This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Khắp nơi trên đất, chó là con vật được đánh giá cao vì sự thông minh, lanh lợi, lòng trung thành, tình cảm chan chứa, và nhất là mối thân hữu tự nhiên đối với loài người.
Ai nói mặc ai, chứ ở cái xứ Việt nam từ xưa đến nay, tôi thấy con chó là thứ súc vật hèn hạ, bị khinh bỉ nhất, được con người Việt Nam dùng trong những câu chửi rủa miệt thị, không hề nương tay. Nói đến gốc gác thì gọi là “đồ chó đẻ,” mạt sát thì gọi là “đồ chó,” thậm chí trong trò chính trị, khi nói đến những tên hoạt đầu, bất tài vô tướng, một sớm một chiều ăn trên ngồi trốc, thì ví von như “chó nhảy bàn độc!”
Con chó chết lại được xem tệ hại hơn là một con chó sống, bằng chứng chửi ai là chó chết nặng gấp mười lần chửi ai là đồ chó… sống!
Mỗi ngày mở trang báo Việt Nam ra, đau lòng thấy bao nhiêu chuyện chó… chết, nói theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nghĩa đen thì nguồn tin từ Việt Nam cho biết, mỗi năm có 3 triệu con chó chết vì bị giết thịt, thời thịnh đạt, có tổ hợp “Liên Hiệp Thịt Chó Nhật Tân” với con số lên đến 25 nhà hàng, như vậy ông chủ của cửa hàng Nhật Tân phải lên hàng Tổng Giám Đốc Thịt Chó.
Đường dây kinh doanh chó xuyên quốc gia cũng được thành lập từ đây với khoảng 300,000 con chó được nhập trái phép từ Thái Lan, Lào về Việt Nam mỗi năm. Như vậy trung bình mỗi ngày có gần 829,000 con chó chết, được đưa lên bàn nhậu, mỗi cửa hàng tiêu thụ khoảng 50 con chó mỗi ngày. Đáng lẽ Việt Nam phải nhập cảng văn hóa phẩm, máy móc điện khí, sản phẩm để tạo tiện nghi trong đời sống của con người và nâng cao dân trí, thì phải nhập cảng chó (chắc là nhập cảng lậu) để thỏa mãn những cái mồm nhầy nhụa thịt, mỡ chó và nồng nặc hơi men, để quên đời, có khi quên đi cái thân phận của mình và chẳng bao giờ nghĩ đến cái khổ của người khác. Con chó nằm trong cũi thấy đồng loại của mình bị đem đi đập đầu, cạo lông còn lồng lộn, gầm gừ, hay chảy nước mắt, nhưng đôi khi con người lại quá thờ ơ và dửng dưng với nỗi đau và cái chết của chính đồng bào mình.
Ngày nào ở Việt Nam cũng có chuyện chó… chết! Con chó bị đập đầu nhưng không phải tại các quán bán thịt chó mà chó chết vì người ăn trộm chó. Khi dân phát giác ra chó mình bị đánh chết hay bị đầu độc cho vào bao bố thì y như thế nào cũng có người trộm chó bị đánh chết để đền mạng chó. Vậy là ở Việt Nam hiện nay cái chuyện… chó nhất là mạng con người còn thua cả con chó.
Ở nước khác, nếu bắt trộm một con chó của hàng xóm, nặng lắm là bị phạt tiền và ở tù 10 tháng theo luật nhà nước, nhưng ở Việt Nam thì trộm chó có thể bị đánh chết theo luật nhà… quê, nôm na là luật… rừng.
Thậm chí là ăn trộm một con gà cũng bị đánh chết, nhưng gà không phải chó, bài đang nói chuyện “chó chết” mà nhảy qua chuyện “gà chết” là lạc đề, mặc dù chuyện “gà chết” hay “chó chết” thì cũng đại loại như nhau.
Nhà cai trị để dân đói và mất đạo đức, bần cùng phải sinh đạo tặc, bắt chó, trộm gà là nhà cai trị quá… chó. Coi mạng người thua con chó, và con người trong xã hội ấy coi chó ngang người hay hơn cả con người thật là lũ… chó!Vài người đổ xô ra đường đánh chết người trộm chó, lại toàn quyền hủy hoại tài sản của người vì họ đã đổ xăng đốt luôn xe. Không phải chủ chó mà người khác cũng hung bạo nhảy vào đánh ké, dù sự việc không can cớ đến mình, vì bản chất hung bạo của con người trong xã hội này. Những người giết người này, chúng ta có thành ngữ là “lòng lang, dạ thú,” tức là có tâm địa của loài lang, là chó… sói!
Về nghĩa bóng thì đất nước Việt Nam hôm nay mỗi ngày xảy ra không biết bao nhiêu chuyện chó… chết.
Một cái cầu treo xô bao nhiêu người xuống vực chết thảm, thì không quy tội người làm cầu mà đổ chuyện cho người đi. Thế có… chó không?
Chuyện công ty Tư Vấn Giao Thông Nhật Bản (Japan Transportation Consultants – JTC) tố cáo đã hối lộ cho các quan chức Đường Sắt Việt Nam, chuyện Dương Chí Dũng đưa hối lộ cho anh mình là tướng công an, tính tiền nghìn, tiền triệu trong khi đồng bào lầm than, đói phải đi ăn trộm chó là hết sức… chó!
Công An đánh dân chết, ra tòa chỉ bị án treo là chuyện quá ư là… chó!
Nomadic Matt, người Mỹ, ký giả du lịch đã được giới thiệu trên CNN, BBC, Yahoo, Times, New York Times, trong bài viết “Tại sao tôi không bao giờ quay trở lại Việt Nam” đã tố cáo bọn công an Việt Nam cuồng dâm, đàn áp dân, thường dùng đòn độc bằng đánh vào hạ bộ của phụ nữ! Thật là quá … chó!
Bọn công an đạp vào mặt dân, gậy gộc, roi điện đàn áp dân oan, người biểu tình chống bắt bớ, cưỡng chế đất đai có khác gì bọn khuyển ưng của hoạn thư ngày trước:
“Sửa sang buồm gió lèo mây,
Khuyển ưng (chó và chim ưng) lại chọn một bầy côn quang” (đồ hung dữ, du côn)
Do chữ “côn quang” này mà ngày nay người dân dùng chữ “côn an” để thay thế cho hai tiếng “công an” của cộng sản.
Con người tha hóa, trong một xã hội, không còn cương thường đạo lý, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con như chuyện cơm bữa. Giết chồng, giết vợ xong đem vứt xuống sông, bác sĩ giết bệnh nhân đem phi tang, thầy chùa giết tình nhân đem chôn sau vườn chùa… bạn bè giết nhau chỉ vì một cái điện thoại, mới ăn ngủ với nhau xong, nhẫn tâm đập đầu tình nhân để đoạt tài sản. Ở đâu cũng nghe giết, giết… như khẩu hiệu của “thi hào” Tố Hữu: “Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ…” Trong xã hội này, người ta giết người không gớm tay, còn dễ dàng hơn giết một con… chó!
Ở Việt Nam bây giờ ở đâu cũng nghe hiếp, hiếp! Trưởng ban văn hóa xã cho trẻ em mới học lớp 4 xem phim sex để hiếp. Hiếp dâm để quay phim, tống tình bắt làm nô lệ tình dục! Nữ sinh bị hiếp dâm tập thể trước mặt bạn trai! Nhờ bạn hiếp dâm vợ để lấy cớ ly dị! Cưỡng hiếp chị dâu đang mang thai! Đây là vài chuyện trong muôn vàn chuyện… hiếp, được tường trình trên báo chí trong nước! Một xã hội rất… chó, giống chó vì đã xảy ra quá nhiều chuyện… cẩu hợp!
Một xã hội loạn lạc, lắm điều đốn mạt “thượng hạ giai cẩu” (trên dưới đều “chó,” câu nói của Cao Bá Quát) ngay cả bậc sĩ phu, không xoay chuyển được thời thế, chỉ đành kêu lên những tiếng tuyệt vọng: “chó ơi là chó!”
Chuyện chó còn dài dài, may ra khi chết hết chó, dân chúng không còn món nhậu khoái khẩu, dân tình không còn ta thán chuyện chó, bốn cõi mới yên bình, mong rằng cũng sẽ đến lúc “chó chết là hết chuyện!”
Ngày xưa đi học, tóc còn xanh mướt, làm một bài luận văn mà dùng chữ lặp đi lặp lại (điệp ngữ) thế nào cũng bị thầy giáo gạch bôi đen, gạch đỏ. Hôm nay, tóc đã bạc phơ, viết một bài văn, câu kéo lủng củng, nhất là đếm đi đếm lại có đến 64 chữ “chó,” chỉ vì lòng còn quá buồn phiền, sân hận vì những chuyện chó chết, chỉ xin các bạn thương tình miễn thứ!
Hôm nay kỷ niệm 100 ngày nhà thơ qua đời, nhớ đến Nguyễn Chí Thiện chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ đến cuộc đời đầy ải, bất hạnh của ông, và ông xứng đáng là biểu tượng cho sự thánh thiện chống lại cái ác, biểu tượng sự thật chống lại sự dối trá.
Nguyễn Chí Thiện đã dùng hết cuộc đời của ông, vắt cạn hết tuổi trẻ, trí tuệ của mình để viết nên những vần thơ, tưởng chừng như vũ bão, sấm sét nhắm vào chế độ cộng sản tàn ác, phi nhân; nhắm đến thủ phạm Hồ Chí minh, đã mang đến thảm họa cho dân tộc Việt Nam, đày đọa hàng chục triệu con người chúng ta suốt nửa thế kỷ lầm than này.
Bất hạnh bởi lớn lên nhầm chế độ, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã chọn con đường của “một nhà văn suốt đời chân thật,” biết ghét và can trường chống lại cái Hiểm Ác, điều Dối Trá, và sự Xấu Xa của chế độ Cộng Sản.
Cũng bởi tôn trọng sự thật, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã vào tù lần thứ nhất, chỉ trong một giờ dạy sử giúp bạn, ông đã không theo kinh điển dối trá của đảng CS để nói rằng lực lượng Hồng Quân của Liên Xô là nguyên do khiến Nhật Bản phải đầu hàng, chấm dứt Thế Chiến Thứ 2. Can trường giữ vững khí tiết với những vần thơ nhắm vào đảng Cộng Sản, ông đã liên tiếp chịu hai lần giam cầm tiếp theo, đã tàn phá hết cả tuổi thanh xuân của ông.
Bằng những vần thơ vào trận, Nguyễn Chí Thiện đã chịu tất cả 27 năm giam cầm trong những trại tù khắc nghiệt, tồi tệ nhất của nhân loại, và chấp nhận cuộc sống 17 năm lưu vong từ năm 1995 cho đến khi ông qua đời.
Máu và nước mắt của ông trong tập thơ đầu tiên đã được ông mạo hiểm đưa vào tòa Đại Sứ Anh với những dòng chữ thống thiết:
“Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc.”
Chúng tôi thiết nghĩ không cần nhắc lại những giải thưởng văn học quốc tế dành cho ông, vì thơ Nguyễn Chí Thiện được phổ biến trên thế giới, là tiếng nói oan khuất của những người đang bị áp bức, thiếu tự do, của những ai là nạn nhân của chế độ cộng sản, dù Đông hay Tây.
Nguyễn Chí Thiện có thể có một chỗ đứng xứng đáng nào đó trên văn đàn thi ca thế giới, nhưng gần gũi và đẹp đẽ nhất là ông đang đứng trong lòng bạn bè, đồng bào xa gần, những nhà tranh đấu dân chủ trong nước, đã thương yêu, cảm phục ông, và thơ ông sáng-tỏa trong lòng hàng triệu người là nạn nhân hay đang tranh đấu chống lại chế cộng sản.
Thơ Nguyễn Chí Thiện là vũ khí sắc bén nhất, là ngọn lửa bừng lên từ con tim, từ tiếng nói xót xa của những người bị áp bức, của cả người sống lẫn người chết.
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện không nhận mình là thi sĩ hay nhà thơ:
“Thơ của tôi không phải là thơ.
Mà là tiếng cuộc đời nức nở.
Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở.
Tiếng khò khè hai lá phổi hoang sơ.
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ.
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ.”
Ông không hề kêu gào, máu trả máu, đầu trả đầu với chế độ đã giết hết hạnh phúc và tuổi thanh xuân của ông cũng như đưa hàng triệu người Việt Nam vào địa ngục với tai ương và bất hạnh.
Đối với ông, trong tương lai, sự thương yêu và tính nhân ái sẽ thay thế độc tài, sắt máu:
“Khai sáng kỷ nguyên Tả Trắng thắng Cờ Hồng…
Tiếng mục đồng êm ả, tình quê bao la
Thay tiếng “Quốc tế ca”
Bằng tiếng diều cao vút trong chiều tà
Trên ruộng đồng quê ta…”
Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã cống hiến cuộc đời mình cho lý tưởng, ông không có tuổi thanh xuân, không có tình yêu, không có cả một mái ấm gia đình.
Ông cho biết thời gian giữa những trại tù, là những ngày đói khổ, phải lo miếng ăn, chưa hưởng được một ngày no ấm, hạnh phúc.
Mang thân phận một nhà văn lưu vong, từ ngày sang Mỹ, tuy không còn chật vật trong cuộc sống, ông vẫn có một cuộc đời đơn giản, chay tịnh, dành dụm từng đồng đô la để giúp cho bạn nghèo ở quê nhà, cho những công cuộc đấu tranh dân chủ trong nước.
Dù đau ốm bệnh tật, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng đã dùng thời gian đi đây đó, nói cho tuổi trẻ, nói cho hải ngoại về khát vọng tự do của đồng bào và về những thủ đoạn gian trá của chế độ Cộng sản ở quê nhà.
Kỷ niệm 100 ngày nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời, chúng ta học hỏi được từ nơi ông: một nhân cách lớn, một thành tâm, thiện chí như cái tên của ông và tấm lòng trăn trở của ông đối với quê hương dân tộc, từ tuổi thanh niên cho đến lúc nhắm mắt buông tay.
Gần gũi ông, trong đời sống hằng ngày mới thấy tấm lòng đôn hậu của ông. Ông không hề lợi dụng tấm lòng tử tế của ai, của cải, phương tiện và cả tình yêu, để giữ khí tiết, vị trí độc lập và thân phận của riêng mình.
Ông là người trọng nghĩa khinh tài, đã có dịp “cho đi nhiều mà chẳng nhận bao nhiêu,” không hề lo lắng cho đời sống cá nhân của riêng ông.
Chúng ta học hỏi ở ông sự can đảm và bình thản tột cùng trước nghịch cảnh, ở trong tù không xin xỏ kêu van; mạo hiểm vào tòa Đại Sứ Anh để lúc ra, biết rằng phải bước thẳng vào xà lim, cùm kẹp mà vẫn làm. Ra đến hải ngoại, ông đã bị bêu riếu, đánh phá, vùi dập, trong trường hợp này, chúng ta mấy ai đã giữ được tâm bình thản như ông. Gần ông mới thấy tấm lòng bình an, tha thứ của ông, tiết trực mà tâm hư, để cho tấm lòng rỗng không, không hề để tâm hận thù, oán trách, giận hờn ai.
Đó chính là thái độ của một kẻ sĩ.
Trên thế gian này, không có vị giáo chủ nào được ca tụng và tôn sùng mà không bị chửi bới, chỉ trích, xỉ vả.
Đó là số phận của những bậc vĩ nhân.
Điều mà cuối cùng chúng ta cần học hỏi nơi ông, quý báu nhất, là phải luôn luôn giữ vững lòng tin, lạc quan về một tương lai của dân tộc.
“Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẵn toàn sấm sét
Trong lũ người đói rét
Phục sẵn một đoàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử…”
Vì:
“Đảng như hòn đá tảng
Đè lên vận mạng quê hương
Muốn sống trong hòa hợp yêu thương
Việc trước nhất phải tìm phương hất xuống!”
Cả một cuộc đời tranh đấu như thế, nhắm mắt từ giã cuộc đời mà chưa thấy chế độ cộng sản tàn lụi, hẳn lòng ông chưa yên, linh hồn ông chưa siêu thoát. Hình như ông vẫn chưa đi đâu xa, đang ở gần chúng ta để hỗ trợ, công việc chúng ta đang làm, ông đang ở cạnh các nhà tranh đấu dân chủ, đồng bào khổ nạn, để cùng với ông một niềm tin như ông đã viết:
“Tôi tin chắc một điều.
Một điều tất yếu.
Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu.
Tôi lại nghĩ một điều.
Một điều sâu thẳm.
Là đêm tàn Cộng Sản tối tăm.”
Huy Phương
Theo Người Việt
(Đọc trong buổi tưởng niệm nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ngày 8 Tháng Giêng, 2013 tại Đài VHN, Nam California)
Xem những đoạn phim ngắn quay cảnh các cô “bảo mẫu” đối xử với các cháu trong bữa ăn tại nhà trẻ Phương Anh trong thành phố mang tên “Bác” vừa được đưa lên Internet, không ai không khỏi giật nảy mình và sau đó không cầm được nước mắt. Giật nảy mình là vì thấy những cử chỉ tàn ác quá đột ngột không ai ngờ trước, như bóp mũi em bé, đút liên tục rất nhanh thức ăn vào miệng em, và khi phải nói là quá đau đớn khi thấy cô “trồng người” dốc ngược đầu em bé vào thùng nước. Khốn nạn hơn nữa là cô “bảo mẫu” bé kẹp đầu em bé vào chỗ kín để rảnh tay đánh tới tấp vào lưng đứa trẻ, cũng như một cô khác lắc em bé như lắc một con gấu nhồi bông, hay đút chỗ thức ăn trẻ vừa nôn mửa ra vào lại mồm đứa bé!
Phản ứng của người xem đoạn phim trên là phải đồng loạt la lên: “Sao lại có loại người ác độc như thế?”
Danh từ Hán Việt “bảo mẫu” mà Việt Nam đang dùng có nghĩa là vú nuôi, bây giờ phải nghĩ đó chính là “ác phụ,” cũng như lối đặt chữ của người trong nước bây giờ: “Lương Y như Hà Bá – Thầy thuốc kiêm Mẹ Mìn”. Chúng ta đặt hy vọng gì cho thế hệ tương lai, khi một cô gái mới 19 tuổi, trong tương lai sẽ là người sinh nở, cho con bú mớm, nuôi dạy con, đã có những lối hành xử như thế!
Nhà trẻ này lấy cớ vì đồng lương của “bảo mẫu” quá ít, cha mẹ mỗi đứa trẻ chỉ đóng một triệu đồng mỗi tháng, trong khi đó phải chi ra bao nhiêu thứ, tốn phí nhất là tờ giấy phép, hay chưa có phép thì phải chi cho công an, phường khóm để làm ngơ cho nhà trẻ hoạt động. Nhưng đây chỉ là lý do đưa ra để biện minh cho sự lơ là nhiệm vụ, chứ không thể nào giải thích cho cái ác lộng hành.
Một ông bố kết hợp với bà dì ghẻ, đánh một đứa trẻ mới lên sáu gẫy một cái xương sườn, xong bỏ vào bao bố, đem vứt ra nghĩa địa gần nhà, cho nó khóc la hết hơi, gọi là để răn đe. Một “lương y” làm đẹp cho phụ nữ, lỡ tay làm chết khách hàng, thản nhiên mang xác đi vứt xuống sông. Một đứa con bất hiếu đi làm về, thấy mẹ bệnh chưa nấu cơm, nổi giận đánh chết mẹ. Một bà vợ đánh chồng đến chết, con thắc mắc thì nói dối, bố uống rượu ăn tiết canh bị nôn ra, xong gói xác chồng đi chôn. Một ông sư tằng tịu với tín đồ lỡ mang thai, đem giết người tình rồi chôn sau vườn chùa. Rất nhiều cô gái lỡ lầm sinh con rồi ném con xuống ao hay vứt vào thùng rác! Những viên công an sẵn sàng đánh chết người vì lý do thi hành nhiệm vụ.
Chúng ta kể sao cho hết những cái ác chúng ta đã nghe, thấy mỗi ngày ở Việt Nam?
Chưa lúc nào cái ác hiện hình nhan nhản và lộng hành trong xã hội như hiện nay, vì nhìn đâu cũng thấy ác, nên con người lâu ngày trở nên chai lì và thấy cái ác của người khác là bình thường, và sẵn sàng làm điều ác như một bản năng mà không thấy.
Ở Việt Nam, sau khi Sài Gòn bị đổi tên, có một tờ báo bán chạy nhất là tờ “Công An TP. Hồ Chí Minh” và có ông ký giả “to lon” nổi tiếng nhất là “ký giả, nhà văn Trung Tướng Hữu Ước,” người cầm đầu tờ báo này trong 17 năm. Ông này đã từng hãnh diện tuyên bố lúc về hưu: “Nhiều báo trên thế giới đã đánh giá hệ thống truyền thông của Bộ Công An Việt Nam là mạnh nhất thế giới so với các hệ thống truyền thông của các nước, kể cả Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc. Hệ thống truyền thông của công an Việt Nam có ảnh hưởng xã hội, có tia ra (*) phát hành lớn nhất, kênh truyền hình cũng là một trong những kênh truyền hình có số lượng người xem nhiều nhất. Như vậy thì tôi đã hoàn thành một sứ mệnh lịch sử rất vinh quang.”
Hệ thống truyền thông của Bộ Công An Việt Nam đã vượt xa các cường quốc văn minh như Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc… vì các cường quốc khác mãi lo chuyện “vô bổ” như phổ biến đến quần chúng những thông tin về văn hóa, khoa học, xã hội, tôn giáo, công dân giáo dục… thì báo đài của Bộ Công An Việt Nam chuyên loan tin hiếp dâm, giết người, cướp của và những hành động tàn độc nhất của con người Việt Nam, tập cho độc giả, từ đứa trẻ con đến ông già làm quen với máu me, chết chóc. Tờ “Công An TP. Hồ Chí Minh” hãnh diện là tờ báo bán chạy nhất, ngày này đã thành một tờ nhật báo “không thể thiếu trong mọi gia đình” để mỗi buổi sáng thức dậy, bên ly cà phê, người dân bắt đầu một ngày với những tin hiếp dâm cắt cổ, đánh mẹ chửi cha, hiếp dâm trẻ nhỏ.
Trong một đất nước dân trí cao, thì con người có nhu cầu tìm hiểu, học hỏi và khao khát những thông tin về nghệ thuật, văn hóa, chính trị, tôn giáo… còn dân trí như Việt Nam dưới chế độ này thì thích nghe ngóng lượm tin, bàn tán chuyện giết người, hiếp dâm, cắt cổ… qua báo Công An và băng tần Công An, mà ông Hữu Ước khoe khoang là báo Công An có số lượng nhiều nhất và kênh truyền hình Công An có số lượng người xem nhiều nhất, điều đó có gì đâu để hãnh diện, mà phải thấy xấu hổ.
Chúng ta ở Mỹ, không thấy có nhật báo Cảnh Sát, cũng chẳng thấy đài truyền thanh, truyền hình riêng của FBI, và người dân mỗi buổi sáng mua tờ nhật báo phải lật xem “Tin Thế Giới” hay mục “Thể Thao” hay trang “Kinh Tế” trước, phải chăng là một đất nước tụt hậu kém cỏi thua nước CHXHCN Việt Nam?
Ông Cao Tuấn, một người trong nước, đã viết trên báo Lao Động là: “Trong khi nhiều người đua nhau thể hiện ‘đẳng cấp’ bằng hình ảnh nhà cao, xe đẹp, hàng hiệu… thì một thông tin từ Bộ Văn Hóa-Thể Thao và Du Lịch đưa ra khiến dư luận không khỏi giật mình: Người Việt Nam đọc trung bình 0.8 cuốn sách/người/năm, khá thấp so với các nước trong khu vực. Thông tin này có thể giúp giải thích đôi điều về cái ác.”
Theo tôi, có lẽ trung bình một năm người Việt Nam không đọc được một cuốn sách nhưng đọc hết 365 tờ báo Công An. Đây là tờ báo chuyên thông tin và đồng lõa với cái ác.
Nhà văn Trần Mạnh Hảo đã có lần phát biểu: “Người Cộng Sản vì theo chủ nghĩa Karl Max, một chủ nghĩa ‘duy ác,’ không phải ‘duy tâm,’ cũng không phải ‘duy vật,’ nên đã làm cho đất nước chúng ta lâm vào cảnh điêu tàn…” Trong lịch sử nhân loại vào thế kỷ XX, có ba người bị coi là đồ tể lớn nhất, giết hơn 100 triệu người, ngoài Phát Xít Hitler, có hai người Cộng Sản được thần dân CSVN ca tụng hết mình là Staline giết 12 triệu người từ 1924 đến 1953, Mao Trạch Đông với 65 triệu người chết từ 1949 đến 1976, chưa kể đến Hồ Chí Minh và Pol Pot trong danh sách các ác nhân của thời đại.
Phật Giáo có nói: “Đừng thấy điều thiện nhỏ mà không làm, thấy điều ác nhỏ mà làm!”
Công Giáo cũng có câu: “Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy tiếp tục lấy điều thiện thắng điều ác” (Rô-Ma 12:21). Lẽ cố nhiên muốn đẩy lùi cái ác thì xã hội cần phải biểu dương cái thiện, nêu những tấm gương thiện để giáo dục con người về nhân cách sống.
Nhưng trong khi Bác Sĩ Nguyễn Thu Thủy tố cáo vụ tráo đổi thủy tinh thể ở bệnh viện mắt Hà Nội và của chị Hoàng Thị Nguyệt tố cáo giả mạo kết quả xét nghiệm ở bệnh viện Đa Khoa Hoài Đức bị gặp rắc rối, thì Dược Sĩ Trần Kiều Oanh đứng lên tố chuyện ăn tiền hối lộ tại phòng Giám Định Y Khoa, Sở Y Tế Bình Phước, bị đuổi việc.
Ai nói cái thiện luôn luôn thắng cái ác?
Có, nhưng không phải dưới chế độ Cộng Sản!
Huy Phương
Theo Người Việt
(*) “tia ra”: Ông Hữu Ước không để trong ngoặc kép, chữ “tirage”(tiếng Pháp) là số lượng phát hành!
Vì muốn dành một sự ngạc nhiên, bất ngờ cho ba má của tôi, cho nên tôi dùng chìa khóa riêng của mình mở cửa, rồi dẫn Cúc vào nhà. Không thấy ai trong phòng khách, tôi kéo Cúc đi ra sau bếp, hai đứa đứng núp sau một cánh cửa. Đưa mắt nhìn qua ô kính nhỏ, tôi thấy má tôi đang rửa chén, ba tôi ngồi nơi bàn ăn, mắt nhìn mông lung qua khung cửa sổ nhỏ và hẹp.
-Bà nghĩ coi, giờ này thằng Quân đang ở đâu?
Vừa nói xong, không để má tôi trả lời, ba tôi thở dài.
-Không biết nó sống chết ra sao rồi !
Má tôi nói mà như muốn khóc.
-Cầu xin Trời Phật giúp nó trốn thoát được ra nước ngoài, tìm gặp vợ nó. Tội nghiệp, con nhỏ hiền lành lại dễ thương quá sức.
Ba tôi than thở.
-Cũng tại phúc phần nhà mình không có, cho nên đã làm đám hỏi rồi mà thằng Quân phải chịu cảnh chia lìa với vợ nó như vậy. Nếu biết được tình thế đổi thay như thế này, tui cho tụi nó làm đám hỏi và đám cưới một lần luôn cho rồi.
Tôi bấm nhẹ vào tay Cúc, nói nhỏ vào tai nàng.
-Em đợi anh một chút.
Nói xong tôi bước vô nhà bếp, hai tay chụm lại làm cái loa.
-Con đây nè.
Má tôi giật mình buông tay, cái chén sành bà đang cầm rớt xuống sàn nhà vỡ tan tành.
Tôi chạy đến, ôm lấy má tôi.
-Má ơi, con về rồi nè má.
Hai tay run run ôm chồm lấy tôi, má tôi nói, giọng nói nghẹn ngào đứt khúc.
-Có..có phải là con không Quân? Má có..mơ không?
Tôi nói thật rõ và chậm.
-Má không có mơ đâu, con về thiệt mà.
Ba tôi đến bên cạnh tôi, ông đưa bàn tay sần sùi, thô nhám nắm lấy tay tôi lắc mạnh, với giọng nói đầy thắc mắc.
-Tại sao con không trốn ra ngoại quốc, mà còn trở về đây làm gì?
Tôi quay người lại ôm lấy ba tôi, miệng nói với ông nhưng trong đầu lại nghĩ đến hai người lính Quân Cảnh đã chận tôi nơi đuôi chiếc phi cơ C130, ở phi trường Tân Sơn Nhất đêm nào.
-Con có trốn đi đó chớ, mà không được.
Tôi quay nhìn Cúc rồi đưa tay ra dấu. Cúc nhẹ nhàng đẩy cửa bước ra với cái va ly trên tay.
Bất ngờ thấy Cúc xuất hiện, ba tôi thảng thốt kêu lên.
-Trời đất ! Hai tháng trước, ba nghe thằng Quân nói con đã đi Mỹ với anh Bảy rồi mà. Sao bây giờ con còn ở đây?
Cúc đặt cái va ly xuống đất, lí nhí trong miệng.
-Thưa ba, con không có đi Mỹ.
Đưa hai tay ôm lấy đầu, ba tôi nói như là than thở, trách móc.
-Trời ơi là trời, con làm ba tức muốn chết được. Con và thằng Quân, cho dù có chết cũng phải liều mình mà trốn đi, tại sao giờ này cả hai đứa đều kẹt lại ở Việt Nam.
Cúc nhìn ba tôi, khi thấy đôi mắt của ông lộ vẻ giận dữ, Cúc ôm ông khóc ngon lành. Má tôi nhìn Cúc, rồi như mủi lòng bà cũng khóc theo. Đưa tay ngăn những giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, bà thổn thức.
-Tội nghiệp cho hai đứa con.
Tôi lặng người đứng nhìn mấy người thân của mình, cố gắng đè nén cảm xúc, không để bật thành tiếng khóc rồi vỗ nhẹ vào lưng Cúc.
-Nín đi em, mới gặp lại ba má, mình phải vui vẻ lên chứ.
Nghe tôi nói nhưng phải một lúc sau Cúc mới lau nước mắt rồi hỏi má tôi, giọng nói vẫn còn đầy xúc động.
-Thằng Tý với con Quyên đâu rồi má?
Má tôi cúi người nhặt một miếng miểng sành vỡ dưới đất, miệng nói.
-Tụi nó đi sinh hoạt đoàn thể Thanh thiếu niên tiền phong cứu quốc hay xung phong gì đó rồi, ở nhà chỉ còn ba với má thôi.
Cúc mở va ly lấy ra mấy xấp vải, đưa cho má tôi.
-Con mua xấp vải này để má may quần áo, màu và bông của nó rất trang nhã hợp với tuổi của má, xấp này dày và đậm màu để ba may quần tây, còn mớ này cho thằng Tý với con Quyên.
Vừa nói xong Cúc cúi đầu lục trong xách tay, lấy ra một cái hộp nho nhỏ cỡ bằng gói thuốc lá.
-Còn đây là chai dầu nóng Nhật Bản, con mua riêng cho má. Má để dành khi nào chân tay có nhức mỏi, dùng nó để xoa bóp.
Hai ngày trước tại chợ Bến Thành, khi thấy Cúc mua quần áo cho tôi rồi mua thêm mấy xấp vải cùng vài món đồ lẩm cẩm, tôi cứ nghĩ rằng Cúc mua cho nàng. Hôm nay, khi thấy Cúc chia quà cho mọi người, tôi mới biết Cúc đã tính toán sẵn mọi thứ trong đầu. Với tôi, trước đây Cúc là con gái nhà giàu chỉ biết tiêu xài phung phí. Bằng cớ là một tháng lương trung úy của tôi, chưa chắc mua được cái áo choàng hoặc đôi giày của Cúc, nói gì đến cái xách tay được làm tại Pháp mà Cúc đang dùng. Mọi việc trong nhà, Cúc chỉ cần sai bảo người làm, một lời của Cúc nói ra là một mệnh lệnh, kẻ ăn người ở phải tuân theo. Cúc dư biết, căn nhà mà ba má tôi đang ở là do bác Bảy bỏ tiền ra mua, chiếc xe Honda tôi đang đi, có một nửa là tiền của bác Bảy. Ba má tôi là những người quê mùa dốt nát, thuộc giai cấp nghèo khó trong xã hội, gia đình tôi được sự giúp đỡ, chịu ơn của bác Bảy quá nhiều, nếu phải đền ơn thì không biết đến kiếp nào mới xong. Cúc không cần phải mua quà cáp, để lấy lòng ba má và mấy đứa em của tôi. Dựa vào lối suy luận như trên, tôi có thể kết luận rằng: Những việc làm của Cúc cho ba má tôi ngày hôm nay, tất cả đều xuất phát từ cái tâm của nàng.
Tôi đã từng đi chơi với Cúc nhiều lần, nhưng ít khi để ý đến cử chỉ, hành động cũng như lời ăn tiếng nói của Cúc, cô vợ sắp cưới của mình, bởi vì thiên kiến về cuộc sống con gái nhà giàu như thế nào vốn đã có sẵn trong đầu của tôi. Những thành kiến trước đây của tôi về Cúc, hôm nay đã bị đánh đổ. Bấy lâu nay tôi có mắt mà như mù, đã nhìn lầm về cô vợ mới cưới của mình.
Khi đã hiểu rõ thêm chút tính tình của Cúc, tôi không ngạc nhiên cho lắm khi thấy Cúc nhanh tay lo phụ má tôi quét nhà, nấu cơm.
Phần tôi, chỉ có việc ngồi nơi bàn uống ly nước trà, chờ cơm chín. Hơn cả tháng rồi, hôm nay tôi mới có dịp ngồi chuyện trò với ba tôi. Thôi thì đủ thứ chuyện được nói tới, bắt đầu từ cái chuyện học hành, vô đoàn thể của hai đứa em tôi, tới chuyện sau khi tất cả dân chúng, quân nhân cũng như cảnh sát và Trường Võ Bị Đà Lạt di tản, Thành phố Đà Lạt bỏ ngõ, phải ba bốn ngày sau mới có vài ông du kích tiến vào tiếp thu. Đang nói chuyện, bỗng nhiên ba tôi hỏi.
-Con còn nhớ ông Năm bán bánh xèo bên hông tiệm sắt, ở ngã ba đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ không?
Tôi trả lời mà không cần suy nghĩ.
-Nhớ chớ, con với ba đã có lần ăn bánh xèo ở đó rồi mà.
-Ba cũng nhớ chớ sao không, bởi vậy ba mới hỏi, ngày trước con có ỷ mình là trung úy rồi hống hách hay hiếp đáp gì ông ta hay không?
Tôi cười vì câu hỏi quá sức thật thà của ba tôi.
-Ba à, trung úy không là cái gì hết, chỉ cần phạm một lỗi nho nhỏ về quân phong quân kỷ thôi, như mặc quần mà không gom ống cho gọn hay để tóc dài chưa kịp hớt, cũng đủ để Quân Cảnh còng đầu, bỏ tù ngay lập tức, huống gì mang cái tội về hình sự, hiếp đáp dân lành. Ba có biết không, một trong sáu điều tâm niệm của người lính Việt Nam Cộng Hòa là không được làm mất lòng dân, con là trung úy nên phải triệt để thi hành, lấy câu nói đó làm phương châm khi giao tiếp với mọi người. Có bao giờ con làm mất lòng ai đâu. Còn quán bánh xèo ông Năm thì quá quen đối với con, tuần nào con lại không ghé đến đó một hai lần. Vì quen biết như vậy, nên khi đổ bánh xèo cho con, ông Năm thường ưu ái thêm vào cái bánh một hai con tôm gọi là tặng cho khách quen đặc biệt. Mối giao tình giữa con và ông ấy rất tốt.
Ba tôi với giọng nói dè chừng.
-Theo ba nghĩ, lúc còn Việt Nam Cộng Hòa, với bất cứ ai ông Năm cũng đối xử vui vẻ niềm nở, thậm chí còn khúm núm thưa bẩm nữa là khác.
-Con không có binh ông Năm, nhưng ba nói hơi quá, ai làm ăn buôn bán cũng phải nể trọng, chiều chuộng khách hàng, ông ta hành xử như vậy có gì là lạ đâu.
Ba tôi hứ trong cổ họng.
-Lạ chớ sao không, con có biết ông ta là ai không, gốc gác như thế nào?
-Con làm sao mà biết được.
-Sở dĩ, ông Năm nhún nhường như vậy, bởi vì ông ta đóng kịch để che giấu cái gốc Việt Cộng nằm vùng của ông ấy. Nhờ đóng kịch khéo léo cho nên một cán bộ gộc, sống ngay trước mắt các cơ quan tình báo của Việt Nam Cộng Hòa mấy chục năm rồi, mà không bị phát giác. Hiện tại ông Năm là chủ tịch hay là phó chủ tịch tỉnh của mình, mỗi khi ông ta đi đâu đều có hai ông lính Việt Cộng, súng đạn đầy người theo sát bên hông để bảo vệ ông ta. Mới hôm qua, ba gặp ông Năm trước trụ sở khu phố, thoáng thấy ba, ông ngoắt ba lại rồi hỏi “Cậu Quân, con của ông về chưa?”. Ba chỉ ăn ở quán bánh xèo ông Năm có một lần duy nhất, đó là lần đi với con, vậy mà gặp ba là ông ấy nhớ liền.
Nghe ba tôi nói mà tôi giật mình, ngồi trong nhà mát lạnh mà trán của tôi rươm rướm mồ hôi. Bao nhiêu năm rồi, tôi tiếp xúc với một cán bộ gộc của Việt Cộng, lúc nào cũng đùa giỡn với ông ta, đùa với lửa mà hoàn toàn không biết. Tôi nhấp một ngụm trà, cố nuốt trôi cái đăng đắng nơi cổ họng, rồi nói.
-Hôm nay, ba nói con mới biết.
Ba tôi với giọng nói chậm rãi.
-Đổi đời rồi, ba chỉ muốn nhắc nhở để con chuẩn bị tinh thần.
-Dạ con nhớ rồi.
Tôi nhìn qua bếp, má tôi múc thức ăn ra dĩa rồi lên tiếng.
-Hai cha con chuẩn bị ăn cơm.
Cúc bưng lên hai chén nước mắm ớt, mỗi chén có một cái trứng luộc và một dĩa bắp sú xào mỡ, tôi là dân Đà Lạt nên gọi bắp cải là bắp sú. Thức ăn bữa trưa của bốn người, chỉ có vậy. Tôi nhìn dĩa bắp sú xào trên bàn, rồi nói đùa với má tôi.
-Tụi con mới về, bữa cơm đoàn tụ mà má cho tụi con ăn chỉ có một món bắp sú thôi sao? Mà má à, tại sao bắp sú lại xắt nhỏ và có màu nâu như vậy?
Má tôi giải thích.
-Đây là bắp sú phơi khô, chuyện như thế này, lúc dân Đà Lạt di tản hết rồi, người không nhà trống tuy nhiên rau cải đã đến kỳ hạn mà không có người thu hoạch, để mặc ngoài vườn cho hư thối. Một vài người dân nghèo tiếc của, họ chặt rồi gánh bắp sú ra phố đi bán dạo. Của đổ mà hốt, được đồng nào hay đồng nấy.
Má tôi xới cơm ra chén.
-Con có biết không, một gánh bắp sú nặng năm, sáu chục kí-lô, bán chỉ được một trăm đồng. Nội cái chuyện gánh mấy cây số từ vườn ra tới phố, tiền công gánh, cũng phải gấp năm lần tiền bán sú. Với một trăm đồng, họ mua chưa được một kí gạo, cho nên người ta không bán sú để lấy tiền, mà chỉ đổi lấy gạo. Thấy hoàn cảnh khổ cực của mấy người bán bắp sú, ba của con đổi cho họ, hai kí lô gạo lấy một gánh sú. Hình như, những người bán bắp sú thấy chuyện trao đổi với ba của con là có lợi nhiều nhất cho họ, cho nên vài ngày sau đó, người ta lại gánh đến trước nhà thêm vài gánh nữa. Ba con đồng ý đổi cho họ, nhưng dặn thêm lần tới sẽ không đổi nữa, vì hết gạo và nhà mình đã thành cái vựa bắp sú rồi. Với mấy trăm kí lô bắp sú, ba con xắt nhỏ, phơi khô rồi đóng vô bao bố. Cả tháng rồi nhà mình ăn cơm với bắp sú khô xào, rồi bắp sú khô luộc, đến nỗi thằng Tý với con Quyên nói, thấy bắp sú khô là tụi con ớn lên tận cổ.
Tôi hỏi má tôi.
-Trong nhà còn gạo nhiều lắm phải không má?
Má tôi lắc đầu nguây nguẩy.
-Làm gì có, trước khi Đà Lạt di tản, có bao nhiêu tiền má gom góp lại đem hết đi mua gạo, được đâu một trăm kí. Nhà mình có bốn người, ăn dè sẻn cho đến hôm nay, cũng hết quá phân nửa rồi.
Cúc đang ăn cơm ngẩn nhìn má tôi.
-Ngoài chợ có bán gạo không má?
-Có đó nhưng mà mắc lắm, mua không nổi đâu.
Cúc thắc mắc.
-Nếu như vậy, khi hết gạo, thì lấy gì để ăn?
Má tôi với giọng nói bình thản.
-Trời sinh voi sinh cỏ con à, mình đã lo rồi mà không được, phải đành chịu thôi.
Nghe Cúc và má tôi nói chuyện, tôi nghĩ đến người Lạch ở trong buôn làng mấy chục năm trước, chặt được một gùi củi đem ra chợ Đà Lạt, đổi lấy vài kí lô muối hột. Hôm nay chuyện trao đổi lại tái xuất hiện, chỉ khác biệt là người dân làm vườn trồng rau cải, suốt ba, bốn tháng trường, chăm lo tưới nước, bón phân, xịt thuốc sâu. Đến khi thu hoạch gặp lúc tai trời ách nước, gánh một gánh bắp sú nặng oằn vai ra phố Đà Lạt, đổi lấy hai kí lô gạo.
Bữa cơm gia đình chấm dứt trong bầu không khí đầy lo âu, tôi đưa Cúc về phòng riêng của chúng tôi ở tầng ba. Hai tay vịn lấy lan can nơi cầu thang, vừa đi Cúc vừa nói.
-Anh chở em ra phố chút xíu thôi, được không?
-Đi liền hả?
-Dạ, đi liền.
Tôi lái chiếc Honda hai bánh của mình, chở Cúc chạy chầm chậm vòng quanh khu phố Hòa Bình. Chung quanh tôi, không bóng dáng một chiếc xe hơi, chỉ có cờ đỏ với sao vàng ủ rủ trong nắng chiều, lác đác vài khách bộ hành áo quần lem luốc đi trên hè phố. Cà phê Tùng rồi nhà hàng Mê Kông, tiệm thuốc bắc Đức Xương Long, bánh mì Vĩnh Chấn cùng tất cả mọi cửa hàng đều đóng kín. Cúc đập nhẹ vào vai của tôi, rồi nói nhỏ.
-Mình chạy xuống chợ đi anh, em muốn mua ít đồ.
Tôi cho xe đổ dốc Lê Đại Hành, đi vòng quanh vòi phun nước gần cà phê Hạnh Tâm rồi quẹo vô chợ Đà Lạt. Giống như Khu phố Hòa Bình, những tiệm tạp hóa quanh chợ đều đóng cửa im ỉm. Trong chợ, chỉ một số ít sạp hàng là có người buôn bán, trong đó có vài gian hàng thực phẩm khô, còn lại, hầu hết là những sạp bán rau cải tươi của Đà Lạt.
Cúc mua một mớ tôm khô, cá khô, rau củ tươi, thêm mấy bao gạo, mỗi bao chỉ có mười kí lô. Người bán kéo bao gạo giấu ở dưới chân đưa cho Cúc, đôi mắt của bà ta lén lén lút lút nhìn ngang, liếc dọc như sợ có người trông thấy.
Cúc hỏi bà bán hàng.
-Tại sao mỗi bao chỉ có mười kí, có bao một trăm kí không bà?
Bà bán hàng nói.
-Cô di tản xuống Sài Gòn, mới trở về Đà Lạt phải không?
-Sao bà biết?
-Gạo là món hàng thuộc quyền quản lý của nhà nước, bao gạo chỉ xanh một trăm kí làm gì có nữa, cô có thấy mấy tiệm gạo bên hông chợ không, nhà nước đã tịch thu hết gạo rồi, còn đâu nữa mà bán. Số gạo mà tôi giấu ở đây là gạo chợ đen, gạo lúa rẫy trồng ở Tùng Nghĩa, phải bán chui, bán lén, trốn tránh sự kiểm soát của nhà nước.
Đang nói chuyện với Cúc, bà bán hàng quay qua nhìn tôi phân bua.
-Cậu nghĩ coi tôi nói có đúng không, ở vào thời buổi gạo châu củi quế, kiếm được đồng tiền không phải dễ, làm việc đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được, tiền đâu mà mua bao gạo chỉ xanh một trăm kí lô. Cho nên, tôi đóng mỗi bao mười kí cho dễ mua bán và chuyên chở.
Nhìn mớ hàng quá nhiều mà Cúc vừa mua, tôi phải dặn Cúc ngồi trong chợ, đợi tôi chở gạo và mấy món đồ khô về nhà, sau đó sẽ chạy ra đón Cúc về.
Khi tôi trở lại chợ, Cúc đang đứng bên mấy bị gạo mới mua thêm với đủ mọi thứ thực phẩm đựng trong hai cái giỏ xách to. Tôi đùa với Cúc.
-Em định dọn hết cái chợ Đà Lạt về nhà mình phải không? Có muốn dọn cũng phải kin kín một chút, coi chừng đám cách mạng ba mươi.
Tôi lái xe mà đầu óc cứ suy nghĩ vẩn vơ, mấy hôm nay tôi thấy Cúc tiêu xài khá nhiều, suốt mấy ngày qua một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu của tôi “Cúc còn bao nhiêu tiền?” Nghĩ như vậy nhưng tôi không dám hỏi thẳng Cúc, bởi vì từ trước cho đến giờ, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi chuyện mình là kỹ sư đào mỏ.
Cúc đã nấu xong cơm chiều, mãi đến lúc trời tối mịt hai đứa em của tôi mới về đến nhà. Khi thấy vợ chồng tôi, cả hai đứa đều vui mừng chạy lại ôm lấy Cúc, tụi nó coi như không có tôi, không có ông anh đứng bên cạnh. Chuyện cũng phải thôi, trước đây mỗi khi tới nhà tôi, Cúc đều mua quà cho cả hai đứa, khi thì bánh kẹo, lúc thì đồ chơi thậm chí một đôi lần còn cho tiền, con nít gặp bà chị dâu như vậy, không thương cũng uổng.
Hai đứa em của tôi, mặt mày tươi rói khi ngồi vô bàn ăn, thằng Tý nói.
-Ăn cơm tối mà giống như nhà có tiệc, Chị Hai nấu phải không?
Má tôi cười, nụ cười đầy sung sướng.
-Chị Hai tụi bây chứ còn ai vô đây.
Con Quyên láu táu.
-Mấy tháng rồi, con mới thấy miếng thịt heo ba chỉ, con ăn được không?
Cúc mời ba má tôi ăn cơm, rồi nói với hai đứa em.
-Hôm nay, nhà mình ăn thịt heo luộc cuốn bánh tráng, chấm mắm nêm, sau đó mới ăn cơm với thịt heo kho tàu. Mấy đứa ăn bao nhiêu cũng được, chị mua nhiều nhưng cũng đừng ăn mỡ nhiều quá, coi chừng đau bụng.
Bầu không khí trong nhà vui vẻ, ấm cúng lạ thường, bao nhiêu chuyện xưa tích cũ cũng như những gì đã xảy ra trong tháng vừa qua, đều được đem ra kể lại.
Ba tôi vừa ăn vừa nói với Cúc.
-Cúc à, nhân dịp cả nhà đầy đủ, ba muốn nói với con chuyện này, căn nhà này là nhà của con, tối nay con muốn ở phòng nào, con cứ chọn.
Cúc nói với ba tôi.
-Tụi con ở căn phòng trên lầu là được rồi, mà tại sao ba nói như vậy.
Ba tôi từ tốn giải thích cho Cúc hiểu.
-Mấy năm trước, anh Bảy có nói với ba hãy bán căn nhà ở Trại Hầm, mua căn nhà nơi phố mà ở. Ba với má không chịu nhưng anh Bảy nói với ba “Anh chị phải mua nhà ở phố, khi thằng Quân cưới con Cúc, tụi nó mới ở chung với anh chị, lo phụng dưỡng anh chị lúc tuổi già. Nếu anh ở Trại Hầm, căn nhà gỗ nhỏ như vậy làm sao đủ phòng cho sáu, bảy người”. Nghe anh Bảy nói, ba đã ngầm đồng ý vì ảnh nói đúng ngay ước mơ của ba, nhưng mà ba không có tiền, nội cái chuyện ăn uống trong nhà đã thiếu trước hụt sau, đào đâu ra tiền để mua nhà ở phố. Thấy ba im lặng không nói gì anh Bảy mới nói thêm “Tôi mua căn nhà ở phố nhờ anh đứng tên, mai mốt thằng Quân với con Cúc làm đám cưới xong, tụi nó dọn về ở với anh chị. Nếu anh chị chê không thèm ở đó, thì sang tên lại cho con Cúc.”
Ba tôi cúi đầu, trầm ngâm một chút.
-Cúc à, con có biết không, anh Bảy mua căn nhà này là mua cho con, vậy mà tháng trước ba nghe thằng Quân nói con đã đi Mỹ với anh Bảy rồi, khiến ba như bị hụt chân không biết xử trí ra sao với căn nhà, bây giờ có con về đây, ba thấy nhẹ nhõm cả người.
Cúc cười, nụ cười đầy vẻ tinh nghịch rồi nói với ba tôi.
-Ba với má bị ba con lừa rồi, ổng nói với ba như vậy vì ổng muốn ba dọn về ở đây cho tươm tất hơn thôi. Thật ra, ba con đã xây cho con một cái biệt thự to lớn với đầy đủ tiện nghi ở đường Nguyễn Tri Phương, cái biệt thự xây gần xong, đang chuẩn bị mua sắm bàn ghế, con đã phải bỏ chạy, chắc giờ này cũng bị Việt Cộng lấy mất rồi.
Cúc ngưng nói, nhìn về phía phòng khách.
-Cũng may là còn cái nhà này của ba má, mà hôm nay tụi con mới có chỗ để trú ngụ. Con với anh Quân ở căn phòng trên lầu ba đã quá sức rộng rãi, quá tiện lợi. Ba má đừng có suy nghĩ nhiều cho mệt sức.
Con Quyên cắn miếng thịt heo kho tàu, vừa nhai ngồm ngoàm trong miệng vừa nói:
-Chị Hai nè, chị là số một, em thương chị nhất nhà, thương hơn ba má em luôn, tối nay em ngủ với chị nghe.
Má tôi nhìn con bé.
-Có phải chị Hai cho con ăn thịt heo kho, nên con mê Chị Hai phải không? Chị Hai là của anh Hai, con không được giành.
Bữa cơm đoàn tụ gia đình đã đem đến thoải mái, vui vẻ cho mọi người. Cơm nước vừa xong, tôi đưa Cúc về phòng. Khi đã đi qua khỏi phòng khách, tôi cười rồi nói đùa với Cúc.
-Để anh cõng em lên lầu.
Hai gò má ửng hồng vì mắc cỡ, Cúc đập nhẹ lên vai của tôi.
-Đừng có giỡn, ba má thấy kỳ chết.
Tôi nói với Cúc giọng chắc nịch, đầy tin tưởng.
-Em không nghe má nói sao, Chị Hai là của anh Hai mà. Nghe theo lời dạy của má, bây giờ anh Hai phải cõng chị Hai lên lầu.
Nói xong, không đợi Cúc có đồng ý hay không, tôi nghiêng vai cúi người xuống.
Cúc cười khúc khích choàng hai tay qua cổ, thì thầm vào tai của tôi.
-Chỉ sợ em nặng quá, anh cõng không nổi.
Máu anh hùng rơm chợt nổi lên, tôi hỏi Cúc.
-Em bao nhiêu kí?
-Bốn mươi tám.
Tôi bĩu môi.
-Nhẹ hều, em có biết không, ngày xưa khi còn học ở quân trường Thủ Đức, mỗi lần đi bãi chiến thuật xa hàng chục cây số, lưng anh mang ba lô, vai vác cây súng đại liên M60, tay xách một thùng sắt đựng hai trăm viên đạn, anh coi như không có.
Sở dĩ tôi nói như vậy, vì biết Cúc hoàn toàn mù tịt về quân trang cũng như quân dụng của lính, cho nên tôi tha hồ nói hươu nói vượn mà không sợ bị lộ tẩy, thậm chí nếu lỡ có sơ suất nói với Cúc là cây súng đại liên M60 nặng bốn mươi tám kí lô, Cúc cũng sẽ tin ngay. Thực ra, cái ba lô tôi mang lép kẹp chỉ có vài cuốn vở ở bên trong, còn cây súng đại liên M60 nặng khoảng mười kí, chỉ chừng đó thôi mà tôi đã đổ mồ hôi cục, thở muốn hụt hơi khi tới được bãi học. Sức đâu mà xách thêm thùng đạn, Sinh viên sĩ quan chứ đâu phải con lạc đà mà mang vác nặng như vậy.
Lên được mươi bậc thang, tôi giả vờ như mình mệt lắm đi chậm lại miệng thở hổn hển.
-Em có nhớ, ngày xưa khi mình đi tắm biển ở Vũng Tàu không?
Cúc nói qua hơi thở.
-Em nhớ suốt đời, khổ đau mới mau quên, còn hạnh phúc thì làm sao quên được.
Tôi góp ý.
-Cũng tùy thôi, với anh bỏ lỡ cơ hội sẽ làm mình nhớ suốt đời.
Lợi dụng lúc đang cõng Cúc, tôi bấm nhẹ vào đùi của nàng.
-Hồi đó, khi thấy em từ dưới bãi biển vắng người đi lên, một mình em giữa trời đất bao la, vây quanh bởi nước xanh, mây trắng, cát vàng. Em có biết không, khi nhìn thấy thân hình của em lồ lộ, đẹp tuyệt mỹ với làn da trắng mịn màng trong bộ bikini xanh lợt, lúc ấy anh chỉ muốn ôm lấy em, nhưng…
Tôi chắt lưỡi như là tiếc rẻ.
-Hồi đó anh không dám, phải chi được như bây giờ.
Cúc hỏi.
-Như bây giờ, thì anh làm gì?
Tôi mỉm cười đắc ý.
-Ôm hôn em liền chứ còn chờ đợi gì nữa mà hỏi.
Không nghe Cúc nói gì, tôi quay đầu nhìn lại.
-Em có biết bài dân ca “Lý Ngựa Ô” không?
Cúc gật đầu.
-Biết.
Tôi hát nho nhỏ, chỉ vừa đủ cho Cúc nghe.
“Là đưa í a, anh đưa nàng. Anh cõng nàng về dinh”.
Xe chạy được hơn nửa giờ trên Quốc lộ 20, khúc đường này cong queo, ngoằn ngoèo như một con rắn, tôi quay đầu nhìn sang bên phải, cây cối thi nhau chạy giật lùi trong cánh rừng thưa đầy lau sậy với những bụi tre gai mọc chen chúc. Thỉnh thoảng xen vào giữa vùng đất hoang dọc theo quốc lộ, là mươi ngôi nhà tranh vách đất xiêu vẹo ngả nghiêng, xóm không ra xóm, làng không ra làng. Cho đến khi xe qua khỏi đèo Ông Cố một đoạn khá xa, tôi nhìn thấy cầu Đại Ninh sơn toàn một màu trắng, hiện ra sừng sững trước mắt. Cây cầu này, tôi đã đi qua, đi lại nhiều lần vào những năm Quốc lộ 20 còn an ninh, chưa bị Việt Cộng đắp mô, chận đường xe đò để thu thuế. Cầu Đại Ninh được đúc bằng bê tông cốt sắt rất kiên cố, ánh nắng ban mai của mặt trời chiếu sáng cả một vùng quanh cầu, khiến tôi có cảm tưởng như mình đang sống trong mơ.
Tôi vẫn còn nhớ như in, dưới ánh sáng dìu dịu của hàng chục ngọn đèn néon trong phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, Đại úy Thi công binh của trường, đứng nghiêm trước mặt Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng “Trình Thiếu tướng, tôi đã giật sập cầu Đại Ninh rồi”. Đang làm việc nhưng tôi vẫn lén nhìn, gương mặt của Đại úy Thi trông bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến công tác đầy khó khăn nguy hiểm. Với gương mặt đó, giọng nói đó, tôi biết Đại úy Thi nói thật, có nghĩa là ông ấy có cho nổ mìn cầu Đại Ninh. Như vậy, tại sao cho đến hôm nay, cây cầu vẫn còn đó, vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Chuyện về cây cầu Đại Ninh không bị vùi sâu dưới lòng sông Đa Nhim, chỉ có Đại úy Thi mới có câu trả lời chính xác, rõ ràng mà thôi.
Minh giảm bớt tốc độ, cho xe chạy từ từ qua cầu. Khi xe đến giữa cầu, đột nhiên Minh rà thắng, chiếc xe chạy chậm hẳn lại. Tôi nhìn về phía trước, trên mặt cầu chỗ mí nối, nơi mà hai tấm bê tông khổng lồ với bề dày hơn cả một thước tây, tiếp giáp nhau. Mặt đường ở đây bị sụp xuống tạo ra độ chênh lệch, một bên thấp, một bên cao khoảng năm, sáu tấc. Vết sụp chạy dọc theo bề ngang từ trái qua phải của cầu. Một thân cây thông khá lớn, đường kính cũng vào khoảng sáu tấc được thả xuống dọc theo vết nứt, nhờ vậy mà xe cộ vẫn có thể lưu thông được, tuy có hơi khó khăn chút đỉnh. Bất chợt một tia sáng lóe lên trong đầu, tôi hấp tấp nói với Minh:
-Anh ngừng xe lại cho tôi xuống đây.
Minh nói nhanh.
-Luật không cho phép ngừng xe ở giữa cầu.
Tôi cằn nhằn.
-Anh là một người quyền biến lanh lẹ, tại sao anh lại có thể nói một câu ngớ ngẩn như vậy. Từ tối hôm qua tới giờ, tôi đếm được ba chiếc xe chạy ngược chiều với mình, đường sá vắng tanh, không một đồn bót, không một trạm kiểm soát. Lính Việt Cộng còn đang lo ăn mừng chiến thắng, Quốc lộ 20 này, ngày hôm nay coi như là của riêng anh. Anh ngừng xe lại cho tôi xuống thì đã sao, có chết thằng Tây nào không? Hay là anh sợ lính Việt Cộng tịch thu bằng lái xe của anh.
Minh hỏi tôi.
-Tại sao cậu muốn xuống ở đây?
-Tôi cần tìm hiểu chút việc riêng.
Khi xe đã dừng hẳn lại, tôi phóng cái ào ra khỏi xe, miệng nói to với Cúc mà mục đích là muốn cho Minh nghe luôn.
-Em với anh Minh, qua khỏi cầu rồi đợi anh ở đó.
Tôi đứng trên thân cây thông, ngay mí nối giữa cầu, đưa mắt nhìn quanh. Mặt đường chỉ bị hư hại nhẹ tại một điểm. Thiệt hại nặng nhất của cây cầu, là độ chênh lệch cao thấp khoảng sáu tấc giữa hai tấm bê tông khổng lồ.
Từ giữa cầu, tôi thong thả vừa đi vừa đếm cho đến khi qua hết cầu, tất cả được một trăm hai mươi bước. Tôi biết, khoảng cách trung bình giữa hai bước chân của tôi là bảy mươi phân, như vậy một nửa cây cầu, sẽ có chiều dài khoảng tám mươi lăm mét.
Tôi bước lên xe, câu đầu tiên tôi hỏi Minh.
-Bên Nhảy Dù, anh Minh có biết gì về việc sử dụng mìn và chất nổ hay không?
Minh nổ máy xe, gài số rồi nói với tôi.
-Lính như tôi thì mù tịt về chuyên môn, tôi hoàn toàn không biết gì về chất nổ, còn về mìn claymore, thì bất cứ người lính Nhảy Dù nào cũng đều sử dụng thuần thục. Trước khi gài một trái mìn claymore, tôi chỉ cần nhớ mấy động tác sau đây: ôm cái mặt lõm của trái mìn áp vào bụng, hướng mặt lồi về phía địch, đặt trái mìn xuống đất, gắn ngòi nổ, kéo dây điện, kích hỏa bằng cách bấm vào con cóc. Tất cả sự hiểu biết của tôi về mìn claymore chỉ có vậy. Ngoài ra, tôi không biết gì hơn nữa.
Tôi cười với Minh.
-Tôi cũng như anh thôi, sau gần bảy năm làm việc ở Trường Võ Bị, bao nhiêu bài học về mìn cũng như chất nổ ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi gởi trả lại cho huấn luyện viên hết rồi. Có điều này, tôi muốn hỏi anh. Tết Mậu Thân, khi anh tung trái lựu đạn để diệt mấy tên Việt Cộng đóng chốt, anh có nhìn theo cho đến khi nó nổ hay không?
Minh cười trong cổ họng.
-Trước khi quăng lựu đạn, tôi đã liếc mắt tìm sẵn nơi an toàn. Khi trái lựu đạn rời khỏi tay, tôi núp ngay lập tức, ở đó mà coi với ngó. Tuy vậy do kinh nghiệm nơi chiến trường, tôi cũng biết được một điều, thông thường lựu đạn chạm đất rồi mới nổ, miểng lựu đạn sẽ bung mạnh lên trời theo hình chữ V, hình cái nón lá lật ngửa.
Tôi nói.
-Anh Minh nhớ giùm tôi cái điểm này.
Minh hỏi.
-Tại sao tôi phải nhớ.
-Chút nữa tôi sẽ giải thích cho anh biết.
Tôi nhắc Minh.
-Anh còn nhớ không, lúc ở Sài Gòn tôi có nói với anh là cầu Đại Ninh đã bị giật sập. Vậy mà, trong thực tế cây cầu vẫn còn nguyên vẹn như anh thấy đó. Để giải thích tại sao có chuyện như vậy, cách suy luận của tôi như thế này, anh Minh nghe thử coi có hợp lý không? Khoảng tám giờ tối của hơn một tháng về trước, Đại úy Thi công binh Trường Võ Bị, nhận được khẩu lệnh trực tiếp từ Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, đi phá cầu Đại Ninh. Đại úy Thi dùng một chiếc xe dodge chở đầy hợp chất C4, cùng với bốn người lính công binh của ông ta đi phá cầu. Mười một giờ đêm, năm người đến nơi, họ dừng xe trên cầu Đại Ninh rồi quan sát hiện trường. Dưới sông, ở độ sâu ước chừng mười lăm thước, từng làn hơi nước lạnh lẽo từ mặt sông Đa Nhim bốc lên cộng với những cơn gió rét lùa qua vách núi, lòn dưới chân cầu. Cái lạnh thấu xương của núi rừng cao nguyên vào lúc nửa đêm về sáng, khiến cho mọi người run cầm cập. Tối hôm đó, nếu tôi nhớ không lầm thì hình như là đêm rằm hay mười sáu gì đó. Cho dù là có ánh trăng, cũng không đủ soi sáng khắp dưới gầm cầu, để lính công binh thực hiện công tác đặt chất nổ. Thường thì khi muốn phá sập một cây cầu, người ta phải cột chất nổ vào chân cầu, vì đó là điểm trọng yếu của nó. Chân cầu gãy, cầu sẽ sập. Những người lính công binh của Đại úy Thi, không phải là biệt kích, làm sao họ có thể treo mình dưới những sợi dây dài hàng chục mét, đánh đu bên hông hoặc dưới gầm cầu tối đen, để cột chất nổ vào chân cầu. Nội cái chuyện đong đưa trong gió như là làm xiếc, cũng đủ cho mấy anh lính công binh mất hồn, sơ ý sẩy tay là rơi tòm xuống sông, kể như toi mạng. Chuyện mỗi anh Công binh phải ôm theo vài chục kí chất nổ để cột vào chân cầu, gài ngòi nổ, chạy dây dẫn điện, đó là chuyện làm không tưởng, ngoài khả năng của họ.
Minh chận ngang.
-Cậu Quân nói là cậu không biết gì về chất nổ, sao cậu lại có thể diễn tả một cách rành rọt như vậy.
Tôi cười.
-Tất cả từ ciné, tôi coi nhiều phim chiến tranh với những toán Biệt kích quân được huấn luyện thuần thục, công tác của họ là xâm nhập vào đất địch, dùng chất nổ phá hoại cầu cống, đường xá của đối phương. Kiến thức về phá cầu, là do tôi học được trong những phim chiến tranh.
Tôi ngưng nói, quay tìm lon nước bên chỗ Cúc ngồi, ực một hơi rồi mới nói tiếp.
-Không thể làm gì khác vì những khó khăn, trở ngại như trên, Đại úy Thi sau khi quan sát hiện trường kỹ càng ông de xe đến giữa cầu, ra lịnh cho lính của ông ta đem tất cả chất nổ từ chiếc xe dodge xuống, sắp thành đống ngay mí nối giữa cầu Đại Ninh, chỗ cây thông mà anh vừa cho xe chạy qua, gắn ngòi nổ. Khi mọi việc xong xuôi, Đại úy Thi cùng toán lính của ông ta lăn cuộn dây điện về phía bên này cầu, thuộc địa phận Đà Lạt. Khoảng cách từ khối chất nổ, cho đến nơi an toàn mà Đại úy Thi cùng lính của ông ta ẩn nấp, ít ra cũng phải hơn tám mươi lăm mét. Để cho chắc ăn, tôi đoán nơi họ ẩn núp phải cách xa nơi đặt chất nổ, tối thiểu là trên một trăm mét. Cuối cùng Đại úy Thi chính tay bấm nút để kích hỏa, nhiều tia chớp xé toạc màn đêm tiếp theo là tiếng nổ tưởng chừng như rung chuyển cả đất trời, một cột lửa khổng lồ cao vài chục mét bùng lên soi sáng cả một vùng. Cầu Đại Ninh hoàn toàn chìm trong biển lửa, có nghĩa là cầu đã bị chôn vùi dưới sông Đa Nhim. Đại úy Thi cùng toán lính của ông ta leo lên chiếc xe dodge đã quay đầu sẵn, chạy về Đà Lạt. Đại úy Thi tin chắc rằng công tác hoàn tất tốt đẹp, mà không kiểm soát lại hiện trường, cho nên ông ta mới báo cáo với Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng là cây cầu đã sập rồi. Có một điều khá quan trọng mà Đại úy Thi quên nghĩ đến là, khối chất nổ mà ông ấy đặt trên mặt cầu, khi nổ sẽ tỏa ra như hình cái nón lá lật ngửa. Tất cả sức công phá của nó bung mạnh lên trời cao, giống như trái lựu đạn mà anh Minh cho nổ, khi diệt mấy tên Việt Cộng đóng chốt. Đỉnh cái nón lá chỉ là một điểm nhỏ nằm trên mặt đường của cây cầu, nơi đó, sức phá hủy của chất nổ gần như là con số không. Cho dù Đại úy Thi có đặt thêm hàng tấn chất nổ vào đó, cũng không làm cho cây cầu sập được.
Tôi nhìn Minh rồi kết luận.
-Tôi đã tự đặt mình vào vị trí của Đại úy Thi, và tôi biết bất cứ ai ở vào hoàn cảnh đó, cũng sẽ hành sử giống như ông ấy mà thôi. Anh Minh nghĩ coi tôi suy luận như vậy có đúng không?
Minh nhìn tôi rồi gật đầu.
-Có thể là đúng, dấu vết sụp ở giữa cầu chứng tỏ là Đại úy Thi có cho nổ mìn tại đó.
Cúc đang chăm chú lắng nghe tôi nói chuyện với Minh, bỗng nàng đột ngột hỏi tôi.
-Anh à, tại sao anh quan tâm nhiều đến chuyện cây cầu như vậy, em chỉ muốn mau mau về Đà Lạt để gặp ba má.
Minh hỏi Cúc với giọng đầy ngạc nhiên.
-Ủa, bộ ba má cô còn kẹt ở Đà Lạt sao? Chuyện này mệt cầm canh à nghen, Việt Cộng mà bắt được ba cô, khác nào họ trúng số độc đắc. Tài xế xe tải như tôi mà cũng biết rằng, cứ nhắm mắt mà khảo ba của cô, thế nào cũng lòi ra của, lòi ra đô la.
Cúc cười thích thú.
-Anh nói đúng, nhưng ba tôi kẹt ở bên Mỹ rồi, ở Đà Lạt là ba má chồng của tôi. Gần hai tháng rồi, tôi chưa được gặp ông bà, cho nên tôi mới nóng lòng như vậy.
Nghe Cúc nói, tôi vội hỏi Minh.
-Anh Minh à, mấy giờ mình tới Đà Lạt?
Liếc mắt nhìn đồng hồ đeo tay, Minh nói.
-Chậm lắm là mười giờ.
Khi xe chạy ngang qua khu phố Hòa Bình, tôi nhìn quanh, người đâu không thấy, chỉ thấy cờ đỏ sao vàng treo khắp phố phường. Nếu đem so sánh cờ của nước Việt Nam Cộng Sản với cờ của Trung Cộng, nó giống nhau đến chín mươi phần trăm. Cái khác biệt duy nhất là trên lá cờ của Tàu Cộng ngoài một cái ngôi sao vàng ở giữa, họ thêm vào lá cờ bốn cái ngôi sao vàng nhỏ, Mãn, Tạng, Hồi, Mông. Chừng đó chi tiết cho tôi thấy, Việt Nam Cộng Sản đã thần phục Thiên Triều, đã tự đặt nước Việt Nam vào vị trí là chư hầu của Tàu Cộng, tất cả được thể hiện qua lá cờ đỏ sao vàng, một lá cờ nô lệ lai căn như vậy không thể nào được coi là cờ của người Việt Nam. Cả Thành phố Đà Lạt nhuộm bởi một màu đỏ rực, xen lẫn vào đó lác đác dăm ba lá cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Đà Lạt vốn là thành phố du lịch của Việt Nam, có nhịp sống trầm lặng yên tĩnh, với nét đẹp của hoa Đào và sương mù, đến hôm nay sau hơn một tháng giải phóng, trông nó cứ như là một góc phố nào đó của Tàu Cộng, một góc phố chết trong nô lệ, chết trong rừng cờ đỏ, sao vàng.
Theo sự hướng dẫn của tôi, Minh ngừng xe trước nhà ba tôi. Nhìn căn nhà, Minh rối rít khen:
-Nhà đẹp quá mạng, của cậu hả?
Tôi cười với Minh.
-Anh nghĩ sao mà hỏi như vậy, tôi chỉ có cái mạng cùi, đây là nhà của ba tôi.
Tôi bắt tay Minh với chút ngập ngừng, không hiểu sao, tôi lại lừng khừng nửa muốn xuống xe, nửa muốn nấn ná thêm chút nữa. Có phải vì chút tình giữa hai người lính Việt Nam Cộng Hòa hay không? Hay là tôi thích tính tình bộc trực, thẳng như ruột ngựa của Minh, của người Miền Nam. Chắc là cả hai.
Ở Montréal tuần này, mưa suốt. Nhiệt độ xuống, gió gai lạnh. Cây không biết tên gọi luôn bị mưa gió bức rời những chiếc lá xanh, nhỏ nhít, rơi rụng đầy đường. Ẩm thấp.
Nước dùng hàng ngày bị ô nhiễm, báo đài loan tin cư dân thành phố nên chịu khó mua nước suối đóng chai về xài tạm, “chúng tôi sớm có biện pháp khắc phục, chậm lắm là hai mươi bốn giờ”. Đánh răng, vệ sinh miệng lưỡi cũng vậy, hãy đun sôi, hãy nấu kỹ, cẩn thận kẻo bị tiêu chảy. Có khác không, nếu bảo, trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần? Quán cà phê nguội lạnh, mở mà cũng tựa như đóng. Tạm thời chúng tôi chưa bán được cà phê, lý do máy pha cà phê thì cũng nóng tới một giới hạn nào đó thôi, chẳng đủ sức tiêu diệt vi khuẩn. Mưa ngoài trời, ngồi trong quán cà phê mà cầm trên tay một chai nước cam thì ngó não nề mới gớm. Cung đàn lạc điệu. Buồn miệng không cách gì tả xiết! Cách đây e đã mười năm, luật lệ nhà nước ban hành, tuyệt đối cấm hút thuốc trong quán, cứ ngỡ là đã bị khóa mõm rồi, một và chỉ một mà thôi; có ngờ đâu hôm nay “đụng hàng”: Vào nơi bán cà phê mà kẻ phục vụ dứt khoát xua tay, tuyệt tình lắc đầu nguầy nguậy. No, sir. Sorry sir! Have a nice day!
Một ngày không có cà phê để uống, ngày ấy có đáng để chúc lành? Hừ, đó là một công án. Do quen thói (hay thói quen), luật bất thành văn (hay ngại dùng điện thoại mang tiếng rủ rê) bạn cũng “đến hẹn nại nên” đúng phương án đúng lộ trình đúng giờ giấc đúng địa điểm. Bạn che dù xuất hiện trước thềm rỏ nước từng hàng, “dù cho mưa hay bão tố có kéo qua đây” thì tớ cũng đến ngồi nói chuyện thiên địa một hồi mới về an giấc điệp được. Một người mà luôn canh cánh về nỗi an nguy của giấc ngủ nên bạn không chưng hửng về tin tức sự cố ùn tắt cà phê cà phiết. Có cũng vậy mà chả có cũng rứa cả. Who cares? Trước đây nghe tin sắp tới ngày tận thế mà bạn còn chu môi son đỏ huýt gió bài “La Vie en Rose” nữa là! Có chết thằng Tây nào đâu?
Bạn có nhiều điểm đáng yêu đồng thời có nhiều điều đáng ghét. Bạn là người luôn lạc quan đồng thời cũng lắm bi quan. Hay lạc quan mà bạn có là thứ “vui là vui gượng đó mà”? Một trong những thứ dễ bị “đăng báo từ bạn” là kiểu phát ngôn không sợ mích lòng đối tượng. Tớ có đọc những gì ông vừa gửi đăng trên các báo mạng. Sự nhạy cảm trước vấn đề, cách ông biểu lộ sẽ có khi làm hại ông. Chẳng hạn? Mình hỏi sau khi nhăn mặt tợp xong một hớp nước cam. Tớ định kéo ông đi Việt Nam một chuyến nhưng điệu này thì không ổn rồi. Vì sao? Vì thú thật là tớ rất ngại làm nhân chứng. Chuyện gì? Chúng nó sẽ đón ông ở phi cảng, hai ba tên sẽ ập vào còng tay ông dẫn đi. Ba mươi năm trước ông là đứa phản bội tổ quốc, ba mươi năm sau tội danh mới của ông là thằng Việt kiều phản động. Vậy sao? Dễ hiểu quá mà, ông thóa mạ chúng đến mức “đèn đỏ”. Nước đang nhiễm trùng, thị trưởng thành phố cũng chỉ báo động cho dân tình ngang lằn vạch màu cam.
Dẫu không hợp khẩu vị, chai nước cam vắt chua loét cũng sắp cáo chung tới giọt cuối bởi miệng mình đắng khô. Đàn áp dân thô bạo và lộ liễu quá, bạn không thấy khó chịu sao? Dụi điếu thuốc vào mặt một người đàn bà đáng tuổi mẹ chúng, bạn chẳng nhìn ra thú tính chúng mang? Thì tớ đã nói rồi, ông hơi bị nhạy cảm. Hãy nhìn quanh ông đi, hải ngoại này có vô số người làm thơ viết văn, sao đa phần thảy đều câm như thóc? Một, họ bất lực trước niềm đau. Hai, họ vô can trước những “chuyện thường ngày ở huyện”. Ba, họ khôn ngoan thu mình vỏ ốc để chừa một lối về an toàn, có đúng không? Sôi nổi cũng chả cải thiện được vấn đề ông ạ! Không cải thiện nhưng ít ra nó cũng tạo sóng, bạn thấy hình cô Nguyễn Phương Uyên lên trang bìa báo Time số tháng 6 chưa? Tháng sáu trời mưa trời mưa không dứt, mưa ơi xin nín khóc giùm tôi. (Tòa tuyên án 6 năm vì tội đạo văn!)
Biết nước dơ bẩn, người ta tránh uống, chuyện đã đành. Biết mưa rơi, người ta che dù để tìm gặp nhau, chuyện dễ hiểu. Nhưng tịnh khẩu như bình trước niềm đau đồng loại thì e người ta có hơi bất nhẫn chăng? Người ta văng bút, người ta đổ hắt bình mực, người ta đóng máy vi tính, người ta nhìn đời hiu quạnh, người ta tập thiền? Cả một đống dấu hỏi nghĩ không ra. Bạn ạ, hãy xem như đây là ý nghĩ của mình, rằng chúng ta may mắn được hít thở không khí trong lành của tự do, chúng ta có quyền nói và chúng ta hãy tận dụng sự ưu đãi nọ. Bên kia biển rộng, lãnh thổ luôn bị bưng bít ấy, người người đều bị khốn đốn, chúng ta nói thay họ đôi điều, chuyện ấy nên hay không?
Hai đứa ngồi nói tiếng mẹ đẻ giữa rừng ngôn ngữ lạ, có khi to tiếng với nhau vì những bất đồng nhưng thực khách tôn trọng, thảy làm ngơ. Họ tên bạn mình có lót chữ Thị. Thường thì đàn bà họ có những ý tưởng gần như một toan tính “dĩ hòa vi quý”. Trong tình yêu, bạn từng chịu một lần đổ vỡ. Gia đình bạn, bố mẹ còn ở bên nhà. Họ luôn đón đợi tin vui từ phía bạn, gần là một thúc dục, đại để như bao giờ thì bố mẹ có cháu để ẳm bế? Là đàn bà, bạn tự hiểu tới một giới hạn an toàn nào đó, người ta quyết định sinh nở nếu chẳng muốn từ khước điều nhiệm mầu mà thượng đế trao quyền làm mẹ cho họ. Rồi mai này bạn đi về thăm nhà, ở đấy người cật ruột đã giở hạ sách cố tìm ra cho bạn một thằng đàn ông ngó tử tế, con nhà lành sạch nước cản, nếu bạn không ưa “ở vậy cho khỏe thân”. Điều chẳng hiểu là cớ sao trong chuyến đi “mưu cầu hạnh phúc” kia, bạn cố lôi kéo mình theo cùng, để rồi âu lo cho vận mệnh mình chẳng được tới bến bờ suông sẻ? Mình dấu kín ý nghĩ: Đi Việt Nam thì có khác gì bạn đang nhắm mắt uống đầy một cốc nước St-Laurent đang bị warning nhiễm độc. “Con sông nào đã xa nguồn, là con sông ấy sẽ buồn với tôi”. Bạn cũng từng yêu thơ Hoài Khanh.
Bạn ra về, dù bung giữa bóng tối vây hãm. Mưa ngoài trời và người mình đang bị dột, nghe ngói. Trong lúc này đây, bạn ạ, có thiết thực không nếu bạn thích đọc những xúc cảm của mình về vẻ đẹp một cành hoa, về tiếng chim kêu bất chợt đầu ngày, về những hoang tưởng dối lòng có trong cuộc sống bình an, chẳng sóng gió. Những thứ mà đứa ác khẩu sẽ dùng từ để chỉ mặt: Cơm no bò cỡi. Lá lành mà chẳng đùm lá rách.
Ngồi một mình trong quán, sau khi đã buồn miệng, sau khi chạnh lòng, giờ thì buồn tay. Mình ghi vội xuống tờ giấy dùng để chùi miệng lau tay những suy diễn quàng xiên trước khi nó bị o ép chỉnh hình bằng những mẫu tự có trên laptop khi về tới nhà. Mình không lãng mạn, có thể dùng chữ gàn dở nếu bạn biết là định cư ở chốn này lâu ngần ấy năm mình chưa bao giờ nắm trên tay một cây dù. Rẻ thì mười đồng tính luôn thuế, xịn thì chi trả bảy tám chục bạc. Vấn đề là mua nó làm gì cho vướng víu tay cầm, để đầu óc phải quan ngại chuyện nhớ quên tới nó, chưa kể gió có thể thổi ngược, lật lọng, tựa bạn đội một cái thúng ở trên đầu; một chữ U dị kỳ với răng nhọn lởm chởm.
Vuông giấy ghi xuống những điều “cực chẳng đã” nằm trong túi bị cảm lạnh, nó bèo nhèo hứng đỡ những hàng chữ co quắp đang muốn rữa ra. Nó tựa một lá thư tình từng mang ra đọc lắm lần, và trình tự thì giống nhau, lần nào cũng thổn thức rơi lệ. Ừ, thì cứ đổ thừa do mưa, tại mưa là nguyên cớ. “Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách”, mà khách lại đầu trần đi dầm lượng vô dung. Và mưa, khi từ không cùng gửi rơi xuống đất, bao giờ cũng vỡ theo, kim chích thịt da những sợi phiền muộn, câm nín, lạnh lòng, buốt tê.
Hồ Đình Nghiêm 16 tháng 5 năm 2013, ngày khát nước.
Bắt chước nhà văn Song Thao, tôi dùng vỏn vẹn chỉ một chữ, làm tựa đề cho cuộc trao đồi này. Nhà văn Song Thao cư ngụ cùng thành phố với tôi, mặc dầu chẳng “cách hai đoạn đường dài”, mặc dù không “cách nhau một dậu mồng tơi”… nhưng gạt bỏ vấn đề địa hình nhiêu khê nọ, chúng tôi luôn gần kề trong gang tấc, bởi giản dị, chúng tôi cùng táy máy “vọc chữ” dưới ngôi nhà chung: Văn chương. Lần chuyện trò này, hình thành do hai điều: Thứ nhất, những người bạn phương xa của tôi vẫn thường dọ hỏi: Song Thao là ai? Thứ hai, cách đây mấy hôm, nhà văn chung “phường khóm” với tôi đã vừa in xong cuốn Phiếm số 9. Để câu chuyện đi gần với tinh thần “vui thôi mà” của cố thi sĩ Bùi Giáng, tôi tránh hỏi tới những vấn đề nặng nề, nghiêm trọng của tình hình đất nước. Hy vọng những người từng tủm tỉm cười khi đọc Phiếm, sẽ hay biết đôi điều về tác giả, vốn kín tiếng nhưng rất sung (hiểu ở nghĩa viết mạnh).
Hồ Đình Nghiêm
Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Thưa anh Song Thao, do đâu, nguyên cớ nào anh vẫn thủy chung khi đặt tựa đề. Cô độc chỉ một chữ, không hai, chẳng ba… Nó trần trụi, nó đứng lẻ loi, nó lẻ bạn, nó mình ên. Tuồng như nó… lạnh?
Song Thao (ST): Nhà văn có khác, cảm được cái lạnh của chữ. Chữ có lạnh thật không, cũng dám lắm. Nhưng những cái tựa đứng vững chãi một mình của Phiếm là thứ nhà nòi. Hiên ngang chứ không cô đơn, lẻ bạn hay mình ên. Khi đặt cái tựa một chữ cho Phiếm, tôi thấy như mình cho chữ nghĩa một sức mạnh, như một cơn gió quất, một ngọn sóng thần. Nói nghe ghê gớm vậy chứ việc đặt những cái tựa…vạm vỡ như vậy là một sự tình cờ. Khởi đầu, tựa của Phiếm cũng khi ba chữ, khi hai chữ, khi một chữ. Sau thấy những cái tựa một chữ nghe có vẻ dứt khoát, hiên ngang hơn nên quen tay cứ một chữ mà chơi. Riết rồi bạn bè, độc giả khi gặp hỏi một cách thích thú: vẫn một chữ chứ? Thấy việc đặt những cái tít một chữ vô hình trung thành một dấu ấn của những bài Phiếm. Vậy là chơi luôn! Ngờ đâu lại có người thấy nó lạnh! Chắc người lạnh mới cảm thấy chữ lạnh chăng?
HĐN: Hầu như mỗi tuần, anh đều “đẻ” ra một câu chuyện phiếm. Anh có bí quyết nào về “sự cố” mắn đẻ kiểu ấy? Và chắc là anh sẽ quyết không nghỉ hưu. Ý tôi muốn hỏi theo “tinh thần phiếm”: Anh chẳng kế hoạch hóa, chẳng đi cột?
ST: Anh đừng xúi dại tôi chứ. Cột làm chi! Con cái ngày nay nhiều đứa rất có hiếu, cũng biết an ủi, mang niềm vui lại cho bố mẹ. Mấy đứa con Phiếm của tôi lại được nhiều người thương, chắc chúng cũng có chút duyên nào đó. Đẻ con ra mà được khen, nở lỗ mũi là cái chắc. Nở lâu nên mũi quen hơi, xẹp xuống không được nữa. Thực ra cái tội mắn của tôi là lỗi của mấy ông Chủ bút hay Tổng thư ký của các báo. Họ là những người mẫn cán nên làm công việc thúc vào bàn tọa các người viết một cách chăm chỉ. Thế là cứ sòn sòn tuần một. Một năm có 52 tuần, hai năm có 104 tuần, ba năm có 156 tuần… Thế mà tôi đùa với Phiếm đã được bảy năm có lẻ rồi. Biết bao nhiêu là sinh linh đã ra đời. Để chúng lê la la liệt cũng tội nên xây nhà cho chúng ở. Năm một căn, năm hai căn, giờ đã tới căn thứ 9 rồi. Biết đến bao giờ thì hưu? Người ta thường bảo vạch đầu gối ra cắt vẫn còn thấy máu thì vẫn còn có đường ngon lành!
HĐN:Một tuần có bảy (hay tám) ngày? Một tuần với linh tinh đủ công chuyện phải thanh thỏa, mất bao lâu thời gian (giờ thứ 25) để anh “trả nợ” cái gọi là Phiếm?
ST: Hình như sống với Phiếm đã thành quán tính của tôi. Từ hồi nào không biết. Ăn ở với người tình có ai đếm thời gian. Nó miên man bất tận đến không cảm thấy thời gian nữa. Anh bắt tôi đếm, làm khó nhau vừa thôi chứ!
HĐN:Tôi dùng chữ trả nợ, anh có cho là quá đáng? Viết văn, xem như thú tiêu khiển của anh, hay do một thôi thúc nào khác?
ST: Viết, dù viết gì chăng nữa, bao giờ cũng là thú tiêu khiển. Chắc anh cũng viết văn nên cũng cảm thấy như tôi, mỗi lần đặt cái chấm hết dưới một bài viết, thú vô cùng. Như gửi được chút tâm tình của mình ra cho người đồng điệu. Tâm hồn gặp tâm hồn, khoái cách chi đâu! Mà tâm hồn là thứ động đậy hàng giờ hàng phút, nó quậy vô cùng, cách chi mà giữ được nó trong lòng mình. Chữ “trả nợ” xem chừng có vẻ đời thường quá. Tôi dùng hình ảnh một người có tính thích chia sẻ, gọi là khoe…của cũng được, khi khoe được thì khoái xiết bao. Đó có phải là sự thôi thúc không?
HĐN:Dạo này tôi ít được đọc truyện ngắn của anh. Giữa hai món, truyện ngắn và phiếm, cái nào dễ ăn hơn? Mặc dầu cả hai đều phải “cõng” trên lưng chữ một thông điệp nào đó.
ST: Viết là một cách thế biểu tỏ. Viết cái chi cũng vậy. Nếu không đặt tất cả tấm lòng mình vào thì mình chỉ là một thứ…thợ. Chán chết! Vậy thì viết truyện hay viết phiếm đều cần có tấm lòng với chữ nghĩa. Viết truyện là trải lòng mình ra, viết phiếm là bày tỏ cõi lòng với người đọc. Viết phiếm như vậy có vẻ…cộng đồng hơn. Hai bên, người viết và người đọc, dễ thông cảm với nhau hơn. Từ khi mặn nồng với phiếm, tôi nhận được nhiều phản hồi của người đọc hơn, bằng gặp gỡ, thư từ, e-mail hay điện thoại. Có lẽ nhận được tiếng vỗ tay mau chóng và ồn ào hơn nên tôi cặm cụi với phiếm. Kể cũng bậy thật. Nhưng biết làm sao hơn khi cái tay viết truyện bỗng rời rã, gần như buông xuôi, không còn chi để chia sẻ thì biết tỏ bầy cái chi! Không biết sự tình đó có thể gọi là ngay thẳng với mình không!
HĐN:Có lần, nhà văn Võ Kỳ Điền nói, gần như than: “Bây giờ tôi ráp hai múi dây lại cũng chẳng xẹt ra được chút lửa, sao trong người anh Song Thao chứa đựng được một bình điện bất tận đến dường ấy!” Sẵn đây, anh có thể chia sẻ, bộc lộ ít nhiều nhằm “xoa dịu nỗi đau” của anh Võ Kỳ Điền?
ST: Có hai điều tôi nghĩ tới khi được anh hỏi câu này. Thứ nhất: hầu như là một…chân lý, cái chi xài hoài thì tốt hoài, như một thói quen vậy. Tôi không hiểu anh nhà văn họ Võ có dấu kín bình điện ở xó xỉnh nào nên nó bị sét không xẹt nữa chăng? Thứ hai: có thể anh Võ Kỳ Điền không nói ra nhưng, có nơi có lúc, anh xài bình quá lố đến bây giờ bình teng beng ra hết xài! Về tôi, xin đảo ngược lại.
HĐN:Nhà thơ Luân Hoán cũng thuộc loại thường dân may mắn được nằm kề nhà máy điện, điều đó chúng ta đều biết. Nhà văn Song Thao có làm thơ? Đại loại kiểu như ông Bảo Sinh ở Hà Nội: “Mặt buồn vợ hỏi giận ai? Vui tươi vợ bảo có bồ rồi sao!”/ “Muốn cho trộm chẳng đến nhà, đề vào trước cửa: đây là nhà thơ”/ “Vợ là cơm nguội nhà ta, lại là phở tái thằng cha láng giềng”… Rất phiếm.
ST: Thơ là một thứ kiệm chữ. Viết ít hiểu nhiều. Viết ít thì báo bổ không ưa. Vậy thì tội chi mà thơ với thẩn cho mất thời giờ. Nói cho vui vậy thôi, thơ là tinh lọc chữ nghĩa, tôi không dám lân la tới. Tôi có một điều dại là chơi với ông Luân Hoán. Ông này thì ngồi đâu cũng ra thơ. Đi đâu ông ấy cũng kè kè ba thứ trong người: cây viết, tờ giấy và cái máy hình. Vậy là ra thơ. Thơ ông post hàng ngày trên website của ông ấy luôn luôn có kèm theo hình. Và có cả…thời tiết nữa! Có lẽ vì thơ ông ấy cũng nắng mưa như đất trời. Có thể nói mưa ra sao thơ ông Luân Hoán cũng ra như vậy. Chơi với một con người đẫm thơ như vậy, thỉnh thoảng tôi cũng được ông ấy rủ làm thơ. Thường thì tôi lơ đi, nhưng có khi, chắc đúng khi nàng thơ đang hái hoa bên nhà tôi, tôi cũng lăng nhăng dăm ba câu. Cũng khoái lắm, nhưng khi bình tĩnh đọc lại, thấy thơ của mình chuyển thành vè. Vậy là chừa cái tính cả nghe bạn xúi.
HĐN:Ở bài “Chữ”, anh viết: “Ngẫm ra thì đúng là một trò chơi. Ngẫm vào thì trò chơi này quả là mệt… Chắc vì vậy nên chẳng có mấy nhà văn nhà thơ có được một bộ vó đầy đặn!” Tôi hồ nghi về điều này. Anh có thể cho độc giả biết về bộ vó của anh?
ST: Bộ vó của tôi thì anh lạ chi. Gồm đầu mình và chân tay. Được cái cũng cân cái. Đi đứng cũng vững vàng. Chưa chống gậy dù vẫn có gậy gộc còn có thể chống được. Tôi mới đọc một bài viết của nhà báo Nguyễn Khắc Mẫn ở trong nước viết về nhà văn Sơn Nam. Khi Sơn Nam phải vào bệnh viện vì một tai nạn lưu thông, thấy bộ vó của ông nhà văn, một người bạn hỏi ông cân nặng được bao nhiêu ký. Sơn Nam nói khoảng ngoài bốn chục chi đó. Một người đi nuôi bệnh nhân nằm bên cạnh nghe thấy vậy, ngứa miệng chọc vô: “Bác làm gì được bốn chục cân. Chỉ 37 cân là cùng!”. Nhà văn của chúng ta cười hóm hỉnh: “Ừ thì tự trấn an mình một chút có sao đâu. Hồi nào tới giờ có cân đâu mà biết!”. Tôi mặn câu chót của Sơn Nam.
HĐN:Vậy là anh đã trình làng tới cuốn Phiếm số 9. Điều ấy chứng tỏ có đông độc giả. Sách anh tiêu thụ có nhanh không? Và hiện tại, anh có nhận định nào về tình trạng gần như ngắc ngoải của dòng văn học hải ngoại?
ST: Có thể nói những cuốn Phiếm thuộc loại dễ tiêu thụ. Các nhà sách đều ưu ái đón nhận, độc giả mua sách thẳng nơi tôi bằng Bưu Điện cũng khá. Nhưng có một điều phải nhận là so với cuốn Phiếm1 do nhà Văn Mới xuất bản vào năm 2005 bán hết ngay và nhà Nhân Ảnh đã tái bản hai lần đều bán hết thì tới cuốn Phiếm 9 tình trạng rất “nửa đường đi xuống”! Rất ầu ơ ví dầu! Sự đi xuống này như xuống một con dốc thoai thoải, càng ngày càng xuống sâu hơn. Tôi mới viết một bài về sách trong đó tôi nghĩ là sự đi xuống này có hai nguyên nhân: lớp độc giả càng ngày càng già, lớp về với ông bà, lớp mắt kém, thận suy không đọc được sách nữa. Nguyên nhân thứ hai là vì cái có thể gọi là cuộc cách mạng về kỹ thuật. E-book đang dần dần thay thế sách in. Hậu quả là không chỉ có sách báo tiếng Việt tại hải ngoại bị ảnh hưởng mà sách báo tiếng Anh tiếng Pháp chi cũng lãnh đủ. Cứ xem sự thu hẹp hay chết ngắc của các tờ báo và tạp chí cổ thụ có hàng mấy trăm năm tuổi thì biết. Sách tiếng Việt bị chơi cú đúp như vậy, đìu hiu là lẽ dĩ nhiên. Các tạp chí văn học của chúng ta như Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21 đều đã mồ yên mả đẹp. Sách xuất bản chẳng còn bao mà tiêu thụ cũng vào loại ngắc ngoải. Bước đi của kỹ thuật nó như vậy, lấy chi mà cản được nó. Chỉ biết ngậm ngùi. Mà ngậm ngùi, theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, “thường rất yếu ớt và hoàn toàn bất lực”.
HĐN: Internet có nhiều lợi điểm, đằng khác, tôi ngờ là chính nó đã góp phần tước đoạt số đông, những người ưa đọc văn bản được in ấn thành sách. Anh có đồng quan điểm ấy không? Những nhà sách lần hồi thưa thớt khách lai vãng là một bằng chứng.
ST: Internet là thủ phạm của sự đìu hiu của sách vở. Điều đó là cái chắc, còn ngờ chi nữa. Cứ ngẫm lại mà coi.Phần lớn chúng ta vẫn cảm thấy thích thú hơn khi đọc những trang sách in cầm trong tay. Cầm một cuốn sách mới, ngắm nghía bằng mắt, sờ bằng tay, ngửi mùi giấy bằng mũi, chỉ thiếu chuyện…ăn sách, thấy thú vị hơn nhiều là đọc trên internet hay trên cái máy e-Reader vô hồn nhiều chứ. Nhưng sự thể đã tới chỗ đó thì chúng ta phải theo thôi. Có than van cũng chỉ là để vơi đi nỗi sầu muộn trong lòng. Tôi mới đọc được bài “Chuyện Sách” của nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, trên internet. Ông cho biết ông đã mua một cái Kindle, một cái máy chuyên đọc sách điện tử. Lúc đầu đọc cũng hơi khó chịu, riết thành quen, thấy đọc sách điện tử trên màn ảnh cũng không khác chi đọc trên sách in. Ngay cả thơ là thứ cần đọc một cách cẩn trọng hơn, ông Quốc cũng đọc trên màn hình của máy và “cũng thấy được chữ trôi và thở, cũng nghe được hơi ấm từ chúng, y như trên trang giấy”. Nhà phê bình họ Nguyễn làm tôi đau nhói: đến một người thường xuyên chơi với chữ nghĩa mà cũng không thấy cái lạnh tanh của máy, thật hết ý! Ông Nguyễn Hưng Quốc còn trẻ, tôi…nhiều tuổi hơn, chưa cảm được như ông Quốc, còn nhà văn “trẻ” Hồ Đình Nghiêm thì sao?
HĐN:Một anh bạn vừa từ Huế sang đây thăm con có kể câu chuyện khá thú vị, tôi xin được tóm tắt: “Xóm anh ở có người đàn bà mang phải chứng bệnh nan y, sang bệnh viện trung ương, thảy các bác sĩ đều lắc đầu, ước đoán kéo dài tuổi thọ chừng hai tháng là cùng. Gặp khuôn mặt “buồn nhiều hơn vui” của bà ấy, anh đề nghị, đằng nào chị cũng thác, còn nước còn tát, cứ thử nấu nước sả uống xem.- Được, tôi sẽ nghe lời anh, nhưng phương thuốc ấy đáng tin không? Nó xuất phát từ nguồn thông tin nào? Ậy, từ Canada mà chị, tôi đọc sách Phiếm của ông Song Thao đàng hoàng. Kết quả, gần cả năm trời rồi mà người đàn bà ở trong xóm vẫn kiên cường hổng chịu đi gặp Các-mác mí lị Lê-nin!”. Qua câu chuyện trên, tôi nhặt ra được hai điều: Thứ nhất, cuốn Phiếm nào đó của anh đã đi xa, về tới Việt-nam và thuyết phục được người đọc, dẫu ngộ nhận. Thứ hai, đôi lúc chữ nghĩa cũng có thể cứu được, ít nhất một người. Anh có điều gì tâm sự, để nói thêm về trường hợp ngoại lệ vừa kể? Cho tôi đùa chút nhé: Giả như người đàn bà ấy mất trước hạn kỳ hai tháng, vô tình anh trở thành một ông… lang băm!
ST: Phiếm không phải là “cẩm nang y học”. Nếu nó chữa được bệnh thì đó là…ý trời. Ngoài sự mong chờ của tác giả. Một trong những kết quả của y khoa là lòng tin vào thuốc. Người ta đã thí nghiệm nhiều bằng giả dược. Trường hợp cứu nhân độ thế ngoài ý muốn này của Phiếm mang lại cho tôi được hai niềm vui. Thứ nhất: những đứa con của tôi có đứa đã bay về được tới quê hương. Tôi nhớ là chưa bao giờ cho chúng tiền máy bay về Việt Nam cả! Thứ hai: Phiếm đã được lòng tin của độc giả. Cái thứ có người cho là ba láp vớ vẩn mà được như vậy quả là… trên cả tuyệt vời!
HĐN:Một người bạn tôi (phái nữ) ở bên Mỹ có viết trong email: “Bây giờ khi chọn bạn tình, quý vị nữ lưu phương Tây đều đặt nặng vấn đề tới đầu óc khôi hài. Anh nào đẹp trai con nhà giàu học giỏi mà thiếu yếu tố biết chọc cười đối tượng, mấy nường đều xem như “nơ-pa”. Đọc văn anh Song Thao, đoán anh ấy chắc là người luôn dzui dzẻ? Tiếp cận được một người như vậy, hẳn mình sẽ yêu cái đời sống vốn nhạt nhẽo này…” Tôi tin lời cô bạn ấy nói. Tôi cũng luôn tin là đời sống anh cùng gia đình luôn an vui, hoan lạc tiếng cười. Có khi nào nhà văn Song Thao gặp “sự cố” hơi bị buồn não nề không?
ST: Sống mà không buồn thì đâu có ra người! Tôi không lạc quan tếu nhưng tôi tin đời, yêu người. Cuộc sống có là chi mà phải rầu rĩ vì nó. Cứ coi tai nạn sóng thần và động đất vừa xảy ra ở Nhật Bổn thì biết. Cha mẹ, vợ con, dòng họ, nhà cửa, du thuyền, xe hơi, máy móc tưởng là những thứ ta có thể tin cậy bám víu để tạo nên một cuộc sống tiện nghi và an bình. Ngay cả cuộc sống quý giá của chục ngàn con người mà chắc chắn trong đó có nhiều trẻ em và người trẻ, những người không chờ một kết thúc vội vã và bất thần. Vậy mà chỉ trong chớp mắt, có đó, mất đó. Thế giới bàng hoàng với những mất mát lớn lao nhưng họ bàng hoàng hơn với tư cách của tất cả nạn nhân người Nhật. Họ vẫn giữ nhân cách, quan tâm và chú ý tới người bên cạnh, không chen lấn hỗn độn khi xếp hàng nhận những dịch vụ cứu trợ, vẫn bình tĩnh nhường cho trẻ em, phụ nữ và người già quyền ưu tiên, và không có một vụ cướp giật, phạm pháp nào, điều đã xảy ra ngay tại Mỹ trước đây khi trận bão Katrina tàn phá Florida vào năm 2005. Cái chất NGƯỜI đó (tôi phải viết hoa chữ NGƯỜI) mới đáng trân trọng.
HĐN:Một tuần có sáu ngày, hay bảy? Tôi biết anh rất lu bu, quấy rầy anh như vậy cũng tạm đủ. Xin thay mặt những người đọc Phiếm thầm lặng ở phương xa, cám ơn nhà văn Song Thao đã vui lòng chia sẻ, đã làm ổn những câu hỏi cắc cớ này. Mong được hầu chuyện cùng anh sau khi anh lại in xong một tác phẩm khác. Trong khi chờ đợi, thân chúc anh luôn được sức khoẻ và… sung như đã từng. Anh có cả thảy bao nhiêu đứa con?
ST: Tới nay tôi có tất cả 17 đứa con bằng giấy. Không biết có nên kể thêm 4 đứa bằng xương bằng thịt không? Bốn đứa con này đang làm tính nhân, nhân thêm cho tôi một số cháu. Còn 17 đứa con bằng giấy đã mang đến cho tôi vô số bạn mới và rất nhiều những tâm hồn đồng điệu. Tôi cho đó là những lời lãi đích thực. Tôi trân quý những cái được này của tôi.
Cám ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm đã cho tôi cơ hội xả xú bắp rất quý hóa. Cám ơn bạn đọc đã bỏ thời giờ theo dõi cuộc nói chuyện giữa anh em chúng tôi.
Không biết là mình đã ngủ được bao lâu, đang lơ mơ trong cõi hồng trần, tôi giật mình choàng tỉnh vì thân hình của mình bị nhấc lên khỏi mặt ghế rồi quăng mạnh xuống. Chưa kịp tìm hiểu nguyên nhân, tôi đã nghe Cúc hỏi.
-Chuyện gì vậy anh?
Minh vội vàng trả lời thay tôi.
-Một cái ổ gà quá lớn, hình như đó là một cái hố đạn pháo mới có độ một vài tuần trở lại đây, khiến tôi không tránh kịp. Mọi chuyện đều tốt đẹp, cô cậu cứ ngủ đi.
Tôi quay qua Minh.
-Mình đi tới đâu rồi anh Minh?
-Vừa lên hết đèo Bảo Lộc, chừng một giờ nữa, khoảng sáu giờ sáng mình sẽ đến Di Linh.
Tôi nhắc lại hai chữ Di Linh, rồi nhớ đến cái quận lỵ buồn hiu, còn in đậm dấu ấn của những ngày người dân Đà lạt chuẩn bị di tản.
Tôi hỏi Minh.
-Vào khoảng ngày này tháng trước, anh ở đâu?
-À…tôi đang ở Sài Gòn.
-Như vậy, anh có biết gì về trận đánh tái chiếm Di Linh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hay không?
-Đánh nhau ở Di Linh? Tôi không biết.
-Để khỏi buồn ngủ, tôi sẽ kể cho anh nghe vài chi tiết trong trận đánh ấy. Anh là tài xế đường Sài Gòn – Đà Lạt nên anh biết rõ, Di Linh là một quận lỵ nhỏ nằm trên Quốc lộ 20, cách Đà Lạt đúng tám mươi cây số. Để tôi nhớ lại coi, vào khoảng hai mươi bảy tháng Ba trong cuộc tấn công tiến chiếm Đà Lạt. Lực lượng của Việt Cộng gồm có Trung đoàn 165 và Trung đoàn 209 của Sư đoàn 7, phối hợp với xe tăng và đại pháo 130 ly, thế mạnh như chẻ tre, chúng di chuyển như chỗ không người. Bắt đầu từ Đại Quay ở gần đèo Chuối chỉ trong vòng một ngày họ đã chiếm xong Bảo Lộc, sau đó đánh thốc vào chi khu Di Linh, làm chủ luôn quận lỵ này. Ở Đà Lạt, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, đưa Tiểu đoàn 204 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức do Thiếu tá Lê Xuân Phương làm Tiểu đoàn trưởng tái chiếm Di Linh. Ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng này, tôi đã nghe danh từ lâu, từ lúc ông ấy còn mang cấp bậc trung úy làm đại đội trưởng Đại đội 302 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức. Nghe danh, nhưng tôi chưa bao giờ được gặp mặt. Anh Minh có biết không, với tôi chuyện gặp mặt Thiếu tá Phương, còn khó hơn là gặp Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Minh cười ra vẻ thích thú.
-Ông thiếu tá ấy, có gì mà ghê vậy?
-Có chứ, có nhiều điểm đặc biệt về ông ấy mà tôi cần phải nói, điểm thứ nhất là về chiến công. Tôi muốn hỏi anh Minh là sáu năm trong lính Nhảy dù, anh tham dự bao nhiêu trận đánh? Có được bao nhiêu huy chương?
Đang chăm chú lái xe, gương mặt của Minh vụt sáng rực lên.
-Tôi đụng địch cả vài chục trận, thắng có thua có, chiến thắng thì đầy oai hùng mà khi thua cũng te tua tàn mạt không khác gì con gà chết. Trong gần sáu năm ở Nhảy Dù, tôi có được hai Anh Dũng Bội Tinh, một cái đồng, một cái bạc. Ngầu nhất là cái huy chương bạc, khi giấy tờ hình như từ trên Bộ tư lịnh Sư đoàn Nhảy Dù về, trong một buổi lễ thật là long trọng được tổ chức trước Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Tôi diện bộ đồ bông mới cáu chỉ, đôi giày bốt đờ sô láng cóng, cái mũ nồi đỏ tươi trên đầu, thêm sợi dây biểu chương ba màu trên vai, cùng với hơn ba chục sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, đứng trước hàng quân để thiếu tá Tiểu đoàn trưởng gắn huy chương.
Vì muốn chứng tỏ sự hiểu biết của mình về dây biểu chương, tôi nói với Minh, mục đích là khoe khoang kiến thức của mình, mặc dù, sự hiểu biết này là do tôi nghe lóm khi thiếu tá trưởng phòng của tôi nói chuyện với bạn của ông ấy.
-Anh Minh nè, dây biểu chương ba màu, anh dùng chữ không được đúng cho lắm. Đại khái, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có bốn loại dây biểu chương: thứ nhất, dây biểu chương màu vàng Anh Dũng Bội Tinh, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội hai lần. Thứ hai, dây biểu chương màu xanh Quân Công Bội Tinh, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội bốn lần. Thứ ba, dây biểu chương màu đỏ Bảo Quốc Huân Chương, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội sáu lần. Thứ tư, cao nhất là dây biểu chương màu Tam Hợp, tổng hợp ba màu nói trên, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội tám lần. Hồi còn ở quân trường, Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bọn tôi được mang dây biểu chương màu vàng Anh Dũng Bội Tinh, có nghĩa là Trường Bộ Binh Thủ Đức được tuyên dương trước quân đội hai lần. Riêng dây biểu chương màu Tam Hợp của anh, tôi không chắc cho lắm, nhưng hình như trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có Tiểu đoàn I Nhảy Dù, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến là được mang dây biểu chương màu Tam hợp mà thôi.
Nghe tôi nói xong, Minh gật gù.
-Vậy mà tôi cứ tưởng lính đeo dây biểu chương trên vai, cũng giống như đồ trang sức của mấy cô đeo nơi tay nơi cổ, khi đi dạo phố. Cậu Quân biết không, sau lễ gắn huy chương, suốt ngày hôm ấy tôi cứ như là đi trên mây, bay trong gió, cái cảm giác thoải mái ấy kéo dài cả ngày.
Tôi thúc cùi chỏ vào hông của Minh.
-Anh không nói cho tôi biết, tại sao anh có được cái huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao bạc.
Minh nhíu mày rồi nói.
-À… chuyện như thế này, Tết Mậu Thân, Việt Cộng đồng loạt đánh phá Thủ đô Sài Gòn và mấy chục tỉnh thành của Miền Nam Việt Nam. Tiểu đoàn I Nhảy Dù cùng những đơn vị bạn của các binh chủng khác, có nhiệm vụ giải tỏa áp lực của Việt Cộng tại Sài Gòn. Trung đội của tôi đụng với một đơn vị chính quy của Việt Cộng, đang cố cầm chân lính Nhảy Dù để cho phe họ rút lui. Ba thằng Việt Cộng đóng chốt, chúng đặt cây đại liên dưới một gốc cây me to lớn, cành lá um tùm, rậm ri, thân cây như là một lá chắn thiên nhiên tuyệt vời, che chở cho việc phòng thủ. Bọn Việt Cộng bám chặt lấy gốc cây, khi thấy lính Nhảy Dù ló đầu ra là cây đại liên quạt xối xả như mưa, tụi tôi mà di chuyển lạng quạng là bể gáo ngay lập tức. Ông Trung sĩ tiểu đội trưởng của tôi, với cây súng phóng lựu M79 trên tay, đang loay hoay tìm cách khóa họng cây đại liên của Việt Cộng, chỉ vì một sơ xuất nhỏ khi di chuyển, ông ấy đã lãnh một viên đạn đại liên ngay ngực.
Vừa nói, Minh vừa lấy tay chỉ vào ngực phải của mình.
-Ngay đây nè, ông trung sĩ té ngửa, giãy đành đạch như con cá lóc bị đập đầu bằng cái chày vồ. Hai thằng bạn của tôi vì nóng lòng nhào lên cứu bạn của mình, cũng bị đốn ngã luôn. Mọi việc xảy ra khá bất ngờ khiến tôi đâm hoảng. Đang lúng túng, chưa biết phải làm gì trong tình huống nguy nan như vậy, tôi đưa mắt nhìn quanh, chợt phát hiện được một con hẻm ở gần đó. Tôi sống ở khu Vườn Chuối, Bàn Cờ nên khá rành về ngóc ngách của những con hẻm ở Sài Gòn. Không một chút chần chờ, tôi phóng ngay vô con hẻm. Đánh trước mặt không được thì phải đánh bọc hậu, với tình thế không lấy gì làm sáng sủa như thế này, một phút trôi qua sẽ có thêm nhiều đồng đội của tôi bị mất mạng. Tôi biết rằng, mình cần phải chạy đua với thời gian, chạy càng mau càng tốt, mau như một lực sĩ chạy tranh tài ở Thế vận hội. Vì suy nghĩ như vậy, cho nên tôi chạy như bay thiếu điều muốn đứt hơi. Sau một hồi chạy vòng vo tam quốc trong mấy con hẻm, cuối cùng tôi cũng đến nơi. Không kịp nghỉ xả hơi, tôi nhẹ nhàng rút chốt một trái lựu đạn M26 tặng cho tụi nó. Sau một tiếng nổ vang trời, rung rinh cả mặt đất, tôi bồi thêm một băng M16 cho chắc ăn. Hai thằng Việt Cộng nằm thẳng cẳng, im ru bà rù, thằng thứ ba còn ngáp ngáp được vài cái rồi cũng đi luôn, tôi tà tà vác cây đại liên đem về trung đội.
Giọng nói của Minh trở nên sôi nổi hơn.
-Cậu Quân biết không, cả trung đội nhìn tôi với những ánh mắt đầy thán phục. Riêng ông thầy của tôi, vỗ vai tôi rồi khen “Lẽ ra sếp lớn phải mượn cái quai chảo của tao, gắn vào cổ áo của mày mới đúng”. Đó là câu khen thưởng khiến tôi nhớ đời, bởi vì suốt mấy năm trong lính, chưa có một ông sĩ quan nào khen lính hay bằng ông thầy của tôi. Chuẩn úy trung đội trưởng của tôi, tuy mang lon nhỏ nhưng lại dám ăn to nói lớn, coi bộ ông ta nói còn ngon hơn ông tướng Tư Lệnh Sư Đoàn.
Minh quay đầu nhìn tôi.
-Cậu Quân có biết tại sao tôi nói như vậy không?
Tôi lắc đầu.
-Không.
Minh cười khoái chí.
-Vì ông thầy của tôi, thăng cho tôi một lần năm, sáu cấp luôn, từ lính lên thẳng quan, bỏ qua giai đoạn hạ sĩ quan. Kể từ đó, tôi có cái biệt danh là “Minh chuẩn úy”. Lợi dụng cái biệt danh này, mỗi lần được phép về Sài Gòn, tôi diện bộ đồ bông bạc màu sương gió với cái mũ nồi màu đỏ thắm, khi gặp gỡ và chuyện trò với các em gái hậu phương, tôi tự giới thiệu với mấy cô, câu nói mà tôi đã thuộc lòng, nguyên văn như sau “Thưa cô, bạn bè ở đơn vị gọi tôi là Minh chuẩn úy”. Tôi nói sự thật, nhưng đó là một sự thật đầy gian dối kiểu mập mờ đánh lận con đen. Xin cậu Quân nhớ cho, tôi nói tôi là “Minh chuẩn úy” chứ không phải Chuẩn úy Minh. Tiếng Việt của mình nó hơi lắc léo ở chỗ đó, cậu Quân ở trong quân đội còn lầm lẫn, huống gì các em gái hậu phương. Đúng không?
Tôi nói với Minh.
-Anh nói đúng, thoáng nghe qua lầm chết đi được. Mà thôi, trở lại chuyện ba thằng Việt Cộng và một cây đại liên đổi lấy cái ngôi sao bạc, cũng xứng đáng quá đi chớ. Chỉ có một cái huy chương mà anh vui vẻ cả ngày. Thiếu tá Lê Xuân Phương, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 204 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức, có hơn bốn chục cái huy chương. Từ cái thấp nhất là Anh Dũng Bội Tinh ngôi sao đồng, cho đến cái cao nhất là Bảo Quốc Huân Chương, Thiếu tá Phương có đủ. Chưa kể những huy chương của Mỹ trao tặng cho ông ta.
Minh quay nhìn tôi, đôi mắt của anh mở lớn.
-Hơn bốn chục cái huy chương?
Tôi đáp.
-Đúng.
Minh lắc đầu ra vẻ không tin.
-Huy chương chứ đâu phải lá vàng rơi rụng đầy đường, muốn lượm bao nhiêu cũng được. Tôi nghĩ đó chỉ là tin đồn, người ta vẽ rắn thêm chân để ca tụng ông ấy mà thôi. Cậu Quân nè, tôi có hơi thắc mắc cộng thêm chút nghi ngờ, cậu chưa bao giờ gặp ông Thiếu tá Phương, làm sao mà cậu biết được ông ấy có bao nhiêu cái huy chương. Cậu nghe người ta kể lại phải không? Chắc cậu biết câu chuyện con rắn vuông rồi chứ gì?
Tôi gật đầu, rồi nói với Minh.
-Tôi có biết chuyện con rắn vuông.
Miệng trả lời nhưng tôi nghĩ thầm, anh chàng này lăn lóc, va chạm với đời quá nhiều, nói chuyện với anh ta chỉ cần một điểm không rõ ràng, sẽ bị anh ta quay tới bến. Thiệt vàng đâu có sợ lửa, tôi từ tốn giải thích cho Minh.
-Anh đọc sách nhiều cũng biết rồi, đâu cần phải giáp mặt trực tiếp, nói chuyện với ai đó mới biết về họ. Tôi đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, tất cả những chi tiết về cuộc đời và binh nghiệp của Thiếu tá Phương đều có đăng đầy đủ trên đó.
Thấy Minh im lặng không phản đối, tôi mới nói tiếp.
-Đối với một quân nhân, chiến công rất quan trọng nhưng tư cách của họ mới là chuyện đáng nói hơn. Cũng trong số báo Chiến Sĩ Cộng Hòa nói trên, có thêm một bài viết dài gần ba trang của Đại úy William, ông này là cố vấn của Tiểu đoàn 204 Trinh sát, bài viết bằng tiếng Anh, được dịch ra tiếng Việt. Đại úy William là người từng sống chết với binh sĩ của Tiểu đoàn 204 trong suốt hai năm, ông ta đưa ra hai nhận xét về Thiếu tá Phương như sau “Thứ nhất về phương diện vật chất, Thiếu tá Phương là cấp chỉ huy trong sạch, không bao giờ lợi dụng cấp bậc và chức vụ của mình, làm thiệt hại đến quyền lợi của binh sĩ. Một hộp thịt, một gói thuốc lá, một kí đường, một lon dầu ăn của Quân tiếp vụ, phải được đưa đến tận tay của binh sĩ thụ hưởng, không một chút suy suyển. Hơn thế nữa, trong nhiều trường hợp ông ta bớt chút tiền lương đầy khiêm nhường của mình để giúp đỡ cho binh sĩ dưới quyền, khi họ lâm cảnh ngặt nghèo. Thứ hai về phương diện chiến đấu, bọn cố vấn chúng tôi, khi hành quân nhảy toán với ông ấy vào mật khu Núi Voi của Việt Cộng, nơi đó với những dãy núi đá hoa cương chập chùng, chớn chở, cao ngút trời xanh, quanh năm mây xám giăng đầy, Thiếu tá Phương cùng với lính của ông ta trong những bộ bà ba đen hay ka ki Nam Định tùy theo vùng xâm nhập, súng AK trên tay, chân mang dép râu. Họ xuất hiện như những bóng ma, di chuyển nhẹ nhàng như lướt đi trong không khí, khi ẩn khi hiện, đó là hình ảnh của con cọp sống trong rừng già. Cảm phục một con người trong sạch, một chiến sĩ can trường, cho nên chúng tôi tặng Thiếu tá Phương danh hiệu The Gray Tiger”. Từ đó về sau, bắt chước cố vấn Mỹ, tất cả binh sĩ cũng như sĩ quan của Tiểu khu Tuyên Đức, đều gọi Thiếu tá Phương là Gray Tiger.
Tôi ngưng kể chuyện, định hỏi ý kiến Minh có đồng ý với Đại úy William, cố vấn Mỹ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát về chữ Gray Tiger hay không. Chưa kịp hỏi, tôi đã nghe Minh nói với tôi, giọng nói đầy tự tin của một cựu chiến binh Nhảy Dù.
-Theo như tôi biết mặc áo quần, trang bị vũ khí của Việt Cộng, rồi nhảy vào mật khu của họ bên Lào hoặc trong dãy Trường Sơn với mục đích do thám, lấy tin tức của những đại đơn vị của Việt Cộng di chuyển như thế nào, rồi gọi máy bay đến tiêu diệt, đó là nhiệm vụ của Lực Lượng Đặc Biệt, Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật. Tiểu đoàn 204 Trinh Sát của Tiểu khu Tuyên Đức là Địa Phương Quân, họ chỉ có bổn phận giữ gìn an ninh diện địa trong phạm vi của Tiểu khu Tuyên Đức mà thôi. Nói rộng ra, Địa Phương Quân của tỉnh nào sẽ lo phần bảo vệ an ninh lãnh thổ của tỉnh ấy.
Minh quay nhìn tôi, rồi hạ một câu chắc nịch như một cộng với một là hai.
-Nhảy toán vào mật khu của Việt Cộng, không phải là nhiệm vụ của Địa Phương Quân.
Minh đã dồn tôi vào góc tường, không chừa cho tôi một lối thoát nhỏ. Tôi nói với Minh.
-Quả thật, những hoạt động nhảy toán của Lực Lượng Đặc Biệt và Lôi Hổ Nha Kỷ Thuật tôi hoàn toàn mù tịt, chuyện mình không biết, tôi không dám bàn đến. Thế nhưng chuyện Đại úy William mãn nhiệm kỳ phục vụ ở Việt Nam, trước khi lên đường về nước, ông ta viết một bài đề cao Thiếu tá Phương thì ông ấy được lợi lộc gì? Tôi tin rằng, Đại úy William chỉ muốn nói lên một sự thật mà ông ta đã chứng kiến tận mắt, trong suốt thời gian ông ấy làm cố vấn cho Tiểu đoàn 204 Trinh sát mà thôi. Hơn nữa, anh Minh à, anh nhìn người lính Địa Phương Quân qua con mắt chủ quan của một người lính Nhảy Dù, đó là cách nhìn của mười năm về trước, ngày đó tôi cũng nghĩ như anh, nhưng sau này tôi mới hiểu rõ hơn: Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, năm bảy mươi hai phải lo tái chiếm Cổ Thành, mấy năm sau đó lại phải giữ vùng địa đầu giới tuyến, nơi mà cả năm, sáu sư đoàn lính chính quy Bắc Việt với xe tăng, đại pháo, lúc nào cũng sẵn sàng lấp sông Bến Hải, tiến chiếm Miền Nam. Lợi dụng chuyện hai sư đoàn tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị trói chân, cột tay tại Quảng Trị, vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm, quân Cộng Sản đang hoạt động tại Miền Nam tha hồ tác yêu tác quái, mà không một chút lo sợ phải đối đầu với Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.
Tôi nhìn Minh thật lẹ, rồi nói tiếp.
-Trong tình huống khó khăn như vậy, bốn Quân khu của Việt Nam Cộng Hòa, phải tự lo liệu lấy thân mình. Địa Phương Quân không còn hoạt động trong phạm vi tỉnh của mình nữa, đến đầu năm bảy mươi lăm, Địa Phương Quân đã được nâng lên cấp Liên Đoàn và họ được điều động đi khắp mọi nơi. Anh Minh cũng đừng có ngạc nhiên khi thấy vài tiểu đoàn Địa Phương Quân của Tiểu khu An Giang, ở mãi tận Quân khu III sình lầy nước đọng, lại bay lên núi đánh nhau với Việt Cộng tại Khánh Dương, là một quận lỵ nhỏ của Tiểu khu Khánh Hòa thuộc Quân khu II. Tiểu đoàn 204 Trinh Sát là đơn vị trừ bị vùng của Quân khu II, bất cứ tiểu khu nào của Quân khu II cần, Tiểu đoàn 204 Trinh Sát sẽ nhảy vào tăng viện. Họ đã từng tăng phái cho Tiểu khu Ninh Thuận, từng Nhảy trực thăng vận vào mật khu An Lão của Việt Cộng, nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Tiểu khu Bình Định, với nhiệm vụ là tiêu diệt những đơn vị của Việt Cộng, lẩn trốn trong mật khu này. Binh sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, ngụy trang và trang bị vũ khí của Việt Cộng nhưng nhiệm vụ của họ là tấn công để tiêu diệt và phá hủy hậu cần của Việt Cộng, chứ không phải do thám lấy tin tức.
Liếc mắt nhìn Minh, khi thấy anh ta vẫn đang chăm chú lái xe mà không một lời phản đối, tôi bèn quay trở lại câu chuyện The Gray Tiger.
-Cái biệt danh mà cố vấn Mỹ tặng cho Thiếu tá Phương tuy đúng nhưng không được chính xác cho lắm.
Minh vẫn dán mắt vào kính xe, miệng nói.
-Ở trong rừng, còn có ai hơn chúa sơn lâm, tụi cố vấn Mỹ gọi Thiếu tá Phương là Gray Tiger, tôi cho rằng khó tìm được chữ nào đầy đủ ý nghĩa hơn.
Tôi nhỏ giọng với Minh.
-Có chớ sao không, theo tôi nghĩ nếu cố vấn Mỹ có đọc bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, họ sẽ không ngần ngại tặng ngay cho Thiếu tá Phương mấy chữ “Đại trượng phu”.
Minh hơi nhăn mặt.
-Thật lòng mà nói, tôi chưa bao giờ nghe hay đọc bài thơ Hồ Trường. Bài thơ đó ra sao? Nói về cái gì vậy?
Tôi nói.
-Câu đầu của bài thơ, mở ra hình ảnh của một người hùng như thế này:
Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường.
Bài thơ khá dài, mai mốt rảnh rỗi tôi sẽ chép bài thơ này tặng anh. Còn bây giờ, tôi muốn nhắc lại: chữ Gray Tiger trong tiếng Anh chỉ nói lên được cái vẻ hiên ngang, oai hùng bên ngoài của một người, họa hổ họa bì nan họa cốt. Chữ “Đại trượng phu” của Việt Nam trong bài thơ Hồ Trường mới diễn tả đầy đủ được một con người toàn diện, cả trong lẫn ngoài, cả Tài lẫn Đức. Trong khi tôi đi lính gần bảy năm, leo lên đến cấp Trung úy mà chưa một lần thấy chiến trận là gì, thậm chí, tôi có cây súng M16 treo ở góc phòng Trung tâm Hành quân mà chưa hề chạm tay đến. Hai người lính, hai thái cực, Thiếu tá Lê Xuân Phương ở cực Bắc, tôi ở cực Nam. Ông ấy ngày đêm dầm mưa dãi nắng đánh nhau với Việt Cộng ngoài chiến trường, với hơn bốn mươi cái huy chương đủ loại, tôi làm việc ở văn phòng với nệm ấm chăn êm, chưa bao giờ thấy cái huy chương vuông hay tròn như thế nào. Cho nên tôi mới nói, không bao giờ tôi gặp được Thiếu tá Phương. Thế nhưng, Tổng Thống Thiệu thì tôi đã thấy mặt ông ấy.
Minh cười thoải mái.
-Tôi biết rồi, cậu Quân thấy Tổng Thống Thiệu khi ông ấy chủ tọa lễ mãn khóa ở Trường Võ Bị Đà Lạt phải không? Cả vài ngàn người thấy chứ đâu phải một mình cậu.
Tôi chần chừ giây lát rồi nói.
-Chỉ một mình tôi đối diện với Tổng Thống Thiệu, chuyện có hơi dài dòng chút đỉnh.
Đang nói chuyện với Minh, tôi bỗng giật mình khi thoáng thấy cái tháp chuông nhà thờ của quận Di Linh, lờ mờ trong sương sớm. Tôi vội vàng hỏi.
-Anh Minh thấy cái tháp chuông đó không?
-Thấy chớ, mình đang đi ngang qua Di Linh. Sẵn đây, tôi cũng nói với cậu là mình sẽ ghé lại tiệm ăn của anh Tư, là anh kết nghĩa của tôi. Trước đây chúng tôi là tài xế xe khách, cách đây ba năm anh ấy giải nghệ rồi mở quán ăn, tụi mình ghé chỗ đó để rửa mặt tiện thể trút luôn cái bầu tâm sự cho nhẹ người, sau một đêm thức trắng.
Tôi khều nhẹ vào vai Cúc.
-Em à, thức dậy đi.
Cúc giật mình, đưa tay giụi mắt rồi nhìn quanh.
-Mình đang ở đâu vậy anh?
Tôi nói nhỏ với Cúc.
-Di Linh.
Minh cho xe tấp vô bãi đậu xe của một cái quán ăn mà cửa nẻo hãy còn đóng kín, với tấm bảng to choán hết cái bao lơn ở lầu hai “Tiệm cơm Tư Chơi”.
Theo tôi ước đoán, có tám mươi đến chín mươi phần trăm người dân Di Linh chạy trốn Cộng Sản, họ di tản đến Đơn Dương rồi theo dân Đà Lạt về Sài Gòn. Cho đến hôm nay những người dân di tản khỏi Di Linh vẫn còn kẹt ở Sài Gòn, chưa kịp trở về, quận Di Linh giống như một cái thành phố chết.
Tôi đảo mắt nhìn quanh, bên kia đường chợ Di Linh vắng hoe như chùa Bà Đanh, trước chợ lèo tèo vài ba người đàn bà ngồi bệt dưới đất, bên cạnh mớ quang gánh, thúng mủng, với dăm ba trái bầu xanh, mươi trái bí đỏ bỏ nằm lăn lóc dưới đất.
Minh vừa đập cửa vừa gọi to.
-Anh Tư, mở cửa đi, Minh chuẩn úy nè. Mở cửa đi.
Tôi nhắc Minh.
-Nhỏ nhỏ thôi anh, giờ này mà còn chuẩn úy với thiếu úy gì nữa.
Một người đàn ông với gương mặt khá bảnh bao, tuổi trạc 40 trong bộ đồ bà ba đen đã bạc màu, chân mang đôi dép râu, chầm chậm đẩy cánh cửa sắt. Khi nhìn thấy Minh, ông ta mừng rỡ ra mặt.
-Minh hả, cả tháng hơn rồi mới gặp lại em, vô tiệm đi.
Vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa, Minh la to.
-Trời đất ơi, bàn ghế đâu hết trơn rồi anh Tư? Bộ dẹp tiệm rồi hả?
Người đàn ông trả lời với giọng nói xụi lơ.
-Mấy ổng không cho buôn bán, hơn nữa, đâu có gạo để nấu cơm mà bán. Còn bàn ghế, đồ đạc của tiệm thì chở về cái ủy ban nhân dân hay quân đội gì đó quản lý rồi. Không muốn dẹp tiệm, cũng phải dẹp thôi.
Người đàn ông tên Tư nhìn tôi và Cúc rồi nói tiếp.
-Mời cô với cậu ngồi, đây là bộ bàn ghế duy nhất còn sót lại trong tiệm. Đó là đồ của Cách Mạng lại quả cho tôi, sau khi dọn sạch sẽ tất cả mọi thứ trong tiệm.
Tôi và Cúc chưa kịp ngồi xuống ghế, Minh đã nói với anh Tư.
-Lái xe cả đêm mệt quá, tụi em cần ra bể nước phía sau rửa mặt. Trong tiệm có gì ăn uống không anh Tư?
Với giọng nói tỉnh bơ của một người bất cần đời.
-Sạch sẽ, không có cơm mà cũng chẳng có cháo, trong nhà còn vài gói mì ăn liền, nếu mấy em muốn anh sẽ nấu cho.
Minh tươi cười.
-Gì cũng được mà anh Tư.
Nói xong, Minh ngoắc tay, kêu tôi và Cúc đi ra phía sau nhà.
Khi chúng tôi trở vào trong tiệm, anh Tư đang ngồi nơi bàn ăn, trên bàn đã dọn sẵn ba tô mì còn nóng hổi, khói bốc lên nghi ngút. Tôi nhìn quanh tiệm, một bầu không khí lạnh lẽo bao trùm khắp mọi nơi, rồi cúi đầu nhìn cái trứng gà trong tô mì mà cảm thương cho ông chủ tiệm hết sức. Mới có hơn một tháng giải phóng mà Di Linh đã tiến mau quá chừng, cứ cái đà này, vài tháng nữa không biết sẽ tiến tới đâu. Tôi, Cúc và Minh vì đói quá nên chúi đầu vô tô mì. Anh Tư đi xuống bếp, đem lên ba ly cà phê đen, đựng trong một cái khay.
-Uống chút cà phê cho tỉnh người đi mấy em.
Tôi vừa ăn mì, vừa gợi chuyện với anh Tư mà mục đích là muốn tìm hiểu, muốn biết rõ hơn về trận đánh tái chiếm Di Linh của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát.
-Tháng trước, đánh nhau tơi bời ở chợ Di Linh này, phải không anh Tư?
Với vẻ mặt đầy ngạc nhiên, anh Tư hỏi tôi.
-Sao cậu biết?
Minh lật đật trả lời anh Tư.
-Cậu Quân, là sĩ quan của Phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt đó anh Tư.
Anh Tư nhìn tôi như dò xét rồi nói.
-Đúng vậy, khoảng hơn một tháng trước, buổi sáng tôi nghe được tin Việt Cộng đã chiếm xong Di Linh mà không nổ một tiếng súng, bởi vì dân chúng và lính Việt Nam Cộng Hòa ở Di Linh đã di tản về Đà Lạt, về Đơn Dương hết rồi. Lính đi đến đâu, dân chạy theo đến đó, bỏ lại Di Linh vắng hoe như cái thành phố ma. Vậy mà, khi chiều đến tiếng súng nổ như bắp rang khắp mọi nơi, tôi nhìn qua khe hở của cánh cửa sắt và lấy làm lạ đến độ không tin vào đôi mắt của mình, không hiểu tại sao Việt Cộng lại bắn nhau với Việt Cộng, cả vài chục cái xác chết nằm lăn lóc trước chợ. Khi tiếng súng ngừng hẳn, chiến trường đã được kiểm soát, một ông Việt Cộng gõ cửa nhà tôi xin nước uống và trấn an tôi.
-Bà con yên tâm, chúng tôi là lính Trinh sát thuộc Tiểu đoàn 204 của Tiểu khu Tuyên Đức, ngụy trang làm lính Việt Cộng, tái chiếm Di Linh.
Nghe tới đây, Minh gật gù như thấm ý rồi nói.
-Bây giờ, tôi mới thật sự tin lời cậu Quân nói đêm qua, về Thiếu tá Lê Xuân Phương và Tiểu đoàn 204 Trinh Sát của ông ta.
Anh Tư nhìn Minh hỏi.
-Tối qua, cậu Quân nói chuyện gì vậy?
Minh nói.
-Không có gì đâu, anh Tư kể tiếp đi.
Anh Tư chậm rãi mồi một điếu thuốc, đôi mắt lơ đễnh nhìn lên trần nhà.
-Ngày hôm sau, Tiểu đoàn 204 Trinh Sát bắt sống được ba cán binh và một ông Thượng úy Việt Cộng, tịch thu một xe Molotova do Liên Xô sản xuất với nhiều súng ống, đạn dược. Đến chiều, họ kéo chiếc xe và bốn tù binh về Đà Lạt. Hôm sau nữa, lại đánh nhau gần tháp chuông nhà thờ, Việt Cộng đã bị đẩy lui về hướng Bảo Lộc. Chiến tranh đã lùi ra ngoài bìa rừng, không còn ở trong thành phố nữa.
Anh Tư đẩy ly cà phê về phía tôi và Minh rồi nói.
-Hình như, hai bên đã đánh nhau một trận long trời lở đất ở ngoài rừng, tôi nghe tiếng gầm rú liên hồi của xe tăng, tiếng súng lớn, súng nhỏ, rồi đạn pháo nổ suốt đêm, mãi cho đến sáng chiến trường mới im tiếng súng. Sau này, khi đã hoàn toàn chiếm được Di Linh, rồi kéo quân lên giải phóng Đà Lạt. Trong buổi mít tinh mừng ngày Di Linh hoàn toàn giải phóng, một ông cán bộ Việt Cộng thứ thiệt nói với dân chúng rằng, họ đã tiêu diệt hơn một trăm năm mươi tên lính Ngụy thuộc Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, bắt sống gần một trăm tên, số còn lại băng rừng chạy trốn về Phan Thiết. Cuối cùng ông cán bộ Việt Cộng nói “Kết thúc chiến dịch giải phóng Di Linh, các chiến sĩ của ta đã xóa tên cái Tiểu đoàn 204 Trinh Sát Ngụy phản động, góp phần giải phóng hoàn toàn Miền Nam Việt Nam”.
Anh Tư cười với cặp môi trề ra.
-Đó là cán bộ Việt Cộng nói, tôi nghe sao thì nói lại như vậy, cậu Quân tin hay không là quyền của cậu.
Tôi nghĩ, với chừng đó chiến sĩ phải hy sinh mới chận đứng được sức tiến quân như vũ bão của Việt Cộng, đủ thời giờ cho người dân Đà Lạt di tản về Sài Gòn. Cho dù những con số mà anh Tư nói, có thể không chính xác nhưng cũng làm cho tôi quặn đau trong lòng.
Minh hớp một ngụm cà phê, mắt nhìn ra cửa rồi nói.
-Anh Tư, có khách.
Anh Tư quay nhìn người đàn bà đang xăm xăm đi vào.
-Chào bà tổ trưởng, mời bà vào chơi.
Đưa tay chỉ chúng tôi, anh Tư nói với bà tổ trưởng.
-Đây là mấy đứa em, vừa từ Sài Gòn lên.
Liếc mắt nhìn chúng tôi, cái liếc mắt đầy xoi mói, bà tổ trưởng nói với anh Tư, giọng nói nghe như là một mệnh lệnh.
-Mười giờ sáng nay họp tổ, nhớ mang theo cơm trưa với cây cuốc.
Dứt lời, bà quay lưng đi ra cửa, đưa cái mông bánh đúc ngúc nga ngúc ngắt, dáng đi lẹt đẹt y hệt như con vịt bầu.
Anh Tư nói.
-Bà tổ trưởng, trước đây là người làm công rửa chén cho tiệm của tôi. Cũng may, tôi đối xử rất tử tế với bà, cho nên bây giờ làm tổ trưởng, bà vẫn nể trọng tôi chút đỉnh, nếu không thì thế nào bà ta cũng hạch hỏi mấy người vài câu, để chứng tỏ uy quyền của mình. Cách Mạng ba mươi mà, ngọn lửa đấu tranh giai cấp đang ngùn ngụt cháy trong tim họ, nhìn đâu cũng thấy rặt một bọn phản động do CIA của Mỹ gài lại.
Minh nói với anh Tư.
-Tụi em phải đi, vì có nhiều việc cần giải quyết ở Đà Lạt.
Cúc lục trong bóp lấy ra tờ giấy 500 đồng, đưa cho anh Tư.
-Chừng này, có đủ cho tiền ăn sáng và cà phê không anh Tư?
Cầm tiền trong tay, anh Tư nói.
-Dư rồi, cảm ơn mấy em.
Chúng tôi chào ông chủ tiệm cơm thời Cộng Sản Chủ Nghĩa, rồi ra xe.
Khi xe đã đi khỏi Di Linh một đoạn khá xa, tôi vẫn còn nhớ về những người lính Địa Phương Quân của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát đã hy sinh thân mình trong trận đánh tái chiếm Di Linh, họ đi vào chỗ chết để người dân Đà Lạt có con đường sống, con đường di tản về Sài Gòn. Những chiến sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, đã một thời chiến đấu vì dân vì nước, bảo vệ quê hương, hình bóng của họ sẽ không bao giờ mờ phai theo năm tháng, mà sẽ mãi mãi sống trong lòng người dân Đà Lạt, trong lòng dân tộc. Tôi quay đầu nhìn lại, quận Di Linh đã khuất sau cánh rừng thưa. Một niềm tin mãnh liệt chợt đến với tôi, Thiếu tá Lê Xuân Phương và hàng trăm binh sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát vẫn còn sống sót, họ đang ở đâu đó trong núi rừng trùng trùng điệp điệp của dãy Trường Sơn.
Tôi nhắm mắt lại “The Gray Tiger, Đại trượng phu, ngàn thu vĩnh biệt.”
Từ xa, tôi đã thấy Cúc đang đứng nói chuyện với anh tài xế xe vận tải. Một tay của Cúc đưa lên trời, tay kia chỉ về phía chiếc xe như muốn phân bua điều gì đó. Khi nhìn thấy tôi, Cúc bỏ mặc anh tài xế, vội vàng chạy về phía tôi. Dang tay nắm lấy tay tôi với đôi mắt đầy ngạc nhiên, Cúc hỏi.
-Anh đi đâu từ sáng tới giờ, làm em lo quá sức. Em phải năn nỉ mãi anh tài xế mới chịu đợi anh trở về. Mà nè, áo của anh đâu rồi? Tại sao lại ra nông nổi này?
Thay vì trả lời, tôi kéo Cúc ngồi xuống bậc thềm phía trước, dưới mái hiên của căn nhà mà chúng tôi ngủ tối hôm qua, rồi từ tốn kể cho Cúc nghe chuyện của viên chuẩn úy Nhảy Dù và năm người lính của ông ta. Cuối cùng tôi nói.
-Cái áo em mua cho anh ngày hôm qua ở chợ Bến Thành, anh đã dùng nó, đắp lên mặt của viên chuẩn úy Nhảy Dù rồi.
Cúc nói.
-Em thấy anh không mặc áo nên mới hỏi vậy thôi. Anh không nhớ sao? Hôm qua em đã mua cho anh ba bộ quần áo, để em lấy cho anh cái khác.
Tôi gật đầu, mắt liếc nhìn anh tài xế vừa hút thuốc vừa đi về phía chiếc xe. Khi ngang qua chỗ tôi và Cúc ngồi, anh ta vẫy tay.
-Cô với cậu lẹ lẹ lên. Mình đi cho rồi.
Tôi chụp cái áo tròng vào người không kịp gài nút, tay trái xách cái va-ly, tay phải nắm tay Cúc kéo vội lên băng ghế trước của chiếc xe tải. Cúc ngồi giữa, tôi ngồi ngoài, lòng cabin xe rộng rãi, nệm ghế dày và êm vì được thiết kế cho tài xế lái đường xa khiến tôi hài lòng, không muốn đòi hỏi gì thêm nữa.
Khi xe chạy đến cầu xa lộ Biên Hòa, Cúc đưa cho tôi gói xôi đậu đen được gói trong miếng lá chuối.
-Anh ăn đi kẻo đói.
Nói xong Cúc nhìn sang anh tài xế.
-Bác tài ơi, bác có ăn xôi không? Tôi mua tới sáu, bảy gói lận, đủ cho mình ăn tới Đà Lạt.
Anh tài xế miệng nói nhưng mắt vẫn dán vào kính xe phía trước.
-Cảm ơn cô, tôi không đói. Khi nào cần tôi sẽ xin cô.
Tôi vừa ăn xôi vừa đưa mắt nhìn quanh, khúc đường này quá quen thuộc với tôi. Tôi biết, chừng mươi phút nữa xe sẽ chạy ngang qua nhà máy xi măng Hà Tiên, rồi Trường Bộ Binh Thủ Đức. Nếu mọi chuyện suôn sẻ, chiều nay chúng tôi sẽ tới cầu Đại Ninh. Tại đây, tôi và Cúc xuống xe, tìm tàu bè hay bất cứ phương tiện gì để qua sông Đa Nhim, sau đó đón xe khác đi về Đà Lạt. Phần anh tài xế, anh ta phải bỏ xe lại bên này sông. Nếu muốn đem xe về Đà Lạt, cách duy nhất là anh tài xế phải chạy ngược trở lại ngã ba Dầu Giây, đi vòng qua Phan Thiết, Phan Rang rồi theo đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt.
Lương tâm của tôi không cho phép mình lừa gạt anh tài xế, về chuyện cầu Đại Ninh đã nằm dưới đáy sông rồi. Tôi nói với anh ta.
-Anh có biết là cây cầu Đại Ninh đã bị sập rồi hay không?
Anh tài xế trợn mắt nhìn tôi.
-Sập hồi nào? Mà tại sao lại sập?
Tôi trả lời.
-Cầu đã bị công binh của Trường Võ Bị Đà Lạt đặt mìn, giựt sập hơn một tháng rồi. Anh không biết hay sao?
-Ê…đó chỉ là tin đồn. Hôm qua, một ông bạn của tôi đã lái chiếc Desoto chở đầy rau từ Đà Lạt xuống Sài Gòn. Chính ông ấy nói với tôi, tất cả cầu cống trên quốc lộ 20 đều nguyên vẹn tốt đẹp, còn đường xá thì êm ru phẳng lì.
Tôi nghe anh tài xế nói mà tưởng như mình nằm mơ, làm sao có thể có được một chuyện thần thoại hoang đường như vậy. Tháng trước chính mắt tôi thấy Đại úy Thi, công binh của Trường Võ Bị Đà Lạt, trình với Thiếu tướng Chỉ huy trưởng là ông đã cho nổ sập cầu Đại Ninh rồi. Tại sao, hôm nay cây cầu vẫn còn nguyên? Không lẽ Đại úy Thi đã báo cáo không đúng sự thật. Không biết phải tin vào ai, tôi nghĩ thầm phải chi mình có đôi cánh, bay cái vèo tới cầu Đại Ninh để biết rõ hư thực như thế nào. Nghĩ như vậy nhưng tôi vẫn tin rằng cầu Đại Ninh đã bị sập, đúng như lời Đại úy Thi đã báo cáo.
Tôi thở dài rồi nói.
-Không thể nào có chuyện như vậy được. Chính tai tôi nghe báo cáo, cầu Đại Ninh đã bị giật sập.
Anh tài xế nhìn tôi, rồi ngập ngừng nói.
-Cậu dám đoan chắc như vậy, nếu tôi đoán không lầm, cậu phải là lính mà cũng có thể là sĩ quan của Trường Võ Bị Đà Lạt.
Tôi định nói dối rằng mình không phải là lính, vì không biết rõ anh tài xế là người có thân Cộng hay không. Bài học kinh nghiệm lúc sáng còn đó, trong lúc tranh tối tranh sáng như thế này, không biết giữ gìn lời ăn tiếng nói có thể mất mạng như chơi, nhưng không biết vì sao, tôi lại dõng dạc nói với anh ta.
-Đúng, tôi là trung úy thuộc Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt.
Gương mặt của anh tài xế chợt sáng lên, đang lái xe anh ta vội vàng đưa tay phải lên cuối chân mày.
-Chào trung úy, trước đây tôi là hạ sĩ nhất Nhảy Dù. Năm một ngàn chín trăm bảy mươi, tôi được giải ngũ….
Tôi nhìn bàn tay phải của anh tài xế chỉ còn ba ngón tay, ngón trỏ và ngón giữa của anh ta bị cụt mất. Tôi hiểu ngay tại sao anh ta được giải ngũ. Tôi nói mà như là nhắc nhở.
-Việt Nam Cộng Hòa đã mất rồi, xin anh đừng có gọi tôi là trung úy nữa. Tôi tên là Quân, còn đây là Cúc, vợ của tôi.
Anh tài xế cười.
-Cậu Quân nhắc tôi mới nhớ, mấy chục năm nay quen thói rồi, tôi sẽ thay đổi cách xưng hô cho hợp thời thế. Tôi tên là Minh.
Bầu không khí trong xe bỗng trở nên thân mật ấm cúng hơn, khi Minh lấy một lon nước ngọt đưa cho Cúc.
-Mời cô và cậu Quân.
Tôi nói.
-Cảm ơn anh Minh, bây giờ tôi có thể nói chuyện thật lòng với anh mà không sợ gì cả. Mấy phút trước đây tôi vẫn còn lo sợ, lỡ anh là người có cảm tình với Việt Cộng thì kẹt cho tôi.
-Cậu Quân khỏi lo, gia đình tôi là Ngụy thứ thiệt, Ngụy một trăm phần trăm.
Như để chứng minh cho lời nói của mình, Minh nói thêm.
-Tôi còn có hai thằng em đều là sĩ quan Nhảy Dù, một thằng chết trong trận tái chiếm Cổ Thành, thằng còn lại, tháng Ba vừa rồi bị thất lạc ở mặt trận Khánh Dương. Cho đến giờ này, tôi vẫn không có tin tức gì của nó.
Tôi hỏi Minh.
-Em của anh thất lạc ở Khánh Dương mang cấp bậc gì?
-Nó là chuẩn úy, ra trường năm ngoái rồi tình nguyện về Nhảy Dù.
Tôi giật mình và cảm thấy trái tim của mình đập mạnh hơn, hình ảnh của chuẩn úy Ngo quay về trong đầu. Tôi vội vàng hỏi Minh.
-Anh ấy tên gì?
-Nó tên Hoàng.
Tôi lắc đầu rồi nói.
-Không phải.
Minh nói với tôi.
-Phải mà, nó tên là Lê Văn Hoàng.
Tôi phân trần với Minh.
-Xin lỗi, tôi đang nói về một người khác.
Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, tôi mới từ tốn kể cho Minh nghe về chuyện của ông chuẩn úy Nhảy Dù tên là Ngo, vừa bị bắn chết sáng nay. Gương mặt của Minh biến đổi theo từng chi tiết của câu chuyện, từ cái vẻ thờ ơ lúc ban đầu, chuyển dần sang căng thẳng. Khi tôi kể xong xuôi mọi diễn biến đã xảy ra lúc sáng nay, riêng cái đoạn tôi không dám nhận mình là lính Ngụy, tôi giấu biệt, lúc ấy cũng là lúc xe sắp đến Biên Hòa.
Minh quay nhìn tôi.
-Tôi có chuyện muốn bàn với cậu.
-Chuyện gì vậy anh?
Giọng nói của Minh lộ vẻ như trách móc.
-Tại sao cậu không phụ giúp mọi người một tay, lo chôn cất mấy người lính Nhảy Dù?
Tôi giải thích.
-Anh Minh à, trước khi đi, tên cán bộ chỉ huy của Cộng Sản có viết mấy chữ đặt dưới chiếc giày, với nội dung là cấm đem xác đi chôn.
Minh nói.
-Cậu không biết gì về Cộng Sản, tin bọn nó chỉ có nước bán lúa giống, đánh trống bỏ dùi là nghề của họ. Tên Việt Cộng viết tấm giấy đó, giờ này nó đã dông mất tiêu rồi, không bao giờ trở lại chốn cũ. Cậu có đốt đuốc tìm mười năm, cũng chẳng bao giờ gặp nó.
-Sao anh biết?
-Việt Cộng là bọn đa nghi xảo quyệt giống như bầy Cáo, chúng không bao giờ dám trở lại chỗ chúng đã đi qua hoặc đã trú ngụ vì sợ gài bẫy. Tôi còn lạ gì họ, suốt thời niên thiếu ở vùng xôi đậu, thêm gần ba năm lái xe chở hành khách, hai năm lái xe vận tải trên tuyến đường Sài Gòn – Đà Lạt, bị Việt cộng đào đường đắp mô, chận xe đóng thuế. Tiếp xúc thường xuyên với Việt cộng, cho nên tôi rành bọn họ quá. Hù dọa, khủng bố thiên hạ, là chính sách và đường lối của mấy ổng mà.
Minh ngừng nói, anh ta lần trong túi áo lấy ra bao thuốc Bastos xanh, chìa về phía tôi.
-Mời cậu Quân hút thuốc.
-Cảm ơn anh, để khi khác.
Minh quay cửa kính xe xuống, với cái bật lửa Zippo bóng loáng trên tay trái, Minh mồi thuốc, trong khi tay phải chỉ với ba ngón tay vẫn điều khiển tay lái một cách thuần thục.
Minh nói với tôi, mà khói thuốc vẫn còn đầy trong miệng.
-Cậu Quân à, tôi có chuyện cần cậu giúp một tay. Không biết cậu có đồng ý không?
-Chuyện gì? Nếu không phải chuyện hái sao trên trời, tôi sẽ làm ngay.
Minh nghiêm giọng.
-Tôi muốn cậu với tôi, tụi mình đi chôn sáu người lính Nhảy Dù. Một mình tôi không đủ sức, nhất là vấn đề tài chánh. Hai ngàn mà cậu và cô trả tiền xe cho tôi ngày hôm qua, tôi tiêu xài đã hụt đi mất gần một trăm rồi.
Tự nãy đến giờ, Cúc ngồi yên nghe Minh nói chuyện với tôi. Bất ngờ Cúc lên tiếng.
-Anh Minh là dân Sài Gòn phải không?
Minh đáp.
-Tôi chỉ có một phần là dân Sài Gòn thôi.
Cúc nói.
-Vậy còn mấy phần khác, là dân xứ nào?
Minh hỏi lại Cúc.
-Cô muốn biết gốc gác tôi ở đâu, là dân xứ nào phải không? Ba anh em tôi gốc ở Bến Tre.
Cúc hỏi.
-Tại sao anh không ở Bến Tre mà lại lên Sài Gòn? Chắc ở dưới đó mất an ninh chứ gì?
Minh nói.
-Việt Cộng gọi đó là vùng đất bất khả xâm phạm của họ, cho nên ở Bến Tre tình hình an ninh không được yên ổn như Sài Gòn, nhất là làng của chúng tôi ở cách tỉnh khá xa, khi mặt trời mọc phe Quốc Gia mình kiểm soát, lúc mặt trời lặn lại thuộc về đám âm binh Việt Cộng. Sống ở vùng quê, chúng tôi thấy rõ cái dã man tàn ác của Việt Cộng mà những người sống ở thành phố như cô và cậu Quân, không bao giờ biết được.
Minh hít một hơi thuốc dài rồi mới thong thả nói tiếp.
-Nói có sách mách có chứng, tôi phải kể lại chuyện sau đây, để cậu Quân và cô Cúc thấy rõ cái man rợ của Việt Cộng. Đâu khoảng đầu năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn, khi mà Đệ Nhất Cộng Hòa vừa mới sụp đổ được vài tháng, sau đó hàng rào ấp chiến lược bị tháo bỏ, tình hình an ninh trong các xã, ấp bắt đầu trở nên tồi tệ. Những viên chức hành chánh của xã, ban ngày họ làm việc tại văn phòng xã, đêm đến họ phải ôm mùng mền vô trong Quận để ngủ, hầu tránh sự truy lùng của du kích quân Cộng Sản. Một buổi chiều nọ, ông xã trưởng Lâm Châu sau giờ làm việc, cao hứng làm vài ba xị đế, khi đã ngà ngà say, ông quên mất cái nguy hiểm nên ngủ luôn tại nhà. Nhà tôi ở cách nhà ông xã trưởng Lâm Châu khoảng chừng mươi mét, giữa hai căn nhà là một hàng dừa lão. Khoảng chín giờ tối, bốn ông Việt Cộng súng ống đầy người, kéo đến nhà ông xã trưởng. Sau khi đọc bản án tử hình được viết trên một tờ giấy xé ra từ một cuốn vở học trò, với nội dung là ông xã trưởng đã làm tay sai cho Mỹ Ngụy, bức hại dân lành. Chuyện mới nghe qua tưởng như là giỡn chơi, thế nhưng khi thi hành án lệnh, là cắt cổ thiệt, thời bấy giờ khi giết người để răn đe, Việt Cộng chỉ dùng một cách duy nhất là cắt cổ. Đối với Việt Cộng chuyện cắt cổ Ngụy quyền cũng đơn giản giống như mấy bà nội trợ cắt cổ con gà, con vịt. Tay Việt Cộng thi hành bản án, đúng là một sát thủ chuyên nghiệp, hắn tính toán một cách chính xác, cắt cổ như thế nào mà ông xã trưởng không chết ngay. Ông xã trưởng Lâm Châu, tuy bị thương nặng nhưng vẫn cố bò đến cái gốc dừa gần nhà tôi, suốt đêm ông rên la thảm thiết, rồi kêu cầu cứu, nhiều lúc lại rú lên như chó tru. Nhìn thấy người bị thương nằm đó, tôi nói với ba tôi hãy cứu ông ta. Ba tôi ra dấu cho mấy anh em tôi yên lặng, ông chỉ vào căn nhà bếp của ông xã trưởng, nơi mà ngọn đèn dầu hãy còn tỏa chút ánh sáng mờ mờ, rồi nói “Bọn Việt Cộng vẫn còn ở trong nhà ông xã trưởng. Nếu ba cứu ông ta, cả gia đình mình sẽ bị tụi Việt Cộng xử tội, cái tội tiếp tay bao che cho bọn phản quốc chạy theo Mỹ Ngụy. Mấy đứa bây có muốn bị cắt cổ hay không? Nếu không, hãy im lặng”. Mãi cho đến khi trời mờ sáng, tiếng kêu của ông xã trưởng mới yếu dần rồi tắt hẳn. Khi biết chắc rằng mấy ông Việt Cộng đã rút đi rồi, ba tôi và tôi vội chạy ra gốc cây dừa nơi mà ông xã trưởng Lâm Châu đang nằm, với chút hy vọng là sẽ cứu được ông ta. Đến nơi, tôi lặng người đi vì sợ, xác ông xã trưởng nằm bên vũng máu hãy còn tươi, một vết cắt tím bầm nơi cổ, hình như máu hãy còn tiếp tục rỉ xuống đất. Gương mặt ông xã trưởng trắng nhợt, đôi mắt trợn trừng, cái miệng há hốc như con cá Ngảo cần không khí để thở. Tôi đoán rằng, ông xã trưởng phải chết trong đau đớn cùng cực.
Minh ngừng nói, đưa điếu thuốc đến gần khe cửa, chút tro tàn nơi điếu thuốc bị gió cuốn hút ra ngoài.
-Ngay ngày hôm đó, ba tôi dẫn anh em tôi ra bến xe, cho ba đứa cùng “Đồng Khởi” lên Sài Gòn, tạm trú nơi nhà ông chú của tôi ở khu Bàn Cờ. Trước khi chia tay, ba tôi căn dặn tôi phải lo cho hai đứa em, đừng có bận tâm gì về ông.
Minh quay nhìn tôi, gương mặt của anh hiện rõ nét đau khổ.
-Cậu Quân có biết số phận của ba tôi ra sao không?
Tôi ngập ngừng.
-Coi bộ hơi phiền à nghe.
Minh vội nói.
-Chỉ phiền thôi sao? Chưa kịp nhớ về ba tôi thì một người bạn của chú tôi từ dưới quê lên, báo cho chú tôi biết là ba tôi đã mất rồi. Cái chết của ba tôi, giống hệt cái chết của ông xã trưởng Lâm Châu. Ba tôi chết, một cái chết thê thảm, oan ức, tức tưởi, chỉ vì có ba thằng con lên Sài Gòn học, chạy theo Mỹ Ngụy. Chúng tôi không một đứa nào dám về quê, dự tang lễ của ba tôi, không được nhìn mặt ông lần cuối cùng, năm đó tôi vừa mười tám tuổi, chiến tranh đã bắt đầu lan rộng khắp Miền Nam. Tôi biết rằng trước sau gì mình cũng phải đi quân dịch, sau nhiều ngày suy nghĩ, tính toán thiệt hơn, tôi tình nguyện vào Nhảy Dù. Chuyện tôi quyết định vào Nhảy Dù, không biết đúng hay sai nhưng hai đứa em của tôi, khi nhìn thấy ông anh của chúng oai hùng trong bộ đồ bông nên sau khi đậu tú tài, chúng vô Thủ Đức rồi cũng tình nguyện vào Nhảy Dù luôn.
Tay trái cầm điếu thuốc, cánh tay tì lên tay lái, Minh dùng tay phải nâng lon nước, hớp một ngụm.
-Chúng tôi chỉ là dân tạm trú ở Sài Gòn.
Cúc nói.
-Ở Sài Gòn, anh có biết ông Nguyễn Văn Bảy không?
-Không, mà cha nội đó là ai vậy? Tài xế xe đò hả?
Cúc cười vui vẻ.
-Đương nhiên là anh không biết, nhưng ông trùm nhà cửa ở Sài Gòn chắc anh biết. Đúng không?
-Ông trùm nhà cửa ở Sài Gòn thì ai lại không biết, có phải là ông Bảy Ấn không?
-Đúng, Nguyễn Văn Bảy tự là Bảy Ấn. Ông ấy là ba của tôi.
Minh vội vàng quăng tàn thuốc qua khe cửa, anh ta há hốc miệng, tròn xoe đôi mắt nhìn Cúc.
-Nè cô Hai, đừng giỡn với tôi, cô nói thì tôi nghe. Còn tôi nói có gì không phải, xin cô bỏ qua cho. Con gái của một đại tư bản, trùm nhà cửa ở Sài Gòn mà ngủ vỉa hè, làm sao tôi tin cho được.
Cúc vẫn cười vui vẻ.
-Tôi có bắt anh tin đâu. Tôi chỉ muốn nói với anh, ở trên đời này chuyện gì cũng có thể xảy ra được.
Cúc chỉ tôi rồi nói tiếp.
-Hai ngày trước, vợ chồng tôi còn sống trong một ngôi biệt thự nguy nga ở đường Công Lý. Sáng hôm qua, hàng chục chiếc xe tăng với hàng trăm lính Việt Cộng chạy vào sân nhà tôi, họ đuổi vợ chồng tôi ra khỏi nhà. Đó là hành động của bọn côn đồ, bọn ăn cướp giữa ban ngày chứ đâu phải là quân Giải Phóng. Chuyện như vậy anh tin được không?
Minh suy nghĩ một chút rồi trả lời.
-Tôi tuy học hành không ra gì, có cái bằng Trung học đệ nhất cấp mà thi cũng không đậu. Nhưng nhờ sớm lăn lóc với đời, học hỏi, bươn chải, đọc thêm sách vở, nên tôi hiểu được chút ít gian manh của Việt Cộng. Dinh Độc Lập là biểu tượng cho cơ quan công quyền tối cao của Miền Nam đã bị nghiền nát dưới xích sắt xe tăng của Việt Cộng. Cướp được chính quyền rồi, nước Việt Nam là tài sản riêng của đảng Cộng Sản, họ muốn đem cho ai cũng được, bán cho ai cũng xong.
Minh ngừng nói quay sang Cúc.
-Cô với cậu thử nghĩ coi, có một bọn ăn cướp, sau khi cướp được tài vật, thì chúng nó làm gì?
Không đợi cho Cúc và tôi trả lời, Minh nói tiếp.
-Ở đây tôi không muốn nói đến lũ ăn cắp, ăn trộm, bởi vì những hạng người này họ chỉ khoét vách đào ngạch, lén lút vô nhà cạy tủ lấy trộm của người, còn cái bọn ăn cướp là dùng vũ lực để cướp của người ta. Những gì dùng được chúng nó giữ lại để dùng, không dùng được, chúng đem đi bán sạch bách, lấy tiền chia nhau tiêu xài hoang phí. Đúng không? Cộng Sản cũng vậy mà thôi, mấy chục năm kiên trì, rình rập, lừa đảo, hôm nay họ đã dùng hàng chục sư đoàn lính chính quy cọng với xe tăng và trọng pháo, đã cướp xong hoàn toàn nước Việt Nam, ngày mai họ sẽ đem bán cái đất nước này lấy tiền chia chác cho các đảng viên của họ. Ngày nào, đảng Cộng Sản còn nắm quyền, trước sau gì nước Việt Nam cũng bị đem đi bán, bán cho đến sạch sành sanh mới thôi.
Tôi nghĩ thầm, anh chàng Minh này nếu được học hành tới nơi tới chốn, cuộc đời của anh ta sẽ khác đi nhiều, chứ không phải chỉ là một anh tài xế tầm thường chuyên lái xe vận tải. Tôi hỏi vặn Minh, với mục đích dò xét thêm về khả năng lý luận của anh ta.
-Dựa vào đâu mà anh nói như vậy?
Minh cao giọng.
-Dựa vào đâu hả? Thì cô Cúc mới nói với tôi đó. Hàng chục chiếc xe tăng, hàng trăm tên bộ đội với súng đạn đầy người, tràn vô sân nhà của cô, họ chỉa súng vô đầu, đuổi cô và cậu ra khỏi nhà. Đó có phải là chuyện họ mua căn nhà của cô và cậu, với cái giá thuận mua vừa bán hay không? Nếu cô Cúc nói rằng, cô đồng ý bán căn nhà cô đang ở cho Việt Cộng thì tôi sẽ im miệng, không có gì cần bàn cãi. Còn nếu cô nói rằng, đó là hành động của bọn ăn cướp thì chắc chắn là tôi nói đúng. Như vậy chuyện tương lai lũ Việt Cộng bán nước, sẽ bán sạch cái đất nước Việt Nam này, lấy tiền chia chác với nhau, là chuyện sẽ phải xảy ra.
Tôi nhắc Minh.
-Anh đang dùng “tam đoạn luận” để chứng minh là Việt Cộng sẽ bán nước, thế nhưng anh quên mất, tiền đề của anh đưa ra không đứng vững, bởi vì Việt Cộng nói rằng, họ đánh Mỹ là để giải phóng cho dân tộc.
Minh cười ranh mãnh.
-Tôi không cần biết “tam đoạn luận” hay “tứ đoạn luận” gì hết. Chuyện đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng Miền Nam, đem lại độc lập tự do cho đất nước chỉ là chiêu bài để mị dân mà thôi. Từ thủa thành lập cho đến ngày hôm nay, đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới cái chiêu bài này để ăn cướp. Và đó là bản chất của họ, chuyện chỉ có vậy.
Cúc nhìn Minh như ngầm đồng ý, rồi xen vô.
-Anh Minh nè, tạm gác chuyện tranh cãi qua một bên, lúc nãy anh muốn cùng với chồng tôi, lo việc chôn cất mấy người lính Nhảy Dù. Phải không?
-Đúng, nhưng tôi không có đủ tiền.
Cúc với giọng nói đầy tự tin.
-Chuyện tiền bạc tôi có thể lo được, tuy nhiên vẫn còn có nhiều việc quan trọng hơn, mà mình cần phải làm trong việc chôn cất mấy người lính Nhảy Dù. Chẳng hạn: Phải chôn họ ở đâu? Ai sẽ là người đi mua áo quan?
Minh nói.
-Tôi báo trước cho cô và cậu biết, mình không thể nào chôn họ ở Nghĩa trang quân đội Biên Hòa.
Tôi chen vào hỏi Minh.
-Tại sao vậy?
Minh với giọng nói chắc nịch.
-Việt Cộng đóng quân ở đó đông như kiến. Mình mà đem xác mấy ông lính nhảy dù này vô đó chôn, chẳng khác gì chạm vào cái tổ ong vò vẻ. Chọc vào mấy ông đang say men chiến thắng, họ bắn bỏ mình như không.
Vừa dứt lời, Minh vặn người sửa lại thế ngồi trong khi hai tay vẫn cầm chắc tay lái.
-Ngày hôm qua, tôi lái xe đến Nghĩa trang quân đội Biên hòa, với mục đích là thăm mộ thằng em tôi một lần cuối. Thời thế đã đổi thay, gió đã đổi chiều, biết đâu sau này người ta sẽ cày xới, san bằng cái nghĩa trang này để xóa bỏ vĩnh viễn hình ảnh của những người lính Miền Nam. Em tôi tên là Lê Văn Huy, chuẩn úy Nhảy Dù chết trong trận tái chiếm Cổ Thành, thân xác của nó được đem về chôn ở Nghĩa trang quân đội Biên hòa. Khi tôi đậu xe gần bức tượng “Thương Tiếc” đang gặm bánh mì, uống ly nước mía. Tôi bỗng giật mình vì một ông lính Việt Cộng tay cầm cái ống nói, với giọng oang oang qua máy truyền tin “Bọn tớ đang ở ngay chân đồi mả lính Ngụy. Mẹ kiếp cái bọn Ngụy, chúng nó dùng nguyên một quả đồi để chôn xác hàng vạn thằng lính Ngụy, cảnh quang trông hoành tráng ra phết”.
Minh lại loay hoay mồi thêm một điếu thuốc, rít một hơi dài, thở khói ra mũi coi thoải mái hết sức.
-Tôi nghe tên Việt Cộng nói rõ ràng, nhưng phải suy nghĩ một lúc mới hiểu. Cô cậu biết nó nói gì không?
Cúc lắc đầu.
-Không, mà cảnh quang hoành tráng là cái gì?
Minh trả lời Cúc.
-Theo tôi hiểu, nó muốn nói Nghĩa trang quân đội Biên Hòa to lớn và đẹp đẽ.
Tôi hỏi Minh.
-Không chôn người ở Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, vậy thì mình phải chôn họ ở đâu?
Cúc nói.
-Em biết, chỗ xử bắn ông chuẩn úy Nhảy Dù đến Nghĩa địa Chí Hòa, khoảng mười phút lái xe. Chôn ở đó là tiện nhất.
Chuyện nói ra thì dễ nhưng khi thi hành mới khó. Chôn cất xong năm người lính Nhảy Dù và viên chuẩn úy, đồng hồ đeo tay của tôi chỉ một giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1975.
Đợi cho đến khi Cúc thanh toán xong xuôi tiền công cho những người lo việc chôn cất, Minh giục tôi và Cúc.
-Chúng ta lên xe, trễ lắm rồi.
Đêm Sài Gòn phủ một màu đen, nhà cửa hai bên đường chỉ còn là những cái bóng chạy giật lùi mỗi lúc một mau. Chút ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường khi mờ khi tỏ của một thời xa xưa, không làm cho mặt đường sáng thêm chút nào. Đường phố vắng tanh không một bóng người, không một tiếng động ngoại trừ tiếng nổ đều đều bên tai của động cơ xe vận tải do Minh lái. Xe chạy băng băng trên xa lộ Đại Hàn, xuyên qua màn đêm dày đặc, lao đầu về phía trước.
Tôi nhìn Minh đang chăm chú lái xe, với vẻ mặt đầy mệt mỏi rồi nói với Cúc.
-Em đổi chỗ cho anh, anh muốn ngồi giữa để nói chuyện với anh Minh. Lái xe trong đêm vắng, có người chuyện trò hy vọng anh Minh sẽ đỡ buồn ngủ.
Cúc nhoài người ra ngoài, ngồi tựa vào cửa xe rồi nói với tôi.
-Phải đó, em cũng mệt quá rồi, cần nhắm mắt một chút. Hai người nói chuyện mà em ngồi ở giữa, em sẽ không ngủ được.
Tôi nói với Cúc.
-Em dựa vào vai của anh mà ngủ.
Cúc không nói gì, ngoan ngoãn tựa đầu vào vai của tôi.
Quay nhìn Minh, tôi hỏi nhỏ.
-Tôi biết anh là lính Nhảy Dù, nhưng yếu tố đó không đủ mạnh, khiến anh phải lo chôn cất sáu người lính Nhảy dù. Phải còn lý do nào đó chìm ẩn bên trong, anh có thể nói cho tôi biết được không?
Không vội trả lời tôi, Minh quay cửa kính xe xuống thành một kẽ hở nhỏ, mồi một điếu thuốc, rít một hơi dài, đốm lửa nơi đầu điếu thuốc rực sáng trong đêm. Chỉ một giây bừng cháy sáng, tôi thấy đôi mắt Minh như mờ đi. Minh nói với tôi, giọng nói trầm đều.
-Tôi làm như vậy vì tôi là lính Nhảy Dù, và tôi vẫn còn mang một món nợ với ông thầy của tôi, Chuẩn úy Bùi Anh.
Giọng nói của Minh trở nên xa vắng.
-Đâu hơn chục năm trước, mãn khóa Nhảy Dù, tôi cùng bốn chục tân binh được một ông thiếu úy lãnh về Tiểu đoàn I Nhảy Dù. Mang cái phù hiệu của Tiểu đoàn I nơi túi áo, tôi tham dự nhiều trận đánh lớn có, nhỏ có. Từ đồng bằng đánh lên cao nguyên, từ Sài Gòn bay ra vùng hỏa tuyến.
Đang kể chuyện say sưa, Minh đột ngột ngưng nói quay qua hỏi tôi.
-Cậu Quân có biết bản nhạc “Kỷ vật cho em” không?
Tôi trả lời Minh.
-Biết, đây là bản nhạc mà tôi thích. Đã là lính Việt Nam Cộng Hòa ai mà không biết bản này.
-Tại sao cậu Quân lại thích nó?
-Tôi là khách thường trực của quán cà phê Hạnh Tâm, bản nhạc này được mấy cô thu ngân cho khách nghe hoài. Mặc dù lời của bản nhạc nghe chán chường, đầy bi quan, mỗi lần nghe là một lần muốn tự tử nhưng nó lại có sức thu hút mãnh liệt. Tôi nghe riết rồi đâm ra thích.
Minh nói với tôi.
-Tôi thì khác. Sở dĩ tôi thích bản nhạc này vì nó nói đúng y bon chuyện năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm, Tiểu đoàn I Nhảy Dù của tôi, nhảy trực thăng vận vào mặt trận Bình Giã. Tôi mê bản nhạc này, vì có tôi hiện diện trong đó. Sau này tôi còn tham dự nhiều trận đánh nữa, như ở Sơn Tịnh Quảng Ngãi rồi quay về giải tỏa áp lực của địch quanh thủ đô, bảo vệ đài phát thanh Sài Gòn trong trận Tết Mậu Thân.
Thấy Minh sắp sửa lạc đề, tôi nhắc khéo.
-Anh Minh à, anh kể tiếp cho tôi nghe chuyện Chuẩn úy Bùi Anh đi.
-Chút xíu nữa là tôi quên mất tiêu, nếu cậu không nhắc, chuyện như thế này: trong cuộc hành quân vùng Mõ Vẹt Cam-Bu-Chia, một biến cố trọng đại đã xảy ra khiến tôi nhớ mãi suốt đời. Chuẩn úy Bùi Anh và tôi bị thất lạc đơn vị, không địa bàn, không bản đồ, mỗi người chỉ còn khẩu M16 trên tay với vài băng đạn. Riêng tôi chỉ bị thương nhẹ ở chân, vết thương do miểng đạn pháo 82 ly không có gì nguy hiểm. Lúc bấy giờ, sau gần năm năm trong quân ngũ, tôi đã mang lon hạ sĩ nhất, là một chiến binh dày dạn chiến trường, quen xông pha nơi trận mạc. Tôi rất hãnh diện vì mình là một trong ba người còn sót lại, trong số bốn mươi tân binh được bổ sung cho tiểu đoàn vào cuối năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn. Trong khi đó, ông thầy của tôi là Chuẩn úy Anh mới ra trường được vài tháng, kinh nghiệm chiến trường chưa có bao nhiêu, ông ấy chỉ hơn tôi cái lon chuẩn úy gắn nơi cổ áo, chuyện mưu sinh thoát hiểm, di chuyển trong rừng, làm sao bằng tôi được. Tận cùng trong thâm tâm, tôi không phục Chuẩn úy Anh, nếu không muốn nói là coi thường. Chuyện trốn chạy Việt Cộng, hai người hai ý kiến trái ngược nhau, tôi chỉ muốn chạy thật mau, bất kể phương hướng, miễn làm sao thoát khỏi vùng ảnh hưởng của Việt Cộng càng sớm càng tốt. Với tôi, thì giờ là vàng bạc, chạy chậm đồng nghĩa với chết. Chuẩn úy Anh ngược lại, ông ta chạy nhưng vẫn cẩn thận xác định phương hướng. Giữa rừng già, không có địa bàn làm thế nào mà Chuẩn úy Anh có thể tìm được phương hướng. Vì nghĩ như vậy, nên tôi xẳng giọng với Chuẩn úy Anh “Chuẩn úy có biết đơn vị mình nằm ở chỗ nào không mà ông dò tìm phương hướng?” Chuẩn úy Anh trả lời “Tôi cũng như anh, không biết đơn vị ở đâu, nhưng tôi biết chắc một điều, nếu mình đi về hướng Đông sẽ là phía Việt Nam Cộng Hòa, hy vọng sống sót rất cao. Còn nếu đi về hướng Tây sẽ là Cam-Bu-Chia, là hậu cần của Việt Cộng, đó là tử địa. Anh có muốn đi theo tôi hay không, tùy anh lựa chọn”. Tôi đi theo Chuẩn úy Anh mà trong lòng đầy bực tức, hơn hai ngày trong rừng rậm, lầm lũi băng rừng vượt suối, hai thầy trò dẫn nhau tìm đường trở về lại đơn vị. Qua ngày thứ ba, vết thương nơi chân của tôi bắt đầu làm độc vì bị nhiễm trùng, cùng lúc ấy một cơn mưa nhỏ kéo đến đã làm cho toàn thân của tôi lạnh ngắt, tai ù đi như bị điếc, đầu thì nóng sốt trong khi chân tay lại run lập cập khiến tôi không thể nào di chuyển được. Tội nghiệp Chuẩn úy Anh, mặt mày hốc hác vì đói và mệt, vậy mà ông ấy một mặt vẫn cố gắng cõng tôi trên lưng, mặt khác vừa lo dò tìm phương hướng. Gục đầu trên vai của Chuẩn úy Anh, hai tay của tôi choàng qua cổ của ông ta, mắt tôi thấy rõ ràng, Chuẩn úy Anh cố lê từng bước chân nặng nề, đi xuyên qua những rừng cây âm u đầy muỗi mòng rắn rết. Tôi thầm nghĩ, nếu tình trạng bi đát như thế này kéo dài, cuối cùng cả hai sẽ cùng chết. Trong lúc tuyệt vọng, tôi nói với Chuẩn úy Anh “Ông thầy bỏ tôi lại đây, một mình ông đi nhanh hơn, may ra còn thoát được.” Chuẩn úy Anh nói với tôi, giọng nói chứa đầy tình nghĩa “Trong binh chủng của mình, những người lính Nhảy Dù coi nhau như anh em trong một đại gia đình. Một ngàn trái đạn pháo của Việt Cộng nổ chụp lên đầu, lính Nhảy Dù cùng nhau chung sức gánh chịu, bởi vì, họ từng chia xẻ với nhau từng ngụm nước trên đỉnh Trường Sơn, từng nắm cơm nơi địa đầu giới tuyến. Và điều quan trọng nhất là lính Nhảy Dù không bỏ anh em, không bỏ bạn bè. Một người lính Nhảy Dù nằm xuống nơi chiến địa, xác của họ phải được đem về hậu phương chôn cất.” Cuối cùng, Chuẩn úy Anh nói với tôi, câu nói mà suốt đời tôi không bao giờ quên “Trừ khi tôi chết đi, nếu còn một hơi thở, tôi còn cõng anh trên lưng”.
Minh ngừng nói, chừng như quá xúc động khi nhắc lại chuyện xưa, anh đưa tay quẹt ngang mắt của mình rồi nói tiếp.
-Mỗi một chữ của Chuẩn úy Anh nói ra, là một giọt nước mắt của tôi lại rơi xuống, trộn lẫn với những giọt mưa rừng lạnh ngắt. Đột nhiên Chuẩn úy Anh hỏi tôi “Tại sao anh lại khóc”. Ngạc nhiên quá sức, tôi không hiểu tại sao Chuẩn úy Anh biết tôi khóc. Tôi nói “Sao ông thầy biết?” Chuẩn úy Anh nói “Có mấy giọt nước mưa âm ấm, rớt vào cổ tôi”. Trong lòng đầy thương cảm, hối hận vì suy nghĩ nông cạn, sai lầm của mình, tôi buột miệng nói “Xin ông thầy tha lỗi”. Không biết Chuẩn úy Anh có nghe tôi nói lời xin lỗi hay không, nhưng ông vẫn cúi đầu lê bước. Một chuyện hết sức là may mắn, chiều ngày hôm ấy, khi chúng tôi vượt qua một cái trảng trống, được trực thăng phát hiện và bốc về. Những lời nói của Chuẩn úy Anh trong chiến trường ngày nào đã thấm vào từng mạch máu, từng tế bào của tôi. Đó là lý do khiến cho tôi ngày hôm nay, phải lo chôn cất sáu người lính Nhảy Dù.
Tôi nói với Minh.
-Bây giờ, tôi đã hiểu tại sao, nhưng trong lòng vẫn còn chút lấn cấn.
Minh lập lại.
-Lấn cấn?
Tôi gật đầu.
-Đúng vậy, nếu không có cái ơn cứu tử của Chuẩn úy Bùi Anh, liệu anh có lo chôn cất sáu người lính Nhảy Dù không?
Minh chần chừ một chút rồi mới trả lời.
-Câu hỏi của cậu quả thật là khó, tôi đành phải nói thật, câu trả lời có thể là không.
Quay nhìn tôi, Minh nói tiếp.
-Tôi biết làm như vậy là không phải. Nhưng mà xét cho cùng, tôi cũng chỉ là một con người bình thường như muôn vạn người khác mà thôi.
Tôi ngồi đó trên chuyến xe đêm đang lao đầu về Đà Lạt, chạy trở về quá khứ. Đèn xe chỉ đủ soi sáng chừng vài chục thước trước mặt. Đôi mắt của Minh đăm đăm dõi theo ánh sáng đèn xe, hai tay nắm chặt tay lái. Bầu không khí trong xe êm ả lạ thường, chỉ còn nghe chút hơi thở nhẹ nhàng đều đặn của Cúc bên tai, tôi nhắm mắt, miệng hỏi Minh:
-Anh có buồn ngủ không?
-Không. Tôi lái xe đường xa quen rồi. Khi buồn ngủ quá sức, tôi biết liền. Lúc ấy, tôi tấp xe vào bên lề đường ngủ một giấc độ chừng mươi phút, cơn buồn ngủ sẽ tan biến ngay.
Tôi đang trò chuyện với Minh nhưng mí mắt của mình cứ nhíu lại, kéo tôi vào giấc ngủ. Tuy là ngủ gà ngủ gật, thế nhưng đó lại là một trong những giấc ngủ phải nói là ngon nhất mà tôi có được, kể từ khi rời bỏ Trường Võ Bị Đà Lạt.
Tốt nghiệp Trường huấn luyện Phi công Lục quân năm 2014, Đại uý Hieu N* được chỉ định lần lượt giữ các chức vụ: Sĩ quan liên lạc hàng không Lục quân, Sĩ quan hành quân, Trung đội trưởng, và hiện nay là Đại đội trưởng Phi công trực thăng UH-60 Blackhawk (S-70) và UH-72 Lakota (EC-45) hàng không Vệ binh Quốc gia, Lục quân trừ bị.
Đại uý Hieu N tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Khoa học, Kỹ thuật Cơ khí – Trường Đại học Washington 2012; Ông đang học chương trình Cao học Quản trị Kinh doanh tổng quát – Trường Auburn University Harbert College of Business và sẽ tốt nghiệp vào tháng 6 năm 2025. Ngoài ra, ông đã tu nghiệp và tốt nghiệp các Văn bằng, Chứng chỉ chuyên môn về ngành hàng không Lục quân và hàng không dân sự.
Đại uý Hieu N phục vụ ngành hàng không Vệ binh Quốc gia từ tháng 6 năm 2012 dến nay, gần 13 năm. Và phục vụ ngành hàng không dân sự qua các hãng hàng không: Kỹ sư hàng không hãng Alaska Airlines, từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015; Phi công hãng Mesa Airlines, Inc, từ tháng 10 năm 2018 đến tháng 4 năm 2022; Phi công hãng Air Transport International, Inc, từ tháng 4 năm 2022 đến tháng 10 năm 2023; Và nay là Phi công Boeing B-737 của hãng hàng không Delta Air Lines từ tháng 10 năm 2023.
Thân phụ của Hieu N, nguyên là Phi công Không quân VNCH gắn cánh bay cho anh trong ngày lễ tốt nghiệp Phi công trực thăng.
Hieu N nguyên và Thân phụ trong ngày lễ tốt nghiệp Phi công trực thăng.
Hieu N nguyên và Thân phụ trong ngày lễ tốt nghiệp Phi công hàng không dân sự.
Hieu N, Phi công Boeing B-737 của hãng hàng không Delta Air Lines.
Hieu N “trái”, Phi công và Vu Dương “phải”, Trưởng phi cơ trong phòng lái phi cơ Boeing B-737 của hãng Delta Air Lines. Thân phụ của họ đều là cựu Phi công trực thăng Không quân VNCH. Vu Dương nguyên là cựu Sĩ quan Phi công Hải quân Hoa Kỳ và Hieu N là Phi công trực thăng UH-60 Blackhawk, Lục quân trừ bị Hoa Kỳ.
Chú thích: Viết theo tài liêu; *Ghi theo tên từ tài liệu; Tất cả hình ảnh của Hieu N.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.