Chuyến Vượt Biên Đẫm Máu

 saigontimesusa.com

Mai Phúc

Post by Sơn râu 9 Mar 2025

Nói về cuộc sống ở Mỹ của những người Việt Tỵ Nạn mà không nhắc đến những cuộc hành trình gian nguy của họ để rời nơi cố hương thì quả là một thiếu sót? Riêng với tôi, chuyến vượt biên đẫm máu tôi đã từng trải qua sẽ còn mãi ám ảnh tôi cho đến hết những ngày tháng còn lại của mình.

Đó là lần đầu tiên tôi được đặt chân xuống tàu để mong rời khỏi quê hương đầy hận thù ! Đó là những ngày cuối năm, sau khi được người thân ở Mỹ gửi về cho ít tiền viện trợ, má tôi đã lo cho tôi đi vượt biên… Người ta dặn má tôi về nói tôi hãy chờ, khi họ cho người xuống kêu là đi ngay. Ngày ngày, tôi vẫn đi rừng đốn cây như thường lệ trong khi chờ đợi những thay đổi quan trọng sắp đến cho mình.

Đúng như tôi đã lường trước, khi đứa em trai út vào rừng báo cho tôi biết chuyến đi lúc trời đã tối hẳn rồi, đám thợ rừng chúng tôi vừa dựng được cái sàn gỗ mới cưa xong để chuẩn bị làm chỗ ngủ. Tôi vội vàng vừa đi vừa chạy về nhà với đủ thứ âu lo hồi hộp. Sáng sớm hôm sau, tôi đón chuyến xe đò đầu tiên chạy về Saigon, để rồi từ đó đón xe đi Bà Rịa.

Nhớ lời dặn, để tránh sự theo dõi của du kích và công an, tôi đã thận trọng xuống xe ở cách địa điểm “tập kết” của chuyến đi chừng một cây số để đi bộ đến đó. Đêm đầu tiên tôi ngủ trong nhà bà chị cùng đi trong chuyến vượt biên đó, rồi đêm sau tôi được chuyển tới địa điểm ẩn náu khác mà dân ở đó gọi là “nơi nhốt gà”. Phía trước nơi này cũng chỉ là một mái nhà tranh bình thường như mọi ngôi nhà khác, nhưng phía sau có một gian nhà tranh khác được dựng tường kín đáo hơn.

Đi theo người dẫn đường vào bên trong, tôi thấy đã có hơn 50 người khác đang chờ đợi chuyến đi như tôi. Đến đây, tôi bắt đầu sống giữa những tiếng thì thầm, những lời bàn luận; cùng những hy vọng và âu lo do từ những bàn luận của họ. Ngày hôm sau, tôi có dịp làm quen và chia sẻ những quá khứ điêu linh cùng những kinh nghiệm vượt biên và tù đày của họ.

Chúng tôi được chủ nhà cho ăn trưa và ăn tối tại chỗ. Ngay sau bữa tối, họ dắt từng tốp đi ra ngõ sau vườn rồi băng qua những đám ruộng hoang cỏ mọc lộn xọn để đến “bãi”! Trời tối đen như mực nên chúng tôi phải đi sát vào nhau cho khỏi bị lạc và để cho đỡ sợ. Không phải chúng tôi sợ bóng tối mà là sợ những bất trắc bị VC phát giác trên đường đi ra bãi.

Vì là dân rừng, tôi đã giúp nhiều người vượt qua các khe suối, những vũng lầy; và dần dần tôi vượt qua hầu hết đoàn người để nhập vào toán dẫn đầu. Khi người ta đi chậm dần và đứng lại, tôi nhìn thấy đám người vượt biên đến “tập kết” ở bãi đông như cái sân nhà thờ vào ngày lễ chủ nhật, lúc đó tôi có thể thấy lập lờ chiếc tàu vượt biên của chúng tôi đang chập chờn dưới bóng đêm ở ngay con lạch trước mặt.

Thành tàu khá cao nên nhiều người không tự leo lên nổi; tuy nhiên khi tới phiên tôi, chỉ cần vươn hai tay đu lên thành tàu và búng mạnh hai chân một cái là cả thân hình tôi đã hoàn toàn ở trên boong tàu rồi. Vừa lên tới đó, tôi đã bị người ta lùa ngay xuống hầm tàu.

Cửa hầm tàu là một lỗ vuông tối om nằm ở phía gần mũi tàu, chỉ vừa một người chui xuống. Đúng ra đó chỉ là cái ham đựng cá. Bên ngoài dù trời tối nhưng tôi còn có thể nhìn thấy những người gần mình; trái lại sau khi bị dồn xuống hầm cá, hoàn toàn không nhìn thấy gì nữa, ngoại trừ cái ô vuông ở miệng hầm. Tôi không thể biết cái hình dáng hay kích thước phía trong của nó như thế nào, mà chỉ cảm giác được chỗ ngồi bằng 2 tay của mình thôi! Họ lùa người xuống sau dồn người xuống trước tiến sâu hơn nữa vào phía cuối hầm tàu, vừa đi vừa mò mẫm. Tôi bắt đầu cảm thấy lo sợ, lỡ tàu chìm thì làm sao mình thoát ra ngoài được đây? Vì thế tôi chùn bước không dám tiến sâu vào hướng tối đó, mà nép người sang một bên ở gần ô vuông cửa hầm, nhường chỗ cho những người xuống sau theo nhau mà bước sâu vào phía trong. Không nhìn thấy gì nữa; nhưng qua cảm giác với những tiếng nói và tiếng động sột soạt, tôi biết là người ta đang lũ lượt nhảy xuống! Những âm thanh đó kéo dài chừng gần một tiếng, có lẽ mọi người đã được dồn hết vào “chiếc quan tài” trôi nổi đó rồi thì có giọng ra lệnh cho tàu nổ máy chạy. Khi tàu vừa chạy, lại có giọng nói lớn “bây giờ anh em nào công giáo, mình đọc kinh đi”; và tàu vẫn cứ đều đều chạy.

Tiếng kinh râm ran hòa nhịp với tiếng máy tàu làm tâm hồn tôi cảm thấy yên ổn hơn một chút. Nhưng chợt có giọng nói khác trên tàu ra lệnh “Tất cả im lặng. Gần đến trạm công an!” 1 Tiếng máy lúc đó cũng trở lên nhẹ nhàng hơn, làm như nó đang thận trọng trước những hiểm nguy đang rình chờ…

Có tiếng trẻ thơ khóc trong tàu làm mọi người lo lắng; một vài tiếng người thì thầm phản đối. Có tiếng nói “bóp mũi nó lại không cho nó khóc nữa!” Rồi bỗng có tiếng ra lệnh “cho máy dzọt lẹ lên, chạy hết ga đi!”

Trong khoảnh khắc sau đó, tôi nghe tiếng súng nổ; thế là rồi. Tôi phải ngồi nghiến răng, ghì mạnh hai tay vào ván tàu đã nghe tiếng súng! Tàu đang chạy hết tốc lực, có lúc tiếng súng xa dần để nhường chỗ cho những hy vọng trở lại… Tiếng súng nghe xa, nhưng vẫn tiếp tục nổ. Căng thẳng! Chúng tôi đặt hy vọng vào người tài công đang điều khiển chiếc tàu, và dồn những hy vọng khác vào động cơ tàu để mong đẩy chiếc tàu vọt nhanh hơn cho mau thoát khỏi chốn nguy nan!

Những giây phút căng thẳng này là những khoảnh khắc tranh chấp giữa sống và chết, giữa hạnh phúc và đau khổ, giữa may mắn và ngục tù; giữa đấu tranh chịu đựng và những chọn lựa ! Đây chính là giai đoạn khó nhất mà chúng tôi phải trải qua để tìm được tự do Hàng trăm người trên tàu, nhưng không ai dám nói chuyện và cựa quậy; mọi người đều tập trung một ý nghĩ mong sao chiếc tàu lướt nhanh hơn và êm hơn để thắng lươt những giờ phút nguy kịch đó!

Đột nhiên, có những tiếng súng nổ chát chúa gần bên tàu. Tôi cảm thấy chiếc tàu bẻ cua sang tay trái và chạy sượt vào mé bờ. Có nhiều tiếng kêu trời ơi cứu tôi! Chiếc tàu chỉ lệch sang một bên nhưng chưa chìm, nó gượng lại thăng bằng và tiếp tục chạy giữa tiếng súng nổ liên hồi. Trong bóng tối, tôi nghiến răng ghì mạnh tay vào ván tàu để nỗi lo sợ của mình không buột ra khỏi miệng, như một số người khác. Có tiếng nói trong tàu bảo tài công ngừng lại, nhưng có tiếng nói khác ra lệnh cứ tiếp tục chạy.

Đạn đã bắn xuyên nhiều vào trong tàu, nhiều tiếng rên la bên trong nhưng lúc đó tôi chỉ chú ý lắng nghe tiếng đạn bay xeo xéo sượt vào thành tàu! Rồi tôi nghe tiếng chiếc tàu khác gạt vào mũi tàu tôi làm nó bị lệch hướng đâm xập vào bờ! Con tàu chênh vênh một lần nữa tưởng như muốn bị lật úp; Nhiều người giành nhau chui ra cái lỗ ô vuông cửa hầm tàu ngay phía gần đầu tôi. Có khi hai ba người giành nhau chui ra một lúc làm cho những người muốn thoát ra mất thì giờ hơn. Nhìn qua ô vuông đó, tôi thấy những ánh đèn pha sáng chói bên ngoài.

Tôi không giành chui ra với họ là vì còn nuối tiếc chiếc tàu. Đến khi trống trải không còn ai dám chui ra nữa thì tôi lại lo sợ, tại sao mình lại ngồi trong đó để cho tàu chìm mà chờ chết ; và tôi liền quyết định chui lên!

Vừa chui lên, tôi đã bị chói mất bởi ánh đèn pha từ phía chiếc tàu VC; Sau này vào tù thì tôi mới biết được rằng đó chính là chiếc tàu của những người tù chung với tôi, họ bị bắt trong chuyến vượt biên trước chúng tôi. Công an VC đứng dàn hàng ngang trên boong tàu đó, họ đang nhắm bắn từng người đang bơi dưới con lạch nhỏ như những thợ săn nhắm bắn những chiếc gáo dừa đang trôi lềnh bềnh dưới nước!

Vừa chui từ dưới hầm cá lên khỏi cái lỗ ô vuông, tôi giơ hai tay lên đầu hàng. Một tên công an nó hỏi tôi hai, ba câu; sau đó chúng chú ý nhắm bắn những “chiếc gáo dừa” kia, nên đột nhiên tôi quyết định nhảy trở lại xuống hầm tàu! Sáng hôm sau, ngay chỗ cửa hầm tàu là xác chết của một đứa cháu họ của tôi, nó bị bắn bể thái dương và rớt trở lại xuống dưới!

Sau khi hoàn toàn làm chủ tình hình, không còn ai dám nhảy xuống nước bỏ trốn nữa, công an VC vẫn để những đèn pha chỉa vào chung quanh chiếc tàu và cho phép một số chúng tôi leo lên boong nằm đợi lệnh. Nằm trên boong và dưới ánh neon pha, tôi nhìn thấy xác chết của người thợ máy chiếc tàu chúng tôi nổi lềnh bềnh cạnh đó. Suốt đêm, lẫn trong tiếng vi vu của gió biển là những tiếng rên la não nề của những người bị thương nằm dưới hầm tàu.

Đến sáng thì những người ba con của tôi đi kiểm điểm người thân trên tàu, thấy mất một số, có thể họ đã nhảy xuống nước bơi và trốn được rồi. Nhưng lại có người không biết bơi mà tìm mãi vẫn không thấy họ; Có người cho biết ở cái sàn phía sau máy tàu có ba, bốn người bị bắn chết nằm chồng lên nhau. Tôi vội vã ra đó kiểm chứng kỹ xem có người thân nào của tôi không.

Lần này tôi mới chú ý nhìn mặt những xác chết, ….đúng rồi, nó chết rồi! Nó bị bắn vỡ một góc đầu ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, dựa lên xác của một thanh niên khác cũng bị trúng đạn ngay tai. Còn một xác chết nữa ngay cạnh đó bị bắn trong tư thế quỳ chổng mông lên trời trông như một trái núi, đầu cúi khom xuống sát sàn gỗ, có lẽ để núp đạn; nhưng tôi cũng thấy một đường máu khô trên sàn tàu chảy ra từ phía đầu của nạn nhân. Cả ba xác đó đều mở trợn trừng mắt… nhìn tôi? Thế là đã có hai người thân của tôi chết trong chuyến đi này! Còn hai xác khác bên trong tàu là một ông già bị đạn bắn nát ngực, và xác đứa bé khóc lúc tàu chạy gần trạm công an. Không biết nó bị người ta xô lấn hay bị bóp mũi cho chết lúc nó đang khóc!

Mãi tới chừng 10 giờ sáng hôm sau, công an mới đem một chiếc tàu khác đến chở những người bị thương đi. Có người trong tàu đứng ra quyên tiền và vàng để đút cho công an. Sau khi mang số vàng bạc sang nộp cho công an, mọi người đều hy vọng chờ đợi; nhưng chờ hoài cũng chẳng có gì.

Mãi tới lúc chiều tối, có chiếc tàu công an khác chạy tới, bọn chúng lùa tất cả mọi người lên tàu này chở vào nhà tù. Một số người là thân nhân của những nạn nhân bị chết, bọn công an “cho” ở lại để dọn xác những người chết xuống bãi, người ta hy vọng sẽ được thả . Tôi ở trong nhóm khoảng 10 thanh niên được ở lại đó, đến chiều gần tối mới có một tên công an cấp lớn hơn đến giải quyết với chúng tôi. Đầu tiên hắn hăm dọa chúng tôi, dí họng súng K54 vào đầu từng người để khám xét. Ông chú họ của tôi bị hắn hăm dọa dữ quá đã phải chắp tay lạy hắn! Sau đó hắn ra lệnh chúng tôi phải khiêng các xác người chết trên tàu xuống.

Hắn ra lệnh và bắt chúng tôi phải làm thật nhanh. Tôi rất sợ xác chết và sợ máu nên đi sau cùng và phải đứng dưới nước để đỡ những xác chết được chuyền xuống. Lúc này chiếc tàu không còn người nữa nên nó nổi rất cao, tôi phải giơ thẳng hai tay lên mới đỡ tới những xác chết chuyền trên boong xuống. Thấy tôi nhút nhát, tên công an VC để ngón tay trỏ vào cò súng và dí mạnh họng súng K54 vào gáy tôi bắt phải làm việc cho nhanh.

Khi những xác chết được lần lượt chuyền xuống, máu và óc của những nạn nhân đó đã chảy đầy xuống đầu, mặt và toàn thân tôi. Lúc đó tôi quên cả cảm giác với máu và óc vì cái cảm giác lạnh và cứng của họng súng K54 sau gáy nó chi phối hết nỗi sợ hãi của mình, không may tên VC đó lỡ tay thì trong khoảnh khắc cái mạng của tôi cũng sẽ tương tự như các nạn nhân kia thôi! Sau khi làm xong việc chuyển xác, tên công an bắt chúng tôi rửa sạch những vết máu trên tàu. Rồi hắn đưa chúng tôi lên tàu nhỏ của hắn cho đồng bọn chở về bãi Lam Sơn ở gần Bà Rịa. Vì tên công an VC này sợ chúng tôi chạy trốn nên đã bắt chúng tôi di chuyển bằng cách bò từ đó qua xóm nhà dân, qua chợ Lam Sơn ra tới đường lộ. Hắn dồn chúng tôi lên một xe lam chở về nhập chung với nhóm người bị giải đi trước tại trạm Gò Dầu. Từ đây, sau khi VC lột hết vàng bạc của mọi người, chúng dùng xe công an chở thẳng chúng tôi vào trại giam B5 ở Biên Hòa. Giữa đêm hàng trăm người chúng tôi đã bị nhét chung vào một chiếc phòng chỉ bằng phòng ngủ master room của một gia đình ở Mỹ. Tôi đã phải ngồi khít giữa khối người chen chúc và ngủ thiếp đi vì mệt mỏi và tuyệt vọng.

Sáng hôm sau tới giờ làm việc bọn công an VC lại bắt đầu một màn điều tra, khám xét nữa. Chúng hỏi cung, làm hồ sơ lý lịch, rồi từng người chúng tôi phải cởi hết quần áo đưa cho chúng khám xét. Rồi lần lượt mỗi người phải đi ngang chiếc bàn và hả miệng ra cho tên công an VC kiểm kê mấy chiếc răng vàng hoặc “khâu” vàng nào giấu trong miệng? Phòng bên cạnh là một công an khác chuyên “điều trị” lỗ đít. Từng người phải đến đó, chổng đít lên gần mặt nó và banh lớn lỗ đít ra cho nó kiếm vàng bên trong chỗ đó!

Sau đủ thứ thủ tục kỳ dị ấy, mọi đồ đạc đều bị cướp hết. Mọi người được đưa vào một khu vực có tường dầy cao và hàng rào kẽm gai phía trên, cùng những chòi canh trên cao ở bốn góc. Vào trong khu này tôi nghe thấy tiếng rì rào như những đàn ong đang bay. Đến khi được đưa lại gần các căn phòng phát ra những âm thanh đó thì mới biết đó là nơi cư trú mới của tôi. Từng phòng nhìn vào tối om, có cánh cửa sắt và hàng chấn song sắt lớn. Nhìn mãi tôi mới nhận ra một số người ở trần, mặc xà lỏn và đầu trọc lóc đang đứng gần song sắt nhìn chúng tôi, trông họ ốm nhom như lũ khỉ.

Khoảng 5 phút sau, tên quản giáo đến mở khóa đưa chúng tôi vào nơi cư trú mới, nhập bọn với “lũ khỉ” bên trong! Vì quá tối nên phải đứng chớp mắt một lúc tôi mới nhìn rõ hết được căn phòng. Cả một xã hội mới, chẳng bao lâu chính tôi cũng trở nên y hệt “lũ khỉ” đó; nhưng sau một thời gian tôi cảm thấy cái xã hội trong đó còn có tình nghĩa hơn xã hội bên ngoài ma tôi đã sống!

Nhiều năm đã qua. Sau cùng, tôi cũng đã tới được xứ sở tự do, nhưng mãi mãi, chuyến vượt biên đẫm máu ấy còn ám ảnh tôi.

Như đã nói, nhiều vị có nói là phải quên quá khứ. Riêng tôi, quá khứ của tôi tuy không đẹp nhưng tôi không có gì mặc cảm với những gì tôi đã kinh qua. Nó là những bài học quý giá cho chính tôi về con người và nhất là về xã hội nơi cố hương tôi đã từng sống.

Quá khứ đó cũng là những kinh nghiệm xương máu, mồ hôi và nước mắt; và bằng chính mạng sống của những nạn nhân đã cùng cảnh ngộ như chúng tôi khi còn ở đó. Những hy sinh của họ đã xúc động lương tâm thế giới để chúng ta được cơ hội đến đây tỵ nạn và xây dựng cuộc sống mới hôm nay… Cuộc sống của chúng ta hôm nay, há chẳng phải được xây dựng trên nền tảng quá khứ thương đau đó sao?

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 9 Mar 2025

Nhà tù hình chữ S

Tập 3

Phần 1
Đường ra đơn vị

Buổi sáng bột mì luộc, buổi trưa hai chén cơm, buổi chiều hai chén cơm, đó là những suất ăn đặc biệt của ba ngày Tết mà Cách mạng dành cho các anh.

Người cán bộ Cộng sản có gương mặt khắc khổ với những vết nhăn hằn sâu trên trán, áo quần chỉnh tề đứng trên bục gỗ dõng dạc nói, giọng nói của ông ta tràn đầy sức mạnh vang khắp cả hội trường. Trước mặt ông là hàng ngàn tù nhân cải tạo, áo quần lôi thôi nhếch nhác, thân thể gầy còm, ngồi ngay hàng thẳng lối dưới đất. Tất cả đều im lặng như đang lắng nghe.

Sau lưng vị cán bộ, ba người quản giáo thoải mái ngồi trên một cái băng ghế dài. Một người trong bọn bỗng đứng lên, ông ta từ tốn đi tới bên cạnh người cán bộ rồi tiếp lời.

-Để phát huy “truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta”, ngoài việc đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, đưa Việt Nam tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa, Đảng và nhà nước ta còn hết lòng chăm lo cho đời sống của các anh. Tết Bính Thìn năm nay ngoài phần ăn do cán bộ Bình vừa thông báo, tôi xin bổ sung thêm, tất cả các anh mỗi người sẽ được nhận một cái bánh chưng.

Vừa dứt câu nói, người cán bộ đưa tay về phía những người tù cải tạo đang ngồi dưới đất.

-Đề nghị các anh, chúng ta cùng vỗ tay ăn mừng.

Tôi đưa hai tay tới trước mặt vỗ mạnh vào nhau, cùng lúc ấy tôi nghe được âm thanh của hàng ngàn tiếng vỗ tay vang lên như sấm động khắp cả hội trường. Tôi biết chắc một điều, vỗ tay theo sự hướng dẫn là căn bệnh truyền nhiễm của người Cộng sản, bệnh này được phát hiện lần đầu tiên vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, khi ông Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn mà ông ta cho là Tuyên Ngôn Độc Lập của Việt Nam. Tuy nhiên trên thực tế Việt Nam có độc lập hay nô lệ Cộng sản, chuyện đó còn phải chờ sự phán xét cuối cùng của lịch sử.

Đợi cho đến lúc tiếng ồn tạm lắng xuống, người cán bộ mới thong thả nói.

-Tôi cũng xin thông báo thêm, các anh đừng vội nghĩ đến cái bánh chưng truyền thống thường thấy bày bán ngoài chợ, hay cái bánh cúng trên bàn thờ trong những ngày Tết. Cách mạng hãy còn nghèo, chỉ có thể phát cho các anh cái bánh chưng to bằng cái bánh Trung thu mà thôi. Tuy vậy, ít nhiều nó cũng nói lên được lòng ưu ái mà Cách mạng dành cho các anh. Tôi thầm nghĩ, chỉ nghĩ trong đầu thôi chứ không dám nói ra. Ngày Tết cho tù cái bánh nếp nho nhỏ, thêm nửa chén cơm mà chén cơm trong tù chỉ được xới ngang mặt, dùng chiếc đũa gạt ngang, chỉ cho phép vài hột cơm dính vào đũa mà thôi. Chuyện chẳng có gì mà mấy ông Việt cộng này cũng cố ghép thêm mấy chữ “Truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta” vào mới chịu.

Melbourne Ngày Quân Lực 19 Sep 2018

Tuy biết vậy nhưng tất cả tù cải tạo đều im lặng nghe cán bộ nói chuyện. Nếu ai không muốn nghe thì chịu khó vô thùng sắt nằm, nhốt thùng sắt là hình phạt dành cho tù cải tạo vi phạm nội quy của trại, bất cứ tội gì dù nặng hay nhẹ cũng bị nhốt vào đó. Riêng cái tội trốn trại, sẽ bị lính gác bắn chết ngay lập tức. Mấy tháng trước đây, khi hàng rào vỉ sắt PSP chưa được dựng lên, một anh bạn tù lợi dụng đêm tối chui hàng rào kẽm gai trốn trại, đã bị bắn chết ngay tại chỗ. Xác của anh lỗ chỗ vết đạn với máu khô bám đầy bộ quần áo nhàu nát, nằm úp mặt xuống đất, giữa mấy lớp hàng rào kẽm gai cho đến trưa. Tôi nghĩ rằng, Việt cộng cố tình để xác chết nằm đó như một lời cảnh cáo, răn đe, những ai có ý định trốn trại.

Trên bục gỗ, giọng nói của cán bộ lại oang oang cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi .

-Còn nữa để mừng Tết Bính Thìn, một cái Tết lịch sử đánh dấu năm đầu tiên mà nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, dưới sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tết năm nay các anh sẽ được uống la de, do nhà máy La Ve quốc doanh Sài Gòn giải phóng sản xuất. Hai người một chai.

Tôi nhìn những người ngồi quanh như ngầm hỏi. “ Cho tù uống la de ” chuyện này quả là có hơi khác thường. Từ sau ngày cơn bão 30 tháng 4 đổ ập xuống Miền Nam , khi vị Tổng Thống mới nhậm chức được hai ngày, lên Đài phát thanh kêu gọi lính Ngụy buông súng đầu hàng. Quân nhân các cấp thuộc đủ mọi quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đành phải tuân lệnh, vất súng đầu hàng Cộng sản Bắc Việt. Đầu hàng trong đau đớn uất hận, trong hờn căm tủi nhục. Hơn một tháng sau, phe chiến thắng kêu gọi sĩ quan Ngụy đi học tập cải tạo, đem theo mười ngày ăn. Mười ngày học tập đâu không thấy, chỉ thấy hơn sáu tháng trôi qua, sĩ quan Ngụy bị Việt cộng nhốt trong tù mà không một lời giải thích. Tù nhân trong trại cải tạo là những người đói ăn triền miên, mơ ước của họ là có được chén cơm đầy, không phải ăn độn, vậy mà Việt cộng lại cho họ uống la de.

Người cán bộ nhìn những gương mặt ngơ ngác của tù nhân, ông ta vội nói.

-Ngoài Bắc chúng tôi gọi là bia, trong Nam các anh gọi là la de, đúng không?

Có nhiều tiếng trả lời.

-Đúng, la de con cọp.

Tôi ngồi đó bên góc phải của hội trường, không muốn phải căng tai nghe Việt cộng nói. Cộng sản Bắc Việt đem quân lính với xe tăng đại pháo vô Nam đánh phá, cướp sạch của cải của người dân Miền Nam , lừa gạt gom sĩ quan Ngụy vô tù. Ngày Tết cho tù nhân cái bánh chưng nho nhỏ, cho nửa chai la de, chuyện chỉ có vậy mà phải tốn vài tiếng đồng hồ để giảng giải, đả thông tư tưởng của sĩ quan Ngụy. Tôi không có dư thì giờ ngồi nghe mấy ông Việt cộng đọc chưa thông, viết chưa thạo, nói tầm phào nếu không về chủ nghĩa Mác Lê, thì cũng chỉ chuyện Cách mạng chăm lo cho tù có hai chén cơm, trong mỗi bữa ăn của ba ngày Tết. Tôi cũng không muốn bị đem đi nhốt trong thùng sắt. Việc của tôi là để cái xác của mình ngồi đó rồi nhắm mắt thả hồn đi lang thang. Bắt đầu từ chuyện vợ tôi và đứa con sắp sinh, không biết là trai hay gái đang sống ở Đà Lạt, ngày đêm mong ngóng chờ tôi trở về, rồi đến cuộc sống cơ cực, đói khổ triền miên trong tù. Với bọn tù cải tạo chúng tôi, cái ăn được đặt lên hàng đầu bởi vì chuyện thiếu ăn, đói lạnh, lúc nào cũng bám sát lấy tù nhân như hình với bóng, không thể tách rời. Một lát sắn khô, một chút bột mì vụn nơi đáy nồi, vài hột cơm còn sót lại nơi vành chén, tất cả đều được tù nhân chiếu cố tận tình.

Tôi đã từng chứng kiến cái cảnh trong lúc chia cơm, vì sơ ý có mấy hột rơi xuống tấm vỉ sắt PSP, anh bạn tù dù đang bận tay vẫn cẩn thận cúi đầu nhặt cơm lên, thổi nhè nhẹ như muốn bụi bám vào cơm bay đi, sau đó anh ta chậm rãi bỏ hột cơm vào thau. Việc làm của anh ta, khiến tôi phải suy nghĩ nhiều về giá trị của chén cơm trong tù. Ở trong tù, tuy không có chuyện tranh giành cơm nước, vì tư cách của một sĩ quan không cho phép họ làm như vậy. Tuy nhiên tất cả mọi người đều ngầm hiểu rằng “Cơm và thức ăn, phải được phân chia sao cho thật đồng đều.”

Tổ 37 của tôi cũng như mọi tổ khác trong khối 5 Đà Lạt, được chia làm hai bán tổ là bán tổ một và bán tổ hai. Mỗi bán tổ gồm có tám người, ngủ chung một phòng, ăn cơm chung với nhau. Đến giờ cơm, khi nghe tiếng kẻng vang lên, người đại diện của bán tổ sẽ đến nhà bếp lãnh phần cơm của bán tổ mình. Trong tuần có khoảng hai ngày sẽ được nhận thêm tô canh, trong đó không cần nhìn hay đếm cũng biết là có tám miếng bí đỏ to bằng ngón tay cái. Ngày này qua tháng nọ, chỉ có duy nhất một loại canh bí đỏ mà thôi. Sở dĩ tù nhân chỉ được ăn canh bí, vì bí đỏ rẻ tiền và nhà bếp của khối có thể cất giữ lâu ngày mà không sợ bị hư thối.

Riêng về việc chia cơm, công việc có hơi khó khăn, tổ trưởng loay hoay hoài không biết làm sao cho việc phân chia được đồng đều, để mọi người vui vẻ nhận phần cơm của mình. Vì muốn giải quyết vấn đề, một người trong tổ có sáng kiến, khi đi làm lao động, anh ta lượm một miếng tôn nhỏ đã han rỉ vất đâu đó trong đống rác, sau khi chùi rửa sạch sẽ anh đục, cắt, ráp nối thành hình một cái hoa Thị có tám cánh. Với dụng cụ này, anh tổ trưởng chỉ có việc đặt miếng sắt vào thau cơm, đè mạnh xuống, cơm trong thau sẽ được cắt thành tám phần đều nhau, giống như tám miếng phô mai con bò cười của Pháp, mỗi người lãnh một phần. Mọi người đều coi cách chia cơm như vậy là công bình, hợp lý, tuy nó không được đẹp mắt cho lắm.

Khác với mọi người, tôi có lối suy nghĩ của tôi, cơm tuy được chia đồng đều nhưng thân thể và sức nặng của con người thì không bằng nhau. Bằng cớ là trong trại có nhiều người chỉ cân nặng khoảng bốn mươi lăm kí, cạnh đó lại có nhiều người nặng khoảng sáu, bảy chục kí. Phân chia như vậy, quá tội cho những người vai u thịt bắp, thân thể to lớn.

Tôi để ý, tổ 38 bên cạnh tổ của tôi có một nhóm gồm ba người, họ cao khoảng một mét tám, nặng dám tới bảy chục kí lô như không. Một chén rưỡi cơm cho một bữa ăn, chẳng thấm tháp gì cho cái thân thể to lớn cần nhiều năng lượng để nuôi sống họ. Ăn uống thiếu thốn một vài ngày, vài tuần thì không sao, thế nhưng đói ăn liên miên hàng sáu bảy tháng rồi, trông họ giống như những người Do Thái ốm đói trong trại tập trung hủy diệt Auschwitz ở Ba Lan, do Đức Quốc Xã dựng lên vào năm 1940. Để sống còn, ba ông lực sĩ của tổ 38 bằng mọi giá phải tìm thêm thực phẩm, tìm thêm thức ăn phụ trội cho cái bao tử lép xẹp của họ. Bị nhốt trong tù, vây quanh kín mít bởi bốn bức tường vỉ sắt PSP cao ba mét, mùa nắng đất cát khô cằn nứt nẻ, đến nỗi cỏ dại cũng khó mà sống sót thì làm sao có rau xanh mà ăn. Con đường sống duy nhất của ba ông lực sĩ, là tình nguyện xin đi lao động bên ngoài trại như đốn củi, kéo xe. Tuy phải làm những việc lao động nặng nhọc như vậy, nhưng bù lại họ có thể nhặt nhạnh bất cứ loại rau dại, lá rừng, có thể ăn được đem về trại. Tối đến sau bữa cơm chiều, sau giờ họp tổ, trong cái ánh sáng mờ mờ của trăng sao trên bầu trời Sông Mao, ba người cùng nhau nấu một nồi lá to như cái nồi nấu nước xông khi bị cảm, trong đó gồm đủ loại lá rừng mà con người có thể ăn được, miễn sao không chết là tốt rồi. Phải ăn để mà sống còn,chờ ngày trở về, và họ đã sống oai hùng không một tiếng than van, không một lời oán trách.

Ngoài chuyện đói ăn, tù nhân còn phải đương đầu với cái nạn thiếu mặc. Vì cái thông cáo tráo trở, đi học tập mười ngày, cho nên sĩ quan Ngụy chỉ đem theo hai hoặc nhiều lắm là ba bộ quần áo. Sáu, bảy tháng rồi chỉ một bộ đồ dãi nắng dầm mưa, quần áo đã bắt đầu sờn rách. Để giải quyết vấn đề, tù nhân khi đi làm lao động thường đào bới những lô cốt, hầm chống pháo kích của lính mình ngày xưa tìm vải bao cát, đem về may thành quần áo để bận thay đổi.

Hình ảnh của một người tù khi đi làm lao động, đầu đội một cái nón rộng vành may bằng vải bao cát rách bươm như xơ mướp, vai khoác một chiếc áo sơ mi đã bắt đầu mục với nhiều miếng vá. Họ bận một cái quần cụt cũng được may bằng vải bao cát, để lòi ra hai cái ống chân đen đúa, gầy ốm khẳng khiu. Cuối cùng dưới chân là một đôi guốc gỗ được tù nhân tự làm lấy.Tù cải tạo lúc đi lao động, khi làm gần những doanh trại mà người Mỹ lúc rút khỏi Việt Nam, bàn giao cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau năm 1975 những doanh trại này bị bỏ hoang, tôn lợp mái nhà đã bị tháo gỡ chỉ còn trơ lại cái sườn nhà làm bằng gỗ thông. Tù nhân lấy những thanh gỗ này đẻo thành đôi guốc, quai guốc được làm bằng vải bao sẻng của lính Mỹ vứt đầy trong những đống rác của doanh trại. Để tránh cho đôi guốc khỏi bị mòn quá mau do nhu cầu di chuyển khá nhiều, tù nhân tìm mấy miếng cao su ruột xe hơi, cắt nhỏ, đóng vào đáy đôi guốc. Một đôi guốc được chế biến xong, tuy hình dáng của nó xấu xí giống như cục gạch nhưng rất bền, có thể dùng được cả năm. Người dân sống quanh khu Chợ Lầu Sông Mao, khi gặp một nhóm người, thân thể ốm đói, mặc áo quần may bằng vải bao cát, chân đi guốc gỗ đế cao su, họ biết chắc rằng đó là tù cải tạo của Tổng trại 8 tù binh. Và tôi cho rằng, nó cũng có thể là hình ảnh của mọi tù nhân cải tạo trên khắp nước Việt Nam thời bấy giờ.

Tôi có vóc dáng của một người Việt Nam cao trung bình, nặng hơn năm chục kí lô một chút. Một chén rưỡi cơm do trại cấp phát cho mỗi bữa ăn, tuy không đủ năng lượng cần thiết để nuôi cơ thể, nhưng cái đói không làm cho tôi quay quắt, cuống cuồng, lo tìm thức ăn thêm như những anh bạn lực sĩ của tổ 38. Vào kỳ thăm nuôi vừa qua, vợ tôi đã tiếp tế cho tôi khá nhiều thực phẩm cũng như tiền bạc. Thỉnh thoảng trong bữa ăn, tôi thường giặm thêm chút thịt ruốc kho sả hoặc miếng cá khô to bằng ngón tay út. Khi ăn tôi vẫn thường kín đáo giấu mọi người, vì tôi không muốn những bạn tù không được thăm nuôi nhai cơm trắng với nước muối, phải nhịn thèm khi ngửi mùi ruốc sả thơm lừng thoảng trong không khí, hoặc liếc nhìn miếng cá khô với đôi mắt thèm thuồng. Chút cá khô, chút ruốc sả, không cung cấp đủ năng lượng cần thiết cho cơ thể nên khoảng dăm ba ngày, vào buổi tối sau giờ họp tổ, tôi và Trung úy Lợi dùng cái lon gô nấu chút chè đậu xanh, sau đó bưng lon chè còn nóng hổi ra sân sau của nhà bếp. Trong bóng đêm mù mờ, hai thằng vừa thổi vừa ăn, nhai húp xì xụp. Bụng tuy còn đói, miệng vẫn còn thòm thèm, tôi vẫn không quên để dành chừng nửa chén chè đựng trong lon gô, xách qua cho Long công tử. Tôi cũng xin nói thêm là ở trong tù, lon gô thường được tù nhân đục hai cái lỗ nơi miệng lon, sau đó họ dùng một cọng kẽm gai móc vào đó, làm thành quai cho dễ xách khi nấu nướng.

Khi đi ngang qua tổ 38, tôi thấy ba anh bạn lực sĩ đang ngồi quanh một cái nồi to bự với đũa chén trên tay. Tôi biết những thứ gì trong đó rồi. Tất cả năng lượng của lá rừng trong cái nồi ấy, không thể nào sánh bằng chút chè đậu trong cái lon gô mà tôi đang có trên tay.

Tôi xin lập lại, tôi là người quá sức may mắn được vợ của tôi tiếp tế đầy đủ thức ăn và tiền bạc. Nếu không, tôi cũng sẽ chịu cảnh đói khổ như mấy ông bạn lực sĩ ở tổ 38, bên cạnh tổ của tôi mà thôi. Tôi biết một trong ba người là Sơn mập, học ngang lớp với tôi, tôi đệ nhất B2 ban toán, sinh ngữ chính là Anh văn, hắn đệ nhất B1 ban toán, sinh ngữ chính là Pháp văn. Sở dĩ Sơn có cái tên này vì nó cao và to như một con trâu. Sau khi đậu tú tài toàn phần, với lệnh Tổng động viên, chúng tôi kẻ trước người sau, lần lượt lên đường nhập ngũ. Nếu không có ngày 30 tháng 4, không có trại tù cải tạo, chúng tôi có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau. Hạnh phúc vì nghĩ mình được sống đầy đủ hơn mọi người, cho nên tôi muốn chia sẻ chút gì đó với Sơn mập và hai người bạn lực sĩ của nó. Đang mơ màng, tôi chợt giật mình vì hàng ngàn tiếng vỗ tay đồng loạt vang lên như muốn nổ tung cả hội trường. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi vội vàng đưa hai tay lên trời vỗ mạnh vào nhau. Đồng thời, tôi hỏi nhỏ Trung úy Lợi đang ngồi bên cạnh tôi.

-Có chuyện gì mà vỗ tay dữ vậy bạn?

Trung úy Lợi ghé miệng sát tai của tôi, với giọng nói tỉnh khô vừa đủ cho tôi nghe.

-Mẹ bố cái lũ Việt cộng, chỉ được cái gian manh lừa gạt, bọn nó nói “Không đụng đến cây kim sợi chỉ, của người dân” nhưng xe cộ, nhà cửa của người ta thì chúng cướp sạch sẽ. Tổng Thống Đệ Nhị Cộng Hòa của mình đã nói: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói”. Cho nên tao nghe tai này, để nó lọt qua tai kia. Mày hỏi tao cũng vô ích.

Tôi quay nhìn Lợi, gật đầu cười khoái chí như ngầm đồng ý với hắn.

Trên bục gỗ, người cán bộ đợi cho tiếng vỗ tay tạm yên, ông ta nói.

-Tôi xin nhắc lại một lần nữa, để cho chương trình văn nghệ giúp vui ngày Tết được thêm phần long trọng, mỗi khối phải có ít nhất là ba tiết mục giúp vui như là hát tốp ca chẳng hạn. Khối trưởng phải nhanh chóng trình lên quản giáo, những bản nhạc Cách mạng mà các anh chọn, nếu được đồng ý, sẽ cho anh em trong khối tập dợt. Tôi xin thông báo thêm, trong đêm văn nghệ Tết, sẽ có các đồng chí trên ban chỉ huy trại xuống tham dự.

Trên đường từ hội trường về phòng ngủ, tôi nhẩm tính còn bảy ngày nữa mới đến Tết, cũng có nghĩa là ba ông bạn lực sĩ tổ 38 phải đợi thêm một tuần, mới được ăn bánh chưng. Vì nghĩ như vậy ngay chiều hôm ấy, tôi mở bao ny lông đựng thực phẩm của tôi để ở đầu nằm, lấy ra ba tán đường rồi xúc một chén đậu xanh. Nhìn tới nhìn lui thấy chẳng còn bao nhiêu đậu, sau một hồi đắn đo suy nghĩ, cân nhắc thiệt hơn, tôi đổ đậu xanh trở lại. Thuận tay tôi bốc một nắm đậu đen gói vào trong tấm giấy vở học trò. Tôi cẩn thận cho đường và đậu vào trong một cái bao cát đã sờn rách, túm gọn lại. Tôi đi ra phía sau căn nhà của tổ tôi, băng qua một cái giếng khô tới căn nhà sau của tổ 38. Sơn đang ngồi gom củi thành một đống nhỏ, hình như hắn đang chuẩn bị bếp để nấu nồi lá rừng. Tôi đến bên cạnh Sơn.

-Mày đang làm gì đó?

Sơn ngước mặt nhìn tôi không trả lời mà lại hỏi tôi, giọng nói đầy mệt mỏi.

-Mày không thấy hay sao? Tao đang nấu chút lá rừng.

Tôi nhìn quanh rồi ngồi xuống bên cạnh Sơn, nói nhỏ.

-Tao thấy mấy người trong nhóm của mày hình như không được thăm nuôi kỳ vừa rồi, tụi mày ăn uống có vẻ thiếu thốn. Tao có mấy tán đường đem tặng tụi mày.

Vừa nói tôi vừa đưa cái bao cát đến trước mặt Sơn.

Sơn nhìn tôi với gương mặt đầy vẻ ngạc nhiên, hắn nói.

-Trong tù mọi người đều thiếu thốn, tại sao mày không giữ lấy để ăn mà lại đem cho tao?

Thực lòng mà nói, tôi không biết trả lời Sơn như thế nào vì tôi không phải là bạn thân của hắn. Tận cùng trong đáy lòng, tôi biết mình chỉ thương xót cho hoàn cảnh đói rách, khốn khổ cùng cực của hắn mà thôi. Mà cũng có thể vì chút tình ngày xưa khi hai đứa cùng học chung trường, ngang lớp. Của cho không bằng cách cho, ăn nói không khéo, có thể làm Sơn nổi giận chửi cho tôi một trận như không, nghĩ như vậy nên tôi nói với Sơn.

-Ăn lá rừng hoài, chắc xót ruột lắm phải không?

Chừng như hiểu rõ tại sao tôi cho hắn mấy tán đường, Sơn dịu giọng.

-Cảm ơn mày nhiều.

Tôi đi về mà lòng nhẹ nhàng thanh thản, đêm hôm ấy tôi ngủ một giấc ngon lành tới sáng, không trăn trở, không mộng mị vì nghĩ rằng mình đã làm được một việc tốt lành.

Một ngày, hai ngày, rồi ba ngày trong tù lặng lẽ trôi qua, buổi tối sau khi họp tổ xong, thay vì đi ngủ, tôi đi qua tổ 38 bằng cửa trước. Tại đây tôi gặp hai anh chàng lực sĩ đang ngồi hút thuốc lào, bên cạnh họ là ngọn đèn cầy leo lét cháy. Ở trong tù, đèn cầy là một tài sản quý giá của tù nhân, người ta chỉ dùng trong những trường hợp cần thiết, tôi biết sau khi hút thuốc lào xong họ sẽ tắt ngay, nhưng mà như vậy cũng là xài sang quá rồi. Không giống như mọi tù nhân trong trại, thường hút thuốc lào bằng điếu cày, hai anh chàng này lại hút bằng cái điếu bát men xanh, mà theo tôi đoán có thể họ đã nhặt được trong đống rác nào đó khi đi làm lao động. Hai chàng lực sĩ đang nhét bi thuốc lào to bằng đầu ngón tay vào nõ của cái điếu bát, với cái xe điếu là một ống ny-lông cong vòng, dài chừng ba mươi phân. Hình như họ chỉ xin được một bi thuốc nên cả hai cùng hút chung. Người hút trước, chỉ hút một hơi ngắn, rồi đẩy cái điếu bát cho bạn. Anh hút sau nhanh nhẹn đón lấy cái xe điếu, đặt lên miệng rồi lấy sức hút một hơi dài, anh ta rít cho đến khi mấy cọng thuốc lào trong cái nõ cháy đỏ rực, rồi tan biến đi không còn chút tàn mới chịu ngừng. Chỉ có một bi thuốc lào mà hai người hút, tụt nõ là cái chắc. Đưa tay đẩy cái điếu bát ra xa, anh chàng lực sĩ thong thả ngửa cổ, nhắm mắt, lơ tơ mơ nhả khói bay đầy phòng.

Tôi đi tới gần họ rồi hỏi.

-Hai anh có biết anh Sơn ở đâu không?

Anh bạn lực sĩ dường như đang phê vì thuốc lào, giương cặp mắt lờ đờ nhìn tôi.

-Ông bạn hỏi Sơn nào? Sơn em hay là Sơn Fulro.

-Tôi muốn hỏi anh Sơn to và cao, vẫn thường đi lao động chung với mấy anh.

Anh bạn lực sĩ khác trả lời.

-Sơn Fulro phải không? Nó đang ở ngoài sân sau.

Tôi quay người đi mà quên luôn chuyện nói lời cảm ơn.

Dưới ánh lửa bập bùng của mấy thanh củi, trên bếp nồi lá rừng đang sôi sùng sục, hơi nước từ trong nồi thoát ra lẩn vào không khí, mang theo mùi hôi ngai ngái. Tôi nhìn gương mặt vuông chữ điền với đôi mắt sáng quắt của Sơn rồi hỏi hắn.

-Tao có hơi tò mò chút xíu, trông mày cũng sáng sủa trắng trẻo, không biết tại sao mày lại có cái biệt danh là Sơn Fulro. Hình như năm học đệ nhất mày có tên là Sơn mập mà.

Không để Sơn kịp trả lời, tôi hỏi tiếp.

-Đường với đậu tao đưa cho, tụi mày đã nấu chè chưa?

Sơn đưa mắt nhìn tôi, cái nhìn hơi là lạ, ngập ngừng lưỡng lự một chút, hắn nói nhỏ.

-Chuyện khá dài dòng, mày ngồi xuống đây, tao mời mày chén lá rừng, đừng có vội nghĩ rằng lá rừng thì chán vạn gì, không dễ có đâu. Tụi tao đi lao động bên ngoài trại, vài lần mới có một lần nhặt nhạnh được lá rừng, rau dại, trong đó lá Bình bát là loại lá ngon nhất. Nồi lá tao đang nấu không có loại lá này, mày cứ từ từ ăn chén lá rừng rồi nghe tao kể chuyện. Tao phải kéo mày trở lại cái năm 1969, mới có thể giải thích rõ ràng.

Đôi mắt của Sơn chợt nhíu lại như đang suy nghĩ, phải một lát sau hắn mới nói tiếp.

-Ngày hai mươi lăm tháng giêng năm đó, tao tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, nhận đơn vị mới là Tiểu khu Darlac.

Tôi cắt lời Sơn.

-Như vậy mày đi khóa 5/68 Thủ Đức. Tên của mày thêu nơi túi áo với bảng đen chữ vàng phải không?

-Đúng, sao mày biết?

-Tao còn nhớ hồi đó, ở quân trường khi thấy Huynh trưởng khóa 5/68 mang bảng tên đen chữ vàng, là khóa 6/68 bọn tao bẻ cua lặn mất, vì tránh voi chẳng xấu mặt nào. Tao khóa 6/68, ra trường sau mày khoảng một tháng rưỡi. Đơn vị mới của tao là Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Sơn hỏi tôi, giọng hơi cao lên.

-Mày dạy môn gì ở đó?

Tôi cười chế giễu hắn.

-Mày tưởng cứ về Trường Võ Bị Đà Lạt, là phải dạy sinh viên sĩ quan hay sao? Lúc đó tao chỉ có cái tú tài toàn phần, kiến thức còn thua mấy ông sinh viên Võ Bị, lấy cái gì mà dạy họ. Tao làm ở Khối tham mưu, Phòng hành quân. Làm việc ở đó, không hề có chút dính dáng gì đến Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt.

Sơn gật gù, tỏ ý như hiểu rõ. Hắn kể tiếp.

-Sau hai tuần nghỉ phép mãn khóa, tao tà tà vác ba lô ra Air Việt Nam bay lên Ban Mê Thuột, thủ phủ của Cao nguyên trung phần. Đó là lời nói mà tao vẫn thường nghe người ta nói chắc như bắp khi nhắc tới Ban Mê Thuột. Và tao hoàn toàn yên chí như vậy, cho đến khi đặt chân xuống phi trường Phụng Dực, tao mới giật mình tỉnh mộng. Trước mắt tao là một cái phi đạo nhỏ xíu, khô khốc nhựa đường, nằm im lìm trong cái nóng oi bức của buổi trưa, chung quanh chỉ có đất đỏ và đất đỏ, bụi bay mù trời. Khi xe bus Air Việt Nam chạy vào thành phố, tao nhìn hai bên đường với nhà cửa lụp xụp, dân cư thưa thớt, nhìn đâu cũng thấy một màu đỏ của bụi mù. Lúc bấy giờ thật lòng mà nói, tao hối hận quá sức tự trách mình, tại sao không chọn về những tiểu khu đông dân trù phú ở vùng IV. Tiểu khu Darlac thời bấy giờ gồm có mấy quận như sau: Quận Hòa Bình với thành phố Ban Mê Thuột ở ngay trung tâm, Quận Phước An, Quận Buôn Hô, cuối cùng nếu đi theo Quốc lộ 27 về  hướng Nam, khoảng sáu mươi cây số là Quận Lạc Thiện. Sau hai tuần chờ đợi ở Tiểu khu, tao nhận được Sự vụ lệnh cho về Đại đội 650 Địa Phương Quân đang đóng ở Chi khu Lạc Thiện. Khi qua Phòng 4 xin phương tiện di chuyển, Thiếu úy Giang nhìn tờ Sự vụ lệnh của tao với đôi mắt đầy thương hại  “Hết chỗ đi rồi hay sao mà chuẩn úy lại về Lạc Thiện, ông hãy chuẩn bị sắm cái áo giáp thiệt dày, nhớ mang thêm nón sắt không thôi bể gáo đó.” Tao hỏi Thiếu úy Giang “Tại sao phải cần áo giáp?” Ông ta trả lời  “Tại sao hả? Bởi vì ở đó ngày nào cũng ăn đạn pháo kích của Việt cộng”.

Sơn ngưng kể chuyện, hắn cho thêm một thanh củi nhỏ vào bếp rồi mới từ tốn nói.

– Mày biết không, lúc bấy giờ tao nghĩ rằng ông thiếu úy Phòng 4 chỉ đùa cho vui nên tao nghe mà coi như không có, chỉ lo việc hỏi ông ta đường xuống Lạc Thiện. Thiếu úy Giang thấy tao có vẻ coi thường lời nói của ông ta, nên ông gằn giọng  “Con đường duy nhất để đến Lạc Thiện là quá giang trực thăng của cố vấn Mỹ. Đường bộ từ Ban Mê Thuột đến Lạc Thiện bị hư hại nặng nề, thêm chuyện mất an ninh do Việt cộng đào đường đắp mô thu thuế, bắt thanh niên thiếu nữ về mật khu để tải đạn hoặc làm lính cho chúng.” Tao hỏi Thiếu úy Giang “Như vậy tôi phải qua gặp cố vấn Mỹ của Tiểu khu để xin trực thăng xuống Lạc Thiện, phải không?” Thiếu úy Giang trả lời tao “Không cần phải làm như vậy, chuẩn úy cứ đi thẳng ra phi trường L19. Ở đó, ngày nào cũng có trực thăng của cố vấn Mỹ ra vào Lạc Thiện, ông cứ yên tâm không phải lo việc thiếu phương tiện. Mà nè chuẩn úy có biết phi trường L19 nằm ở đâu không?” Tao trả lời ông ta “Nó ở gần nhà thờ, ngay ngã năm hay ngã sáu gì đó phải không” Thiếu úy Giang gật đầu “Đúng rồi”.

Sơn ngả người, tựa lưng vào cây cột phơi đồ rồi nói.

-Từ Tiểu khu Darlac tới phi trường L19 khoảng hơn một cây số, đi xe lam chỉ tốn mười đồng nhưng tao không thích. Tao vác ba lô rủng ra rủng rỉnh lội bộ, đi cho đỡ cuồng chân, chuẩn bị cặp giò để xuống đơn vị mà lội. Nói là gần, nhưng dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa, mồ hôi cũng thấm ướt áo may ô. Cổng vào phi trường hướng mặt ra quốc lộ, hai anh lính Địa Phương Quân gác cổng với quân phục chỉnh tề, đầu đội mũ sắt có lưới, khăn quàng cổ màu xanh da trời, dây biểu chương trên vai, bên hông thêm khẩu colt 45. Một anh lính chào tao, rồi sốt sắng chỉ chỗ xin quá giang trực thăng đi Lạc Thiện. Theo sự hướng dẫn của anh lính, tao vừa đi vừa nhìn cái chòi lợp tôn vách ván, mỗi cạnh chừng ba mét sơn màu vàng lợt, được gọi là phòng vận chuyển mà ngao ngán trong lòng. Anh chàng trung sĩ tên Thu lo việc giấy tờ, nhìn Sự vụ lệnh của tao rồi hỏi  “Chuẩn úy đi xuống Lạc Thiện ?”Tao nói “Đúng”. Trung sĩ Thu nói với tao hãy ngồi đó đợi, khi nào có trực thăng đến, anh ta sẽ dẫn tao đi.

Ngồi trên một cái băng làm bằng bìa gỗ tạp được đóng dính vào tường, tao vừa hút thuốc vừa nhìn phi cơ lên xuống để giết thì giờ. Đúng như tên gọi của phi trường, phi cơ đến và đi chỉ toàn loại có dòng họ với phi cơ bà già, chỉ có một lần duy nhất, một chiếc Caribou màu xám hạ cánh rồi sau đó chừng mươi phút, lại cất cánh bay lên. Sau hơn ba tiếng đồng hồ chờ đợi, Trung sĩ Thu mới dẫn tao ra phi cơ trực thăng, theo sau là bốn người đàn bà Thượng, mỗi người mang một cái gùi to thật to đựng đầy ắp muối hột, thêm hai đứa bé chừng bảy, tám tuổi, mặt mày lem luốc mà tao đoán là con của họ. Điều đặc biệt nhất là có thêm hai con chó mực, lúc nào cũng quấn quít bên chân hai đứa nhỏ. Tất cả mọi người đi bộ dọc theo phi đạo một đoạn chừng hơn trăm thước, tới chiếc trực thăng UH1 đang đậu trên phi đạo. Một anh chàng Mỹ trắng dẫn mấy người Thượng đến gần máy bay, đỡ từng người đàn bà lên, sau đó là hai đứa bé và hai con chó. Cuối cùng anh ta cẩn thận đem bốn cái gùi muối hột, đặt lên máy bay cạnh mấy người đàn bà Thượng. Xong xuôi mọi việc, hắn quay lại phía tao và Trung sĩ Thu ra hiệu là máy bay đã hết chỗ. Trung sĩ Thu nói với tao “Chuẩn úy theo tôi về lại trạm vận chuyển rồi về phố nghỉ ngơi, ngày mai tới đây đợi nữa.” Tao phàn nàn với Trung sĩ Thu “Tôi có Sự vụ lệnh ra đơn vị, lẽ ra tôi phải được ưu tiên đi chứ”. Trung sĩ Thu cười, nụ cười như thương hại cho sự ngây thơ của tao, anh ta nói “Tại chuẩn úy không biết thôi, ở đây trực thăng của Mỹ, phi công cũng là người Mỹ, mình xin đi nhờ, muốn cho ai đi là quyền của họ. Hơn nữa chuẩn úy có biết không, tại phi trường này với người Mỹ, thứ tự ưu tiên lên máy bay được sắp xếp như sau: thứ nhất là đàn bà, thứ nhì là con nít, thứ ba là chó, lính tráng bọn mình được đứng hàng thứ tư”.

Tôi gật đầu nói với Sơn.

-Ngày đó tụi mình còn quá trẻ, mang cái quai chảo trên vai mà cứ tưởng là ông trời con cho nên mới càm ràm. Đi ra đơn vị, lao đầu vào chiến trường, chứ đâu phải ăn cỗ mà tranh giành, đi không được thì về phố nghỉ, có sao đâu.

Sơn tiếp lời tôi.

-Mày nói đúng tao về lại Thành phố Ban Mê Thuột, đi lang thang như một gã du thủ du thực, buồn tình bèn ghé vào một quán cà phê trên đường Lý Thường Kiệt. Ngồi một mình trong góc phòng, tao mồi một điếu thuốc, kêu một ly cà phê đen, thưởng thức vài bản nhạc thời trang phát ra từ mấy cái loa treo trên tường. Giọng hát của cô ca sĩ nũng nịu như là thì thầm bên tai người yêu. “Lắng nghe chiều xuống thành phố mộng mơ, màu lam tím Đà Lạt sương phủ mờ, từng đôi đi trên phố vắng”. Đang mơ màng thả hồn theo khói thuốc, bất chợt nghe lời ca của bản nhạc nhắc đến nơi mình ở, bỗng dưng tao thấy xốn xang trong lòng, vị cà phê vốn đã đắng lại càng đắng hơn.Ngẩn nhìn cô thu ngân có gương mặt sáng như trăng rằm, đôi mắt buồn như chứa cả một mùa thu, tự nhiên tao thấy cô đơn lạc lõng, thấy lòng buồn vô cớ, chán cho cái thân làm lính trận miền xa của mình.

Ngày hôm sau, tao lại ba lô lên vai cuốc bộ ra phi trường. Lần này tao được cho lên máy bay một cách thoải mái vì hành khách quá giang chỉ có một mình tao. Đối với những quân nhân trong binh chủng Tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, hoặc như các binh sĩ của Sư đoàn Bộ Binh thì hành quân trực thăng vận giống như đi xe đò. Riêng với tao kể từ ngày vào lính cho đến khi ra trường, mang cái lon chuẩn úy về Tiểu khu Darlac, đó là lần đầu tiên tao bước chân lên một chiếc trực thăng UH1 của quân đội Mỹ, dĩ nhiên mọi chuyện đều khá xa lạ, khiến tao không tránh khỏi ngạc nhiên. Phi cơ gì mà trống trơn, không cửa, không ghế, thậm chí đến cái dây an toàn để mình bám víu vào, cũng không có luôn. Gió lùa từng cơn từ trái sang phải thoải mái, cứ như mình đang đứng giữa nơi đất trời lộng gió.Ngồi phía trước trực thăng, đã có hai viên phi công Mỹ oai vệ trong bộ đồ áo liền quần, đầu đội helmet. Hai bên hông là hai xạ thủ đại liên, mỗi người ngồi trên một cái ghế đặt sát chân khẩu M60. Nằm dài dưới sàn trực thăng là một anh lính bộ binh Mỹ.

Tôi ngắt lời Sơn.

-Mày còn ngon hơn tao nhiều, sáu năm lính ở trường Võ Bị Đà Lạt, tao như một thằng nhà quê, chưa bao giờ đặt chân lên chiếc trực thăng.

Không chút gì quan tâm đến câu nói của tôi, Sơn ngẩng đầu rồi đưa hai tay vòng ra sau ôm lấy cổ, hắn tiếp tục câu chuyện.

-Ngày xưa thuở còn đi học, như mày biết tao có cái tên là Sơn mập, bởi vì tao cao và to như một con trâu. Khi vào Quân trường Quang Trung rồi Quân trường Thủ Đức, tao là sinh viên sĩ quan trong toán Quốc Quân Kỳ. Vậy mà thằng Mỹ nằm dưới sàn trực thăng, có thân hình phốp pháp to gần gấp đôi tao, hắn có đôi mắt xanh và một gương mặt dễ nhìn. Tao không biết quân đội Mỹ có cho phép quân nhân để râu hay không, nhưng thằng Mỹ trước mặt tao có bộ râu quai nón dài và rậm. Tao thầm nghĩ nếu bộ râu của hắn trắng như tuyết, thêm bộ đồ màu đỏ nữa, thì hắn sẽ biến thành ông già Noel mà không cần phải hóa trang. Một mình một chợ, thằng Mỹ nằm chình ình giữa sàn máy bay, gối đầu lên cái túi quân trang màu cứt ngựa, hai tay để hờ lên bụng, cây súng M16 vứt lăn lóc bên cạnh. “Sang sông phải lụy đò”, bài học kinh nghiệm ngày hôm trước vẫn còn đó, biết rõ thân phận đi nhờ tàu, tao rón rén nhẹ nhàng ngồi xuống nơi khoảng không gian còn trống, ngồi mà chỉ sợ gây lên tiếng động mạnh. Khi thấy tao thằng Mỹ cười, nụ cười ngây ngô, hiền khô như ông già Noel,  rồi lịch sự nhích người sang một bên nhường chỗ cho tao. Tao không hiểu tại sao hắn phải làm như vậy, sàn phi cơ còn khá rộng, đủ chỗ cho dăm ba người nữa mà. Nhìn quanh con tàu mà lòng đầy hoang mang, tao loay hoay tìm chỗ nào đó để bám vào vì lo sợ khi trực thăng bốc lên cao, gió hút mạnh sẽ quăng mình ra ngoài trời như không. Tiếng cánh quạt trực thăng quay mỗi lúc một nhanh, toàn thân con tàu rung lên bần bật, máy bay nhấc mình khỏi mặt đất, cắm đầu bay là là dọc theo phi đạo rồi bốc lên cao, lao mình về phía trước để lại đằng sau nhà cửa, xe cộ, và cánh rừng cao su chìm trong làn bụi đỏ. Ngày qua tháng lại, lá của những cây trong rừng cao su nằm sát phi trường nhuốm toàn một màu đỏ gạch, màu đỏ của bụi thời gian.

Ngưng lại một lúc như để lấy sức, sau đó Sơn mới nói tiếp.

-Trực thăng bay được chừng hơn mười phút, bên dưới máy bay đã là một cánh rừng xanh ngắt, trải dài đến tận cuối chân trời. Phi cơ đang bay ngon lành bỗng dưng tao nghe được nhiều tiếng kêu lụp bụp quanh thân tàu, chen lẫn với tiếng phành phạch như xé gió của cánh quạt. Chưa kịp tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra, tao đã thấy hai anh chàng Mỹ đen đang ngồi nơi ghế xạ thủ đại liên, đứng bật lên như một cái lò xo, họ nhanh nhẹn mở tung nắp che cơ bẩm, nạp đạn vào súng. Cùng lúc ấy trực thăng nghiêng mình về bên phải, đạn đại liên từ khẩu M60 rải xuống như vãi đậu, những viên đạn vạch đường sáng bay lẹ như sao xẹt, chen nhau cắm đầu xuống đất xen lẩn với những tiếng nổ giòn giã vang lên giữa bầu trời trong xanh, rồi tiếng vỏ đạn rớt trên sàn trực thăng nghe lùng bùng cả màng nhĩ. Phi công và xạ thủ đều có đội helmet, nên họ thản nhiên thi hành nhiệm vụ một cách ngon lành như không có gì xảy ra. Riêng tao, chỉ kịp đưa hai tay lên bịt lấy tai. Khi tiếng đạn đại liên ngưng nổ, phi cơ lại nghiêng mình về bên trái, cây đại liên bên trái bắt đầu hoạt động, lại có hàng loạt tiếng nổ tành tạch kéo dài, vỏ đạn với móc sắt lại văng tung tóe trên sàn trực thăng. Mặc kệ chuyện gì đang xảy ra, anh chàng lính Mỹ nằm dài dưới sàn vẫn nhắm mắt ngủ ngon lành. Hình như những viên đạn bắn từ dưới đất lên trúng trực thăng, rồi những tràng đại liên M60 nổ chát chúa bên tai, không có gì làm cho hắn phải bận tâm. Trái với gương mặt thản nhiên của thằng Mỹ, tao biết rõ, mặt của mình cắt không còn giọt máu. Hai tay của tao hết bịt tai mà đã chuyển sang ôm chặt lấy cái ba lô từ lúc nào, trong khi toàn thân ướt dầm mồ hôi.

Tôi cười khoái chí.

-Tao tưởng chỉ có một mình tao nhát gan thôi, ai ngờ mày cũng vậy.

Sơn với giọng hãnh diện.

-Chuẩn úy mới ra trường mà được như vậy là ngon lắm rồi. Sau này tao mới biết, khu rừng phía dưới là vùng oanh kích tự do, cho nên hai anh chàng xạ thủ tha hồ rải đạn mà không sợ trúng phải thường dân. Cho đến khi tiếng súng đã hoàn toàn im bặt, chỉ còn nghe tiếng kêu phành phạch của cánh quạt, tao hướng tầm mắt về phía trước, xa xa giữa vùng đồi núi chập chùng, một cái hồ rộng mênh mông bát ngát hiện ra như một tấm gương phẳng lì đặt giữa rừng xanh, bao quanh hồ là trùng trùng điệp điệp núi và núi, tiếp nối nhau như không bao giờ dứt. Trực thăng bay ngang hồ tao nhìn xuống, nước hồ xanh màu ngọc, bóng của chiếc trực thăng đen thui như một con cá mập, nhẹ nhàng bơi lướt trên mặt hồ lăn tăn gợn sóng. Cái bóng bơi lẹ như chớp, khiến tao có cảm tưởng nó bơi còn nhanh hơn chiếc trực thăng mà tao đang ngồi. Trong đời chưa bao giờ tao thấy một cái hồ lớn như vậy, và tao tin rằng đó là cái hồ lớn nhất Miền Nam  Việt Nam thời bấy giờ. Chừng năm phút sau, trực thăng đã qua khỏi hồ, bay dọc theo một con đường đất đỏ lỗ chỗ ổ gà, thỉnh thoảng lại có dăm, ba cái hố bom hình nón lá lật ngửa mà đường kính của nó còn to hơn bề ngang con đường. Hai bên đường cây cối chết khô chỉ còn trơ lại những nhánh cây gầy ốm, cong queo, què quặt vì thuốc khai quang, bên lề đường xác một chiếc xe bus cháy đen, xa xa vài chiếc quân xa, cái lật ngửa chổng bánh lên trời, cái nằm bẹp như một đống sắt vụn. Những hình ảnh điêu tàn của cánh rừng, cho tao biết rằng chiến tranh đã hiện diện ở đây, đã tàn phá không xót thương, hủy hoại không chừa một thứ gì. Vượt qua cánh rừng cây khô, phi cơ hạ thấp cao độ rồi đáp xuống một khoảng đất trống, xa xa ẩn hiện trong vùng cỏ tranh là những căn nhà tiền chế, mà tao đoán là căn cứ của cố vấn Mỹ và chi khu Lạc Thiện. Khi cánh quạt đã ngưng hẳn, một chàng phi công đi quanh chiếc trực thăng, với cây viết chì mỡ trên tay, hắn từ tốn khoanh tròn những lỗ đạn trên đuôi tàu. Xong xuôi công việc, đứng nhìn những vòng tròn to nhỏ khác nhau, hai chàng phi công Mỹ nhìn nhau cười khoái chí. Tao đưa mắt nhìn quanh rồi đếm thầm trong miệng, có tất cả mười hai cái vòng tròn, nếu đem chia đều cho sáu người trên máy bay thì mỗi người lãnh hai viên, đạn AK hay đạn đại liên phòng không 12 ly 7, tao không biết được. Chừng đó đạn bắn vào chiếc trực thăng mà mọi người vẫn bình an vô sự, đúng là chuyện khá hy hữu, chuyện may mắn không ngờ. Lúc này thay vì quay lưng phủi đít đi vào chi khu, vì muốn chứng tỏ mình là người biết chuyện, tao đi đến trước mặt hai anh chàng Mỹ lái trực thăng nói lớn. “Thank you.” Nói xong tao quay lưng bước đi.

Sơn nhìn thẳng vào mắt tôi rồi hỏi.

-Mày biết thằng phi công Mỹ nói gì với tao không?

Tôi trả lời Sơn.

-Làm sao tao biết được.

Sơn cười híp cả mắt.

-Hắn nói “Không có chi” Tao nghe rất rõ nhưng phải đợi khi đi được vài bước, tao mới giật mình hiểu ra là hắn nói tiếng Việt. Khi tao đưa tay nhấc cái ba lô khoác lên vai, chuẩn bị đi về phía mấy căn nhà mà tao nghĩ là Chi khu Lạc Thiện. Bất ngờ, tao giật mình đánh thót vì tiếng la hốt hoảng đầy kinh hoàng của hai anh chàng xạ thủ đại liên. Tao và hai ông phi công cùng quay đầu nhìn lại. Bên hông chiếc trực thăng, một anh xạ thủ đang lật và kéo anh chàng Mỹ to quá khổ sang một bên, hình như anh chàng này đã chết vì trúng đạn của Việt cộng bắn lúc nãy, máu tươi ướt đẫm chỗ anh ta nằm. Tao thật sự choáng váng, lạnh cả người khi nhớ lại cái cảnh anh Mỹ mập nhích tấm thân đồ sộ sang một bên, để tao có thể ngồi thoải mái hơn, nếu anh ta vẫn nằm yên thì chắc viên đạn vô tình bắn hú họa đó, đã không trúng vào chỗ nhược của anh ta, mà sẽ trúng vào tao cũng nên. Cũng có thể cái tấm thân to lớn bề thế như một ông hộ pháp của anh ta, đã đỡ lấy viên đạn cho tao không chừng. Ở đời, chuyện sống chết mấy ai biết được. Một anh lính ở tận nước Mỹ xa xôi vạn dặm, đến Việt Nam chiến đấu để bảo vệ Miền Nam, anh ta chết, cái chết nhẹ như một giấc mơ. Tao nghĩ đến mình, là con dân nước Việt, là lính Miền Nam Việt Nam, nếu tao có phải hy sinh để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa thì cũng không có gì phải tiếc nuối. Thế nhưng với anh lính Mỹ vừa mới giã từ cõi đời nơi xứ lạ quê người, thân nhân không được thấy mặt, khiến lòng tao không khỏi bùi ngùi thương cảm. Ngày đầu tiên ra đơn vị, với tao đó là một ngày đáng ghi nhớ trong đời.

Sơn cho thêm một thanh củi vào bếp rồi ngước nhìn tôi với giọng nói đầy tự tin, hắn nói.

-Tao dám bảo đảm với mày, Lạc Thiện là một cái quận xa xôi, hẻo lánh, tiêu điều xơ xác và nhỏ nhất của Việt Nam Cộng Hòa vào thời bấy giờ. Quận lỵ cái con mẹ gì, chỉ có chừng hơn hai chục cái nhà tôn vách ván với con đường đất đỏ nhỏ xíu chạy ngang trước quận.

Tôi thắc mắc hỏi Sơn.

-Như vậy thì tại sao người ta gọi là quận?

Sơn giải thích cho tôi.

-Vài chục căn nhà, dân số chưa được trăm người Kinh nhưng gọi là quận, vì trong lãnh thổ của quận Lạc Thiện còn có khoảng hơn ba chục cái buôn Thượng nằm rải rác khắp nơi, có buôn cách xa quận hơn hai chục cây số. Tổng số dân của mấy chục cái buôn Thượng này lên đến con số hơn bốn ngàn người. Việt Nam Cộng Hòa có nhiệm vụ phải bảo vệ dân của mình, bảo vệ những cái buôn Thượng này, đó là lý do người ta lập quận, đặt cơ quan hành chính ở đó. Ngày đầu mới đến Lạc Thiện, bụng đói cồn cào, tao được một anh lính chỉ cho căn nhà thấp lè tè, mái lợp tôn, trong số hơn vài chục căn nhà trước quận, anh ta gọi đó là quán ăn. Trong quán chỉ có bán một món ăn độc nhất là mì gói đổ nước sôi với một cái trứng gà, thức uống thì chỉ vài chai Coca sắp trên một cái kệ. Điều đặc biệt là tuy quận không có điện nhưng quán lại có đá lạnh, tao thắc mắc hỏi chủ quán và được ông ta dẫn ra sau nhà, chỉ vào cái tủ lạnh đặt nơi góc bếp.

Sơn đột ngột đổi giọng hỏi tôi.

-Mày có thấy ai ngu như tao không? Được cha mẹ cho ăn học đầy đủ, tốt nghiệp trung học với hai cái tú tài, cũng tốt nghiệp Thủ Đức đàng hoàng, vậy mà tao không hề biết là trên đời này trước khi có tủ lạnh chạy điện, người ta đã chế ra cái tủ lạnh chạy bằng dầu hôi. Và cái tủ lạnh này là sản phẩm độc đáo nhất của Lạc Thiện thời bấy giờ. Chừng đó, quận chỉ có chừng đó mà thôi, không còn gì khác. Nói vậy cũng không đúng, còn chớ, còn chuyện pháo kích nữa. Ở cái chỗ ma thiêng nước độc, chỉ có một trung đội pháo binh và bốn Đại đội Địa Phương Quân trú đóng, vậy mà ngày nào cũng ăn pháo kích. Việt cộng đặt súng cối 82 ly nơi những đỉnh núi cao gần hồ Lăk, hôm nay chúng rót vào chi khu mươi trái đạn, ngày hôm sau tại ngọn núi khác, bọn chúng lại  bắn vài chục trái nữa, cứ như vậy ngày qua tháng lại pháo đều đều. Việt cộng pháo kích đều đặn đến nỗi một vài ngày không ăn pháo lại thấy thiêu thiếu, lại nghe lính hỏi nhau “Sao mấy ngày rồi, chưa thấy Việt cộng pháo kích hè ?”. Tao cười rồi nghĩ thầm, hình như ngày nào không có pháo kích thì lính mình ăn cơm không thấy ngon. Khi biết rằng tao đang bước một chân xuống cái địa ngục có thật ở trên đời tên là Lạc Thiện, cũng là lúc tao nhớ lại thành phố Ban Mê Thuột, nhớ nhà cửa, nhớ xe cộ, nhớ rạp cine Lô đô, nhớ con người, nhớ xe mì hoành thánh bên hông chợ của vợ chồng ông Tàu, và biết rằng Ban Mê Thuột đúng là thiên đường, là thủ phủ của cao nguyên. Hơn mấy năm trường ở Chi khu Lạc Thiện, đại đội của tao cùng ba đại đội khác thay phiên nhau hành quân lục soát, truy lùng Việt cộng. Một tuần lội rừng, một tuần về phòng thủ quận nghỉ dưỡng quân. Rồi lại bảy ngày  lương khô thịt hộp, tiếp tục hành quân, cứ như thế ngày này qua tháng nọ. Tụi tao đụng trận với Việt cộng cả chục lần, con số thương vong của hai bên cũng khá, chết chóc cũng bộn. Anh chàng mang máy cho tao may mắn được giải ngũ, chỉ để lại một con mắt ở chiến trường. Còn ông đệ tử của tao không được may mắn cho lắm, hắn gởi lại chiến trường một cái chân, thêm mấy vết thương ở bụng, sau ba tháng nằm ở Quân Y Viện Ban Mê Thuột, cộng thêm mấy lần tái khám, hắn trở về với vợ con trên đôi nạng gỗ. Cá nhân tao mỗi khi đụng trận là tao phải thí mạng cùi, ôm súng dẫn lính xung phong chiếm mục tiêu. Nhờ phước đức của ông bà để lại nên tao vẫn còn lành lặn, không được giải ngũ, cứ phải phục vụ trong quân đội cho đến ngày 30 tháng 4.

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy
Post by Sơn râu 9 Mar 2025

Tập 2

Phần 11
Uống thuốc liều

Nguồn tin hai tuần nữa được thăm nuôi loan truyền nhanh như chớp, tù binh bị nhốt trong Tổng trại 8 đang sống ngoắc ngoải tuyệt vọng, đột nhiên bừng tỉnh lại. Chuyện được thăm nuôi xảy ra, giống hệt như vùng đất Sông Mao khô cằn nắng cháy, bỗng đâu có được một cơn mưa rào đổ xuống. Sáu tháng dài đằng đẵng ăn uống thiếu thốn, từ tuần trước tù nhân đã phải bắt đầu ăn độn, mỗi bữa ăn tiêu chuẩn chỉ còn lưng chén cơm, áo quần của họ cũng bắt đầu tả tơi sờn rách. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Sông Mao là hậu cứ của Trung đoàn 44 Bộ Binh, cho nên có rất nhiều công sự phòng thủ được làm bằng bao cát. Tù nhân lợi dụng lúc đi làm lao động gần những khu vực này, họ lén đào xới, đổ đất từ bao cát ra, giấu cái bao vào người đem về trại. Sau khi giặt giũ sạch sẽ, phơi khô, tù nhân dùng vải bao cát may thành quần áo để bận, thay thế cho những bộ đồ đã bị rách. Trường hợp gặp bao cát được dệt bằng sợi ny-lông dẹp, tù nhân cũng lượm về, họ chập nhiều sợi vào với nhau, thường thì khoảng sáu sợi, xe lại thành một sợi to tròn đan võng để nằm. Nhiều tù nhân khéo tay, họ đan những chiếc võng tuyệt đẹp, với ý định là khi mãn hạn tù sẽ đem về làm quà cho vợ con.

Ngay tối hôm đó trong một buổi họp tổ, khi chúng tôi đang è cổ hát bản “Tiếng đàn Ta Lư” thì quản giáo Cảnh xuất hiện. Đợi cho chúng tôi hát xong, với gương mặt vui tươi cởi mở, ông ta xác nhận, hai tuần nữa sẽ cho thăm nuôi. Và một tin tức quan trọng hơn mà mọi người chờ đợi từ bấy lâu nay là, sau kỳ thăm nuôi “Trên” sẽ tổ chức cho cả Tổng trại 8 tiến vào học tập. Chữ “Trên” ở đây có nghĩa là cấp cao hơn, còn cao cỡ nào thì chỉ có Việt Cộng biết mà thôi. Đây là một cái tin mang đến niềm vui, mang đến sung sướng, cái tin làm rúng động lòng người.

Sau khi họp tổ xong, tuy đã hơn tám giờ tối, tôi chạy qua khối Bình Thuận tìm Long công tử để báo tin mừng. Với nét mặt điềm tĩnh, Long công tử nói.

-Khối Bình Thuận cũng đã được quản giáo báo tin rồi.

Như mọi lần, hai đứa tôi kéo nhau ra sau hè của nhà bếp, ngồi đó chuyện trò, tâm sự vụn.

Long công tử với giọng buồn buồn.

-Trước khi bị lùa vô đây, mày còn có được diễm phúc là gặp lại cha mẹ, mấy đứa em cùng với vợ, tao không có cái may mắn đó. Một ông chủ công ty nhập cảng nông ngư cơ, xuất cảng cà phê cộng thêm mấy cái biệt thự to lớn ở Sài Gòn, ba má của tao nếu không cao bay xa chạy như ba vợ của mày, chắc chắn ông bà đã bị tống cổ ra khỏi nhà, giống trường hợp của vợ mày mà thôi.

Long công tử buông tiếng thở dài.

-Cho đến hôm nay, ba má tao ở đâu, vợ con tao còn ở Ban Mê Thuột hay đã chết tức tưởi trong một xó rừng nào đó, tao không biết được.

Tôi hỏi Long công tử.

-Ba mươi tháng tư, mày đang ở đâu?

Long công tử nhắm mắt, nhíu mày.

-Ngày mười ba tháng ba, Liên đoàn Biệt Động Quân của tao đang ở Long Thành, được lệnh về phi trường Tân Sơn Nhất, sau đó là vận tải cơ C130 bốc tụi tao thả xuống phi trường Cù Hanh, Pleiku. Khi đáp xuống phi trường, một chiếc C130 trong đoàn phải hạ cánh khẩn cấp, không biết có phải vì trúng đạn phòng không của Việt Cộng hay không, may mắn là phi cơ đáp an toàn rồi sau đó mới bốc cháy.

Tôi nêu lên thắc mắc với Long công tử.

-Lúc đó mày có biết là Ban Mê Thuột đã mất vào ngày mười tháng ba rồi hay không?

-Biết cái con mẹ gì đâu, khi tụi tao xuống phi trường Cù Hanh nghe tin là Ban Mê Thuột xong rồi. Lúc bấy giờ tao cứ tưởng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã giải tỏa Ban Mê Thuột xong xuôi, không cần tụi tao nữa. Ngay chiều hôm đó, có lệnh mới cho Đại đội 2 của tao tới trám chỗ cho một Tiểu đoàn Địa Phương Quân vừa mới rút đi. Hơn sáu năm lính, ba năm làm Đại đội trưởng Đại đội 2, của một Tiểu đoàn Biệt Động Quân, đánh nhau với Việt Cộng hằng trăm trận, chưa bao giờ tao tham dự một cuộc hành quân lạ lùng như vậy. Hành quân mà không có lệnh hành quân, chỉ với một tấm bản đồ to bằng cuốn vở, không yểm trợ, không lương thực, không có cái con mẹ gì hết. Đem một đại đội tấn vào một vùng đất hoang vu, không biết bạn ở đâu, địch ở đâu, đại đội của tao lơ ngơ lớ ngớ giữa rừng cả tuần. Mãi cho đến ngày hai mươi tháng ba, tao mới được lệnh của Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng gọi về Pleiku họp và lãnh tiếp tế.

Tôi tỏ vẻ không tin.

-Mày kể chuyện giống như đùa.

-Không có đùa đâu, sau khi dặn Thiếu úy Đại đội phó ở lại coi đại đội, tao dẫn theo một trung đội về Pleiku. Suốt mấy tiếng đồng hồ lội bộ trong rừng, khi tao tới cái buôn Thượng mà tuần trước đại đội đi qua, dân trong buôn còn đưa tay vẫy chào. Ngày hôm ấy buôn Thượng vắng hoe không một bóng người, ngay đến mấy con heo đen thui, lưng cong bụng ỏng chúi mũi xuống vũng sình tìm thức ăn cũng biến đi đâu mất. Cả buôn làng chìm trong im lặng đến kỳ lạ, chỉ còn nghe được tiếng rì rào trong gió của mấy bụi tre gai ở bên đường. Tụi tao tiếp tục di chuyển, cho đến khi mặt trời đứng bóng mới về tới Pleiku. Qua tin tức do Chuẩn úy Trung đội trưởng thu lượm được, báo cáo với tao, lúc bấy giờ tao mới biết Ban Mê Thuột đã bị Việt Cộng chiếm từ ngày mười tháng ba. Riêng thành phố Pleiku, lính và dân ở đây đã di tản mất tiêu từ ba, bốn ngày trước đó rồi. Cả một Quân đoàn với hàng trăm ngàn quân nhân, được trang bị phi cơ chiến đấu, chiến xa, trọng pháo, tất cả đều biến mất, biến khỏi Pleiku một cách khó hiểu. Tao ngẩn ngơ đứng nhìn phố núi cao nguyên mà lặng điếng trong lòng, xa thật xa tận cuối con đường mòn, chỉ một người duy nhất đang di chuyển chầm chậm, trông giống như một cái bóng ma. Tao đi trong thành phố không xe, không người, không tiếng động, chỉ thấy lá vàng khô trong bụi mù cùng với giấy rác, theo từng cơn gió nhẹ đuổi nhau chạy trên mặt đường, băng ngang qua những căn nhà cửa đóng then cài. Pleiku lúc bấy giờ là hoang địa, là một thành phố vô chủ, thành phố ma, tao đứng trước kho tiếp liệu của một đơn vị nào đó trong Quân đoàn, cửa kho mở toang hoác, vũ khí, đạn dược, quân dụng, thực phẩm, văng tung tóe khắp mọi nơi. Chiều hôm đó trong lúc mây đen vần vũ khắp trời, tao ôm cái cổng Quân đoàn khóc như một thằng điên.

Tôi hỏi mà như xúi Long công tử.

-Dân Sài Gòn như mày, đâu có gì phải quyến luyến cái thành phố “Đi dăm phút đã về chốn cũ” đó, tại sao mày không chạy đi cho rồi.

Long công tử đột nhiên nổi giận với tôi.

-Mày biểu tao chạy hả? Chạy sao được. Ban Mê Thuột mất, đem C130 chở một Liên đoàn Biệt Động Quân thả xuống Pleiku, rồi bỏ quên luôn ở đó, một mình tao chạy, trong khi lính của tao còn ở trong rừng đợi tao. Tao không thể làm như vậy được, mày cũng biết rồi, lính không có cấp chỉ huy như rắn mất đầu. Sáng hôm sau, tao dẫn đại đội xé rừng đổ xuống biển, sau hơn hai tuần băng rừng vượt núi, tụi tao tới Tuy Hòa, thành phố đã lọt vào tay Cộng Sản từ mấy ngày trước, sau đó là Nha Trang, Phan Rang. Ngày hai mươi lăm tháng tư, sau hơn một tháng vượt thoát chạy về vùng tự do, tụi tao tới được Phan Thiết, lúc này lính Cộng Sản đã đứng chật đường. Tao bị bắt, nhốt ở lao xá Phan Thiết. Nếu tao nhớ không lầm, ngày mười tháng năm, Việt Cộng chở tao cùng với hàng trăm tù binh đủ loại, đem lên giam giữ ở Cà Tót.

Long công tử quay sang nhắc tôi.

-Mày buồn ngủ chưa? Khuya rồi về đi, mai còn đi lao động.

Bầu trời Sông Mao sâu thăm thẳm, con trăng lưỡi liềm treo lơ lững giữa trời, tôi nhìn theo ánh sao đêm lấp la lấp lánh như muốn tắt ở cuối dải Ngân Hà mà thương xót cho Long công tử. Thương một thằng tù cô đơn, lạc lõng giữa đám bạn tù, cha mẹ vợ con lưu lạc phương nào, không biết sống chết ra sao, trong lòng đầy thương cảm, tôi nói với Long công tử.

-Mày cũng vậy, giữ gìn sức khỏe để mai còn đi lao động.

Cuối cùng chuyện gì đến phải đến, hôm nay là ngày thăm nuôi, tất cả tù nhân được miễn đi lao động, ở trong phòng đợi loa gọi tên. Khi nghe gọi tên mình, lúc bấy giờ người tù mới được đi ra khu thăm nuôi, nằm cách trại chừng năm trăm thước để gặp thân nhân.

Hôm nay những cái quần cụt may bằng vải bao cát, biến đi đâu mất, hầu như tất cả tù nhân đều bận bộ quần áo còn lành lặn khi gặp người thân, vì họ không muốn thân nhân của mình thấy được sự khổ cực mà họ đang gánh chịu. Bộ đồ tuy che đậy được phần nào cái thân thể ốm yếu của tù nhân, nhưng không thể nào che được nét lo âu sầu não, trên gương mặt của họ. Thôi thì giấu được chút nào hay chút ấy, có còn hơn không.

Tám giờ sáng, tôi đã diện bộ đồ tương đối còn tốt ngồi chờ. Mãi cho đến gần mười một giờ, mới nghe loa gọi tên mình, nhanh như một con sóc, tôi phóng ra cửa phòng đi đến khu thăm nuôi. Vừa đi vừa chạy mà vẫn thấy chậm, trong lòng nôn nao náo nức, không biết chỉ có một mình vợ tôi đi thăm tôi, hay còn có ba má tôi đi theo nữa.

Nhà thăm nuôi khá rộng với một dãy bàn dài, tù nhân đứng một bên, thân nhân của tù đứng một bên, cách vài mét lại có một cán bộ xen vào giữa kiểm soát. Tôi không thấy ba má tôi, chỉ có một mình Cúc đứng bên cạnh một người đàn bà lạ hoắc, tuổi độ bốn mươi. Trên bàn là hai bao ny lông to, tôi biết đó là thực phẩm mà Cúc mang vào cho tôi. Điều khiến tôi ngạc nhiên, mừng muốn khóc là Cúc mập ra với hai tay đỡ lấy cái bụng bầu. Ngày tôi đi học tập, Cúc không nói gì về chuyện nàng có thai, tôi xa vợ đã hơn sáu tháng, chắc đứa bé vào khoảng bảy tháng. Tôi thầm cảm ơn trời, hú hồn nếu để hai tháng nữa mới cho thăm nuôi, cận ngày sanh nở Cúc không thể nào đi thăm tôi được. Trước ngày thăm nuôi, tôi có cả ngàn câu hỏi trong đầu muốn hỏi Cúc, dĩ nhiên chỉ là những câu hỏi về gia đình, không liên quan gì đến chính trị, trước mặt cán bộ tôi không dại gì nói đến chuyện chính trị. Khi gặp mặt Cúc với cái bụng bầu, tôi quên hết mọi chuyện, chỉ lo hỏi về đứa con mà vợ tôi đang mang trong bụng.

Cúc giới thiệu với tôi.

-Đây là chị Hai, anh còn nhớ không ngày xưa khi anh và em về Sài Gòn, chị Hai là người thường làm bữa ăn sáng cho mình.

Tôi lắc đầu.

-Hồi đó anh không để ý, nên không nhớ.

Cúc giải thích với tôi.

-Nhờ có chị Hai lo cho em, ba má mới cho em đi thăm anh, cũng nhờ chị em mới đem được chừng này thực phẩm cho anh. Tất cả thức ăn trong bao đã qua thủ tục kiểm soát của trại rồi.

Nói tới đây, Cúc nói nhỏ chỉ đủ cho tôi nghe.

-Chị Hai hiện là người giúp việc cho nhà mình. Tiền em giấu dưới đáy lon gô đựng ruốc kho sả.

Tôi gật đầu.

-Anh đã nghe rõ rồi.

Dứt lời tôi nói to, cốt ý cho ông cán bộ nghe.

-Ba, má, thằng Tý, con Quyên, có khỏe không? Em an tâm ở trong này anh phấn đấu học tập tốt, lao động tốt, theo đúng chủ trương đường lối của đảng và nhà nước, khi nào tiến bộ anh sẽ được trở về sum họp với gia đình.

Mới hơn sáu tháng ở tù, tôi học được một câu nói nghe sặc mùi chữ nghĩa của Việt Cộng.

Ba mươi phút thăm nuôi trôi qua thật lẹ, ông cán bộ Việt Cộng thông báo đã hết giờ thăm, lợi dụng lúc chộn rộn, khi mà mọi người đang còn ồn ào xôn xao, Cúc giúi vào tay của tôi một cuộn tiền. Hành động của Cúc, không qua được đôi mắt lanh lẹ của ông cán bộ, nhưng hình như ông ta thấy cái bụng bầu của Cúc nên cố tình quay mặt làm ngơ. Tôi vội vã nhét tiền vào túi mà sợ điếng hồn.

Kéo lê hai bao thực phẩm ra khỏi nhà thăm nuôi, tôi đứng lặng yên nhìn Cúc đi về phía cổng trại, đầu của Cúc cúi gầm, tay đỡ lấy bụng, với những bước đi nặng nề chậm chạp vì cái bầu quá lớn. Hình ảnh người vợ thương yêu của mình phải chịu nhiều đau đớn mất mát, khiến tay chân của tôi cứ như rũ rượi, rã rời. Tôi ngồi bệt xuống đất, tựa lưng vào hai cái bao thực phẩm mà thấy cay cay nơi mắt. Tôi đang ở trong tù, ngoài kia vợ tôi cũng đang ở tù, có khác chăng chỉ là cái hàng rào vỉ sắt PSP. Hai bao thực phẩm quá nhiều, nặng có đến bảy, tám chục kí lô như không, tôi phải nhờ một anh trung úy vác giùm tôi một bao về trại. Nhìn cái bao thực phẩm của anh ta, tôi ngượng ngùng không nói nên lời, thực phẩm thăm nuôi của anh, đựng trong một cái bao ny lông nhỏ xíu ước chừng năm, bảy kí. Mấy ngày đường, đi xe đò từ Bảo Lộc Đà Lạt, đến Sông Mao, mà chỉ đem cho chồng vài kí lô thực phẩm, chuyện đó nhắc cho tôi nhớ bên ngoài vợ con của sĩ quan Ngụy hẳn là phải chịu nhiều bạc đãi, khổ sở, chẳng khác gì trong tù. Nghĩ như vậy, tôi lấy tặng anh bạn mới quen gói đường khoảng một kí. Anh ta nhìn tôi với đôi mắt đầy u uẩn, giống như chất chứa cả một đại dương buồn bã.

-Cảm ơn anh bạn, nếu bạn cho tôi một điếu thuốc, hút để lãng quên đời chắc tôi sẽ vui hơn, thích hơn.

Tôi vui vẻ lục trong bao, đưa anh ta gói thuốc còn nguyên.

-Cám ơn anh, đã giúp tôi mang bao thực phẩm về trại.

Việc đầu tiên tôi phải làm là múc hết thịt ruốc kho sả, cho vào cái hũ thủy tinh mà tôi có, nơi đáy lon gô được gói kỹ lưỡng trong mấy lớp ny-lông, là một xấp tiền mới và mười tấm giấy một trăm đô, kèm theo một lá thư ngắn gọn.

Anh giữ số tiền này để phòng thân, cả gia đình đều mạnh khỏe. Trước đây em quên nói với anh, cho nên anh để lại tám ngàn tiền Việt Nam Cộng Hòa dưới gối. Số tiền này chỉ là hột cát sông Hằng so với số tiền em đang có. Đừng lo lắng gì cho em, bằng mọi giá anh phải sống trở về với em và con. Thương anh, vợ của anh. Cúc.

Đọc xong thư, anh nhớ đốt bỏ ngay lập tức.

Tôi bật que diêm hút thuốc tiện thể đốt luôn bức thư, đợi cho đến khi bức thư chỉ còn lại chút tro tàn, tôi lấy khoảng một phần ba số thực phẩm mà tôi có, đem qua cho Long công tử. Phần còn lại của tôi và Trung úy Lợi.

Tôi và Long công tử ra ngồi sau hè nhà bếp, vừa ăn xôi gà vừa thưởng thức lon gô cà phê sữa nóng hổi. Chuyện hai đứa tôi mở tiệc linh đình như vậy, không có gì là lạ vì hầu như tất cả tù nhân trong trại, cũng đều đang tụ họp theo từng nhóm nhỏ ăn uống tưng bừng.

Tôi đưa cho Long công tử năm trăm đô la, thêm một trăm đồng tiền mới của Việt Cộng, đó là một món tiền khá lớn vào thời bấy giờ. Sở dĩ tôi biết giá trị của đồng tiền mới, vì Trung úy Lợi đã dùng một đồng mua được ba tán đường.

Long công tử nhìn tôi.

-Mày nhớ không, hồi còn ở Thủ Đức mày cho tao với Biên mượn năm trăm, tao vẫn chưa trả lại cho mày. Hôm nay mày cho tao năm trăm đô la nữa, như vậy là đúng một ngàn.

Biết Long công tử chỉ đùa cho vui, nên tôi nói với hắn.

-Dưới con mắt của một cậu công tử như mày, tiền nào cũng là tiền cho nên mày mới đem gà cọng với vịt như vậy.

Long công tử hỏi.

-Mày có biết giá trị của năm trăm đô la không?

Tôi thú thật với Long công tử.

-Đô la ngoài thị trường chợ đen của thời Cộng Sản tao không biết, nhưng mà nhiều hay ít không phải là chuyện đáng nói, không thể nào đem đô la cộng với tình bạn được.

Long công tử nhắc tôi.

-Bản tính của mày vốn nhút nhát, nhưng mày là thằng chí tình, chuyện đó sẽ hại mày về sau.

Tôi nói với Long công tử.

-Có chuyện này tao muốn nói với mày, cứ mỗi lần thiếu tiền, muốn ăn cướp của dân, tụi Việt Cộng lại đổi tiền. Từ ngày mà ông Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình cho đến nay, đúng ba mươi năm, mấy tháng trước là lần thứ tư Việt Cộng đổi tiền, tính trung bình cứ khoảng hơn bảy năm là dân Việt Nam lại bị Việt Cộng ăn cướp tài sản của mình một lần. Riêng cái thằng đế quốc Mỹ bị Việt Cộng gán cho cái tội danh xâm lược, bóc lột, thì từ ngày lập quốc tới giờ, trải qua gần hai trăm năm, hình như tụi nó chưa đổi tiền lần nào.

Long công tử giục tôi.

-Mày lo ăn thịt gà đi, nói chuyện đổi tiền làm gì cho mệt.

Tôi cười với Long công tử.

-Vợ tao chưa đi học tập nên biết được, giữ tiền Việt Cộng giống như cầm tờ giấy lộn, chắc cũng tại như vậy mà vợ tao mới gởi đô la cho tao.

Long công tử cầm cái đùi gà rô ti vàng ươm mỡ.

-Mày cứ giữ tiền đi, đưa cho tao làm gì.

Tôi thuyết phục Long công tử.

-Với bọn Việt Cộng gian xảo lọc lừa, họ nói mười ngày thành mười tháng hay có thể lâu hơn nữa, tụi mình có đề phòng vẫn hơn. Tao ở khối 5 Đà Lạt, mày ở khối 4 Bình Thuận, cách nhau không xa, tuy là bấy lâu nay tao với mày có thể gặp nhau đều đều nếu muốn. Nhưng mà…Mày còn nhớ hay không, ngày xưa khi còn ở quân trường, mày đã từng giải thích cho tao nghe về ý nghĩa của bốn chữ Cư An Tư Nguy trong phù hiệu của Trường Bộ Binh Thủ Đức “Sống yên ổn phải nghĩ đến lúc nguy khốn”. Biết đâu tối nay, tụi Việt Cộng bất ngờ giới nghiêm, tù của khối nào ở yên trong khối đó, áp tải mày ra giam giữ ở miền Bắc, đem tao nhốt ở Phú Quốc thì sao.

Long công tử gật gù cái đầu chỉ còn vài cọng tóc.

-Mày nói nghe cũng có lý.

Nói xong Long công tử cất tiền vào túi.

-Có tiền, có đầy đủ thực phẩm rồi, tao cần phải ăn uống tẩm bổ cho mau mạnh khỏe lại như xưa.

Tôi mừng rỡ tiếp lời hắn.

-Lâu lắm tao mới nghe mày nói một câu hay như vậy, cố gắng ăn cho nhiều vào.

Với nụ cười đầy tự tin, Long công tử ghé sát vào tai của tôi nói nhỏ, giọng nói ngang tàng của một sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt, không bao giờ chịu khuất phục trước họng súng AK.

-Khi mà sức khỏe của tao đã hoàn toàn hồi phục, hai thằng mình vượt ngục, kéo nhau vô rừng tiếp tục chiến đấu.

Tôi nhìn cái hàng rào vỉ sắt PSP xám xì xám xịt, cao đúng ba mét, với nòng súng đại liên 50 đen thui trên tháp canh, rồi nghĩ đến vợ tôi đang mang thai sắp sanh mà mồ hôi trộm tuôn ra khắp người. Tôi nhắm mắt than thầm, làm bạn với một ông sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt coi trời bằng vung, lại là bạn thân cùng sống cùng chết với hắn, quả thật không dễ chút nào. Đưa tay nâng cái lon gô, tôi ngửa cổ uống một ngụm cà phê sữa nóng mà tưởng là mình đang uống thuốc liều.

HUY VĂN TRƯƠNG

Quân bài tẩy

thuymyrfi.blogspot.com

Bùi Chí Vinh

mercredi 5 mars 2025

Post by Sơn râu 6 Mar 2025

Trump nói Zelensky không có quân bài nào trong tay để đàm phán cả. Nếu năm 1994 Ukraine không bị đám Mỹ, Nga, Anh, NATO liên kết “dụ khị” phá hủy 1.800 hỏa tiễn lục địa và kho vũ khí hạt nhân lớn thứ ba thế giới thì xin lỗi, không riêng gì Nga mà cả Mỹ, Tàu cũng đố dám rớ đến, nói chi là xâm lược.

Nói có sách mách có chứng. Cứ nhìn nhiệm kỳ đầu của Trump, chỉ cần Kim Jong Un tức Ủn Béo xịt hỏa tiễn và nổ tá lả đã có “bom nguyên tử” là Trump lập tức hạ mình xuống nước dịu giọng làm quen ngay.

Chẳng những làm quen mà còn ve vãn hội đàm ở Hà Nội, nhưng cuối cùng cả Mỹ, Tàu, Nga chẳng ai cản được Bắc Hàn nghèo đói cứ lâu lâu bắn một hỏa tiễn ra biển hù dọa quốc tế lên ruột.

Ấy vậy mà bây giờ mấy siêu cường dự hội nghị đó (trừ Anh) nỡ hùa nhau ăn hiếp một dân tộc dũng cảm bảo vệ tổ quốc trước bọn xâm lược Nga suốt hơn 3 năm, mà không thấy bội tín với chữ ký của mình và xấu hổ ư ? Chính lòng yêu nước của dân tộc Ukraine là “quân bài tẩy” mà Trump không bao giờ tính đến.

QUÂN BÀI TẨY

Mặc áo lính đi họp

Bị coi là xem thường

Vác “hột nhơn” đi họp

Chào hỏi búa xua luôn

Cần gì phải Veston

Cứ lầm lì liều mạng

Bọn nguyên thủ con buôn

Giàu cỡ nào cũng ngán

Năm một chín chín bốn

Thủ chục trái dưới hầm

Giờ đến Tòa Bạch Ốc

Đố đứa nào lên gân!

BÙI CHÍ VINH 04.03.2025

Chuyện Kỷ Niệm 43 năm trận chiến Khánh Dương tháng 3/1975

dongsongcu.wordpress.com

Cù Lũ Nhí Châu Nhái

Posted on February 27, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 6 Mar 2025

Ai về Dục Mỹ Buôn Ma Thuột

Nếu có dừng chân ghé Khánh Dương 

Chậm chân người hỡi nhè nhẹ bước

Kẻo đạp lên mình các bạn tôi.

Ngày nào sinh tử thề hẹn ước.

Sao đành để lại một mình tôi

Đã mấy ĐÔNG về Anh vẫn đợi

Là bấy XUÂN qua thấy thẹn lòng

Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí

Pháo binh nhảy dù – Ảnh minh hoạ

Từ trước tới giờ có rất nhiều bài viết nói rằng Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Nhảy Dù tham chiến Khánh Dương. Thật sự là Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh Nhảy Dù mới là Tiểu Đoàn tham dự trận Khánh Dương. Có rất nhiều người biết, nhưng không có ai đính chính chắc tại vì cùng là Nhảy Dù cả ai cũng vậy thôi. Nhảy Dù luôn nêu cao tinh thần đồng đội đó là truyền thống của Binh Chủng Nhảy Dù.  LĐ3/ND đổ quân vào Khánh Dương trên hai chiếc Dương Vận Hạm Theo đích thân Tố Quyên thì chiếc Dương Vận Hạm LST 404 chở các TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ3 Trinh Sát /ND. Còn chiếc Dương Vận Hạm LST 504 chở BCH/LĐ3, các ĐĐ Công Binh, Công Vụ, Truyền Tin và TĐ2 Pháo Binh Nhảy Dù. Chiếc LST 404 chở quân tới trước. Anh em Nhảy Dù ở trên đó cũng khá lâu trước khi xuống cảng vào sáng sớm Phía Hải quân cho người nhái và tàu nhỏ vây quanh LST 404, quăng lựu đạn liên tục xuống nước đề phòng đặc công VC.

Trời gần sáng thì TĐ 2, 5, 6 và ĐĐ 3 Trinh Sát đổ quân xuống Cầu Đá. tôi gặp lại MĐ Liễu Hùng Nghị SQ /Tiền Sát /TĐ5 (không nhớ đề lô cho ĐĐ nào) người bạn cùng khóa TĐ16 Đồng Đế, cùng khóa Dù 329, cùng khóa CBSQ/PB lần cuối gặp nhau ở cây số 17 Huế. Tụi tôi rủ nhau ra ngoài uống cà phê.

Hai thằng sỉ quan nhỏ xíu mang 2 cây Colt 45 xệ xệ đi bộ ra ngoài cổng. Quân Cảnh có hỏi nhưng rồi cũng cho hai đứa ra. Chúng tôi lựa quán đối diện cổng có hai cô bán hàng khoảng tuổi 17, 18t ngồi xuống uống cà phê tán dóc với hai cô. Thì ba của hai cô bước ra. Khi biết chúng tôi là Nhảy Dù từ Đà Nẵng về. Ông không nói gì cả mà đi vào trong. Một lát sau ông lái chiếc La Dalat ra kêu 2 cô gái nói gì đó tôi không nghe. Tán dóc với 2 cô khoảng 15 phút tôi đứng dậy tính tiền, nhưng 2 cô nói: Hai anh đợi ba em một chút, còn tiền cà phê ba em dặn không được lấy. Chúng tôi ngồi xuống tiếp tục tán dóc không quên lợi dụng cơ hội xin tên và địa chỉ để nếu có dịp ra thăm hay thư từ làm quen.

Một lát xe La Dalat về không phải một xe mà là 3 chiếc trên xe đầy những bánh mì, thuốc lá, đồ hộp v. v. toàn là đồ ăn liền. Ông nhờ tụi tôi chuyển vào trong cho anh em Nhảy Dù. Không có gì là cảm động hơn, tôi ko nói được lời gì cả. Cái gì đó nghẹn trong cổ họng của mình. Một lát tôi mới có thể nói: Chuyện nầy để cháu dẫn chú vào gặp cấp cao hơn vì tụi con không có thẫm quyền. Sau khi cảm ơn 2 cô chúng tôi dẫn ông về cổng và trình bày sự việc. Xong chúng tôi chào ông về lại đơn vị của mình. Một lát sau bánh mì, thuốc lá, đồ hộp được phát ra cho anh em.

Không những vậy khi đoàn GMC chở LĐ3/ND đi qua thành phố Nha Trang tiến về Dục Mỹ thì rất là nhiều đồ đa số là thuốc lá từng cây, từng gói một quăng lên xe cho anh em. Không thể diển tả được tình cảm mà đồng bào Nha Trang dành cho anh em Nhảy Dù. Bao nhiêu mệt mỏi, thất vọng, bất mản vì tưởng được về Sài Gòn sau cuộc hành quân đầy gian nan, vất vả tại Thường Đức tan biến hết. Anh em LĐ3/ND vào Khánh Dương với quân số hao hụt nhưng khí thế hào hùng chưa từng có. LỰC BẤT TÒNG TÂM, SỨC NGƯỜI CÓ HẠN. Mũ Đỏ LĐ3/ND đã làm hết những gì có thể. Máu của anh em đổ tràn trên đèo Phượng Hoàng để đền đáp ân tình mà người dân Nha Trang đã dành cho họ.

Tôi được lảnh lương tháng 3, tháng lương cuối cùng của đời lính ở đèo Phượng Hoàng trước khi cuộc chiến xảy ra. lảnh lương có tiền tôi rủ Hiệp và Hùng 2 khinh binh Tr/Đội4/ĐĐ21 ra Dục Mỹ chơi. ĐĐ21/TĐ2 đang đóng an ninh cho Pháo Đội C2/TĐ2/PB/ND. Chúng tôi quá giang được xe GMC về Dục Mỹ trên xe có khoảng 10  Nhảy Dù của các TĐ/ND tôi có cấp bực lớn nhất. Xe ngừng ngay tại chợ Dục Mỹ. Chúng tôi vừa xuống xe thì từ trong quán nước bên đường một ông mặc đồ Dù hai bông mai đen một gạch dưới vẩy tay gọi lại đây lại đây. Tôi mặt mày xanh lè kỳ nầy là tiêu rồi. Nhanh như con sóc tôi la lên: “Tất cả tập họp, anh em sửa sang lại quân phục. Hiệp làm chuẩn một hàng ngang trước mặt ông. Ch/U Nguyễn Phạm Phúc SQ: 75/118249 trưởng toán 9 người trình diện Tr/Tá chờ lệnh”. Tôi la to và rỏ ràng từng chữ một cả chợ cũng còn nghe. Ai cũng quay lại nhìn chúng tôi chắc rất ư là khâm phục quân phong, quân kỷ của Nhảy Dù. Trúng tâm lý ông hiền từ hỏi; Đi đâu vậy? Sao tóc dài vậy. Tôi trả lời: Thưa Tr/T tụi em xuống chơ hớt tóc và mua ít đồ. Ông bảo: Nhớ về đơn vị sớm. Tôi mừng hơn bắt được vàng trả lời dạ, rồi đàng sau quây hô to: Tan hàng cố gắng rồi dọt lẹ, hú hồn… Nhưng vẫn nhớ bảng tên Phát đó là Tr/Tá Phát LĐT/LĐ3/ND. Chúng tôi ăn sáng ở Câu Lạc Bộ A của Trường Pháo Binh, xong ra chợ Dục Mỹ mua đồ và uống cà phê. Cô Loan chủ quán nhận ra tôi ngay. Trước đây 7 tháng tôi là khách hàng thường trực của cô khi học CBSQ/PB. Cô có dáng người cao nước da trắng của con gái Đà Lạt Ở tới chiều chúng tôi đón xe về lại Đơn Vị. Tối đó thiết giáp rút lui, không hiểu tại sao lại bắn loạn xạ hai bên đường như sợ bị phục kích làm chết và bị thương lính của TĐ6. Tờ mờ sáng ĐĐ21 được lệnh hành quân. Ai rút không biết ĐĐ21 tiến lên giải vây cho TĐ6/ND đang bị tấn công. Tr/Uý Hà ĐĐT/ĐĐ21 điều các trung đội tấn công với pháo binh yểm trợ. Đóng quân trên đỉnh đồi nhỏ cách Quốc Lộ 21 khoảng trăm mét sau lưng BCH/TĐ6 Tôi bắn pháo vào cứ điểm xung quanh Buôn Ea Thi bên kia đường, đạn nổ từng tràng ngăn các cuộc tấn công. VC mấy lần bắn sẻ bằng CKC. tôi suýt chết trong gang tấc. Tr/Úy Hà cho Hiệp khinh binh bò lên nhưng bị một CKC khác bắn bể tay cầm M16. VC ở khắp nơi tấn công nhưng không làm gì được phòng tuyến vẫn vững vàng. Nhưng VC không để yên cho các căn cứ Pháo của ND. Với quân số đông áp đảo họ dể dàng bọc hậu, xuyên hông tấn công các căn cứ PB/ND. Không có quân tác chiến bảo vệ căn cứ PB/ND đều bị tràn ngập. Sau đó VC không đánh ĐĐ21 nữa mà đi vòng qua chúng tôi xuống Quốc Lộ 21 về Nha Trang, đi từng đoàn trên quốc lộ như đi diển hành theo đội hình thiết giáp và bộ binh tùng thiết. 

  

     Tr/U Hà ĐĐT21 phải cho mở đường máu xuống núi, iệp khinh binh dẫn đầu ĐĐ21 chỉ với BCH và Trung Đội 4 tràn xuống băng qua quốc lộ hội quân với BCH/TĐ6/ND của Tr/T Thành TĐT/TĐ6. Vừa tấn công xông qua được quốc lộ tôi nghe tiếng của Th/Sỉ Hùng Thường Vụ ĐĐ21: Pháo Binh có đây không? Vì sợ tôi theo không kip. Đó là lần cuối cùng tôi nói chuyện với Th/Sỉ Hùng (Th/Sỉ Hùng đã vỉnh viển ở lại cùng với rất nhiều anh em khác) Hiệp khinh binh chạy theo dụ́i vào tay tôi cây AK47 bá xếp và bảo: Ông giữ phòng thân khi nào về Nha Trang bán lấy tiền xài rồi cười ha hả. Chưa chi mà đã lo sợ về Nha Trang không có tiền xài. Trên nét mặt của người lính ĐĐ21 không có chút gì là lo lắng hay sợ sệt họ kỷ luật, hồn nhiên như là đang tham dự hành quân thao dợt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 cắt rừng, lội suối, nhổ chốt hướng về Dục Mỹ. VC phản ứng không kịp trong 2 ngày đầu rồi cái gì tới thì phải tới. Khi gom đủ quân VC bao vây và tấn công ĐĐ21 và BCH/TĐ6 Quân số ít ỏi. không liên lạc, tiếp tế, thiếu đạn dược và yểm trợ tan hàng là đều không tránh khỏi. Ngày 2 tháng 4 năm 1975 ĐĐ21 và BCH/TĐ6 tan hàng. Tr/T Thành TĐT/TĐ6, Tr/U Hà ĐĐT21 bị bắt. ĐĐ21 và BCH/TĐ6 bị phục kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 4 năm 1975. Sau đợt tấn công đầu tiên và bất ngờ của VC vào đội hình ĐĐ21 anh em hy sinh rất nhiều, Tr/u Hà sắp xếp lại đội hình ra lệnh chiếm cao điểm vì ĐĐ21 đang ở triền suối Tôi theo Tr/u Hà xung phong lên chiếm cao điểm cây AK của Hiệp bây giờ mới hửu dụng. Tôi làm một tràng lấy tinh thần rồi theo chân Tr/u Hà và Trung Đội 4. AK, lựu đạn rải theo tôi phóng người nằm bẹp dưới gốc cây. Trái lựu đạn bay bổng rớt lăn trước mặt chừng 3 mét. Vì đang trên đà phóng người tới té xấp cạ̣nh gốc cây nên tôi bất lực khi thấy lựu đạn. Lấy tay ôm mặt dí người sát đất, Ầm tôi mở mắt ra sau tiếng nổ, , thấy xác Việt Tr/Đội 4 gục xuống. Việt cũng xung phong cũng trên đà phóng người tìm chổ ẩn núp vô tình đè trên trái lựu đạn hoặc là che mảnh cho tôi. Sống chết số trời. Tôi định thần nhìn qua thì không thấy Tr/u Hà đâu nửa chắc là đã lên tới đỉnh rồi. Tôi dạt qua trái cùng anh em. AK lại nổ nhiều anh em dính đạn ngả gục. Tôi đáp trả siết cò hết luôn băng AK dọt vào bụi rậm cắt đường xuống suối trở lại. Súng vẫn nổ dòn khắp nơi. Tôi men theo suối theo sau là 3 ND. Mà lạ lùng càng xuống suối tiếng súng càng xa lần chúng tôi tiếp tục đi… Tôi tìm một chỗ kính đáo gần con suối cả 4 người núp mình vào đó đợi trời tối sẽ̉ đi. Một lát sau chúng tôi nghe nhiều tiếng con gái giọng Bắc nói chuyên hình như đang lấy nước và giặt đồ. Thì ra chổ nầy là hậu cần của VC. Chúng tôi đã vô tình lọt và ổ VC mà cũng không ai ngờ là có 4 ND đang nằm kế bên. Đúng là chổ nguy hiểm nhất là chổ an toàn nhứt.

Dục Mỹ – Ảnh minh họa

Rừng già nên trời tối rất nhanh. Học bài học xương máu vừa qua nên tôi quyết định đi sâu vào rừng càng xa Quốc Lộ 21 càng tốt trước khi đi xéo về Dục Mỹ Tôi chọn Dục Mỹ vì bản đồ tôi cầm chỉ tới đó thôi biết đi đâu bây giờ và lúc nào cũng nghĩ Dục Mỹ đang là tuyến chiến đấu vì có cả 3 Quân Trường ở đó (QT Pháo Binh, QT Lam Sơn, và QT Biệt Động Quân). Bỏ lại cây AK mà Hiệp đưa hết đạn rồi, hỏa lực còn lại 2 M16 với 2 băng đạn và Colt 45. Tôi dẫn đầu với chiếc la bàn trong tay người sau vịn vai người trước. trời tối đen như mực chúng tôi lên đường. Đi suốt đêm tới trời sáng, cẩn thân băng qua trảng tranh lớn tôi hối đi nhanh để vào lại trong rừng thì nghe tiếng gọi Nhảy Dù, Nhảy Dù. Xa chừng khoảng 30 mét là hai bộ đồ ND đứng lên từ bụi cây thấp kêu chúng tôi. Đó là 2 ND của TĐ5 thất lạc mấy ngày rồi gặp chúng tôi nên mừng lắm. Thế là chúng tôi có 6 người 2 TĐ2, 2 TĐ5 và 2 TĐ6 và thêm 1 con chó nhỏ. Chúng tôi đi không nghỉ để chạy với thời gian. Đi không kể ngày đêm khi mệt hoặc đói thì nghỉ nấu cháo húp mỗi người một ít xong cứ thế mà đi không hề biết ngày giờ chi cả Dọc đường chứng kiến xác của anh em ND rải rác khắp nơi. Tôi cẩn thận tháo thẻ bài cất giữ để khi về được Dục Mỹ thì báo tin đã gần chục cái. Lương thực thì chỉ có 2 bịch gạo tươi mà Nương đệ tử đã nhét vào túi cho tôi. Còn 2 đệ tử Nương và Hồng theo tôi không biết giờ nầy ở đâu đã lạc từ cú “tấp pi” đầu tiên của VC chắc là theo Tr/uy Hà. Hai bịch gạo và 1 con chó là lương thực của 6 người chúng tôi và đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi ăn thịt chó Một ngày vào buổi trưa chúng tôi nghe nhiều tiếng trực thăng bay trên đầu như là đang đổ quân tuy không cách nào liên lạc được nhưng lại tăng niềm tin cho chúng tôi. Tôi cắt xéo đường hướng về Dục Mỹ và cuối cùng cũng tới.

Từ trong rừng trên cao nhìn xuống Dục Mỹ sao im lìm quá không giống như đánh nhau. Và tôi cũng không nghe tiếng pháo binh từ lâu lắm rồi Chúng tôi vẫn đổ xuống Dục Mỹ vào buổi sáng sớm, lẻn vào một chòi canh rẩy của ai đó. Chúng tôi nhổ khoai mì nấu ăn xong lại tiếp tục vào rừng đi bọc vòng qua hướng khác. Tôi đã đoán được chuyện gì đã xảy ra với Dục Mỹ. Đói khát tả tơi chúng tôi lại xuống làng, lần nầy tôi quyết định xuống vào buổi chiều để tối đột nhập vào làng gặp dân hỏi thăm tin tức và tính đường khác chớ không thể ở mã̉i trong rừng được. Cũng như lần trước 4 người canh 2 người nấu. Ăn xong trời chưa tối chúng tôi nằm nghỉ rồi ngũ quên lúc nào không biết. Cái gì đó chọt vào ngực làm tôi thức dậy hai họng súng AK đang chỉa vào tôi. Hai ba người đè tôi xuống và trói chúng tôi lại. Khi biết tôi là sỉ quan người cán bộ trung niên tới hỏi đơn vị và cấp bực rồi dẫn chúng tôi ra ngoài lên xe Lam chở về chợ Duc Mỹ. Chúng tôi bị bắt bởi đơn vị quân dân mới thành lập ở Dục Mỹ nên cũng dể thở. Họ bỏ chúng tôi ngay chợ Dục Mỹ Ngay lúc đó có vài tên đơn vị chánh qui mặc dồ xanh đi qua, chúng chửi thề giọng Bắc gầm gừ như muốn ăn tươi nuốt sống chúng tôi. “Địt Mẹ làm sao tụi bây xuống tới đây được” Dân chúng bu lại rất đông nhìn chúng tôi như che chở. Người cán bộ trung niên nói gì với tụi chính qui, mấy tên đó hậm hực bỏ đi. “Mấy anh ăn gì chưa để em nấu mì cho mấy anh” tiếng người con gái nghe quen quen. Tôi nhìn lên thì ra là CÔ LOAN chủ quán cà phê mà tôi quen. Người cán bộ trung niên không nói gì. Im lặng là đồng ý. Chúng tôi được đưa vào tru sở nhìn vào tấm lịch treo tường NGÀY 9 THÁNG 4 NĂM 1975. Chúng tôi đã 7 ngày lang thang trong rừng kể từ ngày xa đơn vị. Cô Loan mang lại cho chúng tôi 6 tô mì và nước uống. Riêng tôi là ly chanh đường quen thuộc mà tôi thường gọi khi tới quán CÔ uống nước vì tôi không biết uống cà phê, và nhiều miếng thịt bò nằm dưới đáy tô mì. Ôi kỷ niệm không bao giờ quên được của những ngày cuối tháng 3.

Tặng và Tưởng Nhớ Các Bạn Tôi Những Người Một Lần Áo Hoa và Mũ Đỏ

Dạo đó anh đi mười bảy tuổi

Thiên Thần Mũ Đỏ Xứng đời trai

Vũ trụ mình ta chân đạp gió

Không gian lơ lửng bắt mây trôi

Ngang dọc tung hoành vùng hỏa tuyến

Giữ yên bờ cỏi đất Phương Nam

Thần Kinh thương nhớ tình lưu luyến

Đồng Khánh trường tan má đỏ hồng

Anh rời Hiệp Khánh vào chiến địa

Phong Điền nối tiếp Động Ông Đô

Thường Đức vang danh quân giặc khiếp

Vu Gia vượt sóng giữ sông xanh

Một không sáu hai đầy xác cộng

Sư ba lẻ bốn chốc tan tành

Mùa xuân năm ấy hoa mai rộ

Đại Lộc bình yên có Hoa Dù

Tháng ba mười sáu theo quân lệnh

Lướt sóng quân hành xuôi giang Nam

Bỏ lại sau lưng nhiều tình lở

Tiển Anh nước mắt ước vai nầy

Về mái trường xưa qua Đồng Đế

Được nhìn tượng đá đứng ngàn năm

Có người em gái nằm xỏa tóc

Để đợi anh về dẩu trăm năm

Nha Trang chào đón đoàn quân lạ

Dục Mỹ chiều nay ngập bóng Dù

Quân Đoàn Hai thối theo lộ 7

Để lại Nhảy Dù chốt Khánh Dương

Hai sư đoàn cộng tràn nhau xuống

Một Lử Đoàn Dù gắng tiến lên

Xung phong tiếp viện Buôn Ea Thi

Ngạo nghể trên tay viên đạn cuối

Nhảy Dù hai chử cố gắng thôi

Thiên Thần gẩy cánh ngàn thây đổ

Khánh Dương thương nhớ Lử Đoàn 3

Chí trai vị quốc không danh lợi

Vong thân bất nhục đáng anh hùng

Máu đào tươi thắm màu Mũ Đỏ

Xác thân tô điểm áo Hoa Dù

Nợ nước muôn đời trên vai nặng

Ơn nhà trọn kiếp mãi trong tâm.

Những ngày cuối tháng 3/2018

Mũ Đỏ Cù Lũ Nhí        

Mối đe dọa của heo rừng

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

April 5th, 2024

Post by Sơn râu 6 Mar 2025

Quá trình phát triển của heo rừng bắt đầu từ những năm 1500, khi những người định cư Châu Âu mang chúng đến các tiểu bang để làm thức ăn. Sau đó, vào những năm 1900, người ta đã nhập cảng heo rừng để săn bắn giải trí. Ngày nay, heo rừng ở Mỹ bao gồm heo rừng, heo nhà sổng chuồng và các giống lai của cả 2 loại heo này.

Heo rừng sống theo bầy đàn. Nguồn. washingtonpost.com     

Heo rừng ở Canada và Mỹ

Một đàn trùng điệp heo rừng đang di chuyển khắp Canada, các quan chức lo ngại chúng sẽ sớm tràn sang Mỹ. Theo hãng tin AP, quần thể “Siêu heo rừng” này thường bao gồm các giống lai của heo rừng Á-Âu và heo chuồng. Minnesota, North Dakota và Montana đã thực hiện các biện pháp để ngăn chặn sự xâm nhập của “Siêu heo rừng”. Những con heo rừng đang ngoài tầm kiểm soát ở Alberta, Saskatchewan và Manitoba, gây ra mối đe dọa mới cho các loài thú bản địa.

Nước Mỹ cũng đang gặp vấn đề về heo rừng. Heo rừng là một trong những động vật xâm lấn mạnh nhất kể từ khi du nhập vào Bắc Mỹ, số lượng heo rừng đã có mặt trên hơn 3/4 đất nước. Loài động vật hoang dã này đã tràn về phía tây và phía bắc, các tiểu bang như California, Hawaii và Michigan đã báo cáo số lượng heo rừng khá lớn.

Theo dữ liệu từ “Trung tâm Các Loài Xâm Lấn Hệ Sinh Thái” (Center for Invasive Species and Ecosystem Health) của Đại học Georgia thì Florida, Georgia và Texas có nhiều báo cáo về heo rừng nhất ở Mỹ. Chỉ riêng năm 2023, Texas đã có 2,425 trường hợp heo rừng phá hoại, tiếp theo là 1,377 trường hợp ở Georgia.

Ryan Brook, giáo sư tại Đại học Saskatchewan, Canada chuyên về vấn đề này, nói với hãng tin AP rằng heo rừng là “Động vật xâm lấn mạnh nhất trên hành tinh”.

Chân dung heo rừng Texas. Nguồn. http://www.hppr.org

Tác hại của heo rừng

Heo rừng đang hủy hoại hệ sinh thái trên 35 tiểu bang Hoa Kỳ, nhất là đối với các vùng lưu vực sông, chúng thích sống và tìm kiếm rễ cây ở những khu vực này. Heo nái và heo con lấy củ, rễ làm thức ăn. Chúng thông minh, bí mật, dễ thích nghi và xơi bất cứ thứ gì, kể cả động vật hoang dã và cây trồng để sinh tồn. Chúng đào đất một cách dễ dàng và sinh sản nhanh chóng, thích ngâm mình trong nước để giải nhiệt. Những hoạt động này gây hại thực vật, phá đất và tăng trầm tích ở các dòng sông. Chất thải của lợn cũng cung cấp mầm bệnh và chất dinh dưỡng vào nước, góp phần làm tăng tảo hoa làm cá chết ở hạ lưu.

Heo rừng là vật trung gian truyền bệnh cho cả heo nhà và người. Chúng lây lan dịch bệnh cho các trang trại chăn nuôi heo, như dịch tả heo ở Châu Phi gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD cho ngành chăn nuôi.

Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (United States Department of Agriculture-USDA), hiện tại, số lượng heo rừng ước tính lên tới gần 7 triệu con, chúng gây thiệt hại 2 tỷ USD mỗi năm.

Đó là lý do tại sao USDA gần đây đã công bố tài trợ 75 triệu USD cho chương trình thí điểm kiểm soát heo rừng. Nỗ lực này tập trung vào các khu vực mà heo rừng gây thiệt hại nhiều nhất, chủ yếu ở khu Đông Nam Bộ.

Chân dung heo rừng xứ tuyết. Nguồn. All That’s Interesting

Phương cách diệt trừ

Săn bắn

Mayer- một nhà sinh vật học Phòng thí nghiệm quốc gia sông Savannah (Hoa Kỳ), người đã nghiên cứu lợn hoang dã trong hơn 40 năm cho biết, trong những năm 1950 và 1960, các cơ quan quản lý động vật hoang dã đã khuyến khích việc săn bắt heo rừng. Tuy nhiên, ở ngoài tự nhiên, heo rừng sinh sản quá nhanh làm thợ săn không thể theo kịp. Mayer cho biết, để hạn chế một đàn heo rừng phát triển, bạn cần phải giết từ 60% – 80% số lượng heo trong đàn mỗi năm, nhưng săn bắn giải trí chỉ có thể cắt giảm khoảng 1/4.

Heo rừng phát triển mạnh ở hầu hết mọi nơi giữa Bắc Cực và vùng nhiệt đới, con heo cái có thể sinh 2 đợt mỗi năm.

Mẹ con heo rừng. Nguồn. agriland.co.uk

Đặt bẫy

Các quan chức đã sử dụng những cái bẫy giống như quây vùng để vây bắt một đàn heo rừng và sau đó tiêu hủy các con vật. Mayer nói: “Tôi không biết, liệu vùng Đông Nam có thể giải quyết được hay không”, do heo rừng ở đây lâu đời và rất đông.

Heo rừng tàn phá ruộng bắp. Nguồn. LSU AgCenter

Bắn từ trên không

Mayer nói: “Người dân miền Nam, khi lớn lên đều đi săn heo rừng, đó là một phần của văn hóa”. Ngoài bẫy quây vòng, bắn từ trên không cũng là biện pháp trừ heo rừng phổ biến. Vì heo rừng thích môi trường sống đầm lầy có cây cối rậm rạp nên khó có thể theo dõi chúng. Vì vậy, trong cái được gọi là “Kỹ thuật săn heo rừng Judas”, các quan chức bắt một con heo rừng, gắn cho nó một vòng cổ có phát tín hiệu theo dõi. Họ cho nó chạy về bầy và biết ra nơi trú của đàn heo rừng, sau đó chỉ là chuyện tiêu diệt.

Việc xóa bỏ hoàn toàn heo rừng là mục tiêu cuối cùng của các nhà bảo tồn. Hiệp hội Loại bỏ Heo rừng Missouri (Missouri Feral Hog Elimination Partnership) đã hạ 9,857 con lợn rừng vào năm 2021, nâng tổng số lợn bị giết kể từ năm 2016 lên hơn 54,000 con. Săn bắt công cộng là một trong những chiến thuật với heo rừng và đã trở thành một hoạt động giải trí phổ biến. Nhưng heo rừng thường di dời để đối phó với áp lực săn bắt. Theo Captain Experiences, việc rào và bẫy có thể hiệu quả hơn trong việc giảm thiểu bớt chúng, nhưng đòi hỏi phải đầu tư nhiều hơn.

Heo rừng tàn phá một cánh đồng. Nguồn. Popular Science

HĐV

(Theo Sara Chernikoff, USA Today. Chrobak Environment)

Bùa hộ mệnh

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

February 7th, 2025

Post by Sơn râu 6 Mar 2025

“Đám Taliban trên xe nã từng tràng Ak vô 6 người lính trinh sát đang bỏ chạy về hướng chiếc trực thăng AH-6 đang hạ thấp trước mặt. Sợi dây tải thả xuống. Thomas la.

– Lẹ lên! Đeo dây vô vai. Bốc!

Chiếc trực thăng bốc lên. 6 lính trinh sát, người cuối cùng là Jane. Treo một chuỗi dài, lơ lửng trên đầu những mỏm đá.

– Báo động mỏm đá! Kéo dây! Kéo dây! Bốc lên!

Jones la trong máy. Chiếc trực thăng kéo dây lên, đúng lúc cặp chân của Jane đập mạnh vô tảng đá phía dưới. Một chân của Jane rớt khỏi vòng dây đai, chân còn lại bị dây tự động siết chặt. Cô xoay vòng, chới với. Thằng Taliban đứng dưới đất đưa khẩu Ak lên.

– Tạch! Tạch! Tạch!

Những viên đạn nóng như lửa, đau đớn xuyên qua người Jane”

Jane mở bừng mắt, bật dậy trên giường, mồ hôi lấm tấm trên mặt, cô ôm ngực.

“Chỉ là cơn ác mộng”

Jane lấy bình nước, uống một ngụm lớn. Ngủ tiếp.

6 giờ sáng mai. Toán tuần tiểu của trung đội 72, lính rừng ra khỏi trại, đi kiểm tra vòng đai an toàn. Họ đi ngang đồn Vệ Binh của Làng Gundogan. 3 người lính đưa tay chào.

– Hello! Hello!

Jane đưa tay.

– Hello!

-Chào hello, nhưng tuyệt đối không rời tay khỏi cò súng

Thomas lầm bầm sau lưng Jane, cô bỏ tay xuống, nắm cò súng.

– Nhưng họ cùng phe mình.

– Ha! Chúa biết! Có thể là Taliban trong nháy mắt, và “Bùm” tung trái lựu đạn! Cả đám chầu Ala!

Toán trinh sát vòng qua khu thương mại.

– Kiểm tra chiếc xe tải Toyota đậu trước tiệm làm đồ sắt và tiệm ăn…

Thomas chĩa súng vô chiếc xe.

Toán trinh sát quỳ tại chỗ, súng nhắm vô các vùng mục tiêu.

– Xe tải không có người, có 1 khẩu Ak, 2 băng đạn.

Nick nói qua máy.

– Tránh khỏi xe, đề phòng chất nổ.

Thomas la lớn.

Mấy người khách trong tiệm ăn bỏ chạy ra ngoài.

– Khoan nổ súng!

Thomas đưa tay cản.

Tranh Hồ Đắc Vũ

Một người mặc áo choàng đen, bịt mặt. Cặp cổ ông chủ tiệm, súng Ak chĩa bên hông. Một người khác, bịt mặt, mặc đồ lính vệ binh kè con dao xắt thịt vô cổ bà nấu bếp.

– Đừng bắn! Đừng bắn! Tụi tao chỉ cần ra đi!

– Không bắn!

Thomas đứng lên, la lớn … Anh thì thầm với Jane sau lưng.

– Nhắm vô đầu thằng áo đen, lúc nó mở cửa chuẩn bị leo lên xe, khoảng cách giữa đầu nó và đầu cha chủ tiệm sẽ hở ra, đủ an toàn để bắn nó… Jane! Chỉ 1 viên duy nhất! 1 viên!

Đúng như Thomnas dự đoán. Người áo đen mở cửa xe Toyota, nó đẩy cha chủ tiệm vô trước, nên khoảng cách an toàn mở ra.

– Đùng!

Cha áo đen văng ra té xuống đường, chết tươi!

Người bịt mặt thả bà nấu bếp, quỳ xuống, đưa hai tay lên … Nhưng!

– Đùng!

Một cái lỗ đen trên đầu ông, rỉ máu. Ông giật lên, bật té ra sau, chết!

– Không! Ngưng bắn!

Thomas la.

“Bố già” đứng dậy.

– “Tuân lệnh” là kỷ luật khắt khe nhất của Lính Rừng, “Tuân lệnh” nằm đầu tiên trong suy nghĩ và hành động của một người quân nhân nhà nghề, “Tuân lệnh” là xương sống của lính rừng, là uy lực của đơn vị!

– Tôi hiểu!

Jane nhỏ nhẹ.

– Nhưng Jane đã ở trong tình trạng khẩn cấp của tác chiến trực tiếp… Không phải cô đã không tuân lệnh! Mà cô chỉ giải quyết hoàn cảnh nguy hiểm khẩn cấp theo một quán tính. Nguy hiểm là bắn! Đây là một lỗi lầm dễ mắc phải trong tác chiến…

“Bố già” Ngồi xuống.

– Tôi đề nghị Hội Đồng Kỷ Luật không buộc tội binh nhì Jane.

Jones nói.

– Chấp nhận… Giải tán!

“Bố già” đưa tay.

Jane buồn bã về lều, cô nằm xuống, nhắm mắt. Cố quên cái lỗ đạn màu tím đen rỉ máu trên trán của ông bịt mặt.

“Đám Taliban trên xe nã từng tràng Ak vô 6 người lính trinh sát đang bỏ chạy về hướng chiếc trực thăng AH-6 đang hạ thấp trước mặt. Sợi dây dài tung ra, rớt xuống. Thomas la.

– Lẹ lên! Khóa vô dây. Bốc!

Chiếc trực thăng bốc lên. 6 lính trinh sát, người cuối cùng là Jane. Treo một chuỗi dài, lơ lửng trên đầu những mỏm đá.

– Báo động mỏm đá! Kéo dây! Kéo dây! Bốc lên!

Jones la trong máy. Chiếc trực thăng kéo dây lên, đúng lúc cặp chân của Jane đập mạnh vô tảng đá phía dưới. Một chân của Jane rớt khỏi vòng dây đai, chân còn lại bị dây tự động siết chặt. Cô chới với. Thằng Taliban đứng dưới đất đưa khẩu Ak lên.

– Tạch! Tạch! Tạch!

Những viên đạn nóng như lửa, đau đớn xuyên qua người Jane”

Jane ngồi dậy.

“Cơn ác mộng” lại tới. Cô ngồi dậy, nhìn ra ngoài. Trời đầy nắng, mới 3 giờ chiều.

Thứ 7. Jane nhận hộp quà từ Beckwith, người cha đang sống trong nhà già ở Vermont. Cựu đại úy “Mũ Xanh” trong chiến tranh Việt Nam.

– Chắc là môi son cho Jane bôi trước khi ngủ.

Jimmy từ giường số 3 nói.

– Hà! Hà! Giày cao gót cho Jane đi trinh sát!

Jones đi ẹo ẹo trước mặt Jane.

Mấy người bạn quay quanh Jane. Cô mở nắp hộp. Một dây thắt lưng màu xanh lính và mảnh giấy viết tay.

“Jane. Lính rừng” của ba.

Đây là sợi thắt lưng, “Bùa hộ mệnh” mà ba đã đeo trong thời gian tham chiến tại vùng cao nguyên Việt Nam. Con bấm vô chốt sắt hai bên khoá, sẽ kéo ra con dao, lưỡi dài 5 inches, lưng lưỡi dao có một rãnh cong, dùng cắt dây dù, dây đeo cấp cứu, giống dao thoát hiểm của phi công. Con nên đeo, dùng để tự vệ và thoát hiểm

Ba của con. Beckwith.”

Jane bấm chốt, rút con dao, lưỡi thép mỏng. Jane cắt thử vô hộp quà. Nó làm một đường ngọt xớt.

– Ô! “Bùa hộ mệnh” bén quá!

Mấy người bạn xầm xì.

2 tuần sau. Phòng hành quân.

– Đây là một chuyến trinh sát có độ nguy hiểm cao 10/10. Các con sẽ nhảy trực thăng xuống vùng núi đá phía Tây Bắc làng Gundogan.

“Bố già” chỉ cái ống vố ngay địa điểm đã được đánh dấu đỏ trên bản đồ hành quân.

– Vùng này chúng ta chưa hề biết. Nhưng không thám và Drone đã cung cấp những hình ảnh rõ ràng về một hang chứa hỏa tiễn cá nhân chống máy bay của các nước Ả Rập viện trợ cho Taliban… Các con tới đó…

Ông đưa tay.

– “Bùm”!

Cũng như mọi lần, “Bố già” mở ngăn kéo bàn. Lấy chai whiskey, 7 cái đuôi đạn M-79 đã bóng nước đồng. Ông rót đầy.

– Điều rất quan trọng là. Mục tiêu toàn núi đá và đá tai mèo lớn, trực thăng không đáp được, nên tụi con phải xuống và leo lên bằng dây kéo với trực thăng AH-6, theo chiến thuật mới của lính rừng …

“Bố già” cầm cái đuôi đạn M-79, đứng dậy.

– Tụi bay đi bao nhiêu, về bấy nhiêu cho tao!

Xem thêm:   Nơi đáng sống nhất quả đất

Mọi người cùng đứng dậy. Uống cạn rượu.

– Lính rừng… Hurrraaaaahhhhh!

Mây mù sà xuống thấp, bao quanh cả vùng núi đá rộng lớn, phủ trắng những mảng rừng cỏ gai, điều quá thuận lợi cho chiến thuật “Diều hâu bắt mồi”, một chiến thuật thả và bốc quân mới của lính rừng. Trực thăng thả toán lính rừng xuống bằng 2 sợi dây tải lớn 2 bên máy bay, mỗi dây với 3 vòng đeo, có thể đeo một lúc  6 người. Khi chạm đất, họ tháo dây và tạo thành toán tác chiến. Khi đón. Trực thăng cũng thả 2 sợi dây đó, từng người tự đeo vòng chéo vô vai, trực thăng kéo bay lên khỏi vùng nguy hiểm, bay đi. Sau đó, sẽ kéo dây cho từng người lên.

Cả toán trinh sát đáp xuống mục tiêu an toàn. Jones quan sát, chụp hình.

– Mục tiêu đã được xác nhận…

Ông chỉ tay.

– Khu hang đá tình nghi nằm trên kia. Chúng ta chia làm 2 toán 3 người. Xâm nhập 2 bên vách hầm. Tiến sát vô trong hang. Nick và Tao nằm bảo vệ đường rút, ngoài cửa hang. Thomas, Jimmy, Jerry, Jane tiến vô, cho nổ!

Thomas quay qua.

– Theo tao! Tuyệt đối không nổ súng, chỉ dùng súng tay hãm thanh.

4 trinh sát đi theo vách đá, thận trọng tiến vô hang.

Thomas đưa tay, cả toán nằm xuống. Anh gọi máy.

– Jimmy tới đây!

Jimmy, bò lên. Thomas chỉ tay.

Phía trong hang. Gã Taliban đang ngồi gác trên ghế nhựa, súng chống xuống nền, đầu gật gù. Mùi cần sa nồng mũi.

Jimmy biết mình phải làm gì. Anh nằm sát nền đá, trườn lên thật chậm, cố không gây tiếng động. cách mục tiêu chừng 6m. Jimmy chồm dậy, vung tay. Một tia xám lóe lên. Gã Taliban té xuống cái đụi. Đúng lúc.

– Hê! Anouk…

Ngay ngách đá bên hông, một anh Taliban khác bước ra, thấy Jimmy, anh ta đưa súng lên. Jimmy vung tay. Một tia xám bay vô gã Taliban. Anh ta té xuống, chân giựt mạnh. Lưỡi dao dẹp, bằng thép xám, cắm ngập vô hốc mắt.

Jimmy đưa tay ra hiệu, cả toán tiến vô.

Trong ánh sáng mù mờ của những bóng đèn gắn trên vách hang. Sát bên trái, là những thùng gỗ sơn màu xanh lính, dài chừng 4m, chồng lên nhau thành 5 dãy.

3 trinh sát quay ra bảo vệ. Thomas bước tới góc hang, dùng dao khui nắp một thùng. Anh chụp hình chiếc hỏa tiễn cá nhân M136 loại chống máy bay, mới nhất.

– Jerry, có 10 phút gài chất nổ.

Thomas ra lệnh.

Jerry đeo ba lô chạy vô dãy thùng gỗ.

– Ầm! Ầm!

2 trái B-40 bất ngờ nổ tung vách đá sát cửa hang, ngay vị trí toán trinh sát.

Đại úy Jones bị sức ép tống vô ngực, văng đi.

– Cứu thương!

Jane chạy tới, kéo Jones vô vách đá. Cô kiểm tra.

– Jones bị chấn động đầu! Không sao.

Jane chạy tới, Thomas la.

– Dựa lưng vách đá quay vòng chống phục kích.

Thomas chạy ra.

5 tay súng quay thành vòng tròn, vừa di chuyển vừa nã từng loạt đạn vô toán Taliban đang tràn vô từ cửa hang đá.

– Hang sắp nổ! Nick! Jimmy tống 2 trái M-72 trực xạ … Mở đường thoát ra ngay…

– Ầm! Ầm!

M-72 nổ, vùng lửa cam bùng lên. Tiếng M-16, tiếng Ak rền trong hang như cơn địa chấn, mùi thuốc súng cay sè, toán lính rừng băng qua khói lửa chạy thẳng ra khỏi hang. Một tiếng gầm lớn, cả khu núi đá rung rinh. Ngay cửa hang, cơn bão lửa phun ra.– Ầm!

Thomas la.

– Bắn phủ đầu, rút lẹ tới điểm hẹn.

Mọi người vừa chạy, vừa thay phiên quay lại bắn.

Chiếc trực thăng AH 6 đứng yên trên cao, thả 2 dây tải. Thomas cõng Jones chạy tới, choàng dây vô vai, trực thăng kéo 2 người lên, tới Jimmy, Nick, Jerry. Jane bắn hết một băng đạn vô đám Taliban lố nhố sau mấy mỏm đá tai mèo. Cô chụp dây tải, đeo vòng chéo vai, quăng 2 trái lựu đạn, nạp băng đạn mới, bắn liên tục.

– Tạch! Tạch! Tạch! Tạch! Tạch!

Trực thăng đã bốc lên. Cả toán trinh sát đong đưa trên những mỏm đá.

– Kéo dây! Bốc lên! Mỏm đá! Nguy hiểm.

Thomas la lớn trong máy. Trực thăng lên cao hơn, sợi dây người bay qua những mỏm đá.

– Báo động nguy hiểm! Đá! Mỏm đá!

Jane la.

Trước mặt, những mỏm đá lao tới, đập mạnh vô chân cô, Jane văng lên, tuột xuống, ba lô, súng văng khắp nơi, một chân Jane bị cột cứng trong sợi dây. Cô cong người lại, đưa tay, chụp vô đôi giày, cố gỡ sợi dây. Một mỏm đá lao tới, Jane đu người lên tránh…

– Bịch!

– Ahhhhhh!

Không được! lưng cô đập mạnh vô đá, văng lên, đau điếng! Jane có cảm giác như toàn bộ xương trong người cô rớt ra từng mảnh.

Chiếc trực thăng bốc lên.

– Đá! Đá!

Thomas la trong máy.

Mấy mỏm đá lao tới.

Jane nhìn xuống đất. Cô chụp thắt lưng, bấm khóa, rút con dao, cong người lên đưa sống dao có rãnh cắt, cứa mạnh vô sợi dây đang cột cứng chân mình. Dây dứt. Đúng lúc mấy mỏm đá ào tới. Jane rớt xuống lùm cỏ gai dưới đất. Chiếc trực thăng AH-6 lên cao, bay đi.

– Lính rừng rớt! Báo động! Báo động! lính rừng rớt.

Tiếng la của Thomas vang dài theo dãy núi đá chạy vùn vụt dưới thân chiếc trực thăng đang kéo lên từng lính rừng.

Jane mở mắt,  co người lại, nhìn quanh lùm gai rừng. Trời đã chiều, chung quanh vắng lặng, chắc đám Taliban đã rút đi. Cô nghiêng người, chân và lưng nổi cơn đau, Jane cố ngồi dậy trong bụi gai rừng, bấm cái GPS đeo trên tay. Gởi tín hiệu cấp cứu.

Trại lính rừng, phòng hành quân.

“Bố Già” Stefan Banach, Jones, Thomas, Jimmy, Nick, Jerry đang ngồi quanh bàn. Cửa lều vén lên. Jane mặc đồ lính rừng, 2 tay chống nạng. khập khễnh bước vô.

– Hurahhhh!

5 cái miệng cùng la lên, chạy tới bồng Jane lên ném lên bàn.

– Rầm!

– Aaaaaahhhh! Đau!

Jane la.

– Con gái tao trở về…

Ông cúi sát mặt Jane.

– … Đau còn hơn mất mạng … Con!

“Bố già” la lớn.

Ông mở ngăn kéo bàn, Lấy chai whiskey xanh, 7 cái đuôi đạn M-79 đã lên nước đồng, rót đầy rượu, cầm một cái, đưa trước mặt Jane đang ngồi trên bàn. Ông rớm nước mắt.

– Mừng con gái thoát hiểm, về với gia đình!

Jane cầm cái vỏ đạn M-79 đầy rượu, nước mắt lăn trên má, cô la.

– Lính rừng! Huraaaahhhh!

Mọi người cạn ly rượu. Jane tuột xuống bàn. Cô ôm từng đồng đội của mình, rồi cà nhắc bước tới lấy đôi nạng.

– Còn đau?

– Còn! Lưng còn đau… Hồi nãy mấy cha ném tui lên bàn… Đau chết luôn!

Mọi người cười. Jane cà nhắc về trại.

Cũng từ bữa đó. Giấc mơ khủng khiếp. “Thằng Taliban chĩa Ak bắn lúc Jane bị treo chân trên dây của trực thăng” không bao giờ hiện ra trong giấc ngủ của Jane nữa.

HĐV

Về VN buôn(g) đao

sangtao.org

Posted: 23/01/2018 in Hồ Đình Nghiêm,

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 4 Mar 2025

Mùa thu nghiêm nghị, lá đỏ chao nghiêng

Vọng tưởng não phiền, lung lay bản thể

Chơn tâm ba đào, lạc trôi buông thả

Lan Điệp đâu rồi, chùa Hoa Nghiêm lạ

Dát vàng sơn son, Thị Mầu phố thị.

Sư cô Lãng Nghiêm, ôm kinh Lăng Nghiêm

Diện mạo không nghiêm, lam y chễnh mảng:

Thiện tai hữu duyên, cửa chùa rộng mở

Bước vào cảnh giới, trang nghiêm lòng thành

Sư ông Huệ Nghiêm, tĩnh tâm kiết già

Mở bừng khải thị, lời sai qui trình

Cực đoan rất mực: Mi cũng tên Nghiêm?

Sa đà ta bà, tướng tá thầy chạy

Tâm tánh thiên lôi, bổ bã cợt đùa

Dạ chẳng chay tịnh, nghịch phá như quỉ

Ngôn từ bức xúc: Đệ tử Ma Vương?

Nghiêm lệnh ban ra: Sao đi tay không?

Cho dầu xuống tóc, gội sạch hồng trần

Bù trất pháp giới. Lý lịch tóm gọn

Không có cu tăng, diễn nôm: Căn tu

Mặt mày xớn xác, sẵn sàng thủ ác

Đuôi tham sân si, còn miên man dài

Hành trang chẳng sắm, mong tìm cực lạc

Bất khả Nghiêm kia! Từ rày cấm cửa.

Quỳ nghe giảng kinh, sự cố nghiêm trọng

Lá rụng hoa rơi, chồn chân mỏi gối

Con còn nợ thầy, bôi trơn phước sương?

Một bầy yêu tinh, xe máy tay ga

Náo động hiện trường, ô nhiễm môi sinh

Cà sa quay gót, quần bò xấn vô

Mày làm dzì dzậy, Nghiêm chừng đã điên?

Chốn này quốc doanh, chùa treo cờ đỏ

Giao duyên búa liềm, hữu nghị thắm thiết

Hậu liêu đồi truỵ, ra thể thống gì

Bây giờ đi nhậu, cho vơi sầu não

Rùa rắn chó mèo, bún chửi phở quát

Sá gì kinh kệ, xã hội chủ nghĩa

Đục nước vo gạo, khó bề khai tâm

Nghiêm gì lạ wá, bùn mún chít lun

Boléro đã quá: Đường xưa em đi

Vô tư thư giãn, chân dài ngực khủng

Rượu vào lời ra: Tới bến cực lạc

Không say không về. Nhập kho cũng đặng

Chốn này trầm luân, nghiệp chướng nặng nề

Chưa thấy một ai, buông đao sám hối.

Hồ Đình Nghiêm

Chuyện chó chết!

hung-viet.org

Huy Phương

Posted 7 Tháng Tư 2014

Post by Sơn râu 4 Mar 2025

Khắp nơi trên đất, chó là con vật được đánh giá cao vì sự thông minh, lanh lợi, lòng trung thành, tình cảm chan chứa, và nhất là mối thân hữu tự nhiên đối với loài người.

Ai nói mặc ai, chứ ở cái xứ Việt nam từ xưa đến nay, tôi thấy con chó là thứ súc vật hèn hạ, bị khinh bỉ nhất, được con người Việt Nam dùng trong những câu chửi rủa miệt thị, không hề nương tay. Nói đến gốc gác thì gọi là “đồ chó đẻ,” mạt sát thì gọi là “đồ chó,” thậm chí trong trò chính trị, khi nói đến những tên hoạt đầu, bất tài vô tướng, một sớm một chiều ăn trên ngồi trốc, thì ví von như “chó nhảy bàn độc!”

Con chó chết lại được xem tệ hại hơn là một con chó sống, bằng chứng chửi ai là chó chết nặng gấp mười lần chửi ai là đồ chó… sống!

Mỗi ngày mở trang báo Việt Nam ra, đau lòng thấy bao nhiêu chuyện chó… chết, nói theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Nghĩa đen thì nguồn tin từ Việt Nam cho biết, mỗi năm có 3 triệu con chó chết vì bị giết thịt, thời thịnh đạt, có tổ hợp “Liên Hiệp Thịt Chó Nhật Tân” với con số lên đến 25 nhà hàng, như vậy ông chủ của cửa hàng Nhật Tân phải lên hàng Tổng Giám Đốc Thịt Chó.

Đường dây kinh doanh chó xuyên quốc gia cũng được thành lập từ đây với khoảng 300,000 con chó được nhập trái phép từ Thái Lan, Lào về Việt Nam mỗi năm. Như vậy trung bình mỗi ngày có gần 829,000 con chó chết, được đưa lên bàn nhậu, mỗi cửa hàng tiêu thụ khoảng 50 con chó mỗi ngày. Đáng lẽ Việt Nam phải nhập cảng văn hóa phẩm, máy móc điện khí, sản phẩm để tạo tiện nghi trong đời sống của con người và nâng cao dân trí, thì phải nhập cảng chó (chắc là nhập cảng lậu) để thỏa mãn những cái mồm nhầy nhụa thịt, mỡ chó và nồng nặc hơi men, để quên đời, có khi quên đi cái thân phận của mình và chẳng bao giờ nghĩ đến cái khổ của người khác. Con chó nằm trong cũi thấy đồng loại của mình bị đem đi đập đầu, cạo lông còn lồng lộn, gầm gừ, hay chảy nước mắt, nhưng đôi khi con người lại quá thờ ơ và dửng dưng với nỗi đau và cái chết của chính đồng bào mình.

Ngày nào ở Việt Nam cũng có chuyện chó… chết! Con chó bị đập đầu nhưng không phải tại các quán bán thịt chó mà chó chết vì người ăn trộm chó. Khi dân phát giác ra chó mình bị đánh chết hay bị đầu độc cho vào bao bố thì y như thế nào cũng có người trộm chó bị đánh chết để đền mạng chó. Vậy là ở Việt Nam hiện nay cái chuyện… chó nhất là mạng con người còn thua cả con chó.

Ở nước khác, nếu bắt trộm một con chó của hàng xóm, nặng lắm là bị phạt tiền và ở tù 10 tháng theo luật nhà nước, nhưng ở Việt Nam thì trộm chó có thể bị đánh chết theo luật nhà… quê, nôm na là luật… rừng.

Thậm chí là ăn trộm một con gà cũng bị đánh chết, nhưng gà không phải chó, bài đang nói chuyện “chó chết” mà nhảy qua chuyện “gà chết” là lạc đề, mặc dù chuyện “gà chết” hay “chó chết” thì cũng đại loại như nhau.

Nhà cai trị để dân đói và mất đạo đức, bần cùng phải sinh đạo tặc, bắt chó, trộm gà là nhà cai trị quá… chó. Coi mạng người thua con chó, và con người trong xã hội ấy coi chó ngang người hay hơn cả con người thật là lũ… chó!Vài người đổ xô ra đường đánh chết người trộm chó, lại toàn quyền hủy hoại tài sản của người vì họ đã đổ xăng đốt luôn xe. Không phải chủ chó mà người khác cũng hung bạo nhảy vào đánh ké, dù sự việc không can cớ đến mình, vì bản chất hung bạo của con người trong xã hội này. Những người giết người này, chúng ta có thành ngữ là “lòng lang, dạ thú,” tức là có tâm địa của loài lang, là chó… sói!

Về nghĩa bóng thì đất nước Việt Nam hôm nay mỗi ngày xảy ra không biết bao nhiêu chuyện chó… chết.

Một cái cầu treo xô bao nhiêu người xuống vực chết thảm, thì không quy tội người làm cầu mà đổ chuyện cho người đi. Thế có… chó không?

Chuyện công ty Tư Vấn Giao Thông Nhật Bản (Japan Transportation Consultants – JTC) tố cáo đã hối lộ cho các quan chức Đường Sắt Việt Nam, chuyện Dương Chí Dũng đưa hối lộ cho anh mình là tướng công an, tính tiền nghìn, tiền triệu trong khi đồng bào lầm than, đói phải đi ăn trộm chó là hết sức… chó!

Công An đánh dân chết, ra tòa chỉ bị án treo là chuyện quá ư là… chó!

Nomadic Matt, người Mỹ, ký giả du lịch đã được giới thiệu trên CNN, BBC, Yahoo, Times, New York Times, trong bài viết “Tại sao tôi không bao giờ quay trở lại Việt Nam” đã tố cáo bọn công an Việt Nam cuồng dâm, đàn áp dân, thường dùng đòn độc bằng đánh vào hạ bộ của phụ nữ! Thật là quá … chó!

Bọn công an đạp vào mặt dân, gậy gộc, roi điện đàn áp dân oan, người biểu tình chống bắt bớ, cưỡng chế đất đai có khác gì bọn khuyển ưng của hoạn thư ngày trước:

“Sửa sang buồm gió lèo mây,

Khuyển ưng (chó và chim ưng) lại chọn một bầy côn quang” (đồ hung dữ, du côn)

Do chữ “côn quang” này mà ngày nay người dân dùng chữ “côn an” để thay thế cho hai tiếng “công an” của cộng sản.

Con người tha hóa, trong một xã hội, không còn cương thường đạo lý, con giết cha mẹ, cha mẹ giết con như chuyện cơm bữa. Giết chồng, giết vợ xong đem vứt xuống sông, bác sĩ giết bệnh nhân đem phi tang, thầy chùa giết tình nhân đem chôn sau vườn chùa… bạn bè giết nhau chỉ vì một cái điện thoại, mới ăn ngủ với nhau xong, nhẫn tâm đập đầu tình nhân để đoạt tài sản. Ở đâu cũng nghe giết, giết… như khẩu hiệu của “thi hào” Tố Hữu: “Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ…” Trong xã hội này, người ta giết người không gớm tay, còn dễ dàng hơn giết một con… chó!

Ở Việt Nam bây giờ ở đâu cũng nghe hiếp, hiếp! Trưởng ban văn hóa xã cho trẻ em mới học lớp 4 xem phim sex để hiếp. Hiếp dâm để quay phim, tống tình bắt làm nô lệ tình dục! Nữ sinh bị hiếp dâm tập thể trước mặt bạn trai! Nhờ bạn hiếp dâm vợ để lấy cớ ly dị! Cưỡng hiếp chị dâu đang mang thai! Đây là vài chuyện trong muôn vàn chuyện… hiếp, được tường trình trên báo chí trong nước! Một xã hội rất… chó, giống chó vì đã xảy ra quá nhiều chuyện… cẩu hợp!

Một xã hội loạn lạc, lắm điều đốn mạt “thượng hạ giai cẩu” (trên dưới đều “chó,” câu nói của Cao Bá Quát) ngay cả bậc sĩ phu, không xoay chuyển được thời thế, chỉ đành kêu lên những tiếng tuyệt vọng: “chó ơi là chó!”

Chuyện chó còn dài dài, may ra khi chết hết chó, dân chúng không còn món nhậu khoái khẩu, dân tình không còn ta thán chuyện chó, bốn cõi mới yên bình, mong rằng cũng sẽ đến lúc “chó chết là hết chuyện!”

Ngày xưa đi học, tóc còn xanh mướt, làm một bài luận văn mà dùng chữ lặp đi lặp lại (điệp ngữ) thế nào cũng bị thầy giáo gạch bôi đen, gạch đỏ. Hôm nay, tóc đã bạc phơ, viết một bài văn, câu kéo lủng củng, nhất là đếm đi đếm lại có đến 64 chữ “chó,” chỉ vì lòng còn quá buồn phiền, sân hận vì những chuyện chó chết, chỉ xin các bạn thương tình miễn thứ!

Huy Phương