Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 24 Mar 2025

Chương 42
Bà già đi biển

Những ngày thường trong tuần, vì phải đạp xích lô ca đêm cho nên tôi ngủ đến 10 giờ sáng mới thức dậy. Đang ngon giấc tôi chợt nghe tiếng dộng cửa ầm ầm. Sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, khi nghe tiếng đập cửa mấy ai mà không sợ, tôi lật đật chạy ra, trong lúc tiếng đập cửa mỗi lúc nghe một gấp rút hơn.

-Anh Quân có nhà không? Vinh máy nổ đây.

Khi nghe giọng nói của Vinh, tim tôi mới đập bình thường trở lại. Tôi la to.

-Đang tới đây, có gì mà gấp quá vậy anh bạn.

Khi cánh cửa vừa hé mở, Vinh máy nổ đã lẹ làng nghiêng mình luồn vô nhà, kéo theo một gã đàn ông. Nhìn hắn ta tôi sửng sờ chết lặng, đưa tay giụi mắt, không tin vào đôi mắt của mình trong khi toàn thân rúng động. Cuối cùng tôi la to với tất cả sự sung sướng tràn ngập trong lòng.

-Long công tử, có thật là mày không? Mấy năm trước chia tay với mày trong tù, tao tưởng tụi mình sẽ vĩnh viễn xa nhau. Nào ngờ hôm nay lại thêm một lần nữa hai đứa mình lại gặp gỡ, tạo hóa quả thật là kỳ diệu.

Với nụ cười đầy vui sướng hiện ra trên mặt, Long công tử ôm chầm lấy tôi, hai tay siết chặt.

-Mẹ nó, sáng nay đang ngồi uống cà phê ở chợ trời Nguyễn Thông với Vinh máy nổ, nghe nó kể chuyện về một gia đình có ba người xin đi vượt biên với điều kiện qua Mỹ sẽ trả tiền sau. Tên của hắn là Nguyễn trọng Quân trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt. Vừa nghe tới đó tao giật thót cả người và tin chắc là mày.

Chưa hết vui mừng tôi lắp bắp hỏi.

-Tại sao mày dám quả quyết như vậy?

Long công tử với giọng đầy tự tin.

-Cái tên của mày hơi khác lạ, rất khó trùng, hơn nữa lại phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt, thì còn ai vào đây nữa.

Đến lúc này Vinh máy nổ mới nói với tôi.

-Thì ra hai người là bạn thân, hèn gì khi mới nghe tôi nói đến tên Nguyễn trọng Quân, ông Dậu bỗng như bị điện giựt, hấp ta hấp tấp giục tôi chạy xe đến đây gấp. Trên đường đi tôi phóng xe như mới ăn cướp nhà băng ra, vậy mà ông Dậu cứ la là sao chậm quá vậy.

Long công tử nói mà như nhắc nhở Vinh máy nổ.

-Bây giờ anh về lo việc máy móc đi, tôi có vài chuyện phải nói với thằng này. Tối nay tôi sẽ gặp lại anh, mình cần giải quyết những khó khăn đang gặp phải.

Đợi cho Vinh máy nổ đã đi xa, Long công tử mới hỏi tôi.

-Vợ con mày đâu rồi? Tao muốn thăm, muốn nhìn tận mắt vợ mày, người đàn bà tuyệt vời đã chịu nhiều gian khổ, hy sinh giúp tụi mình vượt qua những ngày đói rách, tuyệt vọng trong trại tù cải tạo.

Tôi nhìn Long công tử.

-Trông mày bây giờ đen đúa, chai lì cứ như là một tay giang hồ hảo hán thứ thiệt. Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ vẫn còn nét hào hoa nho nhã của ngày xưa.

Long công tử cười.

-Mày đừng có đánh trống lảng, đưa tao đi thăm vợ con mày ngay đi.

Tôi càu nhàu với Long công tử.

-Tao vừa thức dậy, cho tao vài phút đánh răng rửa mặt.

Long công tử vừa mồi điếu thuốc vừa nói.

-Lẹ lẹ lên.

-Mày làm gì mà hối như chạy giặc vậy? Vợ con tao đang ở ngoài đầu hẻm chứ có xa xôi gì đâu. Cho tao năm phút thôi.

Miệng thì nói tay chụp cái bàn chải, đánh răng qua loa cho có, sau đó mới thong thả, thoải mái trút cái bầu tâm sự đã mang nặng suốt đêm qua. Xong xuôi mọi việc, trong người nhẹ nhàng, tôi cùng Long công tử thả bộ dọc theo con hẻm ra đầu đường. Vừa đi tôi vừa hỏi Long công tử.

-Nói cho tao biết, mày trốn trại như thế nào? Bây giờ sống ra sao? Cha mẹ vợ con ở đâu? Có định vượt biên hay không?

Im lặng một lúc thật lâu, Long công tử chửi thề.

-Mẹ nó, mày tưởng tao có ba đầu sáu tay chắc, làm sao tao có thể trả lời một lúc ba, bốn câu hỏi của mày. Hỏi từ từ từng câu một đi.

-Tao nóng lòng quá, muốn biết mọi chuyện xảy ra như thế nào với mày, chắc cũng hơn ba năm rồi, kể từ lúc tao với mày xa nhau cho đến giờ. Thôi thì mày kể chuyện trốn trại trước đi.

Long công tử tươi cười.

-Chuyện tao trốn trại thì có gì đâu mà nói, vì không một chút khó khăn, nguy hiểm. Hồi còn ở trong trại tù, mỗi lần đi lao động bên ngoài là tao dành nhiều thì giờ dò xét mấy thằng lính canh, tìm hiểu thói quen của tụi nó, quan sát thật kỹ mọi địa hình nơi mình lao động. Sau vài tháng, khi đã biết rõ mọi sự việc, một buổi trưa nọ thừa lúc mọi người lo ăn trưa, cải thiện linh tinh, mấy thằng lính gác nằm nghỉ dưới gốc cây khá xa, tầm quan sát hạn hẹp, tao biến vô khu rừng đầy cỏ cây rậm rạp, thay bộ đồ tương đối còn sạch sẽ của mày cho, rồi chuồn thẳng ra quốc lộ, đón xe ôm dông lẹ. Chạy càng xa trại tù bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

Long công tử chợt ngưng kể, hắn vỗ vai tôi.

-Nhờ một trăm đồng tiền mới của mày cho, giá trị của nó khá lớn vào thời bấy giờ, dư sức cho tao xoay xở, trốn tránh qua các trạm kiểm soát của công an để về đến Sài Gòn.

Thấy đã gần chỗ Cúc ngồi bán hàng, tôi ngắt lời Long công tử.

-Hôm nay tao sẽ đãi mày một chầu ăn sáng thật đặc biệt, ngon nhất vùng Tân Định này.

Long công tử nói.

-Giữa thời buổi đói rách đến xanh mặt, ăn thứ gì mà không ngon.

Tôi hỏi Long.

-Mày có ăn bánh căn bao giờ chưa?

Long công tử nhíu mày như đang suy nghĩ.

-Có một lần, nó chẳng ra cái con mẹ gì hết, nướng cục bột gạo lên nhai, cũng giống như là ăn bánh căn, có gì khác nhau đâu mà ngon với dở.

Tôi cự với Long.

-Đó là chuyện hồi xưa, lúc mày còn là Long công tử, lái xe hơi thể thao, ăn trưa ở Hoàng Gia, chiều đến ghé nhà hàng Đồng Khánh trong Chợ Lớn ăn tối. Còn bây giờ cả nước đói rả họng, khoai lang không có mà ăn, củ mì không có mà độn, mày thử ăn bánh căn làm bằng bột gạo nguyên chất, sẽ biết đời là gì ngay. Nó ngon không thua gì thức ăn ở nhà hàng Thanh Bạch, nơi tụi mình ăn tối ngày xưa.

Đến gần đầu con hẻm, quanh lò bánh căn của Cúc chỉ có ba đứa nhỏ khoảng chừng năm, sáu tuổi đang ngồi ăn. Tôi và Long công tử ngồi xuống trên hai cái đòn nhỏ, bên cạnh mấy đứa bé.

Tôi nói với Cúc.

-Cho ông khách này bốn cặp, giới thiệu với em đây là Long công tử, bạn tù mà anh đã kể cho em nghe nhiều lần.

Quay nhìn Long, tôi nói.

-Còn đây là Cúc, vợ tao.

Long công tử bất chợt nổi giận, hắn cau mày.

-Mày cũng vừa phải thôi, tại sao mày không nói cho tao biết sớm hơn là vợ mày đang bán bánh căn ở đây.

Dứt lời hắn quay sang Cúc.

-Xin lỗi chị, cái thằng Quân này hơi hồ đồ khiến tôi quá bất ngờ. Hôm nay tôi định đến gặp Quân, sau đó là thăm chị và cháu, trong cùng tận đáy lòng, tôi muốn nói một lời cảm ơn muộn màng với chị. Tôi còn sống cho đến ngày hôm nay, là nhờ sự chăm sóc hết lòng của thằng Quân bắp cải này. Khi còn ở trong tù, nhờ vào thực phẩm thăm nuôi và số tiền chị gởi cho Quân, có bao nhiêu hầu như nó đem chia đôi cho hai đứa. Nhờ vào số tiền đó mà khi trốn thoát khỏi trại tù, tôi đi về đến Sài Gòn một cách dễ dàng. Hôm nay lần đầu tiên gặp chị, gặp người ơn, tôi thật sự xúc động khó nói nên lời. Chị và Quân bắp cải là hai người mà tôi vẫn thường nhắc đến, khi kể chuyện cho vợ tôi nghe về những ngày tháng tôi bị đày ải trong tù.

Cúc nhìn Long công tử.

-Anh Long à, tiền bạc có đó rồi mất đó, chỉ tình thương yêu, quý mến, giúp đỡ lẫn nhau, tình nghĩa đó mới còn mãi với thời gian. Em có nghe nói, anh là bạn thân của chồng em cả chục năm về trước, lúc hai người còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức. Từ giờ anh cứ gọi em là em, em nhỏ tuổi hơn anh nhiều mà.

Long công tử giải thích.

-Văn hóa Việt Nam, tôi phải gọi vợ của bạn là chị, chữ chị ở đây không có nghĩa là bà chị mà nó mang ý kính trọng.

Cúc tươi cười, đưa một cái dĩa có mấy cái bánh căn tới trước mặt Long.

-Cảm ơn anh, mời anh ăn bánh đi, để nguội mất ngon.

Đến lúc này tôi mới chen vô.

-Không biết tao đã nói cho mày nghe chưa, ba vợ của tao là ông Nguyễn văn Bảy, trùm nhà cửa ở Sài Gòn, vợ tao là con gái của ổng, con một.

Long công tử nói nhỏ.

-Tao có nghe danh ông ấy, biết đến ổng như là một triệu phú tiền muôn bạc vạn của Sài Gòn. Vì vậy tao hơi thắc mắc là tại sao mà vợ chồng mày phải trôi giạt đến con hẻm này, sống trong cảnh thanh bần, nói đúng hơn là phải sống nghèo đói như vậy.

Tôi chỉ tay về phía Cúc.

-Mày hỏi vợ tao thì rõ hơn.

Cúc, tay xúc cái bánh bỏ ra dĩa, miệng kể với Long công tử, kể rõ đầu đuôi ngọn ngành.

-Ngày một tháng năm, năm bảy lăm, khi vợ chồng tôi bị đuổi ra khỏi nhà, ngủ vỉa hè rồi đi về Đà Lạt trên chiếc xe chở rau, anh Quân đi học tập hơn một năm, được thả về với gia đình. Sau đó trong lần đánh tư sản hai hay ba gì đó, bao nhiêu tiền bạc của cải của tôi bị cái lũ đầu trâu mặt ngựa cướp sạch sẽ, vơ vét không chừa một chút gì.

Cúc nói với nét mặt buồn buồn.

-Anh cũng hiểu giùm cho tôi, vì quá uất ức mà không biết phải kêu với ai, nên tôi dùng chữ có hơi nặng nề để chỉ bọn người nhân danh là giải phóng, mà thực chất thì chẳng khác gì bọn cướp cạn.

Long công tử lên tiếng.

-Tại chị hiền quá nên mới nói như vậy. Gặp phải tay tôi, nếu có kẹo đồng tôi tặng cho tụi nó mỗi đứa vài chục viên mới hả dạ.

Vừa nói xong Long công tử lại chắt lưỡi than.

-Người ngoài cuộc thì nói vậy, chứ thực ra nếu lâm vào hoàn cảnh của chị, tôi cũng phải đành thúc thủ mà thôi. Nói đâu xa, hồi còn ở trong trại tù cải tạo Cà Tót, tôi bị sốt rét, bị bỏ đói đến gần chết, cũng đành bó tay chứ làm gì được. Hôm nay hoàn cảnh của chị và Quân tuy có bi đát, nhưng vẫn còn may mắn hơn tôi nhiều. Năm bảy mươi sáu, tôi trốn khỏi trại tù Sông Mao về Sài Gòn, sống mà phải giấu kín lý lịch, luồn lách tránh né những đợt càn quét của công an Việt Cộng, vừa kín đáo dò la tin tức cha mẹ và vợ con. Suốt mấy tháng trời tìm kiếm, tôi mới biết được những chuyện kinh khủng đã xảy ra cho gia đình tôi. Mấy cái biệt thự của ba tôi đã bị Việt Cộng tịch thu, cái thì làm cửa hàng mậu dịch quốc doanh, cái dùng nuôi heo, cái làm ty ngoại thương. Nguyên một cái kho hàng bên Khánh Hội của ba tôi, chứa toàn là động cơ nổ dùng cho nông và ngư nghiệp, vừa mới nhập cảng về đầu năm bảy lăm, bị Việt Cộng đánh tư sản mại bản đợt một, họ chở đi sạch sẽ. Sau đó họ cho ba má của tôi ở trong một cái chòi, ngay góc sân căn biệt thự mà ba má tôi đang ở.

Cúc nhăn mặt hỏi Long công tử.

-Một cái chòi? Như vậy mà ba má của anh sống được sao?

Long công tử cười.

-Tháng tư năm bảy mươi lăm, chị và thằng Quân bắp cải bị đuổi khỏi nhà, từng ngủ vĩa hè, ba má tôi được cho sống trong cái chòi kể cũng là khá rồi. Chị hãy từ từ, tôi sẽ kể tiếp cho chị nghe. Sau đợt đánh tư sản mại bản, ba tôi buồn rầu sanh bịnh rồi mất, mẹ tôi vì có sẵn bịnh từ trước, lại không có người chăm sóc nên cũng chết theo ba tôi. Đó là theo lời kể của bà bán nước mía ở góc đường gần nhà tôi ngày xưa. Nhờ có có cơ hội bằng vàng đưa đến giúp mình tìm hiểu về gia đình, tôi làm như vô tình hỏi bà ta “Dì có biết xác của họ được chôn ở đâu không?” Bà bán nước mía trả lời “Dưới cái chế độ này, người ta chỉ cần cướp lấy tài sản của người giàu, còn ai chết, chôn ở đâu không phải là chuyện họ phải lo”. Tôi hỏi tiếp “Còn con cháu thì sao?” Bà bán nước mía trả lời “Nghe nói có cô con dâu, thì đã dẫn con lên Ban mê Thuột tìm mẹ ruột thất lạc ở trên đó. Mà cậu hỏi gì mà kỹ quá vậy?” Nói xong bà bán nước mía nhìn tôi chăm chú “Tội nghiệp, ông bà ấy có một người con đi lính Ngụy mang lon trung úy, biệt tích từ tháng tư năm bảy lăm. Ông trung úy đó có phải là cậu không?” Có tật giật mình, hồn vía lên mây, tôi kêu thêm một ly nước mía rồi nói với bà ta “Nếu là trung úy Ngụy, giờ này tôi đang ở trong tù cải tạo nơi rừng sâu núi thẳm, làm gì có thể ngồi đây uống nước mía, nghe dì nói chuyện.”

Cúc hỏi với giọng đầy lo âu.

-Không giấy tờ làm sao anh sống ở Sài Gòn, trong lúc bọn công an ngày càng nhiều, càng kiểm soát gắt gao hơn.

Long công tử với giọng nói đều đều.

-Ban ngày tôi lang thang ở chợ trời Nguyễn Thông, chợ trời là nơi xô bồ phức tạp, đủ mọi thành phần trong xã hội, đa phần là Ngụy nên họ thường hay giúp đỡ lẫn nhau, trong khi công an chỉ lo tịch thu tang vật để kiếm lợi, không để ý gì đến chuyện khác. Ban đêm tôi mò đến Trường đua Phú Thọ, nơi có mấy cái ống cống đúc bằng bê tông thời Việt Nam Cộng Hòa còn bỏ lại, chun vô ngủ.

Cúc hỏi Long công tử.

-Vợ con của anh đang ở đâu? Anh có tin tức gì về họ không?

-Tôi lúc đó như một người mù, ngay cả mồ mả của cha mẹ ở đâu, tôi cũng không biết, thì làm sao tôi biết vợ con ở đâu. Hỏi ai bây giờ? Sau cả năm sống chui rúc trong ống cống, gầm cầu xó chợ ở Sài Gòn, nhờ có năm trăm đô la mà Quân cho, khi túng đói tôi đổi một trăm đô thành vàng, đô la lúc đó có giá trị cao nhờ những người vượt biên muốn có tiền đô giấu đem theo. Một trăm đô đổi được năm chỉ vàng, có khi được sáu chỉ, vì vàng trong dân chúng còn có nhiều nhưng đô la thì hiếm, và cũng tùy người mua cần gấp hay không. Thị trường vàng và đô la tùy thuộc vào nhu cầu của người vượt biên, chứ không căn cứ nhiều vào thị trường của vàng và đô la trên thế giới. Nhờ những tờ đô la Quân bắp cải cho, tôi sống tương đối dễ dàng. Sau đó cũng nhờ môi giới ở chợ trời, tôi lo lót cho công an mua giấy tờ, thay tên đổi họ, rồi xin được một chân gác kho cho một hợp tác xã. Nói là xin chứ thật ra tôi phải mua cái chỗ làm này hết hai chỉ vàng. Đó là một số tiền lớn nhưng với tôi thì lại quá rẻ vì tôi sẽ có công ăn việc làm hợp pháp, và điều quan trọng nhất là có chỗ ngủ ban đêm. Coi kho thì đương nhiên phải ngủ trong kho rồi. Giã từ đời sống lang thang đây đó tối đến phải ngủ trong ống cống, tôi có cuộc sống công khai hợp pháp, không còn sợ công an xét hỏi. Nhờ có giấy tờ nghề nghiệp đàng hoàng tôi đi làm chứng minh nhân dân, có chụp hình lăn tay đầy đủ. Tôi bây giờ là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chết tiệt. Cái tên Long công tử, trung úy Lực Lượng Đặc Biệt, tù cải tạo trốn trại được tôi khai tử từ lúc ấy.

Cúc thắc mắc hỏi.

-Anh không sợ công an phát hiện ra, anh là sĩ quan Ngụy hay sao?

-Chị khỏi lo, lúc tôi ở tù bộ máy hành chánh của Việt Cộng còn thiếu sót nhiều, nói đúng hơn là họ không có đủ phương tiện để kiểm soát, chỉ căn cứ vào lời khai của sĩ quan Ngụy, không chụp hình không dấu tay, làm sao mà truy xét.

Móc trong túi tấm thẻ chứng minh nhân dân, Long công tử đưa cho Cúc coi rồi nói.

-Đây là lá bùa hộ mạng hợp pháp của tôi. Tôi có tên mới là Phan văn Dậu, dựa theo năm sinh của tôi. Một cái tên nghe đậm chất quê mùa, dân dã, bởi vì tôi đang đóng vai một anh nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long mà.

Đang nói chuyện Long công tử im bặt, khi thấy hai người khách ngồi xuống ăn bánh.

Một trong hai người nói.

-Cho tôi tám cặp, nhiều mỡ hành.

Mấy đứa nhỏ cũng vừa ăn xong, trả tiền cho Cúc rồi dẫn nhau đi.

Nhìn theo lũ nhỏ, Cúc nói với hai người khách mà như là giải thích.

-Ba đứa nhỏ chỉ có một đồng đủ mua bốn cặp bánh. Khi tụi nhỏ ăn xong, nhìn đôi mắt với cái miệng của tụi nó thấy vẫn còn muốn ăn thêm, thương quá tôi cho thêm ba đứa bốn cặp nữa, tổng cộng là tám cặp tất cả.

Hai người khách cười đùa.

-Hai đứa tui ăn tám cặp, vậy thì chút nữa cũng chỉ trả một đồng thôi. Phải không?

-Dạ không, tám cặp phải trả hai đồng, một đồng thì không đủ tiền mua gạo.

Long công tử đứng lên, nói với Cúc.

-Tôi và Quân ngồi ở quán cà phê bên kia đường, lát nữa chị muốn mua gạo với giá rẻ không? Qua gặp tôi bên quán đó.

Trên đường đi đến quán cà phê, tôi hỏi Long công tử.

-Mày đi buôn gạo hồi nào vậy?

Long công tử cười sặc sụa, hắn cười mà nước mắt muốn trào ra.

-Mày đi lính cũng được bảy năm, học hành cũng tạm được, tù cải tạo cũng từng trải qua, vậy mà cho tới giờ đôi khi mày vẫn còn ngây ngô, ngớ nga ngớ ngẩn. Tội nghiệp cho sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thấy người lạ tao không muốn nói chuyện, nên ngầm báo cho vợ mày biết là tụi mình đi uống cà phê gần đây thôi, chớ có buôn gạo bán cơm gì đâu.

Quán vắng khách tôi và Long chọn một cái bàn nơi góc, loại quán cóc như thế này gần đây xuất hiện khá nhiều ở Sài Gòn.

Long công tử hỏi tôi.

-Mấy giờ vợ mày nghỉ bán?

-Hết bột sẽ nghỉ, thường thì vào khoảng mười một giờ trưa.

-Tao có một chuyện rất quan trọng, cần bàn với vợ chồng mày. Trưa nay tao ăn cơm ở nhà mày, rồi nói chuyện luôn được không?

Tôi gật đầu, nói.

-Được quá đi chớ, mày không nói tao cũng bắt mày phải ăn cơm với vợ chồng tao. Mày có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, vợ chồng tao cũng vậy, không có gì phải lo sợ công an hay hàng xóm dòm ngó. Bây giờ nói tiếp cho tao nghe chuyện của mày đi.

Long công tử ngồi dựa lưng vô vách tường, hai tay đan vào nhau rồi vòng ra sau đầu.

-Khoảng hơn một năm trước đây, lúc tao còn làm cái công việc giữ kho, một ngày nọ có một người đàn ông đến gặp tao gợi chuyện, rồi tự giới thiệu mình tên là Hà văn Hòa. Ông này muốn tao bỏ nghề gác kho, về làm việc lái tàu chuyên chở hàng hóa trên sông cho ông. Công việc này không có gì là khó nhọc, lương bổng lại cao hơn gác kho khá nhiều. Quá sức ngạc nhiên tao hỏi ông ta, tại sao lại là tao, một thằng bước chân xuống tàu là say sóng, nói gì đến chuyện lái. Ông ấy nói là cần một người lanh lẹ, tháo vát và nhất là trọng chữ tín. Tao là nhân tuyển thích hợp nhất vì ông ta đã dò xét suốt thời gian tao làm việc coi kho. Không ngờ mình đã bị người ta bí mật theo dõi mà không biết. Có tật giật mình, tao tiếp tục chuyện trò với ông Hòa mà mục đích là dò hỏi, tìm hiểu nguyên nhân đầu đuôi mọi chuyện. Sau đó mới biết được, lý do đơn giản là vì suốt thời gian tao coi kho, của cải vật chất bên trong không mất mát bất cứ một thứ gì cho dù là cây kim sợi chỉ. Từ đó ông Hòa suy ra tao là một thằng có tính tình ngay thẳng, không tham lam. Ông muốn mướn tao, chuyện chỉ có vậy. Biết rõ nguyên nhân, tao vui vẻ nhận công việc mới. Sau vài tháng thực tập, tao thực thụ lái con tàu chạy trên sông, cho đến bây giờ. Chỗ này tao muốn giải thích thêm chút xíu cho mày hiểu, người Việt Nam mình thường dùng chữ, tàu, ghe, thuyền, mà không chịu phân biệt rõ ràng. Tao cũng vậy, dùng chữ tàu để chỉ chiếc ghe tao đang lái.

Tôi hỏi Long công tử.

-Còn vợ con mày ra sao? Đó mới là chuyện tao muốn biết.

-Mày hỏi vợ con tao hả? Từ ngày trốn trại về, sống chui rúc như chuột, cho đến khi chạy được giấy tờ hợp lệ cũng hơn một năm, sau đó lại thêm một năm làm nghề gác kho, rồi chuyển qua lái tàu. Khi mà mọi việc đã ổn định, lúc bấy giờ tao mới đi lên Ban Mê Thuột tìm vợ con. Tao đã vạch sẵn kế hoạch trong đầu, nếu vì một lý do nào đó vợ con tao đã chết hoặc thấy mình không còn chút hy vọng nào, tao sẽ vô rừng tìm phe mình, nếu không gặp nữa, sẵn đó sẽ băng rừng qua Thái Lan luôn. Tính toán là như vậy, nhưng thực ra đó là một chuyến đi tuy có gian nan vất vả, nhưng lại mang đến cho tao một kết quả tuyệt vời.

Long công tử nghỉ một lúc, uống một hớp cà phê, rồi tiếp tục câu chuyện.

-Chuyến đi bắt đầu từ Sài Gòn, khi xe đến Phan Thiết, tao đã nhớ đến mày rồi, nhớ trại tù Sông Mao với cái hàng rào vỉ sắt PSP, không biết mày còn bị nhốt trong đó hay không, hay là đã bị đưa đi trại tù khác rồi. Nhớ để mà nhớ chứ thực ra tao biết mình hoàn toàn bất lực, không làm gì được hết. Mặc dù có giấy tờ đầy đủ nhưng khi xe chạy ngang qua Sông Mao, tao vẫn thấy hồi hộp trong lòng. Nhìn về bên trái của quốc lộ nơi có trại tù, tao cầu mong cho mày được mạnh khỏe, không tật bệnh, sống để chờ ngày về với vợ con.

Long công tử với chút ngập ngừng ra mặt, hỏi tôi.

-Ngày đó khi tao trốn trại, mày có bị tụi Việt Cộng điều tra hay đánh đập gì không?

Tôi cười thoải mái.

-Tụi nó dẫn độ tao lên ban chỉ huy trại để làm việc, điều tra về mày, rồi dần cho tao một trận nên thân, ê ẩm cả người.

Sẵn trớn tôi kể cho Long công tử nghe chuyện khi bị đánh, tôi khai gian có ông cậu là Bí thư tỉnh ủy của tỉnh Lâm Đồng. Nhờ vậy mà mấy tháng sau đó, tôi được phóng thích.

Trợn tròn đôi mắt biểu lộ sự ngạc nhiên tột cùng, Long công tử lắc đầu.

-Không thể có chuyện như vậy xảy ra được, đâu phải cứ khai có thân nhân theo Việt Cộng là được cho về sớm, tao ngờ rằng còn có chuyện gì khúc mắt, lẫn khuất bên trong. Khi thả một thằng tù, tụi Việt Cộng phải điều tra cho người về địa phương xác nhận, tìm hiểu.

Tôi đồng ý với Long công tử.

-Mày nói đúng.

Sau đó tôi kể tiếp tất cả những tình tiết chi ly nhỏ nhặt, trong việc tôi được phóng thích.

Nghe xong, Long công tử với vẻ thoải mái.

-Phải như vậy mới được.

Tôi uống một ngụm cà phê có màu nâu đen, không mùi không vị.

-Chuyện của tao mày đã biết rồi, nói cho tao biết mày đi Ban Mê Thuột tìm vợ con như thế nào?

Long công tử đưa tay gãi đầu.

-Có nhiều chuyện muốn nói quá, nên đầu đuôi lẫn lộn. À…như thế này. Đến Phan Rang tao ngủ lại một đêm ở đó, sáng hôm sau lên đường đi Nha Trang, sau đó là Dục Mỹ, đèo Phượng Hoàng rồi Khánh Dương, toàn là những địa danh của một cuộc chiến bi hùng, một cuộc rút quân bi thảm. Nhìn cảnh cũ, nhớ chuyện xưa mà buồn đến đứt ruột, cuối cùng tao đến Ban Mê Thuột vào một buổi chiều mưa bay giăng mắc khắp phố phường. Ban Mê Thuột một thời của gió bụi mưa mùa, buồn muôn thuở, đang chìm trong hoang lạnh cô đơn, lạnh như tâm hồn tao lúc bấy giờ. Tao mò đến nhà của má vợ tao, chỉ còn thấy một căn nhà xiêu vẹo đổ nát, không cửa, không mái và dĩ nhiên không có một ai ở bên trong. Dò hỏi những người sống quanh đó, tao biết được cả gia đình gồm có vợ con của tao và má vợ, đã bị đưa đi khai khẩn đất hoang đâu tận Ban Dong, gần biên giới Việt Miên.

Tôi góp ý mà như muốn chia sẻ khó khăn với Long công tử.

-Ngày xưa Tần Thủy Hoàng xây Vạn lý trường thành, có điển tích nàng Mạnh Khương vạn lý tầm phu. Ngày nay mày đi tìm vợ coi bộ cũng gian nan không khác gì mấy.

Long công tử nói.

-Có khác mà mày không để ý, cả trăm ngàn sĩ quan Ngụy cùng với công chức, cảnh sát, bị lùa vô trại cải tạo không có ngày về. Dân chúng thì, người giàu bị gắn cho cái nhãn tư sản mại bản, bị tịch thu gia sản, đày đi vùng kinh tế mới. Người nghèo bị bịnh hoạn như má vợ tao thì bị đưa đi đến những vùng rừng sâu nước độc gọi là khai khẩn đất hoang. Như vậy những căn nhà sang trọng, đầy đủ tiện nghi ở thành phố không lẽ bỏ hoang, không nói chắc mày cũng thừa biết chủ nhân mới của những căn nhà đó là ai rồi. Cá nhân tao nếu không trốn trại, vẫn còn ở trong tù thì ai sẽ là người lo cho vợ con tao? Cả trăm ngàn người tù cải tạo, vợ con của họ đều chịu cảnh khổ đau nghiệt ngã, nhiều trường hợp còn cay đắng gấp ngàn lần mà vợ tao phải chịu. Ngày xưa chỉ có một nàng Mạnh Khương tìm chồng, ngày nay một trăm ngàn vợ tù cải tạo, lặn lội tìm chồng đâu tận Lào Cai, Yên Bái, Vĩnh Phú… khác nhau là ở chỗ đó.

Long công tử hớp một ngụm cà phê rồi nói tiếp.

-Đêm đó khi trời đã tối mịt, tao đi đến bến xe gần cây số ba, trình giấy tờ cho công an đàng hoàng, xin ngủ ở trạm bán vé xe đò.

Tôi hỏi Long công tử.

-Tại sao mày không thuê phòng trọ? Bộ không có tiền hay sao?

-Lỡ đóng vai một ông gác kho nghèo nàn, một thằng lái tàu mướn thì phải diễn cho trọn vẹn vai trò. Hơn nữa ngủ bờ ngủ bụi, ngủ ống cống cả năm trường tao còn chưa sợ, thì sá gì dăm ba tuần lễ lang thang vạn lý tầm thê. Sáng hôm sau tao đi Ban Dong, suốt mấy ngày ở đó lặn lội khắp rừng sâu núi thẳm, dò hỏi tin tức của Hà và con. Hoàn toàn bặt âm vô tín, bóng chim tăm cá biết đâu mà tìm. Còn tin tức quân phục quốc của phe mình cũng hoàn toàn mù mịt trong mây. Tao trở lại Ban Mê Thuột, đêm nằm thao thức nhớ vợ thương con mà lòng đau quằn quặn. Không chịu đầu hàng nghịch cảnh, tao lại dò tìm ở khu vực chung quanh đồn điền của ba tao.

Long công tử bất ngờ hỏi tôi.

-Mày có biết tại sao tao không dám công khai đến đồn điền, để hỏi thăm tin tức của vợ tao không? Bởi vì hầu hết công nhân ở đồn điền đều biết tên, biết mặt tao trong khi giấy tờ tao mang trên người đều có tên là Phan văn Dậu. Nếu để bại lộ thân thế, tao sẽ bị tù rục xương, cũng có thể bị Việt Cộng cho dựa cột như chơi. Sau một tuần giấu mặt, khổ công dò hỏi, tao biết được một chi tiết khá quan trọng, vợ con tao đang ở nhà ông cậu vợ, căn nhà tranh vách đất ở gần cây cầu Mười bốn trên dòng sông Serepok. Hồi còn ở trại tù Sông Mao, tao có kể cho mày nghe chuyện tao và vợ tao đi câu cá ở đó. Mày còn nhớ không?

Tôi lẹ làng trả lời.

-Nhớ quá đi chớ, nhớ luôn lúc đó mày còn đang gù vợ mày mà.

Long công tử khen.

-Mày có trí nhớ khá tốt, viết hồi ký được đó. Sau bao ngày gian lao khổ nhọc tìm kiếm, cuối cùng tao tin rằng mình đã thấy được tia sáng cuối đường hầm. Từ Ban Mê Thuột quá giang một chiếc xe bò chở khoai mì, tao xuống xe bên kia cầu Mười bốn trong một buổi chiều mây xám đầy trời, mưa bụi bay lất phất như muốn che lấp cả con sông Serepok đỏ màu phù sa. Rảo bước qua khoảng rừng thưa đầy cỏ dại, tao đến được căn nhà khi trời nhá nhem tối. Hình dáng của căn nhà vẫn vậy, vẫn giống như hơn mười năm về trước, khi tao và Hà ghé qua. Chỉ có một điều là mái tranh đã mục nát, vách đất nhiều chỗ bị mưa gió bào mòn lòi cả thân tre bên trong. Đứng tần ngần trước cửa, giũ những hạt mưa bụi lành lạnh bám vào tóc, vào quần áo, sau một lúc chần chờ, tao quyết định đẩy nhẹ cánh cửa tre chỉ khép hờ, rồi bước vào nhà. Phải mất một, hai phút, mắt của tao mới quen dần với cái tăm tối của căn nhà. Đảo mắt một vòng, nơi góc nhà bên bếp lửa, một người đàn bà và đứa nhỏ đang ngồi sưởi ấm, trên bếp nồi nước đang sôi, phát ra những tiếng kêu sùng sục. Người đàn bà hỏi “Ông tìm ai?”. Giọng nói của bà ta nghe thật êm đềm đầy thân quen, tao mạnh dạn đi đến gần hơn. Dưới ánh lửa bập bùng lúc mờ lúc tỏ, vợ tao với gương mặt già đi trông thấy, nhưng đôi mắt thì vẫn trong sáng như thủa nào. Đưa tay vuốt những giọt nước mưa còn đọng lại trên mặt, mà tao cứ tưởng như mình đang lau những giọt nước mắt tràn đầy hạnh phúc. “Em không nhận ra anh hay sao? Anh là Long đây mà.” Nói xong tao cứ yên chí rằng vợ tao sẽ rất vui mừng, ôm lấy chồng với đôi mắt sung sướng nơi gương mặt mà tao hằng đêm nhung nhớ.

Long công tử ngưng kể chuyện, hắn thong thả mồi một điếu thuốc nhả khói bay mù trời, rồi mới tiếp tục.

-Trái với sự suy nghĩ của tao, đôi mắt của vợ tao bỗng trở nên hoảng sợ, hai tay run lẩy bẩy chống xuống đất, đạp hai chân lùi cả thân hình về phía sau, miệng lắp bắp “Anh sống khôn thác thiêng, đừng có cho em thấy anh như vậy. em hứa tối nay sẽ nấu chén cơm để cúng anh”. Nghe vợ nói tao giật mình chợt tỉnh, hiểu rõ tâm trạng của vợ, tao nói to “Anh là Long còn sống sờ sờ ra đây, có chết đâu sao em lại nói như vậy”. Đưa tay giụi mắt, rồi lại giụi mắt, im lặng một hồi lâu, Hà ngập ngừng ấp úng “Anh còn sống…Còn sống phải không?” Tao gật đầu mà lòng ngập tràn hạnh phúc rồi nói với Hà “Anh vẫn còn sống, đang ở bên em đây nè”. Lúc bấy giờ Hà mới đứng lên nhào tới, ôm chặt lấy tao rồi khóc như mưa, tiếng khóc nghe chừng như đầy ắp yêu thương nhung nhớ. Thằng con trai của tao lúc bấy giờ cũng đã mười một tuổi rồi, ốm như cây sậy, đen như củ súng đu lấy vai của tao miệng mếu máo “Vậy mà má nói với con ba mất rồi”. Đưa tay chỉ lên miếng vải đen to bằng đầu ngón tay may nơi ngực áo “Má bắt con để tang cho ba, cả má cũng để tang nữa”. Tao hỏi vợ “Tại sao em biết anh đã chết mà để tang”. Nước mắt Hà vẫn lưng tròng “Có một ông lính Biệt Động Quân trong tiểu đoàn của anh đến nhà báo tin, ông ấy nói có thấy anh và vài chục người lính nữa bị Việt Cộng lùa lên xe Molotova đem đi xử bắn”. Tao nói với Hà “Chuyện như vậy mà em cũng tin được hay sao?” Vợ tao đưa tay giụi mắt “Ngay lúc ấy thì không, nhưng một tháng rồi hai tháng trôi qua, cho đến một năm sau vẫn không nghe được tin tức của anh, không thấy anh trở về, bấy giờ em mới hoàn toàn tin lời người lính nói, tin rằng anh đã chết rồi”. Tao nhìn quanh căn nhà rồi hỏi “Má đâu rồi em”. Nghe tao hỏi, Hà với giọng nói đầy đau khổ “Em nghe cậu nói lại, tháng ba năm bảy mươi lăm khi Việt Cộng tấn công vào Ban Mê Thuột, má theo đoàn người di tản rồi biệt tích luôn, em nghĩ là má đã chết mất xác trong một khu rừng nào đó trên đường trốn chạy. Một người bình thường sức khỏe còn đầy đủ, cũng khó mà vượt đèo lội suối, huống chi má đã già yếu lại bịnh hoạn”. Tao ở lại thành phố Ban Mê Thuột, đợi vợ tao xin giấy phép đi thăm bà con. Một tuần sau, tụi tao về đến Sài Gòn an toàn.

Liếc nhìn cái đồng hồ treo trên tường, tôi nhắc Long công tử.

-Quá mười hai giờ rồi, tụi mình về nhà ăn cơm rồi nói chuyện tiếp.

Long công tử dằn mấy tờ giấy bạc xuống dưới đáy ly, số tiền khá hậu hỷ so với giá hai ly cà phê, tôi cười đùa với hắn.

-Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời, Việt Nam Cộng Hòa mất rồi nhưng mày vẫn là mày không có gì thay đổi.

Long công tử nói mà như là than thở.

-“Rằng quen mất nết đi rồi”

Khi tôi và Long công tử về đến nhà, Cúc đang lui cui trong bếp nấu cơm.

Long công tử hỏi tôi.

-Con mày đâu?

Bất ngờ nghe Long công tử hỏi, tôi cũng không biết con mình đang ở đâu.

Thấy tôi lúng túng, Cúc đỡ lời.

-Sáng nay chị Hai dẫn con bé đi sở thú chơi rồi, chắc chiều mới về. Sẵn dịp anh Long ở lại ăn cơm với tụi này luôn.

Long công tử tiếp lời Cúc.

-Chị không mời tôi cũng ở lại, vì có chút việc quan trọng phải nói với chị và Quân.

Chỉ một lát sau cơm được dọn lên bàn, một tô canh rau muống nấu với tôm khô thêm vài miếng cà chua đỏ thắm nổi trên mặt, hai lát cá lóc kho tộ. Hình như Cúc đã đoán được Long công tử sẽ ở lại ăn trưa với chúng tôi, nên đã nấu một bữa ăn khá tươm tất. Chúng tôi vừa ăn cơm vừa chuyện trò.

Tôi vui vẻ mở đầu.

-Vợ chồng tao có nhờ Vinh máy nổ, cho tụi tao gặp mặt chủ tàu thương lượng xin ba chỗ trên tàu vượt biên, khi qua đến Mỹ sẽ trả tiền sau, không ngờ đại diện chủ tàu lại là mày.

Long công tử vừa bưng chén cơm lên, chưa kịp ăn hắn lại đặt xuống rồi nói với tôi.

-Có thể nói, tao là đại diện cho chủ tàu cũng được, chuyện hơi dài dòng, nhưng mà tóm lại đầu đuôi là như thế này. Hồi còn ở Tổng trại 8 tù binh Sông Mao, mày đưa cho tao năm trăm đô la, tao nhét vô túi cho mày vui lòng vì tao nghĩ thầm, mày là cái thằng lẩm ca lẩm cẩm. Ở trong tù một hột cơm không có mà ăn, cầm tiền của Việt Cộng, muốn mua tán đường cũng phải trăm cay nghìn đắng mới mua được. Bắt tao ôm một mớ đô la khác nào ôm một đống giấy lộn, đã vậy nếu bị khám xét bất thình lình, lòi ra cái tội tàng trữ tiền của đế quốc Mỹ, chắc chắn nằm thùng sắt mọt gông, không chừng còn bị đem đi xử bắn để làm gương nữa là khác. Trốn thoát trại tù về đến Sài Gòn, khi đã xài đến đồng bạc cuối cùng của Việt Cộng, lúc bấy giờ tao mới thấy được mãnh lực của mấy trăm đô la mà mày đưa cho tao. Chừng đó tiền, nếu đem đổi ra vàng sẽ được khoảng ba cây. Trong lúc người dân cả nước đang sống trong bần cùng khổ cực, chạy ăn từng bữa thì ba cây vàng đúng là một tài sản quý hiếm đối với tao. Chữ quý hiếm được hiểu theo cả hai nghĩa, giá trị vật chất và tình bạn gói ghém ở trong đó. Từ một tay công tử xài tiền không đếm, tao trở thành một người biết coi trọng, trân quý đồng tiền. Trong đời sống hàng ngày tao cố gắng bươn chải, chạy đầu này đắp đầu kia, kiếm chút tiền sống lây lất qua ngày đoạn tháng. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết, chẳng đặng đừng lúc bấy giờ tao mới dùng đến.

Cúc hỏi Long công tử.

-Hiện giờ anh đang làm gì?

Long công tử mau mắn trả lời Cúc.

-Nghề nghiệp của tôi là lái tàu chở hàng trên sông, mà có chuyện gì không chị?

Không trả lời câu hỏi của Long công tử, Cúc hỏi.

-Tàu anh đang lái, có kích thước như thế nào?

-À…bề ngang gần ba thước, chiều dài non mười thước, mũi tàu bầu, tròn, gắn máy Yanmar F10, chỉ dùng để chở hàng di chuyển trên sông. Còn tàu đi biển thì mũi tàu phải nhọn, chiều dài hơn mười bốn mét. Đó là theo lời chủ tàu nói.

Cúc nhắc Long.

-Như vậy, con tàu anh lái, đâu có liên quan gì đến chuyện vượt biên.

Long cười.

-Không mà có đó chị, tất cả mọi người kể cả trạm canh gác của công an dọc theo hai bên bờ sông đều biết rõ, tàu đi trên sông với cái mũi bầu mà ra biển chỉ cần một vài đợt gió lớn, sóng vỗ mạnh, con tàu sẽ bị bể và chìm ngay.

Sau vài tháng, khi tôi đã quen với cuộc sống trên sông rạch. Một hôm ông Hòa là chủ chiếc tàu mà tôi đang lái, gặp riêng tôi tâm sự, hỏi tôi có muốn vượt biên hay không? Tôi cười nói với ông ấy là “Ở Việt Nam cây cột đèn nếu đi được, nó cũng đã đi mất rồi, huống gì là tôi.” Ông Hòa cho biết ông mua chiếc tàu này với mục đích là che mắt thiên hạ, thực tâm là khi có dịp, ổng sẽ dùng nó để vượt biên. Dùng tàu đi trên sông mà vượt biển khác nào đi tự tử, thế nhưng ông Hòa cho rằng người ta quên mất câu nói mà dân đánh cá thuộc nằm lòng “Tháng ba bà già đi biển”. Đó là cái kẽ hở mà con tàu của ông Hòa sẽ chun qua để vượt đại dương. Ông Hòa bàn với tôi lập ra một ban tổ chức gồm có, ông Hòa chủ tàu, tài công là một ngư dân đã có nhiều năm kinh nghiệm đánh cá trên biển, ông này là bạn ông Hòa, thợ máy là Vinh máy nổ, tôi lo việc rước người trên sông, tất cả bốn gia đình của ban tổ chức có con số chính xác là mười lăm người. Chủ tàu sẽ nhận thêm ba gia đình nữa khoảng mười người, số tiền đóng góp của họ sẽ dùng để lo lót cho công an, tân trang máy móc, mua xăng dầu, thực phẩm cho chuyến đi. Nay có thêm ba người của gia đình chị nữa, con số sẽ vào khoảng gần ba mươi người.

Cúc hỏi Long công tử.

-Tụi tôi sẽ phải trả bao nhiêu?

Long công tử cười sảng khoái.

-Chị nghĩ như thế nào mà hỏi tôi như vậy? Bản thân của tôi là do thằng Quân bắp cải cứu sống, nay tôi có bổn phận phải hoàn lại những gì mà tôi đã nợ chị và Quân. Chị không phải tốn một xu trong chuyến đi này. Tôi cũng biết hiện tại chị và thằng bắp cải làm gì có tiền mà đòi đóng với góp. Nếu có tiền chị đã không phải bán bánh căn kiếm sống.

Cúc nói nhỏ với Long công tử.

-Vợ chồng tôi hiện còn một cây, nhờ chị Hai cất giữ.

Long công tử nói với Cúc.

Lượng vàng của chị cứ để chị Hai giữ giùm, trong trường hợp, chuyến đi thất bại, bị công an bắt, chị Hai có sẳn tiền mà lo lót cho công an lãnh chị và Quân ra khỏi tù. Còn nếu thành công coi như chút vàng đó giúp cho chị Hai.

Quay sang nhìn tôi, Long công tử nói.

-Trong chuyến vượt biên, mày phải thay tên đổi họ, dùng giấy tờ giả, đừng bao giờ để lộ cái gốc sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa của mình. Một anh nông dân chân lấm tay bùn ngu ngơ tin tưởng vào Xã Hội Chủ Nghĩa, lúc nào cũng tốt hơn là một tên sĩ quan Ngụy phản động chống đối cách mạng. Tất cả giấy tờ và tên thật của mày và vợ, hãy giao cho chị Hai giữ giùm luôn.

Đang say mê nói, Long công tử vỗ trán, như nhớ ra điều gì đó.

-Còn một điều quan trọng mà tôi quên nói với chị. Đại dương bao la vô tận, nạn hải tặc đang hoành hành tại vịnh Thái Lan, con tàu của mình nhỏ xíu, là tàu đi trên sông chứ không phải tàu đi biển. Chuyến vượt biên sẽ có muôn ngàn hiểm nguy chờ chực, người đời đánh bài bằng tiền, người dân Việt Nam đem tiền của, vàng bạc cộng thêm sinh mạng của họ để vượt biển, tôi đem mạng sống của mình và vợ con đặt vào một canh bạc mà nếu thắng sẽ có được hai chữ tự do. Còn nếu thất bại thì hậu quả là mình phải trả bằng những gì mình đặt xuống chiếu bạc. Hôm nay đã qua tháng chín dương lịch, đầu tháng tư năm tới tàu sẽ ra khơi, không thể chần chừ vì đó là cái tháng định mệnh. Tụi mình còn tới khoảng nửa năm nữa mới lên đường, xin chị và Quân hãy suy nghĩ kỹ, cho tôi biết có muốn tham dự hay không?

Đường ta đi

thơ nguyễn lê minh – “đường ta đi”

trầm hương (UT)

Post by Sơn râu 23 Mar 2025

Nguyễn Lê Minh là cựu bác sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.  Chức vụ cuối cùng: Y sĩ Trưởng Lữ Đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến.

Đường Ta Đi là tập thơ đầu tay (và cũng là duy nhất) ông viết trên chiến trường Quảng Trị, trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.


Bìa trước, trình bày mai phương

photo Nguyễn Lê Minh

Bìa sau, trình bày mai phương

photo Nguyễn Lê Minh

trích đoạn trong tập thơ  “Đường Ta Đi”

Mùa hè đỏ lửa

Mùa hè đỏ lửa
Bắc Cộng vượt biên
Đường ta đi đất rung chuyển cuồng điên
Cuộc thảm sát xe tăng, đại pháo
Đường ta đi bày nhày xương, thịt, máu
Suốt một vùng Bến Hải, Gio Linh
Qua Mai Lộc, Đông Hà, Ái Tử
Ngổn ngang xác người Quảng Trị, Hải Lăng.

Đường tiến quân nhìn dân cư chạy ngược
Tất tả kinh hoàng dưới lằn đạn Nga Hoa
Từng thân người bật ngửa, rên la
Màu máu đỏ chan hòa cát nóng

Một chiếc xe đò lèn người như cá mắm
Tràng thượng liên lóc cóc nổ lạnh lùng
Từ thành xe những lỗ đạn tròn đen
Bỗng phọt máu những tia hồng tươi rói
Dưới ánh mặt trời tháng tư sáng chói
Tia máu hồng lóng lánh thắm như son

Một chiếc Honda chở hai cha con
Đang len lách giữa dòng người hỗn loạn
Bỗng người cha ngồi sau lưng trúng đạn
Té xuống đường dãy dụa rồi im
Đứa con chưa biết vẫn còn
Cố len cố lách vượt vòng hiểm nguy

Một trái đạn 130 ly
Rớt ngay lưng chiếc GMC đầy người
Thịt da tung toé đầy trời
Trước ta rơi một thây người không chân

Một người mẹ bồng đứa con
Lội qua sông rộng trên đường tản cư
Sông thì sâu, lòng mải lo
Lội qua sông rộng, con so ngộp rồi
Nhìn quanh thiên hạ chạy vùi
Ôm con, người mẹ toan ngồi khóc thương
Xung quanh đạn nổ dập dồn
Vứt con, chồng vội cuống cuồng kéo đi.
Đường ta đi của những ngày hè đỏ lửa
Không phải là đường
Mà là nỗi nhục chán chường đắng cay

Và ta thấy này Cha, này Mẹ
Của ngày xưa hốt hoảng tản cư
Còn ta là đứa bé kia
Ngồi trong chiếc thúng bi bô “khói hồng”
Giòng nước mắt doanh tròng mắt nặng

Ta bây giờ khoác áo rằn ri
Trợn trừng mắt đỏ tà huy
Mặt mày đen đúa khác gì Lê Dương

Trong cuộc chiến người gồm hai hạng
Hạng dân lành và hạng đeo gươm
Muôn đời có khác gì hơn
Dù mang chính nghĩa, dù còn chính tâm
25 năm, 25 năm
Nhục nào đeo đẳng trên thằng dân Nam
Nghèo hèn vẫn cứ nghèo hèn
Tối tăm vẫn cứ lèm nhèm dốt, ngu
Ngục tù vẫn cứ ngục tù
Chiến tranh vẫn cứ đòn thù giết nhau
25 năm trước bi bô
“Mẹ ơi khói bụi”, bây giờ sót sa
Mẹ ơi, con của mẹ cha
Ngờ đâu có lúc phải qua cầu này
“Nợ đời phải trả nếu vay
Còn ta đâu biết nợ, vay kiếp nào?”

Đường ta đi, lao đao hối hả
Đường gập ghềnh, sỏi đá nặng trong tim
Đường ơi còn nẻo nào riêng
Cho ta ít phút lãng quên trong lành
Cho ta ít phút mơ mòng
Mơ căn nhà nhỏ, mơ đồng lúa tươi
Mơ ngày mai góp nụ cười
Hội hè đình đám nơi nơi hát hò
Mơ người người sống ấm no
Mơ đời không có những trò ác gian

Việt Nam ơi, Việt Nam
Ta nghe uất nghẹn vô vàn
Trên môi vết rách toạc ngàn sót sa
Mồ hôi, nước mắt mẹ cha
Quyện cùng bụi cát thối tha xác người
Máu trong ta, máu trong người
Máu nào không thắm những lời mẹ ru?
Máu nào là máu hận thù?
Máu nào là máu rạng cờ hùng anh?
Máu nào là máu hôi tanh?
Máu nào không phải em anh họ hàng?
Máu nào cờ đỏ, cờ vàng?
Máu nào là máu của thằng, của ông?
Máu nào là máu người dưng?
Máu nào nước biển, nước sông, nước hồ?
Máu ơi, địa ngục lõa lồ
Những tên quỷ dữ đang hò hét vui
Cố lên, hỡi những thằng đui
Giết thằng mắt sáng, giết người thế cô
Đòn thù cho đáng đòn thù
Phe ta chính nghĩa, phe kia liếm giầy
Giết đi, giết thật hăng say
Chiến công đỏ máu hai tay dâng người
Khăn tang cách mạng sáng ngời
Thân hình ốm đói rạng đài ấm no
Xích xiềng đẹp chữ Tự do
Máu kia đỏ thắm ngọn cờ vinh quang
Tiến lên hỡi nước anh em
Những dòng máu đỏ chảy quên cội nguồn.

II

Những con đường rút lui chiến thuật

Hỡi những con đường rút lui chiến thuật
Của những ngày hè rực lửa tháng tư
Có còn nhớ ta?
Tên y sĩ mới ra trường, ngơ ngác
Còn nặng mùi sách vở giảng đường
Còn buồn phiền vì túi hành trang khiêm nhượng
Chưa vừa lòng với pince, kéo, bông băng.
Chợt một ngày tất tả cuống cuồng rút lui chiến thuật
Không túi y khoa, không cả vài viên thuốc
Không cáng, không bông băng dù chỉ một
Ta còn gì? Đôi bàn tay trắng
Với đôi chân cố gắng, mệt nhoài
Ta còn gì?  Những nhịp thở hụt hơi
Nghẹn câu an ủi
Chẳng giúp gì cho những thương binh
Đang lê lết trên đường tìm đất sống
Những bước chân khấp khểnh
Máu loang quần áo trận
Mồ hôi ướt đẫm gương mặt xanh tái nhúm nhăn
Ta làm được gì khi không có dù chỉ một miếng băng
(thứ phương tiện đã có lần làm ta phiền muộn)
Chỉ còn súng đạn, áo giáp, nón sắt
và hai bi đông đầy nước suối rừng
Đôi vai khòm, đôi bàn chân bỏng rát.
Con mắt ngủ vịt ngủ gà
Và bao tử chứa đầy nước suối

Hỡi những con đường của những ngày u tối
Của những bóng ma khệnh khạng lờ đờ
Có còn nhớ ta, tên y sĩ dại khờ
Lầm lũi giữa đám tàn quân
Thẹn câu an ủi
Dù nói với người, dù nói với ta
Câu nói chết khô trong cổ họng
Giữa không gian hừng hực lửa hồng

Lửa trong người
Lửa trong ta
Lửa trên những bước gay go lên đèo xuống trũng
Lửa vượt suối
Lửa vượt sông
Lửa trong thôn xóm
Lửa giữa ruộng đồng
Lửa nổ cao trên không
Lửa xoáy tung lòng đất
Lửa rang cháy tim
Lửa nung chín óc
Hỡi những bóng ma của những ngày hè u uất
Hãy tha thứ cho ta
Tên y sĩ dại khờ yếu ớt
Thổi giùm ta làn mây mù đau xót
Xin nói rằng ngày đó đã xa xưa
Ai cũng vậy, người người ai cũng vậy
Quên đi, quên đi nhé
Những con đường tán loạn rút lui.

III

Ta còn một bộ áo quần
Sau hai lần rút lui… “chiến thuật”
Ta còn nửa linh hồn
Sau hai lần theo… “chiến thuật rút lui”
Áo quần ta  đem phơi
Nửa linh hồn bay mất
Trần như nhộng ta đợi áo quần khô
Buồn như đất ta ngóng nửa hồn về
Buổi hoàng hôn chim xa rủ nhau về tổ
Ríu rít tiếng vui
Gõ mổ vào đầu ta tịch mịch
Tiếng mẹ nức nở
Tiếng mẹ thì thầm
Câu kinh tiếng kệ không vơi niềm lo ngại
Ta đọc, mờ nhòe
“Cha xưa chỉ còn một quần đùi, người đầy ghẻ lở
Con còn khá hơn cha.”
Ta chợt cười rũ rượi
Với bức tường vôi trong căn nhà đổ
Ta cười với chính bóng ta trần truồng, ghẻ lở
Trên bức tường  nham nhở vết đạn bom
Ta đó hay chính cha ta đó?
25 năm !!!

IV

Quần áo phơi chưa khô
Lá thư chưa đọc xong phân nửa
Lệnh sửa soạn lên đường


Đường ta đi bây giờ mênh mông sóng
Bập bềnh chiến hạm trôi trăng
Những chiến hữu áo rằn nói cười ồn ào tàu đổ bộ
Lòng ta phẳng lì, ấm áp
Khi nhìn những khuôn mặt quen thân
Cùng vui, cùng khổ
Khi nhìn những nụ cười bình dị
Trước giờ sinh tử cận kề

Muôn quân reo hò
Át ngàn con sóng lớn
Khói bụi mịt mù
Hoang vắng bờ biển xanh
Nắng và gió lạnh tanh
Phành phành âm thanh của những mái tôn rách nát
Phút gom quân oi ả
Ta ngồi sau bờ cát nóng lo lắng nhìn xa
Những chấm đen hàng dài như kiến
Chậm chạp đi trên nền cát trắng
Hơi đất lung linh
Nắng như dao đâm cặp mắt
Gió lào như cánh cung
Tung ngàn muôn tên cát vào mặt vào da
Vi vu tiếng đạn kéo dài hiu hắt
Nặng nề hơi thở
Ngột ngạt tiếng máy 25
Người lính trẻ dừng lại cười tươi
Mời ta điếu thuốc
Rồi ung dung tiến về phía trước,
Khói thuốc xanh phì phèo, tán loạn
Bay trên cồn cát trắng lung linh
Ta nhìn theo bàng hoàng
Tuổi trẻ, những người lính trẻ  Việt Nam
Hồn nhiên đánh giặc
Hồn nhiên giữ nước
Thản nhiên đi vào cõi chết
Không hỏi tại sao, không thắc mắc
Nếu có băn khoăn chắc chỉ là vài ngày phép
Khi rảnh rỗi chuyện tiếu lâm vui như Tết
Lúc xung phong chỉ biết một mục tiêu
Những chiếc máy quay phim
Có diễn đạt dược không?
Người phóng viên ngoại quốc mãi lom khom tìm góc cạnh

Những chiếc cáng nặng nhọc trở về
Những thương binh nằm ngửa dưới mặt trời trưa mùa hạ
Nắng tháng năm vẫn không làm hồng thêm đôi má
Gió Lào phủ thêm cát trên lớp máu đang khô
Lạnh đông dòng máu trong người
Lạnh đông dòng máu trong ta
Có đúng không? Người lính trẻ?
Chắc trong túi vẫn còn bao thuốc mới vơi phân nửa
Sẽ không bao giờ hút
Sẽ không bao giờ mời
Nét mặt của sáp, thảnh thơi
Khói thuốc còn đọng trên môi ta cay rát.
Những cột kèo gãy gục đồng loạt rú thảm
Hốt hoảng những chiếc Chinook bay mau
Đem đi những thương binh, tử sĩ
Cùng những chiến lợi phẩm
Và những  phóng viên với những cuộn phim màu
Tối nay, tối mai
Cả thế giới sẽ thấy, sẽ biết
Thấy gì ?
Biết gì ?

Trong Bán Kính 50 Cây Số

Thận Nhiên

Post by Sơn râu 23 Mar 2025

Hình minh họa Google

Mây chiều nặng, sà xuống thấp. Ngã ba. Hai con đường đất giao nhau, vắng hoe, bụi đỏ bốc lên khi có gió tạt ngang. Cái bảng tên đường rỉ sét, gắn trên thanh gỗ, vẽ mũi tên chỉ về hai phía. Một mũi tên ghi Núi Thái, chỉ theo con đường chạy vào chân núi, khi hút tầm mắt, nó chạm vào sườn đá thì biến mất, đường cụt. Mũi tên còn lại chỉ một ngã dẫn vào xã Định Long – 5 km, ngã kia ghi Cao Cảnh – 3km, dẫn ra đường lộ lớn, đường trải nhựa, ra thị trấn, ra tỉnh, đi Hà Nội, đi Sài Gòn, qua Miên, qua Thái, có khi ra khỏi nước. Có khi tới Mỹ.

Hắn xuống xe ở lộ lớn, từ trưa. Xuống ở đó là ngẫu nhiên, hắn không chọn. Định mệnh chọn giùm. Khi thằng lơ hỏi hắn xuống ở đâu thì hắn nói: “Ở đâu cũng được, mày cho tao xuống đâu thì tao xuống đó.”

“Đm, ông nói ngang vậy? Đi xe đéo trả đủ tiền còn nói giọng cà chớn. Đm, muốn chơi cha hả? Muốn gì? Đm, xuống đây đi!” Thằng lơ la to với tài xế, “Ghé vô cho thằng này xuống đi anh Hải ơi.”

Hắn mở dây kéo cái túi xách đeo ở vai, thò tay vào, ngón tay chạm lưỡi dao sắc ngót, rồi lần xuống cái cán gỗ quấn dây dù, cầm sẵn, nhưng hắn kịp nghĩ lại, thấy mình vô lý, đã đi xe không trả đủ tiền thì sinh sự làm gì. Hắn nhảy xuống. Chiếc xe vù đi.

Đứng tần ngần một lát, không còn chọn lựa nào khác, hắn từ từ đi bộ vào ngã ba này. Dọc đường không có quán xá. Mệt và buồn ngủ, hậu quả còn lại của bữa rượu tối qua. May trong xách tay còn khúc bánh mì, trái chuối và chai nước mà hắn đã mua ở bến xe. Và một xị rượu đế.

*

Từ trưa đến giờ chỉ có bốn chiếc xe chạy ngang. Một chiếc xe cày và một chiếc xe thùng gỗ chở phân bón làm bằng xác cá biển, hắn đứng ven đường vẫy tay xin nhưng cả hai xe đều không dừng lại. Chiếc xe chở phân bón để lại mùi tanh lợm giọng. Hai chiếc còn lại là xe gắn máy, nhưng khi nhác thấy hắn thì họ đều rồ tay ga, lạng ra giữa đường, phóng luôn, hắn không kịp phản ứng.

Đm, giờ có chiếc nào đến thì mình sẽ đứng giữa đường chận lại chứ không đứng vẫy nữa. Hắn nghĩ thầm, rồi quyết định. Hắn đã quyết định.

Tao sẽ giết thằng đàn ông đầu tiên nào đi ngang đây mà tao thấy, bất kể già trẻ lớn bé, bất kể là ai!

Tao sẽ hiếp, rồi giết, bất cứ con đàn bà nào đi ngang đây mà tao thấy, bất kể già trẻ lớn bé, bất kể là ai!

Rồi sau đó thì sao?

Đéo cần biết, tới đâu thì tới.

Hắn lấy con dao trong xách tay ra. Lưỡi thép xám, dài hơn gang, cong cong theo dạng lá lúa, rất vừa tay và quen thuộc đến từng gờ thép. Hắn lấy cái áo thun bọc lưỡi dao rồi dắt sau lưng quần, kéo cái áo lính đang mặc xuống phủ chuôi dao lại.

*

Người kế tiếp không đi xe gắn máy mà đang đạp xe đạp. Không phải là đàn bà, cũng không phải là đàn ông, như hắn tính. Chiếc xe đạp sườn ngang cũ mèm, không có vè. Cái bánh sau được quấn lại bằng ruột xe.

Ông già nhảy xuống khi hắn vẫy tay chận lại.

“Mi muốn chi?”

“Tui lỡ đường. Chừ lạc…”

“Tên chi?”

“Dạ, Lộc.”

“Ở mô tới?”

“Dạ, ở trong nớ.”

“Trong nớ là chỗ mô?”

“Dạ, Sài Gòn.”

“Ở Sài Gòn răng nói tiếng ngoài ni?”

“Dạ, nhà tui ở Quảng, rồi vô Sài Gòn.”

“Chừ đi mô? Định Long hay Cao Cảnh?”

“Dạ, chưa tính đi mô. Chắc về…”

“Về mô? Chỗ ni chừ hết xe rồi.”

“Dạ, tui chờ xe từ trưa, mà không có chiếc nào dừng.”

“Không có xe mô đón khách hay cho đi nhờ ở đây. Muốn đi thì phải đi chuyến sớm, ở sân vận động trong xã.”

Hắn ước lượng khoảng cách giữa hắn và ông già, xem liệu rút dao ra thì có kịp chồm tới để đâm không. Đâm vào cổ, một nhát một thôi, chỗ những vằn gân xanh đang nổi lên, cho chắc ăn. Một nhát thôi. Chưa được, ông vẫn còn ngoài tầm tay, gượm chút nữa đã.

“Chừ tui phải mần răng đây?” Hắn hỏi.

“Thầy mô biết! Mi có giấy tờ chi?”

“Dạ, có. Có chứng minh nhân dân.”

“Có giấy chi nữa? Hộ khẩu ở mô?”

“Dạ, chỉ có vậy thôi. Không có hộ khẩu.”

“Rứa thì không được. Du kích xã sẽ giữ lại. Rồi mai sẽ giải ra ngoài huyện để xác minh.”

“Chừ mần răng?”

“Răng thầy biết được…”

“Hay là… ông cho tui trọ lại đêm nay đi? Ông giúp giùm…”

“Thầy biết mi là ai, quen biết chi mà giúp? Nửa đêm xã tới xét hộ khẩu thì nói năng làm răng?”

Hắn bước tới một bước, rồi hai bước. Ông già bước lui lại, kéo chiếc xe lết theo, một tay nắm ghi-đông, một tay giữ trên yên xe. Thấy ông có vẻ thủ thế, hắn đứng sựng lại.

“Thầy là thầy tu, không có của cải chi mô. Muốn lấy cái xe thì thầy cho.” Ông già nói.

“Dạ, tui nào dám, tui có ý chi mô, chỉ xin ông cho ngủ nhờ.”

Ông già buông tay ở yên xe, chìa ra. “Đưa dao đây!”

“Dạ…”

“Đưa dao đây!” Ông già nói.

Hắn lạnh lưng. Làm sao ông biết mình có dao? Rồi không kịp nghĩ gì thêm, hắn hất cái xách tay trên vai xuống đất, vòng tay ra sau lưng rút cây dao, cái áo thun quấn dao rớt xuống đất. Lưỡi dao lăm lăm chĩa về ông già. Hắn dấn tới một bước.

Ông già gằn giọng, “Đứng lại đó. Đưa dao đây. Đưa chuôi dao đây!”

Hắn vung tay dao lên, nhưng khựng lại, trở tay kia cầm lưỡi dao, ngần ngừ, rồi chìa chuôi dao ra. Ông già gạt chống xe, chồm tới. Lúc này thì cổ ông ở vừa tầm dao, nếu hắn muốn, nhưng hắn bất động.

Ông già nhón tay cầm lấy chuôi dao, hắn buông lưỡi dao ra.

Ông già nâng con dao lên ngang tầm mắt ngó, đưa sát vào mũi ngửi, rồi xoay tay đưa chuôi dao lại phía hắn, nói thong thả, “Thôi, cất lại vô xách đi. Theo thầy về chùa, rồi tính.”

Hắn líu ríu nhận dao, cúi nhặt cái áo thun và túi xách lên, bỏ dao vào.

“Mi chở, thầy ngồi sau. Chùa cũng không xa, chừng ba cây số thôi. Về nhanh còn cơm nước nữa, kẻo tối.” Ông già đẩy nhẹ chiếc xe đạp cho hắn, nói tiếp, “Đưa cái xách thầy cầm cho, không sợ mất đâu, có chi quý mô mà mất. Thầy phải ngồi sau lưng mi, kẻo có khi mi lại đổi ý.” Ông cười, rồi ngồi lên yên sau, lập lại, “Về chùa rồi tính, thầy đổi nghề, đổi đời cho…”

“Dạ…”

Hắn lên xe, gò lưng đạp. Chiếc xe lảo đảo chạy về phía chân núi.

*

Bảy năm sau, sư phụ qua đời. Hắn lo được hộ khẩu, thừa hưởng cái chùa, từ chức sãi hắn lên chức Đại Đức. Nghề này có vẻ hạp. Hắn không phải đâm giết ai từ dạo đó.

Theo lời sư phụ dạy, hắn gói kỹ con dao trong mấy lớp bao ni-lông, bỏ vào một hộp thiếc cũ đựng bánh, rồi mang chôn dưới một trong những cái lu nước sau hậu liêu.

Tám năm kế tiếp, từ một cái nền chùa hoang vắng, mái xiêu vẹo, hắn trùng tu thành ngôi linh tự nguy nga, lúc nào cũng khói hương nghi ngút. Hắn nhận thêm vài đệ tử nhưng chưa có ý muốn truyền y bát cho ai.

Hắn nổi tiếng đạo cao đức trọng hơn cả sư phụ. Tín đồ trong vùng rất yêu quý và trọng vọng hắn. Nhất là những bà goá, những bà cư ngụ trong bán kính 50 cây số.

22/10/2017

Xạ Thủ

Thận Nhiên

Post by Sơn râu 23 Mar 2025

Lần đầu gặp xạ thủ[1] là ngày đầu tiên tôi nhận việc ở cái bệnh viện dành cho cựu chiến binh này. Vóc dáng gầy nhỏ và màu da đen của xạ thủ chìm khuất trong những người đang ken chật bên nhau trong buồng thang máy. Xạ thủ đứng sát cửa. Vào xong, mọi người ngừng nói chuyện, từng người trả lời khi xạ thủ hỏi. “Ông lên lầu mấy?” “Lầu 7, làm ơn bấm giùm.” “Lầu 13, làm ơn.” “Lầu 9, làm ơn.”

“Cô, lầu mấy?” Xạ thủ hỏi tôi.

“Lầu 16, cám ơn ông.” Tôi đáp.

Giờ ăn trưa, tôi lại gặp xạ thủ khi xuống căng-tin.

“Cô bắt đầu làm việc ở đây à?”

“Vâng, hôm nay là ngày đầu. Sao ông biết là tôi bắt đầu?”

“Vì tôi biết tất cả mọi người ở bệnh viện này. Đừng sợ. May mắn nhé. Nhớ cầm theo dù, dự báo thời tiết chiều nay sẽ mưa.”

“Cám ơn ông.”

*

Tôi làm ở đây được ba tháng, gặp xạ thủ mỗi tuần ba hay bốn ngày, mỗi ngày có khi hai lần, có khi ba lần, mỗi lần dưới một phút, khi thang máy đi lên và đi xuống. Một buổi trưa, tôi xuống mua thức ăn, thang máy không có ai đi cùng, ngoài xạ thủ.

“Cô là người Việt?”

“Vâng, sao ông biết? Sao ông không nghĩ tôi là người Phi, người Hoa, hay người Thái? Bảng tên của tôi cũng không phải họ Nguyễn hay họ Trần.”

“Tôi… ngửi thấy. Xin lỗi, đừng bực nhé, nhưng thật vậy đấy. Tôi ngửi thấy mùi người Việt ngay dù cho họ cách tôi 7 thước. Bệnh viện này có gần một ngàn nhân viên nhưng chỉ có ba người Việt thôi. Cô nữa là bốn.”

“Ông tài quá. Tôi là Connie.”

“Tôi là… xạ thủ. Mình làm bạn nhé.”

“Cái gì? Xin lỗi tôi nghe không rõ tên ông, phải gọi ông như thế nào cho phải phép?

“Cô gọi tôi là xạ thủ.”

“Vâng, thưa ông xạ thủ, rất hân hạnh.”

“Thỉnh thoảng cho phép tôi ngồi cùng bàn với cô nhé? Tôi muốn nghe chuyện Việt Nam. Và tập nói lại tiếng Việt.”

“Vâng, nhưng tôi không thể giúp ông trong việc tập nói tiếng Việt đâu, vì tôi cũng đang quên dần nó rồi.”

*

Dù sau này đã biết tên thật của xạ thủ, tôi vẫn thích gọi ông là xạ thủ, theo cái cách mà ông muốn hiện diện với mọi người, là vị trí của ông, nghề nghiệp của ông, cách đây hơn nửa thế kỷ. Lúc đó tôi chưa ra đời, và ông 19 tuổi. Xạ thủ là cái nghề mà ông được đào luyện rất chuyên nghiệp. Nghề giết người. Giết đồng bào tôi. Giết người Việt.

Ông là xạ thủ súng đại liên trên trực thăng. Ông đi hai tours trong chiến tranh Việt Nam, vào lúc cuộc chiến đẫm máu nhất, mỗi tour chừng một năm rưỡi. Anh thanh niên da đen, ra đời trong một gia đình rất nghèo, và lớn lên ở một vùng quê thuộc bang Georgia, chưa học xong trung học, vào lính để đỡ gánh nặng cơm áo cho gia đình và thoả mộng giang hồ, bị thương, rồi giải ngũ, về Mỹ làm đủ thứ nghề để kiếm sống.

Khi xạ thủ về hưu, sống bằng lương hưu, dời về New York để tiện theo dõi bệnh tình ở bệnh viện cựu chiến binh, được trợ cấp thuê nhà giảm giá của chính phủ, thì ông tự nguyện nhận việc đứng điều khiển thang máy ở bệnh viện này đã nhiều năm, như một cách trả lại những gì nhận được từ nó, và cho đỡ buồn, cho thấy mình hiện hữu và có ích với đời, và được gặp gỡ những người đồng cảnh ngộ, các chiến hữu của một thời bom đạn. Đây là việc thiện nguyện, mỗi tuần ba hoặc bốn ngày, không có lương, chỉ được bữa ăn trưa miễn phí do bệnh viện cung cấp nhưng ông không ăn vì chê thức ăn dở nên mang theo thức ăn tự nấu ở nhà. Dần dà, tuy không là một nhân viên chính thức, ông trở nên một thành phần của bệnh viện, được mọi người yêu quý.

Nhà ông cách đây không xa, chừng 10 phút lái xe, có thể đi bằng xe bus nhưng ông thường lái chiếc Jeeps cũ màu đỏ đi làm. Mỗi ngày ông đến rất sớm, từ 6 sáng đã có mặt. Những năm sau này, chứng ung thư trở nặng, có những khoảng thời gian ông chữa trị nội trú, ở luôn một phòng dành cho bệnh nhân ở lầu 8, những lúc yếu mệt quá thì ông không xuống làm việc. Không có ông thì cũng không sao, người dùng tự mình bấm nút thang lên xuống lấy.

Thoắt cái tôi đã làm việc ở bệnh viện này 12 năm, từ một nhân viên lơ ngơ lên lão làng. Thời gian đủ dài để xạ thủ và tôi hình thành một tình bạn thân thiết. Thỉnh thoảng chúng tôi ngồi ăn chung với nhau bữa trưa. Ông chia thức ăn của ông cho tôi khi có món ngon đặc biệt. Tôi cũng mang theo chè, chả giò, bánh chưng, những món Việt không nặng mùi, và trái cây nhiệt đới, mời ông. Ông sẵn sàng giúp tôi những việc vặt như đóng đinh treo tranh ảnh lên tường, kê lại bàn ghế trong phòng, đưa tôi ra xe khi trời tối, cào tuyết bám trên xe khi trời đổ tuyết, câu bình khi xe không nổ máy…

Hôm vụ khủng bố 9/11 xảy ra ở trung tâm New York, các ngả đường đều bị chặn không thể lái xe được, tôi bị kẹt lại bệnh viện nhưng phải về nhà bằng mọi giá vì tôi phải đón con. Xạ thủ đưa tôi về bằng xe điện, xe bus, dắt tôi đi bộ từng chặng trong cảnh hỗn loạn và khói bụi mù mịt, mất 7 giờ chúng tôi mới về đến Manhattan. Khi đến khu chúng cư của tôi an toàn, ông không chịu lên nhà, chờ tôi mang cái bánh mì thịt và chai nước xuống rồi lại bươn bả về bệnh viện. Vậy mà tôi chưa bao giờ đến nhà thăm ông.

*

“Ông có trở lại Việt Nam không?”

“Không.”

“Vì sao? Có nhiều cựu chiến binh trở lại mà…”

“Tôi biết. Nhưng không muốn về. Không thể… Từ khi qua đây đến nay, cô có về thường không?”

“Tôi về một lần.”

“Tôi đóng quân nhiều nơi, giờ chỉ còn còn nhớ mang máng những địa danh. Chỉ còn nhớ Đà Nẵng, Tây Ninh, Kon-tum, Biên Hoà… và Sài Gòn. Cô từng ở đâu?”

“Tôi chỉ ở Sài Gòn cho tới khi vượt biên.”

“Vậy là tôi ở, và biết, Việt Nam nhiều hơn cô.”

“Ông nhớ gì về Việt Nam? Nhớ gì nhất?”

“Nhiều thứ… Ruộng lúa, màu xanh như ngọc, những con trâu, hàng cây dừa, sự nghèo khó, sông, bãi biển, cái nóng, những đêm mưa bay lạc, núi, làng mạc, nhà tranh, khẩu phần ăn của lính, trọng lượng khẩu súng và thùng đạn, đạn từ dưới đất bắn lên, bar rượu, say rượu, đánh nhau, con gái, ma tuý, những lá thư của mẹ tôi, trực thăng bị trúng đạn, bệnh viện dã chiến, máu, bông băng, vết thương, xác lính trong túi, la khóc, đèn màu Sài Gòn, xe nhà binh, hầm cá nhân, công sự, đau răng, mùi, rất nhiều thứ mùi, trái cây ngon, trái mít, nước dừa và cùi dừa chặt từ cây xuống uống tại chỗ, những món thức ăn cay và lạ và tanh… Và Tết, lễ mừng năm mới của người Việt. Múa lân, pháo, áo quần mới, và nhậu nhẹt. Và đánh nhau với VC, cháy nhà, xác người. Tết năm 1968, tôi bay nhận thương binh và xác lính liên tục từ Đà Nẵng. Tôi nhớ nhiều, nhiều thứ lắm. Chỉ ở đó một thời gian ngắn trong đời nhưng tôi có ấn tượng sâu đậm nhất, hơn cả ở quê nhà Georgia của tôi. Nhưng lạ, nhiều khi tôi cố nhớ lại thì không được, nhưng khi không cố gắng nhớ thì chúng hiện ra. Chúng cứ bất chợt hiện ra rồi mất đi, từ chỗ tăm tối, sâu thẳm nhất của tiềm thức.”

“Ông nghĩ gì về Việt Nam?”

“Tôi sẽ lập lại những điều mà cô đã biết do nhiều người nói. Tóm lại là một đất nước rất đẹp, và con người thì thật đáng yêu, và đáng sợ…”

“Ông nghĩ đẹp về Việt Nam như vậy mà sao không làm một chuyến du lịch, thăm lại ‘chiến trường xưa’ như người ta thường nói vậy…”

“Tôi đang thấy Việt Nam qua cô. Và đó là một Việt Nam đẹp.”

“Một Việt Nam đẹp? Vậy có Việt Nam nào khác à? Việt Nam xấu à?”

“Tôi không trả lời câu hỏi này đâu.”

“Tùy ông, tôi xin lỗi nếu đã làm ông khó chịu.”

“Không, không khó chịu lắm. Nhưng hôm nay tôi chỉ muốn câu chuyện tới đây thôi.”

*

Những câu chuyện giữa chúng tôi thường không đầu không đuôi về mọi đề tài, nhưng nếu ngồi đủ lâu thì thế nào nó cũng dẫn đến Việt Nam, nhưng dường như cả hai chúng tôi đều cố tránh cái Việt Nam của quá khứ. Chúng tôi nói, nhưng nói về Việt Nam hôm nay. Đại loại như tình hình Trung Quốc muốn chiếm Biển Đông; biểu tình ở Sài Gòn, ông kể chuyện mấy mươi năm trước từ một quán bar ở Sài Gòn nhìn ra, ông đã chứng kiến cảnh sát đàn áp và bắt người biểu tình như thế nào; món quà ngu xuẩn của một tay quan chức VC vừa tặng cho Thượng nghị sĩ John Mc. Cain; chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Clinton, rồi tổng thống Obama…

Cho tới một hôm, tôi buột miệng, “Ông có giết người không?”

Xạ thủ nhìn vào mắt tôi, rồi hỏi lại, “Tôi có giống một thằng giết người không?”

“Tôi không biết… tôi từng thấy tận mắt người ta giết người.”

“Ở đâu? Lúc nào?”

“Trên biển, trên thuyền, lúc tôi đi vượt biên. Bọn cướp biển Thái…”

“Vậy tôi có giống chúng không?”

“Không, lúc này thì không.”

“Đúng vậy. Lúc này có lẽ không giống. Tôi đã giết người.”

“Ông giết bao nhiêu người?”

“Tôi không biết, nhưng chắc là nhiều.”

“Nhiều là bao nhiêu?”

“Có lẽ nhiều… Làm sao tôi đếm được. Ngồi trên trực thăng thì tôi có thấy được họ đâu. Chỉ là những bóng người nhỏ xíu, không rõ nhân dạng, chạy lăng quăng bên dưới, khi ban ngày, khi trong ánh lửa bùng lên trong bóng tối. Chỉ là đạn bắn lên từ bên dưới. Chỉ là khói và lửa. Từ những đám rừng dày. Khi đó, ngay khi đó, họ không là CON NGƯỜI. Họ là KẺ THÙ. Và tôi cũng vậy, lúc đó tôi không phải là CON NGƯỜI. Tôi phải bắn để trở về nhà. Tiếng nổ và sự rung giật của súng làm tôi tê dại và không còn là CON NGƯỜI. Lúc đó gần như chỉ còn bản năng. Giết và sống sót. Lúc đó tôi sợ chết lắm. Tôi nghĩ rằng nếu tôi ngừng bắn, ngừng siết cò, thậm chí nếu tôi bắn không trúng họ thì tôi sẽ chết. Sẽ bị giết. Vì sao cô muốn biết?”

“Tôi tò mò, nhưng nếu ông thấy không thích hay khó khăn thì thôi.”

“Đúng vậy, tôi không thích, không phải lúc này. Lúc nào đó thì tôi muốn nói, muốn kể, một lần, với cô thôi. Rồi mình sẽ không bao giờ trở lại câu chuyện này nữa.”

“Đồng ý. Nhớ nhé, ông hứa rồi đó. Có ngày tôi sẽ hỏi. Hoặc khi nào ông muốn kể thì ông có đôi tai của tôi chờ nghe.”

*

“Hôm nay tôi muốn nói tiếp câu chuyện với cô hồi tháng trước?”

“Chuyện món thịt heo nấu đông hả? Lát nữa tôi sẽ in cái công thức nấu ra cho ông.”

“Không phải chuyện đó. Chuyện chiến tranh.”

“À, vậy thì tôi hỏi ông và ông hỏi tôi. Nếu có ai không thích tiếp tục thì mình ngừng. Nếu câu nào không thích thì không trả lời. Ông đồng ý không?”

“Đồng ý. Cô hỏi trước đi.”

“Ông nhớ gì về chiến tranh nhất?”

“Tôi nhớ lần đầu tôi bắn người. Lần đầu tôi giết người.”

“Ông kể đi.”

“Tôi vừa sang Việt Nam được một tuần. Khí hậu nóng bức, và những cơn mưa nhanh vào buổi chiều. Tôi được lệnh lên trực thăng đi tuần tra. Chỉ có tôi và tay phi công. Khi bay trên con lạch hẹp, hai bên bờ là cây cối, tay phi công thấy một chiếc thuyền, bèn cho trực thăng bay nhanh và sà xuống sát trên nó để quan sát. Lập tức, có tiếng súng nổ. Không biết ở đâu bắn. Không biết súng từ chiếc thuyền bắn lên hay từ những đám cây ven sông. Tay phi công thét, ‘Bắn đi, bắn đi…!’ Tôi không hiểu hắn muốn tôi bắn cái gì thì hắn gào tiếp, ‘Bắn chiếc thuyền…’ Tôi siết cò, không cần nhắm, khẩu đại liên rung giật dữ dội. Chiếc thuyền trúng đạn. Cái mui thuyền bị đạn thổi bay đi. Nó xoay xoay nhiều vòng rồi chìm xuống. Tôi thấy hai hay ba người chới với giữa dòng nước và chìm với nó. Chuyện xảy ra quá nhanh, chỉ chừng 2 phút. Quang cảnh con lạch yên lắng, mặt nước khép trở lại như thể nó chưa từng nuốt mất chiếc thuyền, như không có chuyện gì vừa xảy ra. Như không có chiếc thuyền vừa chìm. Như không có ai vừa chìm. Như tôi không vừa giết người… Đêm đó tôi thấy mình lạ hẳn, không là mình như trước. Tôi là kẻ giết người. Tôi nhìn mãi đôi bàn tay, nhất là cái ngón trỏ đã siết cò. Chỉ một động tác đơn giản vậy thôi mà. Tôi vừa giết những người mà tôi chưa từng biết. Mẹ tôi là người rất ngoan đạo. Bà tin và sống theo lời Chúa dạy trong Thánh kinh. Tôi tưởng tượng việc mẹ tôi biết rằng tôi đã phạm một điều răn lớn nhất: ‘chớ giết người’, thì bà sẽ sợ hãi và đau khổ vì con mình đến như thế nào. Sau này, tôi biết rằng mọi thằng lính đều nhớ rất rõ lần đầu chúng giết người, nhớ từng chi tiết nhỏ. Nhớ nhiều hơn cả lần đầu làm tình.”

“Ông có sám hối, có ăn năn không?”

“Sám hối chuyện gì?”

“Những chuyện ông đã làm ở Việt Nam.”

“Lúc đó thì không, bây giờ thì tôi không biết. Tôi chỉ sợ. Thỉnh thoảng tôi vẫn đi xưng tội. Rất đều, đi gặp Chúa và linh mục đúng hạn kỳ. Cái gì tôi đã làm thì đã làm rồi…”

Ngưng một lát, xạ thủ nói tiếp, gằn giọng, “Cô không biết chiến tranh là cái đéo gì đâu. Tha lỗi cho cái ngôn ngữ bậy bạ của tôi. Mấy bọn làm phim cũng đéo biết chiến tranh là cái đéo gì đâu, bọn viết sách, viết hồi ký cũng đéo biết chiến tranh là cái đéo gì đâu, bọn trẻ ranh phản chiến cũng đéo biết chiến tranh là cái đéo gì… Các tổng thống cũng đéo ai đi lính, thậm chí có thằng trốn lính… và chúng nó ca ngợi lòng yêu nước…”

“Ông có những lúc hào hứng vì niềm vui chiến thắng không?”

“Không, gần như là không. Chỉ có những cơn say máu thôi. Không có chiến trường nào tồi tệ bằng ở Việt Nam đâu, kể cả Trung Đông. Và chắc cũng không có kẻ thù nào nguy hiểm hơn bọn du kích VC. Cái chết được nguỵ trang kỹ dưới những người có vẻ hiền lành, vô hại. Còn chúng tôi là những đứa con nít, những thằng con nít chỉ mới rời mẹ.”

“Ông nghĩ rằng ông hiểu chiến tranh không?”

“Chiến tranh ư? Tôi hiểu. Chỉ có bọn giết người, nạn nhân và Thượng đế hiểu…”

“Tôi không hiểu, hay tôi biết rất mù mờ. Chiến tranh chấm dứt khi tôi 3 tuổi. Nhưng bố tôi biết, mẹ tôi cũng biết. Bố tôi biết chiến tranh như ông biết. Ông ấy đã tham dự. Ông ấy cũng trạc tuổi ông. Không, ông ấy lớn hơn ông 4 tuổi. Bố tôi là lính của quân đội Việt Nam Cộng Hoà và bị đi tù sau khi chiến tranh chấm dứt, rồi vượt biên qua đây.”

“Ông ấy là một tay đàn ông thứ thiệt đấy. Tôi kính nể ông ấy, và những người trong đội quân của ông ấy. Này, có bao giờ cô hỏi ông ấy có giết người như cô đang hỏi tôi chưa?”

“Chưa, tôi cũng muốn hỏi nhưng không dám, và nếu có hỏi thì chắc ông ấy cũng không kể.”

“Vì sao cô không dám?”

“Vì bố tôi nguy hiểm hơn ông. Và đau khổ hơn ông. Nếu tôi hỏi thì ông ấy sẽ phản ứng rất dữ dội. Văn hoá của chúng tôi không cho phép đứa con hỏi bố của nó những chuyện nhạy cảm như vậy. Tuy những người lính như các ông bạn của bố tôi đều bị PTSD,[2] nhưng tôi chưa thấy ai trong họ được chữa trị như các ông, mà họ vẫn phải sống một đời sống tủi nhục và gian khổ hơn nhiều. Chúng tôi đau khổ và nghèo quá. Thú thật, tôi cũng bị một thứ PTSD!”

“Thật vậy sao? Cô đâu có dính gì tới chiến tranh!”

“Tôi không dính trực tiếp nhưng tôi cũng là nạn nhân của nó.”

“PTSD của cô là gì?”

“Tôi không thể đi tàu, đi du thuyền, đi chơi trên biển. Tôi sợ mặt nước. Tôi có những cơn ác mộng về biển. Những con sóng đẩy chiếc thuyền bé xíu lên cao ngất rồi rơi tõm xuống vực nước tối. Hôm nào tới lượt, tôi sẽ kể cho ông nghe chuyện của tôi.”

“Người Việt là một loại người kỳ dị. Họ có khả năng chịu đựng vô hạn. Và họ bất khả đoán. Như cô vậy.”

*

“Xạ thủ này?”

“Gì cô?”

“Ông đừng giận nếu tôi nói thật điều này nhé?”

“Cô cứ nói, tôi không giận đâu.”

“Tôi ngại bắt tay ông…”

“Sao? À, tôi hiểu rồi. Cô ngại chạm tới cái bàn tay đã giết người, những người Việt, những đồng bào, có thể là có cả người thân của cô nữa, đúng không?”

“Đúng vậy. Tôi từng cảm động khi cầm tay ông, khi chạm cái làn da khô nẻ, những vết chai vì lao động cực nhọc, cho tới một hôm tôi chợt nhớ lại rằng cũng bàn tay đó đã bóp cò, xả đạn xuống làng mạc và con người trên xứ sở của tôi, thì tôi rùng mình ghê sợ, và tôi đã bị ám ảnh bởi điều đó suốt.”

“Tôi cũng từng ghê sợ chúng — đôi tay mình. Tôi nhớ là đã kể với cô về cái cảm giác đó rồi, trong lần đầu tiên bắn người. Chúng lạ như thể chúng không thuộc về tôi, không là thành phần trên thân thể tôi. Nhưng tôi phải sống với chúng. Con người phải quen thuộc dần và sống với tội ác của mình. Tôi biết mấy thằng lính, sau khi đi Nam về, từng được chữa bệnh ở đây, đã tự sát. Tự sát vì không chịu nổi chính cái phần tăm tối trong con người chúng.”

“Ông khác với họ? Ông mạnh mẽ nên chịu đựng được sự dằn vặt ấy à?”

“Tôi không biết. Cho tới giờ thì tôi vẫn ổn. Và dù thường xuyên nghĩ đến cái chết, tôi không hề có ý định tự sát.”

“Vậy giờ tôi phải làm sao?”

“Cô đừng bắt tay tôi nữa. Tôi sẽ không buồn đâu.”

“Ok, cám ơn ông.”

“Và cũng đừng ăn thức ăn của tôi nữa.”

“Ok. Tôi sẽ không ăn nữa. Nhưng nếu điều đó… Này, ông vẫn ăn thức ăn của tôi chứ?”

“Tôi ăn chứ. Tôi hoàn toàn không có cảm xúc gì xấu về cô.”

“Thứ năm tới tôi sẽ mang xôi lạp xưởng cho ông. Đừng mang thức ăn theo nhé.”

“Ok, tôi sẽ không mang. Tôi thích món xôi đó. Người Mỹ rất ít ai ăn loại gạo dẻo. Cám ơn cô. Này, cô có biết là tín đồ Hồi giáo không được đụng vào con heo không? Vì họ cho rằng heo là loài bẩn thỉu.”

“Vâng, tôi có nghe nói. Vì sao ông hỏi?”

“À, không liên quan gì. Tôi bất chợt liên tưởng đến điều đó thôi.”

“Tôi biết điều đó là bất công với ông. Vì đôi tay của ông không chỉ giết, mà chúng còn cứu người, trong đó có những đồng đội của cha tôi nữa. Tuy nhiên tôi vẫn không chịu nổi điều đó. Tôi nhạy cảm quá.”

“Đêm qua không ngủ được, tôi lái xe ra West Side Highway, dọc theo sông Hudson. Tôi đậu xe, thả bộ một lát, rồi ra ngồi ở ngoài bờ kè nhìn trời nhìn đất, nhìn ánh trăng loang loáng trên mặt nước. Một lát sau thì có bốn thằng nhóc đến cướp, chúng bảo tôi đưa ví, tôi làm theo, chúng lấy hết tiền, chừng $130, nhưng rồi một thằng ném trả lại $10, bảo rằng cho tôi ăn sáng. Tôi nhặt tờ bạc lên, lạ thay, lòng đầy hàm ơn. Chuyện đó làm tôi nghĩ hoài, và thấy vui lắm.”

“Trời đất, ông xui quá! Nhưng vì sao bị cướp mà ông lại thấy vui?”

“Vì tôi luôn có một lưỡi dao bấm trong túi áo Jacket, lúc đó tôi suýt lấy dao ra ăn thua đủ với chúng. Nếu làm vậy thì chắc là tôi sẽ giết ít nhất một thằng, và chúng sẽ giết tôi. Nhưng khi được thằng nhóc kia ném lại tờ $10 thì tôi đổi ý. Nó làm tôi nhớ tới chính mình lúc trẻ, cái hình ảnh chính tôi mặc đồ lính loé lên nhanh như chớp, chứ không thì lúc này tôi không ngồi đây với cô rồi. Tôi biết ơn thằng nhóc đó. Không phải vì $10 của tôi mà nó ném lại, nhưng vì nó cho tôi cơ hội để không giết nó và bị chúng giết.”

“Nguy hiểm quá! Nếu lúc này ông không ngồi đây với tôi thì ông sẽ đang ở đâu?”

“Dưới lòng sông. Chỗ làn nước đêm qua loang loáng ánh trăng. Khi thân thể người ta chìm xuống thì làn nước sẽ khép lại, rất nhanh.”

*

“Vì sao ông không lập gia đình?”

“Tôi không thể!”

“Vì sao không thể”

“Sau khi về từ Việt Nam thì đời tôi nát bét. Tôi không thể sống với ai, thậm chí còn nguy hiểm cho họ. Quá muộn để làm lại, nhưng càng cố gắng thì càng thất bại. Và những vết thương làm tôi không còn có nhu cầu với phụ nữ nữa. Cô không muốn nhìn chúng đâu. Người phụ nữ duy nhất yêu thương và chịu đựng được tôi là mẹ tôi. Mà bà cũng qua đời rồi. Các anh chị của tôi đều có gia đình nên mẹ tôi về sống với tôi cho tới khi bà qua đời. Có bà an ủi thì tôi cũng cảm thấy bớt đau khi bị các vết thương hành.”

“Dạo này sức khoẻ của ông thế nào?”

“Càng ngày càng tệ. Chắc không còn lâu nữa đâu. Tôi nghiện thuốc giảm đau như nghiện ma tuý. Tôi có ác mộng hằng đêm. Tôi không ngủ được, có nhiều đêm phải thức trắng.”

“Có thời tôi cũng có ác mộng hằng đêm.”

“Cô thấy gì trong đó?”

“Tôi thấy khi thì mình bị hải tặc hiếp, bị giết, khi thì bị chém bằng dao rựa, khi thì bị đập đầu bằng búa, khi thì bị chìm xuống biển, bị chết đuối… Và tôi sống trong lo sợ, hồi hộp… sợ đủ thứ chuyện.”

“À, PTSD của cô. Cô có đi bác sĩ tâm thần để chữa không?

“Có, nhưng thấy không hiệu quả và mất thời gian và tốn kém quá…”

“Rồi sao nữa? Làm sao cô có thể sống được với chúng?”

“Rồi không dưng chúng hết, nên tôi không đi nữa.”

“Hết?”

“Ừ, hết!”

“Từ lúc nào?”

“Từ sau khi vào đây làm, gặp và quen ông và nói chuyện với ông. Và gặp những người lính mặc đồ rằn ri ở đây. Các ông gợi cho tôi nhớ lại bọn hải tặc và bọn lính hung tợn của Thái Lan.”

“Thật sao?”

“Thật! Tôi sợ cả ông, vì ông có mặt trong ác mộng của tôi.”

“Sợ cả tôi? Trong ác mộng của cô?”

“Vâng, cả ông. Trong ác mộng của tôi. Tôi thấy ông biến thành một trong những thằng cướp biển.”

“Lạ nhỉ?”

“Ừ, lạ. Và không lạ. Sau hôm nhận việc ở đây tôi mua cái bình xịt hơi cay để tự vệ. Rồi thấy vẫn chưa đủ, tôi mua một khẩu súng lục loại nhỏ có thể cất trong túi xách, và bảo cha tôi đưa tôi đi trường bắn và dạy tôi bắn. Và tôi xin được giấy phép mang súng nhưng người ta không cho mang súng vào đây nên tôi bỏ ngoài xe. Hai tháng sau, khi tôi bắn khá thuần thục, tôi thấy mình bắn cả trong những cơn mơ, thì tôi hết bị ác mộng…”

“Bắn trong những giấc mộng? Cô có bắn tôi? Trong mộng?”

“Tôi bắn tất cả bọn cướp biển trong mộng, bắn cả ông trong đó! Ông tin không?”

“Cô tin không?”

“Hahahaha… Không, tôi không tin những giấc mộng của tôi.”

“Bây giờ cô còn thấy ác mộng như vậy nữa không? Ác mộng của cô khác với ác mộng của tôi.”

“Không, tôi không còn bị ác mộng. Ông thấy gì?”

“Tôi thấy khác với cô. Ác mộng của chúng ta khác nhau, trái ngược nhau. Cô thấy mình bị giết. Còn tôi thấy chuyện tôi đã làm. Tôi thấy tôi giết.”

“Tôi sẽ giúp chữa cho ông nhé?”

“Không thể đâu. Cái này đâu có nằm trong chuyên ngành của cô. Và có lẽ nó là chứng bất trị.”

“Tôi không tin nó bất trị.”

“Cô nhìn những thằng cựu chiến binh đang ngồi trong căn phòng ăn này đi. Nhìn kỹ nhé. Chúng đều đã giết người. Chúng là những cỗ máy giết người tiềm năng. Khi được bấm nút kích hoạt là chúng sẽ hoạt động, như máy. Bằng vũ khí hay bằng tay không.”

“Ông không làm cho tôi sợ được đâu.”

*

“Cô có súng thật à?”

“Thật.”

“Tôi không có. Sau khi từ Việt Nam về tôi thề rằng sẽ không bào giờ chạm tay vào súng nữa.”

“Vì sao? Ông sợ súng à?”

“Không sợ. Nhưng vì tôi bắn quá giỏi. Súng gì tôi bắn cũng giỏi. Từ súng đại liên trên trực thăng đến các loại tiểu liên và cả súng ngắn. Tất cả mọi loại vũ khí khi vào tay tôi thì đều được sử dụng hết mọi công năng của chúng.”

“Tôi không tin. Hôm nào ông đi bắn với tôi thì tôi mới tin.”

“Không, tôi không đi đâu. Tôi đụng vào cây súng nào thì nó trở thành súng ma. Nó phải giết người. Tôi tin vậy. Tôi không sợ súng. Tôi sợ phải giết người.”

“Ông bị ám ảnh chuyện giết chóc quá! Đó là quá khứ rồi mà…”

“Tôi nghe lời bác sĩ. Họ bảo chẳng những không được xem phim chiến tranh thôi mà tôi còn không được xem phim bạo lực nữa.”

“Tệ nhỉ!”

“Giờ tôi cũng bắn nhưng không bắn súng. Tôi chụp hình. Tôi chơi nhiếp ảnh mấy năm nay rồi. Thích lắm. Hôm nào tôi cho cô xem ảnh tôi chụp nhé.”

“Ông cho tôi xem ảnh bậy bạ thì sao?”

“Không, tôi không chụp ảnh bậy bạ. Tôi chỉ chụp phong cảnh và đường phố thôi.”

“Ok, vậy thì được. Nhớ cho tôi xem nhé.”

*

“Cô có tín ngưỡng không?”

“Gia đình tôi theo Phật giáo.”

“Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn nhé? Cô có tin là sau khi chết thì người ta còn có linh hồn không?”

“Tôi làm nghề khoa học. Tôi được dạy rằng chỉ nên tin vào những gì được chứng minh bằng khoa học, và tôi cũng được cha mẹ và văn hoá của đất nước tôi dạy về luật nhân quả. Câu hỏi của ông là một câu hỏi khó. Tôi tin và không tin, tuỳ lúc và tuỳ hoàn cảnh. Khi đang trôi giạt trên biển, sức lực cạn kiệt, cái chết cận kề như thể tôi có thể chạm vào nó, thì tôi tin và cầu khẩn những đấng siêu nhiên, bất cứ mọi đấng nào mà tôi nhớ đến, Chúa và Phật và tổ tiên phù trợ cho tôi qua cơn nguy hiểm, để được sống sót.”

“Những kẻ bị tôi giết thì họ có yên nghỉ không? Họ có theo đuổi tôi không? Tôi biết là họ vẫn theo đuổi tôi… Nếu cô là một trong những người tôi đã giết thì cô có theo đuổi tôi không?”

“Tôi không trả lời được những câu hỏi kinh khủng này ông à. Tôi xin lỗi. Tôi không giúp được gì cho ông.”

*

“Này, cô có thấy ở New York này có nhiều người vô gia cư ngồi xin tiền với cái bảng ghi rằng họ là cựu chiến binh không?”

“Có, tôi có thấy.”

“Cô có nhận ra họ có điều gì giống nhau không?”

“Không, ông muốn nói đến vẻ nghèo khổ của họ à?”

“Không, không phải điều đó. Mà là ở những tấm bảng họ trưng ra, phần lớn chúng đều có một nội dung gần giống nhau. Đại khái: Tôi là cựu chiến binh. Tôi cần giúp đỡ. Tôi cần công việc kiếm sống. Tôi cần $30, hay $75, nghĩa là một số tiền để mua vé xe về nhà. Ai cũng phải về nhà.”

“Ừ, đúng vậy.”

“Một số người trong bọn họ nói dối. Họ không phải là cựu chiến binh. Ngoài cái tài nhận ra người Việt thì tôi còn cái tài nhận ra ‘đồng đội’, nhận ra mấy ông GI. Tôi nhìn qua là biết hắn có phải là lính hay không. Cách hàng dặm tôi cũng ngửi ra được mùi của họ. Mùi chiến tranh.”

“Mùi chiến tranh ư? Mùi nó như thế nào?”

“Cô về hỏi cha của cô đi. Ông ấy là lính chuyên nghiệp, ông ấy sẽ tả cho cô thế nào là mùi chiến tranh.”

“Ok, tôi sẽ hỏi. Nhưng ông trả lời cho tôi trước đi.”

“Mùi chiến tranh là mùi của sự nghèo khổ.”

“Sao ông nghĩ vậy?”

“Vì rất ít người giàu tham gia chiến tranh, phần lớn họ chỉ điều khiển chiến tranh. Và hai việc, tham gia và điều khiển, thì khác nhau rất xa. Những thằng lính như tôi đều nghèo, dân nhà quê, và chưa học xong trung học. Nếu ai đã lên đại học thì sẽ được hoãn dịch. Cha cô hiểu điều đó vì trong quân đội của ông ấy cũng vậy.”

“Tôi cũng hiểu.”

“Sao cô hiểu? Cô hiểu như thế nào?”

“Ba tôi đi tù. Mẹ tôi không nuôi nổi mấy anh em tôi, trừ đứa út ra vì nó còn quá nhỏ, thì chúng tôi mỗi đứa đều phải tự kiếm sống, chúng tôi bỏ học, chúng tôi tan tác. Anh tôi phải đi lính khi tới tuổi, đánh trận và chết ở Campuchia. Người ta không mang xác anh ấy về cho mẹ tôi. Người ta đã không mang xác anh ấy về trả cho anh chị em tôi. Chỉ có tin báo và bạn anh ấy kể lại họ bị phục kích trong một cái làng và anh ấy lãnh trọn một quả đạn, đạn gì thì tôi không biết. Mẹ tôi mang mảnh giấy báo tử đi bọc nylon lại rồi đặt hình anh lên để thờ.”

“Tôi quen với xác chết. Tôi thường đón thương binh và xác lính tử trận chở về hậu cứ. Mỗi người đeo trên cổ hai thẻ bài ghi chi tiết về nhân thân và thông tin về y tế của hắn. Cái thẻ kim loại ấy được bọc viền bằng cao su để khi chạm nhau thì không gây ra tiếng động, có thể bẻ ra làm hai phần đều nhau, mỗi phần có thông tin giống y như nhau. Khi hắn đã chết từ trước hoặc chết trên trực thăng, thì tôi bẻ thẻ bài ra làm hai phần, tôi mở miệng hắn ra, bỏ một phần vào đó. Việc đó như một thứ nghi thức kỳ quặc. Những cái miệng trào máu, có khi là một vết thương toác hoác trơ ra xương hàm, răng, lưỡi. Tôi cứ tưởng tượng rằng nửa miếng thẻ bài ấy là miếng bánh thánh cuối cùng mà tôi thay mặt Chúa bỏ vào miệng hắn, như các vị linh mục làm trong buổi lễ. Hay nó là cái vé để hắn lên thiên đàng hay xuống hoả ngục. Rồi hắn được bỏ vào túi đựng xác. Nửa miếng thẻ bài còn lại thì được giao cho người chịu trách nhiệm về nhân sự làm sổ sách. Thông thường thì người lính còn một cái thẻ nữa được bỏ trong giày để phòng ngừa khi thẻ kia bị lạc mất.”

“Chắc ông không biết điều này, theo phong tục của người Việt, và cả người Hoa thì phải, trước khi liệm và đóng nắp hòm lại thì người ta bỏ vào miệng tử thi một đồng xu. Người ta cho rằng vong hồn người chết sẽ dùng đồng xu đó để trả tiền cho người chèo đò đưa hắn qua con sông ngăn cách cõi sống và cõi chết. Có khi người lính cũng dùng cái thẻ bài ấy với chung một mục đích chăng? À, ông còn giữ thẻ bài của ông không? Cho tôi xem nhé.”

“Tôi không biết cái phong tục kỳ quái và thú vị đó. Ừ, biết đâu thần chết nhận diện hắn bằng cái thẻ bài, hay hắn dùng cái thẻ như một thứ thẻ tín dụng ở thiên đàng hay địa ngục chăng, hahaha! Cô có muốn giữ giùm tôi cái thẻ bài không?”

“Không, không đâu. Vì sao ông không giữ mà trao cho tôi?”

“Cô không phải sợ đâu. Đừng nghĩ rằng nó là một bổn phận hay một thủ tục hành chánh, nhưng nghĩ rằng nó là một nghi thức đơn giản mà một người có thể làm cho bạn của hắn. Chẳng phải cô là bạn của tôi sao? Mai tôi sẽ đưa cho cô giữ một nửa cái nhé…”

“Nhưng tôi giữ nó để làm gì chứ?”

“Không sao cả, sau khi tôi đi thì cô hãy ném nó xuống sông Hudson giùm tôi. Tôi muốn một phần của mình nằm lại ở New York, cái thành phố mà tôi đã gắn bó một phần đời sống của mình.”

“Thế thì tôi nhận, nhưng có khi tôi sẽ đi trước ông đấy.”

“Chúa chưa gọi cô đâu.”

*

“Hồi những năm 80, qua hội từ thiện và nhà thờ, tôi có giúp những gia đình người Việt tị nạn vừa đến Mỹ. Thậm chí tôi có nhận đỡ đầu hai đứa nhỏ, gởi tiền cho chúng mua sách vở và chi tiêu trong mấy năm, hai thằng nhóc con trai. Thỉnh thoảng tôi ghé lại nhà thăm gia đình họ, chở chúng đi chơi, vài lần chở chúng về thăm nhà tôi để mẹ tôi nấu cho chúng ăn. Nhưng họ, tôi muốn nói những người lớn, không thân thiện lắm. Họ sợ tôi. Và có lẽ vì mẹ tôi hay khuyên con họ đi nhà thờ. Sau tôi biết lý do là vì tôi là người da đen. Có lần tôi nghe họ nói với nhau, gọi tôi là ‘Mỹ đen’, họ tưởng rằng tôi không hiểu, nhưng tôi còn nhớ ‘Mỹ đen’ là cái tên người Việt thường gọi bọn da đen chúng tôi khi tôi còn ở Việt Nam. Ở Mỹ thời những năm 80 ấy rất khó khăn. Tôi vừa đi làm thợ hàn cho một hãng đóng tàu vừa chạy xe taxi. Tôi làm quần quật mỗi ngày gần 14 giờ…”

“Rồi sau đó?”

“Có lần Phong, tên một thằng nhỏ, giữ một khẩu súng mà nó mua hay nhặt được đâu đó. Tôi biết được và bảo nó theo tôi mang giao cho cảnh sát. Cha mẹ chúng cũng biết được và sợ rắc rối nên họ cắt liên lạc với tôi. Giờ thì chúng đã trưởng thành và có gia đình, và chắc là có đời sống tốt. Thỉnh thoảng thằng nhóc ấy gởi thiệp Giáng Sinh cho tôi. Chúng không biết những việc có súng, bắn súng, và giết người là khác nhau như thế nào… Tôi không hiểu có phải tôi làm việc thiện nguyện, việc giúp những người Việt đó, là để nó giúp tôi yên ổn, nhẹ lòng hay thể hiện sự ăn năn hay không. Cô nghĩ sao?”

“Tôi nghĩ là họ kỳ thị và xử tệ với ông!”

“Tôi quen với việc bị đối xử bất công như vậy từ khi còn bé. Hôm nào tôi sẽ kể cho cô về tuổi thơ của tôi.”

*

“Gia đình tôi mấy đời đều sống ở Clay County, một trong những thành phố nhỏ và nghèo nhất của bang Georgia, có khi nghèo nhất nước Mỹ. Cô nghe cái tên thì biết nó quê mùa và khô cằn như thế nào. Các đời trước của gia đình tôi là nô lệ. Vùng này có chừng 30% là người da trắng, 70% còn lại là người da đen. Không còn là nô lệ như các thế hệ trước, nhưng tới thập niên 60 phần lớn người trong nhà tôi, và trong xóm tôi, đều đi trồng bông cho chủ là người da trắng.

“Tôi quen với sự cô độc từ bé. Những buổi chiều không phải đi học và rảnh việc nhà, tôi lang thang qua một cánh đồng bông rộng ngút ngàn, rồi vào khu nghĩa trang gần đó, tay cầm theo một cây gậy để ngừa khi gặp rắn. Khu nghĩa trang này có từ lâu đời, gần như cả dòng họ nhà tôi đều đã và sẽ nằm ở đó khi qua đời.

“Tôi đi mà không có chủ đích, sau này tôi hiểu rằng vì mình chỉ thích một khoảnh khắc yên tĩnh, khoảnh khắc một mình. Như là cách liên tục chạy trốn cái thực tại buồn tẻ mà ồn ào trong khu xóm. Nơi đó, người ta chỉ ngồi hút thuốc vấn, hút cần sa nếu mua được đâu đó, uống bia rẻ tiền, và nói nhảm với nhau sau một ngày cực nhọc, trong tiếng nhạc ầm ĩ từ những cái radio. Bình yên, an toàn, nhưng quá buồn tẻ.

“Tôi nằm xuống chân mộ quen, mộ của một người trong gia tộc của tôi. Cái bia sứt sẹo, mòn vẹt với thời gian, phai nhoà tên của người nằm dưới lòng đất từ hơn 50 năm trước: W. Jackson. Ông ấy là Jackson, người trong nhà thì gọi tên cúng cơm của ông ấy là Jack Crazy [Jack Khùng]. Tôi thích nằm ở bên ông vì chỗ này có bóng cây râm mát, và vì tôi thích câu chuyện đời của ông ấy. Tôi tưởng tượng mình có thể trò chuyện với ông ấy, với những lóng xương nằm bên dưới gò đất. Những lóng xương ấy đã từng phiêu lãng ở những chân trời mà tôi mơ ước được đến. Tôi nghe người ta kể rằng ông ấy đã bỏ cái xứ này để đi giang hồ khắp nơi, không chỉ đi trên nước Mỹ mà ông ấy còn qua Phi châu, Âu châu, Trung đông, Trung quốc… rồi về sống ở New York. Nhưng sau cùng ông ấy cũng về lại cái xứ đất sét này khi đã quá già mà chết.

“Tôi mơ mình sẽ có cuộc đời như ông ấy, đi xa và đi nhiều hơn ông ấy. Tôi sẽ đi khắp thế giới, cả những nơi ông ấy chưa đặt chân tới, và nếu có về Mỹ thì sẽ về New York như ông ấy, nhưng sẽ không về đây để chết. Lúc ấy, vào cái thời thơ dại và mông muội của tôi, New York là một thế giới khác, một hành tinh khác, tuy nó cùng ở trên nước Mỹ nhưng nó không cùng ở trong cái thế giới, cái vũ trụ của chúng tôi.

“Tôi nhìn những ngọn bông rập rờn trong gió ngoài xa, có vài nụ bay vờn trong nắng tàn. Mùi đất khô hanh nồng xộc lên mũi trong những ngày hè nóng, rồi tôi ngủ thiếp đi cho tới tối mới lần mò về nhà, trước khi mẹ tôi xua các anh chị đi tìm thằng con út không giống chúng. Tôi dò dẫm, khập khiễng bước qua những ngôi mộ sụp lở, nhấp nhô. Tôi có cảm giác như những kẻ nằm dưới mộ đều cố gắng níu chân tôi lại. Họ muốn tôi nằm lại đó mà tan rữa đi như họ, thành những lóng xương như họ, nằm bên họ.

“Sau này, mẹ tôi lên New York sống với tôi vì các anh chị đều đã có gia đình. Trước khi qua đời bà cũng muốn được đưa về nằm lại ở cái nghĩa trang đó. Tôi chiều theo ý bà nhưng không thể hiểu nổi cái gì đã níu kéo người ta về cái nơi buồn tẻ nghèo hèn đó. Tôi thì khác. Tôi đã viết di chúc. Nếu tôi chết thì hãy thiêu xác rồi ném cái mớ tro tàn ấy đi đâu cũng được, nhưng tốt nhất là mang nhúm tro của tôi về bỏ dưới chân mộ của Jack. Tôi muốn nằm bên ông ấy. Tôi biết là các anh chị của tôi sẽ làm được điều đó. Mong họ làm theo ý nguyện của tôi. Rốt lại, nghĩ cho cùng thì tôi cũng không khác gì họ. Dù trong một hình thức khác thì tôi cũng sẽ trở về. Về quê.

“Tôi khó thoát ra khỏi hoàn cảnh của mọi người trong gia tộc nếu đã không đi lính. Đó là lối thoát duy nhất của tôi. Vậy mà, sau khi giải ngũ tôi chỉ muốn chạy ù về với mẹ, cho bà thấy rằng thằng con của bà chưa chết. Về sau, tôi không còn sợ chết như thời gian đầu mới vào lính. Tôi chai đá đi. Nhưng tôi lại sợ cái cảnh mà tôi hình dung ra trong đầu hằng đêm: cảnh mẹ tôi nhận tin báo tử của tôi. Chắc nó cũng đau đớn giống như khi mẹ cô nhận tin của anh trai của cô. Tôi không biết mẹ của cô chịu đựng cái tang tóc ấy như thế nào. Nhưng mẹ của tôi thì sẽ kinh khủng lắm. Bà sẽ đấm ngực, kêu gào và giật ra khỏi đầu từng nắm tóc. Mẹ của những kẻ bị tôi giết thì đã đau khổ như thế nào? Có khi tôi không bị dằn vặt về những người mình đã giết bằng những người mẹ mà họ bỏ lại.

“Vậy mà khi trở về, mọi người nhìn tôi ghẻ lạnh, đối xử với tôi nhạt nhẽo, trừ người duy nhất là mẹ tôi. Lạ, dù biết rằng con mình giết người mà mẹ tôi vẫn không xử tệ với tôi như những người khác, không như tôi đã nghĩ. Bà chỉ đau khổ ngấm ngầm, và cầu nguyện cho tôi. Họ cho rằng tôi đã phạm điều răn lớn nhất trong những điều răn của Chúa: ‘Chớ giết người.’ Và họ tin rằng nước Mỹ không cần, không nên có chiến tranh. Sở dĩ nước Mỹ có chiến tranh là do những thằng lính quèn như tôi gây ra. Tôi không phân bua gì được.

“Một hôm, không lâu sau đó, tôi ra thăm mộ Jack Khùng, rồi nhớ lại lời nguyền khi xưa mà tôi đã không giữ được: đi khỏi Georgia và đừng trở về. Tôi lại khăn gói ra đi. Đi New York và chết ở New York.

“Ngày mai tôi được về nhà. Dù ở nhà thì cũng chỉ một mình nhưng nằm trong bệnh viện thì chán quá.”

*

Chiều hôm qua, trời mưa lớn. Tôi đang họp trong phòng với ba người đồng nghiệp thì nghe loa thông báo Code 4000, có bệnh nhân cần cấp cứu ở bãi đậu xe. Code 4000 là thông báo có bệnh nhân đang nguy ngập vì tim mạch, các bác sĩ nào đang ở gần bệnh nhân đều phải chạy ngay đến nơi đó. Chúng tôi ở xa nên không phải đi, tuy nhiên đều đứng lên nhìn qua kính cửa sổ xuống bãi đậu xe. Khoảng cách khá xa, tôi chỉ thấy mờ mờ trong màn mưa nhiều người lố nhố đang vây quanh một chiếc xe màu đỏ lẫn trong những chiếc xe khác. Nửa tiếng sau họp xong, tôi ra về.

Sáng nay tôi bước vào buồng thang máy mà không có ai chào. Không có xạ thủ. Tôi nghĩ chắc ông ấy mệt nên nghỉ làm. Một lát sau cô thư ký phòng nhân sự gởi e-mail chung cho mọi người, thông báo tin buồn.

“Xin mọi người hãy cầu nguyện cho người bạn yêu quý của chúng ta. Ông xạ thủ đã qua đời chiều hôm qua tại bãi đậu xe vì một cơn đột quỵ. Chúng tôi sẽ thông báo về các chi tiết tang lễ khi được biết rõ thời gian và địa điểm.”

Tôi bước ra cửa sổ nhìn xuống bãi đậu xe và khoảng trống nơi chiếc xe đỏ ngày hôm qua đậu, bây giờ có những chiếc xe khác đã lấp đầy. Tôi lấy nửa cái thẻ bài của xạ thủ mà tôi cất trong hộc bàn ra ngắm, mảnh kim loại mỏng và lạnh trong lòng bàn tay tôi. Chiều nay nó sẽ nằm dưới lòng sông như ý nguyện của ông.

Giờ ăn trưa, tôi lặng nhìn cái bàn ở góc phòng và chiếc ghế trống mà xạ thủ thỉnh thoảng ngồi ăn với tôi. Tôi nghĩ mình sẽ không ngồi vào cái bàn đó nữa.

Vĩnh biệt xạ thủ. Vĩnh biệt những cánh đồng bông ở Georgia. Vĩnh biệt những món ăn ông chia sẻ. Vĩnh biệt chân mộ Jack Khùng trong nghĩa trang mà ông đã ngồi. Vĩnh biệt chiếc xe taxi màu vàng mà ông đã lái. Vĩnh biệt những chuyến bay đêm giữa lằn ranh sống chết. Vĩnh biệt những câu chuyện không đầu không đuôi.

Vĩnh biệt ác mộng chiến tranh. Vĩnh biệt những vong linh theo đuổi, ông sẽ gặp lại họ. Vĩnh biệt ác mộng Việt Nam. Vĩnh biệt tất cả.

Vĩnh biệt trần gian.

Ngủ yên, mộng lành. Bay nhẹ nhàng như bông trên cánh đồng, bay về với mẹ đi nhé, xạ thủ Ringo.

25/10/2017

_________________________

[1]Xạ thủ: gunman, còn gọi là door gunner nếu là xạ thủ trên máy bay trực thăng.

[2]PTSD: Post-traumatic stress disorder, là một bệnh tâm lý rối loạn do những sự tổn thương về tinh thần, thường gặp ở những người đã trải qua những biến cố khủng khiếp trong chiến tranh, trong những tai nạn hay những vụ bạo hành.

Về Nữ Giáo Sư Triết Gốc Huế Phùng Thăng, Em Gái Cố Ni Sư Trí Hải

petruskyaus.net

Như Không

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Nguồn: Về nữ giáo sư triết gốc Huế Phùng Thăng, em gái cố Ni Sư Trí Hải | ĐỒNG HƯƠNG KONTUM (kontumquetoi.com)

VỀ PHÙNG THĂNG và PHÙNG KHÁNH, NHỮNG NGƯỜI DỊCH TÁC PHẨM CỦA HERMANN HESSE. Trần Hoài Thư (Trích)

Phùng Thăng (PT) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng sinh năm 1943 tại Huế. Là út trong một gia đình gồm 6 anh chị em. Chị của Phùng Thăng là Phùng Khánh, tức là sư bà Trí Hải. Sư bà Trí Hải tử nạn vào ngày 7-12-2003 trong một tai nạn giao thông, thọ 66 tuổi.

Gia đình Phùng Thăng là một gia đình hoàng tộc và rất mộ đạo Phật. Thân phụ của bà nguyên là giáo sư Hán văn tại trường Pétrus Ký vào những năm 50.

Tuổi thơ của PT lớn lên tại Vỹ Dạ, học tiểu học tại trường Thế Dạ. Lên trung học, học những năm đầu tại trường Trần Hưng Đạo – Đà Lạt, sau đó chuyển ra học tiếp ở trường Đồng Khánh – Huế. Năm 1960, vì Đồng Khánh không có Đệ Nhất nên phải chuyển qua Quốc Học. PT học ban C tức là ban văn chương…

Phùng Thăng học Đại Học Văn Khoa – Huế, ban Triết. Luận án ra trường của chị là Chỉnh lý tư tưởng Tây Phương. Năm 1966, PT trở thành một giáo sư Triết tại trường trung học Trần Quý Cáp – Hội An, lúc chị mới 23 tuổi.

PT dạy một năm tại Hội An. Sau đó vì không chịu nổi không khí chính trị ngột ngạt ở địa phương nên chị và phu quân là ông Trần Xuân Kiêm – nguyên là cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế và đoàn trưởng Phật tử trong thời kỳ Phật giáo tranh đấu – phải rời bỏ Hội An lên nương thân tận Di Linh. Ở đây chị là giáo sư Anh văn của trường Trung Học Nông Lâm Súc Bảo Lộc…

Sau đó, chị và Trần Xuân Kiêm chia tay. Trần Xuân Kiêm trở thành Chơn Hạnh, và Phùng Thăng trở thành Huệ Minh. Chị mang con gái trở lại Saigon. Ở đây chị là “single mom”, sống một cuộc sống khó khăn vất vả. Bạn bè đều nghĩ là “Những ruồi” của J. P. Sartre là dịch phẩm cuối cùng của chị, tuy nhiên chị vẫn tiếp tục âm thầm làm việc.

Năm 1973, chị cho ra đời một tác phẩm dịch thuật của Simone Weil mà tựa đề do chị tự chọn. Đó là “Kẻ lạ ở thiên đường”, mà trong phần giới thiệu, hình như chị bày tỏ tất cả nỗi lòng của chị: Qua toàn thể văn phẩm, tâm hồn Simone Weil vẫn là một tâm hồn quằn quại cô đơn nhưng rất sáng suốt trong công cuộc đi tìm một Quê Hương tâm linh đích thực cho mình.

Đầu tháng 5, 1975, chị dẫn con gái (bấy giờ mới 9 tuổi) tìm đường vượt biên. Chị theo ghe ra đảo Thổ Chu thuộc xã Nam Du với hy vọng được tàu Mỹ đón. Nhưng quá trễ. Quân Pol Pot lợi dụng lúc đảo không còn có chánh quyền, tấn công chiếm đảo vào ngày 10 tháng 5, lùa theo 515 người giải về đất Kampuchea trong số đó có một số người vượt biển.

Kể từ đó, và mãi đến bây giờ, gia đình chị không còn nghe gì đến tin tức của chị nữa. Chị và con gái được xem như mất tích hẳn. Riêng về phía thân nhân của chị, sau một thời gian dài cố tìm tông tích PT nhưng không thành, gia đình chỉ còn cách là dựa vào lời đoán của thầy “ngoại cảm”. Họ lấy ngày 10 tháng 6 năm Ất Mão (l975) làm ngày giỗ mẹ con chị.

Dưới đây là đoạn trích trong Tìm Dấu Phùng Thăng.

“Sau nhiều năm bặt tin, không có tin nào biết đích xác về hai mẹ con. Năm 1981, Trần Xuân Kiêm nhờ một cô bạn tên Hoa lên Đàlạt hỏi Thầy Chiêm.

Và không phải ai đến ông cũng tiếp và coi. Có lần Trần Xuân Kiêm và Trịnh Công Sơn lên coi. Ông chỉ coi cho Sơn về căn nhà ở đường Nguyễn Trường Tộ – Huế, mà không coi cho Trần Xuân Kiêm. Nên Kiêm phải nhờ cô Hoa lên coi ông Chiêm vào năm 1981 trước khi cô ấy đi Mỹ. Cô hoa ngồi chờ trước cửa nhà ông Chiêm khá lâu, không thấy ai ra tiếp, bỏ đi, thì có cậu con trai ra kêu lại, mời vô ông Thầy Chiêm tiếp.

Cô Hoa nói, sắp đi Mỹ, muốn biết tin một cô bạn sinh năm Quý Mùi (tuổi Phùng Thăng) vượt biên và không thấy tin. Ông nói ngay: “Không phải chết vượt biên trên biển mà chết tập thể cùng với con gái và một nguời cháu nữa (con ông anh ruột Phùng Thăng là Bửu Vụ). Cô Hoa hết hồn. Ông còn nói bị đập đầu vào gốc cây mà chết… khoảng 10 tháng 6 âm lich. Nên cô Trí Hải nói lấy ngày ấy làm ngày giỗ Phùng Thăng…”

Hiện di ảnh mẹ con chị được đặt tại chùa Pháp Hoa, Phú Nhuận – Gia Định.

Nếu chúng ta tin mỗi cuộc đời đều gắn liền với cái nghiệp phải trả, thì rõ ràng cái nghiệp mà PT phải trả này quả thật quá khủng khiếp. Quá kinh hoàng.

Chị chết lúc mới 32 tuổi. Con gái chị là Trần Nguyễn Thường Nga tức bé Tiểu Phượng chết lúc cháu mới 9 tuổi. Chị mất đi để lại một di sản văn học giá trị, được liệt kê ở cuối bài.

Như Không

**********************************

Nhớ Phùng Thăng

Thái Kim Lan

Phùng Thăng đứng thứ ba, đứng đầu từ trái qua là Phùng Khánh

Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khoá 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1, cả nhóm quen biết nhau từ ngày đệ thất, đệ lục, đệ ngũ Đồng Khánh, theo nhau mà học từng năm, nối nhau mà dệt mơ ước học trò, cho nên qua Quốc Học gặp mặt là tự nhiên thấy cùng phe, không sợ… Sợ chi không biết nữa, chỉ biết không sợ, không những không sợ mà còn có chút kiêu kiêu, tự hào… đường đường… lên làm đàn chị cả một trường toàn là nam sinh…

Nhưng tôi còn nhớ, ngày đầu tiên khi bước vào lớp học đệ nhất C2 ấy,… có lẽ tôi là người cuối bước vào lớp… nhưng rõ ràng… không trễ, tôi cố tình đi học sớm, bỏ cái cố tật đi trễ vì dù răng thì chừ đã lớn rồi, học đệ nhất thế lận.

Nhưng không trễ mà hoá ra trễ…vì khi vào lớp thì đã có một người ngồi đó rồi, dãy bàn phía bên kia khi bước vào lớp, hàng thứ ba, đầu ghế ở lối đi giữa phân lớp thành hai dãy.

Lạ. Chưa gặp bao giờ.

Áo trắng, dáng ngồi thẳng, nghiêm trang, nét mặt thanh tú, làn da trong sáng, tóc bín hai con rết thắt nơ trắng. Hai con rết và cái nơ tòn teng tiết lộ sự trẻ thơ so với nét mặt có sống mũi cao nghiêm nghị của “người lạ” ấy. Chị không cười mặc dù đôi môi hồng tươi, như tiết kiệm hay muốn giữ bí mật của cả tâm hồn hay của đôi hàm răng mà sau này tôi có lần nhìn được rất trong. Môi không cười cho nên nét diễn tả tâm tình hầu như dồn nơi đôi mắt sáng lấp lánh đầy chân thiện, chị cười bằng mắt rất lặng lẽ. Gương mặt ấy hầu như chỉ biết cúi xuống trang sách hay ngẩng lên nhìn bảng đen, hiếm khi thấy chị nhìn ngang hay liếc dọc để quan sát chuyện chung quanh mình…

Lạ, không biết từ trường mô mà vô lớp ni, cái lớp nhốn nháo, lổm ngổm nam sinh, hừng hực sức sống trẻ trung cỡ nhất quỷ nhì ma, ngồi sau khèo tóc con gái ngồi trước cuốn vào tay mình giật giật rồi giả lơ như không hay biết… Cùng lắm chị chỉ nghiêng đầu nhưng không quay lui. Thật ngoan như “ma soeur” ấy. Sau này mới biết chị học ở trường bà xơ thiệt và hình như ở xa mới về, vô lớp đệ nhất như bỏ băng các lớp trung học thường tình. Tôi thích nói “hình như” để viết về chị, vì tôi cũng chỉ “thấy” chị, mà thấy “hình như”.

Cố ni sư Trí Hải Phùng Khánh

Vâng hình như chị vẫn ngồi như thế suốt cả năm học, rất hiền, rất nhu mì, nhỏ nhẹ mà thông minh ghê gớm. Tôi nhỏ người nên ngồi đầu bàn ngay cửa vào lớp cùng với hai bạn khác. Thỉnh thoảng quay đầu nhìn ra sau. Mỗi lần như thế, hình như tôi chỉ thấy một thứ ánh sáng bao quanh con người ấy, có thể vì màu áo trắng tương phản với những đầu tóc đen xanh, có thể vì cửa sổ phòng học mang nhiều mặt trời vào trong. Những tương phản không gian và thời gian nâng dáng người chị lên.

Chị khác, khác lạ với chúng tôi, ở cái thùy mị mà hầu như cứng rắn, ở cái ngây thơ trong trắng mà hầu như xưa rích lâu đời như câu chuyện cổ tích. Mỗi lần quay đầu nhìn như thế, quay đầu không phải để nhìn chị đâu, mà vì tò mò muốn biết sau lưng mình cảnh tượng lớp học ra răng, những gương mặt thanh niên và thiếu nữ đang ngồi học có chuyện chi ngộ nghĩnh không. Mỗi lần như thế, hình như tôi giật mình khi nhận ra sự nổi bật khác lạ của chị nơi dáng ngồi cung kính, mẫu mực, nhu nhã, trong ngần.

Hình như gặp gỡ Phùng Thăng đối với tôi đã làm nảy sinh một thứ sửng sốt – một thứ giật mình – cho ngũ quan cảm nhận của tôi, một thứ ngạc nhiên… như tôi đã có lần viết về nỗi ngạc nhiên của tôi khi nghe đọc bài luận văn của chị về triết học Ấn Độ.

Hầu như chị vượt xa những người cùng lứa tuổi về kiến thức và suy tư. Giật mình biết người ấy cũng mê sách, đọc sách và chững chạc gấp đôi mình. Mặc dù chị không phải là người xuất sắc nhất lớp, ồn ào nổi bật, có lẽ vì chị đã vượt xa trình độ đệ nhất nên không chuyên trò trẻ nít học thuộc bài các môn khác. Phần tôi, tôi ngưỡng mộ chị về văn tài ngay buổi đầu của niên khoá năm ấy và sự ngưỡng mộ ấy vẫn còn mãi trong lòng không bao giờ phai nhạt.

Năm đệ nhất rộn ràng lứa tuổi mười tám, lứa tuổi trưởng thành, ở ngưỡng cửa sắp từ giã “thời con nít” học trò để thành người lớn sinh viên, nghĩ đến là ngợp người. Nỗi choáng ngợp đôi khi làm say bọn trẻ, “quậy” hơn, huyên náo hơn với những chuyện trò văn nghệ, thi đua, những háo hức tìm kiếm văn học nước ngoài. Nhưng Phùng Thăng vẫn như một lạch suối trong giữa những cơn sóng sôi sục thanh xuân, vẫn chảy lặng lẽ trong dòng đời như thế, lặng lẽ mà rất sâu đến không nhìn thấy.

Giữa những náo nhiệt học trò, chị đã bắt đầu những cuộc giao lưu văn học mới: hình như chị đã mày mò dịch các tác phẩm văn học Pháp, Anh, Đức nổi tiếng đang chuyền về Việt Nam, những Camus, Goethe, Sagan, Beauvoir, Hesse… Còn nhớ khi tôi tìm đến địa chỉ ‘trung tâm văn hoá Pháp” ở đường Lê Lợi, trong đó có phòng sinh hoạt của viện Goethe, bắt đầu ghi tên học, thì… hình như Phùng Thăng đã ngồi ở đó rồi, y chang như khi tôi mới bước vào lớp C2, cái khổ người ung dung thanh thoát như thế đang ngồi trước trang sách…

Thời ấy thật lạ lùng, cả một lũ thanh niên say học, thấy chi cũng muốn học, như một cơn bệnh học trò hay lây. Đứa ni mới ghi tên học thêm lớp tiếng Pháp, đã thấy đưa tê lò dò đi vào ngồi bên cạnh. Vui thật! trong cái thành phố nhỏ bé với bề dày những thế hệ tiếp nối ham học, và sự học trở nên tâm huyết cả một đời.

Năm dự bị văn khoa 1961, bỗng đâu cả lũ lao xao, thấy xuất hiện một ông giáo sư trẻ tuổi, da trắng (người Việt mê da trắng!!!), tóc vàng, mũi cao, môi đỏ, một ông giáo sư người Đức mở lớp dạy tiếng Đức, ông tên Ferkinghoff. Thế là cả bọn kéo nhau ghi tên học tiếng Đức.

Khi tôi vào lớp, đã thấy Phùng Thăng ngồi đó rồi, an nhiên tự tại là thế! Hình như hồi ấy cả bọn sinh viên cả nam lẫn nữ đều “mê” ông Ferkinghoff, một nhân vật lạ “exotique” trong cái khung cảnh Huế xưa thời ấy. Cả bọn “mê”, có lẽ trừ chị Phùng Thăng, chị thanh thản ngồi, chăm chú đọc to hay đọc thầm từng con chữ theo ông giáo sư. Hình như chị làm cho ông giáo sư ấy chú ý nhiều hơn, hình như mỗi lần quay qua chị để chờ câu trả lời, mắt ông sáng hơn. Phùng Thăng ! Ông kêu cái tên ấy không dấu “accent” với nụ cười xin lỗi đọc sai “Phung Thang”! Mỗi khi ông bối rối tìm lời giải thích một chữ mới cho sinh viên, hình như Phùng Thăng là cái phao giải cứu ông ra khỏi cơn bối rối ấy. Đến phiên chị thì hầu như tiếng Đức được hiểu dễ dàng!

Nhưng Phùng Thăng không ở lâu với chúng tôi. Một khoảng thời gian, ký ức của tôi trống hình ảnh của chị. Hình như sau đó chị vào Sài Gòn học. Riêng tôi, có duyên với nước Đức, được học bổng du học khoá đào tạo Giáo sư Đức ngữ do người kế vị ông Ferkinghoff, giám đốc chi nhánh viện Goethe tại Huế, ông H. Hohl đề nghị. Từ xa, tôi nghe tin hai chị Phùng Khánh (từ Pháp trở về nước) và Phùng Thăng là những người cộng sự tài giỏi của Hoà Thượng Thích Minh Châu trong việc xây dựng Đại Học Vạn Hạnh trong những năm 1965, 66, 67 cho đến 1975. Hai chị đã đóng góp không ít trong công trình xây dựng thư viện Đại Học Vạn Hạnh. Hơn thế nữa công trình dịch thuật của hai chị với những tác phẩm lớn của những văn hào trứ danh thế giới đã làm khởi sắc nền học thuật miền Nam một thời thêm phong phú và đa dạng, không những trên phương diện văn chương mà còn trên lãnh vực tư tưởng thời đại. Gia tài văn học ấy có bàn tay tài hoa và tấm lòng thương văn chương, văn học nước nhà của hai chị đã như gấm thêu.

Chỉ duy một điều, mà hôm qua trước khi viết về chị, tôi mới hiểu được phần nào sau khi nói chuyện với anh Trần Xuân Kiêm: trong các tác phẩm dịch, hiếm khi thấy tên Phùng Thăng, mặc dù công trình dịch của chị nòng cốt, thiết yếu cho bản dịch. Bởi vì Phùng Thăng không muốn để tên tuổi của mình, Xuân Kiêm bảo Phùng Thăng là bóng chim nhạn qua sông không để lại dấu tích. Tôi hiểu không phải vì chị “cố tình muốn” mà chị là như thế.

Chị lặng lẽ đến như thế ấy. Lặng lẽ như tôi đã nhiều lần giật mình khi thoạt nhìn. Lặng lẽ đi và đến, ngồi ở thế gian giây phút rồi bỏ đi. Bóng áo trắng thấp thoáng sẻ sàng không gây tiếng động, đến nỗi khi cố tìm lại chị trong ký ức, tôi có cảm giác e dè sợ kinh động sự lặng lẽ ấy, sợ sẽ tan biến đi hình hài trong ký ức đẹp nhất về một con người…

Một đêm không ngủ trên đường bay về Huế, tôi mở mắt trong đêm tối tìm hình ảnh “Phùng Thăng”. “Phùng Thăng”, tôi kêu thầm như ông Ferkinghoff đã có lần nhắc hai chữ ấy trong vẻ ngây thơ, ngay cả dại khờ như đứa bé tập nói, với một nụ cười rạng rỡ hạnh phúc được nói lên như thế. Tôi tìm và lục lọi ký ức. Có chút tuyệt vọng và vô vọng không vượt qua được trước khi viết, đến từ nỗi ham muốn đem Phùng Thăng trở lại cõi trần.

Trong màn đen, tôi chỉ thấy ánh chớp từ một hành tinh nào đó, một giải lụa phất phơ trước mắt như tơ trời, một âm thanh lặng lẽ đang rơi, một thứ Quán Thế Âm nào dó như là nỗi yên lặng vô cùng…Tôi bất giác khấn vái sự yên lặng thần thánh ấy.

Sao băng

Áo trắng

Mày ngài

Bóng người ngồi đó

Giật mình có không…

Huế, mùa sương

Giáp Ngọ tháng hai 2014

Thái Kim Lan

Danh mục các tác phẩm được biết tới của Phùng Thăng

Dịch phẩm:

1) Hermann Hesse: Câu chuyện dòng sông, Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch. Lá Bối xuất bản lần 1 (1965), lần 2 (1966); An Tiêm xuất bản lần 3 (1967).

2) William Barrett: Thiền với người Tây phương. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 1- 1967, số chuyên đề Thiền và Trung Quán luận, tt. ll9-138.

3) Alan Watts: Thiền Beat, Thiền Square, và Thiền nổi loạn, và Thiền bảo thủ. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 1-1967, số chuyên đề Thiền và Trung Quán luận, tt. l39-l56.

4) Jean-Paul Sartre: Những Ruồi. Nhà xb Thanh Hiên, năm 1967.

5) Jean-Paul Sartre: Buồn Nôn. Nhà xb An Tiêm, năm 1967.

6) Hermann Hesse: Sói đồng hoang. Phùng Thăng và Chơn Hạnh dịch. Nhà xb Ca Dao, 1969.

7) Tuệ Không: Vang bóng Nguyễn Du. Tạp chí Tư Tưởng, Viện Đại học Vạn Hạnh, số 8 tháng 12-1970, số Chuyên đề về Nguyễn Du, tt. 19-21.

8) Simone Weil: Kẻ lạ ở Thiên đường, An Tiêm xuất bản năm 1973.

Bản thảo bị mất:

9) Thế giới Thiền (The World of Zen) edited by Nancy Wilson Ross, New York 1960, do Nhà xb Thanh Hiên. [Bị mất bản thảo sau biến cố Mậu Thân].

10) Theo dấu tình yêu (Tác phẩm luận đề).

11) Chỉnh lý tư tưởng Tây phương (tác phẩm luận đề – luận án tốt nghiệp).

12) Thư cho Tiểu Phượng – Tuyển tập nhiều người viết: Linh Thoại, Phùng Thăng, Nhất Kiếm, Thiên Tứ.

(Theo Trần Hoài Thư, Thư Quán Bản Thảo số 59, tháng 3.2014)

Chú thích:

1 Thái Kim Lan, Nhạc chiều của chúng ta: Tôi còn nhớ đã giật mình khi thầy Hương phát bài tập của chúng tôi viết về triết học Ấn Độ, bài của Phùng Thăng đã được đọc cho cả lớp nghe, thật gương mẫu. Về sau chị trở nên dịch giả tài hoa của những tác phẩm văn chương Đức nổi tiếng thế giới như Câu Chuyện Dòng Sông, Trò Chơi Bi Chai…của Hermann Hesse. Thật thương tiếc cho người tài hoa đã mệnh yểu… Phùng Thăng nghiêm trang, ít nói, ít cười, đúng phép con nhà.

2 Đặc biệt là Câu chuyện dòng sông, bản dịch tác phẩm Siddhartha của H. Hesse, với đồng dịch giả là Phùng Khánh và Phùng Thăng, ra mắt bạn đọc lần đầu tiên năm 1965 ở nhà xuất bản Lá Bối. Xem thêm: Thái Kim Lan, Câu Chuyện Dòng Sông và dịch giả Phùng Khánh.

Nhớ Phùng Thăng

tapchisonghuong.com.vn

11/07/2014

Thái Kim Lan

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Phùng Thăng (1943-1975) qua nét vẽ Đinh Cường

Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.

Cả nhóm quen biết nhau từ ngày đệ thất, đệ lục, đệ ngũ Đồng Khánh, theo nhau mà học từng năm, nối nhau mà dệt mơ ước học trò, cho nên qua Quốc Học gặp mặt là tự nhiên thấy cùng phe, không sợ… Sợ chi không biết nữa, chỉ biết không sợ, không  những không sợ mà còn có chút kiêu kiêu, tự hào… đường đường… lên làm đàn chị cả một trường toàn là nam sinh…

Nhưng tôi còn nhớ, ngày đầu tiên khi bước vào lớp học đệ nhất C2 ấy,… có lẽ tôi là người cuối bước vào lớp… nhưng rõ ràng… không trễ, tôi cố tình đi học sớm, bỏ cái cố tật đi trễ vì dù răng thì chừ đã lớn rồi, học đệ nhất thê lận.

Nhưng không trễ mà hoá ra trễ… vì khi vào lớp thì đã có một người ngồi đó rồi, dãy bàn phía bên kia khi bước vào lớp, hàng thứ ba, đầu ghế ở lối đi giữa phân lớp thành hai dãy. 

Lạ. Chưa gặp bao giờ.

Áo trắng, dáng ngồi thẳng, nghiêm trang, nét mặt thanh tú, làn da trong sáng, tóc bín hai con rết thắt nơ trắng. Hai con rết và cái nơ tòn teng tiết lộ sự trẻ thơ so với nét mặt có sóng mũi cao nghiêm nghị của “người lạ” ấy. Chị không cười mặc dù đôi môi hồng tươi, như tiết kiệm hay muốn giữ bí mật của cả tâm hồn hay của đôi hàm răng mà sau này tôi có lần nhìn được rất trong. Môi không cười cho nên nét diễn tả tâm tình hầu như dồn nơi đôi mắt sáng lấp lánh đầy chân thiện, chị cười bằng mắt rất lặng lẽ. Gương mặt ấy hầu như chỉ biết cúi xuống trang sách hay ngẩng lên nhìn bảng đen, hiếm khi thấy chị nhìn ngang hay liếc dọc để quan sát chuyện chung quanh mình…

Lạ, không biết từ trường mô mà vô lớp ni, cái lớp nhốn nháo, lổm ngổm nam sinh, hừng hực sức sống trẻ trung cỡ nhất quỷ nhì ma, ngồi sau khèo tóc con gái ngồi trước cuốn vào tay mình giật giật rồi giả lơ như không hay biết… Cùng lắm chị chỉ nghiêng đầu nhưng không quay lui. Thật ngoan như ma soeur ấy. Sau này mới biết chị học ở trường bà xơ thiệt và hình như ở xa mới về, vô lớp đệ nhất như bỏ băng các lớp trung học thường tình.

Tôi thích nói “hình như” để viết về chị, vì tôi cũng chỉ “thấy” chị, mà thấy “hình như”.

Vâng hình như chị vẫn ngồi như thế suốt cả năm học, rất hiền, rất nhu mì, nhỏ nhẹ mà thông minh ghê gớm.

Tôi nhỏ người nên ngồi đầu bàn ngay cửa vào lớp cùng với hai bạn khác. Thỉnh thoảng quay đầu nhìn ra sau. Mỗi lần như thế, hình như tôi chỉ thấy một thứ ánh sáng bao quanh con người ấy, có thể vì màu áo trắng tương phản với những đầu tóc đen xanh, có thể vì cửa sổ phòng học mang nhiều mặt trời vào trong. Những tương phản không gian và thời gian nâng dáng người chị lên.

Chị khác, khác lạ với chúng tôi, ở cái thùy mị mà hầu như cứng rắn, ở cái ngây thơ trong trắng mà hầu như xưa rích lâu đời như câu chuyện cổ tích. Mỗi lần quay đầu nhìn như thế, quay đầu không phải để nhìn chị đâu, mà vì tò mò muốn biết sau lưng mình cảnh tượng lớp học ra răng, những gương mặt thanh niên và thiếu nữ đang ngồi học có chuyện chi ngộ nghĩnh không. Mỗi lần như thế, hình như tôi giật mình khi nhận ra sự nổi bật khác lạ của chị nơi dáng ngồi cung kính, mẫu mực, nhu nhã, trong ngần.

Hình như gặp gỡ Phùng Thăng đối với tôi đã làm nảy sinh một thứ sửng sốt – một thứ giật mình – cho ngũ quan cảm nhận của tôi, một thứ ngạc nhiên… như tôi đã có lần viết về nỗi ngạc nhiên của tôi khi nghe đọc bài luận văn của chị về triết học Ấn Độ. (1)

Hầu như chị vượt xa những người cùng lứa tuổi về kiến thức và suy tư. Giật mình biết người ấy cũng mê sách, đọc sách và chững chạc gấp đôi mình. Mặc dù chị không phải là người xuất sắc nhất lớp, ồn áo nổi bật, có lẽ vì chị đã vượt xa trình độ đệ nhất nên không chuyên trò trẻ nít học thuộc bài các môn khác. Phần tôi, tôi ngưỡng mộ chị về văn tài ngay buổi đầu của niên khóa năm ấy và sự ngưỡng mộ ấy vẫn còn mãi trong lòng không bao giờ phai nhạt.

Năm đệ nhất rộn ràng lứa tuổi mười tám, lứa tuổi trưởng thành, ở ngưỡng cửa sắp từ giã “thời con nít” học trò để thành người lớn sinh viên, nghĩ đến là ngợp người. Nỗi choáng ngợp đôi khi làm say bọn trẻ, “quậy” hơn, huyên náo hơn với những chuyện trò văn nghệ, thi đua, những háo hức tìm kiếm văn học nước ngoài.

Nhưng Phùng Thăng vẫn như một lạch suối trong giữa những cơn sóng sôi sục thanh xuân, vẫn chảy lặng lẽ trong dòng đời như thế, lặng lẽ mà rất sâu đến không nhìn thấy.

Giữa những náo nhiệt học trò, chị đã bắt đầu những cuộc giao lưu văn học mới: hình như chị đã mày mò dịch các tác phẩm văn học Pháp, Anh, Đức nổi tiếng đang chuyền về Việt Nam, những Camus, Goethe, Sagan, Beauvoir, Hesse… Còn nhớ khi tôi tìm đến địa chỉ “trung tâm văn hóa Pháp” ở đường Lê Lợi, trong đó có phòng sinh hoạt của viện Goethe, bắt đầu ghi tên học, thì… hình như Phùng Thăng đã ngồi ở đó rồi, i chang như khi tôi mới bước vào lớp C2, cái khổ người ung dung thanh thoát như thế đang ngồi trước trang sách…

Thời ấy thật lạ lùng, cả một lũ thanh niên say học, thấy chi cũng muốn học, như một cơn bệnh học trò hay lây. Đứa ni mới ghi tên học thêm lớp tiếng Pháp, đã thấy đưa tê lò dò đi vào ngồi bên cạnh. Vui thật! Trong cái thành phố nhỏ bé với bề dày những thế hệ tiếp nối ham học, và sự học trở nên tâm huyết cả một đời.

Năm dự bị văn khoa 1961, bỗng đâu cả lũ lao xao, thấy xuất hiện một ông giáo sư trẻ tuổi, da trắng (người Việt mê da trắng!!!), tóc vàng, mũi cao, môi đỏ, một ông giáo sư người Đức mở lớp dạy tiếng Đức, ông tên Ferkinghoff. Thế là cả bọn kéo nhau ghi tên học tiếng Đức.

Khi tôi vào lớp, đã thấy Phùng Thăng ngồi đó rồi, an nhiên tự tại là thế! Hình như hồi ấy cả bọn sinh viên cả nam lẫn nữ đều “mê” ông Ferkinghoff, một nhân vật lạ “exotique” trong cái khung cảnh Huế xưa thời ấy. Cả bọn “mê”, có lẽ trừ chị Phùng Thăng, chị thanh thản ngồi, chăm chú đọc to hay đọc thầm từng con chữ theo ông giáo sư. Hình như chị làm cho ông giáo sư ấy chú ý nhiều hơn, hình như mỗi lần quay qua chị để chờ câu trả lời, mắt ông sáng hơn. Phùng Thăng ! Ông kêu cái tên ấy không dấu “accent” với nụ cười xin lỗi đọc sai “Phung Thang”! Mỗi khi ông bối rối tìm lời giải thích một chữ mới cho sinh viên, hình như Phùng Thăng là cái phao giải cứu ông ra khỏi cơn bối rối ấy. Đến phiên chị thì hầu như tiếng Đức được hiểu dễ dàng!

Nhưng Phùng Thăng không ở lâu với chúng tôi. Một khoảng thời gian, ký ức của tôi trống hình ảnh của chị. Hình như sau đó chị vào Sài Gòn học. Riêng tôi, có duyên với nước Đức, được học bổng du học khóa đào tạo Giáo sư Đức ngữ do người kế vị ông Ferkinghoff, giám đốc chi nhánh viện Goethe tại Huế, ông H. Hohl đề nghị. Từ xa, tôi nghe tin hai chị Phùng Khánh (từ Pháp trở về nước) và Phùng Thăng là những người cộng sự tài giỏi của Hòa Thượng Thích Minh Châu trong việc xây dựng Đại học Vạn Hạnh trong những năm 1965, 66, 67 cho đến 1975. Hai chị đã đóng góp không ít trong công trình xây dựng thư viện Đại học Vạn Hạnh. Hơn thế nữa công trình dịch thuật của hai chị với những tác phẩm lớn của những văn hào trứ danh thế giới đã làm khởi sắc nền học thuật miền Nam một thời thêm phong phú và đa dạng, không những trên phương diện văn chương mà còn trên lãnh vực tư tưởng thời đại. Gia tài văn học ấy có bàn tay tài hoa và tấm lòng thương văn chương, văn học nước nhà của hai chị đã như gấm thêu. (2)

Chỉ duy một điều, mà hôm qua trước khi viết về chị, tôi mới hiểu được phần nào sau khi nói chuyện với anh Trần Xuân Kiêm: trong các tác phẩm dịch, hiếm khi thấy tên Phùng Thăng, mặc dù công trình dịch của chị nòng cốt, thiết yếu cho bản dịch. Bởi vì Phùng Thăng không muốn để tên tuổi của mình, Xuân Kiêm bảo Phùng Thăng là bóng chim nhạn qua sông không để lại dấu tích. Tôi hiểu không phải vì chị “cố tình muốn” mà chị là như thế.

Chị lặng lẽ đến như thế ấy. Lặng lẽ như tôi đã nhiều lần giật mình khi thoạt nhìn. Lặng lẽ đi và đến, ngồi ở thế gian giây phút rồi bỏ đi. Bóng áo trắng thấp thoáng sẽ sàng không gây tiếng động, đến nỗi khi cố tìm lại chị trong ký ức, tôi có cảm giác e dè sợ kinh động sự lặng lẽ ấy, sợ sẽ tan biến đi hình hài trong ký ức đẹp nhất về một con người…

Một đêm không ngủ trên đường bay về Huế, tôi mở mắt trong đêm tối tìm hình ảnh “Phùng Thăng”. “Phùng Thăng”, tôi kêu thầm như ông Ferkinghoff đã có lần nhắc hai chữ ấy trong vẻ ngây thơ, ngay cả dại khờ như đứa bé tập nói, với một nụ cười rạng rỡ hạnh phúc được nói lên như thế. Tôi tìm và lục lọi ký ức. Có chút tuyệt vọng và vô vọng không vượt qua được trước khi viết, đến từ nỗi ham muốn đem Phùng Thăng trở lại cõi trần.

Trong màn đen, tôi chỉ thấy ánh chớp từ một hành tinh nào đó, một giải lụa phất phơ trước mắt như tơ trời, một âm thanh lặng lẽ đang rơi, một thứ Quán Thế Âm nào đó như là nỗi yên lặng vô cùng… Tôi bất giác khấn vái sự yên lặng thần thánh ấy.

Sao băng

Áo trắng

Mày ngài

Bóng người ngồi đó

Giật mình có không…

Huế, mùa sương, Giáp Ngọ tháng hai 2014

T.K.L 

(SDB13/06-14)

———————–

1. Thái Kim Lan, Nhạc chiều của chúng ta: “Tôi còn nhớ đã giật mình khi thầy Hương phát bài tập của chúng tôi viết về triết học Ấn Độ, bài của Phùng Thăng đã được đọc cho cả lớp nghe, thật gương mẫu. Về sau chị trở nên dịch giả tài hoa của những tác phẩm văn chương Đức nổi tiếng thế giới như Câu chuyện dòng sông, Trò chơi bi chai… của Hermann Hesse. Thật thương tiếc cho người tài hoa đã mệnh yểu… Phùng Thăng nghiêm trang, ít nói, ít cười, đúng phép con nhà”.

2. Tác phẩm dịch này được giới thiệu với tựa đề: Câu  chuyện của dòng sông, lần đầu tiên năm 1965 do Nxb. Lá Bối ấn hành (ấn quán Sen Vàng, 243 Sư Vạn Hạnh – Cho lon). Sau đó trước năm 1975 Câu chuyện của dòng sông ít nhất đã được tái bản 3 lần: Nxb. Lá Bối vào các năm 1965 và 1966; Nxb. An Tiêm vào năm 1967. Bìa và trang đầu của cuốn sách có ghi bản dịch của Phùng Khánh và Phùng Thăng.

Theo lời của chủ Nxb. An Tiêm, anh Thanh Tuệ, khi tái bản vào những lần sau, tác phẩm này đã được đổi thành Câu chuyện dòng sông, vì nó gãy gọn và đẹp hơn (theo ý của chủ Nxb. Lá Bối chứ không phải của dịch giả, nhưng dịch giả đã không phản đối) và từ đó mang tên Câu chuyện dòng sông. Người dịch chính là chị Phùng Khánh.

Dịch giả Phùng Khánh (1938 – 2003) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh và dịch giả Phùng Thăng, Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng là hai chị em ruột. Thân phụ của 2 dịch giả là cụ Nguyễn Phước Ưng Thiều, thuộc phủ Tuy Lý Vương (cụ Ưng Thiều là cháu nội của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh, con thứ 11 của vua Minh Mạng). Cùng thế hệ (đồng tôn) với dịch giả Phùng Khánh có nhà văn Công Tằng Tôn Nữ Hỷ Khương (cùng chung ông cố nội Tuy Lý Vương Miên Trinh), Công Tằng Tôn Nữ Phương Anh (Chủ Bút Oklahoma Việt Báo – USA), nhà thơ Công Tằng Tôn Nữ Á Nam (phu nhân bác sĩ Hồ Đắc Duy)…

Dịch giả Phùng Thăng là bạn cùng lớp đệ nhất C tại trường Quốc Học của Thái Kim Lan. Phùng Thăng hay bính tóc thành hai con rít hai bên, dáng cao gầy thanh thoát trong áo dài, gương mặt đẹp thanh tú như một tiên cô, rất ít nói, học rất giỏi, nhất là môn triết và văn chương. Tôi còn nhớ, đã giật mình khi nghe bài luận văn về triết học Đông phương của chị và đã thầm nghĩ, “người ni thật là trí tuệ và tài hoa”. Chị Phùng Thăng tỏ ra rất thông hiểu triết học Ấn Độ làm cho kẻ thời ấy còn háo thắng theo phong trào triết học Tây phương là tôi ngạc nhiên và nể vì. Mãi về sau, trở về với triết học Đông phương và Phật giáo, tôi mới biết mình đã thua xa các chị về kiến thức Đông phương mà các chị đã thức thời đi trước. Chị Phùng Thăng tôi không gặp nữa từ năm 1965 khi tôi rời Việt Nam du học. (Thái Kim Lan, Câu chuyện dòng sông và dịch giả Phùng Khánh).

Thơ từ một thời thám kích vùng hai

tranhoaithu42.com

May 12, 2012 by Tranhoaithu

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

Xâm nhập mật khu

Gai rừng che bít lối
Đá tiếp đá chất chồng
Phân người  bốc thinh không
Cỏ tranh che tầm mắt

Người lính Thượng tiền sát
Ngần ngừ không dám lên
Trên  gương mặt xạm đen
Mồ hôi vàng lóng lánh

Tức mình, kê họng súng
Sau lưng thằng khinh binh
Ra lệnh mày không lên
Tao bóp cò đừng hối

Nói mà lòng muốn mếu
Muốn nói thêm một câu
Tao cũng són đái đây
Mày làm sao biết được?

Đánh núi

Tiến lên lại sợ phục
Rút xuống sợ lột lon
Hét hoài, cổ họng khan
Chỉ mình ta lãnh đủ

Đi lên, dao mở lối
Gai xướt rách thịt da
Đau quá, tức chửi cha
Những thằng già hiếu chiến.

Bóng tối

Trong bóng tối có ai còn phân biệt?
Có ai còn biết được người hay ma?
Chúng tôi lỡ sinh trong thời oan nghiệt
Chỉ chập chùng những bóng tối tha ma

Chúng tôi phải dùng tai thay đôi mắt
Chúng tôi phải dùng mũi để nhìn trông
Thần trí cứng, đuổi theo từng tiếng động
Tim như chừng vỡ cả khối hư không

Chúng tôi sống, ngày là đêm, bóng tối
Trong hầm sâu, dưới địa đạo u minh
Hơi hụt hẫng, theo từng cơn địa chấn
Tai ù ù như bật vỡ âm thanh

Chúng tôi đợi, từng giờ như thế kỷ
Hỏa châu vàng oà vỡ cả màn đêm
Ngọn cứu rỗi, nơi này không Phật Chúa
Chỉ ánh sáng lòa, thảng thốt, mông mênh

Chúng tôi đã nghe nhiều hơn thấy
Tiếng côn trùng rên rỉ, tiếng mưa rơi
Cả tiếng mớ của một người lính ngủ
Rất an bình không thao thức suy tư

Chúng tôi sợ nhưng kềm cơn sợ hãi
Bóng đêm ơi, cõi lụy của hồn âm
Ngọn gió lạ, như nổi từ địa phủ
Ông bà ơi, xin phù hộ đàn con

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

7. Chương 41
Buôn người

Mới đó mà vợ chồng tôi sống ở Sài Gòn đã hơn ba tháng. Tôi ngày đêm rong ruổi trên chiếc xích lô quanh Sài Gòn, nhờ đó mà biết được khá nhiều về những đường phố chính cũng như ngóc ngách của thành phố này. Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, nơi mà trước đây người dân Miền Nam vẫn thường tự hào gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông, với vựa lúa khổng lồ của đồng bằng sông Cửu Long, nguồn cung cấp thực phẩm dư thừa cho cả Miền Nam. Bốn năm sau ngày giải phóng, người dân phải ăn độn bo bo, khoai mì, khoai lang, có thứ gì độn thứ đó, cả nước đói đến xanh mặt. Tôi đang hành nghề đạp xích lô, vào thời buổi này, người có tiền để đi xích lô cũng hiếm như lá mùa thu, đã vậy giá của một cuốc xe còn tụt xuống bậc thấp nhất. Một ngày lao động cật lực của tôi, đạp xe rã cẳng cũng chỉ kiếm đủ tiền mua gạo. Thực lòng mà nói được như vậy cũng đã quý lắm rồi, nếu đem so với những gia đình bị lùa lên vùng kinh tế mới, đói rét, bịnh tật, trốn về Sài Gòn sống lây lất nơi vỉa hè. Tôi chỉ muốn kể lại những gì mình đã chứng kiến chứ không có ý than phiền hay oán trách với ai. Phần tôi ngoài chuyện đạp xích lô nuôi sống gia đình, tôi còn có mục đích khác là dò tìm đường vượt biên. Hang cùng, ngõ cụt, đường lớn, hẻm nhỏ, nơi nào tôi cũng mò tới để nghe ngóng, thu thập tin tức. Từ chuyện hôm nay một chiếc tàu đăng ký bán chính thức, chở hơn năm trăm người tới được Mã Lai, cho đến ngày mai con tàu sắt chở tám trăm người đến được Hồng Kông. Tất cả những nguồn tin như vậy, tôi nghe mà lòng bán tín bán nghi, nghe như là nghe một tin đồn, bởi vì không thể kiểm chứng được. Những lời đồn như vậy gia tăng ngày một nhiều, nhiều đến chóng mặt.

Một ngày nọ, đang rỉ rả đạp xe tà tà kiếm khách trên đường Hiền Vương, ở đây tôi thích dùng tên đường cũ, cho dù tên đường có đổi hay không, tôi không thèm để ý đến. Một lần nọ khi ngang qua khu chợ trời Nguyễn Thông, bất chợt tôi nhớ đến anh thanh niên đòi mua cái máy bơm Yanmar F10 của tôi ở vườn rau Đa Thiện năm trước. Không ngần ngại, tôi hỏi một bà bán quần áo cũ ngồi bên lề đường.

-Ở đây dì có biết anh Vinh máy nổ không?

Người đàn bà không nhìn tôi.

-Vinh máy nổ hả? Đi thẳng tới ngã tư Kỳ Đồng hỏi, người ta sẽ chỉ cho.

Tôi gặp Vinh máy nổ, anh ta mình trần chỉ mặc độc có một cái quần cụt, mồ hôi nhễ nhại đang cúi người bên chiếc máy nổ chạy bằng dầu cặn. Lui cui, cặm cụi, vặn ốc, siết bù lon, quay máy, quay hoài máy cứ nằm lì ra đó ăn vạ, Vinh máy nổ đưa tay quẹt mồ hôi trán, nhăn mặt, co chân đá mạnh vào cái máy.

-Má mày.

Đang có ý định kiếmVinh máy nổ chuyện trò, hỏi thăm đường đi nước bước, gặp cảnh hắn đang nổi giận như vậy, tôi chỉ biết im lặng, ngồi yên trên xích lô đưa mắt nhìn.

Mồi một điếu thuốc, Vinh máy nổ ngồi xuống chiếc ghế đẩu, ngửa mặt nhả khói lên trời, bất chợt thấy tôi, hắn hỏi.

-Anh bạn cần gì?

Tôi không trả lời, nhìn Vinh với hy vọng hắn nhận ra tôi.

Thấy tôi ngồi yên, Vinh máy nổ đổi qua giọng nói đầy bực tức.

-Cha nội ở đâu tới đây, muốn gây sự phải không?

Thấy tình thế coi bộ không được yên, tôi vội nói.

-Anh Vinh không nhận ra tôi hay sao?

Nhìn tôi một lúc lâu, Vinh máy nổ hất hàm.

-Anh là ai, làm sao tôi biết được.

Tôi nhắc Vinh.

-Năm ngoái anh có lên Đà Lạt, muốn mua cái máy Yanmar F10 mới cáu chỉ của tôi ở ngoài vườn rau, nhớ không?

Sau một lúc suy nghĩ, Vinh xuống giọng.

-Cái máy thì tôi nhớ rồi đó vì nó quá tốt, còn anh thì tôi quên mất mẹ nó rồi.

Giọng nói của Vinh máy nổ đúng là giọng nói của dân giang hồ, tôi thở dài ngao ngán.

-Anh nói đúng, cái gì đáng nhớ thì mình nhớ. Hôm nay tôi đến đây chỉ muốn thăm anh, sau đó là mời anh ly cà phê.

Vinh máy nổ gật đầu cái rụp.

-Đi thì đi, má nó cái máy này nó hành tôi từ sáng tới giờ, phải nghỉ ngơi một chút, uống ly cà phê mới được.

Đưa mắt nhìn tôi Vinh hỏi.

-Ngồi đâu đây anh bạn?

-À…cái quán cà phê ở góc đường đàng kia, lên xe tôi chở đi.

Vinh máy nổ quay vô nhà nói lớn.

-Má thằng cu đâu, lên coi nhà chút xíu tôi đi công chuyện rồi về liền.

Hai ly cà phê đen đá được mang ra, tôi cầm muỗng khuấy cho tan đường, bưng lên làm một hơi.

-Cà phê gì mà đắng chát cả cổ.

Vinh nói.

-Nửa cà phê, nửa bắp rang, thêm xác cau khô xay nhuyển, đắng là phải rồi, nhưng mà có chút mùi cà phê cũng đỡ ghiền. Phải không anh bạn?

Tôi gật đầu.

-Anh nói đúng.

Nhìn quanh thấy quán vắng khách, tôi ngập ngừng thổ lộ tâm tình.

-Anh Vinh nè, tôi đến Sài Gòn này cũng được mấy tháng rồi, tìm đường vượt biên nhưng không có quen ai, hôm nay chợt nhớ tới anh, nhớ chuyện anh mua máy nổ gắn vô tàu vượt biên, nên tôi đến nhờ anh chỉ mối giùm.

Nhìn tôi lâu thật lâu như để đánh giá những gì tôi mới nói, Vinh dò hỏi.

-Anh ở gần đây không?

-Bên Tân Định.

-Ngủ vỉa hè hả?

-Không, tôi ở với bà chị họ bên ấy.

-Có hộ khẩu đàng hoàng không?

Tôi thoải mái trả lời.

-Đương nhiên là có rồi.

Vinh máy nổ tỏ vẻ tin tưởng.

-Coi bộ ngon à nhe, thời buổi này mà vô được hộ khẩu ở Sài Gòn, không phải là chuyện dễ, chung chi cho công an cũng bộn phải không?

Hỏi mà không cần nghe tôi trả lời, Vinh tiếp.

-Muốn nghe chuyện vượt biên hả? Miền Bắc như thế nào thì tôi không biết chớ ở Miền Nam này, ngày nào cũng có tàu vượt biên. Đi ngay sông Sài Gòn thì năm cây, Vũng Tàu ba cây, vùng bốn hai cây, một cây cũng có luôn. Nhưng mà, mười đường dây đi chui như vậy, chỉ có một là thiệt, chín cái còn lại là đồ dởm. Anh có dám chơi không? Nếu không thì còn một con đường này nữa, bin cái đường bán chính thức của nhà nước, mười hai cây. Đây là con đường chắc ăn như bắp, bảo đảm một trăm phần trăm là ra tới hải phận quốc tế, vì tàu có công an hộ tống. Sau đó thì chết chìm trên biển vì chở quá nhiều người, hay là gặp dông bão thì ráng mà chịu.

Nghe Vinh máy nổ nói một hơi, tôi vẫn còn bán tín bán nghi.

-Cảm ơn anh đã nói cho tôi biết rõ ràng mọi chuyện. Tôi muốn hỏi thêm về những người đi bán chính thức, họ là ai?

Vinh lên giọng.

-Anh có theo dõi tin tức qua đài BBC hay VOA, nói về boat people và những con tàu chở đầy người tỵ nạn không?

-Không.

-Vậy mà cũng bày đặt nói chuyện vượt biên, chuyện tôi kể sau đây anh sẽ không tin, nhưng mà đó là hoàn toàn thật. Năm ngoái có một con tàu tên là Southern Cross ghé Sài Gòn chở một ngàn hai trăm người Việt gốc Hoa đi bán chính thức, mỗi người đóng cho nhà nước mười hai cây.

Vinh máy nổ xoa hai tay vào nhau.

-Chỉ làm một chuyến thử nghiệm, sơ sơ ông nhà nước ẵm gọn hơn nửa tấn vàng một cách ngon lành. Còn chuyện mấy ông lớn chia chác vàng như thế nào thì không một ai biết được, nó thuộc bí mật nhà nước.

Tôi nhắc chừng Vinh.

-Anh không sợ hay sao? Nói nhỏ nhỏ thôi.

Với gương mặt tỉnh rụi Vinh nói.

-Chuyện này thiên hạ đồn rùm beng ai cũng nghe, chỉ có anh là không biết thôi. Mà nè chuyện chưa hết đâu, sau đó khoảng cuối tháng mười năm 78, thêm chiếc tàu Hải Hồng chở hơn hai ngàn năm trăm người, cũng là người Việt gốc Hoa, từ đồng bằng sông Cửu Long đi Indo hay Mã Lai gì đó. Mỗi người nộp mười sáu cây, chủ tàu bốn, nhà nước mười hai.

Vinh chắt lưỡi.

-Anh biết không, mười hai cây nghe thì ít nhưng nó nặng gần nửa kí lô. Nói cho gọn, một mạng người đổi lấy nửa kí vàng. Chủ tịch đảng hay Thủ tướng của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam nuốt gọn hơn một tấn vàng mà không bị mắc nghẹn. Ăn chừng đó vàng mà mấy ổng cũng không thấy no, sau đó lại có hàng trăm chiếc tàu Hải Hồng khác tiếp tục ra đi, mỗi chiếc chở theo năm, sáu trăm người, mỗi người lại đóng cho nhà nước nửa kí vàng.

Tôi ngạc nhiên quá sức.

-Đếm đầu người đổi lấy vàng, như vậy là buôn người rồi chớ còn gì nữa.

-Buôn hay bán gì thì tôi hoàn toàn không biết, nhưng đó là tin tức của đài BBC nói, dựa theo lời khai của những người đi trên tàu cặp bến Mã Lai. Phần tin tức này chính tai tôi nghe không bỏ sót một chữ.

Tôi hỏi thăm dò Vinh.

-Tôi với anh mới quen nhau, những chuyện bí mật như vậy anh đem kể cho tôi nghe, bộ anh không sợ tôi là công an chìm hay sao?

Với vẻ mặt đầy tự tin, Vinh máy nổ thản nhiên nói.

-Sợ mẹ gì. Hỏi nhỏ thôi, trước năm bảy lăm anh là lính Ngụy phải không?

Tôi lưỡng lự.

-Đúng.

Vinh cười với vẻ mặt hãnh diện.

-Tôi đoán có sai đâu. Cùng phe mà, đánh bài lật ngữa luôn nghe, không giấu giếm gì hết, tôi là trung sĩ nhất Liên đoàn tám mốt Biệt Kích Dù, tốt nghiệp Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Còn anh bạn?

Tôi nói.

-Anh lật bài, tôi cũng lật luôn. Trung úy Nguyễn trọng Quân, Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Nhìn tôi với ánh mắt tựa như còn nghi ngờ.

-Sĩ quan Ngụy đang còn học tập mút mùa ở Miền Bắc, xuân thu nhị kỳ mới thả một ông quan bịnh hoạn sắp chết về, nói là đã học tập tốt, nên được nhà nước khoan hồng nhân đạo cho về đoàn tụ với gia đình. Có ông quan nào mà lang thang ở đây được, cha nội đừng có bày đặt hù tôi à nghen.

Không chần chừ tôi móc trong túi quần, lấy cái bằng tốt nghiệp của Tổng trại 8 tù binh Sông Mao được bọc plastic cẩn thận, đưa cho Vinh máy nổ.

Coi xong tờ giấy, thái độ của Vinh hơi thay đổi, giọng nói của hắn có phần xúc động.

-Hết đường bin rồi hay sao mà ông thầy phải đem thân đạp xích lô?

Không trả lời Vinh, tôi phân trần.

-Tôi với anh trước bảy lăm không quen biết, không cùng đơn vị, anh gọi tôi là ông thầy khiến tôi thêm xấu hổ.

Vinh máy nổ giải bày.

-Trước bảy lăm khi tôi ra trường, mang cái lon trung sĩ còn mới tinh về trình diện Tám mươi mốt Biệt Kích Dù. Ông thầy của tôi đã dìu dắt, hướng dẫn, nâng đỡ, đưa tôi vượt qua mọi gian lao nguy hiểm, trong những ngày đầu binh nghiệp nơi chiến trường. Ông ấy là trung úy tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt. Giống hệt như ông.

Tôi biết là Vinh máy nổ đã hiểu lầm, hắn tưởng tôi là dân Võ Bị Đà Lạt. Trước năm 1975, nếu có ai tưởng lầm như vậy, tôi không đính chính mà còn nhận luôn. Bây giờ tuổi đã khá lớn, đã biết suy nghĩ chín chắn thì đâu phải ra đó, ngô ra ngô, khoai ra khoai. Không muốn nói dối với người không biết. Tôi xác nhận với Vinh.

-Tôi là trung úy tốt nghiệp Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, được thuyên chuyển về phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt, khác xa với ông thầy của anh là sĩ quan hiện dịch, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Cùng là trung úy, nhưng tôi không thể nào sánh với ông thầy của anh được đâu.

Tôi ngồi xích lại gần Vinh.

-Tôi năm nay ba mươi, còn anh?

-Hai mươi tám.

Tôi nói.

-Gọi tôi bằng anh là tôi mừng lắm rồi.

Vinh máy nổ gật đầu, hắn nhỏ giọng.

-Không biết thì thôi, giờ đã quen nhau rồi, tôi muốn nói với anh Quân một chuyện quan trọng, tụi này có tổ chức một chuyến vượt biên, định qua Tết khi trời yên bể lặng là đánh. Tất cả mọi thứ hầu như đã chuẩn bị đầy đủ, chỉ thiếu cái hải bàn, anh đạp xích lô đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ, cố dò hỏi mua giùm tôi cái hải bàn. Giá nào cũng phải mua.

Tôi lập lại lời Vinh.

-Giá nào cũng phải mua? Nếu tìm được tôi chỉ cần đổi lấy ba chỗ trên tàu, anh đồng ý không?

-Anh cứ tìm đi, chuyện này để tôi bàn với ông chủ tàu rồi cho anh biết sau.

Tôi xin Vinh một miếng giấy và cây bút, viết địa chỉ của tôi ở Tân Định rồi trao cho Vinh.

-Tất cả mọi việc đều nhờ anh, có tin tức gì nhớ báo cho tôi biết.

Trước khi chia tay, tôi uống một ngụm cà phê đậm màu xác cau, cất tiếng gọi chủ quán tính tiền.

Vinh máy nổ khoát tay.

-Chuyện của anh là lo đi tìm cái hải bàn, ba cái thứ lẻ tẻ vụn vặt này, để tôi.

Kể từ đó, cứ dăm ba ngày là tôi ghé thăm Vinh máy nổ. Khi thì kéo ra quán kiếm chút cà phê, lúc thì ngồi tại nhà Vinh uống ly trà đá, bàn chuyện vượt biên. Tình thân giữa tôi và Vinh mỗi lúc một sâu đậm, gần như có thể tin tưởng lẫn nhau hoàn toàn.

Một hôm tôi ngồi ở nhà Vinh máy nổ uống trà, nhân lúc trà dư tửu hậu, tôi mới có ý nhờ Vinh máy nổ.

-Anh Vinh nè, tôi có chuyện muốn nhờ anh.

-Chuyện gì vậy?

-Trước khi nhờ, tôi phải kể rõ cho anh nghe về hoàn cảnh gia đình của tôi. Vợ tôi là dân Sài Gòn, anh có nghe tên ông Bảy Ấn bao giờ chưa?

Vinh nhíu mày.

-Có phải ông ấy là ông vua nhà cửa ở Sài Gòn, trước năm bảy lăm không?

Tôi vội vàng nói.

-Đúng vậy.

Vinh hỏi.

-Anh nhắc tới ông già đó làm gì? Nghe đâu là ông ấy chạy đi Mỹ lâu rồi mà.

-Tôi phải nhắc bởi vì ông ấy chính là ba vợ của tôi.

Vinh trợn mắt.

-Anh em bạn với nhau lâu nay, biết nhau khá nhiều, khá thân thiết, sao anh cứ hù tôi hoài vậy.

Không cần phải vòng vo Tam Quốc nữa, tôi rù rì kể cho Vinh máy nổ nghe mọi chuyện kể từ tháng tư năm bảy lăm, lúc tôi và Cúc bị đuổi ra khỏi căn biệt thự ở đường Công Lý, đến lần đánh tư sản mại bản đợt hai hay ba gì đó. Tất cả tiền bạc tài sản của chúng tôi đều bị mất sạch, cuối cùng phải lưu lạc đến Tân Định sống, vợ tôi bán bánh căn, còn tôi đạp xích lô như anh biết.

Nghe xong chuyện, Vinh bùi ngùi.

-Tôi làm gì giúp anh được?

-Nhờ anh giới thiệu vợ chồng tôi với chủ tàu, chúng tôi muốn thương lượng với ông ta cho vợ chồng tôi đi, khi đến Mỹ sẽ trả tiền sau. Thú thật với anh, hiện tại ở Việt Nam này, gia tài của vợ chồng tôi chỉ có một lượng vàng, tiền bán cái máy Yanmar, cái máy này anh đã thấy rồi.

Vinh tiếp lời tôi.

-Biết, biết mà.

Tôi tiếp tục câu chuyện.

Tất cả tiền bạc của vợ tôi hiện còn ở ngân hàng ngoại quốc, số tiền này nhiều đến nỗi dám làm nghiêng nhà băng như không.

Vinh cười với giọng đầy khoái trá, hắn khen tôi.

-Anh cũng biết giỡn đó.

Tôi nói.

-Không có giỡn đâu, với chừng đó tiền, vợ chồng tôi trả cho chủ tàu một, hai chục cây, coi như mấy đồng tiền lẻ bị đánh rơi. Hơn nữa chủ tàu muốn đem theo chút tiền qua Mỹ sống, phải giấu giếm chỗ này chỗ nọ. Cho vợ chồng tôi đi theo, khỏe re, để vàng sờ sờ trước mắt mà không ai biết được. Chuyện quan trọng là anh Vinh tin lời tôi nói được bao nhiêu phần trăm.

Vinh nói.

-Tin anh thì tôi tin rồi, còn chủ tàu có chịu hay không lại là chuyện khác.

Tôi giải thích với Vinh máy nổ.

-Sở dĩ tôi phải thương lượng với chủ tàu, vì tôi đã lùng kiếm khắp cả Sài Gòn mà không thấy tông tích bất cứ cái hải bàn nào hết. Thời buổi này, tìm cho được cái hải bàn của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, còn khó hơn chuyện hái sao trên trời, mò kim đáy biển. Con đường duy nhất để vợ chồng tôi có thể đặt chân lên tàu vượt biên, là xin đi với điều kiện qua Mỹ sẽ trả tiền sau.

Vinh nâng ly trà ực một hơi.

-Yên chí đi, khi gặp chủ tàu tôi sẽ đem chuyện này bàn với ông ta. Còn được hay không thì tôi không biết.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy
Post by Sơn râu 22 Mar 2025

6. Chương 40
Quên hẳn tình em.

Với tờ giấy phép đi lại của công an thành phố Lâm Đồng, vợ chồng tôi và chị Hai, sau một ngày xếp hàng rồng rắn, chầu chực ở bến xe gần ấp Ánh Sáng, cuối cùng chúng tôi cũng mua được 3 tấm vé đi Sài Gòn.

Chị Hai là người đứng chủ hộ khẩu của căn nhà ở Tân Định, chúng tôi đến gặp tên công an khu vực xin ghép thêm tên Cúc, tôi và Hương con gái của tôi vào. Ngày xưa thì miếng trầu đầu câu chuyện, hôm nay đất nước đã giải phóng rồi, tùy theo tầm mức quan trọng hay không của vấn đề mà miếng trầu sẽ to hay nhỏ, nhiều hay ít, chị Hai ôm theo cây thuốc lá Samit của Thái Lan, gói gọn trong bao giấy để làm lễ ra mắt. Gã công an khu vực tươi cười chuyện trò với chúng tôi, trong khi tay của hắn nhét lẹ cây thuốc vào hộc bàn. Sau màn thẩm vấn, điều tra lý lịch của tôi và Cúc kỹ càng thêm sự liên hệ chị em họ giữa Cúc và chị Hai, gã công an khu vực cho giá.

-Một cây.

Chị Hai than.

-Thưa anh sao nhiều dữ thần vậy, chỉ là chuyển hộ khẩu thôi mà.

Gã công an điềm nhiên nói.

-Đường Hai bà Trưng ở Thành phố Hồ chí Minh, bên này thuộc quận Một, bên kia thuộc quận Ba, cách nhau chỉ hơn chục thước. Chuyển hộ khẩu từ quận Một qua quận Ba cũng hết năm chỉ rồi, gia đình chị từ Đà Lạt về đến đây, xa lắc xa lơ, đường sá xa xôi tới ba trăm cây số lận, ngồi xe đò hết một ngày mới tới. Lấy một cây là rẻ quá rồi, còn kèo nài cái nỗi gì.

Chị Hai xuống giọng năn nỉ.

-Xin anh bớt cho gia đình chúng tôi chút ít, được không?

Gã công an lắc đầu nguây nguẩy.

-Đó là cái giá theo quy định ngầm ở trên, tôi không thể nào thay đổi được.

Tôi nhìn Cúc mà ngán ngẩm cho số tiền quá lớn phải chi ra. Chỉ viết thêm ba cái tên vào sổ hộ khẩu mà phải tốn chừng ấy. Đây quả thật là việc làm của một chính quyền vô đạo, lúc nào cũng tự xưng là vì dân vì nước mà thực chất là một lũ cướp cạn, bóc lột tận xương tủy của người dân.

Tháng 3 năm 1979, gia đình tôi di chuyển về Sài Gòn, sống trong căn nhà nhỏ của chị Hai bên Tân Định. Chuyện di dời chỗ ở cũng có một vài trục trặc nho nhỏ xảy ra, không theo đúng như ý mình. Chẳng hạn như tiền bán cái máy bơm nước Yanmar là hai cây, tôi phải trả cho người môi giới hết một chỉ. Bù lại đường ống dẫn nước bằng sắt từ chỗ đặt máy bơm lên đến vườn rau dài hàng trăm mét, tôi bán được hai chỉ. Riêng miếng đất vườn vì ông nhà nước đang tính chuyện bắt mọi người phải vô hợp tác xã, nên tôi bán đất mà không có ai mua, đành để đó giao cho trời đất trông coi.

Ngày mà chúng tôi dọn vào căn nhà của chị Hai ở con hẻm nơi Tân Định, ngay tối hôm đó, nhân có buổi họp tổ dân phố, gã công an khu vực, đưa gia đình tôi lên giới thiệu với mọi người trong tổ. Sau đó hắn long trọng trao cuốn sổ hộ khẩu gồm có tên của chị Hai là chủ hộ, kế đó là tên Cúc, tôi và con gái của chúng tôi, tổng cộng là có tất cả là bốn người trong hộ.

Xong xuôi mọi việc, gã công an khu vực ra về, ngày hôm sau hắn mới đến nhà tôi lấy tiền. Sở dĩ gã công an làm việc xong rồi mới nhận vàng sau mà không sợ bị quỵt, vì thân phận của người dân chạy lo chuyển hộ khẩu như gia đình tôi, giống hệt con cá nằm trên thớt. Quỵt tiền công an khác nào đi giựt tiền của thằng ăn cướp, nó bắt cả gia đình cho đi tù mọt gông, đánh cho lòi tiền ra mới thôi.

Sau đợt đổi tiền ngày 3 tháng 5 năm 1978, đồng tiền mới có mệnh giá khá cao do nhà nước ấn định. Vào thời điểm đó 1800 đồng tiền mới sẽ mua được một lượng vàng. Tuy nhiên tiền được in ra không có vàng bạc, Mỹ kim hay một nền kinh tế vững chắc để bảo chứng, nên đối với thế giới bên ngoài, đồng tiền của Cộng Sản phát hành, không khác gì tờ giấy lộn. Trong nước niềm tin của dân chúng đối với đồng tiền còn tệ hơn, người ta chỉ giữ một số tiền rất ít ở trong nhà, đủ tiêu dùng hàng ngày. Chỉ có vàng là có giá trị tuyệt đối, tất cả mọi việc từ giao dịch làm ăn đến buôn bán đổi chác, đều dùng vàng làm căn bản. Gã công an đòi tôi trả đúng một lượng vàng mà phải là vàng lá Kim Thành mới được, bởi vì chính anh ta cũng không tin vào giá trị đồng tiền của nhà nước.

Vô được căn nhà ở con hẻm Tân Định, xong xuôi chuyện hộ khẩu, gia tài vốn liếng của tôi và Cúc còn đúng một lượng vàng. Đối với tôi, lúc này lượng vàng mà chúng tôi hiện có là cả một gia tài khổng lồ mà tôi phải cất giữ kỹ càng, sau này sẽ dùng nó để vượt biên. Cho dù có chết đói chúng tôi cũng phải chịu, quyết không được đụng đến số vàng này. Vì nghĩ như vậy nên tôi bàn với Cúc, là phải đem vàng chôn giấu dưới nền gạch hoa trong nhà bếp.

Cúc với giọng nói không được vui.

-Tụi mình quả thật là ngây thơ, để mất bò mới lo làm chuồng.

Tôi thở dài rồi than.

-Phải chi mình làm cái chuồng bò sớm hơn thì đỡ biết mấy.

Hình như không muốn nhắc đến chuyện buồn, Cúc chuyển đề tài.

-Mình phải tìm cách lo làm ăn, kiếm tiền để sống, ngồi không sẽ chết đói hết.

Tôi nói với Cúc.

-Mấy ngày nữa anh sắm vài món đồ nghề, ra góc đường đầu hẻm ngồi vá xe đạp.

Cúc nhìn tôi ra chiều thương hại.

-Anh làm có được không?

Tôi mạnh dạn trả lời.

-Đó là nghề của anh mà, ngày xưa khi còn đi học ở bậc trung học, vì nhà quá nghèo nên anh phải tự sửa xe, vá xe, tiết kiệm đồng nào hay đồng nấy. Hơn nữa thời bấy giờ tại Đà Lạt, chỉ hai tiệm bán và sửa xe đạp là tiệm Công Thành và tiệm Tân Tiến. Hai tiệm này nằm đối diện nhau trên đường Phan đình Phùng, cách quán mì quảng ở hẻm Ngọc Hiệp khoảng chừng ba trăm mét. Xe đạp của anh nếu bị cán đinh, lủng ruột ở đâu, anh phải tự vá lấy không thể dẫn bộ hàng vài ba cây số đến hai cửa tiệm trên để vá xe. Ngoài ra, anh cũng biết sửa chữa những hư hỏng lặt vặt của xe đạp từ hồi đó, bây giờ bất đắc dĩ, dùng nó làm kế sinh nhai chắc cũng có thể được. Phần việc của anh sẽ như vậy, còn em làm gì?

Cúc nói mà như đã có tiên liệu sẵn trong đầu.

-Em với chị Hai sẽ ra đầu hẻm bán bánh căn cho dân trong xóm. Cả ba người cùng đi làm, hy vọng sẽ nuôi được thân và con, không bị chết đói. Có điều này em muốn nhờ anh, tối đến khi về nhà anh giúp em xay bột, được không?

-Được quá đi chứ mình đã giao hẹn rồi, cố gắng bươn chải kiếm cơm chờ cơ hội vượt biên. Anh chỉ hơi ngại một điều, thời buổi gạo châu củi quế, người dân cả nước ăn độn bo bo, một loại thực phẩm mà các nước khác chỉ dành để nuôi súc vật. Hiện tại giá một kí gạo chợ đen là mười đồng, vàng thì một trăm tám mươi đồng một chỉ, tính ra, một chỉ vàng mua được có mười tám kí gạo. Anh so sánh như vậy để em thấy, gạo đắt như vàng. Bánh căn được làm từ gạo, đem xay thành bột. Như vậy bánh căn là một món ăn của giới nhà giàu, người dân lao động sống trong con hẻm của mình lấy tiền đâu mà ăn bánh căn?

Cúc với giọng nói bình thản.

-Vì anh là người Miền Trung sống trên cao nguyên, nơi mà cuộc sống vốn đã khó khăn từ xưa, nên anh mới có lối suy luận như vậy. Anh à, hiện tại mình đang sống ở Sài Gòn mà, người dân ở đây suy nghĩ và tiêu pha không giống như những nơi khác. Cả tuần nhịn đói ăn độn bo bo, nhưng nếu họ có chút tiền là kéo nhau đi ăn tiệm. Giờ này không còn nhà hàng nữa, thì chỗ bán bánh căn bên lề đường của em, sẽ là quán ăn lý tưởng cho mọi người.

Tuy không đồng ý, nhưng tôi phải thừa nhận là Cúc có lý phần nào.

-Anh hy vọng em nói đúng. Nếu vậy thì mình phải thử thời vận một lần.

Cúc tươi cười nói.

-Ngày mai em với chị Hai sẽ đi chợ mua thêm một ít đồ dùng lặt vặt, tất cả mọi thứ khác hầu như đã có đủ. Trước đây sau ngày ba mươi tháng tư, chị Hai đã bán bánh căn ở con hẻm của nhà mình rồi.

Phần tôi, tôi bắt đầu hành nghề sửa xe đạp, đúng ra là vá bánh xe đạp bị lủng ruột thì đúng hơn.

Ngày đầu tiên, vác đồ nghề ra một gốc cây ở đầu đường, tôi đóng tấm giấy bìa cứng với hàng chữ “Vá xe đạp” lên thân cây, đặt đồ nghề xuống rồi ngồi đợi. Tôi ngồi từ sáng tới trưa, nắng Sài Gòn nóng cháy da, mồ hôi ướt dầm cái áo sơ mi cũ, uống cả lít nước mà vẫn không hết khát. Cuối cùng sự chờ đợi của tôi cũng có kết quả. Người khách đầu tiên là một ông cụ khoảng 60 tuổi, nhìn chiếc xe của ông, tôi nghĩ thầm không biết ở cái đất Sài Gòn này còn có chiếc xe nào bệ rạc, xập xệ như chiếc xe này không. Vá xong hai cái lỗ do cán phải đinh, cầm 1 đồng của ông cụ, tôi ngập ngừng không biết xử trí ra sao cho phải đạo. Lấy đồng bạc của ông cụ thật lòng tôi không nỡ, không lấy thì đói rã họng. Sau một hồi do dự, tôi đưa lại tiền cho ông cụ rồi nói.

-Người ta vá cái ruột xe, chỉ chừng năm, mười phút, con làm tới cả hơn nửa giờ, vậy mà bác vẫn kiên nhẫn ngồi chờ, không một lời phiền trách. Lần này con không lấy tiền bác đâu, để lần sau đi.

Ông cụ hấp háy đôi mắt.

-Hình như cậu mới ra nghề, phải không?

-Dạ phải.

Ông cụ nhét tờ giấy bạc vào tay tôi.

-Cố gắng lên, dăm ba bữa, nửa tháng sẽ quen tay thôi mà.

Những ngày sau đó, chuyện làm ăn của tôi vẫn ì ạch một chỗ, không khá lên chút nào. Có ngày sáng vác đồ nghề đi tối vác về, không kiếm được đồng xu cắc bạc nào hết. Tiền vào thì không có nhưng đến trưa vẫn phải ăn, một chén rưỡi cơm là tiêu chuẩn của tù cải tạo, được tôi đem áp dụng cho cái nhà tù lớn mà tôi đang sống.

Không như lời khuyên của ông cụ đã cho tôi đồng bạc tuần trước. Tôi hành nghề chưa được nửa tháng, chưa quen tay đã muốn bỏ nghề tìm việc khác với lý do là không có khách. Tôi vá xe đạp mà suốt ngày chỉ có một việc ngóng cổ chờ khách, nhìn xe cộ chạy qua rồi chạy lại trước mặt mà phát chán. Buồn đời tôi ngồi dựa lưng vào gốc cây, trùm cái nón vải rộng vành cũ mèm lên mặt, rồi thả hồn đi về miền quá khứ vàng son một thuở. Tôi nhớ lại từ lúc còn nhỏ xíu, ngày này qua ngày khác đạp xe đi học, cuối tuần cùng Nhân đầu bạc rủ thêm vài thằng bạn nữa đi tắm ở Hồ Xuân Hương. Vì hồ nằm ngay trung tâm thành phố nên có lệnh cấm tắm. Cấm thì cấm, lũ nhỏ chúng tôi kéo nhau đạp xe đến cuối hồ, qua ngã rẽ lên Trung tâm Nguyên Tử Lực, gần đó có cây cầu sắt đen sì bắt ngang con suối dẫn vào hồ, tại đây chúng tôi mặc sức bơi lội mà không có gì phải lo lắng. Lúc nhỏ tin lời Nhân, tôi bắt con chuồn chuồn voi to bằng ngón tay út, cho nó cắn rốn, tuy đau gần chết, nhưng nhờ vậy mà sau hai tuần tôi đã biết bơi. Thêm vài tháng nữa, tôi đã bơi nhanh như rái. Tôi đã cùng với mấy đứa bạn bơi cùng khắp nửa Hồ Xuân Hương, từ vườn Bích Câu tới cầu sắt. Cho tới bây giờ dù ai nói gì cũng mặc kệ, tôi vẫn tin rằng nhờ cho chuồn chuồn cắn rốn mà tôi biết bơi, và bơi giỏi nữa là khác.

Đang mơ mơ màng màng, tôi chợt giật mình tỉnh mộng.

-Ngủ hả?

Giọng nói sang sảng của ai đó kéo tôi về với thực tại. Ngước mặt nhìn lên, trước mắt tôi một ông già trạc ngoài 50, quần cụt áo cộc, nước da ngăm đen đang ngồi chễm chệ trên yên chiếc xích lô đạp. Đưa tay chỉ vào bánh xe, ông ta nói.

-Bơm xe coi mày.

Tôi lật đật chụp cái ống bơm, lẹ làng gắn vào cái van bằng sắt nơi bánh xe. Sau chừng hơn chục cái bơm dầu như thời còn là Sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức bị huynh trưởng phạt. Khi ước chừng đã đủ hơi, tôi lấy cái cán búa gõ mạnh vào bánh xe để thử độ căng.

-Xong rồi chú.

Ông đạp xích lô móc túi đưa cho tôi một đồng.

Tôi từ chối.

-Thưa chú, bơm xe không có tính tiền.

-Giỡn hoài mày, có làm phải có ăn, những chỗ vá xe đạp, người ta bơm bánh xe đều có tính tiền. Tao đưa mày một đồng, được không?

Tôi nhìn kỹ mặt ông đạp xích lô, đúng là dân Sài Gòn, nghèo nhưng mà tính tình cởi mở, rộng rãi và đầy hào sảng.

-Cảm ơn chú.

-Ơn với nghĩa gì. Mày không biết tao nhưng tao biết gia đình mày.

Bị ám ảnh thường xuyên bởi cái bất an trong chế độ Cộng Sản, lúc nào cũng sợ bóng sợ gió, tôi đang cố đoán coi ông già này là ai, tại sao lại biết mình.

Thấy tôi ngẩn người không nói gì, ông đạp xích lô nói.

-Đâu chừng hai tuần trước, khi thằng công an khu vực đưa gia đình mày trình diện trước tổ dân phố, hôm đó tao có đi họp nên biết mày.

Tôi thở phào nhẹ nhõm.

-Bữa đó đông người quá, nên con không biết ai là ai.

-Nhìn mày, mặt mũi coi cũng sáng sủa, tướng tá cũng tạm được, tao tưởng mày về con hẻm đó để làm vương làm tướng gì. Ai ngờ lại đi vá xe đạp. Hỏi thiệt nè, làm ăn có được không?

-Thưa chú đói gần chết, cả tuần mà kiếm chỉ được mấy đồng.

-Vậy sao? Bỏ mẹ nó đi, theo tao đạp xích lô, nghề này coi vậy mà cũng dễ thở.

Tôi phân trần với ông.

-Con không có tiền thế chưn để mướn xe, cũng như không có người giới thiệu.

Trầm ngâm một lúc, ông đạp xích lô nói.

-Chiếc xe này của tao, tao chỉ đạp ban ngày, tối đến nếu mày muốn, tao sẽ cho mày mướn.

-Thưa chú, con chưa có kinh nghiệm, chỉ sợ chạy không đủ sở hụi đóng cho chú.

-Ê, mày đừng có lo, làm được nhiều đưa nhiều, làm ít đưa ít, không có khách thì khỏi trả tiền mướn xe cũng được.

Thấy điều kiện cho mướn xe quá dễ dãi, tôi hỏi.

-Thiệt không chú?

-Bộ tao giỡn với mày hả? Làm ăn chứ đâu phải ngồi lê ngồi lết ngoài quán nhậu, muốn nói gì cũng được. Tao nói một là một, tin tao đi. Mà nè nói cho mày biết, đạp xích lô dù gì kiếm tiền cũng khá hơn nghề vá xe đạp của mày, suốt ngày chỉ biết ôm gốc cây, ngủ gà ngủ gật, chẳng làm được cái con mẹ gì hết.

Tôi nói to.

-Cảm ơn chú, nếu được như vậy thì con làm liền.

-Quên cái chữ cảm ơn đi, vợ chồng mày coi bộ cũng có học hành đàng hoàng, mà sao giờ này lại trôi giạt đến đây. Cỡ tuổi mày có đánh chết ngày xưa cũng là lính Ngụy, phải không?

Trước câu hỏi khá bất ngờ của ông đạp xích lô, tôi ú ớ không nói nên lời, che giấu lý lịch hay là khai thiệt. Đang còn phân vân, tôi chợt nghe ông đạp xích lô tiếp luôn.

-Tao đạp xích lô mấy chục năm rồi, từ trào ông Diệm qua ông Thiệu cho đến bây giờ, không có dính líu gì đến Cộng Sản. Mày đừng có lo.

Yên tâm được phần nào, tôi nói.

-Thưa chú, con là lính Ngụy, cảm ơn chú đã có lòng giúp đỡ.

-Nữa, mày lại nói chuyện ơn với nghĩa, giúp người sa cơ thất thế là chuyện phải làm. Mày bỏ hết đồ nghề lên xe, tao chở đi một vòng, chỉ dạy mày mọi ngóc ngách trong nghề.

Đang lui cui lo thu dọn, tôi nghe ông đạp xích lô nói thêm.

-Tao thứ tư, vì đạp xích lô kỳ cựu nên dân trong xóm hẻm của mình gọi tao là ông Tư xích lô. Còn mày tên gì?

-Thưa chú, Quân.

-Có chuyện quan trọng mà lúc nãy tao quên nói với mày. Tao đạp xe có năm ngày trong tuần thôi, thứ bảy, chủ nhật, tao nghỉ. Hai ngày đó, nếu muốn mày có thể lấy xe chạy luôn.

Tôi hỏi ông Tư.

-Tại sao ông nghỉ hai ngày vậy.

-Mày hỏi hơi lạ, trâu bò đi cày cũng phải cho nó nghỉ ngơi. Hỏi như vậy, hèn gì mày ngồi vá xe là phải rồi.

Ông Tư chở tôi đi loanh quanh khu chợ Tân Định, chỉ mấy chỗ mà ông thường đậu xe chờ khách, rồi nói.

-Tao sẽ căn dặn cái đám đồng nghiệp của tao giúp đỡ cho mày. Phần mày, nhớ nói mày là con nuôi của ông Tư xích lô. Nếu không bọn xích lô ở đây, lại tưởng mày là thằng trôi sông lạc chợ ở đâu đến giành mối, tụi nó đục cho mà giập mật như không.

Nhờ trời giúp, tôi bỗng dưng trở thành dân đạp xích lô ngon lành. Tất cả mọi chuyện đến với tôi một cách tốt đẹp, đẹp như mơ.

Từ ngày tôi hành nghề đạp xích lô, tiền bạc vô khá là đều đặn, đủ tiền mua gạo cho bốn người trong nhà, tiền thực phẩm thì Cúc và chị Hai lo. Từ đó cuộc sống vật chất của gia đình tôi tạm ổn định, không còn phải lo lắng nhiều. Thêm một điểm lợi mà tôi không ngờ tới, nhờ đạp xích lô rong ruổi nhiều nơi, tôi nghe ngóng được nhiều tin tức về chuyện vượt biên. Từ chuyện ở Miền Tây, người ta vượt biên chỉ tốn vài chỉ vàng, đến chuyện người Hoa đi đăng ký bán chính thức, mỗi người đóng cho nhà nước 12 cây. Nói chung tất cả mọi tỉnh ven biển, người ta rủ nhau vượt biên hà rầm. Đi thoát cũng nhiều, chìm tàu vì gặp dông tố bão bùng cũng lắm, bị hải tặc Thái Lan cướp bóc hãm hiếp cũng bộn. Và quan trọng nhất là bị công an Việt Nam bắt bỏ tù cũng khẳm.

Tất cả tin tức mà tôi thu thập được, đưa đến cho tôi một kết luận: Nếu chịu khó về sống ở Cà Mau hoặc những tỉnh lẻ xa Sài Gòn, chuyện một người dân chỉ cần chung góp vài chỉ vàng là có thể vượt biên được rồi. Và, tôi tin đó là sự thật.

Sau mấy tháng đạp xích lô, tôi đã thuộc khá nhiều con đường của Sài Gòn, không còn bỡ ngỡ như những ngày đầu, phải nhờ khách chỉ đường cho mình đạp xe. Có một chuyện mà tôi vẫn giấu kín trong lòng không nói với ai, đó là lần tôi đạp xe chở khách đi dọc theo đường Công Lý, nay đã đổi tên thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Khi về ngang qua con đường Nguyễn minh Chiếu ở Phú Nhuận, lòng tôi bỗng dưng bồi hồi xúc động một cách lạ thường. Tôi đạp xe men theo con đường này, đạp xe mà như sống trong mơ, nhà cửa hai bên đường vẫn như xưa, không có gì thay đổi. Hình ảnh của chính tôi với bộ tiểu lễ của Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngồi bên cạnh Dung trong chiếc taxi nhỏ xíu, mùi thơm của nước hoa mà Dung dùng vẫn còn lẩn quẩn đâu đây. Rồi cũng chính hình ảnh của tôi khi về Sài Gòn học khóa Đại đội trưởng, trong bộ quân phục lính tác chiến, với huy hiệu của Trường Võ Bị Đà Lạt may bên tay áo trái, thêm hai cái bông mai vàng trên cổ áo.

Dung với chiếc áo dài lụa màu vàng mỡ gà, ôm gọn lấy thân hình đầy đặn của nàng.Chúng tôi rong chơi khắp Sài Gòn trên chiếc xe Honda hai bánh của Dung. Không biết đó có phải là những ngày hạnh phúc nhất trong đời hay không, mà khi nhớ đến tôi lại thấy mọi chuyện hiện ra rõ mồn một trước mắt. Tôi dừng xe trước nhà có hai cây vú sữa, mà không hiểu bằng cách nào tôi có thể đến đây được. Căn nhà vẫn vậy, vẫn như xưa nhưng sao tôi thấy có cái gì đó hơi là lạ. Sau một lúc tìm tòi lục lọi trong ký ức, tôi mới nhận ra căn nhà bây giờ chỉ còn có một cây vú sữa, cây kia đã bị cưa mất tự lúc nào. Chuyện cũng phải thôi, ruộng dâu còn biến thành biển cả, tôi và Dung người đi kẻ ở, thì hai cây vú sữa chỉ còn một là phải rồi.

Một người đàn bà mở cửa nhìn tôi rồi hỏi.

-Ông tìm ai?

Nhìn người đàn bà, tôi biết bà ta là ai rồi, và mong rằng bà ta cũng nhận ra tôi. Đợi cả phút mà không thấy tôi nói gì, người đàn bà quay lưng đi vô nhà miệng thì nói.

-Cái đồ mất nết.

Tôi lật đật gọi giật lại.

-Chị Lành.

Người đàn bà quay lại thật nhanh, nhìn tôi một lúc rồi hỏi.

-Sao ông biết tên tôi?

-Chị không nhớ tôi sao? Tôi là Quân đây mà.

Người đàn bà mở to đôi mắt nhìn tôi một lúc rồi la to.

-Cậu Quân phải không, mới có mấy năm mà sao cậu thay đổi nhiều quá vậy. Nếu cậu không nói, chắc tôi không nhận ra cậu, cứ tưởng là ông đạp xích lô đang đợi đón khách. Mời cậu vô nhà uống nước, thật là may mắn tôi có nhiều chuyện muốn nói với cậu.

Đang còn lấn cấn với chiếc xích lô, tôi chưa biết phải làm gì thì chị Lành đã nói.

-Đem xe vô sân, tôi sẽ khóa cổng lại là an toàn.

Chị Lành pha cho tôi một ly trà nóng.

-Sĩ quan Ngụy học tập được thả về đếm trên đầu ngón tay, cậu về được bao lâu rồi?

-Cũng hơn hai năm.

-Dữ ác hông, vậy mà hôm nay mới tới đây. Tôi mong được gặp cậu, bởi vì có một lá thư của cô Dung gởi cho cậu.

Vì nóng lòng muốn biết trong thư nói gì, tôi vội vàng hỏi chị Lành.

-Dung nói gì vậy chị?

-Cậu cứ từ từ uống nước đi, tôi vào trong lấy thư cho cậu.

Nhìn nét chữ của Dung, tôi thật sự xúc động tưởng như mình bị ngộp thở. Để trấn áp sóng gió trong lòng, tôi cố lấy bình tĩnh hớp một ngụm trà. Bức thư viết từ tháng 7 năm 78.

Anh yêu,

Em đang ở California với ba má. Mọi chuyện đều tốt đẹp. Chỉ thiếu anh nên em cảm thấy cuộc đời như vô nghĩa, cho dù là em đang ở Mỹ. Ở đây em có theo dõi tin tức Việt Nam, và biết rằng tất cả sĩ quan Ngụy đều được nhà nước khoan hồng nhân đạo, cho đi học tập cải tạo. Em hiện đang đi học lại và sẽ chờ anh, chờ mãi cho đến khi mình gặp lại nhau.

Em chỉ viết ngắn gọn vì đường bưu điện giữa Mỹ và Việt Nam, hình như chưa được thiết lập bình thường. Nếu nhận được thư này, anh nhớ trả lời cho em liền nghe. Địa chỉ của em ghi ngoài phong bì.

Thương anh rất nhiều, nhớ anh còn nhiều hơn nữa.

Em, Dung.

Đọc xong bức thư, tôi ngồi thừ người ra như kẻ mất hồn. Được một lúc, tôi thẫn thờ nhét lá thư vào túi quần, đi ra sân.

Chị Lành mở cổng đứng nép qua một bên, nhường đường cho tôi đẩy chiếc xe xích lô ra. Không chào không nói, tôi đạp xe đi thẳng về nhà.

Tới đầu con hẻm, tôi thấy Cúc vẫn chưa về, đang ngồi bên lò đúc bánh căn, bu quanh là ba người đàn bà và hai đứa con nít, họ đang say sưa thưởng thức mấy cái bánh căn một cách ngon lành, đầy nhiệt tình.

Thấy tôi Cúc vui mừng nói lớn.

-Anh ngồi đây coi hàng giúp em một chút, em về nhà lấy thêm bột rồi ra liền.

Tôi ngồi bệt xuống cái đòn bằng gỗ nhỏ xíu, múc một ít nước mắm ngọt đã pha sẵn đựng trong cái thẩu bằng thủy tinh, đổ vào chén, thêm một muỗng tương ớt rồi thản nhiên bốc một cái bánh chấm nước mắm nhai ngon lành.

Đúng là món ăn của nhà giàu, chỉ toàn là bột gạo, không pha bắp, không trộn bo bo, nhờ đó mà cái bánh dẻo thật là dẻo, thơm thật thơm mùi gạo. Sẵn bụng đang đói, tôi nhai ngấu nghiến một lúc ba cái bánh, trước những cặp mắt đầy ngạc nhiên của mấy người đàn bà.

Cúc từ trong hẻm đi ra, hai tay bưng một cái nồi nho nhỏ. Hương, con gái tôi mặt mũi lem luốc, tay níu áo bà ba của mẹ, tay cầm cái chén. Nhìn hai mẹ con áo quần lôi thôi lếch thếch, giống như vừa mới đi làm ruộng về, thương vợ, thương con, thương cho bản thân mình, bỗng dưng tôi thấy cay cay nơi mắt. Tôi đưa tay giụi mắt rồi nói khống.

-Có chút ớt thôi mà sao cay quá.

Cùng lúc ấy, một quyết định dứt khoát thoáng qua trong đầu, tôi lần trong túi quần, lấy bức thư của Dung, bức thư mà trước đây chừng nửa tiếng, tôi nâng niu quý trọng. Sau một phút chần chừ, tôi dùng cái gắp than bằng sắt, dở cái khuôn bánh căn to cỡ cái chén nhỏ lên, thả bức thư vào. Bì thư được làm bằng một loại giấy dày, trắng bóc, tên của tôi được Dung viết bằng lối chữ in không bỏ dấu, uốn mình vặn vẹo trong lửa hồng như than khóc trước khi biến thành tro bụi. Cũng cùng lúc ấy, gương mặt của Dung với đôi mắt đầy vẻ lo âu nhìn tôi, trước khi mất hút trong lòng chiếc máy bay C130 đêm nào ở phi trường Tân Sơn Nhất. Đôi mắt ấy, tôi đem theo cho đến ngày hôm nay, giờ đây nó đang mờ dần, nhạt nhòa rồi biến mất. Tôi đặt cái khuôn bánh căn lại chỗ cũ che kín ánh lửa hồng, mà tưởng là mình đang đậy nắp tấm ván thiên, chôn chặt mối tình say đắm, cuồng nhiệt của một thời xa xưa. Trong giây phút chạnh lòng, tôi chợt nghe tôi nói với chính mình: Dung ơi! Anh muốn gọi tên Dung một lần nữa, để rồi từ đây cho đến cuối cuộc đời sẽ “Quên hẳn tình em.”

Đôi mắt người Sơn Tây

tranhoaithu42.com

January 28, 2020 by Tranhoaithu

Truyện thời chiến của Trần Hoài Thư

Post by Sơn râu 22 Mar 2025

(tranh Thái Tuấn. Ảnh background: Kinh Vĩnh Tế, nguồn: Internet)

Buổi chiều có một người sống trôi nổi dưới những cánh rừng tràm, gian khổ cơ cực với muỗi vắt sinh lầy, đã trở về nói với tôi về huyền thoại của một con kinh, biên giới giữa hai xứ sở Miên Việt. Tôi mời y một điếu thuốc và một ly cà phê đen. Tôi hỏi về những ngày y ở ngoài Bắc, lặn lội trường chinh vượt Trường Sơn với những đoàn xâm nhập, chống chọi cùng bệnh tật, và bom đạn để rồi cuối cùng dừng quân bên kia bờ kinh Vĩnh Tế. Y vừa thả khói, vừa kể. Và một câu nói cuối cùng của y đã làm tôi thật sự xúc động:

–       Anh có biết kinh Vĩnh Biệt không?

Tôi lắc đầu chịu thua. Y thêm:

–       Kinh Vĩnh Tế đấy.

Tôi hỏi:

–       Tại sao gọi là kinh Vĩnh Biệt?

–       Bởi vì, mỗi lần chúng tôi vượt qua con kinh này, chúng tôi đều nghĩ ngay đến cái tiếng buồn não nùng kia. Chúng tôi thấy rằng đó là lúc chúng tôi phải vĩnh biệt tất cả. Vĩnh biệt gia đình thân yêu, vĩnh biệt quê hương, vĩnh biệt những ngày thanh xuân…

Tôi đã lặng yên để nghe những lời thành thật của người lính Bắc. Đây là lần đầu tiên, tôi được nghe về một câu chuyện bi thảm dành riêng cho con kinh mà Thoại Ngọc Hầu đã đào cách đây gần hai thế kỷ. Và đây cũng là lần đầu tiên tôi thấy rằng vùng đất mà tôi đã trải qua, luân lạc, không phải một vùng đất quen thuộc. Nó cũng không phải là một nơi trầm lặng, không gợi cảm, cũng như làm phong phú thêm cuộc sống nội tâm của con người. Tôi đã tìm ra một điều là dưới từng vuông đất này, đều có cả một huyền thoại, ở từng con kinh, con rạch, từng bờ ruộng, bờ vườn đều có những chuyện não nùng. Ngày xưa vùng đất mới này, là cả một lịch sử kỳ diệu, được tạo dựng bởi năng lực con người. Nhưng bây giờ, cũng có những câu chuyện buồn bã thay thế vào đó. Chẳng hạn, từ một cái tên Vĩnh Tế, hôm nay, cũng có những người thay vào bằng tiếng Vĩnh Biệt.

Đối với người trẻ tuổi gốc Hà Nội này, tâm trạng y là một biển bùi ngùi. Còn tôi, tôi cũng buồn không kém. Tôi đứng dậy, và ra ngoài sân. Tuy xung quanh tôi là nhà cửa, dinh thự bao bọc san sát và những ánh đèn đầu tiên của thành phố báo hiệu một đêm bình an, nhưng rõ ràng trong đầu tôi, lại rực rỡ hiện lên một con kinh màu nước phù sa vàng đục, chảy ngang qua cánh đồng bao la, dưới ánh mặt trời chiều vàng vọt. Con kinh ấy như một giới hạn não nùng chảy vào tâm hồn tôi. Bằng một chuyện tình xa xôi. Bằng một kỷ niệm không bao giờ phai nhạt được. Tuy hai bờ cách xa nhau mười mấy thước nhưng rõ ràng, khoảng cách đã quá diệu vợi, ngăn cách trùng trùng. Và từ câu lạc bộ tiếng hát của Thái Thanh vẳng lại bài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Tự dưng ma quỷ bắt đôi chân tôi bước lại quán, con tim tôi như nhòa lệ. Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Buồn viễn xứ khôn khuây… Trên bầu trời sẩm nhạt, in những cánh chim én. Những cánh chim én của mùa xuân ấy đang lượn vờn như một điệu luân vũ. Thì ra mùa xuân đã lại trở về. Thì ra kỷ niệm đã như những cánh én kia, xa vắng một năm, bỗng một chiều đột nhiên trở lại…

Trước ngày ngưng bắn, tôi là kẻ thường vượt qua giòng kinh Vĩnh Tế nhiều nhất. Bởi nghề tôi bấy giờ là phóng viên chiến trường, đặc biệt về chiến trường ngoại địa. Hơn nữa, tôi coi vùng này là một vùng đất cần phải khám phá, học hỏi, giúp cho cuộc sống tôi rất nhiều trong hoài bão mà tôi từ lâu ấp ủ: là viết văn. Tôi sẽ là một chứng nhân của một Đông Dương bất hạnh. Tôi sẽ mở rộng tầm mắt, chữ nghĩa, vượt ra ngoài cái thế giới nhỏ hẹp rêu phong của cuộc sống thường nhật. Tôi muốn tìm xem ở bên kia bờ kinh Vĩnh Tế, chiến tranh là gì, đau khổ là gì, bom đạn là gì, chủ nghĩa là gì. Cho dù, những thứ ấy như một bài học quen thuộc mà mỗi ngày tôi đã gặp phải, đã chứng kiến. Cho dù, tôi hiểu rằng trên mặt địa cầu này, chiến tranh quả là một chuyện thường tình, như một biến chuyển của lịch sử. Ấy vậy, bằng cõi lòng tham vọng vô bờ, tôi vẫn lên đường. Tay xách máy ảnh. Túi đựng cuốn sổ tay, và cây bút. Thế là tôi khởi hành. Khởi hành trong bất cứ thời gian không gian nào. Từ trực thăng, hay trong thiết vận xa hay theo một đoàn quân tiếp ứng lội bộ, tôi vượt qua biên giới. Nói là biên giới, nhưng thật ra, nó chỉ là con kinh nhỏ hẹp, như trăm ngàn con kinh ở miền đất tôi về mà thôi. Nó không phải hung vĩ, bí mật và phân định rõ ràng như rặng Trường Sơn, hay một ranh giới thiên nhiên nào khác. Và cũng vì lý do đó, khi xuống chiếc đò đưa qua bờ, lòng tôi cũng chẳng hề rung động là bao nhiêu. Ngoại cảnh như một bức tranh thường tình. Vẫn là đồng lúa xanh rì, vẫn là những khóm thốt nốt trơ trọi in bóng bên bờ ruộng. Vẫn một mặt trời rực rỡ giữa một từng không chói chang.

Nhưng rõ ràng, càng đi sâu vào nội địa xứ người, tôi lại càng gặp biết bao nhiêu câu chuyện đáng để ghi nhớ. Từ pháo tháp của một thiết vận xa, giữa một cánh đồng tháng chạp trong mùa nước lớn, tôi đã bấm máy ảnh lia lịa. Mỗi hình ảnh qua đi là một biểu tượng đẹp não nùng. Từ ngôi chùa mái ngói cong vút màu đỏ thắm ẩn hiện giữa những kẽ lá của hàng thốt nốt. Từ những sóc dưới chân núi đồi, như bao phủ bởi một bầu không khí của thần linh tôn giáo. Từ những ngôi chùa đầy ngập người tản cư… Đó là những hình ảnh mà tôi đã gặp phải trong toàn cõi Đông Dương. Chúng cũng xảy ra ở Lào, Việt Nam. Và chúng đã làm cho một kẻ bàng quan nhất cũng phải đặt câu hỏi: Chiến tranh và tôn giáo. Cái nào là sức mạnh? Tuy nhiên, theo tôi, vấn đề đã đặt ra quá lớn lao. Tôi còn phải học, học thật nhiều. Với tôi, tôi không phải là một kẻ tham dự. Mà là một chứng nhân.

Vào một ngày đầu tháng chạp, tôi mang đồ nghề theo chân một đoàn thiết vận xa về giải tỏa áp lực địch tại T., một thành phố nằm trên con đường số 1 nối từ  Neak Loeung đến Thủ đô Nam Vang. Buổi tối có mưa sùi sụt, đám quân dừng đêm tại một đồng không mông quạnh và mênh mông nước, để sáng sớm tinh sương hôm sau mới tiến chiếm mục tiêu. Ngồi trên pháo tháp lạnh lẽo, bên cạnh người bạn mới quen, tôi kể lại những ngày ở thành phố, những buổi chiều của Bonard, Mai Hương và bạn thì kể lại những ngày dài ở xứ lạ quê người. Trời tối như mực, đến nỗi cảnh vật cách xa chừng 4, 5 thước, mắt người cũng chẳng nhận ra nổi. Thỉnh thoảng vài trái sáng được bắn lên từ bên kia rặng núi, soi cả một thinh không trong giây phút, rồi tắt lịm.

Người bạn bỗng nói:

–       Có bao giờ anh nghĩ rằng ở giữa vùng đất này lại có một người con gái như trong một bài thơ của Quang Dũng?

–       Có phải là Đôi Mắt Người Sơn Tây?

–       Vâng.

Rồi bạn vừa đốt thuốc vừa kéo cao cổ áo lạnh. Cơn mưa đã dứt, nhưng khí lạnh lại bốc tỏa đầy trời. Bạn lại giục tôi:

–       Trước khi kể câu chuyện, mời anh uống một chút rượu cho ấm. Rượu mang từ quê nhà đấy…

Tôi nghe lời bạn. Hớp rượu nồng nàn cả châu thân, như những giọt hạnh phúc nho nhỏ của một đêm trên vùng binh lửa. Tuy nhiên, thú thật tôi đã bỏ quên những nỗi bất trắc, hiểm nguy ra ngoài. Với tôi, đêm như một cơn mộng, và một tình nhân. Tôi chẳng còn để ý đến những tràng súng nhỏ thỉnh thoảng cắt xé cả một lòng tĩnh mịch. Tôi cũng chẳng còn quan tâm đến những tin tức đang giục giã trong máy siêu tần số bên cạnh. Và lời bạn nồng nàn:

–       Rồi ngày mai, tôi sẽ đưa anh đến một quán nghèo giữa quận K. Anh sẽ gặp một thiếu phụ trẻ. Hy vọng anh sẽ có nguồn cảm hứng để viết.

–       Người thiếu phụ ấy có liên quan gì đến anh?

Người bạn lắc đầu:

–       Không. Nhưng liên quan đến tất cả chúng ta. Nhất là anh?

–       Tại sao vậy?

Người bạn thiết giáp cười thật bí mật:

–       Anh là phóng viên, chắc anh đoán được.

–       Bạn nói hơi quá. Phóng viên chỉ là một chứng nhân. Tôi đến để ghi nhận, khám phá. Tôi không phải là thầy tướng số.

–       Ừ, xin lỗi. Nhưng, với một tâm hồn dễ xúc cảm của một nhà văn, chắc anh đã đoán được.

Tôi cười:

–       Thôi tôi xin chịu thua. Anh kể tiếp về người thiếu phụ Miên đó đi.

–       Không phải là người Miên, mà là người VN.

–       …?

Bạn vất mẩu thuốc xuống ruộng nước, rồi tiếp tục hớp khẽ từng hớp rượu đắng. Đêm nặng và đầy sương. Một trái sáng lại bắn lên từ hướng Bắc. Giọng bạn ấm:

–       Bởi thế tôi mới gọi là đôi mắt người Sơn Tây. Vâng, tôi không ngờ, hai mươi năm về sau, cũng có đôi mắt của  một người Sơn Tây để mình bồi hồi nhớ lại mấy câu thơ tuyệt vời: Em ở thành Sơn chạy giặc về, Tôi từ chinh chiến cũng ra đi hay Đôi mắt người Sơn Tây, U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây… Buồn viễn xứ khôn khuây… Anh biết không, nàng chính là một người Việt. Một người Việt một trăm phần trăm. Khi đơn vị tôi đến quận K., bọn tôi nhào xuống chợ tìm mua một vài vật dụng cần thiết. Riêng tôi, tình cờ tìm đến một ngôi quán nhỏ bên đường. Và người bán hàng quả làm cho tôi ngạc nhiên hết sức. Da nàng trắng muốt, gương mặt thùy mị, tuy nỗi cam khổ đã thấy rõ ở những ngón tay, quần áo của nàng. Rõ ràng là một cánh hoa lạ. Trong khi dân tộc nàng, màu da vàng mặt, thì màu da của nàng lại trắng nuột… Tuy nhiên, thú thật với anh, điều này chẳng làm tôi để ý đến bao nhiêu.

Giọng nói của người bạn sũng buồn:

–       Vâng. Thú thật tôi đã coi nàng như tất cả những phụ nữ Miên khác. Bởi cách ăn mặc, giọng nói của nàng. Bởi cung cách của nàng. Tôi đã bập bẹ vài tiếng Miên học lóm được, để diễn tả vài điều cần nói. Nhưng về sau, tôi bỗng nhiên nghe được một tiếng mẹ đẻ Thưa Ông. Điều mà tôi sửng sốt là giọng nói ấy là một thứ giọng Bắc. Một giọng Bắc chính cống. Rất dịu dàng. Rất dễ thương, nhất là người ấy là người con gái Bắc thì quả là một điều phi thường. Nhất là quê hương tôi là đất Bắc…

–       Nàng nói gì không?

–       Nàng hỏi quê nhà mình dạo này ra sao? Bên mình hòa bình chưa? Nàng nhớ nhà quá. Còn tôi, tôi hỏi nàng gốc người ở đâu, tại sao lưu lạc ở mãi vùng đất này.

–       Nàng bảo sao?

–       Nàng nói nàng sinh tại Sơn Tây. Rồi nàng tấm tức khóc. Sau đó, có chồng nàng đến. Nàng chắc sợ một điều gì đó, nên đã giả vờ vui, rồi nói tiếng Miên huyên thuyên. Tôi muốn hỏi thêm, nhưng lệnh lại ban xuống là đơn vị phải di chuyển gấp. Thành ra tôi chẳng biết gì thêm về nguồn gốc và lịch sử một người thiếu phụ đáng ghi nhớ kia…

–       Quả chuyện của anh như một bài thơ.

–       Phải. Như một bài thơ của Quang Dũng.

Ngừng một lát, rồi người bạn nói tiếp:

–       Ngày trước thú thật, khi đọc bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của Quang Dũng, tôi xúc động vì sự xuất thần của nhà thơ. Về câu chuyện tình tuyệt vời mà nhà thơ của chúng ta đã sáng tạo, về những nét gợi cảm của từng chữ nghĩa, cũng như cách gieo vần…

–       Hơn nữa là cốt cách tiểu tư sản dấn thân của chàng trai Hà Nội…

–       Vâng. Khi chúng ta đọc bài Màu Tím Hoa Sim hay Đôi Mắt Người Sơn Tây, chúng ta chỉ biết rung cảm cùng những nhân vật, khung cảnh, thời gian trong thơ. Nhưng bây giờ, thật sự tôi đã thấy rõ thật thấm thía một câu chuyện tình lồng trong bài thơ kháng chiến. Bởi hai ba mươi năm sau, lại có một người con gái Sơn Tây hiện đến với tôi. Anh nhớ những câu thơ này không: Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Rõ ràng từ khi gặp nàng, mỗi khi đọc lên những câu thơ đó, là lòng tôi lại vương lên một mối sầu. Chỉ có cái giọng nói dễ thương thốt lên trong giây phút. Chỉ có tiếng nói Thưa Ông. Chỉ có màu da trắng mượt lạc loài giữa một giống người lạ là có cả một câu chuyện lớn. Anh là nhà văn. Dĩ nhiên tâm hồn anh nhạy cảm hơn tôi. Dĩ nhiên, anh đang đi tìm đề tài. Tôi sẽ mang anh lại vào sáng mai. Đó là cả một đề tài lớn. Tôi tin vậy. Người bạn vất mẩu thuốc cháy dở. Một trái sáng lại òa vỡ, và mắt bạn trở nên lung linh xa vời. Anh lại nói:

–       Anh nên nhớ là tôi cũng thường xuyên theo dõi sách báo văn nghệ. Có một điều làm tôi ngạc nhiên là sự vay mượn câu chuyện, tình tiết của người ta nhiều quá. Từ chuyện tình đến chuyện chiến tranh. Tôi xin lấy ví dụ là các nhân vật trong Love Story, hay Roméo et Juliette, hay các tác phẩm của Remarque lại được thổi phồng, thi đua khai thác. Tôi thấy nước mình, hoàn cảnh của bọn mình, có hằng ngàn câu chuyện cảm động quyến rũ, tình tiết và thơ mộng hơn thế nữa.

–       Tôi ghi nhận ý của anh.

Và tôi cười:

–       Nội cái câu chuyện Đôi mắt người Sơn Tây của anh quả là một câu chuyện tình tuyệt vời rồi còn gì.

–       Anh là nhà văn, tôi xin nhường tất cả cho anh đó. Còn tôi, lưu lạc mãi sống cùng cái chết từng giây từng phút thì giờ đâu… 

Vào sáng ngày mai, cả đơn vị lại lên đường. Tôi đi theo thiết vận xa của người bạn, mà cõi lòng nôn nao vô cớ. Không phải tôi sợ những quả đạn, pháo bất ngờ từ ngọn núi rơi xuống, hay một trận phục kích nào đó bất ngờ xảy ra. Những điều này chắc không bao giờ xảy ra. Bởi đơn vị tôi đi theo là một đơn vị thiện chiến. Họ đã chiến đấu giỏi và đã từng tham gia nhiều trận đánh khủng khiếp hơn thế nữa. Với lại, đoàn thiết vận xa đang ở giữa một đồng nước mông mênh khó lòng địch nhắm trúng mục tiêu. Nhưng tôi phải thú thật rằng, tôi đang bị hình ảnh người con gái chưa gặp gỡ, chưa quen biết kia đã đớp hồn tôi thật sự rồi. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao nữa. Hay vì giòng máu văn nghệ của tôi. Hay vì tôi đã thấy được một đề tài đẹp và thơ mộng trong chuyện vượt biên này. Hay vì hình ảnh bài thơ tuyệt vời mà tôi đã ưa thích ngay từ khi cầm sách đến trường trung học. Chưa chi mà trí não tôi đã vẽ vời bao nhiêu tình tiết, xây dựng nên những nhân vật, mà dĩ nhiên nàng thiếu phụ lưu lạc kia là nhân vật chính, và cả tôi nữa. Tôi phải làm gì đây. Lòng tôi chợt bị khích động. Tôi nghe dòng máu của mình cuộn chảy. Trời đất vẫn quen thuộc khi chúng tôi đi qua. Những người Miên thấy chúng tôi chắp tay cung kính như phong tục của một dân tộc ngoan đạo Phật. Những ngôi chùa mái cong vút lên mây ẩn hiện đằng sau những khóm dừa, khóm thốt nốt. Những ngôi nhà sàn trong sóc, còn thở khói. Đám con nít nhìn đoàn quân cười thơ ngây. Trong gió, chừng như nghe mùi đất, mùi rơm và cả mùi ngây ngây của luống cầy mới vỡ. Có những cánh én bay rợp xuống mặt nước, rồi vút lên cao. Có những cánh én đuổi theo sau những chiếc vận xa, giỡn đùa cùng những ống nước mới vỡ. Bầu trời thật xanh, như mùa xuân. Có ai đã nhắc đến mùa xuân rồi. Gần đến Tết rồi. Anh em ơi. Giọng nói mang vào lòng những đứa con của chiến trường một niềm nhớ nhung tràn ngập. Riêng tôi, tôi mải đuổi theo những cánh bướm để mua vui. Tôi đã mỉm cười với chúng, với trò chơi nghịch ngợm của một loài chim của mùa xuân. Đối với tôi, loài chim ấy hình như đã có một sự liên hệ mật thiết. Chúng theo tôi như một niềm ân sủng. Chúng từ một cõi nào đó, ngoài thềm lục địa, trở về vui vầy cùng loài người rồi lại ra đi. Như một ngày gần cuối năm này. Chúng hết lượn vờn trên cao rồi sà xuống thấp, sát xuống những bọt sóng. Chúng vô tư, tinh nghịch, chẳng hề biết trên thềm lục địa này có những tai ương bất hạnh triền miên.

Và đúng như lời của người bạn, buổi trưa cả đơn vị dừng quân tại ngay trung tâm quận K. Người bạn đã nháy tôi và cả hai tìm đến ngôi quán bên đường. Và tôi đã gặp người thiếu phụ trẻ ấy. Tôi xúc động, trước màu da trắng mượt, đôi mắt to và linh động, cùng sóng mũi dọc dừa của nàng. Nàng quả là một bông hoa lạ và lẻ loi ở quận lỵ. Tuy mái tóc của nàng rối, chiếc sà rông đã bạc màu, vá víu, những ngón tay, bàn chân của nàng đã in dấu lầm than, nhưng người ta vẫn tìm ở người thiếu phụ này một vẻ đẹp nổi bật, vượt lên giữa một tập thể dân quê nghèo nàn và khổ cực này. Quả bạn đã nói đúng. Đó là một người con gái Sơn Tây. Nhất là ở đôi mắt kia, đã chứa cả một bầu trời u uẩn. Khi đôi mắt ấy nhìn lên, tuồng như người ta thấy bâng khuâng. Và tôi chỉ biết ngồi yên, đôi mắt hớp hồn. Tự dưng tôi cảm thấy thương nàng quá. Chỗ của nàng không phải là chỗ này. Chỗ của nàng là chỗ khác. Ở bên kia biên giới có đồng loại. Có tiếng mẹ đẻ. Có ao nhà, vườn rau. Và hơn nữa, với vẻ thanh tú của nàng, chắc gì nàng không được một người chồng khá giả, danh vọng? Tôi muốn nói lên một lời Việt cùng nàng. Nhưng cuối cùng tôi chẳng dám. Tôi nhìn chiếc sà rông màu vàng thẫm kia, thấy nhói ở tim.

Nắng đã lớn, tươi thắm cả khu quận. Người bạn chợt giới thiệu bằng tiếng Việt:

–       Đây là người bạn của tôi.

Tôi cúi đầu chào làm quen. Người thiếu phụ cũng cúi đầu đáp lễ. Tôi nhận ra đôi vai của nàng mềm quá. Người bạn lại nói tiếp:

–       Hôm qua, cô kể cho tôi nghe nửa chừng. Tại sao thế?

Để đáp lại câu hỏi của người bạn, nàng chỉ nói:

Các ông không hiểu hoàn cảnh của em đâu.

Tôi nói:

–       Cô có thể cho tôi được biết không?

Đôi mắt của thiếu phụ chợt hoe đỏ. Nàng nói giọng sũng lệ.

–       Thấy các ông, em bỗng nhiên nhớ đến quê nhà quá. Đã mười mấy năm xa cách, em chưa được về. Thưa ông, từ đây qua bên ấy, có xa không?

Câu hỏi của người thiếu phụ đã làm tôi quá chừng xúc động. Thì ra, ở cánh hoa lạc loài này có cả một tâm sự u uất. Tình hoài hương của nàng đang trở về mãnh liệt. Người bạn đưa mắt nhìn tôi như cùng trao một ý nghĩ. Rồi anh đáp:

–       Quê mình chỉ cách nơi này non 15 cây số, dùng đường bộ mất khoảng nửa giờ là đến.

–       Thế sao? Em không hề biết.

–       Chứ cô không bao giờ nghe nói đến quê nhà sao?

–       Dạ không.

Rồi nàng lại hỏi:

–       Không biết giờ này bên ấy nóng hay lạnh, trời có thường mưa không?

–       Bên nhà, trời đã bắt đầu có những cơn rét cuối năm. Có nơi mai bắt đầu nở hoa. Người ta đang sửa soạn ăn Tết rồi.

–       Thế ư? Gần đến Tết rồi ư?

Đôi mắt người thiếu phụ sậm buồn. Nàng nói như không:

– Không ngờ, em lại làm kẻ mất quê hương. Các ông biết hoàn cảnh của em đau đớn lắm…

Nàng lại tấm tức. Tôi chỉ đợi nàng có bấy nhiêu. Và tôi tìm cách khơi mào câu chuyện:

–       Cô có thể kể ra được không?

Nàng gạt nước mắt kể. Giọng nói của người con gái Sơn Tây mang theo những kỷ niệm đau thương. Từ một quê hương xa lắc xa lơ ngoài Bắc, với những cơn gió rét đầu mùa, với những nàng con gái có tiếng là xinh đẹp. Từ những ngày đầu tiên theo cha mẹ di cư vào Nam, quanh quẩn dưới rừng lá cao su, chưa bao giờ nghĩ đến một ngày rời xa cái thế giới bé nhỏ mà những người mộ phu đồn điền hầu như đã gửi trọn đời mình. Ở đâu? Nàng đã quên địa danh. Nhưng nàng kể đến ông chủ đồn điền người phương xa, mỗi ngày lái xe khắp cả đồn điền để trông coi đám phu cạo mủ, khiêng tải những thùng nhựa trắng đến nhà máy. Ở đâu? Nàng chỉ nhớ lại những tiếng chuông buổi sáng chủ nhật, từ gác chuông ngôi nhà thờ bằng ván tạp với ông linh mục già, hàm râu trắng mượt, đội chiếc beret đen, lúc nào cũng cười, và cho bánh lũ trẻ trong đồn điền. Ở đâu? Nàng lắc đầu. Nhưng nàng kể về những cảnh cơ hàn của những dân phu, gồm đủ hạng người: gồm Thượng, Miên và Việt. Và chúng tôi liền đoán ra đó là Lộc Ninh cũng nên.

Rồi tai họa bỗng nhiên bủa xuống như một trận bão kinh hoàng. Trận chiến từ đâu lại, chọn ngay đồn điền của nàng, ròng rã cả một tuần lễ. Nhắc đến đây, đôi mắt nàng tuồng như đầy ngập cả một bầu trời sầu thảm. Nàng bật run đôi vai, hai dòng lệ tuôn trào rồi lăn trên hai gò má. Tuy buổi trưa nắng lửa, hàng cây bên đường bất động và thinh không chói lọi, đất đai bốc khói, nhưng tôi nghe tuồng như có một cơn gió lạ chợt thổi qua, rồi một đám mây buồn bã như đậu lại trong hồn người, như một phiến băng giá. Buổi trưa hôm nay, trong một quán lá xứ người, vừa xảy ra một câu chuyện u uẩn. Buổi trưa hôm nay, tại một vùng đất xa lạ đang sôi sục vì khói lửa chiến tranh, có một người thiếu phụ trẻ Sơn Tây gặp lại những người lính đồng hương, để cùng nhau kể lại những ngày tháng trong thời kỳ binh lửa. Đầu nhà bên kia đường, có giàn hoa giấy vàng tươi thắm dưới ánh nắng rực rỡ. Nhưng ở bên này có một nụ hoa tội nghiệp đáng thương.

–  … Sau đó…

Sau đó… Nàng vừa vuốt tóc thằng con mấy tháng của nàng, vừa kể. Sau đó, cả gia đình nàng thất lạc một người một ngả. Riêng nàng, có một gia đình người Miên cứu thoát và mang về đất Miên. Khi ấy, nàng chừng 12, 13 tuổi là cùng.

–  Cho đến lúc này, em cũng chẳng biết số phận của cha mẹ em ra sao nữa…

Nàng mếu máo trong tiếng khóc. Có ai vừa đâm mũi dao vào lồng ngực tôi. Tôi nói cùng nàng:

–  Cô có thể cho tôi biết về tên tuổi bố mẹ. Khi trở lại quê nhà, tôi sẽ cố thăm dò giúp giùm cô.

Nàng nghe lời. Tôi lấy sổ ghi tên tuổi. Rồi tôi nói thêm:

–  May ra. Khi trở lại nơi này, tôi sẽ mang theo tin mừng.

–  Dạ. Em cảm ơn quý ông. Các ông làm em cảm động quá.

Trên trời, bỗng hiện ra những cánh én. Cánh én báo hiệu một mùa xuân sắp sửa về. Tôi thốt lên vu vơ:

–  Tết cũng sắp sửa lại về.

–   Vâng. Nhưng đời em chẳng có bao giờ biết đến Tết cả. Nhớ đến ngày xưa, đêm giao thừa, cả nhà quây quần bên nồi bánh tét. Bây giờ điều ấy đã không bao giờ có nữa.

Người thiếu phụ chỉ nói bấy nhiêu. Còn hai đứa chúng tôi chỉ biết đốt thuốc thương cảm nỗi niềm tâm sự của một cánh hoa đồng hương. Giữa lúc ấy, lệnh lên đường lại giục giã. Người bạn chỉ tôi và nói cùng nàng:

–  Hy vọng anh bạn của tôi sẽ đem lại tin vui cùng chị.

Còn tôi, bấy giờ, một ý nghĩ táo bạo chợt nổi dậy. Tôi nói:

–  Hay là chị hãy trốn về quê nhà. Chúng tôi sẽ giúp đỡ chị.

Người thiếu phụ lắc đầu:

– Em cũng mong có ngày về thăm quê hương. Nhưng còn con cái. Bỏ đi tội nghiệp chúng quá. Em không nỡ…

Tiếng còi tập họp lại vang rền ngoài đường. Chúng tôi bịn rịn từ biệt. Đôi mắt người Sơn Tây hoe đỏ nhìn theo chúng tôi. Đôi mắt tội nghiệp làm sao. Hồn bài thơ xưa chợt bay về, và tôi thấy lại những câu thơ não nùng: Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Buồn viễn xứ khôn khuây… Tôi quay lại nhìn nàng như muốn uống trọn cả hình ảnh một loài hoa lưu lạc một lần cuối cùng. Tôi muốn ghi nhớ mãi giọng nói dịu dàng dễ thương của một quê hương xa vời nào đó. Tôi muốn mang theo vĩnh viễn gương mặt hao gầy, những sợi tóc mây, chiếc mũi thanh tú, và nhất là đôi mắt. Và lòng tôi thầm nhủ: Hãy về bên nhà, hãy cố gắng tìm ra tung tích bố mẹ nàng. Để trong ngày trở lại, tôi là kẻ mang theo một tin mừng. Đó là cách duy nhất để giúp đỡ một người đàn bà bất hạnh. Đó cũng là một bổn phận thiêng liêng nữa.

Điều ấy chắc chắn tôi sẽ thực hiện được. Bởi vì tôi là một phóng viên. Chỉ cần nhắn tin trên vài tờ báo, hay đọc trên đài phát thanh. Sau đó, tôi sẽ xin phép đi làm phóng sự ngoại biên và sẽ tìm lại nơi chốn cũ. Tôi cũng tự bảo lòng, là sẽ mang tặng nàng một món quà Tết của quê hương. Chẳng hạn một đòn bánh Tết, bánh chưng, hay một thẩu dưa món, một gói mứt.

Ừ, tại sao tôi lại bận tâm đến nàng nhiều quá. Hay ở nàng tôi đã bắt gặp những niềm rung cảm, những xúc động chân thành như trong bài thơ kia. Tôi chính là người lính chiến lưu lạc và nàng là một người con gái trôi nổi tha phương.  

Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ có dịp trở lại chốn cũ ấy nữa. Hiệp định ngưng bắn đã không cho phép tôi vượt qua dòng Vĩnh Tế ấy nữa. Món quà xuân cho người thiếu phụ xa xăm kia đã trở thành một món quà nước mắt. Và tin mừng kia cũng chẳng có bao giờ được bay đến ngôi quán bên đường trong quận lỵ K. nữa. Thỉnh thoảng, tôi lại được về bên này kinh Vĩnh Tế biên giới Miên Việt. Mà mỗi lần về như thế, tôi đều đứng lặng, mắt dõi về bên kia bờ kinh, trên cánh đồng bao la xanh màu mạ, trên những rặng thốt nốt, rặng núi thẫm trong mây, mà vẽ vời nên một hình bóng cũ. Ở đấy, có người thiếu phụ trẻ cùng màu da, cùng tiếng nói của tôi đang trải qua những ngày tháng mỏi mòn bất hạnh. Ở đấy, có một đôi mắt, mà tôi gọi là Đôi mắt người Sơn Tây, như một thiên tình sử não nùng. Tôi tưởng tượng ra, đôi mắt ấy đang đăm đăm nhìn về hướng quê nhà, mà chờ đợi một tin mừng, một món quà của quê hương, để cuối cùng phải hoài công trông đợi.

Còn riêng tôi, đứng trên bờ kinh, tôi cứ ngỡ đứng trên một điểm cuối cùng. Tôi sẽ không bao giờ được nhìn lại cánh hoa tuyệt vời kia nữa.

Trần Hoài Thư

(trich truyện thời chiến)