Chiến tranh bên cạnh tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 23 Feb 2025

Dâu bể trùng phùng

Tập 2

Chương 2

Nhảy Dù cố gắng

Khi tôi thức dậy, bầu trời đã ưng ửng sáng, những ngọn đèn đường bao quanh khu bến xe đã tắt tự lúc nào. Tôi liếc nhìn đồng hồ, hơn 5 giờ rồi mà người tài xế xe vận tải đi Đà Lạt vẫn chưa đến đón chúng tôi, như anh đã hứa. Một chút nghi ngờ thoáng qua trong đầu, có khi nào anh tài xế lấy tiền của chúng tôi rồi trốn mất tiêu hay không? Có thể lắm chứ. Chuyện Miền Nam mất vào tay Cộng Sản, giống như chuyện trời sập, chuyện không tưởng, vẫn có thể xảy ra thì chuyện anh tài xế xe tải lừa chúng tôi để lấy hai ngàn đồng, có gì là lạ đâu. Tôi quay đầu nhìn sang bên cạnh, Cúc hãy còn ngủ say. Là con nhà giàu, suốt đời sống trong nhung lụa, trong nhà kẻ hầu người hạ, khi ra đường một bước lên xe, hai bước xuống ngựa, hôm nay phải ngủ lang ở đầu đường xó chợ, tôi tưởng rằng Cúc sẽ cau có, bực dọc, hoặc ít ra cũng trăn qua trở lại vì đàn muỗi đói lẩn quẩn bên tai, vì nền xi măng ẩm lạnh, vì chiếc chiếu cũ đầy mùi hôi hám. Trái lại, Cúc ngủ ngon lành từ tối đến giờ. Tôi nhẹ nhàng đặt cái quạt giấy xuống bên cạnh Cúc, rồi lượm hai tấm thẻ bài rớt dưới đất đeo vào cổ của mình. Hai tấm thẻ bài này đã theo Cúc mấy năm rồi, hôm qua Cúc mới trả lại cho tôi. Trong cái ánh sáng đùng đục tựa như pha màu sữa của bầu trời chưa sáng tỏ, tôi đọc được hàng chữ Nguyễn thị Cúc, khắc thêm vào khoảng trống bên trên tên của tôi trong tấm thẻ bài. Năm xưa, ngày đầu tiên bước chân vào lính, tại Trung Tâm II Tuyển Mộ Nhập Ngũ, tôi được nhận quân trang quân dụng, cùng với tấm thẻ bài làm bằng một loại sắt không rỉ sét, trên đó tên của tôi với số quân và loại máu được in bằng máy dập, ép. Cúc đưa tấm thẻ bài của tôi cho thợ khắc chữ ở Sài Gòn thêm tên của Cúc vào. Hai cái tên quyện vào nhau, được làm từ hai loại máy khác nhau khiến tấm thẻ bài có nét là lạ, trông đẹp hơn và cũng tình tứ hơn. Có thể nhờ vậy mà những cô bạn gái của Cúc, coi việc đeo tấm thẻ bài của lính như một món đồ trang sức. Với tôi, đó là những cô gái lãng mạn đáng yêu vào bậc nhất trên cõi đời này. Tôi vươn vai, duỗi chân để xua đuổi cái mệt mỏi của đêm dài rồi đảo mắt nhìn quanh. Sài Gòn, thành phố của hơn hai triệu dân, với sức sống tràn đầy mãnh liệt vẫn còn chìm sâu trong giấc ngủ mê mệt. Hình như, cái thành phố cứng đầu này không muốn trở lại với những sinh hoạt bình thường của nó. Trong lúc giao thời, chưa biết phải làm gì, nhà nào cũng đóng cửa chờ đợi. Theo tôi biết, bất cứ thành phố nào của Việt Nam, chợ và bến xe là nơi có sức sống nhộn nhịp nhất vào buổi sáng. Hôm nay, mọi sinh hoạt ồn ào náo nhiệt của bến xe Pétrus Ký không còn nữa, đường phố khá im vắng, một vài ngôi nhà mở hé cửa để lọt chút ánh sáng vàng nhạt qua khe hở. Tôi đoán có thể cả tháng rồi, bến xe đi Đà Lạt chỉ còn những cửa hàng ăn hoạt động cầm chừng, vì Thành phố Đà Lạt đã bị Cộng Sản chiếm đóng từ tháng trước.

Trong cái yên vắng tưởng chừng sẽ còn kéo dài không biết đến khi nào, bất chợt tôi thấy một nhóm người đi dọc theo lề đường. Khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi nghe được họ nói chuyện với nhau.

-Đi lẹ lên mấy bà, nghe nói trời sáng là bắt đầu.

Tôi nghe để mà nghe, nghe xong rồi bỏ ngoài tai, chuyện buôn bán của mấy bà để ý làm gì cho mệt. Được vài phút lại có một bầy con nít, vừa đi vừa chuyện trò líu lo.

-Mày chắc không?

-Chắc.

-Ai nói với mày?

-Chị tao nói, lát nữa họ sẽ xử tội mấy ông lính Nhảy Dù.

Câu nói của thằng bé khiến tôi giật mình, không kịp suy nghĩ tôi bung người bật dậy như một cái lò xo, lật đật đuổi theo mấy đứa nhỏ. Tôi vừa chạy vừa la.

-Ê, mấy đứa.

Một thằng nhỏ quay đầu nhìn tôi.

-Chú kêu tụi con có chuyện gì?

Tôi vội vàng hỏi.

-Mày nói xử tội ai?

Thằng nhỏ trả lời tôi.

-Xử tội lính Nhảy Dù.

-Ai xử

-Việt cộng xử chớ còn ai nữa.

Tôi kéo tay thằng bé.

-Xử ở đâu?

-Chú theo đường Pétrus Ký này, chỉ một chút thôi, tới đường Trần Quốc Toản quẹo phải. Mà thôi, chú muốn coi thì theo tụi con, khỏi mất công con chỉ dẫn lôi thôi, tốn thì giờ vô ích.

Không một chút chần chừ, tôi rảo bước theo lũ nhỏ. Khi qua đường Trần Quốc Toản được một khúc, tôi nhìn thấy bên tay trái của tôi là một ngôi tháp nguy nga đồ sộ, cao ba, bốn tầng đang được xây cất dang dở, với những trụ sắt đen sì tua tủa đâm lên trời. Giữa sân là những đống gạch ngói, gỗ đá ngổn ngang, xa hơn chút xíu là cái cổng khá lớn với bốn chữ Việt Nam Quốc Tự.

Tôi nhìn sửng ngôi chùa không chớp mắt, thì ra tối hôm qua tôi thức suốt đêm, có ngủ đâu. Tiếng chuông tôi nghe được là tiếng chuông chùa Việt Nam Quốc Tự, chứ không phải là tiếng chuông chùa Sư Nữ Linh Phong ở Đà Lạt mà tôi nghe được trong giấc mơ. Ôi! Trong cuộc sống đổi thay bất thường này, mộng và thực xét cho cùng khó mà phân biệt được.

Khi đi ngang qua ngôi chùa, một thằng bé giật mạnh cái chéo áo của tôi, tay chỉ về phía xa xa.

-Đó.. đó.. chú thấy chưa! Chỗ đám đông bu quanh thành cái vòng tròn. Mình chạy lẹ lên đi chú. Vì quá nóng lòng, tôi chạy thật nhanh vượt qua mấy đứa nhỏ, tiến về phía trước.

Khi tôi chen chân vào bên trong vòng tròn người, một cảnh tượng hãi hùng khiến tôi như muốn chết đứng, tay run theo tay, chân run theo chân, lạnh cứng cả người. Bốn, năm cái xác lính Nhảy Dù nằm la liệt trên mặt đất, những xác chết bê bết máu với thương tích đầy người, một điều lạ là cả hai đầu gối của mấy xác chết đều bị thấm đầy máu, trong đó có một xác không còn nguyên vẹn hình hài với cái đầu mất đi một nửa, máu khô trộn lẫn với óc phủ đầy ngực của xác chết. Bên cạnh đó, trên một cái ghế dựa cũ kỹ bạc màu sơn, một ông chuẩn úy Nhảy Dù, hai tay bị trói ngược ra phía sau, hai chân bị cột vào hai chân ghế, đôi giày bốt đờ sô cởi vất bên cạnh. Con mắt trái của ông chuẩn úy tím bầm, sưng to như một trái quít, hình như đã mù do bị một vật cứng đập vào chứ không phải do trúng đạn, máu khô còn đọng lại một bên má. Mắt bên phải của ông chuẩn úy còn lành lặn nhưng nhắm nghiền lại, đầu nghiêng về phía trái. Tôi đọc được chữ Ngo nơi túi áo phải của ông chuẩn úy. Tên ông ta là Ngô, Ngộ hay Ngọ, tôi không biết được.

Trước mặt ông chuẩn úy, cả chục tên cán binh Cộng Sản với bộ đồ trận kaki Nam Định, chân mang dép râu, vai mang súng AK, đầu đội nón cối. Gương mặt của họ đầy vẻ tự tin của kẻ thắng trận với những cặp mắt sáng ngời nhìn thẳng về phía trước, chỉ có nước da nhờn nhợt, tai tái xanh màu cây cỏ của núi rừng Trường Sơn. Tất cả đều còn quá trẻ, tôi đoán họ chưa qua được tuổi hai mươi. Riêng người chỉ huy toán cán binh Cộng Sản, sở dĩ tôi biết ông ta là cấp chỉ huy bởi vì bộ đồ kaki mà ông đang mặc trên người trông rất sạch sẽ, thẳng thớm, vai đeo cái xách cốt bằng da màu vàng đậm, bên hông kè kè cây súng ngắn K59. Chân ông ta không mang dép râu mà mang đôi giày xăng đan. Đó là điều tôi thấy khá khôi hài, mới từ trong dãy Trường Sơn ra mà mang xăng đan da còn mới tinh, khác nào George Orwell đã viết “Trong Trại Súc Vật, mọi con vật đều bình đẳng, nhưng có một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác”.

Người cán bộ Cộng Sản chỉ huy có gương mặt hiền lành, mang đậm nét quê mùa của một anh nông dân thật thà chất phát, quanh năm chân lấm tay bùn, ông ta nhìn viên chuẩn úy Nhảy Dù với đôi mắt hiền khô rồi cất giọng.

-Đồng bào Miền Nam ruột thịt, hãy nghe tôi nói. Đây là xác những tên lính Nhảy Dù Ngụy ngoan cố. Hai ngày trước, khi mà thằng Tổng Thống Ngụy Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh Sài Gòn, vào khoảng mười giờ sáng ngày ba mươi tháng tư, những tên lính Nhảy Dù Ngụy này vẫn không chịu buông súng, chúng điên cuồng, tiếp tục đánh phá cách mạng với mục đích là cản bước tiến của dân quân ta trên đường giải phóng Sài Gòn. Năm cái xác lính Nhảy Dù Ngụy mà đồng bào thấy nằm lung tung, lang tang dưới đất là do bị các chiến sĩ cách mạng trừng trị. Đổi lại, cả chục chiến sĩ của ta đã hy sinh một cách oan uổng dưới tay của đám lính Nhảy Dù Ngụy này. Tất cả chỉ vì lơ đễnh, cả tin vào lời kêu gọi lính Ngụy buông súng đầu hàng của thằng Dương Văn Minh.

Đây là lần đầu tiên, tôi được nghe tận tai, thấy tận mắt một cán bộ cấp chỉ huy Cộng Sản nói chuyện với dân chúng. Tôi không biết ông ta được huấn luyện ra sao, học hành tới đâu, cấp bậc là gì. Thế nhưng, khi một người cán bộ chỉ huy Việt Cộng, gọi Tổng Thống Dương Văn Minh là phe thù nghịch với mình bằng thằng, đó là ngôn ngữ của những người thiếu giáo dục, những kẻ không có học. Văn hóa của Miền Nam từ bao năm rồi không chấp nhận lối nói chuyện như vậy. Bởi vì dân cũng như lính Miền Nam, tuy không gọi Hồ Chí Minh của Miền Bắc là Chủ Tịch nhưng họ gọi ông ta là “ông Hồ Chí Minh” không có chữ thằng đi kèm.

Người cán bộ chỉ huy ngưng nói, ông ta đi tới rồi đi lui, nhìn những người dân đang đứng vây quanh với đôi mắt hiền hòa, nụ cười tươi tắn trên môi rồi thong thả đến trước mặt viên chuẩn úy Nhảy Dù, thân mật vỗ vai viên chuẩn úy.

Người cán bộ chỉ huy ngừng nói, quay nhìn đám đông như đợi cho mọi người hiểu rõ những gì mình vừa diễn đạt, sau đó ông ta mới từ tốn nói tiếp.

-Riêng tên chuẩn úy Nhảy Dù bị cột trên chiếc ghế mà đồng bào thấy đây, sở dĩ hắn còn sống cho đến giờ phút này bởi vì hắn đã quỳ lạy, van xin cách mạng tha tội.

Từ nãy đến giờ, viên chuẩn úy Nhảy Dù vẫn lặng im như đang nghe, đột nhiên ông ta ngẩng đầu lên, cố nhướng con mắt còn lại nhìn theo người cán bộ chỉ huy, rồi cất giọng thều thào:

-Nước…Nước.

Người cán bộ chỉ huy nhìn mấy tên cán binh Cộng Sản, hất hàm.

-Mở trói, đem nước cho hắn.

Viên chuẩn úy Nhảy Dù đưa tay đón cái bi đông nước bằng nhựa được sản xuất tại Trung Cộng, nhưng hình như ông ta không nhìn thấy rõ, cho nên hai tay cứ quơ quào trong không khí.

Một tên cán binh Việt Cộng nắm lấy cổ tay của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đặt cái bi đông nước vào tay của ông ta. Với hai bàn tay tím bầm, máu khô còn đọng lại nhiều chỗ, viên chuẩn úy Nhảy Dù dùng cả hai tay ôm cái bi đông nước sát vào lòng như sợ người khác giật mất. Tôi đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy viên chuẩn úy Nhảy Dù uống nước. Xin nước mà không chịu uống chỉ để ôm vào người, hành động kỳ lạ như vậy, cho tôi thấy ông ta đang lo nghĩ đến chuyện gì đó quan trọng hơn là việc uống nước. Hai phút, rồi ba phút trôi qua trong im lặng, cuối cùng viên chuẩn úy mới từ từ nâng cái bi đông lên cao quá đầu, sau đó ông ta ngửa cổ há miệng, úp ngược cái bi đông lại. Nước từ trong bi-đông òng ọc chảy xuống mắt, mũi, miệng của viên chuẩn úy. Một phần nước chảy tràn qua bên má, hòa với máu khô thành một màu vàng lờn lợt lan xuống chiếc áo rằn ri, làm ướt dầm cái lon chuẩn úy màu đen thêu nơi cổ áo, ướt luôn cái tên Ngo nơi túi áo. Mặc kệ, viên chuẩn úy vẫn tiếp tục uống từng hớp nước một cách ngon lành. Cục xương trái khế nơi cổ của ông ta chạy lên, chạy xuống theo tiếng nước trôi ừng ực qua cổ họng, trong khi hai tay vẫn giữ chặt cái bi đông. Có chứng kiến tận mắt cảnh một người lính của bên thua trận, mang thương tích trầm trọng đầy người, ung dung bình thản uống nước như vậy, mới thấy được cái phong thái hào hùng đầy bi thảm của ông ta.

Như muốn kéo dài thời gian, viên chuẩn úy nhẫn nha uống cho đến giọt nước cuối cùng từ cái bi đông rơi xuống, lúc bấy giờ ông ta mới từ tốn đưa tay vuốt mặt, dụi mắt, quay nhìn người cán bộ chỉ huy. Con mắt còn lại của viên chuẩn úy chợt nhíu lại, rồi bất ngờ, ông ta ném mạnh cái bi đông về phía người cán bộ chỉ huy. Cái bi đông lăn long lóc trên nền xi măng, phát ra những tiếng kêu khô khan, cộc lốc. Với giọng khàn khàn, đầy tự tin, viên chuẩn úy Nhảy Dù gằn từng tiếng một. -Tao là lính Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không bao giờ quỳ lạy hay van xin những thằng vừa đánh trống, vừa ăn cướp như mày. Nếu tụi tao còn đạn, bọn Việt Cộng man rợ như chúng mày làm gì có cơ hội đứng đây mà nói láo, mà huênh hoang khoác lác với dân chúng.

-Chúng tôi hy sinh thân mình đi làm cách mạng với mục đích là đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng Miền Nam thoát khỏi gông cùm kềm kẹp của Mỹ Ngụy, đem lại Độc lập Tự do cho đất nước, đem thanh bình no ấm cho toàn dân. Chuẩn úy biết ăn năn hối lỗi, cứ an tâm ông sẽ được hưởng chính sách khoan hồng nhân đạo của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Chúng tôi những người cách mạng chân chính, đánh kẻ chạy đi, không bao giờ đánh người chạy lại.

Người cán bộ chỉ huy ngừng nói, quay nhìn đám đông như đợi cho mọi người hiểu rõ những gì mình vừa diễn đạt, sau đó ông ta mới từ tốn nói tiếp.

-Riêng tên chuẩn úy Nhảy Dù bị cột trên chiếc ghế mà đồng bào thấy đây, sở dĩ hắn còn sống cho đến giờ phút này bởi vì hắn đã quỳ lạy, van xin cách mạng tha tội.

Từ nãy đến giờ, viên chuẩn úy Nhảy Dù vẫn lặng im như đang nghe, đột nhiên ông ta ngẩng đầu lên, cố nhướng con mắt còn lại nhìn theo người cán bộ chỉ huy, rồi cất giọng thều thào:

-Nước…Nước.

Người cán bộ chỉ huy nhìn mấy tên cán binh Cộng Sản, hất hàm.

-Mở trói, đem nước cho hắn.

Viên chuẩn úy Nhảy Dù đưa tay đón cái bi đông nước bằng nhựa được sản xuất tại Trung Cộng, nhưng hình như ông ta không nhìn thấy rõ, cho nên hai tay cứ quơ quào trong không khí.

Một tên cán binh Việt Cộng nắm lấy cổ tay của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đặt cái bi đông nước vào tay của ông ta. Với hai bàn tay tím bầm, máu khô còn đọng lại nhiều chỗ, viên chuẩn úy Nhảy Dù dùng cả hai tay ôm cái bi đông nước sát vào lòng như sợ người khác giật mất. Tôi đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy viên chuẩn úy Nhảy Dù uống nước. Xin nước mà không chịu uống chỉ để ôm vào người, hành động kỳ lạ như vậy, cho tôi thấy ông ta đang lo nghĩ đến chuyện gì đó quan trọng hơn là việc uống nước. Hai phút, rồi ba phút trôi qua trong im lặng, cuối cùng viên chuẩn úy mới từ từ nâng cái bi đông lên cao quá đầu, sau đó ông ta ngửa cổ há miệng, úp ngược cái bi đông lại. Nước từ trong bi-đông òng ọc chảy xuống mắt, mũi, miệng của viên chuẩn úy. Một phần nước chảy tràn qua bên má, hòa với máu khô thành một màu vàng lờn lợt lan xuống chiếc áo rằn ri, làm ướt dầm cái lon chuẩn úy màu đen thêu nơi cổ áo, ướt luôn cái tên Ngo nơi túi áo. Mặc kệ, viên chuẩn úy vẫn tiếp tục uống từng hớp nước một cách ngon lành. Cục xương trái khế nơi cổ của ông ta chạy lên, chạy xuống theo tiếng nước trôi ừng ực qua cổ họng, trong khi hai tay vẫn giữ chặt cái bi đông. Có chứng kiến tận mắt cảnh một người lính của bên thua trận, mang thương tích trầm trọng đầy người, ung dung bình thản uống nước như vậy, mới thấy được cái phong thái hào hùng đầy bi thảm của ông ta.

Như muốn kéo dài thời gian, viên chuẩn úy nhẫn nha uống cho đến giọt nước cuối cùng từ cái bi đông rơi xuống, lúc bấy giờ ông ta mới từ tốn đưa tay vuốt mặt, dụi mắt, quay nhìn người cán bộ chỉ huy. Con mắt còn lại của viên chuẩn úy chợt nhíu lại, rồi bất ngờ, ông ta ném mạnh cái bi đông về phía người cán bộ chỉ huy. Cái bi đông lăn long lóc trên nền xi măng, phát ra những tiếng kêu khô khan, cộc lốc. Với giọng khàn khàn, đầy tự tin, viên chuẩn úy Nhảy Dù gằn từng tiếng một.

-Tao là lính Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không bao giờ quỳ lạy hay van xin những thằng vừa đánh trống, vừa ăn cướp như mày. Nếu tụi tao còn đạn, bọn Việt Cộng man rợ như chúng mày làm gì có cơ hội đứng đây mà nói láo, mà huênh hoang khoác lác với dân chúng.

-Nước…Nước.

Người cán bộ chỉ huy nhìn mấy tên cán binh Cộng Sản, hất hàm.

-Mở trói, đem nước cho hắn.

Viên chuẩn úy Nhảy Dù đưa tay đón cái bi đông nước bằng nhựa được sản xuất tại Trung Cộng, nhưng hình như ông ta không nhìn thấy rõ, cho nên hai tay cứ quơ quào trong không khí.

Một tên cán binh Việt Cộng nắm lấy cổ tay của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đặt cái bi đông nước vào tay của ông ta. Với hai bàn tay tím bầm, máu khô còn đọng lại nhiều chỗ, viên chuẩn úy Nhảy Dù dùng cả hai tay ôm cái bi đông nước sát vào lòng như sợ người khác giật mất. Tôi đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy viên chuẩn úy Nhảy Dù uống nước. Xin nước mà không chịu uống chỉ để ôm vào người, hành động kỳ lạ như vậy, cho tôi thấy ông ta đang lo nghĩ đến chuyện gì đó quan trọng hơn là việc uống nước. Hai phút, rồi ba phút trôi qua trong im lặng, cuối cùng viên chuẩn úy mới từ từ nâng cái bi đông lên cao quá đầu, sau đó ông ta ngửa cổ há miệng, úp ngược cái bi đông lại. Nước từ trong bi-đông òng ọc chảy xuống mắt, mũi, miệng của viên chuẩn úy. Một phần nước chảy tràn qua bên má, hòa với máu khô thành một màu vàng lờn lợt lan xuống chiếc áo rằn ri, làm ướt dầm cái lon chuẩn úy màu đen thêu nơi cổ áo, ướt luôn cái tên Ngo nơi túi áo. Mặc kệ, viên chuẩn úy vẫn tiếp tục uống từng hớp nước một cách ngon lành. Cục xương trái khế nơi cổ của ông ta chạy lên, chạy xuống theo tiếng nước trôi ừng ực qua cổ họng, trong khi hai tay vẫn giữ chặt cái bi đông. Có chứng kiến tận mắt cảnh một người lính của bên thua trận, mang thương tích trầm trọng đầy người, ung dung bình thản uống nước như vậy, mới thấy được cái phong thái hào hùng đầy bi thảm của ông ta.

Như muốn kéo dài thời gian, viên chuẩn úy nhẫn nha uống cho đến giọt nước cuối cùng từ cái bi đông rơi xuống, lúc bấy giờ ông ta mới từ tốn đưa tay vuốt mặt, dụi mắt, quay nhìn người cán bộ chỉ huy. Con mắt còn lại của viên chuẩn úy chợt nhíu lại, rồi bất ngờ, ông ta ném mạnh cái bi đông về phía người cán bộ chỉ huy. Cái bi đông lăn long lóc trên nền xi măng, phát ra những tiếng kêu khô khan, cộc lốc. Với giọng khàn khàn, đầy tự tin, viên chuẩn úy Nhảy Dù gằn từng tiếng một.

-Tao là lính Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không bao giờ quỳ lạy hay van xin những thằng vừa đánh trống, vừa ăn cướp như mày. Nếu tụi tao còn đạn, bọn Việt Cộng man rợ như chúng mày làm gì có cơ hội đứng đây mà nói láo, mà huênh hoang khoác lác với dân chúng.

Bất ngờ bị vạch mặt, chỉ ra chuyện nói láo của mình, bẽ mặt trước đám đông, gương mặt của người cán bộ chỉ huy đang dương dương tự đắc, đột nhiên đổi sang màu xanh, xanh như tàu lá, đôi mắt của ông ta long lên sòng sọc biểu hiệu cho sự giận dữ tột cùng. Hai tay run run, ông ta rút khẩu K59 đeo bên hông, lên đạn rồi hướng nòng súng về viên chuẩn úy Nhảy Dù. No mất ngon, giận mất khôn, người cán bộ chỉ huy không còn giữ gìn phong cách của người thắng trận, không còn để ý đến lời ăn tiếng nói trước công chúng, ông ta nghiến răng, rít lên.

-Địt mẹ, mày nói gì? Nói lại cho bố mày nghe coi, cái thằng lính Ngụy ngoan cố.

Như chưa vừa lòng với những gì mình mới nói, gương mặt của người cán bộ chỉ huy chuyển sang màu đỏ, như màu đỏ của cái đầu con gà chọi. Ông ta hét to, nước bọt từ trong miệng văng đầy trong không khí.

-Đồ khốn kiếp, ông thì bắn bỏ mẹ mày bây giờ.

Vừa dứt lời, người cán bộ chỉ huy đá vào cái bi đông nhựa Trung Cộng, cú đá mạnh đến nỗi cái bi đông bay qua khỏi vòng tròn người đang đứng bao quanh.

Trước sự giận dữ của kẻ địch, thay vì giữ im lặng, chấp nhận nín thở để sang sông, viên chuẩn úy Nhảy Dù chậm rãi đưa tay chỉ vào vết thương nơi mắt trái của mình rồi nói.

-Mày là một thằng Việt Cộng bỉ ổi, đã bắn chết mấy người lính của tao, khi họ đã bị thương nặng không còn khả năng kháng cự, đánh bể một con mắt của tao, hành hạ bắt tao nhịn đói, nhịn khát, cột tao ở đây hơn một ngày rồi.

Nói đến đây, gương mặt của viên chuẩn úy chợt nhăn lại biểu lộ sự uất hận tột cùng.

-Tao hối hận…, thật sự hối hận vì ngày xưa trong lúc đánh nhau, tụi tao, hay nói rõ hơn là lính Miền Nam Việt Nam đã đối xử quá sức nhân đạo với tù binh Cộng Sản. Hôm nay, tụi mày là những người thắng trận, đã xử sự với lính Miền Nam Việt Nam còn tệ hơn là đối xử với một con vật. Sau này trong chính sử sẽ ghi lại, Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm dựng nước giữ nước, ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm, là ngày khởi đầu cho một giai đoạn đen tối, thời kỳ mà Tàu Cộng sử dụng những người mặt Việt mà lòng dạ Tàu, cai trị Việt Nam.

Tôi sợ đến nỗi xuýt tè ra quần vì những câu nói đầy tính khiêu khích của viên chuẩn úy Nhảy Dù. Lẽ ra, ông ta nên im lặng giả dại qua ải, đàng này ông ta lại nói lên sự thật, sự thật ấy như một nhát dao đâm ngay vào cổ họng của kẻ thắng trận. Tôi chỉ muốn chạy lại đưa tay bịt miệng của viên chuẩn úy Nhảy Dù, nhưng…mọi chuyện đã trễ rồi.

Hai tiếng nổ chát chúa vang lên, phá tan bầu không khí im vắng của buổi sáng, tiếp theo đó là nhiều tiếng rú đầy sợ hãi của đám đông dân chúng đứng chung quanh. Hai lỗ tai của tôi lùng bùng như muốn nổ, mắt của tôi hoa lên, đất trời chừng như đảo lộn khi thấy thân hình của viên chuẩn úy Nhảy Dù cùng với chiếc ghế đổ ập xuống đất. Người cán bộ chỉ huy đã bắn hai phát súng vào đầu gối của viên chuẩn úy Nhảy Dù. Như một tia chớp xé toạc màn đêm, tôi rùng mình chợt hiểu, tại sao hai đầu gối nơi xác những người lính Nhảy Dù đều bê bết máu. Người cán bộ chỉ huy với đôi mắt trợn trừng trắng dã, nhìn viên chuẩn úy Nhảy Dù đang lăn lộn dưới đất, đôi mắt của ông ta lúc này giống hệt như mắt một con dã nhân đang nhe nanh, gầm gừ đe dọa địch thủ. Không biết, khi xương bánh chè nơi đầu gối bị bắn bể, mức độ đau đớn mà người ta phải chịu nó như thế nào, nhưng nhìn gương mặt của viên chuẩn úy Nhảy Dù tái nhợt, nhăn rúm, với cái miệng méo xệch, hai tay cố bóp lấy đôi chân mà máu tươi đã thấm ướt hai cái ống quần, tôi biết, ông ta đang gánh chịu một sự đau đớn tột cùng. Người cán bộ chỉ huy đi chầm chậm theo vòng tròn, nhìn mặt từng người đang đứng vây quanh như muốn ăn tươi, nuốt sống họ. Cuối cùng, ông ta quay lại bên viên chuẩn úy Nhảy Dù, kê họng súng vào ngay màng tang của viên chuẩn úy, rồi thản nhiên bóp cò. Chỉ một giây đồng hồ ngắn ngủi, linh hồn của viên chuẩn úy Nhảy Dù đã theo tiếng súng, bước chân qua bên kia thế giới. Ông ta đã anh dũng đi vào lịch sử, một trang sử oai hùng đầy bi thương uất hận của phe thất trận. Máu ở đâu mà nhiều quá, chảy tràn lan trên mặt đất, thấm ướt cái phù hiệu hình vuông may nơi tay áo trái của viên chuẩn úy Nhảy Dù, cái phù hiệu với con chim ưng màu đen bay ngang cánh hoa dù bọc gió, nổi bật trên nền trời màu đỏ thắm. Những dòng máu oan khiên, những giọt máu uất ức chảy hoài, chảy mãi không muốn ngừng, trong khi thân thể của viên chuẩn úy Nhảy Dù đã nằm yên, ngàn đời an nghỉ bên cạnh xác đồng đội của ông ta.

Cảm thương cho người vừa nằm xuống, xót xa khi nhìn về tương lai đen tối của mình trong suốt quãng đời còn lại. “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, nước mắt của tôi được dịp tuôn tràn. Tôi khóc thành tiếng lúc nào không biết, khóc cho mình rồi khóc thương cho mấy chục triệu dân Việt Nam, không biết họ phải chịu kiếp sống đọa đày trong cái địa ngục Xã Hội Chủ Nghĩa này bao nhiêu lâu nữa đây.

Tiếng khóc của tôi vang lên khiến cho nhiều người xì xào, bàn tán. Với vẻ mặt đầy tức giận, khi thấy tôi khóc thương cho viên chuẩn úy Nhảy Dù vừa bị xử bắn, người cán bộ chỉ huy như đang say máu, say mùi thuốc súng, ông ta đi đến trước mặt tôi, gí cái nòng súng còn đang bốc khói vào ngay giữa trán tôi. Với giọng đầy ngạc nhiên, ông ta nói.

-Địt mẹ cái lũ Ngụy ngoan cố này, tao chỉ bắn có một thằng lính Ngụy chống phá Cách mạng. Cho dù, có một triệu thằng phản động như thằng lính Nhảy Dù này tao cũng bắn tuốt. Tại sao mày lại khóc? Mày là lính Ngụy phải không?

Hồn vía lên mây, tôi sợ đến nỗi im ngay tiếng khóc. Đầu óc của tôi làm việc nhanh như một cái máy, tôi phải trả lời người cán bộ chỉ huy liền lập tức, trước khi ngón tay trỏ của ông kịp bóp vào cò súng. Bằng một giọng nói run rẩy vì quá sợ hãi, tôi lắp ba, lắp bắp.

-Thưa… cách mạng tôi không phải là lính Ngụy.

Chỉ là một câu nói tuy đơn giản, nhưng nó cho tôi biết rõ về con người của mình như thế nào rồi.

Một giây chần chừ, chỉ một giây thôi nhưng tôi thấy nó dài như một thế kỷ. Người cán bộ chỉ huy nhích nòng súng lên trời. Tôi nghe được một tiếng nổ vang lên bên tai như muốn rách màng nhĩ, cùng lúc ấy tôi biết là mình vẫn còn sống. Như chưa hả giận, người cán bộ chỉ huy hướng mũi súng vào xác của mấy người lính Nhảy Dù liên tục bóp cò, cho đến khi một tiếng “cắc” lạnh lùng vang lên, ông ta mới chịu ngừng tay. Từ lúc viên chuẩn úy Nhảy Dù bị bắn, cho đến khi những viên đạn điên cuồng ghim vào thân xác của những người lính Nhảy Dù, tất cả mọi việc chỉ diễn ra trong vòng vài phút, tôi hành động theo phản xạ tự nhiên, hoàn toàn theo bản năng sinh tồn của một con người đứng trước cái chết.

Người cán bộ chỉ huy nhét khẩu súng K59 vào bao.

-Mẹ bố cái lũ Ngụy ngoan cố, chỉ có bỏ tù bỏ đói, lưu đày biệt xứ nơi trại Cổng Trời mới trị được bọn chúng mày.

Vừa dứt lời, ông ta bước đến bên cạnh xác của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đưa tay lật cái ghế lên trong khi chân đá mạnh vào cái xác chết.

-Địt mẹ cái đồ bán nước, ôm chân đế quốc.

Nói xong, người cán bộ chỉ huy ngồi chồm hỗm bên cạnh chiếc ghế, lục trong cái xách cốt, lấy ra một tờ giấy đặt lên mặt ghế và bắt đầu viết.

Tôi không biết ông ta viết gì trong tờ giấy nhưng nhìn nét mặt đầy căng thẳng của ông ta, tôi biết chắc đó phải là những điều quan trọng. Chừng độ hơn mười phút sau, người cán bộ chỉ huy ngừng viết, ông ta đặt tấm giấy ngay ngắn trên mặt ghế, rồi cúi đầu lượm một chiếc giày bốt đờ sô của viên chuẩn úy Nhảy dù dằn lên.

Người cán bộ chỉ huy chống tay vào ghế đứng lên, quay nhìn đám cán binh Cộng Sản, ông ta nói:

-Chúng ta về thôi.

Cùng một sự việc, tôi và viên chuẩn úy bị kẻ thù uy hiếp bằng súng, viên chuẩn úy Nhảy Dù nói với mọi người là ông đã chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng chứ không van lạy, xin tha mạng như lời nói điêu ngoa của kẻ thù. Ông thà chết để bảo vệ danh dự, quyết không để kẻ thù vu khống, sỉ nhục. Tôi là Trung úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cấp bực của tôi cao hơn ông chuẩn úy Nhảy Dù hai bậc. Chúng tôi cùng xuất thân từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi là siêu huynh trưởng của ông ta nhưng không dám nhận mình là lính. Tôi là một thằng hèn đã nói láo để sống còn. Chuyện rõ như ban ngày, người đáng sống là viên chuẩn úy Nhảy Dù chứ không phải là tôi.

Tôi có thể im lặng, giấu kín chuyện xấu hổ hèn hạ, tham sống sợ chết của mình bởi vì không một ai ở đây biết tôi là trung úy, chỉ trừ một người. Người đó là tôi. Biến cố xảy ra ngày hôm nay, đã làm thay đổi hẳn con người của tôi. Cái chết của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đã khiến tôi có cái nhìn khác hơn của một người bên thua trận. Viên chuẩn úy Nhảy Dù chết nhưng ông đã làm cho kẻ thù khiếp sợ. Đó là một cái chết đầy bi thảm oai hùng, cái chết còn sống mãi muôn đời với lịch sử, với Tổ Quốc Việt Nam.

Đợi cho đến khi đám cán binh Cộng Sản đã đi xa, tôi ngồi xuống bên cạnh xác chết của viên chuẩn úy Nhảy Dù với máu tươi bám đầy trên tóc, chảy dài xuống mặt. Con mắt còn lại của ông ta trợn trừng nhìn lên bầu trời cao xanh thẳm. Ở đó, người chết đã chết rồi nhưng oan khiên, uất hận ngàn đời vẫn còn chất chứa không tan. Tôi đưa tay vuốt mắt cho viên chuẩn úy Nhảy Dù, rồi cởi cái áo sơ mi đang mặc trên người. Với tất cả tấm lòng thành kính, tôi cẩn trọng đắp chiếc áo lên mặt người chết, mà tưởng là mình đang làm lễ phủ cờ cho một chiến sĩ vị quốc vong thân.

Khi tôi ngước mặt nhìn lên, đám đông đã tản mác đi gần hết, chỉ còn lại xác của sáu người lính Nhảy Dù, họ nằm yên đó không đi đâu hết, chết rồi làm sao mà đi. Một chuyện lạ lùng hy hữu, đã xảy ra giữa Sài Gòn ngày hôm ấy, trên trời cao, lẫn trong đám mây xám ngập ngừng trôi, một con chim lạc bầy, cất tiếng kêu ai oán bi thương, tiếng kêu vang vọng giữa thinh không như muốn xé nát lòng người, như tiếng gọi hồn tử sĩ trong đêm truy điệu trước ngày lễ mãn khóa, tại Trường Bộ Binh Thủ Đức mà tôi đã tham dự.

Một thằng bé mặt mày sáng sủa, trên người chỉ mặc độc có một cái quần cụt, nhè nhẹ bước đến bên tôi, nó nói nhỏ vào tai của tôi.

-Chú đợi đây, con chạy về nhà lấy cái áo của ba con cho chú bận. Đợi con nghe.

Lòng tôi chùng xuống khi nghe giọng nói êm dịu đầy ắp tình người, vì thằng bé chỉ lo tìm áo cho tôi, trong khi nó thì mình trần trùi trụi. Tôi gật đầu rồi đưa tay nhấc tờ giấy dằn dưới chiếc giày trên mặt ghế. Trên tờ giấy chỉ có một hàng chữ “Ngim cấm kông được kéo sác đi chôn kí tên ba út”. Phải mất hơn mười phút để người cán bộ chỉ huy viết được mười hai chữ, loại chữ như gà bươi mà ngày xưa khi mới bước chân vào học lớp vỡ lòng ở bậc tiểu học, tôi thường tập viết. Tôi nhớ đến sếp của tôi, thiếu tá trưởng phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt. Thiếu tá Hưng là mẫu người rộng rãi, xuề xòa, không bao giờ phê phán, chê trách một ai. Với ông thì chín bỏ làm mười, vậy mà khi nói đến cái man rợ, độc ác của Việt Cộng, ông nói “Có một cái luật bất thành văn là những người chỉ huy, những kẻ lãnh đạo của Cộng Sản Việt Nam, cấp bậc càng cao, chức vụ càng lớn, trong đầu của họ càng chứa nhiều bã đậu, nhưng mức độ gian manh, dã man tàn ác, trong những cái đầu bã đậu ấy, không một ai trên trái đất này sánh bằng”.

Tôi đứng lên, nhìn xác thân của những người lính Nhảy Dù bị vứt bỏ bên đường mà lòng đầy thương cảm. Đã đến lúc phải đi, tôi đứng nghiêm như đang làm lễ chào Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa vào mỗi sáng thứ Hai tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Sau vài giây chần chờ, tôi đưa tay chào kính xác của mấy người lính Nhảy Dù lần cuối cùng rồi hít một hơi dài để lấy sức, nhắm mắt cắm đầu chạy thục mạng trở về bến xe.

Hai ngày, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh, một ông chuẩn úy Nhảy Dù và năm người lính của ông ta vẫn còn chiến đấu. Tuy bị thương nặng nhưng họ đã cố gắng cho đến hơi thở cuối cùng, cố gắng bảo vệ màu cờ sắc áo, cố gắng bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa. Bởi vì, bốn chữ “Nhảy Dù Cố Gắng” thì bất cứ người lính Nhảy Dù nào từ quan cho tới lính cũng đều thuộc nằm lòng.

Không phải tự nhiên mà sau hai mươi năm dâu bể đọa đày, Tô Thùy Yên đã phải ngậm ngùi thương tiếc với bài thơ “Anh Hùng Tận”

Tới đây toàn những tay hào sĩ.
Tiêu xác thân, để lại oan hồn.

Lời thơ nghe sao mà xót xa, đau đớn đến tận cùng xương tủy.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Dâu bể trùng phùng

Tập 2

Chương 1

Bát nhã tâm kinh

Chỉ mới lơi tay quạt, chợp mắt được chút xíu, tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu của một đàn muỗi đói đang rình rập gần đâu đó. Những con muỗi tinh ranh quỷ quái, chỉ chờ tôi ngừng tay là chúng lẹ như chớp, hè nhau đáp xuống hút máu của tôi và Cúc rồi bay mất tiêu, để lại những mụn đỏ ngứa ngáy trên tay trên cổ. Không muốn bị muỗi đốt, tôi chỉ còn một cách duy nhất là thức để quạt muỗi chờ trời sáng. Càng chờ, thời gian như càng dài ra, một giờ trôi qua mà tôi tưởng như một năm. Để giết thời giờ, tôi nhìn cây kim dài bò chầm chậm quanh mặt kính nơi cái đồng hồ đeo tay của mình, rồi đếm theo từng tiếng tích tắc âm vang trong đêm khuya vắng lặng. Cuối cùng vì mệt mỏi quá sức, tôi thiếp đi lúc nào không biết, mặc cho lũ muỗi đói tha hồ hút máu.

Chập chờn trong giấc ngủ nửa mê nửa tỉnh, tôi mơ hồ nghe tiếng chuông chùa nương theo cơn gió thoảng, vang đến bên tai.

Bong.. Bòng ..Bong

Tiếng chuông êm đềm, khoan thai ngân dài trong đêm vắng rồi quyện vào bầu không khí tĩnh mịch, bao trùm lấy khoảng không gian chật hẹp quanh tôi. Hình như, tiếng chuông mà tôi nghe được là từ trong tiềm thức xa xăm vọng lại thì đúng hơn.

Boong.. Boòng ..Boong

Đúng rồi, đúng là tiếng chuông chùa Sư Nữ Linh Phong ở xóm Trại Hầm của tôi. Nhà tôi ở đầu xóm, chùa Sư Nữ ở cuối xóm.

Ngày xửa, ngày xưa… xưa lắm rồi, lúc mà thuở trời đất còn mang mang trong trí nhớ, khi tôi học lớp nhì, lớp nhất ở bậc tiểu học, cứ vào những ngày rằm hoặc mồng một, má tôi thường dẫn tôi đi lễ ở chùa Sư Nữ. Đó là ngôi chùa nằm trơ trọi trên đỉnh một ngọn đồi giữa rừng thông xanh, quanh năm chim kêu gió hú, nghe đến buồn hiu hắt. Chùa vốn đã nhỏ lại được làm bằng gỗ, trải bao năm tháng dãi dầu mưa nắng, màu gỗ đã xuống sắc khiến cho ngôi chùa trông cũ kỹ, nghèo nàn đến tội nghiệp. Nếu không nhờ mái chùa uốn cong, được lợp ngói âm dương với hai con rồng bằng gỗ chạm trổ rất tinh vi gắn ở hai đầu nóc chùa, người ta có thể tưởng lầm đó là một căn nhà của cư dân trong xóm.

Lần đầu tiên nhìn thấy ngôi chùa ẩn mình trong một khu rừng quạnh hiu thanh vắng, hình ảnh ấy, đã ăn sâu vào tâm khảm của một đứa bé mười tuổi như tôi. Vì chùa ở quá xa thành phố, cho nên chỉ vào những ngày lễ lớn hoặc Tết Nguyên Đán, mới thấy khách thập phương từ Đà Lạt hoặc những nơi khác đến viếng chùa. Những ngày còn lại, hầu hết thiện nam tín nữ, đi dâng hương lễ Phật tại chùa Sư Nữ đều là người dân ở trong xóm Trại Hầm của tôi. Lễ vật của dân trong xóm dâng lên chùa có gì đâu ngoài vài nải chuối sứ hãy còn xanh, dăm ba trái mận vừa chín tới, mấy củ khoai đào ở sau vườn cọng thêm tấm lòng thành kính của họ. Tất cả chỉ có vậy, không còn gì khác.

Chùa Yên Tử-Quảng Ninh

Má tôi là một phật tử thuần thành, đi lễ chùa và niềm tin vào Đức Phật, với bà đó là hai chuyện không thể tách rời. Lần nào cũng vậy, trước khi đi lễ, má tôi thường ra mảnh vườn sau nhà đào một ít khoai lang, bà cẩn thận lựa những củ to lớn tốt đẹp, sắp riêng vào một cái rổ nhỏ đem lên cúng chùa, những củ còn lại còi cọc xấu xí, bà để ở nhà luộc cho tôi ăn sáng. Má tôi cũng không quên cắt một ít bông Vạn Thọ giao cho tôi ôm, theo bà lên chùa.

Tôi theo má dâng hương lễ Phật, rồi ngồi im lặng nơi chánh điện nghe tiếng tụng kinh gõ mõ, đều đều bên tai. Một đứa trẻ năng động, ham chạy nhảy chơi đùa như tôi, phải ngồi im một chỗ để nghe kinh, đúng là một cực hình. Tai nghe nhưng đầu óc của tôi lại lang thang đâu mãi tận đầu làng cuối xóm với mấy đứa bạn, khi thì chơi bịt mắt bắt dê, lúc thì đá banh hoặc kéo nhau xuống cái trũng sâu bên kia đồi bắt dế. Người một nơi mà hồn một nẻo, đó là tâm trạng của tôi khi ngồi trong chùa. Tuy vậy, chuyện nghe kinh cũng không khiến tôi đau khổ bằng phải ăn cơm trưa tại chùa, đó là những bữa ăn đáng nhớ trong đời. Nhà tôi vốn đã nghèo, nhưng trong bữa cơm cũng có được vài con cá hấp kho mặn to bằng hai ngón tay, cái trứng vịt luộc dằm trong chén nước mắm ớt dùng để chấm rau luộc. Và một nồi cơm trắng với những hột gạo chín đều, nở bung khi xới ra chén. Trong chảo cơm của chùa, cơm có màu vàng lại thoang thoảng mùi ẩm mốc, một thau nhôm đựng rau lang luộc mà trong đó nước nhiều hơn rau. Tôi gắp cọng rau luộc, chấm vào tô nước muối, ăn với những miếng cơm bở rệt lạt nhách. Chê cơm của chùa nhưng tôi phải cố ăn cho được hai chén cơm đầy, vì cái bụng đói của mình. Lẽ dĩ nhiên tôi nhai và nuốt cơm một cách khó khăn, khổ sở. Không biết gương mặt của tôi nhăn nhó, xấu xí như thế nào nhưng sau bữa ăn, thừa lúc mọi người lo dọn dẹp, lau bàn rửa chén, Sư bà trụ trì giúi vào tay của tôi khi thì trái chuối sứ chín rục ngọt lịm, lúc thì trái quít nho nhỏ chua chua. Tuy còn nhỏ nhưng tôi cũng biết chùa quá nghèo, có phải Sư bà đã nhịn phần ăn của mình cho tôi hay không? Điều ấy tôi không thể xác quyết được. Tôi chỉ biết là với đôi mắt đầy lòng nhân từ độ lượng của Sư bà lúc cho tôi trái chuối, khiến tôi thấy hương vị của trái chuối thơm tho, ngon ngọt hơn bội phần.

Sau này khi lớn lên rồi vào lính, tôi đã đi nhiều nơi, ăn nhiều món ngon vật lạ, tham dự những bữa tiệc mâm cao cỗ đầy với xôi thịt ê hề, bia rượu rót tràn ly thế nhưng hương vị trái chuối của Sư bà cho tôi ngày nào, vẫn là món quà ngon nhất, món quà mà tôi nhớ mãi suốt đời.

Thời gian âm thầm lặng lẽ trôi mau, chưa kịp ngoảnh mặt nhìn lại, tôi đã bước chân vào trung học. Cũng trong khoảng thời gian này, chùa Sư Nữ đang bắt đầu xây lại bằng gạch, to lớn hơn, nguy nga bề thế hơn xưa rất nhiều. Mái chùa được lợp ngói đỏ mới tinh, hai con rồng gỗ cũ kỹ trên nóc chùa được thay thế bằng hai con rồng to lớn, đúc bằng xi măng khảm sành sứ, với nước men bóng loáng đủ màu. Cổng Tam Quan trước chùa, tuy không lớn lắm nhưng với lối kiến trúc hài hòa độc đáo, làm tăng thêm vẻ uy nghi trang nghiêm của chùa. Phật lịch 2505 là năm mà ngôi chùa mới đã xây cất xong hoàn toàn, năm đó tôi đang học lớp đệ lục trường nam trung học công lập Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Vì trường ở cách xa xóm nhỏ Trại Hầm của tôi hơn chục cây số, cho nên tôi phải dùng xe đạp để đi học. Một ngày của tôi thường bắt đầu từ lúc 5 giờ sáng, khi tiếng chuông công phu của chùa Sư Nữ từ cuối xóm len lỏi qua rừng thông xanh vọng đến đầu xóm. Tiếng chuông như một cái đồng hồ báo thức, đã đánh thức tôi dậy. Buổi sáng trời Đà Lạt lạnh tê tái, tôi quấn mình trong cái mền cũ, đi ra sau hè múc một gàu nước từ trong cái lu bằng sành, đổ vào cái thau nhôm để rửa mặt, đánh răng. Xóm Trại Hầm của tôi chỉ có ba vòi nước máy công cộng được đặt ở đầu xóm, giữa xóm và cuối xóm, cho nên nhà nào cũng gánh nước về chứa trong lu để dành dùng cho cả ngày. Nước trong lu để qua đêm ở ngoài trời trở nên lạnh cóng, lạnh đến độ khi chạm tay vào nước, tôi có cảm tưởng máu trong tay của mình muốn ngưng chảy.

Chùa Hương

Sau khi làm vệ sinh cá nhân, tôi ngồi vào bàn ăn. Ba tôi là thợ mộc, thế nhưng cái bàn ăn của nhà tôi với dăm bảy miếng gỗ thông ghép vào nhau, long đinh, xộc xà xộc xệch, trông thật tội nghiệp. Có một lần, tôi tình cờ thấy má tôi nhìn cái bàn rồi bà lẩm bẩm một mình “Thợ rèn xài dao cùn”. Tôi nghe má tôi nói nhưng không hiểu bà muốn nói gì, bởi vì một cái bàn cũ mèm, xấu xí, có liên quan gì đến ông thợ rèn đâu mà má tôi lại nói như là than thở. Tôi nhìn trên bàn, mấy củ khoai luộc èo uột quặt quẹo, nhỏ bằng ngón chân cái đựng trong một cái tô sành cũ rích, sứt mẻ nhiều chỗ. Đó là phần ăn sáng mà má tôi đã dọn sẵn cho tôi. Tôi quấn chặt cái mền quanh người mong tìm chút hơi ấm, rồi thong thả thưởng thức bữa ăn sáng. Tôi phải nhét cho đầy cái bao tử của mình để chút nữa lấy sức đạp xe hàng chục cây số đến trường, có bao nhiêu khoai lang tôi ăn sạch sẽ. Một hôm, khi đã ăn hết khoai mà tôi vẫn còn thấy đói. Nhìn đống vỏ khoai trong tô, khiến tôi nhớ đến những củ khoai tốt đẹp mà má tôi đã đem đi cúng chùa, điều đó cho thấy, má tôi quý mến ngôi chùa đến mức nào. Sau một hồi suy nghĩ, tôi bốc một ít vỏ khoai ăn thử. Vỏ khoai tuy dai dai nhưng cũng có chút ngòn ngọt, tôi từ từ ăn sạch luôn mớ vỏ khoai trong tô nhờ vậy mà tôi biết được một điều, khi đói ăn vỏ khoai cũng không tệ lắm đâu. Từ đó về sau, khi ăn khoai tôi có thói quen ăn luôn cả vỏ và coi đó là chuyện bình thường. Nếu nhà hết khoai, má tôi làm cho tôi chén cơm chiên hoặc bà nấu cho tôi vài chén cháo. Với tôi, thứ gì cũng được, tôi ăn tuốt, miễn sao đầy bụng là tốt rồi. Sau bữa ăn sáng đầy khiêm nhường, tôi thay quần áo, đi lấy cặp vở cột vào cái yên sau của xe, thêm một lon gô lưng lửng cơm nguội trong đó có vài con cá cơm to bằng ngón tay út kho mặn. Đó là phần ăn trưa của tôi tại trường. Riêng về nước uống, tôi không cần phải mang theo, vì đã có vòi nước máy công cộng ngay bên hông nhà của thầy Tổng giám thị.

Khi đã chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, tôi dẫn chiếc xe đạp ra khỏi nhà, đẩy xe men theo lề đường của con dốc cao ngất trời, dài lê thê lên đến khúc đường Lê Thái Tổ bằng phẳng, sau đó mới bắt đầu đạp xe đi học. Buổi sáng khi sương mù còn giăng mờ khắp nẻo, tôi mặc hai cái áo ấm, cái còn lành lặn ở trong, cái rách ở bên ngoài. Sở dĩ tôi mặc như vậy vì lúc đến trường, tôi chỉ có việc cởi cái áo rách ra, cất vào cặp rồi vào lớp học.

Một mình trên chiếc xe đạp lao đi trong sương mù lạnh ngắt, giữa không gian bao la một màu trắng sữa, tôi nhớ đến thầy giáo dạy anh văn của tôi vừa du học bên Anh trở về. Thầy Hạnh, với bộ vest nỉ xám, đôi giầy da bóng loáng, cặp kính trắng trên gương mặt thông thái nghiêm nghị. Trong giờ học, thầy thường đi tới đi lui trên bục gỗ, miệng giảng bài nhưng trên tay lúc nào cũng là cái tẩu, thỉnh thoảng thầy lại đưa lên miệng bập bập vài hơi, lúc ấy trông thầy giống như là một nhà quý tộc Ăng Lê, chứ không phải là một ông thầy giáo dạy Anh văn ở một tỉnh lẻ. Thường thì sau giờ học, còn dư độ mươi phút, với giọng nói khoan thai từ tốn, thầy kể cho chúng tôi nghe những điều mới lạ về cuộc sống đầy lý thú nơi xứ người. Và, điều đáng nhớ nhất vẫn là sương mù Luân Đôn, sương mù ở đó dày đặc đến độ đứng cách xa chừng vài mét, chỉ thấy một cái bóng mờ. Thầy nói “Các em có biết không, rất nhiều lần, thầy đi trong sương mù Đà Lạt mà cứ ngỡ là đang còn sống ở Luân Đôn”. Rồi, lần nào cũng vậy câu nói cuối cùng của thầy vẫn là “Sương mù Luân Đôn chỉ được cái làm nguy hiểm cho giao thông, chứ chẳng được cái tích sự gì, so với sương mù Đà Lạt lãng đãng giữa rừng thông, Đà Lạt quả thật là đẹp tuyệt vời.”

Riêng tôi, sương mù Đà Lạt tuy có đẹp thật nhưng lại mang theo cái lạnh buốt đến cóng tay, và khi tôi đạp xe được vài cây số tới nhà Thủy Tạ, chiếc áo ngoài của tôi đã ướt dầm sương mai. Nhà Thủy Tạ sơn toàn một màu trắng, nằm trên mặt hồ Xuân Hương, tên cũ của nó là La Grenouillère, đó là nơi gặp gỡ, tụ họp của những người Pháp trong câu lạc bộ thể thao. Bên hông trái của La Grenouillère, là bến đậu của hàng chục chiếc thuyền buồm giống hệt nhau, được phân biệt bằng cách đánh số thứ tự, bắt đầu từ số một. Thuyền trắng, buồm cũng trắng soi bóng nước trong xanh. Mỗi khi chiều đến, với chút gió nhẹ làm gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ, là lúc mấy ông Tây hãy còn luyến tiếc Đà Lạt không chịu trở về Pháp, giăng buồm, thả thuyền trôi theo gió. Hồ Xuân Hương lúc bấy giờ, trông thơ mộng như một cảnh trong ciné với nét đặc thù của người Pháp.

Chùa Bái Đính – Ninh Bình

Đi thêm chút nữa, tôi đến cái đập ngăn nước của hồ Xuân Hương mà người dân Đà Lạt gọi là cầu ông Đạo . Tôi hoàn toàn không hiểu vì sao người ta lại gọi như vậy, cho đến khi được một người lớn tuổi chỉ cho tôi căn nhà của ông Đạo gần ngay đó. Tuy vậy, phải đợi cả chục năm sau, khi học về tổ chức hành chánh của triều Nguyễn dưới thời Pháp thuộc ở Viện đại học Đà Lạt, tôi mới biết rằng ông Đạo không phải là tên riêng của một người, mà đó là chức Quản Đạo của vị quan trông coi một Đạo ở miền núi, tương đương với chức tỉnh trưởng ở vùng đồng bằng hay miền duyên hải.

Qua khỏi cầu ông Đạo là con dốc Lê Đại Hành, dẫn đến chợ Đà Lạt. Đây là một ngôi chợ khá đặc biệt, tôi không biết nó được xây dựng vào năm nào, khi tôi lớn lên, ngôi chợ đã có ở đó tự bao giờ rồi. Nơi mặt tiền của chợ, một cái huy hiệu hình tròn đường kính ước chừng hai mét, gắn nơi nóc chợ, trong đó có hình một đôi nam nữ. Người thiếu nữ để ngực trần, với một mảnh vải nhỏ quấn ngang hông, trái tai căng bằng hai cái khuyên to, cổ, tay, chân đeo đầy những vòng trang sức. Người thanh niên đóng khố, tay cầm cây lao dài và nhọn. Dưới chân họ là hàng chữ “DAT ALIIS LAETITIAM, ALIIS TEMPERIEM”. Tôi nhìn cái huy hiệu với đôi mắt của một người khách du lịch nhàn nhã, ung dung cưỡi ngựa xem hoa, nhìn đó rồi quên luôn. Mãi cho đến vài tháng sau, bỗng một lần nọ, óc tò mò khiến tôi chép lại hàng chữ trên, rồi đạp xe đến thư viện. Đà Lạt là một tỉnh nhỏ, nhưng thư viện của nó lại to lớn, bề thế vô cùng. Tôi tìm ông quản thủ thư viện, với mục đích là hỏi ông về ý nghĩa của hàng chữ trên. Chỉ vừa mới liếc qua tờ giấy, ông ta nói với tôi, giọng nói của người Miền Bắc.

-Cậu chép câu này ở trên nóc chợ phải không?

Tôi hơi ngạc nhiên, hỏi lại ông.

-Tại sao bác biết?

Ông quản thủ thư viện cười.

-Không hiểu nghĩa câu này, thì không phải là dân Đà Lạt. Cậu ở đâu mới tới, đúng không?

Tôi mắc cỡ quá sức nhưng cũng đành thú thực với ông.

-Thưa bác, con sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt.

Ông quản thủ thư viện chắt lưỡi, rồi nói.

-Hỏng, hỏng hết, tôi là dân Bắc kỳ di cư, thế mà xem ra tôi còn biết về lịch sử và sự hình thành của Thành phố Đà Lạt hơn cậu đấy. Cậu có biết không, năm một ngàn tám trăm chín mươi ba, khi bác sĩ Yersin khám phá ra Đà Lạt, thì tại đây đã có bộ tộc người “Lạch” sống từ lâu rồi, cho nên người Pháp mới lấy hình ảnh của đôi trai gái người Lạch, với hàng chữ La Tinh mà cậu mới đưa cho tôi coi, làm biểu tượng cho Thành phố Đà Lạt. Ý nghĩa của những chữ La Tinh đó dịch ra tiếng Việt như sau “Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe”. Tôi tạm dịch như vậy không biết có sát nghĩa hay không, khả năng của tôi chỉ có chừng đó. Theo tôi nghĩ, cậu nên đến nhà thờ Con Gà, hỏi mấy vị linh mục ở trong đó, cậu sẽ được nghe giải thích rõ ràng hơn về mấy chữ trên, bởi vì còn ai mà giỏi tiếng La Tinh hơn những vị linh mục.

Ông quản thủ thư viện trả lại tờ giấy cho tôi.

-Mà nè, cậu có biết nhà thờ Con Gà ở đâu không?

Không trả lời câu hỏi của ông quản thủ thư viện, tôi cười đùa với ông ấy, rồi lập lại câu nói mà tôi đã nói với ông trước đây.

-Thưa bác, con sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt.

Tôi cảm ơn ông quản thủ thư viện rồi ra về, vừa đi tôi vừa nghĩ đến những gia đình người Lạch ở đâu tận chân núi Lâm Viên, vẫn thường mang những gùi củi sau lưng, hay những giò Lan rừng ra chợ Đà Lạt để đổi lấy cá khô hoặc muối hột. Tôi không biết những người Lạch này, họ nghĩ gì khi thấy hình của mình trên nóc chợ.

Chùa Bảo Lâm Phú Yên

Thêm một điểm đặc biệt nữa là cái tháp hình khối của chợ, nếu đứng trước chợ nhìn vào thì nó nằm bên tay phải, gần trên đỉnh tháp có gắn một cái đồng hồ, mỗi ngày đúng vào lúc mười hai giờ trưa, khi hai cây kim nơi tháp đồng hồ chập lại làm một, là còi trong chợ bắt đầu hú lên báo hiệu đến giờ nghỉ. Khi nghe còi hụ, hầu như tất cả mọi tiệm buôn, hàng quán quanh chợ đều đóng cửa để ăn cơm và nghỉ trưa, mãi cho đến gần hai giờ mọi sinh hoạt mới trở lại bình thường. Cái lối sống chịu ảnh hưởng của Pháp sâu đậm như vậy, hình như chỉ có ở Đà Lạt. Một lần nọ, vì muốn chứng tỏ mình không phải là thằng cù lần. Ở cái tuổi của tôi vào thời bấy giờ, nếu bị gọi là cù lần, đó là một lời chê trách nặng nề, cho nên tôi nghe theo lời rủ rê của Nhân đầu bạc trốn học, để rồi suốt một buổi chỉ biết đi lang thang vòng quanh chợ Đà Lạt, lúc đó đã được sửa chữa lại với cái tên mới là Khu phố Hòa Bình. Chúng tôi, vừa đi vừa nhẩm đếm xem có bao nhiêu cây cột xi măng chống quanh rạp hát. Sau đó, hai đứa đến ngồi nơi những bậc cấp trước nhà thờ Tin Lành ở đường Hàm Nghi, nhìn những cô gái má phơn phớt hồng như hoa Đào, học ở trường nữ trung học Bùi Thị Xuân trong bộ đồng phục quần trắng, áo dài trắng, chân đi guốc, tung tăng đùa giỡn, chuyện trò trên đường đi đến trường. Hai đứa tôi tha hồ ngồi ngắm những người đẹp, rồi mặc sức khen chê bình phẩm. Cho đến khi không còn bóng dáng chiếc áo dài trắng nào trên đường phố, lúc bấy giờ tôi mới nhìn Nhân như ngầm hỏi “ Phải làm gì nữa đây để tiêu pha cho hết một ngày trốn học?”

Chùa Lá Sen-Đồng Tháp

Nhân đầu bạc là một người không bao giờ chịu thúc thủ trước mọi hoàn cảnh, bất cứ lúc nào nó cũng có thể đưa ra sáng kiến mới để giải quyết vấn đề. Hắn nói với tôi.

-Mày có biết quán mì quảng ở hẻm ciné Ngọc Hiệp không? Tụi mình đến đó ăn mì, tao sẽ trả tiền, nhưng sau đó mày phải làm cho tao một chuyện.

Tôi nghĩ đến quán mì quảng ngon nhất của Thành phố Đà Lạt. Lần đầu tiên, tôi biết được quán mì này là do ba tôi dẫn tôi đến. Điểm đặc biệt của quán là bán mì quảng, nhưng lại do hai vợ chồng người Bắc đứng nấu. Người chồng hiền khô như ông bụt với con mắt hiêng hiếng, lo việc múc mì ra tô cho khách kiêm luôn việc thu tiền, vợ dọn dẹp. Lần đó, ba tôi thưởng cho tôi một tô mì to bự, khi biết tôi đã đậu vào lớp đệ thất Trường trung học công lập Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Bốn năm sau khi đậu bằng Trung học, tôi lại được ông thưởng cho một tô mì y như xưa, nhưng giá tô mì lúc này là năm đồng chứ không còn là ba đồng như ngày xưa. Đặc biệt, lần này ba tôi kêu thêm cho tôi một ly cà phê túi vải, uống với sữa đặc có đường. Với tôi, tô mì quảng ở hẻm ciné Ngọc Hiệp quả thật là danh bất hư truyền. Những sợi mì gièm giẹp vàng ươm bóng lưởng vì thấm dầu phụng, được xếp gọn trong một cái tô to bên dưới là rau sống, ông chủ quán mì chan nước xốt xăm xắp ngang những cọng mì. Nước xốt ở đây quả thật là đặc biệt, được nấu với thịt heo bằm và tôm khô, nó sền sệt tựa như có pha thêm tí da heo xắt hột lựu, thêm chút vàng óng ánh của mỡ, chút đỏ tươi của ớt bột. Trên cùng là mấy lát thịt heo ba chỉ mong mỏng, nằm cạnh hai con tôm tươi không đầu đã được lột vỏ. Khi ăn khách dùng đũa, mạnh tay trộn đều lên sẽ thấy những cọng rau thơm xanh ngắt như húng lủi, tím bầm như tía tô, lẫn với rau xà lách, bắp chuối xắt nhỏ và mùi thơm nức mũi của nước xốt. Cuối cùng, thực khách chỉ cần thêm vào tô một ít đậu phụng rang giã nhỏ, dăm miếng bánh tráng bẻ vụn, một tí nước mắm ớt để làm dậy mùi thơm, là đã có được một tô mì nóng hổi, thơm ngon. Một điểm đặc biệt không nơi nào có, là cái gáo múc nước mắm làm bằng nửa hột mù u to cỡ trái chanh, với cái cán bằng tre. Chỉ mới nghĩ tới thôi, nước bọt đã ứa ra đầu lưỡi, tôi hăng hái hỏi Nhân.

-Mày cần tao làm việc gì?

-Dễ thôi, không có gì là nặng nhọc, mày lấy cái kéo hớt tóc cho tao.

Nghe Nhân đầu bạc nói mà tôi cứ tưởng nó nói đùa.

-Tại sao mày không vô tiệm hớt tóc, mà lại biểu tao cắt tóc cho mày.

Gương mặt Nhân lộ vẻ đau khổ thấy rõ.

-Tao không ngờ, mày lại chậm hiểu quá sức như vậy. Mười đồng má tao cho để hớt tóc, tao với mày sẽ lấy đi ăn mì, còn tiền đâu nữa mà trả cho tiệm hớt tóc.

Nghe nó nói, tôi chợt tỉnh mộng. Tô mì quảng thơm lừng, mới đó đã biến mất tiêu.

-Mày làm tao mừng hụt, tao thà chịu nhịn đói chứ nhứt định không dám xởn cái đầu của mày. Tao mà cắt tóc cho mày xong, đầu tóc của mày lúc bấy giờ loang lổ, vằn vện chẳng khác gì tấm da beo.

Nhân đầu bạc nhìn tôi

-Mày nói cũng có lý, vậy thì mình phải tính chuyện khác, mà dầu có làm chuyện gì đi nữa, mày cũng phải đóng vai chính. Chương trình của tao như thế này: Tao với mày sẽ vô cà phê Tùng vừa rỉ rả uống cà phê, vừa nghe những bản nhạc đã một thời vang bóng. Mày nghe bản nhạc “Chiều vàng” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh do bạn Tôn Thất Niệm trình bày trên Đài phát thanh Đà Lạt chưa? Giọng hát của ông ấy, phải nói là tuyệt vời.

Tôi chỉnh Nhân đầu bạc.

-Ca sĩ chứ bạn sao được, ông ấy đã là bác sĩ, lại còn hơn mình có tới hai chục tuổi như không. Mày ăn nói hồ đồ, không chịu để ý kính trọng người trên.

Chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử

Nhân đầu bạc lên giọng với tôi.

-Cách đây hơn chục năm, trên Đài phát thanh Đà Lạt người ta dùng chữ “bạn” để chỉ người trình bày bản nhạc, chứ không dùng chữ ca sĩ như bây giờ.

Tôi đá nhẹ Nhân đầu bạc.

-Thời đó mày cũng như tao, bảy tám tuổi thì biết cái gì về Đài phát thanh Đà Lạt mà bày đặt nói.

Bị bắt bí, Nhân đầu bạc cười bẽn lẽn.

-Thì tao nghe chú tao nói ấy mà.

Tuy bắt bí được Nhân đầu bạc nhưng tôi vẫn thầm phục hắn quá trời, vì chuyện hắn muốn vào cà phê Tùng, đó quả là một ý tưởng hết sức mới mẻ và đầy táo bạo. Tôi là dân Đà Lạt đúng bảy mươi hai phần dầu, đã từng đi ngang qua cà phê Tùng cả ngàn lần nhưng chưa một lần bước chân vào, bởi vì tôi nghĩ rằng nơi đó chỉ dành cho người lớn. Bọn nhóc tì dở dở ương ương, nhỏ không ra nhỏ, lớn không ra lớn như chúng tôi, chỉ có việc đứng ngoài cà phê Tùng mà nhìn vào. Thêm nữa, điều quan trọng nhất vẫn là chuyện tôi không có tiền. Tôi nói với Nhân:

-Tiền đâu mà uống cà phê?

Nhân đầu bạc tươi cười, hắn xoa hai bàn tay vào nhau.

-Nếu muốn uống cà phê, mày phải làm theo lời tao dặn, chuyện này cũng dễ thôi. Mày chạy đến sạp vải Hưng Long của má tao ở trên lầu hai chợ mới, nói với bà là tao bị té xe đạp. Chiếc xe bị hư hại nặng, tao cần tiền để sửa xe.

Tôi nói với Nhân.

-Ăn gian, nói dối là chuyện tao không thể làm được. Ba tao mà biết được chuyện lường gạt, gian dối, ổng tống cổ tao ra khỏi nhà ngay lập tức. Hơn nữa, liệu má mày có tin tưởng tao để mà đưa tiền hay không?

Thấy tôi lừng khừng, Nhân đầu bạc trấn an tôi:

-Tao sẽ viết vài chữ với nội dung là tao đang ngồi ở tiệm sửa xe đạp, nhờ mày về nhà lấy tiền. Má tao biết mày mà, bà thường gọi mày là thằng “Cục Bột”, mỗi khi nhắc đến mày. Giao tiền cho một thằng khờ như cục bột thì có gì mà phải lo. Còn nữa, mày cứ yên chí, má tao rất cưng tao, bà chỉ quan tâm tới sự an nguy của tao thôi. Chuyện tiền bạc, má tao không coi nặng bằng thằng con yêu quý của bà.

Sau một chút suy nghĩ, Nhân đầu bạc nói thêm.

-Tiền hai ly cà phê hết hai chục, tụi mình cần thêm bốn đồng để mua năm điếu thuốc Ruby. Uống cà phê mà không có thuốc lá, coi không được chút nào. Đã lỡ làm dân chơi, dù là dân chơi tỉnh lẻ cũng phải chơi cho tới bến. Tao sẽ viết xuống giấy, xin má tao hai mươi bốn đồng.

Tôi nghĩ thầm, người ta thường nói “được voi đòi tiên”, còn ông bạn quý của tôi, không cần biết có voi hay chưa, đòi luôn một lần cả voi lẫn tiên cho tiện việc sổ sách. Vì nghĩ như vậy nên tôi nói với Nhân.

-Xin hai chục đồng là đủ uống cà phê rồi. À… mà sao mày biết giá một ly cà phê là mười đồng? Mày có lộn không? Tao muốn nhắc cho mày biết, một tô mì quảng to hết cỡ, ngon hết biết ở hẻm Ngọc Hiệp, chỉ có năm đồng.

Nhân đầu bạc với giọng nói đầy quả quyết.

-Một trăm phần trăm là đúng vì chú tao mới nói với tao tuần trước, khi ông ấy dẫn bà vợ sắp cưới của ổng đi uống cà phê ở Tùng. Chú tao còn nói thêm rằng, nội cái chuyện nghe nhạc ở cà phê Tùng cũng đáng giá mười đồng rồi, ly cà phê coi như cho không.

Chùa Linh Ứng – Bãi Bụt Đà Nẵng

Khi đã có tiền trong tay, tôi và Nhân đẩy cánh cửa của cà phê Tùng, hiên ngang ưỡn ngực bước vào. Với khoảng không gian không lấy gì làm rộng rãi cho lắm, chừng bốn mét bề ngang, chiều sâu đâu khoảng bảy tám mét, gần cuối phòng, bên tay phải là một cái cầu thang nhỏ dẫn lên lầu hai. Diện tích của cà phê Tùng chỉ có ngần ấy. Chọn một cái bàn nhỏ ở góc phòng gần quầy tính tiền, Nhân đầu bạc dõng dạc gọi hai ly cà phê đen. Lần đầu tiên được ngồi trong một tiệm cà phê nổi tiếng của Đà Lạt, tôi tò mò nhìn quanh, trên tường bên tay trái của tôi treo một bức tranh lập thể, vẽ hình một người đàn ông tay ôm cây đàn guitar, cần đàn chúi xuống đất. Tôi chăm chú nhìn bức tranh, nhìn hoài mà vẫn không thấy cái đẹp, cũng không hiểu ông họa sĩ muốn nói gì trong bức tranh đó. Cuối cùng, tôi đành phải chấp nhận, mình là người phàm mắt tục, không có chút kiến thức gì về hội họa, thôi thì đừng có thắc mắc gì về tranh với ảnh cho được việc. Khác với tôi, Nhân thong thả mồi một điếu thuốc, nhả khói bay mù mịt y hệt như một người sành điệu. Chỉ có điều, ngay lúc đó nó ho sặc sụa vì khói thuốc. Hai tay ôm lấy ngực, Nhân đầu bạc nói mà như là phân bua để chữa thẹn.

-Thuốc Ruby Queen tưởng nhẹ, ai ngờ nó lại gắt hơn thuốc Bastos.

Đợi cho những giọt cà phê đen cuối cùng từ cái phin xinh xắn làm bằng một loại sắt không rỉ sét, nhỏ xuống tách cà phê, tôi cho một muỗng đường khuấy đều rồi hớp một ngụm. Cà phê phin ở Tùng quả thật là thơm ngon, nhưng lại quá sức đậm đặc so với ly cà phê túi vải nhạt phèo mà tôi đã được uống. Đem so sánh ly cà phê Tùng với ly cà phê túi vải là một chuyện làm khấp khểnh, nhưng biết làm sao bây giờ. Bởi vì, ly cà phê túi vải nơi hẻm ciné Ngọc Hiệp là ly cà phê duy nhất mà tôi đã từng được uống. Tôi xin một ly nước sôi, thêm hai muỗng đường, lúc bấy giờ tôi mới có được một ly cà phê vừa theo ý mình.

Hai đứa tôi ngồi im lặng thưởng thức ly cà phê đen, lắng tai nghe nhạc trong bầu không khí lù mù khói thuốc lá. Bất chợt, Nhân đầu bạc hỏi tôi.

-Má tao có nói gì khi đưa tiền cho mày không?

Tôi phải giải thích vòng vo Tam Quốc với Nhân.

-Từ nhỏ tới lớn, chưa bao giờ tao biết ăn gian nói dối, nhưng vì cái hấp lực quá mạnh của ly cà phê Tùng nên tao đành liều mạng, nhắm mắt đưa chân. Có tật giật mình, mày biết không khi gặp má của mày, tao run còn hơn là leo rào trốn học, bị thầy Tổng giám thị bắt gặp tại trận. Cũng may má mày hiền quá sức, khi biết mày cần tiền để sửa xe, bà vội vàng đưa tiền cho tao mà không một chút nghi ngờ.

Nghe tôi nói, gương mặt của Nhân đầu bạc sáng rỡ, hắn nói, câu nói không liên quan gì đến chuyện gian dối của hai đứa.

-Mày có biết tao bao nhiêu tuổi không?

Tôi hơi ngạc nhiên vì câu hỏi không đâu vào đâu của hắn, cũng không hiểu vì sao hắn hỏi tôi như vậy. Tôi nhìn lên mái tóc muối tiêu của Nhân đầu bạc rồi giả vờ nói.

-Trông mày giống một ông già bốn mươi.

-Đừng có giỡn, nói thiệt đi.

Tôi nói.

-Mày giỏi lắm cũng chỉ hơn tao một tuổi là cùng. Mười chín.

Nhân nói với tôi mà như là thổ lộ tâm tình, hắn dốc cạn bầu tâm sự.

-Vậy mà má tao cứ tưởng là tao chỉ có bảy, tám tuổi. Từ sau ngày ba tao mất đi, má tao sống đó mà cứ như người chết rồi, có bao nhiêu tình thương bà dồn hết cho tao, bà thương tao quá sức, chiều chuộng tao còn hơn là chiều vong. Suốt ngày, má tao bám theo tao không rời nửa bước, cơm ăn áo mặc, bà lo từng chút một, thậm chí đến chuyện buổi tối trước khi đi ngủ, bà nặn sẵn kem vào bàn chải đánh răng cho tao, giục tao đánh răng sau đó mới cho tao đi ngủ. Mày nghĩ coi, một thằng con trai lớn tồng ngồng còn bị má giám sát từng chút một như vậy, không giận sao được. Tao chỉ mong sao đậu xong cái Tú tài là tao đăng lính ngay, mà phải là lính Nhảy Dù hay là Thủy Quân Lục Chiến mới được. Mày biết tại sao không?

-Không.

Nhân đầu bạc nói một cách rành rẽ.

Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn

-Bởi vì Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được điều động đi khắp bốn vùng chiến thuật. Hôm nay họ đang thanh toán chiến trường ở Kontum, ngày mai có thể bay ra địa đầu giới tuyến để giải tỏa áp lực của Việt Cộng. Nơi nào mà chiến trường sôi động, sặc mùi thuốc súng, nơi đó sẽ có sự hiện diện của Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Nếu tao được vào một trong hai binh chủng này, cho dù má tao có cánh bà cũng không theo kịp để mà giám sát tao.

Đang rù rì tâm sự, đột nhiên Nhân đầu bạc nghiêng đầu như lắng tai nghe rồi nói.

-Mày có nghe gì không? Hình như cả tiếng đồng hồ ngồi đây, tao không nghe bản nhạc Việt Nam nào hết trơn. Nhạc ở đây nghe không khá chút nào, không lý ông chú của tao du học ở bên Tây về mà lại không biết nghe nhạc.

Nhân ngừng nói nhìn tôi, gương mặt của hắn lộ vẻ giận.

-Tao phải hỏi ông chủ quán mới được.

Vừa dứt lời, hắn hùng hổ đứng lên đi về phía quầy thâu ngân, cách bàn của chúng tôi độ dăm bước, nơi ông chủ cà phê Tùng đang ngồi.

Tôi nhìn theo Nhân đầu bạc mà trong lòng đầy lo âu, chỉ sợ hắn ăn nói lỗ mãng với người lớn. Trái với thái độ hung hăng con bọ xít, khi đến trước mặt ông chủ cà phê Tùng, Nhân đầu bạc với giọng nói nhỏ nhẹ:

-Thưa bác, cho tụi con nghe bản nhạc “Hai lối mộng” của nhạc sĩ Trúc Phương được không?

Ông chủ quán cà phê Tùng trong bộ vest màu nâu đậm đúng thời trang, với cái tẩu đang cầm trên tay, ngẩn nhìn Nhân đầu bạc. Ông không trả lời mà hỏi hắn.

-Cậu là học sinh trường nào?

-Dạ thưa bác, con học Trường Trần Hưng Đạo.

-Lớp mấy?

-Thưa bác, đệ nhị.

-Cuối năm nay, cậu thi Tú tài Một phải không?

– Dạ phải.

Ông chủ cà phê Tùng, với giọng nói như là cha dạy con.

-Học hành không lo, đi uống cà phê hoài coi chừng thi rớt đó.

Dứt lời ông nhẫn nha nhồi một ít thuốc vào cái tẩu, rồi chỉ vào thời khóa biểu gắn trên tường.

-Chương trình hôm nay là nhạc hòa tấu cổ điển tây phương, ngày mai là nhạc tiền chiến, bản nhạc thời trang mà cậu muốn nghe, ở đây không có.

Lâu nay, tôi cứ đinh ninh rằng thầy Hạnh dạy Anh văn của tôi, là người duy nhất ở Đà Lạt hút thuốc bằng cái tẩu. Hôm nay, tôi lại thấy thêm một người nữa cũng hút thuốc bằng tẩu. Đó là ông chủ cà phê Tùng. Hai người, hai công việc khác nhau nhưng cái điểm chung mà tôi thấy được nơi họ, là cả hai đều có bề ngoài lịch sự, trang nghiêm, và nhất là lời ăn tiếng nói khoan thai từ tốn.

Nhân đầu bạc đứng tần ngần như suy nghĩ, một lúc sau hắn nói.

-Thưa bác, tính tiền giùm con.

-Mười đồng.

-Tụi con uống hai ly cà phê lận, nghe nói phải hai mươi đồng.

Ông chủ cà phê Tùng mỉm cười rồi nói, giọng nói của một người đầy hào phóng.

Chúng tôi đi ra cửa, vẫn còn nghe ông chủ cà phê Tùng dặn vói theo.

Chùa Bà Thiên Hậu – Sài Gòn

-Nếu muốn uống cà phê Tùng, phải gắng tập nghe nhạc hòa tấu cổ điển.

Tôi nghe nhưng thầm nghĩ, ông chủ cà phê Tùng không ở trong hoàn cảnh của tôi, cho nên ông mới khuyên chúng tôi như vậy. Ông đâu có biết, nếu tôi muốn nghe một bản nhạc mà tôi thích, đó là chuyện không dễ chút nào. Trước tiên, tôi phải viết một lá thư gởi cho đài phát thanh Đà Lạt, với nội dung xin yêu cầu được nghe bản nhạc mình muốn. Sau đó, phải đợi từ hai tới ba tuần lễ, một đôi khi sự chờ đợi có thể kéo dài đến bốn, năm tuần là chuyện thường tình. Tuy vậy sự chờ đợi không phải là chuyện đáng nói, mà là chuyện nhà tôi không có radio. Với tôi radio là một vật xa xí, chỉ có trong ước mơ. Nội cái việc Thứ tư hàng tuần, vào giờ có nhạc yêu cầu của đài phát thanh Đà Lạt, nếu muốn nghe, tôi phải chạy qua tiệm tạp hóa Đông Á ở gần nhà, ngồi bên hè để nghe ké. Tuy là nghe lén nhưng vẫn không ổn, bởi vì trong tiệm tạp hóa Đông Á có mấy cô gái, cũng trạc tuổi của tôi, cô nào cô nấy xinh như mơ. Nếu cha mẹ của họ thấy tôi ngồi bên hông nhà, làm sao tôi có thể giải thích được chuyện tình ngay lý gian của mình. Vậy thì nếu muốn nghe nhạc hòa tấu cổ điển, tôi phải đến đâu để nghe.

Sau này lớn lên rồi vào lính, khi có chút tiền rủng rỉnh trong túi, nếu muốn vừa uống cà phê, vừa ngắm cảnh, tôi chọn cà phê Thủy Tạ. Nếu muốn ngắm người đẹp, nghe nhạc thời trang tôi ghé cà phê Hạnh Tâm. Năm thì mười họa, tôi mới bước chân vào cà phê Tùng một lần. Bởi vì, với tôi nghe nhạc hòa tấu cổ điển cần phải có thời gian học hỏi, làm quen và sau đó mới là thưởng thức. Bắt tôi nghe nhạc hòa tấu với những cái tên lạ hoắc như Mozart, Schubert, Beethoven, Chopin khác nào chuyện đàn gảy tai trâu.

Vừa bước chân ra khỏi cà phê Tùng, với mười đồng trên tay, Nhân đầu bạc cười với tôi, nụ cười thật là rạng rỡ.

-Tao đói lắm rồi, tụi mình đi tới hẻm ciné Ngọc Hiệp, ở đó, mày có quyền tì tì thưởng thức tô mì quảng danh tiếng của Đà Lạt, mà không phải lo sợ cầm kéo hớt tóc cho tao.

Cho đến khi niên học chấm dứt, chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày thi, tôi mới ôm một chồng sách đến chùa Sư Nữ để ôn lại bài vở. Với cái cầu thang bằng gỗ ở cổng Tam Quan, tôi leo lên căn gác đúc nơi cổng, đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ nho nhỏ hình vuông lên, chun vào rồi sập cánh cửa xuống. Trên đầu tôi là một bầu trời xanh lơ với vài cụm mây trắng đã bao bọc, cô lập tôi với thế giới bên ngoài. Tôi đang ở trong căn gác chỉ độ vài mét chiều dài, một mét rưỡi bề ngang, một mình tôi một cõi tịnh không, bao nhiêu phiền nhiễu phức tạp biến đi đâu mất. Tôi học bài thi mà cứ như là đi tu. Sở dĩ tôi được đặc ân lên căn gác đúc ở cổng Tam Quan của chùa Sư Nữ để học bài, bởi vì ba tôi đã góp nhiều công sức lo về phần đóng bàn ghế trong chùa. Tôi cố nhồi nhét vào cái đầu chậm chạp u mê của mình, cuốn sách vạn vật dày cộm, cuốn lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, mà trong đó đầy đặc những năm tháng cấm không được quên. Thêm nữa, cái khó nhất vẫn là giải những bài toán vật lý, hóa học, tuy hiện thực nhưng lại quá sức trừu tượng hoặc những bài toán hình học với ba chiều không gian khô khan, mà trong đó tôi tìm hoài không thấy chiều không gian thứ ba nằm ở đâu. Gặp những bài toán khó như vậy, tôi lại thấy như mình đi lạc trong sa mạc hoang vu nắng cháy, mò hoài không thấy đường ra, thậm chí một cái ốc đảo nho nhỏ cũng bặt tăm biệt tích. Biết mình không được thông minh cho lắm, cho nên tôi cố gắng học thuộc lòng bài vở, học quên trời quên đất, mãi cho đến khi chút nắng vàng yếu ớt còn sót lại của một ngày vừa khuất sau dãy núi phía xa, sương mù kéo về bao trùm lên cái xóm nhỏ, cùng với tiếng chuông thu không của chùa Sư Nữ ngân vang trong sương mù ẩm đục.

Boong… Boòng… Boong…….. Boong… Boòng… Boong…

Từng tiếng chuông thong thả nối tiếp nhau, tạo thành một hồi chuông ngân dài trong chiều vắng, lúc bấy giờ tôi mới ôm chồng sách vở trở về nhà. Hai tháng trường tu luyện trên cái gác đúc nơi cổng Tam Quan của chùa Sư Nữ, tiếng chuông thu không thanh thoát gióng lên vào mỗi buổi chiều, trở nên gần gũi thân thiết với tôi hơn bao giờ hết. Tôi đậu hai cái Tú Tài rồi bùi ngùi luyến tiếc, giã từ tiếng chuông chùa, lên đường nhập ngũ. Năm tháng dần trôi, dòng đời đưa đẩy, cuốn hút con người theo cơn lốc của chiến tranh, quay cuồng trong chiến cuộc. Mới đó mà đã gần bảy năm trời trong quân ngũ, tôi quên bẵng đi tiếng chuông chùa của thời niên thiếu.

Chùa Bái Đính Ninh Bình

Đêm nay trong cảnh nước mất nhà tan, bơ vơ lạc lõng giữa Sàigòn, tôi gối đầu lên bậc cấp nơi vỉa hè của một căn nhà ở bến xe, nhìn thấy tương lai là hai cánh cửa của địa ngục Xã Hội Chủ Nghĩa đang mở rộng đón chào, nghe lại được tiếng chuông chùa năm xưa khi tôi còn bé vang vọng đến bên tai. Tôi ngờ rằng tiếng chuông hình như không có thực, bởi vì có khi nó lẩn quẩn bên tai như là tiếng chuông của một ngôi chùa nào đó gần đâu đây, lại có lúc xa thật xa như từ trong quá khứ vọng về. Tiếng chuông trầm trầm, lắng xuống, nhỏ dần, nhỏ dần rồi tan vào cõi hư không, kéo theo cái bóng một thằng bé mười tuổi của những năm tháng xa xưa, ngồi nơi chánh điện chùa Sư Nữ, tai nghe má đọc câu kinh “Sắc bất dị không, không bất dị sắc”. Mà trong đầu chỉ mơ ước có được một con dế.

Chuyện tình trong cuộc chiến sắp tàn

dongsongcu.wordpress.com

Duy Sam

Posted on February 5, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 22 Feb 2025

Nhân đọc mục nhắn tin trong webside “Ba Cây Trúc”, được biết, gia đình cố đại úy Dương Đức Hạnh, sau 35 năm tìm kiếm, đã biết đích xác địa điểm nơi trực thăng của cố đại úy Hạnh bị lâm nạn. Trực thăng trong phi vụ yểm trợ hành quân tái chiếm Bamêthuột đã bị trúng hỏa tiễn SA7 và đã bị nổ tung trên vòm trời Bamêthuột ngày 16 tháng 3 năm 1975. Phi hành đoàn gồm bốn người đã hy sinh vì tổ quốc. Thi thể của phi hành đoàn đã được dân địa phương chôn cất qua loa bên cạnh các mảnh vụn của trực thăng. Gia đình đại úy Hạnh muốn thông báo và kính mời thân nhân và thân hửu của phi hành đoàn cùng lên Bamêthuột làm lễ cầu siêu và cải táng ngôi mộ cho đại úy Hạnh và phi đoàn vào dịp trung tuần tháng bảy năm 2010.

Nhắc đến Hạnh lòng tôi cũng bâng khuâng, muốn viết một cái gì về Hạnh dẫu cho rằng chưa bao giờ viết được một mẩu chuyện dài. Tôi không biết nhiều về gia đình Hạnh, chỉ quen và chơi thân với Hạnh từ đầu năm 1974, khi Hạnh đã là trung úy phi công mới được thuyên chuyển về Phi Đoàn Trực Thăng 219 đồn trú tại Nha Trang. Tôi quen Hạnh qua Thạnh. Có lẻ cũng nên nói về Thạnh một tí cho câu chuyện thêm đậm đà.

Thạnh là bạn lối xóm của tôi, tôi quen Thạnh qua một người bạn khác. Bạn tôi học cùng lớp với anh của Thạnh, nhưng thay vì chơi với thằng anh, lại hay chuyện trò với thằng em. Nhưng rồi, bạn tôi đậu tú tài và tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Đức, theo đuổi đời binh nghiệp còn tôi vào Saigon học đại học. Thạnh ở lại Nha Trang một mình.

Tôi học đại học vài năm, lận đận thi cử rồi cũng vào Thủ Đức. Khi ra trường tôi trở về Nha Trang nhận nhiệm sở thuộc Sở Động viên số 2 thì bạn bè cũ không còn ai. Chỉ có Thạnh đang làm trưởng ban hành chánh của Trung Tâm Trợ Huấn Cụ, một đơn vị quân sự nhỏ chuyên cung cấp vật liệu huấn luyện cho trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Thạnh lúc này đã chửng chạc, ăn nói khôn ngoan, được sự tín nhiệm của chỉ huy trưởng, nên dù không mang cấp bực, vẫn có thể đi lại tự do trong giờ làm việc. Tôi làm trưởng ban Hoãn Dịch, cấp giấy hoãn dịch cho dân chúng vùng 2. Công việc ngập đầu, nhưng bù lại, được du di trong vấn đề trực gác, nên cũng có thể đi uống cà phê, nghe nhạc cùng bạn bè mỗi đêm.

Đời sống ở Nha Trang thật nhẹ nhàng thoái mái, thành phố thơ mộng , dân chúng hiền hòa. Có thể nói Nha Trang là thành phố không chiến tranh. Nha Trang nhờ có các quân trường vây quanh, nên ngoại ô được kiểm soát chặt chẽ, tăng phần an ninh cho thành phố. Nhờ vậy mà Tết Mậu Thân năm 1968, Việt cộng tổng tấn công miền Nam, nhiều thành phố bị chiếm đóng vài ngày, nhưng không một đặc công nào lọt vào được Nha Trang. Suốt mười mấy năm qua, không một viên đạn pháo kích bắn vào thành phố khiến người dân phải giựt mình thức giấc. Nha Trang không có cảnh các binh sĩ với súng ống bừa bãi ngồi ăn uống trong các hàng quán. Nha Trang chỉ có các chàng trai hào hùng với alfa sáng chói dạo phố bên các thiếu nữ áo dài thướt tha hoặc áo đầm đủ màu mổi cuối tuần. Người dân Nha Trang chỉ cảm nhận được chiến tranh khi gia đình họ có người thân giã từ lên đường nhập ngũ, hoặc khi nhận được giấy báo tử từ các vùng chiến thuật gởi về rồi vật vã bên quan tài người thân được phủ màu cờ. Ngoài ra Nha Trang vẫn yên bình, hàng ngày sóng biễn vổ rì rào, mùa đông sóng cũng không gầm gừ gào thét dữ dội.

Tôi và Thạnh đều ở gần gia đình, chúng tôi có nhiều bạn bè và em gái hậu phương. Hậu phương đây là em gái của những người bạn và bạn gái của những người em trong nhà. Chúng tôi như cặp bài trùng, đi đâu cũng có nhau. Tôi ít nói, Thạnh là cái miệng của tôi, tôi là cái bức bình phong của Thạnh. Thạnh có đặc điểm là dể bắt chuyện làm quen với mọi người. Ăn nói nhỏ nhẹ, đến đâu cũng dễ gây cảm tình, các cô cũng thích, người lớn cũng ưa. Thạnh rất tốt với bạn bè. Các bạn học ngày xưa, dù chỉ quen sơ, nay gặp lại cũng trở thành thân thiết. Nhất là các bạn về nghỉ phép, Thạnh luôn luôn giúp đở, tìm phương tiện máy bay quân sự cho trở về đơn vị đúng ngày. Hạnh có lẽ cũng chỉ là bạn cùng trường với Thạnh, nhưng khi gặp lại đã thấy tương đắc, thân thiết.

Trước nhà Thạnh có vườn cây xinh xắn, được cho mướn để làm quán cà phê ngoài trời ban đêm. Do đó, chúng tôi dùng nhà Thạnh làm nơi tụ họp. Dưới mái hiên nhà, có ghế xích đu, bàn và mấy cái ghế nhỏ, đủ để chúng tôi ngồi chơi, nghe nhạc, và chuyện trò, mà không làm phiền ai cả. Dương Đức Hạnh cũng hay ghé qua đây. Nhà Thạnh nằm trên đường về nhà của Hạnh, nên mỗi lần chạy ngang, thấy bóng chúng tôi là tạt vô ngồi tán dóc. Hạnh cao lớn đẹp trai, hào hoa với bộ đồ bay hai mai vàng trên vai. Hạnh thích nói chuyện tiếu lâm, ưa kể chuyện học bay bên Mỹ, chuyện các cô gái tóc vàng mắt xanh….

Nghe nói, lúc nhỏ Hạnh cũng ưa nghịch và rất tốt với bạn bè. Trước sân nhà Hạnh có trồng một cây mận vừa sai trái vừa ngon ngọt. Ba của Hạnh rất quí cây mận, chăm sóc rất kỹ lưỡng. Khi trái sắp chín, ngoài việc ông tự mình bọc giấy báo quanh chùm mận để dơi khỏi ăn, ông còn lo canh lũ trẻ con hàng xóm lén qua hái trộm. Tuy nhiên, Hạnh vẫn lén hái mận, mang cho bạn bè thưởng thức. Lưu là bạn thân nhất của Hạnh, được hưởng nhiều hương hoa nhất.

Đậu tú tài xong, Hạnh tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Ra trường Hạnh được bổ nhiệm về Sư Đoàn 23 Bộ Binh, và được chỉ định làm Trung đội trưởng của một đơn vị tiền phương. Trong một cuộc hành quân chạm địch, Hạnh theo lệnh của Đại đội tiến quân, nhưng một trung sĩ đã không nghe lệnh, còn làm lộ mục tiêu cho địch. Hạnh buộc lòng phải bắn anh ta để giử vững kỷ luật Quân đội. Sau cuộc hành quân, trung đội không bị tổn thất nhiều. Người trung sĩ chỉ bị trúng đạn nơi bắp chân, không trầm trọng. Tuy nhiên, vì vấn đề tãi thương khó khăn, máu ra quá nhiều nên anh ta đã kiệt sức trước khi vào bệnh viện. Khi về đơn vị, thay vì được gắn huy chương, Hạnh bị Quân cảnh Tư pháp điều tra qui trách nhiệm về cái chết của viên trung sĩ và bị đưa ra Tòa án Mặt trận xét xử.

Sau nhiều tháng điều tra,ra toà Hạnh được trắng án và được phục hồi cấp bậc cũ. Nhân lúc đó binh chủng Không Quân đang bành trướng, cần nhiều phi công trực thăng. Hạnh xin chuyển ngành và được trúng tuyển. Hạnh được huấn luyện tại Mỹ, sau đó về phục vụ phi đoàn trực thăng tại Phù Cát. Đến năm 1974, Hạnh thuyên chuyễn về Phi Đoàn Trực Thăng 219 tại Nha Trang. Là sĩ quan xuất thân từ bộ binh, Hạnh thông cảm nổi bồn chồn của binh sĩ mỗi khi chờ đợi yểm trợ hoặc di tãn, nên lúc nào anh cũng nhanh nhẹn trong các phi vụ trách nhiệm.

Về Nha Trang, mặc dầu có nhiều bạn trong phi đoàn nhưng Hạnh thích một không khí thay đổi. Nên khi gặp lại Thạnh là bạn lúc niên thiếu, Hạnh rất mừng. Từ đó sau các phi vụ, Hạnh thường hay tạt qua nhà Thạnh. Nơi đó, chúng tôi có lắm chuyện vui để tạm quên chiến tranh khốc liệt mà chúng tôi đang tham dự.

Nhà Thạnh ở trên đường các em nữ sinh đi học. Nên mỗi buổi chiều chúng tôi hay đứng dưới bóng cây trong hàng rào, nhìn các em đi học về. Hạnh phúc nhất là lúc mới tựu trường, nhìn các em còn ngây thơ, nói bâng quơ một câu gì đó, các em đỏ mặt, cúi đầu rảo bước.

Một buổi chiều đầu tháng chín năm 1974, trời bổng dưng muốn mưa. Cơn mưa đầu mùa khiến các em nữ sinh không kịp chuẫn bị, phải hấp tấp lo rảo bước về nhà. Một nhóm bốn cô nữ sinh áo trắng đi ngang qua nhà Thạnh thì trời mưa nặng hạt, thấy nhà có mái hiên, quán cà phê chưa mở cửa, các cô vội chạy vào tránh mưa. Thấy cô nào cũng cao ráo xinh xắn, Thạnh trổ tài làm quen. Mới đầu các cô còn dè dặt, e ngại. Sau thấy Thạnh ăn nói nhẹ nhàng, lại là chủ nhà, nên các cô dần dần cũng tự nhiên hơn.

Các cô cho biết họ là sinh viên năm thứ 2 trường Sư phạm hai năm vừa mới mở năm ngoái. Vì trường chưa có lớp học, nên phải mượn tạm dãy nhà tôn của trường Nữ Trung Học Nha Trang. Do đó, các cô cũng thường thấy chúng tôi ở ngoài sân, cười đùa vui vẽ, các cô cũng có thiện cảm nhưng chưa có dịp làm quen. Chúng tôi nói chuyện bắt đầu cởi mở thì Hạnh lái xe honda vào. Hạnh vừa đi bay về, bộ đồ pilot lấm tấm những hạt mưa trông đượm nét phong sương. Thạnh lại có dịp giới thiệu từng người. Các cô hỏi Hạnh về tình hình chiến sự. Các cô cũng đã lớn, đã biết suy nghĩ về hiện tình đất nước, lo lắng không biết khi ra trường tương lai sẽ ra sao. Từ đó, chúng tôi chơi thân với nhóm nữ sinh sư phạm. Không cần chờ trời đổ mưa, các cô cũng ghé nhà Thạnh mổi khi thấy bóng chúng tôi. Hạnh cũng hay ghé chơi với chúng tôi thường xuyên hơn.

Trong nhóm nữ sinh sư phạm, ai cũng xinh đẹp duyên dáng, nhưng Nga nổi bật nhất, Nga vừa cao ráo xinh đẹp, vừa dạn dĩ cởi mở, xứng đáng là con chim đầu đàn. Xét bề ngoài, tôi thân với Nga nhất. Tôi chỉ có thể nói chuyện tự nhiên với Nga, còn các cô khác, thì dè dặt ấp úng. Có lẽ tại Nga cao hơn tôi cả một cái đầu nên tôi không có lý do gì để mà động lòng nghĩ vớ vẫn. Nga cũng rất tế nhị, nên hay chuyện trò và quan tâm đến tôi.

Nga có hai chị em, cha Bắc, mẹ Nam. Ba của Nga là thượng sĩ, phục vụ ở Tòa Án Quân Sự Nha Trang. Mẹ Nga không hiểu vì lý do gì, đã bỏ vào Saigon từ nhiều năm trước, để cho ba Nga trở thành gà trống nuôi con, hay đúng hơn, để cho Nga sớm trở thành bà nội trợ lo lắng cho cả gia đình. Ba Nga làm ở tòa án quân sự, là nhân viên của bạn tôi. Do đó, tôi cũng được nễ nang đôi chút, có thể đến nhà Nga chơi ban đêm mà không bị phiền hà khó chịu. Nga xem tôi như người anh để tâm sự. Đôi khi Nga cũng xem tôi như cậu em trai khờ khạo, cần phải quan tâm nhiều:

– Cái anh này hiền quá, làm sao có được đào? Thôi để em làm mai cho.

Thế là Nga bắt ngay cô bạn cùng nhóm, vừa dể thương ít nói, gần nhà tôi, ra giới thiệu liền.

– Em giới thiệu Thủy cho anh đó, ráng lên, đừng làm em mất mặt.

Mỗi tuần, Nga nhờ tôi mang cuốn sách lại nhà trao tận tay cho Thủy, hay nhờ Thủy mang gói quà gì đó cho tôi.

– Anh ráng mà nói chuyện tay đôi với Thủy ít nhất 15 phút, đừng trao sách rồi bỏ về ngay thì quê lắm đó.

Tình bạn của tôi và Thủy nhờ thế mà có tiến triễn khả quan, nhưng chưa đến giai đoạn cặp kè đi chơi riêng. Nếu Nha Trang không bị mất quá sớm, có lẽ giờ đây tôi cũng có được một chút gì để thương để nhớ.

Nga có quá nhiều tâm sự, không biết ngỏ cùng ai. Mẹ đi vắng, cha cũng lặng lẽ từ ngày thiếu bóng mẹ. Nga vui chơi hồn nhiên với bạn bè là để che đậy niềm u uất nào đó. Nga và Hạnh đã phải lòng nhau kể từ khi bốn mắt nhìn nhau của ngày đầu gặp gỡ. Họ đã từng cặp kè để nói chuyện riêng tư. Tuy nhiên, trong Nga, Nga vẫn thấy có một niềm ray rứt. Nga thích cái dáng dấp hào hoa của Hạnh, thương cái vẻ phong sương của Hạnh, nhớ từng cử chỉ ân cần săn sóc của Hạnh. Bên Hạnh, Nga như com chim nhỏ bé, quên hẳn mình là cô giáo sắp ra trường, là trưởng nhóm tinh nghịch nhất lớp. Nhưng không hiểu có một cái gì đó, khiến con tim của Nga chưa dành hết cho Hạnh.

Nga đã có bạn trai. Hai người quen nhau và chơi thân với nhau từ nhỏ đến lớn. Hai gia đình cũng rất thân thiết. Tuy không nói ra, nhưng họ đã ngầm chấp nhận cuộc tình đầy hứa hẹn của hai trẻ. Rất tiếc, khi vào Saigon học đại học, chàng trai đã bị thu hút bời một hình bóng cô sinh viên nào đó. Chàng bắt đầu lơ là Nga, thư từ thưa thớt, lời lẽ nhạt nhẽo. Hè về, cũng không còn săn đón như xưa. Nhưng khi hai gia đình gặp nhau thì chàng lại vồn vã, khiến ba má chàng yên tâm như không có chuyện gì xãy ra. Cái khổ ở đây là không biết vì lý do gì mà chàng không dám dứt khoát, nói thẳng cho gia đình biết, cho Nga biết, để cho Nga mang nỗi khổ một mình.

Mỗi khi gặp Hạnh, đi chơi với Hạnh, nhìn cái hào hùng của Hạnh, lòng Nga thấy tươi tắn hẳn lên, quên đi cái anh chàng dẻo miệng. Nhưng khi về một mình, thì tâm tư lại ray rứt khó quên được mối tình thủa học trò vụng dại. Dĩ nhiên là Hạnh cũng biết Nga đang ôm ấp mối tình đó nhưng không phải qua tôi, mà do Nga thổ lộ với Hạnh. Cô gái này muốn sống thực với lòng mình chứ không muốn bắt cá hai tay. Do đó, Hạnh càng thương Nga hơn, càng quyết tâm gần gủi và chinh phục Nga nhiều hơn.

Hạnh, khi van lơn, khi phân tích cặn kẻ để cho Nga trở về với thực tế. Cuối cùng, Hạnh không còn kiên nhẫn chờ đợi Nga nữa. Anh đã hẹn Nga trong vòng hai tuần phải quyết định tình cảm của mình. Trong thời gian này Hạnh sẽ không gặp Nga để cho Nga yên tĩnh hiểu rỏ lòng mình hơn.

Một hôm, khoảng đầu tháng 3 năm 1975, Nga đến nhà tìm tôi và hỏi ngay :

– Anh có hay gặp anh Hạnh không? Lúc này em thấy ảnh buồn buồn và như không muốn gặp em nữa.

– Anh mới gặp Hạnh hôm qua, nhưng lúc này không gặp nhau thường.

– Tối mai em cần gặp anh, nói chuyện riêng, anh đến xin phép ba em cho em đến nhà anh dư sinh nhật của cháu gái anh.

Dĩ nhiên tôi có chút ít uy tín với ba của Nga, nhưng nói dối để xin phép cho Nga đi chơi thì ngượng quá, nhất là thời buổi này nữa, đâu có ai muốn làm party gì đâu. Thấy tôi dùng dằng, Nga bực mình khó chịu:

– Cái anh này nhát quá, có chút xíu vậy mà cũng không dám thì làm sao làm nên đại sự.

Chiều hôm sau, tôi đến nhà xin phép ba Nga cho mời Nga đến dự sinh nhật của cháu gái. Nga cũng đã gói sẳn qùa cho bé, nhưng ba Nga không cho phép với lý do thời buổi này bất ổn, con gái không nên ra đường ban đêm, có gì thì ngồi nhà chơi cũng được. Nga buồn thiu vì tôi không thuyết phục được ba. Tôi cũng không có lý do gì để ở lại lâu, vì còn phải về để kịp dự sinh nhật. Tôi ghé nhà Thạnh cho Thạnh biết tình hình, có ý chờ Hạnh nhưng Hạnh không đến, đành nhờ Thạnh nhắn với bạn bè là Nga muốn gặp Hạnh.

Hai hôm sau, Nga lại đến nhà tìm tôi, tay cầm xấp thư dầy cộm:

– Đêm kia em không ngũ, đêm qua em phải thức suốt đêm để viết cho xong bức thư nầy. Hôm trước em muốn gặp anh để nhờ anh giãi quyết cái uấn khúc trong lòng thôi. Nhưng bây giờ thì em thông suốt cả rồi. Em quyết định dứt bỏ mối tình củ để hoàn toàn yêu anh Hạnh và chỉ anh Hạnh mà thôi. Em phải biết quí hiện tại, quí tình yêu đang chớm nở. Anh đưa giúp em bức thư này cho anh Hạnh.

– Anh đã nhờ anh Thạnh nhắn anh Hạnh là Nga cần gặp anh Hạnh gấp.

– Không cần đâu anh, chưa đến ngày hẹn ảnh không gặp em đâu. Nhưng đọc thư em rồi chắc ảnh sẽ nghĩ khác. Thú thật, lúc này lòng em cũng bồn chồn lo lo, anh đưa gấp thư giùm em.

Tôi cầm bức thư tới nhà Thạnh mà lòng hí hững, thế là một cuộc tình sắp nở hoa. Tôi nói úp úp mở mở với Thạnh để cùng nhau chờ Hạnh, chúc mừng cho Hạnh, nhưng đêm đó Hạnh không tới. Đêm hôm sau Hạnh cũng không đến. Thạnh và tôi bắt đầu sốt ruột. Muốn đi tìm Hạnh mà chẵng biết tìm đâu. Hạnh chỉ đến chơi với chúng tôi, chứ chưa bao giờ chúng tôi đến nhà Hạnh. Chỉ có một cách duy nhất là nhắn bạn bè để Hạnh tìm đến chúng tôi. Thêm một đêm chờ đợi nữa, vẫn không thấy Hạnh đến.

Hôm sau, sáng ngày 16 tháng 3 năm 1975, chúng tôi nghe tin một trực thăng của Phi Đoàn 219 bị trúng hỏa tiễn SA7 của việt cộng nổ tung trên vòm trời Bamêthuột. Đến chiều mới biết là phi cơ của Hạnh. Hạnh và phi hành đoàn đã lâm nạn. Thật ra phi vụ yễm trợ này không phải là nhiệm vụ của Hạnh. Hạnh đã tình nguyện đi thay cho người bạn bận việc gia đình muốn xin nghỉ phép. Cả tuần nay mặt Hạnh rầu rầu, chẵng nói chẵng rằng, nhìn thời khóa biểu, chờ đến phiên mình là xách đồ ra sân. Có lẽ Hạnh đang buồn phiền và ân hận đã gởi tối hậu thư cho Nga, để rồi chỉ một mình thương nhớ mà không dám gặp mặt người yêu. Bay trên không, nghe đạn nổ, cũng là một cách giãi quyết vấn đề. Phi vụ yễm trợ của Hạnh cũng không nguy hiễm gì lắm. Trực thăng tãi quân xuống phi trường, rồi bay trở về căn cứ. Trực Thăng của Hạnh vừa tãi quân xong, cất cánh để quay trở về đơn vị. Xui thay, một hỏa tiễn tầm nhiệt bắn lên, trực thăng của Hạnh nổ tung trước sự chứng kiến của bạn bè, trong đó có trung úy Anh, hiện đang ở Colorado, USA.

Đêm đó, Thạnh và tôi tới nhà Nga. Nga vẫn theo dỏi tin chiến sự hàng ngày và đã biết, hai mắt đỏ hoe, ngồi bên tôi khóc sụt sùi. Nga không nói gì, không một lời than trách. Mãi đến khi chúng tôi từ giã ra về, Nga cũng không hỏi để lấy lại xấp thư. Chiều hôm sau chúng tôi đến chia buồn cùng gia đình Hạnh. Phòng khách không thay đổi, không khí ảm đạm nhưng không quá bi quan. Bởi vì đơn vị đã thông báo với gia đình Hạnh, trực thăng của Hạnh bị lâm nạn, phi hành đoàn mất tích, công cuộc tìm kiếm đang tiếp diễn, kết quả sẽ thông báo sau. Tuy nhiên, tình hình chiến sự mỗi lúc một khốc liệt, Pleiku bỏ ngỏ, Bamêthuột không cần tái chiếm, quân dân bỏ chạy hỗn loạn, đâu còn ai nghĩ đến việc đi tìm người lâm nạn.

Vài hôm sau, chúng tôi lại gặp nhau tại nhà Thạnh. Thạnh và các bạn muốn tôi đem bức thư của Nga ra đọc, xem Nga đã nói gì. Nhưng tôi không nghĩ như vậy, tôi vẫn trân trọng cuộc tình của Nga. Bức thư chỉ có thể giử lại chờ ngày trở về của Hạnh, dù rất là mong manh. Hay tốt hơn, chờ dịp thuận tiện trao trả lại cho Nga để Nga tự quyết định cuộc tình của mình.

Nha Trang giờ đây tình hình không mấy khả quan, mọi người đều hoang mang khi làn sóng dân di tãn khắp nơi đổ về. Chỉ có tôi và Thạnh gần nhà nên gặp nhau mỗi ngày, các bạn khác thì từ từ vắng bóng. Gia đình các chị tôi đã lần lược theo máy bay Air Việt Nam vào Saigon. Riêng hai bà chị vì công vụ nên sẽ từ từ đi sau. Ngày 28 tháng 3 năm 1975, tôi đưa hai chị tôi vào phi trường để đáp chuyến bay Air Việt Nam cuối cùng vào Saigon. Về nhà lòng nhẹ nhỏm, nếu có chuyện gì thì một mình theo đơn vị cũng xong. Chiều hôm đó, bạn bè lại tụ về, có cả Nga và Thủy ghé chơi nữa. Thôi thì, trong nhà có đầy thức ăn nấu sẵn dành cho tôi ăn vài ba ngày, thêm chai rượu mạnh chưng trong tủ kiến, lấy hết ra làm buổi tiệc họp mặt cuối cùng. Chúng tôi đang cười cười nói nói, đang bày biện thức ăn lên bàn, thì hai bà chị lò dò xách đồ vô nhà. Thấy chúng tôi đang chén tạc chén thù, chị Lan la giọng oang oang:

– Mất nước đến nơi rồi mà tụi bay còn lo ăn với uống …

Chị cho hay là phi trường đã hỗn loạn. Phi cơ vừa dừng là mọi người đều ùn ùn chạy ra phi đạo, khiến phi công hoãng sợ, cất cánh bay luôn. Chờ mãi không thấy có chuyến bay khác, hai chị đành lũi thũi ra về. Ra tới cổng, lính gác khuyên các chị nên ở lại, may ra có phi cơ khác tới chở đi. Nếu về nhà, thì ngày mai không cách chi trở vô được. Nhưng các chị tôi không nghe, cứ đòi về. Có lẽ chị Thương đã quen biết với một phi công trực thăng, ngày mai anh ta đón gia đình đi, sẽ đón hai chị đi luôn. Các bạn tôi thấy tình hình quá bi quan, chẵng còn thiết ăn uống, vội từ giã ra về. Hôm sau, quả như người lính gác đã nói, tôi mượn xe jeep của đơn vị để đưa hai chị vào phi trường, nhưng không cách chi vào được, đành phải đưa hai chị về sở làm của chị Thương. Đó cũng là điểm hẹn để anh chàng phi công tới đón. Tôi về sở, trả xe jeep, lấy xe honda chạy vòng vòng, nghe ngóng tình hình. Chạy qua cỗng trại Phi Long, thấy chị em Nga trên xe pick-up, theo đoàn xe chờ vào cỗng. Tôi chạy đậu bên xe Nga, anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi, Nga nói:

– Tụi em có ông anh họ không quân xin cho vào Saigon chung với gia đình ảnh. Ba em nhất quyết không đi, có lẽ vẫn còn giận má em. Hay là anh lên đi với tụi em đi, cảnh hỗn loạn chắc họ không xét giấy tờ đâu.

Tôi lắc đầu cười:

– Không được đâu, anh còn phải về sở chờ lệnh.

– Thôi anh ở lại bình an. Nếu vào Saigon được anh nhớ kiếm em, nhà dì em ở hẻm Chí Hòa cũng dễ tìm lắm.

Nga cúi xuống, tìm tờ giấy ghi vội địa chị cho tôi, dặn lại:

– Anh nhớ đến tìm em. Cho em gởi lời thăm anh Thạnh.

Giã từ chị em Nga, tôi trở về sở làm. Lính gác vẫn còn, nhưng không khí có vẽ khác thường. Anh lính cho hay là Trung tá Chỉ huy trưỡng đã ra lệnh tan hàng. Mọi người có thể về nhà thu xếp gia đình và tự lo liệu lấy. Gia đình của Trung tá Sâm và Trung tá Huynh đã vào tòa lãnh sự Mỹ để được đưa vào Saigon. Thiếu tá Tấn ở lại, đang ở kho tiếp liệu để nhận lại súng đạn của anh em binh sĩ. Xăng ai muốn lấy bao nhiêu thì lấy, đây là món quà độc nhất và cuối cùng đơn vị có thể tặng cho anh em.

Giờ đây, tôi mới hoãng hốt thưc sự. Đơn vị tan hàng, tôi biết chạy đi đâu bây giờ? Tôi vội quay đầu xe, chạy một mạch ra khỏi cổng trại, không kịp vào văn phòng lấy vài thứ cấn thiết, cũng không kịp chạy vào giã từ thiếu tá Tấn. Tôi chạy về nhà, mặc thêm bộ đồ dân sự bên trong, xách vội túi quần áo để sẵn, lên xe honda chạy vòng vòng, không biết phải đi đâu. Tôi chạy đến nhà Thạnh, Thạnh đi vắng, đến sở làm của Thạnh, sở trống trơn. Chạy ra phố Phan Bội Châu, các nhà quen thân đều cửa đóng then cài. Thì ra ai cũng có kế hoạch di tãn, chỉ một mình tôi ngu ngơ chờ tử thủ với đơn vị. Buồn tình, tôi chạy dọc theo đường biển Duy Tân. May thay, tôi gặp được cậu em sinh viên sĩ quan hải quân, đang cùng bạn chạy honda về nhìn thành phố Nha Trang lần cuối. Hải cho biết tối nay sẽ có tàu hải quân vào đưa sinh viên sĩ quan và gia đinh hải quân về Saigon, bảo tôi cứ xuống căn cứ Hải Quân, sẽ có cách theo vào Saigon. Tôi vội đến sở làm của chị Thương, hai chị vẫn còn ngồi đó, mòn mỏi chờ đợi anh phi công. Chúng tôi bàn bạc với nhau và quyết định chở nhau trên honda, chạy về phía căn cứ Hải Quân. Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân giờ đây chật ních người, mặt mày hớt hãi. Cứu cánh cuối cùng của mọi người là chiếc tàu hải quân tối nay, liệu tàu có đủ lớn để chứa hàng ngàn người không? Hay lại chen chúc tranh dành nhau lên tàu như ở Đà Nẵng. Đến chiều, tôi gặp lại Hải, Hải đưa tôi bộ đồ hải quân, bảo tôi cứ trà trộn theo đám sinh viên sĩ quan sẽ lên được tàu. Các chị tôi cũng đồng ý như vậy:

– Em là sĩ quan, nếu bị bắt thì khổ lắm, các chị là đàn bà, nếu bị kẹt lại, cũng không sao.

Tôi mặc bộ đồ hải quân, chờ đến khuya, giã từ các chị, theo đoàn hải quân đi bộ lên cầu đá. Tàu cặp dọc theo bờ không có cầu tàu. Muốn lên tàu phải có người bên hông tàu nắm tay cho nhảy qua. Tôi nhờ mặc đồ hải quân, nên được lính kéo nhảy qua dễ dàng. Lên được tàu rồi, tìm một chổ dựa lưng mới hoàn hồn, không biết hai chị giờ đây ra sao? Làm thế nào mà vừa xách đồ, vừa đi bộ hàng mấy cây số từ căn cứ Hải Quân, qua đồi núi của Cầu Đá để đến bến tàu? Tôi lại nghĩ đến thành phố Nha Trang, nghe nói, hồi chiều thả tù, tù chạy khắp phố, cướp bóc, hôi của. Lại nghe nói có một chiếc máy bay phản lực A37, không biết viên phi công nhận lệnh từ đâu, đã nhào xuống bắn phá, bỏ bom nhầm khu cư xá sĩ quan, khiến cho nhiều người chết và bị thương. Ôi Nha Trang của tôi, Nha Trang thành phố hiền hoà, nay đã bị bom đạn tàn phá, mà lại bom đạn của phe ta mới khổ chứ. Dân Nha Trang bây giờ không phải chỉ có cảm nhận chiến tranh, mà đã là nạn nhân của chiến tranh, với cảnh cửa nát nhà tan, phải bỏ nhà bỏ của chạy lấy thân mình.

Tàu từ từ rời bến, để lại đám đông đang kêu la inh ỏi, đến trưa hôm sau thì tới Cát Lái. Mọi người rời tàu để ra cổng trại. Quân cảnh xét qua loa từng người rồi cho ra ngoài tự tìm phương tiện về nhà. Đến chiều tôi về đến nhà anh Duyên với tâm trạng buồn phiền và lo lắng cho các chị. Đến tối thì chị Lan bước vào nhà, mặt mày xơ xác, mới tới cửa là đã khóc lên:

– Con Thương rớt xuống biễn, chắc chết rồi .

Không hiểu nhờ sức mạnh nào mà hai bà chị của tôi cũng dìu dắt nhau đi bộ đến được bến tàu. Chị Lan được kéo qua tàu trước. Chị Thương vì đang có bầu, lại xách đồ nặng, nên đã bị tuột tay và rớt xuống biễn. Chị Lan nhìn em, chỉ biết khóc, vì đã lên tàu rồi, không thể nào trở lại vào bờ để tìm kiếm em. Tuy nhiên, ba ngày sau, trong lúc cả nhà đang làm lễ cầu an cho chị Thương, thì có tin tức của chị từ Phú Quốc, cho biết vài ngày nữa sẽ về tới Saigon. Chị bị rớt xuống biễn, nhưng nhờ bên dưới có nhiều túi xách nên không bị chìm. Nằm lêu bêu trên mặt nước, đến sáng hôm sau được người ta vớt lên, nhờ vậy mẹ tròn con vuông, túi xách của chị với tiền và nữ trang cũng không bị mất. Thất thểu đang tìm người đưa về nhà thì nghe tin có tàu Đại Hàn vào cứu vớt những người còn sót lại. Tàu Đại Hàn đã đưa mọi người ra Phú Quốc để thanh lọc. Chị đang có bầu, lại là công chức cao cấp nên được ưu tiên cho về Saigon sớm. Gia đình hai vị Trung tá Chỉ huy trưỡng của tôi cũng được Mỹ đưa ra tàu Đại Hàn này, 2 tuần lễ sau mới về tới Saigon.

Tôi nghỉ ngơi vài ngày rồi đi trình diện Tổng Nha Nhân lực. Được nghỉ thêm vài ngày để thu xếp gia đình và chờ sự vụ lệnh đi Cần Thơ. Tôi đến Quân Vận Saigon xin phương tiện di chuyển. Gặp người bạn cùng khóa Thủ Đức, anh lấy sự vụ lệnh đóng dấu “Không có phương tiện’’ trao lại tôi và nói nhỏ:

– Bạn khỏi cần tới trình diện nữa. Lo tìm đường mà đi đi.

Thạnh cũng vào được Saigon. Hôm đó Thạnh gặp người bạn, nói là có ghe, Thạnh theo anh ta luôn, không kịp về đưa các em cùng đi. Nhà anh tôi và anh Thạnh đều có điện thoại quân sự nên chúng tôi thỉnh thoãng cũng gọi nhau hỏi thăm tin tức. Tôi rủ Thạnh đi thăm Nga. Chúng tôi đến khu hẻm Chí Hòa, tìm nhà Nga cũng không khó khăn lắm. May mắn chiều hôm đó Nga có ở nhà. Anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi, kể cho nhau nghe chuyện vượt thoát khỏi Nha Trang. Nga trách đùa tôi :

– Hôm đó anh nghe lời theo em là được rồi, lên máy bay dể dàng, đâu có ai xét giấy tờ đâu.

– Thì các anh đã có mặt ở đây rồi, đường nào cũng về đến Saigon mà.

– Bây giờ các anh có tính gì không, em thấy người ta lo giấy tờ đi Mỹ quá trời.

– Anh Thạnh có cô ở Canada xin bảo lảnh cho đi Canada nhưng không biết bao giờ tòa đại sứ Canada mới xét đến. Anh đang chờ phương tiện đi Cần Thơ nhận nhiệm sở mới. Còn Nga thì sao?

– Tụi em chắc không đi đâu hết, ngoại em bảo nếu có chuyện gì thì về Gò Công ngoại em nuôi. Ngoại là mẹ chiến sĩ nên khỏi phải lo gì hết.

Hàn huyên một hồi, cũng đến lúc chia tay. Trước khi giã từ, tôi lấy xấp thư trao trả lại cho Nga, ấp úng một vài câu xin lỗi. Nga cầm thư áp vào ngực, rươm rướm:

– Em sẽ giử mãi trong tim. Thời buổi này chắc mình khó gặp nhau nữa, các anh giữ gìn sức khoẻ.

Tình hình Saigon cuối tháng 4 năm 1975 thật là giao động. Với sự vụ lệnh trong tay, tôi có thể đi khắp Saigon mà không sợ quân cảnh chận xét. Tôi cũng thử tìm đường đi Cần Thơ nhưng không tìm được phương tiện. Đêm 29 tháng 4, tôi cùng với Nhung và chị Lan theo gia đình anh Duyên ra bến Bạch Đằng theo đoàn người di tãn trên các tàu Hải Quân mà chẵng biết sẽ đi về đâu. Thạnh, trưa ngày 30 tháng 4 cũng đến được bến Bạch Đằng và lên được chiếc tàu Hải Quân đang nằm ụ chờ sữa chữa. Trên tàu có nhiều tướng tá trong nộị các của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đang thành lập. Các vị này đã vở mộng và lo chạy thoát thân khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Có thể nói đây là chuyến tàu lịch sử. Tàu chưa sữa xong, đã vội chạy, phải chạy lùi từ từ rời bến Bạch Đằng để tránh tai mắt của bộ đội việt cộng vừa chân ướt chân ráo tiến vào Saigon. Nhờ vậy đã cứu thoát được nhiều gia đình sĩ quan, binh sĩ và dân chính không chấp nhận chế độ Cộng sản.

Thạnh và tôi gặp nhau tại đảo Guam. Thạnh được phái đoàn Canada phỏng vấn, cho đi Canada ngay. Tôi được bảo trợ về New York, sau đó dọn qua California sống một đời bình an bằng nghề điện tử. Mấy năm đầu, Thạnh và tôi cố ý dọ hỏi bạn bè tìm Nga ở Mỹ, Canada và các trại tị nạn, nhưng không có tin tức gì. Về sau, khi Việt Nam đã thông thương dễ dàng, chúng tôi dọ hỏi tận Nha Trang. Các bạn trong nhóm của Nga nay đã là cô giáo của trường Nữ Trung Học Nha Trang. Thủy dạy việt văn và đã có chồng con. Thủy cho biết họ đã mất liên lạc với Nga kể từ ngày Nha Trang bỏ ngỏ.

Giờ đây đã 35 năm qua, 35 năm dài với bao vật đổi sao dời. 35 năm Hạnh cô đơn trong lòng đất lạnh. 35 năm Nga sống lưu lạc ở phương trời nào đó. Giờ đây gia đình Hạnh đã tìm được nơi thất lạc của Hạnh. Giờ đây Hạnh đã được đoàn tụ với gia đình, đã có mồ yên mã đẹp. Riêng Nga vẫn biệt vô âm tín. Nhưng thôi, cũng không nên khơi lại niềm đau trong lòng người thiếu nữ đáng thương đó. Chỉ mong rằng chị em Nga, trong những ngày đầu mất nước, được bình yên trong sự thương yêu đùm bọc của bà ngoại. Ngoại là mẹ chiến sĩ của chế độ mới nên đời sống chắc không khó khăn lắm. Mong vậy thay!

Duy San

Chuyện Hai Người Phi công VNCH và Bắc Việt

Posted by SVSQKQ  November 28, 2018

Post by Sơn râu 22 Feb 2025

Bài viết ghi lại theo lời kể của một SVSQ/KQ để nói lên sự tuyên truyền láo khoét và che lấp của người cộng sản Việt Nam. SVSQKQ

• Ngày 11 tháng 4 năm 1975: Khóa chúng tôi gồm 15 người, là khóa phản lực đàn em cuối cùng của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa mãn khóa tại trường bay Webb AFB, Big Spring, TX
• Ngày 20 tháng 4-1975: Chuyến phi cơ hành khách PANAM 747 cuối cùng chở chúng tôi hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất trong khung cảnh nhốn nháo và lo âu hỗn độn của những người di tản rời Việt Nam.
• Ngày 21/4/1975: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc bài diễn văn từ chức tại Thượng Viện và tố cáo Mỹ đã bỏ và cúp viện trợ cho Việt Nam một cách vô trách nhiệm.
• Ngày 30/4/1975: Tân Tổng Thống Dương văn Minh lên đài phát thanh kêu gọi anh em quân nhân các cấp buông súng đầu hàng vô điều kiện.Cuộc đổi đời
Tháng 5/1975: Cộng sản kêu gọi các sĩ quan quân đội VNCH, từ cấp thiếu úy tới cấp tướng đi trình diện để học tập chỉ có 3 ngày rồi sau đó trở về lại với gia đình (sau này mới biết là đi học tập cải tạo mút chỉ, có khi tới 17..20 năm, có khi bị chết trong tù, hoặc bị tàn tật hay bị bệnh hậu, khi trở về thành phế nhân hoặc chết sớm), anh em Sĩ Quan VNCH bị gạt một cách dễ dàng. Đúng là câu“ Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm“.
Sau khi về nước, vì còn mang cấp bậc Sinh Viên Sĩ Quan nên tôi không bị đi cải tạo, chỉ đi trình diện ở địa phương và bị theo dõi chặt chẽ bởi lũ công an phường khóm.
Cuối năm 1975, tôi lập gia đình và vợ tôi quê ở Vĩnh Long, lên Sài Gòn ở với tôi nhưng vì mẹ chồng nàng dâu không thuận, nên bà xã tôi ở với tôi được vài tháng rồi trở về ở lại Vĩnh Long quê nàng ta, còn tôi thì ở lại Sài Gòn, cuối tuần thứ sáu thì về Vĩnh Long, rồi chiều chủ nhật thì đón xe đò lên Sài Gòn, y như lính đi nghỉ phép vậy.

Một ngày cuối tuần sau khi đi thăm bà xã ở Vĩnh Long, tôi mua vé xe đò để trở lên Sài Gòn (vì tôi hộ khẩu ở thành phố), tôi ngồi ở chặng giữa, ghế bìa sát cửa sổ, người ngồi kế bên tôi là một người đàn ông người Bắc, trông mập mạp và cao ráo, tuổi chừng khoảng 35-40. Xe đang chạy khoảng hơn nửa tiếng, tôi đang ngủ gà ngủ gục, lúc đó đang đeo chiếc nhẫn của Không Quân Mỹ (USAF) bên ngón tay phải (nhưng khi công an hay lính cộng sản xét giấy tờ thì tôi sẽ lật mặt chiếc nhẫn vô lòng bàn tay để giấu, giống như đeo nhẫn bình thường) thì người đàn ông ngồi kế tôi dùng cùi chỏ thúc vào hông tôi nhè nhẹ hỏi:
– Ê, có phải chú mày là “giặc lái“?
Tôi tỉnh dậy: 
– Sao chú biết?
– Tao nghe nói bọn giặc lái ngụy nó thường đeo chiếc nhẫn không quân Mỹ, vậy chắc chú mày là giặc lái phải không?
Tôi hỏi:
– Ủa vậy chú là…?
– Tao là “người lái” của Không Quân Nhân Dân.
– Ủa vậy chắc chú còn bay?
– Không, tao làm phó thường dân rồi, đâu còn bay bổng chi nữa.
– Ủa sao vậy chú? Trông chú còn trẻ, khỏe mạnh lắm mà?
– Tao bị đuổi ra khỏi đảng và bây giờ làm dân bình thường thôi.
– Thật vậy hả, tại sao vậy chú?
– Số là như vầy: 
Tao là người lái máy bay Mig-19, là máy bay phản lực 2 máy, giống máy bay A-37 hay F-5 của chú mày, nhưng nó không có khả năng không chiến mạnh như Mig-17 hay Mig -21 để đương đầu với phi cơ F-4 con ma của Mỹ, nhưng tao thích lên đấu với chiếc F một lẽ năm (F-105) của Mỹ, vì chiếc này nó to và bay nhanh. Chủ đích là mang bom nhiều ở dưới cánh và bụng, nhưng khả năng không chiến hoặc tự vệ rất yếu.
Một ngày kia khoảng trung tuần tháng sáu năm 1972, tao đang ngồi ở phòng trực tác chiến, thì nghe loa phóng thanh báo động: Có phi cơ F-105 của Mỹ ở hướng Đông Nam Hà Nội, có phi cơ địch, có phi cơ địch…! ! ! Tụi tao mừng lắm, vì nếu gặp F-105 thì hên lắm, còn thọ được. Chớ nếu gặp F-4 thì phiền lắm, thì coi như chết chắc, tới số! Mig-19 tụi tao không đủ sức độ với F-4 của Mỹ. Tao bay về hướng Đông Nam, hướng dẫn thẳng ra biển, trên cao độ khoảng 5000 mét, thì tao thấy nhiều đốm đen theo hướng hai giờ (hướng tay phải), nhìn rõ tao thấy toàn F-4, chớ đâu phải F-105. Tao lẩm bẩm chửi thề mẹ kiếp cái đài không lưu báo cáo loét, chết cha tao rồi… Tao chửi thề trong miệng, liền đẩy tay ga lên tối đa, bay thẳng lên trên cao thêm khoảng 7000-8000 mét, hy vọng trốn vào trong mây cho nó chắc ăn, nhưng tao đã lầm to: ít nhất có 30 chiếc F-4 bay giăng hàng ngang ở trên từng mây cao này, tao bay gần sát bọn nó, thậm chí còn thấy tụi Mỹ đội nón an toàn (helmet) thật rõ, tao liền kéo cần để nhảy dù ngay (eject/ bailout) liền tức tốc….
– Chú nhảy dù ??? Trời đất ???
– Chớ còn gì nữa, nếu chần chờ thì sẽ bị ăn cái hỏa tiển (sidewider) của nó là chết banh xác. Tao nhẩy dù ra bay lơ lửng trên trời xanh rồi từ từ hạ xuống, tao còn thấy chiếc Mig-19 của tao nó rớt xuống đất nổ tan tành với một cục lửa màu đỏ cam rất to, có vài chiếc F-4 của Mỹ nó bay vào vèo vèo bên tao, nó thấy tao nhưng nó không bắn, thật là tao rất có phúc…đại phước… Tao cũng nghe nói là bọn Mỹ rất anh hùng, nó không bao giờ bắn người ngã ngựa, kinh nghiệm trong thế chiến thứ hai. Tao rớt xuống một cánh rừng, bị vướng tòn ten trên một cây thật cao, nhưng may phước là thân hình tao còn nguyên, lành lặn không có gì bị thương cả, nhưng tao thấy ở dưới gốc cây có chừng khoảng 10 thằng du kích xã, hầu hết là mang súng trường SKZ và đứa nào cũng đang nhắm vào tao để muốn bắn chết tao, đứa đứng đứa ngồi.
Tao hét lên: Này đừng bắn, Không Quân Nhân Dân…Không Quân Nhân Dân !và đồng thời tao vỗ vào cánh vai trái bình bịch vào cụm tay tao có may lá cờ đỏ sao vàng to tổ bố để phân biệt là người lái phe ta với giặc Mỹ. Tao tiếp tục la thất thanh: “Ông là Không Quân Nhân Dân, Không Quân Nhân Dân đừng bắn !!! Đ. má đừng bắn!!! Tiếp theo tao nghe một tiếng súng nổ …Đoành! 
Tao mở mắt ra thì thấy đang nằm trên giường nhà thương, áo choàng màu trắng, chân phải tao đang bị băng bột treo lên cao và đang bị vô nước biển, cô y tá đứng bên giường nói:  Thưa đồng chí Thượng Úy, đồng chí đang nằm điều trị tại nhà thương Bạch Mai, Hà Nội.
Chừng khoảng nửa tiếng thì có phái đoàn vô thăm tao, dẫn đầu là một thượng tá là người lái xếp của tao và kế tiếp theo sau là các người lái Mig-17, Mig-21 vô để chúc mừng tao, nói là hôm ấy tao bắn hạ 3 chiếc F-4 và sau đó máy bay tao bị hết xăng, tao phải nhẩy dù ra và phi cơ địch đã bắn trúng chân phải của tao, họ cấp cho tao giấy khen là chiến sĩ anh hùng diệt máy bay Mỹ và truy thăng tao lên Đại Úy và nói là kể từ phút này vì bị thương tích nơi chân, nên tao không thể bay được nữa và họ đã dành cho tao một nhiệm sở mới đó là làm việc tại phòng huấn luyện, để giảng dạy dưới đất cho các học viên người lái. Tao rất buồn vì thú thật tao rất thích đi bay lắm, nhưng tao phải thầm cám ơn mấy thằng du kích xã vì nó bắn tao bị thương chân, nên bị loại ra khỏi đi bay, chớ nếu còn bay thì có ngày nát thây với bọn F-4….
Tôi hỏi tiếp: 
– Rồi sao hả chú?
– Tao làm việc tại phòng huấn luyện được vài năm, thì đến ngày 30-4-1975. Miền Bắc tấn công và chiếm miền Nam, tụi tao thì nói với nhau: Miền Nam thua vì bị thằng Mỹ bỏ rơi nửa chừng, tụi mình có đánh đâu mà thắng, còn miền Nam có đánh đâu mà thua.
Sau 30-4-1975, tao nhận được một lá thư từ trong Nam gởi tới nhà tao tại Hà Nội, trong thư nói là tao có một thằng em trai, nó đi vô Nam hồi năm 1955, sau này nó lớn lên tốt nghiệp ở trường Võ Bị Đà Lạt, rồi giữ chức Đại Úy nhảy dù, bây giờ nó đi cải tạo ở suối Máu, nhờ anh đó bảo lãnh ra dùm, dẫu sao cũng là anh em ruột thịt. Tao động lòng máu mủ, tao mới đứng ra điền đơn xin bảo lãnh cho thằng em ra trại.
Kết quả là thằng em không ra tù, mà tao lại bị chúng nó điều tra lại lý lịch, tụi nó nói là tao khai gian và che dấu có thằng em Mỹ ngụy ác ôn, rồi kể từ đó tao bị trục xuất ra khỏi đảng. Cho tao ra làm phó thường dân, tao xin về miền Nam ở nhà gia đình thằng em tại tỉnh Vĩnh Long này. Thứ nhất là tại vì tao thích ở trong Nam thoải mái hơn, thứ hai là thấy có cán bộ trong nhà tụi công an phường xã nó đỡ ăn hiếp gia đình em tao.
Sau khi ở miền Nam được vài tháng tao mới phát hiện được là trong Nam, thằng cha nông dân, thằng tài xế xe đò …còn có hai bà vợ lẽ, con gái miền Nam rất đẹp, khêu gợi, ăn mặc đều đẹp cả, ngay cả đi ngủ cũng mặc đồ ngủ riêng. Cái khổ miền Bắc là đàn bà chỉ được cấp một năm có hai bộ đồ, nó mặc hoài hôi rình, nhìn thấy mắc ói, chán lắm mày ơi! Thành thử giải phóng miền Nam đâu chưa thấy, chớ tao thấy là giải phóng tao trước.
Tuy nói vậy, cũng phải làm gì để kiếm ăn, tao thì đi đi về về Hà Nội – Sài Gòn bằng đường xe hỏa Bắc Nam, tao thấy trên tàu hỏa, người ta đi hầu hết là đi buôn, vậy mà họ sống rất khuây khỏa, đâu cần đi làm công nhân cho nhà nước suốt đời nghèo mạt, tao bèn nghĩ ra cái nghề đi buôn, mua đi bán lại. Miền Nam gọi nôm na là nghề chợ trời, ở trong Nam, tao đi mua xe đạp mini, xe đạp Pháp Peugeot 5 lip, xe gắn máy Honda, đồng hồ Seiko không người lái, có hai cửa sổ, mền nĩ US, mền dù lính, mùng ngủ lính Mỹ, máy may Singer, hộp quẹt Zippo, bột ngọt… đem ra ngoài Bắc bán, còn từ Bắc vô Nam thì tao chỉ mua đồ của Liên Sô, thuốc Tetra lon nhôm vàng Bulgary chống sốt rét, đại khái là mua một lời năm, sau một năm tao chỉ cần đi hai ba chuyến là đủ sống trong năm, đời sống rất thoải mái sung sướng, không còn giặc giã chết chóc, ăn cơm thì toàn độn thịt, chớ không độn bo bo, sướng thật vì sống bằng nghề đi buôn… Nói xong anh ta kéo hai tay áo lên, trên hai cánh tay đeo ít nhất là mười mấy cái đồng hồ Seiko và chiếc áo khoác bên ngoài thì có nhiều túi kéo chứa toàn là hộp quẹt Zippo, mặc giống như chiếc áo giáp.
– À quên nữa, thế chiếc nhẫn Không Quân mày đang đeo có định bán không, tao mua nó thật đấy!
Tôi trả lời:
– Chiếc nhẫn này của tôi quí lắm, là kỷ vật của tôi để kỷ niệm hồi học bay bên Mỹ, tôi không bán đâu.
Ông ta hỏi tiếp:
– À nghe nói bọn mày đi Mỹ học bay nó có cấp cho mỗi đứa một cái áo khoác màu xanh lá cây, bên trong có vải satin màu cam đẹp lắm, mày còn giữ không? Nếu có bán cho tao đi.
Tôi trả lời:
– Trong lúc loạn lạc, hồi miền Bắc mới chiếm miền Nam, tôi vất đi hết rồi đâu dám giữ, vì mình là dân „Mỹ ngụy. À chú đi buôn lên xuống như vậy có bị công an hay trạm xét làm khó dễ không?
Chú ta hể hả cười nói:

– Có gì đâu, hễ tụi nó xét, là tao rút túi ra tờ giấy chứng nhận liệt sĩ, anh hùng diệt máy bay Mỹ, là tụi nó cho qua tuốt, vả lại tao là cựu Đại Úy có giấy tờ chứng minh mà mày, tụi nó thấy là run rồi. Coi vậy có tờ giấy tùy thân mắc dịch này cũng có lúc được nhờ cậy, chưa kể buồn buồn tao đeo cái huy chương bác Hồ phi công anh hùng ở ngực áo là tụi nó phát khiếp…ha ha.
À tao thấy trong hình bọn giặc lái chú mày mặc đồ bay đẹp và trông oai quá, đồ bay gì mà toàn là giây kéo (zipper), ăn mặc khít khao, có khăn quàng cổ màu tím, màu cam, hông đeo súng cá nhân, dây nịt súng có đầy đạn tùm lum, mang dao, máy truyền tin, súng bắn cứu nguy (flare gun) áo lưới mưu sinh (survival vest), coi chằng quá, đội mũ vải xanh dương (calo) trong oai ghê, tao thấy còn mê, chắc mấy em trong Nam khoái mấy chú mày lắm phải không? Tao thấy thằng nào trông cũng bảnh trai hết?
Tôi trả lời:
– Thì đồ bay của chú cũng đẹp lắm mà?
Chú ta trả lời:
– Đẹp cái con khỉ khô, đồ bay mà của tụi tao mặc còn cài nút, mặc hai mảnh trên dưới, trông giống mấy thằng công nhân xí nghiệp chết mẹ, nhìn muốn mửa, còn lái Mig 17 giờ này còn mang nón bay bằng da (leather helmet), giống lính lái xe tăng vào đệ nhất thế chiến, trừ cái đám lái Mig 21 thì còn đội nón bay hao hao giống Mỹ, nhưng vẫn không đẹp bằng của Mỹ, còn mặt mày thì thằng nào trông cũng thấy ngố ngố, miệng hô hốc, vì tối ngày lo luyện bài chính trị Bác và Đảng, thì làm sao ga lăng được.

Nói ba hoa chích chòe, mà xe đã chạy tới Phú Lâm, xe đò chạy vô bến xe Xa Cảng miền Tây, có cả ngàn người đang lô nhô, bụi bặm, khói xe ngộp trời, xe ngừng tại bến, thấy chú ấy đang đợi các lơ xe thả xe đạp, máy may xuống. Tôi tình nguyện đứng giữ đồ cho chú ấy, bên cạnh chiếc cyclo máy đang nổ máy nghe xình xịch. Sau khi chất được hai chiếc xe đạp mini, một máy may, vài bịt hàng lỉnh kỉnh lên xe, chú ta đã ngồi gọn hẳn trong cyclo máy.
Chú ấy nói lần cuối:
– Bây giờ tao lên thành phố, đón tàu hỏa về Bắc, thôi tạm biệt chú em, nhớ giữ gìn sức khỏe nhé, cám ơn đã giữ đồ cho tôi lúc nẫy, thôi mình đi nhe.
Tôi giơ tay lên chào theo kiểu nhà binh, chú ấy cũng chào lại y chang.
Tôi đón xe lam về Sài Gòn cư xá Nguyễn Thiện Thuật, trong lòng không bao giờ quên lại câu chuyện gặp lại anh phi công Mig Hà Nội này, trông cũng thật tội nghiệp. Đúng là đất nước mất, mất tất cả, cộng sản thà bắt giết lầm, chứ không tha lầm, đa nghi như Tào Tháo. Vậy mà cũng có người nhẹ dạ nghe theo, rồi chết ân hận.
Tôi rất hối hận không có dịp hỏi tên của anh ta. 

Chợ trời
Vào năm 1976, sau nước mất, tôi sống bằng nghề chợ trời (nghề chánh là làm việc cho hãng in (printing shop) trong thành phố nên không bị đi vùng kinh tế mới, nhưng đó là cái nghề để qua mắt công an phường khóm, chớ thật ra phải sống bằng nghề mua đi bán lại còn là gọi nghề chợ trời, khi thì buôn thuốc tây ở khu Huỳnh Thúc Kháng, Hàm Nghi. Khi thì đi mua bán vàng và đô la Mỹ ở khu Lê Thánh Tôn, thấy vậy mà sống rất phây phả, ung dung.
Một bữa kia vào đầu năm 1979. Tình cờ tôi gặp lại anh phi công Mig-19 Hà Nội (hồi gặp trên xe đò Sài Gòn-Vĩnh Long). Lúc này trông anh ta thấy khác ra, không khác người Sài Gòn, tuy hơi ốm nhưng trông rất khỏe. Anh ta đang lái chiếc xe gắn máy Honda 50cc kiểu đàn ông màu đen, ngồi sau xe là một cô cũng khá trẻ đẹp ngồi ôm eo ếch (thoạt tiên tôi tưởng là anh ta chạy xe ôm).
Tôi hỏi:
– Giời ơi trái đất tròn, bây giờ gặp lại chú, trông chú đẹp trai quá, chú còn nhớ tôi không?
– A thì ra anh…anh là phi công tôi gặp trên xe đò năm 1975 phải không?
– Đúng rồi đó, a còn cô ngồi ở phía sau là…?
– Bà xã mình đó.“ Anh ta dựng xe và nói tiếp:
– Bà ấy nguyên là vợ một Thiếu Tá phi công của chế độ Sài Gòn, đi học tập và chết trong trại cải tạo năm 1977. Sau đó bà ấy phải lam lũ khổ sở buôn bán chợ trời để nuôi hai đứa con nhỏ, có vài lần bị công an nó bắt, mình là bạn bè bán hàng với bà ấy. Tôi lên đồn công an xin nó thả bà ra và mình nói là bà con của mình và xin đặc biệt thả ra, chứ không nó bắt đầy đi vùng kinh tế mới, nhận bừa là bà con nó vừa nể mình là cựu cán bộ. Sau đó mình thấy tình cảnh đắng lòng mẹ góa con côi, còn tôi thì còn độc thân, vả lại làm ăn qua lại riết có cảm tình. Lấy nhau rồi tôi về nhà bà ấy ở khu đường Trương Minh Giảng, gần nhà thờ Ba Chuông (Sài Gòn) cho tiện. Buôn bán thì cũng tạm được, có điều lúc nào cũng cảm thấy bị rình rập bởi công an cộng sản, đất nước mang tiếng là Độc Lập – Tự Do, nhưng lúc nào cũng phập phòng lo sợ không biết bị bắt bất cứ lúc nào, vả lại thằng em Đại Úy Nhảy Dù đi học tập mới chết năm ngoái, còn ông chồng cũ của bà xã mình thì cũng chết trong trại tù ở Hoàng Liên Sơn (Bắc Việt), nên tôi buồn khổ lắm. Tôi không còn luyến tiếc ra miền Bắc nữa, chỉ ở trong Nam thôi.
– À chú mày có đường dây nào đi ra nước ngoài không? Chúng tôi không muốn sống sống ở đất nước này nữa!
Tôi nói:
– Nếu chú thím đi chui thì lỡ bị bắt thì rất là nguy hiểm, vì chú là chính gốc cán bộ, còn nếu đi theo kiểu bán chính thức, tức là theo kiểu người Hoa thì đường này thì nó tính mỗi đầu người là 7 cây vàng, nhưng nó chắc và an toàn hơn, nhưng nó sẽ đặt tên chú là tên Hoa kiều chớ không lấy tên Việt Nam
– Số tiền đó tụi này lo được, nhưng chú em biết tổ chức đó ở đâu không?
– Tôi cũng đang đi tìm, nếu có sẽ cho chú thím hay
– Nếu muốn gặp, thì vợ chồng tụi này hằng ngày ở đây. Chỗ quán nước mía cạnh cây cột đèn và sẽ thấy có chiếc Honda màu đen này, thì tụi này có mặt ở đó.
– Thôi tạm biệt chú và chúc chú thím may mắn.

Vượt Biên
Vào tháng 6/1979, vợ chồng chúng tôi đi vượt biển đường Vĩnh Long, ghe chở khoảng 300 người và sau một tuần lênh đênh trên biển thì đến đảo Tanjung Pinang, Indonesia. Cũng may là tàu đi vào tháng này biển rất êm và may mắn không gặp hải tặcThái Lan hoặc Mã Lai lộng hành, ở được hai tháng thì một ngày kia, tôi đang ở trại A đi qua khu trại B để thăm coi có ai quen không. Tình cờ tôi thấy một người đàn ông trông rất quen, anh ta đang sửa lại cái lều của mình.
Tôi hỏi đại:
– Chú còn nhớ tôi không, có phải chú lái Mig-19?
Chú đưa lên miệng một ngón tay:
– Này nói khẽ chứ, mình đây, sao chú em đến đảo này hồi nào. Tôi đi đường Bến Đáy ở Trà Vinh, tới đây vợ chồng chúng tôi ở trong lều này.
Tôi hỏi:
– Chú sắp được phỏng vấn bởi phái đoàn Mỹ chưa? à có điều này mình cần nói với chú là phải khai thành thật, không dấu diếm, phải khai báo sự thật về lý lịch cũ của chú nhé, đừng khai gian. Mỹ họ rất ghét ai nói láo, khai gian và nhớ khai đúng sự thật thì không bị trở ngại xin tỵ nạn theo diện chính trị (political asylum) nhé. Thôi chào chú thím và chúc may mắn.

Tuần lễ sau là ngày tôi được phái đoàn Mỹ kêu lên phỏng vấn, mình mừng hết cỡ, vì ở trại tỵ nạn tuy không có làm gì, nhưng ngày nó kéo dài đăng đẳng. Chỉ trông lên đường định cư qua Mỹ, rồi có đi làm cơ cực cũng chịu.
Phái đoàn Mỹ gồm có một ông Mỹ trắng già khoảng 50-60 tuổi, một cô Việt Nam (ở bên Mỹ qua) làm thông dịch viên và một người Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, râu rậm. Trông giống điệp viên Gestapo hay CIA với khuôn mặt rất lạnh lùng như pho tượng.
Nghe tôi học bay bên Mỹ mới về nước, ông Mỹ mang kiếng đen hỏi tôi bằng tiếng Mỹ:
–  What is your name and your serial number?
Tôi nói:
– Yes sir, my name is … and my serial number is…
Ông ta hỏi tiếp:
– Do you know how to fly T-37 and can you let me know how to start the engine?
Tôi bình tỉnh trả lời:
– Carburator switch on, throttle on, mixture to cold, prime switch to on, navigator light to on, ignition switch on and hold.
Ông ta hỏi tiếp:
– “What is the name of your jet engine and thrust?
Tôi trả lời:
– Each engine has 1025 lbs thrust, has two J-69-T engines
Tôi trả lời rành rẽ không lúng túng, không nói vấp vì đó là nghề củ của tôi mà (trong cuốn Dash 1 trước khi pre flight hay bị IP hỏi.)
Ông ta nói:
– Very good, now you can go and let us interview the next one
Tôi đứng dậy chào tay kiểu nhà binh rồi đi ra
Buổi chiều hôm đó, tôi gặp lại anh ta (Mig-19) ở khu giếng lấy nước, thấy anh ta đang khom lưng khệ nệ khiêng hai thùng nước về cho gia đình xài.
Tôi chận lại hỏi nhỏ:
– Sao bữa nay chú có được phái đoàn Mỹ phỏng vấn không?
– Có chứ, hú hồn hú vía
Tôi hỏi:
– Chú khai thật hết phải không?
– Vâng theo lời chú em tôi khai thật hết
– Họ hỏi gì?
– Có ông Mỹ trắng mang mắt kiếng đen, có râu rậm, ông hỏi tôi bằng tiếng Việt. Trời đất ơi! ổng ta nói tiếng Việt theo giọng Bắc mới khiếp chứ
– Thế họ hỏi chú cái gì?
– Ổng Mỹ hỏi:“Nghe nói ông là người lái phi cơ Mig-19, xin ông cho biết, ông thuộc phi đoàn nào và căn cứ nào?”
Tôi trả lời:“Phi đoàn 925 tại Yên Bái, Bắc Việt”
Ông ta nói tiếp:“Anh học lái Mig-19 ở đâu?”
Tôi trả lời:“Tân Cương, Trung Quốc”
Ông ta hỏi tiếp:“ông có thể nói cho tôi biết cách đề (start) của phi cơ Mig-19?”
Tôi trả lời:“Đề máy như vầy…như vầy”
Ông ta hỏi tiếp:“Lý do nào mà ông muốn xin qua Mỹ?“
Tôi trả lời:“Tôi muốn ở thế giới Tự Do, tôi không thế nào sống dưới chế độ cộng sản. Tôi không thích cộng sản và tôi xin phép được tỵ nạn chính trị tại nước Mỹ”
Ông ta chỉ tay qua vợ con tôi hỏi: “Còn người đàn bà này là ai và hai đứa nhỏ này?”
Vợ tôi trả lời: “Tôi tên… và …tuổi, nghề nghiệp nội trợ. Chồng cũ tôi tên là…cấp bực Thiếu tá, lái phi cơ khu trục A1H, phi đoàn 518 đóng ở Biên Hòa. Lúc trước chồng tôi học bay T-28 ở tại Keesler, thành phố Biloxi, tiểu bang Mississippi, và đã chết trong tù cải tạo trại Hoàng Liên Sơn, Bắc Việt năm 1977. Tôi có hai đứa con với ảnh, đứa con gái được 11 tuổi và đứa con trai 8 tuổi. Vào năm 1978, tôi lấy anh này và anh ấy là người rất tốt, đến năm 1979 chúng tôi vượt biển đến trại tỵ nạn này.
Ông Mỹ trả lời: “Cám ơn ông bà, hồ sơ phỏng vấn của ông bà đã xong, xin ông bà ra về. Chúng tôi sẽ điều tra và sẽ thông báo cho ông bà biết sau”
Chú ta trả lời:
– Chỉ vậy thôi, bây giờ mình như cá nằm trên thớt, không biết ra sao nữa. Có điều là vái trời là họ cho đi định cư bên Mỹ, đợi bao lâu cũng được, chớ đừng gởi trả về Việt Nam là chết bỏ mẹ.

Huyền diệu thay, một tháng sau gia đình tôi và gia đình anh ta được đi khám sức khỏe tại bệnh viện Tanjung Pinang và tuần sau thì lên thuyền đi Singapore để định cư bên Mỹ.
Gặp lại anh trên thuyền tôi hỏi:
-Chúc mừng chú và gia đình được đi Mỹ, à chú biết định cư ở tiểu bang nào không?
Anh ta trả lời:
– Mình được gia đình Mỹ bảo lãnh, sang định cư ở Newyork, còn anh đi tiểu bang nào vậy?
Tôi trả lời:
– Tôi được bảo lãnh về tiểu bang Cali, thôi xin gặp lại chú thím nhé
Anh ta trả lời:
– Cám ơn anh đã chỉ bảo cặn kẽ lúc phỏng vấn, thôi tụi mình đi nha, hẹn sớm gặp lại

20 Năm Sau: Little Saigon – California
20 năm sau tình cờ tôi gặp lại chị ở Little Saigon, con cái đều thành công và công ăn việc làm ổn định. Nhưng đổi lại với nét buồn trên khuôn mắt chị và tôi nhìn thấy trên bàn thờ hình ảnh hai vị phi công đã cất cánh bay cao, ở một nơi mãi mãi Tự Do, không có bóng dáng cộng sản đang từng ngày dày xéo trên quê hương Việt Nam bé nhỏ thân thương. 
Sau khi định cư ở Mỹ, tôi đi làm cho một hãng đóng máy bay F-16 ở tại San Diego được 20 năm. Một ngày cuối tuần năm 2000, vào trung tuần tháng 5, vợ chồng tôi rủ nhau đi lên Santa Ana để đi chợ Việt Nam mua thức ăn và nhân tiện ghé một nhà hàng bán phở tại khu Westminster. Chúng tôi vào nhà hàng ăn, vừa ngồi ghế xong, là có một người đàn bà, cầm menu đưa chúng tôi và hỏi:
– Thưa ông bà dùng chi và đây là thực đơn, xin ông bà lựa chọn món ăn
Tôi ngẩng lên nhìn và trông thấy bà này quen quen ở đâu nè, tuy nét mặt khoảng trên 50 tuổi nhưng nét đẹp vẫn còn đó. Tôi hỏi đại:
– Hình như bà chủ tên…lúc trước ở Sài Gòn, khu nhà thờ Ba Chuông thì phải?
Bà ta trả lời và mừng rỡ:
– A hình như đây là chú…mình hồi đó có làm ăn trên đường Lê Thánh Tôn
Tôi mừng quá nói:
– Đúng rồi! chính mình đây, ủa anh đâu rồi chị? anh khỏe không?
Bà ta sầm nét mặt và buồn rười rượi nói:
– Anh mất hơn hai năm rồi, anh bị đột quỵ (Stroke) khi đang ở trong bếp. Anh ấy đi làm technician trên 15 năm ở một hãng điện tử, thì xin về hồi hưu rồi để dành chút tiền để mở tiệm phở này. Tính ra hai vợ chồng già sống qua ngày, không phải đi làm vì hai đứa con đã lớn hết rồi. Con bé thì học ở UCI xong ra làm bác sĩ ở bệnh viện Fountain Valley, còn thằng con trai học xong ở UC Davis ra làm kỹ sư cho hãng Boeing ở Long Beach, tụi nó có gia đình hết rồi. Bây giờ anh ấy mất rồi, tôi buồn quá, cũng nhờ có công việc ở nhà hàng bề bộn nên thời giờ qua mau và bớt lo buồn. Bây giờ tôi có thờ linh cốt (Tro) anh ấy trong chùa Điều Ngự và thờ linh vị thì ở nhà và trong văn phòng nhỏ trong tiệm này. Chị dẫn chúng tôi vô văn phòng nhỏ của chị, trên tường có thờ hai linh vị của: Thiếu Tá Phi Công thuộc PĐ 518 và anh phi công Mig-19. Tôi đốt nén nhang lên khấn vái và kính chúc hai anh chóng siêu thoát lên cõi niết bàn. Hai anh đã cất cánh bay về miền viễn cực lạc, ở một nơi mãi mãi tự do, không còn khổ đau như trần thế. 
Chị nói: “Khi không anh em đánh giết lẫn nhau cũng vì ngoại bang, anh em cũng một nhà, cùng một nước, nói cùng ngôn ngữ vả lại có chiến tranh cũng vì ngoại bang gây ra, chị cầu mong cho đất nước mình, một ngày không còn cộng sản, có thể chế tự do dân chủ và không bao giờ có chiến tranh nữa.”

■ Cánh Thép Channel

Buổi nhảy trực thăng

Thơ Hoài Ziang Duy

Post by Sơn râu 22 Feb 2025

Đếm đủ mười thằng cho sắp toán

Lố nhố đứng ngồi đợi cuộc chơi

Trước sau nhảy xuống trên đầu địch

Nợ máu xương người trả thảnh thơi

Cất lên bốn liếp xoay quầng gió

Đong đưa chân duỗi ở lưng trời

Điểm xuống là đây vùng địch ẩn

Mỗi trận đi về cũng thế thôi

Mấy ô kinh, rạch, trên nhìn xuống

Như trải tấm lòng trăn trở nhau

Pháo nổ cày lên cây bật khóc

Mỗi vết thương người, một nỗi đau

Trước mắt tương lai đâu đứng lại

Rong ruổi phận người lính nổi trôi

Như thể đùa vui câu sinh tử

Nỗi lòng ai hiểu lúc đơn côi

Ở buổi chiều nay ta mắc võng

Cột lấy hai đầu cây khẳng khiu

Thân nhẹ tựa đời thương áo mỏng

Thấy nỗi buồng riêng bóng ngã xiêu.

_ Chương Thiện 1972

Đà Lạt trời mưa

dongsongcu.wordpress.com

Phạm Tín An Ninh​

Posted on February 16, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 20 Feb 2025

Một chuyện tình buồn sau ngày 30 tháng Tư, 1975… Rất nhiều cuộc tình dang dở sau ngày dài đau thương đó…

Tôi đến Đà Lạt đúng vào một ngày mưa. Mưa tầm tã. Ngồi trong nhà Thủy Tạ, nhìn những hạt mưa bay giăng kín rừng thông, phủ mờ khu phố Hoà Bình, và rơi lả tả xuống mặt hồ Xuân Hương, tôi mơ hồ như những giọt nước mắt của người góa phụ đã từng một thời nhan sắc.

Người con gái vừa đến gặp tôi làm cho tôi mỉm cười với sự so sánh lạ lùng này. Bởi cô ta cũng xinh đẹp, và dù có nở nụ cười tỏ ra mừng rỡ khi chào tôi, vẫn không giấu được nét buồn trong đôi mắt. Một nỗi buồn có cái gì xót xa sâu lắng lắm.

Tôi đã đến thành phố này nhiều lần. Lần cuối cùng vào mùa Giáng Sinh năm 1970, khi đơn vị tôi may mắn được lệnh về đây phối họp hành quân giữ an ninh cho một khóa Võ Bị làm lễ ra trường. Bao nhiêu năm trong rừng núi tây nguyên gió lạnh mưa mùa, rồi xuống bờ biển Phan Thiết với những động cát trơ trọi nóng như lửa đốt, bất ngờ được về Đà lạt, cho dù chỉ sau một ngày ở thành phố, đơn vị tôi lại được đổ xuống những rừng thông xa tít, nhưng đám lính tráng bọn tôi vẫn có cái cảm giác như được đi nghỉ mát. Người ta nói đúng, Đà Lạt dễ thương như những cô gái với gò má trắng hồng và đôi môi mộng đỏ để ai một lần lên xứ Hoa Đào mà lòng không vấn vương. Đà lạt cũng là nơi có nhiều huyền thoại về những mối tình đẹp và buồn của các cô sinh viên với những chàng trai mang alpha đỏ theo nghiệp kiếm cung, mà tôi đã đọc được trong những bài thơ thật buồn của Lệ Khánh từng vang tiếng một thời.

​Nhưng đó là Đà Lạt của ngày xưa. Còn hôm nay tôi đến Đà Lạt, với ngổn ngang những nỗi buồn nặng trĩu trong lòng, và Đà Lạt bây giờ chỉ là một thành phố chết.

Tôi ra tù, trong thời gian còn bị quản chế, trong túi không có bất cứ một tờ giấy nào. Ngay tấm “Giấy Ra Trại” cũng đã bị công an xã giữ. Nhờ thằng em cùng đơn vị cũ, có lò bánh mì ở Tháp Chàm, gởi tôi theo một chiếc xe bộ đội nhận mối chở bánh mì với tiền thù lao khá, tôi mới có mặt ở đây. Anh tài xế sau khi giao mấy thùng bánh mì, còn gởi tôi cho cô “chủ nhiệm” quán Thủy Tạ (bây giờ là của nhà nước), bảo là ông anh họ, để tôi yên lòng không bị hỏi giấy tờ. Quán vắng tanh. Tôi chọn cái bàn nhỏ xa phía trước và gọi hai tách trà nóng. Tôi cũng chỉ đủ tiền để trà hai tách trà này.

– Anh chờ em có lâu không?

Tôi giật mình khi nghe cô gái hỏi.

– Không sao, tôi chờ cũng đã khá lâu, nhưng được gặp chị hôm nay là tôi mừng lắm rồi.

Điều mà ai cũng ái ngại khi phải mang tin buồn đến cho một người. Đặc biệt người đó lại là một cô con gái đẹp, như cô gái đang ngồi trước mặt tôi đây. Tôi dè dặt:

– Chắc chị đã biết, như trong lá thư tôi gởi. Tôi là bạn tù của Thống, và hôm nay muốn gặp chị là để nhắn lại những điều Thống đã nhờ tôi.

– Em biết là anh Thống đã chết từ năm 1978, nhưng mãi đến năm ngoái , em mới được phường đưa “Giấy Báo Tin”. Em không biết làm sao báo cho mẹ anh ấy biết. Bà ở bên Mỹ nhưng em không liên lạc được.

Tôi bất ngờ, nhưng chợt thấy một chút yên lòng khi nghĩ là cô sẽ không còn đột ngột nhận một tin buồn từ chính miệng của tôi.

– Chị đã biết tin buồn về Thống. Như vậy cũng là may, chứ không phải người tù nào chết mà người nhà cũng được báo tin. Hôm nay, dù hoàn cảnh khó khăn, tôi cũng phải tìm gặp chị đề nói lại cùng chị những lời trăn trối cuối cùng, và trao cho chị những kỷ vật mà anh Thống nhờ tôi trao lại chị.

– Cả tuần nay lòng em rất bồn chồn, mong sớm được gặp anh. Vì em không biết anh Thống chết ở đâu và mồ mả ra sao. Nhiều lần nằm mơ, em thấy anh Thống, nhưng chưa bao giờ nghe anh ấy bảo là anh đã chết.

Tôi lấy trong túi ra để trên bàn một sợi dây đeo một tấm ảnh nhỏ được lồng vào trong cái khung có hình trái tim đẽo bằng gỗ mun, loại gỗ quý mà chúng tôi thường tìm được ở khu rừng Việt Bắc, một chiếc vòng nhỏ làm bằng nhôm xinh xắn, có khắc đậm sáu chữ Lê Minh Thống & Hà Nhất Anh, và trịnh trọng đứng lên đưa cho cô.

Nhất Anh chính là cô gái, và Minh Thống là tên một người bạn tù của tôi. Anh đã chết sau gần hai năm bị chuyển ra ngoài Bắc.

Tôi gặp Thống ở trại Lào Cai, khi hai thằng vừa trong Nam mới chuyển ra. Sau hơn một năm cả hai cùng chuyển về trại Hang Dơi thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn và may mắn được “biên chế” về cùng một tổ. Thống tốt ngiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, được chuyển sang Không Quân, lái phản lực. Trong thời gian học trường Võ Bị, Thống quen Nhất Anh, khi ấy đang là sinh viên của trường Chính trị Kinh Doanh. Thống chỉ còn bà mẹ già và cô em gái ở Sài Gòn. Cuộc tình của cô sinh viên Đà Lạt và chàng cựu sinh viên sĩ quan Alpha đỏ kéo dài khá lâu. Hai người đã làm lễ hỏi. Nếu Thống không sang Mỹ học phi hành và nếu không có ngày 30 tháng Tư, thì hai người đã làm đám cưới.

Những ngày cuối cùng khi Sài gòn hấp hối, Thống được bạn bè thu xếp hai chỗ trên trực thăng để bay ra hạm đội Mỹ, nhưng Thống lại dành cho mẹ và cô em gái. Gởi mẹ và em cho thằng bạn thân, Thống nói dối với mẹ là anh sẽ đi sau.

Thống liều lĩnh tìm mọi cách chạy về Đà Lạt. Chưa kịp đón Nhất Anh, thì Sài Gòn mất. Thống nằm ở nhà Nhất Anh một tuần rồi ra trình diện “uỷ ban quân quản”, nhưng người ta chỉ cấp giấy chứng nhận và ghi là phải về Sài Gòn trình diện chính quyền địa phương ngay. Trở lại Sài Gòn, nhà bị tịch thu, Thống phải ở ké nhà một người bà con trước khi vào trại cải tạo.

Mấy năm trong tù, Thống có liên lạc được với Nhất Anh. Nhưng vài tháng mới nhận được một lá thư ngắn, chỉ hỏi thăm vài câu và khuyên “học tập tốt để sớm được khoan hồng về với nhân dân”. Bao nhiêu nhung nhớ yêu thương đều phải dấu kín ở trong lòng. Trong tờ khai lý lịch, Thống ghi Hà Nhất Anh là vợ, cũng là người thân duy nhất, và địa chỉ của Nhất Anh cũng là nơi anh xin cư trú sau này.

Thống to con đẹp trai, nhưng dường như tình yêu dễ làm cho Thống yếu lòng. Có những ngày đi chặt nứa trong rừng, Thống chỉ ngồi khóc và thì thầm gọi tên người yêu. Mấy lần không mang về đủ nứa, bị phạt cắt bớt một nửa phần ăn vốn đã ít oi, nhưng vẫn không ngăn được nước mắt của Thống. Dường như khi lòng đang thương nhớ ai, thì cái đầu không còn điều khiển đôi tay được nữa. Nhiều hôm tôi phải vận động anh em nhường bớt một chút phần ăn cho Thống, và chia nhau đi lấy thêm nứa cho Thống có đủ chỉ tiêu để không bị phạt.

Thống còn trẻ, nhưng cũng như hầu hết sĩ quan xuất thân từ Đà Lạt, dù ở binh chủng nào cũng kiêu hùng và thăng tiến rất nhanh. Thống nhỏ hơn tôi sáu tuổi, nên xem tôi như người anh. Có điều gì vui buồn, Thống tìm tôi chia sẻ. Tôi luôn an ủi và khuyến khích để anh có thêm nghị lực. Thống có gì khó khăn tôi sẳn sàng hết lòng giúp Thống.

Sau này, đội tù của tôi được phân công đi lấy gỗ về xây dựng hội trường. Họ bắt chúng tôi phải tìm những cây gỗ lớn và thẳng. Có những thân cây lớn đến hai vòng tay ôm không hết. Trời mùa đông với những cơn mưa phùn không dứt, nên những con đường mòn trơn như mỡ, chúng tôi chia từng nhóm hai mươi người vừa kéo vừa bẩy cho từng thân cây lăn theo những con đường mòn ấy từ trên núi cao lao xuống suối để cho nó trôi về bên hông trại.

Ăn uống quá thiếu thốn, đám tù chúng tôi triền miên trong cơn đói. Sức ngày càng yếu mà phải lao động quá nặng nhọc, nên chỉ sau một tuần lấy cây, người nào cũng mệt lả.

Một hôm đang lấy sức bật một thân cây xuống bờ suối, Thống mệt quá nên lảo đảo rồi ngã sấp trên thân cây, đúng lúc cây này lăn xuống suối, bật luôn theo Thống. Chúng tôi chỉ còn nghe tiếng hét của Thống trước khi anh bị văng xuống lòng suối nằm sâu dưới vực.

Trời nhá nhem tối, cả hơn bốn mươi thằng tù chia nhau trèo xuống suối đi tìm Thống. Gần nửa giờ sau chính tổ của tôi tìm được Thống. Anh nằm bất động bên bờ suối. Rất may là ở một nơi không có đá. Thống thoi thóp thở, nhưng không còn cử động được.

Chúng tôi nhanh chóng kết một cái bè gỗ, rồi theo dòng suối, cùng nhau đẩy anh về trại. Sau hơn một tiếng đồng hồ trong trạm xá, Thống tỉnh lại, mở hé mắt nhìn mọi người. Khi nhận ra tôi, Thống thì thào:

– Nếu sau này anh còn sống mà về được, nhớ tìm giùm Hà Nhất Anh và nói là em xin lỗi nàng. Mong nàng hãy sớm lấy chồng và quên em đi.

Tôi nắm chặt đôi vai lạnh lẽo của Thống:

– Thống yên chí, tôi sẽ làm bất cứ điều gì mà Thống dặn dò.

Thống cố gắng mở lớn mắt nhìn tôi như cầu khẩn:

– Nhờ anh giữ lại cái vòng nhôm trong balô và tấm ảnh em đang mang trong cổ này, trao lại cho Nhất Anh. Nhớ nói giùm là em xin lỗi cô ta.. xin lỗi cô ta.

Ngày hôm sau, một buổi chiều mưa buồn ảm đạm, dưới sự kiềm soát của hai vệ binh, tôi cùng ba người bạn tù đẩy xác Thống trên một chiếc xe “cải tiến” ra chôn dưới triền núi, bên một hốc đá. Chúng tôi đào huyệt đúng vào lúc cơn mưa trút xuống. Huyệt đào tới đâu thì nước ngập theo tới ấy. Tôi năn nỉ xin hai vệ binh cho chúng tôi tìm một nơi khác cao hơn, và chờ cơn mưa tạnh bớt, nhưng không được đồng ý, mà còn bị quát tháo, bảo phải “chôn khẩn trương lên mà về ngay”.

Tôi phải ngồi đè trên xác Thống, lềnh bềnh trên nước, để cho ba người bạn tù kia lấp đất.

Chuyện xảy ra đã hơn sáu năm rồi. Thời gian có biết bao sự đổi thay. Tôi cũng đã nghe và chứng kiến không ít những điều phản trắc. Không biết bây giờ Nhất Anh đã có chồng chưa và trong cảnh đổi đời kéo theo bao cay đắng, liệu trong lòng cô có còn lưu luyến chút tình xưa.

Đắn đo giây lát rồi tôi cũng quyết định phải nói hết những gì tôi biết và nhất là những điều mà Thống, trước khi trút hơi thở cuối cùng, đã nhờ tôi nếu còn có dịp trở về, hãy nói lại cùng nàng.

Nghe tôi kể xong mọi điều, Nhất Anh vẫn ngồi yên bất động. Im lặng một lúc tôi nghe tiếng nàng khóc. Hai tay nắm chặt các kỷ vật mà tôi vừa trao lại cho nàng. Ngoài trời những cơn mưa càng vần vũ. Tiếng mưa như thấu hiểu được nỗi niềm, từng đợt trút xuống mái nhà Thủy Tạ làm át đi tiếng sụt sùi, để cho nàng khóc. Tôi cũng đã không cầm được nước mắt.

– Em cám ơn anh, và xin lỗi .. em đã không nén được xúc động.

Tôi cũng kịp lấy lại bình tĩnh và tìm lời an ủi nàng:

– Dù sao mọi việc cũng đã qua rồi. Sau cái ngày nước mất nhà tan, biết có bao cảnh chia lìa tang tóc. Thôi thì tôi cầu mong Nhất Anh sớm nguôi được nỗi buồn này và có thêm nhiều nghị lực để mà bước tới, như lời trối trăn của Thống. Nhất Anh còn trẻ mà, còn cả một con đường thật dài trước mặt. Còn tôi, trong hoàn cảnh này, cũng chẳng biết rồi đời sẽ ra sao. Thôi đành phó cho trời đất đẩy đưa.

Nhất Anh vẫn ngồi bất động, không nói lời nào. Nhìn đồng hồ treo trên vách, nhớ tới lời hẹn của anh tài xế, tôi khẽ gọi nàng:

– Chị Nhất Anh! Chỉ còn 15 phút nữa là anh tài xế sẽ quay lại đón tôi. Sau này nếu chị có cần gì ở tôi, cứ liên lạc với tôi nghe!

Tôi nói cốt chỉ để an ủi thôi. Chứ tôi thì còn khả năng gì mà giúp nàng. Hơn nữa thời buổi nhiễu nhương này, dễ gì mà liên lạc được với nhau.

Nhất Anh lấy tay lau nước mắt, ngước lên nhìn tôi, ngần ngừ vài giây rồi lên tiếng:

– Nhờ anh vẽ lại và hướng dẫn cho em nơi chôn cất anh Thống. Sau này biết đâu có dịp may, em sẽ tìm ra thăm anh ấy.

Tôi đứng lên đến quày trả tiền hai tách trà, và xin một tờ giấy trắng. Tôi ngồi vẽ khá tỷ mỷ và hướng dẫn cho Nhất Anh con đường đến trại tù, và mộ của Thống nằm bên hốc đá trên triền núi, phía sau trại tù chừng một cây số. Cũng may là có cái hốc đá lớn duy nhất, để có thể định hướng được ngôi mộ nằm ở nơi nào giữa vùng rừng núi bao la.

Nhất Anh đứng dậy mặc lại áo mưa, xúc động nói lời chia tay, rồi đạp xe đi. Tôi nhìn theo bóng dáng nhỏ nhắn của nàng lảo đảo xiêu vẹo dưới cơn mưa tầm tã mà ngậm ngùi lo âu cho số phận của nàng. Tôi nghĩ có lẽ không bao giờ tôi còn có dịp gặp lại Nhất Anh.

Mùa Hè năm rồi, vợ chồng tôi sang Cali thăm mấy cô con gái, nhân tiện chúng tôi đến thăm gia đình ông anh họ ở thành phố biển San Diego. Giáng Sinh năm 1970, nhân cuộc hành quân bất ngờ ở Đà Lạt, tôi có ghé thăm anh chị,. Khi ấy anh làm ở trung tâm điện lực Đa Nhim và vợ anh là giáo sư dạy trường Bùi thị Xuân Đà Lạt. Anh chị rời Việt Nam từ những ngày Sài Gòn hấp hối, nên cũng đã hơn ba mươi năm rồi bây giờ anh em mới gặp lại nhau. Anh lớn hơn tôi gần mười tuổi, vừa bà con lại vừa là học trò cưng của ba tôi lúc anh còn học ở trường Pháp Việt, nên anh chị rất quý chúng tôi, nhất quyết bắt vợ chồng tôi phải ở lại nhà anh chị một tuần để cùng đi chơi với anh chị. Sau một ngày đi khắp nơi ở San Diego, chúng tôi đi một vòng sang khu nghỉ mát Cancun bên Mexico. Đến ngày thứ Bảy cuối tuần anh chị rủ chúng tôi đi tham dự buổi họp mặt của Hội Đồng Hương Đà Lạt, tổ chức tại Anaheim, gần khu Little Saigon, nhân tiện sau đó anh chị đưa tôi về lại nhà cô con gái ở Fullerton, cũng rất gần nơi ấy. Gia đình anh được giấy mời với bốn chỗ ngồi. Vợ chồng đứa con trai lớn không đi, nhường chỗ cho chúng tôi. Bảo là chú thím ở tận bắc Âu, lâu lắm mới có dịp gặp nhiều đồng hương.

Không ngờ đã rời khỏi quê hương khá lâu, nhưng những người Đà Lạt còn giữ cái tình đồng hương đậm đà như thế. Hội trường không còn một chỗ ngồi. Nghe bà chị nói là họ đã đến từ khắp nơi trên nước Mỹ và Canada, một số từ Úc và Âu châu. Chưa tới giờ khai mạc, mọi người ngồi nói chuyện líu lo với những tiếng cười nghe như dư âm của một thời trai trẻ. Những cô gái với đồng phục áo dài trắng trong ban tổ chức đang chuẩn bị cho bài quốc ca, vẫn còn dáng dấp của Đà Lạt ngày xưa: môi đỏ má trắng hồng.

Chúng tôi ngồi ở dãy bàn đầu dành cho quan khách, cùng với gia đình của hai vị cựu giáo sư Bùi Thị Xuân khác. Trên sân khấu, một cái phông lớn là hình ảnh của khu chợ Hòa Bình và một mảng của hồ Xuân Hương trong sương mù. Tôi thầm phục người họa sĩ Đà Lạt nào đã vẽ bức tranh thật sống động. Tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào đó trên thành phố thơ mộng một thời này. Ai đó đã nói đúng “người Việt nào ra đi cũng mang theo quê hương”.

Khi nghe cô MC giới thiệu thành phần ban tổ chức cuộc họp mặt hôm nay, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy toàn là phái nữ. Tôi chợt nhớ tới một bài viết nào đó mà tôi đã đọc đươc: Người Việt đến Mỹ, nữ giới thành công hơn là nam giới, và số lượng phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, cộng đồng ngày một nhiều hơn. Tôi nghĩ tới Dương Nguyệt Ánh, Lê Duy Loan, những người phụ nữ đã mang đến cho người Việt bao điều hãnh diện. Nhưng đến khi chị trưởng ban tổ chức có đôi lời cùng đồng hương, tôi mới hiểu thêm: Buổi họp mặt này là do các cựu nữ sinh trường Bùi Thị Xuân đảm trách.

Đang vui tôi bỗng ngậm ngùi khi một chị trong Ban Tổ Chức lên trình bày về hoàn cảnh thương tâm của nhà thơ Lệ Khánh. Bây giờ tôi mới biết Lệ Khánh là con gái của Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đà Lạt và có cuộc hôn nhân thật buồn với một nhà thơ quân đội, lại là sĩ quan cấp Tá trong ngành Tâm Lý Chiến. Bao nhiêu điều ấy đã đưa nhà thơ nổi danh một thời của xứ sương mù vào bước đường cùng, phải đi bán hàng rong, bán từng trái cà trái ớt trong cơn bệnh hoạn, và đứa con trai duy nhất phải đi ở mướn cho người ta. Ban tổ chức kêu gọi tình thương của những cựu Bùi Thị Xuân, của những người Đà Lạt cũ. Tôi thầm cám ơn tấm lòng của những người Đà Lạt và nghĩ đây là một việc rất nên làm.

Đến phần văn nghệ, cô MC giới thiệu nhạc phẩm “Ai Lên Xứ Hoa Đào” với một giọng hát truyền cảm của một Bùi Thị Xuân ngày trước, đã từng làm điêu đứng bao trái tim học sinh, sinh viên Đà Lạt”.

Lời giới thiệu đó không có một chút cường điệu nào. Giọng hát cất lên cao vút làm cả hội trường im lặng trong khi lòng tôi lắng xuống thẫn thờ. Không phải vì giọng hát truyền cảm, mà vì người hát ấy chính là Hà Nhất Anh, người con gái có một mối tình buồn với người bạn tù của tôi ngày trước. Gần hai mươi năm rồi, khuôn mặt có đôi chút đổi thay, nhưng tôi vẫn nhận ra. Cũng với nhan sắc ấy, nhưng với nụ cười rạng rỡ, không còn nét buồn nào đọng trên đôi mắt.

Thấy tôi nhìn đăm đăm lên sân khấu, bà chị đập vai tôi:

– Bộ có quen hay sao mà nhìn dữ vậy? Hay lại là một người xưa?

Tôi quay lại, đúng vào lúc bài hát vừa chấm dứt. Chờ cho những tràng pháo tay, cùng những tiếng la hét lắng xuống, tôi ôm vai bà chị:

– Đúng là có quen, nhưng không phài người xưa của em, mà là hôn thê của một thằng bạn tù của em, đã chết ngoài Bắc! Chính em là người đã trao lại cho cô ấy những kỷ vật của anh ta, khi em vừa mới ra tù.

– Cô ấy là học trò cũ của chị, để chị gọi cô ấy lại nghe.

Tôi chưa kịp trả lời, thì bà chị đã vẫy tay gọi một cô trong ban tiếp tân nhờ đi mời “ca sĩ Hà Anh”.

Cô đến nhoẻn miệng cười, cúi đầu chào anh chị tôi và các thầy cô giáo cùng bàn, rồi khựng lại khi nhìn vợ chồng tôi, gật đầu nhưng không nói lời nào. Thấy tôi ngồi gần bà chị, nên cô nhìn bà chị như muốn hỏi chúng tôi là ai. Bà chị cười chỉ vào tôi:

– Đã gặp nhau rồi mà không còn nhận ra sao?

Cô nhìn tôi, rồi lắc đầu:

– Xin lỗi, em không nhớ ra.

Tôi có một chút khó chịu trong lòng. Hóa ra người đàn bà cũng dễ quên, ngay cả những kỷ niệm đáng ra phải nhớ trong đời. Giữ lịch sự, tôi nhìn cô:

– Có phải chị là hôn thê của anh Lê Minh Thống? – Tôi là người đã trao cho chị những kỷ vật của anh ấy ở nhà Thủy Tạ, khi tôi vừa mới ra tù. Chị không còn nhớ

Cô ta khựng lại giây lát, nhưng rồi lắc đầu:

– Xin lỗi, em không nhớ. Có lẽ anh nhầm em với… ai đó!

Cô chào tất cả mọi người rồi vội vã quay về phía sau sân khấu.

Tôi nhìn sang ông anh bà chị nói cho đỡ ngượng:

– Chắc bây giờ chị ta đang hạnh phúc, nên không muốn nhắc lại chuyện tình xưa.

Trên sân khấu chương trình văn nghệ nối tiếp bằng một hài kịch. Thiên hạ cười ầm ĩ, trong lúc lòng tôi dửng dưng với một chút bẽ bàng.

Buổi họp mặt chấm dứt, tôi theo ông anh bà chị bước ra khỏi hội trường. Trong lòng không còn cái háo hức của lúc mới bước vào đây. Trống rỗng và một chút bực dọc.

Tôi đang đứng chờ ông anh bà chị đi lấy xe, thì một bàn tay đâp trên vai tôi. Quay lại, tôi ngạc nhiên khi nhận ra Hà Nhất Anh. Cô đưa cho tôi mảnh giấy, rồi bảo nhỏ, trước khi chạy nhanh về phía hội trường:

– Em xin lỗi, nhưng Anh nhớ phải đến nghe!

Tôi mở vội tấm giấy ra đọc. Chỉ có số điện thoại và địa chỉ, cùng với một dòng ngắn ngủi: “Suốt ngày mai, Chủ Nhật, em sẽ chờ anh ở nhà”.

Tôi cảm giác có điều gì lạ lắm. Và dường như cô ta muốn dấu mọi người. Nghĩ như vậy nên tôi không nói lại với ông anh bà chị và ngay cả vợ tôi. Ông anh bà chị đưa vợ chồng tôi về Fullerton, rồi hẹn quay lại sáng thứ Bảy tới đưa chúng tôi đi thăm mấy người đồng hương và cũng là học trò cũ của cha tôi ngày trước.

Tôi nhờ cô con gái lớn gọi phôn, hẹn đến gặp vào lúc hai giờ chiều Chủ Nhật. Cô con gái chở vợ chồng tôi tới trước cổng nhà, sau khi xem đúng địa chỉ, bấm chuông, rồi lái xe đi, bảo khi nào cần gọi cellphone, sẽ quay lại đón.

Một ngôi nhà nhỏ, khá xinh, có trồng nhiều loại hoa Đà Lạt, nằm trong khu Fountain Valley yên tĩnh. Người ra mở cổng là một người đàn ông trẻ, khá bảnh trai với hàng ria mép. Anh gật đầu chào, nở nụ cười rất tươi bắt tay chúng tôi, giới thiệu tên, nói năng lễ phép bặt thiệp:

– Cám ơn anh chị đến thăm. Bà xã em mừng lắm, đợi mong từ sáng tới giờ. Tôi bước vào sân nhà, với một ý nghĩ vừa thoáng trong đầu: Được một người chồng như thế, hèn gì cô ta chóng quên mối tình xưa.

Nhất Anh mang nước ra mời chúng tôi, vui vẻ, thân tình, khác hẳn với Nhất Anh trong hội trường ngày hôm qua. Tôi im lặng, bởi không biết phải nói điều gì, ngồi chờ cô ta lên tiếng trước. Một lúc im lặng, tôi bất ngờ nhìn thấy cô ta khóc. Anh chồng đưa giấy cho cô lau nước mắt.

– Mong anh chị tha lỗi cho em. Ngày hôm qua khi gặp anh, nghe anh nhắc tới anh Thống em xúc động lắm, lại biết chính anh là người đã mang về những kỷ vật của anh Thống nữa. Nhưng hôm qua đông người quá, em không tiện nói.

Tôi đỡ lời:

– Tôi hiểu. Làm sao mà chị có thể quên được mối tình đầu, vừa đẹp lại vừa buồn, nhất là anh Thống đã ở lại và bị chết oan ức cũng vì quá yêu chị. Phải không?

Rồi quay sang anh chồng, tôi lên giọng như một nhà tâm lý học:

– Ai lại chẳng có mối tình đầu. Và người chồng nào lại không tôn trọng cái kỷ niệm đẹp đó của vợ mình, phải không anh?

Anh ta không trả lời, chỉ cúi xuống với một chút bối rối.

– Xin lỗi anh. Em không phải là chị Nhất Anh, và cũng không phải là người yêu của anh Thống!

Tôi bất ngờ, vừa ngượng ngùng vừa hụt hẩng khi nghe câu nói của người con gái, mà tôi đã chắc nịch là Hà Nhất Anh. Bây giờ người bối rối lại chính là tôi.

Cô gái hạ giọng:

– Em là em kế của chị ấy và cũng là đứa em duy nhất. Ba má em chỉ sinh có hai đứa con gái. Chị em giống nhau lắm, nên có nhiều người cũng lầm.

Tôi nhìn cô ngờ vực:

– Tôi nhớ ngày hôm qua khi MC giới thiệu chị lên hát, cũng với tên là Hà- Anh mà? Tôi nghĩ Hà Nhất Anh, nhưng khi qua Mỹ người ta thường bỏ đi chữ lót.

– Đúng ra tên em là Hà Nhị Anh, nhưng bây giờ trong giấy tờ, em mang tên chị em: Hà Nhất Anh, mà Nhất Anh hay Nhị Anh gì sang đây, như anh nói, cũng đều gọi Hà Anh như nhau mà anh. .

Đến lúc này thì tôi không còn hiểu gì nữa. Cô ta đứng lên nhoẻn miệng cười và mời vợ chồng tôi theo cô lên từng trên, cô bảo:

– Anh chị cứ theo em lên trên này thì hiểu nhiều hơn.

Ba tấm ảnh để trên bàn thờ nhỏ. Tôi nhận ra Thống và Nhất Anh, mặc dù lúc chụp những tấm ảnh này hai người còn rất trẻ. Còn tấm ảnh thứ ba, một người con gái khác, tôi không nhận ra ai. Tôi chưa kịp hỏi thì cô gái lại sụt sùi:

– Chị Nhất Anh đã chết khá lâu rồi anh ạ. Vào một ngày mùa Đông mưa tầm tã, chị ấy đạp xe đi đâu không biết, cả nhà chờ cơm tới tối vẫn chưa thấy về. Từ trước chị không bao giờ đi đâu một mình vào buổi tối. Cả nhà em và mấy người bạn hàng xóm chia nhau đi tìm. Em đạp xe đi khắp nơi. Trời mưa lớn quá nên em lạnh cóng. Đường xá vắng tanh không một bóng người. Cuối cùng thì chính em tìm ra chị ấy. Chị nằm bất động bên bờ hồ Xuân Hương, không xa nhà Thủy Tạ bao xa.

Tôi giật mình hoảng hốt:

– Ở gần nhà Thủy Tạ, bên bờ hồ Xuân Hương? Rồi có tìm được chiếc xe đạp và cái gì nữa không?

– Chiếc xe đạp rớt xuống hồ, ngày hôm sau người ta mới tìm thấy.

– Và chị đã chết? Tôi hỏi

– Không, khi ấy thì chị còn sống, nhưng bất tỉnh và mình mẩy thì lạnh cóng. Vào bệnh viện, nửa giờ sau chị tỉnh lại, nhưng rất yếu chưa nói được. Khi thay áo cho chị, em thấy trong túi áo có một sợi dây đeo cổ có tấm ảnh của chị và một chiếc vòng nhôm có khắc tên chị và tên anh Thống.

– Không có tờ bản đồ vẽ trại tù và nơi mộ anh Thống?

– Có chứ! Chính nhờ tấm bản đồ đó mà vợ chồng em, cách nay ba năm về Việt Nam, ra tận nơi tìm được, rồi thuê người lấy hài cốt của anh Thống mang về chôn trên Đà Lạt . Cám ơn anh đã vẽ cái bản đồ khá chi tiết và chính xác.

– Còn chị Hà Nhất Anh?

– Hai tuần sau, chị khá hơn nhiều, nói năng tỉnh táo, bệnh viện cho xuất viện bảo về nhà điều trị, bồi dưỡng là chị sẽ khỏe thôi. Nhưng không ngờ về nhà mấy hôm thì lên cơn sốt nặng rồi hôn mê trở lại. Đưa vào bệnh viện thì chị mất. Người ta bảo là chị bị sưng phổi cấp tính. Mà thời ấy có thuốc men gì đâu mà chửa. Trong mấy ngày tinh táo, chị thường nhắc tới anh Thống, năn nỉ ba má em tìm mọi cách đem anh Thống về Đà Lạt, và báo cho mẹ anh ấy biết. Lúc trước bà thương quí chị lắm, nên chị cũng rất thương và lo lắng cho bà, khi em gái anh Thống vừa quá trẻ lại vừa yếu đuối. Không ngờ đó lại là những lời trăn trối của chị.

Tôi thầm nghĩ, chính vì đi gặp tôi hôm ấy mà Nhất Anh chết. Chắc cô đã xúc động nhiều lắm. Lòng tôi chùng xuống. Tôi có cái cảm giác đau đớn như vừa có những nhát chém vô hình nào đó trong lòng mình. Tôi lấy lại bình tĩnh:

– Như vậy là bây giờ mộ của Thống nằm trên Đà Lạt.

– Dạ. Anh nằm bên cạnh chị Nhất Anh. Vợ chồng em mua lại mảnh đất tư gần khu rừng Ái Ân. Từ đó anh Thống có thể nhìn thấy Trường Võ Bị của anh lúc xưa và đỉnh núi Lâm Viên mà anh đã từng chinh phục.

– “Đồi Thông Hai Mộ”. Tự dưng tôi buột miệng.

Đến lúc này tôi mới thấy cô nhoẻn miệng cười:

– Sau ngày 30 tháng 4/75, ở Đà Lạt có khá nhiều “Đồi Thông Hai Mộ”. Có dịp anh chị về Đà Lạt, ghé lại Rừng Ái Ân hỏi thăm, là người ta biết hai ngôi mộ của anh chị Thống-Anh.

– Thế rồi, cô có liên lạc được mẹ và em gái của anh Thống?

Cô không trả lời, mà lại mời vợ chồng tôi bước sang phòng bên cạnh. Căn phòng rộng, thoáng mát, có cửa kính lớn nhìn ra công viên phía trước. Một bà cụ tóc bạc trắng, nhưng da dẻ hồng hào, đôi mắt sáng, ngồi trên chiếc xe lăn. Khi tôi cúi đầu chào bà, cô gái giới thiệu:

– Anh này là bạn tù của anh Thống ở ngoài Bắc.

Rồi quay sang tôi:

– Chắc anh ngạc nhiên lắm, đây chính là mẹ của anh Thống.

Bà cụ ôm lấy tôi, nước mắt trào ra trên đôi gò má. Bà hỏi tôi về Thống trong những ngày ở tù và vì sao mà Thống chết. Nhưng tôi chỉ kể vài kỷ niệm về Thống trong những lúc vui vẻ, và không dám nói cho bà nghe về cái chết thảm thương của Thống. Tôi nói dối là Thống chết vì bệnh kiết lỵ nặng mà nhà tù không có thuốc. Tôi tưởng nói dối như vậy cho cụ yên lòng, không ngờ cụ đã khóc ngất lên. Tôi chỉ còn biết ôm vai bà cụ mà im lặng.

Một lúc sau, bà cụ mới tỉnh táo và kể lại tai nạn xe hơi đã làm chết cô con gái, em Thống và làm tê liệt đôi chân của bà. Nhìn sang cô gái, bà cụ thỏ thẻ:

– Cũng nhờ vợ chồng cháu nó đây mà bác còn sống đến bây giờ.

Nhị Anh nắm tay bà cụ:

– Má coi vợ chồng em không khác gì con ruột của má. Em sang đây sau khi em gái anh Thống chết. Tấm ảnh trên bàn thờ lúc nãy là của cô ấy. Cô nhỏ hơn em tới sáu tuồi. Lúc ấy má đang làm chủ mấy sạp may, đã lo lắng tiền bạc cho em sang đây và cho em tiếp tục học xong đại học nữa. Ngôi nhà này là của má cho vợ chồng em đó chứ.

Vợ chồng tôi chào bà cụ, chúc bà sức khỏe và hứa bất cứ lúc nào có dịp sang Cali, sẽ ghé lại thăm bà.

Khi bắt tay từ biệt vợ chồng Hà Nhị Anh, chợt nhớ tới một điều, nên tôi hỏi cô:

– Khi nãy tôi có nghe chị nói là bây giờ tên tuổi của chị trong giấy tờ lại là tên tuổi chị Nhất Anh. Sao vậy?

Cô gái vẫn còn nắm chặt bàn tay tôi, kéo tôi ra xa, nhìn quanh rồi hạ giọng:

– Chính nhờ cái giấy của trại tù báo tin anh Thống chết, trong đó có ghi tên chị Nhất Anh là vợ, nên em đã thay chị ấy mà sang đây theo diện dành cho vợ tù nhân cải tạo bị chết trong tù. Em thấy xấu hổ lắm khi phải làm điều gian dối ấy, tội lớn lắm đối với luật pháp Hoa Kỳ, nhưng đó lại là ước mong của mẹ anh Thống, và của cả chị Nhất Anh trước khi chết nữa. Em săn sóc cho má bao nhiêu năm nay, nên má thương em như con gái má. Biết đâu đây là sự sắp xếp nhiệm màu từ chị Nhất Anh – anh Thống? Hơn nữa nhìn em cũng giống chị em lắm, và tên em với tên chị ấy cũng như nhau mà. Nhưng anh nhớ phải tuyệt đối giữ hộ cho em điều bí mật này nghe.

Vâng! Chính vì tôi đã giữ cho cô cái điều bí mật đó, nên hai cái tên Hà Nhất Anh, Hà Nhị Anh mà các bạn vừa đọc được trong truyện, đều không phải là tên thật của hai chị em nàng.

Phạm Tín An Ninh

Tràm Cà Mau: Đọc Truyện. “CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU” của Huy Văn Trương

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 19 Feb 2025

Đọc Truyện.
“Chiến Tranh Bên Cạnh, Tình Yêu”(BBT đánh máy lại từ sách do tác giả Huy Văn Trương tặng)

Tôi nghĩ e phải mất một tuần mới đọc hết tập truyện dài nầy của Huy Văn, nhưng không ngờ, tôi đã đọc một mạch từ đầu hôm đến khuya cho hết câu chuyện. Nhờ lối hành văn trong sáng, rõ ràng, dễ hiểu và vui tươi, nên lôi cuốn được người đọc, không làm chán nản bỏ cuộc nửa chừng. Điều thích thú nhất, là tôi tìm được nhiều hình ảnh và tình cảm của chính mình vào một thời xa xưa, trước năm 1975, khi tóc còn xanh, dạt dào yêu đời, dù chiến tranh tàn khốc, khói lửa triền miên.

Tác giả như chứng nhân của một giai đoạn lịch sử, phác họa lại hình ảnh và tâm tư của lớp thanh niên trong thời đại đó.

Tác giả đã dẫn người đọc về một thoáng Đà Lạt xưa hiền hoà. Gợi lại những ưu tư, lo lắng của tuổi trẻ khi chinh chiến bất ổn tràn lan. Những ngày tháng gian khổ luyện tập trong quân trường, vác bao hành trang nặng trĩu chạy vòng vòng Vũ Đình Trường, mệt đứt hơi, mắt lóe đóm đóm, người nầy ngất, người kia xỉu. Tiếng gầm gừ, gào thét dọa dẫm của các huynh trưởng. Những hình phạt, “ phạt liên miên bất kể giờ giấc, sáng phạt, trưa phạt, chiều phạt, tối phạt, lên gường ngủ vẫn bị lôi đầu dậy thi hành lệnh phạt”. Những đêm đi kích, gác tuyến, ôm chặt cây súng Garant như ôm vợ. Những khi ngồi câu lạc bộ nhấp ly cà phê và liếc nhìn cô bán hàng mà mong ước rồi chờ một nụ cười vu vơ. Những lần thực tập địa hình, nhờ hướng dẫn của các cô bán sương sâm ngoài bãi để tìm cho đúng mục tiêu. Tác giả đưa người đọc về kỷ niệm của những ngày Chủ Nhật 24 giờ đi phép, dẫn bạn gái lên Sài Gòn dạo phố, đi bên nhau, vào ngồi quán Brodard, Mai Hương, Givral, Pole Nord. Ăn cơm quán Thanh Bạch, uống nước miá Viễn Đông, rồi rủ nhau đi xem chiếu bóng. Chiều tối vào quán cà phê Hầm Gió, Thằng Bờm nghe ca nhạc. Những hình ảnh lãng mạn nầy, dường như anh nào cũng đã trải qua và còn nhớ mãi trong đời.

Một câu chuyện tình, tha thiết yêu mà khờ khạo, làm phật lòng người yêu. Mối tình đẹp như mơ, và trong trắng như thủy tinh. Vì hiểu lầm, chàng không biết vì sao nàng giận. Trong tình trạng thất tình, chàng đi lang thang giữa phố Sài Gòn nóng cháy, vào rạp chiếu bóng ngủ quên buồn.

Tốt nghiệp trường sĩ quan Thủ Đức, được bổ nhiệm về Trường Võ Bị Đà Lạt, tác giả lại đưa độc giả về những quán cà phê Thủy Tạ, cà phê Tùng, cà phê Hạnh Tâm, hồ Xuân Hương, sương lạnh, núi đồi. Những ngày tháng hạnh phúc yên bình trong thời chiến tranh khốc liệt nhất. Người đọc, còn tìm thấy thấp thoáng bóng dáng của Đại Học Đà Lạt, đời sống sinh viên theo học bán thời gian.

Trong khi tác giả may mắn, yên bình ở hậu phương, thì bạn bè cùng khoá được tung vào các chiến trường sôi động, mạng sống mong manh, ở An Lộc, khoảng hơn bảy ngàn quân sĩ miền Nam tử chiến với hơn bốn chục ngàn quân Bắc Việt vây hãm tấn công. Tác phẩm, ghi lại: “Hàng ngày ở đây tụi tao lãnh hơn một ngàn trái đạn pháo đủ loại là chuyện thường tình, từ cái thứ đạn pháo tép riu của súng cối 82 ly, cho đến đại bác hạng nặng 130 ly. Vài trăm trái đạn pháo một ngày, tụi tao gọi là pháo quấy rối. Trên hai ngàn cho đến tám ngàn trái mới coi đó là pháo thật sự, khi pháo kích lơi dần là lúc Việt Cộng bắt đầu tấn công. Trước tiên, bọn chúng dùng xe tăng T54 tràn qua mọi chướng ngại vật đi vào trong thị xã An Lộc. Mấy chục chiếc xe tăng này như là vật tế thần,…” An Lộc được giữ vững, Bắc quân tổn thất nặng nề, kiệt lực, phải rút lui.

Rồi đến trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị, mỗi tấc đất tưới bằng một vũng máu. Bom đạn ngày đêm trút như mưa rào không ngớt. Đôi bên đều tổn thất nhân mạng nặng nề. Chiến thắng đã dựng cờ vàng trên cổ thành đổ nát. Câu chuyện người sĩ quan nhận lời trăn trối của anh hạ sĩ trước khi chết, nhờ nhắn với vợ đã mua đôi giày cho đứa con nhưng chưa kịp gởi về. Người sĩ quan bối rối khó xử, khi đến báo tin buồn cho vợ của kẻ đã hy sinh ngoài trận địa. Rồi câu chuyện của người thiếu nữ, mới làm đám hỏi được ba tháng, thì vị hôn phu đã hy sinh trong trận Hạ Lào.

Độc giả sẽ tìm thấy hình ảnh của những ngày sắp tàn cuộc chiến, vào đầu năm 1975. Tâm trạng của người lính khi biết nước sắp mất. Khi nghe từ điện thoại của tiểu khu Ban Mê Thuột: “…Mà thôi, không kịp nữa đâu, xe tăng của Việt Cộng đã tràn vào tiểu khu rồi, tôi phải chạy.”

Những ai từng di tản từ Đà Lạt xuôi Nam trong ngày tai biến đó, sẽ tìm thấy và biết rõ hơn tại sao cuộc triệt thoái không bi thảm như trên con đường liên tỉnh lộ số 7 về Tuy Hoà. Vị thiếu tướng chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt vẫn bình tĩnh như không có việc gì xảy ra, đã sắp đặt điều động việc phá cầu Đại Ninh ngăn chận đà tiến của địch, để có thời gian đưa quân dân Tuyên Đức và trường Võ Bị về Sài gòn.

Trong lúc bối rối đó, tác giả – nhân xưng ‘tôi’ trong truyện- được ông bố vợ sắp cưới kêu điện thoại bảo về gấp Sài Gòn để bỏ nước ra đi, không thể chờ đợi được nữa. Anh đã trả lời: “Đi đâu? Đi sao được, con rời bỏ đơn vị sẽ bị coi như đào ngũ”

Độc giả Đà Lạt sẽ thấy lại hình ảnh cuộc di tản ngày đó: “Tôi đứng ở đỉnh đèo Ngoạn Mục nhìn xuống chân núi, đoàn người di tản đi bộ dọc theo hai bên đoàn xe, đèn xe sáng rực cả một góc trời trông giống như là một con rắn lửa khổng lổ đang bò theo triền núi, để trườn mình xuống đồng bằng. Cái đầu của con rắn đã qua khỏi Sông Pha, trong khi thân của nó hãy còn ở đỉnh đèo Ngoạn Mục, và cái đuôi con rắn có thể còn ở đâu tận Đà Lạt.”

Về đến Sài gòn, tác giả được gia đình của người bạn gái cũ đem vào Tân Sơn Nhất, đã đến chân cầu thang máy bay, nhưng bị quân cảnh giữ lại: “…không có lệnh cho quân nhân xuất ngoại, chúng tôi chỉ thi hành nhiệm vụ, trung úy thông cảm.”

Tác giả trở về đơn vị, và trong lúc đang hăng say chiến đấu với địch quân, thì được lệnh buông súng của Tổng Thống, nghe mà không tin được. Tác giả viết về tâm trạng rối bời, đau xót và hoang mang của người lính chiến trong ngày tan tác đó.

Tiếp theo là tình hình hỗn loạn của thành phố Sài Gòn trong ngày cuối. Người lính thua trận lang thang giữa phố, không biết đi đâu, về đâu, bụng đói, miệng khát, thân xác rã rời, tâm thần ngao ngán, tuyệt vọng.

Qua tập nầy, tác giả như một chứng nhân của thời đại. Người lớn tuổi đọc sẽ tìm thấy chính hình ảnh, tâm tư, nổi đau khổ cũng như hạnh phúc mà họ đã trải qua trong một giai đoạn lịch sử. Những độc giả trẻ của các thế hệ sau, sẽ hiểu hơn, thấm thiá hơn với nỗi đau của cha anh trong cuộc chiến phi lý, dài và tàn khốc đem dân tộc vào đổ vở lầm than.

Đọc xong tập truyện, tắt máy vi tính, tôi xót xa nhớ về một thời xưa cũ. Không biết tại sao, tôi tha thiết muốn đọc lại cuốn “Một Thời Để Yêu và Một Thời Để Chết” của tác giả Erich Maria Remarque. Nhưng đêm đã quá khuya. Tôi vào giường mà còn thao thức mãi. Tôi nghĩ, mấy mươi năm chinh chiến cũ, là đề tài lớn và phong phú, cho những tác phẩm văn chương vĩ đại. Nhưng chưa có tác phẩm nào đáp ứng được lòng mong ước của độc giả. Tuy nhiên, nhiều truyện dài tương tự như “Chiến Tranh Bên Cạnh, Tình Yêu” nầy, của những tác giả khác nhau, sẽ gom lại để thành những trường thiên, làm chứng cho một giai đoạn đau thương nhất của đất nước Việt Nam.

Santa Ana tháng Giêng năm 2017.
Tràm Cà Mau

Thay lời tựa

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 19 Feb 2025

Bàn cà phê gồm có sáu người , trước mặt tôi là anh Phạm Phú Minh chủ bút tờ báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ, bên tay phải của anh Minh là Đặng Thơ Thơ đồng chủ biên báo mạng Da Màu, bên tay trái anh Minh là anh Từ Mai Trần Huy Bích giáo sư, nhà nghiên cứu văn chương Trung Hoa và Việt Nam.

Ngồi bên tay phải của tôi là anh Trúc Chi, nhà văn chuyên viết tùy bút. Bên tay trái của tôi là bình luận gia Ngô Nhân Dụng của nhật báo Người Việt.

Tôi, sở dĩ được ngồi chung bàn với năm cây viết nổi tiếng của làng văn hải ngoại là nhờ đi theo anh Trúc Chi. Cà phê chưa được nhà hàng mang ra bỗng đâu chị Trần Mộng Tú xuất hiện, chị là nhà thơ, nhà văn nữ nổi danh ở hải ngoại. Vừa gặp mọi người chưa kịp chào hỏi chị đã nói với tôi:

-Huy Văn, Huy Văn qua ngồi đây tôi có chuyện muốn nói.

Chuyện quá sức bất ngờ đối với tôi, vì từ trước đến giờ, tuy có hân hạnh được gặp mặt chị Tú vài lần nhưng tôi chưa có dịp nói chuyện với chị cho dù chỉ một câu thăm hỏi. Hôm nay khi chị kêu tên, nằm mơ tôi cũng không tin có một giấc mơ đẹp như vậy. Với tôi, Mộng Tú có nghĩa là một giấc mơ đẹp. Tôi lúng túng đứng lên đi vòng sau lưng anh Ngô Nhân Dụng đến ngồi bên cạnh chị. Chị Tú nói với tôi, giọng nói trong như nắng sớm của mùa xuân Cali.

-Tôi hay đọc sách trước khi đi ngủ, đọc rất nhiều truyện viết về lính nhưng thường chỉ được vài trang, gấp lại, rồi tối mai đọc tiếp, có lẽ họ viết buồn quá. Truyện của Huy Văn tôi đọc hết cả chương trong một tối. Hấp dẫn lắm, có buồn cái buồn cũng nhẹ nhàng. Sách còn để ở đầu giường.

Tôi chưa kịp nói lời cảm ơn với chị, anh Ngô Nhân Dụng đã lên tiếng hỏi tôi:

-Tác giả có in hình trên sách không?

Tôi biết, bìa trước cuốn sách in hình lá cờ Quốc gia bay phất phới trên Dinh Độc Lập, bìa sau độ mươi hàng giới thiệu của anh Trúc Chi, thêm vài hàng của anh Thạch Hãn, nguyên Tổng thư ký của tờ Văn Học hải ngoại viết. Tôi trả lời anh Ngô Nhân Dụng:

-Dạ không có.

-Thế thì, cô Tú để sách ở đầu giường làm gì?

Mọi người cùng cười vang vì câu nói đùa đầy ý nhị của anh Ngô Nhân Dụng. Riêng tôi, tôi biết tiếng cười của tôi chắc chắn là tiếng cười vui vẻ, sung sướng nhất trong bàn cà phê vào buổi sáng hôm ấy.

Kính thưa quý độc giả.

Nhờ lời khen “Truyện của Huy Văn tôi đọc hết” của chị Trần Mộng Tú, cũng như những lời khuyến khích trực tiếp và gián tiếp của các bạn văn khiến tôi có thêm nghị lực để viết cuốn truyện thứ hai, đó là cuốn truyện mà quý độc giả đang cầm trên tay.

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn quý độc giả. Đặc biệt, cảm ơn chị Trần Mộng Tú cùng năm cây bút có mặt trong bàn cà phê ngày hôm ấy.

Tác giả
Huy Văn Trương