Bước đường cùng

hung-viet.org

25 Tháng Tám 2014

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Mar 2025

“Bạn ơi, nguồn thảm sầu kia bởi

Số phận hay do chế độ này!”

(Vú Em-Tố Hữu)

Ngày 15 Tháng Tám, Bộ Thông Tin và Truyền Thông Việt Nam ra quyết định đình bản 3 tháng báo điện tử Trí Thức Trẻ và phạt 207 triệu đồng vì ngày 12 Tháng Tám báo này đã đăng một bài có tựa đề là “Gái miền Tây và 3 chữ ‘N’ nổi danh thiên hạ” của tác giả Trai Toàn Cầu.

Một cô gái quảng cáo bia Anchor của Singapore tại Hà Nội. (Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

 Ba chữ N đó là Ngoan, Ngon và Ngu. Bài này xem như đã vi phạm luật báo chí và chính ban biên tập đã ngỏ lời xin lỗi độc giả vì đã “gây nên sự tổn thương sâu sắc cũng như tạo cảm giác xúc phạm tới nhiều phụ nữ Việt Nam.”

Thật ra chuyện Ngoan, Ngon và Ngu không lạ gì với lời nói ngày xưa dùng để khuyên những người đi chọn vợ.

Ngoan nói về tính tình, ai lại không thích có một người vợ ngoan.

Ngon nói về thể chất và hình dáng bên ngoài, trắng da dài tóc, có nhan sắc, vì không ai muốn chọn vợ xấu.

Ngu nói về kiến thức. Phải ngu hơn chồng mới phục chồng, và không lấn lướt muốn dạy chồng. Không gì chán bằng cảnh ông chồng mới mở miệng phát biểu một câu thì vợ đã nói, “Chuyện này em biết rồi!” Vậy thì nên chọn một người vợ “ngu” hơn mình.

Nhưng ở đây bài báo lại dùng chữ “ngu” để vơ đũa cả nắm, cho con gái miền Tây ngây ngô và ngu muội, “não ngắn,” thiếu văn hóa. Tác giả cho rằng, “Về độ ‘ngon,’ độ ‘ngoan’ thì tôi dám quả quyết không gái miền nào địch được gái miền Tây. Nhưng còn về độ ‘ngu’ thì phần lớn gái miền Tây cũng là những cô gái ‘ngu dốt’ vô đỗi!”

Không phải bây giờ, mà trước đây báo chí Việt Nam đã có những bài báo chỉ trích cay nghiệt con gái “Bắc Kỳ,” và rồi nay, những người “phụ nữ miền Tây” bị tổn thương vì sỉ nhục là ngu đần!

Cộng sản coi là đã thống nhất được đất nước nhưng lòng người thì ly tán, nhất là sau cuộc đổi đời 30 Tháng Tư, 1875, dân miền Bắc ồ ạt vào Nam lập nghiệp, được ưu tiên nâng đỡ trong việc lập nghiệp, chiếm đất, phá rừng, bây giờ ở Việt Nam đi đâu mà không nghe tiếng nói Bắc Kỳ 75. Người miền Nam chẳng ưa gì dân Bắc vào Nam trong tư thế kẻ thắng trận chiếm đóng, người miền Bắc tuy coi miền Nam là vùng tạm chiếm, bị bóc lột, nhưng gần như ganh tỵ vì choáng ngợp trước cảnh đời sống an nhàn, sung túc của dân Nam.

Người miền Trung và miền Bắc thường có quan điểm cho rằng người miền Nam là hời hợt, nông nổi, thiếu sâu sắc, không có căn bản văn hóa, mối giềng ràng buộc với họ hàng, làng nước. Điều này dư luận thường dùng để làm câu giải đáp cho việc “lấy chồng Đài Loan” của con gái Việt Nam mà các thiếu nữ miền Tây đã dẫn đầu trong vài chục năm qua.

Những nhận xét về “gái miền Tây” lâu nay khá nặng tay. Một cán bộ của Đại Học Tôn Đức Thắng nhận định… “nhiều người dân ở vùng này chây lười nên không nhận thấy tầm quan trọng của tri thức!” Một bài khác trong Vnexpress cho rằng, “… đàn bà con gái chỉ biết đi làm gái tiếp thị bia, massage!” Và chỉ nội cái nhan đề trong Vitalk.vn, “Gái miền Tây lười, ít học và muốn một bước lên bà chủ!” cũng đủ là một điều xúc phạm chung cho cả một tập thể.

Vì đâu nên nỗi?

Người đổ lỗi tại văn hóa, hoàn cảnh thiên nhiên ưu đãi mà không hề ai dám nói đến cơ chế xã hội và những gì là trách nhiệm của kẻ cầm quyền trong bao nhiêu năm nay. Một ông trưởng khoa trưởng một đại học lớn như Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn đã xác định … “nền giáo dục ở Đồng Bằng Sông Cửu Long còn quá yếu, đặc biệt với phụ nữ, đã đưa đến những hệ lụy trên!” Vậy thì thưa ông, chủ trương này từ đâu đến và sao không nghe ông than trách việc khách sạn, sân golf, nhà hàng đặc sản hay cho ngoại nhân cho thuê đất để đẩy dân vào chỗ khốn cùng để con gái họ phải thoát ra cảnh nghèo, vươn qua biên giới để mong mỏi có một đời sống tươm tất hơn.

Cũng không nghe ai nói, trước Tháng Tư, 1975, con gái miền Tây toàn là dân đi bán bar, làm sở Mỹ hay làm điếm hay đi lấy chồng Đài Loan. Điều gì đã biến đổi đất nước nói chung và con gái miền Tây lâm thảm cảnh này.

Có quý vị trí thức nào bỏ ra chút thời giờ để nghiên cứu xem xứ nào đàn ông Việt Nam đầu quân đi bán sức lao động xứ người, và vì sao Nghệ Tĩnh và Quảng Bình lại lắm người bỏ ruộng bỏ vườn “đăng ký” đi làm thuê để thoát khỏi cảnh nghèo đói. Không lẽ quý vị lại đổ tội cho chây lười, ít học hay chối bỏ quê hương nghèo khổ, truyền thống của mảnh đất này là thích đi làm “bồi,” hay sợ phạm đến mảnh đất “thiêng” mà không dám nói.

Một sự thật đau lòng là nhạc sĩ Tuấn Khanh, ở trong nước, trong blog của ông đã nói lên một điều, đáng lý phải làm cho chính quyền trong nước đỏ mặt. Các hội gọi là phụ nữ, các tổ chức nhân quyền vẫn thường có thói quen báo cáo tốt, đề cao thành tích, vẽ vời hình tượng người phụ nữ Việt Nam, nhưng có đất nước nào đã ở trong thời kỳ hòa bình, độc lập mà thân phận phụ nữ bọt bèo, trôi giạt khổ đau như người con gái Việt Nam?

Sự thật là trong xã hội này, người phụ nữ bị đánh giá thấp, không hề được bảo vệ, che chở bởi công lý.

Những vụ án có liên quan về phụ nữ từ trước đến nay, phần đông phụ nữ đều bị thiệt thòi vì các loại đàn ông bên nguyên hay bên bị đều là loại nô bộc trung thành với đảng và nhà nước, và phụ nữ Việt Nam được xem không hơn một món đồ chơi.

Khi nói chuyện về đời sống của các cô gái miền Tây đi lấy chồng xứ người, blogger Tuấn Khanh được biết một sự thật rất là chua chát, nếu còn chút lương tri, hẳn các hội phụ nữ ở Việt Nam và cả cái cơ chế công an, cảnh sát xã ấp phải hổ thẹn. Khi hỏi về chuyện chồng Đài Loan đánh đập, một cô gái đã cười hồn nhiên nói, “Không phải ai cũng bị như vậy, báo chí nói quá. Nhưng nếu như có bị đánh ở Đài Loan, tụi em còn được báo chí xứ đó lên tiếng giùm, chứ ở Việt Nam, lấy một ông chồng say xỉn rồi bị đánh chết cũng không ai lo cho mình.”

Ở đây chúng tôi không nhắc đến một loại kỷ luật chỉ có trong xã hội Việt Nam là cấp lãnh đạo thông tin, một loại “Ông Kẹ” mang hơi hướng “đảng,” có thể làm tình, làm tội bất cứ cơ quan truyền thông nào khi họ cảm thấy bất như ý. Bài báo “ba N” có thể gây phẫn nộ cho quần chúng, thậm chí có thể ký giả bị bao vây hay tòa soạn bị đốt nhưng không thể vì lý do gì mà chính quyền phạt tiền hay đình bản. Phải chăng đây chỉ là một thái độ khúm núm, sợ mất lòng, vì trong Bộ Chính Trị hiện nay có bao nhiêu vị có mẹ, có em, có con là “gái miền Tây!”

Lên án ai đó là một công việc dễ dàng, nhưng đi tìm nguyên nhân mà và sự thật là một việc khó! Không dễ dàng như một vị tiến sĩ xã hội học, đảng viên CSVN, đã nhận định rằng do ít ý thức về đức hạnh mà phụ nữ Nam Bộ thường hay lấy chồng ngoại (TK). Vậy thì ở Hà Nội, hoa hậu, sinh viên đại học có tên trong đường dây “gái gọi,” tan trường là lên giường, chắc không phải lý do là đức hạnh!

Ba chữ Ngoan, Ngon và Ngu chưa đủ yếu tố để đưa người con gái miền Tây vào hoàn cảnh mà các “đạo đức gia” hay “đạo đức…giả” tha hồ bới móc, nói xấu. Quý vị cũng không nên quên một chữ N nữa, là chữ Nghèo khiến cho phụ nữ miền Tây phải lâm vào cảnh đi lấy chồng xa, hay chỉ biết đi làm gái tiếp thị bia, massage. Dân nghèo mạt, nhặt rác mỗi ngày không kiếm nổi tới $2, trong khi cán bộ công quyền giàu bạc triệu đô la, ăn xài huy hoắc bạc tỉ là ưu điểm của một chế độ XHCN chăng?

Miền Tây “gạo trắng nước trong” ngày nay như thế nào? Báo Hậu Giang đưa tin: “Dân khổ vì ‘ba không.’ Người dân tại các tuyến dân cư trên những con kênh mới hình thành ở xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, đang sống trong tình trạng 3 không: không nước sạch, không điện, không đường bộ. Trẻ em đến trường rất khó khăn, vậy thì sao cho là dân kém học vấn. Dân Hậu Giang còn nghèo, chỉ mỗi ấp 8 xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, đã có 87 hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn, trong đó có 28 hộ nghèo không có đất sản xuất.” Vậy thì động lực nào đã xô đẩy hàng vạn cô gái miền Tây đi lấy chồng ngoại, nên câu nói “không có tiền thì ‘cạp đất’ mà ăn,” đâu có gì là quá đáng?

Ở đâu có câu chuyện bà Phạm Thị Lài, 52 tuổi, cùng con gái là Hồ Nguyên Thủy, 33 tuổi, với thân thể trần truồng không một mảnh vải che thân, phản đối chính quyền đã cướp đất để bán cho một công ty ngoại quốc trong dự án “Khu dân cư Hưng Phú,” sau khi chồng và cha của họ đã vì quá phẫn uất uống thuốc rầy tự tử! Hai mẹ con bà Lài “đã bị đám vệ sĩ lôi trên cát, bãi cỏ và các đống vật liệu trong tình trạng khỏa thân dưới cái nắng gay gắt.” Đó chính là câu chuyện “hổ thẹn” nhất của đất nước trong năm 2012 xảy ra tại miền Tây, nơi mà một tờ báo “vô đạo” ngày nay đã lên án là cái xứ lười, ngu và con gái chỉ muốn đi bán bia, hay hành nghề massage.

Hổ thẹn không phải nơi hai mẹ con đã phơi bày cái chỗ đáng giấu của đàn bà, vũ khí yếu đuối cuối cùng phải đem ra để tấn công vào khuôn mặt quá dày, trâng tráo của chế độ, mà xấu hổ rơi về phía cường quyền, đã toa rập với xã hội đen, các thế lực đồng tiền, với sự trợ thủ của ngành công an đẩy người dân vào bước đường cùng.

Xin các nhà nghiên cứu văn hóa, các khoa bảng, trí thức hiện đang giữ các vai trò quan trọng trong các trường đại học hay trung tâm nghiên cứu, thích chuyên bố, rao giảng thứ kiến thức cổ lỗ, xin đừng ôm mãi cái não trạng mà danh từ hiện nay, người Việt trong nước đang dùng là “não ngắn,” đi tìm và đổ lỗi cho văn hóa, địa dư và những nguyên nhân xa cho cái “nghèo,” cái “ngu” của gái miền Tây, hầu hết là để biện minh cho tình trạng hư đốn của chế độ.

Thân “vú em” năm xưa làm sao nhục nhã, khốn khổ bằng chuyện con gái Việt Nam đi làm gái mại dâm mười phương bây giờ, nên chưa lúc nào tôi thấy hai câu thơ của Tố Hữu thấm thía như hôm nay:

“Bạn ơi nguồn thảm sầu kia bởi

Số phận hay do chế độ này!”

Huy Phương

Đại uý Vinh Phan (gốc Việt), Phi công trực thăng UH-60M Blackhawk, Lục quân Hoa Kỳ

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on February 5, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 4 Mar 2025

Đại uý Vinh Phan, phi công trực thăng UH-72 Lakota và UH-60M Blackhawk Lục quân Hoa Kỳ nguyên là một Binh sĩ Bộ binh trong Lực lượng Vệ binh Quốc gia Tiểu bang Virginia, ông theo học Chương trình Đoàn huấn luyện Sĩ quan trừ bị ROTC tại Đại học George Mason và tốt nghiệp năm 2014. Sau đó, ông thụ huấn khoá căn bản Sĩ quan bộ binh và tốt nghiệp vào tháng 12 năm 2015. Đến tháng 11 năm 2017, ông được tuyển chọn chuyển sang ngành hàng không Luc quân (Army aviation) trở thành Phi công trực thăng.

Đường binh nghiệp của Đại uý Vinh Phan, Phi công trực thăng bắt đầu từ lúc ông gia nhập Lực lượng Vệ binh Quốc gia Tiểu bang Virginia vào tháng 10 năm 2012, Vinh Phan được huấn luyện trở thành một Binh sĩ thuộc Đại đội Bravo, Tiểu đoàn 13, Trung đoàn 16, Sư đoàn 29 Bộ binh, ông phục vụ đơn vị này đến tháng 12 năm 2014. Trong thời gian này, Vinh Phan tiếp tục học tại Trường Đại học George Mason University – Costello College of Business và tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Khoa học – Hệ thống Thông tin và Quản lý năm 2013, đồng thời ông cũng theo học chương trình huấn luyện sĩ quan trừ bị ROTC tại Đại học George Mason tốt nghiệp Văn bằng Cử nhân Khoa học – Hệ thống thông tin và Quản lý hoạt động kinh doanh măm 2014.

Trực thăng UH-60 Black Hawk (ảnh của en.wikipedia.org).

Sau khi tốt nghiệp Chương trình ROTC, Vinh phan hoàn tất khoá căn bản Sĩ quan bộ binh vào tháng 12 năm 2015. Sau đó ông lần lượt phuc vụ tại các đơn vị: Sĩ quan ban 3 (hành quân), Sĩ liên lạc Chi đoàn 1*, Trung đoàn 11 Thiết kỵ từ tháng 2 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016; Trung đội trưởng bộ binh, Chi đội** Alpha, Chi đoàn 1 Trung đoàn 11 Thiết kỵ từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017; Đại đội phó Đại đội Delta, Chi đoàn 1 Trung đoàn 11 Thiết kỵ từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 8 năm 2018.

Tháng 11 năm 2017, ông được tuyển chọn chuyển sang ngành hàng không Luc quân bay loại trực thăng UH-72 Lakota and UH-60M Blackhawk cho đến nay. Đại uý Vinh Phan đã phục vụ ngành hàng không Luc quân 10 năm và Lực lượng Vệ binh Quốc gia Tiểu bang Virginia 2 năm. Ông dự tính trong tương lai sau khi về hưu, ông sẽ làm việc trong lãnh vực phân tích an ninh mạng và học chuyên môn chứng chỉ CNTT Network+ và Security+.

Ngoài Đại uý Vinh Phan, Phi công bay loại trực thăng UH-72 Lakota và UH-60M Blackhawk, ngành Hàng không Lục quân, còn có một số Sĩ quan Phi công gốc Việt khác bay các loại trưc thăng như: Đại uý Tyler Pham, Đại uý Hieu N; Chuẩn uý*** Micheal Nguyen; Chuẩn uý cấp 2***Phúc huỳnh; Trac Pham và Tran Huynh*****; Đặc biệt, nữ Trung uý Jaqueline Martin, Phi công bay loại trực thăng tấn công AH-64 Apache. Ngoài ra còn có một số Sĩ quan Phi công trực thăng Lục quân đã về hưu như: Trung tá Võ Phi Sơn; Thiếu tá Andrew Vu và Nữ Trung uý Trung uý Michelle Vu.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Chi đoàn tương đương với Tiểu đoàn (Squadron/Battalion) là danh hiệu, cấp số của Trung đoàn Thiết kỵ (Armored Cavalry Regiment) Lục quân Hoa Kỳ; **Chi đội tương đương với Đại đội (Troop/Company); Chuẩn uý*** (U.S. Army Warrant Officer); Chuẩn uý cấp 2**** (U.S. Army Chief Warrant Officer 2); *****Là Sĩ quan Phi công Lục quân, nhưng chưa xác định được cấp bậc

Quân nhân Gốc Việt phục vụ 3 Quân chủng Hải, Lục và Không quân Hoa Kỳ, Đại uý Luan Truong, Phi công phi cơ KC-10 Extenders

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on January 29, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 4 Mar 2025

Thiếu uý* Luan Truong**, vợ và con trai trong ngày Lễ tốt nghiệp phi công Khoá 17-15, ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại căn cứ Không quân Vance Air Force Base (ảnh của Hạ sĩ Taylor Crul, Không quân Hoa Kỳ).

Đại uý Phi công Luan Truong** nguyên là Thuỷ thủ ngành chiến hạm trên mặt biển, ông đã phục vụ trên 4 Hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk, USS George Washington, USS Abraham Lincoln và USS John C. Stennis Hải quân Hoa Kỳ. Ông cũng từng phục vụ bảo trì xe cơ giới Humvee trong Lục quân Hoa Kỳ 2 năm, trước khi tốt nghiệp Trường Đại học hàng không Embry Riddle Aeronautical University và được tuyển chọn thụ huấn Trường Sĩ quan Không quân và Trường huấn luyện Phi công trở thành Sĩ quan Phi công.

Sau khi mang cánh bay, Thiếu uý Luan Truong được chỉ định bay loại phi cơ KC-10 Extenders, tiếp nhiên liệu trên không và vận chuyển quân dụng thuộc Phi đoàn 9 tiếp nhiên liệu trên không, đồn trú tại Căn cứ Không quân Travis, California.

Con đường trở thành phi công Không quân Hoa Kỳ của Luan Truong rất khác biệt so với những người bạn cùng khoá. Con đường đó bắt đầu từ Quốc Gia Việt Nam Cộng hòa. Luan Truong là cháu nội của ông Vinh Truong, một Phi công trực thăng của Không quân VNCH, người đã trải qua 13 năm trong trại tù cải tạo tại miền Bắc Việt Nam sau khi Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Được thả ra, ông Vinh Truong sau nhiều lần vượt biên, đã thoát khỏi Việt Nam trên một chiếc ghe đánh cá nhỏ, ông đã đến Phi Luật Tân với tư cách là một người Việt tị nạn. Sau đó ông Vinh Truong đã được đinh cư tại Hoa Kỳ.

Năm 2001, Luan Truong được gia đình ông nội bảo lãnh sang Hoa Kỳ định cư, lúc đó Luan được 13 tuổi và không nói được tiếng Anh. Luan học trường Trung học ở Gresham, Oregon. nhờ sự chăm chỉ và cố gắng đã giúp Luan tiếp tục học hết lớp 12, và học thêm các lớp học tại trường Cao đẳng cộng đồng địa phương. Sau khi tốt nghiệp trung học, Luan Trương gia nhập Hải quân Hoa Kỳ để có cơ hội biêt thêm thế giời bên ngoài, tham quan thắng cảnh, tự lập và quan trong nhất là để vinh danh ông nội Vinh Trương và đất nước Hoa Kỳ đã đón nhận Luân. Hải quân đã huấn luyện Luan làm việc với chiến đấu F/A-18 Hornet trong nhiệm vụ Nhân viên cơ khí phi Cơ và cơ trưởng phi cơ. Trong 5 năm tiếp theo, Luan đã phục vụ trên 4 Hàng không mẫu hạm USS Kitty Hawk, USS George Washington, USS Abraham Lincoln và USS John C. Stennis. Trong thời gian phục vụ Hải quân, Luan đã sử dụng tài chánh hỗ trợ học phí từ Chính phủ và tiền tiết kiệm riêng để hoàn thành Văn bằng Cử nhân hàng không tại Đại học Hàng không Embry Riddle.

Phi cơ KC-10 Extenders (ảnh của images03.military.com).

Sau thời gian phục vụ Hải quân, Luan Truong gia nhập Lục quân Hoa Kỳ, và được huấn luyện bảo trì các loại xe cơ giới đa dụng Humvee có bánh xe cơ động cao. Để giữ cho mình tiếp tục hoạt động học hỏi, Luan học thêm về kiểm soát không lưu. Trong hai năm phục vụ Lục Quân đội, Luân đã hoàn thành Văn bằng cao học hoạt động hàng không vũ trụ của Trường Đại học hàng không Embry Riddle. Ngoài ra, Luân còn lấy thêm bằng phi công trực thăng Robinson R22 và trực thăng Schweizer 300.

Luan Truong lập gia đình năm 2013, và việc vinh danh ông nội luôn nằm trong suy nghĩ. Vì vậy, Luan quyết định trở thành phi công Không quân. Ông đã nộp đơn ghi danh vào các Trường huấn luyện sĩ quan của Lục quân, Hải quân, Không quân và cả Tuần duyên (United States Coast Guard). Và Luan đã đã toại nguyện trúng tuyển thụ huấn Trường huấn luyện Sĩ quan Không quân. Luan có ý đình biến Không quân thành sự nghiệp. Luan muốn làm điều gì đó lớn lao hơn bản thân mình để khi về già Luan muốn nhìn lại và nói rằng mình đã làm được điều gì đó tuyệt vời trong cuộc sống. Luan thích thử thách, giống như cân bằng giữa việc Phi công đi bay và cuộc sống gia đình. Luan hy vọng được bay chiến đấu cơ sau khi tốt nghiệp khóa huân luyện phi công, nhưng địa điểm vẫn quan trọng hơn loại phi cơ Luan sẽ bay. Và Luan rất vui khi được chỉ định bay loại phi cơ tiếp nhiên liệu trên không KC-10 tại căn cứ Không quân Travis.

Hơn 7 năm phục vụ ngành phi hành Không quân, Luan Truong lần lược được thăng cấp Trung uý và Đại uý, ông dự định sẽ bay cho đến khi về hưu. Sau đó ông sẽ đi khắp thế giới, giúp đỡ người nghèo khổ, sự giúp đỡ đó bao gồm từ những công việc chân tay, cung cấp thực phẩm và tài chánh với các tổ chức địa phương. Một điểm đến sẽ là Việt Nam, vì ông nói được ngôn ngữ và hiểu văn hóa nơi đây. điều đó sẽ đưa cuộc đời anh ta trở lại vòng tròn trọn vẹn. Một hành trình bắt đầu như một cách để vinh danh ông nội Vinh Truong của Luan và đất nước Hoa Kỳ. Một hành trình đi qua từ boong tàu Hàng không mẩu hạm Hải quân, bãi bảo trì xe cơ giới Humvee của Lục quân và căn cứ, phi trường quân sự của Không quân. Một hành trình như được định sẵn để Đại uý Phi công Luan Truong thực hiện.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo cấp bậc ngày tốt nghiệp Phi công; Họ và tên Việt Trương Luân.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 4 Mar 2025

Tập 2

Phần 10
Mũ nồi xanh

Tôi gói tán đường của tôi vào tờ giấy, rồi đi gặp Long công tử. Đây là tán đường của riêng tôi, tán đường của Trung úy Lợi, hắn đã ăn mất từ mấy ngày trước rồi vì quá thèm ngọt.

Bầu trời Sông Mao hôm nay xanh màu ngọc, không một cụm mây, tôi vỗ vai Long công tử.

-Tao còn tán đường, mày xuống nhà bếp xin gô nước sôi, hôm nay mày muốn ngồi đâu? Brodard hay Givral?

-Givral đi, tự nhiên tao nhớ đến bức tượng hai người lính Thủy Quân Lục Chiến trước Quốc Hội, nhớ đến vòi phun nước nơi tụi mình chụp mấy tấm hình với Biên và Dung.

Cũng hơn mười phút sau Long công tử mới trở lại, hai đứa tôi ngồi xuống bên hè nhà, tôi hỏi Long công tử.

-Tốt nghiệp Thủ Đức xong, mày biến đi đâu mất tiêu vậy?

Long công tử, đặt lon gô nước đường xuống khoảng đất trống giữa hai đứa.

-Lễ mãn khóa vừa chấm dứt, lúc bấy giờ cả ngàn ông tân chuẩn úy túa ra khắp mọi nơi cứ như là bầy ong vỡ tổ, mạnh ai nấy bay, trật tự và kỷ luật nhà binh hình như không còn hiệu lực vào lúc này. Trong cảnh hỗn loạn ấy tao chạy đi tìm thằng Biên và mày, tìm hoài không thấy tụi mày ở đâu, cuối cùng tao đành bỏ cuộc. Sau một lúc suy tính, tao lên Khu sinh hoạt mua một bộ đồ rằn ri mới toanh với cặp lon chuẩn úy nơi cổ áo, cái huy hiệu con cọp vàng bay qua cánh hoa dù trắng trên nền xanh lá cây, may nơi tay áo trái gần vai. Thêm cái mũ nồi xanh trên đầu, tao đã nghiễm nhiên trở thành một sĩ quan của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Sau hai tuần lễ nghỉ phép, mười chín sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt của khóa mình, trong đó gồm có chín sĩ quan tốt nghiệp Thủ Đức và mười sĩ quan tốt nghiệp Đồng Đế, về trình diện Bộ tư lịnh Lực Lượng Đặc Biệt ở Nha Trang. Thiếu tá Thanh trưởng phòng Tổng quản trị của Lực Lượng Đặc Biệt, với gương mặt còn quá trẻ, có thể chưa quá ba mươi tuổi nhưng đầy vẻ phong trần dày dạn gió mưa, trong bộ quân phục rằn ri thẳng nếp, đôi giày bốt đờ sô hai da bóng loáng, thêm cái hoa mai có gạch trên cổ áo, tụi tao say mê chiêm ngưỡng cái nét oai hùng đầy phong độ của ông ta mà quên mất chào hỏi, trình diện. Thiếu tá Thanh thân mật bắt tay từng thằng một, hỏi thăm về những ngày phép mãn khóa, sau đó dẫn tụi tao vào phòng thuyết trình để thuyết giảng sơ qua cho tụi tao nghe về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Với cây gậy ngắn trên tay, Thiếu tá Thanh chỉ lên sơ đồ tổ chức gắn trên bảng đen, ông thao thao bất tuyệt “Lực Lượng Đặc Biệt là binh chủng thiện chiến, là con cưng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Binh chủng này gồm có những toán Delta, có Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù và mấy chục trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng trên khắp bốn vùng chiến thuật”. Thiếu tá Thanh ngưng nói, ông ta lấy chiếc mũ nồi xanh xuống để trên bàn rồi quay nhìn tụi tao “Các anh cứ ngồi thoải mái, tự nhiên hút thuốc vì chuyện tôi nói có hơi dài dòng. Trước hết tôi xin nói về toán Delta, cho đến hôm nay khi tôi đang nói chuyện với các anh, Lực Lượng Đặc Biệt của Việt Nam Cộng Hòa có tổng cộng tất cả là mười hai toán Delta, tôi xin lập lại là chỉ có mười hai toán mà thôi, không hơn không kém, họ hoạt động thầm lặng riêng rẽ không ai biết đến, thậm chí ngay cả tôi cũng không biết họ đang làm gì, ở đâu. Chỗ này tôi muốn nói riêng với các anh, về hiểm nguy cũng như khổ cực của những toán Delta, sở trường của họ là chiến tranh xâm nhập, cho nên mức độ nguy hiểm về tính mạng giống như là chỉ mành treo chuông. Sĩ quan toán Delta của Lực Lượng Đặc Biệt, một lần công tác vào đất địch là một chuyến mang gươm qua sông Dịch, mười đi mà chỉ có một về ”. Thiếu tá Thanh ngừng nói, nhìn quanh “Mấy anh có biết sông Dịch ở đâu không?”. Dân Văn khoa như tao khi nghe câu hỏi ấy giống như là đi thi mà trúng tủ, tao bèn tà tà đọc luôn hai câu cuối trong bài thơ Dịch Thủy Tống Biệt.

Tích thời nhân dĩ một.
Kim nhật thủy do hàn.

Thiếu tá Thanh nói lớn “Ông chuẩn úy nào đó, đứng lên cho tôi coi mặt được không?”. Tao từ từ đứng lên. Thiếu tá Thanh nhìn tao thật lâu, tựa như coi giò coi cẳng mấy con gà nòi, sau đó ông nói “Phòng Tổng quản trị đang cần một phụ tá, chuẩn úy muốn về đó không?”. Tao đoán, chắc ông ấy nghĩ rằng, tại sao lại có một con cừu đi lạc vào giữa bầy cọp như thế này. Không có việc gì phải hấp tấp, tao bèn trả lời Thiếu tá Thanh với giọng lạnh lùng như đang bơi thuyền qua sông Dịch “Thưa Thiếu tá, tôi tình nguyện về Lực Lượng Đặc Biệt là để chiến đấu ở ngoài mặt trận, chớ không phải ngồi văn phòng”. Thiếu tá Thanh với giọng nói nhã nhặn, lịch sự “Cảm ơn tinh thần phục vụ hăng say cao độ của chuẩn úy”. Sau đó ông ta cao giọng, tiếp tục thuyết trình “Tôi xin lập lại toán Delta một khi nhảy vào đất địch, giống như qua sông Dịch, nếu có anh nào đó nghĩ là sông Bến Hải thì cũng được, chuyện trở về mỏng manh như ngọn đèn lung linh trước gió, nó có thể tắt bất cứ lúc nào. Trở về được hay không là tùy lòng dũng cảm, tùy vào kinh nghiệm cũng như khả năng thích ứng trong mọi trường hợp của vị sĩ quan đó. Đi đôi với những hiểm nguy còn có thêm cực khổ gian nan về thể xác. Sĩ quan cũng như binh sĩ của toán Delta phải có một thân thể được đúc bằng sắt, một ý chí được trui rèn trong lò luyện thép, mới có đủ sức chịu đựng với giông tố bão bùng, đủ sức vượt qua mọi thử thách. Thường thì một toán Delta nhảy vô vùng địch chỉ có sáu người, trong đó gồm bốn Việt và hai Mỹ. Hai ông cố vấn Mỹ đi theo chỉ để lo về phần yểm trợ hỏa lực, việc gọi trực thăng bốc và thả toán sẽ do sĩ quan trưởng toán Delta quyết định chứ không phải là cố vấn Mỹ. Bởi vì hai ngày trước cuộc hành quân, viên phi công Mỹ lái trực thăng và sĩ quan trưởng toán Delta, đã cùng nhau bay tiền sát để chọn địa điểm thả và triệt xuất, họ đã có những đồng thuận, quy ước riêng với nhau rồi. Bốn người Việt được trang bị vũ khí cá nhân như M16 hoặc M79 tùy theo nhiệm vụ khi xâm nhập, một cấp số đạn, lựu đạn mini, M26, M67, lựu đạn khói, bảy ngày lương khô và những dụng cụ đặc biệt mà một toán viên Delta phải có. Ba toán viên của toán đều là chuyên viên đặc biệt, họ mang theo rất nhiều mìn claymore và chất nổ. Riêng sĩ quan trưởng toán ngoài phần chịu trách nhiệm về kế hoạch cũng như chiến đấu, ông ta còn phải mang thêm một máy truyền tin PRC25, nặng hơn mười kí lô và một cục pin phòng hờ. Chiếc máy truyền tin này là linh hồn của toán, mất nó cả toán sẽ không có đường về. Sĩ quan trưởng toán Delta của Lực Lượng Đặc Biệt, hoàn toàn không giống như sĩ quan của các binh chủng khác, có được binh sĩ phụ giúp mang đồ, trái lại chính ông ta mang vác còn nhiều hơn một toán viên, cũng có nghĩa là mang vác không thua gì một con lạc đà”. Thiếu tá Thanh ngừng nói, ông đi xuống những hàng ghế mà tụi tao đang ngồi dựa ngửa, thoải mái hút thuốc, thả khói bay đầy phòng. Ông hỏi “Trong số các anh ngồi đây, ai là người chưa từng thấy hộp Ration C của quân đội Mỹ”. Trong đám chuẩn úy tụi tao, nhiều bàn tay rụt rè đưa lên. Thiếu tá Thanh xuống giọng “Đó là hộp thức ăn cho một bữa, của một người lính Mỹ, hộp B1 cho buổi sáng, hộp B2 cho buổi trưa và hộp B3 cho buổi chiều. Trong đó mỗi hộp gồm nhiều lon thực phẩm khác nhau, cân nặng khoảng hai kí lô hai, như vậy thực phẩm cho một ngày phải nặng hơn sáu kí, bảy ngày công tác hơn bốn mươi lăm kí lô thực phẩm. Chỉ có mấy con lừa mới mang nổi. Theo kinh nghiệm của một người lính tác chiến, tôi đoan chắc với các anh, ration C của Mỹ tuy cung cấp đầy đủ năng lượng cho một người lính, nhưng nó chỉ tốt cho những đơn vị đóng quân cố định tại một chỗ, không thuận tiện cho đơn vị hành quân. Tôi đã nhiều lần chứng kiến, khi ở hậu cứ thiếu mồi nhậu một anh lính có thể khui một lon thịt ba lát để chữa lửa, lúc rảnh rỗi họ có thể mở một lon trái cây hộp nhâm nhi cho đỡ buồn, nhưng muốn đem theo đi hành quân, coi bộ hơi khó vì cồng kềnh và quá nặng. Nếu nói như vậy, một chuyến công tác bảy ngày, ông sĩ quan và toán viên của toán Delta họ mang gì để ăn? Thưa quý vị, họ mang một lon gô ruốc thịt heo ba chỉ kho với sả ớt, thêm vài lon thịt hộp trong khẩu phần ration C, đã được sấy khô thành thịt chà bông, và mỗi ngày bảy trăm gam gạo sấy, vì họ không được đốt lửa để nấu ăn. Chỉ chừng đó lương thực đủ cho họ sống bảy ngày trong rừng. Thêm một điều quan trọng nữa là mỗi toán viên Delta được chích hai mũi thuốc chống ho, vì điều tối kỵ nhất của toán Delta là gây tiếng động. Suốt bảy ngày trong rừng họ như là những người câm, nói chuyện với nhau bằng thủ hiệu”. Thiếu tá Thanh đi trở lên bục thuyết trình. “Tôi vừa trình bày sơ lược với các anh về hiểm nguy và gian khổ của những toán Delta. Để đáp ứng nhu cầu cấp bách của chiến trường, hôm nay tôi cần năm vị sĩ quan trong số các anh về toán Delta, anh nào tình nguyện xin đưa tay lên”.

Long công tử ngưng kể chuyện, hắn nhìn tôi.

-Tao đố mày, có ông chuẩn úy nào dám tình nguyện về toán Delta không?

Tôi cười thoải mái.

-Ai thì tao không biết, riêng tao “Tẩu vi thượng sách”, tao sẽ chạy xa toán Delta một trăm cây số, chạy mà cấm có quay đầu nhìn lại.

Long công tử gật gù đắc ý.

-Mày đúng là lính văn phòng. Ngày xưa, nếu cho mày về đơn vị tác chiến nắm một trung đội lính bộ binh, khi đụng trận với Việt Cộng, tao tin rằng mày sẽ co giò chạy trước, bỏ binh sĩ dưới quyền sống chết mặc bây.

Tôi không giận Long công tử chút nào vì biết nó nói đúng sự thật, nói ngay bon bản tính của tôi. Trên đời này, còn ai hiểu tôi hơn Long công tử, tôi than với nó.

-Cũng may tao được làm lính văn phòng, chứ nếu phải ra tác chiến thì mặt mũi đâu mà nhìn binh sĩ dưới quyền.

Long công tử lờ đi như không biết tôi nói gì, hắn tiếp.

-Một điều khá ngạc nhiên là khi Thiếu tá Thanh vừa dứt lời, mười chín cánh tay trong phòng không hẹn cùng một lúc đưa lên cao. Thiếu tá Thanh cười vui vẻ “Tôi đã thuyết trình rất rõ ràng rồi, các anh không ngại khổ cực, không sợ nguy hiểm đến tính mạng hay sao? Có anh nào cho tôi biết lý do được không?”. Một giọng Huế ở cuối phòng vang lên “Thưa thiếu tá, Tết Mậu Thân tại cố đô Huế, chính bản thân tôi đã chứng kiến cảnh Việt Cộng giết hại, chôn sống hàng ngàn dân lành vô tội trong những hố chôn tập thể. Tôi vô Trường Bộ Binh Thủ Đức theo lệnh Tổng động viên nhưng ý nguyện là cầm súng chiến đấu chống lại Cộng Sản, nào ngờ khi tốt nghiệp tôi lại có tên trong danh sách về đơn vị không tác chiến, dựa theo những bài Trắc nghiệm định hướng ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Không được đi tác chiến như mình mong đợi, tôi tình nguyện về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Bởi vì tôi không muốn bị Cộng Sản chôn sống, như Tết Mậu Thân ở Huế họ đã chôn sống dân mình”. Thiếu tá Thanh gật đầu, nét đăm chiêu hiện rõ trên gương mặt sạm nắng của ông. “Thế còn những anh khác không ở Huế thì sao?”. Để trả lời câu hỏi của Thiếu tá Thanh, một giọng nói chững chạc đầy cương quyết “Trước khi tình nguyện vào binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, tất cả anh em chúng tôi ở đây đều đã chuẩn bị sẵn sàng, nếu một mai có phải hy sinh vì Tổ Quốc, chuyện đó không nằm ngoài dự tính của chúng tôi”.

Long công tử ngưng kể chuyện, hắn bưng lon gô nước đường ngửa cổ uống một hơi.

-Ngon thiệt, tao cảm thấy được chất nước ngọt đi qua cổ họng, xuống đến bao tử rồi theo từng giọt máu tỏa ra khắp thân thể.

Đợi Long công tử uống xong, tôi lấy lon nước từ tay hắn, hớp một ngụm.

-Có mười chín ông Kinh Kha thời đại, ông nào cũng muốn về toán Delta, mày nói cho tao biết, làm cách nào mà Thiếu tá Thanh chọn được năm sĩ quan cho toán Delta. Ông ta bỏ ai, chọn ai?

Long công tử cười vang, tiếng cười đầy sảng khoái của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, chứ không phải tiếng cười của một thằng tù ốm đói.

-Chuyện dễ như vậy mà mày không thấy sao, mười chín thằng đều có một tinh thần Quốc Gia cao độ, có trình độ học vấn và hiểu biết tương đương, điểm khác biệt duy nhất là thể chất. Đương nhiên Thiếu tá Thanh chọn những ông chuẩn úy cao và to như những con trâu rừng, có sức chịu đựng dẻo dai để mang vác như một con lạc đà.

Tôi hơi mắc cỡ, khi thấy đầu óc suy luận của mình quá kém cỏi.

-Mày nói đúng, chuyện đơn giản như vậy mà tao nghĩ không ra. Rồi sao nữa?

Long công tử nhắc lại.

-Rồi sao nữa hả? Sau khi đã chọn được năm sĩ quan về toán Delta, thiếu tá trưởng phòng Tổng quản trị lại tiếp tục thuyết trình về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Với giọng nói đầy tính thuyết phục, ông cho biết “Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù gồm có sáu đại đội, họ chia nhau tiếp ứng cho cả bốn vùng chiến thuật. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ điều động những đại đội này đánh vào những mục tiêu đặc biệt, những vị trí chiến lược quan trọng của Việt Cộng”. Sau vài lời giới thiệu ngắn gọn về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù, Thiếu tá Thanh đưa ra một nhận xét “Nếu đem so sánh sĩ quan của Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù với Sĩ quan của toán Delta thì kẻ tám lạng người nửa cân”. Đứng trên bục thuyết trình với cây gậy ngắn trên tay, Thiếu tá Thanh tỏ ra lúng túng khi phải chọn tiếp bốn sĩ quan về Tiểu đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Đây cũng là một bài toán khó cho Thiếu tá Thanh, bởi vì mười bốn ông chuẩn úy còn lại ai cũng muốn về tiểu đoàn này. Cuối cùng để được công bình, Thiếu tá Thanh cho mọi người bốc thăm, bốn tấm giấy có ghi số 81 và mười tấm giấy trắng. Tao bốc nhằm tờ giấy trắng, có nghĩa là tao cùng chín ông chuẩn úy khác, sẽ được phân bố đi khắp các trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng của bốn vùng chiến thuật.

Long công tử dang tay lấy lon gô nước.

-Tao không cần giải thích, chắc mày cũng dư biết, hai chữ biên phòng tự nó đã nói lên được vị trí các trại Lực Lượng Đặc Biệt ở đâu rồi. Sau khi đã phân phối xong đơn vị cho mười chín sĩ quan, Thiếu tá Thanh với giọng nói đầy chân tình “Các anh tuy đã đội chiếc mũ nồi xanh, nhưng chỉ mới đặt có một chân lên ngưỡng cửa của căn nhà Lực Lượng Đặc Biệt. Tôi, Thiếu tá Thanh nhân danh người đi trước, có bổn phận phải giúp đỡ các anh hội nhập vào đại gia đình Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, càng sớm càng tốt. Điều trước tiên tôi có thể làm được là, tôi sẽ gởi các anh tới căn cứ Động Ba Thìn ở Cam Ranh, để học một khóa căn bản về Lực Lượng Đặc Biệt. Các anh phải nhớ rằng, đây là một ngoại lệ chỉ dành riêng cho các anh, bởi vì muốn học khóa căn bản Lực Lượng Đặc Biệt, các sĩ quan phải cần có một tới hai năm kinh nghiệm tác chiến, mới được theo học khóa này. Khóa học sẽ kéo dài khoảng năm tháng”. Thiếu tá Thanh ngưng nói, ông chỉ vào một vị chuẩn úy ngồi ở dãy ghế đầu “Thời gian chuẩn úy theo học ở quân trường Thủ Đức bao lâu?”. Ông chuẩn úy nói “Thưa thiếu tá, nếu kể luôn giai đoạn một ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, thời gian thụ huấn trong quân trường của chúng tôi, tổng cộng chỉ có sáu tháng”. Thiếu tá Thanh nói “Sáu tháng, từ một học sinh, từ một sinh viên, các anh đã lột xác để trở thành chuẩn úy, trở thành một sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Với khóa Lực Lượng Đặc Biệt, các anh phải cần thêm năm tháng nữa để học về mưu sinh thoát hiểm, về xâm nhập vào đất địch, và về nhiều kiến thức cần thiết cho một binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt mà tôi không tiện nói ra đây. Sau khi tốt nghiệp khóa học này, các anh sẽ được học thêm một khóa nhảy dù, thời gian khoảng năm tuần. Khi các anh đã tốt nghiệp hai khóa học căn bản nói trên, các anh có thể hãnh diện là mình đã chính thức trở thành một thành viên trong đại gia đình Lực Lượng Đặc Biệt. Riêng năm anh thuộc toán Delta và bốn anh 81 Biệt Cách Nhảy Dù, thì đường còn dài, còn lắm chông gai, các anh lại phải học thêm những khóa chuyên biệt khác nữa”.

Long công tử ngừng nói, nhíu mày như để nhớ lại chuyện xưa.

-Sau mấy khóa học đổ mồ hôi sôi nước mắt ở Động Ba Thìn, tao được đưa về trại Lực Lượng Đặc Biệt biên phòng Thiện Ngôn ở Tây Ninh, cách biên giới Việt Miên sáu cây số. Đây là một trong số mấy chục trại Lực Lượng Đặc Biệt trên khắp bốn vùng chiến thuật. Trên bản đồ quân sự một phần năm mươi ngàn, vị trí trại Thiện Ngôn nằm gần ngay tâm điểm trung ương cục R của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nó là cái gai trong mắt, là khúc xương chận ngay cổ họng của Việt Cộng, cho nên bằng mọi giá, họ luôn luôn tìm cách nhổ bỏ khúc xương này. Trại có hai phi trường trực thăng, một ở bên trong và một ở bên ngoài trại, một phi trường dã chiến lót vỉ sắt PSP cho phi cơ C123 và C130. Về vũ khí, trại có năm khẩu đại bác 105 ly do quân nhân Mỹ sử dụng, hai khẩu súng cối 106 ly và hàng chục khẩu đại liên 12 ly 7, của đại đội Dân Sự Chiến Đấu. Về binh sĩ, trại có khoảng một trăm quân nhân Mỹ, nhưng trong đó chỉ có mười hai binh sĩ Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ mà thôi, số còn lại là binh sĩ pháo binh, truyền tin, kỹ thuật, thêm sáu đại đội lính Dân Sự Chiến Đấu, trong đó có ba đại đội gốc người Miên. Bên phía Việt Nam Cộng Hòa có khoảng mười hai quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt. Tất cả quân nhân Mỹ, sáu đại đội Dân Sự Chiến Đấu cũng như quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đều đặt dưới sự điều động, chỉ huy của Đại úy Tuấn Lực Lượng Đặc Biệt. Ông ta là căn cứ trưởng của trại Lực Lượng Đặc Biệt Thiện Ngôn. Trại như là một cái ốc đảo nằm gọn giữa rừng sâu, không có đường bộ để ra vào, con đường duy nhất có thể tiếp cận với thế giới bên ngoài là nhờ vào trực thăng và vận tải cơ của cố vấn Mỹ. Ba tháng đầu tiên ở trại, buồn chán đến phát điên bởi vì Đại úy căn cứ trưởng cho uống cà phê dài dài, uống cà phê theo nghĩa bóng có nghĩa là huấn luyện. Buổi sáng, Đại úy căn cứ trưởng một ly cà phê, chuẩn úy cũng một ly cà phê, cà phê Mỹ chua lè nhạt như nước lã, vậy mà ngày nào tao cũng phải uống hai cữ, vừa uống vừa nghe Đại úy căn cứ trưởng giảng bài về chuyện hành quân phối hợp với cố vấn Mỹ và lính Dân Sự Chiến Đấu, học về kế hoạch hành quân, kế hoạch yểm trợ hỏa lực, thôi thì đủ mọi thứ từ A tới Z, và cuối cùng là trách nhiệm và bổn phận của một căn cứ phó.

Long Công tử vươn vai, duỗi chân rồi than thở.

-Mày thử nghĩ coi, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức xong, tao phải cưa thêm năm tháng căn bản Lực Lượng Đặc Biệt ở Động Ba Thìn, học về chuyện khi đói làm thế nào ăn mấy con sâu, nhai rắn rít, bọ cạp để sống còn, khi khát học cách uống nước trong rễ cây, trong thân cây, khi bị thương học cách nhai lá rừng đắp lên vết thương để cầm máu, đau yếu học cách nuốt lá rừng để trị bịnh rồi học cách sử dụng những dụng cụ đặc biệt, mà một người lính Lực Lượng Đặc Biệt mang theo khi hành quân. Và bài học quan trọng nhất tốn nhiều ngày giờ nhất, là hành quân xâm nhập. Vừa dứt khóa học căn bản Lực Lượng Đặc Biệt, tao tưởng sẽ có cái phép dăm bảy ngày về Sài Gòn bay bướm, ra Givral uống cà phê khoe cái mũ nồi xanh trên đầu, tiện thể nhìn xe cộ ngược xuôi trên đường phố cho đã con mắt, nào ngờ cả bọn lại bị lùa sang học nhảy dù thêm năm tuần lễ nữa. Nhảy dù là khóa học không dễ nhưng cũng không khó, để huấn luyện về thể xác, mỗi buổi sáng tụi tao với ba lô trên vai, súng cầm tay chạy một lèo từ Động Ba Thìn đến Hòa Do rồi chạy về, hơn chục cây số chớ phải chơi đâu, lính mà chạy không thua gì những con ngựa ở trường đua Phú Thọ. Chiều đến ở trong trại học nhảy, học bò, học té. Khi học về nhiều cách té, để cho đỡ buồn tụi tao gọi đùa là té bảy món, té sấp, té ngửa, té chổng mông, té bò càng, té lăn cù, té chúi nhủi, té chổng gọng. Cuối cùng khóa sinh phải nhảy đủ bảy sô ngày và một sô đêm trên các loại máy bay, từ C47 sang C119, C123 rồi C130 mới được cấp phát bằng nhảy dù. Học như vậy tao tưởng đã đủ lắm rồi, nào ngờ khi về trại Thiện Ngôn còn bị Đại úy căn cứ trưởng cho uống cà phê dài dài. Sau khi trải qua không biết bao nhiêu là gian nan khổ cực, cuối cùng tao chính thức được bổ nhiệm làm căn cứ phó. Khi biết tao đã sẵn sàng lao đầu vào vùng lửa đạn, nhân vụ một trung đoàn Việt Cộng pháo kích và tấn công vào trại, sau đó rút về bên kia biên giới. Đại úy Tuấn căn cứ trưởng cho lệnh mở cuộc hành quân về phía biên giới Cam Bu Chia, nơi mà bộ chỉ huy cơ quan đầu não cục R của Việt Cộng ẩn núp. Lực lượng hành quân gồm có hai đại đội Dân Sự Chiến Đấu, một toán cố vấn Mỹ có hai sĩ quan, một hạ sĩ quan, hai thông dịch viên, hai truyền tin. Bộ chỉ huy hành quân do tao trực tiếp chỉ huy, có một hạ sĩ quan phụ tá, hai truyền tin, hai quân y, bốn khinh binh, một trung đội Trinh Sát, một trung đội Vũ khí nặng. Sau hai ngày băng rừng lội suối, tụi tao tới biên giới, đây là lần đầu tiên trong đời tao xuất ngoại qua Cam Bu Chia mà không cần mang theo giấy tờ xuất nhập cảnh.

Tôi tò mò hỏi Long công tử.

-Lần đầu tiên, đứng trước những người lính áo quần rằn ri, mặt mũi bặm trợn như ông kẹ, mày có run sợ chút nào không?

Long công tử nhìn tôi.

-Mày là Trung úy mà hỏi gì kỳ vậy, run thì làm sao mà chỉ huy lính được.

-Long à, hơn sáu năm ở Trường Võ Bị Đà Lạt, tao chỉ có khả năng chỉ huy hai người hạ sĩ quan trực với tao mà thôi.

Long công tử đùa.

-Mày hỏi cũng phải, mặc dầu đã được Đại úy căn cứ trưởng chỉ bảo cẩn thận, truyền thụ võ công đầy đủ, bao nhiêu chiêu thức bí truyền của ổng, tao đều thuộc nằm lòng. Vậy mà đứng trước hàng quân khi ban lịnh hành quân, tao vẫn bị khớp như thường, ăn nói không được lưu loát cho lắm. Tuy vậy chỉ vài phút sau, tao nói hăng say cứ như là đồng nhập. Từ đó về sau, nói chuyện trước hàng quân, với tao cũng giống như là uống ly bia, hút điếu thuốc mà thôi.

Tôi hỏi Long công tử.

-Một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu có bao nhiêu người?

Long công tử nhăn mặt ra chiều đau khổ. -Tùy theo mùa, một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu có trên một trăm người, đến mùa lúa chín, quân số của đại đội chỉ còn một nửa, bởi vì họ bỏ lính trở về nhà gặt lúa. Xong mùa gặt, họ mới vô lính lại, đúng như cái tên gọi Dân Sự Chiến Đấu. Theo tao biết, một Đại đội Dân Sự Chiến Đấu được tổ chức gần giống như Đại đội chủ lực của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng gồm có đại đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng. Sự khác biệt là họ chỉ có chức vụ chứ không có cấp bậc, nếu một người lính Dân Sự Chiến Đấu tuyển mộ được một trung đội, thì người đó sẽ là trung đội trưởng, nếu tuyển mộ được một đại đội, người tuyển mộ sẽ là đại đội trưởng. Lực lượng Dân Sự Chiến Đấu là lính không có số quân, họ được người Mỹ huấn luyện, trang bị vũ khí và lãnh lương của Mỹ. Điều duy nhất yếu kém của Đại đội Dân Sự Chiến Đấu là đại đội trưởng hay trung đội trưởng chỉ giỏi trong việc chỉ huy lính chiến đấu chứ không biết gọi phi pháo yểm trợ. Do vậy trong bất cứ cuộc hành quân nào, sĩ quan của Lực Lượng Đặc Biệt sẽ là cấp chỉ huy. Tao là chuẩn úy căn cứ phó, nên chỉ huy hai Đại đội Dân Sự Chiến Đấu khi hành quân là chuyện bắt buộc. Ngày thứ ba trong cuộc hành quân, tụi tao bắt đầu di chuyển qua biên giới, lâu lâu mình bất ngờ tràn qua biên giới một lần, phá hủy các căn cứ hậu cần của cục R rồi lẹ lẹ rút về, chẳng có ủy hội quốc tế nào dám đến tận chiến trường trong rừng sâu núi thẳm để kiểm soát hay phản đối. Tao chia lực lượng làm hai cánh quân, Đại đội I Dân Sự Chiến Đấu đi cánh trái, Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu bên cánh phải, cách nhau chừng một trăm mét, bộ chỉ huy của tao với toán cố vấn Mỹ đi ở giữa. Đi vô hang cọp đánh phá, không u đầu thì cũng sứt trán, buổi trưa trong rừng rậm nhiệt đới không một chút gió, với cái nóng oi bức vây quanh, bộ chỉ huy của tao đang lầm lủi di chuyển với đội hình hàng một, tao bỗng nghe được cùng một lúc, nhiều tiếng nổ long trời lở đất của đủ loại vũ khí cá nhân cũng như cộng đồng vào hướng ba giờ, tức là hướng của Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu. Nhanh như chớp tao báo cáo với Đại úy căn cứ trưởng tọa độ điểm đứng của tao, sau đó là hướng tấn công của địch, rồi xin yểm trợ pháo binh cũng như không yểm. Vừa nói chuyện qua máy PRC25 tao vừa cho lệnh trung đội Trinh Sát cùng với hai khẩu đại liên M60, bẻ một góc chín chục độ, đội hình của bộ chỉ huy đã thành hàng ngang, tất cả tiến về phía trước. Mới di chuyển chừng hai chục thước, tao đã gặp những người lính của Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu, vừa bắn cầm chừng rồi dạt về phía sau.

Tao lập tức cho bố trí hai khẩu đại liên, khi những người lính Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu vừa lui tới, hai khẩu đại liên của tao quạt như điên về phía trước, thêm hơn ba chục cây M16, M79 của trung đội Trinh Sát đồng loạt bắn hổ trợ. Vừa bắn tụi tao vừa di chuyển từ từ về phía trước trong tiếng nổ kinh hồn của B40 chen lẫn với tiếng đạn AK xé gió bên mang tai, rồi tiếng cành cây gãy kêu răng rắc, tiếng đạn chạm vào thân cây kêu lụp bụp, cho đến khi gặp địa thế tương đối khá tốt, tất cả bọn tao trụ lại. Ngay lúc ấy, Trung úy cố vấn Mỹ McKenzie phóng ào tới bên tay phải, cách tao chừng hơn mười mét, ông ta đặt khẩu đại liên M60 xuống một mô đất rồi lẹ tay siết cò. Tao nhìn về phía trước, đám lính Việt Cộng đông như một đàn kiến, đang tranh nhau tràn lên định làm cỏ Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu, bất ngờ bị ba cây đại liên đồng loạt khai hỏa, khói lửa mù trời, vỏ đạn rơi đầy đất chen lẫn với tiếng nổ của súng M16, M79, người chứ đâu phải mình đồng da sắt mà chịu cho thấu, lính Việt Cộng lớp rớt như sung rụng, lớp bỏ chạy tán loạn. Hai tay xạ thủ đại liên lại xách súng chạy theo tao về phía trước, đặt súng trên vùng có xạ trường tốt, tiếp tục khạc đạn. Lúc này những người lính Đại đội II Dân Sự Chiến Đấu sau cú bị phục kích bất ngờ, được sự trợ giúp của trung đội Trinh Sát và trung đội Vũ khí nặng, họ đã tái tổ chức lại đội hình, và bắt đầu phản công. Trong khi hai cây đại liên của tao thi nhau nổ giòn giã từng chặp, thì cây đại liên của Trung úy McKenzie gặp trở ngại nên im bặt, tao lẹ làng phóng mình tới gần bên Trung úy McKenzie, mắt liếc nhìn khẩu M60, miệng hét lớn “Change it”. Trung úy McKenzie nghe tao nói nhưng ông ta vẫn đứng im như trời trồng, giương cặp mắt xanh lè màu ve chai nhìn tao. Vốn liếng tiếng Anh của bảy năm trung học, cộng thêm ba năm Anh văn là sinh ngữ chính ở Đại học Văn khoa coi như đổ sông bỏ biển. Các giảng viên ở Viện đại học đã bắt tao học nhiều tác phẩm lừng danh trên thế giới của đại văn hào William Shakespeare, Mark Twain, Ernest Hemingway. Bấy lâu nay, tao cứ đinh ninh trong đầu là mình biết tiếng Anh, nào ngờ khi đụng chuyện, chỉ mới nói có hai chữ mà cũng không xong. Biết là Trung úy McKenzie không hiểu tao nói gì, quá tức giận mình, tao bước qua cây đại liên, mang cái bao tay da to tổ bố vào, rồi thay cái nòng súng đại liên đang bốc khói, thiếu điều muốn cháy luôn cái bao tay da. Trung úy McKenzie nhìn tao, đưa một ngón tay cái lên trời.

Long công tử chuyển qua giọng nói đầy vẻ bực dọc.

-Ngay lúc ấy tao muốn nói với Trung úy McKenzie là “Mày còn chần chờ gì nữa, bắn đi” nhưng miệng thì lại câm như hến, không nói được một chữ tiếng Mỹ nào. Cho dù trong cái đầu của tao đã hoạt động hết công suất để dịch câu nói trên sang tiếng Mỹ, vậy mà không cách gì làm được. Ngày xưa khi còn đi học, mình chỉ chú trọng đến văn phạm, ngữ pháp, coi nhẹ chuyện đàm thoại, muốn nói một câu tiếng Mỹ, tao phải nghĩ câu nói ấy bằng tiếng Việt trong đầu, rồi dịch sang tiếng Mỹ, cuối cùng mới nói được mấy chữ tiếng Mỹ mà mình muốn nói. Cả một quá trình diễn tiến đầy nhiêu khê phức tạp trong đầu mới nói ra được một câu, lúc bấy giờ đứng giữa khói lửa mù trời, đạn bay như sao xẹt, giữa sự sống và cái chết, bắn chậm thì chết, tao càng luống cuống ngớ cả người. Trong lúc bối rối quá sức, không biết phải nói như thế nào cho Trung úy McKenzie hiểu, túng quá tao đành đưa ngón tay trỏ lên trời, duỗi thẳng ra rồi co lại giống như mình đang bóp cò, miệng hét lớn “Shoot, shoot”. Như một cái máy Trung úy McKenzie lẹ làng chụp khẩu đại liên M60. Bóp cò. Tiếng nổ chát chúa kéo dài từng chặp ba viên một, của khẩu đại liên M60 do Trung úy McKenzie bắn, xen lẫn với tiếng đì đùng vang trời của những quả đạn 105 ly do năm khẩu đại bác từ căn cứ Thiện Ngôn bắn yểm trợ, tạo nên một âm thanh hỗn tạp nghe sao mà êm tai quá chừng. Cũng cùng lúc ấy một tiếng “ầm” cọng với sức nóng hừng hực của một quả đạn B40, nghe muốn điếc con ráy vang lên chỗ khẩu đại liên M60, nơi mà tao vừa rời khỏi ít phút trước đó. Khẩu M60 văng xa mấy thước, cái nòng súng biến đi đâu mất, dây đạn đại liên đứt thành mấy khúc, người xạ thủ đại liên và phụ xạ thủ chỉ còn là hai cái xác bầy hầy máu tươi trộn lẫn với đất cát, một cái xác mất đầu, một xác mất tay, trong khi cánh tay còn lại của xác chết vẫn còn co giật nhè nhẹ. Tao cúi đầu nhìn hai cái xác nhưng không còn nhận ra ai là ai. Một lúc sau khi pháo binh 105 ly ngưng hoạt động, tao nghe được tiếng quạt phành phạch của trực thăng võ trang vần vũ trên trời, tiếng rocket xé gió bay về phía địch.

Long công tử im lặng một lúc, rồi quay qua nhìn tôi.

-Tao thoát chết trong đường tơ kẽ tóc, nếu khẩu đại liên M60 của Trung úy McKenzie không kẹt đạn, tao không chạy qua thay giùm cái nòng súng cho ông ta, tao chỉ còn là một đống thịt bèo nhèo trộn lẫn với máu xương, làm gì có cơ hội ngồi đây để tâm sự vụn với mày. Giống như trường hợp của mày, nếu không có hai người lính Quân Cảnh chia cắt mày và Dung ở đuôi chiếc phi cơ C130 thì giờ này…

Long công tử bỏ lửng câu nói, hắn uống một hớp nước đường.

-Khi mà chiến trường vừa ngớt tiếng súng, tao dẫn theo trung đội Trinh Sát đi truy kích lục soát, trước mắt tao là cảnh địa ngục của trần gian với xác người nằm ngổn ngang nơi chiến địa. Kết quả sơ khởi hai chục Dân Sự Chiến Đấu bị chết và bị thương, Việt Cộng bỏ xác tại chỗ hơn bốn chục mạng, súng AK, B40 và M16 nằm lăn lóc khắp nơi. Trong khi tao đang lục soát, qua máy truyền tin PRC 25, Đại úy căn cứ trưởng đang bay trực thăng trên trời, xát muối ớt tao tơi bời hoa lá “Ông làm ăn cái kiểu gì kỳ vậy, cố vấn Mỹ báo cáo với tôi lực lượng Dân Sự Chiến Đấu chết với bị thương hơn hai chục mạng”. Sếp lớn chưa biết ất giáp gì đã vội kêu máy giũa mình, cái chết ngay trước mặt tao còn không sợ, sá gì Đại úy căn cứ trưởng, tao nổi điên tắt mẹ nó cái máy PRC 25 cho được việc. Hành động đó, khiến tao có thể bị tù như không, nhưng mà một khi bị chạm dây, phản ứng của con người ngay lúc đó sẽ không còn do lý trí điều khiển nữa, mà nó tùy theo tần số của dòng điện cao hay thấp.

Tôi ngắt lời Long công tử.

-Cho con gà nòi của mình cáp độ trận đầu, Đại úy căn cứ trưởng tưởng con gà của mình yếu bóng vía, nên ông nổi giận chứ gì?

Long công tử không trả lời tôi, hắn kể tiếp.

-Ba ngày sau, tụi tao về lại đến căn cứ Thiện Ngôn. Một buổi họp Việt Mỹ được tổ chức, rút ưu khuyết điểm của trận đánh. Hai tay cố vấn Mỹ đi theo Đại Đội I Dân Sự Chiến Đấu, than phiền sự yếu kém chỉ huy của tao nên con số thương vong của Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu, đi bên cánh phải lên đến hơn hai chục người. Tao giận cành hông định đứng lên phản đối, bất ngờ Trung úy McKenzie phát biểu ý kiến, ông ta nói “Nếu không có Chuẩn úy Long nhanh chóng điều hai cây đại liên M60 cùng với trung đội Trinh Sát, trung đội Vũ khí nặng lên tiếp ứng, có thể cả Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu đã bị làm cỏ sạch rồi, sạch sẽ không còn một mạng, nói gì chỉ chết có hai chục”. Đang nói chuyện, Trung úy McKenzie bất ngờ đứng lên, với giọng nói đầy hăng say “Tôi đã chiến đấu bên cạnh Chuẩn úy Long, suốt thời gian Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu bị Việt Cộng phục kích, và tôi chưa bao giờ thấy một ông sĩ quan nào kể cả sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, can trường gan dạ như Chuẩn úy Long. Ông ta đã anh dũng chiến đấu để làm chủ chiến trường, từ bị phục kích trở thành tấn công, từ thua thành chiến thắng cho Đại Đội II Dân Sự Chiến Đấu mà chứng cớ còn đó, với hơn bốn mươi xác Việt Cộng bỏ lại nơi chiến trường. Đó là tất cả những gì tôi đã tận mắt chứng kiến, trong cuộc hành quân cách đây ba ngày”. Với tao, bài học kinh nghiệm sau trận đánh là, tao cố gắng thực tập nghe và nói tiếng Mỹ thường xuyên với Trung úy McKenzie hơn. Bởi vì tao không muốn trong tương lai, khi đứng giữa chốn tên bay đạn lạc, mà lại nói chuyện với cố vấn Mỹ bằng thủ hiệu. Khi buổi họp kết thúc, hai cố vấn Mỹ đến bắt tay tao xin lỗi, họ nói rằng chỉ nhìn con số tử vong của hai bên chứ không biết được sự chiến đấu anh dũng của tao.

Long công tử cười mà cái miệng méo xệch.

-Anh dũng can trường con mẹ gì, phản xạ tự nhiên của tao, khi nghe tiếng súng nổ, tao đem hai cây đại liên cùng với trung đội Trinh Sát, trung đội Vũ khí nặng lên tiếp ứng, may mắn gặp đúng thời đúng chỗ, chớ tao có tài cán gì đâu. Sau trận đánh đó, tao được binh sĩ trong trại tin yêu, họ nhìn tao với con mắt đầy nể phục. Từ đó cho đến cuối năm bảy mươi, khi mà Lực Lượng Đặc Biệt giải tán, chuyển qua 81 Biệt Cách Nhảy Dù và Biệt Động Quân Biên Phòng tao vẫn là căn cứ phó của trại Lực Lượng Đặc Biệt Thiện Ngôn, ở đó để lãnh pháo kích dài dài, vẫn hành quân liên miên, đụng độ với Việt Cộng thêm nhiều trận ác liệt, mấy lần tưởng chừng như có thể lạc nẻo xuống địa ngục. Gần cuối năm bảy mươi, tao lên chức thiếu úy rồi sau đó chuyển qua Biệt Động Quân Biên Phòng. Tao bùi ngùi từ giã cái mũ nồi xanh, với không biết bao nhiêu là mến thương quyến luyến trong lòng. Khi qua làm lính mũ nâu tao được cử đi học khóa “Tác chiến trong rừng” ở Mã Lai Á. Cũng nhờ cả năm trau giồi Anh ngữ với trung úy McKenzie ở trại Lực Lượng Đặc Biệt, khi lấy cái test đi du học ở trường Sinh ngữ Quân đội, tao vượt qua một cách dễ dàng với số điểm hơn chín mươi, trong khi bài test chỉ cần bảy mươi điểm mà thôi.

Long công tử chép miệng.

-Đi Mã Lai học, nghe thoáng qua cứ như là đi du học ngoại quốc, thực sự với khóa học chỉ kéo dài một tháng, không đủ thời giờ để ngắm cảnh rừng núi của Mã Lai, nói gì đến chuyện học. Lần này tao xuất ngoại có giấy tờ đàng hoàng, qua Mã Lai mà không có giấy nhập cảnh, ai chớ tụi Mã nó bỏ tù mình như không.

Tôi nhắc Long công tử.

-Mày có biết mấy giờ rồi không?

Long công tử lắc đầu.

-Không, nhưng mà chắc tới giờ tao phải đi lãnh cơm rồi, chủ nhật tuần tới mình gặp nhau đi.

Tôi vỗ vai Long công tử.

-Ừ, cứ như vậy, nhớ giữ gìn sức khỏe.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 4 Mar 2025

Tập 2

Phần 9
Long Công Tử

Tôi bưng hũ ruốc thịt heo kho sả chỉ còn khoảng một phần tư, để lên cái xách tay rồi nói với Trung úy Lợi.

-Hơn hai tháng rồi, tao với mày nhờ nó mà sống hùng sống mạnh, sống huy hoàng. Cho đến hôm nay chỉ còn lại chừng này, phải chi mấy tháng trước, vợ tao làm cho tao chừng hai hũ như thế này thì đỡ cho tụi mình biết mấy.

Trung úy Lợi nhìn tôi.

-Hồi còn ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, khi thấy hũ ruốc thịt kho sả của mày tao cười chế nhạo, đến hôm nay mới biết là mình hồ đồ, thiển cận. Mà thôi chuyện đã lỡ rồi, biết làm sao bây giờ, có mấy ai ngờ được mười ngày là mười tháng đâu.

Tôi múc một ít ruốc thịt cho vào cái hũ thủy tinh nhỏ bằng nắm tay. Cái hũ này tôi lượm được trong đống rác khi đi làm lao động, với ý định là làm cái ly uống nước, sau đó bỏ công kì cọ cái hũ với cát mịn, rồi lên nhà bếp của khối Đà Lạt xin chút nước sôi rửa lại một lần nữa. Sau màn làm tổng vệ sinh, cái hũ thủy tinh trông cứ như là mới mua ở chợ về. Hôm qua tôi muốn dùng nó để đựng ruốc kho sả, lại thêm một chuyện nữa tôi phải làm là lúc đi lao động tôi lượm về một cục gỗ, tốn mấy giờ đẽo gọt, mài trên nền xi măng, cuối cùng tôi có được cái nắp đậy vừa khít với cái hũ thủy tinh.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày làm gì vậy?

-Tao muốn đem qua khối Bình Thuận cho Long công tử hũ ruốc này. Tội nghiệp nó đói gần chết suốt ba, bốn tháng trường khi bị nhốt ở Cà Tót, không cơm không cháo, chỉ ăn toàn khoai mì, rồi đọt mì với măng, đã vậy còn mang thêm cái bịnh sốt rét. Người chứ đâu phải voi, sức đâu mà chịu cho nổi. Mấy ngày trước ở cổng trại, mày thấy Long công tử rồi chứ gì, người ngợm của nó chỉ còn là da bọc xương.

Trung úy Lợi gật đầu.

-Mày nói phải, đem cho nó là đúng rồi, tụi mình còn hai lon thịt hộp, mày lấy cho nó một lon đi. So với nó, tao với mày tuy cũng ở tù nhưng còn may mắn hơn nhiều vì vẫn còn mập mạp, mạnh khỏe quá mạng, dư sức chịu đựng mà.

Khi nghe Trung úy Lợi nói như vậy khiến tôi cảm thấy sung sướng trong lòng, sẵn dịp tôi nói luôn:

-Chuyện giao thiệp với mọi người tao không được khéo cho lắm, có việc này tao muốn nhờ mày.

-Chuyện gì? Nói tao nghe thử coi, có được không?

-Mày làm sao tìm mua cho tao mấy viên thuốc Chloroquine trị sốt rét của lính mình ngày xưa, thêm một lon sữa đặc có đường.

Trung úy Lợi cười sằng sặc.

-Mẹ nó, mày cũng vừa thôi, đòi toàn là thứ hàng cao cấp. Sống ở địa ngục mà mày muốn mua loại hàng chỉ có ở thiên đường dương thế, thì làm sao mà mua cho được. Để từ từ đi, tao còn phải dò xét cẩn thận rồi mới nói lại với mày sau.

Tôi đẩy nhẹ Trung úy Lợi.

-Mày học được ở đâu mấy chữ “hàng cao cấp” vậy.

Nói xong, tôi lấy trong ví bốn tờ giấy năm trăm tiền Việt Nam Cộng Hòa, đưa cho Trung úy Lợi.

-Tao chỉ có hai ngàn, đây là tất cả gia tài vốn liếng của tao, mày cầm lấy đi tìm mua thuốc với sữa giùm.

Trung úy Lợi cầm tiền rồi hỏi:

-Mày mua cho Long công tử phải không?

Tôi nói:

-Không lẽ cho tao hay mày, tụi mình còn mạnh như trâu, đâu có cần mấy thứ đó.

Phải hai ngày sau, khi ăn cơm chiều xong, Trung úy Lợi đưa cho tôi tám viên thuốc Chloroquine và một lon sữa đặc có đường hiệu ông Thọ. Mừng như bắt được vàng, tôi nói với Trung úy Lợi.

-Mày hay thiệt, cứ như là điệp viên. Nói cho tao nghe mày kiếm ở đâu ra vậy?

Trung úy Lợi loay hoay lục trong túi, đưa lại cho tôi ba tờ giấy năm trăm.

-Đây là một ngàn rưỡi tiền còn dư lại, thuốc sốt rét không tốn tiền mua, tao xin được của một thằng ở Tổ 39 thuộc khối Đà Lạt của mình. Còn lon sữa ông Thọ có một thằng ở khối Bình Tuy, nó bán lon sữa cho tao với giá năm trăm đồng.

Tôi ngạc nhiên quá sức, nói với Trung úy Lợi.

-Tao tưởng thằng có lon sữa, nó phải đòi nhiều hơn chớ. Từ sau ngày ba mươi tháng tư, mệnh giá của đồng tiền Việt Nam Cộng Hòa thay đổi bất thường liên tục khiến cho mọi người chẳng biết đâu mà lần. Hôm nay còn có chút giá trị, ngày mai có thể trở thành tờ giấy lộn. Với tao có trong tay lon sữa, coi bộ vững tâm hơn là cầm tờ giấy năm trăm.

Tôi đặt lon sữa, thuốc sốt rét, lon thịt hộp và hũ ruốc nho nhỏ vào cái bao cát, túm gọn đầu bao cát lại khoác lên vai rồi rủ Trung úy Lợi.

-Bây giờ tao đem mấy cái thứ này qua khối Bình Thuận cho Long công tử, mày đi với tao cho vui.

Trung úy Lợi vui vẻ.

-Đi thì đi nhưng nhớ về sớm, bảy giờ là phải họp tổ rồi đó.

-Mày yên chí, qua đưa cái bao này cho Long công tử, dặn dò vài câu rồi về liền mà.

Tuy nói với Trung úy Lợi như vậy nhưng khi gặp Long công tử, nhìn cái thân xác ốm yếu gầy gò của nó, tôi không đành lòng đi ngay, cứ chần chờ, quyến luyến không nỡ dời chân.

Trung úy Lợi vì đợi quá lâu nên hối tôi.

-Quân nè sắp tới giờ họp tổ rồi, tụi mình phải về thôi.

Tôi ráng nấn ná thêm chút xíu, dặn dò Long công tử.

-Mày nhớ uống thuốc và uống sữa, như vậy mới mau bình phục được.

Khi tôi và Trung úy Lợi về đến nơi, cũng là lúc tổ trưởng bắt đầu điểm danh để họp tổ. Tất cả mọi người ngồi thành hình chữ nhật trên sân đất trong phòng ngủ, mười sáu cái miệng đói ăn, hét ra lửa ngày nào, giờ đây ông ổng hát bài “Bác cùng chúng cháu hành quân”. Sở dĩ tôi nói hét ra lửa, là vì với cấp bậc trung úy trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nếu ở đơn vị tác chiến, chức vụ của mấy ông trung úy thường là đại đội trưởng. Bài hát mà chúng tôi vừa vỗ tay vừa gào lên, âm điệu của bản nhạc lúc thì the thé, lúc thì eo éo cứ như là bản nhạc Tàu lời Việt.

Điện Biên năm nào vọng lời Bác giữa chiến hào.

Tôi say sưa hát nhưng trong lòng cứ nơm nớp lo sợ hão huyền, Bác đang ở giữa chiến hào, lỡ bị trúng bom của thực dân Pháp chết banh thây, thì còn ai mà đọc lời “Chúc Tết Mậu Thân”. Điều quan trọng hơn là cái lăng của Bác ở Quảng trường Ba Đình, không lẽ bỏ trống, chắc phải làm cái thi hài bằng sáp thế vào, để cho dân chúng đến chiêm ngưỡng. Tất cả những bản nhạc mà chúng tôi hát trong tù, đều là loại nhạc lai căn mất gốc, được sáng tác theo đơn đặt hàng của đảng Cộng Sản. Vậy mà bọn tù chúng tôi bị bắt buộc phải học thuộc lòng khoảng sáu, bảy bài hát này. Hàng ngày trước khi họp tổ, họp sinh hoạt kiểm điểm, là cả tổ phải căng họng rống lên một bài hát lai Tàu. Một vài lần, anh tổ trưởng thấy khí thế chống đế quốc Mỹ, chống Ngụy của tù nhân chưa được mạnh mẽ cho lắm, bèn bắt hát thêm bản nữa, hát cho đến khi sạch bóng quân thù, Mỹ cút Ngụy nhào mới được ngưng. Đó là hình ảnh mở màn cho một buổi họp tổ trong tù, một ngày họp hai lần, tính ra một tuần chúng tôi phải hát ít nhất là mười bốn lần mấy bài hát thổ tả của Việt Cộng.

Gần một tuần trôi qua, hôm nay là chủ nhật, tất cả mọi người được nghỉ ngơi không phải đi lao động, một mình tôi đi qua khối Bình Thuận thăm Long công tử. Nội quy của trại không cấm chúng tôi đi từ khối này qua khối khác, nhưng chẳng có mấy ai đi lang thang, thường chỉ quanh quẩn trong khối của mình, bởi vì không một ai muốn bị phê bình, kiểm điểm vì cái tội liên hệ linh tinh. Chỉ mới có mấy ngày không gặp mà sắc diện của Long công tử đã thay đổi hẳn. Tôi không ngờ Long công tử hồi phục nhanh như vậy, hắn có thể tự đi lại một mình không cần phải chống gậy, giọng nói của hắn nghe đã bắt đầu mạnh hơn, không thều thào đứt khoảng, hụt hơi như khi gặp tôi tuần trước. Tôi nắm vai Long công tử.

-Trông mày khỏe hơn trước nhiều rồi.

Long công tử cười, giải thích với tôi.

-Mỗi buổi sáng tao ăn một chén cháo, uống một viên thuốc Chloroquine, sau đó mới xuống nhà bếp của khối xin một lon nước sôi đem về phòng. Bảy người trong phòng đã đi lao động hết rồi, một mình tao một cõi muốn làm gì thì làm, chẳng có ai phiền hà gì đến mình. Tao pha một chén sữa rồi cứ nhẩn nha mà thưởng thức, còn gì khoái cho bằng khi tao ngửa cổ uống một hơi, chất ngọt của đường, vị béo của sữa đi qua cổ họng, trôi tới đâu mình cảm thấy ngọt ngay tới đó. Cứ vậy tao từ từ uống cạn hết chén sữa ngon lành. Buổi trưa, tao lại đi xuống bếp lãnh phần cơm của mình, một chén rưỡi cơm thêm một miếng bí đỏ to bằng nửa ngón tay cái, với tao chừng đó đã là quá sức hậu hỉ rồi, có nằm mơ cũng không tin là mỗi bữa ăn lại có chén rưỡi cơm. Thế nhưng có một điều tao không ngờ tới là, tay nấu bếp có lẽ thấy tao yếu đuối bịnh hoạn, hắn bèn cho thêm một miếng cơm cháy cỡ hai ngón tay.

Long công tử đưa hai ngón tay lên nhìn, rồi gật đầu.

-Đúng rồi cỡ đó thôi, mày có biết không, miếng cơm cháy đó mà ăn với ruốc thịt heo kho sả của mày thì không gì ngon bằng. Chút béo của mỡ heo, chút ngọt của đường, cái mặn của muối, cay cay của ớt, mùi thơm của sả, giòn giòn của cơm cháy, tao ăn mà cứ tưởng như ngày xưa khi đi chơi khuya về ngang qua khu Tân Định, ăn khúc bánh mì kẹp thịt nơi xe bánh mì Sáu Voi. Chiều đến tao lại lãnh chén rưỡi cơm, lại ăn với ruốc, hộp thịt mày cho tao vẫn chưa ăn, còn để dành đó.

Tôi nói với Long công tử.

-Hộp thịt đó của Trung úy Lợi cho mày, chứ không phải của tao. Trung úy Lợi là bạn tao mới quen sau này khi bắt đầu vô tù, còn bạn cũ chẳng thấy thằng nào, chắc tụi nó lanh tay lẹ chân bay qua Mỹ hết rồi. À Long nè, mày có biết là Biên chết rồi không?

Long công tử lặng người đi hồi lâu rồi hỏi tôi.

-Biên chết lâu chưa? Từ ngày ra trường tao đi biệt luôn rất ít khi về Sài Gòn nên không biết gì.

-Để tao nhớ lại coi, Biên nó chết đâu khoảng năm bảy hai tại Quảng Trị.

Tôi kéo Long công tử.

-Ở đây tù túng quá, tụi mình kiếm chỗ nào thoáng mát, ngồi nói chuyện cho thoải mái hơn, tao muốn biết tại sao mày là dân Sài Gòn mà lại bị đưa đi học tập ở Cà Tót, Phan Thiết.

Long gật đầu.

-Mày nói phải, tụi mình ra sau hè bên hông nhà bếp, chỗ đó ít người qua lại.

Tôi và Long công tử ngồi bên hè nhà bếp, dựa lưng vào tường. Long công tử nâng cái lon gô uống một ngụm nước rồi bắt đầu câu chuyện.

-Mùa hè năm sáu mươi sáu, tao vừa xong năm thứ nhất bên Văn khoa, một thằng quanh năm suốt tháng chỉ biết rong chơi khắp cả cái đất Sài Gòn, không có nơi nào mà thiếu dấu chân của tao, ăn chơi xả láng như vậy mà cũng xong được năm thứ nhất, đúng là chuyện đáng mừng. Để thưởng công cho mình, tao bèn lấy vé máy bay, lên đồn điền của ba tao ở Ban Mê Thuột. Lúc đầu tao chỉ định ở chơi dăm bảy ngày, trốn cái nóng nực ở Sài Gòn đi tìm chút không khí trong lành của cao nguyên, không ngờ đó là một cuộc phiêu lưu kéo dài luôn ba tháng, cho đến ngày nhập học ở Văn khoa, tao mới trở về lại Sài Gòn. Đồn điền của ba tao cách Ban Mê Thuột vào khoảng mười cây số, trên đường từ Ban Mê Thuột đến cầu Mười bốn.

Long công tử ngưng nói quay nhìn tôi.

-Mày có đến Ban Mê Thuột bao giờ chưa?

Tôi lắc đầu.

-Chưa.

-Có dịp mày cũng nên đi một lần cho biết cái xứ đất đỏ bụi mù đó, nó như thế nào. Bụi mù nhưng con người thì lúc nào cũng trong sáng, không một chút mù mờ. Ngày đầu tiên ở Ban Mê Thuột, tao lái chiếc Land Rover của ba tao dạo phố. So với mấy chiếc xe Honda hai bánh đang chạy ở phố Ban Mê Thuột, chiếc Land Rover như một con voi rừng chạy bên cạnh mấy con nai. Ngồi trên xe tao phì phà điếu thuốc lá, nhìn đời bằng nửa con mắt, thành phố gì mà buồn quá sức, bụi đỏ bám đầy khắp nơi nhìn đâu cũng một màu gạch, phố xá vắng tanh người đi thưa thớt, thỉnh thoảng vài chiếc xe nhà binh chạy vụt qua để lại một lớp bụi mù trên đường phố. Không biết làm gì cho hết giờ, tao chui vào rạp ciné Lodo ở ngay trung tâm thành phố. Được mươi phút tao phải hộc tốc chạy thoát thân, bởi vì cái nóng ngột ngạt khó thở của rạp chiếu bóng không có máy lạnh. Mới có một ngày ở Ban Mê Thuột mà tao đã ớn đến tận cổ. Ngày thứ hai, tao theo anh tài xế xe truck tên là Phục tới thăm đồn điền của ông già tao. Khi xe đã ra khỏi thành phố chừng bốn cây số, đường xá ở đây vắng bóng người di chuyển, trên quốc lộ chỉ có duy nhất một cô gái đang đi bộ. Anh Phục chỉ cô gái rồi nói “Con nhỏ đó tên Hà, mặt mũi coi dễ thương vậy mà tính tình lại cộc cằn, thô lỗ như là dân đầu đường xó chợ”. Tao quay đầu lại, chỉ kịp nhìn thoáng qua thì xe đã chạy quá xa. Tao nói với anh Phục “Anh biết cô ta hả?”. Anh Phục trả lời “Biết chớ cô Hà làm công trong đồn điền của mình, sở dĩ tôi nói cô ta khó ưa vì có xe của đồn điền chở công nhân đi làm miễn phí mà cô ta không chịu đi, cứ nhất định lội bộ”. Khi tới đồn điền, một mình tao ngồi trong văn phòng nhìn qua khung cửa kính, mới đầu tháng sáu hãy còn bốn năm tháng nữa mới đến mùa thu hoạch cà phê, cho nên cái sân đóng bao cà phê rộng mênh mông vắng hoe, chỉ có vài nữ công nhân đang làm việc.

Óc tò mò khiến tao lén quan sát cô Hà. Về sắc đẹp thì đúng như anh Phục nói, Hà không có vẻ đẹp sắc sảo mặn mà, nhưng xinh xắn dễ thương như một con búp bê, còn về tính tình thì hoàn toàn khác hẳn những gì anh Phục nói. Hà vui vẻ với mọi người, ăn nói dịu dàng lại hay pha trò làm cho mấy cô công nhân cười bò lăn. Chuyện xảy ra trước mắt khiến tao không tin Hà là một con người cộc cằn. Bị sắc đẹp của Hà mê hoặc, sắc đẹp của một loài hoa nơi núi rừng hoang dã, nên ngày hôm sau tao lái chiếc Land Rover chạy rề rề theo sau Hà, suốt mấy cây số đường cô ta cắm cúi đi không một lần ngó lại. Ngày hôm sau mọi chuyện cũng diễn ra y như vậy. Sang đến ngày thứ ba, tao gần như mất kiên nhẫn, lái xe theo sau Hà nhưng trong bụng thì nản lắm rồi, đã mấy lần tao muốn bỏ cuộc quay về Ban Mê Thuột. Đúng ngay lúc ấy, Hà quay lại nhìn chăm chăm vào mặt tao rồi hỏi “Coi bộ anh rảnh quá há, tôi lội bộ mệt muốn chết, anh lái xe theo tui mấy ngày nay, anh không biết mệt hay sao?”

Long công tử ngừng kể, hắn bưng cái lon gô nước uống một hơi rồi quay sang tôi.

-Chỉ chờ chừng đó, khi nghe người đẹp mở miệng, tao mừng quá sức tắt máy xe, nhảy xuống chạy theo Hà rồi lấy giọng êm dịu nói “Tôi sợ cô mỏi chân nên muốn chở cô tới đồn điền, nhưng nghe người ta nói cô không ưa đi xe hơi, nên tôi không dám hỏi”. Hà nhìn tao rồi nói “Ai nói với anh như vậy?”. Tao trả lời “Anh tài xế Phục nói là cô chỉ thích đi bộ”. Hà phá ra cười rồi nói với tao “Tui không đi xe của đồn điền là vì mỗi lần chở tui, ông Phục lại kiếm cách tán tỉnh, anh biết không ổng hơn tui cả chục tuổi, già khú đế, thiếu điều có cháu rồi mà còn bày đặt dụ dỗ tui”. Tao nghĩ thầm trong bụng, tôi cũng đang tán tỉnh cô đây nè, nghĩ như vậy nhưng tao lại nói “Tôi chỉ muốn giúp cô thôi”. Hà cười vui vẻ “Được rồi tui sẽ đi xe, nhưng anh phải thề với trời đất là anh sẽ không học cái thói dê xồm của ông Phục”. Tao lập tức đưa hai tay lên trời rồi nói “Xin thề”. Miệng nói nhưng trong đầu lại nghĩ. Khi mở lời tán tỉnh em, anh Phục quên mất chuyện cưa sừng làm nghé, nên mới lâm cảnh điêu tàn như vậy. Với tao bước đầu khó khăn qua đi không mấy khó, kể như tao đã làm quen được với Hà.

Tôi hỏi Long công tử.

-Bộ Hà không biết mày là con ông chủ, là ông chủ nhỏ của đồn điền hay sao?

Long công tử nói.

-Theo tao nghĩ, ngay lúc ấy thì không. Những ngày sau đó ở Ban Mê Thuột là những ngày tao thật sự sống trong vui vẻ, đầy thoải mái bên Hà. Sáng chủ nhật khi mặt trời lên khá cao, tao lái chiếc Land Rover chở Hà đi lang thang quanh phố Ban Mê Thuột. Đường sá trong thành phố nhỏ hẹp ngắn ngủn so với Sài Gòn, chỉ mới đạp ga vài lần đã đi hết một con đường. Tao cho xe chạy dọc theo đường Ama Trang Long, Hà ngồi trên chiếc ghế bên cạnh luôn miệng giải thích rõ ràng những gì tao muốn biết, gặp đường Tôn Thất Thuyết tao cho xe quẹo phải, chạy ngang qua những dãy nhà khang trang sạch sẽ, khi đến đường Hoàng Diệu, tao quẹo phải một lần nữa rồi hỏi Hà muốn đi đâu. Câu trả lời của Hà nghe thật hết sức dễ thương “Anh muốn đi đâu tùy ý, em thuộc từng ngóc ngách của thành phố này vì em lớn lên ở đây, nhưng đây là lần đầu tiên em ngồi trên một chiếc xe hơi sang trọng chạy trong phố Ban Mê Thuột”.

Long công tử quay sang hỏi tôi.

-Mày biết xe Land Rover rồi chứ gì? Chiếc xe hai cầu dùng để chạy trong đồn điền, có thể chở nặng, băng rừng vượt suối, vậy mà Hà coi đó là chiếc xe sang trọng. Chuyện trò với Hà được vài câu xe đã đến đường Lý Thường Kiệt, tao phân vân không biết phải quẹo trái hay phải. Cuối cùng tao và Hà xuống xe đi bộ, tao muốn tận tay sờ vào cái thành phố Ban Mê Thuột chứ không muốn làm kẻ cưỡi ngựa xem hoa. Khi ngang qua một quán cà phê có bề ngoài rất là đẹp, trang hoàng bắt mắt ở đường Lý Thường Kiệt, tao kéo Hà vào vì tò mò muốn thưởng thức cà phê Ban Mê Thuột. Mang danh là thủ phủ cà phê của miền Nam, chắc chắn cà phê ở đây không thể dở được. Trái với cái vỏ hào nhoáng bên ngoài, trong quán cà phê không có gì đặc sắc, tao gọi hai ly cà phê phin rồi cùng Hà ngồi thưởng thức những bản nhạc tiền chiến phát ra từ mấy cái loa hàng trăm watt treo trên tường. Cà phê trong quán rất đậm đặc, vị khá ngon nhưng mùi thơm thì hoàn toàn không có. Chắc tao đòi hỏi hơi nhiều khi muốn so sánh với những quán cà phê nổi tiếng ở Sài Gòn. Tao hỏi Hà biết quán cà phê nào ngon nhất ở đây không. Hà cúi mặt lí nhí trong miệng “Em nói ra sợ anh không tin, từ nhỏ tới giờ em chưa bao giờ uống một giọt, nói gì đến một ly cà phê. Làm sao em biết ở đâu có cà phê ngon. Nếu anh hỏi em loại rau cải nào ngon hay dở, tốt hay xấu em sẽ trả lời được, bởi vì ngày xưa em vẫn phụ mẹ bán rau cải trong chợ Ban Mê Thuột. Thực ra không phải vậy đâu, em bưng một cái rổ nhỏ trong đó gồm có độ chục trái chanh, một mớ hành lá, mươi trái ớt, bán dạo cho những người khách ngừng xe bên lề đường trước chợ, kiếm được đồng nào hay đồng nấy, phụ giúp mẹ”. Những câu nói của Hà khiến tao bắt đầu suy nghĩ rồi đâm ra nể trọng cái lối ăn nói chơn chất thật thà, không một chút che giấu của cô ấy. Qua khung cửa sổ của quán cà phê, nắng đã lên cao đem theo cái nóng hâm hấp của cao nguyên chụp xuống thành phố, bụng đã bắt đầu thấy xót vì ly cà phê quá đậm, tao và Hà rời quán, thả bộ đến nhà hàng Mỹ Cảnh. Tao biết nhà hàng này vì lúc sáng tao đã lái xe chạy ngang qua.

Long công tử ngẩn nhìn lên bầu trời Sông Mao xanh ngắt một màu, đôi mắt của hắn rõ ràng đang chìm trong quá khứ.

-Khi hai đứa đã ngồi yên trong nhà hàng, tao kêu một tô súp măng cua, sau đó là hai dĩa steak ăn với sà lách và khoai tây chiên, một dĩa mì ống xào thịt bò, thêm một chai bia 33 cho tao và một ly soda chanh cho Hà. Thức ăn dọn đầy bàn, tụi tao vừa ăn vừa trò chuyện vui vẻ, nhờ vậy mà tao biết được hoàn cảnh cũng như đời sống kinh tế của Hà. Với giọng nói tự nhiên đầy chân thật, không một chút ngại ngùng, Hà kể cho tao nghe về cuộc sống túng quẫn nghèo khó của gia đình mình. Mười sáu tuổi, đậu bằng trung học đệ nhất cấp, cha chết vì tai nạn xe, Hà bỏ học đi làm kiếm tiền nuôi thân, hơn ba năm làm công trong đồn điền của ba tao, cuộc sống tạm ổn định, tiền lương chỉ đủ sống đắp đổi qua ngày. Tuy vậy Hà vẫn cho là mình rất may mắn khi có được một việc làm ổn định ở cái xứ Ban Mê Thuột đất đỏ buồn hiu, nơi mà mọi người thường gặp khó khăn trắc trở trong khi tìm kiếm công ăn việc làm. Không biết chút xíu gì về Ban Mê Thuột nhưng tao vẫn gật đầu đồng ý với Hà, rồi than phiền về thành phố vắng vẻ, buồn quá sức so với Sài Gòn. Hà nói với tao “Bởi vì anh rảnh rỗi quá, cho nên sinh ra buồn chán, ngày mai em sẽ dẫn anh đến nơi này và hy vọng anh sẽ thích. Sáng mai, nhớ đón em trên đường như mọi lần”. Tao thanh toán tiền ăn rồi để một mớ tiền tip trên bàn. Khi vừa bước chân ra khỏi tiệm, tao ngạc nhiên khi thấy Hà đưa cho tao mớ tiền rồi nói “Anh để quên tiền nè”. Tao cầm mấy tấm giấy bạc trên tay Hà, vô tình nhìn thấy tay áo dài trắng may bằng loại vải rẻ tiền mà Hà đang bận, tuy chưa rách nhưng đã sờn nhiều chỗ quanh cổ tay áo. Tao chợt hiểu ra, đồng tiền đối với Hà rất là quý. Sau khi giải thích với Hà chuyện phải cho người hầu bàn chút tiền gọi là cảm ơn, tao trở vào tiệm giải quyết chuyện tiền tip. Khi tao bước ra cửa, Hà nói với tao, câu nói chắc suốt đời tao không bao giờ quên “Số tiền mà anh trả cho bữa ăn hôm nay bằng nửa tháng lương của em, tiền anh cho người ta đủ để em sắm một đôi dép mới”. Tao đứng như trời trồng, ngượng ngùng lúng túng. Khi đã hiểu rõ Hà muốn nói gì, một chút tình thương xuất phát tận đáy lòng chợt đến với tao.

Long công tử ngưng kể chuyện, nó hỏi tôi.

-Mấy giờ rồi?

Tôi nhìn đồng hồ.

-Mười một giờ hơn.

Long công tử hối tôi.

-Mày về ăn cơm đi, tao phải đi lãnh phần cơm của tao. Chủ nhật tuần tới rảnh qua đây chơi, tao cần có người để tâm sự, dân Sài Gòn như tao, một mình sống lạc loài trong khối Bình Thuận, quả thật là buồn còn hơn là ở tù.

Tôi nắm chặt tay Long công tử, an ủi hắn.

-Mày nói đúng, yên chí đi còn có tao ở đây, gắng ăn uống, thuốc thang, tuần tới tao qua thăm mày. À quên nữa, bịnh sốt rét của mày tới đâu rồi?

Long công tử với nụ cười rạng rỡ trên môi.

-Mẹ nó có mấy viên thuốc Chloroquine, cái thứ thuốc mà ngày xưa tụi mình chê lên chê xuống thiếu điều muốn vứt vào thùng rác, không hiểu sao bây giờ nó như là thuốc tiên, tao mới uống có mấy viên mà con vi trùng sốt rét Cà Tót, nó biến mất tiêu.

Cuối tuần đó, tôi không qua thăm Long công tử được, phải đợi thêm hai tuần lễ nữa tôi mới có dịp qua thăm nó, lý do rất giản dị vì tất cả khu trung úy gồm có năm khối phải tập trung lại, bốn khối đi đến phi trường dã chiến Sông Mao để gỡ vỉ sắt PSP, đem về làm hàng rào bao quanh khu trung úy, khối còn lại lo phần đào đất để chôn vỉ sắt PSP xuống. Phi trường này trước đây do công binh Mỹ thiết kế và xây dựng để cho phi cơ vận tải đáp xuống tiếp tế thực phẩm đạn dược, cho những căn cứ quân sự quanh Sông Mao. Hôm nay phi trường trở thành vô dụng đối với cách mạng, vì Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đánh nhau với Mỹ bằng xe tăng và trọng pháo, chứ không dùng phi cơ. Hơn nữa nhu cầu trước mắt là cần chỗ chắc chắn để nhốt tù, cho nên phải gỡ PSP đem về làm hàng rào trại tù.

Chỉ tiêu của Việt Cộng đưa ra là, mỗi ngày hai tù nhân phải đem từ phi trường về trại một tấm PSP. Đoạn đường di chuyển dài khoảng hai cây số, muốn khiêng, vác, cõng, gánh, lôi , kéo, làm gì cũng được tùy tù nhân, miễn sao đem được tấm vỉ sắt về trại.
Khi đám tù nhân chúng tôi đến phi trường, Trung úy Lợi nhìn phi đạo rộng mênh mông, dài ngút mắt được lót bằng vỉ sắt, hắn lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán.

-Tao đã quan sát kỹ rồi, phi trường Sông Mao có hai phi đạo, phi đạo nhỏ dành cho trực thăng, dùng vỉ sắt M8, phi đạo dài và rộng dành cho vận tải cơ, dùng vỉ sắt M8A1. Tấm vỉ sắt M8 có tám mươi bảy cái lỗ to như cái chén, bề ngang của nó đo được ba mươi tám phân, bề dài ba mét, nặng ba chục kí lô, thứ này Việt Cộng không muốn dùng nó làm hàng rào, vì sợ tù nhân có thể nhìn xuyên qua những cái lỗ này, quan sát được bên ngoài và bám theo những cái lỗ đó leo rào vượt ngục. Thứ mà Việt Cộng muốn là loại M8A1, không có lỗ, bề ngang sáu mươi phân, bề dài ba mét sáu, nặng bốn mươi lăm kí lô. Hai thằng tù khiêng một tấm vỉ sắt M8A1, tuy không nặng lắm nhưng lại cồng kềnh, đi gần hai cây số coi bộ hơi oải à nha.

Tôi nhìn Trung úy Lợi.

-Sao mày rành quá vậy? Biết hai, ba loại vỉ sắt, biết được tám mươi bảy cái lỗ. Mày đếm hồi nào vậy?

-Đếm cái con mẹ gì, tất cả những thông số kỹ thuật đó tao học ở Trường công binh. Chỉ có mấy con số mà không nhớ thì đi lính bộ binh như mày cho được việc.

Tôi sửa lưng nó.

-Phải rồi mấy cái con số vô dụng đó thì mày nhớ kỹ, còn nguyên cuộn dây dẫn điện to như cái cối đá thì mày quên mất tiêu. Phải không?

Trung úy Lợi cười.

-Vô dụng sao được mày, không có tao làm sao tụi mày biết tấm vỉ sắt mà tụi mày sẽ khiêng, nặng đúng bốn mươi lăm kí.

Tôi đề nghị với Trung úy Lợi.

-Hai thằng khiêng một tấm vỉ sắt nặng bốn mươi lăm kí, đi hai cây số, đúng như mày nói coi bộ hơi oải gân đó. Hay là mình kêu thêm hai thằng nữa, bốn thằng gánh một tấm, một ngày đi hai lần, sáng một chuyến, chiều một chuyến, vừa nhẹ nhàng vừa thoải mái. Khỏe re như con bò kéo xe.

Trung úy Lợi tán đồng.

-Mày nói đúng, để tao đi kêu gọi thêm hai thằng nữa.

Bốn thằng tù tụi tôi, dùng một cọng kẽm gai được tháo ra từ hàng rào cột vào hai đầu tấm vỉ sắt, lòn khúc cây qua vòng kẽm gai, gánh tấm vỉ sắt về. Mỗi ngày gánh hai chuyến không có gì là mệt nhọc, chỉ có chuyện nguy hiểm là khi gỡ kẽm gai nơi hàng rào của phi trường, có thể bị trúng mìn. Nhiều ông sĩ quan ở đơn vị tác chiến than thở, đánh đấm bao nhiêu năm không sao, giờ đây vô tù, bị đạp mìn giống như chết lỗ chân trâu, lảng nhách.

Bốn khối trung úy lo vận chuyển vỉ sắt từ phi trường về trại, khối còn lại lo phần đào đất để chôn tấm vỉ sắt. Bề dài của một tấm vỉ sắt là ba mét sáu mươi phân, chôn sâu xuống đất sáu mươi phân, chiều cao còn lại của hàng rào là ba mét. Gần bảy trăm tù trung úy làm việc suốt hai tuần, cái hàng rào sắt kiên cố đã hoàn tất. Bốn góc trại, mỗi góc có một cái tháp canh cao hơn hàng rào, mỗi tháp canh được bố trí một cái đèn pha và một khẩu đại liên phòng không 50. Loại súng này bắn máy bay còn rớt, sá gì mấy thằng tù ốm nhom cho dù có leo lên tới đỉnh của hàng rào, cũng sẽ làm mồi ngon cho mấy cây đại liên phòng không 50 này. Nhìn bức tường cao ngút mắt, thêm mấy họng súng đại liên đen sì, lúc nào cũng sẵn sàng nhả đạn, đa số tù nhân đều nhắm mắt chào thua, trừ những vị nào có máu Papillon mới dám nghĩ đến chuyện vượt ngục.

Xong phần hàng rào, tù trung úy được lệnh khiêng thêm vỉ sắt về trại. Bao nhiêu tháng rồi tuy không có đi tu nhưng tù nhân phải ăn chay nằm đất, chuyện ốm yếu và bịnh tật dễ xảy ra, hôm nay được cách mạng ưu ái chăm lo sức khỏe của tù nhân, cho khiêng PSP về làm gường ngủ nên mọi người đều hăng hái làm lao động. Mỗi phòng tám người, được lấy bốn tấm vỉ sắt kết với nhau thành một cái gường, bề ngang 2 mét 4, dài 3 mét 6, kê trên hàng chục viên gạch xi măng. Tính ra mỗi người được gần nửa mét bề ngang để nằm ngủ. Tới đây tù cải tạo Sông Mao đã có nơi ăn chốn ở an toàn đúng như ông bà mình nói “Có an cư thì mới lạc nghiệp”. Tù nhân chỉ còn một việc duy nhất là đi lao động.

Hôm thứ bảy, Trung úy Lợi “liên hệ” với ai đó mua được ba tán đường, liên hệ là chữ tôi mới học được của cách mạng, nó có nghĩa là liên lạc móc nối với người khác, trao đổi tin tức hoặc buôn bán, đại khái là như vậy. Thật ra tôi chưa hiểu rõ hoàn toàn ý nghĩa chữ “liên hệ” để sử dụng cho chính xác.

Chủ nhật sau khi ăn sáng xong, tôi lấy một bộ quần áo của tôi, sau đó gói một tán đường vào trong tờ giấy báo to bằng bàn tay, đem qua khối Bình Thuận cho Long công tử, hai tán đường còn lại là phần của tôi và Trung úy Lợi.

Hơn hai tuần không gặp, hôm nay Long công tử trông khỏe hẳn ra, giống như hắn lên được vài kí thì phải. Sau khi đưa tán đường cho Long công tử, tôi nói với hắn.

-Ngày đi học tập ngoài bộ đồ bận trên người, tao còn mang theo hai bộ nữa để thay đổi. Theo tao đoán suốt mấy tháng qua, mày chỉ có một bộ bà ba đen này thôi phải không?

Long công tử hỏi lại tôi.

-Sao mày biết?

-Mấy tuần trước khi gặp mày nơi cổng trại, ngoài cây gậy đánh chó trên tay, mày đâu có gì nữa.

Không đợi Long công tử trả lời, tôi lấy trong ví ra một đồng bạc mới tinh còn thơm mùi giấy, trịnh trọng đưa cho hắn.

-Tuần trước đổi tiền, ở trong trại của mình quản giáo thu tiền của tù nhân đi đổi giùm, cứ năm trăm đồng Việt Nam Cộng Hòa đổi lấy một đồng tiền Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa. Tao còn một ngàn rưỡi tiền Việt Nam Cộng Hòa, đổi được ba đồng tiền mới. Trung úy Lợi lấy một đồng mua được ba tán đường, còn lại hai đồng tao đem tặng mày một đồng, mày giữ lấy để phòng khi hữu dụng.

Long công tử cười, nụ cười đầy sảng khoái.

-Bắp cải à cất tiền đi, khi nào cần tao sẽ qua mày, còn quần áo thì tao lấy chớ vì đúng là tao đang cần, mấy tháng rồi chỉ có một bộ duy nhất trên người, hôm nay nó bốc mùi rồi. Bây giờ tao xuống nhà bếp xin một lon gô nước sôi, bỏ tán đường vào, hai thằng mình ra ngồi sau hè, kể chuyện đời xưa nhâm nhi chút nước đường. Cứ tưởng tượng như tụi mình đang ngồi ở Thanh Thế, ăn cái bánh Pâté Chaud với vỏ mỏng giòn rụm, gói gọn lấy miếng thịt bằm thơm mùi bơ, uống ly cà phê sữa nóng, nhìn thiên hạ dẫn nhau bát phố Sài Gòn mà nhớ lại “Những ngày xưa thân ái”. Có Biên, có Dung, có mày, có tao, có cả một bầu trời của tuổi thanh xuân tràn đầy hạnh phúc.

Tôi khen Long công tử.

-Ý kiến của mày quả thật tuyệt vời, không có chỗ chê, tao ra sau hè đợi mày.

Được chừng mươi phút sau, Long công tử bưng lon gô nước gói trong miếng vải bao cát, hắn ngồi xuống bên cạnh tôi.

-Nè Bắp cải, mày còn nhớ lần tụi mình ăn tối ở Thanh Bạch không?

Tôi nhắm mắt lại, để cho hồn của mình bay về quá khứ, miệng nói với Long công tử

-Không nhắc đến thì thôi, nhắc lại nhớ quá trời, nhớ da diết, nhớ quay quắt, nhớ điên cuồng.

Giọng nói của Long công tử vang lên bên tai tôi.

-Nói cho tao biết, chuyện tình của mày với nàng Dung xinh đẹp, kết cuộc có đẹp hay không?

Tôi mở mắt nhìn Long công tử, thong thả kể cho hắn nghe về đời sống quân ngũ của mình như thế nào, rồi chuyển sang chuyện tình cảm giữa tôi với Dung và Cúc. Tôi say sưa kể lại từng chi tiết nhỏ nhặt vụn vặt, từ chuyện tôi được đọc lá thư của nó viết cho Dung, chuyện hai người Quân cảnh đưa tay cắt đứt tôi và Dung nơi đuôi chiếc vận tải cơ C130, đến chuyện đám cưới của tôi và Cúc nơi quán cơm gần bến xe. Cuối cùng tôi thú thực với Long công tử.

-Lý trí nói với tao rằng, hãy sống cho xứng đáng với mối tình đậm đà sâu sắc của Cúc, trong khi trái tim của tao thì nhất định không chịu, một hai cứ bắt tao phải nghĩ đến Dung. Từ ngày đứt phim tới hôm nay, tao sống bằng lý trí, quyết không để trái tim của tao được quyền can dự vào.

Long công tử thở dài.

-Hình như phần số của mày đã sắp sẵn như vậy rồi, mày có cố gắng vùng vẫy cũng vô ích mà thôi, hãy an hưởng hạnh phúc mà định mệnh đã dành cho mình.

Long công tử bưng cái lon gô lên.

-Tao bỏ hai phần ba tán đường vào lon gô nước sôi, một phần ba tán đường tao cho thằng nấu bếp. Tội nghiệp thằng tốt bụng quá sức, cứ vài ngày nó lại cho tao một miếng cơm cháy. Mày đừng có nghĩ là mấy tay nấu bếp muốn cho ai cơm cháy thì cho, không phải như vậy đâu, tất cả cơm cháy phải chia đều ra cho mọi người. Anh chàng nấu bếp chỉ được phần cơm cháy dôi ra chút đỉnh, thấy tao yếu đuối bịnh hoạn, nên tay nấu bếp cho tao phần dôi ra mà hắn có, để tao “bồi dưỡng”.

Tôi đùa với Long công tử.

-Chắc tại có thêm chút cơm cháy mỗi bữa ăn, cho nên hôm nay mày mập ra thấy rõ, chỉ có điều.

Tôi kéo vai áo bà ba đen của Long công tử, đưa mũi giả vờ hít mấy cái, rồi nói.

-Có chuyện này tao muốn hỏi mày, thằng tù nào cũng hôi ình vì đi làm lao động ngoài nắng, hết lớp mồ hôi này đến lớp mồ hôi khác tích tụ trên người, thấm vào trong quần áo, một tuần mới được đi tắm một lần cho nên hôi là phải. Riêng mày chắc mấy tháng rồi chưa tắm phải không? Người của mày còn hôi hơn tao gấp mấy lần.

Long công tử than thở.

-Tao biết chớ, đi tắm là một đặc ân, nhưng mà từ trại ra đến đập nước xa quá, tao đi đâu có nổi. Biết là mình hôi hám đó nhưng đành chịu thôi, cho đến hôm nay tao mới khỏe lại, lần tới tao sẽ đi tắm, tiện thể sẽ thay bộ đồ đen này bằng bộ đồ của mày mới cho tao.

Bắt chước Long công tử, tôi dùng những chữ mới học được nói với nó.

-Khi tới nơi tắm, mày nhớ “tranh thủ” tìm thức ăn để “cải thiện”. Khi đang tắm dùng chân của mày rà trong lớp cát dưới đáy sông, nếu gặp được vật gì cân cấn dưới chân, đó là con chem chép to cỡ hai, ba ngón tay. Với mười lăm phút tắm giặt, thằng dở nhất cũng mò được năm, bảy con chem chép, đem về luộc rồi bỏ vô chén cháo ăn buổi sáng. Tao không cần nói, mày cũng biết chén cháo ngon ngọt bổ dưỡng cỡ nào. Đó là việc đáng nhớ nhất khi đi tắm mà tao phải căn dặn mày, còn chuyện giặt quần áo, tắm cho sạch sẽ bớt hôi, chắc cũng không quan trọng lắm đâu. Mày không nghe người ta thường nói đùa với nhau “Trâu bò mấy tắm, mà một con cũng bán được cả chục ngàn” hay sao? Bây giờ chuyện quan trọng là, tao chỉ muốn mày kể tiếp cho tao nghe về người tình Ban Mê Thuột của mày.

Long công tử nhấp một chút nước đường rồi đưa cái lon gô cho tôi. -Mấy tuần trước tao kể tới đâu rồi? À, tao nhớ ra rồi. Sáng hôm sau tao lái xe tới khúc đường cũ, Hà đang lửng thửng thả bộ dọc theo quốc lộ, khi nghe tiếng xe ngừng lại sau lưng, Hà quay người mở cửa xe phóng lên rồi nói với tao cứ tiếp tục chạy. Tao lái xe được cả chục cây số rồi mà chưa thấy Hà nói gì về nơi sắp đến, chỉ nghe cô ta vui vẻ kể cho tao nghe chuyện đi câu cá, cho đến khi tao nhìn thấy cây cầu khá dài và lớn chắn ngang phía trước. Hà nói “Trước mặt anh là cầu Mười bốn, bắc ngang con sông Serepok. Sở dĩ người ta gọi là cầu Mười bốn vì nó nằm cách Tòa hành chánh Thành phố Ban Mê Thuột đúng mười bốn cây số. Ở hai đầu cầu đều có trạm gác, anh phải ngừng lại để mấy ông lính kiểm soát”.  Khi tao ngừng xe lại, mấy người lính bao quanh tao với giọng nói đầy thân thiện “Ông cụ đâu? Ông cụ đâu?”. Vì quá bất ngờ, tao ngớ người ra không biết trả lời như thế nào. Một người lính nhìn tao “Anh là tài xế mới của ông cụ hả?”. Sau vài giây suy nghĩ, tao nói “Dạ đúng”. Người lính nói “Tụi tôi tưởng ông chủ đồn điền đem bánh mì thịt cho chúng tôi”. Lúc bấy giờ tao mới hiểu ra, khi thấy chiếc xe Land Rover của ba tao, những người lính Địa Phương Quân giữ cầu tưởng ba tao đem bánh mì đến ủy lạo. Gì chứ chuyện giao tế tao rành quá sức, tuy trong xe không có bánh mì nhưng tao nghĩ ngay đến mấy cây thuốc lá để sau thùng xe, mà tao mua để hút khi ở Ban Mê Thuột. Không một chút chần chừ, tao đi vòng ra sau xe, lấy một cây thuốc Lucky “Không có bánh mỳ nhưng có cái này, tặng mấy anh hút cho ấm lòng khi canh gác”.

Có cây thuốc lá làm quà, mấy người lính quay sang hỏi Hà “Cô Hà đi câu cá phải không?”. Hà trả lời “Dạ, con dẫn anh tài xế mới này đi câu cho biết”. Tao cho xe chạy chầm chậm qua cầu, bề ngang của mặt cầu chỉ vừa đủ cho một chiếc xe, thêm một lằn nhỏ riêng biệt rộng khoảng một mét dành riêng cho khách bộ hành. Theo như tao ước đoán, vào khoảng hai, ba chục năm về trước khi xây cất cây cầu này, xe hơi thời bấy giờ chẳng có bao nhiêu, người Pháp vì muốn tiết kiệm tiền nên họ thiết kế cây cầu chỉ cần cho một lằn xe là đủ rồi. Vì lý do đó, những người lính Địa Phương Quân đóng đồn ở đây có hai nhiệm vụ, ban ngày họ là cảnh sát giao thông lo việc điều hành xe cộ lưu thông trên cầu, đêm đến họ là lính gác giặc bảo vệ cây cầu.

Nắng đã lên cao, Long công tử nhắm mắt lại, hắn lấy cái nón may bằng vải bao cát che mặt, rồi nói.

-Khi xe đã qua khỏi cầu được một đoạn ngắn, Hà chỉ tao rẽ vào một con đường mòn, đậu xe lại. Hai đứa bắt đầu lội bộ qua cánh rừng thưa đến một căn nhà tranh vách đất, với cánh cửa chỉ khép hờ. Hà nói với tao “Đây là nhà của cậu em, mình xuống bến sông lấy ghe, trên ghe lúc nào cậu em cũng để sẵn đầy đủ mọi thứ cần thiết để câu cá. Mà nè, anh có biết bơi không?”. Tao nói với Hà “Không những biết bơi mà còn bơi giỏi nữa”. Tụi tao xuống một chiếc ghe nhỏ, phải gọi là thuyền độc mộc mới đúng, vì nó được làm bằng một thân cây khá to, bề ngang của thuyền khoảng chừng bảy, tám tấc, chiều dài hơn ba thước. Chưa tới mùa mưa lũ nên nước sông đỏ ngầu, chảy lờ đờ, Hà sử dụng mái chèo một cách thành thạo, con thuyền lướt đi nhẹ nhàng trên sông. Trên thuyền với hàng chục cây cần câu không có đọt, dài khoảng hơn một sải tay đã cột sẵn cước và lưỡi câu, mồi là mấy con sâu đựng trong một cái lon nhỏ. Hà chèo thuyền dọc theo bờ sông, khoảng hơn mười mét lại cắm một cần câu, cột thêm sợi dây đỏ để làm dấu. Sau khi đã cắm hết cần câu, Hà để cho thuyền trôi lửng lơ trên sông rồi nói với tao “Mình nằm đây chờ, trong lúc đợi cá cắn câu, anh nhìn cây cầu Mười bốn trước mặt mình đi, hôm nay nếu may mắn mình sẽ thấy được mấy ông phi công Việt Nam, lái máy bay bà già chui qua gầm cầu”.

Long công tử dỡ cái nón vải bao cát, nhìn quanh một vòng rồi mới nói tiếp.

-Trước mắt tao, cây cầu với ba cái chân cột khổng lồ hình quả trám đỡ lấy mấy nhịp cầu với những đường cong mềm mại không đồng đều ở bên trên, thành cầu đúc bê tông cốt sắt hình chữ V thật đơn giản nhưng lại phối hợp rất nhịp nhàng với chân cầu, tất cả những yếu tố trên, tạo cho cây cầu có một nét đẹp hút hồn. Giữa núi rừng cao nguyên hoang vắng, cây cầu đứng một mình, lung linh soi bóng nước, như một tác phẩm nghệ thuật mà người kỹ sư Pháp nào đó đã bỏ công tạo nên. Nhờ vào chiều cao của một chiếc xe GMC, đang bò chầm chậm qua cầu, nên tao ước lượng được chiều cao từ mặt nước sông đến đáy cầu phải cỡ chừng hai chục mét, khoảng cách rộng nhất giữa hai chân cầu độ chừng năm mươi mét. Với những khoảng cách lý tưởng như vậy, tao tin rằng chiếc phi cơ bà già có thể chui qua gầm cầu mà không gặp bất cứ trở ngại nào. Nhưng mà đó chỉ là cái nhìn của một thằng sinh viên Văn khoa như tao mà thôi, còn chuyện chui qua được gầm cầu hay không phải hỏi mấy ông phi công Việt Nam còn trẻ tuổi, thích phiêu lưu mạo hiểm mới biết được. Trong lòng bán tín bán nghi, một thoáng nghi ngờ về câu nói của Hà, tao hỏi “Em thấy máy bay chui qua gầm cầu rồi phải không?”. Hà trả lời “Có, em được thấy vài lần khi câu cá ở đây, lần nào cũng như lần nấy, hồi hộp muốn đứng tim, khi thấy chiếc phi cơ L19 xuất hiện ở cuối chân trời, trông nó giống như một con đại bàng sải cánh, lướt trên mặt sông, quắp lấy con mồi rồi bay vút lên trời cao”. Dưới ánh nắng rực rỡ của buổi sáng mùa hè, Hà ngồi nơi cuối thuyền, trong bộ đồ bà ba với những đường cong tuyệt đẹp, hai tay ôm lấy mái chèo lắc nhẹ, đẩy con thuyền trôi lững lờ về phía mặt trời. Nhìn hình ảnh của một thiếu nữ khỏe mạnh, ở lứa tuổi đôi mươi chèo thuyền trên sông, xa xa thấp thoáng cây cầu nổi bật trên nền trời xanh màu ngọc bích, trong lòng phân vân tao tự hỏi, không biết người đẹp hay cây cầu đẹp.

Tôi đưa lon gô nước đường cho Long công tử.

-Làm một hơi cà phê sữa Thanh Thế đi mày, em xinh em đứng một mình cũng xinh, cần gì phải có cây cầu làm hậu cảnh.

Long công tử dường như không quan tâm đến lời nói của tôi cho lắm, hắn nói tiếp.

-Hà cho thuyền quay ngược lại về phía thượng nguồn, cặp sát vào bờ sông, từ từ dỡ những cần câu lên, hơn chục cái cần câu mà chỉ có được một con cá nặng ước chừng một kí. Tao tính toán trong đầu, cất công từ Ban Mê Thuột đến đây, chèo thuyền bơi dọc theo bờ sông mấy tiếng đồng hồ chỉ để bắt được một con cá. Đời sống của những người dân quê ở đây, sao mà khổ quá vậy. Tao hỏi Hà “Sao ít cá quá vậy em?”. Hà giải thích cho tao hiểu “Câu cá Lăng đuôi đỏ ở trên sông này phải giăng dây ngang sông, cột thật nhiều lưỡi câu, dùng mồi tươi như là ếch, nhái, mới có hy vọng bắt được nhiều cá lớn. Chuyện đó chỉ dành cho những người câu cá chuyên nghiệp. Câu cá như em, gặp ngày may mắn lắm cũng chỉ bắt được dăm ba con cá Lăng cỡ này, họa hoằn lắm mới được con cá lớn hơn chút xíu. Mà anh có biết không, em chỉ cần một con cá thôi, như vậy là đủ rồi”. Nhìn gương mặt tươi cười hớn hở của Hà, tao hỏi “Em định làm gì với con cá này”. Hà nói với tao “Cá Lăng đuôi đỏ ở chợ Ban Mê Thuột bán rất được giá, em đem con cá xuống chợ nhờ chị Ba bán cá, bán giùm em. Sau đó em sẽ dùng số tiền bán cá, mua một đôi dép mới”. Tao lặng người đi vì thương cảm, thương cho những ước mơ sao mà nó bình dị quá chừng, mấy ngày trước đó tao cất công theo đuổi Hà, vì thích cái vẻ đẹp ngây thơ duyên dáng của một cô gái quê. Và nhất là muốn thỏa mãn cái tự tôn mặc cảm của mình, của một thằng công tử sống ở thủ đô, coi tiền như rác, quanh năm chỉ biết vung tiền qua cửa sổ để mua lấy những “Cuộc vui đầy tháng, trận cười suốt đêm”. Cho đến khi đi ăn trưa ở nhà hàng Mỹ Cảnh, rồi đi câu cá trên sông Serepok, biết được hoàn cảnh khó khăn của Hà, tao như lạc bước qua một vùng đất đầy kỳ hoa dị thảo đã bị lảng quên bởi thời gian. Tao hoàn toàn bị khuất phục trước cái trong sáng giản dị, hồn nhiên của Hà. Từ chỗ đi chinh phục tao trở thành kẻ bị chinh phục. Mặt trời đứng bóng, Hà lấy trong cái giỏ xách hai củ khoai “Anh đói rồi phải không? Anh một củ, em một củ, ăn xong mình trở về Ban Mê Thuột”.

Tôi cười rồi nói với Long công tử.

-Coi bộ mày bị lậm thuốc rồi. -Lậm quá đi chớ, nếu không tại sao Hà xách con cá đi vào chợ, tao lại lẽo đẽo theo sau. Đưa con cá cho chị Ba, cầm tiền trong tay Hà quẹo qua hàng bán dép guốc. Sau một lúc lựa chọn, mang thử, Hà mua đôi dép được làm bằng một loại nhựa rẻ tiền màu xanh, nhỏ hơn chân của Hà ước chừng một phân. Thấy lạ, tao nhắc mà như hỏi Hà “Tại sao em chọn đôi dép quá nhỏ như vậy, khi đi sẽ đau chân cho mà coi”. Hà giải thích “Đi vài ngày, quai dép sẽ giãn ra là vừa”.Khi hai đứa tao bước ra khỏi chợ, nắng chiều đổ xuống mái tóc đen huyền óng mượt của Hà, hắt lên cái bóng dáng nho nhỏ xinh xinh trải dài theo hè phố, tao đi bên Hà mà trong lòng mơ thấy hai cái bóng nắm tay nhau. Mua được đôi dép, nét vui tươi hớn hở hiện rõ trên gương mặt của Hà. Tao dẫn Hà vào nhà hàng, cũng lại là nhà hàng Mỹ Cảnh, ở Ban Mê Thuột vào thời buổi đó, hình như chỉ có độc nhất một cái nhà hàng này mà thôi. Chuyện cũng dễ hiểu, vì tao mới tới Ban Mê Thuột chưa được một tuần, nên không biết nhiều về thành phố này.  Tao chọn một cái bàn nằm kín đáo trong góc, khi thấy tao gọi toàn là những món ăn đắc tiền, ông chủ nhà hàng Mỹ Cảnh là người Việt gốc Hoa hỏi tao với giọng nói lơ lớ “Nị ở Sài Gòn mới lên Ban Mê Thuột phải không? Vậy mà ngộ lại thấy nị quen lắm”. Tao cười rồi pha trò “Trông tôi chắc giống mấy tay du đảng trong phim Hồng Kông, đang chiếu ở rạp hát Lido chứ gì”.

Ông chủ nhà hàng đứng suy nghĩ một lúc rồi nói “Ngộ biết nị giống một người, mà ngộ nghĩ hoài không ra”. Từ nãy đến giờ Hà ngồi im lặng bên tao, đột nhiên lên tiếng “Giống ông chủ đồn điền cà phê phải không?”. Ông chủ nhà hàng Mỹ Cảnh vỗ tay cái bốp, rồi nói “Đúng rồi, nị đúng là con của ông chủ đồn điền Nam Long, ngộ có mấy mẫu đất trồng cà phê gần đồn điền của ông chủ Nam Long”. Vừa nói ông chủ hàng Mỹ Cảnh vừa cười thân thiện “Ông chủ lớn Nam Long có ghé đây ăn uống vài lần, khi nào về Sài Gòn nị cho ngộ gởi lời thăm ông chủ”. Trong suốt bữa ăn, Hà nói cho tao nghe là ngay cái ngày đầu tiên, cô ấy đã biết tao là con ông chủ đồn điền, không phải qua giọng nói, cách ăn bận của người Sài Gòn, lối tiêu xài xa xỉ, mà là tao có nhiều nét giống ba tao, nhất là đôi mắt và cái trán. Hóa ra suốt mấy ngày qua tao bị lừa, địch biết ta mà ta không biết địch, thua là phải.

Tôi đùa với Long công tử.

-Mang danh là công tử của Sài Gòn hoa lệ, của Hòn Ngọc Viễn Đông mà bỏ thây nơi cái xứ Buồn Muôn Thuở thì tệ thiệt.

Long công tử chống chế.

-Tình yêu mà mày. Mấy ngày sau, sáng hôm đó thay vì cùng tao đi đến đồn điền, Hà mời tao về nhà, vì nàng có chuyện quan trọng cần nói. Tao lái xe mà trong lòng băn khoăn thắc mắc, không biết Hà muốn nói chuyện gì đây. Theo sự hướng dẫn của Hà, tao cho xe quẹo trái trên quốc lộ, chạy trên con đường đất nhỏ và hẹp, chỉ mới được độ một trăm thước, Hà chỉ vào một ngôi nhà bên đường rồi nói “Nhà em đó”. Trước mặt tao là một căn nhà gỗ nhỏ bé với những tấm ván cũ kỹ ghép vào nhau một cách vụng về cẩu thả, nhiều chỗ đã bị mục nát do sự tàn phá của nắng mưa. Tao thầm nghĩ nếu có một cơn gió mạnh thổi qua, không chừng cả ngôi nhà có thể bị sập đổ như không. Khi bước chân qua ngưỡng cửa, mắt tao chạm phải một rừng giấy bao xi măng cũ dán đầy tường. Sau một hồi suy nghĩ, tao mới hiểu được công dụng của những tờ giấy dán trên tường là để che gió lùa qua kẽ ván. Trước mặt tao, một người đàn bà thân hình nhỏ nhắn, tuổi chừng bốn mươi, gương mặt phảng phất nét u buồn, bà ta đang ngồi trên chiếc ghế nơi bàn ăn, chân mang đôi dép nhựa màu xanh còn mới tinh. Lúc bấy giờ tao mới hiểu ra, tại sao Hà mua đôi dép nhỏ hơn chân của nàng một chút. Hà lên tiếng giới thiệu với tao “Má của em”. Quay sang người đàn bà, Hà nói “Má à, đây là anh Long, con của ông chủ đồn điền, nơi con đang làm việc”. Người đàn bà chỉ vào chiếc ghế duy nhất còn trống trước mặt bà “Mời cậu ngồi chơi, tôi có vài chuyện muốn hỏi cậu”. Tao ngồi xuống ghế, miệng nói “Cảm ơn bác”. Má của Hà hỏi tao “Năm nay cậu bao nhiêu tuổi? Học hành tới đâu?”. Tao từ tốn nói với bà “Thưa bác con hai mươi mốt tuổi, đang học đại học ở Sài Gòn”. Má của Hà hỏi tiếp “Cậu học kỹ sư hay bác sĩ”. Tao trả lời với bà “Thưa bác con học bên Văn khoa”. Nói như vậy nhưng tao không biết bà có hiểu tao nói gì hay không. Sau đó, suốt gần cả tiếng đồng hồ, má của Hà hỏi tao đủ mọi chuyện về gia đình của tao. Cuối cùng bà nói “Con Hà đang làm công trong đồn điền của ba cậu, đồng lương của nó kiếm được chỉ đủ mẹ con tôi sống đắp đổi qua ngày. Cậu hãy nhìn căn nhà chúng tôi đang ở, nó tồi tàn xập xệ như thế nào, trong khi gia đình của cậu giàu sang quyền quý, mai mốt khi cậu ra trường, cả một tương lai huy hoàng sáng lạng đang chờ đón cậu. Cậu thử nghĩ coi, con Hà có xứng đáng với cậu hay không?”. Bà má của Hà ngưng nói chừng như hơi mệt khi phải nói nhiều, được một lúc sau bà mới nói tiếp “Con Hà nó còn quá nhỏ chưa biết gì về cuộc đời, cậu đừng chơi qua đường, tội nghiệp cho nó”. Nghe má Hà nói, tao nghĩ “ có phải bác muốn nói con là thằng sở khanh không?”. Tao ngồi đó, giận muốn run lên, giận vì má của Hà chưa biết gì về tao mà đã vội nặng lời. Tao đứng lên chào bà rồi xin phép ra về, trước khi đi tao nhẹ nhàng nói với bà “Xin bác cứ yên tâm, từ hôm quen Hà tới nay, con chưa bao giờ có ý định lợi dụng, bằng cớ là con chưa chạm đến cái móng tay của Hà”. Ngay chiều hôm đó, tao mua vé máy bay trở về Sài Gòn.

Long công tử co tay, duỗi chân ra chiều mệt mỏi.

-Một tuần sau, tao nhận được điện tín của Hà chỉ vỏn vẹn có năm chữ “Hà cần gặp anh gấp”. Mới đầu vì giận bà má của Hà, tao quăng mẹ nó cái điện tín vào thùng rác, rồi lái xe xuống Brodard. Mới uống một hớp cà phê, tao vội vã trả tiền vì trong lòng bồn chồn đứng ngồi không yên, tao lái xe mà không biết đi đâu. Cho đến khi thắng xe lại trước hãng hàng không Việt Nam, lúc bấy giờ tao mới biết tại sao. Thì ra tiếng gọi của tình yêu, tuy êm dịu nhẹ nhàng như gió thoảng bên tai, nhưng cái hấp lực của nó quả thật còn mạnh hơn sức hút của trái đất. Tao bay lên Ban Mê Thuột.

Long công tử cười, nụ cười của Sài Gòn ngày xưa.

-Mày biết không, khi gặp lại tao, gương mặt của Hà vui tươi hớn hở như trẻ con được quà. Ôm chặt lấy tao, Hà nói “Má em đâu có phiền trách gì anh, bà chỉ muốn nói với anh là đừng chơi qua đường, còn chuyện nếu anh muốn lấy em đàng hoàng, bà đâu có ngăn cản”. Cho đến cuối hè năm đó, tao và Hà có được hai tháng rong chơi nhiều nơi, từ Ban Mê Thuột xuống Nha Trang tắm biển, nhìn cát vàng biển xanh, chạy qua Phan Rang ngắm cảnh Tháp Chàm, thăm bãi biển Ninh Chữ, vòng lên cái xứ bắp cải đầy sương mù của mày, uống ly cà phê Thủy Tạ, rồi bay về lại Ban Mê Thuột. Hai tháng trường sống trong hạnh phúc tuyệt vời, và có thể nói là đẹp nhất trong cuộc đời của tụi tao. Mãi cho đến khi năm học sắp bắt đầu, tao mới chịu trở về Sài Gòn. Ngày tiễn tao ở phi trường Phụng Dực, lúc ngồi nơi phòng chờ đợi lên máy bay, Hà đặt tay tao lên bụng của nàng rồi nói nhỏ “Em có bầu”. Năm đó, tao mới hai mươi mốt tuổi, nghe tin mình sẽ có con, một cảm giác là lạ chợt đến, ngạc nhiên lẫn thích thú. Tao bóp nhẹ tay Hà “Anh biết rõ trách nhiệm và bổn phận của mình, em yên tâm vài tháng nữa anh sẽ trở lại, tiền bạc thì anh đã để sẵn cho em đủ chi dùng cả năm rồi. Nhớ giữ gìn sức khỏe”.

Long công tử quơ tay tìm lon nước, hắn chậm rãi hớp một ngụm.

-Năm đó, tao bay lên Ban Mê Thuột thường xuyên như đi chợ, cho đến khi học xong năm thứ hai, tao mới thú tội với ba tao về chuyện đã có vợ mà giấu cha mẹ. Cuối cùng tao cho ba tao biết, hiện giờ dâu và cháu của ông đang ở Ban Mê Thuột. Nghe tao nói chuyện, gương mặt của ba tao đầy vẻ giận dữ, ông chửi mắng tao không tiếc lời, chưa bao giờ tao thấy ông giận như vậy. Ngày hôm sau, ba má tao dẫn tao lên Ban Mê Thuột. Việc đầu tiên mà ông bà làm là mua lễ vật đem đến nhà má Hà xin lỗi, tạ tội. Sau đó ông xin phép má Hà, cho ông được đem Hà và thằng cháu nội của ông về sống trong căn nhà to lớn, đầy đủ tiện nghi ở đồn điền. Thì ra, cái tội lớn tày trời của tao, là dám để thằng cháu đích tôn của ông phải sống trong điều kiện nghèo khó, thiếu thốn đủ mọi bề. Thêm một chuyện cũng quan trọng không kém, trước khi về lại Sài Gòn, ông họp với chú Luật là người quản lý và chú Bốn là người phụ tá quản lý của đồn điền từ bao lâu nay, với cái lệnh ngắn gọn là mỗi tháng phải trích cho vợ con của tao một số tiền lớn. Đó là quà của ông nội cho thằng cháu đích tôn.

Tôi nghe Long công tử kể chuyện, bất chợt nhớ lại những lời của má Long công tử nói với tôi, hình như có gì đó không ổn.

-Long à, tao có chút thắc mắc, năm đó là năm sáu bảy, má của mày đã có dâu có cháu, tại sao đến năm sáu mươi tám khi tụi mình còn ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, chính má của mày nói với tao là mày chưa có vợ, bà mong có cháu để bồng mà không có.

Long công tử giải thích cho tôi bằng câu hỏi.

-Mày có bao giờ nghe nói đến cái bịnh tưởng tượng, bịnh hoang tưởng không?

-Không. Tưởng tượng đâu có phải là bịnh, chẳng hạn bây giờ tao tưởng tượng mình được thả ra khỏi trại tù này, như vậy là tao đang bị bịnh hay sao?

Long công tử nhíu mày.

-Mày nói đúng, không thể gọi là bịnh tưởng tượng được, cứ tạm gọi là hoang tưởng. Năm tao mười lăm tuổi, thì má tao bắt đầu bị bịnh. Hôm ấy tao đang ngồi ăn sáng nơi phòng ăn của nhà tao, bỗng đâu một cột lửa chen lẫn với khói đen bốc lên cao ở ngoài sân. Tao vội vàng phóng ra khỏi nhà, chiếc xe Mercedes của ba tao đang bốc cháy dữ dội, cách đó độ chục thước má tao đang lấy xăng tưới lên chiếc xe Peugeot 403 của bà, rồi châm lửa đốt. Tao hỏi má tao tại sao mà làm như vậy. Câu trả lời của bà rất giản dị, bà nói là đang đốt hai con voi trốn trong nhà của bà. Sau đó còn nhiều vụ tương tự như vậy xảy ra, chẳng hạn khi thì bà nói tao không phải là con của bà, khi thì bà có hai đứa con trai chứ không phải một mình tao. Sau nhiều lần ba tao đưa má tao đến bịnh viện khám bịnh, mới biết bà bị cái bịnh hoang tưởng. Ngoài những lúc như vậy, má tao là một người khá bình thường, thoáng nhìn qua không một ai biết được là bà bị bịnh.

Tôi gật đầu.

-Thì ra là vậy, tao không biết má mày bị bịnh nên mới hỏi.

Long công tử nói thêm.

-Một phần cũng vì hoàn cảnh gia đình như vậy, cho nên ba tao dồn hết tình thương cho thằng con, ông chiều tao hết mực muốn gì cũng được. Là con một trong gia đình giàu có, dấu chân của tao từng in khắp chốn ăn chơi thanh lịch của Sài Gòn, tao tiêu xài hoang phí không một chút e dè, cho nên bạn bè mới tặng cho tao cái tên Long công tử. Khi học xong năm thứ ba, tao muốn đem vợ con về Sài Gòn, ba của tao đồng ý với điều kiện là tất cả mọi người phải sống chung trong căn biệt thự của ông, để ông bà nội được gần thằng cháu. Tao không chịu, vì muốn sống tự do thoải mái với vợ con trong một căn biệt thự khác. Mày cũng biết rồi, ba tao có tới mấy căn biệt thự ở Sài Gòn, tại sao phải sống chung. Chuyện chỉ có vậy, lại đưa đến xung đột giữa hai cha con. Tuổi trẻ nông nỗi, không nghĩ đến phải trái, tao bỏ học ngang xương, tình nguyện vô Thủ Đức rồi sau đó là Lực Lượng Đặc Biệt.

Long công tử thở dài rồi than.

-Tao là một thằng ích kỷ, chỉ muốn làm theo sở thích của mình, tội nghiệp cho ba má tao, ông bà phải sống trong buồn bực một thời gian dài. Riêng vợ tao khỏi cần nói, mày cũng biết là Hà khổ đau đến mức nào.

Long công tử vỗ nhẹ vào vai của tôi.

-Mày còn nhớ không, khi đang học ở Thủ Đức với mày và Biên, trong một lần đi phép tao có nói với Dung là tao đã có vợ và đứa con hơn một tuổi, đang sống ở Ban Mê Thuột trông coi cái đồn điền của ba tao. Dung cũng có kể chuyện này cho mày nghe rồi mà.

Long công tử nhìn cái đồng hồ đeo tay của tôi.

-Tới giờ tao phải đi lãnh cơm, tuần tới tụi mình gặp nhau đi.

Tôi gật đầu đồng ý.

-Ừ, tao về đây, mày nhớ giữ gìn sức khỏe.

Tuy khuyên Long công tử như vậy nhưng tôi biết, ở trong tù của Việt Cộng, khi đau ốm không thuốc men, chuyện chăm sóc sức khỏe nằm ngoài vòng tay của mình.

Bếp lửa ngày về

hung-viet.org

Posted 4 Tháng Chín 2014

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Đã hơn bảy năm nay, một cái bếp lửa gia đình ấm áp reo vui đối với Hựu là một điều xa lạ, một niềm mơ ước không bao giờ với tới được. Những ngày ở Hoàng Liên Sơn, sau một ngày mệt mỏi buồn nản vì làm lụng cực nhọc, buổi chiều trên đường về Hựu thấy tay chân rã rời, miệng lưỡi khô đắng, chân thấp chân cao. Qua những con đường làng của một bản miền thượng du có tên gọi là Cẩm Nhân, anh chậm chân lại, nháo nhác nhìn vào những căn nhà sàn hai bên đường, nơi thấy thấp thoáng ánh lửa hồng của những bếp lửa gia đình, có tiếng trẻ thơ cười đùa, có tiếng nói của bà mẹ người sắc tộc, có tiếng chó sủa và tiếng con lợn ủn ỉn hay con trâu nghé ngọ trong chuồng gia súc ngay dưới căn nhà. Đôi khi Hựu mơ ước được ngồi gần bên bếp lửa ấy, hong đôi bàn tay lạnh cóng trên ngọn lửa, hít hà cái mùi thơm gỗ cháy, uống một ngụm nước chè, bóc một củ khoai nướng… Và ước ao thêm, bên bếp lửa ấy anh nhìn lại được những khuôn mặt thân yêu, nghe tiếng trẻ nhỏ, con chàng bi bô. Khung cảnh giản dị, tầm thường đó, tưởng chừng như quen thuộc nhưng thật đã quá xa vời.

Giờ đây, theo đoàn tù nhếch nhác nhanh chân trở về trại giam giữa một buổi chiều mùa Đông giá lạnh, Hựu chỉ khát khao thèm nhai tóp tép một miếng cơm hay một củ khoai nguội lạnh vào miệng để chặn đứng cái đói cồn cào trong dạ dày. Cái nhà bếp tập thể mái tranh vách nứa trong trại tù ấy, anh cũng có đôi lần mơ ước được tới sống ở đó một ngày mười tiếng để được no bụng hơn với những miếng cơm cháy thơm giòn, những bát rau còn nóng và nhất là để được hưởng cái không khí ấm áp bên bếp lửa hồng, trong khi bên ngoài anh em trong các đội tù đang lao động vất vả dưới trời Đông giá buốt. Điều đó, có lúc tưởng chừng như Hựu đã đạt gần tới, nhưng vì cái tính lạnh lùng, dửng dưng trong người anh vẫn còn tồn tại khó có thể thay đổi, và sau này có đôi lúc hối hận, Hựu đã biết rõ sự thay đổi đó có thể mang lại sự an toàn của mạng sống một người tù.

Dạo ấy, trại loan báo có một phái đoàn y tế từ trung ương về khám bệnh cho những người tù bệnh tật trong trại Cẩm Nhân. Trại nhấn mạnh đến hai chữ trung ương, thì phải hiểu rằng đây không phải là những anh y tá huyện, lếu láo thì ít nhất cũng là phái đoàn quân y của tỉnh, hay hách hơn thì từ Cục Quân Y của Quân Đội Nhân Dân đến từ Hà Nội. Ngay cả đơn vị quân đội canh tù cũng còn chưa bao giờ được nhận cái vinh hạnh ấy bao giờ, thế mà một nhóm tù cải tạo từ trong Nam ra đây mới nửa năm đã được trung ương chiếu cố. Một nhà bạt bằng vải trắng được bộ chỉ huy trại dựng lên trên khoảng đất trống, tuy là vẫn màu cháo lòng, nhưng ít ra thì đấy cũng là biểu tượng cho một điều gì sạch sẽ, thơm tho trong bệnh viện khiến cho người ta liên tưởng đến màu áo trắng của những vị y sĩ hay hộ lý dịu dàng, hiền hậu như những từ mẫu.

Lệnh trên ban xuống mỗi lán được cử một người đau yếu nhất để trình diện cho toán y khoa trung ương khám bệnh, điều này theo dự đoán, những người đau yếu này sẽ được chuyển qua làm việc nhẹ trong trại, hoặc được ghi vào hồ sơ chuyển lên Bộ Nội Vụ để được xem xét cho họ ra trại sớm. Ai lại không mơ ước địa vị của người đau yếu nhất của mỗi lán. Nội việc được nghỉ ở nhà một ngày, khỏi leo qua hai ngọn đồi, lội qua một con suối, và lúc về với hai mươi cây nứa trên vai đã là sung sướng rồi. Còn bao nhiêu điều hy vọng khác – mà đối với một người tù, càng hy vọng, càng có cơ hội sống lâu hơn để chờ tới một ngày được thả về.

Chiều hôm ấy, lúc trời đã chập choạng tối, y vụ đến đứng trước cửa lán gọi lớn:

“Ngày mai, anh Trần Công Hựu khỏi đi lao động, ở nhà chờ phái đoàn y tế trung ương khám bệnh.”

Thật tình không ai ganh tị với số mệnh của Hựu. Từ ngày ra Bắc rồi tập trung về đây, anh gần như nhẵn mặt với y vụ với những vụ đau ốm, thuốc men, nghỉ bệnh. Xuất thân là một anh học trò ốm yếu, động viên làm lính văn phòng chưa lội bộ một ngày, cái kiểu nhà binh mà trói gà không chặt, Hựu sa sút thấy rõ khi thiếu ăn và phải lao động cực nhọc. Mặt Hựu xanh mét, ho khan, thỉnh thoảng lại lên cơn sốt. Thêm vào đó, chỉ một tháng trước đây, cơn đau ruột đã hành hạ anh, khiến nửa đêm lán phải gọi cấp cứu để y vụ mang đèn, mang thuốc đến. Đây không phải là cơn đau bao tử thông thường, cũng không phải đau ruột thừa ở vùng bụng dưới bên phải, trái lại Hựu thấy đau quằn quại ở vùng rốn, cơn đau nổi lên từng hồi, khiến người anh vã mồ hôi, mệt muốn lả đi. Bạn bè đã dùng dầu nóng thoa giúp nhưng cơn đau càng ngày càng dữ dội. Y vụ xuống, cho anh uống những thứ nóng, gừng, riềng, sả đâm chung với nhau, nuốt vào như bỏng họng, nóng ran cả ruột. Hồi ấy, vì ra Bắc, cả trại không có lấy một bác sĩ “ngụy” như ở trong Nam, y vụ gà mờ chỉ chuyên trị mấy thứ cỏ dại, lá rừng. Hựu quằn quại suốt đêm, gần sáng anh thiếp mê đi, ngủ như chết cho đến chiều hôm sau mới tỉnh dậy, trong lúc các lán đi lao động đã lục tục trở về. Trận đau ấy làm anh nổi tiếng cả trại, cho nên không những Trần Công Hựu được lên danh sách người đau yếu nhất của lán, mà được xem như là người đau yếu nhất của trại.

Thế mà sáng hôm ấy, đứng trước những người nhân danh mang sứ mạng y tế, có quyền xếp đặt cho Hựu một chỗ ẩn náu qua mùa Đông, trút bỏ cho anh những khúc gỗ nặng, những bó nứa tre nặng trĩu trên vai, đem đến cho anh sự ấm áp của những bếp than hồng thì Hựu lại tỏ ra dửng dưng, không hề có một thái độ khúm núm trước những người quyền lực để xin một chút ân huệ. Nhất là sau khi hỏi sơ qua lý lịch, những người áo trắng có mặt trong phái đoàn đã không khỏi để lộ trên khuôn mặt họ những nét khó chịu, thất vọng khi nghe Hựu khai báo ngành nghề của anh qua bốn chữ “chiến tranh tâm lý.” Từ đó những lời hỏi thăm về bệnh lý Hựu chỉ còn lại là những lời hỏi gượng gạo, qua loa và những người này, sớm hơn thông lệ, đã đẩy Hựu ra khỏi căn lều vải màu trắng với kết luận: “Thôi cho anh về.” Sáng hôm sau, trước khi xuất phát ra cổng trại đi làm như thường lệ, những người bệnh tật được phái đoàn y tế trung ương chiếu cố hôm qua đều được biên chế về nhà bếp hoặc các tổ đan lát, trừ Hựu.

Những ngày mùa Đông, khi nhiệt độ xuống quá thấp ở Hoàng Liên Sơn, vào mỗi đầu hôm, trại cho các lán đốt lửa để sưởi ấm ngay giữa căn nhà, nhưng tù chẳng có gì để nấu nướng. Hựu thường bó gối nhìn những ngọn lửa và những thanh gỗ cháy để mơ mộng. Ánh lửa chiếu bóng những người tù áo chăn quấn kỹ hai ba lớp lên vách nứa, chập chờn như những bóng ma khổng lồ. Đống lửa phải được dập tắt lúc mười giờ, khi hồi kẻng ngủ vang lên và cũng là lúc nghe loáng thoáng giọng nói the thé của người nữ xướng ngôn viên chấm dứt chương trình đài phát thanh Hà Nội qua tiếng rè rè từ chiếc loa khuếch âm trên sân bộ chỉ huy trại. Lửa tắt, ngọn gió lùa vào liếp cửa đem theo hơi lạnh giá của vùng rừng núi. Cả lán đã nằm yên. Để giữ hơi ấm, Hựu không dám cựa quậy hay trở mình. Sau một ngày mệt nhọc, Hựu thấy ê ẩm toàn thân, và anh đắm mình vào giấc ngủ lúc nào không hay biết.

Lúc về Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh anh chàng y vụ già, người miền bắc, khập khễnh vì có tật ở chân, người phần nào có quyền đề nghị và tuyển nhân viên cho nhà bếp, đã cám cảnh vì thể lực yếu đuối của Hựu, nhưng lẽ cố nhiên chẳng có gì người ta đem cho không. Anh chàng đã ướm lời: “Lúc nào vợ anh ra thăm, nhớ kiếm cho tớ cái quần tergal và cái áo sơ mi nhé!” Rồi vợ ra thăm, nhìn cái vẻ tiều tụy của nàng cùng với các thứ quà khiêm nhường bới xách trong mấy cái giỏ lác, Hựu không có can đảm hỏi tới những thứ anh đã dặn đi dặn lại qua những bức thư gởi vợ được phóng qua hàng rào nhà thăm nuôi.

Những mùa Đông lưu lạc xứ Bắc cũng qua đi. Hựu được lên xe lửa chuyển trại về Nam, đó là những ngày vui nhất trong cuộc đời tù. Hựu đã gặp lại được mảnh đất miền Nam nắng ấm và sẽ không còn chịu đựng những ngày Đông tháng giá nữa.

Ba ngày trước khi Hựu được cầm tờ giấy ra trại trong tay, ngày hai mươi mốt Tháng Chạp năm ấy, cũng như những người tù sắp được tha, anh trở thành người tù tự giác, nghĩa là được ra khỏi trại mà không cần có lính gác đi theo. Cùng những bạn khác, từ trại Hàm Tân Rừng Lá, Hựu men ra đến Quốc lộ 1, ở đó có thể trông thấy những chiếc xe đò xuôi ngược Phan Thiết-Saigon quen thuộc, những hàng quán nhỏ hai bên đường với những nải chuối vàng treo lủng lẳng, những thẩu bánh kẹo để cạnh những chai nước ngọt, cùng những gói thuốc lá bao giấy đã ố vàng. Hựu được ngồi trên một cái ghế băng dài, uống ngụm trà. Tuy vẫn còn mặc bộ đồ tù có đóng dấu ở sau lưng, nhưng hôm ấy anh đã được hòa mình với đời sống của một người dân bình thường. Sau ngạch cửa là một bếp lửa hồng với những người đàn bà đang ngồi gói bánh tét, chuyện trò. Trên mặt đất, ngổn ngang những chiếc thúng mẹt đựng đầy vật liệu gói bánh. Trên bàn thờ, một cành mai rừng đơn sơ được cắm trong một chiếc bình sành. Không khí Tết miền Nam hầu như đã bao trùm khắp nơi. Nhưng hơn hết, cái bếp lửa ấm cúng hôm ấy soi rọi vào lòng Hựu bao nhiêu kỷ niệm, anh như gặp lại một người thân quen đã xa cách lâu ngày. Hựu nghe thấy đôi mắt anh cay cay, chẳng phải vì những làn khói nhỏ từ trong bếp bay ra, mà bếp lửa của một cuộc đời thường hôm ấy đã cho anh chút ấm cúng mà từ lâu không hề bắt gặp, không hề gần gũi.

Cả một thời xa xưa như trỗi dậy trong lòng Hựu, bếp lửa rơm khi mẹ nấu bữa cơm chiều mà Hựu thường xuống ngồi với mẹ, ánh lửa hồng soi rõ khuôn mặt mẹ, có khi đầy nước mắt vì kiếp làm dâu mà quê ngoại thì ở quá xa. Bếp lửa nấu bánh chưng bánh tét của chiều ba mươi tết ở quê nhà thuở còn thơ dại khi tuổi trẻ nao nức mặc áo mới, đón xuân sang. Bếp lửa của những ngày mùa Đông khi mẹ nhúm lửa lên để rang cho các con một nồi bắp rang mà nay Hựu như còn cảm giác hai nắm bắp rang còn nóng ở hai bên đùi khi mà thằng bé tham lam đã dồn đầy hai túi quần. Một bếp lửa gia đình, một bếp lửa đoàn tụ, bình an, không chia lìa, không ngăn cách mà dễ chừng đã bao nhiêu năm nay, cả một đời người Hựu không hề nghĩ tới. Phải trong gần bảy tám năm nay, khi tự do bị tước đoạt, khi thân ái phải chia lìa, khi gia đình phải ly tán, khi những gì hiện hữu bình thường mỗi ngày đã mất đi, khuất trong những nẻo tối tăm của tiềm thức, giờ đây, hiện ra Hựu mới thấy đó là những gì quen thuộc, thân ái anh đã đánh mất hay quên lãng.

Ngày ra tù, Hựu quyết định mặc nguyên bộ đồ tù màu xanh còn mấy chữ tên trại tù Phú Sơn ở sau lưng, anh muốn làm một cuộc trắc nghiệm để xem thái độ của người dân miền Nam, sau gần tám năm tan cuộc, đối với những người tù như Hựu ra sao? Bạn bè ra tù, người thì có thân nhân đón, người xuôi Nam, kẻ ra Trung. Khi ra tới quốc lộ, một mình Hựu đón chuyến xe từ Phan Thiết vào. Mặc dù trên đoạn đường Rừng Lá này dân vẫn thường gặp những người tù cải tạo mới được tha về, tuy nhiên những người dân bình thường trên chuyến xe đò hôm ấy đã dành cho chàng những ánh mắt và cử chỉ thân ái. Anh lơ xe đã nhất mực không lấy tiền xe của Hựu, mặc dù anh đã nói anh dư tiền trả tiền xe về tới nhà. Bà già đang nhai trầu ngồi bên mời anh trái quýt. Ở băng ghế trước, một đứa bé trai chừng ba tuổi, hai má ửng hồng quay đầu lại cười với anh qua vai của một người mẹ trẻ. Đã gần mười năm rồi còn gì, sự gần gũi của những người dân lam lũ trên chuyến xe đò làm Hựu mủi lòng.

Nhưng cũng vì chiếc áo tù, Hựu đã được một tay xe ôm tại bến xe, tự nhận là em út, đã cho Hựu thấy sự biến chất của một lớp người, trong giai đoạn mới bung ra kiếm sống, chỉ biết đồng tiền, bất kể nhân tình. Khi chuyến xe Phan Thiết về tới bến xe Bình Triệu, vừa mới đứng lên, Hựu đã trông thấy một đám người xe ôm mời mọc, trong đó có một người trung niên mặc một chiếc áo trellis đã bạc màu, nhắm vào Hựu. Y vồn vã:

“Ông anh mới về. Thôi đi xe em đi, em lấy rẻ, dù sao cũng huynh đệ chi binh mà ông anh!” Hựu nghĩ tới những người lính trong đơn vị cũ, ngày nay cũng đã kiếm sống bằng mọi nghề, anh đi theo người đàn ông một quãng, nơi để nhiều kiểu xe ôm đã cũ. Anh nói:

“Về đường Nguyễn Tri Phương – Chợ Lớn bao nhiêu?”

“Nhiêu thì nhiêu, chặt ai thì chặt, chứ không nhẽ chặt đàn anh!”

Y nói có vẻ chân tình, tay với cái túi vải của Hựu máng lên tay lái. Hựu chưa yên tâm và vẫn đứng yên chờ câu trả lời.

“Hmm Hmm.. lăm thôi ông anh !” Không hiểu sao trong lúc ấy Hựu lại nghe tiếng mười lăm, và anh nhẩm tính, thế là về tới nhà mình còn dư được tới ba mươi lăm đồng, đủ làm quà cho con.

Dọc đường về, Hựu cũng nhìn ra những con phố quen tên nhưng hình như đã lạ mặt, mang một màu sắc u tối, buồn bã. Dọc dường sá, xe cộ thấy thưa thớt, phần đông là xe đạp, chen lấn với đủ loại xe lam, xe gắn máy, nhưng mọi người cũng đã chuẩn bị đón xuân sang vì tiếng pháo đã nghe đì đẹt nổ xa gần. Người tài xế xe ôm vừa chạy vừa chuyện trò về tình hình than củi, gạo cơm. Y vẽ ra chút tương lai cho Hựu:

“Rồi ông anh kiếm cái xe tàng tàng như em đây cũng kiếm cơm qua ngày.”

Hựu lơ đãng nghe, buồn bã nghĩ đến một thứ tương lai mù mịt. Anh không biết tin nhà, cuộc sống của vợ con ra sao. Chuyến thăm nuôi cách đây đã sáu tháng, sau đó một lá thư viết vội vàng với những dòng động viên chung chung, vô tội vạ. Đây cũng là chuyến về bất ngờ không báo trước. Nhìn xuống bộ áo tù, lúc ấy Hựu chợt trách mình sao lại để cho con cái ấn tượng thấy hình ảnh của người cha trở về trong bộ đồ xanh này. Nhưng về sau, khi gặp lại, con anh đã kể chuyện:

“Khi cô giáo hỏi, các em ai là gia đình có cha đi cải tạo thì chúng con đã mạnh dạn đứng lên và đưa tay cao, nhưng cũng có lúc cô giáo hỏi ai là gia đình bộ đội thì con lại thấy tụi nhóc có vẻ rụt rè và nhìn về phía tụi con? Sao vậy Ba?”

Hựu đã không trả lời thẳng vào câu hỏi của con:

“Ba đã không làm điều gì sai quấy thì có điều gì con phải xấu hổ. Nếu Ba vào tù mà bạn bè con, bà con mình, lối xóm, làng nước ai cũng sung sướng, no đủ hơn thì Ba và bạn bè Ba cũng nên vào tù. Nhưng con cũng đã thấy đó.”

Xuống xe cách xa ngôi nhà chừng vài trăm thước, mới móc túi lấy tiền ra chưa kịp trả, Hựu đã nghe người tài xế xe ôm nói:

“Ông anh cho ba mươi lăm đồng!”

Lần này, y nói tách bạch, rõ ràng không ậm ờ như ban nãy.

“Sao lúc ở bến xe, anh nói với tôi là mười lăm?”

Hựu quá đỗi ngạc nhiên đã hỏi lại.“Dạ, lúc nãy em có thưa với ông anh là cho ba mươi lăm đồng. Chặt ai thì chặt, chứ không nhẽ chặt đàn anh!”

Y lặp lại câu nói trơn tru như nó đã có sẵn đâu ở đầu lưỡi. Cùng lúc ấy Hựu nghe tiếng nói như reo của bà cụ Tám ở cách nhà Hựu mấy căn, cùng với tiếng kêu phụ họa của mấy đứa trẻ:

“Ông Hựu về, ông Hựu về rồi!”

Hựu dúi vội nắm tiền vào tay của ông “đàn em”, vội vã chào bà cụ và hấp tấp bước vội về căn nhà. Cũng là vôi gạch ấy, số nhà dù đã mờ nhạt vẫn còn nhìn ra, nhưng sao đượm vẻ hoang tàn, lạnh lẽo.

Hựu xô nhẹ cánh cửa khép hờ để bước vào nhà, đứa con trai nhỏ của anh, chào đời sau lúc Hựu vào tù, đang ngồi nhặt gạo trên một chiếc ghế nhỏ vội đứng bật dậy khi thấy có người lạ bước vào. Thoạt đầu nó có vẻ bỡ ngỡ khi nhìn thấy Hựu, nhưng sau khi Hựu đã ôm con vào lòng và nói, “Ba đây con” thì nó cũng ôm lấy cha, người ít ra cũng một lần được nhìn thấy khi theo mẹ lên thăm và thường xuyên được nghe gia đình nhắc nhở đến. Cùng lúc ấy, Hựu nghe tiếng ồn ào ngoài cổng, rồi anh thấy vợ hình như vừa đi đâu về, xuất hiện trên bậc cửa. Chị đứng đó, không kêu lên một tiếng, không bước lại gần anh, chỉ đứng lặng với hai dòng nước mắt trào ra. “Không biết hôm nay là thực hay mộng đây?” Đã bao nhiêu lần chị cầm lấy tay Hựu, nắm chặt tay anh, ôm lấy anh và nói: “Lần này thì anh về thật rồi phải không anh?”

Nhưng khi chị mở mắt ra, thì đây chỉ là mộng. Trời đã mờ mờ sáng, chị nghe tiếng xích lô máy nổ phành phạch dưới đường. Chị úp mặt vào gối, lặng lẽ khóc.

Hựu ôm vợ vào lòng, khẽ nói bên tai chị:

“Rồi mọi sự cũng đã kết thúc, phải không em?”

***

Phòng khách nhà Hựu bây giờ chỉ còn trơ trọi một cái bàn gỗ với ba chiếc ghế ngồi đã cũ. Trên tường hai bức tranh, trong đó có một bức sơn dầu do một người bạn họa sĩ vẽ cho vẫn còn treo ở chỗ cũ, cũng như vách tường bảy năm nay không có một lớp vôi mới, đã xám xịt, ám khói lửa củi từ nhà bếp. Bếp lửa bây giờ đúng là bếp lửa vì thực sự phải đốt bằng những thanh củi lớn do chính tay Hựu vừa bổ ra mấy hôm nay.

Tối nay là tối ba mươi Tết, tiếng pháo nổ râm ran từ chập tối, lan rộng như một cơn sóng từ khu phố này sang khu phố khác. Trước cửa nhà những đứa trẻ đốt pháo lẻ đã làm cho khói pháo xông thẳng vào nhà. Năm nay, Hựu về, nhà cũng đã có chút bánh mứt, hoa mai do bạn bè và lối xóm mang tới. Giao thừa, cũng theo tập tục những năm nguyên vẹn về trước, Hựu nấu trà, thắp nhang lên bàn thờ ông bà. Anh đứng lặng yên nhìn ngọn nến cháy bập bùng và làn khói tỏa ta từ nắm nhang đang cháy, suy nghĩ vẩn vơ.

Từ mấy hôm nay, Hựu cố giấu nỗi buồn đang ray rứt. Trong giây phút xúc động ban đầu anh đã nói với vợ là tất cả đã qua đi, nhưng sự thật trong thâm tâm Hựu, ngày ra tù chỉ là ngày bắt đầu một cuộc đời vô định, rồi ra chưa biết sẽ ra sao? Nhìn cảnh nheo nhóc của vợ con, nhìn lại thân phận mình, chàng cảm thấy một sự bất lực đè nặng, nó làm cho lòng anh không cảm thấy một phút thảnh thơi.

Cũng đêm nay, sau khi cơn pháo giao thừa đã bắt đầu thưa thớt, Hựu nói với vợ cần thở một chút khí đêm, anh lên gác, nhìn về Saigon sáng một góc trời, rồi nhìn về vùng tăm tối khác. Mấy hôm nay, trở về nhà, Hựu đã được nghe tin một số bạn bè đã qua đời, một số người đi xa, kẻ đang sống ở một phương trời nào đó, kẻ chưa biết sống chết ra sao vì chưa có tin về. Anh đã gặp lại một vài người quen cùng ở trong cư xá hay thuộc đơn vị cũ đang yên thân kiếm một nghề nghiệp nuôi miệng, một nồi xôi đầu ngõ hay một bàn vé số bên vệ đường. Còn Hựu, những ngày trong tù, anh cũng như hầu hết bạn bè có cái thói quen không suy nghĩ, không lo âu, vì suy nghĩ lo âu trong hoàn cảnh ấy, hoàn toàn không giải quyết được gì. Nhưng giờ đây, với cuộc sống trước mắt, sự thật bây giờ lại khác.

Hựu nghĩ tới hình ảnh bếp lửa anh vẫn thường mơ mộng mà lòng cảm thấy không vui.

Huy Phương

(trích trong tập truyện Những Người Muôn Năm Cũ – 2010)

‘Bán danh…ba đồng!’

hung-viet.org

Huy Phương

Posted 27 Tháng Mười 20141

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Tháng rồi, gia đình tôi gửi về cho cô em ở Sài Gòn một thùng quà 24 lbs từ một dịch vụ gửi hàng về Việt Nam tại Little Saigon. Sau một tuần, qua điện thoại trao đổi hai bên, chúng tôi biết thùng quà bị lấy mất 2 chai thuốc Glucosamine, một loại thuốc nghe nói rất đắt khách tại Sài Gòn hiện nay, và hai hộp cheese đầu bò, là loại “bơ thừa sữa cặn” nhân viên quan thuế trong nước hiện nay vẫn còn thèm thuồng.

Tôi biết thùng quà không bị moi từ đại lý ở Mỹ, vì người Việt ở Mỹ không có thói ăn cắp vặt, và cũng đã chán bơ, sữa. Thùng quà về Tân Sơn Nhất bị những tay kẻ cắp chuyên môn rạch một đường dài rất khéo và dán băng keo lại sau khi dùng bàn tay mò mẫm để định giá món hàng cần phải lấy, và cũng có thể chúng mở thùng ra đàng hoàng và dán lại. Ai có thể khiếu mại đôi co với chúng khi nhận được thùng quà đã bị ăn cắp này?

Câu chuyện ăn cắp ở phi trường Tân Sơn Nhất đã được một em bé lớp ba trong nước, làm luận văn mô tả câu chuyện ba em, làm việc tại phi trường, mỗi chiều về nhà, đều mang theo một bịch đồ lấy cắp của khách hàng, từ chai thuốc bổ, mỹ phẩm cho đến chiếc cell phone, chiếc quần jean và mẹ em có nhiệm vụ đem hàng đi bán lấy tiền. Vì chuyện này, ba em thường bị ông nội em phàn nàn, khiển trách (trong xã hội này mà còn được một ông nội như vậy sao!)

 Ông Cao Huy Huân, một người ở trong nước, đã mô tả chuyện ăn cắp ở hàng không Việt Nam: “Chả là bạn học chung với tôi ở Mỹ lần đó bay về Việt Nam thăm gia đình vào dịp HÈ. Trong vali hành lý có mang theo một chiếc máy ảnh cổ nghe nói là trị giá cả 9 nghìn đô la Mỹ, mang về hộ cho một người bạn. Khi đến sân bay Nội Bài, cậu phát hiện hành lý mình có dấu hiệu bị xâm phạm nên mở vali ra xem thì mới biết chiếc máy ảnh đó cùng một vài chai nước hoa hàng hiệu đã không cánh mà bay. Cậu liên hệ các bộ phận ở sân bay thì đều bảo là không nhìn thấy, không biết gì cả. Vốn biết nét đặc sản tai tiếng này ở các cảng hàng không Việt Nam nên cậu lập tức gọi điện thoại cho người thân vì cậu có người thân làm quan chức cao cấp trong một bộ ở Hà Nội. Chỉ chưa đầy 10 phút sau, một nhân viên kiểm tra hành lý đã tay xách nách mang đem ra trả cho anh chàng đầy đủ máy ảnh và số nước hoa trên, còn xin lỗi rối rít. Cũng chẳng mất mát gì nên cậu cũng im lặng cho qua. Thế nhưng câu hỏi đặc ra là nếu như cậu bạn đó không có người thân là quan chức cấp cao thì số hành lý đó sẽ ra sao?”

Kiều Trinh, con gái một quan chức cao cấp của đảng, từng ăn cắp trong các chuyến công tác nước ngoài.

Một chuyện ăn cắp “quốc tế” làm mất mặt đảng nhất là chuyện Kiều Trinh, một đảng viên, trưởng phòng Văn Hóa Dân Tộc (!) của một đài truyền hình mà cha cô là Vũ Văn Hiến, ủy viên Trung Ương Đảng, làm tổng giám đốc! Năm 2001, Kiều Trinh nhám tay ăn cắp một số mỹ phẩm khi cô được bố cử đi công tác ở Thụy Điển. Năm 2009, khi sang Anh, Kiều Trinh lại giở trò cầm nhầm mấy cái máy ảnh digital. Cả hai lần, vì là con của ủy viên Trung Ương Đảng, cô được các tòa đại sứ CSVN tại địa phương “cứu hộ,” tận tình, thậm chí có cả giấy chứng nhận Kiều Trinh đang mắc bệnh tâm thần từ trong nước gửi ra. Về nước, chưa chừa thói ăn cắp, tại thành phố Vinh, Nghệ An, Kiều Trinh lại tuồn áo quần vào váy, lần này camera cửa hiệu thu hình đầy đủ và đưa lên Internet.

Vậy mà ông bố có đứa con gái làm nhục quốc thể vẫn là khuôn mặt của Trung Ương Đảng CSVN, kẻ cắp quốc tế mỗi đêm vẫn lên đài truyền hình dạy dỗ người ta cái gọi là “văn hóa dân tộc.” Cả nước khinh bỉ chúng nhưng chúng không hề có chút liêm sỉ để hổ thẹn.

Một nhân viên đài truyền hình có hồ sơ trọng tội, xấu xa như vậy phải được đưa ra khỏi ngành, một đảng viên có thành tích ăn cắp bỉ mặt như vậy phải bị khai trừ khỏi đảng. Một tổng giám đốc đài truyền hình có nhân viên làm xấu ngành nghề, một người cha có đứa con làm nhục cha ông như Kiều Trinh, nên biết tự xử như một người có nhân cách.

Tội nghiệp thay, cha con nhà này cũng như cả đảng nhà nọ, vẫn coi đây là chuyện thường tình. Không ai còn biết liêm sỉ, chẳng ai còn biết đến chuyện xấu hổ nữa chăng? Cả ai nửa, đã bổ nhiệm Vũ Văn Hiến vào chức vụ tổng giám đốc Đài Truyền Hình Việt Nam, kẻ đã đem con vào giữ một chức vụ trưởng phòng trong đài, đã dùng tiền dân đóng thuế để cử con đi công cán ở ngoại quốc, làm xấu mặt cho người Việt Nam. (*)

Thằng nhỏ làm công nhân, buổi sáng đem một lon nhôm đựng cơm trưa, buổi chiều về nhét đầy một lon xi măng, đinh sắt. Thằng lớn tổng giám đốc ăn theo chức tổng, thằng thủ kho kiếm chác theo thủ kho, thằng bảo vệ sống nhờ mánh mung bảo vệ. Ăn cắp để bảo vệ chức vụ và nghề nghiệp của mình và trong xã hội ấy nhân phẩm được cân đo bằng tiền. Cán bộ làm giàu nhờ ăn cắp của công, toa rập với bọn tài phiệt nước ngoài cướp đất của dân, từ trên xuống dưới, phủ bênh huyện, huyện bênh phủ, tạo nên một mạng lưới ăn cắp từ trên xuống dưới. Mấy năm gần đây, cán bộ, viên chức nhà nước dính líu đến các vụ buôn lậu, bán visa, ăn cắp hàng trong các siêu thị, có đường dây tổ chức trong nước càng ngày càng nhiều, đến nỗi khuôn mặt Việt Nam trở nên lem luốc. Tình trạng người Việt ăn cắp không một nơi nào mà không có: trong công ty, ở công sở, nơi công cộng, siêu thị, chợ búa, địa điểm du lịch… không những trong nước mà còn ra nước ngoài để bêu riếu thanh danh Việt Nam đến đỗi ở nơi đông người, các quốc gia Nhật, Thái lan, Hàn phải trưng bảng thông báo đề phòng và cảnh cáo dân Việt…ăn cắp.

Có lúc nào mà dưới mắt thế giới, người Việt bị sỉ nhục đến như thế! Vậy có ai trên quả đất này còn giấc mơ, “một buổi sáng thức dậy, bỗng dưng…thành người Việt Nam” nữa không? Và cũng không ai trách, một người Việt khi ra ngoài, phải tự thanh minh: “Phải, tôi là người Việt Nam, nhưng là người Việt Nam đang ở nước ngoài, hay tôi là một người Việt Nam nhưng không phải là Việt Nam Cộng Sản hiện nay.”

Người Việt hầu hết đều thấy hổ thẹn, có người kêu gọi “đi tìm một nhân cách của con người Việt Nam đã mất!” Đã mất có nghĩa là ngày xưa, nhân cách ấy đã có, từ cái thời mà người Việt không có, không biết đến Cộng Sản là gì. Xây dựng thì khó, có khi hàng thế hệ, nhưng phá bỏ thì dễ, chỉ cần vài năm.

Người xưa ra đường làm việc bậy, trong xóm làng, thì người ta hỏi là con cái nhà ai, để chửi là con…mất dạy! Thời nay, không còn ai cần đến danh dự của cha mẹ, họ hàng, gia tộc, vì chúng không biết xấu hổ, thì ra đường, người ta hỏi đây là dân nước nào vậy!

Tổ tiên chúng ta đã bỏ ra ba vạn để có danh dự cho Việt Nam, nhưng bây giờ chế độ Cộng Sản trong nước đã bán danh ấy có…ba đồng!

 Huy Phương

(*) “Chẳng tin thì ông đi đôi

Cha con nhà nó còn ngồi đằng kia.”

(Ca dao mới)

Chuyện Kỷ Niệm 43 năm trận chiến Khánh Dương tháng 3/1975

dongsongcu.wordpress.com

Cù Lũ Nhí Châu Nhái

Posted on February 27, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Pháo binh nhảy dù – Ảnh minh hoạ

Ai về Dục Mỹ Buôn Ma Thuột

Nếu có dừng chân ghé Khánh Dương 

Chậm chân người hỡi nhè nhẹ bước

Kẻo đạp lên mình các bạn tôi.

Ngày nào sinh tử thề hẹn ước.

Sao đành để lại một mình tôi

Đã mấy ĐÔNG về Anh vẫn đợi

Là bấy XUÂN qua thấy thẹn lòng

Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù.  LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LST 404 chở các TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ, Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LST 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LST 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC.

Trời gần sáng thì TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ /Tiền Sát /TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.

Hai thằng sỉ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17, 18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra. Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong. Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền, nhưng 2 cô nói: Hai anh đợi ba em một chút, còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy. Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.

Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì, thuốc lá, đồ hộp v. v. toàn là đồ ăn liền. Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn, tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình. Một lát tôi mới có thể nói: Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc. Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình. Một lát sau bánh mì, thuốc lá, đồ hộp được phát ra cho anh em.

Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây, từng gói một quăng lên xe cho anh em. Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù. Bao nhiêu mệt mỏi, thất vọng, bất mản vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan, vất vả tại Thường Đức tan biến hết. Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có. LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN. Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể. Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ.

Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra. lảnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ trên xe có khoảng 10  Nhảy Dù của các TĐ/ND tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: “Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh”. Tôi la to và rỏ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe. Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi; Đi đâu vậy? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời: Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ. Ông bảo: Nhớ về đơn vị sớm. Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to: Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ, hú hồn… Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND. Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh, xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê. Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay. Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6 Tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC. tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết.

  Dục Mỹ – Ảnh minh họa

Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, iệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sỉ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác) Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng, lội suối, nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6 Quân số ít ỏi. không liên lạc, tiếp tế, thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là đều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều, Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất, Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, , thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống. Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi… Tôi tìm một chỗ kính đáo gần con suối cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt và ổ VC mà cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.

Dục Mỹ – Ảnh minh họa

Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2, 2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái. Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú “tấp pi” đầu tiên của VC chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới.

Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác. Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sỉ quan người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi. “Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được” Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. “Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh” tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý. Chúng tôi được đưa vào tru sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.

Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mũ Đỏ

Dạo đó anh đi mười bảy tuổi

Thiên Thần Mũ Đỏ Xứng đời trai

Vũ trụ mình ta chân đạp gió

Không gian lơ lửng bắt mây trôi

Ngang dọc tung hoành vùng hỏa tuyến

Giữ yên bờ cỏi đất Phương Nam

Thần Kinh thương nhớ tình lưu luyến

Đồng Khánh trường tan má đỏ hồng

Anh rời Hiệp Khánh vào chiến địa

Phong Điền nối tiếp Động Ông Đô

Thường Đức vang danh quân giặc khiếp

Vu Gia vượt sóng giữ sông xanh

Một không sáu hai đầy xác cộng

Sư ba lẻ bốn chốc tan tành

Mùa xuân năm ấy hoa mai rộ

Đại Lộc bình yên có Hoa Dù

Tháng ba mười sáu theo quân lệnh

Lướt sóng quân hành xuôi giang Nam

Bỏ lại sau lưng nhiều tình lở

Tiển Anh nước mắt ước vai nầy

Về mái trường xưa qua Đồng Đế

Được nhìn tượng đá đứng ngàn năm

Có người em gái nằm xỏa tóc

Để đợi anh về dẩu trăm năm

Nha Trang chào đón đoàn quân lạ

Dục Mỹ chiều nay ngập bóng Dù

Quân Đoàn Hai thối theo lộ 7

Để lại Nhảy Dù chốt Khánh Dương

Hai sư đoàn cộng tràn nhau xuống

Một Lử Đoàn Dù gắng tiến lên

Xung phong tiếp viện Buôn Ea Thi

Ngạo nghể trên tay viên đạn cuối

Nhảy Dù hai chử cố gắng thôi

Thiên Thần gẩy cánh ngàn thây đổ

Khánh Dương thương nhớ Lử Đoàn 3

Chí trai vị quốc không danh lợi

Vong thân bất nhục đáng anh hùng

Máu đào tươi thắm màu Mũ Đỏ

Xác thân tô điểm áo Hoa Dù

Nợ nước muôn đời trên vai nặng

Ơn nhà trọn kiếp mãi trong tâm.

Những ngày cuối tháng 3/2018

Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

  

 

          

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Tập 2

Phần 8
Sáu năm, dâu bể trùng phùng.

Chúng tôi gồm có vài trăm sĩ quan cấp úy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đi trình diện học tập cải tạo theo lệnh gọi của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, tất cả tụ tập trong sân căn nhà kính của Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Tôi đứng một mình trong góc sân, lặng lẽ quan sát cảnh mọi người gặp nhau tay bắt mặt mừng, chuyện trò nổ như bắp rang, họ thản nhiên vui vẻ nói chuyện cứ như là đang tham dự một buổi họp mặt, mừng ngày hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Trước khi đến đây, tôi tưởng chỉ có một mình tôi là sung sướng hạnh phúc, khi được đi học tập cải tạo mười ngày. Nào ngờ lúc nhìn thấy bầu không khí tưng bừng náo nhiệt của các vị sĩ quan cấp úy khi gặp nhau, tôi mới biết được là, mọi người đều có chung một tâm trạng giống như tôi.

Nhìn thoáng qua một vòng, tôi không thấy ai quen thân với mình, nhưng tôi lại biết mặt hầu hết các sĩ quan trình diện ngày hôm nay, bởi vì họ là những người dân của Đà Lạt. Trước khi vào lính những ông sĩ quan này phải là học sinh của Trường trung học Trần Hưng Đạo, trung học Việt Anh, trung học Trí Đức, trung học Bồ Đề, Lycée Yersin, hoặc là sinh viên của Viện đại học Đà Lạt. Nếu không là bạn học cùng trường với tôi, họ với tôi cũng đã từng gặp mặt nhau nhiều lần khi đi bát phố Hòa Bình.

Tôi đi vòng quanh sân với mục đích là tìm gặp những thằng bạn chung trường, chung lớp với tôi ngày xưa ở Trường trung học Trần Hưng Đạo, như là Nhân đầu bạc chẳng hạn. Tôi cần có một vài người bạn thân để chia xẻ ngọt bùi, để tối đến sau giờ học sẽ treo mùng gần nhau chuyện trò tâm sự, uống ly trà hút điếu thuốc.

Đúng hai giờ chiều, một anh cán bộ Việt Cộng mở cửa nhà, với giọng oang oang anh ta nói:

-Các anh tuần tự vào văn phòng nộp lại “Giấy chứng nhận”. Sau đó ra ngoài sân, sắp hàng đợi lệnh mới.

Mọi người ngoan ngoãn thi hành lệnh trong im lặng, trật tự. Khi vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa của căn nhà, tôi choáng váng cả người như là bị điện giật, trước mặt tôi, ông Năm bánh xèo ngồi chễm chệ sau cái bàn làm việc, ông ta đưa mắt quan sát từng vị sĩ quan một, khi họ nộp lại tờ giấy chứng nhận. Đến lượt tôi, ông Năm bánh xèo cầm tờ giấy lật qua lật lại rồi đọc:“Nguyễn Trọng Quân”. Sau đó ông ta ngẩn nhìn tôi.

-Trung úy mạnh giỏi?

Tôi ngớ người, khi nghe câu hỏi phát ra từ miệng của ông Năm bánh xèo, đây là câu nói xã giao vui đùa, mà ngày xưa khi gặp tôi ông Năm thường hỏi.

Tôi ngập ngừng, nếu là ngày xưa câu trả lời của tôi sẽ là “Quá mạnh giỏi, còn chú Năm có khỏe không?”. Hôm nay thời thế đã xoay chiều, không còn là chuyện vui đùa của một ông bán bánh xèo và một trung úy nữa, mà là chuyện sống chết giữa một ông cán bộ của phe thắng trận và một trung úy hàng binh. Tôi lấy giọng, cố nói cho rõ ràng từng chữ.

-Thưa ông, tôi khỏe.

Ông Năm bánh xèo với gương mặt nghiêm nghị, nhưng giọng nói lại giống như đùa.

-Mỗi dĩa bánh của trung úy tôi bỏ vô ba con tôm.

Tôi đứng chết lặng không dám nói một tiếng, không biết ông Năm bánh xèo đang đùa hay nói móc mình đây. Ngày xưa, khi ăn bánh xèo nơi quán của ông Năm, tôi luôn luôn giữ gìn tư cách của một người sĩ quan, không bao giờ phách lối hay làm bất cứ việc gì có thể làm mất lòng ông. Hơn nữa, tôi đâu có dại dột phá phách lôi thôi, để bị quân cảnh còng đầu. Khi xét thấy mình hoàn toàn không có làm điều gì sai trái với ông ta, tôi mạnh dạn nói.

-Cảm ơn ông.

Ông Năm bánh xèo chỉ vào góc phòng, nói mà như ra lệnh.

-Trung úy đợi tôi ở đó.

Quay sang người sĩ quan đang đợi nộp lại giấy tờ, ông Năm bánh xèo lên giọng.

-Người kế tiếp.

Tôi đứng một mình trong góc phòng, nhìn các vị sĩ quan nộp lại giấy tờ mà trong lòng đầy phập phồng lo sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho mình.

Hơn nửa giờ trôi qua, chờ cho đến khi người sĩ quan cuối cùng bước ra khỏi phòng, ông Năm nói với tôi.

-Trung úy tới đây, tôi có cái này cho trung úy.

Tôi ngạc nhiên quá sức, một ông Việt Cộng nằm vùng thì có cái gì mà cho mình.

Cúi đầu lục trong cái xắc cốt một hồi lâu, ông Năm lấy ra một tấm hình.

-Tặng trung úy để làm kỷ niệm.

Tôi nhìn tấm hình màu khổ 6 x 9, rồi chợt nhớ ra đâu khoảng vài năm về trước, trong lúc tôi đang ngồi ăn bánh xèo, ông Năm đã nhờ một người khách, bấm cho tôi và ông một tấm hình. Chụp hình với ông bán bánh xèo chớ đâu phải với đào thì cần gì phải nhớ cho mệt óc, chụp xong tôi quên mất tiêu. Chuyện chụp hình hoàn toàn biến mất trong trí nhớ của tôi. Hôm nay lần đầu tiên tôi được thấy bức hình, trong hình tôi mặc bộ đồ tiểu lễ mùa hè, trên vai cặp lon trung úy màu vàng nổi bật trên nền nhung đen, thêm cái huy hiệu Trường Võ Bị Đà Lạt may nơi tay áo trái gần vai. Với chừng đó thứ cho dù người mặc bộ đồ trên, mặt mũi có xấu xí đến đâu, thoáng nhìn qua cũng thấy oai phong lẫm liệt. Ông Năm mặc áo sơ mi màu xám ngồi bên cạnh tôi, tay trái thân mật quàng qua vai, trông cứ như là bà con thân thích. Người lạ nhìn vào tấm hình, sẽ nghĩ đó là hai bác cháu, hoặc nếu không bác thì cũng phải là chú.

Đang miên man suy nghĩ, bất chợt tôi nghe giọng nói của ông Năm bánh xèo vang lên.

-Trung úy có biết tại sao Ngụy quân Ngụy quyền, bỏ của chạy thoát thân như một bầy vịt chạy đồng hay không?

-Thưa ông tôi không biết.

Ông Năm bánh xèo với giọng đắc chí.

-Cảm ơn trung úy nhiều, ngày xưa khi còn Việt Nam Cộng Hòa, tấm hình này là cái bùa hộ mạng của tôi, một đôi lần bị cảnh sát xét giấy tờ, dồn vào ngõ cụt hết phương vùng vẫy, tôi nhờ nó mà vượt qua nhiều cửa ải bố ráp của cảnh sát. Trên giấy tờ tùy thân, tuổi của tôi đã quá hạn phải đi quân dịch thế nhưng có tật giật mình, tôi sợ rằng nếu để mấy ông cảnh sát bắt về đồn để tiếp tục xét hỏi thanh lọc, sưu tra lý lịch có thể tôi sẽ gặp rắc rối. Với cái nghề “Vạch lá tìm sâu” biết đâu mấy tay mật vụ hay cảnh sát chìm sẽ mò ra cái gốc cán bộ nằm vùng của tôi, cho nên tôi chìa tấm hình ra rồi nói “Cháu của tôi là Trung úy An Ninh Quân Đội của Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi là cậu của nó, là người Quốc Gia chân chính. Mấy ông có thể quay điện thoại vô Trường để kiểm chứng”. Tuy nói cứng như vậy nhưng biết mình là người xài tiền giả, tôi xuống giọng “Thưa mấy anh, cùng là anh em một nhà với nhau hết mà, tứ hải giai huynh đệ, mời quý anh khi nào rảnh ghé quán bánh xèo của tôi ở đường Tăng Bạt Hổ, tôi sẽ đãi quý anh một bữa no nê”. Khi nghe tôi nói như vậy lại có thêm tấm hình làm bằng chứng, ông nào cũng mềm lòng xét qua loa rồi cho tôi đi.

Ông Năm bánh xèo ngưng nói một lúc, rồi hỏi tôi.

-Ngày xưa, trung úy làm gì trong Trường Võ Bị?

-Thưa ông, tôi làm ở Phòng hành quân.

Ông Năm bánh xèo cúi đầu nhìn xuống, kéo hộc bàn lấy ra gói thuốc và cái hộp quẹt.

-Như vậy trung úy không thuộc diện ác ôn. Ngày hôm nay tấm hình này đối với tôi không còn giá trị nữa, tôi tặng lại cho trung úy, chúc trung úy học tập tốt, mau trở về với gia đình.

Tôi đang đờ người nghĩ, tại sao ông Năm giữ kỹ tấm hình như vậy, rồi bây giờ lại cho tôi. Mục đích của ông là gì? Vì suy nghĩ như vậy nên tôi lấy hết can đảm, liều mạng hỏi ông Năm.

-Thưa ông Cách mạng đã thành công, ông không sợ tôi dùng tấm hình này để lừa dối Cách mạng, như ông đã làm với các cơ quan an ninh của Ngụy hay sao?

Với nụ cười bí hiểm, ông Năm nói với tôi, giọng nói huênh hoang đầy tự đắc.

-Trung úy chỉ được cái lo bò trắng răng, địch vận là nghề của tôi mà.

Tôi cảm ơn ông Năm bánh xèo rồi đi ra cửa, trước khi cất tấm hình vào ví, tôi liếc nhìn phía sau. Cái tên Trần Chiến với chữ ký bằng bút nguyên tử nằm ngay góc trái đập vào mắt, khiến tôi lạnh cả gáy.

Bốn giờ chiều, chúng tôi được chất lên hàng chục chiếc GMC, bốn chục sĩ quan được nhét vô một chiếc xe, đứng sát nhau như cá đóng hộp. Không cần phải giải thích, mọi người đều hiểu rằng đây là những chiếc GMC của Việt Nam Cộng Hòa bỏ lại. Xe lăn bánh chạy dọc theo hồ Xuân Hương, qua cà phê Thủy Tạ, qua sân vận động rồi nhà ga xe lửa, một anh đứng phía trước sát với cabin xe, nhìn qua khe hở nhỏ tí xíu của tấm bạt.

-Chắc họ sẽ đưa tụi mình đến Trường đại học Chiến Tranh Chính Trị hay Trường Võ Bị Đà Lạt để học tập.

Được vài phút sau, một giọng nói khác vang lên.

-Xe đến ngã tư Phan Chu Trinh rồi các bạn, ủa mà sao lại quẹo phải. Đi đâu vậy?

Một vài tiếng xì xào bàn tán.

-Không lẽ xuống Phan Rang, dân Đà Lạt mà đem xuống Phan Rang để học tập, đi chi cho xa vậy?

Vì xe bị phủ bạt kín mít nên trong xe tối hù, không thấy rõ mặt nhau, nhưng tôi đoán chắc rằng gương mặt mọi người phải lo lắng băn khoăn ghê lắm. Khoảng mười phút sau, một giọng nói đầy mừng rỡ.

-Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến quý vị ơi, phải như vậy mới được chớ, đi đâu cho xa.

Chúng tôi xuống xe, được đưa vào những dãy nhà ngủ của khóa sinh Cảnh Sát Dã Chiến, phòng ốc ở đây rộng mênh mông, hai người một giường hai tầng. Sau khi ổn định chỗ ở đến phần phát cơm tối, mỗi người được lãnh một nắm cơm vắt to bằng trái cam. Đang sống sung sướng ở nhà, bữa cơm chiều đầy đủ cơm sốt canh nóng, chén bát đũa muỗng sạch sẽ, giờ đây đột nhiên mỗi ông quan tay bốc một cục cơm vắt lạnh ngắt, lòng dạ nào mà ăn cho được. Nhiều ông quan chê cơm nắm, cho rằng “Người quân tử chiếc chiếu trải không ngay, không ngồi” huống gì bốc cơm mà ăn như vậy coi sao được, bèn nhịn đói luôn cho được việc, họ đi ngủ với cái bụng trống rỗng. Ngày đầu tiên trong mười ngày học tập của sĩ quan cấp úy, trôi qua nhẹ nhàng êm đẹp. Chỉ còn chín ngày nữa là sĩ quan cấp úy chúng tôi sẽ trả xong nợ đời, món nợ không mượn mà phải trả.

Sáng ngày thứ hai của mười ngày học tập, nhiều người thức giấc khi trời còn mờ tối, lo làm vệ sinh cá nhân rồi chuẩn bị giấy bút sẵn sàng cho buổi học tập đầu tiên. Cũng vẫn là những gương mặt vui tươi hớn hở của ngày hôm qua, họ tụ tập trò chuyện với hy vọng tràn đầy. Mọi người chờ hoài chờ mãi, chờ cho đến trưa vẫn không được cho đi học, mà lại được hướng dẫn đi ăn cơm. Lệnh của cán bộ Việt Cộng, tất cả sĩ quan Ngụy đội hình di chuyển hàng một, mỗi người cách nhau một mét. Cứ khoảng vài chục mét lại có một anh bộ đội, súng AK mang trên vai đi ngoài hàng kiểm soát. Lội bộ chừng hơn vài trăm mét, chúng tôi đến nhà ăn, mỗi bàn một thau cơm, chút rau luộc, vài con cá khô. Mấy ông quan nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, cố nuốt cho trôi hết chén cơm vì bụng đói. Sau bữa ăn, mọi người phải tự rửa chén đũa của mình, giữ lại để dùng cho lần tới.

Đang lui cui rửa chén và đôi đũa nơi bể nước gần phòng ngủ, tôi giật mình vì có ai đó vỗ nhẹ vào vai của tôi.

-Cũng biết rửa chén nữa hả trung úy?

Tôi quay đầu nhìn lên, Trung úy Lợi Công binh Trường Võ Bị Đà Lạt đang tươi cười nhìn tôi, nụ cười như là chế giễu.

Tôi nói với Trung úy Lợi.

-Gọi mày với tao cho quen, cứ trung úy với đại úy, Việt Cộng nó đì cho xói trán bây giờ.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày ở phòng nào?

Tôi chỉ cho hắn căn phòng tôi đang ở.

Trung úy Lợi nhìn theo hướng ngón tay trỏ của tôi.

-Chỗ mày còn giường trống không? Tao dọn qua ở với mày cho vui.

Tôi reo lên.

-Tao đang buồn vì không có bạn, gặp lại mày cứ như là “Tha hương ngộ cố tri”. Mày dọn qua lẹ lẹ lên, còn mấy cái giường bỏ không đó.

Trung úy Lợi sửa lưng tôi.

-Đừng có ăn nói tào lao, tao với mày đang ở tại Đà Lạt, trên đất nước của mình, tha hương cái nỗi gì. Mày phải nói là “Buồn ngủ gặp chiếu manh” mới được.

Tôi gật đầu.

-Mày nói phải, chiếu manh, chiếu cói, chiếu cạp điều hay chiếu gì cũng được, giờ thì mày làm ơn về phòng lấy hành lý đi, tao đợi mày tại phòng của tao.

Phải hơn một giờ đồng hồ sau, Trung úy Lợi mới đến, hắn đặt cái ba lô xuống đầu giường kế giường của tôi, cất giọng kể lể.

-Mày biết không, mọi người đều nói mặt mũi của tao coi cũng sáng sủa không đến nỗi nào, vậy mà tao làm chuyện gì cũng chậm lụt, khi di tản khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt tao cũng chậm, rồi chuyện chạy trốn ra ngoại quốc tao còn chậm hơn, cho nên giờ phút này mới còn ở đây để gặp mày.

Tôi an ủi Trung úy Lợi.

-Mày tưởng tao ngon lắm chắc, tao còn đần hơn mày nhiều. Mà chuyện mày rời khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt sau cùng là phải rồi, còn trách cứ gì ai, bởi vì nhiệm vụ của mày là đặt chất nổ phá hủy trường mà.

Tôi nhìn quanh, khi thấy không có ai tôi mới nói nhỏ vào tai của Trung úy Lợi.

-Tan tành hết phải không? Giống như cả chục phi tuần F 5 của mình dội bom chứ gì.

Trung úy Lợi với gương mặt thảm não.

– Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi như mới, không chết một con kiến, cũng không hư một cục gạch.

Tôi ngồi đờ người ra.

-Mày nói láo cũng vừa thôi, chừng đó kí lô hợp chất C4 mà còn nguyên sao được. Công binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chứ đâu phải du kích Việt Cộng chỉ biết đặt mìn, đắp mô, phá hủy vài khúc đường rầy xe lửa.

Trung úy Lợi mồi một điếu thuốc.

-Mày có cà phê không? Tao thèm quá.

Tôi đùa với Trung úy Lợi.

-Có, mà tao để ở Trường Võ Bị Đà Lạt rồi, mày làm ơn nhớ giùm là tụi mình đang đi học tập chứ không phải ngồi ở cà phê Tùng hay cà phê Thủy Tạ. Nói cho tao biết, tại sao mày không cho nổ Trường Võ Bị Đà Lạt.

Trung úy Lợi rít một hơi thuốc, chậm rãi kể.

-Tối hôm đó, sau khi uống cà phê với mày tại Trung tâm Hành quân, tao cùng bốn ông lính công binh, là chuyên viên chất nổ, chạy xe dodge qua Nhà thí nghiệm nặng. Tại đây, vì còn dư quá nhiều thì giờ, tụi tao ngủ một giấc ngon lành chờ đến giờ hành động. Đúng chín giờ tối, tao bắt đầu cho đệ tử tháo dỡ hợp chất C4 xuống xe, lúc bấy giờ tao mới phát giác ra trong xe không có ngòi nổ với mấy cuộn dây dẫn điện.

Trung úy Lợi nhìn tôi.

-Mày biết không lúc đó tao tức điên người, giận đến nỗi run tay mờ mắt, chửi thề nhặng cả lên “Đù má, cuộn dây điện to như cái cối đá mà mấy ông nở lòng nào quên cho được, trước khi đi tôi đã kiểm soát lần cuối cùng, dặn tới dặn lui, ông nào cũng báo cáo đủ. Tại sao đến đây lại không có dây dẫn điện”. Một ông lính rụt rè nói với tao “Tại hấp tấp quá nên em quên”. Tao chụp cái ống liên hợp máy PRC 25 gọi về Đại đội Công Binh của trường. Gọi khan cả cổ mà không một tiếng trả lời, tao gọi máy về đại đội mà cứ như là gọi xuống âm ti, tức mình tao quăng mẹ nó cái ống liên hợp xuống ghế trưởng xa, chỉ vào hai người lính “Hai ông làm ơn lái xe dodge về đại đội lấy ngòi nổ và dây dẫn điện qua đây cho tôi, hai ông còn lại cứ tiếp tục công việc”.

Trung úy Lợi vứt cái tàn thuốc xuống đất, lấy chân giậm lên rồi nói với tôi.

-Mày biết rồi, từ Nhà thí nghiệm nặng đến Đại đội Công Binh khoảng chừng mười phút lái xe, vậy mà tao đợi hơn một tiếng đồng hồ vẫn không thấy tăm hơi của hai ông đệ tử. Tao cùng hai người đệ tử còn lại, ôm đống hợp chất C4 mà khóc ròng. Không máy PRC 25, không đặc lệnh truyền tin, không súng đạn, tụi tao như những thằng mù, điếc, câm. Đã hơn mười giờ rưỡi rồi mà tụi tao vẫn còn ở trong trường. Tao đoán rằng hai ông đệ tử của tao khi đến Đại đội Công Binh thấy cảnh vườn không nhà trống, mọi người đã chạy mất tiêu hết rồi, quá sức hoảng sợ cả hai bèn dọt luôn cho êm chuyện. Tao chỉ hơi buồn chút xíu là tại sao họ chạy mà đành đoạn bỏ thầy, bỏ bạn của họ ở lại. Mười một giờ đêm, khi biết chắc rằng hai ông lính của tao đã dông mất đất rồi, tao mới dẫn hai người lính còn lại chạy bộ ra khỏi trường. Ba thầy trò như những cái bóng ma vừa chạy vừa run, khi chạy ngang qua Vũ đình trường Lê Lợi, tao chỉ sợ lính của Tiểu đoàn An ninh chưa rút đi, còn đóng ở điểm kích 1511 phía sau lưng Đài Tử Sĩ tưởng mình là Việt Cộng thì bỏ mẹ, họ làm thịt ba đứa tao là cái chắc. Mày nhớ giùm tao, ban đêm di chuyển trong trường mà không biết mật khẩu, mật hiệu, kể như là chết chắc, chết chắc luôn. Cuối cùng sau mấy chục phút chạy muốn hụt hơi, mồ hôi đổ như tắm, tụi tao cũng thoát được ra khỏi cổng Lý Thường Kiệt, khu Chi Lăng vắng ngắt không một bóng người, dân chúng ở đây đã di tản tự lúc nào.

Trung úy Lợi nhìn tôi rồi nhắc lại.

-Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi, không hư một cục gạch.

Tôi nói đùa với Trung úy Lợi.

-Như vậy là mày đã lập được công lớn với Cách mạng rồi.

Trung úy Lợi nghiêm sắc mặt.

-Đừng có nói giỡn, ở tù mọt gông đó mày, chuyện đặt chất nổ chỉ có tao với mày biết, tao là thủ phạm, mày là tòng phạm vì phối hợp kế hoạch với tao. Từ đây về sau, hai đứa mình cứ câm như hến là được, mày biết câu nói “Tai vách mạch rừng” rồi chớ gì.

Nhìn nét mặt đầy lo sợ của Trung úy Lợi, tôi nói.

-Biết quá đi chớ, nhưng tại sao đêm đó mày không gọi máy cho Trung tâm Hành quân?

Trung úy Lợi nhăn mặt.

-Trên đời này chưa có ai mà ngu như tao, máy PRC 25 cùng với đặc lệnh truyền tin tao đều để trên xe dodge, chuyện chết người là ở chỗ đó.

Những gì muốn biết, tôi đã biết rõ ràng tường tận. Tôi không muốn nghe Trung úy Lợi kể thêm về chuyện đặt chất nổ phá hủy Trường Võ Bị Đà Lạt trước khi di tản, nên chuyển đề tài.

-Dẹp mẹ chuyện đó qua một bên, mày đem thức ăn gì cho mười ngày.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày hỏi làm gì?

-Tao đề nghị hai đứa mình góp thức ăn lại, ăn chung cho vui.

-Mày nói nghe được, tao có năm lon thịt hộp với mấy gói mì. Còn mày có gì?

Tôi mở cái xách tay lôi ra hũ ruốc kho sả.

-Tao chỉ có chừng này.

Trung úy Lợi thắc mắc.

-Cái thứ gì trong đó?

Tôi cười với Trung úy Lợi.

-Ruốc thịt heo kho sả.

Trung úy Lợi dùng cả hai tay bưng cái hũ ruốc lên, miệng cười toe toét.

-Mẹ nó, làm gì mà mày đem theo cái hũ ruốc to quá mạng như vậy.

-Món này vợ tao làm, tao chê là nhiều quá nhưng vợ tao cứ nhét vào cái xách tay của tao.

Trung úy Lợi gật gù cái đầu.

-Mày lấy vợ được bao lâu rồi.

-Mới hơn một tháng.

-Chắc vợ của mày ghét mày lắm, muốn mày học tập ba, bốn tháng thay vì là mười ngày, cho nên mới làm cái hũ ruốc to như vậy. Nhưng mà không sao đâu, yên chí đi tao sẽ ăn phụ với mày.

Tôi và Lợi thân với nhau kể từ đó.

Một ngày ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến trôi qua lẹ như cái chớp mắt, ăn trưa xong chưa kịp làm gì đã đến cơm chiều, ngày hôm sau lại cũng cơm trưa, rồi cơm chiều. Mười ngày trôi qua cái vù, mọi chuyện vẫn giậm chân tại chỗ, không nghe nói gì đến chuyện học tập.

Gần như là tất cả mọi người đều bắt đầu thắc mắc bàn ra tán vào. Nhiều câu nói đầy ngờ vực được đưa ra.

-Nếu mai hay mốt bắt đầu học, như vậy chắc phải hai tuần nữa sẽ được về.

Một giọng nói hơi bi quan cất lên.

-Tao nghi phải một tháng quá.

Một anh có máu tếu trong người, vọt miệng.

-Chắc phải ba năm.

Nhiều tiếng ồn ào phản đối.

-Thằng nào nói ba năm đó, miệng mồm ăn mắm ăn muối, chỉ được cái nói bậy là giỏi.

Chuyện học tập mười ngày coi như không có, mọi người tuy không nói ra nhưng đa số đều tin rằng chắc cũng phải học tập vài tháng. Khi đã có được niềm tin, mọi hy vọng sẽ đến, nhờ vậy mà sinh khí trong trại vẫn còn.

Qua buổi sáng của cuối tuần lễ thứ ba, hàng chục chiếc GMC bít bùng chở chúng tôi đến chỗ mới, theo lời của cán bộ Cộng Sản là tạo điều kiện cho chúng tôi học tập tốt hơn. Mọi người lại hy vọng, lần này sẽ là Trường Võ Bị Đà Lạt, vì chỉ có nơi đó mới đầy đủ phòng ốc cho hàng ngàn sĩ quan chúng tôi học tập. Khi xe ra khỏi cổng Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến sẽ quẹo trái để về Trường Võ Bị Đà Lạt như mọi người dự đoán, thì đoàn xe lại rẽ phải. Một bầu không khí yên lặng chụp xuống, tất cả ngơ ngác nhìn nhau “Đi đâu đây hở Trời”.

Sĩ quan cấp úy chúng tôi, trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt, được đưa đến tập trung tại Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, ở đây khoảng hai chục ngày. Suốt thời gian nói trên, chúng tôi chỉ học được một bài học duy nhất là viết bản lý lịch trích ngang hay trích dọc gì đó, dài hàng chục trang giấy, trong đó khai rõ lý lịch ba đời của dòng họ nhà mình và cả ba đời dòng họ bên vợ, viết đi rồi viết lại, viết cho đến khi nào đạt yêu cầu mới thôi. Cái khó cho chúng tôi là không một ai biết Việt Cộng yêu cầu cái gì, cho nên đã hai chục ngày qua, chưa có ông quan nào viết được bản khai lý lịch đạt yêu cầu như Việt Cộng mong muốn. Cho dù đó là quan kỹ sư, quan bác sĩ, quan dược sĩ, quan tiến sĩ…cũng bó tay luôn.

Giã từ Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, đoàn xe GMC chở chúng tôi nối đuôi nhau giong ruổi trên con đường thiên lý, mãi cho đến chiều tối mới đến thị trấn Sông Mao thuộc tỉnh Phan Thiết, rồi ngừng lại tại trại gia binh của Trung đoàn 44, Sư đoàn 23 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa.

Đến đây tôi biết được một điều, chuyện học tập mười ngày đã trở thành chuyện cổ tích.

Theo lời của cán bộ quản giáo nói với tất cả sĩ quan cấp úy, để cho việc học tập được dễ dàng, đạt kết quả tốt, trại học tập phải được tổ chức theo lệnh trên.

Về nhân sự cũng như nơi ăn chốn ở, Trại học tập cải tạo Sông Mao, Phan Thiết, được chia ra làm ba Trại phân biệt rõ ràng: Trại A giam giữ sĩ quan Ngụy có cấp bậc đại úy, Trại B trung úy và Trại C thiếu úy.

Tôi ở Trại B trung úy, nên không biết rõ tổ chức của Trại A đại úy và Trại C thiếu úy như thế nào. Tôi chỉ biết rằng Trại B trung úy của tôi, được chia làm năm khối: Khối 1 Lâm Đồng, Khối 2 Bình Tuy, Khối 3 Ninh Thuận, Khối 4 Bình Thuận và Khối 5 Đà Lạt. Trước năm 1975, sĩ quan cư ngụ ở tỉnh nào sẽ về khối đó. Khối Đà Lạt của tôi có sáu tổ, mỗi tổ có mười sáu người, bắt đầu từ tổ 37 cho đến tổ 42. Như vậy toàn Khối 5 Đà Lạt có tổng cộng khoảng chín mươi sáu sĩ quan cấp trung úy. Khối sẽ có khối trưởng và khối phó, tổ sẽ có tổ trưởng và tổ phó điều hành, những vị sĩ quan này đều có thân nhân đi theo cách mạng khi khai lý lịch. Họ được cách mạng chỉ định giữ những chức vụ trên.

Khối trung úy Đà Lạt của tôi ở trong hai dãy trại gia binh nằm đối diện, cách nhau bởi một cái sân rộng, một dãy nhà gồm có nhiều căn. Cứ tám người ở trong một căn nhà bề ngang khoảng bốn mét, chiều dài chừng mười mét được chia làm ba phần: nhà trước, nhà bếp, phía sau là nhà vệ sinh và phòng tắm. Tường xây gạch, loại gạch đúc bằng xi măng có lỗ hổng ở bên trong, mặt tường không có tô hồ, mái nhà lợp tôn. Nhà có phòng tắm nhưng không có nước, sông Mao là vùng đất bán sa mạc, về mùa nắng giếng khô cạn cho nên mỗi tuần một lần, tù cải tạo được dẫn lên đập nước cách trại chừng vài cây số để tắm rửa và giặt quần áo.

Sau vài ngày xáo trộn lúc ban đầu, cuộc sống của tù nhân dần dần ổn định, 6 giờ sáng khi tiếng kẻng báo thức đánh lên, mọi người phải ra sân tập thể dục tập thể đúng mười lăm phút, sau đó vệ sinh cá nhân, lãnh phần ăn sáng để chuẩn bị 7 giờ đi làm lao động.

Sáng hôm nay, Tổ 37 của tôi đang sửa chữa hàng rào kẽm gai, ngay nơi cổng ra vào của Trại trung úy. Đám tù nhân chúng tôi phải làm lại hàng rào cho kiên cố hơn để giam giữ mình. Một ông cán bộ Cộng Sản nói với chúng tôi “Các anh đòi kềm, búa, kéo cắt sắt, bao tay để làm việc phải không? Trước đây chiến sĩ cách mạng tay không còn đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Hôm nay sĩ quan Ngụy các anh chỉ có làm cái hàng rào kẽm gai sơ sài như thế này mà đòi hỏi lung tung. Cách mạng còn nghèo không có những thứ ấy, các anh phải khắc phục khó khăn để hoàn thành công tác.”

Chúng tôi với tay không, cố gắng làm cho xong lớp hàng rào thứ nhất, sau đó đến lớp hàng rào thứ hai, rồi lớp thứ ba. Mặt trời lên khá cao chiếu ánh nắng chói lòa xuống đầu lũ tù, tôi đưa tay áo lên quẹt bớt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán.

Trung úy Lợi đưa bình nước cho tôi.

-Nhắp một chút cho đỡ khát đi mày.

Tôi cầm cái bi đông nước, mà mắt không rời một đám người đang tiến về trại. Hàng trăm người chứ ít ỏi gì, tất cả đều mặc bà ba đen, chậm rãi di chuyển, trông họ giống như là đang cố lê bước chứ không phải là đi. Khi đoàn người đã đến gần, có thể trông rõ mặt, tôi chợt rùng mình nhìn lại mình, hơn hai tháng rồi bọn tù chúng tôi tuy có ốm đi nhưng vẫn còn mạnh khỏe, vẫn còn đầy đủ hình hài vóc dáng của một con người. Đám người mới tới trông như là những bộ xương biết đi, những gương mặt tái mét vàng ủng, chỉ còn da bọc xương, đôi mắt lờ đờ lạc thần như những cái xác chết.

Một người trong Tổ 37 của chúng tôi lên giọng hỏi.

-Ở đâu tới vậy?

-Cà Tót.

Ba, bốn thằng Đà Lạt ngơ ngác nhìn nhau.

-Có thằng nào biết Cà Tót ở đâu không?

-Hình như là ở trong mật khu Lê Hồng Phong.

Một giọng cằn nhằn.

-Phải không đó, đừng có đoán mò nghe cha nội.

Cà Tót, cái địa danh lạ hoắc mà từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ nghe đến. Tôi nhìn đám tù mới với đôi mắt thờ ơ, vì biết rằng mình không có quen ai trong nhóm. Tôi định quay người tiếp tục làm việc, bất ngờ một người hai tay chống gậy, chầm chậm đi đến bên tôi.

-Quân bắp cải phải không?

Tôi ngớ người ra, cái biệt danh Quân bắp cải của tôi khi còn ở Quân trường Thủ Đức, chỉ có Biên, Long công tử và một số ít bạn bè trong đại đội cùng khóa với tôi biết mà thôi. Biên đã chết rồi, người trước mặt tôi có thân hình giống như là cái xác chết, nhất định không phải là Long công tử. Tôi nhìn kỹ người gọi tôi một lần nữa, trước mặt tôi là một bộ xương khô dơ dáy bẩn thỉu, người không ra người, ngợm không ra ngợm, hai con mắt của hắn thụt sâu vào như hốc mắt của cái đầu lâu, tóc tai rụng gần hết chỉ còn lưa thưa vài cọng, hai bàn tay gầy trơ xương nắm chặt lấy cây gậy đang chống xuống đất, hai bàn chân không giày không dép, dính đầy đất bùn, cả thân hình của hắn được che bởi bộ đồ bà ba đen rộng thùng thình. Tôi hoàn toàn không biết được gã tù đứng trước mặt mình là ai. Tại sao hắn lại biết cái tên Quân bắp cải.

Tôi hỏi hắn.

-Mày là ai? Sao biết tên tao?

Bộ xương không trả lời, vất cây gậy xuống đất rồi đưa cả hai tay ôm lấy mặt tôi, nước mắt từ trong cái hốc mắt vô hồn của hắn chảy tràn qua làn da đen sạm nhăn nheo, lăn dài trên đôi gò má hóp.

-Bắp cải à, mày không nhìn ra tao sao?

Tôi lắc đầu, hỏi lại hắn một lần nữa.

-Mày là ai? Cùng chung Đại đội sáu mươi hai với tao ở Thủ Đức phải không?

Cái thây ma trước mặt tôi thều thào.

-Tao là Long công tử đây.

Cái tên Long công tử lúc bấy giờ mới thực sự trở về trong đầu của tôi, kéo theo cả một dĩ vãng vàng son một thuở, đánh thức luôn thính giác của tôi. Thêm vài câu trò chuyện trao đổi, tôi nhận ra giọng nói ngọt ngào đầy tình cảm của Long công tử, đúng là giọng nói của hắn vào những ngày xa xưa khi tụi tôi còn ở quân trường Thủ Đức. Trong trường hợp này, tôi có mắt cũng như mù, thị giác của tôi có cũng như không, vì gương mặt và hình dáng bề ngoài của Long công tử đã thay đổi, khác biệt hoàn toàn với ngày xưa. Dang rộng hai cánh tay, tôi ôm lấy bộ xương mà nước mắt của mình chỉ chực tuôn tràn. Mắt của tôi mờ đi như bị bao phủ bởi một màng sương mỏng, tôi nói với giọng nói nghẹn ngào trong cổ họng, nhiều lúc tưởng như bị hụt hơi.

-Long công tử, mày làm gì để đến nỗi thân tàn ma dại như thế này, sáu năm hơn rồi phải không, kể từ ngày tao với mày rời xa đồi Tăng Nhơn Phú, sáu năm dâu bể đổi thay, đâu ngờ hôm nay tụi mình lại gặp nhau trong cảnh đọa đày đau xót, trùng phùng trong tù ngục thê lương bi thảm như vầy.

Long công tử đưa tay rờ tai, mắt, mũi của tôi, nó dùng mấy ngón tay chỉ còn da bọc xương với móng tay đầy cáu ghét, bẩn thỉu, lau mấy giọt nước mắt trên má của tôi.

-Mày chỉ thay đổi chút ít, không còn sữa nữa rồi.

Thương thằng bạn ốm đói, lòng đầy hoang mang, không biết Long công tử có được ở chung trại B trung úy với mình hay không, tôi vỗ nhẹ vào lưng của nó.

-Nói cho tao biết ngày ba mươi tháng tư, mày là đại úy hay trung úy.

Long công tử hỏi lại tôi.

-Mày hỏi cấp bậc của tao để làm gì?

Tôi từ tốn giải thích.

-Nếu mày còn là trung úy thì tụi mình sẽ được ở chung một trại, còn nếu là đại úy, mày phải qua trại khác.

Long công tử dịu giọng.

-Tao là trung úy.

Tôi mừng rỡ ôm chặt lấy hắn.

-Vậy là tụi mình được nhốt chung một trại rồi.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Van Truong

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 3 Mar 2025

Tập 2

Phần 7
Mười ngày

Tôi trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt. Một ông cán bộ Việt Cộng ngồi sau cái bàn, giống như bàn ăn ở trong tiệm ăn bình dân của Tàu. Nhìn quanh căn phòng, không thấy ai, tôi bước đến trước mặt ông ta.

-Thưa ông, tôi là sĩ quan Ngụy đi trình diện theo lịnh gọi của Chính phủ Cách mạng.

Người cán bộ hất hàm.

-Giấy chứng minh đâu?

Tôi lục trong ví, đưa cho ông ta thẻ căn cước quân nhân và giấy chứng chỉ tại ngũ của tôi.

Người cán bộ tuổi chừng ba mươi, áo quần chỉnh tề, gương mặt sáng sủa, đưa tay cầm lấy giấy tờ tùy thân của tôi, trong khi đôi mắt của ông ta chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi sau đó thản nhiên vất tất cả giấy tờ của tôi vào cái bị để dưới đất. Trên bàn, trước mặt ông cán bộ Việt Cộng là một xấp giấy và cây viết Bic, với giọng nói từ tốn, cái từ tốn đầy uy quyền của phe thắng trận.

-Tên?

Tôi đáp.

-Nguyễn Trọng Quân.

Ông ta cúi đầu ghi chép rồi hỏi tiếp.

-Cấp bậc?

-Trung úy.

Ngẩn nhìn tôi với đôi mắt khó chịu.

-Anh phải nói là trung úy Ngụy, ở đây không có chuyện lẩn lộn “lập lờ đánh lận con đen” giữa một trung úy hàng binh Ngụy và một trung úy của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.

Tôi nghĩ thầm, tay Việt Cộng này coi bộ cũng có ăn học đàng hoàng cho nên mở miệng ra là nói Kiều. Tôi định nói với ông ta, hôm nay tuy mang thân phận “Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu”, nhưng tôi biết chắc một điều là tất cả binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không một ai đầu hàng Cộng Sản, họ buông súng chỉ vì tuân lệnh thượng cấp. Và tôi có thể khẳng định với ông, cho đến chết họ vẫn tự hào là sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dứt khoát không bao giờ lẩn lộn với sĩ quan Cộng Sản. Nghĩ như vậy, nhưng tôi kịp ngừng lại vì biết miệng người thắng trận có gang có thép, bất cứ những gì họ nói ra đều là mẫu mực, là chân lý cho mọi người noi theo.

Người cán bộ nói xong, lại cặm cụi ghi ghi chép chép. Sau đó, ông ta trao cho tôi tấm giấy to bằng một phần tư cuốn vở học trò.

-Đây là giấy chứng nhận đã trình diện Ủy ban quân quản, anh về nhà đợi lịnh mới, không được đi xa, muốn đi đâu phải có giấy phép.

Tôi quay người đi ra cửa, mắt liếc nhìn tờ giấy, tên của tôi và cấp bậc được điền vào chỗ trống bằng bút nguyên tử màu xanh. Đây là mẫu giấy đã được in sẵn, chữ ký cũng đã được ký trước rồi. Tờ giấy không ghi ngày tháng, chỉ vỏn vẹn có mấy hàng chữ.

Giấy chứng nhận.

Tên : Nguyễn Trọng Quân.

Cấp bậc: Trung úy Ngụy.

Đã trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Ký tên.

Trần Chiến.

Kể từ hôm nay, cuộc đời của tôi hoàn toàn lệ thuộc vào tờ giấy này, đi đâu, làm gì, ở đâu, đều phải xin phép cái ông Trần Chiến lạ hoắc này.

Tôi gấp tờ giấy lại, nhét vào ví rồi thong thả ra về.

Gần một tháng trường trôi qua, tôi sống mà như bị giam lỏng, hoang mang, lo sợ không biết số phận của mình rồi sẽ về đâu. Khi sống trong tận cùng của tuyệt vọng, người ta chỉ còn biết dựa vào những tin đồn. Hôm nay, có tin là tất cả quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị bắt bỏ tù, ngày mai, lại có tin sẽ phải lên tàu đi ra Phú Quốc, nơi mà ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa đã giam giữ tù binh Cộng Sản. Những tin đồn xấu như vậy tôi nghe qua rồi quên mất, nhất định không thèm nhớ. Rồi vài ngày sau nữa lại có tin đồn, chúng tôi sẽ được đưa đi học tập về chính sách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời trong một thời gian ngắn. Sau đó được trả về quê cũ, ai ở đâu sẽ về lại nơi đó, sống và làm ăn lương thiện như một người dân thường. Đó là cái tin đồn mà tôi thích nghe nhất. Một cái tin đồn đầy lạc quan như vậy tôi phải giữ lại trong đầu, rồi hy vọng mọi chuyện sẽ diễn ra đúng như thế.

Cuộc sống của tôi trong những ngày bị giam lỏng, nếu không có những lo âu phiền muộn vô cớ, quả thật là tràn đầy hạnh phúc. Buổi sáng, tôi thức dậy khi mặt trời bắt đầu chiếu những tia nắng vàng ấm áp xuyên qua khung cửa sổ. Cúc đã nấu xong bữa ăn sáng cho tất cả mọi người trong gia đình, khi thì nồi xôi đậu đen ăn với muối mè đậu phụng, khi thì chén cháo đậu xanh ăn với đường cát trắng.

Tôi nói với Cúc.

-Em có vẻ thích món cháo lắm phải không?

Cúc cười.

-Ba em rất thích món này, ngày xưa khi ăn cháo trắng với trứng vịt muối, ba thường gật gù đắc ý nói với em “Ở ngoài xứ của mình, đây là món ăn sáng của nhà giàu”.

Tôi múc một muỗng đường cát trắng, rải lên chén cháo đậu xanh còn nóng hổi.

-Ba của anh và ba của em, hai ông già lúc nhỏ ở ngoài xứ đi chăn trâu để kiếm sống, buổi sáng có được củ khoai, lát mì lót bụng là quá rồi, cháo đâu mà ăn. Chắc ba em thấy mấy người Tàu ở Hội An ăn cháo nên mới nói vậy. Để hôm nào rảnh anh sẽ hỏi lại ba của anh, chuyện có đúng như vậy hay không? Anh với em cùng là dân Quảng Nam, nhưng là Quảng Nam mất gốc, cho nên phong tục tập quán của người xứ Quảng, tụi mình hoàn toàn mù tịt. Hay là vậy đi, mai mốt anh và em về xứ làm ruộng sinh sống “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, em sinh cho anh một bầy con cỡ chừng một chục đứa. Được không?

Cúc múc một muỗng cháo thổi nhè nhẹ.

-Anh muốn về đâu cũng được chỉ sợ Việt Cộng không cho. Với em, Đà Lạt, Sài Gòn hay Quảng Nam cũng như nhau thôi, sống ở đâu cũng vậy vì đều là đất nước Việt Nam mà. Có điều này em muốn nói là anh bớt mơ mộng một chút đi, sống dưới chế độ Cộng Sản mà anh nghĩ đến chuyện làm ruộng để nuôi một bầy con, đó là chuyện hiện thực huyền ảo.

Cúc nhìn qua khung cửa sổ.

-Hôm nay nắng đẹp quá, mình lên sân thượng ngắm cảnh, uống cà phê đi anh.

Sân thượng nhà tôi khá rộng, trước mặt là rạp ciné Ngọc Hiệp, nhích qua bên tay phải là quán cơm Kim Linh, Như Ý của người Tàu, gồm bốn cái kiosk nối liền nhau rồi đến con hẻm có quán mì quảng nổi tiếng của Đà Lạt.

Tôi và Cúc ngồi trên bộ ghế loại đặc biệt chỉ dùng ở ngoài trời. Tất cả trang thiết bị ở trong nhà, đều do bác Bảy mua sắm nên không thể nào chê được, đẹp, tốt và bền. Nhìn Cúc thong thả nhấp một hớp cà phê, đôi mắt lơ đễnh ngắm đám mây trắng trôi dật dờ ở cuối chân trời, trong lòng đầy sung sướng, tôi cầm tay Cúc rồi chỉ cho nàng hai ngọn núi mờ xa lẩn trong sương mù.

-Ước gì tụi mình được mãi mãi sống bên nhau như thế này, giống như hai ngọn núi Bà, ngàn năm đứng bên nhau cho dù vật đổi sao dời.

Cúc nhìn theo hướng tay của tôi chỉ.

-Vậy mà hồi nào tới giờ, em cứ tưởng đó là đỉnh Lâm Viên.

Tôi gật đầu.

-Đúng, đó là đỉnh Lâm Viên nhưng người dân Đà Lạt gọi là núi Bà.

Cúc thắc mắc.

-Có tới hai đỉnh núi, một ngọn là Bà, ngọn còn lại phải là Ông thì mới đúng chứ.

Tôi cười thích thú.

-Em nói đúng, ngọn bên trái là núi Bà, ngọn bên phải là núi Ông. Núi Bà cao hơn núi Ông chừng bốn chục thước. Em có biết tại sao không?

Cúc lắc đầu.

-Không.

Tôi giải thích.

-Anh chỉ đoán thôi, vì người Lạch theo chế độ mẫu hệ cho nên bà phải cao hơn ông mới hợp lý. Anh sanh đẻ ở Đà Lạt nhưng chưa bao giờ nghe người dân Đà Lạt gọi là “Núi Bà, Núi Ông”, mà anh chỉ nghe họ gọi chung cho cả hai ngọn núi là “Núi Bà”. Còn nếu muốn hiểu rõ tường tận về núi Bà, phải đi xa hơn nữa với câu chuyện cổ tích của người Lạch, kể về mối tình lâm ly bi đát, đầy nước mắt của chàng Lang và nàng Biang. Người dân Lạch lấy tên hai người đặt tên cho hai ngọn núi là LangBiang mà sau này đổi thành Lâm Viên. Chỗ này lại phát sinh thêm mâu thuẫn, nếu theo chế độ mẫu hệ thì bà phải trước ông, ngọn núi phải được đặt tên là BiangLang mới đúng.

Cúc chần chừ giây lát, rồi nói với tôi.

-Cao hay thấp, trước hay sau em không quan tâm, chỉ muốn biết anh đã lên đỉnh Lâm Viên rồi. Phải không?

Tôi hơi ngạc nhiên.

-Ai nói với em như vậy?

-Em nghe mấy đứa bạn của em nói, theo truyền thống của Trường Võ Bị Đà Lạt, tất cả Sinh viên sĩ quan trước ngày lễ gắn Alpha đều phải chinh phục đỉnh Lâm Viên mà.

Tôi than thở với Cúc.

-Khổ quá em à, sao ai cũng lầm hết trơn vậy, anh tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức trên đồi Tăng Nhơn Phú, không dính dáng gì đến đỉnh núi Lâm Viên của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Một đàng là sĩ quan trừ bị, một đàng là sĩ quan hiện dịch, khác nhau hoàn toàn.

Cúc lắc đầu.

-Anh nói gì mà khó hiểu quá, anh là trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt mà, sao anh lại không nhận.

Tôi đành chịu thua Cúc, nhưng cố nói thêm.

-Quan cũng có năm, bảy đường quan, như sĩ quan Không quân, sĩ quan Hải quân, sĩ quan của Binh chủng. Chưa kể những ông quan có chuyên môn đặc biệt như: sĩ quan giáo sư, sĩ quan kỹ sư, sĩ quan nha sĩ, sĩ quan bác sĩ…và nhiều nữa. Mỗi ông quan có một nhiệm vụ khác nhau, không có ông quan nào giống ông nào.

Tôi đang khổ công giải thích cho Cúc hiểu, cái rắc rối của mấy ông quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bất ngờ con Quyên tung cửa chạy tới, ôm lấy Cúc.

-Chị Hai nè, em có tin vui cho chị.

Cúc bẹo má con Quyên.

-Tin vui gì? Em muốn ăn canh chua cá phải không? Hay là em muốn ăn xôi gà? Mấy món đó không phải là tin vui.

Con Quyên nũng nịu.

-Em nói tin vui thiệt mà, hôm qua có thông báo của Ủy ban quân quản, nói về chuyện hoc tập của lính Ngụy. Tất cả hạ sĩ quan, binh sĩ phải đi học tập ba ngày, sáng đi chiều về, mang theo cơm trưa.

Con Quyên lần mấy đốt ngón tay.

-Tính ra chỉ còn hai ngày nữa là bắt đầu học rồi.

Ngừng một chút, con Quyên nói tiếp.

-Còn phần sĩ quan cấp úy, mang theo mùng mền vật dụng cá nhân, tiền ăn cho mười ngày. Sĩ quan cấp tá và tướng em không muốn nhớ. Em chỉ cần nhớ, thời gian mười ngày cho anh Hai là đủ rồi. Đó không phải là tin vui hay sao?

Cả tôi và Cúc đều mừng rỡ ra mặt, Cúc nắm chặt hai vai con Quyên, lắc mạnh.

-Em nghe có đúng không?

Con Quyên gật đầu, đưa ra tờ giấy.

-Đúng mà chị Hai, em còn ghi xuống giấy nữa nè.

Cúc khen con Quyên.

-Em giỏi thiệt, tối nay chị sẽ nấu xôi gà để thưởng công cho em. Tin vui như vậy, mà sao hôm qua em không nói cho anh chị biết.

Con Quyên liếc nhìn tôi.

-Hôm qua khi em về đến nhà, anh chị đã ngủ khò mất rồi.

Tôi dang hai tay ôm lấy Cúc, hôn khắp mặt mũi của nàng, với giọng vui mừng.

-Từ nhỏ cho đến giờ, chưa khi nào anh có được những giây phút sung sướng, hạnh phúc như hôm nay. Mình phải xuống nhà, nói cho ba má biết để ông bà bớt lo. Anh để ý mấy hôm nay, ba má và em ai cũng buồn xo.

Cúc quay nhìn con Quyên.

-Chị em mình đi chợ mua con gà bự thiệt bự, nấu xôi ăn mừng. Em biết chỗ nào bán gà chợ đen không?

-Chị khỏi lo, cứ theo em thứ gì cũng có.

Sau đúng ba ngày học tập, tất cả hạ sĩ quan, binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không phân biệt binh chủng, đều được cấp giấy chứng nhận là đã học tập xong và trở thành công dân trong chế độ mới. Chuyện này khiến cho tôi phải trằn trọc suy nghĩ suốt mấy ngày, tôi hồi tưởng lại, năm 1968, Việt Cộng lợi dụng hưu chiến đã tấn công khắp các tỉnh thành Miền Nam, gây nên cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, giết hại hơn sáu ngàn thường dân vô tội ở Huế. Mùa hè đỏ lửa 1972, Việt Cộng đem bốn mươi ngàn quân vây hãm An Lộc, xua xe tăng, đại pháo vượt sông Thạch Hãn, chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Năm 1973 Việt Cộng ký hiệp định Paris, mực chưa kịp khô trên giấy, họ đã xé bỏ.

Tất cả những việc dã man, gian dối, bội ước mà Việt Cộng đã làm trong quá khứ, với tôi đó là những chuyện đã qua. Trong chiến tranh, họ phải làm như vậy nếu muốn thắng đối phương. Hôm nay, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, đã bị tiêu diệt, mối lo không còn nữa, Việt Cộng giờ đây đã hoàn toàn đổi khác rồi, không giống như xưa. Bằng chứng hùng hồn, rõ ràng nhất trong đường lối và chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời là cho hạ sĩ quan, binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa học tập ba ngày, theo thông báo đã đưa ra. Họ đã giữ đúng lời hứa, nói như thế nào, thi hành như thế ấy.

Chuyện học tập của hạ sĩ quan, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã diễn ra suôn sẻ tốt đẹp, khiến tôi hoàn toàn tin tưởng vào chuyện sĩ quan cấp úy chúng tôi, cũng sẽ êm đẹp mau mắn như vậy. Khi thấy được chân lý, tôi thở phào nhẹ nhõm, bao nhiêu lo âu phiền muộn chất chứa trong lòng từ hơn một tháng qua, vụt biến mất. Tôi vui mừng, sung sướng lo chuẩn bị sẵn sàng để đi học tập, mười ngày có là bao, chỉ là một cái chớp mắt thôi mà, đi học cho xong còn trở về với gia đình.

Sáng hôm nay, tôi chuẩn bị mọi thứ để hai giờ chiều sẽ đến ngôi nhà kính gần cầu ông Đạo , trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt đi học tập. Ngoài bộ đồ đang mặc trên người, tôi đem thêm hai bộ quần áo, một cái mùng ni lông, một cái mền poncho dù, kem và bàn chải đánh răng cùng vài thứ đồ dùng lặt vặt. Nhìn cái hộp kem đánh răng quá lớn nên tôi để lại ở nhà, lấy hộp kem mà tôi và Cúc đã dùng hơn phân nửa đem theo. Tôi nghĩ có mười ngày, đem làm gì cho lắm. Mấy ngày trước đó, Cúc mua cho tôi một cái xách tay loại tốt, gọn gàng mà người đi máy bay thường dùng. Sau đó, Cúc bỏ ra một buổi chiều làm cho tôi một hũ ruốc thịt heo kho sả ớt. Cúc nói với tôi.

-Món này để anh ăn với cơm, đông người quá em sợ không đủ thức ăn.

Tôi nhìn cái hũ thủy tinh đựng thịt ruốc to quá khổ, lắc đầu ngao ngán.

-Nhà không có cái hũ nhỏ hơn sao em?

Cúc đặt cái hũ vào trong xách tay.

-Cái này là nhỏ rồi.

Quay người lục trong va ly, Cúc đưa cho tôi một xấp tiền.

-Đây là tiền ăn mười ngày của anh.

Tôi hỏi.

-Bao nhiêu vậy em?

-Mười ngàn.

Tôi càu nhàu.

-Em à, anh đi học tập chứ đâu phải đi du lịch, mỗi ngày anh ăn cơm hay mì gói tốn chừng một trăm, mười ngày khoảng một ngàn.

Tôi rút trong xấp tiền, lấy ra bốn tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa có in hình con cọp màu vàng cam, nhét vào ví của mình. Số tiền còn dư, tôi đưa trả lại Cúc.

-Anh chỉ cần hai ngàn thôi, chừng này là quá đủ rồi.

Cúc với giọng nói đầy âu yếm.

-Nghe lời em đi cưng, thà dư còn hơn thiếu.

Tôi nhắc với Cúc.

-Em có nhớ không, khi gặp lại em ở Sài Gòn, trong túi của anh không có lấy một xu, cái áo cũng không có mà mặc. Nếu không có em, hơn một tháng qua liệu anh có cơm mà ăn hay không, nói gì đến tiền bạc khi đi học tập.

Cúc cầm tay tôi, đẩy nhẹ.

-Anh cứ đem theo để mà phòng thân, nếu tiêu xài không hết thì đem về.

Biết là không cãi được Cúc, tôi ầm ừ cho qua chuyện. Đợi đến lúc Cúc bận rộn sắp xếp hành lý vô cái xách tay, tôi lẹ làng nhét mớ tiền xuống dưới gối của Cúc.

Mười hai giờ trưa, tôi chào ba má tôi để lên đường đi học tập. Cúc ngỏ ý muốn tiễn đưa tôi một đoạn. Hai đứa thả bộ ra phố, men theo con dốc Minh Mạng lên khu phố Hòa Bình. Khi cả hai đã đi khá xa nhà, tôi đưa tay vuốt mớ tóc lòa xòa trên trán của Cúc.

-Về đi, em không nghe người ta nói “Có tiễn nhau ngàn dặm, cuối cùng cũng phải chia tay” hay sao.

Cúc cúi mặt, cố giấu đi đôi mắt ươn ướt đỏ.

-Để em đưa anh thêm một đoạn nữa.

Tôi và Cúc im lặng đi bên nhau, tôi cúi nhìn hai cái bóng ngắn ngủn, di chuyển nhẹ nhàng theo những bước chân của hai đứa dọc theo vỉa hè, một niềm thương cảm chợt đến với tôi khiến lòng mình chùng xuống. Tôi đưa tay tìm bàn tay mềm mại của Cúc, trong lòng muốn nói với nàng bằng thứ ngôn ngữ tình yêu được truyền qua hơi ấm của bàn tay.

Khi tới con dốc Lê Đại Hành Cúc không chịu buông tay ra, lật đật nói với tôi.

-Em đưa anh đến bên kia cầu ông Đạo , tới Ủy ban quân quản luôn.

Tôi nhìn Cúc rồi nói nhỏ.

-Anh đâu có muốn xa em, chỉ sợ chút nữa một mình trên đường về em buồn. Em à chỉ có mười ngày, một cái chớp mắt thôi mà.