vương tướng gì, nhưng ít nhiều cũng giúp con cháu vươn lên bằng chính tình thương yêu đích thực của mình.
Đến Mỹ, tôi bỏ lai Saigon với hai mươi hai năm theo nghề dạy học. Tôi chỉ có niềm vui với học sinh trong năm năm đầu tiên, còn mười bảy năm sau, tôi chỉ là thợ dạy, là cần câu cơm, chịu nhục nhằn để giữ cái hộ khẩu Saigon cho chồng về lại nhà từ trại tù ở biên giới Việt-Trung.
Cuộc hôn nhân của hai chúng tôi mới đó đã có bốn mươi lăm năm vợ chồng do tình cờ mà gặp gỡ. Tôi lại nhớ đến câu ca dao:
“Tình cờ mà gặp nhau đây
Như cá gặp nước, như mây gặp rồng”.
Chúng tôi không có sự hẹn hò chiều thứ Bảy, không cùng nhau xem ciné, và không có cảnh lãng mạn “hái hoa rừng tặng em” như bài nhạc nói về người lính với bạn gái hậu phương.
Đám cưới chộn rộn 12/1974, tháng 4/1975 “sập dù”; tháng Sáu anh chồng nhà binh lính kiểng của tôi phụ trách IBM lại bị cán bộ rừng suy diễn “IBM hay FBI cũng là nó, Mỹ hay viết tắt lắm, thằng này tội rất nặng với nhân dân”.
Và rồi gần mười năm, khập khiểng, rách rưới anh lính kiểng trở về nhà. Sau mười năm chợ trời kiếm sống, chúng tôi rời Việt nam, với bản IOM dán trên ngực áo.
Quí độc giả nghĩ dùm tôi việc này: Qua Mỹ ở tuổi hơn bốn mươi, có bằng Cử nhân Văn chương Việt nam, tôi có thể làm được gì nếu không trở lại Đại học? Tôi tự trách mình suốt gần ba mươi năm qua vì thiếu nghị lực.
Nhà tôi có gần mười năm tù tội ở rừng thiêng nước độc, thêm mười năm dãi dầu mưa nắng chợ trời, anh ta lúc đó sức khỏe suy sụp, bịnh rề rề, có đủ ba cao, một thấp, thêm hai đứa con tuổi còn nhỏ, ai lo cơm áo cho tôi trở lại trường Đại học đây?
Chúng tôi lao ra làm đủ thứ nghề để trả tiền rent, tiền biu bọng..đủ thứ, vì tiền trợ cấp ban đầu (tiền hưởng welfare) cho bốn người chưa tới một ngàn dollar, tiền mướn nhà đứt đuôi sáu trăm dollars/tháng, Sáu trăm dollars tiền mướn nhà có giá trị một cây rưỡi vàng (vàng lúc đó bốn trăm/lượng)
Lưu lạc giang hồ qua nhiều tiểu bang miền Đông Bắc, bây giờ chúng tôi về hưu ở New Jersey, căn nhà single house nhỏ do con gái mua cho để dưỡng già, tôi thấy thuyền sắp ra cửa biển. Nhà tôi đã về hưu, riêng tôi còn vớt vát cái partime-job ở công ty cũ dù về hưu đã năm năm rồi.
Nói về mình bây giờ, thực lòng tôi không còn ước ao gì thêm nữa. Nắng sẽ tắt, và hoàng hôn sẽ về. Tôi sẽ phải cám ơn cuộc đời này đã cho tôi nhiều thứ : các con cháu đã trưởng thành, đã có được American dreams của chúng nó rồi. Đó là niềm ước mơ của các bậc cha mẹ khi đem con đến xứ này, sá gì thân phận mình phải cúi xuống mà đi? Điều tự hào của vợ chồng tôi là con cháu đã tốt nghiệp ở các Đại học danh tiếng ở vùng này như Yale, Harvard, Columbia, và một cháu trai tiếp tục con đường binh nghiệp của cha chú thời trước.
Chúng ta đang ở giữa mùa Thu hoa Cúc. Ở đây gió lạnh mưa nhiều. Có đêm nhiệt độ xuống 45o. Rồi sẽ có 0o, hoặc -5o, -10oF trong mùa Đông gần kề.
Thỉnh thoảng, trong giới bè bạn, bằng hữu trên bảy mươi như chúng tôi, vài người lẳng lặng “đi xa”, tôi chạnh lòng thầm nhủ: “Sắp hàng lên tàu rồi đây”. Các bạn có nhớ bài hát: “Tàu Đêm Năm Cũ” của cố nhạc sĩ Trúc Phương?
“…Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời…”. Chắc tôi phải sửa lời một chút “…thôi tiếc thương chi khi biết người lìa xa cuộc đời…”.
Và đây là chân dung tôi.
Tôi là người phụ nữ “bất tài vô tướng”.
Người đời thường nói “được này mất kia”, tôi mất hết không được gì.
Tôi trách mình nhiều, vì không thể khá hơn, giỏi giang hơn.
Năm mươi năm cuộc đời dâu biển, kể từ khi tôi tuổi hai mươi với bao mộng ước trong lòng, và bốn mươi lăm năm trong hôn nhân chồng vợ với bao nhiêu là sóng gió gập ghềnh; đôi chân rã rời mỏi mệt, có phải chăng bây giờ là khoảng thời gian dừng bước nghỉ ngơi?
Và tôi dừng lại ở đây rồi.
Tôi sẽ buông bỏ hết mọi lo toan, buông bỏ hết cầu danh, cầu lợi. Đâu còn bao nhiêu ngày để anh em, vợ chồng, con cháu có nhau?
Tôi muốn mượn trang viết này để cảm ơn những bàn tay đưa ra cho chúng tôi nắm chặt để bước thêm một bước trong cuộc sống ở Mỹ này. Đó là vợ chồng H.P, vợ chồng H.N ở New York City đã ân cần thương yêu giúp đỡ gia đình “lính kiểng” khi đặt chân tới xứ người.
Tôi cám ơn cuộc đời này đã cho tôi nhiều may mắn hơn các bạn trẻ quanh tôi, dù ai cũng có nỗi niềm. Cô bạn trẻ ở Arkansas đang trở bệnh ung thư xương, một cô khác ở Victorville-CA đang bay sang Thụy Sĩ thăm đứa con thương tật từ nhà tù với cô hơn bốn mươi năm trước. Tôi cũng đang nghĩ về những người bạn lớn tuổi hơn mình đang chống chọi với Stroke ở Rehab, hay ở bệnh viện.
Tôi cầu nguyện cho các bạn – ước mong quí anh, các em vượt qua được phút gian-nguy.

Năm nay, tôi kịp nhận ra mình đã già, đã thật sự già, khó lòng chối cãi. Mùa Đông sẽ đến gần, rất cận kề với tuyết rơi trắng trời, tôi sẽ loạng choạng bước đi. Ánh trăng sau vườn sẽ cô đơn, và lạnh giá hơn bao giờ hết!
Tạ ơn Trời, Phật tôi còn được bữa cơm ngon, còn được giấc ngủ ấm trong khi còn biết bao con người đang đói lạnh ngoài kia. Buông bỏ hết rồi, tôi chỉ giữ lại cho mình sự ân cần cố hữu, và tình yêu thương rộng lớn với gia đình, con cháu, bè bạn xa gần.
Hơn hết, và trên tất cả mọi thứ, tôi chỉ sẽ giữ lại cho mình Tình-Người nồng ấm mà lúc nào cũng thường trực trong tôi.
Song Lam.
Cherry Hill, NJ.
Tháng 10/2019.

Những mục tiêu dễ dàng cho xạ thủ Ukraine

dongsongcu.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on 20/12/2024 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 26 Jan 2025

Các chuyên gia quân sự ước tính có khoảng 10 ngàn binh sĩ Bắc Hàn chiến đấu bên cạnh lính Nga.
Lính Bắc Hàn được ghi nhận tham chiến ở vùng Kursk của Liên Bang Nga mà Ukraine đang chiếm đóng. Đã có hàng trăm binh sĩ Bắc Hàn đã tử trận và bị thương ở Kursk.
Giới quân sự Mỹ nhận định binh sĩ Bắc Hàn bị tẩy não, có huấn luyện chu đáo, và kỷ luật. Tuy nhiên họ vẫn sử dụng chiến thuật cách đây 70 năm, tức là lúc chiến tranh Triều Tiên. Họ dùng chiến thuật biển người khi tấn công vào các vị trí của Ukraine.
Binh sĩ Ukraine cho biết khi giao tranh thì lính Nga phân tán mỏng và bám sát các bờ rừng để ngụy trang và tránh thiệt hại. Nhưng lính Bắc Hàn thì tràn ra đông đảo khỏi khu rừng và xung phong qua cánh đồng trống trải.
Họ đã trở thành những mục tiêu dễ dàng cho xạ thủ Ukraine.
Qua ngày hôm sau binh sĩ Bắc Hàn lại xung phong qua cánh đồng trống trải lần nữa. Và dĩ nhiên bị xạ thủ Ukraine đốn ngã. Binh sĩ Ukraine cho biết lính Bắc Hàn hình như không biết sợ.
Bị tẩy não thì sợ gì nữa!

BÔNG LAU 19.12.2024

Gọi Đơn Vị Thiết Giáp Gần Đó

By Sherman R. Batman, SFC

Dịch giả Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 20 Jan 2025

    Trên căn cứ hành quân tiền phương 2 (FOB-2) trong mùa hè 1968, có câu chuyện vui ai cũng được nghe, tin đồn trưởng toán (1-0), toán phó (1-1) toán biệt kích Illinois lấy trộm một xe tăng của lữ đoàn 10 Thiết Giáp.
    Mùa Hè năm 1968, ở một nơi rất xa trong vùng Đông Nam Á, trên mảnh đất chiến tranh miền nam Việt Nam, một toán biệt kích vừa làm xong nhiệm vụ, trở về căn cứ hành quân tiền phương 2 (FOB-2) trên Kontum. Sáu ngày trong vùng rừng núi trở về, hai quân nhân Hoa Kỳ (trưởng, phó toán biệt kích) được người thông ngôn mời đến nhà ở ngoài phố Kontum ăn cơm.
    Sau khi thuyết trình về chuyến xâm nhập (nhiệm vụ cho trưởng, phó toán) cho ban tham mưu trong đơn vị, tắm rửa, thay bộ quần áo khác, hai người Hoa Kỳ đi ra bãi đậu xe, lấy chiếc xe Jeep để ra phố. Tại bãi đậu xe, họ gặp người biệt kích Nùng đã từng là một biệt kích, đã “giải ngũ” (có thể bị thương...) chào đón, trả lời là không có sẵn xe Jeep cho họ.
    Trưởng toán biệt kích Illinois, trung sĩ nhất Batman, toán phó Mike Tramel chửi thề “Cục cứt!”, rồi tự động lấy chìa khoá xe, lái một chiếc Jeep ra phố Kontum. Khi hai người lái xe ngang qua cầu (Dak Bla, cũng là tên của giòng sông), họ trông thấy một chiến xa M-48 A5 thuộc lữ đoàn 10 Thiết Giáp, đang bố trí phòng thủ, bảo vệ chiếc cầu.
    Đến nhà người thông ngôn, hai người Hoa Kỳ được đón tiếp rât nồng hậu, ăn uống thả dàn. Họ đi ra ngoài cho thoáng sau những cú 100% với mấy người bạn Việt Nam, rồi một xe Jeep của quân đội Hoa Kỳ có hai người trên xe chạy đến chỗ họ đang đứng. Cả Batman lẫn Tramel chưa gặp viên sĩ quan này lần nào.
    Một người bước xuống, đeo cấp bậc trung úy, trong bộ quần áo biệt kích “cọp vằn”, đeo súng M-16, bước lại hỏi “Ai là Batman?”. Batman xác nhận rồi hỏi “Có chuyện gì không?” Viên sĩ quan Hoa Kỳ trả lời “Anh xử dụng xe cộ của quân đội bất hợp pháp”. Hết sức ngạc nhiên, Batman hỏi một câu ngu xuẫn “Tôi... đã làm gì?”. Viên sĩ quan chỉ tay vào chiếc xe Jeep đang đậu bên kia đường “Anh lấy chiếc xe Jeep, đang đậu, không có phép và không ký giấy tờ”. Có lẽ do uống quá độ, Batman vẫn ngớ ngẩn, hỏi thêm “Giấy tờ...?”. Viên sĩ quan trả lời “Đúng, anh đã lấy trộm chiếc xe và tôi sẽ phạt anh”.
    Batman lúc đó nổi nóng, lên tiếng “Chúa Jesuit! Ông rơi xuống từ cành cây nào? Và ông ở điạ ngục nào đến đây?” Viên trung úy “hãnh diện” trả lời “Tôi là sĩ quan quân xa trong căn cứ hành quân tiền phương 2”. Batman nói “Trên căn cứ hành quân tiền phương 2, chúng tôi không có sĩ quan quân xa”. Viên trung úy chậm rãi trả lời “Tôi vừa được trung tá Smith chỉ định ngày hôm qua, và ông bạn đã lấy trộm một chiếc xe... của tôi”.
    Cả hai trưởng, phó toán biệt kích Illinois lúc đó mới rõ, Batman hỏi tiếp “Trung úy. Làm sao tôi có thể lấy trộm được một chiếc xe đã bị ăn cắp?”. Đến phiên viên sĩ quan bối rối “Anh muốn nói gì... chiếc xe đã bị ăn trộm?”.
    Đến lúc này Batman mới mỉm cười “Thưa Trung Úy! nếu chưa ai nói cho ông biết, để tôi nói cho ông nghe. Tất cả xe cộ trong bãi đậu xe ở căn cứ hành quân tiến phương 2 đều là xe ăn trộm của các đơn vị chính quy trong quân đội Hoa Kỳ... Cơ quan MACV-SOG chẳng có mẹ gì cả! Chúng ta đã lấy trộm tất cả những chiếc xe đó!”. “Anh nói chuyện vô lý! Tôi phải bắt giữ, đem anh về trại và làm lệnh phạt”. Batman tỉnh bơ “Tôi nói cho Trung Úy biết. Điều tốt nhất, ông có thể làm, lái một chiếc Jeep, để người binh sĩ Nùng lái chiếc kia, rồi cuốn gói... ra khỏi đây”. Biết đụng “găng tơ” thứ thiệt, viên trung úy cùng người biệt kích Nùng lái hai chiếc xe Jeep về căn cứ, để hai ông biệt kích Hoa Kỳ toán Illinois ở lại phố Kontum.
    Khuya hôm đó, cả hai ông biệt kích toán Illinois đã ngà ngà say mới chịu lội bộ ra về, còn xách theo chai rượu dở dang. Đến đầu cầu Dak Bla, cả hai trông thấy mấy người lính Thiết Giáp, mò lại rủ “bạn hiền” uống tiếp, tha hồ “bốc phét”. Một lúc sau mấy người lính Thiết Giáp mới biết chuyện, chiếc xe Jeep của hai ông biệt kích bị một viên trung úy “thâu hồi”. Họ tỏ vẻ bất bình “Người ta vừa mới trở về... từ cõi chết! Chơi như vậy... ai còn muốn đánh giặc!”. Và họ đồng ý chở giùm hai ông bạn biệt kích về căn cứ (cách đó không xa. Là một con đường thẳng, tôi đã từng đi bộ).
    Viên sĩ quan trung đội trưởng Thiết Giáp nói hai ông biệt kích leo lên chiếc xe Jeep (trinh sát) của họ, để đưa về, nhưng hai ông biệt kích thích “lộn xộn”, nói rằng “Khoan đã. Tôi tưởng anh em đưa chúng tôi về bằng chiếc xe tăng?” Viên sĩ quan Thiết Giáp “Cũng được. Sao không?”. Viên trung sĩ của họ cũng đồng ý. Batman thêm vào “Để cho Tramel lái xe thiết giáp”. Viên trung sĩ chắc cũng đã say, gật đầu vui vẻ.
    Rồi cả bọn leo lên chiến xa M-48, Tramel ngồi ghế tài xế, được ông bạn Thiết Giáp chỉ dẫn lái chiếc xe tăng trên quốc lộ 14 về căn cứ hành quân tiền phương 2. Đến trước cổng, Tramel bẻ cua gắt 90 độ rẽ vào cổng, người binh sĩ Nùng đang canh gác hốt hoảng kéo cổng ra nếu không chiếc xe tăng ủi xập. Tramel lái chiếc chiến xa đến ngay trước cửa phòng vị chỉ huy trưởng, rồi đậu lại.
    Trung tá Smith vừa tắm xong, đúng lúc chiếc chiến xa chạy đến, đậu ngay trước cửa, ông ta quay vào bên trong. Các tay “găng tơ” biệt kích khác bắt đầu bu lại xung quanh chiếc chiến xa M-48 vỗ tay khen ngợi Batman, Tramel “lấy trộm được một xe tăng của lữ đoàn 10 Thiết Giáp”. Lúc đó thiếu tá Smith (không liên hệ với trung tá Smith) chỉ huy phó, ở đâu bước lại nói lớn “Batman, trung tá Smith ra lệnh cho anh đem chiếc xe tăng ra khỏi căn cứ, nếu không ông ta sẽ sơn mầu đen và vẽ bảng số TN”.
    Thấy coi bộ không êm, họ lái chiếc xe tăng ra đậu trên quốc lộ 14, rôi rủ xa đội M-48 vào nhà ăn dùng bữa “cơm nóng”. Mấy ông Thiết Giáp thích quá, cả tuần lễ họ đã phải ăn đồ hộp, rồi tiếp theo họ được mời qua câu lạc bộ tiếp tục uống bia. Trước khi ra về, mấy ông Thiết Giáp còn hứa hẹn sẽ trở lại ngày hôm sau để dậy Tramel lái xe tăng cho nhuyễn.
    Sáng hôm sau, bầu trời thật đẹp, chiếc xe tăng M-48 với xa đội vẫn còn ngất ngư sau chầu bia rượu tối hôm trước đã đến căn cứ hành quân tiền phương 2. Batman và Tramel lại leo vào trong xe thiết giáp. Tramel ngồi vào ghế tài xế lái về hướng nơi đóng quân của đại đội xung kích Hatchet Force, ở đó có khoảng đất trống rộng lớn tha hồ tập lái.
    Con đường đất đỏ đi vào chỗ đóng quân của đại đội xung kích Hatchet Force rất hẹp, đủ rộng cho xe Jeep, chiếc M-48 do tài xế “biệt kích” Tramel lái cán bừa lên ràng rào concertina vào đến khu đất trống, rôi được huấn luyện xử dụng khẩu đại bác 90 ly trên chiến xa.
    Trong khi Tramel đang tập xử dụng tác xạ khẩu đại bác, vị đại đội trưởng, đại đội Hatchet Force ở đâu xuất hiện, chất vấn, các anh định làm gì ở đây... còn chiếc xe tăng kia nữa...? Batman, Tramel vội trả lời, chỉ có bãi bắn này mới trông trúng vào căn cứ đóng quân của lữ đoàn 3, sư đoàn 4 Bộ Binh Hoa Kỳ. Vị sĩ quan trả lời “Điều đó không giải thích được sự có mặt của hai người cùng với chiếc chiến xa”...
    Sau khi đốt cháy một ít tiền đóng thuế của người dân Hoa Kỳ, mấy người bạn Thiết Giáp “dễ thương” đưa chúng tôi trở về căn cứ hành quân tiền phương 2, rồi sau đó... họ cũng bị đổi đi nơi khác...

Dallas, TX.
vđh

Đôi vợ chồng trẻ Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, Ryan Dang và Brianka Dang, cùng cấp bậc, cùng Quân chủng, cùng đơn vị (Hải quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản)

dongsongcu.wordpress.com
Nguyễn Quân
Posted on December 24, 2024

Post by Sơn râu 20 Jan 2024

HQ Đại uý Brianka gắn cấp hiệu Đại uý lên vai áo HQ Đại uý Ryan Dang trên Khu trục hạm USS BENFOLD (DDG 65)
(ảnh của facebook.com/hashtag/usnavyjagcorps)

HQ Đại uý Brianka Dang đảm nhận vai trò Sĩ quan thăng cấp cho HQ Đại uý Ryan Dang chồng cô (ảnh của facebook.com/hashtag/usnavyjagcorps).

Đôi vợ chồng trẻ, Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ gốc Việt, HQ Đại uý* Ryan Dang và HQ Đại uý Brianka Dang** cùng phục vụ tại Nhật Bản. Trong buổi Lễ thăng cấp HQ Đại uý của HQ Trung uý Ryan Dang trên Khu trục hạm USS BENFOLD (DDG 65) ngày 3 tháng 6 năm 2024, HQ Đại uý Brianka Dang đảm nhận vai trò Sĩ quan thăng cấp cho chồng, cô gắn cấp hiệu HQ Đại uý lên vai HQ Đại uý Ryan Dang.

HQ Đại uý Briana Dang được Phó Đề đốc Carl Lahti, Tư lệnh Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản trao tặng huy chương Navy and Marine Corps Achievement medal (ảnh của facebook.com/hashtag/usnavyjagcorps).

HQ Đại uý Briana Dang là Luật sư quân pháp Hải quân (Navy JAG Officer), hiện đang phục vụ tại Bộ chỉ huy dich vụ pháp lý Hải quân, Văn phòng dịch vụ pháp lý khu vực Tây Thái Bình Dương tại Yokosuka, Nhật Bản.

HQ Đại uý Ryan Dang, HQ Đại uý Briana Dang và các Sĩ quan, thuỷ thủ Khu trục hạm USS BENFOLD (DDG 65) tại Quân cảng Yokosuka, Nhật Bản (ảnh của facebook.com/hashtag/usnavyjagcorps).

HQ Đại uý Ryan Dang, Sĩ quan tác chiến hạm đội (Surface Warfare Officers), hiện là Sĩ quan huấn luyện trên Khu trục hạm USS BENFOLD (DDG 65) thuộc Hải dội khu truc ham 15 trú đóng tại Quân cảng Yokosuka, Nhật Bản.

Trường hợp vợ chồng cùng cấp bậc, cùng Quân chủng, cùng đơn vị (Hải quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản) hiếm thấy trong Hải quân Hoa Kỳ!
Chúc Đôi vợ chồng trẻ họ Dặng hạnh phúc và thăng tiến hải nghiệp.

Chú thích: Chú thích: Viết theo tài liệu tham khảo; *HQ Đại uý=Navy Lieutenant; **Dang, họ Đặng.

Đại uý Khoa Phan (gốc Việt), Phi công Phi cơ KC-135 tiếp nhiên liệu trên không, Không Quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com
Nguyễn Quân
Posted on January 16, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 20 Jan 2025

Đại uý Khoa Phan (Ảnh chụp khi còn mang cấp Trung uý của linkedin.com).

Đại uý Khoa Phan là Phi công, Trưởng Phi cơ (Aircraft Commander) KC-135, hiện phục vụ tại Phi đoàn 314 tiếp nhiên liệu trên không (314th Air Refueling Squadron). Khoa Phan gia nhập Không Quân vào tháng 9 năm 2005, và phục vụ Không quân hơn 19 năm qua các nhiệm vụ và đơn vị được ghi nhận sau đây:

-Chuyên viên phục vụ thực phẩm và thể dục 6 năm.
-Trưởng toán, chỉ huy 10 quân nhân và 2 nhân viên dân sự.
-Cơ phi phi hành (Flight Engineer), phi cơ KC-10 tiếp nhiên liệu trên không thuộc Phi đoàn 6/70 tiếp nhiên liệu trên không với 1400 giờ bay, 5 năm.
-Đại uý Khoa Phan tốt nghiệp Đại học Embry-Riddle Aeronautical University năm 2014 với Văn bằng Cử nhân Khoa học và công nghệ hàng không tổng quát.
-Sau thời gian phục vụ mang cấp bậc Hạ sĩ quan, Khoa Phan thụ huấn khoá Sĩ quan và Trường đào tạo Phi công trở thành Sĩ quan Phi công Không quân. Ông gia nhập Phi đoàn 314 tiếp nhiên liệu (314th Air Refueling Squadron) bay loại phi cơ KC-135 thuộc Không đoàn tiếp nhiên liệu 940 (940th Air Refueling Wing) tại căn cứ Không quân Beale Air Force Base, California.

Phi hành đoàn Phi đoàn 314 trước phi cơ KC-135 (ảnh của 314th Air Refueling Squadron).

Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt phục vụ ngành vận tải, ngoài Đại uý Khoa Phan bay loại phi cơ KC-135 tiếp nhiên liệu trên không, còn có một số Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt khác bay các loại phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-135, KC-10 và phi cơ vận tải C-17 Globemaster IIi, C-130J, C-12 Huron được ghi nhận sau đây: Đại tá Van T. Thai đã bay các loại phi cơ KC-135 R/T, C-12 F/J, E- 3 B/C, E-8, T-1A, T-37BKC-135, HH-60; Đại uý John Bui bay loại phi cơ KC-135 tiếp nhiên liệu trên không; Đại uý Luan Truong bay loại phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-10, Đại uý Eric Pham bay loại phi cơ vận tải C-17 Globemaster III; Thiếu tá Allan Pham bay loại phi cơ vận tải C-130J Hercules; Cựu Trung tá Ryan Pham bay loại phi cơ vận tải nhẹ C-12 Huron và một số phi công Không quân gốc Việt bay các loai phi cơ khác chưa tiện cập nhật!

Chú thích: Tài liệu giới hạn, nên không thể ghi nhân thêm; *Họ và tên Viẹt Phan Khoa.

Trong Nước Mắt Có Rất Nhiều Chất Muối!

vietbao.com
Đoàn Xuân Thu
11/06/2019

Post by Sơn râu 19 Jan 2024

Sau 75, dẫu thiên hạ khổ muốn chết, anh dạy giáo của tui cũng phè cánh nhạn như xưa vì miền Tây Lục tỉnh của tụi mình không làm cũng có ăn. Nhưng lần nầy là: ăn chực! Vì sau 30 tháng Tư năm 75, mùa Hè đến sớm, trường đóng cửa hết ráo. Tháng lương cuối cùng chưa kịp lãnh là đã bị giựt mất rồi. Đi hỏi, thì tụi nó bảo kiếm ‘Tông tông’ Thiệu mà đòi.
Anh thầy giáo kể: “Giờ thì làm sao sống? Vậy mà tui vẫn sống nhăn răng ra đó chớ! Bởi con người ai cũng có số mà! Trời không bao giờ hại người ngay (đơ cán cuốc); nhứt là người hiền như tui.
Đói rồi cà lơ phất phơ ở chợ quận đi tới đi lui hoài vì trường học biết bao giờ mới mở lại. Mà mở lại nó có cho tui đi dạy trở lại hay không? Hỏi hổng thằng nào biết hết.
Nhưng có một người biết đó là Tùa Hia (tức anh Hai), tui hay gọi, vì ổng là người Tiều, là Huyện đề cho cái chợ Quận nầy. Nghề làm cái nầy bao giờ cũng ăn nên giàu cất được cái nhà lầu cao 4 tầng, cao nhất ở chợ quận đìu hiu hút gió nầy.
(Ôi nhớ xưa cứ mỗi chiều Thứ Bảy, khoảng 3 giờ là ổng đèo tui từ Kế Sách chạy ra Sóc Trăng trên chiếc Honda SS 67, để nộp ‘phơi’ tức là sổ ghi số tiền của người đánh đề cho ‘Tỉnh Đề’, là mấy xì thẩu ở đường giữa tức đường Hai Bà Trưng.
Trong khi chờ giờ xổ số để biết kết quả, thì hai anh em, mặc dù ổng lớn hơn tui tới 20 tuổi, xề vô mấy cái nhà hàng Tàu muốn ăn cái gì thì ăn mà. Thiệt ăn ké mà cũng như đế vương vậy đó!) Nhưng cái ngày huy hoàng đó chấm dứt đột ngột vào cuối tháng Tư, năm 75
Năm 78, phong trào vượt biên bán chánh thức, mấy xì thẩu ngoài Sóc Trăng đóng tàu vượt biên ầm ầm. Tùa Hia gọi tui vô phòng thì thào: “Mấy xì thẩu ngoài Sóc Trăng tính vọt hết rồi. Ngộ không đi! Phần đã già; ngộ mà đi cái nhà của ngộ cũng đi luôn! Thôi thầy giáo! Nị dắt con ‘Huệ Trân’, con gái của ngộ, cũng là học trò của nị, đi đi! Nếu qua được bên đó, chăm sóc nó dùm ngộ! Con gái ở quê, khờ lắm sợ hổng lại người ta. Nếu có phần số tơ hồng se chỉ với nhau thì nị cưới nó cũng được; dù con gái ngộ không nhan sắc lắm; sợ nị chê!”
Trời ơi! Buồn ngủ gặp chiếu manh! Nên tui gật đầu cái rụp: Bề (tức là Ba, tiếng Tiều) đừng có lo để ‘con’ lo. (Ổng đồng ý gả con gái của ổng cho mình rồi mà cứ Tùa Hia hoài coi sao phải hè?!)
Thuở đó, con gái vượt biên ít, con trai nhiều; dù em không được đẹp lắm nếu cho điểm khoảng 4/10 nhưng cũng có cả đống thằng đeo đuổi. Bậy nà! Công tui dắt em qua đây mà để thằng khác a thần phù nhảy vô ăn cơm hớt sao được!

Ngoài mớ chữ Việt lận lưng; tiếng Anh, tiếng U hay lao động chân tay đều không biết! Thầy cũng dở mà thợ cũng không xong; nên khó kiếm việc làm.
Một lần, tui theo bạn bè đi nhổ cỏ, làm vườn, tỉa hoa lá cành cho nhà người ta. Làm được một tuần, da đen thui, người quắt lại, đôi mắt đẹp buồn thiu xa vắng như khói đốt đồng quê cũ giờ hấp háy như bóng đèn ‘néon’ quá hạn sử dụng.
Em nhìn xót tui quá, không cho đi làm nữa. Em sẽ tính đi bán phở để hai vợ chồng có cơm mà ăn. Nhưng em yêu là Xẩm lai; cùng lắm là biết nấu mì, hủ tiếu hay bò vò viên, còn món phở của người Bắc làm sao em biết?
Em nói cái gì không biết là khó. Biết rồi thì dễ. Không biết thì mình học. Nghề dạy nghề mà. Tin em đi! Hỡi ơi vợ mình mình hổng tin hổng lẽ đi tin vợ thằng hàng xóm hay sao?
Nói là làm. Em đi chợ mua về: đuôi bò, xương ống bò, bắp bò, thịt bò phi lê, bánh phở tươi, hành tây, hành lá, hầm bà lằng đủ cả! Để nấu được món phở ngon trước hết nước dùng sao cho ngọt thanh, trong và thơm. Chần bánh phở qua nước sôi rồi cho vào tô, cho thịt bò phi lê lên bề mặt, chan ngập nước dùng, thêm ít rau hành thái nhuyễn là xong.
Rau quế, ngò gai, giá, tương đen, cà, tương ớt, tiêu, tỏi ngâm giấm, chanh! Phở đựng trong tô bằng sứ; đừng xài tô thủy tinh hay tô nhựa. Chọn tô vừa, tô nhỏ quá, mau nguội, to quá như tô xe lửa nhìn phát ngán. Khi ăn thì dùng đũa tre, bánh phở khi gắp sẽ không bị tuột.
Rồi em thực tập cả tháng Trời. Bắt tui ăn trừ cơm. Nghe tới phở là tui muốn ná thở. Nhưng phần số tui là phần số sướng, thực lộc chi thê mà. Vợ cho ăn gì mình ăn cái nấy chớ không bao giờ nhị tâm như những ông anh mình khác mà đi ăn vụng món khác! Xong em mời mấy á xẩm, bạn ‘ní’ của em đến ăn! Thử coi ý kiến ra sao để thêm cái nầy, bớt cái kia…
Mới đầu thì chỉ một tô phở, ai ăn cũng bỏ mứa. Rồi chỉ tuần sau, dọn ra tô nào là bạn em quất láng chít. Được một tháng, hết một tô, xong còn thiếm xực thêm tô nữa ăn cho nó đã. Còn ‘take away’ xách đem về cho sắp nhỏ!
Em reo lên mừng rỡ, sau khi hôn đánh cái chụt vào cái gò má của tui. “Vợ chồng mình đã thành công vẻ vang trên bước đường nấu phở!”


Em hốt hụi, kêu tui đi mua một chiếc xe van cũ, có nồi niêu soong chảo đàng hoàng để Thứ Bảy hai vợ chồng chạy ra chợ Trời mà bán phở. Cũng đắt; sống phẻ. Nhưng em lại thấy tui thức khuya dậy sớm nên đau lòng em quá. Thương chồng ai nỡ để chồng cực thân. Nên em quyết định là từ rày mình sẽ bán phở ‘take away’ ở nhà. Bán chợ Trời đắt thiệt nhưng tuần chỉ có ngày Thứ Bảy. Bán ở nhà, tuần 7 ngày, ngày nào cũng bán cho thiên hạ làm biếng nấu ăn chạy tới mua đem về.
Nhà mình cũng tiện đường và chỗ đậu xe cũng dễ dàng; mình bán rẻ hơn tiệm là mình sống được hè. Anh đừng có lo cho hao mòn vóc ngọc nhe anh.
Từ đó y như em tính; tui phẻ re chỉ có việc trực điện thoại để nhận ‘ó đờ’ (order).
Phần nấu, rất cực công, em giành lấy về em! Nấu xong em cho phở vào trong 2 hộp, một hộp nước lèo, một hộp bánh phở, thịt, rau … để khách mang về nhà, trút vào tô, hâm nóng rồi ăn! Gọn hơ!
“Hay là mình khuếch trương công việc mần ăn, phở giao tận nhà như giao bánh ‘pizza’ của Ý đi em.” Em bác ngay ý kiến của tui. Anh đi giao phở lỡ gặp thằng khốn nạn nào đó, nó ló dao ra hù dọa để ăn quỵt. Lỡ có bề gì em sống với ai? Nghe mà đứt ruột.

Em muốn sống cùng tui, hủ hỉ cùng tui trong buổi chiều bóng xế mà có được đâu. Cho đến khi em bất ngờ bị đột quỵ; rồi chìm vào hôn mê sâu! Có lẽ vì em ngày nào cũng phải nêm nếm nồi nước súp phở có nhiều mỡ, mà mức ‘cholesterol’ của em lại quá cao?!
Ngồi cạnh giường bịnh, tui lặng lẽ vuốt vuốt bàn tay nhỏ nhắn, chai sạn vì xắt thịt bò và trụng bánh phở của em yêu, mà rưng rưng nước mắt. Một tuần sau, bác sĩ gặp tui và nói ‘’sorry’’! Có lẽ đó là lần đầu tiên tui thấy phần số của đời mình là khổ. Tui khóc! “Ừa, thôi em an tâm đi trước. Vài bữa nữa, anh cũng sẽ đi gặp lại em!”
Từ đó tui không hề ăn Phở nữa. Vì nó nhắc tui tới một kỷ niệm buồn đau! Hôm nay là ngày giỗ của em, tui mới tự tay nấu phở cho anh ăn đó anh. Phở tui nấu, so với em thua xa lơ xa lắc!
“Mà nè! Lâu quá không nấu phở, nên tui chắc hơi lỡ tay, bỏ muối làm nước súp hơi mặn phải không anh?”
Tui trả lời: “Tô phở của tui nước súp vừa ăn lắm. Nhưng tô phở của anh mặn là phải! Vì ai cũng biết trong nước mắt có rất nhiều chất muối!

Đoàn Xuân Thu
Melbourne

Hồi Ký Hậu Chiến Về 30-4-75

03/05/2013
Đào Như

Post by Sơn râu 19 Jan 2025

Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể. Hình trên: tác giả nhận giải “Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất” Viết Về Nước Mỹ 2005, do nữ nghệ sĩ Kiều Chinh trao tặng. Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản. Câu chuyện sau đây thể hiện những ám ảnh từ những hồi ức về 30-4-75. Trong thực tế, theo tác giả, đây là một đoạn trích ra từ Hồi Ký Hậu Chiến của một Bác sĩ Phẫu Thuật, mang tên “Thiên Lý và Vô Tận”.

…Nhìn đồng hồ điện tử treo trên tường chỉ đúng 19 giờ ngày 14-12-1998, thấy vợ còn đang hong tóc, Trọng bảo:

  • Nhanh lên em, đừng để ‘họ’ đợi.
  • Anh còn dám gọi ‘cách mạng’ là ‘họ’ đấy à?

Chị Xuân Tường vừa nói vừa cười, nửa đùa nửa thật với chồng:

  • Anh nhớ, có lần anh nói với em, năm 75, anh bị phê bình vì anh sơ ý, trong một buổi giao ban, anh gọi ‘cách mạng’ là ‘họ’. Bây giờ anh vẫn thấy đó: chế độ vẫn chế độ công an, tai vách mạch rừng.
  • Câu chuyện ấy lâu rồi gần một phần tư thế kỷ. Mà anh chỉ gọi mẹ con Diễm Khánh là “họ”, anh có gọi ai khác đâu.
  • Một phần tư thế kỷ rồi mà họ có xê dịch gì không? Không hiểu trong bửa cơm thiết đãi tối nay, ngoài vợ chồng mình còn có vị ‘quan khách bất ngờ’ nào không? Anh rán giữ gìn ý tứ, thận trọng cho anh, cho vợ, cho hai mẹ con Diễm Khánh …nghe anh.

Qua nhà Diễm Khánh, vợ chồng Trọng chưa kịp gõ cửa, cửa đã mở. Ngọc Tới đứng nép người sang một bên chào vợ chồng anh chị. Chợt nhìn thấy Ngọc Tới, vợ chồng anh ngac nhiên đến độ ngẩn ngơ, khí sắc của Ngọc Tới sụp đổ đến độ dị thường: Tóc rụng xác xơ, răn cái có cái không, ngưởi cô ấy mập và phì ra như phù thủng, da nhợt nhạt, trông như một bịnh nhân trong thời kỳ chịu ảnh hưởng ung-thư-trị-liệu. Chị Xuân Tường tiến đến nắm hai tay của Ngọc Tới, người em bạn dì của chị, chị ruột của Diễm Khánh! Hai chị em ôm nhau khóc. Mặc dầu mẹ vợ anh, về thăm nhà cách đây một tháng, khi trở về Mỹ, bà có nói cho vợ chồng anh hay về sự thay đổi khí sắc của Ngọc Tới. Nhưng Trọng nghĩ đâu thể nào có sự thay đổi đến mức độ tiều tụy như vậy. Anh tin chắc rằng, không có một nguyên nhân ngoại lai nào có thể làm cho Ngọc Tới xuống dốc đến độ như vậy, ngoại trừ sự xâu xé chính nội tâm của Ngọc Tới.
Trọng biết Ngọc Tới và chồng của Ngọc Tới là Dươc cao Năm Hoàng hai tuần sau ngày tiếp quản Cần thơ 1975, tại bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa. Lúc ấy Ngọc Tới là người phụ nữ trí thức, đẹp sang trọng trong hàng ngũ Cách mạng, tại khu 9, Hậu giang. Sau này, Trọng thường nói với Họa sĩ Nguyễn Minh, thân phụ của Ngọc Tới và Diễm Khánh lúc ông còn sinh thời: “Diễm Khánh là Liz Taylor của Mỹ, Ngọc Tới là Trà Giang của Việt nam.” Nhưng Ngọc Tới có suy tư sâu sắc, vào thời khoản ấy, Ngọc Tới đã có một nội tâm dữ dội, chuyển hóa không ngừng.

Bước vào nhà trong, Ngọc Tới đến ôm vai anh và nói sát vào tai anh:

  • Em về hưu non lâu rồi anh!
  • Dì Hai về Mỹ, có nói cho tôi biết điều đó.
  • Em cũng tự ý xin ra khỏi Đảng rồi anh.
  • Ngọc Tới nói sao? Vậy là khỏe rồi khỏi phải bận bịu đi họp sinh hoạt nữa.
  • Đi họp làm gì? Em tự ý rút. Cách đây sáu tháng, người ta có yêu cầu em trở lại Đảng, và bằng giấy trắng mực đen người ta có cho em biết rõ, nếu những ai về hưu mà còn giữ Đảng tịch thì được miễn đi họp sinh hoạt Đảng. Nhưng em không! Dứt khoát, không trở lại Đảng.

Câu chuyện giữa Ngọc Tới và Trọng làm không khí có vẻ căng, Trọng bèn chỉ vào bàn ăn và nói lớn:

  • Mấy con cua lột sao mà to thế! Không hiểu quí vị nấu nướng chúng với kỹ thuật tân kỳ như thế nào mà trông chúng đẹp lạ thường, như chúng đang mặc áo giác vàng. Anh châm bẩm nhìn vào đĩa tôm luột đặt ở giữa bàn bốc hơi. Những con tôm to mập no tròn căng cứng màu hồng trông thật là mọng. Bên cạnh là những đĩa muối tiêu, những đĩa tương ớt màu nâu, vàng, đỏ, những miếng chanh xanh cắt sẳn chờ đợi và những tép tỏi Phanrang thơm nồng. Tất cả hương sắc và bụng đói tạo cho anh háo hức thèm ăn lạ thường.

Hiểu được anh, chị Xuân Tường bảo:

  • Nhìn kìa, tên Việt kiều ở Mỹ về đói ăn trông mà thảm hại.

Cả nhà ai cũng cười. Ngọc Tới bảo:

  • Ở nước ngòai về ai cũng đói ăn cả, nhưng họ chỉ đói ăn những món đặc sản của quê hương. Anh Trọng, anh nhìn vào đầu bàn bên kia mà anh sẽ ngồi vào, bên gốc tay phải của anh có tô “cá rô kho tộ”. Món Cua lột, tôm luột là của mẹ con Diễm Khánh làm; còn món “cá rô kho tộ” là chính tay em làm.
  • Thật đấy anh Trọng, Diễm Khánh bảo, món “cá rô kho tộ” là món do chị Ngọc Tới làm từ trưa đến giờ đặc biệt dành cho anh đó.

Trọng đến sờ vào siêu “cá rô kho tộ” còn ấm nóng. Anh đưa siêu “cá rô kho tộ” lên tận mũi để thưởng thức hương vị quê hương miền Nam! Anh nhớ ơn Ngọc Tới vô hạn! Chợt anh thấy trên đĩa dưới đáy siêu một mảnh giấy nhỏ. Anh cầm lên đọc. Đó là bài thơ đưọc chép tay lại, nét chữ của Ngọc Tới. Đọc bài thơ, hốt nhiên anh nhận ra đó là bài thơ của anh, viết cách đây gần hai mươi năm.

Hôm ấy, ngày 2 tháng Tư, năm 79, vợ chồng Trọng có mời vợ chồng Ngọc Tới đi ăn ở cái quán ăn “xập xệ” ở bến Ninh kiều, chợ Cần thơ. Tuy nhìn là “xập xệ” như vậy, vì Cách mạng vào ai cũng muốn tỏ ra mình là biết giác ngộ bằng cách “xập xệ”; thật sự quán này là quán ăn nổi danh, có nhiều món đặc biệt của Hậu giang. Trước 75, anh và bạn bè của anh, các bác sĩ ở Cần thơ, gọi quán này là “Danh Trấn Giang Hồ Miền Tây”. Khi vào quán, anh chị có nói với vợ chồng Ngọc Tới ở đây có nhiều món ngon và lạ, quí vị cứ gọi cho bằng thích. Vợ chồng Ngọc Tới, và chi Xuân Tường gọi đủ thứ có cả cháo rắn hổ, cà ri rùa-cua-đinh…Riêng anh, chí thú có một món: “cá rô kho tộ”.

Hôm ấy, Ngọc Tới có phê bình anh:

  • Anh này. Ngay cả ăn uống cũng cục bộ. Anh chí thú có một món cơm trắng và “cá rô kho tộ”. Khi nào xa chắc có nhớ về Cần thơ, anh chỉ nhớ món này thôi. Rồi cô ngâm nga câu ca dao: “Cần thơ gạo trắng nước trong…”…

Chiều hôm ấy, ngồi trong hiên quán, ngoài trời mưa rả rich, phố xá tiêu điều, bây giờ mới có sáu giờ chiều đời sống như ngưng đọng lại. Một vài con ruồi đậu phía ngòai cửa kính nhọc mệt kéo lê đôi cánh ướt át, để lại những vết nhớp nhúa trên mặt kính. Chỉ còn hai mươi mấy ngày nữa là Cách mạng về với Cần thơ đúng bốn năm tròn. Trong suốt bốn năm dai dẳng ấy biết bao nhiêu đổi thay tang thưong đi qua thi trấn miền Tây này. Cần thơ ngày càng co lại, ngày càng khốn khó hơn. Những hân hoan chào mừng Cách mạng ngày 30/4/75 phụt tắt rất nhanh. Người ta thấy những vết hằn ngày càng sâu hơn, càng quằn quại hơn cày nát trên những gương mặt buồn thảm của những người vợ trẻ, những bà mẹ già có chồng có con đi tù học tập cải tạo không ngày về. Ngay các cán bộ tập kết về họ cũng ngậm ngùi cho thân nhân họ bị vùi dập đày ải trong các trại cải tạo. Ngòai trời, hoàng hôn một màu xám xịt đang phủ xuống mặt đường. Trọng nhớ lại chỉ còn mấy ngày nữa anh đưa gia đình ra khỏi nơi này, và đi về một nơi vô định. Cần thơ. Nơi anh phục vụ gần cả đời người, mười năm anh hành nghề bác sĩ phẫu thuật tại đây, và cũng là nơi vợ anh đã hạ sinh ba đứa con của anh. Nghe tiếng mưa rơi trên hiên quán, tiếng điểm thời khắc qua nhanh, tiếng gọi của vùng trời xa xâm nào, ở đó có sự rủi may đang chờ đợi anh. Vớ được mảnh giấy xi măng trên bàn bên cạnh, anh liền viết mộ bài thơ ngắn trong lúc anh thật sự xúc động. Sau bữa ăn, lúc tiển vợ chồng Ngọc Tới về, anh nhét vội bài thơ trong túi áo mưa của Hoàng, chồng của Ngọc Tới. Hôm nay gặp lại bài thơ, những sóng gió đổi thay cuộc sống của anh ở đây gần hai mươi năm về trước hiện về đậm đặc từng nét…Trọng đọc lớn bài thơ ấy cho cả nhà nghe…Chị Xuân Tường muốn biết bài thơ ấy của ai? Trọng kể lại sự tích bài thơ. Chi Xuân Tường la lớn:

  • Ồ! Lạc điệu và cũ quá rồi. Phải không bà con.

Cả nhà cùng cười. Ngọc Tới nhắc lại bài thơ nguyên bổn và mảnh giấy xi măn anh Hòang vẫn còn giử, đây chỉ là bản chép tay của Ngọc Tới.

Sau bài thơ, các bà ngồi chùm nhum lại, chuyện thầm thì, hết chuyện này sang chuyện khác, chuyện của các bà dài hơn hai mươi năm. Riêng anh, đói meo cả ruột. Thấy tám giờ tối rồi mà chẳng thấy ai đếm xĩa gì đến ăn uống cả, Trọng giơ tay định chôm chỉa một món gì lót lòng. Chị Xuân Tường la lớn:

  • Ơ! Hay thật. Anh có biết đợi chờ là gì không?

Diễm Khánh thấy ông anh rể mình bị quê, cô liền nói đùa:

  • Chắc trước kia lúc chưa cưới, chị cho anh ấy đợi dài dài…
  • Cưới hay chưa cưới gì cũng vậy, lúc cần thì cho ông ấy ngóng dài cả cổ ra. Nói xong câu ấy chị Xuân
    Tường thích thú, cười rũ rượi….

Chợt có tiếng động ở cửa trước. Một bà cụ bước vào, mái tóc bạch kim, bà chống gậy, đi vững và chậm. Bên cạnh bà là một thanh niên chừng 18, 19 tuổi. Thọat nhìn, Trọng biết ngay đó là Dì Quới, mẹ của Ngọc Tới và Diễm Khánh. Tất cả mọi người đều chạy đến và đưa tay nắm lấy tay bà, để dìu bà đi cho vững hơn. Tất cả đều bị bà từ chối và gạt ra! Bà nói lớn:

  • Để tôi được độc lập. Không có gì quí hơn độc lập.. phải không bác sĩ Trọng?
  • Thưa Dì đúng vậy, Trọng liền đáp.

Bà đi chậm nhưng rất vững. Trọng thấy Ngọc Tới, Diễm Khánh, Xuân Từơng và cả Bích Hằng đi sát bên cạnh bà, nhưng không ai đưa tay cầm lấy tay bà. Trọng tiến đến, đưa tay cầm lấy tay bà và đưa bà vào ngồi chỗ đầu bàn. Anh xin lỗi bà là vợ chồng anh chưa kịp đến hầu thăm bà, và anh cũng xin chuyển đến bà lời chào hỏi của nhạc mẫu của anh, chị ruột của bà, và lời cầu chúc sức khoẻ của Bà.

Bà Dì Quới đáp:

  • Tôi cám ơn Bác sĩ. Chị tôi có phúc lớn có rể quí là Bác sĩ, tận tình phục vụ và chăm sóc cho chị tôi khi bà lưu vong ở đất nước người. Còn Bác sĩ lúc nào cũng ngon lành cả. Dưới thời Việt nam Cộng Hòa anh là Bác sĩ; Việt cộng vào anh cũng là Bác sĩ; qua Mỹ qua miết tít mù, anh cũng là Bác sĩ. Cách đây mươi hôm, một bà Trung tá của mình Sàigòn xưa đến thăm tôi, cho tôi biết là chồng bà bị bịnh tâm thần gọi là ‘Hội Chứng Hậu Chiến’gì đó, nghĩa là khi đi tù cải tạo bị mấy ông Cách mạng Cộng sản hành hạ vùi dập dữ quá. Gọi là rữa não mà! Nghe bà ta nói chồng bà và một số sĩ quan Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa cũng ở trong trình trạng như vậy hiện đang được Bác sĩ Trọng điều trị và tư vấn tâm thần tại Chicago. Bà đâu có ngờ ngờ bác sĩ Trọng là con rể nhà này. Nhưng ngon lành nhất, là lúc nào bác sĩ cũng có cô vợ đẹp ở bên cạnh.
  • Thưa Dì, về đời, con thật là may mắn. Với Xuân Tường con thật là tốt số. Nhưng thưa Dì ngày xưa Dì đâu có đồng ý cho Xuân Tường lấy con.
  • Ah! C’est vrai…Đúng vậy. Thôi bỏ chuyện cơm cũ đi. Bây giờ đến lược tôi phải xin lỗi quí vị, tôi đến trễ, ai cũng đói cả rồi. Thôi mời tất cả ăn đi thôi! À, Bác sĩ Trọng, cậu con trai ngồi bên tay phải của anh đó là Tự, con của Ngọc Tới. Tự là tên của Ba của Xuân Tường, tên của anh Hai, anh rể của tôi. Vì kính mến anh Hai, cho nên vợ chồng Ngọc Tới lấy tên anh Hai đặt cho con. Họ là Cách mạng mà. Mình thì kị húy, kị tên, không dám gọi tên ông bà ông vải, còn họ thì càng thương càng yêu, càng gọi to, càng réo lớn. Nhiều lúc tung hô: muôn năm, muôn năm… nghe phát sợ!

Bích Hằng, Tự và Trọng, ngồi đầu bàn bên này. Bà dì Quới, chị Xuân Tường, Ngọc Tới và Diễm Khánh ngồi đầu bàn đối diện. Nhìn bà Dì Quới chăm sóc chi Xuân Tường trong bửa ăn, Trọng thật sự cảm động! Bà biết từng sở thích nhỏ của chị Xuân Tường, từng cọng hành tép tỏi! Bà nói lớn cho Bích Hằng, Ngọc Tới và Diễm Khánh nghe:

  • Xuân Tường không ăn được cua có vỏ. Cô ấy chỉ ăn cua lột thôi. Con gái rượu của ông Chánh án mà. Đáng kiếp cô thôi! Bỏ chạy sang Mỹ miết tít mù, làm lụng khổ sở làm sao mà có thể mua được cua lột cho cô ăn. Đáng đời cô. Để cô biết đá vàng.

Xuân Tường là đứa cháu gái con của anh Hai, chị Hai, mà bà Dì Quớí thương yêu nuông chiều nhất. Hơn hai mươi lăm năm về trước, lúc ấy Ngọc Tới và Diễm Khánh theo cha tập kết còn ở ngòai Bắc, có lần Bà Dì Quới xin anh Hai, chị Hai cho Xuân Tường qua “ở hẳn bên bà”. Mặc dầu không được toại nguyện, bà vẫn được Xuân Tường lui tới hôm sớm với Bà. Lúc ấy Xuân Tường hoàn toàn thay thế hình ảnh của Ngọc Tới và Diễm Khánh trong tâm hồn bà Dì Quới. Năm 1970, Trọng đi hỏi chị Xuân Tường lảm vợ, Bà là người duy nhất trong gia đình không đồng ý gả chị Xuân Tường cho anh. Lập luận cơ hữu nhất của Bà: “con nhỏ mới có 17, 18 đem gả cho tên Trung kỳ già ngắt ”.

Ở đầu bàn bên này, Trọng vừa ăn vừa chuyện vãn với Tự và Bích Hằng. Bích Hằng là con gái của Diễm Khánh sanh tại Hà nội năm 1972. Tự còn là sinh viên. Bích Hằng là chuyên viên dịch thuật của sở Ngoại vụ, thành phố Hồ Chí Minh. Trọng hỏi hai cháu về dự tính tương lai của họ như thế nào? Bích Hằng bảo tương lai của cô ấy tùy thuộc vào Sở Ngoại Vụ. Hy vọng năm 2000 hay 2001 sẽ được học bổng của chính phủ Mỹ sang du học tại Yale hay Hardvard về luật thương mại. Ước mơ của cô ấy là làm giáo viên đại học hay chuyên viên kinh tế và tài chánh. Còn Tự năm nay 19 tuổi, nhỏ hơn Bích Hàng 7 tuổi, cho biết là cháu đang tập trung để luyện thi vào Đại học Chuyên môn. Cháu mơ ước được đậu vào Đại Học Công An.

Bà Dì Quới nghe Tự nói thế, bà không hài lòng! Bà nói một mình:

  • Rau nào, sâu đó…

Nghe mẹ nói, Ngọc Tới rất buồn, nhưng không dám một lời phật ý mẹ.

Dì Quới nâng cốc rượu vang lên cao và nói:

  • Bữa ăn hôm nay là mừng gặp lại Xuân Tường sau hai mươi năm xa cách.
  • Thưa cám ơn Dì. Chị Xuân Tường đáp lời Bà. Thưa Dì cách đây cũng gần hai mươi năm, năm 1975 gia đình mình cũng tổ chức một buổi tiệc để gặp lại Ngọc Tới và Diễm Khánh trở về, sau hai mươi năm tập kết ra Bắc.
  • Đúng vậy. Dì Quới nói, đời tôi hết xa con rồi đến xa cháu, đứa này trở về đứa khác phải ra đi. Đó là vận của nước hay số kiếp của tôi.

Trọng thấy bà nước mắt lưng tròng.

Bà Dì Quới nói tiếp:

  • Thôi ăn đi các con.

Bà nâng ly rượu vang, bà hớp một hớp nhẹ. Anh làm giống như bà. Đúng là rượu vang-Admiral-của Pháp cái hậu của nó thật êm dịu, nồng ấm kích thích vị giác. Càng uống càng đê mê, ăn càng ngon. Nhìn cung cách bà Dì Quới uống rượu vang, từ cách nâng ly, dáng cầm thìa, cầm fourchette, bà chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp một cách sâu sắc. Bà có phong cách nói chuyện thật hấp dẫn, chế ngự người nghe, nhưng luôn luôn vẫn giử vẻ kín đáo, sang trọng trí thức của một mệnh phụ, mặc dầu cách đây 3 năm bà bị tai biến mạch máu não, bà bị liệt nửa người. Sau vài tuần rượu, da mặt bà hồng hào! Bà ngước mặt lên cao, dưới ánh sáng của mười ngọn đèn 100 nến, mái tóc bạc của bà lung linh óng ả lạ thường. Bà nói:

  • Bác sĩ Trọng có biết mấy chai rượu vang ấy là rượu của dượng Minh để lại không? Dượng Minh chết để lại một hầm rượu trong xưởng vẽ của ông ta. Mang một tâm hồn lãng mạn đi làm Cách mạng thật là nghiệt ngã. Trước khi ông ấy chết, ông ấy còn thiết tha với Cách mạng lắm đấy Bác sĩ Trọng. Những năm sau cùng của đời ông, ông bị bịnh Tâm Thần Phân Liệt. Suốt ngày ngồi nói chuyện một mình hay nói chuyện với ai đâu đâu ở trên trời. Ông sống trong một thế giới xa rời thực tế, thế giới của Don Quichotte mang đao to búa lớn tiến lên chém cối xây; thế giới của những Othello súc xiễm, vung gươm chém bạn mà ngỡ là kẻ thù; thế giới của những kẻ mang tâm hồn thác loạn, tự cho mình là đỉnh cao của trí tuệ loài người! Có nhiều lúc ông gọi các con cháu: “ Ngọc Tới, Diễm Khánh, Bích Hằng và Tự có nghe Bác Hồ gọi tên ông ngoại đến Quảng trường Ba đình để nhận Huy Chương Thống Nhất do chính Bác Hồ trao tặng”. Rồi ông ấy hối mấy đứa, cũng như ông ấy, thay đồ lẹ lẹ để đi cho kịp…. Thật là tội nghiệp! Phải không bác sĩ Trọng? Biết làm sao bây giờ. Chacun a son sort. Ai cũng có số cả. Rồi bà tiếp tục với giọng hờn dỗi:
  • Mặc áo đi theo Cách mạng, mang cả con cái, gia đình đi theo người ta ra tận ngoài Bắc, anh nhất định không chịu vào Đảng để cho con cái nhờ. Là cá mà không chịu có mang làm sao sống lâu dưới nước được! Anh Minh yêu dấu. Cũng may cho anh! Anh chết già. Anh tốt số hơn Tô Ngọc Vân, người bạn vẽ của anh của thuở xa xưa. Ông ta bị giết chết sau trận Điện biên. Bây giờ người ta cũng quên đi không còn ai nhắc tới tên của ông ấy cũng như bức tranh thời danh “Hà nội Đứng Vùng Lên” của ông ta nữa. Anh đã sai lầm. Anh và bạn của anh sai lầm. Các anh nghĩ đi làm cách mạng với tinh thần yêu nước, yêu Bác Hồ là đủ. Các anh chưa biết khiếp sợ Chuyên Chính Vô Sản. “Họ” đâu có chấp nhận các anh mãi mãi được. Họ bảo các anh là những kẻ “đồng sàng dị mộng”. Không là đảng viên mà đứng trong hàng ngũ Cộng sản thì các anh được “họ”sử dụng như những hình nộm. Thật vô cùng đau xót cho anh, khi thấy anh, trong những đêm khuya khoắc, cúi mái đầu ngoài bảy mươi trên những trang sách đầy sấm hối, “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội”, của ông Bảy Trấn, người bạn già của anh. Khi biết ông ta ở tuổi ngòai bảy mươi còn viết đơn xin ra khỏi Đảng, anh đứng dậy, anh la hét trước tấm voile trắng căn trên giá vẽ: “Thiên lý tại nhân tâm…Vô tận ở trong ta…Trong ta là cõi vô tận”. Và anh mang tất cả sơn màu pha chế anh vụt trên voile trằng. Anh nằm lăn trên sàn nhà xưởng vẽ. Anh la hét. Anh đứng thẳng người, đưa thẳng hai tay lên khỏi đầu như thần chiến thắng, anh ca tụng tác phẩm của anh: “Con người là mâu thuẩn. Chế độ là mâu thuẩn. Xã hội là mâu thuẩn. Tất cả đều sản sinh từ mâu thuẩn, từ đối kháng, âm dương. Đời khi có, khi không. Sắc sắc Không không. Arthur Koestler,“Le Zero Et L’Infini”!…Người ta bảo anh bị bịnh tâm-thần-phân liệt. Riêng em, em rất đau xót vì em biết anh đau khổ chịu đựng triệu chứng hoang tưởng từ thuở đó. Sau năm mươi năm cống hiến cả cuộc đời mình cho đất nước anh vẫn chưa biết mình là ai? Anh vẫn chưa biết mình đã làm gì và cho ai? Anh vẫn quờ quạng trong cỏi nội tâm của chính mình. Các ông Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Phan Khôi, Nguyễn Văn Trấn…họ cay đắng nhận ra thân phận trí thức sống trong Chuyên Chính Vô Sản như đồng tiền vàng nằm trong cục phân heo…

Nói đến đây giọng bà Dì Quới nghe chừng như uất nghẹn.

Lúc này, Ngọc Tới mới dám lên tiếng, trong giọng nói rất ôn tồn, nhưng không kém phần chua xót. Hướng về chi Xuân Tường, Ngọc Tới nói:

  • Cám ơn chị Xuân Tường và anh Trọng. Hôm nay có anh chị về thăm nhà sau gần hai nươi năm xa cách, má em gặp lại anh chị, má cảm động, má mới nói lên sự thật, tình yêu của má với Ba em vẫn còn sống động. Quay lại bà Dì Quới, Ngọc Tới tiếp tục:
  • Thưa Má, lâu lắm rồi, từ ngày thống nhất đất nước, lầu đầu tiên, hôm nay, tụi con nghe má gọi Ba “Anh Minh yêu dấu” Diễm Khánh và con lâu lắm rồi, các con mong muốn Má gọi lên câu đó trước khi ba con chết.

Nói đến đây Ngọc Tới khóc, Diễm Khánh, Chị Xuân Tường cũng khóc. Hai Cháu Tự và Bích Hằng ngồi ngẩn ngơ. Ngọc Tới nói tiếp:

  • Anh Trọng và chị Xuân Tường, như hai anh chị đã biết, sau ngày thống nhất đất nước, Ba em có nhiều lần tìm về má em. Má vẫn dững dưng. Đôi lúc mà còn giận dữ nữa là khác.

Dì Quới đặt cốc rượu xưống bàn, bà ngước mặt cao lên nhìn các con cháu. Bà nói, dằng từng tiếng:

  • Tôi giận anh Minh, cha của các chị à? Tôi giận thôi sao! Phải nói tôi thù anh ấy nữa là khác. Năm 1954 anh “bắt cóc”các con của tôi đi tập kết ra ngòai Bắc. Anh buộc các con đi làm chính trị trong lúc tụi nó còn quá trẻ. Ngọc Tới mới có 11, Diễm Khánh lúc đó mới có 9 tuổi, mà anh không hỏi ý kiến của tôi gì cả. Sao anh ác với mẹ con tôi quá vậy. Anh đâu có quyền làm như thế. Vẫn biết tôi với anh lúc đó đã ly dị. Anh được quyền nuôi con. Nhưng anh cũng phải biết các con là con của tôi. Tôi mang nặng. Tôi đẻ đau. Là mẹ, tôi thưong con tôi hơn ai hế. Tôi có bổn phận bảo vệ tụi nó. Anh cõng con ra ngòai Bắc, “người ta” gả vợ cho anh! Anh đâu có được gần gũi, giúp đỡ con cái. Các con phải đi ở tập thể. Họ nuôi các Trẻ Miền Nam còn thua nuôi heo. “Trường Miền Nam”, một loại “Trại Tù Cải Tạo” cho Thiếu Nhi Miền Nam theo cha mẹ tập kết ra Bắc vào thời đó! Rốt cuộc rồi Ngọc Tới cũng phải vào Đảng, đi B. Năm 1972, Cách mạng nhờ người móc nối đưa tôi vào gặp Ngọc Tới ở trong bưng! Đầu con đôi nón tai bèo, chân mang dép râu, bị sốt rét rừng bần huyết đến độ thê thảm, da mặt tái xanh cắt không được một hột máu. Tôi bưng mặt khóc khi gặp lại con. Anh có hay không anh Thiên đường Cộng sản sụp đổ ngay dưới chân của con chúng ta. Anh ơi, anh nghĩ thế nào mà anh dẫn các con sống cơ cực đến như vậy. Dẫu tôi còn yêu anh cách mấy đi nữa, anh bảo tôi đừng trách anh sao được…Năm 1975, họ trả cha con anh về, hoàn toàn vô sản, không có một cơ sở để được ăn no. Tôi ôm con vào lòng, xây dựng lại đời tụi nó từ chiếc đũa con…Thôi, các con, Xuân Tường và bác sĩ Trọng tiếp tục ăn đi các con. Tôi xin lỗi, tôi đâu muốn nói những điều như vậy, cũng chỉ vì thương yêu anh ấy quá đó thôi! Biết làm sao bây giờ! Chuyện đã rồi! Ai cũng có phần số cả. Xin cứ nghĩ như vậy đi để tự an ủi mình. Phải không? Phải không bác sĩ Trọng?

Cả một quá khứ xa xôi gần như mất hút vào quên lãng đang cuồn cuộn quay về trong trí tưởng của Trọng. Anh bị chìm ngập trong hồi ức dài đăng đẳng trong suốt hơn 20 năm, đầy dẫy những hồi tình tự và bi tráng của cuộc đời. Vào khoảng tháng Giêng 76, sau hơn nửa năm thống nhất đất nước, họa sĩ Nguyễn Minh mới đến thăm nhạc phụ của anh, nguyên Chánh án Trương Tự, mặc dù hai người trước năm 1954 đã là bạn chí thân! Họ thân nhau, cho đến nỗi hai người trở thành anh em bạn cột chèo! Ấy thế mà, đợi mãi sau khi thống nhất hơn nửa năm, hai người mới nhìn nhau, mới chịu bắt tay nhau. Như vậy, phải biết họ thủ thế với nhau đến mực nào! Trong buổi tái ngộ này, lúc đầu hai người còn e dè, chỉ nói về quá khư xa xâm, thời trước 45, thời ‘tiền cách mạng’, thời còn học ở Collège Louis Le Grand ở Paris, Ecoles des Droits, Ecoles Des Beaux Arts ở đâu đó bên Pháp, Saigòn hay Hà nội…Sau vài tuần rượu Cognac, tình nghĩa có vẻ đậm đà, tình tự.

  • Như anh biết đấy, họa sĩ Nguyễn Minh mở đầu câu chuyện, tôi và bà Quới ly dị hồi năm 52, anh là anh rể của bà, anh biết, vì tánh lang chạ của Bà ấy. Có điều đau khổ cho tôi là bà ngoại tình với những thằng bạn giàu có của tôi, luật sư, bác sĩ, những thằng Quan, thằng Tế…Tôi không để con tôi lớn lên dưới ảnh hưởng của bà me xấu xa và vô luân như vậy, tôi nhất quyết cõng con tập kết ra Bắc năm 1954. Ra đến ngòai Bắc rồi… Nói đến đây, ông ngó trước ngó sau, kề miệng sát vào tai cụ Trương Tự, ông nói thật nhỏ: “mình mới vỡ mộng”!
  • Vì ‘ngoài đó’ nghèo quá phải không?
  • Nghèo thì đã đành. Mình không thể trách họ. Đồng bào miền Bắc lạnh nhạt với người miền Nam tập kết ra Bắc. Nói thẳng ra là họ không ưa. Mà họ không ưa là phải, vì họ tưởng lầm bọn này là bọn bần cố, bọn vô sản bọn vô học, họ phải oằn lưng ra mà nuôi bọn này. Họ cũng sợ mình ăn hết phần ăn của họ. Mặc dầu phần ăn của họ chỉ toàn cơm độn ngô và khoai. Anh biết, tôi phải phấn đấu biết chừng nào. Hai cháu còn nhỏ, nhưng cha con tôi đâu được mấy ngày ở chung. Các con phải đi ở tập thể. Buồn chỉ biết đi ăn thịt chó uống rượu đế. Công tác của tôi lúc đó là dạy hội họa tại trường Mỹ thuật Hà nội. Vài năm sau, tôi được giới thiệu với một cô phó tiến sĩ, du học ở Liên sô về. Ban đầu chúng tôi hiểu lầm nhau, nghĩ chỉ lấy nhau tạm bợ. Nhưng sau, đầu ấp tay gối với nhau, mới hiểu được nhau, bà cũng là con nhà quyền quí cũ xưa của đất Thăng Long, bà mới tìm đến tôi. Từ đó bà thật sư là bạn đời của tôi, chia sẻ tất cả sự nhọc nhằn trong cuộc đời của nhau. Bà chuyên dạy Nga văn. Sau 3 năm ăn ở chúng tôi có một cháu trai. Cái khổ là tôi không phải là đảng viên. Theo cách mạng mà không là đảng viên, nhất định họ không tin mình. Họ xem mình như kẻ ‘đồng sàng dị mộng’. Các con tôi theo học Trường Miền Nam… À, anh Hai biết không? Thằng Phạm Thu, luật sư, Thành Phần thứ Ba. Gia đình giòng họ của nó là dân Tây. Nó là dân Tây tử trong máu. Năm 1970, Phạm Thu là Đại diện cho Thành Phần Thứ ba, nó cùng một nhóm từ Pháp được mời đến thăm Hà Nội. Nó được chính phủ Hà nội tiếp đón long trọng. Nghĩ tình bạn cũ xưa, đồng hương người Sàigòn, và theo chính sách của chính phủ, tôi mời nó về nhà. Mua hoa hồng tiếp đón nó long trọng. Nghe nó nói về tình trạng khó khăn của miền Nam, mà cảm động. Thành Phần Thứ Ba là thành phần yêu nước chân chính nhất của miền Nam có truyền thống chống Mỹ Diệm. Say mê, cả bọn tôi nghe nó. Hà nội lúc ấy có bao nhiêu hoa hồng chúng tôi cũng mua cho nó. Nhà có bao nhiêu rượu quí Trung Quốc bạn bè đều đem ra hầu nó. Năm ngoái tôi về, tôi mới hay là nó lấy bà Quới và ăn ở với bà ấy từ năm 1961. Thằng chó đẻ, mình đi làm cách mạng, nó ở lại, nó ‘lấy’ vợ mình. Đụ mẹ, bọn làm chánh trị, một lũ lưu manh…

Cụ chánh án Trương Tự, ngã ngửa ra cười:

  • Sự thật thì không phải hoàn toàn giống như ‘toi’ nói. Thằng Thu với dì Quới chỉ là những kẻ kết hợp làm ăn với nhau. Họ chỉ là những ‘partners’, Quới là con “poule de luxe” của Sàigòn trong mấy chục năm nay. Dì Quới qua trung gian của Luật sư Phạm Thu, chỉ giao du với bọn tài phiệt, bọn Tối Cao Pháp Viện, bọn bộ trưởng, bọn nghị sĩ và các tướng tá. Sự thật, dì Quới cần vàng ,vàng và vàng…Luật sư Phạm Thu, nó có vợ va ba đứa con, nó ở với dì Quới như một partner
  • Như vậy, có nghĩa la nó là thằng ‘ma cô’?
  • Oh! Sure!
  • Mà nó lại là đứng đầu tổ chức Thành Phần Thứ Ba của Miền Nam.
  • Thành Phần Thứ Ba, thứ Tư gì đó, là của tụi ‘toi’ và cộng sản nhào nặn nên, trong này có ai nhìn nhận bọn đó đâu. Ai cũng biết luật sư Phạm Thu hợp tác với Hà Nội làm chuyện nhảm nhí đó, nhưng không ai thèm để ý đến nó, vì chính quyền ai cũng biết nó là thằng ma cô trí thức. Còn chuyện thằng Phạm Thu đi Tây, đi Mỹ, đi Tàu, đi Hà nội …là chuyện thường, nó là thằng Tây, nó có quốc tịch Pháp từ trong bụng mẹ. Ai chi cho nó, thì nó cứ đi và hưởng. ‘Toi’ thấy không, 30 tháng 4 nó nhảy đi Mỹ dễ dàng. Thật sự tụi đó chẳng có lý tưởng gì cả, chẳng phải là phe phái của ai, tụi nó chỉ ham sex, địa vị, danh vọng vàng và vàng…‘Toi’ thấy anh em tụi nó, thằng Thu thằng Thảo, có đứa nào chịu từ bỏ quốc tich Pháp đâu…

Đang mãi mê với ký ức của mình, bác sĩ Trọng chợt nghe Ngọc Tới, lớn tiếng hỏi bà dì Quới:

  • Thưa má, trong 20 năm Ba và hai con tập kết ra Bắc, má làm gì ở trong miền Nam này? Ngày gặp lại má, ba con đến định ôm hôn má cho thỏa lòng mong nhớ. Má xô ba con ra. Má chỉ thẳng vào mặt ba, má nói một câu cay đắng. Má còn nhớ má nói những gì không má?

Bác sĩ Trọng thấy mặt bà dì Quới biến sắc, bà nhìn thẳng vào mặt Ngọc Tới và Diễm Khánh một cách nghiêm nghị, bà nói:

  • Tôi không bao giờ quên những gì tôi đã nói, mặc dầu những điều tôi đã nói có thể rất là thô bỉ nhưng rất thật, nhất là những gì tôi đã nói với cha của các chị! Ông ta quên, ông ta và tôi đã dứt khoác ly dị hối 1952. Ông đâu có quyền sởm sờ với tôi như vậy. Tôi có nói với cha của các chị lúc ấy: “Mặc dầu, trong suốt 20 năm qua tôi là con đĩ Sàigòn, con poule de luxe của Sàigòn đây. Nhưng anh phải biết không bao giờ tôi đưa đít cho những thằng cộng sản, những thằng chạy theo cộng sản như anh cả. Anh và đồng bọn của anh đừng có hòng! Người dân miền Nam này đã mở mắt ra rồi…”. Ngừng một chập, bà nhìn Ngọc Tới, Diễm Khánh và chị Xuân Tường, bà dịu giọng, mặc dầu trông bà còn giận dữ, bà nói tiếp:
  • Cha của các chị không thể nào chiến thắng được tôi đâu. Mặc dầu ông ta đã nhiều lần quì dưới chân tôi sấm hối…Các chị nhìn Bác sĩ Trọng! Biết bao là thao thức và trăn trở sau 4 năm ở lại làm việc với Cộng sản, rồi cũng bị bọn chuyên chính vô sản phản bội. Cuối cùng cũng phải cõng vợ cõng con ra đi. Các chị biết người anh rể của mình và chị Xuân Tường quá mà… Tôi xin lỗi các con các cháu, bác sĩ Trọng, tôi đã nói sự thật, mặc dầu đó là sự thật cay đắng, não nùng cho số kiếp của tôi. Dù sao đi nữa, Ngọc Tới, Diễm Khánh là con của tôi và anh Minh, tôi nguyên với anh Minh tôi luôn luôn gìn giử bảo vệ các con các cháu trong vòng tay của tôi. Mẹ lúc nào cũng yêu thương các con. Tôi xin lỗi bác sĩ Trọng, tôi đã nói chuyện gia đình riêng tư của chúng tôi trước sư hiện diện của bác sĩ và Xuân Tường.

Trọng nghe bà Dì Quới gọi tên anh. Anh không dám trả lời. Anh chỉ biết nhìn bà Quới với cái nhìn thầm lặng chia sẻ. Anh dấu mặt sau ly rượu, vô tình anh nhìn mọi người qua ly rượu vang màu đỏ sậm. Anh nói:

  • Tất cả lịch sử đau thương vừa qua, chính chúng ta đã tạo ra. Chúng ta kiêu hãnh chấp nhận đau thương đó, nhất là đau thương gây nên từ một cưộc chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chúng ta là kẻ làm nên lịch sử và cũng là nạn nhân của lịch sử.

Trọng thấy bóng dáng chị Xuân Tường lung linh đứng dậy, đến cạnh anh, tay chị ôm lấy vai anh và nói:

  • Thừa Dì, hôm nay vui, anh Trọng uống hơi nhiều. Xin phép Dì, Ngọc Tới và Diễm Khánh cho phép con đưa anh anh về phòng nghỉ, con sẽ qua lại ngay thôi, để hầu chuyện với Dì.

Hình như đưa anh về khuya hôm đó, có cả Tự và Bich Hằng anh nghe bà Dì Quới gọi theo:

  • Trời mưa lạnh nhớ đắp chăn kỹ cho nó. Xong rồi nhớ qua liền nghe con.

Trọng nghe chi Xuân Tường nói:

  • Dạ, xong con qua liền.

Bác sĩ Trọng nhớ khuya hôm ấy, Xuân Tường và có cả Bích Hằng đỡ anh nằm xuống giường, và chị Xuân Tường kéo chăn cao lên phủ kín ngực anh. Trọng nghe chị Xuân Tường và Bích Hằng bước xuống cầu thang. Tiếng khép cửa nhẹ. Mưa vẫn thả đều trên mái, âm vang khi trôi xa khi lại gần. Có tiếng guốc của ai kéo lê cuối phố trong mưa sủng ướt. Anh thấy hàng hàng lớp lớp cờ bay, và biểu ngữ, từ các khu Tham tướng, Cầu Xéo, Phan đình Phùng, An cư, Cái khế, Quang Trung, Tự đức, Lộ 19, Lộ 20… kéo về trung tâm thành phố Cần Thơ, trên đại lộ Hòa Bình, trước Quân Đoàn Bốn, Quân Khu Bốn, Quân Đội Việt nam Cộng Hòa. Cờ Mặt Trận Giải Phóng tung bay! Biểu ngữ tung bay! Anh thấy thấp thoáng trong đám đông người đồng nghiệp của anh, bác si Nguyễn Khoa Lai. Sao trông anh ấy khốn khổ thế. Anh liền chạy theo và cố gắng gọi thật to, báo cho anh ấy hay là người anh của anh ấy: Tướng Nguyễn Khoa Nam vừa tự vận… Tướng Nguyễn Khoa Nam vừa tự vận….

Chợt một cánh tay ôm chặt anh và lay mạnh:

  • Anh ơi! Anh mơ ngủ thế nào vậy? Cái niềng hàm của anh đâu, sao anh không mang vào? Anh nghiến răng nghe ghê quá. Anh gọi lớn tên Tướng Nguyễn Khoa Nam…Tướng Nguyễn Khoa Nam…Nghe kinh thật. May mà em bên nhà Diễm Khánh vô tình về kịp không thì nguy thật Trọng nhìn đồng hồ thấy đúng 4 giờ sáng. Ngòai trời nhiệt độ đang xuống, lạnh. Chị Xuân Tường đến tắt máy lạnh. Trọng đến bên cạnh cửa sổ nhìn ra trời Saigòn tồi đen như mực. Gió mưa vần vũ. Không một vì sao dám ló dạng…

Trọng nghe vợ bảo:

Thôi rán ngủ lại đi anh. Vợ chồng mình về thăm quê hương, gặp ngày mưa bảo. Buồn phải không anh? Thôi ngủ đi anh. Em cũng buồn ngủ lắm rồi…

Trọng ôm vợ sát vào lòng, kéo chăn cao lên cho ấm. Chưa bao giờ anh chị thấy cần có nhau như bây giờ…

Đào Như

Bài bút ký trên là một đoạn trích từ tâp hồi ký

THIÊN LÝ VÀ VÔ TẬN
(Hồi Ký Hậu Chiến của một Bác sĩ Phẫu thuật,)

Nhà nguyện

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau
Posted on January 7, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 19 Jan 2025

Tuần trước có lần đi ăn trong nhà bàn bỗng gặp một sĩ quan tuyên úy trẻ tuổi người da đen.
Xạ thủ nhận diện anh ấy trước vì trên áo trận thấy đeo hình thánh giá, nên gật đầu chào. Còn anh ấy cứ nhìn mình chăm chăm và có nụ cười phúc hậu. Tự nhiên mình hơi thắc mắc sao ổng cứ nhìn mình cười quài, hay tại vì mình có tướng hơi ngố ngố hay sao?
Hình ảnh vị sĩ quan tuyên úy đó cứ lởn vởn trong đầu vì ít khi nào có dịp thấy họ ngoại trừ khi đi lễ, mà xạ thủ có bao giờ đi lễ đâu vì mình không phải là người theo tôn giáo nào cả. Giờ bỗng thấy anh ấy mới xuất hiện nơi đây với nụ cười tin yêu rạng rỡ thân thiện, hay là ảnh mới được tăng phái tới Trung Đông trong đợt bổ xung lực lượng viễn chinh. Còn những người đang ở Trung Đông qua tháng thứ bảy như xạ thủ thì nụ cười bắt đầu méo xệch mệt mỏi.

Hôm nay đọc các tin nhắn thì biết được có một người bạn đang có vấn đề làm ảnh hưởng khó khăn đến sinh kế. Người bạn ấy đã từng giúp xạ thủ và giống như hàng trăm bạn Facebook khác đã cầu nguyện cho xạ thủ được an toàn khi thi hành công vụ ở Trung Đông. Như vậy cũng đủ làm một người ơn rồi. Sống trên đời thì phải biết nhớ ơn, như mỗi miếng ăn cho vào miệng mỗi ngày. Như bài hát: “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước xin nhớ lấy nguồn, khổ cực đắng cay…”
Cho nên trả ơn ân nhân trong vùng chiến tranh này chỉ có cách bằng lời cầu nguyện chân thành mà thôi. Hình ảnh vị sĩ quan tuyên úy trẻ với nụ cười nhân hậu và tinh thần Giáng Sinh đang lan tỏa trong tâm hồn, làm mình chợt nghĩ ra trong căn cứ có một cái nhà nguyện (Chapel) dã chiến nho nhỏ dành cho binh sĩ trú phòng. Xạ thủ quyết định rời phòng làm việc đi bộ đến đó ngay tức thì.
Vừa đẩy của nhà nguyện định bước vào, thì thấy ngay vị sĩ quan tuyên úy da đen với nụ cười nhân ái cũng đang bước ra. Cả hai người cùng sững lại trong vài giây. Xạ thủ hỏi trước “Thưa, anh có phải là sĩ quan tuyên úy ở đây”. Anh ấy gật đầu. Xạ thủ nói tiếp “Tôi cần vài phút cầu nguyện ở đây được không ạ”. Vị tuyên úy nói anh cứ tự nhiên, nơi này là của anh.

Mình bước chầm chậm qua phòng đợi cũng dã chiến, rồi bước vào khu cầu nguyện tập thể thiết kế như cái nhà thờ nho nhỏ với hàng ghế xếp. Phía trong cùng là bàn làm lễ của sĩ quan tuyên úy. Không có thánh giá vì nơi đây tôn giáo nào cũng có thể đến đây cầu nguyện và làm lễ được.
Bên trong nhà nguyện vắng lặng không có ai vì đã 4 giờ chiều, sắp tối rồi. Xạ thủ đi chầm chậm giữa hai hàng ghế trống, lòng xao xuyến nhớ lại lần cuối mình vào nhà thờ cầu nguyện cho người khác là khi còn ở đại học cách đây mấy thập kỷ. Giờ đây sắp cầu nguyện cho một người bạn bên kia biển mà người cầu xin thì ở nơi chiến trường Trung Đông. Hơi ngược đời.
Nếu đang còn ở Mỹ thì cuộc sống độc lập tự lập và tự tin nên sẽ ít quan tâm đến người khác để cầu nguyện cho họ. Nhưng nơi đây mạng sống con người mong manh, nên người ta dựa vào đức tin nhiều hơn để che chở nhau.

Xa thủ ngồi xuống ghế. Bỏ nón xuống cầm nơi tay và gục đầu xuống và nhắm mắt lại. Mình nói thầm trong lòng xin Thượng đế – God, giúp người bạn vượt qua sự khó khăn để có thể giúp gia đình rất nghèo. Khi đó mình cảm thấy trong lòng có một cái gì nghèn nghẹn dâng lên nơi cổ nên rưng rưng xúc cảm. Mình cảm giác rất chân thành trong lời cầu xin. Một hành động lần đầu trong mấy chục năm qua.
Giờ mình mới hiểu ngày xưa khi đi nhà thờ với ba má nuôi theo đạo công giáo, thì thấy ba nuôi vừa cầu nguyện vừa chảy nước mắt khóc. Khi đó mình hong hiểu và tự hỏi tại sao ổng lại khóc trong nhà thờ kỳ quá, có ai nói gì làm ổng buồn đâu? Giờ thì biết giọt nước mắt ấy vì thành tâm vì tha thiết. Giọt nước mắt của tình người.
Trên đường về lại phòng làm việc, xạ thủ xin một vài cuốn sách đạo và mấy cái thiệp tôn giáo để đọc khi rảnh cho biết, và để làm kỷ niệm lần đầu đến nhà nguyện của căn cứ. Cảm thấy niềm hạnh phúc nho nhỏ tan chảy trong tâm hồn vì biết mình không phải là một loại người sắt máu hung tàn, cho dù có súng trong tay.

BÔNG LAU 28.12.2024