Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 15 Feb 2025

Bài 7.

Không rủ cũng tới

Chiến tranh xảy ra ở Việt Nam nhưng khi nói chuyện hòa đàm lại kéo nhau qua Paris. Lúc hiệp định ngưng chiến được ký kết, cũng là lúc Mỹ bắt đầu giảm quân viện cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với lý do rất là rõ ràng: hết đánh nhau rồi, vũ khí đạn dược hư hao, thất thoát, một đổi một. Tôi không biết những đơn vị tác chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị ảnh hưởng như thế nào, nhưng riêng Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt khó khăn thấy rõ, khi thiếu tá trưởng phòng nói với tôi:

-Kể từ tuần tới, chuyện đi họp an ninh, lấy mật khẩu bên Quân Trấn, trung úy dùng xe hai bánh của mình mà đi.

Tôi hỏi ông:

-Thưa thiếu tá, xe jeep của Phòng hành quân bị hư hay sao?

-Xe vẫn còn tốt nhưng cấp số xăng cho xe bị cắt giảm, chỉ còn lại một phần tư so với trước đây.

Vừa dứt lời, Thiếu tá trưởng Phòng hành quân dẫn tôi tới góc phòng, chỉ vào cái thùng sắt đựng đạn.

Tôi không hiểu ý của ông nên nói:

-Thưa thiếu tá, mấy năm rồi tôi chưa một lần chạm tay đến cây súng M16 treo ở góc phòng, cấp số đạn mà tôi lãnh bốn năm trước vẫn còn nguyên, không hao hụt. Tôi không cần đạn, chỉ cần xăng.

Thiếu tá trưởng phòng nhìn tôi cười vui vẻ:

-Trong thùng đạn đó có ba lít xăng. Từ nay về sau đó là số xăng mà trung úy sẽ được lãnh hàng tuần, đổ vào xe Honda hai bánh dùng để đi họp bên Quân Trấn.

Tôi nói:

-Thiếu tá, mình ở quân trường thiếu xăng tôi đi họp bằng xe Honda, chuyện không có gì phải nói nhưng ở đơn vị tác chiến mà thiếu đạn coi bộ không ổn. Khi đụng trận tụi Việt Cộng cứ AK rồi B40 bắn thoải mái, hết đạn Tàu cộng với Liên Xô lại tiếp viện, còn lính mình gắn lưỡi lê vô súng M16 mà đâm Việt Cộng, tôi sợ mình đánh không lại họ.

Tôi tưởng rằng thiếu tá trưởng phòng cũng đồng ý với tôi, nào ngờ ông nói:

-Đương nhiên là thua nhưng còn được như vậy là quý rồi. Miền Nam mình giống như người bịnh ung thư, mang căn bịnh trầm kha không có thuốc chữa, kéo dài cuộc sống được ngày nào hay ngày nấy.Tao sợ mai mốt Mỹ cúp hẳn viện trợ, mình làm gì được họ. Viện trợ hay không là quyền của họ mà.

Tôi bắt đầu đi làm bằng xe Honda hai bánh. Buổi sáng Đà Lạt sương mù dày đặc, tôi mặc bộ đồ lính đeo găng tay, thêm chiếc áo Jacket dày cộm mà vẫn không cảm thấy đủ ấm. Ngồi trên chiếc Honda chạy băng băng trong gió lạnh mà tôi cứ tiếc mãi chuyện ngày xưa, tiếc hoài thời tôi đi làm bằng xe bus của trường. Tôi tiếc bầu không khí ấm áp trong xe, tiếc luôn chuyện được ngắm miễn phí các cô thư ký dân sự làm việc trong trường, cô nào cô nấy áo măng tô khăn quàng cổ, đẹp như mơ, đẹp hết biết mà dạn dĩ cũng khỏi chê. Tôi còn nhớ, hồi tôi mới lên thiếu úy, có cô hỏi tôi:

-Thiếu úy khóa mấy của Trường Võ Bị?

Hầu hết mọi người đều lầm lẫn giữa một thiếu úy tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt, và một thiếu úy đang phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi tốt nghiệp Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, mấy năm rồi phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Nếu ai đó tưởng lầm tôi tốt nghiệp Võ Bị, tôi cũng nhận luôn, cải chính làm chi cho mệt. Tôi trả lời mấy cô bằng câu đố.

-Đố mấy cô, tôi khóa mấy, ai nói đúng sẽ được một chầu cà phê Thủy Tạ.

-Thiếu úy khôn thấy mồ, ông có mời đi cà phê chưa chắc tụi này đã chịu.

Tuy vậy, cũng có vài tiếng trả lời:

-Khóa 24.

Tôi nói:

-Trật lất.

-Khóa 23.

Tôi cười đắc chí.

-Cũng trật luôn, không có cô nào được mời đi uống cà phê Thủy Tạ. Tôi tốt nghiệp Sĩ quan trừ bị Thủ Đức.

Một ông thiếu tá ngồi cuối xe, nghe vậy bèn lên tiếng:

-Các cô cứ lo chuyện không đâu, hỏi thử xem ông ấy có vợ hay chưa rồi hẳn chuyện trò tiếp.

Đang nói chuyện bình thường, đột nhiên ông thiếu tá đổi giọng cằn nhằn, trách móc:

-Các cô có thân phải liệu mà giữ gìn, lúc nào cũng lờ mờ nhân ảnh như người đi đêm, lờ quờ, lạng quạng trao duyên lầm tướng cướp như không.

Tôi muốn tạo không khí ấm cúng trong xe nên tiếp lời ông thiếu tá:

-Quý vị có thấy tôi giống tướng cướp không?

Nhiều tiếng cười khúc khích vang lên xen lẫn một giọng nói nhỏ.

-Cũng khá giống.

Thời vàng son một thủa của tôi, mới đó đã chìm vào quá khứ.

Ngày xưa, ông Thế Lữ tiếc cái thời xa xưa cũ đã làm bài thơ Nhớ Rừng kể lại chuyện chúa sơn lâm nhớ thời oanh liệt, nghe ra còn có lý. Đằng này, tôi có gì mà phải tiếc với nuối. Có chứ, tôi giống như anh nông dân đứng giữa cánh đồng khô hạn mà tiếc vụ lúa được mùa năm trước, như ông ngư phủ nhìn mấy con cá trong ghe mà tiếc mẻ lưới đầy cá. Tôi tiếc cái không khí ấm cúng trong xe bus của trường, tiếc cái thủa lái chiếc xe jeep thắng cái két trước quán cà phê Hạnh Tâm, liếc nhìn cái lon trung úy trên cầu vai áo rồi khuỳnh tay, dạng chân khệnh khạng đi vào quán trước cặp mắt hình như là đầy khâm phục của cô thu ngân. Đó là thời vinh quang tột đỉnh của tôi, không tiếc sao được, đâu cần phải là chúa sơn lâm mới có quyền nhớ rừng.

Đến trường, khi ký sổ bàn giao phiên trực hai tay của tôi vẫn còn run lẩy bẩy vì lạnh. Trung úy Hàn sĩ quan hạ phiên, đưa cho tôi tờ giấy có mấy chữ: Trung úy Nguyễn Trọng Quân trình diện Đại tá Tham mưu trưởng lúc mười giờ sáng.

Tôi cầm tờ giấy, phần run vì lạnh phần run vì sợ, trình diện sếp lớn, chuyện rủi nhiều hơn may. Tôi nghĩ trong đầu, không biết mình bị lỗi lầm gì, có khi nào sếp tống cổ mình ra tác chiến hay không? Hỏi xong, tôi tự trả lời: Chắc không đến nổi nào đâu, dù gì Đại tá Tham mưu trưởng cũng là chỗ quen biết với bác Bảy. Tôi dặn người hạ sĩ quan trực chung ca với tôi:

-Có việc gì cần, trung sĩ gọi điện thoại qua Câu lạc bộ sĩ quan, tôi ngồi bên đó.

Tôi trình diện Đại tá Tham mưu trưởng, sau khi uống cạn hai ly cà phê phin đặc quánh ở câu lạc bộ, cà phê ngon thiệt, nhung có điều nó làm cho tim tôi đập nhanh hơn bình thường gấp mấy lần.

Đại tá Tham mưu trưởng ngồi sau bàn làm việc, ông chỉ vào chiếc ghế trước bàn làm việc của ông

-Mời trung úy ngồi.

Tôi rón rén ngồi xuống, lưng thẳng như thời còn là sinh viên ngồi ăn ở nhà bàn, không dám dựa lưng vào ghế. Đại tá Tham mưu trưởng hỏi tôi:

-Trung úy làm việc ở Phòng hành quân, thấy thế nào?

-Trình đại tá, mọi chuyện đều tốt đẹp.

-Tốt, nếu muốn thuyên chuyển đi phòng khác, trung úy cứ nói với tôi.

Tôi trả lời:

-Thưa đại tá, tôi rất thích làm việc tại Trung tâm hành quân.

-Tốt.

Nhìn tôi với cặp mắt thân thiện, Đại tá Tham mưu trưởng hỏi:

-Đám cưới của trung úy sẽ được tổ chức vào ngày nào?

Tuy Đại tá Tham mưu trưởng nói tiếng Việt, rõ ràng từng chữ nhưng tôi không hiểu ông ta nói gì.

-Thưa, đại tá tôi…tôi…

-Làm rể anh Bảy Ân khác nào chuột sa hũ nếp. Từ nay, ở cái trường này có ai giàu bằng trung úy!

Tôi nghĩ, Đại tá Tham mưu trưởng lầm lẫn giữa tôi với ai đó trong trường nên lẹ lẹ đính chính:

-Thưa đại tá, tôi đâu có biết ông Bảy Ân là ai.

Đại tá Tham mưu trưởng mỉm cười:

-Cha vợ của mình mà trung úy cũng không biết. Anh Bảy có cô vợ lai Ấn Độ, chủ nhân của mấy chục cái building ở Sài Gòn, ảnh có cái biệt thự to như cái dinh Tỉnh trưởng ở đường Công Lý, Sài Gòn.

Chuyện tới đây, tôi biết là Đại tá Tham mưu trưởng không lầm. Tôi mới là người không biết gì.

-Thưa, đại tá muốn nói tới bác Bảy, có cô con gái tên Cúc?

-Chứ còn ai vào đây nữa!

Tôi biết bác Bảy đã chọn tôi làm rể, nhưng tại sao ông không nói chuyện đám cưới với tôi, mà lại nói với sếp lớn của tôi. Đúng là chuyện trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã thông.

Tôi nói với Đại tá Tham mưu trưởng:

-Thưa đại tá, chuyện đám cưới tôi không dám có ý kiến, mọi chuyện đều do bác Bảy và ba tôi quyết định.

-Vậy hả? Anh Bảy Ân với tôi vốn là bạn thâm giao, tôi coi trung úy như con cháu trong nhà. Hình như trung úy đang theo học ở Viện đại học Đà Lạt, phải không?

-Dạ phải.

-Tháng tới khi nghỉ hè ở Viện đại học, tôi sẽ gởi trung úy về Sài Gòn học khóa đại đội trưởng, trung úy có biết tại sao không?

-Thưa đại tá, tôi không biết.

-Có cái bằng đại đội trưởng sẽ được thêm điểm khi chạy cấp bậc đại úy. Trung úy cần hỏi thêm gì nữa không?

-Thưa không.

-Trung úy có thể trở về làm việc.

Tôi đứng nghiêm, hai gót giày chạm vào nhau kêu cái cốp, đưa tay chào Đại tá Tham mưu trưởng đúng như lễ nghi quân cách mà tôi đã học ở quân trường, rồi quay người bước đi.

Lời của sếp lớn nói, chắc như đinh đóng cột. Vừa nghỉ hè ở Viện đại học, tôi nhận được sự vụ lệnh về Sài Gòn để theo học khóa Đại đội trưởng. Tôi trở lại Trường Bộ Binh Thủ Đức, đường xưa cảnh cũ hiện ra trước mắt tôi, cái cổng trường vốn đã xấu nay trông lại càng xấu hơn sau bao mùa mưa nắng dãi dầu. Vũ Đình Trường với Trung Nghĩa Đài im lìm trong nắng sớm, những viên đá vụn trải trên sân lấp lánh dưới ánh mặt trời tuy có đẹp đó, nhưng khi quỳ xuống để gắn lon chắc chắn là không đẹp chút nào, chỉ tội cho cái đầu gối. Căn nhà tiền chế khổng lồ có cái tên là Đại Giảng Đường, bị tụi tôi gọi để chế giễu là “Đại Hỏa Lò” vẫn nóng như lò nướng bánh mì. Ngày xưa khi cả khóa phải vào đây để học, chúng tôi thường nói đùa với nhau rằng: Hôm nay nguyên khóa được đi tắm hơi miễn phí.

Cho đến khi tôi nhìn thấy những căn nhà gạch của đại đội tôi ngày xưa, lòng bỗng nhiên bồi hồi xúc động, nào là Biên, nào là Long công tử rồi bạn bè cùng khóa, tất cả lần lượt hiện ra trước mắt tôi như một cuốn phim chiếu chậm. Tôi nhớ nhiều đến Biên rồi tự nhủ lòng cuối tuần này sẽ đến thăm ba má Biên, nhân tiện hỏi thăm địa chỉ của Biên. Tôi muốn viết cho hắn một lá thư. Nghĩ lại, tôi vẫn thấy mình quá hời hợt với bạn bè, mang nặng mặc cảm bao năm trường xa cách mà không viết được một lá thư để thăm hỏi bạn, tôi cho đó là một thiếu sót không thể tha thứ. Riêng về Dung, người con gái mà tôi yêu không biết giờ này ra sao. Tôi vẫn nghĩ ràng nàng đã là vợ của Long công tử, có thế là họ đã có với nhau một hay hai đứa con rồi cũng nên. Cho dù Dung đã có chồng hay không, tình yêu của tôi dành cho Dung, dành cho người yêu đầu đời của tôi muôn đời vẫn còn đó không phai.

Tôi đứng ngẩn ngơ trước cổng nhà Biên, mà cứ tưởng như mình lạc đường vào quá khứ, năm năm trường, khoảng thời gian xa cách đủ dài khiến cho lòng người chùng xuống. Nhìn chiếc bàn đá dưới tàn cây vú sữa, nơi mà ngày xưa tôi ngồi ăn sáng bên Dung, giọng nói của nàng vẫn còn vang vọng bên tai: “Để em thêm cho anh chút tiêu”. Tôi liếc nhìn chiếc ghế xích đu mà Dung vẫn thường ngồi, rồi nhắm mắt lại mà cứ nghĩ như mình đang đong đưa trong gió.

Đã hai, ba lần tôi đưa tay lên toan bấm chuông nhưng rồi ngừng lại, linh tính như báo cho tôi biết có một chuyện gì đó không ổn đã xảy ra ở đây. Căn nhà hình như mang nặng nét u buồn, mất đi sinh khí và không được tươm tất như ngày xưa. Màu sơn trắng của cửa nhiều chỗ đã đổi sang màu vàng úa, vài mảnh tường loang lổ, có nơi tróc hẳn lớp xi măng bên ngoài để lộ ra những viên gạch màu nâu đỏ. Nơi góc vườn, ngày xưa khóm hoa cúc vàng xinh tươi đẹp đẽ biết bao, nay đã bị cỏ dại phủ kín, đầy sân lá vàng ngập cả lối đi. Cảnh hoang phế, tàn tạ, tiêu điều của căn nhà chúng tỏ chủ nhân không thường xuyên chăm sóc. Tôi chợt nghĩ, hay là ba má Biên đã dọn nhà đi nơi khác rồi?

Tôi quay người toan trở về, nhưng nghĩ lại đã cất công lặn lội đến đây rồi, ít ra cũng nên dò hỏi cho tường tận nguồn cơn, để sau này khỏi phải băn khoăn thắc mắc, biết đâu người chủ mới lại cho mình vài tin tức quý giá về gia đình Biên. Sau một lúc đắn đo suy nghĩ, tôi mạnh dạn đưa tay bấm chuông.

Thoạt thấy dáng người ra mở cổng, tôi giật mình, tim đập mạnh. Dung chứ còn ai nữa, nàng ốm hơn xưa nhiều với nét buồn hiện rõ trên gương mặt. Thấy tôi, Dung chạy nhanh ra mở cổng rồi ôm chặt lấy tôi khóc nức nở:

-Anh Quân phải không?

Tôi còn biết nói gì hơn là im lặng gật đầu. Dung ngẩng mặt lên nhìn tôi với đôi mắt đẫm lệ, nàng thổn thức:

-Anh Biên… anh Biên…

Linh cảm có chuyện không hay, tôi nắm chặt hai vai của Dung lắc mạnh:

-Anh Biên sao? Anh Biên sao rồi?

-Ảnh chết rồi.

Hai bàn tay tôi từ từ lơi ra

-Chết rồi? Chết ở đâu? Chết như thế nào?

Đột nhiên tôi cảm thấy như nghẹt thở, khi hai cánh tay Dung ôm chặt lấy tôi từ từ siết mạnh hơn, nàng nói qua làn nước mắt:

-Anh Quân, em yêu anh.

Tôi nghe rất rõ ràng, nhưng phải mất mấy giây sau tôi mới hiểu Dung muốn nói gì với tôi, câu nói hoàn toàn không liên quan gì đến chuyện mà Dung đang nói về cái chết của Biên. Tôi nghĩ, khi mà xúc động lên đến tột đỉnh, lúc đó tâm trí con người có thể rơi vào trạng thái hỗn loạn, lời nói của họ không còn đúng với những gì họ muốn nói. Tôi ôm lấy Dung, vỗ nhẹ vào lưng nàng an ủi:

-Anh biết, em rất thương anh Biên.

-Không. Anh Quân, em yêu anh.

Tôi chưa kịp có phản ứng gì, đôi môi của nàng đã gắn chặt môi tôi. Dung hôn tôi say sưa đắm đuối, cái hôn tràn đầy nước mắt của mấy năm xa cách, có phải như vậy hay không? Hai mươi bốn tuổi, cái hôn đầu tiên trong đời bất ngờ đến với một thằng con trai, nhất là đến từ người mình thương nhớ, đôi chân của tôi hình như run lẩy bẩy trong khi toàn thân tôi như tê dại. Tôi để mặc cho cảm giác ngất ngây, sung sướng, đê mê, trôi nổi bềnh bồng đưa đẩy.

Hai chuyện trọng đại xảy ra cùng một lúc. Biên người bạn cùng khóa với tôi đã chết. Dung người tôi yêu tha thiết bấy lâu nay, mối tình đầu của tôi cũng là mối tình tuyệt vọng đang hôn tôi và nói yêu tôi. Tôi đứng yên như một pho tượng, một thế kỷ vừa mới trôi qua trong yên lặng. Hai tay tôi hãy còn ôm lấy Dung, môi của tôi vẫn chưa rời khỏi đôi môi của nàng. Tôi uống nước mắt của Dung, mằn mặn xen lẫn chút ngọt ngào như nuốt trọn lấy tình yêu mà nàng đã dành cho tôi. Mãi cho đến khi trái đất bắt đầu quay trở lại, chầm chậm rồi bình thường cũng là lúc trái tim của tôi từ từ đập trở lại. Lúc bấy giờ tôi mới bình tĩnh, nhẹ nhàng nâng gương mặt của Dung. Tuy vậy, tôi phải cố gắng hết sức mới nói được câu.

-Nín đi em, mình vô nhà được không?

Dung khẽ gật đầu, nắm chặt lấy tay của tôi như sợ tôi biến mất. Nàng kéo tôi vào nhà.

Tôi nâng ly cà phê, nhấp một hơi.

-Em biết không, năm năm xa cách, mùi cà phê vẫn còn thơm như ngày nào khi anh ngồi uống với em dưới tàn cây vú sữa. Năm năm thương nhớ có biết bao nhiêu là chuyện anh cần phải hỏi em, nhưng thôi bây giờ anh muốn thắp cho Biên một nén nhang, mọi chuyện hãy tính sau.

Qua làn khói hương nghi ngút quyện trong không khí, trên bàn thờ, Biên nhìn tôi như mỉm cười. Tôi khấn thầm:

-Hôm nay, tao trở về lại chốn cũ, những tưởng sẽ biết được tin tức của mày, nào ngờ âm dương cách trở, mỗi thằng một thế giới. Tha lỗi cho tao đã không về lại đây sớm hơn.

Tôi đi đến ngồi bên Dung.

-Bây giờ, anh có chuyện quan trọng muốn hỏi em.

-Chuyện gì vậy anh?

-Anh muốn biết Long công tử đâu rồi.

Dung ngơ ngác nhìn tôi.

-Anh nói cái gì? Tại sao lại hỏi em? Em làm sao biết được anh Long ở đâu.

Tôi ngạc nhiên đến sửng người khiến cho giọng nói của mình hơi ngập ngừng, ngượng ngập.

-Không phải em và Long đã lấy nhau rồi hay sao?

Đôi mắt của Dung tròn xoe nhìn tôi đầy vẻ sửng sốt, nàng nói mà như muốn khóc.

-Từ cái ngày anh đưa gói quà của anh Long cho em, sau đó anh và anh Long biến mất khiến em không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

-Như vậy, em không có thương gì anh Long?

-Ai nói với anh là em thương anh Long?

-Anh nhớ khi đưa quà của anh Long cho em, em vui mừng nhận quà nhưng sau đó giận anh, không nói với anh một lời rồi đuổi anh về, khiến anh nghĩ là mình là kẻ thứ ba trong cuộc nên rút lui là hơn.

Dung nắm lấy tay tôi siết mạnh.

-Anh hiểu lầm rồi, ngày ấy em chỉ giả bộ giận anh thôi. Anh có biết, con gái làm nũng là gì không?

-Làm sao anh biết được.

-Sinh nhật của em, anh Long tặng quà cho em, còn quà của anh đâu? Em đợi hoài chẳng thấy anh nói năng gì khiến em giận anh quá chừng. Em chỉ cần quà của anh chứ không cần quà của anh Long.

Tôi vội vã giải thích.

-Tuần lễ trước khi anh đi phép, Long xuống khu sinh hoạt mua cho em cuốn album rồi nhờ anh đem đến cho em. Em biết cuốn album đó giá bao nhiêu không?

Dung lắc đầu.

-Em không biết. -Gần hai ngàn. Suốt thời gian thụ huấn ở Quân trường Thủ Đức, chưa bao giờ trong túi của anh có được ngàn bạc. Anh đâu có nhiều tiền như Long công tử để mua quà cho em.

-Em hiểu rồi, anh muốn mua cho em món quà đáng giá hơn quà của anh Long phải không? Em không đòi hỏi gì nơi anh hết. Em chỉ cần một món quà nho nhỏ. Anh có thể mua cho em cái lược để khi chải đầu em nhớ tới anh. Anh cũng có thể tặng em cây viết để khi viết thư cho anh, em cảm thấy gần anh hơn. Anh không có được năm, mười đồng hay sao?

Tôi lặng câm thương nàng vô hạn. Tôi phải trả một giá quá đắt, bằng mấy năm cách xa thương nhớ, chỉ vì cái tội ngu ngốc của mình.

-Tha lỗi cho anh, ngày ấy, anh cứ nghĩ rằng trong một cuộc tranh đua, mình phải hơn đối thủ của mình mới mong thắng cuộc.

Dung nhìn tôi với đôi mắt đầy thương yêu.

-Có hai lý do khiến em có thể nói anh Long không phải là địch thủ của anh. Lý do thứ nhất là anh Long không hề có tình ý gì với em hết, con gái rất nhạy cảm về vấn đề này. Hơn nữa, anh Long có nói với em là ảnh có vợ rồi, vợ anh ấy và đứa con trai một tuổi kháu khỉnh đang sống ở Ban Mê Thuột trông coi cái đồn điền của ba anh ấy. Ảnh còn hứa với em khi nào có dịp ảnh sẽ dẫn em lên Ban Mê Thuột chơi, thăm đồn điền, thăm vợ con ảnh luôn. Còn chuyện hộp quà mà anh Long nhờ anh mang đến cho em, anh có biết trong đó có những gì hay không?

Tôi chắc giọng quả quyết:

-Anh biết chứ.

-Có những gì?

-Một cuốn album.

Dung cười, nụ cười tươi như đóa hoa phù dung.

-Chỉ đúng có một nửa, trong đó còn có thêm mấy xấp lụa để may áo dài và một bức thư.

Dung chồm người về phía tôi, nàng nũng nịu nói mà như muốn hôn tôi.

-Bức thư em vẫn còn giữ, thư anh Long viết còn hay hơn những bức thư tình hay nhất thế giới. Để em lấy cho anh coi.

Tôi ngả người ra ghế sofa.

-Thư tình của Long viết cho em, tại sao em lại đưa cho anh đọc, em không sợ anh ghen hay sao?

-Không, nhờ bức thư này mà mấy năm nay em vẫn còn đủ can đảm để nhớ anh. Anh đợi đó một chút.

Tôi cầm bức thư, giấy đã bắt đầu đổi sang màu vàng úa, nhàu nhò chứng tỏ Dung đã đọc nó nhiều lần.

Nét chữ của Long hiện ra trước mắt tôi.

Dung,

Anh gởi mừng sinh nhật của em cuốn album để em gắn mấy tấm hình bốn đứa chụp chung trước vòi phun nước. Nhớ để tấm hình của em và thằng bắp cải ở trang đầu, vì anh biết thằng Quân nó thương em với tất cả tấm lòng chân thật của nó. Còn mấy xấp lụa để em may áo dài, mặc khi đi chơi với Quân. Con gái mà mặc jean với áo thun coi ngố ngáo lắm, em phải mặc áo dài mới thấy ngoan hiền. Em có biết câu thơ “Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu” nghĩa là gì không? Chữ quân trong câu thơ này phải viết hoa. Nghĩa là người con gái phải yểu điệu, dịu dàng thì thằng Quân nó mới thương..

Đùa với em chút xíu cho vui, anh và Biên đều lớn hơn thẳng Quân bốn năm tuổi, thằng nào cũng có dăm ba mối tình dang dở vắt vai, trong khi em là mối tình đầu của Quân bắp cải, cả hai đứa đều ngây thơ, trong sáng dễ thương. Em phải luôn nhớ rằng, thẳng Quân nó thương em nhất trên đời.

Thư đã dài, anh ngừng bút, chúc em và Quân bắp cải luôn luôn vui vẻ bên nhau.

Anh.
Long.

Đọc xong bức thư, tôi thầm nghĩ, trên đời này không có ai hào hoa, lịch sự bằng Long công tử mà cũng không có ai nói láo hay hơn nó. Tôi nhớ mãi, trong một lần khi gặp má của Long công tử tại khu tiếp tân của trường, bà nói riêng với tôi:

-Vợ chồng tôi chỉ có một mình thằng Long, cháu có biết cô nào ngoan hiền giới thiệu cho nó với. Ai đời đã hai mươi bốn tuổi rồi mà cứ long nhong, rong chơi suốt ngày không chịu lấy vợ khiến tôi và ông nhà tôi cứ lo là lo. Chỉ mong mau có cháu nội để bồng bế mà không có.

Tôi nói với bà:

-Bác đừng lo, Long có nhiều bạn gái quá nên chưa biết chọn cô nào.

Tôi định nói cho Dung biết là Long công tử nói láo, nhưng chưa kịp mở miệng thì Dung đã hỏi tôi:

-Anh làm gì mà ngồi thừ người ra đó.

Tôi nâng ly cà phê, nhấp một ngụm rồi nói:

-Cái thằng dễ thương quá sức, vậy mà hồi đó lúc nào anh cũng lo ngay ngáy, lúc nào cũng sợ.

-Anh sợ gì?

-Sợ em thương Long công tử chớ còn sợ gì nữa. Đẹp trai, hào hoa, lịch lãm như nó mà em không thương cũng uổng.

-Anh nói như vậy mà nghe cho được. Anh có muốn nghe lý do thứ hai hay không?

-Tại sao không?

Dung nhích sát người tôi, hôn lên má tôi rồi khẽ nói:

-Đây là lý do chính cũng là lý do quan trọng nhất, em yêu anh, yêu từ cái buổi đầu gặp gỡ, anh đừng hỏi em tại sao? Em không trả lời được đâu. Trái tim của em nói là yêu anh, em biết là em yêu anh, đơn giản như vậy thôi. Còn như anh muốn biết nhiều hơn nữa, chuyện như thế này. Anh còn nhớ ngày đi phép đầu tiên của mấy anh, khi mình đi taxi từ nhà đến rạp Rex, anh Biên hích anh một cái cùi chỏ, cố ý xếp anh ngồi bên em, hành động này khiến em suy nghĩ và đoán rằng anh Biên cũng đồng ý nếu hai đứa mình yêu nhau, có phải như vậy không anh?

-Đúng vậy.

Trời ạ, nếu trong một ngày mà trái đất ngừng quay hai lần làm sao người ta sống cho nổi. Trái tim tôi đã bị sốc hai lần trong một ngày vì những chuyện xảy ra trước mắt tôi. Nguyên ngày hôm đó, tôi say sưa kể cho Dung nghe chuyện tôi cũng bị tiếng sét ái tình đánh trúng khi gặp Dung lần đầu, rồi đến thảm cảnh khi bị Dung đuổi về ngồi một mình trong rạp ciné không máy lạnh, cũng như mối tình tuyệt vọng của tôi dành cho nàng suốt mấy năm qua. Mãi mê giãi bày tâm sự, tôi quên bẳng chuyện tại sao căn nhà hoang vắng như vậy. Khi nhớ ra, tôi hỏi Dung:

-Em à, hai bác đâu rồi? Sao anh không thấy.

Dung mỉm cười, nụ cười như ngầm nói bây giờ anh mới nhớ tới ba má.

-Từ ngày anh Biên mất, má buồn quá nên dọn về Bạc Liêu sống, rất ít khi lên đây. Hiện tại, trong nhà chỉ còn em và chị Lành. Ba thường ngày đi làm, nhiều khi ở lại luôn trong sở, cuối tuần lại về Bạc Liêu với má.

Tôi buột miệng:

-Hai bác là người Tiều Châu phải không?

-Ba em người Việt, má người Tiều, sao anh biết?

-Người ta thường nói ở xứ Bạc Liêu “Dưới sông cá Chốt, trên bờ Tiều Châu” anh đoán đại như vậy không ngờ lại đúng.

-Má nghe được anh nói như dzậy, bà không gả con gái cho anh đâu.

-Nếu vậy, anh sẽ sửa lại là “Dưới sông cá Chốt, trên bờ Dạ cổ Hoài Lang” được chưa?

Dung nhăn mặt:

-Được gì mà được, nghe lấn cấn, lọng cọng cứ như “Lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”.

Hai tháng học đại đội trưởng ở Thủ Đức, đây là một khóa học nhàn nhã nhất trong quân đội, hai tháng thần tiên trong đời của tôi. Đi học mà tôi cứ tưởng mình đang sống ở thiên đường hạ giới. Ngày chủ nhật, tôi về nhà Dung cùng nàng lang thang khắp đó đây, trên chiếc Honda dame của nàng.

Ngày đầu đi chơi, Dung mặc chiếc áo dài màu vàng mỡ gà may bằng lụa của Long công tử tặng. Tôi đứng ngẩn ngơ như kẻ mất hồn, nhìn hai tà áo như hai dải lụa nhè nhẹ tung bay phất phơ trong gió, khiến tôi cảm được cái mịn màng của lụa quấn quýt lấy cái mát dịu của làn da, khi âu yếm, lúc lả lơi. Phải mất năm năm, tôi mới thấm được ý câu thơ “Nắng Sài Gòn …” của nhà thơ Nguyên Sa. Tôi nói với Dung.

-Sài Gòn hôm nay mát quá.

Vì không hiểu ý của tôi, Dung nói:

-Em cứ tưởng không bao giờ có dịp mặc cái áo dài này.

Tôi hỏi:

-Tại sao vậy? Nếu thích, em cứ mặc đâu có ai cấm.

Dung nói mà như nhắc tôi:

-Anh không nhớ sao? Trong bức thư anh Long dặn em, chỉ bận áo này khi đi chơi với anh. Không có anh, em bận để đi với ai? Anh có biết không, khi may xong mấy cái áo dài mà không được bận em khóc quá chừng. Em đợi hoài đợi mãi, đợi cho đến ngày hôm nay.

Tôi nói:

-Anh không nghĩ rằng mình là người có diễm phúc đến như vậy. Nếu anh không trở lại đây, chẳng lẽ em đợi anh suốt đời hay sao?

Gương mặt Dung thoáng đượm nét buồn:

-Có chuyện này, em phải nói với anh. Anh nói đúng, mấy tháng đầu xa cách, em nhớ anh nhiều lắm, nhớ da diếc, nhớ điên cuồng. Mùa hè năm sáu mươi chín, em lên Đà Lạt nghỉ mát với ba má. Suốt ngày, em chỉ lang thang ở khu phố Hòa Bình, mỗi khi đi ngang qua một căn nhà, em lại nhìn vào với chút hy vọng nho nhỏ là anh đang ở bên trong. Em cứ tiếc hoài, tại sao ngày xưa em không lấy địa chỉ của anh để giờ đây phải lặn lội khắp thành phố này tìm anh. Chuyện tìm anh mà không biết địa chỉ, khác nào như thể tìm chim, chim bay biển Bắc, em tìm biển Đông. Mùa hè năm ấy trôi qua trong lặng lẽ, u buồn. Cho đến khi em bước chân vào đại học, bỡ ngỡ trước nếp sống mới, lu bu với bài vở, bạn bè, em quên anh được phần nào. Cũng vào lúc ấy ba má muốn em lấy chồng. Anh ấy là thiếu úy Nhảy Dù, con người bạn thân của ba em.

Dung ngưng nói, nhìn tôi với đôi mắt như hờn trách.

-Em đúng phân vân giữa ngã ba đường, phải chi ngày xưa anh hứa với em một tiếng là anh sẽ trở lại chắc em sẽ chờ anh, đằng này anh bỏ đi biệt tăm biệt tích. Em chần chừ, lần lựa thêm được hơn một năm nữa, cuối cùng em bằng lòng lấy chồng theo ý của ba má em.

Tôi giật mình, không hiểu chuyện gì đã xảy ra nên lật đật hỏi Dung:

-Em đã có chồng, sao còn…còn nói yêu anh? Chồng em đâu rồi?

Dung nắm tay tôi bóp mạnh.

-Anh làm gì mà hoảng hốt lên vậy, chuyện đâu còn có đó, từ từ em kể cho anh nghe. Tụi em làm đám hỏi được ba tháng, đang chuẩn bị đám cưới, em nhận được tin anh ấy mất ở Hạ Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Em khóc hết nước mắt suốt mấy ngày liền, rồi quyết định sẽ không bao giờ lấy chồng. Tháng kế đó lại được tin anh Biên tử trận tại chiến trường Quảng Trị, từ đó về sau em sống như là chết rồi. Em, ngày ngày đi học như là một người máy, thỉnh thoảng nhớ anh Biên em lại lấy bức thư của anh Long ra đọc, càng đọc càng nhớ anh, nhớ cho đến khi gặp lại anh.

Tôi đưa tay bịt miệng của Dung, rồi nổ máy chiếc xe Honda.

-Mình đi đâu đây em?

-Tùy anh.

Chúng tôi đến Thanh Bạch ăn điểm tâm với bò kho bánh mì, tôi mở nắp chai sữa tươi, bóc giấy dán miệng chai, rót vào ly rồi trịnh trọng đưa cho nàng sành điệu y hệt như Long công tử. Tôi hỏi Dung:

-Em nhớ gì không?

-Nhớ chớ, chỉ thiếu càng cua ram muối.

Tôi cười.

-Anh chịu thua, nếu bây giờ anh gọi món cua ram muối cho em, có thể chú Sáu nói anh là thằng khùng bởi vì anh không phải là Long công tử.

Ăn sáng xong, chúng tôi thả bộ quanh Sài Gòn, nhìn mấy ông Sinh viên sĩ quan Thủ Đức đi phép, đang dạo phố với bồ. Tôi nói với Dung:

-Em nhớ hồi xưa mình đi chợ Bến Thành không?

-Làm sao em quên được. Anh có nhớ mấy bà bán hàng nói gì với tụi mình không?

-Có, mấy bà ấy nói, em chỉ giỏi ăn hiếp anh.

Dung nhéo tôi một cái đau điếng.

Buổi trưa, chúng tôi chạy vô Chợ lớn ăn mì vịt tiềm rồi chui vô rạp ciné máy lạnh, coi Lý Tiểu Long múa võ hành hiệp giang hồ, thêm vào đó là mối tình đầy thơ mộng với giai nhân Miêu Khả Tú. Hết ciné, Dung dẫn tôi vô quán Cái Chùa, uống cà phê đen nhìn thiên hạ dẫn nhau dạo phố.

Dung nói với tôi:

-Anh đừng có lo, gọi là quán Cái Chùa nhưng nó chắng dính dáng gì đến Tăng ni hay Phật tử, mà đó là nơi tụ họp của mấy ông nhà văn, nhà báo của Sài Gòn.

Tôi hỏi Dung:

-Tại sao em biết, ở đây chỉ dành riêng cho mấy ông nhà văn và báo chí.

-Anh Biên nói với em như vậy.

Tôi nói:

-Đúng, anh Biên nói không bao giờ sai.

Khi chiều đến, hai đứa kéo nhau qua Thủ Đức mỗi đứa một chai bia 33 nhậu với nem chua, nem nướng. Nem Thủ Đức vốn nổi tiếng khắp miền Nam, có điều lá dùng để gói nem hơi nhiều. Một xâu nem độ chừng chục cái đựng trong một cái rổ nhỏ, hai đứa ăn cho đến khi đống lá gói nem cao hơn chai bia mới ngừng. Sờ lại bụng vẫn còn thấy đói.

Hai tháng học đại đội trưởng trôi qua cái vù, nhanh như chớp mắt. Ngày mãn khóa học, trước khi trở về Đà Lạt tôi nắm chặt tay của Dung.

-Anh sẽ nói với ba má anh xuống đây gặp ba má em. Mình phải tính chuyện làm đám cưới.

Nói xong tôi mới giật mình tỉnh mộng, tôi nói cho có chuyện để mà nói. Tôi biết mình đang ở trong thế kẹt, ba má tôi và bác Bảy đã định liệu hôn nhân của tôi và Cúc, người lớn nói chuyện với nhau rồi tuy tôi không có ý kiến nhưng cũng đã ngầm đồng ý. Giờ đây một bên là mối tình đầu đầy thơ mộng, một bên là tiền tài và danh vọng, tôi phải chọn bên nào?

55 Năm Rồi Mới Gặp!

vvnm.vietbao.com
30/11/2018
Phan Công Tôn

Tác giả lần đầu dự Viết Về Nước Mỹ năm 2018. Thời chiến trước 1975, ông xuất thân Khóa 9 Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, sau đó dự Khóa Căn Bản TQLC ở Quantico, Virginia năm 1963, nhiều lần bị thương và thăng chức ngay tại mặt trận. Sau gần 10 năm tù hậu chiến, ông vượt biển từ Rạch Giá đến Thái Lan trong tháng Giêng/1987. Đến Mỹ tháng 8/1987 và định cư tại Utah, làm việc cho First Security Bank, Accounting Depart-ment. Đã từng giữ chức vụ Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do Utah trongnhiều nhiệm kỳ. Hiện đã về hưu. Bài viết của ông là hồi ký về một bạn thân người Mỹ tử trận tại Việt Nam.

1_Tang Le John A House II at Arlington Cemetery 9.27.20182_Tang Le John A House II at Arlington Cemetery 9.27.2018. pic 2
51 năm sau ngày tử trận, nghi lễ an táng phi công John A. House II cử hành sáng 27-9-2018 tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington.
3_Tang Le John A House II at Arlington Cemetery 9.27.2018. pic 3 Folding the US Flag (1)
Thiếu Tướng Edward D. Banta thuộc TQLC/HK, Chủ Toạ buổi lễ.
4_WASHINGTON DC 076. Ton. Phia sau la Amy. Fran. Eric va Susan (1)
Tác giả Phan Công Tôn và quan tài bạn cũ. Phía sau là Amy, Fran, Eric và Susan.


Bài viết của tác giả Phan Công Tôn, ngay đoạn mở đầu, tác giả viết “một bài hát rất quen thuộc của nhạc sĩ Phạm Duy. Chi tiết “phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên” do biên tập bổ túc. Sự thật, bài hát Phạm Duy được phổ từ thơ Phạm Thanh Bình. Đây hoàn toàn do sự sai sót trong việc biên tập. Chi tiết lầm lẫn hiện đã được điều chỉnh. Việt Báo Viết Về Nước Mỹ trân trọng cáo lỗi với bạn đọc và tác giả và cám ơn tác giả Châu Hà và Cô Bạch-Yến Trần đã cho ý kiến giúp sửa sai.


Trước khi viết, tôi nghĩ đến việc đặt cái tên cho bài viết này. Tự dưng trong đầu tôi bật ra lời một bài hát rất quen thuộc của nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ của Phạm Thanh Bình:
“Năm năm rồi không gặp.
Từ khi em lấy chồng.
Anh dặm trường mê mãi.
Đời chia như nhánh sông…
… Năm năm rồi trở lại.
Một màu tang ngút trời.
Thương người em năm cũ.
Thương goá phụ bên song …
Câu chuyện thật của cặp vợ chồng bạn thân của tôi đã kết thúc đau buồn hơn. Do vậy, tựa đề của bài viết này là: “55 năm rồi mới gặp”.
Tuy cùng vì cuộc chiến Việt Nam, nhưng người “góa phụ bên song” trong chuyện thật này là bà vợ của một chiến binh Mỹ.

*
Tôi xin tóm tắt nội dung bài “Vùng Trời Quê Bạn”, phần đầu của truyện ngắn: “Năm mươi lăm năm rồi mới gặp”:
Năm 1963 tôi là một Thiếu Uý Thuỷ Quân Lục Chiến, được gởi đi dự Khoá Căn Bản TQLC tại Trường TQLC/Hoa Kỳ ở Quantico, Virginia. Tôi có một anh bạn Mỹ cùng phòng rất thân tên là John A. House II, bạn bè thường gọi là Jack. Anh ta có một cô bạn gái người Hawaiian gốc Nhật, tên là Amy, một cô giáo Tiểu Học tại tiểu bang Oregon. Sau này, Amy xin chuyển về dạy tại Virginia. Khi Jack và Amy tổ chức đám cưới tại Baltimore, Maryland, tôi là người bạn duy nhất trong Trường được mời tham dự đám cưới và làm Rể Phụ. Chúng tôi trở thành một bộ ba rất thân thiết trong suốt khoá học. Sau khi mãn khoá, tôi về nước vào năm 1964, còn Jack thì học thêm một Khoá Phi Hành để trở thành một Phi Công Trực Thăng của TQLC/Hoa Kỳ.
Chúng tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua thư từ và gởi quà cáp cho nhau. Năm 1966 có hai tin vui, Jack được thăng cấp Đại Uý và Amy thì đang có bầu. Đầu năm 1967 Jack đưa Amy về Hawaii và theo đơn vị sang chiến đấu tại Việt Nam từ tháng 2/1967. Không Đoàn Trực Thăng của Jack đồn trú tại vùng phi trường Phú Bài, phía Đông Nam của thành phố Huế. Thời gian này tôi và Jack vẫn thường xuyên viết thư cho nhau. Hai đứa hẹn nhau, khi nào có phép thì sẽ cùng về thăm Sài Gòn và lên thăm quê Đà Lạt của tôi.
Nhưng chưa có phép, chưa có dịp đi chơi Sài Gòn và về thăm Đà Lạt như đã hẹn nhau, thì đùng một cái, trong một phi vụ hành quân chở Toán Trinh Sát vào vùng phía Nam phi trường Phú Bài, trực thăng của Jack đã bị hoả lực phòng không của Việt Cộng bắn hạ trong ngày 30 tháng 6/1967. Khi đó bên Hawaii, Amy vừa sanh cháu trai Eric mới được 28 ngày.
Sau ngày 30 tháng 4/1975 tôi bị đi tù “cải tạo” gần 10 năm dưới chế độ Cộng Sản. Khi được thả ra, tôi đã vượt biển 3 lần trong hai năm 1985 và 1986 nhưng không thành công. Lần thứ 4 vào tháng Giêng/1987 tôi may mắn vượt thoát và đến được Thái Lan. Tám tháng sau tôi được đi Mỹ và định cư tại tiểu bang Utah từ đó đến bây giờ.

*

Đến năm 1998 tôi bắt đầu viết truyện ngắn. Tác phẩm “Vùng Trời Quê Bạn” về Jack và Amy là truyện ngắn đầu tay của tôi. Đến năm 2012 tôi cho xuất bản Tuyển Tập Truyện Ngắn mang tên: “VÙNG TRỜI QUÊ BẠN”, đây cũng là tên của truyện ngắn đầu tiên trong tuyển tập có 10 truyện ngắn này.
Khi tôi có dịp nói chuyện với một số bạn bè người Mỹ và nói về câu chuyện của Jack và Amy qua truyện ngắn “Vùng Trời Quê Bạn”, họ rất thích truyện này và họ yêu cầu tôi dịch truyện này sang tiếng Anh để họ và gia đình họ được đọc câu chuyện rất hay và cảm động này. Đó là lý do vào năm 2015, tôi dịch truyện ngắn này với tên “Fatal Skies” và gởi hoặc trao tay cho một số đông bạn Mỹ quen biết. Sau khi đọc và qua chuyện trò, mọi người đều khen: câu chuyện rất hay và rất cảm động.
Và chỉ có thế!
Cho đến một ngày
…
Anh Trịnh Văn Muôn, một người bạn thân của chúng tôi tại Tiểu bang Utah, gia đình anh chị tổ chức đón “Giao Thừa Tây” tại nhà trong đêm 31 tháng 12 năm 2017. Anh chị mời vợ chồng tôi đến dự để chung vui với anh chị và tất cả con cháu, gồm khoảng 20 người đều tề tựu về đầy đủ. Đặc biệt tại bữa tiệc này tôi gặp và làm quen với một người Mỹ tên là Kevin Wheeler (xin phép không tiết lộ tên thật). Kevin có người vợ Việt Nam, cô này ở gần nhà cùng quê với anh chị Muôn (Xã Phú Kiết, Huyện Chợ Gạo, Tỉnh Tiền Giang).
Vợ chồng Kevin nhận lời mời của anh chị Muôn và đã lái xe từ New Mexico tới Utah chiều ngày hôm trước. Vợ chồng tôi được sắp xếp ngồi chung bàn cùng vợ chồng Kevin cho nên suốt mấy tiếng đồng hồ, Kevin và tôi đã trao đổi với nhau qua nhiều vấn đề trong đời sống. Kevin cho biết đã phục vụ trong Cơ Quan An Ninh Tình Báo thuộc Quân Lực Hoa Kỳ và năm 1970 có qua Việt Nam và hoạt động khoảng 4 tháng trong vùng Dak To thuộc tỉnh Kon Tum. Và hơn 20 năm trong đời binh nghiệp, Kevin đã làm việc và đi qua 23 quốc gia khác nhau…
Khi Kevin hỏi tôi: tới Mỹ lần đầu tiên vào năm nào? Tôi có kể chuyện đi học tại Quantico, Virginia vào năm 1963 và có nhắc đến Jack và Amy; câu chuyện dính líu tới bài “Fatal Skies” mà tôi đã dịch sang tiếng Anh hơn 3 năm về trước. Tôi cũng nói cho Kevin biết, từ khi đến Mỹ vào năm 1987 (sau chuyến vượt biển lần thứ 4 đến TháiLan), tôi có gọi về Trường Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Quantico, Virginia hai lần để hỏi tin tức về Amy, nhưng nơi đó không biết gì cả. Kevin cho tôi email address và yêu cầu tôi gởi bài Fatal Skies cho Kevin vì ngày hôm sau vợ chồng Kevin phải lái xe trở về New Mexico.
Hai ngày sau, qua email, tôi gởi bài Fatal Skies (cho Kevin đọc) và bài Vùng Trời Quê Bạn (cho bà xã Kevin đọc). Đợi gần cả tháng, sao không thấy Kevin ư hử gì cả, nên bà xã tôi mới gởi một email hỏi thăm vợ chồng Kevin xem có nhận được 2 bài tôi gởi xuống không? Ngày hôm sau (30 tháng 1/2018) tôi nhận được email của Kevin, ông ta phân trần là sau khi nhận và đọc được bài Fatal Skies, ông ta quá cảm động và đã tự nguyện lao vào “làm việc theo chuyên nghiệp” với mục đích là làm sao có thể tìm ra manh mối của Amy, đứa con trai và thân nhân của Jack, nếu có thể. Cũng giống như cả mấy chục ông bạn Mỹ mà tôi đã gởi bài cho họ đọc trước đây, họ chỉ khen: bài hay và cảm động, rồi … “nín khe”! Do đó, đối với Kevin, tôi cũng không dám “gợi ý” gì thêm cả! Vậy mà, “trời xui đất khiến” như thế nào đó, lần này tôi đã … “trúng tủ”!
Qua email, Kevin gởi cho tôi một tấm hình của Jack, mới xem ảnh, tôi biết đây là … thứ thiệt rồi! Thêm vào đó là tin tức tóm lược phi vụ hành quân của Jack trong ngày 30 tháng 6/1967, Jack tử trận trong ngày hôm đó và hài cốt được tìm thấy hôm 25 tháng 6/2012; tên ba má của Jack cùng năm sanh và năm qua đời, tên hai người em của Jack và tiểu bang họ đang sống. Cuối cùng, cái tin làm tôi “nổi da gà” là số điện thoại và địa chỉ của Amy tại Kailua, Honolulu County, Hawaii!
Trong ngày 30 tháng 1/2018, tôi phải “canh giờ”, vì Hawaii đi sau Utah 4 tiếng đồng hồ. Tôi gọi Amy hai lần, không ai bắt điện thoại cả, đành chỉ để lại lời nhắn với đầy hồi hộp và lo âu, không biết số phone này có đúng hay không? Mãi tới 9 giờ đêm, giờ Utah, Amy gọi lại. Sau khi hai bên hỏi và xác nhận ra nhau, cả hai đầu dây vang lên những tiếng rú vui mừng lẫn những tiếng khóc nức nở, sụt sùi!
Đã hơn 55 năm rồi, bây giờ mới nghe lại giọng nói của nhau qua biết bao kể lể, tâm sự với biết bao thăng trầm, với biết bao kỷ niệm buồn vui của cuộc sống qua hơn nửa thế kỷ!

*
Trong hai tuần lễ đầu tiên sau khi Amy và tôi liên lạc được với nhau, chúng tôi thật là “túi bụi”! Amy và bà xã tôi cũng có nhiều dịp nói chuyện với nhau qua điện thoại, chúng tôi rất cảm động và quý mến Amy khi biết được rằng năm Jack tử trận, Amy là một goá phụ còn quá trẻ: mới 26 tuổi, vậy mà Amy không tái giá, sống cu ky như vậy cho đến bây giờ! (Năm nay, 2018, Amy đã trở thành “bà cụ” với 77 cái xuân xanh!). Nuôi con trai Eric ăn học và thành tài. Năm 2004 Eric 37 tuổi mới lấy vợ, tên Susan.
Qua Amy, tôi liên lạc được với Mark House, người em trai út của Jack. Năm 1963, khi Jack và Amy làm đám cưới, tôi là chú rể phụ và Mark chỉ là một cậu bé mới lên10. Tôi và Mark thường liên lạc với nhau qua điện thoại và gởi hình ảnh cho nhau qua email. Năm nay, 2018, Mark (65tuổi), vợ là Francis (mọi người thường gọi là Fran), hai vợ chồng có 3 cậu con trai 37, 34 và 30 tuổi. Gia đình Mark/Fran đang sống tại thành phố Pelham, tiểu bang New York.
Amy và Mark cũng cho biết thêm một tin thật là xúc động: Trong hình chụp chung với thân nhân ngày đám cưới của Jack và Amy vào năm 1963, có tất cả 11 người, gồm ba má, các chú, các cô, các dì của Jack; đến bây giờ, 8 người đã qua đời, kể cả cô phù dâu Ingrid Braren. Ba người còn sống là chú rể phụ Tôn, cô dâu Amy và Mark House, cậu em út của chú rể!
Cũng qua Amy và Mark, tôi liên lạc được với Robert House (trong nhà gọi là Bob), Bob là em kế của Jack và là anh của Mark. Ngày Jack và Amy cưới nhau (17 tháng 8 năm 1963) Bob không về dự đám cưới được vì đang là chuyên viên điện tử trên chiến hạm chống tàu ngầm USS Bennington đang hoạt động trong vùng Biển Hoa Nam (the South China Sea). Bob đã 76 tuổi (năm 2018), vợ là Judy, 72 tuổi; hai vợ chồng có cô con gái lớn 42 tuổi, đang sống ở San Diego và cậu con trai 35 tuổi còn độc thân, có nhà riêng cách nhà cha mẹ khoảng 15 dặm cùng thành phố Meridian, tiểu bang Idaho.
Cũng qua Amy và Mark, tôi rất may mắn và thích thú được làm quen với cựu Trung Tá Mark D. Mariska. Ông thuộc Cơ Quan An Ninh Lục Quân Hoa Kỳ (The U.S. Army Security Agency) với nhiệm vụ cung cấp các tín hiệu và các tin tức tình báo điện tử cho các đơn vị liên hệ. Thời gian ở Việt Nam, ông đươc chỉ định về làm việc chung với Sư Đoàn 3 Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại phi trường Phú Bài từ tháng Giêng cho đến tháng 12/1967, lúc đó Ông mang cấp bậc Đại Uý. Vì đồn trú chung, nên từ tháng 2 đến tháng 6/1967 Ông và Jack trở thành hai người bạn chí thân. Sau thời gian công tác trở về căn cứ Phú Bài, họ thường bù khú với nhau tại các Bar của đơn vị qua các tiệc tùng và cốc rượu. Nhân dịp sinh nhật của Megan, con gái của Mariska (ngày 4 tháng 5 năm 1967) và của Eric, con trai của Jack (ngày 2 tháng 6 năm 1967) họ làm tiệc ăn mừng chung với nhau …
Từ năm 1972, Mariska không còn đảm nhiệm các chức vụ trong Lục Quân và chuyển qua phục vụ Vệ Binh Quốc Gia và Trừ Bị trong 19 năm. Ông giải ngũ vào tháng 8/1991 sau 29 năm phục vụ.
Tôi và Mariska thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại và email. Vào ngày 26 tháng 2/2018 tôi nhận được một tập tài liệu dày 120 trang cỡ 21.5 x 28 cm do Mariska gởi đến từ thành phố Stamford thuộc tiểu bang Connecticut (nơi ông và gia đình đang cư ngụ).
Trong tập tài liệu này ông đã viết, sưu tập và đúc kết những tài liệu thật là cụ thể, chính xác do các nhân vật có liên quan đến Jack qua quân vụ, những quân nhân thuộc Tiểu Đội Trinh Sát và viên Phi Công Phụ trong cùng chuyến bay với Jack, nhưng còn sống sót. Họ đã viết các chi tiết trong “chuyến bay định mệnh” đó! Ngoài ra, ông có thêm vào trong tập tài liệu này bài “Fatal Skies” (bài “Vùng Trời Quê Bạn” do tôi viết lại bằng Anh ngữ).
Trong thời gian khoảng 8 tháng, từ tháng 2 đến tháng 9/2018, qua Amy (cùng con trai Eric và cô dâu Susan), với hai em của Jack (Robert House & vợ Judy; Mark House & vợ Fran), với cựu Trung Tá Mark D. Mariska & vợ Kathy … Chúng tôi thường xuyên trao đổi tin tức với nhau qua đời sống hiện tại và những tin tức cập nhật hoá liên quan đến cái chết của Jack và 4 đồng đội cùng tử nạn trong ngày bị rớt trực thăng.
Ngoài Jack là Đại Uý Phi Công Trưởng, còn có thêm 4 đồng đội:
Hạ Sĩ I Trinh Sát Glyn L. Runnels,
Hạ Sĩ I Trinh Sát Merlin R. Allen,
Hạ Sĩ Trinh Sát John D. Killen, III, 4. Y tá Quân Y thuộc Hải Quân Michael B. Judd.
Cả 5 bộ hài cốt này được tìm thấy ngày 25 tháng 6 năm 2012, tức là sau 45 năm, qua các toán Hợp Tác Chung của Hoa Kỳ và Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đi tìm “Quân Nhân Mỹ bị Tử Trận/Mất Tích tại Việt Nam.
Sau khi được thử nghiệm và kiểm chứng qua DPAA (The Defense POW/MIA Accounting Agency) và Armed Forces Medical Examiner System, cả 5 bộ hài cốt này được đưa về “The U.S. Army Central Identification Labatory” (Phòng Thí Nghiệm thuộc Cơ Quan Nhận Diện Trung Ương của Lục Quân Hoa Kỳ) tại tiểu bang Hawaii.
Đến năm 2013, hai bộ hài cốt của Allen và Judd được giao lại cho hai gia đình liên hệ để được mai táng theo nghi thức vinh danh của Quân Đội.
Trong quan tài đặt tại Hawaii chỉ còn lại 3 bộ hài cốt của: Jack (tức Đại Uý John A. House II), Hạ Sĩ I Glyn L. Runnels Jr. và Hạ Sĩ John D. Killen III. (Chỉ có Jack là có thân nhân đến thử nghiệm và kiểm chứng, còn hai đồng đội kia không còn thân nhân hoặc gia đình đến kiểm chứng nên Bộ Quốc Phòng và Lực Lượng Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ quyết định: cả ba hài cốt này được nằm chung trong một quan tài và sẽ được mai táng chung cùng một lúc).
Mấy tháng đầu năm 2018, Amy, các em của Jack và cựu Trung Tá Mariska cho tôi biết ngày làm lễ mai táng ba bộ hài cốt khi thì tháng 6, rồi tháng 7, rồi tháng 8 … Nhưng chính xác là vào ngày 18 tháng 6/2018 tôi mới nhận được email của các người liên hệ nói trên thông báo: đã được Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chính thức xác nhận ngày làm lễ mai táng hài cốt của Jack và hai đồng đội đúng vào ngày thứ Năm, 27 tháng 9 năm 2018 tại Nghĩa Trang Quốc Gia Arlington lúc 9 giờ sáng.

*
Ngày chúng tôi hồi hộp, xúc động và trông chờ… đã đến!
Thân nhân, bạn bè thuộc các gia đình liên hệ từ các tiểu bang khác nhau như Hawaii, Utah, Idaho, Connecticut và New York đã tề tựu về đầy đủ tại Washington, D.C. từ ngày 25 cho đến 30 tháng 9/2018.
Theo chương trình, từ lúc 7 giờ sáng ngày 27 tháng 9/2018, mọi người tập trung tại tiền sảnh của khách sạn “Sheraton Pentagon City Hotel”.
Đến 8:30 AM rời khách sạn Sheraton. Gần 80 thân nhân và bạn bè được hai xe buýt do Ban Tổ Chức Tang Lễ cung cấp, chở đến khu vực hành lễ ở nghĩa trang Arlington (thời gian lái xe khoảng 20 phút).
Khi đoàn xe đang chạy trong khu nghĩa trang Arlington rộng lớn, hai bên là hàng hàng lớp lớp các mộ bia trắng xoá trải dài mút mắt, có một lúc đoàn xe tạm ngừng lại trước Nhà Quàn của Nghĩa Trang, để các thân nhân trực hệ của các quân nhân quá cố trong lễ mai táng này, xuống xe, tập trung lại để được Giám Đốc Nghĩa Trang Arlington chia sẻ niềm xúc động trong tang lễ và gởi đến tận tay mỗi người một cuốn sách nói về lịch sử và sinh hoạt của nghĩa trang Arlington.
Khoảng 10 phút sau, đoàn xe tiếp tục chạy đến một địa điểm có chiếc xe Limosine chở quan tài đang đợi sẵn. Sáu quân nhân TQLC/HK chuyển quan tài từ xe Limosine qua xe thổ mộ, xe này có 6 ngựa kéo và 3 quân nhân TQLC/HK ngồi trên lưng ngựa điều khiển. Lúc này, theo đúng chương trình, có 2 chiếc máy bay cánh quạt của TQLC/HK bay qua bầu trời trên vị trí đang hành lễ chuyển quan tài.
Tiếp theo, đoàn Quân Nhạc của TQLC/HK với hơn 20 nhạc công trong quân phục áo đỏ, quần trắng và một Trung Đội Dàn Chào có súng với hơn 34 quân nhân TQLC trong quân phục đại lễ: nón casquette trắng, áo đen, quần trắng. Hai toán này rời sân cỏ đang đứng để chuyển đến vị trí trước xe thổ mộ (đoàn Quân Nhạc đi đầu).
Đoàn quân dự tang lễ bắt đầu tiến bước, đi đầu là các Sĩ Quan hướng dẫn, sau đó là toán thủ Quốc Quân Kỳ, đoàn Quân nhạc, Trung Đội Chào Kính, các Sĩ Quan Quân Lễ đi trước xe thổ mộ, 6 quân nhân TQLC bước theo sau xe thổ mộ và sau cùng là đoàn xe của phái đoàn dự tang lễ.
Hôm nay bầu trời D.C. u ám và khi đoàn xe đi gần tới vị trí hành lễ, trời bắt đầu đổ mưa, cơn mưa nhẹ chớm Thu của miền Đông nước Mỹ. Tôi hình dung những giọt mưa đang thay cho nước mắt, khóc cho cái buồn của tang lễ đầy xúc động này!
Tại vị trí hành lễ, một cái lều đã được dựng lên, trong lều chỉ có hai hàng ghế xếp, dành cho một số thân nhân trực hệ của những người quá cố. Phía trước lều, bên trái, có đặt hai vòng hoa tang của Không Đoàn Trực Thăng HMM 265 và của Lực Lượng Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ; bên dưới là 5 bảng trắng bọc plastic đen được dựng đứng trên thảm cỏ, mỗi bảng có ghi tên người quá cố với cấp bậc, đơn vị, ngày tử trận và ngày mai táng.
(Nước Mỹ quả thật xứng đáng là một nước văn minh và dân chủ đáng ngưỡng mộ! Các quân nhân có công trận với tổ quốc, không phân biệt cấp bậc, đều được ân thưởng qua những nghi thức trang trọng như nhau).
Sáu quân nhân TQLC/HK nhịp nhàng khiêng quan tài từ xe thổ mộ vào đặt trong lều trước hai hàng ghế.
Amy ngồi đối diện với quan tài nơi hàng ghế đầu, bìa bên phải, kế đó là Eric.
Nhìn quan tài của Jack. Rồi nhìn Amy với ánh mắt đăm chiêu và thật buồn. Tôi liên tưởng đến cảnh trở về của Jack qua bài hát “Kỷ Vật Cho Em”, thơ Linh Phương do Phạm Duy phổ nhạc:
“Em hỏi anh, em hỏi anh, bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời, mai mốt anh về.
… Anh trở về, anh trở về, hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa …”
Amy ơi! Jack đang trở về đó! Cái hẹn “mai mốt anh về” của Jack sao dài hun hút đến như vậy?!
Jack đang trở về với người vợ hiền, chung thuỷ qua hơn 51năm trời chờ đợi.
Jack đang trở về với đứa con trai duy nhất mà Jack chưa hề gặp mặt.
Jack ơi! Hôm nay có đông đủ thân nhân và bạn bè đến đưa tiễn bạn.
Có lẻ bạn đang vui lắm, có phải không?
Mưa ngừng rơi trước khi nghi lễ chính thức bắt đầu!
Thiếu Tướng (2 sao) Edward D. Banta thuộc TQLC/HK, đại diện cho Tư Lệnh TQLC/HK làm Chủ Toạ buổi lễ. Đại Uý Hải Quân Hoa Kỳ/Kiêm Giáo Sĩ, điều hành các nghi thức tôn giáo.
Sau các nghi thức hành lễ như vinh danh, lễ bắn 21 phát súng và kèn truy điệu cho các chiến sĩ đã hy sinh. Cuối cùng là lễ Thu Kỳ đang phủ trên quan tài.
Sau khi thu kỳ xong, lá Quốc Kỳ Hoa Kỳ đã được gấp lại thành hình tam giác, một vị Sĩ Quan trao lá cờ này cho Thiếu Tướng Chủ Toạ. Khi bước vào lều, Thiếu Tướng Edward D. Banta tới trước mặt Amy, quỳ xuống trên đầu gối phải và trân trọng trao lá Quốc Kỳ cho Amy. Sau đó, một vị Sĩ Quan khác cũng trao một lá Quốc Kỳ khác cho một phụ nữ, chị của Trinh Sát Viên Killen. Ngoài ra, các thân nhân trực hệ của những tử sĩ này, mỗi người còn được nhận một bản (plaque) cám ơn có chử ký của Đại Tướng Robert B. Neller, Tư Lệnh Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Sau phần nghi lễ, mọi người luân phiên nhau lên đứng cạnh quan tài để cầu nguyện và chia tay với các tử sĩ.
[Mặc dù trong quan tài chỉ còn hài cốt của 3 chiến sĩ: John A. House II, Glyn L. Runnels Jr. và John D. Killen III, tuy nhiên, theo nghi thức, vẫn có bảng tên của cả 5 chiến sĩ tại địa điểm hành lễ và họ cùng được làm lễ vinh danh và truy điệu chung với nhau.
Sau đó Ban Tổ Chức đã hướng dẫn một số thân nhân đi thăm vị trí sẽ đào huyệt chôn quan tài, dự trù sẽ chôn vào chiều nay sau khi mọi người đã ra về. Tôi cũng đi theo tới xem vị trí mộ phần, cách vị trí hành lễ khoảng 100 thước, và ghi nhận được, đây là Mộ phần số 11865 trong Khu vực 60.
Khi đang bước trên bãi cỏ xanh mướt để trở lại vị trí hành lễ, tôi chợt nhớ lại sáng nay tại khách sạn Sheraton. Điều làm tôi háo hức qua trông chờ, đó là dịp tôi được gặp lại Amy và Mark House sau hơn 55 năm xa cách! Không có gì so sánh được với niềm vui và nỗi xúc động trong dịp tái ngộ đầy kỳ thú này!
Cũng trong dịp này, lần đầu tiên vợ tôi mới được giáp mặt với Amy và Mark House. Và vợ chồng tôi, cũng là lần đầu tiên mới được gặp Fran, vợ Mark House và ba cậu con trai; Bob House và vợ Judy; và cựu Trung Tá Mark Mariska, dù đã quen biết nhau qua email và điện thoại từ hơn 8 tháng nay.
Tại tiền sảnh của khách sạn Sheraton, chúng tôi có hơn một tiếng rưởi đồng hồ quây quần bên nhau qua những cái bắt tay, những lần ôm vồ lấy nhau, những câu hỏi ríu rít, những cái nhìn cho nhau diễn đạt niềm vui và nỗi xúc động. Và đặc biệt nhất là với những giọt nước mắt chan chứa buồn, vui với tràn đầy tình thương mến …
Sau những vồn vã, rộn ràng với người thân của Jack, hình ảnh Jack như hiện về để cùng hoà nhập…
Jack tử trận vào ngày 30 tháng 6/1967.
Hài cốt được tìm thấy ngày 25 tháng 6/2012, tức là sau 45 năm.
Quan tài được mai táng ngày 27 tháng 9/2018, tức là 51 năm sau ngày tử trận.
Jack qua đời, để lại một vợ, Amy và một con trai, Eric. Cháu Eric sanh ngày 2 tháng 6/1967, chỉ mới được 28-ngày-tuổi, ngày bố Jack qua đời!
Jack ơi! Dù có buồn đau, có tiếc thương, có luyến nhớ mỗi khi nghĩ đến bạn nhưng với kinh nghiệm của đời mình qua gần 80 năm, tôi dường như bất lực và đành phải tuân theo định mệnh mà Thượng Đế đã ban cho, đã tạo ra, đã sắp xếp cho mỗi con người của chúng ta trong cõi trần thế này!
Chúng ta, và ngay cả với những người chống tiêu cực hoặc chống yếm thế, cũng không làm được gì trong việc muốn xoay ngược hoặc đổi thay sự sống hay cái chết cho đời mình. Và cuối cùng, mọi người đành phải “nhắm mắt đưa chân” đi theo con đường số mệnh đã được Thượng Đế an bài!
Nghĩ đến điều này, tôi cảm thấy nguôi ngoai hơn, trút bỏ bớt được gánh nặng đau buồn vì bạn, vì mọi người thân trong gia đình bạn và những bạn bè gần xa của bạn.
Từ tiểu bang Utah xa xôi, vợ chồng tôi về đây tham dự lễ an táng của bạn tại nghĩa trang Arlington này. Suốt trong buổi lễ, hình ảnh bạn hiện về và phủ ngập ký ức của tôi. Tôi nói chuyện với bạn và cầu nguyện cho bạn. Lúc đặt bàn tay lên quan tài của bạn để chia tay, tôi đã thì thầm:
Jack ơi! Bạn chưa chết! Bạn vẫn còn đó. Bạn vẫn lái trực thăng. Bạn vẫn tiếp tục bay.
Bạn đang bay qua trái tim của Amy, của Eric và vợ cháu, của các em Bob, Mark House và vợ con họ; của thân nhân và bạn bè (kể cả Mark Mariska).
Mọi người đang nghĩ đến bạn với thật nhiều tiếc thương và nhung nhớ.
Và đặc biệt, trong lòng người bạn chí thân và đầy tình nghĩa này qua hơn 55 năm… bạn mãi mãi vẫn còn sống.
Và mãi mãi vẫn còn bay nơi vừng hồng rực sáng trong trái tim tôi!

Phan Công Tôn

ДЕРЖАВНА ПРИКОРДОННА СЛУЖБА УКРАЇНИ

doithoaionline.wordpress.com
Bông Lau
Posted on 15/07/2022 by Doi Thoai

Post by Sơn râu 13 Feb 2025

Câu tiếng Ukraine phía trên tạm dịch là “Lực Lượng Biên Phòng Quốc Gia”, và mình mới chôm được những hình ảnh rất nhân văn của họ.
Một anh lính Ukraine rất trẻ dùng nón chống đạn để đựng ba chú ki ki baby. Chú cẩu quá nhỏ nên không thể biết thuộc giống gì nhưng hình như là chó Đức. Nguời Nga, Ukraine, và Đông Âu rất yêu chó Đức.
Phía sau lưng anh lính là khẩu đại liên G3, hàng nóng viện trợ của Cộng Hòa Liên Bang Đức. Khẩu súng này rất tốt và là một huyền thoại. G3 là biến cải của MG42 được sáng chế vào năm 1942. Do lịnh của trùm Đức Quốc Xã Adolf Hitler là muốn có một khẩu đại liên đơn giản rẻ tiền và có thể xuất cảng hàng loạt cho nhu cầu chiến trường, và khẩu MG42 chào đời.
Khẩu súng đã gây kinh hoàng cho binh sĩ đồng minh vì nó nhẹ và nhịp tác xạ của nó là 1.300 viên đạn một phút, trong khi đại liên 30 của Mỹ vừa nặng nề và bắn chậm như rùa 450 viên một phút. Khẩu súng này còn có biệt hiệu là “Hitler zipper” tức là “phéc mơ tuya” của Hitler. Khi nó bắn tiếng nổ giòn quá nhanh như tiếng kéo phéc mơ tuya, nghe lạnh người.

Sau Thế Chiến Thứ Hai, khẩu MG42 được Tây Đức khi đó cải tiến thành G3, bắn đạn 7.62 mm của NATO và có nhịp bắn chậm lại chỉ 700 viên một phút cho đỡ hao kẹo đồng. Còn Hoa Kỳ sau năm 1945 ăn cắp kiểu của MG42 để chế khẩu M60 cho chiến trường Việt Nam. Khẩu M60 của Hoa Kỳ cũng là một huyền thoại trong chiến tranh Việt Nam và được binh sĩ Mỹ tặng biệt hiệu là “con heo” (Pig). Nhưng công bằng mà nói, khẩu M60 không tốt bằng G3 của Đức.
Anh lính trong hình rất trẻ tuổi, khoảng 18 là nhiều. Khuôn mặt này thường thấy ở các trường trung học ở Hoa Kỳ. Tuổi của vui chơi hồn nhiên. Nhưng tiếc thay quê hương của anh đã bị ngoại bang xâm chiếm nên anh lính trẻ phải chiến đấu. Chiến tranh tàn khốc và vô nhân, nhưng anh ta vẫn không đánh mất tình thương dành cho thú vật.
Tính đến nay số thương vong của binh sĩ Ukraine là khoảng 10 ngàn người thiệt mạng sau 5 tháng giao tranh. Thương vong của lính Nga là 30 ngàn tử trận. Mỗi ngày Ukraine có khoảng từ 100 đến 200 quân nhân tử thương.
Hy vọng tên đồ tể Vladimir Putin bớt điên cuồng ngừng xây mộng Liên Bang Xô Viết, để người Nga và Ukraine quay trở lại cuộc sống bình yên. Và anh lính trẻ này còn sống, sẽ vui chơi với mấy chú ki ki, khi ấy đã lớn khôn.

BÔNG LAU 12.07.2022

Lễ Tạ Ơn 2024 ở Trung Đông

dongsongcu.wordpress.com
bonglau-ThuyMyRFI
Posted on December 7, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 13 Feb 2025

Niềm zui của những ngày sống nơi Trung Đông là được nghỉ những ngày lễ như Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving).

Đây không phải là ngày lễ bình thường nhạt nhẽo, vì ngày lễ Tạ Ơn vốn mang lại cảm giác trân trọng tri ân cuộc sống chúng ta đang có.
Đó là tinh thần mang ơn tích cực, nhưng xếp đặt sinh hoạt trong ngày lễ này thì thích thú hơn nhiều. Được ăn ngon. Không phải canh đồng hồ báo thức dậy sớm, mà cứ nằm ì cho tới 1 giờ trưa luôn nếu hỏng có công tác. Đêm hôm trước lại thức suốt đêm bên laptop viết lách linh tinh lung tung, rồi đi tập gym lúc 3 giờ rưỡi sáng, giống cuộc sống tự do không bị kềm chế đã có ở Washington trước đây.
Ngày lễ là thời gian để giặt giũ lau chùi hút bụi căn phòng nhỏ. Hút bụi thì tìm đâu ra cái máy hút bụi ở đây hả chời. Một cái xứ bị bao trùm bởi cát bụi mà hỏng xài máy hút bụi thiệt lạ.

Buổi trưa và tối đi ăn trong nhà bàn thiệt zui. Họ trang hoàng thiệt đẹp và ấm cúng để những người viễn chinh cảm thấy gần gũi với quê nhà hơn. Mình có thói quen đi ăn khoảng 15 phút trước khi nhà ăn đóng cửa. Đi ăn giờ sắp đóng cửa thì vắng vẻ hơn, và xạ thủ thích được ngồi ăn trong sự yên tĩnh cô độc để thả hồn mình đi hoang ha ha.

Vì ngồi ăn lúc nhà bàn sắp đóng nên hình chụp thấy số thực khách thưa thớt, chớ hỏng đông đảo tấp nập trước đó khoảng một tiếng. Lễ Tạ Ơn năm nay hỏng thấy có ông kẹ hay ông “mặt trời” sáng ngời nào từ Washington tới thăm. Mà chỉ thấy lèo tèo mấy sĩ quan cấp tá đứng sau quầy xúc đồ ăn phục vụ thực khách theo truyền thống.

Đây là hình thức đáng yêu của các “đầy tớ nhân dân” đứng phục vụ binh sĩ của mình. Rất khác đầy tớ nhân dân của xứ thiên đường được người bồng vì sợ ướt cẳng khi trời mưa có nước lụt.

Ăn xong bước ra ngoài bỗng cảm thấy tòa nhà rung chuyển. Nhìn lên trời nghe tiếng động cơ ầm ầm át cả tai, khi mấy chiếc trực thăng võ trang AH-64 Apache ào ào bay ngang. Nơi mình đứng chỉ cách sân bay vài trăm thước. Ngày lễ hay ngày thường đều như nhau vì máy bay chiến đấu luôn luôn sẵn sàng. Chúc những người bạn và người thân bên kia biển được yên zui.

BÔNG LAU 29.11.2024

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 13 Feb 2025

Bài 6
Cũng toan, tính toán với tình

Tôi đang chăm chú ôn bài cho kỳ thi sắp tới, nên không biết Thiếu tá Hưng trưởng Phòng hành quân bước vào.
-Trung úy làm gì đó?
Khi nghe tiếng nói của ông, tôi mới giật mình.
-Thưa thiếu tá, tôi đang học bài.
Thiếu tá Hưng kéo ghế ngồi đổi diện với tôi, rồi nói:
-Gốc của trung úy cũng bự dữ.
-Thưa thiếu tá, tôi không hiểu ông nói gì.
-Về trường Võ Bị, làm ở khối tham mưu không có gốc, không chạy chọt làm sao về được.
-Thưa thiếu tá, ngày còn học ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, với bài trắc nghiệm định hướng không biết tôi làm như thế nào mà khi ra trường được đưa về Trường Võ Bị Đà Lạt. Chuyện đó, tôi hoàn toàn không biết được.
-Gia đình trung úy ở đâu.
-Dạ Đà Lạt.
-Ba trung úy ở trong quân đội?
-Thưa không, ba tôi là thợ mộc.
-Chắc trung úy có bà con làm lớn trong quân đội?
-Thưa không.
-Như vậy, gia đình trung úy quen biết thế nào với Đại tá Tham mưu trưởng.
-Ba tôi là thợ mộc, làm sao quen với Đại tá Tham mưu trưởng được.
-Có chuyện hơi lạ, tao không hiểu được.
-Chuyện gì vậy, thiếu tá?
Thiếu tá Hưng lắc đầu, đưa hai tay lên trời rồi ông móc trong túi ra tấm giấy.
-Đây là tờ giấy phép bảy ngày, cấp cho Trung úy Nguyễn Trọng Quân với chữ ký của Đại tá Tham mưu trưởng.
Tôi như từ trên trời rót xuống.
-Thưa thiếu tá, nếu tôi muốn xin nghỉ phép phải làm đơn chuyển theo hệ thống quân giai, đơn của tôi phải qua ý kiến của thiếu tá. Tôi đâu có làm đơn xin nghỉ phép.
-Tao cũng nghĩ như vậy, nhưng tại sao lại có tờ giấy phép này?
Tôi góp ý với ông:
-Hay là phòng nhân viên làm lộn. Thiếu tá trình với Đại tá Tham mưu trưởng coi lại đi, lộn là cái chắc.
Thiếu tá Hưng cười hớn hở.
-Chú mày có lý, để tao đi hỏi lại.
Tôi để ý, hình như ở trong trường chỉ có một mình Thiếu tá Hưng thường xưng hô mày tao với tôi. Tôi vừa tiếp tục ôn bài vừa lẩm bẩm, lâu lâu cũng phải có lầm lẫn, điều chỉnh mấy hồi.
Chừng mười lăm phút sau, Thiếu tá Hưng bước vào phòng với gương mặt không được vui cho lắm.
-Tao vừa gặp Đại tá Tham mưu trưởng, ổng nhìn tờ giấp phép rồi gằn giọng khiến tao muốn chết đứng “Đúng rồi, tôi ký tờ giấy phép đó”.
Thiếu tá Hưng nói mà như là năn nỉ tôi:
-Chú mày làm ơn đi phép giùm tao, đừng có lôi thôi hỏi tới, hỏi lui. Mày càng hỏi nhiều, tao càng dễ có cơ hội ôm ba lô ra Quảng Trị phòng thủ Cổ thành. Quân đội mà mày, thi hành trước, khiếu nại sau.
Tôi cầm tờ giấy phép rồi nói:
-Thưa thiếu tá, đang làm việc mà bỏ ngang, ai trực hành quân thay tôi?

-Chuyện đó tao lo, chuyện chú mày bây giờ là đi phép.
Đang làm việc bị đi phép, không biết làm gì tôi bèn về cư xá để thay đồ rồi lên Viện đại học. Gần bảy giờ tối tôi mới trở lại cư xá sĩ quan, ba tôi đã đợi ở đó từ lúc nào, gương mặt ông có vẻ giận dữ.
-Con đi đâu mà bây giờ mới về?
-Con đi học.
Khi nghe tôi nói đến hai chữ đi học gương mặt ông liền đổi sắc.
-Vậy hả, ba đâu có biết.
Tôi vừa mở cửa phòng vừa hỏi ba tôi.
-Ba tìm con làm gì?
-Ba có chuyện quan trọng muốn nói với con.
-Ba ăn cơm chưa?
-Chưa.
-Vậy ba với con ra quán bánh xèo, vừa ăn vừa nói chuyện được không?
Sau khi cất sách vở, tôi cùng ba tôi đi bộ ra khu Hòa Bình, quẹo xuống ngã ba đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ, nơi có quán bánh xèo bình dân, nằm bên hông của một tiệm bán đồ sắt. Đây là quán bánh xèo ngon nổi tiếng của Đà Lạt.
Ông chủ quán bánh xèo tên Năm, vui vẻ hỏi tôi:
-Trung úy mạnh giỏi.
Tôi trả lời:
-Quá mạnh giỏi, còn chú Năm khỏe không?
-Không khỏe làm sao đổ bánh xèo cho trung úy ăn.
Quay sang nhìn ba tôi, chú Năm hỏi:
-Bác đây là gì của trung úy?
-Ba tôi đó chú Năm.
-Hèn gì trông giống trung úy quá sức. Bác với trung úy ăn bánh lớn hay nhỏ.
Tôi nói:
-Bánh lớn.
Chú Năm nói với ba tôi:
-Ông bác thật là có phúc, trung úy đây trẻ tuổi, lại làm ở Trường Võ Bị. Suốt đời, tôi chỉ ao ước được vô thăm trường một lần cho thỏa chí mà không được.
Tôi vỗ vai chú Năm.
-Hôm nào Võ Bị có lễ mãn khóa, tôi sẽ mời chú vô trường.
Chú Năm cười khoái chí.
-Trung úy nhớ đó nghe.
-Tôi nhớ mà, chú yên chí đi.
Chú Năm, đưa hai dĩa rau sống đầy vun tới trước mặt ba tôi và tôi. Ông nói nhỏ với tôi:
-Mỗi dĩa bánh của trung úy, tôi bỏ vô ba con tôm thứ bự, ngon khỏi chê.
Ba tôi chỉ ăn một cái bánh xèo rồi buông đũa, ông vừa uống nước trà vừa kể:
-Cái năm Nhật đảo chánh, ba với bác Bảy bỏ xứ vô Nam. Con không biết bác Bảy đâu, ổng với ba là bạn từ thủa hai đứa còn mặc quần lủng đáy, đi chăn trâu ở ngoài xứ. Khi xe lửa tới ga Tháp Chàm, thay vì lên Đà Lạt với ba, bác Bảy lại đổi ý đi vô Sài Gòn. Dễ chừng hai mươi bảy hay hai mươi tám năm rồi ba không có tin tức gì của bác ấy. Tuần rồi, ba tình cờ gặp lại bác Bảy ở chợ hoa Đà Lạt. Bác Bảy bây giờ có khác lúc xưa, nhưng ba vẫn nhận ra bác ấy nhờ bước đi hơi khập khểnh vì bị con trâu của ông Hương Bộ Hoạch húc hồi nhỏ. Vợ chồng bác Bảy lên Đà Lạt chơi, nhân tiện thăm cô con gái tên là Cúc đang học ở Viện đại học Đà Lạt. Cô ấy đang ở nội trú trong trường. Con có biết cô Cúc không?

-Ba à, trên Viện đại học có cả chục ngàn sinh viên, làm sao con biết ai là ai, cô nào là cô Cúc.
Ba tôi không buồn nghe tôi nói, ông kể tiếp:
-Khi biết con là trung úy trong Trường Võ Bị, lại đang tiếp tục học đại học bác ấy mừng lắm, khen con là người học giỏi, có chí.
Chuyện gì chứ khoe tôi học giỏi, không ai bằng ba tôi.
-Làm sao bác ấy biết con học giỏi.
-Ba nói cho bác ấy biết.
-Bác có tin không?
-Không tin mà ngày hôm sau bác Bảy và vợ xuống Trại Hầm thăm ba, ổng nhờ con đưa giùm cô Cúc, con của bác ấy về Sài Gòn.
Ba tôi lần trong túi quần lấy ra hai tấm giấy.
-Đây là hai cái vé máy bay, ngày mai con đưa cô Cúc về Sài Gòn, ở nhà bác ấy chơi vài ngày. Bác Bảy muốn coi mặt con, hỏi con vài chuyện.
Tôi cứ nghĩ là ba tôi đùa, mặc dầu từ trước đến giờ, tôi chưa bao giờ thấy ông nói đùa. Tôi cằn nhằn:
-Ba à, con còn phải đi học. Hơn nữa con đang ở trong quân đội, làm gì mà có thì giờ để hộ tống cái cô Cúc gì đó về Sài Gòn.
Ba tôi nói tỉnh queo.
-Con vừa có cái phép bảy ngày mà.
Tôi giật thót người, chỉ có thiếu tá trưởng phòng biết tôi đi phép, làm sao mà ba tôi cũng biết được chuyện này.
-Ai nói cho ba biết là con có cái phép bảy ngày?
-Bác Bảy chớ ai, bác nói với ba là đã xin cho con cái phép bảy ngày.
Ngạc nhiên quá sức, tôi vội hỏi ba tôi:
-Bác Bảy ở trong quân đội hả ba? Ổng mang cấp bậc gì?
-Bác Bảy không có dính dáng gì với lính, ổng chỉ lo kinh doanh buôn bán thôi. Nghe đâu ông ấy là ông trùm nhà cửa ở Sài gòn.
Tôi nghĩ, kinh doanh buôn bán gì mà cái phép của một thằng sĩ quan trong quân đội, muốn xin là được ngay, quả thật ông bác Bảy này không đơn giản tí nào. Tôi biết mình đang ở vào thế kẹt, đành phải thi hành lệnh thôi.
-Con chỉ đưa cô Cúc về Sài Gòn thôi, phải không ba?
-Ừ, con sẽ ở nhà bác Bảy vài ngày, bác ấy chỉ muốn chuyện trò với con, sau đó con đưa cô Cúc về lại trường.
-Hiện giờ cổ đang ở đâu?
-Nghe nói, nó ở nội trú trong trường.
-Được rồi, con sẽ làm đúng những gì ba dặn.
Ba tôi cười vui vẻ, ông uống thêm một hớp nước trà rồi nói:
-Ba tin con, bây giờ ba phải đi về.
Thực sự, nếu muốn từ chối không đưa cô Cúc về Sài Gòn cũng được nhưng tôi không nở. Phần vì thương ba tôi, một phần tôi cũng có đôi chút tò mò về cô Cúc. Bấy lâu nay tôi sống với mối tình đầu của mình, lúc nào tôi cũng nhớ Dung. Ba năm, rồi lại bốn năm, thời gian trôi qua vùn vụt, riêng tôi si tình rồi để tang cho mối tình đầu chừng đó năm cũng đủ rồi. Tôi vẫn nghĩ, đến một lúc nào đó tôi phải quên Dung, có lẽ đây là cơ hội giúp tôi xóa bỏ bóng hình Dung trong tim tôi. Chuyện có được hay không? Chưa biết, tôi phải tìm hiểu thêm về Cúc.
Tôi đón Cúc ở ký túc xá của nữ sinh viên Đà Lạt. Nhận xét đầu tiên của tôi về Cúc là nàng không đẹp, bốn điểm trên mười không thể gọi là đẹp được, nhưng nhờ vào cách ăn mặc với bộ quần áo đắt tiền, đôi giày cao gót da cá sấu, sợi dây chuyền bạch kim với trái tim nửa vàng nửa trắng nơi cổ, chiếc vòng ngọc nơi tay, khiến cho sắc đẹp của người con gái tăng thêm vài phần. Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân. Tôi nhủ thầm, coi cũng tạm được.

-Thưa cô, tôi là Quân. Xin hỏi cô có phải là Cúc không?
-Dạ phải.
-Bác Bảy dặn tôi, đến đưa cô về Sài Gòn.
-Dạ, em có nghe ba em nói hồi hôm qua.
Tôi hơi ngạc nhiên:
-Bác Bảy còn ở Đà Lạt à?
-Dạ không, ba em ở Sài Gòn, ổng gọi điện thoại cho em tối hôm qua.
Khi biết chắc, người con gái đứng trước mặt mình là Cúc, tôi đổi cách xưng hô.
-Em đã sẵn sàng chưa?
-Dạ chưa.
-Anh đợi em hai chục phút thôi, lẹ lẹ lên.
Hai chục phút sau, tôi xách va li của Cúc rồi cùng nàng đi bộ ra bến xe lam ở ngã năm Đa Thiện. Vừa đi tôi vừa nói:
-Bốn giờ chiều, phi cơ sẽ cất cánh ở phi trường Liên Khương, mình còn dư nhiều thời giờ. Em đói bụng không?
-Dạ, cũng hơi đói.
Tôi đưa Cúc tới quán cà phê bình dân của chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Cúc nói với tôi:
-Mình lại nhà hàng Shanghai đi anh.
Tôi chợt nhớ ra là mình đang đi với một cô gái con nhà giàu. Tự ái của thằng con trai, mặc cảm con nhà nghèo khiến tôi nói với Cúc, giọng nói cộc cằn, không một chút lịch sự:
-Anh hai mươi bốn tuổi, khi anh mới sanh ra nhà hàng Shanghai đã có ở đó rồi, có từ thời mấy ông Tây thuộc địa cỡi ngựa tới Chic Shanghai ăn uống. Chừng đó năm, anh đã đi qua nhà hàng này cả hàng triệu lần, chỉ một lần duy nhất anh bước chân vào đó, không dám ngồi ở phòng ăn, chỉ ngồi phòng ngoài uống ly cà phê, ăn một dĩa khoai tây chiên. Ăn khoai tây chiên rồi uống cà phê, đúng là nhà quê lên tỉnh nhưng trong thực đơn, đó là hai món rẻ nhất. Hôm nay, anh đưa em vào đó ăn trưa. Nếu em ăn một bữa ăn đúng nghĩa, một phần tư tháng lương của anh sẽ bay cái vèo. Anh sẽ đưa em tới đó, đứng ngoài đợi em ăn, được không?
Cúc lúng túng ra mặt, giọng nói của nàng không được bình tĩnh cho lắm:
-Em đâu có biết, lần nào lên thăm em, ba cũng đưa cả gia đình vào đó ăn tối. Em thấy nơi đó thức ăn ngon, tiếp đãi lịch sự.
Tôi nói với giọng châm biếm:
-Phải rồi, tiền cũng lịch sự không kém, nơi đó là cái máy chém chứ không phải là nhà hàng. Chỉ có những người như ba em mới đủ tư cách vào đó, còn anh phải đợi đến khi nào trúng số anh mới vào. Bây giờ em có muốn vô đây với anh, ăn khúc bánh mì, uống ly cà phê bình dân hay không?
-Dạ muốn.
-Vậy em còn đợi gì mà không vô quán?
Tôi nói với chị Huệ:
-Cho em hai khúc bánh mì chả, hai ly cà phê.
Chị Huệ nhìn tôi cười, nụ cười như ngầm nói, tôi méc cho mà coi:
-Cô Vân đâu rồi.
-Dạ, đi học.
Trường hợp này kêu bằng oan ơi ông Địa, biết vậy lúc nãy vô Shanghai ăn mà hay hơn. Tôi cầm khúc bánh mì chả gặm ngon lành, nhìn sang Cúc, khúc bánh mì vẫn còn nằm nguyên trong dĩa, tôi giục:
-Ăn đi em.

-Anh nhìn chăm chăm như vậy, làm sao em ăn được.
-Được rồi, ăn xong anh về cư xá lấy quần áo. Khi anh đi rồi không ai nhìn, lúc đó em tha hồ mà ăn.
-Anh để em ngồi một mình ở đây à?
-Phải rồi.
-Em đi theo anh được không?
-Không.
-Tại sao vậy?
-Nơi anh ở là cư xá sĩ quan độc thân, về phòng anh người ta dị nghị chứ sao. Hỏi hoài.
Tôi trở về cư xá, thay bộ đồ dân sự, mặc bộ đồ tiểu lễ mùa đông. Tôi đứng trước gương ngắm nghía, sửa lại cái mũ nồi đen trên đầu cho chỉnh tề, kiểm soát lại quần áo trong va ly, khi biết chắc là đã có thêm bộ đồ tiểu lễ mùa hè, lúc bấy giờ tôi mới xách va ly quần áo trở lại quán chị Huệ. Thấy tôi với bộ quân phục, Cúc trầm trồ:
-Bộ đồ này đẹp quá trời, giống như mấy ông sinh viên Võ Bị phải không anh?
-Bộ đồ đẹp, còn anh, em thấy thế nào?
-Anh dữ thấy mồ.
Tôi không nói gì thêm, ra dấu cho Cúc cùng đi. Từ đường Phan Bội Châu, hai đứa thả bộ xuống bến xe taxi nằm trước nhà hàng Chic Shanghai.
Có thể, Đà Lạt là một thành phố duy nhất trên thế giới, nếu muốn đi máy bay phải tới ga xe lửa. Đâu khoảng năm 1961 khi mà Cộng Sản Bắc Việt đẻ ra cái Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Dân miền Nam đang sống trong tự do thanh bình, no ấm đâu có cần mấy ông Bắc Việt vào đây để giải phóng. Chỉ có những người ngoại quốc ngây thơ mới tin rằng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là do dân miền Nam lập ra. Từ khi có Mặt Trận, mấy ông giải phóng đi đến đâu ở đó có chiến tranh, khổ đau chết chóc kéo theo đến đó. Việt Cộng bằng mọi cách khủng bố dân chúng, phá hủy nhũng công trình lợi ích công cộng của Việt Nam Cộng Hòa, hôm nay họ đào đường đắp mô đường bộ, ngày mai đặt mìn giựt sập cầu phá hủy đường xe lửa, tuần tới phục kích bắn phá dân chúng đi trên tàu lửa. Đến năm 1968 đoạn đường xe lửa từ Sông Pha lên Đà Lạt phải ngưng hoạt động. Tôi biết người Pháp đã bỏ ra hàng chục năm, tốn không biết bao nhiêu công sức, tiền của để xây dựng nên đoạn đường xe lửa đặc biệt này. Gọi là đặc biệt, vì ngoài hai đường ray thường, còn có thêm đường ray răng cưa thứ ba ở chính giữa. Khi bắt đầu leo dốc, đầu máy xe lửa đặc biệt sẽ móc vào đường ray răng cưa. Xe lửa leo dốc sẽ không bị tuột. Người ta gọi đường xe lửa này là Cog railroad, do hãng Fuca Thụy Sĩ sản xuất, loại đầu máy xe lửa này trên thế giới chỉ có ở Thụy Sĩ và sau đó là Đà Lạt. Mấy năm rồi, xe lửa không chạy được nhưng nhà ga vẫn còn đó, người ta dùng ga xe lửa làm trạm hàng không.
Ba giờ chiều, tôi và Cúc ngồi trong tòa nhà kính ở phi trường Liên Khương chờ máy bay. Hai tách cà phê còn nóng hổi, tỏa mùi thơm ngào ngạt được mang lên. Qua khung cửa kính, bên ngoài sương mù xuống thật thấp bao phủ cả núi đồi. Trước mắt tôi, phi đạo mù mờ trong sương chiều. Thấy cảnh, chạnh lòng nhớ đến bài thơ cũ, tôi khẽ đọc:
Mù sương phi cảng não nề
Thôi anh ở lại buồn về em mang.
Tiễn anh một chén rượu tàn
Một bàn tay nắm, một hàng lệ mau.
Cúc hỏi tôi:
-Thơ của anh phải không?
Tôi đùa với Cúc:

-Anh mà làm thơ hay như vậy đâu có đi lính làm gì cho mệt, ở nhà làm thơ gánh ra bán chợ trời, khỏe ru.
-Bài thơ buồn quá, của ai vậy anh?
-Đó là bài Khúc Ly Đình của Cao Thị Vạn Giả. Không biết anh nhớ có đúng hay không, đừng có tin anh.
o O o
Vẫn là những chiếc taxi nhỏ xíu sơn hai màu xanh trắng của Sài Gòn hơn bốn năm về trước, đưa tôi và Cúc ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt. Sài Gòn vẫn vậy, ồn ào náo nhiệt xe cộ dập dìu như mắc cửi, xe chạy trên đường Công Lý, qua chùa Vĩnh Nghiêm, qua ngã tư Yên Đổ được chừng non cây số, Cúc nói với tài xế ngừng lại trước một ngôi nhà kín cổng cao tường.
Mỗi tay một cái va ly, tôi theo Cúc đi vào nhà. Vừa bước chân qua khỏi cánh cửa cổng cao quá tầm mắt, tôi khựng người lại. Trước mắt tôi, một ngôi biệt thự nguy nga, đồ sộ kiến trúc theo kiểu Pháp, giống như những ngôi biệt thự mà tôi thấy ở Đà Lạt, cũng sân cỏ rộng mênh mông, cũng một con đường nhỏ lát đá dăm hình chữ C để xe hơi chạy vào tận hàng hiên của ngôi biệt thự.
Một người đàn ông cao lớn, mặt mũi phương phi trong bộ vest đúng thời trang đang đi tới, đi lui trước thềm nhà, nhìn ông ta tôi có cảm tưởng ông sắp đi họp nội các chính phủ hay họp Quốc Hội. Ông nhìn tôi thật lâu. Tôi không biết ông muốn gì đành đứng yên, lúng ta lúng túng, tay chân hình như thừa thãi. Cuối cùng, ông ta cũng lên tiếng:
-Con là Quân?
-Dạ phải.
Ông ta tự giới thiệu:
-Bác là Bảy, bạn của ba con.
Quay sang Cúc, ông nói:
-Con đi đường có mệt hãy vô phòng mà nghỉ, ba có chuyện riêng muốn nói với Quân.
Tôi hơi ngạc nhiên, tại sao cha con họ gặp nhau mà không một chút gì vui mừng, hớn hở. Đợi cho Cúc khuất hẳn sau cánh cửa cuối phòng, bác Bảy mới nói với tôi:
-Con nói như thế nào mà Cúc chịu theo con về đây.
Không biết bác Bảy có lẩm cẩm hay không? Chính ông là người muốn tôi đưa Cúc về đây, rồi bây giờ lại hỏi. Tôi trả lời:
-Dạ, bác muốn con đưa Cúc về đây, con đã làm đúng lời bác dặn.
-Đúng là bác muốn như vậy, nhưng mà có chuyện này bác chưa nói với con. Từ ngày má của Cúc mất, sau đó bác lấy bà sau, con Cúc đâm ra ghét bác, không bao giờ chịu nghe lời bác. Ngày hôm qua nó còn nói với bác là, cho dù bác có đưa mười người tới cạy chân nó cũng không về Sài Gòn đâu. Bác nhờ con, nhưng không tin là con sẽ đưa Cúc về đây được. Mà thôi, mọi chuyện sẽ tính sau, con nghỉ cho khỏe, ở chơi vài ngày rồi đưa nó về lại Đà Lạt. Phòng riêng của con ở trên lầu, phòng thứ hai bên trái, lát nữa, chị người làm sẽ hướng dẫn con mọi việc trong căn nhà này.
Ách giữa đàng lại mang vào cổ, chuyện xung đột, bất hòa giữa hai cha con họ, đang không tròng vào cổ mình.
Tôi theo chân chị người làm, đi lên căn phòng dành riêng cho mình. Thang lầu làm bằng gồ quý, hai lan can với những hàng cột chạm trổ cầu kỳ, tỉ mỉ được đánh vẹc ni bóng loáng, không một hạt bụi, chứng tỏ nó được lau chùi hàng ngày. Căn phòng tôi ở khá rộng, đầy đủ tiện nghi, điều mà tôi thích nhất là cái cửa sổ nhìn xuống sân sau của căn nhà. Tôi gieo mình xuống giường, đưa mắt nhìn những đường hoa văn chạy quanh trần nhà rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết. Đang mơ mơ màng màng, tôi chợt giật mình vì có ai đó lay nhẹ nơi vai. Tôi mở mắt ra nhìn rồi nói, giọng nói đầy bực tức:

-Ai cho em vào đây?
Cúc trả lời:
-Em vào để thức anh dậy.
Câu trả lời của Cúc khiến tôi nổi giận đùng đùng. Mặc cảm nghèo hèn, khiến tôi có thành kiến với lũ con gái nhà giàu, họ dựa vào đồng tiền nên muốn làm gì thì làm. Tôi lên giọng cay cú với Cúc:
-Vẫn biết đây là nhà của em, nhưng em phải biết chút lịch sự tối thiểu, ỷ là nhà của mình rồi muốn làm gì cũng được hay sao?
Cúc nhìn tôi đầy vẻ ngạc nhiên, đôi mắt ươn ướt như muốn khóc khiến lòng tôi chùng xuống, bao nhiêu giận dữ vụt tiêu tan, tôi nhẹ giọng:
-Tại sao em vào mà không gõ cửa?
-Em gõ cửa đến mấy lần mà không nghe anh trả lời. Cuối cùng, em đành phải mở cửa đi vào để đánh thức anh dậy. Ba đang đợi anh xuống ăn cơm tối. Anh biết mấy giờ rồi không?
– Không.
– Đã chín giờ tối rồi.
Người quá đáng là tôi chứ không phải là Cúc, tôi nói nhỏ:
-Xin lỗi em.
Tôi theo Cúc đi xuống nhà. Bác Bảy ngồi nơi bàn ăn, trước mặt ông là chai rượu Martell, khi thấy tôi, bác lên tiếng:
-Uống với bác một ly cho ấm bụng, trước khi ăn cơm.
-Thưa bác, con không biết uống rượu.
Bác Bảy lắc đầu, nhìn tôi như tiếc rẻ.
-Con đi lính được bao lâu rồi?
-Dạ, gần năm năm.
-Lính mà không biết uống rượu coi bộ hơi yếu, người ta thường nói nam vô tửu như kỳ vô phong. Ở miền Nam này không biết uống rượu kể như mất vợ. Con có biết không, đâu ba chục năm trước lần đầu tiên bác gặp ông ngoại của con Cúc, bác không biết uống rượu. Dân miền Trung của mình mấy ai biết uống rượu, tiền mua gạo không có lấy tiền đâu mà uống rượu, tuy vậy bác vẫn cố hầu rượu với ông ấy. Một mình bác uống hết một lít rượu đế, sau đó bác bị say lúy túy, nằm bò càng nơi góc nhà đến chiều hôm sau mới tỉnh lại, nhờ vậy mới lấy được má con Cúc.
Bác Bảy chỉ chiếc ghế đối diện.
-Con ngồi đó, không cần uống một lít rượu đế như bác ngày xưa. Mấy chục năm rồi, bây giờ thời thế đã khác, con uống một ly nhỏ Martell là được rồi.
Nghĩ tới Dung giờ này đã yên phận với mối tình của nàng, tôi nhìn Cúc đang ngồi đó, bên cạnh bác Bảy rồi quyết định, phải uống một lít rượu đế thôi. Tôi nâng ly Martell.
-Mời bác.
Suốt bữa ăn, bác Bảy và Cúc không hề nói chuyện với nhau, chỉ có mình tôi tả xung hữu đột khi nói với Cúc, lúc phải trả lời bác Bảy. Bữa ăn tối trôi qua trong không khí tẻ nhạt, Cúc đứng lên:
-Con mệt quá phải về phòng nghỉ, ba và anh Quân ăn cơm vui vẻ.
Khi bóng Cúc đã khuất sau cầu thang, bác Bảy hỏi tôi:
-Con buồn ngủ chưa?
-Dạ chưa.
-Vậy, bác cháu mình ra sân sau chuyện trò.

Vừa bước ra khỏi nhà, tôi ngạc nhiên đến sửng người khi nhìn thấy nguyên một tiểu cảnh ở góc vườn. Dưới ánh sáng lung linh mờ ảo của những ngọn đèn đặc biệt, một hòn non bộ với thác nước cao chừng hai mét, nước đổ ào ào, xen vào đó là những cây bonsai với đủ mọi hình dáng, từ rừng thông xanh chen chúc nhau bên bờ đá, cho đến những cây tùng mọc lác đác trên sườn núi, mà thân của nó đổ dài theo khe suối, rễ của nó bám chặt vào vách đá cheo leo. Dưới chân thác nước, tôi đếm được 5 hòn đá có hình dáng giống như những hòn núi đá ở vịnh Hạ Long mà tôi đã từng thấy qua hình ảnh. Tôi buột miệng:
-Đẹp quá chìmg.
Bác Bảy đến bên tôi.
-Con có thấy gì không?
-Dạ năm hòn đá.
-Đúng, bác cho xây hòn non bộ này vì nghĩ đến quê hương xứ sở của mình. Mỗi khi gặp khó khăn, phiền phức, bác thường ra đây ngồi nghe nước chảy rôi thả hồn về quê, bao lo âu phiền muộn sẽ từ từ tan biến. Con có thấy nó giống như Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng của mình không?
-Dạ con chưa được về xứ mình, nên không biết núi Ngũ Hành như thế nào.
Bác Bảy chỉ tôi ngồi xuống một cái ghế đá.
-Bác có chuyện nhờ con, chỉ là chuyện gia đình.
-Dạ, con sẽ cố gắng hết sức.
-Chuyện như vầy, bác là người kinh doanh về nhà cửa ở Sài Gòn. Từ ngôi biệt thự này chạy về phía phi trường Tân Sơn Nhứt, bác có khoảng chục cái building cao tầng cho Mỹ mướn.
Tôi nghe bác Bảy nói mà lạnh cả người, chỉ cần một tòa nhà cho Mỹ mướn, con cháu sống sung sướng suốt một đời, đàng này ông có những chục tòa nhà cao tầng, đó là chuyện tôi không bao giờ ngờ tới. Có điều, tôi không hiểu được tại sao một người như bác Bảy, học hành không được bao nhiêu vào Sài Gòn với hai bàn tay trắng, chưa đầy ba chục năm sau lại xây dựng nên một sản nghiệp khổng lồ như vầy. Ông ta phải là một con người đặc biệt khác thường.
Bác Bảy kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ.
-Công việc làm ăn của bác mỗi ngày một phát triển tốt đẹp, đạt đến giai đoạn cực thịnh cách đây vài năm, khi mà con số lính Mỹ viễn chinh đổ vào Việt Nam lên đến hơn nửa triệu người. Trong lúc bác đang bận bịu với công việc làm ăn, bất ngờ má con Cúc lại đột ngột qua đời vì bệnh tim bẩm sinh. Phải mất cả mấy tháng trời, nỗi buồn của bác mới nguôi ngoai được phần nào.
Đang nói chuyện, bác Bảy thân mật vỗ vai tôi:
-Có chuyện này bác muốn nói với con, đàn ông bọn mình coi vậy chứ đoản lắm, nói là buồn, nhưng vợ mất chưa được bao lâu bác đã lật đật cưới bà khác. Bà sau này có với bác đứa con trai, vừa thôi nôi cách đây độ nửa năm. Trước đây khi má con Cúc còn sống, nhưng sau khi sanh con Cúc đã không sanh đẻ được nữa, bác nghĩ rằng ông trời cũng lạ, cho mình tiền bạc thừa mứa nhung con cái để nối dòng lại quá khắt khe. Nào ngờ, khi lấy bà sau chưa được bao lâu lại có liền đứa con trai. Ông bà mình có nói “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” được đứa con trai bác mừng muốn chết, cho nên bác lẹ lẹ làm tờ di chúc, tài sản của bác sẽ chia làm hai phần bằng nhau. Con Cúc một phần, thằng con trai của bác với bà sau một phần. Chuyện bất hòa giữa bác và Cúc bắt nguồn từ đó. Con Cúc giận bác cho đến giờ.
Bác Bảy ngưng nói, ông nhìn tôi thật lâu rồi chầm chậm lên tiếng:
-Con và Cúc học chung trường, cùng là người có ăn học, dễ thông cảm nhau. Bác nhờ con giải thích cho Cúc hiểu tâm tình của bác, để cha con không còn giận hờn nhau nữa.
Bây giờ tôi đã hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, hiểu rõ mục đích chuyến đi phép bảy ngày của mình. Sau một lúc suy nghĩ, tôi mạnh dạn trả lời bác Bảy:
-Con nghĩ rằng bác làm đúng tất cả mọi chuyện, em Cúc hơi quá đáng nếu không muốn nói là quá ích kỷ, chỉ biết lo cho mình thôi. Con sẽ tìm cách nói với Cúc.

Một nụ cười thoáng trên môi bác Bảy, ông nói:
-Cảm ơn con nhiều, bác biết con sẽ làm được.
Tôi nhìn đồng hồ đeo tay.
-Bác còn gì sai bảo con nữa không?
-Không.
Tôi nói:
-Xin phép bác cho con về phòng nghỉ.
Khi tôi đi được vài bước, bác Bảy chạy theo đặt vào tay của tôi một cái phong bì dày cộm.
-Con cầm chút tiền này, mai đưa Cúc đi chơi.
-Thưa bác con có tiền.
Bác Bảy nói với tôi, giọng nói đầy uy quyền của một nhà đại tư bản.
-Tiền lương của lính Mỹ tính bằng đô la bác coi còn không ra gì huống chi lương của lính Việt Nam. Tin bác đi, lương tháng của con không đủ cho con Cúc nó sắm một bộ đồ. Cứ cầm lấy, mai mốt không xài trả lại cho bác sau. Nếu con muốn.
Tôi biết có chối từ cũng không được, đành phải cầm lấy cái phong bì. Bác Bảy dặn thêm:
-Nhà có nhiều xe, con muốn đi đâu cứ biểu tài xế chở đi.
Tôi ngủ một giấc cho đến chín giờ sáng mới thức dậy. Hôm nay tôi dự định sẽ tìm cơ hội để nói với Cúc về chuyện phân chia tài sản của bác Bảy. Tôi phải thanh toán chiến trường cho lẹ lẹ, như lính Nhảy Dù tấn công mục tiêu, sau đó còn trở về Đà Lạt.
Khi tôi đi ngang qua nhà bếp, Cúc đang ngồi nơi bàn ăn với tờ báo trên tay. Thấy tôi nàng cất tiếng:
-Anh ngủ ngon không?
Tôi trả lời:
-Lạ nhà, nhưng vẫn ngủ ngon như thường.
-Anh muốn ăn sáng ở nhà, hay muốn xuống Sài Gòn đi dạo một vòng rồi ăn sáng luôn?
Tôi chợt nhớ đến tựa đề của một bài hát khá thịnh hành, bèn đùa với Cúc:
-“Lính mà em” ăn ở đâu cũng được.
Giọng nói của Cúc hơi gắt:
-Anh ăn nói kiểu huề vốn như vậy, làm sao em biết anh muốn gì.
-Xin lỗi em, thực lòng mà nói anh có biết gì về Sài Gòn đâu. Bốn tháng ở Quân trường Thủ Đức, cuối tuần nghỉ phép anh chỉ loanh quanh từ tòa nhà Quốc Hội đến chợ Bến Thành, rồi từ Dinh Độc Lập với con đường Công Lý chạy qua khỏi cầu cho đến đường Nguyễn Minh Chiếu, chỉ chừng đó thôi. Anh về Sài Gòn cũng giống như Mán về thành.
-Em có chuyện này muốn nói với anh, nhưng anh phải hứa là không được tự ái,
-Đồng ý.
-Em muốn mời anh xuống Sài Gòn ăn trưa, em sẽ trả tiền.
-Đi liền, nhung anh phải là người trả tiền.
Tôi kể cho Cúc nghe đầu đuôi câu chuyện giữa tôi và bác Bảy tối hôm qua, kể luôn cả chuyện bác đã đưa tiền cho tôi. Tôi nói với Cúc:
-Anh đoán số tiền ba em đưa cho anh nhiều, nhưng anh không ngờ nó nhiều đến như vậy. Lương trung úy độc thân của anh chỉ có hai mươi lăm ngàn một tháng, số tiền trong bì thơ bằng hai tháng lương của anh. Mà thôi, dẹp chuyện tiền bạc qua một bên, anh chỉ muốn nói với em hãy thương ba em, đừng giận ông ấy nữa. Chuyện ba em chia đôi gia tài cũng phải thôi, con bà trước hay bà sau cũng là con của ông ấy, hơn nữa đứa bé lại là con trai. Nỡ lòng nào em dành hết phần của em mình, cho dù là em cùng cha khác mẹ.
Cúc chăm chú nhìn tôi nhăn mặt, tỏ vẻ khó chịu, được một lúc nàng mới nói:

-Câu chuyện hơi dài, mình ra nhà sau ngồi em sẽ kể cho anh nghe. Được không?
-Anh, lúc nào cũng sẵn sàng.
-Để em dặn chị Hai làm thức ăn sáng, anh muốn ăn gì?
-Gì cũng được.
Tôi và Cúc ra ngồi ở bãi cỏ bên hòn non bộ. Cúc mở đầu câu chuyện:
-Trước đây, em dặn lòng là sẽ không bao giờ về lại Sài Gòn gặp ba em, nhưng hôm qua lúc gặp anh em lại đổi ý. Em muốn kéo anh về phe em để chống lại ba em. Em nghĩ, tại sao không nương vào sự tin tưởng của ba em đối với anh để thuyết phục ông đừng chia gia tài cho má ghẻ của em. Tất cả những gì ba em nói với anh đều là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần của sự thật thôi, mà một phần thì chẳng khác gì chuyện anh mù sờ voi. Ôm cái chân voi, rồi la lên là con voi giống cái cột nhà.
Cúc nhìn tôi như chờ đợi, khi thấy tôi yên lặng, nàng nói tiếp.
-Ông ngoại của em là người Ấn, sang Việt Nam từ thời Pháp thuộc. Thời bấy giờ, đa số người Ấn ở Việt Nam sinh sống bằng nghề cho vay lấy lãi hoặc là mở cửa hàng buôn bán mỹ phẩm, tơ lụa chở từ Bombay sang. Riêng ông ngoại em lại lấy vợ Việt, nuôi một đàn dê bán thịt, lấy sữa. Chuyện cũng dễ hiểu, vì ông không có nhiều vốn như những người Ấn khác. Ngày xưa, từ cầu Mạc Má Hồng chạy dài đến phi trường Tân Sơn Nhứt là một vùng đất hoang, cây cối xanh tươi, cỏ dại mọc đầy đồng, lác đác chỗ này vài chục căn nhà tranh vách đất, chỗ kia dọc theo mặt lộ mươi căn nhà gạch, gom hết lại độ vài trăm căn nhà. Ông ngoại em cho đàn dê ăn cỏ trên vùng đất đó.
Tôi ngắt lời Cúc.
-Khoan đã, em nói cái cầu tên gì?
-Cây cầu tên là Mac Mahon, người Việt mình đọc thành Mạc Má Hồng. Sau này đổi tên là cầu Công Lý.
-Em chỉ thua anh có vài tuổi sao em rành chuyện xưa của Sài Gòn như vậy?
-Ông ngoại em kể lại, vì đây là vùng đất của ông ngoại em mà. Chuyện như thế này, sở thuế của Sài Gòn muốn thâu thuế trên đàn dê của ông ngoại, vì đàn dê ăn cỏ trên đất của thành phố nhưng không thâu thuế được, phần ông ngoại lại cho rằng đất ở đây không phải của ông, đàn dê chỉ ăn cỏ trên đó thôi. Cuối cùng một giải pháp ổn thỏa cho cả hai bên là, sở đất Sài Gòn ký giấy cho ông ngoại phần đất từ cầu Mạc Má Hồng đến Tân Sơn Nhứt để ông chăn dê, với điều kiện phải đóng thuế thổ trạch. Từ một di dân bỗng dưng trở thành địa chủ, ông ngoại phải đi thu thuế của những gia đình có nhà trên vùng đất này, rồi nộp lại cho sở thuế của Pháp ở Sài Gòn. Chuyện được sở hữu miếng đất ông ngoại không phàn nàn, nhưng khi thu thuế đất thường gặp khó khăn, trở ngại, vì người dân ở đây lý luận rằng: họ là dân Việt Nam, sống trên đất Việt Nam tại sao lại phải nộp thuế đất cho một anh Ấn Độ. Chuyện tranh cãi về thuế đất dùng dằng, kéo dài cho đến cái năm Nhật đảo chánh, ba của em từ Quảng Nam lưu lạc đến vùng này. Ông ngoại thuê ba để chăn đàn dê và thu thuế đất cho ông. Ba em lúc bấy giờ là một thanh niên trẻ tuổi lanh lẹ, làm việc giỏi giang, nhất là khi đi thu thuế đất, không biết ba nói những gì mà việc thu thuế êm xuôi, trót lọt.
Ông ngoại thường nói với em “Tao gả má mày cho ba mày, vì tao muốn cột cẳng ba mày ở đây. Thiếu ba mày, một mình tao làm sao lo nổi mọi chuyện”. Em nói với ông “Vậy là ông ngoại lợi dụng ba con”. Ông cười rồi nói “Lúc đầu tao có ý đó thiệt, nhưng sau này tao thương ba mày còn hơn con ruột”
Chị người làm bưng ra hai phần ăn sáng. Không khách sáo, tôi kéo khay thức ăn lại trước mặt mình, vừa ăn vừa hỏi Cúc:
-Ông ngoại em có bao nhiêu người con?
-Chỉ có một mình má em.
Tôi đùa với Cúc:

-Ba em cũng sướng thiệt, ông ngoại em tạo dựng nên cơ nghiệp. Ba em vào thừa hưởng.
-Không đúng đâu anh ơi! Nói như vậy tội nghiệp cho ba em. Trước thập niên năm mươi, vùng đất từ Tân Son Nhứt về đến cầu Mạc Má Hồng, ai muốn lấy bao nhiêu đất để xây nhà cũng được, họ chỉ tốn một ít tiền gọi là lệ phí giấy tờ sau đó phải đóng thuế thổ trạch cho ông ngoại của em. Ông ngoại sẽ nộp tiền thuế này lại cho sở thuế ở Sài Gòn. Gần hai chục năm sau, khi lính Mỹ đổ vào Việt Nam, vùng đất này trở thành vùng đất vàng. Lúc bấy giờ ba em bán bớt đất, xây building cho Mỹ mướn rồi giàu lên từ dạo ấy đến giờ.
Tôi chấm dứt bữa ăn sáng bằng một ngụm cà phê, rồi nói với Cúc:
-Tất cả gia tài sản nghiệp do một tay ông tạo dựng nên, đúng không?
-Đúng, em đâu có phủ nhận công của ba em đâu.
Tôi mừng quá sức, vì câu chuyện diễn tiến tốt đẹp theo chiều hướng mà tôi muốn.
-Nếu vậy, ba em có quyền phân chia tài sản của ông theo ý ông muốn, tại sao em lại giận ba em?
Gương mặt của Cúc bỗng nhiên đối sắc. Cúc trả lời tôi, với giọng nói đầy tức giận:
-Cũng tại nơi hòn non bộ này, năm ngoái khi ba em đi Đà Nẵng lo công việc, má ghẻ của em dẫn thằng bồ của nó về đây. Con nhỏ không biết em vừa từ Đà Lạt về lại nhà vào tối hôm trước, đang ở trên lầu. Từ phòng anh ở nhìn xuống đây, anh sẽ không thấy gì, nhưng bên phòng ngủ của em sẽ thấy rất rõ.
-Em ăn nói hơi lỗ mãng, tại sao lại kêu má ghẻ của mình là con nhỏ.
-Nó bằng tuổi em lại lăng loàn, anh muốn em kêu nó bằng gì?
Rõ ràng là tôi đang rơi vào tình huống bất ngờ, nhưng tôi vẫn cố gắng vớt vát.
-Tại sao em biết họ là bồ của nhau?
-Ba em vắng nhà cả tuần, hai đứa mất nết ngồi đây hôn nhau, không phải là bồ thì gọi là gì?
Cúc nhìn tôi với đôi mắt buồn hiu.
-Anh có biết, tại sao em không muốn ba em chia gia tài cho thằng bé không?
-Không, tại sao vậy?
-Bởi vì, thằng bé là con của má ghẻ em với thằng bồ của bả, nó giống thằng bồ của má ghẻ em như hai giọt nước. Nó đâu phải là con của ba em. Ba em là cái mỏ vàng mà người đào mỏ là má ghẻ của em và thằng bồ của bả.
Tôi ngồi thừ người ra đó, tiếng thác nước từ hòn non bộ đổ xuống hồ nghe rào rào như tiếng mưa rơi. Âm thanh của nó khiến tôi chợt nhớ đến một cuốn phim đen trắng của Nhật, mà tôi đã được xem cách đây vài năm. Ba người núp mưa dưới cái cổng tên là Rashomon cổ xưa, dẫn vào miền nam cố đô Kyoto. Một nửa mái cổng đổ nát, tàn tạ tiêu điều chìm trong làn nước mưa xám đục, một ông sư, một bác tiều phu, một gã thường dân…. đâu là sự thật?
Bác Bảy và Cúc, tôi phải tin ai?
Cho dù câu chuyện Cúc kể không có một bằng chứng cụ thể nào về gốc gác của thằng bé, nhưng qua trực giác tôi tin rằng Cúc nói đúng. Còn nếu muốn suy luận lại càng rõ ràng hơn, một cô gái mới hai mươi tuổi chịu lấy bác Bảy, một ông già đáng tuổi cha mình, nếu không vì tình thì chỉ vì tiền mà thôi.
Mục đích của tôi là thuyết phục Cúc, bây giờ tôi lại bị Cúc thuyết phục.
-Anh đang nghĩ gì vậy?
Giọng nói của Cúc kéo tôi trở về với thực tại, mặc dù nghe Cúc nói rõ ràng nhưng tôi vẫn hỏi lại:
-Em nói gì?
-Anh làm gì mà ngồi ngẩn người ra như vậy?
Thay vì trả lời câu hỏi của Cúc, tôi hỏi lại nàng:

-Tại sao, em không nói chuyện bê bối của bà má ghẻ và thằng bé cho ba em nghe?
-Liệu ba em có tin lời nói của em hay không? Hay là ông lại cho rằng em đặt chuyện để vu khống cho người ta. Em muốn nhờ anh nói giùm, đó là lý do tại sao em đồng ý theo anh từ Đà Lạt về đây.
Tôi lắc đầu:
-Chuyện quan trọng lại quá sức tế nhị, anh không đủ khả năng. Hơn nữa, nếu ăn nói không khéo léo, bác Bảy có thể nổi giận cho anh vài cái bạt tai rồi tống cổ anh ra khỏi nhà với câu nói “Cái trứng đòi khôn hơn con gà”
Hai đứa im lặng nhìn nhau, cuối cùng tôi nói với Cúc:
-Anh không giúp được gì cho em đâu. Ngày mai anh sẽ về Đà Lạt, em có muốn đi cùng với anh hay không, tùy ý em.
Cũng đúng lúc ấy, tôi nói với Cúc một câu nói mà tôi không hề muốn nói:
-Ba em chia cho em một nửa gia tài như vậy là quá rồi, nếu ổng để hết gia tài lại cho thằng bé, em cũng chẳng làm gì được, luật pháp đâu có cấm cản.
Tôi không ngờ câu nói trong lúc cùng đường lại có kết quả, Cúc ngồi im lặng một lúc rồi nói với tôi:
-Anh nói đúng, em sẽ suy nghĩ lại, cảm ơn anh đã giúp em. Giờ này cũng đã hơn mười một giờ rồi, em mời anh xuống Sài Gòn ăn trưa.
-Chuyện đó không có gì trở ngại, anh cũng muốn dạo một vòng Sài Gòn.
Tôi mặc bộ đồ tiểu lễ mùa hè của Trường Võ Bị Đà Lạt, gắn thêm cặp lon trung úy nơi cầu vai áo rồi thong thả đi xuống nhà. Cúc cũng đã chưng diện xong xuôi, hai đứa lên chiếc Peugeot 404. Anh tài xế với giọng kính cẩn.
-Thưa cô muốn đi đâu?
Cúc trả lời cộc lốc:
-Sài Gòn.
Quay sang tôi, Cúc nói:
-Hình như anh thích mặc đồ lính hơn đồ dân sự.
-Đúng.
-Khi đi phép, anh có quyền mặc thường phục mà.
-Con người anh yếu đuối, thiếu tự tin, lúc nhỏ khi đi học bị bạn bè trong lớp hiếp đáp, đứa bóp mũi, đứa cú đầu, đứa đá đít, có cục kẹo giấu trong túi cũng bị tụi nó lục lấy mất. Bị ăn hiếp riết thành quen, anh coi đó là chuyện bình thường. Lớn lên khi vào trung học, anh học hành không được giỏi giang gì cho lắm, năm nào cũng chỉ hơn được mươi đứa ở cuối lớp. Lúc thi đậu Tú tài, thấy tên mình trên bảng anh vẫn chưa tin. Khi đi lính, anh không dám thi vào Hải Quân hay Võ Bị Đà Lạt vì sợ mình không đủ sức.
Cúc nói:
-Đó là chuyện xưa, còn bây giờ phải khác chớ.
-Không có gì khác, một đôi khi em thấy anh ăn nói cộc cằn, thô lỗ rồi nghĩ rằng anh có cá tính mạnh hoặc dữ nhưng thật ra đó chỉ là phản ứng của một người nhút nhát, mang đầy mặc cảm. Tự tin sao được khi anh mặc đồ dân sự đi ngoài phố, là bị cảnh sát gác đường chận lại xét giấy tờ vì nghi là anh trốn quân dịch. Hơn nữa đen đúa, xấu xí như anh lại mặc bộ đồ dân sự rẻ tiền không hợp thời trang, đi với một cô gái ăn mặc sang trọng lịch sự như em dám bị người ta nói “Tiếc thay cây quế giữa rừng” hoặc tệ hơn nữa có thể bị du đảng Sài Gòn đánh cho gãy tay, què cẳng như không. Thôi thì cẩn tắc vô áy náy, biết phòng xa vẫn tốt, mặc bộ đồ tiểu lễ của Trường Võ Bị Đà Lạt, thêm cặp lon trung úy nơi cầu vai áo, giúp anh tự tin hơn.
Xe chạy vòng theo bùng binh chợ Bến Thành, khi đi ngang qua nhà hàng Thanh Bạch tôi nói với anh tài xế.
-Ngừng xe ở đây.

Cúc quay qua nhìn tôi:
-Anh muốn ăn trưa ở Thanh Bạch?
-Không, mấy năm trước lúc còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức anh cùng hai người bạn có ăn tối ở đây, anh chỉ muốn nhìn lại chốn cũ chút xíu.
Khi nói xong, tôi mới giật minh nghĩ lại, mình chỉ nói có một phần sự thật. Tôi giấu biệt chuyện có Dung trong bữa ăn đó, giấu chuyện tôi yêu Dung say đắm như thế nào.
Tối hôm đó, không biết Cúc nói gì với bác Bảy, ngày hôm sau khi gặp tôi bác Bảy vồn vã, săn đón, niềm nở chuyện trò với tôi như là thượng khách trong nhà. Ông dẫn tôi và Cúc đi ăn uống ở những nhà hàng sang trọng của Sài Gòn và Chợ Lớn, sắm cho tôi những bộ quần áo đắt tiền. Cúc đã hết giận bác Bảy. Nhìn cha con họ vui vẻ bên nhau, cười nói huyên thuyên tôi thấy hết sức áy náy trong lòng. Lạy trời, xin bác Bảy đừng nghe lời nói bậy của tôi trong lúc cùng đường, đem hết gia tài sản nghiệp của bác để lại cho mẹ con thằng bé.
Liên tiếp mấy ngày sau đó, Cúc dẫn tôi rong chơi khắp Sài Gòn trên chiếc xe Peugeot 404. Tôi ăn diện như một tay chơi thứ thiệt của Sài Gòn, áo quần đắt tiền, lịch sự hợp thời trang, thêm đôi giày da của Ý bóng láng, khiến cho tôi quên mất mình là con của một gia đình nghèo, quên luôn mình là lính trong một đất nước mà bom đạn của chiến tranh đã tàn phá, hủy hoại đến tận cùng của khổ đau.
Gần ngày cuối cùng của bảy ngày phép, Cúc cho tài xế lái xe ra Vũng Tàu. Tôi ngồi dựa ngửa trên chiếc ghế dựa nơi bãi biển, bên cạnh là chai bia 33 lạnh ngắt, từng giọt mồ hôi lạnh của chai bia chảy dọc theo thân chai, mới nhìn thấy chưa kịp uống đã phát thèm. Cúc từ dưới biển đi lên, thân hình cân đối đầy đặn với làn da trắng mịn màng, gói gọn trong bộ bikini xanh lợt. Tôi thấy rõ cái hấp lực mãnh liệt trong một tấm thân căng đầy nhựa sống. Những giọt nước biển trong veo chảy dài theo thân thể của nàng, long lanh, lấp lánh dưới ánh mặt trời khiến tôi ngẩn ngơ cả người. Để xóa bỏ ý nghĩ xấu trong đầu, tôi quơ tay nâng chai bia uống một hơi. Cúc lại gần chiếc ghế bên cạnh tôi nhẹ giọng:
-Anh ngồi nhớ ai mà như mất hồn vậy? Xuống tắm biển với em.
Vừa dứt lời, Cúc nắm dây thẻ bài tôi đeo nơi cổ, kéo tôi đứng lên.
-Cho em coi cái thẻ bài của anh được không?
Tôi tháo hai tấm thẻ bài đưa cho Cúc.
-Cho em luôn cũng được huống gì chỉ coi thôi.
-Thiệt không?
-Anh không biết nói láo.
Cúc nói:
-Hình như thẻ bài là vật bất ly thân của lính, phải không anh?
Tôi trả lời Cúc:
-Đúng, nhưng chỉ đúng với người lính tác chiến ở ngoài trận địa, nơi mà bom đạn vô tình, có thể đốt cháy hoặc xé nát thân xác người lính thành nhiều mảnh nhỏ, công dụng của tấm thẻ bài là để xác nhận tính danh của người quá cố. Thêm một công dụng nữa cũng không kém phần quan trọng, là trên tấm thẻ bài còn ghi rõ loại máu của người lính mang nó, phòng khi bị thương cần được tiếp máu. Anh là lính văn phòng, tấm thẻ bài không quan trọng lắm đâu. Mai mốt, anh làm lại tấm thẻ mới.
Dưới ánh nắng ấm của bầu trời Vũng Tàu, hai thân thể đứng gần như chạm nhau, tôi quay mặt đi không dám nhìn thân hình quá sức hấp dẫn của Cúc trong bộ áo tắm rồi nói:

-Mấy hôm rày, anh có chuyện muốn hỏi em nhưng thấy không thuận tiện.
-Chuyện gì vậy anh?
Tôi hơi ngập ngừng khi hỏi Cúc
-Em..em có bạn trai chưa?
Cúc cười:
-Em có nhiều bạn trai nhưng chưa có bồ. Anh biết rồi, bạn trai và bồ hoàn toàn khác nhau. Ở vào hoàn cảnh của em, tìm được một người tình quả thực khó hơn chuyện bắt con lạc đà chui qua cái lỗ kim.
-Em giải thích rõ hơn được không? Con nhà giàu, học giỏi như em thiếu gì bồ.
-Câu nói đó, chỉ áp dụng cho con trai chứ không phải cho con gái.
Cúc nói với gương mặt buồn hiu.
-Con gái xấu như em không nên học nhiều, học càng cao càng khó kiếm chồng, hơn nữa nhà em lại quá giàu. Đám bạn trai của em trên Viện đại học, sau một thời gian quen biết, họ từ từ rút lui nhẹ nhàng không kèn không trống.
-Tại em kênh kiệu quá chứ gì?
-Không phải, chỉ tại không ai muốn ra trường với mảnh bằng kỹ sư đào mỏ.
Câu nói vô tình của Cúc như một nhát búa đập lên đầu tôi. Đó là vấn nạn đeo đẳng tôi suốt cả tuần qua.
Ngày xưa, khi thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt, lương lính chẳng được bao nhiêu, tôi ký cóp dành dụm từng xu, chắt chiu góp nhặt từng đồng hy vọng sau vài năm sẽ có đủ tiền mua chiếc xe Honda hai bánh mới để đi làm, và cũng để gọi là có chút gì với mọi người. Thời tôi mới ra trường, chiếc xe Honda trị giá năm mươi ngàn đồng. Bốn năm sau, khi tôi để dành được năm mươi ngàn đồng giá chiếc xe tăng lên gần gấp đôi. Tôi không biết gì về Kinh tế học nhưng cứ cái đà lạm phát như thế này bốn năm nữa, khi tôi để dành được một trăm ngàn, không chừng giá của chiếc xe Honda sẽ tăng vọt lên khoảng hai trăm ngàn đồng hay có thể hơn nữa. Như vậy, nếu tôi tiếp tục để dành tiền, cuối đời cũng chỉ mua được cái bóng chứ không bao giờ mua được chiếc xe.
Chuyện dành dụm mua chiếc xe Honda hai bánh, bao nhiêu năm rồi tôi làm không được, thử hỏi chuyện lớn hơn như ông bà mình thường nói “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà”. Làm sao tôi có thể thực hiện được, suốt đời chỉ là mơ thôi mà.
Tuần trước bác Bảy cho tôi năm chục ngàn, tất cả hãy còn nguyên, chưa mẻ lấy một xu. Nguyên một tuần lễ đi chơi với Cúc, bao nhiêu chi phí Cúc lo hết. Với số tiền bác Bảy cho, cọng thêm tiền tôi để dành, giờ đây tôi có thể đi mua một chiếc xe Honda mới tinh. Lẽ ra tôi phải dừng lại là tốt nhứt, thế nhưng tôi lại nghĩ đến chiếc xe hơi hiệu Peugeot sang trọng, êm như nhung mà tôi đang đi, căn biệt thự to lớn đầy đủ tiện nghi trên đường Công Lý tôi đang ở, thêm hàng chục building cao tầng cho Mỹ mướn. Tôi muốn tiến xa hơn một bước nữa. Nếu lấy Cúc tôi sẽ có tất cả, chỉ kẹt có một điều, tôi học Văn khoa nhưng sẽ tốt nghiệp Kỹ sư đào mỏ. Đó là vấn nạn của tôi.
Sau một lúc suy nghĩ, tôi giải quyết vấn nạn của mình bằng câu nói tỏ tình với Cúc.
-Em có nghĩ rằng anh là thằng đào mỏ không?
Gương mặt Cúc thoáng chút ngạc nhiên, sau đó nàng cúi đầu nhìn xuống bộ bikini mà nàng đang mặc rồi nói với giọng chắc nịch
-Không.

Ngày hôm sau, tôi hộ tống Cúc về Đà Lạt. Tuần trước, khi đi Sài Gòn với Cúc tôi có năm chục ngàn gởi tiết kiệm ở Nam Đô ngân hàng. Ngày về, tôi đủ tiền mua chiếc xe Honda mới với giá hàng trăm ngàn, không chừng tôi còn có nhiều hơn nữa, chưa biết được.
Trở về Đà Lạt, chuyện đầu tiên tôi làm là đi mua chiếc Honda mới. Ước mơ trở thành sự thật, rút ngắn thời gian ít ra cũng được năm năm, tôi vui vẻ lái xe lang thang cùng khắp Đà Lạt. Tôi nhớ đến câu nói: “Người con trai có ba chuyện khó khăn phải làm, thứ nhất tậu trâu, thứ nhì cưới vợ, thứ ba làm nhà.” Mua được chiếc xe giống như chuyện tôi tậu được con trâu, còn chuyện cưới vợ, làm nhà đã có ba má tôi lo liệu.
Những lúc sau này, bác Bảy thường xuyên lên Đà Lạt thăm ba má tôi. Chuyện người lớn nói với nhau tôi không biết được, chỉ biết là năm sau ba tôi bán căn nhà gỗ ọp ẹp với miếng vườn nhỏ ở Trại Hầm rồi mua một căn nhà ba tầng khá khang trang ở đường Phan Đình Phùng, gần rạp ciné Ngọc Hiệp. Tôi biết rằng, tiền bán căn nhà ở Trại Hầm chỉ đủ để ba tôi mua một căn nhà bếp ở phố. Số tiền khổng lồ cần có để bù vào giá cả chênh lệch giữa hai căn nhà, phải có bàn tay của bác Bảy nhúng vào.
Tôi trả lại căn phòng cư xá độc thân của tôi cho trường rồi dọn về ở chung với ba má của tôi. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, cuộc sống vật chất của tôi đã thay đổi hoàn toàn. Lương tháng của tôi không cần phải trích ra vài ngàn phụ giúp mấy đứa em, không cần phải để dành tiền mua xe. Tôi tiêu xài rộng rãi, thoải mái hơn xưa. Mỗi thứ Bảy, Chủ Nhật tùy theo có trực hành quân hay không tôi thường chở Cúc dạo phố Đà Lạt, khi thì cà phê Tùng, cà phê Thủy Tạ, lúc ăn sáng ở phở Bắc Huỳnh gần ga xe lửa, ăn trưa ở nhà hàng Mê Kông, thậm chí có nhiều lần chúng tôi vào ăn tối ở nhà hàng Chic Shanghai. Đi chơi với Cúc, năm thì mười họa, tôi mới được trả tiền cà phê một lần, nói gì đến chuyện trả tiền ăn nhà hàng. Đà Lạt là một tỉnh nhỏ, chuyện nhỏ chút xíu như cái móng tay cũng có thể đồn ầm lên. Tình cờ một vài lần, tôi nghe được những lời thiên hạ xì xầm, đàm tiếu về tôi.
-Vợ chưa cưới của ông ấy là con nhà tỉ phú ở Sài Gòn.
-Căn nhà ông ấy ở đường Phan Đình Phùng là do bên vợ mua cho, trước đây nghe nói nghèo kiết xác ở đâu tận Trại Hầm.
Những lời bàn ra tán vào về tôi tuy hoàn toàn đúng, nhưng tôi vẫn cảm thấy khó chịu mặc dầu đã chuẩn bị tinh thần từ trước.

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương
Post by Sơn râu 13 Feb 2025

Bài 5
Hai ngày trong đời của một sĩ quan trực
Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt.

Ngày thứ nhất: Đời sống quân ngũ, “An Lộc trong bão lửa”

Sáu giờ sáng, tôi thức dậy, vệ sinh cá nhân, tắm rửa. Sáu giờ rưỡi, hôm nay thứ Hai đầu tuần, tôi mặc bộ đồ làm việc mùa đông để đi làm, bộ đồ này giống như bộ tiểu lễ mùa đông chỉ khác là không mang dây biểu chương, khi mùa nóng đến, trường sẽ có thông báo thay quân phục mùa hè. Tôi đang ở cư xá sĩ quan độc thân Thủy Tiên II của Trường Võ Bị Đà Lạt. Cư xá nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ ngay trung tâm thành phố, cách khu phố Hòa Bình chừng mười phút đi bộ.Bảy giờ kém, tôi đi bộ ra trước rạp ciné Hòa Bình, xe bus của trường đã đậu sẵn ở đó để chở nhân viên dân chính và quân nhân đi làm. Sáng mùa đông, trời Đà Lạt lạnh buốt, tôi thường đi làm bằng xe bus của trường vì trên xe bus đông người, cửa đóng kín cho nên bầu không khí trong xe ấm hơn. Nếu không thích đi xe bus, tôi có thể dùng chiếc xe Honda hai bánh cũ rích, tróc sơn, mòn vỏ của mình để đi làm.
Tám giờ kém mười, xe bus đổ tại tòa nhà Bộ chỉ huy.
Tám giờ, tôi vào Trung tâm hành quân, nhận bàn giao phiên trực với trung úy Hàn, sĩ quan hạ phiên. Lệ thường, Trung tâm hành quân của một đơn vị phải được đặt ở nơi an toàn tối đa, chìm sâu dưới mặt đất với nhiều lớp bao cát bao phủ ở bên trên. Chỉ riêng Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt hơi khác thường, đó là một căn phòng rộng khoảng ba chục thước vuông, trang trí gọn gàng sạch sẽ năm ở tầng hai của tòa nhà Bộ chỉ huy, chung quanh là cửa kính sáng loáng bao bọc nhìn ra Vũ Đình Trường Lê Lợi. Ở đây, người ta có thể quan sát rõ ràng, tất cả những diễn tiến của lễ mãn khóa được tổ chức thường xuyên hàng năm. Đó là lý do tại sao Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt được đặt ở một nơi hớ hênh như vậy. Gặp khi chiến trận xảy ra, chỉ cần một trái đạn pháo 82 ly của Việt Cộng rơi vào là Trung tâm hành quân sẽ bị tê liệt, bị phá hủy hoàn toàn. Nơi góc phòng của Trung tâm hành quân có hai giường nệm, một dành cho sĩ quan trực và một dành cho hạ sĩ quan. Trong phòng còn có hai bàn làm việc, với hơn chục cái điện thoại đủ loại, từ điện thoại liên lạc nội bộ, điện thoại liên lạc trong tỉnh cho đến điện thoại viễn liên có thể liên lạc khắp miền nam Việt Nam. Một bản đồ trường Võ Bị và một bản đồ thị xã Đà Lạt gắn trên tường.
Tám giờ đến mười một giờ sáng, tất cả giấy tờ liên hệ đến Trung tâm hành quân đã có hạ sĩ quan trực lo liệu. Tôi ngồi vào bàn làm việc của mình, chép lại bài học của ngày hôm trước. Những bài học này, tôi mượn của người bạn gái học chung lớp ở Viện đại học Đà Lạt. Thiếu tá trưởng phòng không thắc mắc gì về chuyện tôi học bài trong giờ làm việc. Ông chỉ cần biết là tôi đã chu toàn bổn phận được giao phó.

Mười một giờ, tôi thả bộ qua Câu lạc bộ sĩ quan cách đó vài trăm thước ăn cơm trưa, đi bộ cho giãn gân giãn cốt sau mấy giờ ngồi một chỗ. Nếu lười biếng tôi có thể nhấc điện thoại lên, bữa cơm trưa từ Câu lạc bộ sẽ được đem tới phòng làm việc của tôi, lẽ dĩ nhiên ăn cơm Câu lạc bộ thì phải trả tiền. Mười hai giờ tới một giờ, tòa nhà chỉ huy ngưng hoạt động, mọi phòng ban đều đóng cửa nghỉ trưa. Tất cả những cú điện thoại từ bên ngoài gọi vào trường đều đi qua Trung tâm hành quân. Tôi là người trả lời điện thoại.
Một giờ chiều, tôi lấy chiếc xe Jeep của phòng đi qua Quân Trấn họp. Trung tâm hành quân lúc ấy chỉ còn người hạ sĩ quan trực. Giải quyết mọi vấn đề trong thời gian này là thiếu tá trưởng phòng, ông ấy có phòng riêng ở bên cạnh Trung tâm hành quân.
Thông thường, khi sử dụng quân xa, tài xế sẽ lái xe còn sĩ quan ngồi ở ghế trưởng xa bên tay phải, đó là luật thế nhưng hầu hết những ông sĩ quan cấp úy tuổi trẻ, háo thắng thường làm ngược lại. Sĩ quan lái xe, tài xế ngồi ghế trưởng xa hóng mát. Tôi còn ngon hơn nhiều, cho tài xế ở nhà ngủ trưa luôn cho khỏe, bởi vì anh tài xế thường hay cằn nhằn, khi tôi sang số xe không được êm cho lắm, và nhất là đã mấy lần suýt lọt xuống hố khi qua một khúc cua gắt. Không có tài xế ngồi một bên, tôi cảm thấy thoải mái hơn. Một mình tôi lái xe, muốn đi đâu cũng được, ghé chỗ nào cũng xong, lỡ có rớt xuống hố cũng chỉ một mình tôi chịu.
Trên đường qua Quân Trấn, lợi dụng thời cơ gọi là đi họp, tôi ghé cà phê Thủy Tạ, uống ly cà phê, hút vài điếu thuốc, ngắm hồ Xuân Hương trong nắng hanh vàng của mùa đông, luôn tiện khoe với mọi người là tôi biết lái xe hơi mặc dầu mình không có bằng lái. Nếu không thích ngắm cảnh, tôi có thể ghé quán Hạnh Tâm gần vòi phun nước ở chợ Đà Lạt, uống ly cà phê nghe vài bản nhạc tình, nhìn cô thu ngân tên Huệ với vẻ đẹp
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn.
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa.

Tôi, trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt, độc thân, bốn năm qua sống lao đao lận đận với mối tình đầu, một đôi lúc cảm thấy buồn đến não ruột. Có một lần, nhân lúc trả tiền ly cà phê khi đứng gần cô Huệ, tôi buông lời chọc ghẹo để rồi nhận được cái liếc mắt sắc như lưỡi dao. Cô không nói gì, chỉ cố ý đưa bàn tay cho tôi thấy chiếc nhẫn nơi ngón tay áp út. Cô Huệ từ tốn thối lại cho tôi một mớ bạc lẻ, rồi dịu dàng nói:
-Ba đồng một mớ trầu cay.
Tôi giật mình đánh thót, cô nàng này bên ngoài coi bộ yểu điệu, dịu hiền nhưng không ngờ cũng lãng mạn dữ.
Cô Huệ trông chỉ chừng hai mươi tuổi, đã mang nhẫn cưới trên tay. Mối tình đầu của tôi, bốn năm qua rồi giờ đây chắc cũng đã tay bồng tay bế. Từ đó về sau, tôi ghé cà phê Hạnh Tâm chỉ ngồi yên một góc nhâm nhi ly cà phê đen, nghe nhạc, nhìn người đẹp trong tiếc nuối muộn màng.
Có những ngày, mặc dù lệnh cấm trại một trăm phần trăm, trên đường đi qua Quân Trấn tôi cũng ghé cà phê Hạnh Tâm. Đang cấm quân mà có một ông trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt ung dung, thoải mái ngồi uống cà phê quả là chuyện lạ, Quân Cảnh đời nào mà tha cho một con mồi béo bở như vậy. Hai ông Quân Cảnh liền vào tận nơi, lịch sự mời tôi ra ngoài để xét giấy tờ. Khi nhìn thấy sự vụ lệnh đi họp Quân Trấn, vũ khí mang theo là cây súng colt 45 với con dấu nổi của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị ký, mấy ông Quân Cảnh lật đật xin lỗi rồi dông mất.
Ba giờ chiều, tôi tới Quân Trấn, họp với sĩ quan trực, lấy mật khẩu, mật hiệu phòng thủ trong đêm đựng trong một phong bì niêm kín. Sau đó, tôi quành xe ra chợ mua một phần cơm sườn cho buổi ăn tối, cơm ở Câu lạc bộ sĩ quan trong Trường Võ Bị làm sao có thể sánh với cơm sườn nướng ở chợ Đà Lạt. Mọi chuyện coi như đã xong xuôi, tôi lái xe về trường.
Năm giờ chiều, tôi về đến trường. Kể từ giờ phút này mọi hoạt động của tất cả các phòng ban trong trường đều chấm dứt. Thiếu tá trưởng phòng của tôi cũng sửa soạn ra về. Tôi chính thức lo tất cả mọi chuyện phòng thủ ban đêm của trường. Ngoài vòng đai xa của trường đã có binh sĩ của Tiểu khu Tuyên Đức; bên ngoài hàng rào phòng thủ của trường, đã có Tiểu đoàn An Ninh canh giữ cũng như phân bố mấy chục điểm kích; phía Đồi Bắc có Đại đội Thao Diễn trấn giữ. Tất cả tọa độ của những điểm kích này đều được ghi rõ trên phóng đồ hành quân chuyển cho pháo binh và những đơn vị bạn. Mọi cổng ra vào của trường, từ cổng Thái Phiên, cổng Nam Quan cho tới cổng Lý Thường Kiệt đều đã nhận mật khẩu, mật hiệu trong đêm.
Khoảng sáu giờ tới bảy giờ tối, các toán kích canh giữ những điểm trọng yếu trong trường do sinh viên sĩ quan đảm nhận, sinh viên trưởng toán đến Trung tâm hành quân lấy mật khẩu. Đây là mật khẩu nội bộ, khác với mật khẩu bên Quân Trấn.
Bảy giờ tối, công việc phòng thủ trường hoàn tất, tôi nhấc điện thoại báo cáo với đại úy trực Phòng hành quân tại tư dinh của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng. Tuy ở ngoài tư dinh, nhưng Thiếu tướng Chỉ huy trưởng vẫn nắm vững tình hình an ninh trong trường, qua Phòng hành quân bỏ túi tại tư dinh của ông.
Xong xuôi mọi việc, tôi bắt đầu bữa ăn tối, vừa ăn cơm tôi vừa lấy bài vở ở trường ra ôn lại. Nếu cần tham khảo tài liệu, tôi có thể ghé thư viện của trường để mượn.
Mười giờ tối, tôi lên giường.
Chiều nay, lúc vừa từ Quân Trấn về, tôi thấy một bức thư do bưu tín viên đem đến để trên bàn làm việc của tôi. Tên người gửi là Trung úy Nguyễn Đức. Tên người nhận là tôi, Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, KBC 4027.
Tôi tắt đèn neon trên trần rồi mở ngọn đèn đọc sách ở đầu giường.

Tháng 11, 1972.
Quân,
Tao là Trung úy Đức, Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh, bạn học cùng lớp với mày ở trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt, không biết mày còn nhớ tao không? Nếu mày không nhớ để tao nhắc cho. Hồi đó tụi mày đặt cho tao cái biệt danh là Đứt thắng rồi thi nhau chọc ghẹo tao “Ở Đà Lạt, đi xe xuống dốc mà Đứt thắng chỉ có tàn đời thôi em ơi” Mày nhớ tao chưa? Nếu đã nhớ rồi hãy đọc tiếp, tao sẽ kể cho mày nghe về những gì mà tao được biết đã xảy ra ở An Lộc trong mùa hè vừa qua.
Chuyện như thế nàv, nếu tao nhớ không lầm, ngày 11 tháng 4 năm 1972 Trung đoàn 8 của tụi tao được trực thăng vận từ Dầu Tiếng vào An Lộc trấn giữ mặt Bắc của thị trấn. Ba mặt khác do Nhảy Dù, Biệt Động Quản, Trung đoàn 7 và Địa Phương Quân của Tiểu khu Bình Long trấn giữ. Năm ngày sau, Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù cũng được trực thăng vận đến phía Đông nam của thị xã, sau đó họ di chuyển lên tuyến đầu ở phía bắc phối hợp với Trung đoàn 8 của tụi tao để tử thủ An Lộc. Nói là phối hợp chứ thật ra mỗi đơn vị chịu trách nhiệm một khu vực. Biệt Kích 81 có lối đánh giặc riêng của họ, lối đánh đặc biệt của từng toán nhỏ, di chuyển trong im lặng, xuất hiện rồi biến mất như những bóng ma, phòng thủ đối với Biệt Kích 81 có nghĩa là tấn công. Từ khi có Biệt Kích 81 phối hợp, tinh thần binh sĩ của tụi tao lên cao thấy rõ. Tao biết địa chỉ của mày là nhờ thẳng Đạt học cùng lớp với tụi mình, nó là trung úy Biệt Kích 81. Tụi tao gặp nhau thật bất ngờ, khi tao đang chạy vắt giò lên cổ trong một trận mưa pháo của địch.
Trung đoàn 8 của tao với quân số khoảng một ngàn rưỡi người, cùng với sáu ngàn quân nhân của các binh chủng khác đã tử thủ trong An Lộc, chống lại hơn bốn chục ngàn quân Cộng Sản. Bốn chục ngàn quân Cộng Sản, với hàng trăm chiếc xe tăng T54 tụi tao không sợ, chỉ ngán cái giàn pháo của tụi nó. Hàng ngày ở đây tụi tao lãnh hơn một ngàn trái đạn pháo đủ loại là chuyện thường tình, từ cái thứ đạn pháo tép riu của súng cối 82 ly, cho đến đại bác hạng nặng 130 ly. Vài trăm trái đạn pháo một ngày, tụi tao gọi là pháo quấy rối. Trên hai ngàn cho đến tám ngàn trái mới coi đó là pháo thật sự, khi pháo kích lơi dần là lúc Việt Cộng bắt đầu tấn công. Trước tiên, bọn chúng dùng xe tăng T54 tràn qua mọi chướng ngại vật đi vào trong thị xã An Lộc. Mấy chục chiếc xe tăng này như là vật tế thần, sau khỉ lãnh đủ hàng trăm trái đạn M72 của Biệt Kích 81, của tụi tao và những đơn vị bạn khác, chiếc cháy đen thui, chiếc đứt xích nằm ngổn ngang trong thị xã. Sau mỗi lần tấn công của Cộng Sản, tao lại dùng lưỡi lê khắc một gạch trên báng súng, cuối tháng Tư, sau gần hai mươi ngày tử thủ, tao đếm được bốn cái gạch trên cây súng M16 của tao. Mỗi một gạch là một trận đánh khốc liệt, tàn bạo, đẫm máu.

Ngày 11 tháng 5, tám ngàn trái đạn pháo chụp xuống An Lộc, địch pháo liên tục tưởng như không bao giờ dứt. Suốt đêm cả bầu trời được soi sáng bằng những tia chớp của đạn pháo, khi nhịp pháo thưa dần cũng là lúc Cộng Sản bắt đầu tấn công. Tụi tao ở hố cá nhân với súng M16, đại liên M60, súng phóng lựu M79, cuối cùng là lựu đạn ném tay chống trả hết đợt xung phong này đến đợt xung phong khác. Nhờ những trái lựu đạn này, đã cản được nhiều đợt xung phong của Việt Cộng, cho đến khi trời hừng sáng bọn Cộng Sản mới chịu rút lui, trả lại an lành cho An Lộc. Khi trận đánh kết thúc hàng trăm xác chết của Việt Cộng, của lính mình, của thường dân nằm la liệt, những người còn sống, lợi dụng lúc im tiếng súng vội vàng kéo nhau đi chôn xác chết, bất kể ta hay địch. Xác chết nhiều đến nỗi không có thì giờ đào huyệt, người ta phải dùng xe ủi đất đào một đuờng rãnh dài vài chục mét, sâu độ ba mét, sau đó hàng trăm xác người không phân biệt Việt Cộng hay thường dân, già trẻ lớn bé được xếp chồng lên nhau rồi lấp đất lại. Cảnh chôn người giống hệt như trong ciné thời Đệ nhị thế chiến, khi Đức Quốc Xã chôn dân Do Thái ở những trại tập trung.
Bảy giờ sáng, tao đánh răng bằng một nắp bi đông nước, rồi đổ nước vào bao gạo sấy làm bữa ăn sáng, sau đó là chuyện tu bổ hầm hố, coi lại súng ống, đạn dược chuẩn bị cho trận đánh kế tiếp.
Có một chuyện khá khôi hài, sau nàv mỗi lần nhớ lại tao vẫn không hiểu tại sao hơn sáu mươi ngàv tử thủ trong An Lộc, tao không biết tắm là gì. Hình như, tắm không phải là nhu cầu sống chết như cơm để ăn, nước để uống. Cũng có thể, vì lúc nào cũng tựa lưng vào cái chết nên quên tắm, cuối cùng đành phải vin vào cái cớ nước không đủ uống lấy đâu mà tắm.
Nước uống được lấy từ những cái giếng cạn trong thị trấn. Mày thử nghĩ coi, với hàng ngàn xác chết vừa chôn được vài tuần, nguồn nước giếng ở đây có còn trong sạch hay không? Dù nước giếng có ô nhiễm vẫn phải uống, nếu không muốn chết khát.
Xong phần nước uống, đến phần nhận tiếp tế thực phấm và đạn dược. Chuyện tiếp tế là cả một vấn đề nhiêu khê phức tạp, vì máy bay phải bay thấp để tránh cao xạ cũng như hỏa tiễn phòng không của Việt Cộng. Khi những kiện hàng tiếp tế từ phi cơ C123 thả xuống An Lộc, những gì rớt vào bên trong vòng đai phòng thủ đó là phần của mình, nếu rớt ngoài vòng đai là của Việt Cộng. Thường thì những kiện hàng tiếp tế rớt vào trong vòng đai, ít hơn những kiện hàng rớt ngoài vòng đai, có nghĩa là tiếp tế cho phe mình nhưng Việt Cộng lãnh gần hết. Phần thực phẩm mình nhận được phải chia bớt cho dân để cùng nhau chịu đựng pháo kích, sống tiếp những ngày gian nan, đói khổ, đầy chết chóc. Có một lần, tình cờ tao chứng kiến một chiếc vận tải cơ C123 của Không Quân Việt Nam bay vào An Lộc mà như là thách đố với tử thần. Chiếc phi cơ bay thấp thật thấp, thấp đến độ tao có thể thấy được lá cờ vàng ba sọc đỏ sơn ở nơi đuôi. Khi đã vào đúng vị trí để thả dù, mấy kiện hàng tiếp tế từ đuôi tuôn ra. Chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, năm cánh hoa dù tròn xoe bọc gió trôi lững lờ giữa không trung. Thay vì nhìn những kiện hàng có rơi vào trong An Lộc hay không, tao dõi mắt nhìn theo phi cơ đang bay lảo đảo, trồi lên rồi hụp xuống giữa những lằn đạn phòng không dày như đan lưới của Việt Cộng. Chiếc phi cơ bay chậm và thấp, phơi cái bụng phệ dùng để chứa hàng tiếp liệu rõ mồn một. Tao nghĩ thầm, chỉ cần dùng mấy khẩu đại liên M60 của đại đội, tao bắn cũng trúng huống chi cả Trung đoàn súng phòng không của Việt Cộng, thi nhau nhả đạn tới tấp. Tao nín thở nhìn theo chiếc phi cơ, cho đến khi hình dáng của nó nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hút nơi cuối chân trời, lúc bấy giờ tao mới thở phào nhẹ nhõm, mừng cho phi hành đoàn của chiếc C123 ngày hôm đó đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tao chùi hai bàn tay đẫm mồ hôi của mình vào vạt áo rồi nhìn những giọt mồ hôi chảy dài trên trán của người lính ngồi bên cạnh. Tao hỏi anh ta:
-Sợ hả bạn?
-Dạ, sợ quá đến nỗi toát mồ hôi cục mà không biết đó thiếu úy.
Té ra, đâu có phải chỉ một mình tao lo sợ cho mạng sống phi hành đoàn của chiếc phi cơ C123.
Đưa tay quẹt những giọt mồ hôi trên trán, người lính hỏi tao:
-Thiếu úy nè, mình đánh nhau với Việt Cộng, đem sinh mạng ra đánh cuộc với sống chết mà không biết sợ. Tại sao, khi nhìn chiếc máy bay chao đảo giữa những lằn đạn mình lại thấy sợ?

Tao trả lời với người lính, không biết câu trả lời có đúng hay không.
-Bởi vì mình là khán giả, rảnh rỗi ngồi xem mấy ông phi công Việt Nam Cộng Hòa đem mạng sống của họ thách đố với tử thần, với mục đích là thả cho được những kiện hàng tiếp tế vào bên trong An Lộc. Phi cơ có thể nổ tan xác như một quả cầu lửa vì trúng hỏa tiễn phòng không SA 7, cũng có thể đâm chúi đầu xuống đất tan nát thành muôn ngàn mảnh vụn vì trúng cao xạ phòng không của Việt Cộng. Những cái chết khủng khiếp như vậy có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Không sợ sao được.
Người lính nhìn tao gật đầu như đồng ý.
Chuyện rảnh rỗi ngồi khơi khơi trên mặt đất xem phi cơ C123 thả hàng tiếp tế, chỉ là chuyên ngàn năm mới có một lần. Thực ra, ở đây lúc nào bọn tao cũng sống dưới hầm, dưới hố cá nhân có nắp đậy để tránh pháo kích. Một đôi lần, tao ngồi dưới hố cá nhân nghe tiếng nổ của bom B52 cách xa một vài cây số dội lại mà cứ tưởng như sấm động trên đầu. Nhiều khi tao nghĩ dại, nếu vì một lý do nào đó như trục trặc kỹ thuật chẳng hạn, một loạt bom B52 lọt vào bên trong An Lộc, khoảng tám ngàn lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và dân An Lộc sẽ chết không còn một mống.
Chuyện sống chết của phi hành đoàn chiếc phi cơ C123, và những chấn động khủng khiếp khi B52 trải thảm tuy vậy nó không ám ảnh tao bằng chuyện hai anh em thẳng bé bị thất lạc cha mẹ.
Ngay chỗ tụi tao trấn giữ, cứ lúc im tiếng súng, tao lại thấy mấy đứa nhỏ đến gần lính mình xin gạo sấy và thịt hộp. Trong đám trẻ con ấy, tao chú ý đến một đứa bé trai đâu chừng mười tuối, lúc nào nó cũng địu đứa em nhỏ trên lưng, thằng bé mặt mày lem luốc, thân hình ốm đói với bộ quần áo không thể dơ hơn được nữa rụt rè ngửa bàn tay xương xẩu, đen đúa xin nhúm gạo sấy. Thoạt nhìn tao đã mềm lòng, muốn chảy nước mắt, con cái nhà ai chạy loạn để rồi lạc loài tới đây. Tao không dám hỏi ba má nó ở đâu, bởi vì tao sợ câu trả lời của nó. Lính có khẩu phần lương khô của lính, còn dân chúng ai tiếp tế thực phẩm cho họ đây? Dĩ nhiên tao vui vẻ chia làm hai phần gạo mình đang có cho thằng bé, ăn để sống cầm hơi chờ đợi tiếp tế. Cũng có một đôi lần tao nhịn phần trái cây hộp của mình đem cho anh em thằng bé, mặc dầu cơ thể của tao rất cần chút chất ngọt của hộp trái cây. Có một điều khiến tao mềm lòng, là bất cứ khi nào xin được thức ăn, thằng bé cũng đút cho em nó ăn trước. Cho đến khi đứa em của nó lắc đầu, thằng bé mới chịu ăn. Mấy ngày sau đó, khi không thấy thằng bẻ đến xin gạo sấy; tao hỏi lũ nhỏ về anh em thằng bé mới biết rằng cả hai đứa đều bị chết vì đạn pháo của Việt Cộng. Tội nghiệp, một đứa bé mười tuổi làm sao biết cách đào hố cá nhân để ẩn núp khi bị Việt Cộng pháo kích. Mạng sống của tao giống như chỉ mành treo chuông, chuyện không có gì phải nói vì tao là lính, nhưng sinh mạng của hai đứa bé cùng với hàng ngàn người dân An Lộc vừa chết trong mấy ngày qua thì sao? Chẳng lẽ cũng phải chịu chung số phận như lính? Năm 1968 trong chiến dịch Tổng công kích của Việt Cộng, năm, bảy ngàn thường dân bị họ chôn sống trong Tết Mậu Thân ở Huế. Bốn năm sau, thảm họa lại tái diễn tại An Lộc, lần này là cảnh người dân An Lộc bị chôn tập thể, bằng hàng chục ngàn trái đạn pháo đủ loại của Việt Cộng. Có quốc gia nào trên thế giới đứng ra tố cáo, hay phản đối chuyện Việt Cộng pháo kích giết hại dân lành không? Câu trả lời, hoàn toàn không có. Tự dưng tao cảm thấy thương cho cái địa ngục An Lộc này quá chừng.

Khi màn đêm buông xuống, An Lộc chìm vào bóng tối mênh mông, một vài trái đạn pháo lẻ loi xé toạc màn đêm, âm thanh vang dội khắp núi rừng như nhắc nhở rằng chiến trường chỉ tạm thời yên tĩnh. Dưới ánh sáng của một trái hỏa châu không biết do đơn vị nào bắn lên, tao thấy vài con chó đói, đang chúi đầu bươi mấy cái xác chết vừa được chôn sơ sài, vội vàng lúc ban ngày. An Lộc đổ nát, hoang tàn như một bãi tha ma. Một ngày tử thủ An Lộc vừa trôi qua.
Đại đội của tao, quân số lúc mới vào An Lộc trên một trăm người, ngày về còn chưa tới bảy chục. Trung úv đại đội trưởng và ba ông chuẩn úy trung đội trưởng của tao lần lượt rủ nhau giã từ vũ khí, tao là thằng thiếu úy duy nhất trong đại đội còn sống sót. Tao lên nắm đại đội trưởng, trông coi mấy chục người lính còn lại của đại đội. Từ khi trở về từ cõi chết, tao nghiệm ra một điều, sống hay chết không phải do mình lựa chọn mà do ở số trời định đoạt. Tao tin như vậy.
Mày có biết tại sao tao viết thư cho mày không? Tao đang nằm tái khám ở Tổng y viện Cộng Hòa. Tao nhớ lại, ngày xưa trước đêm lễ gắn Alpha, truyền thống của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt là phải chinh phục đỉnh Lâm Viên, vì nó là đỉnh núi cao nhất của cao nguyên Lâm Viên, chinh phục được ngọn núi này, chứng tỏ người Sinh viên sĩ quan đã Tự Thắng được mình. Tao biết, dấu chân của tao hãy còn hằn sâu trên đỉnh núi mờ sương đó. Vậy mà, khi tao vào An Lộc rồi trở ra, không có vết chân của tao để lại trong cái hỏa ngục hừng hực lửa đỏ đó, bởi vì hai chân của tao đã bỏ lại ở An Lộc.Hôm nay chiến trường đã im tiếng súng, An Lộc hiên ngang, oai hùng đi vào lịch sử. Riêng tao, một con chim gãy cánh, lạc bầy, mất bạn, nước mắt rưng rưng khi nhớ về trường mẹ. Tao tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt, mày đang làm việc ở đó.
Lá thư chấm dứt ngang xương, không một lời tạm biệt cũng chẳng có lấy một câu hẹn tái ngộ, tôi nhắm mắt chìm vào giấc ngủ, trái tim của tôi vẫn đập bình thường, trong khi những giọt nước mắt nóng hổi của mình tưởng có thể cuốn trôi cả một thị trấn An Lộc ở tận biên giới Việt Miên xa xôi ngàn dặm. Trường Võ Bị Đà Lạt vẫn an bình, yên ổn không một tiếng súng.
Ngày thứ hai: Đời sống dân sự, “Cổ thành nhuộm máu”.
Sáu giờ sáng, tôi thức dậy. Sau khi làm vệ sinh cá nhân, tôi ngồi vào bàn làm việc, điền vào tờ báo cáo tình hình trong đêm. Cuối tờ trình, bên tay phải, tôi viết thêm hàng chữ:
Sĩ quan trực Trung tâm hành quân.
Trung úy Nguyễn Trọng Quân ký tên.
Tôi đem tờ trình qua phòng làm việc của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, nằm đối diện với Trung tâm hành quân, đặt tờ tường trình vào chỗ công văn đến.
Tám giờ sáng, tôi bàn giao phiên trực cho Trung úy Hàn, sĩ quan thượng phiên rồi trở về cư xá sĩ quan. Sau khi tắm rửa xong xuôi, tôi thay bộ đồ dân sự lên xe Honda chạy đến nhà Vân, cô bạn gái học cùng lớp với tôi ở Viện đại học Đà Lạt. Vân thua tôi hai tuổi, học giỏi, gia đình Vân có tiệm tạp hóa nho nhỏ ở chợ Đà Lạt. Tôi là tài xế không công của Vân với nhiệm vụ đưa đón nàng đi học, bù lại, Vân cho tôi mượn sách vở để ghi chép bài. Đó là mối giao tình mà đôi bên cùng có lợi, quan hệ giữa chúng tôi chỉ là tình bạn thuần túy, tin hay không còn tùy vào sự suy luận của mỗi người. Bạn bè trong lớp đương nhiên nghi ngờ về cái tình bạn thiêng liêng cao quý ấy, có người hỏi Vân, cô nàng làm ra vẻ bí mật trả lời: “Hỏi anh ấy”. Hỏi tôi, câu trả lời là : “Tôi đã có người yêu và chúng tôi sắp làm đám cưới, Vân chỉ là bạn của tôi”. Sở dĩ tôi nói như vậy bởi vì từ mấy năm qua khi gặp bất cứ một cô gái nào, điều đầu tiên là tôi so sánh cô gái ấy với Dung. Sau đó trái tim tôi sẽ nói với tôi rằng, cho dù tôi đi tới chân trời góc biển cũng chẳng bao giờ tìm được ai hơn Dung. Trái tim của tôi đã ngủ quên, chỉ biết có một mình Dung kể từ ngày đầu tiên tôi gặp Dung tại nhà nàng, ngôi nhà có hai cây vú sữa.
Vừa gặp mặt Vân, tôi chưa kịp chào hỏi Vân đã lẹ miệng nói:

-Anh Quân, tụi mình có nên ăn tô phở trước khi đi học hay không?
Vì muốn tiết kiệm tiền, tôi hơi lưỡng lự một chút không biết nên chọn khúc bánh mì hay tô phở? Cuối cùng tôi trả lời theo ý của Vân:
-Nên lắm chứ.
Chúng tôi ghé tiệm phở Tùng ở đường Hàm Nghi. Tôi vừa ăn phở vừa ngắm Vân, rồi thầm nghĩ phải chi mình thương được cô Vân này thì khỏe biết mấy. Vân đâu có xấu, nhan sắc trên trung bình lại ăn nói có duyên, thiên hạ bu theo Vân cũng lắm nhưng tại sao mình không một mảy may rung động. Hình như Vân cũng có một trái tim bằng sắt, Vân coi tôi như là bạn gái của cô ta, mặc dầu hai đứa thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc. Tôi ngẫm nghĩ hoài vẫn không tìm ra câu trả lời. Hai năm rồi bạn vẫn là bạn, không có gì thay đổi.
Tụi tôi đến giảng đường Minh Thành trễ ba mươi phút, hai đứa lén vào chỗ ngồi. Vân hỏi người bạn:
-Thầy có điểm danh không?
-Không.
Lớp học kéo dài đến mười hai giờ trưa, hết giờ học, tôi chở Vân đến quán cơm sinh viên ở đường Võ Tánh cách Viện đại học khoảng hơn một cây số. Chúng tôi thường ăn cơm trưa tại đây bởi vì thuận đường, rẻ và ngon.
Cơm nước xong xuôi tôi chở Vân trở lại trường, mới hơn một giờ, hãy còn sớm chúng tôi lên Trung tâm sinh viên, mỗi đứa làm một ly cà phê, chuẩn bị bài vở cho lớp học sắp tới. Hôm nay thứ Ba, từ hai giờ đến sáu giờ chiều tụi tôi có lớp ở giảng đường Thượng Chí, bốn tiếng đồng hồ dài đăng đẳng, nghe giảng ghi chép rồi cũng qua đi.
Tan học thay vì chở Vân về nhà, tôi ghé cà phê Hạnh Tâm. Vân hỏi:
-Mình uống cà phê nữa hả anh?
Trong lòng nhẹ nhàng, khoan khoái, tôi trả lời Vân:
-Uống mừng đã học xong một ngày.
Tôi là một thằng ba phải, khi ăn uống, tôi thường so đo, tính toán nhung khi vô quán cà phê, tôi lại dễ dãi với mình, không đắn đo, không suy nghĩ.
Đang chăm chú nhìn những giọt cà phê đen quánh rơi chầm chậm xuống cái ly thủy tinh trong vắt, đột nhiên tôi cảm được bàn chân của Vân đang đạp nhẹ lên chân tôi.
Vân nói nhỏ với tôi:
-Anh Quân, có ông lính ngồi bên kia cứ nhìn anh đăm đăm.

Tôi nói:
-Kệ nó, cho nó nhìn. Nó nhìn em chứ không phải nhìn anh đâu. Ai biểu đẹp làm chi, phải ráng mà chịu.
Đâu chừng một phút sau, Vân lại nói:
-Hình như ông ta muốn nói gì đó.
Tôi quay đầu lại, khi nhìn thấy người lính tôi giật mình như chạm phải một luồng điện.
-Mày đó hả?
-Ừ, tao đây. Nhân đầu bạc đây.
Tôi vẫy tay:
-Qua đây ngồi cho vui.
Nhân đầu bạc tay bưng ly cà phê, tay cầm gói thuốc lá đi qua bàn của tôi. Tôi bắt tay Nhân rồi giới thiệu:
-Đây là Vân, bạn học cùng lớp với tao ở Viện đại học Đà Lạt.
Nhân đầu bạc khẽ gật đầu:
-Hân hạnh được biết Vân.
Quay qua Vân, tôi giới thiệu tiếp:
-Còn đây là Nhân, bạn cùng lớp với anh thời trung học.
-Dạ chào anh.
Tôi nhìn bộ quân phục Thủỵ Quân Lục Chiến với cặp lon đeo trên vai của Nhân rồi nói:
-Hơn năm năm rồi bây giờ mới gặp lại nhau, mày là trung úy Thủy Quân Lục Chiến?
Nhân trả lời:
-Đúng.
Hắn hỏi tiếp:
-Mày vẫn đi học sao Quân? Nhìn bộ đồ dân sự mày bận mà tao phát thèm.
Tôi nói:
-Đừng có thèm, tao cũng là lính như mày thôi. Tao hiện là trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt.
Nhân đầu bạc trố mắt nhìn tôi:
-Mày đi Võ Bị Đà Lạt? Ngon dữ há!
-Tao tốt nghiệp Thủ Đức, ra trường được chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt, làm việc ở Trung tâm hành quân. Ở đó làm việc một ngày nghỉ một ngày, lợi dụng ngày nghỉ tao đi học thêm ở Viện đại học Đà Lạt.
Nhân đầu bạc nhíu mày, với giọng nói tựa như nghi ngờ.
-Làm một ngày rồi nghỉ một ngày?

Tôi đáp:
-Đúng.
Nhân lắc mạnh đầu:
-Mẹ nó, tao đi lính năm năm rồi, dù có nằm mơ tao cũng không tin được chuyện có thứ lính kỳ lạ như mày. Bọn tao bắn nhau với Việt Cộng trong rừng sâu núi thẳm, từ ngày này qua tháng nọ, hết năm này tới năm khác vùi đầu trong chiến trận, hôm nay sống ngày mai có thể chết. Một năm được mươi ngày phép, mừng thấy mẹ, đã vậy khi đưa giấy phép cho mình, tiểu đoàn trưởng còn chần chừ như tiếc rẻ không muốn đưa. Mày biết không, sếp đưa tờ giấy phép cho mình mà tay không muốn rời tờ giấy, cứ như là Thúc Sinh bịn rịn không nỡ chia tay Thúy Kiều. Nhờ biết gia đình mày từ trước, nếu không tao sẽ nghĩ chỗ mày làm việc chỉ dành cho con ông cháu cha.
Tôi nói với Nhân đầu bạc:
-Tao biết, mày cũng tốt nghiệp Thủ Đức như tao nhưng mặc bộ đồ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến như mày, tao làm không được. Thực lòng mà nói, lúc nào tao cũng ngưỡng mộ những thằng như mày.
Nhân đầu bạc chậm rãi mồi thuốc, hắn trả lời tôi với giọng trầm trầm.
-Mày bơm tao cũng vừa thôi.
-Mày muốn nghĩ sao cũng được. Có chuyện này tao muốn hỏi, mày đang đi phép phải không?
Nhân đầu bạc gật đầu, hắn kéo cái ống quần rằn ri lên cao, chỉ vào vết thương trên bắp chân hãy còn quấn băng trắng.
– Cổ thành Quảng Trị.
Vân bất ngờ nói chen vào:
-Có đau không anh?
Nhân bật cười nhìn Vân:
-Lẽ ra thì hết đau rồi, nhưng khi nghe Vân hỏi tôi lại thấy đau đau.
Vân xua tay đính chính:
-Vân không có đụng chạm gì tới vết thương của anh, tại sao anh lại thấy đau?
-Vết thương nơi thằng Quân, cô Vân mới lo phải không?
-Cũng không luôn, em với anh Quân chỉ là bạn.
Tôi xen vô.
-Có nặng không?
-Bác sĩ nói chuyện nhỏ, tuần tới tao có thể trở lại đơn vị.

Gương mặt Nhân lộ vẻ đăm chiêu khi nhắc đến hai chữ đơn vị, khiến mái tóc muối tiêu của hắn vốn đã bạc, trông càng bạc hơn, hắn nói:
-Không biết giờ này đại đội của tao còn được bao nhiêu người, có còn đang ở nơi Cổ thành hay đã di chuyển đến một mặt trận mới?
Vân hỏi:
-Cổ thành với đơn vị của anh có gì hấp dẫn, khiến anh đang nghỉ dưỡng thương vẫn nhớ hoài tới nó. Nói cho Vân nghe chút xíu về Cổ thành Quảng Trị, được không?
-Được quá đi chứ, cô Vân hỏi ai mà dám chối từ.
Nhân đầu bạc nhíu mày, vừng trán cao và rộng của hắn hơi nhăn lại.
-Đâu khoảng, à..à…ngày hai mươi bảy tháng bảy, Thủy Quân Lục Chiến của tụi tôi được lệnh thay thế Nhảy Dù, tiếp tục tấn công Việt Cộng đang cố thủ trong thị xã và Cổ thành Đinh Công Tráng.
Vân thắc mắc:
-Tại sao không dùng cả Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, cùng tấn công vào Cổ thành.
-Cô Vân nè, đừng có hỏi tại sao. Một thằng sĩ quan cấp nhỏ như tôi làm sao biết được, mới gặp thiếu tá tiểu đoàn trưởng tôi đã run huống gì hỏi chuyện này nọ với ông ta. Lính chỉ biết thi hành lệnh của cấp trên giao phó. Hình như trong ngôn ngữ của lính, không có cái chữ “hỏi”. Để trả lời câu hỏi của Vân, theo sự suy nghĩ của tôi, sau một tháng trường đánh nhau, giành giựt từng tấc đất với Việt Cộng quanh Cổ thành, lực lượng Nhảy Dù hao hụt cũng bộn cần phải được thay thế để nghỉ ngơi, bổ sung quân số. Vào lúc đó, Thủy Quân Lục Chiến bọn tôi, quân số, đạn dược vẫn còn đầy đủ.
Nhân đầu bạc ngừng nói, hắn mồi thêm một điếu thuốc nữa, thả khói bay đầy phòng.
-Vân đã thấy Cổ thành Quảng Trị bao giờ chưa?
Vân trả lời:
-Chưa anh ạ.
Quay qua nhìn tôi, Nhân đầu bạc hỏi:
-Còn mày?
-Cũng chưa.
-Đó là một cái thành cổ hình vuông, xây bằng gạch, hình như là được trùng tu lại vào cái thời vua Minh Mạng thì phải. Mỗi cạnh của Cổ thành dài khoảng nửa cây số, tường thành cao khoảng năm mét, bề rộng trên mặt thành dư sức cho xe hơi chạy. Chung quanh thành có hào sâu, nước lên tới cổ, bề rộng của cái hào này rộng chừng mười mét. Bốn góc thành có bốn cái pháo đài.

Nhân đầu bạc nhìn Vân.
-Cô Vân đã hình dung được Cổ thành Quảng Trị như thế nào chưa?
-Dạ được.
-Lực lượng của địch bên trong Cổ thành, được trang bị đầy đủ vũ khí và đạn dược với hệ thống phòng thủ kiên cố, vững chắc, đang cố thủ trong đó.
Nhân hỏi tôi:
-Mày nghĩ gì về trận chiến tử thủ An Lộc của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mấy tháng trước đây.
Tôi ngần ngừ.
-Khoảng bốn chục ngàn quân Cộng Sản, vây tám ngàn quân Việt Nam Cộng Hòa trong An Lộc.
-Mày nói đúng, như vậy quân bao vây phải bằng năm lần quân cố thủ.
Tôi nói:
-Đúng vậy.
Nhân lắc đầu,
– Cổ thành Quảng Trị không phải như An Lộc mà nó ngược lại. Lực lượng của địch gồm có Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320 của Việt Cộng, một tiểu đoàn của Sư đoàn 325, một tiểu đoàn địa phương, tất cả nằm tử thủ bên trong Cổ thành. Chỉ có một Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến của tụi tao, vừa phải đương đầu với Việt Cộng ở Quảng Trị, vừa phải chia quân với mục đích cuối cùng là phải tái chiếm Cổ thành bằng mọi giá. Để đánh vào đó, chuyện trước tiên là hàng trăm khẩu pháo của mình bắn tập trung vào trong Cổ thành. Khi Pháo binh chấm dứt, Không quân Việt, Mỹ lại tiếp tục dội bom liên tục hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Bọn Việt Cộng cũng lì lợm không kém, tụi nó chống trả mãnh liệt, nhờ vào những công sự phòng thủ chắc chắn bên trong thành. Thủy Quân Lục Chiến bao quanh Cổ thành nhưng không làm sao tiến vào được bên trong.
Nhân ngưng nói, hắn nhìn tôi rồi quay sang Vân.
-Quý vị có biết tại sao không?
Tôi nói:
-Vân là học sinh, tao là lính văn phòng, làm sao tụi tao biết được. Có thể lính Việt Cộng thiện chiến, quen với trận mạc, cấp chỉ huy giỏi.
Nhân đầu bạc cười:
-Không phải như vậy đâu, lính Cộng Sản giống như là âm binh vì ban ngày họ trốn biệt, đêm đến mới xuất hiện đánh phá, còn cấp chỉ huy, lãnh đạo của họ là phù thủy, bởi vì chỉ có phù thủy mới trị được cái lũ âm binh. Đánh nhau với một đạo quân vô Tổ Quốc, cuồng tín, chỉ biết sống chết cho Bác cho Đảng như vậy,

Thủy Quân Lục Chiến bọn tao không què tay cũng gãy gọng, đại đội của tao từ một trăm tám chục tay súng, còn lại khoảng một trăm. Sáu sĩ quan của đại đội chết hết ba, chỉ còn lại tao và hai chuẩn úy. Có đêm dưới nhũng tia chớp của đạn pháo xé trời, tao nhìn dòng nước đen ngòm của cái hào sâu bao quanh Cổ thành, mà cứ tưởng rằng đó là máu của lính Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Mày nói cho tao biết, những kẻ sống sót có phải là hột gạo trên sàng hay không?
Nhớ đến bức thư của Đức mà tôi mới đọc tối hôm qua, thay vì trả lời câu hỏi của Nhân đầu bạc, tôi hỏi lại hắn:
-Mày nhớ thằng Đức, học chung lớp với tụi mình không?
-Đức nào? Lớp mình có tới hai thằng Đức.
-Thằng Đứt thắng.
Nhân đầu bạc cười, nụ cười của thời tụi tôi còn học ở trung học.
-Tao nhớ rồi, xuống dốc mà đứt thắng kể như tàn đời em ơi. Mà tại sao mày lại nhắc đến nó.
-Nó tử thủ An Lộc, đại đội của nó có năm sĩ quan chết hết bốn, nó là thằng sĩ quan duy nhất trong đại đội còn sống sót. Tải thương về Tổng y viện Cộng Hòa, khi vào An Lộc nó là thiếu úy, khi ra khỏi An Lộc nó là trung úy nhưng hai chân của nó đã bỏ lại tại An Lộc.
Nhân đầu bạc nói với tôi:
-Lần này về Sài Gòn, tao sẽ tới Tổng y viện Cộng Hòa thăm nó, sẽ kể cho nó nghe chuyện gặp mày ở đây. Mày có nhắn gì với nó không?
-Nói với nó, khóa 29 Võ Bị Đà Lạt sắp nhập trường.
Nhân đầu bạc nhìn ra ngoài trời, hớp một ngụm cà phê rồi nói:
-Bọn tao sau hơn năm mươi ngày đánh nhau chí chết với Việt Cộng, cho đến khi lá cờ Quốc Gia màu vàng, ba sọc đỏ tung bay phất phới trên Cổ thành Quảng Trị, hơn ba ngàn năm trăm binh sĩ và sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh, thêm hàng ngàn người bị thương khi tái chiếm Cổ thành. Đó là con số thương vong của Thủy Quân Lục Chiến mà thôi, còn Nhảy Dù và những đơn vị khác tao không biết được.
Tôi hỏi Nhân đầu bạc:
-Còn mày, bị thương vào lúc nào?
-Tao hả? Trong trận đánh dứt điểm vào Cổ thành, tao và Hạ sĩ Trung, người mang máy truyền tin cho tao, mỗi thằng lãnh một viên AK. Tao bị ở chân còn Hạ sĩ Trung ở ngực, đạn AK phá vỡ lồng ngực làm sao mà sống được. Tội nghiệp, trước khi chết Hạ sĩ Trung còn gắng gượng nói với tao : “Nhờ trung úy nhắn giùm vợ em, là em đã mua cho con của em đôi giày, nhưng chưa kịp gởi về”.
Tôi hỏi Nhân đầu bạc:
– Mày đã gặp vợ của người lính truyền tin tử trận chưa?
Nhân đầu bạc trả lời với giọng nói buồn buồn.

-Nhận lời ủy thác của người sắp chết, làm sao tao quên được, nhất là người đó lại là người lính đã từng vào sinh ra tử với mình suốt mấy năm liền, từng chia xẻ với nhau vài nắm cơm khi đói, dăm vốc nước khi khát. Ngày bước chân ra khỏi quân y viện, tao tìm đến nhà của Hạ sĩ Trung. Sau đó, phải dò hỏi suốt cả buối, tao mới tìm được ngôi trường tiểu học, nơi mà vợ của Hạ sĩ Trung với gánh xôi bắp đang bán cho học trò. Thằng bé con của Hạ sĩ Trung, ngồi trong một cái thúng bên cạnh gánh xôi. Khi thấy tao trong bộ đồ Thủy Quân Lục Chiến, thằng bé hỏi mẹ nó “Khi nào ba về hả má?”. Người đàn bà, với hai bàn tay đang gói xôi nhanh thoăn thoắt bỗng dưng ngừng lại, bà ta đưa cái ống tay áo lên thấm những giọt nước mắt lăn dài trên má rồi nói, giọng nói nghe như cam chịu mọi khổ đau bất hạnh: “ Ba con không về nữa đâu, ba đi theo ông nội rồi”. Tao nhìn cánh tay áo bạc màu với mấy miếng vá nơi cùi chỏ không che được bàn tay gầy ốm, sạm đen của người đàn bà mà lòng xót xa như kim châm, muối xát. Không có thì giờ suy nghĩ, chỉ hành động theo phản xạ tự nhiên, tao lén móc bóp bỏ thêm một ngàn đồng vào cái bị giấy mà tao đang xách trên tay. Tao đưa cái bị cho vợ của Hạ sĩ Trung rồi nói “Của anh Trung gửi về cho cháu”. Nói xong, tao quay người bước đi thật lẹ, không nói cho người đàn bà biết tao là ai. Tao đã làm tròn lời hứa với người đã chết, nhưng trong lòng vẫn còn áy náy, bởi vì tao không dám nói với bà ấy, đôi giày mà tao đưa cho bà là đôi giày tao vừa mới mua ngoài chợ. Còn cái đôi giày của Hạ sĩ Trung gởi cho con mình với tất cả tình thương yêu gói trọn vào trong ấy, tao không biết nó ở đâu.
Phố đã lên đèn từ lâu, tôi bắt tay từ biệt Nhân.
Vân ôm Nhân đầu bạc với đôi mắt đỏ hoe.
-Mau bình phục nghe anh.
Quen với Vân hai năm rồi, đây là lần đầu tiên tôi thấy một cô bé nhút nhát như Vân lại có hành động bạo dạn như vậy khi thể hiện tình thương với người bạn trai mới quen. Tôi tin rằng Nhân đầu bạc là mẫu người lý tưởng của Vân, mẫu người trai thời loạn, mẫu người đã từng:
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.

Cùng là trung úy, nhưng trung úy văn phòng như tôi, nói ra chỉ thêm mắc cỡ. Tôi hiểu, tại sao giữa tôi và Vân chỉ có tình bạn thuần túy suốt mấy năm trời. Tôi đứng bên lề đường, trong sương mù giá buốt lạnh lẽo của trời Đà Lạt, nhìn theo Nhân đầu bạc đưa Vân về nhà. Ánh đèn đêm soi rõ bóng của họ đổ dài trên đường phố, hai người mà chỉ có một cái bóng. Tôi chạy xe men theo con dốc Lê Đại Hành đi về cư xá, ngang qua khu Hòa Bình đèn đuốc sáng rực một góc trời. Đà Lạt vẫn thanh bình, yên ổn nhờ Quảng Trị đổ nát cản đường, cản bước tiến của cộng quân. Khi tôi về đến cư xá sĩ quan, kim đồng hồ trên tường chỉ mười giờ. Mới đầu Đông mà trời đã khá lạnh, tôi kéo mền đắp ngang ngực.
Một ngày của đời sống dân sự đã trôi qua. Ngày mai, tôi trở lại đời sống quân ngũ.

Bàn chân cô gái gọi

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau
Posted on February 5, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Năm 2013 lần đầu tiên xạ thủ về thăm Việt Nam. Sau nhiều tháng chuẩn bị và được một số người tín cẩn giới thiệu cho một chủ nhân của một công ty du lịch nổi tiếng có chi nhánh khắp Đông Dương. Công ty du lịch đặt mình vào thành phần khách VIP vì xạ thủ là nhân viên của một cơ quan gộc.
Chủ nhân công ty du lịch nhường chiếc xế nhà SUV xịn và tuyển lựa một tài xế giỏi và rành đường nhứt của công ty có nhiệm vụ chở xạ thủ đi khắp nơi từ Nam ra Bắc trong ba tuần lễ.
Người tài xế này còn có một nhiệm vụ quan trọng khác là làm cận vệ cho xạ thủ trên con đường thiên lý. Cách đây 12 năm chân ướt chân ráo về Việt Nam nên còn rất ngố, ngơ ngác con nai vàng đâu biết gì, nên công ty du lịch ấy phòng xa lo lắng chu đáo sợ có gì bất trắc xảy ra thì sẽ bị mang tiếng.
Người tài xế trẻ đó người miền Nam, rất lanh lẹ và tinh tế. Có lẽ thuộc dạng cao thủ võ lâm sao đó vì mỗi lần thấy xe đò du lịch của công ty đi ngược chiều thì tài xế của xe đò bên kia đường đưa tay vẫy chào. Hỏi ra thì mới biết họ nhận diện chiếc xe nhà của chủ nhân công ty và thấy anh tài xế giỏi của công ty đang lái.
Anh tài xế khoảng 30 tuổi. Nên chỉ sau vài tiếng trên xe xạ thủ coi anh ta như em và hai anh em gọi nhau là anh em rất thân tình. Anh tài xế khoe chú của ảnh là lính Thủy Quân Lục Chiến trước 75 như để trấn an xạ thủ là anh ta có lý lịch tốt, không phải là an ninh chìm Vi Xi được gài để theo dõi. Anh ấy có mời xạ thủ về nhà giới thiệu với ba má ảnh và mình thấy gia đình ấy có phép tắc và có học. Ba ảnh là kỹ sư xuất thân từ Phú Thọ.
Chiếc SUV khá lớn. Phía sau chở hành lý của xạ thủ và quà tặng mua ở Sài Gòn để tặng cho trẻ em ở miền cao Hán Đồng, Sơn La – Bắc Yên. Mình lên hàng ghế đầu ngồi kế bên anh tài xế để dễ quan sát phong cảnh miền quê ở Việt Nam, và cũng để nói chuyện với anh tài xế cho vui trên con đường thiên lý.
Mỗi khi xạ thủ tò mò thấy cái gì hay ho hay khác thường, như những ngôi mộ cổ ở giữa cánh đồng lúa, thì biểu anh ấy ngừng xe để xuống đi bộ ra đồng ruộng tới gần ngôi cổ mộ ấy quan sát và chụp hình. Dĩ nhiên anh tài xế phải đi theo bên cạnh vì ảnh là cận vệ kia mà.
Có một đêm đi ngang địa phận Thanh Hóa hay Hà Tĩnh gì đó khoảng 8 giờ tối. Từ xa lộ nhìn hai bên đường thấy có những xóm nhà hoang vắng lụp xụp tối tăm nghèo khó. Bỗng xạ thủ thấy có ánh đèn pin trong bóng tối phất phơ qua lại. Xe chạy thêm một đoạn khoảng nửa cây số thì mình lại thấy ánh đèn pin. Rồi thêm vài ánh đèn pin kỳ dị đó dọc theo xa lộ trong bóng đêm. Giống hình ảnh man dã thời Trung Cổ.
Tò mò xạ thủ hỏi anh tài xế “Nè anh có thấy ánh đèn đong đưa qua lại trong bóng tối dọc theo xa lộ hong?” Anh tài xế giải thích đó là những cái động đ* dọc xa lộ. Tài xế các xe tải hay bất cứ xe gì muốn giải quyết sinh lý thì ngừng xe lại rồi đi vào các thôn xóm nghèo có ánh đèn pin đong đưa đó để hành lạc. Tự nhiên xạ thủ im lặng và cảm thấy buồn. Chỉ vì nghèo mà ra nông nỗi.
Nhưng một sự kiên khó quên trước khi ra Bắc. Một buổi chiều xe đến cố đô Huế và anh tài xế mang hành lý vào và làm thủ tục “check in” khách sạn Hotel Saigon Morin. Khách sạn có kiến trúc khá đẹp và lâu đời do người Pháp để lại. Sau khi làm tròn nhiệm vụ anh nói “Anh ăn uống rồi đi nghỉ đi, mai sáng 8 giờ em đến đón anh đi thăm Quảng Trị”. Dặn dò xong anh tài xế về ngủ ở một nhà nghỉ gần đó.
Ăn tối xong trong khách sạn thấy còn sớm nên chán đi lui đi tới trong phòng. Hỏi cô lễ tân thì được biết ở khu “Đập Đá” cách vài cây số có một cái phòng trà ca nhạc sống Trịnh Công Sơn nên mình đi bộ tới để nghe nhạc cho đỡ buồn.
Lúc ấy khoảng 8 giờ tối, xạ thủ đi bộ một mình trên con đường có đèn nhưng ít người qua lại. Thành phố Huế ban đêm hơi buồn. Mình cẩn thận không mang bất cứ vật gì có giá trị ngoại trừ khoảng bảy tám trăm ngàn đồng HCM. Đi nghe nhạc thôi mà. Nếu có cướp hay trấn lột thì để cho lấy? vì tay không quánh lại nó nó đâm cho một dao mất mạng, không đáng để tử thủ vì mấy trăm ngàn đồng Việt Nam.
Trên đường đi suốt mấy cây số có một cha xe ôm cứ rề rề bám sát mời mọc. Có lẽ chả thấy mình từ khách sạn Hotel Saigon Morin đi ra nên tưởng khách xịn. Đã nói muốn đi bộ mà chả cũng hỏng chịu bái bai, thiệt là sùng vì chả dai như đỉa.
Khi đến phòng trà ca nhạc sống thì nó đóng cửa vì đang xây cất sửa chữa gì đó. Đang thất vọng và hơi buồn vì hỏng biết làm gì ban đêm ở cái thành phố buồn thiu này. Thì cha nội xe ôm dai như đỉa trờ tới mời mọc nữa. Thôi được lên xe dìa lại khách sạn.
Lên ngồi sau yên cha xe ôm bỗng xạ thủ đổi ý nói “Tôi muốn đi bia ôm” để uống bia và nghe nhạc. Thú thiệt khi ấy mình cứ tưởng bia ôm là cái bar để khách vào uống bia rồi mấy em chiêu đãi xinh đẹp ngồi bên cạnh rót bia nói dóc cho zui vậy thôi.
Trước khi lên đường đi tour ba tuần từ Nam ra Bắc, xạ thủ đến thăm mấy đứa bà con ở Sài Gòn. Con em họ hỏi anh dìa đây có muốn đi đâu chơi em lấy xe chở anh đi. Mình trả lời muốn đi bia ôm thì hai vợ chồng nó im lặng tủm tỉm cười. Nụ cười làm mình nghi ngờ có điều gì đó không ổn mà chưa tiện hỏi.
Cha xe ôm chở xạ thủ đi tìm quán bia ôm mà đi quài đi quỷ hỏng thấy đâu cả, Đường càng lúc càng vắng vẻ và tối dần. Giống như xe đang chạy ra ngoại ô và về miền quê. Tự nhiên xạ thủ sợ nên hỏi dồn dập. Bia ôm ở đâu mà xa vậy ông? Chả cứ nói quài “Sắp đến rồi anh à”. Mình hỏi cho chắc ăn là cái quán bia ôm mình muốn “Ở đó có nhạc không ông?” Chả trả lời “Có đủ hết anh à”.
Khoảng 45 phút sau xe ôm ngừng lại ở một cái nhà tối hù có ánh đèn néon bên trong leo lét hắt ra. Ngoài vườn trước ngõ có trồng mấy cây mà ban đêm mình chẳng biết cây gì. Đây đúng là một căn nhà ở miền quê và mình chẳng biết nó ở đâu, có gần Huế hong. Trong bóng đêm có mấy bóng đen ngồi lù lù trên mấy cái võng. Xạ thủ lo ngại hỏi cha xe ôm. Bia ôm chỗ nào ông? Chả trả lời lát nữa họ sẽ dẫn anh đi. Mình hơi hoảng, ở đây là nhà quê rồi mà còn đi đâu nữa, bộ đi vô rừng à? Nhớ các câu chuyện chiến tranh, Việt Cộng bắt cóc người dẫn vô rừng để bụp nên cảm thấy rờn rợn trong lòng.
Cha xe ôm nói gì với một bóng đen rồi tự nhiên thấy khoảng mười mấy bóng đen ở đâu đó tới đứng chung quanh xạ thủ và cha xe ôm. Cha xe ôm hối anh lựa đi. Mình không hiểu hỏi lại lựa gì. Chả giải thích là lựa một em dẫn ra sau có chỗ “bia ôm”.
Bỗng mình hiểu ra phần nào và đoán đây là một cái động đ* chớ bia ôm gì. Xạ thủ ngồi im, lặng người vì thấy mình đang đứng trước một cái chợ bán người như bên Phi Châu. Cha xe ôm hối “Nếu ạnh khộng lựa thì ẹm sẽ lựa cho ạnh nhẹ”. Cha xe ôm chỉ một bóng đen đang đứng với mười mấy người hình vòng cung. Những bóng đen khác im lặng bỏ đi. Cái bóng đen được lựa đến đứng bên xạ thủ im lặng. Cha xe ôm nhắc anh đi theo em ấy đi.
Mình im lặng bước theo sau bóng đen đi qua khoảng đất nhỏ có trồng nhiều cây, để đến một căn nhà nhỏ sau vườn. Bóng đen mở cửa bước vào trong một căn phòng cũ kỹ vàng úa ánh đèn vàng vọt của cái đèn để cạnh bộ ghế sa lông cũng cũ kỹ. Trước ghế sa lông là một cái bàn nhỏ bằng gỗ.
Nhờ ánh sáng vàng vọt của cái đèn, xạ thủ giờ mới thấy một người thiếu nữ khoảng từ 20 – 25. Cô ấy dong dỏng cao, thanh tú nhưng vẻ dáng tiều tụy và mặc quần áo sờn cũ. Xạ thủ mời cô ấy ngồi xuống ghế sa lông. Nhìn chung quanh căn phòng nhỏ trống trơn, hỏng thấy có dấu hiệu gì là có nhạc có bia như cái bar trong trí tưởng tượng sai lầm và ngớ ngẩn của mình.
Cô gái nhắc “Bên trong có phòng và có giường đó anh”. Mình hiểu ngay bên trong là phòng để hành lạc nhưng đề nghị cổ “Mình ngồi đây nói chuyện chút xíu được hông. Tui sẽ đưa em 100 ngàn. Em ăn gì và uống nước nhe”. Cô gái mở cửa gọi một bà trung niên bước vào. Bả nhìn mình khinh khỉnh nói 300 ngàn anh. Có nghĩa là giá để động phòng hoa chúc đêm nay.
Lát sau một thằng lực lưỡng vằn vện bưng một khay nhỏ, trên có hai lon nước ngọt và một cái dĩa nhỏ với mấy cái bánh giống bánh ít lá gai gói lá chuối. Xạ thủ chỉ uống lon nước rồi mời cô ấy uống nước và ăn bánh. Cổ gỡ lá chuối rồi ăn mấy cái bánh ngấu nghiến như đang rất đói. Khi ấy mình nhớ rõ là cảm thấy thương xót cho một thân phận nghèo thiếu ăn thiếu mặc.
Ngồi bắt chuyện và hỏi thăm gia cảnh thì cổ cho biết là sinh ra ở A Shau, Thừa Thiên, đã từng làm nghề ruộng. Xạ thủ nhìn kỹ khuôn mặt thấy có nét gì đó sang trọng. Nhìn xuống bàn chân thon dài có nét quý phái. Thấy một bên gần gang bàn chân có vết thẹo dài. Tự nhiên không hiểu sao, xạ thủ cầm lấy bàn chân cô gái gọi đưa gần lên ánh đèn để nhìn vết thẹo. Cổ giải thích em làm ruộng lội dưới nước rồi đạp trúng cái gì nó cứa lòng bàn chân. Cầm bàn chân cô gái gọi trong tay, mình không gớm mà cảm thấy một chút gì thương xót.
Người đàn bà trung niên lại xuất hiện. Bả hối cô kia “Nói ảnh lẹ lên cứ ngồi đó hoài”. Cô gái phân trần “Ảnh cho em 100 ngàn”. Xạ thủ thấy đã đến lúc phải rời khỏi nơi ấy vì bà tú bà có vẻ khó chịu và muốn đuổi khéo. Chắc có khách hàng đang đợi trước sân, sau khi đã qua phần lựa thịt người.
Mình kêu tính tiền dĩa bánh ít và hai lon nước ngọt. Thằng vằn vện xuất hiện với hóa đơn ghi 600 ngàn làm xạ thủ tái mặt. Bỏ mịa rồi mình trả tiền xe ôm xong đâu có đủ 600 ngàn. Bỗng nhiên nổi sùng vì cho rằng thằng ma cô này thấy mình giống người nước ngoài nên tăng giá lên đây mà, chớ mấy cái bánh ít bánh ú gì đó và hai lon nước ngọt làm gì tới 600. Nên mình gân cổ cự nự “Sao giá cắt cổ zậy, có mấy cái bánh gói lá chuối mà tới 600 ngàn à?”.
Thằng hộ pháp nhìn xạ thủ mỉm cười có vẻ ngạc nhiên, có lẽ hắn cười vì thấy mình ngố hay sao? Hắn gằn giọng nói anh phải trả 600 ngàn. Thấy nó cũng hơi ớn vì mình chỉ một mình và không tấc sắt trong tay. Thôi tao thua mày nha. Lục túi quần đếm cả tiền lẻ thì vừa đủ 600 ngàn để trả cho thằng ma cô bóc lột.
Sáng hôm sau tiếp tục con đường thiên lý của xã hội chủ nghĩa. Xạ thủ kể chuyện đi bia ôm đêm qua thì anh tài xế tái mặt lớn tiếng. Anh không được đi lang thang một mình ban đêm. Có chuyện gì thì ông chủ sẽ trừng phạt em vì đã không theo bảo vệ anh. Nếu anh muốn đi bia ôm thì nói em dẫn anh đi chớ không được đi một mình, mà còn gây gổ hỏng chịu trả 600 ngàn. Giá đó đúng đó anh. Anh không trả nó sẽ đập cho anh một trận rồi lột hết quần áo xong đá anh ra ngoài đường chỉ còn cái quần xà lỏn. Anh không được đi một mình ban đêm nữa, nghe chưa… hic.

BÔNG LAU 04.01.2025

Dòng sông Potomac

dongsongcu.wordpress.com
Bông Lau
Posted on February 9, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Theo toán quân khoảng 50 binh sĩ hồi hương đi trên một chiếc Boeing lớn của Bộ Quốc Phòng thuê bao. Chiếc máy bay có khả năng chở trên 200 người cho nên mỗi người có thể chiếm hàng ghế trống rồi cởi giày nằm ngủ chập chờn qua nhiều trạm ngừng ở nhiều quốc gia khác nhau.
Trong suốt chuyến đi không nơi nào hỏi sổ thông hành passport hay đóng dấu. Ngược lại binh sĩ bị cách ly, không được tiếp cận với khu vực hành khách dân sự. Đến Ái Nhĩ Lan (Ireland) thì có cái quán nước vắn hoe thấy có trưng bày bia trên kệ nhưng chỉ huy toán quân hồi hương ra lịnh cấm binh sĩ uống bia rượu. Kỷ luật gì mà dzữ thần zậy nè.
Dìa đến lục địa Hoa Kỳ thì phải ghé một căn cứ để trả quân trang quân dụng và khám bác sĩ sức khỏe tổng quát. Xạ thủ đánh dấu vào tờ đơn “không, không, không……” từ trên xuống dưới. Có nghĩa là hỏng có triệu chứng gì là bị mắc bịnh gì cả. Khỏe như trâu mà. Tuy nhiên anh Bác Sĩ hí hoáy ghi vào hồ sơ rồi ngửng đầu lạnh lùng nói “Anh đã bị tiếp xúc với môi trường nguy hiểm” – You had been exposed to hazardous environments… Hãy cảnh giác và trông chừng các triệu chứng về phổi có thể phát sinh và phải đi khám tức thì. OK salem ha ha.

Sau cùng mình lấy chuyến bay American Airlines bay một mình về Washington DC. Máy bay đến thủ đô lúc 6 giờ chiều. Nhìn ra khung cửa sổ thấy mặt trời hoàng hôn chói lòa màu cam rất đẹp. Lòng bâng khuân zui buồn lẫn lộn. Sắp sửa được quay trở lại cuộc sống xưa. Sắp sửa được làm việc trong môi trường vệ sinh và văn minh. Mỗi buổi sáng phải dành 10 phút để ăn mặc chỉnh tề thắt con khô mực hợp thời trang vào cổ. Nhưng bỗng nhớ những người bạn xưa giờ này vẫn đi những bước chân xào xạc trên sỏi đá và cát bụi sa mạc.

Và ô kìa, dưới khung cửa sổ máy bay là dòng sông Potomac phản chiếu ánh sáng cuối ngày làm con sông sáng lên màu bạc. Cách đây 6 ngày ngay trên lộ trình mình đang bay chiều nay. Cũng một chiếc phản lực American Airlines nhỏ y chang như chiếc này đụng một chiếc trực thăng Black Hawk UH60 ngay trên con sông này. Cả hai chiếc đều rớt cắm đầu xuống khúc sông này. Tất cả mọi người trên hai chiếc máy bay bị tử nạn.
Mình nhìn xuống con sông định mệnh. Con sông lui dần về phía sau. Khoảng một phút sau bánh xe máy bay chạm mạnh xuống phi đạo của phi trường Ronald Reagan Washington National Airport. Mình đã sống thêm một ngày huyền diệu, như đã sống nhiều tháng qua ở Trung Đông. Cám ơn những lời cầu nguyện của các bạn.

BÔNG LAU 05.02.2025

Những năm nào chiến tranh đã quên

baotreonline.com
Tim Nguyễn
Post on April 27th, 2023

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Những năm nào chiến tranh đã quên…* Có thật vậy không? Đành rằng chiến tranh đã lùi xa ngoài bốn mươi lăm năm, nhiều cuộc đời đã đổi khác -hoặc đã héo hắt tàn phai (như Nguyễn và các bạn ta) hoặc mập béo phây phây (như mấy cha nội ở quê nhà)- và lớp người trẻ sinh sau chiến tranh nay đã bước vào đời với những bước chân bất định… Vâng, đành rằng là thế, nhưng rải rác đây đó vẫn còn dấu tích của một thời đã qua, và một khi cơn giông kéo đến trên bầu trời làm bật lên những gốc rễ từ trong lòng đất, thì lòng người bên này và bên kia bờ sóng còn dấy lên những u hoài.
A, những năm nào chiến tranh đã quên… Con mắt đen… Niềm im lặng… Câu thơ của Thanh Tâm Tuyền viết về chiến tranh chứa nhiều tầng ý nghĩa mang nội dung siêu hình. Con mắt kia là cái nhìn lịch sử. Còn niềm im lặng kia có phải là sự lãng quên hay nó là ý thức bị dìm xuống. Ðã quên, hay tưởng rằng đã quên, nhưng mãi mãi sẽ không bao giờ chúng ta quên được cuộc chiến của một thời mà chúng ta đã tham dự. Nó vẫn còn đó, trong tim trong óc mỗi người, trong cái trở mình của đêm hay thức giấc của bình minh đợi chờ cơn bão.

Nhà báo Seth Mydans – nguồn linkedln
Nhà báo Seth Mydans trên tờ The New York Time ngày nào đã viết rằng lớp trẻ ngày nay hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh cách đây hàng chục năm. Nhận định đó không hoàn toàn đúng. Có thể giới trẻ ở trong nước, do bị bưng bít và xuyên tạc, hoặc mải mê theo cuộc sống thực dụng và những bóng ảnh phù hoa, chỉ có một hình ảnh lờ mờ về thời chinh chiến đã qua. Nhưng ở hải ngoại thì khác. Ở đây có cộng đồng và các bậc phụ huynh chăm lo truyền thụ và giáo dục con em, cho nên lớp trẻ lớn lên biết ít nhiều về cuộc chiến đấu dũng cảm của quân dân Miền Nam cùng những đóng góp đáng hãnh diện của cha ông chúng. Ở đây, cần phải ghi nhận công lao của báo chí và văn nghệ trong việc kiến tạo tinh thần của lớp trẻ. Chương trình “Lá Thư Từ Chiến Trường” của Asia là một thí dụ. Chính nhờ tất cả những nguồn ảnh hưởng tốt đẹp vừa nêu trên, những người trẻ như anh Phùng Trọng Kiệt mới hiểu rõ hơn cha anh của mình. Anh Kiệt viết như sau trên DCV Online:
“Ba ơi, hàng năm vào ngày này [30 Tháng Tư], con thường nghĩ đến sự hy sinh cao cả của Ba, của các Cậu Chú Bác trong gia đình và của toàn thể các Cô Chú Bác trong quân lực VNCH. Các vị đã hy sinh cả tuổi thanh xuân để bảo vệ tự do cho miền Nam. Sau cuộc chiến, CS đã áp dụng một sự trả thù tàn độc trên thân xác và tinh thần của quý vị trong những nhà tù; và nhiều vị đã phải bỏ mình vì không chịu nổi… Một vài dịp khi Ba hàn huyên với bạn bè anh em, con cũng được nghe một vài câu chuyện về những năm tháng dài đăng đẳng khổ lao, những lần vượt ngục kiểu Steve Mc Queen trong phim ‘The Great Escape’ và những lần trốn hụt và bị bắt lại. Vì Ba thường kể với giọng điệu hài hước chế giễu những tên cai tù nên con không cảm nhận được những đau đớn thể xác và tinh thần mà họ đã dành cho Ba sau những lần đó. Sau này, khi đọc được những chứng từ của những tù nhân, con mới cảm nhận được sự bất khuất của Ba. Ngày 30/04, con cũng nghĩ đến sự hy sinh của Má, của những bà Mẹ, những người vợ đã hy sinh cả cuộc đời để lo cho con, nuôi chồng trong những trại tù khắc nghiệt. Có lần Má đã dẫn anh chị con đi thăm Ba (con không được đi cùng vì còn nhỏ) trong một nhà tù nằm sâu thẳm trong rừng và đã bị lạc trong rừng với hai trẻ nhỏ. Muỗi rừng đã đốt anh chị con đến làm độc. Khi đến được trại tù thì người ta nói Ba không còn trong trại tù, và nói Má cứ yên tâm về lao động sản xuất nuôi con. Má tưởng Ba đã chết và bắt đầu ngã bệnh, năm đó Má chỉ còn 29 kg.

Hình không ảnh Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

Con xin nghiêng mình ghi ơn sự hy sinh cao cả ấy…”
Những năm nào chiến tranh đã quên. Con mắt đen… Không, hãy nhìn vào đôi mắt của hạ sĩ Lê Văn Nào. Nhà báo Seth Mydans ghi: “Ðôi mắt của hạ sĩ Lê Văn Nào bị đục thủng trên bức chân dung bằng sứ trong Nghĩa trang Quân đội của miền Nam bị bỏ hoang. Những con bò lang thang gặm cỏ, nơi mà những mẫu đất với những tấm bia nghiêng ngả, nhiều tấm bị vỡ vụn và bị phá nát, nhiều tấm bị bật tung lên nằm bên cạnh những ngôi mộ trống.”
Bi thảm như thế đó. Và ghê thay cho sự thù hận, tàn ác của kẻ thù. Xin đọc tiếp Steth Mydans để có câu trả lời – dù là hư vô, để cho quên và nhớ:
“Ở trên đỉnh đồi nhìn xuống Nghĩa trang bị bỏ hoang của miền Nam, có một đền thờ đầy cỏ dại. Những cơn mưa hè và rêu phong gần như bào mòn những chữ khắc oai hùng ‘Vị quốc vong thân’. Những chân hương cắm ngổn ngang trên mặt đất. Trên một tấm đá khắc kỷ niệm một người nào đó dùng mực xanh ghi lên vài chữ ‘thành kính’.
Trong những buổi trưa hè oi ả, một thanh niên tên là Nguyễn Minh Quang thích ngồi nghỉ dưới bóng mát của ngôi đền. Anh là người lao động cho những xưởng làm gạch nhỏ. Họ đào những tảng đất vàng chung quanh các ngôi mộ để nung gạch. Anh Quang chỉ mới 24. Anh nói chẳng bao giờ anh để ý đến chuyện lịch sử của ngôi đền mà anh đang trú nắng, hoặc những ngôi mộ chung quanh. Nhưng anh bảo thỉnh thoảng cũng có người đến quỳ trước các tấm bia mộ tỏ lòng thành kính.
Một vài người, có lẽ là những người Việt ở bên kia đại dương trở về thăm viếng, đôi khi trả tiền cho những người thợ làm gạch để gìn giữ những ngôi mộ của một người anh hay một người con. Thực ra, người thanh niên kể cha anh là một thương binh từng là hạ sĩ trong Lực Lượng Ðặc Biệt của miền Nam, mỗi năm cũng ghé vào đền vài lần để cầu nguyện.
‘Bố tôi thích lên đây thắp hương. Tôi chẳng biết để làm gì,’ anh ta nói. ‘Tôi thấy bố tôi đến thắp hương. Ông nói với tôi rằng ông đã từng chiến đấu cùng với người Mỹ. Tôi chẳng bao giờ hỏi bố tôi tại sao’.”
TN

Quán Phố Hoài và những người của một thời

baotreonline.com
Tim Nguyễn
September 6th, 2024

Post by Sơn râu 12 Feb 2025

Nhà thơ Huy Tưởng – nguồn Người Việt

Không biết mai đây Sài Gòn còn lại gì không để nhắc nhớ lại một thời. Nhà văn Nguyễn Thị Hậu cách đây không lâu khi nhìn thấy cảnh những cây cổ thụ trên đường phố trung tâm Sài Gòn bị cưa ngọn cưa thân và nhìn cảnh những tòa nhà lâu đời ở đây dần dà biến mất, đã hạ bút viết: Người Sài Gòn mai này còn có gì để nhớ để nói về lịch sử Sài Gòn? Hay là thôi, Sài Gòn cứ là của những người lạnh lùng đến rồi đi, vô cảm lên rồi xuống, chẳng cần phải là Sài Gòn của bao người từng ở, đang ở, từng đến đây và đang yêu quý Sài Gòn mỗi ngày…
Chính vì lẽ đó, và với lòng hoài cảm Ai ra đi mà quên thề xưa được sao…*, mà Nguyễn và anh em luôn viết về Sài Gòn và nhớ về Sài Gòn cùng với những bạn bè, xưa cũng như bây giờ. Để vùng địa lý thổ ngơi đó mãi mãi còn trong trí tưởng mọi người.
Và sau đây là đôi đoạn hồi ức về những thực tại đã từng có một đời sống và những con người đã từng làm nên vẻ đẹp thành phố. Nguyễn muốn nói đến Quán Phố Hoài và những văn nghệ sĩ của Sài Gòn xưa.
Vâng. Nói tới Quán Phố Hoài không chỉ nói tới một cái quán mà còn là nói tới chủ nhân của nó là nhà thơ Huy Tưởng và những bạn bè ngày cũ. Nguyễn từng quen với Huy Tưởng thời ở Đà Lạt khoảng cuối năm 1973. Gặp nhau trong nhà hàng Mê Kông. Thuở ấy, sau khi Lê Uyên Phương đã phổ nhạc thơ của Nguyễn và một số người nữa, thì các bạn gồm Thái Tú Hạp, Hoàng Khởi Phong, Lê Văn Ngăn bèn rủ nhau cùng với Huy Tưởng tổ chức Đêm Đọc Thơ & Hát Thơ tại quán Lục Huyền Cầm của đôi bạn Lê Uyên & Phương. Nhưng tới đêm trình diễn thì Huy Tưởng bận việc ở Nha Trang không kịp về dự. Sau cơn biến động lịch sử 1975, Nguyễn đi tù về, lang thang rách rưới, có ghé tới quán cà phê của Huy Tưởng ở đường Bà Lê Chân cạnh chợ Tân Định, nhưng e ngại không dám chuyện trò với bạn. Thế rồi, mình bỏ nước ra đi.
Nguyễn Đạt trong một bài viết, bằng đôi nét đan thanh, đã phác họa về những con người và ân tình ở Quán Phố Hoài như sau:
“Chúng tôi, nghĩa là những bạn văn nghệ của Huy Tưởng, thường ngồi phía trong ngôi nhà, để vừa uống tách cà phê mà “ông chủ quán” giới thiệu là Cà Phê Phin Gốm và cà phê Cappucino, vừa ngắm những bức tranh của Rừng, Nguyễn Trung, Đinh Cường, Bé Ký… những họa sĩ là bạn bè thân thiết, người ở đây, người mãi bên bờ Đại Tây Dương ngàn trùng xa cách. Ấy tuy nhiên, Rừng, người bạn họa sĩ trông thì cộc cằn mà giọng nói dịu dàng, thường trú ở Mỹ mà thường xuyên có mặt ở Phố Hoài. Chúng tôi tới là gặp anh đang thì thầm gì đấy với nhà thơ, lúc ấy cũng như bất cứ lúc nào, Huy Tưởng cũng ngơ ngơ như đang “Hỏi Đường Cùng Mây Trắng”.
Trong bài viết, Nguyễn Đạt còn cho biết Đinh Cường, mỗi lần về lại quê nhà, đều ghé Quán. Ngoài ra, Phan Xuân Sinh một lần trở lại Sài Gòn cũng đã cùng Hoàng Khởi Phong ngồi uống cà phê ở Quán Phố Hoài.
Nói tóm lại, ở đây, cái quan trọng là người, bầu khí và hương cà phê. Nguyễn thấy thật khó gặp một cái quán như vậy ở Mỹ, bởi do đời sống gia tốc và thực dụng, những quán cà phê -ngay tại Cali, nơi hội tụ rất đông người Việt- thường hỗn tạp, xô bồ, tục thanh trộn lẫn, không có được cái không khí nghệ thuật thân tình như ở quê nhà. Nhưng biết làm sao, đường về đã ẩn trong mây trắng. Đành ngồi tạm ở Mily Bakery hay Factory, Gipsy… Hoặc giả ở những quán Starbucks nơi nào cũng có và mình cũng đã bắt đầu quen thân với không khí ở những quán này. Còn nếu về New Orleans thì xin ghé Cafe Du Monde -ngồi ở đó, giữa người tứ phương từ khắp nơi trên thế giới, nhìn về phía tượng đài Di Dân với bóng những con hải âu bay đảo và xa xa dòng sông Mississippi cuồn cuộn chảy, để mơ tưởng về Sài Gòn và một dòng sông….

Huy Tưởng – tranh Bùi Giáng

Nhân những cảm xúc ngược dòng này, người viết muốn gởi đến Nguyễn Đạt đôi lời thăm hỏi của người trên xứ đồng cỏ, nơi mùa này hoa sage bắt đầu nở tím như hoài niệm một mối tình đã tắt thở. Nhân đây, cũng xin gởi đến Huy Tưởng những tâm tình sót của một thời đã quá xa. Kể từ ngày gặp nhau ở Đà Lạt, đọc Máu Biếc Xanh Và Ngực Tối của anh đến nay, đã có dư ba bốn mươi năm mà tưởng như mới hôm qua. Anh Huy Tưởng ơi, làm sao kẻ này về được Quán Phố Hoài để thấy mặt anh em. Chẳng hạn như Nguyễn Quốc Chánh và Phan Nhiên Hạo. Người viết muốn gặp hai anh bởi đây là những nhà thơ trẻ đầy triển vọng -một ở trong nước và một đang ở Cali. Muốn gặp, còn vì lẽ này: Cách đây cũng đã lâu rồi, được đọc Sổ Tay của Phan Nhiên Hạo trên báo Văn của Nguyễn Xuân Hoàng, lòng riêng lấy làm thú lắm. Phan Nhiên Hạo viết rất chân tình về những nhà văn thuở trước và cùng thời -ở cả bên này và bên kia: “Tôi đã lớn lên với tác phẩm của những nhà văn mà khi đọc họ, tôi nghĩ họ là những người bạn tinh tế. Đọc Nguyễn Xuân Hoàng, tôi có cảm giác đó. Tôi cũng yêu mến Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Võ Đình và Thường Quán qua văn chương trong một cung cách như vậy, mặc dù tôi chưa bao giờ gặp họ.” Viết về không khí văn nghệ ở Sài Gòn trước 1975, Phan Nhiên Hạo kể lại một buổi uống bia trên hè phố Sài Gòn cách nay đã mươi năm với Nguyễn Quốc Chánh. Chánh nói, “Đời sống văn nghệ ở Sài Gòn trước 1975 thật đã. Hiện sinh rắc một chút phấn vàng lên mọi thứ.” Như thế đó, Nguyễn Quốc Chánh cũng như Phan Nhiên Hạo thường nghĩ về văn chương Sài Gòn trước 1975 qua màn sương ảo mộng. Mà quả thật thời đó đẹp -tất nhiên không tránh khỏi thi thoảng (mượn từ của VC xài tạm) một vài mảng xù xì, xấu xí như phải có- nó đích thực là một không khí trí thức, một thái độ làm văn nghệ với ý thức về sự phi lý sau cùng của mọi sự để không quá cay cú, quá ‘ăn thua đủ’ với văn chương.” Phan Nhiên Hạo kể tiếp: “Tôi đã gặp Nguyễn Thị Hoàng. Một thời gian dài, bà hay ngồi buổi tối ở một quán bar gia đình trên đường Lý Tự Trọng (xưa là đường Gia Long). Một người phụ nữ mà thời gian và những truân chuyên của đời sống dường như không chạm tới được (Quả đúng như vậy ư: Ôi, Nguyễn Thị Hoàng…). Bà hay ngồi một mình trong góc, quan sát cái đám đông ồn ào với đôi mắt thẳm sâu trong bóng tối. Lối nói chuyện nhát gừng của bà cũng hấp dẫn như cái huyền thoại văn chương mà bà tạo nên. Nếu tôi là người làm phim, tôi sẽ làm một cuốn phim tài liệu về những nhà văn Sài Gòn còn sót lại như Nguyễn Thị Hoàng, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đức Sơn, Trần Thị Ngh., Huy Tưởng… Họ là những nhân chứng vô giá của một thời văn học sáng giá. Họ đã luôn luôn ở đó, Sài Gòn, qua tất cả các biến động kinh hồn của một cuộc chuyển dời…”
Ôi, Sài Gòn và Quán Phố Hoài, những bạn bè cũ mới, chỉ xin được nhìn thấy một lần. Dẫu là trong cơn mộng…

Garland, tháng 9. 2006
TN

*Khúc Tình Ca Xứ Huế. Trần Đình Quân