Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương
Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Bài 4
Dưới chân đỉnh Lâm Viên

Tốt nghiệp sĩ quan trừ bị Thủ Đức, tôi nhận đơn vị mới, Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi có cái may mắn được ở hai quân trường lớn đào tạo nhiều sĩ quan tài giỏi cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi quân trường là một thế giới hoàn toàn khác biệt nhau, từ hình thức đến nội dung. Trường Võ Bị Đà Lạt lấy Học viện West Point của Hoa Kỳ làm khuôn mẫu, trong khi Trường Bộ Binh Thủ Đức đào tạo sĩ quan dựa theo mẫu mực của Trường Fort Benning Hoa Kỳ.
Nếu muốn tìm hiểu tỉ mỉ, tường tận về sự khác biệt của hai quân trường này, tôi e rằng mình không đủ kiến thức cũng như khả năng phân tích, tổng hợp rồi đưa đến kết luận chính xác đầy đủ. Tôi chỉ muốn nói đến một vài khía cạnh dị biệt nho nhỏ có liên quan đến mình.
Với Trường Bộ Binh Thủ Đức, thời gian đào tạo sĩ quan tùy theo tình hình chiến sự ở bên ngoài sôi động hay lắng dịu. Vào những năm cuối thập niên sáu mươi vì nhu cầu khẩn cấp của chiến trường, thời gian thụ huấn của Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bị rút ngắn lại, chỉ còn hai tháng học làm lính ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, bốn tháng học cách chỉ huy một trung đội ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tổng cộng thời gian ở quân trường chỉ vỏn vẹn có sáu tháng. So với bốn năm huấn luyện của Trường Võ Bị Đà Lạt, thời gian ở quân trường của chúng tôi chỉ bằng một phần tám thời gian của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Hậu quả của việc đốt giai đoạn, tháng 3 năm 1969, khóa của tôi có khoảng hai ngàn sĩ quan tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, ba năm rưỡi sau, nghị định thăng cấp trung úy chỉ còn lại khoảng một ngàn rưỡi, năm trăm chuẩn úy và thiếu úy đã đền nợ nước.
Trường Võ Bị Đà Lạt là quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, kể từ khóa 22B chương trình đào tạo sĩ quan kéo dài bốn năm. Vì quan niệm rằng, sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt sẽ là thành phần nòng cốt, rường cột của quốc gia sau này nên Tổng Thống Đệ nhất Cộng Hòa đã dành nhiều ưu tiên cho trường, chẳng hạn về phần cơ sở vật chất, công trình xây cất Trường Võ Bị Đà Lạt mới được hoàn tất vào năm 1961, kiến trúc theo kiểu Mỹ với những tòa nhà cao bốn tầng, rộng rãi, khang trang bề thế, đầy đủ tiện nghi cho hơn một ngàn sinh viên sĩ quan sinh sống và học tập. Thêm một điểm nhỏ nhưng cũng được lưu ý kỹ càng là cách ăn mặc. Sinh viên sĩ quan Đà Lạt có tất cả hơn chục bộ quần áo đủ loại, đó là:
Một bộ đồ đại lễ màu trắng, mũ kết màu trắng, dây biểu chương màu vàng, gù vai Alpha màu đỏ hình con rồng.
Mùa hè gồm có một bộ làm việc, một bộ dạo phố một bộ tiểu lễ, một bộ đại lễ.
Mùa đông có một bộ làm việc, một bộ dạo phố, một bộ tiểu lễ, một bộ đại lễ.
Một bộ vest dân sự, sinh viên năm thứ tư mặc lúc đi phép.
Chi tiết về hàng chục bộ quần áo, lễ phục của sinh viên, không biết tôi nhớ như vậy có đúng hay không?
Về phần huấn luyện, Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt trong một năm có ba tháng học về quân sự, chín tháng học văn hóa, chương trình học kéo dài bốn năm, sinh viên sĩ quan tốt nghiệp được cấp văn bằng Cử Nhân Khoa Học ứng Dụng. Để rèn luyện thể chất, Sinh viên sĩ quan Võ Bị còn học thêm về Taekwondo và Aikido. Riêng về Aikido được đặc biệt chú trọng, vì Thiếu tướng Chỉ huy trưởng mang huyền đai đệ nhị đẳng Aikido. Mồi kỳ thi lên đai đều do ông chấm điểm. Khi tốt nghiệp 4 năm, Sinh viên sĩ quan Võ BỊ thường đã có đai nâu hoặc huyền đai đệ nhất đẳng Taekwondo.
Văn võ toàn tài, đó là lý do khiến cho sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt, lúc nào cũng hãnh diện về ngôi trường của mình.
Để điều hành, Trường Võ Bị Đà Lạt được chia ra làm ba khối: Văn hóa, Quân sự và Tham mưu.
Khối Quân sự, đa số sĩ quan thuộc khối này là những sĩ quan đã tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt.

Khối Văn hóa, ngoại trừ những sĩ quan có bằng Cao học, Tiến sĩ, tốt nghiệp ở ngoại quốc, số còn lại là sĩ quan tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức để Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sau khi tốt nghiệp, muốn về Trường Võ Bị Đà Lạt, một trong nhiều điều kiện là phải có văn bằng Cử nhân hoặc cao hơn.
Tôi, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, chỉ có cái Tú tài II. Khi về Trường Võ Bị Đà Lạt, chốn dung thân duy nhất cho tôi là Khối Tham mưu.
Ngày xưa khi đậu Tú tài II, tôi tự đánh giá là mình ngu cho nên không chịu tiếp tục việc học. Quan niệm đó xem ra đã lỗi thời, vì sau một thời gian làm việc ở Trường Võ Bị Đà Lạt, sống trong một môi trường mà sĩ quan Văn hóa vụ hay Quân sự vụ đều lấy văn bằng Cử nhân làm căn bản. Nhìn quanh mình, ông sĩ quan nào cũng gắn cái bằng Cử nhân trước ngực khiến tôi tự cảm thấy xấu hổ, mang nặng mặc cảm. Chuyện đời, gần mực thì đen gần đèn thì sáng, sau vài năm lông bông, thấy không được cái tích sự gì, tôi ghi danh học ở Viện đại học Đà Lạt với quyết tâm phải lấy cho được cái bằng Cử nhân.
Tôi làm việc ở Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt. Ở đây, sĩ quan trực hai mươi bốn giờ sau đó nghỉ hai mươi bốn giờ, có nghĩa là làm việc một ngày rồi nghỉ một ngày, nếu làm một phép tính đơn giản một năm chỉ làm việc có 182 ngày rưỡi, 182 ngày rưỡi còn lại, tôi được tự do hoàn toàn, đi học hay đi chơi tùy mình quyết định. Tôi ghi danh vào Đại học Văn khoa, bởi vì trong tất cả các phân khoa ở Viện đại học Đà Lạt, Văn khoa là nơi dễ dàng nhất trong việc điểm danh.

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Bài 3
Bóng tình yêu

Chiếc xe taxi hiệu Renault nhỏ xíu, sơn hai màu xanh trắng, thả chúng tôi xuống cạnh nhà hàng Bò bảy món Ánh Hồng ở đường Nguyễn Minh Chiếu. Biên đi trước dẫn đường, đi được một đoạn ngắn, hẳn chỉ vào một căn nhà khang trang, bề thế với hai cây vú sữa già mà cái tàn của nó giống như hai cây dù khổng lồ, che kín cả một góc sân.
-Nhà tao đó.
Tôi chẳng cần nghe nó nói gì cả, nó dẫn đâu tôi theo đó, đầu óc tôi mãi nghĩ đến Dung cô em gái nó. Không biết lát nữa gặp Dung tôi sẽ nói gì, làm gì. Điều quan trọng nhất mà tôi thắc mắc là không biết Dung cao hay thấp, đẹp hay xấu, chỉ có vậy thôi.
Biên đưa tay bấm chuông. Một người đàn bà tuổi chừng bốn mươi ra mở cổng, khi thấy Biên bà reo lên:
-Cậu Hai mới về.
Biên hỏi người đàn bà:
-Ba má tôi đâu?
-Thưa cậu, ông bà đi Vũng Tàu mai mới về.
-Còn con Dung đâu?
-Cô Dung ở trên lầu.
-Chị lo cơm trưa cho bốn người.
-Dạ.
Tôi nghĩ thầm, đúng là cái giọng của cậu chủ nhỏ nói với người làm.
Biên ngẩng nhìn lên lầu la to:
-Con Dung đâu?
Giọng của Biên gọi em mà cứ như là huynh trưởng nạt Tân khóa sinh. Thấp thoáng ở cuối phòng, tôi thấy dáng của một người con gái tay vịn lan can cầu thang, vừa chạy vừa reo:
-Anh Hai mới về.
Vừa dứt lời, bất chợt thấy Long công tử và tôi ngồi nơi phòng khách, Dung khựng người lại, nụ cười đang nở trên môi chợt tắt ngấm.

Tôi quay nhìn Long công tử. Không biết gương mặt của tôi có gì thay đổi hay không nhưng khuôn mặt của hắn khờ hẳn ra, Long tròn xoe đôi mắt nhìn Dung rồi sửa lại dáng ngồi cho ngay ngắn, hắn đưa tay nắn lại cái cà vạt nơi cổ áo.
Tôi nghĩ, có thể mình cũng bối rối không kém. Không biết tôi có quá lời không nhưng lần đầu vừa gặp Dung, tôi đã như kẻ mất hồn. Dung có gương mặt dễ nhìn, một nét đẹp thanh thoát, dịu dàng của ánh trăng rằm, tóc chấm vai, đôi mắt to tròn với hàng lông mi dài cong vút nhìn xuống chiếc mũi thon gọn, thêm đôi môi không thoa son nhưng tươi thắm, đỏ au.
Thấy hai đứa tôi im lặng, ngồi trơ ra như ông phỗng đá, Biên nói với em gái của nó:
-Đây là Long công tử, đây là Quân bắp cải, hai thằng bạn thân của anh ở quân trường.
Dung nhoẻn miệng cười rồi nhỏ nhẹ:
-Chào hai anh.
Biên quay qua nhìn Dung, rồi nói với hai đứa tôi:
-Còn đây là Dung, em gái tao.
Tôi ngập ngừng nói, giọng hơi rụt rè như đang đứng trả bài trước mặt thầy giáo mà trong bụng trống trơn, không có lấy một chữ.
-Dạ chào cô Dung.
Trong khi đó Long công tử lịch sự, điềm tĩnh đứng lên, hơi nghiêng mình về phía trước rồi nhẹ giọng:
-Chào em.
Gì chớ tán gái thì Long công tử lúc nào cũng từ tốn, lúc nào cũng mang đôi hia bảy dặm, vừa gặp Dung là hắn đã đốt giai đoạn kêu em ngọt xớt.
Xong chuyện giới thiệu, bốn đứa ngồi ở salon trò chuyện, Biên và Long công tử mỗi thằng một chai bia, tôi ly cà phê sữa đá còn Dung ly đá chanh.
Biên nói với em gái của nó:
-Hôm nay Dung có rảnh không? Đi chơi với mấy anh.
-Dạ em bận.
Giọng nói của Biên trầm xuống:
-Mầy bận cái gì? Họp hội với bọn sinh viên phản chiến phải không?
-Dạ đâu có.
-Vậy chớ bận cái gì?
-Dạ, học bài.
-Sao mày học hoài vậy, bữa nay thứ Bảy, nghỉ đi chơi với tụi anh, mai Chủ nhật anh vô trường rồi em ở nhà học bài, được không?
-Dạ được.
Tôi để ý khi Biên nói chuyện với em gái của nó, lúc xưng hô là mày, lúc kêu bằng em, khiến tôi chẳng biết đâu mà rờ.Nghe Dung nói mà tôi mừng rơn, chỉ sợ Dung từ chối không chịu đi chơi chung với mấy đứa tôi. Ở quân trường, ba thằng đi chơi với nhau riết phát chán, hôm nay đi phép mà cũng ba thằng đực rựa lang thang ở Sài Gòn, còn gì chán hơn nữa.

Biên nói với tôi và Long.
-Để tao phác họa chương trình cho hai mươi bốn giờ phép sắp tới, tụi mày nghe thử coi có được hay không? Cơm nước xong bọn mình xuống Sài Gòn, vô Rex coi ciné, sau đó qua Brodard làm một chầu cà phê rồi ăn cơm chiều ở Thanh Bạch, tối đến nghe nhạc ở cà phê Hầm Gió.
Long công tử lên tiếng:
-Đừng có ngồi cà phê Hầm Gió, ở đó khói thuốc lá nhiều lắm, Dung không chịu được đâu. Tao đề nghị nên qua Continental, ngồi phía ngoài hành lang uống cà phê, nhìn thiên hạ đi dạo phố là nhất.
Tôi nghe hai đứa nó nói mà cứ như là vịt nghe sấm. Với tôi, ăn ở đâu, nghe nhạc ở đâu, không thành vấn đề, chỉ cần có Dung để tôi nhìn, cho tôi nói chuyện là vui rồi. Long và Biên mỗi thằng lại cưa thêm một chai bia nữa, tôi nhắc tụi nó:
-Một thằng hai chai thôi, đừng có uống nhiều.
Biên gật đầu:
-Mày nói phải.
Liếc nhìn cái đồng hồ trên tường, Dung nói với anh mình:
-Để em phụ với chị Lành làm cơm trưa.
Nói xong, Dung nhanh nhẹn đi xuống bếp.
Ba thằng đực rựa ngồi nhìn nhau. Biên nói:
-Tụi mày thấy chưa, tao mà làm nội ứng thì khỏi chê, có thứ tự lớp lang đàng hoàng, cứ theo kế hoạch mà thi hành.
Long công tử vịn tay vào thành ghế sofa đứng lên.
-Bây giờ tao phải dọt về nhà, thăm ba má tao chút xíu.
Biên hỏi:
-Mày không đi chơi với tụi tao sao?
-Đi chớ, hai giờ chiều tao sẽ gặp tụi mày ở Rex.
Trước khi đi, hắn nói nhỏ với tôi:
-Tao phải về nhà, trước là thăm ba má tao, sau đó lấy chút tiền dằn túi. Đi với người đẹp mà chi không đẹp, còn đâu là danh tiếng của Long công tử.

Cơm trưa được dọn lên nơi phòng ăn, ba đứa ngồi vào bàn, tôi nhìn thức ăn bày ê hề trên bàn mà thấy ngợp. Nguyên một con cá lóc chiên nằm choán hết cái dĩa hình quả trám, thân con cá được cắt sẵn thành nhiều khía, một tô canh chua cá bông lau, một tô thịt heo kho tàu thêm một dĩa cải xanh xào thịt bò, tất cả đều được đựng trong những tô và dĩa loại to. Tôi ước chừng, phải tám người mới ăn hết những thức ăn dọn trên bàn. Mấy tháng rồi ăn cơm lính, từ quân trường Quang Trung sang Quân trường Thủ Đức, tôi đã bắt đầu quen với cơm lính. Thực lòng mà nói, cơm ở Quân trường Thủ Đức cũng giống như những bữa cơm của gia đình tôi ở Đà Lạt. Cũng một dĩa rau luộc, khúc cá kho, chén nước mắm ớt, năm thì mười họa mới có thêm miếng thịt kho trứng. Hôm nay, bất ngờ nhìn thấy bữa cơm quá sức thịnh soạn ở nhà của Biên, tôi hiểu ra, tại sao Biên và Long luôn luôn phàn nàn, chê ỏng chê eo về chuyện ăn cơm ở nhà bàn. Chị Lành xới cơm vào ba cái chén để trước mặt chúng tôi, đũa và muỗng đã sẵn sàng. Chị nói:
-Mời cô và mấy cậu ăn cơm.
Nói xong, chị trở lui xuống bếp.
Biên nói với tôi:
-Ăn đi mày.
Ngày hôm đó, tôi được ăn một bữa cơm nhà giàu, bên cạnh lại có thêm Dung khiến tôi đâm ra ngượng nghịu, rụt rè.
Tôi bưng chén cơm quay qua Dung nói:
-Mời Dung.
-Dạ, mời anh.
Dung vừa gắp thức ăn cho Biên vừa nói:
-Anh Long đâu rồi, sao ảnh không ở lại ăn cơm?
-Nó phải về nhà thăm ba má nó, xong chuyện nó sẽ đến Rex gặp tụi mình.
Biên nhìn tôi nói tiếp:
-Còn thằng bắp cải này, nhà nó ở Đà Lạt nên nó không về được.
Dung nhìn tôi với gương mặt hớn hở, vui vẻ nói:
-Anh Quân ở Đà Lạt hả? Hè năm nào ba má cũng dẫn em lên nghỉ mát ở Đà Lạt, nhà anh ở đâu? Đường nào? Cho em địa chỉ đi, nếu có dịp lên Đà Lạt em sẽ ghé.
Tôi nghĩ đến căn nhà gỗ lợp tôn bé tí xíu, cũ kỹ của ba tôi ở Trại Hầm, mùa nắng nóng nung người, mùa mưa khi nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn vang dội bên tai mà tưởng chừng như cả Đà Lạt đang chìm trong giông bão phũ phàng. So với căn nhà gạch khang trang rộng rãi của gia đình Dung, đúng là một trời một vực, mặc cảm nghèo hèn khiến tôi nói với Dung:
-Hôm nào rảnh rồi, anh sẽ đưa địa chỉ của anh cho Dung.
Khi nói xong tôi biết mình nói dối, bởi vì tôi không thích Dung thấy căn nhà gỗ tồi tàn của ba má tôi, cũng không muốn Dung biết được tôi là con trong một gia đình lao động nghèo nàn.
Dung nói với tôi mà nhăn mặt như suy nghĩ chuyện gì:
-Mà anh đi lính rồi đâu có ở nhà, em lên đó cũng đâu có gặp được anh.
Tôi nghĩ thầm, người đã đẹp rồi nhăn mặt coi cũng đẹp, không biết có phải tôi quá chủ quan hay không? Chúng tôi vừa ăn cơm vừa chuyện trò, Dung khoan thai chậm rãi ăn uống trong khi tôi và Biên ăn nhanh như chớp, cứ như ăn ở quân trường, ăn chậm sẽ bị huynh trưởng phạt chạy ba vòng nhà bàn chỉ có nước ói hết cơm ra thôi. Thức ăn trên bàn vẫn còn nhiều mà cả ba chúng tôi cùng buông đũa. Dung nói với tôi, giọng nói nghe như rót mật vào tai:
-Sao anh ăn ít quá vậy, chê thức ăn em nấu phải không?
Tôi lắc đầu lia lịa:
-Thức ăn Dung nấu ngon quá sức, chỉ tại hơi nhiều, mười người ăn cũng không hết, nói chi chỉ có ba người.

Dung nhìn tôi:
-Thôi được, để em lấy trái cây hai anh ăn tráng miệng.
Dung đi xuống bếp, nàng bưng lên một dĩa dưa hấu và một dĩa xoài được cắt sẵn. Tôi lấy nỉa xắn một miếng xoài đưa lên miệng. Cái mát lạnh của miếng xoài ướp lạnh khiến tôi nhớ đến trái chuối xanh ăn tráng miệng ở quân trường, vị của trái chuối hơi chua chua, âm ấm.
Dung nói:
-Hai anh uống cà phê không?
Biên nói với Dung:
-Nước trà được rồi, mà thôi để chị Lành làm nước trà, em lo sửa soạn tụi mình tới Rex.
Khi Dung đi gần tới cầu thang, như chợt nhớ ra điều gì Biên dặn vói theo:
– Nè Dung, đi chơi với lính em muốn ăn mặc như thế nào cũng được.
Tôi đứng lên chụp cái túi xách tay nhỏ chạy vô phòng tắm, việc trước tiên là đánh răng, đánh đi đánh lại hai ba lần. Tôi muốn cái mùi cá chiên phải được tẩy sạch, sau đó rửa mặt sạch sẽ soi gương nhìn áo quần, khi biết chắc tất cả đã chỉnh tề, hoàn hảo tôi mới bước ra. Một lát sau Dung từ trên lầu đi xuống, thân hình đầy đặn của Dung bó sát trong chiếc quần jean xanh và chiếc áo pull over màu vàng nhạt, chân mang giày cao gót xanh đậm, tôi thấy hình như nàng cao thêm một chút. Tôi đứng ngẩn người ra nhìn, muốn khen Dung một câu nhưng miệng như bị ai bịt lại cứ câm như hến.
Ba đứa đi ra đường, tôi đưa tay sửa lại cái mũ kết trên đầu. Trưa Sài Gòn nóng thật là nóng, chưa tới một giờ, mặt trời vẫn còn chói lòa trên đỉnh đầu. Nhìn chiếc áo vàng Dung đang mặc, tôi chợt nhớ tới nhà thơ Nguyên Sa. Ông ấy bảo:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát.
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.
Nguyên Sa là một nhà thơ nổi tiếng, ông ấy muốn nói gì lại không được. Với tôi, áo lụa Hà Đông làm sao mà mát bằng chiếc pull over Dung đang mặc.
Một chiếc taxi chạy trờ tới, tận đáy lòng mình, tôi mơ ước được ngồi đàng sau với Dung, nhưng vì muốn làm ra vẻ đàng hoàng, tôi đi vòng ra phía trước để ngồi cạnh tài xế. Biên bước theo, thúc cho tôi một cái cùi chỏ, hắn nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe:
-Mày không nhớ chiến thuật nội công, ngoại kích hay sao?
Tôi tỉnh cả người, quay đầu mở cửa sau cho Dung, đợi cho nàng ngồi xuống đàng hoàng, tôi mới chui vào xe ngồi bên cạnh nàng.
Biên nói với người tài xế
-Cho bọn này tới rạp Rex bác tài.
Từ nhà Biên tới rạp Rex, hơn ba mươi phút ngồi cạnh Dung đầu óc tôi như mụ đi, không biết hôm nay là cái ngày gì mà ông trời lại chiều theo ý tôi hết mực, muốn gì được mấy. Mùi thơm da thịt của Dung lẫn với mùi nước hoa trong không khí khiến tôi ngầy ngật, ngây ngất. Tôi ngồi yên như một pho tượng, hai tay vòng trước ngực, mắt nhắm lại, tận hưởng chút hạnh phúc tuyệt vời mà trời ban cho tôi, cái hạnh phúc được ngồi bên người đẹp. Thời gian chầm chậm trôi qua cho đến lúc chiếc taxi ngừng lại, tôi mới giật mình tỉnh mộng.
Long công tử đã đứng bên lề đường tự lúc nào, hắn từ tốn mở cửa sau của xe, nắm lấy tay Dung, dìu nàng xuống xe. Mấy chục phút ngồi bên Dung, khoảng cách giữa hai đứa chỉ độ một tấc mà tôi chưa dám chạm vào cái móng tay của Dung, nói chi đến nắm tay nàng. Long công tử quả là sành điệu, hắn đốt giai đoạn nhanh như gió.

Long nói cho mọi người nghe:
-Tao đã mua vé rồi, tụi mình vào thôi.
Tôi tính toán trong đầu, nếu không có Long công tử, khi vô rạp Dung sẽ ngồi giữa Biên và tôi. Đang không lòi ra thằng Long công tử làm kỳ đà cản mũi, tại sao nó không ở nhà nó, thăm ba má nó lâu hơn một chút hoặc dẫn ba má nó đi ăn tiệm đâu đó, đến chiều hãy gặp tụi tôi cũng đâu có muộn gì. Bây giờ tôi chẳng biết phải sắp xếp chỗ ngồi như thế nào cho ổn, nên đành phó mặc cho trời định đoạt.
Biên đi vào rạp trước, nó cố tình để Dung ngồi giữa tôi và Long. Được ngồi cạnh Dung nhưng tôi không cảm thấy sung sướng, hạnh phúc như khi ngồi trên taxi bởi vì tôi không an tâm chút nào. Tôi có lối suy luận hơi cù lần chút đỉnh, cái thằng Long công tử giữa chốn thanh thiên bạch nhật nó tỉnh bơ nắm tay Dung dìu nàng xuống xe, bây giờ trong bóng tối mù mờ của rạp ciné, nó sợ ai mà không nắm tay nàng.
Tôi nhớ lời dặn dò của Biên khi còn trên xe từ Thủ Đức về Sài Gòn:
-Hai thằng mày có quyền tán con em gái tao nhưng phải đàng hoàng, lịch sự, thằng nào mà sàm sỡ với nó, tao bẻ cổ không tha, nhớ đó.
Cả hai đứa tôi đều nói:
-Mày yên chí.
Tôi hy vọng, Long công tử giữ lời hứa với Biên. Suốt hai tiếng đồng hồ trong rạp hát, tôi cứ lo ra vô cớ, còn tâm trí đâu mà coi phim. Cho đến khi đèn trong rạp bật sáng, tôi mới thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng ngàn cân trên vai. Tôi nói với Dung, câu nói nghe lảng nhách không đâu vào đâu.
-Phim gì mà dở ẹt, mướn anh cũng không thèm coi.
Ở rạp ciné ra, bốn đứa dẫn nhau tản bộ qua cà phê Brodard nằm trên đường Tự Do. Vừa thấy Long, anh bồi lên tiếng chào hỏi:
-Lâu quá không thấy cậu đến đây, tôi tưởng cậu đã đi du học ở bên Tây, ai ngờ lại đi lính. Cái bàn đặc biệt mà cậu ưa ngồi vẫn còn trống, mời mấy cậu.
Long lấy cái mũ kết trên đầu xuống đưa cho anh bồi, nó kín đáo giúi vào tay anh ta mấy tờ giấy bạc rồi nói, giọng nói nghe thân mật nhưng đầy quyền uy:
-Dung em gái tụi này, anh có món gì đặc biệt cho cô bé không?
-Dạ, cậu khỏi lo.
Tụi tôi ngồi xuống một cái bàn tương đối khá rộng so với không gian tù túng của tiệm. Ba tách cà phê được đem ra, riêng Dung ngoài ly soda chanh, còn có vài cái bánh ngọt đặt trong một cái dĩa xinh xinh.
Bầu không khí êm ả trong tiệm cà phê, khiến cho chúng tôi cảm thấy gần nhau hơn. Long công tử và tôi kể cho Dung nghe những chuyện buồn vui ở quân trường, nào là đi dây tử thần, tuột núi, rồi vượt sông. Dĩ nhiên chúng tôi thêm chút mắm, giặm chút muối cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn. Cái nguy hiểm của dây tử thần hay tuột núi không nhiều lắm đâu, nhưng Long công tử tăng thêm độ nguy hiểm vài phần nữa khiến gương mặt của Dung lộ vẻ lo sợ. Còn bài học vượt sông chúng tôi thực hành tại cầu Rạch Chiếc gần hãng xi măng Hà Tiên, nó chỉ là con suối khá lớn, nước chảy lờ đờ, đứa con nít chỉ cần chừng vài chục sải tay đã qua được bờ bên kia nhưng với cái tài kể chuyện của Long công tử, người nghe có cảm tưởng con sông phải lớn lắm. Long đem mớ kiến thức của mấy năm Văn Khoa ra hù Dung.
-Em có biết sông Hoàng Hà hay sông Tiền Đường ở bên Tàu hay không?

Dung dịu dàng trả lời:
-Dạ, em không biết.
Long giảng giải:
-Hoàng Hà là một con sông vĩ đại, đến nỗi Lý Bạch phải mở đầu bài thơ Tương Tiến Tửu của mình bằng mấy câu:
Quân bất kiến, Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đảo hải bất phục hồi.
Còn khi nói đến sông Tiền Đường thuộc tỉnh Triết Giang bên Tàu, đại thi hào Nguyễn Du đã phải thốt lên:
Triều đâu nối tiếng đùng đùng.
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường.
Tiếng sóng trên sông mà đánh đùng đùng, con sông không thể nhỏ được.
Chính bản thân tôi, nghe Long công tử kể chuyện cả đại đội với súng ống đạn dược vượt sông, tôi còn run sợ huống chi là Dung. Chỉ có điều, tôi không thích cái tính vọng ngoại của Long công tử. Tôi nhắc Long:
-Mày ca ngợi Tàu cũng vừa thôi. Bụt chùa nhà không thiêng hay sao? Sông Cửu Long của mình đâu có nhỏ.
Phần Dung khi nói về nếp sống của nữ sinh Sài Gòn, những chuyện nàng kể, chuyện nào cũng nhẹ nhàng, êm đềm như lá thu vàng rơi rụng ngoài hiên vắng.
Dung kể cho tụi tôi nghe về trường Nguyễn Bá Tòng của nàng, về lớp đệ nhất mà nàng đang học, cô nào cô nấy đẹp như tiên giáng trần, nhất là hai cô bạn thân của nàng. Đang kể chuyện, như chợt nhớ ra điều gì Dung hỏi:
-Hai anh thích không, Dung sẽ giới thiệu hai cô bạn của Dung cho hai anh.
Long công tử nói, gương mặt tỉnh như không.
-Giới thiệu Dung cho anh, anh thích hơn. Em có biết không, người ta thường nói, một con chim trong tay bằng mười con chim trên cành.

Gương mặt Dung ửng đỏ trước câu nói hơi bạo của Long công tử, nàng chữa thẹn bằng cách nâng ly soda lên rồi nói:
-Uống soda chanh phải có xí muội mới hết sẩy.
Long công tử rời ghế đi về phía anh bồi, một lát sau nguyên một dĩa xí muội được mang tới. Long công tử dùng cái muỗng bạc xúc hai viên xí muội cho vào ly soda. Đợi cho bọt tăm của viên xí muội trong ly dịu bớt, Long công tử mới nâng ly đưa cho Dung:
-Em có thể uống được rồi.
Cái thằng này lịch sự đến phát ghét, tôi không giận gì nó nhưng mà buồn cho mình nhiều hơn. Tại sao chuyện gì nó cũng hơn mình.
Tôi ngoảnh mặt, nhìn qua khung cửa kính sạch sẽ không một hạt bụi, Sài Gòn lúc nào cũng ồn ào tấp nập, ngựa xe như nước. Nắng đã bắt đầu dịu lại.
Biên nhìn ra đường rồi nói bâng quơ:
-Mấy người đói chưa?
Long công tử trả lời:
-Chút đỉnh.
-Vậy mình thả bộ qua Thanh Bạch là vừa, tao muốn lang thang ngoài phố đế tìm lại cảm giác ngày xưa lúc chưa đi lính.
Khi cả bọn đi qua bùng binh với vòi phun nước trước tòa nhà Quốc Hội, một anh thợ chụp hình với chiếc máy ảnh Polaroid trên tay.
-Mấy cậu chụp tấm hình, kỷ niệm ngày đi phép.
Không hẹn mà cả ba thằng vui vẻ, bằng lòng.
Long công tử hỏi anh thợ hình:
-Ông bấm máy nhiều có mỏi tay không?
Người thợ chụp hình lên giọng như muốn khoe về mình.
-Cậu nói chơi, nghề của tôi mà mỏi sao được.
-Như vậy ông cứ bấm máy, khi nào mỏi tay hãy ngừng.
Người thợ giải thích:
-Mồi tấm hình giá một trăm đồng, tui mà bấm mỏi tay, mấy cậu hết tiền đi taxi.
Long trấn an ông thợ chụp hình:
-Yên chí đi.
Bức ảnh đầu tiên là cảnh ba thằng mặc quần áo tiểu lễ, dây biểu chương và cái alpha vàng chói trên vai, mặt mày thằng nào thằng nấy tươi cười, hớn hở. Bức thứ hai là Biên và Dung, rồi Long và Dung. Cuối cùng, tôi cũng được chụp chung với Dung, không những một mà tới hai tấm. Khi ông thợ chụp hình bóc miếng âm bản đàng sau tấm ảnh, hình tôi và Dung từ từ hiện lên, cái cảm giác của tôi lúc bấy giờ thật là khó tả, đê mê, thích thú, người cứ lâng lâng nhẹ nhàng như bay trong không khí, chơi vơi, chới với. Tôi nghĩ thầm, mình sẽ giữ tấm ảnh này cho đến khi chết. Trong ảnh Dung đứng cạnh tôi, giữa hai đứa là một khoảng cách nhỏ, tôi ao ước, phải chi mình được quàng tay qua vai hoặc ôm eo của em, coi sẽ tình tứ hon nhiều. Mơ ước như vậy nhưng sợ thằng Biên nó bẻ cổ mình nên không dám. Lòng tham của con người thật vô đáy, biết bao nhiêu cho vừa. Cuối cùng, tôi phải tự nhủ với lòng đừng có quá tham lam. Hạnh phúc là phải biết bằng lòng với những gì mình có.
Lúc tụi tôi đến Thanh Bạch trời cũng vừa tắt nắng, người bồi bàn tuổi chừng bốn mươi trịnh trọng cúi đầu:
-Chào cậu Long.
Long công tử vui vẻ:
-Lâu quá mới gặp chú Sáu, chú khỏe không?
Tôi lại thấy Long kín đáo giúi vào tay chú Sáu mấy tờ giấy bạc, chúng tôi được đưa đến ngồi ở góc phòng, chỗ ngồi thật là lý tưởng, kín đáo, rộng rãi và thoải mái. Long cất tiếng:
-Hôm nay có gì đặc biệt không chú Sáu?

Người bồi bàn ngập ngừng:
-Dạ ạ ạ, hay là vậy đi. Có cơm chiên cá mặn, gà rô ti, thêm tô canh sườn heo hầm khoai tây, cà rốt Đà Lạt, cậu thấy đủ chưa?
-Chưa, nhưng tôi sẽ gọi thêm sau. À, chú cho mấy chai bia, đừng quên một chai sữa tươi loại nhỏ cho cô bé này.
-Dạ.
Tôi nghĩ, hình như tất cả các nơi ăn chơi ở cái Hòn Ngọc Viễn Đông nàỵ thằng Long công tử đều đã biết qua, không những biết mà còn lui tới nhiều lần.
Lịch sự là nghề của Long công tử, hắn mở nắp chai sữa, bóc miếng giấy bạc dán trên miệng chai, rót sữa vào một cái ly rồi đưa cho Dung.
Thật tình mà nói, nếu tôi có muốn đóng vai lịch sự cũng không được. Từ nhỏ đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy chai sữa tươi, làm sao biết cách uống. Cái xứ Đà Lạt của tôi quanh năm, suốt tháng chỉ ăn bắp cải, khoai tây, cà rốt và uống nước rau luộc.
Quen với lối sống quân trường, ba thằng tôi thanh toán bữa ăn lẹ như chớp, nhìn lại chén cơm của Dung chỉ mới vơi đi một nửa. Trong khi chờ Dung ăn cơm, Biên nói:
-Giờ này mà có vài con cua ram muối, lai rai với bia 33 là nhút.
Tôi nhìn vào tấm thực đơn:
-Ở đây không có cua ram muối.
Long công tử lên tiếng:
-Để đó tao.
Hắn đưa tay ngoắt chú Sáu:
-Chú Sáu nè, anh bạn tôi khoái nhậu cua ram muối. Chú cho tụi này vài con được không?
Chú Sáu nhìn Long công tử, vừa cười vừa nói:
-Trong thực đơn không có món đó, nhưng với cậu Long sẽ có thôi.
Vừa nói, chú Sáu vừa liếc mắt sang chợ Bến Thành ở bên kia đường.
-Cua bên đó thiếu giống gì, để tôi nói với đầu bếp.
Khoảng nửa giờ sau, một dĩa cua ram muối to chần dần được mang lên.
Tôi không uống bia, ngồi đó rảnh rỗi xới cơm cho Dung, múc canh cho nàng, xé cho nàng miếng thịt gà, lâu lâu chôm cho nàng mấy cái càng cua ram muối. Dung nhìn tôi như biểu đồng tình rồi cầm lấy cái càng cua ăn ngon lành. Tôi tận tình săn sóc Dung và biết rằng mình là người hạnh phúc nhất thế gian. Phần Dung cũng tận tình ăn uống nhưng không biết nàng có hạnh phúc hay không.
Cơm nước xong xuôi, thay vì qua Continental uống cà phê như dự tính tụi tôi lại tạt vô Pôle Nord làm mấy ly kem, cái món này ba thằng đực rựa không thích mấy nhưng vì chiều ý của Dung.

Dung thả cái muỗng cà phê vào ly kem rồi nói:
-Kem ở đây ngon hết biết, lẽ ra em phải ăn hai ly mới được nhưng thân hình em hơi tròn, cho nên một ly thôi.
Sài Gòn với hoa đèn rực rỡ, xe cộ ngược xuôi như mắc cửi, thêm chút gió nhẹ từ bờ sông thổi vào, tôi bước đi trên hè phố mà cảm thấy nhẹ nhàng, sảng khoái xen lẫn chút buồn buồn, nuối tiếc. Ngày vui rồi cũng qua mau, đã đến lúc bọn tôi phải về nhà.
Long công tử vỗ vai Biên:
-Tao phải về, ba má tao đang chờ.
Nói xong, Long công tử quay sang tôi.
-Bắp cải, mày muốn về nhà tao ngủ không? Sáng mai, mình trở lại nhà Biên rồi đi về trường.
Tôi giận cái thằng công tử này quá chừng, chuyện của mày kéo theo tao làm gì. Đi theo mày bỏ Dung cho ai, mà từ chối thì….
Còn đang phân vân chưa biết trả lời như thế nào, tôi bỗng nghe Biên nói:
-Để thằng Quân bắp cải về với tao.
Tôi mừng hết lớn, vội vã nói với Long công tử:
-Đừng lo gì cho tao, về nhà đi kẻo ba má mày chờ.
Đuổi được Long, tôi nhẹ hẳn người. Chúng tôi về đến nhà đã hơn mười giờ tối. Tôi tưởng Biên sẽ ngồi ở phòng khách trò chuyện nhưng không ngờ hắn nói với Dung:
-Em đi chơi cả ngày, mệt rồi phải không? Về phòng nghỉ đi.
Quay sang tôi, hắn chỉ tay lên lầu:
-Mày ngủ ở phòng của tao. Tao ngủ trên giường, còn cái sàn gạch bông mày toàn quyền sử dụng.
Một ngày thần tiên vừa trôi qua, tôi lăn qua trở lại không tài nào nhắm mắt, chả bù ở quân trường, mới nằm xuống ba mươi giây là đã ngủ ngon lành. Tôi đang cố dỗ giấc ngủ, bỗng tiếng của Biên từ trên giường vọng xuống:
-Ê thằng bắp cải, mày có nghe tao nói không?
Tôi trả lời:
-Nghe.
-Suốt ngày tao quan sát hai thằng mày, thằng nào hành sử cũng khá không có gì đáng phiền trách. Riêng mày, tao muốn nói cho mày biết, cứ cái đà này mày thua cuộc là cái chắc, mày không phải đối thủ của Long công tử. Ngồi sau xe taxi với con Dung, cơ hội bằng vàng để cho mày trổ tài tán tỉnh, lấy cảm tình thì mày lại ngồi yên như tượng đá, đã vậy còn nhắm mắt ngủ ngon lành. Mày phải hoạt bát, năng động lên chứ, nói láo chút xíu cũng không sao, chẳng hạn như anh thề sẽ yêu em suốt đời hay nếu không lấy được em anh nguyện ở giá trọn kiếp. Nghe rất là cải lương nhưng nó ép phê vô cùng, tin tao đi, kinh nghiệm cho tao biết như vậy. Mày nghe rõ không bắp cải?
-Nghe rõ năm trên năm.

-Tốt, thôi ngủ đi, mai dậy sớm về trường.
Làm sao mà ngủ cho được, tôi nhớ đến Long công tử rồi nhẩm tính, tất cả số tiền mà hắn tiêu pha cho ngày hôm nay, đủ cho một gia đình lao động tiêu xài vài tháng. Nó ăn tiêu lớn nhưng đúng chỗ và lịch sự, cái lịch sự của những người biết sức mạnh đồng tiền. Biên nói đúng, trẻ tuổi giàu có lại lịch lãm có thừa như Long công tử, tôi thua là cái chắc. Tôi nghĩ đến Dung, không biết giờ này Dung đang làm gì, học bài, ngủ hay cũng đang trăn trở như tôi. Cuối cùng, tôi nhớ đến tấm ảnh chụp hồi chiều với Dung mà lòng lâng lâng khoan khoái, rồi ôm hình ảnh đẹp như mơ của Dung, chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết.
Khi tôi và Biên thức giấc trời đã mờ sáng, hai đứa tôi mau mau làm vệ sinh cá nhân rồi đi xuống nhà dưới. Chị người làm đã chuẩn bị xong bữa ăn sáng, bánh mì nóng, hai dĩa trứng gà ốp la, ly cà phê sữa còn bốc khói thơm lừng. Hai đứa vội vội vàng vàng thanh toán chiến trường cho lẹ vì còn nhiều chuyện phải làm.
Dung từ trên lầu đi xuống:
-Khi nào hai anh phải vô trường?
Biên đáp:
-Đợi thằng Long tới là dọt.
Biên vừa dứt lời, tiếng chuông ngoài cửa cũng reo lên. Tôi biết Long công tử đã tới. Tôi nhìn Dung, nàng lúc nào cũng tươi mát, dễ thương. Từ tối hôm qua đến giờ, tôi chưa nói được với nàng một tiếng.
-Ngủ ngon không Dung? Tôi hỏi.
-Dạ ngon.
Lợi dụng lúc Long công tử và Biên đang bàn với nhau vấn đề gì đó, tôi bước đến gần Dung, lấy hết can đảm, cứ coi như mình đang đi dây tử thần ở Thủ Đức, nhắm mắt lại, nắm chặt hai cái ròng rọc rồi lao mình vào khoảng không gian bao la bát ngát. Nhớ tới lời Biên dặn tối hôm qua “nói láo chút xíu cũng không sao”, tôi nói nhỏ vào tai Dung:
-Vô quân trường rồi, anh nhớ em chết được.
Nói xong, tôi biết mình không nói láo. Tôi nói thật, đồng thời tôi cũng chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối phó với tình huống xấu có thể xảy ra nếu câu nói của tôi không vừa ý Dung. Không ngờ, Dung nói với tôi, câu nói nhẹ như một cơn gió thoảng.
-Em không có ép uổng gì anh đâu. Có thì nói, còn không thì thôi.
Xe chạy trên xa lộ, tôi đã nhớ Dung cần gì phải đợi lúc về đến quân trường. Vừa bước vào phòng ngủ sinh viên, tôi lấy tấm ảnh của Dung chụp với tôi ra xem. Tấm ảnh hơi lớn so với cái ví của tôi, chuyện dễ thôi, tôi dùng cái kéo cắt tấm ảnh nhỏ lại cho vừa với khung ảnh trong ví. Cảnh trí chung quanh hai đứa có gì là quan trọng đâu, cho dù có đứng dưới chân tháp Eiffel của Pháp hay chân tượng Nữ Thần Tự Do ở Mỹ tôi cũng chẳng cần, huống chi đứng bên vòi phun nước ở Sài Gòn. Bây giờ tấm hình chỉ còn lại hai đứa đứng cạnh nhau, tôi chỉ cần chừng đó thôi.
-Mày làm cái gì vậy?
Tôi lúng ta lúng túng nhét cái ví vào túi, nhặt mấy mảnh giấy vụn bỏ vào thùng rác rồi mới trả lời Long công tử:
-Có làm gì đâu.

Long công tử nhìn tôi rồi than phiền:
-Chủ nhật mà phải ứng chiến, chán cái mớ đời.
-Cũng phải có một nửa quân số để giữ doanh trại chứ, bộ mày muốn giao cái trường này cho Việt Cộng hay sao?
-Không mợ thì chợ cũng đông, mấy ngàn thằng sinh viên canh gác chưa đủ hay sao? Thêm đại đội mình ứng trực cũng vậy thôi.
Có tiếng mở cửa, Biên từ ngoài bước vào, hắn nhìn quanh một vòng rồi nói:
-Hai thằng mày làm gì đó?
-Tán dóc.
Biên nhìn đồng hồ đeo tay rồi nói:
-Bây giờ là mười giờ, bốn giờ chiều mới tập họp điểm danh, làm gì cho hết giờ đây?
Long công tử trả lời:
-Tụi mình đi ăn cơm trưa, sau đó qua Khu Thiết Giáp nhậu.
Tôi nói với Long:
-Mày đâu phải là con của Tổng Thống, phải đợi tới trưa, cả đại đội cùng ăn một lần, nhà bàn đâu có rảnh mà dọn cơm cho ba đứa mình vào giờ này.
Long công tử nói như ra lệnh.
-Hai thằng mày đi với tao.
Ba thằng thả bộ theo con đường tráng nhựa đến nhà ăn. Long băng qua đường đến khu gia binh đối diện với nhà bàn.
-Kể từ hôm nay, ba thằng mình ăn cơm tháng ở đây.
Chuyện hơi bất ngờ với tôi:
-Mày nói giỡn?
Long công tử chân bước vô nhà, miệng nói:
-Mày thấy tao nói giỡn bao giờ chưa? Nếu mày muốn ăn cơm nhà bàn với bắp cải luộc, cà rốt kho cứ thoải mái. Còn nếu không muốn thì qua đây.
Trường Bộ Binh Thủ Đức có rất nhiều chuyện lạ, một trong những chuyện lạ đó là Tân khóa sinh bắt buộc phải ăn cơm nhà bàn. Sau lễ gắn Alpha, sinh viên sĩ quan nếu không muốn ăn cơm nhà bàn họ có quyền ăn cơm tháng, miễn sao đủ tiền trả là được, nên nhớ cơm tháng ở đây không rẻ đâu, gần ba ngàn một tháng. Lương sinh viên sĩ quan, sau khi trừ tiền cơm nhà bàn, tiền công may quần áo tiểu lễ, đại lễ chỉ còn được vài trăm, ai muốn ăn cơm tháng cứ việc ăn.
Đời sống ở quân trường trôi qua trong buồn tẻ, con người như một cái máy chỉ biết có một việc thi hành lịnh trên. Niềm vui duy nhứt của sinh viên sĩ quan là ngày phép cuối tuần, tuy vậy, được đi phép hay không phải tùy thuộc vào tình hình chiến sự bên ngoài. Từ sau lần cả khóa được đi phép sau lễ gắn Alpha, tuần lễ tiếp theo đó là năm mươi phần trăm đi phép, năm mươi phần trăm ở lại ứng chiến, nếu tôi đi phép thì Long với Biên phải ứng chiến ở trường và ngược lại. Biên và Long bực bội thấy rõ. Long phàn nàn:

-Như vậy là hai tuần mới được đi phép một lần.
Chỉ có tôi mừng như mở cờ trong bụng. Không có Long công tử, Dung và tôi hai đứa sẽ sánh vai nhau đi bát phố Sài Gòn. Tôi với bộ tiểu lễ màu vàng, đầu đội nón kết đi bên cạnh Dung trong chiếc áo dài trắng thướt tha yểu điệu. Thoáng nghĩ đến, tôi đã sung sướng đến lịm người.
Sài Gòn sáng chủ nhật nắng vừa mới lên, tôi đã đứng trước nhà Dung mạnh dạn bấm chuông. Chị Lành ra mở cửa, đưa tôi vào nhà. Khi tôi đã yên vị nơi salon, trong lòng hớn hở đợi chờ Dung, bất ngờ ba má của Dung từ trên lầu đi xuống. Tôi không ngờ mình ngu đến như vậy. Biên với Dung đâu có phải con mồ côi, tôi quên mất tiêu họ còn có ba má đàng hoàng. Tôi lật đật đứng lên chào hai ông bà. Như thằng ăn vụng bị bắt gặp, tôi lắp ba, lắp bắp:
-Dạ con kính chào hai bác.
Ba của Biên tươi cười nói với tôi:
-Ngồi đi con, bác có nghe con Dung nó nói lại, tuần vừa rồi mấy đứa về phép có dẫn em nó đi chơi rất là vui, à.. mà con tên Long phải không? Dung có nói với bác.
Hình như có ai đó bóp mạnh vào trái tim của tôi, khiến cho trái tim dường như muốn rớt ra khỏi lồng ngực. Tại sao Dung chỉ nhớ tới Long, còn tôi ở đâu sao không nghe Dung nhắc đến. Tôi muốn xin phép ba má Biên cho tôi về trường cho rồi nhưng vẫn cố làm mặt vui trả lời:
-Dạ thưa bác, con tên là Quân.
-Ờ, bác nhớ ra rồi Long và Quân.
Ông nhìn quanh như tìm kiếm:
-Còn thằng Biên và Long đâu rồi?
-Dạ chỉ có một mình con đi phép thôi, Long và Biên phải ở trường ứng chiến, tuần tới mới được đi phép.
-Dzậy nữa, quân trường sao mà khó quá.
Má của Biên tự nãy giờ ngồi im nhìn tôi như dò xét, cuối cùng bà lên tiếng:
-Quê con ở đâu?

-Dạ Đà Lạt.
-Có bà con ở Sài Gòn không?
-Dạ không.
-Nếu vậy, trưa nay con ở đây ăn cơm với hai bác, chiều đến hãy vô trường. Cứ coi như ở nhà, bác coi con cũng như thằng Biên, đừng có khách sáo.
Tôi mừng quá, vậy là mình được coi như là một thành viên trong nhà.
-Dạ, con cảm ơn hai bác.
-Để bác kêu con Dung xuống nói chuyện, hình như nó có cái gì muốn gởi cho thằng Biên.
Rủi cho tôi là ba má Biên ở nhà, may cho tôi là ông bà hiền từ cởi mở, tôi an tâm ngồi tiếp chuyện với ông bà.
Khi chị Lành đem mấy ly nước lên, Dung cũng từ trên lầu đi xuông, nàng nhìn tôi:
-Anh Quân mới về, còn anh Biên và anh Long đâu?
Tôi lại phải giải thích với Dung về chuyện năm mươi phần trăm quân số ứng chiến trong trường.
Ba má Dung đứng lên nói với Dung:
-Con ngồi tiếp chuyện anh Quân, ba má có chút việc gấp phải qua nhà bác Năm.
Tôi nhích ghế đứng lên chào ông bà, chỉ sợ mình có hành vi sơ suất sẽ gây nên hậu quả không tốt về sau.
Dung dẫn tôi ra trước sân, nàng ngồi lên chiếc xích đu dưới tàn cây vú sữa rôi chỉ cho tôi cái ghế đá gần đó.
-Mình ngồi đây nói chuyện cho mát nghe anh.
Không có Long công tử làm kỳ đà cản mũi, tôi chuyện trò với Dung thoải mái cứ như cá gặp nước, tha hồ tung tăng bơi lội, vùng vẫy. Tôi kể cho Dung nghe những chuyện tôi đã làm trong tuần lễ vừa qua.
Ngày thứ Hai trong tuần, tất cả đại đội học bài tác chiến trong thành phố. Ngày thứ Ba, nhị thức bộ binh thiết giáp, có nghĩa là lúc lính bộ binh đi hành quân chung với xe thiết giáp, hai bên hỗ trợ cho nhau, khuyết điểm của bên này sẽ được bên kia bổ khuyết. Ngày thứ Tư học về vũ khí của Việt Cộng.
Dung chăm chú lắng nghe tôi nói được một lúc, sau đó nàng lơ đễnh nhìn mây bay ở trên trời, dạ dạ cho có lệ. Tôi nghĩ hình như chuyện mình kể nó nhạt phèo, lạc đề hay sao. Thôi chết rồi, một buổi sáng đẹp trời, ngồi dưới tàn cây bên cạnh người đẹp với chiếc ghế xích đu lẽ ra tôi phải đẩy nhẹ chiếc ghế “Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây”. Đằng này, tôi lại kể cho Dung nghe chuyện ba cái thằng lính mới ở trong quân trường với súng đạn xe tăng, nghe có chán mớ đời không. Nhớ lại chuyện vừa kể, tôi còn nản không muốn nghe huống gì là Dung.
Tôi đi vào nhà, xin chị Lành một ly cà phê sữa rồi bưng ra sân, đặt xuống chiếc bàn đá bên cạnh Dung. Không biết có phải tại trời xui đất khiến hay không, tôi buột miệng nói:
-Em uống thử cà phê anh mới pha.
Dung đưa tách cà phê lên môi, nhắp một hớp rồi nhoẻn miệng cười
-Cà phê anh pha ngon thiệt, giống y chang chị Lành vẫn thường làm.
Tôi ngồi thừ người ra đó, nghẹn ngào không nói nên lời.
Thấy tôi yên lặng không nói gì, Dung đặt tách cà phê xuống bàn rồi nói:
-Để em nói chị Lành làm thức ăn sáng, anh ăn gì chưa?
-Chưa.
-Vậy anh muốn ăn gì?
-Cho gì anh ăn nấy, ở quân trường mỗi buối sáng tụi anh được phát cho một khúc bánh mì bơ, đường, thêm một ca nước lạnh. Khúc bánh mì đó mà chọi chó thì chó cũng chết.
-Tại sao vậy anh?
-Khúc bánh mì cũ, cứng như đá chớ sao.
Dung lộ vẻ ngạc nhiên.
-Anh Biên và anh có ăn không?
-Không ăn, đói làm sao mà đi học được. Nhiều bữa gặp bánh mì mốc cũng ăn luôn.

Nghe đến đây, gương mặt của Dung lộ vẻ hốt hoảng thật sự. Tôi vẫn thường có mặc cảm với cái đám con gái nhà giàu, họ đứt tay cứ như ăn mày đổ ruột nhưng khi thấy gương mặt của Dung thật sự lo lắng, tôi cảm thấy hối hận vì cái tánh đùa dai của mình. Tôi mau mắn nói:
-Anh chỉ nói giỡn chơi dọa em thôi, thực ra bánh mì trong quân trường cũng không đến nỗi nào. Thường ngày, khoảng chín hay mười giờ đêm bánh mì còn nóng được đem tới, ngoài phần bánh mì còn có một hộp bơ và một bịch đường cát trắng. Bánh mì nóng để qua đêm sẽ nguội rồi mềm đi, nhưng vẫn ăn được. Em cũng đừng quá lo lắng cho anh Biên, sáng nào bọn anh cũng qua Câu lạc bộ của Ban quân nhạc, ăn điểm tâm một tô bún bò hay một dĩa cơm tấm sườn nướng cho chắc bụng, trước khi đi học.
Tôi và Dung ngồi ăn sáng nơi chiếc bàn đá, dưới tàn cây vú sữa, mỗi đứa một tô bánh canh, một ly cà phê nóng. Tôi chậm rãi thưởng thức cái deo dẻo của cọng bột, chút ngòn ngọt của miếng chả cá, hương vị thơm nồng của hành lá và cái cay xé họng của miêng ớt đỏ tươi. Chừng đó thứ, không làm cho tôi ngất ngây bằng chuyện Dung rắc thêm vào cái tô của tôi một chút tiêu xay nhuyễn.
-Để em thêm cho anh chút tiêu.
Tôi biết những cô gái Sài Gòn tánh tình cởi mở, tấm lòng của họ trải dài như sông nước Đồng Nai. Có thể Dung chỉ hành động theo thói quen, nhưng tôi rất sung sướng vì nghĩ rằng mình được ân cần săn sóc.
Dung múc một muỗng bánh canh, thổi nhè nhẹ vào cọng bột rồi hỏi tôi:
-Anh Quân à, tại sao anh Biên và anh Long gọi anh là Quân bắp cải?
Tôi đỏ mặt, không biết trả lời như thế nào nên cứ tình thiệt mà nói
-Biên và Long biết anh là dân Đà Lạt nên gọi anh là Quân bắp cải. Anh không chịu, tụi nó lại kêu anh là Quân sữa. Anh phản đối mạnh hơn nữa, cuối cùng tụi nó cho anh chọn một trong hai cái tên đó. Anh chọn cái tên bắp cải, vì nghĩ rằng nếu mà bị gọi là Quân sữa làm sao kiếm đào cho được.
Tôi biết, mặt của tôi đỏ kè vì mắc cỡ sau khi nói câu trên.
Dung nhìn tôi
-Nếu là anh, em sẽ chọn tên Quân sữa.
-Tại sao vậy.
Dung ngập ngừng lắc đầu.
-Hôm nào em sẽ nói cho anh nghe.

Khi hai đứa ăn sáng xong, nắng đã lên cao, vài tia nắng mặt trời xuyên qua kẽ lá của tàn cây vú sữa, tạo thành những vệt sáng song song mà trong đó muôn ngàn hạt bụi nhỏ li ti liên tục di chuyển không ngừng, tôi nhìn khuôn mặt của Dung thấp thoáng sau những tia nắng vàng, lẫn trong mái tóc đen huyền. Một ý nghĩ liều lĩnh thoáng qua trong đầu, tại sao mình không mời Dung xuống Sài Gòn dạo phố như mình hằng mơ ước? Mộng với thực chỉ cách nhau một biên giới mù mờ thôi mà.
Nghĩ là làm, tôi hỏi Dung:
-Anh muốn mời em xuống Sài Gòn uống cà phê, được không?
Dung nhìn tôi với gương mặt lúng túng.
-Không được đâu anh, ba má không cho đâu.
Đã trót phóng lao nên phải theo lao, tôi nói:
-Để anh xin phép ba má em.
-Ba má có cho, em cũng không chịu.
Mặt mày của tôi chắc yểu xìu như cái bánh bao chiều nhúng nước. Hóa ra tuần trước Dung chịu đi chơi chung với tụi tôi là vì Biên, anh của nàng, tôi và Long công tử chỉ là hai đứa ăn theo. Tôi biết mình đã đi quá trớn bèn nói với Dung.
-Xin lỗi em, anh đã không biết vị trí cũng như chỗ đứng của mình.
Dung với giọng buồn buồn:
-Lẽ ra, em không nên nói với anh như vậy.
Bầu không khí giữa hai đứa trở nên ngột ngạt, không được thoải mái như lúc sáng. Tôi đang lúng túng không biết phải làm gì trước tình trạng khó xử, bất chợt thấy ba má Dung xuất hiện nơi cổng trước, tôi lẹ làng đứng lên đi ra mở cổng cho ông bà.
Ba Dung ôm một bịch trái cây, đặt xuống bàn rồi nói:
-Hai đứa ăn cam đi, cam Mỹ cũng khá ngọt.
Lần đầu tiên trong đời tôi thấy quả cam màu vàng đỏ, Việt Nam mình chỉ có cam vỏ xanh hay ửng vàng thôi. Tôi hỏi ba của Dung:
-Thưa bác, con chưa bao giờ thấy trái cam vàng đỏ như vậy, bác mua ở đâu?
-Đây là cam Sunkist của Mỹ, bác mua trong sở làm của bác. Trong đó, họ bán rẻ như cho.
Ba Dung đẩy bị cam lại phía tôi:
-Chiều nay con đem vô cho Biên mấy trái cam, tội nghiệp nó ở quân trường ăn uống kham khổ.
Má Dung lên tiếng:
-Mấy đứa coi sửa soạn rồi ăn trưa.
Sau bữa ăn sáng với Dung, bụng tôi còn căng đầy nhưng tôi vẫn sốt sắng trả lời.
-Dạ.
Dung đứng lên:
-Em phải phụ chị Lành nấu cơm, nếu không má sẽ la.

Nằm một mình trên chiếc võng, dưới bóng mát của tàn cây vú sữa, bên cạnh chiếc ghế xích đu thêm chút gió hiu hiu thổi, tôi chợp mắt lúc nào không biết, cho đến khi có tiếng gọi tên mình.
-Cậu Quân, cậu Quân dậy ăn cơm, ông bà đang chờ.
Lại một bàn đầy thức ăn, ba má Dung ngồi một bên, tôi và Dung ngồi đối diện. Tôi nghĩ, không biết làm rể phải ăn uống như thế nào nhưng tôi nhất định phải quên đi cái thói ăn uống lẹ như chớp ở nhà bàn Thủ Đức. Tôi ăn cơm chậm rãi, từ tốn như con gái, không chừng còn yếu hơn cả Dung nữa. Từ nãy giờ Dung im lặng ăn cơm bất ngờ nàng lên tiếng:
-Má à, ăn cơm xong con muốn đi Sài Gòn với anh Quân, để mua cho anh Biên mấy món đồ.
-Nó cần gì vậy con?
-À, bàn chải đánh răng, xà bông, vài đôi vớ, dao cạo râu và mấy thứ lặt vặt khác.
Má Dung sốt sắng:
-Phải đó, ăn cơm xong con đi lẹ lẹ lên, mua cho đủ để anh con có mà dùng. Gởi cậu Quân đem vô cho tiện.
Tôi hơi ngạc nhiên, ba cái thứ đó ở Thủ Đức trong Khu sinh hoạt chán vạn gì, đem mười cái xe GMC vô chở cũng không hết, tại sao phải mua ở Sài Gòn.
Tôi lên tiếng:
-Dung khỏi cần tốn công, để về trường anh vô Khu sinh hoạt mua cho.
Dung liếc nhìn tôi với đôi mắt như hờn giận trách móc. Tôi không biết mình đã làm gì khiến Dung giận, nên im lặng tiếp tục ăn cơm mà nuốt không trôi. Má Dung dường như không cần biết tôi nói gì, bà dặn Dung:
-Con nhớ mua đồ cho anh con loại thật tốt nghe, nhờ cậu Quân đi theo xách giùm.
Đang ăn cơm, tôi phải ngừng nhai, nghe má Dung nói mà tôi tưởng mình nằm mơ. Tôi đã từng đậu cái Tú tài I rồi Tú tài II một cách oanh liệt, nhưng xem ra chẳng thấm gì so với cái Tú tài III mà tôi vừa mới đậu hôm nay. Còn gì sung sướng hơn chuyện tôi được danh chánh ngôn thuận, đi Sài Gòn với Dung.
Tôi mở cửa taxi, chờ cho Dung ngồi xuống rồi mới cẩn thận đóng cửa. Xong xuôi tôi đi vòng qua cửa đối diện. Tôi cố gắng đi đứng sao cho đàng hoàng, chững chạc, vì biết rằng ba má Dung đang dõi mắt quan sát tất cả mọi chuyện.
Tôi lập lại như Biên nói hôm nào:
-Cho tụi này xuống Sài Gòn bác tài.
Khi chiếc taxi bắt đầu chạy qua đường Công Lý, tôi mới hỏi Dung:
-Lúc nãy em giận anh chuyện gì vậy?
Gương mặt Dung ửng đỏ.
-Em phải đặt chuyện, đi mua đồ cho anh Biên mới được đi Sài Gòn. Đang không anh xía vô một cách lảng xẹt.

Tôi hoàn toàn không hiểu, buổi sáng Dung nói là không muốn đi uống cà phê với tôi, lúc ăn trưa nàng tìm cách xin ba má đi Sài Gòn để được đi chơi với tôi, hai chuyện hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Người ta thường nói, đàn bà là cả một đại dương bí ẩn quả là không sai. Tôi dựa ngửa người ra ghế, khoan khoái hít thở mùi thơm của đóa Phù Dung tỏa ra trong không khí. Dù có làm gì đi nữa, tôi vẫn nhớ lời dặn của Biên, không quên chuyện phải “năng nổ, hoạt động”
-Tụi mình đi đâu đây em?
-Xuống Sài Gòn rồi hãy tính.
Nói xong, Dung chồm người về phía trước:
-Bác tài ơi, cho tụi cháu xuống chợ Bến Thành.
Chính tôi là người mong muốn được đi dạo phố Sài Gòn với Dung. Dạo phố chỉ là một cách nói, thật ra trong lòng, tôi chỉ muốn khoe với mọi người là tôi có cô bạn gái đẹp như mơ, xinh như mộng. Đến khi xe taxi ngừng bên hông chợ Bến Thành, tôi lại lúng túng không biết phải làm gì. Một giờ trưa, Sài Gòn nóng như cái chảo dầu của mấy ông ba Tàu chiên giò cháo quảy, giờ này mà đi dạo phố chỉ tổ nắng cháy da, tôi nhìn Dung cầu cứu:
-Anh từ nhỏ tới lớn sống ở Đà Lạt, không biết gì về Sài Gòn. Em dẫn anh đi chơi được không?
Dung nhìn tôi rồi nói:
-Nắng như vầy, không phải lúc để đi chơi nhưng đợi đến khi dịu nắng anh lại phải vô trường, bây giờ mình đi chợ trước mọi chuyện hãy tính sau.
-Đi chợ?
-Anh nhớ không, em xin phép má đi chợ để mua vật dụng cần thiết cho anh Biên. Nếu không mua, lại lòi ra cái tội nói láo với má em.
Bên trong chợ tuy có mát hơn chút xíu, nhưng lại đông người quá khiến cho không khí trong chợ oi nồng, chẳng thoải mái gì hơn, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, thoát được cái nắng cháy da, lại gặp phải bầu không khí ngột ngạt khó thở.
Dung mua bàn chải và kem đánh răng, xà bông, khăn mặt rồi dao cạo râu lĩnh kĩnh đủ mọi thứ, thứ nào cũng hàng chục.
Tôi hỏi Dung:
-Em mua làm gì mà nhiều vậy?
-Anh Biên, anh Long và anh, em mua cho cả ba người.
-Chừng này cho cả chục người dùng chứ đâu phải ba người.
-Một lần đi là một lần khó, anh làm ơn giúp em đi.
Tôi yên lặng đi theo Dung, nàng mua bao nhiêu tôi ôm bấy nhiêu. Tôi tự hỏi không biết mấy ông chồng đi chợ với vợ như thế nào, im lặng mà ôm đồ hay vừa đi vừa càm ràm? Với tôi hạnh phúc là được đi theo chân Dung. Đi đâu, tôi cũng bắt gặp những cặp mắt đầy thiện cảm nhìn theo chúng tôi.
Một bà bán hàng nói đùa với Dung:

-Này cô, cậu ấy đi phép được có mỗi một ngày, cô cho cậu ấy nghỉ ngơi một tí chứ ai lại bắt người ta đi theo ôm đồ như thế bao giờ.
Một bà khác tiếp lời:
-Đợi mai mốt lấy nhau rồi, lúc ấy tha hồ mà sai bảo.
Tôi sung sướng đến đỏ mặt, nhìn qua Dung mặt nàng cũng đỏ như tôi. Dung đưa tay ôm bớt một gói đồ cho tôi.
-Để em giúp anh, nếu không sẽ còn bị la dài dài.
Tôi thầm cảm ơn mấy bà bán hàng, đã nói giùm tôi những gì tôi muốn nói, “Mai mốt lấy nhau” câu nói nghe sao mà êm ái quá chừng, cứ như chuyện thần tiên. Tôi bước đi bên cạnh Dung mà hồn như đang ở đâu tận chốn thiên thai, cho đến khi nghe Dung nói:
-Đủ rồi đó anh.
Lúc bấy giờ tôi mới tỉnh mộng, tôi hỏi lại nàng:
-Em nói gì?
-Em mua hàng xong rồi, mình có thể đi.
-Anh đói bụng, mình đi ăn được không?
-Anh đói bụng?
-Phải.
Hai đứa ra khỏi chợ, thả bộ đến nước mía Viễn Đông. Nắng vẫn còn gay gắt, tôi nhìn lên tấm bảng to choán hết cả mấy căn phòng ở tầng thứ ba của tòa nhà, rồi nói với Dung:
-Dân Sài Gòn dễ tính thiệt.
Dung nói với tôi:
-Tại sao anh nói như vậy?
Tôi chỉ cho Dung tấm bảng hiệu trên tầng ba, rồi nói:
-Em nhìn coi, chữ Viễn Đông mà viết với dấu hỏi. Nó chẳng có nghĩa gì hết, phải là dấu ngã mới đúng.
Dung trả lời tôi, câu trả lời đúng là của người Sài Gòn dễ tính.
-Anh lo làm gi cho mệt thân, dấu hỏi hay dấu ngã người Sài Gòn đều đọc là “Dziển Đông”.

Chúng tôi ngồi xuống cạnh xe bò bía. Ông Tàu già đưa cho tôi một dĩa gồm có bốn cuốn bò bía. Dung ngồi nhìn tôi ăn, nàng lấy tương đen trộn với tương đỏ trong một cái dĩa nhỏ, thêm chút ớt sa tế đưa cho tôi. Dưới cái nóng của Sài Gòn thêm vị cay của ớt, mồ hôi trên trán tôi chảy thành dòng. Tôi ăn liền một hơi sạch hết mấy cuốn bò bía. Khi cái bụng đã lung lửng, tôi nhích sang gánh bò viên bên cạnh, kêu thêm một chén bò viên rồi mới cùng Dung thong thả thưởng thức ly nước mía Viễn Đông. Nước mía ở đây ngon khỏi chê, sạch sẽ nổi tiếng ở Sài Gòn nhưng Dung chỉ uống nửa ly rồi đẩy ly nước về phía tôi, nàng nói:
-Anh uống hết giùm em, được không?
-Được chứ, anh còn đói mà, lúc nãy ở nhà em, anh đâu có ăn uống gì.
-Tại sao vậy?
-Em còn hỏi, sợ ba má em quá sức, bụng dạ đâu mà ăn.
Gần bốn giờ chiều chúng tôi về đến nhà, ba má Biên có vẻ bằng lòng khi thấy hai đứa về sớm. Má Biên kêu tôi lại, bà nói:
-Bác có chút việc nhờ con.
-Dạ, con nghe.
-Con đem vô cho thằng Biên hai ngàn, để nó có tiền tiêu vặt trong tuần.
Tôi nghĩ thầm, hai ngàn mà tiêu vặt trong một tuần, một ly sương sâm tụi tôi uống khi đi học ngoài bãi chỉ mười đồng bạc, uống mấy năm mới hết hai ngàn. Nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn đưa tay lấy tiền cất vô túi.
-Bác cần gì nữa không?
-Không, mà con ở lại ăn cơm chiều rồi mới vô trường chớ?
-Dạ không, con phải vô trường liền, đợi ăn cơm chiều xong sẽ trễ chuyến xe của trường. Hơn nữa, tụi con đã đi dạo và ăn ở khu nước mía Viễn Đông rồi.
Dung nhìn tôi, đôi mắt của nàng như ngầm bảo đừng có nói nữa. Lát sau, khi chỉ còn tôi và Dung, hai đứa đang sắp xếp đồ đạc để tôi mang vô trường. Dung nói:
-Anh sao mà khờ quá, nào ai có khảo mà mình lại khai. Má em hỏi một đường anh lại trả lời một nẻo, khác nào lạy ông tôi ở bụi này. Má em chỉ nghĩ rằng tụi mình đi chợ mua đồ cho anh Biên, bà đâu biết chuyện mình đi dạo phố rồi uống nước mía Viễn Đông, anh khai ra làm gì.
Tôi ngượng nghịu trả lời:
-Anh đâu có biết, lần sau đi chơi với em, anh sẽ giấu không nói cho ai hết.
Dung cười với tôi, nụ cười tươi như hoa mới nở.
-Anh có biết là anh khờ…, không phải, hiền lắm không?
Tôi sung sướng ra mặt khi được Dung khen.
Ba của Biên ôm tới một bị cam Sunkist, ông hỏi Dung:
-Có chuyện gì vui mà con cười vậy?
Quay sang tôi, ông nói:
-Con đem bịch cam này vô trường, mấy anh em chia nhau mà ăn.
Tôi nhìn ba bốn cái bịch giấy rồi ao ước, giá mình có cái ba lô tọng hết vào là ổn. Má Biên đến bên tôi, bà nói:
-Bác đã nghĩ rồi, con cầm thêm cho Biên một ngàn nữa, bác sợ hai ngàn không đủ cho nó tiêu xài trong tuần.

Tôi lại bỏ túi thêm ngàn nữa.
-Bác cho Biên nhiều quá, trong trường có gì đâu mà tiêu với xài, hơn nữa tuần tới là đến lượt anh ấy về phép rồi.
Tôi ôm bốn cái bịch giấy to, chào ba má Biên để về trường. Dung đưa tôi ra cổng, nàng nói nhỏ với tôi:
-Anh còn nhớ tuần trước, trước khi vô trường anh nói gì với em không?
Tôi giật mình lật đật lên tiếng:
-Nhớ, nhớ chớ, làm sao anh quên được.
Dù có khờ đến đâu, tôi cũng biết Dung muốn tôi lập lại câu nói “vô trường rồi anh nhớ em chết được”. Tôi liếc nhìn ba má Dung rồi lấy hết can đảm, liều mạng nói nhỏ vào tai Dung:
-Anh yêu em.
Tôi bắt gặp đôi mắt tròn xoe, kinh ngạc, đôi môi tươi tắn của nàng mấp máy như muốn nói gì đó. Tôi không cần biết Dung muốn nói gì. Riêng tôi, tôi đã nói được câu mà tôi muốn nói.
Dư vị của ngày phép vẫn còn kéo dài cho đến hôm sau, khiến cho ngày thứ Hai như dài lê thê, lưng mang ba lô, tay ôm cây súng Garant nặng như cái búa tạ, vai đeo một dây đạn thêm cái bi đông nước, tôi đi tới bãi chiến thuật mà như là đi xuống địa ngục. Bữa cơm trưa tại bãi do xe GMC chở tới, một gà mèn cơm, chút canh cải, miếng thịt heo kho trứng. Con nhà nghèo như tôi, từ nhỏ tới lớn tôi chưa bao giờ biết chuyện kén cá chọn canh là gì, kén cá chọn canh theo đúng y bon cái nghĩa đen của nó chứ không phải là chuyện chọn vợ kén chồng. Hôm nay, tôi nhìn bữa cơm mà ngán ngẫm. Nước canh cải sao ngọt bằng chén nước súp của bò viên, thịt heo kho trứng sao bì được mấy cuốn bò bía, và nhất là nước thịt kho không thể nào sánh với dĩa tương đen với chút ớt sa tế do Dung làm cho tôi ở nước mía Viễn Đông. Tôi ăn cơm ở bãi mà cứ tưởng như là đang nhai mớ giẻ rách. Tôi bỏ dở bữa ăn mặc dù hãy còn đói, mở nắp bi đông tu một hơi, một dòng nước âm âm nặng mùi hôi của bình đựng nước làm bằng nhựa chảy qua cổ, khiến tôi lại nhớ đến nửa ly nước mía Viễn Đông mà Dung đẩy qua cho tôi. Tôi lờ mờ nhận ra rằng, tôi thiếu Dung chứ không phải thiếu thức ăn hay nước uống. Mới xa nhau có một ngày, mà tôi đã nhớ Dung da diếc đến như vậy, còn bao nhiêu ngày sắp tới liệu tôi có chịu đựng được hay không?
Nhìn đồng hồ, tôi biết hãy còn lâu mới đến giờ học. Tôi lật nắp ba lô lên, lấy cây viết nguyên tử viết tên Dung lên trên ấy, đồ đi đồ lại nhiều lần, cho đến khi tên Dung nổi bật lên tôi mới ngưng tay. Nhìn tới nhìn lui, sau một hồi suy nghĩ, tôi viết thêm hàng chữ nho nhỏ bên dưới: Anh yêu em.
Một tuần lễ trôi qua trong đơn điệu và buồn chán, tôi nhẩm tính từng ngày. Còn bao nhiêu ngày nữa mới đến ngày tôi được đi phép? Tính toán rồi thở dài ngao ngán, tuần này đến phiên Biên và Long đi phép, tuần tới mới đến phiên tôi.
Hai tuần chờ đợi qua mau, đến ngày tôi được đi phép lại có lệnh cấm trại một trăm phần trăm. Ba, bốn tuần liên tiếp chúng tôi bị nhốt trong trường, thằng nào thằng nấy nhớ Sài Gòn quay quắt. Khi được đi phép trở lại, Biên và Long được đi phép trước, tôi phải đợi tới tuần sau. Cuối cùng ngày tôi đi phép cũng đến. Tôi không biết Biên và Long công tử dẫn Dung đi chơi ở đâu trong ngày phép vừa qua, Long đã nói với Dung những gì, nhưng đến lần tôi đi phép Long lên Khu sinh hoạt mua một cuốn album đắt giá, gáy mạ vàng với vài món đồ nữa. Nó nói:
-Mày đưa gói quà này cho Dung, nói là của tao gửi mừng sinh nhật. Nhớ nói với Dung phải mở quà ngay lập tức, tao hy vọng mày và Dung sẽ có một ngày vui.

Tôi nhìn nụ cười bí hiểm trên môi của Long công tử mà giận hắn quá chừng.
Khác với mọi lần, hôm nay khi vừa bấm chuông, tôi đã thấy Dung đích thân ra mở cổng. Chưa bao giờ tôi thấy Dung có một nụ cười hớn hở xinh tươi như ngày hôm ấy. Dung nói với tôi:
-Em biết rõ, hôm nay là ngày anh đi phép nên em chờ anh từ sáng đến giờ.
Nhìn vào hộp quà tôi đang cầm trên tay, Dung lăng xăng hỏi:
-Quà sinh nhật của em phải không?
Tôi không nói gì, im lặng đi theo Dung vào nhà, đến phòng khách tôi trao cho Dung gói quà rồi nói:
-Quà của anh Long gởi cho em, hắn dặn em phải mở ngay lập tức.
Dung xé giấy gói quà, mở nắp hộp lấy ra cuốn album, nhìn vào trong hộp rồi ngẩng nhìn tôi với đôi mắt đầy giận dữ, không bao giờ tôi quên được cái nhìn ngày hôm ấy của Dung. Dung vùng vằng ôm gói quà đi lên lầu, vừa đi nàng vừa nói:
-Anh đi về trường đi.
Tôi đứng im như một pho tượng, không biết có gì trong hộp quà mà Dung lại giận tôi. Thời gian chầm chậm trôi qua, tôi đi tới đi lui trong căn phòng, năm phút rồi mười phút Dung vẫn ở trên lầu. Một mình trong phòng khách, không biết làm gì tôi mở cửa đi ra ngoài sân, rồi vì tự ái của một thằng con trai khi bị một cô gái coi thường khiến tôi đi lần ra cổng. Tôi mở hé cánh cổng, lách mình ra ngoài, đi mà không biết đi đâu cho đến khi một chiếc taxi rề tới bên cạnh.
-Chuẩn úy về đâu?
Đang giận trong lòng, tôi nói với giọng hằn học.
-Tôi là sinh viên sĩ quan, chưa có ra trường.
-Chuẩn úy hay sinh viên cũng như nhau thôi.
Tôi nổi giận thật sự, gằn giọng:
-Như nhau sao được.
Khi nói xong tôi mới giật mình nhớ lại, tuần tới mình ra trường rồi còn gì, chỉ còn vài ngày nữa mình sẽ mang lon chuẩn úy. Tôi nhẹ giọng với anh tài xế:
-Cho tôi xuống Sài Gòn.
Tôi đi lang thang từ tòa nhà Quốc Hội đến chợ Bến Thành, vòng qua nhà hàng Thanh Bạch, nắng mỗi lúc một gắt hơn, mồ hôi thấm ướt chiếc áo may ô, không chừng thấm luôn ra bộ đồ tiểu lễ. Tôi nhìn đồng hồ, giờ này ở trường chắc Biên và Long công tử đang trên đường đến nhà ăn, bao tử của tôi cũng bắt đầu lên tiếng. Tôi mua một ổ bánh mì thịt, xeo xéo trước mặt tôi là rạp ciné Vĩnh Lợi, còn chần chờ gì nữa. Tôi chui vào rạp, vừa coi ciné vừa gặm ổ bánh mì mà không biết tại sao Dung lại giận tôi. Tôi đoán chừng, có thể tại tôi không mua quà cho Dung.
Trong cái nóng chảy mỡ, ngột ngạt, đầy hơi người của rạp ciné không có máy lạnh, tôi ngủ một giấc ngủ đầy mộng ảo, có lúc thấy mình là công nhân của lò gạch đang chất củi đốt lò, ngọn lửa trong lò hừng hực cháy tỏa ra một sức nóng kinh hồn khiến tôi như muốn ngợp thở. Lại có lúc thấy minh là công nhân xe lửa, đang xúc than đá đổ vào lò đốt của đầu máy, hơi nóng của than trong lò làm phỏng da, cháy thịt, trong khi đó Dung lạnh lùng quay lưng đi về cuối đường ray xe lửa mỗi lúc một xa, xa mãi, cho đến khi chỉ còn là một cái bóng mờ ở cuối chân trời.

Những Tờ Bạc

hopluu.net
Khánh Trường
9 Tháng Năm 2018

Post by Sơn râu 11 Feb 2025

Chung quanh chiếu bạc, ngoài năm người đang thực sự sát phạt còn có thêm ba người nữa, hai vợ chồng chủ nhà và tôi.
Căn phòng chật mù mịt khói thuốc, có lúc khá ồn, có lúc yên lặng đến nghe rõ hơi thở của nhau.
Canh bạc kéo dài từ một giờ chiều đến bây giờ.
Bây giờ, đồng hồ trên tường chỉ bảy giờ tối.
Bình thường, tôi cũng giữ một chân, nhưng hôm nay tôi đến trễ. Từ ngày công ty mở thêm nhiều chi nhánh, tôi rất bề bộn, vẫn phải làm thêm ngoài giờ, kể cả ngày thứ bảy như hôm nay. Tuy không giàu có như những nhân vật đang ngồi đây, nhưng với chỉ số lương sáu mươi bốn ngàn một năm, chưa kể tiền lời được chia căn cứ theo số cổ phần đầu tư, tôi đương nhiên đứng vào hàng trung lưu có khả năng hội nhập bất cứ cuộc chơi tốn kém nào.
Sáng nay gia chủ gọi cho tôi, giới thiệu sơ qua thành phần tham dự.
Ông Thành, giám đốc hệ thống cung ứng thực phẩm Á châu. Huy, luật sư, du học và tốt nghiệp tại Mỹ vào những năm đầu của thập niên bảy mươi. Hà, vua không ngai trong ngành địa ốc. Phan, chủ chợ. Hổ, cựu chính trị gia, nghề nghiệp không rõ nhưng tiền của thuộc hàng triệu phú.
Dù rất nôn nóng muốn được họp mặt với những nhân vật nổi tiếng này, tôi vẫn không thể không giải quyết một số những công việc cần kíp. Mãi hơn sáu giờ mới tạm xong, tôi gọi phone về nhà dặn cậu em có thể tôi sẽ ngủ lại sở, đừng chờ cửa, rồi vội vã ra xe đến đây, sau khi ghé quán ăn vội bữa cơm tối.
Tôi bước vào phòng khách giữa lúc một ván bài đang ở giai đoạn gay cấn.
Mọi người có vẻ say máu, chẳng ai thèm để ý đến tôi ngoài chủ nhà. Ông ta mang cho tôi một chai bia, hỏi có cần gì thêm nữa không? Tôi lắc đầu nói cảm ơn và ngồi xuống sau lưng Hà, vừa theo dõi cuộc sát phạt vừa nghĩ, với khả năng tài chánh của những con bạc đang hiện diện, không hy vọng sẽ có người cạn láng bỏ cuộc. Đành chầu rìa ăn có đỡ ghiền vậy. Tôi chơi phé không hay, không chuyên nghiệp, nhưng lại rất mê. Có lẽ một phần do số tôi bao giờ cũng đỏ, trong mười lần, ít nhất cũng bảy tám lần được hoặc thủ huề, họa hoằn lắm mới thua.
Tôi đưa mắt nhìn quanh một vòng thử lượng đoán tình hình sắp đến, nhưng chưa kịp có kết luận thì ông Thành đã đẩy ra chiếu một xấp bạc.
Huy và Phan xoay bài, bỏ.
Hà hất hàm hỏi ông Thành,
“Bao nhiêu?”
“Năm tờ.” Ông Thành trả lời.
Hổ nhìn Hà,
“Theo không?”
“Còn ông?”
“Theo chứ. Đã biết mèo nào cắn mỉu nào!”
Hổ vừa trả lời vừa đặt tiền vào tụ.
Hà một tay chống cằm, một tay xóc xóc cọc tiền của mình, suy nghĩ. Mỗi người đã có bốn con bài. Ông Thanh đôi cẩu, một già. Hổ đôi xì, một bạt. Hà đưa tôi xem con bài tẩy của hắn, đôi đầm kít, đôi mười, cả ba tụ bài đều ngang ngửa. Ông Thành có lẽ ba cẩu, nếu ông ta bắt được cây già sẽ thành cù lũ cẩu, nhưng cây già đã nổi trên chiếu, mò thêm một con khó hơn mò kim đáy bể, tứ quý càng vô phương vì cây cẩu cũng đã nổi. Như vậy nếu Hổ bắt được cây xì thì khả năng cù lũ xì sẽ rất có thể, con bạt chưa thấy xuất hiện, nhiều phần nó đang là con bài tẩy của Hổ. Hà liếc mắt kiểm soát hai tụ bài bỏ. Chưa có cây đầm nào lộ mặt. Cây đầm rất sáng. Nhìn mặt bài, tụ của Hổ và ông Thành chiếm ưu thế hơn. Nhưng bài bạc mà, biết đâu chừng. Có điều bỏ ra gần năm trăm để mua một con bài kể có nặng. Hà suy nghĩ khá lâu. Tôi ngồi phía sau hắn hồi hộp theo dõi, rất muốn thúc hắn tham dự ván bài.
Ông Thành châm một điếu thuốc, rung đùi,
“Theo chứ?”
“Từ từ.” Hà trầm giọng.
Ba phút trôi qua, cuối cùng hắn quyết định theo. Ông Thành cười lớn,
“Chà, gay cấn đây.”
Và đưa tay rút một con, dấu kín dưới lá đót chưa coi vội. Hổ rút con kế tiếp, hắn nặn rất chậm. Bỗng chửi thề vất con bài ra chiếu.
Cây bồi. Hà thở phào nhẹ nhõm. Như vậy bài của Hổ đã bể. Thêm một địch thủ bị loại khỏi vòng chiến. Chỉ còn hai người. Hà rút. Tôi ghé mắt coi ké. Tôi cũng thở phào. Hà chậm rãi đặt con bài lên tụ của mình. Con mười, cả làng xôn xao. Hà hất hàm vẻ đắc thắng về phía ông Thành,
“Ba xập đủ ăn ba cẩu rồi chứ?”
Ông Thành không trả lời, bình tĩnh kéo một hơi thuốc, từ tốn nặn và đặt con già xuống chiếu, sắc mặt không thay đổi.
Hà ngồi im cố dấu sự khoái trá. Ván này nhất định ông Thành sẽ cạn láng, tôi nghĩ. Không ai có thể ngờ Hà đang có đôi đầm kít. Bài kín như bưng. Ông Thành mua được con bài mình muốn. Thế mới chết! Làm sao ông ta hiểu được đã vừa mua thêm tai họa. Hà làm ra vẻ bất an,
“Cù lũ bạt thật sao cha?”
Ông Thành nhìn vào mắt Hà, từ tốn,
“Đánh đi.”
Hà cầm cọc tiền lên định ném hết vào láng. Nghĩ sao bỏ xuống, chỉ tố thêm hai nghìn,
“Thật thì nhào vô.”
Tôi biết Hà muốn tẩy xạc nhưng sợ lộ liễu quá ông Thành đoán ra sẽ bỏ nên cố tình nương nhẹ để câu địch thủ. Hắn tính hợp ý tôi, tố vừa phải ông Thành tiếc ván bài, cay cú thế nào cũng theo, nếu mạnh tay hơn gặp người đánh cao hoặc nhát đòn có khi lại hỏng ăn.
“Thật hay không chưa biết, nhưng ba xập đánh thế thì văn nghệ quá. Mà đây lại đếch thích văn nghệ, mới phiền!” Ông Thành vừa cười vừa đẩy hết đống tiền còn lại của mình ra chiếu, tiếp,
“Láng tẩy.”
Hà ngước mắt nhìn địch thủ. Vẻ rạng rỡ trên khuôn mặt hắn bây giờ không thể che dấu. Tôi thấy hai bàn tay đặt trên đùi Hà run run. Thần kinh tôi cũng căng thẳng không kém. Ông Thành thua ván này đậm quá. Đánh phé như thế, yếu xìu, yếu hơn cả tôi là cái chắc. Từ lúc ông ta khởi tố năm trăm đồng, ai cũng nghĩ bài của ông ta đã lộ, nếu không có ba bạt, chẳng ai ngu dại bỏ ra những năm tờ để mua một con bài hú họa, con bài duy nhất còn lại trong tụ. Hà lại chống cằm đóng kịch suy nghĩ. Tôi nói nhỏ vào tai hắn,
“Cho tôi theo năm bớp.”
Hà không nhìn tôi,
“Bỏ năm tờ vào đi.”
Tôi móc ví. Hà vớ cọc tiền mới ông Thành vừa vất ra, đếm. Tất cả năm nghìn tư ba chục. Trừ hai nghìn đánh trước, cộng năm trăm của tôi, Hà phải thêm vào hai nghìn chín trăm ba chục nữa. Hắn gãy gọn,
“Bắt.”
Chủ nhà ngồi sau lưng Huy vói tay tới trước gom đống tiền sắp lại vuông vức, đồng thời lấy hai tờ trăm bỏ vào cái giỏ mây đặt bên cạnh. Chẳng hiểu điều gì vừa nẩy ra bên trong chiếc trán hói kia, khiến ông ta chậc lưỡi,
“Chừng này gởi về Việt nam dám xây được một cáí bệnh xá chứ chẳng chơi.”
Câu nói đùa không được hưởng ứng, nó chìm lỉm vào không khí căng thẳng đang vây bọc quanh những con bạc. Hà ngồi thẳng lưng,
“Xong chưa?”
“Xong.” Chủ nhà trả lời.
Hà chồm người qua đống tiền, dùng lá đót kéo con bài tẩy của ông Thành về phía mình, đưa lên cao, nặn.
Cả làng nín thở theo dõi từng động tác của Hà. Sắc mặt hắn chợt đổi, hai bàn tay run nhiều hơn, hắn vọt miệng chửi tục,
“Đụ mẹ, bài phản!”
Và vất con bài ra chiếu. Con bài nằm ngửa bụng tênh hênh như chọc vào mắt mọi người. Con già. Cù lũ già!
Tôi nhủ thầm, đi đứt năm bò!
Không, ông Thành không yếu như tôi tưởng. Nhìn nét mặt lạnh tanh của ông ta, tôi tiếp tục tự cảnh giác, lần sau, gặp tay này liệu mà giữ thân, chết như chơi!
Hà đứng dậy,
“Hôm nay xui quá.”
Và quay qua tôi,
“Ông thế tôi một lát, phải nghỉ xả xui mới được, liên tiếp bốn ván bị phản phé, đánh đấm quái gì được nữa.”
Hà đến sofa ngả người nằm đốt thuốc hút. Tôi ngồi vào chỗ của hắn, lấy tiền ra đậu láng.
Cuộc chơi tiếp tục.
Tôi thua dài dài cả chục ván, hai lần phải ký check đổi tiền mặt của chủ nhà, nhưng tới nửa đêm thì vận đỏ xoay về phía tôi. Đến sáng, tan cuộc chẳng những tôi gỡ được vốn, còn lời thêm nghìn tư. Ông Thành thắng lớn. Hổ thua đậm nhất, đi đứt hơn chục nghìn, Phan thủ huề, Huy có lẽ kiếm được chút đỉnh. Hà từ khi nhường chỗ cho tôi nằm lầu bầu văng tục một lúc rồi ngủ thẳng cẳng đến sáng, hắn cũng thua gần sáu thiên. Dĩ nhiên không thể quên hai người chẳng bao giờ thua: vợ chồng gia chủ, khiêm nhường lắm cũng vồ được hai nghìn tiền xâu.
Ông Thành rủ cả bọn đi ăn sáng. Tôi cảm thấy buồn ngủ muốn về ngay. Đi với đám này lại dông dài không chừng mất cả buổi sáng. Trên đường về tôi ghé một quán phở ăn qua quít dằn bụng. Cơn buồn ngủ làm hai mí mắt nặng trĩu. Tôi tự nhủ lát nữa sẽ ngủ thẳng một giấc đến chiều. Hôm nay chủ nhật, tối nay có cái hẹn với Hạnh. Phải dưỡng sức để còn rong chơi nhảy nhót và quần nhau suốt đêm chứ.
Tôi sống khá bừa bãi. Gần bốn mươi tuổi, độc thân, bố mẹ đã qua đời, chỉ phải lo cho một đứa em trai duy nhất, tiền bạc dư giả, tiêu pha hào phóng, vì vậy tôi có khá đông bạn bè và tình nhân. Trong rất nhiều những tình nhân này từng có đôi người tôi yêu thực sự, vài lần định tiến xa, nhưng hình như tôi cao số, rốt cuộc chẳng đi đến đâu, vả, có lẽ tiền bạc đã làm tôi hư hỏng. Tôi, dưới mắt của một số đàn bà con gái, là con mồi béo bở, họ đến với tôi do mãnh lực của đồng tiền nhiều hơn sự rung động chân thật của trái tim. Trong tình yêu, nếu trái tim không chịu tham dự, sẽ chỉ là đổi chác thuần tính vật dục, lâu dần trở thành một thói quen, nó giết chết sự thơ mộng vốn là nhân tố cần thiết giữa tương quan nam nữ. Tôi, trong tôi, sự thơ mộng kia đã bị khai tử từ lâu!
Tôi quen Hạnh đã ba tháng nay. Hạnh lẳng lơ và táo bạo. Một mẫu đàn bà có ít chất xám trong đầu nhưng lại rất thừa chất nhờn ở phần hạ thể. Yêu Hạnh, dĩ nhiên không, càng không thể nghĩ chuyện ăn đời ở kiếp. Hạnh cũng chẳng quan tâm đến điều đó, đối với nàng, sống là phóng về phía trước, băng băng như một mũi tên, vượt qua những ràng buộc đạo đức, những tai tiếng hệ lụy. Hạnh lý luận rẻ tiền,
“Một người đàn bà qua năm bảy mối tình sẽ đương nhiên bị xếp vào loại lẳng lơ mất nết, trong khi đàn ông càng từng trải trong tình trường bao nhiêu càng được xem như những người lịch duyệt! Điều đó bất công chứ? Em không có ý nổi loạn để phá vỡ cái trật tự kỳ cục kia, nhưng cũng bực mình. Cuối cùng em nhận thấy cách tốt nhất cứ sống như mình thích, mặc kệ thiên hạ muốn nghĩ gì thì nghĩ.”
Tôi lên mặt triết lý ba xu,
“Cái gì cũng có giá của nó. Em sẽ phảỉ trả một giá đắt cho quan niệm cứ sống như mình thích của em.”
“Em đang trả đây thôi. Anh hẳn đã nghe những tai tiếng về em rồi mà. Ngay cả anh nữa, sức mấy anh dám lấy em làm vợ, phải không.”
Phải, sức mấy tôi dám lấy nàng làm vợ. Hạnh biết vậy nên chẳng bao giờ du tôi vào thế kẹt. Tôi nghĩ – với một chút trắc ẩn – đó là sự khôn ngoan duy nhất của nàng.
Tôi lái xe vào lối đi tráng xi măng. Đứa em trai đang đứng trên bậc thềm cùng cô bạn gái. Thiếu nữ khẽ nghiêng đầu chào, tôi mỉm cười đáp lễ rồi quay qua cậu em,
“Có ai gọi anh không?”
“Có, chị Hạnh.”
“Bao giờ?”
“Tối qua.”
“Em trả lời thế nào?”
“Như anh dặn.”
“Tốt. Hình như các em sắp đi đâu?”
“Dạ, đến thư viện.”
“Anh cần ngủ, sẽ tắt phone trong phòng. Nếu em về sớm, có ai gọi nói anh đi vắng, nhé.”
Đứa em trai gật đầu. Tôi vào bathroom rửa mặt, trở ra cởi quần áo leo lên giường. Căn phòng mát lạnh. Tôi kéo tấm chăn mỏng đắp kín ngang ngực, nhắm mắt. Tôi biết giấc ngủ sẽ đến ngay, vì hai mí mắt đã mọng cứng, cay xè.
Tôi thức dậy vào lúc bảy giờ chiều, cũng vừa lúc Hạnh gọi nhắc tôi về buổi du hí tối nay. Tôi nói sẽ đến đón nàng trong vòng một tiếng đồng hồ nữa.
Tôi trầm mình trong bồn tắm. Một giấc ngủ dài không mộng mị, hơi ấm của nhiệt độ nước được pha vừa phải, mùi xà phòng quyện trong không khí khiến đầu óc tôi tỉnh táo hơn. Nghĩ đến cuộc hẹn với Hạnh, tôi cảm thấy vui vui.
Tắm xong tôi trở lại phòng ngủ bật TV xem một lát rồi thay quần áo đến đón nàng.
Chiếc xe chưa vào đến parking Hạnh đã từ nhà đi ra. Tôi mở cửa. Hạnh nhanh nhẹn bước lên. Trong bóng tối chập choạng, tôi nhìn thấy đôi môi Hạnh bóng nhẫy và mùi nước hoa từ thân thể nàng toát ra thoang thoảng quyến rũ. Tôi nói,
“Cho anh hôn.”
Nàng nghiêng người ngước mặt về phía tôi. Chúng tôi hôn nhau. Khi rời ra Hạnh nhìn tôi cười,
“Son dính tùm lum kìa.”
Và vói tay rút tờ “nápkin” lau cho tôi.
“Đi ăn chứ?” Tôi hỏi Hạnh.
Nàng gật đầu,
“Anh đói lắm phải không? Mình xuống đường Beach ăn cơm Thái lan. Cay lùng bùng hai lỗ tai nhưng ngon tuyệt.”
Tôi đưa Hạnh đến nơi nàng chỉ. Đó là một restaurant thuộc loại nhỏ, bên trong bày biện có vẻ xập xệ. Một tấm hình chụp được phóng lớn treo trên bức tường ngang, hai ba cô gái Thái với quốc phục màu sắc lòe loẹt, đầu đội những chiếc mũ nhọn, đang uốn éo tay chân trong một vũ điệu dân tộc đặc thù của xứ chùa tháp. Tấm hình này tôi vẫn thường thấy ở phòng bán vé các công ty du lịch, quen mắt đến chẳng gây nổi ấn tượng. Quán đông, đa số là người Thái, họ nói chuyện với nhau bằng một thứ ngôn ngữ líu lo tôi hoàn toàn không hiểu. Thâm tâm tôi có hơi thất vọng nghĩ cứ “về tắm ao ta” coi bộ thoải mái hơn. Mãi đến lúc dùng xong bữa tôi mới công nhận Hạnh nói đúng, thức ăn Thái lan quả có cay và ngon thật.
Từ quán ăn ra đã mười giờ, tôi chạy luôn đến vũ trường. Ở đó tôi gặp một số bạn bè quen, chúng tôi uống rượu và nhảy. Nửa đêm vãn cuộc, tôi ngà ngà say. Sau khi chia tay với đám bạn, Hạnh nói,
“Đưa chìa khóa đây em lái.”
Đã một lần bị rắc rối về việc say rượu lái xe, nên khi nghe Hạnh đề nghị tôi bằng lòng ngay. Tôi đưa chìa khóa cho nàng. Chiếc xe bò ra khỏi parking. Hai chiếc quạt nước xua tan lớp sương đọng mù khung kính. Dù cửa đã đóng kín nhưng tôi vẫn rùng mình ớn lạnh. Tôi nói Hạnh mở máy sưởi và lục túi tìm thuốc hút. Chiếc bao giấy xẹp lép không còn điếu nào.
“Ghé đâu đó anh mua bao thuốc.”
Hạnh cho xe rẽ vào cây xăng chỗ ngã tư. Tôi vỗ vỗ bàn tay lên đùi nàng,
“Đừng tắt máy anh ra ngay.”
Chờ người đàn ông đứng phía trước trả tiền xong rời chỗ, tôi bước tới vói tay lấy hai gói Marlboro Light thẩy lên mặt quầy, kèm theo tờ dollar năm đồng. Gã thâu ngân người da đen nhanh nhẹn đưa cho tôi hai tờ giấy xanh. Gã cười lịch sự,
“Thank you sir.”
Tôi cầm hai tờ bạc, nhận ra ngay gã thâu ngân đã thối lộn. Gã tưởng tôi vừa đưa mười đồng nên thối lại những sáu đồng. Tôi nghĩ thầm, được hai bao thuốc không mất tiền lại lời thêm một dollar. Cảm giác thích thú trộn lẫn lo sợ dấy lên trong lòng, tôi vội vã bước nhanh ra cửa, hối hả bảo Hạnh rời chỗ đậu ngay. Thâm tâm, tôi ngại gã thâu ngân phát hiện ra sự lầm lẫn sẽ chạy theo đòi lại. Thấy tôi có vẻ nôn nóng, Hạnh hỏi,
“Bộ anh say lắm à?”
“Ừ, có lẽ anh sắp ói. Nhanh lên em.”
Hạnh tưởng thật, nhấn chân ga, chiếc xe chồm tới, phóng ra đường chạy băng băng trên mặt nhựa rộng. Đêm đã ngả về sáng, đường phố trở nên rộng thênh thang. Tôi ngả người vào chỗ tựa, nhắm mắt. Cảm giác lo sợ không còn, sự thích thú cũng rút đi. Tôi giật mình bàng hoàng. Vừa rồi, tôi đã hành xử như một tên ăn cắp hèn hạ! Ồ, có thể như vậy được chăng? Tại sao tôi lại làm thế? Vì say? Không. Tôi mở mắt quay qua nhìn Hạnh, định nói nàng vòng xe lui. Nhưng tôi thở dài chán nản. Chẳng giải quyết được gì hết. Cho dù tôi có trả lại cho gã thâu ngân số tiền thối dư thì câu chuyện vẫn nguyên trạng. Vấn đề không phải ở đó. Vấn đề là bởi động cơ tối tăm nào tôi cảm thấy khoái lạc một cách mọi rợ khi ăn gian được của gã sáu dollars? Hôm qua tôi đánh bạc, thắng, thua chỉ một ván bài đã có khi lên đến vài nghìn. Tối nay tôi cũng vừa rong chơi với Hạnh, riêng tiền “típ” tôi cho cô tiếp viên đã ngót ngét năm chục, kể gì đến bia rượu đổ như suối. Trên năm trăm đồng bay vèo qua cửa sổ không làm tôi động tâm mảy may. Với khả năng làm tiền của tôi, với cung cách tiêu pha hào phóng nổi tiếng từ trước đến nay, mấy đồng bạc nào có nghĩa gì đâu? Vậy mà tôi lại sung sướng vì nó, vậy mà tôi lấm la lấm lét, vội vội vàng vàng cút nhanh ra khỏi cây xăng với một cảm giác ngây ngất đầy thú tính cùng nỗi hãi sợ đốn mạt!
Tôi hình dung khuôn mặt của gã bán hàng có nụ cười trắng bóng hai hàm răng. Thank you sir. Cảm ơn ngài. Ngài! Khuôn mặt gã da đen lớn dần, nụ cười biến thành tiếng cười vang động. Hắn nhìn tôi, nheo nheo đôi mắt như mỉa mai giễu cợt. Ngài! Cảm ơn ngài! Cảm giác tủi hổ trào lên, tiếp tục tăng trưởng khiến ngực tôi tức nghẹn.
Bỗng nhiên tôi nhớ đến một kỷ niệm xảy ra trên hai mươi năm trước.
Năm đó tôi mười một tuổi, đứa em trai hiện đang sống với tôi chưa ra đời. Gia đình tôi thuộc thành phần giàu có nhất nhì trong tỉnh, tôi lại là con một nên được cưng chiều rất mực. Có thể nói ấu thơ tôi được bọc kín bằng nhung lụa. Lên tám, tôi đã biết tiêu tiền và tiêu rất bạo. Khi thích một đồ vật gì tôi mua ngay, không đủ tiền cũng cố vòi vĩnh cho bằng được mới thôi. Mỗi sáng trước khi đến trường, dù đã ăn uống đầy đủ, trong túi tôi vẫn luôn luôn có thêm năm mươi đồng tiêu vặt. Nên nhớ vào những năm đầu của thập niên sáu mươi, với năm mươi đồng, một gia đình nghèo có thể sống no đủ vài ba ngày. Nói rõ như thế để thấy rằng thuở đó tôi “phong lưu” biết bao nhiêu, và lơ mơ về giá trị của đồng tiền cũng biết bao nhiêu.
Nhà tôi tọa lạc ngay phố chính của tỉnh lỵ. Đó là một khối building bốn tầng. Ba tầng trên để ở, tầng trệt là Trung Tâm Nhập Cảng Dụng Cụ Nông Cơ do bố tôi làm chủ. Bên cạnh nhà có một khoảng đất trống, hai năm trước chị người làm của gia đình tôi đi lấy chồng, sau ngày cưới chị trở lại xin bố mẹ tôi cho mướn miếng đất để chồng chị che một mái tôn làm chỗ sửa xe gắn máy kiếm sống. Anh ta chỉ làm việc ban ngày, chiều về với gia đình. Bố mẹ tôi thấy miếng đất bỏ không chỉ tổ mất công làm cỏ nên vui vẻ bằng lòng. Dần dà, từ một chái tôn ọp ẹp, nhờ cần mẫn chăm chỉ, hai vợ chồng chị người làm mỗi ngày mỗi tu chỉnh và nới rộng thêm ra. Trong vòng hai năm, đã nghiễm nhiên biến thành cửa tiệm khang trang bề thế.
Một buổi sáng chủ nhật tôi lân la qua tiệm sửa xe xem ông chủ làm việc, đồng thời cũng có ý chờ gã bán kẹo kéo sắp đi ngang. Tôi đứng chỗ hai trụ cổng ximăng bên ngoài chứ không vào sâu phía trong, tôi sợ gã bán kẹo sẽ đi hút không nhìn kịp. Tôi đứng khoảng năm phút thì một thanh niên dẫn chiếc Honda vào tiệm.
“Nhờ chú coi dùm cái xe, đạp mãi không nổ.” Thanh niên nói.
Sau một hồi kiểm tra máy móc, ông chủ kết luận,
“Vít lửa mòn hết rồi, phải thay cái mới.”
“Bao nhiêu chú?”
“Hai chục.”
“Chú thay giùm đi.”
Xong việc, chàng thanh niên móc ví đưa cho ông chủ hai tờ mười đồng. Đang bận tay với một chiếc xe khác vừa mới mang vào, ông chủ nói,
“Anh để trên bàn hộ tôi.”
Chàng thanh niên làm theo, nói cảm ơn rồi lên xe phóng đi.
Ngay lúc đó một đứa bé, khoảng chín mười tuổi, dẫn người đàn bà mù bước vào tiệm. Đứa bé da xanh mướt lốm đốm vô số những mụn ghẻ nước, hai trũng mắt thâm quầng, mái tóc rối vàng hoe, chiếc quần đùi đang mặc rách tả tơi, lộ hẳn hai mông đít đen mốc ra ngoài. Người đàn bà cầm một đầu cây gậy tre, đầu kia trong tay thằng bé, bà ta bước chập choạng theo sau nó, đôi chân khẳng khiu không ngừng run lẩy bẩy bên trong hai ống quần đen vá chằng vá đụp, gấu đã rách te tưa. Đứa bé cầm chiếc bát sành sứt mẻ chìa về phía ông chủ,
“Chú làm ơn làm phước…”
Ông chủ quay ngang, nhăn mặt,
“Không có, đi đi.”
Đứa trẻ lùi lại chỗ chiếc bàn, tiếp tục nài nỉ.
Một cơn gió lớn bỗng cuốn ngang, hai tờ bạc rơi xuống đất một tờ bay đến tận chỗ tôi đứng. Nhanh như điện, tôi dẫm bàn chân lên tờ giấy bạc. Tôi đứng yên ra vẻ bình thản. Một lúc, biết chắc không ai để ý, tôi ngồi xuống lượm vội nhét vào túi.

Thằng bé ăn xin vẫn tiếp tục lải nhải. Ông chủ nổi nóng đứng dậy, định tỏ thái độ với thằng bé, chợt ông ta phát hiện hai tờ bạc không còn nằm trên bàn. Ông tìm quanh, cúi lượm một tờ, tờ còn lại chẳng thấy đâu. Lập tức ông xoáy tia nhìn vào thằng bé,
“Mầy mới lấy mười đồng phải không?”
Thằng bé dương mắt vẻ ngạc nhiên. Hắn chưa kịp hiểu, vì dù đứng chỗ góc bàn nhưng mặt quay về phía ông chủ, hắn chưa thấy hai tờ bạc. Ông chủ lặp lại, giọng gay gắt,
“Phải không?”
“Con… Con…”
“Khôn hồn trả đây ngay, tao gọi cảnh sát còng cổ bây giờ.”
“Con… Con… đâu có lấy…”
“Đồ lưu manh. Không mày thì còn ai vào đây, hả?
“Con không lấy thật mà…”
Ông chủ nổi nóng chồm tới, vươn tay túm cổ áo thằng bé nhấc lên. Nó co rúm người lại, khuôn mặt tái xanh càng thêm tái. Ồng ta gằn giọng,
“Có trả không, nói?”
“Con không lấy mà… Chú ơi, oan con…”
Nó bật khóc, nước mắt ràn rụa. Người đàn bà mù cất giọng hốt hoảng,
“Chuyện chi rứa…?”
“Mẹ ơi, ông này nói con ăn cắp tiền của ổng. Đâu có mẹ ơi…”
Ông chủ vẫn túm chặt cổ áo thằng bé, hai mắt ông trợn ngược, tay còn lại đưa lên trong tư thế sắp bạt tai. Nó vùng vẫy thoát ra được, lùi dài về phía sau. Ông chủ hét lớn,
“Mày chạy hả… Chạy hả…”
Và nhảy tới. Thằng bé sợ quá luồn nhanh qua gầm bàn, vụt ra cổng. Ông chủ vừa la bai bải tao đập bỏ mẹ mầy… đồ lưu manh… Tao đập bỏ mẹ mầy… Vừa đuổi theo.
Một chiếc xe nhà binh từ hướng ngã tư kềnh càng lao xuống. Chẳng hiểu thằng bé có nhìn thấy hay không, nó vẫn cuống cuồng phóng ngang lộ. Chiếc xe đảo qua đảo lại, kéo dài tiếng rít trên mặt nhựa buốt óc. Tôi hét lớn xe… Xe… Nhưng đã muộn! Cái đầu máy màu cứt ngựa mốc thếch chồm lên, thằng bé ngã bật ra, mất biến dưới gầm xe…
Gần ba mươi năm kể từ biến cố thảm khốc kia, tôi tự hứa sẽ không bao giờ nữa trong suốt cuộc đời còn lại, tái phạm hành vi ăn cắp, dù dưới bất cứ hình thức nào. Lời hứa đó tôi đã giữ được, cho đến hôm nay.
Hôm nay, động cơ và nguyên nhân tối tăm nào đã thúc đẩy tôi, thêm một lần, trở thành kẻ cắp đốn mạt? Tôi nhớ đến cảm giác vừa ngất ngây khoái lạc vừa lo sợ luống cuống lúc vội vàng rời trạm xăng. Bỗng nhiên tôi lợm giọng, muốn ói.
Chiếc xe đã vào đến lối đi tráng ximăng, Hạnh tắt máy mở cửa bước ra, vòng qua phía tôi,
“Xuống anh.”
Nàng đưa tay ra cho tôi nắm. Tôi cầm bàn tay của nàng, bàn tay nóng ấm mềm mại. Tôi nói,
“Cảm ơn em, anh đi được.”
Tôi bước lên mấy bậc cấp đầu thềm, Hạnh theo sau. Cảm giác lợm giọng tiếp tục gia tăng, bụng cồn cào quặn thắt, và không cách chi kềm hãm kịp, tôi nôn thốc tháo ngay dưới chân cánh cửa gỗ dẫn vào phòng khách. Thức ăn chưa tiêu hóa trộn lẫn với men rượu bốc lên oi nồng. Hạnh hốt hoảng,
“Ồ… Ồ… Anh say quá rồi…”
Tôi chống hai tay lên mặt cửa, thở dốc. Một lát, tôi nói với Hạnh,
“Yên trí, anh đâu có say.”
Quả vậy, tôi không say, tôi hoàn toàn tỉnh táo. Cơ thể tôi thừa khả năng để dung chứa một lượng rượu nhiều gấp bốn lần tối nay kia mà.
Nhìn bãi nôn lầy nhầy dưới chân, bãi nôn đang bốc lên cái mùi vị khăm khẳm chua lè, tim tôi nhói buốt. Tôi gục đầu vào tấm cửa gỗ. Hạnh nói,
“Khỏe chưa anh? Vào nhà em pha nước chanh anh uống dã rượu.”
Tôi không trả lời.
Trong đầu tôi bỗng vang dội tiếng thắng rít dài trên mặt nhựa và hình ảnh thằng bé ngã vật ra, mất biến dưới gầm xe, cùng với nụ cười sáng bóng đôi hàm răng của gã da đcn. Thank you, sir.
Tôi bật cười, nụ cười khiến nước mắt tôi trào ra ràn rụa.

KHÁNH TRƯỜNG

Tường cao, sông rộng, biển mênh mông!

hung-viet.org
21 Tháng Tám 2017
Huy Phương / VOA

Sau khi Thế chiến thứ II kết thúc vào năm 1945, nước Đức chia đôi. Đông Đức thuộc về Liên Xô dưới chế độ Cộng Sản (Cộng Hoà Dân Chủ Đức,) Tây Đức thuộc về các nước Mỹ, Anh và Pháp (Cộng Hoà Liên Bang Đức). Thành phố Bá Linh nằm trong vùng do Liên Xô kiểm soát cũng bị cắt đôi: Đông và Tây Bá Linh. Liên Xô tìm cách phong toả Tây Bá Linh trong một thời gian dài nhưng không thành công.
Năm 1949, khi Liên Xô quyết định ngưng phong toả Tây Bá Linh, gần ba triệu người đã chạy trốn khỏi Đông Đức, trong số đó có nhiều trí thức có chuyên môn như bác sĩ, giáo sư, kỹ sư.
Từ đó cho đến năm 1958, người dân Đông Đức vẫn vẫn tiếp tục ồ ạt ra đi. Tính đến tháng 6-1961, khoảng 19.000 người rời Cộng Hoà Dân Chủ Đức qua Tây Bá Linh. Tháng 7 sau đó, 30.000 người, và chỉ trong 11 ngày vào tháng 8, có tới 16.000 người Đông Đức vượt qua ranh giới để vào Tây Bá Linh. Đặc biệt là vào ngày 12/8, 2.400 người đã di tản khỏi Đông Đức, con số lớn nhất trong riêng một ngày, như một cơn thác lũ không có gì ngăn chận nỗi.
Ngay đêm đó, chính quyền Đông Đức quyết định ngăn dòng người di tản bằng cách đóng cửa biên giới vĩnh viễn. Chỉ trong hai tuần, quân đội, cảnh sát và các công nhân xây dựng của Đông Đức đã hoàn tất hàng rào thép gai và bức tường bê tông, ngăn đôi thành phố.

Bức tường Bá Linh.

Nhưng việc xây bức tường Berlin này có nhiều sơ hở, đã không ngăn được dòng người di tản từ Đông sang Tây, nên sau đó, năm 1961, chính quyền Đông Đức thay thế bức tường tạm bằng một bức tường kiên cố hơn, dựng bằng các tấm bê tông cốt thép cao 3,6 m, rộng 1,2 m chôn sâu dưới đất khiến việc trèo qua tường gần như không thực hiện được. Đông Đức gọi bức tường này là để ngăn chận Phát Xít xâm nhập (!) nhưng thực sự là để ngăn chận dân chúng Đông Đức chạy trốn chế độ Cộng Sản. Những khẩu súng máy, vọng gác và lính canh, đèn pha quét hàng đêm, chó dữ, với chỉ thị bắn bỏ những người có ý định trèo qua bức tường bỏ trốn.
Cho đến ngày bức tường Bá Linh sụp đổ ngày 12 tháng 11 năm 1989, trong lịch sử vượt thoát đã có 171 người thiệt mạng khi cố vượt qua bức tường, nhưng cũng đã có hơn 5.000 người Đông Đức (trong đó có cả 600 lính biên phòng Đông Đức,) đã vượt qua được bức tường bằng cách nhảy từ cửa sổ tòa nhà gần bức tường, trèo qua dây thép gai, bay bằng khinh khí cầu, bò qua cống và lái xe băng qua những phần bỏ ngỏ của bức tường.
Vào ngày 1/11/1989, kinh tế Đông Đức đang trên bờ vực sụp đổ và chính quyền không thể trả lãi cho những món nợ khổng lồ, các cuộc biểu tình chống chính phủ quy mô lớn nổ ra ở Leipzig lan tới Bá Linh. Đông Đức cần được Liên Xô hỗ trợ về tài chính và quân sự ngăn chận tình trạng suy sụp, tuy nhiên, Gorbachev tuyên bố Liên Xô không có trách nhiệm ngăn lượng người di tản quy mô lớn khỏi Đông Đức.
Vào ngày 9/11/1989, Đông Berlin mở cửa cho dân chúng được tự do vượt qua ranh giới.
Ngay sau đó, bức tường bị đánh sập và Berlin lần đầu tiên được thống nhất ngày 3/10/1990, trở thành nước Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh vào năm 1945, Triều Tiên bị chia cắt làm hai với ranh giới là vĩ tuyến 38: Bắc Hàn – CHDCND Triều Tiên theo chính thể cộng sản và Nam Hàn – Đại Hàn Dân Quốc theo chính thể tư bản. Năm năm sau, ngày 25/6/1950,135.000 binh sĩ Bắc Hàn đổ quân dọc vĩ tuyến 38, và để chống lại sự xâm lược này, tháng 7/1950, quân đội Mỹ lâm trận cùng với Nam Hàn để chống lại sự bành trướng của Bắc Hàn. Sau khi quân đội Mỹ vượt qua vĩ tuyến 38, quân đội Bắc Hàn bị dồn tới sông Áp Lục, sát biên giới Trung Cộng. Tháng 10/1950, quân đội Trung Cộng vào vòng tham chiến, đánh qua sông Áp Lục, tạo nguy cơ về cuộc Thế chiến III sắp xảy ra, nên Mỹ quyết định rút quân. Tháng 7/1953, hiệp định đình chiến được ký kết, hình thành khu phi quân sự dọc vĩ tuyến 38 trở lại như cũ.
Trong khi đó tại bán đảo Triều Tiên, giữa Nam và Bắc không có “bức tường ô nhục,” nhưng tính tới cuối tháng 8-2016, đã có 29.688 người người Bắc Hàn vượt thoát sang Nam Hàn sinh sống vì điều kiện sống ở xứ này càng ngày càng trở nên khắc nghiệt, trong đó cả các lính Bắc Hàn và ngay cả Thae Yong Ho, Phó Đại Sứ Bắc Hàn tại Luân Đôn cũng xin tỵ nạn chính trị. Park Kun-ha phải trốn qua ngã Trung Cộng trong cuộc hành trình đầy nguy hiểm phải mất 5 năm mới đặt được chân tới thủ đô Hán Thành. Eunsun, một cô gái trốn khỏi địa ngục Bắc Hàn, phải mất 9 năm mới đến được bờ Nam.

Sau hiệp định Geneve tháng 4-1954, Việt Nam bị chia làm hai, lấy vĩ tuyến 17 (sông Bến Hải- Cầu Hiền Lương) làm ranh giới, khoảng một triệu người dân miền Bắc (khoảng 800 ngàn trong đó là người Công giáo) di cư đến miền Nam Việt Nam trong những năm 1954–1955 theo những chuyến tàu thuỷ do Pháp và Mỹ tổ chức. Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà khiếu nại cho rằng chính phủ quốc gia đã ép buộc đồng bào di cư vào Nam. Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Bắc Việt, nhưng trong số 25.000 người được Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị “cưỡng bách di cư” hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo của phe Cộng Sản.
Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng để vào Nam.
Trong số các nhà văn nhà thơ từ miền Nam đi tập kết ra Bắc vào năm 1954 có Vũ Anh Khanh và Xuân Vũ. Xuân Vũ sau này, khoảng 1965, đã vượt Trường Sơn vào Nam cầm bút trở lại để phơi bày thực trạng của nhân dân miền Bắc và cái giá mà ông và bạn hữu phải trả vì sự lầm lẫn của mình về cộng sản, thì nhà thơ Vũ Anh Khanh, trong khi bơi qua sông Bến Hải, bị bắn chết giữa dòng sông.
Ngày 30 tháng 4-1975, vi phạm hiệp định Paris, chế độ Hà Nội tiến công chiếm miền Nam, để tránh nạn Cộng Sản, đã có hàng nghìn người di tản khỏi Việt Nam. Sau đó, với tính chất cai trị sắt máu, Cộng Sản cưỡng chế người dân đi vùng kinh tế mới, và tập trung trên một triệu người miền Nam vào các trại tù cải tạo, những làn sóng di tản bằng đường biển bắt đầu gia tăng.
Đến cuối năm 1977, đã có trên 15,000 người Việt sang tị nạn tại các nước trong vùng Đông Nam Á. Năm 1978, khi nhà cầm quyền Cộng Sản phát động chính sách cải tạo tư sản, và tiếp theo đó là việc xua quân sang Cam Bốt, và phải đương đầu với cuộc chiến biên giới với Trung Quốc, làn sóng tị nạn bằng đường biển đã tăng lên gấp bốn lần, với đa số người ra đi thuộc khối người Việt gốc Hoa, để sau đó được đưa sang định cư tại các tỉnh phía Nam Trung Quốc.

Vào cuối năm 1978, đã có 62,000 thuyền nhân người Việt tị nạn tại các nước Đông-Nam Á. Riêng trong tháng 6 năm 1979, đã có trên 54,000 thuyền nhân Việt Nam đến tị nạn tại các nước nói trên. Hàng chục nghìn thuyền nhân bỏ nước ra đi đã bị bão tố, bị nạn hải tặc đánh cướp, hãm hiếp, giết chết bỏ thây trên biển cả. Theo số liệu của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, trong khoảng thời gian 1975-1995 đã có 849.228 người vượt biên bằng đường biển và đường bộ đến định cư tại các nước tự do, nhưng số người vượt biên chỉ thành công 50%, cứ một người đến được bờ tự do thì có một người chết trên biển Đông hay trong rừng thẳm.
Và vào thời điểm 2017, người Việt Nam dưới chế độ CHXH Việt Nam- Độc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc sau 42 năm đã thấm đòn cai trị của đảng Cộng Sản, còn đóng tàu vượt biển sang Úc.
Bây giờ sau 42 năm, người Việt trong nước đã biết rõ thế nào là chế độ Cộng Sản rồi, nếu có một cơ hội để rời đất nước ra đi, thì đây là một cơ hội tốt không ai từ chối.
Qua chuyện chia cắt của Đức Quốc, Triều Tiên rồi đến Việt Nam, các cấp đảng viên Cộng Sản, dân chúng miền Bắc, các dư luận viên, hàng ngũ bộ đội, công an… nhận định và giải thích ra sao về chuyện dân chúng của các nước trên, luôn luôn liều chết, vượt biên giới bỏ chế độ Cộng Sản Đông Đức, Bắc Hàn, Bắc Việt và bây giờ là Cộng Sản VN để chạy sang phía tư bản, xứ tự do, phía phi cộng sản.
Chế độ Cộng Sản nếu tốt đẹp, no ấm, tự do, hạnh phúc thì con người không ai liều chết để ra đi như vậy. Rõ ràng bên kia và bên này khác nhau như đêm và ngày, tự do và tù đày, mà con người phải có một lựa chọn cho bản thân mình và con cháu đời sau. Dù tường cao, sông rộng, biển mênh mông cũng không ngăn được bước chân những người ra đi, chọn cuộc sống tốt đẹp hơn cho mình và tương lai cho con cái!
Tổng Thống Mỹ Ronald W. Reagan đã có một câu nói vĩ đại: “Tôi có một câu hỏi cho các nhà lãnh đạo ở các nước chủ nghĩa cộng sản: nếu chủ nghĩa cộng sản có tương lai, tại sao mấy ông cần phải xây dựng những bức tường để giữ mọi người lại và quân đội, cảnh sát chìm để bắt mọi người im lặng?”

Và Milton Friedman, giải Nobel Khoa học Kinh Tế 1976:“Hãy nhìn bao nhiêu người từ xứ cộng sản bất chấp cái chết để vượt biên qua xứ tư bản, nhiêu đó cũng cho chúng ta nhân loại đã bình chọn ra sao!”

Huy Phương
Nguồn VOA

Trong nghĩa trang buồn

hung-viet.org
Huy Phương
Post on14 Nov 2016

Post by Sơn râu 11 Feb 2025

Một góc Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa năm 2011. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Trong sinh hoạt cộng đồng cuối tuần vừa qua tại Nam California, Vietnam Film Club ở Washington, DC, đã tổ chức một buổi ra mắt cuốn DVD “Hồn Tử Sĩ, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa” trước một số người tham dự đông đảo, phần lớn là các cựu quân nhân VNCH, tại Westminster.
Câu chuyện Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được mọi người quan tâm không phải bây giờ mà cách đây đã khá lâu, khi một số người tị nạn Cộng Sản đã ra được nước ngoài, vẫn canh cánh bên lòng câu chuyện đau lòng của nghĩa trang miền Nam, nơi đã chôn cất hàng chục nghìn tử sĩ của miền Nam. Nghĩa trang này sau khi miền Nam thất thủ, đã không được chính quyền Cộng Sản, những người thắng cuộc tôn trọng và cư xử với đạo lý “nghĩa tử là nghĩa tận” của người phương Đông hay với tính cách nghĩa hiệp của người văn minh phương Tây, đối với những người cùng chung một nước, như sự cư xử của Bắc quân khi miền Nam thất trận trong cuộc Nội Chiến (Civil War 1861-1865) của Hoa Kỳ.
Ngay đối với đội quân xâm lược từ một quốc gia khác, khi tiếng súng đã ngưng, những đối thủ ngày trước, bây giờ cũng phải được tôn trọng, nhất là đối với những người đã chết.
Nước Pháp có mộ chiến sĩ vô danh nằm dưới Khải Hoàn Môn từ ngày 11 Tháng Mười Một, 1920, nơi có khắc hàng chữ “Nơi đây yên nghỉ một người lính Pháp chết cho tổ quốc.” (1914-1918). Tuy vậy, vào ngày 14 Tháng Bảy, 1940, nghĩa là trong thời gian quân đội Đức chiếm đóng Paris, buổi lễ Chiến Sĩ Trận Vong vẫn được tổ chức với sự cho phép của sĩ quan Đức.
Thay vì đào mồ bới mả kẻ thù lên mà hả hê sung sướng, reo hò khi đã thắng được kẻ thù, chúng ta được biết trong năm 2015, Ukraine đã tháo dỡ gần 140 tượng đài của Liên Xô và chính phủ Ba Lan có kế hoạch hạ bỏ khoảng 500 tượng đài Liên Xô, kẻ thù ngày trước, nhưng không đụng đến tượng đài ở các nghĩa trang, nơi an nghỉ của những người lính Xô Viết.
Sau khi cuộc Nội Chiến Mỹ kết thúc, chính phủ liên bang đã trả lại tài sản bị trưng dụng hoặc bị chiếm đoạt cho phe bại trận để hàn gắn vết thương chiến tranh và những người lính hy sinh từ hai chiến tuyến được chôn chung trong một nghĩa trang với nhau, hoàn toàn không có sự phân biệt kẻ thắng người thua.
Chỉ vài ngày sau khi miền Nam thất thủ, bức tượng “Thương Tiếc,” tác phẩm điêu khắc của Nguyễn Thanh Thu, bằng đồng, nặng 10 tấn, cao hơn 6 mét, ghi lại hình ảnh của một người lính gác súng, ngồi trên bệ đá trước nghĩa trang, đã bị Cộng Sản giật sập và kéo đi. Từ đó, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa được xem như một vùng quân sự, cấm người dân ra vào.
Năm 1995, ký giả Gordon Dillow, sau khi bất ngờ vào được bên trong, ông đã viết trên nhật báo The Orange County Register như sau: “Hai mươi năm trước, đây là nghĩa trang quốc gia lớn nhất với đài tưởng niệm các chiến sĩ của miền Nam Việt Nam, bây giờ là bãi đất hoang vu, bị bỏ mặc không ai chăm sóc, bị phá hoại. Những nấm mồ bị đào xới không còn nhận dạng được. Nhà cầm quyền Cộng Sản đã trồng một số cây, ngay bên cạnh các mộ phần, khiến cho rễ của cây khi lớn lên sẽ phá nát những ngôi mộ bên dưới.”
Ký giả Dan Southerland của đài Á Châu Tự Do, năm 2005, khi ghé thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, đã nhận ra đây là một khung cảnh thù địch, khiến cho ông phải bàng hoàng. Nghĩa trang như một căn cứ quân sự, hay như một nhà tù, có lính Cộng Sản canh gác ngày đêm. Họ sợ điều gì vậy?
Ông Southerland cũng dã đi thăm một vài nghĩa trang của những người lính Cộng Sản, sự tương phản làm cho ông ngỡ ngàng, một bên được chăm sóc đẹp đẽ, mở cửa cho mọi người vào, một bên như là một nhà tù. Tất cả chỉ là hoang phế, phá hoại và lấn chiếm.
Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, một trong những chủ trương trả thù của quân Cộng Sản, nhằm xóa bỏ di tích của cuộc chiến, là triệt phá tất cả các nghĩa trang của quân đội VNCH trên toàn miền Nam, ngoại trừ duy nhất là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa chưa bị san bằng và mọi việc thăm viếng đều bị kiểm soát.
Bằng chứng là vào đầu Tháng Năm, 1975, Cộng Sản đã cho san bằng hằng nghìn ngôi mộ ở Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp, và sau đó là số phận của nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nơi chôn cất Thống Tướng Lê Văn Tỵ và hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Theo Wikileaks, hồi năm 2008, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb đã bí mật đến thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nằm trong tình trạng hoang phế vì không có người chăm sóc. Dịp này, ông Webb gặp bí thư thành ủy Sài Gòn là ông Lê Thanh Hải và chủ tịch thành phố là ông Nguyễn Hoàng Quân. Ông Webb khuyến khích nhà cầm quyền Cộng Sản, đây đã đến lúc hòa giải với cựu quân nhân VNCH.
Các viên chức đảng Cộng Sản này, khi đáp lời ông Webb, đã không nhắc gì tới quân đội VNCH mà chỉ nói tới vai trò quan trọng của Mỹ trong việc phát triển kinh tế Việt Nam, tức là xin viện trợ. Cả hai đều nhắc tới những “bước tiến trong quan hệ hai nước, để người Việt ở Mỹ có thể trở về nước làm ăn!”
Báo chí ở Việt Nam hàng năm nêu ra con số hàng chục tỷ đô la do người Việt hải ngoại, đa số là những người chạy trốn Cộng Sản, gửi về nước cho thân nhân mà nhờ đó có tiền nuôi chế độ. Nhưng chế độ này, tuy bề ngoài vẫn hô hào hòa hợp hòa giải, quên đi quá khứ, nhưng vẫn quyết tâm ngoảnh mặt làm ngơ, không tương nhượng với việc hòa giải ngay cả với người chết là việc trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hay coi đây như là một di tích lịch sử.
Thật bất hạnh cho miền Nam chúng ta, đã có một đồng minh bội phản và hơn thế, một thứ kẻ thù mọi rợ, nhỏ nhen.

Huy Phương
Nguồn Người Việt

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 11 Feb 2025

Bài 2
Trên đồi Tăng Nhơn Phú

Mười chín tuổi, tôi quyết định đăng lính. Mặc dầu có băng Tú tài II, đủ điều kiện để thi vào Hải Quân hoặc Võ Bị Đà Lạt, nhưng tôi không chọn hai nơi này bởi vì tôi nghe bạn bè kháo nhau rằng, chương trình học toán của sĩ quan Hải Quân tương đương với toán của Đại học Khoa học. Chẳng hạn môn Thiên văn học hay cái môn học gì đó, giữa trùng dương bao la bát ngát, nhìn sao trên trời rồi dùng toán học để tìm ra điểm đứng của con tàu, đối với tôi đây quả là chuyện không tưởng. Thi vô Trường Võ Bị Đà Lạt còn mệt hơn nữa, bốn năm trong trường, ngoài chuyện học về quân sự phải học thêm về văn hóa, mà phần văn hóa xem ra còn nặng hơn quân sự, sau bốn năm khi ra trường phải lấy cho được cái bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng. Đã là lính rồi mà còn phải học thêm về văn hóa quả là phiền phức quá sức, tôi đã ngu lại còn lười biếng, khó khăn là tôi né. Tôi chọn sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Khóa của tôi có khoảng hai ngàn sinh viên sĩ quan, sau hai tháng học giai đoạn một ở Quang Trung, chúng tôi được chia ra làm hai, một nửa chuyển lên Trường Bộ Binh Thủ Đức, còn nửa kia đáp tàu ra Nha Trang, học ở Đồng Đế.
Khi đoàn xe GMC chở chúng tôi tới Thủ Đức, tôi nhìn cái cổng trường mà phát chán. Ai đời một quân trường danh tiếng, mấy chục năm rồi đã đào tạo không biết bao nhiêu sĩ quan cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại có cái cổng cũ kỹ, xấu xí đến mức không tưởng tượng nỗi. Hai cột xi măng vuông vức, mỗi cạnh đâu tám, chín tấc gì đó quét vôi trắng cao nghệu, thêm hai cái cửa tò vò hai bên, trên đó một tấm bảng cong cong gác ngang với mấy chữ Trường Bộ Binh, chỉ có thế thôi. Sao nó lại đơn sơ quá vậy trời.
Xe qua khỏi cổng, chạy thêm một đoạn khá xa rồi ngừng lại bên một cái sân hình chữ nhật rộng mênh mông, sau này tôi mới biết đó là Vũ Đình Trường. Chúng tôi đang ngơ ngác, không biết phải làm gì khi nhìn thấy một nhóm huynh trưởng chia nhau niềm nở chào đón chúng tôi. Các huynh trưởng ân cần, tận tình đứng ngay sau xe nhắc nhở chúng tôi xuống xe sao cho an toàn. Ôi! Cái tình huynh đệ chi binh sao mà nó thắm thiết quá chừng làm tôi cảm động hết sức. Chúng tôi, cứ mấy chục thằng được xếp ngồi chung trên một chiếc GMC mui trần, chạy từ Quang Trung lên đến đây, bộ đồ trận màu cứt ngựa xấu xí, bụi bặm bám đầy người, mặt mũi lem luốt, nhìn lại mấy ông huynh trưởng với bộ đồ vàng mới tinh, mũ nhựa màu nâu đen láng bóng, thêm hai con cá vàng trên nền nhung đen nổi bật nơi cầu vai, đôi giày bốt đờ sô được đánh xi bóng loáng, tưởng chừng soi mặt được. Thoạt nhìn tôi đã mê mẩn, hình ảnh của huynh trưởng trông oai quá chừng. Tôi nghĩ thầm, mai mốt tôi cũng sẽ được như vậy. Cho đến khi đứng sát mặt, nhìn kỹ mấy ông huynh trưởng tôi mới hết hồn, mặt ông nào ông nấy như có cô hồn, đằng đằng sát khí cứ như là sắp xung phong giết giặc không bằng. Có ông huynh trưởng nào biết nói đâu, mở miệng ra chỉ toàn nạt nộ, la hét như điên rồi phạt túi bụi mù trời, không cần nguyên nhân, không cần lý do. Chúng tôi, hơn một ngàn Tân khóa sinh bị tách ra từng toán nhỏ. Mỗi huynh trưởng chịu trách nhiệm trông coi một toán khoảng hai mươi Tân khóa sinh, họ thay nhau phạt chúng tôi tơi tả như cái mền rách. Hình như, mấy ông huynh trưởng phạt chỉ với mục đích là dằn mặt, áp đảo tinh thần, muốn tất cả Tân khóa sinh phải khiếp sợ, thi hành mọi mệnh lệnh như một cái máy, cấm có suy nghĩ, không được suy luận và chống đối. Tôi biết là mình bị dằn mặt, nhưng sợ vẫn cứ sợ. Trước mặt, bên trái, bên phải luôn cả sau lưng tôi, tất cả mọi người đều đang thi hành lệnh phạt. Bên này mấy chục ông Tân khóa sinh la to thiếu điều đứng xa cả cây số cũng nghe rõ “Nhảy xổm vào thế”. Bên kia lại thêm vài chục ông Tân khóa sinh khác rống lên “Hít đất vào thế”. Tôi cũng đang bận rộn túi bụi khi đang thi hành lệnh phạt hai mươi cái hít đất, vừa xong hít đất lại lãnh thêm hai mươi cái nhảy xổm, rồi hai mươi cái bơm dầu. Sau cùng, khi mà mọi người đều mệt đứ đừ, lúc bấy giờ mới đến cái màn chào mừng quân trường, giọng nói của huynh trưởng vang lên như sấm động:
-Tất cả Tân khóa sinh, mười vòng Vũ ĐìnhTrường, đàng trước, chạy.

Hai tháng trường dầm mưa dãi nắng ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi cứ tưởng cơ thể của mình đã quen với nhọc nhằn gian khố, thế nhưng khi nhìn thấy cái sân Vũ Đình Trường Thủ Đức rộng mênh mông, trong lòng bỗng dưng ngao ngán, rồi sợ hãi. Chạy một vòng cũng đủ giập mật, huống chi chạy mười vòng.
Khi đám Tân khóa sinh chúng tôi chạy được ba vòng, một người, hai người, rồi cả chục người thi nhau rụng dần dần, nằm bò lê bò lết nơi Vũ Đình Trường. Tôi cũng đã thấm mệt, nắng ở đồi Tăng Nhơn Phú coi bộ không khá chút nào, mồ hôi ướt dầm bộ đồ trận. Tôi chạy chậm lại, đưa mắt liếc nhìn vị huynh trưởng đang kè kè bên tôi. Tôi chờ cho đến khi vị huynh trưởng này nhìn thấy mình rồi giả vờ như bị đuối sức, nhấc chân lên không nổi té lăn quay xuống đất. Tôi nói với mình, phải gồng mình chịu đau, té cho ngon lành mới giống như mình bị xỉu.
Vị huynh trưởng đâu có dễ dàng chịu thua, anh ta kê sát miệng vào tai của tôi, rồi hét thật to:
-Ông giả bộ xỉu phải không? Đừng có qua mặt huynh trưởng, cái trò này huynh trưởng đã làm từ lúc ông còn ở truồng tắm mưa. Ông chạy yếu như vậy, mai mốt ra trường bị Việt Cộng rượt làm sao chạy cho nổi.
Tôi nằm đó, nhắm mắt cười thầm cho cái lý luận lẩm cẩm của huynh trưởng. Huynh trưởng ơi! Ông ăn nói gì kỳ vậy, mình rượt Việt Cộng chứ đâu có để tụi nó rượt mình được (chuyện này, phải đợi cho đến tháng ba năm 1975, tôi mới thấy huynh trưởng của tôi nói đúng).Thấy tôi nằm yên, huynh trưởng tiếp tục hét bên tai:
-Đứng dậy, chạy cho đủ mười vòng đi ông. Huynh trưởng sẽ chờ cho đến khi nào ông tỉnh lại, chờ đến mai cũng chờ.
Tôi nhắm nghiền mắt lại, văng vẳng bên tai tiếng của hàng ngàn bước chân chạy rầm rập, đều đều xen lẫn tiếng gào của mấy chục ông huynh trưởng. Tôi nằm im, đã trót đóng kịch phải làm cho tới nơi tới chốn, đừng có dại nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của huynh trưởng mà tỉnh lại. Mấy cục đá ở sân Vũ Đình Trường nhọn hoắc, xóc vô lưng, cắm vô đầu đau muốn gần chết, mặc kệ, tôi nhắm mắt lòng đầy khoan khoái vì thấy mình đã sáng suốt, khôn lanh khi quyết định chọn Trường Bộ Binh Thủ Đức, chỉ phải chịu đụng khổ cực, đày đọa tấm thân vài tháng là tốt nghiệp. Chọn Võ Bị Đà Lạt, bốn năm bị hành hạ thân xác như thế này, khi ra trường có mang lon đại úy tôi cũng không thèm. Cuối cùng, mọi chuyện đều qua đi, chạy ba vòng hay mười vòng cũng như nhau, tất cả được tập họp để phân chia đại đội. Một ngàn Tân khóa sinh được chia ra làm năm đại đội, bắt đầu từ Đại đội 61 cho tới Đại đội 65.
Nguyên tám tuần lễ đầu tiên huấn nhục ở Thủ Đức, Tân khóa sinh ngoài giờ học thì giờ còn lại là thi hành lệnh phạt.
Tôi không biết trong Trường Bộ Binh Thủ Đức chuyện huynh trưởng phạt khóa đàn em, phạt Tân khóa sinh đã có từ bao giờ. Cho đến khi tôi vào Thủ Đức năm 1968, chế độ huynh trưởng đã đến giai đoạn gần như là hoàn hảo. Sĩ quan cán bộ có đó chỉ để làm vì, bao nhiêu chuyện hướng dẫn, huấn luyện Tân khóa sinh đều do huynh trưởng đảm nhận.
Tổ chức sinh hoạt của Sinh viên sĩ quan Thủ Đức lấy đơn vị đại đội làm căn bản. Một đại đội có trên hai trăm Tân khóa sinh được chia làm bốn trung đội, tất cả được đặt dưới sự chỉ dẫn, kiểm soát của một Huynh trưởng Đại đội trưởng và bốn Huynh trưởng Trung đội trưởng. Nhiệm kỳ của huynh trưởng là năm ngày, sau năm ngày sẽ có nhóm huynh trưởng mới đến thay thế. Huynh trưởng nắm toàn quyền sinh sát trong tay, kêu mưa phải có mưa, gọi bão phải có bão, do đó thân phận của Tân khóa sinh giống như con cá nằm trên thớt.

Trong giai đoạn huấn nhục, Tân khóa sinh khi di chuyển đến bất cứ nơi nào trong phạm vi của trường, chẳng hạn như đến phòng học hay nhà ăn đều phải di chuyển theo đội hình. Đội hình của trung đội là bốn hàng ngang, Tân khóa sinh cao nhất đứng ở hàng đầu rồi thấp dần cho đến người thấp nhất ở hàng cuối. Tất cả vừa đi vừa đếm nhịp hoặc hát những bài hùng ca, huynh trưởng đi bên hông của trung đội theo dõi và kiểm soát. Chỉ cần một Tân khóa sinh bước trật nhịp hoặc đi không thẳng hàng sẽ lãnh hậu quả không lường, cả trung đội sẽ bị phạt chứ không phải chỉ một mình anh Tân khóa sinh đó.
Tôi nhớ lại, vào một buổi sáng sớm, cả bầu trời mù mờ như có sương, khi trung đội của tôi đi đều bước đến phòng học, còn sớm hơn mười phút. Huynh trưởng đứng trước hàng quân, cất giọng:
-Cái ông đứng ở cuối hàng đó, trình diện huynh trưởng đi ông. Ông chớ còn ai nữa mà nhìn quanh.
Một Tân khóa sinh đứng ở hàng chót, chạy đến trước mặt huynh trưởng, đứng nghiêm đưa tay chào:
-Tân khóa sinh.. .Trình diện huynh trưởng.
Huynh trưởng lên giọng:
-Ông chạy mười vòng, quanh trung đội đi ông.
Khi anh Tân khóa sinh chạy đủ mười vòng, đến trình diện huynh trưởng. Huynh trưởng nói như hét:
-Anh có biết là anh phạm lỗi gì không?
Không đợi Tân khóa sinh trả lời, huynh trưởng nói tiếp:
-Tân khóa sinh mà dám cao hơn huynh trưởng.
Anh Tân khóa sinh đứng ở hàng chót, là người thấp nhất trong trung đội của tôi, vừa nghe như vậy vội vàng rụt cổ, rùn chân cho người thấp xuống. Thấy vậy, tôi suýt cười thành tiếng, đưa tay lên bịt miệng của mình lại.
Đôi mắt của huynh trưởng lẹ như sao xẹt, anh ta chỉ tôi.
-Cái ông cười trong hàng quân đó, trình diện huynh trưởng đi ông.
Tôi biết mình đã phạm lỗi tày trời, nên lẹ làng chạy đến trình diện huynh trưởng.
Giọng nói của huynh trưởng nghe cứ như là mai mỉa.
-Thấy huynh trưởng lùn, cho nên ông cười khi dễ huynh trưởng phải không? Hai chục cái nhảy xổm đi ông. Tối nay, lúc tám giờ ông mặc đồ tiểu lễ trình diện huynh trưởng tại sân đá banh của trường, ông nghe rõ không?
Tôi la to mà trong lòng đầy lo lắng.
-Rõ, huynh trưởng.
Quay nhìn về phía trung đội, huynh trưởng nói:
-Tối nay, đúng tám giờ cả trung đội trình diện tôi tại sân banh, quân phục số bốn, ba lô súng đạn đầy đủ, tất cả nghe rõ không?
Mấy chục Tân khóa sinh đồng thanh la to:
-Rõ.

Sau vài giây chần chờ, huynh trưởng nói tiếp:
-Tôi cho các anh một đặc ân, trong trung đội này, ai đứng thấp hơn tôi sẽ được miễn thi hành lệnh phạt.
Dĩ nhiên, không một ai được miễn trừ.
Vừa đúng tám giờ tối, huynh trưởng tập họp trung đội tại sân đá banh, sau khi nghe báo cáo quân số, huynh trưởng chia trung đội gồm có năm mươi sáu Tân khóa sinh ra làm hai đội, mỗi đội có khoảng hai mươi tám người. Hai đội banh sẽ đấu với nhau, đội nào thắng sẽ được ra về nghỉ. Đội thua sẽ chia ra làm hai đội, đá với nhau một lần nữa, đội thắng sẽ được về nghỉ. Cứ như vậy cho đến khi hết người. Quay sang tôi, đang đứng riêng một mình với bộ đồ tiểu lễ, dây biểu chương trên vai nón kết trên đầu, huynh trưởng nói:
-Mọi người đều mặc đồ số bốn, tại sao ông lại mặc tiểu lễ, ông muốn chơi trội phải không?
Bắt tôi mặc đồ tiểu lễ là huynh trưởng, không cho tôi mặc đồ tiểu lễ cũng là huynh trưởng. Trong lòng tôi ấm ức quá sức, nhung mà, quân đội là quân đội. Tôi đứng yên chờ đợi lệnh phạt.
Huynh trưởng rút trong túi cái còi đưa cho tôi.
-Được rồi, ông muốn chơi nổi, tôi cho ông nổi luôn. Ông sẽ làm trọng tài, từ trận đầu tiên cho đến trận cuối cùng. Huynh trưởng sẽ ngồi ở khán đài theo dõi. Ông nghe rõ không?
Tôi nghe huynh trưởng nói mà đứng chết trân, không nói nên lời, coi như tôi phải chạy bao sân tất cả mọi trận đấu. Chuyện làm trọng tài coi bộ khổ hơn là chạy mười vòng Vũ Đình Trường, bởi vì chạy mười vòng Vũ Đình Trường mình còn giả bộ xỉu được.
Khi hai đội banh đã đứng về hai phía của sân vận động, đội bên trái cởi trần, để phân biệt với đội bên phải có quần áo đầy đủ. Huynh trưởng đưa cho tôi cái nón sắt rồi nói:
-Đây là trái banh, ông điều khiển trận đấu cho tôi.
Trận đấu diễn ra thật là sôi nổi, vì mọi người đều hăng say quyết thắng để còn về nghỉ sớm. Chỉ có một cái nón sắt, hàng trăm bàn chân tranh nhau đá túi bụi, phải hơn nửa giờ lăn khắp sân, cái nón sắt mới lọt lưới. Đội cởi trần thong thả ra về, đội áo quần đầy đủ chia làm hai, riêng tôi mệt muốn đứt hơi, lại phải cầm còi thổi cho trận kế tiếp.
Cho đến trận đấu cuối cùng, hình như đã khuya lắm rồi, mỗi bên chỉ còn một người và tôi vẫn là trọng tài. Tôi nhìn lên khán đài, chỉ thấy một cái bóng mờ chìm trong làn sương mỏng, không biết đó có phải là huynh trưởng hay không. Tôi nói với hai thằng bạn của tôi:
-Tụi mày có biết, đá banh mà bán độ là gì không?
Một trong hai thằng nói:
-Biết.
Chưa đầy năm phút sau, cái nón sắt lọt lưới, trận đấu kết thúc, tôi chấm dứt đêm phạt dã chiến của mình bằng cách ôm cái nón sắt méo mó, lết về phòng ngủ sinh viên với bộ đồ tiểu lễ bê bết bụi đất.
Tôi nằm ngủ mà nhớ lại những giờ học Việt văn của mấy năm về trước, thầy giáo giảng bài: Mẹ già một nắng hai sương, thức giấc khi còn sương mai, về nhà khi sương khuya đã xuống, làm việc đồng áng cực nhọc, buôn bán khổ cực nuôi con. Hôm nay, Sinh viên sĩ quan Thủ Đức cũng một nắng hai sương, nhưng từ lúc tờ mờ sáng cho tới tối mịt, chỉ biết học và thi hành lệnh phạt. Phạt liên miên bất kể giờ giấc, sáng phạt, trưa phạt, chiều phạt, tối phạt, lên gường ngủ vẫn bị lôi đầu dậy thi hành lệnh phạt.

Suốt thời gian huấn nhục ở Thủ Đức, tôi còn bị phạt dài dài, càng bị phạt tôi càng ghét cay ghét đắng huynh trưởng. Mãi cho đến sau này, khi trải bao dâu bể, đổi thay, tôi mới biết rằng: Quân đội muốn thay đổi con người của chúng tôi trong một khoảng thời gian ngắn thật ngắn. Chỉ với vài tháng thôi, làm sao biến chúng tôi từ một người học trò yếu đuối, ngày ngày chỉ biết cắp sách đến trường sống bám vào cha mẹ, trở thành một người mạnh khỏe về thể chất, cứng rắn về tinh thần để khi ra trường tạm thời có thể chỉ huy ít nhất là một trung đội bộ binh. Phương pháp tốt nhất để đạt được mục đích này là, tám tuần lễ huấn nhục. Huynh trưởng của tôi, chỉ nhập ngũ trước tôi hai tháng mà ông ấy đã dẫn dắt trung đội Tân khóa sinh một cách tài tình. Như vậy, chuyện tôi diện bộ tiểu lễ, tay cầm còi, làm trọng tài cho những trận đá nón sắt đêm ấy, xem ra chẳng có gì oan ức.
Thời còn là Tân khóa sinh, chỉ lo thi hành lệnh phạt nên mọi người lúc nào cũng buồn ngủ, trong giờ học ngủ gục, sau giờ học được nghỉ mười phút là lăn ra ngủ, thậm chí đang di chuyển trong hàng quân cũng ngủ. Ôi giấc ngủ sao mà đã đời đến thế.
Tuần đầu khi đi gác tuyến, chưa tới phiên gác, tôi đã ôm cây súng Garant nằm dưới giao thông hào ngủ ngon lành. Ở quân trường cây súng Garant là vật bất ly thân, là người tình trong mộng của sinh viên, hớ hênh quờ quạng bị sĩ quan cán bộ chôm mất kể như tàn đời, bị phạt dã chiến suốt đêm là cái chắc. Vì lý do đó, khi đi gác tuyến, sinh viên sĩ quan phải ôm cây súng Garant mà ngủ. Tôi đang say sưa trong giấc mộng bình thường, không thấy mình hóa bướm như Trang Chu, chợt có ai đó chạm nhẹ vào vai của tôi.
-Quân, Quân, thức dậy tao có chuyện nói với mày.
Tôi hãy còn nửa mê, nửa tỉnh.
-Tới phiên gác của tao phải không?
-Không, tao là Long, nằm kế giường của mày.
-Tao là Biên, nằm giường trên của mày.
Tôi biết rồi, đây là hai thằng quỷ dân Sài Gòn, chung phòng lẽ dĩ nhiên cùng chung một trung đội với tôi.
-Tụi mày cần gì, nói mau lên để tao còn ngủ.
-Mày có tiền không? Cho tụi tao mượn mấy trăm.
Giọng nói của nó nghe mà phát ghét, mấy trăm đối với tôi là cả một gia tài, trong khi hắn nói mấy trăm cứ nhẹ như mấy đồng bạc lẻ. Nghĩ như vậy nhưng tôi vẫn lục túi.
-Tao chỉ có sáu trăm, đây là tất cả số tiền ông già tao cho, trước khi lên Thủ Đức. Tao cho tụi mày mượn năm trăm, tao phải giữ lại một trăm để phòng thân.
Hai thằng quỷ giựt năm trăm trên tay tôi rồi dọt lẹ. Tôi nói vọng theo:
-Tụi mày đi đâu vậy?
-Trốn vô Khu Thiết Giáp. Nhậu.
Khi tụi nó đi xa rồi, tôi mới giật mình tự trách sao mà mình ngu như vậy, cho tụi nó mượn tiền biết tụi nó có trả hay không? Tôi ôm cây súng Garant chìm vào giấc ngủ. Mơ mơ màng màng, tôi phân vân không biết mình cho hai thằng đó mượn tiền, hay mình mượn tiền của tụi nó.

Tụi tôi quen thân với nhau bắt đầu như vậy. Biên và Long đặt cho tôi cái tên là Quân bắp cải khi biết quê hương xứ sở của tôi là Đà Lạt. Lúc đầu, tôi phản đối dữ dội.
-Tao tên Quân, tại sao tụi mày gọi tao là bắp cải.
Long tỉnh queo nói:
-Bắp cải ở Sài Gòn bán có giá lắm đó mày.
Biên góp ý:
– Nhìn mày, giống như hình thằng bé in trên hộp sữa Babylac, hay là tụi tao goi mày là Quân sữa được không?
Cả hai cái biệt danh nghe đều xấu xí, mai mốt bận đồ tiểu lễ đi phép mà bị gọi là Quân sữa làm sao tán gái cho được, tôi đành chọn cái tên ít xấu hơn. Từ đó trở đi cả đại đội đều gọi tôi là Quân bắp cải.
Biên hơn tôi bốn tuổi, học Đại học Khoa Học, đẹp trai, cao ráo. Nhìn bức ảnh ngày xưa nó chụp với áo quần gọn gàng, bảnh bao, tóc dài quá mang tai, ôm cây đàn guitar điện, đứng trước một bộ trống, tôi đoán hắn phải là thành viên của một ban nhạc trẻ nào đó không được nổi tiếng cho lắm ở Sài Gòn. Sở dĩ, tôi dám mạnh miệng nói như vậy, bởi vì tôi không thấy tên của ban nhạc trên mặt trống. Biên thi rớt năm thứ ba nên bị gọi nhập ngũ, nhà hắn ở đường Nguyễn Minh Chiếu Phú Nhuận, gần nhà hàng Bò bảy món Ánh Hồng, có cô em gái tên Dung. Ba hắn là nhân viên cao cấp của cơ quan USAID. Những lúc nhàn rỗi, tôi tò mò hỏi về đời tư của hắn.
-Học đại học có khó không Biên?
Sở dĩ tôi hỏi Biên như vậy, bởi vì đây là chuyện mà tôi muốn biết, nếu tôi không đăng lính và tiếp tục học đại học.
Biên ngẫm nghĩ một chút rồi trả lời tôi:
-Chẳng có mẹ gì khó hết, đến trường đầy đủ, chịu khó ghi cua, học chút đỉnh là đậu.
-Vậy sao mày lại thi rớt?
Biên xổ cái giọng du côn của dân Sài Gòn:
-Đù má, mày nói cái giọng móc họng, tao quýnh thí mẹ mày bây giờ. Tao thi rớt chỉ vì ham chơi, tối ngày cứ lo chuyện đàn địch ở mấy cái phòng trà, có học hành gì đâu mà đậu, rớt là phải. Còn mày, học hành tới đâu? Con nít hỉ mũi chưa sạch như mày, tại sao lại phải vô đây?
-Chuyện dài dòng, khi nào rảnh rỗi tao kể cho mày nghe.
Tôi không muốn nói với nó là mình không được thông minh cho lắm, nên không muốn tiếp tục học.
Long công tử, tên sao người vậy, tuy mặc bộ đồ lính xấu xí, thô kệch, nhưng nhìn hắn người ta vẫn thấy rõ nét hào hoa phong nhã, phảng phất đâu đó. Đang học năm cuối Văn khoa, hắn bỏ học đăng lính. Nhà nó giàu có hạng, nhưng đừng nên so sánh nó với Hắc công tử hay Bạch công tử ở Bạc Liêu thời xưa. Thời Pháp thuộc, tài sản của công tử Bạc Liêu với ruộng lúa hàng chục ngàn mẫu, cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi. Nội tiền thu Tô hàng năm của hàng chục ngàn mẫu ruộng, dư sức cho Hắc, Bạch công tử đốt cháy Sài Gòn. Ba của Long công tử nghèo hơn, ông ấy chỉ có vài căn biệt thự ở Sài Gòn, thêm một cái đồn điền ở Ban Mê Thuột. Thời đệ nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho dân khai thác đồn điền ở cao nguyên nhưng không được quá một trăm mẫu, cho nên cái đồn điền trồng cà phê ở Ban Mê Thuột của gia đình Long công tử chỉ có chín mươi chín mẫu mà thôi. Tới mùa thu hoạch cà phê, ngoài số lượng cà phê của nhà, ba nó còn thu mua tất cả cà phê của Ban Mê Thuột rồi đóng bao xuất khẩu. Với hàng trăm công nhân làm việc tất bật suốt ngày, đến kỳ phát lương, ba của Long công tử phải đem mấy cái bao bố tới nhà băng chở tiền. Sau này, khi đã quen thân với Long, nhân một lúc vui miệng, tôi hỏi hắn với ý thắc mắc nghi ngờ:
-Nhà của mày giàu như vậy, sao hôm trước mày với thằng Biên phải mượn tiền tao đi nhậu.

Long nhìn tôi không có gì bối rối:
-Hôm vô Thủ Đức, tao có đem theo hơn chục ngàn, đem nhiều chỉ tổ nặng túi. Tao nghĩ, ở đây có gì đâu mà tiêu với xài. Chiều hôm đó, khi đi tắm ngoài hồ nước của đại đội, tao treo quần áo của tao ngay đó chứ đâu. Tắm xong mát mẻ khỏe khoắn, tao bận cái quần cụt đi về phòng quên mẹ nó bộ đồ. Nửa giờ sau mới nhớ, tao trở lại bộ đồ không cánh đã bay mất tiêu, dĩ nhiên tiền bạc trong đó cũng bay theo luôn. Tao không còn tiền đi nhậu nên mới phải mượn mày.
Mất cả chục ngàn mà hắn coi như không có gì, tôi nghĩ thầm thằng này xứng với tên Long công tử.
Ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, thời gian thoải mái nhất là đi ứng chiến, gác tuyến phòng thủ của trường. Lệ thường, sau khi cơm nước xong xuôi, khoảng sáu giờ chiều cả đại đội súng ống đạn dược đầy đủ kéo nhau ra tuyến gác. Từ sáu giờ chiều đến năm giờ sáng, ngoài việc gác ca của mình một tiếng, thì giờ còn lại tự do, đa số sinh viên đánh một giấc để lấy sức ngày mai còn đi học tiếp. Riêng tôi, tôi thích trốn ra Khu sinh hoạt ngồi nhâm nhi ly cà phê đá ở quán cô Loan, cô bé có gương mặt tươi như hoa, đôi môi mọng đỏ trông phát ghét và nhất là nụ cười hớp hồn của cô. Cả chục anh sinh viên sĩ quan đang ngồi uống cà phê, anh nào cũng nghĩ rằng cô ta đang kín đáo tặng riêng nụ cười cho mình. Tôi thích ngồi uống cà phê ở Khu sinh hoạt, biết đâu có một ngày đẹp trời nào đó cô Loan thực lòng tặng riêng cho tôi một nụ cười? Tình yêu mấy ai biết được, hôm nay mưa ngày mai có thế nắng.
Long công tử khác hẳn, hắn chỉ thích bia 33 nên bò qua Khu Thiết Giáp, ở đây có quyền nhậu chết bỏ miễn là đừng quên đường về. Bị phạt khi còn là sinh viên, rớt ra trung sĩ như không, chả ai dám nhậu quắt cần câu để phải mang cái “cánh gà chiên bơ” khi ra trường.
Tôi không biết uống rượu nhưng lại thích bạn, nên đành lòng quên cô Loan theo bạn bè qua Khu Thiết Giáp. Ba đứa tôi nhậu nhưng luôn luôn đề cao cảnh giác, thực sự chỉ có hai thằng bạn của tôi nhậu thôi. Tôi ngồi đó, uống nước ngọt phá mồi, năm thì mười họa mới hớp một ngụm bia. Một hôm khi cuộc rượu nửa chừng, rượu vô lời ra, đủ chuyện được đem ra bàn tán, Long công tử gắp miếng thịt gà, mở đầu:
-Tụi mày nhớ bài học địa hình hôm qua không?
Tôi đáp:
-Nhớ chớ.
-Bài học đó huynh trưởng gọi là địa hình sương sâm.
Biên hỏi:
-Tại sao gọi là địa hình sương sâm.
Long ôn tồn giải thích:
-Ở trên bục huấn luyện viên nói gì, giảng gì mặc kệ ông ấy, nào là vòng cao độ, núi non, sông ngòi, đường sá rồi cách dùng địa bàn, bản đồ. Mình nghe được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, nhưng khi thực hành cầm trên tay cái bản đồ và địa bàn, làm ơn nhớ liếc mắt nhìn mấy cô bán sương sâm để mà điều chỉnh hướng đi của mình. Bởi vì đến trưa, khi các cô đặt gánh sương sâm ở đâu, mục tiêu của mình gần chỗ đó. Các cô gái này là con, cháu của quân nhân trong trại gia binh của trường, họ đi đến các mục tiêu này hàng trăm lần rồi, độ chính xác gần như là tuyệt đối. Hãy tưởng tượng, trời Thủ Đức nóng như thiêu, sinh viên sĩ quan sau khi di hành hàng chục cây số, được ngồi dưới bóng mát của một gốc cây, thưởng thức ly sương sâm mát rượi, ngọt lịm bên cạnh các cô gái duyên dáng, dễ thương, còn chuyện xinh đẹp hay không tùy người đối diện. Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy, gánh rơm sương sâm gặp hàng trăm ngọn lửa Cư An Tư Nguy cháy là cái chắc.
Long công tử ngưng nói, quay nhìn tôi:

-Mày có biết bốn chữ Cư An Tư Nguy in trên phù hiệu của Trường Bộ Binh Thủ Đức, có nghĩa là gì không?
Tôi trả lời Long công tử:
-Thật tình, tao không hiểu rõ lắm.
Long công tử giải thích:
-Đại khái, sống yên ổn phải nghĩ đến lúc nguy khốn.
-Vậy thì có gì hay ho đâu mà phải nói, tao chỉ muốn biết lửa gần rơm cháy như thế nào thôi.
-Đám cưới chứ còn như thế nào nữa, con của một binh sĩ trong trại gia binh mà vớ được ông chuẩn úy mới toanh, kể ra cũng tốt lắm rồi.
Đang nói chuyện ngon lành, Long công tử đặt ly bia xuống bàn, hắn mồi một điếu thuốc, nhìn quanh rồi mới nói tiếp:
-Tụi mày có biết cô Giang không? Cô bé đẹp như hoa hậu thế giới ở trại gia binh, nơi cổng số Chín?
Tôi đáp:
-Không biết.
-Mày chỉ biết bắp cải chứ biết cái mẹ gì. Cổ sắp lấy chồng, chôm được ông huynh trưởng của tụi mình, đợi ra trường làm đám cưới.
-Sao mày rành vậy.
-Chuyện cô Giang hoa hậu đã là đóa hoa có chủ, tất cả sinh viên trong trường đều biết, trừ mày.
Tôi hỏi Long:
-Thằng tốt số đó tên gì? Tướng tá ra sao?
-Mày đừng có nằm mơ, thằng huynh trưởng đó ngon hơn mày là cái chắc.
Từ nãy giờ Biên vừa hút thuốc vừa tì tì uống bia, bất chợt hắn lên tiếng:
-Tao có chuyện muốn nói với hai đứa mày. Thằng Long, mày vừa nói trong mấy ngàn sinh viên sĩ quan của Trường Thủ Đức này cô Giang chọn được một?
-Đúng vậy.
-Tao có con em gái tên Dung, đang học đệ nhất Nguyễn Bá Tòng. Tao sẽ tìm cách nói tốt về tụi mày với em gái tao, xúi nó chọn một trong hai đứa mày.
Long công tử nói, câu nói chẳng dính dáng gì đên chuyện em gái của Biên.
-Tao thường ngồi trước nhà thờ Huyện Sĩ hóng gió.
Tôi bực cái thằng Long công tử quá sức vì câu chuyện chưa đi tới đâu. Tôi nói với Long công tử.
-Mày ngồi trước nhà thờ Huyện Sĩ mặc kệ mày, nói ra đây làm gì.

Biên lên tiếng.
-Cái thằng bắp cải, mày không biết gì về Sài Gòn làm ơn ngồi yên. Nhà thờ Huyện Sĩ nằm gần Trường Nguyễn Bá Tòng, thằng Long ngồi đó để ngắm nữ sinh Nguyễn Bá Tòng tan học.
Biết mình bị hớ, tôi ngồi yên nghe tụi nó nói chuyện.
Tay chơi Long công tử nói:
-Tao chẳng có dại, trường Nguyễn Bá Tòng có vài ngàn nữ sinh, không lẽ tất cả đều đẹp như tiên nữ hay sao? Phải có người xấu chứ. Biết đâu em mày lại nằm trong thành phần xấu? Chắc em mày có gì trục trặc mày mới đem gán cho tụi tao, chưa kể trường hợp em mày đã có bạn trai rồi?
Nhìn gương mặt tối sầm của Biên với đôi môi mím chặt, tôi biết hắn giận lắm, được một lát sau hắn mới nói:
-Ê, Long công tử, mày có lý hoàn toàn, nhưng hãy cho tao nói. Tao là người Quốc Gia cực đoan. Tao vốn ghét đám sinh viên ở mấy cái Viện đại học quanh Sài Gòn, thằng nào thằng nấy ốm như con cò ma, đầu tóc bờm xờm, quần áo chim cò sặc sỡ, chưa kể mấy cái thằng phản chiến, ăn cơm Quốc Gia mà mở miệng là chửi Quốc Gia không tiếc lời. Nếu có chút quyền hành, tao sẽ cột đầu mấy thằng phản chiến, thả dù tụi nó xuống miền Bắc, hoặc dẫn đến cầu Hiền Lương đá đít cho bọn nó về bên kia. Cho tụi nó ăn cơm Cộng Sản, sau đó đợi coi thử tụi nó có dám mở miệng chửi Cộng Sản hay không? Đụng đến bác Hồ, Cộng Sản nó cắt lưỡi ngay lập tức, sau đó nhốt vào tù hoặc cho đi mò tôm, làm gì có cơ hội mà chửi. Tao không muốn em gái tao phải chọn chồng trong cái đám đó. Mai mốt hai thằng mày ra trường, gắn cái quai chảo trên vai, nó chọn một trong hai đứa mày có lý hơn.
Biên ngừng nói, nó nhìn hai đứa tôi như dò xét động tĩnh rồi mới nói tiếp:
-Tụi mày đừng có tưởng bở, con em tao nó khó lắm, lại kiêu căng, gò được nó không phải dễ đâu. Tụi mày đã học chiến thuật rồi, đơn thân độc mã chẳng làm nên cái trò trống gì, nhưng nếu áp dụng chiến thuật nội công, ngoại kích sẽ chắc ăn. Tao làm nội tuyến cho.
Long công tử lên tiếng:
-Mày là anh mà nói cái giọng cứ như là ba má không bằng.
Biên nói với Long.
-Mày có biết câu mưa dầm thấm đất hay không? Tao nói hoài, em tao phải xiêu lòng thôi.
Biên nâng chai bia 33, ực một hơi rồi nói tiếp:
-Thằng bắp cải ở trên núi, còn mày ở dưới biển. Thời buổi này, làm gì còn chuyện cổ tích Sơn Tinh với Thủy Tinh tranh giành nhau công chúa Mỵ Nương. Hai thằng mày, thằng nào gọi tao là anh ngay bây giờ, tao sẽ giúp thằng đó.
Biên vừa dứt lời, tôi lên tiếng ngay lập tức:
-Tao xung phong làm em mày.
Biên nhìn Long công tử:
-Còn mày thì sao?
-Tao cần nghĩ lại, chẳng có gì mà phải vội vã, cẩn thận nhìn trước dòm sau, cá tham mồi mắc phải lưỡi câu dễ như chơi.
Tôi tưởng chuyện Dung em gái Biên, chỉ là chuyện trà dư tửu hậu, nói cho vui trong lúc rượu vào lời ra, ngờ đâu tuần lễ đầu tiên sau lễ gắn Alpha, ba thằng tôi dẫn nhau đi phép hai mươi bốn giờ.

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 11 Feb 2025

Bài 1
Giã từ sách vở

Tôi sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt, quê của tôi ở trên cao nguyên với rừng thông bạt ngàn xanh thẫm, quanh năm sương mù lạnh lẽo bao phủ khắp núi đồi. Tuy Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhưng cao nguyên Lâm Viên nơi tôi ở có hơi khác chút xíu, cũng hai mùa mưa nắng nhưng mưa và nắng, là mưa nắng của miền ôn đới. Tôi có thể nói mà không sợ mình nói quá lời “sương mù, với rừng thông là biểu tượng của thành phố nơi tôi sống. Và đó là thành phố ôn đới trong một nước nhiệt đới”.
Thành phố Đà Lạt được hình thành nhờ dân tứ xứ đến đây lập nghiệp. Ba tôi không nằm ngoài thành phần đó, ông từ Quảng Nam, di dân đến đây vào giữa thập niên bốn mươi, thập niên mà người Pháp đang muốn mở rộng thành phố Đà Lạt thành trung tâm nghỉ mát của người Pháp ở Đông Dương. Hơn một ngàn căn biệt thự to lớn nguy nga, bề thế, kiến trúc theo kiểu Pháp được xây dựng trong giai đoạn này.
Ba tôi là thợ mộc, ông đến Đà Lạt đúng vào lúc thành phố đang phát triển, nhu cầu về công nhân xây cất rất cao cho nên ông tìm được việc làm dễ dàng. Được vài năm khi có chút tiền dư, ông mua một miếng đất gần tiệm tạp hóa Đông Á ở đầu dốc Trại Hầm, dựng căn nhà gỗ để có chỗ cư trú. Trại Hầm là một xóm nhỏ, nằm cách Đà Lạt chừng năm cây số, thời niên thiếu tôi sống với cha mẹ trong căn nhà này. Lúc nhỏ khi phải đi học quá xa trường, tôi thường phàn nàn với ba tôi, tại sao không mua nhà ở phố để việc học hành của tôi được thuận tiện hơn. Ba tôi nhìn tôi, thở dài:
-Con à, có cái nhà để ở là may mắn lắm rồi, tiền đâu mà mua nhà ở phố, đừng đòi hỏi nhiều quá. Ở ngoài xứ của mình, cái chòi tranh để che mưa tránh nắng cũng không có, nói gì đến nhà cửa như ở đây.
Tôi lớn lên giữa thành phố thơ mộng, đầy sương mù giá buốt với tình thương bao la vô tận của người cha hiền lành, chất phác. Những ngày cuối tuần khi rảnh rỗi, ba tôi thường dẫn tôi đi chơi đây đó, hai cha con đi bộ cùng khắp mọi nơi. Khi đi ngang qua những căn biệt thự ở đường Trần Hưng Đạo, ông chỉ vào đó rồi vui vẻ nói với tôi rằng, ông làm trần nhà cho căn biệt thự này, còn căn kia chính ông ghép ván lại làm cái sàn nhà, căn bên trái do ông làm mấy cái cửa sổ. Ba tôi có vẻ hãnh diện về những việc làm của ông. Sau mỗi lần đi chơi, cuối cùng ông thường nói với tôi:

Đà Lạt thành phố sương mù

-Cố gắng học hành nghe con, đó là con đường tiến thân duy nhất, đừng có để thất học như ba, phải làm việc chân tay nặng nhọc đế kiếm sống lại còn bị người ta coi thường, thời nào cũng vậy, lúc nào cũng vậy, bằng cấp luôn luôn là cái thước đo giá trị con người. Ngày ấy, tôi đi học vì nghe lời của ba tôi, chứ thật tâm tôi chẳng biết học để làm gì. Việc tôi đi học cũng giống như cây thông mọc tự nhiên giữa rừng, tự nó lớn lên. Tôi đi học mà không được sự dẫn dắt của người lớn, bài vở thầy cô giảng ở trường hấp thụ được bao nhiêu nhờ bấy nhiêu, do đó tôi học hành không giỏi giang gì cho lắm chỉ làng nhàng, bám theo lũ bạn trong lớp đã mệt đứt hơi nói gì đến chuyện xếp hạng cao trong lớp. Suốt bảy năm trời ở trường trung học Trần Hưng Đạo, năm nào tôi cũng chỉ lù đù, lẹt đẹt hơn được mươi đứa cuối lớp, vậy mà, khi thi cử mọi chuyện đều êm xuôi trót lọt.
Ngày tôi thi đậu Tú tài I, khi coi bảng thấy tên mình trên bảng vàng, tôi lịm người đi vì sung sướng. Bạn bè trong lớp đều nhìn tôi với con mắt đầy ngạc nhiên, vì có rất nhiều thằng học giỏi hơn tôi lại rớt lộp bộp như sung rụng. Mấy thằng thi rớt giận cá chém thớt, không biết trách cứ ai bèn đem tôi ra làm đề tài tranh luận, chê bai, cuối cùng chúng nó nói với nhau, câu nói xưa như trái đất:
-Mẹ nó, các cụ mình nói cấm có sai bao giờ “Học tài thi phận” chúng mày ạ. Cứ coi cái thằng Quân thì biết, học hành như con củ cải, vậy mà lại thi đậu.
Quân là tên của tôi, nghe có đáng buồn không? Không, tôi không phiền hà vì những lời chê trách của lũ bạn, bởi vì tôi đang bận lo chạy về nhà báo tin mừng cho ba tôi.
Khi biết được tôi đã đậu cái Tú tài I, ba tôi nhìn tôi với khuôn mặt rạng rỡ, thêm nụ cười hớn hở trên môi. Lần đầu tiên trong đời, tôi bắt gặp nụ cười tràn đầy hạnh phúc trên gương mặt già nua, khắc khổ của ông. Một niềm thương cảm vô biên tràn ngập trong lòng, ba tôi là một người thợ mộc, học được dăm ba chữ quốc ngữ ở trường làng, chữ nghĩa chẳng được bao nhiêu, nuôi thằng con học xong cái Tú tài ông vui mừng cũng phải. Bấy lâu nay, ba tôi tự đặt minh vào cái hạng cùng đinh trong xã hội, đem sức lao động ra làm việc đế kiếm tiền nuôi vợ con. Cuộc đời ông kể như bỏ đi, chỉ mong sao cho tôi học nên người để cho ông nở mặt nở mày với bà con làng xóm. Tôi đã làm ông toại nguyện.
Chiều hôm ấy khi ra khỏi nhà, tôi hơi mắc cỡ bởi vì từ đầu làng đến cuối xóm mọi người gặp tôi đều nói “Chào cậu Tú”. Tôi biết ai là người đã loan cái tin tôi thi đậu, ngoài ba tôi ra còn ai vào đây nữa.
Năm sau, tôi lại cõng thêm cái bằng Tú tài II. Ôm hai mảnh bằng trong tay mà tôi ngỡ là mình nằm mơ, không biết mấy người rọc phách có ráp lộn bài của tôi với người khác hay không?
Dưới con mắt của ba tôi, tôi là người thông minh tuyệt đỉnh, đã làm được những chuyện kinh thiên động địa. Ông nói với tôi: “Từ xưa đến giờ họ hàng nhà mình chỉ biết làm ruộng, lao động chân tay, đầu tắt mặt tối cũng chỉ đủ nuôi thân nói gì đến chữ nghĩa với học hành. Nay con là người duy nhất trong dòng họ đậu được hai cái bằng Tú tài, con phải học thêm nữa ở bậc đại học”. Tôi nói với ba tôi rằng, tôi không muốn hàng tháng phải ngửa tay xin tiền ba tôi để mua sắm áo quần, sách vở, giấy viết, bằng những đồng tiền ông kiếm được do lao động, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được. Tôi muốn ông dùng số tiền đó cho lũ em của tôi. Tôi biết quá rõ về mình, học tiếp đại học để lấy cái bằng Cử nhân, Cao học, làm gì có chuyện may mắn như ở trung học. Chó ngáp phải ruồi cũng một hai lần thôi, may mắn như vậy tạm đủ rồi, người ta học đến mờ mắt còn chưa ra gì huống chi lù đù như tôi. Tôi biết là mình không đủ thông minh để tiếp tục việc học ở bậc đại học, nên tình nguyện đăng lính cho chắc ăn, khỏi phải lo học hành, thi cử, đậu rớt gì tuốt. Hơn nữa, với lệnh tổng động viên, sinh viên mà thi rớt bất cứ năm nào đều phải lên đường tòng quân. Vậy thì, tại sao tôi phải ghi danh vào Đại học để làm cái chuyện đội đá vá trời cho mệt thân.

Trai mà chi, gái mà chi!

baotreonline.com
Huy Phương
Post 8 Jan 2019

Post by Sơn râu 9 Feb 2025

“Trai mà chi, gái mà chi;
Sinh ra có ngãi có nghì thì hơn!”
Ca Dao

Câu chuyện bắt đầu bằng bức thư tuyệt mệnh của một bà mẹ Trung Quốc được đăng tải trên People’s Daily làm nhiều người rơi nước mắt, khóc cho hoàn cảnh của bà. Bà cụ năm nay đã 80 tuổi, sinh được 4 đứa con trai, không có con gái, và đã trải qua thời gian nuôi thêm 8 đứa cháu. Khi chồng qua đời, không có đứa con trai nào muốn đưa bà về nhà sống chung với chúng, và chúng chẳng hề nấu cho bà được một bữa cơm. Bà đếm đủ 1 năm 9 tháng, khoảng 630 ngày, bà được các con trai săn sóc, rồi sau đó chúng đến không có một lời chào, và đi cũng chẳng có một câu giã từ. Chúng như những người đang bước vào một khách sạn, lướt mắt qua một bà già xa lạ đang ngồi đó.
Bà cho biết bà chưa ăn của các con một bữa nào, không mặc quần áo của con, thậm chí không tiêu một xu của chúng, nhưng các con bà làm cho bà cảm thấy bà là một món nợ đối với chúng. Ngay cả khi bà trở nên lú lẫn, các con bà vẫn lặng lẽ bỏ về mỗi tối, không ai trở lại, để lại cho bà một sự cô đơn, trống vắng đáng sợ.
Cuối thư bà cụ viết rằng: “Tôi bị đau tim. Tôi hiểu rằng ngày ấy đang đến, vì vậy tôi đã viết lá thư này. Tóc tôi bạc hết rồi, tôi thề với mái tóc trắng của tôi rằng, tôi thực sự đánh giá cao những gì các anh làm. Nhưng ngoài câu này, tôi còn có một điều nữa để nói: Tôi rất hối hận khi đẻ ra các anh, nếu có kiếp sau, tôi không muốn nhìn thấy các anh nữa!”
Người phụ nữ này đã qua đời lặng lẽ, trong tay còn cầm bức ảnh duy nhất của bà và chồng. Ðẻ ra toàn con trai, thiệt thòi đến nỗi một người mẹ phải thốt ra lời hối hận như thế hay sao?
Ngay ở Việt Nam thời phong kiến, chúng ta cũng đã nghe câu nói: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô! (một con trai gọi là có, nhưng mười con gái vẫn là không) thể hiện tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” trong Nho giáo. Theo đó, các gia đình hay dòng họ từ xưa (và thậm chí cả ngày nay) vẫn có tư tưởng coi trọng việc sinh con trai. Nếu không có con, cháu trai nối dõi vẫn bị xem là tuyệt tự, vì khi bố mẹ hoặc ông bà chết đi sẽ không có người thờ cúng. Trong trường hợp này, người chồng có quyền ly dị hoặc lấy thêm vợ.
Truyền thống trọng nam khinh nữ và chính sách một con ở Trung Quốc đã gây ra sự mất cân bằng giới tính trầm trọng. Các nhà nghiên cứu cho biết “nguy cơ nam giới trưởng thành độc thân” ở Trung Quốc đã xảy ra, và cho đến năm 2020, số “nam thặng dư” ở Trung Quốc đại lục sẽ lên đến con số 2.4 triệu người. Một trong những nguyên nhân gây hệ quả đáng ngại này là do nhiều cặp vợ chồng ở Trung Quốc đã hủy bỏ những bào thai nữ, hay dìm chết chúng khi mới sinh ra đời.
Việt Nam cũng không tránh khỏi chuyện trọng nam khinh nữ; nếu chẳng may một người đàn bà không sinh được một đứa con trai sẽ bị chồng và gia đình chồng hất hủi, ghẻ lạnh, và dư luận sẵn sàng bỏ qua cho người đàn ông nếu anh ta lăng nhăng hay lấy thêm vợ, với mục đích là để kiếm cho được một thằng con trai nối dõi.
Tôi có một bà chị họ, lấy chồng, mấy năm sinh liên tiếp một loạt ba đứa con gái, coi bộ nhà chồng đã lạnh nhạt ra mặt. Nghe vợ sinh đến đứa con gái thứ ba ông chồng ở xa cũng chẳng buồn về thăm vợ. Ðến lúc sinh lần thứ tư, bà Mụ loan báo lần này là con trai. Bà chị yêu cầu dở tã cho bà sờ đúng là con chim, mới mỉm cười, hai hàng nước mắt chảy dài vì sung sướng.
Chuộng con trai đến như vậy, sao thời nay, cha mẹ già cuối đời sống với con gái được xem là thuận hơn là sống với con trai. Phải chăng đàn bà – mẹ chồng, nàng dâu – hay đụng nhau trong nhà bếp, còn ông rể thì vô tâm, bộc trực, ít quan tâm đến những chuyện nhỏ nhặt. Nhiều người cho rằng con gái thường quan tâm đến bố mẹ hơn là những cậu con trai. Mặt khác, đàn ông thường nghe và nể vợ, nể vợ rồi thì nể luôn cha mẹ vợ. Trái lại gặp con dâu lạnh nhạt với cha mẹ chồng, thì ở với con trai cũng khó. Ở Việt Nam ngày trước, phụ nữ thường thuần phục và lép vế hơn chồng, sang Mỹ đàn bà được coi trọng, ngang ngửa với chồng, nên đôi khi có phần lấn lướt.
Cái câu “dâu là con, rể là khách” ngày nay không còn đúng nữa! Tôi có người bạn, vợ qua đời, sau khi bán xong cái mobile home chia cho các con mỗi đứa một ít. Cậu con trai ngỏ ý mời cha về ở chung nhà, nhưng cô dâu coi bộ chẳng mặn mà, không hợp ý với cha chồng. Có lần 6 giờ sáng, cô dâu trở dậy, lấy cớ mắng mỏ con: “Mày không muốn ở đây, thì cút xéo đi đâu thì đi cho sớm, cho rảnh mắt tao!”
Ông cha tủi thân, lặng lẽ thu xếp chút quần áo, ra xe đò đi tiểu bang khác, về ở nhà con gái. Cô này đang gặp cảnh ở nhà thuê, nhưng bạn tôi thà kéo một cái màn trong phòng cháu trai, kê một cái ghế bố còn hơn ở với con trai trong một ngôi nhà mới có đến 4 phòng ngủ. Một cô dâu khác, đổi nhà từ 4 phòng xuống 3 phòng, lấy lý do con lớn cần phòng, mời cha mẹ chồng vui lòng kiếm chỗ khác ở.
Bà cụ trong câu chuyện trên báo People’s Daily ở Trung Quốc đã “xui rủi” có đến bốn đứa con trai!
Ngày nay, người ta bắt đầu biết có con gái là quý. Trước tình trạng dân số già, mất cân bằng giới tính, ở Hậu Giang Việt Nam thưởng cho những gia đình sinh hai con gái từ 390,000 đến 1.3 triệu đồng. Từ đầu năm 2019, tỉnh Hậu Giang sẽ thực hiện việc hỗ trợ chính sách dân số trên địa bàn. Theo đó, chính quyền các cấp sẽ khen thưởng, biểu dương những cặp vợ chồng sinh 2 con đều là gái.
Cụ thể, mức thưởng kèm bằng khen của chủ tịch tỉnh cho gia đình hai con bằng một lần mức lương cơ sở là 1.3 triệu đồng. UBND huyện cũng thưởng kèm theo giấy khen bằng 0.3 lần mức lương cơ sở là 390,000 đồng.
Nếu không có những ngoại lệ trên đời này, thì một ông bạn tôi ở Fort Worth Dallas là người may mắn nhất trong chuyện con trai, con gái ở Mỹ. Ðó là ông bạn Ðinh Tiến Dũng, thân phụ của ca sĩ Diễm Liên, có đến “Ngũ Long Công Chúa” mà không có mụn con trai nào!
HP
Orange County, CA

Tìm bạn tri âm

hoiquantramhuong.org
Huy Phương
Post on 24 October 2015

Post by Sơn râu 9 Feb 2025

Ngày 21 tháng 6 vừa qua, truyền thông Mỹ vừa loan tin cô nữ sinh Katherine Lester, 16 tuổi, “tìm bạn tri âm” qua website đã phải lòng anh chàng người Palestine Abdulad Jinzawi, 20 tuổi. Cô định lên máy bay sang Jesuralem, nhưng đã bị nhà chức trách Hoa Kỳ giữ lại vì lý do an ninh. Nguồn tin cho biết có 87 triệu người vào trang Myspace.com để tìm bạn, trong đó có tới 20 triệu là tuổi choai choai như cô nữ sinh người Mỹ kể trên.
Tại Úc đã có 4,5 triệu người độc thân đã tìm đến việc hẹn hò qua internet. Match.com và RSVP, mỗi website có hơn hai triệu thành viên, và những thành viên này, ngày nay đã có đôi thành vợ thành chồng. Giám đốc điều hành những website này đã cho biết số người tìm bạn tăng rất nhanh trong vòng ba năm trở lại đây. Tuổi kết hôn của một người bình thường là từ 27 đến 29 tuổi, nhưng trong tuổi này, người ta lại quá bận rộn với những công việc sinh kế hằng ngày, ngoài thương trường hay trong công sở, nên ít có cơ hội giao tiếp với người khác phái để tìm hiểu và dẫn nhau tới hôn nhân. Vì vậy internet là cơ hội dễ dàng để những người này vào, trao đổi, tìm hiểu và cuối cùng đồng ý một chỗ hẹn hò. Trong nhiều năm qua, nhiều tội ác đã xẩy ra vì trao đổi trên internet, nhưng đó chỉ là con số nhỏ, nhu cầu trao đổi tìm bạn, tìm người để đi đến hôn nhân trên internet vẫn cần thiết.
Phụ nữ thường ở thế thụ động, nhưng internet chính là nơi để cho quý bà quýù cô chủ động khi đưa hồ sơ mình lên net và sẵn sàng liên lạc với đối tượng nào mà họ thấy thích.
Ngày xưa, cách đây nửa thế kỷ, lúc chưa có internet, và ngay cả bây giờ tại trong và ngoài nước, đối với một số đông còn ít xử dụng tới internet, thì những dòng chữ trên báo vẫn còn quý giá để người ta có cơ hội trao đổi, tìm hiểu và chọn một người tri kỷ hay là một người tình. Kết quả đi đến hôn nhân, đương nhiên cũng có thể có, nhưng với bản tính người Á Ðông, không ai muốn tiết lộ rằng mình lấy chồng hay lấy vợ là do mục “tìm bạn tri âm” trên báo chí.
Tôi nghĩ tờ Thẩm Mỹ là tờ báo đầu tiên ở Saigon, cũng có thể là ở Việt Nam mở ra mục Tìm Bạn Tri Âm, để làm nhịp cầu cho người ta tìm đến nhau bằng thư từ gởi theo lối cổ điển là qua bưu điện. Cho đến nửa thế kỷ sau, ở quê nhà hay ở hải ngoại, tìm bạn vẫn là một nhu cầu cần thiết cho những tâm hồn cô đơn, mặc dầu tiết mục đã đổi qua nhiều tên khác nhau: “Tìm Bạn Tri Kỷ”, “Tìm Nhau Qua Lá Thư Hồng”, “Kết Bạn Thư Tín”…
Ngày trước, không biết có bao nhiêu người trưởng thành phải cần đến mục Tìm Bạn Tri Âm để kiếm cho được một người tri kỷ trong cái quãng đời trống vắng của họ, nhưng cái bọn học sinh trung học chúng tôi thời ấy thằng nào cũng sung sướng có được một vài lá thư xanh xanh từ Saigon, Nha Trang hay từ Vạn Tượng, Nam Vang hồi âm. Vài tuần trước đó, bọn chúng tôi đã cố nắn nót viết một bức thư trên giấy pelure xanh để gởi tới địa chỉ một cô nàng nào đó trên báo Thẩm Mỹ, rồi ngày ngày ngóng chờ người phát thư đi qua nhà gọi tên. Lẽ cố nhiên không bao giờ dám để cho ông bố nghiêm khắc của mình biết chuyện, vì không lo học mà “tìm bạn tri âm”, cũng như không dám khoe với bạn bè. Về phía con gái thì những cô thiếu nữ con nhà giàu, đẹp đẽ, nết na, đã không thiếu những anh chàng đeo đuổi, có khi chưa học xong trung học, đã có người đưa xe hoa tới rước, cần gì phải mất công đi tìm người trong mộng qua tờ báo. Về phía con trai, thì những anh chàng có “3 chữ gi..” thời ấy là những chàng “học… giỏi, nhà… giàu, đẹp…giai” thì đâu cần đi tìm những người chưa biết mặt biết tên, như những chàng trai mơ mộng khác:“Chưa biết tên nàng, biết tuổi nàng,
mà sầu trong dạ đã mang mang”…(Huy Cận)
Ðất nước chúng ta, qua chiến tranh, ly biệt, đổi đời, con người gặp phải những hoàn cảnh đổ vỡ, ngang trái, nhiều người phải chịu cảnh cô đơn, nên trên mặt báo những mục tìm bạn tri âm, tri kỷ lúc nào cũng đông khách. Cũng có những trường hợp nam tìm nam, nữ tìm nữ, những thiếu phụ một lần đổ vỡ, những gái lỡ thời “chưa một lần kết hôn”, muốn tìm bạn trai “để sống nốt cuộc đời còn lại bên nhau”.
Năm 1975, sau khi bỏ nước ra đi, thi sĩ Cao Tần đã chán nản, đau xót kêu lên: “ta làm gì cho hết nửa đời sau?”. Thì đây là câu giải đáp trong mục “Tìm Bạn…”của một nam nhân 52 tuổi “thích dạo biển, dạo sông lúc hoàng hôn”: “ta dìu nhau đi cho hết 1/3 cuộc đời còn lại”, hay là của một single mom 50 tuổi :“nửa cuộc đời còn lại trao hết cho anh!”(nửa cuộc đời còn lại này chúng ta phải hiểu tính từ 50 đến chẵn 100 tuổi, vậy ai là người có lòng, xin đừng ngần ngại nữa!)
Không chỉ những thanh niên, thiếu nữ trung niên, dang dở cuộc đời, chính tuổi già đơn lẻ cũng cần tìm nơi nương tựa cuối đời. Không thiếu những ông cụ lục tuần, hay sắp sửa bước tới tuổi “cổ lai hy”, cũng có những lời nhắn tha thiết “tìm một bạn gái khoảng 50 tuổi nhưng vẫn còn say yêu.”!
Trên những dòng rao người ta tìm thấy một nền văn chương rất là mùi mẫn, ai oán làm xúc động lòng người, như bài thơ sau đây, vần điệu rất vững vàng:- “Sáu mươi xuân lẻ, vẫn đơn côi
Khuya sớm cày thuê trả nợ đời.
Ðất khách tào khang đà gẫy đổ
Quê nhà đơn độc, lệ đầy vơi.
Trần gian, nhi nữ ai tri kỷ
Chắp nối tơ duyên, trọn kiếp người”.
Khó mà tìm được trên các tờ báo tây hay trên internet, một dòng tìm bạn sang cả, đầy tính văn học như vậy, vì mỗi người Việt Nam là một thi sĩ. Ðiều đó thật không ngoa.
Bây giờ không phải chỉ ở hải ngoại tìm nhau, mà thấy nhiều cô gái ở Việt Nam, dư bằng cấp nhưng nuôi giấc mơ “đi lấy chồng xa”, mơ đi Mỹ, hèn chi con gái danh giá của ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lấy Việt kiều Mỹ cũng phải. Qua lời rao chúng ta thấy: Ðại Học Ngoại Thương, Cử nhân Ðại Học Tổng Hợp, Cao Ðẳng Nha Khoa, Thạc Sĩ Ngôn Ngữ Học, đang học Tiến sĩ, giáo sư Ðại Học Saigon- đăng báo ở đây để tìm chồng như lời rao sau đây:-“Tốt nghiệp đại học Anh Văn, ngoan hiền, mơ Mỹ Quốc. Thư đầu nhờ người bác ở Quận Cam chuyển”, -“Cao Ðẳng Nha Khoa Saigon, hiền ngoan, muốn làm quen với các anh có quốc tịch Mỹ, thật lòng muốn về Việt Nam cưới vợ”.
Các cô gái tại quốc nội tìm chồng, không phải trường hợp từng người, mà có những lời rao từng “chùm”, như “chùm thơ”, “chùm tư tưởng” theo ngôn ngữ trong nước: “Sáu cô gái, người miền trung, đang đi học tại Nha Trang, Saigon. Cha mẹ đang ở tỉnh X. Muốn tìm bạn trai, bên này, hợp ý, sẽ tiến tới hôn nhân…”
Ðang đi học xa nhà, mà đã muốn tìm chồng, đề nghị cha mẹ gọi về … đét đít.
Cũng có người ở hải ngoại đăng báo tìm chồng cho “một chùm” con cháu như sau: “Mình mới về Việt Nam thăm nhà, có ba đứa cháu tuổi từ 18 đến 22, hiền ngoan, thùy mị, đang học đại học muốn tìm bạn trai ở Mỹ, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, tuổi tác, miễn là có quốc tịch.”
Năm 1975, nhà nước Cộng Sản đã để cho chảy máu chất xám. Trí thức khoa bảng ùn ùn xuống tàu vượt biển vì không ưa chế độ Cộng Sản, bây giờ vì mơ Mỹ, nhiều cô tốt ghiệp đại học tại Việt Nam lại muốn bỏ nước ra đi theo con đường …tìm chồng. Không khéo lại xẩy ra một cuộc thất thoát chất xám thứ hai.
Ởû Mỹ này người ta bắt đầu sợ mập, nên trong lời rao cô nào cũng cẩn thận ghi hai tiếng “không mập”, còn đàn ông thì lại sợ bị chê lùn, nên anh nào cũng không quên nhắc hai tiếng “cao ráo”. Một anh chàng lại ghi trong lời rao: “Nam, mong tìm được một nàng không ngoài 54, dáng gầy gầy…”.
Những lời rao trên các trang tìm bạn, hay cả trên internet chưa chắc đã là những lời nói thật, có lẽ mọi người đều giảm cái xấu của mình đi một tí và tăng cái tốt của mình thêm lên. Chuyện xưa kể rằng, có một cô gái chẳng may bị vá môi, khi chụp ảnh gởi cho bạn, cô ngậm một đoá hoa hồng, trông “romantic” hết ý! Phía chàng trai, trời bắt có cái lưng gù, chàng gởi cho nàng một bức ảnh đang ngồi trên lưng ngựa đang phi, trông hùng dũng biết bao! Thế mà trên một mục rao tìm bạn, một cô nàng đã dám ghi rõ “dữ và xấu, nên bị chồng bỏ, muốn tìm người thích bị ăn hiếp…”
Có lẽ vì vậy, mà nhiều lời nhắn nhe đã vừa cảnh cáo, vừa năn nỉ : “xin đừng đùa giỡn mà tội nghiệp!”
Khi người đời còn có nhu cầu, thì những mục tìm bạn trên báo chí hay qua mạng vẫn còn cần thiết. Nhiều người lúc nhỏ đi học, ra trường đi làm, chạy theo nghề nghiệp hay có người còn phải lo bổn phận cho gia đình, như nhân vật “Người Anh Cả” trong tác phẩm của Lê Văn Trương, chưa bao giờ nghĩ tới hạnh phúc của cá nhân mình. Lúc nhìn lại, thì ngày tháng quá quạnh hiu mà tình cảnh quá cô độc. Mỗi người mỗi cảnh, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay!” Phải chăng hình phạt dành cho một người tù là sự cô độc, vậy xin những ai đang còn cô đơn khuya sớm một mình, nếu không chịu nỗi sự trống vắng, quạnh hiu xin đừng ngần ngại, vì “lời nhắn không quá 45 chữ, thư làm quen xin dán sẵn tem, kèm theo chi phiếu $5.00, xin gởi về…”
Xin các bạn yên tâm: “sẽ hồi âm, dù thư đến trễ…”
Tiếng Chim Buổi Sớm
Ngày bị đày ra tận Hoàng Liên Sơn, “lán” tù tôi ở bên một dòng suối nhỏ, đầu “lán” có một cây rừng, đến mùa hè hoa nở đỏ. Buổi sáng, tôi thường thức giấc sớm, nghe có con chim lạ đến hót những tiếng líu lo ở trên cành. Tôi nằm yên, quên hết phiền muộn, tận hưởng những âm thanh tuyệt diệu, âm thanh đầu tiên của một ngày. Để sau đó, không bao lâu, là tiếng kẻng tù gắt gỏng nổi lên giữa buổi sớm mai, bắt đầu một ngày lưu đày khốn khổ.
Ai cũng cho rằng khi nằm trên giường thì bắp thịt ta được nghỉ ngơi, nhịp tim đều đặn, hơi thở nhẹ nhàng, giác quan tinh tế hơn, và ta có thể tập trung tinh thần vào những cảm giác hay những ý tưởng của mình một cách tuyệt đối. Ông Lý Lạp Minh, một nhà văn Trung Quốc khuyên ta buổi sáng nên nằm giường mà nghe chim hót, là điều thú vị nhất. Tôi cũng đã hưởng được những giây ấy, mặc dù là ngắn ngủi. Ở thành phố hay thôn quê, đâu cũng có chim, chẳng qua là vì cuộc sống tất bật, chúng ta không để ý đó thôi.
Tôi còn nhớ Saigon, buổi sớm mai, những quãng đường như Hồng Thập Tự với những hàng cây cao đầy bóng mát, luôn luôn ríu rít tiếng chim kêu. Ngày ấy đời còn vui, chim còn đậu đất lành, tiếng động cơ của xe cộ hay tiếng xích lô máy nổ dòn dã cũng không đuổi hết đàn chim phải bay rời xa tổ. Ngày đất nước rã rời, phải lên tàu Sông Hương ra Bắc, những hôm phải vác một con dao lên những đồi tre, qua những cánh rừng, chặt chục cây mương hay kiếm mớ củi, cô đơn lầm lũi giữa làn cây, nghe tiếng chim kêu mới thấy nỗi sầu trong dạ.
Có những tiếng chim chiêm chiếp như tiếng gà con, bồi hồi nhớ đến đàn con còn bé dại ở quê nhà. Có tiếng chim cu gáy xa xa, đáp lại ở đâu đó tiếng đồng loại hoà điệu, nghĩ lại tấm thân cô đơn với nỗi buồn nơi xứ lạ. Rồi tiếng chim rừng khắc khoải “bắt cô trói cột” vẫn thường nghe mỗi trưa nơi rừng Việt Bắc, tiếng kêu kéo dài cho đến lúc nắng quái buổi chiều. Tiếng kêu đanh lại, nghe như gằn từng tiếng, theo đầu óc tưởng tượng của mỗi người với những hoàn cảnh riêng, như lời kêu thống thiết, oán thán, trách móc não nuột. Tiếng chim “bắt cô trói cột” nghe thành “hết cơm tới bột” còn chút khôi hài, đói rã họng “đói cơm đứt ruột” còn nghe lời động viên “khó khăn khắc phục” lập đi lập lại nghe tới nhàm chán. Nghĩ theo lời chim, mường tượng như nỗi than khóc “nhớ con đứt ruột”.
Rồi con chim “cuốc” lầm lũi đâu đó trong khóm lúa, bụi cây, vào cuối xuân hay đầu mùa hè, không hề biết hót mà kêu lên những tiếng khắc khoải, từng tiếng từng tiếng một, nghe ra não nùng, hờn oán của người “mất nước” phải khoanh tay, để “nhớ nước đau lòng con quốc quốc” (Bà Huyện Thanh Quan). Con chim này được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa, là hoá thân của Vua Thục Đế, mất nước khóc đến chảy máu mắt, chết đi hoá thành con chim, cất lên những tiếng kêu não nùng. Tiếng chim “cuốc” nghe xót xa phù hợp tâm trạng người “mất nước” phải xuống tàu đày đi biệt xứ. Nhớ lại câu thơ của Chu Mạnh Trinh:
“Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu
Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.”
Cung miếu triều xưa nay vắng ngắt,
Trăng mờ khắc khoải “cuốc” kêu thâu.
(Tiên Đàm dịch)
Hay của tướng trung liệt Phan Thanh Giản:
“Ải Bắc ngày chờ tin nhạn vắng,
Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu!”
Còn loài “chim quyên” khác ta thường thấy là một loài chim nhỏ, có bộ lông óng ánh, nâu pha đốt đỏ, có tiếng hót rất hay, thường vào ban trưa ở trong bụi hay đầu hồi nhà. Nhưng không hiểu tại sao người ta lại đánh giá cao để ví chim quyên cao như người quân tử, quân tử sao mà sa cơ, như “chim quyên xuống đất ăn trùn, anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than”.
Gà là loại cầm, nó không biết hót, nhưng con gà trống có tiếng gáy vào buổi ban trưa làm cho người ta nhớ đến bao nhiêu điều: “hiu hắt gà trưa gáy não nùng”. (Lưu Trong Lư)
Nhà văn Lâm Ngữ Đường thích nghe tiếng kêu của một loại “gà nô” (tiếng Tàu còn gọi là “giá cô”). Nói là giống gà nhưng nó hót như chim. Tiếng hót có bốn âm do, re, mi … âm mi kéo dài hai ba nốt, ngưng hẳn một tí, rồi tiếp theo bằng một nốt thấp hơn. Giống chim này có nhiều ở phía Nam Trung Quốc, hót trễ vì đây là một giống chim dạn dĩ, không sợ giàng thun bọn trẻ, trái lại hầu hết loại chim khác đều hót sớm vì sợ loài người ác độc. Có khi chúng bặt tiếng luôn vì lưới bẫy giăng khắp nơi, ví lưới chim đem ra chợ bán là một nghề mới kiếm cơm.
Tiếng hót của giống gà nô này có ba âm và âm cuối kéo dài, có người nghe là “chè, xôi, chuối … thịt”, âm thịt kéo dài ra, thấp xuống rồi ngưng bặt (theo Nguyễn Hiến Lê). Nghe giống như ý nghĩ mấy ông xôi thịt làng xã ngày trước và ngay cả hôm nay. Giống chim này ở Việt Nam cũng có, thời Tây thuộc tôi có nghe người ta nhại tiếng chim là “père, mère, frère … tout est perdu” (cha mẹ anh em mất cả rồi). Nghe ra ngậm ngùi làm sao, như sau một trận hồng thủy, chiến tranh… như một câu oán than: “cha mẹ già đã khuất núi, quê hương đã thất lạc, mộng ước đã tàn phai …” (Bùi Bích Hà).
Tôi có người bạn già vẫn bị người ta chê là đã vì tự do mà bỏ xứ, sao bây giờ lại giam cầm bao nhiêu loại chim trong khu vườn nhỏ, gây nên cảnh “chim lồng cá chậu”, khuya sớm lo quạt nồng, ấp lạnh, vất vả tấm thân già. Nhưng bù lại, bạn tôi hưởng được cái thú ở đời là mỗi buổi mai thức giấc nằm nướng trên giường nghe tiếng chim khướu hót ngoài hiên. Những buổi sáng đầu mùa hè, tiếng chim sơn ca (chiền chiện) trong ánh sáng mờ mờ của buổi rạng đông đã bắt đầu cất tiếng hót. Những lúc sung sức, ăn uống đầy đủ giọng sơn ca “luyến láy” tuyệt vời, nói theo danh từ làng ca kỹ. Ban trưa, khi trời nắng ấm là lúc những con chim khoen (gọi là vành khuyên vì trên mắt chim có hai vòng khoen trắng) rộn ràng tiếng hót. Buổi tối nếu trong nhà còn đèn sáng, sơn ca vẫn còn cất tiếng, khi có tiếng nhạc ồn ào, thì giống chim khuyên cũng líu lo tưng bừng. Ban trưa nắng, trời ấm nghe tiếng chim cu gù. Những đêm trăng, chúng ta còn nghe tiếng chim “mocking bird” kêu, một loại chim có rất nhiều trên đất Mỹ. Dù là giống chim trời của bốn phương, nhưng giống chim cùng loại đậu ở đâu cũng hót tiếng như nhau, nên người chơi chim còn nghe được chút âm thanh quê hương đâu đó. Hoạ Mi, khướu và những giống chim Á Đông đã theo những người nuôi chim bằng nhiều con đường khác nhau, sang đến miền đất này, để khuya sớm chuyện trò với gia chủ bên tách trà buổi sớm.
Trời đất yêu loài chim nên tạo ra rừng cây, loài người yêu chim thì phát minh ra cái lồng. Ông Trịnh Bản Kiều bên Tàu, ngày xưa khuyên em ông đừng bao giờ nhốt chim trong lồng, vì chúng ta nên dung hoà với thiên nhiên và vui với vạn vật. Ông cho rằng không phải vì không yêu chim mà ông khuyên em đừng nhốt chim trong lồng, nhưng vì có cái đạo yêu chim và nuôi chim. Muốn nuôi chim thì trồng vài trăm cây chung quanh vườn nhà để chim tìm tới làm tổ. Buổi sáng tỉnh giấc, còn trăn trở trên giường mà nghe tiếng chim hót thì còn gì thần tiên bằng. Lúc đã xuống giường, mặc áo, đánh răng súc miệng, uống trà, còn thấy chim vỗ cánh rực rỡ, bay qua bay lại thì cái vui nhìn chim trong lồng đâu có so sánh được.
Ở trên đời này ai cũng ghét giọng con chim cú, nhất là chim cú kêu nửa đêm, để người ta miệt thị là “cú giòm nhà” hay “cú kêu nhà bệnh”. Cũng là loài chim, nhưng chúng lại không có tiếng hót của trời cho, mà chỉ có tiếng kêu như giống ngan ngỗng tầm thường. Một loài chim khác chỉ biết kêu hay nói, là giống vẹt. Chúng mang màu sắc sặc sỡ như xiêm áo của bà đồng cốt, tiếng kêu chát chúa chói tai mà nhiều người vẫn thích do cái tài bắt chước ngọng nghịu tiếng nói của loài người, đó là “nói như vẹt”. Đến thăm nhà nuôi vẹt, nghe tiếng vẹt nói ngộ nghĩnh, chúng ta thường cất tiếng cười hỉ hả, nhưng giống vẹt lại cho đó là tiếng tán thưởng vì giọng nói ngô nghê, sao chép vô nghĩa của nó. Ta có bao nhiêu giọng nói quen thuộc, chúng ta chưa đến nỗi thiếu giọng người, thế mà cũng có người thích giọng vẹt-người.
Những ngày mới đến Mỹ, tôi có nhận thấy ở Mỹ có nhiều bầy quạ đen. Chúng kêu loét choét sau vườn, nhiều khi sà cả bầy xuống sân cỏ. Tôi cho đây là loại chim vô tích sự. Người đời quý màu sắc, mà loài quạ chỉ mỗi màu đen. Người ta thích tiếng hót mà loài quạ chỉ biết kêu. Ai cũng thích sự hiếm quý, mà loài quạ bay đến từng đàn, đuổi đi không hết. Vậy mà nhà thơ Trương Kế của Trung Hoa ngày xưa, nửa đêm nghe tiếng quạ kêu cũng sinh tình làm bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” bất hủ. (Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên…)
Trong khi trái đất này còn quá nhiều loại quạ, vẹt, cú, kên kên… mà chúng ta còn nghe được có tiếng chim hót, hạnh phúc biết bao! Nếu bạn ở trong một vùng vắng tiếng xe, một buổi sớm mai nào đó, thức giấc, nằm yên trên giường, xin im lặng, thử tìm nghe có tiếng con chim nào đến hót trên cành cây ở đầu nhà không?

Huy Phương

Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 9 Feb 2025

  1. Tàn cơn Binh Lửa-Chương cuối

“Buông tay súng, mà máu trào thành lệ,
Lệ tuôn trào, lệ biển cả mênh mông
Lính dù Lê Lộ Đức
*

  1. Khối Chiến tranh Chính Trị.
    Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù có nhiều khả năng tác chiến, đa hiệu, thường áp dụng ba chiến thuật, tuy có khác nhau về nhiệm vụ, quân số, vũ khí… nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau. Ba chiến thuật đó là: Thám Sát, phản Du kích và Trận Địa chiến.
  2. Thám sát.
    Nhiệm vụ thám sát địch, tìm hiểu về hoạt động địch, lực lượng, đơn vị, căn cứ địa, kho tàng, vũ khí, khí tài, kế hoạch, mưu đồ, v.v…. Để có thể thâu lượm mọi tin tức nầy, các Toán Thám Sát đã được thả xuống hoạt động sâu trong lòng địch, thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch, trên “đường mòn Hồ Chí Minh”, vùng Tam Biên (Việt Miên Lào), hay dọc theo biên giới Việt Miên Lào, khi cần có thể vượt qua biên giới… không cần hạ sát địch quân, cần bắt sống để khai thác tin tức.
    Mỗi Toán Thám Sát gồm 6 người, được huấn luyện thuần thục võ nghệ, chuyên môn để có khả năng tác chiến, đặc biệt về do thám, quan sát, theo dõi, liên lạc, cứu thương và phá hoại, bao gồm cả nhiệm vụ tiền sát viên pháo binh, điều chỉnh phi pháo, bắt sống tù binh và mưu sinh thoát hiểm.. v.v…
    Như Độc Giả thấy trong các bài tường thuật ở phần trước, những hoạt động có chính Tác Giả tham gia, chỉ huy, đã gặt hái được một số thành quả, thâu lượm nhiều tin tức chính xác, cấp thời cho các cấp Chỉ Huy Sư Đoàn, Quân Đoàn, Bộ Tổng Tham Mưu, để các nơi nầy có biện pháp, kế hoạch, kịp thời đối đầu, chận đứng hay tấn công tiêu diệt địch quân.
    Biệt Cách Nhảy Dù, tùy từng thời điểm, và cũng tùy theo nhu cầu, sự điều động của Bộ Tổng Tham Mưu, để đưa các Toán Thám Sát của các Biệt Đội tăng cường hoạt động đặc biệt ở các Quân Khu I, II, III. Số lượng tin tức thu hoạch được, đã cung cấp cho các Phòng 2 của các Sư Đoàn, Quân Đoàn và các vị Tư Lệnh các Quân Khu, các Vùng Chiến Thuật không phải là ít.
  3. Phản Du Kích Chiến.
    Chiến thuật du kích của Việt cộng là rập khuôn theo chiến thuật của Mao. Yếu tố chính trị, tuyên truyền là quan trọng, mục đích lôi kéo dân chúng về phía của chúng bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Về quân sự, Mao chủ trương rút lui để bảo toàn lực lượng khi bị ta tấn công, quấy phá khi ta dừng quân, tấn công khi ta mệt mỏi, và truy kích khi ta rút lui.
    Kinh nghiệm chiến đấu, sự trui rèn, tôi luyện trong máu lửa, đã cho cấp chỉ huy Biệt Cách Dù những bài học hay. Do đó, chiến thuật của Biệt Cách Dù là “Gậy ông đập lưng ông”, có nghĩa là dùng chiến thuật du kích để đánh du kích, cùng lúc áp dụng các phương cách bảo vệ dân, giúp đỡ và tuyên truyền dân chúng đứng về phe chúng ta, ủng hộ chúng ta.
    Độc giả từng thấy ở các phần trước, tại mặt trận Tha La, Trảng Bàng, dân chúng đã cung cấp những tin tức về các hoạt động của địch, hay tại Ngã Ba Cây Quéo, Cây Thị, Gia Định trong Tết Mậu Thân, hay tại Bến Thế, Bình Dương, đồng bào đã đứng hai bên đường đón chào, hoan hô các chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, cũng như tặng trái cây, quà bánh, như một biểu lộ bày tỏ lòng tri ơn sâu xa…
    Để đánh đuổi bọn địch ra khỏi vùng chúng chiếm đóng hoặc đóng chốt, Biệt Cách Nhảy Dù dùng chiến thuật du kích phản du kích, có nghĩa là lấy chiến thuật của địch để đánh lại địch, tạo sự bất ngờ, gây hoang mang, hoảng loạn cho bọn chúng và nhờ vậy mà đã đạt nhiều chiến thắng bất ngờ, làm cho các đơn vị bạn phải nể phục. Đó là kết quả của các trận đánh ở Bến Thế, Xóm Đạo Tha La, Ngã ba Tân Phú Trung và Mật Khu Mây Tào.. v.v…
    Căn bản của “Chiến tranh giải phóng” (chữ của cộng sản) là lấy Nông Thôn để bao vây Thành Thị, và áp dụng “chiến tranh du kích”. Về phía Quân Đội Việt Nam, trách nhiệm giữ đất khá nặng nề, mất tính cách di động, thường đóng Đồn, Bót. Chiến thuật nầy chỉ năng động về ban ngày, ban đêm rút vô phòng thủ trong Đồn Bót nên không bảo vệ được dân. Chiến thuật của Biệt Cách Nhảy Dù thì ngược lại. Thay vì đánh địch vào ban ngày, Biệt Cách Nhảy Dù lại dùng chiến thuật đánh đêm. Đánh đêm là gây yếu tố bất ngờ cho địch, kèm theo là chiến thuật phản du kích là bất ngờ thứ hai, vào tận sào huyệt Việt cộng để đánh chúng là bất ngờ thứ ba.
    Chính vì lối đánh thần tốc, gan dạ và đầy bí hiểm nầy, nên Biệt Cách Nhảy Dù đánh đâu thắng đó, giải tỏa áp lực nhanh, nếu không muốn nói là địch thua dài, chạy dài…
  4. Trận địa chiến.
    Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù được thành lập và phát triển về sau này quân số lên tới ba ngàn Chiến Sĩ, được chia thành ba Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật có bốn Biệt Đội, mỗi Biệt Đội có hai trăm chiến sĩ.
    Nhiệm vụ chính yếu của Liên Đoàn là thả Toán Thám Sát vào các căn cứ địa, an toàn khu của địch, ngoài tầm yểm trợ của pháo binh, cách biệt hoàn toàn với các Quân Binh chủng bạn, để thu lượm tin tức, bắt cóc tù binh, chứ không phải để đánh các trận địa lớn như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hay Biệt Động Quân.
    Tuy vậy, trong một vài tình huống khẩn cấp, cần thanh toán dứt điểm những nơi dầu sôi lửa bỏng, Bộ Tổng Tham Mưu vẫn phải tung Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù lâm trận, để giải quyết chiến trường như: Mậu Thân đợt 1 và 2 +n-ăm 1968, Bình Long (An Lộc), Quảng Trị (Cổ Thành) năm 1972, Tha La (Trảng Bàng) năm 1973 và Tân Phú Trung (Củ Chi) năm 1974, Phước Long năm 1975. Và Liên Đoàn đã lập nên nhiều chiến thắng lẫy lừng, cho dù không thuộc sở trường tác chiến của Đơn vị.
    Cũng có đôi lần, khi các Toán phát hiện các căn cứ địa, kho tàng, hậu trạm địch, có quân số đông cấp Đại Đội, Liên Đoàn có khả năng đưa các Biệt Đội vào thanh toán địch ngay tại địa điểm địch đóng quân hay chiến trường do Biệt Cách Nhảy Dù chọn lựa.
    Đó là trường hợp Biệt Cách Nhảy Dù đã phục kích, tấn công Việt cộng tại thung lũng Ashau năm 1968, Đồng Xoài năm 1968 và Tam Biên năm 1971, sau khi các Toán Thám Sát phát hiện bọn chúng.
    Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ngoài Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, còn có nhiều Toán Thám Sát của Lôi Hổ, Nha Kỹ Thuật, Sở Liên Lạc, Sở Công Tác, Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu v.v… cũng đảm nhận nhiệm vụ xâm nhập, hoạt động trong lòng địch như của Biệt Cách Nhảy Dù.
    Tuy nhiên, các Toán Thám Sát nầy chỉ thu thập tin tức, ghi nhận “địch tình” rồi cung cấp lên các cấp Chỉ Huy mà họ tăng phái. Họ không có lực lượng, đơn vị có khả năng khai thác mục tiêu, tấn công địch. Biệt Cách Nhảy Dù thì hơn hẳn, khi cần mở trận địa tiêu diệt địch có quân số lớn, Biệt Cách Nhảy Dù sử dụng ngay các Biệt Đội xung kích.
    Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù sau khi nhảy vào An Lộc, sau gần ba tháng chiến đấu dũng cảm, góp công truy quét tiêu diệt giặc thù cộng sản, lấy lại các phần đất đã bị giặc lấn chiếm, thì được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu, triệt thoái trở về Hậu cứ Liên Đoàn tại Ngã Tư An Sương, Hốc Môn, để bổ sung quân số, trang bị vũ khí đạn dược, nhằm tăng viện cho chiến trường Quảng Trị, ở địa đầu giới tuyến, vùng I chiến thuật.
    Trong thời gian này, Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã được Đại Tướng Cao Văn Viên gọi đến trình diện tại Văn Phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Trong cuộc diện kiến, Đại Tướng đã hết lòng khen ngợi về ba hiệu năng và sở trường chiến đấu của Liên Đoàn mà chưa có một Đơn vị, Binh chủng nào trong Quân Lực VNCH có được như: – Thả Toán thâm nhập vào hậu tuyến của địch trong các mật khu bất khả xâm phạm – Kỹ thuật và khả năng tác chiến, đột kích đêm – Tham dự “trận địa chiến” cùng các đơn vị bạn trong các mặt trận lớn nóng bỏng và đầy cam go. Đại Tướng còn cho biết sẽ có kế hoạch nghiên cứu để gia tăng, bành trướng Liên Đoàn lớn hơn nữa.
    (Nếu kế hoạch này mà được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận, Liên Đoàn dự trù trong tương lai sẽ có thêm khoảng 16 Biệt Đội, 04 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật. Và song song với sự gia tăng và phát triển cấp số, thay đổi tính danh, thì các Ban cũng sẽ được nâng cao thành Phòng, riêng Khối Chiến Tranh Chính Trị vẫn giữ nguyên như cũ. Có thể Liên Đoàn sẽ được nâng lên cấp Lữ Đoàn, Chỉ Huy Trưởng sẽ là Tư Lệnh với cấp bậc Chuẩn Tướng.)
    Trong chiều hướng phát triển nầy, trong khoảng giữa tháng 2 năm 1975, Đại Tá Phan Văn Huấn đã bổ nhiệm tôi vào chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị thay thế Thiếu Tá Phạm Châu Tài, vừa được đề cử nhiệm vụ mới là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Chiến Thuật.
    Lý do thứ hai mà tôi được Đại Tá Chỉ Huy Trưởng chọn làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị, theo tôi nghĩ có thể phát xuất từ những Bài Thơ đề cao tinh thần chiến đấu uy dũng của các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù, mà tôi đã gửi đăng trên các báo của Quân Đội VNCH như: Tiền Phong, Chiến Sĩ Cộng Hòa, và một bài trên tờ Bích Báo của Biệt Đội 814, trong đó tôi đã đề cập về tâm sự của một Thương Binh Biệt Cách Dù, đã xả thân chiến đấu, để rồi bị trọng thương, phải nằm điều trị tại các Quân Y Viện, và trong suốt thời gian dài, Liên Đoàn miệt mài quân hành, nên không một ai trong đơn vị đến thăm viếng, ủi an, ủy lạo. Nỗi buồn cô đơn, sớm bị lãng quên, làm họ uất nghẹn và đau đớn tột cùng. Bài báo rất được anh em Binh Sĩ trong đơn vị hoan nghênh và Trung Tá Nguyễn Văn Lân, Chỉ Huy Phó Liên Đoàn lưu tâm…lưu ý..
    Lý do thứ ba là ngay tại Doanh Trại Biệt Đội 814 tại Căn Cứ Hành Quân Suối Máu, hay bất cứ nơi đâu, tôi đều tổ chức các phương tiện ẩm thực, vui chơi cho Binh Sĩ trong Biệt Đội như Bún Bò, Phở, Hủ Tiếu, Bò Kho, các bàn “Bi-Da”, “Ping-Pong”, phòng đọc sách báo.v.v.. để anh em Binh Sĩ ăn uống, giải trí trong những ngày dưỡng quân. Họ có thể được “ghi sổ”, lãnh lương sẽ trả lại sau. Nhờ những phương tiện nầy, Binh Sĩ cảm thấy thoải mái, không còn buồn nản khi được nghỉ ngơi, không đi lang thang ra ngoài doanh trại, vừa tốn tiền, lại có thể gặp những việc không hay xảy ra trong thời buổi chiến tranh loạn lạc này.
    Ngoài ra, tại vị trí đóng quân, tôi cho dựng Cổng Biệt Đội, thường xuyên cắt cử lính gát, làm hàng rào bao quanh, trồng hoa, cây cảnh trước mỗi dãy nhà của các Trung Đội và cả trong khu vực Doanh Trại. Binh Sĩ những lúc rảnh rỗi, có thể dạo chơi, ngồi hóng mát trò chuyện để vơi đi nỗi nhớ về Cha Mẹ, Vợ con….
    Nhờ vậy, mà Doanh Trại Biệt Đội 814 đã trở thành mẫu mực. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn đã nhắc nhở các Biệt Đội khác nên làm theo. Trong một dịp Nhà Báo Minh Đức Hoài Trinh đến Căn Cứ Hành Quân để làm phóng sự, đích thân Đại Tá Phan Văn Huấn đã hướng dẫn Bà đến thăm Doanh Trại Biệt Đội 814 của tôi như là một lời ban thưởng.
    Lý do thứ tư cũng có thể do từ một cuộc phỏng vấn của Báo Chí, Truyền Thanh, Truyền Hình, khi tôi được chọn là Chiến Sĩ Xuất Sắc về tham dự buổi tiếp tân tại Phủ Tổng Thống, đã được phổ biến rộng rãi khắp cả nước, tôi đã trả lời như sau:
    “Suốt những tháng năm lăn lộn trên khắp các chiến trường, trận địa, trên ba vùng chiến thuật, sống chết như sợi chỉ treo mành, cũng chẳng làm tôi nao núng, nhụt chí. Bốn lần bị thương tích, 16 lần được tuyên dương công trạng, phải chăng đó là một ít công lao nhỏ nhoi, mà chính bản thân tôi đã đóng góp cho Tổ Quốc Việt Nam? Biết bao Đồng Đội, Chiến Sĩ của tôi đã ngã gục, hy sinh để tôi được sinh tồn. Và cũng chính nhờ vào những xác thân, xương máu của họ đã tạo lập nên nhiều chiến công, mà hôm nay tôi mới được vinh hạnh trở thành một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù để về đây tham dự Ngày Đại Lễ Quân Lực 19/ 6.
    Hôm nay, đứng trước làn sóng của Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình, tôi xin kính cẩn cúi đầu tưởng niệm và bày tỏ lòng tri ơn sâu xa đến các Anh Hùng Tử Sĩ, các Thương Binh, các Chiến sĩ Biệt Cách Dù, đã chung vai sát cánh cùng tôi chiến đấu tiêu diệt giặc thù, bảo vệ Tổ Quốc, Đồng Bào cho đến hơi thở cuối cùng…Tôi xin muôn đời đội ơn !!!”
    Sau khi đảm nhận chức vụ Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị của Liên Đoàn, tôi thực hiện ngay những điều tôi đã đề cập và ấp ủ bấy lâu: Thường xuyên thăm viếng, ủy lạo, tặng quà cho Thương Phế Binh tại các Quân Y Viện hay tại nhà riêng. Chăm sóc và giúp đỡ các Cô Nhi, Qủa Phụ trong đời sống, trong học hành. Củng cố và phát triển Trường Tiểu Học Biệt Cách Nhảy Dù. Can thiệp cho các em nhập học các Trường Văn Hóa Quân Đội và Quốc Gia Nghĩa Tử. Xin việc làm cho các cựu quân nhân tại Tổng Công Ty Thực Phẩm và cùng Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Thành Châu tổ chức gây Quỹ cứu trợ cho Thương Phế Binh của Liên Đoàn.
    Cùng song hành với nhiệm vụ trên, để kịp thời bổ sung quân số cho đơn vị trước đà phát triển, theo lệnh của Đại Tá Chỉ Huy Trưởng, tôi đã đến các Trung Tâm Huấn Luyện Đồng Đế, Quang Trung, nơi các khóa Hạ Sĩ Quan và Tân Binh sắp mãn khóa để thuyết trình, tác động họ tình nguyện về phục vụ Liên Đoàn. Cứ sau mỗi lần chuyện trò cùng các khóa sinh chấm dứt, số xung phong gia nhập Biệt Cách Nhảy Dù vượt quá chỉ tiêu đã đề ra.
    Sau khi tiếp nhận các Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ về đơn vi, Liên Đoàn tiếp tục huấn luyện họ về các khả năng tác chiến đặc biệt của một Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù, ngoài ra Khối Chiến Tranh Chính Trị còn tổ chức các chương trình huấn luyện về chính trị, về thái độ, tác phong đối với dân chúng, không những chung quanh đơn vị đồn trú mà đặc biệt ở các nơi hành quân, hầu lôi kéo người dân về phía Quốc Gia, không để dân chúng bị Việt cộng lợi dụng, tuyên truyền, dụ dỗ, mua chuộc…
    Từ giữa tháng 2 năm 1975, sau khi đảm nhận chức vụ mới, tôi say sưa với công việc, suốt ngày chăm chú tìm tòi, học hỏi, để công tác Chiến Tranh Chính Trị trở nên thực tế hơn, hữu ích hơn, và dễ đi vào đời sống từng người lính trong đơn vị, cũng như với dân chúng, ở những nơi mà các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù phải tiếp xúc với họ.
  5. Tàn cơn Binh lửa.
    Là một Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị, tôi có thì giờ và có nhu cầu theo dõi tình hình quân sự và chính trị nhiều hơn. Ngoài những hành động gây chiến giành dân lấn đất, bọn cộng sản đang thăm dò thái độ của Mỹ sau khi họ ký Hiệp Định Paris năm 1973.
    Trước chủ trương “thay đổi màu da trên xác chết”, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa càng ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn về tình hình chiến đấu và tiếp liệu. Việc “một đổi một” không được thi hành vì theo lệnh của Ngũ Giác Đài, Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho VNCH. Tình hình chính trị kể từ đầu năm 1975 càng xáo trộn hơn, nhiều phong trào nảy sinh nhằm hạ uy tín của không những cá nhân Tổng Thống mà toàn bộ Chính Quyền Miền Nam. Đó là mục đích của Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Ký Giả Đi Ăn Mày và Phong Trào Chống Tham Nhũng. Phong Trào nầy được tổ chức toàn cõi VNCH. Dĩ nhiên, tình hình xáo trộn nầy ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ VNCH, khiến họ phải suy nghĩ về việc làm của họ. Không lý họ chiến đấu cho một chính quyền tham nhũng, đang bóc lột người dân mà họ đang bảo vệ.
    Quan trọng hơn nữa, viện trợ ảnh hưởng đến khả năng tác chiến của Binh Sĩ. Đạn dược, xăng nhớt thiếu, nên khả năng vận chuyển Binh Lính bị hạn chế. Tình trạng nầy ảnh hưởng trực tiếp đến các đơn vị Nghĩa Quân, Địa Phương Quân, các Sư Đoàn Bộ Binh hơn là ở các lực lượng Tổng Trừ Bị, trong đó có Biệt Cách Nhảy Dù. Trong giai đoạn nầy, câu binh thư “Thực túc binh cường” ám ảnh trí óc tôi không ít. Binh Sĩ của Liên Đoàn còn đủ “thực túc”, nhưng gia đình họ gặp khó khăn không ít trong đời sống hằng ngày.
  6. Rút khỏi Căn Cứ Hành Quân, Biên Hòa.
    Sau khi chiếm Phước Long ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân cộng sản chiếm Ban Mê Thuột ngày 10 tháng 3 cùng năm đó. Rõ ràng, như trong bài trước đã trình bày, đánh Phước Long, là cộng sản thăm dò phản ứng của Mỹ. Thấy Mỹ bất động, lại còn cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản thấy thời cơ đã tới, làm tới luôn, mở đầu chiến dịch tổng tấn công miền Nam bằng trận đánh lớn kế tiếp: Ban Mê Thuột.
    Mặc dù tình hình căng thẳng, ngày càng nặng nề, hoạt động của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bình thường. Theo lệnh của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, Đại Tá Phan Văn Huấn đã cho rút Bộ Chỉ Huy nhẹ của Trung Tá Nguyễn Văn Lân, từ Tây Ninh về lại Căn cứ Hành Quân Biên Hòa, để lại Biệt Đội 813 do Trung Úy Lại Đình Hợi chỉ huy, tăng cường phòng thủ cho chiến trường Tây Ninh. Điều động Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật, do Thiếu Tá Phạm Châu Tài chỉ huy, gồm ba Biệt Đội 811, 817 và 818 đến bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu.
    Riêng tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu Biên Hòa, Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn do Đại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy và hai Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật 1 và 2, với quân số các Biệt Đội còn lại lên tới 2,000 Binh Sĩ, vẫn bố phòng ở mặt Bắc Phi Trường Biên Hòa, sẵn sàng chiến đấu. Các Toán Thám Sát vẫn được thả vào Chiến Khu D để do thám, thu nhặt tin tức các hoạt động của địch.
    Trưa ngày 28 tháng 4, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III họp tất cả Đơn Vị Trưởng, Chỉ Huy Trưởng các đơn vị đang đồn trú ở địa phương. Trong buổi họp, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thông báo tình hình quân sự tuyệt vọng ở Quân Khu III, và ra lệnh tất cả các đơn vị rút về phòng tuyến mới, dọc theo Xa Lộ Đại Hàn, Thủ Đức, để bảo vệ Thủ Đô Saigon. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù là đơn vị rút cuối cùng, có nhiệm vụ bảo vệ Cầu Biên Hòa, trên Quốc Lộ 1, gần ngã ba đường đi vào Núi Bửu Long, để toàn bộ Binh Sĩ rút qua khỏi cầu nầy được an toàn.
    Cũng trong ngày hôm ấy, Bộ Tổng Tham Mưu hầu như có kế hoạch cho Trực Thăng đến đón các cấp Chỉ Huy di tản khỏi Việt Nam. Nhưng đối với Đại Tá Huấn thì Ông đã từng tuyên bố khẳng định: “Tôi có vợ và tám con. Tôi có thể bỏ lại Gia Đình, nhưng không thể bỏ lại hai ngàn Chiến Sĩ của tôi để mà ra đi trong hoàn cảnh như thế nầy được.”.
    Và Đại Tá Huấn đã ở lại với Binh Sĩ của Ông, cho đến giây phút cuối cùng, khi có lệnh buông súng đầu hàng của tân Tổng Thống Dương Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
    Ngay trong đêm 28 tháng 4, Đại Tá Phan Văn Huấn ra lệnh Biệt Đội 812 đến canh giử cầu Biên Hòa, để ngăn cản đường tiến quân của giặc cộng, không cho bọn chúng phá sập. Sáng sớm hôm sau, khi Liên Đoàn rời khỏi Căn cứ Hành quân Suối Máu, khi đoàn quân vừa rút qua khỏi Cầu, thì cũng vào lúc đó qua làn sóng Đài Phát Thanh Sài Gòn, đã nghe được lệnh của Tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu, người vừa lên thay thế cho Ông Trần Thiện Khiêm đã đào thoát sang Đài Loan, yêu cầu toàn thể người Mỹ phải cấp tốc rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong vòng 24 giờ. Tin tức này đã gây hoang mang không ít đến tinh thần chiến đấu của Binh Sĩ.
    Đoàn quân Biệt Cách Nhảy Dù, theo thứ tự được phân định từ từ di chuyển trên Quốc Lộ 1, hướng về Sài Gòn. Đến gần xế chiều, khi cánh quân vừa đến Tân Vạn, thì trời sập tối. Mặc dù, đang đứng trước tình hình bi đát, Đại Tá Phan Văn Huấn vẫn liên tục dùng máy truyền tin liên lạc nhiều nơi, từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, tới Bộ Tổng Tham Mưu, cũng như các đơn vị bạn ở địa phương, nhưng hoàn toàn im lặng vô tuyến, không một ai phản hồi. Như “rắn mất đầu”, Đại Tá Huấn ra lệnh cho Bộ Chỉ Huy và tất cả các Biệt Đội rút vào đóng quân qua đêm trong rừng Cù Mi, chờ lệnh thượng cấp. Nhưng suốt đêm lặng lẽ trôi qua, vẫn chẳng có một tín hiệu liên lạc nào cả.
    Sáng hôm sau, ngày 30 tháng 4. Đại Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân Đội VNCH buông súng đầu hàng. Đại Tá Huấn liền cho đơn vị rời khỏi Rừng Cù Mi, băng rừng, vượt đồi, tiếp tục cặp theo Quốc Lộ 1, di hành theo hướng Nam đến Quân Lỵ Thủ Đức. Trên trục đường nầy, Liên Đoàn đã phát hiện, từ hướng Sài Gòn về Biên Hòa rất nhiều toán thanh niên chỉ mặc áo lót, quần “xà lỏn”, tay cầm giấy tờ tùy thân, chạy chân đất hớt ha hớt hải. Chận một vài người lại hỏi mới biết họ là lính Bộ Binh và Địa Phương Quân, bị Việt cộng bắt tước vũ khí, cởi bỏ quân phục, mủ nón, giày vớ, mới thả cho về nhà. Sự kiện này có thể làm cho tinh thần binh sĩ Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù dao động! Tuy nhiên, đây là một đơn vị Quân Đội thiện chiến và kỹ luật. Tất cả vẫn giữ nguyên đội ngũ, từ Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đến các Biệt Đội, bốn hàng dọc ngay hàng thẳng lối chậm rãi bước đi. Từng đoàn xe Molotova, chở đầy bộ đội Việt cộng chạy song hành, chúng nhìn các Chiến Binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù với những ánh mắt đầy kinh ngạc, sững sốt, lạ lùng.

Chiến Xa địch bị các Chiến Sĩ Biệt Cách Dù bắn cháy ở Lăng Cha Cả trong ngày 30.4.1975

Là một cấp chỉ huy gương mẫu, giữ kỹ luật nghiêm minh, Đại Tá Phan Văn Huấn chấp hành lệnh của Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau khi đã họp tất cả các cấp Chỉ huy Liên Đoàn, để cùng đi đến một quyết định chung.
Đoàn quân 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn hiên ngang tiếp bước trên Xa Lộ Đại Hàn. Đến gần trưa, khi qua khỏi Lăng Chú Hỏa chừng 100 mét, trong khi dừng lại nghỉ ngơi gần ngã tư Thủ Đức và Xa Lộ Đại Hàn, thì một đơn vị bộ đội Việt cộng đã đến gặp Đại Tá Phan Văn Huấn để nhận giao nạp vũ khí. Đại Tá Huấn đã nói với họ: “Chúng tôi đã ra đến nơi đây là chấp nhận đầu hàng. Chúng tôi sẽ bàn giao vũ khí, nhưng mong các Ông không bắt buộc chúng tôi phải cởi bỏ Quân Phục như một số Quân Nhân các đơn vị bạn đang chạy qua đây…”.
Họ chấp nhận yêu cầu. Thế là từng Chiến Binh một tự tước bỏ vũ khí, đạn dược, nón sắt vào điểm chỉ định. Sau đó, họ ôm choàng nhau, siết chặt nhau, nhiều người đã bật khóc, để rồi lẳng lặng, ngậm ngùi, chia tay mỗi người mỗi ngả.
Trước một Đơn vị Quân Đội hơn một ngàn người, giữ kỷ luật, trật tự cho đến giây phút chót trong đời quân ngũ, quân cộng sản không thể không tỏ lòng kính trọng và nể phục. Một cấp chỉ huy của họ đến gặp Đại Tá Huấn, đề nghị để họ cho xe đưa các Sĩ Quan của đơn vị về Saigon. Không muốn để cho các Sĩ Quan của mình đi thất thểu trên đường về nhà, trên một lộ trình quá xa và đầy rủi ro, Đại Tá đã đồng ý nhận lời.
Vài ba chiếc xe Molotova được điều đến, tất cả các Sĩ Quan cùng một số Binh Sĩ lên xe. Đến Làng Đại Học Thủ Đức, Đại Tá Huấn nghĩ lại, không thể để Sĩ Quan của mình vào Saigòn bằng xe Molotova của địch. Việc ấy có thể gây hiểu lầm và cũng không vẻ vang gì cho kẻ đầu hàng. Do đó, Ông yêu cầu dừng lại, các Sĩ Quan, Binh Sĩ rời khỏi xe, cùng ôm chặt lấy nhau lần cuối, rồi tự động tản hàng, với nỗi đớn đau ê chề bất tận.
Vậy là chấm dứt hai mươi năm quân ngũ, một đời chiến đấu vì Dân vì Nước của Ông Thầy tôi. Tôi không thể không nói đôi lời, tỏ bày lòng cảm mến của tôi đối với Ông Thầy:
Đại Tá Phan Văn Huấn, xuất thân Khóa 10 Võ Bị Đà Lạt, là một Sĩ Quan kỷ luật, tài ba, gặt hái nhiều chiến công trong cuộc đời 20 năm cầm súng chiến đấu. Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đánh giặc giỏi, áp dụng nhiều chiến thuật thích ứng với chiến trường Việt Nam, bách chiến bách thắng, đến tới đâu đồng bào hoan hô, ngưỡng phục tới đó, cũng là nhờ ở Đại Tá. Không có Đại Tá Phan Văn Huấn, Biệt Cách Nhảy Dù không chắc đạt được các chiến thắng vang dội ấy trên khắp mọi chiến trường, ở Thành Phố cũng như trong các mật khu của địch.
Điều đáng nói hơn nữa là tấm lòng của Đại Tá đối với Anh em Binh Sĩ. Đại Tá quí trọng mạng sống của họ như của chính ông. Một đơn vị dù lớn hay nhỏ hành quân thất lạc trong rừng bao nhiêu ngày đêm, là bấy nhiêu đêm ngày Đại Tá trằn trọc không ngủ yên.
Đại Tá là một Sĩ Quan liêm khiết, trong sạch, tôn trọng quyền lợi của Binh Sĩ. Đại Tá quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của từng người lính, luôn luôn nghĩ đến họ, làm cách nào để họ có một đời sống vui tươi, nghỉ ngơi sau những ngày hành quân mệt nhọc mà vẫn văn ôn vũ luyện. Những ngày dưỡng quân là những ngày nghỉ ngơi nhưng cũng là những ngày tái huấn luyện cho thuần thục các khả năng tác chiến đặc biệt của người lính Biệt Cách Nhảy Dù.
Cái giá mà Đại Tá Phan Văn Huấn phải trả cho hai mươi năm chiến đấu cho Dân Tộc và Đất Nước là 13 năm tù cải tạo khổ sai ở Việt Bắc.
Đời sống Ông Thầy tôi và gia đình sau những năm tù trở về khá đạm bạc, nếu không nói là quá thiếu thốn, cơ cực bên cạnh một đàn con 8 đứa, bởi vì Ông không có gì để lại cho vợ con khi Ông bước chân vào vòng lao lý.
Hễ mỗi lần đến thăm Ông, nhìn tấm thân tiều tụy, đau đớn vì bị những vết thương chiến trận đang hành hạ, mà điển hình vào một dịp đến thăm, trong lúc trò chuyện thì cơn đau của Ông bộc phát dữ dội, thì chính tôi và Bác Sĩ Trắc, cựu Y Sĩ Liên Đoàn, đã cấp tốc nâng bồng Ông từ trong nhà ra xe hơi của Bác sĩ Trắc, để cùng đưa Ông đi cấp cứu ở Bệnh Viện Chợ Rẫy, lòng yêu kính Ông trong tim tôi như dâng trào. Tôi không khóc, nhưng có cái gì đó đã đè nặng trong thâm sâu đáy lòng, chỉ chực chờ là bộc phát.
Tôi cảm thấy hãnh diện vì Ông: Đại Tá Phan Văn Huấn, là cấp Chỉ Huy mà tôi đã được phục vụ, trong suốt quãng đời Binh Nghiệp, trong một đơn vị kiêu hùng, thiện chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đó là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

  1. Tại Hậu Cứ An Sương.
    Là một cấp chỉ huy tác chiến, đã từng đầu tên mũi đạn, sau khi bàn giao Biệt Đội để trở về hậu cứ trong trách vụ mới, với một thời gian còn quá ngắn, tôi khó mà quên được việc “điều binh khiển tướng” giữa các chiến trường phong ba bảo táp thuở nào. Vì thế, đứng trước tình hình rối ren, quá ư bi dát đang diễn tiến từng giờ, từng ngày một của Đất Nước, tôi đã dành hết tâm sức, khả năng, kinh nghiệm để hợp sức cùng Thiếu Tá Trần Quang Huế, Chỉ Huy Hậu cứ lo tổ chức phòng thủ Doanh Trại, tung các Toán tiền đồn, lập các công sự tại Ngã tư An Sương chờ giặc đến, ngăn chận và tiêu diệt chúng, không để cho chúng tiến công vào Sài Gòn một cách ngang nhiên.
    Bên cạnh các vị trí phòng thủ đã có sẵn của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung ở Ngã ba Trung Chánh, dọc theo Quốc Lộ 1 và trên Xa Lộ vòng đai Đại Hàn, Biệt Cách Nhảy Dù đặt thêm các Tổ Đại Liên 60, M.72, Đại Bác và Súng Cối. Trong khi chúng tôi đang tổ chức phòng thủ, Binh Sĩ của Sư Đoàn 25, Binh Sĩ cũng như khóa sinh của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung rút chạy về đây thiếu trật tự, không cấp chỉ huy. Một số họ dừng lại đây, tự động cùng tổ chức phòng thủ bên cạnh chúng tôi. Lòng yêu nước và tự ái của người lính VNCH không cho họ rút về xa hơn nữa.
    Ngày 29 tháng 4, sáu xe tăng T-54 Việt cộng từ hướng Củ Chi hàng một trên Quốc Lộ 1 tiến đến, nghênh ngang như chỗ không người. Khi đến gần Ngã tư An Sương, từ phòng tuyến của Hậu cứ Liên Đoàn, hai hỏa tiễn M.72 bay vụt tới, bắn đứt xích chiếc đi đầu, chiếc xe tăng bị quay nằm ngang. Quân cộng sản từ các xe tăng phía sau nhảy xuống xe bố trí hai bên đường. Bọn chúng bắn ầm ĩ, loạn xạ, vừa trung liên, B.40, B.41 và AK.47 vào các công sự, các ổ kháng cự nằm trải dài hai bên đường, và vào cả Khu Gia Binh của Biệt Cách Dù, nằm ngay hai góc của ngã tư An Sương. Các Chiến Sĩ Biệt Cách Nhảy Dù và lực lượng bạn vẫn cố thủ, Đại Liên, M.79, không ngớt bắn vào đám địch quân đang cố tìm cách mở đường cho chiến xa của chúng tiến lên, xác địch rơi rớt trên Quốc Lộ 1 không phải là ít, các xạ thủ M.72 bắn cháy thêm một T.54 ngay Ngã tư đường Xa lộ Đại Hàn và Quốc Lộ 1, những quả kế tiếp chẳng mang lại kết quả, nhưng dẫu sao cũng chận đứng được phần nào bước tiến quân của địch trên đường tiến vào Thủ Đô Sài Gòn.
    Một số công sự chiến đấu bị đại bác xe tăng địch tác xạ tiêu hủy, nhiều xác chết của quân bạn bị văng ra nằm ngổn ngang bên vệ đường. Xe tăng của địch tiến lên, càn lên các công sự, Binh Sĩ bạn rút chạy hoảng loạn, địch càng lúc càng bắn phá dữ dội bất kể là nhà dân chúng. Hỏa lực đại bác trên các chiến xa của địch quá mạnh, và địch quân mỗi lúc mỗi đông, buộc lòng chúng tôi phải rời bỏ vị trí chiến đấu bên ngoài, để vào cố thủ trong Doanh Trại Liên Đoàn. Trong khi đó, một xe Jeep chở một vài Quân Nhân, từ trong Hậu cứ Liên Đoàn phóng ra, vừa quẹo trái hướng về Saigon, một xe tăng của địch quay nòng đại bác bắn theo, chiếc xe Jeep trúng đạn, bay tung lên, hai ba binh sĩ trên xe đều tử trận.
    Sáng hôm sau 30 tháng 4, xe tăng, bộ đội địch và du kích địa phương đã dốc toàn lực, đánh vào các ổ kháng cự còn lại trong và ngoài Hậu cứ Liên Đoàn. Trên Xa Lộ Đại Hàn, quân trang, quân dụng của tân binh quân dịch Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân tháo chạy đã bỏ lại đầy rẫy trên mặt đường. Đứng trước tình thế tồi tệ này, tôi dẫn số Binh Sĩ còn lại, phá rào đằng sau, rút về hướng Saigon. Vượt qua Cầu Tham Lương, đến Hãng Dệt Vinatexco, gặp một Tiểu Đoàn Nhảy Dù đang bố trí tại đây, tôi ra lệnh cho Binh Sĩ dừng lại, hợp tác phòng thủ cùng với họ. Nhưng không lâu sau đó, nghe lệnh Đại Tướng Dương Văn Minh kêu gọi, toàn thể Quân Nhân buông súng đầu hàng. Tất cả đều rụng rời, nhìn nhau trong nghẹn ngào, uất hận, xong tự động tan rã.
    Trên đường về nơi tạm trú của một người bà con ở Quận Tư, Khánh Hội, nghĩ tới 9 năm đời Quân Ngũ, vào sinh ra tử bao nhiêu lần, chưa bao giờ tôi chùn bước, khuất phục trước quân thù. Vậy mà giờ nầy…
  2. Món nợ còn lại.
    Ngày 30 tháng Tư, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vẫn còn các Toán Thám Sát đang hoạt động trong Chiến Khu D. Tất cả các phương tiện liên lạc, truyền tin cũng như Trực Thăng đều không còn. Tuy nhiên, các Toán Thám Sát vẫn tiếp tục sứ mệnh của mình.
    Lần hồi, lương thực hết, thời hạn hoạt động của các Toán cũng đã chấm dứt, lại thêm mọi sự liên lạc với Bộ Chỉ Huy đã bị cắt đứt, các Toán Thám Sát tự động triệt xuất khỏi mật khu, theo phương cách mưu sinh thoát hiểm.
    Ngày 5 tháng 5 năm 1975, hai Toán Thám Sát lần ra đến Ấp Thái Hưng, Xã Đại An, Quận Tân Uyên để tìm hiểu tình hình, họ được quần chúng cho biết Quân Đội Miền Nam đã buông súng đầu hàng, vậy là họ cùng ra đầu hàng. Nhưng bọn Việt cộng đã ra tay tàn sát hết tất cả rồi mang xác thả trôi sông.
    Cho dù họ đã hy sinh, nhưng khí tiết, tinh thần chiến đấu bất khuất, kiêu hùng của họ, vẫn mãi sáng ngời trong Trang Sử 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

Ngày tàn cuộc chiến

Về sau này, vào năm 1995, Liên Đoàn đã đưa người về lại Ấp Thái Hưng, Xã Đại An để tìm cách di dời mộ phần các Tử Sĩ, nhưng không thực hiện được, trong dịp này, qua trò chuyện tìm hiểu vói các cư dân nơi đây thì được biết bọn giặc cộng đã bắn chết 12 người, một số đem thả trôi trên sông Bé, số còn lại bọn chúng mang chôn trong một cái giếng đã bỏ hoang lâu năm.
Ngày 7 và 8 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Phương, Biệt Đội 815 và Toán Thám Sát của Chuẩn Úy Nguyễn Minh (hiện đang định cư tại Dorchester. MA), rút ra khỏi Chiến Khu D, đã lần ra Ấp Thái Hưng, nhưng may mắn, hai Toán đã được dân chúng vào rừng làm nương rẫy, báo tin chính quyền VNCH không còn nữa, Đại Tướng Dương Văn Minh đã ra lệnh buông súng đầu hàng, nên sau khi hai Toán đã giao nạp vũ khí, bọn Việt cộng có lẽ sau khi tàn sát hai Toán Thám Sát trước, đã bị đồng bào địa phương bàn tán xôn xao, nên với hai Toán này, bọn chúng chỉ bắt đưa vào trại tù gọi là “cải tạo”.
Ngày 9 tháng 5 năm 1975, Toán Thám Sát cuối cùng của Chuẩn Úy Lê Xuân Hiền, Biệt Đội 812 (hiện đang định cư tại Annaheim, CA), rút ra khỏi Chiến Khu D, khi gần đến Ấp Thái Hưng, Toán này cũng nhờ qua thông tin của người dân trong vùng, nên thấu đáo tình hình, họ cải trang thường dân để bôn đào, nhưng bị bọn dân quân du kích tại đây phát hiện, bắt giải giao cho chính quyền Việt cộng, rốt cuộc Toán cũng bị bọn địch bắt đưa đi tù khổ sai ở trong Trại tù Bình Sơn, nơi rừng sâu nước độc cùng với hai Toán Thám Sát trên.
Âu đó cũng là số phận chung của toàn thể Quân Cán Chính VNCH sau ngày mất nước.
“TÀN CƠN BINH LỬA”. Sau khi quân thù giặc cộng đã cưỡng chiếm Miền Nam, vẫn còn những người Lính Biệt Cách Dù hoạt động trong lòng địch, họ chiến đấu cô đơn, âm thầm, để hoàn thành sứ mạng Thượng Cấp giao phó, dù Thượng Cấp đã không còn ai và cũng không ai còn để cho họ được nhắc lại lần cuối cùng câu tâm niệm: “TỔ QUỐC – DANH DỰ – TRÁCH NHIỆM”.
Không ít người đã hy sinh vào giờ thứ 25.
Đó là món nợ những người còn sống phải trả cho họ.
Cho dù sau hơn 38 năm cuộc chiến đã trôi qua và cũng đang dần dần chìm vào quên lãng theo với dòng chảy của thời gian. Nhưng, đối với những Chiến Binh cầm súng chiến đấu để tiêu diệt quân thù, bảo vệ Tổ Quốc, những Chiến Sĩ Biệt Cách Dù đã vào sinh ra tử trên khắp các chiến trường, mật khu, căn cứ địa của địch, thì đó là một vết thương nặng, sẽ mãi mãi âm ỉ cháy bất tận trong đáy lòng họ. Bởi vì, có biết bao Đồng Đội, Chiến Hữu của họ đã hy sinh, đã trở thành phế binh, đang sống cuộc đời còn lại trong tận cùng đau thương, khốn cùng và tủi nhục. Bởi vì, chính họ đã dâng hiến tuổi trẻ, xương máu, mạng sống, để bảo vệ tiền đồ Tổ Quốc, nhưng cuối cùng, họ phải đành buông súng đầu hàng, trở thành kẻ chiến bại trước một bọn người vong bản, vô thần và vô nhân tính.
Trong cuộc sống lưu vong nơi đất khách quê người, cứ mỗi lần tình cờ, coi lại những tấm ảnh cũ trong Đời Binh Nghiệp, với Bộ Áo Hoa Rừng ngụy trang, với Chiếc Nón Xanh huyền thoại, với bảng Phù Hiệu Con Đại Bàng khạc lửa, sải rộng cánh, bung móng vuốt tung hoành, tôi cảm thấy tự hào, hãnh diện vì mình đã từng được chiến đấu trong một đơn vi thiện chiến, hào hùng: “Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù”. Nhưng rồi, kèm theo đó, một niềm xúc cảm lạnh buốt, từ từ lan rộng khắp cùng trong cơ thể tôi, trước mắt tôi hình ảnh những vị Anh Hùng Tử Sĩ như: “ Lê Như Tú, Nguyễn Văn Tùng, Từ Bá Thọ, Hoàng Xuân Cường, Đặng Thiện Chẩn, Trần Phụng Tiển, Lương Hữu Yên, Lưu Huyên, Nguyễn Ích Đoan, Mã Thế Kiệt, Phan Ngọc Trường, Trịnh Văn Hùynh, Nguyễn Quang Khánh, Phạm Văn Cứ, Khưu Công Qúi, Nguyễn Phiêu, Nguyễn văn Thủy, Mai Xuân Hùng, Nguyễn Văn Dục, Nguyễn Kim Long, K.Tông, Đỗ Nguyên Sanh, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Hữu Lộc, Phạm Viết Khải, Nguyễn Văn Thích, Nguyễn Xuân Ánh, Trần Ngọc Bửu, Vũ Huy Cần, Trương Cự Chính, Nguyễn Văn Chuyên, Phạm Văn Chuyên, Trần Thanh Đồng, Nguyễn Văn Giỏng… ”, còn còn nữa, làm sao kể hết, cứ lần lượt hiện về. Họ nhìn tôi trong nỗi buồn cảm thông, nhưng không thiếu sự trách móc, khi tôi vẫn còn sống sót mà không bảo vệ được Tổ Quốc, mà không trả được món nợ máu mà quân thù đã mang đến cho họ: những đồng đội, chiến hữu của tôi.
…” Tôi cũng biết…
Dù các Anh đã chết …
Nhưng nỗi căm hờn còn mãi ở tâm linh,
Xin một mai khi Đất Mẹ thanh bình,
Tôi sẽ lấy máu quân thù tô vào nơi mộ chí.!!!”
Và…đó cũng chính là món nợ mà tôi, một Chiến Binh 81 Biệt Cách Nhảy Dù còn sống đang và sẽ phải tiếp tục trả cho họ.
Hy vọng đứa con đầu lòng, được viết bằng tất cả sự thật, từ thuở thiếu thời, đấu tranh và binh nghiệp, qua từng giai đoạn, từng trận chiến mà tôi đã trải qua, đã tham dự hay trực tiếp chỉ huy, sẽ được Đồng Đội, Chiến Hữu, Bạn Hữu đón nhận nồng nhiệt, thân tình và đầy vị tha.
“Là người lính Biệt Cách Dù,
Chưa bao giờ sợ mình cô đơn trong chiến đấu.
Nhưng tại sao bây giờ,
Lại sợ mình che dấu nỗi niềm riêng!
Sợ phải cưu mang bao nỗi muộn phiền!!!
Sợ phải sống trong triền miên khiếp sợ????