Tàn cơn binh lửa

vantuyen.net
Lê Đắc Lực

Post by Sơn râu 9 Feb 2025

Tiêu diệt quân thù

17.Phước Long “Chứng tích kẻ chạy làng”

Ngày đầu năm 1975, đang hành quân ở Tây Ninh, Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận được lệnh của Trung Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III, phải gấp rút đưa đơn vị về Biên Hòa, nhận nhiệm vụ mới, chỉ để lại một Biệt Đội tăng cường, phòng thủ tại Phi trường Quân sự Trảng Lớn.
Nhiệm vụ mới, không nói mà cả Liên Đoàn ai cũng nhận biết được, đó là chiến trường Phước Long, một chiến trường “dầu sôi lửa bỏng, thập tử nhất sinh” cần khẩn cấp tiếp cứu.
Mặt trận Phước Long bắt đầu từ ngày 12 tháng 12 năm 1974, kéo dài cũng đã gần một tháng. Áp lực địch càng ngày càng mạnh. Bốn Quận của Phước Long đã bị Việt cộng đánh chiếm cả. Năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, với quân số còn lại, rút về phòng thủ quanh Thị Xã, ngoài ra còn được tăng cường thêm Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 7, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, ba Đại Đội Trinh Sát của các Sư Đoàn 5, 18 và 25 Bộ Binh. Nếu cộng thêm với lực lượng ít ỏi của các đơn vị của Tiểu Khu, kể cả Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát và Cảnh Sát Dã Chiến, Nghĩa Quân, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, không hy vọng chống trả lại được với lực lượng đầy đủ và sung mãn tinh thần “điên khùng” của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 Bắc Việt xâm lược, cộng với một Tiểu Đoàn Đặc công, và hai Chi Đoàn Chiến xa T-54.
Vào thời điểm đó, quân cộng sản có nhiều thuận lợi về nguồn tiếp tế. Hướng Đông Bắc là căn cứ Bùi Gia Mập, hướng Tây Bắc là căn cứ Bù Đốp, cả hai nơi đều đã bị địch chiếm cứ và trở thành mật khu của chúng. Chắc chắn hậu cần và quân tiếp ứng, nếu cần, sẽ từ hướng nầy tuôn xuống một cách dồi dào. Phía Đông là hai Thị Trấn Gia Nghĩa và Bảo Lộc, không giúp đỡ gì được cho quân trú phòng. Quận Chơn Thành và Đồng Xoài ở phía Nam cũng đã bị địch chiếm mất rồi. Phía Tây Tỉnh Bình Long, cũng chưa hoàn toàn hồi sức từ sau trận chiến Mùa Hè 1972.
Tình hình quân sự đã căng như thế, trong khi Sài Gòn nhiều phong trào đang biểu tình dữ dội: “Phụ nữ đòi quyền sống, Ký giả đi ăn mày và Chống tham nhũng”. Tình hình chính trị như thế chỉ có lợi cho địch quân mà không chắc ở Sài Gòn có người nào nghĩ đến những người lính ở Phước Long đang lâm vào cảnh “thập tử nhất sinh”.

    Chuẩn bị vào Chiến Trường

    Về tới căn cứ, nắm biết được tình hình như thế, thêm vào đó trong lòng mang nỗi chán nản vì hành động vi phạm Hiệp Định Paris một cách trắng trợn của bọn Việt cộng. Biết là Biệt Đội cũng sắp sửa nhảy vào Phước Long, tôi vừa xúc động vừa buồn, không như ba năm trước đây, tại chiến trường Bình Long, An Lộc. Lúc đó, tôi cũng mang đầy lo lắng, nhưng nôn nóng, sôi sục muốn nhảy vào chiến trường, sớm chừng nào hay chừng đó, để chia xẻ và gánh vác gian nguy cùng Đồng Đội, Chiến Hữu.
    Rạng sáng ngày 3 tháng 1 năm 1975, Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật do Trung Tá Vũ Xuân Thông chỉ huy, đã cùng Biệt Đội 811 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là Đại Úy Trương Việt Lâm và Biệt Đội 814 Xung Kích, Biệt Đội Trưởng là tôi, được chuyển vận tới Sân bay Quân Sự tại Căn cứ Long Bình. Đoàn Quân Biệt Cách Nhảy Dù, nằm trải dài trên bãi chờ Trực Thăng, được lót trải bằng những tấm vỉ sắt kết nối nhau, trong một khoảng thời gian dài, từ sáng cho đến quá trưa. Mãi tới 2 giờ chiều, một Phi Đội Trực Thăng do Phi Đội Trưởng Thiếu Tá Đào Vũ Anh Hùng chỉ huy, mới đáp xuống. Đến 2 giờ 30, các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù Biệt Đội 814 đã sẵn sàng lâm trận.
    Từng chiếc UH.1B cất cánh, rồi nối đuôi theo sau chiếc C&C của Đại Tá Phan Văn Huấn trực chỉ về hướng Bắc. Khoảng cách từ Căn cứ Long Bình lên Phước Long theo đường chim bay trên 100 cây số. Khi đoàn Trực Thăng vừa đến vùng trời Phước Long, cao xạ 12.7 ly và 37 ly của bọn giặc cộng thay nhau bắn lên xối xả, dưới đất thì khói bụi mịt mù bay lên che khuất một vùng trời, các phi tuần A.37 oanh kích triệt hạ phòng không địch trên núi Bà Rá chẳng thấy xuất hiện. Đoàn Trực Thăng bay lượn hai vòng trên trời cao, họ có thể đã ước tính, không còn đủ nhiên liệu và thời gian để đáp thả Biệt Đội 814, rồi quay trở về bốc thả tiếp Biệt Đội 811 và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật còn lại, thì trời đã quá chiều tối, nên đã đồng loạt bay về hướng Nam, đáp khẩn xuống ở Tiểu Khu Định Quán để tiếp tế nhiên liệu, rồi bay đáp trở lại ở Phi Trường Long Bình.
    Thêm một đêm nằm ngủ giữa trời sao trôi qua nhanh. Từ sáng sớm ngày 4 tháng 1 năm 1975, hai Biệt Đội đã túc trực chuẩn bị hành trang lên đường. Vào khoảng 9 giờ, đoàn Trực Thăng chở Biệt Đội 814 cùng Trung Tá Vũ Xuân Thông và BCH 1 Chiến Thuật cất cánh, bay cặp theo dòng Sông Bé về hướng Bắc, vừa qua khỏi Thị Xã Phước Long, đoàn Trực Thăng quay vòng trở lại hướng Nam, bay qua Sông Dak- Lung thì lần lượt đáp xuống lơ lửng trên một ngọn đồi, cây cối bị pháo địch bắn cháy, còn ngổn ngang gốc cành, nằm rãi rác khắp cả khu đồi, cách Thị Xã chừng 500 mét về hướng Bắc. Từ độ cao cách mặt đất khoảng 2 mét, các Trung Đội nhanh chóng nhảy xuống tìm nơi ẩn núp và phòng thủ, nhất là để tránh địch có thể trực xạ đại bác 75 ly từ đỉnh núi Bà Rá. Tôi đã được cấp trên cảnh giác về tình huống nầy. Bà Rá đã bị Việt cộng chiếm ngay ngày đầu năm Dương Lịch.
    Bà Rá, Bà Đen và cả Mây Tào, là những ngọn núi cuối cùng của dãy Trường Sơn. Bà Rá có độ cao 7 trăm 36 mét, là con mắt và lỗ tai của Thị Xã Phước Long. Với vị trí chiến lược này, ngay từ đầu, Quân Đội VNCH đã đặt căn cứ trên đỉnh Bà Rá. Từ trên đó, chúng ta có thể quan sát khắp vùng, điều chỉnh và yểm trợ phi pháo cho các đơn vị Quân Đội, khóa họng súng của địch mỗi khi chúng pháo kích vào Thành Phố. Tại căn cứ nầy cũng có các Đài Truyền tin, phát tuyến, nối tiếp làn sóng với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa và giữa các đơn vị trong và ngoài khu vực Thị Xã Phước Long.
    Tình hình căn cứ Bà Rá bây giờ ở thế ngược. Sau khi chiếm được đỉnh núi nầy, địch được ba cái lợi: Bố trí phòng không 12.7 ly trên núi và 37 ly dưới chân núi, Việt cộng gây khó khăn cho các hoạt động của Không Quân ta. Cũng từ đây, địch có thể trực xạ đại bác 75 ly vào vị trí của chúng ta, và cũng từ đây, địch dễ dàng quan sát cả Thị Xã, các hướng tiến quân của ta để điều chỉnh pháo binh đang bố trí chung quanh Phước Long mà tác xạ chính xác, hiệu quả.
    Trong khi Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật đang trên đường tiến quân, thì Biệt Đội 811 và Thiếu Tá Nguyễn Sơn Chỉ Huy Phó, cũng đang đổ bộ xuống một bãi trống, nằm chếch về hướng Tây Bắc của Thị Xã Phước Long, để từ đó cánh quân này sẽ tiến vào bắt tay phối hợp với Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, với Tiểu Đoàn 2 Trung Đoàn 7 Sư Đoàn 5 và năm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, đang phòng thủ trong Thị Xã và Tòa Hành Chánh Tỉnh.
    Biệt Đội 814 và BCH 1 Chiến Thuật tiếp tục băng qua các cánh đồng khô, các khu nhà, các dãy phố hoang tàn đổ nát, một vài nơi đã biến thành bình địa, không một tiếng súng, nhưng thỉnh thoảng đạn pháo địch vẫn nổ rải rác vài nơi trong trung tâm Thị Xã, mọi hiểm nguy vẫn chờ chực cận kề, thì ngay lúc này xuất hiện một chiếc xe jeep của BCH/ Tỉnh đến đón một mình Trung Tá Thông rời khỏi đội ngũ.

    Tiếp tục theo như lệnh đã được ban hành tại Căn cứ Hành Quân ở Suối Máu. Biệt Đội 814 tiến sát hơn vào bên trong Thị Xã, đơn vị trú phòng mà Biệt Đội 814 tiếp cận đầu tiên để cùng phối hợp tác chiến là Ty Cảnh Sát Quốc Gia, nằm ngay góc một ngã tư đường lộ chính, dẫn vào Trung tâm Thị Xã. Nơi đây tôi được tiếp xúc cùng Thiếu Tá Nguyễn Văn Tư, Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia, và qua Ông tôi nắm biết phần nào về lực lượng địch, cùng hệ thống bố phòng của các đơn vị bạn trên trục tiến quân của Biệt Đội 814. Dĩ nhiên Ông ta và các chiến hữu của Ông hết sức mừng rỡ khi có Biệt Cách Nhảy Dù đến tiếp ứng.
    Vượt qua Ty Cảnh Sát, là Doanh Trại của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến, cũng nằm ngay góc ngã tư đường kế tiếp, mặt trước là cổng chính ngó vô Thành Phố, mặt hông phải, bên kia đường là khu nhà dân, nhà cửa hầu hết tan hoang không còn nguyên vẹn, vài nơi vẫn còn lửa cháy âm ỉ, khói bốc lên lan tỏa mờ nhòa tầm quan sát cả một khu vực, không có đơn vị nào còn phòng ngự ở đây, kể cả trong phòng tuyến của Trại Cảnh Sát Dã Chiến, họ đã rút về bố phòng tại các giao thông hào của Ty Cảnh Sát.
    Vừa lúc đó, thì đạn pháo của địch không biết xuất phát từ đâu đã rơi xuống nổ khắp nơi. Tôi tức tốc cho lệnh các Trung Đội lao xuống bố trí tại các hầm hố, giao thông hào bao quanh ba mặt trong Trại Cảnh Sát Dã Chiến, chuẩn bị sẵn sàng tác chiến, đề phòng địch mở đợt tấn công. Bỗng đâu một tiếng súng nổ chát chúa, phá thủng một “cô-nét” gần bờ rào chính diện gây tử thương cho Hạ Sĩ I Sơn, một hiệu thính viên của Biệt Đội, hai trái đạn kế tiếp nổ ngay trên đường, sát bờ rào Ty Cảnh Sát. Đây là những viên đạn Đại bác 75 ly do địch trực xạ từ trên đỉnh Núi Bà Rá. Pháo Binh của ta đã hoàn toàn tê liệt, không còn có khả năng phản pháo.
    Đạn pháo vừa ngưng, tiếng gầm rú của các xe tăng của địch lại từ từ tiến lên, không có bộ đội tùng thiết, xe tăng vừa chạy vừa quay nòng đại bác tác xạ như để áp đảo tinh thần đối phương, nhưng bọn chúng đã không ngờ đang đụng phải khắc tinh của chúng.
    Từ bên trong các công sự chiến đấu, những hỏa tiễn M.72 của các xạ thủ Biệt Đội 814 đã dương cao sẵn sàng chờ đợi. Ầm. ầm ầm, Hạ Sĩ I Ẩn và Hạ Sĩ Sáng, Trung Đội 2, đã tác xạ chính xác chiếc T.54 chạy đầu tiên, lửa đang rực cháy thiêu rụi toàn bộ đám địch quân. Hai T.54 kế tiếp vẫn trườn lên, ầm..ầm..ầm, chiếc trước đứng sững lại một chốc, xong tiếp tục chạy trườn tới tông sập đổ cột trụ đèn, rồi chạy thẳng ra bìa rừng hướng Tây Bắc, chiếc còn lại quay đầu, leo lấn lên lề đường, Thiếu Úy Nguyễn Tấn Mẫn, Trung Đội Trưởng Trung Đội 1, không chần chờ bắn ngay một quả M.72, đạn trúng bên hông trái, phía đàng sau đuôi, chiến xa địch hầu như chẳng hề hấn gì, vẫn cứ chạy trên đường lộ, về hướng Tây rồi mất hút trong màn đêm đang đổ xuống toàn Thị Xã Phước Long.
    Đêm hôm đó, thời gian đang chầm chậm trôi đi trong yên tĩnh. Nhưng rất bất ngờ, Đại Úy Thứ gọi điện thọai thông báo: Trung Tá Thông ra lệnh cho các Biệt Đội Biệt Cách Dù sửa soạn rút quân, theo hai hướng khác nhau, BCH 1 Chiến Thuật, Đặc Huấn và Ban Quân Y sẽ rút về một hướng (?), còn Biệt Đội 811 và 814 sẽ rút lui theo một hướng khác (?).
    Tôi thật qúa đổi ngạc nhiên, khó khăn lắm mới vào được đây để tiếp cứu, vừa chân ướt chân ráo, chưa được một ngày một đêm, và cũng chỉ mới đụng độ sơ khởi với địch, chẳng có tổn thất gì lớn lao, trầm trọng, mà sao Trung Tá Thông lại cho lệnh rút quân.
    Tôi suy đoán, chắc có điều gì không ổn chăng? Hay cấp trên đã nhận thấy kế hoạch thả hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù vào Phước Long, trong biển lửa này như những con thiêu thân, như đem muối bỏ biển, như đem con bỏ chợ, chỉ là làm vật hy sinh tế thần, nên đã cho lệnh triệt thối khẩn cấp?.
    Sáng hôm sau, ngày 5 tháng 1 năm 1975, Biệt Đội liên lạc với BCH 1 Chiến Thuật để am tường rỏ ràng về kế hoạch rút quân, nhưng chẳng có động tỉnh hay lệnh lạc gì khác cả. Và nếu như theo đúng diễn tiến hành quân từ trước, thì Biệt Đội 814 sẽ tiến lên hướng Công viên Lệ Thủy, gần khoảng giữa Trung tâm Thị Xã, để bắt tay cùng các Đại Đội Trinh Sát, sau đó sẽ mở đường, giải tỏa áp lực địch để tiến vào Tòa Hành Chánh Tỉnh. Chưa kịp hành động, thì đạn pháo của địch bắt đầu tác xạ và nổ ầm ỉ khắp nơi. Trước hỏa lực pháo tới tấp này, với kinh nghiệm chiến đấu cùng giặc cộng ở mặt trận An Lộc, Quảng Trị, tôi biết chắc chắn trước sau gì địch cũng sẽ tấn công, nên cho Biệt Đội nằm yên tại các giao thông hào, chờ đợi nghênh chiến với lủ giặc cộng. Đúng y như tôi dự đoán, Việt cộng mở cuộc tấn công ào ạt, lực lượng chính của nó vẫn là xe tăng.
    Bốn chiếc xe tăng T-54, không phải từ phía ngoài bìa rừng, hướng Tây, hướng Bắc hay hướng Đông, mà từ hướng Nam trong Thành Phố, tiến thẳng về phía phòng tuyến Cảnh Sát Dã Chiến mà Biệt Đội 814 đang trấn giữ. Hai bên mỗi xe tăng, là năm sáu tên bộ đội tùng thiết, cầm AK, CKC, B.40 và B.41 lom khom chạy theo. Tới ngã tư giao lộ, chúng chạy tản ra hai phía, như để bao vây, rồi xoay pháo tháp nổ súng bắn thẳng vào bên trong Đồn Cảnh Sát Dã Chiến.
    Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc, Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, với M.72 trên vai, nhắm ngay chiếc T.54 đang rẽ hướng về phải, ngay trước tuyến phòng ngự. Lửa từ chiếc xe tăng bùng lên, bọn bộ đội tùng thiết hoảng loạn, chạy dạt vào một bên vệ đường, nhưng không còn kịp, Đại Liên 60, Phóng Lựu M.79, Lựu Đạn của Trung Đội 3 đã tiêu diệt chúng, không còn một tên sống sót. Chiếc T.54 kế tiếp vẫn liều lĩnh chạy tới, càn qua hàng rào kẽm gai, để tiến vào bên trong, nhưng đã bị các vòng dây kẽm gai cuộn, dính chặt trong các mắt xích, xe đứng khựng lại, ngay tức thì, Hạ Sĩ Dữ, một xạ thủ XM. 202 của Trung Đội 2 đứng lên tác xạ, quả đầu tiên bị trượt, quả thứ 2, thứ 3, thứ 4 đều trúng vào thành xe tăng, nhưng không kết quả gì, xe tăng vẫn gầm rú, nhưng chỉ nhúc nhích một hai thước. Không chần chờ, Thượng sĩ Hùng, Trung Đội Phó, cùng Trung sĩ Sơn, Tiểu Đội Trưởng, đã nhanh nhẹn bò lên, mở nắp pháo tháp, tung vào bên trong hai quả lựu đạn. Chiếc T.54 giờ đây đã hoàn toàn bất động. Dĩ nhiên, không có tên nào trong và ngoài xe có thể sống sót, không có “phép lạ” đến với chúng cả, dù là phép lạ của ông Lenin, ông Mác, ông Mao hay ông Hồ. Có một điều kỳ lạ, là đã hai ba lần sử dụng M.72 và XM.202 tác xạ diệt tăng, nhưng đều không hiệu quả, chẳng lẽ hai loại hỏa tiễn nầy chưa thích ứng hoặc vô hiệu với chiến thuật diệt xe tăng hay Việt cộng rút kinh nghiệm, có thể chúng che chắn thêm cho xe tăng bằng một thứ vật liệu gì đó, khiến trái hỏa tiễn không thể xuyên thủng được.
    Hai chiếc T.54 chạy về hướng cổng chính của Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến và Ty Cảnh Sát cũng đã bị Trung Đội 3 và 4 dưới sự chỉ huy của Chuẩn Úy Chuyển và Chuẩn Úy Lân, đã chận đứng và tiêu diệt hai đợt xung phong của đám bộ đội tùng thiết, và sau khi sử dụng M.72 bắn nhưng không chận đứng được chiếc T.54 đang húc đổ cổng trại Cảnh Sát Dã Chiến, Tổ vũ khí nặng, dưới sự điều động của Trung Úy Qúi, Biệt Đội Phó, đã mang Đại bác 90 ly không giựt tác xạ phá hủy, lửa bốc cháy hừng hực, đã làm cho chiếc T.54 theo sau quay bánh xích, gầm rú tháo chạy mất dần về hướng cũ, sau những khu nhà đổ nát, mờ mịt bụi khói mù trời.
    Trời tối, đêm dần dần trôi qua trong lo lắng.

    Sơ Đồ Mặt Trận Phước Long
    Tờ mờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 1975, Việt cộng cố dứt điểm trận chiến Phước Long. Sau nhiều đợt pháo kích dữ dội bằng đại pháo, không riêng gì ở Núi Bà Rá, mà tất cả các phía chung quanh, nã vào cái Tỉnh Lỵ nhỏ bé mỗi bề chưa tới nửa cây số, như rải cát trên đầu chúng tôi vậy. Không nơi nào không bị đạn pháo cày xới tơi tả. Quân địch dốc toàn bộ 2 Tiểu Đoàn Xe Tăng và các Trung Đoàn Bộ Binh của Sư Đoàn 3 và Sư Đoàn 7 tràn ngập các cứ điểm còn lại của Quân Đội ta đang trú phòng.
    Từ dưới phố, từ bìa rừng hướng Tây Tây Nam, xe tăng địch ào ạt chạy lên đông vô số kể. Thật ra, không phải đông vô số kể, nhưng ít ra cũng phải đếm bằng con số chục, không phải bằng con số lẻ. Tình hình nầy thì “căng lắm đây”, tôi thầm nghĩ! Biệt Đội 814 không có đủ Hỏa tiễn M-72, lại không có loại mìn tự chế của Đại Tá Huấn như ở trận Bình Long, hai cấp số đạn dược mang theo cũng đã tiêu tán trong hơn một ngày qua, trong khi tình trạng tiếp tế rất khó khăn. Ở cứ điểm núi Bà Rá, với nhiều loại vũ khí phòng không, hầu như địch quân đã khống chế bầu trời Phước Long. Máy bay yểm trợ của Sư Đoàn 3 Không Quân Biên Hòa, không bay thấp được, dù là máy bay tiếp tế hay oanh tạc cơ, còn trên đường bộ thì xe tăng của chúng đang đầy rẫy khắp các ngỏ ngách, để chuẩn bị cho một cuộc tấn công qui mô.
    Trong khi tại Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, Biệt Đội đang tả xông hữu đột, vật vả chống trả các đợt tấn công của bộ binh địch và xe tăng ở hướng bên hông và hướng trước mặt thành phố, thì bất ngờ, một đơn vị Việt cộng khác, từ phía Ty Cảnh Sát, đã vượt rào cản, tràn lên đánh ập vào hậu tuyến Biệt Đội, nhưng bọn chúng gặp phải sức kháng cự của Ban Chỉ Huy Biệt Đội, đã sử dụng lựu đạn và M.79 tiêu diệt hơn 10 tên địch quân. Lúc bấy giờ, tôi mới biết là Ty Cảnh Sát đã hoàn toàn bỏ trống, toàn bộ nhân viên trong Ty và Cảnh Sát Dã Chiến đã di tản, tháo chạy từ trong đêm hôm qua.
    Ngay trong thời điểm đang phải chiến đấu cam go, nóng bỏng, hiểm nguy như thế này, thì Âm thọai viên Biệt Đội cho tin: “Đại Úy Thứ vừa gọi máy, thông báo lệnh của Trung Tá Thông, toàn bộ đơn vị sẳn sàng rút quân. Lại rút quân !!!”.
    Nghe tin, chưa kịp định thần, thì ba bốn chiến xa T.54 của địch đã cán sập tường rào, lù lù càn tới, bất kể sự phản công mãnh liệt của Biệt Đội. Đại bác 75, XM.202, M.72 hết hiệu quả tác xạ trong tầm quá ngắn, chỉ còn Đại Liên, XM.16, M.79 và lựu đạn là còn xử dụng, để tiêu diệt đám cộng quân tùng thiết, đang la hét khủng hoảng tinh thần đối phương và chận đứng các xe tăng địch, đang nặng nề xoay chuyển trong Doanh Trại Cảnh Sát Dã Chiến, với đầy dẫy kẽm gai và công sự.
    Đã quá trưa, tình hình chiến sự trong toàn khu vực vẫn còn sôi động, cộng quân không ngừng pháo và tấn công khắp nơi. Tôi vẫn bình tĩnh chỉ huy Biệt Đôi. Một mặt vẫn giử liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để nhận chỉ thị, một mặt biết chắc không thể tiếp tục đối đầu cùng địch, trước những đàn chiến xa mỗi lúc mỗi gia tăng. Tuân hành theo lệnh rút quân đã được ban hành từ Trung Tá Thông, mà cũng nhằm để bảo toàn lực lượng, tôi quyết định rút Biệt Đội ra khỏi Đồn Cảnh Sát Dã Chiến, di chuyển khoảng 1 cây số, về hướng Đông Bắc, chiếm lĩnh lợi thế trên một đồi rừng non, đâu lưng với sông Dak-Lung chừng 500 mét. Các Trung Đội dàn trải đội hình bao quanh đỉnh đồi, đào hầm hố, bố trí sẵn sàng nghênh chiến. Và, y như rằng, không đợi lâu, bọn Việt cộng đã đuổi theo truy kích, chúng lố nhố, vừa leo đồi vừa nổ súng bắn tới tấp, bất chấp sự phản công ác liệt của các Chiến sĩ Biệt Cách Dù Biệt Đội 814 từ trên cao điểm. Tuy nhiên, sau hơn hai giờ giao tranh, mặc dù Biệt Đội tiêu diệt được nhiều địch quân, chận đứng kịp thời các đợt xung phong, tiến chiếm đỉnh đồi của địch, nhưng Biệt Đội đã phải hy sinh Thượng Sĩ Thủy Trung Đội Phó và B.1 Tài khinh binh, riêng Trung Đội Trưởng Trung Đội 2, Thiếu Úy Nguyễn Văn Ngọc thì bị trọng thương, máu chảy lênh láng, Trung sĩ Đức Y Tá Biệt Đội phải sử dụng nhiều lượng thuốc cầm máu, rửa sạch vết thương, nẹp cây hai bên cánh tay để băng bó mới dứt hẳn được.
    Ngay trong lúc này, hai công việc tôi phải làm: Việc trước tiên là tiếp tục liên lạc vô tuyến với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và được biết BCH đã rút ra khỏi Tòa Hành Chánh Tỉnh. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Phước Long hầu như đã bị Việt cộng chiếm cứ mất rồi. Giờ này chắc Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn, đang trên đường bôn tập, không biết có được an toàn? Nếu có nhanh chân tẩu thoát được, thì đang ẩn núp, lẩn trốn đâu đó. Việc thứ hai, dù khó khăn, nguy hiểm thế nào đi chăng nữa, dưới tầm pháo địch, Biệt Đội cũng phải đào hố chôn cất thi hài Thượng Sĩ Thủy và Binh I Tài, những chiến binh đã Anh Dũng Hy Sinh đền nợ Nước.
    Trời chiều xuống dần, cả một không gian mờ nhạt bao trùm Tỉnh Lỵ Phước Long, trong giờ phút này đã hoàn toàn rơi vào tay giặc cộng. Thấp thoáng từ xa, một vài đám cháy rãi rác trong Thị Xã, thỉnh thoảng bùng sáng lên, rồi lại lụn tắt dần cùng với ánh chiều tà.
    Phước Long thật sự đã mất, mất theo với Đại Tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh Trưởng Tỉnh Phước Long, với Trung Tá Quận Trưởng Quận Châu Thành, với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Sư Đoàn 5 Bộ Binh và còn nhiều nhiều Quân Dân Cán Chính khác nữa, làm sao kể xiết.
    Liên lạc với Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật để báo cáo tình hình và kế hoạch rút quân, nhưng đường vô tuyến bị nhiễu loạn. Không thể chậm trể, chiến trường đã phó mặc cho tôi chỉ huy chiến đấu sống còn, thì tự tôi phải biết định đoạt vận mạng cho các Chiến sĩ và bản thân. Chỉ cần một đợt pháo hỏa tập của địch, cùng với sự hợp đồng tác xạ đại bác 75 ly từ đỉnh Núi Bà Rá, thì Biệt Đội 814, tất cả đều sẽ trở thành cát bụi.

    Núi Bà Rá
    Không còn chần chờ, mạng sống của trên 150 Binh sĩ Biệt Đội 814 đều nằm trong giải pháp dứt khoát của tôi. Lợi dụng màn đêm buông xuống, tôi ra lệnh cho các Trung Đội cấp tốc, lặng lẽ rút xuống đồi, di chuyển về hướng Đông Bắc tiếp cận bờ sông Dak-Lung, nơi đây bằng mọi giá, ngay trong đêm, phải tìm cách vượt sông Dak-Lung. Qua bên kia sông, Biệt Đội sẽ được an toàn hơn.
    Dòng sông Dak-Lung nước chảy xiết, rất mạnh. Hai bờ sông cách nhau khá xa, ít nhất là 50 mét. Một số Binh sĩ không biết bơi, với vũ khí đạn dược còn lại trên người, sẽ không an toàn tính mạng. Sau một thoáng suy nghĩ, tôi quyết định cho một Toán Tiền Sát dưới sự chỉ huy của Trung Úy Biệt Đội Phó Nguyễn Văn Quí, đi ngược bờ sông hy vọng sẽ tìm thấy một khúc sông hẹp hơn.
    Cũng trong lúc này, đức tin của một Phật Tử trổi dậy trong lòng, tôi chắp tay ngưỡng mặt lên trời với vô số vì sao, thầm cầu nguyện đến Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, hầu mong Đấng Từ Bi gia hộ phù trì cho tôi tìm ra sinh lộ, đưa Biệt Đội thoát cơn nguy biến. Và như linh ứng hay là một trùng hợp thiêng liêng, chỉ sau một quãng thời gian ngắn, Trung Úy Qúi báo về, đã tìm thấy được mấy cái bè tre của người Thượng Stieng cư ngụ vùng nầy bỏ lại, đang neo đậu bên một lùm cây cổ thụ.
    Nhờ vào khả năng bơi lội của người vùng biển Nha Trang, Trung Úy Qúi đã đưa một Tiểu Đội qua sông, và trong sáng kiến chung, những sợi dây rừng, dây ba chạc, dây dù “mưu sinh thoát hiểm” được nhanh chóng kết nối, nhờ vậy mà cả Biệt Đội lần lượt vượt sông nhanh chóng, chỉ trong vòng 3 tiếng đồng hồ, trong im ắng nhưng cũng đầy bất trắc có thể xảy ra.
    Trong ngày qua, hôm nay và ngay thời điểm này, rất đông đồng bào Tỉnh Lỵ Phước Long, đã liều chết băng qua cây Cầu Thác Mơ, nằm về hướng Đông Thị Xã, bắc ngang sông Dak-Lung. Việt cộng tuy không ra đón đường ngăn chặn đồng bào, nhưng từ nhiều phía, chúng đã rót pháo vào đoàn người chạy giặc, nhiều thường dân không nhanh chân, đã bị chết hay bị thương, không người cấp cứu, nằm lăn lóc trên bờ đường, phía bên này và bên kia cầu. Cũng như ở Quảng Trị, cũng như ở Bình Long năm 1972, Việt cộng đã gây nên ở đây, một “Đại Lộ kinh hoàng” giữa rừng hoang, đem lại thảm khốc cho người dân lành vô tội.
    Lẫn lộn trong đám người chạy loạn đó, có một số Quân Nhân, Cán Bộ, Cảnh sát… trong giờ phút này không thể phân biệt được. Họ đã nhập đàn, lũ lượt cùng với Biệt Đội 814, để vạch lá băng rừng chạy thoát giặc cộng.
    Suốt đêm, Biệt Đội cứ theo La Bàn nhắm về hướng Đông Đông Bắc mà đi, đi mãi, không ai nghỉ ngơi hay chợp mắt ngủ. Tôi tránh không đi lên hướng Đông Bắc, phía có mật khu Bùi Gia Mập. Đó là phía cộng quân di chuyển, tiếp tế hoặc tăng viện cho chiến trường Phước Long.
    Theo hướng Đông Đông Bắc, đường đi Gia Nghĩa, Bảo Lộc, dẫu sao cũng an toàn, bất ngờ hơn, dù rừng rậm, rất hiểm trở, nhưng hy vọng không phải đụng độ với địch quân. Đồng Bào đang đi theo sau Biệt Đội, nếu có chạm địch, chắc chắn cộng quân sẽ không ngần ngại khi bắn vào dân chúng, thiệt hại không nhỏ.
    Khi mặt trời lố dạng, nhìn vào tấm Bản Đồ thì Biệt Đội đã vượt xa hơn 10 cây số.
    Biệt Đội 814 vào trận ngày 4 tháng 1. Phước Long thất thủ hôm qua, ngày 6 tháng 1. Đã một đêm, một ngày trôi qua, tầng số máy PRC.25 truyền tin cứ bị giao thoa, nhiễu sóng, chẳng liên lạc được ai và chẳng ai liên lạc được. Di chuyển suốt cả ngày, chỉ ăn qua loa, cầm chừng bằng gạo sấy, không có nước sôi, không một phút nghỉ ngơi, chợp mắt. Với tình trạng này, đêm nay không cho Biệt Đội lấy lại sức, lỡ bất ngờ tao ngộ chiến, Biệt Đội không còn một chút hơi tàn nào để cầm cự.
    Sáng hôm sau, Biệt Đội tiếp tục lên đường. Nhìn lại đoạn đường Biệt Đội đã đi qua, thì Phước Long bấy giờ đã quá mịt mù, xa lắc xa lơ. Rừng núi từ đây tương đối thấp dễ đi, thỉnh thoảng có nhiều con suối nước trong và chảy xiết. Khoảng gần trưa, Biệt Đội vừa băng qua một trảng trống, thì Hạ Sĩ Huệ, truyền tin Biệt Đội, với bộ mặt mừng rỡ, trao ống bồ đàm cho tôi và nói:
    – “Đại Úy, Thái Dương đang gọi Đại Úy”.
    Đây là lần đầu tiên liên lạc được với cấp Chỉ Huy cao nhất của Liên Đoàn: Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn, sau gần một tuần lễ chiến đấu và bôn tập. Tiếng nói từ Đại Tá đã xoa dịu được phần nào nỗi trầm uất của một đội quân chiến bại, đang trên đường cao bay xa chạy.
    Suốt ngày nay, vị Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn không ăn không ngủ. Thất lạc những đứa con: Biệt Đội 811 và 814 cùng Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật, Đại Tá Huấn lo lắng, bồn chồn như ngồi trên đống lửa.
    Ông liên tục theo Phi cơ Quan Sát L.19, bay miết trên vòm trời cao của Phước Long, để tìm kiếm cho ra những chiến binh của mình. Hỏa tiễn Việt cộng bắn lên dữ dội, khiến Ông phải dùng L.19 cho được an toàn. Có khi Ông muốn dùng trực thăng, bay thấp hơn, để dễ tìm thấy, nhưng cao xạ phòng không của địch vẫn là mối đe dọa, không thể liều lĩnh được.
    Vậy là sau hai đêm, hai ngày, Đại Tá Huấn tìm ra được Biệt Đội 814.
    Sau khi chấm tọa độ chính xác vị trí của Biệt Đội đang dừng quân. Theo hướng dẫn của Đại Tá từ trên Phi cơ L.19, Biệt Đội rẽ về hướng chính Đông, lội qua một con suối, đi chừng khoảng nửa cây số thì dừng quân bố trí tại một trảng tranh rộng nằm lọt giữa một khu rừng tre dày đặc.
    Không đầy một giờ đồng hồ sau, một đoàn Trực Thăng UH.1B tuần tự đáp xuống, bốc Biệt Đội 814 đưa về Căn cứ Hành Quân tại Suối Máu, Biên Hòa. Tiếp theo sau là số Quân Dân chạy loạn. Tất cả cũng đều được Đại Tá Huấn đưa về Biên Hòa, chuyển giao cho Quân Đoàn III, Phòng Xã Hội chăm sóc.
    Khi tôi vừa từ Trực Thăng phóng ra là đã thấy một số đông phóng viên báo chí, truyền thanh, truyền hình đứng đầy trên bãi. Phước Long mất đã hai ngày nay rồi. Dân chúng Saigon dao động, lo lắng. Bóng ma cộng sản gần kề hơn!!!
    Đang bắt tay cùng các chiến hữu, với nét mặt vui tươi, mừng rỡ, chào đón Biệt Đội tôi sống sót trở về từ cỏi chết, thì một cô gái người nhỏ nhắn, mảnh mai, trong bộ trang phục quần Tây dài, áo bốn túi, màu xanh nhạt, bước đến bên tôi, vừa bắt tay vừa tự giới thiệu tên là: “Thục Viên, phóng viên Nhật Báo Sóng Thần, muốn phỏng vấn…”
    Tôi chưa kịp nói gì cả, cảm thấy chân tay như rã rời, chỉ thèm được uống một ly cà phê đá, hay một ly soda chanh cho đã cái khát chất chứa trong suốt mấy ngày qua. Nhưng, miễn cưỡng, tôi nghĩ cũng khó mà từ chối trước lời đề nghị nhiệt thành và đầy thân thiện của cô ta. Thế là một hai câu hỏi và trả lời bắt đầu và trôi qua.
    Về sau, tình cờ tôi đọc được bài phỏng vấn này trên Nhật Báo Sóng Thần, với lời mở đầu đầy hài tính, nhưng phản ảnh trung thực về cá tính của con người tôi:
    “Sau khi Phước Long thất thủ, các đơn vị tham chiến tại đây, trong đó có Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật và hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù đã phải tìm đường thoát nạn. Sau hai ngày hai đêm băng rừng, vượt núi, đơn vị đầu tiên được Đại Tá Phan Văn Huấn tìm thấy và đưa trở về lại căn cứ hành quân trú đóng tại Biên Hòa, đó là Biệt Đội 814 do Đại Úy Lê Đắc Lực chỉ huy.
    Đại Úy Lê Đắc Lực, người cao to, có để bộ râu mép đậm dài, tướng đi bệ vệ trông chẳng khác gì một con gấu. Nhưng khi tôi tiếp xúc phỏng vấn thì thấy Đại Úy Lực rất hiền lành, trả lời câu hỏi từ tồn, nhã nhặn, chân tình, nhìn Đại Úy Lực lúc này thì lại giống như một con nai, phản ảnh trái ngược hoàn toàn với tướng dáng con người của Đại Úy Lê Đắc Lực……”
    Ngay chiều hôm đó và qua sáng ngày hôm sau, Đại Tá Phan Văn Huấn đã tìm và đưa được Biệt Đội 811, Đại Úy Trương Việt Lâm, cùng Trung Tá Thông, Thiếu Tá Sơn và một số Quân nhân của Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật trở về. Nhưng Liên Đoàn và riêng Đại Tá Phan Văn Huấn, vẫn mang nặng nỗi đau buồn lớn lao khi đã để lại tại chiến trường Phước Long một số xác thân của các Chiến sĩ Biệt Cách Nhảy Dù đã hy sinh, và còn nhiều quân nhân khác vẫn chưa tìm thấy, mà sau này được biết đã bị Việt cộng bắt làm tù binh bao gồm: Trung Úy Đức, Chuẩn Úy Cấp, Chuẩn Úy Phước (BCH.I / CT), Thiếu Úy Long, Chuẩn Úy Bảo, Chuẩn Úy Lịch, Chuẩn Úy Linh (BĐ.811). Mãi cho đến ngày Miền Nam sụp đổ họ mới được trở về, để rồi sau đó không lâu lại phải đi tù “cải tạo” khổ sai.
    Trên bãi Trực Thăng dã chiến, tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, một Nghi Lễ được tổ chức để tưởng thưởng Huy Chương, Cấp Bậc cho hai Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù và Bộ Chỉ Huy 1 Chiến Thuật “bại trận trở về”.
    Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống, trong chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III, đứng trước mặt tôi, cầm chiếc Huy Chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, dí hai mũi kim vào trên nắp túi áo trái ấn mạnh, kim chạm vào ngực làm hơi buốt nhói, tôi cảm nhận máu đang ứa rỉ bên trong, nhưng đó chỉ là những bụi máu nhỏ so với muôn ngàn dòng máu thắm mà Đồng Đội tôi, Chiến Hữu tôi của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã chảy đổ ra để hiến dâng cho Tổ Quốc, trong suốt chiều dài của cuộc chiến tranh Quốc cộng. Tôi bắt chặt tay Trung Tướng Tư Lệnh, rồi kính cẩn chào trong nỗi xót xa, đau đớn tận cùng.
    Và tôi đã khóc, vì tôi cảm thấy chưa hoàn thành sứ mạng: “Bảo Quốc An Dân”.

    Sống chết bên nhau

    Tiếng chim buổi sớm

    hoiquantramhuong.org
    Huy Phương
    Post on 25 Jul 2013

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    Ngày bị đày ra tận Hoàng Liên Sơn, “lán” tù tôi ở bên một dòng suối nhỏ, đầu “lán” có một cây rừng, đến mùa hè hoa nở đỏ. Buổi sáng, tôi thường thức giấc sớm, nghe có con chim lạ đến hót những tiếng líu lo ở trên cành. Tôi nằm yên, quên hết phiền muộn, tận hưởng những âm thanh tuyệt diệu, âm thanh đầu tiên của một ngày. Để sau đó, không bao lâu, là tiếng kẻng tù gắt gỏng nổi lên giữa buổi sớm mai, bắt đầu một ngày lưu đày khốn khổ.
    Ai cũng cho rằng khi nằm trên giường thì bắp thịt ta được nghỉ ngơi, nhịp tim đều đặn, hơi thở nhẹ nhàng, giác quan tinh tế hơn, và ta có thể tập trung tinh thần vào những cảm giác hay những ý tưởng của mình một cách tuyệt đối. Ông Lý Lạp Minh, một nhà văn Trung Quốc khuyên ta buổi sáng nên nằm giường mà nghe chim hót, là điều thú vị nhất. Tôi cũng đã hưởng được những giây ấy, mặc dù là ngắn ngủi. Ở thành phố hay thôn quê, đâu cũng có chim, chẳng qua là vì cuộc sống tất bật, chúng ta không để ý đó thôi.
    Tôi còn nhớ Saigon, buổi sớm mai, những quãng đường như Hồng Thập Tự với những hàng cây cao đầy bóng mát, luôn luôn ríu rít tiếng chim kêu. Ngày ấy đời còn vui, chim còn đậu đất lành, tiếng động cơ của xe cộ hay tiếng xích lô máy nổ dòn dã cũng không đuổi hết đàn chim phải bay rời xa tổ. Ngày đất nước rã rời, phải lên tàu Sông Hương ra Bắc, những hôm phải vác một con dao lên những đồi tre, qua những cánh rừng, chặt chục cây mương hay kiếm mớ củi, cô đơn lầm lũi giữa làn cây, nghe tiếng chim kêu mới thấy nỗi sầu trong dạ.
    Có những tiếng chim chiêm chiếp như tiếng gà con, bồi hồi nhớ đến đàn con còn bé dại ở quê nhà. Có tiếng chim cu gáy xa xa, đáp lại ở đâu đó tiếng đồng loại hoà điệu, nghĩ lại tấm thân cô đơn với nỗi buồn nơi xứ lạ. Rồi tiếng chim rừng khắc khoải “bắt cô trói cột” vẫn thường nghe mỗi trưa nơi rừng Việt Bắc, tiếng kêu kéo dài cho đến lúc nắng quái buổi chiều. Tiếng kêu đanh lại, nghe như gằn từng tiếng, theo đầu óc tưởng tượng của mỗi người với những hoàn cảnh riêng, như lời kêu thống thiết, oán thán, trách móc não nuột. Tiếng chim “bắt cô trói cột” nghe thành “hết cơm tới bột” còn chút khôi hài, đói rã họng “đói cơm đứt ruột” còn nghe lời động viên “khó khăn khắc phục” lập đi lập lại nghe tới nhàm chán. Nghĩ theo lời chim, mường tượng như nỗi than khóc “nhớ con đứt ruột”.
    Rồi con chim “cuốc” lầm lũi đâu đó trong khóm lúa, bụi cây, vào cuối xuân hay đầu mùa hè, không hề biết hót mà kêu lên những tiếng khắc khoải, từng tiếng từng tiếng một, nghe ra não nùng, hờn oán của người “mất nước” phải khoanh tay, để “nhớ nước đau lòng con quốc quốc” (Bà Huyện Thanh Quan). Con chim này được gọi là Đỗ Quyên hay Từ Quy, theo tích xưa, là hoá thân của Vua Thục Đế, mất nước khóc đến chảy máu mắt, chết đi hoá thành con chim, cất lên những tiếng kêu não nùng. Tiếng chim “cuốc” nghe xót xa phù hợp tâm trạng người “mất nước” phải xuống tàu đày đi biệt xứ. Nhớ lại câu thơ của Chu Mạnh Trinh:
    “Tịch mịch tiền triều cung ngoại miếu
    Đỗ Quyên đề đoạn nguyệt âm âm.”
    Cung miếu triều xưa nay vắng ngắt,
    Trăng mờ khắc khoải “cuốc” kêu thâu.
    (Tiên Đàm dịch)
    Hay của tướng trung liệt Phan Thanh Giản:
    “Ải Bắc ngày chờ tin nhạn vắng,
    Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu!”
    Còn loài “chim quyên” khác ta thường thấy là một loài chim nhỏ, có bộ lông óng ánh, nâu pha đốt đỏ, có tiếng hót rất hay, thường vào ban trưa ở trong bụi hay đầu hồi nhà. Nhưng không hiểu tại sao người ta lại đánh giá cao để ví chim quyên cao như người quân tử, quân tử sao mà sa cơ, như “chim quyên xuống đất ăn trùn, anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than”.
    Gà là loại cầm, nó không biết hót, nhưng con gà trống có tiếng gáy vào buổi ban trưa làm cho người ta nhớ đến bao nhiêu điều: “hiu hắt gà trưa gáy não nùng”. (Lưu Trong Lư)
    Nhà văn Lâm Ngữ Đường thích nghe tiếng kêu của một loại “gà nô” ( tiếng Tàu còn gọi là “giá cô”). Nói là giống gà nhưng nó hót như chim. Tiếng hót có bốn âm do, re, mi … âm mi kéo dài hai ba nốt, ngưng hẳn một tí, rồi tiếp theo bằng một nốt thấp hơn. Giống chim này có nhiều ở phía Nam Trung Quốc, hót trễ vì đây là một giống chim dạn dĩ, không sợ giàng thun bọn trẻ, trái lại hầu hết loại chim khác đều hót sớm vì sợ loài người ác độc. Có khi chúng bặt tiếng luôn vì lưới bẫy giăng khắp nơi, ví lưới chim đem ra chợ bán là một nghề mới kiếm cơm.
    Tiếng hót của giống gà nô này có ba âm và âm cuối kéo dài, có người nghe là “chè, xôi, chuối … thịt”, âm thịt kéo dài ra, thấp xuống rồi ngưng bặt (theo Nguyễn Hiến Lê). Nghe giống như ý nghĩ mấy ông xôi thịt làng xã ngày trước và ngay cả hôm nay. Giống chim này ở Việt Nam cũng có, thời Tây thuộc tôi có nghe người ta nhại tiếng chim là “père, mère, frère … tout est perdu” (cha mẹ anh em mất cả rồi). Nghe ra ngậm ngùi làm sao, như sau một trận hồng thủy, chiến tranh… như một câu oán than: “cha mẹ già đã khuất núi, quê hương đã thất lạc, mộng ước đã tàn phai …” (Bùi Bích Hà).
    Tôi có người bạn già vẫn bị người ta chê là đã vì tự do mà bỏ xứ, sao bây giờ lại giam cầm bao nhiêu loại chim trong khu vườn nhỏ, gây nên cảnh “chim lồng cá chậu”, khuya sớm lo quạt nồng, ấp lạnh, vất vả tấm thân già. Nhưng bù lại, bạn tôi hưởng được cái thú ở đời là mỗi buổi mai thức giấc nằm nướng trên giường nghe tiếng chim khướu hót ngoài hiên. Những buổi sáng đầu mùa hè, tiếng chim sơn ca (chiền chiện) trong ánh sáng mờ mờ của buổi rạng đông đã bắt đầu cất tiếng hót. Những lúc sung sức, ăn uống đầy đủ giọng sơn ca “luyến láy” tuyệt vời, nói theo danh từ làng ca kỹ. Ban trưa, khi trời nắng ấm là lúc những con chim khoen (gọi là vành khuyên vì trên mắt chim có hai vòng khoen trắng) rộn ràng tiếng hót. Buổi tối nếu trong nhà còn đèn sáng, sơn ca vẫn còn cất tiếng, khi có tiếng nhạc ồn ào, thì giống chim khuyên cũng líu lo tưng bừng. Ban trưa nắng, trời ấm nghe tiếng chim cu gù. Những đêm trăng, chúng ta còn nghe tiếng chim “mocking bird” kêu, một loại chim có rất nhiều trên đất Mỹ. Dù là giống chim trời của bốn phương, nhưng giống chim cùng loại đậu ở đâu cũng hót tiếng như nhau, nên người chơi chim còn nghe được chút âm thanh quê hương đâu đó. Hoạ Mi, khướu và những giống chim Á Đông đã theo những người nuôi chim bằng nhiều con đường khác nhau, sang đến miền đất này, để khuya sớm chuyện trò với gia chủ bên tách trà buổi sớm.
    Trời đất yêu loài chim nên tạo ra rừng cây, loài người yêu chim thì phát minh ra cái lồng. Ông Trịnh Bản Kiều bên Tàu, ngày xưa khuyên em ông đừng bao giờ nhốt chim trong lồng, vì chúng ta nên dung hoà với thiên nhiên và vui với vạn vật. Ông cho rằng không phải vì không yêu chim mà ông khuyên em đừng nhốt chim trong lồng, nhưng vì có cái đạo yêu chim và nuôi chim. Muốn nuôi chim thì trồng vài trăm cây chung quanh vườn nhà để chim tìm tới làm tổ. Buổi sáng tỉnh giấc, còn trăn trở trên giường mà nghe tiếng chim hót thì còn gì thần tiên bằng. Lúc đã xuống giường, mặc áo, đánh răng súc miệng, uống trà, còn thấy chim vỗ cánh rực rỡ, bay qua bay lại thì cái vui nhìn chim trong lồng đâu có so sánh được.
    Ở trên đời này ai cũng ghét giọng con chim cú, nhất là chim cú kêu nửa đêm, để người ta miệt thị là “cú giòm nhà” hay “cú kêu nhà bệnh”. Cũng là loài chim, nhưng chúng lại không có tiếng hót của trời cho, mà chỉ có tiếng kêu như giống ngan ngỗng tầm thường. Một loài chim khác chỉ biết kêu hay nói, là giống vẹt. Chúng mang màu sắc sặc sỡ như xiêm áo của bà đồng cốt, tiếng kêu chát chúa chói tai mà nhiều người vẫn thích do cái tài bắt chước ngọng nghịu tiếng nói của loài người, đó là “nói như vẹt”. Đến thăm nhà nuôi vẹt, nghe tiếng vẹt nói ngộ nghĩnh, chúng ta thường cất tiếng cười hỉ hả, nhưng giống vẹt lại cho đó là tiếng tán thưởng vì giọng nói ngô nghê, sao chép vô nghĩa của nó. Ta có bao nhiêu giọng nói quen thuộc, chúng ta chưa đến nỗi thiếu giọng người, thế mà cũng có người thích giọng vẹt-người.
    Những ngày mới đến Mỹ, tôi có nhận thấy ở Mỹ có nhiều bầy quạ đen. Chúng kêu loét choét sau vườn, nhiều khi sà cả bầy xuống sân cỏ. Tôi cho đây là loại chim vô tích sự. Người đời quý màu sắc, mà loài quạ chỉ mỗi màu đen. Người ta thích tiếng hót mà loài quạ chỉ biết kêu. Ai cũng thích sự hiếm quý, mà loài quạ bay đến từng đàn, đuổi đi không hết. Vậy mà nhà thơ Trương Kế của Trung Hoa ngày xưa, nửa đêm nghe tiếng quạ kêu cũng sinh tình làm bài thơ “Phong Kiều Dạ Bạc” bất hủ. (Nguyệt lạc, ô đề sương mãn thiên…)
    Trong khi trái đất này còn quá nhiều loại quạ, vẹt, cú, kên kên… mà chúng ta còn nghe được có tiếng chim hót, hạnh phúc biết bao! Nếu bạn ở trong một vùng vắng tiếng xe, một buổi sớm mai nào đó, thức giấc, nằm yên trên giường, xin im lặng, thử tìm nghe có tiếng con chim nào đến hót trên cành cây ở đầu nhà không?

    Huy Phương

    Thép có, mà cá cũng có!

    hung-viet.org
    Huy Phương
    29 Tháng Tám 2016

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    Nhà máy thép Formosa ở Hà Tĩnh. (Hình minh họa: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

    Chưa lúc nào đất nước Việt Nam lại chịu nhục như trong trường hợp này, để một thằng “khách” đến thuê đất làm ăn ở nhà mình mà hỗn xược nói thẳng vào mặt chủ nhà: “Muốn bắt cá, bắt tôm hay nhà máy, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được…” Thủ tướng thì không chắc làm được, nhưng ông Trần Hồng Hà, bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, đã nhanh nhẩu “cứu giá,” tuyên bố, vào ngày 22 Tháng Tám mới đây: “Người dân miền Trung sẽ có cả thép, cả cá và cả một môi trường biển sạch, đẹp, an toàn.” “Sẽ” là bao giờ, tương lai gần hay xa?
    Nói đến tiểu sử ông này là nói đến những thứ lổn cổn, lảng cảng toàn là những thứ của đảng: “Ủy viên Trung Ương Đảng, ủy viên Ban Chấp Hành Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Trung Ương, ủy viên Ban Cán Sự Đảng, bí thư đảng ủy, thủ trưởng cơ quan bộ, thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường…” Đúng là “miệng người sang có gang (mà thêm) có thép!” Dân ráng tin đảng đi, chết thì dân chịu!
    Bằng mọi giá phải cứu Hà Tĩnh. Hà Tĩnh là tỉnh có nhiều ủy viên trung ương nhiều nhất, 16 người, trong đó có ông Trần Hồng Hà và ông Nguyễn Chí Dũng, bộ trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư. Cứu Hà Tĩnh là cứu Formosa và cứu túi tiền, tư lợi của đảng.
    Trước khi ông Trần Hồng Hà tuyên bố chúng ta có cả thép lẫn cá, đoàn kiểm tra của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã kiểm tra và phát hiện thiếu sót 58 hạng mục trong bảo vệ môi trường (phân thành ba loại: 23 hạng mục về hoàn thành và quản lý công trình bảo vệ môi trường, 23 hạng mục cải thiện khu vực lưu trữ chất thải, và 12 hạng mục phối hợp thông tin quan trắc bảo vệ môi trường).
    Đến nay, công ty chỉ mới hoàn thành 32 hạng mục; dự kiến đến 30 Tháng Mười Hai hoàn thành tiếp 22 hạng mục; 30 Tháng Mười Hai, 2017 tiếp tục hoàn thiện hai mục thuộc hạng mục kết nối giám sát ống khói; Tháng Sáu, 2018, hoàn thành hai mục thuộc hạng mục lắp đặt thêm bể sự cố nước thải của xưởng xử lý nước thải.
    Những hạng mục chưa thể hoàn thành chủ yếu là các hạng mục phải cải thiện lâu dài gồm hệ thống xả nước thải và xả khí thải; hiện đã sắp xếp thời gian cải thiện, có thể hoàn thành trong ba năm.
    Trong lĩnh vực quản lý xả thải, nhằm bảo đảm phù hợp với tiêu chuẩn quản chế nước xả thải, Formosa sẽ lắp đặt thêm thiết bị quan trắc tự động chất lượng nước và bể sự cố nước thải, ba hạng mục cải thiện đối với xưởng xử lý nước thải.
    Với lĩnh vực quản lý hệ thống khí thải, kết nối đường truyền thiết bị quan trắc tự động của 20 ống khói xưởng luyện thép. Cùng đó, công ty Formosa đang khởi động đánh giá kỹ thuật và tác nghiệp công trình xây dựng, dự kiến, đến Tháng Ba, 2019, hệ thống dập cốc khô sẽ đi vào sử dụng.
    Vậy mà giới chức đảng đã coi thường sinh mạng dân, tuyên bố bừa bãi.
    Vào ngày 5 Tháng Tám, Viện Kiểm Nghiệm An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm Quốc Gia lấy chín mẫu hải sản tại huyện Kỳ Anh và huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, để thử nghiệm. Theo báo cáo văn bản số 752/VKNQG-QLCL, kết quả tìm thấy: Trong mẫu cá trạng chuồn có hàm lượng cadimi là 0.079mg/kg, vượt quá giới hạn cho phép. Phát hiện lượng hóa chất độc hại cyanua trong 5 mẫu cá – gồm: Cá đuối (0.8mg/kg); ghẹ 3 mắt (0.8mg/kg); cá nhồng (0.6mg/kg); cá man (0.5mg/kg) và cá mỏ neo (3.9 mg/kg). Ngoài ra, xét nghiệm cũng phát hiện hàm lượng phenol trong ba mẫu cá (gồm: Cá đuối (14mg/kg); ghẹ ba mắt (10mg/kg) và cá man (8.3mg/kg), theo trang blog Danlambao.
    Trong khi đó, chất thải công nghiệp được nước ngoài, các công ty đã chọn Việt Nam làm bãi rác để tống khứ, vì đất nước dễ hối lộ, không có dân quyền, chính phủ chỉ lo tiền mà không lo cho sinh mạng của dân chúng. Chất thải của công ty Formosa Hà Tĩnh hiện đã đổ thải trái phép ngay trong trang trại của ông Lê Quang Hòa, giám đốc công ty môi trường đô thị thị xã Kỳ Anh. Chất thải này cũng được chia phần cho Phú Thọ. Công ty Ánh Dương ở Đà Nẵng cũng bị phát hiện đã chôn lấp hơn 35 tấn rác thải. Nhiều bao bì để lại chứng minh những loại chất thải này cũng đến từ Formosa.
    Sự thật đang xẩy ra trên đất nước khác hẳn với những lời khoa trương của các cấp lãnh đạo. Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì một hội nghị “trực tuyến” toàn quốc về bảo vệ môi trường, hùng hậu vì có sự hiện diện của hai ông phó thủ tướng khác.
    Ông thủ tướng cũng công nhận rằng, trong thời gian qua, các vi phạm pháp luật về môi trường bùng phát, xảy ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống người dân, gây bất ổn xã hội. Ông này cũng hứa: “Kiên quyết không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà đánh đổi môi trường, cuộc sống bình yên của người dân.”
    Ông Trần Hồng Hà cũng phê bình: “Một số ngành, địa phương chỉ chú trọng lợi ích kinh tế trước mắt nên dễ dãi trong việc thẩm định, xét duyệt dự án; hiệu lực, hiệu quả trong việc phòng ngừa, kiểm soát các nguồn ô nhiễm của nhà nước chưa cao.”
    Hai ông phó thủ tướng cũng lên án: “Vừa qua, việc đánh giá các dự án có tác động môi trường còn dễ dãi” (ông Trịnh Đình Dũng).” Và “yêu cầu các địa phương phải có kế hoạch cụ thể, quy định rõ trách nhiệm, lâu nay chỉ nói nhiều, hành động ít” (ông Vũ Đức Đam).
    Thủ tướng, phó thủ tướng, và bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường hiện nay là những nhân vật cao cấp, quyền hạn nhất trong vụ Formosa, nhưng nhân vật nào nói cũng nhiều, phần lớn đổ cho cấp dưới, những thứ gọi là ngành, địa phương, và toàn là kiên quyết, yêu cầu, ra lệnh.
    Ai cho phép Formosa, một thứ độc dược đã bị ngay quê hương của nó xua đuổi, đến đây để đầu độc dân mình, chẳng nghe ai đấm ngực nhận tội cả. Đảng lãnh đạo, đảng dẫn đường, đảng chỉ huy. Tòa án, quốc hội, chính phủ đều nằm trong tay đảng, thì “ai trồng khoai đất này?”
    Không nghe nói đến số tiền bồi thường $500 triệu, cũng không nghe nói đến vụ “xử lý” Formosa, dân bốn tỉnh miền Trung vẫn còn gác thuyền lên bãi, di cư đi bán vé số, làm thuê… để chờ biển sạch, hay chờ ngày không còn… đảng.
    Cũng với cung cách và tư duy mị dân hạ đẳng, “những con sâu béo tròn béo trục!”(chữ của Nguyễn Đức Lập) gồm Bộ Trưởng Trần Hồng Hà và đảng uỷ bốn tỉnh miền Trung kéo nhau đi tắm biển và ăn tôm mực tại chỗ để cho dân vững lòng tin ở đảng! Kết quả biển đã sạch chưa, tôm cá đã hết nhiễm độc chưa, lấy lại niềm tin của dân, phải chứng minh bằng khoa học, chứ không phải bằng lối nếm nước biển hay ngửi tôm cá để hô lên là biển đã sạch.
    Nguyên chủ tịch nước thì sau khi lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của ngư dân đã có những “chia sẻ, động viên ngư dân bám biển, vươn khơi!” Nghĩa là sao? Biển độc, cá chết, cũng bám biển, vươn khơi …để làm gì? Đúng là một nhóm phục vụ nhân dân bằng “đầu môi, chót lưỡi” và phát ngôn những lời rất là vô nghĩa.

    Thật là “phước đức” cho dân tộc Việt Nam, nhờ có đảng dẫn đường, ngày nay Việt Nam không những đã có cá mà còn thêm thép nữa, hạnh phúc trong vòng 70 năm, thời gian đủ cho chất độc ngấm vào đất, vào nước, vào thực phẩm, vào máu dân Việt. Cứ tin tôi đi, việc đuổi Formosa, $500 triệu bồi thường, chất độc trong cá trong biển, sẽ được đảng giải quyết theo lối “cứt trâu để lâu hóa bùn,” chỉ có những ông chủ của đất nước sẽ đói từ từ và chết cũng từ từ.
    Sợ đến lúc đó, “còn đảng” mà không “còn mình!”
    Vậy muốn “còn mình” thì đất nước này phải không “còn đảng!”

    Huy Phương

    Những đoản văn của một thời

    baotreonline.com
    Tim Nguyễn
    Post on April 13th, 2023

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    Tháng Ba rồi tháng Tư… Bao nhiêu hình ảnh hiện về trong trí óc anh em. Xin cùng nhau nhớ lại để xót thương và mơ mộng.
    Người đi về hướng gió…
    Người đi đi mãi về hướng gió
    Cứ nghĩ về một đốm lửa
    Ai nhóm hắt hiu
    Những câu thơ rất hay của Phạm Chi Lan (ôi Lan ra đi mới đó mà đã mười mấy năm rồi) được đọc lại trong buổi sáng đầy gió trời, đã gợi hứng cho mình viết bài văn ngắn này. Người đi đi mãi về hướng gió… Ði đâu vậy cà? Ði về phía đền thờ hay về phía hoàng hôn trên đại vực Grand Canyon? Hay đi về phía vịnh Tây Tử nơi có những đống lửa cháy trong đêm, sưởi ấm những mối tình đồng tính.
    Như một đêm bên ánh lửa vùng nhiệt đới
    Người mê đắm một vùng ngực trần
    Quyện mùi chocolate và tiếng reo của khát vọng
    Như thế đó những chuyến đi về hướng gió mùa. Hãy nghe
    cũng một đêm nào như đêm nay
    khi những chiếc trực thăng di tản thương binh về hậu cứ
    trong quán cà phê. không đốm lửa
    em gục đầu trên vai anh
    nhủ thầm. bình minh. bình minh
    anh khóc với bình minh
    Một cuộc chia tay thời chiến. Khi bình minh lên ở chân trời cũng là lúc xa nhau, anh lên đường về hướng gió, và có thể bị một viên đạn ầu ơ bắn vỡ toang lồng ngực.
    Có những chuyến lên đường về hướng gió như thế đó. Và trên đường đi đôi khi ta gặp một nỗi buồn lớn. Như năm nào đã xa, thật xa, trong chiến tranh Việt Nam, tôi đi trên đường biên giới, “chợt nhớ bài thơ yêu em ngày nào đã viết / lúc còn phố vui. mái ngói. và lũ chim…” Còn nữa… Sau chiến tranh, cũng một đêm trời nổi gió, và mưa, những chiếc xe molotova bít bùng chở tù về hướng Tân Cảng. Khi xe chạy ngang cầu Sài Gòn, nhìn qua khu Thanh Ða, ủ ê những chấm đèn, lòng nhớ vợ con và mái nhà xưa rưng rưng nước mắt… Thế đó, người đi đi mãi về hướng gió… Thật sự, cũng có đôi lúc đi trong chiều thanh thản. Như Hồ Dzếnh, “ngỡ hồn mình là rừng / ngỡ hồn mình là mây / nhớ nhà châm điếu thuốc / khói xanh bay lên cây”… Hay như Lê Văn Ngăn, “đốt điếu thuốc nghiêng nghiêng chiều lửa đỏ / ngày trên cao reo mấy ngọn bạc hà…”
    Và bạn ơi, người đi mãi trên con đường của gió mùa, đi qua cuộc tử sinh. Về chưa… Về chưa… “Cháy trong vườn lãng quên / chiều hoe. đốm lửa / người tù xa lâu năm trở về / bên mái nhà và bờ ao / mùa thu tàn ố / khòm lưng. nấu bát cháo ngoài hiên / nấm mộ đá ong / dế khóc…
    Và em ơi, tôi viết những dòng này đặc biệt gởi về em. Bởi lẽ, cuộc za-zu qua trần thế đầy bụi, máu, mồ hôi và nước mắt, rồi cuối cùng cũng tới nơi một điểm hẹn. Ấy là Talahassee.
    vẫn chiếc áo sờn cổ
    đôi giày của gã lãng du
    tôi đi. với mảnh trăng mùa đông
    này bạn văn xưa
    còn không những nét dao trên đá
    về số phận. của một người. một đời
    và đốm lửa
    tôi nghe thơ anh cùng tiếng chuông ngân
    giã từ
    giã từ
    những mùa của quỷ
    Có phải không, đi mãi về hướng gió, nghĩ về những đốm lửa hắt hiu là như thế. Cảm ơn nhà thơ và những câu thơ để kẻ này có dịp nhìn lại cuộc hành trình của đời mình, của bạn bè. Và lịch sử.

    …Và những cánh chim lạc loài
    Chiều nay run rẩy tha đôi cánh
    Một bóng sơn ca đến lạc loài
    Một lần nữa, Nguyễn xin được trở lại với câu thơ của Văn Cao và những thân phận những di dân trong thế kỷ vừa qua và những năm mở đầu thiên niên kỷ này.
    Gió đã lên. Gió đã lên. Những cánh chim trời phiêu lãng vẫn mịt mù trên những miền đất lạ. Vừa qua, về lại New Orleans, mình tìm lại lối trăng moonwalk, nghe sóng dậy ven bờ và tiếng còi tàu chợt hụ chợt nín trên dòng Mississippi. Ðể nhìn lại bức tượng Di Dân với bao cảm xúc ùa về. Vẫn hai vợ chồng với một con gái còn bế trên tay và cậu trai đã lớn đi bên cạnh tay cầm tay bố.
    Ngắm nhìn pho tượng trong đêm, nghe lại bài thơ lưu lãng trên sông Mississippi – bài thơ với đôi mắt “xanh như đêm dài” và những cuộc đời nổi nênh mãi mãi vẫn chưa viết xong. Và rồi, một đoạn phim truyền hình vừa xem chợt hiện lên trước mắt với hình ảnh một anh da đen gầy ốm, không áo mặc, trên mình chỉ có chiếc quần xà lỏn, vừa đi vừa nói năng nhảy múa trên một con phố nào đó của xứ Somalia hay Sudan. Anh đang đi, mắt nhìn vu vơ, bỗng một người chĩa súng vào bụng anh và bóp cò. Màn hình lúc ấy chợt im sững trong một giây, và mắt anh da đen mở lớn, rồi anh từ từ khuỵu xuống.

    Tờ Dallas Morning News số ra ngày nào đã lâu, nói về những di dân Mễ Tây Cơ trở về cố quận rồi lại dứt áo ra đi lần nữa. Như cô Yolanda Arzola. Không chịu đựng nổi cách đối xử của chính quyền nước Mỹ đối với những người nhập cư bất hợp pháp (như cô), Arzola đã mang các con (sinh đẻ ở Mỹ) về lại Mexico. Cô về và tính ở lại luôn. “Giây phút vừa mới đặt chân trở về, nỗi xúc động dâng lên ngập lòng cho đến nỗi bạn nghĩ rằng mọi sự đều dễ dàng, có thể thực hiện được.” Arzola phát biểu trong căn nhà thời thơ ấu chỉ có hai cái giường, khi em gái cô đang giặt quần áo dưới suối, dùng một hòn đá để chà chiếc áo sơ mi. “Và rồi thực tế làm bạn thức tỉnh, và tự hỏi chính mình, hỏi đất nước Mexico, rằng tương lai ở nơi đâu.” Do đó, Arzola quyết định một lần nữa từ giã người bà 97 tuổi, từ giã anh chị em và quay trở lại Texas, sau đó đi Florida.
    Arzola là một trong hàng trăm ngàn trường hợp. Khắp vùng thôn dã Guanajuato và những vùng lân cận, bản serenade cuối cùng cho những người di dân trở về cố quận đã vang lên và lịm tắt trong đêm. Thế rồi những ngày nghỉ lễ qua đi, đồng tiền dành dụm tiêu hết, vả lại không có việc gì làm, những người trở về lại thấy lòng dạ bồn chồn, nghĩ đến những chân trời khác. Arzola nói trước khi lên đường về lại Texas: “Có cái gì đó trong ngụm nước uống ở Mỹ. Mỗi khi bạn đã nếm thử vị của nó là bạn nhớ nó mãi. Nhớ mãi không rời xa được.”
    Nguyễn đã hiểu vì đâu trong thế kỷ vừa qua người ta bỏ xứ ra đi và hiện tại cũng vậy. Không, không phải chỉ bởi đói nghèo vô vọng mà còn vì bị khủng bố, ngược đãi, truy bức. Hình ảnh anh da đen trong clip phim vừa kể đã nói lên với chúng ta rất nhiều, trả lời cho câu hỏi ray rứt qua nhiều thập niên: Vì đâu anh không ở, tôi không ở, gã Alex trong truyện “Những Người Tử Tế” của Phan không ở. Vì đâu triệu triệu người dứt áo ra đi, nuốt lệ ra đi làm những cánh chim trời bạt gió. Vì đâu? Và như lời nói bất hủ của nghệ sĩ quá cố Trần Văn Trạch, đến cái cột đèn kia nếu biết đi nó cũng sẽ bỏ xứ ra đi?
    Thế mới thấy rằng trái đất này còn nhiều bóng tối và nhiều người chưa hưởng được cuộc sống yên vui ngay chính trên quê hương mình. Và trong bầu trời chứa nhiều bão tố vẫn còn những cánh chim phiêu bạt. Cho nên câu thơ Văn Cao vẫn còn gợi những cảm xúc bồi hồi.
    Chiều nay run rẩy tha đôi cánh
    Một bóng sơn ca đến lạc loài
    TN

    Ngàn năm cây Sequoia

    baotreonline.com
    Tim Nguyễn
    Post on October 13th, 2022

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    Nguyễn đã nhiều lần viết về cây. Cây bàng ở Vương Phủ. Rồi cây cam của Thảo Mi ở Tallahassee. Cây mận của Thái Kim Lan ở Munchen. Cây cô đơn có tên là Ténéré trên vùng sa mạc Châu Phi. “Cây giày” trên đường đi tới Las Vegas. Cây thụ cầm ở Hoàng Liên Sơn. Và cây sồi… Hôm nay xin nói về cây Sequoia.
    Nhưng trước hết xin được nói về cái tình của người và cây. Cây và người trong nhiều trường hợp có sự gắn bó rất là thân thiết. Như bạn bè. Như tình yêu. Có khi người nhập vào cây làm một. Chẳng hạn, như trong một truyện ngắn của Hải Miên mà Nguyễn đã có lần nói tới. Hải Miên đã viết về những đời người và những cái cây thật là cảm động, “Ông nội tôi thở hơi cuối cùng khi mẹ đang hối hả đào hố trồng xuống sau vườn một cây ăn trái lâu năm. Ðây là tục lệ của riêng người trong thung. Khi trong nhà có một người lớn tuổi về với đất thì người đàn bà của gia đình đó phải trồng xuống một loại cây lâu năm kịp trước khi người kia im hơi tắt tiếng. Linh hồn của người chết sẽ nhập vào thân cây ấy trong vườn nhà. Với những người trẻ, linh hồn sẽ bay đi nương vào một cây trên rừng. Hằng năm vào ngày mồng một Tết, chúng tôi có lễ thăm cây. Trước hết là thăm cây trong vườn nhà và sau đó tỏa lên rừng. Giờ ông nội đã trú ẩn trong cây mít trước ngõ, bố tôi ở cây xoài sau nhà và mẹ tôi ở cây xoan cạnh bờ mương. Mỗi khi buồn, chị Nụ hay ra tựa lưng vào gốc cây xoan, một chốc lại lẳng lặng quay vào, không muốn để ai nhìn thấy. Nhưng tôi biết bí mật của chị. Tôi còn biết từ dạo nhà có chị dâu, chị rất hay lén ra dựa gốc xoan…”
    Thật là cảm động và cũng đầy tình người, phải không bạn? Bây giờ xin nói tới cây sequoia. Ở đây ta cũng sẽ gặp cái tình thắm thiết của người và cây. Xin bắt đầu với câu chuyện kể về một bạn trẻ lúc còn học lớp 7 lớp 8, nhìn thấy trong sách vạn vật có hình những cây khổng lồ gọi là Sequoia tại công viên quốc gia Hoa Kỳ Sequoia National Park. Từ đó bạn ao ước sẽ có ngày đến được vùng đất có những cây gỗ đỏ khổng lồ này. Và tháng 4 năm 2009 bạn đã thỏa nguyện.
    Sequoia National Park là công viên quốc gia của nước Mỹ nằm về phía nam vùng Sierra Nevada và phía đông của Visalia, California. Công viên được xây dựng ngày 25 tháng 9 năm 1890, nổi tiếng nhờ những cây sequoia khổng lồ, trong đó có cây General Sherman là loại cây lớn nhất trên mặt đất này.
    Loại sequoia này được giới thực vật học Hoa Kỳ đặt tên là General Sherman (Tướng quân Sherman), dựa theo tên viên tướng huyền thoại trong cuộc Nội chiến Bắc – Nam (1861-1865). Cây nặng 2,000 tấn. Số gỗ của nó xẻ ra đủ làm 40 ngôi nhà 5 gian rộng rãi.
    Tên gọi loài sequoia là từ tộc người Cherokee – một trong những bộ lạc da đỏ văn minh nhất. Sequoia chính là tên của người đã sáng lập ra thứ văn tự của họ: thứ tự dạng có 86 hình, mỗi hình tương tự một âm ngữ. Nhờ sequoia mà thổ dân Cherokee đọc và viết được.
    Cây Sequoia khổng lồ có chiều cao từ 70-120m cùng bán kính dày tới 9m, sống đến 3,000 – 4,000 năm tuổi. Quê hương của chúng là các sườn núi phía tây vùng Sierra Nevada, trên bình độ từ 1,400-2,700m so với mực nước biển. Tán lá của cây sequoia dày đến nỗi trong những ngày oi ả nhất của vùng nhiệt đới California, vẫn tạo được độ ẩm tối cần thiết cho thân cành, tạo điều kiện thích hợp với cuộc sống trường sinh cùng màu lá đỏ thẫm vĩnh cửu.
    Cây Sequoia được khoa học hiện đại phát hiện vào năm 1885 bởi nhà thực vật học lỗi lạc người Anh William Lobe trong khu rừng nguyên sinh khổng lồ ở Vera Cruz thuộc tiểu bang California. Từ 90 cây hồi đó, bây giờ chỉ độ 30 cây còn sống. Cây “trưởng họ” cao tới 140m cùng đường kính 35m (đã bị bão quật đổ). Tại Công viên quốc gia ở California có chỗ người ta còn làm đường lộ xuyên qua một gốc sequoia nữa.

    Tại sao loài sequoia đạt được sức sống kỷ lục cao như vậy? Ðiều bí mật nằm trong bộ rễ khổng lồ cùng cấu tạo thân cành của chúng. Do chứa nhiều lượng kháng thể nên sequoia có khả năng chống lại sự hủy hoại khắc nghiệt của thiên nhiên lẫn thời gian, với bộ rễ sâu cứng bảo đảm cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào, khiến thân không bị nấm mốc. Các nhánh rễ của sequoia dày 30cm, ngay cả loài thú đói cũng không dám gặm, đó cũng là một nguyên nhân làm cây tăng tuổi thọ.

    Các nhân viên cứu hỏa tại Vườn quốc gia Sequoia đã sử dụng vật liệu đặc biệt giống lá nhôm để bảo vệ General Sherman, một trong những cây lớn nhất thế giới, khỏi ngọn lửa xâm lấn của đám cháy rừng. nguồn National Park Service
    Thậm chí, cây General Sherman tuy đang hỏng nặng sau 4,000 năm tuổi, vẫn phát triển sung sức: cứ sau hai năm lại rụng thêm một đợt hạt mới – với kích thước bằng đồng xu nhỏ – để duy trì nòi giống.
    Nhà văn Phạm Quốc Bảo trong truyện ngắn có tựa đề Ði Tua kể lại chuyến đi tua của một số du khách tới khu Wawona Mariposa vùng phía nam của công viên quốc gia Yosemite, để được chiêm ngưỡng rừng cây sequoia, một thứ đại cổ thụ sống hàng ngàn năm nổi tiếng thế giới, nằm về phía đông và Bắc California.
    Theo ghi nhận của Phạm Quốc Bảo, cây sequoia có hiện tượng lạ là khi sống tới độ tuổi từ ngoài một ngàn năm trở lên, tự nhiên ruột cây có thể bị cháy đen từ gốc ngược lên dần dần cho đến khi cây chết đổ sụp xuống, như một hình thức tự hủy. Cây có thể đâm nhiều nhánh cành to bằng thân chính. Lỗ hổng của thân cây cháy mục đủ để làm thành một con đường xuyên qua rộng từ hai đến bốn mét.
    Ðọc tới đây, tự nhiên trong lòng gã làm thơ này chợt dâng lên một niềm ngưỡng mộ trước cái chết của cây sequoia hơn ngàn tuổi kia. Một cái chết thật hùng vĩ, thật đẹp. Rồi Nguyễn nghĩ tới cái chết của một vĩ nhân khi tới cuối đời. Văn hào Leo Tolstoy của nước Nga, lúc cuối đời đã bỏ nhà ra đi. Ông để lại đàng sau điền trang Yasnaya Polyana, vợ con và toàn bộ sự nghiệp, đi tới nhà ga Astapovo và chết trong cô đơn. Cũng như cây sequoia kia vậy.
    Và … Câu chuyện kể kết thúc bằng cảnh các du khách xúm lại quanh một cây sequoia đổ, đất bám quanh cụm rễ còn đỏ tươi, mấy người lính gác rừng (rangers) đang chỉ trỏ bàn luận.
    Riêng một ranger khác đứng sát bên thân cây đổ, nước mắt tuôn trên má và óng ánh quanh bộ râu xồm màu vàng hoe của ông.
    Phạm Quốc Bảo viết:
    “Ông ranger kia khóc tận tình, khóc lớn và dai một cách tự nhiên. Và tay ông luôn vuốt ve lớp vỏ sần sùi của thân cây đổ, miệng ông lẩm bẩm. Ðến gần mới nghe loáng thoáng giọng ông nghẹn ngào, đứt quãng. Tại sao?… Sao mày quá yếu vậy? Gió đêm qua có mạnh lắm đâu… Gió trốc sao?… Trời ơi, mày còn quá trẻ. Gốc còn mạnh thế này. Chưa có một vết nám cháy nào. Dù sao tao cũng có lỗi với mày. Ông tao đã trồng nên mày. Cha tao đã cả đời chăm sóc cho mày. Còn tao thì… Tại sao?.. Tại sao?”
    Ta đã thấy người gác rừng khóc một cái cây bị gió làm trốc gốc. Ta hiểu được những giọt nước mắt ấy. Bởi đã ba đời gần gụi chăm sóc cái cây mà nay nó chết hỏi sao không thương, không khóc.”
    Ôi, cái tình của người và cây thật là thắm thiết. Cho nên mãi mãi Nguyễn vẫn yêu cây và muốn viết về cây.
    TN

    Tàn cơn binh lửa

    vantuyen.net
    Lê Đắc Lực

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    1. Phần 16
      Mật Khu Mây Tào

    Núi Mây Tào

    “Cuối dãy Trường Sơn”
    Dấu binh lửa nước non như cũ,
    Kẻ hành nhân qua đó chạnh lòng thương.
    Phận trai già ruổi chiến trường.
    Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.”
    “Chinh Phụ Ngâm Khúc”
    (Đoàn Thị Điểm)

    Rặng Trường Sơn chạy dài từ Bắc xuống Nam, như cái xương sống của nước Việt Nam. Núi Mây Tào và các ngọn núi nhỏ hơn quanh đó, là những ngọn núi cuối cùng của rặng núi nầy. Từ đó đi tuốt về phía Nam, không còn ngọn núi cao nào nữa.
    Về Thu Đông, đỉnh Mây Tào thường có mây bao phủ. Nên nó mới có tên là “Mây” chăng? Tuy nhiên, đối với vùng Miền Đông Nam Phần, Mây Tào có một vị trí chiến lược quan trọng. Người Sĩ Quan, cấp càng cao, càng có nhãn quan đặc biệt về vùng đất chiến lược nầy.
    Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, miền Đông Nam phần là vùng Việt Minh hoạt động mạnh, tạo ra những trận đánh lớn. Không chỉ riêng gì mật khu Mây Tào của núi Mây Tào, mà ngay vùng Long Đất, Đất Đỏ, cũng được coi như An Toàn Khu (ATK) của bọn chúng
    Khu vực Mây Tào liền với khu Rừng Lá trên Quốc Lộ 1, vùng thung lũng Võ Đắt – Võ Xu về hướng Bắc, vùng Định Quán, Trị An, chiến khu D hướng Tây Bắc, và nối dài lên tận Đồng Xoài, Bình Long, Phước Long qua tới biên giới Việt Miên. Vùng Bình Giả, Xuyên Mộc hướng Tây Nam.
    Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ 2, Quân Đội VNCH từng đụng độ lớn với quân cộng sản ở Bình Giả, do đó mà cái tên Bình Giả đi vào lịch sử quân sự chống cộng của quân dân Miền Nam, và trong một câu hát của cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
    Quốc Lộ 20, đoạn từ ngã ba Dầu Giây trở lên Định Quán, là vùng định cư của đồng bào Miền Bắc di cư 1954, nhờ đó, quân cộng sản không thể thực hiện được một chiến thắng nào ở Định Quán, như trong cuộc chiến tranh trước.
    Những nhà chiến lược quân sự của Việt Nam Cộng Hòa thấy rõ tính chiến lược của vùng núi non cuối dãy Trường Sơn. Để hạn chế hoạt động quân sự của phe địch ở đây, một số Quận được nâng lên cấp Tỉnh. Quận Xuân Lộc nâng lên thành Tỉnh Lỵ của Tỉnh mới là Long Khánh. Hàm Tân thành Tỉnh Lỵ Tỉnh Bình Tuy, Bà Rịa thành Tỉnh Lỵ Tỉnh Phước Tuy.
    Ba Tỉnh mới nầy nằm ở chung quanh Núi Mây Tào.
    Cộng sản biết như thế, không những biết mà biết rất rõ, nhưng nếu muốn hoạt động quân sự ở Miền Đông Nam Phần, miền đất sinh tử để có thể giữ cho công cuộc xâm lăng Miền Nam của cộng sản Bắc Việt được tồn tại và phát triển, bọn chúng phải cố sống cố chết thành lập và xây dựng mật khu Mây Tào.
    Khi quân Mỹ và Đồng Minh tham chiến ở Việt Nam, quân cộng sản yếu thế, không quấy phá được ba Tỉnh mới nói trên, và cũng không dám xâm phạm Quốc Lộ 1 ở đoạn Rừng Lá. Cũng trong đoạn Rừng Lá nầy, phía Quân Đội Đồng Minh và VNCH thành lập hai vị trí quân sự quan trọng: “Căn cứ 4 và Căn cứ 5”. Hai căn cứ có bố trí súng đại bác, để yểm trợ hỏa lực cho Quân Đội ta, hoạt động ở các khu vực chung quanh.
    Rừng Lá, nơi Quốc Lộ 1 chạy ngang qua, là vùng Việt cộng dễ xâm nhập và phá hoại. Khúc đường có chỗ cong gần như 90 độ, hai bên đường, nhất là phía Núi Mây Tào, toàn loại Cây Cọ, có tàng lá lớn, che kín mọc đầy dẫy, quân Việt cộng thường ẩn núp, di chuyển bên dưới rất an toàn và khó bị phát hiện. Mặt đất tương đối bằng phẳng, chỉ có tre và các cây chồi hoang mọc xen lẫn, nên một số đồng bào đã vào đây khai phá để trồng lúa. Gần tới núi Mây Tào, rừng rậm, cây cao, nhiều dốc đồi, vách đá, khe nước, nên di chuyển khó khăn hơn.
    Sau Hiệp Định Paris 1973, lợi dụng tình hình ngưng bắn, Việt cộng gia tăng hoạt động trong toàn khu vực các Tỉnh Miền Đông Nam Phần.
    Khoảng đầu tháng 5 năm 1974, Việt cộng tung quân chiếm cứ đồn điền cao su nằm gần ngã ba Dầu Dây, đắp mô trên đường đèo lên Thị Trấn Bảo Lộc, cắt đứt giao thông Quốc Lộ 20. Bọn chúng chiếm đóng trên đỉnh Đèo Mẹ Bồng Con, tấn công vào các Căn cứ Hỏa lực 4 và 5, đắp mô, giựt mìn phá hoại ngay trên trục lộ giao thông ở khu vực Rừng Lá, cắt đứt thông thương Quốc Lộ 1. Tất cả mọi xe cộ, nguồn cung cấp thực phẩm, rau quả, hải sản, từ Đà Lạt, Lâm Đồng, từ Bình Thuận, Phan Thiết đều bị tắc nghẽn, ứ đọng, nằm trải dài hơn hai ba cây số trên Quốc Lộ 1 trong suốt 20 ngày liền.
    Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Long Khánh do Đại Tá Mạch Văn Trường, nguyên Trung Đoàn Trường Trung Đoàn 8, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, từng bị trọng thương tại chiến trường An Lộc, vừa mới đáo nhậm chức Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng, đã điều động các lực lượng tăng phái, bao gồm: một Tiểu Đoàn của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân đến tấn công, tiêu diệt và bắt sống hầu hết địch quân, chiếm lại toàn bộ các khu vực trên. Riêng tại Rừng Lá, Tiểu Đoàn Địa Phương Quân cơ hữu của Tiểu Khu, suốt mấy ngày liền đã mở các cuộc hành quân giải tỏa, thông đường cho xe cộ vận chuyển qua lại được, nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, đến chiều tối, thì đâu lại vào đấy. Địch quân từ mật khu Mây Tào, đưa quân tràn ra đánh chiếm và đắp mô trở lại. Tiểu Đoàn Địa Phương Quân phải rút về phòng thủ, án ngữ tại mặt Bắc Căn cứ Hỏa lực 4.
    Trước tình hình thực tại này, không thể để Quốc Lộ 1, con đường huyết mạch bị bế tắt kéo dài thêm. Bây giờ, như đã từng xảy ra, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III cuối cùng cũng phải giao phó cho Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận lãnh trách vụ giải tỏa, truy lùng, tiêu diệt đám giặc cộng đã và đang hoành hành tại khu Rừng Lá, mật khu Mây Tào này.
    Lực lượng giải tỏa gồm Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật và hai Biệt Đội 811, 814 Biệt Cách Nhảy Dù. Tôi là Biệt Đội Trưởng Biệt Đội 814, Trung Úy Trương Việt Lâm, Biệt Đội Trưởng Biệt Đội 811. Toàn bộ từ Biên Hòa, di chuyển bằng xe GMC, đến đóng phía ngoài Phi Trường Quân Sự dã chiến Long Khánh, sát bên hông Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, đồng thời là Tòa Hành Chánh Tỉnh Long Khánh, chuẩn bị vào chiến trường.
    Buổi sáng ngày hôm sau, Trung Tá Vũ Xuân Thông, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy I Chiến Thuật, và hai Biệt Đội Trưởng đến họp tại Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Long Khánh cùng với Đại Tá Mạch Văn Trường, Tiểu Khu Trưởng và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.
    Biết chắc mật khu Mây Tào là căn cứ địa của Việt cộng, nhưng không nắm rõ quân số của chúng. Trên Quốc Lộ 1, sau khi đánh chiếm Căn cứ Hỏa lực 4 và 5, bọn chúng chiếm giữ đoạn đường nầy, đắp ụ, đóng chốt hai bên Quốc Lộ, giao thông hoàn toàn ngưng trệ bấy lâu nay.
    Sau buổi họp, Biệt Đội 814 được lệnh xuất phát. Trực Thăng thả Biệt Đội 814 xuống một vùng đất trống ở Sông Ray, Xã Xuân Tâm, cách Quốc Lộ 1 chừng 500 mét về hướng Đông Bắc. Từ đó, Biệt Đội men theo địa thế, vượt qua các đồng ruộng, ẩn mình dưới những rừng cây cọ, tiến lên phía trước, dọc hai bên Quốc Lộ 1, với một khoảng cách khá xa. Giữa trưa, gần đến vị trí địch đắp mô, thì bất ngờ, Biệt Đội bị địch pháo kích bằng súng cối, một Tiểu Đội phó tử thương và hai khinh binh của Biệt Đội bị trọng thương.
    Đơn vị súng cối của địch không đặt ở trên Quốc Lộ 1, mà nằm sâu bên trong Núi Mây Tào. Bọn chúng có thể đã chuẩn bị vị trí đặt súng, canh sẵn tọa độ, mục tiêu, tầm bắn dọc hai bên Quốc Lộ 1, nơi mà chúng dự đoán Quân Đội ta sẽ di chuyển, và nhất là chúng đặt được cái “đài quan sát” trên những ngọn cây cao. Với những lợi thế đó chúng tác xạ tương đối chính xác.
    Biệt Đội tạm thời rút lui khoảng hơn nửa cây số, ra khỏi vị trí “trận địa pháo” đã có hỏa tập tiên liệu của địch, dừng quân, đào hầm phòng thủ, nghỉ qua đêm.
    Sáng hôm sau, Trung Tá Vũ Xuân Thông cùng hai Biệt Đội Trưởng lên Trực Thăng để bay quan sát địa thế và mục tiêu. Khi Trực Thăng bay vòng trên khu vực Núi Mây Tào, địch từ dưới bắn lên bằng súng phòng không 12.7 ly. Đây là loại vũ khí quân Việt cộng mới trang bị thêm cho lực lượng địch hoạt động tại nơi này. Trực Thăng phải bay lên cao, tránh phòng không, hướng thẳng ra Phan Thiết, rồi từ đó quay ngược trở lại tiếp tục quan sát. Mục tiêu nằm trên trục lộ chính. Máy bay có thể oanh kích tiêu diệt dễ dàng, nhưng sẽ làm hư hại nặng nề Quốc Lộ 1.
    Hai bên đường tuy là rừng lá, nhưng đoạn giữa hai Căn cứ 4 và Căn cứ 5, phía bên phải từ hướng Phan Thiết kể vào, có nhà dân chúng, có vườn tược. Bên phía trái cũng tương tự, nhưng thưa thớt hơn, rừng chồi và cây cọ dày đặc hơn.
    Với địa thế đó, rất tốt đế cho tiến quân đêm, tạo sự bất ngờ, thiếu cảnh giác của địch. Vậy là, ngay tối hôm đó, Biệt Đội tôi tiến lên. Đi đầu là Toán khinh binh tiền sát, kế tiếp đó, như chiến thuật từng áp dụng là lực lượng cấp Trung Đội, yểm trợ cho các Toán tiền sát.
    Song song, cũng trong thời điểm này, Biệt Đội 811 đưa các Toán Thám Sát, thâm nhập vào mật khu Mây Tào, bằng đường bộ, riêng các Trung Đội sẽ tiến sâu đến gần bìa rừng, lục soát, truy lùng địch, đồng thời cũng phục kích bắt sống bọn chúng.
    Tới gần sáng, Toán tiền sát đến gần các mô đất địch đắp trên lộ, báo cáo không thấy chốt, mà cũng chẳng thấy địch đâu cả. Biết chắc ban đêm bọn chúng rút về hầm trú ẩn gần đâu đây, nên Biệt Đội lợi dụng cơ hội, phục kích đón ngược chúng. Nếu ban ngày, chúng quay trở lại để đóng chốt, thế nào chúng cũng lọt vào ổ phục kích.
    Kế hoạch xử dụng phục kích để chống phục kích của Biệt Đội đạt kết quả tốt. Bọn chúng hoảng loạn bỏ chạy, không kịp mang theo xác chết.
    Tiếp tục đà chiến thắng, Biệt Đội tiến lên tấn công chốt chặn kế tiếp. Đã phòng bị trước, địch nổ súng phản công, nhưng cuối cùng cũng phải buông súng đầu hàng.
    Lần nầy, khác với hôm qua, bọn Việt cộng không được súng cối 61 và 82 ly của đồng bọn bắn yểm trợ. Do đó, kết quả thảm bại chua cay, phải bỏ xác, tháo chạy và qui hàng.
    Tại sao chúng không được súng cối yểm trợ như ngày hôm qua, một chiến thuật mà chúng đẩy lùi được đơn vị đã tấn công chúng trước chúng tôi?
    Bởi vì cuộc hành quân của Biệt Đội 811.
    Khi Biệt Đội 814 chúng tôi đang phá chốt trên Quốc Lộ 1, thì các Toán Thám Sát Biệt Đội 811 khám phá một căn cứ của địch nằm khuất bên trong rặng Núi Mây Tào. Các phi tuần F.5E đã được gọi đến để ném bom phá hủy. Đồng thời, Biệt Đội 811, trong lúc truy lùng địch dọc theo mặt Bắc chân núi Mây Tào đã tấn công tiêu diệt hai tổ súng cối yểm trợ hỏa lực của Việt cộng, phát hiện tịch thu một hầm vũ khí và lương thực cùng các rẫy canh tác trồng trọt, đặc biệt địch trồng rất nhiều lúa và ngô trong khu vực này.
    Đó là lý do tại sao Biệt Đội 814 đã đánh bại các chốt địch trên Quốc Lộ 1 quá dễ dàng.
    Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù đã gây nhiều bất ngờ cho địch quân. Chưa khi nào Việt cộng bị tấn công đêm hay bị phục kích ngược trở lại. Bọn địch cũng không bao giờ ngờ, các Biệt Đội Biệt Cách Nhảy Dù dám thâm nhập vào sâu trong mật khu an toàn của chúng, để khám phá kho tàng, căn cứ, địa đạo, hay mở các cuộc hành quân truy lùng, tấn công vào các đơn vị hỏa lực yểm trợ của chúng đóng ẩn dấu, che khuất dưới những tàng cây, hốc đá, sát tận chân núi, để bọn chúng cuối cùng cũng phải “bỏ của chạy lấy người.”
    Việt cộng chắc chắn phải thấy một điều: Mật khu Mây Tào không còn là vùng “Bất Khả Xâm Phạm” đối với Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.
    *
    “Chiến Sĩ Xuất Sắc”
    Trong quãng đường binh nghiệp mà tôi đã đi qua, là một chiến sĩ 81.BCD, tôi chỉ biết xông pha ngoài mặt trận, trên các chiến trường lửa đạn hay trong các mật khu của giặc cộng với đầy rẩy mọi bất trắc hiểm nguy chực chờ. Thế nhưng, tôi vẫn không sờn lòng nản chí. Tôi chiến đấu cùng đồng đội để tiêu diệt giặc thù cộng sản, để bảo vệ Tổ Quốc, Quê Hương và Đồng Bào, đó là một bổn phận, một sứ mệnh thiêng liêng, cao cả mà tôi phải hiến dâng và tuân hành.
    Từ những mật khu bất khả xâm phạm của địch, đến các trận địa chiến khốc liệt, tang thương, đã cướp đi qúa nhiều đồng đội, chiến hữu của tôi, họ đã can trường chiến đấu, hy sinh cả tuổi trẻ và mạng sống để Tổ Quốc được tồn vong, để ghi vào lịch sử những chiến tích lẫy lừng cho đơn vị.

    Chiến Sĩ xuất sắc

    Xác thân và công lao của họ đã cho tôi được nhận lảnh vinh hạnh lớn lao hôm nay, ngay tại mặt trận Rừng Lá – Mật khu Mây Tào, tôi đã được Đại Tá Phan Văn Huấn, Chỉ Huy Trưởng đề cử là một Chiến Sĩ Xuất Sắc của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, để về Thủ Đô Sài Gòn tham dự Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Thành Lập Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 tháng 6 năm 1974. Sau đó tháp tùng cùng Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Vùng IV Chiến Thuật, du hành thăm viếng Nước Trung Hoa Dân Quốc (Đảo Đài Loan) trong một tuần lễ. Cũng trong Ngày Đại Lễ này, tôi đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ban thưởng Ưu Dũng Bội Tinh, một Huy Chương cao quí, chỉ dành cho các Chiến Sĩ Xuất Sắc, các Anh Hùng diệt cộng của các Quân Binh Chủng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Buổi ân thưởng huy chương danh dự này, đã được cử hành trọng thể ngay tại Phòng Khánh Tiết Dinh Độc Lập.
    Đó là niềm hãnh diện và là một vinh dự lớn lao, ghi đậm dấu ấn trong suốt đời Binh Nghiệp của tôi.

    Tàn cơn binh lửa

    vantuyen.net
    Lê Đắc Lực

    Post by Sơn râu 8 Feb 2025

    1. Phần 15
      Chiến Khu D

    Trực thăng vận vào mật khu địch

    “Bất khả xâm phạm”
    Nếu tính theo đường thẳng thì Chiến khu D cách Sài Gòn khoảng 60 cây số, ngó xuống Biên Hòa khoảng 30 cây số, thì phi trường Biên Hòa là mục tiêu pháo kích của Việt cộng hằng đêm.
    Hiệp định hòa bình Paris ký kết đã được một năm, nhưng hai tiếng “hòa bình” trong hiệp định chỉ là cái bình phong để Việt cộng gây… chiến tranh. Do đó, mức độ Việt cộng pháo kích phi trường Biên Hòa càng lúc càng gia tăng, khiến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III trở nên “nóng máy”. Không thể để bọn chúng quá tự tung tự tác, đám Việt cộng này phải đánh nó tới tận cùng sào huyệt, phải nắm thế chủ động trên chiến trường, nghĩa là Biệt Cách Nh ảy Dù phải vào Chiến khu D “nắm đầu bọn ngoan cố”.
    Áp lực của địch vào Biên Hòa, Sài Gòn là từ Chiến Khu D. Nó không ở đâu xa mà ngay bên cạnh Trị An. Phía Đông là Định Quán trên Quốc Lộ 20, đường đi Đà Lạt, kế là Võ Xu. Phía Nam là Quốc Lộ 1, đoạn Biên Hòa – Long Khánh. Phía Tây Bắc là Đồng Xoài, kéo dài lên tới Bình Long, Phước Long qua tới biên giới Xứ Chùa Tháp, có Snoul là nơi từng diễn ra trận đánh lớn khi Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa tràn qua Miên năm 1970. Phía Tây là Dầu Tiếng, Tỉnh Bình Dương, có Quốc Lộ 22 đường đi Tây Ninh…
    Căn cứ Hành Quân của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù đóng ở Suối Máu, sát nách phi trường Biên Hòa, đã mấy lần nếm trải những trận pháo 122 ly xuất phát từ trong vùng chiến khu này. Đại Úy Lưu Huyên, Đại Đội Trưởng Đại Đội Thám Sát, đã vĩnh viễn giã từ vũ khí do bởi những quả đạn pháo của bọn chúng, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù vô cùng thương tiếc vì đã mất đi một Chiến Sĩ diệt cộng tài ba. Nếu không đi tìm diệt chúng, biết đâu sẽ còn nhiều Chiến Hữu của đơn vị cũng sẽ hy sinh.
    Thế là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không thể chần chờ.
    Hai Biệt Đội 811 và 812, được chuyển vận đến Chi Khu Công Thanh, từ đó vượt qua sông Đồng Nai vào Xã Thái Hưng, Quận Tân Uyên, đây là khu định cư của người Miền Bắc di cư, họ là thành trì chống cộng một mất một còn. Nơi này có ngọn núi Bà Cẩm, cao khoảng 200 mét, được dùng để đặt các trạm thông tin, liên lạc. Xã Thái Hưng nằm về hướng Nam của Chiến khu D, bọn Việt cộng cũng thường về đây phá rối, nên Tiểu Khu Biên Hòa đã điều một Tiểu Đoàn Địa Phương Quân đến an ninh phòng thủ.
    Từ xuất phát này, Biệt Đội 811 và 812 đã mở các cuộc hành quân lục soát, truy lùng về hướng Bắc, dọc theo con Sông Bé, phát hiện các dàn phóng hỏa tiễn làm bằng cây rừng, một vài căn cứ trú phòng bỏ hoang của chúng, đồng thời tổ chức phục kích bắt sống được một số cán bộ địch quân mang về khai thác.
    Cũng trong thời gian này, Bộ Chỉ Huy Hành Quân đã thả các toán Thám Sát vào hoạt động sâu trong chiến khu D, ở hướng chính Bắc Thị Xã Định Quán.
    Đã mấy ngày trôi qua, các Toán Thám Sát di chuyển theo lộ trình từ mạn Bắc xuôi về Tây Nam, hay từ Đông sang Tây, cũng chỉ phát hiện các hầm hố, địa đạo, các khu canh tác đã bị bỏ hoang. Có thể Việt cộng đã di dời quân về hướng Tây Bắc Thị xã Phước Long, hay Đông Bắc Thị Xã Ban Mê Thuộc? Thế nhưng, quả thật là bất ngờ, vào sáng ngày thứ tư, Chuẩn Úy Vinh, Trưởng Toán 6 Thám Sát, chuyển công điện, báo cáo về Trung Tâm Hành Quân, là Toán đã khám phá ra một kho vũ khí của Việt cộng.
    Tôi không rõ kế hoạch hành quân của Toán Chuẩn Úy Vinh như thế nào, chỉ biết đây là một trong hai Toán có nhiệm vụ nhảy vào lòng địch ngay tại chiến khu D. Nhưng khi Toán của Chuẩn Úy Vinh, tình cờ phát hiện ra kho vũ khí địch, thì trong Biệt Đội Thám Sát, nỗi lên một giai thoại khá kỳ thú về Chuẩn Úy Vinh, Trưởng Toán 6 Thám Sát này.
    Khi Toán Chuẩn Úy Vinh nhận lệnh hành quân, thâm nhập vào chiến khu D, đây cũng là sào huyệt “bất khả xâm phạm” của Việt cộng. Các Toán Trưởng khác đã cười thầm: “Thằng nầy bị đì!”. Thật ra, Chuẩn Úy Vinh chẳng có “quậy phá” gì đâu, ngoài việc, cũng như các Toán Trưởng khác vậy thôi. Khi “vô sự” thì rủ nhau ra Biên Hòa đánh bi-da, xem chiếu bóng hay nhậu nhẹt chơi. Khổ cho anh chàng Chuẩn úy Vinh trẻ tuổi, có một “em gái hậu phương” nào đó ở Hố Nai, hễ mỗi lần anh đứng lên từ giã, thì cô nàng mè nheo, thút thít…khóc: “Anh đi em buồn lắm!” vân vân và vân vân… Thế rồi, trước sau gì anh chàng Vinh cũng phải “giã từ em yêu” nhưng hơi trễ. Tuy không bị phạt, nhưng mỗi lần trễ, không lý cấp chỉ huy không “xài xể” vài ba câu. Việc anh ta lần nầy có bị “đì” vì cái tội trễ phép hay không, chỉ là câu nói bông đùa.
    Không như trước kia, mỗi Toán có 2 “người bạn đồng minh”, bây giờ thì chỉ 6 người, toàn là người Việt. Toán Chuẩn Úy Vinh, trong một chiều khuất nắng, được Trực Thăng thả xuống ở một bãi trống trong rặng núi Tà Lài, về hướng Đông của Chiến Khu D.
    Ba ngày đi từ Đông sang Tây, chẳng thấy động tỉnh gì. Chiều lại, Toán leo lên một ngọn đồi, cây rừng rậm rạp, địa thế thuận lợi để đóng quân qua đêm. Sáng hôm sau, thức dậy sớm, lợi dụng trời còn mờ hơi sương, Toán chuẩn bị ăn sáng. Lương thực Toán mang theo thường là cá, thịt hộp và gạo sấy. Phải có chút nước sôi để đổ vào gạo sấy hay hâm nóng hộp cá, thịt. Lửa, thì sử dụng loại “xăng đặc”, một cục to bằng nửa hộp quẹt, bọc hàn kín bởi một loại bao giấy bạc không thấm nước. Xé bao nylon, mở gói giấy bạc và châm lửa. Nhưng đâu có đơn giản, dễ dàng vậy.
    Ngọn lửa xăng đặc màu xanh lè, địch dễ nhận biết. Phải đào một cái hố nhỏ, để cục xăng đặc vào đáy hố, đốt lửa, để lon thiếc lên ngọn lửa. Khi lửa vừa tắt thì nước sôi, thịt cá cũng nóng. Xong, tất cả “rác rưởi” cho xuống hố, lấp đất, phủ lá khô lên trên, tránh không cho địch phát hiện.
    Trước khi lên đường, để thanh toán ba cái thứ thừa thải đang chất chứa trong người, Chuẩn Úy Vinh đi lần theo đỉnh đồi, chừng ba bốn thước, đến cạnh một bụi cây hoang mọc sát một hốc đá, vừa ngồi xuống, dùng dao đào hố, thì Chuẩn Úy Vinh bất ngờ nhìn thấy bên trái hốc đá là một cửa hang, tò mò bước vào, Chuẩn Úy Vinh vô cùng bàng hoàng, sửng sốt, miệng há hốc khi nhìn thấy bên trong chứa đầy dẫy, ngổn ngang các loại vũ khí. Vinh tức tốc quay trở lại Toán và báo cáo khẩn cấp về Trung Tâm Hành Quân.
    Đại Tá Phan Văn Huấn Chỉ Huy Trưởng, với kinh nghiệm dày dặn, từng trải trên khắp các chiến trường trận địa, không tin chỉ có một căn hầm, mà còn nhiều căn hầm khác nữa. Đây phải là nơi chúng chôn dấu vũ khí, hỏa tiễn để pháo kích Phi Trường Biên Hòa. Đại Tá chỉ thị Toán 6 mở rộng vòng đai, lục soát chung quanh đỉnh đồi. Và đúng như tiên đoán của Đại Tá Phan văn Huấn, Toán đã tìm thấy thêm một cửa hầm khác, rồi lại thêm hai ba cửa hầm khác nữa. Vừa phát hiện thêm, Chuẩn Úy Vinh vừa vui mừng báo cáo về cho Trung tâm Hành Quân: “Cả một đồi toàn hầm vũ khí”, đến nỗi bao gạo sấy của Vinh, vẫn còn nguyên trong túi quần bên hông. Anh đã quên… ăn sáng mất rồi.
    Hai Phi Đội Trực Thăng UH.1B được cấp tốc tăng cường. Hai Biệt Đội 813 do Đại Úy Nguyễn văn Hải chỉ huy và Biệt Đội 814 do tôi chỉ huy, được lệnh lên đường khai thác mục tiêu.
    Bãi đổ quân hai Biệt Đội 813 và 814 là một trảng trống nằm về hướng Tây, cách ngọn đồi của Chuẩn Úy Vinh khoảng chừng nửa cây số. Theo lệnh hành quân, hai Biệt Đội chia làm hai cánh cùng băng rừng tiến về hướng đồi có kho vũ khí. Biệt Đội 813 lên đến đỉnh đồi sẽ dàn quân trải rộng phòng thủ mặt Tây Nam và Tây Bắc. Biệt Đội 814, sau khi bắt tay với Toán 6 của Chuẩn Úy Vinh, sẽ bố trí ba Trung Đội giữ mặt Đông Bắc và Đông Nam, còn một Trung Đội phối hợp với Toán để kiểm định lại tất cả các hầm vũ khí.
    Toàn bộ ngọn đồi là những hầm vũ khí, đạn dược. Mỗi hầm sâu cỡ 2 mét, rộng 3 hoặc 4 mét, trên phủ một lớp nylon và cây lá khá kỹ để che dấu ngụy trang. Nếu không biết đây là nơi địch chôn dấu vũ khí và quyết tâm đi tìm, chắc cũng khó mà phát hiện ra các hầm nầy.
    Trong thời gian phòng thủ, chờ đợi các Phi Đội Trực Thăng đến để chuyển vận Chiến lợi phẩm. Khoảng quá trưa, một tiếng nổ kinh hoàng long trời lở đất vang lên, một tiếng nổ lớn tôi chưa từng bao giờ nghe đến như vậy, chấn động, vang dội cả khu rừng. Đất đá, cây cối bay tung lên trời và rơi rớt lã chã khắp khu đồi, một cánh tay và một vài mảnh thịt rớt xuống nằm ngay bên cạnh hố phòng thủ của tôi… Phản ứng cố hữu của một đơn vị trưởng tác chiến, tôi truyền lệnh cho các Trung Đội trong tư thế sẵn sàng đối phó, đề phòng địch sẽ tiếp tục pháo kích và tấn công. Sau nửa giờ trôi qua, chẳng có biến cố gì tiếp diễn, trong lòng tôi hơi hoảng hốt đôi chút, nhưng định thần lại được ngay. Tôi đi về hướng đã phát ra tiếng nổ, một khoảnh đất rộng bằng nửa sân bóng chuyền bày ra giữa khu rừng, bên trong la liệt xen lẫn cành cây, thùng ống và những mảnh thịt tươi dính đầy đất máu. Vào lúc đó Đại Úy Hải cũng xuất hiện để xem xét hiện trường. Cuối cùng Đại Úy Hải và tôi cùng có chung một kết luận: nguyên do vụ nổ là do sự vô ý. Một vài Quân Nhân trong đó có Trung Sĩ Khưu Công Qúi Trung Đội Phó, Hạ Sĩ I Phiêu âm thoại viên, thuộc Biệt Đội 814, Thượng sĩ Khẩn, Ban 2, và hai Binh Sĩ thuộc Biệt Đội 813, trong niềm phấn chấn cao độ, đã đến các căn hầm chụp hình lưu giữ tư liệu, họ đã vô tình, trèo lên đứng trên các thùng chứa chất nổ, khiến chúng bị kích nhiệt, gây nổ tung cả căn hầm. Tất cả họ đã bị thiệt mạng, xác thân bị tan tành từng mảnh, thật vô cùng thương tâm và oan uổng.
    Trước sự kiện thảm khốc này. Lo ngại Việt cộng khi biết được kho vũ khí đã bị khám phá sẽ tập trung binh lực để tấn công các Biệt Đội. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã trực tiếp bay lên vùng, để điều động hai Biệt Đội vừa phòng thủ vừa chuyển tải gấp rút tất cả chiến lợi phẩm này ra bãi để trực thăng, bốc về Căn cứ Hành Quân. Không thể nào chuyển hết số lượng vũ khí nầy bằng trực thăng UH.1B. Số vũ khí tìm thấy là những loại vũ khí nặng bao gồm: súng Phòng Không 12 ly 7, Đại Liên, Trung Liên, vô số vũ khí cá nhân B-40, B-41, AK, CKC, mìn bẫy, đạn dược, khí tài v.v…Đại Tá Huấn phải nhu cầu Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, điều động thêm các Phi Đội Trực Thăng Shinook đến tăng cường, và mãi cho đến tối trời mới chuyển về hết được tất cả.
    Khi chiếc Shinook cuối cùng cất cánh an toàn. Lệnh của Đại Tá Huấn là hai Biệt Đội phải cấp tốc triệt thoái về Định Quán, nằm ở hướng Đông Nam khoảng trên 10 cây số. Toàn khu đồi giờ này đã tối hẳn. Con đường rừng mịt mù âm u, ngửa bàn tay cũng không còn thấy rõ. Bấy giờ, phải di chuyển giữa rừng già trong đêm tăm tối, điều tôi lo lắng nhứt là sợ có anh em binh sĩ không theo kịp, sẽ đi lạc phương hướng. Kinh nghiệm đi rừng trong suốt hai năm là Toán Trưởng Thám Sát Delta, cho tôi một sáng kiến: các cành cây khô mục, rơi rụng trong rừng lâu ngày, thường tỏa ra ánh sáng lân tinh vào ban đêm, vậy đây là một giải pháp quá tuyệt vời, đem áp dụng vào lúc này thì thật đúng là “ăn mày mà gặp chiếu manh”. Tôi ban lệnh cho toàn Binh Sĩ, bốc lấy những cây mục ấy, bỏ lên trên nắp ba lô của mình. Người đi sau cứ theo ánh sáng ấy của người đi trước mà nối đuôi nhau, để tránh khỏi bị lạc đường. Nhờ cách đó, Biệt Đội di hành trong rừng rậm hiểm hóc, leo đồi, vượt suối suốt đêm, trong khoảng hơn ba giờ đồng hồ, quân số Biệt Đội vẫn đầy đủ, không một ai thất lạc cả. Ra khỏi rừng, Biệt Đội phải lội qua một vùng đầm lầy, nước lấp xấp tới bụng, lau sậy mọc chằng chịt, phải vạch lối mà đi. Không xem Bản Đồ kịp và cũng không cần thiết, tôi đoán chừng đây là vùng Thác Trị An. Tiếp tục di chuyển, khi trời hừng sáng, Biệt Đội ra tới các khu đồi trồng chuối, đu đủ cách Quốc Lộ 20 chừng 500 mét. Đây là khu vực canh tác của đồng bào Định Quán, lẫn lộn giữa dân cư địa phương và người Bắc di cư. Tôi cho lệnh dừng quân quanh một đồi trồng chuối. Cũng không bao lâu sau đó, Biệt Đội 813 của Đại Úy Nguyễn Văn Hải cũng vừa đến và bố trí trong một ngọn đồi trồng đu đủ kế cận. Cả hai Biệt Đội đều được lệnh chờ đoàn xe GMC của đơn vị đến đón trở về lại căn cứ hành quân ở Suối Máu, Biên Hòa.
    Hai ba ngày sau, cũng ngay tại Căn cứ Hành Quân Suối Máu, Biên Hòa, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III, cùng một phái đoàn Sĩ Quan cao cấp của Bộ Tổng Tham Mưu đã đến chủ tọa và tham dự Lễ gắn huy chương và đặc cách cấp bậc cho các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ hữu công của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, trong dịp này Đại Úy Hải và tôi cũng được tuyên dương công trạng trước Quân Đoàn, đích thân Trung Tướng Tư Lệnh gắn Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng lên trên ngực áo chúng tôi. Sau đó Trung Tướng Tư Lệnh và Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Phan Văn Huấn đã cắt băng khai mạc khu triển lãm hàng ngàn vũ khí chiến lợi phẩm đủ loại của Việt cộng do Liên Đoàn tịch thu được, lớn nhất từ trước tới nay. Đài Truyền Hình số 9, Đài Phát Thanh Sài Gòn, Đài Phát Thanh Quân Đội, các Phóng viên Báo chí của Tuần, Nhật Báo Diều Hâu, Tiền Tuyến, Chiến Sĩ Cộng Hòa, Sóng Thần, Tia Sáng, Trắng Đen, đã đến quan sát, quay phim, chụp hình, phỏng vấn Chuẩn Úy Vinh, các Toán Viên Toán 6 Thám Sát, Đại Tá Phan Văn Huấn, Đại Úy Hải và tôi.
    Cuộc triển lãm Chiến lợi phẩm kéo dài trong suốt một Tuần Lễ. Các đơn vị bạn thuộc các Quân Binh chủng trú đóng tại Biệt Khu Thủ Đô, tại Quân Đoàn III, Quân Khu III đều đến tham dự và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, trước khám phá kho vũ khí của giặc cộng có một không hai này.
    Dù thế nào chăng nữa chiến công nầy của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, dù không bẻ gảy ý đồ của địch cũng sẽ làm chậm trễ mưu đồ của chúng.

    Mời em vào quán thời gian*…

    baotreonline.com
    Tim Nguyễn
    Post on December 29th, 2022

    Post by Sơn râu 7 Feb 2025

    Tranh Bảo Huân

    Hôm nay… Một ngày đầu năm Dương Lịch. Ngồi một mình với ly cà phê phin đậm đặc, pha sữa Ông Thọ. Hồn lâng lâng như lạc vào thời gian vô định. Chợt nhớ tới Quán Thời Gian của Đỗ Trung Quân trong một đoản văn. Vậy là… Mời Em Vào Quán Thời Gian
    Mỗi sớm mai thức dậy thế giới sẽ uống gì? Câu trả lời quá dễ: Cà phê!
    Thức uống gì không chỉ để uống? Câu trả lời cũng quá dễ: Cà phê!
    Thức uống gì dễ gây … mùi nhớ nhất? Tôi không nghĩ câu trả lời là của riêng tôi, gã trai Sài Gòn tóc đã muối tiêu: cà phê sữa đá Sài Gòn chính hiệu!
    Ðúng thế, cà phê không chỉ để uống, mà còn để thưởng thức. Ðể thưởng thức lại có trăm loại cà phê nhằm tìm một vị đậm ngon, một mùi thơm ngậy cho sở thích riêng, để đạt đến mức cuối cùng: chất tinh tế trong “sự uống” cà phê.

    Khuấy ly ký ức…
    Sự tinh tế chạm ngưỡng sẽ biến thành văn hóa. Cà phê là một thức uống có dấu ấn văn hóa đi cùng.
    Người Pháp sáng chế ra cái filter và người Việt khi biết uống cà phê phin pha phin kiểu Việt, bèn nâng tầm lên thành văn hóa Việt chói lọi: thêm sữa đặc thành món cà phê sữa bất hủ đến tận hôm nay.
    Có kẻ nhờ “cái nồi ngồi trên cái cốc…” mà phát hiện rằng khi cái phin bị nghẹt, cà phê không chảy. Ðừng mở ra, đừng dùng đuôi muỗng cà phê mà “khơi dòng” nó. Hãy dùng lưng thìa chấm chút đường xoa nhẹ vào đáy phin; đường sẽ hút cà phê xuống ly nhanh và… điệu nghệ! Dân chơi uống cà phê phải có ngón nghề vậy mới thứ thiệt dân chơi!
    Thì vậy, dân Sài Gòn trẻ già đều mê một món riêng cho cả hai mùa mưa nắng phương Nam: Cà phê sữa đá. Và từ đó cất cánh văn hóa lên một nét riêng của chất Sài Gòn trong ly cà phê sữa đá. Bọn thi sĩ ‘giời’ đày như chúng tôi ở Sài Gòn có thể suốt ngày lang thang cà phê sữa đá, nhất là loại cà phê nguyên chất Buôn Mê Thuột thơm thuần túy cà phê cao nguyên Việt, lấy nước cốt đặc, rồi nêm thêm sữa ông Thọ chẳng hạn. Vị thơm ngon đúng chất vừa giữ nguyên vị cà phê gốc, vừa hòa trộn cả vị đắng đót, nhung nhớ ngọt bùi, hệt như hương vị một cuộc tình đã xa không thể nào quên…
    Cứ thế, chúng tôi chuyện trò nở như cơm gạo vàng, thổ lộ, trưng trổ cái văn hóa riêng biệt Sài Gòn uống cà phê sữa đá. Anh bạn Hà Nội ngồi uống với tôi một chiều Sài Gòn cả giờ, đã thốt lên thán phục: Cà phê sữa đá của ông mời tôi thật… chất lừ! Anh chàng nhà báo ấy đã dùng tiếng lóng Hà Nội để chỉ sự đậm ngon của sữa trong cà phê và cà phê hòa cùng sữa cứ tan trong ly chứa đầy đá bào trắng lạnh, chỉ uống tại Sài Gòn, cạnh thi sĩ bạn hiền họ Ðỗ là tôi, mới thú đến thế! Kể ra thì cũng chả quá lời, người ta uống cà phê sữa đá Sài Gòn có khi là uống cả một Sài Gòn nắng gió phương Nam chứ bộ?

    Cà phê…ký ức…không gian
    Cà phê và những “quán thời gian” ở Sài Gòn có liên quan gì đến thời đại internet? Có đấy, theo cách ít ai ngờ. Một ngày nào đó, khi ta đang yên vị tại gia, thư thái bên ly cà phê sữa đã tự pha, mở Facebook của mình, bỗng nhận được một tin nhắn “còn nhớ em, người ngày xưa từng ngồi cùng anh ở cái ghế mây hoa tím ấy? nó còn không? anh có thường ngồi đấy? anh còn nhớ tên em không?”.
    Thế là ly ký ức được khuấy lên, thời gian lùi lại như cuộn phim đen trắng trở ngược rất nhanh. Ghế mây hoa tím của ngày xưa, một gương mặt hiện ra với tách cà phê nâu trong trẻo…Khung cảnh hoa tím xưa còn, nỗi bâng khuâng khẽ trở về, niềm xúc động quay lại rưng rưng…và dòng trả lời dịu dàng hệt như xưa “em đấy phải không? anh còn nhớ chứ, sao không…”
    Ðã từng có ly cà phê sữa đá Sài Gòn làm chứng cho nỗi bồi hồi vụng dại một thời, làm sao không nhớ!
    Tôi nghĩ hôm nay người trẻ Sài Gòn yêu nhau đâu khác ngày xưa. Giữa đôi mái đầu xanh là hai ly cà phê sữa đá Sài Gòn chất lừ, nghĩa là được giữ nguyên hương vị căn cơ của cà phê phin tình cũ của tôi, hòa tan trong vị ngọt ngào của sữa đặc, thành ly cà phê sữa đá, khuấy lên từ chất cà phê thứ thiệt. Sài Gòn cà phê sữa đá, béo ngọt, đắng nhẹ, đá lanh canh, từng ngụm mát lạnh, rôm rả chuyện trò quên nắng nóng…
    Mời em vào quán thời gian…
    Gọi một ly cà phê, (đúng chất Sài Gòn cà phê sữa đá) – uống một chỗ ngồi
    Và… khuấy ly ký ức – uống làn hương xưa…
    Hay chứ nhỉ!
    ĐTQ
    [*] Tên một bài thơ của Trương Nam Hương

    Khu vực ngã tư Bảy Hiền

    baotreonline.com
    Tim Nguyễn
    Post on July 14th, 2022

    Post by Sơn râu 7 Feb 2025

    Ngã tư Bảy Hiền không có tên trong bản đồ hành chánh nhưng từ xưa, nó đã xuất hiện trong đời sống của người Sài Gòn-Gia Định. Tương truyền, Bảy Hiền là một điền chủ, thường hay cứu giúp những người nghèo khó, nên được người đời lấy tên, định thành địa danh.

    Ngã tư Bảy Hiền năm 1966 đường Nguyễn Văn Thoại chưa mở rộng, góc bên kia đường là mảnh đất còn trống sau này xây dựng Bệnh viện Vì Dân (Nguồn: Manhhaiflick)
    Không rõ từ khi nào, Ngã tư Bảy Hiền được dùng gọi cho khu vực giao lộ hiện nay là Cách Mạng Tháng 8 và Lý Thường Kiệt – Hoàng Văn Thụ, trước kia là Lê Văn Duyệt (Verdun), Nguyễn Văn Thoại (Maréchal Fox)- Trương Minh Ký (Lacaut) sau đó là Võ Tánh. Nhưng trước tiên, tôi xin đính chính, có một thời gian đường Lê Văn Duyệt trước 1975 phía quận 3 kết thúc ở đoạn nghĩa địa Ðô Thành, phần còn lại kéo dài qua Ngã tư Bảy Hiền đến Ngã ba Bà Quẹo là Phạm Hồng Thái.
    Ðó là những tên đường còn lại trong ký ức của tôi sau hơn nửa thế kỷ. Lần đầu, một thằng cháu chắt đưa tang bà cố, đứng trước cổng nghĩa địa Ðô Thành nhìn sang mấy bảng hiệu bán giày dép của người Bắc di cư bên kia đường ghi địa chỉ là đường Phạm Hồng Thái. Thật ra con đường Lê Văn Duyệt nối dài Phạm Hồng Thái đến Ngã ba Ông Tạ hay lên Ngã tư Bảy Hiền, tôi nhiều lần có dịp đi qua. Những lần đó đi theo thằng bạn bán bong bóng, ghé lò Thanh Dung mua hàng hoặc đi theo mấy thằng bạn ham chơi lên tới Ngã tư Bảy Hiền đi tìm nắp phén (nắp chai nước ngọt, bia chai) ở mấy tiệm giải khát nằm ngoài mặt lộ phía bên nghĩa địa lính Tây mang về đập phẳng để làm đồ chơi.
    Nói đúng ra, khu vực từ nghĩa địa Ðô Thành ngược ra hướng Bà Quẹo và xa hơn nữa thuộc quận Tân Bình (quận Tân Bình thành lập từ năm 1957 bao gồm Tân Sơn Nhất, Tân Sơn Nhì, Bình Trị Ðông (bao gồm quận Tân Bình, Tân Phú và huyện Bình Chánh hiện nay). Tôi nhớ thuở còn bé, bảy tám tuổi gì đó, khu vực Ngã tư Bảy Hiền còn thưa vắng nhà cửa. Phía bên này ngã tư chưa có Bệnh viện Vì Dân; bên kia đường là trại lính Ðại Hàn (Nam Hàn) chung quanh rào dây thép gai. Phía bên kia ngã tư là nhà cửa của những người dân xứ Quảng di dân vào đây lập nghiệp từ giữa thập niên 1960, sống bằng nghề dệt vải, máy dệt chạy rầm rầm suốt ngày; còn phía bên đây người dân cất những ngôi nhà gạch mái tôn bao quanh góc ngã tư bít lối vào nghĩa địa Tây có từ trăm năm trước. Những nhà dọc theo mặt tiền đường thường mở tiệm giải khát, hủ tiếu mì phục vụ cho lính Hàn đóng quân bên kia đường.
    Vậy tên gọi Ngã tư Bảy Hiền hình thành lúc nào? Có người cho rằng vào khoảng thập niên 1940 khi quân Nhật vào Sài Gòn. Một tài liệu báo chí cho biết, ông Trần Văn Ðức sinh ra và sống ngay Ngã tư Bảy Hiền từ xưa đến nay là cháu đời thứ 3 của ông Trần Văn Hiền tức ông Bảy Hiền. Bài báo xác nhận: “Ông Hiền trước đây là điền chủ nổi tiếng giàu có và thương người. Ông ở trong một biệt thự lớn ở ngay góc ngã tư sát Trung tâm văn hóa quận Tân Bình bây giờ. Khi đó, con đường ở ngã tư này rất nhỏ, nhà ông ngăn cách với đường bằng hàng rào cây kiểng được cắt bằng rất đẹp. Nhà có đất rộng và thuê nhiều người làm. Ðất dọc theo đường Hoàng Văn Thụ hướng lên đường Cộng Hòa và ngang theo đường Hoàng Hoa Thám bây giờ đều là ruộng lúa, hoa màu của ổng.
    Nổi tiếng là người giàu có nhưng ông Hiền rất thương người. Khi xưa, vào ngày rằm hàng tháng, ông đăng báo thông tin thí bạc giúp đỡ người nghèo. Những đồng bạc xu điếu đựng đầy hai thúng được người nhà để trước cổng và phân phát. Tuy nhiên vào một hôm mọi người tập trung chen lấn đông quá khiến hai đứa trẻ đi theo chết ngạt. Sự việc diễn ra, ổng rất đau buồn và kể từ đó không đăng báo phát tiền nữa mà hễ ai có khó khăn thì đến ngã tư vào nhà trình bày hoàn cảnh khó khăn ông sẽ giúp đỡ.
    Sở dĩ ngã tư có tên như ngày nay là vì ông bác tui tên Hiền, sinh thứ bảy gọi là Bảy Hiền. Khi mất thì ngã tư này cũng được người đời nhớ ơn và đặt theo tên ổng. Khi ổng mất, được chôn ở khu vực Lăng Cha Cả.”

    Ngã tư Bảy Hiền góc xéo bên kia là nghĩa địa lính Tây (Nguồn: Manhhaiflick)
    Sau năm 1975, khu vực Lăng Cha Cả được giải tỏa, người cháu nội của ông khai quật mộ lên và đem hài cốt vào chùa thờ. Ruộng đất để lại, con cháu cũng dần bán đi và vào sống ở trung tâm thành phố. Nghe đâu người cháu nội nay đã ngoài 80 tuổi vẫn còn sống ở khu vực Chợ Lớn.
    Còn theo nhà văn Sơn Nam, Bảy Hiền là tên một ông chủ giàu có chuyên bán cỏ cho ngựa kéo xe ở ngã tư vào khoảng năm 1930 và chưa rõ lai lịch. Ngoài ra không có một tài liệu chi tiết nào nữa.
    Lần theo tài liệu xưa qua bản đồ Trần Văn Học vẽ năm 1818, con đường Thuận Kiều (đường Lê Văn Duyệt sau này) đã hình thành khi xây dựng thành Gia Ðịnh. Con đường này kéo dài đến khu vực An Sương ngày nay. Việc hình thành con đường Thuận Kiều nằm trong chiến lược bố trí phòng tuyến Luỹ Bán Bích, bao quanh đại đồn Kỳ Hoà nhằm bảo vệ thành Gia Ðịnh. Con đường giao nhau ngay ngã tư (ngã tư Bảy Hiền ngày nay) cũng đã hình thành khi đó là những con đường đất nhỏ hẹp kết nối với đồn thượng và đồn hạ của thành Kỳ Hoà.
    Sau khi chiếm Sài Gòn, quân Pháp chuẩn bị đánh đồn Kỳ Hoà. Sáng ngày 24/2/1861, thuỷ binh Pháp tấn công đồn Kỳ Hoà từ hai tuyến, phía các con kinh ở Chợ Lớn và rạch Nhiêu Lộc (khi xưa rạch Nhiêu Lộc ăn thông đến khu vực Bàu Cát – khu Bảy Hiền ngày nay) và hạ thành sau một ngày bắn phá bằng đại bác. Cuộc chiến trong một ngày nhưng quân Pháp cũng bị thiệt hại khá nhiều do tinh thần chiến đấu dũng cảm của binh sĩ dưới trướng tướng Nguyễn Tri Phương. Sau trận chiến, một số lính Tây được chôn cất tại góc ngã tư sau này dựng nên mồ mả và gọi là nghĩa địa lính Tây. Còn binh sĩ thành Kỳ Hoà được đem chôn tập thể nhiều nơi ở quanh đại đồn.
    Nhìn tấm ảnh chụp mộ của một số ít sĩ quan và binh lính Pháp được chôn ở nghĩa địa lính Tây thấy còn rất trống vắng, chung quanh con đường đất không có bóng cây, um tùm toàn cỏ dại. Ðến đây ta có thể hình dung Ngã tư Bảy Hiền khi đó rất hoang vu, chung quanh đồng không mông quạnh. Ðến đầu thế kỷ 20, người Pháp mới thí điểm ươm trồng cây cao su ở Vườn Bách Thảo (Sở Thú) và mang trồng thí nghiệm ở nhiều vùng đất trống xen kẽ nhiều khu nghĩa địa quanh tỉnh Gia Ðịnh giáp với Sài Gòn.
    Sau hàng chục năm tạo lập vườn cao su ở vùng ngoại vi thành phố, người Pháp phải dần dần cho đốn bỏ. Một phần do thổ nhưỡng không thích hợp nên hiệu quả khai thác mủ cao su không cao, phần khác do tốc độ đô thị hoá quá nhanh, người dân di cư khắp nước đổ dồn về Sài Gòn-Gia Ðịnh định cư, cần phải mở rộng diện tích thành phố và vùng phụ cận.
    Vào thời quân Nhật vào Sài Gòn hồi Thế chiến thứ Hai, vườn cao su tại khu vực gần Ngã tư Bảy Hiền vẫn còn lốm đốm da beo. Mãi sau năm 1954, rừng cao su quanh khu vực Bảy Hiền mới được dọn sạch, hình thành quận Tân Bình thuộc tỉnh Gia Ðịnh như nói ở trên.
    Vào giữa thập niên 1960 khi lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam, có nhiều căn cứ lính Mỹ và các nước đồng minh đóng quanh vùng giáp ranh Sài Gòn. Con đường Nguyễn Văn Thoại mọc lên các chung cư dành cho quân đội Mỹ, lính Hàn đóng quân và cư ngụ tại mảnh đất lớn sau này xây lên trường trung học Tân Bình, đến năm 1973 đổi tên thành Nguyễn Thượng Hiền. Bệnh viện Vì Dân xây dựng vào năm 1970 trên diện tích đất rộng ba mẫu nguyên trước kia là một đồn phòng thủ. Khi đào làm móng, người ta phát hiện nhiều khúc xương ố vàng trong mồ chôn tập thể (binh sĩ đại đồn Kỳ Hoà).
    Các con đường Nguyễn Văn Thoại, Phạm Hồng Thái (Lê Văn Duyệt), Trương Minh Ký được mở rộng tráng nhựa trở thành con đường huyết mạch nối liền Sài Gòn – Gia Ðịnh ở phía tây đô thành.

    Ngã tư Bảy Hiền năm 1970 đang xây dựng Bệnh viện Vì Dân (Ảnh: Internet)
    TN

    Thêm một sản phẩm ‘Made in China!’

    hung-viet.org
    04 Tháng Hai 2020
    Huy Phương

    Post by Sơn râu 7 Feb 2025

    “Tàu hắt hơi thì Việt cũng sổ mũi!”

    Hai du khách đeo khẩu trang khi đang ngồi nghỉ chân bên bờ hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, hôm 30 Tháng Giêng, 2020. (Hình: Getty Images)

    Nguồn tin mới nhất khi chúng tôi kết thúc bài báo này vào ngày 2 Tháng Hai, 2020, là đã có hơn 14,300 người mắc bệnh và 305 người chết ở Trung Quốc, trong đó có một người Hoa ở Philippines vì virus Corona!
    Điều nguy hiểm là 5 triệu cư dân, gần một nửa dân số của thành phố 11 triệu dân, đã rời thành phố Vũ Hán trước khi có quyết định phong tỏa, một trong các biện pháp khẩn cấp cố gắng ngăn chặn sự lây lan của bệnh dịch này.
    Thị Trưởng Vũ Hán Chu Tiên Vượng đã không giấu giếm chuyện này trong cuộc họp báo ngày 26 Tháng Giêng, 2020.
    Trả lời phỏng vấn đài truyền hình trung ương (CCTV) về lý do không thông báo kịp thời cho công chúng trong giai đoạn virus gây viêm phổi mới bùng phát, Thị Trưởng Chu Tiên Vượng thú nhận đã phải giấu nhẹm nguồn tin vì phải xin ý kiến thượng cấp trước khi công bố dịch viêm phổi đã bùng phát.
    Đó là lề thói làm việc trong các chế độ độc tài mà mọi việc, nhất nhất đều phải chờ lệnh của cấp trên đồng ý phê chuẩn trước khi có văn bản công bố cho dân chúng.
    Ông Chu thừa nhận không có thẩm quyền đưa ra thông tin về dịch viêm phổi trước khi có lệnh của Bắc kinh. Phóng viên báo chí địa phương Qingqing Chen cho biết đợt bùng phát dịch đầu tiên đã xảy ra vào giữa Tháng Mười Hai, nhưng người dân ở Vũ Hán đến cuối Tháng Giêng, 2020, vẫn không ý thức được đây là một đại họa cho cộng đồng.
    Năm triệu dân Vũ Hán đã mang dịch bệnh nguy hại này đi đâu? Ngoài các thành phố khác của Trung Quốc, dịch bệnh hiện đã xuất hiện tại 26 quốc gia.
    Theo các chuyên gia Việt Nam và ngoại quốc, Việt Nam có thể sẽ là quốc gia bị “lãnh đạn” dịch bệnh nặng nhất, cố nhiên là sau Trung Quốc.
    Việt Nam cũng là một quốc gia “ăn tạp” không kém gì người Trung Quốc. Virus Corona có thể lan truyền từ súc vật sang con người tương tự như cúm SARS hay dịch Ebola, và sau đó, sẽ truyền từ người sang người. Trong trường hợp của cúm SARS, bắt nguồn từ loài dơi, sau đó được truyền từ loại cầy hương (civet cat), sang người. Bệnh này phát xuất từ Trung Quốc vào năm 2003, đã lan ra 37 quốc gia khác, làm cho 774 người chết, trong đó có 5 người Việt Nam. Năm 2013 đến 2016, dịch Ebola phát xuất từ Tây Phi, giết khoảng 11,000 người, bệnh dịch này cũng được các nhà khoa học cho là phát xuất từ loài dơi.
    Đất nước Hoa Kỳ cách xa Trung Quốc một biển Thái Bình Dương, hôm Thứ Sáu, 31 Tháng Giêng, 2020, đã tuyên bố tình trạng khẩn trương y tế, và sẽ có biện pháp giới hạn người nhập cảnh do đe dọa của virus Corona đang hoành hành ở Trung Quốc và lan ra các quốc gia khác trên thế giới.
    Trong khi đó, ở sát nách Trung Quốc, Thứ Trưởng Y Tế Nguyễn Thanh Long của Việt Nam chủ quan quá đáng, cho biết chưa công bố tình trạng khẩn cấp do virus nCoV “nhưng triển khai phòng chống mạnh cả hơn khuyến cáo của WHO!”
    Về tình trạng người Trung Quốc nhập cảnh Việt Nam, tính đến ngày Mùng Hai Tết Canh Tý “đã có 6,700 du khách Trung Cộng đã đến Quảng Ninh. Giám Đốc Sở Du lịch Quảng Ninh Phạm Ngọc Thủy đã cho biết, ngày 30 Tết Nguyên Đán có 3,000 khách Trung Quốc nhập cảnh theo đường bộ, hàng không và đường biển. Ngày mùng 1 Tết có khoảng 1,900 khách và hôm mùng 2 Tết có 1,800 khách từ Trung Quốc nhập cảnh vào Quảng Ninh. Ngày 22 Tháng Giêng vừa qua, một chuyến bay từ Vũ Hán chở theo 218 du khách đã đáp xuống Đà Nẵng. Theo cơ quan y tế địa phương, do những du khách này ‘không có những triệu chứng nhiễm bệnh,’ cho nên họ đã có thể tiếp tục đi du lịch đến Khánh Hòa.”
    Lạ một điều là Tổng Cục Du Lịch không yêu cầu ngăn các du khách Trung Quốc tới Việt Nam từ các vùng có nguy cơ dịch viêm phổi Vũ Hán, nhưng lại yêu cầu các tổ chức du lịch “không tổ chức tour du lịch cho khách đến các khu vực có nguy cơ lây lan dịch Corona theo khuyến cáo của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) và Bộ Y Tế.”
    Phải chăng CSVN đang mang não trạng sợ Trung Quốc và còn tham lợi nhuận, muốn tổng kết ngành du lịch bằng những con số du khách và số đô la, không ngại chúng đang mang hơi hám của tử thần.
    Chính vì điều này mà bà Trương Thị Hồng Hạnh, giám đốc Sở Du Lịch Đà Nẵng đã yêu cầu khách sạn Danang Riverside gỡ bỏ thông báo không tiếp khách Trung Cộng tân vì sợ bị lây nhiễm virus Corona. Như vậy các viên chức CSVN sợ mất lòng đàn anh hay tham lợi hơn là lo lắng cho sự an toàn của cộng đồng.
    Cũng vì sợ những nguồn tin có thể ảnh hưởng đến ngành du lịch của tỉnh như Bà Rịa-Vũng Tàu, “với 464 hợp đồng du lịch và kế hoạch dự trù có khoảng 12,000 du khách đến đây bị hủy bỏ, Phòng An Ninh Chính Trị Nội Bộ (PA03) thuộc Công An tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã triệu tập và xử phạt hành chính 30 triệu đồng ($1,294) đối với anh Trần Văn Tùng, 22 tuổi, Vũng Tàu, với tội “đăng thông tin sai sự thật trên facebook!”
    Sự thật thì như Phó Thủ Tướng Kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao CSVN Phạm Bình Minh đã nói hôm 30 Tháng Giêng, 2020: “Việt Nam và Trung Quốc có ký kết hiệp ước, nếu liên quan an ninh và dịch bệnh thì có thể đóng cửa nhưng phải có thỏa thuận giữa hai bên chứ Việt Nam không thể đơn phương!” Và hôm nay, Việt Nam ngừng bay với Trung Quốc nhưng xe lửa vẫn chạy do “chưa thống nhất với Bắc Kinh!”
    Vậy thì chủ quyền quốc gia ở đâu, thưa quý ông?
    Có lẽ đây là câu nói đúng nhất với tâm trạng mâu thuẫn của nền du lịch Việt Nam: “Với dịch viêm phổi đang hoành hành tại Trung Cộng, người ta ý thức được rằng du khách Trung Cộng quá đông có thể trở thành một cơn ác mộng, nhưng vắng khách Trung Quốc tai họa có lẽ còn lớn hơn!”
    Việt Nam đã từng ca tụng mối giao hảo Trung-Việt là “núi liền núi, sông liền sông,” và “bên này biên giới là nhà, bên kia biên giới cũng là anh em,” cho nên hôm nay “Tàu hắt hơi, thì Việt cũng sổ mũi,” thì cũng không lấy gì làm lạ!
    Trong khi Trung Quốc đang “tang gia bối rối” như thế thì Thủ Tướng “Ma-de“của CSVN, gửi một điện văn rất ư là vô duyên và nịnh bợ đến Bắc Kinh, “lời thăm hỏi chân thành và lời chia buồn sâu sắc đối với thân nhân những người đã mất do dịch bệnh. Nhân dân Việt Nam rất quan tâm, thông cảm và chia sẻ trước những khó khăn nhân dân Trung Quốc trong lúc này!”
    Chi vậy? Lửa cháy nhà hàng xóm sắp bén vào nhà mình, không lo phòng bị lại rỗi việc, chạy sang rối rít khen nhà thiên hạ, với những câu rất vô liêm sỉ, trong khi nhà hàng xóm cũng đang “bấn xúc xích” lo âu không biết số phận mình ra sao! Phúc: “đánh giá cao sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo đảng và chính phủ Trung Quốc, những nỗ lực to lớn của chính quyền địa phương và nhân dân Trung Quốc thời gian qua trong việc chống dịch bệnh, kiểm soát tình hình!”
    Thế giới thường chê và không muốn mua những sản phẩm kém chất lượng, độc hại làm từ China, nhưng lần này thế giới, là láng giềng gần gũi nhất là Việt Nam, sẽ phải nhận món hàng khuyến mãi, cho không, là dịch bệnh Corona.

    Vì lệ thuộc chính trị, sợ hãi, thờ ơ, vô trách nhiệm, Việt Nam đã nới lỏng các biện pháp ngăn chận loại virus này từ Trung Cộng. Trước tình hình nay, hai câu thơ cuối trong bài “Tôn phu nhân quy Thục” của Tôn Thọ Tường xin được đổi lại là: “Ai về nhắn với phường vô cảm, Thà mất lòng Dân, được bụng Tàu!”

    Huy Phương