This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Phần 1 Ngày Ra Đơn Vị “Khắp bốn phương trời từng đoàn người trai về đây. Dưới mái quân trường hăng say gắng sức đua tài. Dù ngàn hiểm nguy quyết chí. Một lòng thề luôn nêu danh “Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức” hùng anh”. (Thủ Đức Hành Khúc) Còn khoảng một tháng trước khi tốt nghiệp, tình trạng Khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức của tôi khá vui, rộn rịp. Nó tương tự như học sinh sắp nghỉ hè, “lòng nôn nao khó ngủ”. Quả thật, ở đây không phải nghỉ hè mà ra trường. Ra trường? Đi đâu? Đơn vị nào? Xa hay gần và xa bạn bè, bạn cùng khóa thì sao đây? Thời gian Quân Trường 9 tháng, tuy ngắn ngủi mà tình cảm thì dài, “Từ Nam Quan Cà Mau, từ sông sâu miền cao”. Đó là lời một bài hát của mấy cô Cục Chính Huấn, nhưng cũng là con đường chúng tôi sắp đi tới. Nam Quan thì không chắc, nhưng Cà Mau thì chắc chắn có người sẽ không còn xa lạ gì! Tôi thì nhất quyết rồi, không Quân Nhu, không Quân Cụ nào hết, “thần tượng” đã có sẵn trong tâm trí. Lính cho ra lính, không thể lính văn phòng, không thể lính tuần tiễu, mà phải là lính đánh từ trên đầu giặc đánh xuống. Đánh như thế chỉ là Không Quân, Nhảy Dù, nên trong đầu tôi đã chọn Nhảy Dù, không phải vì người ta nói: “Thiên Thần Mũ Đỏ” mà chỉ là vì đánh cho ra đánh, đánh cho địch phải chạy dài. Đơn giản chỉ có vậy thôi. Nhưng, cũng có những điều khó ngờ trước được, còn khoảng một tuần là mãn khóa, tôi lại thay đổi ý định… Hôm đó, ở Hội Trường, bốn năm chiếc bàn của các binh chủng: Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Biệt Động Quân (BĐQ), Nhảy Dù, Lực Lượng Đặc Biệt (LLĐB) đang đón chào Sinh Viên Sĩ Quan đến ghi danh tình nguyện. Bàn nào bàn nấy đông người, đang chen chúc, hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Tôi đứng ở bàn Nhảy Dù mà tôi đã ghi tên từ trước để tìm hiểu ít nhiều về binh chủng hào hùng nổi danh này. Bỗng chợt, tôi nhìn thấy một “thần tượng mới” xuất hiện, mũ nồi xanh, ba bông mai ngụy trang màu đen, áo bông rằn ri xanh đỏ màu huyết dụ, “cao bồi” hai súng “ru-lô” hai bên hông, vai mang cây “six-trent seize”, giày “bốt đờ-xô” cao cổ, nhưng từ đầu gối trở xuống còn ướt mèm. Tôi ngạc nhiên bước đến cạnh hỏi: – “Đại Úy ở Binh Chủng nào? Đi đâu mà ướt vậy?” – “Tôi ở Binh Chủng LLĐB, mới nhảy ở mật khu Đồng Xoài, vừa triệt xuất; nghe tin Khóa 24 Thủ Đức ra trường, vội lái xe đến đây để tuyển chọn các tân Sĩ Quan về cho Binh Chủng”. Tôi thấy tướng dáng ông Đại Úy ngon lành quá, đúng là mẫu người lý tưởng của tôi, nên tôi quyết định bỏ Dù chọn Lực Lượng Đặc Biệt. Tôi hỏi: – “Tôi chọn Dù rồi bây giờ chuyển qua bên nầy được không? – “Em cứ ký giấy đi, có người lo cho em”. Ông Đại Úy giải thích. Thế là tôi tình nguyện đầu quân về Binh Chủng LLĐB. Giữa trung tuần tháng 7 năm 1967, lễ Mãn Khoá 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức được tổ chức trọng thể tại Vũ Đình Trường, Thủ Khoa là nhà thơ Nguyên Sa Trần Bích Lan. “Tang bồng hồ thỉ, phỉ chí nam nhi” là từ đây. Những Chuẩn Úy “măng sữa” chọn Binh Chủng LLĐB nhận giấy nghỉ phép 10 ngày, cùng với Sự Vụ Lệnh trình diện Bộ Tư Lệnh LLĐB ở Thành Phố biển Nha Trang. Trình diện Bộ Tư lệnh LLĐB xong, tôi và một số bạn đồng khóa được bổ sung về phục vụ tại Tiểu Đoàn 91 Biệt Cách Nhảy Dù (tên cũ). Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Lê Như Tú. Bộ Chỉ Huy đóng tại Trại Hoàng Diệu, nằm sát Trại Tây Kết của Quân Chủng Hải Quân, trên đường về Chụt, trước mặt là đại dương một màu xanh biếc, ngày đêm vang vọng tiếng sóng vỗ rì rào. Từ Tiểu Đoàn, tôi được bổ nhiệm tạm thời chức vụ Trung Đội Trưởng Trung Đội 3, Đại Đội 1. Đại Đội Trưởng là Trung Úy Nguyễn Thanh Liêm, ông nầy tướng cao to dềnh dàng. Nơi đồn trú Đại Đội 1 nằm chung với Đại Đội 2, trong Trại Nguyễn Văn Tân, bản doanh của Trung Tâm Huấn Luyện Hành Quân Delta, trên đường Phước Hải nối dài, đi về hướng Quân Lao. Khoảng ba tháng sau tôi theo học khóa Nhảy Dù ở Trung Tâm Huấn Luyện Động Ba Thìn của Binh Chủng tại Cam Ranh. Mãn Khóa trở về đơn vị, thì nhận lệnh ba lô, áo giáp, súng đạn đầy đủ cấp số, chuẩn bị lên đường quân hành xa. Đây là lần thứ tư, sau các cuộc hành quân truy lùng địch ở mật khu Đồng Bò, Tô Hạp, Plei Djereng, mà tôi đã và sẽ trực tiếp tham dự. “Thao trường đổ mồ hôi, Chiến trường bớt đổ máu”. Tôi khởi sự đi vào trận chiến.
Girl with a Pearl Earring (Meisje met de parel) là tác phẩm sơn dầu của hoạ sĩ Johannes Vermeer (1632-1675), người Hoà Lan, được vẽ năm 1665. Nhà văn Tracy Chevalier đã dùng bức tranh làm hình bìa cuốn truyện nổi tiếng dày 233 trang mang cùng tên, xuất bản vào tháng giêng năm 2001. Hai năm sau, tiểu thuyết gây tiếng vang ấy được chuyển thể thành phim ảnh với nữ tài tử xinh đẹp Scarlett Johansson đóng vai chính, nhập vào nhân vật Gried, cô giúp việc nhút nhát e thẹn cho hoạ sĩ Vermeer.
Mới đây, từ khi “cơn dịch” facebook lan rộng khắp hang cùng ngõ hẹp, tín đồ facebook nhiễm phải căn bệnh tự sướng. Một cao thủ thượng thừa về computer, về photoshop đã dùng tài nghệ mình có để sửa lại bức tranh “Thiếu nữ với bông tai ngọc trai” tay cầm máy ảnh tự chụp lấy dung mạo mình. Người bỏ công vẽ rắn thêm chân nọ, qua bức hình cạo sửa gửi vào thế giới ảo một lời nhắn, một cảnh tỉnh, rằng chúng ta đang sống trong một tình huống mất cân bằng ở mặt tâm sinh lý, ưa bày hàng và đi gần tới cá nhân chủ nghĩa, Người ấy cho hay ở những phòng trưng bày tranh, ở viện bảo tàng giờ này chẳng có mấy ai bỏ thì giờ ra thưởng ngoạn, lấy làm hạnh phúc khi đứng ngắm nghía tranh ảnh, họ quay lưng với các tác phẩm thuộc dạng kinh điển để rồi dùng iphone hoặc những máy móc tân kỳ “tự sướng” ghi lại chân dung mình “chảnh” với những đứa con tinh thần của biết bao hoạ sĩ “sư tổ” trên thế giới nằm chết trân trên tường, ở sau lưng.
Facebook, nôm na là một sân chơi không có điều luật. Vì đạt tới cao điểm của tự do nên vua chúa cũng như bầy tôi đều sát cánh bình đẳng ngồi chung một chiếu. Vàng thau lẫn lộn, đồng sàng dị mộng, mang tật lộng ngôn, ăn nói linh tinh… tất cả đều đi tới một chung cuộc: Tự sướng. Selfie, nó gần là sự tự mãn của “nghệ thuật” thủ dâm. Người ta đạt được khoái cảm, những dâng trào khi nhập cuộc, giải toả các ẩn ức bức bối để mua vui hơn cả một vài trống canh. Bước ra cõi mộng chẳng rào cản kia, người ta hoàn hồn trở lại những bất ưng hiện thực, hết bán trời không văn tự. Hãy mường tượng ra một con đường thoáng rộng trải nhựa êm ái, không có cảnh sát công lộ, chẳng đèn đỏ đèn vàng, hổng thấy bảng Stop. Phây phây, chớ tội tình chi mà phải ngó trước trông sau, vô tình, tất thảy đều phóng bạt mạng vượt quá thứ tốc độ “siêu khủng”. Nhanh vãi! Và hệ quả, người ta đâm ghiền nhớ thứ không gian vô tổ chức kia. Có lắm kẻ thử đưa những xúc cảm vụn vặt núp bóng bằng vần điệu thơ văn và họ phát hiện điều giản dị: Hoá ra chả có gì khó nuốt cả, dễ như ăn ớt. Hoan hô “mảnh đất lắm người nhiều ma” nọ. Hoan hô vùng trời tự do bình quyền chém gió. Ngày hôm nay đã đổi với bao dung thứ, không như ngày hôm qua trần ai khoai củ đẻ ra một bọn người ngồi trong toà soạn các tạp chí chuyên săm soi thư đi tin lại: “Đã nhận sáng tác của quý vị, chúng tôi rất tiếc là không thể đăng được, xin gửi tiếp các sáng tác khác. Tình thân”. Ông Nguyễn văn A, bà Trần thị B mua tờ tạp chí hối hả đọc lấy phần mục hộp thư toà soạn trước tiên. Buồn năm phút! Quý vị ấy có thể can đảm “thua keo này bày keo khác” và cũng không chừng quý vị giận hờn nghỉ chơi “em ơi lửa tắt bình khô rượu”. Chán mớ đời! Như thể bị tạt một gáo nước lạnh! Nhà thơ Tô Thuỳ Yên từng phát biểu: “Kẻ làm thơ tài ba là kẻ đó viết ra rất nhiều nhưng chỉ giữ lại một ít”. Không giữ có nghĩa là vất bỏ chẳng tiếc thương? Điều này có thể hoán đổi ra: Một kẻ làm thơ tầm thường là kẻ năng nổ viết nhiều và giữ riết tất thảy, a tới z. Sự lập ngôn của Tô Thuỳ Yên, người viết ra nhiều bài thơ giá trị “đẳng cấp” dường như đã không linh đối với các nhà thơ “đương đại”. Họ tuồng háo hức, sôi nổi để nghe lời khuyên nhủ của Mao chủ tiệm bên nước lạ dạo nào: “Các đồng chí chiến sĩ trên mặt trận văn hoá quý mến, các đồng chí cứ kiên cường sáng tác cho xung lên, cho thật đại trà, thế nào trong cả ngàn hạt trấu cũng nhặt ra được một hạt gạo trắng. Một hạt ngọc trời cho, há chẳng phải là thứ báu vật đó ru?” Nếu bắt phải bình loạn về sự cố kia, e kíp mượn lời thơ của người khuất núi Nguyễn Tất Nhiên là xét thấy phải đạo: “Buồn ơi tôi bỏ tôi chìm đắm Trong tiếng làm thinh của ghế bàn”. Những người mến chuộng facebook chắc hẳn lòng họ luôn tơi bời tâm sự, không nói ra, chẳng tỏ bày e ngủ hổng xuống. (Hoặc ngủ theo kiểu Trương Phi, tuy chìm giấc điệp mà hai mắt vẫn mở thao láo. Bố khỉ, làm thích khách phải á khẩu thót tim mà buông đao!) Họ uống thuốc an thần chẳng dòm theo toa bác sĩ. Nốc bốn năm viên mỗi ngày thay vì một trước khi lên giường. Có sao đâu? Hà cớ gì đằng ấy lại đi cà khịa bảo tớ bị overdose vậy cà? Có hiền hữu hỏi mình sao không giỏi chân đi vào chốn gió cát kia? Mình thưa theo kiểu cung oán cọng với đoạn trường tân thanh: “Sân rêu chẳng vẽ dấu giày Cỏ cao hơn thước liễu gầy vài phân”. Mình yêu thứ hình ảnh nọ, ai khôn mặc họ, mình dại khờ tìm nơi vắng tẻ cô quạnh “mình ên”. Sức người có hạn, đã không buông bỏ đặng, sao còn dang tay ôm đồm thêm mộng ảo vào thân? Mình vụng nghĩ, trong vô vàn cách tu thân, tịnh khẩu như bình là thứ cần rèn luyện trước tiên. Bởi khi nói ra điều gì, lấn cấn nhớ sực lời tiền nhân chỉ dạy: “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Có mang chút gì giả dối? Phát ngôn mà phải động não so đo thua thiệt tốt xấu chắc ăn cốt sao cho đối tượng mát ruột sướng rêm thì thà giả ngây giả dại qua truông kiểu Bùi Giáng: “Tôi điên là bởi tôi điên Cầm tay cô hỏi cho phiền lòng nhau”. Than ôi! Chung cuộc mình đích thị là kẻ lạc hậu mất rồi! Hoặc đang điên tới nơi. Sắp té giếng! Đến ngay cả thiếu nữ đeo bông tai bằng ngọc trai dát mỏng người trong tranh cũng cầm lòng không đậu, rất liêu trai “nàng” bước xuống đời hao gầy để cầm camera mà tự sướng một phát cho bỏ những ngày cơ cực. Nghe như có tiếng nàng chờn vờn vang vọng: Tốt khoe xấu che. Ta há chẳng phải là một mỹ nhân làm xiêu đổ thành quách đó sao? Hãy trầm trồ bình luận cho ta một đôi hàng và quan trọng, hãy vui tay mà nhấn vào chữ Like. Không facebook nhà ngươi tự sướng bằng cách gì, hở bây bi? Hồ Đình Nghiêm
Năm 527, Bồ Đề Đạt Ma yết kiến vua nước Lương, Lương Vũ Đế. Vũ Đế hỏi: Trẫm cho xây chùa, chép kinh, cứu vớt chư tăng, dựng tượng Phật nhiều không biết bao nhiêu mà kể. Vậy ta có công đức gì chăng? Đạt Ma đáp: Không có công đức gì, chỉ mang lại nghiệp tốt trong thiên hạ. Vũ Đế hỏi: Vậy thì ý nghĩa tối ưu của chân lý cao thượng là gì? Đạt Ma đáp: Không có chân lý cao thượng, chỉ có sự trống rỗng. Vũ Đế hỏi: Ai đang đối diện với Trẫm đây? Đạt Ma đáp: Tôi không biết. Năm 725, Vô Cầu, ngoại hiệu Trích Huyết Ảo Kiếm mang trọng trách bảo vệ công chúa nước Sở thoát khỏi cuộc bố ráp của bọn phản loạn, chẳng may ngọc thể vô phúc trúng phải ám khí trên đường vượt thoát ra biên ải. Vô Cầu tìm tới lang y nổi tiếng, người nọ bảo: Độc chất đã thâm nhập vào tim, buộc lòng phải đầu hàng thần chết. Vô Cầu hỏi: Không tìm ra giải pháp khả dĩ? Thần y đáp: Vô phương. Vô Cầu rút thanh Trích Huyết Ảo Kiếm ra lau máu đọng. Thần y hỏi: Lại động thủ? Vô Cầu đáp: Nếu giết người mà khiến cho Công chúa sống lại, ta nguyện giết cả thiên hạ. Ngươi biết ta chăng? Thần y đáp: Tôi không biết. Năm 2015, nước Việt đạo đức suy đồi dân tình lam lũ đói kém triền miên, lợi nhuận tiền bạc đều rơi vào tay quan lại triều đình và thành phần đại gia chuyên buôn gian bán lận. “Chúng ăn không từ một thứ gì “là phương ngữ mà trẻ lên ba cũng tường, cũng được mục kích. Dân không đủ gạo ăn nhưng quan chức hằng đêm có thể bỏ ra ức triệu để gầy cuộc vui suốt năm canh đong đầy tiếng cười lạc thú. Ma tuý có thị trường tiêu thụ và chân dài ngực khủng mọc lên hằng hà như nấm dại sau mưa. Tiền bạc nhiều như quân Nguyên tuôn ra để trang trải cho những công trình phù phiếm. Gần nhất, gây hoang mang nhất, manh động nhất, thấp trí nhất là dự án xây thêm tượng ông Hồ. Phóng viên báo nước ngoài chận một thường dân lang thang bên hồ Hoàn Kiếm. Qua người thông dịch được trả lương 20 đô la, phóng viên hỏi: Ông nghĩ sao về sóng dư luận vừa rộ lên? Dân đáp: Có rộ lên thật sao? Mức độ? Tầm cỡ? Xấu? Tốt? Phóng viên: Dường như gây bất lợi cho nhà nước. Cảm tưởng của ông? Dân đáp: Tôi không biết. Phóng viên hỏi: Dựng thêm một tượng đài hoành tráng trên quê nhà điêu linh, nó không gieo cho ông một cảm nhận? Dân đáp: Một bức tượng? Một cảm nhận? Thế này nhé, ở Tokyo, đi metro ra khỏi trạm Shibuya, có một công viên bé tí, họ đặt ở đó tượng chú chó nhỏ nhắn mang tên Hachiko. Rất khiêm nhượng, rất đơn sơ, rất thanh đạm, rất khuất lấp, nhưng hằng năm lượng khách đổ về để sờ mó chiêm ngưỡng nó đông không tài nào đếm xuể. Đó là chú chó đợi chờ người chủ thắc thỏm mòn mỏi ở sân ga ròng rã trong 9 năm 9 tháng 15 ngày. Đợi trông cho tới chết. Lòng trung thành của Hachiko đã khiến loài người ngưỡng mộ. Dân Nhật vẫn thường mang câu chuyện cảm động của Hachiko ra kể cho con cháu họ nghe, thế bài học ngợi ca sự chung thuỷ đầy cao cả. Nên nói thêm ở đây về đất nước văn minh sung túc ấm no nọ, đó là xứ sở rất thiếu vắng những tượng đài. Phóng viên hỏi: Ông mang hậu ý gì khi kể lại chuyện này? Dân đáp: Tôi không biết. Phóng viên hỏi: Theo kinh nghiệm tôi có, người ưa nói “tôi không biết” thực ra là người biết rất nhiều điều. Cớ sao ông luôn “tôi không biết”? Thế ông biết ông là ai không? Dân đáp: Tôi biết tôi là người Việt. Phóng viên hỏi: Mới đây rộ lên thông tin là người Việt đi ăn cắp ăn trộm ở Đài Loan ở Thái Lan ở Nhật ở Singapore ở Thuỵ Sĩ… Ông nghĩ sao? Dân đáp: Tôi không biết. Phóng viên hỏi: Ngoài chuyện ông biết ông là người Việt Nam, ông còn biết thêm điều gì khác? Dân đáp: Tôi biết tôi sắp vào ngồi tù. Phóng viên hỏi: Do đâu ông bảo vậy? Dân đáp: Nói chuyện với kẻ lạ, bị quy chụp tội trạng “làm lộ bí mật quốc gia”. Người ta không thích cảnh tụ tập, nhất là người ngoại quốc cầm micro mang máy quay phim đi phỏng vấn lung lung khi chưa được cấp giấy phép. Người ta thích có sự dàn dựng, có biên tập, có hoá trang, có đạo diễn, có kiểm duyệt của bộ văn hoá thông tin hẳn hoi. Chắc như bắp hoặc chắc như cua gạch cũng đồng nghĩa như nhau. Mấy con cáy đồng loạt bỏ chạy khi tốp công an có nhiệm vụ đi giải toả hiện trường cho được thông thoáng, trơ ra anh phóng viên mắt xanh mũi lõ, con cháu của bọn xâm lược còn đứng với lủ khủ máy móc dây nhợ. Công an quát: Nãy giờ mày trao đổi những gì với bọn chúng? Phóng viên: No lo sé. Công an hỏi đồng bọn: Nó bảo gì thế? Phóng viên nói: Je ne sais pas. Công an hét tướng: Đéo mẹ phải kiếm ngay ra một thằng thông ngôn. Phóng viên nói: I don’t know. Công an hỏi đồng bọn: Mày hiểu nó nói không? Đồng bọn báo cáo: Tôi không biết. Thế quanh đây có trung tâm đào tạo ngoại ngữ không? Tôi không biết. Phóng viên tập sự André, sinh viên năm cuối phân khoa báo chí trường Đại học Montréal (UQÀM) viết email cho tôi sau chuyến đi “thực tế” dài hơn tháng ở Việt Nam về: “Bạn hiền, toa đừng buồn lòng nếu moa bảo, moa sẽ chẳng bao giờ trở lại chốn ấy thêm một lần nào nữa cả. Moa không tự phụ là kẻ đi nhiều, nhưng moa có thể khẳng định, bằng vào linh cảm của một thằng phóng viên, đất nước ấy đã gieo vào tâm hồn moa bao ác cảm khó nói nên lời. Những người bạn tứ xứ quen biết tình cờ trên đường đi từ Nam ra Bắc đã có chung với moa một nhận định: Ấy là người ta sống tráo trở quá, lương lẹo, lừa dối và bi thảm thay, sự phản trắc ấy thay vì đáng hổ thẹn, họ lại lấy đó làm niềm hãnh diện, cười trên lòng tín nhiệm đến ngác ngơ của những du khách khờ dại lạc loài. Một cô gái người Thuỵ Điển đã cho moa xem cuốn nhật ký của cô ta, M. đã ghi xuống giấy tới 10 điều tồi tệ cô từng gặp phải. M. nói, cô suýt bị hiếp dâm ở Nha Trang và cô nhún vai: Đó là giọt nước cuối làm tràn ly. Moa chẳng biết kể gì cho toa nghe. Moa thật đáng bị khiển trách nếu đưa ra câu hỏi: Toa có hãnh diện làm người Việt?” Tôi hồi âm: “Bạn hỏi. Tôi trả lời: Tôi không biết. Biết không tôi. Tôi biết không. Không biết tôi. Người ta sẽ trách tôi, phản bội tổ quốc. Tôi xin thưa, nó chẳng mới mẻ gì. Năm 1979, tôi từng bị bắt vào tù với tội danh: Phản bội tổ quốc. Nhân danh một kẻ từng mang bản án ấy, tôi chỉ biết nói: I don’t know. Je ne sais pas. No lo sé. Tôi không biết”. Tôi tin André dù có đọc thiên kinh vạn quyển sách, thông làu 5, 7 ngoại ngữ (như người ta rêu rao về Hồ Chí Minh) e hắn chẳng biết điển tích cổ xưa như tôi nhắc tới ở đầu bài. Vì thế tôi không nói với hắn: Việt Nam vào năm 2015 vẫn mãi cần có một vị vua như Lương Vũ Đế thời cổ sơ năm 572, và dĩ nhiên sẽ khiếm diện một nhân vật lẫy lừng như Bồ Đề Đạt Ma. Bất hạnh thay! Hồ Đình Nghiêm
Chiều tháng mười gió se se lạnh. Muốn đi đâu đó giải khuây một chút chứ cứ ở nhà như ông từ giữ chùa mãi cũng chán. Nhưng biết đi đâu trong cái thành phố quen thuộc đến mức chỉ còn lưu luyến khi rời xa; cái thành phố mà mỗi hàng quán đều gợi nhớ đến một người bạn đã lâu không gặp. Người ta sinh sống ở đâu lâu rồi đều như vậy. Như mấy mươi năm trước ở Sài gòn, có những hôm nằm bẹp ở nhà vì đi đâu cũng chán. Nên mấy mươi năm sau ngồi nhớ Sài gòn, mà đôi khi nỗi nhớ chỉ cỏn con ở một góc nhà thờ khi đã biết hẹn hò. Rồi Sài gòn thì hay mưa mà túi tiền sinh viên thì bốc hơi theo nắng lên chóng vánh. Nên cùng lắm cũng chỉ đưa nhau được vào những quán cà phê còn chút hương xưa ở vùng quận ba. Nơi có những ngôi biệt thự còn lại sau khi Sài gòn đổi chủ, những tiểu thơ một thời đành cúi mặt, hé cửa cao biệt thự ra bán cà phê kiếm sống qua ngày. Nơi đó có những bản nhạc Pháp không lời như chuông vọng hồn ai. Và những người trẻ đi tìm lại một Sài gòn cũ bởi thần tượng hơn là ký ức, hoài niệm… Nhưng đa số bạn bè ở các tỉnh về Sài gòn theo học thì họ chuộng nhạc bolero hơn, bởi giai điệu và lời nhạc gần gũi với họ hơn. Nhưng sau khi Sài gòn mở cửa, sau năm 1985 thì nhạc bolero trước 1975 tràn ra các quán vỉa hè, tràn theo những xe kẹo kéo một thời mở nhạc ầm ĩ những khu xóm lao động. Tôi về nhà lục tìm lại cái máy AKAI, mớ băng từ bụi bặm và váng nhện trên gác bếp. Những trưa hè ngồi nghe Sơn Ca 7 với tiếng hát Khánh Ly, nghe lại Tình khúc Ngô Thụy Miên, nhạc Vũ Thành An; nghe nhạc ngoại quốc mà trước đó không lâu vẫn phải nghe lén. Ngồi thừa hưởng di sản của lớp đàn anh đã tử trận trong chiến tranh, hoặc đi tù cải tạo sau hoà bình, hay đã ra ngoại quốc sau biến cố lịch sử. Thi thoảng có người bạn học nào ghé nhà, nhưng phải cùng hệ – là từ ngữ mới lúc bấy giờ chỉ những người cùng sở thích thì mới ngồi nghe nhạc với nhau chứ bạn khác hệ thì họ chê nhạc thính phòng nghe không phê gì hết! Thế là tôi vẫn đi bên cạnh một người như thơ TTKH là nhạc bolero trong nhà ngoài ngõ, hang cùng hẻm cụt gì cũng rền vang loại nhạc có tên cũng đặc biệt là nhạc sến. Tôi sống cùng, hít thở với bolero, nhưng một góc đời tư là tôi vẫn ngồi riêng với cái máy AKAI và mớ băng từ nhão nhẹt trong nhà, như tài sản riêng mà tôi đã chiếm đoạt từ của chung của gia đình. Thật ra đàn anh tôi thì đã muôn phương, xấp nhỏ trong nhà chỉ mình tôi quan tâm nên cất giữ. Những người anh em thuộc xấp nhỏ trong nhà với tôi, họ chuộng máy cassette đời mới từ ngoại quốc gởi về hơn, băng cassette cũng nhỏ gọn hơn… và họ cũng thích ca sĩ Tuấn Vũ ở hải ngoại như mọi người… Đến lần đầu tiên tôi lái cái xe hơi ở Sài gòn mà trong xe đã được trang bị máy nghe nhạc dùng CD. Tôi về nhà nhìn lại cái máy AKAI như đồ cổ, bỏ thì thương mà vương thì tội. Chẳng biết phải cất giữ làm sao, và để làm gì? Tự tôi hỏi mình và trả lời, “ráng giữ cho những người anh đã ra hải ngoại từ 1975. Các anh sẽ về, và vui lắm khi có lại những kỷ vật mà các anh đã yêu quý một thời…” Nhưng quá khứ nào cũng sẽ thành kỷ niệm thôi vì hiện thực của nó không thoát khỏi được thời gian sẽ biến tất cả hiện thực thành quá khứ. Bởi một hôm tôi sang chơi nhà anh tôi ở Bắc Mỹ. Thói quen dậy sớm nên tôi tự xuống bếp pha cà phê buổi sáng. Khi có ly cà phê rồi, ngồi nhâm nhi một mình, nhìn ra khung cửa mùa thu ở tiểu bang Pennsylvinia với lá vàng, cây phong đỏ, và sương mù như mây thật đẹp. Tôi nhớ quá đi thôi mấy câu thơ, lời nhạc mà mình yêu thích khi còn đi học, “tóc em anh sẽ gọi là mây/ ngày sau hai đứa mình xa cách/ anh vẫn được nhìn mây trắng bay…” Tôi đến dàn máy nhạc của anh tôi để tìm lại dòng nhạc một thời. Nhưng hỡi ơi! Chỉ toàn là nhạc bolero. Hàng trăm cái CD không tìm ra được một chút thính phòng, mà toàn những ca sĩ ngày xưa anh tôi đâu có nghe như: Chế Linh, Duy Khánh, Thanh Tuyền, Thanh Thúy, Hương Lan… Bây giờ thì mấy vị đó xoá sổ Khánh Ly, Lệ Thu, Khánh Hà… cả rồi! Anh tôi thức dậy, thấy tôi đang lục tìm đĩa nhạc nên anh nói, “Chờ chút. Chờ chút… Hay em làm cho anh ly cà phê đi. Để anh ra xe lấy cái CD thằng bạn anh mới cho anh tháng trước. Hay lắm em ơi! Anh nghe cả tháng không chán…” Tôi chờ đợi sự thất vọng vì đã bới cả trăm cái CD chỉ toàn bolero. Và toại nguyện hoàn toàn là anh tôi đem từ ngoài garage vào nhà cái CD mới nhất của Phi Nhung! Tôi nhớ mãi hình ảnh một ông già tóc bạc, tay cầm cái CD tiếng hát Phi Nhung như cầm bảo vật trong tay, mắt cười luyên thuyên với miệng, “con nhỏ này còn trẻ lắm, mà nó hát hay lắm em ơi! Nhiều khi anh ở nhà một mình, nghe nó hát như kể chuyện xóm làng mà mình đã quên. Anh uống bí tỉ hồi nào không biết! Nên chị ba Hàng xanh (anh gọi vợ anh như thế)! Bả phải đi đâu một mình là sẽ dặn anh, Ông ở nhà một mình đó nha! Đừng có nghe nhạc rồi nhớ nhà. Ngồi uống riết rồi chết không ai hay!” Ông già tóc bạc thích nghe nhạc bolero. Ai mà ngờ được ba mươi năm trước là một thư sinh lãng tử ở những phòng trà Sài gòn. Rồi đi lính về thì da dẻ sậm hơn, trầm ngâm ngồi nghe nhạc ngoại, uống Whisky, hút xì gà… Ba mươi năm sau, tối tới đi thắp nhang bàn thờ Phật, pha bình nước nóng với tim sen thay trà để uống cho dễ ngủ, rồi du dương trên ghế bành với tiếng hát Hương Lan và Điệu buồn phương nam. Trời ơi! Tôi làm sao quên được chân lý của anh tôi: “Khi em nghe nhạc quê hương mà thấy hay là mình đã già…” Vậy là chiều nay tôi đã già khi lá thu xào xạc ngoài khung cửa, hơi thu lẻn vào mấy đầu ngón chân không đi dép trong nhà vì mùa hè chưa tạm biệt giàn mướp hãy còn mấy trái cuối mùa thấp thoáng ngoài sân sau kia mà… Tôi cố dọn dẹp bớt gian phòng sách như lời hứa với hiền thê đã mấy thu rồi. Và tình cờ gặp lại cô em cũng đã lâu không gặp, mới tuần rồi đọc tin trên mạng có mẩu tin “Ca sĩ Ngọc Huyền trở lại sân khấu Sài gòn sau mười lăm năm vắng bóng.” Nay cầm trên tay cái CD do Ngọc Huyền tặng tôi từ bao giờ thì thật không nhớ! Mở ra cũng không ngày tháng, có lẽ âm nhạc phi thời gian như tình nghệ sĩ nên tác giả chỉ lưu lại chữ ký. Tôi bỏ vô máy nghe cho đỡ buồn. Lúc đầu nghe nhạc nhưng chỉ nhớ về kỷ niệm những lần Ngọc Huyền làm show ở Dallas là anh chị em văn nghệ bận rộn tối mặt với đủ thứ việc phải lo. Và Ngọc Huyền thường kết thúc một show diễn ở nhà hàng Thái. Tâm sự của cô em nghe rất nghệ sĩ, “Em làm nghề ca hát mà không hiểu sao lại thích ăn cay, thích ăn nhà hàng Thái mới chết. Có hôm ăn ngon miệng, vui bạn là quên luôn chuyện không được ăn cay sẽ bị lạc tiếng, hư giọng!” Nhưng nghe nhạc quê hương với tiếng hát Ngọc Huyền một lát… tôi thấy hay! Ngồi nhớ lại lần đầu nghe nhạc bolero đã mấy mươi năm. Hôm đó chiều cuối tuần, người bạn học rủ tôi về nhà anh chơi một chuyến vì anh ở trọ ở Sài gòn để đi học. Tối đó, hai chúng tôi ngồi ở quán Mây hồng. Nghe nhạc bolero dưới mái lá, lộp độp tiếng gió mưa ngoài trời… Đêm buồn tỉnh lẻ buồn thật. Buồn nhất là khi cái bình điện hết bình là hết nhạc, luôn cả cái bóng đèn duy nhất trong quán, to bằng đốt ngón tay cũng xài điện từ bình điện nên tắt ngúm luôn. Cô chủ quán chỉ chừng tuổi chúng tôi, một cô gái nhà quê duyên dáng, hiền lành. Hình ảnh cô thắp ngọn đèn dầu, rồi ngồi che gió cho hai vị khách cũng duy nhất đêm mưa. Cô với bạn tôi thì đã từng chung trường làng thuở nhỏ, nên ba chúng tôi đã là bạn từ khi đến quán vì bạn tôi thăm hỏi bạn xưa và giới thiệu bạn mới ở thành phố về. Hai chữ thành phố nghe nó xa hoa ở vùng quê như đi giày cao gót trên bờ ruộng. Ba chúng tôi không muốn chia tay thời đại của mình nên trên bàn đã có xị rượu đế, xoài chua chấm nước mắm đường. Bạn tôi gỡ cây đàn ghi ta trên vách xuống để thành đàn sĩ bất đắc dĩ vì về thành mấy năm qua, anh cũng học lõm bạn bè được một mớ bolero đủ để lấy lòng bạn cũ. Cô chủ quán cũng bớt ngượng ngùng với ánh đèn dầu leo loét đêm mưa để thành ca sĩ. Chỉ khán giả tôi được lời vì đứa hát, đứa đàn thì tay, miệng đâu ăn. Tôi ăn hết trái xoài tượng mới ngon làm sao, ngon như một đêm mưa, đêm buồn tỉnh lẻ mà được ăn xoài tượng, uống rượu đế; còn âm nhạc của họ chẳng đi vào lòng tôi chút nào. Nhất là sáng hôm sau, tôi nhìn lại bảng tên quán khi tạm biệt. Hai chữ Mây hồng là những nét cọ không chuyên bằng sơn đỏ của ai đó chưa từng khéo tay, nhưng đã vẽ trên miếng tôn lợp nhà cũ sét… thành bảng hiệu của một quán cà phê nhạc ở vùng quê. Tôi đâu biết đến tận hôm nay, đã mấy mươi năm không gặp lại. Nhưng nhạc và lời của đêm mưa dĩ vãng mới thổn thức trong lòng. Ngồi nghe CD “Chùa tôi và Mẹ tôi” của Ngọc Huyền sao gần gũi như nghe kể chuyện xóm làng mà mình đã quên… Ngồi nghĩ về dòng nhạc bolero một chiều thu, dường như sống lại một đoạn đời mà không có giai điệu bình dân ấy, ca từ mộc mạc ấy thì không chừng quên thật những bến bờ xưa cũ, những tấm tình dĩ vãng đã xa, những vui buồn năm tháng với mưa nắng quê nhà… Nơi góc quán cà phê, quán nhậu, tiệm hớt tóc bình dân, nhà trọ, gốc cây trước sân nhà hàng xóm, cái sạp ngoài chợ chiều tắt nắng về đêm, bến đò, bến xe trưa trưa vắng khách… Những cuộc nhậu của đàn ông thường bắt đầu là chuyện làm ăn, rồi đến thời sự, và kết thúc với vài bản bolero. Giai điệu tạp âm của cây đàn thùng hòa với tiếng muỗng, đũa gõ chén, gõ cạnh bàn… nghe dân dã mà thật gần gũi. Đâu riêng gì cánh mày râu vì có cả phái nữ góp vui văn nghệ thì mới xôm tụ, rôm rả dữ. Có lẽ do ngại miệng tỏ tình nên người ta dùng chung rượu lạt để lấy can đảm trước, rồi mượn lời nhạc nói thay nỗi lòng với đàng gái hay đàng trai khi đã phải lòng nhau. Nếu thế thật thì không gì hay hơn mượn không khí nhậu, giai điệu bolero và lời nhạc chân tình để tỏ lòng với nhau. Cái hay là… nếu hạp sẽ tiến xa. Bằng không cũng huề cả làng. Vì nhạc nói (lời nhạc như thế), chứ có phải ai nói đâu mà trách. Nên mỗi khi tiếng đàn guitar dạo lên giai điệu bolero là cả bàn nhậu rơi vào cảm xúc. Nhớ lại những chiếu nhậu ở xóm làng xưa, có khi những người nhậu còn say hát hơn cả say rượu. Ý tình rất chung là vui văn nghệ, nhưng tình ý riêng thấm thía lắm đa. Bởi sao một người cất lên tiếng hát là có thể làm cả cái bàn nhậu không ai nhúc nhích nổi nữa vì mỗi người chìm vào cảm xúc riêng tư. Và có lẽ riêng tư nhất là người cảm nhận thông điệp của người hát nhất, nên bẽn lẽn thẹn thò, hay ngân ngấn cảm thông… Riết rồi thành văn hoá hễ nhậu là phải hát. Người không mượn nhạc hay lời để trò chuyện với đối tượng thì cũng có lý do hát: cho bớt say. Nên chỉ cần vài tiếng ngồi nhậu là cả bàn nhậu đã trình làng hết nền âm nhạc Việt Nam. Trong hơi men tưng tưng, tùy giai tầng xã hội thì cuộc nhậu có thể khởi đầu với Đoàn Chuẩn Từ linh, Văn Cao, Phạm Duy, ghé nhà phản chiến Trịnh Công Sơn làm vài bản – một thời… Nhưng khi rượu đã bắt đầu làm người ta hết ngượng rơi nước mắt thì chẳng còn kiêng nể tầng lớp xã hội nào nữa. Khi tình thương mến thương của dân nhậu đã xóa nhòa giai cấp thì chỉ còn điệu nhạc bolero và lời lẽ chân tình là tình thương mến thương nhất! Những người lính cũ khi ngồi chung bàn nhậu, lúc uống vài ly đầu còn mặc cảm với người bạn làm ăn thành công nên giàu có, người bạn khác ở hải ngoại về rủng rỉnh đô la, sao mình bán vé số, không đủ sống qua ngày… Nhưng khi cây guitar khẩy lên điệu bolero, ba người bạn cũ không còn khoảng cách xã hội hiện tại, mà chung chiến hào xa xưa nên cùng nhau hát hết lòng, hả dạ lời nhạc mộc mạc, chân tình mà dễ thương… “mình ba đứa hôm nay gặp nhau…” Vậy thì cớ gì phải đi tìm giải thích vì sao dân nhậu sính với bolero. Sao không nghĩ đơn giản nhất là trong không gian, thời gian hạn hẹp của một cuộc nhậu. Ngoài giai điệu bolero, có giai điệu nào chuyển tải cảm xúc hơn, đưa người ta gần lại nhau hơn với những lời lẽ chân tình. Những giai điệu khác mang giá trị nghệ thuật khác, đòi hỏi không gian thời gian khác hơn sự bình dân phổ thông trong cuộc sống của mọi giai tầng xã hội đều có nhu cầu chung mang tính nhân văn chung là được trải lòng của từng cá nhân với cuộc sống phức tạp nên cuộc đời đa dạng; những đau khổ, hạnh phúc cũng khác nhau một cách tự nhiên như nhiên thì chỉ có bolero diễn tả, chuyên chở được những nỗi lòng biết tỏ cùng ai của thế nhân… … Khi những ánh đèn xe ngoài xa lộ 78 sau nhà đã chở màn đêm về. Một chiều thu bolero đã hết cái CD trong máy hát. Nhưng trong lòng tôi dâng lên nỗi cảm hoài khi nhìn lại những loại hình ca khúc nhạc Việt Nam thì chỉ giai điệu bolero mang tính tự sự cao nhất, “khi tôi sinh ra tôi đã mang kiếp con nhà nghèo…” Thử hỏi, quê ta có mấy người giàu? Nên chín mươi phần trăm dân số thích lời nhạc ấy với giai điệu bolero là chuyện tự nhiên. Giai điệu bolero mang tính kể chuyện đa dạng và phong phú qua ca từ bình dân nên càng thấm sâu vào lòng người, “nhà em có hoa vàng trước ngõ… nhà anh cuối con đường ngoại ô…” kể chuyện rất tự nhiên. Đến kể chuyện tâm tình cũng tự nhiên như bản chất mộc mạc của người bình dân Việt nam, “Tôi kể người nghe chuyện tình Lan và Điệp, một chuyện tình cay đắng…” Giai điệu bolero và những bài hát theo điệu bolero dễ tìm thấy mình trong điệu nhạc lời ca, dễ nói thay lòng mình muốn gì, với ai…? Một cách thế cho người ta dễ biểu đạt nỗi buồn riêng, điều khuất tất, sự bế tắc của mỗi người ra bàn nhậu; để người này đón nhận người khác trong tinh thần chia sẻ, nỗi cảm thông sâu xa… Vì thế người qua đường, kẻ không quan tâm có thể thấy chướng mắt, hoặc khó chịu với những câu chuyện tào lao, trên trời ơi, dưới đất hỡi của dân nhậu ngồi chung bàn nhậu. Nhưng không ai nỡ quát “im đi!” khi một tay nhậu nhừa nhựa đam mê một bản bolero cất lên cùng tiếng đàn thùng. Rồi cả bàn nhậu hát theo, không còn phân biệt già trẻ, nam nữ gì nữa khi cả đám nhậu gào lên những liên khúc bolero đầu gà chân vịt. Có khi cả chục bản bolero mà bài khóc tiếp nối bài cười, rồi lại buồn sang thân phận, kiếp người, trách Chúa hờn Phật… để quên hết trong sự ăn khớp tuyệt vời của bolero là không thể điệu nào vô liên khúc trúng phóc nhịp điệu bằng bolero. Nghĩ về bolero một chiều thu. Tôi tạm chấp nhận cách hiểu cá nhân về giai điệu dễ dàng liên khúc, lại thêm rượu trợ lực để đưa cảm xúc lên cao trào. Nhưng vẫn không hiểu nổi vì sao trong những cái đầu ấp lẫm men say của dân nhậu lại có thể mở ra cả kho tàng âm nhạc Việt nam, và vô số những bản nhạc bolero mà khi tỉnh người ta chỉ nhớ được vài bài quen thuộc. Nên có thể nói bolero là không gian tự tình mang tình tự dân tộc nên có sẵn trong mỗi người con dân Việt giai điệu bolero của riêng mình. Khi hoà lại với nhau trên bàn nhậu là bất tận liên khúc bất kể giai tầng khi mọi tấm lòng thật nhất với nhau, không cần che giấu gì hết khi hát với nhau một bản, một liên khúc bolero thì đến người ngoài hành tinh cũng phải công nhận cái bàn nhậu đang hát bolero kia… rất người.
Đầu tháng 7-2024, một phụ nữ ở Đồng Nai đã đầu độc một loạt 5 người thân trong cùng gia đình khiến họ tử vong bằng Xyanua (Cyanide) – một loại hóa chất cực độc – chỉ vì mâu thuẫn trong cuộc sống thường ngày. Có lẽ từ vụ án làm rúng động cả nước này, mọi người bỗng giật mình trước thực trạng ở Việt Nam có nhiều loại hóa chất độc hại hoặc không rõ nguồn gốc mà người mua, kẻ bán đang trao đổi nhau hết sức dễ dàng chẳng khác mớ rau, con cá!
Các quầy, tiệm bán đủ thứ loại ở các “chợ hóa chất” Từ các hóa chất phụ gia thông thường Không chỉ vụ việc trên, cách nay ít lâu từng xảy ra những vụ thương tâm như thảm án em gái bơm xyanua vào ly trà sữa giết chết chị họ; sự việc cháu bé 11 tuổi uống nhầm axit sunfuric (Sulfuric acid )đựng trong chai nước suối hay chuyện nhiều người dân ngộ độc bởi rượu dỏm, giả hoặc từ thực phẩm tẩm hóa chất bảo quản…Trong khi đó, thật hiếm nơi nào việc mua bán các loại hóa chất (độc hoặc không độc) dễ như VN khi chỉ cần bước chân ra tiệm sẽ tìm được hầu hết mọi thứ. Chẳng hạn tại chợ Kim Biên (quận 5, Sài Gòn) là “vựa sỉ” vô số loại hóa chất. Người bán cho biết, thế giới hiện có loại hóa chất nào thì Kim Biên cũng có. Từ hóa chất dùng trong công nghiệp, trong thực phẩm, cả những loại thuộc danh mục hạn chế sử dụng hoặc cấm sử dụng. Cụ thể, mặt hàng phụ gia thực phẩm ở đây rất đa dạng, nhất là các loại hương liệu dùng chế biến nước uống, nước giải khát như cà phê, ca cao, nước cam, chanh, dâu, nho, táo, sầu riêng, trà sữa… Giá của chúng khoảng 25-30 nghìn VNĐ/100ml. Cạnh đó, chợ Kim Biên còn bán nhiều loại hóa chất dùng trong thực phẩm như hương liệu tạo mùi và màu để nấu hủ tiếu, phở, bún riêu, bún bò…giá từ 40-50 nghìn VNĐ/100g hoặc 100ml. Có loại bột phụ gia tên thường gọi “săm – pết” bán giá 80-100 nghìn VNĐ/kg. Bột này chứa trong túi ni-lông, không nhãn mác chỉ dẫn thành phần, không hạn sử dụng cũng như nơi sản xuất. Theo người bán, chỉ cần pha vài muỗng canh bột trong một thùng nước, sau đó rưới lên bề mặt các tảng thịt lớn (hoặc thủy hải sản) rồi mang để nơi thoáng mát (không cần bỏ tủ lạnh) thịt, hải sản vẫn giữ tươi ngon cả tuần, không bị biến màu hoặc có mùi lạ! Một người quen biết ở chợ Kim Biên tiết lộ: “Có nhiều loại chất hóa học chuyên dùng trong công nghiệp, đa số xuất xứ từ Trung Quốc được người ta bán cho khách mang về dùng trong thực phẩm, mục đích tạo màu đẹp cho xôi chè, thịt nguội, bánh kẹo, tương cà…Với những loại thực phẩm này, người ăn vào dễ mắc các bệnh hiểm nghèo như ung thư, xơ gan, viêm gan, ung thư máu, suy tuỷ…”
Hóa chất độc hại bán tràn lan ở Việt Nam Đến các chất độc và …kịch độc Lại khảo sát, tìm hiểu ở một số tiệm hóa chất tại Sài Gòn. Tiếp xúc chúng tôi, nhiều chủ hàng tỏ ra e dè, thận trọng nhất là khi thông tin người phụ nữ hạ sát 5 người trong cùng gia đình ở Đồng Nai tràn lan trên mạng xã hội. Tại một tiệm hóa chất trên đường Tô Hiến Thành (quận 10), chúng tôi hỏi mua axit sunfuric (Sulfuric acid), được người bán báo giá tùy nồng độ và dung tích dao động từ 100-200 nghìn VNĐ/lít. Người bán nói nếu mua số lượng lớn sẽ có chiết khấu và miễn phí giao hàng tận nơi. Tiếp theo, chúng tôi thử hỏi mua xyanua thì người này bảo “đã hết hàng”. Tại cửa tiệm khác trên đường Lý Thường Kiệt (cùng quận 10), khi hỏi mua axit sunfuric, người bán không quan tâm mục đích và chỉ hỏi chúng tôi muốn bao nhiêu. Chị này giới thiệu cửa hàng có loại axit đậm đặc nồng độ 38%, giá 90 nghìn VNĐ/ chai nửa lít. Thử hỏi mua xyanua, chị ta nói hiện không có sẵn tại cửa hàng mà đang để ở kho ngoài cảng (?), với dạng thùng 50kg (Czech) hoặc dạng hộp 500 gram – 1kg (Đức), muốn mua thì để lại số điện thoại và địa chỉ, vài hôm sẽ có người ship tận nơi. Tuy vậy, trái với sự thận trọng của các quầy, tiệm hóa chất bán trực tiếp, trên “chợ mạng” người dùng có thể dễ dàng mua xyanua chỉ qua vài cuộc điện thoại. Ví dụ, khi truy cập vào nhóm “Chợ hóa chất” trên mạng Facebook, thấy có hàng chục bài viết rao bán, hỏi mua xyanua. Một người bán nickname Phương Anh cho biết “Bên em có sẵn xyanua hàm lượng 80% xuất xứ Hàn Quốc. bán từ 1 kg trở lên với giá 12 triệu VNĐ”. Sau một hồi thương thảo, người bán yêu cầu chúng tôi nhắn tên, số phone, địa chỉ qua Zalo, còn các loại giấy tờ khác “có càng tốt, không thì thôi”. Người này cũng cam kết khách hàng sẽ nhận được xyanua tối đa trong 3 ngày và không quên dặn phải sử dụng cẩn thận vì đây là chất kịch độc.
Xyanua tìm mua dễ dàng trên “chợ mạng” Theo thống kê của Cục Hóa chất (Bộ Công Thương VN), lượng hóa chất sử dụng trong nước ước tính hơn 9 triệu tấn/năm, đa phần tập trung tại các nhà máy lớn và khu công nghiệp. Song không thấy số liệu thống kê nào về số hóa chất mua bán trôi nổi trên thị trường mà ở đó có loại chỉ cần vài gam cũng đủ cướp sinh mạng hoặc gây thương tật cho người bị hại suốt đời (chẳng hạn Sulfuric acid và xyanua). Cũng theo báo cáo của Cục này cho biết, ý thức tuân thủ pháp luật cũng như vấn đề an toàn hóa chất của các doanh nghiệp, các cá thể kinh doanh nhỏ lẻ còn rất thấp, đặc biệt là nạn buôn bán hóa chất tràn lan vô tôi vạ như tình hình hiện hữu ở các chợ Kim Biên (Sài Gòn); phố Hàng Hòm, Hàng Buồm (Hà Nội) và nhiều nơi khác. Trên thực tế, do các hóa chất công nghiệp thường khá rẻ tiền, dễ mua nên nhiều người đã lạm dụng trong chế biến nhiều loại thực phẩm dùng cho con người mà chẳng ai quan tâm đến hậu quả.
Thịt ngâm được tẩm hóa chất để tươi ngon khá lâu NS
Posted on April 14, 2024 by dongsongcu Lê Nguyễn 5-4-2024
Post by Sơn râu 27 Jan 2025
(Kỳ 2) Một hình ảnh tại làng cô nhi Long Thành. Cơ sở này được thành lập năm 1967, có 3.000 em cô nhi, đến năm 1972, bị giải thể. Tấm bảng trong ảnh mang dòng chữ Việt và Anh có nghĩa “Xin đừng bắn vào làng cô nhi”. Ảnh của nhà báo Larry Burows in trên tạp chí Life (Mỹ), đăng lại trên Flickr.com
Ii) Những đoàn xe giữa đêm hôm khuya khoắt Với số tiền ăn đã đóng hơn 13.000 đồng cho một tháng, ngay buổi chiều nhập trường Trưng Vương, mọi người đã nhìn thấy nhiều chiếc xe của nhà hàng Á Đông và nhà hàng Đồng Khánh chở thức ăn tới. Bữa ăn sang trọng gấp 3, gấp 4 một bữa ăn thông thường hàng ngày! Sự yên tâm, phấn khởi nhờ thế mà tăng lên. Khoảng 10 giờ 30 tối hôm sau, 16.6.1975, mọi người được lệnh tập trung hết dưới sân trường Trưng Vương, mang theo đầy đủ tư trang, vật dụng. Sau những thông báo và quy định cần thiết về trật tự, sự im lặng cần thiết trong hành trình sắp tới, mọi người lặng lẽ leo lên những chiếc xe GMC bít bùng, khung xe được bao bọc bởi những tấm bạt nối với nhau, để lộ nhiều chỗ hở, giúp người trong xe có thể nhìn thoáng ra ngoài. Xe bắt đầu lăn bánh vào khoảng 11 giờ khuya, trong một thành phố ngủ yên như đã chết. Chúng tôi nhìn vẻ im vắng của nó qua những khe hở của tấm bạt phủ trùm xe, biết rằng xe đang chạy về hướng Biên Hòa. Rồi xe rẽ phải về hướng Vũng Tàu. Có những tiếng thì thào: Chẳng lẽ họ sẽ đưa mình xuống tàu? Câu hỏi được sớm trả lời khi xe đột ngột dừng lại và rẽ trái, đi lên một khoảng dốc lài. Rồi xe dừng hẳn, tắt máy. Chúng tôi nhảy xuống xe. Một vài người chợt nhận ra đây từng là “Làng cô nhi Long Thành”, nơi mà trước đó vài năm, cứ vào mỗi chủ nhật, nhiều người kéo nhau lên để thực hiện công tác thiện nguyện đối với hàng ngàn em cô nhi bất hạnh. Người điều hành làng cô nhi lúc đó có cái tên mộc mạc là “ông Tư Sự”, sau nghe nói là người của ‘bên thắng cuộc’. Làng cô nhi Long Thành đêm 16.6 ấy chỉ còn là một khu vực hoang vu, những dãy nhà dài trống hoác, im lìm. Theo sự sắp xếp đội, tổ khi chúng tôi vào trình diện ở trường Trưng vương, mỗi người được phân vào một dãy nhà dài độ 60 mét, ngăn thành 4 căn, dãy đầu tiên mang số 1, còn gọi là A16, dãy số 2 là A14, và cứ như thế tiến dần lên. Tiếp nhận chúng tôi là những cán bộ miền Nam tập kết, vui vẻ, thân thiện. Tại nhà 2, nơi tôi đến, anh cán bộ bỏ tiền túi ra đi mua những khoanh kẽm giăng dọc theo nhà để mọi người có chỗ máng dây mùng. Tiếc là những con người vẫn còn mang dáng dấp chơn chất, dễ gần ấy chỉ tạm thời đảm nhận công việc, trong lúc đợi trung ương cử về những cán bộ chuyên trách thuộc Cục quản lý trại giam Bộ Nội vụ. Và ngày ấy đã đến, chỉ sau không đầy một tuần lễ, với những cán bộ mới phần lớn xuất phát từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa… gương mặt khắc khổ và tiếng nói nặng chịch, khó nghe.
iii) Học viên hay trại viên? Trong khoảng thời gian tiếp sau tháng 6.1975 ấy, không phải mọi việc đều đã rõ ràng. Nhiều sự thực lộ dần ra, nhanh hay chậm còn tùy vào sự tìm hiểu và nhạy bén của mỗi người. Trước tiên là cách gọi dành cho những sĩ quan, viên chức chế độ VNCH đi “học tập cải tạo” (HTCT) dài hạn. Trong năm đầu tiên, họ được gọi là “học viên”, với cách hiểu họ còn là “nghi can”, chưa thành án. Cũng vì thế, làng cô nhi Long Thành, nơi họ đến học tập, có tên là “Trường 15 NV”, chứ chưa phải là “trại”. NV là cách viết tắt của hai chữ Nội vụ, trường do Cục quản lý trại giam, Bộ Nội vụ, trực tiếp quản lý, phân biệt với phần lớn các trường trại ở các tỉnh, do chính quyền địa phương trực tiếp quản lý. Trong lúc các tướng tá được sắp xếp ở nhiều trung tâm khác nhau thì tất cả thành phần dân sự được tập trung hết vào trường 15 NV Long Thành (một huyện của tỉnh Đồng Nai lúc bấy giờ). Từ ngày 17.6.1975, nơi đây có gần 3.000 học viên, được chia thành 4 khối: – Khối 1 đông đảo nhất, gồm công chức hành chánh, thẩm phán, dân biểu, nghị sĩ… Hầu hết “tinh hoa” của chế độ đã bại trận nằm trong khối này, từ ông cựu Chủ tịch Hạ viện, ông cựu Chủ tịch Tối cao Pháp viện, đến ông cựu Tổng trưởng Tài chánh, các dân biểu, nghị sĩ trưởng khối trong Quốc hội… – Khối 2 gồm thành viên các đảng phái “phản động” từ cấp Phó bí thư quận, huyện trở lên, nhiều nhất là đảng Dân Chủ của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, kế đến là các thành viên đảng Đại Việt và Việt Nam Quốc dân đảng. Trong khối này có ít nhất hai nhân vật nổi bật nhất. Người thứ nhất là cụ Vũ Hồng Khanh, người từng lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng và hợp tác cùng chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuộc chiến chống Pháp sau năm 1945. Sau gần 50 năm, mình vẫn còn nhớ hình ảnh của cụ: Búi tóc nhỏ sau gáy, bộ bà ba đen, chiều chiều, cụ hòa vào dòng người đi tản bộ trên “đại lộ hoàng hôn”. Khi đi, cụ hơi cúi người về phía trước, hai bàn tay nắm chặt lại phía sau lưng, rảo bước một mình, không trò chuyện với ai. Người thứ hai là luật sư Nguyễn Lâm Sanh, trước tháng 4.1975 là Phó chủ tịch Liên minh Á châu chống Cộng (chủ tịch là ông Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng VNCH, sau chết trong một trại cải tạo). Nghe kể rằng trước khi ra khu, luật sư Nguyễn Hữu Thọ có mở chung văn phòng với LS Sanh, khi ra khu, ông Thọ có nhờ ông Sanh chăm sóc giúp gia đình, và nghe đâu ông Sanh từng cho một người con trai của ông Thọ sang Pháp học (?). Những chi tiết này chì là nghe qua lời đồn đãi, còn cần kiểm chứng rõ ràng hơn, xin kể lại với tất cả sự dè dặt. Đến khoảng tháng 10 năm 1975, Cục quản lý trại giam Bộ Nội vụ cử một đoàn cán bộ đông đảo lên Long Thành để hoàn tất hồ sơ mỗi học viên. Họ chụp ảnh, lăn tay và làm nhiều thủ tục cần thiết khác cho học viên. Nghe đâu ông Nguyễn Hữu Thọ, lúc đó là Phó Chủ tịch nước, có nhờ người con trai lên theo đoàn công tác, thăm LS Nguyễn Lâm Sanh, kèm theo mấy món quà. Đó cũng chỉ là “nghe đâu” thôi, xin không coi đó là thông tin có căn cứ xác đáng! – Khối 3 gồm toàn các viên chức thuộc Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, mà theo thông cáo của Ủy ban Quân quản là “thuộc thành phần trung cấp trở lên”. Sự khác biệt trong cách hiểu từ “trung cấp” đã dẫn đến một hệ quả cười ra nước mắt. Người miền Nam lúc ấy hiểu từ công chức “trung cấp” là những người thuộc hạng B, từ ngạch thư ký đánh máy trở lên. Thế là các cô cậu nhân viên đánh máy ở Phủ Đặc ủy rùng rùng đi trình diện học tập cải tạo, một số rất đông là nữ. Mãi đến khoảng 6 tháng sau, sau khi xem kỹ hồ sơ, biết họ chỉ là những nhân viên thừa hành cấp thấp, Cục quản lý trại giam đã trả tự do cho họ. Trong số những người về đợt này, có con trai anh Nguyễn Đình Xướng, người đàn anh của anh em Quốc gia Hành chánh, chức vụ cuối cùng là Tổng Quản trị Hành chánh Phủ Tổng thống, mà người viết bài này từng có một bài viết dài về anh trên Facebook. Vẫn còn nhớ rõ hình ảnh anh Xướng đứng ở đầu nhà gọi nhắn theo cậu con trai hối hả đi theo đoàn người ra cổng trại trong ngày được trả tự do ấy. Trong số các viên chức “trung cấp” thật sự của Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo trình diện cải tạo thuộc khối 3, có khá nhiều người từng tốt nghiệp khóa Cao học Hành chánh. Trong một dịp họ sắp tốt nghiệp, Phủ Đặc ủy quá cần người, đã được phép Phủ Thủ tướng qua Học viện Quốc gia Hành chánh chọn nhiều người trong số họ để đưa sang Phủ làm việc ngay sau khi họ tốt nghiệp. Đa số những người này bị chọn ngoài ý muốn. Riêng người viết bài này có một người bạn đồng môn, đồng song, làm Chánh Sở Bắc Việt vụ tại Phủ nói trên, cái tên sở nghe qua đã lạnh người! – Khối 4 gồm các sĩ quan cảnh sát từ cấp Thiếu tá trở lên. Trước năm 1972, khi ngành cảnh sát chưa chuyển qua chế độ cấp bậc như quân đội, họ là những viên chức thuộc ngạch Quận trưởng cảnh sát (có bằng Cử nhân luật trở lên), hoặc Biên tập viên cảnh sát có thâm niên. Đại đa số họ thuộc phái nam, chỉ có một số rất ít là nữ, trong đó có nữ Thiếu tá NTT, biệt đội trưởng biệt đội Thiên Nga, một tổ chức đặc biệt gồm toàn nữ trong guồng máy cảnh sát VNCH lúc bấy giờ. Khối 1 đông hơn cả, được phân cho khoảng 6 dãy nhà, từ nhà 1 đến nhà 6, Dãy đầu tiên gọi là Nhà 1, có ít nhất hai nhân vật khá nổi tiếng thời đó. Đó là luật sư Trần Văn Tuyên, một nhân sĩ trí thức từng thuộc nhóm Caravelle, rất được công chúng ngưỡng mộ. Người thứ hai là nhà báo, nhà hoạt động chính trị Phạm Thái, bút danh của ông Nguyễn Ngọc Tân (?), thành viên đảng Đại Việt. Trong số mấy ngàn học viên ở Long Thành lúc đó, ông Phạm Thái có vinh dự được các phương tiện truyền thông nhắc đến nhiều về việc trước năm 1975, ông từng có bài báo lên án vở kịch Lá Sầu Riêng của kịch sĩ Kim Cương là sản phẩm tuyên truyền cho phía CS. Mà thật vậy, sau 1975, chính tác giả vở kịch và nhiều cây bút XHCN đã khẳng định điều đó. Ông Phạm Thái thường qua nhà 2, nơi tui ở, để nói chuyện, và chứng tỏ một kiến văn quảng bác về nhiều vấn đề chính trị, xã hội trên thế giới. Theo yêu cầu của anh em, ông còn mở lớp dạy Hán văn, song chỉ mấy ngày sau, lớp học này bị buộc phải giải tán. Với quan điểm và quá trình hoạt động chính trị của ông, ai cũng nghĩ rằng thời gian ở trại của ông sẽ phải thâm niên hơn nhiều so với đa số những người khác. Nhưng không, mọi suy đoán đều sai lạc một cách thảm hại. Chỉ khoảng 2 tháng sau, ông Phạm Thái được ra về theo một quyết định mà trong đó, ông được ghi là can tội “Giám đốc”, một chức vụ mà không ai từng nghe nhắc đến về ông. Đây là sự bất ngờ lạ lẫm nhất, để rồi lại có tin đồn rằng ông là anh của phu nhân một vị lãnh đạo rất cao từng có thời gian mấy năm ở lại miền Nam sau hiệp định Genève 1954. Đây cũng là một loại “tin đồn vô căn cứ” khác. Về mặt nhân sự, dãy nhà 2 của tui có lẽ là một trong mấy nơi hùng hậu nhất. Ở đây có các ông: – Trần Minh Tiết, cựu Chủ tịch Tối cao Pháp viện – Lưu Văn Tính, chuyên gia tài chính, cựu Tổng trưởng Tài chánh, trước tháng 4.1975 là cố vấn tài chánh của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Xuân Phong, Trưởng phái đoàn VNCH tại hòa đàm Paris trước tháng 2.1973 – KTS Ngô Viết Thụ, khôi nguyên giải La Mã, người tái thiết dinh Độc lập vào đầu thập niên 1960 – Anh Nguyễn Đình Xướng, Tỉnh trưởng Vĩnh Bình (Trà Vinh) thời Ngô Đình Diệm, chức vụ cuối cùng: Tổng Quản trị Hành chánh Phủ Tổng thống – Cụ Phạm Trọng Nhân, nhân viên ngoại giao kỳ cựu, cựu Đại sứ VNCH, chức vụ cuối cùng: Giám đốc Nha nghi lễ Bộ Ngoại giao… Trong một bài viết trên Facebook vào cuối tháng 4 một năm nào đó, tui có nhắc đến sự “gặp gỡ” tình cờ tại trại Long Thành giữa ông cựu trưởng phái đoàn hòa đàm VNCH Nguyễn Xuân Phong và ông cựu trưởng phái đoàn hòa đàm VNDCCH Xuân Thủy, có khác chăng là lúc đó Nguyễn Xuân Phong là một tù nhân đứng bên cửa sổ nhìn ra, còn Xuân Thủy là một cán bộ cao cấp đi thị sát trại, có một nhóm cán bộ lãnh đạo trại khép nép theo sau. Trong tình huống bất ngờ đó, tui tình cờ đứng cạnh ông Phong, tò mò liếc qua, thấy ông chống tay lên hông, nhìn cảnh tượng diễn ra bằng một đôi mắt thật bình thản.
1. Tôi tên Phiên. Tôi đang ở trong một siêu thị khá nổi tiếng nằm trên con đường sầm uất nhất của thành phố đông người Việt nhất ở nước Mỹ.Bây giờ là chín giờ sáng ngày mồng một tháng Giêng. Buổi sáng của ngày đầu năm không hứa hẹn một điều gì tốt đẹp. Bầu trời thì xám xịt, và tôi thì không được khỏe lắm. Nhất định là mấy chai bia tối hôm qua ở chiếc bàn ngoài hiên một quán ăn ở khu Westminster có liên quan đến điều này. Hoặ? chính cái cảm giác tôi có vào lúc chia tay với người bạn đêm qua vẫn còn đeo đẳng cho đến bây giờ. Chúng tôi đã la cà khá lâu ở quán ăn đó, hai tiếng đồng hồ thuộc về năm cũ và phần còn lại thuộc về năm mới. Chúng tôi ngồi ở chiếc bàn nhỏ ngoài hiên quán, nhìn ra con đường nhựa mỗi lúc mỗi thưa dần xe cộ, nói chuyện lung tung, và đã có một lúc tôi cười thực to. Nhưng cái cảm giác khó chịu vẫn ở đó, lẩn lút một cách kiên nhẫn dưới những nụ cười, trong những ngụm bia uống vội, đàng sau cái tranh tối tranh sáng của hiên quán, rồi bất ngờ xồ ra như tiếng vo ve của một con nhặng quái ác. Tiếng vo ve lớn dần trên đường ra bãi đậu xe. Khi tôi về đến căn nhà nhỏ của mình ở phía Đông Bắc của thành phố thì đã gần một giờ sáng. Bây giờ thì tôi hoàn toàn một mình. Con nhặng biết điều đó. Tiếng vo ve của nó vang đến từ mọi ngóc ngách của căn phòng, bám vào phía trong sọ não của tôi, và tôi biết chỉ có một điều duy nhất tôi có thể làm để xua đuổi nó đi. Tôi bước đến chỗ đặt máy điện thoại và bắt đầu bấm vào những nút số. Cuối cùng tôi đã thực hiện được điều tôi muốn làm, không phải chỉ mới ngày hôm nay, không phải chỉ mới ngày hôm qua, mà đã từ lâu lắm và đã chọn không làm. Con nhặng quái ác vô hình vô tướng kia bỗng im bặt khi tiếng chuông điện thoại vang lên từ đầu giây phía bên kia. Tôi đếm từng tiếng chuông reo, bàn tay cầm ống nói run lên. Một, hai, ba,…, sáu, bảy, tám. Có tiếng lích kích ở đầu dây bên kia rồi tiếng người trả lời. “Rất tiếc tôi không có ở nhà. Xin bạn hãy vui lòng…” Bây giờ là một giờ sáng ngày đầu tiên của một năm. Ở một nơi nào đó, những đôi tình nhân và bạn bè của họ đang tụ họp trong một căn phòng ồn ào, tràn ngập bia rượu và tiếng nhạc. Đời sống có nhiều niềm vui để người ta tìm đến, tại sao tôi lại cứ muốn kéo họ quay về? Tôi đặt ống nói xuống trước khi lời nhắn tin chấm dứt. Khu chợ vắng hoe. Vắng đến độ tôi có thể nghe được tiếng rần rật của máu từ trái tim mệt mỏi của mình đang dồn lên hai thái dương. Tôi nghĩ mình sẽ tốn rất ít thì giờ để mua một vài món cần thiết trong khu chợ này. Tôi không có ý định la cà ở đây. Tôi không có ý định la cà ở bất cứ đâu. Tôi không có ý định gặp ai. Tôi không có ý định bắt chuyện với ai. Đi chợ xong tôi sẽ về lại căn nhà nhỏ của mình. Tôi sẽ lăn ra giường và ngủ một giấc cho hết một ngày, cho dù đó là ngày đầu năm, để bù lại một đêm thức trắng. Đã có những ngày như thế trong đời sống của tôi. Sẽ có những ngày như thế trong đời sống của tôi, những ngày mà tôi và những điều xảy ra chung quanh tôi không có chút liên hệ gì với nhau. Hoặc ít nhất tôi nghĩ vậy. Và muốn như vậy. Hôm nay là một ngày như thế. Người đàn ông chận tôi lại trên lối đi nhỏ gần khu bán nước chấm. “Ông mua giùm tôi bốn con cua đi.” Bốn con cua? Con nhặng quái ác từ một xó xỉnh nào đó trong khu chợ bỗng xồ ra, vo ve, vo ve.
2. Tôi là Hoa, còn ảnh là chồng của tôi. Tính ảnh lúc nào cũng vậy, hễ không vừa ý thì chửi, mà toàn là chửi bậy! Tôi cằn nhằn ảnh về chuyện này hoài, tôi sợ thằng con bảy tuổi nghe quen rồi bắt chước. Vậy mà cứ chứng nào tật nấy không chừa. Sáng nay ảnh hối tôi đi chợ sớm mua đồ ăn về làm tiệc. Ảnh mời bạn bè khách khứa đến nhà ba giờ chiều nay. Hai vợ chồng ông Long chủ hãng tiện chỗ ảnh làm, còn lại là mấy người bạn nhậu của ảnh, cả thảy là bảy người. Ảnh khoe với họ là tôi làm cua rang muối ngon lắm. Lúc còn ở nhà nghe quảng cáo trên đài chợ này có bán cua tươi với giá rẻ, ảnh chở tôi đến đây. Ai dè họ chỉ bán mỗi gia đình có bốn con mà thôi. Ảnh nói như vậy thì không đủ, phải ít nhứt tám con mới đủ. Tôi chắc ảnh tính bảy người khách cọng với ảnh là tám, còn tôi lúc đó lẩn quẩn trong bếp chắc cũng không ăn uống gì. Thằng Toản, con chúng tôi thì ăn những món khác cũng được, đỡ phải ngồi đó lột vỏ cua hay đập càng đập ngoe cho nó. Ảnh định nhờ mấy người khách đi chợ mua giùm bốn con nữa. Tôi cản, nói người ta bán như vậy là muốn để dành cho người khác. Mình mua hết rồi mấy người tới sau lấy gì mua. Thiếu thì mình đi chợ khác mua thêm hay là làm món gì đó thế vào cũng được. Ảnh gạt đi, nói thây kệ người ta, ai biểu đến trễ làm chi. Với lại mình mua trả tiền đàng hoàng chớ có cướp giựt của ai đâu! Vậy là ảnh chận người ta lại nhờ mua cua. Ai dè gặp cái ông khách khó tính, không chịu mua giùm. Vậy là ảnh chửi người ta là đồ chó đẻ. Bị người ta cự lại ảnh xốc tới làm um sùm, xô đẩy người ta làm bể đồ bể đạc để quản lý chợ kêu cảnh sát vào thu hết giấy tờ, bắt khai báo đủ thứ. Lỡ mà bị bắt nhốt thì khỏi có tiệc tùng gì hết chiều nay. Thiệt là hết chỗ nói!
3. Tôi là Thuận, làm việc ở sở Bưu Điện gần đây. Vợ chồng tôi có ba đứa con, thằng lớn nhất mười tuổi. Hai đứa kia tám tuổi, sinh đôi mà! Hôm nay là Tết tây, tôi được nghỉ ở nhà. Mấy đứa nhỏ thì được nghỉ hai tuần, bắt đầu từ hôm trước lễ Giáng sinh lận. Tụi nhỏ đòi đi chơi biển, nhưng trời đất âm u như thế này, ra đó lỡ chúng nó bị cảm lạnh thì khổ. Tôi cũng muốn đưa chúng đi biển chơi lắm, đã lâu rồi vì bận rộn công ăn việc làm tôi không có thì giờ đưa chúng đi đây đi đó. Tôi còn nhớ năm ngoái đưa cả nhà ra bãi biển Redondo. Tụi nhỏ đòi ăn cua luộc, tôi mua cho hết cả nhà, mỗi người một con bự. Nhà hàng phát cho mấy cái búa gỗ và một mớ giấy báo cũ. Chúng tôi ngồi ở chiếc bàn gỗ dài gần mé biển, chỗ người ta đến câu cá, vừa ăn vừa cười giỡn với nhau thật là vui. Vui lắm. Sẵn nghe đài quảng cáo cua tươi đại hạ giá, tôi lái xe đưa vợ tôi ra chợ này mua cua về luộc ăn với muối tiêu chanh. Tôi gởi tụi nhỏ cho bà chị dâu bên cạnh, dặn tụi nhỏ ở nhà ngoan ngoãn, ba má đi mua cua về làm đồ ăn cho cả nhà xong buổi chiều sẽ đưa đi xem phim. Chợ bán cua tươi và rẻ, đúng như họ đã quảng cáo. Ngặt một nỗi họ giới hạn mỗi nhà chỉ mua được có bốn con thôi. Tôi hơi thất vọng. Tôi tính mỗi đứa nhỏ hai con, phần vợ chồng tôi mỗi người một con cũng vừa. Bây giờ chạy đi chỗ khác mua thêm thì chưa chắc đã có, mà có thì cũng chưa chắc ngon và rẻ như ở đây. Tôi nghĩ chỉ có cách nhờ ai đó mua giùm thêm bốn con nữa là tiện nhất. Chắc không có ai nỡ từ chối. Lúc nãy tôi chỉ mất có hai phút để mua bốn con cua thôi mà. Tôi nhìn thấy một người khách đang nhẩn nha ở khu bán xì dầu nước tương. Tôi nghĩ mình có thể nhờ ông ta giúp được. Tôi đến gần và hỏi ông ta có thể mua giùm tôi bốn con cua hay không. Ông ta khinh khỉnh trả lời là không có thì giờ. Cách trả lời và khuôn mặt khó đăm đăm của ông ta làm tôi có cảm tưởng bị khinh thường. Tôi chưa thấy ai ích kỷ và đáng ghét như ông ta. Ông ta làm hư hết những dự định của tôi. Ông ta làm hư hết niềm vui của mấy đứa con tôi. Tôi giận quá, chỉ muốn đấm vào mặt ông ta!
4. Tôi tên Quỳnh. Tôi sẽ còn ngủ mê mệt nếu không phải dậy sớm đưa Caroline ra phi trường. Trên đường về, tôi ghé vào khu chợ này để mua một bó rau muống. Tôi thích ăn rau muống xào tỏi. Đêm qua chúng tôi đi ăn tối với nhau ở một quán ăn vùng Tustin gần khu tôi ở và làm việc. Ở đó, tôi đã thổi ngọn nến nhỏ trên chiếc bánh sinh nhật xinh xắn mà Caroline đã mua cho tôi khi ghé lại một tiệm bánh ở khu chợ gần đó. Chúng tôi tiêu phí phần còn lại của đêm cuối cùng của năm cũ trong một quán rượu nhỏ của thành phố bên cạnh. Trên đường về, tôi cám ơn Caroline đã đến. Tôi sẽ cảm thấy trơ trọi ghê lắm nếu nó đã không vội vã bay đến với tôi chiều tối ngày hôm kia. Caroline nghiêng người qua từ phía bên phải, hôn lên má tôi và nói không có gì đâu cưng, mày biết tao yêu mày mà. Tất nhiên là tôi biết Caroline yêu tôi, theo cách của nó. Tôi còn biết nó sẽ hôn môi tôi nếu được phép, nhưng điều này đã không hề và sẽ không bao giờ xảy ra. Caroline lăn ra ngủ ngay trên chiếc sô pha khi về đến căn apartment một phòng nhỏ xíu của tôi. Nó cần phải giữ sức khỏe cho chuyến bay tám giờ sáng ngày mai ở phi trường Los Angeles. “Gấp quá, không tìm được vé về phi trường John Wayne,” nó nói như xin lỗi. Tất nhiên điều đó là thừa, tôi không cảm thấy phiền hà gì hết khi phải đi thêm bốn mươi dặm nữa để đưa đón nó, tôi bảo nó như vậy. Tôi vào phòng mình và lập tức nhào đến chiếc bàn đêm nơi đặt chiếc máy điện thoại. Chỉ có một lời nhắn tin trong máy. Tôi đoán là của Frank. Tôi đã đoán đúng. Lời chúc sinh nhật lịch sự và dễ thương, như con người của Frank. Tôi xóa ngay ra khỏi máy lời nhắn của Frank sau khi nghe xong và thả mình xuống giường, vói tay tắt ngọn đèn ngủ. Bóng tối tràn ngập căn phòng, và cùng với nó, niềm chua xót. Cú điện thoại tôi chờ đợi suốt ngày hôm nay đã không đến. Lầ? sinh nhật năm ngoái nó cũng không đến. Lúc bấy giờ tôi và Frank còn sống chung với nhau. Frank đã cố gắng mang đến cho tôi một ngày sinh nhật thực vui vẻ. Đêm hôm đó, căn phòng của chúng tôi tràn ngập tiếng nhạc và tiếng cười cho đến khuya. Nhưng Frank hiểu ra là anh đã thất bại khi căn phòng chỉ còn lại hai đứa chúng tôi. Tất cả chỉ vì cú điện thoại tôi chờ đợi đã không hề đến. “Tôi không hiểu được bố em. Ông ấy luôn làm hỏng mọi việc.” Frank ném hai tay lên trời, than thở. Frank không bao giờ hiểu được bố. Frank chưa hề là một đứa bé sáu tuổi mười mấy năm về trước đã lênh đênh cùng bố trên chuyến tàu vượt biển hôi thối và đầy nghẹt những người, chỉ ba tuần sau khi người mẹ bệnh hoạn được chôn cất ở một nghĩa địa tồi tàn vùng ngoại ô Sài Gòn. Frank chưa hề có lần hồi tỉnh vào lúc ba giờ sáng sau một cơn sốt cao độ trên chiếc giường ở khu cấp cứu của bệnh viện để nhận được chiếc hôn của bố trên vầng trán vẫn còn nóng hâm hấp của mình. Frank chưa hề cùng với bố thổi tắt những ngọn nến trên chiếc bánh sinh nhật xinh xắn vào mỗi đêm cuối năm. Frank chưa hề biết được cái cảm giác tôi đã có khi bố cúi xuống hôn lên tóc, hơi thở bố len qua những kẻ tóc phả lên da đầu ấm áp, và tiếng bố, ngọt ngào hơn tất cả những chiếc bánh sinh nhật tôi đã từng và sắp được ăn, “Chúc mừng sinh nhật, Quỳnh của bố.” Tôi luôn luôn là “Quỳnh của bố,” và Frank không bao giờ hiểu được phải cần có bao nhiêu năm tháng, bao nhiêu gian nan, bao nhiêu nụ cười và nước mắt để ba tiếng giản dị này có được cái ý nghĩa của nó. Vậy mà chính là Frank, cùng với tôi, đã khiến tôi không còn là Quỳnh của bố. Ít nhất là bố đã nghĩ và tin như vậy. Một tuần trước ngày nhập học của năm cuối cùng của chương trình Đại học, tôi bảo với bố là tôi sẽ dọn ra ở với Frank. Chúng tôi sẽ đi về một tiểu bang miền Đông và sẽ tiếp tục công việc học hành ở đó. Đây là một tin vô cùng bất ngờ cho bố. Bố ngồi lặng đi, một bên khóe môi giần giật. Nhất định tôi đã làm bố đau lòng ghê lắm. Nhất định bố đã không hề chuẩn bị cho việc Quỳnh của bố sẽ ra đi. Nhưng tôi đã quyết định. Tôi có trước mắt cả một thế giới rộng lớn, và tôi có Frank luôn luôn bên cạnh. Sẽ không có gì ngăn cản được tôi. Cánh cửa của căn nhà nhỏ đóng lại thực nhanh sau lưng tôi khi Frank đến đón tôi cùng ra phi trường. Bố đã không hề mở miệng khi tôi bảo là tôi sẽ gọi về cho bố khi đến nơi. Tôi quen Caroline và những người bạn khác ở ngôi trường mới. Tôi luôn có Frank bên cạnh, lúc nào cũng lịch sự, cũng dễ thương, cũng chiều chuộng. Tôi sẽ cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc nếu bố thỉnh thoảng liên lạc với tôi. Nhưng điều này đã không hề xảy ra. Khi tôi gọi về cho bố để báo tin mình đến nơi bình yên, bố đã lạnh lùng cắt ngang cuộc điện đàm. Tôi ngơ ngác nhìn chiếc ống nghe đang phát ra một tràng u u vô duyên, và để cơn giận tràn ngập lấy mình. Tôi thề sẽ không bao giờ gọi về cho bố nữa. Về sau, tôi vẫn thỉnh thoảng gởi cho bố những tấm bưu thiếp mỗi khi có dịp đi chơi xa với Frank hoặc trong những dịp lễ. Tôi luôn cẩn thận kèm theo địa chỉ và số điện thoại của mình, hy vọng sẽ nhận được hồi âm của bố. Điều này đã không hề xảy ra. Không một bức thư, không cả một lần điện thoại cho Quỳnh của bố! Frank và tôi chia tay không lâu sau đêm sinh nhật đầu tiên không có bố bên cạnh. Tôi nhìn khuôn mặt ngơ ngác của Frank khi tôi bảo anh điều này và tin rằng mình đã quyết định đúng. Tôi cho rằng mình có thể hiểu Frank rất nhiều trong khi anh giỏi lắm chỉ có thể chạm vào lớp vỏ ngoài của tôi. Bên dưới cái vẻ ngoài rất “Mỹ” của tôi là một mớ bòng bong những suy nghĩ phức tạp về những giằng co, những phản ứng tâm lý mâu thuẫn của mình, những điều tôi có thể cảm nhận được nhưng luôn luôn thất bại khi tìm cách lý giải. Tôi cũng sẽ thất bại như thế khi tìm cách giải thích điều này cho Frank. Bởi vì Frank sẽ không hiểu gì hết. Đó không phải là lỗi của Frank. Chúng tôi khác nhau, như là một định mệnh. Chúng tôi không thể thay đổi định mệnh của nhau. Tôi ra trường ít tháng sau đó và tìm được việc làm ở vùng Irvine, ba mươi dặm về phía Nam của thành phố Westminster. Tôi biết tại sao tôi đã cố tình chọn công việc này trong số những đề nghị khác. Đêm qua tôi đã thèm muốn quá đỗi, trước khi rơi vào giấc ngủ ngắn ngủi, hơi thở ấm áp của bố phả trên da đầu và lời chúc sinh nhật ngọt ngào của bố bên tai. Khu chợ rất vắng, rau cỏ ê hề, nhưng không có rau muống. Bố thích rau muống xào tỏi, và tôi thích theo bố. Khi tôi đủ lớn để quấy rầy bố trong căn bếp nhỏ xíu, bố dạy tôi nấu ăn. Món đầu tiên tất nhiên phải là rau muống xào tỏi. Tôi đã cười đến vỡ bụng nhìn bố vừa bỏ vào mồm những cọng rau muống cong queo và đen xỉn vừa khen “Quỳnh của bố” nấu ăn giỏi quá. Vậy mà hôm nay lại không có rau muống! Tôi thất vọng, rời khu hàng rau, nhìn quanh quất tìm một món gì đó để mua. Tôi thường không quen ra về tay không. Vào lúc tôi đang phân vân giữa hai bình sữa đậu nành nóng hoặc lạnh, tiếng chai lọ đổ loảng xoảng lẫn với tiếng người ồn ào làm tôi giật mình. Tôi quay lại và nhìn thấy ông ta. Ông đang ngồi bệt dưới sàn, hai chân bẹt ra trông rất thảm hại. Những chai xì dầu, nước mắm nằm vương vãi chung quanh, có ít nhất một chai bị vỡ, giòng nước nâu sẫm từ đó chảy ra, loang dần trên nền gạch men nhớp nháp. Ông ta cầm chai xì dầu vỡ lên, ngắm nghía. Có vẻ như ông ta không gấp gáp để đứng dậy. Có vẻ như ông ta chỉ muốn ngồi mãi ở đó, suy ngẫm về một điều gì đó, một điều rất quan trọng. Khi ông ta ngẩng đầu lên, tôi nhìn thấy đôi mắt buồn thảm của ông. Tôi giật bắn người, quay mặt đi thực nhanh, nhưng đã trễ. Ông ta nhất định đã bắt gặp tôi đang quan sát ông tự nãy giờ. Nhất định là ông không muốn tôi hay bất cứ ai bắt gặp mình trong một hoàn cảnh như thế. Tôi cảm thấy bứt rứt quá đỗi như thể đã làm một điều gì vô cùng tàn nhẫn. Tôi cầm đại một bình sữa đậu nành nguội lạnh, quay người đi như chạy về phía quầy tính tiền. Tôi chần chờ ở đó vài phút, lòng dạ rối tung. Tôi chỉ muốn rời khỏi nơi này ngay lập tức, và trong cùng một lúc, tôi biết mình không thể bỏ đi. Tôi hít vào một hơi thực sâu, vòng trở lại khu bán nước chấm, bước những bước ngắn, khẽ khàng đến nơi ông ta đang ngồi dạng chân dưới đất. Nhẹ nhàng quỳ xuống bên cạnh ông, tôi đặt bình sữa đậu nành qua một bên, nhặt những chai nước chấm đủ loại đang lăn lóc trên sàn chợ đặt lên kệ, cố gắng giữ vẻ bình thản như thể không có ai đang ở bên cạnh. Cố gắng của tôi chỉ là một nỗ lực tuyệt vọng. Tôi len lén quan sát từng cử chỉ của ông. Từ một góc mắt, tôi có thể nhìn thấy ông ta né người qua một bên, chống hai tay lên sàn, xoay mình lại và cuối cùng thẳng người lên trong tư thế quỳ tương tự như tôi. Ông ta nhặt một chai nước mắm còn nguyên vẹn đặt lên kệ và quay lại nhìn tôi. Tôi để cho ông tha hồ ngắm nghía một nửa khuôn mặt bên phải của mình, trái tim chùng xuống trong nỗi chờ đợi. Ông sẽ nói với tôi điều gì? Ông sẽ cám ơn tôi đã giúp ông thu nhặt những chai nước chấm vương vãi dưới sàn chăng? Hơn mười giây trôi qua, ông vẫn không mở miệng. Tôi không còn chịu đựng được nữa, thu hết can đảm quay lại nhìn thẳng vào ông. Đôi mắt ông âm u như màu trời ngoài kia. Một bên khóe môi ông rung rung, nhưng vẫn không có âm thanh nào phát ra từ đó. Có tiếng nói phát ra từ phía sau, “Tôi có thể làm phiền ông một chút hay không?” Chúng tôi cùng giật mình quay lại. Đó là một viên cảnh sát trẻ, cao lớn. Cùng với anh ta là một người đàn ông trung niên, có lẽ là nhân viên quản lý của khu chợ. Bây giờ thì ông ta chịu lên tiếng, nhưng không phải với tôi. “Tôi có thể làm được gì cho ông, thưa ông cảnh sát?” Giọng ông cứng cỏi, mang nặng âm sắc của người học nói tiếng Anh khi đã lớn tuổi. “Chúng ta có thể lại đàng kia một chút hay không? Tôi cần hỏi ông vài câu.” Viên cảnh sát lễ độ trả lời, tay chỉ về phía một góc vắng của khu chợ. Viên quản lý cúi xuống nhặt những mảnh chai vỡ trên sàn, cám ơn tôi đã giúp thu dọn chỗ này. “Cô ngưng tay đi nhé, nhân viên của tôi sẽ lo việc này.” Tôi đứng lên, hấp tấp bước theo hai người kia. Tôi đã không hề tự hỏi mình đi theo ông ta để làm gì. Tôi chỉ muốn đi theo ông ta. Người vợ, đang cúi xuống nói gì đó với người chồng, đột ngột đứng thẳng lên, hai tay thỏng xuống nghiêm chỉnh khi viên cảnh sát đến gần. Người chồng, ngồi bó gối trên sàn chợ dơ bẩn, ngoảnh mặt nhìn ra phía quầy tính tiền, vẻ bướng bỉnh. Lúc này một vài người khách đi chợ sớm kéo đến và dừng lại ở một khoảng cách vừa phải, nhìn. Viên cảnh sát chỉ tay về phía người chồng và hỏi ông khách. “Có phải người này đã hành hung ông khi nãy không?” “Không!” Ông ta trả lời một cách dứt khoát, và gần như quyết liệt. Nhất định ông đã suy nghĩ về câu trả lời trên đường đến góc chợ này. Viên cảnh sát, và tôi nữa, nhìn ông, chờ một lời giải thích. “Người này và tôi có một cuộc thảo luận ngắn về… cua. Chúng tôi không đồng ý với nhau về việc cua thực sự có bao nhiêu càng và ngoe. Vậy thôi.” Tôi chưa thấy ai nói dối dở như ông ta. Có lẽ viên cảnh sát cũng có cùng nhận xét. Anh ta nhăn mặt như thể bị xúc phạm, đưa tay chỉ vào những vệt bẩn loang lỗ trên quần áo ông ta, hỏi, “Thế thì những vệt bẩn này từ đâu ra?” “Tôi sơ ý ngã vào ngăn kệ đựng mấy thứ nước chấm, một vài chai bị vỡ.” Ông ta thoáng có vẻ lúng túng, tôi nghĩ vậy. Thực không dễ dàng khi phải nói dối hai lần trong vòng một phút. Viên cảnh sát lên tiếng một cách chán ngán, “Vậy sao?” Anh ta tiếp, cố tình không che dấu vẻ tinh quái trong giọng nói, “Cám ơn ông, ông thật là hữu ích cho bản báo cáo của tôi.” Tự dưng tôi cảm thấy bực bội. Tên cảnh sát non choẹt này làm chỉ giỏi làm bộ làm tịch! Riêng ông ta thì chẳng có phản ứng gì đặc biệt. Có vẻ như ông biết mình muốn gì. “Này ông cảnh sát, ông định làm gì với chàng trẻ tuổi này vậy?” Ông ta vừa hỏi vừa nghiêng đầu về phía người chồng. “Chỉ giữ ông ấy lại làm biên bản thôi. Nếu ban quản lý khu chợ này khiếu nại, ông ấy sẽ phải ra hầu tòa.” “Khiếu nại về chuyện gì?” “Về tội hành hung khách hàng và gây tổn thất hàng hóa của cơ sở thương mại này.” “Hành hung? Tôi đã xác nhận với ông là không có chuyện đó mà! Tôi nghĩ ông không nên làm khó dễ người ta chỉ vì một chuyện hiểu lầm. Anh này phải là một người tốt. Người xấu không hối hả đi chợ vào buổi sáng sớm ngày đầu năm để mua thức ăn cho con cái mình.” Lý luận của ông thực buồn cười. Làm sao ông ta biết được người ta có con. Tôi tự hỏi không biết ông ta đã làm điều gì tệ hại với người ta rồi bây giờ phải cất công bênh người ta chầm chập để chuộc lỗi như thế. Viên cảnh sát trẻ, tuy vậy, có vẻ hơi bất ngờ bởi câu nói của ông ta. “Thế còn những món hàng bị hư hỏng thì sao?” “Đó là trách nhiệm của tôi mà. Tôi sẽ giải quyết ổn thỏa với nhân viên ở đây.” Ông ta nói tiếp, giọng thấp hẳn xuống như thể xấu hổ vì đang xin xỏ cho chính mình một điều gì đó, “Cho anh ấy đi về đi, làm ơn…” Viên cảnh sát trẻ tuổi hơi ngần ngừ, có thể bởi vì anh ta không muốn bị thuyết phục dễ dàng bởi một di dân nói tiếng Anh cứng như gỗ. Tôi bước tới một bước, lập lại câu nói của ông ta với viên cảnh sát, “Let the man go, please…” Tất nhiên là tiếng Anh của tôi gần như hoàn hảo, và đầy tính thuyết phục. Có ít nhất vài người đàn ông đã bảo tôi như vậy. Trên đường trở lại quầy tính tiền, ông ta xoay người nhìn vào mắt tôi. Ông ta vẫn không chịu mở miệng, nhưng đôi mắt ông rõ ràng đang nói với tôi một hay nhiều điều gì đó. Có lẽ ông ta đang cám ơn tôi đã đứng về phe ông. Có lẽ ông ta đang hỏi tôi tại sao lại ở đây, một mình. Nhất định là ông không tin rằng tôi sống một mình, đã từ lâu. Nhưng tôi không thể đứng mãi ở đây với bình sữa đậu nành vô duyên trên tay và suy đoán mãi về một hay nhiều ý nghĩa có thể được hay không được gởi theo cùng ánh mắt của ông. Tôi cần phải đến khu bán hải sản ngay lập tức, may ra… Và tôi ù té chạy vào phía trong. Tôi bắt kịp ông ta ở bãi đậu xe. Ông nghiêng đầu qua nhìn tôi, vẻ dọ hỏi. Tôi đoán ông muốn hỏi bao giờ thì tôi mới chịu buông tha cho ông. Nếu quả thực ông nghĩ vậy thì đừng hòng, tôi nói thầm. Tôi nâng túi giấy trong tay lên, liến thoắng khoe với ông là tôi mua được hai con cua. “Chỉ còn có hai con cuối cùng thôi đấy nhé. Thực là may mắn!” Ông vẫn không chịu mở miệng, chỉ gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Tôi ấm ức trong lòng, nhưng cố gắng không để lộ ra ngoài. Tôi làm ra vẻ tươi tỉnh, nói tiếp là ông ta cũng may lắm bởi vì tôi sẽ chia cho ông một con. Nhịp đi của ông ta bỗng chậm lại, mặt lộ vẻ hoài nghi. Tất nhiên ông ta có quyền nghi ngờ. Mấy con cua mắc dịch từ sáng đến giờ đã làm phiền ông không ít. “Thực đấy.” Tôi ngưng đúng hai giây rồi tiếp “Chúng ta sẽ ăn cua luộc chấm muối tiêu chanh. Luộc xong là ăn ngay, nóng hôi hổi!” Tôi tin rằng lúc này thì ông đã hoàn toàn bị thuyết phục. Bởi vì ông đột ngột dừng lại, và trời đất ơi, ông đang nhìn tôi mỉm cười. Nụ cười làm không những khuôn mặt ông mà cả bầu trời Westminster âm u bỗng như sáng lên rực rỡ. Cùng với nụ cười là đôi cánh tay ông, dang rộng, mênh mông. Trong không đầy một sát na, tôi thấy mình đang ở trong lòng ông, mặt dúi vào ngực ông, khóc rấm rứt. Rồi tôi bỗng nhận ra ông đang cúi xuống hôn lên tóc mình, hơi thở của ông len qua những kẻ tóc phả lên da đầu tôi ấm áp. Và cuối cùng điều tôi mong đợi, không phải chỉ từ lúc gặp ông sáng nay, không phải chỉ suốt ngày và đêm hôm qua, mà từ đã lâu lắm rồi, đang xảy đến. Tiếng ông vang lên, ngọt ngào hơn tất cả những chiếc bánh sinh nhật tôi đã từng nếm qua, ấm áp hơn ngọn lửa của tất cả những ngọn nến sinh nhật tôi đã từng thổi tắt, “Chúc mừng sinh nhật, Quỳnh của bố!”
doithoaionline.wordpress.com ThuyMyRFI Posted on 10/01/2025 by Doi Thoai
Post by Sơn râu 27 Jan 2025
Chiều hôm nay mặc dù ngày lễ liên bang, nhưng trong căn cứ này mọi người vẫn làm việc bình thường. Xạ thủ vác tài liệu đi họp với ban chỉ huy của sân bay căn cứ. Người tham dự đa số là phi công Mỹ và đồng minh NATO. Phiên họp xoay quanh vấn đề vi phạm an ninh và quy luật an toàn của phi trường. Ban tổ chức chiếu lên màn hình lớn biên bản của các vi phạm và mọi người thảo luận để rút ưu khuyết điểm. Đến phần biên bản nói có người băng ẩu qua phi đạo mà hỏng xin phép đài không lưu. Hoặc đã xin phép cho băng qua phi đạo nhưng khi trở về thì lại quên xin phép lần nữa, nên băng đại qua phi đạo trong khi máy bay đang lên xuống. Đến phần “xâm nhập” phi đạo trái phép tự nhiên xạ thủ hồi hộp, hỏng biết có phi công nào báo cáo hôm qua thấy có một thằng điên đứng bên cạnh phi đạo ngắm trực thăng võ trang Apache hạ cánh đáp trên phi đạo. Thằng điên đó cũng một lần xâm nhập phi đạo vào năm 2020, trong cao điểm của đại dịch Covid. Thời gian ấy vốn có rất ít chuyến bay, vì mọi người ở nhà đóng cửa hỏng đi đâu cả. Có một buổi trưa hè oi ả ở tiểu bang Virginia, xạ thủ lái xe đến một sân bay quen thuộc. Thấy sân bay hoang vắng, nên mình thay quần ngắn mặc áo thun chạy bộ dọc theo phi đạo. Chạy bộ thể thao dọc theo đường băng rất đã vì nói thẳng tắp, bao la mênh mông hùng tráng, nơi của những phi công đi mây về gió. Đang hì hục chạy thì xạ thủ thấy một chiếc máy bay 2 động cơ cánh quạt đang từ xa hạ cánh để đáp. Thấy vậy nên xạ thủ chạy xuống ngồi bên đường mương thoát nước mưa của phi đạo. Ngồi thu người cúi đầu gần như núp, vì không muốn làm phân tâm cha phi công đang đáp bỗng phát hiện có một cha nội đang lúi cúi bên cạnh phi đạo, giống đặc công Vi Xi đang gài mìn ha ha. Chiếc máy bay hai động cơ cánh quạt chạm bánh và rú lên muồn điếc tai, khi nó chạy qua chỗ xạ thủ đang ngồi lúp xúp. Chiếc máy bay “taxi” vòng lại chỗ nó chạm bánh để chuẩn bị cất cánh, chớ không ngừng lại cho ai xuống cả. Động cơ nó gầm lên, máy bay từ từ lăn bánh mau lần rồi cất cánh lên nền trời xanh biếc của ngày hè. Mình leo lên phi đạo và bắt đầu tiếp tục chạy bộ sau mười mấy phút gián đoạn. Bỗng từ phía xa một chiếc xe pickup có đèn cấp cứu chớp chớp phóng như bay trên phi đạo tiến về phía mình. Chiện gì mà chạy như ma đuổi ha cha nội? Chiếc pickup thắng cái rét. Mình nhận ra anh lái xe là nhân viên làm việc ở phi trường. Ảnh nhỏ nhẹ nói ông không được phép chạy dọc theo phi đạo vì vi phạm luật của phi trường. Nếu ông muốn chạy thì phải ra mấy con đường bên ngoài sân bay kia kìa. Xạ thủ hỏi anh tài xế “Cha phi công lúc nãy báo cáo phải hong?” Ảnh gật đầu, và mình công nhận cha phi công có mắt thiệt tốt, vì đang đáp mà thấy mình ngồi một cục bên cạnh phi đạo nên chắc cũng hoang mang. Phần xạ thủ cũng ngượng nên tránh mặt mọi người một thời gian, vì chắc mọi người xì xầm cái thằng cha đó là phi công mà hỏng biết luật lệ zì ráo trọi hic.
nên giờ đây ngồi họp về các vi phạm luật an phi mà bâng khuâng nhớ lại câu chuyện xưa. Sau phiên họp mọi người bắt tay chào hỏi và đặt những câu hỏi để làm sáng tỏ những điều chưa hiểu. Xạ thủ bước đến gần một anh sĩ quan trẻ trên ngực đeo huy hiệu cánh bay, để hỏi thêm chi tiết zụ băng ẩu qua phi đạo. Trong câu chuyện mình hỏi có phải anh là phi công Apache. Anh ấy gật đầu và xạ thủ kể, hôm qua trực thăng bay quá trời đất luôn, và mình đứng bên cạnh phi đạo quan sát mấy chiếc Apache đang bay vòng hạ cánh theo luật lưu thông bên tay phải dành riêng cho trực thăng. Thì anh phi công reo to vui vẻ “Tui bay chiếc đó đó ông”. À thì ra zậy. Hôm qua mình bị hửi bụi của cánh quạt Apache là do cha nội này lái nè.
Xạ thủ khiêm tốn nhún nhường nói, tui cũng lái trực thăng con nòng nọc nhỏ xíu hà. Anh phi công trẻ mau mắn mời. Anh muốn theo tui ra bãi thăm mấy chiếc Apache bi giờ hông? Xạ thủ cảm thấy trời đất quay mòng mòng vì sướng. Vì sẽ được vuốt ve mơn trớn cần lái của chiếc gunship lừng danh. Nhưng mình cũng rất khôn nên bình thản nói với anh phi công là sẽ gởi email cho ảnh biết khi nào rảnh để ra thăm mấy em Apache. Vì đang đi họp chung với mấy thằng trong toán mà đa số là tụi đang bị « táo bón » trầm trọng. Có chúng nó theo thì mất zui quá. Trên đường ra bãi đậu xe với đám « táo bón » để về lại phòng làm ziệc. Cặp môi của chàng xạ thủ cứ chúm chím cười khó hiểu.
Một thiền sư đi qua chỉ vào 1 cục đá to và hỏi học trò: Tảng đá kia có nặng không? Học trò đáp: Dạ rất nặng, thưa thầy. Thiền sư: Không bê lên thì đâu có nặng? Tôi thấy câu chuyện trên được rất nhiều người thích, đồng ý, lấy nó làm chân lý sống hoặc là một tiêu điểm để biên một vài “lố” chân lý dạy tha nhân. Bản thân tôi thấy cũng… đúng. Nhưng, không đúng với tất cả mọi thứ xảy ra trên đời này. Vì cuộc đời ngoài bạn và tảng đá ra thì còn có nhiều thứ, ví dụ sự bất công. Bởi vậy, lâu lâu, bạn không hề bê tảng đá nhưng vẫn sẽ thấy nặng. Tại luôn có người sẵn sàng bê cục đá đó lên giùm bạn, rồi đặt ngay ngắn trên… đầu của bạn.
Con bò xấu số. Không ít người thảng thốt: Bò ơi, sao bốn triệu con mà lại là mày? Từ Facebook
Quýt làm cam… ngủm Vào chiều 29-1-2020, tại Củ Chi. Lê Quốc Tuấn (33 tuổi) – biệt danh Tuấn Khỉ, là một công an mang cấp hàm thượng úy, làm việc tại phòng tạm giữ tạm giam Công an quận 11. Vì làm “cái” sòng tài xỉu bị thua trắng tay, xin làm thêm 1 ván cuối để gỡ gạc mà những người chơi cùng không cho. Thế là Tuấn chạy về nhà vác khẩu AK 47 bắn 8 phát đạn làm chết 4 người, 1 người bị thương (người bị thương cũng chết sau đó). Rồi bỏ trốn. Trong lúc bỏ trốn, Tuấn Khỉ bắn thêm một người nữa để cướp xe, người này cũng chết. Ngoài 6 người trên, Tuấn còn bắn chết một con… bò sữa. Vì hiện trường vụ án ngay sòng bài, mà sòng bài gần chuồng bò. Con bò xấu số đang nằm ăn cỏ, hóng chuyện thì bị “giết bò diệt khẩu”. Chú bò này là “nhân vật” được nhắc đến nhiều nhất trên cộng đồng mạng sau khi vụ án này xảy ra. “Ăn chay trường, không nhậu nhẹt, gái gú, không cờ bạc, đặc biệt không chơi facebook, không viết bậy bạ gì về Corona nhưng nạn nhân vẫn bị bắn chết cùng năm con bạc!” – Là một trong nhiều lời “cáo phó” dân mạng viết cho “nạn nhân” bốn chân này. Rõ ràng, con bò là một ví dụ điển hình của câu “Quýt làm cam… ngủm”. Mà ngủm cũng không yên nữa. Vì sau khi chết, hình ảnh con bò này bị người ta đem đi so sánh với rất nhiều việc/người xung quanh sự việc. Ví dụ như khi người ta nói về đám đông bất chấp nguy hiểm, bu đen bu đỏ từ sáng đến trắng đêm coi hơn 500 công an vây bắt tên cướp có súng Tuấn Khỉ, vào ngày hôm sau (30-1). Khi được phỏng vấn, họ đều nói lý do rất thiệt thà: “Tết không có chuyện làm nên tui đứng xem…” Hỏi sợ không, lại thiệt thà: “Có gì đâu mà sợ!” Bên cạnh những người coi, còn có những người bán nước uống, đồ ăn vặt, vé số… bám sát “phái đoàn”, phục vụ tận tình cho những ai có nhu cầu. Nhiều người tin, trong đám đông có cả những kẻ bán… hòm! Song song đó, hình ảnh chú bò đáng thương lại bị đem ra nhắc nhở một lần nữa ở quận 10 – TPHCM, cùng ngày 30-1. Nơi cũng đang có một đám đông dân chúng đang vây xem công an thuyết phục một thằng cha ngáo đá cầm lựu đạn cố thủ trong nhà ra đầu thú (sau khi muốn cướp/phá ngân hàng không thành – chưa xác định cướp hay phá). Người ta vừa lo dân chúng cả hai nơi (Củ Chi và Quận 10) chẳng may lại trúng “tên bay đạn lạc” rồi chết oan chết uổng như chú bò. Vừa lo hai tên cướp nhờ đám đông hỗn loạn mà chạy mất, tiện… tay, xử thêm vài con… bò!
Quýt gieo nhân, cam gặt quả Gần đây, một bài viết được “lưu truyền” rộng rãi, nội dung như vầy: “Người Trung Quốc buộc người Hồi giáo Tân Cương phải ăn thịt lợn. Sau đó, cúm lợn xảy ra và người Trung Quốc không có thịt lợn để ăn. Người Trung Quốc cấm người Hồng Kông đeo mặt nạ. Bây giờ tất cả người Trung Quốc đang đeo mặt nạ. Người Trung Quốc đã sử dụng lượng khách du lịch của họ như một “con chip” thương lượng để có được những nhượng bộ kinh tế từ các quốc gia khác. Bây giờ tất cả các nước đang cấm khách du lịch Trung Quốc. Người Trung Quốc xây dựng trại tập trung ở Tân Cương. Bây giờ tất cả người Trung Quốc đang sống trong một trại tập trung. Người Trung Quốc làm toàn đồ giả, chỉ có những con virus là xịn! Quả báo thường tới muộn!”
Trong lúc hàng trăm công an truy bắt tên cướp có súng thì rất nhiều người dân đi xem nhiệt tình như trẩy hội. Hình ảnh người dân hộ tống xe bọc thép bằng xe bọc… nhựa cho mấy “chú công an” đỡ sợ?!- Từ Báo Việt Nam Ðọc qua thì thấy cũng… đúng. Rõ ràng là những sự việc ở trên đã xảy ra. Nhưng nó hơi sai sai ở chỗ, cái “người Trung Quốc” vế “nhân” và vế “quả” trong mỗi sự việc, đa số không phải cùng một người/nhóm người. Những kẻ gieo rắc cái ác, tạo nên những thế hệ mang tư tưởng ác độc, mang giấc mộng bành trướng là giới lãnh đạo, những kẻ ăn trên ngồi trước. Còn những người đang gánh chịu hậu quả từ dịch bệnh, từ sự căm ghét, kỳ thị của thế giới, từ những đức tánh xấu xa của chính dân tộc mình là những người dân đen, không thể đen hơn. Vì đa số những người hơi “trắng” một chút, thậm chí là “cà phê sữa” có lẽ đã bỏ đi khỏi Trung Quốc, như những người Việt có điều kiện đang tìm đường bỏ chạy khỏi Việt Nam vậy. Tôi coi rất nhiều video clip về thực trạng của bệnh dịch ở giữa lòng Vũ Hán. Tôi thấy nhiều người bị cách ly trong lo sợ và hồi hộp, vì không biết bản thân có nhiễm bệnh hay không. Tôi cũng thấy rất nhiều người nhiễm bệnh tuyệt vọng có, ủ rũ có, la hét rồi xé quần áo bảo hộ của bác sĩ và nhân viên y tế cũng có. Họ gào lên: “Tao chết thì chúng mày cũng phải chết cùng”, “tao nguyền rủa chúng mày phải chết, cũng giống bọn tao”… Tôi tin, trong đó nhiều bác sĩ/y tá/nhân viên y tế bất mãn, buông xuôi. Nhưng tôi cũng thấy có những người ngày đêm không ngủ để làm việc của mình. Có nhiều người phải đeo bỉm, đi vệ sinh tại chỗ vì họ không thể cởi bộ đồ bảo hộ ra được. Họ phải uống thuốc nạp thẳng protein vào người chứ không có thời gian để ăn. Những nữ y tá/bác sĩ nữ phải cạo luôn đầu để tiện cho công việc… Những con người này, rõ ràng không phải là người làm những việc ở vế đầu trong bài viết trên. Không chỉ người Trung Quốc đang hứng chịu cái “quả” của chính quyền Trung Quốc gây ra. Mà rất nhiều người khác quốc tịch, không cùng màu da cũng gánh chịu hậu quả đó. Khiến cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phải xin lỗi vì nhận định sai trước đó và buộc tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu vì “con” virus corona được “khai sanh” ở đất Vũ Hán, trung tâm Trung Quốc. Tôi nghe bạn bè tôi kể, chúng nó ở Châu Âu bị “kỳ thị” ra mặt vì là người Châu Á. Như cách mà chính bản thân tôi nghĩ mình sẽ làm khi gặp người Trung Quốc ở Việt Nam, đó là tránh càng xa càng tốt. Mặc kệ họ có bệnh hay không. Mặc kệ bản thân tôi có đang làm nghề du lịch hay không. Như lời tâm sự của một anh chủ khách sạn ở Hội An vừa từ chối hai cha con vị khách người Trung Quốc, dưới đây: “No country for Chinese” Sau cái lắc đầu bị từ chối, người cha này cũng biết ý nên bước ra ngay không hề thêm thắc mắc, chắc không phải là chỗ đầu tiên bị xua đuổi chăng? Mặt lại cắm vào điện thoại vội tìm khách sạn khác, tay kia kéo người con đi ra ngoài tránh làm phiền. Cái khoảnh khắc nhìn ánh mắt ngơ ngác của đứa bé, mình tự hỏi ở cương vị người cha mình sẽ giải thích ra sao cho con mình nếu chẳng may mình lâm vào tình trạng oái oăm này.
Carrie Lam cấm đeo mặt nạ nơi công cộng cách đây vài tháng rồi tự xuất hiện với một chiếc mặt nạ trong mùa dịch Vũ Hán. Từ Facebook Le Quang Một kỳ nghỉ, một chuyến du lịch cùng gia đình bỗng trở thành thảm họa. Những công dân Trung Quốc xuất ngoại đi chơi Tết vui vẻ bao nhiêu giờ bỗng dưng thành đối tượng bị phân loại và kỳ thị dè chừng bởi phần còn lại của thế giới. Thấy cũng tội, mà nhận khách rồi lỡ thành ổ dịch rồi vợ con ai chăm. Phòng thì trống, khách thì không dám nhận. Nghĩ mà rầu!” – Từ Facebook Vũ Ðức Thu Ân. Ở bên dưới bình luận, anh chủ này nói thêm là nếu ảnh còn độc thân chắc cũng “chơi tới luôn”. Nhưng giờ vợ ảnh lo lắng, con ảnh còn nhỏ. Quan trọng là những nhân viên trong khách sạn cũng phản đối, nói thà nghỉ việc chứ không dọn phòng của người Trung Quốc. Tuy rất xót trước hình ảnh “côi cút” của hai cha con nọ, nhưng anh ta không còn sự lựa chọn nào khác. Và cho dầu có bị bệnh Corona hay không, cho dầu có tìm được một chỗ lưu trú khác hay không, cho dầu hai cha con người Trung Quốc này qua Việt Nam du lịch thiệt hay là tránh nạn thì họ cũng đang gánh chịu hậu quả không phải bản thân mình gây ra. Có hay chăng thì, đó là hậu quả của việc họ “đầu thai” ở Trung Quốc, làm con dân Trung Quốc! Giống như dân tình Việt Nam hay than thân trách phận: “sanh ra ở VN đã là nghiệp”. Mà “nghiệp” dân Việt Nam gánh, không biết có hơn hay không chứ chắc chắn là không thua gì cái “nghiệp” mà dân Trung Quốc đang gánh!
Cư dân mạng VN “troll” trước đại dịch Corona – Từ Facebook
Cũng là… cam Tôi không sống ở TQ nên không biết dân TQ “gánh nghiệp” với tâm thế ra sao, chứ tôi thấy dân mình, đa số gánh coi nó nhẹ nhàng lắm. Như sáng hôm nay, 30-1-2020, khi con số được phép công bố, toàn thế giới đã có 170 người qua đời với hơn 7,800 người nhiễm bệnh. Riêng Việt Nam đã có hơn 100 người bị cách ly, 5 ca nhiễm bệnh được công bố, trong đó, 3 ca nhiễm nCoV dương tính là công dân Việt Nam. Nhưng khi tôi ra đường, hàng quán vẫn “sum suê” khách chụm đầu xì xụp đồ ăn, phì phèo khói thuốc. Ngoài đường, hết 3/4 số người không mang khẩu trang. Ngay cả mấy bác tài xế công nghệ, vốn đã được công ty ra quy định phải đeo khẩu trang để phòng bệnh cho bản thân và hành khách. Một bác tài khi được hỏi, trả lời tỉnh bơ: “Ðeo khẩu trang ngộp lắm, mà dịch bệnh tuốt bên Trung Quốc, quận 3 này đâu có người Trung Quốc mà cô lo !” Không chỉ mấy bác tài, ngay cả chị hàng xóm “Việt Kiều” hiểu biết cũng làm tôi hoang mang. Vì sáng vừa mở mắt, ra đứng ban công ngóng trời ngóng đất đã thấy chị vừa ì ạch vác vali vừa ngước cổ lên khoe với tôi lát nữa đi Ðà Nẵng du lịch trong nét mặt rạng ngời và trần trụi, không khẩu trang kính mát (những thứ tối thiểu phải dùng trong mùa dịch hiện nay). Trong lúc chị chờ taxi, tôi cố khuyên chị mang đồ bảo hộ và suy nghĩ lại chuyện đi Ðà Nẵng, cái thành phố đông người TQ du lịch nhất nhì Việt Nam hiện nay, nhưng ánh mắt chị thì thờ ơ. Không những vậy, bà Tâm, hàng xóm có hai đứa con chen vô câu rất quen: “Ôi sống chết có số mấy đứa ơi, hơi đâu lo. Ở đâu chứ ở đây, không chết vì cái này cũng chết vì cái khác!” Lúc đầu tôi mất hứng dữ lắm, hầm hầm đi vô nhà… ngủ tiếp. Nhưng sau khi ngủ dậy, nằm suy nghĩ thấy bà Tâm cũng… đúng. Việt Nam có rất nhiều thứ khiến con người chết trước khi chết vì corona. Nào là bụi mịn, bánh phở formal, cá formosa, rau muống nhớt, gạo nhiễm chì, “khủng bố” 84 tuổi (theo lời nhà nước)… Hay đơn giản là cái tính sân si của nhiều người Việt: Báo đăng 3 ngày Tết cả nước có 1660 ca cấp cứu do… đánh nhau. Có 14,432 ca khám, cấp cứu do tai nạn giao thông… Người ta nói, Corona mà có tay có chưn thì cũng bị dân mình đập hoặc đụng chết ngoài đường trước khi chui vô người rồi! Nhưng đời không như là mơ. Tiếc là con corona không hề có tay có chân. Bởi vậy, người ta lại bàn nhau. Nếu lỡ những ngày tới, tình hình dịch Vũ Hán càng phức tạp hơn, không kiểm soát được nữa. Có thể lãnh đạo Việt Nam sẽ chống dịch bằng phương pháp “gia truyền” nhưng vô cùng hiệu quả, đó là cắt… internet!
Nhà hàng Trung Quốc treo biển: “Chúc mừng động đất ở Nhật Bản, tối nay ai đến cửa hàng sẽ được một thùng bia miễn phí”.Ảnh: Weibo DU
Tác giả Duy Nhân tên thật Nguyễn Đức Đạo hiện ở tại Chicago, tiểu bang Illinois. Tác giả đã đóng góp nhiều bài Viết Về Nước Mỹ và lãnh nhiều giải từ năm 2001. Tác giả nay đã 80 tuổi, về hưu từ nhiều năm qua. Ông mới bay về Cali lãnh giải Danh Dự VVNM 2023 tháng 12 vừa rồi. Sau đó ông vẫn tiếp tục gửi những bài viết giá trị. Dưới đây là một bài phân tích khá lý thú về vấn đề nên sống ở Mỹ hay ở Việt Nam.
Thành phố Chicago, nơi tác giả đang sống
Một căn nhà ở quận 4-tác giả chụp tháng 3/2024
Thời gian gần đây trong cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng như ở Việt Nam bỗng nhiên phát sinh một câu hỏi là sống ở Mỹ sướng hay ở Việt Nam sướng? Vấn đề đặt ra giữa lúc có một số Việt kiều Mỹ phần lớn là đã lớn tuổi, đã về hưu nay quay về Việt Nam sống. Họ nói sống ở Việt Nam sướng và hết lời ca tụng Việt Nam, thì cũng được đi nếu họ không chê bai Mỹ, đả kích Mỹ và Việt kiều bằng những lời lẽ bịa đặt vu vơ. Có ba tiền đề cần lưu ý trong câu hỏi “Sống ở Mỹ sướng hay Việt Nam sướng”? Thứ nhất: Cộng đồng người Việt ở nước ngoài tập trung nhiều nhất ở Mỹ được hình thành từ sau ngày 30/4/1975 đến nay cũng tròn trèm 50 năm. Thời gian đã đủ để nhìn lại và đánh giá một cách công bằng và chính xác nước Mỹ cũng như Việt Nam về mọi mặt với một thái độ khách quan và công tâm, không tuyên truyền, không xuyên tạc, không chính trị hóa sự việc. Cho nên vấn đề được nêu ra trong lúc này là đúng thời điểm, không quá sớm mà cũng không quá muộn. Nếu như một người mới sống ở Mỹ được vài tháng hoặc vài năm, chưa hiểu hết về nước Mỹ mà nói về nước Mỹ thì khó mà thuyết phục được người nghe. Cũng vậy, một người sống ở Mỹ chưa từng về Việt Nam mà nói về Việt Nam thì cũng có thể bị chỉ trích là phiến diện. Do đó nhà cầm quyền Việt Nam thường kêu gọi những người dân cử gốc Việt, tham gia chánh trường Hoa Kỳ, thường phê phán chế độ, hãy về Việt Nam để nhìn thấy đất nước thay đổi như thế nào (mặc dầu sự thay đổi bề ngoài ở những thành phố lớn chưa nói lên được gì cả) Thứ hai: Nếu có so sánh thì sự so sánh đó phải toàn diện, bao trùm mọi mặt chớ không thể chỉ nhìn ở một góc độ nhỏ (như sự sinh hoạt, ăn uống hàng ngày) mà nói đó là Việt Nam là không chính xác. Điều này luôn luôn nhìn thấy ở những người về sống ở Việt Nam, hết lời ca tụng Việt Nam mà không biết tới và nói đến những vấn đề quan trong khác như kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội, chánh trị, nhân quyền ở Việt Nam là một thiếu sót lớn. Những ai ca tụng chế độ, nói sống ở Việt Nam là sướng trước hết phải trả lời được câu hỏi “ Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” hiện nay như thế nào? Thứ ba: Từ sướng cần được hiểu cho đúng. Sướng được dùng ở đây như cách nói gọn của từ kép là sung sướng, là hạnh phúc. Trước hết nó có tính cách cá nhân, tùy thuộc vào cảm giác và nhận thức của mỗi người vì có những trường hợp đối với người này là hạnh phúc còn người khác thì không. Nhưng nói chung thì hạnh phúc chính là mục tiêu cuối cùng của mỗi con người sinh ra trên cõi đời này. Nơi nào có hạnh phúc thì người ta tìm đến, vì nơi đó đáng sống hơn những nơi khác vì “đất lành chim đậu” mà. Rốt cuộc hạnh phúc không phải là một cái gì trừu tượng của cá nhân mà nó phải dựa trên tiêu chí được đa số công nhận. Nơi nào mà đời sống khó khăn, không thoải mái, và không có tương lai thì người ta xa lánh và bỏ đi. Điều này là lẽ đương nhiên, không ai có thể phủ nhận hay chối cãi được. Hàng năm các tổ chức và các cơ quan truyền thông quốc tế đều có đánh giá và xếp hạng các quốc gia đáng sống nhất, chính xác hơn là các quốc gia có “chất lượng cuộc sống” tốt nhất thế giới. Năm 2023 tờ US News và World Report khảo sát và xếp hạng 87 quốc gia căn cứ vào rất nhiều chỉ tiêu. Các chỉ tiêu quan trọng như ổn định chánh trị và an toàn an ninh cá nhân, kinh tế phát triển, giá trị tồng sản phẩm quốc nội GDP cao, văn hóa giáo dục phát triển, y tế hiện đại và phổ cập rộng rãi, môi trường sống lành mạnh, thu nhập đầu người cao cùng với giá cả thị trường ổn định, thị trường lao động tốt, người dân có công ăn việc làm vân. vân… Và 10 quốc gia đứng đầu được công nhận năm nay là Thụy Điển, Na Uy, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy sĩ, Hà Lan, Australia, Đức, Tân Tây Lan. Việt Nam được xếp thứ 44, sau các nước trong khu vực Đông Nam Á như Singapore, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Philippines thì làm sao so sánh được với Mỹ mà nói sống ở Mỹ sướng hay Việt Nam sướng. Nói chơi với nhau trong lúc trà dư tửu hậu, trong lúc tụ năm tụ bảy, chén chú chén anh, trong lúc lạng quạng, mơ màng trong hơi men chếnh choáng, nói về trường hợp cá biệt của riêng mình, ý kiến riêng của mình thì được chớ làm sao đủ tư cách mà bàn về những vấn đề vĩ mô, trọng đại của một quốc gia, hơn nữa là so sánh giữa một cường quốc và một nước Xã Hội Chủ Nghĩa thì nó chông chênh, khập khễnh lắm. Nhiều người nói nếu có tiền thì sống ở Việt Nam sướng hơn ở Mỹ khi mà Mỹ có thứ gì thì Việt Nam cũng có thứ đó thì đi Mỹ mà làm gì? Tư tưởng này không sai nhưng nó rất hạn hẹp. Nếu nói có tiền ở đâu cũng sướng thì sống ở Mỹ cũng sướng vậy, có khi còn sướng hơn! Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có tiền? và nguồn tiền này ở đâu mà có? “Có tiền” ở đây hàm ý là có rất nhiều tiền. Có rất nhiều tiền mới mua được mọi thứ để thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người, không kể là mua đất đai, nhà cửa, xe cộ, những thứ này ở Việt Nam mắc hơn ở Mỹ rất nhiều thì tầng lớp trung lưu và nghèo làm sao với tới? Tầng lớp giàu có ở Việt Nam gọi là đại gia đâu có nhiều. Những người giàu có ở Việt Nam bao gồm hai thành phần. Một là những đảng viên Cộng Sản có chức, có quyền, có cơ hội để tham ô, họ sống sung sướng trên mồ hôi, nước mắt, trên xương máu của nhân dân. Những vụ án đưa ra tòa xét xử gần đây như vụ án chuyến bay giải cứu số người Việt còn kẹt ở nước ngoài muốn hồi hương trong mùa dịch cúm Covid 19 tháng 12 năm 2023, vụ kit test ở công ty Việt Á tháng 1 năm 2023, vụ Đỗ Hữu Ca, cựu Giám Đốc Công An Hải Phòng tháng 4 năm 2024 đã chứng minh điều đó. Một thành phần khác không giữ chức vụ gì, không liên hệ gì đến cơ quan nhà nước nhưng rất giàu là các doanh nhân làm ăn bất chánh, vi phạm luật pháp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản các đối tác kinh doanh như bà Trương Mỹ Lan chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát vừa mới bị tòa sơ thẩm TP Hồ Chí Minh kết án tử hình ngày 11/04/2024. Những người này giờ đây chắc đã nhận ra rằng ở Việt Nam có nhiều tiền chưa chắc là sung sướng. Khi đối diện với bản án tử hình thì bà Lan mới thức tỉnh và tự trách mình: Có nhiều tiền để làm gì? Nhưng rất tiếc là đã muộn! Tháng 11 năm 2021 ông Bộ Trường Công An cùng hai nhân viên nhân chuyến công tác ở nước Anh, đi ăn bò dát vàng mỗi phần là 45 triệu, tổng cộng hết 135 triệu, không biết mấy ông sướng cỡ nào nhưng bị công luận và báo chí Việt Nam phê phán kịch liệt vì lẽ mấy ông dùng ngân sách nhà nước, là tiền thuế của người dân để chi tiêu hoang phí giữa lúc người dân đang chết lên chết xuống vì đại dịch Covid 19. Những người trong cuộc vẫn giữ im lặng còn nhà nước thì không một lời giải thích. Đó là Việt Nam? Con người ta cần có tiền để mua và thỏa mãn những nhu cầu vật chất trong đời sống hàng ngày nhưng nhu cầu vật chất bao giờ cũng có giới hạn như lương thực, thực phẩm, áo quần, nhà ở, phương tiện di chuyển… Ở thì chỉ cần một căn nhà, ngủ chỉ trên một chiếc giường, di chuyển chỉ cần một chiếc xe, ăn uống nhiều lắm cũng chỉ làm đầy cái bao tử chớ không thể hơn. Vậy là đủ rồi, đâu cần phải có thật nhiều tiền bằng mọi giá? Bên cạnh đó các nhu cầu về tinh thần xem ra còn quan trọng hơn như nhu cầu tín ngưỡng, nhu cầu đi lại, nhu cầu hiểu biết, nhu cầu được bày tỏ chính kiến, thái độ, tư tưởng mà không bị đàn áp bắt bớ, nhu cầu có quyền làm chủ, danh từ kinh tế gọi là quyền tư hữu về nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, tài sản… Trong số này quan trọng nhất là quyền sở hữu đất đai, ruộng vườn. Nhưng hiến pháp và luật đất đai ở Việt Nam qui định “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, được nhà nước thống nhất quản lý”. Khi qui định như vậy, bất cứ lúc nào nhà nước cũng có thể trưng thu, trưng dụng đất đai của người dân để thực hiện một công trình, dự án nào đó, thường là giao lại cho các nhà đầu tư nước ngoài với giá cao gấp nhiều lần so với giá đền bù cho người dân, không được người dân đồng ý. Từ đó phát sinh một giai cấp mới gọi là “dân oan”, tối ngày chỉ có vác đơn đi khiếu kiện từ địa phương cho tới thành phố và trung ương, nhưng không nơi nào giải quyết, không một tòa án nào thụ lý hồ sơ. Điều này không hề có ở các quốc gia Tư Bản như Hoa Kỳ và Châu Âu. Phong trào cải cách ruộng đất ở miền Bắc sau năm 1954 và chiến dịch đánh tư sản sau năm 1975 ở miền Nam luôn luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người dân trong cả nước, mặc dầu nó đã được thực hiện từ 50 năm, 70 năm về trước. Vậy mà người ta vẫn nói được là Việt Nam ta ưu việt và dân chủ gấp trăm ngàn lần Tư bản Hoa Kỳ đang giẫy chết! Nước Mỹ đang giẫy chết mà họ tranh nhau gửi con cháu du học Mỹ mà không gửi đi Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba là những nước Cộng sản còn lại, tôn thờ chủ nghĩa Mác- Lênin như họ? Có một lý luận so sánh giữa Việt Nam và Mỹ như sau: “Nếu nói Việt Nam nghèo thì ở Mỹ cũng có người nghèo vậy, thậm chí những người ăn xin, những người homeless không nhà cửa ở Mỹ còn nhiều hơn Việt Nam. Ở Mỹ thì làm việc vất vả, cực khổ mà vẫn thiếu nợ ngập đầu”. Đây là lý luận của những người ở Việt Nam không hiểu gì về nước Mỹ, họ là những người ngây thơ, tội nghiệp, chỉ biết nghe những người có ác ý muốn cào bằng, muốn đánh đồng giữa Mỹ và Việt Nam, muốn hạ thấp giá trị Mỹ. Thật ra nhận xét của họ là đúng chớ không sai nhưng chỉ đúng khi nhìn vào hiện tượng bên ngoài. Vấn đề là phải thấy được bản chất của vấn đề, không để hiện tượng đánh lừa bản chất. Đồng ý là ở Mỹ cũng có người nghèo như Việt Nam nhưng người nghèo ở Mỹ khác với người nghèo ở Việt Nam nhiều lắm, không thể đánh đồng với nhau được. Trong năm 2024 Mỹ qui định người có thu nhập thấp (low income) dưới 1.913 USD hoặc có tài sản dưới 2.000 USD được xem là người nghèo, hàng tháng được nhà nước liên bang trợ cấp một số tiền gọi là trợ cấp an sinh xã hội (Social Security Income). Số tiền này hiện nay là 943 USD cho mỗi cá nhân, tính ra tiền Việt theo tỷ giá 25.000$ một Mỹ kim là 23.575.000$, lớn hơn lương của Tổng Bí Thư, chủ tịch nước, chủ tịch quốc Hội và Thủ Tướng Việt Nam nữa. Cụ thể kể từ ngày 1/7/2024 thì lương của Tổng Bí Thư và Chủ Tịch Nước là 23.400.000$, Chủ Tịch Quốc Hội và Thủ Tướng chánh phủ là 22.500.000$. Đây là một khám phá bất ngờ và lý thú mà người viết biết được khi nghiên cứu để viết bài này. Ngoài số tiền trợ cấp hàng tháng, người nghèo ở Mỹ còn được cấp phiếu mua thực phẩm gọi là food stamp, có chế độ chăm sóc y tế không mất tiền, có chế độ housing về nhà ở không mất tiền hoặc với giá tượng trưng, sử dụng phương tiện di chuyển công cộng miễn phí, con cái của người nghèo được đi học miễn phí từ tiểu học đến đại học. Do đó người nghèo ở Mỹ vẫn có thể nuôi con thành giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ như bất cứ ai. Mỹ là đất nước cơ hội dành cho bất cứ ai có quyết tâm và cố gắng. Trong khi đó nhà nước Việt Nam đã làm được gì cho người nghèo và họ sống ra sao? Một thực tế nữa phải nhìn nhận là số người ăn xin ở Mỹ có vẻ nhiều hơn Việt Nam, nhất là ở các thành phố lớn. Có hai lý do để giải thích. Một là nhà nước Việt Nam tập trung họ lại có nơi có chỗ, không để họ xuất hiện tràn lan làm mất vẻ mỹ quan thành phố, làm phiền du khách khi mà chánh phủ đang cố gắng phát triển ngành du lịch Việt Nam để thu hút ngoại tệ. Ông Nguyễn Bá Thanh năm 2000 lúc còn làm Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố Đà Nẳng đã được nhiều người biết tới là do giải quyết được vấn đề người ăn xin ở thành phố ông. Ở Mỹ thì người ta tôn trọng quyền cư trú và tự do đi lại của mọi người. Người nghèo đã có chánh phủ lo, họ có đời sống thoải mái, không thích bị gò bó, tập trung. Ban ngày thì đi thang thang xin ăn thêm được đồng nào hay đồng đó. Tối về thì dựng lều sát bên nhau dưới gầm cầu, vĩa hè, công viên sinh hoạt, ăn uống nhậu nhẹt, kể cả sử dụng cần sa, ma túy mà không bị dòm ngó. Các cựu chiến binh Mỹ giải ngũ về, được chánh phủ ưu đãi mọi mặt, họ hưởng chế độ an sinh xã hội cao hơn những người khác. Cũng có thể họ vẫn có nhà cửa, vợ con, người thân nhưng vẫn thích sống đời homeless, lang thang, ăn xin ngoài phố là do họ muốn như vậy, cũng có khi họ bị tâm thần, trầm cảm, nhà nước phải tôn trọng thôi. Đâu đó chúng ta vẫn nghe những lời oán than từ người đã từng sống ở Mỹ là những người lao động Mỹ làm việc vất vả, khổ cực lắm. Điều này cũng có phần đúng. Nhưng với người lao động phổ thông, lương được trả theo giờ. Năm nay chánh phủ liên bang ấn định lương giờ tối thiểu là $7.25/giờ, tính ra $928USD một tháng (tương đương 23.200.000 VN đồng, ít hơn lương Thủ Tướng Việt Nam một chút). Trên thực tế người ta trả cao hơn nhiều, trung bình là 33USD/ giờ trong khi lương thực, thực phầm rất rẻ nên người lao động ở Mỹ có đời sống thoải mái, không thấy ai phàn nàn điều gì. Chính nhờ sự đóng góp của những người lao động, làm việc cật lực nên kinh tế Mỹ mới phát triển và trở nên hùng mạnh nhất thế giới như ngày nay. Cuối cùng phúc lợi xã hội cũng được trả về cho công nhân, chớ làm việc tà tà theo kiểu “chân ngoài dài hơn chân trong” như ở Việt Nam, sinh viên tốt nghiệp đại học ra trường không tìm được việc làm, phải trông chờ vào “xuất khẩu lao động” ra nước ngoài làm bất cứ việc gì thì biết đến bao giờ Việt Nam mới cất cánh (take off), theo kịp các nước Đông Nam Á, nói chi đến giấc mơ con rồng Châu Á? Mấy năm gần đây nhà nước Việt Nam cho các công ty nước ngoải vào Việt Nam mở nhà máy với thiết bị, máy móc và dây chuyền sản xuất hiện đại và sử dụng công nhân Việt Nam làm việc vất vả không kém gì ở Mỹ nhưng đồng lương không tương xứng, nhiều lúc không được hưởng chế độ lao động và bảo hiểm như thỏa thuận nên đã xảy ra nhiều vụ đình công lớn. Quan chức Việt Nam vì lợi ích cá nhân thường đứng về phía chủ nhân nước ngoài hơn là công nhân nước mình. Sau 1975 người Việt đến được nước Mỹ bằng bất cứ phương tiện gì cũng được nước Mỹ dang tay đón nhận và giúp đỡ tùy theo chương trình, kể cả ứng trước tiền vé máy bay cho cả gia đình với cam kết là sẽ trả lại sau nếu thuộc diện HO. Không riêng gì người Việt tỵ nạn, cho tới nay các ngân hàng và tổ chức tín dụng Mỹ vẫn tiếp tục cho mọi người vay tiền để mua nhà, mua xe và các vật dụng cần thiết khác trong gia đình, hàng hóa, dịch vụ, cũng như để tổ chức sản xuất, kinh doanh sau khi xem xét điểm số tín dụng, sự ổn định việc làm và lương bổng. Người vay tự chọn cho mình thời gian tốt nhất để trả hết nợ vay (pay off). Hàng tháng ngân hàng trích từ tài khoản của khách hàng để thu nợ như thỏa thuận, có thể lên đến 30 năm. Việc sinh viên vay tiền đi học thì có chế độ riêng. Nền giáo dục ở Mỹ là miễn phí từ tiểu học đến trung và đại học. Ở các trường cao đẳng (college) và đại học (univesity ) còn có chế độ Financial Aid, chế độ học bổng. Những năm đầu khi mới tới Mỹ gia đình tôi gồm vợ chồng con cái cả bốn người đều ghi danh học college, có Financial Aid. Sau khi trang trải mọi chi phí học tập còn có dư để gửi về cho người thân ở Việt Nam nữa. Thời đó người Việt mình thường nói với nhau rằng ở Mỹ đi học cũng là một nghề vì hàng tháng đều được chánh phủ trả lương. Đối với các chương trình mà thời gian đào tạo và chi phí cao như y khoa thì chánh phủ cho sinh viên mượn tiền để học và sẽ hoàn lại theo kế hoạch sau khi tốt nghiệp và có việc làm. Chi phí đào tạo một sinh viên y khoa ở trường công cao hơn trường tư. Từ khi làm nội trú chuyên khoa một bác sĩ tương lai đã được nhận trợ cấp rồi. Khi ra trường làm ở bệnh viện được trả từ 200,000 USD đến 300,000 USD một năm tùy chuyên khoa và kinh nghiệm, bác sĩ phẩu thuật chỉnh hình được trả đến 443,000 USD/năm. Ngoài ra bác sĩ nào cũng có phòng mạch tư và chưa có số liệu thống kê nào tiết lộ thu nhập của một bác sĩ ở phòng mạch là bao nhiêu, nhưng chắc chắn nó phải nhiều lần hơn tiền lương ở bệnh viện. Chế độ tín dụng Mỹ giúp người dân có tiền để chi tiêu, kích thích sản xuất, góp phần tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ, khiến nước này có nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới, bảo đảm cho đồng đô la có giá trị vững chắc, được cả thế giới tin dùng. Người Việt tỵ nạn qua đây với hai bàn tay trắng và phải làm lại từ đầu vậy mà ngay từ 1993 đã gửi tiền về cho Việt Nam và số tiền này mỗi năm mỗi tăng. Trong năm 2023 số kiều hối mà đồng bào gửi về Việt Nam là 16 tỉ, riêng cho thành phố Hồ Chí Minh hơn 9 tỉ USD, hơn 3 lần nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI. Ở Mỹ dầu sinh trong một gia đình nghèo khó bạn cũng có thể đi học để trở thành bác sĩ được nếu như có quyết tâm. Còn ở Việt Nam? Từ nhà trẻ lên đến mẫu giáo, tiểu học, trung học và đại học, cấp nào cũng phải đóng rất nhiều loại phí mà không gọi là học phí, không có cơ quan nào trợ cấp, cũng không có chế độ cho mượn tiền đi học như ở Mỹ. Gia đình nghèo cũng đành bó tay, cho con mình đi bán vé số. Hình ảnh một em bé cầm sấp vé số chạy khắp hang cùng, ngõ hẻm rao bán từng tờ vé số thật là tội nghiệp. Cũng trong giờ phút đó mọi trẻ con ở Mỹ đều ngồi trên ghế nhà trường, không có em nào lang thang ngoài phố cả. Hai hình ảnh không biết đã đủ để trả lời câu hỏi sống ở đâu sướng hơn, Mỹ hay Việt Nam, cho dầu bạn hiểu từ “sướng” theo cách riêng của bạn, cho dầu bạn nói không thích nước Mỹ theo cách riêng của bạn? Thật ra có rất nhiều bạn sống ở Mỹ lâu năm, nay quay về sống ở Việt Nam có những ý kiến trái chiều rất “vui”. Bạn D.T.H sống 10 năm ở tiểu bang Minnesota nêu lý do về Việt Nam là sáng dậy sớm nghe tiếng gà gáy rồi đi chợ quê uống cà phê, ăn cà rem ngoài đường. Ở Việt Nam tha hồ giăng lưới, bắt con tôm con cá về kho mặn rất ngon, đi ăn đám giỗ ở Việt Nam thì vui ác ôn luôn. Ngoài ra bạn này còn khuyên Việt kiều Mỹ nên về Việt Nam sống nếu có điều kiện vì sống ở Mỹ cực khổ lắm, ở Việt Nam thì sướng hơn. Lý luận của bạn H thì đơn giản và cũng nên thơ nữa, nhưng bạn quên mất nhiều điều. Một là bạn lấy tiền ở đâu để về Việt Nam hưởng thụ cuộc sống mà không làm gì cả? Đó là do bạn dành dụm, tích lũy sau mười năm làm việc ở Mỹ. Bạn có một lời cám ơn nước Mỹ chưa? Vì nếu cùng thời gian đó bạn vẫn sống ở Việt Nam thì có được như ngày nay không? Trong khi bạn hưởng thụ một mình thì thân nhân, bạn bè và những người xung quanh bạn sống như thế nào, bạn có biết không? Mai này bạn sẽ già yếu và phải đối diện với bệnh tật, thì trang thiết bị, trình độ y khoa ở Việt Nam có bằng ở Mỹ không? Chế độ chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế có ưu tiên nào dành cho một người về hưu từ Mỹ không? Số tiền còn lại của bạn có đủ để thanh toán y tế phí rất cao ở Việt Nam không? Hy vọng bạn có câu trả lời thành thật nhất cho chính bạn chớ không cho ai khác. Có một bạn lấy nick name là Năm Lúa, đã sống ở Mỹ 30 năm, nay về Việt Nam sống với cha mẹ. Bạn này vừa ca tụng Việt Nam vừa đặt điều nói xấu Mỹ và người Việt ở Mỹ bằng lời lẽ hết sức ngây ngô. Chẳng hạn như bạn nói cha mẹ nuôi con tới 18 tuổi thì đuổi ra khỏi nhà,.Lý do là lúc nhỏ cha mẹ nói nó không nghe, đụng tới nó thì nó kêu cảnh sát cho nên không làm gì được nó, phải đợi nó đến 18 tuổi mới làm được bằng cách đuổi nó ra khỏi nhà. Bạn này nói láo hết chỗ nói vì không có cha mẹ nào, nhất là cha mẹ Việt Nam lại nhẫn tâm đuổi con mình ra khỏi nhà cả. Chỉ có trường hợp khi đến 18 tuổi con mình lên đại học và trường thì ở xa nhà nên nó thường dọn vào dorm, một loại ký túc xá trong phạm vi nhà trường để cho tiện việc học tập thôi. Làm gì có chuyện “đuổi” ở đây. Bạn này còn nói tình cảm giữa con cái và cha mẹ ở Mỹ không bằng ở Việt Nam. Một lần nữa bạn này nói láo mà không có cơ sở, không có căn cứ. Bạn này không hiểu là cách biểu hiện tình cảm của ông bà, cha mẹ với con cháu của người Việt nó khác với người Mỹ là do sự khác biệt giữa hai nền văn hóa. Thí dụ ở Mỹ mà hun hít, nựng nịu trẻ theo cái cách của người Việt Nam, của mấy bà nhà quê ở Việt Nam có thể bị kết tội là quấy rối tình dục, là abuse trẻ con. Khuynh hướng của người Mỹ là thích tự do và tự lập nên có điều kiện là dọn ra ở riêng, xây dựng một gia đình riêng, không phụ thuộc vào cha mẹ nữa, còn người Việt mặc dầu ở Mỹ nhưng ông bà, cha mẹ và con cái cùng sống với nhau trong một gia đình theo nghĩa “tam đại đồng đường” cũng là bình thường, cũng dễ hiểu thôi. Năm Lúa còn khuyên mọi người là đừng có đi đâu hết vì “Việt Nam được giải phóng rồi, có tự do rồi. Ra đường không ai bắt bớ hay làm khó dễ, kể cả việc đưa máy quay phim vào mặt người ta quay cũng được”. Xin hỏi Năm Lúa một câu- Ông khuyên người ta đừng đi Mỹ nữa nhưng tại sao ông lại ở Mỹ đến 30 năm ? Ông nói ở Việt Nam ông được tự do đưa máy quay phim vào mặt người ta để quay. Xin thưa đó không phải là tự do mà là vô văn hóa và bất lịch sự. Trường hợp những người sống ở Mỹ nhiều năm nay quay đầu về Việt Nam và chửi Mỹ như hai bạn DTH và Năm Lúa là trường hợp đặc biệt, rồi sẽ rơi vào quên lãng. Nhân tiện mời hai bạn nhìn lại trường hợp của Trần Trường để có cái nhìn rộng rãi hơn, để củng cố thêm niềm tin rằng ở Mỹ hay Việt Nam nơi nào sướng hơn, đáng sống hơn. Năm 1999 Trần Trường treo hình Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng trong tiệm video Hi Tek của y ở đại lộ Bolsa, thành phố Westminster, tiểu bang California, bị cộng đồng người Việt ở đây phản đối và biểu tình suốt 53 ngày đêm. Trần Trường lấy quyền tự do phát biểu chống lại chánh quyền địa phương và đám biểu tình, cũng nhân danh quyền tự do phát biểu. Cuối cùng Trần Trường bị xử thua. Cửa tiệm bị đóng cửa vì lý do sang băng lậu và trốn thuế. Năm 2005 Trần Trường bán hết tài sản được 7 tỉ đem tiền về Việt Nam mở công ty nuôi trồng thủy sản ở Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. Số tiền Trường mang về không thấm vào đâu, ngân hàng hứa cho vay thêm 6 tỉ nữa, cuối cùng chỉ giải ngân 600 triệu, khiến cho y chới với. Trường phải hợp tác với nhà máy xay lúa ở địa phương để bảo đảm nguồn thức ăn cho cá, nếu không thì nó chết.Trường nợ bên đối tác 1.3 tỉ đến tháng 11/2005 trả được 209 triệu thì bị kiện về tội quịt nợ mặc dầu hợp đồng vẫn còn hiệu lực đến cuối năm 2005. Chánh quyền địa phương thì bênh vực bên nhà máy, niêm phong tài sản và đuổi vợ con Trần Trường ra khỏi nơi cư trú, khiến cho bà vợ bị điên, phải vào điều trị ở nhà thương điên Biên Hòa, bây giờ gọi là bệnh viện tâm thần. Năm 2012 Trần Trường quay lại Mỹ xin lỗi và cầu cứu đồng hương giúp đỡ gây quỹ để theo đuổi vụ kiện mà phần thua thiệt và thất bại đã quá rõ ràng vì chánh quyền địa phương không biết Trần Trường là ai, cho dầu y có tôn thờ Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản như thế nào chăng nữa. Mấy năm gần đây tôi thường về Việt Nam mỗi lần ít nhất là hai tháng, đi từ Nam ra Bắc, từ Bắc vào Nam kể cả những vùng xa xôi, hẻo lánh nhất để chụp hình, đi tìm cái đẹp ở quê nhà. Phải công nhận Việt Nam giờ đây đã thay đổi nhiều. Đường xá, nhà cửa, khách sạn, nhà cao tầng ở các thành phố lớn. Các quận nghèo ven đô có đất rộng như quận 4, quận 8 được qui hoạch lại rất khang trang, không còn là khu ổ chuột nữa. Các con kinh Nước Đen, kinh Tàu Hủ, kinh Nhiêu Lộc đều có bờ kè, nguồn nước được cải tạo trong sạch, không còn hôi thúi như trước kia. Những công viên là lá phổi cùa thành phố như công viên Tao Đàn, công viên 23 tháng 9, Lê văn Tám, công viên Gia Định được chỉnh trang, nâng cấp rất sạch đẹp. Có cả những đô thị, chung cư cao cấp dành cho người giàu. Ra khỏi Sàigòn đi về các tỉnh và thành phố lớn đã có nhiều đường cao tốc với nhiều làn xe rộng rãi không thua gì những free way ở những quốc gia phát triển. Các bến phà già nua, cũ kỹ cũng được thay thế bằng những cây cầu treo hiện đại nối liền đôi bờ hai con sông Tiền, sông Hậu, thu hẹp khoảng cách, rút ngắn thời gian di chuyển từ một ngày, một buỗi xuống còn vài giờ. Những cây cầu nổi tiếng là cầu Mỹ Thuận ở sông Tiền nối liền Tiền Giang và Cửu Long, Cầu Cần Thơ trên sông Hậu nối Vĩnh Long với Cần Thơ, Cầu Rạch Miễu trên sông Tiền nối liền Bến Tre với thành phố Mỹ Tho của Tiền Giang, đi về các tỉnh. Ngoài ra là những cây cầu nhỏ hơn ở địa phương như cầu Hàm Luông, cầu Năm Căn, cầu Cổ Chiên, cầu Mỹ Lợi, Vàm Láng, Cao Lãnh… Chương trình đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI từ những quốc gia phát triển và gần 150 quốc gia khác đã làm thay đổi bộ mặt Việt Nam nhưng nền kinh tế Việt Nam không hề phát triển cùng một nhịp với sự cải tiến của hạ tầng cơ sở vật chất. Chất lượng đời sống người dân không khá hơn 50 năm về trước. Họ vẫn mua gánh, bán bưng, bám vỉa hè, lề đường để kiếm sống, bị đuổi chỗ này thì họ dời đi chỗ khác. Hố ngăn cách giàu nghèo ngày càng sâu sắc và rõ nét. Người giàu có cả một đô thị mới biệt lập, những chung cư bạc tỉ để sống, người nghèo vẫn cứ chui ra chui vào cũng cái căn nhà ọp ẹp đã xuống cấp từ 50 năm nay mà không có tiền sửa chữa. Ở đầu cầu Calmette bên quận 4 hướng về quận 1 bên tay phải có một chung cư nhiều tầng không biết được xây dựng từ bao giờ, nay đã xuống cấp, rách nát tả tơi có thể sập xuống bất cứ lúc nào, vậy mà vẫn còn người ở. Cạnh đó vài chục thước, sừng sững một chung cư cao tầng mới xây, chắc là dành cho dân có tiền. Hai hình ảnh trái ngược này được tôi cẩn thận ghi vào ống kính theo chủ đề “sự tương phản trong đời thường”. Sự tương phản (contrast) bao giờ cũng là một yếu tố cần có của một bức ảnh nghệ thuật! Con cái của gia đình chưa có điều kiện gửi đi du học nước ngoài thì cho học ở các trường quốc tế do nước ngoài đầu tư và giảng dạy tại Việt Nam mong tiếp cận với nền văn hóa giáo dục hiện đại và nhanh chóng nâng cao trình độ Anh ngữ, trong khi những gia đình nghèo chạy một suất ở trường công là quá khó. Chương trình học năm nào cũng cải cách, học sinh phải thay đổi sách giáo khoa hàng năm, khiến cha mẹ, phụ huynh kêu trời như bộng. Nói tới nền giáo dục Việt Nam bây giờ người ta nghĩ đến từ “CHẠY” trong một thành ngữ mới của chế độ mới: “Chạy trường”, “chạy lớp”, “chạy điểm”…Chưa hết đâu, khi ra trường còn phải “ chạy việc làm”. Ở Việt Nam bây giờ có rất nhiều bệnh viện đầu tư từ nước ngoài với trang thiết bị hiện đại, đội ngũ y tá, bác sĩ giỏi, phòng ốc sạch sẽ, rộng rãi, khang trang. Cung cách phục vụ văn minh và chuyên nghiệp. Dĩ nhiên những bệnh viện này chỉ dành cho người có tiền. Cán bộ viên chức nhà nước đã có bệnh viện riêng. Chỉ có bệnh nhân nghèo và người nuôi bệnh thì nằm lê lết ngoài hành lang, vệ đường ở các bệnh viện công đã quá tải, xuống cấp như BV Ung Bướu, BV Nhân Dân Gia Định, Nhà Bào sanh Từ Dũ, BV Nguyễn Trãi, BV Nhi Đồng, BV Chợ Rẫy, BV Chấn Thương Chỉnh Hình, vân. vân… Trong khi người giàu và nghèo ở Việt Nam sống trong hai thế giới khác nhau thì ở Mỹ cũng có giàu nghèo nhưng không hề có khoảng cách, không bị phân biệt đối xử. Người giúp việc nhà ở Việt Nam gọi là ô-sin, danh từ bình dân gọi là đầy tớ, ở Mỹ thì gọi là home maker, ăn mặc rất lịch sự, lái xe đến nhà chủ làm việc trong vài giờ, xong việc thì ung dung lái xe về nhà. Trên đường về có thể họ đi shopping mua sắm, hoặc ghé vào một nhà hàng sang trọng, ăn những món mà họ ưa thích, họ enjoy cuộc đời như bất cứ một người nào khác. Trong khi đó một ô-sin ở Việt Nam thì suốt đời vẫn là ô-sin, nếu không có cơ hội xuất khẩu lao động đi làm ô-sin ở nước ngoài. Người viết bài này có điều kiện đi nhiều ở Việt Nam cho nên cũng thấy rất nhiều, nhiều hơn những gì đã diễn ra trước mặt. Ở Nghệ An, Hà Tĩnh quê hương Bác Hồ có nhiều nhà to đẹp, hỏi ra mới biết là gia đình có con em đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài gửi tiền về xây. Ngoài đó người ta vượt biên và đi xuất khẩu lao động nhiều lắm. Còn ở trong Nam, bộ mặt nông thôn cũng thay đổi nhiều. Những căn nhà cây vách ván không còn nữa, thay vào đó là những căn nhà gạch đồ sộ, kiểu cách, được xây bằng tiền do bán đất, bán ruộng mà có. Người nông dân thì biến thành công nhân, ở nhà trọ, làm trong các nhà máy xí nghiệp của người nước ngoài mà đời sống không có gì bảo đảm, bởi vì chính các xí nghiệp này có thể đóng cửa, dời đi bất cứ lúc nào. Cơn đại dịch Covid 19 ở Việt Nam đã cho thấy điều đó. “Sống ở Mỹ sướng hay Việt Nam sướng?” Đây không phải là vấn đề lý thuyết để bàn cãi, như bàn về chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Tư bản mà là vấn đề thực tế: Thức khuya mới biết đêm dài. Nếu gạt ra ngoài yếu tố chánh trị nhằm mục đích tuyên truyền, xuyên tạc và làm một sự so sánh toàn diện giữa hai quốc gia thì sự tương phản sẽ nói lên được nhiều điều. Nếu hiểu chữ sướng như một cảm giác rất chủ quan, tùy sở thích và hoàn cảnh của từng cá nhân như hai bạn DTH, Năm Lúa và một số người thì câu trả lời sẽ khác nhau. Các cán bộ Cộng sản có chức, có quyền, có điều kiện để tham ô nhất định sẽ nói sống ở Việt Nam là sướng vì không cần lao động vất vả mà có nhà “biệt phủ”, tiền gửi ngân hàng tính bằng tỉ đô la. Thành phần gọi là đại gia nhiều tiền, lắm bạc cũng nói sống ở Việt Nam rất sướng theo quan điểm “có tiền mua tiên cũng được”. Một số Việt kiều già, muốn hưởng thụ cuộc sống cuối đời, thích “gặm cỏ non” mà không còn cơ hội ở Mỹ, thường hay về Việt Nam cũng nói sống ở Việt Nam sướng lắm vì ở Việt Nam có nhiều gái đẹp. Một ông Thủ Tướng đã từng quảng cáo như vậy. Trong lúc đó những Việt kiều sống ở Mỹ lâu năm, đã hiểu nước Mỹ và có quan tâm đến Việt Nam sẽ nói Mỹ là quốc gia đáng sống. Những công dân Việt Nam sống ở Việt Nam nhưng có máu đỏ đen, thích cờ bạc, cần sa, ma túy chắc chắn sẽ nói ở Mỹ sướng hơn vì Mỹ có chủ trương rất thoáng trong vấn đề này, có chế độ, luật lệ rõ ràng chớ không bị cấm đoán và trừng phạt nặng nề như Việt Nam. Nói gì thì nói, có một sự thật đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ từ 50 năm nay là trên thế giới, trong đó có người Việt Nam vẫn tìm mọi cách vượt biên trái phép để vào nước Mỹ, có năm lên đến hàng triệu người. Ngược lại, chưa có một người Mỹ nào trốn chạy nước Mỹ tìm đến Việt Nam sinh sống. Nếu các lãnh tụ đảng và nhà nước Việt Nam có đủ dũng khí, không ngụy biện quanh co mà nhìn nhận sự thật, lý giải được sự thật thì lúc đó Việt Nam mới khá lên được.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.