Tâm thức người lính Nhảy Dù trong cõi vô sắc giới

dongsongcu.wordpress.com

Trương văn Út – Út Bạch Lan

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Hình minh họa sưu tập trên Net by Sơn râu

Người Lính Nhẩy Dù Với Chiều Kích Tâm Linh:

Chập chờn trong giấc ngủ mỏi mệt gần như kiệt sức, tôi trở mình xoay qua phải, tay trái gác lên xác Minh đã được gói ghém cẩn thận trong lớp poncho ướt đẫm sương khuya.

Chiều nay, trước khi đặt xác Minh vào chiếc quan tài bằng nylon dã chiến này, tôi đã khấn nguyện như thầm nhủ với em :”…thôi em hãy đi… đi…vào cõi siêu thoát , chớ vương vấn chi…chi những hệ luỵ của kiếp người phù du trong cuộc đời vô thường như ảo mộng nầy…”…và vuốt đôi mắt mở trừng tới lần thứ ba, Minh mới chịu nhắm mắt…!

Minh trình diện tôi cuối năm 1968 với cấp bậc Hạ Sĩ truyền tin, nhân tướng cao dong dõng với khuôn mặt đẹp trai dáng vẻ thư sinh, tài tử phim ảnh hơn là một “Lính Nhẩy Dù” gan lỳ dũng mãnh mà gót giầy Saut dẫm nát trên 4 vùng chiến thuật với những chiến trận khốc liệt tử sinh không biết ngày mai ai còn ai mất…?!…với tính tình vui vẻ hoà đồng với mọi người, nhưng khi lâm trận thì can đảm, lỳ lợm không thua kém một ai trong đơn vị…!!! Chỉ một năm sau, Minh được thăng cấp Trung Sĩ và tôi gửi Minh đi học khóa Truyền Tin đặc biệt về mật mã, sau khóa học Minh trở về đơn vị, được thăng cấp Trung Sĩ Nhất và đuợc tôi bổ nhiệm chức vụ Trưởng Ban Truyền Tin của Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù. Trong nhiệm vụ này, Minh lúc nào cũng thường kề cận sát bên cạnh tôi như hình với bóng, và theo thời gian binh lửa ngút ngàn, dần… dần tôi thương mến Minh như em ruột của mình…! Minh còn độc thân, chỉ có một mẹ già và một đứa em gái nhỏ đang buôn bán tảo tần ở chợ Trương Minh Giảng. Minh rất giàu đầu óc sáng tạo, tự “chế tác” ra những mật mã Truyền Tin nguỵ hoá để xử dụng hiệu quả mà ngay Nha Kỹ Thuật cũng không mã hoá được, huống hồ mấy tên cán ngố “sinh Bắc tử Nam” có thể phát hiện được qua âm thoại trên tầng sóng điện máy truyền tin … Đụng trận, Minh hét lên trong máy báo cáo liên lạc: “… ba lẽ tám bẩy không chín tám mười hai ba ba ba…” (giải mật mã là: 2 toán viển thám: 1 và 2 xuống chân đồi, 2 trung đội trinh sát theo sau và tấn công bộc hậu lên đồi).

Sau hai ngày “san định” đồi 1049 (Delta), một Đại Đội của Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù (ĐĐ/TĐ2ND) thay thế Trinh Sát 2 Nhẩy Dù (TS2ND), chúng tôi có lệnh di chuyển về hướng Bắc để bắt tay với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù (BCH/TĐ2ND) đang ở đồi Charlie. Chúng tôi vừa “di hành” vừa nhổ “đẹp” chốt địch và tống tiễn hồn Bắc quân khiếp đảm, kinh hoàng bay tung về với thế giới cô hồn uổng tử…! Nhưng khi đến đồi 1028 (cao độ so với mặt nước biển) thì “đụng nặng”. với một trung đội súng nặng của Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 320 CSBV trú phòng trên đó với ưu thế hầm hố, địa đạo chiến đấu đã bố trí vững chắc, sẵn sàng chờ đợi để “gom bi” TS2ND chúng tôi…với “Thế Bối Thủy”, tiến thoái lưỡng nan, chỉ còn xông lên vượt đường máu lửa để sống còn, tôi ra lệnh “táp pi”…súng nổ vang rền chiến trận… Minh bị một tràng AK47 xé banh lồng ngực chết tại chỗ, máu tuôn ướt đẫm thân xác…!.

Tôi mệt lã chập chờn trong giấc ngủ dật dờ, bàn tay trái vẫn còn trên cái poncho bó xác của Minh lạnh giá, chợt tai nghe tiếng nói của Minh từ một cõi âm ty thâm u xa xăm nào đó mang âm hưởng tỉ tê não nuột rờn rợn ớn lạnh toàn thân…!

– Đại Úy ơi…! Mở ba lô của em ra, lấy cái poncholight của em mà đắp và giữ nó bên mình, mở cái poncho của em ra lấy cái thẻ bài gửi cho Mẹ em và con Nguyệt (em gái của Minh), còn sợi dây chuyền có cái thẻ ngà bằng nanh heo rừng Đại Úy hãy mang vào cổ đừng bao giờ rời nó….”…!

Tôi choàng tỉnh ngồi bật dậy. Trời hãy còn tối đen như mực, chỉ nghe tiếng xào xạc của lá cây rừng cùng tiếng văng vẳng đâu đây của Minh như chưa tan loãng hết trong không gian u uất, linh hồn phất phơ đầu cây ngọn cỏ còn ướt đẫm sương đêm…! Nhìn quanh bên cạnh vài thước, Y Khương vẫn còn ghìm súng trong phiên gác nửa đêm về sáng…Tôi tự lự: có thật linh hồn của Minh vẫn còn lẫn khuất quanh đây, em về báo mộng cho tôi, hay chỉ là hư ảo qua tình cảm tiếc thương đứa em cận kề thâm tình bấy lâu nay mà sinh chuyện mộng mị giữa đời thường, trong khi áp lực địch quân trùng điệp với lưới thép lửa đạn dầy dặc vẫn còn vây kín tứ phương …và cho dù có tin hay không tin cũng phải chờ cho đến khi trời sáng có L19 (phi cơ quan sát) bao vùng và mong là sẽ có C&C của Lữ Đoàn bay trên không phận để liên lạc với tôi…! Tôi làm theo lời báo mộng của Minh, thò tay lục ba lô và mở poncho gói xác Minh… quả thật đúng như vậy và tôi làm đúng những gì Minh căn dặn là tìm thấy được: một pocholight, sợi dây chuyền có cái nanh heo rừng khắc Phạn Ngữ Chú Nguyện theo phương pháp bùa Miên mà các vị “Lục Khủ” (Thầy) phúc tụng, tom phép hộ thân vào Katha… Suốt ngày hôm đó trực thăng của Phi Đoàn 229 không tiếp tế, tản thương được, đến buổi chiều chỉ có chiếc LOH của John Paul Van rà xuống đạp vội vài thùng lựu đạn, đạn đại liên và vài chục ống đạn 155 ly chứa nước uống. Hơn hai mươi thương binh và 12 xác chết vẫn còn nguyên đó…! Tôi nhận được công điện từ hậu cứ Long Bình của Trung Úy Tài nguyên văn:” Kính đích thân! Sáng nay mẹ và em gái của TSN Nguyễn Văn Minh có đến văn phòng hậu cứ khóc lóc thảm thiết và chất vấn tôi về tình trạng Minh đã tử trận. Tôi quá đổi ngạc nhiên vì chưa nhận được một báo cáo hành quân nào cả. Chỉ biết là đơn vị đang đụng nặng và chờ tin tức mà thôi. Tôi hỏi thì bà trả lời rằng: “… thằng Minh đã chết và đã có về báo mộng cho tôi đêm qua …”…?!!! Đọc công điện từ hậu cứ, tôi giao động thân tâm thẩn thờ như kẻ mất hồn…! Đã có báo cáo tổn thất tổng quát cho Lữ Đoàn nhưng chưa có chi tiết tên họ tử sĩ và thương binh, vì người thay thế cho Minh phụ trách công điện chưa thành thạo công việc truyền tin liên lạc báo cáo… vả lại TS2ND chúng tôi còn trong vòng chiến trận bị Bắc quân vây hãm với hoả lực hùng hậu tứ bề thọ địch…!!! Để độc giả có thể hình dung được bối cảnh lâm trận của TS2ND và tương quan lực lượng với địch quân trên Mặt Trận Tây Nguyên – Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, tôi xin trích dẫn đoạn văn của Tác Giả Vương Hồng Anh là Nhà Văn Quân Đội đã dầy công biên soạn Quân Sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, đã có đề cập đến Đơn Vị TS2ND trong trận thư hùng khốc liệt với Bắc quân: “Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù Tử Chiến Tại Vùng Đồi Delta, Charlie”:

“Trận chiến giữa Trinh sát 2 Nhảy Dù và Cộng Quân ở đồi Delta:

Đồi Delta là một ngọn đồi nằm về hướng Nam Charlie, quanh khu vực này Cộng quân đã bố trí 1 tiểu đoàn phòng không được bảo vệ bởi các cụm chốt do 1 đơn vị sư đoàn 320 CSBV phụ trách. Để giải tỏa áp lực của CQ, đại tá Trần Quốc Lịch-lữ đoàn trưởng lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã cho lệnh đại đội 2 Trinh Sát do trung úy Trương Văn Út chỉ huy đổ quân ngay trên đầu địch. Cuộc đột kích diễn ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 3/1972 bằng trực thăng vận.

Sau khi Pháo binh và Không quân hỏa tập để dọn bãi đáp, đoàn trực thăng đổ đại đội Trinh Sát vào đỉnh đồi. Vừa nhảy xuống mục tiêu, toàn đại đội tràn lên tấn công. Bị tấn kích bất ngờ, cụm tiền đồn của CQ không kịp phản ứng, đã bị triệt hạ. Nguyên cả toán tiền đồn của tiểu đoàn 1/trung đoàn 3/sư đoàn 320 CSBV bị bắt sống. Tuy nhiên, ngày hôm sau, Cộng quân đã điều động 1 tiểu đoàn để bao vây đại đội Trinh Sát. Dù bị áp đảo về quân số, nhưng trung úy Út (ám danh dùng để liên lạc qua máy truyền tin là Út Bạch Lan) đã linh động tìm cách thức đánh trả. Út Bạch Lan cho phân tán đại đội và lưu động tác xạ để đánh lạc hướng phán đoán của đối phương. Cộng quân tràn lên xung phong nhưng chỉ gặp từng toán nhỏ, các toán này đã nhanh nhẹn lẫn tránh sau khi đã bấm mìm claymore. Địch quân lại tiếp tục bao vây, không ngờ rằng đại đội Trinh sát 2 đã vòng ra phía sau tấn công ngay vào bộ chỉ huy tiểu đoàn Cộng quân và bắt trọn cả bộ phận này, trong đó có cả tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1/ trung đoàn 3 CSBV là Trương Hà.

Bị tổn thất nặng, ngay sau đó, trung đoàn 3 CSBV điều động toàn bộ lực lượng bao vây đồi Delta với quyết tâm triệt hạ đại đội Trinh Sát 2 để trả thù cho tiểu đoàn 1 của trung đoàn này. Vào lúc này, đại đội Trinh sát cũng đã mệt mỏi do phải lưu động để tránh địch. Bị một trung đoàn CQ bao vây, mặc dù đã áp dụng chiến thuật phân tán mỏng để cố thủ nhưng do đạn dược và lương thực gần cạn, nên đại đội Trinh sát 2 ở trong tình trạng nguy kịch. Nhận được khẩn báo của Út Bạch Lan, các phi công VN của phi đoàn trực thăng Bạch Tượng đã dũng cảm bay vào vùng đồi Delta nhưng không thể nào tiếp tế được cho đại đội Trinh sát 2 Nhảy Dù. Cuối cùng, nhờ một phi công kinh nghiệm và gan lì của phi đoàn Song Chùy đã điều khiển trực thăng lách qua các ổ phòng không của địch mới tiếp tế cho đại đội này được một chuyến duy nhất.

* Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù nhập trận:

Ngày 20 tháng 3/1972, bộ chỉ huy lữ đoàn 2 Nhảy Dù đã điều động tiểu đoàn 2 Nhảy Dù từ căn cứ Charlie đến giải vây cho đại đội Trinh sát 2. Ngay khi vào khu vực hành quân, thiếu tá Lê Văn Mạnh-tiểu đoàn trưởng đã điều động 4 đại đội tác chiến của tiểu đoàn tấn công ngang hông. Trận chiến đã diễn ra khốc liệt, sau 3 ngày kịch chiến, từ ngoài đánh vào, từ trong tấn công ra, tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và đại đội Trinh sát 2 đã đánh bại trung đoàn 3 CSBV, “xé” trung đoàn này thành từng phần nhỏ. Sau đó, đại đội Trinh sát 2 được trực thăng bốc về Võ Định để tái chỉnh trang và bổ sung quân số. Được báo tin về chiến thắng của đại đội Trinh Sát 2 Nhảy Dù, trung tướng Ngô Du đã bay đến nơi quan sát, vị tư lệnh Quân đoàn 2 đã đích thân gắn cấp bậc đại úy cùng Đệ ngũ đẳng Bảo quốc Huân chương cho đại đội trưởng Trương Văn Út. Ngoài ra, đại tá Lê Đức Đạt-tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh đã thưởng cho đại đội này 1 triệu 200 ngàn đồng về chiến tích bắt sống 12 tù binh của sư đoàn 320 CSBV”. (ngưng trích).

Và trích dẫn bài viết “Charlie Ngọn Đồi Quyết Tử” của Nhà Văn Quân Đội Mũ Đỏ Nguyễn Văn Lập , đăng trên báo Chiến Sĩ Cộng Hoà số 2, xuất bản tháng 8 năm 2009 do Hệ Thống Báo SàiGònNhỏ phát hành:

“Từ ngày này trở về sau, toàn bộ Charlie bị pháo kích thật nặng, mổi ngày cỡ ngàn quả mà nhiều nhất là 130 ly, rồi đến đại bác 122 ly, và cả hỏa tiển 122 ly mà tôi nghe được tiếng hú. 310 báo lên Thiếu Tá Lạc:” tụi tôi bị ăn 130 ly, ngoài tầm không phản pháo được, chẳng lẽ phải nằm đây lãnh pháo”? Lúc này Đại Tá Trần Quốc Lịch, Lữ đoàn trưởng Lữ Đoàn II Dù ở Căn cứ Võ Định cũng đã trình lên cấp trên xin cho 11 Dù rút ra ngoài căn cứ, Nhảy Dù mà nằm đưa đầu ra lãnh pháo như thế này thì phản chiến thuật quá. Nhưng Trung Tướng Ngô Du, Tư Lệnh Quân Đoàn II vẫn lặng thinh, và Cố Vấn John Paul Van chẳng biết mẹ gì chiến thuật và pháo binh, vẫn kiên trì áp lực…tử thủ, chắc là định dùng 11 Dù nhử cho địch lên tapi như trường hợp của Đại Đội 2 Trinh Sát Dù dưới sự chỉ huy của Đại Uý Trương Văn Út (danh hiệu truyền tin Út Bạch Lan) đã được trực thăng vận nhẩy xuống trấn thủ ngọn đồi 1069 ở Mặt Trận Tây Nguyên 1972. Nhận biết được tin quân Việt Cộng sẽ cường tập tấn công ngay trong đêm để tận diệt TS2ND, viên cố vấn Mỹ của Đại Đội là Trung Uý Buda đã gọi liên lạc xin với Cố Vấn Trưởng Quân Đoàn 2 Mr Paul Van và Tướng Ngô Du Tư Lệnh Quân Đoàn II xử dụng toàn bộ hoả lực phi pháo, hải pháo Việt – Mỹ để yểm trợ cho TS2ND dứt điểm giết chết cả Trung Đoàn Phòng Không thuộc Sư Đoàn Thép 320 lừng danh của Bắc Việt, cộng quân phơi xác vương vải khắp cả ngọn đồi 1069…! Với chiến thắng lẫy lừng Quân Sử nầy Tướng Ngô Du đã đặt tên cho đồi 1069 là “Đồi Út Bạch Lan” …!!! Và vì trận này mà Bộ Chì Huy Quân Sự Việt Cộng đã lên án tử hình Đại Úy Trương Văn Út, Đại đội trưởng Trinh Sát 2 Dù và thề tiêu diệt đại đội này. Quân đoàn II còn lệnh cho T Đ11 ND ra hố pháo tìm chứng tích của đầu nổ130 ly mới cho B52 dập. Quân đoàn cũng chẳng màng gần một phần ba quân số 11 Dù bị loại ra ngoài vòng chiến vì đạn pháo và chưa đươc di tản. Cái hào quang chiến thắng của thượng cấp ngoài binh chủng đo bằng máu của Dù thật quá đắt, và quả thật nếu không bị pháo kích từng phút một, chúng tôi có thể ra hố đạn đo hướng bắn và bới tìm đầu nổ, nhưng làm sao gửi ra cho các bộ óc đặc sệt chỉ thị đây. Hằng trăm thương binh, mấy chục binh sĩ tử thương vì pháo còn chưa di tản được nằm đầy các giao thông hào, không có chiếc trực thăng tản thương nào vào được cách C2 500 mét thì nói gì đáp xuống tãi thương hoặc tiếp tế. Chỉ có một pass B52 đánh về hướng Nam gần Charlie thì nhằm nhò gì, pháo của chúng đặt về hướng Tây và Tây Bắc cách Charlie ít nhất 15 đến 20 cây số thì không dập. Mỗi lần bị pháo kích xong, phi cơ lên vùng, pháo địch im, phi cơ bay ra khỏi vùng, lại bị pháo tiếp, tôi chỉ còn biết ước lượng vị trí pháo địch gửi về các pháo đội tùy nghi phản pháo nếu có thể. Tình hình hết sức khẩn cấp, nếu không có lệnh rút, chắn chết hết vì pháo”. (ngưng trích)

…Tiếp theo chuyện của Minh: Tôi hỏi Sơn Nhung, Hạ Sĩ Nhất người Miên bên cạnh tôi với Minh về sợi dây chuyền và cái nanh heo rừng. Sơn Nhung nói:

– Thưa Đại Úy đây là cái thẻ “Bùa Miên”. Trên cái thẻ ngà màu trắng đục có khắc một hàng chữ Miên màu đỏ, nó là câu thần chú để khi gặp cơn nguy biến thì đọc lên…may ra có ứng nghiệm…em không hiểu câu thần chú là gì, nhưng Đại Úy có thể đọc khi hữu sự” Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát “. Thằng Minh nó sống khôn chết thiêng, nó đang phù trợ cho Đại Úy đó “…!

Tôi không biết có nên tin hay không…? Nhưng thuở còn học trung học, tôi thích nhất môn hình học không gian, trong đó có chiều thứ ba, ngoài không gian và thời gian. Sau này khi ra hải ngoại đọc bộ sách của Giáo Sư Linh Mục Lương Kim Định mới hiểu chút chút ngôn từ “Chiều Kích Tâm Linh”. Giờ nhớ lại mới thấy thấm thía…!

Sau khi đơn vị (TS2ND) được bốc về căn cứ Võ Định (BCH/ LĐ2ND) tôi được lệnh bay cùng Đại Úy Phạm Công Cẩn C&C Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 229 (K21 ĐL) để liên lạc với Đại Tá Lê Đức Đạt Tư Lệnh Sư Đoàn 22BB vì Quân Đoàn cho biết ĐT Đạt vẫn còn liên lạc qua hệ thống Rescue Radio của Hoa Kỳ. Tôi lên trực thăng bay với một Trung Úy Tác Chiến Điện Tử của SĐND và phi hành đoàn. Trực Thăng cất cánh bay được chừng 30 giây, vừa lên cao độ khoảng 100 bộ thì bị phòng không của địch bắn vào hông tàu và phía đuôi đã rách bươm lỗ đạn. chiếc gunship bay bên cánh trái bị bắn nổ tung cháy bùng lên như một khối cầu lửa trên không rơi xuống, chiếc HU-1 bên phải nghiêng mình lách về hướng Đông để cố vượt lưới đạn phòng không như thiên la địa võng giăng mắc tử thần…!!! Cẩn gọi tôi như hét trên headset: “…thắt dây nịt cho thật chặt …”, tôi vội vàng chụp lấy dây bell an toàn cài khoá, Cẩn bậm môi, tay trái đẩy hạ cần Collective lái chiếc C&C lao xuống sát mặt đường QL14 và hướng về Tân Cảnh…Người xạ thủ đại liên bên phải đã chết gục đầu xuống cây M16 tự khi nào, co pilot ngồi ở ghế trên gục đầu bất tỉnh nhân sự, Trung Úy TCĐT bị một viên đạn 12ly7 vào chân phải gẫy lặc lìa…! Tôi hồn phi phách tán, vô thức thò tay vào ngực mò tìm cái bùa nanh heo rừng của Minh đang mang theo và miệng lẩm bẩm “cầu Kinh”…!!! Tàu vừa mới tới vùng trời Tân Cảnh, thì ôi thôi lại thêm một trận kinh hoàng: phía dưới là hằng chục chiến xa T54 VC đang tùng thiết trên đường Ql14 xuôi Nam như đang diễn binh …!!!. Như vậy Tân Cảnh (Dakto) đã bị over run…! Phạm Công Cẩn lại cắn chặt môi, bàn tay trái kéo cần Collective lấy cao độ và vận tốc, tay phải điều khiển Controller đưa Tàu lướt tới rồi cho con tàu quẹo thật gắt về phía Đông, chiếc trực thăng nghiêng bẻ góc, gầm rú dữ dội, tiếng cánh quạt xé gió phành phạch tưởng chừng như vỡ tung thân Tàu…!!! Tôi thấy vẻ mặt Anh đanh lên khẩn thiết, cương nghị, dưới Helmet khuôn mặt mổ hôi nhỏ giọt nhễ nhại…con tàu chòng chềnh như muốn lao xuống vỡ vụn …Nhưng “Công Cẩn” thật là “tay” Pilot Trực Thăng lão luyện, nhuần nhuyển phối hợp thao tác điêu luyện với hai chân đạp nhịp nhàng trên pedal và tay trái kéo lên, hạ xuống cần Collective, tay phải điều khiển đẩy Controller con tàu vực đầu phóng tới, gật qua trái, phải…điều hợp với Collective để lái con Tàu bay lên cao, rớt xuống thấp, lắt léo qua lại như chiếc lá rơi chao lượn trong cơn bão để cố vượt tránh thoát những tràng đạn của địch bắn lên từ dưới đất, con Tàu hoạt động tối đa công xuất, tiếng động cơ nổ vang rền liên thanh như gầm rú dữ dội lạ thường, thân Tàu chuyển động run lên bần bật với tiếng kêu răng rắc như muốn vỡ bung ra từng mảnh, tiếng cánh quạt chém xé gió phành phạch xen lẫn tiếng súng và đạn phòng không nổ long trời, chớp nhoáng sấm sét lấp loáng không gian, thần chết ẩn hiện chờ cơ hội thu đoạt lấy linh hồn người chết trận oan nghiệt khuất uất…”Chu Công Cẩn” của Tam Quốc Chí tân thời lại phải hạ cần lái một lần nữa cho con Tàu hạ cao độ bay là xà xuống thung lũng, men theo khe suối cố lết cánh quạt về tới Võ Định.!!! (Sau nầy tìm hiểu thêm, Tôi mới được biết kỹ thuật bay trực thăng như chiếc lá rơi để tránh đạn đạo là phát minh từ tài nghệ thao luyện tinh xảo có một không hai trên thế giới, do Cố Thiếu Tướng Nguyễn Huy Ánh – Tư Lệnh Sư Đoàn 4 Không Quân, khi Ông hãy còn là Phi Công với chức vụ Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng – Phi Đoàn 211 Trực Thăng. “Kỹ Thuật Bay Lá Rơi “được phát huy và huấn luyện cho những Phi Công tài hoa tinh nhuệ và gan dạ những “Nam Nhi Chinh Chiến Kỹ Nhân Hồi” là Kinh Kha thế hệ của Không Lực Việt Nam Cộng Hoà đã viết lên trang sử Anh Hùng Bảo Quốc Trấn Không suốt 21 năm cuộc chiến Quốc – Cộng…Khi cất cánh tung hoành trên những trần mây xanh thẳm, hay ráng chiều tim tím hoàng hôn cũng chiếu sáng bởi con Tàu bị trúng đạn phòng không bùng nổ cháy đỏ rực như khối cầu lửa trong không gian dung chứa biết bao tình…! Phái Bộ Quân Sự Mỹ cũng đã cử Chuyên Gia Huấn Luyện Kỹ Thuật Bay Helicopter đến Việt Nam để tham khảo và thực nghiệm với Ông).

Trực Thăng vừa đáp vội vàng ở căn cứ Võ Định, “Công Cẩn” hỏi tôi:

– Mi có sao không?

– Dạ không, …nhờ có bùa hộ mạng…? …và cười trừ…!!!

Tôi nghĩ tới Minh trong những giây phút thập tử nhất sinh vừa qua, em có bên cạnh anh với máy PRC25 nặng chình chịch trên lưng của em hay không, hay em đang ở một cõi trời vô sắc nào đó không có không gian cũng không có thời gian, em đã vào hư vô hay vẫn hiện hữu bên anh…?

Hai tuần lễ sau đó, Lữ Đoàn II ND triệt thoái Komtum không vận về Sài Gòn bổ sung quân số, quân trang, quân dụng, đạn dược, vũ khí… trong khi An Lộc đang ngập chìm trong biển lửa, Đông Hà, Quảng Trị thất thủ,… Cộng quân nã đại pháo bắn giết tan tành dân lành vô tội tháo chạy giặc, tìm sinh lộ lánh nạn trên “đại lộ kinh hoàng”, đường lui quân xuôi Nam của gần hai trăm ngàn dân (200 000) và hai mươi ngàn lính(20 000) đang tháo chạy về phía Nam trong Chiến Dịch Xuân Hè 1972 của Quân Đội Nhân Dân (VC)…! Sau chiến trận, công binh đã phải xử dụng xe cày đào huyệt mộ để chôn cất hàng ngàn xác người đang dần phân huỷ…thảm cảnh địa ngục môn có thật giữa đời thường trần gian đầy máu và nước mắt của quân dân tỉnh địa đầu giới tuyến…!

Ôi vùng Trị Thiên, An Lộc, vùng Tam Biên
lửa máu từ rừng sâu ngụt trời
Dòng máu đỏ da vàng, trên đất nghèo nàn đã đổ vì ai
Kìa giặc thù đốt phá quê hương ta
Kìa giặc thù bắn giết đồng bào ta…!!!

Để gọi đích danh chúng: “bọn đồ tể Việt Cộng”:

Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay dính máu đồng bào
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay vấy máu anh em.
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay chiến tích hận thù
Giặc từ miền Bắc vô đây, bàn tay giết chóc hôi tanh.

Lợi dụng mấy ngày ở hậu cứ, tôi cùng Trung Úy Tài Chỉ Huy Hậu Cứ, Thượng Sĩ Nhất Tá Thường Vụ, Thượng Sĩ Nhất Chiến HSQ Tiếp Liệu đến Nghĩa Trang Quân Đội để viếng mộ của Minh. Ngôi mộ chắc chỉ mới được lấp đất vài ba hôm trông thảm hại…! Đứng trước mộ của Minh, tôi thầm khấn vái: “Em sống khôn, nay chết có linh thiêng xin phù trợ cho tất cả anh em được tai qua nạn khỏi “…! Buổi chiều cùng ngày tôi với các Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ trong đơn vị “làm” cạn láng 5 thùng Remy Martell của toán Cố Vấn Mỹ mua tặng…rượu hết, tàn tiệc…tôi say chếnh choáng, thần trí lờ mờ, chân bước loạng choạng ngã nghiêng tìm giường và ngáy khò khò chìm vào giấc ngủ say khước…Bỗng tai lại nghe văng vẳng đâu đây âm thanh quen thuộc trên máy PRC25 khi trời vừa sáng:”… Đại Úy ơi…nhớ ngày mai ra thăm em lần nữa… và nhớ ghi cho kỹ số mả của em để mua vé số” ! Tôi choàng tỉnh giấc và có cảm giác như linh hồn của Minh còn dang lãng vãng quanh đây…và tôi tin có thật Minh đã ở bên cạnh phù hộ thân cho tôi và anh em trong đơn vị đã thoát qua hai cơn hiểm nghèo, một ở phía tây Charlie, một ở Chupao… cũng bởi nhờ vào kỷ vật nanh heo rừng có khắc Phạn ngữ chú nguyện cho người hữu Duyên của Minh báo mộng “trao” lại…?!!! Trong buổi họp bỏ túi sáng hôm sau, bên tách cà phê đang bốc khói ở Câu Lạc Bộ TS2ND, tôi đem câu chuyện Minh báo mộng đêm qua tâm sự với tất cả Sĩ Quan trong đơn vị và họ đề nghị:”… thì mình cứ làm thử xem, cầu may mà, có tốn kém gì đâu…”! Sau đó ai muốn đóng góp bao nhiêu tiền tùy hỉ, giao cho HSQ kế toán làm sổ sách…tổng cộng được trên mười ngàn đồng để mua vé số.!

Tôi với Trung Úy Tài SQ Hậu Cứ đến Nghĩa Trang Quân Đội vào lúc buổi trưa. Mộ của Minh vẫn chưa có bia, chỉ có tên họ số quân đơn vị viết nguệch ngoạc trên tấm gỗ cắm trước mồ, không có số mộ…! Trung Úy Tài vào văn phòng của Đại Đội Chung Sự mới tìm ra đưọc danh số mộ bia là: 198264. Tôi tính nhẫm cộng lại thành ra số “bù” (10 nút)…Nhớ trước đây khi Minh còn sống, em luôn luôn chọn danh số liên lạc truyền tin cho tôi lúc nào cũng chín nút chẳng hạn như: 81, 72, 63…hay 531, 405 và các Sĩ Quan Trung Đội Trưởng cũng tương tự như vậy…Nay em đã mất,mộ bia của em lại mang con số “bù”…Ngẫm tạo hoá cũng khéo trêu người…?!!! Tôi hỏi:

– Anh Tài …anh nghĩ sao?

– Đã nói là “cầu may” mà đại úy…!

Trên đường trở về doanh trại, những ý nghĩ lung tung cứ vẫn vơ trong đầu, tôi cố lắc đầu mấy cái để xô đuổi những thứ vẫn vơ “bù” với “chín nút” đó đi… trong khi còn bao nhiêu việc chuẩn bị để hai ngày nữa lên đường đem quân ra Huế rồi vào Quảng Trị với những tin tức chiến trường mỗi ngày càng tăng thêm khốc liệt…Nhưng sáu con số 198264 vẫn y cứ quanh quẩn trong trí óc của tôi như một nỗi ám ảnh bâng quơ nào đó mà lại khó phai mờ hay bỏ quên theo ngày lại qua ngày …? Tôi tự nhũ thầm hãy quên nó đi để còn lo bao nhiêu công việc chuẩn bị lên đường ra Quảng Trị. Buổi chiều trước khi về căn nhà trong khu gia binh nằm dưới lưng chừng đồi Long Bình, tôi căn dặn Trung Úy Tài:

– Anh bảo Thượng Sĩ Dự (kế toán trưởng) giao số tiền đó cho Anh để đi mua vé số…và phải nhớ cho kỹ…tìm cho bằng được lô có bốn số đầu 1982, còn hai số sau, số nào cũng được nhưng cộng lại phải là con số bù… Đừng mua một lần mà phải tìm mua nhiều lần cho đến khi hết mười hai ngàn thì thôi…!

Đường vào Cổ Thành Đinh Công Tráng – Quảng Trị:

Từ ngã ba Long Hưng, cửa ngõ vào thành phố Quảng Trị đến làng Tri Bưu phía chính Đông của cổ thành chỉ non một cây số. Tiểu Đoàn 11 ND đã áp sát nhà thờ La Vang từ phía Nam, TĐ7ND đã vào tới Long Hưng, nhưng chậm bước vì sức kháng cự của địch quân quá mãnh liệt, TĐ5ND bên cạnh sườn phải của TĐ7ND về phía Đông và chỉa mũi dùi thẳng vào Tri Bưu theo trục Nam – Bắc. Trinh Sát 2 Nhẩy Dù (TS2ND) được thiết vận xa “cõng” ra gần bờ biển, mượn đường Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC) đâm thẳng vào Tri Bưu theo trục Đông-Tây cho đến khi bắt tay được với Tiểu Đoàn.

Từ Tri Bưu đến chân tường cổ thành chỉ có vài trăm thước mà chúng tôi TĐ5ND và TS2ND có cảm tưởng như Cửu Niên Đạo, trên con đường chín năm này chúng tôi không biết cũng không nhớ, làm sao mà đếm để mà biết mà nhớ, có bao nhiêu đồng đội của chúng tôi lên thiên đàng hay xuống địa ngục hay chưa siêu thoát vẫn còn lỡn vỡn quanh đây…?!!! Tôi và Thiếu Úy Khâm là tiền sát viên của TĐ1PBND đang đứng trước một mộ bia khá lớn check lại vị trí để điều chỉnh tác xạ…Bỗng nghe “cắc bùm” một tiếng động khô khan của CKC bắn tỉa, Thiếu Úy Khâm bật ngửa tay chân giựt giựt vài cái, mắt trợn trừng…! Tôi ngồi thụp xuống tấm mộ bia bằng xi măng, phía sau có ai đó với bàn tay hộ pháp nắm giây ba chạc của tôi giật mạnh, tôi bật ngã mạnh ra phía sau cùng lúc tiếng nổ ầm trước mặt, một quả không giật trúng ngay mộ bia, tôi ngất đi không còn biết gì nữa…?!!! Nửa giờ sau tôi lay tỉnh, tâm trí mù mờ, nghe thoang thoảng tiếng của Sơn Nhung mừng rỡ cười nói bên tai:

– Đại Úy tỉnh lại rồi… Đại Úy tỉnh rồi… anh Được ơi…!!!

Được là Trung Sĩ Nhất y tá của TĐQY/SDND biệt phái Cho TS2ND, Được nhào tới bên tôi, trong khi tôi vẫn còn nghe tiếng M16, M60, M79 vang rền chung quanh.

– Không sao đâu Đại Úy. May nhờ cái mộ bia, không bị vết thương nào…chỉ tức thở một chút thôi, tôi đã làm hô hấp rồi, Đại Úy có cần tản thương thì tôi đưa đi ngay, vì tôi đã gửi công điện báo cáo rồi…?!!!

– Không sao đâu, cám ơn cậu, đỡ tôi ngồi dậy đi… !

Tôi vung tay, vung chân cố bò qua máy truyền tin liên lạc với Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền) và BCHLD2ND để báo cáo rằng tôi vô sự để cấp trên yên tâm. Tôi hỏi Sơn Nhung:

– Lúc nãy cậu nắm giây ba chạc giật tôi ngã ngửa ra sau có phải không?

– Dạ không, …lúc đó em đang nằm bẹp bên phải cạnh Đại Úy, nó bắn rát quá, em thì hết đạn nên nằm im lìm cúi đầu chịu trận, thằng Bi ôm cây đại liên không dám xài phí, chỉ chực chờ nó tràn tới thì thằng Bi đứng xổng lên quạt vài tràng rồi ngồi thụp xuống ẩn núp…chớ …. em không có ở đằng sau lưng Đại Úy hồi nào đâu, chỉ có thằng Chỉnh mang máy, nhưng nó đang núp phía sau một mộ bia khác cùng với thằng mang máy Pháo Binh…?!!!

Như vậy,… thì tôi đã hiểu và càng tin mãnh liệt thêm về cái “bùa Miên” của Minh mà tôi đang đeo trên ngực…!

Hai Biệt Đội 81Biệt Cách Dù (BĐ81BCD) thay thế TS2ND. Chúng tôi lui ra phía sau giữ “Bến Đò Đưa Xác” ở sông Nhung (sông Vĩnh Điện) trong khi quân số còn không quá 40 nhân mạng… ! Bây giờ đến phiên TS2ND khiêng poncho, cõng thương binh của TĐ5ND và 81BCD để chất lên Thiết Vận Xa M113 cách đó gần 500 mét… cho đến gần hai tuần lễ sau mới có lệnh TQLC thay thế toàn bộ lực ND và 81BCD…! Chúng tôi TS2ND được triệt thoái về phía Nam sông Bồ chờ bổ sung quân số và tiếp liệu…!!! Tôi nhận được công điện của Trung Úy Tài Chỉ huy hậu cứ báo: “Ngày mai tôi sẽ có mặt hành quân. Có vài điều cần trình với đích thân. Tài”. Sau đó Tài theo chuyến bay tiếp tế ra chỗ hành quân gặp tôi và trình báo:

– Anh-Em mình đã trúng lô độc đắc một triệu đồng đúng con số ở bia mả thằng Minh…!!!

Tài vừa trình bày chi tiết vừa mếu máo, nào là phải mất bao nhiêu ngày lùng sục khắp các chợ Biên Hòa, Thủ Đức, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định…để mua cho bằng được vé số đúng sáu con số ghi trên bia mộ của Minh như em đã báo mộng cho tôi….và:”… phải mua liên tiếp cả lô cho tới tuần lễ thứ ba, mới nghe radio phát thanh số trúng độc đắc 1000 000$ … xong chạy lòng vòng sân trại như người điên hét lên mình trúng số rồi, chúng mình trúng số độc đắc rồi ha …ha…ha…”!!!

Tôi rót một ly Remy Martell cho Tài.

– Uống đi Tài… để rồi mình tính chuyện sau…!!!

Tôi suy nghĩ phải làm gì đây với số tiền một triệu đồng trúng số…? Con số chính xác theo “lời nói” của Minh đã báo mộng. Số trúng độc đắc một triệu đồng năm 1972 ngay trong Mùa Hè Đỏ Lửa, hay số phận của Minh cùng sự hẩm hiu của bà mẹ già với đứa em gái tuổi còn thơ dại…?! Tôi quyết định ngay:

– Ngày mai trở về hậu cứ, anh Tài tìm đến nhà Mẹ của Minh và cứ giao hết số tiền này cho bà cụ…với lời nhắn của tôi là xây mộ phần cho Minh khang trang…!

Tài làm y như lời tôi yêu cầu. Mẹ và em gái của Minh rất xúc động…! Nhưng bà cụ không nhận tất cả số tiền mặt mà chỉ xin cho một trăm ngàn (100 000$) để sang lại một cái sập nhỏ ở chợ Trương Minh Giảng để bán bún suông sinh sống, số còn lại 900 000$ xin giúp cho những gia đình tử sĩ cùng tử trận với Minh ngày hôm đó ở đồi Delta-Kontum… Nài nỉ cách nào Bà cũng không nhận…! Cuối cùng tôi phải xin nghỉ phép đặc biệt vài ngày để bay về Sài Gòn gặp Bà thuyết phục thì Bà mới nhận 500 000$ để lo phần mộ cho Minh và chi phí cho Nguyệt là em gái của Minh ăn học khi mới vừa tuổi trăng tròn…!!! Còn lại 500 000$, tôi chia ra để chi giúp cho các quả phụ: Thiếu Úy Thới, Thiếu Úy Mỗi, Thiếu Úy Oanh mỗi người năm chục ngàn và chia đều cho 23 gia đình quả phụ khác…!!!

Con người từ đâu tới và khi chết sẽ đi về đâu…???

Tôi vốn xuất thân “Võ Biền”, văn dốt chữ nát… thì làm sao để có thể biện luận, giải thích, trình bày từ u mặc cho chí lý hiển lộ được hiện tượng, trạng thái, tính chất chân đế, qui ước chế định là chỉ Danh để vay mượn tạm mà làm phương tiện hạn hẹp trong lắm lời ngôn từ vốn thường tối nghĩa để lý sự chỉ bày nhiều trường hợp rất giản dị và thường tình mà hạng “thuật sĩ”, triết gia thời đại, …thường hay lẻo mép dạy đời…và lại nữa “thì làm sao” “thuyết minh” câu chuyện mộng mị của cố Thượng Sĩ Minh, người Hạ Sĩ Quan Truyền Tin bên cạnh tôi như hình với bóng trong suốt một khoảng thời gian dài chinh chiến dạn dầy gian khổ, hiểm nguy… có dư thừa bi thương máu lửa và nước mắt mà được ít ngắn ngủi niềm vui …! Hôm nay đây ở Mỹ, vào những ngày đầu Nguyên Đán khí trời ấm ám, gió sớm thoáng thổi nhè nhẹ mang theo tiết Xuân hây hây vờn những sợi tóc mây phơn phớt trên má cô gái Xuân thì e ấp nói cười, trong nhà, ngoài ngõ sắc Xuân tươi thắm mơn mỡn hiện nét trên những cành chồi non, hoa Xuân nở rộ khoe sắc,…Chuyện chinh chiến máu lửa không còn nữa, nước mắt đã khô cạn, nhưng trong tôi vẫn có linh cảm Minh vẫn còn “hiện hữu” bên cạnh tôi với những thăng trầm trong cuộc sống hoài cố hương nơi xứ lạ, em luôn phù hộ nâng tôi đứng dậy khi tôi ngã quỵ, an ủi tôi khi rơi vào nghịch cảnh…và có đôi khi thu thúc lục căn, thân tâm khinh an lạc bước dạo chơi vào thế giới quan “Âm cảnh” lý sự mang mang với Minh nơi cõi “Vô Sắc Giới” hà phương chi liễu ngộ vốn vô minh mà sinh chấp hữu vạn pháp giới …chí đến:

Thuỷ chung tương hoán hà phi xứ
Lai khứ thường niên hà thị tâm
Vạn hoá đại toàn ai khá biết !
Cổ lai muôn sự lý tuỳ trung…

“Cái” tuỳ trung, hiểu biết như ở trong lòng bàn tay là ở những “Bậc Thần Nhân” Đại Trí, Đại Lược, Đại Dũng,…phải chăng cũng là “ đại gạt, đại gian hùng, đại ác độc” …đã thiết kế Chính Trị,… và dùng cường quyền đưa đẩy Dân Tộc – Đất Nước Việt Nam vào chiến sự khốc liệt suốt cả phần tư thế kỷ, rồi tháo chạy an toàn về hậu phương “phớt tỉnh Ăng Lê” (England) mồm loa mép giải với “danh ngôn” để lại lịch sử mai hậu soi chơi:” …trang sử Việtnam đã được lật (lọng) qua…”…!!! Thống kê của “Người Mỹ” đã đưa lên con số 3,000 000 (ba triệu) người Việt đã bị giết trong cuộc chiến, thống kê của Nhà Nước Việt Nam (VC) hơn 1,100 000 (một triệu một trăm ngàn) quân dân Bắc Việt hy sinh và còn nữa (Quí Độc Giả có thể lên Net để xem thống kê) …! Con số thật nạn nhân Việt bị bom đạn được sản xuất tận các quốc gia Văn Minh Âu, Mỹ, Liên Xô, Tàu Cộng ,…phải nhiều lần hơn thế ! Thế giới đã đồng loã với tội ác với Việt Cộng. Vì nếu nói thật, viết thật, công bố thật số nạn nhân Việt Nam trong cuộc chiến Quốc – Cộng chẳng khác nào như gián tiếp tố cáo “Tính Nhân Đạo,Trí Thức, Lương Tâm” …của “người” văn minh Tây Phương trước sự diệt chủng của Việt Cộng dẫu sao cũng đã mang đến lợi nhuận cho “họ” rất nhiều…Người Lính Nhẩy Dù chúng tôi và toàn thể dân Việt đã phải nhận chịu bao nhiêu triệu tấn bom đạn đã trút xuống ruộng vườn, nương rẩy, nhà cửa, mồ mả gia tiên, súng đạn từ Nga,Tàu, Khối Sô Viết và những “quốc gia anh em Cộng Sản” cũng chỉ để tàn sát dân Việt. Người Việt chúng tôi là Người đó! Minh là một điển hình: “Người Lính chết trận khi mái tóc còn xanh” và:

Một ngày tôi đi qua
Trại lính ngang nhà
Thấy một lá cờ
Với một vòng hoa.
Hỏi ra:
Mới biết anh là
Lính trẻ xa nhà
Chết trận đêm qua!
Chung quanh đây
Có ai đâu…?
Đưa tiễn anh về
Buồn tiễn anh về
Với lòng đất sâu…!

Đêm Xuân nơi xứ người, trời khuya lành lạnh…! Chạnh nỗi nhớ quê nhà, tôi thắp lên nén hương thầm tâm sự lênh đênh với “chúng sanh” Minh:

Ai từ sắc tướng tìm ta?
Ai từ âm tiếng gọi ma cõi ngoài?

Tâm tư của tôi như chuyến tàu đêm đỗ bến quê nhà, viếng mộ em nay còn hay đã hoang phế tiêu điều mà rợ hoang đã mọc phủ kín chỗ nằm…? Minh ơi! Anh không có tham vọng là ảo tưởng để “ăn cơm dưới đất mà nói chuyện trên trời” lấy “cái” trí tục vật hạn hẹp để bàn chuyện bao la vô cùng của vô thuỷ, vô chung không không du du hạt vi trần du phương trôi lăn hà tứ xứ…chỉ là khúc nôi của trí não chưa bị lú lẫn còn nhận biết: “phân biệt là Thức, vô phân biệt là Trí; dựa Thức là Nhiễm, dựa vào Trí là Tịnh. Nhiễm tất có Sinh Tử; Tịnh chẳng có Chư Phật” bước “chân” vào thế giới Chân Đế nầy Anh phải cởi bỏ kiến thức cũng như giầy dép để qua ngưỡng cửa thế gian pháp, tháo mở nút thắt thói tục đã huân tập, tiêm nhiễm biết bao định kiến, thành kiến, thường kiến, đoạn kiến …là si mê bao bọc, đóng chặt nẽo về giác ngộ…! Minh ơi! …Không gian bao la vô cùng và hằng chuyển…trái đất “của” chúng ta đang sinh sống đây “thuở trời đất chưa có cơn gió bụi” nó như là một tinh cầu than (carbon) chết bay hoài, bay huỷ…nhiều tỷ tỷ tỷ năm …và những “hạt” vi trần năng lượng làm Nhân theo trùng trùng Duyên khởi mà cấu tạo thành môi sinh để nẩy nở vật chất là vạn pháp tiến hoá…khởi thuỷ hành tinh có sự sống nầy không có ngay cả ý niệm thời gian thì nói gì đến có ngày:” thứ Hai, thứ Ba, thứ Tư, thứ Nam, thứ Sáu, thứ Bẩy và Chủ Nhật”…?!!! Sắc Pháp: thân thể Vật Lý hay Vật Chất luôn biến đổi theo tính chất vô thường… là duyên “vay mượn” của hạt năng lượng trong không gian có sẵn mà cấu thành…? Danh Pháp: là “phần” Tâm Lý” 121 Tâm Vương, Tâm Sở cũng là Duyên vay mượn từ 33 cõi: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, Siêu Thế Giới… làm: Thọ, Tưởng, Hành, Thức và là “nơi” chúng sanh “Người” thọ hưởng tướng trạng hạnh phúc hay đau khổ…?!!! Đó cũng là ý nghĩa của bản Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh – Prajna-Paramita Sutra: “Ngài Bồ Tát dụng tuệ giác không có gì ngăn ngại quán xét thâm sâu hiện tại, soi thấy ngũ uẩn: Sắc (hình thể vật lý), Danh (tâm lý): Thọ cảm giác chủ thể chịu ảnh hưởng bởi đối tượng, Tưởng tác ý đến đối tượng, Hành hiện tượng tâm lý hay cảm xúc phát khởi theo sự kích động của thọ và tưởng, Thức sự hiểu biết …đều không có tự tánh (vô ngã)…nên rốt ráo là giai không…! Vậy thì Minh ơi, sau khi tử cận tâm chấm dứt thân thể vật chất của em chỉ còn là cái xác vô tri, vô giác đang theo tiến trình huỷ hoại vật lý…Tâm thức của em ngay lập tức tái sanh theo nghiệp mới, sanh trở lại trong kiếp sống kế tiếp, không là người, mà là một “chúng sanh” Ma trong cõi vô sắc giới còn giữ được nguyên thức giác, tính năng ở tàng thức thứ 8 Alayda…mà như như quán tính khi còn tại thế Minh vẫn miệt mài gian khổ, vui buồn kinh qua đoạn đường chiến chinh…? Hay em cũng như bao “chúng sanh” hữu tình ở cõi sắc giới, vô sắc giới do vô minh u… u… mê… mê lầm tưởng là đời sống ở những cõi như thế là hạnh phúc vĩnh viễn và tâm tham được sống, tham ái phát sinh mà thành nhân thức tái sanh kiếp người tương lai khi có hội đủ phước báu và nhân duyên…? Thời Kinh khuya tụng:” Sappe Satta Avera Hontu Sukita Hontu …nguyện cho chúng sinh đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được sự an vui, sự hạnh phúc, sự bình yên lâu dài…Anh phúc chúc và hồi hướng cho em Nguyễn Văn Minh được an lạc, hạnh phúc, tái sanh nhàn cảnh…!” Nhưng em khẳng định: “Em không muốn tái sinh khi bọn Việt cộng còn đang ngự trị trên dân tộc, đất nước Việt Nam!” Khiến cho anh đã bao lần cũng mong ước sẽ được về lại quê nhà, thăm bao người thân, quyến thuộc, viếng mộ Ông Bà, Cha Mẹ và tìm lại mộ phần của em…Nay “đành” phải dứt khoát thái độ sẽ không về Việt Nam khi còn loài Việt cộng kẻ thừa sai của Hán thất trên đất nước Việt thân yêu.

Khi còn sống Minh hiền lành, khôn ngoan…sau khi chết em linh hiển “Hồn” vẫn còn tình Huynh Đệ Chi Binh quyến luyến, thường theo bên đời phù độ giúp cho anh may mắn thoát khỏi bao hiểm nguy giăng mắc trên đoạn đường chiến binh …Tự thân anh biết cũng là quá đủ để thầm truy điệu tử sĩ và cám ơn em với tất cả tấm lòng trĩu nặng ân tình:

Nếu cuộc đời là hữu phùng hữu biệt
Thì tôi như mậy trắng mãi ngàn phương
Nếu cuộc đời là sầu đa lạc thiểu
Sao chân cầu còn lưu nước trường giang?
Ai đã qua sông còn ngoảnh vời cố quận
Thiên lãng xa ải nhạn hướng đâu tìm…?
(MĐTTA)

Viết xong Mùa Xuân Ất Mùi 2015 Houston, Texas.
Mũ Đỏ Trương Văn Út 
(ÚtBạchLan)

Ba mươi tháng tư năm xưa, bác ở đâu?

dongsongcu.wordpress.com

Tiểu Quyên

Posted on March 18, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Thưa bác, ngày ba mươi tháng Tư năm 75 cháu đi nhận xác chồng ở nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa.

Ba mươi tháng tư năm xưa, bác ở đâu?

Thưa bác, ngày ba mươi tháng Tư năm 75 cháu đi nhận xác chồng ở nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa.

Thưa bác,

Nhiều năm qua bác nhắc đi nhắc lại về chuyện Ba Mươi tháng Tư. Bác nói rằng mỗi người đều có một ngày Ba Mươi tháng Tư cho riêng mình. Bác vẫn hỏi một câu. Lúc ấy quý vị đang ở đâu? Thưa bác, ngày ba mươi tháng Tư năm 75 cháu đi nhận xác chồng ở nghĩa trang quân đội Biên Hòa.

Xin kể đầu đuôi như sau:

Người yêu của cháu, chồng sắp cưới của cháu là Nguyễn Đông Thành, trung úy biệt động quân, đơn vị đóng tại Chân Thành vào thời kỳ 1975. Từ lúc ra trường Thủ Đức, anh làm trung đội trưởng tác chiến cho đến khi lên đến trung úy đại đội trưởng đã bị thương 4 lần. Một lần bị thương nặng phải nằm nhà thương hai tháng. Còn các lần khác chỉ bị thương nhẹ. Cháu gặp anh trong một lần nữ sinh đi ủy lạo chiến sĩ tại tổng y viện cộng hòa rồi quen nhau. Sau đó chúng cháu đôi khi lại còn cầu cho bị thương nhẹ để có dịp gặp nhau ở Sài Gòn. Một lần anh chỉ bị trẹo chân vì nhảy trực thăng mà được nghỉ đến gần một tháng. Đó là lần bị thương hạnh phúc nhất của chúng cháu. Gia đình hai bên đã có dịp gặp nhau sau khi về thưa với cha mẹ. Đầu năm 75 đã làm đám hỏi. Chờ đến đầu tháng 5-1975 là làm đám cưới. Cháu có ông cậu làm trung tá ở Sài Gòn quen biết nhiều nên hy vọng sẽ giúp cho anh Đông Thành đổi về đơn vị hậu cứ hay về bộ quốc phòng. Tết 75, hai đứa chúng cháu đến mừng tuổi cậu và xin cậu chạy giúp. Chạy đây là nói hộ chứ không phải tiền bạc gì hết. Cậu cháu coi tướng anh Thành và rất hài lòng để mừng cho cháu gái. Cậu khen vị hôn phu của cháu tuy còn trẻ nhưng rất đẹp trai và tướng mạo đàng hoàng. Anh 22 tuổi, còn cháu 19 tuổi vào năm 1975. Cháu cũng khá cao mà anh Thành còn cao hơn cháu cả đầu người. Anh chơi thể thao cả xà ngang và xà dọc nên người rất tài tử. Bạn học trường Gia Long đứa nào cũng thích trung úy Đông Thành của cháu.

Tuy nhiên, khi hỏi chuyện về đơn vị của Thành thì ông cậu của cháu hơi ngần ngại. Cậu nói rằng năm trước có xin cho con một anh bạn đóng đồn được đổi về tỉnh. Chỉ một tuần sau anh thiếu úy lên thay thế bị hy sinh. Bà mẹ anh này đi thưa giám sát viện về tội ăn tiền đổi người để đưa con bà vào chỗ chết. Vì vậy cậu cháu nói để chờ một thời gian, đơn vị rút từ Chân Thành về hậu cứ rồi sẽ xin đổi sau.

Người yêu của cháu cũng rất tự ái nên không hề nói gì thêm, cứ bấm tay cháu gạt đi không muốn đề cập đến việc xin thuyên chuyển nữa. Từ biệt ông cậu xong, hai đứa ra về. Cháu giận anh ấy hết sức, nhiều lúc chỉ muốn cho ra trận chết đi cho rồi.

Đàn ông mới hơn hai mươi tuổi mà đã muốn làm anh hùng. Gia đình anh ấy con một, xin hoãn dịch cũng còn được chứ ai lại đi biệt động quân. Quanh năm hành quân, đôi khi ở đơn vị còn có lệnh phải cạo trọc đầu cho thêm dữ dội. Nhưng nói gì thì nói, anh Đông Thành dù để tóc dài hay tóc ngắn thì trông vẫn đẹp như tài tử Pháp Alain Delon.

Cháu rất hãnh diện đi với anh ở đường Nguyễn Huệ. Nhưng hai đứa không có dịp đi chơi với nhau nhiều lần.

Qua tháng 3-1975, có tin địch uy hiếp Chân Thành, gia đình hai bên và riêng cháu lo lắng ngày đêm. Rồi tin từ bộ chỉ huy là đơn vị biệt động quân ở Chân Thành có lệnh rút. Quân đội cho lệnh bỏ Chân Thành. Chưa bao giờ cháu lại vui mừng khi được tin quân ta rút như vậy. Là một học sinh chưa được 20 tuổi, cháu chỉ mong người yêu sớm trở về bình yên.

Quân đội muốn bỏ đâu thì bỏ. Muốn rút đâu thì rút.

Nhưng đau khổ chưa, đúng như cháu đã lo ngày lo đêm. Đơn vị cho người đưa tin về nhà để đi nhận xác Đông Thành vào ngày 25 tháng 4-1975. Người lính ở đơn vị nói rằng anh ấy đã chiến đấu anh dũng ra sao, hy sinh như thế nào. Chẳng còn lòng dạ nào mà nghe chuyện.

Sao bao nhiêu người còn sống ở Sài Gòn không ra mà anh dũng hy sinh. Trời đất công bình ở chỗ nào. Đi lính có ba năm mà bị thương đến 4 lần, rồi mới chết. Đông Thành của cháu hiền lành như thế, có làm hại ai đâu mà phải chết oan uổng như vậy. Sau khi được tin cháu cứ như điên dại rồi đi theo gia đình lên nghĩa trang quân đội nhận xác người yêu. Dù chưa cưới nhưng cháu đã khai là chồng. Mấy ông đòi hôn thú vì tưởng cháu muốn xin tiền chồng chết. Xin tiền tử tuất với 12 tháng lương. Cháu quyết liệt nhận xác chồng dù chẳng có hôn thú.

Đất nước có còn đâu mà lãnh tiền.

Anh Đông Thành nằm như ngủ. Đạn vào ngực, vào tim, vào bụng nhưng mặt anh vẫn nguyên lành. Anh nằm đó vẫn đẹp như thiên thần. Anh về bằng trực thăng trên băng ca đúng như trong bài hát, đúng như trong tiểu thuyết. Bên cạnh xác anh có nhiều đồng bạn cũng chết nhưng vì để lâu nên bốc mùi hôi thối.

Nhiều gia đình cũng đến nhận xác. Đàn bà trẻ con khóc la ầm ỹ.

Cháu cũng hòa theo tiếng khóc nức nở. Gia đình chôn xác anh ngày 27 tháng 4-1975, buổi chiều thì ra về nhưng cháu ở lại. Cháu trốn vào khu Nghĩa dũng đài nhưng người nhà lại tưởng bạn cháu chở về Sài Gòn. Suốt những ngày cuối tháng 4 đau khổ cháu tha hồ khóc.

Trên nghĩa trang toàn là gia đình tử sĩ nên cũng không ai chú ý. Có gia đình đem theo Radio nên mở ra nghe tin tức chiến sự. Rồi dân di tản ở bốn phương trời kéo nhau về tạm trú. Họ dựng lều ngay bên cạnh các phần mộ.

Khu lính chết đã lâu thì có mộ bia và tấm Ciment bên trên. Khu mới chết thì chỉ đắp đất.

Có cả trăm cả ngàn ngôi mộ. Những ngày đầu thì có nhiều xác chở về bằng trực thăng. Về sau xác chở về toàn bằng xe nhà binh. Sau cùng thì đủ các thứ xe chở xác về đơn vị chung sự.

Nơi để xác có máy lạnh nhưng không có điện nên trở mùi hôi thối. Nhiều xác chở đến để ngay dưới đất, trời nắng bốc mùi làm cho các gia đình ở gần phải dở lều di chuyển đi nơi khác.

Ông sĩ quan trách nhiệm chôn cất nóng nẩy gắt gỏng và anh em chôn cất làm việc rất vất vả. Ai cũng có mùi rượu và dầu Nhị Thiên Đường đầy người.

Đến ngày 30 tháng 4, khi có lệnh đầu hàng thì không còn ai trách nhiệm. Lúc đó đã xuất hiện người của cộng sản ra gom dân gom lính chạy loạn bắt phải đào hố chôn tập thể.

Một anh công binh của ta lấy xe đào các hố thật lớn, rồi đưa tất cả các xác lính Việt Nam Cộng Hòa chôn tập thể. Có gia đình cố giành lại xác người thân tự đào lỗ chôn riêng.

Cháu thấy một gia đình chỉ có người vợ trẻ với mấy đứa con tám chín tuổi ạch đụi bới đất chôn chồng. Cháu tìm cuốc đến giúp một tay và thấy mình đã bớt điên. Thấy cảnh hai đứa nhỏ cùng mẹ móc đất chôn bố, cháu thấy cuộc chiến tranh vô nghĩa biết chừng nào. Và sự đau khổ của mình cũng chẳng phải là duy nhất. Đứa con gái chừng 10 tuổi và đứa em trai 6 tuổi vừa khóc vừa móc đất giúp mẹ. Cháu sẽ không bao giờ quên được hình ảnh này. Sau đó qua ngày 2 tháng 5-1975, cháu quá giang xe của người ta về lại Sài Gòn. Năm 1980, cháu lập gia đình với một anh Thủ Đức còn trẻ có 2 năm cải tạo. Chúng cháu vượt biên rồi vào Mỹ. Chồng cháu rất hiểu biết nên tôn trọng mối tình đầu của cháu với Đông Thành.

Từ mùa Xuân 1993, chúng cháu cứ vài năm lại về Sài Gòn và lần nào cũng lên nghĩa trang Biên Hòa .

Cháu có theo dõi chương trình tảo mộ chui của các bác. Lần nào cũng khấn vái cho anh Đông Thành phù hộ công việc của hội. Cháu có thuê người làm cho anh Thành tấm Ciment đúng kích thước như các ngôi mộ khác chứ không muốn xây cho thật lớn. Anh Thành đã muốn được chết như các chiến hữu thì phải để anh nằm giống như các bạn của anh.

Cháu vừa thương mà vừa giận anh biết chừng nào. Người yêu của cháu là mối tình đầu, anh chính là hình ảnh của chiến tranh Việt Nam. Cháu vừa ghét lại vừa thương. Đã 30 năm qua rồi mà tình cảm vẫn không thay đổi.

Bác đã hỏi rằng, ngày Ba Mươi tháng Tư cháu ở đâu? Vâng, 30 tháng 4-1975, cháu đi chôn chồng ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Vậy thì phần bác Ba Mươi tháng Tư, bác ở đâu?

Tiểu Quyên,

Viết tặng các con của mẹ.

—

Muon nhan duoc sach tang xin gui dia chi ve Email nay

Giao Chi San Jose. giaochi12@gmail.com (408) 316 8393

From an article 20 years ago, Giao Chỉ, San Jose

Dear Sir, on April 30, 1975, I went to collect the body of my husband at the military cemetery in Bien Hoa.

Sir, for many years, you have repeatedly mentioned April 30th. You said that everyone has their own April 30th. You always asked, “Where were you at that time?”

Sir, on April 30, 1975, I went to collect the body of my husband at the military cemetery in Bien Hoa. Let me tell you the full story:

My beloved, my soon-to-be husband, was Nguyen Dong Thanh, a captain in the Special Forces. His unit was stationed in Chan Thanh in 1975. After graduating from Thu Duc, he served as a platoon leader and later became a company commander. He was wounded four times. One time, he was seriously wounded and had to stay in the hospital for two months. The other times, his injuries were lighter. I met him when I was a student, visiting soldiers at the Republic of Vietnam Armed Forces General Hospital. We became close, and after that, we sometimes even wished for him to be slightly injured so we could meet in Saigon. One time, he sprained his ankle while jumping from a helicopter, which allowed him to rest for nearly a month. That was the happiest “injury” for us.

Our families met after we informed our parents. Early in 1975, we got engaged, and we were planning to marry in early May 1975. My uncle, a lieutenant colonel in Saigon, knew many people, so we hoped he could help my fiancé, Dong Thanh, transfer to a different unit or to the Ministry of Defense. During Tết 1975, we visited my uncle to ask him for help. He took a look at Dong Thanh and praised him, saying that although he was young, he was handsome and had an honorable appearance. Dong Thanh was 22 years old, and I was 19 in 1975. I was fairly tall, but Dong Thanh was even taller than me. He was athletic, participating in both horizontal bars and parallel bars, so he looked very fit. All my friends from Gia Long School liked my fiancé.

However, when we asked about his unit, my uncle seemed hesitant. He said that the previous year, he had requested to transfer a friend from a garrison unit to the province, but that soldier was killed after a week, and his mother had gone to the hospital to report corruption. Therefore, my uncle said we should wait for a while, as the unit would eventually be pulled back to the rear, and the transfer could happen later.

Dong Thanh was very proud, so he didn’t bring up the transfer issue again. After we left my uncle’s house, I was very upset with him and often wished he would go to battle and die. A man who was just over 20 years old, and yet already wanted to be a hero. His family only had one son, and he could have postponed his service, but he chose to join the Special Forces, always on the move, sometimes with orders to shave his head for added intimidation. Yet, no matter what, Dong Thanh, whether with long or short hair, always looked like a handsome French actor, Alain Delon.

I was very proud to walk with him on Nguyen Hue street, but we didn’t have many chances to go out together. In March 1975, news spread that the enemy was threatening Chan Thanh, and both our families, as well as I, were worried day and night. Then came the news from headquarters that the Special Forces in Chan Thanh had received orders to withdraw. The army was pulling back. I had never been so happy to hear that our forces were retreating. As a student under 20, I just wanted my fiancé to come back safely. I didn’t care where the army retreated to. But then came the painful news, just as I had feared. The unit sent someone to inform my family to come collect Dong Thanh’s body on April 25, 1975. The soldier from his unit spoke about how valiantly Dong Thanh had fought and how he died, but I couldn’t listen to that. How could so many others still be alive in Saigon, but he died heroically?

Dong Thanh was so kind, and he never harmed anyone. Why did he have to die in vain? When I heard the news, I went mad and followed my family to the military cemetery to collect his body. Even though we weren’t married yet, I declared him my husband. The officials tried to question our marriage, thinking I wanted to claim his death benefits, but I was determined to take his body, regardless of whether there was a marriage certificate. What was there left to claim from a country that no longer existed?

Dong Thanh lay there, looking as though he was sleeping. A bullet had pierced his chest, heart, and abdomen, but his face remained intact. He looked as beautiful as an angel. He was brought back by helicopter on a stretcher, just like in the song, just like in the novels. Beside him were many fallen comrades, but they had been there too long, and the stench was unbearable. Many families came to collect their loved ones’ bodies, with women and children crying loudly. I joined in their cries. We buried him on April 27, 1975, and then my family left, but I stayed behind. I hid in the Heroes’ Memorial area, while my family thought I was going back to Saigon with friends.

During the last days of April, I wept freely at the cemetery, where all the families of the fallen soldiers were. No one paid attention to me. Some families brought radios to listen to news of the ongoing battle. Refugees from all over the country arrived, setting up tents next to the graves. There were hundreds, even thousands of graves. In the beginning, many bodies were brought by helicopter, but later, they came by military trucks. Eventually, all sorts of vehicles brought the bodies for burial. The cold storage facility was supposed to preserve the bodies, but without electricity, the stench was overwhelming. Many bodies were left on the ground under the sun, emitting foul odors that forced nearby families to move their tents further away.

By April 30th, with the order to surrender, no one was in charge anymore. Communist soldiers began to gather people and soldiers who were fleeing, forcing them to dig mass graves. An engineer from our side used a bulldozer to dig large holes, and all the bodies of the South Vietnamese soldiers were buried together. Some families tried to retrieve their loved ones’ bodies, digging their own individual graves. I saw one family, a young wife with a few children about 8 or 9 years old, digging to bury her husband. I grabbed a hoe and helped, and in that moment, I felt less crazy. Seeing those two children, with tears in their eyes, helping their mother dig their father’s grave, I realized how pointless the war was. And that my own suffering was not unique. I will never forget that scene.

After that, on May 2, 1975, I hitched a ride back to Saigon. In 1980, I married a man from Thu Duc, who had spent two years in reeducation camps. We fled the country and went to the United States. My second husband understood my first love, Dong Thanh, and respected my memories of him. Since 1993, every few years, we visit Saigon, and we always go to the Bien Hoa cemetery. I follow the program for visiting graves. Each time, I pray for Dong Thanh to bless the work of the association. I hired someone to make a gravestone for him, the same size as the others, because I didn’t want to build a large one. Dong Thanh had wanted to die like his comrades, so I made sure his grave resembled theirs.

I both love and resent him. My first love, Dong Thanh, is the embodiment of the Vietnam War. I both hate and love him. It’s been 30 years, yet my feelings haven’t changed.

You asked, where was I on April 30th? Yes, on April 30, 1975, I went to bury my husband at the Bien Hoa Military Cemetery.

So, where were you, Sir, on April 30th?

Tieu Quyen,

Gậy thần, sách ước…

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Ngọn lửa vàng leo lét phật đi phật lại bởi những luồng gió luồn vách quán, dầu từ trong những hạt cây rừng bị đốt tỏa ra một mùi thơm thảo mộc kỳ lạ. Người chủ quán ngả lưng vào tường, nét mặt khô rắn, những đường nét bật rõ dưới ánh sáng phảng phất một vẻ gì vừa huyền bí, vừa thực, vừa giấu giếm, vừa biểu tỏ. Người khách chống khuỷu tay phải xuống khúc cây lớn, ngả người một chút ra sau, chiếc áo rộng để lộ ra một khoảng ngực trần khoẻ mạnh. Người chủ quán ngồi ngay trở lại, cúi người cầm bát rượu uống một hớp:

– Ba năm rồi hôm nay mới được uống một bữa rượu vẫn chờ đợi.

– Đạ tạ lão huynh.

– Đã ba năm rồi, mới đó mà tưởng như mới hôm qua đây.

– Đó là ngày lão huynh bỏ chốn phồn hoa, lánh cửa công quyền mà tới đây?

– Không, đệ bỏ mọi điều đã trên mười năm nay, từ ngày đoạn tang nghiêm phụ. Trước đó, những ngày lang bạt, mộng tưởng… thật không ra thế nào. Ba năm, hồi đệ đã ở đây… Bữa rượu cuối cùng với một người bạn thiết…

Người chủ quán ngừng lại, vẻ thẫn thờ, chừng như một quá khứ nào đó thức dậy, bát rượu đã cạn, người khách bưng chiếc bình sành lên giót đầy cho chủ rồi tự giót cho mình một bát nữa.

– Người bạn thiết của lão huynh trở về dưới Kinh?

– Không, sao tiên sinh lại nghĩ như vậy. Như tiên sinh biết, những ngả đường qua đây không phải chỉ dẫn tới Kinh, dẫn tới những thị trấn với đời sống nhung lụa dơ bẩn, ở đây cũng có những con đường vào núi, vào rừng, con đường dẫn tới phương Nam, đó là những con đường có sẵn. Vả lại sao tiên sinh không nghĩ tới cả những con đường khác; dẫn tới những nơi khác nữa, những con đường nào đâu phải tự nhiên có đó, ai ngăn cấm chúng ta len qua những cây cao, rừng lau sậy, đạp lên những núi đồi tạo thành những con đường mới… Phải chăng vậy tiên sinh?

– Ý lão huynh muốn nói người bạn kia đã chọn một con đường khác.

Người chủ quán khoát khoát tay, nhún vai, vẻ thất vọng.

– Không phải vậy, người bạn đệ đã chọn một con đường có sẵn. Anh ấy đi vào trong núi, không biết giờ sống chết ra sao, dù vậy đệ nghĩ anh ấy đã hài lòng, dù thế nào, cuộc sống vốn đã phù du…

Ngọn lửa vẫn bập bùng, tiếng gió xao động ngoài rừng cây thâm u của đêm trường, người chủ quán ngâm khe khẽ:

« Yên hà thử khứ vô tung tích

Tử ngã tương kỳ cửu viễn khan ».

Tiếng ngâm dật dờ thân thiết đầy tâm sự tiếng nói với một tri kỷ, tiếng nói không nhiều nhưng đủ nói bao nhiêu u uẩn, những tâm sự không cần diễn tả nhưng kẻ tri âm có thể nghe thấy, đó là thứ tiếng nói thiêng liêng kín đáo của tâm hồn. Cả hai trong giây phút như hai pho tượng đá phơi mình trên một ngọn núi cao trong buổi bình minh. Chợt người chủ quán với tay lấy ngọn đuốc cầm nơi tay soi vào vách quán.

– Đó là hai câu kết trong bài thơ của đệ đọc cho người bạn thiết nghe trước khi chia tay trong một bữa rượu như hôm nay, bạn tôi đã dịch âm ra chữ nôm và viết lên vách quán đây, để tôi đọc tiên sinh nghe, cũng là một tâm sự.

Người chủ quán xoay người vào vách, hắng giọng rồi đọc vừa đủ nghe, giọng trầm trầm đầy một hào khí:

Suối trong thác biếc uống quen mui

Danh lợi nhiêu khê chẳng bén mùi

Hang đá bên mây mình dễ tếch

Vòng trời dưới thế bước khôn lui

Tỉnh mơ, ác lặn, non trơ trẽn

Mỏi lắng canh khuya tuyết sập sùi

Mây khói phen này đi biệt tích

Còn nhiều gặp gỡ để chung vui 1

Người chủ quán để ngọn đuốc vào chỗ cũ ngồi lại, nhấp một hớp rượu, giọng hoài cảm xa xăm:

– Còn nhiều gặp gỡ để chung vui, đệ không tin rằng có một ngày được như thế… Cách đây ít lâu đệ nghe nói tới một người tiều phu lâu lâu trở xuống thị trấn, uống rượu và hát ở dưới đó, một hôm kia gặp mặt đám vua quan nhà Hồ tới săn bắn trong vùng núi Na, khiến cho họ để ý, vua nhà Hồ thấy hành tung của người tiều phu có vẻ gì đáng chú ý nên đã phái người theo và thuyết ra giúp nước, người đó một mực không nghe, ẩn minh trong núi vì vậy vua nhà Hồ liền sai phóng hỏa cả khu rừng nhưng tuyệt nhiên không thấy một dấu tích gì về kẻ vô danh kia. Người ta nói trong lúc quân lính bao vây khu rừng chờ đợi, mọi người chỉ nhìn thấy một con chim hạc đen, cánh lớn bay lên không trung với tiếng kêu thảm thiết… Sau đó tại đây và trong cả vùng, mưa gió liên tiếp trong suốt ba tháng trời, sông ngòi ngập lụt, khi mưa bão dứt thì cây cỏ trong khu rừng của núi Na xanh tốt trở lại, tưởng như không có một biến chuyển nào… Một con chim hạc đen đã bay lên không trung, đệ nghĩ tới cánh chim đó mà không đậu được lòng, phải chăng đó là người bạn thiết… Anh ấy đã không dứt khoát, người ta chỉ có thể chọn một đường, không biết tiên sinh có nghĩ tới điều đó không, một con đường cô quạnh kiêu hãnh gạt bỏ mọi điều, một con đường chật chội những đua chen, đệ đã chọn con đường cô quạnh này còn tiên sinh…

Người khách ngồi im không nói, những bát rượu đầy nhấp mãi trên môi, không khi như khô lại trong khoảnh khắc. Con đường cô quạnh. Con đường chật chội đua chen. Thái độ. Sống và những trách nhiệm ràng buộc. Sống và lý tưởng. Sống và thực tại. Con đường chật chội…

– Lão huynh đã chọn con đường cô quạnh, nhưng sao lão huynh không cùng theo với người bạn thiết.

– Đệ không theo nhưng không phải đệ chống lại con đường ấy, ý đệ muốn: người bạn phải chọn con đường khác, vì anh ấy còn trẻ, anh ấy hơn đệ, đệ muốn sống khác nhưng tự biết không đủ sức để chọn, bởi vậy đệ muốn kẻ khác chọn như mình nghĩ tham quá, khôn quá phải không, nào đâu phải chỉ đơn giản như vậy. Chắc tiên sinh hiểu đệ… Với quán nhỏ bên đường này, đệ nhìn thấy biết bao điều, nghe thấy bao nhiêu chuyện, nhìn thấy bao nhiêu người… Những lựa chọn, những hành động, nếu đệ còn trẻ, nếu đệ…

Người chủ quán bỗng cười lớn, vẻ gì chua chát đau lòng. Chợt người chủ quán nghiêm mặt, giọng nhẹ nhàng trầm hẳn xuống:

– Chắc tiên sinh ở Kinh tới đây.

– Vâng, đệ có ghé qua đó, đệ nay đây mai đó…

– Chuyện ở Kinh bây giờ ra sao?

– Hóa ra lão huynh vẫn còn nhiều phiền lụy với đời sống, nhưng mà lão huynh cũng chẳng nên bận tâm làm gì. Từ bấy đến nay bao nhiêu là đổi thay, lão huynh rời khỏi nơi ấy đã lâu, hồi ấy chốn kinh thành có lẽ cũng chưa đến đỗi nào dù đã vào cuối thời của một triều đại. Còn đâu những bậc cái thế anh hùng của những chiến công hiển hách, những gương sáng chói lòa chiếu xuống đời sống quốc dân… Bánh xe của lịch sử làm sao mà chống lại được. Rồi xảy ra cuộc hưng phế, nhà Trần đã bị những kẻ tôi tớ thoán đoạt, triều đình chia năm xẻ bảy, những chia năm xẻ bảy ấy chẳng phải vì chính sách, đại cuộc, mà chỉ là những chia xẻ vì quyền lợi bổng lộc, tranh giành nhau miếng đỉnh chung, quyền hành nhỏ mọn, kỷ cương trong thiên hạ không còn giường mối chính truyền, tệ nạn mỗi lúc một gia tăng, kẻ ở ngôi thiên tử không có đức độ, kẻ sĩ thì nhu nhược, hèn nhát, bất chính… Trong cơ sự rồi đây chỉ đưa ta đến một đời sống đen tối… Bao nhiêu công lao gìn giữ, xây dựng, chống được giặc ngoài, yên được cõi trong e cũng không còn… Có kẻ đã lên đường đưa giặc vào nhà, nhận vai tôi tớ, tình cảnh khiến cho đệ không ngồi yên được…

Người khách thở dài nhấp một chút rượu nữa. Người chủ quán nói:

– Người bạn đệ bỏ kinh đô, rời khỏi quyền lợi danh vọng mà vào núi khi gặp đệ cũng nói: vận nước đã đến hồi suy. Đệ đã không chịu như vậy, đệ đã nghĩ tới ngày nay từ mười năm trước. Đệ đã nói với những người chung quanh: mình phải làm gì chứ, phải sửa soạn gì chứ… Lúc ấy không ai nghe, mỗi người những mưu toan riêng rẽ, phải chờ khi nước tới chân mới nhảy thì làm sao… Không ngồi yên được, phải, đệ cũng nghĩ như thế… Nhưng..

Người chủ quán ngừng lại, nhìn thẳng vào mắt người đối diện, trong giây phút ngắn ngủi người chủ quán như nghe thấy một tiếng nói nào. Hai người nhìn nhau không động. Lúc sau người chủ quán mới nói:

– Nhưng… Đệ còn nhớ như in đây, cũng tại chính nơi này đệ đã gặp một người đi từ núi xuống, người đó chừng như đã lên núi từ lâu nhưng nay tìm đường trở xuống, rời khỏi hang động trở lại với đời sống, người đó cũng ngang qua đây, trong câu chuyện đệ hiểu rằng người đó trở xuống với những mong ước thiết tha. Đệ hỏi: với tệ trang hiện nay, với cảnh thoán đoạt, với một xã hội phân tán tan rã mình có thể làm được gì mà vẫn giữ được hai bàn tay không bẩn. Người đó im không nói, nhưng anh ta cũng không tìm đường trở lại. Anh ta chỉ nói với đệ một cách dứt khoát, ngay thẳng, cương quyết: nếu không như vậy thì cần gì tới mình. Xưa kia thanh bình thịnh trị tôi lo tu luyện, tôi nghĩ tới lúc phải cần đến, nếu không tu luyện làm gì, bỏ đời sống, sợ tay mình dơ, đó chỉ là sự hèn nhát, đó chỉ là những thoái thác không đáng được nói đến. Phải tạo lại, phải làm ra một thời thế mới, tôi lựa chọn như vậy, ông hãy đốt bỏ quán này cùng tôi trở về dưới, kẻ có học, có nghĩ, còn chút lương tri mà lại nhắm mắt làm ngơ, giữ cho yên thân mình hay sao, như vậy còn sống làm gì nữa. Đệ đã không nói được một lời nào sau đó. Phái, trước ngọn lửa đồi bị đốt cháy, đệ thấy ở chính mình một điều gì không hợp lý, nhưng đồng thời cũng không hoàn toan vào những điều mà người kia đã nói và tin hành động, đệ lo âu một cái gì. Có những việc làm của người khác mình không tán đồng nhưng mình cũng không chối được. Đệ khổ tâm hết sức. Trong nhiều đêm một mình đối bóng, tiếng nói của người lạ lại làm đệ khổ tâm, chừng như mình có một tội gì đó. Tội gì? Sự bất lực? Sự ươn hèn? Ngại khó ngại khổ? Đệ lúng túng quanh quẩn trong vòng những suy nghĩ lao lung. Quả thật, giữa nghĩ và làm đã có những mâu thuẫn… đệ không biết phải làm sao. Điều mình muốn làm vẫn còn đó, nhưng sao đệ thấy mình cô quạnh quá muốn lánh đi cũng không được, muốn hành động thì chung quanh không có ai…

Người chủ quản nói không ngừng mọi điều được chiếu rọi lên trước lương tâm. Người khách ngồi yên nghe không tỏ một dấu hiệu tán đồng hay phản đối.

– Người bỏ đời sống trở vào hang động. Kẻ rời hang động trở lại đời sống… Hai con đường ngược chiều… Nhưng, như lão huynh nói, còn những con đường khác nữa?

– Thưa tiên sinh, có vậy, sự lựa chọn này không phải của một người. Một hôm đệ gặp một đoàn người ngang qua đây, khi đó đệ đang thả mình dưới dòng suối. Đó là toán ngưi vừa già vừa trẻ nhưng trông ai cũng khỏe mạnh, họ mang theo nhiều hành lý và có sửa soạn cẩn thận. Đệ ngạc nhiên không biết toán người định đi đâu. Khi hỏi, họ chỉ nói: vào núi. Chắc chắn họ không phải là những người vào đó để đi tu, nhưng có lẽ họ cũng không phải là những tên ăn cướp. Một người, chừng như làm trưởng nhóm có nói chuyện với đệ, người đó không nói rõ hành động của họ nhưng trong hàm ý cho thấy họ là những bầy tôi trung thành của nhà Trần, muốn khôi phục lại cơ đồ đã đổ vỡ, đệ hỏi: tiên sinh có phải thuộc dòng vua Nghệ Tông không.

– Sao lão huynh lại nghĩ thế?

– Kẻ hèn nghe tin có một kẻ nhận là Trần Thiêm Bình, dòng vua Nghệ Tông hiện đang có mặt trên đất Tàu xin nhà Minh trợ giúp để khôi phục lại nhà Trần, có phải tiên sinh ở trong mưu đồ đó không? Điều đó nào có chi là quấy?

– Không có chi là quấy, nhưng theo thiền ý, trong câu chuyện chừng như lão huynh không hài lòng về điều này?

– Hài lòng, điều đó do nơi tiên sinh, kẻ ẩn thân chốn hoang dã không dám luận bàn. Có điều chắc tiên sinh cũng nghĩ rằng: dễ gì để cho dân ta được sống trong tự chủ, việc hưng phế của một thời đại đâu phải trách nhiệm của riêng ai. Trong phạm vi nào đó tất cả chúng ta đều có bổn phận mà trong đó bổn phận giữ nền tự chủ đâu phải là nhỏ.

– Đa tạ những lời vàng ngọc của lão huynh. Có điều kẻ hèn này xin đoan quyết cùng lão huynh rằng: chúng tôi không có liên hệ gì với kẻ nhận là con cháu Trần Nghệ Tổng trong mưu đồ của họ. Còn chúng tôi… Nhưng riêng tiên sinh nghĩ sao về kẻ cầm quyền hiện nay?

– Đã lâu không còn liên lạc với đời sống, kẻ ở trong rừng không được rõ lắm, có điều chính sách học hành quân sự thì riêng kẻ hèn nhận thấy cũng là những điều hay, chỉ tiếc kẻ cầm quyền không có đức, không được lòng người, phải chi…

– Nhưng lão huynh có nhận thấy là vua quan nhà Hồ đã theo nhiều chính sách của tiên vương không? Nào lập ngôi thái tử sớm, tìm cách ổn định với phương Bắc… Chính cái lòng dân như lão huynh nói nên chúng tôi… Chúng tôi muốn có một nhà Trần mới…

Người chủ quán ngừng lại sau khi kể chuyện gặp gỡ những người vào núi trước đây. Người khách theo dõi câu chuyện một cách chăm chú:

– Chuyện xảy ra đã lâu chưa lão huynh?

– Cũng mới đây.

– Từ đó đến nay lão huynh có nghe nói gì về chuyện này không, ý đệ muốn nói tới tung tích của những người này.

– Không, không nghe nói gì cả. Đệ chỉ nghe phong thanh về một nhóm người ở trong Nam, không phải của những kẻ phù Trần diệt Hồ, hành tung không được rõ lắm…

– Ở phương Nam? Như vậy họ có liên hệ gì với Chiêm thành không?

– Đệ không được rõ chút gì, chỉ nghe nói họ mưu đồ một nước Việt mới, chờ đợi đánh đuổi quân xâm lược từ phương Bắc, chừng như họ thấy rõ mưu toan của giặc Bắc, họ cũng biết rõ thế nào nhà Hồ cũng bị diệt, vận nước sẽ bước vào một giai đoạn mới. Bao nhiêu là chuyện từ đó đến nay, kẻ xuôi người ngược, đệ nghĩ nếu có dịp để cho những người mà đệ đã gặp ngồi lại bên nhau thì không biết sẽ ra sao. Theo ai, chống ai. Ai phải, ai không phải. Mỗi kẻ một mưu đồ, một ý muốn. Chỉ có một điều mà mọi người đều đồng ý là thế nào cũng có một vận hội mới, dù chưa rõ vận hội ấy ra sao trong những ngày tới này.

Người chủ quán giót thêm rượu, người khách vẫn ngồi im, tay chống lên khúc gỗ, mặt củi xuống trầm ngâm. Tiếng gió ngoài rừng cây tạo thành một âm thanh kỳ bí, trong đó chừng như còn lẫn tiếng thú rừng… Trong đêm khuya khoắt này ai còn thức, Tiếng nói một quá khứ nào đó như dội về. Càng khuya gió càng mạnh, chừng như một cơn bão, mưa nặng hạt đỗ xuống, chiếc quán nhỏ lay động cùng với lay động của tạo vật.

Người khách vẫn ngồi im như một pho tượng đồng. Ngọn lửa trên vách có lúc muốn tắt trả cho quán khoảng đêm tối bịt bùng. Chợt cánh cửa bật tung. Người chủ quán nhỏm dậy. Không có một người nào, một vật nào. Sức gió đưa đẩy cánh cửa những tiếng động khô khan. Quá nửa đêm thì cơn bão ngớt, người khách vẫn ngồi, rượu giót mãi không ngừng trên chiếc bát sành. Chủ quán cũng ngồi đó, dựa lưng vào vách. Hai người ngồi đối ẩm cho tới lúc bình rượu không còn một giọt, người khách đứng lên, vươn vai, dáng điệu trầm tĩnh khoe khoắn khác thường. Người chủ quán nhìn người khách với sự ngạc nhiên, trong bao nhiêu năm trôi nổi, gặp gỡ không biết bao kẻ nghĩa khí, những kẻ ngang ngược, những tay tài tử nhưng chưa thấy ai là kẻ tửu lượng mạnh như người khách, uống đã nhiều mà xem chừng vẫn minh mẫn, không có chút gì tỏ ra đã đắm mình trong men rượu. Người khách bước đi trong lòng quán chật hẹp.

Người khách nói:

– Đệ muốn hỏi lão huynh, chẳng hay lão huynh nghĩ thế nào mà chọn nơi này dựng quán, phải chăng lão huynh chờ đợi tri âm.

– Tri âm, ai là người mà không muốn gặp tri âm, nhưng e rằng đời nay không còn tri âm nữa Trong nhiều năm phiêu bạt chốn giang hồ, gặp gỡ không biết bao nhiêu kẻ tiếng tăm, nhưng cho tới nay đệ vẫn thấy mình cô đơn. Bao kẻ mà thiên hạ ngưỡng mộ, khi gặp, đệ chẳng thấy gì ngoài một thứ tiếng tăm hão, một thứ hư danh phù phiếm, đệ không còn tin vào những phán xét của người đương thời nữa. Kẽ sĩ chỉ còn lại hai chữ tùy thời và một cái vỏ liêm sỉ giả trá. Những tráo trở của thời đại như ngọn lửa thử vàng. Chỉ thay đổi một triều đại mới nhìn thấy ai là kẻ xu thời, ai là kẻ hèn hạ, ai là kẻ bất trung, ai là kẻ bất tài. Có bão lớn mới thấy đâu là ngọn cây cứng. Phải vậy chăng tiên sinh. Đệ tự nhận như một ngọn cỏ trong rừng thảo mộc, hèn yếu và khiêm tốn chẳng biết làm gì hơn là rời khỏi đời sống, tự mình sống cho mình, như vậy chắc tiên sinh hiểu đệ và rộng lượng cho.

– Xin lão huynh chớ quá hạ mình, kẻ hèn này thật không đáng được nghe những lời chỉ dạy đó. Bao nhiêu điều…

Người khách đi đi lại lại vẻ bồn chồn không yên, chừng như có điều gì muốn nói rồi lại thôi, người chủ quán nhìn lên với vẻ mong đợi:

– Thưa tiên sinh, tiên sinh nghĩ, sống trong tình cảnh này, theo tiên sinh, mình có thể làm được gì?

– Làm được gì? đó cũng là điều mà chính kẻ hèn này, muốn được hỏi lão huynh.

– Với quán bên đường này đệ đã được nghe, được thấy những lựa chọn, những thái độ, tất cả đều có một phần nào đúng, một phần nào không đúng, chừng như đệ quá hoài nghi, thiếu tin tưởng và một nhiệt tình… Chính vì thế mà không thể quyết định hay hành động được gì. Đệ muốn hỏi tiên sinh: tiên sinh từ đâu đến, tiên sinh sẽ tới đâu trong cuộc hành trình?

Người khách ngừng lại, ngồi xuống chỗ cũ, sửa lại ngay ngắn, dáng người chững chạc đường hoàng hai tay khoanh trước ngực, lúc đó trong người khách như một kẻ tham thiền nhập định, nhưng tất cả toát ra một sức mạnh. Giọng người khách trầm tĩnh, dõng dạc:

– Thưa lão huynh, đệ là kẻ sinh ra trong một gia đình thanh bạch, sống xa chốn kinh thành, lớn lên với sự dạy dỗ của song thân, nhưng thân mẫu qua đời từ khi đệ còn tấm bé, nên sau đó chỉ còn nhờ vào sự trông nom của nghiêm phụ. Khi lớn lên đệ thấy nghiêm phụ sống như người ẩn dật, không nghe nói gì tới hai tiếng danh lợi. Trước khi nghiêm phụ qua đời có gọi đệ đến bên mà kể cho nghe một chuyện trước khi nhắm mắt. Đến nay đệ vẫn còn tưởng như hôm qua đây, câu chuyện vẫn còn ghi khắc trong tâm khảm, bây giờ đệ xin được kể lại hầu lão huynh. Nghiêm phụ đệ nói rằng tổ tiên của chúng ta thuộc dòng Lạc Việt. Vua Lạc Long lấy bà Âu Cơ sinh được một trăm người con, một nửa xuống biển, một nửa lên núi, một gốc chia hai dòng, cho nên từ trong nguyên thủy dân tộc ta đã khởi đầu một dòng chia rẽ. Điều ấy không quan trọng gì, bởi vì mỗi người đã được giao phó một nhiệm vụ trên con đường lập quốc và kiến tạo để cho có một nước Việt như hiện nay. Sự hưng vong của mỗi thời đại chỉ là những chu kỳ phải có trong vòng xoay chuyển của lịch sử nhưng có một điều mỗi người phải nhớ: Mỗi người con Việt có một cuốn Sách Ước và một chiếc Gậy Thần. Cha đệ nói, con cũng đang cầm trong tay một cuốn Sách Ước, như cha đã cầm, và như mọi người đều có trong tay, nhưng nó có hay không là tùy thuộc nơi sự nhận biết của người cầm nó. Bên cuốn sách ước đó con còn có một chiếc Gậy Thần, nó cũng hiện diện tùy theo sự nhận biết của con hay không. Sách ước, chắc con nghĩ tới những điều được ghi trong đó. Cha đọc thấy những điều đó và con cũng có thể đọc thấy, nhưng những điều được ghi đó như thế nào tùy con, Sách ước trong nguyên thủy ghi chép những điều giống nhau, nếu không nhận thấy những điều giống nhau là do nơi người cầm nó. Tất cả chỉ là một. Cũng như Chân Lý. Gậy Thần cũng vậy. Với cha, chiếc gậy rõ ràng cho thấy một Đầu Sinh, một Đầu Tử, điều quan trọng cho người sử dụng là biết phải cầm cái gậy ở chỗ nào. Gậy Thần và Sách Uớc gắn liền với nhau. không thể có cái này mà thiếu cái khác. Đó là điều con phải ghi nhớ…

Người khách ngừng câu chuyện lại. Không gian lặng như tờ. Người chủ quán ngồi bất động. Đêm đã gần sáng. Rất lâu cả hai người bừng tỉnh khi tiếng gà rừng vẳng xa. Ngọn đuốc trên vách cháy đỏ và rực sáng hơn bao giờ. Người chủ quán nhìn người khách im như tượng: hai tay khoanh trước ngực, dáng đường bệ nghiêm trang, đôi mắt mở lớn nhìn thẳng về phía trước, khuôn mặt cương quyết với đôi mày rậm và xếch, mái tóc búi ngược bạc trắng. Người chủ quán nói:

– Thưa tiên sinh, năm nay tiên sinh được bao nhiêu tuổi?

– Thưa lão huynh, kẻ hèn này mới chẵn ba mươi…

(1968)

——————————–

1          Thơ Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục, bản dịch của Bùi Xuân Trang.

Kinh Kha, con chủy thủ và đất Tần bất trắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

1.  Anh có tin là mình thoát được không, cái khó nhất đã qua nhưng còn đoạn đường dài từ đây xuống dưới đó.

– Tin hay không tin cũng chẳng ích gì, vượt được chừng nào thì vượt chừng đó, cùng lắm bị bắt trở lại, và mình có bổn phận là tìm cách vượt qua, dễ chừng từ trước tới nay anh chưa bao giờ phải vượt khỏi, phải trốn đi…

– Chưa.

– Thật là một người may mắn, với tôi đây là lần thứ bảy hay thứ tám gì rồi, chúng nó nghĩ mang tôi tới một vùng như thế này thì tôi không làm cách nào mà vượt được, tôi nhớ lại những điều mấy thằng nó nói với nhau, chúng nó tưởng tôi không biết đây là đâu, chúng làm như bọn mình đang sống trong một vùng thuộc tỉnh Vân-nam, tôi đã áng chừng từ hôm mới tới, rừng như thế nào, núi như thế nào, tôi lại dò ra ngọn sông thì tôi yên tâm. Trông anh có vẻ mệt rồi…

– Tôi yếu ít lâu nay, vốn không quen kham khổ, nếu không ở giai đoạn đặc biệt thế này có khi tôi không biết núi rừng, kham khổ là gì, cũng may tôi không đến nỗi mất tinh thần như những người khác, một số bạn tôi đã ngã lòng, chúng tôi không đủ một niềm tin, không kiên trì.
– Đa số hàng ngũ những người quốc gia đều thiếu cái đó, mình nhiều cảm tính quá và thường hoài nghi anh thấy đó, nếu bọn mình nghe được nhau, tin được, phối hợp được thì bây giờ đâu đến nỗi này… mình đã mắc những lầm lỗi lớn, đó là một bài học, bọn mình đã bỏ mất nhiều cơ hội …

Giọng người đứng tuổi trầm xuống hơi buồn, người trẻ tuổi lặng thinh nhìn ra dòng sông trước mặt, ánh trăng xanh trải trên mặt sông rộng, những gợn sóng lóng lánh như bạc, bên kia dòng sông những lau sậy trải ngút ngàn như chạy tới tận chân dãy núi đen sẫm phía xa, không khí vây quanh tịch mịch, nền trời như không một gợn mây, gió nhẹ thoảng qua làm xao động những lùm cây, dòng sông này sẽ xuôi đến đâu.

– Mình phải đi thôi, có lẽ mình đã ra thoát vòng vây chính rồi, nhưng mình còn phải qua nhiều vòng vây nữa. Anh đang nghĩ gì vậy?

– Nhớ tới gia đình…

– Một mái nhà, một ông bố, một bà mẹ, một người vợ, một người con, những bữa cơm đầm ấm trong gia đình, nhiều lúc nghĩ đến tôi muốn rớm nước mắt, nhưng lựa chọn ở lại trong khung cảnh ấy chắc mình sẽ khổ tâm về những điều khác. Nghĩ đến cha mẹ già nhiều lúc thấy mình bất nhẫn…

Tiếng người trẻ tuổi ngâm khe khẽ:

“Gió hiu hắt chừ sông Dịch lạnh
Tráng sĩ một đi chừ chẳng trở về…”

Tiếng gió lay động những lá cây, vẻ tịch mịch bao quanh tưởng như giữa chốn hoang đảo nào. Tiếng người lớn tuổi:

– Anh tưởng con sông này là sông Dịch sao?

– Tôi nhớ lại chuyện Kinh Kha sang Tần, Tư Mã Thiên đã viết cảnh qua sông của chàng Kinh thành một thiên anh hùng ca, chắc anh cũng đã đọc qua.

– Anh cũng muốn làm một Kinh Kha nữa sao, tiếc đây không phải là dòng sông Dịch, tiếc tôi không phải là Cao Tiệm Ly, là chủ quán thịt chó hay Thái-tử Đan, và tiếc bên kia sông cũng không có cả một Tần Thủy Hoàng cho anh tới mà hạ con chủy thủ… Để chọn làm một Kinh Kha thì sướng quá đi rồi, hoàn cảnh này đâu còn thích hợp cho Kinh Kha nữa, nhưng tôi vẫn không nghĩ rằng giết Tần Thủy Hoàng là mục đích chính của chàng Kinh, ca tụng cái hành động đó người ta đã giết Kinh Kha để thỏa mãn sự bất lực của mình, để làm hài lòng tự ái của mình. Tôi hỏi anh, một người như Kinh Kha mà lại không nghĩ tới hậu quả khi cầm con dao nhọn sang Tần sao?

– Tại sao không, nhưng chắc chàng ta không nghĩ tới hậu quả mà nghĩ tới kết quả.

– Kết quả là nước Yên bị làm cỏ, những người như chàng Kinh mà hành động là phải nghĩ tới cùng một lúc những thất bại, và những thành công, anh nghĩ giết được Tần Thủy Hoàng là thành công rồi sao. Tôi nghĩ chắc chắn khi cầm mũi nhọn sang Tần chàng Kinh phải nghĩ tới sau khi đã giết được Tần Thủy Hoàng và nếu việc giết thất bại. Giết Tần Thủy Hoàng rồi làm gì với một nước Tàu rối loạn? Giết một kẻ tàn bạo không chết hắn sẽ làm gì với võ lực trong tay hắn?

– Tôi thấy các chính sử chỉ chép hành động của Kinh Kha: giết một kẻ bạo tàn, sự bạo tàn mà về sau này ai cũng thấy, như vậy hành động như Kinh Kha không đáng ca ngợi sao?

– Coi chừng anh nghĩ sai điều tôi nói, tôi không hề không tán đồng hành động của Kinh Kha, nhưng tôi không tán đồng lý do người ta đưa ra, lý do khiến Kinh Kha hành động… Trước đây tôi được một người kể lại cho nghe về một cuốn sách viết về chàng Kinh, một cuốn sách mà những sự việc trong đời chàng Kinh khác hẳn những điều mình đã đọc.

– Sao lại có nhiều Kinh Kha thế?

– Kinh Kha thì chỉ có một người, nhưng những sự thật về Kinh Kha khác nhau, sự thật tùy thuộc con mắt nhìn của kẻ khác. Đọc về Kinh Kha do Tư Mã Thiên viết hay thì hay thật, hào hùng thật nhưng tôi không khỏi thấy hành động của chàng như hành động của một kẻ mà thành ngữ của mình gọi là anh hùng rơm, nếu không thì tôi cũng nghĩ Kinh Kha là một kẻ tầm thường chỉ hành động để thỏa lòng tự ái, tự ái vì hành động của Điền Quang, của Phàn Ô Kỳ, của Thái-tử Đan, nếu hành động vì nghĩa lớn, chàng Kinh đã không hấp tấp sang Tần với một kẻ giết mướn là Tần Vũ-Dương mà chàng phải đợi người bạn có đường kiếm tuyệt luân, chàng cũng không thể có những hành động ăn chơi, mê người đẹp như là cố hưởng cho hết những lạc thú trên đời để rồi chết. Kinh Kha sang Tần không phải vì mắt xanh của Điền Quang, của Thái-tử Đan, của Phàn Ô Kỳ, lại càng không phải vì cái đầu của Phàn Ô Kỳ do chính tay Kỳ chặt lấy, chẳng phải vì đôi tay người yêu của Thái-tử Đan, một người như chàng Kinh từng qua chơi khắp các chư hầu kết bạn với hết cả những bậc hiền sĩ trong thiên hạ, Điền Quang thấy không phải là người thường, luận kiếm với Cát Nhiếp, Nhiếp dọa bằng mắt mà lặng lẽ bỏ đi, vừa thân với những danh sĩ, vừa có thể thân với một tên chủ quán thịt chó; chơi với rượu mà tính thâm trầm ham đọc sách, lại có thể nghêu ngao hát giữa chợ như chỗ không người thì đâu phải là một người thường. Như vậy khiến tôi tin những điều tôi đã được nghe về chàng Kinh.

Giọng nói trầm trầm của người lớn tuổi đầy vẻ say sưa, người trẻ im lặng lắng nghe, trăng giữa tháng vằng vặc trên nền trời đầy sao lấp lánh, con sông như một dòng nước bạc óng ánh, người trẻ nói:

– Anh đã đọc được những gì về Kinh Kha mà anh cho là khác hẳn với những sử sách đã viết về chàng?

– Tôi không được đọc, tôi chỉ được nghe lại do một người anh cả nói cho nghe, anh ấy nói đã được đọc cuốn sách khi lưu lạc bên Quảng-châu.

– Liệu đó là một cuốn sử hay là một tập truyền kỳ?

– Tôi không rõ, nói theo bây giờ, theo người thật, nó như một cuốn ký sự lịch sử, không có tên tác giả, người ta khám phá ra nó giữa những sách được cất giấu khi Tần Thủy-Hoàng ra lệnh đốt hết những sách lưu truyền bấy giờ, cuốn sách có ba chương với cái tên là: Ba lần gặp Kinh Kha, cuốn sách chừng như chưa viết xong và được bỏ lửng. Trăng còn sáng quá, tôi có thể kể lại cho anh nghe trong khi chờ đợi mình lên đường.

2.

Được tin của Kinh Kha tôi vội vàng đeo hành lý lên đường, nhưng khi tới nơi Kha đã đi trước đó một ngày. Thôi thế là hỏng hết mọi chuyện, gặp Cao Tiệm-Ly trong quán rượu chúng tôi chỉ than thở với nhau, tôi nói:

– Đã nhắn tôi sao hắn không chờ tôi?

– Hắn chờ quá, lần lữa mấy ngày nhưng vẫn không thấy gì, hắn cũng như tôi nghĩ rằng một là anh không muốn nhận chuyến đi, hai là người ta không tìm thấy anh, sau nữa Thái-tử Đan có ý ngờ Kha không muốn lên đường vì sợ chết. Trong lúc quân Tần đã ngấp nghé ngoài biên thùy, làm sao để Kha có thể nói được trong một hoàn cảnh như thế, khi xuống thuyền với Tần Vũ-Dương, Kha có ý không vui.

– Tần Vũ-Dương là người thế nào?

– Một kẻ sinh ở đất mường mán, năm mười ba tuổi đã giết người, không ai dám nhìn mặt. Thái-tử Đan cho đó là một dũng sĩ có thể giúp Kha giết được Tần Thủy-Hoàng một cách dễ dàng, Kha đã quát lên với Tần Vũ-Dương: Sao Thái-tử lại sai đến mày, đi mà không về là tại thằng nhãi này, cầm một con chủy thủ vào đất Tần bất trắc phải là một dũng sĩ chứ đâu phải là một kẻ giết người như mày.

Nghe Cao Tiệm-Ly nói tôi chỉ biết thở dài, chúng tôi đều linh cảm thấy công việc của chàng Kinh đã hỏng và chúng tôi chờ đợi để nghe tin chàng chết, ngọn lửa hung bạo lại được tưới thêm dầu, chúng tôi không thể tưởng tượng hậu quả phải gánh chịu. Bây giờ Kinh Kha đang trên con đường tới Hàm-dương, tôi quanh quẩn chỗ này chỗ khác nghe người ta nói tới những ngày chàng Kinh còn ở lại đây, nào là cái chết của Thầy Điền-Quang, dũng khí của Phàn Ô Kỳ tự tay cắt lấy đầu mình cho chàng Kinh mang qua đất Tần mong được gần bạo chúa, người ta nói đến Thái-tử Đan chỉ nghĩ tới việc diệt Tần đã hy sinh ngay cả người yêu để làm vui lòng chàng Kinh. Ngồi uống rượu bên sông Dịch, nghe tiếng tiêu của Tiệm-Ly khiến tôi không khỏi bồi hồi xúc cảm, cái cảnh hơn ba ngàn tân khách, mấy vạn người dân mặc áo tang đã ra đây tiễn chàng đi, tôi tiếc đã không được hưởng khung cảnh ấy, tiếc đã không được cùng chàng lên chiếc thuyền nhỏ qua sông, bao nhiêu năm tập luyện để làm gì, lưỡi kiếm truyền lại từ nhiều đời để làm gì khi đã bỏ lỡ mất cơ hội của nó.

Tôi nhớ lại lần gặp gỡ năm xưa, cũng trong một quán rượu như thế này, lần đó Kha vừa rời khỏi Hàm-đan trên đường sang Yên, tôi nghe tiếng chàng từ lâu nên gặp nhau rất mừng rỡ và chúng tôi thân với nhau ngay, tôi thấy rõ chàng không phải là một người thường, tôi hỏi tại sao lại rời Hàm-đan, Lỗ Câu-Tiễn không dung được anh sao? Kha nói hắn mới quát mắng tôi chỉ vì ganh nhau khi đánh song lục, với những người như thế mình nên đi khỏi là hơn, lúc trước tôi cũng đã phải đi vì Cát-Nhiếp dọa tôi khi luận kiếm thuật với hắn, mỗi lần bỏ đi như thế chắc họ tưởng tôi hèn lắm, nhưng trong những trường hợp đó tôi chọn làm kẻ hèn, tôi đi tìm một kẻ để tôi xách dép cho họ nhưng tôi chưa thấy một người làm tôi nể, tôi nghe nói đất Yên có Thầy Điền Quang rất đáng kính, và Thái-tử Đan có mắt thấy được kẻ sĩ nên sang đó xem sao, trông Tần bạo ngược tôi không yên lòng được, anh có sang Yên cùng với tôi không? Tôi nói tôi không cùng đi được, tôi muốn về thăm mẹ già, nhưng tôi hẹn nếu cần đến tôi thì hãy tin cho tôi biết. Chúng tôi ở với nhau ít ngày luận bàn kiếm thuật rất tương đắc, Kha uống rượu rất nhiều, uống bao nhiêu cũng được và chừng như không bao giờ say, càng uống khí dũng của Kha càng như mạnh thêm, chàng vừa uống rượu vừa múa gươm, giọng ngâm thơ hào sảng, khí khái, tôi chưa được gặp một ai như chàng. Kha nói với tôi: luyện kiếm để làm gì, tôi nói tôi nghĩ tới Tần Thủy-Hoàng, Kha cười, chàng nói: anh có biết Cát-Nhiếp, Lỗ Câu-Tiễn luyện kiếm để làm gì không, tôi nói không, Kha cười lớn, họ luyện kiếm để dọa tôi, họ cầm lưỡi kiếm trong tay với sự đùa giỡn, nước loạn chính vì những kẻ không đáng cầm kiếm đã cầm kiếm trong tay và khoa lên với một đầu óc khoa trương rỗng tuếch, bao nhiêu lưỡi kiếm quý đã phải tủi hờn, tiếc thay.

Giọng Kha trầm trầm, tôi không phải là kẻ đánh gươm có tài, nhưng tôi muốn được dùng tới gươm một lần cho thật xứng đáng. Tôi nói tôi cũng ao ước như thế nhưng chưa được thỏa lòng, thực là một kẻ đánh kiếm không bao giờ nói đến đánh kiếm trừ trường hợp gặp tri âm, tôi đã nhầm khi đánh kiếm, luận kiếm với những kẻ như Lỗ Câu Tiễn hay Cát-Nhiếp, quả là tôi chưa có mắt thấy được người, cũng từ đó tôi bắt đầu sợ khi thấy những kẻ đeo kiếm bên mình, tôi sợ cho những người khác và cho chính hắn mang họa vì lưỡi thép vô tri, cầm một mũi nhọn, cầm một ngọn bút trong tay đâu phải giỡn được.

Ngồi bên quán nơi Kha đã ngồi, uống rượu với những kẻ Kha đã uống, nhìn con sông Kha đã qua tôi bồi hồi lo âu, mũi nhọn trong tay chàng sang đất Tần liệu có mang được gì về, tiếng nói của chàng như còn văng vẳng bên tai tôi. Chúng tôi chỉ gặp nhau mấy ngày rồi chia tay, tôi lên đường trở về cố hương, Kha lên đường sang Yên với lời hẹn gặp lại, nhưng có lẽ không bao giờ chúng tôi còn gặp lại nhau nữa. Ngày ngày chúng tôi ngồi uống rượu bên sông chờ tin người đi, có lúc Tiệm-Ly hỏi tôi:

– Nếu hắn không về chúng ta phải làm gì?

– Đừng vội nghĩ đến điều đó. Tôi tin hắn trở về.

– Anh nghĩ vào đất Tần dễ vậy sao?

– Không, tôi không bao giờ nghĩ vậy, tôi không muốn nghĩ rằng hắn thất bại. Nay Tần đã diệt Hàn, chiếm Sở, lấn Triệu, quân Tần đã đến biên giới nước Yên rồi, nếu hắn thất bại thì không quá một ngày gót quân Tần đã tới đây, chúng ta nào còn được ngồi yên đây, Thái-tử Đan liệu có chạy thoát, cảnh huống nào người dân nước Yên phải chịu, và thân hắn liệu có còn hay đã tan thành muôn mảnh. Vào một đất Tần bất trắc hiểm nghèo tôi vẫn mong hắn có thể trở về được.

Chúng tôi chờ đợi từng ngày nhưng tin từ Hàm dương vẫn biệt tăm, không ai biết những chuyện gì đã xảy ra ở đó, quân Yên dưới quyền Thái-tử Đan đã được điều động để phòng bất trắc có thể xẩy ra, tôi nghe tiếng tiêu của Tiệm-Ly không còn hay nữa, thịt rượu không còn ngon miệng nữa, luyện lưỡi gươm trong bao nhiêu năm đến lúc phải dùng lại không dùng được, đêm đặt mình không sao nhắm mắt. Chợt một đêm kia chúng tôi nghe tiếng gọi cửa, khi ra tới nơi thì thấy Kha, tôi rợn người hỏi:

– Anh thác rồi sao?

Kha cười khan:

– Không đâu, sao anh tới muộn thế, nhưng không sao.

Kha đưa tay cho tôi cầm và biết Kha còn sống, Kha nói:

– Tôi về đây để gặp Thái-tử Đan. Tôi bắt sống được Tần Thủy Hoàng rồi.

Chúng tôi đều tưởng mình sống trong một giấc mơ, nhưng đó là sự thực, Kha nói:

– Tôi muốn nghe câu trả lời của Thái-tử Đan: giết được Tần Thủy-Hoàng rồi thì Thái-tử làm gì với nước Tàu này?

– Anh hãy thuật mọi chuyện cho tôi nghe.

– Tôi vẫn có ý đợi anh cùng đi, nhưng đợi mãi không được tin gì của anh, quân Tần đã lấy Triệu, Thái-tử Đan không còn kiên nhẫn được nữa khiến tôi phải lên đường. Tới Hàm-dương tôi phải mang tất cả vàng bạc đút lót cho kẻ sủng thần của Tần là Mông-Gia để được vào bệ kiến Tần Thủy-Hoàng, với cái đầu của Phàn Ô Kỳ và tấm địa đồ đất Đốc-căng chúng tôi vào bệ kiến vua Tần. Giữa chốn triều đình uy nghiêm, vượt qua bao nhiêu tầng canh gác Tần Vũ-Dương kinh sợ khiến suýt bị bại lộ, may sao con chủy thủ trong tấm bản đồ đã không lộ ra, một kẻ giết mướn làm sao đủ sức để giết được một kẻ như Tần Thủy Hoàng, tôi đứng lên sát tận ngai vàng dâng tấm bản đồ, thừa cơ cầm chắc lấy mũi nhọn túm lấy ngực vua Tần, cả triều đình kinh hoàng nhưng không ai có khí giới trong tay, lệnh vua Tần cấm không cho bất cứ ai mang võ khí vào triều, quân phía ngoài phải có lệnh vua Tần mới được vào, tôi rút lấy kiếm của vua đưa cho Tần Vũ-Dương ra lệnh cho các quan không được nhúc nhích, tôi kề mũi nhọn vào cổ vua Tần, ý tôi muốn bắt sống mang về Yên làm thịt cho hả lòng Thái-tử Đan, sau là moi gan hắn ra tế Phàn Ô Kỳ. Tôi hơi ngạc nhiên về thái độ bình tĩnh của Thủy Hoàng, hắn nói không ngờ trong thiên hạ còn có những dũng sĩ như anh, tôi nói đừng có nịnh ta, ta chẳng phải là dũng sĩ gì, ta là người đánh gươm rất dở, dù vậy những người trong thiên hạ như ta không thiếu, họ không chấp nhận được sự tàn bạo của nhà ngươi và chỉ vì vậy họ thừa can đảm liều mạng tới đây. Nhà ngươi không sợ chết sao? Tôi bảo nếu tôi chết sẽ có kẻ khác noi theo, cho tới khi nào giết được nhà ngươi. Vua Tần gằn giọng: thôi ta chịu chết, nhưng ta hỏi: giết được ta rồi nhà ngươi làm gì với nước Tàu này.

– Thế bây giờ hắn ra sao, anh chưa giết nó?

– Chưa, nhưng hắn ở trong tay tôi lúc nào mình muốn giết thì giết, có điều tôi muốn biết Thái-tử Đan sẽ làm gì với một nước Trung-hoa sau khi tôi đã giết hắn. Câu hỏi đặt ra không những cho Thái-tử Đan mà cho cả tôi lẫn anh, cho những ai không vì địa vị, không vì quyền bính mà chỉ hành động cho chính nghĩa, hành động vì đời sống hạnh phúc của dân chúng. Không chấp nhận sự tàn bạo của Tần Thủy-Hoàng, nhưng tôi cũng không chấp nhận một xã hội rối loạn phân tán, chia rẽ, một nước Trung-hoa hùng vĩ bị chia ra làm nhiều mảnh nhỏ cho mỗi kẻ hùng cứ một phương, lâu lâu kết bè kết đảng đánh lẫn nhau gây cảnh chiến tranh không bao giờ dứt, không thể chấp nhận để một nước Trung-hoa có văn hóa bị chia cắt ra từng vùng văn minh, lại để cho mình bị yếu hèn với sự đe dọa của mọi phương bắc. Bây giờ chính là lúc phải nghĩ tới việc thống nhất một nước Trung-hoa để đối địch với dân Mông cổ, mở lại ảnh hưởng ở miền Nam, như thế phải chấp nhận phá bỏ chế độ liệt quốc, đối với tôi việc giết Tần Thủy Hoàng không phải là điều quan trọng mà chính là phải làm gì sau khi đã giết hắn? Tôi đã bắt mang theo Tần Thủy Hoàng và giao cho Tần Vũ-Dương canh chừng trên đoạn đường từ Hàm-dương về đây, vua Tần đã giải thích cho tôi nghe những việc ông làm, hắn muốn làm những việc mà tôi đã nói với anh ở trên, thống nhất một nước Trung-hoa trong mọi lãnh vực …
Chỉ gặp chúng tôi trong một thời gian rất ngắn, chàng Kinh vội từ biệt để đi gặp Thái-tử Đan, sau một ngày trời chàng Kinh trở lại vẻ thất vọng, chàng nói: các anh phải sang Triệu đi, không thể ở đây được, tôi phải trở lại Tần. Tôi nói anh trở sang Tần làm gì, Thái-tử Đan đã trả lời anh ra sao, tôi phải sang Tần, tôi chưa thể trả lời anh được, còn Thái-tử Đan, thật đáng thất vọng, Thái-tử nói trả đất lại cho chư hầu, mỗi kẻ hùng cứ một phương, và nước Tần phải bị tiêu diệt. Không, tôi không chấp nhận một hành động như vậy, tôi phải trở lại Tần và hẹn lại các anh sau. Và Kinh Kha đã đi.

3.

Người lớn tuổi ngừng kể, gió núi thổi mạnh hơn, trên nền trời những vạt mây theo gió trôi qua mặt trăng có lúc bầu trời tối hẳn đi, khuôn mặt người bạn lạnh như một pho tượng dưới ánh trăng, dòng sông nước bạc vẫn lờ lững trôi. Tiếng thú rừng lạc lõng vẳng xa. Người lớn tuổi đứng lên:

– Mình phải đi thôi, mình phải ra khỏi vùng này trước khi trời sáng.

Người trẻ tuổi đứng lên theo:

– Rồi sau đó ra sao, chẳng lẽ câu chuyện lại ngừng lại ở đó, cái kẻ xưng tôi kia chắc chắn là người bạn mà Kinh Kha đã đợi để cùng sang Tần, trong Sử-ký Tư Mã Thiên có nói đến nhưng không cho biết đó là ai, trước tôi nghĩ là Cát-Nhiếp.

– Không phải Cát-Nhiếp, là một kẻ vô danh.

– Như vậy thì Thủy-Hoàng đâu phải là một kẻ tồi gì, nhưng tại sao sau đó hắn lại có nhiều hành động bạo tàn như thế. Thủy-Hoàng chết rồi, cho đến nay trải qua bao nhiêu thời đại mà tội ác của hắn vẫn được coi là kinh hoàng nhất trong lịch sử Trung-hoa, những tội ác không ai có thể bào chữa được, bao nhiêu kẻ đã chết ở Vạn-lý trường-thành, bao nhiêu kẻ sĩ bị chôn sống, sách vở của thánh hiền đều bị đốt, các chư hầu đều bị thanh toán, nếu quả Kinh Kha đã tha chết cho Tần Thủy-Hoàng thì Kinh Kha đáng là kẻ phải chịu trọng tội và ngày nay người ta sẽ không còn ca tụng Kinh Kha như một dũng sĩ nữa.

– Câu chuyện đâu đã dứt, để rồi tôi kể tiếp cho anh nghe, tại sao phải xây Vạn-lý trường-thành, tại sao phải chấm dứt sự chia cắt, tại sao phải đốt sách chôn học trò, chính là phải đặt mình trong hoàn cảnh của nước Trung hoa thời đó, lại đặt mình trong cương vị của Tần Thủy Hoàng may ra mới thấy được điều đó, phê phán lịch sử một thời phải đặt mình trong hoàn cảnh của lịch sử đó. Tôi hỏi anh, nếu bây giờ anh là người nắm vận mạng của nước ta anh phải làm gì?

– Tôi chưa bao giờ nghĩ tới điều đó.

– Anh cứ thử đặt mình vào trong một hoàn cảnh như thế.

– Không, tôi không thể đặt được, lớn lên với những ý nghĩ cao đẹp, nào giành lại độc lập, thống nhất, nào kiến tạo tự do hạnh phúc, ai cũng nói thế mà nay anh em giết lẫn nhau, tự do hạnh phúc chưa thấy đã thấy trại giam, đói khổ, độc lập chưa thấy đã thấy gót giày ngoại xâm, tôi chẳng cần giấu anh, ngày nay nhiều lúc tôi buồn chán ngã lòng, sức mình chẳng làm được gì, anh thấy đó, may mà anh với tôi không đến nỗi chết ở đây, nhưng rồi những ngày tới này ra sao?

Giọng người trẻ tuổi buồn buồn xúc động. Người lớn tuổi giọng vững vàng:

– Anh ít tuổi hơn tôi mà còn thấy vậy, nếu anh là tôi anh sẽ thấy còn đáng buồn hơn nhiều, nhưng đã nhận cho mình một trách nhiệm thì không có quyền được ngã lòng. Nhìn ra những khó khăn, những sự thật chắc chắn Kinh Kha cũng ngã lòng và chàng chắc không muốn mình là một kẻ sĩ nữa, chàng muốn là một kẻ thoát ra khỏi đời sống nhưng làm sao để sống một cách yên lòng với hạnh phúc nhỏ bé của mình trong giữa một cõi đời đầy những đau khổ, làm sao để ăn miếng cơm mà thấy ngon giữa những kẻ đói khát, làm sao để thấy mình ấm áp giữa mùa đông đầy những người không có tấm áo che thân, làm sao để yên lòng phiêu diêu giữa một xã hội đầy những nhà giam, những đàn áp, bóc lột, bị tước đoạt tự do. Làm sao để yên ngủ với những mộng đẹp triền miên khi đất nước khói lửa, khi ngoại xâm giày xéo, khi đất nước bị những kẻ vô đạo, bất nhân cai trị … Cũng như bây giờ tôi hay anh có đang nhiên mà ngồi nguyên được không? Chúng ta chống Tây để rồi nhận Tàu sao, chúng ta chống chế độ thực dân hà khắc để nhận chế độ độc tài đảng trị sao, chúng ta bằng lòng nhìn sự thay thế tinh thần quốc gia bằng một tinh thần quốc tế sao?… Bao nhiêu câu hỏi đặt ra cho mình, thất bại nhưng không được bỏ cuộc, tôi vẫn nhủ thầm với tôi như thế, mình còn nhiều cơ hội, dù thế nào cũng không thể ngồi yên được.

Hai bóng người yên lặng len lỏi trong lối đi hẹp, một con đường mòn luồn dưới những hàng cây rậm rạp, ánh trăng thấp thoáng qua những bóng lá.

– Còn câu chuyện chàng Kinh?

– Đoạn tôi vừa kể lại với anh là hai phần đầu của cuốn sách, tôi kể lại theo một người kể cho tôi nghe, chừng như tôi đã toát lược thêm đi một phần, tôi không phải là một người có tài kể chuyện, tiếc rằng anh không được nghe người anh cả của tôi kể, câu chuyện anh ấy kể trong một đêm cũng có trăng sáng như đêm nay trong chiến khu ở Vĩnh-yên, thời gian chúng tôi phải sống những ngày đêm dài nhất trong cuộc chống trả lại Việt-Minh, rồi anh thấy đó, chúng tôi thất bại, mỗi kẻ lưu lạc một phương, người anh cả chúng tôi sau đó đã bị giết một cách bí mật, có người không tin anh đã chết, nhưng tôi có nhiều bằng chứng để tin anh không còn lại với chúng tôi nữa. Tôi nhớ rõ khuôn mặt anh, tôi còn nhớ tiếng anh nói, giọng tha thiết, ấm, mạnh khỏe, tôi tiếc không nhớ hết và nói được cái giọng của anh ấy cho anh nghe, không bao giờ tôi còn được thấy lại anh, không bao giờ được nghe giọng nói đầm ấm thiết tha và đầy tin tưởng ấy nữa.

Hồi bấy giờ anh cũng ngừng câu chuyện ở lại đó, anh hỏi chúng tôi: nếu đã nắm được quyền lãnh đạo trong tay rồi chúng ta phải làm gì, anh nói chúng ta hành động không phải chỉ để hành động, chúng ta hành động để giữ lấy vai trò lãnh đạo, với quyền lãnh đạo chúng ta mới thực hiện được cuộc cách mạng chúng ta mong muốn, tạo dựng một xã hội chúng ta hằng mơ tưởng, chúng ta không hành động như một kẻ nổi loạn hư vô, chúng ta muốn tiến tới một đổi đời… Những điều anh ấy nói trong đêm trăng ngày nào vẫn còn văng vẳng bên tai tôi, không bao giờ tôi quên những điều đó, chính nó như ngọn đèn cháy mãi soi sáng cho tôi… Và sau đó anh kể tiếp câu chuyện chàng Kinh.

4.

Chẳng bao lâu Tần đã thu tóm thiên hạ về một mối, thống nhất luật lệ, cân đo, chữ viết, cải tổ toàn thể cơ cấu xã hội, thanh toán những kẻ chống lại chế độ, bắt dân chúng xây Vạn-lý trường-thành ngăn rợ phương bắc, cải cách điền địa… tạo thành một nước Trung-hoa hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử. Nhưng những đau khổ mỗi ngày một chồng chất lên dân chúng. Chúng tôi đã rời khỏi ngay nước Yên khi chàng Kinh ra đi. Câu chuyện ngày nào còn như một giấc chiêm bao đối với chúng tôi, chúng tôi vẫn hỏi nhau có thực Kinh Kha đã bắt được vua Tần, có phải người hôm gặp chúng tôi thật là Kinh Kha hay chỉ là một hình bóng trong giấc mộng chúng tôi, chúng tôi hỏi nhau như thế nhiều lần nhưng không sao trả lời được. Chỉ biết sau đó ít ngày tin dữ từ Hàm-dương đưa về: Kinh Kha đã nát thân dưới lưỡi kiếm bạo chúa, đâu đâu cũng nghe nói tới chuyện chàng Kinh khi tiến lên dâng địa đồ đất Đốc-cang đã thừa lúc bất ngờ cầm con chủy thủ định giết vua Tần nhưng việc không thành, nhiều chi tiết trái ngược nhau được nói đến, có người nói tại Tần Vũ-Dương mất can đảm nên để lộ cơ mưu, có người nói vì chàng Kinh không biết đánh gươm, nhưng ai cũng cho đó là số trời không cưỡng lại được, dân chúng còn phải lầm than nên mưu toan của chàng Kinh bất thành. Có điều chắc chắn là sau đó không bao lâu vua Tần phái Vương-Tiễn mang quân sang Yên, thế quân như nước lũ, gót quân Tần đến đâu cỏ không mọc lên được, chưa đất nào bị giày xéo như đất Yên, chừng như vua Tần muốn trả cái thù của Kinh Kha, không đầy một năm thành trì của Yên đã lọt vào quân Tần, vua Yên nghe lời vua Đại-Gia rằng Tần chỉ căm giận Thái-tử Đan, nếu giết Đan dâng cho Tần thì sẽ tránh được chết, nhưng dù giết Đan vua Yên vẫn bị giết theo.

Tiệm-Ly như phát điên: phải trả thù cho hắn, trả thù cho những kẻ đã bị tàn sát, phải giết tên bạo chúa. Tôi nói thì giết tên bạo chúa nhưng sau đó… Tiệm-Ly kêu: hãy giết hắn đã rồi sau sẽ hay, nghĩ mãi rồi làm sao mà hành động, trông những việc hắn làm đó mà ngồi yên được sao. Chúng tôi sống chui nhủi, bôi mặt đổi tên để tránh sự lùng bắt của quân Tần vì từ sau khi bị mưu sát vua Tần đã cho lệnh lùng bắt những bạn hữu của chàng Kinh mà giết đi, Tiệm-Ly nương náu nơi nhà Tống-tử, nhờ tài thổi ống tiêu được tiến vào cung vua Tần, nhưng có kẻ nhận ra mặt nói cho Thủy-Hoàng biết, vua Tần tiếc tài cho khỏi chết, khoét mắt chàng bảo thổi ống tiêu, dần dần Tiệm-Ly được ngồi gần Thủy-Hoàng, chàng liền đổ chì vào ống tiêu, nhân lúc ngồi gần liền giơ ống tiêu đánh vua Tần nhưng không trúng, từ đó Thủy-Hoàng không bao giờ gần người ở các nước chư hầu nữa. Hai người bạn thân đều đã chết, còn lại người chủ quán thịt chó, chúng tôi lang bạt khắp nơi mong có ngày nhà Tần bị diệt.

Còn đâu tiếng tiêu của Cao Tiệm-Ly, còn đâu tiếng nói, khí phách một người vào đất Tần bất trắc với một mũi nhọn. Tôi cô đơn trong niềm bất lực đau đớn. Tôi không còn chàng Kinh nữa. Tôi tưởng tôi đã có trách nhiệm trong sự thất bại của chàng, nếu tôi đi được chắc tôi đã không để cho hắn sống.

Một ngày kia khi đang ở nước Hàn, lang thang ngoài chợ bỗng nghe tiếng gọi, tôi ngạc nhiên không nhận ra người trước mặt.

– Kha đây.

Tôi kinh hoàng nói:

– Tôi tỉnh hay mê vậy?

– Tỉnh, tôi thật đây.

Vừa nói Kha vừa nắm lấy tay tôi: Tôi đang đi kiếm các anh, khi tới Triệu thì tôi nghe Tiệm-Ly đã chết, tôi nghe ở Hàn có hàng thịt chó rất ngon, đoán chắc các anh ở đó, quả không sai.

– Hóa anh chưa chết, tôi không hiểu được. Sau khi anh đi chúng tôi hỏi nhau hôm gặp anh thực hay mơ, và cho đến bây giờ vẫn vậy, anh đã tha chết để cho hắn hành động như vậy sao?

Chàng Kinh lặng đi, chúng tôi trở về quán, nhìn thấy một chiếc ống sáo của Tiệm-Ly còn để lại chàng Kinh cầm lấy mà khóc:

– Tôi đâu nào sợ cái chết, giết hắn đâu phải là khó với tôi, nhưng chính là tôi đã nghe người, quả tôi không có mắt thấy được người. Bây giờ chàng Kinh tóc đã có những sợi trắng, má đã nhăn, nhưng khí dũng vẫn còn cương cường. Trong cảm xúc nghẹn ngào Kha đã nói lại với chúng tôi:

– Chắc chắn sau này sử sách sẽ viết rằng: năm ấy, ngày ấy có một tay dũng sĩ tên là Kinh Kha đã mang một con chủy thủ vào đất Tần bất trắc mưu mô giết vua Tần nhưng việc không thành. Nào phải thế, như tôi đã nói hôm gặp lại các anh trên bờ sông Dịch đó. Giữa chốn triều đình nhà Tần, tôi đã tay trái túm lấy ngực hắn, tay phải áp con chủy thủ vào cổ hắn, tôi muốn mang hắn về Yên cho Thái tử Đan hài lòng, sau là moi gan hắn mà tế anh linh của Thầy Điền-Quang, Phàn tướng quân, tôi cũng muốn như Tào Mạt xưa kia bắt hiếp Tề Hoàn-Công ký giấy trả đất cho chư hầu. Tôi nghe hắn hỏi tôi: nhà ngươi sẽ làm gì với một nước Trung-hoa này, ta không muốn chết một cách ân hận. Lật bỏ một chế độ là người ta muốn có một chế độ tốt đẹp hơn. Xô đổ một ngai vàng là để lập một ngai vàng mới, nhưng ngày nay ai là kẻ đáng mặt lên ngôi? Tôi so sánh giữa hai chế độ: những ngày đầu tiên trong chế độ nhà Tần và tình cảnh Trung-hoa trong chia cắt, phân tán, mỗi kẻ hùng cứ một phương tác oai tác quái, nỗi khốn khổ của dân chúng kéo dài quá lâu. Tôi không muốn thấy mãi một tình trạng tranh chấp liên miên, không muốn thấy một thời liệt quốc mới. Tôi muốn có một nước Trung-hoa thống nhất, một nền cai trị mạnh, hữu hiệu, sáng suốt. Thủy-Hoàng nói với tôi cũng muốn vậy đó là lý do khiến ông tiến tới thống nhất Trung-hoa, phá bỏ các chư hầu. Chúng tôi thảo luận với nhau và tôi đồng ý tha chết cho Tần Thủy-Hoàng để cùng nhau bàn kế hoạch, chúng tôi làm việc hoàn toàn bí mật: phải thống nhất một nước Trung-hoa, phải thay đổi hẳn căn bản xã hội, phải làm lại hết cả…

– Anh đã đồng ý để chôn học trò, đốt sách?

– Từ sau thời Thầy Trọng-Ni tư tưởng của Thầy đã bị không biết bao nhiêu kẻ làm sai lạc, sách vở nhảm nhí không biết bao nhiêu, để những sách ấy tôi hỏi anh di hại biết đến bao giờ. Phải chỉnh lại văn hóa, cuộc sống chỉ yên vui được khi xã hội chỉ sống với một tư tưởng, một cuốn sách cho một chân lý, một lẽ phải. Còn chôn sống học trò thì không đúng, giết hết những người có học thì lấy ai để điều khiển guồng máy cai trị. Nhưng không thể dung túng những tên khuyển nho những kẻ có học mà sống xa nghĩa sách thánh hiền, học ba chữ thánh hiền chưa vỡ mà tưởng mình đội đá vá trời được, muốn nước hùng mạnh xã hội trật tự cuộc sống hạnh phúc thì phải chôn đi những kẻ không chấp nhận sự tiến bộ, chôn đi những kẻ mãi mãi muốn duy trì địa vị quyền lợi của mình.

– Anh chấp nhận để xây Vạn-lý trường-thành bằng xương máu của người dân?

– Chúng tôi nhân danh sự bền vững muôn đời, sự sống còn của nước Trung-hoa mà xây trường thành. Muốn có đời sống buộc mọi người cùng nhau đóng góp hy sinh… Nhưng thôi anh đừng hỏi tôi nữa, tôi là một kẻ có tội, tôi cũng đã bị phản bội… Mộng tưởng của tôi chỉ là ảo tưởng, Tần Thủy-Hoàng đã đổi thay, Hoàng-đế nhà Tần ngày nay không phải là kẻ mà xưa kia tôi đã tha chết cho hắn.

– Vậy ai đã chết thay cho anh?

– Như tôi đã nói đó, tôi thất vọng với Thái-tử Đan nên đã thấy Tần Thủy-Hoàng có lý, chúng tôi cộng tác với nhau, Thủy-Hoàng nguyện thi hành những kế hoạch tôi đã đề ra, để cho vua Tần có thêm uy thế chúng tôi vẽ ra cái chuyện Kinh Kha nát thây dưới lưỡi kiếm vua Tần. Nhưng ai ngờ khi đã thu thiên hạ về một mối, dẹp tan các chư hầu, ổn định được tình thế thì vua Tần thay lòng đổi dạ. Khi đã thống nhất được giang sơn, diệt hết các địch thủ hắn không còn nghĩ tới lý tưởng tới đất nước nữa, hắn nghĩ tới hắn, hắn nghĩ tới trường sinh bất tử, tôi biết tôi đã bị phản bội, không làm cách gì khác hơn là bỏ đi.

Chàng Kinh lấy ra con chủy thủ mỉm cười:

– Anh nhớ cái này không?

– Nhớ.

– Nó nguyên là của Từ Phu-nhân nước Triệu, lúc trước Thái-tử Đan mua với giá một trăm lạng vàng, đã được tẩm thuốc độc, tôi còn giữ nó đây và đi tìm các anh. Bây giờ mình phải bắt đầu lại, bắt đầu lại trong khó khăn, thiếu vắng bạn hữu và một chế độ đã được củng cố… Xưa kia cầm con chủy thủ vào một đất Tần bất trắc tôi chỉ nghĩ tới lúc giết được bạo chúa, nhưng nay cũng với con chủy thủ này vào một đất Tần bất trắc gấp trăm lần tôi nghĩ tới một xã hội sau khi đã giết được bạo chúa, điều đó khiến tôi yên tâm hơn, nhất nữa nay tôi không phải vào đất Tần với một tên giết mướn mà vào đất Tần với anh…

5.

Hai người dừng lại, người đứng tuổi ngồi xuống một cành cây, trăng đã ngả xuống, ánh sáng đục hơn, trước mặt họ con sông vẫn lờ lững chảy, người trẻ tuổi nhận ra họ đã đến một bến sông, hai bên bờ sông có mấy quán lá xơ xác, không một bóng người, dưới bến có một chiếc thuyền cột vào một gốc cây. Người lớn tuổi nói:

– Người kể câu chuyện cho tôi nghe đã dừng lại ở đó. Tôi hỏi rồi sau đó ra sao? Người anh cả trả lời: không biết, tôi chỉ thấy cuốn sách hết ở đấy. Còn sử chép: Thủy Hoàng chẳng hề bị giết mà sau chết vì dư máu, như thế có nghĩa rằng chàng Kinh Kha kia đã thất bại, nhưng đó đâu phải là kết luận của cuốn sách.

Người trẻ tuổi tư lự:

– Tôi cho rằng đây là huyền thoại do một người nào đó tạo ra để gửi gắm tâm sự của mình. Lịch sử còn chép rành rành ra đó.

– Anh tin sử ký đều là sự thực?

– Chẳng lẽ nó đều là những điều dối trá sao?

– Tôi không nói vậy. Đó là sự thực theo một con mắt nào đó. Anh cũng đã từng tham dự vào một số những biến động lịch sử trong những ngày gần đây, anh đã biết những vụ Ôn Như-hầu, Cổ-am, Vĩnh-yên… vô phúc lịch sử lại được viết bởi những người vừa bỏ tù chúng ta thì anh sẽ thấy, có khi chúng ta còn được gọi là những kẻ phản quốc nữa. Những người sau này đọc còn biết đâu là sự thật. Nếu những người đã chết đều đội mồ mà sống lại được thì chắc lịch sử còn được làm sáng tỏ nhiều uẩn khúc. Có thể câu chuyện chàng Kinh tôi vừa kể với anh chỉ là một huyền thoại, nhưng cho đến bây giờ tôi vẫn tin rằng một kẻ như Kinh Kha đâu chỉ hành động để hành động hay hành động để lấy chết.

Hai người im lặng theo đuổi những ý nghĩ riêng, họ đưa mắt nhìn lơ đãng xuống bến sông mơ hồ trước mặt, mấy quán lá quạnh hiu trong màn sương đục, bên kia sông lờ mờ hình bóng những lũy tre mỏng đi như nét bút vờn nhẹ trong bức tranh thủy mạc đã lâu đời. Người lớn tuổi nói:

– Chúng ta phải chia tay nhau thôi.

– Sao vậy?

– Nơi chúng ta đang đứng đây người ta gọi là vùng tự do hay vùng giải phóng; còn bên kia sông được gọi là vùng địch hay vùng tề. Muốn cộng tác với Pháp thì qua sông, muốn sống trong giam hãm, đày đọa hay chết thì ở lại đây. Anh thấy chưa, bây giờ đâu phải là thời của Kinh Kha, còn Kinh Kha thì Kinh Kha cũng bó tay. Bây giờ có nhiều đất Tần bất trắc, nhiều Tần Thủy-Hoàng, nhiều sông Dịch phải vượt qua… Chiến sĩ một đi không trở lại, tôi không chấp nhận quan niệm ấy, lên đường là phải nghĩ đến ngày trở về, nhưng đó lại là chuyện khác, bây giờ anh qua sông hay ở lại?

– Còn anh, anh lựa chọn đường nào?

– Tôi từ chối lựa chọn cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận những con đường có sẵn? …

(1962)

Dương Nghiễm Mậu

(Văn số 58 ngày 15/5/1966)

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

5. Chương 39
Công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Mới có ba năm giải phóng mà không biết Việt Cộng đánh tư sản mại bản mấy đợt rồi. Theo tôi nghĩ đối với Việt Cộng, khi mà người dân Miền Nam còn có tiền thì còn đánh, cướp cho hết mới thôi. Sau ngày bị đánh tư sản, gia đình của tôi rớt xuống bậc thang cuối cùng của nghèo nàn, đói rách. Trước đây vì dư dả tiền bạc, chúng tôi sống cách biệt, rất ít khi quan tâm đến đời sống kinh tế của mọi người chung quanh mình, biết người ta ăn cơm độn bo bo, biết để mà biết không có gì phải bận tâm. Bây giờ thì chúng tôi cũng giống như tất cả người dân Miền Nam, cũng chạy ăn từng bữa. Dân Miền Bắc tôi không nói tới, vì họ đã bị chuyện cải cách ruộng đất, bỏ đói từ năm 1954 rồi. Từ đó tôi biết rõ hơn về nguồn lương thực cung cấp cho dân chúng. Người dân đói hay no, tùy thuộc vào số thực phẩm do nhà nước phân phối. Theo quy định từng địa phương, mỗi tháng người dân sẽ được mua 16 kí lương thực, có tháng chỉ còn 13 kí, trong đó bao gồm gạo, bo bo, bột mì, một đôi khi có cả khoai mì xắt lát. Đường, muối, nước mắm hay vải vóc bán cho người dân cũng thất thường như trời có khi mưa khi nắng, khi nóng khi lạnh. Nói chung nhà nước bán thứ gì thì dân nhờ thứ ấy.

Tôi và Cúc vì làm vườn, canh tác ngoài Đa Thiện nên có sổ lương thực, được sống ở thành phố không phải đi kinh tế mới. Có một điều hết sức là may mắn cho gia đình tôi, là trong đợt đánh tư sản mại bản vừa qua, đám sai nha quan lại của triều đình Cộng Sản, đã quên mất cái máy bơm nước hiệu Yanmar ở vườn trồng rau ngoài Đa Thiện của tôi. Và đó là tài sản quý giá nhất mà tôi và Cúc còn có được.

Hồi mới học tập cải tạo về, tôi làm vườn kiểu tài tử, hàng ngày tôi ra vườn chỉ làm có một việc duy nhất là tưới cây, tưới cho có lệ với mục đích là xin chữ ký vào sổ. Cuối tuần khi đọc kiểm điểm trước tổ dân phố, tôi khai báo rằng mình có lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất. Khác với tôi, người dân trồng rau ngoài Đa Thiện, họ làm việc đầu tắt mặt tối, suốt ngày dãi nắng dầm mưa, chăm lo từng chút cho luống rau, tính toán từng bao phân cá, từng giọt nước, từng hột phân hóa học như U rê và Ka li. Vậy mà cũng có mùa họ bị thất thu, tiền bán rau không đủ chi phí cho tiền mua cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu.

Trước đây khi còn dư dả tiền bạc, cứ sau một vụ mùa Cúc phải bỏ ra một số tiền lớn để bù lỗ. Công ty quốc doanh của Cộng Sản lập ra cũng vậy, gần như một trăm phần trăm đều làm ăn lỗ lã vì tham nhũng. Chuyện không có gì phải ồn ào, nhà nước sẽ lấy tiền thuế của người dân bù vào như họ đã làm từ bao nhiêu năm nay. Hai trường hợp làm ăn giống nhau, với gia đình tôi, nguồn vốn cung cấp đã bị mất sau vụ vợ tôi thuộc thành phần bị đánh tư sản mại bản. Muốn sống còn, tôi và Cúc phải đem hết sức mình ra làm việc, phải siêng năng cần mẫn, như những người dân làm vườn ở Đa Thiện, với hy vọng sẽ sống được nhờ vào mảnh vườn này. Hoài công vô ích, cho dù chúng tôi có cố gắng đến đâu, có làm việc khổ cực như thế nào, thì kết quả vẫn là thua lỗ. Mùa nào cũng vậy, may mắn lắm thì huề vốn, chỉ lỗ công, còn thường thì thất điên bát đảo, cất đầu không nổi.

Những lúc sau này khi đang làm vườn, tôi và Cúc thường gặp dăm ba người thanh niên với giọng nói của dân Sài Gòn hoặc Vùng 4. Những người này đi lang thang từ vườn nhà này sang vườn nhà khác, dò la, hỏi mua lại máy bơm nước chạy dầu cặn. Đối với nhà vườn, máy bơm giống như trái tim, dùng để bơm máu đi nuôi cơ thể của con người. Nhà vườn không có máy bơm nước, chẳng khác gì con người không có trái tim. Do đó những người tìm mua máy bơm nước sẽ có rất ít hy vọng, hay nói đúng ra là mò kim đáy biển. Một hôm tôi đang bận bịu tưới rau, bất chợt có một anh thanh niên áo quần bảnh bao lân la đến làm quen, và xin chỉ cho anh ta quanh đây có ai dư máy bơm nước muốn bán. Vì muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao người ta tìm mua máy bơm nước, tôi gạ chuyện với anh thanh niên.

-Anh là người Miền Tây?

Do dự một chút, anh ta trả lời.

-Tôi là dân tạm trú ở Sài Gòn.

-Tại sao anh phải cất công, lặn lội lên tuốt trên núi này để mua mấy cái máy đó làm gì? Sài Gòn chán vạn gì, sao không mua?

Anh thanh niên cười thoải mái.

-Tôi đâu có rảnh, đi ba trăm cây số lên cái xứ Đà Lạt này để mua máy, lý do rất đơn giản là bạn bè của tôi đã săn lùng khắp cả Sài Gòn rồi, kiếm đỏ con mắt cũng không thấy một cái máy chạy bằng dầu cặn.

Tôi nói đùa với anh ta.

-Trời đất, quý vậy sao? Tôi có cái máy bơm Yanmar, đang dùng tưới rau đây nè. Nếu muốn mua, anh trả được bao nhiêu?

Đôi mắt của anh thanh niên vụt sáng rực lên.

-Cho tôi coi được không?

Tôi chỉ cái nhà nhỏ xíu bằng gỗ, dùng để che cái máy bơm gần hồ nước.

-Anh xuống đó mà coi.

Tôi chưa kịp dứt lời, anh thanh niên đã ba chưn bốn cẳng, phóng như bay.

Để mặc anh thanh niên muốn làm gì tùy ý, tôi tiếp tục công việc của mình. Chưa tưới xong mấy luống khoai tây, anh thanh niên đã trở lại với gương mặt tươi rói.

-Nói thiệt nghe, quá dữ luôn, một cái Yanmar F10 CE, thứ này thuộc loại hàng xịn à nghe.

Tôi cười thầm trong bụng, rồi hỏi.

-Anh nói như vậy, không sợ tôi tăng giá hay sao?

Anh thanh niên cười hô hố.

-Yên chí đi, tôi mà cho giá anh bạn nghe xong sẽ gật đầu cái rụp, không có đắn đo hay suy nghĩ một, hai gì hết. Nói nghe nè, Yanmar F5 tới F9 tôi gặp cũng nhiều, hơi cũ, giá của nó là một cây hay hơn chút đỉnh. Riêng cái F10 này quá ngầu lại còn quá mới, tôi ưu ái cho nó hai cây.

Vì không có chủ tâm bán máy bơm, tôi đùa với anh ta.

-Có hai cây thôi sao? Ít quá vậy.

Anh thanh niên trợn tròn đôi mắt.

-Trời đất, nè anh bạn chắc anh lo làm ăn quá nên không biết xã hội đổi thay như thế nào. Một căn nhà trong cư xá Thanh Đa, lô chữ, tầng trệt ở Sài Gòn chỉ có một cây thôi, lên tầng hai, ba, bốn, mỗi tầng bớt một chỉ. Cái máy Yanmar F10 của anh bạn đổi lấy hai căn nhà ở Thanh Đa. Vậy mà anh bạn còn chê ít hả?

Tôi hỏi anh ta.

-Tôi tưởng chỉ có nhà ở Đà Lạt mới mất giá, ai ngờ ở Sài Gòn cũng vậy sao?

Gã thanh niên cười ra vẻ khoái chí.

-Nói thiệt luôn nghe, liên tiếp mấy năm nay dân Sài Gòn bị lùa đi kinh tế mới cũng khá bộn, gần đây người ta rủ nhau đi vượt biên hà rầm, nhà bỏ trống rất nhiều nên mới xuống giá.

-Anh nói nhà rớt giá nghe rất có lý, vậy còn cái máy bơm nước Yanmar này, tại sao lại lên giá?

Anh thanh niên cười hề hề.

-Hổng biết thiệt sao? Hay là bạn giả ngộ.

-Tôi không biết thiệt mà.

Giữa vườn rau chỉ có hai người, anh thanh niên nhìn quanh như sợ có người khác nghe được chuyện mình nói, anh ta lấy tay che miệng rồi kề sát tai của tôi.

-Máy dầu cặn Yanmar, gắn vô tàu để vượt biên, hiện tại được ưa chuộng nhất. Hút hàng là phải rồi.

Mọi thắc mắc mấy tháng nay, về chuyện người ta lùng sục khắp các vườn rau ở Đà Lạt mua máy bơm nước chạy dầu cặn, đã được trả lời thỏa đáng. Tôi nhìn anh thanh niên.

-Anh đưa giá bao nhiêu tôi cũng không bán, mà chỉ muốn trao đổi thôi. Vợ chồng tôi và đứa con gái hơn hai tuổi, ba chỗ ngồi trên tàu vượt biên, đổi lấy cái Yanmar F10 này.

Gã thanh niên gãi đầu bứt tóc.

-Tôi mua máy này đem về Sài Gòn, bán lại kiếm chút lời. Người mua phải chở tuốt xuống đâu Rạch Giá, Cà Mau, gắn vô chiếc tàu nào đó. Ai mà biết được chủ tàu mặt tròn mặt méo ra sao. Điều kiện của anh bạn đưa ra, tôi cũng chịu thua luôn.

Tôi an ủi anh thanh niên.

-Anh cứ giữ chuyện này trong bụng, biết đâu gặp mối, có người chịu thì anh đến đây gặp tôi.

Anh thanh niên chào tôi rồi đi mà lòng chừng như bịn rịn, không nỡ rời cái máy bơm.

Thấy vậy, tôi nói vói theo.

-Nếu tôi đổi ý, muốn bán máy thì gặp anh ở đâu?

Không thèm quay nhìn tôi, anh thanh niên to giọng.

-Về chợ trời Nguyễn Thông ở Sài Gòn, hỏi thằng Vinh máy nổ thì ai cũng biết.

Trong bữa cơm chiều ngày hôm ấy, tôi nói với Cúc về tin tức của người dân Sài Gòn, rủ nhau vượt biên như đi trẩy hội, cùng với chuyện giá trị cái máy bơm hiệu Yanmar ở ngoài vườn có giá là hai lượng vàng.

Cúc phân tích với tôi.

-Trước đây khi còn có tiền, cả anh và em đều đánh giá thấp bọn Cộng Sản. Em cứ đinh ninh rằng, mình bỏ Sài Gòn lên ẩn núp ở Đà Lạt là tạm yên thân rồi. Em đã quá chủ quan nên tất cả tiền bạc đều bị cướp sạch sẽ, giờ thì một xu dính túi cũng không có. Gia tài của mình giờ đây nếu còn chỉ là cái máy bơm đang dùng ở ngoài vườn. Chậm hay mau gì mình cũng phải vượt biên thôi, tuy nhiên anh với em phải soạn thảo kế hoạch thật tỉ mỉ, không được có bất cứ sai sót, lỗi lầm, cho dù là một lỗi nhỏ nhặt nhất.

Tôi đưa ý kiến.

-Nếu vượt biên, chuyện đầu tiên mình phải làm là dọn về ở Sài Gòn hay bất cứ tỉnh nào ở ven biển.

Cúc nói.

-Những tỉnh thành ven biển mình không có nhà, không có người quen. Em sẽ hỏi chị Hai về căn nhà của chị ở Tân Định Sài Gòn, mình sẽ bán cái máy bơm, dùng số tiền đó để chạy sổ hộ khẩu nhập chung với chị Hai ở Tân Định, còn dư bao nhiêu tiền dành ưu tiên cho chuyện vượt biên, cơm nước sinh sống hàng ngày mình phải tự làm để nuôi thân. Anh thấy được không?

Tôi gật đầu.

-Được quá đi chớ, chỉ sợ khổ cho em và con thôi. Anh thì dù gì cũng có được cái bằng “Tù cải tạo” cái bằng này chứng nhận người tốt nghiệp có khả năng nhịn đói, chịu nhục, giỏi nhất nhì trên thế giới.

Cúc cười với vẻ thích thú.

-Anh đừng có mừng, trong thời gian anh ở tù thì người dân Việt Nam cũng đang ở trong cái nhà tù lớn. Hai cái nhà tù cũng không có khác nhau bao nhiêu đâu.

Thấy Cúc vui vẻ, tôi ôm Cúc rồi nói.

-Em có nhớ là hồi xưa, tụi mình đi tắm biển ở Vũng Tàu hay không.

Cúc cười e thẹn.

-Nhớ chớ sao không.

Tôi nói với Cúc.

-Anh muốn hỏi em một câu, chỉ một câu thôi. Em có biết là em có một thân hình đẹp, có thể đi thi hoa hậu được không?

Cúc hơi đỏ mặt rồi nói.

-Biết, đó là lý do mà em kéo anh đi Vũng Tàu, chỉ với mục đích là khoe thân thể tuyệt đẹp của mình. Có điều em không ngờ và hơi thất vọng là anh ngó lơ, không thèm nhìn em trong bộ bikini, khi em từ dưới biển đi lên. Tự ái của một người con gái biết mình có một thân hình đẹp, khiến em nghĩ thầm, cái gã con trai mắc dịch này bày đặt làm cao, chắc hắn tưởng cái lon trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt là ngon lắm, cho nên gương mặt cứ khinh khỉnh coi phát ghét. Đã vậy còn làm bộ như là đứng đắn lắm.

Đang nói Cúc chợt đổi giọng.

-Anh có biết không, cũng tại cái ghét đó mà sau này, vài tuần không gặp anh là em thấy nhớ. Từ nhớ đến yêu, trong tâm hồn chỉ là một khoảng cách không lấy gì làm xa cho lắm.

Mãi cho đến ngày hôm đó, tôi mới biết được tâm sự giấu kín trong lòng của Cúc.

Tôi cười, thú tội với vợ.

-Anh đâu phải là Lục vân Tiên, để nói với Kiều nguyệt Nga

Khoan khoan ngồi đó chớ ra.

Nàng là phận gái, ta là phận trai.

Em biết không, trong bụng thì anh thích ngắm nhìn thân thể của em trong bộ áo tắm, nó có một hấp lực mạnh như sức hút của một thỏi nam châm, khiến đầu óc của anh lúc bấy giờ chỉ toàn là ý tưởng đen tối, bắt anh phải ngoảnh mặt làm ngơ không dám nhìn.

Gương mặt của Cúc lộ vẻ bằng lòng.

-Vậy mà hồi đó em cứ ngỡ là anh bị bệnh lãnh cảm.

-Anh đâu phải là gỗ đá, có điều anh không hiểu em đã tập luyện như thế nào mà có được thân hình đẹp tuyệt vời như vậy.

Cúc giải thích.

-Chỉ là trời sinh mà thôi, em chẳng có tập tành gì cả, suốt ngày chỉ bơi lội trong hồ bơi ở nhà. Thực lòng mà nói, em rất thích đi tắm ở hồ bơi công cộng, vì mỗi khi thấy em mặc đồ tắm đi ngang, bọn thanh niên choi choi vẫn thường huýt sáo vang trời. Tiếng huýt sáo làm em ngượng đỏ mặt nhưng trong lòng lại vui sướng, tuy vậy em rất ít khi đi bơi ở những hồ bơi công cộng, vì nước ở đó không được sạch sẽ như nước hồ bơi ở nhà. Còn một điều quan trọng nữa mà anh không biết đâu, em là một trong bốn nữ lực sĩ bơi lội của Việt Nam Cộng Hòa tham dự Đông Nam Á Vận Hội, trong bộ môn nhào lộn trên tấm ván nhún. Vì bơi lội thường xuyên như vậy, nên thân thể của em nẩy nở đều đặn, chỉ có vậy thôi.

Tháng 9 năm 1978, tôi được đưa ra tổ dân phố lần thứ hai để duyệt xét xin giải chế. Nhờ cái đồng hồ Seiko mà tôi lo lót cho tên công an khu vực từ năm trước, mọi việc đều tiến hành êm đẹp. Cuối cùng để kết thúc buổi họp, tên công an khu vực với giọng nói rõ ràng.

-Trước mặt đồng bào, anh Nguyễn trọng Quân, trung úy Ngụy quân đã được tập trung học tập cải tạo và nhà nước khoan hồng cho về. Hôm nay sau khi giải chế, anh chính thức trở thành một công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi theo hiến pháp quy định.

Tôi cảm ơn nhà nước và Đảng Cộng Sản mà trong bụng chỉ muốn nói. Từ giờ trở đi, tôi thoát được cái nạn bốn chữ ký một ngày, có thể xin phép đi Sài Gòn để tìm đường vượt biên. Chuyện làm công dân của cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tôi xin nhường cho các đảng viên Đảng Cộng Sản và gia đình họ. Tôi cũng tin rằng tất cả người dân của hai miền, Nam và Bắc Việt Nam đều sẵn sàng từ chối cái quyền công dân này. Bằng chứng là năm 1954 hơn một triệu người dân Miền Bắc di cư vào Nam, sau tháng 4 năm 1975, hàng triệu triệu người dân Việt Nam tìm đường vượt biên, không biết cho đến khi nào mới chấm dứt. Riêng cá nhân tôi, tôi thà chết trên biển cả, đem tấm thân này làm mồi cho cá, quyết không làm công dân của một nước, mà trong đó mạng sống của con người bị xem nhẹ như cỏ rác, nhân phẩm của con người bị chà đạp còn tệ hơn súc vật.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

4. Chương 38
Gia Tĩnh Minh Thế Tông.

Đang ngon giấc, tôi giật mình thức dậy vì tiếng đập cửa ầm ầm từ dưới nhà vọng lên. Tôi đoán rằng phải có nhiều cánh tay cùng đập một lần vào cửa thì âm thanh hung hãn, dồn dập, gấp rút của nó, mới có thể vang xa từ tầng một lên đến tầng ba, nơi tôi đang ngủ.

Tung mền ngồi dậy nhìn quanh, tôi thấy Cúc đang ôm chặt con vào lòng, con bé hình như sợ hãi quá sức nên im thin thít. Riêng tôi thực lòng mà nói, tôi sợ đến són đái trong quần.

Từ ngày được thả về với gia đình cho đến hôm nay cũng đã gần hai năm rồi, thỉnh thoảng trong giấc ngủ, tôi lại mơ thấy công an đập cửa nhà rồi bắt tôi nhốt vào trại cải tạo. Với những cơn ác mộng như vậy, tôi thường thấy mình bị giam giữ khi thì năm năm, khi thì mười năm, cũng có khi không có ngày về, bị nhốt hoài nhốt mãi giữa những hàng rào vỉ sắt PSP đen đủi xám xịt, tuy không có cảnh bom rơi đạn nổ, không có bắn giết chết chóc, chỉ toàn là kê khai lý lịch cá nhân, thành khẩn khai báo tội lỗi, đọc kiểm điểm hàng đêm trước tổ, chỉ chừng đó thôi nhưng nó làm cho con người sợ hãi đến bỏ ăn mất ngủ, và một đều ghê rợn nhất không bao giờ thay đổi là câu nói của quản giáo “Sĩ quan Ngụy phản quốc như các anh, không bị xử bắn, chỉ cho đi ở tù là may mắn lắm rồi”. Chỉ có chừng đó sự kiện, tái đi diễn lại từ ngày này qua ngày khác, và lần nào cũng vậy, khi thức dậy là toàn thân của tôi mồ hôi đã ướt dầm hết cái áo lót.

Những cơn mộng dữ theo đuổi tôi, lâu dần khiến tôi có phản xạ tự nhiên như khi thấy nguy hiểm, sẽ tìm đường chạy thoát thân. Không hiểu tại sao đêm nay, khi nghe tiếng đập cửa, sự sợ hãi lại khiến tôi ngồi chết lặng, bất động một chỗ đến vài phút mà không biết phải làm gì. Có thể mặt mày của tôi đã trở nên xanh lè, cắt không còn giọt máu, cho nên Cúc trấn an tôi.

-Không có gì đâu anh, đừng có sợ.

Tôi chưa kịp hoàn hồn thì ầm một tiếng, cánh cửa phòng ngủ của vợ chồng tôi bung ra. Bốn, năm người, mặc thường phục với áo sơ mi xam xám, quần vải màu bộ đội, chân mang dép nhựa. Một điều đặc biệt là tất cả những người này đều có một gương mặt lạnh như tiền, và đôi mắt sắt như dao. Một người trong bọn vai mang sắc cốt, đầu đội nón cối, tay cầm tờ giấy dõng dạc hỏi.

-Ai là Nguyễn thị Cúc.

-Thưa tôi đây.

Nhìn chăm chăm vào mặt Cúc, gã đội nón cối gặng hỏi.

-Chị là Nguyễn thị Cúc?

-Thưa phải.

-Tên tư sản mại bản Nguyễn văn Bảy, là gì của chị?

-Ông ấy là ba của tôi.

-Hắn ở đâu rồi?

-Dạ, đang ở bên Mỹ.

Đưa tay chỉ vào tôi, gã hỏi.

-Còn cái anh ngồi đó là ai?

-Thưa là chồng tôi.

Nhìn quanh khắp căn phòng, gã to giọng.

-Còn ai ở trong phòng này nữa không?

Cúc xẳng giọng.

-Còn con gái của tôi.

Cúi đầu ghi ghi chép chép vào tờ giấy một lúc, gã đội nón cối nói to.

-Chúng tôi có lệnh ở trên lục soát căn nhà này.

Nói xong, gã chỉ vào phòng tắm.

-Yêu cầu hai người đi vào phòng đó ngay lập tức, đem luôn đứa bé vào.

Cúc hỏi với giọng bực tức.

-Các ông là ai? Giữa đêm khuya ngang nhiên vô nhà của tôi rồi đòi nhốt chúng tôi vào phòng tắm.

Gương mặt của gã đội nón cối lộ vẻ giận dữ, đôi mắt của hắn long lên sòng sọc như muốn ăn tươi nuốt sống người đối diện.

-Chúng tôi là ai hả? Chị sẽ được cho biết sau. Bây giờ, chị có thi hành lệnh hay không thì nói.

Nhìn gương mặt đầy sát khí của gã, tôi nháy mắt với Cúc rồi riu ríu dẫn Cúc và con đi vào phòng tắm. Mới được vài phút, bất chợt có hai tên Việt Cộng trẻ tuổi vào dẫn chúng tôi ra, họ đưa chúng tôi lên sân thượng, một người chỉ tay về phía trước rồi nói.

-Hai người đến cuối sân, rồi ở đó.

Nói xong hai tên Việt Cộng kéo ghế ngồi chận đường, không cho chúng tôi di chuyển đi đâu hết.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên trời cao, bầu trời không còn tối đen như mực mà đã chuyển sang màu xám trắng, tôi ước chừng giờ này chắc đã hơn năm giờ sáng.

Khi mặt trời bắt đầu mọc ở phương đông, tỏa ánh sáng ấm áp xuống sân thượng nơi tụi tôi đang ngồi. Cúc nói với hai tên Việt Cộng đang canh giữ chúng tôi.

-Các anh phải cho chúng tôi đi vệ sinh và làm thức ăn sáng, con tôi đói rồi.

Một trong hai tên Việt Cộng nhìn đồng hồ.

-Chị đợi đấy, tôi còn phải xin lệnh trên.

Vừa dứt lời, hắn quay sang nói nhỏ với đồng chí của hắn rồi quay lưng bước đi xuống nhà. Chừng 15 phút sau tên Việt Cộng lúc nãy trở lại. Hắn chỉ vào Cúc rồi nói.

-Chị dẫn con đi theo tôi.

Quay sang tôi.

-Anh không được đi đâu hết, ở lại đây cho đến khi chị này và con bé trở lại, lúc bấy giờ anh mới được đi.

Loay hoay như vậy mất hơn cả 20 phút, cuối cùng chuyện vệ sinh cá nhân buổi sáng của chúng tôi, cũng giải quyết xong xuôi. Hai tên Việt Cộng canh gác chúng tôi trở lại nơi ghế ngồi, họ thi hành nhiệm vụ một cách nghiêm chỉnh, không chút lơ là.

Tôi và Cúc ngồi ở cuối sân thượng, cách hai tên Việt Cộng một khoảng khá xa. Chúng tôi chuyện trò với nhau, chỉ nói nhỏ nên không sợ họ nghe được. Cúc hỏi tôi.

-Lúc nãy anh xuống dưới nhà, có thấy ba má và mọi người ở đâu không?

Tôi than với Cúc.

-Tên Việt Cộng nói giọng Miền Trung, áp giải anh đi, hắn đưa anh tới thẳng phòng tắm, rồi đứng ngay cửa chờ đợi. Mới được vài phút là hắn lại hối anh mau trở về. Bị canh giữ nghiêm ngặt nên anh không thấy và không biết gì cả.

Cúc nói với tôi.

-Em và con cũng bị y như vậy.

Đến lúc này, Cúc nói mà như là thì thầm.

-Anh à, tất cả vàng bạc, tài sản của mình em đều để trong cái xách tay của em. Hai mươi lăm lượng vàng Kim Thành nặng gần một kí, mười xấp tiền giấy một trăm đô la, mỗi xấp là mười ngàn, tổng cộng là một trăm ngàn đô.

Vừa dứt lời, Cúc đã vội vàng đính chánh.

-Không phải một trăm, thực ra số tiền đó chỉ còn chín mươi chín ngàn mà thôi. Vì mấy năm trước, em đã lấy ra một ngàn gởi cho anh. Quan trọng nhất là cái túi đựng hột xoàn, em cũng để trong xách tay luôn.

Vốn đã biết rõ tình trạng tài chánh của gia đình nhưng tôi vẫn đinh ninh là để tiền trong nhà của ba tôi là an toàn nhất, nên tôi rất an tâm, không có ý kiến gì với Cúc. Hôm nay, đứng trước tình trạng của cải mất trắng không còn một xu nào, tôi mới biết là cả tôi và Cúc đều sai lầm. Câu nói “Không bao giờ để tất cả trứng vào một cái giỏ” hiện ra trong đầu.

Tôi nhìn Cúc mà lòng đầy lo âu.

-Anh tin rằng, nếu họ lục soát trong nhà, tất cả tài sản của mình không cánh mà bay mất rồi.

Thay vì buồn bực, Cúc lại an ủi tôi.

-Anh à, mình phải bình tĩnh để đối phó với mọi tình huống khó khăn.

Khoảng 9 giờ sáng, tên Việt Cộng đầu đội nón cối với cái sắc cốt đeo bên hông lúc sáng xuất hiện, tay ôm một mớ giấy trắng. Hắn đưa giấy bút cho Cúc và tôi rồi nói.

-Chị Nguyễn thị Cúc và anh đây, hai người phải khai lý lịch cá nhân, khai báo đầy đủ quá trình hoạt động trong suốt thời gian sống dưới chế độ Mỹ Ngụy. Riêng chị Cúc, chị phải viết cho rõ có bao nhiêu nhà cửa ở thành phố Hồ chí Minh của tên tư sản mại bản Nguyễn văn Bảy và nhà riêng của chị, không được bỏ sót, cho dù là một căn nhà nhỏ.

Cúc nói với tên đội nón cối.

-Tôi muốn gặp người chỉ huy của các anh.

-Chị cần gì?

-Chúng tôi bị bỏ đói từ sáng đến giờ, con tôi chỉ mới hơn hai tuổi, nó cần có sữa và phải được ăn uống đầy đủ.

Gã đội nón cối nhìn con gái tôi.

-Chị cần gì nữa không?

Cúc nói.

-Cho tôi đi lấy một ít thực phẩm của con nít.

Gã đội nón cối lắc đầu.

-Chuyện này thì không thể được, chị và chồng chị bị cách ly, không được liên hệ với bất cứ một ai.

Nói xong gã quay lưng bước đi.

Tôi và Cúc lại phải ngồi đó chờ đợi. Khoảng nửa giờ sau mới thấy gã đội nón cối trở lại, hắn đặt cái giỏ xách xuống bàn, lấy ra bốn ổ bánh mì nhỏ, một chai nước lạnh, hai cái ly và một lon sữa đặc có đường kèm theo cái khui đồ hộp. Mấy thứ thực phẩm này, tôi biết hắn lấy dưới nhà bếp của tôi, trừ mấy ổ bánh mì.

Gã đội nón cối nói.

-Đây là phần ăn trưa và tối của gia đình chị. Theo đây, tôi cũng yêu cầu chị và chồng của chị phải khai lý lịch cho đầy đủ chi tiết. Khoảng ba giờ chiều, tôi sẽ trở lại để thu bản tự khai của hai người.

Nói xong gã đội nón cối quay lưng bước đi, mới được hai bước bất chợt như nhớ ra điều gì, hắn xoay người lại.

-Có một điều quan trọng mà tôi muốn nói thêm, vàng bạc, đá quý hay đô la, là những thứ quốc cấm, đế quốc Mỹ dùng nó để trả lương cho bọn tình báo CIA mà bọn chúng gài lại. Nếu có những thứ trên, chị phải thành thật khai báo với cách mạng.

Sau một thoáng bối rối, Cúc trả lời.

-Tôi không có gì cả, ngoại trừ mấy trăm đồng của nhà nước Việt Nam.

Gã đội nón cối cười thoải mái.

-Chị không có vàng bạc, đá quý, đô la. Đúng không?

Cúc đáp.

-Đúng.

-Chị nhớ ghi rõ điều này vào tờ khai, tội lỗi của gia đình chị, một gia đình tư sản mại bản, nặng hay nhẹ là ở mục này.

Dường như thấy đã dặn dò chúng tôi đầy đủ mọi chuyện, gã đội nón cối vội vã bước nhanh như chạy, rồi biến mất sau cầu thang ở đầu sân.

Cúc cầm chai nước, đưa đến trước mặt hai tên Việt Cộng canh chúng tôi.

-Tôi muốn nấu chút nước sôi pha sữa cho con.

Tên Việt Cộng lắc đầu nguầy nguậy.

-Muốn làm bất cứ chuyện gì, chị phải hỏi ông cán bộ lúc nãy, chúng tôi không biết gì hết, chỉ có nhiệm vụ canh giữ hai người.

Tôi biết nấu nước sôi chỉ là cái cớ, Cúc muốn đi xuống nhà để dò la tin tức, tìm hiểu thêm chuyện gì đã xảy ra cho cả gia đình. Gặp hai ông thiên lôi đứng canh cửa, nên Cúc đành chiụ thua.

Cúc cho con ăn bánh mì chấm với sữa đặc, tội nghiệp con bé đói bụng nên ăn uống ngon lành.

Tôi lấy tờ giấy và bắt đầu viết bản tự khai lý lịch cá nhân. Với tù cải tạo, khai lý lịch là nghề của chàng, tôi viết một mạch những chi tiết cá nhân mà tôi đã thuộc lòng, đã khai đi khai lại hàng vài chục lần ở trong tù. Trong vòng nửa giờ, bản tự khai lý lịch cá nhân của tôi đã hoàn tất. Tôi quay sang giữ con để Cúc rảnh tay viết bản tự khai, đồng thời nhắc nhở Cúc.

-Em có biết không, giọng điệu của tên Việt Cộng đội nón cối này, giống hệt như tên Việt Cộng tra tấn anh ở trong tù. Tiền bạc của mình hắn đã lấy hết sau đó hăm dọa, ép buộc mình phải ký vào bản tự khai, xác nhận là không có đồng xu cắc bạc nào hết. Hình như, anh đã kể chuyện này cho em nghe rồi phải không?

Cúc gật đầu.

-Em có nghe rồi.

Tôi nói với giọng rầu rầu.

-Qua bài học kinh nghiệm ở trong tù, anh biết chắc chắn một điều, tất cả đô la, hột xoàn, vàng bạc, của mình đã bị bọn nó cướp mất rồi.

Nhìn gương mặt buồn buồn của Cúc, đột nhiên tôi cảm thấy xót xa trong lòng rồi yên lặng không muốn nói gì. Hai đứa xé miếng bánh mì rồi gắng gượng nhai cho đỡ đói, tôi nói xé mà không nói bẻ vì ổ bánh mì cũ, dai nhách như miếng giẻ.

Ba giờ chiều, gã đội nón cối trở lại. Sau khi thu hai bản lý lịch cá nhân của tôi và Cúc, hắn chìa ra một tờ giấy đã viết sẵn.

-Đây là giấy xác nhận, chị Nguyễn thị Cúc không có vàng bạc, đá quý và đô la. Chị hãy đề ngày tháng vào rồi ký tên ở bên dưới.

Cúc cầm tờ giấy, đọc sơ qua rồi lặng lẽ ký tên, tay ký mà gương mặt lộ vẻ phẫn uất tột cùng. Khi đưa tờ giấy cho gã bộ đội, Cúc nhìn hắn với đôi mắt hung dữ của một con thú khi bị dồn tới chỗ chết.

Gã đội nón cối với giọng nói đầy bực tức.

-Thành phần tư sản mại bản như chị phải vui mừng, vì đã được nhà nước khoan hồng, không bắt đi cải tạo. Tại sao chị lại cau có như vậy?

Cúc nói.

-Ông lầm rồi, tôi không cau mà cũng không có gì hết.

Gã đội nón cối nhìn tờ giấy với chữ ký của Cúc, rồi cười thoải mái.

-Chị làm việc rất tốt, tôi sẽ đề nghị với ở trên giúp đỡ gia đình chị. Tối nay hai người phải ngủ tại chỗ này, ngày mai tôi tin rằng công việc kiểm kê sẽ hoàn tất, lúc bấy giờ chị được trả tự do. Bây giờ tôi xuống phòng của chị, lấy mùng mền giúp cho hai người.

Gia đình nhỏ của tôi, trải qua một đêm dài nơi cuối sân thượng. Cũng may Đà Lạt đang vào mùa hè, chúng tôi lại có đủ mùng mền nên không bị lạnh, mặc dù phải ngủ ngoài trời.

Hai tên Việt Cộng canh gác chúng tôi nằm ngủ ở đầu sân thượng gần cầu thang. Mỗi khi chúng tôi muốn đi tiểu, đều phải xin phép và sau đó được họ đưa đi. Suốt đêm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng tôi lại nghe nhiều tiếng búa đập chan chát từ dưới nhà vọng lên.

Tôi khều vai Cúc.

-Em à, hình như cái đám Việt Cộng này muốn phá nhà mình hay sao. Anh nghe có nhiều tiếng búa nện xuống sàn nhà.

Cúc với giọng ngái ngủ.

-Em có nghe gì đâu, mà kệ họ muốn phá gì cũng được. Của cải mất sạch em còn chưa lo, thì sá gì cái nhà nho nhỏ này.

Cuối cùng tôi đành nghe theo lời Cúc, nhắm mắt dỗ giấc ngủ.

Quá sức mệt mỏi vì đầu óc căng thẳng suốt ngày, tôi đánh một giấc ngon lành cho đến khi trời đã sáng tỏ.

Khi tôi và Cúc thức dậy, hai tên Việt Cộng canh giữ chúng tôi đã biến đi đâu mất tự lúc nào. Không có người gác, chúng tôi lần mò đi xuống lầu ba. Mới nhìn thấy phòng ngủ của mình, tôi tưởng mình bị hoa mắt. Đồ đạc trong phòng ngổn ngang, bừa bộn, như là nhà hoang, ghế gãy, chân bàn xiêu vẹo, tủ mất cửa, bên trong trơ trọi, trống trơn không còn một thứ gì. Quần áo của tôi và Cúc biến mất, chỉ còn sót lại vài bộ quăng dưới sàn nhà, mấy tấm nệm trên gường ngủ bị rạch nát lòi cả bông trắng bên trong, tường và sàn nhà loang lổ vết đục đẽo. Tôi suy nghĩ mãi mà không biết tại sao những người kiểm kê nhà của tôi, phải đục phá như vậy. Cuối cùng sau khi suy nghĩ cặn kẽ, tôi tin rằng họ làm như vậy chỉ với mục đích là tìm vàng và đô la cất giấu trong đó mà thôi.

Trong tự điển của Việt Nam Cộng Hòa, chữ đục tường khoét vách dùng để chỉ những người thuộc thành phần đầu trộm đuôi cướp. Hôm nay năm 1978, sau ba năm Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, những người đục tường khoét vách nhà tôi tự xưng là kiểm kê, đánh tư sản mại bản, đợt hai hay đợt ba gì đó, tôi hoàn toàn không biết. Nếu đem so sánh hai vế kể trên thì nhà nước kiểm kê, đánh tư sản mại bản, đồng nghĩa với bọn đầu trộm đuôi cướp.

Nóng lòng, muốn biết chuyện gì xảy ra với ba má tôi, chúng tôi vội vàng đi xuống thang lầu.

Lầu hai vắng ngắt, không một bóng người, phòng ngủ của ba má tôi và hai đứa em cũng tan hoang như nhà vô chủ, tường, sàn nhà loang lổ dấu vết đục cắt đào bới.

Không thể chần chờ, tôi chạy nhanh xuống tầng trệt, nơi phòng khách bức tường che cái tủ rượu đã bị phá sập, hơn một trăm chai rượu với cái tủ đã bị đem đi đâu mất. Ba má tôi và chị Hai đang ngồi nơi phòng khách. Khi thấy Cúc, ba tôi vội đứng lên ôm lấy đứa con dâu. Đây là hành động hơi khác thường của ba tôi, bởi vì từ xưa đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy ông biểu lộ tình thương yêu con dâu bằng hành động ôm Cúc như vậy. Trên gương mặt nhăn nheo già nua của ông, hai hàng nước mắt lăn dài xuống má. Ông nói mà tiếng được tiếng mất.

-Con.. Con có..sao không?

Hình như những giọt nước mắt của ba tôi đã làm Cúc nao lòng. Với giọng nói như nấc nghẹn trong cổ. Cúc nói.

-Dạ con không sao hết.

Cũng cùng lúc ấy, hình như sự chịu đựng khổ đau đã lên đến mức cuối cùng, như một giọt nước tràn ly, Cúc ôm ba tôi khóc như mưa.

Tôi nghĩ rằng bao nhiêu là oan khiên, uất hận, chất chứa trong lòng từ hôm qua đến giờ, được dịp bùng phát, cho nên Cúc mới khóc ngon lành như vậy.

Tôi ôm lấy Cúc vỗ về.

-Nín đi em.

Cúc nói qua nước mắt. -Ngày xưa, ba có kể cho em nghe một chuyện xảy ra ở ngoài xứ của mình, khi ông dắt trâu trên con đường làng. Chính ba đã chứng kiến cảnh một con gà mái xù lông, xòe cánh, với mục đích bảo vệ đàn con quyết không cho diều hâu bắt con của mình, cho dù chính bản thân của con gà mẹ cũng có thể là con mồi của diều hâu. Trước sự đề cao cảnh giác, sẽ chống cự mãnh liệt đến cùng của gà mẹ, con diều hâu đành bỏ cuộc bay đi. Kể xong chuyện ba nói với em “Trước mặt kẻ thù cho dù họ có mạnh đến đâu, nguy hiểm đến mức nào, con phải can đảm dùng tất cả sức lực của mình để chống lại. Nếu có thắng được mình, kẻ thù cũng phải trả một giá tương xứng.” Hôm nay nhớ lời dặn của ba, em đã tỏ thái độ chống đối của mình. Trước mặt tên Việt Cộng, em phải dùng tất cả can đảm mà mình có để không khóc trước mặt kẻ thù. Nhưng mà bây giờ thì em có quyền khóc, vì tất cả gia tài của mình đã bị những người nhân danh chính quyền ăn cướp một cách trắng trợn, dã man, tàn bạo, rừng rú, hơn cả những bọn thổ phỉ ở trên núi .

Má tôi và chị Hai nhìn thấy cảnh mũi lòng trước mặt, cả hai cũng ôm nhau khóc theo, tiếng khóc của họ không chừng còn to hơn tiếng khóc của ba tôi và Cúc. Đứng trước cảnh bi lụy như vậy, tôi phải quay mặt rồi đi ra trước nhà. Nếu nấn ná ở đây lâu hơn chút nữa, tôi biết mình sẽ khóc theo. Đến lúc này tôi mới giật mình, chiếc xe Honda của tôi vẫn thường dựng ở đây, không còn nữa. Trong tận cùng của tuyệt vọng, tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào tường, đầu óc như tê dại đi khiến tôi không còn muốn sống với thực tại.

Những gì vừa mới xảy ra cho gia đình tôi, nhắc tôi nhớ đến mấy câu thơ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Đồ tế nhuyễn của riêng tây

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.

Gì chứ truyện Kiều thì người Việt Nam hầu như ai cũng biết. Nói gì đâu cho xa, má tôi là một người đàn bà nhà quê, chỉ biết dăm ba chữ quốc ngữ đủ để viết tên mình, vậy mà bà cũng thuộc làu nhiều đoạn trong truyện Kiều.

Ngày xửa ngày xưa, xưa lắm rồi, vào đời Gia Tĩnh triều Minh bên Tàu, thời buổi phong kiến, vua chúa quan lại, có toàn quyền sinh sát trong tay, nhưng khi muốn cướp tài sản của nhà viên ngoại họ Vương, mấy ông tham quan thời bấy giờ, vẫn phải tìm một cái cớ, dựa vào lời khai man của thằng bán tơ để mà hành xử.

Hôm nay, mặc dầu đã gần cuối thế kỷ thứ 20, lúc mà con người đã đặt chân lên mặt trăng từ lâu rồi, thì ở cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng Sản ăn cướp giữa ban ngày, mà không cần dựa vào lời man khai của một ai. Nhà nước, chỉ cần gắn cho một người nào đó bốn chữ “Tư sản mại bản” là có quyền cho sai nha đến dọn sạch của cải vật chất trong nhà người đó.

Nhan sắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu.

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Hình ảnh trong bài: Sưu tập trên Net và bookmark by Sơn râu

Tháng tám, mùa Thu năm Dậu, binh lửa khắp bốn phương, Hà Đô rực cháy ta lánh mình về ở Thạch Quận, nơi ấy núi đồi trùng điệp, khí lạnh căm căm. Nhân khi thong thả, có kẻ cho mượn một cuốn văn vần rách nát đọc giải khuây. Câu chuyện đời nàng họ Vương đã muôn phần éo le oan trái thời nhiễu nhương tao loạn, thật đau lòng rơi lụy; lại thêm lời thơ như ngọc chuốt, ta tuổi còn thơ cầm nước mắt không đang. Đến như Từ Hải đường đường một đấng mà cũng sa cơ làm ta xót xa tấc dạ.

Ta hỏi: Áng văn của ai mà trác tuyệt. Đồ trẻ ranh miệng còn hôi sữa biết gì mà nói, tuổi mày còn chưa được phép đọc nửa kể gì đàm luận, khúc Đoạn Trường Tân Thanh này là của Tố Như Tiên Sinh viết ra đã hơn một trăm năm. Từ buổi ấy ta lấy sách đó nằm lòng đọc đi đọc lại đến nỗi nhập tâm. Bao nhiêu dâu bể sống lên trong buổi nhiễu nhương bức rứt, đứng ngồi không yên, cảnh tang thương diễn ra như giấc mộng, tuồng đời lắm cảnh nhố nhăng khiến ta mỗi ngày một thêm yêu tay giang hồ Từ Hải, lòng những không yên tự hỏi: đời người anh hùng quả vậy chăng? Một đêm kia, ta đang đọc sách bên đèn trên lầu vọng nguyệt bỗng thấy một người oai phong lững lững vén màn đẩy cửa, đi vào ngồi xuống tràng kỷ đối diện với ta, xưng tên là Từ Hải. Vừa mừng  vừa lo, không biết mình tỉnh hay mê? Ta hỏi: Ông còn sống sao? Từ đáp: Ta vẫn còn sống, cảm vì thanh khí nên mạo muội đến hầu chuyện, uống với nhau chén rượu nhạt, hát với nhau một vài câu, chắc tiên sinh cũng chả chấp gì mà không cùng nhau vui ít phút nhất nửa ta cũng muốn kể lại cùng tiên sinh một vài sự thực của đời kẻ giang hồ này… Ôi câu chuyện ngày nào còn thảng thốt như một giấc chiêm bao, thực giả, giả thực nhiều lúc củng làm ta choáng váng chẳng biết ra sao. Khi tỉnh dậy ta vẫn còn nghe như tiếng ai trầm buồn bóng ai thấp thoáng, tiếng cười giọng nói như còn phảng phất. Từ đó đến nay câu chuyện vẫn còn in trong dạ đã nhiều phen cầm bút viết ra, nhưng giấy bút vẫn chừng như nguội lạnh, bao đêm trường thao thức nhiều khi muốn đoạn tuyệt với bút nghiên.

Giấy mực còn có nghĩa gì nửa? chữ nghĩa thánh hiền mà làm chi? Đêm qua ta lại thấy Từ Hải về đứng bên thư án hỏi: Tiên sinh còn nhớ kẻ hèn này không? Ta nói: Còn nhớ, quên sao được… Từ Hải trừng mắt nhìn ta: Sao tiên sinh không vứt bỏ bút, đốt bỏ sách mà cầm lấy một con chủy thủ? Ta buồn rầu: Con chủy thủ từ chàng Kinh Kha đến nay đã thất truyền, còn chăng là những con chủy thủ giả trong giới lục lâm. Từ Hải quát lên: Tiên sinh không còn một mũi nhọn nào khác sao? Ta lặng đi, đến khi nhìn lên thì không còn thấy Từ đâu nửa.

Đêm nay nằm nghe tiếng súng vẳng đưa vào kinh thành, trời đất u ám, ta nghe như tiếng quát của Từ Hải còn vang dậy. Ta thấy cần phải trả cho xong một món nợ nên ngồi vào thư án, thắp ngọn bạch lạp mà viết lại câu chuyện đời của Từ Hải này, một là để gởi cho vong linh của Từ Hải. Sau là để tạ ơn với Nguyễn Du tiên sinh đã cho một kẻ sống 200 năm sau được gặp một tay giang hồ cự phách.

Từ Hải dời bến lên tìm tửu điếm. Trời nhá nhem tối qua mấy con đường trong phủ vẫn không thấy một tửu điếm nào, mải cho tới cửa đông thành mới thấy mợt quán rượu lớn ngoài cửa có treo đèn lồng liền bước vào gọi rượu, chủ quán ngó vào mặt Từ Hải rồi từ chối:

_Ở đây không bán rượu anh sang cửa Bắc mà uống.

_Sao cửa tiệm bán rượu mà không bán rượu là thế nào. Nhà ngươi sợ ta không có tiền sao?

Vừa khi đó có hai người khách bước vào quán kêu rượu, chủ quán bỏ Từ Hải chạy vào kêu kẻ hầu mang rượu ra. Trông hai người kia có vẽ sang trọng hơn. Từ Hải đập bàn hét lớn:

_Tụi bay khinh ta không đáng uống rượu sao?

_Có lẽ anh ở xa mới tới nên không biết rằng nơi đây chỉ bán rượu cho các quan mà thôi. Anh sang cửa Bắc uống với tụi phu phen và lái buôn ở bên đó thì hơn.

Từ Hải nghe nói máu giận trào hông nhào tới thoi tên chủ quán một cái nhào vô tường té xỉu. Hai người khách ở bàn trong đứng dậy. Người cao lớn tiến ra chưa kịp nói nửa lời đã bị Từ hải đá chúi ngả vào gầm bàn. Người khách còn lại ra vẽ văn nhân đứng ở phía bên kia bàn nói ra:

_Nhà ngươi sao dám phạm vào quan Thái Úy, muốn chết hay sao?

_Thái gì, có thái thịt, mi muốn ta thái nó ra từng miếng mà nhậu nhẹt chơi không. Mi muốn sống hãy ngồi xuống, ngồi xuống, ta ra lệnh.

Người khách run sợ ngồi im. Từ Hải tới vực tên kia dậy rồi đặt ngồi trên ghế cùng tên chủ quán.

_Quán này dành cho các quan mà, toàn quan lớn cả, thằng thuyền chài này xin làm một tên lính hầu rượu cho phải phép. Tửu bảo đâu mang rượu ra đây.

Lũ hầu run sợ mang rượu ra, Từ Hải cầm cả vò đổ lên đầu tên Thái Úy và chủ quán.

_Uống đi mời các quan…ngàn năm một thưở kẻ hèn mọn du côn này mới có cơ hội để hầu rượu quý quan. À, quan lớn, mời quan lớn.

Người khách ngồi im như đã chết. Từ Hải đẩy một vò rượu qua nhưng khách vẫn ngồi im.

_Sao quan lớn, hay ngài không muốn dùng thứ rượu này. Tửu bảo hãy cho ta thứ rượu tăm Sơn đông ra đây, hãy hâm thật nóng. Tửu bảo mang rượu ra. Từ Hải mở vò ngửi ngửi rồi nhấc lên tu một hơi. Một hơi rượu làm Từ Hải tỉnh táo, Từ đưa tay quệt áo ngang miệng nhìn người khách vẫn ngồi im.

_Quan lớn, nhậu đi quan lớn, mấy khi tên cu ly này mới được hầu rượu quan lớn! Tửu bảo cho ta nửa con heo béo ra đây.

_Dạ thưa không có heo.

_Có thịt người không?

_Dạ… dạ…

Từ Hải hít mũi đánh hơi rồi xô ghế đứng lên đi thẳng xuống nhà bếp. Từ thấy có mấy đảnh thịt treo liền vớ lấy.

_Cái gì đây tụi bây?

_Dạ thịt cầy

_Thịt cầy thì tao không ăn được sao? Hay thịt cầy chỉ dành cho các quan lớn quan nhỏ nhà mày?

Từ Hải mang mấy đảnh thịt lên vừa ngoạm vừa uống rượu. Tên Thái Úy và chủ quán đã ngúc ngoắc cái đầu. Người khách vẫn ngồi im.

_A ha, quan lớn chê rượu Sơn đông à. Vậy thì có một thứ rượu chính hiệu Việt đông đây, kẻ hèn xin cam đoan là rượu tốt để dâng lên ngài dùng thử.

Vừa nói Từ Hải vừa đứng lên hai chiếc ghế giang chân tụt quần ra và lấy chiếc bát cầm ở tay mà đái vào. Xong xuôi Từ Hải bước vào giữ đầu người khách mà đổ vào miệng. Hắn kêu ằng ặc như một con heo bị chọc tiết. Kẻ trong quán ngó ra xanh mặt. Ăn uống no say Từ Hải đứng dậy kêu tửu bảo:

_Lúc các quan lớn trở dậy chúng bây nói lại rằng: Từ Hải, một tên chèo thuyền du côn ở bến Việt đông rất mong được hội ngộ quý quan…

Từ Hải chếnh choáng hơn men trở về bến miệng lảm nhãm văng tục. Lủ tửu bảo kinh hồn đứng ngó nhau, bởi cái tên Từ Hải làm họ rụng rời. Ở cái đất Việt đông này cái tên Từ Hải ai là chẳng nghe đến một hai lần bởi những hành tung của Từ Hải. Từ là một con người thuyền chài dưới bến, có võ nghệ, người đen đủi xấu xí, nhưng xử sự là một tay anh chị hào phóng. Hồi chưa có Từ Hải ở phủ Việt đông bọn du thủ du thực lưu manh phá phách thật khổ sở, chúng làm đủ mọi việc nhơ bẩn. Một tay Từ Hải đã làm cho bọn này khiếp sợ, kẻ thì bỏ đi tìm đất khác kiếm ăn, kẻ cải tà quy chánh làm đàn em Từ Hải, cho nên người ta gọi Từ Hải là “trùm du côn”. Từ Hải thấy chuyện gì chương tai gai mắt là chẳng bỏ qua giúp kẻ yếu trừ kẻ mạnh, lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo chẳng bao giờ thu cho mình một chút lợi nhỏ quanh năm đóng một chiếc khố rách. Bởi thế ai cũng kính nể, mến chuộng. Từ chỉ vui với đàn em và nghề chài lưới nể ai mời mọc trả ơn chàng thì nhận uống một bữa rượu suông cho say mà lấy làm thích. Uống rượu ngà ngà Từ Hải huyên thuyên hát và gảy đàn như một tài tử  nhàn du hạnh phúc. Viên quan ở đó có ý mến cho gọi đến sung vào lính. Từ Hải làm ngơ và từ chối: “Thưa quan lớn con chỉ là con nhà thuyền chài” Nhưng cũng vì những hành tung của Từ Hải mà bọn quyền thế thù ghét đã nhiều phen định hãm hại.

Chẳng bao lâu viên quan cai trị cũ bị đổi. Viên quan mới hống hách thêm vào bọn sai nha quấy phá. Những chuyện đo nhiều phen làm Từ Hải tím mặt bầm gan. Rồi bổng đâu có một tin sét đánh tới tai dân chài: Viên quan ra lịnh trưng dụng tất cả thuyền bè để chở đá về Bắc kinh xây dựng hoàng cung. Đó cũng là vì viên quan muốn lập công với triều đình. Lệnh vừa ban ra dân chài lo sợ cho đời sống. Họ chỉ còn biết nhìn nhau khóc. Lời ta thán kêu ca tưởng thấu tới trời. Từ Hải liền tụ tập mọi người kéo tới cửa phủ để kêu xin. Nhưng cửa phủ đóng kín, lính canh nghiêm ngặt không cho vào. Chẳng những thế lính canh còn được lệnh đánh đuổi lũ dân đen. Những ngọn roi đã quất xuống. Từ Hải cáu giận quát lên:

_Sao lại thế được không có dân chúng bây làm quan với ai? Chúng bây muốn chết không có đất chôn phỏng?

Từ Hải liền trở về. Đêm hôm đó liền tụ họp mọi người lại tìm cách đối phó. Từ Hải bàn cùng mọi người xem phải làm thế nào. Nhưng rồi chẳng biết phải làm sao.

_Tại sao chúng ta lại phải chịu mãi sự bất công? Chúng ta đâu phải súc vật để chúng nó làm sao nên vậy. Bà con cô bác nghĩ xem. Tôi chỉ muốn bằm cho chúng nó mấy nhát rồi ra sao thì ra.

_Nhưng sức chúng ta yếu.

_Không, chúng ta không yếu nếu chúng ta hợp sức với nhau. Tại sao chúng ta lại không chống cự?

_Anh định rủ bà con làm loạn hay sao?

_Làm loạn là thế nào? Ai lại không muốn yên ổn làm ăn? Nhưng bây giờ người ta có cho mình sống như thế không? Sưu cao thuế nặng, nay mai việc khác ăn không ngon, ngủ không yên. Kẻ trên không đoái đến dân chỉ lo thụ hưởng, chất chứa bạc vàng, xây dinh thự, đàn ca hát xướng. Kẻ dưới cậy quyền hà hiếp dân chúng. Miếng ngon của lạ bị cướp, vải lụa bị thu không còn mảnh khố che thân. Gái đẹp bị mang đi rồi thải ra cho làm đĩ… Bao nhiêu việc đó ai không thấy, có mắt tai để đâu mà không biết. Vậy thì ai làm loạn? Thời như thế này đã chẳng phải là loạn hay sao? Chúng ta không muốn loạn, không làm loạn mà chỉ muốn hành động để được sống yên…Nay chúng ta chỉ còn mấy mảnh thuyền nát, gạo không còn một hột, tiền không còn một trinh, sống chỉ nhờ vào cái thuyền, nay lại trưng dụng để đi chở gạch xây nhà cho quan ở, như vậy thì khác nào chúng giết dân chài. Chúng ta bị chăt cụt tay chân… Lẽ thiệt hơn như thế tôi nói để bà con cô bác hay. Chẳng lẽ lại ngồi nhìn nhau mà chờ chết hay sao?

_Nhưng nếu chúng ta không chống nổi triều đình?

_Sao lại không? Chưa hành động mà đã sợ thất bại là làm sao? Chẳng qua ở đời này ai cũng một lần chết. Như vậy chọn cách chết nào tốt đẹp cho cuộc sống thì thôi chớ. Được thì sống, thua thì chết là lẽ thường tình…Ai theo tôi?

Câu hỏi cuối cùng đầy vẻ quyết liệt làm cho mọi người im lặng. Cả một vùng bến nước đắm vào nỗi hoang mang lo lắng. Những chiếc thuyền đứng im, người ta chỉ nghe thấy những tàn đuốc rơi xuống mặt nước sèo sèo. Từ Hải đưa mắt nhìn vào hơn hai trăm chiếc ghe chài châu đầu vào nhau thành một vòng tròn. Trong nền đêm ánh đuốc soi chập chờn vào những khuôn mặt đen bóng khắc khổ. Những mái tóc bạc chen vào những mái tóc xanh. Những con mắt tư lự, đôi môi ním lại uất ức. Họ đã đồng thanh theo Từ Hải. Sau khi các thuyền bè đã tản ra Từ Hải tụ anh em lại bàn tính mọi việc. Sáng hôm sau Từ Hải loan báo cho dân chài biết hết, trưa mọi người sẽ rời bỏ bến kéo đi, đám thanh niên lựa lấy những chiêc thuyền tốt giữ lại còn bao nhiêu dồn lại một chổ rồi phóng hỏa đốt hết, lửa cháy rực trời cả bến Việt Đông, dân phủ náo loạn kéo xem. Quan Phủ nghe tin mang lính ra thì chỉ nhìn thấy những mảnh ván trôi lều bều trên mặt nước, dưới bến không còn một chiếc thuyền liền bắt người tra khảo nhưng chẳng ai cung khai điều gì. Tức giận viên phủ quan sai chém đầu mười kẻ bêu xác trên cửa thành và tuyên cáo lùng bắt đám dân chài nhưng họ đều đã đi mất tăm. Từ Hải dẫn đàn thuyền ẩn vào khu rừng lau ở giáp phủ Việt Đông với Uyển thành. Sau biến cố ở Việt đông viên quan vội vàng viết biểu về triều. Minh Thế Tổ lúc đó đang tin dùng lũ hoạn quan. Bao nhiêu quyền bính ở cả trong tay bọn dua nịnh nên kỷ cương nát bét. Giặc giả nổi lên tứ tung không làm sao đánh dẹp được. Dù vậy việc ở Việt đông lại được chú ý vì công việc xây dựng một hành cung trở thành quan trọng. Nhưng khi quân đội tới nơi củng chẳng có ai mà đánh ngoài việc cướp bóc, hãm hiếp, đốt nhà.. dân chúng thêm phần cực khổ, thanh niên phẫn uất bỏ đi theo Từ Hải thêm đông. Ngày thao luyện võ nghệ. Đêm đêm giong thuyền đón chặn những thuyền buôn lấy lương thực, đón bắt những lính tuần, cướp phá những kẻ quyền thế giàu có, cùng những tên quan hà hiếp dân lành. Tiếng tăm Từ Hải mỗi ngày một vang động khắp cả vùng Sơn đông. Nghe đến tên Từ Hải bọn quan lại đều run sợ. Chẳng bao lâu Từ Hải đã chiếm được một vùng ven biển làm bản doanh, thanh thế mỗi lúc một lừng lẫy. Những kẻ bất mãn với triều đình, những kẻ bị hàm oan, những kẻ có máu thảo khấu cùng tìm về tụ tập dưới trướng Từ Hải trong số có bọn thảo khấu Vương Trực ở Giang Nam, bọn Tứ Quái ở Thiểm Tây, bọn Từ Văn Trường ở Sơn Âm và nhiều thanh niên có máu giang hồ hảo hớn ưa chuyện phiêu lưu cứu khốn phò nguy khác.

Với lòng ngay thẳng thái độ khảng khái kiên cường Từ Hải đã nêu cao ngọn cờ đại nghĩa trước đám dân đã chán ghét một triều đình bất lực thối nát nên mỗi lúc ngã theo một thêm đông. Lòng người như thác lũ cuộn lên tưởng như có thể cuốn đi tất cả những gì đang ngăn chặn, ngăn cản, đè nén trên cuộc sống, Nhưng vì giòng nước không chảy về một phía mà đổ về nhiều đám giặc nhỏ, chia thiên hạ ra từng khu vực  mỗi kẻ hùng cứ một phương, xưng hùng xưng bá, tình cảnh nhiễu nhương thật không thể nào tả xiết. Nổi lên ở Việt đông, dần dần Từ Hải xua quân xuống miền Nam tung hoành như giữa chốn không người; chẳng bao lâu chiếm cả vùng duyên hải. Đại quân kéo xuống chiếm Lâm Thanh, Châu Thường và đóng tại đó, thế quân như thế chẻ tre. Các thành Vô Tích, Hàng Châu, Châu Thai bị đe dọa, chỉ mới nghe tiếng Từ Hải nhiều tên quan đã bỏ thành trốn hoặc sửa soạn đầu hàng. Dự định đánh một trận lớn để gây thanh thế Từ hải quyết định hạ trại, đóng quân thao dượt binh mã, chiêu nạp thêm quân lính rồi một mình cùng mấy kẻ hầu cận cải dạng xuống phương nam xem tình hình, trong đám có Từ Nguyệt Minh người ở Sơn Âm hiệu là Văn Trường trước vốn là thượng khách của Hồ Tôn Hiến. Từ Văn Trường là kẻ có học, văn hay chữ tốt, không sách gì là không đọc, tiếng tăm lừng lẫy trong thiên hạ, nhưng thiếu bè cánh, không được trọng dụng nên sinh ra bất mãn, du sơn du thủy. Cái học không được đặt đúng chổ khiến cho Văn Trường thành kẻ trụy lạc, chỉ lấy thú vui rượu chè đĩ điếm làm hứng cho văn chương.

Khi trước Văn Trường đã từng đến mua vui ở Hàng Châu, thủ phủ có hàng mấy ngàn nhà điếm, chính ở đó Văn Trường đã chứng kiến chuyện viên Thái Thú Hàng Châu là Liễu Tuyên Giáo vì không ưa những kẻ xuất gia thờ Phật nên rắp tâm dùng bọn gái điếm cám dỗ khiến nhiều nhà tu phá giới. Đến lúc sau Thái Thú Liễu Tôn Giáo bị đổi đi. Trương Nguyên Biện đến thay thế, chính người này đã tiến cử Văn Trường với Hồ Tôn Hiến. Thái thú Trương Nguyên Biện ghét bọn gái điếm nên tìm cách đuổi đi hoặc giết những gái điếm trước kia trong viện Hồng Liên theo Liễu Tôn Giáo hại nhà chùa đều bị Trương Nguyên Biện giết hết con số lên đến hàng mấy ngàn người. Vì có chút cảm tình với nàng Vương Thúy Kiều nên Văn Trường đã xin cho nàng thoát nạn ấy. Do chuyện cũ Văn Trường đã đề nghị với Từ Hải ghé vào Hàng châu để nhân cơ hội gặp lại người xưa và để ăn chơi thỏa thích ít ngày, sau những gian nan khổ sở thiếu rượu, đàn bà, ca hát. Trên chiếc thuyền xuôi gió Văn Trường nói với Từ Hải:

_Tôi nghĩ rằng đã đến lúc tướng quân phải xưng đế hiệu để lấy danh nghĩa cho dân chúng theo. Chứ chẳng lẽ mãi mãi chúng ta chỉ là một phường cướp biển.

_Ông muốn được làm quan lắm sao? Ngó bộ mình làm như thế này không có chính nghĩa sao? Ta thấy ta chẳng xứng để mà xưng đế, làm một tên thuyền chài mà sánh với những Lưu Bị, Lưu Bang e không chính danh? Và có lẻ ta chỉ hợp được là một tên du côn rong chơi? Thực tình ta đâu có muốn làm chuyện này, làm một đế vương có gì là sướng nhỉ, không may lúc sống có thể bị chặt đầu, khi chết bị quật mồ. Làm một người dân thường ở vào buổi thái bình yên trị ta cho là hạnh phúc hơn hết. Không đành được sinh vào thời rối loạn thân chẳng yên mà ta phải hành động. Ta ước sao bây giờ có kẻ tài đức, thu thiên hạ về một mối mang lại đời sống yên ấm thái bình, ta chẳng tiếc gì mà không mang thân làm kẻ xách dép, cầm roi theo hầu. Ông có thấy lúc này dời bỏ được chốn ba quân, ta thảnh thơi vui sướng biết là bao nhiêu. Bây giờ ông hãy ngâm vịnh đi quên những việc chúng ta đang làm. Suốt đời, khi ăn, khi ngủ, lúc chơi bời mà cứ phải đóng vai tướng quân quả thật ta chẳng ham. Được làm ông trời mà phải bỏ rượu, bỏ hát, đàn địch, xa bạn bè, bỏ đàn bà thì ta cũng chẳng làm. “Bán khiên cung kiếm, nhất trạo giang sơn” ta hiểu vì sao Hoàng Sào chỉ là giặc Hoàng Sào mà không là hoàng đế Hoàng Sào. Lưu Bang chỉ là một tên xã trưởng tầm thường. Lưu Bị chỉ là một tên dệt chiếu, tôi nghĩ làm nên nghiệp đế đâu có khó gì, trong lúc tướng quân có binh hùng tướng mạnh lại ở lúc xã hội rối ren, triều đình mất cả chính nghĩa…

_Thôi, ông đừng khuyên ta chuyện đó. Bây giờ chúng ta ở đây, chung đụng với nhau, còn thương yêu dân chúng, còn quý mến bạn bè. Ta sợ khi làm vua rồi ta chẳng còn được cùng ông suôi thuyền mà đi tìm gái như thế này. Địa vị, quyền bính, vinh hoa sẽ làm cho chúng ta quên hết. Ta sẽ thành một hôn quân, ông sẽ thành nịnh thần tham nhũng và thật mệt cho dân chúng lại phải nổi lên mà lật đổ chúng ta…Ông đọc sách thánh hiền nhiều hơn ta sao chẳng biết chuyện đó, những chuyện liên tiếp xảy ra trong lịch sử. Văn Trường nghe Từ Hải nói trong bụng không vui. Vì ý Văn Trường trong lúc theo về với Từ đâu chỉ muốn làm một tên giặc biển, mộng của ông đặt vào lúc lập được triều đình làm một quan đại phu.

Từ Hải uống hết vò rượu này sang vò rượu khác, chàng lấy ra cây đàn vừa gảy vừa cất tiếng hát, trong giây lát chàng đã biến từ một tên tướng vũ dũng thành một nghệ sĩ say sưa trong cõi mộng. Lúc sau Từ hỏi Văn Trường:

_Ông ăn chơi lọc lõi đã nhiều vậy ở đất Hàng châu này có chổ nào đáng là đệ nhất lầu xanh?

_Xưa kia, viện Hồng Liên là đáng kể, nơi đó có một nàng ca kỹ tên Vương Thúy Kiều đáng được tôn là nữ hoàng. Tôi đã biết hàng vạn gái chơi ở Hàng châu này nhưng chưa thấy ai có thể sánh được với nàng. Khách giang hồ, tài tử sành điệu đã nhiều kẻ chết. Nay không hiểu nàng có còn ở đó chăng?

_Trong đám làng chơi lại có kẻ như thế được sao?

_Tôi nghe kể lại nàng vốn là con một nhà gia giáo, khốn nổi lúc gặp gia biến cha bị hàm oan, khiến nàng phải bán mình chuộc tội và số mệnh đưa nàng vào chốn thanh lâu. Nàng có hương sắc mặn mà, nghề chơi lão luyện, cầm kỳ thi họa đều trác tuyệt, quả tôi chưa gặp ai như thế.

_Ông dám chắc như vậy?

_Hẳn ý tướng quân vẫn ngờ về những gái làng chơi tầm thường vì hư thân mất nết đàng điếm mà dấn thân vào thường tìm lý do bào chữa, tự vẽ ra một quá khứ để lừa mình, lừa người. Quả nàng họ Vương không thuộc hạng đó, chẳng phải ai nàng cũng tiếp, mà được tiếp ít ai đã được ân cần. Chính tôi đây vẫn chưa được gần nàng. Tôi chỉ mong sao trong đời được một lần uống rượu trên người nàng.

_Nghe ông nói ta thấy ham quá. Tới nơi mong cho chúng ta có thể gặp được.

Sau quãng đường dài Từ Hải cho mấy tên bộ hạ phân tán đi thám thính còn chàng và Văn Trường thì đi kiếm nàng họ Vương. Là một dân thuyền chài rồi lại bôn ba mấy năm liền chưa biết những thú ăn chơi của bọn giàu sang quyền thế nên Từ Hải không khỏi ngạc nhiên bàng hoàng giữa thủ phủ Hàng châu, liên tiếp nhau những cao lâu tửu điếm, trà đình, những nhà chứa xây cất nguy nga như cung điện kể cả hàng mấy ngàn giai nhân tài tử, quần áo nhung lụa, lên xe xuống ngựa nhộn nhịp không thể đếm xiết. hàng châu trong những năm cuối đời Minh là một kinh đô văn hóa và truỵ lạc. Bọn văn nhân tài tử bốn bề tụ về ngâm vịnh, trên vách tường, bàn ăn ghế ngồi hiên nhà chốn lầu xanh chi chít những bài ngâm vịnh mang đủ mọi tên tuổi ca ngợi những đóa hoa biết nói hoặc suy tụng lạc thú. Những kẻ nhiều tiền, những viên chức cao cấp lâu lâu lại giả dạng tới chẳng thiếu mặt một ai. Họ bòn mót của dân bằng hà hiếp, hối lộ, thụt két, đến kẻ gian thương cho vay cắt cổ…cuối cùng lại mang tiền đó đến Hàng châu mà thiêu trong cuộc vui thâu đêm suốt sáng. Vì thế con gái nhà lành trong thiên hạ hoa mắt vì ăn chơi kéo nhau đến Hàng châu làm đĩ mỗi lúc một đông, nghề nghiệp nhàn hạ, lại được ăn ngon mặc đẹp, có kẻ phúc mai bỗng một sáng một chiều trở thành mệnh phụ. Làm đĩ quả là nghề đi buôn không mất vốn mà dễ được giàu to bởi hoàn cảnh nhiễu nhương suy đồi tạo thành.


Tìm kiếm hỏi thăm mãi sau Văn Trường và Từ Hải mới thấy được nơi ở của Kiều. Nàng ở một căn lầu nhỏ nhưng tráng lệ nguy nga trong một khu rộng lớn với nhiều nhà khác nhưng thuộc hạng rẽ tiền. Nhận được mặt ân nhân Kiều vô cùng mừng rỡ rước lên lầu. Từ Hải lại trút ra một số bạc lớn nên mụ chủ chứa chỉ biết cuống cuồng ra lệnh sửa soạn tiệc rượu để cung phụng vì gặp một món khách sộp. Vừa gặp mặt Kiều, Từ Hải đã say đắm. Thấy Từ đã hợp ý Văn Trường rút lui xuống nhà đi kiếm gái khác để cho Từ Hải và Kiều mặc tình mây mưa. Lâu ngày không gần đàn bà nên Từ háo hức như trâu bò được ngày phá dỗ, còn nàng Kiều cũng thấy sung sướng vì gặp một người con trai không phải nhà nghề giở những trò kinh tởm hành hạ nàng. Sau những phút say mê Từ bắt đầu tâm sự với Kiều, trong thâm tâm chàng nảy ra niềm trắc ẩn, thương yêu. Sao một người con gái như nàng mà phải đày đọa như vậy cùng với mấy ngàn con gái khác ở đất Hàng châu này. Trong số đó chắc cũng có kẻ hư hỏng còn thì ai không muốn có tấm chồng, một bầy con và một đời sống lương thiện. Cũng như chàng, cả những kẻ theo chàng ai không muốn được sống yên ấm trong một mái nhà. Hoàn cảnh khắc nghiệt và một nền cai trị hư hỏng như bầu khí độc đã làm tiêu ma bao nhiêu con người. Từ Hải nói cho Kiều nghe đời sống của mình, chàng kết luận:

_Thiên hạ bảo anh là du côn, du kề và bây giờ là một tên giặc biển. Trong phòng này, trên giường này, trước mặt em chắc đã có những tên đại phu, những thằng đại tướng, những phường khoa bảng, những kẻ đầy chức tước quân công, bằng cấp, quỳ gối khom lưng năn nỉ em . Như vậy em có buồn vì anh chỉ là một tên du côn, giặc biển không?

_Em cũng muốn làm du côn làm giặc như anh vậy. Em khoái du côn lắm, du côn là chơi gậy, chơi gậy thì tốt không nham hiểm, lươn lẹo độc ác. Chẳng qua em giờ là một con đĩ, đĩ với du côn như nhau. Phải không anh?

_A, hay lắm không ngờ anh lại gặp được tri âm. Ừ nhỉ, tại sao du côn, đĩ không phải là những kẻ đáng giá hơn hết ở vào thời buổi này. Tại sao mình không thể lập một “triều đình du côn”. Anh là hoàng đế, em là hoàng hậu du côn?

_Anh có say không đó?

_Không, anh mà say thì anh đã mất đầu lâu rồi. Đi làm loạn thì không được say, vì anh say thì bộ hạ biết còn trông vào ai?

_Anh là tướng lớn vậy sao?

_Có đứa nó còn xui anh xưng đế hiệu nửa.

_Trời ơi, như vậy thì em có muốn làm vợ anh cũng chẳng được, một hoàng đế, một vị tướng quân mà lấy vợ là một gái điếm thì còn thể thống gì nửa?

_Trời ơi, em tưởng chứ, bọn nó điếm đến mấy lần, điếm mà không nhận là điếm. Tiên nhân chúng nó, điếm từ trong triều đình điếm ra. Vua đĩ, quan đĩ, tướng đĩ, cho nên thời mói loạn, dân mới khổ. Em mới thế này, anh mới thế này chứ. Như vậy làm điếm như em biết phân biệt người, biết kẻ tri âm, cũng như anh làm du côn, làm giặc mà còn bằng vạn bọn nó.

_Chết chết, anh say thật rồi đó.

_Anh không say, nhưng lòng anh như lửa đốt. Đâu anh muốn thế này, đâu em muốn thế này. Anh chỉ muốn có một chiếc thuyền, một cây đàn… Những kẻ bỏ nhà theo anh đâu muốn làm giặc. Quả anh bây giờ chỉ muốn đốt bỏ căn nhà này, hỏa thiêu cả thành Hàng châu giải thoát cho bao kẻ phải chịu kiếp khốn khổ, đem thân hầu hạ bọn người giàu có quền thế bất nhân trong thiên hạ. Chắc em cũng muốn như thế?

Giọng Từ hải như thét lên có lúc như tiếng thép chạm nhau, có lúc quằn quại  như cơn lốc, có lúc ồ ạt như sóng dữ, rồi trầm xuống xúc cảm thân yêu. Bao nhiêu năm lăn lóc trong đời nay Kiều mới gặp được một kẻ như thế. Nàng xúc động ứa nước mắt. Nàng như con chim bị nhốt chỉ muốn tháo cũi sổ lồng mà bay lên trời xanh. Chung sống với nhau Từ Hải và Kiều mỗi lúc thêm quyến luyến như chẳng muốn rời. Từ Hải bỏ tiền chuộc Kiều khỏi chốn lầu xanh và cùng nàng trở về chốn ba quân phong làm phu nhân, mở tiệc ăn mừng ba ngày ba đêm.

Vui chơi ít ngày thỏa thích rồi Từ chỉnh đốn quân mã xuống hạ thành Châu thương, Lâm thanh dễ như trở bàn tay. Quân sĩ triều đình phần bỏ chạy như vịt, phần quy hàng. Từ liền kéo quân xuống vây Hàng châu. Văn Trường vốn nhơ ơn cũ của Thái thú Trương Nguyên Biện nên xin vời Từ vào thành thuyết phục Nguyên Biện ra hàng. Từ Hải còn ngần ngừ, Văn Trường liền nói:

_Tôi theo tướng quân đã lâu, ân huệ được hưỡng đã nhiều vậy nay xin cho tôi trước là được lập một chút công mọn, sau là tôi trả ơn cho một người bạn cũ đã giúp đỡ thưở hàn vi. Vả tướng quân cũng không muốn việc đâm chém, trong lúc lửa đạn biết bao kẻ vô tội phải vong thân.

Từ nghe phải liền cho Văn Trường vào thành thuyết Trương Nguyên Biện. Được tin báo có Văn Trường xin vào thành Nguyên Biện ra lệnh cho lính mở cửa mời vào rồi bước xuống thềm. Thấy Văn Trường, Nguyên Biện vội vái chào rồi nói:

_Không ngờ lại được hội ngộ cố nhân ở hoàn cảnh này, tôi nghe nói tiên sinh ở hàng ngũ của loạn quân nhưng không tin, chắc tiên sinh đến đây để giúp tôi cùng giữ thành và dẹp giặc, như vậy thì làm gì chúng ta chẳng thắng.

Văn Trường bị chăn họng trước không  biết nói sao, rốt rồi phải làm nước bài bây:

_Quả đúng như người ta đã nói với tiên sinh, hiện tôi ở dưới trướng Từ Hải. nay thấy  thành bị vây khốn nên xin vào đây gặp tiên sinh mang điều lợi hại mà bàn luận.

_Chết nổi sao tiên sinh lại có thể làm thế được. Như vậy chắc là tiên sinh vào đây thuyết phục tôi hàng giặc mưu phản lại triều đình mà tôi đã gội ơn mưa móc?

_Tôi vẫn biết tiên sinh có mắt thấy được người nên xưa kia đã tiến cử tôi với Hồ Tôn Hiến. Tôi tưởng đã có chổ dung thân mang chút tài mọn phò vua giúp nước. Nhưng triều đình nay không còn xứng chổ triều đình nửa. Sự hưng vong lẽ biến dịch là điều phải đến, phải có không ai cưỡng được. Từ Hải dấy binh cứu dân dựa vào lòng người nên đi đến đâu thâu được nhân tâm đến đó. Xưa kia Hán Cao Tổ chém rắn dấy nghiệp chỉ là tên xã trưởng, diệt được nhà Tần cũng chẳng phải là giặc sao! Tôi thiết nghĩ giặc hay không giặc chẳng thể đứng ở một phía triều đình mà định được. Tôi vào đây trước là tình bạn cũ sau là lẽ thiệt hơn, rốt là sinh mạng của binh sĩ và lê dân mong tiên sinh nghĩ lại để chúng ta cùng giúp Từ Hải mà lập nên nghiệp lớn, mang thái bình lại cho thiên hạ.

_Ý tôi đã quyết sinh ra tôi chỉ thờ một chúa. Kẻ sĩ học chữ thánh hiền trước phải lấy đạo trung làm trọng, sao lại có thể nay theo kẻ này mai theo kẻ khác mong vinh thân phì gia, như vậy chẳng phải là phường cầm thú hay sao?

_Tôi đọc sách thấy Hoài Âm Hầu bỏ Sở Bá Vương mà theo Hán. Công tử Củ chết, Thiệu Hốt chết theo mà Quản Di Ngô chịu ở tù về phò công tử Tiểu Bạch… Như vậy có phải là bất trung đâu. Người quân tử không vì tiết nhỏ mà bỏ việc lớn. Nay triều đình thối nát, quan lại hư hèn, kỷ cương không còn nửa, như vậy mà tiên sinh vẫn khư khư cố chấp với chữ trung hạn hẹp ngồi yên mà nhìn được sao?

_Trước tiên sinh ở dưới trướng Hồ Tôn Hiến có viết biểu Bạch Lộc dâng vua, tôi còn nhớ những lời xưng tụng của tiên sinh. Mới từ đó đến nay mà tiên sinh đã thay đổi được sao. Tôi e vậy mà thiên hạ không khỏi chê cười mà sử sách cũng còn lời quở trách. Tôi hỏi thật tiên sinh có phải cái mộng ước của tiên sinh chỉ là muốn được ngôi cao bổng hậu, chẳng phân biệt trắng đen phải quấy? Tiên sinh không coi hạnh của kẻ sĩ là trọng sao? Tôi mong tiên sinh có thể chết cho Từ Hải được, cũng như tôi, giữ được thành thắng được giặc thì nhất, không thà chết chịu tội bất tài. Xin tiên sinh đùng bắt tôi nghe những lời bất trung vô sĩ nửa.

Văn Trường ngượng mặt biết không thể thuyết được Trương Nguyên Biện nên cáo lui ra khỏi thành.

Nguyên Biện không chịu hàng, Từ Hải kéo quân lên vây sát thành rồi vác đao ra trước trận kêu Trương Nguyên Biện ra quyết đấu. Trương Nguyên Biện cũng dàn quân rồi ra trước trận chỉ gươm vào mặt Từ Hải mà mắng:

_Thằng giặc lùn kia muốn sống mà xuống ngựa đầu hàng ta sẽ tha chết cho. Trước ta đã định mang quân đi hỏi tội bọn bây về việc cướp bóc dấy loạn, bây giờ bọn bây lại dẫn xác đến đây quả là đến số.

Từ Hải chẳng nói chẳng rằng thúc ngựa vọt tới chổ Nguyên Biện nhưng thoắt cái đã có một viên tướng trẻ xông ra. Từ giật ngựa đứng lại nhìn tên tướng  mặt còn non choẹt… Từ Hải  bật cười hỏi:

_Mày là ai vậy thằng nhỏ? Múa may với ta làm gì cho phí sức, hãy dẹp ra cho ta bắt thằng già kia.

_Mày đừng hỗn láo với chủ tướng của ta mày thử xem có đủ sức để thắng nổi một tên bộ tướng này chăng?

_Thôi mà nhỏ, mày cũng là tướng nửa, nhưng ta có coi ngay cả cái thằng phong tướng cho mày ra cái gì đâu.

_Không nói gì hết, ta với mày kẻ sống người chết.

Hắn xông vào khiến Từ Hải phải kháng cự, qua mấy hiệp Từ Hải dừng lại, lui ra:

_Này nhỏ, quả mày muốn chết sao? Nhưng dù sao tao cũng muốn hỏi mày xem mày cũng là thằng khá mà sao mày lại đi làm tướng cho cái bọn triều đình khốn nạn kia. Mày làm tướng để bảo vệ cái gì?  Bảo vệ bọn vua quan? Bảo vệ cái tổ điếm Hàng châu này? Chẳng lẽ mày là một thằng đốn mạt vậy sao? Mày nên theo tao đi.

_Phường giặc cỏ đừng nhiều lời, thà chết, chứ tao không theo mày.

_Sống không biết sống sao cho đáng sống, chết không biết chọn cái chết cho đáng chết. Thế mà cũng đòi làm tướng.

Viên tướng trẻ như con gà sống tơ, mặt đỏ rần xông vào làm Từ Hải tức giận khoa đao nhẹ một đường nhanh như chớp chiếc đầu viên tường đã lìa khỏi cổ. Từ Hải vẫy quân tiến lên, chàng thì xông vào chém Trương Nguyên Biện một nhát chẻ người làm hai mãnh chết thê thảm. Quân triều đình tan vỡ trước sức ồ ạt của quân Từ Hải. Dân chúng mở cửa thành cho quân Từ kéo vào.

Vào được Hàng châu nghiễm nhiên Từ đã chiếm được cả một vùng rộng lớn. Từ ra lệnh nghiêm cấm quân sĩ không được cướp bóc, ăn trộm. Chàng bắt hết các chủ chứa điếm giết đi bao nhiêu gái chơi được tự do chọn nghề sinh sống, kẻ nào muốn lấy chồng thì Từ mang gả cho lính mình rồi chia đất hoang cho khai thác lập nghiệp, các nơi ăn chơi được biến thành nhà ở, trường học. Chính sách của Từ đưa dân chúng đến cảnh an cư lạc nghiệp, sau bao nhiêu năm họ phải sống cảnh khôn khổ, đen tối. Nhưng cũng từ đó dưới trướng Từ Hải trong đám bộ hạ, những hoang phí, ăn chơi cờ bạc đã diễn ra cũng chẳng khác gì cuộc sống ở nơi triều đình. Mới đầu Từ còn ngăn cấm nhưng sau cũng nhạt dần vì tự nghĩ xưa kia họ đã khổ sở thôi để cho họ hưởng  một chút. Rồi những xung đột, ghen tỵ, tranh dành đưa đến cho Từ Hải phải giải quyết khiến cho Từ nhiều lúc mất vui. Bọn võ tướng đã lười biếng thao luyện, bọn văn quan đã chẳng còn dùng ngòi bút kích động lòng quân, viết thư hộ cho binh sĩ gửi về thăm vợ mà dùng ngòi bút vào ngâm vịnh tâng bốc Từ Hải nào là anh tài cái thế, anh hùng bậc nhất thiên hạ, cứu dân, cứu nước sáng như mặt trăng, mặt trời, nghe qua đọc lướt Từ Hải cũng phải ngượng thẹn. Đến độ họ còn lớn tiếng ngâm vịnh, chúc tụng cả sự lành bệnh của nàng Kiều sau một lần đẻ non.

Nàng Kiều dựa vào thế chồng đền ân báo oán những chuyện nhỏ nhặt. Xin xỏ cho kẻ hầu hạ dưới tay những ân huệ chức tước không đáng được hưởng. Từ vì nể vợ mà phải ưng cho. Nhiều đêm Từ thoát ra được cuộc sống nhàm chán chung quanh giả dạng làm người dân thường mà rong chơi ngoài phố la cà vào những chốn giải trí bình dân mua vui, hoặc chàng trốn lên một góc thành cao mang theo cây đàn bầu rượu hưởng thú tịch mịch trong đêm vắng của trời sao và cái bát ngát mênh mông của vũ trụ. Những lúc đó Từ nhớ tiếc thưở ấu thời nơi bến Việt đông, vài ba người bạn bồng bền trên chiếc thuyền nhỏ thả mình đám chìm trong cái bát ngát vô bờ của biển khơi trong xanh. Chàng nhớ tiếc cuộc sống bình thường nhưng hào sảng trong sáng ấy. cái cuộc sống không biết đến những nhung lụa, rượu ngon, gái đẹp, quyền bính, đầy những tranh dành dục vọng. Cái cuộc sống hòa điệu với người và với vũ trụ không phải quây cuồng chém giết… Nhưng bây giờ chàng chẳng thể làm vậy được nửa. Từ Hải nổi lên từ phía bắc trên bán đảo Liêu đông rồi kéo mãi xuống tận Triết giang thế quân mỗi lúc mỗi một thêm mạnh, liên tiếp những thành trì bị hạ, những toán quân được phái đến đánh dẹp đều thua; một là vì quân của triều đình ô hợp không có nhuệ khí lại ở dưới những tên tướng vô mưu, bất tài; hai là thế giặc dựa vào dân chúng mà kháng cự cho nên năm sáu năm liền quân Từ Hải làm chủ dọc cả vùng bờ biển, trong tay giữ hơn mười thành. Thế giặc quá lớn, sự khuynh đảo đe dọa cả nền cai trị của nhà Minh khiến cho triều đình lo âu. Nhưng khốn nổi không ai dám lãnh việc đánh dẹp cùng tinh thần hư hèn cầu an. Sau chót vua phải sai triệu Hồ Tôn Hiến ở Giang nam về cho thống xuất đại quân xuống đánh. Hồ Tôn Hiến chỉnh đốn quân mã ngày đêm kéo xuống đóng quân ở phía bắc sông Tiền đường đối diện với Nam thành là bản doanh của Từ Hải. Biết thế quân của Từ Hải mạnh nếu đường hoàng dùng sức mà đánh thì phần thắng không thấy nên Hồ Tôn Hiến cho đóng trại kiên cố và án binh bất động. Hà Tôn Tiến cho quân sĩ trà trộn vào dân chúng loan truyền rằng Hồ Tôn Hiến không muốn gây cảnh chiến tranh, chỉ muốn có hòa bình cho dân chúng nên muốn Từ Hải về cộng tác với ông mà giúp triều đình, tất cả mọi người sẽ được hưởng quyền lợi xứng đáng chẳng ai có tội mà cũng chẳng ai có công.

Một mặt Hồ cho kẻ lén lút mang dâng cho Vương Thúy Kiều những vàng lụa kim cương và vô số những bảo vật, đồng thời cũng viết mật thư cho Từ Văn Trường hứa hẹn những chức tước. địa vị kèm theo với nhiều phẩm vật nhờ Văn Trường thuyết Từ Hải giải giới. Nhiều kẻ dưới trướng họ Hồ hoài nghi về chiến thuật, Hồ cười mà quả quyết:

_Từ Hải không phải là một kẻ nuôi chí lớn làm bá chủ thiên hạ, xuất thân từ đám dân chài thất học không có được con mắt nhìn xa thấy rộng, chẳng qua nắm được ưu thế là vì nền cai trị hạ tầng của triều đình hư nát, lăm tệ đoan, quan lại chỉ lo vơ vét tiền của, không chăm lo dân, đó là cái thời thuận tiện cho Từ Hải. Bắt nguồn từ những bất mãn ấy dấy loạn thu phục nhân tâm gom góp những kẻ có chí vũng vẫy mà lại cứu khốn cho dân chúng là có được cái thế. Có thời có thế nhưng Từ hành động vì tình cảm mà không có ý thức. Nay ta phao truyền sự hòa bình là làm cho dân chúng giảm đi sự hiếu chiến, họ không muốn loạn để cho cơ nghiệp tan tành. Bọn bộ hạ của Từ Hải này kẻ nào cũng có của cải yên vui tất không muốn chiến đấu phiêu lưu, rồi tất Từ Hải nghe vợ, nghe bộ hạ nói ra nói vào mà nản chí, tình cảm bị lung lạc lúc đó thật lấy đầu hắn có khác chi lấy chút vật mọn trong túi áo, mất chủ tướng rồi bọn kia sẽ tan rã. Ta chẳng mất công gì mà dẹp được chúng.

_Nhưng nó lú thì có chú nó khôn, còn bọn quân sư của Từ?

_Ta biết rõ cái bọn đó, các ông cứ tin ta đi. Những tên như Từ Văn Trường trước kia ở dưới tay nên ta đã rõ. Những kẻ đó cũng nhiều kẻ có tài nhưng không có đức, không có chí, theo Từ là vì bất mãn muốn có địa vị. Theo Từ mà vẫn khinh Từ không có học nên không thể cùng Từ giúp Từ lập nên nghiệp lớn. Bọn chúng lại hay suy luận loanh quanh. Nay ta mang mồi mà nhử, chúng tất sẽ ăn. Cái bọn đó cứ mang địa vị, vàng bạc ra mà nhử thì mua được hết. Kẻ sĩ ở vào buổi suy vong thời nào cũng vậy. Cho nên ta tin chắc Từ Hải sẽ ra hàng.

Sau khi đã bủa lưới Hồ Tôn Hiến mới gửi thư dụ hàng sai quân vào thành dâng cho Từ Hải. Từ Hải liền cho triệu tập bộ hạ bàn luận. Họ bàn tán om sòm, những câu: hàng rồi bị giết không, có bị trả thù không, mình sẽ được chức gì, có được giữ lại của cải của mình không. Đánh Hồ có thắng không, nếu thua thì làm sao? Đám bộ hạ bàn tán lăng nhăng chẳng đi tới đâu, Từ Hải bực mình phải quát lên:

_Ta chỉ có một câu hỏi cần trả lời: hòa hay chiến? không có vì sao, tại sao. Câu hỏi đặt ra chỉ có vài kẻ kêu đòi chiến, còn thì đều im lặng ra vẽ suy nghĩ. Từ Hải buồn rầu nhìn họ vì chỉ có một thời gian ngắn mà đám bộ hạ đã thay đổi gần hết. Xưa kia họ hăng hái, họ xông lên, đòi giết cho hết bọn quan lại hại dân đòi lập một đời sống mới coi thường cái chết…thì nay họ đã suy nghĩ, họ muốn đứng lại ở cái địa vị cai trị của họ, không còn muốn xông pha phiêu lưu nửa. Từ nhìn bộ hạ mà nói:

_Ta họp các ông lại đây là để cùng ta quyết định, ta cho chuyện này là hệ trọng lắm. Cơ nghiệp dựng lên chẳng có gì to tát là công của mọi người chung sức mà có được, khi khổ có nhau, khi sướng có nhau. Riêng với ý ta, ta không hàng, ít ra chúng ta cũng còn được giữ như thế này lâu lắm, đó là chưa nói tới việc lớn hơn. Chúng ta đang được sống tự do vùng vẫy chẳng có gì ép buộc mình, vậy tại sao chúng ta lại hàng, lại bó thân về cái triều đình  ta đã chống đối. Chúng ta có chịu được cái đời sống gò bó vào luồn ra cuối ở giữa những kẻ xa lạ kia không? Thật ta chẳng ham gì một địa vị công hầu khanh tướng như thế. Đó là nói ở cái thế mà họ thực tình, nếu họ tráo trở chúng ta còn là tướng nửa không khi đã hết quân? Ta sợ khi đó chúng ta hối cũng không kịp nửa. Nói xong Từ đứng lên:
_Chúng ta hãy giải tán để ai nấy suy nghĩ rồi mai chúng ta sẽ quyết định.

Từ rời sảnh đường vào phòng riêng thì gặp Kiều đã ngồi ở đó, hỏi:

_Tướng quân đã quyết định như thế nào?

_Chưa quyết định gì cả.

Từ ngồi nói cho Kiều nghe tinh thần của bộ hạ dáng băn khoăn buồn buồn. Trong thâm tâm Kiều từ hôm nhận được vàng bạc châu báu những lời hứa hẹn của Hồ Tôn Hiến đã có ý khuyên chồng giải binh, nhưng vẫn sợ thêm vào đó sự phân vân lựa chọn. Sau chót cái ý nghĩ được yên thân sum họp với gia đình đã thắng thế. Biết ý Từ chưa quyết, Kiều liền nói vào:

_Từ ngày được về hầu hạ tướng quân thật thiếp như kẻ được mang từ cõi chết ra cõi sống, nhưng chứng kiến cảnh binh đao thật nhiều khi thiếp lo sợ cho tính mệnh tướng quân. Nay triều đình đã biết đến tướng quân mà xin hòa, chức tước địa vị đợi sẳn tại sao tướng quân lại từ chối, với ý thiếp, được sống yên ổn vẫn hơn chứ nếu như ngày nay rồi nếu chẳng may lúc mình thua thì còn chi? Thân tướng quân đã vậy, còn thân thiếp ra sao? Tại sao tướng quân lại không chấp nhận sự bình thường, nhận bổng lộc cho thiếp được nở mày, nở mặt, được xum họp với cha mẹ và chúng ta có một đời sống yên vui lâu dài. Ở đây sung sướng nhưng mãi mãi vẫn mang danh phường giặc cỏ.

Tử Hải bị Kiều thuyết chàng phân vân, tình cảm bị chế ngự nên hôm sau họp bộ hạ Từ quyết định nghị hòa. Chẳng mấy chốc tin đình chiến giải binh loan truyền trong dân chúng. Một vài kẻ chủ chiến mang gia đình dời đi, còn lại thì binh sĩ trễ biếng chẳng còn nghĩ đến chuyện đánh nhau nửa. Từ Hải phúc đáp thư cho Hồ Tôn Hiến định ngày thúc giáp rồi cho quân sĩ vui chơi. Hồ Tôn Hiến vui mừng rồi sắp sẳn mưu kế chờ cho Từ ra hàng.

****

Từ đứng lên vươn vai vẽ mệt nhọc, Kiều ngồi dưới thềm ngữa mặt lên hỏi:

_Tướng quân đi đâu đêm vui chưa hết nửa cuộc.

Từ im lặng, vuốt áo ra khỏi sảnh đường. Tiếng đàn hát vẫn còn quấn quýt chạy theo. Đêm đã khuya cảnh tịch mịch trùm xuống khu thành, chỉ còn đêm nay nửa mai thành này sẽ chẳng còn ở trong tay. Một thân vùng vẫy dọc ngang làm vua một còn mà chỉ còn làm một tên quan ngày ngày cuối lưng nới thềm rồng bệ ngọc. Giây phút Từ thấy bâng khuâng, buồn như sắp mất đi một cái gì lớn lắm..chắc chẳng bao giờ chàng lấy lại được nửa. Một mình Từ dạo qua những nơi quen thuộc quân lính đều đã ngủ say chỉ còn một vài tên lính canh đi lại dáng uể oải mệt nhọc, Từ qua kho lương xuống chuồng ngựa.. rồi theo bậc thang leo lên mặt thành. Đêm bao la chụp xuống cả một vùng đồi núi, trong thành đêm nay nhiều ánh đèn hơn mọi đêm, trại quân của Hồ Tôn Hiến đã rút hẳn ra ngoài xa, chừng như đang mở hội ăn mừng. Từ bước thảnh thơi, thở hít không khí gây lạnh không phải là thi sĩ để có thể làm một bài thơ tức cảnh, Từ thấy tiếc làm sao. Tiếng trống canh rời rạc, một vài trạm chừng như lính đã ngủ hay bỏ về nhà với vợ con không thấy điểm trống. Giá như lúc khác đã có kẻ phải rơi đầu, nhưng đêm nay không cần thiết nửa. May này…bất chợt Từ thở dài..

_Thưa tướng quân, tướng quân chưa đi nghỉ?

Từ giật mình quay lại, rời đưa mắt nhìn ra xa.

_Nếu tiểu tốt không lầm vì tướng quân đang buồn vì sớm mai này tướng quân ra hàng giặc?

_Hàng giặc, sao lại là hàng giặc? Ngươi là ai?

_Tiểu tốt lài ai? Thưa tướng quân tiểu tốt là bộ hạ của tướng quân, kẻ đã nghĩ triều đình là giặc, tướng quân là bậc đế vương. Thế mà mai này khi mặt trời lên bậc đế vương đó sẽ dẫn tất cả đoàn quân dưới trướng này ra khỏi thành, quỳ gối khom lưng nhận giặc là minh chúa để nguyện trung thành tận tụy suốt đời… Thưa tướng quân, có phải vì thế mà tướng quân buồn?

_Buồn, ta không hiểu ý nhà ngươi.

_Có lẽ tướng quân cố ý không hiểu đó thôi…đáng buồn lắm chứ…

Từ bâng khuâng, tiếng nói của người đối diện như xoáy vào trong tâm tư của mình. Nhưng ít nhất cũng có người hiểu được rằng Từ buồn. Tự nhiên Từ lấy được sự thân mật dễ chịu. Ngay sau đó một cảm giác ớn lạnh chạy khắp người Từ. Thôi thế là không còn gì nửa. Mai này sẽ chỉ còn lại hai bàn tay trắng và một thái độ chịu thua, thái độ chấp nhận, thái độ đầu hàng.

_Sao ngươi lại nói với ta như vậy. Ta buồn thật sao?

Từ quay lại nhìn người đối diện với mình chờ đợi. Người thanh niên nỉm cười dáng ngạo mạn lì lợm. Anh ta vào khoản trên hai mươi, khỏe mạnh, nước da ngăm đen tóc búi ngược, y phục một tên cận vệ. Từ cố gắng để nhớ xem có phải người đối diện mình là một tên cận vệ hay không. Thanh niên xoay người chống tay lên mặt thành nhìn ra bãi cỏ phía trước.

_Tiểu tốt biết tướng quân buồn. Buồn thật hay không điều đó tướng quân tự biết.

_Bây gờ ta cũng chẳng còn là tướng quân gì nửa. Anh cũng chẳng còn là tiểu tốt nửa. Mình thua rồi.

Thanh niên xoay phắt người lại  đứng thẳng. Trong ánh sáng mập mờ Từ chừng như thấy khuôn mặt kẻ đối diện thay đổi, mặt nghiêm lại, mắt mở lớn, đôi mày rậm dướn lên vẽ dữ dằn.

_Sao lại thua, mình đâu có thua.

Từ huýt người ngồi lên tường thành, hơi cúi đôi vai lớn, ngước mặt lên:

_Đó là sự thật. Anh có lấy làm buồn không?

_Nói không là dối lòng mình. Nhưng tôi không lấy đó làm thất vọng. Tôi còn trẻ..Tướng quân có thấy là tôi còn trẻ không? Từ gật gật đầu:

_Đúng anh còn trẻ, như vậy có phải ta già rồi không?

_Tướng quân cũng còn trẻ

_Thôi, anh đừng gọi ta là tướng quân nửa, còn quân đâu nửa mà tướng. Ta cũng chỉ như anh. Ta đâu còn như hồi xưa. Phải không?

_Cũng vẫn như hồi xưa. Cũng có thể làm lại như ngày xưa..

_Ngày xưa. Anh đừng nói đến làm chi nửa..

_Sao lại vậy. Chỉ có ngày xưa..Cũng chính cái ngày xưa đó mà tôi gặp được tướng quân, đã hào hùng và bây giờ..

_Thất vọng?

_Tướng quân có biết, nhưng mà thôi…

_Biết sao, anh hãy nói ta nghe, anh hãy coi ta như một người bạn…Ai hiểu được ta, có lẽ chỉ có anh? Mà sao ta trông anh cũng buồn vậy?

_Tôi nhớ lại lúc còn sống tại quê nhà ở Giang nam nghe tin tướng quân nổi dậy đốt thuyền bè chống quan lại. Tôi đã lặn lội từ đó lên Việt đông. Tự xung vào làm sĩ tốt…Tướng quân còn nhớ những gày đó

_Nhớ, mới như vừa xảy ra mà đã năm sáu năm trời rồi còn gì. Dấy lên với hai bàn tay không với những tấm lòng hào hiệp…Mà này sao ta không bao giờ được gặp anh?

_Có chứ, nhưng chắc tướng quân quên, làm sao để tướng quân nhận từng người trong nghìn vạn quân tướng..

Người thanh niên buồn bã:

_Trong nghìn vạn quân tướng ấy đã có bao nhiêu người ngã xuống chiến trường, trải thây trên con đường hành quân, những người xông pha ở Việt đông, Triết giang, hạ năm thành ở cõi Nam, cướp Châu thai, lấy Vô tích, chiếm Lâm truy để cho tới lúc tướng quân có một giang sơn như ngày nay, có thành quách như hiện nay… Và tôi đã sống sót để mai này chứng kiến cái công lao của  những ngày gây dựng không còn nửa..

_Thôi anh đừng nhắc chuyện đó ta đã thua rồi. Anh có tiếc công, tiếc sức đã theo ta không. Anh có cho rằng ta đã phản bội lòng tin cậy của anh, của các bạn đã theo ta không?

Câu hỏi của Từ dội đi, tiếng trống canh rời rã. Từ bước đi loanh quanh. Giọng người thanh niên mơ hồ:

_Lúc sống tại quê nhà cha tôi nói: bây giờ là thời loạn. Kỷ cương của nước không còn nửa, lòng người ly tán kẻ sĩ mất truyền thống trở thành hèn hạ, con còn dùng bút nghiên làm gì nửa, ta muốn thấy con hành động như một tên du côn còn hơn. Câu chuyện ấy vẫn còn làm cho tôi băn khoăn suy nghĩ. Không có thời loạn mà chỉ có lòng người loạn. Cha tôi cũng là kẻ khoa cử nhưng từ chối công danh sự nghiệp cha tôi nhận làm một kẻ câm điếc đui mù, ngoảnh mặt đi với cuộc sống mà lại muốn con như một tên thảo khấu du côn. Cha tôi cũng loạn sao? Cha tôi bảo kỷ cương không còn, trật tự bị phá hủy, sách vỡ thánh hiền đã lu mờ còn đâu kẻ sĩ với tinh thần hào hiệp. Lòng người đã phụ với trời, kiến văn chỉ làm người ta đê hèn, bần tiện đi. Kẻ có học dùng sở học vào đường bất chánh, như vậy thất học còn hơn vì thất học không phải nhiễm độc bởi những cặn bã của tư tưởng thì với lương tâm may ra còn sống được ngay thẳng. Làm thằng du côn có chí thì cứu được đời…Tôi đã ngẫm lại và thấy có phần đúng. Trong xã hội tôi không còn thấy ai là kẻ sĩ nửa. Bọn thư sinh mặt trắng đi vào con đường tư danh, hư lợi..Có nghĩa thời loạn còn kéo dài lâu lắm. Giữa lúc ấy nghe tên Từ Hải, một tên con nhà thuyền chài vô học dấy lên, lòng người ngã theo, tôi nghĩ cha tôi đã đúng và tôi vứt bút nghiên đi theo một tên du côn.

_Một tên du côn. Anh đi theo một tên du côn mà anh nghĩ còn phải. Bây giờ anh có hối hận không?

_Không, tôi không hề hối hận.

_Tại anh kiêu ngạo không chịu nhận.

_Không phải tôi kiêu ngạo mà tôi không nhận.

_Hay anh cho định mệnh lịch sử nó phải thế?

_Không, không bao giờ tôi lấy một thứ số phận, một thứ định mệnh nào để trốn chạy. Chính là tại tôi tại tướng quân, tôi muốn hỏi tướng quân: tướng quân đâu muốn ép thân thuần phục, đâu tướng quân có kính nể Kiều, đâu tướng quân có nghe lời bàn của bọn hèn nhát, chủ hòa.

_Sao anh lại cho rằng ta không kính nể nàng Kiều, không kính nể mà sao ta có thể cưới nàng làm vợ. Anh nghĩ nàng là một con điếm sao? Nếu quả vậy thì anh đã nhầm, anh đã cho rằng du côn còn khá thì với ta ngày nay trong giới đàn bà chỉ có bọn làm điếm là khá. Du côn dám nhận là du côn, làm điếm dám nhận là làm điếm, còn ai hơn nửa. Cả thiên hạ làm điếm mà không dám nhận là điếm. Như vậy ai được quyền khinh nàng Kiều. Ta chẳng sợ gì mà không nói với anh. Ta kính nể con điếm là vợ ta đó. Còn cái bọn ở chung quanh ta, cái bọn Từ Văn Trường, cái bọn văn hay chữ tốt, khoa bảng ta đâu có coi bằng một con ngựa ta nuôi. Bọn họ đâu sánh được nàng Kiều. Ta nuôi bọn nó để bọn nó nịnh bợ, ca tụng, su phụ ta. Ai cũng muốn có kẻ nịnh bợ mình, muốn có kẻ đóng kịch làm hề cho mình coi…Bọn nó theo ta chẳng phải như anh, như quân sĩ của ta. Bọn nó theo ta vì chúng không được làm đầy tớ yêu của chủ chúng như Hồ Tôn Hiến chẳng hạn.

Chúng bất mãn bỏ đi và bây giờ anh thấy đó, chúng muốn ta hàng thuận để chúng được sống yên ấm  với nhung lụa, địa vị…Bọn nó không theo đuổi một lý tưởng và sống chết với nó, bọn nó nay theo thằng này mai theo thằng khác, cứ bỏ tiền ra là mua được hết. Bọn nó làm ô danh kẻ sĩ. Loạn cũng vì bọn nó. Bọn chó phản chủ và chúng mãi mãi như thế. Với ta khi nào không được ân huệ nửa, bọn nó sẽ phản lại. Ta đã thua, ta chịu quy hàng chẳng phải vì ta đã nghe theo những vợ, những quần thần. Ta chịu thua, chịu hàng bởi vì bọn chúng không có được cái chí lớn như ta nghĩ. Ta còn lại một mình, ta hàng, ta chịu thua vì ta thất vọng, ta buồn bã. Bọn họ nghĩ giờ đã có thế lực, địa vị, mục đích đã đạt rồi còn khổ sở làm chi nửa. Họ muốn đóng lại cho đúng vai trò những kẻ mà trước đây họ chống đối. bọn họ cũng muốn trở thành quan lại, bốc lột, cũng muốn xe ngựa, áo quần, địa vị…

_Không, không thể như thế được.

_Ta không muốn chính những kẻ theo ta sẽ giết ta. Ta cũng chỉ là một tên du côn, một tên du côn về già, một tên du côn hết thời. Ta tiếc rằng sao không giữ mình là một tên du côn ở đất Việt đông. Ta nghĩ tới mai này ta phải khúm núm với cân đai bố tử ra vào chốn triều đình, rúc ngồi với bọn quan lại, nào thưa nào gởi mà sao ta muốn chết quá, hãy vứt bỏ hết đi…Sống đời một tên du côn với mảnh khố rách còn sung sướng hơn nhiều…Mai này anh có chịu ra quy hàng nhận lã nh bổng lộc của triều đình ban cho không?

_Không canh ba đêm nay tôi sẽ mạo muội tướng quân mà trốn đi

_Anh không muốn được hưởng phú quý vinh hoa với ta sao?

_Tôi còn đầy đủ điều kiện để làm một thằng du côn. Chốn công quyền không phải nơi tôi lui tới. Tướng quân sắp từ chức một tên du côn rồi sao?

_Anh cho làm du côn là cao quý lắm sao?

_Thời nay địa vị du côn cao quý lắm không có gì so với hắn được như đã thưa với tướng quân.

_Anh có bằng lòng cho ta cùng trốn đi làm du côn trở lại được không?

_Tại sao không?

Tên bộ tướng xách chiếc đầu đầm đìa máu tươi chạy hộc tốc đến bên Hồ Tôn Hiến lưỡi gươm còn vấy máu chảy chan hòa xuống đốc kiếm, hắn giơ chiếc đầu lên và nói:

_Thưa tướng quân, tôi xem đầu này không phải là đầu Từ Hải

_Không phải Từ Hải? Tại sao?

_Hắn mang râu giả.

Vừa nói tên bộ tướng vữa gỡ bộ râu quai nón nơi chiếc đầu. Tôn Hiến đứng ngây như một pho tượng gỗ mắt trợn ngược. tên tướng nói tiếp:

_Lợi dụng đêm tối, Từ dã trốn đi

_Nàng Kiều đâu?

_Nàng đang khóc bên xác chết không đầu.
_Quân sĩ của Từ?

_Đã hoàn toàn quy hàng. Một số nhỏ vứt khí giới, cởi quân trang bỏ trốn làm thường dân.

_Từ trốn đi một mình.

_Có lẽ chỉ đem theo một vài tên tâm phúc.

_Còn Từ Văn Trường không?

_Còn đầy đủ bọn hầu cận không thiếu một tên nào. Họ đang chờ vào phục lịnh tướng quân.

Hồ Tôn Hiến lặng im, bỗng hắn nỉm cười:

_Từ còn sống nhưng cũng coi như Từ đã chết. Hãy dán râu vào cho hắn, sóc lên đầu giáo trương cao cho quân sĩ an lòng rồi cho chôn đi. Một mình hắn còn sống cũng không làm được gì. Tướng không có quân không còn là tướng nửa. Một Từ Hải còn sống sẽ là một “Từ Hải giả”.

Tên bộ tướng tuân lệnh, phóng mình lên ngựa, sóc chiếc đầu vấy máu lên đầu ngọn thương, giơ lên cao chạy ra giữa trận nói lớn:

_Bớ loạn quân. Từ Hải đã bị chặt đầu theo vương lệnh. Hồ tướng quân tha chết cho bọn bây. Tất cả hãy bỏ khí giới quy hàng sẽ được toàn tính mạng: và ân xá cho trở về làm ăn, ai muốn đầu quân sẽ được thu nạp..Trên bãi chiến chỉ còn vài tốp nhỏ đang giao tranh một cách uể oải, thấy chủ tướng đã chết quân Từ tìm cách tháo lui hoặc đầu hàng, trên mặt thành vài ngọn cờ nghiêng ngã. Khắp nơi khí giới ngổn ngang cùng xác chết, kẻ bị thương kêu khóc vang trời. Khói súng phảng phất mùi khét mấy đám cháy ngọn lửa vẫn hung hãn như muốn bùng to, đám lương dân từ trong thành chạy ra ùn ùn tán loạn, kêu khóc thảm thiết, bọn lính nhân cơ hội hè nhau cướp giật. Tiếng kêu khóc van xin tưởng thấu tới trời xanh. Trong trướng Hồ Tôn Hiến cười khà khà đắc ý chợt thấy có năm ba người đi vào thì chăm chú nhìn, rồi bước xuống thêm, nỉm cười thi lễ:

_Kìa Thanh Đằng tiên sinh đã lại, kẻ hèn đang mong chờ tiên sinh. Từ Văn Trường cùng mấy bộ hạ của Từ Hải đều vòng tay thi lễ rồi tiến vào phân ngôi chủ khách và hàn huyên. Bây giờ kể tiếp chuyện nàng Vương Thúy Kiều. Sau cuộc vui cuối cùng của đêm trước khi ra hàng, nàng trở về phòng thấy bứt rứt không nguôi vì thấy thái độ của Từ Hải đầy vẽ băn khoăn lo lắng và buồn bã khi bỏ dỡ cuộc vui ra ngoài, nàng ngầm hiểu phần nào tâm trạng của Từ. Bao nhiêu năm trời vùng vẫy một cõi giang sơn, nay đây mai đó với hai bàn tay không dựng một cơ nghiệp; ra vào chốn trận địa như chổ không người, dọc ngang chẳng còn biết có ai. Cũng như ai một phương hùng cứ, triều đình một cõi đủ văn võ bá quan. Nàng Kiều đã lấy làm hãnh diện trước những danh quan danh tướng như Từ Văn Trường, cả cái bọn khoa bảng chữ tốt văn hay ấy cũng một điều thưa, hai điều bẩm. Nếu như lúc ở Vô Tích, Lâm Truy, Hàng Châu chẳng cần tới hạng người đó cũng đủ làm xấu nàng, vứt tiền vào những tú bà, bạc hạnh để được hành hạ thân thể nàng cho chán rồi nhổ nước miếng vào mặt nàng gọi là con đĩ. Bây giờ con đĩ ấy đã là vợ của Từ Hải, một hoàng hậu chưa có ngôi và đủ để cho bọn kia cúi đầu vâng lịnh, khen nịnh, tâng bốc..Nghĩ thế nàng thấy lòng mình thắt lại và hiểu Từ buồn hơn nàng biết chừng nào.

Từ một kẻ cầm đầu thành một kẻ tuân lệnh, khúm núm, chung đụng với kẻ mà mình kinh tởm gớm ghiếc, những bọn quan không ra quan, tướng không ra tướng, danh vọng, địa vị chẳng do tài đức lập nên mà do tiền bạc mua bán, do nịnh bợ, phe cánh, bè đảng tạo thành. Từ một cuộc sống vùng vẫy tự do lại phải khép mình vào những lề thói, tập tục chỉ là cái vỏ che đậy những bẩn thỉu giả trá của một triều đình mục nát vua không ra vua, quan không ra quan, của một xã hội đồi trụy không trật tự, không sinh khí, đầy tồi bại, hủ lậu, vô liêm, lẫn trốn trong cái vỏ luân lý đạo đức hào nhoáng như lớp sơn trên thân gỗ mục, mọt rỗng. Kiều nghĩ quanh nghĩ quẩn và thấy hối hận, nhưng ngay sau đó Kiều lại tìm những lý do an ủi để chấp nhận: nàng sẽ chính thức là một phu nhân, vợ một viên quan của triều đình, không còn là vợ một tên tướng cướp, vợ một tên quan được khắp cả thiên hạ công nhận sẽ không còn phải nay đây mai đó trôi nổi bất trắc và số phận sẽ ra sao vào một ngày kia khi quân Từ bị đánh tan? Nàng sẽ về gặp lại cha mẹ, Kim Trọng, về quê mở mặt, mở mày với làng xóm bà con.

Nàng không muốn phiêu lưu nửa, nàng muốn được sống tầm thường trong thái bình an lạc không còn phải run sợ trước cái bất trắc đe dọa, đau lòng trước cảnh chém giết binh lửa mà đã bao lâu nay nàng phải chứng kiến. Kiều trằn trọc với những ý nghĩ đâu đâu khiến nàng không sao nhắm mắt được, mãi đến khuya nàng mới thấy Từ trở vào phòng và lên giường vui vẽ nói vài câu chuyện rồi nằm im như ngủ. Sớm hôm sau khi Kiều thức dậy thì đã không còn thấy Từ Hải, hỏi bọn thị nữ thì nói Từ xuống trại binh sửa soạn quân mã và dặn lại Kiều ở lại trong dinh chờ Từ ra ngoài gặp Hồ Tôn Hiến xong sẽ vào đón. Nhưng giữa lúc đang trông đợi, bỗng nghe tiếng súng nổ vang rền, tiếng la dậy đất, Kiều kinh hoàng ra mặt thành ngó xuống thì thấy quân Từ đã rơi vào ổ phục kích của địch. Nàng kêu lên trước sự gian trá, giữa trận chiến nàng đau lòng nhìn đoàn quân bách chiến bách thắng tan rã và trong khói đạn mờ mịt nàng thấy bóng Từ Hải ngã xuống ngựa. Giữa cơn náo loạn, nàng bỏ chạy ra xông vào giữa trận tơi bời tên đạn, giáo mác. Dưới chân con hồng mã với  bộ giáp điều, Kiều nhận ra Từ Hải với cái xác không đầu nàng ôm lấy  kêu khóc và ngất đi. Kiều tỉnh dậy giữa tiếng ồn ào huyên náo nàng nghe thấy nhiều tiếng nói khác nhau, trong đó có tiếng nói êm ái của Từ Văn Trường:

_Phu nhân đã tỉnh rồi.

_Tỉnh thật không, người đẹp như vậy mà chết thật đáng tiếc.

Kiều mở mắt và ngồi dậy nàng thấy mình đang ở trong một gian phòng tráng lệ tràn đầy ánh sáng. Không phải là nơi trận tiền. Nàng cố nhớ lại cảnh hãi hùng thoảng qua như một giấc chiêm bao. Nàng định thần nhìn kỹ, xung quanh nàng đầy đủ những tên hầu cận, những thị vệ. Ta vẫn còn ở trong cảnh cũ sao? Nhưng đến lúc nhìn thấy ngoài cửa phòng Hồ Tôn Hiến đang ngồi ngất ngưỡng uống rượu và tiếng đàn tiếng hát thì nàng đã rõ thực tế. Nàng òa lên khóc: Thôi rồi chính ta đã giết chàng, bây giờ còn mặt mũi nào ngồi đây? Nàng kêu gào, la hét và khóc khiến cho những người cũ dưới trướng Từ cũng phải rơi lệ.

_Thưa phu nhân đằng nào thì tướng quân cũng đã không còn nửa, phu nhân có làm sao thì Từ tướng quân cũng không sống lại được mà phu nhân thì phải sống, còn cha mẹ anh em. Kiều tỉnh lại, la lên phẫn nộ:

_Phu nhân! Phu nhân! Ta không còn là phu nhân gì nửa, phải rồi không làm sao cho chàng sống lại chính là ta đã giết chàng và chính chúng bay đã giết tướng quân của chúng bay. Có phải chính chúng bay đã được  bổng lộc, ân huệ đã chia ngọt xẻ bùi với Từ và ngày nay chúng bay ngồi đây chờ đợi ân huệ khác. Chúng bay cũng là văn quan, cũng là võ tướng, cũng là hầu cận thế mà ngày nay nhìn Từ chết mà chúng bay lại ngồi đây để chung sống với bọn bất tín, bọn phản trắc, bất lương..ôi bọn bay lại có thể sống như vậy được sao? Ta không là phu nhân, phu phen gì nửa. Ta chỉ là một kẻ giết chồng và ta khinh bọn bay còn ngồi đây làm chi, bọn chó phụ nghĩa, bọn bay hãy bước đi cho khuất mắt ta.

_Thưa phu nhân đâu chúng tôi muốn ra hàng và đâu ngờ là ta bị lừa.

_Thôi bọn bay đừng tìm cách bào chữa. Tao không muốn nghe cái giọng ấy nữa, cái giọng hèn nhát không đáng là quân sĩ của Từ Hải, những kẻ đã sống hiên ngang và chết khí phách. Những kẻ không phản trắc, không sợ kẻ mạnh bất chánh, không vì sự yên thân, đời sống nhung lụa mà quên việc nghĩa. Bọn bay không lấy thế này làm nhục sao? Bọn bay không biết chọn lúc nào phải sống, lúc nào phải chết sao?

Kiều gào lên như một kẻ điên cuồng, lũ bộ hạ chỉ biết cúi đầu ngồi nghe, bỗng một tên bộ tướng đứng lên:
_Lời của phu nhân làm cho kẻ hèn này hổ thẹn. Quả Từ tướng quân đã không xấu hổ với một người vợ như phu nhân.  Vậy xin có chút lòng này tạ ơn người đã khuất.

Nói dứt lời tên bộ tướng rút đoản kiếm đâm vào bụng, lưỡi kiếm xuyên qua người, hắn quỳ xuống, hai tay còn giữ lấy đốc kiếm nơi bụng và cúi đầu hướng về nàng Kiều. Hắn gục xuống như một pho tượng, trong phút chốc máu chảy loang trên mặt đất. Tiếng khóc của Kiều nỉ non bứt rứt. Lúc đó Hồ Tôn Hiến bước vào chứng kiến cảnh tượng mà run lên cầm cập, nhưng Hồ cố trấn tĩnh kêu bọn thị vệ vào vực nàng Kiều ra ngoài cho chôn cất kẻ chết rồi lên tiếng an ủi những bề tôi cũ của Từ, Hồ sợ bọn họ bị kích động, phẫn uất gây chuyện chẳng lành. Nàng Kiều bị mang ra nơi sảnh đường, buổi tiệc khao quân đang vào lúc hào hứng  Hồ Tôn Hiến ngồi nơi bàn tiệc sai quân dâng chén bát và rót rượu mời Kiều. Hồ cầm ly rượu trên tay giơ lên:

_Mời nàng nâng ly cùng uống với ta gọi là vui đã cùng nhau lập nên công trạng này. Ta  nghĩ thành ta thu được một phần nhờ công của nàng vậy nay nếu nàng muốn xin điều gì, bất cứ điều gì ta cũng cho gọi là một chút phần thưởng.

_Phận tôi chẳng có gì để xin. Ông cho việc tôi giết chồng là công sao?

_Không ta đâu nói vậy, ta thật áy náy nhưng ta nghĩ, ta làm như vậy vì nhân dân, vì triều đình. Nàng nghĩ xem nàng thích cảnh chém giết tao loạn sao? Tất nhiên nàng phải chịu thiệt thòi thay cho những thiệt thòi lớn hơn của bao kẻ khác.

_Ông thật không xứng là tướng quân. Chỉ vì tôi là một con đàn bà nhẹ dạ như bao nhiêu người khác, tôi đã bị lừa giết chồng mà không biết. Không, tôi không muốn biết thiệt thòi của kẻ khác, có ai biết thiệt thòi cho tôi không. Chồng tôi chừng như đã rõ điều này nên chàng đâu muốn ra hàng, mang tấm thân cương cường khí phách về uốn lưng nơi triều đình.  Chàng chẳng bao giờ hành động như các ông, cảnh chém giết có diễn ra cũng chỉ bởi chồng tôi muốn đa số dân chúng không còn bị áp bức, bốc lột đè nén, thoát được cảnh lầm than dở sống dở chết dưới quyền cai trị của các ông. Từ lúc còn là tên cướp bể nhỏ nhoi, chồng tôi chỉ biết lấy của kẻ giàu bất chính cho kẻ nghèo, giết bọn sâu dân mọt nước, bao nhiêu năm vùng vẫy chí lấy cái lương tâm mình mà làm điều hay, tránh điều dở. Nghĩ lại tôi biết tôi nhầm khi khuyên chàng ra hàng, tôi cũng muốn được yên thân, cũng muốn tránh cảnh tang thương giết chóc. Ai ngờ cũng vì vậy mà tôi mắc tiếng giết chồng không dao và thân tôi dang dở. ôi như vậy mà ông còn muốn đền công cho tôi nửa…

_Thôi nàng đừng làm giảm cuộc vui của ta, nàng sẽ được đền bù xứng đáng. Nàng hãy vui lên một chút cho ta hài lòng…

Hồ cười lên hô hố, uống liên tiếp từng bát rượu lớn, bọn quân sĩ chung quanh vừa ăn uống vừa ca hát nhảy múa. Nàng Kiều khóc khô nước mắt và tưởng mình như đang ngồi trong một lò lửa chịu cực hình. Tại sao không chọn cái chết cho xong? Nàng nghĩ đến cha mẹ và Kim Trọng khiến lòng lại thổn thức. Hồ Tôn Hiến chợt cất tiếng:

_Xưa ta nghe nàng là một tay danh cầm trong thiên hạ, nay giữa cuộc vui ta muốn được nàng cho nghe một khúc.

Kiều đáp:

_Xưa kia cũng bởi tiếng đàn vận vào người khiên cho thân này trôi nổi nên từ đó thề không cầm đến cây đàn nửa.

Hồ Tôn Hiến vẫn nài ép.

_Mấy khi có được cơ hội như thế này nàng lại không thể gảy một khúc hồi sinh cho đời nàng sao.

_Ông nghĩ tôi giết được chồng là vui sướng lắm sao? Tôi vốn là con đĩ đâu có được cái vui sướng của những kẻ chính chuyên khi giết được chồng xin ông tha cho mà đừng ép tôi làm việc bất nghĩa phụ tình đó.

Hồ Tôn Hiến vẫn không buông tha, sai kẻ hầu mang đàn ra để trước mặt bàn, nàng Kiều cầm lấy mà nói:

_Tôi đã thưa cùng ông đến cạn lời mà ông vẫn bắt tôi làm việc bất nhẫn ông giết được chồng tôi bởi một mưu mô sảo quyệt còn chưa đủ hả, lại còn muốn vợ của kẻ chết chưa nguội xác kia gảy đàn mua vui. Sao tâm địa của ông nham hiểm, bất lương, độc ác đến vậy. Thân tôi dù chết tôi cũng chẳng thể làm được chuyện đó.

Nói xong Kiều cầm cây đàn đạp xuống đất cho tan ra, rồi đứng dậy bỏ chạy như một con ngựa điên.

*****

Sau đêm bỏ thành trốn đi, dứt bỏ những vinh hoa phú quý của một cuộc sống bình thường chẳng ai ngờ Từ đã thoát chết. Chàng thanh niên bảo:

_Nó tưởng lừa mình được, ai ngờ mình lừa được nó.

Hai người bạn dành những ngày đầu tiên để ăn chơi, ngao du trong cuộc sống tự do, nghĩ đến những ngày cũ không khỏi làm cho Từ nhiều lúc chạnh lòng nhớ tiếc, trong những đêm nơi quán trọ dọc đường nghĩ đến Kiều khiến chàng rơi lệ. Chàng đã mất tất cả và bây giờ phải làm lại tất cả. Sau một thời gian hai người bạn bắt đầu công việc kết nạp kẻ đồng chí, những kết nạp khó khăn hơn vì Từ không muốn chỉ có một đoàn quân ô hợp. Chẳng bao lâu thế lực của Từ một lớn dần. Một ngày kia Từ bàn với người bạn ý muốn về đón nàng Kiều vì chàng đã được tin sau khi tự vẫn được cứu thoát đã trở về sống với gia đình. Người bạn có vẽ phân vân, Từ nói:

_Ở trên đời này ngoài huynh ra tôi có mình nàng là hiểu và thương tôi, tôi hiểu sự phân vân của huynh nhưng tôi có thể đoan chắc việc riêng của tôi sẽ chẳng hại gì tới việc chung mà chúng ta đang gây dựng. nàng còn hơn một người thường, từ lúc nghe tin nàng tự vẫn để giữ trọn nghĩa thật không lúc nào tôi quên được nàng. Người bạn thở dài không nói, lặng lẽ thu xếp hành lý, giao công việc rồi cùng Từ dong thuyền tìm về quê nàng Kiều. Sau thất bại của cuộc nổi dậy tại miền duyên hải của Từ Hải đã làm cho người dân nhỏ lệ khóc thầm, một tương lai hé ra chưa đước bao lâu đã bị dập tắt. Đã mất tự do họ lại còn bị quan quân triều đình trở về hành hạ hơn hồi trước chừng như để trả thù những ngày họ được sống sung sướng dưới sự bảo vệ của Từ Hải. Đâu đâu người ta cũng nghe thấy những lời ta thán oán hận Hồ Tôn Hiến, nhiều người dân đã bỏ xứ ra đi đến những nơi xa lạ làm ăn hòng thoát bớt cảnh đè nén áp bức. họ truyền tai nhau kể lại cái chết của Từ Hải, cái đê tiện của Hồ Tôn Hiến. Họ ngậm ngùi cho số phận của nàng Kiều vì không chịu đựng được phải gieo mình xuống sông Tiền đường lấy cái chết mà giữ tiết với chồng.

Miết rồi những lời kể mỗi lúc sai lạc đi vô vàn những huyền thoại chung quanh Từ Hải và Vương Thúy Kiều. Nhiều văn nhân thi sĩ cũng từ hứng khởi của cuộc nổi dậy mà sáng tác ra những áng văn chương được dân chúng truyền tụng ngâm nga. Họ luôn nhắc nhở đến Từ Hải như một anh hùng cứu thế nhưng số trời đã định buộc dân chúng còn phải lầm than khổ sở. Có kẻ đã dựa vào sấm ký vào những lời tiên tri để tìm cách giải nghĩa cho dân chúng rằng: họ đang ở vào thời mạt pháp. Cách giải thích mù mờ đã chẳng giúp gì cho lòng tin của dân chúng mà làm cho họ chán nản, không phấn đấu, đi tìm an ủi nơi tín ngưỡng, do đó nhiều ma giáo xuất hiện làm những chuyện bậy bạ khiến cho xã hội càng thêm tao loạn suy vong.

Nàng Kiều trong những giây phút kinh hoàng đã không còn giữ được bình tĩnh nàng chỉ còn nhìn thấy cái chết là hợp lý nên đã lao đầu xuống sông tự vẫn, mượn cái chết rửa sạch kiếp người, nhưng số nàng chưa trọn, quân sĩ Hồ Tôn Hiến đã vớt được nàng lên, mủi lòng thương cũng có, phần nể sợ cũng nhiều nên Hồ đã cho nàng chọn lựa cuộc sống, nàng đã vào ngụ tạm nơi một ngôi chùa dưỡng bệnh trước khi trở về quê, dứt cuộc sống trần tục mà lập một ngôi chùa nhỏ sớm tối lấy kinh kệ làm khuây.

Nhưng nào nàng có được yên với sắc đẹp của nàng nên bọn đàn ông chung quanh đứa nào củng chỉ định ăn sống nuốt tươi. Những cái nhìn như hãm hiếp nàng. Sau hôm được cứu sống ít ngày, một đêm kia nàng đang thiếp ngủ thì bỗng giật mình vì có một kẻ vận áo nhà sư xông vào giường mà ôm lấy nàng định hãm hiếp, nàng định la lên cầu cứu và kháng cự, may nhờ ngôi chùa nàng đang tạm trú ở sát ngay trại quân của Hồ Tôn Hiến nên nghe tiếng kêu liền báo động, biết không yên kẻ gian vội vã tẩu thoát. Sớm hôm sau Hồ Tôn Hiến bắt nàng tới hỏi xem kẻ kia là ai để trị tội vì trong thâm tâm Hồ vẫn thèm khát Kiều mà không dám, nên nổi máu ghen với kẻ lạ mặt. Kiều cứ tình thực mà khai là thấy một ông sư nhưng vì đêm tối nên nhận không được rõ. Hồ Tôn Hiến liền bắt tất cả các sư đang trụ trì trong ngôi chùa ra cho Kiều nhận diện, Kiều một mực nói không rõ ai nhưng Hồ không chịu còn bảo: nếu không nhận ra người nào thì sẽ giết hết mấy vị sư vì làm nhớp cửa Thiền. Hồ hỏi các ông xem ai làm điều bậy bạ thì hãy nhận, nhưng ai cũng nói không. Hồ liền sai mang ra chém cả. Kiều đành liều chỉ đại một người. Nhưng ngay đó một chuyện xảy ra giải cái oan cho nhà chùa. Nguyên kẻ làm bậy là Từ Văn Trường đã giả dạng nhà sư tưởng có thể che mắt được. Ai ngờ quả báo, buổi tối đó sau cái chết oan của vị sư Từ Văn Trường trở về nhà thì bỗng nhìn thấy trên giường một ông sư đang giao hoan cùng vợ, hai thân thể trần truồng lung linh trước mắt, cơn giận bốc lên Từ rút gươm xông vào đâm, nhưng lúc nhìn ra hóa chỉ có mỗi vợ mình rãy chết trên vũng máu. Vì giết người Từ bị bắt dù là kẻ có công ở dưới trướng nhưng Hồ Tôn Hiến cũng không thể vì tình mà tha được, nhất là sau khi Từ Văn Trường đã khai ra cái chuyện đội lốt nhà sư kia. Bị nhốt Từ Văn Trường phát điên, phá nhà ngục chạy về đốt nhà rồi nhảy vào lửa mà chết. Câu chuyện đã làm náo động dư luận. Kiều những khóc thầm vì phải chứng kiến nhiều cảnh đau thương oan trái do đó nàng đã quyết chọn đường tu để mong sám hối tội lỗi lãng quên cuộc đời.

Dời khỏi ngôi chùa trở về quê Kiều muốn quên ngày cũ, nhưng tới nhà Kim Trọng lại đòi nối lại tình xưa, có lẽ chẳng phải vì lời thề thốt nhưng bởi nhan sắc mặn mà và cái thân thể khêu gợi của nàng Kiều, về phía Thúy Vân thì ghen tương sợ chị cướp mất chồng sẽ mất phần nào sự mặn nồng tình ái. Kiều ở vào hoàn cảnh dở khóc dở cười chỉ còn biết than thân trách phận. Nàng nhất định dứt đường tình ái ra nơi am vắng nhưng Kim Trọng đã chẳng buông tha, một mực ép nàng muốn cho cửa am thành nơi dơ bẩn, Kiều chẳng dám nói lớn sợ vỡ ra thì xấu chàng hổ thiếp chỉ tìm cách lẩn tránh. Nàng Thúy Vân cùng cha mẹ biết chuyện chỉ đành chép miệng thở dài.

Một đêm kia kinh kệ vừa xong, đóng cửa am cẩn thận rồi đi nằm, giấc ngủ chưa đến bỗng nghe tiếng gỏ cửa, nàng thất kinh cố ý nằm im, nhưng nghe tiếng gõ mỗi lúc một lớn, sợ kinh động khiến người ngoài biết nàng đành phải ra.

_Em lạy anh, hãy buông tha cho em được yên thân, em đâu còn trinh trắng nửa, hãy để cho em giữ lại một chút lòng này với anh. Anh đừng ép để em phải lấy cái chết mà giữ mình.

Tiếng gỏ im Kiều lắng nghe có tiếng bàn tán, khiến nàng run sợ chợt có tiếng quen quen hỏi:

_Có phải nàng Kiều đó không?

Kiều cố moi óc nhớ xem giọng ai, tiếng nói tiếp theo:

_Anh đây, anh Từ Hải mở cửa cho anh, anh về đón em đây.

Nghe xong Kiều muốn ngất xỉu, nàng run rẫy quỳ xuống:

_Từ tướng quân, sống khôn thác thiêng, em biết em đã giết tướng quân, xin tướng quân tha cho..

_Anh còn sống mà, anh chưa chết đâu, em hãy mở cửa ra.

_Không anh chết rồi, em thấy rõ anh chết rồi, anh có linh anh hãy độ cho em.

_Khổ quá, anh còn sống nhăn, em hãy mở cửa ra xem.

Rồi một tiếng lạ khác:

_Từ tướng quân vẫn còn sống, phu nhân cứ mở cửa đừng sợ.

Sau một lúc trấn tĩnh, Kiều đánh liều mở cửa, trước mặt nàng rõ là Từ Hải và một người khác, Kiều kêu lên:

_Em đang mơ hay tỉnh đây.

_Em đang tỉnh

Từ Hải cầm lấy tay nàng:

_Em hãy lại đây.

Kiều hoảng rút vội tay nhưng không kịp nửa  và nàng nhận rõ đúng là Từ Hải. Nàng ôm choàng lấy Từ nỗi vui khôn xiết. Từ kể lại chuyện trá hàng cho Kiều nghe và Kiều kể những gian truân từ bấy đến nay, hai bên cùng ứa lệ chan hòa. Kiều oán trách:

_Sao anh trốn đi mà không cho em theo?

_Vì anh tưởng em muốn vinh hoa phú quý thì để em hưởng ai ngờ như ngày nay.

Chợt Từ hỏi:
_Vừa xong em tưởng anh là ai vậy?

Ngập ngừng một lúc nàng mới nói được:

_Em tưởng chàng Kim vì chàng Kim vẫn còn muốn em.

_Thằng khốn khiếp, cái bọn nho sĩ dâm loạn, nó muốn người ta ai cũng là đĩ mãi, người ta vào chùa rồi nó muốn người ta làm đĩ nửa. Thôi em hãy cở bỏ cái áo đó rồi theo anh, anh không muốn em phải sống khổ sở thế này. Chúng ta phải gây dựng lại.  Ngay đêm đó Kiều cùng Từ Hải và người bạn xuống thuyền ra đi.

Những năm về sau từ miền duyên hải Việt đông mãi tới Giang nam nhiều vụ dấy loạn nổi lên. Người ta bàn tán về  một đám giặc lùn nhận là Từ Hải, kẻ nói dư đảng, kẻ nói là bọn mạo danh, nhưng có kẻ cả quyết rằng chính mắt đã nhìn thấy Từ Hải . Trong dân gian kẻ nói thế này người nói thế khác thực giả chẳng biết đâu mà phân biệt.

Có điều những vụ nổi dậy đã làm cho triều đình lo âu và người dân bị đàn áp ngóng chờ loạn lạc hy vọng một đổi đời sẽ đến, cái hy vọng mà xưa kia trong một thời gian ngắn ngủi Từ Hải đã mang đến cho họ..

(1963-1965)

Nhan Sắc

vietmessenger.com

Dương Nghiễm Mậu

Văn Xã xuất bản 1969

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Nhan Sắc

Cụ Tú Hà chống tay lên chồng gối xếp, cụ đẩy chiếc điếu bát ra xa, nhấc bình trà nhỏ chiết vào chén hạt mít rồi đưa lên môi nhấp một chút. Khóa Nhâm ngồi khúm núm lặng nhìn xuống mặt sập không dám ngó lên. Cụ Tú để chén xuống khay, cầm tập cổ thi lên tay. Cụ ngừng lại một chút khẽ đưa mắt nhìn sang người trưởng nam:

– Thầy không ép con gì chuyện này. Từ hồi thầy và cụ Cử còn là bạn học với nhau đã hứa như thế, ngày đó thầy chưa lấy đẻ con kia. Bây giờ người ta hiển đạt còn nhớ tới lời hứa là quí lắm. Vả lại con cũng lớn tuổi rồi. Tam thập nhi lập, thầy, muốn có đứa cháu bế cho vui tuổi già. Thứ nhất trẻ khóc, thứ nhì trẻ học… Đấy con nghĩ xem…

Giọng cụ Tú ôn tồn dịu dàng. Khóa Nhâm bần thần không biết trả lời sao. Nghe lời cha thì trong lòng không vui, cưỡng lại lời cha Khóa Nhâm áy náy, nhất nữa chưa bao giờ người trưởng nam này làm vậy. Nhưng Khóa Nhâm vẫn chưa muốn lập gia đình.

– Thầy thư thả cho con nghĩ lại.

Anh khóa nói xong xin phép cha ra ngoài. Anh bước xuống sân gạch ngó lên nền trời xanh trong cao vút lấp lánh sao, anh thở ra một cách khoan khoái. Anh trở về thư phòng đốt đèn đọc sách. Cho gần tới sáng cụ Tú nhìn xuống vẫn thấy đèn sáng trong phòng người trưởng nam. Đêm đó anh khóa không sao chợp mắt được.

Trong thôn Trúc này người ta đã nhiều lần bàn tán về người con cả cụ Tú. Anh Khóa là người hay chữ có tiếng bậc nhất ở trấn Sơn. Khóa thi hương trước đây anh là người được cụ Đốc tin tưởng thế nào Khóa Nhâm cũng mang về cho làng Trúc mạt ra cũng là cái cử nhân, nhưng không hiểu sao, anh Khóa lều chõng lên vai giữa đường lại trở về không xuống trường Nam ứng thí, lúc con trở về cụ Tú đã không khỏi ngạc nhiên, anh Khóa nói một cách mơ hồ rằng đến giữa đường thấy người khó chịu nên không đi nữa:

– Thưa, thầy để khóa sau cũng được, con tưởng chưa muộn gì.

Sau đó trong thôn một người con gái gieo mình xuống giếng tự vận. Phong thanh đồn người thôn nữ thất vọng vì anh Khóa đã bỏ lỡ khoa thi. Người thôn nữ là một trang tài sắc đã làm nhiều thư sinh mê mệt nhưng chẳng ai lọt mắt, cô đã mê anh Khóa và chừng như đã tự đính ước nếu anh Khóa thi đỗ trở về nàng sẽ xin theo hầu. Các bạn đồng song kháo nhau: Khóa Nhâm sợ phải lấy người thôn nữ nên làm cho nàng thất vọng, vì cái bằng cử nhân anh Khóa đã như bỏ trong túi áo rồi. Sau chuyện này cụ Tú có cật vấn con, anh Khóa một mực kêu không biết: vả họ để ý đến con thì làm sao con hiểu được. Với tính trang nghiêm mực thước, thái độ đường hoàng của anh Khóa chẳng ai nghĩ rằng anh có điều gì hư hỏng. Vả ai là con gái ở trấn Sơn này lại không mê anh, các bạn trong một phút cao hứng nào hỏi anh Khóa về chuyện tình ái, anh nghiêm trang đáp:

– Mình còn trẻ, vả tôi chưa thấy ai là người để cho tôi phải để mắt đến. Một vẻ đẹp thật khó biết chừng nào!

Nghe nói thế có người cho anh gàn. Có người cho anh ái nam ái nữ. Có người biết truyện cụ Tú đính ước với cụ Cử làng bên thì cho anh Khóa làm cao để lấy con cụ Cử hiện thời đang làm án sát dưới hạt Sơn Nam Hạ. Khi nhắc tới đó anh Khóa chỉ lắc đầu:

– Đó là chuyện thời xưa rồi, hồi cụ Cử còn hàn vi, nay nhà người ta làm quan, thầy tôi nghèo ai còn nhớ đến chuyện ấy. Nhưng đến khi nghe cha nói tới chuyện đó anh Khóa lại càng thấy khó nghĩ. Suốt một đêm thức trắng sáng hôm sau trong tuần trà buổi sớm mai anh Khóa đã thưa với cha già:

– Con chưa hiển đạt nên việc lập gia đình con vẫn cho là còn sớm. Cụ Cử có thương con nhưng tiểu thư sợ không vui lòng phải làm vợ một anh Khóa nghèo.

Cụ Tú biết ý con muốn từ chối nên kiếm cớ ra như vậy. Cụ lặng im uống trà trầm ngâm. Cụ nhìn con: với đôi mắt sâu trũng, đôi lông mày lưỡi mác. Cụ Tú như thấy một phần nào những ý nghĩ của con, lá số tử vi cụ Tú đã lấy đi lấy lại nhiều lần cụ vẫn thấy người con mình khác tính cụ, nó sẽ là một người bay nhảy xông xáo với lòng dũng mãnh, ý chỉ cương cường lộ ra đôi mắt như lò lửa và gò má cao khắc khổ kia. Cụ còn thấy tính con lộ ra trong văn bài, những nét chữ ngang dọc mạnh mẽ như nhát chém, giọng văn cuồng nhiệt nhiều khi phá cả luật cách. Nhìn con cụ Tú càng lo ngại, cụ muốn con lập gia đình cho vướng vít như thế cụ đỡ lo hơn. Trong dòng họ, cụ Tú vẫn lấy làm hãnh diện đã có một cụ tổ thờ nhà Lê trung thành cầm nghiên mực đập vào mặt Mạc Đăng Dung.

Tuần trà buổi sớm mai vẫn lặng lờ trong sương sớm gây lạnh. Anh Khóa quạt khẽ chiếc hỏa lò cho than hồng chút nữa. Cụ Tú hỏi:

– Con có biết con cụ Cử chưa? Cô ấy đẹp và học cũng giỏi lắm, xuất khẩu thành thi, nét bút bay bướm tài hoa. Có được con như thế thật phúc lắm…

– Có, con có thấy nhân dịp lên mừng thọ cụ Cử năm rồi. Đó là một trang tài sắc, nhưng không có một vẻ đẹp…

– Một vẻ đẹp?

– Vâng, thưa thầy, một vẻ đẹp như con nghĩ.

– Vậy, con đã thấy ai là người có một vẻ đẹp như ý con?

– Chưa, con chưa thấy ai là một người đẹp cả. Những vẻ đẹp người ta thấy chỉ là cái vẻ đẹp phàm tục tầm thường, cái vẻ nhàm chán của son phấn điểm trang hào nhoáng đánh lừa con mắt của trần gian. Con nghĩ, có những vẻ đẹp siêu phàm, vẻ đẹp làm cho người thấy nó tan đi vào khát vọng và quên cả thân thể nặng nề… một cái nhan sắc hàm chứa, kết tụ lý tưởng của kẻ nam nhi chắc phải khó mới tìm thấy được…

Cụ Tú ngẩn ngơ nghe con nói một cách say sưa. Thật tình cụ không làm sao hiểu thấu. Nhưng cụ Tú cũng vẫn nghi ngờ: hay là nó đã có tình ý với ai.

Ngày tháng trôi qua, mùa xuân năm đó anh Khóa Nhâm xin phép cha đi dự hội mùa xuân ở Kinh kỳ, nơi mà anh đã nghe nói đến những giai nhân tài tử của đất phồn hoa mượn tiết xuân đề tìm khách đông sàng, cùng các bạn tới nơi chưa tàn nửa cuộc vui anh Khóa đã chán nản đóng cửa phòng trọ uống hết bình rượu này sang bình rượu khác. Có người hỏi về giai nhân tài tử, anh Khóa nghiêm nét mặt nói một cách tàn nhẫn:

– Làm gì có người đẹp ở nơi phồn hoa đô hội này, có chăng là một lũ tầm thường, phường hát xướng, đào ca cả mà thôi. Họ chỉ xứng để làm nàng hầu, tôi tớ cho bọn quan lại, quyền thế và lái buôn. Kẻ nam nhi mà còn thấy đó là đẹp sao?

Lời nói đó lọt tai một nhà quyền quí nọ, với bốn đứa con gái ế chồng, lấy làm mất sĩ diện nên thuê tụi du thủ dụ thực tới vây nhà trọ định làm nhục anh Khóa, may sao có người bạn biết báo cho anh Khóa hay, anh vội vàng xách khăn gói giữa canh ba trổ mái nhà thuê cáng về Sơn thề không trở lại nữa.

Tới nhà anh Khóa đóng cửa thư phòng không bước ra khỏi cửa. Ngày ngày cụ Tú nghe tiếng con ngâm thơ Đỗ Phủ, giọng ấm ức nghẹn ngào. Khóa thi năm đó đã rao, cụ Tú hỏi con chuyện lều chõng. Anh Khóa buồn rầu:

– Thưa cha, con không nghĩ đến chuyện đó nữa, năm rồi ở kinh kỳ con đã nhìn tận mắt bao cảnh đồi trụy nhơ nhớp, tai đã nghe bao chuyện lố lăng. Chốn trường thi nay đã thành nơi buôn quan bán tước. Kẻ sĩ mỗi ngày một bỏ xa đạo thánh hiền, dân tình khổ cực khắp nơi, loạn lạc không ngớt cho nên con không còn thiết gì đến công danh, một cái hư danh phỏng có ích gì. Xin thầy hiểu cho con. Con lấy làm tiếc rằng tại sao con lại sinh ở một thời vua không ra vua, quan không ra quan, người không ra người này. Bao nhiêu chữ nghĩa con được học của thầy chắc không phải chỉ để đi thi, đội mũ, mặc áo có cân đai bố tử, làm quan hưởng bổng lộc. Chữ nghĩa của thánh hiền là để cho con làm một kẻ sĩ, nếu không cũng là một tài tử đi tìm một giai nhân xứng mặt giai nhân…

Sau đó anh Khóa sống âm thầm phụng dưỡng cha già đêm đêm đọc sách, tuyệt không giao du với bên ngoài. Cho đến một hôm cụ Tú thấy người trưởng nam biệt tích. Anh Khóa đã bỏ nhà ra đi không nói nửa lời. Cụ Tú thở dài im lặng.

Ba ngày sau khi Cao Bá Quát bị bắt cùng với dư đảng  “Giặc châu chấu”, cụ Tú thấy anh Khóa Nhâm trở về vào lúc trời nhá nhem. Cụ Tú không dám hỏi con một tiếng. Anh Khóa lặng im. Người con dân trấn Sơn nhìn nhau sau một cơn biến động. Những phấn khởi, xáo động buổi đầu đã chuyển sang những lo âu sợ sệt. Cái tương lai sáng sủa của ông Quát khích động ngày nào đã tan biến, mọi người thở dài như than tiếc cho nhà Lê đã không còn cơ hưng thịnh lên được. Ngày xử trảm ba họ nhà Cao Bá Quát bầu trời trấn Sơn như nhuộm một màu thê lương tang tóc. Kẻ già, người trẻ cúi đầu rơi lệ cho một cuộc vùng vẫy không thành. Anh Khóa Nhâm cả ngày ngồi bất động trên tràng kỷ như kẻ chịu nhục hình xẻo da cắt thịt, mối lo âu làm mái tóc bạc phơ. Mấy người bạn đồng song nghe tin anh Khóa trở về lại thăm, để tránh sự nghi kỵ anh đành mở cửa tiếp bạn, cố gượng làm vui, cười nói vồn vã. Có người hỏi:

– Vậy chứ anh bỏ nhà đi từ đó đến nay là tại sao vậy? Người ta bảo anh trốn lấy vợ phải không?

– Sao lấy vợ mà lại trốn là thế nào?

– Thế anh đi đâu?

– Đi tìm một giai nhân…

– Tôi không thể tin được. Tiểu thư con quan án sát không phải một trang tài sắc hay sao?

– Nhưng thế nào là giai nhân nhỉ?

Câu nói của anh Khóa trầm xuống, anh cúi đầu tư lự. Bạn bè lặng im không biết trả lời ra sao. Thế nào là một giai nhân? Thật chưa ai nghĩ đến điều đó để trả lời. Trông anh Khóa lúc đó chừng như không phải là một người thường nữa mà như một đạo sĩ đã thoát trần:

– Các anh có thấy tóc tôi đã bạc rồi không? Hơn ba mươi tuổi, bỏ làng đi hai năm mà tôi tưởng gần hết cả đời người. Sống hai năm để hiểu rằng ba mươi năm kia mình đã phí như thế nào. Như các anh, các anh phải thấy là đáng hối hận… Sinh ra làm trai để làm gì? Để làm việc lớn? Để gặp giai nhân? Để thấu đạo lý? Cái ý nghĩa của đời người là thế nào? Tôi mãn nguyện một phần là đã thấy giai nhân, đã thấy một phần ý nghĩa của đời người… Sinh làm trai lại do dó ở trong lũy tre, vùi đầu vào trang sách nát, mờ mắt bởi những giả tạo quanh quẩn… rồi chết đi, như vậy thì có hơn chi lũ đàn bà con trẻ quanh quẩn nơi xó bếp, góc nhà, có hơn chi loài cầm thú yên với số phận cỏn con…

Anh Khóa nói một cách say sưa làm người nghe như bị dắt vào một thế giới khác, bạn hữu thấy thua kém anh quá, một người bỗng hỏi:

– Anh không biết gì về chuyện cử Quát? Làm việc lớn là để bị tru di ba họ sao?

Anh Khóa rợn người, cảm giác một lưỡi gươm vô hình vừa đưa ngang cổ.

– Hắn là một cuồng sĩ. Không hành động như thế được. Làm việc lớn đâu phải là làm loạn. Tôi đã nói mà, bây giờ là thời tìm gặp giai nhân. Tôi muốn nói về giai nhân tôi đã gặp cho các anh nghe… nhưng thật khó quá…

– Không có ai để so sánh được sao?

– Nếu có một người thứ hai để so sánh thì đó không còn là một giai nhân nữa… Chúng ta cũng không có ngôn ngữ để diễn tả. Đó là một vẻ đẹp của trời đất. Tóc như mây trời, da như sương mù ngưng đọng… Cũng không phải như thế nữa… Không thể nói ra, không thể tả lại. Phải gặp mới biết thế nào là vẻ đẹp…

Tới đó anh khóa thôi không nói gì nữa. Bạn hữu đứng dậy xốc áo sửa khăn ra về. Nửa đêm hôm đó cụ Tú vào đối diện người trưởng nam:

– Con có dự gì vào chuyện Cao Bá Quát không? Con nói thật cho thầy yên lòng?

Khóa Nhâm nhìn vào đôi mắt nghiêm khắc của cha già:

– Thưa cha không. Con chỉ là một tài tử. Con đã thất hiếu ra đi vì một vẻ đẹp…

Cụ Tú không hỏi thêm gì trở ra ngay. Cân chuyện của Khóa Nhâm qua tai bạn hữu loan truyền ra ngoài, ai cũng cho anh là một kẻ đa tình háo sắc, gàn dở. Bỏ cả công danh sự nghiệp đi theo đuổi một người đẹp đến bạc đầu cũng không nên cơm cháo gì. Câu truyện đó qua dư luận dần dần sai lạc để trở thành hài hước, nhờ vậy chẳng ai còn thắc mắc đến những hành tung của anh. Nhưng một người bạn, buổi sáng kia tìm gặp anh Khóa:

– Anh nói phải, tôi tin là có giai nhân. Anh cho tôi biết tên để tôi đi tìm gặp người đó.

– Không phải dễ, anh phải lấy cả cái tâm thành của anh ra may mới gặp được. Anh phải coi cuộc tìm kiếm như một cuộc hành hương tìm đạo, bởi nó ở ngoài lẽ thường. Liệu anh có đủ cái tâm thành ấy không? 

– Tôi có đủ.

– Nếu anh không gặp thì sao? Tôi sợ khó khăn cho anh lắm. Những khó khăn tôi đã gặp thật nói ra không được.

– Tôi tin là có, nhưng có gặp hay không là ở tôi… Tên người đó?

Khóa Nhâm buồn rầu cầm tay người bạn trẻ không biết nói sao, anh nói nhỏ, xa, mơ hồ như trong giấc chiêm bao… Người bạn trẻ nghe xong từ tạ lên đường, tự nguyện không gặp giai nhân sẽ chẳng trở về. Không bao lâu Khóa Nhâm lâm trọng bệnh người xanh như tàu lá. Sự sống chỉ còn nơi hai con mắt triền miên trong những cơn mê sảng. Nhưng vào những đêm khuya giữa cơn mê sảng, cụ Tú nghe con gọi lập đi lập lại nhiều lần tên một người nào đó. Cụ Tú cho là con đau tương tư vì xa người tình. Cụ gặng hỏi nhưng anh Khóa chỉ lắc đầu và khóc cho đến nỗi chảy máu cả hai con mắt rồi chết. Cụ Tú thương con cho nhập quan quàn lại trong nhà, báo tin cho bè bạn của Khóa Nhâm được biết.

Ngày đưa đám, bạn hữu của Khóa Nhâm đều đủ mặt. Ngoài những kẻ quen biết còn rất nhiều người lạ. Trước mặt cụ Tú ai cũng tự giới thiệu là bạn của Nhâm, mặt mày họ gớm ghiếc, trông nhiều kẻ không phải là người có học. Đặc biệt trong đám khách lạ có một người to lớn, vạm vỡ, mặt đen, lông mày rậm nói là ở Cao Bằng vừa xuống có ý thăm anh Khóa, không ngờ anh Khóa đã ra người thiên cổ thì vẻ tiếc hận buồn rầu lộ ra nét mặt. Người khách nói:

– Thế là công việc lỡ cả…

Cụ Tú sinh nghi liền hỏi tại sao. Người khách thưa:

– Chúng con có hẹn sẽ uống với nhau một bữa rượu cho say túy lúy. Tiếc rằng không kịp…

Chiều hôm đó quan tài anh Khóa được bạn hữu chuyển ra sườn đồi an táng. Vừa hạ huyệt xong thì tiếng người ngựa ở đâu huyện náo tứ phía. Quân lính triều đình vây khắp cả chung quanh. Mọi người xôn xao không hiểu chuyện gì. Gươm đã tuốt trần, giáo mác dựng đứng, ai nấy lo âu. Cụ Tú vội ra, một viên tưởng phóng ngựa tới.

– Bản chức được lệnh truy bắt một người…

– Thưa cho biết tên.

– Một người vừa ở xa tới.

– Tên gì?

– Một dư đảng Cao Bá Quát.

Cụ Tú run rẫy suýt ngã. Đám bạn hữu của Khóa Nhâm đưa mắt nhìn nhau sửng sốt. Im lặng bao quanh nặng nề nỗi hoang mang lo lắng.

– Tôi là người ông tìm kiếm.

Từ giữa đám đông tiếng nói cất lên như một mũi tên nhọn bay cao, đám người rẽ ra. Cụ Tú nhìn thấy chính đó là người khách ở Cao Bằng. Người đó tiến lên nét mặt cương cường dũng mãnh, dáng đi khỏe mạnh. Mọi người trố mắt ngạc nhiên. Viên tướng xuống ngựa đứng trước mặt người đó. Nhanh như chớp người kia đã đâm vào bụng lưỡi đoản kiếm và ngã sấp xuống, mũi kiếm xuyên lên lưng, máu vọt cao như những lưỡi kiếm lửa…”

Người sau có bài hát rằng: nên ra tay kiếm tay cờ, không nên thì cũng chẳng nhờ cậy ai…

(1963)

Tiễn Em Rời K18

batkhuat.net

Phan Văn Hưng/Nam Dao

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Em về đi, thôi đừng lên thăm trại K18.                                                                                                                                    Anh ngoài đây như chết thật rồi,

Đừng xót thương đời một tên tù K18

Nhắn mẹ rằng anh vẫn nhớ đến me.

Về đi em, đừng lên thăm nữa em ơi,

Còn thương nhau thì xin sống nuôi con,

Đừng đến nữa, van em đừng đến em ơi,

Đường gian lao, vùi mạng dốc Ô Ba.

Anh ở lại, giam đời mình trong trại K18,

Chồng Lồ Ô liệm kín đời người,

Nhà Cách Ly, chờ chôn người tù K18,

Chết vội vàng, manh áo rách bó thây.

Về đi em, đừng thăm nữa em ơi,

Gặp nhau thêm, càng đau đớn cho nhau

Đừng khóc nữa, van em đừng khóc nữa em ơi,

Tình đôi ta đành hẹn lại kiếp sau.

Em trở về, với cuộc đời cô phụ trông mòn mắt,

Nơi chồng đi, không có ngày về,

Đời nát tan chờ mong người tù K18,

Sống dật dờ năm tháng úa héo tàn,

Giờ chia ly, lòng ta trăm mối đau thương,

Ngoảnh trông theo, nào em quá xa ta,

Còn nước mắt, tuôn rơi nào tiễn chân em,

Đành xa nhau chờ hẹn lại kiếp sau.

Về đi em, đừng thăm nữa em ơi,

Gặp nhau thêm, càng đau đớn cho nhau

Đừng khóc nữa, van em đừng khóc nữa em ơi,

Tình đôi ta đành hẹn lại kiếp sau.

Người đàn bà đẹp nhất thị trấn

vanviet.info

Posted on 26 Tháng Hai, 2025

Charles Bukowski

T.Vấn chuyển ngữ

Post by Sơn râu 20 Mar 2025

Women with Glass of Wine (1949) – Tranh: Zygmunt Bukowski* (1923–2006)

Nguồn: Edinburgh College of Art (University of Edinburgh)

Trong số năm chị em, Cass là người trẻ nhất và đẹp nhất. Và cô cũng là cô gái xinh đẹp nhất thị trấn. Mang trong mình một nửa dòng máu của bộ tộc da đỏ, với thân hình mềm mại một cách lạ kỳ, trông uốn éo yểu điệu nhưng cũng sẵn sàng bốc lửa khiến bao cặp mắt cứ dán vào đó không rời. Nàng là hiện thân của lửa ở thể lỏng, như một linh hồn bị kẹt trong một hình hài không đủ sức để cho nàng làm nơi trú ngụ. Mái tóc nàng dài, đen nhánh và mượt mà như lụa, lúc nào cũng chuyển động, lượn quanh như thân thể của nàng. Nàng luôn ở trong trạng thái tinh thần hoặc là rất cao hoặc rất thấp. Với Cass, không có gì mang tính cách trung dung. Có người bảo cô nàng điên khùng. Mấy kẻ ngu đần hay nhận xét như thế. Những kẻ đần độn thì làm sao mà hiểu được Cass. Đối với lũ đàn ông, nàng đơn giản chỉ là một cái máy làm tình. Vì thế, họ chẳng bận tâm nàng điên hay nàng khùng. Lúc nào Cass cũng nhảy múa, lả lơi, hôn hít đám đàn ông, nhưng cũng đôi khi đến lúc lẽ ra phải để chuyện ấy xảy ra thì nàng lại tìm cách thoái thác, tránh né bọn đàn ông đang lên cơn rượn đực.

Các chị nàng cho rằng nàng đã lạm dụng sắc đẹp của mình và quá vô tâm không chịu suy nghĩ trước khi làm việc gì, nhưng Cass có đủ suy nghĩ và đủ tâm cho việc mình làm; nàng vẽ, múa, hát, nặn hình bằng đất sét, và khi gặp người bị tổn thương tinh thần hay thể xác, nàng đều bày tỏ sự đồng cảm chân thực tận đáy lòng và sẵn sàng chia sẻ. Chẳng qua là nàng có lối suy nghĩ khác hẳn, không hề mang tính thực dụng. Các chị nàng ghen tức chỉ vì nàng đã thu hút những người đàn ông của họ, họ giận dữ vì cho rằng nàng đã không biết lợi dụng lũ đàn ông ấy. Nàng luôn có thói quen tỏ ra dịu dàng, tử tế hơn với những người đàn ông xấu xí. Còn những gã đàn ông gọi là đẹp trai thì nàng lại không thích – cho rằng họ “Chết nhát. nhạt thếch! Bọn này chỉ biết khoe khoang cái vẻ ngoài điển trai, vểnh ra vành tai xinh xắn, chu lên sống mũi cân đối… Tất cả chỉ là cái mẽ bên ngoài, còn bên trong thì rỗng tuếch…”. Tính khí nàng có vẻ như gần với sự điên rồ; vì vậy, có kẻ bảo tính tình Cass điên điên rồ rồ.

Cha nàng chết vì chứng nghiện rượu, sau đó mẹ nàng cũng bỏ rơi chị em nàng. Một người họ hàng đã đem mấy chị em đến trao cho một tu viện. Nơi cư ngụ mới này chẳng vui vẻ gì hơn, nhất là với Cass. Mấy chị nàng lúc nào cũng tỏ ra ganh tị với nàng và họ cãi nhau chí chóe suốt ngày. Cánh tay trái của Cass vẫn còn những vết sẹo dao lam cứa vào trong lúc phải tự vệ từ hai trận đánh nhau với các chị của mình. Trên má trái của Cass còn có một vết sẹo không cách nào tẩy xóa được, nhưng có vẻ như vết sẹo ấy làm nổi bật thêm vẻ đẹp khuôn mặt nàng hơn là làm cho nó xấu đi.

Tôi gặp Cass tại quán rượu Cực Tây sau khi nàng được ra khỏi tu viện mấy ngày. Là người nhỏ nhất trong năm chị em, nên nàng là người cuối cùng được cho ra khỏi tu viện. Một cách hết sức tự nhiên, Cass đến ngồi bên cạnh tôi. Cũng có thể do tôi là thằng đàn ông xấu xí nhất thị trấn nên việc Cass đến với tôi là đúng với tính khí của nàng.

“Uống chứ?”, tôi hỏi nàng.

“Hẳn rồi, sao lại không chứ?”

Tôi chẳng nghĩ có điều gì bất thường trong câu chuyện của chúng tôi vào tối hôm ấy, đơn giản chỉ là cảm giác mà sự có mặt của Cass mang lại. Nàng đã chọn tôi để ngồi xuống, sự việc chẳng có gì khác hơn điều đơn giản đó. Không ai áp lực ai. Cass thích thức uống của mình và đêm ấy nàng uống khá nhiều. Trông nàng có vẻ chưa đủ tuổi uống rượu nhưng quán vẫn cứ mang rượu ra phục vụ nàng. Cũng có thể nàng đã sử dụng thẻ tùy thân giả mạo chẳng hạn. Tôi không biết. Dù sao, mỗi khi nàng đi vào nhà vệ sinh rồi khi ra vẫn ngồi lại cạnh tôi làm tôi cảm thấy tự hào. Cass không chỉ là người đàn bà đẹp nhất thị trấn mà còn là người đẹp nhất trong số những người đàn bà mà tôi đã được gặp. Một lúc, tôi vòng tay ôm ngang eo ếch Cass và hôn nàng.

“Anh có nghĩ là em đẹp không?”, nàng hỏi.

“Có chứ, tất nhiên là em đẹp lắm, nhưng còn một cái gì khác nữa… không chỉ vẻ đẹp bên ngoài…”

“Người ta luôn buộc tội em là xinh đẹp. Anh có thực sự nghĩ em xinh đẹp không?”

“Xinh đẹp không phải là chữ chính xác để diễn tả, nói thế là chưa công bằng với em.”

Cass thò tay vào túi xách của nàng. Tôi tưởng nàng đang lục tìm chiếc khăn tay. Nhưng tay nàng cầm một chiếc kim dài dùng cài mũ vào tóc. Trước khi tôi hiểu chuyện gì đang xẩy ra để kịp thời ngăn cản thì nàng đã đâm cây kim ngang qua mũi mình, phần thịt ngay trên hai lỗ mũi. Tôi cảm thấy choáng váng, sợ hãi.

Cass thản nhiên nhìn tôi, cười, “Bây giờ anh có còn nghĩ em xinh đẹp nữa không? Ý kiến anh thế nào, hả?”

Tôi rút cây kim ra khỏi mũi nàng và dùng khăn tay của mình chặn chỗ máu chảy ra. Nhiều người khác, kể cả anh chàng pha chế ở quầy rượu, nhìn thấy sự việc từ đầu đến cuối. Anh chàng này bèn bước đến:

“Này, cô nhỏ,” anh ta bảo Cass, “cô làm thêm một lần nữa thì sẽ bị mời ra khỏi đây ngay đấy. Chúng tôi không cần cô diễn trò ở đây.”

“Được rồi, tiên sư anh!” Nàng trả lời.

Người pha rượu quay qua tôi, bảo:

“Anh nên kiểm soát cô ta kỹ hơn!”

“Cô ấy sẽ ổn mà,” tôi đáp.

“Mũi của em mà,” Cass phân bua, “Em có quyền làm gì thì làm với cái mũi của em chứ.”

“Không,” tôi bảo, “Em làm anh đau.”

“Ý anh muốn nói anh cảm thấy đau khi em đâm kim vào mũi của em?”

“Đúng vậy, anh đau lắm. Anh nói thật.”

“Thôi được rồi, em sẽ không làm thế nữa đâu. Vui lên nào!”

Cass hôn tôi, vừa hôn vừa cười toe toét và tay nàng cầm chiếc khăn tay chặn máu trên mũi. Khi quán đóng cửa, chúng tôi về chỗ tôi trọ. Tôi vẫn còn ít bia nên chúng tôi tiếp tục ngồi chuyện trò. Chỉ đến lúc đó tôi mới nhận ra Cass là một người thực sự tử tế và biết quan tâm đến kẻ khác. Nàng đã cho đi mà không hề biết mình đã làm điều đó. Cùng lúc, có vẻ như nàng lại bị rơi vào một thế giới hoang dã, với những khoảnh khắc rời rạc chẳng một chút liên hệ gì với nhau. Một thứ tâm thần phân liệt chăng? Nhưng là một trạng thái của tâm linh bay bổng và đẹp tuyệt vời. Có lẽ, sẽ có một gã đàn ông nào đó, một điều gì đó, hủy hoại nàng mãi mãi. Tôi hy vọng kẻ đó sẽ không phải là tôi.

Chúng tôi lên giường. Sau khi tôi tắt đèn, Cass hỏi: “Anh muốn ấy lúc nào? Bây giờ hay sáng mai?”

“Sáng mai,” tôi đáp, rồi quay lưng ngủ.

Buổi sáng hôm sau, tôi thức dậy đi pha hai ly cà phê rồi mang đến giường cho nàng một ly.

Cass cười. “Anh là người đầu tiên mà em gặp đã từ chối ấy ban đêm.”

“Chẳng có gì quan trọng,” tôi đáp, “mình cũng không nhất thiết phải làm chuyện ấy đâu.”

“Không được, đợi em một chút, em muốn ấy ngay bây giờ. Để em đi trang điểm lại chút đỉnh nhé.”

Cass đi vào phòng tắm. Một lúc sau, bước ra, trông nàng thiệt hết sẩy, mái tóc dài lấp lánh, môi và mắt nàng lấp lánh, cô bé của nàng lấp lánh… Nàng phô bày thân thể của mình một cách hết sức thanh nhã, trầm tĩnh, như thể đó là một điều tốt lành phải làm. Rồi nàng chui vào chăn.

“Anh yêu, vào với em nào!”

Tôi nhiệt tình hưởng ứng.

Nàng hôn tôi với tất cả sự phóng đãng ngọt ngào nhưng không một chút vội vã. Hai bàn tay tôi chạy khắp thân thể nàng, tóc nàng. Rồi tôi bắt đầu leo lên dốc. Cảm giác nóng và bó thít. Rất chậm rãi, tôi thả người nhấp nhô, với mong muốn kéo dài càng lâu chừng nào càng tốt chừng nấy. Mắt nàng nhìn thẳng vào mắt tôi.

“Tên em là gì?”, tôi hỏi.

“Biết tên em hay không biết tên em thì có cái quái gì khác biệt đâu chứ!”, nàng đáp.

Tôi cười rồi tiếp tục cuộc chơi. Sau đó, nàng mặc quần áo rồi tôi đưa nàng trở lại quán rượu đêm trước. Tôi cảm thấy thật khó để quên nàng. Hôm ấy, tôi nghỉ làm và ngủ cho đến 2 giờ trưa. Thức dậy, tôi ngồi đọc báo. Lúc tôi đang nằm trong bồn tắm thì Cass đến, trên tay cầm một chiếc lá thật to – chiếc lá tai voi.

“Em biết anh đang tắm,” nàng bảo, “nên em mang cho anh cái lá to như thế này để anh che cái đó đấy, con người của thiên nhiên ạ!”

Rồi nàng ném chiếc lá vào bồn tắm cho tôi.

“Làm cách nào mà em biết anh đang nằm trong bồn tắm?”

“Em biết mà.”

Hầu như mỗi ngày, Cass đều xuất hiện khi tôi đang ở trong bồn tắm. Thời điểm có thể khác biệt mỗi ngày nhưng ít khi nào nàng lỡ dịp, cùng với chiếc lá tai voi. Và rồi sau đó chúng tôi làm tình.

Cứ một hay hai đêm gì đó, nàng lại điện thoại cho tôi nhờ lãnh nàng ra khỏi bót cảnh sát vì tội say sưa và ẩu đả.

“Mấy cái thằng chó đẻ này,” nàng kể, “chúng nó tưởng hễ cứ bao cho mình được mấy ly rượu là chúng có quyền thọc tay vào quần mình.”

“Một khi em nhận ly rượu từ tay người ta là em đã tự gây rắc rối cho mình rồi.”

“Em tưởng họ thích em, chứ đâu phải thân xác của em?”

“Anh thích cả em lẫn thân xác của em. Dù vậy, anh không tin phần lớn bọn đàn ông sẽ nhìn thấy gì khác ngoài thân xác của em.”

Tôi rời thị trấn, lang thang vô định một thời gian khoảng sáu tháng, rồi trở về. Tôi không bao giờ quên Cass nhưng vì chúng tôi có vài lần cãi cọ không đâu nên tôi nghĩ chúng tôi cũng nên chia tay để ai nấy sống cuộc sống riêng của mình. Khi quay trở lại, tôi đinh ninh Cass không còn ở thị trấn này nữa. Nhưng khi ngồi trong quán Cực Tây được chừng 30 phút thì thấy Cass bước vào. Nàng đến ngồi xuống cạnh tôi.

“Đồ chết tiệt! Anh lại quay về hử?”

Tôi gọi cho nàng một ly rượu. Rồi quay qua quan sát người cũ. Cass mặc một chiếc đầm cổ cao. Trước đây tôi chưa thấy nàng mặc kiểu áo này bao giờ. Và ở dưới mỗi mí mắt là một chiếc kim có đầu bằng thủy tinh ghim vào. Nhìn vào chỉ thấy cái đầu kim làm bằng thủy tinh, còn nguyên cây kim thì nằm dưới da mặt nàng.”

“Đồ quỷ tha ma bắt kia, vẫn cứ tìm mọi cách để hủy hoại nhan sắc của mình phải không?”

“Đồ ngốc, đó là mốt đấy!”

“Thiệt điên rồ hết biết!”

“Em nhớ anh quá thể,” nàng bảo.

“Em có đang cặp với ai khác không?”

“Không, chẳng có ai hết. Chỉ mình anh thôi. Nhưng hiện tại thì em đang rất cần tiền. 10 đô la một lần tiếp. Nhưng với anh thì khỏi phải trả.”

“Lôi phứt mấy cái kim đó ra đi!”

“Không, đó là mốt.”

“Nhìn thấy chúng anh không cảm thấy thoải mái chút nào.”

“Anh nói thật không?”

“Con bà nó, thật chứ giỡn à!”

Cass từ từ rút hai cây kim ra rồi bỏ chúng vào trong túi xách.

“Sao em cứ phải hành hạ sắc đẹp của mình?” tôi hỏi, “Sao em không cố thử sống với nó, để cho nó yên?”

“Bởi vì người ta nghĩ rằng em chỉ có sắc đẹp thôi. Nhan sắc một người chẳng là gì hết, nó không ở mãi với người ấy. Anh không nhận ra được anh là một người may mắn biết là dường nào khi anh có khuôn mặt xấu xí hay sao? Nếu người ta thích anh, anh biết sự ưa thích ấy là vì một cái gì khác trong anh, phải không?”

“Được rồi,” tôi nói, “Anh là người may mắn.”

“Em không nói anh là người xấu xí. Người ta nghĩ anh là người xấu xí. Anh có một khuôn mặt rất lôi cuốn.”

“Cám ơn em!”

Chúng tôi gọi thêm rượu.

“Hiện anh đang làm gì?”, nàng hỏi.

“Không làm gì hết. Anh không thể đụng tay vào bất cứ việc gì. Chẳng có chút hứng thú nào.”

“Em cũng vậy. Nếu là đàn bà, anh có thể bán trôn để kiếm tiền.”

“Anh không nghĩ mình chịu đựng được sự gần gũi thân xác với những người lạ không một chút tình cảm yêu thương. Làm thế thì quá mệt mỏi em ạ.”

“Anh nói đúng. Rất mệt mỏi. Mọi thứ đều mệt mỏi.”

Chúng tôi cùng nhau rời khỏi quán. Mọi người trên đường phố vẫn không thể rời mắt khỏi Cass. Nàng vẫn là một phụ nữ tuyệt đẹp, có lẽ đẹp nhất từ trước tới bây giờ.

Chúng tôi về đến phòng. Tôi mở một chai vang và tiếp tục chuyện vãn. Giữa tôi và Cass, câu chuyện lúc nào cũng nổ ra dễ dàng. Nàng huyên thuyên một hồi, tôi chỉ lắng nghe. Rồi tới phiên nàng nghe tôi nói. Những mẩu đối thoại trôi chảy không một chút e dè, ngắc ngứ. Có vẻ như chúng tôi đang cùng nhau khám phá ra những bí mật của đời sống. Khi phát hiện ra được một điều mới mẻ hay ho, Cass cười nụ cười của riêng nàng. Và chỉ có Cass mới có được nụ cười sảng khoái như vậy. Đó là niềm vui đến từ một ngọn lửa ấm áp. Trong khi nói chuyện, chúng tôi hôn nhau, ngồi sát vào nhau gần hơn. Rồi đến một lúc chúng tôi mệt mỏi và quyết định lên giường. Lúc đó, Cass cởi chiếc áo đầm cao cổ đang mặc ra và tôi đã nhìn thấy – cái sẹo xấu xí in dấu những đường khâu lởm chởm như răng cưa trên cổ nàng. Vết sẹo khá lớn và lồi hẳn lên.

“Đồ quỷ tha ma bắt kia, con đàn bà kia!” từ giường tôi nói, “Đồ quỷ tha ma bắt, em đã làm gì vậy hả?”

“Một đêm, em thử dùng cái chai vỡ cứa cổ mình. Vậy là anh không còn thích em nữa phải không? Em có còn xinh đẹp nữa không?”

Tôi kéo nàng ngả xuống giường và hôn nàng. Nàng đẩy tôi ra và cười lớn, “Có thằng nó trả trước cho em 10 đô la rồi, đến khi em cởi áo ra thì nó mất hứng bỏ đi. Em vẫn giữ 10 đồng. Mắc cười không chứ!”

“Ừ, mắc cười thật!”, tôi đáp, “Anh không nhịn được cười… Cass, con chó cái đáng yêu kia, anh yêu em… nhưng phải ngưng ngay chuyện tự hủy hoại thân xác mình; em là người phụ nữ sinh động nhất mà anh biết đó.”

Chúng tôi lại hôn nhau. Cass thổn thức khóc, nhưng không gây ra một âm thanh nào hết. Tôi cảm thấy những giọt lệ từ đôi mắt nàng. Mái tóc đen buông dài sau lưng tôi như một lá cờ lệnh của thần chết. Chúng tôi ôm nhau, từ tốn và ủ rũ làm tình nhưng là một cuộc ân ái không kém phần tuyệt vời.

Buổi sáng, Cass thức dậy trước chuẩn bị điểm tâm. Nàng trông có vẻ hạnh phúc và an lạc. Nàng còn hát nữa. Tôi nán lại trên giường, tự nhấm nháp cơn hạnh phúc của Cass. Cuối cùng, nàng bước đến giường, lay tôi dậy, “Dậy thôi, đồ chết tiệt! Dậy đi vã ít nước lạnh lên mặt, lên thằng nhỏ của anh rồi còn ra thưởng thức đại tiệc.”

Hôm đó, tôi đưa nàng ra biển. Vì là một ngày thường trong tuần và cũng chưa phải mùa hè nên bãi biển vắng tanh vắng ngắt. Đám vô công rồi nghề ăn mặc rách rưới nằm ngủ trên những bãi cỏ sát bờ biển. Một số ngồi trên các băng đá chia nhau một chai rượu độc nhất. Lũ mòng biển bay lượn vòng vòng, chẳng để làm gì nhưng khiến người ngồi đó chỉ để nhìn biển bị chia trí. Mấy bà già khoảng 70 tuổi, 80 tuổi chụm lại với nhau trên băng đá bàn chuyện làm sao thanh toán được mớ bất động sản để lại từ những ông chồng chết rũ từ lâu vì ăn chơi phóng đãng và cả vì sự ngu xuẩn của việc tìm cách níu kéo sự sống. Phảng phất chung quanh tất cả những người hiện diện trên biển hôm ấy, có một không khí an bình lan tỏa. Chúng tôi dạo chơi, nằm duỗi người trên cỏ và không ai nói gì nhiều. Đơn giản là vì chỉ ở bên cạnh nhau thôi chúng tôi đã cảm thấy thỏa mãn. Tôi mua hai cái bánh sandwiches, một ít khoai tây chiên và thức uống rồi ngồi bệt trên cát ăn uống. Ăn xong, tôi ôm Cass ngủ ngon lành độ chừng một tiếng. Thức dậy, tôi có cảm giác “đã” hơn cả làm tình. Dường như chúng tôi đã được hóa lỏng và đan quyện vào nhau không một chút gượng ép, cố gắng. Sau đó, chúng tôi lên xe về lại chỗ tôi ở. Tôi lo chuẩn bị nấu bữa ăn chiều. Ăn cơm xong, tôi đề nghị với Cass hay là chúng mình xáp lại góp gạo thổi cơm chung. Nghe xong, Cass không nói gì, chỉ lẳng lặng nhìn tôi một lúc lâu rồi chậm rãi đáp gọn lỏn “Không”. Tôi ra lấy xe đưa nàng về quán, mua cho nàng một ly rượu rồi đi về. Ngày kế tiếp, tôi tìm được việc làm đóng gói ở một xí nghiệp trong thị trấn. Suốt cả tuần sau đó, tôi phải đi làm. Tôi quá mệt mỏi vì công việc nhưng tối thứ sáu tuần đó, tôi vẫn ra quán Cực Tây uống rượu. Tôi ngồi và chờ cho Cass xuất hiện. Hàng giờ trôi qua vẫn không thấy nàng. Sau khi tôi đã ngà ngà say, người pha rượu ở quầy chạy đến nói với tôi, “Chia buồn với anh về người bạn gái của anh nhé!

“Cái gì vậy?”, tôi hỏi lại.

“Ồ, xin lỗi anh. Anh không biết gì hết à?”

“Không”

“Tự tử. Mới chôn cất hôm qua.”

“Chôn cất?”, tôi hỏi. Tôi có cảm tưởng nàng sẽ bước qua cái cửa kia để đến ngồi bên tôi bất cứ lúc nào mà. Làm sao mà bảo nàng đã chết rồi cho được chứ?

“Mấy người chị của cô ấy đã lo việc chôn cất.”

“Tự tử à? Anh vui lòng nói rõ thêm cho tôi biết được không?”

“Cô ấy tự cắt đứt cổ họng mình.”

“À ra thế. Cho tôi một ly nữa nghe.”

Tôi cứ ngồi uống cho đến giờ quán đóng cửa. Cass là cô gái xinh đẹp nhất trong năm chị em gái, là cô gái xinh đẹp nhất của thị trấn. Tôi xoay sở lái xe về tới phòng, đầu cứ mải suy nghĩ, lẽ ra tôi nên khăng khăng yêu cầu nàng đến ở chung với tôi thay vì chấp nhận một tiếng “Không” cụt ngủn. Tất cả những gì ở nàng đều cho thấy là nàng rất quan tâm, rất yêu đời. Tôi đã quá hời hợt, vô tâm, lười biếng, quá dửng dưng với mọi chuyện. Tôi đáng để chết cái chết của mình cả cái chết của nàng. Tôi là một con chó. Không được, sao lại đổ lỗi lên đầu mấy con chó? Tôi đứng dậy, lục tìm một chai vang, mở nắp và tu ừng ực.

Cass, cô gái xinh đẹp nhất thị trấn đã chết ở tuổi 20.

Bên ngoài, có ai đó nhấn kèn xe. Âm thanh rất lớn và kéo dài. Tôi đặt chai rượu xuống, hét to: “Quỷ tha ma bắt mày đi, đồ chó đẻ, câm mồm ngay!”

Đêm vẫn cứ dài thêm và tôi đành bất lực, chẳng biết sẽ làm gì.

Nguyên tác: THE MOST BEAUTIFUL WOMAN IN TOWN, Trích trong tập truyện ngắn The Most Beautiful Woman in Town & Other Stories của Charles Bukowski do nhà xuất bản City Lights Books ấn hành (1988).

*Zygmunt Bukowski, họa sĩ người Ba Lan không có liên hệ gì tới Charles Bukowski, nhà văn.